Commentary S1S8 (87-93)

📘 Sách: Bình Giảng Luận Về Lửa Vũ Trụ – S1 – Tác giả: Michael D. Robbins

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF

S1S8: TCF 87-93

Version 1.4 VSK recontituted 04Apr05

Phiên bản 1.4 VSK tái cấu trúc 04Apr05—

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)—

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong lớp. Chú thích và tham chiếu từ các sách AAB khác và từ các trang khác của LVC được đặt ở cỡ chữ 14. Bình luận được đặt ở cỡ chữ 12. Gạch chân, in đậm và tô nổi bật do MDR thực hiện)—

II. THE NATURE OF PRANA

II. BẢN CHẤT CỦA PRANA

In dealing with the subject of the etheric body and its functions as an assimilator and distributor of prana, we have dealt with it from the standpoint of its place in the scheme of things. We have considered this matter of etherics from the angle of correspondences, and have traced analogies in the system, the planet, and man. We have seen that it formed the foundation of the dense physical form, and in itself constituted a most important link between:

Khi bàn về chủ đề thể dĩ thái và các chức năng của nó như một bộ máy đồng hoá và phân phối prana, chúng ta đã bàn từ quan điểm về vị trí của nó trong sơ đồ vạn hữu. Chúng ta đã xét vấn đề dĩ thái này từ góc độ các tương ứng, và đã truy tìm các tương đồng trong hệ thống, hành tinh và con người. Chúng ta đã thấy rằng nó tạo thành nền tảng của hình thức hồng trần đậm đặc, và tự nó cấu thành một mối liên kết vô cùng quan trọng giữa:

1. We are now speaking of context.

1. Giờ đây chúng ta đang nói về bối cảnh.

2. We remember the key function of the etheric body “as an assimilator and distributor of prana”.

2. Chúng ta nhớ chức năng then chốt của thể dĩ thái “như một bộ máy đồng hoá và phân phối prana”.

3. Our study seems to be called by the interesting term “etherics”.

3. Nghiên cứu của chúng ta dường như được gọi bằng thuật ngữ thú vị “dĩ thái”.

4. We are reminded that it is the etheric body which has produced the physical and that it substands that physical vehicle.

4. Chúng ta được nhắc rằng chính thể dĩ thái đã tạo ra thể hồng trần và nó làm nền cho vận cụ hồng trần ấy.

5. From time to time we notice the Tibetan offering a summary for educational purposes.

5. Thỉnh thoảng chúng ta nhận thấy Chân sư Tây Tạng đưa ra một bản tóm lược nhằm mục đích giáo dục.

a. Physical man, and the emotional or astral plane.

a. Con người hồng trần, và cõi cảm dục hay cõi cảm dục.

b. Planetary Man, and essential emotional quality.

b. Con Người Hành Tinh, và phẩm tính cảm xúc thiết yếu.

c. The Logos, the grand Heavenly Man, and the cosmic astral plane.

c. Thượng đế, Đấng Thiên Nhân vĩ đại, và cõi cảm dục vũ trụ.

6. The role of the etheric body in relation to both the dense physical and emotional or astral planes must be remembered. Via the attenuated etheric vehicle, the influence of the astral vehicle can make its way into the physical brain consciousness.

6. Vai trò của thể dĩ thái liên hệ đến cả cõi hồng trần đậm đặc lẫn cõi cảm xúc hay cõi cảm dục phải được ghi nhớ. Qua vận cụ dĩ thái tinh tế, ảnh hưởng của vận cụ cảm dục có thể đi vào tâm thức bộ não hồng trần.

We might now narrow the subject down to the consideration of the etheric body of the human being and not touch upon correspondences to things systemic or cosmic at all, though it may be necessary to remind ourselves that for the wise student the line along which wisdom [88] comes is the interpretative one;

Giờ đây chúng ta có thể thu hẹp chủ đề xuống việc xét thể dĩ thái của con người và hoàn toàn không đụng đến các tương ứng với những điều thuộc hệ thống hay vũ trụ, dù có thể cần nhắc mình rằng đối với môn sinh khôn ngoan, đường lối mà theo đó minh triết [88] đến là đường lối diễn giải;

7. What is the ‘interpretive line’ to which the wise student adheres? May we say it is the means by which anything is always described not only as a thing-in-itself, but in relation to its embracing context?

7. “Đường lối diễn giải” mà môn sinh khôn ngoan tuân theo là gì? Có thể nói đó là phương tiện nhờ đó bất cứ điều gì luôn được mô tả không chỉ như một sự vật-tự-thân, mà còn trong mối liên hệ với bối cảnh bao trùm của nó?

he who knows himself (in objective manifestation, essential quality, and comprehensive development) knows likewise the Lord of his Ray, and the Logos of his system.

người nào biết chính mình (trong biểu hiện khách quan, phẩm tính thiết yếu, và sự phát triển bao gồm) thì cũng biết Đấng Chúa Tể của cung của y, và Thượng đế của hệ thống của y.

8. This is another way of saying that the one who knows himself, understands beings who are much higher (at least beings whose structure is analogous to his own).

8. Đây là một cách khác để nói rằng người nào biết chính mình thì thấu hiểu những hữu thể cao hơn rất nhiều (ít nhất là những hữu thể có cấu trúc tương đồng với cấu trúc của y).

9. The vista is quite amazing, as we are being offered a way (through analogy) to understand the life of great beings entirely beyond our normal ken.

9. Viễn cảnh thật đáng kinh ngạc, vì chúng ta đang được trao một cách (qua tương đồng) để thấu hiểu sự sống của các hữu thể vĩ đại hoàn toàn vượt ngoài tầm hiểu biết bình thường của chúng ta.

It is only then a matter of application, conscious expansion, and intelligent interpretation, coupled to a wise abstention from dogmatic assertion, and a recognition that the correspondence lies in quality and method more than in detailed adherence to a specified action at any given time in evolution.

Khi ấy chỉ còn là vấn đề của sự áp dụng, sự mở rộng có ý thức, và sự diễn giải thông minh, kết hợp với sự kiêng tránh khôn ngoan đối với những khẳng định giáo điều, và sự nhận biết rằng tương ứng nằm ở phẩm tính và phương pháp nhiều hơn là ở việc bám sát chi tiết vào một hành động được chỉ định tại bất kỳ thời điểm nào trong tiến hoá.

10. We are being advised how to proceed under the Law of Correspondences. The steps involved, in tabulation form are:

10. Chúng ta được khuyên cách tiến hành theo định luật tương ứng. Các bước liên quan, dưới dạng bảng liệt kê là:

a. Application

a. Áp dụng

b. Conscious expansion

b. Mở rộng có ý thức

c. Intelligent interpretation

c. Diễn giải thông minh

d. A wise abstention from dogmatic assertion

d. Kiêng tránh khôn ngoan đối với những khẳng định giáo điều

e. Recognizing correspondence primarily in quality more than in detailed attention to specified action

e. Nhận biết tương ứng chủ yếu ở phẩm tính hơn là ở sự chú ý chi tiết đến hành động được chỉ định

11. Analogies and even quite exact correspondences should not be pushed too far or they we break down. We are largely safe when we stick to qualitative similarities. If we look in detail at specific actions (as they occur in two entities being compared) there are liable to be specific differences which we can easily overlook, since we do not know enough through direct observation.

11. Các tương đồng và thậm chí các tương ứng khá chính xác không nên bị đẩy quá xa nếu không chúng sẽ sụp đổ. Chúng ta phần lớn an toàn khi bám vào các tương tự về phẩm tính. Nếu xét chi tiết các hành động cụ thể (như chúng xảy ra trong hai thực thể đang được so sánh) thì dễ có những khác biệt cụ thể mà chúng ta có thể bỏ sót, vì chúng ta không biết đủ qua quan sát trực tiếp.

All that it is possible to give here is material which, if rightly pondered on, may result in more intelligent practical living in the occult sense of the term “living”;

Tất cả những gì có thể đưa ra ở đây là chất liệu mà, nếu được suy ngẫm đúng đắn, có thể dẫn đến một đời sống thực hành thông minh hơn theo nghĩa huyền bí của thuật ngữ “sống”;

12. We note the great practicality of the Tibetan’s intention. The correspondences which He offers use are to “result in more intelligent practical living in the occult sense of the term ‘living’.” This should give pause to those who may consider that the complexities of A Treatise on Cosmic Fire mark it out as an impractical book.

12. Chúng ta lưu ý tính thực tiễn lớn trong ý định của Chân sư Tây Tạng. Các tương ứng mà Ngài trao cho chúng ta nhằm “dẫn đến một đời sống thực hành thông minh hơn theo nghĩa huyền bí của thuật ngữ ‘sống’.” Điều này nên khiến những ai cho rằng sự phức tạp của Luận về Lửa Vũ Trụ làm cho nó trở thành một cuốn sách không thực tiễn phải dừng lại suy nghĩ.

which, if studied scientifically, religiously and philosophically, may lead to the furthering of the aims of the evolutionary process in the immediately coming lesser cycle.

mà, nếu được nghiên cứu một cách khoa học, tôn giáo và triết học, có thể dẫn đến việc thúc đẩy các mục tiêu của tiến trình tiến hoá trong chu kỳ nhỏ sắp đến ngay trước mắt.

13. The purpose of the writing is to “further the evolutionary process”.

13. Mục đích của trước tác là “thúc đẩy tiến trình tiến hoá”.

14. The various ways of studying this treatise are given:

14. Các cách nghiên cứu luận thuyết này được nêu ra:

a. Scientifically

a. Một cách khoa học

b. Religiously

b. Một cách tôn giáo

c. Philosophically

c. Một cách triết học

15. As we read through the book, we should be alert to the methods of doing this and to the sections which lend themselves most to one or other of these three methods.

15. Khi đọc sách, chúng ta nên cảnh giác với các phương pháp thực hiện điều này và với những phần phù hợp nhất với một hay một trong ba phương pháp ấy.

Our aim, therefore, is to make the secondary body of man more real, and to show some of its functions and how it can eventually be brought consciously into the range of mental comprehension.

Vì vậy, mục tiêu của chúng ta là làm cho thể thứ hai của con người trở nên thực hơn, và chỉ ra một số chức năng của nó và cách nó cuối cùng có thể được đưa một cách có ý thức vào phạm vi thấu hiểu của thể trí.

16. We note that the etheric body is called “the secondary body of man”. In some ways, it seems the primary body, for the entirety of the physical body is derived from it.

16. Chúng ta lưu ý rằng thể dĩ thái được gọi là “thể thứ hai của con người”. Theo một số cách, nó dường như là thể chính, vì toàn bộ thể hồng trần đều được phát sinh từ nó.

17. The next scientific and medical frontier is the study and understanding of the etheric body, to which TCF attempts to contribute.

17. Biên giới khoa học và y học kế tiếp là nghiên cứu và thấu hiểu thể dĩ thái, mà LVC cố gắng đóng góp vào.

Science, as we know, is fast reaching the point where it will be forced to admit the fact of the etheric body, because the difficulties of refusing to acknowledge it, will be far more insuperable than an admission of its existence.

Khoa học, như chúng ta biết, đang nhanh chóng tiến đến điểm mà nó sẽ bị buộc phải thừa nhận sự kiện về thể dĩ thái, vì những khó khăn của việc từ chối thừa nhận nó sẽ không thể vượt qua hơn nhiều so với việc thừa nhận sự tồn tại của nó.

18. Physicists have dismissed the ether because, in their theories, they saw no need for it. It would appear that an adjustment of thought in this regard is imminent.

18. Các nhà vật lý đã bác bỏ dĩ thái vì trong các lý thuyết của họ, họ không thấy cần đến nó. Dường như một sự điều chỉnh tư tưởng về điểm này đang cận kề.

Scientists admit already the fact of etheric matter; the success of photographic endeavor has demonstrated the reality of that which has hitherto been considered unreal, because (from the standpoint of the physical) intangible.

Các nhà khoa học đã thừa nhận sự kiện về vật chất dĩ thái; thành công của nỗ lực nhiếp ảnh đã chứng minh thực tại của điều vốn cho đến nay bị xem là không thực, vì (từ quan điểm hồng trần) không thể nắm bắt.

19. Perhaps there are some scientists who do, and other who emphatically do not.

19. Có lẽ có một số nhà khoa học có thừa nhận, và những người khác thì dứt khoát không.

20. Photography has, however, revealed many ‘invisibilities’. There is a branch of photography called “spirit photography” which has revealed that which the eye does not normally see.

20. Tuy nhiên, nhiếp ảnh đã phơi bày nhiều ‘điều vô hình’. Có một nhánh nhiếp ảnh gọi là “nhiếp ảnh gọi hồn” đã phơi bày điều mà mắt thường không thấy.

Phenomena are occurring all the time which remain in the domain of the supernatural unless accounted for through the medium of etheric matter, and in their anxiety to prove the spiritualists wrong, scientists have aided the cause of the true and higher spiritism by falling back on reality, and on the fact of the etheric body, even though they consider it a body of [89] emanative radiation—being concerned with the effect and not having yet ascertained the cause.

Các hiện tượng vẫn đang xảy ra mọi lúc, và vẫn nằm trong phạm vi siêu nhiên trừ khi được giải thích qua trung gian của vật chất dĩ thái; và trong nỗi lo muốn chứng minh các nhà thần linh học sai, các nhà khoa học đã giúp ích cho sự nghiệp của thần linh học chân chính và cao hơn bằng cách quay về với thực tại, và với sự kiện về thể dĩ thái, dù họ xem nó như một thể [89] bức xạ phát xạ—vì họ quan tâm đến tác dụng và chưa xác định được nguyên nhân.

21. Truth advances through the fight against truth.

21. Chân lý tiến lên qua cuộc chiến chống lại chân lý.

22. We note the use of the term “anxiety”; people adhere to their world views emotionally and are personally threatened if their world views are threatened. This is true even of those who, like scientists, should be more objective.

22. Chúng ta lưu ý việc dùng thuật ngữ “nỗi lo”; con người bám chặt vào thế giới quan của mình bằng cảm xúc và bị đe doạ cá nhân nếu thế giới quan của họ bị đe doạ. Điều này đúng ngay cả với những người, như các nhà khoa học, lẽ ra phải khách quan hơn.

23. What does the Tibetan mean by “truer and higher spiritism”? Probably the detection and understanding of planes higher than the physical.

23. Chân sư Tây Tạng muốn nói gì khi nói “thần linh học chân chính và cao hơn”? Có lẽ là sự phát hiện và thấu hiểu các cõi cao hơn cõi hồng trần.

24. In the scientific endeavor, it seems that the study of effects always precedes the study of causes.

24. Trong nỗ lực khoa học, dường như việc nghiên cứu tác dụng luôn đi trước việc nghiên cứu nguyên nhân.

Medical men are beginning to study (blindly as yet) the question of vitality, the effect of solar rays upon the physical organism, and the underlying laws of inherent and radiatory heat. They are beginning to ascribe to the spleen functions hitherto not recognised, to study the effect of the action of the glands, and their relation to the assimilation of the vital essences by the bodily frame.

Các y sĩ đang bắt đầu nghiên cứu (dù còn mù mờ) vấn đề sinh lực, tác dụng của các tia mặt trời lên cơ thể hồng trần, và các định luật nền tảng của nhiệt nội tại và nhiệt bức xạ. Họ đang bắt đầu quy cho luân xa lá lách những chức năng trước đây chưa được nhận ra, nghiên cứu tác dụng của hoạt động của các tuyến, và mối liên hệ của chúng với sự đồng hoá các tinh chất sinh lực bởi khung thân thể.

25. All this was written in the 1920’s and so DK had to be talking about progressive medical thinkers and researchers. What was true then, is a much more focused endeavor at this time (2005).

25. Tất cả điều này được viết vào thập niên 1920, nên DK hẳn đang nói về những nhà tư tưởng và nhà nghiên cứu y học tiến bộ. Điều đúng khi ấy, nay là một nỗ lực tập trung hơn nhiều (2005).

26. Within the etheric body are “vital essences” which, to be useful to the dense physical body, must be assimilated. Exposure to pranic sources is one thing but it is assimilation that must be facilitated.

26. Trong thể dĩ thái có các “tinh chất sinh lực” mà, để hữu ích cho thể hồng trần đậm đặc, phải được đồng hoá. Tiếp xúc với các nguồn prana là một chuyện, nhưng chính sự đồng hoá mới là điều phải được tạo điều kiện.

They are on the right road, and before long (perhaps within this century) the FACT of the etheric body and its basic function will be established past all controversy, and the whole aim of preventive and curative medicine will shift to a higher level.

Họ đang đi đúng đường, và chẳng bao lâu nữa (có lẽ trong thế kỷ này) SỰ KIỆN về thể dĩ thái và chức năng căn bản của nó sẽ được thiết lập vượt khỏi mọi tranh cãi, và toàn bộ mục tiêu của y học phòng ngừa và chữa trị sẽ chuyển lên một cấp độ cao hơn.

27. The century of which Master DK spoke is now over. It can be questioned whether the existence of the etheric body and its basic function has been established past all controversy. In certain progressive circles it is established, but these circles are by far the minority. The shift, however, is taking place.

27. Thế kỷ mà Chân sư DK nói đến nay đã qua. Có thể đặt câu hỏi liệu sự tồn tại của thể dĩ thái và chức năng căn bản của nó đã được thiết lập vượt khỏi mọi tranh cãi hay chưa. Trong một số vòng tròn tiến bộ, điều đó đã được thiết lập, nhưng các vòng tròn ấy vẫn là thiểu số rất xa. Tuy nhiên, sự chuyển dịch đang diễn ra.

All we can do here is to give simply, and in a condensed form, a few facts which may hasten the day of recognition, and further the interest of the true investigator. Let me, therefore, briefly state what will be dealt with in our remaining three points:

Tất cả những gì chúng ta có thể làm ở đây là đưa ra đơn giản, và dưới dạng cô đọng, một vài sự kiện có thể thúc đẩy ngày được công nhận, và làm tăng mối quan tâm của nhà điều tra chân chính. Vì vậy, hãy để tôi nêu ngắn gọn những gì sẽ được bàn đến trong ba điểm còn lại của chúng ta:

28. The few points here given are still of use, as for the majority, there is no true recognition of this field within the human constitution.

28. Một vài điểm được nêu ở đây vẫn hữu ích, vì đối với đa số, chưa có sự công nhận chân thực về lĩnh vực này trong cấu tạo con người.

The functions of the etheric body.

Các chức năng của thể dĩ thái.

Its relation to the physical during life.

Mối liên hệ của nó với thể hồng trần trong khi sống.

The ills or diseases of the etheric body (taking care to retain the original meaning of the word “disease.”)

Các chứng bệnh hay bệnh tật của thể dĩ thái (cẩn thận giữ nguyên ý nghĩa ban đầu của từ “bệnh tật.”)

Its after death condition.

Tình trạng của nó sau khi chết.

This will embody all that is as yet of practical use. More may later be forthcoming for our helping if that which is now given to the public is carefully followed up, and if investigators wisely, sanely and broadly study this important matter.

Điều này sẽ bao hàm tất cả những gì cho đến nay là hữu ích về mặt thực hành. Về sau có thể sẽ có thêm để giúp chúng ta nếu điều hiện đang được trao cho công chúng được theo dõi cẩn thận, và nếu các nhà điều tra nghiên cứu vấn đề quan trọng này một cách khôn ngoan, lành mạnh và rộng rãi.

29. The principle is enunciated: there must first be assimilation of that which is given before more will be given.

29. Nguyên tắc được nêu ra: trước hết phải có sự đồng hoá điều được trao thì mới có thêm điều được trao.

30. When new information arises it can be used unwisely, insanely and narrowly. This, the Tibetan (whose attitudes reflect a “sanctified normality”) seeks to avoid.

30. Khi thông tin mới xuất hiện, nó có thể được dùng một cách thiếu khôn ngoan, điên cuồng và hẹp hòi. Điều này, Chân sư Tây Tạng (mà thái độ của Ngài phản ánh một “tính bình thường được thánh hiến”) muốn tránh.

As the nature and functions of the etheric body of man assume their rightful place in the thought of the world and as it is realised that the etheric is the most important of the two physical bodies, man will be brought into closer conscious contact with the other evolutions [90] that evolve in etheric matter just as he does in a dense physical body.

Khi bản chất và các chức năng của thể dĩ thái của con người đảm nhận vị trí đúng đắn của chúng trong tư tưởng thế gian và khi người ta chứng nghiệm rằng dĩ thái là quan trọng nhất trong hai thể hồng trần, con người sẽ được đưa vào sự tiếp xúc có ý thức gần hơn với các tiến hoá khác [90] vốn tiến hoá trong vật chất dĩ thái cũng như y tiến hoá trong một thể hồng trần đậm đặc.

31. Here is direct discussion of “two physical bodies”. Their relative importance is set forth.

31. Ở đây có sự bàn trực tiếp về “hai thể hồng trần”. Tầm quan trọng tương đối của chúng được nêu ra.

32. The study of the etheric body will be an open door to contact with “other evolutions”. For now, most are blind to these evolutions.

32. Nghiên cứu thể dĩ thái sẽ là một cánh cửa mở để tiếp xúc với “các tiến hoá khác”. Hiện nay, đa số đều mù lòa trước các tiến hoá ấy.

33. It is clear that members of the deva kingdom are not to be found on the dense physical level.

33. Rõ ràng các thành viên của giới thiên thần không được tìm thấy ở mức hồng trần đậm đặc.

There are certain large groups of devas, called “the devas of the shadows,” or the violet devas, who are closely allied with the evolutionary development of man’s etheric body, and who transmit to him solar and planetary radiation.

Có một số nhóm thiên thần lớn, được gọi là “thiên thần của bóng tối,” hay các thiên thần tím, vốn liên kết chặt chẽ với sự phát triển tiến hoá của thể dĩ thái của con người, và truyền đến y bức xạ mặt trời và hành tinh.

34. The function and importance of the “devas of the shadows” are given. It is important to note that these violet devas transmit to man both solar and planetary radiation.

34. Chức năng và tầm quan trọng của “thiên thần của bóng tối” được nêu ra. Cần lưu ý rằng các thiên thần tím này truyền đến con người cả bức xạ mặt trời lẫn bức xạ hành tinh.

35. Their color violent allies them to the seventh ray just as the etheric body is generically allied to the seventh ray.

35. Màu tím của họ liên kết họ với cung bảy cũng như thể dĩ thái về mặt tổng quát liên kết với cung bảy.

36. Solar and planetary radiations are necessary for the health of the dense physical vehicle and so these devas of the shadows uphold an invaluable function.

36. Bức xạ mặt trời và hành tinh là cần thiết cho sức khoẻ của vận cụ hồng trần đậm đặc, vì vậy các thiên thần của bóng tối này đảm nhiệm một chức năng vô giá.

The etheric body of man receives prana in different ways and of different kinds, and all these ways bring him into touch with varying entities.

Thể dĩ thái của con người tiếp nhận prana theo những cách khác nhau và thuộc những loại khác nhau, và tất cả những cách này đưa y vào tiếp xúc với các thực thể khác nhau.

37. The study of the reception of prana has its complexities and into these we will enter to a degree.

37. Nghiên cứu sự tiếp nhận prana có những phức tạp của nó và chúng ta sẽ đi vào những phức tạp ấy ở một mức độ nào đó.

38. Each channel for the reception of prana brings man in touch with the entities associated with that channel.

38. Mỗi kênh tiếp nhận prana đưa con người vào tiếp xúc với các thực thể gắn với kênh ấy.

1. Solar prana.

1. Prana mặt trời.

This is that vital and magnetic fluid which radiates from the sun, and which is transmitted to man’s etheric body through the agency of certain deva entities of a very high order, and of a golden hue.

Đây là lưu chất sinh lực và từ tính bức xạ từ Mặt Trời, và được truyền đến thể dĩ thái của con người qua tác nhân của một số thực thể thiên thần thuộc một cấp độ rất cao, và có sắc vàng kim.

39. We note that solar prana is both vital and magnetic. In all cases of magnetism we must ask what is attracted.

39. Chúng ta lưu ý rằng prana mặt trời vừa thiết yếu vừa từ tính. Trong mọi trường hợp từ tính, chúng ta phải hỏi điều gì bị hấp dẫn.

40. The “golden hue” of the transmitting devas is also to be noted. Perhaps more will be said of the degree of elevation of these devas.

40. “Sắc vàng kim” của các thiên thần truyền dẫn cũng cần được lưu ý. Có lẽ sẽ có thêm điều được nói về mức độ cao của các thiên thần này.

41. It is not said whether these deva entities are extra-planetary or intra-planetary.

41. Không nói rõ các thực thể thiên thần này là ngoài hành tinh hay trong hành tinh.

It is passed through their bodies and emitted as powerful radiations, which are applied direct through certain plexi in the uppermost part of the etheric body, the head and shoulders, and passed down to the etheric correspondence of the physical organ, the spleen, and from thence forcibly transmitted into the spleen itself.

Nó được truyền qua các thể của họ và được phát ra như những bức xạ mạnh mẽ, được áp dụng trực tiếp qua một số đám rối ở phần cao nhất của thể dĩ thái, vùng đầu và vai, và được truyền xuống đến đối phần dĩ thái của cơ quan hồng trần, luân xa lá lách, và từ đó được truyền mạnh vào chính lá lách.

42. Something important about the functioning of the deva kingdom is given: energy is passed through their bodies in order to reach its destination. This description suggests that the devas under discussion live within the ring-pass-not of the Earth.

42. Một điều quan trọng về hoạt động của giới thiên thần được nêu ra: năng lượng được truyền qua các thể của họ để đến đích. Mô tả này gợi ý rằng các thiên thần đang được bàn đến sống trong vòng-giới-hạn của Trái Đất.

43. The passage of solar prana is hereby given. The “pranic triangle” is involved:

43. Lộ trình của prana mặt trời được nêu ra ở đây. “Tam giác prana” có liên quan:

“1. The pranic triangle.

“1. Tam giác prana.

a. The shoulder centre.

a. Trung tâm vai.

b. The centre near the diaphragm.

b. Trung tâm gần cơ hoành.

c. The spleen.” (EA 88)

c. Luân xa lá lách.” (CTHM 88)

44. Other centers are probably involved and the term “uppermost” may give a hint as to their location, but the Tibetan is not being entirely specific.

44. Có lẽ còn các trung tâm khác liên quan và từ “cao nhất” có thể gợi ý vị trí của chúng, nhưng Chân sư Tây Tạng không hoàn toàn cụ thể.

45. The word “forcibly” is not without significance when stating the means of transmission of prana to the physical spleen.

45. Từ “mạnh” không phải không có ý nghĩa khi nêu phương thức truyền prana vào lá lách hồng trần.

46. This description entails a knowledge of occult physiology which is not yet in our possession.

46. Mô tả này đòi hỏi một tri thức về sinh lý học huyền bí mà chúng ta chưa có.

These golden hued pranic entities are in the air above us, and are specially active in such parts of the world as , in those tropical countries where the air is pure and dry, and the rays of the sun are recognised as being specially beneficial.

Các thực thể prana sắc vàng kim này ở trong không khí phía trên chúng ta, và đặc biệt hoạt động ở những vùng trên thế giới như, trong những xứ nhiệt đới nơi không khí trong sạch và khô, và các tia mặt trời được công nhận là đặc biệt có lợi.

47. This statement confirms that the “golden hued pranic entities” are related to Earth and even to the atmosphere in certain terrestrial location.

47. Mệnh đề này xác nhận rằng các “thực thể prana sắc vàng kim” có liên hệ đến Trái Đất và thậm chí đến khí quyển ở một số địa điểm trên địa cầu.

48. We note the necessary that they work in areas where the air is “pure and dry”, and not in strong humidity. “Humidity” (unprecipitated moisture in the air) is a condition related to the astral plane, and these devas are not so related.

48. Chúng ta lưu ý điều kiện cần thiết là họ hoạt động ở những nơi không khí “trong sạch và khô”, chứ không trong độ ẩm cao. “Độ ẩm” (hơi nước chưa ngưng tụ trong không khí) là một tình trạng liên hệ đến cõi cảm dục, và các thiên thần này không liên hệ như vậy.

49. There are also areas of the Earth where the Sun’s rays are almost violent in their intensity. Can it be assumed that these “golden hued pranic entities” are not active under such circumstances? Or that they are excessively active? It would seem that they may be active in desert climes, but in the desert the rays of the sun are not recognised as specially beneficial.

49. Cũng có những vùng trên Trái Đất nơi các tia mặt trời gần như dữ dội về cường độ. Có thể giả định rằng các “thực thể prana sắc vàng kim” này không hoạt động trong những hoàn cảnh như vậy không? Hay họ hoạt động quá mức? Dường như họ có thể hoạt động trong khí hậu sa mạc, nhưng trong sa mạc, các tia mặt trời không được công nhận là đặc biệt có lợi.

Relations between man and this group of devas are very close, but fraught as yet with much danger to man. These devas are of a very powerful order, and, along their own line, are further evolved than man himself. Unprotected man lies at their mercy, and in this lack of protection, and man’s failure to understand the laws of magnetic resistance, or of solar repulsion comes, for instance, the menace of sunstroke.

Mối liên hệ giữa con người và nhóm thiên thần này rất mật thiết, nhưng cho đến nay vẫn đầy nguy hiểm đối với con người. Các thiên thần này thuộc một cấp rất mạnh, và theo đường lối riêng của họ, tiến hoá xa hơn chính con người. Con người không được bảo vệ nằm trong tay họ, và trong sự thiếu bảo vệ này, và trong việc con người không hiểu các định luật của sự kháng cự từ tính, hay của sự đẩy lùi mặt trời, phát sinh, chẳng hạn, mối đe doạ của chứng say nắng.

50. The group of devas here discussed have a close relationship with man. It is inherent in many people to “seek the Sun”.

50. Nhóm thiên thần được bàn ở đây có một mối liên hệ mật thiết với con người. Nhiều người có khuynh hướng bẩm sinh “tìm đến Mặt Trời”.

51. It is interesting to note that, in terms of their own evolution, they are “further evolved than man himself”. This would suggest that such devas are self-conscious.

51. Thật thú vị khi lưu ý rằng, xét theo tiến hoá riêng của họ, họ “tiến hoá xa hơn chính con người”. Điều này gợi ý rằng các thiên thần như vậy là có ngã thức.

52. During the last number of decades increasing attention has been paid to protection from the rays of the Sun. These methods are, of course, external, involving “Sun screens” and “sun blocks”.

52. Trong vài thập niên gần đây, người ta ngày càng chú ý đến việc bảo vệ khỏi các tia mặt trời. Các phương pháp này dĩ nhiên là bên ngoài, liên quan đến “kem chống nắng” và “chất chắn nắng”.

53. The Tibetan suggests occultly energic means of protection using—

53. Chân sư Tây Tạng gợi ý các phương tiện bảo vệ huyền bí về năng lượng bằng cách dùng—

a. Magnetic resistance

a. Kháng cự từ tính

b. Solar repulsion

b. Đẩy lùi mặt trời

54. We are learning that certain maladies which overtake man are specifically related to the action of certain members of the deva kingdom, and especially to human ignorance concerning such devas.

54. Chúng ta đang học rằng một số chứng bệnh xảy đến với con người có liên hệ đặc thù đến tác động của một số thành viên của giới thiên thần, và nhất là đến sự vô minh của con người về các thiên thần ấy.

When the etheric body and its assimilative processes are comprehended scientifically, man will then be immune from dangers due to solar radiation. He will protect himself by the application of the laws governing [91] magnetic repulsion and attraction, and not so much by clothing and shelter.

Khi thể dĩ thái và các tiến trình đồng hoá của nó được thấu hiểu một cách khoa học, con người khi ấy sẽ miễn nhiễm trước các nguy hiểm do bức xạ mặt trời. Y sẽ tự bảo vệ bằng việc áp dụng các định luật cai quản [91] sự đẩy lùi và hấp dẫn từ tính, chứ không phải quá nhiều bằng quần áo và nơi trú ẩn.

55. A more salutary future relation between man and such devas is given. Man’s immunity will lie in an understanding and application of “the laws governing magnetic repulsion and attraction”. These laws will be understood during the Aquarian Age the culture of which will be much related to the Sun and to the etheric body. The sign Leo, in which the Sun is so prominent, is the polar opposite of Aquarius.

55. Một mối liên hệ tương lai lành mạnh hơn giữa con người và các thiên thần như vậy được nêu ra. Sự miễn nhiễm của con người sẽ nằm ở việc thấu hiểu và áp dụng “các định luật cai quản sự đẩy lùi và hấp dẫn từ tính”. Các định luật này sẽ được thấu hiểu trong Kỷ Nguyên Bảo Bình mà văn hoá của nó sẽ liên hệ nhiều đến Mặt Trời và thể dĩ thái. Dấu hiệu Sư Tử, nơi Mặt Trời nổi bật, là cực đối lập của Bảo Bình.

It is largely a question of polarisation.

Đó phần lớn là vấn đề phân cực.

56. The protection here discussed may relate to the focus of man’s attention (i.e., his polarisation). At the moment, he is much focussed on his physical nature and not upon and within his etheric nature.

56. Sự bảo vệ được bàn ở đây có thể liên hệ đến trọng tâm chú ý của con người (tức sự phân cực của y). Hiện nay, y tập trung nhiều vào bản chất hồng trần của mình chứ không tập trung vào và trong bản chất dĩ thái của mình.

One hint might here be given: When men understand the deva evolution somewhat more correctly and recognise their work along certain lines in connection with the Sun and realise that they represent the feminine pole as they themselves represent the masculine (the fourth Creative Hierarchy being male)39 they will comprehend the mutual relationship, and govern that relationship by law.

Ở đây có thể đưa ra một gợi ý: Khi con người thấu hiểu tiến hoá thiên thần đúng đắn hơn đôi chút và nhận ra công việc của họ theo một số đường lối liên hệ đến Mặt Trời và nhận ra rằng họ đại diện cho cực nữ cũng như con người đại diện cho cực nam (Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư là nam)39 thì họ sẽ thấu hiểu mối liên hệ tương hỗ, và cai quản mối liên hệ ấy bằng định luật.

57. An important concept is here set forth. The deva evolution is, in relation to “man”, the “feminine pole”, even as man is the “masculine” or “male”. Just as the relationship between the sexes is, under a growing Libran influence, to be governed increasingly by law, so is the relationship between man and devas.

57. Một khái niệm quan trọng được nêu ra ở đây. Tiến hoá thiên thần, trong liên hệ với “con người”, là “cực nữ”, cũng như con người là “cực nam” hay “nam”. Cũng như mối liên hệ giữa hai giới, dưới ảnh hưởng Thiên Bình đang tăng, sẽ ngày càng được cai quản bằng định luật, thì mối liên hệ giữa con người và các thiên thần cũng vậy.

58. The principle of mutuality based on respect and understanding must govern. We are dealing here with the harmonization of the human and deva kingdoms. The in-cycling of the fourth Ray of Harmony through Conflict (and its buddhic associations) will assist with this harmonization under law.

58. Nguyên tắc tương hỗ dựa trên tôn trọng và thấu hiểu phải cai quản. Ở đây chúng ta đang bàn đến sự hoà điệu hoá giữa giới nhân loại và giới thiên thần. Sự đi vào chu kỳ của Cung bốn Hoà Điệu qua Xung Đột (và các liên hệ Bồ đề của nó) sẽ trợ giúp sự hoà điệu hoá này dưới định luật.

59. In these days of relatively ignorant experimentation by man as he enters into fuller association with the devas, he is not governed in his approach by law.

59. Trong những ngày tháng con người thử nghiệm tương đối vô minh khi bước vào sự kết hợp đầy đủ hơn với các thiên thần, y không được cai quản trong cách tiếp cận của mình bởi định luật.

(39: S. D., I, 232-238. The whole cosmos is guided, controlled and animated by an almost endless series of Hierarchies of sentient Beings, each having a mission to perform.—S. D., I, 295. Among these the Hierarchy of human Monads has a place.)

(39: GLBN, I, 232-238. Toàn thể vũ trụ được hướng dẫn, kiểm soát và làm sinh động bởi một chuỗi gần như vô tận các Huyền Giai của các Hữu Thể có tâm thức, mỗi Huyền Giai có một sứ mệnh phải thực hiện.—GLBN, I, 295. Trong số đó, Huyền Giai các chân thần nhân loại có một vị trí.)

60. On pp. 34 and 35 of Esoteric Astrology we are given a tabulation listing twelve Creative Hierarchies. Obviously, judging from the statement above, there are many, many more. The planes do not end at the third subplane of the cosmic astral plane (as the tabulation of Hierarchies ends). The ascending Hierarchies are virtually limitless as far as man is concerned. There are also many orderly subdivisions within the Hierarchies listed

60. Ở tr. 34 và 35 của Chiêm Tinh Học Nội Môn chúng ta được cho một bảng liệt kê mười hai Huyền Giai Sáng Tạo. Hiển nhiên, xét theo mệnh đề trên, còn có rất, rất nhiều hơn nữa. Các cõi không kết thúc ở cõi phụ thứ ba của cõi cảm dục vũ trụ (như bảng liệt kê các Huyền Giai kết thúc). Các Huyền Giai tăng dần hầu như vô hạn đối với con người. Cũng có nhiều phân chia phụ có trật tự trong các Huyền Giai được liệt kê

These solar devas take the radiatory rays of the sun which reach from its centre to the periphery along one of the three channels of approach, pass them through their organism and focalise them there. They act almost as a burning glass acts.

Các thiên thần mặt trời này lấy các tia bức xạ của Mặt Trời vươn từ trung tâm đến chu vi theo một trong ba kênh tiếp cận, truyền chúng qua cơ thể của họ và hội tụ chúng tại đó. Họ hành động gần như một thấu kính hội tụ hành động.

61. Earlier we dealt with the “three channels of approach” found in every atom (human, planetary, solar or the atom of substance).

61. Trước đó chúng ta đã bàn đến “ba kênh tiếp cận” được tìm thấy trong mọi nguyên tử (con người, hành tinh, mặt trời hay nguyên tử chất liệu).

62. It is to be noted that the triple channel reaches from the centre to the periphery of the being concerned.

62. Cần lưu ý rằng kênh tam phân vươn từ trung tâm đến chu vi của hữu thể liên quan.

63. The golden hued pranic devas receive the diffuse surface radiation of the Sun and focalize those rays. This focussing is likened to the action of a magnifying glass, or “burning glass”.

63. Các thiên thần prana sắc vàng kim tiếp nhận bức xạ bề mặt lan toả của Mặt Trời và hội tụ các tia ấy. Sự hội tụ này được ví với tác động của một kính lúp, hay “thấu kính hội tụ”.

These rays are then reflected or transmitted to man’s etheric body, and caught up by him and again assimilated.

Các tia này sau đó được phản chiếu hay truyền đến thể dĩ thái của con người, và được y thu nhận và lại được đồng hoá.

64. The devas transmit the focalized prana directly to man’s etheric body.

64. Các thiên thần truyền prana đã được hội tụ trực tiếp đến thể dĩ thái của con người.

65. The entire process is a chain of transmission and assimilation and, again, transmission.

65. Toàn bộ tiến trình là một chuỗi truyền dẫn và đồng hoá và, một lần nữa, truyền dẫn.

When the etheric body is in good order and functioning correctly, enough of this prana is absorbed to keep the form organised.

Khi thể dĩ thái ở trạng thái tốt và hoạt động đúng đắn, đủ prana này được hấp thụ để giữ cho hình tướng được tổ chức.

66. This suggests that a poorly functioning etheric body may not absorb prana as it should.

66. Điều này gợi ý rằng một thể dĩ thái hoạt động kém có thể không hấp thụ prana như đáng lẽ phải hấp thụ.

This is the whole object of the etheric body’s functioning, and is a point which cannot be sufficiently emphasised.

Đây là toàn bộ mục tiêu của hoạt động của thể dĩ thái, và là một điểm không thể nhấn mạnh đủ.

67. DK emphasizes again the major function of the etheric body and its relation to healthful physical continuity.

67. DK lại nhấn mạnh chức năng chính yếu của thể dĩ thái và mối liên hệ của nó với sự liên tục hồng trần lành mạnh.

The remainder is cast off in the form of animal radiation, or physical magnetism—all terms expressing the same idea. Man therefore repeats on a lesser scale the work of the great solar devas, and in his turn adds his quota of repolarised or remagnetised emanation to the sumtotal of the planetary aura.

Phần còn lại bị thải ra dưới dạng bức xạ động vật, hay từ tính hồng trần—tất cả các thuật ngữ đều biểu đạt cùng một ý. Do đó, con người lặp lại ở một quy mô nhỏ hơn công việc của các thiên thần mặt trời vĩ đại, và đến lượt mình, y thêm phần phát xạ đã được tái phân cực hay tái từ hoá của mình vào tổng thể hào quang hành tinh.

68. Unassimilated prana, when cast off, goes by the names “animal radiation” or “physical magnetism”. Some of this may well be used in the healing process.

68. Prana không được đồng hoá, khi bị thải ra, được gọi là “bức xạ động vật” hay “từ tính hồng trần”. Một phần của nó rất có thể được dùng trong tiến trình trị liệu.

69. The analogy holds good and man acts to a lesser sphere as the “great solar devas” have acted in relation to o him.

69. Sự tương đồng vẫn đúng và con người hành động trong một phạm vi nhỏ hơn như các “thiên thần mặt trời vĩ đại” đã hành động liên hệ đến y.

70. That prana which is cast off from man (due to non-absorption) has been “repolarised or remagnetised”, and is an emanation adding to the “sumtotal of the planetary aura”. The receiving entity requalifies that which is received. For instance, the first ray passing through Saturn and then emanated is qualified differently from the first ray passing through Vulcan and then emanated. A quality of the recipient organism is added.

70. Prana bị thải ra từ con người (do không hấp thụ) đã được “tái phân cực hay tái từ hoá”, và là một phát xạ góp vào “tổng thể hào quang hành tinh”. Thực thể tiếp nhận tái phẩm tính hoá điều được tiếp nhận. Chẳng hạn, cung một đi qua Sao Thổ rồi phát xạ ra được phẩm tính hoá khác với cung một đi qua Vulcan rồi phát xạ ra. Một phẩm tính của cơ thể tiếp nhận được thêm vào.

71. In the flow of life, there is no unnecessary retention of energy. Health demands circulation.

71. Trong dòng chảy của sự sống, không có sự giữ lại năng lượng không cần thiết. Sức khoẻ đòi hỏi sự lưu thông.

2. Planetary prana.

2. Prana hành tinh.

This is the vital fluid emanated from any planet, which constitutes its basic coloring or quality, and is produced by a repetition within the planet of the same process [92] which is undergone in connection with man and solar prana.

Đây là lưu chất sinh lực được phát xạ từ bất kỳ hành tinh nào, cấu thành màu sắc hay phẩm tính căn bản của nó, và được tạo ra bởi sự lặp lại trong hành tinh cùng một tiến trình [92] vốn được trải qua liên hệ đến con người và prana mặt trời.

72. DK continues the analogy. We note that the pranic flows are “vital fluid(s)” which are magnetic. Prana flows.

72. DK tiếp tục sự tương đồng. Chúng ta lưu ý rằng các dòng chảy prana là “(các) lưu chất sinh lực” mang tính từ. Prana chảy.

73. Just as the pranic planetary emanation has its own “basic coloring or quality”, the same may be predicated of the pranic emanation of from the Sun or from man.

73. Cũng như phát xạ prana hành tinh có “màu sắc hay phẩm tính căn bản” riêng, điều tương tự cũng có thể nói về phát xạ prana từ Mặt Trời hay từ con người.

The planet (the Earth, or any other planet) absorbs solar prana, assimilates what is required, and radiates off that which is not essential to its well-being in the form of planetary radiation. 

Hành tinh (Trái Đất, hay bất kỳ hành tinh nào khác) hấp thụ prana mặt trời, đồng hoá điều cần thiết, và bức xạ ra điều không thiết yếu đối với sự an lành của nó dưới dạng bức xạ hành tinh.

74. We see there is no waste. That which cannot be assimilated “radiates off” or is “cast off”. Any entity can only receive according to its capacity. One of the greatest cosmic ‘sins’ is to hoard energy/force, and it has its dire consequences to the one who unlawfully retains.

74. Chúng ta thấy không có lãng phí. Điều không thể đồng hoá “bức xạ ra” hay bị “thải ra”. Bất kỳ thực thể nào cũng chỉ có thể tiếp nhận theo năng lực của nó. Một trong những ‘tội lỗi’ vũ trụ lớn nhất là tích trữ năng lượng/mãnh lực, và nó có những hậu quả khủng khiếp đối với kẻ giữ lại trái luật.

Planetary prana, therefore, is solar prana which has passed throughout the planet, has circulated through the planetary etheric body, has been transmitted to the dense physical planet, and has been cast off thence in the form of a radiation of the same essential character as solar prana, plus the individual and distinctive quality of the particular planet concerned.

Vì vậy, prana hành tinh là prana mặt trời đã đi xuyên suốt hành tinh, đã lưu thông qua thể dĩ thái hành tinh, đã được truyền đến hành tinh hồng trần đậm đặc, và đã bị thải ra từ đó dưới dạng một bức xạ có cùng bản chất thiết yếu như prana mặt trời, cộng thêm phẩm tính cá biệt và đặc thù của hành tinh liên quan.

75. Another important idea is given, equating two kinds of prana—showing that there is no essential difference between them. In a way, all prana is one prana of a universal kind.

75. Một ý tưởng quan trọng khác được nêu ra, đồng nhất hai loại prana—cho thấy không có khác biệt thiết yếu giữa chúng. Theo một nghĩa nào đó, mọi prana đều là một prana phổ quát.

76. We note that before any casting off occurs, the received prana is circulated and, in proper measure, transmitted to the dense physical body.

76. Chúng ta lưu ý rằng trước khi có bất kỳ sự thải ra nào, prana được tiếp nhận được lưu thông và, theo mức độ thích hợp, được truyền đến thể hồng trần đậm đặc.

77. It is the “individual and distinctive quality” of the receiving entity which is added to the prana it has received from a superior radiating entity.

77. Chính “phẩm tính cá biệt và đặc thù” của thực thể tiếp nhận được thêm vào prana mà nó đã tiếp nhận từ một thực thể bức xạ cao hơn.

78. Whatever passed through us or any entity is qualified according to the nature of the receiver.

78. Bất cứ điều gì đi qua chúng ta hay qua bất kỳ thực thể nào đều được phẩm tính hoá theo bản chất của kẻ tiếp nhận.

79. A question arises as to whether all the received prana must be circulated and transmitted to the physical body before it can be cast off. Perhaps the received prana must be sent in the direction of the dense physical body before it can be cast off as excessive or inassimilable.

79. Nảy sinh một câu hỏi liệu toàn bộ prana được tiếp nhận có phải được lưu thông và truyền đến thể hồng trần trước khi có thể bị thải ra hay không. Có lẽ prana được tiếp nhận phải được gửi theo hướng của thể hồng trần đậm đặc trước khi có thể bị thải ra như dư thừa hay không thể đồng hoá.

This again repeats the process undergone in the human body. The physical radiations of men differ according to the quality of their physical bodies. So it is with a planet.

Điều này lại lặp lại tiến trình được trải qua trong thân thể con người. Các bức xạ hồng trần của con người khác nhau tuỳ theo phẩm tính của các thể hồng trần của họ. Đối với một hành tinh cũng vậy.

80. The analogy is extended to man.

80. Sự tương đồng được mở rộng đến con người.

81. What is meant here by “their physical bodies”? Shall we say that the quality of both the dense physical and the etheric bodies is meant?

81. Ở đây “các thể hồng trần của họ” có nghĩa gì? Có thể nói rằng phẩm tính của cả thể hồng trần đậm đặc lẫn thể dĩ thái đều được hàm ý không?

Planetary emanative prana (as in the case of solar prana) is caught up and transmitted via a particular group of devas, called the “devas of the shadows,” who are ethereal devas of a slightly violet hue. Their bodies are composed of the matter of one or other of the four ethers, and they focalise and concentrate the emanations of the planet, and of all forms upon the planet.

Prana phát xạ hành tinh (như trong trường hợp prana mặt trời) được thu nhận và truyền dẫn qua một nhóm thiên thần đặc thù, gọi là “thiên thần của bóng tối,” là các thiên thần dĩ thái có sắc tím hơi nhạt. Thể của họ được cấu tạo bởi vật chất của một trong bốn cõi dĩ thái, và họ hội tụ và cô đặc các phát xạ của hành tinh, và của mọi hình tướng trên hành tinh.

82. It is clear that man depends upon or lives by means of planetary emanative prana as well as solar prana—really the same thing, the former having passed through the etheric (and physical?) bodies of the planet where it has been repolarised and re-qualified.

82. Rõ ràng con người phụ thuộc vào hay sống nhờ prana phát xạ hành tinh cũng như prana mặt trời—thật ra là cùng một điều, chỉ khác là điều thứ nhất đã đi qua các thể dĩ thái (và hồng trần?) của hành tinh nơi nó đã được tái phân cực và tái phẩm tính hoá.

83. The role of the “devas of the shadows” is stated. Here they are said to have a “slightly violet hue”. Elsewhere, greater delineation is given:

83. Vai trò của “thiên thần của bóng tối” được nêu ra. Ở đây họ được nói là có “sắc tím hơi nhạt”. Ở nơi khác, có mô tả chi tiết hơn:

“As the two planes, astral and physical, merge and blend, and continuity of consciousness is experienced upon the two, it will be difficult for human beings to differentiate at first between devas of the astral plane, and those of the physical. At the beginning of this period of recognition, men will principally contact the violet devas, for those of the higher ranks amongst them are definitely making the attempt to contact the human. These devas of the shadows are of a dark purple on the fourth etheric level, of a lighter purple, much the same colour as violet, on the third etheric level, a light violet on the second, whilst on the atomic subplane they are of a glorious translucent lavender.”(TCF 912)

“Khi hai cõi, cảm dục và hồng trần, hoà trộn và dung hợp, và sự liên tục tâm thức được trải nghiệm trên cả hai, ban đầu con người sẽ khó phân biệt giữa các thiên thần cõi cảm dục và các thiên thần cõi hồng trần. Vào đầu thời kỳ được công nhận này, con người sẽ chủ yếu tiếp xúc các thiên thần tím, vì những thiên thần thuộc các cấp cao hơn trong số họ đang dứt khoát cố gắng tiếp xúc con người. Các thiên thần của bóng tối này có màu tím sẫm ở cấp dĩ thái thứ tư, màu tím nhạt hơn, gần như cùng màu với tím, ở cấp dĩ thái thứ ba, màu tím nhạt ở cấp thứ hai, trong khi ở cõi phụ nguyên tử họ có màu oải hương trong suốt rực rỡ.”(LVC 912)

84. The violet devas are related in some symbolical way to the Moon, as they carry a crescent moon on their foreheads.

84. Các thiên thần tím liên hệ theo một cách biểu tượng nào đó với Mặt Trăng, vì họ mang một lưỡi liềm trên trán.

85. We are seeing, therefore, a cooperation between golden solar devas who catch and transmit the solar pranic emanations and ‘lunar’ violet devas who catch and transmit planetary pranic emanations.

85. Vì vậy, chúng ta đang thấy một sự hợp tác giữa các thiên thần mặt trời sắc vàng kim thu nhận và truyền các phát xạ prana mặt trời và các thiên thần tím ‘thái âm’ thu nhận và truyền các phát xạ prana hành tinh.

They have a specially close connection with human beings owing to the fact of the essential resemblance of their bodily substance to man’s etheric substance, and because they transmit to him the magnetism of “Mother Earth” as it is called.

Họ có một mối liên hệ đặc biệt gần gũi với con người do sự tương đồng thiết yếu giữa chất liệu thể của họ với chất liệu dĩ thái của con người, và vì họ truyền cho con người từ điện của “Mẹ Trái Đất” như người ta gọi.

86. These violet devas are another group closely related to man. We have just read that the solar pranic devas are also closely related (i.e., “Relations between man and this group of devas are very close”—TCF 90)

86. Những thiên thần màu tím này là một nhóm khác liên hệ chặt chẽ với con người. Chúng ta vừa đọc rằng các thiên thần prana thái dương cũng liên hệ chặt chẽ (tức là “Mối liên hệ giữa con người và nhóm thiên thần này rất gần gũi”—TCF 90)

87. We note that close relations between entities may arise if within their bodies there is a close similarity of substance. These violet devas are not within man’s etheric body but have bodies with substance very similar to the substance of man’s etheric bodies.

87. Chúng ta lưu ý rằng các mối liên hệ gần gũi giữa các thực thể có thể phát sinh nếu trong các thể của họ có một sự tương đồng chặt chẽ về chất liệu. Những thiên thần màu tím này không ở trong thể dĩ thái của con người nhưng có các thể với chất liệu rất tương tự chất liệu của các thể dĩ thái của con người.

88. Earlier, of the violet devas, we were told that they transmit to man both solar and planetary radiation.

88. Trước đó, về những thiên thần màu tím, chúng ta được cho biết rằng họ truyền cho con người cả bức xạ thái dương lẫn bức xạ hành tinh.

89. Our pranic nurturance from the Earth considered as “Mother” comes through these violet devas.

89. Sự nuôi dưỡng prana của chúng ta từ Trái Đất được xem như “Mẹ” đến qua những thiên thần màu tím này.

90. In considering this fact, the relations between Earth, Moon, Cancer, Sun, Leo, Taurus and the color violet is to be considered.

90. Khi xét sự kiện này, cần xét các mối liên hệ giữa Trái Đất, Mặt Trăng, Cự Giải, Mặt Trời, Sư Tử, Kim Ngưu và màu tím.

91. Below is a summary helpful to us in gathering our thoughts.

91. Dưới đây là một bản tóm lược hữu ích giúp chúng ta tập hợp các ý tưởng.

Therefore we see that there are two groups of devas working in connection with man:

Vì vậy, chúng ta thấy rằng có hai nhóm thiên thần làm việc liên hệ với con người:

a. Solar devas, who transmit the vital fluid which circulates in the etheric body.

a. Các thiên thần thái dương, truyền lưu chất sinh lực lưu chuyển trong thể dĩ thái.

b. Planetary devas of a violet color, who are allied to man’s etheric body, and who transmit earth’s prana, or the prana of whichever planet man may be functioning upon during a physical incarnation.

b. Các thiên thần hành tinh màu tím, liên minh với thể dĩ thái của con người, và truyền prana của Trái Đất, hay prana của bất kỳ hành tinh nào mà con người có thể đang hoạt động trên đó trong một kiếp lâm phàm hồng trần.

92. When reading this summary the following must also be borne in mind:

92. Khi đọc bản tóm lược này, cũng phải ghi nhớ điều sau:

There are certain large groups of devas, called “the devas of the shadows,” or the violet devas, who are closely allied with the evolutionary development of man’s etheric body, and who transmit to him solar and planetary radiation. (TCF 90)

Có những nhóm thiên thần lớn nhất định, được gọi là “các thiên thần của bóng tối,” hay các thiên thần màu tím, liên hệ chặt chẽ với sự phát triển tiến hoá của thể dĩ thái của con người, và truyền cho con người bức xạ thái dương và hành tinh. (TCF 90)

93. The violet devas transmit more that “earth’s prana”

93. Các thiên thần màu tím truyền nhiều hơn là “prana của Trái Đất”

94. We conclude that symbolically, the Sun and the Moon work in closest cooperation ensuring the vitalization of man. (Technically, however, we realize that the Moon is a dead planet and has no vital radiation.)

94. Chúng ta kết luận rằng, về mặt biểu tượng, Mặt Trời và Mặt Trăng phối hợp chặt chẽ nhất để bảo đảm việc tiếp sinh lực cho con người. (Tuy nhiên, về mặt kỹ thuật, chúng ta nhận ra rằng Mặt Trăng là một hành tinh chết và không có bức xạ sinh lực.)

A very pertinent question might here be asked, and though we may not fully explain the mystery, a few suggestive [93] hints may be possible. We might ask: What causes the apparent deadness of the Moon? Is there deva life upon it? Does solar prana have no effect there? What constitutes the difference between the apparently dead Moon, and a live planet, such as the Earth?40 [40: S. D., I, 170-180.]

Ở đây có thể đặt ra một câu hỏi rất thích đáng, và dù chúng ta có thể không giải thích trọn vẹn huyền nhiệm, một vài gợi ý [93] có tính chỉ dẫn có lẽ là khả hữu. Chúng ta có thể hỏi: Điều gì gây ra sự chết bề ngoài của Mặt Trăng? Có sự sống thiên thần trên đó không? Prana thái dương không có tác dụng ở đó sao? Điều gì tạo nên sự khác biệt giữa Mặt Trăng dường như chết, và một hành tinh sống, như Trái Đất?40 [40: S. D., I, 170-180.]

95. DK enters a brief discussion of the mystery of the Moon taken up a various points throughout this book and Esoteric Astrology.

95. Chân sư DK đi vào một cuộc bàn luận ngắn về huyền nhiệm của Mặt Trăng, được đề cập ở nhiều điểm khác nhau xuyên suốt cuốn sách này và Chiêm Tinh Học Nội Môn.

96. Is the Moon only “apparently dead” or truly dead?

96. Mặt Trăng chỉ “dường như chết” hay thật sự chết?

Here we touch upon a hidden mystery, of which the solution lies revealed for those who seek, in the fact that human beings and certain groups of devas are no longer found upon the Moon.

Ở đây chúng ta chạm đến một huyền nhiệm ẩn giấu, mà lời giải của nó được bày tỏ cho những ai tìm kiếm, trong sự kiện rằng con người và một số nhóm thiên thần nhất định không còn được tìm thấy trên Mặt Trăng.

97. The deadness of the Moon is related to the absence of human being and certain groups of devas (devas who transmit solar prana).

97. Sự chết của Mặt Trăng liên hệ với sự vắng mặt của con người và một số nhóm thiên thần (các thiên thần truyền prana thái dương).

Man has not ceased to exist upon the Moon because it is dead and cannot therefore support his life, but the Moon is dead because man and these deva groups have been removed from off its surface and from its sphere of influence.41 [41: S. D., I, 179.]

Con người không ngừng hiện hữu trên Mặt Trăng vì nó chết và do đó không thể nâng đỡ sự sống của y, mà Mặt Trăng chết vì con người và các nhóm thiên thần này đã bị dời khỏi bề mặt của nó và khỏi phạm vi ảnh hưởng của nó.41 [41: S. D., I, 179.]

98. This removal, which effectively ‘killed’ the Moon, was due to the intervention of the Solar Logos in the affairs of a planet in which lawlessness had developed beyond the possibility of redemption.

98. Sự dời chuyển này, vốn đã ‘giết’ Mặt Trăng một cách hữu hiệu, là do sự can thiệp của Thái dương Thượng đế vào các công việc của một hành tinh, nơi sự vô luật đã phát triển vượt quá khả năng cứu chuộc.

Man and the devas act on every planet as intermediaries, or as transmitting agencies. Where they are not found, then certain great activities become impossible, and disintegration sets in.

Con người và các thiên thần hành động trên mọi hành tinh như những trung gian, hay như các cơ quan truyền dẫn. Nơi nào họ không hiện diện, thì một số hoạt động lớn lao trở nên bất khả, và sự tan rã bắt đầu.

99. Here the reason is given directly. Man and devas transmit life. Where they are not found, animating life cannot reach that which is to be animated, and death supervenes.

99. Ở đây nguyên nhân được nêu trực tiếp. Con người và các thiên thần truyền sự sống. Nơi nào họ không hiện diện, sự sống làm sinh động không thể đến được cái cần được làm sinh động, và cái chết xảy đến.

The reason for this removal lies in the cosmic Law of Cause and Effect, or cosmic karma, and in the composite, yet individual, history of that one of the Heavenly Men Whose body, the Moon or any other dead planet at any time happened to be.

Lý do của sự dời chuyển này nằm trong Định luật Nhân Quả vũ trụ, hay nghiệp quả vũ trụ, và trong lịch sử tổng hợp, nhưng vẫn cá biệt, của một trong các Đấng Thiên Nhân mà thể của Ngài, vào bất kỳ lúc nào, đã từng là Mặt Trăng hay bất kỳ hành tinh chết nào khác.

100. DK hints at cosmic causes for this removal of man and deva from the Moon.

100. Chân sư DK ám chỉ các nguyên nhân vũ trụ cho sự dời chuyển con người và thiên thần khỏi Mặt Trăng.

101. If the karma is “cosmic” it concerns more than strictly planetary beings. As the intervention of the Solar Logos occurred (in relation to the Moon’s process), that great solar being must also have been karmically involved. Perhaps the life informing the Moon had become response to certain negative cosmic influences which could not be allowed to have influence within the Earth-scheme.

101. Nếu nghiệp quả là “vũ trụ” thì nó liên quan nhiều hơn các hữu thể thuần túy thuộc hành tinh. Vì sự can thiệp của Thái dương Thượng đế đã xảy ra (liên hệ với tiến trình của Mặt Trăng), hữu thể thái dương vĩ đại ấy hẳn cũng đã bị liên đới về nghiệp quả. Có lẽ sự sống thấm nhuần Mặt Trăng đã trở nên đáp ứng với một số ảnh hưởng vũ trụ tiêu cực nhất định mà không thể được phép có ảnh hưởng trong hệ Địa Cầu.

102. Another hint is given. There are other dead planets and they have been the bodies of Heavenly Men (or Planetary Logoi).

102. Một gợi ý khác được đưa ra. Có những hành tinh chết khác và chúng đã từng là các thể của các Đấng Thiên Nhân (hay các Hành Tinh Thượng đế).

103. As far as we can tell, the Moon was the body of a Chain-lord within the Earth-scheme (an entity informing an entire planetary chain) and, from one perspective, could also be considered a vehicle of manifestation for the Planetary Logos of the Earth-scheme.

103. Theo những gì chúng ta có thể nhận định, Mặt Trăng từng là thể của một Chúa Tể Dãy trong hệ Địa Cầu (một thực thể thấm nhuần toàn bộ một dãy hành tinh) và, từ một quan điểm, cũng có thể được xem là một vận cụ biểu hiện cho Hành Tinh Thượng đế của hệ Địa Cầu.

104. Did the physical Earth exist at the time the physical Moon existed? Did the Moon-chain and the Earth-chain exist simultaneously? (A number of references in TCF seem to indicate they did.) Why within the Earth-scheme should there be two physical planets—even if sequential? (This is not the case for any other planetary scheme in our solar system.) Is it only because of the failure of the first of these planets? If the precipitation of the physical Earth followed sequentially upon the ‘death’ of the Moon, was it even planned that there would be a physical Earth?

104. Trái Đất hồng trần có hiện hữu vào thời điểm Mặt Trăng hồng trần hiện hữu không? Dãy Mặt Trăng và Dãy Địa Cầu có hiện hữu đồng thời không? (Một số tham chiếu trong TCF dường như cho thấy là có.) Vì sao trong hệ Địa Cầu lại có hai hành tinh hồng trần—dù là kế tiếp nhau? (Điều này không xảy ra đối với bất kỳ hệ hành tinh nào khác trong hệ mặt trời của chúng ta.) Có phải chỉ vì sự thất bại của hành tinh thứ nhất trong hai hành tinh ấy không? Nếu sự ngưng tụ của Trái Đất hồng trần diễn ra kế tiếp sau ‘cái chết’ của Mặt Trăng, liệu ngay từ đầu đã có kế hoạch rằng sẽ có một Trái Đất hồng trần hay không?

105. There are many mysteries here—mysterious to us, at least.

105. Ở đây có nhiều huyền nhiệm—ít nhất là huyền nhiệm đối với chúng ta.

Scroll to Top