Giảng Lý Ánh Sáng Trên Đường Đạo – Phần I (Chương 1-5)

📘 Sách: Giảng Lý Ánh Sáng Trên Đường Đạo – Tác giả: Annie Besant, C.W. Leadbeater

TALKS ON THE PATH OF OCCULTISM- VOL. 3

NHỮNG BÀI NÓI VỀ CON ĐƯỜNG HUYỀN BÍ HỌC — TẬP 3

A Commentary on “Light on the Path”

Một Bình Giảng về “Ánh sáng trên Đường Đạo”

ANNIE BESANT, D.L.

ANNIE BESANT, D.L.

AND

Rt. Rev. C. W. LEADBEATER

Đức Giám mục C. W. LEADBEATER

1947.

1947.

THE THEOSOPHICAL PUBLISHING HOUSE

NHÀ XUẤT BẢN THÔNG THIÊN HỌC

Adyar, Madras, India

Adyar, Madras, Ấn Độ

First Edition, 1926 Second Edition, 1930 Third Edition, 1947

Ấn bản thứ nhất, 1926; Ấn bản thứ hai, 1930; Ấn bản thứ ba, 1947

FOREWORD — LỜI NÓI ĐẦU

This book is merely a record of talks by Mr. C. W. Leadbeater—now Bishop Leadbeater—and myself on three famous books—books small in size but great in contents. We both hope that they will prove useful to aspirants, and even to those above that stage, since the talkers were older than the listeners, and had more experience in the life of discipleship.

Quyển sách này chỉ là bản ghi lại những bài nói chuyện của ông C. W. Leadbeater — nay là Giám mục Leadbeater — và của tôi về ba quyển sách nổi tiếng, những quyển sách nhỏ về hình thức nhưng lớn lao về nội dung. Cả hai chúng tôi đều hy vọng rằng chúng sẽ tỏ ra hữu ích cho những người chí nguyện, và ngay cả cho những ai đã vượt trên giai đoạn ấy, vì những người nói chuyện lớn tuổi hơn những người nghe, và có nhiều kinh nghiệm hơn trong đời sống địa vị đệ tử.

The talks were not given at one place only; we chatted to our friends at different times and places, chiefly at Adyar, London and Sydney. A vast quantity of notes were taken by the listeners. All that were available of these were collected and arranged. They were then condensed, and repetitions were eliminated. Unhappily there were found to be very few notes on The Voice of the Silence, Fragment I, so we have utilized notes made at a class held by our good colleague, Mr. Ernest Wood, in Sydney, and incorporated these into Bishop Leadbeater’s talks in that section. No notes of my own talks on this book were available; though I have spoken much upon it, those talks are not recoverable. None of these talks have been published before, except some of Bishop Leadbeater’s addresses to selected students on At the Feet of the Master. A book entitled Talks on “At the Feet of the Master” was published a few years ago, containing imperfect reports of some of these talks of his. That book will not be reprinted; the essential material in it finds its place here, carefully condensed and edited. May this book help some of our younger brothers to understand more of these priceless teachings. The more they are studied and lived, the more will be found in them.

Những bài nói chuyện này không chỉ được trình bày tại một nơi; chúng tôi đã trò chuyện với các bạn của mình vào nhiều thời điểm và địa điểm khác nhau, chủ yếu tại Adyar, London và Sydney. Một số lượng rất lớn ghi chú đã được những người nghe ghi lại. Tất cả những ghi chú nào còn có thể tìm được đều đã được thu thập và sắp xếp. Sau đó chúng được cô đọng lại, và những chỗ lặp lại được loại bỏ. Đáng tiếc là người ta thấy có rất ít ghi chú về Tiếng Nói của Im Lặng, Đoạn I, vì vậy chúng tôi đã sử dụng những ghi chú được thực hiện trong một lớp học do đồng nghiệp tốt lành của chúng tôi, ông Ernest Wood, tổ chức tại Sydney, và đưa chúng vào những bài nói chuyện của Giám mục Leadbeater trong phần ấy. Không có ghi chú nào về những bài nói chuyện của riêng tôi về quyển sách này còn lại; dù tôi đã nói nhiều về nó, những bài nói chuyện ấy không thể phục hồi được. Không bài nào trong các bài nói chuyện này đã từng được xuất bản trước đây, ngoại trừ một số bài diễn thuyết của Giám mục Leadbeater dành cho các môn sinh được chọn lọc về Dưới Chân Thầy. Một quyển sách nhan đề Những Bài Nói về “Dưới Chân Thầy” đã được xuất bản cách đây vài năm, chứa những bản tường thuật chưa hoàn chỉnh về một số bài nói chuyện ấy của ông. Quyển sách đó sẽ không được tái bản; chất liệu cốt yếu trong đó nay được đặt vào đây, đã được cô đọng và biên tập cẩn thận. Cầu mong quyển sách này giúp một số huynh đệ trẻ hơn của chúng ta thấu hiểu nhiều hơn những giáo huấn vô giá này. Càng được nghiên cứu và được sống theo, người ta sẽ càng tìm thấy nhiều hơn trong đó.

Annie Besant

Annie Besant

PART I — PHẦN I

LIGHT ON THE PATH — ÁNH SÁNG TRÊN ĐƯỜNG ĐẠO

CHAPTER I — CHƯƠNG I

INTRODUCTION — DẪN NHẬP

A.B.Light on the Path is one of a number of different occult treatises which are in the care of the great Teachers and are used in the instruction of disciples. It is a part of The Book of the Golden Precepts, which contains many treatises which were written in different ages of the world, but have one characteristic in common, that they contain occult truth, and have therefore to be studied in a different way from ordinary books. The understanding of these treatises depends upon the capacity of the reader, and when any one of them is published to the world only distorted views of its teaching will be acquired, if it is taken literally.

A.B.Ánh sáng trên Đường Đạo là một trong nhiều khảo luận huyền bí khác nhau được các Huấn sư vĩ đại gìn giữ và sử dụng trong việc huấn luyện các đệ tử. Nó là một phần của Kim Huấn Thư, chứa nhiều khảo luận được viết trong các thời đại khác nhau của thế giới, nhưng có chung một đặc tính: chúng chứa chân lý huyền bí, và vì thế phải được nghiên cứu theo một cách khác với những sách thông thường. Sự thấu hiểu các khảo luận này tùy thuộc vào năng lực của người đọc, và khi bất cứ khảo luận nào trong số đó được công bố cho thế gian, người ta sẽ chỉ thu nhận những quan điểm méo mó về giáo huấn của nó nếu tiếp nhận nó theo nghĩa đen.

Definitely intended for the quickening of the evolution of those who are on the Path, this book puts forward ideals which people of the world are rarely prepared to accept. Only as far as a man is able and willing to live the teaching, will he be able to understand it. If he does not practise it, it will remain a sealed book to him. Any effort to live it will throw light upon it; but if the reader makes no effort, he will not only gain very little, but he will turn against the book and say that it is useless.

Được nhắm rõ ràng đến việc thúc đẩy nhanh sự tiến hoá của những ai đang ở trên Đường Đạo, quyển sách này nêu ra những lý tưởng mà người đời hiếm khi sẵn sàng chấp nhận. Chỉ trong mức độ một người có khả năng và sẵn lòng sống theo giáo huấn, y mới có thể thấu hiểu giáo huấn ấy. Nếu y không thực hành nó, nó sẽ vẫn là một quyển sách niêm kín đối với y. Bất cứ nỗ lực nào nhằm sống theo nó cũng sẽ soi sáng nó; nhưng nếu người đọc không nỗ lực, y không những sẽ thu được rất ít, mà còn quay lại chống đối quyển sách và nói rằng nó vô dụng.

This treatise falls naturally into certain divisions. It was given to the Western world by the Master Hilarion, one of the great Teachers belonging to the White Lodge—a Master who played a great part in the Gnostic and Neoplatonic movements, one of the great persons who made attempts to keep Christianity alive. His incarnations have run very much in Greece and Rome, and He takes special interest in guiding the evolution of the Western world. He obtained the book as we have it, without the notes, from the Venetian Master, one of the greater Teachers whom H.P.B. spoke of as Chohans.

Khảo luận này tự nhiên chia thành một số phần nhất định. Nó được Chân sư Hilarion, một trong các Huấn sư vĩ đại thuộc Huynh đệ Đoàn Chánh đạo, trao cho thế giới phương Tây — một Chân sư đã đóng vai trò lớn trong các phong trào Ngộ Đạo và Tân Platon, một trong những nhân vật vĩ đại đã nỗ lực giữ cho Kitô giáo được sống động. Các lần lâm phàm của Ngài diễn ra rất nhiều tại Hy Lạp và La Mã, và Ngài đặc biệt quan tâm đến việc hướng dẫn sự tiến hoá của thế giới phương Tây. Ngài đã nhận được quyển sách như chúng ta có hiện nay, không kèm các ghi chú, từ Chân sư Venice, một trong các Huấn sư cao cả hơn mà H.P.B. gọi là các Chohan.

Fifteen of the short rules that you find in the first part of this book, and fifteen in the second part, are exceedingly old, and were written in the most ancient Sanskrit. To these short sentences which are used as a basis for the instruction of the disciple, the Chohan added other sentences, which now form part of the book, and are always to be read along with them, to supply complementary ideas without which the reader might be led astray. All the rules in both parts of the book, except the thirty short aphorisms, were written by the Chohan who gave it to the Master Hilarion. The following table shows the fifteen short rules in Part I as they existed in the exceedingly ancient manuscript; the number at the beginning of each is the original one, but the number at the end is that which appears in the modern book.

Mười lăm quy luật ngắn mà các bạn thấy trong phần thứ nhất của quyển sách này, và mười lăm quy luật trong phần thứ hai, đều cực kỳ cổ xưa, và được viết bằng tiếng Sanskrit cổ nhất. Vào những câu ngắn này, vốn được dùng làm nền tảng cho việc huấn luyện đệ tử, vị Chohan đã thêm những câu khác, nay tạo thành một phần của quyển sách, và luôn phải được đọc cùng với chúng, nhằm cung cấp những ý tưởng bổ sung mà nếu thiếu chúng người đọc có thể bị dẫn lạc. Tất cả các quy luật trong cả hai phần của quyển sách, ngoại trừ ba mươi châm ngôn ngắn, đều do vị Chohan đã trao nó cho Chân sư Hilarion viết ra. Bảng sau đây cho thấy mười lăm quy luật ngắn trong Phần I như chúng đã tồn tại trong bản thảo cực kỳ cổ xưa; con số ở đầu mỗi quy luật là số nguyên thủy, còn con số ở cuối là số xuất hiện trong quyển sách hiện đại.

It will be noticed from the above table (which covers only Part I of the book) that rules 4, 8, 12, 16, 20 and 21 are absent from the list. That is because they do not belong to the most ancient part of the book. Those rules and the preliminary and concluding comments are the portion added by the greater One who gave it to the Master. In addition there are notes, which were written by the Master Hilarion Himself. The book as originally published in 1885 contained these three portions: the aphorisms from the ancient manuscript, the additions of the Chohan, and the notes of the Master Hilarion. All these were written down by Mabel Collins, who acted as the physical instrument, as the pen that wrote it. The Master was Himself the translator of the book, and He impressed it upon her brain. His was the hand that held the pen. Then there subsequently appeared in Lucifer under the title of “Comments” a few articles which were written by Mabel Collins under the influence of the Master, and which are exceedingly valuable, worth reading and studying.

Cần lưu ý từ bảng trên đây, vốn chỉ bao gồm Phần I của quyển sách, rằng các quy luật 4, 8, 12, 16, 20 và 21 không có trong danh sách. Đó là vì chúng không thuộc phần cổ xưa nhất của quyển sách. Những quy luật ấy, cùng các lời bình mở đầu và kết luận, là phần do Đấng cao cả hơn đã trao nó cho Chân sư thêm vào. Ngoài ra còn có các ghi chú do chính Chân sư Hilarion viết. Quyển sách như được xuất bản lần đầu năm 1885 chứa ba phần này: các châm ngôn từ bản thảo cổ xưa, những phần thêm của vị Chohan, và các ghi chú của Chân sư Hilarion. Tất cả những điều này đã được Mabel Collins ghi xuống; bà đóng vai trò như công cụ hồng trần, như cây bút đã viết ra nó. Chính Chân sư là người dịch quyển sách, và Ngài in nó vào bộ não của bà. Bàn tay của Ngài là bàn tay cầm cây bút. Sau đó, trong Lucifer, dưới nhan đề “Những Lời Bình”, đã xuất hiện một vài bài viết do Mabel Collins viết dưới ảnh hưởng của Chân sư, và những bài này vô cùng giá trị, đáng đọc và nghiên cứu.

Now, taking up the book itself, we first find the following statement:

Bây giờ, khi đi vào chính quyển sách, trước hết chúng ta thấy lời tuyên bố sau:

These rules are written for all disciples: Attend you to them.

Những quy luật này được viết cho tất cả các đệ tử: hãy chú tâm đến chúng.

A distinction is made here between the world and the disciples; this is not a book intended for the world in general. The word disciple is to be considered in two senses—the uninitiated and the initiated. In reading the book carefully we can trace the two distinct lines of teaching clothed in the same words; each sentence contains a double meaning, one intended for the more and the other for the less advanced. We will try to trace them out when we come to the preliminary statements. The second part of the treatise appears to be intended entirely for the initiated disciple, but this duality runs through the first part.

Một sự phân biệt được nêu ra ở đây giữa thế gian và các đệ tử; đây không phải là một quyển sách dành cho thế gian nói chung. Từ đệ tử cần được xét theo hai nghĩa — chưa được điểm đạo và đã được điểm đạo. Khi đọc kỹ quyển sách, chúng ta có thể lần theo hai tuyến giáo huấn rõ rệt được khoác trong cùng những lời lẽ; mỗi câu đều hàm chứa một ý nghĩa kép, một dành cho người tiến bộ hơn và một dành cho người kém tiến bộ hơn. Chúng ta sẽ cố gắng lần theo chúng khi đi đến những phát biểu mở đầu. Phần thứ hai của khảo luận dường như hoàn toàn dành cho đệ tử đã được điểm đạo, nhưng tính nhị nguyên này xuyên suốt phần thứ nhất.

Many persons not yet approaching discipleship entirely misunderstand these rules, and often criticize them as holding up^ an ideal which is hard and wanting in sympathy. This is constantly the case when an ideal is presented which is too high for the reader. No person is helped by an ideal, however noble in itself, which to him is not attractive; it is a practical lesson for dealing with human beings that we should put before them only such ideals as may attract them. With all books of this kind that which a man gets out of them is what he brings to them; his understanding depends upon his own power to answer to the thoughts which they contain. Even material things exist for us only if we have developed the organs which can respond to them; hence at the present time there are hundreds of vibrations playing upon us to which we are incapable of giving heed. Sir William Crookes once illustrated this very well when he was trying to show how circumscribed was our knowledge of electricity, and how great therefore was the possibility of progress in electrical science. He said that it would make an enormous difference to us, would in fact revolutionize our ideas, if we had organs answering to electrical vibrations instead of eyes sensitive to light vibrations. In dry air we should not be conscious of anything, for it does not conduct electricity. A house made of glass would be opaque, but an ordinary house would be transparent. A silver wire would look like a hole or tunnel in the air. What we know of the world thus depends upon our response to its vibrations. Similarly, if we cannot answer to a truth, it is not truth for us. So, when dealing with books written by occultists we can only catch their thought in proportion to our own spiritual advancement. Any part of their thought which is too subtle or too high simply passes by us as if it were not there.

Nhiều người chưa thật sự tiến gần đến địa vị đệ tử hoàn toàn hiểu sai các quy luật này, và thường phê phán chúng như thể chúng nêu lên một lý tưởng khắc nghiệt và thiếu cảm thông. Điều này luôn xảy ra khi một lý tưởng được trình bày quá cao đối với người đọc. Không ai được giúp ích bởi một lý tưởng, dù tự nó cao quý đến đâu, nếu đối với y nó không có sức hấp dẫn; đây là một bài học thực tiễn trong việc đối xử với con người: chúng ta chỉ nên đặt trước họ những lý tưởng có thể thu hút họ. Với mọi quyển sách thuộc loại này, điều mà con người rút ra từ chúng chính là điều y mang đến cho chúng; sự thấu hiểu của y tùy thuộc vào năng lực của chính y trong việc đáp ứng với những tư tưởng chứa đựng trong đó. Ngay cả những sự vật vật chất cũng chỉ hiện hữu đối với chúng ta nếu chúng ta đã phát triển các cơ quan có thể đáp ứng với chúng; do đó, hiện nay có hàng trăm rung động đang tác động lên chúng ta mà chúng ta không có khả năng chú ý đến. Ngài William Crookes đã từng minh họa điều này rất hay khi ông cố gắng cho thấy tri thức của chúng ta về điện bị giới hạn đến mức nào, và vì thế khả năng tiến bộ trong khoa học điện học lớn lao ra sao. Ông nói rằng sẽ có một khác biệt vô cùng lớn đối với chúng ta, thật ra sẽ làm đảo lộn các ý niệm của chúng ta, nếu chúng ta có những cơ quan đáp ứng với các rung động điện thay vì có mắt nhạy cảm với các rung động ánh sáng. Trong không khí khô, chúng ta sẽ không ý thức được điều gì, vì nó không dẫn điện. Một ngôi nhà bằng kính sẽ là vật mờ đục, nhưng một ngôi nhà bình thường sẽ trong suốt. Một sợi dây bạc sẽ trông giống như một cái lỗ hay đường hầm trong không khí. Như vậy, điều chúng ta biết về thế gian tùy thuộc vào sự đáp ứng của chúng ta với các rung động của nó. Tương tự, nếu chúng ta không thể đáp ứng với một chân lý, thì nó không phải là chân lý đối với chúng ta. Vì vậy, khi bàn đến những quyển sách do các nhà huyền bí học viết, chúng ta chỉ có thể nắm bắt tư tưởng của các vị ấy tùy theo mức tiến bộ tinh thần của chính mình. Bất kỳ phần nào trong tư tưởng của các vị ấy quá tinh tế hoặc quá cao đều chỉ lướt qua chúng ta như thể nó không hiện hữu.

Much more can be got out of this book by meditation than by mere reading; its greatest value is that it gives directions to our meditation. Pick out a single sentence and then meditate upon it; stop the working of the lower mind and awaken the inner consciousness which comes directly in contact with the thought. One may thus get away from images of the concrete mind to a direct perception of the truth. Meditation thus enables one to obtain in the brain a large amount of the direct knowledge of the truth which the ego has acquired in his own worlds. Still, a man who meditates, but does not read or listen to a teacher as well, although he is sure to progress on the spiritual plane, will do so only slowly. If he had had the additional advantage of reading or listening, he would advance far more rapidly. The lecture or study can tune the brain of the student so that it will obtain more knowledge through meditation. But for a man who only listens or reads, and does not meditate, hardly any advancement is possible, and progress is exceedingly slow. Both should be combined; much meditation and a little hearing or reading will carry a man far indeed.

Có thể rút ra từ quyển sách này nhiều điều hơn bằng tham thiền hơn là chỉ bằng việc đọc; giá trị lớn nhất của nó là ở chỗ nó đưa ra những chỉ dẫn cho việc tham thiền của chúng ta. Hãy chọn một câu duy nhất rồi tham thiền về nó; hãy dừng hoạt động của hạ trí và đánh thức tâm thức bên trong, vốn tiếp xúc trực tiếp với tư tưởng. Như vậy, người ta có thể thoát khỏi các hình ảnh của trí cụ thể để đi đến nhận thức trực tiếp về chân lý. Tham thiền như thế giúp người ta đạt được trong bộ não một lượng lớn tri thức trực tiếp về chân lý mà chân ngã đã thu nhận trong các cõi riêng của nó. Tuy nhiên, một người tham thiền nhưng đồng thời không đọc hay lắng nghe một huấn sư, dù chắc chắn sẽ tiến bộ trên cõi tinh thần, vẫn chỉ tiến rất chậm. Nếu y có thêm lợi thế của việc đọc hay lắng nghe, y sẽ tiến nhanh hơn nhiều. Bài giảng hay việc học có thể điều chỉnh bộ não của đạo sinh sao cho nó sẽ thu nhận nhiều tri thức hơn qua tham thiền. Nhưng đối với người chỉ nghe hay đọc mà không tham thiền, hầu như không thể có sự tiến bộ nào, và sự tiến bộ sẽ hết sức chậm. Cả hai nên được kết hợp; nhiều tham thiền và một ít nghe hay đọc sẽ đưa con người tiến rất xa.

C.W.L.—On the title-page of the first edition of Light on the Path, published in 1885, it is described as: “A treatise written for the personal use of those who are ignorant of ‘ the Eastern Wisdom, and who desire to enter within its influence.” But the book itself begins with the statement that these rules are written for all disciples. The latter description is surely the more accurate one, as the history of the book will show.

C.W.L.—Trên trang nhan đề của ấn bản đầu tiên của Ánh sáng trên Đường Đạo, xuất bản năm 1885, sách được mô tả là: “Một khảo luận được viết cho việc sử dụng cá nhân của những ai chưa biết ‘Minh Triết phương Đông’, và mong muốn bước vào trong ảnh hưởng của minh triết ấy.” Nhưng chính quyển sách lại bắt đầu bằng lời tuyên bố rằng các quy luật này được viết cho tất cả các đệ tử. Mô tả sau chắc chắn chính xác hơn, như lịch sử của quyển sách sẽ cho thấy.

As we have it at present it was dictated by the Master Hilarion through Mabel Collins—a lady well known in Theosophical circles, who at one time collaborated with Madame Blavatsky in the editorship of Lucifer. The Master Hilarion had in turn received it from His own Teacher, the Great One who among Theosophical students is sometimes called the Venetian. But even He was the author of only a part of it. It has passed through three phases; let us set them down in order.

Như hiện nay chúng ta có, sách được Chân sư Hilarion đọc truyền qua Mabel Collins — một phụ nữ nổi tiếng trong các giới Thông Thiên Học, người có thời đã cộng tác với Bà Blavatsky trong việc biên tập Lucifer. Đến lượt mình, Chân sư Hilarion đã nhận nó từ chính Huấn sư của Ngài, Đấng Cao Cả mà trong giới đạo sinh Thông Thiên Học đôi khi được gọi là Chân sư Venetian. Nhưng ngay cả Ngài cũng chỉ là tác giả của một phần trong đó. Nó đã trải qua ba giai đoạn; chúng ta hãy ghi lại theo thứ tự.

It is but a small book even now, but the first form in which we have seen it is smaller yet. It is a palm-leaf manuscript, old beyond computation; so old that even before the time of Christ men had already forgotten its date and the name of its writer, and regarded its origin as lost in the mists of prehistoric antiquity. It consists of ten leaves, and on each leaf are written three lines only, for in a palm-leaf manuscript the lines run along the page, not across it as with us. Each line is complete in itself—a short aphorism—and the language in which they are written is an archaic form of Sanskrit.

Ngay cả hiện nay nó cũng chỉ là một quyển sách nhỏ, nhưng hình thức đầu tiên mà chúng ta đã thấy còn nhỏ hơn nữa. Đó là một bản thảo trên lá cọ, cổ xưa vượt ngoài mọi tính toán; cổ đến nỗi ngay cả trước thời Đức Christ, người ta đã quên mất niên đại và tên tác giả của nó, và xem nguồn gốc của nó như đã mất trong màn sương của thời tiền sử. Nó gồm mười lá, và trên mỗi lá chỉ viết ba dòng, vì trong bản thảo lá cọ, các dòng chạy dọc theo trang, chứ không ngang qua như của chúng ta. Mỗi dòng tự nó trọn vẹn — một cách ngôn ngắn — và ngôn ngữ được dùng là một hình thức cổ xưa của Sanskrit.

The Venetian Master translated these aphorisms from Sanskrit into Greek, for the use of His Alexandrian pupils, of whom the Master Hilarion was one, in His incarnation as Iamblichus. Not only did He translate the aphorisms, but He added to them certain explanations, which we shall do well to take along with the original. For example, if we look at the first three aphorisms, we shall see that the paragraph marked 4, which follows them, is clearly intended as a commentary on them; so we should read it thus: “Kill out ambition; but work as those work who are ambitious. Kill out desire of life; but respect life as those do who desire it. Kill out desire of comfort; but be happy as those are who live for happiness.”

Chân sư Venetian đã dịch các cách ngôn này từ Sanskrit sang Hy Lạp, để dùng cho các môn sinh Alexandria của Ngài, trong đó Chân sư Hilarion là một vị, trong kiếp lâm phàm của Ngài là Iamblichus. Ngài không chỉ dịch các cách ngôn, mà còn thêm vào đó một số lời giải thích, những điều chúng ta nên xem cùng với nguyên bản. Chẳng hạn, nếu chúng ta nhìn vào ba cách ngôn đầu tiên, chúng ta sẽ thấy rằng đoạn được đánh số 4 theo sau chúng rõ ràng được định như một lời bình giải về chúng; vì vậy chúng ta nên đọc như sau: “Hãy diệt trừ tham vọng; nhưng hãy làm việc như những người có tham vọng làm việc. Hãy diệt trừ ham muốn sự sống; nhưng hãy tôn trọng sự sống như những người ham muốn nó. Hãy diệt trừ ham muốn tiện nghi; nhưng hãy hạnh phúc như những người sống vì hạnh phúc.”

In the same way rules, 5, 6 and 7 form a group, followed by 8, which is a comment by the Chohan—and so on far into the book. These groups of three are not put so by mere coincidence, but intentionally. If we examine them we shall find that there is a certain bond between the three in each case. For example, the three rules grouped together above point to purity of heart and steadiness of spirit. One may say that they indicate what the man must do with himself, what is his duty to himself in the way of preparation for work.

Cũng như vậy, các quy luật 5, 6 và 7 tạo thành một nhóm, theo sau là 8, vốn là lời bình của vị Chohan — và cứ thế đi sâu vào quyển sách. Những nhóm ba này không phải được đặt như vậy do ngẫu nhiên, mà là có chủ ý. Nếu khảo sát chúng, chúng ta sẽ thấy trong mỗi trường hợp có một mối liên hệ nhất định giữa ba điều. Chẳng hạn, ba quy luật được nhóm lại ở trên chỉ đến sự thanh khiết của tâm và sự vững vàng của tinh thần. Có thể nói chúng chỉ ra điều con người phải làm với chính mình, bổn phận của y đối với chính mình trong đường lối chuẩn bị cho công việc.

The second set of three aphorisms (numbers 5 to 8) states that we are to kill out all sense of separateness, desire for sensation, and the hunger for growth. They indicate man’s duty to those around him socially. He must realize that he is one with others. He must be willing to give up selfish and separate pleasures. He must kill out the desire for personal growth, and work for the growth of the whole.

Bộ ba cách ngôn thứ hai từ số 5 đến 8 nói rằng chúng ta phải diệt trừ mọi cảm thức chia rẽ, ham muốn cảm giác và cơn đói khát tăng trưởng. Chúng chỉ ra bổn phận của con người đối với những người quanh y về mặt xã hội. Y phải nhận ra rằng y là một với những người khác. Y phải sẵn lòng từ bỏ các khoái lạc ích kỷ và riêng rẽ. Y phải diệt trừ ham muốn tăng trưởng cá nhân, và làm việc cho sự tăng trưởng của toàn thể.

In the next set of three (numbers 9 to 12) we are told what to desire—that which is within us, that which is beyond us, and that which is unattainable. These are clearly a man’s duty to his Higher Self. Then follow aphorisms (13 to 16) on the desire for power, peace and possessions. Those are all desires which fit us for the work of the Path. The next group of rules (17 to 20) tell the aspirant how to seek the way.

Trong bộ ba kế tiếp từ số 9 đến 12, chúng ta được bảo điều phải khao khát — cái ở trong chúng ta, cái vượt ngoài chúng ta, và cái không thể đạt được. Những điều này rõ ràng là bổn phận của con người đối với Bản Ngã Cao Siêu của y. Sau đó là các cách ngôn từ 13 đến 16 về ham muốn quyền năng, bình an và sở hữu. Tất cả đều là những ham muốn chuẩn bị chúng ta cho công việc của Đường Đạo. Nhóm quy luật kế tiếp từ 17 đến 20 cho người chí nguyện biết cách tìm con đường.

The rules now numbered 4, 8, 12, etc., are explanations and amplifications by the Venetian Master. They, with the original aphorisms, formed the book as it was first published in 1885, for the Master Hilarion translated it from Greek into English and gave it in that form. Almost immediately after it was printed. He added to it a number of most valuable notes of His own. For that first edition those notes were printed on separate pages, the backs of which were gummed so that they might be attached at the beginning and the end of the little book which bad just passed through the press. In further editions, those notes have been inserted in their appropriate places.

Các quy luật hiện được đánh số 4, 8, 12, v.v., là những giải thích và mở rộng của Chân sư Venetian. Cùng với các cách ngôn nguyên thủy, chúng đã tạo thành quyển sách như lần đầu được xuất bản năm 1885, vì Chân sư Hilarion đã dịch nó từ Hy Lạp sang Anh ngữ và trao nó dưới hình thức ấy. Gần như ngay sau khi nó được in, Ngài đã thêm vào đó một số ghi chú vô cùng quý giá của chính Ngài. Trong ấn bản đầu tiên ấy, những ghi chú này được in trên các trang riêng, mặt sau có phết keo để có thể gắn vào đầu và cuối quyển sách nhỏ vừa ra khỏi nhà in. Trong các ấn bản sau, những ghi chú ấy đã được đưa vào đúng vị trí thích hợp của chúng.

The beautiful little essay on Karma which appears at the end of the book is also from the hand of the Venetian Master, and was included in the book from the first edition.

Bài tiểu luận nhỏ tuyệt đẹp về nghiệp quả xuất hiện ở cuối sách cũng do tay Chân sư Venetian viết, và đã được đưa vào sách ngay từ ấn bản đầu tiên.

The archaic Sanskrit manuscript which was the basis of Light on the Path was also translated into Egyptian; and many of the explanations of the Venetian Master have more the ring of Egyptian than of Indian teaching. Therefore, the student who can enter to some extent into the spirit of that old civilization will find it a great help to his understanding of this book. The conditions which surrounded us in ancient Egypt were radically different from those of the present day. It is almost impossible to make people understand them now; yet if we could get back into the mental attitude of those ancient times we should realize a very great deal which now, I am afraid, we miss. We are in the habit of thinking too much of the intellect of the present day, and are fond of boasting of the advance we have made beyond the old civilizations. There undoubtedly are certain points in which we have advanced beyond them, but there are other matters in which we are by no means at their level. The comparison is perhaps a little unfair, however, because as yet ours is a very young civilization. If we go back three hundred years in the history of Europe, and especially the history of England, we find a state of affairs which seems very uncivilized indeed. When we compare these three hundred years, including the one hundred and fifty years of scientific development which have played so large a part in our civilized history, with the four thousand years through which the Egyptian civilization flourished practically unchanged, we see at once that ours is a very small affair. Any civilization which has lasted as long as four thousand years has had an opportunity to try all sorts of experiments and to obtain results which we have not had yet, so it is not fair to compare us at our beginning with any of the great civilizations at their zenith.

Bản thảo Sanskrit cổ xưa làm nền tảng cho Ánh sáng trên Đường Đạo cũng đã được dịch sang Ai Cập ngữ; và nhiều lời giải thích của Chân sư Venetian mang âm hưởng giáo huấn Ai Cập hơn là Ấn Độ. Vì thế, đạo sinh nào có thể phần nào đi vào tinh thần của nền văn minh cổ ấy sẽ thấy điều đó giúp ích rất nhiều cho sự thấu hiểu quyển sách này. Những điều kiện bao quanh chúng ta trong Ai Cập cổ đại khác biệt tận gốc với những điều kiện ngày nay. Hiện nay hầu như không thể làm cho người ta hiểu được chúng; tuy vậy, nếu chúng ta có thể trở lại thái độ trí tuệ của những thời xưa ấy, chúng ta sẽ nhận ra rất nhiều điều mà nay, tôi e rằng, chúng ta bỏ lỡ. Chúng ta quen nghĩ quá nhiều về trí năng của thời hiện đại, và thích khoe khoang về sự tiến bộ chúng ta đã đạt được so với các nền văn minh cổ. Chắc chắn có một số điểm chúng ta đã tiến xa hơn họ, nhưng có những điều khác mà chúng ta hoàn toàn chưa đạt tới trình độ của họ. Tuy nhiên, sự so sánh có lẽ hơi bất công, vì nền văn minh của chúng ta cho đến nay vẫn còn rất trẻ. Nếu trở lại ba trăm năm trong lịch sử châu Âu, đặc biệt là lịch sử Anh quốc, chúng ta thấy một tình trạng dường như thật sự rất thiếu văn minh. Khi so sánh ba trăm năm ấy, bao gồm một trăm năm mươi năm phát triển khoa học đã đóng vai trò lớn lao trong lịch sử văn minh của chúng ta, với bốn ngàn năm trong đó nền văn minh Ai Cập hưng thịnh hầu như không đổi, chúng ta thấy ngay rằng nền văn minh của chúng ta là một việc rất nhỏ. Bất kỳ nền văn minh nào kéo dài đến bốn ngàn năm đều đã có cơ hội thử đủ loại thí nghiệm và đạt được những kết quả mà chúng ta chưa có, vì vậy không công bằng khi so sánh chúng ta ở buổi khởi đầu với bất kỳ nền văn minh vĩ đại nào ở đỉnh cao của nó.

Our fifth sub-race has by no means reached its highest point or its greatest glory, and that point when reached will be a definite advance upon all other civilizations, especially in certain respects. It will have its own characteristics and some of them may seem to us less pleasing than those of the earlier civilizations, but on the whole it will be an advance, because the successive races are like the tide when the waves are coming in. Each comes in and recedes, and the next one comes in just a little further. They all have their rise and climax, and their decay. With us the tide is still rising, so we have not yet the settled order in certain respects that they had in some of the older civilizations. We are, unfortunately, far as yet from the realization of unselfishness—from the feeling that the community as a whole is the chief thing to be considered and not the individual. That was attained in some of the older civilizations to an extent which would make it seem to us now a kind of Utopia, but on the other hand we are growing into possession of powers which those older peoples did not possess. There was a short period in the early history of Rome when “none was for the party and all were for the State”, as Macaulay put it. Pythagoras, speaking to the people at Taormina, told them that the State was more than father and mother, more even than wife and child, and that every man should always be ready to give up his own thoughts, feeling and wishes for the sake of unity—for the res publica, the original of ‘republic’, the common weal or well-being of the whole, to which every one should be willing to sacrifice his personal interests. In England, too, in the days of Queen Elizabeth, there was a period of such true patriotic feeling and activity.

Giống dân phụ thứ năm của chúng ta hoàn toàn chưa đạt đến điểm cao nhất hay vinh quang lớn nhất của nó, và khi điểm ấy đạt được, đó sẽ là một bước tiến xác định vượt trên mọi nền văn minh khác, đặc biệt trong một số phương diện. Nó sẽ có những đặc điểm riêng, và một vài đặc điểm có thể đối với chúng ta kém dễ chịu hơn so với các nền văn minh trước, nhưng xét toàn thể, nó sẽ là một bước tiến, vì các nhân loại kế tiếp nhau giống như thủy triều khi các làn sóng đang dâng vào. Mỗi làn sóng tiến vào rồi rút đi, và làn kế tiếp tiến vào xa hơn một chút. Tất cả đều có lúc trỗi lên, đạt đỉnh và suy tàn. Với chúng ta, thủy triều vẫn đang dâng, nên trong một số phương diện chúng ta chưa có trật tự ổn định như họ đã có trong vài nền văn minh cổ hơn. Đáng tiếc thay, chúng ta cho đến nay vẫn còn xa sự chứng nghiệm tính không ích kỷ — xa cảm nhận rằng cộng đồng như một toàn thể mới là điều chủ yếu cần được xét đến, chứ không phải cá nhân. Điều đó đã đạt được trong một vài nền văn minh cổ đến mức mà hiện nay đối với chúng ta có vẻ như một loại Utopia, nhưng mặt khác chúng ta đang lớn lên để sở hữu những quyền năng mà các dân tộc cổ ấy không có. Có một giai đoạn ngắn trong lịch sử sơ kỳ của La Mã khi “không ai vì đảng phái, tất cả đều vì Nhà nước”, như Macaulay đã nói. Pythagoras, khi nói với dân chúng tại Taormina, đã bảo họ rằng Nhà nước còn hơn cha mẹ, hơn cả vợ con, và mỗi người phải luôn sẵn sàng từ bỏ các tư tưởng, cảm xúc và ước muốn riêng của mình vì sự hợp nhất — vì res publica, nguồn gốc của chữ “cộng hòa”, lợi ích chung hay phúc lợi của toàn thể, điều mà mỗi người phải sẵn lòng hy sinh các lợi ích cá nhân của mình. Ở Anh quốc cũng vậy, vào thời Nữ hoàng Elizabeth, đã có một giai đoạn của cảm thức và hoạt động ái quốc chân thật như thế.

I do not mean that in ancient Egypt or in ancient Greece, or anywhere else in the world, all the people were unselfish. Not by any means, but all educated people took a very much wider view, a much more communal view of life than we do. They thought very much more of the State and much less of their individual welfare or progress. We shall attain to that too, and when we do we ought to realize it more fully than any of the ancient races, and also bring to it some development which the older races had not.

Tôi không có ý nói rằng trong Ai Cập cổ đại, Hy Lạp cổ đại, hay bất cứ nơi nào khác trên thế giới, mọi người đều không ích kỷ. Hoàn toàn không phải vậy, nhưng mọi người có giáo dục đều có một cái nhìn rộng hơn rất nhiều, một cái nhìn về đời sống mang tính cộng đồng hơn chúng ta nhiều. Họ nghĩ nhiều hơn về Nhà nước và ít hơn về phúc lợi hay sự tiến bộ cá nhân của mình. Chúng ta cũng sẽ đạt đến điều đó, và khi đạt được, chúng ta phải chứng nghiệm nó đầy đủ hơn bất kỳ nhân loại cổ nào, đồng thời mang vào đó một sự phát triển nào đó mà các nhân loại cổ chưa có.

If, then, we could get back into that old Egyptian outlook, we should understand Light on the Path very much better. The student will do well to try to produce that attitude in himself in his study of it, so that it may help him to put himself into the place of those who studied it in the older times.

Vậy nếu chúng ta có thể trở lại cái nhìn Ai Cập cổ ấy, chúng ta sẽ thấu hiểu Ánh sáng trên Đường Đạo tốt hơn rất nhiều. Đạo sinh nên cố gắng tạo ra thái độ ấy nơi chính mình khi học sách này, để điều đó có thể giúp y đặt mình vào vị trí của những người đã học nó trong những thời xưa.

It is easy for some of us who have undergone the training that enables us to remember our past lives. I remember my own last incarnation in Greece, where I took part in the Eleusinian Mysteries, and another life much earlier in which the great Mysteries of Egypt, of which some remnants still exist in Freemasonry, figured largely, and that enables me to get more good out of such books as this than I could without such memory. Even impressions from the past, giving a sense of atmosphere, are a great help. Egyptian or Indian, there is no more precious gem in our Theosophical literature—no book which will better repay the most careful and detailed study.

Điều đó dễ dàng đối với một vài người trong chúng ta, những người đã trải qua sự huấn luyện giúp chúng ta nhớ lại các kiếp sống trước. Tôi nhớ kiếp lâm phàm gần nhất của mình ở Hy Lạp, nơi tôi đã tham dự các Bí pháp Eleusis, và một kiếp khác sớm hơn nhiều, trong đó các Bí pháp vĩ đại của Ai Cập — mà vài tàn tích vẫn còn tồn tại trong Hội Tam Điểm — đóng vai trò lớn lao; điều đó giúp tôi rút được nhiều lợi ích hơn từ những quyển sách như quyển này so với khi không có ký ức ấy. Ngay cả những ấn tượng từ quá khứ, đem lại một cảm giác về bầu không khí, cũng là sự trợ giúp lớn lao. Dù là Ai Cập hay Ấn Độ, trong văn học Thông Thiên Học của chúng ta không có viên ngọc nào quý hơn — không có quyển sách nào đền đáp tốt hơn cho sự học hỏi cẩn trọng và chi tiết nhất.

As already explained, Light on the Path was the first of three treatises which occupy an unique position in our Theosophical literature, as they give directions from Those who have trodden the Path to those who desire to tread it. I remember that the late Swami T. Subba Row once told us that its precepts had several layers of meaning—that they could be taken over and over again as directions for different stages. First, they are useful for the aspirants—those who are treading the probationary path. Then they begin all over again at a higher level for him who has entered upon the Path proper through the portal of the first of the great Initiations. And yet again, when Adeptship has been attained, it is said that once more, in some still higher sense, these same precepts may be taken as directions for one who presses onwards to still higher achievements. In this way, for the man who can understand it in the whole of its mystic meaning, this manual carries us farther than any other. These books which are definitely written for the quickening of the evolution of those who are on the Path put forward ideals which men in the world are usually not prepared to accept. Even among students there may be some who wonder at the form in which the teaching is given. The only way to understand it is to take it for granted and try to live it. In At the Feet of the Master it is said that it is not enough to say that it is poetic and beautiful; a man who wishes to succeed must do exactly what the Master says, attending to every word and taking every hint. That is equally true of this book. The man who does not try to live according to the teaching will constantly come up against points in it which will ruffle him—with which he will find himself quite out of agreement; but if he tries to live it, the sense in which it is to be taken will eventually dawn upon him. Any honest effort really to live the teaching always throws light on it, and that is the only way in which this priceless pearl can be appreciated

Như đã giải thích, Ánh sáng trên Đường Đạo là khảo luận đầu tiên trong ba khảo luận chiếm một vị trí độc đáo trong văn học Thông Thiên Học của chúng ta, vì chúng đưa ra những chỉ dẫn từ Các Đấng đã bước trên Đường Đạo cho những ai mong muốn bước trên đó. Tôi nhớ cố Swami T. Subba Row từng nói với chúng tôi rằng các huấn điều của sách có nhiều lớp ý nghĩa — rằng chúng có thể được tiếp nhận nhiều lần như những chỉ dẫn cho các giai đoạn khác nhau. Trước hết, chúng hữu ích cho những người chí nguyện — những người đang bước trên Con Đường Dự Bị. Rồi chúng lại bắt đầu lại ở một cấp độ cao hơn cho người đã bước vào Đường Đạo đúng nghĩa qua cánh cửa của lần đầu trong các cuộc Điểm Đạo vĩ đại. Và lại nữa, khi Chân sư vị đã đạt được, người ta nói rằng một lần nữa, theo một ý nghĩa còn cao hơn, cũng những huấn điều ấy có thể được nhận như những chỉ dẫn cho người tiến tới các thành tựu còn cao hơn. Theo cách này, đối với người có thể thấu hiểu toàn bộ ý nghĩa thần bí của nó, cẩm nang này đưa chúng ta đi xa hơn bất kỳ cẩm nang nào khác. Những quyển sách được viết rõ ràng để thúc nhanh sự tiến hoá của những người đang ở trên Đường Đạo nêu ra những lý tưởng mà người đời thường chưa sẵn sàng chấp nhận. Ngay cả trong số các đạo sinh cũng có thể có một số người ngạc nhiên trước hình thức giáo huấn được trao. Cách duy nhất để thấu hiểu nó là tạm chấp nhận và cố gắng sống theo nó. Trong Dưới Chân Thầy có nói rằng không đủ để nói nó thi vị và đẹp đẽ; người muốn thành công phải làm đúng y như Chân sư dạy, chú ý đến từng lời và tiếp nhận mọi gợi ý. Điều đó cũng đúng như vậy đối với quyển sách này. Người không cố gắng sống theo giáo huấn sẽ luôn gặp trong đó những điểm làm y bực bội — những điểm mà y thấy mình hoàn toàn không đồng ý; nhưng nếu y cố gắng sống theo nó, ý nghĩa mà nó phải được hiểu cuối cùng sẽ ló rạng trong y. Bất kỳ nỗ lực chân thành nào để thật sự sống giáo huấn luôn luôn soi sáng giáo huấn ấy, và đó là cách duy nhất để viên ngọc vô giá này được trân trọng.

In such books there is a great deal more meaning than the actual words convey. Therefore to a large extent each man gets’ out of them what he brings to them-he brings the power to assimilate a certain part of their message and obtains only that part. Merely to read these books, even to study them, is therefore not enough; it is necessary to meditate over them as well. If one takes the passages that sound a little difficult-the cryptic, mystical, paradoxical statements-and thinks and meditates over them, one gets a great deal more out of them, although often one can hardly express it.

Trong những quyển sách như thế có nhiều ý nghĩa hơn rất nhiều so với điều chính những lời lẽ truyền đạt. Vì vậy, ở mức độ lớn, mỗi người rút ra từ chúng điều y mang đến cho chúng — y mang đến năng lực đồng hoá một phần nào đó trong thông điệp của chúng và chỉ nhận được phần ấy. Chỉ đọc những quyển sách này, thậm chí nghiên cứu chúng, vì thế là chưa đủ; cũng cần phải tham thiền về chúng. Nếu người ta lấy những đoạn nghe có vẻ hơi khó — những phát biểu bí ẩn, thần bí, nghịch lý — rồi suy nghĩ và tham thiền về chúng, người ta rút ra từ chúng nhiều hơn rất nhiều, dù thường khi người ta hầu như không thể diễn đạt được điều ấy.

I try to express what occurs to me with regard to these different points, what they have meant to me but I am conscious all the time that I am not at all fully conveying my meaning. I know, very often, I cannot express the whole idea that is in my mind; when I put it into words it sounds quite commonplace, and yet I can see for myself a vast amount of higher meaning. I see that perhaps with my mental body. The same thing is true at each level. In addition to what we can realize with the mental body, there is still more that can be realized only with the causal body and through intuition Whatever we express, there will always be something deeper still budding and coming to flower within us. That man is only an expression of the Eternal, and that nothing that is out of the Eternal can aid us, is true, and it is the truth upon which the three writers of this book constantly insist.

Tôi cố gắng diễn đạt điều nảy sinh trong tôi liên quan đến những điểm khác nhau này, điều chúng đã có nghĩa đối với tôi, nhưng suốt thời gian tôi ý thức rằng mình hoàn toàn chưa truyền đạt đầy đủ ý nghĩa của mình. Tôi biết, rất thường khi, tôi không thể diễn đạt toàn bộ ý tưởng ở trong trí mình; khi đưa nó vào lời, nó nghe khá tầm thường, nhưng đối với chính mình, tôi có thể thấy một lượng lớn ý nghĩa cao hơn. Có lẽ tôi thấy điều đó bằng thể trí của mình. Cũng điều ấy đúng ở mỗi cấp độ. Ngoài điều chúng ta có thể nhận ra bằng thể trí, vẫn còn nhiều hơn nữa chỉ có thể được nhận ra bằng thể nguyên nhân và qua trực giác. Bất cứ điều gì chúng ta diễn đạt, sẽ luôn có điều gì đó sâu hơn nữa đang nảy mầm và nở hoa trong chúng ta. Rằng con người chỉ là một biểu hiện của vĩnh cửu, và rằng không có gì nằm ngoài vĩnh cửu có thể trợ giúp chúng ta, là điều đúng thật; và đó là chân lý mà ba tác giả của quyển sách này luôn nhấn mạnh.

CHAPTER 2 — CHAPTER 2

THE FOUR PRELIMINARY STATEMENTS — BỐN PHÁT BIỂU MỞ ĐẦU

Before the eyes can see they must be incapable of tears.

Trước khi mắt có thể thấy, chúng phải không còn khả năng rơi lệ.

A.B.—This is the first of four statements which describe the four qualifications preliminary to the Path proper. They describe true sight, true hearing, true speech and true standing in the presence of the Master, that is to say, true ability to serve mankind under His direction.

A.B.—Đây là phát biểu đầu tiên trong bốn phát biểu mô tả bốn phẩm tính sơ khởi trước Đường Đạo đúng nghĩa. Chúng mô tả thị giác chân thật, thính giác chân thật, lời nói chân thật và sự đứng vững chân thật trước hiện diện của Chân sư, nghĩa là khả năng chân thật để phụng sự nhân loại dưới sự hướng dẫn của Ngài.

This and the following three statements are intended for two classes of disciples. In the first class are those who are on the probationary path, and are therefore being taught to get rid of all that we speak of as the personality; these preliminary instructions are intended to show them that they must begin by eliminating the lower self. In the second class are those who are already initiated. Something more is demanded from them. They must get rid of their individuality, the reincarnating ego, so that at the end of the Path their life will be entirely under the direction of the Monad. We shall see therefore that each of these four statements can be taken as affecting the personality or the individuality, and according to the position of the student who is trying to live out their teaching will be the point of view from which he will understand them.

Phát biểu này và ba phát biểu theo sau dành cho hai hạng đệ tử. Trong hạng thứ nhất là những người đang ở trên Con Đường Dự Bị, và do đó đang được dạy để loại bỏ tất cả những gì chúng ta gọi là phàm ngã; những huấn thị sơ khởi này nhằm chỉ cho họ thấy rằng họ phải bắt đầu bằng việc loại bỏ phàm ngã. Trong hạng thứ hai là những người đã được điểm đạo. Từ họ đòi hỏi một điều gì hơn nữa. Họ phải loại bỏ cá thể tính của mình, chân ngã tái sinh, để ở cuối Đường Đạo, đời sống của họ sẽ hoàn toàn nằm dưới sự hướng dẫn của chân thần. Vì vậy, chúng ta sẽ thấy rằng mỗi một trong bốn phát biểu này có thể được hiểu như tác động đến phàm ngã hoặc cá thể tính, và tùy theo vị trí của đạo sinh đang cố gắng sống theo giáo huấn của chúng mà y sẽ hiểu chúng từ quan điểm nào.

It is worth while to notice and remember that these statements can be taken from two quite different points of view in another way also. These teachings come from Masters of the White Lodge, but exactly the same statements are made by those who follow the black magic of the dark side of life, whom we sometimes speak of as the Brothers of the Shadow or of Darkness. There are two ways in which the eyes may become incapable of tears, and according to his motive will be the path along which the aspirant will go. One way is that of the man who aspires to become a disciple of the dark side; he will take this statement as teaching complete indifference to pleasure and pain by means of hardening the heart and avoiding all sympathy. Anyone who tries to become incapable of tears by killing out all feeling will be going towards the dark path. The man on the other way is becoming incapable of tears only as far as his own personal sorrows are concerned. His own lower nature does not move him, but he is fully awake to the feelings of others. Only at his peril can a man become indifferent to the sufferings of others.

Đáng để lưu ý và ghi nhớ rằng các phát biểu này cũng có thể được hiểu từ hai quan điểm hoàn toàn khác theo một cách khác nữa. Những giáo huấn này đến từ các Chân sư của Huynh đệ Đoàn Chánh đạo, nhưng chính những phát biểu ấy cũng được đưa ra bởi những kẻ theo hắc thuật của mặt tối sự sống, những người đôi khi chúng ta gọi là Huynh đệ của Bóng Tối hay Hắc Ám. Có hai cách khiến mắt trở nên không còn khả năng rơi lệ, và tùy theo động cơ của y mà người chí nguyện sẽ đi theo con đường nào. Một cách là của người khao khát trở thành đệ tử của mặt tối; y sẽ hiểu phát biểu này như dạy sự điềm nhiên hoàn toàn đối với khoái lạc và đau khổ bằng cách làm chai cứng trái tim và tránh mọi cảm thông. Bất cứ ai cố gắng trở nên không còn khả năng rơi lệ bằng cách diệt trừ mọi cảm xúc sẽ đang đi về con đường hắc ám. Người trên con đường kia trở nên không còn khả năng rơi lệ chỉ trong chừng mực liên quan đến những nỗi buồn cá nhân của chính mình. Bản chất thấp của chính y không lay động y, nhưng y hoàn toàn tỉnh thức đối với cảm xúc của người khác. Chỉ với hiểm nguy cho chính mình, con người mới có thể trở nên dửng dưng trước đau khổ của người khác.

We may contrast the two ways in a table:

Chúng ta có thể đối chiếu hai con đường trong một bảng:

Dark Path

White Path

1. Shuts out all feeling of sorrow.

Increases the power of feeling until it responds to every vibration of others.

2. Puts up a wall round oneself, to shut out all sorrows.

Throws down every wall or barrier that separates and prevents one from feeling the sorrows of others.

3. Fundamentally contracts the life.

Expands the life, as one tries to pour oneself into the lives of others.

4. Leads to death, and destruction, and avichi.

Leads to life, immortality, and nirvana.

The fundamental difference between the two ways is that the first tends towards separateness all the time, and ends up in a condition of absolute isolation, while the second aims constantly at union, and ends in a state of perfect unity.

Sự khác biệt căn bản giữa hai con đường là con đường thứ nhất luôn luôn hướng về sự chia rẽ và kết thúc trong một tình trạng cô lập tuyệt đối, trong khi con đường thứ hai luôn luôn nhắm đến hợp nhất và kết thúc trong một trạng thái nhất thể hoàn hảo.

The aspirant on the white path has gradually to eliminate everything in himself which can receive from the outer world anything which he feels as pain affecting himself, anything which shakes him through his personality, any sorrow or trouble of any kind which works upon him as concerning his personal self. He must reach a point where he is incapable of feeling sorrows for his own separate interest. In fact, he is to aim at making his kamic sheath entirely a vehicle of the Higher Self, with no independent life of its own. It is to have neither attractions nor repulsions, neither desires nor wishes, neither hopes nor fears—the whole of that is to be eliminated. This should not convey the mistaken idea that the sheath is to be destroyed; but it must cease to respond on its own account to impressions from the outer world. Only the separated life must be killed out, but the sheath must be kept for use in the service of humanity.

Người chí nguyện trên chánh đạo phải dần dần loại bỏ trong chính mình mọi thứ có thể tiếp nhận từ thế giới bên ngoài bất cứ điều gì mà y cảm thấy như đau khổ tác động đến bản thân, bất cứ điều gì làm y chấn động qua phàm ngã của mình, bất cứ nỗi buồn hay phiền não nào thuộc bất kỳ loại nào tác động lên y như liên quan đến bản ngã cá nhân của y. Y phải đạt đến điểm mà y không còn khả năng cảm thấy những nỗi buồn vì lợi ích riêng rẽ của chính mình. Thật ra, y phải nhắm đến việc làm cho lớp vỏ dục vọng của mình hoàn toàn trở thành một vận cụ của Bản Ngã Cao Siêu, không có đời sống độc lập riêng. Nó không được có hấp dẫn hay xua đẩy, ham muốn hay ước vọng, hy vọng hay sợ hãi — toàn bộ điều đó phải được loại bỏ. Điều này không nên truyền đạt ý niệm sai lầm rằng lớp vỏ ấy phải bị hủy diệt; nhưng nó phải thôi đáp ứng vì chính nó với các ấn tượng từ thế giới bên ngoài. Chỉ đời sống chia rẽ mới phải bị diệt trừ, còn lớp vỏ phải được giữ lại để sử dụng trong việc phụng sự nhân loại.

This change that the disciple must make in his own character is definitely shown in the constitution of the sheath. In the ordinary disciple it is constantly changing its colours; but when it is purified and all the separate life is purged away it remains a colourless and radiant vehicle, only affected by the reflections that come from the inner life; it has then no colour of its own, but only that which is thrown upon it from the Higher Self, it resembles the appearance of the moon on water—a pearly radiance, in which there is a certain play which can hardly be called colour. This change takes place very gradually in the astral body of the disciple while he is working at the difficult task of making himself responsive to all the sorrows of his fellow-men, but more and more indifferent to all which affects himself. It would be very easy for him to kill out every feeling, but to become increasingly sensitive to the feelings of others and at the same time not to permit any personal feelings to come in, is the much more difficult task set before the aspirant. As he goes on with the work, however, he will find that his selfish emotions quietly disappear as they become converted into unselfish emotions.

Sự thay đổi mà đệ tử phải thực hiện trong tính cách của chính mình được biểu lộ rõ ràng trong cấu tạo của lớp vỏ ấy. Ở đệ tử bình thường, nó liên tục thay đổi màu sắc; nhưng khi nó được thanh lọc và mọi đời sống riêng rẽ được tẩy sạch, nó vẫn là một vận cụ không màu và rạng rỡ, chỉ bị ảnh hưởng bởi những phản chiếu đến từ đời sống bên trong; khi ấy nó không có màu sắc riêng, mà chỉ có màu được chiếu lên nó từ Bản Ngã Cao Siêu; nó giống vẻ hiện ra của mặt trăng trên nước — một ánh rạng ngời như ngọc trai, trong đó có một sự chuyển động khó có thể gọi là màu sắc. Sự thay đổi này diễn ra rất dần dần trong thể cảm dục của đệ tử trong khi y đang làm công việc khó khăn là khiến mình đáp ứng với mọi nỗi buồn của đồng loại, nhưng ngày càng điềm nhiên hơn đối với mọi điều tác động đến chính mình. Sẽ rất dễ cho y diệt trừ mọi cảm xúc, nhưng trở nên ngày càng nhạy cảm với cảm xúc của người khác, đồng thời không cho phép bất kỳ cảm xúc cá nhân nào xen vào, chính là nhiệm vụ khó hơn nhiều được đặt trước người chí nguyện. Tuy nhiên, khi y tiếp tục công việc, y sẽ thấy các xúc cảm ích kỷ của mình lặng lẽ biến mất khi chúng được chuyển hoá thành các xúc cảm không ích kỷ.

The disciple may test the quality and genuineness of his sympathy by looking to see whether or not he feels it when the suffering of others is not intruded upon his notice. If you see a person suffering, or if you come across a case of gross ill-usage, no doubt you feel pain, but do you feel the same pain when the person is not before your sight? Our sympathy is an exceedingly poor thing if it is excited only by the sight of suffering. Send a person out into a great city like London, and he may be terribly affected by the suffering that he sees around him; but take him away from it all and he will soon forget the miseries he has witnessed and will become perfectly happy. The disciple has to learn to live as if the whole of that suffering were present before him all the time; to relieve it must be the motive of his work.

Đệ tử có thể kiểm nghiệm phẩm tính và tính chân thật của sự cảm thông của mình bằng cách xem liệu y có cảm thấy nó hay không khi đau khổ của người khác không bị đặt trước sự chú ý của y. Nếu bạn thấy một người đang đau khổ, hoặc nếu bạn gặp một trường hợp bị ngược đãi thô bạo, chắc chắn bạn cảm thấy đau đớn; nhưng bạn có cảm thấy cùng nỗi đau ấy khi người đó không ở trước mắt bạn không? Sự cảm thông của chúng ta là một điều hết sức nghèo nàn nếu nó chỉ được khơi dậy bởi cảnh tượng đau khổ. Hãy đưa một người vào một thành phố lớn như London, và y có thể bị tác động khủng khiếp bởi đau khổ mà y thấy quanh mình; nhưng đưa y ra khỏi tất cả những điều ấy, và y sẽ sớm quên những khốn khổ y đã chứng kiến và trở nên hoàn toàn hạnh phúc. Đệ tử phải học sống như thể toàn bộ đau khổ ấy luôn hiện diện trước y; việc làm giảm nhẹ nó phải là động cơ công việc của y.

No one has reached the stage where he is responsive to the great cry of pain, spoken of in The Voice of the Silence?1 unless his motive in life is to help humanity whether the suffering be before his eyes or not, for that is the real motive-power of a disciple. The best way to get rid of personality, to grow indifferent to one’s own personal joys and sorrows, to become incapable of tears, is to let the mind think upon the sorrow of the world and the ways of helping it; that causes the personal self to be seen in its true place beside the larger self of the great orphan humanity.

Không ai đã đạt đến giai đoạn mà y đáp ứng với tiếng kêu đau khổ vĩ đại được nói đến trong Tiếng Nói của Im Lặng?1 trừ khi động cơ trong đời sống của y là giúp nhân loại, dù đau khổ có ở trước mắt y hay không, vì đó là động lực chân thật của một đệ tử. Cách tốt nhất để loại bỏ phàm ngã, để trở nên điềm nhiên đối với những niềm vui và nỗi buồn cá nhân của mình, để trở nên không còn khả năng rơi lệ, là để thể trí suy ngẫm về nỗi buồn của thế gian và những cách trợ giúp nó; điều đó khiến bản ngã cá nhân được thấy đúng vị trí của nó bên cạnh bản ngã rộng lớn hơn của nhân loại mồ côi vĩ đại.

When the disciple passes through Initiation and begins to develop the buddhic consciousness, this incapacity for tears takes on a new character. He then begins to understand the word evolution, to realize that in man it means the unfoldment of the higher triad; then he begins to see the real use and object of all the suffering and pain. He gradually becomes incapable of tears because he understands the value of the suffering to those who are undergoing it, because he sees that when pain comes to a man it does so as an absolute necessity for the higher development of his soul. It is true that theoretically the man might have avoided that suffering if he had acted wisely in the past, for it is the result of his past karma when it is not produced by his present follies; but the practical aspect of the matter is that the man has been foolish, has elected to learn through this kind of experience instead of through wisdom, because he has not always chosen to follow the best he knew, and now he is suffering, and the pain is bringing him wisdom for the future, and is thereby promoting his evolution.

Khi đệ tử trải qua Điểm Đạo và bắt đầu phát triển tâm thức Bồ đề, tình trạng không còn khả năng rơi lệ này mang một tính chất mới. Khi ấy y bắt đầu hiểu từ tiến hoá, nhận ra rằng nơi con người nó có nghĩa là sự khai mở của tam nguyên tinh thần cao; rồi y bắt đầu thấy công dụng và mục đích thật sự của mọi đau khổ và đớn đau. Y dần dần trở nên không còn khả năng rơi lệ vì y hiểu giá trị của đau khổ đối với những người đang trải qua nó, vì y thấy rằng khi đau đớn đến với một người, nó đến như một sự cần thiết tuyệt đối cho sự phát triển cao hơn của linh hồn y. Về lý thuyết, đúng là con người có thể đã tránh được đau khổ ấy nếu y đã hành động khôn ngoan trong quá khứ, vì đó là kết quả của nghiệp quả quá khứ của y khi nó không do những điên rồ hiện tại của y tạo ra; nhưng phương diện thực tiễn của vấn đề là con người đã dại dột, đã chọn học qua loại kinh nghiệm này thay vì qua minh triết, vì y không phải lúc nào cũng chọn theo điều tốt nhất mà y biết, và nay y đang đau khổ; nỗi đau đang đem lại cho y minh triết cho tương lai, và qua đó thúc đẩy sự tiến hoá của y.

Realizing this, the disciple reaches a condition in which he may be described as full of the most perfect sympathy but without regret. The sense of regret comes in only when the consciousness is unillumined by the buddic life. When the buddhic consciousness is felt, the disciple’s sympathy increases enormously, but his regret disappears, and as he rises higher this wider view makes him incapable of tears, because in the face of the bitterest suffering to which he is learning to respond and to feel in himself, he feels also its object and end. He can share in the suffering to the full, but without the slightest wish that it should be anything other than it is. The absence of any wish to get rid of the suffering before it has done its work, can only exist when the consciousness has buddhic illumination. That is the condition which has been described as the Christ state. The law is good and the will of the Supreme is perfect, and the suffering works for a perfect end; therefore the disciple is filled with content and satisfaction; he feels the suffering, but of grief and sorrow he feels none at all.

Khi nhận ra điều này, đệ tử đạt đến một tình trạng có thể được mô tả là đầy sự cảm thông hoàn hảo nhất nhưng không hối tiếc. Cảm thức hối tiếc chỉ xuất hiện khi tâm thức chưa được đời sống Bồ đề soi sáng. Khi tâm thức Bồ đề được cảm nhận, sự cảm thông của đệ tử tăng lên vô cùng, nhưng sự hối tiếc của y biến mất; và khi y vươn cao hơn, cái nhìn rộng lớn hơn này khiến y không còn khả năng rơi lệ, vì trước đau khổ cay đắng nhất mà y đang học cách đáp ứng và cảm thấy trong chính mình, y cũng cảm thấy mục đích và cứu cánh của nó. Y có thể chia sẻ trọn vẹn đau khổ, nhưng không có chút ước muốn nào rằng nó phải khác đi so với hiện tại. Sự vắng mặt của mọi ước muốn loại bỏ đau khổ trước khi nó hoàn tất công việc của nó chỉ có thể hiện hữu khi tâm thức có sự soi sáng Bồ đề. Đó là tình trạng đã được mô tả là trạng thái Đức Christ. Định luật là tốt lành và ý chí của Đấng Tối Cao là hoàn hảo, và đau khổ vận hành cho một cứu cánh hoàn hảo; vì vậy đệ tử tràn đầy mãn nguyện và thỏa lòng; y cảm nhận đau khổ, nhưng không cảm thấy chút buồn thương nào.

When the disciple reaches this stage his consciousness has become part of the life of the world. If he thinks of himself as “I” it is as part of that “I” in which all other “Is” also exist. Now there is for him nothing which is outside or separate from himself; he identifies himself with the one great life in whatever stage it may be, whenever it is in need of help. He entirely loses the sense, which is so common in the world, of some people being outside; he is in all and with all.

Khi đệ tử đạt đến giai đoạn này, tâm thức của y đã trở thành một phần của sự sống thế gian. Nếu y nghĩ về mình như “Tôi”, thì đó là một phần của “Tôi” trong đó mọi “Tôi” khác cũng hiện hữu. Nay đối với y không còn điều gì ở bên ngoài hay tách rời khỏi chính mình; y đồng hoá với một sự sống vĩ đại trong bất cứ giai đoạn nào của nó, bất cứ khi nào nó cần được giúp đỡ. Y hoàn toàn mất cảm thức rất phổ biến trong thế gian rằng có một số người ở bên ngoài; y ở trong tất cả và cùng với tất cả.

This realization of union makes an enormous difference to the help that the man is able to give to the world. When he is helping any person he feels his troubles as his own, not as the difficulties of another, separate from himself. He sees them exactly as that person does; therefore instead of assisting him from the outside he is helping him from within. There is a world of difference between the help given by one from the outside and that which is given from within; the former is a temporary and adventitious aid, but the inside help adds to the power of the man’s life.

Sự nhận ra hợp nhất này tạo nên một khác biệt vô cùng lớn đối với sự trợ giúp mà con người có thể trao cho thế gian. Khi y giúp bất kỳ ai, y cảm thấy những phiền não của người ấy như của chính mình, chứ không như những khó khăn của một người khác, tách rời khỏi mình. Y thấy chúng đúng như người ấy thấy; vì vậy thay vì trợ giúp y từ bên ngoài, y giúp y từ bên trong. Có cả một thế giới khác biệt giữa sự trợ giúp do một người từ bên ngoài trao và sự trợ giúp được trao từ bên trong; loại trước là sự trợ giúp tạm thời và phụ thêm, nhưng sự trợ giúp từ bên trong thêm vào quyền năng của đời sống con người ấy.

The disciple can reach this state only because he has cultivated sympathy, has learnt to identify himself with the joys and sorrows of others, has made his own life a life common to all. Without that, this loss of separateness would be unattainable. The only incapability of tears that he has to know is that which makes him indifferent to the things that touch the personal self, but leaves him keenly alive to all that affects the other souls around him.

Đệ tử chỉ có thể đạt đến trạng thái này vì y đã vun bồi sự cảm thông, đã học đồng hoá mình với niềm vui và nỗi buồn của người khác, đã làm cho đời sống của chính mình trở thành một đời sống chung cho tất cả. Không có điều đó, sự mất đi cảm thức chia rẽ này sẽ không thể đạt được. Sự không còn khả năng rơi lệ duy nhất mà y cần biết là điều khiến y điềm nhiên trước những điều chạm đến bản ngã cá nhân, nhưng vẫn để y sống động sắc bén trước mọi điều tác động đến các linh hồn khác quanh y.

C.W.L.—Our President has explained with regard to the first four statements in this book, beginning “Before the eyes can see they must be incapable of tears,” that they may be taken in quite a wrong way, and are then as acceptable to the black magician as to ourselves. He would understand them to mean that he must kill out all feeling, build himself into a shell and shut the sorrows and the troubles of the world outside it. That is exactly the opposite of the teaching given to the pupil on the white path, who is taught to increase his power of feeling until he attains perfect sympathy with the sufferings of his fellow-men.

C.W.L.—Vị Chủ tịch của chúng ta đã giải thích về bốn phát biểu đầu tiên trong quyển sách này, bắt đầu bằng câu “Trước khi mắt có thể thấy, chúng phải không còn khả năng rơi lệ,” rằng chúng có thể bị hiểu theo một cách hoàn toàn sai lầm, và khi ấy được nhà hắc thuật chấp nhận chẳng khác gì chúng ta. Y sẽ hiểu chúng có nghĩa rằng y phải diệt trừ mọi cảm xúc, xây mình thành một lớp vỏ và đóng kín những nỗi buồn cùng phiền não của thế gian ở bên ngoài. Điều đó hoàn toàn trái ngược với giáo huấn được trao cho môn sinh trên chánh đạo, người được dạy phải gia tăng năng lực cảm nhận của mình cho đến khi y đạt được sự cảm thông hoàn hảo với đau khổ của đồng loại.

We hear a good deal about the black magicians, but I fancy that few people know much about them. I have met many specimens of the genus, and can therefore claim to know something of their nature and methods. Some of them are very interesting people, but by no means desirable acquaintances. There are many different types who are classed under the general title of black magician. For instance, the negroes in South Africa and in the West Indies, and probably the aborigines of Australia, practise a good deal of petty black magic. It is a very poor thing; even they themselves admit that it does not work on white people. One has heard of certain cases in which they have succeeded in making white people exceedingly uncomfortable, but one must add that it was made possible by the kind of life those people led. Such magic depends for its success largely upon the fear of the people upon whom the incantations are laid, yet it is a real enough thing in its feeble way. These primitive people have certain drugs, they know how to hypnotize, and they have power over some low-class earth-spirits and similar entities. They contrive to cause sickness to a man, or in his family, or among his flocks and herds, or to blast his gardens and fields so that they will not bear crops; though in the latter case they are not above aiding their magic sometimes by saltpetre as well.

Chúng ta nghe nói khá nhiều về các nhà hắc thuật, nhưng tôi nghĩ rằng ít người biết nhiều về họ. Tôi đã gặp nhiều mẫu người thuộc loại này, và do đó có thể nói rằng tôi biết đôi điều về bản chất và phương pháp của họ. Một số người trong họ rất thú vị, nhưng tuyệt nhiên không phải là những người quen đáng mong muốn. Có nhiều kiểu người khác nhau được xếp dưới danh xưng chung là nhà hắc thuật. Chẳng hạn, người da đen ở Nam Phi và Tây Ấn, và có lẽ cả thổ dân Úc, thực hành khá nhiều hắc thuật vụn vặt. Đó là một thứ rất thấp kém; ngay cả chính họ cũng thừa nhận rằng nó không có tác dụng đối với người da trắng. Người ta từng nghe nói đến một vài trường hợp trong đó họ đã thành công trong việc làm cho người da trắng hết sức khó chịu, nhưng cũng phải nói thêm rằng điều đó có thể xảy ra là do lối sống mà những người ấy đã sống. Loại huyền thuật ấy thành công phần lớn nhờ vào nỗi sợ của những người bị đặt dưới các câu thần chú, tuy trong mức độ yếu ớt của nó, nó vẫn là một điều đủ thực. Những dân tộc nguyên thủy này có một số loại thuốc, họ biết cách thôi miên, và họ có quyền lực đối với một số tinh linh đất cấp thấp cùng những thực thể tương tự. Họ xoay xở để gây bệnh cho một người, hoặc trong gia đình y, hoặc giữa đàn gia súc của y, hoặc làm cho vườn tược và đồng ruộng của y bị tàn phá đến mức không sinh hoa màu; tuy trong trường hợp sau, đôi khi họ cũng không ngại trợ giúp huyền thuật của mình bằng diêm tiêu.

There is another set of people, somewhat more dignified, who are pursuing occult power for their own ends. They have learnt a certain amount of occultism—sometimes quite a good deal—but they are using their power selfishly. They often contrive to gain money and position by such means, and to maintain themselves in that position until they die. After their death they sometimes make an attempt to carry on the same general line, but it meets with indifferent success, and their plans break down; every thing sooner or later fails them and they fall back into a condition of considerable misery.2 A life such as that means quite a definite step back for the ego.

Có một nhóm người khác, có phần đường hoàng hơn, đang theo đuổi quyền năng huyền bí cho mục đích riêng của họ. Họ đã học được một mức độ nào đó về huyền bí học—đôi khi khá nhiều—nhưng họ dùng quyền năng của mình một cách ích kỷ. Họ thường xoay xở để đạt được tiền bạc và địa vị bằng những phương tiện như vậy, và giữ mình trong địa vị ấy cho đến khi chết. Sau khi chết, đôi khi họ cố gắng tiếp tục cùng một đường lối tổng quát ấy, nhưng chỉ thành công hờ hững, và các kế hoạch của họ tan vỡ; sớm hay muộn, mọi sự đều thất bại đối với họ và họ rơi trở lại vào một tình trạng khốn khổ đáng kể.2 Một đời sống như thế có nghĩa là một bước lùi rất rõ rệt đối với chân ngã.

Yet another and more advanced type of black magician does not desire anything for himself. He does not seek to obtain money or power or influence or anything of that sort, and that at once makes him very much more powerful. He leads a pure and self-controlled life, just as some of our own people might do, but he has set before himself the goal of separateness. He wants to keep himself alive on higher planes, free from absorption into the Logos; he looks with horror upon that which for us is the greatest felicity. He wishes to maintain his own position exactly as it is, and furthermore he claims that he can do it, that the human will is strong enough to withstand the cosmic will up to a certain point. I have met men like that, and our President, who is always trying to save even the most unlikely souls, has set herself once or twice to convert people who have got themselves into that condition, so as to bring them round to our way of thinking—though not with very much success, I am afraid. She sometimes says to them: “You know what the end will be. You know quite enough of the laws of nature, and you are sufficiently intelligent to see whither your path is leading you. It is quite certain that in the end you must collapse. When this manvantara ends, when this planetary chain is over you will be absorbed, whether you will or not, into the Logos at higher levels, and what will be your condition then?”

Lại có một kiểu nhà hắc thuật khác, tiến bộ hơn, không ham muốn điều gì cho bản thân. Y không tìm cách đạt được tiền bạc, quyền lực, ảnh hưởng hay bất cứ điều gì thuộc loại ấy, và chính điều đó lập tức khiến y mạnh hơn rất nhiều. Y sống một đời sống trong sạch và tự chủ, hệt như một số người của chúng ta có thể làm, nhưng y đã đặt trước mình mục tiêu của sự phân ly. Y muốn giữ cho mình sống còn trên các cõi cao, thoát khỏi sự hấp thu vào Thượng đế; y kinh hãi trước điều mà đối với chúng ta là hạnh phúc tối thượng. Y muốn duy trì địa vị riêng của mình đúng như hiện tại, và hơn nữa y tuyên bố rằng y có thể làm được điều đó, rằng ý chí con người đủ mạnh để chống lại ý chí vũ trụ đến một mức nào đó. Tôi đã gặp những người như thế, và Chủ tịch của chúng ta, người luôn cố gắng cứu vớt ngay cả những linh hồn có vẻ ít hy vọng nhất, đã một đôi lần tự mình tìm cách cải hóa những người đã đưa mình vào tình trạng ấy, để đưa họ quay về cách suy nghĩ của chúng ta—dù tôi e rằng không mấy thành công. Đôi khi bà nói với họ: “Các ông biết kết cuộc sẽ là gì. Các ông biết khá đủ về các định luật của thiên nhiên, và đủ thông minh để thấy con đường của mình đang dẫn các ông đến đâu. Hoàn toàn chắc chắn rằng cuối cùng các ông phải sụp đổ. Khi giai kỳ sinh hóa này chấm dứt, khi dãy hành tinh này kết thúc, các ông sẽ bị hấp thu, dù muốn hay không, vào Thượng đế ở các cấp độ cao hơn, và khi ấy tình trạng của các ông sẽ ra sao?”

“You do not actually know that,” they reply, “yet we admit that that appears to be what will happen. But we tell you frankly that we do not care. We are well satisfied with our present position; we are able to maintain our individuality against any effort to draw us into the Logos for a very long time, even till the end of the manvantara. Whether we can hold it after that we do not know, and we do not care. Whether we can or not, we shall have had our day.”

“Bà thật ra không biết điều đó,” họ đáp, “tuy chúng tôi thừa nhận rằng đó có vẻ là điều sẽ xảy ra. Nhưng chúng tôi nói thẳng với bà rằng chúng tôi không quan tâm. Chúng tôi hoàn toàn hài lòng với vị trí hiện tại của mình; chúng tôi có thể duy trì cá tính của mình trước bất kỳ nỗ lực nào nhằm kéo chúng tôi vào Thượng đế trong một thời gian rất dài, thậm chí cho đến cuối giai kỳ sinh hóa. Sau đó chúng tôi có giữ được hay không thì chúng tôi không biết, và chúng tôi cũng không quan tâm. Dù có thể hay không, chúng tôi cũng đã có thời của mình.”

That is an arguable position, and the man who adopts it may be not exactly a good man, but he need not be a bad man, in the ordinary sense of the word. He certainly has a great deal of satanic pride in his composition, but he is not necessarily spiteful nor evil-minded with regard to other people. Still he is absolutely unscrupulous. Anyone who happened to get in his way he would brush aside with far less consideration than we should give to a mosquito. But to a man who did not stand in his way he might be quite a good friend, and there is not necessarily any active evil in his composition. He is not at all a monster of evil, but he is a man who has struck out a line for himself, and is following it at the cost of all that to us means progress. That is all we have a right to say against him. We are confident that he will end in great disaster; he is not so sure of that, and in any case he is willing to face it.

Đó là một lập trường có thể tranh luận, và người chấp nhận nó có thể không hẳn là một người tốt, nhưng y không nhất thiết là một người xấu theo nghĩa thông thường của từ này. Chắc chắn trong cấu tạo của y có rất nhiều kiêu hãnh kiểu sa tăng, nhưng y không nhất thiết hiểm độc hay có tâm địa tà ác đối với người khác. Tuy vậy, y hoàn toàn vô lương tâm. Bất kỳ ai tình cờ cản đường y, y sẽ gạt sang một bên với sự cân nhắc còn ít hơn nhiều so với điều chúng ta dành cho một con muỗi. Nhưng đối với người không cản đường y, y có thể là một người bạn khá tốt, và trong cấu tạo của y không nhất thiết có điều ác chủ động nào. Y hoàn toàn không phải là một quái vật của sự ác, mà là một người đã vạch ra một đường lối cho riêng mình, và đang theo đuổi nó với cái giá là tất cả những gì đối với chúng ta có nghĩa là tiến bộ. Đó là tất cả những gì chúng ta có quyền nói để chống lại y. Chúng ta tin chắc rằng y sẽ kết thúc trong tai họa lớn; y không chắc như vậy, và dù sao y cũng sẵn lòng đối diện với nó.

As a rule these people are sufficient unto themselves, and they distrust and despise everybody else. That is always characteristic of anyone who is on the dark path; he is right and everybody else is wrong. He looks down on everybody else. People talk sometimes about a black brotherhood. There is no such thing. There could not be any true brotherhood among them, but they do occasionally join together in face of an imminent peril or when something threatens any of their plans. At best it is a very loose alliance, formidable only because of the tremendous power that some of them possess. It does happen now and again that? the work that some of our Masters are doing for the evolution of the world crosses their tracks, and then they become formidable enemies. They cannot touch our Masters—I think that must be very irritating to them—but they sometimes get hold of one of Their pupils, and so cause Them a little trouble or some disappointment, if we can suppose that a Master would feel disappointment.

Theo thường lệ, những người này tự đủ đối với chính mình, và họ nghi ngờ cũng như khinh miệt mọi người khác. Đó luôn là đặc tính của bất cứ ai đang ở trên con đường hắc ám; y đúng và mọi người khác đều sai. Y nhìn xuống mọi người khác. Đôi khi người ta nói về một huynh đệ đoàn hắc ám. Không có điều như thế. Không thể có tình huynh đệ thật sự giữa họ, nhưng đôi khi họ liên kết với nhau trước một hiểm nguy sắp xảy ra hoặc khi có điều gì đe dọa bất kỳ kế hoạch nào của họ. Cùng lắm đó chỉ là một liên minh rất lỏng lẻo, đáng sợ chỉ vì quyền năng ghê gớm mà một số người trong họ sở hữu. Thỉnh thoảng cũng xảy ra rằng công việc mà một số Chân sư của chúng ta đang thực hiện cho sự tiến hoá của thế giới cắt ngang đường đi của họ, và khi ấy họ trở thành những kẻ thù đáng gờm. Họ không thể chạm đến các Chân sư của chúng ta—tôi nghĩ điều đó hẳn rất khiến họ bực tức—nhưng đôi khi họ nắm được một trong các đệ tử của Các Ngài, và như vậy gây cho Các Ngài một chút phiền toái hoặc đôi chút thất vọng, nếu chúng ta có thể giả định rằng một Chân sư cảm thấy thất vọng.

The reason of all the warnings given to us to beware of these people is that we shall find them trying sometimes to mislead us. Madame Blavatsky, who knew a great deal about them and had a wholesome respect for them, rather gave the impression that they were tempting demons who exult in evil for its own sake. This would be true only of those at a lower level; the more powerful of them would consider it quite undignified to exult in anything; but their plans, which are always entirely selfish, may sometimes involve a great deal of harm to certain people. They are as calm and self-contained and as passionless as any disciple of the Master; in fact, they are more so, because they have killed out all feeling intentionally. They would not injure a man merely for the sake of doing harm, but, as I said before, in pursuit of some end of their own which his existence interferes with they would not hesitate to sweep him out of their way. Those whose work it is to assist people astrally sometimes come across their victims, and in that case the man who tries to help often brings down upon himself also the determined opposition of the black magician.

Lý do của tất cả những lời cảnh báo được trao cho chúng ta để đề phòng những người này là đôi khi chúng ta sẽ thấy họ cố gắng dẫn lạc chúng ta. Bà Blavatsky, người biết rất nhiều về họ và có một sự kính nể lành mạnh đối với họ, phần nào tạo ấn tượng rằng họ là những ác quỷ cám dỗ, hả hê trong sự ác vì chính sự ác. Điều này chỉ đúng với những người ở cấp độ thấp hơn; những kẻ mạnh hơn trong họ sẽ xem việc hả hê về bất cứ điều gì là hoàn toàn thiếu phẩm cách; nhưng các kế hoạch của họ, vốn luôn hoàn toàn ích kỷ, đôi khi có thể bao hàm rất nhiều tổn hại cho một số người. Họ bình thản, tự chủ và vô cảm như bất kỳ đệ tử nào của Chân sư; thật ra, họ còn hơn thế, vì họ đã cố ý giết chết mọi cảm xúc. Họ sẽ không làm hại một người chỉ vì muốn gây hại, nhưng, như tôi đã nói trước đây, khi theo đuổi một mục đích riêng nào đó mà sự tồn tại của người ấy cản trở, họ sẽ không ngần ngại quét y ra khỏi đường đi của họ. Những người có công việc trợ giúp người khác trên cõi cảm dục đôi khi gặp các nạn nhân của họ, và trong trường hợp ấy, người cố gắng giúp đỡ thường cũng kéo xuống trên chính mình sự chống đối quyết liệt của nhà hắc thuật.

To return to our main topic. It is very difficult to learn to respond to feelings, and yet not permit one’s personality to show itself in any way—to be in perfect sympathy with the feelings of others, and yet have none our own. Many people are very much disturbed by the sight of the suffering of others, but if they do not actually see that suffering they forget it. Many of the richer people in a city like London, for example, when taken to see the terrible misery in the slums, are very much affected, and will at once do all they can to relieve the particular cases that they see; yet the same people will go off to their hunting and fishing and pleasure, and absolutely forget that there is any misery. In that case the sorrow is only partly for the other person’s suffering; it is largely merely the personal pain of having that suffering intruded on their notice. That kind of sympathy is a poor thing—it is not real sympathy at all.

Trở lại chủ đề chính của chúng ta. Rất khó học cách đáp ứng với các cảm xúc, nhưng lại không cho phép phàm ngã của mình tự biểu lộ theo bất cứ cách nào—hoàn toàn đồng cảm với cảm xúc của người khác, nhưng lại không có cảm xúc riêng của chính mình. Nhiều người bị khuấy động rất mạnh khi thấy sự đau khổ của người khác, nhưng nếu họ không thật sự thấy sự đau khổ ấy thì họ quên nó. Chẳng hạn, nhiều người giàu trong một thành phố như Luân Đôn, khi được đưa đi xem cảnh khốn khổ khủng khiếp trong các khu ổ chuột, thì bị xúc động rất mạnh, và lập tức làm tất cả những gì họ có thể để giảm nhẹ những trường hợp đặc biệt mà họ thấy; thế nhưng chính những người ấy lại đi săn bắn, câu cá và vui thú, và hoàn toàn quên rằng có bất kỳ sự khốn khổ nào. Trong trường hợp ấy, nỗi buồn chỉ một phần là vì sự đau khổ của người khác; phần lớn chỉ là nỗi đau cá nhân do sự đau khổ ấy bị áp đặt vào sự chú ý của họ. Loại cảm thông ấy là một điều nghèo nàn—hoàn toàn không phải là sự cảm thông thật sự.

When we fully realize the suffering of humanity we gradually lose sight of our own. We forget that we have Personal sufferings because we see that the sufferings of humanity are so great, and we realize that that which falls to our lot is after all only our part of the general burden. A man who can get into that state of mind has already very largely transcended his personality. He sorrows still for humanity, but no longer for himself; he has become incapable of tears as far as his own personal joys and sorrows are concerned.

Khi chúng ta chứng nghiệm đầy đủ sự đau khổ của nhân loại, chúng ta dần dần không còn thấy sự đau khổ của chính mình. Chúng ta quên rằng mình có những đau khổ cá nhân vì chúng ta thấy rằng những đau khổ của nhân loại quá lớn, và chúng ta nhận ra rằng điều rơi vào phần chúng ta rốt cuộc chỉ là phần của chúng ta trong gánh nặng chung. Một người có thể đi vào trạng thái trí tuệ ấy đã vượt qua phàm ngã của mình đến một mức rất lớn. Y vẫn đau buồn cho nhân loại, nhưng không còn cho chính mình; y đã trở nên không còn khả năng rơi lệ đối với những niềm vui và nỗi buồn cá nhân của chính mình.

It is not an easy matter to regard the sufferings of others accurately. The President and I some years ago investigated the question of the influence of pain upon different people undergoing what from the outside would be regarded as the same physical suffering. We found that in an extreme case one person was suffering perhaps a thousand times more than another, and that in ordinary life one might quite often feel pain a hundred times more than another. If one.shows signs of suffering and another does not, it must not be assumed that the latter is necessarily braver or more philosophic. It may not be the case. We looked into the question of the amount of suffering which was inflicted on different people by the ignominies of prison life; to some persons they meant practically nothing, to others the most intense mental and emotional suffering. So it is futile to say: “I do not feel such and such a thing, and therefore other persons ought not to feel it either.” One does not know to what degree or in what proportion others are feeling. I have found that many things which do not matter in the least to me may nevertheless cause serious pain to others; whereas it has been quite the reverse as regards other things, such as unpleasant sounds, for example which often cause acute suffering to those who are developing their finer senses. I have seen our President in a condition of positive agony when a great ammunition wagon went clanging by the house where we were staying in Avenue Road, in London. This does not mean, of course, that she lost control of her nerves. She has often explained that while the disciple must increase his sensitiveness he must also control his nervous system, so as to bear without flinching whatever pain or disturbance may come to him.3

Không dễ gì nhìn nhận chính xác những đau khổ của người khác. Cách đây vài năm, Chủ tịch và tôi đã khảo sát vấn đề ảnh hưởng của đau đớn đối với những người khác nhau đang trải qua điều mà từ bên ngoài sẽ được xem là cùng một đau khổ hồng trần. Chúng tôi thấy rằng trong một trường hợp cực đoan, một người có thể chịu đau khổ nhiều hơn người khác có lẽ đến một ngàn lần, và trong đời sống thông thường, một người có thể khá thường xuyên cảm thấy đau đớn gấp một trăm lần người khác. Nếu một người biểu lộ dấu hiệu đau khổ còn người khác thì không, không được giả định rằng người sau nhất thiết dũng cảm hơn hoặc triết lý hơn. Có thể không phải như vậy. Chúng tôi xem xét vấn đề mức độ đau khổ mà những sự nhục nhã của đời sống nhà tù gây ra cho những người khác nhau; đối với một số người, chúng hầu như chẳng có nghĩa gì, đối với những người khác lại là đau khổ trí tuệ và cảm xúc mãnh liệt nhất. Vì vậy, thật vô ích khi nói: “Tôi không cảm thấy điều này điều kia, và do đó người khác cũng không nên cảm thấy như vậy.” Người ta không biết người khác đang cảm nhận đến mức độ nào hoặc theo tỉ lệ nào. Tôi đã thấy rằng nhiều điều chẳng mảy may quan trọng đối với tôi vẫn có thể gây đau đớn nghiêm trọng cho người khác; trong khi đối với những điều khác, chẳng hạn như những âm thanh khó chịu, thì hoàn toàn ngược lại, chúng thường gây đau khổ sắc bén cho những người đang phát triển các giác quan tinh tế hơn. Tôi đã thấy Chủ tịch của chúng ta trong tình trạng đau đớn thật sự khi một xe đạn dược lớn kêu loảng xoảng đi ngang qua ngôi nhà nơi chúng tôi đang ở trên Avenue Road, Luân Đôn. Dĩ nhiên, điều này không có nghĩa là bà mất kiểm soát thần kinh. Bà thường giải thích rằng trong khi đệ tử phải tăng sự nhạy cảm của mình, y cũng phải kiểm soát hệ thần kinh của mình, để có thể chịu đựng mà không nao núng bất kỳ đau đớn hay xáo trộn nào có thể đến với y.3

Before the ear can hear it must have lost its sensitiveness.

Trước khi tai có thể nghe, nó phải mất sự nhạy cảm của mình.

A.B.—The disciple must become entirely indifferent to the opinions of others about himself, as far as his own feelings are concerned. If they think and speak well of him he is not to be elated; if ill, he is not to be depressed. Yet at the same time he must not be indifferent to the opinions of others as they affect the people who hold them. He is not, therefore, to be careless with regard to the impressions which he makes upon others, for if he repels them by his conduct he loses his power to help them.

A.B.—Đệ tử phải trở nên hoàn toàn điềm nhiên đối với ý kiến của người khác về chính mình, xét theo cảm xúc riêng của y. Nếu họ nghĩ và nói tốt về y, y không được phấn khởi; nếu xấu, y không được chán nản. Tuy vậy, đồng thời y không được điềm nhiên đối với ý kiến của người khác khi chúng ảnh hưởng đến chính những người nắm giữ chúng. Do đó, y không được bất cẩn đối với những ấn tượng mà y tạo ra nơi người khác, vì nếu y đẩy họ ra xa bằng cách cư xử của mình, y mất quyền năng giúp đỡ họ.

The disciple, in the course of his progress, develops his psychic powers, and so becomes conscious of what others are thinking about him; he is then living in a world in which he may hear everything said about him, and may see every criticism in the mind of another. He reaches this point when he has risen above all criticism, and is not affected by the opinions of others. Some people are very anxious to develop clairvoyance before they have reached this stage, but if they realized this fact the astral consciousness which they so much desire would lose its attraction.

Trong tiến trình tiến bộ của mình, đệ tử phát triển các quyền năng thông linh, và do đó trở nên có ý thức về điều người khác đang nghĩ về y; khi ấy y đang sống trong một thế giới trong đó y có thể nghe mọi điều được nói về mình, và có thể thấy mọi lời phê phán trong trí của người khác. Y đạt đến điểm này khi y đã vượt lên trên mọi phê phán, và không bị ảnh hưởng bởi ý kiến của người khác. Một số người rất nóng lòng phát triển thông nhãn trước khi họ đạt đến giai đoạn này, nhưng nếu họ nhận ra sự thật này, tâm thức cảm dục mà họ quá ham muốn sẽ mất sức hấp dẫn của nó.

C.W.L.—It must not be thought that the developed person who hears uncomplimentary remarks about himself and is profoundly indifferent to them deliberately nerves himself against the feeling of irritation, and says: “That is all very dreadful, but I refuse to care; I will not pay any attention to it.” He passes, no doubt through a stage like that, but very soon he reaches a’ state where he absolutely and utterly does not care when it is just like the twittering of birds, or like the’ cicadas whistling in the trees—they may be a nuisance but that is all. He does not pick out one particular cicada and listen to its tone alone, nor does he single out the thought or the word of any one person who is saying something silly.

C.W.L.—Không nên nghĩ rằng người đã phát triển, khi nghe những lời nhận xét không khen ngợi về mình và hoàn toàn điềm nhiên trước chúng, lại cố ý làm căng thần kinh để chống lại cảm giác bực tức, và nói: “Tất cả điều đó thật đáng sợ, nhưng tôi từ chối quan tâm; tôi sẽ không chú ý đến nó.” Chắc chắn y trải qua một giai đoạn như vậy, nhưng rất nhanh y đạt đến một trạng thái trong đó y hoàn toàn và tuyệt đối không quan tâm, khi điều ấy chỉ giống như tiếng chim líu lo, hoặc như tiếng ve rít trong cây—chúng có thể là một sự phiền nhiễu, nhưng chỉ thế thôi. Y không chọn ra một con ve riêng biệt nào để chỉ nghe âm điệu của nó, cũng không tách riêng tư tưởng hay lời nói của bất kỳ người nào đang nói điều gì ngớ ngẩn.

We must all try to reach that stage. We are constantly putting,t before people, because it is the attitude of our Masters into whose “world we are trying to go. They may very properly think: “How can we hope to attain to the attitude of these Great Ones?” Of course, no one can do it immediately, but we ought to be aiming at it and trying to get as near to it as we can, and one of the ways of doing that—a method which is really quite easy—is just not to mind in the least what other people say.

Tất cả chúng ta phải cố gắng đạt đến giai đoạn ấy. Chúng ta liên tục đặt điều đó trước mọi người, vì đó là thái độ của các Chân sư của chúng ta, vào “thế giới của Các Ngài mà chúng ta đang cố gắng đi vào. Họ có thể rất đúng khi nghĩ: “Làm sao chúng ta có thể hy vọng đạt đến thái độ của Các Đấng Cao Cả này?” Dĩ nhiên, không ai có thể làm điều đó ngay lập tức, nhưng chúng ta phải nhắm đến nó và cố gắng đến gần nó hết mức có thể, và một trong những cách để làm điều đó—một phương pháp thật sự khá dễ—chỉ là hoàn toàn không bận tâm đến điều người khác nói.

When we have reached that attitude the next step is to think of the bad karma these people are making in thinking or speaking wrongly about us. We may then regret it for their sake, and for that reason it is well that we should endeavour not to give more cause than we can help for foolish and depreciatory remarks—not in the least because they matter to us, but because they make bad karma for the people who indulge in them.

Khi chúng ta đã đạt đến thái độ ấy, bước kế tiếp là nghĩ đến nghiệp quả xấu mà những người này đang tạo ra khi nghĩ hoặc nói sai về chúng ta. Khi ấy chúng ta có thể tiếc cho họ, và vì lý do đó, điều tốt là chúng ta nên cố gắng không tạo ra nhiều nguyên nhân hơn mức không thể tránh cho những lời nhận xét ngu xuẩn và hạ thấp—không phải vì chúng có chút quan trọng nào đối với chúng ta, mà vì chúng tạo nghiệp quả xấu cho những người buông mình theo chúng.

Before the voice can speak in the presence of the Masters it must have lost the power to wound.

Trước khi tiếng nói có thể cất lên trong sự hiện diện của các Chân sư, nó phải mất quyền năng gây tổn thương.

A.B.—The disciple must lose everything in himself which can give pain to another. In the earlier stages he has to learn to eliminate from his speech all that can give pain—not merely harsh criticism or unkind language, but every form of word that hurts another by implying disparagement or drawing attention to a fault in his character. It is true that some people are in a position in which it is their duty sometimes to point out his fault to another; but it is a mistaken view that he is justified in inflicting pain while doing so. When the fault is pointed out in a perfectly friendly manner, the element of wounding is not present. Whenever the speech wounds it is due to some imperfection in carrying out the duty; the would-be helper has failed to identify himself with the person addressed; he is giving advice only from the outside, and therefore it hurts. If he had unified himself with the other person, and tried to help at the same time feeling as he feels, he would have brought out the other person’s emotion in a sympathetic way; through the consciousness of his sympathy the other would have had his nobler and wider side awakened, and then the advice would not have been wounding. If it is your duty to criticize another and you find that it wounds him, look into yourself to find the imperfection that caused the wound. If we are to lose the power to wound, the separate individuality must go; when we feel ourselves as one life, it becomes impossible for us to inflict suffering upon anything, as it is part of ourselves. The way to reach that point of evolution is to begin by gradually purifying the speech, taking the more salient faults first.

A.B.—Đệ tử phải mất đi mọi điều trong chính mình có thể gây đau đớn cho người khác. Trong những giai đoạn đầu, y phải học loại bỏ khỏi lời nói của mình tất cả những gì có thể gây đau đớn—không chỉ sự phê phán gay gắt hay ngôn ngữ thiếu nhân ái, mà mọi hình thức lời nói làm tổn thương người khác bằng cách hàm ý hạ thấp hoặc kéo sự chú ý đến một khuyết điểm trong tính cách của y. Đúng là một số người ở vào vị trí trong đó đôi khi bổn phận của họ là chỉ ra lỗi lầm của người khác; nhưng cho rằng y có lý khi gây đau đớn trong khi làm như vậy là một quan điểm sai lầm. Khi lỗi lầm được chỉ ra một cách hoàn toàn thân thiện, yếu tố gây thương tổn không hiện diện. Bất cứ khi nào lời nói gây thương tổn, đó là do một sự bất toàn nào đó trong việc thực hiện bổn phận; người muốn giúp đỡ đã không đồng hoá với người được nói đến; y chỉ đưa lời khuyên từ bên ngoài, và do đó nó gây đau. Nếu y đã hợp nhất chính mình với người kia, và cố gắng giúp đỡ đồng thời cảm nhận như người ấy cảm nhận, y hẳn đã làm phát lộ cảm xúc của người kia theo một cách cảm thông; qua tâm thức về sự cảm thông của y, người kia hẳn đã được đánh thức phương diện cao quý hơn và rộng lớn hơn của mình, và khi ấy lời khuyên sẽ không gây thương tổn. Nếu bổn phận của bạn là phê phán người khác và bạn thấy rằng điều đó làm y tổn thương, hãy nhìn vào chính mình để tìm sự bất toàn đã gây nên vết thương ấy. Nếu chúng ta phải mất quyền năng gây tổn thương, cá tính phân ly phải ra đi; khi chúng ta cảm thấy mình là một sự sống duy nhất, chúng ta không thể gây đau khổ cho bất cứ điều gì, vì nó là một phần của chính chúng ta. Cách đạt đến điểm tiến hoá ấy là bắt đầu bằng việc dần dần thanh lọc lời nói, trước hết xử lý những lỗi nổi bật hơn.

C.W.L.—Anyone who wishes to approach the Master must already have given up the desire to wound others by his speech. But there is still the possibility of wounding unintentionally and unconsciously, on account of want of sensitiveness. As we go further and raise our consciousness to a higher level we shall more and more understand how things strike others. Those who have been practising meditation for many years will notice that they have become more sensitive, have made a certain amount of progress towards unity, and therefore they understand the people about them just a little better than those who have not made such an effort. We hear someone make what we think an unfortunate remark, in all good faith and without noticing that there is anything wrong with it and that they have wounded somebody. We who have sharpened our senses just a little by thought and study and the endeavour to live the higher life feel instinctively how the third person will take that remark. We can see that it is an unfortunate one, and wish it had been put in some other form.

C.W.L.—Bất cứ ai muốn đến gần Chân sư hẳn đã từ bỏ dục vọng làm tổn thương người khác bằng lời nói của mình. Nhưng vẫn còn khả năng gây tổn thương một cách vô ý và vô thức, do thiếu sự nhạy cảm. Khi chúng ta tiến xa hơn và nâng tâm thức của mình lên một cấp độ cao hơn, chúng ta sẽ ngày càng thấu hiểu cách mọi điều tác động đến người khác. Những ai đã thực hành tham thiền trong nhiều năm sẽ nhận thấy rằng họ đã trở nên nhạy cảm hơn, đã tiến một mức nào đó về phía sự hợp nhất, và do đó họ thấu hiểu những người quanh mình tốt hơn một chút so với những người không nỗ lực như vậy. Chúng ta nghe ai đó nói một lời mà chúng ta cho là không may, với tất cả thiện chí và không nhận ra rằng có điều gì sai trong đó, cũng không nhận ra rằng họ đã làm tổn thương ai đó. Chúng ta, những người đã làm sắc bén các giác quan của mình đôi chút bằng tư tưởng, học hỏi và nỗ lực sống đời sống cao thượng hơn, cảm thấy một cách bản năng người thứ ba sẽ tiếp nhận lời ấy như thế nào. Chúng ta có thể thấy rằng đó là một lời không may, và ước gì nó đã được diễn đạt dưới một hình thức khác.

A Master could not possibly say anything that would hurt another. He might find it necessary to give something in the nature of a rebuke; but He would manage to put it in such a way that the man would not be wounded by what He said. Sometimes a disciple finds it in the line of his duty to act sternly, and he is tempted, through his own feeling of sympathy, to avoid the task. But if the Higher Self asserts its dominance he will, if it is absolutely necessary) speak sternly, but also calmly and judicially, and without indignation.

Một Chân sư không thể nào nói điều gì làm tổn thương người khác. Ngài có thể thấy cần thiết phải đưa ra điều gì đó có tính chất khiển trách; nhưng Ngài sẽ xoay xở diễn đạt nó theo cách khiến người ấy không bị thương tổn bởi điều Ngài nói. Đôi khi một đệ tử thấy rằng theo đường lối bổn phận của mình, y phải hành động nghiêm khắc, và y bị cám dỗ, do cảm giác cảm thông của chính mình, tránh né nhiệm vụ ấy. Nhưng nếu Bản Ngã Cao Siêu khẳng định sự thống trị của nó, y sẽ, nếu điều đó tuyệt đối cần thiết, nói nghiêm khắc, nhưng cũng bình tĩnh và công minh, không phẫn nộ.

Before the soul can stand in the presence of the Masters its feet must be washed in the blood of the heart.

Trước khi linh hồn có thể đứng trong sự hiện diện của các Chân sư, đôi chân của nó phải được rửa trong máu của trái tim.

A.B.—This sentence has behind it a very long occult tradition, which has been given out to the world in many ways. It has to do with the teaching of sacrifice, which still appears in different religions in various forms, though they have generally lost its true meaning. The expression used here is connected with what is sometimes called the blood-sacrifice and the blood-covenant, of which the strangest traces are to be found among the tribes which are descended from very ancient races.

A.B.—Câu này có đằng sau nó một truyền thống huyền bí rất lâu đời, đã được trao ra cho thế giới bằng nhiều cách. Nó liên quan đến giáo lý về sự hi sinh, điều vẫn xuất hiện trong các tôn giáo khác nhau dưới nhiều hình thức, dù nói chung họ đã mất ý nghĩa thật sự của nó. Cách diễn đạt được dùng ở đây liên hệ với điều đôi khi được gọi là hi sinh bằng máu và giao ước bằng máu, những dấu vết kỳ lạ nhất của nó được tìm thấy giữa các bộ lạc có nguồn gốc từ những giống dân rất cổ xưa.

In looking up past lives we came across an incident which may be told to illustrate the idea behind the blood-sacrifice and covenant. Very long ago He who is now the Master Morya was a great king; he had an only son who was H.P.B., who as a boy was placed in charge of the captain of the guard, who was Colonel Olcott. One day, when the boy was alone with the captain, some conspirators who had plotted to slay him rushed in and would have killed him, but the captain threw himself in between and saved the boy at the cost of his own life. The youth was only stunned, but the captain lay upon him dying, and as the blood poured from his death-wound he touched it with his finger and placed it on the feet of the king. The king asked: “What can I do for you who have given your life for me and my son?” The dying captain replied: “Grant that your son and I may serve you in other lives for ever.” Then the monarch said: For the blood which has been shed for me and mine, the bond between us shall never be broken.” In the course of time the king became a Master, and the bond between them remained and ripened into that between Master and disciple, and it will remain for ever unbroken. In sacrificing the life of the body the captain made a tie which gave him the true life which the disciple gains from the Master.

Khi tra cứu các kiếp quá khứ, chúng tôi gặp một biến cố có thể được kể lại để minh họa ý tưởng đằng sau sự hi sinh và giao ước bằng máu. Rất lâu về trước, Ngài hiện nay là Chân sư Morya là một vị vua vĩ đại; Ngài có một người con trai duy nhất là H.P.B., khi còn là một cậu bé được giao cho viên đại úy cận vệ trông nom, người ấy là Đại tá Olcott. Một ngày nọ, khi cậu bé ở một mình với viên đại úy, một số kẻ âm mưu đã mưu toan giết cậu xông vào và lẽ ra đã giết cậu, nhưng viên đại úy lao mình vào giữa và cứu cậu bé bằng cái giá của chính mạng sống mình. Thiếu niên ấy chỉ bị choáng, nhưng viên đại úy nằm trên người cậu, đang hấp hối, và khi máu tuôn ra từ vết thương chí mạng, ông chạm ngón tay vào máu ấy và đặt lên chân nhà vua. Nhà vua hỏi: “Ta có thể làm gì cho ngươi, người đã hiến mạng sống của mình cho ta và con trai ta?” Viên đại úy đang hấp hối đáp: “Xin ban cho con và con trai của Ngài được phụng sự Ngài trong các kiếp khác mãi mãi.” Khi ấy vị quân vương nói: “Vì máu đã đổ ra cho ta và của ta, mối liên kết giữa chúng ta sẽ không bao giờ bị phá vỡ.” Theo thời gian, nhà vua trở thành một Chân sư, và mối liên kết giữa họ vẫn còn và chín muồi thành mối liên hệ giữa Chân sư và đệ tử, và nó sẽ mãi mãi không bị phá vỡ. Khi hi sinh sự sống của thể xác, viên đại úy đã tạo một mối dây đem lại cho ông sự sống chân thật mà đệ tử nhận được từ Chân sư.

I mention the story because it illustrates a great truth; just in proportion as we are strong enough to sacrifice whatever to us is the life, to pour out the life-blood of the lower at the feet of the higher, is the life really gained, not lost. All evolution of young humanity is made by the voluntary sacrifice of the lower life to the higher; when that sacrifice is completely made, it is found that life instead of being lost is made immortal. The outer sign of the sacrifice helped persons to understand the principle more readily, and drew attention to the fundamental truth that it is only when the lower life is sacrificed to the higher that it finds its own true fulfilment of evolution. On that truth the sacrifices which are found in many religions were originally based; that is how what is called the blood-bond is really made. The lower life is sacrificed for the higher life, and the higher accepts the lower and lifts it up by the bond that is never broken.

Tôi nhắc đến câu chuyện này vì nó minh họa một chân lý lớn; đúng theo mức độ chúng ta đủ mạnh để hi sinh bất cứ điều gì đối với chúng ta là sự sống, để tuôn đổ máu-sự sống của cái thấp dưới chân cái cao, thì sự sống thật sự được đạt lấy, chứ không mất đi. Toàn bộ sự tiến hoá của nhân loại trẻ tuổi được thực hiện bằng sự hi sinh tự nguyện của sự sống thấp cho sự sống cao; khi sự hi sinh ấy được thực hiện trọn vẹn, người ta thấy rằng sự sống, thay vì bị mất, lại trở nên bất tử. Dấu hiệu bên ngoài của sự hi sinh giúp con người thấu hiểu nguyên lý dễ dàng hơn, và lôi kéo sự chú ý đến chân lý nền tảng rằng chỉ khi sự sống thấp được hi sinh cho sự sống cao thì nó mới tìm thấy sự hoàn thành tiến hoá thật sự của chính mình. Trên chân lý ấy, các sự hi sinh được tìm thấy trong nhiều tôn giáo nguyên thủy đã được đặt nền; đó là cách điều được gọi là mối dây bằng máu thật sự được tạo nên. Sự sống thấp được hi sinh cho sự sống cao, và sự sống cao chấp nhận sự sống thấp và nâng nó lên bằng mối dây không bao giờ bị phá vỡ.

The disciple must wash his feet in the blood of the heart. He must make a complete offering of everything, that he loves and values, of what seems to him his very life; but he loses this only to find his higher life. It is not usually an actual shedding of blood that is required, though that does become necessary sometimes; it is symbolically the shedding of blood always so far as the pupil is concerned at the time, because he feels the loss. He does literally sacrifice what to him amounts to life, and it looks as though he were giving it up completely, without any future possibility of regaining it. The great testing of the completeness of the disciple’s sacrifice is made in order to discover whether the soul is strong enough to throw itself voluntarily into nothingness, to draw out the heart’s blood completely, without any hope of reward. If the disciple is not strong enough to do that he is not ready to stand in the presence of the Master. But if he can completely throw away everything that he knows as his life, then all the testimony of the past and the truth of the law declare that he will find that life again in a life stronger and higher than that which be laid down. It is only when that sacrifice is made that the disciple finds himself in the higher life, standing in the presence of the Masters. Then the degree of his strength is the extent of his power to make the sacrifice without feeling it.

Đệ tử phải rửa chân mình trong máu của trái tim. Y phải dâng hiến trọn vẹn mọi điều y yêu thương và quý trọng, những gì đối với y dường như là chính sự sống của mình; nhưng y mất điều này chỉ để tìm thấy sự sống cao hơn của mình. Thường thì điều được đòi hỏi không phải là sự đổ máu thật sự, dù đôi khi điều đó trở nên cần thiết; về mặt biểu tượng, đối với môn sinh lúc ấy, đó luôn là sự đổ máu, vì y cảm thấy sự mất mát. Y thật sự hi sinh điều đối với y tương đương với sự sống, và dường như y đang từ bỏ nó hoàn toàn, không có bất kỳ khả năng tương lai nào để lấy lại. Sự thử thách lớn về tính trọn vẹn của sự hi sinh nơi đệ tử được thực hiện để khám phá xem linh hồn có đủ mạnh để tự nguyện ném mình vào hư vô, rút cạn máu của trái tim, mà không có bất kỳ hy vọng phần thưởng nào hay không. Nếu đệ tử không đủ mạnh để làm điều đó, y chưa sẵn sàng đứng trong sự hiện diện của Chân sư. Nhưng nếu y có thể hoàn toàn ném bỏ mọi điều mà y biết như sự sống của mình, thì toàn bộ chứng tích của quá khứ và chân lý của định luật tuyên bố rằng y sẽ tìm lại sự sống ấy trong một sự sống mạnh hơn và cao hơn sự sống mà y đã đặt xuống. Chỉ khi sự hi sinh ấy được thực hiện, đệ tử mới tìm thấy chính mình trong sự sống cao hơn, đứng trong sự hiện diện của các Chân sư. Khi ấy mức độ sức mạnh của y chính là mức độ quyền năng hi sinh mà không cảm thấy nó.

C.W.L.—The meaning of this sentence is that the man who wishes to stand in the presence of the Masters must have sacrificed the lower self to the higher. The feet of the soul, the personality on earth, must be washed in the heart’s blood of the emotions before the higher life can be gained.

C.W.L.—Ý nghĩa của câu này là người muốn đứng trong sự hiện diện của các Chân sư phải hi sinh phàm ngã cho cái cao hơn. Đôi chân của linh hồn, tức phàm ngã trên Trái Đất, phải được rửa trong máu của trái tim của các cảm xúc trước khi sự sống cao hơn có thể đạt được.

That is a general law of life. The little child takes great pleasure in playing with its toys; soon it grows up into boyhood, and the lower playthings have been outgrown and put aside, in order that proficiency may be gained in the higher kind of sports. When the youth goes to college he will many a time perhaps give up a game in the fresh air, which he would very much prefer, in order to work at his books. At other times he will put aside something he would very much like to read, in order to slave at Greek verbs or other apparently uninteresting and not very useful studies. If he goes into training for a race, or for rowing, he has to sacrifice the enjoyment of good dinners, and live in a frugal and rigid way until the race is over.

Đó là một định luật chung của đời sống. Đứa trẻ nhỏ rất vui thích khi chơi với đồ chơi của nó; chẳng bao lâu nó lớn lên thành thiếu niên, và những đồ chơi thấp hơn đã bị vượt qua và đặt sang một bên, để đạt sự thành thạo trong loại thể thao cao hơn. Khi thanh niên vào đại học, nhiều lần có lẽ y sẽ từ bỏ một trò chơi ngoài trời trong lành mà y rất thích, để làm việc với sách vở. Những lúc khác, y sẽ đặt sang một bên điều gì đó y rất muốn đọc, để miệt mài với các động từ Hy Lạp hoặc những môn học có vẻ không thú vị và không mấy hữu ích khác. Nếu y bước vào luyện tập cho một cuộc đua, hoặc cho môn chèo thuyền, y phải hi sinh niềm vui của những bữa ăn ngon, và sống một cách đạm bạc, nghiêm ngặt cho đến khi cuộc đua kết thúc.

On the occult path many pleasures connected with the outer world are seen to be a waste of time. There may be cases when it is a real effort to part with them, when there is a call from the higher life, and the aspirant responds to that call at a certain amount of cost to the lower nature. Then he must cast aside the lower in order to have the higher; but later on the attraction of the lower will have disappeared entirely. When a mart once fully realizes the higher, the lower simply ceases to exist for him, but in many cases he has to cast aside the lower before he really enters into the glory and the joy and the beauty of the spiritual life.

Trên con đường huyền bí, nhiều thú vui liên hệ với thế giới bên ngoài được thấy là sự lãng phí thời gian. Có thể có những trường hợp trong đó việc rời bỏ chúng là một nỗ lực thật sự, khi có tiếng gọi từ sự sống cao hơn, và người chí nguyện đáp ứng tiếng gọi ấy với một mức giá nào đó đối với bản chất thấp. Khi ấy y phải ném bỏ cái thấp để có cái cao; nhưng về sau sức hấp dẫn của cái thấp sẽ hoàn toàn biến mất. Khi một người một lần đã chứng nghiệm đầy đủ cái cao, cái thấp đơn giản không còn tồn tại đối với y, nhưng trong nhiều trường hợp y phải ném bỏ cái thấp trước khi thật sự bước vào vinh quang, sự hoan hỉ và vẻ đẹp của đời sống tinh thần.

I have known many whose opportunities were good but who shrank back just at that point, and failed because they were not ready to give up all that they had previously enjoyed, and apparently receive nothing in return for it. Sometimes a man is afraid to let go of one thing until he can grasp the other, and so he holds fast to the lower; but it does not satisfy him, because he has glimpsed the higher. To give up everything at the Master’s call—one wonders whether one could do it; one always thought and hoped that one would, but when it comes to the point can you do it fully and cheerfully? Many have worked for years and years, and wonder why they do not attain, why they are not among those whom the Master is able to draw very close to Himself. The reason is always the same; it is the personality in some form that keeps them back. This giving up of everything is not a thing to be done with constant backsliding—giving up one day, and grasping and trying to keep the next—nor is it to be done with pride, with the pose: “I have given up everything.” That is quite the wrong attitude; it should be done as a matter of course, and cheerfully. The person who is going to succeed will feel that there is nothing else for him to do but to make the great renunciation when the moment comes.

Tôi đã biết nhiều người có cơ hội tốt nhưng lại lùi lại đúng ở điểm ấy, và thất bại vì họ chưa sẵn sàng từ bỏ tất cả những gì trước kia họ đã vui hưởng, và dường như không nhận được gì để đổi lại. Đôi khi một người sợ buông một điều trước khi y có thể nắm lấy điều kia, và vì vậy y bám chặt vào cái thấp; nhưng nó không làm y thỏa mãn, vì y đã thoáng thấy cái cao. Từ bỏ mọi sự theo tiếng gọi của Chân sư—người ta tự hỏi liệu mình có thể làm được hay không; người ta luôn nghĩ và hy vọng rằng mình sẽ làm được, nhưng khi đến lúc, bạn có thể làm điều đó trọn vẹn và vui vẻ không? Nhiều người đã làm việc năm này qua năm khác, và tự hỏi tại sao họ không đạt được, tại sao họ không ở trong số những người mà Chân sư có thể kéo đến rất gần Chính Ngài. Lý do luôn như nhau; đó là phàm ngã dưới một hình thức nào đó giữ họ lại. Sự từ bỏ mọi sự này không phải là điều được thực hiện với sự tái sa ngã liên tục—hôm nay từ bỏ, ngày mai lại nắm lấy và cố giữ—cũng không phải được thực hiện với niềm kiêu hãnh, với dáng vẻ: “Tôi đã từ bỏ mọi sự.” Đó là thái độ hoàn toàn sai; nó phải được thực hiện như một điều đương nhiên, và vui vẻ. Người sẽ thành công sẽ cảm thấy rằng không còn điều gì khác cho y làm ngoài việc thực hiện sự từ bỏ lớn lao khi khoảnh khắc đến.

CHAPTER 3 — CHƯƠNG 3

THE FIRST RULE — QUY LUẬT THỨ NHẤT

Kill out….

Hãy tiêu diệt….

A.B.—The expression “kill out” appears at the beginning of the first six short rules. It is important not to misunderstand it. There are two ways of getting rid of or killing out an evil thought, an evil habit or an evil act. Let us consider the thought first, because when that has been removed the other two very easily follow. Suppose an evil thought comes into a man’s mind. He finds that it tends to repeat itself. Then his first inclination is generally to fight with it to throw his energy against it and violently turn it out, just as he would deal with a physical enemy. He wants to get it out of the mind, so he takes it by the shoulders and flings it out.

A.B.—Cụm từ “tiêu diệt” xuất hiện ở đầu sáu quy luật ngắn đầu tiên. Điều quan trọng là không hiểu lầm nó. Có hai cách để loại bỏ hoặc tiêu diệt một tư tưởng xấu, một thói quen xấu hoặc một hành động xấu. Trước hết chúng ta hãy xét tư tưởng, vì khi điều đó đã được loại bỏ thì hai điều kia rất dễ theo sau. Giả sử một tư tưởng xấu đi vào thể trí của một người. Y thấy rằng nó có khuynh hướng lặp lại. Khi ấy khuynh hướng đầu tiên của y thường là chiến đấu với nó, ném năng lượng của mình chống lại nó và quay lưng đẩy nó ra một cách dữ dội, hệt như y sẽ xử lý một kẻ thù hồng trần. Y muốn đưa nó ra khỏi thể trí, nên y nắm vai nó và ném nó ra ngoài.

That is not the best way. It ignores the great law, which works throughout nature, that action and reaction are equal and opposite. Take a ball and throw it against a wall; it will rebound and strike you, gently if you have thrown it gently, but with great force if you have flung it violently. The same principle is true everywhere. Suppose you turn a thought out of the mind with violence; there will be a decided reaction. The recoil will give you a definite sense of exhaustion, and the thought may come back to you with increased force. The strength that you have put out has then taken form as thought, and has come back to you again, and you have to repeat the struggle. In that way a man may in some cases fight for weeks and months and even years, and yet be none the better for it. Still, in time it is possible to kill out evil thought by this means, though with it you will also kill out a large amount of your own force and energy, of your thought-power, so that a certain hardness and lack of responsiveness of some area of the mental body will be the result of the struggle.

Đó không phải là cách tốt nhất. Nó bỏ qua định luật lớn, vốn vận hành khắp thiên nhiên, rằng hành động và phản ứng thì bằng nhau và đối nghịch. Hãy lấy một quả bóng và ném nó vào tường; nó sẽ bật lại và đánh vào bạn, nhẹ nhàng nếu bạn ném nhẹ, nhưng với mãnh lực lớn nếu bạn ném mạnh. Cùng nguyên lý ấy đúng ở mọi nơi. Giả sử bạn đẩy một tư tưởng ra khỏi thể trí bằng bạo lực; sẽ có một phản ứng rõ rệt. Sự dội lại sẽ đem đến cho bạn một cảm giác kiệt sức rõ ràng, và tư tưởng ấy có thể quay lại với bạn bằng mãnh lực tăng thêm. Sức mạnh mà bạn đã phóng ra khi ấy đã mang hình thức tư tưởng, và đã quay lại với bạn lần nữa, và bạn phải lặp lại cuộc đấu tranh. Theo cách ấy, trong một số trường hợp, một người có thể chiến đấu suốt nhiều tuần, nhiều tháng, thậm chí nhiều năm, mà vẫn chẳng khá hơn. Tuy vậy, theo thời gian, có thể tiêu diệt tư tưởng xấu bằng phương tiện này, dù cùng với nó bạn cũng sẽ tiêu diệt một lượng lớn mãnh lực và năng lượng của chính mình, quyền năng tư tưởng của mình, đến mức một sự cứng rắn nào đó và sự thiếu đáp ứng của một vùng nào đó trong thể trí sẽ là kết quả của cuộc đấu tranh.

The other way of killing it out is to substitute for the bad thought a good thought of exactly opposite nature. You first deliberately study the matter and decide what is the opposite, the exact antithesis, of the evil thought. You formulate the new thought quietly in your mind, and then, at the very moment when the evil thought comes into your mind, you substitute for it the opposite good thought. Thus for pride you might substitute kindness, for anger affection, for fear admiration, and for low material desires thoughts of purity, dignity, honour, and the like; or you might dwell with devotional thought upon the mental image of the Master as having the good quality, and forget yourself in thinking of Him.

Cách khác để tiêu diệt nó là thay thế tư tưởng xấu bằng một tư tưởng tốt có bản chất hoàn toàn đối nghịch. Trước hết bạn cố ý nghiên cứu vấn đề và quyết định đâu là điều đối nghịch, phản đề chính xác, của tư tưởng xấu. Bạn hình thành tư tưởng mới ấy một cách bình tĩnh trong thể trí, rồi ngay vào khoảnh khắc tư tưởng xấu đi vào thể trí bạn, bạn thay thế nó bằng tư tưởng tốt đối nghịch. Như vậy, đối với kiêu hãnh bạn có thể thay bằng lòng nhân ái, đối với giận dữ bằng tình thương, đối với sợ hãi bằng sự ngưỡng mộ, và đối với những dục vọng vật chất thấp bằng các tư tưởng về sự trong sạch, phẩm giá, danh dự và những điều tương tự; hoặc bạn có thể lưu lại với tư tưởng sùng kính trên hình ảnh trí tuệ của Chân sư như Đấng có phẩm tính tốt đẹp, và quên mình trong khi nghĩ về Ngài.

The human mind cannot concentrate on two separate things at once; so when you give your attention to the good thought the result is that the evil thought is expelled without your directing any force towards it. Thus no mental energy is wasted, no vitality is lost. The good thought soon gains strength, and the mind becomes impervious to the attacks of the bad thought, and irresponsive to its kind; so you have practically killed out the evil by intensifying and vitalizing the opposite good. It is as if we sucked the life out of the bad thought, and left it a mere shell. Bad thoughts are most effectively killed by such devitalization.

Thể trí con người không thể tập trung vào hai điều riêng biệt cùng một lúc; vì vậy khi bạn dành sự chú ý cho tư tưởng tốt, kết quả là tư tưởng xấu bị đẩy ra mà bạn không hướng bất kỳ mãnh lực nào về phía nó. Như vậy không có năng lượng trí tuệ nào bị lãng phí, không có sinh lực nào bị mất. Tư tưởng tốt nhanh chóng đạt được sức mạnh, và thể trí trở nên không thấm trước các cuộc tấn công của tư tưởng xấu, và không đáp ứng với loại của nó; vì vậy trên thực tế bạn đã tiêu diệt điều xấu bằng cách tăng cường và tiếp sinh lực cho điều tốt đối nghịch. Như thể chúng ta hút sự sống ra khỏi tư tưởng xấu, và để nó lại chỉ như một cái vỏ. Những tư tưởng xấu bị tiêu diệt hiệu quả nhất bằng sự làm mất sinh lực như thế.

We have thus two ways of killing out; the former on the line of death, the latter on that of growth. One is the plan which is chiefly used by those who are beginning to tread the left-hand path, who are turning against the way of the divine Will. The other is that of evolution in accordance with the divine Plan. We are free to choose which we will follow of these two great roads. All the things of the world are in evolution, moving on one or the other of these paths.

Như vậy chúng ta có hai cách tiêu diệt; cách trước theo đường lối của sự chết, cách sau theo đường lối của sự tăng trưởng. Một là kế hoạch chủ yếu được dùng bởi những người đang bắt đầu bước trên tả đạo, những người đang quay chống lại đường lối của Ý Chí thiêng liêng. Cách kia là của tiến hoá phù hợp với Thiên Cơ thiêng liêng. Chúng ta tự do chọn sẽ theo con đường lớn nào trong hai con đường ấy. Tất cả mọi sự trong thế giới đều đang trong tiến hoá, chuyển động trên một trong hai con đường này.

Those parts of the world in which Ishvara is developing His Image have a certain free will, which consists-in their being able to work with the divine Will or away from it as separate individuals. Those who work with Him ultimately tread the right-hand path, but those who deliberately choose the separated self are preparing themselves to tread the left-hand path. Speaking generally: all that leads to isolation tends to turn a man’s direction to the left, and all that tends to unity towards the right. People of the left-hand path kill out sympathy, affection and love, because they find that those qualities bring misery, and also stand in the way of their gaining power. The killing out process is generally taken therefore by those who want to gain power and the other things that they consider desirable in this life, for the firm establishment and the enjoyment of the separated self, careless of the good of the whole, entirely bent upon their own individual progress and gain. They will kill violently all that side of their own nature the response to which would be an obstacle in the path of power. They will kill out affection also, because it is an avenue of pain, and it is far easier to become indifferent by killing out affection than by becoming more and more sensitive.

Những phần của thế giới trong đó Ishvara đang phát triển Hình Ảnh của Ngài có một mức ý chí tự do nào đó, bao gồm khả năng làm việc với Ý Chí thiêng liêng hoặc xa rời nó như những cá nhân riêng biệt. Những ai làm việc với Ngài cuối cùng bước trên chánh đạo, nhưng những ai cố ý chọn bản ngã phân ly đang chuẩn bị cho mình bước trên tả đạo. Nói chung: tất cả những gì dẫn đến sự cô lập đều có khuynh hướng xoay hướng đi của một người sang trái, và tất cả những gì có khuynh hướng hướng về hợp nhất thì sang phải. Những người của tả đạo tiêu diệt sự cảm thông, tình cảm và tình thương, vì họ thấy rằng những phẩm tính ấy đem lại khốn khổ, và cũng cản đường họ đạt quyền lực. Do đó, tiến trình tiêu diệt thường được những ai muốn đạt quyền lực và những điều khác mà họ xem là đáng mong muốn trong đời này lựa chọn, để thiết lập vững chắc và hưởng thụ bản ngã phân ly, không quan tâm đến lợi ích của toàn thể, hoàn toàn chú tâm vào sự tiến bộ và lợi ích cá nhân của riêng họ. Họ sẽ tiêu diệt một cách dữ dội toàn bộ phương diện ấy của bản chất mình, sự đáp ứng của nó sẽ là một chướng ngại trên con đường quyền lực. Họ cũng sẽ tiêu diệt tình cảm, vì nó là một lối vào của đau đớn, và trở nên điềm nhiên bằng cách tiêu diệt tình cảm thì dễ hơn nhiều so với việc trở nên ngày càng nhạy cảm hơn.

But the way we have been taught is that of union, the path in which the disciple becomes responsive to every cry of pain, as was so emphatically taught in The Voice of the Silence.4 () The disciple must intensify his life, not minimize it; he must submit to the law, not fight against it. Then of course the law will be with him. His method is something like that art of wrestling which is taught in Japan, in which conquest is gained by yielding to one’s antagonist; the man constantly yields to his opponent, but at the critical moment he turns in such a way that the force of his antagonist tells against himself. This is the nature of the yoga of the right-hand path; of it Shri Krishna says in the Gita: “In this there is no loss of effort, nor is there transgression.”5

Nhưng con đường chúng ta đã được dạy là con đường của sự hợp nhất, con đường trong đó đệ tử trở nên đáp ứng với mọi tiếng kêu đau đớn, như đã được dạy một cách hết sức mạnh mẽ trong Tiếng Nói của Im Lặng.4 () Đệ tử phải tăng cường sự sống của mình, không giảm thiểu nó; y phải thuận theo định luật, không chiến đấu chống lại nó. Khi ấy dĩ nhiên định luật sẽ ở cùng y. Phương pháp của y phần nào giống nghệ thuật vật được dạy ở Nhật Bản, trong đó chiến thắng đạt được bằng cách nhường trước đối thủ; người ấy liên tục nhường đối phương, nhưng vào khoảnh khắc quyết định, y xoay theo cách khiến mãnh lực của đối thủ quay lại chống chính đối thủ. Đây là bản chất của yoga thuộc chánh đạo; về nó Shri Krishna nói trong Gita: “Trong điều này không có sự mất mát nỗ lực, cũng không có sự vi phạm.”5

C.W.L.—Many people, when they are told to kill out a desire, start making what may be described as a violent raid upon it. They want to kill out a certain evil quality, so they set themselves very strongly, angrily almost, against that quality. One result of this is that one stirs up whatever forces exist, inside and outside, which are tending in the opposite direction, into the most violent opposition possible, and the consequence is a serious struggle. If a man is sufficiently determined he will come out conqueror in the end, but in many cases he will waste a large amount of his own force and energy and thought-power, and leave himself much exhausted and depleted.

C.W.L.—Nhiều người, khi được bảo phải tiêu diệt một dục vọng, bắt đầu thực hiện điều có thể mô tả như một cuộc đột kích dữ dội vào nó. Họ muốn tiêu diệt một phẩm tính xấu nào đó, nên họ đặt mình rất mạnh mẽ, gần như giận dữ, chống lại phẩm tính ấy. Một kết quả của điều này là người ta khuấy động bất kỳ mãnh lực nào hiện hữu, bên trong và bên ngoài, đang có khuynh hướng đi theo hướng đối nghịch, đến mức chống đối dữ dội nhất có thể, và hậu quả là một cuộc đấu tranh nghiêm trọng. Nếu một người đủ quyết tâm, cuối cùng y sẽ chiến thắng, nhưng trong nhiều trường hợp y sẽ lãng phí một lượng lớn mãnh lực, năng lượng và quyền năng tư tưởng của chính mình, và để mình kiệt quệ, suy giảm rất nhiều.

I can testify that the method of substitution works very much better, for I have tried both. It is a sort of moral ju jutsu whereby you employ the force of the hostile power to help you. You do not so much attack the foe as concentrate all your attention on the opposite virtue. If for example, a man is inclined to be readily upset and disturbed, he should not fight hard against that, but instead should think constantly of calmness, of peace and philosophy. Presently that thought will become established by habit, and he will find that the old worry and lack of calmness have passed away without his making a desperate fight. If he surrounds himself with thought-forms such as “Do not be irritable,” and so on, they are still of the colour of irritability, and they react undesirably on him. But if he thinks strongly, “Be calm, be gentle, be peaceful,” he sets up vibrations appropriate to and productive of peace and harmony. We do not want to set one vice to fight another vice, but we want to ignore all these things and work up the opposite virtue; by doing that the effect will be just as good and we shall achieve it with far less trouble.

Tôi có thể chứng thực rằng phương pháp thay thế hiệu quả hơn rất nhiều, vì tôi đã thử cả hai. Đó là một loại ju jutsu đạo đức, nhờ đó bạn dùng chính mãnh lực của quyền năng thù địch để giúp bạn. Bạn không tấn công kẻ thù cho bằng tập trung toàn bộ sự chú ý vào đức tính đối nghịch. Chẳng hạn, nếu một người có khuynh hướng dễ bị xáo trộn và bối rối, y không nên chiến đấu mạnh mẽ chống lại điều đó, mà thay vào đó nên liên tục nghĩ đến sự bình thản, sự an bình và tinh thần triết lý. Chẳng bao lâu tư tưởng ấy sẽ được thiết lập bằng thói quen, và y sẽ thấy rằng sự lo âu cũ cùng sự thiếu bình thản đã qua đi mà y không cần tiến hành một cuộc chiến tuyệt vọng. Nếu y bao quanh mình bằng các hình tư tưởng như “Đừng cáu kỉnh,” v.v., chúng vẫn mang màu sắc của sự cáu kỉnh, và chúng phản ứng không tốt lên y. Nhưng nếu y nghĩ mạnh mẽ: “Hãy bình thản, hãy dịu dàng, hãy an bình,” y thiết lập những rung động thích hợp với và sản sinh ra an bình và hài hòa. Chúng ta không muốn đặt một tật xấu chống lại một tật xấu khác, mà muốn bỏ qua tất cả những điều này và xây dựng đức tính đối nghịch; bằng cách làm như vậy, hiệu quả sẽ tốt không kém và chúng ta sẽ đạt được nó với ít phiền toái hơn nhiều.

We say: “Kill out desire,” but not, “Kill out emotion.” The higher emotions must be encouraged always, and the stronger they are the better. Especially is this true of love and devotion, which one should deliberately cultivate. When a man feels a great rush of such an emotion as these his aura expands: his astral body becomes perhaps ten times its normal size in the case of the ordinary person, and much more than that when the man really knows how to use his higher vehicles. When the great paroxysm of feeling is over the aura contracts again, but not exactly to what it was before; having been much stretched it remains at least a little larger than before. The first effect of the expansion is a rarefaction of the astral body, but it very speedily draws in more astral matter to fill the larger space, so as to make it up to about its normal density6.

Chúng ta nói: “Hãy tiêu diệt dục vọng,” nhưng không nói: “Hãy tiêu diệt cảm xúc.” Các cảm xúc cao hơn luôn phải được khuyến khích, và chúng càng mạnh thì càng tốt. Điều này đặc biệt đúng với tình thương và lòng sùng tín, những điều mà người ta nên cố ý vun trồng. Khi một người cảm thấy một luồng trào dâng lớn của những cảm xúc như thế, hào quang của y mở rộng: trong trường hợp người bình thường, thể cảm dục của y có thể trở nên lớn gấp mười lần kích thước bình thường, và còn hơn thế nhiều khi người ấy thật sự biết cách sử dụng các hiện thể cao hơn của mình. Khi cơn bộc phát cảm xúc lớn qua đi, hào quang co lại, nhưng không hoàn toàn trở về như trước; vì đã được kéo giãn nhiều, nó ít nhất vẫn lớn hơn trước một chút. Tác động đầu tiên của sự mở rộng là làm loãng thể cảm dục, nhưng nó rất nhanh chóng thu hút thêm vật chất cảm dục để lấp đầy không gian lớn hơn, nhằm đưa nó trở lại khoảng mật độ bình thường của nó6.

The astral body is definitely needed in order that by means of it one may be able to sympathize with people, and also because of its function as a reflector of the buddhic body. In the case of a developed person there is no colour in his astral body except what is mirrored from the higher planes; it only reflects and shows the most delicate tints of colour.7

Thể cảm dục rõ ràng cần thiết để nhờ nó người ta có thể cảm thông với người khác, và cũng vì chức năng của nó như một tấm phản chiếu của thể Bồ đề. Trong trường hợp một người đã phát triển, không có màu sắc nào trong thể cảm dục của y ngoại trừ những gì được phản chiếu từ các cõi cao; nó chỉ phản chiếu và biểu lộ những sắc thái màu tinh tế nhất.7

There are three ways in which the higher Self is connected with the personality.8 The higher mind is reflected in the lower. The buddhi or intuition is reflected a stage lower than the mind, in the astral body. There is also the possibility of connection between atma and the physical brain. The last is the most difficult to understand; it shows tremendous power of will, which moves without consideration of the means by which its object is to be achieved. It is the method of the first ray, to which Dr. Besant belongs. She has that great power of deciding that something shall be done, without stopping to consider the methods to be employed until afterwards. We do not know the limits of the human will. It has been said that faith may remove mountains and cast them into the sea. I do not know whether there would be any particular purpose to be served in doing that, if it can be done, but I have certainly seen very wonderful results accomplished by the human will and I do not know where the limits of that power are set. Incredible things are done, more especially on the higher planes, by the mere action of will. When I had to take up the study of materialization, for example, according to my way of progress I had to learn exactly how it was to be done—a complicated process involving a good deal of knowledge of the different materials to be brought together and how they could best be arranged. But I have known a person, who knew nothing whatever about it, to drive straight in by the tremendous force of will and produce the same result, without gathering together all the complicated things that were necessary, and without in the least knowing how it was done. Such will is one of the divine powers latent in all of us, but in very few does it ever come to the surface and produce such a result without a long course of careful training.

Có ba cách trong đó chân ngã được nối kết với phàm ngã.8 Thượng trí được phản chiếu trong hạ trí. Bồ đề hay trực giác được phản chiếu ở một giai đoạn thấp hơn thể trí, trong thể cảm dục. Cũng có khả năng nối kết giữa atma và bộ não hồng trần. Điều cuối cùng là khó thấu hiểu nhất; nó biểu lộ quyền năng ý chí ghê gớm, chuyển động mà không xét đến các phương tiện nhờ đó mục tiêu của nó sẽ được đạt tới. Đó là phương pháp của cung một, cung mà Tiến sĩ Besant thuộc về. Bà có quyền năng lớn lao ấy để quyết định rằng một điều gì đó phải được thực hiện, mà không dừng lại để xét các phương pháp sẽ được dùng cho đến sau đó. Chúng ta không biết các giới hạn của ý chí con người. Người ta đã nói rằng đức tin có thể dời núi và ném chúng xuống biển. Tôi không biết liệu có mục đích đặc biệt nào được phục vụ bằng việc làm điều đó hay không, nếu nó có thể được làm, nhưng chắc chắn tôi đã thấy những kết quả rất kỳ diệu được hoàn thành bởi ý chí con người, và tôi không biết các giới hạn của quyền năng ấy được đặt ở đâu. Những điều không thể tin nổi được thực hiện, đặc biệt trên các cõi cao hơn, chỉ bằng tác động của ý chí. Chẳng hạn, khi tôi phải bắt đầu nghiên cứu sự hiện hình, theo cách tiến bộ của tôi, tôi phải học chính xác nó được thực hiện như thế nào—một tiến trình phức tạp liên quan đến khá nhiều tri thức về các chất liệu khác nhau cần được đưa lại với nhau và cách chúng có thể được sắp xếp tốt nhất. Nhưng tôi đã biết một người hoàn toàn không biết gì về điều đó, lại đi thẳng vào bằng mãnh lực ý chí ghê gớm và tạo ra cùng một kết quả, mà không tập hợp tất cả những điều phức tạp cần thiết, và không hề biết chút nào nó đã được thực hiện ra sao. Ý chí như thế là một trong những quyền năng thiêng liêng tiềm tàng trong tất cả chúng ta, nhưng ở rất ít người nó từng trồi lên bề mặt và tạo ra một kết quả như vậy mà không qua một tiến trình huấn luyện cẩn thận lâu dài.

I think that for most people the easiest of the three ways of making connection with the higher Self is to bring together the higher and lower minds, by passing from concrete to abstract thought, or from analysis to synthesis. But I have seen cases in which a person has been able to reach the buddhic consciousness without disturbing the relations between the mental and causal bodies at all. When it can be done, I have heard on high authority that this unification of the buddhic and astral bodies is the shortest of all roads to the goal, but the capacity to do it is gained only as the result of much suffering in previous lives. Those for whom that is the line raise themselves by the intensity of their love of devotion into the buddhic vehicle and effect a junction there, before they have developed the lower mind to anything like a level where it can work in with the higher mind, and before they have developed the causal body itself. Of course these two bodies must be developed, they cannot be overlooked; the aspirant will work upon the lower mind from the astral body, developing it and learning whatever has to be learnt, on account of his love and devotion. The pupil loves his Master so intensely that for His sake he will learn what is needed, and will thus develop whatever intellect is necessary. He also acts upon the causal body from above, and pours into it the buddhic conception, and so forces it to express that as far as it can do so in its own way.

Tôi nghĩ rằng đối với phần lớn mọi người, con đường dễ nhất trong ba cách tạo sự liên kết với Bản Ngã Cao Siêu là đưa thượng trí và hạ trí lại với nhau, bằng cách chuyển từ tư tưởng cụ thể sang tư tưởng trừu tượng, hoặc từ phân tích sang tổng hợp. Nhưng tôi đã thấy những trường hợp trong đó một người có thể đạt tới tâm thức Bồ đề mà không hề làm xáo trộn các quan hệ giữa thể trí và thể nguyên nhân. Khi điều đó có thể thực hiện được, tôi đã nghe từ một thẩm quyền cao rằng sự hợp nhất giữa thể Bồ đề và thể cảm dục này là con đường ngắn nhất trong mọi con đường dẫn đến mục tiêu; nhưng năng lực thực hiện điều ấy chỉ đạt được như kết quả của nhiều đau khổ trong các đời trước. Những người mà đó là đường lối của họ tự nâng mình lên, bằng cường độ của tình thương sùng tín, vào vận cụ Bồ đề và tạo một sự nối kết ở đó, trước khi họ phát triển hạ trí đến bất kỳ cấp độ nào gần như có thể làm việc chung với thượng trí, và trước khi họ phát triển chính thể nguyên nhân. Dĩ nhiên hai thể này phải được phát triển, không thể bỏ qua chúng; người chí nguyện sẽ tác động lên hạ trí từ thể cảm dục, phát triển nó và học bất cứ điều gì cần phải học, do tình thương và lòng sùng tín của y. Người học trò yêu Chân sư của mình mãnh liệt đến nỗi vì Ngài, y sẽ học điều cần thiết, và như thế sẽ phát triển bất cứ trí năng nào cần có. Y cũng tác động lên thể nguyên nhân từ bên trên, tuôn vào đó quan niệm Bồ đề, và nhờ vậy buộc nó biểu lộ điều ấy đến mức nó có thể làm theo cách riêng của nó.

Kill out ambition.

Hãy diệt trừ tham vọng.

A.B.—We now turn to the first rule, dealing with ambition in particular. The undeveloped man is strongly held by the attractions of the senses; he desires physical luxury and bodily enjoyment. He does not feel ambition, which is the desire for power, until the mind is highly developed and the intellectual power has grown strong. The note of the intellect is “I”. It causes the man to feel himself separate, and that invariably leads him to wish to exercise power, because that desire is the self-assertion of the individual soul. He feels himself superior to all around him, and that shows as a desire for physical authority. From that comes the temptation to seek and grasp social and political power. In the political and social sphere ambition is the great moving force; for the man who by his intellect has gained influence over his fellow-men, stands out as their leader and this is a position which is incense in the nostrils of the proud and superior man.

A.B.—Bây giờ chúng ta chuyển sang quy luật thứ nhất, đặc biệt đề cập đến tham vọng. Con người chưa phát triển bị các hấp dẫn của giác quan nắm giữ mạnh mẽ; y ham muốn sự xa hoa hồng trần và khoái lạc thân xác. Y không cảm thấy tham vọng, tức là ham muốn quyền lực, cho đến khi thể trí đã phát triển cao và quyền năng trí tuệ đã trở nên mạnh mẽ. Âm điệu của trí năng là “Tôi”. Nó khiến con người cảm thấy mình tách biệt, và điều đó luôn luôn dẫn y đến ý muốn vận dụng quyền lực, bởi vì ham muốn ấy là sự tự khẳng định của linh hồn cá biệt. Y cảm thấy mình vượt trội hơn tất cả những người chung quanh, và điều đó biểu hiện thành ham muốn có thẩm quyền hồng trần. Từ đó nảy sinh cám dỗ tìm kiếm và nắm giữ quyền lực xã hội và chính trị. Trong lĩnh vực chính trị và xã hội, tham vọng là mãnh lực thúc đẩy lớn lao; vì người nào nhờ trí năng mà giành được ảnh hưởng trên đồng loại mình thì nổi bật lên như lãnh tụ của họ, và đây là một vị trí thơm ngát như hương trầm đối với kẻ kiêu hãnh và tự cho mình cao hơn.

Then the man begins to despise outer power over the bodies of men, and there comes into his mind the realization of a subtler form of power, which he now seeks to obtain. He no longer wants to lay down laws with physical authority; he has the subtler longing to dominate and rule the minds of men. That is intellectual ambition—the ambition to be a leader of thought. It is not an ambition which would move anyone who had not a largely developed intellect.

Rồi con người bắt đầu khinh thường quyền lực bên ngoài trên thân xác của con người, và trong thể trí y xuất hiện sự nhận biết về một hình thức quyền lực tinh tế hơn, mà giờ đây y tìm cách đạt được. Y không còn muốn đặt ra luật lệ bằng thẩm quyền hồng trần nữa; y có một khao khát tinh tế hơn là chi phối và cai quản thể trí của con người. Đó là tham vọng trí tuệ—tham vọng trở thành lãnh tụ tư tưởng. Đây không phải là một tham vọng có thể lay động bất cứ ai chưa có trí năng phát triển rộng lớn.

Still later, when that desire has been outgrown, ambition reappears in a yet subtler form, when the man passes on into the spiritual life. He thinks of the spiritual progress as made by himself for his own sake, because he wants to grow and understand and progress; the old ambition is really still holding him, and it is more dangerous because it is higher and subtler. That is why in the note to this aphorism the Master makes the remarkable statement that the pure artist, who works for the love of his work, is sometimes more firmly planted on the right road than the occultist who fancies he has removed his interest from self, but who has in reality only enlarged the limits of experience and desire, and transferred his interest to things which concern his larger span of life. The occultist is no longer confined to the ambitions of his present incarnation, yet his ambition may not be dead. He no longer cares to be a law-giver or ruler of mankind, nor even an arbitrator in the thoughts of men; but he desires to be high in the spiritual world. He realizes that he is going to live life after life, and his ambition extends to the whole span of that greater life. He is still longing to be first, to be separate, to be what others are not. Yet that too must be overcome.

Về sau nữa, khi ham muốn ấy đã được vượt qua, tham vọng lại xuất hiện dưới một hình thức còn tinh tế hơn, khi con người bước vào đời sống tinh thần. Y nghĩ về sự tiến bộ tinh thần như điều do chính y thực hiện vì lợi ích của riêng mình, bởi vì y muốn tăng trưởng, thấu hiểu và tiến bộ; tham vọng cũ thật ra vẫn còn nắm giữ y, và nó nguy hiểm hơn vì nó cao hơn và tinh tế hơn. Đó là lý do vì sao trong lời ghi chú cho châm ngôn này, Chân sư đưa ra tuyên bố đáng chú ý rằng người nghệ sĩ thuần khiết, làm việc vì tình yêu đối với công việc của mình, đôi khi đứng vững chắc hơn trên chánh đạo so với nhà huyền bí học tưởng rằng mình đã loại bỏ sự quan tâm đến bản ngã, nhưng thật ra chỉ mở rộng giới hạn của kinh nghiệm và ham muốn, và chuyển sự quan tâm của mình sang những điều liên quan đến tầm sống rộng lớn hơn của y. Nhà huyền bí học không còn bị giới hạn trong các tham vọng của kiếp lâm phàm hiện tại, nhưng tham vọng của y có thể vẫn chưa chết. Y không còn quan tâm đến việc trở thành người lập pháp hay người cai trị nhân loại, thậm chí cũng không muốn làm người phán quyết trong tư tưởng của con người; nhưng y ham muốn có địa vị cao trong thế giới tinh thần. Y nhận ra rằng mình sẽ sống hết đời này sang đời khác, và tham vọng của y mở rộng đến toàn bộ tầm vóc của đời sống lớn lao hơn ấy. Y vẫn còn khao khát đứng đầu, tách biệt, trở thành điều mà người khác không phải. Tuy nhiên, điều đó cũng phải được vượt qua.

When one speaks to those who desire to be part of the universal life, the very first thing that one must tell them is to kill out that which makes for separateness. There would, however, be no gain in putting such an ideal before the ordinary man. He cannot leap at once from the worldly life into a spiritual life in which he is in full activity, but nevertheless doing nothing connected with the personal or the individual self. If you tell an ordinary man of the world to kill out ambition, and if he does it, the effect will not be a desirable one, for he will fall into lethargy and do nothing.

Khi người ta nói với những ai muốn trở thành một phần của sự sống phổ quát, điều đầu tiên phải nói với họ là hãy diệt trừ cái tạo ra sự chia rẽ. Tuy nhiên, sẽ không có ích gì khi đặt một lý tưởng như thế trước người bình thường. Y không thể lập tức nhảy từ đời sống thế tục vào một đời sống tinh thần trong đó y hoạt động trọn vẹn, nhưng đồng thời không làm điều gì liên quan đến phàm ngã hay cái ngã cá biệt. Nếu bạn bảo một người thế tục bình thường hãy diệt trừ tham vọng, và nếu y làm như vậy, kết quả sẽ không đáng mong muốn, vì y sẽ rơi vào trạng thái uể oải và không làm gì cả.

Suppose a man is further on than that, is on the probationary path; how should he read this rule about ambition? Most wisely by applying the word kill to the lower form of ambition; he should in fact understand it to mean transmute. He should get rid of ambition for the things of the world, but put before himself something higher for which he can be ambitious. That would be the desire for spiritual knowledge and growth. At this stage a man does not get rid of ambition totally; he enters an intermediate state, and will make great progress if he puts before himself as his goal the attainment of spiritual knowledge and the object of finding the Master and ultimately becoming a Master himself. Really these are all ambitions, but they will help him to shake off many of the lower shackles which enwrap his personality.

Giả sử một người đã tiến xa hơn thế, đang ở trên Con Đường Dự Bị; y nên đọc quy luật này về tham vọng như thế nào? Khôn ngoan nhất là áp dụng chữ diệt vào hình thức thấp của tham vọng; thật ra y nên hiểu nó có nghĩa là chuyển hoá. Y nên loại bỏ tham vọng đối với những điều của thế gian, nhưng đặt trước mình một điều cao hơn mà y có thể tham vọng hướng tới. Đó sẽ là ham muốn tri thức tinh thần và sự tăng trưởng. Ở giai đoạn này, con người chưa loại bỏ tham vọng hoàn toàn; y bước vào một trạng thái trung gian, và sẽ tiến bộ lớn lao nếu đặt trước mình, như mục tiêu, sự đạt được tri thức tinh thần và mục đích tìm thấy Chân sư, rồi cuối cùng chính mình trở thành một Chân sư. Thật ra tất cả những điều này đều là tham vọng, nhưng chúng sẽ giúp y rũ bỏ nhiều xiềng xích thấp kém đang bao bọc phàm ngã của y.

This quality of ambition which the disciple has to kill out had its uses in his earlier evolution. It was a means to make the man’s individuality firm and steady. In the earlier stages he grew by his isolation. It was then requisite for the evolution of the physical and mental bodies that there should be competition and fighting; all those stages of combat and fight were necessary in order to build up the individual, to make him strong so that he could hold his own centre. He had to have a place defended from outside aggression, in which he could develop his strength. He also needed such worldly position as ambition seeks, just as when you are building a house you need scaffolding. Ambition had many uses in the earlier stages—to build up the walls and make them denser, to strengthen the will, and to help to raise the man step by step. A man in whom ambition predominates also kills out sexual and other lower desires, because they hinder him in his intellectual growth and his search for power, and thus he dominates his lower passions. In the early stage man thus needs ambition as a means of growth.

Phẩm tính tham vọng mà đệ tử phải diệt trừ đã từng có những công dụng trong tiến hoá trước kia của y. Nó là một phương tiện làm cho cá tính của con người trở nên vững chắc và ổn định. Trong các giai đoạn đầu, y tăng trưởng nhờ sự cô lập của mình. Khi ấy, đối với sự tiến hoá của thể xác và thể trí, cần phải có cạnh tranh và tranh đấu; tất cả những giai đoạn xung đột và chiến đấu ấy đều cần thiết để xây dựng cá nhân, làm cho y mạnh mẽ để có thể giữ vững trung tâm riêng của mình. Y phải có một nơi được bảo vệ khỏi sự xâm phạm từ bên ngoài, trong đó y có thể phát triển sức mạnh của mình. Y cũng cần địa vị thế tục mà tham vọng tìm kiếm, cũng như khi xây một ngôi nhà, bạn cần giàn giáo. Tham vọng có nhiều công dụng trong các giai đoạn đầu—xây dựng các bức tường và làm chúng đậm đặc hơn, củng cố ý chí, và giúp nâng con người lên từng bước. Một người mà tham vọng chiếm ưu thế cũng diệt trừ các ham muốn tính dục và các ham muốn thấp khác, bởi vì chúng cản trở y trong sự tăng trưởng trí tuệ và cuộc tìm kiếm quyền lực; nhờ đó y chế ngự các đam mê thấp của mình. Như vậy, trong giai đoạn đầu, con người cần tham vọng như một phương tiện tăng trưởng.

You would not say to the man of the world: Kill out ambition,” because ambition stimulates him and draws out his faculties. But when as a disciple the man is to grow into the spiritual life, he must get rid of the walls that he built round himself in earlier stages. As after a house is built the scaffolding must be taken away, so the later part of the man’s evolution consists in rendering the walls translucent, so that all life may pass through them. Therefore these rules are for disciples, not for the men of the world.

Bạn sẽ không nói với người thế tục: “Hãy diệt trừ tham vọng,” bởi vì tham vọng kích thích y và khơi dậy các năng lực của y. Nhưng khi con người, với tư cách một đệ tử, phải tăng trưởng vào đời sống tinh thần, y phải loại bỏ những bức tường mà y đã xây quanh mình trong các giai đoạn trước. Như sau khi một ngôi nhà được xây xong, giàn giáo phải được tháo đi, phần sau của tiến hoá con người cũng bao gồm việc làm cho các bức tường trở nên trong suốt, để mọi sự sống có thể đi xuyên qua chúng. Vì vậy, các quy luật này dành cho đệ tử, chứ không dành cho người thế tục.

C.W.L.—Ambition in the undeveloped man shows itself as the desire, let us say, to gain wealth so that he may satisfy his craving for physical luxury and bodily enjoyment. Later on, when he develops intellect, he becomes ambitious for power. Even when a man has transcended the ambition for power and the prizes of this world, and is working selflessly for the benefit of humanity, there still remains very often the ambition to see the result of his work.

C.W.L.—Tham vọng nơi con người chưa phát triển biểu hiện như ham muốn, chẳng hạn, đạt được của cải để y có thể thỏa mãn cơn thèm khát xa hoa hồng trần và khoái lạc thân xác. Về sau, khi y phát triển trí năng, y trở nên tham vọng quyền lực. Ngay cả khi một người đã vượt qua tham vọng quyền lực và các phần thưởng của thế gian này, và đang làm việc vô ngã vì lợi ích của nhân loại, vẫn rất thường còn lại tham vọng muốn thấy kết quả công việc của mình.

Many people are devoting their time quite willingly and quite earnestly to doing good work, but they like others to know it, and to say what good and useful people they are. That also is ambition; mild certainly as compared to some other kinds, but still it is personal, and anything that is personal stands in the way of the disciple. The lower self has to be eliminated entirely. It is hard to do it because the roots are very deep, and when they are torn out the man is left bleeding, and feeling as though all the heart were gone out of him.

Nhiều người đang dâng hiến thời gian của họ một cách rất sẵn lòng và rất nghiêm túc để làm công việc tốt, nhưng họ thích người khác biết điều đó, và nói rằng họ là những người tốt lành và hữu ích biết bao. Điều đó cũng là tham vọng; chắc chắn là nhẹ so với một vài loại khác, nhưng vẫn là cá nhân, và bất cứ điều gì mang tính cá nhân đều cản đường đệ tử. Phàm ngã phải bị loại bỏ hoàn toàn. Điều ấy khó thực hiện vì rễ của nó rất sâu, và khi chúng bị nhổ bật, con người bị bỏ lại trong tình trạng rướm máu, cảm thấy như thể toàn bộ trái tim đã bị rút khỏi mình.

When we have got rid of the desire to see the result of our work, we still have the desire for recognition in a higher form. We still, perhaps, are ambitious for love; we want to be popular. It is well and good for a man to be popular, to draw the love of his fellows, because that very fact is an additional power in his hands. It enables him to do more than he otherwise could, also it surrounds him with a pleasant atmosphere which makes all sorts of work easier. But to desire that in the sense of being ambitious for it is also a thing which we must avoid. We may rightly be happy if love comes our way; that is well and good—it is good karma; but if it does not, we must not be ambitious for it. We cannot seize upon a person and say: “You shall love me, you shall appreciate me.” If his feelings run that way he will; if not he cannot, and to pretend would be worse than all.

Khi chúng ta đã loại bỏ ham muốn thấy kết quả công việc của mình, chúng ta vẫn còn ham muốn được công nhận dưới một hình thức cao hơn. Có lẽ chúng ta vẫn tham vọng được yêu thương; chúng ta muốn được nổi tiếng. Đối với một người, được nổi tiếng, thu hút tình thương của đồng loại, là điều tốt đẹp, bởi vì chính sự kiện ấy là một quyền năng phụ thêm trong tay y. Nó giúp y làm được nhiều hơn so với điều y có thể làm; nó cũng bao quanh y bằng một bầu không khí dễ chịu khiến mọi loại công việc trở nên dễ dàng hơn. Nhưng ham muốn điều đó theo nghĩa tham vọng về nó cũng là một điều chúng ta phải tránh. Chúng ta có thể vui mừng chính đáng nếu tình thương đến với mình; điều đó tốt đẹp—đó là nghiệp quả tốt; nhưng nếu nó không đến, chúng ta không được tham vọng về nó. Chúng ta không thể nắm lấy một người và nói: “Bạn phải yêu tôi, bạn phải trân trọng tôi.” Nếu tình cảm của y đi theo hướng ấy thì y sẽ làm vậy; nếu không thì y không thể, và giả vờ còn tệ hơn tất cả.

We have to rise above all these stages of ambition which are still found in the ordinary world. We must give for the joy of giving, whether it be work, or substance, or love or devotion; whatever it is we must give freely and heartily, and never think of any return; that is the only real love, not the sort of love which is always saying: “How much does so-and-so love me?” The real attitude should be: “What can I do to pour myself out at the feet of the one whom I love? Of what service can I be? What can I do for him?” That is the only feeling that is worthy of so grand a title. All that we know perfectly well, but we must put it into practice. It seems to be difficult, sometimes, to do that, because there is still a remnant of the lower self to be removed.

Chúng ta phải vươn lên trên tất cả những giai đoạn tham vọng này, vốn vẫn còn thấy trong thế giới bình thường. Chúng ta phải cho vì niềm vui của sự cho, dù đó là công việc, chất liệu, tình thương hay lòng sùng tín; bất cứ là gì, chúng ta phải cho một cách tự do và chân thành, và không bao giờ nghĩ đến bất kỳ sự đáp trả nào; đó là tình thương chân thật duy nhất, không phải loại tình thương luôn nói: “Người này hay người kia yêu tôi bao nhiêu?” Thái độ chân thật phải là: “Tôi có thể làm gì để tuôn đổ chính mình dưới chân người tôi yêu? Tôi có thể phụng sự bằng cách nào? Tôi có thể làm gì cho y?” Đó là cảm xúc duy nhất xứng đáng với một danh hiệu cao quý như thế. Tất cả những điều ấy chúng ta biết rất rõ, nhưng chúng ta phải đưa chúng vào thực hành. Đôi khi dường như khó làm điều đó, bởi vì vẫn còn một tàn dư của phàm ngã cần được loại bỏ.

For the ordinary man—maybe even for the one who is approaching the Path—I think it would perhaps be well to qualify this rule to some extent, and say: “Kill out the lower ambitions.” It is not advisable to set before the man, who is just beginning, a standard of conduct which he can only hope to reach after many years of effort. If a man has worldly ambitions he cannot be expected at once to drop them all and have nothing to fill their place; that would be scarcely possible for him, and it is even doubtful whether so sudden a change would be good for him. He must first transmute his ambitions. Let him, if he will, at first desire knowledge earnestly, desire to make advance in occultism and progress in unselfishness; let him desire to draw near to the Master, to be chosen as a pupil.

Đối với người bình thường—có lẽ ngay cả đối với người đang tiến gần Đường Đạo—tôi nghĩ có lẽ nên giới hạn quy luật này ở một mức độ nào đó, và nói: “Hãy diệt trừ các tham vọng thấp.” Không nên đặt trước người mới bắt đầu một tiêu chuẩn ứng xử mà y chỉ có thể hy vọng đạt tới sau nhiều năm nỗ lực. Nếu một người có tham vọng thế tục, không thể mong y lập tức buông bỏ tất cả và không có gì thay thế; điều đó hầu như không thể đối với y, và thậm chí còn đáng nghi ngờ liệu một sự thay đổi quá đột ngột như thế có tốt cho y hay không. Trước hết y phải chuyển hoá các tham vọng của mình. Nếu y muốn, trước tiên hãy để y tha thiết ham muốn tri thức, ham muốn tiến bộ trong huyền bí học và tiến bộ trong tính vô ngã; hãy để y ham muốn đến gần Chân sư, được chọn làm học trò.

Most of us have desires of that sort, but we call them aspirations; the change of name seems to connote a total change in our attitude, but of course they are still desires. We shall reach a stage when even those desires will disappear, because we shall be absolutely certain that progress depends on our own efforts only; then we shall no longer desire anything. The Master once said: “Do not desire a thing; desire is feeble Will!”9 Do not think of some quality you want to develop: “I should like to have it,” but say: “I will have it,” and go and develop it. That is the only line for a man to take, because these things are absolutely in his own hands to do or not, as he chooses.

Phần lớn chúng ta có những ham muốn thuộc loại ấy, nhưng chúng ta gọi chúng là các khát vọng; sự đổi tên dường như hàm ý một sự thay đổi hoàn toàn trong thái độ của chúng ta, nhưng dĩ nhiên chúng vẫn là những ham muốn. Chúng ta sẽ đạt tới một giai đoạn khi ngay cả những ham muốn ấy cũng biến mất, bởi vì chúng ta sẽ tuyệt đối chắc chắn rằng tiến bộ chỉ tùy thuộc vào nỗ lực của chính mình; khi ấy chúng ta sẽ không còn ham muốn điều gì nữa. Chân sư từng nói: “Đừng ham muốn một điều gì; ham muốn là Ý Chí yếu ớt!” Đừng nghĩ về một phẩm tính nào đó mà bạn muốn phát triển: “Tôi muốn có nó,” mà hãy nói: “Tôi sẽ có nó,” rồi đi và phát triển nó. Đó là đường lối duy nhất để một người theo, bởi vì những điều này hoàn toàn nằm trong tay y, làm hay không làm, tùy y chọn.

It is a case of transmuting at first. The desire for spiritual growth is a thing that those who are approaching the Path should no longer be encouraging in themselves, but there is that intermediate stage when it is very natural. We who are students ought to be getting to a stage at which we take our spiritual growth for granted, and fix all our energies on trying to help others. At first a man does need a personal motive; then he gradually comes to forget himself and to make his advancement for the sake of the Master, for the sake of pleasing Him, and eventually he learns that he is simply a channel for the great divine forces, and that he must be a good channel and must have no anxiety whatever about the result. His one care then is that nothing on his part shall hinder his being an expression of the Divine—as perfect an expression as is possible for him. He does not worry in the least about it; he does not desire that his force may be used in this direction or that; he is simply a tool in the hands of God, that he may be used as arid how and where God wills.

Ban đầu đó là một trường hợp chuyển hoá. Ham muốn tăng trưởng tinh thần là điều mà những ai đang tiến gần Đường Đạo không nên còn khuyến khích nơi chính mình, nhưng có giai đoạn trung gian ấy, khi nó rất tự nhiên. Chúng ta, những đạo sinh, nên tiến tới một giai đoạn trong đó chúng ta xem sự tăng trưởng tinh thần của mình là điều đương nhiên, và tập trung mọi năng lượng vào việc cố gắng giúp đỡ người khác. Lúc đầu, con người thật sự cần một động cơ cá nhân; rồi dần dần y quên mình và thực hiện sự tiến bộ của mình vì Chân sư, vì muốn làm vui lòng Ngài; và cuối cùng y học biết rằng y chỉ là một vận hà cho các mãnh lực thiêng liêng vĩ đại, rằng y phải là một vận hà tốt và không được lo lắng chút nào về kết quả. Khi ấy mối quan tâm duy nhất của y là không điều gì thuộc về phần y cản trở y trở thành một biểu hiện của Thiêng Liêng—một biểu hiện hoàn hảo nhất có thể đối với y. Y không hề bận tâm về điều đó; y không ham muốn rằng mãnh lực của mình được dùng theo hướng này hay hướng kia; y chỉ là một dụng cụ trong tay Thượng đế, để được dùng theo cách nào, như thế nào và ở đâu tùy Ý Chí của Thượng đế.

Of course, we can attain that attitude only by degrees; but we should set it before ourselves as the state of mind at which we should aim. We must begin by forgetting ourselves, by rigorously weeding the self out. What if we are not gaining the advancement which we think to be due to us after so many years of thought and study, or what if the people whom we help are not grateful for being helped—generally they are not—all that does not matter.10 Let us forget ourselves and do the work and let us be entirely indifferent as to any return. Karma will look after that; we need have no fear. The great laws of the universe are not going to be altered in order to do an injustice to any one of us, we may be quite sure. They will work with equal balance; justly they work, even though it be after many days. Forget yourself; that is the first and the last word of advice on the occult Path—there is no other way. However hard it may seem it has to be done, and has to be done perfectly.

Dĩ nhiên, chúng ta chỉ có thể đạt tới thái độ ấy dần dần; nhưng chúng ta nên đặt nó trước mình như trạng thái thể trí mà chúng ta phải nhắm tới. Chúng ta phải bắt đầu bằng cách quên mình, bằng cách nghiêm khắc nhổ bỏ cái ngã. Nếu chúng ta không đạt được sự tiến bộ mà mình nghĩ là xứng đáng sau bao năm suy tư và học hỏi thì sao, hoặc nếu những người chúng ta giúp đỡ không biết ơn vì được giúp—thường thì họ không biết ơn—tất cả những điều ấy không quan trọng. Hãy để chúng ta quên mình và làm công việc, và hãy hoàn toàn điềm nhiên đối với bất kỳ sự đáp trả nào. Nghiệp quả sẽ lo liệu điều đó; chúng ta không cần sợ. Các định luật vĩ đại của vũ trụ sẽ không bị thay đổi để gây bất công cho bất kỳ ai trong chúng ta, chúng ta có thể hoàn toàn chắc chắn. Chúng sẽ vận hành với sự quân bình bình đẳng; chúng vận hành công chính, dù có thể sau nhiều ngày. Hãy quên mình; đó là lời khuyên đầu tiên và cuối cùng trên Con Đường huyền bí—không có con đường nào khác. Dù điều đó có vẻ khó đến đâu, nó vẫn phải được thực hiện, và phải được thực hiện hoàn hảo.

We come now to the first note of the Master Hilarion, which is attached to the first rule. I will take it bit by bit. It begins:

Bây giờ chúng ta đến lời ghi chú đầu tiên của Chân sư Hilarion, được gắn với quy luật thứ nhất. Tôi sẽ lấy từng phần. Nó bắt đầu:

Ambition is the first curse; the great tempter of the man who is rising above his fellows. It is the simplest form of looking for reward.

Tham vọng là lời nguyền đầu tiên; kẻ cám dỗ lớn lao của người đang vươn lên trên đồng loại mình. Nó là hình thức đơn giản nhất của việc tìm kiếm phần thưởng.

That is rather a curious way of putting it, but it is obviously true. The first temptation that comes to a man who knows he is rising a little above the rest in some way is to think of himself as a great man, and this leads him to resolve that he will rise still further, so that he may enjoy the pleasure of his pride even more.

Đó là một cách diễn đạt khá kỳ lạ, nhưng rõ ràng là đúng. Cám dỗ đầu tiên đến với một người biết rằng mình đang vươn lên đôi chút trên những người còn lại theo một cách nào đó là nghĩ về mình như một người vĩ đại, và điều này dẫn y đến quyết tâm sẽ vươn lên xa hơn nữa, để có thể tận hưởng khoái cảm của lòng kiêu hãnh nhiều hơn.

Men of intelligence and power are led away from their higher possibilities by it continually.

Những người có trí tuệ và quyền năng liên tục bị nó dẫn đi khỏi các khả năng cao hơn của họ.

How true that is no one can know who is not clairvoyant. Those who are pupils of the Masters necessarily, I suppose, have the habit of regarding all the people they meet more or less from the point of view of their possible discipleship. One sees a man who is in some ways obviously a good man; the first thought that comes into one’s mind about him is: “How near is he to the point when he can become a pupil of the Master?” To us it is the greatest reward, the most precious piece of advancement that can come to any man, that he should reach the stage where he is worth taking in hand by one of these Great Ones, so that his future evolution may be assured. Attainment is after that merely a matter of time and, of course, of perseverance and much hard work.

Điều đó đúng biết bao thì không ai có thể biết nếu không phải là người thông nhãn. Những ai là học trò của các Chân sư, tôi cho rằng, tất yếu có thói quen nhìn tất cả những người họ gặp ít nhiều từ quan điểm về địa vị đệ tử khả hữu của họ. Người ta thấy một người, theo một vài cách, rõ ràng là người tốt; tư tưởng đầu tiên nảy sinh trong tâm trí về y là: “Y gần đến mức nào với điểm có thể trở thành học trò của Chân sư?” Đối với chúng ta, đó là phần thưởng lớn nhất, bước tiến quý giá nhất có thể đến với bất kỳ người nào, khi y đạt đến giai đoạn xứng đáng được một trong các Đấng Cao Cả này tiếp nhận để huấn luyện, nhờ đó tiến hoá tương lai của y có thể được bảo đảm. Sau đó, sự thành tựu chỉ là vấn đề thời gian, và dĩ nhiên là vấn đề kiên trì và nhiều công phu khó nhọc.

Though it is quite true that for every human being progress is merely a question of time, for many human beings it is clearly a matter of so very much time that they may be taken en bloc, so to speak, dealt with in the mass; but the moment that a man comes near to the stage when conceivably a Master might take him in hand, he also becomes an object of very keen interest to the pupils of the Master, and their desire is always to try to help him to the point where definite contact may become possible. It should always be remembered that it is merely a question of the man’s deserts in the matter; there is no favouritism of any kind. The moment it is worth the Master’s while to expend as much energy as would be required to teach that man He will do so, but it is only worth His while when He will be able to do more work through the man than He Himself could do with the same energy devoted to other work.

Dù hoàn toàn đúng rằng đối với mọi con người, tiến bộ chỉ là vấn đề thời gian, nhưng đối với nhiều người, rõ ràng đó là vấn đề của một thời gian quá dài đến nỗi họ có thể được xem, có thể nói, như một khối, được xử lý trong tập thể; nhưng khoảnh khắc một người đến gần giai đoạn mà có thể hình dung Chân sư sẽ tiếp nhận y để huấn luyện, y cũng trở thành đối tượng được các học trò của Chân sư đặc biệt quan tâm, và mong muốn của họ luôn là cố gắng giúp y đến điểm mà sự tiếp xúc xác định có thể trở nên khả hữu. Cần luôn nhớ rằng đây chỉ là vấn đề công trạng của con người trong việc ấy; không hề có sự thiên vị nào. Khoảnh khắc việc Chân sư tiêu hao từng ấy năng lượng cần thiết để dạy người đó trở nên đáng giá, Ngài sẽ làm; nhưng điều đó chỉ đáng giá khi Ngài có thể thực hiện nhiều công việc hơn qua người ấy so với chính Ngài có thể làm bằng cùng năng lượng dành cho công việc khác.

We meet a large number of people who seem as though they were not far from that point. They are so good in one way or another, and some are so hopeful all round, that it seems to us that surely with a very little more of the right direction of their energies they would be fit for discipleship—and then we are disappointed to find that it all comes to nothing and they spend their lives in the ordinary way. Most especially I have noticed that with boys and girls, among whom it has always been my lot to have to look for hopeful cases. There are many young people who are quite near the point where, if their energies were just turned in the right direction, they would make very good subjects indeed for such progress, and yet they fail to grasp the opportunity. They get drawn into the competition of ordinary school life, and are swept into a world of lower thought. It is not bad thought, I do not mean that—though that may happen sometimes—but they are swept into a sort of whirlpool of comparatively worldly thought. The goal put before them is generally that of success in some material way—to become great engineers or great lawyers, or to succeed at the head of some mercantile house.

Chúng ta gặp rất nhiều người dường như không xa điểm ấy. Họ tốt đẹp theo cách này hay cách khác, và một số người đầy hứa hẹn toàn diện đến nỗi đối với chúng ta dường như chắc chắn chỉ cần thêm rất ít sự định hướng đúng cho năng lượng của họ, họ sẽ thích hợp với địa vị đệ tử—rồi chúng ta thất vọng khi thấy tất cả chẳng đi đến đâu và họ sống đời mình theo cách bình thường. Đặc biệt nhất, tôi đã nhận thấy điều đó nơi các thiếu niên và thiếu nữ, trong số họ tôi luôn có cơ duyên phải tìm kiếm những trường hợp đầy hứa hẹn. Có nhiều người trẻ rất gần điểm mà, nếu năng lượng của họ chỉ được chuyển đúng hướng, họ thật sự sẽ trở thành những đối tượng rất tốt cho tiến bộ như thế, nhưng họ lại không nắm lấy cơ hội. Họ bị cuốn vào sự cạnh tranh của đời sống học đường bình thường, và bị quét vào một thế giới của tư tưởng thấp hơn. Tôi không nói đó là tư tưởng xấu—dù đôi khi điều ấy có thể xảy ra—nhưng họ bị quét vào một loại xoáy nước của tư tưởng tương đối thế tục. Mục tiêu đặt trước họ thường là thành công theo một cách vật chất nào đó—trở thành những kỹ sư vĩ đại, những luật sư vĩ đại, hoặc thành công ở vị trí đứng đầu một công ty thương mại nào đó.

Not only is a worldly career expected of them by their parents, but the general trend of public opinion also influences them in that direction, and it is very hard to escape from the effect of public opinion. It is pressing upon us all the time in all directions, and so it comes about that these young people, who seem so nearly ready for the higher thing, seldom reach it. Instead they take up a very estimable and useful career, but it is just not that higher thing. I have followed up some cases that seemed to me specially likely, and I have found that the same thing has sometimes occurred to egos for a number of incarnations. For a dozen or twenty incarnations they have been very nearly ready, within measurable distance of taking that great step, but each time they have turned aside from it, and practically always it has been worldly ambition that has led them away from their higher possibilities.11

Không chỉ cha mẹ họ mong đợi họ có một sự nghiệp thế tục, mà xu hướng chung của dư luận cũng ảnh hưởng họ theo hướng ấy, và rất khó thoát khỏi tác động của dư luận. Nó luôn đè nặng lên tất cả chúng ta từ mọi phía, và vì vậy xảy ra việc những người trẻ dường như gần như sẵn sàng cho điều cao hơn ấy lại hiếm khi đạt tới nó. Thay vào đó, họ chọn một sự nghiệp rất đáng kính và hữu ích, nhưng đó không phải là điều cao hơn ấy. Tôi đã theo dõi một số trường hợp đối với tôi có vẻ đặc biệt nhiều triển vọng, và tôi nhận thấy rằng cùng một điều đôi khi đã xảy ra với các chân ngã trong một số kiếp lâm phàm. Trong mười hai hoặc hai mươi kiếp lâm phàm, họ đã gần như sẵn sàng, ở trong khoảng cách có thể đo được để thực hiện bước tiến vĩ đại ấy, nhưng mỗi lần họ lại rẽ khỏi nó, và hầu như luôn luôn chính tham vọng thế tục đã dẫn họ đi khỏi các khả năng cao hơn của họ.

When the Master Hilarion says that men of intelligence and power are continually led away from their higher possibilities by ambition, I think He must have had cases in mind very similar to those which I have just described, because those to whom the higher possibilities lie open must necessarily be men of intelligence and power, not mere ordinary men. He does not say that ambition ruins their lives, but only that higher possibilities exist for them from which it leads them away. It is surely not bad for a boy that he should wish to be a great engineer, a great lawyer, or a great doctor. These are all fine professions, but there are other things which are even more useful, and if he could see and choose the more useful line it would surely be better for him. We cannot say that the worldly work is bad, but only that there is better work. When one says better work one is not depreciating any of these professions or their value to the world; one means that most well-educated men with ordinary capacity could take up those duties and make more or less of a success of them, whereas only those who have a history behind them from the occult point of view can take up with success the narrow and difficult path of occult training. Those who follow it can do more good even than the man who wins high distinction along any of those other lines, so when there is a child who wishes to take it up, who obviously would be able to do so, no one should stand in his or her way.

Khi Chân sư Hilarion nói rằng những người có trí tuệ và quyền năng liên tục bị tham vọng dẫn đi khỏi các khả năng cao hơn của họ, tôi nghĩ hẳn Ngài đã có trong tâm trí những trường hợp rất giống các trường hợp tôi vừa mô tả, bởi vì những người mà các khả năng cao hơn mở ra trước họ tất yếu phải là những người có trí tuệ và quyền năng, chứ không phải chỉ là người bình thường. Ngài không nói rằng tham vọng hủy hoại đời họ, mà chỉ nói rằng có những khả năng cao hơn dành cho họ, và nó dẫn họ đi khỏi những khả năng ấy. Chắc chắn không xấu đối với một thiếu niên khi y muốn trở thành một kỹ sư vĩ đại, một luật sư vĩ đại, hay một bác sĩ vĩ đại. Tất cả đều là những nghề nghiệp cao đẹp, nhưng còn có những điều thậm chí hữu ích hơn; và nếu y có thể thấy và chọn đường lối hữu ích hơn, điều đó chắc chắn tốt hơn cho y. Chúng ta không thể nói rằng công việc thế tục là xấu, mà chỉ có thể nói rằng có công việc tốt hơn. Khi nói công việc tốt hơn, người ta không hạ thấp bất kỳ nghề nghiệp nào trong số này hay giá trị của chúng đối với thế gian; người ta muốn nói rằng phần lớn những người được giáo dục tốt với năng lực bình thường có thể đảm nhận các nhiệm vụ ấy và ít nhiều thành công, trong khi chỉ những ai có một lịch sử phía sau từ quan điểm huyền bí mới có thể đảm nhận thành công con đường hẹp và khó của sự huấn luyện huyền bí. Những ai theo con đường ấy có thể làm điều thiện nhiều hơn cả người đạt được danh tiếng cao theo bất kỳ đường lối nào khác; vì vậy, khi có một đứa trẻ muốn đảm nhận nó, rõ ràng có thể làm được như thế, không ai nên cản đường em ấy.

Yet it is a necessary teacher. Its results turn to dust and ashes in the mouth; like death and estrangement it shows the man at last that to work for self is to work for disappointment.

Tuy nhiên, nó là một huấn sư cần thiết. Kết quả của nó hóa thành bụi tro trong miệng; như cái chết và sự xa cách, cuối cùng nó cho con người thấy rằng làm việc cho bản ngã là làm việc cho thất vọng.

The man who attains that which he has so long and so earnestly desired, often finds later that it is not quite what he hoped it would be. Men who scheme to obtain power and high position find that the power is to a great extent illusory, that it is hampered in all directions, as in the case of Lord Beaconsfield, which I mentioned before. It is possible that he might have done more good by giving all his energy to the pursuit and spread of occultism. His works are not very much read, nowadays, but his occult knowledge shows through them as, for example, in his wonderful tale of Alroyd.12

Người đạt được điều mà y đã khao khát rất lâu và rất tha thiết thường về sau nhận thấy rằng nó không hoàn toàn như điều y đã hy vọng. Những người mưu tính để đạt quyền lực và địa vị cao nhận ra rằng quyền lực, ở mức độ lớn, là ảo tưởng, rằng nó bị cản trở từ mọi phía, như trong trường hợp của Lord Beaconsfield mà tôi đã nhắc trước đây. Có thể ông đã làm được nhiều điều thiện hơn nếu dồn toàn bộ năng lượng vào việc theo đuổi và truyền bá huyền bí học. Ngày nay các tác phẩm của ông không được đọc nhiều lắm, nhưng tri thức huyền bí của ông hiện rõ xuyên qua chúng, chẳng hạn trong câu chuyện kỳ diệu Alroyd của ông.

But though this first rule seems so simple and easy, do not quickly pass it by. For these vices of the ordinary man pass through a subtle transformation and reappear with changed aspect in the heart of the disciple.

Nhưng dù quy luật thứ nhất này có vẻ rất đơn giản và dễ dàng, đừng vội lướt qua nó. Vì các thói xấu của người bình thường đi qua một sự chuyển đổi tinh tế và tái xuất hiện với sắc thái đã đổi thay trong trái tim của đệ tử.

For the disciple there are special temptations, special difficulties. The ordinary man is proud, perhaps, of certain things he can do. The pupil of the Master knows full well he must not be proud of any advancement that comes to him. Indeed, knowing the Masters, he cannot well be proud, for all sense of pride falls away from any man who really knows Them. He may be able to do many things that others cannot do, but yet he is constantly, by the necessity of the case, in the presence of one or of many who can do quite infinitely more than he can. And so pride, to do them justice, is not often found in the pupils of the Masters. Yet the whole thing is very subtle. The pupil, if he is not careful, will find that he is proud of not being proud; proud to find how humble he is in spite of the wonderful things he can do and think and say. Or he may try to elbow himself to the front among those who are serving the Master, because in his pride he thinks that he can do the work best and that his presence at the top is essential. But Madame Blavatsky said in her First Steps in Occultism: “No one can think, ‘I am better or more pleasing to the Master than my fellow-disciples’ and remain a pupil of the Master.” And Dr. Besant once said: “One of the first rules for an occultist is to be as unobtrusive as possible, so that his personality will attract the smallest possible attention.”

Đối với đệ tử có những cám dỗ đặc biệt, những khó khăn đặc biệt. Người bình thường có lẽ tự hào về một số điều y có thể làm. Học trò của Chân sư biết rất rõ rằng mình không được tự hào về bất kỳ bước tiến nào đến với mình. Thật vậy, khi biết các Chân sư, y khó có thể tự hào, vì mọi cảm thức kiêu hãnh đều rơi khỏi bất kỳ người nào thật sự biết Các Ngài. Y có thể làm được nhiều điều mà người khác không thể làm, nhưng y vẫn luôn luôn, do chính sự cần thiết của hoàn cảnh, ở trong sự hiện diện của một hoặc nhiều Đấng có thể làm nhiều hơn y vô hạn. Vì vậy, công bằng mà nói, lòng kiêu hãnh không thường thấy nơi học trò của các Chân sư. Tuy nhiên, toàn bộ vấn đề rất tinh tế. Nếu không cẩn thận, người học trò sẽ thấy rằng mình tự hào vì không tự hào; tự hào khi thấy mình khiêm nhường biết bao bất chấp những điều kỳ diệu mình có thể làm, nghĩ và nói. Hoặc y có thể cố chen mình lên hàng đầu giữa những người đang phụng sự Chân sư, bởi trong niềm kiêu hãnh, y nghĩ rằng mình có thể làm công việc tốt nhất và sự hiện diện của mình ở vị trí trên cùng là thiết yếu. Nhưng bà Blavatsky đã nói trong Những Bước Đầu trong Huyền Bí Học: “Không ai có thể nghĩ: ‘Tôi tốt hơn hay làm vui lòng Chân sư hơn các đệ tử đồng môn của tôi’ mà vẫn còn là học trò của Chân sư.” Và Tiến sĩ Besant từng nói: “Một trong những quy luật đầu tiên đối với nhà huyền bí học là càng ít gây chú ý càng tốt, để phàm ngã của y thu hút sự chú ý ít nhất có thể.”

Those who are students of occultism, but not yet pupils, may more easily fall into the error of pride. It is a great difficulty for those who develop psychic powers. They find that they can see so much that others cannot; so much is open to them that is unknown to others, that they begin to feel themselves superior to their fellow-men, and very often that leads to rather disastrous results. When we find psychics who show great pride, I think we may generally take it for granted that they are not as yet trained people, that though they are developing the higher faculties they have not yet come into contact with the Master, because the absence of pride is a sure sign of one who is learning his lesson properly.

Những ai là đạo sinh huyền bí học nhưng chưa phải là học trò có thể dễ rơi vào sai lầm kiêu hãnh hơn. Đó là một khó khăn lớn đối với những người phát triển các quyền năng thông linh. Họ thấy mình có thể thấy rất nhiều điều mà người khác không thể; rất nhiều điều mở ra với họ mà người khác không biết, đến nỗi họ bắt đầu cảm thấy mình vượt trội hơn đồng loại, và điều đó rất thường dẫn đến những kết quả khá tai hại. Khi chúng ta thấy những người thông linh biểu lộ lòng kiêu hãnh lớn, tôi nghĩ nói chung chúng ta có thể xem như chắc chắn rằng họ chưa phải là những người đã được huấn luyện, rằng dù họ đang phát triển các quan năng cao hơn, họ vẫn chưa tiếp xúc với Chân sư, bởi vì sự vắng mặt của kiêu hãnh là một dấu hiệu chắc chắn của người đang học bài học của mình một cách đúng đắn.

It is easy to say: “I will not be ambitious”; it not so easy to say: “When the Master reads my heart He will find it clean utterly.”

Thật dễ nói: “Tôi sẽ không tham vọng”; nhưng không dễ nói: “Khi Chân sư đọc trái tim tôi, Ngài sẽ thấy nó hoàn toàn trong sạch.”

That is quite a different thing. We can so easily persuade ourselves that we are not ambitious, that we are never selfish, never irritable. We can persuade ourselves of many things, but the Master sees with the all-seeing eye that discerns the facts and not the gloss and the glamour we throw over them when we look at ourselves.

Đó là một điều hoàn toàn khác. Chúng ta rất dễ thuyết phục chính mình rằng mình không tham vọng, rằng mình không bao giờ ích kỷ, không bao giờ cáu kỉnh. Chúng ta có thể thuyết phục chính mình về nhiều điều, nhưng Chân sư nhìn bằng con mắt thấy tất cả, phân biện các sự kiện chứ không phải lớp bóng bẩy và ảo cảm mà chúng ta phủ lên chúng khi nhìn vào chính mình.

The pure artist who works for the love of his work is sometimes more firmly planted on the right road than the Occultist who fancies he has removed his interest from self, but who has in reality only enlarged the limits v of experience and desire, and transferred his interest to the things which concern his larger span of life.

Người nghệ sĩ thuần khiết làm việc vì tình yêu đối với công việc của mình đôi khi đứng vững chắc hơn trên chánh đạo so với nhà Huyền bí học tưởng rằng mình đã loại bỏ sự quan tâm đến bản ngã, nhưng thật ra chỉ mở rộng các giới hạn v của kinh nghiệm và ham muốn, và chuyển sự quan tâm của mình sang những điều liên quan đến tầm sống rộng lớn hơn của y.

Cynical people might remark that the true artist in that sense is unknown, but that is not so. I have had a great deal to do with artistic circles both in England and in France, and though there is much jealousy and want of generous appreciation among artists in general, yet I also surely have known more than one artist who did live and work for the love of his art and not for gain. Because he so worked, he often threw away many obvious chances of worldly advancement, thinking that to take advantage of them would involve disloyalty to his art. A man who is willing to do that for the sake of his art has already made some progress on the way to getting rid of the lower self. There may be a higher form of selfish ambition at the back of it, but at least he has gone a long way in eradicating the mere lower self when he has lost the ambition for worldly wealth and success.

Những người hoài nghi có thể nhận xét rằng người nghệ sĩ chân chính theo nghĩa ấy là không hề có, nhưng không phải vậy. Tôi đã có nhiều giao tiếp với các giới nghệ thuật cả ở Anh lẫn ở Pháp, và dù có nhiều ganh tị và thiếu sự trân trọng rộng lượng giữa các nghệ sĩ nói chung, tôi chắc chắn cũng đã biết hơn một nghệ sĩ thật sự sống và làm việc vì tình yêu đối với nghệ thuật của mình chứ không vì lợi lộc. Vì làm việc như thế, y thường bỏ qua nhiều cơ hội rõ ràng để tiến thân trong thế gian, nghĩ rằng tận dụng chúng sẽ hàm ý bất trung với nghệ thuật của mình. Một người sẵn lòng làm điều đó vì nghệ thuật của mình đã có một mức tiến bộ nào đó trên đường loại bỏ phàm ngã. Có thể phía sau điều ấy vẫn còn một hình thức cao hơn của tham vọng ích kỷ, nhưng ít nhất y đã đi một đoạn dài trong việc nhổ bỏ phàm ngã thấp kém đơn thuần khi y đã mất tham vọng về của cải và thành công thế tục.

There is a stage at which the occultist has quite conquered all desires connected with the personality, has risen above all the ordinary ambitions of men, but still has ambition for his separate individuality or ego, and is thinking generally of its progress instead of the good he can do to others. So it may well be that an artist who did altogether sacrifice the thought of self, even though he knew nothing about occultism, might have his feet more firmly planted on the right road than such an occultist.

Có một giai đoạn trong đó nhà huyền bí học đã chinh phục hoàn toàn mọi ham muốn liên quan đến phàm ngã, đã vươn lên trên mọi tham vọng bình thường của con người, nhưng vẫn còn tham vọng cho cá tính tách biệt hay chân ngã của mình, và thường nghĩ về sự tiến bộ của nó thay vì điều thiện y có thể làm cho người khác. Vì vậy, rất có thể một nghệ sĩ đã hoàn toàn hy sinh ý nghĩ về bản ngã, dù không biết gì về huyền bí học, lại đặt chân vững chắc hơn trên chánh đạo so với một nhà huyền bí học như thế.

The same principle applies to the other two seemingly simple rules. Linger over them, and do not let yourself be easily deceived by your own heart.

Cùng một nguyên lý áp dụng cho hai quy luật có vẻ đơn giản còn lại. Hãy lưu lại với chúng, và đừng để mình dễ bị trái tim mình lừa dối.

The Master here refers to Rules 2 and 3, which we shall deal with in the next chapter. These tell us to kill out desire of life and of comfort. He warns us to be cautious with regard to all three, for the mind is extraordinarily, even quite diabolically, clever at making excuses for us, at finding all kinds of reasons for doing what we want to do. We may not think of ourselves as particularly clever or intellectual, but if we look back over the excuses we have invented for doing things we have wanted to do, we usually have to admit that we have shown amazing capacity in that direction.

Ở đây Chân sư nói đến Quy luật 2 và 3, mà chúng ta sẽ đề cập trong chương kế tiếp. Chúng bảo chúng ta diệt trừ ham muốn sống và ham muốn tiện nghi. Ngài cảnh báo chúng ta phải thận trọng đối với cả ba, vì thể trí cực kỳ, thậm chí gần như ma quỷ, khéo léo trong việc bào chữa cho chúng ta, tìm đủ loại lý do để làm điều chúng ta muốn làm. Chúng ta có thể không nghĩ mình đặc biệt thông minh hay trí thức, nhưng nếu nhìn lại những lời bào chữa mà mình đã phát minh để làm những điều mình muốn làm, thường chúng ta phải thừa nhận rằng mình đã biểu lộ một năng lực đáng kinh ngạc theo hướng ấy.

For now, at the threshold, a mistake can be corrected. But carry it on with you and it will grow and come to fruition, or else you must suffer bitterly in its destruction.

Vì giờ đây, tại ngưỡng cửa, một sai lầm có thể được sửa chữa. Nhưng hãy mang nó theo với bạn, nó sẽ lớn lên và kết quả, hoặc bạn phải chịu đau khổ cay đắng trong việc hủy diệt nó.

C.W.L.—This is the end of the Master Hilarion’s long note to Rule 1. The more a man advances on the path of occult development, the deeper he will bury any fault which has not yet been eradicated. Suppose it be selfishness, the greatest and most common of all faults, because it lies at the root of so many others. He may have got rid of all its outer evidences, and may imagine himself to be entirely free from it, and yet the fault itself may still be unconquered. The further he goes on the Path the more deeply it will be hidden. In the meantime he is gradually raising the strength of the vibrations of his vehicles so that all his qualities, whether bad or good, must be greatly intensified. If there is an evil quality the existence of which may be quite hidden, both from the man himself and his friends, it will be growing stronger and stronger, and inevitably some time it must break through and show itself. Then just because he has made considerable advance it will produce a much more serious disaster than would have been the case at an earlier stage, and he certainly will suffer a good deal in its destruction.

C.W.L.—Đây là phần kết của lời ghi chú dài của Chân sư Hilarion cho Quy luật 1. Một người càng tiến xa trên con đường phát triển huyền bí, y càng chôn sâu bất kỳ lỗi lầm nào chưa được nhổ bỏ. Giả sử đó là ích kỷ, lỗi lớn nhất và phổ biến nhất trong mọi lỗi, bởi vì nó nằm ở gốc của rất nhiều lỗi khác. Y có thể đã loại bỏ mọi bằng chứng bên ngoài của nó, và có thể tưởng mình hoàn toàn thoát khỏi nó, nhưng chính lỗi ấy vẫn có thể chưa bị chinh phục. Y càng đi xa trên Đường Đạo, nó càng bị ẩn sâu hơn. Trong khi đó, y đang dần nâng cường độ rung động của các vận cụ mình, đến nỗi mọi phẩm tính của y, dù xấu hay tốt, đều phải được tăng cường rất mạnh. Nếu có một phẩm tính xấu mà sự tồn tại của nó có thể bị che giấu hoàn toàn, cả đối với chính y lẫn bạn bè y, nó sẽ ngày càng mạnh hơn, và tất yếu một lúc nào đó nó phải phá vỡ ra và biểu lộ. Khi ấy, chính vì y đã có bước tiến đáng kể, nó sẽ gây ra một tai họa nghiêm trọng hơn nhiều so với khi ở giai đoạn trước, và chắc chắn y sẽ chịu nhiều đau khổ trong việc hủy diệt nó.

A.B.—The man on the path must do his work thoroughly. On the threshold mistakes can easily be corrected. But unless the disciple gets rid entirely of the desire for power while he is in the early stages of his spiritual apprenticeship, it will become stronger and stronger. If he does not weed it out where it is based in the physical, astral and mental planes, but allows it to take root in the spiritual plane of the ego, he will find it very difficult to eradicate. Ambition thus established in the causal body is carried on from life to life. The’ physical, astral and mental bodies die, and he gets new ones, but the causal body does not die till the end of the kalpa; so let the pupil beware of permitting spiritual ambition to touch the causal body and build into it elements of separateness which more and more encase the life.

A.B.—Người trên Đường Đạo phải làm công việc của mình một cách triệt để. Tại ngưỡng cửa, các sai lầm có thể dễ dàng được sửa chữa. Nhưng nếu đệ tử không loại bỏ hoàn toàn ham muốn quyền lực trong khi y còn ở các giai đoạn đầu của thời kỳ học việc tinh thần, nó sẽ trở nên ngày càng mạnh hơn. Nếu y không nhổ bỏ nó nơi nó đặt nền tảng trong các cõi hồng trần, cảm dục và trí tuệ, mà để nó bén rễ trong cõi tinh thần của chân ngã, y sẽ thấy rất khó nhổ bỏ. Tham vọng được thiết lập như thế trong thể nguyên nhân được mang từ đời này sang đời khác. Các thể xác, cảm dục và trí tuệ chết đi, và y nhận những thể mới, nhưng thể nguyên nhân không chết cho đến cuối chu kỳ; vì vậy, người học trò hãy cẩn thận đừng cho phép tham vọng tinh thần chạm tới thể nguyên nhân và xây vào đó những yếu tố chia rẽ ngày càng bao bọc sự sống.

Work as those work who are ambitious.

Hãy làm việc như những người tham vọng làm việc.

A.B.—I have taken this sentence out of its place in the book, where it occurs at the beginning of Rule 4, and brought it in for consideration here, where it specially applies. It is the comment of the Chohan upon Rule 1. In each case we will take the rule and then the comment that the Chohan gave in explanation of it. Put them together, and you get the sense. Thus you read: “1. Kill out ambition, but work as those work who are ambitious. 2. Kill out desire of life, but respect life as those who desire it. 3. Kill out desire of comfort, but be happy as those who live for happiness.”

A.B.—Tôi đã lấy câu này ra khỏi vị trí của nó trong sách, nơi nó xuất hiện ở đầu Quy luật 4, và đưa vào đây để xem xét, nơi nó đặc biệt áp dụng. Đó là lời bình của Đức Chohan về Quy luật 1. Trong mỗi trường hợp, chúng ta sẽ lấy quy luật rồi đến lời bình mà Đức Chohan đưa ra để giải thích nó. Đặt chúng lại với nhau, bạn có được ý nghĩa. Như vậy bạn đọc: “1. Hãy diệt trừ tham vọng, nhưng hãy làm việc như những người tham vọng làm việc. 2. Hãy diệt trừ ham muốn sống, nhưng hãy tôn trọng sự sống như những người ham muốn nó. 3. Hãy diệt trừ ham muốn tiện nghi, nhưng hãy hạnh phúc như những người sống vì hạnh phúc.”

Desire for power, life and happiness forms the motive power of the world. These are the prizes that Ishvara holds out before all beings, and the result is that evolution goes on. All the struggles that a man makes for these things bring out his qualities and cause him to evolve. Suppose the whole of this is suddenly removed—a man loses all ambition, all desire for life and for happiness. That represents a stage through which men pass before the longing for the spiritual life awakens fully in them. It is called vairagya, and is the result of satiety.13 The man has enjoyed power and has found that it does not bring, happiness; he has worked for it and grasped it, but has found that the effect of it on the inner ego is only disappointment. It is not what he expected, and it does not bring satisfaction. Take the case, for example, of the late Emperor of Russia, who stood at the summit of human power, was thoroughly tired of it, and heartily wished himself free of it. It is not an uncommon thing in history that a man who wields absolute power gets a fit of vairagya and abdicates his position.

Ham muốn quyền lực, sự sống và hạnh phúc tạo thành động lực của thế gian. Đây là những phần thưởng mà Ishvara đặt trước mọi hữu thể, và kết quả là tiến hoá tiếp diễn. Tất cả những cuộc đấu tranh mà con người thực hiện vì những điều này làm lộ ra các phẩm tính của y và khiến y tiến hoá. Giả sử toàn bộ điều này đột nhiên bị lấy đi—một người mất mọi tham vọng, mọi ham muốn sống và hạnh phúc. Điều đó tượng trưng cho một giai đoạn mà con người trải qua trước khi niềm khao khát đời sống tinh thần thức tỉnh trọn vẹn trong họ. Nó được gọi là vairagya, và là kết quả của sự chán ngán vì thỏa mãn. Con người đã hưởng quyền lực và nhận ra rằng nó không đem lại hạnh phúc; y đã làm việc vì nó và nắm lấy nó, nhưng nhận thấy rằng tác động của nó lên chân ngã bên trong chỉ là thất vọng. Nó không như điều y mong đợi, và nó không đem lại sự thỏa mãn. Chẳng hạn, hãy lấy trường hợp vị Hoàng đế quá cố của Nga, người đứng trên đỉnh cao của quyền lực nhân loại, hoàn toàn mệt mỏi với nó, và hết lòng mong mình được giải thoát khỏi nó. Trong lịch sử, không hiếm khi một người nắm quyền lực tuyệt đối có một cơn vairagya và từ bỏ địa vị của mình.

The result of that is a collapse, a lessening of all the motives that had animated him up to that point. Then the man droops down, and says: “Why should I exert myself any more? I do not want power; why then should I work? I do not want life; why then should I continue to live? I do not want comfort; it gives me no satisfaction; why then should I do anything to gain it?”

Kết quả của điều đó là một sự sụp đổ, một sự suy giảm mọi động cơ đã linh hoạt y cho đến điểm ấy. Rồi con người rũ xuống và nói: “Tại sao tôi phải cố gắng thêm nữa? Tôi không muốn quyền lực; vậy tại sao tôi phải làm việc? Tôi không muốn sống; vậy tại sao tôi phải tiếp tục sống? Tôi không muốn tiện nghi; nó không đem lại cho tôi sự thỏa mãn; vậy tại sao tôi phải làm bất cứ điều gì để đạt được nó?”

The question for us is: How may such a man be stimulated into renewed activity so that he may continue to grow and may finish his evolution; how may he be aroused from his state of collapse? Only by attracting into activity the divine life in him, that lives by giving, not by taking. He is now at the critical point in his career. If he is still to cling to the separated self his future lives will be full of weariness and disgust. Is it possible to awaken in him the desire of the true life, which consists in pouring oneself out in service, not in indrawing into selfish idleness?

Câu hỏi đối với chúng ta là: Làm thế nào một người như thế có thể được kích thích vào hoạt động mới để y có thể tiếp tục tăng trưởng và hoàn tất tiến hoá của mình; làm thế nào y có thể được đánh thức khỏi trạng thái sụp đổ? Chỉ bằng cách lôi cuốn vào hoạt động sự sống thiêng liêng trong y, sự sống sống bằng cách cho ra, chứ không bằng cách nhận vào. Giờ đây y ở điểm khủng hoảng trong sự nghiệp của mình. Nếu y vẫn còn bám vào cái ngã tách biệt, các đời tương lai của y sẽ đầy mệt mỏi và chán ghét. Liệu có thể đánh thức trong y ham muốn của sự sống chân thật, vốn hệ tại ở việc tuôn đổ bản thân trong phụng sự, chứ không co rút vào sự nhàn rỗi ích kỷ?

In his present state the man is a worthless creature in the world, useless to himself and everybody else. Before he reached this condition he was a force that helped the general evolution of the world, because he was affected by those things which attract normal men and enable them to evolve. Into this condition of perfect collapse and uselessness into which he has been plunged by the loss of ordinary lower motives, there comes a special appeal—an appeal which meets him on the three points where he had lost his motive.

Trong trạng thái hiện tại, con người là một sinh vật vô giá trị trong thế gian, vô ích cho chính mình và cho mọi người khác. Trước khi đạt tới tình trạng này, y là một mãnh lực giúp cho tiến hoá chung của thế gian, bởi vì y bị tác động bởi những điều thu hút người bình thường và giúp họ tiến hoá. Vào trong tình trạng sụp đổ và vô dụng hoàn toàn này, nơi y bị ném vào do mất các động cơ thấp bình thường, có một lời kêu gọi đặc biệt đến—một lời kêu gọi gặp y tại ba điểm nơi y đã mất động cơ của mình.

It is to the man in this condition that the command comes: “Work as those work who are ambitious.” That is joined to the first teaching: “Kill out ambition,” that taken alone would lead to lethargy. The separated self being killed, the man has now no motive for work, so the cry comes: “Work as those work who are ambitious.” Then comes the second command: “Respect life as those do who desire it,” and the third: “Be happy as those who live for happiness.” These are the three new commands that are to begin the new life, the three new motives that replace the three old ones. The man is lying there as dead. The life of the form is dead. Now he has to waken up the life of the consciousness; that will be done by these three appeals. He has to begin to work again, but now it must be the spiritual man who lives and works, while the personality acts like a machine. He has to live more than ever he did before, though the desires for life, happiness and power have all been extinguished. This is the answer to his question: “Why should I work?”

Chính với người ở trong tình trạng này mà mệnh lệnh đến: “Hãy làm việc như những người tham vọng làm việc.” Điều đó được nối với giáo huấn đầu tiên: “Hãy diệt trừ tham vọng,” điều mà nếu đứng một mình sẽ dẫn đến uể oải. Cái ngã tách biệt đã bị giết chết, giờ đây con người không có động cơ nào để làm việc, nên tiếng gọi vang lên: “Hãy làm việc như những người tham vọng làm việc.” Rồi đến mệnh lệnh thứ hai: “Hãy tôn trọng sự sống như những người ham muốn nó,” và mệnh lệnh thứ ba: “Hãy hạnh phúc như những người sống vì hạnh phúc.” Đây là ba mệnh lệnh mới sẽ khởi đầu đời sống mới, ba động cơ mới thay thế ba động cơ cũ. Con người nằm đó như đã chết. Sự sống của hình tướng đã chết. Giờ đây y phải đánh thức sự sống của tâm thức; điều đó sẽ được thực hiện bởi ba lời kêu gọi này. Y phải bắt đầu làm việc trở lại, nhưng giờ đây phải là con người tinh thần sống và làm việc, trong khi phàm ngã hành động như một cỗ máy. Y phải sống hơn bao giờ hết, dù các ham muốn về sự sống, hạnh phúc và quyền lực đều đã bị dập tắt. Đây là câu trả lời cho câu hỏi của y: “Tại sao tôi phải làm việc?”

If a man does not find the answer, he will remain in the dead condition and will grow no further. It is the point known to students of mechanics as a dead point, the point of equilibrium, in which there is no force to push him on; the higher forces have counterbalanced the lower ones and destroyed his former selfishness and ambition, but are not yet strong enough in him to send him forth full of energy and purpose in their cause. That equilibrium is not the object of evolution. What new motives can be put before the man so as to arouse him from this state and make him active? There is only one which can stir the soul from within—his identifying himself with the life of Ishvara in the world, and acting as a part of that life instead of with the desire for the fruit of action.

Nếu một người không tìm thấy câu trả lời, y sẽ ở lại trong tình trạng chết và không tăng trưởng thêm. Đó là điểm mà các đạo sinh cơ học biết như điểm chết, điểm quân bình, trong đó không có mãnh lực nào đẩy y tiến tới; các mãnh lực cao hơn đã đối trọng các mãnh lực thấp và hủy diệt ích kỷ cùng tham vọng trước kia của y, nhưng trong y chúng chưa đủ mạnh để sai y đi với đầy năng lượng và mục đích cho chính nghĩa của chúng. Sự quân bình ấy không phải là mục tiêu của tiến hoá. Những động cơ mới nào có thể được đặt trước con người để đánh thức y khỏi trạng thái này và làm y hoạt động? Chỉ có một điều có thể khuấy động linh hồn từ bên trong—việc y đồng hoá với sự sống của Ishvara trong thế gian, và hành động như một phần của sự sống ấy thay vì với ham muốn về quả của hành động.

There is no better commentary on this sentence than that which you will find in the third discourse of the Bhagavad-Gita, where reasons are given why a man should work after he has lost the common motives, the desire for the fruits of action:

Không có lời bình nào tốt hơn cho câu này so với điều bạn sẽ tìm thấy trong bài giảng thứ ba của Bhagavad-Gita, nơi các lý do được đưa ra vì sao một người nên làm việc sau khi y đã mất các động cơ thông thường, tức ham muốn về quả của hành động:

But the man who rejoiceth in the Self, with the Self is satisfied, and is content in the Self, for him verily there is nothing to do;

Nhưng người vui trong Tự Ngã, được thỏa mãn với Tự Ngã, và mãn nguyện trong Tự Ngã, đối với người ấy thật sự không có gì phải làm;

For him there is no interest in things done in this world, nor any in things not done, nor doth any object of his depend on any being.

Đối với người ấy không có lợi ích nào trong những việc đã làm nơi thế gian này, cũng không có lợi ích nào trong những việc chưa làm, và không mục tiêu nào của y tùy thuộc vào bất kỳ hữu thể nào.

Therefore, without attachment, constantly perform action which is duty, for, by performing action without attachment, man verily reacheth the Supreme.

Vì vậy, không dính mắc, hãy thường xuyên thực hiện hành động là bổn phận; bởi vì, bằng cách thực hiện hành động không dính mắc, con người thật sự đạt tới Tối Cao.

Janaka and others indeed attained to perfection by action: then having an eye to the welfare of the world also, thou shouldst perform action.14

Janaka và những người khác quả thật đã đạt tới sự hoàn thiện bằng hành động; vậy, cũng với mắt hướng đến phúc lợi của thế gian, ngươi nên thực hiện hành động.

That which is described here is a still higher stage than that of the man of whom we are now thinking. We have been considering only the beginning of that Path which leads to this full realization of the Self. But the motive which is given here applies to him; he has realized the emptiness of the non-self, and is in a position to respond to the appeal of the one Self. He is prepared to work with the motive of benefit to the world. Such a man may now think of trying to gain spiritual knowledge not in order that he himself may thereby become wise and great, but because it will help the world; he is gradually making that his object—something outside his own individual self.

Nội dung được mô tả ở đây là một giai đoạn còn cao hơn giai đoạn của con người mà hiện nay chúng ta đang nghĩ đến. Chúng ta chỉ mới xem xét phần khởi đầu của Đường Đạo dẫn đến sự chứng nghiệm trọn vẹn này về Chân Ngã. Nhưng động cơ được nêu ở đây áp dụng cho y; y đã nhận ra sự trống rỗng của phi-ngã, và ở trong vị thế có thể đáp ứng lời kêu gọi của Chân Ngã duy nhất. Y đã sẵn sàng làm việc với động cơ đem lại lợi ích cho thế gian. Một người như thế giờ đây có thể nghĩ đến việc cố gắng đạt được tri thức tinh thần, không phải để nhờ đó chính y trở nên minh triết và vĩ đại, mà vì điều ấy sẽ giúp ích cho thế gian; y đang dần dần lấy điều đó làm mục tiêu của mình—một điều gì đó ở bên ngoài bản ngã cá nhân riêng của y.

Finally he will drop that motive of lofty desire also, and only wish that he may be an organ of the higher, and may do that which Ishvara wishes. Then he will learn that he is not even to desire spiritual knowledge, nor even to become a Master, but simply to become an instrument for the higher Life. Thus being active as they who are ambitious, but with the motive of being a channel for the higher Life, the man will get rid of the last vestiges of ambition. His energy is now merged in the Will of the Logos; that becomes the motive for his working.

Cuối cùng y cũng sẽ buông bỏ cả động cơ của ước vọng cao thượng ấy, và chỉ mong rằng y có thể là một cơ quan của điều cao cả hơn, và có thể làm điều mà Ishvara mong muốn. Bấy giờ y sẽ học biết rằng y thậm chí không được ham muốn tri thức tinh thần, cũng không được ham muốn trở thành một Chân sư, mà chỉ đơn giản trở thành một khí cụ cho Sự Sống cao cả hơn. Như thế, khi hoạt động như những người đầy tham vọng, nhưng với động cơ là trở thành một kênh dẫn cho Sự Sống cao cả hơn, con người sẽ loại bỏ những dấu vết cuối cùng của tham vọng. Năng lượng của y giờ đây được hòa nhập vào Ý Chí của Thượng đế; điều đó trở thành động cơ cho công việc của y.

In the verses of the Gita quoted above Shri Krishna explains how a. man should work in order to reach the Supreme, to realize the presence and power of the Divine. Then He goes on to show that such attainment and realization lead to fuller activity than any ever known before. He explains that it is the active work of Ishvara that sustains everything:

Trong các câu kệ của Gita được trích ở trên, Shri Krishna giải thích cách một người nên làm việc để đạt đến Đấng Tối Cao, để chứng nghiệm sự hiện diện và quyền năng của Đấng Thiêng Liêng. Rồi Ngài tiếp tục chỉ ra rằng sự đạt thành và chứng nghiệm như thế dẫn đến một hoạt động viên mãn hơn bất cứ hoạt động nào từng được biết trước đây. Ngài giải thích rằng chính công việc tích cực của Ishvara duy trì mọi sự:

There is nothing in the three worlds, O Partha, that should be done by Me, nor anything unattained that might be attained; yet I mingle in action.

Không có điều gì trong ba cõi giới, hỡi Partha, mà Ta phải làm, cũng không có điều gì chưa đạt mà Ta cần đạt; tuy vậy Ta vẫn hòa mình vào hành động.

For if I mingled not ever in action unwearied, men all around would follow My path, O son of Pritha.

Vì nếu Ta không luôn hòa mình vào hành động một cách không mệt mỏi, thì mọi người chung quanh sẽ đi theo con đường của Ta, hỡi con của Pritha.

These worlds would fall into ruin, if I did not perform action.15

Các thế giới này sẽ rơi vào hủy hoại, nếu Ta không thực hiện hành động.15

He works for the welfare of the world, for the turning of the wheel of the universe, and the sole motive of His activity is that the world may grow and develop till the cycle is completed.

Ngài làm việc vì phúc lợi của thế gian, vì sự quay chuyển của bánh xe vũ trụ, và động cơ duy nhất trong hoạt động của Ngài là để thế gian có thể tăng trưởng và phát triển cho đến khi chu kỳ được hoàn tất.

Shri Krishna then goes on to show the reasons for which a man should work—for the benefit and maintenance of the world and of mankind. No longer identifying himself with the separated forms, he has to identify himself with the one Life which is carrying on separated lives in order to bring them to perfection. Thus identifying himself with the one Life he should work entirely for the welfare and maintenance of his fellows and of the whole world—that everything moving and unmoving may reach its appointed end, may become that which is in the thought of Ishvara, although in manifested life they have not reached that point. The whole universe of Ishvara exists perfect in His thought, and gradually in many stages He works that thought out in matter. Those who realize this as part of His life must work as He works for the complete manifestation of that thought, that is, in order to turn the wheel of life till the turning is complete.

Shri Krishna sau đó tiếp tục chỉ ra những lý do mà vì đó con người nên làm việc—vì lợi ích và sự duy trì của thế gian và của nhân loại. Không còn đồng hóa với các hình tướng phân ly, y phải đồng hóa với Sự Sống duy nhất đang duy trì các sự sống phân ly để đưa chúng đến chỗ hoàn thiện. Khi đồng hóa như thế với Sự Sống duy nhất, y phải làm việc hoàn toàn vì phúc lợi và sự duy trì của đồng loại mình và của toàn thế gian—để mọi vật chuyển động và bất động đều có thể đạt đến cứu cánh đã được định sẵn, có thể trở thành điều vốn hiện hữu trong tư tưởng của Ishvara, mặc dù trong đời sống biểu hiện chúng chưa đạt đến điểm ấy. Toàn thể vũ trụ của Ishvara hiện hữu hoàn hảo trong tư tưởng của Ngài, và dần dần qua nhiều giai đoạn, Ngài thực hiện tư tưởng ấy trong vật chất. Những ai nhận ra điều này như một phần của sự sống Ngài phải làm việc như Ngài làm việc cho sự biểu hiện trọn vẹn của tư tưởng ấy, nghĩa là để quay bánh xe sự sống cho đến khi sự quay chuyển được hoàn tất.

It does not follow necessarily that the man who has this true and spiritual motive believes in God or thinks about Him. But in any case he feels and responds to the divine Life in the world, and serves it with utter devotion. Such, for example, was the case with my old friend Charles Bradlaugh, who did not believe in God as understood in his time, but was nevertheless always ready to face suffering and danger, to lay his own body in the ditch if it could thus be useful as a bridge over which others might walk to a higher life.

Điều đó không nhất thiết có nghĩa là người có động cơ chân thật và tinh thần này tin vào Thượng đế hay nghĩ về Ngài. Nhưng trong mọi trường hợp, y cảm nhận và đáp ứng Sự Sống thiêng liêng trong thế gian, và phụng sự sự sống ấy với lòng sùng tín trọn vẹn. Chẳng hạn, đó là trường hợp của người bạn cũ của tôi, Charles Bradlaugh, người không tin vào Thượng đế theo cách người ta hiểu trong thời của ông, nhưng tuy vậy luôn sẵn sàng đối diện với đau khổ và nguy hiểm, sẵn sàng đặt chính thân mình xuống rãnh nếu nhờ đó thân ấy có thể hữu ích như một cây cầu để người khác bước qua đến một đời sống cao hơn.

Yet those who have thus felt the Will of Ishvara so that it has become their motive in life must not, unsettle the minds of others who are not yet able to feel this and are acting from desire. Shri Krishna goes on to say:

Tuy nhiên, những ai đã cảm nhận Ý Chí của Ishvara đến mức nó trở thành động cơ trong đời sống của họ thì không được làm xáo trộn tâm trí của những người khác, những người chưa thể cảm nhận điều này và còn hành động theo dục vọng. Shri Krishna tiếp tục nói:

As the ignorant act from attachment to action, O Bharata, so should the wise act without attachment, desiring the welfare of the world.

Như kẻ vô minh hành động do luyến chấp vào hành động, hỡi Bharata, người minh triết cũng nên hành động không luyến chấp, mong muốn phúc lợi của thế gian.

Let no wise man unsettle the mind of ignorant people attached to action; but acting in harmony with Me let him render all action attractive.16

Đừng để người minh triết nào làm xáo trộn tâm trí của những người vô minh còn luyến chấp vào hành động; nhưng khi hành động trong sự hòa hợp với Ta, hãy làm cho mọi hành động trở nên hấp dẫn.16

The spiritual man must throw himself into the work of the world and set an example, because the standard which is set up by the wise will be followed by others. A man who is looked up to by the mass of the people sets a standard by which activity will be carried on by the others; if he becomes indifferent to action they will also fall into indifference. Though his indifference may come from a higher motive they do not know that, and it is quite a natural thing for them to mistake his motive. In them indifference would grow out of tamas, and that would prevent their further evolution.

Con người tinh thần phải dấn mình vào công việc của thế gian và nêu gương, vì tiêu chuẩn do người minh triết thiết lập sẽ được những người khác noi theo. Một người được quần chúng kính trọng đặt ra một tiêu chuẩn mà theo đó hoạt động của những người khác sẽ được tiến hành; nếu y trở nên thờ ơ với hành động, họ cũng sẽ rơi vào sự thờ ơ. Dù sự điềm nhiên của y có thể phát xuất từ một động cơ cao hơn, họ không biết điều đó, và việc họ hiểu lầm động cơ của y là điều rất tự nhiên. Nơi họ, sự thờ ơ sẽ nảy sinh từ tamas, và điều đó sẽ ngăn cản sự tiến hoá thêm nữa của họ.

A man might say: “I don’t want results here or in swarga. Why then should I try to help other people along the road which leads to those enjoyments; why should I try to make them active on those lines that I deem to be useless, that they may gain what is worthless? Why should I throw my activity on the side of giving that which is undesirable?” The answer is perfectly clear. Those fruits of action are absolutely necessary for the mass of the people. Unless they desire these pleasures of the world, these comforts and ambitions, these things which move them to action, their evolution will be stopped. If they do not want enjoyment here, then swarga may be their motive. Somehow they must be encouraged to move, grow, evolve. If you persuade them that these things are useless they will not evolve.

Một người có thể nói: “Tôi không muốn kết quả ở đây hay ở swarga. Vậy tại sao tôi phải cố gắng giúp người khác đi theo con đường dẫn đến những hưởng thụ ấy; tại sao tôi phải cố gắng làm cho họ hoạt động theo những đường lối mà tôi cho là vô ích, để họ đạt được điều vô giá trị? Tại sao tôi phải ném hoạt động của mình về phía việc ban cho điều không đáng mong muốn?” Câu trả lời hoàn toàn rõ ràng. Những quả của hành động ấy tuyệt đối cần thiết cho quần chúng. Nếu họ không ham muốn những lạc thú của thế gian này, những tiện nghi và tham vọng này, những điều thúc đẩy họ hành động, thì sự tiến hoá của họ sẽ bị ngưng lại. Nếu họ không muốn hưởng thụ ở đây, thì swarga có thể là động cơ của họ. Bằng cách nào đó họ phải được khuyến khích chuyển động, tăng trưởng, tiến hoá. Nếu bạn thuyết phục họ rằng những điều này là vô ích, họ sẽ không tiến hoá.

It is therefore important for the evolution of mankind that an example should be set of work done thoroughly and perfectly well. It is never done perfectly well while we are men working from desire. Though in that case the man may show an admirable example of energy and perseverance there will be the taint of selfishness in his work, which will make his example imperfect. He may work with great accuracy, but he is working for himself. He is not really doing his best, because he is not thinking entirely of the work, but partly of a result for himself.

Vì vậy, điều quan trọng đối với sự tiến hoá của nhân loại là phải nêu một tấm gương về công việc được thực hiện thấu đáo và hoàn hảo. Công việc không bao giờ được thực hiện hoàn hảo khi chúng ta là những con người làm việc do dục vọng. Dù trong trường hợp ấy người ta có thể nêu một tấm gương đáng khâm phục về năng lực và sự kiên trì, vẫn sẽ có vết nhơ của tính ích kỷ trong công việc của y, khiến tấm gương của y không hoàn hảo. Y có thể làm việc với độ chính xác lớn, nhưng y đang làm việc cho chính mình. Y không thật sự làm hết sức mình, vì y không hoàn toàn nghĩ đến công việc, mà một phần nghĩ đến một kết quả cho chính mình.

The Lord works perfectly so that the world may go on. We should, then, work in the same spirit. We must work better than the best worldly man, because our motive is that of service to God and man, and not our own gain. We will work for the cause of humanity. We will not run about to find activity for the sake of being active. Many men work thus for the enjoyment of action, because unless they are busy they do not feel alive, but are bored. That condition is one very far removed from the man who is content in the Self. He is never bored, never searching for an outlet in activity.

Đức Chúa làm việc một cách hoàn hảo để thế gian có thể tiếp tục vận hành. Vậy chúng ta cũng nên làm việc trong cùng tinh thần ấy. Chúng ta phải làm việc tốt hơn người thế gian giỏi nhất, vì động cơ của chúng ta là phụng sự Thượng đế và con người, chứ không phải lợi ích riêng của chúng ta. Chúng ta sẽ làm việc cho sự nghiệp của nhân loại. Chúng ta sẽ không chạy khắp nơi để tìm hoạt động chỉ vì muốn hoạt động. Nhiều người làm việc như thế vì sự thích thú trong hành động, bởi nếu họ không bận rộn, họ không cảm thấy mình đang sống, mà trở nên chán nản. Tình trạng ấy rất xa với con người an trụ trong Chân Ngã. Y không bao giờ chán nản, không bao giờ tìm kiếm một lối thoát trong hoạt động.

He works because it is his duty, and has no desire for activity when there is no duty. Thus he realizes inaction in action. In the fourth discourse of the Gita, Shri Krishna remarks on action, wrong action and inaction:

Y làm việc vì đó là bổn phận của y, và không ham muốn hoạt động khi không có bổn phận. Như vậy y chứng nghiệm bất động trong hành động. Trong bài thuyết giảng thứ tư của Gita, Shri Krishna nhận xét về hành động, hành động sai lầm và bất động:

“What is action, what inaction?” Even the wise are herein perplexed. Therefore I will declare to thee the action by knowing which thou shalt be loosed from evil.

“Hành động là gì, bất động là gì?” Ngay cả người minh triết cũng bối rối về điều này. Vì vậy Ta sẽ tuyên bố cho ngươi biết hành động mà nhờ biết nó, ngươi sẽ được giải thoát khỏi điều ác.

It is needful to discriminate action, to discriminate unlawful action, and to discriminate inaction; mysterious, is the path of action.

Cần phải phân biện hành động, phân biện hành động bất hợp pháp, và phân biện bất động; con đường của hành động thật huyền nhiệm.

He who seeth inaction in action, and action in inaction, he is wise among men, he is harmonious even while performing all action.17

Người nào thấy bất động trong hành động, và hành động trong bất động, người ấy là minh triết giữa loài người, người ấy hài hòa ngay cả khi thực hiện mọi hành động.17

Even the wise people are confused, it is said, as to the limits of each of these things. The right action is duty, that in which the man is expressing the life of Ishvara in his own place. In that he is to be a channel or agency, working with the knowledge, accuracy and completeness that the man who is not ambitious shows. If you take his work and put it beside that of the man who is ambitious you will see that it is equally well, nay, even better done, because it is done with absolute self-surrender and perfect balance.

Người ta nói rằng ngay cả những người minh triết cũng bối rối về giới hạn của mỗi điều này. Hành động đúng là bổn phận, là điều trong đó con người biểu lộ sự sống của Ishvara ở vị trí riêng của mình. Trong đó y phải là một kênh dẫn hay tác nhân, làm việc với tri thức, độ chính xác và sự trọn vẹn mà người không tham vọng biểu lộ. Nếu bạn lấy công việc của y và đặt bên cạnh công việc của người tham vọng, bạn sẽ thấy rằng nó cũng tốt như vậy, không, thậm chí còn được làm tốt hơn, vì nó được làm với sự tự hiến tuyệt đối và sự quân bình hoàn hảo.

If you find a man who is not working in that way, having lost desire for the fruit of action, but who is doing less than he ought to do, is working with less energy, less interest and less punctuality because he has no longer personal motives, then you see one who has not learned the duty of action before he took to inaction. It was said to me regarding certain people: “These men are beginning inaction before they have done action—by intellectual recognition of the worthlessness of the fruit of action before they have reached the point where they could work unselfishly. They are neither good men of the world, as they have stopped doing that, nor are they spiritual men throwing their energy into the evolution of mankind.”

Nếu bạn gặp một người không làm việc theo cách ấy, đã mất dục vọng đối với quả của hành động, nhưng lại làm ít hơn điều y phải làm, làm việc với ít năng lực hơn, ít hứng thú hơn và kém đúng giờ hơn vì y không còn những động cơ cá nhân, thì bạn thấy một người chưa học được bổn phận của hành động trước khi đi vào bất động. Người ta đã nói với tôi về một số người: “Những người này bắt đầu bất động trước khi họ đã thực hiện hành động—bằng sự nhận biết trí thức về tính vô giá trị của quả hành động trước khi họ đạt đến điểm mà họ có thể làm việc một cách vô kỷ. Họ không phải là những người thế gian tốt lành, vì họ đã ngừng làm điều đó, cũng không phải là những con người tinh thần ném năng lực của mình vào sự tiến hoá của nhân loại.”

There are two lives which a man may live who has reached the condition where the fruit of action does not affect him. He may retire to the jungle to live in seclusion or he may be busy amid the affairs of men.18 If he is sufficiently evolved to work energetically in the mental or in the spiritual plane, that life of physical inaction may be the best; that man is helping the world much more than he could do amid the bustle of the world. Yet such a man will often be sent back by his Master to lead his last life in the world. He will then live a life untainted by action, will show in the world the example of true action, will lead a life of perfect activity with all the energy that the most ambitious man can show.

Có hai đời sống mà một người có thể sống khi đã đạt đến tình trạng trong đó quả của hành động không ảnh hưởng đến y. Y có thể lui vào rừng để sống ẩn dật, hoặc y có thể bận rộn giữa các công việc của con người.18 Nếu y đã tiến hoá đủ để làm việc một cách mạnh mẽ trên cõi trí hoặc trên cõi tinh thần, thì đời sống bất động về hồng trần ấy có thể là tốt nhất; người ấy đang giúp thế gian nhiều hơn rất nhiều so với điều y có thể làm giữa sự náo động của thế gian. Tuy nhiên, một người như thế thường sẽ được Chân sư của y gửi trở lại để sống đời sống cuối cùng của mình trong thế gian. Khi ấy y sẽ sống một đời sống không bị hành động làm ô nhiễm, sẽ nêu trong thế gian tấm gương của hành động chân chính, sẽ sống một đời sống hoạt động hoàn hảo với tất cả năng lực mà người tham vọng nhất có thể biểu lộ.

When a man is living the spiritual life in the world it is not possible usually to tell by external means whether he is moved by desire or by duty. But there is one test which never fails by which one may always judge one’s own motive. How are you affected when the fruit of action is before you? If the slightest element of ambition enters into a man’s work he will show disappointment if it fails or elation if it succeeds. If there is no suffering for him in his failure, no element of personality has entered into his work; for if he has been working because Ishvara works, for the welfare of mankind, he will know his failure is not the failure of Ishvara, but that the failure is part of His Plan. From the standpoint of Ishvara failure is impossible, and often in human life failure is quite as necessary for ultimate success as success is necessary for ultimate success. His people may be sent sometimes to play the part of the failure so as to become stronger, to realize that where there is failure there is also success.

Khi một người đang sống đời sống tinh thần trong thế gian, thường không thể nhận biết bằng những phương tiện bên ngoài rằng y được thúc đẩy bởi dục vọng hay bởi bổn phận. Nhưng có một phép thử không bao giờ sai, nhờ đó người ta luôn có thể xét đoán động cơ của chính mình. Bạn bị ảnh hưởng thế nào khi quả của hành động ở trước mặt bạn? Nếu yếu tố tham vọng nhỏ nhất đi vào công việc của một người, y sẽ biểu lộ sự thất vọng nếu nó thất bại, hoặc sự hân hoan nếu nó thành công. Nếu không có đau khổ nào cho y trong thất bại của mình, thì không có yếu tố phàm ngã nào đã đi vào công việc của y; vì nếu y đã làm việc vì Ishvara làm việc, vì phúc lợi của nhân loại, y sẽ biết rằng thất bại của y không phải là thất bại của Ishvara, mà thất bại ấy là một phần của Thiên Cơ của Ngài. Từ quan điểm của Ishvara, thất bại là điều không thể có, và thường trong đời sống nhân loại, thất bại cũng cần thiết cho thành công tối hậu chẳng kém gì thành công cần thiết cho thành công tối hậu. Dân của Ngài đôi khi có thể được gửi đến để đóng vai thất bại nhằm trở nên mạnh mẽ hơn, để nhận ra rằng nơi nào có thất bại thì nơi đó cũng có thành công.

Whether a man is really working as part of His Life will be shown by his perfect contentment whether he succeeds or fails. If that contentment is perfect, without a shadow of dissatisfaction, he has been working absolutely for the maintenance of mankind; then the work does not bind him and he has solved the problem of inaction in the midst of action. He has learned the use of the vehicles and the gunas, without identifying himself with them. In ordinary cases the gunas work the man, but the man on the Path works the gunas. Most men are carried about by the energies of nature; they work as those energies are active. But the man on the Path takes those energies as instruments of labour and, standing behind them, utilizes them. The ambitious man is driven by the gunas when he thinks that he is working, but the man who has transcended them is directing them along the road of evolution traced by Ishvara, and does not identify himself with them. This is thus taught in the Gita:

Việc một người có thật sự đang làm việc như một phần của Sự Sống Ngài hay không sẽ được biểu lộ qua sự mãn nguyện hoàn hảo của y, dù y thành công hay thất bại. Nếu sự mãn nguyện ấy hoàn hảo, không một bóng dáng bất mãn, thì y đã làm việc tuyệt đối vì sự duy trì nhân loại; bấy giờ công việc không ràng buộc y, và y đã giải quyết vấn đề bất động giữa hành động. Y đã học cách sử dụng các vận cụ và các guna, mà không đồng hóa với chúng. Trong những trường hợp thông thường, các guna vận hành con người, nhưng người trên Đường Đạo vận hành các guna. Phần lớn con người bị các năng lượng của thiên nhiên cuốn đi; họ làm việc khi các năng lượng ấy hoạt động. Nhưng người trên Đường Đạo dùng các năng lượng ấy như những khí cụ lao động và, đứng phía sau chúng, sử dụng chúng. Người tham vọng bị các guna thúc đẩy khi y tưởng rằng mình đang làm việc, nhưng người đã vượt lên trên chúng thì điều khiển chúng theo con đường tiến hoá do Ishvara vạch ra, và không đồng hóa với chúng. Điều này được dạy như sau trong Gita:

Having abandoned attachment to the fruit of action, always content, nowhere seeking refuge, he is not doing anything, although doing actions.

Sau khi đã từ bỏ luyến chấp vào quả của hành động, luôn mãn nguyện, không tìm nơi nương tựa ở đâu, người ấy không làm gì cả, dù đang thực hiện các hành động.

Hoping for naught, his mind and self controlled, having abandoned all greed, performing action by the body alone, he doth not commit sin.

Không hy vọng điều gì, thể trí và bản ngã được kiểm soát, đã từ bỏ mọi tham lam, thực hiện hành động chỉ bằng thân thể, người ấy không phạm tội.

Content with whatsoever he obtaineth without effort, free from the pairs of opposites, without envy, balanced in success and failure, though acting he is not bound.

Mãn nguyện với bất cứ điều gì y đạt được mà không cố gắng, thoát khỏi các cặp đối cực, không ganh tị, quân bình trong thành công và thất bại, dù hành động y không bị ràng buộc.

Of one with attachment dead, harmonious, with his thoughts established in wisdom, his works sacrifices, all action melts away.19

Với người mà luyến chấp đã chết, hài hòa, tư tưởng an lập trong minh triết, công việc là hiến tế, mọi hành động đều tan biến.19

So the man who finds himself at the point of balance, of indifference, must discover some means to increase the higher influences within himself, so that these may spur him into this life of spiritual action. He must use meditation; he must try to utilize whatever emotion he may possess; he must deliberately take every opportunity of service. He must move even without the desire to move, and even against the desire not to move. He must move. If he can find anyone for whom he has reverence, whose example inspires him to activity, that will be a great help to his getting over this transitional stage, where otherwise he might drop out of evolution for the time being. If the desire to please someone whom he admires should arise in his mind, he may use that to urge himself on until he is in a position to feel the impelling force of Ishvara’s Life, and thus use the emotion to carry him over and out of his condition of collapse.

Vì vậy, người thấy mình ở điểm quân bình, điểm điềm nhiên, phải khám phá một phương tiện nào đó để gia tăng các ảnh hưởng cao hơn trong chính mình, để những ảnh hưởng này có thể thúc đẩy y vào đời sống hành động tinh thần này. Y phải dùng tham thiền; y phải cố gắng sử dụng bất cứ cảm xúc nào mình có thể có; y phải cố ý nắm lấy mọi cơ hội phụng sự. Y phải chuyển động ngay cả khi không có dục vọng muốn chuyển động, và ngay cả chống lại dục vọng không muốn chuyển động. Y phải chuyển động. Nếu y có thể tìm được một người nào đó mà y kính trọng, người mà tấm gương truyền cảm hứng cho y hoạt động, điều đó sẽ là một sự trợ giúp lớn để y vượt qua giai đoạn chuyển tiếp này, nơi nếu không y có thể tạm thời rơi ra khỏi tiến hoá. Nếu dục vọng làm hài lòng một người mà y ngưỡng mộ nảy sinh trong thể trí y, y có thể dùng điều đó để thúc đẩy mình tiến tới cho đến khi y ở trong vị thế cảm nhận mãnh lực thúc đẩy của Sự Sống Ishvara, và như vậy dùng cảm xúc để đưa y vượt qua và ra khỏi tình trạng suy sụp của mình.

C.W.L.—Having put aside ambition for himself the man is then told to work as those work who are ambitious. There are usually three stages through which men pass. There is, first of all, the work for worldly result. Then comes the stage when the man begins to work, still for a result, but for a heavenly result. That is put very much before us by the different churches. We are to give up this world to live for ever in heaven; we shall stand nearest to God’s throne, and so on. Most people pass through these two stages of working first for the worldly result and then for the heavenly result. Some of them somewhat improve upon that second idea, because they work in order to please their Deity. Many Christians, for example, work for the love of Jesus, and that is admirable because it is unselfish; it is a higher stage than to work for a personal result, even though it be a heavenly one.

C.W.L.—Sau khi đã gạt bỏ tham vọng cho chính mình, con người bấy giờ được bảo phải làm việc như những người tham vọng làm việc. Thường có ba giai đoạn mà con người trải qua. Trước hết là công việc vì kết quả thế gian. Rồi đến giai đoạn khi con người bắt đầu làm việc, vẫn vì một kết quả, nhưng là một kết quả thiên thượng. Điều đó được các giáo hội khác nhau đặt ra trước chúng ta rất nhiều. Chúng ta phải từ bỏ thế gian này để sống đời đời trên thiên đường; chúng ta sẽ đứng gần nhất với ngai của Thượng đế, vân vân. Phần lớn con người trải qua hai giai đoạn này: trước hết làm việc vì kết quả thế gian, rồi vì kết quả thiên thượng. Một số người trong họ phần nào cải thiện ý tưởng thứ hai ấy, vì họ làm việc để làm hài lòng Thượng đế của họ. Chẳng hạn, nhiều tín đồ Cơ Đốc làm việc vì tình thương đối với Đức Jesus, và điều đó đáng khâm phục vì nó vô kỷ; đó là một giai đoạn cao hơn so với làm việc vì một kết quả cá nhân, dù kết quả ấy là thiên thượng.

There is still a higher stage, that of doing the work for the work’s sake, but most people do not understand that yet. Many artists do; there are artists who work for the sake of art in whatever their line may be. As one great poet said: “I do but sing because I must.” He meant that he must express that which came through him as a message to the world. Another, feeling the same thing, said that he- valued his poems not because they were his own, but because they were not. So there are some who work for the sake of art—not for themselves or for their own renown, not to please other people, not even to please God as that idea would be commonly understood, but because they feel the message coming through them and they must give it. That is a high stage to have attained.

Vẫn còn một giai đoạn cao hơn, đó là làm công việc vì chính công việc, nhưng phần lớn con người chưa hiểu điều đó. Nhiều nghệ sĩ hiểu; có những nghệ sĩ làm việc vì nghệ thuật, trong bất cứ ngành nào của họ. Như một thi sĩ vĩ đại đã nói: “Tôi chỉ hát vì tôi phải hát.” Ông muốn nói rằng ông phải biểu lộ điều đã đến qua ông như một thông điệp cho thế gian. Một người khác, cảm nhận cùng điều ấy, nói rằng ông quý trọng các bài thơ của mình không phải vì chúng là của ông, mà vì chúng không phải như vậy. Vì thế có một số người làm việc vì nghệ thuật—không phải vì bản thân họ hay vì danh tiếng riêng của họ, không phải để làm hài lòng người khác, thậm chí không phải để làm hài lòng Thượng đế theo cách ý tưởng ấy thường được hiểu, mà vì họ cảm thấy thông điệp đến qua họ và họ phải trao nó ra. Đó là một giai đoạn cao đã đạt được.

Then there is the highest stage of all, when a man works because he is part of the Deity and as part of Him he desires the fulfilment of the divine Plan. People sometimes delude themselves and think they are working for that when they have still a considerable flavour of the lower ideas about them. We can always test ourselves with regard to that—best, perhaps, when we happen to fail, which occurs at times to all of us. As our great President has often explained, if we are really working definitely and knowingly as part of the Deity, as part of the whole, we are not in the least disturbed by any failure that comes to us, because we know that God cannot fail. If for the time being a certain activity appears to be a failure, that is in the scheme and so is a necessary thing, and therefore is not really a failure. Nothing can be a failure from His point of view, so we are not in the least distressed. The only question would be as to whether it was our fault; but if we have done our best and the thing is still a failure, we know that all is well.

Rồi còn có giai đoạn cao nhất trong tất cả, khi một người làm việc vì y là một phần của Thượng đế và, như một phần của Ngài, y mong muốn sự thành tựu của Thiên Cơ thiêng liêng. Đôi khi người ta tự lừa dối mình và nghĩ rằng họ đang làm việc vì điều ấy, trong khi nơi họ vẫn còn một sắc thái đáng kể của những ý tưởng thấp hơn. Chúng ta luôn có thể tự thử mình về điều đó—có lẽ tốt nhất là khi chúng ta tình cờ thất bại, điều đôi khi xảy đến với tất cả chúng ta. Như vị Chủ tịch vĩ đại của chúng ta thường giải thích, nếu chúng ta thật sự làm việc một cách xác định và có hiểu biết như một phần của Thượng đế, như một phần của toàn thể, chúng ta sẽ không hề bị xáo trộn bởi bất cứ thất bại nào đến với mình, vì chúng ta biết rằng Thượng đế không thể thất bại. Nếu trong một thời gian một hoạt động nào đó có vẻ là thất bại, thì điều đó nằm trong hệ hành tinh và vì thế là một điều cần thiết, và do đó thật ra không phải là thất bại. Không điều gì có thể là thất bại từ quan điểm của Ngài, nên chúng ta không hề đau buồn. Câu hỏi duy nhất sẽ là liệu đó có phải lỗi của chúng ta hay không; nhưng nếu chúng ta đã làm hết sức mình mà sự việc vẫn thất bại, chúng ta biết rằng mọi sự đều tốt lành.

Such considerations as these must not, however, cause us to become negligent or indifferent to time. It is part of our work to convert others from the doctrine of inertia to the path of service, and even one such gain means that some distinct advantage has been achieved for the world. Whatever is, is best certainly, but only when we have done our best. If there is anybody who has failed to do his best in his share of that work, then whatever is, is not best, because it might have been better. It is only when we have done absolutely all, that we have the right to take refuge in that. “Well, I have done everything I can. If after all I am not successful, I bow to a higher power than mine.” I am very sure that that which has been done is after all not lost, and whatever happens to all these people in the end is really what is best for them.

Tuy nhiên, những suy xét như thế không được khiến chúng ta trở nên cẩu thả hay thờ ơ với thời gian. Một phần công việc của chúng ta là chuyển đổi người khác từ giáo lý của tính trì trệ sang con đường phụng sự, và ngay cả một thành quả như thế cũng có nghĩa là một lợi ích rõ rệt nào đó đã đạt được cho thế gian. Bất cứ điều gì hiện hữu chắc chắn là tốt nhất, nhưng chỉ khi chúng ta đã làm hết sức mình. Nếu có bất cứ ai không làm hết sức mình trong phần việc của mình trong công việc ấy, thì bất cứ điều gì hiện hữu không phải là tốt nhất, vì nó đã có thể tốt hơn. Chỉ khi chúng ta đã làm tuyệt đối tất cả, chúng ta mới có quyền nương náu vào điều ấy. “Tốt, tôi đã làm mọi điều tôi có thể. Nếu sau tất cả tôi vẫn không thành công, tôi cúi đầu trước một quyền năng cao hơn quyền năng của tôi.” Tôi rất chắc chắn rằng điều đã được làm rốt cuộc không mất đi, và bất cứ điều gì xảy ra cho tất cả những người này sau cùng thật sự là điều tốt nhất cho họ.

It may be only an illusion but it is a very powerful one—that high philosophical view that whether you get anything now or in a million years does not matter. I feel it matters to me; therefore I think it must matter to other people, and if we could get them to take the earlier opportunity of advancing, we should be doing a very great thing for them. What difference it makes in the long run to the Logos in whom all this is moving, I cannot tell, but it is very likely His wish that we should evolve and if He wishes that to be done, then also He must wish that it should be done as soon as may be. We are clearly carrying out His will if we try to press onward along the Path which leads to full unity with Him, and if we help others along that Path, so I cannot sea that it is all the same whether people enter the stream in this world period, or this chain period, or wait till the next. I shall do all I can to help people to enter it in this one.

Có thể đó chỉ là một ảo tưởng, nhưng là một ảo tưởng rất mạnh mẽ—quan điểm triết học cao siêu rằng việc bạn đạt được điều gì bây giờ hay trong một triệu năm nữa không quan trọng. Tôi cảm thấy điều đó quan trọng đối với tôi; vì vậy tôi nghĩ nó hẳn cũng quan trọng đối với người khác, và nếu chúng ta có thể khiến họ nắm lấy cơ hội sớm hơn để tiến lên, chúng ta sẽ làm một điều rất lớn lao cho họ. Điều đó tạo ra khác biệt gì trong trường kỳ đối với Thượng đế, trong Ngài tất cả điều này đang chuyển động, tôi không thể nói; nhưng rất có thể đó là ý muốn của Ngài rằng chúng ta nên tiến hoá, và nếu Ngài muốn điều đó được thực hiện, thì Ngài cũng hẳn muốn nó được thực hiện càng sớm càng tốt. Rõ ràng chúng ta đang thực hiện ý muốn của Ngài nếu chúng ta cố gắng thúc đẩy mình tiến tới trên Đường Đạo dẫn đến sự hợp nhất trọn vẹn với Ngài, và nếu chúng ta giúp người khác trên Đường Đạo ấy; vì vậy tôi không thể thấy rằng việc người ta nhập dòng trong thời kỳ thế gian này, hay trong thời kỳ Dãy này, hay đợi đến thời kỳ kế tiếp, là như nhau. Tôi sẽ làm tất cả những gì có thể để giúp người ta nhập dòng trong thời kỳ này.

Perhaps another test would be as to whether we are willing to take any work that is His work—whether we are willing to help high and low alike. To Him there is neither high nor low in the matter of progress, though some part of His scheme may be at a higher and another part at a lower point in that progress. It is very much like the turning of a wheel; some part of it is approaching the top as it turns, but all of it alike is moving along as the wheel turns. Our work is to help the whole forward, to push any part of the wheel. The life at all levels is the divine life; it is more unfolded at some stages than at others—more unfolded in the human than in the animal, in the animal than in the vegetable, in the vegetable than in the mineral—but the life is the divine life everywhere, and if we are helping forward any part of that we are helping the divine plan. That which is higher or lower is the form in which the life is cast; the form permits- of greater or lesser unfoldment, but the life is one life. That certainly must be part of His point of view, which is very different from our outlook—the idea that all life is in reality the same; there is no high nor low from that point of view, because the whole is moving together. That does not alter the fact that there may be some in whom the life is more unfolded, who are capable of giving greater assistance, and others who may be capable only of a lower grade of assistance; the point is that those who find that what they can do best would commonly be called lower work should not be in the least disheartened, because they also are pushing the same wheel—they are helping the unfoldment of the same divine life.

Có lẽ một phép thử khác là liệu chúng ta có sẵn lòng nhận bất cứ công việc nào là công việc của Ngài hay không—liệu chúng ta có sẵn lòng giúp cả cao lẫn thấp như nhau hay không. Đối với Ngài, không có cao hay thấp trong vấn đề tiến bộ, dù một phần nào đó trong hệ hành tinh của Ngài có thể ở một điểm cao hơn và một phần khác ở một điểm thấp hơn trong sự tiến bộ ấy. Điều này rất giống sự quay của một bánh xe; một phần nào đó của nó đang tiến gần đến đỉnh khi nó quay, nhưng toàn bộ nó như nhau đều đang chuyển động khi bánh xe quay. Công việc của chúng ta là giúp toàn thể tiến tới, là đẩy bất cứ phần nào của bánh xe. Sự sống ở mọi cấp độ là sự sống thiêng liêng; nó được khai mở nhiều hơn ở một số giai đoạn so với những giai đoạn khác—được khai mở nhiều hơn trong giới nhân loại so với giới động vật, trong giới động vật so với giới thực vật, trong giới thực vật so với giới kim thạch—nhưng sự sống ở khắp nơi là sự sống thiêng liêng, và nếu chúng ta đang giúp bất cứ phần nào của điều đó tiến tới, chúng ta đang giúp Thiên Cơ thiêng liêng. Điều cao hơn hay thấp hơn là hình tướng mà sự sống được đúc vào; hình tướng cho phép sự khai mở lớn hơn hay nhỏ hơn, nhưng sự sống là một sự sống duy nhất. Điều đó chắc chắn phải là một phần trong quan điểm của Ngài, rất khác với cái nhìn của chúng ta—ý tưởng rằng mọi sự sống trong thực tại là như nhau; không có cao hay thấp từ quan điểm ấy, vì toàn thể đang chuyển động cùng nhau. Điều đó không làm thay đổi sự kiện rằng có thể có một số người nơi đó sự sống được khai mở nhiều hơn, có khả năng trợ giúp lớn hơn, và những người khác có thể chỉ có khả năng trợ giúp ở cấp độ thấp hơn; điểm chính là những ai thấy rằng điều họ có thể làm tốt nhất thường được gọi là công việc thấp hơn thì không nên nản lòng chút nào, vì họ cũng đang đẩy cùng một bánh xe—họ đang giúp sự khai mở của cùng một sự sống thiêng liêng.

CHAPTER 4 — CHƯƠNG 4

RULES 2 TO 4 — CÁC QUY LUẬT 2 ĐẾN 4

2. Kill out desire of life.

2. Hãy tiêu diệt dục vọng đối với sự sống.

Respect life as those do who desire it.

Hãy tôn trọng sự sống như những người ham muốn nó.

A.B.—We have already to some extent considered this aphorism and the next. The same general principles that apply to the killing out of ambition yet the working as those do who are ambitious apply to these two aphorisms also. The disciple must get rid of the desire for personal life—everything which energizes the personal self and responds to the gratification of his personal desire. He must no longer rejoice in the mere pleasure of expanding his own life by taking into it more and more of the outside things.

A.B.—Ở một mức độ nào đó, chúng ta đã xem xét châm ngôn này và châm ngôn kế tiếp. Cùng những nguyên tắc tổng quát áp dụng cho việc tiêu diệt tham vọng nhưng vẫn làm việc như những người tham vọng, cũng áp dụng cho hai châm ngôn này. Đệ tử phải loại bỏ dục vọng đối với đời sống cá nhân—mọi điều tiếp sinh lực cho cái ngã cá nhân và đáp ứng sự thỏa mãn dục vọng cá nhân của y. Y không được còn vui mừng trong lạc thú đơn thuần của việc mở rộng đời sống riêng của mình bằng cách đưa vào đó ngày càng nhiều những điều bên ngoài.

All over the world men are to be seen in eager search for a fuller life; they grasp it with many varieties of greed, struggling and fighting for more and more of everything that appeals to their hot and untutored imaginations, and thereby bringing about great quantities of personal and social trouble. But the disciple must get rid of that desire to increase and expand, his own individual and separate life. He must enter into the higher Life, and have only the desire to be wherever in the universe he is wanted at any time as an expression of the one life. There are many things to do in this universe. When all desire for separate individual life has been transcended, and all personal preferences are gone, the need of the time guides the choice of the spiritual man. Wherever help is wanted is the place of work for such a liberated soul; he cares only to be an instrument, wherever the instrument may be wanted. His life is to him only useful and valuable as it is part of the Universal Life.

Khắp thế gian, người ta có thể thấy con người đang hăng hái tìm kiếm một đời sống viên mãn hơn; họ nắm lấy nó với nhiều dạng tham lam, tranh đấu và chiến đấu để có ngày càng nhiều mọi thứ hấp dẫn sự tưởng tượng nóng bỏng và chưa được huấn luyện của họ, và nhờ đó gây ra vô số rắc rối cá nhân và xã hội. Nhưng đệ tử phải loại bỏ dục vọng tăng trưởng và mở rộng đời sống cá nhân riêng biệt của mình. Y phải bước vào Sự Sống cao cả hơn, và chỉ có dục vọng được ở bất cứ nơi nào trong vũ trụ mà y được cần đến vào bất cứ lúc nào như một biểu hiện của sự sống duy nhất. Có nhiều điều phải làm trong vũ trụ này. Khi mọi dục vọng đối với đời sống cá nhân riêng biệt đã được vượt qua, và mọi sở thích cá nhân đã biến mất, nhu cầu của thời điểm hướng dẫn sự chọn lựa của con người tinh thần. Bất cứ nơi nào cần sự trợ giúp là nơi làm việc của một linh hồn đã giải thoát như thế; y chỉ quan tâm đến việc trở thành một khí cụ, ở bất cứ nơi nào khí cụ ấy có thể được cần đến. Đối với y, đời sống của y chỉ hữu ích và có giá trị khi nó là một phần của Sự Sống Vũ Trụ.

The man who has lost his desire of life arrives at a point of danger—he may regard life as worthless for all, because the things that it offers are worthless to him. He may take up an attitude of contempt towards the world and his fellow-men. He may look down upon and despise them; as foolish people, may speak of them contemptuously, and consider their motives paltry. That attitude towards them is very natural, but it is full of danger, and fundamentally evil. It shows that he has not realized the Self, though he may have realized the non-self as such. If he looks down upon any life, however Undeveloped, he forgets that that manifestation is a part of Ishvara, and to him therefore the message is necessary and urgent: “Respect life-as those who desire it.”

Người đã mất dục vọng đối với sự sống đi đến một điểm nguy hiểm—y có thể xem sự sống là vô giá trị đối với tất cả, vì những điều nó hiến cho đều vô giá trị đối với y. Y có thể mang một thái độ khinh miệt đối với thế gian và đồng loại của mình. Y có thể nhìn xuống và khinh thường họ; như những người ngu dại, có thể nói về họ với sự khinh miệt, và xem động cơ của họ là tầm thường. Thái độ ấy đối với họ rất tự nhiên, nhưng đầy nguy hiểm và về căn bản là xấu ác. Nó cho thấy rằng y chưa nhận ra Chân Ngã, dù y có thể đã nhận ra phi-ngã như thế. Nếu y nhìn xuống bất cứ sự sống nào, dù chưa phát triển đến đâu, y quên rằng biểu hiện ấy là một phần của Ishvara, và vì vậy đối với y thông điệp là cần thiết và khẩn thiết: “Hãy tôn trọng sự sống như những người ham muốn nó.”

If he asks why he ought to look upon it with respect, the answer is: because it is divine. It, is a stage in which Ishvara is working, a stage which to Ishvara is quite as important as the higher stage in which he now is. When we speak of high and low we speak from the standpoint of evolution and time—the succession of changes which make up time. That is not the way in which Ishvara regards His world; to Him there is nothing great nor small, hateful nor dear. Everything is at a stage on a road on which all are travelling to the same goal; the lowly is just as necessary for the scheme of evolution as the form we usually call higher. So the disciple must not fall into the blunder of despising: and disregarding any life, because it is in what we call a low stage of evolution. Each thing in its place is right and good. The recognition of that fundamental truth means that a man must love his fellow-men, must learn to care for them as part of the Universal Life in evolution.

Nếu y hỏi tại sao y phải nhìn nó với sự tôn trọng, câu trả lời là: vì nó thiêng liêng. Nó là một giai đoạn trong đó Ishvara đang làm việc, một giai đoạn đối với Ishvara cũng quan trọng như giai đoạn cao hơn trong đó y hiện đang ở. Khi chúng ta nói về cao và thấp, chúng ta nói từ quan điểm của tiến hoá và thời gian—chuỗi kế tiếp của những biến đổi tạo thành thời gian. Đó không phải là cách Ishvara nhìn thế giới của Ngài; đối với Ngài không có gì lớn hay nhỏ, đáng ghét hay đáng yêu. Mọi sự đều ở một giai đoạn trên một con đường mà tất cả đang đi đến cùng một mục tiêu; điều thấp bé cũng cần thiết cho hệ hành tinh của tiến hoá như hình tướng mà chúng ta thường gọi là cao hơn. Vì vậy đệ tử không được rơi vào sai lầm khinh miệt và xem nhẹ bất cứ sự sống nào, vì nó ở trong cái mà chúng ta gọi là một giai đoạn thấp của tiến hoá. Mỗi sự vật ở đúng vị trí của nó đều đúng và tốt. Sự nhận biết chân lý nền tảng ấy có nghĩa là con người phải thương yêu đồng loại của mình, phải học cách quan tâm đến họ như một phần của Sự Sống Vũ Trụ trong tiến hoá.

Granted that a man in a low stage is foolish, sensual idle, exceedingly unattractive; his lack of attraction lies in the form, not in the Life. We are blinded by the form. Because our looking down upon another, our turning aside from him, is a sign of our, superiority, there follows a feeling of superiority, which breeds contempt. But the truth is that the only thing in which we are superior is the evolution of the form. The essence is the same; his possibilities are equal to ours, and looked at from the centre he is as we are. The man who is on the Path tries to see things from the centre as well as from the circumference. He must therefore respect Life, and realize that the Life of Ishvara is the only Life; the form is that in which Ishvara chooses to manifest for a certain time, and if it is good enough for Ishvara it is quite good enough for us.

Dù cho một người ở giai đoạn thấp là ngu dại, cảm tính, lười biếng, hết sức kém hấp dẫn; sự thiếu hấp dẫn của y nằm trong hình tướng, không nằm trong Sự Sống. Chúng ta bị hình tướng làm mù. Vì việc chúng ta nhìn xuống người khác, quay lưng khỏi y, là một dấu hiệu của sự vượt trội của chúng ta, nên từ đó phát sinh một cảm giác vượt trội, điều sinh ra sự khinh miệt. Nhưng sự thật là điều duy nhất trong đó chúng ta vượt trội là sự tiến hoá của hình tướng. Bản chất thì như nhau; các tiềm năng của y bằng với của chúng ta, và khi nhìn từ trung tâm, y cũng như chúng ta. Người ở trên Đường Đạo cố gắng nhìn sự vật từ trung tâm cũng như từ chu vi. Vì vậy y phải tôn trọng Sự Sống, và nhận ra rằng Sự Sống của Ishvara là Sự Sống duy nhất; hình tướng là cái trong đó Ishvara chọn biểu hiện trong một thời gian nào đó, và nếu nó đủ tốt đối với Ishvara thì nó cũng hoàn toàn đủ tốt đối với chúng ta.

In the universe there must be form in all stages of growth. No one is higher or lower; all are equal. There is difference when we ourselves are in process of evolution; but no difference when we have outgrown it. When we have given up interest in it and thrown aside all question of forms and fruit, then we can respect Life in all its manifestations. The partially evolved man, bound up by the forms, is willing to help those who are comparatively near himself and who can repay his trouble. He will not be inclined to help those who are low down. But the man who helps from the standpoint of Ishvara helps all. His duty is to help them wherever they are. His activity is to be the activity of Ishvara. He helps those who come in his way, whether they be high or low, and he respects the Life in each of them, and helps that where help is required. He does not allow himself to be confused by the fact that the whole of the Life is not present in the man. He knows that the work of Ishvara is carried on so that that life may be brought out, and he works to unfold it into manifestation. He is not led astray by thinking that to be in the Self is everything. He works for manifestation, respecting and loving Life. And so he utterly avoids the danger of contempt, which would otherwise hinder the unfolding of the Life in himself by producing a wall of separateness.

Trong vũ trụ phải có hình tướng ở mọi giai đoạn tăng trưởng. Không ai cao hơn hay thấp hơn; tất cả đều bình đẳng. Có sự khác biệt khi chính chúng ta đang trong tiến trình tiến hoá; nhưng không có khác biệt khi chúng ta đã vượt khỏi nó. Khi chúng ta đã từ bỏ sự quan tâm đến nó và gạt sang một bên mọi vấn đề về hình tướng và quả, bấy giờ chúng ta có thể tôn trọng Sự Sống trong mọi biểu hiện của nó. Con người tiến hoá một phần, bị ràng buộc bởi các hình tướng, sẵn lòng giúp những người tương đối gần với mình và có thể đền đáp công khó của y. Y sẽ không có khuynh hướng giúp những người ở rất thấp. Nhưng người giúp từ quan điểm của Ishvara thì giúp tất cả. Bổn phận của y là giúp họ ở bất cứ nơi nào họ đang ở. Hoạt động của y phải là hoạt động của Ishvara. Y giúp những người đến trong đường đi của y, dù họ cao hay thấp, và y tôn trọng Sự Sống trong mỗi người họ, và giúp nơi nào cần giúp. Y không để mình bị bối rối bởi sự kiện rằng toàn bộ Sự Sống chưa hiện diện trong con người ấy. Y biết rằng công việc của Ishvara được thực hiện để sự sống ấy có thể được đưa ra, và y làm việc để khai mở nó vào biểu hiện. Y không bị dẫn lạc bởi ý nghĩ rằng ở trong Chân Ngã là tất cả. Y làm việc cho sự biểu hiện, tôn trọng và thương yêu Sự Sống. Và như vậy y hoàn toàn tránh được nguy cơ khinh miệt, điều nếu không sẽ cản trở sự khai mở của Sự Sống trong chính y bằng cách tạo ra một bức tường phân ly.

There is in this an immense difference between the way in which Life is regarded by an ordinary man and by one who lives in the Eternal. The latter sees the Life in its full possibilities, those possibilities to him being in view now, even though undeveloped; for he lives in the Eternal, and when Life is looked at from that standpoint it is seen in the beauty of its fulfilment. Below that state we see it only in a particular stage, in time and not in Eternity, and therefore we do not respect it as we ought to do. But the liberated soul who lives in Eternity sees it as it is, and although he looks at the -stage at a particular time in which it has arrived, he cannot feel repulsion, because he knows that that stage is perfectly normal.

Trong điều này có một sự khác biệt mênh mông giữa cách Sự Sống được người bình thường nhìn nhận và cách nó được người sống trong Vĩnh Cửu nhìn nhận. Người sau thấy Sự Sống trong trọn vẹn các tiềm năng của nó, những tiềm năng ấy đối với y đang hiện ra trước mắt ngay bây giờ, dù chưa phát triển; vì y sống trong Vĩnh Cửu, và khi Sự Sống được nhìn từ quan điểm ấy, nó được thấy trong vẻ đẹp của sự thành tựu của nó. Bên dưới trạng thái ấy, chúng ta chỉ thấy nó trong một giai đoạn riêng biệt, trong thời gian chứ không trong Vĩnh Cửu, và vì vậy chúng ta không tôn trọng nó như chúng ta phải làm. Nhưng linh hồn đã giải thoát, sống trong Vĩnh Cửu, thấy nó như nó là, và dù y nhìn vào giai đoạn ở một thời điểm riêng biệt mà nó đã đạt đến, y không thể cảm thấy ghê tởm, vì y biết rằng giai đoạn ấy hoàn toàn bình thường.

The practical outcome of it is that the higher a man stands the more is he tolerant of all Life, and the greater is his compassion with all, approaching as it is the compassion of the Logos Himself. As a man destroys in himself the desire of Life, that is the desire of the separated self, and yet respects Life as those do who desire it, he begins to acquire that sense of Eternity which enables him to respect life in whatever way it may be manifested. For him then any contempt for those who are below him becomes impossible; he recognizes each in its place as an expression of the Perfect Life.

Kết quả thực tiễn của điều này là một người càng đứng cao thì y càng khoan dung hơn đối với mọi Sự Sống, và lòng từ bi của y đối với tất cả càng lớn hơn, tiến gần đến lòng từ bi của chính Thượng đế. Khi một người hủy diệt nơi mình dục vọng đối với Sự Sống, tức dục vọng của cái ngã phân ly, nhưng vẫn tôn trọng Sự Sống như những người ham muốn nó, y bắt đầu có được ý thức về Vĩnh Cửu, nhờ đó y có thể tôn trọng sự sống trong bất cứ cách nào nó có thể được biểu hiện. Bấy giờ đối với y, mọi sự khinh miệt những người ở dưới y trở nên bất khả; y nhận biết mỗi sự vật ở vị trí của nó như một biểu hiện của Sự Sống Hoàn Hảo.

C.W.L.—Here, as in the case of the former rule, we may take the teaching at two different levels. Undoubtedly the beginner has to kill out the desire for one kind of outer life rather than for another, such as would interfere with the work to be done. A man who becomes a pupil of the Master must be absolutely willing to do whatever is put in his way, to go here or there, to leave this thing or that, and have no feeling about it. If he thinks: “I am doing this kind of work and I am doing it well, and I want to keep on doing it,” he may come to harm because he is becoming conceited. Suppose he is taken away from the work he feels he can do and is put to something which is new to him; he must accept it with perfect cheerfulness. The change may be made because this other work is more necessary, or because, since he has learned to do that one thing, he must now learn to do something else.

C.W.L.—Ở đây, cũng như trong trường hợp của quy luật trước, chúng ta có thể tiếp nhận giáo huấn ở hai cấp độ khác nhau. Chắc chắn người mới bắt đầu phải tiêu diệt dục vọng đối với một loại đời sống bên ngoài này hơn loại khác, nếu điều đó cản trở công việc cần được làm. Một người trở thành học trò của Chân sư phải tuyệt đối sẵn lòng làm bất cứ điều gì được đặt trên đường đi của mình, đi đây hay đó, rời bỏ điều này hay điều kia, và không có cảm xúc gì về điều ấy. Nếu y nghĩ: “Tôi đang làm loại công việc này và tôi làm nó tốt, và tôi muốn tiếp tục làm nó,” y có thể gặp hại vì y đang trở nên tự phụ. Giả sử y bị đưa khỏi công việc mà y cảm thấy mình có thể làm và được đặt vào một việc mới đối với y; y phải chấp nhận điều đó với sự vui vẻ hoàn hảo. Sự thay đổi có thể được thực hiện vì công việc khác này cần thiết hơn, hoặc vì, do y đã học làm một việc kia, bây giờ y phải học làm một điều khác.

Quite outside the special training of the pupil, we frequently find that the evolutionary forces work in that way. Every man likes to do what he feels he can do well, but the evolutionary forces want to develop the man all round, and very often they take him away from what he can do and put him to something else that he cannot yet do well, because they want him to develop some new power. If at first he cannot do it, he must work at it until he can. That is the way that evolution in general works, and the same thing applies to the training of the pupils of the Master. If they can do a thing well they may be kept at it for some time, but then quite suddenly they may be sent along some other line, and they must be equally willing to do that other work also. So, certainly, the desire for one kind of physical life more than for another will have to be killed out.

Hoàn toàn ngoài sự huấn luyện đặc biệt của học trò, chúng ta thường thấy rằng các mãnh lực tiến hoá hoạt động theo cách ấy. Mỗi người đều thích làm điều mà y cảm thấy mình có thể làm tốt, nhưng các mãnh lực tiến hoá muốn phát triển con người một cách toàn diện, và rất thường chúng đưa y khỏi điều y có thể làm và đặt y vào một điều khác mà y chưa thể làm tốt, vì chúng muốn y phát triển một quyền năng mới nào đó. Nếu lúc đầu y không thể làm điều đó, y phải làm việc với nó cho đến khi có thể. Đó là cách tiến hoá nói chung hoạt động, và điều tương tự cũng áp dụng cho sự huấn luyện các học trò của Chân sư. Nếu họ có thể làm một điều tốt, họ có thể được giữ làm điều đó trong một thời gian, nhưng rồi khá đột ngột họ có thể được gửi đi theo một đường lối khác, và họ phải cũng sẵn lòng làm công việc khác ấy. Vì vậy, chắc chắn dục vọng đối với một loại đời sống hồng trần này hơn một loại khác sẽ phải bị tiêu diệt.

At the higher level the same thing is true with regard to the life of the ego. The disciple knows, if he looks back on past incarnations, that his ego has come along certain lines, but he has developed certain qualities and can, from the point of view of the individuality, do well along those lines, He may be suddenly taken away from them.: The individuality, the ego, must accept that which comes to it in the course of its training, and there also we must be free from any feeling that this work or this way is better than that: This is brought home to us when we meet with people of other ray& or types. We feel that our ray and type is the best one. In theory we would admit that the others must be just as good as our own, but very few of us can feel really hearty sympathy with them. Thus, for example, one who has been working along philosophic or scientific lines might find it a little trying to have to turn his activities to art or ceremonial service. It is difficult to turn our sympathies round and let them flow freely along another line, but that is one of the things we must learn to do if necessary.

Ở cấp độ cao hơn, điều tương tự cũng đúng đối với đời sống của chân ngã. Đệ tử biết, nếu y nhìn lại các kiếp quá khứ, rằng chân ngã của y đã đi theo một số đường lối nhất định, nhưng y đã phát triển một số phẩm tính và có thể, từ quan điểm của cá thể, làm tốt theo những đường lối ấy. Y có thể bị đưa khỏi chúng một cách đột ngột. Cá thể, chân ngã, phải chấp nhận điều đến với nó trong quá trình huấn luyện, và ở đó chúng ta cũng phải thoát khỏi bất cứ cảm giác nào rằng công việc này hay con đường này tốt hơn công việc kia hay con đường kia. Điều này trở nên rõ ràng với chúng ta khi chúng ta gặp những người thuộc các cung& hay kiểu loại khác. Chúng ta cảm thấy cung và kiểu loại của mình là tốt nhất. Về lý thuyết, chúng ta sẽ thừa nhận rằng những cung khác cũng phải tốt như cung của chúng ta, nhưng rất ít người trong chúng ta có thể thật sự cảm thấy thiện cảm nồng hậu với họ. Vì vậy, chẳng hạn, một người đã làm việc theo các đường lối triết học hay khoa học có thể thấy hơi khó chịu khi phải chuyển hoạt động của mình sang nghệ thuật hay phụng sự nghi lễ. Thật khó chuyển các thiện cảm của chúng ta và để chúng tuôn chảy tự do theo một đường lối khác, nhưng đó là một trong những điều chúng ta phải học làm nếu cần thiết.

As soon as a man feels unity he gains the dispassionate view of things. All lines of work are then, in effect, the same to him—not that he can equally easily take up all, but he sees that, they all lead to the same point. The undeveloped man never understands this. Always he thinks that the man taking the, higher standpoint is cold and hard and unsympathetic; that is because the lower man is thinking of himself and is wanting all sorts of personal satisfactions, whereas the other man is thinking only of the work to be done and is putting all his energy; into that. When once the Plan of work of the Logos dawns upon a man’s horizon he sees that to the exclusion of every thing else, and throws his energies into it, and whatever is best for that work he tries to do, even as regards the smallest detail of every-day life.

Ngay khi một người cảm nhận sự hợp nhất, y có được cái nhìn vô tư về sự vật. Khi ấy mọi đường lối công việc, về thực chất, đều như nhau đối với y—không phải vì y có thể đảm nhận tất cả một cách dễ dàng như nhau, mà vì y thấy rằng tất cả đều dẫn đến cùng một điểm. Người chưa phát triển không bao giờ hiểu điều này. Y luôn nghĩ rằng người giữ quan điểm cao hơn thì lạnh lùng, cứng rắn và thiếu thiện cảm; đó là vì phàm nhân đang nghĩ đến chính mình và muốn đủ mọi thỏa mãn cá nhân, trong khi người kia chỉ nghĩ đến công việc cần được làm và đặt toàn bộ năng lực của mình vào đó. Một khi Thiên Cơ công việc của Thượng đế ló dạng trên chân trời của một người, y thấy điều đó đến mức loại trừ mọi điều khác, và ném năng lực của mình vào đó; và bất cứ điều gì là tốt nhất cho công việc ấy, y cố gắng làm, ngay cả trong chi tiết nhỏ nhất của đời sống hằng ngày.

He hitches his wagon to a star. He puts before himself ideals very high and very remote from the ordinary understanding, and it is quite inevitable that the people who still look on things from the personal point of view will misunderstand him. If he suffers because of that misunderstanding, there is still a little personal touch in that; he still wants to be understood, but even that he must give up. He must give up hoping that his efforts will be appreciated, and realize that it does not matter whether they are appreciated or not. All that matters is that the work shall be done. If people will not give us credit for our work, no matter; let it be done as perfectly as possible. We shall have the appreciation of the Master—that much is sure—but even that must not be our reason for doing it. Our reason for doing it is that it is God’s work and as we are one with Him what He wills is our will, what He would have done it is our highest pleasure and privilege to try to do.

Y buộc cỗ xe của mình vào một vì sao. Y đặt trước mình những lý tưởng rất cao và rất xa với sự thấu hiểu thông thường, và hoàn toàn không thể tránh khỏi việc những người vẫn nhìn sự vật từ quan điểm cá nhân sẽ hiểu lầm y. Nếu y đau khổ vì sự hiểu lầm ấy, thì trong đó vẫn còn một chút yếu tố cá nhân; y vẫn muốn được thấu hiểu, nhưng ngay cả điều đó y cũng phải từ bỏ. Y phải từ bỏ hy vọng rằng những nỗ lực của mình sẽ được đánh giá cao, và nhận ra rằng việc chúng có được đánh giá cao hay không không quan trọng. Điều duy nhất quan trọng là công việc phải được thực hiện. Nếu người ta không ghi công chúng ta vì công việc của mình, không sao cả; hãy để nó được làm hoàn hảo nhất có thể. Chúng ta sẽ có sự đánh giá của Chân sư—điều ấy chắc chắn—nhưng ngay cả điều đó cũng không được là lý do để chúng ta làm việc. Lý do chúng ta làm việc là vì đó là công việc của Thượng đế, và vì chúng ta là một với Ngài, điều Ngài muốn là ý muốn của chúng ta; điều Ngài muốn được làm chính là niềm vui và đặc ân cao nhất của chúng ta để cố gắng thực hiện.

When we realize that all Life is divine Life, of course we shall respect all the manifestations of it. We, who see partially, do not always respect life in all its forms and in all its manifestations. We see that many of them would be eminently undesirable for us, and therefore there is a tendency to regard those particular manifestations with contempt. That is always a mistake. We see a great deal around us which from our point of view is going very wrong, and often it really is going wrong. All the expressions of selfishness and greed and uncontrolled desire that we see in the world are certainly wrong in the sense that it would be very much better if they were different. It is not at all a mistake for us to think that, because it is a fact; but when we allow ourselves to feel contempt for the people who are at that stage, we are going further than we have any right to go. Their state of development accounts for these manifestations, and they are very often the only expressions possible for them at that stage, and it is through them that they will learn.

Khi chúng ta nhận ra rằng mọi Sự Sống là Sự Sống thiêng liêng, dĩ nhiên chúng ta sẽ tôn trọng mọi biểu hiện của nó. Chúng ta, những người chỉ thấy một phần, không luôn tôn trọng sự sống trong mọi hình thức và mọi biểu hiện của nó. Chúng ta thấy rằng nhiều hình thức và biểu hiện ấy sẽ hết sức không đáng mong muốn đối với chúng ta, và vì vậy có khuynh hướng nhìn những biểu hiện đặc thù ấy với sự khinh miệt. Điều đó luôn là một sai lầm. Chúng ta thấy rất nhiều điều quanh mình, từ quan điểm của chúng ta, đang đi sai hướng, và thường thật sự là sai. Tất cả những biểu lộ của tính ích kỷ, tham lam và dục vọng không được kiểm soát mà chúng ta thấy trong thế gian chắc chắn là sai theo nghĩa rằng sẽ tốt hơn rất nhiều nếu chúng khác đi. Việc chúng ta nghĩ như thế hoàn toàn không sai, vì đó là sự thật; nhưng khi chúng ta cho phép mình cảm thấy khinh miệt những người đang ở giai đoạn ấy, chúng ta đã đi xa hơn điều mình có quyền đi. Trạng thái phát triển của họ giải thích cho những biểu hiện này, và rất thường chúng là những biểu hiện duy nhất có thể có đối với họ ở giai đoạn ấy, và chính qua chúng mà họ sẽ học.

When we see a man showing selfishness and greed and lack of self-control, we say: “What a pity!” Yet it is a pity only in the same sense that we might say that it is a pity that a little child of four has not grown up to be a man. If we allow ourselves to be uncontrolled, or to show greed and selfishness we might feel a sort of contempt for ourselves, because we know better, but it would be wrong to feel that for any other man. If it seems that he ought to be doing better, probably he has not taken advantage of his opportunities; then we should feel sorry for him and try to help him, when we can, to see the better side, the higher possibilities, but it is the greatest mistake to draw away from him, though we cannot always help feeling repugnance towards the things that he does. For example, if a man gets drunk it is because he is at that stage. He is a younger soul, therefore it is possible for him to yield to temptation of that kind instead of making a stand against it, as he ought to do. In many cases he has tried, perhaps, but be has so far failed. All that we can do to help him should be thoroughly and entirely at his disposal, but we must not feel repugnance for him. It is the old Christian idea; we may hate the sin but we must be sorry for the sinner, otherwise we are doing worse than he, because we are losing the sense of brotherhood and destroying our power to help.

Khi chúng ta thấy một người biểu lộ tính ích kỷ, tham lam và thiếu tự chủ, chúng ta nói: “Thật đáng tiếc!” Tuy nhiên, điều đó chỉ đáng tiếc theo cùng nghĩa chúng ta có thể nói rằng thật đáng tiếc khi một đứa trẻ bốn tuổi chưa lớn thành một người trưởng thành. Nếu chúng ta để mình không được kiểm soát, hoặc biểu lộ tham lam và ích kỷ, chúng ta có thể cảm thấy một dạng khinh miệt đối với chính mình, vì chúng ta biết rõ hơn; nhưng sẽ sai khi cảm thấy như thế đối với bất cứ người nào khác. Nếu dường như y đáng lẽ phải làm tốt hơn, có lẽ y đã không tận dụng các cơ hội của mình; khi ấy chúng ta nên thương xót y và cố gắng giúp y, khi có thể, thấy mặt tốt hơn, những tiềm năng cao hơn; nhưng việc rút lui khỏi y là sai lầm lớn nhất, dù chúng ta không phải lúc nào cũng có thể không cảm thấy ghê tởm đối với những điều y làm. Chẳng hạn, nếu một người say rượu, đó là vì y đang ở giai đoạn ấy. Y là một linh hồn trẻ hơn, vì vậy y có thể nhượng bộ trước sự cám dỗ thuộc loại đó thay vì đứng lên chống lại nó như y phải làm. Trong nhiều trường hợp, có lẽ y đã cố gắng, nhưng cho đến nay y đã thất bại. Tất cả những gì chúng ta có thể làm để giúp y phải được đặt trọn vẹn và hoàn toàn cho y sử dụng, nhưng chúng ta không được cảm thấy ghê tởm đối với y. Đó là ý tưởng Cơ Đốc xưa; chúng ta có thể ghét tội lỗi nhưng phải thương xót người có tội, nếu không chúng ta còn làm điều tệ hơn y, vì chúng ta đang đánh mất ý thức huynh đệ và phá hủy quyền năng giúp đỡ của mình.

The one Life is behind all and we must respect it even in manifestations which we dislike and feel to be undesirable. We must never forget that it is divine. It is difficult to remember that sometimes when the things that are done are so very ungodlike; nevertheless we must try. It is the old idea of the hidden Life, which was taught to us in the Egyptian mysteries thousands of years ago. The hidden Life was in every man, and however deeply it was buried and however little it showed forth, we were always to remember that it was there, even when we could not see it. The hidden light in us could not shine upon and evoke the hidden light in another at once, but if we were sufficiently patient and sufficiently forceful we must call forth a response, sometime and somehow. In these days we put the teaching in somewhat different terms, but it is equally true now as then.

Sự Sống duy nhất ở đằng sau tất cả, và chúng ta phải tôn trọng nó ngay cả trong những biểu hiện mà chúng ta không ưa và cảm thấy là không đáng mong muốn. Chúng ta không bao giờ được quên rằng nó là thiêng liêng. Đôi khi thật khó nhớ điều ấy khi những việc được làm lại quá không giống Thượng đế; tuy nhiên, chúng ta vẫn phải cố gắng. Đó là ý tưởng xưa về Sự Sống ẩn tàng, đã được dạy cho chúng ta trong các bí nhiệm Ai Cập hàng ngàn năm trước. Sự Sống ẩn tàng ở trong mỗi người, và dù nó bị chôn vùi sâu đến đâu, dù nó biểu lộ ít đến đâu, chúng ta vẫn luôn phải nhớ rằng nó có ở đó, ngay cả khi chúng ta không thể thấy nó. Ánh sáng ẩn tàng trong chúng ta không thể tức khắc chiếu rọi và gợi lên ánh sáng ẩn tàng nơi người khác, nhưng nếu chúng ta đủ kiên nhẫn và đủ mạnh mẽ, chúng ta ắt phải khơi dậy được một đáp ứng, vào một lúc nào đó và bằng một cách nào đó. Ngày nay chúng ta trình bày giáo huấn ấy bằng những thuật ngữ hơi khác, nhưng hiện nay nó vẫn đúng như thuở ấy.

The man who lives in the Eternal sees what will be as well as what now is, and when he looks at a manifestation of Life which is eminently undesirable he says: “Yes, at present, from the point of view of time, that is what I see it to be—a low and unworthy manifestation; but the divine Life in sit will some day blossom out.” Many people do not think how very illusory a thing the present is. No sooner have we thought of it than it has passed. We say: “Such and such a thing is in existence at present,” and while we are uttering the words that present moment has become the past. In reality there is no such time as the present; it is a kind of knife-edge between the past and future; it is merely a term which we use for convenience—the thing itself is shifting every second of time. v- We must read the future into the present, and see what will be. If we could only get out of these bodies and these brains for a few moments into an altogether higher life and look down upon it, we should understand this matter exactly. We should see that by thinking of that future we make it more easily attainable for the present. If we look at a man who is definitely sinning, and think of his sin, we fold that sin more closely about him, but if we look at him and think of the future, when he will have risen out of it, we open the way to that future for, him, and bring it more within his reach.20

Người sống trong vĩnh cửu thấy điều sẽ là cũng như điều hiện đang là, và khi y nhìn vào một biểu hiện của Sự Sống vốn hết sức không đáng mong muốn, y nói: “Vâng, hiện nay, theo quan điểm của thời gian, đó là điều tôi thấy nó là—một biểu hiện thấp kém và không xứng đáng; nhưng Sự Sống thiêng liêng trong nó một ngày kia sẽ nở hoa.” Nhiều người không nghĩ hiện tại là một điều hư ảo đến mức nào. Vừa khi chúng ta nghĩ đến nó thì nó đã trôi qua. Chúng ta nói: “Điều này hay điều kia hiện đang tồn tại,” và trong khi chúng ta thốt ra những lời ấy, khoảnh khắc hiện tại đó đã trở thành quá khứ. Thực ra không có thời gian nào gọi là hiện tại; nó là một thứ lưỡi dao giữa quá khứ và tương lai; nó chỉ là một thuật ngữ chúng ta dùng cho tiện—bản thân sự vật đang đổi dời từng giây của thời gian. v- Chúng ta phải đọc tương lai vào hiện tại, và thấy điều sẽ là. Giá như chúng ta có thể thoát ra khỏi các thể xác và các bộ não này trong vài khoảnh khắc, bước vào một đời sống hoàn toàn cao hơn và nhìn xuống nó, chúng ta sẽ thấu hiểu vấn đề này một cách chính xác. Chúng ta sẽ thấy rằng, bằng cách nghĩ đến tương lai ấy, chúng ta làm cho nó dễ đạt được hơn đối với hiện tại. Nếu chúng ta nhìn một người đang phạm tội rõ rệt, và nghĩ đến tội lỗi của y, chúng ta quấn tội lỗi ấy chặt hơn quanh y; nhưng nếu chúng ta nhìn y và nghĩ đến tương lai, khi y sẽ vươn lên khỏi nó, chúng ta mở đường đến tương lai ấy cho y, và đưa nó đến gần tầm với của y hơn.20

3. Kill out desire of comfort.

3. Hãy tiêu diệt ham muốn tiện nghi.

Be happy as those are who live for happiness.

Hãy hạnh phúc như những người sống vì hạnh phúc.

A.B.—In the early stages of growth a man puts out all his efforts pf brain and body in order to gain the means which will make him comfortable; the desire of comfort forms the motive of the majority of mankind. It is a very useful stimulus to bring out certain qualities of man. It teaches him that he must control his body, that he must dominate his lower nature, and that he has also to develop his bodies, so that they may subserve his purposes, of enjoying comfort in them.

A.B.—Trong những giai đoạn đầu của sự tăng trưởng, con người dốc hết mọi nỗ lực của bộ não và thể xác để giành lấy những phương tiện đem lại cho y sự tiện nghi; ham muốn tiện nghi tạo thành động cơ của đa số nhân loại. Nó là một kích thích rất hữu ích để làm phát lộ một số phẩm tính nơi con người. Nó dạy y rằng y phải kiểm soát thể xác mình, phải chế ngự bản chất thấp của mình, và cũng phải phát triển các thể của mình để chúng phục vụ cho các mục đích của y, tức là hưởng thụ sự tiện nghi trong chúng.

The desire for comfort gradually disappears as the things that attract the man rise higher and higher in the scale. A man may get rid of desires for physical comfort and enjoyment by throwing his interest into the mental life, for example. At first there will be a sense of effort, a certain feeling of pain and loss; but the man prefers the mental to the physical pleasures because he knows that they will last longer. Then, as he practises self-denial, he finds that the feeling of loss becomes less and less as the joys of the intellect attract him more and more, until the lower desires do not attract him at all.

Ham muốn tiện nghi dần dần biến mất khi những điều thu hút con người vươn lên ngày càng cao trên thang bậc. Chẳng hạn, một người có thể thoát khỏi những ham muốn về tiện nghi và hưởng thụ hồng trần bằng cách dồn mối quan tâm của mình vào đời sống trí tuệ. Lúc đầu sẽ có cảm giác nỗ lực, một cảm giác đau đớn và mất mát nào đó; nhưng con người ưa thích những lạc thú trí tuệ hơn những lạc thú hồng trần vì y biết rằng chúng sẽ tồn tại lâu hơn. Rồi, khi y thực hành tự khước từ, y nhận thấy cảm giác mất mát ngày càng giảm khi những niềm vui của trí năng ngày càng thu hút y hơn, cho đến khi các ham muốn thấp không còn thu hút y chút nào.

At first there is deliberate self-denial at each stage, and then comes the loss of the power of attraction in the physical object of the desire. Later on, the same change will come with regard to the joys of the intellect. When the man is looking up to the spiritual life his great attraction for intellectual things will gradually diminish, and he will be less and less attracted by the enjoyment of the powerful intellectual force; he will deny himself the joys of the intellect and rejoice in those of the spirit; he will withdraw himself from the intellect and fix his consciousness on the spiritual level.

Lúc đầu có sự tự khước từ có chủ ý ở mỗi giai đoạn, rồi sau đó là sự mất đi quyền năng hấp dẫn nơi đối tượng hồng trần của ham muốn. Về sau, cùng một sự thay đổi ấy sẽ đến đối với những niềm vui của trí năng. Khi con người hướng nhìn lên đời sống tinh thần, sức hấp dẫn lớn lao của y đối với những điều thuộc trí năng sẽ dần dần giảm đi, và y sẽ ngày càng ít bị lôi cuốn bởi sự hưởng thụ mãnh lực trí tuệ mạnh mẽ; y sẽ khước từ những niềm vui của trí năng và hoan hỉ trong những niềm vui của tinh thần; y sẽ rút mình khỏi trí năng và đặt tâm thức mình trên cấp độ tinh thần.

The destruction of the desire for comfort also brings its danger. This is the third great danger. The first was inactivity, the second was contempt, and the third is the tendency not to be happy, but to be neither happy nor unhappy, neither one thing nor the other.

Sự hủy diệt ham muốn tiện nghi cũng đem lại mối nguy của nó. Đây là mối nguy lớn thứ ba. Mối nguy thứ nhất là sự bất hoạt, mối nguy thứ hai là sự khinh miệt, và mối nguy thứ ba là khuynh hướng không hạnh phúc, nhưng cũng chẳng bất hạnh—không phải điều này cũng không phải điều kia.

How shall the man become happy? The answer is: by realizing that the Self is bliss. It is said in the Brahma Sutras that Brahman is Bliss, Brahman is Ananda. The man has now to realize this. He is no longer moved by pleasure nor by pain. They have ceased to attract him; they came from contact between forms, but he has reached equilibrium. He is therefore likely to sink into the condition of being neither happy nor unhappy. But he must learn to be happy as those are who live for happiness.

Con người sẽ trở nên hạnh phúc bằng cách nào? Câu trả lời là: bằng cách nhận ra rằng Chân Ngã là chí phúc. Trong Brahma Sutras có nói rằng Brahman là Chí Phúc, Brahman là Ananda. Giờ đây con người phải nhận ra điều này. Y không còn bị khoái lạc hay đau khổ lay động. Chúng đã ngừng thu hút y; chúng đến từ sự tiếp xúc giữa các hình tướng, nhưng y đã đạt đến quân bình. Vì thế y dễ chìm vào trạng thái không hạnh phúc cũng không bất hạnh. Nhưng y phải học hạnh phúc như những người sống vì hạnh phúc.

It is the bliss of the Self, that deep abiding bliss, the sense of contentment and joy, which is an essential part of the spiritual life, and the most difficult part of that life to realize in consciousness. It is a very marked fact about the great Mystics and Saviours of men that the side of sorrow has shown itself very much in their lives. Jesus was a man of sorrow. Gautama, the Buddha, left his splendid palaces and gardens and loving friends to seek the cure for the sorrow of the world. The same is true when we look on the lives of all the great leaders of mankind. Sorrow touched them very deeply. But they were not overcome by the sorrow. In those men there was an abiding joy, and the sorrow is profoundly exaggerated by the man who looks upon them from outside. As grief hovers over them, as anxiety, harassments, troubles, worries, and woes rain upon them from all directions, naturally they are judged’ by men to be sorrowful. But that does not follow. They are not worried, harassed or distressed by these things, however much they may attend to them, and may do whatever may be necessary for the sake of the world. Underneath it all there is the heart of peace. Therefore you always find them saying: “My peace remaineth.”

Đó là chí phúc của Chân Ngã, chí phúc sâu xa và thường trụ ấy, cảm thức mãn nguyện và hoan hỉ, vốn là một phần thiết yếu của đời sống tinh thần, và là phần khó chứng nghiệm nhất của đời sống ấy trong tâm thức. Một sự kiện rất rõ rệt nơi các nhà thần bí và các Đấng Cứu Thế vĩ đại của nhân loại là phương diện đau buồn đã biểu lộ rất nhiều trong đời sống của Các Ngài. Đức Jesus là một người của đau buồn. Gautama, Đức Phật, đã rời bỏ các cung điện và vườn tược tráng lệ cùng những bạn hữu thương yêu để tìm phương thuốc chữa nỗi khổ của thế gian. Điều tương tự cũng đúng khi chúng ta nhìn vào đời sống của tất cả các nhà lãnh đạo vĩ đại của nhân loại. Nỗi buồn chạm đến Các Ngài rất sâu. Nhưng Các Ngài không bị nỗi buồn khuất phục. Trong những con người ấy có một niềm hoan hỉ thường trụ, và nỗi buồn đã bị phóng đại sâu sắc bởi người nhìn Các Ngài từ bên ngoài. Khi sầu khổ lảng vảng trên Các Ngài, khi lo âu, phiền nhiễu, rắc rối, bận tâm và khổ não trút xuống Các Ngài từ mọi phía, tự nhiên người đời phán đoán Các Ngài là đau buồn. Nhưng điều đó không tất yếu như vậy. Các Ngài không bị những điều ấy làm bận tâm, quấy rầy hay khổ sở, dù Các Ngài có thể chú tâm đến chúng đến đâu, và có thể làm bất cứ điều gì cần thiết vì lợi ích của thế gian. Bên dưới tất cả là trái tim bình an. Vì vậy bạn luôn thấy Các Ngài nói: “Bình an của Ta vẫn còn.”

The disciple feels the sorrow of the world. That he cannot escape; it will throw a shadow over him—an unavoidable shadow. The whole of the world’s sorrow has to find its echo in him. He feels sorrow, and continues to feel pity for the ignorant and the suffering, for their rebellion and revolt. At the stage we are considering there is danger for him—that he may cease to feel for others; then just in proportion as he ceases to feel he loses his utility. The Great Ones feel helpless pity for those under the sway of karma; pity because of Their own inability to help them, for there are places where They cannot help, where men must go through their experiences by themselves. Despite the knowledge that it should be so, and despite Their absolute contentment with the Law, They are standing aside and watching it work; still there is this pain and sympathy—pity, which has in it a certain element of sorrow.

Đệ tử cảm nhận nỗi buồn của thế gian. Điều đó y không thể tránh; nó sẽ phủ một bóng tối lên y—một bóng tối không thể tránh. Toàn bộ nỗi buồn của thế gian phải tìm được âm vang của nó trong y. Y cảm thấy buồn, và tiếp tục cảm thấy thương xót đối với kẻ vô minh và người đau khổ, đối với sự nổi loạn và phản kháng của họ. Ở giai đoạn chúng ta đang xét, có một mối nguy cho y—rằng y có thể ngừng cảm thông với người khác; khi ấy, đúng theo mức độ y ngừng cảm thông, y mất đi sự hữu dụng của mình. Các Đấng Cao Cả cảm thấy lòng thương xót bất lực đối với những người ở dưới quyền chi phối của nghiệp quả; thương xót vì chính sự bất lực của Các Ngài trong việc giúp họ, vì có những nơi Các Ngài không thể giúp, nơi con người phải tự mình đi qua các kinh nghiệm của mình. Dù biết rằng điều đó phải như vậy, và dù Các Ngài tuyệt đối mãn nguyện với Định luật, Các Ngài vẫn đứng bên cạnh và quan sát nó vận hành; tuy nhiên vẫn có nỗi đau và sự cảm thông này—lòng thương xót, trong đó có một yếu tố nào đó của nỗi buồn.

That will always remain as something of a shadow. In losing the power to sympathize a man would lose the power to help. Just as his life flows into the ignorant he feels the pleasure and pain of the ignorant, and he lightens their trouble by feeling it himself.

Điều đó sẽ luôn còn lại như một bóng tối nào đó. Khi mất quyền năng cảm thông, con người sẽ mất quyền năng giúp đỡ. Cũng như sự sống của y tuôn chảy vào kẻ vô minh, y cảm thấy khoái lạc và đau khổ của kẻ vô minh, và y làm nhẹ bớt rắc rối của họ bằng cách tự mình cảm nhận nó.

With all this pressing upon him it is ever necessary that the disciple should be reminded that the Self is bliss. He must keep the heart of joy, must deliberately cultivate in himself the spirit of contentment and happiness. One way to do this is to practise meditation upon the divine bliss—deep, intense bliss, not equalled by anything belonging to this earth, because it is the very essence and nature of the Self. A man can develop that aspect only by the deliberate cultivation of joy and contentment, and by looking at the world and recognizing that evil is avidya, unwisdom. In the midst of sorrows he is to be happy; he must teach himself that pain is in the vehicle while the life is ever joy.

Với tất cả những điều này đè nặng lên y, điều luôn cần thiết là đệ tử phải được nhắc rằng Chân Ngã là chí phúc. Y phải giữ trái tim hoan hỉ, phải có chủ ý vun trồng trong mình tinh thần mãn nguyện và hạnh phúc. Một cách để làm điều này là thực hành tham thiền về chí phúc thiêng liêng—chí phúc sâu xa, mãnh liệt, không gì thuộc về Trái Đất này sánh được, vì nó chính là tinh túy và bản chất của Chân Ngã. Con người chỉ có thể phát triển phương diện ấy bằng sự vun trồng có chủ ý niềm hoan hỉ và sự mãn nguyện, và bằng cách nhìn vào thế gian mà nhận ra rằng điều ác là avidya, là thiếu minh triết. Giữa những nỗi buồn, y phải hạnh phúc; y phải tự dạy mình rằng đau đớn ở trong vận cụ, còn sự sống thì luôn là hoan hỉ.

C.W.L.—This rule does not mean that people may not be comfortable, though many have taken it in that sense. Yogis, hermits and monks have taken similar statements in other scriptures in that way, but it is absolutely wrong and foolish. Some monks in the Middle Ages wore hair shirts; and some Indian yogis sit on spikes and sleep in the hottest weather in the midst of a circle of fire, all with the object of making themselves uncomfortable. That is, the result of choosing one text and running it to death. It is particularly stated in the Bhagavad-Gita that those who torture the body torture the Divine One seated in that body, and their way is not the way of progress.21 So this rule does not mean that we may not be comfortable, but simply that we must never let our desire for comfort stand in the way of any work which we have to do. If to do what ought to be done will cause us great discomfort, we must not on that account refrain from doing it.

C.W.L.—Quy luật này không có nghĩa là người ta không được tiện nghi, dù nhiều người đã hiểu nó theo nghĩa ấy. Các yogi, ẩn sĩ và tu sĩ đã hiểu những phát biểu tương tự trong các kinh sách khác theo cách đó, nhưng điều ấy hoàn toàn sai lầm và ngu xuẩn. Một số tu sĩ thời Trung Cổ mặc áo bằng lông gai; và một số yogi Ấn Độ ngồi trên đinh nhọn và ngủ trong thời tiết nóng nhất giữa một vòng lửa, tất cả nhằm mục đích làm cho mình khó chịu. Đó là kết quả của việc chọn một bản văn rồi đẩy nó đến cùng cực. Trong Bhagavad-Gita có nêu rõ rằng những ai hành hạ thể xác thì hành hạ Đấng Thiêng Liêng ngự trong thể xác ấy, và con đường của họ không phải là con đường tiến bộ.21 Vì vậy quy luật này không có nghĩa là chúng ta không được tiện nghi, mà chỉ đơn giản rằng chúng ta không bao giờ được để ham muốn tiện nghi cản trở bất cứ công việc nào chúng ta phải làm. Nếu làm điều phải làm sẽ gây cho chúng ta sự khó chịu lớn lao, chúng ta không được vì lý do đó mà tránh không làm.

To make ourselves unnecessarily uncomfortable only puts difficulty in our way. People talk much about the virtue of suffering and the extent to which progress is made through it; but if we look at the cold facts we shall find that the progress is made after the suffering is past. It is not actual suffering itself which causes the progress, but in many cases that wakens a man to conditions which otherwise he would not have sufficiently noted. It sometimes weeds out of him qualities which made progress difficult for him, but it is only after the suffering is over that the progress is made, because only then is he in a fit state of mind to attend to higher things.

Làm cho chính mình khó chịu một cách không cần thiết chỉ đặt thêm khó khăn trên đường chúng ta. Người ta nói nhiều về đức hạnh của đau khổ và mức độ tiến bộ đạt được nhờ nó; nhưng nếu nhìn vào những sự kiện lạnh lùng, chúng ta sẽ thấy rằng sự tiến bộ được thực hiện sau khi đau khổ đã qua. Không phải chính đau khổ thực sự gây nên sự tiến bộ, nhưng trong nhiều trường hợp nó đánh thức con người trước những điều kiện mà nếu không thì y đã không ghi nhận đầy đủ. Đôi khi nó nhổ bỏ khỏi y những phẩm tính khiến sự tiến bộ trở nên khó khăn cho y, nhưng chỉ sau khi đau khổ chấm dứt thì sự tiến bộ mới được thực hiện, vì chỉ khi ấy y mới ở trong trạng thái trí tuệ thích hợp để chú tâm đến những điều cao hơn.

We must not think that there is any virtue in making ourselves uncomfortable. On the contrary, when the physical body is comfortable we are much better able to think of higher things. Yet I have known people who would persist in doing it. For example, in India where meditation is best understood, it happens to be the custom to sit cross-legged. I have known scores of white people who would weary themselves out and even cause themselves pain by trying to follow the Indian custom in meditation, not understanding that that is merely an outer detail and the Indian only adopts that position because he has been accustomed to it from childhood. It is exceedingly futile for people who are not accustomed to it to force themselves into what is to them a position of discomfort. Patanjali’s direction is to take a posture “easy and pleasant”.

Chúng ta không được nghĩ rằng có đức hạnh nào trong việc làm cho mình khó chịu. Trái lại, khi thể xác được tiện nghi, chúng ta có khả năng tốt hơn nhiều để nghĩ đến những điều cao hơn. Tuy vậy, tôi đã biết những người vẫn khăng khăng làm như thế. Chẳng hạn, ở Ấn Độ, nơi tham thiền được thấu hiểu hơn cả, phong tục là ngồi xếp bằng. Tôi đã biết hàng chục người da trắng làm cho mình mệt lả và thậm chí gây đau đớn cho mình bằng cách cố theo phong tục Ấn Độ trong tham thiền, không hiểu rằng đó chỉ là một chi tiết bên ngoài, và người Ấn chỉ dùng tư thế ấy vì y đã quen với nó từ thuở nhỏ. Thật hết sức vô ích khi những người không quen với nó lại ép mình vào một tư thế gây khó chịu cho họ. Chỉ dẫn của Patanjali là hãy chọn một tư thế “dễ dàng và dễ chịu”.

There are two objects with regard to the position of the body during meditation. First, it should be comfortable, so that one can easily forget it, for that is what one wants to do. Secondly, it should be such that if in meditation we leave the body—which may happen at any time—it will not hurt itself. In such a case the effect on the body will be as though, we had fainted. The Indian who is sitting on the floor simply falls backwards, and no harm is done. When we meditate we shall do well, therefore, to sit in some sort of armchair, so that we may not fall out of it, if the body loses consciousness. The recumbent position is not good if it increases the tendency to sleep.

Có hai mục đích liên quan đến tư thế của thể xác trong khi tham thiền. Thứ nhất, nó phải tiện nghi, để người ta có thể dễ dàng quên nó, vì đó là điều người ta muốn làm. Thứ hai, nó phải sao cho nếu trong tham thiền chúng ta rời khỏi thể xác—điều có thể xảy ra bất cứ lúc nào—thể xác sẽ không tự làm tổn thương mình. Trong trường hợp như vậy, tác động lên thể xác sẽ giống như thể chúng ta bị ngất. Người Ấn ngồi trên sàn chỉ đơn giản ngã ra sau, và không có hại gì. Vì vậy, khi tham thiền, tốt nhất chúng ta nên ngồi trên một loại ghế bành nào đó, để nếu thể xác mất tâm thức, chúng ta không rơi khỏi ghế. Tư thế nằm không tốt nếu nó làm tăng khuynh hướng ngủ.

There are joys of the emotions and of the intellect, and many people who would despise the idea that their physical comfort mattered to them in the least, are yet exceedingly unhappy when they are not emotionally comfortable, that is to say, when they imagine that they are not getting the response they deserve to their emotions. Many people are painfully sentimental and expect the rest of the world to be equally so, and are much hurt because it is not. They pour out what they call affection, but it is often tinged with selfishness. They will create all kinds of disturbance, and even do things which harm those whom they profess to love, all for the sake of what they call the return of their affection. They do not understand that there are different types of affection, and that it may be absolutely impossible for the person concerned to return it in their particular way. This difficulty comes from the insistence of the desire for emotional comfort, which should never be permitted to interfere with our own progress or that of those whom we love.

Có những niềm vui của cảm xúc và của trí năng, và nhiều người khinh thường ý tưởng rằng tiện nghi hồng trần của họ có chút quan trọng nào đối với họ, nhưng lại hết sức bất hạnh khi họ không được tiện nghi về mặt cảm xúc, nghĩa là khi họ tưởng rằng họ không nhận được đáp ứng mà họ xứng đáng có đối với các cảm xúc của mình. Nhiều người đa cảm một cách đau đớn và mong phần còn lại của thế gian cũng như thế, rồi bị tổn thương nhiều vì thế gian không như vậy. Họ tuôn đổ điều họ gọi là tình cảm, nhưng nó thường nhuốm màu ích kỷ. Họ sẽ tạo ra đủ loại xáo trộn, và thậm chí làm những việc gây hại cho những người mà họ tuyên bố là yêu thương, tất cả vì điều họ gọi là sự đáp lại tình cảm của họ. Họ không hiểu rằng có những loại tình cảm khác nhau, và có thể hoàn toàn bất khả thi để người liên hệ đáp lại nó theo cách riêng của họ. Khó khăn này phát sinh từ sự khăng khăng của ham muốn tiện nghi cảm xúc, điều không bao giờ được phép can thiệp vào sự tiến bộ của chính chúng ta hay của những người chúng ta yêu thương.

In the same way there is intellectual comfort. People want others to think exactly as they do, so that they may rest mentally content, without disturbance. Constantly we come up against that difficulty. There will be some promising young person deeply interested in Theosophy, for example, who wants to join the Society, but his parents vigorously oppose him. They would not be intellectually comfortable if they thought that their son or their daughter were adopting a line which they could not share. They feel sure that they are right and that there can be no real wisdom outside the limits of their own particular opinions. Therefore if a son or a daughter thinks differently from them they are quite outraged, not realizing that the fact that an ego happens to be born in their family does not necessarily mean that he is of the same temperament as themselves.

Cũng vậy, có tiện nghi trí tuệ. Người ta muốn người khác suy nghĩ đúng như họ, để họ có thể an nghỉ trong sự mãn nguyện trí tuệ, không bị xáo trộn. Chúng ta thường xuyên gặp khó khăn ấy. Chẳng hạn, sẽ có một người trẻ đầy hứa hẹn, hết sức quan tâm đến Thông Thiên Học, muốn gia nhập Hội, nhưng cha mẹ y kịch liệt phản đối. Họ sẽ không được tiện nghi trí tuệ nếu nghĩ rằng con trai hay con gái họ đang chọn một đường hướng mà họ không thể chia sẻ. Họ cảm thấy chắc chắn rằng họ đúng, và không thể có minh triết thực sự nào bên ngoài giới hạn của các ý kiến riêng biệt của họ. Vì vậy, nếu một người con trai hay con gái nghĩ khác họ, họ hết sức phẫn nộ, không nhận ra rằng việc một chân ngã tình cờ sinh vào gia đình họ không nhất thiết có nghĩa là y có cùng khí chất với chính họ.

Each ego has his own way, his own power of appreciating the truth; he must receive it along his own line. For others to try to force him to take it along their line, which is not his, is a mistake; the whole inner Self revolts against it. The result, in hundreds of cases, when children have been intellectually pressed, is that they fall away altogether from their parents’ beliefs. Again and again, for example, the son of a clergyman ends as an atheist, because the father and mother have unwisely tried to force him to think along their lines. This harm is done only because they themselves want to be intellectually comfortable. The disciple must always be careful that his desire to be emotionally or intellectually comfortable does not make him interfere with other people’s rights, and that he does not let it stand in the way of duty or of help that he might give.

Mỗi chân ngã có con đường riêng của mình, quyền năng riêng của mình để cảm nhận chân lý; y phải tiếp nhận nó theo đường lối riêng của y. Việc người khác cố ép y tiếp nhận nó theo đường lối của họ, vốn không phải của y, là một sai lầm; toàn bộ Chân Ngã bên trong nổi dậy chống lại điều đó. Kết quả, trong hàng trăm trường hợp, khi trẻ em bị ép buộc về mặt trí tuệ, là chúng hoàn toàn rời bỏ tín ngưỡng của cha mẹ. Hết lần này đến lần khác, chẳng hạn, con trai của một giáo sĩ cuối cùng trở thành người vô thần, vì cha mẹ đã thiếu minh triết khi cố ép y suy nghĩ theo đường lối của họ. Sự tổn hại này xảy ra chỉ vì chính họ muốn được tiện nghi trí tuệ. Đệ tử phải luôn cẩn trọng để ham muốn được tiện nghi về cảm xúc hay trí tuệ của y không khiến y can thiệp vào quyền của người khác, và không để nó cản trở bổn phận hay sự giúp đỡ mà y có thể trao.

It is essential that we should be happy, as the Chohan says here, although certainly we do not live for happiness. I think many forget the duty of happiness. They do not regard it as a duty, although most emphatically it is that. It is a necessary part of progress. The person who is always mournful and depressed about what is happening is making no progress, and it is well that he should understand that. As I have said before, it is necessary that we should become more and more sensitive, because unless we bring ourselves into that condition we cannot answer in a moment to the slightest signal from the Master. It is unquestionably difficult to be very sensitive and at the same time radiantly happy, yet that’ is what we must be. There is a great deal that calls for the deepest sympathy, and it is difficult to feel sympathy with those who are suffering, without also feeling sorrow; yet, as I have explained, the Master sympathizes far more than we can, but certainly does not feel the sorrow as sorrow.22

Điều thiết yếu là chúng ta phải hạnh phúc, như vị Chohan nói ở đây, dù chắc chắn chúng ta không sống vì hạnh phúc. Tôi nghĩ nhiều người quên bổn phận hạnh phúc. Họ không xem nó là một bổn phận, dù chắc chắn nhất nó chính là như vậy. Nó là một phần cần thiết của sự tiến bộ. Người luôn u sầu và chán nản về những gì đang xảy ra thì không tiến bộ, và tốt hơn là y nên thấu hiểu điều đó. Như tôi đã nói trước đây, điều cần thiết là chúng ta phải trở nên ngày càng nhạy bén hơn, vì nếu chúng ta không đưa mình vào trạng thái đó, chúng ta không thể đáp ứng tức khắc với tín hiệu nhỏ nhất từ Chân sư. Không nghi ngờ gì, thật khó để vừa rất nhạy bén vừa rạng rỡ hạnh phúc, nhưng đó là điều chúng ta phải là. Có rất nhiều điều đòi hỏi sự cảm thông sâu sắc nhất, và thật khó cảm thông với những người đang đau khổ mà không đồng thời cảm thấy buồn; tuy nhiên, như tôi đã giải thích, Chân sư cảm thông hơn chúng ta rất nhiều, nhưng chắc chắn không cảm thấy nỗi buồn như nỗi buồn.22

There might be very much less suffering and very much less sorrow if the people to whom the sorrow and suffering are coming now had lived quite differently in other lives, perhaps thousands of years ago, but considering that they lived as they did, that which is now happening is the best that can happen for their progress. We cannot help being sorry that it is not better, but our sorrow is not for what is going on now, but for the previous happenings which made this necessary. Possibly that sounds a little cold, but when we understand how utterly the result is part of the cause, we can see that what is happening now is actually part of the causes which the people themselves set in motion long ago, and it could not be other than it is while the divine law of cause and effect is operating.

Có thể đã có ít đau khổ hơn rất nhiều và ít buồn đau hơn rất nhiều nếu những người mà đau buồn và đau khổ hiện đang đến với họ đã sống hoàn toàn khác trong các đời khác, có lẽ hàng ngàn năm trước; nhưng xét rằng họ đã sống như họ đã sống, điều hiện đang xảy ra là điều tốt nhất có thể xảy ra cho sự tiến bộ của họ. Chúng ta không thể không tiếc rằng nó không tốt hơn, nhưng nỗi buồn của chúng ta không dành cho điều đang diễn ra hiện nay, mà dành cho những biến cố trước đó đã khiến điều này trở nên cần thiết. Có lẽ điều đó nghe hơi lạnh lùng, nhưng khi chúng ta thấu hiểu kết quả hoàn toàn là một phần của nguyên nhân đến mức nào, chúng ta có thể thấy rằng điều đang xảy ra hiện nay thực sự là một phần của các nguyên nhân mà chính những người ấy đã khởi động từ lâu, và nó không thể khác đi khi định luật thiêng liêng của nhân và quả đang vận hành.

All this suffering can only be altered now by bringing in new forces. We can sometimes relieve sorrow and suffering to a certain extent. Whenever we do that, it is not in the least that we abrogate the working of the law, it is not at all that everything does not flow in harmony with that law, but that we introduce a new force which also comes within the operation of the law, and mitigates much which otherwise would have been the effect of what went before. But though we can sometimes relieve and help, it is, as I explained before, quite difficult for many of us to get always into the attitude of being perfectly sympathetic and yet recognizing the necessity of the suffering, though we can do it quite well in certain things. Suppose some friend whom we love very much has to undergo a surgical operation. Of course we are sorry that it should be so, but it does not occur to us to say that it ought not to be so, because we recognize that the operation is intended to do good, and we trust that its result will be an improvement in his health. Therefore however sorry and anxious we may be, we regard it is an unfortunate, a regrettable, necessity. All sorrow and suffering are nothing but that—operations to remove dangerous growths.

Tất cả đau khổ này giờ đây chỉ có thể được thay đổi bằng cách đưa vào những mãnh lực mới. Đôi khi chúng ta có thể làm vơi bớt buồn đau và đau khổ đến một mức nào đó. Bất cứ khi nào chúng ta làm như vậy, điều đó hoàn toàn không có nghĩa là chúng ta bãi bỏ sự vận hành của định luật, cũng hoàn toàn không có nghĩa là mọi sự không tuôn chảy hài hòa với định luật ấy, mà là chúng ta đưa vào một mãnh lực mới, vốn cũng đi vào trong sự vận hành của định luật, và làm dịu đi nhiều điều mà nếu không thì đã là hậu quả của những gì đi trước. Nhưng dù đôi khi chúng ta có thể làm vơi bớt và giúp đỡ, như tôi đã giải thích trước đây, đối với nhiều người trong chúng ta, thật khó luôn đi vào thái độ vừa hoàn toàn cảm thông vừa nhận ra tính tất yếu của đau khổ, dù chúng ta có thể làm điều đó khá tốt trong một số việc. Giả sử một người bạn mà chúng ta rất yêu thương phải trải qua một cuộc phẫu thuật. Dĩ nhiên chúng ta buồn vì phải như vậy, nhưng chúng ta không nghĩ đến việc nói rằng nó không nên như vậy, vì chúng ta nhận ra cuộc phẫu thuật nhằm đem lại điều tốt, và chúng ta tin rằng kết quả của nó sẽ là sự cải thiện sức khỏe của y. Vì vậy, dù chúng ta buồn và lo lắng đến đâu, chúng ta vẫn xem nó là một sự cần thiết bất hạnh, đáng tiếc. Mọi buồn đau và đau khổ không là gì khác ngoài điều đó—những cuộc phẫu thuật để loại bỏ các khối u nguy hiểm.

Much of the sorrow of the world can be avoided, because a great deal of it does not come from the past but is the result of men’s present foolishness. They take things in a wrong way. For example, we frequently allow ourselves to be hurt or offended or worried. That is not karma from the past. In many cases seven-eighths of the trouble which comes to people is not from without at all; it is due entirely to the way in which they take their experiences. The karma that comes to us from without is only a small amount, but we magnify it very greatly; that is our present fault, and it can be remedied.23

Nhiều nỗi buồn của thế gian có thể tránh được, vì phần lớn nó không đến từ quá khứ mà là kết quả của sự ngu dại hiện tại của con người. Họ tiếp nhận sự việc theo cách sai lầm. Chẳng hạn, chúng ta thường xuyên để mình bị tổn thương, xúc phạm hay bận tâm. Đó không phải là nghiệp quả từ quá khứ. Trong nhiều trường hợp, bảy phần tám rắc rối đến với người ta hoàn toàn không đến từ bên ngoài; nó hoàn toàn do cách họ tiếp nhận các kinh nghiệm của mình. Nghiệp quả đến với chúng ta từ bên ngoài chỉ là một lượng nhỏ, nhưng chúng ta phóng đại nó lên rất lớn; đó là lỗi lầm hiện tại của chúng ta, và nó có thể được sửa chữa.23

Most people who live for happiness seek to attain that happiness in various ways: by surrounding themselves with the people with whom they feel happy, by going where they expect to find enjoyment, and so on. That the disciple should not do, because he ought to be in the position of being perfectly happy in himself, without reference to particular outer conditions. That is difficult for us, because, through many lives we have been very largely the sport of circumstances. If we observe people we shall find that most of them are in that condition still. The majority of people in the world make very little effort to change the conditions in which they find themselves. If they find themselves depressed or readily offended and therefore unhappy, they should set to work to change those conditions. Instead of doing that they grumble about those who offend them, and say that it is quite impossible to get on with such people. Yet those others are probably people very much like the rest of the world. Our happiness depends upon how these people are taken, upon our attitude towards their attitude. If our study of occultism has brought any fruit we will say: “I do not mind what position they take up; that is their business, not mine; my business is to take care that I am not offended and worried, that I preserve a peaceful condition, whatever these other people do or think.”

Hầu hết những người sống vì hạnh phúc tìm cách đạt hạnh phúc ấy bằng nhiều cách khác nhau: bằng cách bao quanh mình với những người mà họ cảm thấy hạnh phúc khi ở cùng, bằng cách đi đến nơi họ mong tìm được sự vui thích, v.v. Đệ tử không nên làm như vậy, vì y phải ở trong vị thế hoàn toàn hạnh phúc nơi chính mình, không tùy thuộc vào những điều kiện bên ngoài đặc biệt. Điều đó khó đối với chúng ta, vì qua nhiều đời, chúng ta phần lớn đã là trò chơi của hoàn cảnh. Nếu quan sát con người, chúng ta sẽ thấy phần lớn họ vẫn ở trong trạng thái ấy. Đa số người trong thế gian rất ít nỗ lực thay đổi các điều kiện mà họ thấy mình đang ở trong đó. Nếu họ thấy mình chán nản hay dễ bị xúc phạm và vì thế bất hạnh, họ nên bắt tay vào thay đổi những điều kiện ấy. Thay vì làm điều đó, họ càu nhàu về những người xúc phạm họ, và nói rằng hoàn toàn không thể hòa hợp với những người như thế. Tuy nhiên những người kia có lẽ là những người rất giống phần còn lại của thế gian. Hạnh phúc của chúng ta tùy thuộc vào cách những người này được tiếp nhận, vào thái độ của chúng ta đối với thái độ của họ. Nếu việc học huyền bí học của chúng ta đã đem lại chút hoa trái nào, chúng ta sẽ nói: “Tôi không bận tâm họ chọn lập trường nào; đó là việc của họ, không phải của tôi; việc của tôi là giữ sao cho mình không bị xúc phạm và bận tâm, giữ một trạng thái bình an, bất kể những người kia làm gì hay nghĩ gì.”

One may say that it is very difficult to do that, if other people are aggressive or insulting. But is it not obvious that the effect produced by the insulting and aggressive attitude depends upon the way in which it is met? If we allow ourselves to be affected by it, a great deal of disturbance is set up. We on our side show something of the same nature, and to the onlooker it would seem that some of that aggression is justified. But if we are perfectly calm, the man who abuses us puts himself in the wrong, and the outsider can see that we are not in the wrong. Of course, we should not remain calm in order to appear in the right, but we should adopt a philosophical attitude, because we do not feel these attempts to attack us or to interfere with us; and thus we can be happy.

Người ta có thể nói rằng thật khó làm điều đó, nếu người khác hung hăng hay lăng mạ. Nhưng chẳng phải rõ ràng rằng tác động do thái độ lăng mạ và hung hăng tạo ra tùy thuộc vào cách nó được đón nhận sao? Nếu chúng ta để mình bị nó tác động, một sự xáo trộn lớn sẽ phát sinh. Về phía mình, chúng ta biểu lộ điều gì đó cùng bản chất, và đối với người ngoài cuộc, có vẻ như phần nào sự hung hăng ấy là chính đáng. Nhưng nếu chúng ta hoàn toàn bình tĩnh, người lăng mạ chúng ta tự đặt mình vào chỗ sai, và người ngoài có thể thấy rằng chúng ta không sai. Dĩ nhiên, chúng ta không nên giữ bình tĩnh để tỏ ra mình đúng, mà nên chấp nhận một thái độ triết học, vì chúng ta không cảm thấy những nỗ lực tấn công hay can thiệp vào chúng ta ấy; và như vậy chúng ta có thể hạnh phúc.

That seems a sort of negative happiness, to avoid pain or suffering. We can do a great deal more than that; we who are trying to live according to the precepts of occultism—students of the inner life—must be doing something of the world’s work. Assuredly no one can see the Plan of the Logos, and the work that is to be done to carry out that Plan, without trying to do as much as he can for it, and the fact that he is engaged in that work keeps a man busy and happy. We should have no time for depression, no time to worry about all these outer things. If we are all the time busily engaged in pouring out’ good thought, in sending strong wishes, strong currents of goodwill to all around us, we are fully occupied, and are happy in the work itself.

Điều đó có vẻ là một thứ hạnh phúc tiêu cực, tránh đau đớn hay đau khổ. Chúng ta có thể làm nhiều hơn thế rất nhiều; chúng ta, những người đang cố sống theo các giáo huấn của huyền bí học—những đạo sinh của đời sống bên trong—phải đang làm một phần công việc của thế gian. Chắc chắn không ai có thể thấy Thiên Cơ của Thượng đế, và công việc cần làm để thực hiện Thiên Cơ ấy, mà không cố làm hết sức mình cho nó; và sự kiện y tham gia vào công việc ấy giữ cho con người bận rộn và hạnh phúc. Chúng ta sẽ không có thời gian cho sự chán nản, không có thời gian để lo lắng về tất cả những điều bên ngoài này. Nếu chúng ta suốt thời gian bận rộn tuôn đổ tư tưởng tốt lành, gửi đi những ước nguyện mạnh mẽ, những dòng thiện chí mạnh mẽ đến mọi người chung quanh, chúng ta hoàn toàn được chiếm dụng, và hạnh phúc trong chính công việc.

It is sad to see the way in which people all about us are constantly talking about doing things “to pass the time”. They do this or that for the sake of having something to do. It is both ludicrous and pitiable, because the world is full of opportunities to do good and noble deeds, and these people are not even looking for the opportunities. They are just trying somehow or other to amuse themselves, that they may get through the time—a most extraordinary attitude to take.

Thật buồn khi thấy cách người quanh chúng ta thường xuyên nói về việc làm những điều “để giết thời gian”. Họ làm điều này hay điều kia chỉ để có gì đó mà làm. Điều ấy vừa lố bịch vừa đáng thương, vì thế gian đầy những cơ hội để làm các việc thiện lành và cao quý, mà những người này thậm chí không tìm kiếm các cơ hội ấy. Họ chỉ cố bằng cách này hay cách khác giải trí cho mình, để có thể vượt qua thời gian—một thái độ hết sức kỳ lạ.

The student of occultism finds that he cannot get time enough to do all that he would like to do. All those who are really willing to work are overwhelmed with work; there is always more to be done than they can possibly do. Dr. Besant works indefatigably from early in the morning until very late at night without any rest, and hers is a very different thing from the ordinary man’s idea of work. Some men who are in business are certainly closely occupied the whole time, but most people’s idea of work is to do a little and have a rest, and then take the matter up again and spend a little more time at it. They would call that very close attention to work. That is not the way in which she works. Even while she is listening to some story that is being told to her, she will continue writing and still know every word of what one is telling her, and be perfectly ready at the end of the story to give help or advice. She loses no single moment. She is always prepared, if she happens to be waiting at a railway station, to take out a little dispatch box and begin writing articles or letters at once. It is not given to every one—and think of the age which her body has now reached—to do that, especially as a great deal of the work is of a very searching character, and calls for quick decision in many different directions. People who are paid for work do not do it in that way. It is precisely because all that she does is done for the love of it that she is able to do so much. Certainly she is happy in her work, always ready to meet people with a friendly smile, and is thus a great inspiration to all those who come into contact with her. We would do well to follow in her steps as far as we can, remembering always the duty of happiness. If we are not happy, then we are not doing enough; it is a sure proof that we are wasting time. We should get to work and do something, and at once the unhappiness will vanish, because there will not be time for it. The interest in the work is so keen and the amount to be done so great, that we shall find ourselves thinking of that, and we shall have no time to think of anything in the nature of unhappiness.

Đạo sinh huyền bí học thấy rằng y không thể có đủ thời gian để làm tất cả những gì y muốn làm. Tất cả những ai thật sự sẵn lòng làm việc đều bị tràn ngập bởi công việc; luôn có nhiều việc phải làm hơn mức họ có thể làm. Bà Besant làm việc không mệt mỏi từ sáng sớm cho đến rất khuya, không nghỉ ngơi, và công việc của bà là một điều rất khác với ý niệm của người thường về công việc. Một số người trong kinh doanh chắc chắn bận rộn suốt thời gian, nhưng ý niệm về công việc của hầu hết mọi người là làm một chút rồi nghỉ, rồi lại tiếp tục việc ấy và dành thêm một chút thời gian cho nó. Họ gọi đó là chú tâm rất sát sao vào công việc. Đó không phải là cách bà làm việc. Ngay cả khi bà đang lắng nghe một câu chuyện được kể cho bà, bà vẫn tiếp tục viết và vẫn biết từng lời người ta đang nói với bà, và hoàn toàn sẵn sàng, khi câu chuyện kết thúc, đưa ra sự giúp đỡ hay lời khuyên. Bà không mất một khoảnh khắc nào. Bà luôn sẵn sàng, nếu tình cờ phải đợi ở một nhà ga, lấy ra một hộp giấy tờ nhỏ và lập tức bắt đầu viết bài hay thư. Không phải ai cũng được ban cho khả năng làm điều đó—và hãy nghĩ đến tuổi tác mà thể xác của bà nay đã đạt đến—đặc biệt vì phần lớn công việc có tính chất rất khảo sát sâu và đòi hỏi quyết định nhanh trong nhiều hướng khác nhau. Những người được trả tiền để làm việc không làm theo cách ấy. Chính vì tất cả những gì bà làm đều được làm vì tình yêu đối với nó mà bà có thể làm nhiều đến thế. Chắc chắn bà hạnh phúc trong công việc của mình, luôn sẵn sàng gặp gỡ mọi người với một nụ cười thân thiện, và do đó là nguồn cảm hứng lớn cho tất cả những ai tiếp xúc với bà. Chúng ta nên noi theo bước chân của bà trong chừng mực có thể, luôn nhớ bổn phận hạnh phúc. Nếu chúng ta không hạnh phúc, thì chúng ta chưa làm đủ; đó là bằng chứng chắc chắn rằng chúng ta đang lãng phí thời gian. Chúng ta nên bắt tay vào việc và làm điều gì đó, và ngay lập tức sự bất hạnh sẽ biến mất, vì sẽ không có thời gian cho nó. Mối quan tâm đối với công việc mãnh liệt đến thế và lượng việc phải làm lớn đến thế, đến nỗi chúng ta sẽ thấy mình nghĩ đến điều đó, và sẽ không có thời gian nghĩ đến bất cứ điều gì thuộc bản chất bất hạnh.

Seek in the heart the source of evil and expunge it. It lives fruitfully in the heart of the devoted disciple as well as in the heart of the man of desire. Only the strong can kill it out. The weak must wait for its growth, its fruition, its death. And it is a plant that lives and increases throughout the ages. It flowers when the man has accumulated unto himself innumerable existences. He who will enter upon the path of power must tear this thing out of his heart. And then the heart will bleed, and the whole life of the man seem to be utterly dissolved. This ordeal must be endured; it may come at the first step of the perilous ladder which leads to the path of life: it may not come until the last. But, O disciple, remember that it has to be endured, and fasten the energies of your soul upon the task. Live neither in the present nor the future, but in the Eternal. This giant weed cannot flower there: this blot upon existence is wiped out by the very atmosphere of eternal thought.

Hãy tìm trong trái tim nguồn gốc của điều ác và nhổ sạch nó. Nó sống sung mãn trong trái tim của đệ tử tận hiến cũng như trong trái tim của con người ham muốn. Chỉ người mạnh mới có thể tiêu diệt nó. Người yếu phải chờ sự tăng trưởng của nó, sự kết quả của nó, cái chết của nó. Và nó là một loài cây sống và gia tăng qua các thời đại. Nó nở hoa khi con người đã tích lũy cho mình vô số kiếp sống. Ai muốn bước vào con đường quyền năng phải xé bật điều này khỏi trái tim mình. Khi ấy trái tim sẽ chảy máu, và toàn bộ đời sống của con người dường như hoàn toàn tan rã. Cuộc thử thách này phải được chịu đựng; nó có thể đến ở nấc đầu tiên của chiếc thang nguy hiểm dẫn đến con đường sự sống; nó có thể không đến cho đến nấc cuối cùng. Nhưng, hỡi đệ tử, hãy nhớ rằng nó phải được chịu đựng, và hãy buộc chặt các năng lượng của linh hồn bạn vào nhiệm vụ ấy. Đừng sống trong hiện tại cũng đừng sống trong tương lai, mà hãy sống trong Vĩnh Cửu. Loài cỏ dại khổng lồ này không thể nở hoa ở đó: vết nhơ này trên sự tồn tại bị xóa sạch bởi chính bầu khí của tư tưởng vĩnh cửu.

C.W.L.—This is the remainder of Rule 4, the Chohan’s comment on the first three rules. The giant weed is the heresy of separateness—the idea of the separated self—which is truly the source of evil. We are directed to kill it out by stages. We are told first to unify the lower and the higher self, that is to say, to merge the personality in the individuality. For most of us the personal self is still so near that it tends to shut out the higher things. We have to work our way through that and gradually to transcend it, to get entirely rid of all selfishness. Then we have to begin upon the individuality.

C.W.L.—Đây là phần còn lại của Quy luật 4, lời bình của vị Chohan về ba quy luật đầu tiên. Loài cỏ dại khổng lồ là tà thuyết về sự phân ly—ý tưởng về cái ngã tách biệt—thật sự là nguồn gốc của điều ác. Chúng ta được chỉ dẫn tiêu diệt nó theo từng giai đoạn. Trước hết chúng ta được bảo phải hợp nhất phàm ngã và Chân Ngã, nghĩa là hòa nhập phàm nhân vào cá thể. Đối với phần lớn chúng ta, phàm ngã vẫn còn quá gần đến nỗi nó có khuynh hướng che khuất những điều cao hơn. Chúng ta phải mở đường xuyên qua nó và dần dần vượt lên trên nó, để hoàn toàn thoát khỏi mọi tính ích kỷ. Rồi chúng ta phải bắt đầu đối với cá thể.

Now, the individuality, the ego, is a very wonderful thing—complex, exceedingly beautiful and marvellously adapted to its surroundings, a glorious being indeed; yet eventually we must realize that even that is only an instrument that we have created by the working of many ages for the sake of the progress of the Monad. Because we have had to develop the idea of the separated self in the earlier stages of our progress, the giant weed; or the seed of it, is in the heart of everybody. That has to be killed out at one time or another, yet only the strong can tear it out from themselves at the beginning of their development. The weak must wait and let it go on growing while they are developing sufficient strength to kill it out. That is unfortunate for them, because the longer it is allowed to persist the more closely it becomes intertwined with the nature of the man. Those who can summon the courage to tear it out now will make rapid and much surer progress. Terrible as the struggle is to get rid of this separated self at any time, it will be thousands of times more difficult if we leave it until the later stages of our progress. Until it is finally destroyed we shall be subject to all kinds of difficulties and dangers from which we can escape only by getting rid of it here and now. Obviously, therefore, it is best to kill it out in the beginning.

Giờ đây, cá thể, chân ngã, là một điều rất kỳ diệu—phức tạp, hết sức đẹp đẽ và thích ứng một cách tuyệt diệu với môi trường chung quanh, thật sự là một hữu thể huy hoàng; tuy nhiên cuối cùng chúng ta phải nhận ra rằng ngay cả điều đó cũng chỉ là một khí cụ mà chúng ta đã tạo ra bằng công trình của nhiều thời đại vì sự tiến bộ của chân thần. Vì chúng ta đã phải phát triển ý tưởng về cái ngã tách biệt trong những giai đoạn đầu của sự tiến bộ, nên loài cỏ dại khổng lồ, hay hạt giống của nó, ở trong trái tim của mọi người. Điều đó phải bị tiêu diệt vào lúc này hay lúc khác, tuy nhiên chỉ người mạnh mới có thể xé nó ra khỏi chính mình ngay từ đầu sự phát triển của mình. Người yếu phải chờ và để nó tiếp tục lớn lên trong khi họ phát triển đủ sức mạnh để tiêu diệt nó. Điều đó bất lợi cho họ, vì nó càng được phép tồn tại lâu thì càng đan bện chặt hơn với bản chất của con người. Những ai có thể triệu hồi lòng can đảm để xé bật nó ra ngay bây giờ sẽ tiến bộ nhanh chóng và chắc chắn hơn nhiều. Dù cuộc đấu tranh để thoát khỏi cái ngã tách biệt này vào bất cứ lúc nào có khủng khiếp đến đâu, nó sẽ khó khăn hơn gấp ngàn lần nếu chúng ta để nó đến những giai đoạn sau của sự tiến bộ. Cho đến khi nó bị hủy diệt cuối cùng, chúng ta sẽ còn chịu đủ loại khó khăn và nguy hiểm mà chúng ta chỉ có thể thoát khỏi bằng cách loại bỏ nó ngay tại đây và ngay bây giờ. Vì vậy, rõ ràng tốt nhất là tiêu diệt nó ngay từ đầu.

All systems of occult teaching agree in advising students to try from the very beginning to get rid of this illusion. The difficulty in the way, apart from the habit of thinking of ourselves as separate, is that this idea has been the source of all our strength in the past. When the ego was first formed as an individual he was distinctly weak. He had been, until then, part of a group soul, and the idea of separate identity was not strong in him. It had to be intensified through the savage life. The man’s strength gradually grew from the feeling, “I am I”. In the earlier days it would be: “I am a great fighter and a swift runner; I am a mighty headsman; I can lead armies; I can guide men; I can make them do as I will.” Later on, it would express itself on a higher level as: “I have a mighty intellect; I can trust myself; I am proud of myself; I am a great man; I can think more strongly than other men and therefore I have power over their minds, and can sway them to do this or that.” It is through the sense of separateness that we have learnt to be self-reliant.

Tất cả các hệ thống giáo huấn huyền bí đều đồng ý khuyên đạo sinh cố gắng ngay từ đầu thoát khỏi ảo tưởng này. Khó khăn trên đường, ngoài thói quen nghĩ về mình như tách biệt, là ý tưởng này đã là nguồn gốc của toàn bộ sức mạnh chúng ta trong quá khứ. Khi chân ngã lần đầu được hình thành như một cá nhân, y rõ ràng còn yếu. Cho đến lúc ấy, y đã là một phần của Hồn nhóm, và ý tưởng về bản sắc tách biệt chưa mạnh trong y. Nó phải được tăng cường qua đời sống hoang dã. Sức mạnh của con người dần dần lớn lên từ cảm giác: “Ta là ta.” Trong những ngày đầu, nó sẽ là: “Ta là một chiến sĩ vĩ đại và một người chạy nhanh; ta là một thủ lĩnh hùng mạnh; ta có thể lãnh đạo quân đội; ta có thể hướng dẫn con người; ta có thể khiến họ làm theo ý ta.” Về sau, nó sẽ biểu lộ trên một cấp độ cao hơn như: “Ta có một trí năng hùng mạnh; ta có thể tin cậy chính mình; ta tự hào về chính mình; ta là một người vĩ đại; ta có thể suy nghĩ mạnh mẽ hơn người khác và vì vậy ta có quyền năng trên trí tuệ của họ, và có thể chi phối họ làm điều này hay điều kia.” Chính qua cảm thức phân ly mà chúng ta đã học được sự tự lực.

Later there comes a stage when self-reliance means reliance upon the Higher Self. The man no longer relies either on the skill of his hand, the fleetness of his foot and the strength of his muscles, or on his intellectual powers, but comes to realize that there is a strength of the spirit which is greater far than all these outer manifestations, and when this stage is reached he soon begins to see that the strength of his spirit is the strength of the infinite that lies behind it, because it is one with God Himself. Thus our self-reliance at last becomes reliance on Him—on the mighty Power behind. We are He, and in relying on God we are relying on ourselves, because each of us is a spark of the Divine, and the Godhead is in us. We only need to realize that and to unfold it, and then the self on which we rely becomes the great Self which is the All.

Về sau đến một giai đoạn khi tự lực có nghĩa là nương tựa vào Bản Ngã Cao Siêu. Con người không còn dựa vào kỹ năng của bàn tay, sự nhanh nhẹn của đôi chân và sức mạnh của cơ bắp, hay vào các quyền năng trí tuệ của mình, mà đi đến chỗ nhận ra rằng có một sức mạnh của tinh thần lớn hơn xa tất cả các biểu hiện bên ngoài ấy; và khi giai đoạn này đạt được, y sớm bắt đầu thấy rằng sức mạnh của tinh thần y là sức mạnh của cái vô hạn nằm sau nó, vì nó là một với chính Thượng đế. Như vậy, sự tự lực của chúng ta cuối cùng trở thành sự nương tựa vào Ngài—vào Quyền Năng hùng mạnh đằng sau. Chúng ta là Ngài, và khi nương tựa vào Thượng đế, chúng ta nương tựa vào chính mình, vì mỗi chúng ta là một tia lửa của Đấng Thiêng Liêng, và Thần tính ở trong chúng ta. Chúng ta chỉ cần nhận ra điều đó và khai mở nó, rồi cái ngã mà chúng ta nương tựa trở thành Chân Ngã vĩ đại vốn là Tất Cả.

This idea of the separated self is ingrained in us and is part of the very ego which is the one permanent thing about us as far as we know. We have still to learn that there is the Monad; that will seem the true Self when we have laid aside the individuality. Yet when that time comes we shall see far more clearly than we do now that those Monads are only sparks of the Eternal Flame. We know it now theoretically, and true realization of it will come to all in due course; it has come to some already. I have explained before that when the consciousness is focused in the highest part of the causal body it is possible to look up the line that joins the Monad and the ego. Looking up that line into the Monad of which we know so little, and beyond it, we can see and know with a definiteness and certainty that no words can express down here, that all we have thought of as the Self and as belonging to us, is not we, but He; that if we had any intellect, any devotion or affection, it was not we at all, but it was the intellect, the devotion, the love which is God, which was showing itself forth through us.24 When a man has had that experience he can never be quite the same again; he cannot come down again in the same way to the personal point of view, because he knows with the certainty that convinces. Some experience like that is needed to counteract the result of the development of the separated self which at present is a great trouble and causes us much sorrow and suffering by obscuring our view of Life. We are in this curious position that our self-development is due to the idea of separateness up to a certain point, and it is only when we have reached that point that it becomes an evil, and we have to get rid of it. Humanity has now reached a stage where it ought to be realizing that. That is why the duty of unselfishness is impressed upon us so strongly by all occult and high religious teaching. Humanity as a whole needs that. It is still in the selfish stage, trying to grasp this and that for itself. The whole of our strength must be turned against that tendency.

Ý tưởng về cái ngã tách biệt này đã ăn sâu trong chúng ta và là một phần của chính chân ngã, vốn là điều thường tồn duy nhất về chúng ta theo như chúng ta biết. Chúng ta vẫn còn phải học rằng có chân thần; điều đó sẽ có vẻ là Chân Ngã đích thực khi chúng ta đã đặt cá thể sang một bên. Tuy nhiên khi thời điểm ấy đến, chúng ta sẽ thấy rõ hơn nhiều so với hiện nay rằng các chân thần ấy chỉ là những tia lửa của Ngọn Lửa Vĩnh Cửu. Hiện nay chúng ta biết điều đó về mặt lý thuyết, và sự chứng nghiệm thực sự về nó sẽ đến với tất cả trong đúng kỳ hạn; nó đã đến với một số người rồi. Trước đây tôi đã giải thích rằng khi tâm thức tập trung ở phần cao nhất của thể nguyên nhân, có thể nhìn lên đường dây nối chân thần và chân ngã. Nhìn lên đường dây ấy vào chân thần, điều mà chúng ta biết rất ít, và vượt lên trên nó, chúng ta có thể thấy và biết với một sự xác định và chắc chắn mà không lời nào ở dưới đây có thể diễn tả, rằng tất cả những gì chúng ta đã nghĩ là Chân Ngã và thuộc về chúng ta, không phải là chúng ta, mà là Ngài; rằng nếu chúng ta có bất cứ trí năng nào, bất cứ sự sùng tín hay tình cảm nào, thì hoàn toàn không phải là chúng ta, mà là trí năng, sự sùng tín, tình thương vốn là Thượng đế, đang biểu lộ qua chúng ta.24 Khi một người đã có kinh nghiệm ấy, y không bao giờ có thể hoàn toàn như trước nữa; y không thể trở xuống theo cùng một cách vào quan điểm phàm ngã, vì y biết với sự chắc chắn có sức thuyết phục. Cần có một kinh nghiệm nào đó như vậy để chống lại kết quả của sự phát triển cái ngã tách biệt, hiện nay là một rắc rối lớn và gây cho chúng ta nhiều buồn đau và đau khổ bằng cách che mờ tầm nhìn của chúng ta về Sự Sống. Chúng ta ở trong vị thế kỳ lạ này: sự tự phát triển của chúng ta là do ý tưởng phân ly cho đến một mức nào đó, và chỉ khi chúng ta đạt đến mức ấy thì nó mới trở thành một điều ác, và chúng ta phải loại bỏ nó. Nhân loại hiện nay đã đạt đến một giai đoạn mà lẽ ra y phải nhận ra điều đó. Đó là lý do tại sao bổn phận vô ngã được tất cả giáo huấn huyền bí và tôn giáo cao cả nhấn mạnh mạnh mẽ đến thế. Nhân loại nói chung cần điều đó. Y vẫn còn ở trong giai đoạn ích kỷ, cố nắm lấy điều này điều kia cho chính mình. Toàn bộ sức mạnh của chúng ta phải được quay lại chống khuynh hướng ấy.

At the same time we must try to be very tolerant about it. We often feel impatient with the rampant, the brutal selfishness found everywhere, but that is useless. These unfortunate people are only carrying on now what was necessary for their development thousands of years ago. We should help them, if possible; we should always be gentle and tolerant, but very firm as to the necessity for getting rid of this point of view. Some of us find it helpful to try to realize the progress of humanity as a whole and to make a practice of thinking of ourselves as part of it. We try to act on the advice given by one of our Masters who once put it thus: “If you succeed in taking a step of some kind, if you succeed in making definite advancement, you should not think: ‘I have done this, I am really getting on’. The better way to put it is: ‘I am glad that this has happened, because humanity through me is just that much nearer to finding itself—that much nearer to the final goal which God means it to reach; humanity through me has taken this step, and the fact that it has done so means a very little advance for every other unit.” One may thus think of the whole of humanity, as a man thinks of the whole of his family, as a unit, from the baby to the old grandfather, and so considers the welfare of all.

Đồng thời chúng ta phải cố hết sức khoan dung về điều đó. Chúng ta thường cảm thấy mất kiên nhẫn với tính ích kỷ tràn lan, thô bạo được thấy khắp nơi, nhưng điều đó vô ích. Những người bất hạnh này hiện chỉ đang tiếp tục điều đã cần thiết cho sự phát triển của họ hàng ngàn năm trước. Chúng ta nên giúp họ, nếu có thể; chúng ta nên luôn dịu dàng và khoan dung, nhưng rất kiên quyết về sự cần thiết phải loại bỏ quan điểm này. Một số người trong chúng ta thấy hữu ích khi cố nhận ra sự tiến bộ của nhân loại như một toàn thể và thực hành nghĩ về mình như một phần của nó. Chúng ta cố làm theo lời khuyên do một trong các Chân sư của chúng ta đưa ra, Ngài từng nói như sau: “Nếu bạn thành công trong việc bước được một bước nào đó, nếu bạn thành công trong việc đạt được một sự tiến bộ rõ rệt, bạn không nên nghĩ: ‘Tôi đã làm điều này, tôi thật sự đang tiến lên.’ Cách tốt hơn để diễn đạt là: ‘Tôi vui vì điều này đã xảy ra, vì nhân loại qua tôi đã gần hơn chừng ấy với việc tìm thấy chính mình—gần hơn chừng ấy với mục tiêu cuối cùng mà Thượng đế muốn nhân loại đạt tới; nhân loại qua tôi đã bước bước này, và sự kiện nó đã làm như vậy có nghĩa là một tiến bộ rất nhỏ cho mọi đơn vị khác.’” Như vậy người ta có thể nghĩ về toàn thể nhân loại như một con người nghĩ về toàn thể gia đình mình, như một đơn vị, từ đứa bé đến ông nội già, và do đó quan tâm đến phúc lợi của tất cả.

We are told that we should live neither in the present nor the future, but in the Eternal. He who lives in the Eternal is the Logos, the Deity. He, living in the Eternal, sees the future as well as the present, sees the fulfilment of all these things. If we could raise ourselves up into His point of view we should be able to live in the Eternal as He does. That is not a thing that we can achieve to-day or to-morrow. We must fight our way towards it. A divine dissatisfaction is a necessity for our progress towards it. We must never be satisfied with the condition we have reached; that would at once mean stagnation. We must always aim at doing better and better, and by living in the future we shall learn how to do that.

Chúng ta được bảo rằng chúng ta không nên sống trong hiện tại cũng không sống trong tương lai, mà trong Vĩnh Cửu. Đấng sống trong Vĩnh Cửu là Thượng đế, là Đấng Thiêng Liêng. Ngài, sống trong Vĩnh Cửu, thấy tương lai cũng như hiện tại, thấy sự hoàn thành của tất cả những điều này. Nếu chúng ta có thể nâng mình lên quan điểm của Ngài, chúng ta sẽ có thể sống trong Vĩnh Cửu như Ngài. Đó không phải là điều chúng ta có thể đạt được hôm nay hay ngày mai. Chúng ta phải chiến đấu mở đường hướng về nó. Một sự bất mãn thiêng liêng là điều cần thiết cho sự tiến bộ của chúng ta hướng đến nó. Chúng ta không bao giờ được thỏa mãn với tình trạng mình đã đạt được; điều đó tức khắc có nghĩa là đình trệ. Chúng ta phải luôn nhắm đến việc làm tốt hơn và tốt hơn nữa, và bằng cách sống trong tương lai, chúng ta sẽ học cách làm điều đó.

At the same time, while we are always reaching forward, always striving upward, it is a mistake to allow ourselves to feel discontented or worried with regard to transitory happenings to the temporary condition of ourselves and others. It is wiser and better to project ourselves into the future and live in it. We should say: “I am at the moment such and such a person, with certain faults and failings. I am going to transcend these faults and failings. Let me look forward to the time when they will no longer exist.” It is a great thing to live for to-morrow and not for yesterday. The world at large is living for the centuries which lie behind it and is clinging to old prejudices. We should look forward to the future and live for that.

Đồng thời, trong khi chúng ta luôn vươn tới trước, luôn phấn đấu lên cao, thật sai lầm khi để mình cảm thấy bất mãn hay bận tâm đối với những biến cố nhất thời thuộc tình trạng tạm thời của chính mình và của người khác. Khôn ngoan hơn và tốt hơn là phóng chiếu chính mình vào tương lai và sống trong đó. Chúng ta nên nói: “Hiện lúc này tôi là một người như thế này như thế kia, với một số lỗi lầm và khiếm khuyết nào đó. Tôi sẽ vượt lên trên các lỗi lầm và khiếm khuyết này. Hãy để tôi hướng về thời điểm khi chúng sẽ không còn tồn tại.” Sống cho ngày mai chứ không cho hôm qua là một điều lớn lao. Thế gian nói chung đang sống cho những thế kỷ nằm sau nó và bám víu vào những thành kiến cũ. Chúng ta nên hướng về tương lai và sống cho điều đó.

Keep your thought hopefully on the future, not regretfully on the past. The present is very largely an illusion; so we are not really dissatisfied with what we are doing, but with what we have just done. If we want to get on we must keep our eyes in front of us. To look behind is not the way to make progress. If that course were persisted in on the physical plane we should not go far without meeting with an accident, and the same thing is true in these higher realms also. The more we think over it the clearer it becomes that in the three aphorisms we have just been examining, viz., “Kill out ambition, kill out desire of life, and kill out desire of comfort”, all that moves the ordinary man to exertion has been absolutely cut away.

Hãy giữ tư tưởng của bạn một cách đầy hy vọng nơi tương lai, chứ không hối tiếc nơi quá khứ. Hiện tại phần lớn là một ảo tưởng; vì vậy chúng ta không thực sự bất mãn với điều mình đang làm, mà với điều mình vừa làm. Nếu muốn tiến lên, chúng ta phải giữ mắt hướng về phía trước. Nhìn lại phía sau không phải là cách để tiến bộ. Nếu đường lối ấy được duy trì trên cõi hồng trần, chúng ta sẽ không đi xa mà không gặp tai nạn, và điều tương tự cũng đúng trong các cõi giới cao hơn này. Càng suy nghĩ về điều đó, chúng ta càng thấy rõ rằng trong ba châm ngôn chúng ta vừa xem xét, viz., “Hãy tiêu diệt tham vọng, hãy tiêu diệt ham muốn sự sống, và hãy tiêu diệt ham muốn tiện nghi”, tất cả những gì thúc đẩy người thường nỗ lực đều đã bị cắt bỏ hoàn toàn.

A man’s life is first of all directed by the desire to keep himself and his family alive, “to keep his head above water”; he has always the ambition of rising to higher levels; he wishes for greater comfort for himself and for his family. These are precisely the mainsprings which move the ordinary man, and it is obvious that if all of them should be absolutely removed from him, he would be left supine—he would be left without any reason to bestir himself at all; he would be like a log. He would say: “If I am not to have ambition of any sort, if I am to cease to desire either life or comfort, why should I do anything? Why should I move at all?” He would be left without any adequate motive for exertion of any kind, and all progress for him would be at an end. It is obvious that for him the killing out of these things would have a bad effect.

Đời sống của một người trước hết được dẫn dắt bởi ham muốn giữ cho bản thân và gia đình y sống còn, “giữ đầu mình khỏi chìm dưới nước”; y luôn có tham vọng vươn lên các cấp độ cao hơn; y mong muốn sự tiện nghi lớn hơn cho chính mình và cho gia đình mình. Đây chính là những động lực chủ yếu thúc đẩy người thường, và rõ ràng nếu tất cả chúng bị lấy đi hoàn toàn khỏi y, y sẽ bị bỏ lại trong trạng thái bất động—y sẽ bị bỏ lại không có lý do nào để động thân chút nào; y sẽ như một khúc gỗ. Y sẽ nói: “Nếu tôi không được có bất cứ loại tham vọng nào, nếu tôi phải ngừng ham muốn cả sự sống lẫn tiện nghi, tại sao tôi phải làm bất cứ điều gì? Tại sao tôi phải chuyển động chút nào?” Y sẽ bị bỏ lại không có động cơ thích đáng nào cho bất cứ loại nỗ lực nào, và mọi sự tiến bộ đối với y sẽ chấm dứt. Rõ ràng đối với y, việc tiêu diệt những điều này sẽ có một tác động xấu.

Even the man who is nearly ready to tread the Path, who has ceased to feel any interest in lower things, reaches a stage when there is danger of his falling into a state of inaction. Intellectually he is absolutely convinced that all these lower things are not worth pursuing, and because they have ceased to attract him he does not feel inclined to put forth energy in any direction. That is an experience which comes to nearly every one in the course of his evolution, and is a very real trouble to numbers of people. They have got rid of the lower and not taken on the higher. They are at a transition stage between the two; they have not sufficiently realized the unity for that to be the great motive power in life, but they have realized enough of it to know that the desires of the separated self are not worth following. So they remain in a condition of suspended animation. It is for some students a very great difficulty to rouse themselves out of this state. Nothing is worth while; nothing has any longer any interest for them. They want to die and be done with it.

Ngay cả người gần như đã sẵn sàng bước lên Đường Đạo, người đã không còn cảm thấy chút quan tâm nào đối với những sự vật thấp kém, cũng đạt đến một giai đoạn trong đó có nguy cơ y rơi vào trạng thái bất động. Về mặt trí tuệ, y hoàn toàn tin chắc rằng tất cả những sự vật thấp kém này không đáng theo đuổi; và vì chúng đã thôi không còn lôi cuốn y, nên y không cảm thấy có khuynh hướng vận dụng năng lực theo bất cứ hướng nào. Đó là một kinh nghiệm đến với gần như mọi người trong tiến trình tiến hoá của y, và là một khó khăn rất thực đối với nhiều người. Họ đã loại bỏ cái thấp mà chưa tiếp nhận cái cao. Họ đang ở một giai đoạn chuyển tiếp giữa hai bên; họ chưa chứng nghiệm đủ sự hợp nhất để điều đó trở thành động lực lớn lao trong đời sống, nhưng họ đã chứng nghiệm đủ để biết rằng những dục vọng của cái ngã tách biệt không đáng để noi theo. Vì vậy họ ở lại trong một tình trạng sống lơ lửng. Đối với một số đạo sinh, việc tự đánh thức mình ra khỏi trạng thái này là một khó khăn rất lớn. Không có gì đáng làm; không còn điều gì khiến họ quan tâm nữa. Họ muốn chết đi và chấm dứt mọi sự.

The only way for a man to get beyond that unsatisfactory condition is to go a little further, and then he will begin to see that there is a higher and truer life which is infinitely well worth the living. He will find that when he has glimpsed the divine scheme he wants to throw himself into it—he cannot do otherwise. In identifying himself with the One Life, and acting as part of that Life, he finds the one motive which can stir him to action. When he takes that one step further and begins to realize the Life of the Self, then instead of wanting to fall into annihilation and to be done with everything, he will long to possess more and more energy in order to throw it into this glorious work. The motive power of the One Self will stir him to far greater activity than ever before, because it is infinitely more powerful than any lower motive, and the man who works with it to fulfil the high purposes of the Deity will gain infinite happiness and infinite peace.

Con đường duy nhất để một người vượt qua tình trạng không thỏa đáng ấy là đi xa hơn một chút; rồi y sẽ bắt đầu thấy rằng có một đời sống cao hơn và chân thật hơn, vô cùng đáng để sống. Y sẽ nhận ra rằng khi đã thoáng thấy Thiên Cơ, y muốn ném mình vào đó — y không thể làm khác được. Khi đồng hoá mình với Sự Sống Duy Nhất, và hành động như một phần của Sự Sống ấy, y tìm thấy động cơ duy nhất có thể thúc đẩy y hành động. Khi y tiến thêm một bước nữa và bắt đầu chứng nghiệm Sự Sống của Bản Ngã, thì thay vì muốn rơi vào sự tiêu diệt và chấm dứt mọi sự, y sẽ khao khát có ngày càng nhiều năng lực hơn để dâng nó vào công trình huy hoàng này. Động lực của Bản Ngã Duy Nhất sẽ thúc đẩy y hoạt động mạnh mẽ hơn bao giờ hết, vì nó vô cùng mạnh hơn bất cứ động cơ thấp nào; và người nào làm việc với nó để hoàn thành các mục đích cao cả của Thượng đế sẽ đạt được hạnh phúc vô biên và an bình vô biên.

CHAPTER 5 — CHƯƠNG 5

RULES 5 TO 8 — CÁC QUY LUẬT 5 ĐẾN 8

5. Kill out all sense of separateness.

5. Hãy diệt trừ mọi ý thức về sự tách biệt.

Yet stand alone and isolated, because nothing that is embodied, nothing that is conscious of separation, nothing that is out of the Eternal, can aid you.

Tuy nhiên hãy đứng một mình và cô lập, vì không điều gì mang hình hài, không điều gì có ý thức về sự chia cách, không điều gì ở ngoài Vĩnh Cửu, có thể trợ giúp bạn.

A.B.—This teaching is specially given in this book, intended for the disciple, because he has to learn to stand utterly alone. Nothing that is embodied, that is out of the Eternal, can aid him. All help that comes from the embodied is secondary help and may fail him in the moment of his greatest need. The biographies of the great Christian mystics show it to have been an invariable characteristic of their lives that they felt forsaken by every one, and had to stand absolutely alone. The same truth comes out also in the Christian Gospels, which contain in the symbol of the life of Jesus an account of the experiences through which every soul must go in the stages of discipleship. There are there two scenes which are connected with this statement; the first is that which is spoken of as the agony of Jesus in the garden of Gethsemane, when He found that His friends and followers could not watch with Him even for a little time, and He learned that He must go on alone; the second was the cry from the cross: “My God, my God, why hast Thou forsaken me?” These experiences are connected with the fourth great Initiation, when the man is thrown back upon himself and learns to rest upon the inner Self alone, to realize that he himself is only an expression of the Eternal in the outer world. There is always a danger that in this last great test the disciple will break down.

A.B.—Giáo huấn này được nêu ra đặc biệt trong quyển sách này, dành cho đệ tử, vì y phải học cách đứng hoàn toàn một mình. Không điều gì mang hình hài, ở ngoài Vĩnh Cửu, có thể trợ giúp y. Mọi sự trợ giúp đến từ những gì mang hình hài đều là trợ giúp thứ yếu và có thể thất bại đối với y vào lúc y cần nhất. Tiểu sử của các nhà thần bí Kitô giáo vĩ đại cho thấy một đặc điểm bất biến trong đời sống của họ: họ cảm thấy bị mọi người bỏ rơi, và phải đứng tuyệt đối một mình. Cùng một chân lý ấy cũng hiện ra trong các Phúc Âm Kitô giáo, vốn chứa đựng, trong biểu tượng về đời sống của Đức Jesus, một tường thuật về những kinh nghiệm mà mỗi linh hồn phải trải qua trong các giai đoạn của địa vị đệ tử. Ở đó có hai cảnh liên hệ đến lời tuyên bố này; cảnh thứ nhất là điều được nói đến như cơn thống khổ của Đức Jesus trong vườn Gethsemane, khi Ngài nhận thấy rằng bạn hữu và môn đồ của Ngài không thể thức canh với Ngài dù chỉ một thời gian ngắn, và Ngài học biết rằng Ngài phải tiếp tục một mình; cảnh thứ hai là tiếng kêu từ thập giá: “Thượng đế của con, Thượng đế của con, sao Ngài bỏ con?” Những kinh nghiệm này liên hệ đến lần điểm đạo lớn thứ tư, khi con người bị ném trở lại vào chính mình và học cách nương tựa vào Bản Ngã bên trong mà thôi, để chứng nghiệm rằng chính y chỉ là một biểu hiện của Vĩnh Cửu trong thế giới bên ngoài. Luôn luôn có một nguy cơ rằng trong cuộc thử thách lớn cuối cùng này, đệ tử sẽ suy sụp.

A double task lies before the disciple. He must kill out the sense of separateness, but he must learn to stand alone in order that he may be strong with the strength of the divine within himself. He must be like a star in heaven, that gives light to all but takes it from none. He can learn that only from the experience of isolation. Yet the sense of isolation is illusory, for he is in the Eternal. The illusion is due to the breaking away of all the forms before the realization of unity—of being the Eternal—develops in the consciousness.

Một nhiệm vụ kép nằm trước mặt đệ tử. Y phải diệt trừ ý thức về sự tách biệt, nhưng y phải học cách đứng một mình để có thể mạnh mẽ bằng sức mạnh của thiêng liêng bên trong chính mình. Y phải giống như một ngôi sao trên trời, ban ánh sáng cho tất cả nhưng không nhận ánh sáng từ ai. Y chỉ có thể học điều đó từ kinh nghiệm cô lập. Tuy nhiên ý thức về sự cô lập là ảo tưởng, vì y ở trong Vĩnh Cửu. Ảo tưởng ấy phát sinh do sự tan vỡ của mọi hình tướng trước khi chứng nghiệm về sự hợp nhất — về việc là Vĩnh Cửu — phát triển trong tâm thức.

This aphorism with its comment also contains other important thoughts. There is a stage at which the aspirant must stand aside from the body of men, because of his weakness, not of his strength. Sometimes a man is so near the condition of other men around him, who still lead the lower life that he has left, that he feels that by keeping company with them he is likely to be- dragged down into their vices. At that time the sentiment of repulsion is useful; and although it does show that he is in a lower stage of development yet he will do well to follow it and avoid their company.

Câu châm ngôn này cùng với lời bình cũng chứa đựng những tư tưởng quan trọng khác. Có một giai đoạn trong đó người chí nguyện phải đứng tách ra khỏi tập thể con người, do sự yếu đuối của y chứ không phải do sức mạnh của y. Đôi khi một người ở quá gần tình trạng của những người khác chung quanh y, những người vẫn còn sống đời sống thấp mà y đã rời bỏ, đến nỗi y cảm thấy rằng nếu giao du với họ, y có thể bị kéo xuống những thói xấu của họ. Vào lúc ấy, cảm giác ghê sợ là hữu ích; và mặc dù nó cho thấy y đang ở một giai đoạn phát triển thấp hơn, y vẫn nên theo cảm giác đó và tránh sự giao du với họ.

When a man speaks with horror of a certain vice you may be sure that in the near past he has been in the grip of it. In the recent past there has been a fight against that vice, and his inner consciousness, from which nothing, disappears, now warns him against it. There is a stage when a man has risen higher, when he need not seek such isolation from those who are still sinning. But so long as that is not the case, so long as he is liable to fall into vice on account of an impulse from outside, a man’s safety lies in his running away from the temptation, until he is strong enough to go amidst that vice without being attracted by it. Only when a man has got beyond the power of falling into attraction by vice will he usually get over his horror and repulsion.

Khi một người nói với sự kinh hãi về một thói xấu nào đó, bạn có thể chắc rằng trong quá khứ gần, y đã từng nằm trong sự kềm kẹp của nó. Trong quá khứ gần đây đã có một cuộc chiến chống lại thói xấu ấy, và tâm thức bên trong của y, nơi không điều gì biến mất, giờ đây cảnh báo y chống lại nó. Có một giai đoạn khi con người đã vươn lên cao hơn, khi y không cần tìm sự cô lập như thế khỏi những người vẫn còn phạm tội. Nhưng chừng nào điều đó chưa xảy ra, chừng nào y còn có thể rơi vào thói xấu do một xung động từ bên ngoài, thì sự an toàn của con người nằm ở việc chạy trốn khỏi cám dỗ, cho đến khi y đủ mạnh để đi giữa thói xấu ấy mà không bị nó lôi cuốn. Chỉ khi một người đã vượt khỏi quyền năng rơi vào sự lôi cuốn của thói xấu, y thường mới vượt qua được sự kinh hãi và ghê sợ của mình.

Then he has come to the stage at which he ought to think of the sinner as in need of his help. The very thought of his own past faults will now enable him to help others. We cannot help them as long as we ourselves are liable to fall, but only when we are neither attracted nor repelled, when we recognize our identity with those who are struggling. We then remember that the sin of the world is our own sin-^-the profound truth that no man can be perfectly clean while another remains unclean. While a man remains part of humanity its life is his; to escape from that, he must go outside humanity. The vice of any man is our vice, until he also has got rid of it. Upon that truth the saving of the world entirely turns.

Bấy giờ y đã đến giai đoạn trong đó y phải nghĩ về người phạm tội như một người cần sự trợ giúp của mình. Chính tư tưởng về những lỗi lầm quá khứ của bản thân giờ đây sẽ giúp y có thể trợ giúp người khác. Chúng ta không thể giúp họ chừng nào chính chúng ta còn có thể sa ngã, mà chỉ khi chúng ta không bị lôi cuốn cũng không bị đẩy lùi, khi chúng ta nhận ra bản sắc của mình với những người đang đấu tranh. Khi ấy chúng ta nhớ rằng tội lỗi của thế gian là tội lỗi của chính chúng ta — chân lý sâu xa rằng không ai có thể hoàn toàn trong sạch trong khi một người khác vẫn còn ô uế. Chừng nào một người còn là một phần của nhân loại, thì sự sống của nhân loại là sự sống của y; để thoát khỏi điều đó, y phải đi ra ngoài nhân loại. Thói xấu của bất cứ người nào là thói xấu của chúng ta, cho đến khi y cũng đã loại bỏ nó. Toàn bộ việc cứu rỗi thế gian xoay quanh chân lý ấy.

That should be the thought of any disciple if he should find himself under special temptation. He should realize that he must not yield to the temptation, because in his fall there is a fall for the whole of humanity. Such knowledge ought to be sufficient to keep him from evil. Suppose you attempt to realize in consciousness the life of humanity, and then try to conquer a particular weakness; you will then feel that your own conquest is not a conquest for yourself, but for all. The whole of humanity is helped because one part of it has struggled and conquered. This idea will very often give you great strength. It is indeed worth while to struggle for the sake of the whole, if not for your own personal self.

Đó phải là tư tưởng của bất cứ đệ tử nào nếu y thấy mình ở dưới một cám dỗ đặc biệt. Y phải nhận ra rằng y không được nhượng bộ cám dỗ, vì trong sự sa ngã của y có sự sa ngã của toàn thể nhân loại. Tri thức như thế phải đủ để giữ y khỏi điều ác. Giả sử bạn cố gắng chứng nghiệm trong tâm thức sự sống của nhân loại, rồi cố gắng chiến thắng một yếu đuối riêng biệt; khi ấy bạn sẽ cảm thấy rằng chiến thắng của chính bạn không phải là chiến thắng cho bản thân bạn, mà cho tất cả. Toàn thể nhân loại được trợ giúp vì một phần của nó đã đấu tranh và chiến thắng. Ý tưởng này rất thường sẽ đem lại cho bạn sức mạnh lớn lao. Quả thật đáng để đấu tranh vì toàn thể, nếu không phải vì cái ngã cá nhân của riêng bạn.

C.W.L.—People sometimes make these instructions harder for themselves than they need be, and perhaps also a little unreal, by exaggerating them. We have to face the fact that there is separation down here on the physical plane. We may feel as completely fraternal as we can, but the fact nevertheless remains that in space our physical bodies are separate. Sometimes people want to deny that fact; they try to carry the idea of non-separate-ness to such a point as to make it unreasonable. That can never be right in occultism. Occult teaching is always the very essence of reasonableness and common sense, and whenever anything is put before us which is obviously unreasonable, we may feel sure there is a mistake somewhere. In some cases it may appear unreasonable because we are not in possession of all the facts, but when the facts are all before us and the statement still has an unreasonable appearance, we are justified in doubting it and waiting for further enlightenment.

C.W.L.—Đôi khi người ta làm cho những chỉ dẫn này trở nên khó khăn hơn mức cần thiết đối với chính họ, và có lẽ cũng hơi thiếu thực tế, bằng cách phóng đại chúng. Chúng ta phải đối diện với sự thật rằng có sự chia cách ở dưới này trên cõi hồng trần. Chúng ta có thể cảm thấy tình huynh đệ trọn vẹn đến mức có thể, nhưng sự thật vẫn còn đó: trong không gian, các thể xác của chúng ta tách biệt nhau. Đôi khi người ta muốn phủ nhận sự thật ấy; họ cố đưa ý tưởng về sự không-tách-biệt đến mức khiến nó trở nên phi lý. Điều đó không bao giờ có thể đúng trong huyền bí học. Giáo huấn huyền bí luôn luôn là tinh hoa của lý tính và lẽ thường; và bất cứ khi nào có điều gì được đặt trước chúng ta mà rõ ràng là phi lý, chúng ta có thể chắc rằng có một sai lầm ở đâu đó. Trong một số trường hợp, điều ấy có thể có vẻ phi lý vì chúng ta chưa nắm đủ mọi sự kiện; nhưng khi mọi sự kiện đều ở trước mặt chúng ta mà lời tuyên bố vẫn có vẻ phi lý, thì chúng ta có lý do để nghi ngờ nó và chờ đợi sự soi sáng thêm.

Though our physical bodies are separate in space there is really less separation than there appears to be. We all react upon one another to such an extent that no man can in any sense really live to himself alone. If one physical body has a certain disease, all the others near are liable to contract it. If the astral body is diseased in the sense of being, let us say, given to irritability, envy, jealousy, selfishness and so on, it is also infectious, because it radiates out its vibrations, and other astral bodies in the neighbourhood must be to some extent affected by such radiation. When, for example, people sit together at a meeting their astral bodies interpenetrate to a considerable degree, because the astral body of an ordinary person extends about eighteen inches around the physical body—in some cases still further—so that, although they are still quite separate, they must react considerably on one another. The same is true of the mental body, and even our causal bodies are separate in space and in condition. So we must understand this killing out of the sense of separateness in conformity with the facts of nature.

Dù các thể xác của chúng ta tách biệt trong không gian, thật ra có ít sự chia cách hơn vẻ ngoài cho thấy. Tất cả chúng ta tác động lên nhau đến mức không một người nào, theo bất cứ nghĩa nào, thật sự có thể sống chỉ cho riêng mình. Nếu một thể xác mắc một bệnh nào đó, tất cả những thể xác khác ở gần đều có khả năng nhiễm bệnh. Nếu thể cảm dục bị bệnh theo nghĩa, chẳng hạn, dễ cáu kỉnh, ganh tị, ghen tuông, ích kỷ, v.v., thì nó cũng truyền nhiễm, vì nó tỏa ra các rung động của nó, và những thể cảm dục khác trong vùng lân cận tất phải chịu ảnh hưởng phần nào bởi sự phóng xạ ấy. Chẳng hạn, khi người ta ngồi cùng nhau trong một buổi họp, các thể cảm dục của họ thâm nhập lẫn nhau ở mức đáng kể, vì thể cảm dục của một người bình thường mở rộng khoảng mười tám inch quanh thể xác — trong một số trường hợp còn xa hơn — cho nên, mặc dù họ vẫn còn hoàn toàn tách biệt, họ tất phải tác động đáng kể lên nhau. Điều tương tự cũng đúng với thể trí, và ngay cả các thể nguyên nhân của chúng ta cũng tách biệt trong không gian và trong tình trạng. Vì vậy chúng ta phải thấu hiểu việc diệt trừ ý thức về sự tách biệt này phù hợp với các sự kiện của tự nhiên.

There is no separateness on the buddhic plane. There consciousnesses do not necessarily merge instantly at the lowest level, but they gradually grow wider and wider until, when we reach the highest level of the buddhic plane, and have fully developed ourselves through all its different subdivisions, we find ourselves consciously one with humanity. That is the lowest level at which the separateness is absolutely non-existent; in its fullness the conscious unity with all belongs to the next plane—the nirvanic.

Không có sự tách biệt trên cõi Bồ đề. Ở đó, các tâm thức không nhất thiết hòa nhập tức khắc ở cấp độ thấp nhất, nhưng chúng dần dần mở rộng hơn mãi, cho đến khi chúng ta đạt đến cấp độ cao nhất của cõi Bồ đề, và đã phát triển trọn vẹn chính mình qua tất cả các phân khu khác nhau của nó, chúng ta thấy mình hữu thức là một với nhân loại. Đó là cấp độ thấp nhất nơi sự tách biệt tuyệt đối không tồn tại; trong sự viên mãn của nó, sự hợp nhất hữu thức với tất cả thuộc về cõi kế tiếp — cõi Niết Bàn.

Suppose that all of us could develop the buddhic consciousness within ourselves simultaneously. Each one would realize that he had risen to that level, and that his consciousness included that of all the others, but he would still feel that inclusive consciousness to be his consciousness. None of us would have lost his sense of individuality at all, only in it he would include very much more than he had ever done before. He would feel himself as manifesting through all these others as well. Really what we are experiencing is the one consciousness which includes us all, the consciousness of the Logos Himself.

Giả sử tất cả chúng ta có thể đồng thời phát triển tâm thức Bồ đề bên trong chính mình. Mỗi người sẽ nhận ra rằng y đã vươn lên cấp độ ấy, và rằng tâm thức của y bao gồm tâm thức của tất cả những người khác; nhưng y vẫn sẽ cảm thấy tâm thức bao gồm ấy là tâm thức của mình. Không ai trong chúng ta mất đi ý thức về cá tính của mình chút nào; chỉ là trong đó y bao gồm nhiều hơn rất nhiều so với trước kia. Y sẽ cảm thấy chính mình cũng đang biểu hiện qua tất cả những người khác ấy. Thật ra điều chúng ta đang kinh nghiệm là một tâm thức duy nhất bao gồm tất cả chúng ta, tâm thức của chính Đức Thượng đế.

It is on the nirvanic plane that we realize most intensely that all that we thought to be our consciousness, our intellect, our devotion, our love, were in reality His consciousness, His intellect, His love, His devotion, manifesting through us somewhat as a light might shine through a lens. That realization does not come fully to the man in the buddhic world, but it does so come to him in that next above.

Chính trên cõi Niết Bàn, chúng ta chứng nghiệm mãnh liệt nhất rằng tất cả những gì chúng ta tưởng là tâm thức của chúng ta, trí tuệ của chúng ta, lòng sùng tín của chúng ta, tình thương của chúng ta, thật ra là tâm thức của Ngài, trí tuệ của Ngài, tình thương của Ngài, lòng sùng tín của Ngài, biểu hiện qua chúng ta phần nào như ánh sáng chiếu qua một thấu kính. Sự chứng nghiệm ấy không đến trọn vẹn với con người trong thế giới Bồ đề, nhưng nó đến với y như thế ở cõi kế tiếp phía trên.

In the Stanzas of Dzyan it is said, referring to man; “The spark hangs from the Flame by the finest thread of Fohat.”25 That, I believe, is applicable at various levels; for us it may be taken to mean that the ego hangs from the Monad by the finest thread, and that thread runs through the buddhic plane. The finest thread of which you can think is all that represents the ordinary man at these buddhic levels. As soon as he turns his attention to higher matters—when he is regularly thinking of them and aiming at them—that thread begins to thicken. It gradually becomes more and more like a cable, and later on it appears as a funnel, because it widens out up above (I am speaking of it now as one would see it clairvoyantly), and comes down into the causal body, which is a thing of definite size for the time. Later on the causal body itself is enlarged by the inrushing of forces, and the funnel becomes very much larger, widening out at the bottom as well as the top. At the first Initiation (for many, this experience comes before that), the man abandons the causal body and plunges into the buddhic plane. At that time, as I have explained before, the causal body absolutely vanishes—the one thing that has seemed permanent through his long line of lives, since he left the animal kingdom, disappears.26 When that occurs this funnel shapes itself into a sphere. There are more dimensions there, so that I cannot actually describe it, but this is how it appears to one who is able to see it.

Trong Các Bài Kệ Dzyan có nói, khi đề cập đến con người: “Tia lửa treo từ Ngọn Lửa bằng sợi dây tinh vi nhất của Fohat.”25 Tôi tin rằng điều đó có thể áp dụng ở nhiều cấp độ khác nhau; đối với chúng ta, có thể hiểu rằng chân ngã treo từ chân thần bằng sợi dây tinh vi nhất, và sợi dây ấy chạy qua cõi Bồ đề. Sợi dây tinh vi nhất mà bạn có thể nghĩ đến là tất cả những gì đại diện cho con người bình thường ở các cấp độ Bồ đề này. Ngay khi y hướng sự chú ý đến những vấn đề cao hơn — khi y thường xuyên nghĩ về chúng và nhắm đến chúng — sợi dây ấy bắt đầu dày lên. Nó dần dần trở nên ngày càng giống một sợi cáp, và về sau nó hiện ra như một cái phễu, vì nó mở rộng ở phía trên (hiện tôi đang nói về nó như người ta sẽ thấy bằng thông nhãn), và đi xuống vào thể nguyên nhân, vốn là một sự vật có kích thước xác định trong thời gian ấy. Về sau chính thể nguyên nhân được mở rộng bởi các mãnh lực tuôn vào, và cái phễu trở nên lớn hơn rất nhiều, mở rộng ở phía dưới cũng như phía trên. Ở lần điểm đạo thứ nhất (đối với nhiều người, kinh nghiệm này đến trước đó), con người từ bỏ thể nguyên nhân và lao vào cõi Bồ đề. Vào lúc ấy, như tôi đã giải thích trước đây, thể nguyên nhân hoàn toàn biến mất — điều duy nhất từng có vẻ trường tồn qua chuỗi dài các kiếp sống của y, kể từ khi y rời giới động vật, biến mất.26 Khi điều đó xảy ra, cái phễu này tự định hình thành một khối cầu. Ở đó có nhiều chiều kích hơn, nên tôi không thể thật sự mô tả nó, nhưng đó là cách nó hiện ra đối với người có thể thấy nó.

After a man has taken the first Initiation the sense of separateness is one of the failings which have to be entirely conquered before he can take the second. It is the first of the ten sanyojana or fetters which he has to cast off on his way up the steps of the Path. It is made possible for ‘him finally and irrevocably to cast it off by the experience which is part of that first Initiation. He gets then merely a touch of the buddhic consciousness. It does not mean necessarily that he can go back into that condition of consciousness whenever he will, but at least he has experienced it, and having once felt the unity, he knows that it exists even though he may be incapable of re-entering it without the aid of the Master. He knows, therefore, that the sense of separateness is an illusion. It is practically impossible for us down here in the physical body to grasp that really. We constantly speak of it and we try to persuade ourselves that we feel it, but as long as one is in a physical body and until one has had that higher experience, frankly I do not think one can feel it. We persuade ourselves of it intellectually but really to feel it is a different thing.

Sau khi một người đã nhận lần điểm đạo thứ nhất, ý thức về sự tách biệt là một trong những khiếm khuyết phải được chinh phục hoàn toàn trước khi y có thể nhận lần điểm đạo thứ hai. Nó là xiềng xích đầu tiên trong mười sanyojana hay những trói buộc mà y phải tháo bỏ trên đường đi lên các bậc của Đường Đạo. Việc cuối cùng và không thể đảo ngược tháo bỏ nó trở nên khả hữu cho y nhờ kinh nghiệm vốn là một phần của lần điểm đạo thứ nhất ấy. Khi ấy y chỉ nhận được một thoáng chạm vào tâm thức Bồ đề. Điều đó không nhất thiết có nghĩa là y có thể trở lại tình trạng tâm thức ấy bất cứ khi nào y muốn, nhưng ít nhất y đã kinh nghiệm nó; và một khi đã cảm nhận sự hợp nhất, y biết rằng nó hiện hữu, dù y có thể không đủ khả năng tái nhập nó nếu không có sự trợ giúp của Chân sư. Do đó y biết rằng ý thức về sự tách biệt là một ảo tưởng. Đối với chúng ta ở dưới này trong thể xác, gần như không thể thật sự nắm bắt được điều đó. Chúng ta thường xuyên nói về nó và cố thuyết phục mình rằng chúng ta cảm nhận được nó; nhưng chừng nào người ta còn ở trong thể xác, và cho đến khi người ta đã có kinh nghiệm cao hơn ấy, thành thật mà nói, tôi không nghĩ người ta có thể cảm nhận được nó. Chúng ta thuyết phục mình về nó bằng trí tuệ, nhưng thật sự cảm nhận nó là một điều khác.

When a man begins to function on the buddhic plane, he enters it at its lowest level, but he is unable at first to make the most even of that lowest sub-plane. He will feel an intensity of bliss which no words can express, and an extension of consciousness which by contrast with anything which he has ever felt before, will no doubt give the idea that the whole world is included. Nevertheless it is not so at all. When he is sufficiently accustomed to this higher level to analyze it, he will find that the extension of consciousness, though a very great one, is by no means as yet full or universal. Gradually he extends the sphere which he can effectively occupy. It is somewhat like the way in which an army occupies a conquered territory. He establishes himself first, and then gradually extends that part over which he has definite power, until it includes the entire country. He then proceeds to try to push his consciousness into the next sub-plane; but even after he has worked his way through sub-plane after sub-plane until he reaches the highest, he has not necessarily built the buddhic vehicle. The man who has the buddhic consciousness within his reach by meditation or by effort can always raise himself into that condition. The man who has definitely built a buddhic vehicle has that consciousness all the time in the background of his lower physical, astral or mental consciousness. That is another and separate achievement and a difficult one, because to do that the causal body must be eliminated, must be destroyed as a separating wall.

Khi một người bắt đầu hoạt động trên cõi Bồ đề, y đi vào đó ở cấp độ thấp nhất, nhưng lúc đầu y chưa thể tận dụng ngay cả cõi phụ thấp nhất ấy. Y sẽ cảm thấy một cường độ chí phúc mà không lời nào có thể diễn tả, và một sự mở rộng tâm thức mà, khi so với bất cứ điều gì y từng cảm thấy trước đó, chắc chắn sẽ gợi ý tưởng rằng toàn thế giới được bao gồm. Tuy nhiên hoàn toàn không phải như vậy. Khi y đã đủ quen với cấp độ cao hơn này để phân tích nó, y sẽ thấy rằng sự mở rộng tâm thức, dù rất lớn, vẫn chưa hề trọn vẹn hay phổ quát. Dần dần y mở rộng khối cầu mà y có thể chiếm giữ một cách hiệu quả. Nó phần nào giống như cách một đội quân chiếm đóng một lãnh thổ đã chinh phục. Trước hết y thiết lập chính mình, rồi dần dần mở rộng phần mà y có quyền năng xác định trên đó, cho đến khi nó bao gồm toàn bộ xứ sở. Rồi y tiếp tục cố đẩy tâm thức của mình vào cõi phụ kế tiếp; nhưng ngay cả sau khi y đã vượt qua hết cõi phụ này đến cõi phụ khác cho đến khi đạt tới cõi cao nhất, y chưa nhất thiết đã xây dựng được vận cụ Bồ đề. Người có tâm thức Bồ đề trong tầm với nhờ tham thiền hoặc nỗ lực luôn luôn có thể nâng mình lên tình trạng ấy. Người đã xây dựng xác định một vận cụ Bồ đề thì luôn luôn có tâm thức ấy ở hậu cảnh của tâm thức hồng trần, cảm dục hoặc trí tuệ thấp hơn của y. Đó là một thành tựu khác và riêng biệt, và là một thành tựu khó khăn, vì để làm điều đó, thể nguyên nhân phải bị loại bỏ, phải bị phá hủy như một bức tường chia cách.

One whose consciousness works on the buddhic plane during meditation finds that although he is one with all the wonderful consciousness of the plane, yet there is a little circle of emptiness shutting him out from the rest. This little barrier is, of course, the causal body. In order that the buddhic vehicle shall be developed, even that must disappear. Then the man feels the reality of unobstructed Life in a way impossible to describe down here. Madame Blavatsky expressed the idea as a circle with its centre everywhere and its circumference nowhere—a very beautiful and expressive description.27 Of course it is a paradox, but all things that can be said about these higher conditions must necessarily be paradoxical.

Người có tâm thức hoạt động trên cõi Bồ đề trong khi tham thiền nhận thấy rằng mặc dù y là một với toàn thể tâm thức kỳ diệu của cõi ấy, vẫn có một vòng tròn nhỏ rỗng không ngăn y khỏi phần còn lại. Rào chắn nhỏ này, dĩ nhiên, là thể nguyên nhân. Để vận cụ Bồ đề được phát triển, ngay cả điều đó cũng phải biến mất. Khi ấy con người cảm thấy thực tại của Sự Sống không bị ngăn trở theo một cách không thể mô tả ở dưới này. Bà Blavatsky diễn đạt ý tưởng ấy như một vòng tròn có tâm ở khắp nơi và chu vi không ở đâu cả — một mô tả rất đẹp và biểu cảm.27 Dĩ nhiên đó là một nghịch lý, nhưng tất cả những gì có thể nói về các tình trạng cao hơn này tất yếu phải là nghịch lý.

When the unity is fully realized the man feels, however paradoxical it may sound, as though his vehicle at that level filled the whole of the plane, as though he could transfer his point of consciousness to any place within that plane and still be the centre of the circle. It is an experience which is quite indescribable. Along with that feeling, permeating and accompanying it always, is a sense of the most intense bliss—bliss of which we can have no conception at all on these lower planes—something vivid, active, fiery beyond all imagination. Most bliss down here, at the rare moments when we feel anything deserving of the name, consists chiefly in the absence of pain. We are happy and blissful down here when, for a moment, we are free from fatigue and pain, when we can relax and feel that we are taking in pleasant influences. That is rather a negative feeling. The bliss of the buddhic plane is the most intensely active, vivid feeling. I do not know in the least how to express it. If you could imagine the most intense activity that you have ever felt and then replace that vivid and strenuous activity by a feeling of bliss, then somehow raise it—spiritualize it—to an altogether higher plane, to the nth power, it would convey some idea of what that feeling is.

Khi sự hợp nhất được chứng nghiệm trọn vẹn, con người cảm thấy, dù nghe có vẻ nghịch lý, như thể vận cụ của y ở cấp độ ấy lấp đầy toàn bộ cõi, như thể y có thể chuyển điểm tâm thức của mình đến bất cứ nơi nào trong cõi ấy mà vẫn là tâm của vòng tròn. Đó là một kinh nghiệm hoàn toàn không thể mô tả. Cùng với cảm giác ấy, luôn thấm nhuần và đi kèm với nó, là một ý thức về chí phúc mãnh liệt nhất — chí phúc mà chúng ta không thể có chút quan niệm nào trên các cõi thấp này — một điều gì sống động, chủ động, rực lửa vượt quá mọi tưởng tượng. Phần lớn hạnh phúc dưới này, trong những khoảnh khắc hiếm hoi khi chúng ta cảm thấy điều gì xứng đáng với tên gọi ấy, chủ yếu gồm ở sự vắng mặt của đau đớn. Chúng ta hạnh phúc và chí phúc dưới này khi, trong một khoảnh khắc, chúng ta thoát khỏi mệt mỏi và đau đớn, khi chúng ta có thể thư giãn và cảm thấy rằng mình đang tiếp nhận những ảnh hưởng dễ chịu. Đó là một cảm giác khá tiêu cực. Chí phúc của cõi Bồ đề là cảm giác chủ động và sống động mãnh liệt nhất. Tôi hoàn toàn không biết cách diễn đạt nó. Nếu bạn có thể tưởng tượng hoạt động mãnh liệt nhất mà bạn từng cảm thấy, rồi thay thế hoạt động sống động và mạnh mẽ ấy bằng một cảm giác chí phúc, rồi bằng cách nào đó nâng nó lên — tinh thần hoá nó — đến một cõi hoàn toàn cao hơn, đến lũy thừa n, thì điều đó sẽ truyền đạt phần nào ý niệm về cảm giác ấy.

It is an active reality which is quite overpowering in its strength. There is nothing at all passive about it; one is not resting. Down here we live lives of so much strain and strenuousness that rest is always a very prominent part of any ideal we may have; but there it is not in the least a feeling that one is resting or wanting to rest. One is a tremendous incarnate energy whose expression is to pour itself forth, and the idea of rest or the need of rest is entirely outside one’s consciousness. What to us here seems rest would seem a kind of negation up there. We have become one with the expression of the divine power, and that divine power is active life. People talk of the rest of nirvana—but that is from the lower point of view. It is the intensity of power that is the real characteristic of this higher life—a power so intense that it does not show itself in any sort of ordinary movement at all, but rather in one vast resistless sweep which might look like rest when viewed from below, but which means the consciousness of absolute power. It is impossible to express all this in words. When we have achieved this we have finally conquered the giant weed—the great enemy, the sense of separateness. It is the hardest task, on the whole, that is before us, because it involves everything else.

Đó là một thực tại chủ động, hoàn toàn áp đảo trong sức mạnh của nó. Không có gì thụ động trong đó cả; người ta không nghỉ ngơi. Ở dưới này chúng ta sống những đời sống đầy căng thẳng và nỗ lực đến nỗi nghỉ ngơi luôn là một phần rất nổi bật trong bất cứ lý tưởng nào chúng ta có thể có; nhưng ở đó hoàn toàn không có cảm giác rằng người ta đang nghỉ ngơi hay muốn nghỉ ngơi. Người ta là một năng lượng nhập thể khổng lồ, mà sự biểu lộ của nó là tuôn đổ chính mình ra ngoài, và ý tưởng về nghỉ ngơi hay nhu cầu nghỉ ngơi hoàn toàn nằm ngoài tâm thức của người ta. Điều mà đối với chúng ta ở đây có vẻ là nghỉ ngơi, ở trên kia sẽ có vẻ như một loại phủ định. Chúng ta đã trở thành một với biểu hiện của quyền năng thiêng liêng, và quyền năng thiêng liêng ấy là sự sống chủ động. Người ta nói về sự nghỉ ngơi của Niết Bàn — nhưng đó là từ quan điểm thấp hơn. Chính cường độ của quyền năng mới là đặc tính thật sự của đời sống cao hơn này — một quyền năng mãnh liệt đến nỗi nó không biểu hiện trong bất cứ loại chuyển động thông thường nào, mà đúng hơn trong một dòng quét bao la không thể cưỡng lại, có thể trông giống như nghỉ ngơi khi nhìn từ bên dưới, nhưng có nghĩa là tâm thức về quyền năng tuyệt đối. Không thể diễn đạt tất cả điều này bằng lời. Khi chúng ta đạt được điều này, chúng ta đã cuối cùng chinh phục cỏ dại khổng lồ — kẻ thù lớn, ý thức về sự tách biệt. Xét toàn thể, đó là nhiệm vụ khó khăn nhất ở trước mặt chúng ta, vì nó bao hàm mọi điều khác.

It is only after the buddhic body is fully developed on all the seven sub-planes that the man has the full fruition of the whole plane, a complete power of identification with the whole of humanity, so that he can learn through that relation what all these people think and feel. Before that buddhic consciousness is gained we may labour to reduce the sense of separateness and it may be done with great success intellectually, but we still remain outside, in the sense of not understanding others. They will still be an absolute mystery, for man is the greatest of mysteries to his fellow-man. We may come into very close relations with people for quite a long time, and yet not really know them inside. It may be that until the buddhic level is reached no man ever really knows any other man thoroughly.28 When a man reaches that condition he is able to pour himself down into the consciousness of others and see what they do and why they act in that particular way. There all things are within him instead of outside, and he studies them as parts of himself. It sounds impossible down here, but that is something of what he feels. All the joy of the world is his joy; its suffering is his suffering. When he chooses to put himself down through any one of the million tentacles—the consciousnesses of other people with which he is one—then he can and does experience all which that person is experiencing. In this way all the world’s suffering is within his reach, but he knows with absolute certainty that it is a necessary part of the plan and has no existence on those higher levels. He is in no way less sympathetic with it, yet he knows that “Brahman is Bliss”, and that to be one with the divine is a state of perpetual inner joy. It is only when one gains that development that one can fully help others.

Chỉ sau khi thể Bồ đề được phát triển trọn vẹn trên tất cả bảy cõi phụ, con người mới có sự thành tựu viên mãn của toàn bộ cõi, một quyền năng hoàn chỉnh để đồng hoá với toàn thể nhân loại, để nhờ mối liên hệ ấy y có thể biết tất cả những người này nghĩ gì và cảm thấy gì. Trước khi đạt được tâm thức Bồ đề ấy, chúng ta có thể cố gắng làm giảm ý thức về sự tách biệt, và điều đó có thể được thực hiện rất thành công về mặt trí tuệ, nhưng chúng ta vẫn ở bên ngoài, theo nghĩa là không thấu hiểu người khác. Họ vẫn sẽ là một bí ẩn tuyệt đối, vì con người là điều bí ẩn lớn nhất đối với đồng loại của mình. Chúng ta có thể đi vào những quan hệ rất gần gũi với người khác trong một thời gian khá dài, vậy mà vẫn không thật sự biết họ ở bên trong. Có thể cho đến khi đạt tới cấp độ Bồ đề, không một người nào thật sự biết thấu đáo bất cứ người nào khác.28 Khi một người đạt tới tình trạng ấy, y có thể đổ mình xuống vào tâm thức của người khác và thấy họ làm gì và tại sao họ hành động theo cách đặc biệt ấy. Ở đó, mọi sự đều ở bên trong y thay vì ở bên ngoài, và y nghiên cứu chúng như những phần của chính mình. Điều đó nghe có vẻ không thể dưới này, nhưng đó phần nào là điều y cảm thấy. Toàn bộ niềm vui của thế gian là niềm vui của y; nỗi khổ của nó là nỗi khổ của y. Khi y chọn đặt mình xuống qua bất cứ một trong hàng triệu xúc tu nào — tức các tâm thức của những người khác mà y là một với họ — thì y có thể và thật sự kinh nghiệm tất cả những gì người ấy đang kinh nghiệm. Theo cách này, toàn bộ nỗi khổ của thế gian nằm trong tầm với của y, nhưng y biết với sự chắc chắn tuyệt đối rằng nó là một phần cần thiết của Thiên Cơ và không có hiện hữu trên các cấp độ cao hơn ấy. Y không hề kém cảm thông với nó, nhưng y biết rằng “Brahman là Chí Phúc”, và rằng là một với thiêng liêng là một trạng thái hoan hỉ nội tâm thường hằng. Chỉ khi người ta đạt được sự phát triển ấy, người ta mới có thể trợ giúp người khác một cách trọn vẹn.

When a man touches that consciousness he has for a time withdrawn from these lower physical levels where he can be perturbed or upset, and he is himself part of the divine joy. When he comes back again into his mental, astral and physical bodies he may permit little troubles to annoy him. This ought not to be so; but still there is a great gap between the higher life and that lived in the physical body, where small things can still be very irritating. The possibility of being momentarily annoyed by something on the physical plane remains even when a very high level has been reached, but it is then merely superficial. The things from which people really suffer in this world are those which they feel to be hopeless. No one can ever have any feeling of hopelessness after he has touched that higher consciousness, because when we are absolutely certain that the reality is always joy, we know that all suffering at lower levels is only temporary, and that even that would not come to us if we were nearer to perfection.

Khi một người chạm đến tâm thức ấy, trong một thời gian y đã rút khỏi các cấp độ hồng trần thấp này, nơi y có thể bị xáo động hay bối rối, và chính y là một phần của sự hoan hỉ thiêng liêng. Khi y trở lại vào các thể trí, cảm dục và hồng trần của mình, y có thể cho phép những phiền nhiễu nhỏ làm mình khó chịu. Điều này không nên xảy ra; nhưng vẫn có một khoảng cách lớn giữa đời sống cao hơn và đời sống được sống trong thể xác, nơi những điều nhỏ nhặt vẫn có thể rất gây bực bội. Khả năng bị khó chịu trong chốc lát bởi điều gì đó trên cõi hồng trần vẫn còn ngay cả khi đã đạt tới một cấp độ rất cao, nhưng khi ấy nó chỉ là bề mặt. Những điều mà người ta thật sự đau khổ trong thế giới này là những điều họ cảm thấy là vô vọng. Không ai có thể còn bất cứ cảm giác vô vọng nào sau khi y đã chạm đến tâm thức cao hơn ấy, vì khi chúng ta tuyệt đối chắc chắn rằng thực tại luôn luôn là hoan hỉ, chúng ta biết rằng mọi đau khổ ở các cấp độ thấp chỉ là tạm thời, và ngay cả điều đó cũng sẽ không đến với chúng ta nếu chúng ta gần với sự hoàn thiện hơn.

The power of identification is gained not only with regard to the consciousness of people but with regard to everything else on the buddhic plane. Everything is learnt from the inside instead of from the outside. If we wish to study any subject, any organism, the working of any law of nature—it does not matter what—up to and including the consciousness of the causal body we have to study it from without, looking out at it. In the causal body we are able to examine it with an enormously widened’ consciousness, with the power of knowing vastly more about it than we could possibly know on lower planes. But when we get to the buddhic plane the difference is a fundamental difference. That which we are examining has become part of ourselves. We examine it as a kind of symptom in ourselves. It is difficult to put into words because down here we have nothing exactly like it, but this looking at things from within instead of from without does give one a very great advantage. It is so different in its characteristics that we are probably justified in saying that that is the first glimpse we get of the way in which the Deity looks at His universe, because He must have exactly that experience—that that at which He looks must be part of Himself because there is nothing which is not part of Him. Therefore His consciousness must be this buddhic consciousness raised to the power, and with all the insight and glory and splendour of which we can have no idea on any plane as yet. One can understand very clearly why that world is spoken of as the real, and all these lower ones as the unreal, because the difference is so great and the attitude is so entirely changed that any other way of looking at things does seem unreal, even ridiculous when once one has learned to see them from the inside.

Quyền năng đồng hoá đạt được không chỉ đối với tâm thức của con người mà còn đối với mọi thứ khác trên cõi Bồ đề. Mọi sự được học từ bên trong thay vì từ bên ngoài. Nếu chúng ta muốn nghiên cứu bất cứ đề tài nào, bất cứ cơ cấu sinh vật nào, sự vận hành của bất cứ định luật nào của tự nhiên — không quan trọng là gì — cho đến và bao gồm cả tâm thức của thể nguyên nhân, chúng ta phải nghiên cứu nó từ bên ngoài, nhìn ra nó. Trong thể nguyên nhân, chúng ta có thể khảo sát nó bằng một tâm thức được mở rộng vô cùng, với quyền năng biết về nó nhiều hơn bao la so với điều chúng ta có thể biết trên các cõi thấp. Nhưng khi chúng ta đạt đến cõi Bồ đề, sự khác biệt là một khác biệt căn bản. Điều chúng ta đang khảo sát đã trở thành một phần của chính chúng ta. Chúng ta khảo sát nó như một loại triệu chứng trong chính mình. Thật khó diễn đạt bằng lời, vì dưới này chúng ta không có gì hoàn toàn giống như thế; nhưng việc nhìn các sự vật từ bên trong thay vì từ bên ngoài quả thật đem lại cho người ta một lợi thế rất lớn. Nó khác biệt trong các đặc tính của nó đến nỗi có lẽ chúng ta có lý khi nói rằng đó là cái nhìn thoáng đầu tiên chúng ta có được về cách Thượng đế nhìn vũ trụ của Ngài, vì Ngài hẳn phải có chính kinh nghiệm ấy — rằng điều Ngài nhìn phải là một phần của chính Ngài, vì không có gì không phải là một phần của Ngài. Do đó tâm thức của Ngài hẳn phải là tâm thức Bồ đề này được nâng lên lũy thừa, cùng với tất cả minh kiến, vinh quang và huy hoàng mà chúng ta chưa thể có ý niệm trên bất cứ cõi nào. Người ta có thể hiểu rất rõ vì sao thế giới ấy được gọi là thực tại, còn tất cả các thế giới thấp này là không thực, vì sự khác biệt quá lớn và thái độ hoàn toàn thay đổi đến nỗi bất cứ cách nhìn nào khác về sự vật đều có vẻ không thực, thậm chí lố bịch, một khi người ta đã học nhìn chúng từ bên trong.

It is not so utterly impossible as many students think to attain to that higher sight. A reasonable number of people have succeeded in this incarnation, here and now, in gaining it. It is certainly within reach of those who will try hard enough, if they are willing to follow the rules—willing to adopt the utter selflessness which is required, because so long as there is anything personal in the disciple’s point of view he cannot make any progress with this buddhic consciousness, which depends on the suppression of the personality.

Việc đạt tới thị kiến cao hơn ấy không hoàn toàn bất khả như nhiều đạo sinh nghĩ. Một số người khá đáng kể đã thành công trong kiếp sống này, tại đây và hiện nay, trong việc đạt được nó. Chắc chắn nó nằm trong tầm với của những ai sẽ cố gắng đủ mạnh, nếu họ sẵn lòng tuân theo các quy luật — sẵn lòng chấp nhận sự vô ngã tuyệt đối vốn được đòi hỏi, vì chừng nào còn bất cứ điều gì cá nhân trong quan điểm của đệ tử, y không thể tiến bộ với tâm thức Bồ đề này, vốn tùy thuộc vào sự chế ngự phàm ngã.

The idea of separateness shows itself in certain ways in daily life, and it is well to watch against those manifestations. One way in which people show it very much is by their desire for power over other separated selves. One half of the world is everlastingly trying to interfere with the other half. This habit is so ingrained in us that we do not notice it; we usually regard it in the light of good advice. About one case in two thousand may happen to be that, but in most of the others we are simply asserting our separated self by endeavouring to impress ourselves upon the other people.

Ý tưởng về sự tách biệt biểu hiện theo những cách nhất định trong đời sống hằng ngày, và tốt nhất là nên canh chừng các biểu hiện ấy. Một cách mà người ta biểu hiện nó rất nhiều là qua ham muốn quyền lực trên các ngã tách biệt khác. Một nửa thế giới mãi mãi cố can thiệp vào nửa kia. Thói quen này ăn sâu trong chúng ta đến nỗi chúng ta không nhận ra nó; chúng ta thường xem nó dưới ánh sáng của lời khuyên tốt. Có lẽ một trường hợp trong hai nghìn có thể đúng là như vậy, nhưng trong hầu hết các trường hợp khác, chúng ta chỉ đang khẳng định cái ngã tách biệt của mình bằng cách cố gây ấn tượng về chính mình lên người khác.

Physically, we try to make other people do things our way and to give way to us; we are perpetually trying to get them to adopt our particular plan, whatever it may be. Because it is ours it is the best plan in the world and we want to force it upon every one else. We find the same thing at the intellectual level. People try constantly to force their opinions and their ideas upon others. When a man has developed a keen intellect he begins subtly, slowly, to want to dominate other people by means of that intellect. Just because his thought becomes keener and stronger than that of others he tries to mould their thought by his. It is well and good that we should want to share with others all that we know; that we should set before them what we have found so good for ourselves. But as a rule that is not the idea which exists behind this desire to dominate other minds. It usually co-exists with a certain amount of contempt for the other people. We think: “These people are like sheep; we can sweep them along; we can make them think what we like.” It is to a large extent true that a man who has learned to think, as we should be learning by meditation and study, can dominate the thoughts of others very easily; but we should not do it, because anything like domination is bad for the other man’s evolution and not good for our own. So even this desire for intellectual domination must be resisted. It is part of the vice of separateness.

Về mặt hồng trần, chúng ta cố khiến người khác làm mọi việc theo cách của chúng ta và nhượng bộ chúng ta; chúng ta không ngừng cố làm cho họ chấp nhận kế hoạch riêng của mình, bất kể nó là gì. Vì đó là của chúng ta nên nó là kế hoạch tốt nhất trên đời, và chúng ta muốn ép nó lên mọi người khác. Chúng ta thấy cùng một điều ở cấp độ trí tuệ. Người ta không ngừng cố ép ý kiến và ý tưởng của mình lên người khác. Khi một người đã phát triển một trí tuệ sắc bén, y bắt đầu, một cách tinh vi và chậm rãi, muốn thống trị người khác bằng trí tuệ ấy. Chỉ vì tư tưởng của y trở nên sắc bén và mạnh mẽ hơn tư tưởng của người khác, y cố uốn nắn tư tưởng của họ bằng tư tưởng của mình. Việc chúng ta muốn chia sẻ với người khác tất cả những gì mình biết là tốt và đúng; việc chúng ta đặt trước họ những gì mình đã thấy là tốt đẹp cho chính mình cũng là tốt và đúng. Nhưng thông thường đó không phải là ý tưởng nằm sau ham muốn thống trị các thể trí khác này. Nó thường cùng tồn tại với một mức độ khinh thường nào đó đối với người khác. Chúng ta nghĩ: “Những người này giống như cừu; chúng ta có thể cuốn họ đi; chúng ta có thể khiến họ nghĩ điều mình thích.” Ở mức độ lớn, đúng là một người đã học cách suy nghĩ, như chúng ta phải học bằng tham thiền và nghiên cứu, có thể thống trị tư tưởng của người khác rất dễ dàng; nhưng chúng ta không nên làm như vậy, vì bất cứ điều gì giống như sự thống trị đều xấu cho tiến hoá của người kia và không tốt cho chính chúng ta. Vì vậy ngay cả ham muốn thống trị trí tuệ này cũng phải được chống lại. Nó là một phần của thói xấu tách biệt.

When we have got rid of that there is still a higher possibility along that line—in the realm of the spiritual we may also try to make people take our path. That is at the back of all endeavour to convert people from one religion to another. It is perhaps not quite fair to put it in that way, because Christianity at least starts with the gigantic delusion that unless people believe its particular shibboleths they will have a very unpleasant hereafter, therefore its attempt to convert others comes to have the colour of altruism. It assumes: “Orthodoxy is my doxy and heterodoxy is your doxy,” and: “What I believe is true and you must come into line with it.” When we have developed spirituality, when we have learned many things that others do not know, it is right and proper that we should preach our gospel, that we should wish to tell others what we have found and give them every opportunity to follow us into these realms of higher thought; but if that wish is tinged with a desire to dominate them—a desire that is often found along with many good qualities—there is still a touch of the old separated self about it, and the “giant weed” is not finally uprooted.

Khi chúng ta đã loại bỏ điều đó, vẫn còn một khả năng cao hơn theo cùng đường lối ấy — trong lĩnh vực tinh thần, chúng ta cũng có thể cố khiến người khác đi theo con đường của mình. Điều đó nằm phía sau mọi nỗ lực cải đạo người khác từ tôn giáo này sang tôn giáo khác. Có lẽ không hoàn toàn công bằng khi đặt vấn đề theo cách ấy, vì ít nhất Kitô giáo khởi đầu với ảo tưởng khổng lồ rằng nếu người ta không tin các khẩu hiệu riêng biệt của nó, họ sẽ có một đời sau rất khó chịu; do đó nỗ lực cải đạo người khác của nó mang màu sắc vị tha. Nó giả định: “Chính thống là giáo lý của tôi, còn dị giáo là giáo lý của bạn,” và: “Điều tôi tin là đúng, và bạn phải thuận theo nó.” Khi chúng ta đã phát triển tinh thần, khi chúng ta đã học nhiều điều mà người khác không biết, thì việc chúng ta giảng phúc âm của mình, muốn nói với người khác những gì mình đã tìm thấy và cho họ mọi cơ hội để theo chúng ta vào những lĩnh vực tư tưởng cao hơn này, là đúng và thích hợp; nhưng nếu ước muốn ấy bị nhuốm bởi ham muốn thống trị họ — một ham muốn thường được tìm thấy cùng với nhiều phẩm tính tốt — thì vẫn còn một chút của cái ngã tách biệt cũ trong đó, và “cỏ dại khổng lồ” chưa bị nhổ tận gốc.

We must also get rid entirely of the wish to dominate others because so long as a man is working for the separated self he belongs to that great mass of separated selves which is such a terrible burden in evolution. The moment he begins to realize the unity, he ceases to be part of the weight which has to be lifted and begins to be one of the lifters.

Chúng ta cũng phải hoàn toàn loại bỏ ước muốn thống trị người khác, vì chừng nào một người còn làm việc cho cái ngã tách biệt, y thuộc về khối lượng lớn những ngã tách biệt vốn là một gánh nặng khủng khiếp trong tiến hoá. Khoảnh khắc y bắt đầu chứng nghiệm sự hợp nhất, y thôi không còn là một phần của sức nặng cần được nâng lên và bắt đầu trở thành một trong những người nâng đỡ.

To stand alone and isolated means that one must not be dependent on anyone outside oneself, because no separated person or thing can really ultimately be of use to us. Help must be found within ourselves. The Master can help us all the time in our efforts, but even He cannot do the actual work for us. He is constantly suggesting things to us, pouring help into us in every way, but at every step it is we ourselves who must do the work. As we go on we must learn to stand apparently entirely alone, without the Master’s direct help, but that is an illusion because no one can ever really be separated from the Master, or from the Deity of whom that Master is a part. Still, we must act as though we were alone, and at certain stages in our evolution we shall feel absolutely alone; yet if we can bring the intellect to bear upon it, though it is a difficult matter under such circumstances, we at once recognize that we never can be really alone. We are part of God and cannot cease to be so, because if we did we should altogether cease to be, we should be unconscious.

Đứng một mình và cô lập có nghĩa là người ta không được lệ thuộc vào bất cứ ai bên ngoài chính mình, vì không một người hay vật tách biệt nào cuối cùng thật sự có thể hữu ích cho chúng ta. Sự trợ giúp phải được tìm thấy bên trong chính chúng ta. Chân sư có thể giúp chúng ta mọi lúc trong các nỗ lực của mình, nhưng ngay cả Ngài cũng không thể làm công việc thực sự thay cho chúng ta. Ngài không ngừng gợi ý cho chúng ta, tuôn đổ sự trợ giúp vào chúng ta bằng mọi cách, nhưng ở mỗi bước chính chúng ta phải làm công việc. Khi tiến bước, chúng ta phải học cách đứng dường như hoàn toàn một mình, không có sự trợ giúp trực tiếp của Chân sư; nhưng đó là một ảo tưởng, vì không ai có thể thật sự tách rời khỏi Chân sư, hay khỏi Thượng đế mà Chân sư ấy là một phần. Tuy nhiên, chúng ta phải hành động như thể mình cô độc, và ở một số giai đoạn trong tiến hoá, chúng ta sẽ cảm thấy tuyệt đối cô độc; nhưng nếu chúng ta có thể vận dụng trí tuệ vào điều đó, dù trong những hoàn cảnh như thế việc ấy rất khó, chúng ta lập tức nhận ra rằng mình không bao giờ có thể thật sự cô độc. Chúng ta là một phần của Thượng đế và không thể thôi là như vậy, vì nếu như thế, chúng ta sẽ hoàn toàn thôi hiện hữu, chúng ta sẽ vô thức.

We are part of something which can never cease to be, and therefore the idea of loneliness is an illusion, though it causes great pain and suffering. On the physical plane a man is often least alone when he thinks himself most alone; when he is in the midst of a crowd the higher things can touch him less easily, therefore he is more separated from them. But when these separated selves are not so close around him the influences of the non-separated Self can play upon him much more fully, and so it is really true to say that the man is least of all alone when he thinks or feels himself most alone.

Chúng ta là một phần của điều không bao giờ có thể thôi hiện hữu, và do đó ý tưởng về sự cô đơn là một ảo tưởng, dù nó gây đau đớn và khổ sở lớn lao. Trên cõi hồng trần, con người thường ít cô độc nhất khi y nghĩ mình cô độc nhất; khi y ở giữa đám đông, những điều cao hơn có thể chạm đến y kém dễ dàng hơn, do đó y tách biệt khỏi chúng nhiều hơn. Nhưng khi các ngã tách biệt này không ở quá gần chung quanh y, những ảnh hưởng của Bản Ngã không-tách-biệt có thể tác động lên y đầy đủ hơn nhiều; và vì vậy thật sự đúng khi nói rằng con người ít cô độc nhất chính khi y nghĩ hay cảm thấy mình cô độc nhất.

It is hardly possible to form any conception of the awful feeling of being absolutely alone in the universe—a point floating in space. That is the condition called avichi, which means “the waveless state”. It is a condition of consciousness in which a man appears to himself to stand outside the vibrations of the Divine Life, and is said to be the most terrible experience that can come to a man. That is the end of the black magician, who for many lives has striven definitely and determinedly for separateness, who has directly set himself against the unifying forces of evolution. The pupil of the Master must learn to sympathize even with the black magician who suffers avichi; therefore once in his development a man must experience that state of consciousness. He touches it only for a moment but he can never forget it, and henceforth he will always be able to understand the suffering of those who remain for ages in. such a condition as that. When for us that moment comes, we should remember that whatever is, is God, and that we cannot be separated from Him even though we feel that we are—we must realize that it is a final illusion which must be conquered.

Hầu như không thể hình thành bất cứ quan niệm nào về cảm giác khủng khiếp khi tuyệt đối cô độc trong vũ trụ — một điểm trôi nổi trong không gian. Đó là tình trạng được gọi là avichi, nghĩa là “trạng thái không sóng”. Đó là một tình trạng tâm thức trong đó con người dường như, đối với chính mình, đứng ngoài các rung động của Sự Sống Thiêng Liêng, và được nói là kinh nghiệm khủng khiếp nhất có thể đến với một người. Đó là kết cục của nhà hắc thuật, người qua nhiều kiếp sống đã cố gắng một cách xác định và kiên quyết hướng tới sự tách biệt, người đã trực tiếp đặt mình chống lại các mãnh lực hợp nhất của tiến hoá. Môn đồ của Chân sư phải học cảm thông ngay cả với nhà hắc thuật đang chịu avichi; vì vậy một lần trong sự phát triển của mình, con người phải kinh nghiệm tình trạng tâm thức ấy. Y chỉ chạm đến nó trong một khoảnh khắc, nhưng y không bao giờ có thể quên nó; và từ đó về sau y sẽ luôn luôn có thể thấu hiểu nỗi khổ của những người ở lại trong một tình trạng như thế qua nhiều thời đại. Khi khoảnh khắc ấy đến với chúng ta, chúng ta phải nhớ rằng bất cứ điều gì hiện hữu đều là Thượng đế, và rằng chúng ta không thể tách rời khỏi Ngài dù chúng ta cảm thấy như vậy — chúng ta phải nhận ra rằng đó là một ảo tưởng cuối cùng phải được chinh phục.

We all have to stand alone and isolated because each of us must learn to depend upon himself and to realize that he is God, that the divine spark in him is in truth part of the All. Until we can do that we are not entirely reliable for the higher phases of the Master’s work. In the meantime, for all our ordinary work in life, whether physical, astral or mental, the knowledge that the Master envelops us and is close behind us all the time is a very great strength and comfort. We do our regular work each night on the astral or mental plane, as the case may be, and in doing it we know always that the power of the Master protects us. If at any moment we encounter something enormously stronger than ourselves which threatens to overwhelm us, just as on the physical plane a great storm or earthquake might do, we always know that we can draw indefinitely, infinitely, on His power. Even that the disciple must learn to do without, when the time comes, but only in order that he may become as strong a centre as the Master Himself.

Tất cả chúng ta phải đứng một mình và cô lập, vì mỗi người trong chúng ta phải học nương tựa vào chính mình và chứng nghiệm rằng y là Thượng đế, rằng tia lửa thiêng liêng trong y thật sự là một phần của Toàn Thể. Cho đến khi chúng ta có thể làm điều đó, chúng ta chưa hoàn toàn đáng tin cậy đối với những giai đoạn cao hơn trong công việc của Chân sư. Trong khi ấy, đối với mọi công việc thông thường của chúng ta trong đời sống, dù là hồng trần, cảm dục hay trí tuệ, tri thức rằng Chân sư bao bọc chúng ta và luôn ở sát phía sau chúng ta là một sức mạnh và niềm an ủi rất lớn. Mỗi đêm chúng ta làm công việc thường lệ của mình trên cõi cảm dục hay cõi trí, tùy trường hợp; và khi làm việc đó, chúng ta luôn biết rằng quyền năng của Chân sư bảo vệ chúng ta. Nếu bất cứ lúc nào chúng ta gặp điều gì mạnh hơn chúng ta vô cùng, đe dọa áp đảo chúng ta, giống như trên cõi hồng trần một cơn bão lớn hay động đất có thể làm, chúng ta luôn biết rằng mình có thể rút lấy, một cách vô hạn và vô biên, từ quyền năng của Ngài. Ngay cả điều đó, đệ tử cũng phải học cách làm mà không cần đến, khi thời điểm đến, nhưng chỉ để y có thể trở thành một trung tâm mạnh mẽ như chính Chân sư.

Do not fancy you can stand aside from the bad man or the foolish man. They are yourself, though in a less degree than your friend or your Master. But if you allow the idea of separateness from any evil thing or person to grow up within you, by so doing you create karma, which will bind you to that thing or person till your soul recognizes that it cannot be isolated.

Đừng tưởng rằng bạn có thể đứng tách khỏi người xấu hay người ngu dại. Họ là chính bạn, dù ở mức độ ít hơn so với bạn hữu hay Chân sư của bạn. Nhưng nếu bạn để cho ý tưởng về sự tách biệt khỏi bất cứ điều ác hay người ác nào lớn lên bên trong bạn, bằng cách ấy bạn tạo ra nghiệp quả, điều sẽ ràng buộc bạn với sự vật hay người ấy cho đến khi linh hồn bạn nhận ra rằng nó không thể bị cô lập.

C.W.L.—This is the first part of a long note by the Master Hilarion. Of course we all bold in theory that humanity is a mighty brotherhood and is really a unity. The Master here admits that there are degrees in this unity, and that there are therefore degrees of separateness, that we are to some extent more separated from the bad and the foolish than we are from our friend or our Master. The idea of the brotherhood of man is often twisted to imply the equality of man, which it really cannot mean. In any family of many brothers there must be considerable differences of age among them, and there must similarly be differences of soul age among these members of the greater human brotherhood. Again, just as in the physical family it is the business of the elder to help and train the younger, so in the family of humanity must the elder protect the younger and help them in any way they can. Brotherhood implies variety; it requires this difference of age, and also that many people shall be doing different kinds of work.

C.W.L.—Đây là phần đầu của một ghi chú dài của Chân sư Hilarion. Dĩ nhiên, về mặt lý thuyết, tất cả chúng ta đều cho rằng nhân loại là một tình huynh đệ hùng mạnh và thật sự là một nhất thể. Ở đây Chân sư thừa nhận rằng có những mức độ trong sự hợp nhất này, và do đó cũng có những mức độ tách biệt; rằng ở một mức nào đó chúng ta tách biệt khỏi người xấu và người ngu dại nhiều hơn so với khỏi bạn hữu hay Chân sư của mình. Ý tưởng về tình huynh đệ của con người thường bị bóp méo để hàm ý sự bình đẳng của con người, điều mà thật ra nó không thể có nghĩa như vậy. Trong bất cứ gia đình nào có nhiều anh em, tất phải có những khác biệt đáng kể về tuổi tác giữa họ; và tương tự, tất phải có những khác biệt về tuổi linh hồn giữa các thành viên của tình huynh đệ nhân loại lớn hơn này. Lại nữa, cũng như trong gia đình hồng trần, việc của người lớn là giúp đỡ và huấn luyện người nhỏ hơn, thì trong gia đình nhân loại, người lớn hơn phải bảo vệ người nhỏ hơn và giúp họ bằng mọi cách có thể. Tình huynh đệ hàm ý sự đa dạng; nó đòi hỏi sự khác biệt về tuổi tác này, và cũng đòi hỏi nhiều người làm các loại công việc khác nhau.

One of the finest symbols of brotherhood that I have come across was a vision of one of our members of an Eastern temple supported by many hundreds of pillars. He said: “All these pillars are helping to support the temple, and they are therefore symbols of individual souls who form a part of the temple of humanity. Some of these pillars are on the outside, are seen and admired all the time. They also face the sunshine and the rain. Others are far away in the interior of the forest of pillars, never having the sun shining directly upon them at all, never being admired by people as they pass. Some of these pillars are in places where the worshippers gather round and sit leaning against the plinth of the pillar all day long. Other pillars are in less approachable places, but each one is an integral part of the temple and is doing its work. That is like the brotherhood of humanity. Some people may feel that they are doing a great deal; others may never know of a single opportunity of help that comes to them, and yet they are all bearing their part and are just as much pillars in the temple as those which are more prominent in the public eye.”

Một trong những biểu tượng đẹp nhất về tình huynh đệ mà tôi từng gặp là linh ảnh của một trong các thành viên của chúng ta về một ngôi đền phương Đông được chống đỡ bởi nhiều trăm cột trụ. Ông nói: “Tất cả những cột trụ này đang giúp chống đỡ ngôi đền, và vì vậy chúng là biểu tượng của các linh hồn cá nhân tạo thành một phần của ngôi đền nhân loại. Một số cột trụ này ở bên ngoài, luôn được nhìn thấy và ngưỡng mộ. Chúng cũng đối diện với ánh nắng và mưa. Những cột khác ở sâu trong nội thất của rừng cột, không bao giờ có mặt trời chiếu trực tiếp lên chúng, không bao giờ được người đi qua ngưỡng mộ. Một số cột này ở những nơi người thờ phượng tụ tập chung quanh và ngồi dựa vào chân cột suốt ngày. Những cột khác ở những nơi khó đến hơn, nhưng mỗi cột là một phần không thể thiếu của ngôi đền và đang làm công việc của nó. Điều đó giống như tình huynh đệ của nhân loại. Một số người có thể cảm thấy rằng họ đang làm rất nhiều; những người khác có thể không bao giờ biết đến một cơ hội trợ giúp nào đến với họ, vậy mà tất cả họ đều đang gánh phần của mình và cũng là những cột trụ trong ngôi đền chẳng kém gì những cột nổi bật hơn trước mắt công chúng.”

Many of our students are eager to claim unity with the Master and the saints, and not so anxious to claim unity with the criminal, the drunkard, the inefficient, the sensual, the cruel. But since humanity is one, we must be one with the less evolved people as well as with the greater; in the one case there is a part of ourselves towards which we must reach up, but in the other case there is a part of humanity which we must try to help. How can we help them? First of all by thinking in the right way about them. If we shrink from them with horror, if we hate them, we are making their path more difficult. If we allow the natural and justifiable feeling with regard to the evil that is being done to influence our attitude towards the person who does it, we are making an error. It is scarcely possible to avoid that sometimes, but we can always to some extent reason ourselves out of it.

Nhiều đạo sinh của chúng ta háo hức tuyên bố sự hợp nhất với Chân sư và các thánh nhân, nhưng không mấy sốt sắng tuyên bố sự hợp nhất với tội phạm, kẻ say rượu, người bất lực, kẻ dâm dục, người tàn nhẫn. Nhưng vì nhân loại là một, chúng ta phải là một với những người kém tiến hoá cũng như với những người lớn lao hơn; trong một trường hợp, có một phần của chính chúng ta mà chúng ta phải vươn lên tới, nhưng trong trường hợp kia, có một phần của nhân loại mà chúng ta phải cố gắng trợ giúp. Chúng ta có thể giúp họ như thế nào? Trước hết bằng cách suy nghĩ đúng về họ. Nếu chúng ta co rút khỏi họ với sự kinh hãi, nếu chúng ta ghét họ, chúng ta đang làm cho con đường của họ khó khăn hơn. Nếu chúng ta để cho cảm giác tự nhiên và chính đáng đối với điều ác đang được thực hiện ảnh hưởng đến thái độ của mình đối với người làm điều đó, chúng ta đang phạm sai lầm. Đôi khi gần như không thể tránh điều đó, nhưng chúng ta luôn luôn có thể, ở một mức nào đó, dùng lý trí để tự đưa mình ra khỏi nó.

Doctors meet with cases of the most loathsome and horrible diseases—which in many an instance the man concerned has brought entirely upon himself. But no doctor who is really earnest in his work thinks of that when the patient is before him. He does not shrink from the man with horror, but regards the disease as an enemy that has to be fought and conquered. That is a very good example of the attitude that we ought to be able to adopt when we have to deal with a degraded person. Undoubtedly the probabilities are that we could not produce very much effect upon an absolutely degraded drunkard, whose will is almost gone; but to shrink from him in horror or to feel contempt is not the way to help him. In the same way when a man commits a terrible crime we may have the greatest possible horror of the crime, but not of the criminal. It is difficult for us to separate them, but we have to do it.

Các bác sĩ gặp những trường hợp bệnh tật ghê tởm và khủng khiếp nhất — trong nhiều trường hợp, chính người liên hệ đã hoàn toàn tự chuốc lấy. Nhưng không bác sĩ nào thật sự nghiêm túc trong công việc của mình nghĩ đến điều đó khi bệnh nhân ở trước mặt ông. Ông không co rút khỏi người ấy với sự kinh hãi, mà xem căn bệnh như một kẻ thù phải được chiến đấu và chinh phục. Đó là một ví dụ rất tốt về thái độ mà chúng ta phải có thể chấp nhận khi phải đề cập đến một người sa đọa. Chắc chắn khả năng là chúng ta không thể tạo ra nhiều tác động đối với một kẻ say rượu hoàn toàn sa đọa, người mà ý chí gần như đã mất; nhưng co rút khỏi y trong kinh hãi hay cảm thấy khinh bỉ không phải là cách để giúp y. Cũng vậy, khi một người phạm một tội ác khủng khiếp, chúng ta có thể có sự kinh hãi lớn nhất có thể đối với tội ác, nhưng không đối với tội phạm. Thật khó để chúng ta tách hai điều ấy ra, nhưng chúng ta phải làm điều đó.

There is another curious little point about that. The things which horrify us most are those to which we have a certain leaning ourselves—from which we are conceivably in danger. When one is absolutely free from the slightest tendency towards a particular crime one looks down on it without horror; but if one feels oneself filled with horror at a particular human failing, he may take it that it is a fault which has been a real danger to himself not long ago—perhaps a life or two back.

Có một điểm nhỏ kỳ lạ khác về điều ấy. Những điều làm chúng ta kinh hãi nhất là những điều mà chính chúng ta có một khuynh hướng nào đó — những điều mà, có thể hình dung, chúng ta đang ở trong nguy cơ. Khi người ta hoàn toàn thoát khỏi khuynh hướng nhỏ nhất đối với một tội ác riêng biệt, người ta nhìn xuống nó mà không kinh hãi; nhưng nếu người ta cảm thấy mình tràn đầy kinh hãi trước một yếu kém riêng biệt của con người, y có thể hiểu rằng đó là một lỗi lầm từng là một nguy cơ thật sự đối với chính y cách đây không lâu — có lẽ một hay hai kiếp trước.

When we go among evil influences we sometimes have to surround ourselves with a shell in order to keep them off. That is often the best policy, since we are still very human; but to have to do that is to a certain extent a confession of weakness.29 The absolutely strong man walks straight into the middle of all these perils, certain that they cannot affect him, but that would not be a wise thing for all of us to do. Our force is limited and by making a shell we can save ourselves from using up a certain amount of it unnecessarily. A man who is perfectly sure of his own power can walk unharmed among all sorts of dangers, because he is sure of himself. Perfect strength destroys all shrinking. We draw back from a case of infectious disease because we are afraid we may catch it; if we were certain we were immune from that disease the idea of catching it would not occur to us.

Khi đi vào giữa những ảnh hưởng tà ác, đôi khi chúng ta phải bao quanh mình bằng một lớp vỏ để ngăn chúng lại. Đó thường là chính sách tốt nhất, vì chúng ta vẫn còn rất con người; nhưng việc phải làm như thế, ở một mức độ nào đó, là một sự thú nhận về yếu đuối.29 Con người mạnh mẽ tuyệt đối bước thẳng vào giữa mọi hiểm nguy ấy, chắc chắn rằng chúng không thể ảnh hưởng đến y; nhưng đó không phải là điều khôn ngoan để tất cả chúng ta đều làm. Mãnh lực của chúng ta có giới hạn, và bằng cách tạo một lớp vỏ, chúng ta có thể tự giữ mình khỏi phải tiêu hao một phần mãnh lực ấy một cách không cần thiết. Một người hoàn toàn chắc chắn về quyền năng của chính mình có thể bước đi vô hại giữa mọi loại nguy hiểm, bởi vì y thực sự chắc chắn về chính mình. Sức mạnh hoàn hảo phá tan mọi sự co rút. Chúng ta lùi lại trước một trường hợp bệnh truyền nhiễm vì sợ mình có thể mắc bệnh; nếu chúng ta chắc chắn mình miễn nhiễm với bệnh ấy, ý tưởng về việc mắc bệnh sẽ không hề nảy sinh trong chúng ta.

The idea that we must not think of ourselves as separate from the wicked or the, foolish man does not necessarily imply that we must always be in close association with such people, though contact is sometimes useful. There are many good people who endeavour, in a great city like London, for example, to help the poor by going to live among them in the slums. Some of our students hold the opinion that that is also our duty with regard to the wicked and the foolish people. That is not always the best way to help them. We may learn from the Masters’ conduct in that respect. The Great Ones do not come down and live in the slums of our great cities. Why do They not do so? For one reason, They would be unable to carry on Their work for humanity. It would take nearly all the time of the Master to clear a place where He could work at all, and the amount of work done would be reduced to perhaps one hundredth part of what it would otherwise be.

Ý tưởng rằng chúng ta không được nghĩ mình tách biệt khỏi kẻ ác hay người ngu dại không nhất thiết hàm ý rằng chúng ta phải luôn luôn ở trong sự giao tiếp gần gũi với những người như thế, dù sự tiếp xúc đôi khi cũng hữu ích. Có nhiều người tốt, chẳng hạn trong một thành phố lớn như London, cố gắng giúp đỡ người nghèo bằng cách đến sống giữa họ trong các khu ổ chuột. Một số đạo sinh của chúng ta cho rằng đó cũng là bổn phận của chúng ta đối với những người ác và ngu dại. Điều đó không phải lúc nào cũng là cách tốt nhất để giúp họ. Chúng ta có thể học từ cách hành xử của các Chân sư trong phương diện ấy. Các Đấng Cao Cả không đi xuống và sống trong các khu ổ chuột của những thành phố lớn của chúng ta. Vì sao Các Ngài không làm như vậy? Một lý do là Các Ngài sẽ không thể tiếp tục công việc của mình cho nhân loại. Gần như toàn bộ thời gian của Chân sư sẽ phải dùng để thanh lọc một nơi mà Ngài có thể làm việc được chút nào, và khối lượng công việc hoàn thành có lẽ sẽ giảm xuống chỉ còn một phần trăm so với mức có thể đạt được trong điều kiện khác.

So with us; it is not in the least necessary that we should put ourselves into the worst conditions. On the contrary we can often help more effectively by not hampering ourselves in that way. If a man finds himself in a peculiarly unpleasant crowd, perhaps filled with some savage feeling or outburst of passion, he can throw a shell round himself and so protect himself from the evil influence, but he cannot do very much with that crowd while he is occupied in doing that. On the other hand, if he were away from it he would be able to pour more force upon it. Even then, if a crowd of undeveloped men is under the sway of some crude passion, very little can be done with it from higher planes, because the force poured out could hardly affect it while it was in that state. Therefore we need not enter evil surroundings unless we see clearly that we can do definite good there, although we must do the best we can if we find ourselves in such an environment. I have heard, for example of preachers who have gone into drinking saloons and started a religious service, and there have been cases where such a bold move as that was actually successful. There would, of course, be many occasions when such a procedure would end in a fiasco. In these things, as in war, a very bold and apparently rash move may occasionally turn out well, but usually more can be accomplished by working in a reasonable way.

Với chúng ta cũng vậy; hoàn toàn không cần thiết phải đặt mình vào những điều kiện tồi tệ nhất. Trái lại, chúng ta thường có thể giúp đỡ hiệu quả hơn bằng cách không tự làm trở ngại mình theo cách ấy. Nếu một người thấy mình ở trong một đám đông đặc biệt khó chịu, có lẽ đầy một cảm xúc man rợ nào đó hoặc một cơn bùng phát đam mê, y có thể tạo một lớp vỏ quanh mình và nhờ đó bảo vệ mình khỏi ảnh hưởng tà ác; nhưng y không thể làm được gì nhiều cho đám đông ấy khi còn bận rộn làm điều đó. Mặt khác, nếu y ở xa khỏi đám đông ấy, y sẽ có thể tuôn đổ nhiều mãnh lực hơn lên nó. Ngay cả khi đó, nếu một đám đông gồm những người chưa phát triển đang ở dưới sự chi phối của một đam mê thô thiển nào đó, thì từ các cõi cao cũng chỉ có thể làm được rất ít cho nó, bởi mãnh lực được tuôn đổ ra hầu như khó ảnh hưởng đến nó khi nó đang ở trong trạng thái ấy. Vì vậy, chúng ta không cần đi vào những môi trường tà ác trừ khi thấy rõ rằng mình có thể làm được một điều thiện xác định ở đó, mặc dù chúng ta phải làm điều tốt nhất có thể nếu thấy mình ở trong một môi trường như thế. Chẳng hạn, tôi đã nghe nói về những nhà thuyết giáo đã đi vào các quán rượu và bắt đầu một buổi lễ tôn giáo, và đã có những trường hợp một bước đi táo bạo như thế thực sự thành công. Dĩ nhiên, cũng sẽ có nhiều dịp mà một cách làm như vậy kết thúc trong thất bại. Trong những việc này, cũng như trong chiến tranh, một bước đi rất táo bạo và bề ngoài có vẻ liều lĩnh đôi khi có thể đem lại kết quả tốt, nhưng thông thường có thể hoàn thành nhiều hơn bằng cách làm việc một cách hợp lý.

Remember that the sin and shame of the world are your sin and shame; for you are a part of it; your karma is inextricably interwoven with the great Karma.

Hãy nhớ rằng tội lỗi và sự hổ thẹn của thế gian là tội lỗi và sự hổ thẹn của các bạn; vì các bạn là một phần của nó; nghiệp quả của các bạn đan xen không thể tách rời với Đại Nghiệp.

We do not realize that down here, but on reaching the buddhic plane we see that it represents a real truth. There we feel: “I am part of that which humanity cannot avoid; something exists in it which is a shame to me” and we feel it so because we as part of humanity have caused it. On the other hand we have our share in every good that has been done. When one man has taken a step forward we feel it as a triumph for all; through him all humanity has come a little nearer to its goal.

Ở dưới này chúng ta không nhận ra điều đó, nhưng khi đạt đến cõi Bồ đề, chúng ta thấy rằng nó biểu thị một chân lý thực sự. Ở đó chúng ta cảm thấy: “Tôi là một phần của điều mà nhân loại không thể tránh khỏi; trong đó có một điều gì đó là sự hổ thẹn đối với tôi,” và chúng ta cảm thấy như vậy vì chính chúng ta, với tư cách là một phần của nhân loại, đã gây nên nó. Mặt khác, chúng ta cũng có phần của mình trong mọi điều thiện đã được thực hiện. Khi một người tiến lên một bước, chúng ta cảm nhận điều đó như một chiến thắng cho tất cả; qua y, toàn thể nhân loại đã tiến gần hơn một chút đến mục tiêu của mình.

And before you can attain knowledge you must have passed through all places, foul and clean alike. Therefore, remember that the soiled garment you shrink from touching may have been yours yesterday, may be yours tomorrow. And if you turn with horror from it, when it is flung upon your shoulders, it will cling the more closely to you. The self-righteous man makes for himself a bed of mire. Abstain because it is right to abstain, not that yourself shall be kept clean.

Và trước khi có thể đạt tới tri thức, các bạn phải đi qua mọi nơi, ô uế cũng như thanh sạch. Vì vậy, hãy nhớ rằng chiếc áo vấy bẩn mà các bạn co rúm lại không muốn chạm vào có thể đã là của các bạn ngày hôm qua, và có thể sẽ là của các bạn ngày mai. Và nếu các bạn quay đi trong kinh hãi trước nó, khi nó bị ném lên vai các bạn, nó sẽ bám chặt vào các bạn hơn nữa. Người tự cho mình là công chính tự làm cho mình một chiếc giường bùn lầy. Hãy kiêng tránh vì kiêng tránh là đúng, chứ không phải để bản thân các bạn được giữ sạch.

This passage, with which the Master Hilarion’s note concludes, has often been misunderstood; some people have interpreted it to mean that each individual at some time must have committed all possible sins. It does not mean that, because the wise man does learn something from the experience of others. When we have seen a person burnt by putting his hand in the fire we need not put our own hand into it also before we are sure it is not a good thing to do.30 So we need not commit all possible crimes in order to make up our minds about them. We have all at some stage of evolution risen from a primitive human condition and have passed through the various stages of life between that and our present condition, but there is no reason to assume that we did badly in each stage. There is some reason to suppose that most of us in the course of our long series of lives have sampled the different types of mistakes which it is possible for a human being to make, but we certainly did not go through every detail. When one form of a particular evil is touched, that, I think, stands to the wise soul as experience of a wide range of similar mistakes.31

Đoạn này, là phần kết thúc ghi chú của Chân sư Hilarion, thường bị hiểu lầm; một số người đã diễn giải nó có nghĩa là mỗi cá nhân vào một thời điểm nào đó phải từng phạm mọi tội lỗi có thể có. Nó không có nghĩa như vậy, bởi người khôn ngoan học được điều gì đó từ kinh nghiệm của người khác. Khi chúng ta đã thấy một người bị bỏng vì đặt tay vào lửa, chúng ta không cần cũng đặt tay mình vào đó trước khi chắc chắn rằng đó không phải là điều nên làm.30 Vì vậy, chúng ta không cần phạm mọi tội ác có thể có để tự quyết định về chúng. Tất cả chúng ta, ở một giai đoạn tiến hoá nào đó, đã vươn lên từ một tình trạng nhân loại nguyên thủy và đã đi qua các giai đoạn khác nhau của đời sống giữa tình trạng ấy và tình trạng hiện nay của mình; nhưng không có lý do gì để giả định rằng chúng ta đã hành động tệ hại trong mỗi giai đoạn. Có một số lý do để cho rằng phần lớn chúng ta, trong chuỗi dài các kiếp sống của mình, đã nếm trải các loại sai lầm khác nhau mà một con người có thể phạm phải; nhưng chắc chắn chúng ta đã không đi qua từng chi tiết. Khi một hình thức của một điều ác đặc thù được chạm đến, tôi nghĩ rằng điều đó đối với linh hồn khôn ngoan có giá trị như kinh nghiệm về một phạm vi rộng lớn các sai lầm tương tự.31

Then there is another consideration. Every man when he reaches the buddhic consciousness looks out through that and experiences all that others experience. We think of the glory and the wonder of the buddic consciousness because it brings us into union with the Masters. We must not forget that it also brings us into harmony with the vicious and the criminal. Their feelings must be experienced, as well as the glory and the splendour of the higher life. So when we are able to touch the buddhic plane we may gain experience of the lower and more unpleasant aspects of life by entering into the consciousness of the people who are going through those particular phases. We do not require to do this as a lesson, because we already know by the hypothesis that these are things which are impossible for us. But we must have sufficient experience to be perfectly sympathetic, or we cannot give help to others. The perfectly sympathetic person knows intuitively the difficulties and temptations of others, and so is full of love even for the erring one. By sympathy he makes the “soiled garment” his own. When we have finally abandoned separateness and realized unity we shall find that we are merged in the divine Life, and that the attitude of love is the only one which we can adopt towards any of our fellow-men, whether they be high or low.

Rồi còn có một suy xét khác. Mỗi người, khi đạt tới tâm thức Bồ đề, nhìn ra qua tâm thức ấy và trải nghiệm tất cả những gì người khác trải nghiệm. Chúng ta nghĩ đến vinh quang và sự kỳ diệu của tâm thức Bồ đề vì nó đưa chúng ta vào sự hợp nhất với các Chân sư. Chúng ta không được quên rằng nó cũng đưa chúng ta vào sự hòa hợp với kẻ đồi bại và người phạm tội. Cảm xúc của họ cũng phải được trải nghiệm, cũng như vinh quang và vẻ huy hoàng của đời sống cao siêu. Vì vậy, khi có thể chạm đến cõi Bồ đề, chúng ta có thể thu nhận kinh nghiệm về các phương diện thấp hơn và khó chịu hơn của đời sống bằng cách đi vào tâm thức của những người đang trải qua các pha đặc thù ấy. Chúng ta không cần làm điều này như một bài học, bởi theo giả định chúng ta đã biết rằng đây là những điều không thể xảy ra đối với mình. Nhưng chúng ta phải có đủ kinh nghiệm để có thể thông cảm hoàn toàn, nếu không chúng ta không thể giúp đỡ người khác. Người thông cảm hoàn toàn trực giác biết những khó khăn và cám dỗ của người khác, và vì vậy tràn đầy tình thương ngay cả đối với người lầm lỗi. Bằng sự cảm thông, y làm cho “chiếc áo vấy bẩn” trở thành của chính mình. Khi cuối cùng chúng ta đã từ bỏ sự chia rẽ và nhận ra sự hợp nhất, chúng ta sẽ thấy mình được hòa nhập vào Sự Sống thiêng liêng, và thái độ của tình thương là thái độ duy nhất mà chúng ta có thể giữ đối với bất cứ đồng loại nào, dù họ cao hay thấp.

6. Kill out desire for sensation.

6. Hãy diệt trừ dục vọng đối với cảm giác.

Learn from sensation and observe it, because only so can you commence the science of self-knowledge, and plant your foot on the first step of the ladder.

Hãy học từ cảm giác và quan sát nó, bởi chỉ như thế các bạn mới có thể bắt đầu khoa học tự tri, và đặt chân lên nấc thang đầu tiên.

A.B.—The disciple must observe the working of sensation in himself, so that he may gain some self-knowledge from it. He can attain to such knowledge only by the deliberate study of his own thoughts. The first effect of trying to study your own thoughts is to stand away from them, to separate them from yourself. The very fact of your studying them has drawn your life away from them, so as to destroy for the time being the identification of yourself with your thoughts which habitually exists. A man does not identify himself with the object of his study, with the thing at which he is looking. It is a saying among the followers of Shankaracharya that subject and object can never be the same. So the very effort of study weakens the forms, and in that mere act you are gaining freedom.

A.B.—Đệ tử phải quan sát hoạt động của cảm giác trong chính mình, để y có thể thu nhận một phần tự tri từ đó. Y chỉ có thể đạt tới tri thức như thế bằng việc nghiên cứu có chủ ý các tư tưởng của chính mình. Hiệu quả đầu tiên của việc cố gắng nghiên cứu các tư tưởng của mình là đứng tách ra khỏi chúng, tách chúng khỏi bản thân mình. Chính sự kiện các bạn nghiên cứu chúng đã kéo sự sống của các bạn ra khỏi chúng, để tạm thời phá hủy sự đồng hoá với các tư tưởng vốn thường xuyên tồn tại. Một người không đồng hoá mình với đối tượng nghiên cứu của mình, với điều mà y đang nhìn vào. Trong số những người theo Shankaracharya có câu nói rằng chủ thể và đối tượng không bao giờ có thể là một. Vì vậy, chính nỗ lực nghiên cứu làm suy yếu các hình tướng, và trong chính hành động ấy các bạn đang giành được tự do.

Closely allied to this advice is the instruction to test experiences, the object being that the man may experience the condition of being no longer affected by them. When a man is observing his own sensation, in order to learn from it, be may experience that sensation, but at the same time he may do with it something higher—he may measure this force without yielding to it. There will come times too, when the disciple who is practising this observation of sensations will find that dormant sensations in himself are being re-awakened.

Liên hệ mật thiết với lời khuyên này là huấn thị phải kiểm nghiệm các kinh nghiệm, mục đích là để con người có thể trải nghiệm tình trạng không còn bị chúng ảnh hưởng. Khi một người đang quan sát cảm giác của chính mình để học từ nó, y có thể trải nghiệm cảm giác ấy, nhưng đồng thời y có thể làm với nó một điều cao hơn—y có thể đo lường mãnh lực này mà không nhượng bộ nó. Cũng sẽ có những lúc đệ tử đang thực hành sự quan sát các cảm giác này thấy rằng những cảm giác ngủ yên trong chính mình đang được đánh thức lại.

All of us have reminiscences of the past, which may be said to hang about us as our dead selves, and are liable to be revivified from outside. They may come to life again by contact with other men’s thought-forms along the same lines, or they may be awakened by the deliberate action of some power which is working for our purification, or is testing us either from the dark or the white side. Suppose a man has that dead self vivified he will then feel what is usually called the force of temptation. The disciple, having studied the way in which these things work, recognizes what has happened; he measures the power of the resuscitated thought and says to it: “You are not my living Self; you are merely my ‘I’ of the past—so get away from me.”

Tất cả chúng ta đều có những hồi ức của quá khứ, có thể nói là lẩn quẩn quanh chúng ta như những bản ngã đã chết của mình, và có khả năng được tiếp sinh lực trở lại từ bên ngoài. Chúng có thể sống lại qua sự tiếp xúc với các hình tư tưởng của người khác theo cùng những đường hướng, hoặc chúng có thể được đánh thức bởi hành động có chủ ý của một quyền năng nào đó đang làm việc cho sự thanh lọc của chúng ta, hoặc đang thử thách chúng ta từ phía hắc ám hay phía chánh đạo. Giả sử một người có bản ngã đã chết ấy được tiếp sinh lực, lúc đó y sẽ cảm thấy điều thường được gọi là mãnh lực cám dỗ. Đệ tử, sau khi đã nghiên cứu cách những điều này hoạt động, nhận ra điều đã xảy ra; y đo lường quyền năng của tư tưởng được hồi sinh và nói với nó: “Ngươi không phải là Bản Ngã sống động của ta; ngươi chỉ là cái ‘tôi’ của quá khứ—vậy hãy rời khỏi ta.”

Sometimes in a moment of temptation it is helpful to recognize that it is merely your past that has been revivified, and then you are right to say: “This is not I.” Then you look on it as outside yourself, as no part of your being or activity, and you know that it cannot hold you or stain you.32 The patient confidence that arises from this knowledge has a great element of strength in it. You know that you are drawing nearer the time when you will not even feel this temptation. Presently it will not have the power to affect you at all.

Đôi khi trong một khoảnh khắc cám dỗ, việc nhận ra rằng đó chỉ là quá khứ của các bạn đã được tiếp sinh lực trở lại là điều hữu ích, và khi ấy các bạn có quyền nói: “Đây không phải là tôi.” Rồi các bạn nhìn nó như một cái gì bên ngoài mình, không phải là một phần của bản thể hay hoạt động của mình, và các bạn biết rằng nó không thể nắm giữ hay làm vấy bẩn các bạn.32 Sự tự tin kiên nhẫn phát sinh từ tri thức này chứa một yếu tố sức mạnh lớn lao. Các bạn biết rằng mình đang đến gần thời điểm khi các bạn thậm chí sẽ không còn cảm thấy cám dỗ này nữa. Chẳng bao lâu nữa, nó sẽ không còn quyền năng nào để ảnh hưởng đến các bạn.

In the deliberate process of weighing, measuring, and observing his own past feelings and thoughts, the disciple is killing the very last possibility of life in that dead self. The Voice of the Silence means this, when it says with regard to desire: “Take heed lest from the dead it should again arise.” The old feelings and thoughts are done with, not when they are merely buried out of sight, but when the very last fragment of them is worked out to the end, when the man looks at them and sees with perfect clearness just what they are and that they are no part of himself. In this quiet study he then kills them beyond all possibility of recall to life.

Trong tiến trình có chủ ý của việc cân nhắc, đo lường và quan sát các cảm xúc và tư tưởng quá khứ của chính mình, đệ tử đang giết chết khả năng sống cuối cùng trong bản ngã đã chết ấy. Tiếng Nói của Im Lặng muốn nói điều này khi nói về dục vọng: “Hãy coi chừng kẻo từ cõi chết nó lại trỗi dậy.” Các cảm xúc và tư tưởng cũ chỉ thực sự chấm dứt, không phải khi chúng chỉ bị chôn khuất khỏi tầm nhìn, mà khi mảnh vụn cuối cùng của chúng được xử lý đến tận cùng, khi con người nhìn vào chúng và thấy với sự rõ ràng hoàn hảo chúng là gì và rằng chúng không phải là một phần của chính mình. Trong sự nghiên cứu tĩnh lặng này, y giết chết chúng vượt ngoài mọi khả năng được gọi trở lại sự sống.

C.W.L.—We have first to learn to observe the working of sensation in ourselves from outside. So long as we are being swept away by it we cannot learn anything from it, because we are then slaves to it, but if we can rise and look down upon it, and think of it as something belonging to our past we are then in a position to observe and study it.

C.W.L.—Trước hết chúng ta phải học quan sát hoạt động của cảm giác trong chính mình từ bên ngoài. Bao lâu chúng ta còn bị nó cuốn đi, chúng ta không thể học được gì từ nó, bởi khi ấy chúng ta là nô lệ của nó; nhưng nếu chúng ta có thể vươn lên và nhìn xuống nó, và nghĩ về nó như một điều thuộc về quá khứ của mình, thì khi ấy chúng ta ở vào vị trí có thể quan sát và nghiên cứu nó.

Waves of sensation are flowing all over the world and we have to learn to understand them so as to be able to help others, but of course we can do that only when we are no longer swayed by them. Doubtless it is largely a matter of temperament, but for many it is one of the greatest difficulties that sensations and emotions swirl them about, and as yet they do not understand fully how to control them. It is like standing in the breakers and trying to master them. A man cannot govern a thing which knocks him over again and again and sweeps him away; but people do not realize that emotion is really not an external force like that, but that it is within one-self and may be brought perfectly within one’s control if one understands how to do it.

Những làn sóng cảm giác đang tràn khắp thế giới, và chúng ta phải học thấu hiểu chúng để có thể giúp đỡ người khác; nhưng dĩ nhiên chúng ta chỉ có thể làm điều đó khi không còn bị chúng chi phối. Chắc chắn điều đó phần lớn là vấn đề khí chất, nhưng đối với nhiều người, một trong những khó khăn lớn nhất là các cảm giác và cảm xúc xoáy cuốn họ đi, và cho đến nay họ vẫn chưa hiểu đầy đủ cách kiểm soát chúng. Điều đó giống như đứng giữa những con sóng vỡ và cố gắng chế ngự chúng. Một người không thể cai quản một điều cứ liên tục quật ngã và cuốn y đi; nhưng người ta không nhận ra rằng cảm xúc thật ra không phải là một mãnh lực bên ngoài như thế, mà nó ở trong chính mình và có thể được đưa hoàn toàn vào dưới sự kiểm soát của mình nếu người ta hiểu cách làm điều đó.

The way is to get a firm grip on it in the very beginning. A wave of anger, depression, jealousy, or any of these passions will start in a moment and grow rapidly into a very big thing. It comes up so suddenly and people are so accustomed to regard it as the self that they do not for the moment recognize it, and so do not at once pull up and stop it, and say: “This is not I; I decline to be swept away; I stand firm.” If we remember to do that in time the emotion disappears promptly. Most people make the resolve not to be overcome when they are quite calm, but unfortunately when the wave of sensation arrives with a rush upon them they do not at the moment want to resist it. The soul inside is not immediately awake to the danger, so it allows itself to be swept away and to be identified with the emotion or sensation. We must therefore learn to catch it exactly at the moment of its coming, for if we let that slip it is a very difficult matter, when the sensation is in full blast, to check it suddenly, though sometimes another person can do it for us. Afterwards, when we remember, we regret it. The practical thing to do is to try to control the sensation each time a little sooner, and if we can suppress it once before it gets into its swing, the probability is that we shall be able to do so invariably after that.

Cách làm là nắm chắc nó ngay từ lúc khởi đầu. Một làn sóng giận dữ, chán nản, ghen tị, hay bất cứ đam mê nào trong số này sẽ bắt đầu trong chốc lát và nhanh chóng lớn lên thành một điều rất lớn. Nó trỗi dậy quá đột ngột, và người ta quá quen xem nó là bản ngã, đến nỗi trong khoảnh khắc ấy họ không nhận ra nó, nên không lập tức dừng lại, chặn nó và nói: “Đây không phải là tôi; tôi từ chối bị cuốn đi; tôi đứng vững.” Nếu chúng ta nhớ làm điều đó kịp thời, cảm xúc sẽ nhanh chóng biến mất. Phần lớn người ta quyết tâm không bị khuất phục khi họ đang rất bình tĩnh, nhưng tiếc thay, khi làn sóng cảm giác ập đến dữ dội trên họ, trong khoảnh khắc ấy họ lại không muốn chống cự. Linh hồn bên trong không lập tức tỉnh thức trước nguy hiểm, nên nó cho phép mình bị cuốn đi và đồng hoá với cảm xúc hay cảm giác. Vì vậy, chúng ta phải học cách bắt lấy nó đúng vào khoảnh khắc nó đến, vì nếu để lỡ khoảnh khắc ấy thì khi cảm giác đang bùng lên toàn lực, việc bất ngờ kìm nó lại là điều rất khó, dù đôi khi một người khác có thể làm điều đó cho chúng ta. Sau đó, khi nhớ lại, chúng ta hối tiếc. Điều thực tế cần làm là cố gắng kiểm soát cảm giác mỗi lần sớm hơn một chút, và nếu chúng ta có thể kìm nén nó một lần trước khi nó vào guồng, thì rất có khả năng sau đó chúng ta sẽ luôn luôn làm được như vậy.

It is difficult at first only because the man as a Self has abdicated his rights on so many previous occasions that he has got out of the habit of asserting them. But if he will once assert them at the critical moment he will find that he can do it again and again, because the elemental that is the cause of the difficulty will begin to be afraid, will begin to realize that he cannot sweep everything before him. At first he is quite confident, like a dog that rushes at a man, barking and snarling because he thinks him to be afraid; but if the man does not turn and run away the dog hesitates and begins to be a little doubtful about the enterprise. The elemental has not the intelligence of a dog. He may or may not know that we are stronger than he, but if he does not, it is only because we have not asserted ourselves. We should let him know that we are his master; when once he feels that, he will hesitate at the very beginning to start his wave. Check him at the beginning, and there will be no further trouble.

Ban đầu điều đó khó chỉ vì con người với tư cách là Bản Ngã đã từ bỏ quyền của mình trong quá nhiều dịp trước đó đến nỗi y đã mất thói quen khẳng định chúng. Nhưng nếu y một lần khẳng định chúng vào thời điểm quyết định, y sẽ thấy rằng mình có thể làm điều đó nhiều lần nữa, bởi hành khí vốn là nguyên nhân của khó khăn sẽ bắt đầu sợ hãi, sẽ bắt đầu nhận ra rằng nó không thể quét sạch mọi thứ trước mặt nó. Ban đầu nó rất tự tin, giống như một con chó lao vào một người, sủa và gầm gừ vì nó nghĩ người ấy sợ; nhưng nếu người ấy không quay lưng bỏ chạy, con chó do dự và bắt đầu hơi nghi ngờ về cuộc tấn công. Hành khí không có trí thông minh của một con chó. Nó có thể biết hoặc không biết rằng chúng ta mạnh hơn nó, nhưng nếu nó không biết, đó chỉ là vì chúng ta chưa khẳng định chính mình. Chúng ta nên cho nó biết rằng chúng ta là chủ của nó; một khi nó cảm thấy điều đó, ngay từ đầu nó sẽ do dự khi khởi phát làn sóng của mình. Hãy chặn nó ngay từ đầu, và sẽ không còn rắc rối nào nữa.

We have to learn from sensation by observing it in others also. In this way we come to understand human nature. We can see how other people make fools of themselves under the influence of emotion, and seeing how bad it looks in them, and how much harm it obviously does them, we learn to repress any touch of the same thing in ourselves. It is naturally much easier to see things in others than in ourselves, when we are standing outside as spectators. We should not, however, look at other people in order to criticize them and pick out their faults, but only to see what we can learn from them. When we see them distinctly not living up to their best and highest, because of some passion or emotion or some feeling of repugnance, we can make a mental note of that, without feeling in the least.that we are better than they, and we can think: “Might not the same thing have happened to me? Let me see that it shall not happen.” Thus without getting into the habit of criticizing, which is always bad, we can learn from the mistakes of other people. When we see another person come to grief, however sorry we may be for him, there can be no harm in thinking: “Let me not fall over the precipice too; it is enough that one person has done so.”

Chúng ta cũng phải học từ cảm giác bằng cách quan sát nó nơi người khác. Bằng cách này, chúng ta đi đến thấu hiểu bản chất con người. Chúng ta có thể thấy người khác tự biến mình thành kẻ ngu dại dưới ảnh hưởng của cảm xúc, và khi thấy điều đó trông tệ hại thế nào nơi họ, và rõ ràng gây hại cho họ ra sao, chúng ta học cách kìm nén bất cứ dấu vết nào của cùng điều ấy trong chính mình. Tự nhiên, khi đứng bên ngoài như người quan sát, thấy các sự vật nơi người khác dễ hơn nhiều so với nơi chính mình. Tuy nhiên, chúng ta không nên nhìn người khác để phê phán họ và vạch lỗi của họ, mà chỉ để thấy mình có thể học được gì từ họ. Khi thấy họ rõ ràng không sống đúng với phần tốt đẹp và cao quý nhất của mình vì một đam mê, một cảm xúc hay một cảm giác ghê sợ nào đó, chúng ta có thể ghi nhận điều ấy trong thể trí, mà không hề cảm thấy rằng mình tốt hơn họ, và có thể nghĩ: “Liệu điều tương tự có thể đã xảy ra với tôi chăng? Hãy để tôi thấy rằng nó sẽ không xảy ra.” Như vậy, không rơi vào thói quen phê phán, vốn luôn luôn xấu, chúng ta có thể học từ những sai lầm của người khác. Khi thấy một người khác gặp tai họa, dù chúng ta có thể thương tiếc y đến đâu, cũng không có hại gì khi nghĩ: “Hãy để tôi cũng không rơi xuống vực thẳm; một người đã làm như vậy là đủ rồi.”

Great waves of sensation flooded the world during the war. Among them was a tremendous amount of repugnance and hatred against the powers with whom we happened to be at war. I am not in the least meaning to defend the atrocities committed by those powers. I know that they occurred, because I have myself, astrally, seen a very great deal of them, that filled me with shame for humanity. I do not for a moment wish to deny those facts, to gloss them over, or to excuse them. But there was also great danger and harm in the strong rush of feeling against those who committed the crimes. The people responsible for the atrocities were those who committed them, and the individuals by whose orders they were done—not the whole nation. Assuredly a great many things were done by Englishmen in the past with which we should not like to identify ourselves—and that has been the same in every nation. We must not let ourselves be carried away into injustice in thought any more than into injustice of speech or of action.

Những làn sóng cảm giác lớn lao đã tràn ngập thế giới trong thời chiến. Trong số đó có một lượng ghê sợ và căm thù khủng khiếp đối với các cường quốc mà chúng ta tình cờ đang chiến tranh với họ. Tôi hoàn toàn không có ý bênh vực những hành vi tàn bạo do các cường quốc ấy gây ra. Tôi biết chúng đã xảy ra, bởi chính tôi, trên cõi cảm dục, đã thấy rất nhiều điều trong số đó, những điều khiến tôi hổ thẹn cho nhân loại. Tôi không hề muốn phủ nhận các sự kiện ấy, che đậy chúng, hay biện minh cho chúng. Nhưng cũng có nguy hiểm và tai hại lớn trong làn sóng cảm xúc mạnh mẽ chống lại những người đã phạm tội ác ấy. Những người chịu trách nhiệm về các hành vi tàn bạo là những kẻ đã thực hiện chúng, và những cá nhân theo lệnh của họ mà chúng được thực hiện—chứ không phải toàn thể quốc gia. Chắc chắn trong quá khứ người Anh đã làm nhiều điều mà chúng ta không muốn đồng hoá mình với chúng—và điều đó cũng như nhau ở mọi quốc gia. Chúng ta không được để mình bị cuốn vào sự bất công trong tư tưởng, cũng như trong lời nói hay hành động.

Our enemies intentionally went to work deliberately to stir up hatred against us. That may, perhaps, have been effective for the time, as one of the tricks of the campaign. They may have found that it paid in getting recruits and money, and so on; but it was a serious moral mistake. By it they put themselves quite conclusively in the wrong, as far as all higher aspects of the matter were concerned. But there is danger in such a case lest we should feel hatred too. One has to be absolutely determined in the fight against evil, to carry it through to the uttermost, and yet be entirely free from anything like a thought of hatred. Remember how the Lord Buddha said: “Hatred never ceaseth by hatred.” On the contrary, it is always stirred up by it.

Kẻ thù của chúng ta cố ý hành động một cách có chủ ý để khuấy động lòng căm thù chống lại chúng ta. Điều đó có lẽ đã hữu hiệu trong một thời gian, như một trong những thủ đoạn của chiến dịch. Họ có thể đã thấy rằng nó có lợi trong việc tuyển quân, gây quỹ, vân vân; nhưng đó là một sai lầm luân lý nghiêm trọng. Bằng điều đó, họ đặt chính mình một cách dứt khoát vào phía sai trái, xét theo mọi phương diện cao hơn của vấn đề. Nhưng trong một trường hợp như thế, có nguy cơ là chúng ta cũng cảm thấy căm thù. Người ta phải tuyệt đối kiên quyết trong cuộc chiến chống lại điều ác, phải đưa nó đến cùng, nhưng đồng thời hoàn toàn tự do khỏi bất cứ điều gì giống như một tư tưởng căm thù. Hãy nhớ Đức Phật đã nói: “Hận thù không bao giờ chấm dứt bằng hận thù.” Trái lại, nó luôn luôn bị khuấy động thêm bởi hận thù.

When one hears of terrible atrocities perpetrated upon women and children, one cannot but feel intense indignation. There is no harm in feeling indignant against such evil-doing. It is a terrible thing, and all right-minded people will and should denounce it decidedly, without any sort of palliation or excuse; but it would be a great mistake to hate the unfortunate man who commits the crimes. He is to be pitied much more than blamed. It is not our business to blame him, but it is our duty to make it impossible for him to do these things again. Our attitude should be that which a man would take towards some wild beast that is attacking his children. He would not dignify it by hating it, but he.would put it out of the way. We should be exceedingly sorry for the unfortunate people who did such things, because we see what the karma of it must be.

Khi nghe nói về những hành vi tàn bạo khủng khiếp gây ra cho phụ nữ và trẻ em, người ta không thể không cảm thấy phẫn nộ mãnh liệt. Không có gì sai khi cảm thấy phẫn nộ trước hành vi ác như thế. Đó là một điều khủng khiếp, và tất cả những người có lương tri đúng đắn sẽ và phải lên án nó một cách dứt khoát, không có bất cứ sự giảm nhẹ hay biện minh nào; nhưng sẽ là một sai lầm lớn nếu căm ghét con người bất hạnh đã phạm tội ác ấy. Y đáng được thương xót hơn nhiều so với bị khiển trách. Không phải việc của chúng ta là khiển trách y, nhưng bổn phận của chúng ta là làm cho y không thể làm những điều ấy một lần nữa. Thái độ của chúng ta nên giống như thái độ của một người đối với một con thú hoang đang tấn công con cái mình. Y sẽ không nâng nó lên bằng cách căm ghét nó, nhưng y sẽ loại nó ra khỏi đường. Chúng ta nên vô cùng thương xót những người bất hạnh đã làm những điều như thế, bởi chúng ta thấy nghiệp quả của việc ấy tất yếu phải là gì.

It is a terrible thing that women and children should be massacred, more terrible, perhaps, for the relations than for the victims themselves, but it is worst of all for those who commit the crime; it is they who are most to be pitied, because their suffering in the end will be very far more terrible.

Việc phụ nữ và trẻ em bị tàn sát là một điều khủng khiếp, có lẽ còn khủng khiếp hơn đối với thân nhân so với chính các nạn nhân; nhưng tệ hại nhất là đối với những kẻ phạm tội ác; chính họ là những người đáng thương xót nhất, bởi rốt cuộc sự đau khổ của họ sẽ khủng khiếp hơn rất nhiều.

As far as lies in our power we will take steps to prevent what has been done from being done again, but we must have no sense of hatred. It is a case of noblesse oblige. We stand quite infinitely above the sort of person who does that kind of thing; we are ages past him in evolution and development; we stand as far removed from him as he stands from the animal kingdom, and since that is so we ought to show our higher development by not sharing that passion of hatred.

Trong phạm vi quyền năng của mình, chúng ta sẽ thực hiện các bước để ngăn điều đã xảy ra khỏi tái diễn, nhưng chúng ta không được có cảm giác căm thù. Đó là một trường hợp của noblesse oblige. Chúng ta đứng cao hơn vô hạn so với loại người làm những điều như thế; chúng ta đã vượt trước y nhiều thời đại trong tiến hoá và phát triển; chúng ta đứng cách xa y như y cách xa giới động vật, và vì điều đó là như vậy, chúng ta phải biểu lộ sự phát triển cao hơn của mình bằng cách không chia sẻ đam mê căm thù ấy.

We can study the effects of sensation only if we dissociate ourselves from it, if we stand outside and try to control the feeling and to learn from it. We must not be swept away in any such maelstrom of popular feeling, but we must try to see where it is wrong, and do what we can to put it right. Many people, who are under the influence of that sensation of tremendous passion, think of us as rather apathetic, and cold; it is even possible that they sometimes think of us as lacking in patriotism if we refuse to hate. Of course that is not logical, but then people are not logical when under the influence of these great waves of hatred. We can explain to them that patriotism does not call on one to hate other countries, but they sometimes do not see that we can love our own country without being obliged to hate another.

Chúng ta chỉ có thể nghiên cứu các hiệu quả của cảm giác nếu tách mình khỏi nó, nếu đứng bên ngoài và cố gắng kiểm soát cảm xúc và học từ nó. Chúng ta không được bị cuốn đi trong bất cứ cơn xoáy nào như thế của cảm xúc đại chúng, mà phải cố gắng thấy chỗ sai của nó, và làm điều có thể để sửa nó lại. Nhiều người đang ở dưới ảnh hưởng của cảm giác đam mê khủng khiếp ấy nghĩ chúng ta khá lãnh đạm và lạnh lùng; thậm chí có thể đôi khi họ nghĩ chúng ta thiếu lòng yêu nước nếu chúng ta từ chối căm ghét. Dĩ nhiên điều đó không hợp lý, nhưng người ta không hợp lý khi ở dưới ảnh hưởng của những làn sóng căm thù lớn lao này. Chúng ta có thể giải thích với họ rằng lòng yêu nước không đòi hỏi người ta phải căm ghét các quốc gia khác, nhưng đôi khi họ không thấy rằng chúng ta có thể yêu đất nước mình mà không buộc phải ghét một đất nước khác.

Our attitude towards these things is very much that which we should take towards the troubles of little children. A child breaks a doll and is in a tempest of tears and a passion of regret over it; we do all we can to sympathize with that child, but we are quite philosophical, we do not share the passion of regret. We are not in despair because a doll is broken or because this or that small matter may have happened in the school-life of the child. We realize that there is a future, and that as compared to that future all these little matters are only temporary and not of great importance, although they are tremendously so to the child. We should be failing in our duty if we did not give the sympathy, but we should be foolish if we felt as much as that child felt—we should ourselves be acting in a childish manner. It is exactly the same with the man who is learning to adopt a philosophical attitude. He sympathizes with the people who are so passionately upset over these things, but he himself is not disturbed. Just as one says to the child: “Oh, well, never mind, it will be all right by and by,” so we should like to say to those who are surging under these emotions: “If you would only believe it, everything will come right and all will go well.” If we say that, we are considered unsympathetic, but it is absolutely true. We often find it difficult to avoid wonder as to how people can be so blind. We see them surging wildly about things that do not matter in the least. They are often people with splendid possibilities, but they do not see them, and they allow themselves to be overwhelmed by mad surges of desire. We did the same thing ourselves thousands of years ago, perhaps. Therefore we learn to be patient, understanding that it is a stage in evolution, though a very undesirable stage. So those of us who are still in danger of yielding to emotions of that sort must pull ourselves up and say: “Twenty lives ago this was perhaps excusable, but now, the time for it is past.” If in every-day life we see a man of mature age throwing away all his time in pleasure we know that that may have been all very well twenty years ago, but now he ought to be thinking about the more serious things of life. In the same way we ought to have risen to a level where our emotions are the higher emotions, where we have the one great idea of the work that God wills us to do.

Thái độ của chúng ta đối với những điều này rất giống thái độ mà chúng ta nên có đối với những rắc rối của trẻ nhỏ. Một đứa trẻ làm vỡ một con búp bê và chìm trong cơn bão nước mắt cùng một niềm hối tiếc mãnh liệt về việc đó; chúng ta làm tất cả những gì có thể để thông cảm với đứa trẻ ấy, nhưng chúng ta hoàn toàn bình thản, chúng ta không chia sẻ đam mê hối tiếc ấy. Chúng ta không tuyệt vọng vì một con búp bê bị vỡ, hay vì việc nhỏ này hoặc việc nhỏ kia có thể đã xảy ra trong đời sống học đường của đứa trẻ. Chúng ta nhận ra rằng có một tương lai, và so với tương lai ấy, tất cả những việc nhỏ này chỉ là tạm thời và không có tầm quan trọng lớn, mặc dù đối với đứa trẻ chúng lại hết sức quan trọng. Chúng ta sẽ thất bại trong bổn phận nếu không trao sự cảm thông, nhưng chúng ta sẽ ngu dại nếu cảm thấy nhiều như đứa trẻ cảm thấy—chính chúng ta sẽ hành động theo cách trẻ con. Điều đó hoàn toàn giống với người đang học cách giữ một thái độ triết học. Y thông cảm với những người bị xáo động mãnh liệt vì những điều này, nhưng chính y không bị xáo động. Cũng như người ta nói với đứa trẻ: “Ồ, thôi nào, đừng bận tâm, rồi mọi sự sẽ ổn thôi,” thì chúng ta cũng muốn nói với những người đang trào dâng dưới các cảm xúc này: “Giá như các bạn tin điều đó, mọi sự sẽ trở nên đúng đắn và tất cả sẽ tốt đẹp.” Nếu chúng ta nói như vậy, chúng ta bị xem là thiếu thông cảm, nhưng điều đó hoàn toàn đúng. Chúng ta thường thấy khó tránh khỏi ngạc nhiên về việc làm sao người ta có thể mù quáng đến thế. Chúng ta thấy họ trào dâng dữ dội quanh những điều chẳng hề quan trọng. Họ thường là những người có những khả năng rực rỡ, nhưng họ không thấy chúng, và họ để mình bị nhấn chìm bởi những làn sóng điên cuồng của dục vọng. Có lẽ hàng ngàn năm trước chính chúng ta cũng đã làm điều tương tự. Vì vậy, chúng ta học cách kiên nhẫn, thấu hiểu rằng đó là một giai đoạn trong tiến hoá, dù là một giai đoạn rất không đáng mong muốn. Vì thế, những ai trong chúng ta vẫn còn nguy cơ nhượng bộ các cảm xúc thuộc loại ấy phải tự kéo mình lại và nói: “Hai mươi kiếp trước điều này có lẽ còn có thể tha thứ, nhưng bây giờ, thời của nó đã qua.” Nếu trong đời sống hằng ngày chúng ta thấy một người trưởng thành phung phí toàn bộ thời gian vào khoái lạc, chúng ta biết rằng hai mươi năm trước điều đó có thể còn chấp nhận được, nhưng bây giờ y phải nghĩ đến những điều nghiêm túc hơn của đời sống. Cũng theo cách ấy, chúng ta phải đã vươn lên đến một cấp độ nơi các cảm xúc của mình là những cảm xúc cao hơn, nơi chúng ta có một ý tưởng lớn duy nhất về công việc mà Thượng đế muốn chúng ta làm.

7. Kill out the hunger for growth.

7. Hãy diệt trừ cơn đói khát tăng trưởng.

Grow as the flower grows, unconsciously, but eagerly anxious to open its soul to the air. So must you press forward to open your soul to the Eternal. But it must be the Eternal that draws forth your strength and beauty, not desire of growth. For in the one case you develop in the luxuriance of purity; in the other you harden by the forcible passion for personal stature.

Hãy lớn lên như hoa lớn lên, một cách vô thức, nhưng thiết tha mong mở linh hồn mình ra với không khí. Các bạn cũng phải thúc mình tiến tới như thế để mở linh hồn mình ra với Đấng vĩnh cửu. Nhưng chính Đấng vĩnh cửu phải là điều khơi mở sức mạnh và vẻ đẹp của các bạn, chứ không phải dục vọng tăng trưởng. Vì trong trường hợp thứ nhất, các bạn phát triển trong sự sung mãn của tinh khiết; trong trường hợp thứ hai, các bạn trở nên cứng lại bởi đam mê cưỡng bách đối với tầm vóc cá nhân.

A.B.—In the later stage of growth the disciple will feel himself opening out into the Eternal and realizing its beauty more and more. The wish to grow that he may be greater than his brother then becomes impossible for him. Before that stage is reached he is still in danger, because of the greatness of what he has already achieved. If he thinks of his growth as belonging to the separated self, and feels that he is himself becoming great, he is likely to fall. The only way to avoid that danger is to get rid of the wish to be great, to yield not to the desire for growth for one’s own sake. For when he is on the higher plane of human growth the disciple must be indifferent as to whether he grows or not, but must care only for the divine Life and the divine Will, and think only of the joy that that can bring to all who welcome it into their lives.

A.B.—Trong giai đoạn tăng trưởng về sau, đệ tử sẽ cảm thấy mình mở ra vào Đấng vĩnh cửu và chứng nghiệm vẻ đẹp của Ngài ngày càng nhiều hơn. Khi ấy, ước muốn tăng trưởng để y có thể lớn hơn huynh đệ của mình trở nên bất khả đối với y. Trước khi giai đoạn ấy đạt được, y vẫn còn trong nguy hiểm, vì sự vĩ đại của những gì y đã đạt được. Nếu y nghĩ về sự tăng trưởng của mình như thuộc về bản ngã tách biệt, và cảm thấy chính y đang trở nên vĩ đại, y rất có thể sa ngã. Cách duy nhất để tránh nguy hiểm ấy là loại bỏ ước muốn được vĩ đại, không nhượng bộ dục vọng tăng trưởng vì lợi ích riêng của mình. Vì khi ở trên cõi cao hơn của sự tăng trưởng nhân loại, đệ tử phải điềm nhiên đối với việc mình tăng trưởng hay không, mà chỉ quan tâm đến Sự Sống thiêng liêng và Ý Chí thiêng liêng, và chỉ nghĩ đến sự hoan hỉ mà điều đó có thể đem lại cho tất cả những ai đón nhận nó vào đời sống của mình.

C.W.L.—We are to grow as the flower grows. Why? Because the flower grows unselfishly, absolutely altruistically. It grows not to display itself, but in order that its race may become greater by its death. It exists not for the sake of obtaining fruit for itself, because the fruit does not come until the flower is dead. Its entire growth is not for itself, but for other plants yet to come. So it is not by thinking of ourselves, but by striving for the good of others that we must press forward. The one great idea—that of helping in the work of the Logos—must draw us on. We must work for the attainment of all virtues and powers simply in order that we may be of more use in His service; by forgetting ourselves in unselfish work we grow as part of the whole and so “develop in the luxuriance of purity”.

C.W.L.—Chúng ta phải lớn lên như hoa lớn lên. Vì sao? Bởi hoa lớn lên một cách vô kỷ, hoàn toàn vị tha. Nó lớn lên không phải để phô bày chính mình, mà để giống loài của nó có thể trở nên lớn hơn nhờ cái chết của nó. Nó tồn tại không phải để thu lấy quả cho chính mình, bởi quả không đến cho đến khi hoa đã chết. Toàn bộ sự tăng trưởng của nó không dành cho chính nó, mà cho những cây khác sẽ đến sau. Vì vậy, không phải bằng cách nghĩ về chính mình, mà bằng cách nỗ lực vì lợi ích của người khác, chúng ta phải tiến tới. Một ý tưởng lớn duy nhất—ý tưởng giúp đỡ trong công việc của Thượng đế Ngôi Lời—phải lôi cuốn chúng ta tiến lên. Chúng ta phải làm việc để đạt được mọi đức hạnh và quyền năng, chỉ nhằm để mình có thể hữu dụng hơn trong phụng sự của Ngài; bằng cách quên mình trong công việc vô kỷ, chúng ta tăng trưởng như một phần của toàn thể và nhờ đó “phát triển trong sự sung mãn của tinh khiết”.

Leave a Comment

Scroll to Top