Cosmic Fire S10
|
Nếu đạo sinh ghi nhớ rằng bản chất của hình tướng tùy thuộc vào phẩm tính của Sự sống nhập thể, thì y cũng phải ghi nhớ những khác biệt giữa các nhóm Huyền Giai khác nhau, vì các Sự sống trong những nhóm ấy có phẩm tính khác nhau, và các hình tướng qua đó chúng biểu lộ cũng khác biệt và đa dạng tương ứng. Do đó, chúng ta phải phân biệt giữa: |
|
|
1. The involutionary groups. |
1. Các nhóm giáng hạ tiến hoá. |
|
2. The evolutionary groups. |
2. Các nhóm thăng thượng tiến hoá. |
|
3. The seven groups of lives which we call the lunar Fathers: |
3. Bảy nhóm sự sống mà chúng ta gọi là các thái âm tổ phụ: |
|
a. Three incorporeal who are the elemental kingdoms. |
a. Ba nhóm vô thể là các giới hành khí. |
|
b. Four material who are the forms of the four kingdoms on the upward arc. |
b. Bốn nhóm vật chất là các hình tướng của bốn giới trên vòng cung đi lên. |
|
4. The seven hierarchies of Lives. |
4. Bảy huyền giai của các Sự sống. |
|
5. The seven groups of solar Angels. |
5. Bảy nhóm Thái dương Thiên Thần. |
|
There must not be confusion as to the distinction between the hierarchies of Beings and the seven Rays, for [Page 1195] though there is close connection, there is no resemblance. The “Rays” are but the primordial forms of certain Lives who “carry in their Hearts” all the Seeds of Form. The Hierarchies are the manifold groups of lives, at all stages of unfoldment and growth who will use the forms. (331) The Rays are vehicles and are, therefore, negative receivers. The Hierarchies are the users of the vehicles, and it is the nature of these lives and the quality of their vibration which under this great Law of Attraction brings to them the needed forms. These are the two primal distinctions, Life and Form, and these two are the “Son of God,” the second Person of the Trinity in His form-building aspect. They are the Builders and equally exist in three groups with their lesser differentiations. It is not necessary here to place these groups on certain planes in the solar system. |
Không được nhầm lẫn về sự khác biệt giữa các huyền giai của các Đấng và bảy cung, vì [Page 1195] tuy có liên hệ mật thiết, nhưng không có sự giống nhau. Các “cung” chỉ là những hình tướng nguyên sơ của một số Sự sống nhất định, những Đấng “mang trong Tim mình” mọi Hạt Giống của Hình Tướng. Các Huyền Giai là những nhóm sự sống đa tạp, ở mọi giai đoạn khai mở và tăng trưởng, sẽ sử dụng các hình tướng. (331) Các cung là các vận cụ và do đó là những bộ tiếp nhận mang tính âm. Các Huyền Giai là những Đấng sử dụng các vận cụ, và chính bản chất của các sự sống này cùng phẩm tính rung động của chúng, dưới Định luật Hấp Dẫn vĩ đại này, mang đến cho chúng những hình tướng cần thiết. Đây là hai phân biệt nguyên thủy, Sự sống và Hình tướng, và hai điều này là “Con của Thượng đế,” Ngôi thứ hai của Tam Vị trong phương diện kiến tạo hình tướng của Ngài. Các Ngài là những Đấng Kiến Tạo và cũng tồn tại trong ba nhóm với những biến phân nhỏ hơn của mình. Ở đây không cần đặt các nhóm này trên những cõi nhất định trong hệ mặt trời. |
|
(331) Mười Hai Huyền Giai Sáng Tạo. Các đạo sinh thường bối rối khi cố giải thích những “bộ mười hai” trong vũ trụ. Một người trao đổi thư từ gửi đến gợi ý sau đây: Trong quyển Nghiên cứu về Tâm thức, bộ ba, bằng một sự sắp xếp các nhóm nội tại, cho thấy bảy nhóm; có thể biểu thị chúng là ABC, ACB, BCA, BAC, CAB, CBA, và một nhóm thứ bảy, là một tổng hợp trong đó cả ba đều bằng nhau. Một bộ sáu thứ hai sẽ được biểu thị bằng (AB) C, C (AB), A (BC), (BC) A, (CA) B, B (AC), trong đó hai yếu tố đặt trong ngoặc là bằng nhau và yếu tố thứ ba mạnh hơn hoặc yếu hơn. Hai nhóm sáu, và nhóm trong đó cả ba bằng nhau, sẽ thành mười ba. “Mười ba này có thể được sắp xếp thành một vòng tròn mười hai, với một ở trung tâm. Điểm trung tâm sẽ có tính tổng hợp, và sẽ là loại trong đó cả ba đều bằng nhau. Sự tương ứng hồng trần của điều này sẽ là mười hai dấu hiệu hoàng đạo với Mặt Trời ở trung tâm, tổng hợp tất cả chúng. Sự tương ứng tinh thần sẽ là mười hai Huyền Giai Sáng Tạo với Thượng đế ở trung tâm, tổng hợp tất cả.” Sự sắp xếp này hoàn toàn hợp lý.—The Theosophist, Tập XXIX, tr. 100. |
|
|
Compare also the Twelve Signs of the Zodiac. (back) |
Cũng hãy so sánh với Mười Hai Dấu Hiệu Hoàng Đạo. (trở lại) |
|
These hierarchies of Beings Who come in on the Ray of Light from the centre are the seeds of all that later is and it is only as they pass out into manifestation and the forms which they are to occupy are gradually evolved, that consideration of the planes becomes necessary. The planes are to certain of these hierarchies what the sheaths of the Monad are to it; they are veils for the Life indwelling; they are media of expression, and exponents of force or energy of a specialised kind. The quality of a [Page 1196] Ray is dependent upon the quality of the hierarchy of Beings who use it as a means of expression. These seven hierarchies are veiled by the Rays, but each is found behind the veil of every ray, for in their totality they are the informing lives of every planetary scheme within the system; they are the life of all interplanetary space, and the existences who are expressing themselves through the planetoids, and all forms of lesser independent life than a planet. Let me briefly give certain hints concerning these hierarchies which may serve to elucidate that contained in the Secret Doctrine concerning them. |
Các huyền giai của những Đấng này, những Đấng đi vào trên Cung Ánh Sáng từ trung tâm, là những hạt giống của mọi điều về sau sẽ hiện hữu; và chỉ khi các Ngài đi ra biểu hiện, và những hình tướng mà các Ngài sẽ chiếm ngụ dần dần được tiến hoá, thì việc xét đến các cõi mới trở nên cần thiết. Đối với một số huyền giai này, các cõi cũng như các lớp vỏ của chân thần đối với nó; chúng là những bức màn che cho Sự sống nội tại; chúng là những môi giới biểu lộ, và là những tác nhân biểu hiện mãnh lực hay năng lượng thuộc một loại chuyên biệt. Phẩm tính của một [Page 1196] cung tùy thuộc vào phẩm tính của huyền giai các Đấng sử dụng nó như một phương tiện biểu lộ. Bảy huyền giai này được che phủ bởi các cung, nhưng mỗi huyền giai đều được tìm thấy phía sau bức màn của mọi cung, vì trong tổng thể của mình, các Ngài là những sự sống thấm nhuần của mọi hệ hành tinh trong hệ mặt trời; các Ngài là sự sống của toàn bộ không gian liên hành tinh, và là những hiện thể đang biểu lộ qua các tiểu hành tinh, cùng mọi hình tướng của sự sống độc lập nhỏ hơn một hành tinh. Hãy để tôi ngắn gọn đưa ra vài gợi ý về các huyền giai này, điều có thể giúp làm sáng tỏ những gì được chứa đựng trong Giáo Lý Bí Nhiệm liên quan đến các Ngài. |
|
What is here imparted is not in itself new, but is the synthesising of much already known and its gathering together in the form of brief enunciated facts. |
Điều được truyền đạt ở đây tự nó không mới, mà là sự tổng hợp của nhiều điều đã được biết, và là sự tập hợp chúng lại dưới hình thức những mệnh đề sự kiện ngắn gọn. |
|
Each of these seven hierarchies of Beings Who are the Builders or the Attractive Agents are (in their degree) intermediaries; all embody one of the types of force emanating from the seven constellations. Their intermediary work, therefore, is dual: |
Mỗi một trong bảy huyền giai của những Đấng này, những Đấng là các Đấng Kiến Tạo hay các Tác Nhân Hấp Dẫn, đều là (trong cấp độ của mình) những trung gian; tất cả đều thể hiện một trong các loại mãnh lực phát ra từ bảy chòm sao. Vì vậy, công việc trung gian của các Ngài là nhị phân: |
|
1. They are the mediators between Spirit and matter. |
1. Các Ngài là những đấng trung gian giữa tinh thần và vật chất. |
|
2. They are the transmitters of force from sources extraneous to the solar system to forms within the solar system. |
2. Các Ngài là những đấng truyền dẫn mãnh lực từ những nguồn ở ngoài hệ mặt trời đến các hình tướng bên trong hệ mặt trời. |
|
Each of these groups of beings is likewise septenary in nature, and the forty-nine fires of Brahma are the lowest manifestation of their fiery nature. Each group also may be regarded as “fallen” in the cosmic sense, because involved in the building process, or the occupiers of forms of some degree of density or another. |
Mỗi nhóm chúng sinh này cũng có bản chất thất phân, và bốn mươi chín ngọn lửa của Brahma là biểu hiện thấp nhất của bản chất lửa của họ. Mỗi nhóm cũng có thể được xem là “sa ngã” theo nghĩa vũ trụ, vì bị cuốn vào tiến trình kiến tạo, hay là những đấng chiếm ngụ các hình tướng ở mức độ đậm đặc nào đó. |
|
Hierarchy I. The first great Hierarchy is emanated from the Heart of the central Spiritual Sun. (S. D., I, 233-250; III, 565-566.) It is the Son of God Himself, the First Born in a cosmic sense, even as the Christ was the “Eldest in a vast family of [Page 1197] brothers,” and the “first flower on the human plant.” The symbol of this Hierarchy is the Golden Lotus with its twelve petals folded. |
Huyền Giai I. Huyền Giai lớn thứ nhất được phát xuất từ Trái Tim của Mặt trời Tinh thần Trung Ương. (S. D., I, 233-250; III, 565-566.) Đó là chính Con của Thượng đế, Đấng Đầu Sinh theo nghĩa vũ trụ, cũng như Đức Christ là “Người Anh Cả trong một đại gia đình [Page 1197] huynh đệ,” và là “đóa hoa đầu tiên trên cây nhân loại.” Biểu tượng của Huyền Giai này là Hoa Sen Vàng với mười hai cánh khép lại. |
|
It should be remembered that this Hierarchy is literally the sixth, for five hierarchies have passed on, being the product of the earlier system, that wherein Intelligence or Manas was the goal. The five liberated hierarchies are in their totality the sumtotal of manas. It is the Hierarchy which is the fifth in order, and which we are told is in process of achieving final liberation, or taking its fourth Initiation, which is the cause of certain phenomena upon our planet which has merited our planet being called the “Star of Suffering.” There is a karmic link between the animal kingdom and the fifth Creative Hierarchy of the earlier system which makes itself felt in man in the necessary crucifixion of the animal physical nature, particularly along sex lines. We must remember that the hierarchies work under the Law of Attraction; it is the law of the Builders. |
Cần nhớ rằng Huyền Giai này theo nghĩa đen là huyền giai thứ sáu, vì năm huyền giai đã đi qua rồi, là sản phẩm của hệ mặt trời trước, hệ mặt trời trong đó Trí Tuệ hay Manas là mục tiêu. Năm huyền giai được giải thoát, trong tổng thể của chúng, là tổng số của manas. Chính Huyền Giai là thứ năm theo thứ tự, và như chúng ta được bảo là đang trong tiến trình đạt đến giải thoát cuối cùng, hay đang nhận lần điểm đạo thứ tư, là nguyên nhân của một số hiện tượng trên hành tinh chúng ta, khiến hành tinh này được gọi là “Ngôi Sao Đau Khổ.” Có một mối liên kết nghiệp quả giữa giới động vật và Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm của hệ mặt trời trước, điều tự biểu lộ trong con người qua sự đóng đinh cần thiết của bản chất thể xác động vật, đặc biệt theo đường lối tính dục. Chúng ta phải nhớ rằng các huyền giai hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn; đó là định luật của các Đấng Kiến Tạo. |
|
This first (sixth) Hierarchy has for its type of energy the first aspect of the sixth type of cosmic electricity, and wields special power, therefore, in conjunction with the lowest fire, or “fire by friction,” as it makes itself felt on the sixth plane. These lives are called “the burning Sons of Desire” and were the Sons of Necessity. It is said of them in the old Commentary: |
Huyền Giai thứ nhất (thứ sáu) này có loại năng lượng là phương diện thứ nhất của loại điện vũ trụ thứ sáu, và do đó nắm giữ quyền năng đặc biệt khi kết hợp với ngọn lửa thấp nhất, hay “Lửa ma sát,” khi nó được cảm nhận trên cõi thứ sáu. Các sự sống này được gọi là “những Con rực cháy của Dục vọng” và là những Con của Tất Yếu. Cổ Luận nói về họ như sau: |
|
“They burned to know. They rushed into the spheres. They are the longing of the Father for the Mother. Hence do they suffer, burn, and long through the sixth sphere of sense.” |
“Họ cháy bỏng để biết. Họ lao vào các khối cầu. Họ là nỗi khát khao của Cha đối với Mẹ. Vì thế họ đau khổ, cháy bỏng, và khát khao xuyên qua khối cầu thứ sáu của giác quan.” |
|
Hierarchy II. The second Hierarchy is closely allied with the Great Bear. We are told that They entered through the second ventricle within the Sacred Heart, and are (as we are told in the Secret Doctrine) the prototypes of the Monads. They are the source of monadic Life, but They are not the Monads; They are far higher. |
Huyền Giai II. Huyền Giai thứ hai có liên hệ mật thiết với Đại Hùng Tinh. Chúng ta được bảo rằng Các Ngài đi vào qua tâm thất thứ hai bên trong Trái Tim Thiêng Liêng, và (như được nói trong Giáo Lý Bí Nhiệm) là các nguyên mẫu của các chân thần. Các Ngài là nguồn của Sự sống chân thần, nhưng Các Ngài không phải là các chân thần; Các Ngài cao hơn rất nhiều. |
|
[Page 1198] This Hierarchy, which is literally the seventh, is the influx into our system of those Lives who in the first solar system remained on their own plane, being too sinless and holy to find opportunity in that very material and intellectual evolution. Even in this, they will find it impossible to do more than influence the incarnating Jivas, imparting to them ability to realise the nature of group consciousness, the quality of the seven Heavenly Men, but not being able to express themselves fully. Some clue to this mystery will come if the student carefully bears in mind that in our solar system and our seven planes, we have only the physical body of the Logos, and that that physical body is a limitation of the expression of His threefold nature. The first (sixth) Hierarchy might be viewed as endeavouring to express the mental vibration of the solar Logos and the second, His emotional, or cosmic astral, nature. |
[Page 1198] Huyền Giai này, theo nghĩa đen là huyền giai thứ bảy, là dòng tuôn đổ vào hệ mặt trời chúng ta của những Sự sống mà trong hệ mặt trời thứ nhất đã ở lại trên cõi riêng của mình, vì quá vô tội và thiêng liêng để tìm thấy cơ hội trong tiến hoá quá vật chất và trí tuệ ấy. Ngay cả trong hệ mặt trời này, các Ngài cũng sẽ thấy không thể làm gì hơn ngoài việc ảnh hưởng đến các Jivas nhập thể, ban cho họ khả năng chứng nghiệm bản chất của tâm thức nhóm, phẩm tính của bảy Đấng Thiên Nhân, nhưng không thể biểu lộ chính mình một cách trọn vẹn. Một vài đầu mối cho huyền nhiệm này sẽ đến nếu đạo sinh cẩn thận ghi nhớ rằng trong hệ mặt trời của chúng ta và bảy cõi của chúng ta, chúng ta chỉ có thể xác của Thượng đế, và thể xác ấy là một sự giới hạn đối với sự biểu lộ bản chất tam phân của Ngài. Huyền Giai thứ nhất (thứ sáu) có thể được xem như đang cố gắng biểu lộ rung động trí tuệ của Thái dương Thượng đế, còn huyền giai thứ hai thì biểu lộ bản chất cảm xúc, hay cảm dục vũ trụ, của Ngài. |
|
This second (seventh) Hierarchy has for its type of force the second aspect of the seventh type of force from out of the many. Some idea of the relative point in evolution of the solar Logos may be gained by study of the varying aspects of force which He is demonstrating in this particular incarnation. It is this energy which drives the Monads through into physical incarnation for it makes itself felt on the seventh plane. The energies which are functioning are those which the Logos has unfolded, and are the gain of previous incarnations. Gaps necessarily occur, and certain types of force are lacking, because He has as yet much cosmically to gain. |
Huyền Giai thứ hai (thứ bảy) này có loại mãnh lực là phương diện thứ hai của loại mãnh lực thứ bảy trong số nhiều loại. Có thể có được một ý niệm nào đó về điểm tiến hoá tương đối của Thái dương Thượng đế bằng cách nghiên cứu các phương diện mãnh lực khác nhau mà Ngài đang biểu lộ trong lần lâm phàm đặc thù này. Chính năng lượng này thúc đẩy các chân thần đi vào lâm phàm hồng trần vì nó được cảm nhận trên cõi thứ bảy. Những năng lượng đang hoạt động là những năng lượng mà Thượng đế đã khai mở, và là thành quả của các lần lâm phàm trước. Tất yếu có những khoảng trống, và một số loại mãnh lực còn thiếu, vì về mặt vũ trụ Ngài vẫn còn nhiều điều phải đạt được. |
|
Chính năng lượng của Huyền Giai này (có các con số là hai và bảy) dẫn đến sự biểu lộ của Đấng Lưỡng Tính Thiêng Liêng, và của bảy trung tâm mãnh lực là bảy Năng Lượng Tinh Thần. |
|
|
Hierarchy III. The third Creative Hierarchy (or the eighth) is a peculiarly interesting one. They are called “the Triads” for they hold in themselves the potencies [Page 1199] of triple evolution, mental, psychical, and spiritual. These Triads of Life are inherently the three Persons and the flower of the earlier system from a certain angle. From another angle, when studied as the “flower of the earlier Eight,” They are the eightfold points awaiting opportunity to flame forth. They are the devas who are ready for service, which is to give to another hierarchy certain qualities which are lacking. This Hierarchy is regarded as the great donors of immortality whilst themselves “standing aloof from incarnation.” Lords of Sacrifice and Love are They, but They cannot pass out of the logoic etheric body into the dense physical vehicle. |
Huyền Giai III. Huyền Giai Sáng Tạo thứ ba (hay thứ tám) là một huyền giai đặc biệt lý thú. Các Ngài được gọi là “các Tam nguyên tinh thần” vì các Ngài nắm giữ trong mình những tiềm năng [Page 1199] của sự tiến hoá tam phân: trí tuệ, thông linh, và tinh thần. Những Tam nguyên tinh thần của Sự sống này vốn là ba Ngôi Vị và là tinh hoa của hệ mặt trời trước theo một góc độ nào đó. Theo một góc độ khác, khi được nghiên cứu như “đóa hoa của Tám Đấng trước đây,” Các Ngài là những điểm bát phân đang chờ cơ hội để bùng cháy. Các Ngài là những thiên thần đã sẵn sàng phụng sự, mà sự phụng sự ấy là ban cho một huyền giai khác một số phẩm tính còn thiếu. Huyền Giai này được xem là những đấng ban tặng sự bất tử vĩ đại, trong khi chính Các Ngài lại “đứng ngoài sự nhập thể.” Các Ngài là các Đấng Chúa Tể của Hi sinh và Bác ái, nhưng Các Ngài không thể đi ra khỏi thể dĩ thái của Thượng đế để vào vận cụ hồng trần đậm đặc. |
|
This third Hierarchy wields the third aspect of electric force of the first type of cosmic energy. They stand for a recurrent cycle of that first type symbolised by the number 8. The formulae for these electrical energies are too complicated to be given here, but the student should bear in mind that these hierarchies express: |
Huyền Giai thứ ba này vận dụng phương diện thứ ba của điện lực thuộc loại năng lượng vũ trụ thứ nhất. Các Ngài tượng trưng cho một chu kỳ tái diễn của loại thứ nhất ấy, được biểu tượng hóa bằng số 8. Các công thức cho những năng lượng điện này quá phức tạp để trình bày ở đây, nhưng đạo sinh nên ghi nhớ rằng các huyền giai này biểu lộ: |
|
1. Septenary cosmic energy. |
1. Năng lượng vũ trụ thất phân. |
|
2. Cosmic prana. |
2. Prana vũ trụ. |
|
3. Solar energy or electric fire, solar fire and fire by friction. |
3. Năng lượng thái dương hay Lửa Điện, Lửa Thái dương và Lửa ma sát. |
|
Each hierarchy manifests a triple energy or an aspect of each of the above, and that necessitates a ninefold differentiation, for the two first are triple as is the third. It is the rejection of the Triadal Lives by units in the fourth Hierarchy, that of the human Monads, which precipitates a man eventually into the eighth sphere. He refuses to become a Christ, a Saviour and remains self-centred. |
Mỗi huyền giai biểu lộ một năng lượng tam phân hay một phương diện của mỗi điều kể trên, và điều đó đòi hỏi một sự biến phân cửu phân, vì hai điều đầu là tam phân cũng như điều thứ ba. Chính việc các đơn vị trong Huyền Giai thứ tư, tức các chân thần nhân loại, từ chối các Sự sống Tam nguyên tinh thần, là điều cuối cùng đẩy con người vào khối cầu thứ tám. Y từ chối trở thành một Đức Christ, một Đấng Cứu Rỗi, và vẫn chỉ tập trung vào bản thân. |
|
We have dealt with the first three hierarchies which are regarded as ever “seeing the Face of the Ruler of the Deep,” or as being so pure and holy that Their forces are in realised contact with Their emanating source. |
Chúng ta đã bàn đến ba huyền giai đầu tiên, những huyền giai được xem là luôn luôn “chiêm ngưỡng Thánh Nhan của Đấng Cai Quản Vực Sâu,” hay là thanh khiết và thiêng liêng đến mức các mãnh lực của Các Ngài ở trong sự tiếp xúc được chứng nghiệm với nguồn phát xuất của mình. |
|
We now take up for brief consideration two hierarchies [Page 1200] which closely concern ourselves, the human self-conscious entities. These two groups are literally three, as the fifth Hierarchy is a dual one and it is this which has led to some confusion and is the occult significance behind the ill-omened number thirteen. They are the “Seekers of satisfaction” and the cause of the second fall into generation, the fact behind the taking of a lower nature by the Ego. The fourth and the fifth Hierarchies are the ninth and tenth, or the “Initiates” and the “Perfect Ones.” All human beings, or “Imperishable Jivas,” are those who evolve through a graded series of initiations either self-induced or brought about on our planet with extraneous aid. This they achieve through a “marriage” with the order next to them, the fifth. They are then completed or perfected, and it is owing to this occult fact that the fourth Hierarchy is regarded as masculine and the fifth as feminine. |
Giờ đây chúng ta sẽ xét ngắn gọn hai huyền giai [Page 1200] có liên quan mật thiết đến chính chúng ta, những thực thể ngã thức nhân loại. Hai nhóm này theo nghĩa đen là ba, vì Huyền Giai thứ năm là một huyền giai nhị phân, và chính điều này đã dẫn đến một số nhầm lẫn và là ý nghĩa huyền bí đằng sau con số mười ba bị xem là xấu. Họ là những “Kẻ Tìm Kiếm sự thỏa mãn” và là nguyên nhân của lần sa ngã thứ hai vào sự sinh sản, là sự kiện nằm sau việc chân ngã khoác lấy một bản chất thấp hơn. Huyền Giai thứ tư và thứ năm là thứ chín và thứ mười, hay là các “Điểm đạo đồ” và các “Đấng Toàn Thiện.” Tất cả con người, hay các “Jivas Bất Hoại,” là những đấng tiến hoá qua một chuỗi điểm đạo theo cấp bậc, hoặc do tự mình tạo ra hoặc được thực hiện trên hành tinh chúng ta với sự trợ giúp từ bên ngoài. Điều này họ đạt được qua một “cuộc hôn phối” với huyền giai kế cận họ, tức huyền giai thứ năm. Khi ấy họ được hoàn tất hay toàn thiện, và chính do sự kiện huyền bí này mà Huyền Giai thứ tư được xem là nam tính và Huyền Giai thứ năm là nữ tính. |
|
Hierarchy IV. The fourth Creative Hierarchy is the group wherein the highest aspect of man, his “Father in Heaven” finds place. These lives are the points of fire who must become the flame; this they do through the agency of the fifth Hierarchy and the four wicks, or the two dual lower hierarchies. Thus it can be seen that where man is concerned, the fourth, fifth, sixth and seventh hierarchies are, during the cycle of incarnation, his very self. They are the “Lords of Sacrifice” and “Lords of Love,” the flower of Atma-buddhi. |
Huyền Giai IV. Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư là nhóm trong đó phương diện cao nhất của con người, “Cha trên Trời” của y, tìm được chỗ đứng. Những sự sống này là những điểm lửa phải trở thành ngọn lửa; điều này họ thực hiện qua tác nhân của Huyền Giai thứ năm và bốn tim đèn, hay hai huyền giai thấp nhị phân. Như vậy có thể thấy rằng, xét về con người, các huyền giai thứ tư, thứ năm, thứ sáu và thứ bảy, trong chu kỳ nhập thể, chính là bản thân y. Họ là các “Đấng Chúa Tể của Hi sinh” và “Đấng Chúa Tể của Bác ái,” là tinh hoa của Atma-buddhi. |
|
In studying these hierarchies, one of the most valuable lessons to be learned is the place and importance of man in the scheme. The hierarchy, for instance, which is the essence of the intangible Life of Spirit, and principle of Buddhi, is the esoteric cause of the cosmic marriage of spirit and matter, based on the love and desire of the Logos, but each hierarchy also expresses itself through one particular manifestation which comes to be regarded by the finite mind of man as the hierarchy itself. This [Page 1201] is not so, and care must be taken to distinguish between these hierarchies. |
Khi nghiên cứu các huyền giai này, một trong những bài học có giá trị nhất cần học là vị trí và tầm quan trọng của con người trong hệ hành tinh. Chẳng hạn, huyền giai là tinh túy của Sự sống vô hình của tinh thần, và là nguyên khí của Bồ đề, là nguyên nhân huyền bí của cuộc hôn phối vũ trụ giữa tinh thần và vật chất, dựa trên tình thương và dục vọng của Thượng đế; nhưng mỗi huyền giai cũng biểu lộ chính mình qua một biểu hiện đặc thù nào đó, điều được trí tuệ hữu hạn của con người xem như chính huyền giai ấy. Điều [Page 1201] này không phải vậy, và cần thận trọng để phân biệt giữa các huyền giai này. |
|
They are latent germs of force centres and manifest subjectively; they warm and vitalise groups of forms; they flower forth and express themselves through the medium of a form, or another hierarchy. These hierarchies are all interrelated and are negative or positive to each other as the case may be. |
Chúng là những mầm tiềm ẩn của các trung tâm mãnh lực và biểu lộ một cách chủ quan; chúng sưởi ấm và tiếp sinh lực cho các nhóm hình tướng; chúng nở hoa và biểu lộ chính mình qua trung gian của một hình tướng, hay một huyền giai khác. Các huyền giai này đều liên hệ với nhau và là âm hay dương đối với nhau tùy trường hợp. |
|
As is stated in the Secret Doctrine, this hierarchy is the nursery for the incarnating Jivas; (S. D., I, 238.) and it carried in it the germs of the Lives which achieved the human stage in another solar system, but were not able to proceed beyond that owing to the coming in of pralaya, which projected them into a state of latency. The condition of the hierarchy is similar, only on a cosmic scale, to the condition of the seeds of human life held in a state of obscuration during an interchain period. The three other hierarchies dealt with (first, second, and third) were those who have (in previous kalpas of logoic manifestation) passed beyond the human stage altogether. They are, therefore, the formless groups, as the remaining are the rupa groups or those having forms. |
Như đã được nói trong Giáo Lý Bí Nhiệm, huyền giai này là vườn ươm cho các Jivas nhập thể; (S. D., I, 238.) và nó mang trong mình các mầm sống của những Sự sống đã đạt đến giai đoạn nhân loại trong một hệ mặt trời khác, nhưng không thể tiến xa hơn vì sự xuất hiện của Giai kỳ qui nguyên, điều đã phóng chiếu họ vào một trạng thái tiềm ẩn. Tình trạng của huyền giai này tương tự, nhưng ở quy mô vũ trụ, với tình trạng của các hạt giống sự sống nhân loại được giữ trong trạng thái lu mờ trong một thời kỳ giữa hai dãy. Ba huyền giai khác đã được bàn đến (thứ nhất, thứ hai và thứ ba) là những huyền giai đã (trong các kalpas trước của sự biểu lộ của Thượng đế) vượt hẳn giai đoạn nhân loại. Do đó, các huyền giai ấy là những nhóm vô sắc tướng, trong khi các huyền giai còn lại là các nhóm rupa hay những nhóm có hình tướng. |
|
The fourth Creative Hierarchy, or the ninth, must ever be regarded in this solar system as occupying what might be considered as the third place, |
Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, hay thứ chín, trong hệ mặt trời này phải luôn được xem là chiếm giữ điều có thể được coi là vị trí thứ ba, |
|
First, the Lives or the three Persons of the Trinity. |
Thứ nhất, các Sự sống hay ba Ngôi Vị của Tam Vị. |
|
Thứ hai, các Nguyên Mẫu của con người, bảy Thánh Linh. |
|
|
Third, man or the lowest manifestation of the self-conscious Spirit aspect. |
Thứ ba, con người hay biểu lộ thấp nhất của phương diện tinh thần ngã thức. |
|
This needs to be carefully considered and has no reference to the form aspect but solely to the nature of the lives expressing themselves through other lives who are also self-conscious, or fully intelligent. This, certain of the hierarchies are not. |
Điều này cần được cân nhắc cẩn thận và không liên quan gì đến phương diện hình tướng mà chỉ liên quan đến bản chất của các sự sống đang biểu lộ qua những sự sống khác, những sự sống này cũng có ngã thức, hay hoàn toàn thông tuệ. Một số huyền giai thì không như vậy. |
|
[Page 1202] The four lower hierarchies are all concerned with manifestation in the three worlds, or in the dense physical body of the solar Logos. They are those who can discard or pass through the etheric body of the solar Logos and take forms composed of either gaseous, liquid, or dense substance. The others cannot. They cannot fall into physical generation. |
[Page 1202] Bốn huyền giai thấp đều liên quan đến sự biểu hiện trong ba cõi giới, hay trong thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế. Họ là những đấng có thể bỏ đi hay xuyên qua thể dĩ thái của Thái dương Thượng đế và mang lấy những hình tướng được cấu thành bằng chất liệu khí, lỏng, hay đậm đặc. Các huyền giai khác thì không thể. Các huyền giai ấy không thể sa vào sự sinh sản hồng trần. |
|
Students must bear in mind that from the standpoint of the Logos, the solar Angels on the mental plane (the fifth subplane of the cosmic physical plane) are in physical incarnation, and what is called the “second fall” applies to this. The first fall has reference to the taking of a form of cosmic etheric matter, such as is the case with the Heavenly Men, the prototypes of the human jivas. In this latter case the bodies used are called “formless” from our standpoint, and are “vital bodies” animated by cosmic prana. In the case of ourselves and the remaining groups, the forms are composed of substance of the three lower planes (that which the Logos does not regard as principle) and, therefore, matter responding still to the vibration of the earlier system. This means that the four lower hierarchies are links between the life of the past and of the future. They are the present. They had not finished their contacts with the active intelligent principle of the preceding kalpa, and so must continue such contacts in this. They will work out of it in this system, the four will become the three and they will then be the three, higher arupa hierarchies of the next system. |
Các đạo sinh phải ghi nhớ rằng theo quan điểm của Thượng đế, các Thái dương Thiên Thần trên cõi trí (cõi phụ thứ năm của cõi hồng trần vũ trụ) đang ở trong lâm phàm hồng trần, và điều được gọi là “lần sa ngã thứ hai” áp dụng cho điều này. Lần sa ngã thứ nhất liên quan đến việc mang lấy một hình tướng bằng vật chất dĩ thái vũ trụ, như trường hợp của các Đấng Thiên Nhân, các nguyên mẫu của các jivas nhân loại. Trong trường hợp sau này, các thân thể được dùng được gọi là “vô sắc tướng” theo quan điểm của chúng ta, và là “thể sinh lực” được tiếp sinh lực bởi prana vũ trụ. Trong trường hợp của chính chúng ta và các nhóm còn lại, các hình tướng được cấu thành bằng chất liệu của ba cõi thấp (điều mà Thượng đế không xem là nguyên khí) và do đó là vật chất vẫn còn đáp ứng với rung động của hệ mặt trời trước. Điều này có nghĩa là bốn huyền giai thấp là những mối nối giữa sự sống của quá khứ và của tương lai. Họ là hiện tại. Họ chưa hoàn tất những tiếp xúc của mình với nguyên khí hoạt động thông tuệ của kalpa trước, và vì vậy phải tiếp tục những tiếp xúc ấy trong kalpa này. Họ sẽ thoát ra khỏi điều đó trong hệ mặt trời này, bốn sẽ trở thành ba, và khi ấy họ sẽ là ba huyền giai arupa cao hơn của hệ mặt trời kế tiếp. |
|
Before continuing our consideration of the particular hierarchies, it is necessary to point out that in these hierarchies, certain of them are termed “dominant hierarchies” and others “subsidiary hierarchies.” By this is meant that certain of them are in this solar system expressing themselves more fully than the others, and this necessarily entails the consequence that their vibration is more to be felt than that of the subsidiary groups. [Page 1203] The dominant groups are the second, fourth and fifth, and this because: |
Trước khi tiếp tục xem xét các huyền giai riêng biệt, cần chỉ ra rằng trong các huyền giai này, một số được gọi là “huyền giai trội” và một số khác là “huyền giai phụ thuộc.” Điều này có nghĩa là một số huyền giai trong hệ mặt trời này đang biểu lộ chính mình đầy đủ hơn những huyền giai khác, và điều đó tất yếu kéo theo hệ quả là rung động của chúng được cảm nhận nhiều hơn rung động của các nhóm phụ thuộc. [Page 1203] Các nhóm trội là nhóm thứ hai, thứ tư và thứ năm, và điều này là vì: |
|
a. The second is the great expression of duality, of the Son as He vitalises the Sun. |
a. Huyền giai thứ hai là biểu lộ lớn lao của nhị nguyên tính, của Con khi Ngài tiếp sinh lực cho Mặt Trời. |
|
b. The fourth is the hierarchy of human Monads who are the mediators or the synthesisers; they express the gain of System 1 and the goal of System 2. |
b. Huyền giai thứ tư là huyền giai của các chân thần nhân loại, những đấng là các trung gian hay các đấng tổng hợp; họ biểu lộ thành quả của hệ mặt trời thứ nhất và mục tiêu của hệ mặt trời thứ hai. |
|
c. The fifth or tenth is closely linked with the five liberated hierarchies, and is an expression of their synthesised life. It might, therefore, be said that the fifth Hierarchy serves as the representative of the five liberated groups and the fourth is the representative group in this system, whilst the second represents (for man, or these two groups united) that which is the Spirit aspect, the Father, the Unknown. |
c. Huyền giai thứ năm hay thứ mười liên kết mật thiết với năm huyền giai được giải thoát, và là một biểu lộ của sự sống được tổng hợp của các huyền giai ấy. Vì vậy, có thể nói rằng Huyền Giai thứ năm phụng sự như đại diện của năm nhóm được giải thoát, và Huyền Giai thứ tư là nhóm đại diện trong hệ mặt trời này, trong khi Huyền Giai thứ hai biểu lộ (đối với con người, hay đối với hai nhóm này hợp nhất) điều là phương diện tinh thần, là Cha, là Đấng Vô Danh. |
|
Hierarchy V. The fifth Creative Hierarchy is, as we know from study of the Secret Doctrine, a most mysterious one. This mystery is incident upon the relation of the fifth Hierarchy to the five liberated groups. This relation, in connection with our particular planet, which is not a sacred planet, can be somewhat understood if the history of the Buddha and his work is contemplated. This is hinted at in the third volume of the Secret Doctrine. ( S. D., I, 239; III, Sections 43, 44, 45) |
Huyền Giai V. Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm, như chúng ta biết qua việc nghiên cứu Giáo Lý Bí Nhiệm, là một Huyền Giai vô cùng huyền bí. Sự huyền bí này phát sinh từ mối liên hệ của Huyền Giai thứ năm với năm nhóm được giải thoát. Mối liên hệ này, khi gắn với hành tinh đặc thù của chúng ta, vốn không phải là một hành tinh thiêng liêng, có thể được hiểu phần nào nếu chiêm ngưỡng lịch sử của Đức Phật và công việc của Ngài. Điều này được ám chỉ trong quyển ba của Giáo Lý Bí Nhiệm. ( S. D., I, 239; III, Sections 43, 44, 45) |
|
The relation of the fifth Hierarchy to a certain constellation has also a bearing upon this mystery. This is hidden in the karma of the solar Logos, and concerns His relationship to another solar Logos, and the interplay of force between them in a greater mahakalpa. This is the true “secret of the Dragon,” and it was the dragon-influence or the “serpent energy” which caused the influx of manasic or mind energy into the solar system. Entangled closely with the karma of these two cosmic [Page 1204] Entities, was that of the lesser cosmic Entity Who is the Life of our planet, the planetary Logos. It was this triple karma which brought in the “serpent religion” and the “Serpents or Dragons of Wisdom” in Lemurian days. It had to do with solar and planetary Kundalini, or serpent fire. A hint lies in the fact that the constellation of the Dragon has the same relation to the ONE greater than our Logos as the centre at the base of the spine has to a human being. It concerns stimulation, and vitalisation with a consequent co-ordination of the manifesting fires. |
Mối liên hệ của Huyền Giai thứ năm với một chòm sao nào đó cũng có liên quan đến huyền nhiệm này. Điều này ẩn giấu trong nghiệp quả của Thái dương Thượng đế, và liên quan đến mối tương quan của Ngài với một Thái dương Thượng đế khác, cùng sự tương tác của mãnh lực giữa Các Ngài trong một mahakalpa lớn hơn. Đây là “bí mật của Rồng” chân chính, và chính ảnh hưởng của rồng hay “năng lượng rắn” đã gây ra sự tuôn vào của năng lượng manas hay năng lượng trí tuệ trong hệ mặt trời. Gắn chặt với nghiệp quả của hai [Page 1204] Thực Thể vũ trụ này là nghiệp quả của Thực Thể vũ trụ nhỏ hơn, Đấng là Sự Sống của hành tinh chúng ta, tức Đức Hành Tinh Thượng Đế. Chính nghiệp quả tam phân này đã đưa vào “tôn giáo rắn” và “các Rắn hay Rồng Minh Triết” trong thời Lemuria. Điều đó liên quan đến Kundalini thái dương và hành tinh, hay lửa rắn. Một gợi ý nằm trong sự kiện rằng chòm sao Rồng có cùng mối liên hệ với ĐẤNG lớn hơn Thượng đế của chúng ta như trung tâm ở đáy cột sống có với một con người. Điều này liên quan đến sự kích thích, và sự tiếp sinh lực cùng với sự phối hợp tất yếu của các ngọn lửa đang biểu hiện. |
|
A clue to the mystery lies also in the relation of this fifth group to the two contracting poles. They are the fivefold Links, the “Benign Uniters” and “the Producers of the Atonement.” Esoterically, they are the “Saviours of the Race” and from Them emanates that principle which—in conjunction with the highest aspect—lifts the lower aspect up to Heaven. |
Một đầu mối cho huyền nhiệm này cũng nằm trong mối liên hệ của nhóm thứ năm này với hai cực đang co kéo. Họ là các Mối Nối ngũ phân, là “Những Đấng Hợp Nhất Từ Hòa” và “Những Đấng Tạo Ra Sự Chuộc Tội.” Theo huyền bí học, Họ là “Đấng Cứu Rỗi của Nhân Loại” và từ Các Ngài phát ra nguyên khí mà—kết hợp với phương diện cao nhất—nâng phương diện thấp hơn lên Thiên giới. |
|
When these mysteries are carefully studied, and due application made to the lives of the greatest exponents of the at-one-ing principle, it will become apparent how great and all-important is their place in the scheme. |
Khi các huyền nhiệm này được nghiên cứu cẩn trọng, và được áp dụng thích đáng vào cuộc đời của những vị biểu hiện vĩ đại nhất của nguyên lý hợp nhất, thì sẽ trở nên hiển nhiên rằng vị trí của họ trong hệ hành tinh lớn lao và tối quan trọng đến mức nào. |
|
It is for this reason that the units of the fifth Hierarchy are called “The Hearts of Fiery Love”; they save through love, and in their turn these lives are peculiarly close to the great Heart of Love of the solar Logos. These great redeeming Angels, who are the Sons of Men on their own true plane, the mental, are ever, therefore, pictured as taking the form of twelve-petalled lotuses—this symbology linking them up with “the Son of Divine Love,” the manifested solar system, which is said to be a cosmic twelve-petalled lotus, and with the logoic causal lotus, equally of a twelve-petalled nature. |
Chính vì lý do này mà các đơn vị của Huyền Giai thứ năm được gọi là “Những Trái Tim của Tình Thương Rực Lửa”; họ cứu rỗi bằng tình thương, và đến lượt mình các sự sống này lại đặc biệt gần gũi với Trái Tim Vĩ Đại của Tình Thương của Thái dương Thượng đế. Vì vậy, các Thiên Thần cứu chuộc vĩ đại này, là những người con của nhân loại trên cõi chân thực của chính họ, tức cõi trí, luôn được mô tả như mang hình tướng những hoa sen mười hai cánh—biểu tượng này nối kết họ với “Con của Bác Ái thiêng liêng,” tức hệ mặt trời biểu hiện, vốn được nói là một hoa sen mười hai cánh vũ trụ, và với hoa sen nguyên nhân của Thượng đế, cũng có bản chất mười hai cánh. |
|
We have, therefore, a direct flow of energy flowing through: [Page 1205] |
Vì vậy, chúng ta có một dòng năng lượng trực tiếp chảy qua: [Page 1205] |
|
a. The logoic twelve-petalled egoic Lotus. Cosmic mental plane. |
a. Hoa Sen chân ngã mười hai cánh của Thượng đế. Cõi trí vũ trụ. |
|
b. The solar twelve-petalled Lotus. |
b. Hoa Sen thái dương mười hai cánh. |
|
c. The planetary logoic Heart, also a twelve-petalled Lotus. |
c. Trái Tim của Đức Hành Tinh Thượng Đế, cũng là một Hoa Sen mười hai cánh. |
|
d. The twelve-petalled human egoic lotus on the mental plane. |
d. Hoa sen chân ngã nhân loại mười hai cánh trên cõi trí. |
|
e. The twelve-petalled heart centre in a human being. |
e. Trung tâm tim mười hai cánh trong một con người. |
|
Or, to word it otherwise, energy flows directly from: |
Hoặc, nói theo cách khác, năng lượng chảy trực tiếp từ: |
|
a. The solar Logos via three great cosmic centres: |
a. Thái dương Thượng đế qua ba trung tâm vũ trụ lớn: |
|
1. The central spiritual Sun. |
1. Mặt trời Tinh thần Trung Ương. |
|
2. The heart of the Sun. |
2. Trái tim của Mặt Trời. |
|
3. The physical Sun. |
3. Mặt Trời hồng trần. |
|
b. The heart centre of the planetary Logos, situated on the fourth cosmic etheric plane (our buddhic plane) |
b. Trung tâm tim của Đức Hành Tinh Thượng Đế, nằm trên cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư (cõi Bồ đề của chúng ta) |
|
c. The egoic lotus of a human being on the mental plane, which is literally a correspondence to the “heart of the sun.” The monadic point is a reflection in the human system of the “central spiritual sun.” |
c. Hoa sen chân ngã của một con người trên cõi trí, vốn theo nghĩa đen là một tương ứng với “trái tim của mặt trời.” Điểm chân thần là một phản chiếu trong hệ thống của con người của “mặt trời tinh thần trung ương.” |
|
d. The heart centre of a man on the etheric plane of the physical plane, which is in its turn a correspondence to the physical sun. |
d. Trung tâm tim của con người trên cõi dĩ thái của cõi hồng trần, đến lượt nó là một tương ứng với mặt trời hồng trần. |
|
Thus the tiny atom man is linked with the great central Life of the solar system. |
Như vậy, nguyên tử nhỏ bé là con người được nối kết với Sự sống trung tâm vĩ đại của hệ mặt trời. |
|
This Fifth Hierarchy is equally, under the law, a distributor of energy to the fifth subplane of each plane in the system, only it must be borne in mind that in the three worlds, it is the fifth subplane counting from above downward whilst in the worlds of superhuman evolution, it is the fifth counting from below upwards. This hierarchy wields, as we know, the dual aspects of manas, one in the three worlds and one which makes itself felt in higher spheres. |
Huyền Giai thứ năm này cũng vậy, theo định luật, là một đấng phân phối năng lượng đến cõi phụ thứ năm của mỗi cõi trong hệ mặt trời, tuy nhiên phải ghi nhớ rằng trong ba cõi giới, đó là cõi phụ thứ năm tính từ trên xuống, trong khi trong các thế giới của tiến hoá siêu nhân, đó là cõi phụ thứ năm tính từ dưới lên. Như chúng ta biết, Huyền Giai này vận dụng các phương diện kép của manas, một trong ba cõi giới và một phương diện khác biểu lộ ảnh hưởng của nó trong các khối cầu cao hơn. |
|
[Page 1206] It is necessary to bear in mind that all these groups are (even when termed “formless”) the true forms of all that persists, for all are in the etheric body of the solar Logos or planetary Logos. This is a point requiring careful emphasis; students have for too long regarded the form as being the dense physical body, whereas to the occultist the physical body is not the form, but a gross maya, or illusion, and the true form is the body of vitality. Therefore, these hierarchies are the sumtotal of the vital lives and the substratum or the substance of all that is. We might regard the subject as follows: |
[Page 1206] Cần ghi nhớ rằng tất cả các nhóm này (ngay cả khi được gọi là “vô tướng”) đều là các hình tướng chân thực của mọi điều tồn tại bền vững, vì tất cả đều ở trong thể dĩ thái của Thái dương Thượng đế hay Đức Hành Tinh Thượng Đế. Đây là một điểm cần được nhấn mạnh cẩn trọng; các đạo sinh từ quá lâu đã xem hình tướng là thể xác hồng trần đậm đặc, trong khi đối với nhà huyền bí học, thể xác hồng trần không phải là hình tướng, mà là một ảo lực thô nặng, hay ảo tưởng, còn hình tướng chân thực là thể sinh lực. Vì vậy, các huyền giai này là tổng thể của các sự sống sinh lực và là nền tảng hay chất liệu của mọi cái đang hiện hữu. Chúng ta có thể xem xét chủ đề này như sau: |
|
a. The four superior groups are the hierarchies expressing themselves through the three cosmic ethers, the second, third and fourth. |
a. Bốn nhóm cao hơn là các huyền giai biểu hiện qua ba dĩ thái vũ trụ, thứ hai, thứ ba và thứ tư. |
|
b. The two lowest groups are the lives which are found functioning as the involutionary matter (organised and unorganised) of the logoic dense physical body, the liquid and gaseous, with the living substance of the four higher subplanes of the systemic dense physical body. |
b. Hai nhóm thấp nhất là các sự sống được tìm thấy đang hoạt động như vật chất giáng hạ tiến hoá (có tổ chức và không có tổ chức) của thể xác hồng trần đậm đặc của Thượng đế, tức phần lỏng và khí, cùng với chất liệu sống của bốn cõi phụ cao hơn của thể xác hồng trần đậm đặc của hệ mặt trời. |
|
c. The fifth Hierarchy has an interesting position as the “mediating” body between the higher four and those which are found on the lower three subplanes. There is a vital and significant correspondence to be found between the seven head centres and the seven groups of Egos on the mental plane, and there is an occult analogy between the three head centres (pineal gland, pituitary body, and the alta major centres) and the expression of these seven groups of Egos in the three worlds. This is a most important esoteric fact, and all students of meditation upon the laws of at-one-ment must take this analogy into consideration. |
c. Huyền Giai thứ năm có một vị trí thú vị như nhóm “trung gian” giữa bốn nhóm cao hơn và những nhóm được tìm thấy trên ba cõi phụ thấp hơn. Có một tương ứng sinh động và đầy thâm nghĩa giữa bảy trung tâm đầu và bảy nhóm chân ngã trên cõi trí, và có một tương đồng huyền bí giữa ba trung tâm đầu (tuyến tùng, tuyến yên, và các trung tâm alta major) với sự biểu hiện của bảy nhóm chân ngã này trong ba cõi giới. Đây là một sự kiện nội môn vô cùng quan trọng, và mọi đạo sinh tham thiền về các định luật hợp nhất đều phải lưu ý đến sự tương đồng này. |
|
It is useful to remember the place of these hierarchies in the scheme, and to realise that upon the sumtotal of these vital bodies is gradually gathered the dense manifestation which we regard as the evolutionary matter. The forms are built (from the form of all atoms to the [Page 1207] body of the Ego, from the form of a flower to the vast planetary or solar lotus) because the hierarchies exist as the aggregate of germ lives, giving the impulse, providing the model, and procuring, through their very existence, the entire raison d’être of all that is seen on all planes. |
Thật hữu ích khi ghi nhớ vị trí của các huyền giai này trong hệ hành tinh, và chứng nghiệm rằng trên tổng thể của các thể sinh lực này, biểu hiện đậm đặc mà chúng ta xem là vật chất tiến hoá đang dần dần được tập hợp lại. Các hình tướng được xây dựng (từ hình tướng của mọi nguyên tử đến [Page 1207] thể nguyên nhân của chân ngã, từ hình tướng của một bông hoa đến hoa sen hành tinh hay thái dương bao la) bởi vì các huyền giai tồn tại như tổng hợp của các sự sống mầm giống, ban xung lực, cung cấp mô hình, và do chính sự hiện hữu của chúng mà tạo nên toàn bộ lý do tồn tại của mọi điều được thấy trên mọi cõi. |
|
Hierarchies VI and VII. These sixth and seventh Hierarchies which provide the substance forms of the three worlds have a vital use and a most interesting place. From the logoic standpoint, they are not regarded as providing principles, but from the standpoint of man they do provide him with his lowest principles. They hold the same relation to the Logos as the dense physical body does to man, and all that concerns the evolution of man must (in this particular place) be studied as going on within the physical, logoic vehicle. They deal with the display of physical energy; with the working out in the physical vehicle, of all divine purposes, and with the physical organisation of a certain great cosmic Life. |
Huyền Giai VI và VII. Hai Huyền Giai thứ sáu và thứ bảy này, vốn cung cấp các hình tướng chất liệu của ba cõi giới, có một công dụng thiết yếu và một vị trí rất thú vị. Từ quan điểm của Thượng đế, chúng không được xem là cung cấp các nguyên khí, nhưng từ quan điểm của con người, chúng quả thật cung cấp cho y các nguyên khí thấp nhất của mình. Chúng giữ cùng mối liên hệ với Thượng đế như thể xác hồng trần đậm đặc đối với con người, và mọi điều liên quan đến sự tiến hoá của con người phải (ở chỗ đặc biệt này) được nghiên cứu như đang diễn ra bên trong vận cụ hồng trần của Thượng đế. Chúng đề cập đến sự biểu lộ của năng lượng hồng trần; đến việc triển khai trong vận cụ hồng trần mọi thiên ý, và đến tổ chức hồng trần của một Sự Sống vũ trụ lớn lao nào đó. |
|
Particularly is this so when we view the two hierarchies under consideration. They are the lowest residue of the previous system, and the energy of that matter (liquid, gaseous and dense) which the vibration of the logoic permanent atom (on the plane adi) attracts to itself in the building of the divine form. For purposes of clarification and of generalisation, it might be noted that the seventh Hierarchy is the life or energy found at the heart of every atom, its positive aspect, and the sixth Hierarchy is the life of the forms of all the etheric bodies of every tangible object. The function of this Hierarchy is well described in the words of the old Commentary: |
Điều này đặc biệt đúng khi chúng ta xem xét hai huyền giai đang bàn đến. Chúng là phần cặn thấp nhất của hệ mặt trời trước, và là năng lượng của loại vật chất ấy (lỏng, khí và đậm đặc) mà rung động của nguyên tử trường tồn của Thượng đế (trên cõi adi) hút về cho chính nó trong việc xây dựng hình tướng thiêng liêng. Để làm sáng tỏ và khái quát hoá, cần lưu ý rằng Huyền Giai thứ bảy là sự sống hay năng lượng được tìm thấy ở trung tâm của mọi nguyên tử, phương diện dương của nó, và Huyền Giai thứ sáu là sự sống của các hình tướng của mọi thể dĩ thái của mọi vật hữu hình. Chức năng của Huyền Giai này được mô tả rất rõ trong lời của Cổ Luận: |
|
“Các thiên thần nghe Linh từ phát ra. Họ hi sinh chính mình và từ chất liệu của chính họ, họ xây dựng hình tướng được mong muốn. Họ rút sự sống và vật chất từ chính mình, và hiến mình cho xung lực thiêng liêng.” |
|
|
[Page 1208] It is not possible to say much more anent these two last Hierarchies. Much that concerns them has been covered in the section of this Treatise which deals with the fire of matter. I would only point out that just as we teach in the occult wisdom that there is a definite progression from one kingdom into the next higher above, so there is a similar activity in the realm of the hierarchies. The lives which compose a Hierarchy pass in ordered cycles into the next above, though the word “above” but serves to mislead. It is consciousness and realisation which must be considered as being transferred and the consciousness of one hierarchy expands into that of the next higher. |
[Page 1208] Không thể nói thêm nhiều hơn về hai Huyền Giai cuối cùng này. Nhiều điều liên quan đến chúng đã được trình bày trong phần của bộ Luận này bàn về lửa của vật chất. Tôi chỉ muốn chỉ ra rằng cũng như chúng ta dạy trong Minh Triết huyền bí rằng có một sự tiến triển xác định từ giới này sang giới cao hơn kế tiếp, thì trong lĩnh vực các huyền giai cũng có một hoạt động tương tự. Các sự sống cấu thành một Huyền Giai đi qua những chu kỳ có trật tự vào Huyền Giai kế trên, dù từ “trên” chỉ gây hiểu lầm. Điều phải được xem là được chuyển dịch là tâm thức và sự chứng nghiệm, và tâm thức của một huyền giai mở rộng vào tâm thức của huyền giai cao hơn kế tiếp. |
|
This can also be viewed in terms of energy. The negative lives of a hierarchy follow the following sequence: |
Điều này cũng có thể được nhìn dưới góc độ năng lượng. Các sự sống âm của một huyền giai đi theo trình tự sau: |
|
1. Negative energy. |
1. Năng lượng âm. |
|
2. Equilibrised energy. |
2. Năng lượng được quân bình. |
|
3. Positive energy. |
3. Năng lượng dương. |
|
The positive lives of one hierarchy become the negative lives of another when they pass into it, and this it is which leads to the general confusion of ideas under which the average student labours. If he is to comprehend the matter with accuracy, he must study each hierarchy in a threefold manner, and view it also in its transitional state, as the negative blends and merges into the positive, and the positive becomes the negative pole of a higher vibratory stage. There are, therefore, nine states of consciousness through which each hierarchy has to pass, and some idea of the significance of this and their relativity can be gained by a consideration of the nine Initiations of the fourth Creative Hierarchy. Within these nine distinct expansions through which each life in each hierarchy must pass, are to be found lesser expansions and it is here that the main difficulty for the student of divine psychology lies. The whole subject concerns the [Page 1209] psyche, or second aspect, of every life—superhuman, human and subhuman—and only when the true psychology is better understood will the subject take on its true importance. Then the nine unfoldments of each hierarchy will be somewhat comprehended, and their relative importance assigned. |
Các sự sống dương của một huyền giai trở thành các sự sống âm của một huyền giai khác khi chúng đi vào đó, và chính điều này dẫn đến sự lẫn lộn chung về ý tưởng mà đạo sinh trung bình phải chịu đựng. Nếu y muốn thấu hiểu vấn đề một cách chính xác, y phải nghiên cứu mỗi huyền giai theo cách tam phân, và cũng phải nhìn nó trong trạng thái chuyển tiếp của nó, khi cái âm hòa lẫn và nhập vào cái dương, và cái dương trở thành cực âm của một giai đoạn rung động cao hơn. Vì vậy, có chín trạng thái tâm thức mà mỗi huyền giai phải đi qua, và có thể có được một ý niệm nào đó về ý nghĩa của điều này cùng tính tương đối của chúng bằng cách xem xét chín cuộc Điểm đạo của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư. Bên trong chín sự mở rộng riêng biệt này mà mỗi sự sống trong mỗi huyền giai phải trải qua, còn có những sự mở rộng nhỏ hơn, và chính ở đây nằm khó khăn chính đối với đạo sinh của tâm lý học thiêng liêng. Toàn bộ chủ đề này liên quan đến [Page 1209] linh hồn, hay phương diện thứ hai, của mọi sự sống—siêu nhân, nhân loại và hạ nhân loại—và chỉ khi tâm lý học chân chính được hiểu rõ hơn thì chủ đề này mới mang lấy tầm quan trọng đích thực của nó. Khi đó chín sự khai mở của mỗi huyền giai sẽ được hiểu phần nào, và tầm quan trọng tương đối của chúng sẽ được xác định. |
|
Study of the matter in each kingdom will not as yet bring full enlightenment regarding the constitution of the elements of the human kingdom and its principles, which are the manifestations of the different hierarchies. The true revelation will only come as the following points are recognised: |
Việc nghiên cứu vật chất trong mỗi giới hiện chưa thể mang lại sự soi sáng trọn vẹn về cấu tạo của các nguyên tố của giới nhân loại và các nguyên khí của nó, vốn là những biểu hiện của các huyền giai khác nhau. Sự mặc khải chân thực sẽ chỉ đến khi các điểm sau được nhận ra: |
|
1. The triple nature of man. |
1. Bản chất tam phân của con người. |
|
2. The distinctions between the vehicle and that which utilises the vehicle. |
2. Những phân biệt giữa vận cụ và cái sử dụng vận cụ ấy. |
|
3. The distinction between a Ray which is the expression of logoic energy and a positive emanation, and a hierarchy which is a negative emanation of the Logos, upon which His positive energy impresses itself, driving that hierarchy on to self expression and forcing the “marriage of the poles.” |
3. Sự phân biệt giữa một cung là biểu hiện của năng lượng của Thượng đế và đồng thời là một phát xạ dương, với một huyền giai là một phát xạ âm của Thượng đế, trên đó năng lượng dương của Ngài in dấu chính nó, thúc đẩy huyền giai ấy đi đến tự biểu hiện và cưỡng bách “sự hôn phối của các cực.” |
|
The whole subject is very involved and difficult but light will begin to dawn before long when science recognises the nature, place and responsibility of the etheric body in man, or of his vital body, and its position as the true form, and basic unit of the dense physical body. When this has been admitted, and the illuminating facts recorded and known, when the connection between the two is grasped, and the necessary deductions and correlations are made, the whole subject of logoic manifestation and the work of the Lives on the four higher planes, with their effect upon the Logoic dense physical plane (our three worlds of expression) will take on a new colouring. The thoughts of men will be revolutionised on the subject of creation; [Page 1210] the terms and expressions now used will be corrected, and all will be expressed in terms of form-building energy, and the three modes of electrical phenomena. This realisation is rapidly on its way but only the generation after the one which the children of the present age are expressing, will see it demonstrated to such an extent as to place etheric electrical phenomena beyond all dispute. This will be done by the coming in of egos who are fully conscious on the etheric levels and who can see all that which is now the subject of speculation. They—from their great numbers and high stage of intellectuality—will rescue the whole matter from the realm of controversy and demonstrate the facts. |
Toàn bộ chủ đề này rất phức tạp và khó khăn, nhưng ánh sáng sẽ sớm bắt đầu ló rạng khi khoa học nhận ra bản chất, vị trí và trách nhiệm của thể dĩ thái nơi con người, hay thể sinh lực của y, và vị trí của nó như hình tướng chân thực, và đơn vị cơ bản của thể xác hồng trần đậm đặc. Khi điều này được thừa nhận, và các sự kiện soi sáng được ghi nhận và biết đến, khi mối liên hệ giữa hai thể được nắm bắt, và các suy luận cùng tương quan cần thiết được thực hiện, thì toàn bộ chủ đề về biểu hiện của Thượng đế và công việc của các Sự Sống trên bốn cõi cao hơn, cùng với ảnh hưởng của các Ngài lên cõi hồng trần đậm đặc của Thượng đế (ba cõi giới biểu hiện của chúng ta) sẽ mang một sắc thái mới. Tư tưởng của con người sẽ được cách mạng hoá về chủ đề sáng tạo; [Page 1210] các thuật ngữ và cách diễn đạt hiện nay sẽ được điều chỉnh, và mọi sự sẽ được diễn đạt theo năng lượng xây dựng hình tướng, cùng ba phương thức của hiện tượng điện. Sự chứng nghiệm này đang nhanh chóng đến gần, nhưng chỉ thế hệ sau thế hệ mà con cái của thời đại hiện nay đang biểu hiện mới thấy nó được chứng minh đến mức đặt các hiện tượng điện dĩ thái vượt ngoài mọi tranh cãi. Điều này sẽ được thực hiện nhờ sự xuất hiện của các chân ngã hoàn toàn hữu thức trên các cấp dĩ thái và có thể thấy tất cả những gì hiện nay còn là đối tượng của suy đoán. Họ—nhờ số lượng đông đảo và trình độ trí tuệ cao—sẽ cứu toàn bộ vấn đề này ra khỏi lĩnh vực tranh luận và chứng minh các sự kiện. |
|
The work of building forms will never be understood till the true function of the etheric body is realised. It is the attractive agent for those lives which are so low an order as to be occultly inert. These lives, which are not included in the list of hierarchies, are acted upon by the sixth and seventh groups and by the energy emanating from them. They are stirred from the inertia in which they have rested, and are driven to take their place, and to form the concrete vehicles of all that is. They are the lowest manifestation of that which is abstract; they are the densest concretion of Spirit; they are the failures of the system preceding this, and their failure is so complete (from the standpoint of consciousness) that all the response they can make to the positive vibration of the seventh Hierarchy is simply to be attracted. They can be occultly drawn into place but only at the close of this solar system will they be in a condition to pass into and become the seventh Hierarchy of the next solar system. |
Công việc xây dựng hình tướng sẽ không bao giờ được hiểu cho đến khi chức năng chân thực của thể dĩ thái được chứng nghiệm. Nó là tác nhân hấp dẫn đối với những sự sống có thứ bậc thấp đến mức theo huyền bí học là trì trệ. Những sự sống này, không được bao gồm trong danh sách các huyền giai, bị tác động bởi nhóm thứ sáu và thứ bảy cùng năng lượng phát ra từ chúng. Chúng được khuấy động khỏi trạng thái trì trệ mà chúng đã an nghỉ trong đó, và bị thúc đẩy nhận lấy vị trí của mình, và tạo thành các vận cụ cụ thể của mọi cái đang hiện hữu. Chúng là biểu hiện thấp nhất của cái trừu tượng; chúng là sự kết tụ đậm đặc nhất của Tinh thần; chúng là những thất bại của hệ mặt trời trước hệ mặt trời này, và sự thất bại của chúng hoàn toàn đến mức (xét từ quan điểm tâm thức) mọi đáp ứng mà chúng có thể tạo ra đối với rung động dương của Huyền Giai thứ bảy chỉ đơn giản là bị hút vào. Chúng có thể được kéo vào vị trí một cách huyền bí, nhưng chỉ vào lúc kết thúc hệ mặt trời này chúng mới ở trong tình trạng có thể đi vào và trở thành Huyền Giai thứ bảy của hệ mặt trời kế tiếp. |
|
The goal for that which is not a principle is that it shall become a vital principle through the play of energy upon it. We are dealing here with that mysterious something which has been called “the refuse of that which earlier [Page 1211] was seen,” with that latent energy which hid the lowest vibration of the system before ours, and which was so heavy, and so inert, as to be regarded beyond the ken of the Logos. He was unaware of it, and the object before these peculiar lives which live (and yet are occultly dead) is that they must force themselves into the range of His conscious control by response to those lives which are consciously directed by Him, and who are, therefore, the Saviours of the lowest. |
Mục tiêu đối với cái không phải là một nguyên khí là nó sẽ trở thành một nguyên khí sinh động nhờ sự tác động của năng lượng lên nó. Ở đây chúng ta đang bàn đến điều huyền bí nào đó đã được gọi là “phế dư của cái mà trước đây [Page 1211] đã được thấy,” với năng lượng tiềm ẩn đã che giấu rung động thấp nhất của hệ mặt trời trước hệ mặt trời chúng ta, và vốn nặng nề, trì trệ đến mức bị xem là vượt ngoài tầm biết của Thượng đế. Ngài không nhận biết nó, và mục tiêu đặt ra trước những sự sống đặc biệt này, vốn sống (nhưng theo huyền bí học lại chết), là chúng phải tự ép mình vào phạm vi kiểm soát hữu thức của Ngài bằng cách đáp ứng với những sự sống được Ngài điều khiển một cách hữu thức, và vì vậy là Đấng Cứu Rỗi của những gì thấp nhất. |
4. Group Unity. — 4. Hợp Nhất Nhóm.
|
Group unity must be viewed somewhat from the mystical standpoint. It is a truism in occultism to say that nothing stands alone, yet it is a fact that each infinitesimal part of the whole has three relations: |
Hợp nhất nhóm phải được nhìn phần nào từ quan điểm thần bí. Trong huyền bí học, nói rằng không gì đứng riêng lẻ là một chân lý hiển nhiên, tuy nhiên cũng là một sự kiện rằng mỗi phần vô cùng nhỏ của toàn thể có ba mối liên hệ: |
|
1. To those units which form its body of manifestation. |
1. Với những đơn vị tạo thành thân thể biểu hiện của nó. |
|
2. To its own unitary life. |
2. Với sự sống đơn nhất của chính nó. |
|
3. To that greater unit of which it forms a part. |
3. Với đơn vị lớn hơn mà nó tạo thành một phần của đơn vị ấy. |
|
One of the main things which, it has been said, underlies logoic purpose, is the working out of ways which will result in true group unity. All that is to be seen might be regarded as a gigantic endeavour on the part of a great Intelligence to produce a group, and evolution is to be regarded, therefore, as a vast experiment with this objective in view. |
Một trong những điều chính, như đã được nói, nằm bên dưới mục đích của Thượng đế, là việc tìm ra những phương cách sẽ dẫn đến hợp nhất nhóm chân thực. Mọi điều có thể được thấy có thể được xem như một nỗ lực khổng lồ của một Trí Tuệ vĩ đại nhằm tạo ra một nhóm, và vì vậy tiến hoá phải được xem như một thí nghiệm bao la với mục tiêu này trong tầm nhìn. |
|
This triple responsibility above referred to exists for the atom or for the solar Logos, and the trend of the evolutionary process is to make each unit, microcosm and macrocosm, an intelligent co-operator, responsive to forces impinging upon it externally, and aware of its own internal economy and of the latent forces and energies which it has to contribute to the good of the whole. Man, standing as he does at the middle point in evolution, and marking the stage in the evolution of consciousness where a triple awareness is possible,—awareness of individuality, awareness of the forces which are subhuman and [Page 1212] which must be controlled, and awareness of a place within the plan and purpose of a greater Man—must, therefore, rightly be regarded as the most important of the evolutions, for through him can be worked out intelligently the laws of group unity for all the three groups, superhuman, human, and subhuman. |
Trách nhiệm tam phân vừa được nói đến ở trên tồn tại đối với nguyên tử cũng như đối với Thái dương Thượng đế, và xu hướng của tiến trình tiến hoá là làm cho mỗi đơn vị, tiểu thiên địa và đại thiên địa, trở thành một cộng tác viên thông tuệ, đáp ứng với các mãnh lực tác động lên nó từ bên ngoài, và nhận biết cơ cấu vận hành nội tại của chính nó cũng như các mãnh lực và năng lượng tiềm ẩn mà nó phải đóng góp cho lợi ích của toàn thể. Con người, vốn đứng ở điểm giữa trong tiến hoá, và đánh dấu giai đoạn trong sự tiến hoá của tâm thức nơi một nhận biết tam phân là có thể,—nhận biết về biệt tính, nhận biết về các mãnh lực hạ nhân loại và [Page 1212] phải được kiểm soát, và nhận biết về một vị trí trong thiên cơ và mục đích của một Đấng Thiên Nhân lớn hơn—vì vậy phải được xem một cách đúng đắn là quan trọng nhất trong các cuộc tiến hoá, vì qua y các định luật hợp nhất nhóm cho cả ba nhóm, siêu nhân, nhân loại và hạ nhân loại, có thể được triển khai một cách thông tuệ. |
|
Above him stand those who are too pure or, as it is called, “too cold” to be immersed in the matter of the three worlds, below him are found those lives which are too impure (occultly understood) or “too full of burning matter and veiled in smoke” to be able to mount of themselves into regions where stand the unveiled sons of God. Man, therefore, acts as the mediator, and in him and through him can be worked out group methods and laws which—in a later solar system—can form a basic law for unified work. It is this fact which brings about so much of the peculiar trouble and nature of the human kingdom, and it might here be said that on our planet, which is, it must be remembered, one of the “profane” planets, certain experiments in connection with this problem have been undertaken by our planetary Logos. These (if successful) will result in a great expansion of the knowledge of the planetary Logos regarding the laws governing all bodies, and masses. Our planetary Logos has been given the name of the “experimenting divine Physicist.” It is this condition which makes the humanity of this planet unique in some respects, for they may be regarded as working out two main problems: |
Phía trên y là những Đấng quá thanh khiết hay, như cách gọi, “quá lạnh” để đắm mình trong vật chất của ba cõi giới; phía dưới y là những sự sống quá bất tịnh (theo nghĩa huyền bí) hay “quá đầy vật chất đang cháy và bị che phủ trong khói” nên không thể tự mình vươn lên những vùng nơi các con của Thượng đế không che phủ đang đứng. Vì vậy, con người hành động như đấng trung gian, và trong y và qua y các phương pháp và định luật nhóm có thể được triển khai mà—trong một hệ mặt trời về sau—có thể tạo thành một định luật cơ bản cho công việc hợp nhất. Chính sự kiện này gây ra rất nhiều khó khăn đặc thù và bản chất riêng của giới nhân loại, và ở đây có thể nói rằng trên hành tinh của chúng ta, vốn cần nhớ là một trong những hành tinh “phàm tục,” một số thí nghiệm liên quan đến vấn đề này đã được Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta thực hiện. Những thí nghiệm này (nếu thành công) sẽ dẫn đến một sự mở rộng lớn lao trong tri thức của Đức Hành Tinh Thượng Đế về các định luật chi phối mọi vật thể và mọi khối vật chất. Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta đã được đặt tên là “nhà Vật lý thiêng liêng thực nghiệm.” Chính điều kiện này làm cho nhân loại của hành tinh này là độc đáo ở một vài phương diện, vì họ có thể được xem là đang giải quyết hai vấn đề chính: |
|
1. The problem of establishing a conscious relation, and response, to the animal kingdom. |
1. Vấn đề thiết lập một mối liên hệ và sự đáp ứng hữu thức đối với giới động vật. |
|
2. The problem of simultaneously receiving and holding vibrations from superhuman lives and of transmitting them consciously to the subhuman states. |
2. Vấn đề đồng thời tiếp nhận và giữ các rung động từ các sự sống siêu nhân và truyền chúng một cách hữu thức đến các trạng thái hạ nhân loại. |
|
[Page 1213] All this has to be accomplished by the units of the human kingdom in full individual consciousness, and the work of each human being might be regarded therefore as having in view the establishment of a sympathetic relation with other human units and with the pitris of the animal kingdom, and also the development of the power to act as the transmitter of energies from greater lives than his own, and to become a transmuting mediating agency. |
[Page 1213] Các đơn vị của giới nhân loại phải hoàn thành tất cả điều này trong tâm thức cá nhân trọn vẹn, và vì vậy công việc của mỗi con người có thể được xem là nhằm thiết lập một mối liên hệ cảm thông với các đơn vị nhân loại khác và với các pitris của giới động vật, đồng thời cũng phát triển năng lực hành động như người truyền dẫn các năng lượng từ những sự sống lớn hơn sự sống của chính y, và trở thành một tác nhân trung gian chuyển hoá. |
|
It might be of interest here to note that it is the problem of establishing a relation between the animal and himself which was the original basis of what is called Hatha-Yoga and tantric magic. The link was sought in this yoga with that which was known to be similar in the two kingdoms (the physical body with its activities and purposes) and that which should be negative in the human kingdom was stimulated into a positive agency through the power of the will. That followers of Hatha-Yoga are not aware of this purpose may be true, but the originating exponents of the Hatha-Yoga mysteries were well aware of this objective, and in their zeal for unity between the two kingdoms, sought unity in the lower aspects, and neglected the real method. |
Ở đây có thể đáng quan tâm khi lưu ý rằng chính vấn đề thiết lập một mối liên hệ giữa động vật và bản thân con người là nền tảng nguyên thủy của cái được gọi là Hatha-Yoga và huyền thuật tantra. Trong yoga này, mối nối đã được tìm kiếm với cái được biết là tương tự trong hai giới (thể xác hồng trần với các hoạt động và mục đích của nó), và cái đáng lẽ phải âm trong giới nhân loại đã được kích thích thành một tác nhân dương nhờ quyền năng của ý chí. Việc những người theo Hatha-Yoga không nhận biết mục đích này có thể là đúng, nhưng những vị khai sáng ban đầu của các huyền nhiệm Hatha-Yoga hoàn toàn nhận biết mục tiêu này, và trong lòng nhiệt thành của họ đối với sự hợp nhất giữa hai giới, họ đã tìm kiếm sự hợp nhất trong các phương diện thấp hơn, và bỏ quên phương pháp chân thực. |
III. GROUP RELATIONS — III. CÁC TƯƠNG QUAN NHÓM
|
In establishing group relation with the superhuman kingdoms, man has not so erred, though relatively little progress has as yet been made, and few are the human units who have merged their consciousness with that of the greater directing Intelligences and yet remained in the human family. This is the true Raja Yoga. |
Trong việc thiết lập tương quan nhóm với các giới siêu nhân, con người đã không lầm lạc đến thế, dù cho đến nay tiến bộ đạt được còn tương đối ít, và rất hiếm những đơn vị nhân loại đã hòa nhập tâm thức của mình với tâm thức của các Trí Tuệ chỉ đạo lớn hơn mà vẫn còn ở trong gia đình nhân loại. Đây là Raja Yoga chân chính. |
|
It will be apparent, therefore, that in the fourth or human kingdom, wherein the fourth Hierarchy is seeking experience, there is an effort on foot to effect the merging or centralisation of the forces of three groups, |
Vì vậy, sẽ hiển nhiên rằng trong giới thứ tư hay giới nhân loại, nơi Huyền Giai thứ tư đang tìm kiếm kinh nghiệm, đang có một nỗ lực nhằm thực hiện sự hòa nhập hay tập trung hoá các mãnh lực của ba nhóm, |
|
a. Of the energy for which the animal kingdom stands, |
a. Của năng lượng mà giới động vật tượng trưng, |
|
b. Of purely human energy, [Page 1214] |
b. Của năng lượng thuần túy nhân loại, [Page 1214] |
|
c. Of the spiritual energy of the group which is the exponent of buddhic force, thus bringing in at the third great realisation, the force of atma itself, of which buddhi is but the vehicle. |
c. Của năng lượng tinh thần của nhóm biểu hiện mãnh lực Bồ đề, nhờ đó đưa vào, ở sự chứng nghiệm lớn lao thứ ba, chính mãnh lực của atma, mà Bồ đề chỉ là vận cụ của nó. |
|
These three streams of force should hold the following place: |
Ba dòng mãnh lực này nên giữ vị trí như sau: |
|
Mãnh lực bồ đề |
Dương. |
|
|
Buddhic force |
Positive. |
|
|
Năng lượng con người |
Được quân bình. |
|
|
Human energy |
Equilibrised. |
|
|
Năng lượng động vật |
Âm. |
|
|
Animal energy |
Negative. |
|
Or, to word it otherwise, the positive controlling factor in the human group should be spiritual energy, toward which the animal nature should be entirely receptive, these two holding towards each other the relative position of Father-Mother. The purely human energy serves as the balancing factor and brings about an adjustment between the Spirit aspect and the material. It is this triple group relation which makes the microcosm such a genuine reflection of the greater Man and the Fourth Kingdom a true exponent of cosmic processes. |
Hoặc, nói theo cách khác, yếu tố kiểm soát dương trong nhóm nhân loại phải là năng lượng tinh thần, mà bản chất động vật phải hoàn toàn tiếp nhận, hai yếu tố này giữ đối với nhau vị trí tương đối của Cha-Mẹ. Năng lượng thuần túy nhân loại đóng vai trò yếu tố quân bình và tạo ra sự điều chỉnh giữa phương diện Tinh thần và vật chất. Chính tương quan nhóm tam phân này làm cho tiểu thiên địa trở thành một phản chiếu chân thực của Đấng Thiên Nhân lớn hơn và giới thứ tư trở thành một biểu hiện chân thực của các tiến trình vũ trụ. |
|
The same laws govern the relationship of these three factors as govern the group inter-relation of the Brahma-Vishnu-Shiva aspects; time and space or “divine opportunity” play their parts in microcosmic group work as they do in the macrocosmic, and cyclic evolution proceeds in its work of group adjustment for both units, in order to produce eventual group harmony in both cases. It is the harmony of the individual with himself and with his environing units, and his realisation of the essential oneness of all life which brings about the great expansions of consciousness and leads to individual identification with some greater whole. |
Các định luật chi phối mối liên hệ của ba yếu tố này cũng chi phối tương quan nhóm giữa các phương diện Brahma-Vishnu-Shiva; thời gian và không gian hay “cơ hội thiêng liêng” đóng vai trò của chúng trong công việc nhóm của tiểu thiên địa cũng như trong đại thiên địa, và tiến hoá theo chu kỳ tiếp tục công việc điều chỉnh nhóm của nó cho cả hai đơn vị, nhằm tạo ra sự hài hòa nhóm chung cuộc trong cả hai trường hợp. Chính sự hài hòa của cá nhân với chính mình và với các đơn vị bao quanh y, cùng sự chứng nghiệm của y về tính nhất thể cốt yếu của mọi sự sống, mang lại những sự mở rộng lớn lao của tâm thức và dẫn đến sự đồng hoá cá nhân với một toàn thể lớn hơn nào đó. |
|
The work of a human atom, therefore, is but a replica of that which proceeds in the planetary, or solar atom, and serves as an incentive to those minute individual lives which find their place in the six subhuman kingdoms (the [Page 1215] three elemental, and the three material). In one case we have a correspondence of so close a nature as to be almost a replica on a tiny scale; in the other we have analogies which produce what may be regarded as a reflection of the whole; in both cases we have basic group relations, fundamental group laws which produce group inter-relations, and bring about an essential union between all the forms of life. It is not my intention to say much anent group forms and work. It is for the student to study himself and that which surrounds him, and thus arrive at his own conclusions. We will, therefore, close this part of our Treatise by a brief enumeration of: |
Vì vậy, công việc của một nguyên tử nhân loại chỉ là bản sao của điều đang diễn ra trong nguyên tử hành tinh hay thái dương, và đóng vai trò như một động lực đối với những sự sống cá thể nhỏ bé tìm thấy vị trí của chúng trong sáu giới hạ nhân loại (gồm [Page 1215] ba giới hành khí, và ba giới vật chất). Trong một trường hợp, chúng ta có một tương ứng gần gũi đến mức gần như là một bản sao ở quy mô nhỏ bé; trong trường hợp kia, chúng ta có những tương đồng tạo ra điều có thể được xem như một phản chiếu của toàn thể; trong cả hai trường hợp, chúng ta đều có những tương quan nhóm cơ bản, những định luật nhóm nền tảng tạo ra các tương quan nhóm, và mang lại một sự hợp nhất cốt yếu giữa mọi hình tướng của sự sống. Tôi không có ý định nói nhiều về các hình tướng nhóm và công việc nhóm. Đạo sinh phải tự nghiên cứu chính mình và những gì bao quanh mình, và như vậy đi đến các kết luận của riêng mình. Vì vậy, chúng ta sẽ kết thúc phần này của bộ Luận bằng một sự liệt kê ngắn gọn về: |
|
1. The three atomic relations. |
1. Ba tương quan nguyên tử. |
|
2. The seven laws of group work. |
2. Bảy định luật của công việc nhóm. |
|
3. The twenty-two methods of interplay. |
3. Hai mươi hai phương pháp tương tác. |
|
These thirty-two phases and ideas must be applied in degree to all atoms, the tiny lives which are the sumtotal of all material worlds, the planetary atom, the macrocosm for all on the five planes, and the solar atom, the synthesis of all on the seven planes and of the seven evolutions. |
Ba mươi hai giai đoạn và ý tưởng này phải được áp dụng theo mức độ cho mọi nguyên tử, những sự sống nhỏ bé là tổng thể của mọi thế giới vật chất, nguyên tử hành tinh, đại thiên địa đối với mọi sự trên năm cõi, và nguyên tử thái dương, sự tổng hợp của mọi sự trên bảy cõi và của bảy cuộc tiến hoá. |
1. Three Atomic Relations. — 1. Ba Tương Quan Nguyên Tử.
|
Individual. This concerns the central fire of all atoms and affects the relation of that positive centre to all within its sphere of influence. |
Cá nhân. Điều này liên quan đến lửa trung tâm của mọi nguyên tử và ảnh hưởng đến mối liên hệ của trung tâm dương đó với mọi sự bên trong khối cầu ảnh hưởng của nó. |
|
Systemic. This concerns the relation of all atoms to other atoms which come within their range of influence, or their scale of contacts. |
Hệ thống. Điều này liên quan đến mối liên hệ của mọi nguyên tử với các nguyên tử khác đi vào trong phạm vi ảnh hưởng của chúng, hay trong thang bậc tiếp xúc của chúng. |
|
Universal. This deals with the identification of all atoms with these particular groups, and their consequent submergence in the interests of the greater whole. |
Vũ trụ. Điều này bàn đến sự đồng hoá của mọi nguyên tử với các nhóm đặc thù này, và do đó sự chìm ngập của chúng vào các lợi ích của toàn thể lớn lao hơn. |
|
It might be noted here that the immediate objective of the human kingdom is consciously to establish systemic relations, [Page 1216] and be actively, and consciously, part of group work. The individual consciousness of relationship is somewhat established owing to there being self-consciousness. The work for the subhuman kingdoms is the establishment of conscious self-realisation, or the bringing about of a distinct individualism in every form of atomic life, whilst the object for the superhuman lives is the establishment of a universal consciousness which will enable every planet and solar life to be consciously and intelligently part of a cosmic whole. |
Cần lưu ý rằng mục tiêu trước mắt của giới nhân loại là thiết lập một cách hữu thức các mối liên hệ hệ thống, [Page 1216] và trở thành một phần tích cực và hữu thức của công việc nhóm. Tâm thức cá nhân về mối liên hệ phần nào đã được thiết lập do có ngã thức. Công việc đối với các giới dưới nhân loại là thiết lập sự chứng nghiệm bản ngã một cách hữu thức, hay tạo ra một tính cá biệt rõ rệt trong mọi hình tướng của sự sống nguyên tử, trong khi mục tiêu đối với các sự sống siêu nhân loại là thiết lập một tâm thức vũ trụ, điều sẽ giúp mọi sự sống hành tinh và thái dương trở thành một phần hữu thức và thông tuệ của một toàn thể vũ trụ. |
2. The Seven Laws of Group Work. — 2. Bảy Định luật của Công việc Nhóm.
|
These can only be expressed largely through the medium of mystical terms, and it is left to the intuition of the student to apply them to the more material forms of life. |
Những định luật này chỉ có thể được diễn đạt phần lớn qua trung gian của các thuật ngữ thần bí, và việc áp dụng chúng vào các hình thức sự sống vật chất hơn tùy thuộc vào trực giác của đạo sinh. |
|
Law 1. The Law of Sacrifice. This involves the immolation and sacrifice of that which has been realised. This is crucifixion, the basic law of all group work, the governing principle which results in each human unit eventually becoming a Saviour. |
Định luật 1. Định luật Hi sinh. Điều này bao hàm sự hiến tế và hi sinh điều đã được chứng nghiệm. Đây là sự đóng đinh, định luật căn bản của mọi công việc nhóm, nguyên lý chi phối khiến mỗi đơn vị nhân loại cuối cùng trở thành một Đấng Cứu Thế. |
|
Law 2. The Law of Magnetic Impulse. The law governing the primary realisations by any atom of its environing contacts, and the going out, or feeling after, by that atom so that eventually a relation between that which is realised as part of the group and the unit is established. This is not the same thing as making sense contacts, as the relation established is between the Self in all, and not between aspects of the Not-Self. This law is sometimes called “The first step towards marriage,” for it results in an eventual union between the man or atom and the group which produces harmonious group relations. |
Định luật 2. Định luật Xung Động Từ Tính. Định luật chi phối những chứng nghiệm sơ khởi của bất kỳ nguyên tử nào về các tiếp xúc bao quanh nó, và sự vươn ra, hay dò tìm, của nguyên tử đó để cuối cùng một mối liên hệ được thiết lập giữa điều được chứng nghiệm như là một phần của nhóm và đơn vị. Điều này không giống như việc tạo ra các tiếp xúc giác quan, vì mối liên hệ được thiết lập là giữa Bản Ngã trong mọi sự, chứ không phải giữa các phương diện của Phi-Ngã. Định luật này đôi khi được gọi là “bước đầu tiên hướng tới hôn phối,” vì nó dẫn đến một sự hợp nhất sau cùng giữa con người hay nguyên tử với nhóm, tạo ra các mối liên hệ nhóm hài hoà. |
|
Law 3. The Law of Service. This law, for want of a better name, concerns the identification of an atom with the group interest, and the steady negation of the atom’s own material interests; it really deals with the process or [Page 1217] method whereby an atom (positive in its own centralised life) gradually becomes responsive and receptive to the positive life of the group. |
Định luật 3. Định luật Phụng sự. Định luật này, vì thiếu một tên gọi tốt hơn, liên quan đến sự đồng hoá của một nguyên tử với lợi ích của nhóm, và sự phủ nhận đều đặn các lợi ích vật chất riêng của nguyên tử; thực ra nó bàn đến tiến trình hay [Page 1217] phương pháp nhờ đó một nguyên tử (dương trong sự sống tập trung của chính nó) dần dần trở nên đáp ứng và tiếp nhận đối với sự sống dương của nhóm. |
|
Law 4. The Law of Repulsion. This law concerns itself with the ability of an atom to throw off, or refuse to contact, any energy deemed inimical to group activity. It is literally a law of service, but only comes consciously into play when the atom has established certain basic discriminations, and guides its activities through a knowledge of the laws of its own being. This law is not the same as the Law of Repulsion which is used in connection with the Law of Attraction between forms which have relation to the material. The laws we are now considering have relation to the psyche, or to the Vishnu aspect. One group of laws concern energies emanating from the physical sun; the ones we are now considering emanate from the heart of the Sun. The “repulsion” here dealt with has the effect (when consciously applied through the developed heart energy of a human atom, for instance) of furthering the interests of the repulsed unit and of driving this unit closer to its own centre. Perhaps some idea of the great beauty of this law as it works out can be gathered from an occult phrase in a certain old book: |
Định luật 4. Định luật Đẩy Lùi. Định luật này liên quan đến khả năng của một nguyên tử trong việc loại bỏ, hay từ chối tiếp xúc với, bất kỳ năng lượng nào bị xem là thù nghịch với hoạt động nhóm. Theo nghĩa đen, đây là một định luật phụng sự, nhưng chỉ đi vào hoạt động một cách hữu thức khi nguyên tử đã thiết lập được một số phân biện căn bản, và hướng dẫn các hoạt động của nó qua sự hiểu biết về các định luật của chính bản thể nó. Định luật này không giống với Định luật Đẩy Lùi được dùng liên hệ với Định luật Hấp Dẫn giữa các hình tướng có liên quan đến vật chất. Các định luật mà hiện nay chúng ta đang xét có liên quan đến linh hồn, hay đến phương diện Vishnu. Một nhóm định luật liên quan đến các năng lượng phát ra từ mặt trời vật chất; còn những định luật hiện nay chúng ta đang xét phát ra từ trái tim Mặt Trời. “Sự đẩy lùi” được bàn đến ở đây có tác dụng (khi được áp dụng một cách hữu thức qua năng lượng tim đã phát triển của một nguyên tử nhân loại chẳng hạn) là thúc đẩy lợi ích của đơn vị bị đẩy lùi và đẩy đơn vị này đến gần hơn với trung tâm riêng của nó. Có lẽ có thể nắm được phần nào ý niệm về vẻ đẹp lớn lao của định luật này khi nó vận hành qua một cụm từ huyền bí trong một quyển sách cổ nào đó: |
|
“This repulsive force drives in seven directions, and forces all that it contacts back to the bosom of the seven spiritual fathers.” |
“Mãnh lực đẩy lùi này thúc đẩy theo bảy hướng, và buộc mọi thứ nó tiếp xúc quay trở về lòng của bảy vị phụ thân tinh thần.” |
|
Through repulsion, the units are driven home and the straying unconscious ones are forced towards their own centre. The Law of Repulsion, or the stream of energy for which it is but a name, can work from any centre, but as dealt with here, it must emanate from the heart if it is to bring about the necessary group work. |
Qua sự đẩy lùi, các đơn vị bị thúc đẩy trở về nhà và những đơn vị vô thức đi lạc bị buộc hướng về trung tâm riêng của chúng. Định luật Đẩy Lùi, hay dòng năng lượng mà nó chỉ là một tên gọi, có thể hoạt động từ bất kỳ trung tâm nào, nhưng như được bàn đến ở đây, nó phải phát ra từ tim nếu muốn tạo ra công việc nhóm cần thiết. |
|
Law 5. The Law of Group Progress. This is sometimes called “the Law of Elevation” for it concerns the mysteries of group realisation, and expansions of consciousness [Page 1218] and the part each unit plays in the general progress of a group. In relation to the human family, for instance, the truth must ever be borne in mind that no human atom arrives at “fullness of life” without adding much to the general nature of his own group. The elevation of a unit results in the raising of the group; the realisation of the unit brings about eventually group recognition; the initiation of the unit leads finally to planetary initiation, and the attainment of the goal by the human atom and his achievement of his objective brings about steadily and ceaselessly group achievement. No man liveth to himself, and the crucifixion of the units throughout the aeons, and their realisation of their essential nature, only in order to offer up the best they have and realise to the interests of the group, are but the methods whereby the work of liberation is carried forward. |
Định luật 5. Định luật Tiến Bộ Nhóm. Định luật này đôi khi được gọi là “Định luật Nâng Cao” vì nó liên quan đến các huyền nhiệm của sự chứng nghiệm nhóm, và các sự mở rộng tâm thức [Page 1218] cùng phần mà mỗi đơn vị đảm nhiệm trong sự tiến bộ chung của một nhóm. Chẳng hạn, liên hệ với gia đình nhân loại, chân lý phải luôn được ghi nhớ là không một nguyên tử nhân loại nào đạt đến “sự viên mãn của sự sống” mà không đóng góp nhiều vào bản chất chung của chính nhóm mình. Sự nâng cao của một đơn vị dẫn đến sự nâng cao của nhóm; sự chứng nghiệm của đơn vị cuối cùng mang lại sự nhận biết của nhóm; điểm đạo của đơn vị cuối cùng dẫn đến điểm đạo hành tinh, và việc nguyên tử nhân loại đạt được mục tiêu cùng sự thành tựu mục đích của y mang lại một cách đều đặn và không ngừng sự thành tựu của nhóm. Không ai sống cho riêng mình, và sự đóng đinh của các đơn vị qua các thời đại, cùng sự chứng nghiệm của họ về bản chất cốt yếu của mình, chỉ để dâng lên điều tốt đẹp nhất mà họ có và chứng nghiệm cho các lợi ích của nhóm, chỉ là những phương pháp nhờ đó công việc giải thoát được tiếp tục tiến hành. |
|
Sacrifice, Service, Magnetism (“I, if I be lifted up, will draw”), Group Progress, Divine Repulsion, these are but the inadequate terms whereby we seek to express the divine truth that the whole life and expression of the solar Logos will only be possible, and His purpose only be revealed, when He has brought each atomic unit to the stage of self-realisation. Then He will lead them on to the point of sacrificing that realised self so that divine purpose and will may be consummated, and the divine life and glory shine forth in perfect radiance. |
Hi sinh, Phụng sự, Từ điện (“Ta, nếu được nâng lên, sẽ thu hút”), Tiến Bộ Nhóm, Sự Đẩy Lùi thiêng liêng, đó chỉ là những thuật ngữ chưa đầy đủ mà qua đó chúng ta tìm cách diễn đạt chân lý thiêng liêng rằng toàn bộ sự sống và biểu hiện của Thái dương Thượng đế sẽ chỉ có thể có được, và mục đích của Ngài sẽ chỉ được mặc khải, khi Ngài đã đưa mỗi đơn vị nguyên tử đến giai đoạn chứng nghiệm bản ngã. Khi đó Ngài sẽ dẫn dắt chúng đến điểm hi sinh cái ngã đã được chứng nghiệm ấy để mục đích và ý chí thiêng liêng có thể được hoàn tất, và sự sống cùng vinh quang thiêng liêng có thể toả sáng trong ánh huy hoàng hoàn hảo. |
|
This might be expressed in more material terms by saying that through the dominance of these laws of the Soul, the logoic physical body will become an active expression of His self-realised purpose. |
Điều này có thể được diễn đạt bằng những thuật ngữ vật chất hơn bằng cách nói rằng qua sự chi phối của các định luật này của linh hồn, thể xác hồng trần của Thượng đế sẽ trở thành một biểu hiện tích cực của mục đích mà Ngài đã tự chứng nghiệm. |
|
The final two laws concerning group activity can only be very briefly treated as their true significance is only apparent to pledged disciples. They concern primarily the astral and the mental planes, and, therefore the corresponding vehicles of the group units. A group, it [Page 1219] should be remembered, which is functioning on the physical plane is also found in a still larger form on the astral and the mental. Just as the astral body of a man is larger than his physical body, and, therefore, has built into its structure a larger number of atomic units, so a group contains (astrally considered) more units than on the physical plane. The laws we are touching upon concern the relation of the physical plane units to those units who form a part of the group, and yet are functioning without the physical plane sheaths or vehicles. The same idea must be applied to the units devoid of a physical vehicle who form a component part of the mental body of the group. |
Hai định luật cuối cùng liên quan đến hoạt động nhóm chỉ có thể được bàn đến rất vắn tắt vì ý nghĩa đích thực của chúng chỉ hiển nhiên đối với các đệ tử đã tuyên thệ. Chúng chủ yếu liên quan đến cõi cảm dục và cõi trí, và do đó đến các vận cụ tương ứng của các đơn vị nhóm. Cần nhớ rằng một nhóm, [Page 1219] đang hoạt động trên cõi hồng trần, cũng được tìm thấy trong một hình thức còn lớn hơn trên cõi cảm dục và cõi trí. Cũng như thể cảm dục của một người lớn hơn thể xác của y, và do đó có một số lượng đơn vị nguyên tử lớn hơn trong cấu trúc của nó, thì một nhóm cũng chứa đựng (xét về cảm dục) nhiều đơn vị hơn là trên cõi hồng trần. Những định luật mà chúng ta đang đề cập liên quan đến mối liên hệ của các đơn vị trên cõi hồng trần với những đơn vị tạo thành một phần của nhóm, nhưng lại đang hoạt động mà không có các thể hay vận cụ cõi hồng trần. Ý tưởng tương tự cũng phải được áp dụng cho các đơn vị không có vận cụ hồng trần, là những thành phần cấu tạo nên thể trí của nhóm. |
|
These two laws are termed: |
Hai định luật này được gọi là: |
|
6. The Law of Expansive Response. |
6. Định luật Đáp Ứng Mở Rộng. |
|
7. The Law of the Lower Four. |
7. Định luật của Bốn Thấp. |
|
These laws only become operative in units on the physical plane which are becoming responsive consciously to those group workers who are discarnate. |
Những định luật này chỉ trở nên tác động nơi các đơn vị trên cõi hồng trần đang trở nên đáp ứng một cách hữu thức với những người hoạt động nhóm đã lìa xác. |
|
All these laws, from the point of view of a disciple, need only be considered as operative in the three worlds, though it is needless to point out that parallels will be found on all planes. These seven laws are those which are ascertained and consciously studied in all groups working under the Masters. |
Tất cả những định luật này, từ quan điểm của một đệ tử, chỉ cần được xem là tác động trong ba cõi giới, mặc dù không cần phải chỉ ra rằng các tương ứng song hành sẽ được tìm thấy trên mọi cõi. Bảy định luật này là những định luật được xác định và được nghiên cứu một cách hữu thức trong mọi nhóm hoạt động dưới sự hướng dẫn của các Chân sư. |
|
For each of these Laws, there is a definite formula and symbol. At this stage of teaching or through this Treatise, it is not possible to reveal or impart the formulas. The symbol may be described, and if the student will carefully ponder upon the nomenclature of the Law, its occult name and its symbol, much may be gathered anent group inter-relations. It is these laws which the coming cycle of regeneration will enunciate, and which the Great Lord will demonstrate upon His appearing, and it is these laws which will gradually be applied to the working methods [Page 1220] of all organisations, brotherhoods, fraternities and masonic circles. |
Đối với mỗi Định luật này, có một công thức và một biểu tượng xác định. Ở giai đoạn giảng dạy này hay qua bộ Luận này, không thể tiết lộ hay truyền đạt các công thức. Biểu tượng có thể được mô tả, và nếu đạo sinh cẩn thận suy ngẫm về danh xưng của Định luật, tên gọi huyền bí của nó và biểu tượng của nó, thì có thể thu thập được nhiều điều liên quan đến các tương quan giữa các nhóm. Chính những định luật này mà chu kỳ tái sinh sắp đến sẽ công bố, và mà Đức Chúa Tể Vĩ Đại sẽ chứng minh khi Ngài xuất hiện, và chính những định luật này sẽ dần dần được áp dụng vào các phương pháp hoạt động [Page 1220] của mọi tổ chức, huynh đệ đoàn, hội đoàn và các nhóm Tam Điểm. |
|
THE LAWS AND SYMBOLS |
CÁC ĐỊNH LUẬT VÀ BIỂU TƯỢNG |
|
STT |
Tên ngoại môn |
Tên nội môn |
Biểu tượng |
Năng lượng cung |
|
No. |
Exoteric Name |
Esoteric Name |
Symbol |
Ray Energy |
|
1. |
Định luật Hi Sinh. |
Định luật của Những Vị Chọn Chết. |
Một Thập giá Hồng với Chim Vàng |
Cung bốn tuôn đổ. Yếu tố hợp nhất |
|
Law of Sacrifice. |
The Law of Those Who Choose to Die. |
A Rosy Cross with Golden Bird |
Out-pouring 4th Ray. At-one-ing factor |
|
|
2. |
Định luật Xung Động Từ Tính |
Định luật Kết Hợp Hai Cực. |
Hai quả cầu lửa và tam giác. |
Năng lượng bức xạ. Cung hai. Yếu tố biểu hiện. |
|
Law of Magnetic Impulse |
The Law of the Polar Union. |
Two fiery balls and triangle. |
Radiatory energy 2nd Ray Manifesting factor. |
|
|
3. |
Định luật Phụng sự. |
Định luật của Nước và các Loài Cá |
Một bình nước trên đầu một người. |
Năng lượng phát ra. Cung sáu. Yếu tố làm sống động. |
|
Law of Service. |
The Law of Water and of Fishes |
A Pitcher on the head of a man. |
Out-going energy 6th Ray. Vivifying factor. |
|
|
4. |
Định luật Đẩy Lùi. |
Định luật của Tất Cả các Thiên Thần Hủy Diệt |
Một Thiên thần với thanh gươm rực lửa. |
Năng lượng đẩy lui. Cung một. Yếu tố phân tán. |
|
Law of Repulse. |
The Law of all Destroying Angels |
An Angel with a flaming sword. |
Rejecting energy 1st Ray. Dispersing factor. |
|
|
5. |
Định luật Tiến Bộ Nhóm. |
Định luật Nâng Cao. |
Ngọn Núi và Con Dê. |
Năng lượng tiến lên. Cung bảy. Yếu tố tiến hóa |
|
Law of Gronp Progress. |
The Law of Elevation. |
The Mountain and the Goat. |
Progressive energy 7th Ray. Evolving factor |
|
|
6. |
Định luật Đáp Ứng Mở Rộng. |
(Tên không được cho biết.) |
Mặt Trời Hồng Rực Lửa. |
Năng lượng mở rộng. Cung ba. Yếu tố thích ứng. |
|
Law of Expansive Response. |
(Name not given.) |
Flaming Rosy Sun. |
Expansive energy 3rd Ray. Adapting factor. |
|
|
7. |
Định luật của Bốn Thấp. |
Định luật Kết Hợp Dĩ Thái. |
Một Hình tướng Nam và Nữ, đặt lưng tựa lưng |
Năng lượng lửa. Cung năm. Yếu tố tiếp sinh lực. |
|
Law of the lower Four. |
The Law of Etheric Union. |
A Male and Female Form, placed back to back |
Fiery energy 5th Ray. Vitalizing factor. |
3. The Twenty-two methods of Group Interplay. — 3. Hai mươi hai phương pháp Tương tác Nhóm.
|
These methods of group interplay can only be grasped through a consideration of the fact that all groups are to be found on one or other of the seven Rays, and that their interaction will, therefore, be triple. This must again be regarded as having: |
Những phương pháp tương tác nhóm này chỉ có thể được nắm bắt qua việc xem xét sự kiện rằng mọi nhóm đều được tìm thấy trên một trong bảy cung, và do đó sự tương tác của chúng sẽ là tam phân. Điều này lại phải được xem là có: |
|
a. A triple internal interplay. |
a. Một sự tương tác nội tại tam phân. |
|
b. A triple external interaction. |
b. Một sự tương tác bên ngoài tam phân. |
|
We might, therefore, take the seven Rays and give the names for the three ways in which the groups on any particular ray interact with each other, remembering that as we consider them, we are really studying the twenty-one vibrations of the Law of Attraction or motion, with the basic vibration, which is the synthesis of the twenty-one added, thus making the twenty-two: |
Do đó, chúng ta có thể lấy bảy cung và nêu tên ba cách mà các nhóm trên bất kỳ cung đặc thù nào tương tác với nhau, đồng thời nhớ rằng khi xem xét chúng, thực ra chúng ta đang nghiên cứu hai mươi mốt rung động của Định luật Hấp Dẫn hay chuyển động, cùng với rung động căn bản là sự tổng hợp của hai mươi mốt rung động ấy, do đó thành hai mươi hai: |
|
RAY METHODS OF ACTIVITY |
CÁC PHƯƠNG PHÁP HOẠT ĐỘNG CỦA CUNG |
|
I. Ray of Power. |
I. Cung Quyền năng. |
|
1. Destruction of forms through group interplay. |
1. Sự phá huỷ các hình tướng qua tương tác nhóm. |
|
2. Stimulation of the Self, or egoic principle. |
2. Sự kích thích Bản Ngã, hay nguyên lý chân ngã. |
|
3. Spiritual impulse, or energy. |
3. Xung lực tinh thần, hay năng lượng. |
|
II. Ray of Love Wisdom. |
II. Cung Bác Ái – Minh Triết. |
|
4. Construction of forms through group intercourse. |
4. Sự kiến tạo các hình tướng qua giao tiếp nhóm. |
|
5. Stimulation of desire, the love principle. |
5. Sự kích thích dục vọng, nguyên lý bác ái. |
|
6. Soul impulse, or energy. |
6. Xung lực linh hồn, hay năng lượng. |
|
III. Ray of Activity or Adaptability. |
III. Cung Hoạt động hay Thích ứng. |
|
7. Vitalising of forms through group work. |
7. Sự tiếp sinh lực cho các hình tướng qua công việc nhóm. |
|
8. Stimulation of forms, the etheric or pranic principle. |
8. Sự kích thích các hình tướng, nguyên lý dĩ thái hay prana. |
|
9. Material impulse, or energy. [Page 1223] |
9. Xung lực vật chất, hay năng lượng. [Page 1223] |
|
IV. Ray of Harmony, Union. |
IV. Cung Hài hoà, Hợp nhất. |
|
10. Perfecting of forms through group interplay. |
10. Sự hoàn thiện các hình tướng qua tương tác nhóm. |
|
11. Stimulation of the solar Angels, or the manasic principle. |
11. Sự kích thích các Thái dương Thiên Thần, hay nguyên lý manas. |
|
12. Buddhic energy. |
12. Năng lượng Bồ đề. |
|
V. Ray of Concrete Knowledge. |
V. Cung Tri thức Cụ thể. |
|
13. Correspondence of forms to type, through group influence. |
13. Sự tương ứng của các hình tướng với kiểu mẫu, qua ảnh hưởng nhóm. |
|
14. Stimulation of logoic dense physical body, the three worlds. |
14. Sự kích thích thể xác hồng trần đậm đặc của Thượng đế, ba cõi giới. |
|
15. Manasic energy or impulse. |
15. Năng lượng hay xung lực manas. |
|
VI. Ray of Abstract Idealism or Devotion. |
VI. Cung Duy Tâm Trừu tượng hay Sùng tín. |
|
16. Reflection of reality through group work. |
16. Sự phản chiếu thực tại qua công việc nhóm. |
|
17. Stimulation of the Man through desire. |
17. Sự kích thích Con Người qua dục vọng. |
|
18. Desire energy, instinct and aspiration. |
18. Năng lượng dục vọng, bản năng và khát vọng. |
|
VII. Ray of Ceremonial Order. |
VII. Cung Trật tự Nghi lễ. |
|
19. Union of energy and substance through group activity. |
19. Sự hợp nhất của năng lượng và chất liệu qua hoạt động nhóm. |
|
20. Stimulation of all etheric forms. |
20. Sự kích thích mọi hình tướng dĩ thái. |
|
21. Vital energy. |
21. Năng lượng sinh lực. |
|
These twenty-one methods and their synthesis sum up very largely all that can be said anent the actions and motions of all deva substance and all forms. Under the Law of Attraction, the interplay between these ray forces and all atomic forms is brought about, and manifestation becomes a fact in nature, and the great Maya is. It might here be noted in conclusion that the following factors: |
Hai mươi mốt phương pháp này và sự tổng hợp của chúng phần lớn tóm lược tất cả những gì có thể nói liên quan đến các hành động và chuyển động của mọi chất liệu thiên thần và mọi hình tướng. Dưới Định luật Hấp Dẫn, sự tương tác giữa các mãnh lực cung này và mọi hình tướng nguyên tử được tạo ra, và sự biểu hiện trở thành một sự kiện trong tự nhiên, và đại ảo lực hiện hữu. Ở đây có thể lưu ý để kết luận rằng các yếu tố sau đây: |

|
make the thirty-two vibrations necessary to produce, as far as man is concerned, the five planes of evolution. There are, as we know, the thirty-five subplanes, or in reality the thirty-two minor vibrations and the three which dominate. Just as the three planes of the Ego on [Page 1224] the mental plane dominate the remaining planes in the three worlds, so in the five worlds of the Hierarchy the three higher subplanes of the atmic plane hold an analogous place. |
tạo nên ba mươi hai rung động cần thiết để tạo ra, xét theo con người, năm cõi tiến hoá. Như chúng ta biết, có ba mươi lăm cõi phụ, hay thực ra là ba mươi hai rung động nhỏ và ba rung động chi phối. Cũng như ba cõi của chân ngã trên [Page 1224] cõi trí chi phối các cõi còn lại trong ba cõi giới, thì trong năm thế giới của Thánh Đoàn, ba cõi phụ cao nhất của cõi atma giữ một vị trí tương tự. |
|
THE SEVEN HIERARCHIES |
BẢY HUYỀN GIAI |
|
Huyền Giai |
Các số |
Biểu tượng |
Phương diện |
mãnh lực |
Loại |
|
|
Hierarchy |
Nos. |
Symbol |
Aspect |
Force |
Type |
|
|
1. |
Các Sự Sống Thiêng Liêng. |
1 hay 6. |
Hoa sen vàng mười hai cánh khép kín. |
Một |
của |
Mãnh lực hay Shakti vũ trụ thứ sáu |
|
The Divine Lives. |
1 or 6. |
Closed twelve petalled Lotus Golden. |
One |
of the |
6th Cosmic Force or shakti |
|
|
2. |
Các Con Rực Cháy của Dục Vọng. |
2 hay 7 |
Bảy Khối cầu có màu sắc, mỗi khối có một ngọn lửa ở trung tâm. |
Hai |
của |
Shakti thứ bảy |
|
The Burning Sons of Desire. |
2 or 7 |
Seven coloured Spheres, each with a central fire. |
Two |
of the |
7th Shakti |
|
|
3. |
Các Tam Nguyên hay Những Hoa Tam Phân. |
3 hay 8 |
Một Ngọn lửa tam phân lơ lửng trên bàn thờ rực sáng. |
Ba |
của |
Shakti thứ nhất hay loại mãnh lực |
|
The Triads or the Triple Flowers. |
3 or 8 |
A triple Flame hovering over a glowing altar. |
Three |
of the |
1st Shakti or type of force |
|
|
4. |
Các Chúa Tể Hi Sinh hay Các Điểm Đạo Đồ. |
4 hay 9. |
Con, đứng với hai tay dang rộng trong không gian. |
Thứ hai |
của |
Năng lượng vũ trụ thứ tư. |
|
The Lords of Sacrifice or The lnitiates. |
4 or 9. |
The Son, standing with outstretched arms in space. |
Second |
of the |
4th Cosmic energy. |
|
|
5. |
Các Cá Sấu hay Các Đấng Hoàn Thiện. |
5 hay 10 |
Ngôi sao năm cánh với biểu tượng của Hệ mặt trời 1 ở trung tâm. |
Thứ tư |
của |
Mãnh lực vũ trụ thứ năm (Mahat). |
|
The Crocodiles or the Perfect Ones. |
5 or 10 |
The five-pointed Star with the symbol of Systern1 in the centre. |
Fourth |
of the |
5th Cosmic force (Mahat). |
|
|
6. |
Các Ngọn Lửa Hi Sinh. Những Người Chí Nguyện. |
6 hay 11 |
Một Mặt Trăng bạc, bên trên là Thập giá có các cánh bằng nhau. |
Thứ ba |
của |
Mãnh lực vũ trụ thứ sáu. |
|
The Sacrificial Fires. The Aspirants. |
6 or 11 |
A silver Moon surmounted by an equal armed Cross. |
Third |
of the |
6th Cosmic force. |
|
|
7. |
Các Giỏ Dưỡng Nuôi hay Các Sự Sống Bị Che Mắt. |
7 hay 12 |
Một Người bị đảo ngược với đôi mắt nhắm lại. |
Thứ tư |
của |
Mãnh lực Sáng tạo thứ bảy. |
|
The Baskets of Nourishment or The Blinded Lives. |
7 or 12 |
A Man reversed with his eyes closed. |
Fourth |
of the |
7th Creative force. |