Luận Về Lửa Vũ Trụ – Semester S1 (3-134 – clean version)

📘 Sách: Luận Về Lửa Vũ Trụ – Tác giả: Alice Bailey

cosmic-fire-s1-01.png

A Treatise on Cosmic Fire

Luận về Lửa Vũ Trụ

by

do

ALICE A. BAILEY

ALICE A. BAILEY

Dedicated with Gratitude to

Trân trọng hiến tặng với lòng biết ơn đến

HELENA PETROVNA BLAVATSKY,

HELENA PETROVNA BLAVATSKY,

that great disciple who lighted her torch in the

vị đại đệ tử đã thắp lên ngọn đuốc của bà ở

East and brought the light to Europe and America in 1875.

phương Đông và mang ánh sáng đến châu Âu và châu Mỹ vào năm 1875.

EXTRACT FROM A STATEMENT BY THE TIBETAN

TRÍCH TỪ MỘT TUYÊN BỐ CỦA CHÂN SƯ TÂY TẠNG

Suffice it to say, that I am a Tibetan disciple of a certain degree, and this tells you but little, for all are disciples from the humblest aspirant up to, and beyond, the Christ Himself. I live in a physical body like other men, on the borders of Tibet, and at times (from the exoteric standpoint) preside over a large group of Tibetan lamas, when my other duties permit. It is this fact that has caused it to be reported that I am an abbot of this particular lamasery. Those associated with me in the work of the Hierarchy (and all true disciples are associated in this work) know me by still another name and office. A.A.B. knows who I am and recognises me by two of my names.

Chỉ cần nói rằng, tôi là một đệ tử Tây Tạng ở một cấp độ nào đó, và điều này nói với các bạn rất ít, vì tất cả đều là đệ tử, từ người chí nguyện khiêm tốn nhất cho đến, và vượt lên trên, chính Đức Christ. Tôi sống trong một thể xác như những người nam và nữ khác, ở vùng biên giới Tây Tạng, và đôi khi (theo quan điểm ngoại môn) chủ trì một nhóm lớn các lạt ma Tây Tạng, khi những bổn phận khác của tôi cho phép. Chính sự kiện này đã khiến người ta truyền đi rằng tôi là viện trưởng của tu viện lạt ma đặc biệt này. Những người cộng tác với tôi trong công việc của Thánh đoàn (và mọi đệ tử chân chính đều cộng tác trong công việc này) biết tôi dưới một tên gọi và chức vụ khác nữa. A.A.B. biết tôi là ai và nhận ra tôi qua hai trong các danh xưng của tôi.

I am a brother of yours, who has travelled a little longer upon the Path than has the average student, and has therefore incurred greater responsibilities. I am one who has wrestled and fought his way into a greater measure of light than has the aspirant who will read this article, and I must therefore act as a transmitter of the light, no matter what the cost. I am not an old man, as age counts among the teachers, yet I am not young or inexperienced. My work is to teach and spread the knowledge of the Ageless Wisdom wherever I can find a response, and I have been doing this for many years. I seek also to help the Master M. and the Master K.H. whenever opportunity offers, for I have been long connected with Them and with Their work. In all the above, I have told you much; yet at the same time I have told you nothing which would lead you to offer me that blind obedience and the foolish devotion which the emotional aspirant offers to the Guru and Master Whom he is as yet unable to contact. Nor will he make that desired contact until he has transmuted emotional devotion into unselfish service to humanity-not to the Master.

Tôi là một huynh đệ của các bạn, người đã đi trên Con Đường lâu hơn một chút so với đạo sinh trung bình, và vì thế đã gánh lấy những trách nhiệm lớn hơn. Tôi là người đã vật lộn và chiến đấu để tiến vào một mức độ ánh sáng lớn hơn so với người chí nguyện sẽ đọc bài viết này, và vì vậy tôi phải hành động như một kẻ truyền đạt ánh sáng, bất kể giá nào. Tôi không phải là một người già, theo cách tính tuổi giữa các huấn sư, nhưng tôi cũng không trẻ hay thiếu kinh nghiệm. Công việc của tôi là giảng dạy và truyền bá tri thức của Minh Triết Ngàn Đời ở bất cứ nơi nào tôi có thể tìm thấy một sự đáp ứng, và tôi đã làm điều này trong nhiều năm. Tôi cũng tìm cách giúp Chân sư M. và Chân sư K.H. bất cứ khi nào có cơ hội, vì tôi đã gắn bó lâu dài với Các Ngài và với công việc của Các Ngài. Trong tất cả những điều trên, tôi đã nói với các bạn nhiều điều; tuy nhiên đồng thời tôi cũng không nói với các bạn điều gì có thể khiến các bạn dành cho tôi sự phục tùng mù quáng và lòng sùng mộ ngu xuẩn mà người chí nguyện phân cực cảm xúc dành cho Guru và Chân sư mà y còn chưa thể tiếp xúc. Y cũng sẽ không tạo được sự tiếp xúc mong muốn đó cho đến khi y đã chuyển hoá lòng sùng mộ cảm xúc thành sự phụng sự vô ngã đối với nhân loại—không phải đối với Chân sư.

The books that I have written are sent out with no claim for their acceptance. They may, or may not, be correct, true and useful. It is for you to ascertain their truth by right practice and by the exercise of the intuition. Neither I nor A.A.B. is the least interested in having them acclaimed as inspired writings, or in having anyone speak of them (with bated breath) as being the work of one of the Masters. If they present truth in such a way that it follows sequentially upon that already offered in the world teachings, if the information given raises the aspiration and the will-to-serve from the plane of the emotions to that of the mind (the plane whereon the Masters can be found) then they will have served their purpose. If the teaching conveyed calls forth a response from the illumined mind of the worker in the world, and brings a flashing forth of his intuition, then let that teaching be accepted. But not otherwise. If the statements meet with eventual corroboration, or are deemed true under the test of the Law of Correspondences, then that is well and good. But should this not be so, let not the student accept what is said.

Những cuốn sách mà tôi đã viết được gửi ra mà không đòi hỏi phải được chấp nhận. Chúng có thể đúng, hoặc không đúng, chân thật và hữu ích. Việc xác định chân lý của chúng bằng thực hành đúng đắn và bằng sự vận dụng trực giác là phần việc của các bạn. Cả tôi lẫn A.A.B. đều không hề quan tâm đến việc chúng được tung hô như những trước tác được cảm hứng, hay việc có ai đó nói về chúng (với hơi thở nín lại) như là công trình của một trong các Chân sư. Nếu chúng trình bày chân lý theo cách tiếp nối tuần tự với điều đã được cống hiến trong các giáo huấn của thế gian, nếu thông tin được đưa ra nâng khát vọng và Ý Chí-Phụng sự từ cõi cảm xúc lên cõi trí (cõi mà tại đó có thể tìm thấy các Chân sư) thì chúng sẽ hoàn thành mục đích của mình. Nếu giáo huấn được truyền đạt khơi dậy một sự đáp ứng từ trí tuệ được soi sáng của người hoạt động trong thế gian, và mang lại sự bừng lóe của trực giác của y, thì hãy chấp nhận giáo huấn ấy. Nhưng không phải cách khác. Nếu các phát biểu ấy gặp được sự xác chứng về sau, hoặc được xem là chân thật dưới phép thử của định luật tương ứng, thì điều đó là tốt và đáng mừng. Nhưng nếu không phải vậy, đạo sinh chớ chấp nhận điều được nói ra.

AUGUST 1934

THÁNG TÁM 1934

THE GREAT INVOCATION

ĐẠI KHẤN NGUYỆN

From the point of Light within the Mind of God

Từ điểm Ánh sáng trong Trí Thượng Đế

Let light stream forth into the minds of men.

Cầu xin Ánh sáng tràn vào Trí Con người

Let Light descend on Earth.

Cầu xin Ánh sáng giáng xuống trần gian

From the point of Love within the Heart of God

Từ nguồn Tình thương trong Tâm Thượng đế

Let love stream forth into the hearts of men.

Cầu xin Tình thương tràn vào Tâm Con người

May Christ return to Earth.

Cầu xin Đức Christ trở lại trần gian

From the centre where the Will of God is known

Từ Trung tâm biết được Ý chí Thượng đế

Let purpose guide the little wills of men—

Cầu xin Thiên Ý dẫn dắt ý chí nhỏ bé của Con người

The purpose which the Masters know and serve.

Thiên Ý mà các Chân sư đều biết và phụng sự

From the centre which we call the race of men

Từ trung tâm mà chúng ta gọi là Loài người

Let the Plan of Love and Light work out.

Cầu xin Thiên Cơ, Tình thương và Ánh sáng được thực thi

And may it seal the door where evil dwells.

Và cầu mong Thiên cơ đóng kín cửa vào nẻo ác

Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth.

Cầu xin Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng phục hồi Thiên cơ trên Trần gian

“The above Invocation or Prayer does not belong to any person or group but to all Humanity. The beauty and the strength of this Invocation lies in its simplicity, and in its expression of certain central truths which all men, innately and normally, accept—the truth of the existence of a basic Intelligence to Whom we vaguely give the name of God; the truth that behind all outer seeming, the motivating power of the universe is Love; the truth that a great Individuality came to earth, called by Christians, the Christ, and embodied that love so that we could understand; the truth that both love and intelligence are effects of what is called the Will of God; and finally the self-evident truth that only through humanity itself can the Divine Plan work out.”

“Bài Khấn Nguyện hay Lời Cầu Nguyện trên không thuộc về bất kỳ cá nhân hay nhóm nào mà thuộc về toàn thể Nhân loại. Vẻ đẹp và sức mạnh của bài Khấn Nguyện này nằm ở sự đơn giản của nó, và ở sự diễn đạt những chân lý cốt lõi nhất định mà tất cả mọi người, một cách bẩm sinh và bình thường, đều chấp nhận—chân lý về sự tồn tại của một Trí Thông Minh cơ bản mà chúng ta mơ hồ đặt tên là Thượng đế; chân lý rằng đằng sau mọi vẻ ngoài, động lực của vũ trụ là Tình Thương; chân lý rằng một Cá Thể Tính vĩ đại đã đến trái đất, được người Kitô giáo gọi là Đức Christ, và hiện thân cho tình thương đó để chúng ta có thể hiểu được; chân lý rằng cả tình thương và trí thông minh đều là kết quả của cái được gọi là Ý Chí của Thượng đế; và cuối cùng là chân lý hiển nhiên rằng chỉ thông qua chính nhân loại, Thiên Cơ mới có thể thực hiện được.”

ALICE A. BAILEY

ALICE A. BAILEY

INTRODUCTION

LỜI MỞ ĐẦU

“To the God Who is in the FIRE and Who is in the waters;

“Kính dâng lên Thượng đế ở trong LỬA và ở trong các dòng nước;

To the God Who has suffused Himself through all the world;

Kính dâng lên Thượng đế đã thấm nhuần chính Ngài qua toàn thế giới;

To the God Who is in summer plants and in the lords of the forest;

Kính dâng lên Thượng đế ở trong cây cỏ mùa hạ và trong các chúa tể của rừng xanh;

To that God be adoration, adoration.”

Xin tôn thờ Thượng đế ấy, tôn thờ.”

SH’VET UPANISHAD, II.17

SH’VET UPANISHAD, II.17

[vi] The story of the many years of telepathic work by the Tibetan with Alice A. Bailey is revealed in her Unfinished Autobiography, published in 1951. This includes the circumstances of her first contact with him, on the physical plane, which took place in California in November 1919. Thirty years’ work was planned. When this had been accomplished, and within thirty days after that period, Mrs. Bailey gained her release from the limitations of the physical vehicle.

[vi] Câu chuyện về nhiều năm làm việc viễn cảm của Chân sư Tây Tạng với Alice A. Bailey được thuật lại trong cuốn Tự Truyện Chưa Hoàn Tất của bà, xuất bản năm 1951. Tác phẩm này bao gồm các hoàn cảnh của lần tiếp xúc đầu tiên của bà với ông, trên cõi hồng trần, diễn ra tại California vào tháng Mười Một năm 1919. Ba mươi năm làm việc đã được hoạch định. Khi điều này đã được hoàn tất, và trong vòng ba mươi ngày sau thời kỳ đó, bà Bailey đã được giải thoát khỏi những giới hạn của vận cụ hồng trần.

The Autobiography also contains certain statements by the Tibetan in regard to his work and some information as to the reasons why it was undertaken. In the early stages the work involved careful attention to the physical plane conditions which might best help to make the telepathic process more successful. But during the latter years the technique was so perfected and the etheric mechanism of A.A.B. so skilfully attuned and adjusted that the whole process was practically effortless, and the reality and practical usefulness of telepathic interplay was demonstrated to an unique degree.

Cuốn Tự Truyện cũng chứa đựng một số phát biểu của Chân sư Tây Tạng liên quan đến công việc của ông và một số thông tin về những lý do tại sao công việc ấy được đảm nhận. Trong các giai đoạn đầu, công việc này đòi hỏi sự chú ý cẩn trọng đến các điều kiện trên cõi hồng trần có thể giúp tốt nhất để làm cho tiến trình viễn cảm thành công hơn. Nhưng trong những năm về sau, kỹ thuật ấy đã được hoàn thiện đến mức và bộ máy dĩ thái của A.A.B. đã được khéo léo chỉnh hợp và điều chỉnh đến mức toàn bộ tiến trình hầu như không cần nỗ lực, và tính hiện thực cùng tính hữu dụng thực tiễn của sự tương tác viễn cảm đã được chứng minh ở một mức độ độc đáo.

The spiritual truths dealt with involved in many cases the expression by the lower concrete mind (often with the insuperable restrictions of the English language) of abstract ideas and hitherto quite unknown concepts of spiritual realities. This unescapable limitation of truth has been frequently called to the attention of the readers of the books so produced but is all too often forgotten. Its constant remembrance will constitute in the years to come one of the chief factors in preventing the crystallisation of the teaching from producing yet one more dogmatic sectarian cult.

Những chân lý tinh thần được bàn đến trong nhiều trường hợp liên quan đến sự biểu đạt, bởi hạ trí cụ thể (thường với những hạn chế không thể vượt qua của Anh ngữ), các ý tưởng trừu tượng và những khái niệm cho đến nay hoàn toàn chưa được biết đến về các thực tại tinh thần. Giới hạn không thể tránh khỏi này của chân lý đã thường xuyên được lưu ý đến với độc giả của những cuốn sách được tạo ra như thế nhưng lại quá thường xuyên bị quên lãng. Việc luôn luôn ghi nhớ điều đó trong những năm sắp tới sẽ cấu thành một trong những yếu tố chính để ngăn chặn sự kết tinh của giáo huấn khỏi tạo ra thêm một giáo phái giáo điều bè phái nữa.

The present volume, A Treatise on Cosmic Fire, first published in 1925, was the third book jointly produced and carries inherent evidence that it will stand as the major and most far-reaching portion of the thirty-year teachings, notwithstanding the profundity and usefulness of the volumes published in the series [vii] entitled A Treatise on the Seven Rays or of any other of the books.

Tập sách hiện tại, Luận về Lửa Vũ Trụ, xuất bản lần đầu năm 1925, là cuốn thứ ba được cùng nhau thực hiện và tự thân mang bằng chứng rằng nó sẽ đứng như phần chủ yếu và có tầm ảnh hưởng sâu rộng nhất của giáo huấn ba mươi năm, bất chấp chiều sâu và tính hữu ích của các tập đã xuất bản trong bộ [vii] mang tên Luận về Bảy Cung hay của bất kỳ cuốn sách nào khác.

During the long course of the work the minds of the Tibetan and A.A.B. became so closely attuned that they were in effect—so far as much of the production of the teaching was concerned—a single joint projecting mechanism. Even to the end A.A.B. often spoke of her amazement at the glimpses she obtained through contact with the Tibetan’s mind, of limitless vistas of spiritual truths which she could not possibly have otherwise contacted, and often of a quality she could not possibly express. This experience was the basis of her often proclaimed but frequently little-understood assertion that all the teachings she was aiding in producing was in fact only the A B C of esoteric knowledge, and that in the future she would gladly abandon any pronoucement in the present teaching, when she found better and more deeply esoteric teaching available. Clear and profound as the teaching actually is in the books published in her name, the truths imparted are so partial and subject to later revelation and expansion that this fact, if constantly remembered, will give us a second much-needed safeguard against that quality of the concrete mind which constantly tends to produce sectarianism.

Trong suốt tiến trình lâu dài của công việc, trí tuệ của Chân sư Tây Tạng và A.A.B. đã trở nên chỉnh hợp chặt chẽ đến mức, trên thực tế—ít nhất là trong phần lớn việc truyền đạt giáo huấn—họ là một bộ máy phóng chiếu chung duy nhất. Ngay cho đến cuối cùng, A.A.B. thường nói về sự kinh ngạc của bà trước những thoáng thấy mà bà có được qua sự tiếp xúc với trí tuệ của Chân sư Tây Tạng, về những viễn cảnh vô hạn của các chân lý tinh thần mà nếu không thì bà hoàn toàn không thể tiếp xúc, và thường là về một phẩm tính mà bà hoàn toàn không thể diễn đạt. Kinh nghiệm này là nền tảng cho lời khẳng định mà bà thường tuyên bố nhưng lại thường ít được thấu hiểu, rằng toàn bộ giáo huấn mà bà đang trợ giúp để tạo ra thực ra chỉ là bảng chữ cái A B C của tri thức huyền bí học, và rằng trong tương lai bà sẽ sẵn lòng từ bỏ bất kỳ phát biểu nào trong giáo huấn hiện tại, khi bà tìm thấy một giáo huấn tốt hơn và huyền bí hơn sâu sắc hơn. Rõ ràng và sâu sắc như giáo huấn thực sự là trong các cuốn sách xuất bản dưới tên bà, các chân lý được truyền đạt vẫn chỉ là từng phần và còn tùy thuộc vào sự mặc khải và mở rộng về sau; vì thế sự kiện này, nếu luôn được ghi nhớ, sẽ đem lại cho chúng ta một sự bảo vệ thứ hai rất cần thiết chống lại phẩm tính của trí cụ thể vốn luôn có khuynh hướng tạo ra tinh thần bè phái.

At the very beginning of the joint effort and after careful consideration it was decided between the Tibetan (D.K.) and A.A.B. that she as the working disciple on the outer plane should shoulder as much as possible of karmic responsibility on that plane, and that the teaching should go to the public over her signature. This involved the burden of leadership in the esoteric field and precipitated attack and condemnation from persons and organisations whose positions and activities were more Piscean and authoritarian.

Ngay từ lúc bắt đầu nỗ lực chung và sau khi cân nhắc cẩn thận, đã có quyết định giữa Chân sư Tây Tạng (D.K.) và A.A.B. rằng bà, với tư cách là đệ tử hoạt động trên cõi bên ngoài, nên gánh vác càng nhiều càng tốt trách nhiệm nghiệp quả trên cõi đó, và rằng giáo huấn nên được công bố ra công chúng dưới chữ ký của bà. Điều này kéo theo gánh nặng lãnh đạo trong lĩnh vực huyền bí học và làm ngưng tụ sự công kích và lên án từ những cá nhân và tổ chức có lập trường và hoạt động mang tính Song Ngư và độc đoán hơn.

The entire platform upon which esoteric teaching stands before the public today has been liberated from the limitations and follies of mystery, glamour, claim-making and impracticality, by the position taken by the Tibetan and A.A.B. The stand taken against dogmatic assertion has helped to establish a new era of mental freedom for the students of the progressively unfolding revelation of the Ageless Wisdom.

Toàn bộ nền tảng mà trên đó giáo huấn huyền bí học hiện nay đứng trước công chúng đã được giải phóng khỏi những giới hạn và sai lầm của sự bí hiểm, ảo cảm, sự tự xưng và tính thiếu thực tiễn, nhờ lập trường mà Chân sư Tây Tạng và A.A.B. đã giữ vững. Lập trường chống lại sự khẳng định giáo điều đã giúp thiết lập một kỷ nguyên mới của tự do trí tuệ cho các đạo sinh của sự mặc khải đang dần dần khai mở của Minh Triết Ngàn Đời.

[viii]The age-old method of arriving at truth by the process of accepting new authorities and comparing them with previously established doctrines, while of undoubted value in the training of the mind, is gradually being transcended. In its place is emerging in both the religious and philosophical worlds a new capacity to take a more scientific position. Spiritual teaching will be increasingly accepted as an hypothesis to be proved less by scholasticism, historical foundation and authority, and more by the results of its effect upon the life lived and its practical usefulness in solving the problems of humanity.

[viii]Phương pháp lâu đời để đạt đến chân lý bằng tiến trình chấp nhận những thẩm quyền mới và so sánh chúng với các giáo lý đã được thiết lập trước đó, tuy có giá trị không thể phủ nhận trong việc rèn luyện trí tuệ, đang dần dần được vượt qua. Thay vào đó, trong cả thế giới tôn giáo lẫn triết học đang xuất hiện một năng lực mới để giữ một lập trường khoa học hơn. Giáo huấn tinh thần sẽ ngày càng được chấp nhận như một giả thuyết cần được chứng minh không phải chủ yếu bằng tính kinh viện, nền tảng lịch sử và thẩm quyền, mà nhiều hơn bằng kết quả của tác động của nó lên đời sống được sống và tính hữu dụng thực tiễn của nó trong việc giải quyết các vấn đề của nhân loại.

Heretofore, advanced esoteric teaching has almost invariably been obtainable only by the student’s acceptance of the authority of the teacher, varying degrees of personal obedience to that teacher and pledges of secrecy. As the new Aquarian dispensation progresses these limitations will disappear. The personal relation of the disciple to the Master remains, but already discipleship training has been attempted in Group formation. The record of one such experiment and attempt to use this new age method has been made available to the public in the book entitled Discipleship in the New Age, which gives the direct personal instructions by the Tibetan to a selected group.

Trước đây, giáo huấn huyền bí học cao cấp hầu như luôn chỉ có thể đạt được khi đạo sinh chấp nhận thẩm quyền của huấn sư, tuân phục cá nhân đối với huấn sư ấy ở những mức độ khác nhau, và cam kết giữ bí mật. Khi kỷ nguyên Bảo Bình mới tiến triển, những giới hạn này sẽ biến mất. Mối liên hệ cá nhân của đệ tử với Chân sư vẫn còn, nhưng việc huấn luyện địa vị đệ tử đã được thử nghiệm trong hình thức nhóm. Hồ sơ của một thử nghiệm như thế và nỗ lực sử dụng phương pháp của kỷ nguyên mới này đã được công bố cho công chúng trong cuốn sách mang tựa đề Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, trình bày những chỉ huấn cá nhân trực tiếp của Chân sư Tây Tạng dành cho một nhóm được tuyển chọn.

In A Treatise on Cosmic Fire the Tibetan has given us what H. P. Blavatsky prophesied he would give, namely the psychological key to the Cosmic Creation. H.P.B. stated that in the 20th century a disciple would come who would give the psychological key to her own monumental work The Secret Doctrine on which treatise the Tibetan worked with her; and Alice A. Bailey worked in complete recognition of her own task in this sequence.

Trong Luận về Lửa Vũ Trụ, Chân sư Tây Tạng đã trao cho chúng ta điều mà H. P. Blavatsky đã tiên tri rằng Ngài sẽ trao, tức là chiếc chìa khóa tâm lý học cho Sáng Tạo Vũ Trụ. H.P.B. đã nói rằng trong thế kỷ 20 sẽ xuất hiện một đệ tử, người sẽ trao chiếc chìa khóa tâm lý học cho chính công trình đồ sộ của bà là Giáo Lý Bí Nhiệm, bộ luận mà Chân sư Tây Tạng đã cùng làm việc với bà; và Alice A. Bailey đã làm việc trong sự nhận biết trọn vẹn về nhiệm vụ riêng của bà trong chuỗi tiếp nối này.

FOSTER BAILEY, TUNBRIDGE WELLS, DECEMBER 1950

FOSTER BAILEY, TUNBRIDGE WELLS, DECEMBER 1950

FOREWORD

LỜI NÓI ĐẦU

[xii] This “Treatise on Cosmic Fire’’ has a fivefold purpose in view:

[xii] “Luận về Lửa Vũ Trụ” này nhắm đến một mục đích ngũ phân:

First, to provide a compact and skeleton outline of a scheme of cosmology, philosophy, and psychology which may perhaps be employed for a generation as a reference and a textbook, and may serve as a scaffolding upon which more detailed instruction may later be built, as the great tide of evolutionary teaching flows on.

Thứ nhất, cung cấp một đại cương cô đọng và khung sườn của một hệ thống vũ trụ luận, triết học và tâm lý học, có thể được dùng trong một thế hệ như một tài liệu tham khảo và giáo trình, và có thể làm giàn giáo để về sau xây dựng trên đó những chỉ huấn chi tiết hơn, khi làn sóng lớn của giáo huấn tiến hoá tiếp tục tuôn chảy.

Secondly, to express that which is subjective in comprehensible terms, and to point out the next step forward in the understanding of the true psychology. It is an elucidation of the relation existing between Spirit and Matter, which relation demonstrates as consciousness. It will be found that the Treatise deals primarily with the aspect of mind, with consciousness and with the higher psychology, and less with matter as we know of it on the physical plane. The danger involved in giving out information concerning the various energies of atomic matter is too great, and the race as yet too selfish to be entrusted with these potencies. Man is already, through the able work of the scientists, discovering the needed knowledge with adequate rapidity. The emphasis in this book will be found to be laid upon those forces which are responsible for the objective manifestation of a solar Logos and of man, and only in the first section will indication be given as to the nature of those energies which are strictly confined to the physical plane.

Thứ hai, diễn đạt điều chủ quan bằng những thuật ngữ có thể hiểu được, và chỉ ra bước tiến kế tiếp trong việc thấu hiểu tâm lý học chân chính. Đây là sự làm sáng tỏ mối liên hệ hiện hữu giữa tinh thần và vật chất, mối liên hệ biểu lộ thành tâm thức. Sẽ thấy rằng bộ Luận này chủ yếu bàn đến phương diện trí tuệ, đến tâm thức và tâm lý học cao hơn, và ít bàn hơn đến vật chất như chúng ta biết về nó trên cõi hồng trần. Mối nguy liên quan đến việc công bố thông tin về các năng lượng khác nhau của vật chất nguyên tử là quá lớn, và nhân loại vẫn còn quá ích kỷ để có thể được giao phó những tiềm lực ấy. Con người, nhờ công trình tài giỏi của các nhà khoa học, đã đang khám phá tri thức cần thiết với tốc độ đủ nhanh. Trong sách này, trọng tâm sẽ được đặt vào những mãnh lực chịu trách nhiệm cho sự biểu hiện khách quan của một Thái dương Thượng đế và của con người, và chỉ trong phần thứ nhất mới có những chỉ dẫn về bản chất của những năng lượng bị giới hạn nghiêm ngặt trong cõi hồng trần.

Thirdly, to show the coherent development of all that is found within a solar system; to demonstrate that everything which exists evolves (from the lowest form of life at the densest point of concretion up to the highest and most tenuous manifestation) and that all forms are but the expression of a stupendous and divine Existence. This expression is caused by the blending of two divine aspects through the influence of a third, and produces the manifestation which we call a form, starting it upon its [xiii] evolutionary cycle in time and space. Thus is form brought to the point where it is an adequate medium for the demonstration of the nature of that which we call God.

Thứ ba, trình bày sự phát triển mạch lạc của mọi điều được tìm thấy trong một hệ mặt trời; chứng minh rằng mọi thứ hiện hữu đều tiến hoá (từ hình thức sự sống thấp nhất ở điểm cô đặc đậm đặc nhất cho đến biểu hiện cao nhất và tinh tế nhất) và rằng mọi hình tướng chỉ là biểu hiện của một Hiện Hữu thiêng liêng vĩ đại. Biểu hiện này được gây ra bởi sự hòa trộn của hai phương diện thiêng liêng dưới ảnh hưởng của một phương diện thứ ba, và tạo ra sự biểu hiện mà chúng ta gọi là một hình tướng, khởi đầu cho nó trên chu kỳ [xiii] tiến hoá của nó trong thời gian và không gian. Như thế, hình tướng được đưa đến điểm mà nó trở thành một trung gian thích hợp để biểu lộ bản chất của điều mà chúng ta gọi là Thượng đế.

Fourthly, to give practical information anent those focal points of energy which are found in the etheric bodies of the solar Logos, the macrocosm, and of man, the microcosm. As the etheric substratum which is the true substance underlying every tangible form is understood, certain great revolutions will be brought about in the domains of science, of medicine and of chemistry. The study of medicine, for instance, will eventually be taken up from a new angle, and its practice will be built upon a comprehension of the laws of radiation, of magnetic currents, and of the force centres found in men’s bodies and their relationship to the force centres and currents of the solar system.

Thứ tư, cung cấp thông tin thực tiễn liên quan đến những tiêu điểm năng lượng được tìm thấy trong các thể dĩ thái của Thái dương Thượng đế, tức Đại thiên địa, và của con người, tức Tiểu thiên địa. Khi nền tảng dĩ thái, tức chất liệu chân thực nằm bên dưới mọi hình tướng hữu hình, được thấu hiểu, những cuộc cách mạng lớn lao nhất định sẽ được tạo ra trong các lĩnh vực khoa học, y học và hóa học. Chẳng hạn, việc nghiên cứu y học cuối cùng sẽ được tiếp cận từ một góc độ mới, và việc thực hành nó sẽ được xây dựng trên sự thấu hiểu các định luật bức xạ, các dòng từ tính, và các trung tâm lực được tìm thấy trong thể của con người cùng mối liên hệ của chúng với các trung tâm lực và các dòng lực của hệ mặt trời.

Fifthly, to give some information, hitherto not exoterically imparted as to the place and work of those myriads of sentient lives who form the essence of objectivity; to indicate the nature of those Hierarchies of Existences who form out of their own substance all that is seen and known, and who are themselves Fire and the cause of all the heat, warmth, life and motion in the universe. In this way the action of Fire on Water, of Heat in Matter, whether macrocosmically or microcosmically considered, will be touched upon and some light thrown upon the Law of Cause and Effect (the Law of Karma) and its significance in the solar system.

Thứ năm, cung cấp một số thông tin, từ trước đến nay chưa từng được truyền dạy công khai, về vị trí và công việc của vô số sự sống hữu cảm tạo thành tinh túy của tính khách quan; chỉ ra bản chất của những Huyền Giai các Hiện Hữu tạo nên từ chính chất liệu của các Ngài mọi điều được thấy và được biết, và chính các Ngài là Lửa và là nguyên nhân của mọi nhiệt, hơi ấm, sự sống và chuyển động trong vũ trụ. Theo cách này, tác động của Lửa lên Nước, của Nhiệt trong Vật chất, dù được xét theo đại thiên địa hay tiểu thiên địa, sẽ được đề cập đến, và một ít ánh sáng sẽ được soi rọi lên Định luật Nhân Quả (Định luật Nghiệp quả) cùng thâm nghĩa của nó trong hệ mặt trời.

To sum up the matter, the teaching in this book should tend to an expansion of conscionsness, and should bring about a recognition of the adequacy, as a working basis, for both science and religion, of that interpretation of the processes of nature which has been formulated for us by the Master Minds of all time. It should tend to bring about a reaction in favor of a system of philosophy which will link both Spirit and matter, and demonstrate the essential unity of the scientific and religious idea. The two are at present somewhat divorced, and we are only just beginning to grope our intellectual way out of the depths of a materialistic interpretation. It must not be forgotten, however, that under the Law of Action and Reaction, the long period of materialistic thought has been a necessary one for humanity, because the mysticism of the Middle Ages has led [xiv] us too far in the opposite direction. We are now tending to a more balanced view, and it is hoped that this treatise may form part of the process through which equilibrium is attained.

Tóm lại, giáo huấn trong sách này nên dẫn đến sự mở rộng tâm thức, và nên đưa đến sự nhìn nhận rằng, như một nền tảng làm việc, cả khoa học lẫn tôn giáo đều có thể dựa vào cách diễn giải các tiến trình của bản chất đã được các Trí Tuệ Chân sư của mọi thời đại hình thành cho chúng ta. Nó nên giúp tạo ra một phản ứng thuận lợi đối với một hệ thống triết học sẽ nối kết cả tinh thần lẫn vật chất, và chứng minh tính hợp nhất cốt yếu của ý niệm khoa học và tôn giáo. Hiện nay hai lĩnh vực này phần nào bị tách rời, và chúng ta chỉ mới bắt đầu lần mò bằng con đường trí tuệ để thoát ra khỏi vực sâu của lối diễn giải duy vật. Tuy nhiên, không được quên rằng dưới Định luật Tác Động và Phản Tác Động, thời kỳ dài của tư tưởng duy vật là điều cần thiết đối với nhân loại, bởi vì thần bí học của thời Trung Cổ đã dẫn [xiv] chúng ta đi quá xa theo hướng ngược lại. Hiện nay chúng ta đang nghiêng về một quan điểm quân bình hơn, và hy vọng rằng bộ luận này có thể tạo thành một phần của tiến trình qua đó sự quân bình được đạt tới.

In studying this treatise the student is asked to bear in mind certain things:

Khi nghiên cứu bộ luận này, đạo sinh được yêu cầu ghi nhớ một số điều:

a. That in dealing with these subjects we are concerned with the essence of that which is objective, with the subjective side of manifestation, and with the consideration of force and of energy. It is well nigh impossible to reduce such concepts to concrete formulas and to express them in such a way that they can be easily apprehended by the average man.

a. Rằng khi bàn đến những chủ đề này, chúng ta quan tâm đến tinh túy của điều khách quan, đến mặt chủ quan của sự biểu hiện, và đến việc xem xét mãnh lực cùng năng lượng. Gần như không thể nào quy những khái niệm như thế thành những công thức cụ thể và diễn đạt chúng theo cách mà người bình thường có thể dễ dàng lĩnh hội.

b. That as we use words and phrases and speak in terms of modern language the whole subject necessarily becomes limited and dwarfed, and much of the truth is thereby lost.

b. Rằng khi chúng ta dùng từ ngữ và cụm từ, và nói bằng ngôn ngữ hiện đại, toàn bộ chủ đề tất yếu trở nên bị giới hạn và thu nhỏ lại, và do đó phần lớn chân lý bị mất đi.

c. That all that is in this treatise is offered in no dogmatic spirit but simply as a contribution to the mass of thought upon the subject of world origins and to the data already accumulated as to the nature of man. The best that man can offer as a solution of the world problem must perforce take a dual form and will demonstrate through a life of active service, tending to amelioration of environal conditions, and through a formulation of some cosmological scheme or plan which will seek to account as much as may be for conditions as they are seen to exist. Arguing as men do at present from the basis of the known and the demonstrated and leaving untouched and unaccounted for, those deep-seated causes which must be presumed to be producing the seen and known, all solutions as yet fail and will continue to fail in their objective.

c. Rằng tất cả những gì có trong bộ luận này được cống hiến không phải với tinh thần giáo điều mà chỉ đơn giản như một đóng góp vào khối tư tưởng về chủ đề nguồn gốc thế giới và vào dữ liệu đã được tích lũy về bản chất của con người. Điều tốt nhất mà con người có thể cống hiến như một giải pháp cho vấn đề thế giới tất phải mang hình thức nhị phân và sẽ biểu lộ qua một đời sống phụng sự tích cực, hướng đến việc cải thiện các điều kiện môi trường xung quanh, và qua việc hình thành một hệ thống hay Thiên Cơ vũ trụ luận nào đó nhằm cố gắng giải thích càng nhiều càng tốt các điều kiện như chúng được thấy đang hiện hữu. Vì hiện nay con người lập luận từ nền tảng của điều đã biết và đã được chứng minh, đồng thời bỏ mặc không đụng đến và không giải thích những nguyên nhân sâu xa vốn phải được giả định là đang tạo ra điều được thấy và được biết, nên mọi giải pháp cho đến nay đều thất bại và sẽ tiếp tục thất bại trong mục tiêu của chúng.

d. That all attempts to formulate in words that which must be felt and lived in order to be truly comprehended must necessarily prove distressingly inadequate. All that can be said will be after all but the partial statements of the great veiled Truth, and must be offered to the reader and student as simply providing a working hypothesis, and a suggestive explanation. To the open-minded student and the man who keeps the recollection in his mind that the truth is progressively revealed, it will be apparent that the fullest expression of the truth possible at any one time will be seen later to be but a fragment of a whole, and [xv] later still be recognised to be only portions of a fact and thus in itself a distortion of the real.

d. Rằng mọi nỗ lực diễn đạt bằng lời điều phải được cảm nhận và sống để có thể thực sự được thấu hiểu, tất yếu sẽ tỏ ra đau đớn thay là không đầy đủ. Rốt cuộc, tất cả những gì có thể nói ra chỉ là những phát biểu từng phần về Chân Lý vĩ đại còn được che giấu, và phải được trình bày cho độc giả và đạo sinh chỉ như một giả thuyết làm việc và một lời giải thích gợi ý. Đối với đạo sinh có tâm trí cởi mở và người luôn giữ trong trí nhớ rằng chân lý được mặc khải dần dần, sẽ hiển nhiên rằng sự biểu đạt đầy đủ nhất của chân lý có thể có ở bất kỳ thời điểm nào rồi sau này cũng sẽ được thấy chỉ là một mảnh của một toàn thể, và [xv]về sau nữa sẽ được nhìn nhận chỉ là những phần của một sự kiện và do đó tự nó là một sự bóp méo của điều thực tại.

This treatise is put out in the hope that it may prove useful to all broad-minded seekers after truth and of value to all investigators into the subjective Source of all that which is tangibly objective. It aims to provide a reasonably logical plan of systemic evolution and to indicate to man the part he must play as an atomic unit in a great and corporate Whole. This fragment of the Secret Doctrine, in the turning of the evolutionary wheel, goes out to the world making no claims as to its source, its infallibility or the correctness in detail of its statements.

Bộ luận này được công bố với hy vọng rằng nó có thể tỏ ra hữu ích cho mọi người truy tầm chân lý có đầu óc rộng mở và có giá trị đối với mọi nhà khảo cứu về Nguồn cội chủ quan của tất cả những gì khách quan hữu hình. Nó nhằm cung cấp một sơ đồ hợp lý vừa phải về sự tiến hoá có hệ thống và chỉ cho con người phần việc mà y phải đảm nhận như một đơn vị nguyên tử trong một Toàn Thể vĩ đại và tập thể. Mảnh đoạn này của Giáo Lý Bí Nhiệm, trong vòng quay của bánh xe tiến hoá, được gửi ra thế giới mà không đưa ra bất kỳ tuyên bố nào về nguồn gốc của nó, tính vô ngộ của nó hay tính chính xác chi tiết trong các phát biểu của nó.

No book gains anything from dogmatic claims or declarations as to the authoritative value of its source of inspiration. It should stand or fall solely on the basis of its own intrinsic worth, on the value of the suggestions made, and its power to foster the spiritual life and the intellectual apprehension of the reader. If this treatise has within it anything of truth and of reality, it will inevitably and unfailingly do its work, carry its message, and thus reach the hearts and minds of searchers everywhere. If it is of no value, and has no basis in fact, it will disappear and die, and most rightly so. All that is asked from the student of this treatise is a sympathetic approach, a willingness to consider the views put forth and that honesty and sincerity of thought which will tend to the development of the intuition, of spiritual diagnosis, and a discrimination which will lead to a rejection of the false and an appreciation of the true.

Không cuốn sách nào đạt được điều gì nhờ những tuyên bố giáo điều hay những lời khẳng định về giá trị thẩm quyền của nguồn cảm hứng của nó. Nó chỉ nên đứng vững hay sụp đổ trên cơ sở giá trị nội tại của chính nó, trên giá trị của những gợi ý được đưa ra, và trên năng lực nuôi dưỡng đời sống tinh thần và sự lĩnh hội bằng trí tuệ của độc giả. Nếu bộ luận này chứa đựng bất cứ điều gì của chân lý và thực tại, nó tất yếu và chắc chắn sẽ làm công việc của nó, chuyển tải thông điệp của nó, và như thế chạm đến trái tim và trí óc của những người truy tầm ở khắp nơi. Nếu nó không có giá trị và không có nền tảng trong sự kiện, nó sẽ biến mất và chết đi, và điều đó hoàn toàn đúng đắn. Tất cả những gì được yêu cầu nơi đạo sinh của bộ luận này là một sự tiếp cận đầy cảm thông, một thiện chí xem xét những quan điểm được nêu ra, và sự trung thực cùng chân thành trong tư tưởng, những điều sẽ dẫn đến sự phát triển của trực giác, của sự chẩn đoán tinh thần, và của sự phân biện sẽ đưa đến việc bác bỏ điều sai lầm và trân trọng điều chân thật.

The words of the Buddha most appropriately have their place here, and make a fitting conclusion to these preliminary remarks:

Những lời của Đức Phật rất thích hợp để được đặt ở đây, và tạo thành một kết luận xứng đáng cho những nhận xét mở đầu này:

THE LORD BUDDHA HAS SAID

ĐỨC PHẬT ĐÃ DẠY

“that we must not believe in a thing said merely because it is said; nor traditions because they have been handed down from antiquity; nor rumours, as such; nor writings by sages, because sages wrote them; nor fancies that we may suspect to have been inspired in us by a Deva (that is, in presumed spiritual inspiration); nor from inferences drawn from some haphazard assumption we may have made; nor [xvi] because of what seems an analogical necessity; nor on the mere authority of our teachers or masters. But we are to believe when the writing, doctrine, or saying is corroborated by our own reason and consciousness. ‘’For this,” says he in concluding, “I taught you not to believe merely because you have heard, but when you believed of your consciousness, then to act accordingly and abundantly.”

“rằng chúng ta không được tin vào một điều chỉ vì nó được nói ra; cũng không tin vào truyền thống chỉ vì chúng đã được truyền lại từ thời cổ xưa; cũng không tin vào tin đồn, như chính chúng; cũng không tin vào các trước tác của các hiền triết chỉ vì các hiền triết đã viết ra chúng; cũng không tin vào những tưởng tượng mà chúng ta có thể ngờ rằng đã được một thiên thần gợi hứng trong chúng ta (nghĩa là, trong điều được cho là cảm hứng tinh thần); cũng không tin từ những suy luận rút ra từ một giả định ngẫu nhiên nào đó mà chúng ta có thể đã đưa ra; cũng không [xvi] vì điều gì đó dường như là một sự tất yếu theo loại suy; cũng không chỉ vì thẩm quyền đơn thuần của các huấn sư hay chân sư của chúng ta. Nhưng chúng ta phải tin khi trước tác, giáo lý hay lời nói ấy được xác nhận bởi chính lý trí và tâm thức của chúng ta. ‘Vì điều này,’ Ngài nói khi kết luận, ‘Ta đã dạy các con không được tin chỉ vì các con đã nghe, mà khi các con tin bằng tâm thức của mình, thì hãy hành động theo đó một cách dồi dào.’”

SECRET DOCTRINE III. 401.

SECRET DOCTRINE III. 401.

May this be the attitude of every reader of this “Treatise on Cosmic Fire.’’

Mong rằng đây sẽ là thái độ của mọi độc giả của “Luận về Lửa Vũ Trụ” này.

ALICE A. BAILEY.

ALICE A. BAILEY.

Note:—In the footnotes throughout this treatise ‘’The Secret Doctrine” by H. P. Blavatsky is designated by the initials S.D. The page references are to the “Third Revised Edition.”

Lưu ý:—Trong các chú thích xuyên suốt bộ luận này, “Giáo Lý Bí Nhiệm” của H. P. Blavatsky được ký hiệu bằng các chữ cái đầu S.D. Các tham chiếu trang là theo “Ấn bản Hiệu đính Lần thứ Ba.”

FIRE

LỬA

[xvii]“What says the esoteric teaching with regard to Fire?”

[xvii]“Giáo huấn huyền bí nói gì liên quan đến Lửa?”

Fire is the most perfect and unadulterated reflection, in Heaven as on earth, of the One Flame. It is life and death, the origin and the end of every material thing. It is divine Substance.”

Lửa là sự phản chiếu hoàn hảo nhất và thuần khiết nhất, trên Trời cũng như dưới đất, của Ngọn Lửa Duy Nhất. Nó là sự sống và cái chết, là nguồn gốc và chung cuộc của mọi vật chất. Nó là Chất liệu thiêng liêng.”

SECRET DOCTRINE I. 146.

SECRET DOCTRINE I. 146.

Our earth and man (are) the products of the Three Fires.

Trái Đất của chúng ta và con người là sản phẩm của Ba Lửa.

SECRET DOCTRINE II. 258.

SECRET DOCTRINE II. 258.

Fire and flame destroy the body of an Arhat; their essence makes him immortal.

Lửa và ngọn lửa thiêu hủy thể của một A La Hán; tinh túy của chúng làm cho ông trở nên bất tử.

SECRET DOCTRINE I. 35.

SECRET DOCTRINE I. 35.

THE THREE FIRES

BA LỬA

I. The Internal Fire or Fire by Friction.

I. Lửa Nội Tại hay Lửa ma sát.

“There is heat internal and heat external in every atom, the breath of the Father (Spirit) and the breath (or heat) of the Mother (matter).”

“Trong mỗi nguyên tử đều có nhiệt bên trong và nhiệt bên ngoài, hơi thở của Cha (Tinh thần) và hơi thở (hay nhiệt) của Mẹ (vật chất).”

SECRET DOCTRINE I. 112.

SECRET DOCTRINE I. 112.

II. The Fire of Mind or Solar Fire.

II. Lửa của Trí Tuệ hay Lửa Thái dương.

“The fire of knowledge burns up all action on the plane of illusion, therefore those who have acquired it and are emancipated are called ‘Fires.’”

“Lửa của tri thức thiêu rụi mọi hành động trên cõi ảo tưởng, vì vậy những ai đã đạt được nó và được giải thoát được gọi là ‘Những Lửa’.”

SECRET DOCTRINE I.114.

SECRET DOCTRINE I.114.

III. The Fire of Spirit or Electric Fire.

III. Lửa của Tinh thần hay Lửa Điện.

“Lift up thy head, O Lanoo; dost thou see one, or countless lights above thee, burning in the dark midnight sky?’’

“Hãy ngẩng đầu lên, hỡi Lanoo; ngươi có thấy một hay vô số ánh sáng phía trên ngươi, đang cháy trong bầu trời đêm đen thẳm không?”

“I sense one Flame, O Gurudeva; I see countless Undetached sparks shining in it.”

“Con cảm nhận một Ngọn Lửa, thưa Gurudeva; con thấy vô số tia lửa không tách rời đang chiếu sáng trong đó.”

SECRET DOCTRINE I. 145.

SECRET DOCTRINE I. 145.

The subjects dealt with in this treatise is of very real importance, for it forms the basis of that which we shall be considering. The total lack of a wider consciousness than the individual and the personal, acts as a bar to the true comprehension of things macrocosmic, but if the occult method is adhered to, if the Law of Correspondences is studied, and if we ever reason upward from the microcosm to the greater Whole, then glimpses will be caught of vast realms of realisation and vistas of spiritual unfoldment will open up before us, undreamt of hitherto.

Những chủ đề được bàn đến trong bộ luận này có tầm quan trọng rất thực, vì chúng tạo thành nền tảng cho điều mà chúng ta sẽ xem xét. Sự thiếu vắng hoàn toàn một tâm thức rộng lớn hơn tâm thức cá nhân và riêng tư hoạt động như một chướng ngại đối với sự thấu hiểu chân thực những điều thuộc đại thiên địa; nhưng nếu phương pháp huyền bí học được tuân thủ, nếu Định luật Tương Ứng được nghiên cứu, và nếu chúng ta luôn lập luận đi lên từ tiểu thiên địa đến Toàn Thể lớn lao hơn, thì những thoáng thấy về các lĩnh vực rộng lớn của sự chứng nghiệm sẽ được nắm bắt và những viễn cảnh về sự khai mở tinh thần sẽ mở ra trước mắt chúng ta, vượt ngoài mọi điều từ trước đến nay chưa từng được mơ tưởng.

CHARTS

CÁC BIỂU ĐỒ

I. Evolution of Matter – 56

I. Sự tiến hoá của Vật chất – 56

II. Logos of a Solar System – 94

II. Thượng đế của một Hệ Mặt Trời – 94

III. The Constitution of Man – 117

III. Cấu tạo của Con người – 117

IV. The Pleroma – 226

IV. Pleroma – 226

V. The Evolution of a Solar Logos – 344

V. Sự tiến hoá của một Thái dương Thượng đế – 344

VI. Solar Septenary Chart – 373

VI. Biểu đồ Thất phân Thái dương – 373

VII. The Earth Scheme – 385

VII. Hệ Địa Cầu – 385

VIII. The Egoic Lotus and the Centres – 817

VIII. Hoa Sen Chân Ngã và các Trung Tâm – 817

IX. The Egoic Lotus – 823

IX. Hoa Sen Chân Ngã – 823

X. The Science of Meditation – 961

X. Khoa học về Tham Thiền – 961

XI. The Atom – 1181

XI. Nguyên tử – 1181

XII. Parabrahm – 1230

XII. Parabrahm – 1230

XIII. Solar and Planetary Hierarchies – 1238

XIII. Các Huyền Giai Thái dương và Hành tinh – 1238

FULL PAGE TABULATIONS

CÁC BẢNG TOÀN TRANG

I. Fire and the Aspects – 42

I. Lửa và các Phương diện – 42

II. Evolution in the Universe – 293

II. Tiến hoá trong Vũ trụ – 293

III. The Aspects and Evolution – 444

III. Các Phương diện và Tiến hoá – 444

IV. The Building Entities – 565

IV. Các Thực Thể Kiến Tạo – 565

V. Agni-Lord of Fire – 607

V. Agni-Chúa Tể của Lửa – 607

VI. The Lives and their Goal – 844

VI. Các Sự sống và Mục tiêu của chúng – 844

VII. Energies – 1187

VII. Các Năng lượng – 1187

INTRODUCTORY POSTULATES

CÁC TIỀN ĐỀ NHẬP MÔN

[Page 3] The teaching which is given in this Treatise on Cosmic Fire might be formulated in the following terms. These postulates are simply extensions of the three fundamentals to be found in the Proem in the first volume of the Secret Doctrine (p 42-44) by H. P. Blavatsky. Students are recommended to study them carefully; in this way their understanding of the Treatise will be greatly aided.

[Page 3] Giáo huấn được đưa ra trong Luận về Lửa Vũ Trụ này có thể được phát biểu theo những thuật ngữ sau đây. Những tiền đề này chỉ đơn giản là sự mở rộng của ba nguyên lý căn bản được tìm thấy trong Lời Mở Đầu ở quyển thứ nhất của Giáo Lý Bí Nhiệm (tr. 42-44) của H. P. Blavatsky. Các đạo sinh được khuyến nghị nghiên cứu chúng cẩn thận; bằng cách này, sự thấu hiểu của họ về bộ Luận sẽ được hỗ trợ rất nhiều.

I. There is one Boundless Immutable Principle; one Absolute Reality which, antecedes all manifested conditioned Being. It is beyond the range and reach of any human thought or expression.

I. Có một Nguyên Khí vô biên bất biến; một Thực Tại Tuyệt Đối duy nhất, có trước mọi Bản Thể biểu hiện có điều kiện. Nó vượt ngoài phạm vi và tầm với của mọi tư tưởng hay diễn đạt của con người.

The manifested Universe is contained within this Absolute Reality and is a conditioned symbol of it.

Vũ trụ biểu hiện được bao hàm trong Thực Tại Tuyệt Đối này và là một biểu tượng có điều kiện của Nó.

In the totality of this manifested Universe, three aspects are to be conceived.

Trong toàn thể vũ trụ biểu hiện này, cần phải quan niệm ba phương diện.

1. The First Cosmic Logos, impersonal and unmanifested, the precursor of the Manifested.

1. Cosmic Logos thứ nhất, phi ngã và không biểu hiện, đấng tiền thân của Đấng Biểu Hiện.

2. The Second Cosmic Logos, Spirit-Matter, Life, the Spirit of the Universe.

2. Cosmic Logos thứ hai, Tinh thần-Vật chất, Sự sống, Tinh thần của Vũ trụ.

3. The Third Cosmic Logos, Cosmic Ideation, the Universal World-Soul.

3. Cosmic Logos thứ ba, Ý Niệm Vũ Trụ, Đại Hồn Vũ Trụ.

From these basic creative principles, in successive gradations there issue in ordered sequence the numberless Universes comprising countless Manifesting Stars and Solar Systems.

Từ những nguyên lý sáng tạo căn bản này, qua những cấp độ kế tiếp nhau, vô số Vũ trụ bao gồm vô số Tinh Tú biểu hiện và các Hệ Mặt Trời phát xuất theo trình tự có trật tự.

Each Solar System is the manifestation of the energy and life of a great Cosmic Existence, Whom we call, for lack of a better term, a Solar Logos.

Mỗi Hệ Mặt Trời là sự biểu hiện của năng lượng và sự sống của một Hiện Hữu Vũ Trụ vĩ đại, Đấng mà chúng ta gọi, vì không có thuật ngữ nào tốt hơn, là một Thái dương Thượng đế.

[Page 4]  This Solar Logos incarnates, or comes into manifestation, through the medium of a solar system.

[Page 4]  Thái dương Thượng đế này nhập thể, hay đi vào biểu hiện, thông qua trung gian của một hệ mặt trời.

This solar system is the body, or form, of this cosmic Life, and is itself triple.

Hệ mặt trời này là thể, hay hình tướng, của Sự sống vũ trụ này, và chính nó cũng là tam phân.

This triple solar system can be described in terms of three aspects, or (as the Christian theology puts it) in terms of three Persons.

Hệ mặt trời tam phân này có thể được mô tả theo ba phương diện, hay (như thần học Cơ Đốc giáo diễn đạt) theo ba Ngôi vị.

ELECTRIC FIRE, or SPIRIT.

LỬA ĐIỆN, hay TINH THẦN.

1st Person… Father. Life. Will. Purpose. Positive energy.

Ngôi thứ nhất… Cha. Sự sống. Ý chí. Mục đích. Năng lượng dương.

SOLAR FIRE, or SOUL.

LỬA THÁI DƯƠNG, hay LINH HỒN.

2nd Person… Son. Consciousness. Love-Wisdom. Equilibrised energy.

Ngôi thứ hai… Con. Tâm thức. Bác Ái – Minh Triết. Năng lượng quân bình.

FIRE BY FRICTION, or Body, or Matter.

LỬA MA SÁT, hay Thể, hay Vật chất.

3rd Person… Holy Spirit. Form. Active Intelligence. Negative energy.

Ngôi thứ ba… Chúa Thánh Thần. Hình tướng. Trí Tuệ Hoạt Động. Năng lượng âm.

Each of these three is also triple in manifestation, making therefore

Mỗi phương diện trong ba phương diện này cũng tam phân trong biểu hiện, do đó tạo thành

a. The nine Potencies or Emanations.

a. chín Quyền năng hay các Xuất lộ.

b. The nine Sephiroth.

b. chín Sephiroth.

c. The nine Causes of Initiation.

c. chín Nguyên nhân của điểm đạo.

These, with the totality of manifestation or the Whole, produce the ten (10) of perfect manifestation of the perfect MAN.

Những điều này, cùng với toàn thể sự biểu hiện hay Toàn Thể, tạo ra mười (10) của sự biểu hiện hoàn hảo của con NGƯỜI hoàn hảo.

These three aspects of the Whole are present in every form.

Ba phương diện này của Toàn Thể hiện diện trong mọi hình tướng.

a. The solar system is triple, manifesting through the three above mentioned.

a. Hệ mặt trời là tam phân, biểu hiện qua ba phương diện đã nêu trên.

b. A human being is equally triple, manifesting as Spirit, Soul and Body, or Monad, Ego and Personality.

b. Một con người cũng tam phân như vậy, biểu hiện thành Tinh thần, Linh hồn và Thể, hay Chân thần, Chân ngã và Phàm ngã.

c. The atom of the scientist is also triple, being composed of a positive nucleus, the negative electrons, and the totality of the outer manifestation, [Page 5] the result of the relation of the other two.

c. Nguyên tử của nhà khoa học cũng là tam phân, được cấu tạo bởi một hạt nhân dương, các điện tử âm, và toàn thể biểu hiện bên ngoài, [Page 5] là kết quả của mối liên hệ giữa hai yếu tố kia.

The three aspects of every form are inter-related and susceptible of intercourse, because

Ba phương diện của mọi hình tướng đều liên hệ với nhau và có thể giao tiếp với nhau, bởi vì

a. Energy is in motion and circulates.

a. Năng lượng đang chuyển động và tuần hoàn.

b. All forms in the solar system form part of the Whole, and are not isolated units.

b. Mọi hình tướng trong hệ mặt trời đều là một phần của Toàn Thể, và không phải là những đơn vị cô lập.

c. This is the basis of brotherhood, of the communion of saints, and of astrology.

c. Đây là nền tảng của tình huynh đệ, của sự hiệp thông của các thánh đồ, và của chiêm tinh học.

These three aspects of God, the solar Logos, and the Central Energy or Force (for the terms are occultly synonymous) demonstrate through seven centres of force,—three major centres and four minor. These seven centres of logoic Force are themselves so constituted that they form corporate Entities. They are known as

Ba phương diện này của Thượng đế, của Thái dương Thượng đế, và của Năng Lượng hay Mãnh Lực Trung Tâm (vì các thuật ngữ này, một cách huyền bí, là đồng nghĩa) biểu lộ qua bảy trung tâm lực,—ba trung tâm chính và bốn trung tâm phụ. Bảy trung tâm của Mãnh Lực Thượng đế này tự chúng được cấu thành theo cách tạo thành những Thực Thể tập thể. Chúng được biết đến như là

a. The seven planetary Logoi.

a. bảy Hành Tinh Thượng đế.

b. The seven Spirits before the Throne.

b. Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai.

c. The seven Rays.

c. bảy cung.

d. The seven Heavenly Men.

d. bảy Đấng Thiên Nhân.

The Seven Logoi embody seven types of differentiated force, and in this Treatise are known under the names of Lords of the Rays. The names of the Rays are

Bảy Logoi thể hiện bảy loại mãnh lực đã được biến phân, và trong bộ Luận này được biết dưới danh xưng các Đấng Chúa Tể của các Cung. Tên của các Cung là

Ray I

Ray of Will or Power

1st Aspect

Ray II

Ray of Love-Wisdom

2nd Aspect

Ray III

Ray of Active Intelligence

3rd Aspect

These are the major Rays.

Đây là các Cung chính.

Ray IV

Ray of Harmony, Beauty and Art.

Ray V

Ray of Concrete Knowledge or Science.

Ray V

Ray of Devotion or of Abstract Idealism.

Ray VII

Ray of Ceremonial Magic or Order.

II. There is a basic law called the Law of Periodicity.

II. Có một định luật căn bản được gọi là Định luật Chu Kỳ.

1. This law governs all manifestation, whether it is the manifestation of a solar Logos through the [Page 6] medium of a solar system, or the manifestation of a human being through the medium of a form. This law controls likewise in all the kingdoms of nature.

1. Định luật này chi phối mọi sự biểu lộ, dù đó là sự biểu lộ của một Thái dương Thượng đế qua [Page 6] trung gian của một hệ mặt trời, hay sự biểu lộ của một con người qua trung gian của một hình tướng. Định luật này cũng kiểm soát trong mọi giới của bản chất.

2. There are certain other laws in the system which are linked with this one; some of them are as follows:

2. Có một số định luật khác trong hệ thống có liên kết với định luật này; một vài trong số đó như sau:

a. The Law of Economy

the law governing matter, the third aspect.

b. The Law of Attraction

the law governing soul, the second aspect.

c. The Law of Synthesis

the law governing spirit, or the first aspect.

3. These three are cosmic laws. There are seven systemic laws, which govern the manifestation of our solar Logos:

3. Ba định luật này là các định luật vũ trụ. Có bảy định luật hệ thống, chi phối sự biểu lộ của Thái dương Thượng đế của chúng ta:

a. The Law of Vibration.

a. Định luật Rung động.

b. The Law of Cohesion.

b. Định luật Kết dính.

c. The Law of Disintegration.

c. Định luật Tan rã.

d. The Law of Magnetic Control.

d. Định luật Kiểm soát Từ tính.

e. The Law of Fixation.

e. Định luật Cố định.

f. The Law of Love.

f. Định luật Bác ái.

g. The Law of Sacrifice and Death.

g. Định luật Hi sinh và Chết.

4. Each of these Laws manifests primarily on one or other of the seven planes of the solar system.

4. Mỗi Định luật này biểu lộ chủ yếu trên một hay một cõi khác trong bảy cõi của hệ mặt trời.

5. Each law sweeps periodically into power and each plane has its period of manifestation and its period of obscuration.

5. Mỗi định luật tuần hoàn đi vào quyền năng và mỗi cõi có chu kỳ biểu lộ của nó cùng chu kỳ che khuất của nó.

6. Every manifested life has its three great cycles: [Page 7]

6. Mọi sự sống biểu lộ đều có ba chu kỳ lớn của nó: [Page 7]

Birth

Life

Death.

Appearance

growth

disappearance.

Involution

evolution

obscuration.

Inert motion

activity

rhythmic motion.

Tamasic life

rajasic life

sattvic life.

7. Knowledge of the cycles involves knowledge of number, sound and colour.

7. Kiến thức về các chu kỳ bao hàm kiến thức về số, âm thanh và màu sắc.

8. Full knowledge of the mystery of the cycles is the possession only of the perfected adept.

8. Sự hiểu biết trọn vẹn về huyền nhiệm của các chu kỳ chỉ thuộc sở hữu của chân sư đã hoàn thiện.

III. All souls are identical with the Oversoul.

III. Mọi linh hồn đều đồng nhất với đại hồn.

1. The Logos of the solar system is the Macrocosm. Man is the Microcosm.

1. Thượng đế của hệ mặt trời là Đại thiên địa. Con người là Tiểu thiên địa.

2. Soul is an aspect of every form of life from a Logos to an atom.

2. Linh hồn là một phương diện của mọi hình thức sự sống từ một Logos đến một nguyên tử.

3. This relationship between all souls and the Oversoul constitutes the basis for the scientific belief in Brotherhood. Brotherhood is a fact in nature, not an ideal.

3. Mối liên hệ này giữa mọi linh hồn và đại hồn tạo thành nền tảng cho niềm tin khoa học vào Tình Huynh Đệ. Tình Huynh Đệ là một sự kiện trong bản chất, không phải một lý tưởng.

4. The Law of Correspondences will explain the details of this relationship. This Law of Correspondences or of Analogy is the interpretive law of the system, and explains God to man.

4. Định luật tương ứng sẽ giải thích các chi tiết của mối liên hệ này. Định luật tương ứng hay định luật tương đồng này là định luật diễn giải của hệ thống, và giải thích Thượng đế cho con người.

5. Just as God is the Macrocosm for all the kingdoms in Nature, so man is the Macrocosm for all the sub-human kingdoms.

5. Cũng như Thượng đế là Đại thiên địa đối với mọi giới trong Bản chất, thì con người là Đại thiên địa đối với mọi giới dưới nhân loại.

6. The goal for the evolution of the atom is self-consciousness as exemplified in the human kingdom.

6. Mục tiêu cho sự tiến hoá của nguyên tử là ngã thức như được nêu gương trong giới nhân loại.

The goal for the evolution of man is group consciousness, as exemplified by a planetary Logos. (Ancient of Days. Daniel VII, pp.13, 22.)

Mục tiêu cho sự tiến hoá của con người là tâm thức nhóm, như được nêu gương bởi một Hành Tinh Thượng đế. (Đấng Thái Cổ. Daniel VII, tr.13, 22.)

The goal for the planetary Logos is God consciousness, as exemplified by the solar Logos.

Mục tiêu cho Hành Tinh Thượng đế là tâm thức Thượng đế, như được nêu gương bởi Thái dương Thượng đế.

7. The solar Logos is the sum-total of all the states of consciousness within the solar system. (3)

7. Thái dương Thượng đế là tổng thể của mọi trạng thái tâm thức bên trong hệ mặt trời. (3)

(3) “We have all got into the habit of viewing the universe as a vast group of isolated bodies having very little connection with each other, while the fact that the universe is one in its essence and many in its manifestations, descending from homogeneity on the highest plane to more and more marked heterogeneity as it reaches the lowest planes”—Some Thoughts on the Gita, p. 54. (back)

(3) “Tất cả chúng ta đều đã quen nhìn vũ trụ như một nhóm khổng lồ gồm những thể cô lập có rất ít liên hệ với nhau, trong khi sự kiện là vũ trụ là một trong bản chất của nó và là nhiều trong các biểu lộ của nó, đi xuống từ tính đồng nhất trên cõi cao nhất đến tính dị biệt ngày càng rõ nét hơn khi nó đạt tới các cõi thấp nhất”—Một Vài Tư Tưởng về Gita, tr. 54. (trở lại)

STANZAS OF DZYAN

CÁC BÀI KỆ DZYAN

STANZA I

BÀI KỆ I

[Page 11]  The Secret of the Fire lieth hid in the second letter of the Sacred Word. The mystery of life is concealed within the heart. When the lower point vibrates, when the sacred triangle glows, when the point, the middle center, and the apex, connect and circulate the Fire, when the threefold apex likewise burns, then the two triangles—the greater and the lesser—merge into one flame, which burneth up the whole.

[Page 11]  Bí mật của Lửa ẩn giấu trong chữ thứ hai của Linh từ Thiêng Liêng. Huyền nhiệm của sự sống được che giấu trong trái tim. Khi điểm thấp rung động, khi tam giác thiêng liêng rực sáng, khi điểm, trung tâm ở giữa, và đỉnh nối kết và làm cho Lửa tuần hoàn, khi đỉnh tam phân cũng bừng cháy, thì hai tam giác—tam giác lớn và tam giác nhỏ—hợp nhất thành một ngọn lửa, ngọn lửa ấy thiêu đốt toàn thể.

STANZA II

BÀI KỆ II

[Page 12]  “AUM,” said the Mighty One, and sounded forth the Word. The sevenfold waves of matter resolved themselves, and varied forms appeared. Each took its place, each in the sphere ordained. They waited for the sacred flood to enter and to fill.

[Page 12]  “AUM,” Đấng Đại Hùng phán, và xướng lên Linh từ. Những làn sóng vật chất thất phân tự phân giải, và những hình tướng đa dạng xuất hiện. Mỗi hình tướng nhận lấy vị trí của mình, mỗi hình tướng trong khối cầu đã được chỉ định. Chúng chờ đợi dòng tuôn đổ thiêng liêng đi vào và làm đầy.

The Builders responded to the sacred sound. In musical collaboration they attended to the work. They built in many spheres, beginning with the third. Upon this plane their work commenced. They built the sheath of atma and strung it to its Primary.

Các đấng kiến tạo đáp ứng âm thanh thiêng liêng. Trong sự cộng tác hài hòa, họ chăm lo công việc. Họ kiến tạo trong nhiều khối cầu, bắt đầu với khối cầu thứ ba. Trên cõi này công việc của họ khởi sự. Họ xây dựng vỏ bọc của atma và nối nó với Cội Nguồn của nó.

“AUM,” said the Mighty One. “Let now the work proceed. Let the Builders of the air continue with the plan.”

“AUM,” Đấng Đại Hùng phán. “Giờ đây hãy để công việc tiến hành. Hãy để các đấng kiến tạo của khí tiếp tục với Thiên Cơ.”

The Deva-Lord and Builders upon the plane of air worked with the forms within that sphere which is reckoned mainly theirs. They wrought for union, each in his group assigned. The moulds grew fast beneath their hands.

Chúa Tể thiên thần và các đấng kiến tạo trên cõi khí đã làm việc với các hình tướng bên trong khối cầu vốn được kể chủ yếu là của họ. Họ hoạt động vì sự hợp nhất, mỗi vị trong nhóm được chỉ định của mình. Những khuôn mẫu lớn lên nhanh chóng dưới tay họ.

The sacred plane of juncture, the fourth great plane, became the sphere within the greater circle which marked the goal for man.

Cõi thiêng liêng của sự nối kết, cõi lớn thứ tư, trở thành khối cầu bên trong vòng tròn lớn hơn, vòng tròn đánh dấu mục tiêu cho con người.

“AUM,” said the Mighty One, He breathed forth to the fifth, the plane which is the burning-ground, the meeting place for fire. This time a cosmic note is heard beneath the sound systemic. The fire within, the fire without, meet with the fire ascending. The guardians of the cosmic fire, the devas of fohatic heat, watched o’er the forms that formless stood, waiting a point in time.

“AUM,” Đấng Đại Hùng phán, Ngài thở ra tới cõi thứ năm, cõi là vùng đất cháy, nơi gặp gỡ của lửa. Lần này một âm điệu vũ trụ được nghe thấy bên dưới âm thanh hệ thống. Ngọn lửa bên trong, ngọn lửa bên ngoài, gặp ngọn lửa đang đi lên. Những vị canh giữ lửa vũ trụ, các thiên thần của nhiệt fohat, trông nom các hình tướng đang đứng vô tướng, chờ đợi một thời điểm trong thời gian.

[Page 13] The builders of a lesser grade, devas who work with matter, wrought at the forms. They stood in fourfold order. Upon the threefold levels in empty silence stood the forms. They vibrated, they responded to the key, yet useless stood and uninhabited.

[Page 13] Các đấng kiến tạo thuộc cấp thấp hơn, các thiên thần làm việc với vật chất, đã hoạt động trên các hình tướng. Họ đứng theo trật tự tứ phân. Trên các cấp độ tam phân, trong sự im lặng trống không, các hình tướng đứng đó. Chúng rung động, chúng đáp ứng với chủ âm, nhưng vẫn đứng vô dụng và không có cư dân.

“AUM,” said the Mighty One, “let the waters too bring forth.” The builders of the watery sphere, the denizens of moisture, produced the forms that move within the kingdom of Varuna. They grew and multiplied. In constant flux they swayed. Each ebb of cosmic motion increased the endless flow. The ripple of the forms was seen.

“AUM,” Đấng Đại Hùng phán, “hãy để nước cũng sinh ra.” Các đấng kiến tạo của khối cầu nước, những cư dân của ẩm chất, đã tạo ra các hình tướng chuyển động trong vương quốc của Varuna. Chúng lớn lên và sinh sôi. Trong lưu chuyển không ngừng chúng dao động. Mỗi lần triều xuống của chuyển động vũ trụ làm tăng thêm dòng chảy vô tận. Gợn sóng của các hình tướng được nhìn thấy.

“AUM,” said the Mighty One, “let the Builders deal with matter.” The molten solidified. The solid forms were built. The crust cooled. The rocks congealed. The builders wrought in tumult to produce the forms of maya. When the rocky strata were completed the work stood in completion. The builders of the lowest grade announced the work was finished.

“AUM,” Đấng Đại Hùng phán, “hãy để các Đấng kiến tạo bàn đến vật chất.” Chất nóng chảy đông đặc lại. Các hình tướng rắn chắc được xây dựng. Lớp vỏ nguội đi. Đá đông kết. Các đấng kiến tạo hoạt động trong hỗn động để tạo ra các hình tướng của ảo lực. Khi các tầng đá đã hoàn tất thì công việc đứng trong sự hoàn tất. Các đấng kiến tạo thuộc cấp thấp nhất tuyên bố công việc đã xong.

Forth from the rocky strata emerged the covering next. The builders of the second agreed the work was done. The first and second on the upward way stood forth in fourfold form. The inner five was somewhat seen by those whose sight was keen.

Từ các tầng đá, lớp bao phủ kế tiếp xuất hiện. Các đấng kiến tạo của cấp thứ hai đồng ý rằng công việc đã hoàn tất. Cấp thứ nhất và thứ hai trên đường đi lên xuất hiện trong hình thức tứ phân. Năm phần bên trong được phần nào nhìn thấy bởi những ai có thị lực sắc bén.

“AUM,” said the Mighty One, and gathered in His Breath. The spark within the peopling third impelled to further growth. The builders of the lowest forms, manipulating densest maya, merged their production with the forms built by the watery ones. Matter and water merged produced the third in time. Ascension thus progressed. The builders worked in union. They called the guardians of the fiery zone. [Page 14] Matter and water mixed with fire, the inner spark within the form were blended all together.

“AUM,” Đấng Đại Hùng phán, và thu hồi Hơi Thở của Ngài. Tia lửa bên trong cấp thứ ba đông đúc thúc đẩy sự tăng trưởng thêm nữa. Các đấng kiến tạo của những hình tướng thấp nhất, thao tác với ảo lực đậm đặc nhất, đã hòa sản phẩm của họ với các hình tướng do những vị của nước xây dựng. Vật chất và nước hòa nhập tạo ra cấp thứ ba theo thời gian. Sự thăng lên nhờ đó tiến triển. Các đấng kiến tạo làm việc trong hợp nhất. Họ gọi các vị canh giữ vùng lửa. [Page 14] Vật chất và nước hòa với lửa, tia lửa bên trong hình tướng được hòa trộn tất cả cùng nhau.

The Mighty One looked down. The forms met His approval. Forth came the cry for further light. Again He gathered in the sound. He drew to higher levels the feeble spark of light. Another tone was heard, the sound of cosmic fire, hid in the Sons of Manas. They called to their Primaries. The lower four, the higher three, and the cosmic fifth met at the great inbreathing. Another sheath was formed.

Đấng Đại Hùng nhìn xuống. Các hình tướng được Ngài chấp thuận. Tiếng kêu đòi thêm ánh sáng vang ra. Một lần nữa Ngài thu âm thanh lại. Ngài kéo tia lửa ánh sáng yếu ớt lên các cấp độ cao hơn. Một âm điệu khác được nghe thấy, âm thanh của lửa vũ trụ, ẩn trong các Con của Trí Tuệ. Họ gọi đến các Cội Nguồn của mình. Bốn phần thấp, ba phần cao, và phần thứ năm vũ trụ gặp nhau trong đại hít vào. Một vỏ bọc khác được hình thành.

STANZA III

BÀI KỆ III

[Page 15]  The great Wheel turned upon itself. The seven lesser wheels rushed into being. They revolve like their Mother, around, within and forward. All that existeth was.

[Page 15]  Bánh Xe lớn tự quay trên chính nó. Bảy bánh xe nhỏ hơn lao vào hiện hữu. Chúng quay như Mẹ của chúng, chung quanh, bên trong và tiến về phía trước. Mọi điều hiện hữu đều đã có.

The wheels were diverse, and in unification, one. As evolved the great Wheel, the inner fire burst forth. It touched into life wheel the first. It circulated. A million fires rose up. The quality of matter densified, but form was not. The Sons of God arose, scanned the depth of Flame, took from its heart the sacred Stone of Fire, and proceeded to the next.

Các bánh xe thì đa dạng, và trong hợp nhất, là một. Khi Bánh Xe lớn tiến hoá, ngọn lửa bên trong bùng phát. Nó chạm vào bánh xe thứ nhất để làm cho bánh xe ấy sống động. Nó tuần hoàn. Một triệu ngọn lửa bốc lên. Phẩm tính của vật chất trở nên đậm đặc hơn, nhưng hình tướng thì chưa. Các Con của Thượng đế trỗi dậy, khảo sát chiều sâu của Ngọn Lửa, lấy từ trái tim của nó Viên Đá thiêng của Lửa, rồi tiến sang bánh xe kế tiếp.

In turning next the Great Wheel launched the second. Again the flame burst forth, took to its heart the Stone and proceeded in revolution. The Sons of God again arose, and sought within the flame. “The form sufficeth not,” they said, “remove from without the fire.”

Trong lần quay kế tiếp, Bánh Xe Lớn phóng ra bánh xe thứ hai. Một lần nữa ngọn lửa bùng phát, nhận Viên Đá vào tim nó rồi tiếp tục trong vòng quay. Các Con của Thượng đế lại trỗi dậy, và tìm kiếm bên trong ngọn lửa. “Hình tướng chưa đủ,” họ nói, “hãy lấy lửa từ bên ngoài ra.”

Faster revolved the greater Wheel, blue white emerged the flame. The Sons of God again came down and a lesser wheel revolved. Seven times the revolution, and seven times great the heat. More solid grew the formless mass, and deeper sank the Stone. To the heart of inmost fire the sacred Stone went down. This time the work was better done, and the product more perfected. At the seventh revolution, the third wheel rendered back the Stone. Triple the form, rosy the light, and sevenfold the eternal principle.

Bánh Xe lớn quay nhanh hơn, ngọn lửa xanh trắng xuất hiện. Các Con của Thượng đế lại đi xuống và một bánh xe nhỏ hơn quay. Bảy lần vòng quay, và sức nóng lớn gấp bảy. Khối vô tướng trở nên rắn chắc hơn, và Viên Đá chìm sâu hơn. Viên Đá thiêng đi xuống trái tim của ngọn lửa sâu kín nhất. Lần này công việc được làm tốt hơn, và sản phẩm hoàn thiện hơn. Đến vòng quay thứ bảy, bánh xe thứ ba hoàn trả lại Viên Đá. Hình tướng tam phân, ánh sáng hồng, và nguyên khí vĩnh cửu thất phân.

[Page 16] From out the greater Wheel, down from the vault of heaven, came into light the lesser wheel that counted as the fourth. The eternal Lhas looked down, and the Sons of God reached forth. Down to the inmost point of death They flung the sacred Stone. The plaudits of the Chohans rose. The work had turned a point. From the pit of outer darkness, They gathered forth the Stone, translucent now and unalloyed, of colour rose and blue.

[Page 16] Từ Bánh Xe lớn hơn, từ vòm trời cao, bánh xe nhỏ hơn được kể là thứ tư đi vào ánh sáng. Các Lhas vĩnh cửu nhìn xuống, và các Con của Thượng đế vươn tới. Xuống đến điểm sâu kín nhất của cái chết, Các Ngài ném Viên Đá thiêng. Tiếng hoan hô của các Chohan vang lên. Công việc đã chuyển sang một điểm mới. Từ hố tối tăm bên ngoài, Các Ngài thu hồi Viên Đá, giờ đây trong suốt và không pha tạp, mang màu hồng và xanh lam.

The turning of the fifth wheel and its action on the Stone rendered it still more fit. Yellow the blending tint, orange the inner fire, till yellow, rose and blue mingled their subtle tones. The four wheels with the greater worked thus upon the Stone till all the Sons of God acclaimed, and said: “The work is done.”

Sự quay của bánh xe thứ năm và tác động của nó lên Viên Đá làm cho nó càng thích hợp hơn nữa. Màu pha trộn là vàng, ngọn lửa bên trong là cam, cho đến khi vàng, hồng và xanh lam hòa trộn các sắc điệu vi tế của chúng. Bốn bánh xe cùng với bánh xe lớn đã tác động như thế lên Viên Đá cho đến khi tất cả các Con của Thượng đế đều tung hô và nói: “Công việc đã hoàn tất.”

STANZA IV

BÀI KỆ IV

[Page 17]  In revolution fifth of the great Wheel the period set was reached. The lesser wheel, that responded to that fifth great turn, passed through the cycle and entered into peace.

[Page 17]  Trong vòng quay thứ năm của Bánh Xe lớn, thời kỳ đã định được đạt tới. Bánh xe nhỏ hơn, bánh xe đáp ứng với vòng quay lớn thứ năm ấy, đã đi qua chu kỳ và bước vào an bình.

The lesser wheels come forth and likewise do their work. The great Wheel gathers back the emanating sparks. The Five dealt with the work, the lesser two but wrought with detail. The Stone had gathered fire, lambent with flame it shone. The outer sheath met not the need till the sixth wheel and the seventh had passed it through their fires.

Các bánh xe nhỏ hơn xuất hiện và cũng làm công việc của chúng. Bánh Xe lớn thu hồi các tia lửa đã phát xạ ra. Năm vị xử lý công việc, còn hai vị nhỏ hơn chỉ làm phần chi tiết. Viên Đá đã thu nhận lửa, rực sáng với ngọn lửa nó chiếu sáng. Vỏ bọc bên ngoài không đáp ứng nhu cầu cho đến khi bánh xe thứ sáu và thứ bảy đã đưa nó đi qua các ngọn lửa của chúng.

The Sons of God emerged from out their source, gazed on the sevenfold work, and stated it was good. The Stone was set alone. In dual revolution moved the greater Wheel. The fourth Lord of the greater Twelve handled the work of sevenfold fire. “It is not fit,” He said, “merge thou this Stone within the wheel which started revolution.”

Các Con của Thượng đế xuất hiện từ cội nguồn của họ, nhìn ngắm công trình thất phân, và tuyên bố rằng nó là tốt lành. Viên Đá được đặt riêng ra. Trong vòng quay nhị phân, Bánh Xe lớn chuyển động. Chúa Tể thứ tư của Mười Hai lớn hơn xử lý công việc của lửa thất phân. “Nó chưa thích hợp,” Ngài nói, “hãy hòa Viên Đá này vào trong bánh xe đã khởi đầu vòng quay.”

The lords of the greater seven plunged the Stone within the moving wheel. The lords of the greater fifth and sixth likewise plunged their Stone.

Các chúa tể của bảy lớn hơn dìm Viên Đá vào bánh xe đang chuyển động. Các chúa tể của thứ năm và thứ sáu lớn hơn cũng dìm Viên Đá của họ vào.

Within the fire, deep at the inmost sphere, as whirled through space the greater Wheel, bearing the lesser seven, the two were fused. The fourth, the fifth, the sixth blended, merged and intermingled.

Bên trong lửa, sâu trong khối cầu sâu kín nhất, khi Bánh Xe lớn quay cuồng xuyên không gian, mang theo bảy bánh xe nhỏ hơn, hai viên đá được dung hợp. Thứ tư, thứ năm, thứ sáu hòa trộn, hợp nhất và xen lẫn vào nhau.

The aeon closed, the work was done. The stars stood still. The eternal Ones cried to inmost heaven: “Display the work. Draw forth the Stones.” And lo, the Stones were one.

aeon khép lại, công việc hoàn tất. Các vì sao đứng yên. Các Đấng vĩnh cửu kêu lên với thiên giới sâu kín nhất: “Hãy phô bày công trình. Hãy rút các Viên Đá ra.” Và kìa, các Viên Đá là một.

STANZA V

BÀI KỆ V

[Page 18]  The moment manvantaric, for which had waited all the Triads, the hour that marked the solemn point of juncture, arrived within the scope of time, and lo, the work was done.

[Page 18]  Khoảnh khắc manvantaric, mà mọi Tam nguyên tinh thần đã chờ đợi, giờ khắc đánh dấu điểm nối kết trang nghiêm, đã đến trong phạm vi thời gian, và kìa, công việc đã hoàn tất.

The hour for which the seven groups purushic, each vibrant to the sounding of the Word, seeking the adding of the power, had waited for millennia, passed in a flash of time, and lo, the work was done.

Giờ khắc mà bảy nhóm purushic, mỗi nhóm rung động theo sự xướng lên của Linh từ, tìm kiếm sự gia tăng quyền năng, đã chờ đợi suốt hàng thiên niên kỷ, trôi qua trong một thoáng thời gian, và kìa, công việc đã hoàn tất.

The First Degree in mighty acclamation deeming the hour propitious, sounded the triple note in threefold reverberation. The echo reached the goal. They three times sent it forth. Restless the sphere of blue felt the vibration and answering, roused herself and hastened to the call.

Đẳng cấp Thứ Nhất, trong sự tung hô mãnh liệt, cho rằng giờ đã thuận lợi, đã xướng lên âm điệu tam phân trong sự dội lại tam phân. Tiếng vọng đạt tới mục tiêu. Họ ba lần phát nó ra. Khối cầu xanh lam bất an cảm nhận rung động và, đáp lại, tự mình thức dậy và vội vã theo tiếng gọi.

The Second, with wise insistence, hearing the First sound forth, knowing the hour had likewise come, echoed the sound or note quadruple. This fourfold reverberation circled the gamut of the spheres. Again it was sent forth. Three times the note was sounded, pealing across the heavens. At the third intoning came the answer to the call. Vibrant as a key attuned, the eternal Primary replied. The blue to the dense one answered and responded to the need.

Đẳng cấp Thứ Hai, với sự kiên định minh triết, nghe Đẳng cấp Thứ Nhất xướng lên, biết rằng giờ của mình cũng đã đến, đã vọng lại âm thanh hay âm điệu tứ phân. Sự dội lại tứ phân này bao quanh toàn bộ âm giai của các khối cầu. Một lần nữa nó được phát ra. Ba lần âm điệu được xướng lên, ngân vang khắp các tầng trời. Ở lần xướng thứ ba, câu trả lời cho tiếng gọi đã đến. Rung động như một chủ âm được chỉnh hợp, Cội Nguồn vĩnh cửu đáp lại. Khối cầu xanh lam đáp lại khối cầu đậm đặc và đáp ứng nhu cầu.

Quivering the sphere heard the third take up the note, pealing it forth, a full-toned chord smote on the ears of the Watchers of the Flame.

Khối cầu run rẩy nghe cấp thứ ba tiếp nhận âm điệu, xướng nó ra, một hợp âm tròn đầy giáng vào tai các Đấng Canh Giữ Ngọn Lửa.

The Lords of Flame arose and prepared Themselves. It was decision’s hour. The seven Lords of the seven spheres watched breathless the result. The [Page 19] great Lord of sphere the fourth awaited the oncoming.

Các Chúa Tể của Lửa trỗi dậy và chuẩn bị chính Các Ngài. Đó là giờ quyết định. Bảy Chúa Tể của bảy khối cầu nín thở theo dõi kết quả. [Page 19] vị Đại Chúa Tể của khối cầu thứ tư chờ đợi điều đang đến.

The lower was prepared. The upper was resigned. The great Five waited for the point of equidistant merging. The foundation note ascended. Deep answered unto deep. The fivefold chord awaited the response from Those Whose hour had come.

Phần thấp đã sẵn sàng. Phần cao đã thuận theo. Năm vị lớn chờ đợi điểm hợp nhất cách đều. Âm điệu nền tảng đi lên. Cái sâu đáp lại cái sâu. Hợp âm ngũ phân chờ đợi sự đáp ứng từ Những Đấng mà giờ của Các Ngài đã đến.

Dark grew the space between the spheres. Radiant two balls became. The threefold thirty-five, finding the distance just, flashed like a sheet of intermittent flame, and lo, the work was done. The great Five met the Three and Four. The point intermediate was achieved. The hour of sacrifice, the sacrifice of Flame, arrived, and for aeons hath endured. The timeless Ones entered into time. The Watchers began Their task, and lo, the work proceeds.

Không gian giữa các khối cầu trở nên tối sẫm. Hai quả cầu trở nên rực sáng. Bộ ba ba mươi lăm, khi thấy khoảng cách vừa đúng, lóe lên như một tấm lửa chập chờn, và kìa, công việc đã hoàn tất. Năm vị lớn gặp Bộ Ba và Bốn. Điểm trung gian đã đạt được. Giờ hi sinh, sự hi sinh của Lửa, đã đến, và đã kéo dài qua các aeon. Những Đấng vô thời gian bước vào thời gian. Các Đấng Canh Giữ bắt đầu nhiệm vụ của Các Ngài, và kìa, công việc vẫn tiếp diễn.

STANZA VI

BÀI KỆ VI

[Page 20]  Within the cavern dark the fourfold one groped for expansion and for further light. No light above, and all around the gloom enveloped. Pitchy the darkness that surrounded it. To the innermost centre of the heart, throbbing without the Warming Light, crept in the icy cold of uttermost darkness.

[Page 20]  Bên trong hang động tối tăm, kẻ tứ phân lần mò tìm sự mở rộng và thêm ánh sáng. Không có ánh sáng ở trên, và khắp chung quanh bóng tối bao phủ. Sự tối tăm đen đặc vây quanh nó. Vào trung tâm sâu kín nhất của trái tim, đang đập mà không có Ánh Sáng Sưởi Ấm, cái lạnh băng giá của bóng tối cùng cực len vào.

Above the cavern dark shone all the light of day; yet the fourfold one saw it not, nor did the light pervade.

Phía trên hang động tối tăm, toàn bộ ánh sáng ban ngày chiếu rạng; tuy nhiên kẻ tứ phân không thấy nó, ánh sáng cũng không thấm vào.

The rending of the cavern precedes the light of day. Great, then, must be the shattering. No help is found within the cave, nor any hidden light. Around the fourfold one lieth the vault of stone; beneath him menaceth the root of blackness, of utter denseness; beside him and above, naught but the same is seen.

Sự xé toạc hang động đi trước ánh sáng ban ngày. Vì thế, sự tan vỡ hẳn phải lớn lao. Không tìm thấy sự trợ giúp nào bên trong hang, cũng không có ánh sáng ẩn giấu nào. Chung quanh kẻ tứ phân là vòm đá; bên dưới nó đe dọa là gốc rễ của bóng đen, của sự đậm đặc cùng cực; bên cạnh và phía trên nó, không thấy gì ngoài điều ấy.

The threefold Watchers know and see. The fourfold is now ready; the work of denseness is completed; the vehicle prepared.

Ba Đấng Canh Giữ biết và thấy. Kẻ tứ phân giờ đây đã sẵn sàng; công việc của sự đậm đặc đã hoàn tất; vận cụ đã được chuẩn bị.

Soundeth the trump of shattering. Blinding the power of the oncoming flame. The mystic earthquake rocks the cavern; the burning Flames disintegrate the maya, and lo, the work is done.

Xướng lên tiếng kèn của sự tan vỡ. Chói lòa là quyền năng của ngọn lửa đang đến. Cơn địa chấn thần bí làm rung chuyển hang động; các Ngọn Lửa rực cháy làm tan rã ảo lực, và kìa, công việc đã hoàn tất.

Gone is the gloom and the blackness; rent is the cavern’s roof. The light of life shines in; the warmth inspires. The Lords on-looking see the work commence. The fourfold one becomes the seven. The [Page 21] chant of those who flame rises to all creation. The moment of achievement is attained.

Bóng tối và sự đen tối đã biến mất; mái hang đã bị xé toạc. Ánh sáng của sự sống chiếu vào; hơi ấm truyền cảm hứng. Các Chúa Tể đang quan sát thấy công việc bắt đầu. Kẻ tứ phân trở thành bảy. Bài ca [Page 21] của những vị đang bừng cháy dâng lên khắp mọi tạo vật. Khoảnh khắc thành tựu đã đạt tới.

Proceedeth the work anew. Creation moveth on its way, while waxeth the light within the cavern.

Tiếp diễn công việc một lần nữa. Tạo hóa tiến bước trên con đường của nó, trong khi ánh sáng bên trong hang động lớn dần.

STANZA VII

BÀI KỆ VII

[Page 22] Riseth the cave of beauty rare, of colour iridescent. Shineth the walls with azure tint, bathed in the light of rose. The blending shade of blue irradiates the whole and all is merged in gleaming.

[Page 22] Vươn lên hang động của vẻ đẹp hiếm có, của màu sắc óng ánh. Những bức tường tỏa sáng với sắc xanh thiên thanh, được tắm trong ánh sáng hồng. Sắc thái pha trộn của xanh lam chiếu rạng toàn thể và mọi sự hòa vào ánh sáng lấp lánh.

Within the cave of iridescent colour, within its arching circle, standeth the fivefold One demanding further light. He struggleth for expansion, he wrestleth towards the day. The Five demand the greater Sixth and Seventh. The surrounding beauty meeteth not the need. The inner warmth sufficeth but to feed the urge for FIRE.

Bên trong hang động của màu sắc óng ánh, bên trong vòng cung của nó, đứng đó Đấng ngũ phân đòi hỏi thêm ánh sáng. Ngài vật lộn để mở rộng, Ngài tranh đấu hướng tới ban ngày. Năm vị đòi hỏi Đấng Thứ Sáu và Thứ Bảy lớn hơn. Vẻ đẹp bao quanh không đáp ứng nhu cầu. Hơi ấm bên trong chỉ đủ để nuôi dưỡng sự thôi thúc hướng tới LỬA.

The Lords of Flame look on; they chant aloud: “The time is come, that time for which We wait. Let the Flame become the FIRE and let the light shine forth.”

Các Chúa Tể của Lửa nhìn theo; Các Ngài xướng lớn: “Thời điểm đã đến, thời điểm mà Chúng Ta chờ đợi. Hãy để ngọn lửa trở thành LỬA và hãy để ánh sáng chiếu rạng.”

The effort of the Flame within the crystal cave becometh ever greater. The cry goes forth for other aid from other Flaming Souls. The response comes.

Nỗ lực của ngọn lửa bên trong hang động pha lê ngày càng lớn hơn. Tiếng kêu cầu sự trợ giúp khác từ những Linh Hồn Rực Cháy khác vang ra. Sự đáp ứng đến.

The Lord of Flame, the Ancient One, the Mighty Lord of Fire, the Point of Blue within the hidden diamond, the Youth of Timeless Aeons, assisteth in the work. The inner burning light and the outer waiting fire,—together with the ROD,—meet on the sphere of crystal, and lo, the work is done. The crystal rends and quivers.

Chúa Tể của Lửa, Đấng Cổ Xưa, vị Đại Chúa Tể của Lửa, Điểm Xanh Lam bên trong viên kim cương ẩn giấu, Thanh Niên của các Aeon Vô Thời, trợ giúp trong công việc. Ánh sáng cháy bên trong và ngọn lửa chờ đợi bên ngoài,—cùng với THẦN TRƯỢNG,—gặp nhau trên khối cầu pha lê, và kìa, công việc đã hoàn tất. Pha lê nứt vỡ và rung chuyển.

Seven times the work proceeds. Seven the efforts made. Seven the applications of the Rod, held by a Lord of Flame. Three are the lesser touches; four [Page 23] the divine assistance. At the final fourth the work is done and the whole cave disrupts. The lighted flame within spreads through the rending walls. It mounteth to its Source. Another fire is merged; another point of blue findeth its place within the diadem logoic.

Bảy lần công việc tiếp diễn. Bảy nỗ lực được thực hiện. Bảy lần áp dụng Thần Trượng, được một Chúa Tể của Lửa cầm giữ. Ba là những lần chạm nhỏ hơn; bốn [Page 23] là sự trợ giúp thiêng liêng. Ở lần thứ tư cuối cùng, công việc hoàn tất và toàn bộ hang động tan vỡ. Ngọn lửa được soi sáng bên trong lan qua những bức tường nứt vỡ. Nó vươn lên tới Cội Nguồn của nó. Một ngọn lửa khác được hòa nhập; một điểm xanh lam khác tìm thấy vị trí của nó trong vương miện Thượng đế.

STANZA VIII

BÀI KỆ VIII

[Page 24]  The greater Three, each with their seven lesser wheels, in spiral evolution, rotate within the timeless Now, and move as one. The cosmic Lords from Their high place, view the past, control the Now, and ponder on the Day be with us.

[Page 24]  Ba Đấng lớn hơn, mỗi Đấng với bảy bánh xe nhỏ hơn của mình, trong tiến hoá xoắn ốc, quay trong Hiện Tại Vĩnh Cửu vô thời gian, và chuyển động như một. Các Chúa Tể vũ trụ từ chỗ cao của Các Ngài nhìn quá khứ, kiểm soát Hiện Tại, và suy ngẫm về Ngày sẽ đến với chúng ta.

The Lhas of the eternal Sound, the product of the time that was, surmount the sevenfold display. Within the Ring-pass-not the Word of Love sounds forth.

Các Lhas của Âm Thanh vĩnh cửu, sản phẩm của thời gian đã qua, vượt lên trên biểu hiện thất phân. Bên trong vòng-giới-hạn, Linh từ của Bác ái vang lên.

The sevenfold Lords proceed with just vibration to carry out the work. They sound forth each a note of the deep logoic chord. Each to His greater Lord makes record due. In the solemn breathing forth the forms are built, the colour just apportioned, and the flame within reveals itself with ever growing light.

Các Chúa Tể thất phân tiến hành với rung động chính xác để thực hiện công việc. Mỗi vị xướng lên một âm điệu của hợp âm Thượng đế sâu thẳm. Mỗi vị ghi nhận đúng mức với Chúa Tể lớn hơn của mình. Trong sự thở ra trang nghiêm, các hình tướng được xây dựng, màu sắc được phân phối đúng mức, và ngọn lửa bên trong tự bộc lộ với ánh sáng ngày càng tăng.

Blue to the green is added and completion quick is seen. The vibration of the third is added to the one. Blue to the orange blends, and in their wise admixture is seen the stable scheme. To the yellow and the red, to the purple and the ultimate is the vibration of the seventh adjusted as the Primary.

Xanh lam được thêm vào xanh lục và sự hoàn tất mau chóng được thấy. Rung động của thứ ba được thêm vào một. Xanh lam hòa với cam, và trong sự pha trộn minh triết của chúng, hệ hành tinh ổn định được nhìn thấy. Với vàng và đỏ, với tím và cái tối hậu, rung động của thứ bảy được điều chỉnh như Cội Nguồn.

Each of the seven Lords, within Their seven schemes, adjusted to the second karmic circle, merge [Page 25] Their migrating spheres and blend Their myriad atoms.

Mỗi Chúa Tể trong bảy hệ hành tinh của Các Ngài, được điều chỉnh theo vòng nghiệp quả thứ hai lớn hơn, hợp nhất [Page 25] các khối cầu di chuyển của Các Ngài và hòa trộn vô số nguyên tử của Các Ngài.

The forms through which They work, the lesser million spheres, the cause of separation and the curse of the Asuras, shatter when sounds the Sacred Word within a point in time.

Các hình tướng mà qua đó Các Ngài hoạt động, hàng triệu khối cầu nhỏ hơn, nguyên nhân của sự phân ly và lời nguyền của các Asura, tan vỡ khi Linh từ Thiêng Liêng vang lên tại một thời điểm trong thời gian.

The life logoic surges out. The streams of colour melt together. The forms are left behind, and Parabrahm stands complete. The Lord of the cosmic Third utters a Word unknown. The sevenfold lesser Word forms part of the vaster chord.

Sự sống Thượng đế tuôn trào ra ngoài. Các dòng màu hòa tan vào nhau. Các hình tướng bị bỏ lại phía sau, và Parabrahm đứng trọn vẹn. Chúa Tể của Đấng Thứ Ba vũ trụ xướng ra một Linh từ chưa được biết đến. Linh từ thất phân nhỏ hơn tạo thành một phần của hợp âm bao la hơn.

The Now becomes the time that was. The aeon mergeth into space. The Word of Motion hath been heard. The Word of Love succeedeth. The Past controlled the form. The Now evolves the life. The Day that is to be sounds forth the Word of Power.

Hiện Tại trở thành thời gian đã qua. aeon hòa nhập vào không gian. Linh từ của Chuyển Động đã được nghe thấy. Linh từ của Tình thương tiếp nối. Quá Khứ kiểm soát hình tướng. Hiện Tại tiến hóa sự sống. Ngày Sắp Đến xướng lên Quyền năng từ.

The form perfected and the life evolved hold the third secret of the greater Wheel. It is the hidden mystery of living motion. The mystery, lost in the Now but known to the Lord of Cosmic Will.

Hình tướng được hoàn thiện và sự sống được tiến hóa nắm giữ bí mật thứ ba của Bánh Xe lớn hơn. Đó là huyền nhiệm ẩn kín của chuyển động sống động. Huyền nhiệm ấy bị mất trong Hiện Tại nhưng được Chúa Tể của Ý Chí Vũ Trụ biết đến.

STANZA IX

BÀI KỆ IX

[Page 26]  The thirty thousand million Watchers refused to heed the call. “We enter not the forms,” they said, “until the seventh aeon.” The twice thirty thousand million hearkened to the call and took the forms designed.

[Page 26]  Ba mươi ngàn triệu Đấng Quan Sát đã từ chối lưu tâm đến tiếng gọi. “Chúng ta không đi vào các hình tướng,” các Ngài nói, “cho đến aeon thứ bảy.” Sáu mươi ngàn triệu đã lắng nghe tiếng gọi và nhận lấy các hình tướng đã được thiết kế.

The rebellious ones laughed within themselves, and sought pralayic peace until the seventh aeon. But the seven great Lords called to the greater Chohans, and with the eternal Lhas of the third cosmic heaven entered into debate.

Những kẻ phản nghịch tự cười trong lòng, và tìm kiếm sự bình an pralaya cho đến aeon thứ bảy. Nhưng bảy Chúa Tể vĩ đại đã kêu gọi các Chohan cao cả hơn, và cùng với các Lha vĩnh cửu của cõi trời vũ trụ thứ ba bước vào cuộc nghị bàn.

The dictum then went forth. The laggards in the highest sphere heard it echo through the scheme. “Not till the seventh aeon, but at the fourteenth seventh will the chance again come round. The first shall be the last and time be lost for aeons.”

Khi ấy phán quyết được ban ra. Những kẻ chậm trễ trong khối cầu cao nhất nghe nó vang dội khắp hệ hành tinh. “Không phải cho đến aeon thứ bảy, mà đến lần thứ bảy của chu kỳ mười bốn thì cơ hội mới lại quay về. Kẻ đầu sẽ là kẻ cuối và thời gian sẽ mất đi trong nhiều aeon.”

The obedient Sons of Mind connected with the Sons of Heart, and evolution spiralled on its way. The Sons of Power stayed in their appointed place, though cosmic karma forced a handful to join the Sons of Heart.

Các Con của Trí Tuệ vâng phục đã kết nối với các Con của Tâm, và tiến hóa xoắn ốc trên đường đi của nó. Các Con của Quyền năng ở lại nơi đã được chỉ định cho mình, dù nghiệp quả vũ trụ buộc một số ít phải gia nhập các Con của Tâm.

At the fourteenth seventh aeon, the Sons of Mind and Heart, absorbed by endless flame, will join the Sons of Will, in manvantaric manifestation. Three times the wheel will turn.

Vào aeon thứ bảy của chu kỳ mười bốn, các Con của Trí Tuệ và Tâm, được hấp thụ bởi ngọn lửa vô tận, sẽ hợp nhất với các Con của Ý Chí, trong sự biểu hiện manvantara. Bánh xe sẽ quay ba lần.

At the centre stand the buddhas of activity, helped by the lords of love, and following their twofold work will come the radiant lords of power.

Tại trung tâm đứng các vị Phật của hoạt động, được các chúa tể của tình thương trợ giúp, và tiếp theo công việc nhị phân của các Ngài sẽ đến các chúa tể rạng ngời của quyền năng.

The buddhas of creation from out the past have [Page 27] come. The buddhas of love are gathering now. The buddhas of will at the final turn of the third major wheel will flash into being. The end will then be consummated.

Các vị Phật của sáng tạo từ quá khứ đã [Page 27] đến. Các vị Phật của tình thương hiện đang tụ hội. Các vị Phật của ý chí vào vòng quay cuối cùng của bánh xe lớn thứ ba sẽ lóe hiện vào hiện hữu. Khi ấy sự kết thúc sẽ được hoàn tất.

STANZA X

BÀI KỆ X

[Page 28]  The Fifth progresseth and from the remnants of the Fourth multiplied and reproduced. The waters arose. All sank and was submerged. The sacred remnant, in the place appointed, emerged at later date from out the zone of safety.

[Page 28]  Giống dân gốc thứ Năm tiến lên và từ những tàn dư của Giống dân gốc thứ Tư đã nhân lên và tái sinh sản. Nước dâng lên. Mọi sự chìm xuống và bị nhấn ngập. Phần tàn dư thiêng liêng, ở nơi đã được chỉ định, về sau xuất hiện từ vùng an toàn.

The waters dissipated. The solid ground emerged in certain destined places. The Fifth o’er-ran the Sacred Land, and in their fivefold groups developed the lower Fifth.

Nước tan đi. Đất rắn hiện ra ở một số nơi đã được định sẵn. Giống dân gốc thứ Năm tràn khắp Thánh Địa, và trong các nhóm ngũ phân của mình đã phát triển giống dân phụ thứ năm thấp hơn.

They passed from stage to stage. The watching Lords, recognising the rupas formed, gave a sign to the circulating Fourth and it speeded faster on its way. When the lesser Fifth had midway passed and all the lesser four were peopling the land, the Lords of Dark Intent arose. They said: “Not so shall go the force. The forms and rupas of the third and fourth, within the corresponding Fifth, approach too close the archetype. The work is far too good.”

Họ đi từ giai đoạn này sang giai đoạn khác. Các Chúa Tể quan sát, nhận ra các rupa đã được tạo thành, đã ra dấu cho Giống dân gốc thứ Tư đang tuần hoàn và nó tăng tốc nhanh hơn trên đường đi. Khi giống dân phụ thứ năm thấp hơn đã đi qua điểm ở giữa và tất cả bốn giống dân phụ thấp hơn đang cư trú trên đất, các Chúa Tể của Ý Định Hắc Ám trỗi dậy. Họ nói: “Mãnh lực sẽ không vận hành như thế. Các hình tướng và các rupa của giống dân thứ ba và thứ tư, bên trong giống dân thứ năm tương ứng, tiến quá gần nguyên mẫu. Công việc quá ư tốt đẹp.”

They constructed other forms. They called for cosmic fire. The seven deep pits of hell belched forth the animating shades. The incoming seventh reduced to order all the forms,—the white, the dark, the red, and shaded brown.

Họ kiến tạo những hình tướng khác. Họ kêu gọi lửa vũ trụ. Bảy vực sâu của địa ngục phun ra những bóng mờ được tiếp sinh lực. Đấng thứ bảy đi vào đã đưa tất cả các hình tướng vào trật tự,—trắng, đen, đỏ, và nâu sẫm.

The period of destruction extended far on either hand. The work was sadly marred. The Chohans of the highest plane gazed in silence on the work. The Asuras and the Chaitans, the Sons of Cosmic Evil, and the Rishis of the darkest constellations, [Page 29] gathered their lesser hosts, the darkest spawn of hell. They darkened all the space.

Thời kỳ hủy diệt kéo dài rất xa về cả hai phía. Công việc bị làm hư hại nặng nề. Các Chohan của cõi cao nhất lặng lẽ nhìn công việc. Các Asura và các Chaitan, các Con của Điều Ác Vũ Trụ, và các Rishi của những chòm sao tối tăm nhất, [Page 29] đã tập hợp các đạo quân nhỏ hơn của họ, bầy giống tối tăm nhất của địa ngục. Họ làm tối đen toàn bộ không gian.

* * * * *

* * * * *

From the coming of the heaven-sent One peace passed upon the earth. The planet staggered and belched forth fire. Part rose. Part fell. The form was changed. Millions took other forms or ascended to the appointed place of waiting. They tarried till the hour of progress should again sound forth for them.

Từ khi Đấng do trời sai đến, bình an giáng xuống địa cầu. Hành tinh chao đảo và phun lửa ra. Một phần trồi lên. Một phần sụp xuống. Hình tướng bị thay đổi. Hàng triệu sinh linh nhận lấy những hình tướng khác hoặc thăng lên nơi chờ đợi đã được chỉ định. Họ lưu lại đó cho đến khi giờ tiến bộ lại vang lên đối với họ.

* * * * *

* * * * *

The early Third produced the monsters, great beasts and evil forms. They prowled upon the surface of the sphere.

Giống dân gốc thứ Ba thời kỳ đầu đã tạo ra những quái vật, những thú lớn và những hình tướng xấu ác. Chúng lang thang trên bề mặt khối cầu.

The watery Fourth produced within the watery sphere, reptiles and spawn of evil fame, the product of their karma. The waters came and swept away the progenitors of the fluidic spawn.

Giống dân gốc thứ Tư thuộc nước đã tạo ra trong khối cầu nước những loài bò sát và giống nòi tai tiếng của điều ác, sản phẩm của nghiệp quả của chúng. Nước tràn đến và cuốn đi những tổ tiên của giống nòi lưu chất ấy.

The separating Fifth built in the rupa sphere the concrete forms of thought. They cast them forth. They peopled the lower four, and like a black and evil cloud shut out the light of day. The higher three were hid.

Giống dân gốc thứ Năm phân ly đã xây dựng trong khối cầu rupa những hình tư tưởng cụ thể. Họ phóng chúng ra ngoài. Họ cư trú trong bốn cõi thấp, và như một đám mây đen xấu ác che khuất ánh sáng ban ngày. Ba cõi cao hơn bị che giấu.

* * * * *

* * * * *

The war upon the planet had been waged. Both sides descended into hell. Then came the Conqueror of form. He drew on the Sacred Fire, and purified the rupa levels. The fire destroyed the lands in the days of the lesser Sixth.

Cuộc chiến trên hành tinh đã diễn ra. Cả hai phía đều sa xuống địa ngục. Rồi Đấng Chinh Phục hình tướng xuất hiện. Ngài vận dụng Lửa Thiêng và thanh lọc các cấp độ rupa. Lửa đã hủy diệt các vùng đất trong những ngày của giống dân phụ thứ sáu thấp hơn.

When the Sixth appeared the land was changed. The surface of the globe circled through another cycle. Men of the higher Fifth mastered the lower [Page 30] three. The work was shifted to the plane whereon the Pilgrim stood. The lesser triangle within the lower auric egg became the centre of cosmic dissonance.

Khi giống dân phụ thứ Sáu xuất hiện, đất đai đã thay đổi. Bề mặt của bầu hành tinh quay qua một chu kỳ khác. Những người nam và nữ của giống dân phụ thứ năm cao hơn đã chế ngự ba giống dân thấp hơn [Page 30] . Công việc được chuyển sang cõi nơi Người Hành Hương đứng. Tam giác nhỏ hơn bên trong noãn hào quang thấp hơn trở thành trung tâm của sự bất hòa vũ trụ.

STANZA XI

BÀI KỆ XI

[Page 31]  The wheel of life turns within the wheel of outer form.

[Page 31]  Bánh xe sự sống quay bên trong bánh xe của hình tướng bên ngoài.

The matter of Fohat circulateth, and its fire hardeneth all the forms. The wheel that is not glimpsed moveth in rapid revolution within the slower outer case, till it weareth out the form.

Chất liệu của Fohat tuần hoàn, và lửa của nó làm cứng mọi hình tướng. Bánh xe không được thoáng thấy chuyển động trong vòng quay nhanh chóng bên trong vỏ bọc bên ngoài chậm hơn, cho đến khi nó làm mòn hình tướng.

The forty-nine fires burn at the inner centre. The thirty-five circulating fiery vortices extend along the circle of the periphery. Between the two passeth in ordered sequence the various coloured flames.

Bốn mươi chín ngọn lửa cháy tại trung tâm bên trong. Ba mươi lăm xoáy lửa tuần hoàn trải dọc theo vòng tròn của chu vi. Giữa hai bên ấy đi qua theo trình tự có trật tự các ngọn lửa nhiều màu khác nhau.

The great Triangles in their just arrangement hold hid the secret of the wheel of life. The cosmic fire radiates as directed from the second sphere, controlled by the Ruler of the merging ray. The cohorts of the third encircling sphere in varied ranks mark out the lesser threes.

Các Tam Giác lớn trong sự sắp xếp đúng đắn của chúng cất giấu bí mật của bánh xe sự sống. Lửa vũ trụ bức xạ theo sự chỉ đạo từ khối cầu thứ hai, được kiểm soát bởi chủ tinh của cung đang hòa nhập. Các đoàn quân của khối cầu bao quanh thứ ba trong những hàng ngũ khác nhau vạch ra các bộ ba nhỏ hơn.

The wheel of life still moves within the form. The devas of the fourth connect the thirty-five, and blend them with the central forty-nine. Above they work, seeking to merge the whole. Upward they strive, who in their myriad forms revolve within the wheels of lesser magnitude. The whole is one, yet on the lower spheres only the forms appear. They seem in their divisions more than can be grasped or met.

Bánh xe sự sống vẫn chuyển động bên trong hình tướng. Các thiên thần của cõi thứ tư kết nối ba mươi lăm, và hòa trộn chúng với bốn mươi chín trung tâm. Phía trên, họ hoạt động, tìm cách hòa nhập toàn thể. Hướng lên trên, họ nỗ lực, những vị đang quay trong vô số hình tướng của mình bên trong các bánh xe có tầm mức nhỏ hơn. Toàn thể là một, tuy nhiên trên các khối cầu thấp hơn chỉ các hình tướng xuất hiện. Trong các phân chia của chúng, chúng dường như nhiều hơn mức có thể nắm bắt hay đối diện.

The many circulate. The forms are built, become too firm, are broken by the life, and circulate again. The few revolve, holding the many in the heat of motion. The one embraces all, and carries all from great activity into the heart of cosmic peace.

Số nhiều tuần hoàn. Các hình tướng được xây dựng, trở nên quá vững chắc, bị sự sống phá vỡ, rồi lại tuần hoàn. Số ít quay vòng, giữ số nhiều trong sức nóng của chuyển động. Đấng duy nhất ôm trọn tất cả, và mang tất cả từ hoạt động lớn lao vào trái tim của bình an vũ trụ.

STANZA XII

BÀI KỆ XII

[Page 32]  The Blessed Ones hide Their threefold nature but reveal Their triple essence by means of the three great groups of atoms. Three are the atoms and threefold the radiation.

[Page 32]  Các Đấng Chân Phúc che giấu bản chất tam phân của Các Ngài nhưng biểu lộ tinh túy bộ ba của Các Ngài bằng ba nhóm nguyên tử lớn. Ba là các nguyên tử và bức xạ là tam phân.

The inner core of Fire hides itself and is known only through radiation and that which radiates. Only after the blaze dies out and the heat is no longer felt can the fire be known.

Lõi bên trong của Lửa tự ẩn mình và chỉ được biết qua bức xạ và điều đang bức xạ. Chỉ sau khi ngọn lửa tắt đi và sức nóng không còn được cảm nhận nữa thì lửa mới có thể được biết.

STANZA XIII

BÀI KỆ XIII

[Page 33]  Through the band of violet that encircleth the Heavens passeth the globe of purple dark. It passeth and returneth not. It becometh enrapt in the blue. Three times the blue enfoldeth, and when the cycle is completed the purple fadeth and is merged into the rose, and the path again is traversed.

[Page 33]  Xuyên qua dải tím đang bao quanh các cõi trời, bầu hành tinh tím sẫm đi qua. Nó đi qua và không quay lại. Nó trở nên ngây ngất trong màu lam. Ba lần màu lam bao bọc, và khi chu kỳ hoàn tất, màu tím phai đi và hòa nhập vào màu hồng, rồi con đường lại được đi qua.

Three the great colours in the cycle that counteth as the fourth, violet, blue and rose, with the basic purple in revolution.

Ba là những màu lớn trong chu kỳ được tính là thứ tư, tím, lam và hồng, với màu tím nền tảng trong vòng quay.

Four are the colours secondary in the cycle of discrimination in which the revolution taketh place. It is circled to the midmost point and somewhat passed. Yellow the band that cometh, orange the cloud that hideth, and green for vivification. Yet the time is not yet.

Bốn là những màu thứ yếu trong chu kỳ của sự phân biện, trong đó vòng quay diễn ra. Nó được quay đến điểm giữa nhất và vượt qua đôi chút. Vàng là dải đang đến, cam là đám mây đang che giấu, và xanh lục là để tiếp sinh lực. Tuy nhiên, thời điểm vẫn chưa đến.

Many the circling fires; many the revolving rounds, but only when the complementary colours recognise their source, and the whole adjusteth itself to the seven will be seen completion. Then will be seen each colour in adjustment right, and the cessation of revolution.

Nhiều là các ngọn lửa tuần hoàn; nhiều là các cuộc tuần hoàn quay vòng, nhưng chỉ khi các màu bổ sung nhận ra nguồn gốc của chúng, và toàn thể tự điều chỉnh theo số bảy thì sự hoàn tất mới được thấy. Khi ấy sẽ thấy mỗi màu trong sự điều chỉnh đúng đắn, và sự chấm dứt của vòng quay.

SECTION ONE. The Internal Fires – Fire by Friction

PHẦN MỘT. Các Lửa Nội Tại – Lửa ma sát

INTRODUCTORY REMARKS

NHỮNG NHẬN XÉT MỞ ĐẦU

I. Fire in the Macrocosm.

I. Lửa trong Đại thiên địa.

II. Fire in the Microcosm.

II. Lửa trong Tiểu thiên địa.

III. Fire in manifestation.

III. Lửa trong biểu hiện.

[Page 37]  We purpose in these few introductory remarks to lay down the foundation for a ‘Treatise on Cosmic Fire,’ and to consider the subject of fire both macrocosmically and microcosmically, thus dealing with it from the standpoint of the solar system, and of a human being. This will necessitate some preliminary technicalities which may seem at first perusal to be somewhat abstruse and complicated but which, when meditated upon and studied, may eventually prove illuminating and of an elucidating nature, and which also, when the mind has familiarised itself with some of the details, may come to be regarded as providing a logical hypothesis concerning the nature and origin of energy. We have elsewhere, in an earlier book, touched somewhat upon this matter, but we desire to recapitulate and in so doing to enlarge, thus laying down a broad foundation upon which the subject matter can be built up, and providing a general outline which will serve to show the limits of our discussion.

[Page 37]  Trong vài nhận xét mở đầu này, chúng tôi dự định đặt nền tảng cho một ‘Luận về Lửa Vũ Trụ’, và xem xét chủ đề lửa cả theo phương diện đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa, như vậy bàn đến nó từ quan điểm của hệ mặt trời và của một con người. Điều này sẽ đòi hỏi một số điểm kỹ thuật sơ bộ, thoạt đọc có vẻ phần nào khó hiểu và phức tạp, nhưng khi được tham thiền và nghiên cứu, cuối cùng có thể chứng tỏ là soi sáng và có tính chất làm sáng tỏ; đồng thời, khi thể trí đã làm quen với một số chi tiết, chúng có thể được xem như cung cấp một giả thuyết hợp lý liên quan đến bản chất và nguồn gốc của năng lượng. Ở nơi khác, trong một quyển sách trước đây, chúng tôi đã phần nào đề cập đến vấn đề này, nhưng chúng tôi muốn tóm lược lại và khi làm như vậy sẽ mở rộng thêm, nhờ đó đặt ra một nền tảng rộng lớn để nội dung chủ đề có thể được xây dựng lên, đồng thời cung cấp một đại cương tổng quát nhằm cho thấy các giới hạn của cuộc bàn luận của chúng tôi.

Let us, therefore, look at the subject macrocosmically and then trace the correspondence in the microcosm, or human being.

Vì vậy, trước hết chúng ta hãy xem xét chủ đề theo phương diện đại thiên địa rồi truy tìm sự tương ứng trong tiểu thiên địa, hay con người.

I. FIRE IN THE MACROCOSM

I. LỬA TRONG ĐẠI THIÊN ĐỊA

In its essential nature Fire is threefold, but when in manifestation it can be seen as a fivefold demonstration, and be defined as follows: [Page 38]

Trong bản chất cốt yếu của nó, Lửa là tam phân, nhưng khi ở trong biểu hiện, nó có thể được thấy như một biểu lộ ngũ phân, và được định nghĩa như sau: [Page 38]

1. Fire by friction, or internal vitalising fire. These fires animate and vitalise the objective solar system. They are the sumtotal of logoic kundalini, when in full systemic activity.

1. Lửa ma sát, hay lửa tiếp sinh lực nội tại. Những ngọn lửa này làm linh hoạt và tiếp sinh lực cho hệ mặt trời khách quan. Chúng là tổng thể kundalini Thượng đế, khi ở trong hoạt động hệ thống trọn vẹn.

2. Solar Fire, or cosmic mental fire. This is that portion of the cosmic mental plane which goes to the animation of the mental body of the Logos. This fire may be regarded as the sumtotal of the sparks of mind, the fires of the mental bodies and the animating principle of the evolving units of the human race in the three worlds.

2. Lửa Thái dương, hay lửa trí tuệ vũ trụ. Đây là phần của cõi trí vũ trụ dùng để làm linh hoạt thể trí của Logos. Lửa này có thể được xem như tổng thể của các tia lửa trí tuệ, các ngọn lửa của các thể trí và nguyên khí làm linh hoạt của các đơn vị đang tiến hóa của nhân loại trong ba cõi thấp.

3. Electric Fire, or the logoic Flame Divine. This flame is the distinguishing mark of our Logos, and it is that which differentiates Him from all other Logoi; it is His dominant characteristic, and the sign of His place in cosmic evolution.

3. Lửa Điện, hay Ngọn Lửa Thiêng Thượng đế. Ngọn lửa này là dấu hiệu phân biệt của Logos của chúng ta, và chính nó phân biệt Ngài với tất cả các Logoi khác; đó là đặc tính trội vượt của Ngài, và là dấu hiệu về vị trí của Ngài trong tiến hóa vũ trụ.

This threefold fire may be expressed in ray terms as follows:

Lửa tam phân này có thể được diễn tả theo các thuật ngữ cung như sau:

First, we have the animating fires of the solar system, which are the fires of the primordial ray of active intelligent matter; these constitute the energy of Brahma, the third aspect of the Logos. Next are to be found the fires of the divine Ray of Love-Wisdom, the ray of intelligent love, which constitutes the energy of the Vishnu aspect, the second aspect logoic. (4) Finally are to be found [Page 39] the fires of the cosmic mental plane, which are the fires of the cosmic ray of will. They might be described as the rays of intelligent will and are the manifestation of the first aspect logoic, the Mahadeva aspect.(5) Therefore we have three cosmic rays manifesting:

Trước hết, chúng ta có các ngọn lửa làm linh hoạt của hệ mặt trời, là những ngọn lửa của cung nguyên sơ của vật chất hoạt động thông tuệ; chúng cấu thành năng lượng của Brahma, phương diện thứ ba của Logos. Kế đến là các ngọn lửa của Cung thiêng liêng Bác Ái – Minh Triết, cung của tình thương thông tuệ, cấu thành năng lượng của phương diện Vishnu, phương diện Thượng đế thứ hai. (4)Sau cùng là [Page 39] các ngọn lửa của cõi trí vũ trụ, là những ngọn lửa của cung vũ trụ của ý chí. Chúng có thể được mô tả như các cung của ý chí thông tuệ và là biểu hiện của phương diện Thượng đế thứ nhất, phương diện Mahadeva.(5) Vì vậy chúng ta có ba cung vũ trụ đang biểu hiện:

(4) “That whereinto all enter, vishanti, is Vishnu; he who covers up, envelopes, surrounds, undertakes all, is Brahma; he who sleeps, shete, in everything, is Shiva. Shiva sleeps, lies hidden, in all and everything as the nexus, the bond, and this is the nature of desire. Vrinite signifies the envelopment, the covering with an envelope, the demarcation of the limiting bounds or the periphery, and so the formation or creation (of all forms); and this is action presided over by Brahma. Vishanti sarvani indicates that all things enter into It and It into all, and such is the Self, connected with cognition and Vishnu. The summation or totality of these is Maha-Vishnu.

(4) “Cái mà mọi sự đi vào, vishanti, là Vishnu; đấng che phủ, bao bọc, vây quanh, đảm nhận mọi sự, là Brahma; đấng ngủ, shete, trong mọi sự, là Shiva. Shiva ngủ, ẩn tàng, trong mọi sự và mọi vật như mối nối, mối ràng buộc, và đó là bản chất của dục vọng. Vrinite có nghĩa là sự bao bọc, sự phủ bằng một lớp vỏ, sự phân định các giới hạn hay chu vi, và như vậy là sự hình thành hay sáng tạo (của mọi hình tướng); và đây là hành động do Brahma chủ trì. Vishanti sarvani chỉ rằng mọi sự đi vào Nó và Nó đi vào mọi sự, và đó là Bản Ngã, liên kết với nhận thức và Vishnu. Sự tổng hợp hay toàn thể của những điều này là Maha-Vishnu.

“Maha-Vishnu, ‘the overlord of all this world-system, is described as the Ishvara, white-coloured, four-armed, adorned with the conch, the discus, the mace, the lotus, the forest-wreath, and the kanstubha-gem, shining, vestured in blue and yellow, endless and imperishable in form, attributeless, yet ensouling and underlying all attributes. Here, the epithet Ishvara indicates the rule; the four arms, the four activities of cognition, etc.; the white resplendence is the illumination of all things; the shankha, conch or shell, indicates all sound, and the chakra, wheel or discus, all time, there being a connexion between the two; gada, the (whirling) mace, is the spiral method of the procession of the world and the lotus-flower is the whole of that procession; the vana-mala, the wreath of forest flowers, indicates the stringing together of all things into unity and necessity; the nila-pit-ambara, blue and yellow vestures, are darkness and light; the kaustubha jewel indicates inseparable connexion with all; Nirguna, attributeless, shows the presence of the nature of Negation; while saguna, attributeful, implies possession of name and form. The World-process (as embodied in our world-system) is the result of the ideation of Maha-Vishnu.”—Pranava-Vada, pp. 72-74, 94-95. (back)

“Maha-Vishnu, ‘vị chúa tể tối cao của toàn bộ hệ thống thế giới này, được mô tả là Ishvara, màu trắng, bốn tay, được trang sức bằng vỏ ốc, đĩa, chùy, hoa sen, vòng hoa rừng, và ngọc màu kanstubha, sáng chói, mặc y phục xanh và vàng, vô tận và bất hoại trong hình tướng, vô thuộc tính, nhưng phú linh và làm nền cho mọi thuộc tính. Ở đây, danh xưng Ishvara chỉ quyền cai quản; bốn cánh tay, bốn hoạt động của nhận thức, v.v.; sự rực sáng trắng là sự soi sáng của mọi sự; shankha, vỏ ốc hay vỏ sò, chỉ mọi âm thanh, và chakra, bánh xe hay đĩa, chỉ mọi thời gian, vì có một mối liên hệ giữa hai điều ấy; gada, cây chùy (xoay tròn), là phương pháp xoắn ốc của tiến trình thế giới và hoa sen là toàn bộ tiến trình ấy; vana-mala, vòng hoa rừng, chỉ sự kết chuỗi mọi sự thành hợp nhất và tất yếu; y phục nila-pit-ambara, xanh và vàng, là bóng tối và ánh sáng; ngọc kaustubha chỉ mối liên hệ bất khả phân với mọi sự; Nirguna, vô thuộc tính, cho thấy sự hiện diện của bản chất Phủ định; trong khi saguna, hữu thuộc tính, hàm ý sự sở hữu danh và sắc. Tiến trình Thế giới (như được thể hiện trong hệ thống thế giới của chúng ta) là kết quả của ý niệm hóa của Maha-Vishnu.”—Pranava-Vada, tr. 72-74, 94-95. (trở lại)

(5) Mahadeva is literally “great Deva.” The term is frequently applied to the first Person of the manifested Trinity, to Shiva, the Destroyer aspect, the Creator. (back)

(5) Mahadeva theo nghĩa đen là “đại Deva.” Thuật ngữ này thường được áp dụng cho Ngôi thứ nhất của Tam Vị biểu hiện, cho Shiva, phương diện Hủy Diệt, Đấng Sáng Tạo. (trở lại)

The Ray of intelligent activity. This is a ray of a very demonstrable glory, and of a higher point of development than the other two, being the product of an earlier mahakalpa, or a previous solar system. (6) It embodies [Page 40] the basic vibration of this solar system, and is its great internal fire, animating and vitalising the whole, and penetrating from the centre to the periphery. It is the cause of rotary motion, and therefore of the spheroidal form of all that exists.

Cung của hoạt động thông tuệ. Đây là một cung có vinh quang rất hiển nhiên, và ở một điểm phát triển cao hơn hai cung kia, vì là sản phẩm của một mahakalpa sớm hơn, hay một hệ mặt trời trước đây. (6) Nó thể hiện [Page 40] rung động căn bản của hệ mặt trời này, và là lửa nội tại lớn lao của nó, làm linh hoạt và tiếp sinh lực cho toàn thể, đồng thời xuyên thấu từ trung tâm đến chu vi. Nó là nguyên nhân của chuyển động xoay tròn, và do đó của hình cầu của mọi cái đang hiện hữu.

(6) “One day out of this long life of Brahma is called Kalpa; and a Kalpa is that portion of time which intervenes between one conjunction of all the planets on the horizon of Lanka, at the first point of Aries, and a subsequent similar conjunction. A Kalpa embraces the reign of fourteen Manus, and their sandhies (intervals); each Manu lying between two sandhies. Every Manu’s rule contains seventy-one Maha Yugas,—each Maha Yuga consists of four Yugas, viz., Krita, Treta, Dwapara, and Kali; and the length of each of these four Yugas is respectively as the numbers, 4, 3, 2 and 1.

(6) “Một ngày trong cuộc đời dài lâu này của Brahma được gọi là Kalpa; và một Kalpa là khoảng thời gian xen giữa một lần đồng vị của tất cả các hành tinh trên chân trời Lanka, tại điểm đầu tiên của Bạch Dương, và một lần đồng vị tương tự về sau. Một Kalpa bao gồm triều đại của mười bốn Manu, và các sandhi của các ngài (các khoảng gián đoạn); mỗi Manu nằm giữa hai sandhi. Sự cai quản của mỗi Manu gồm bảy mươi mốt Maha Yuga,—mỗi Maha Yuga gồm bốn Yuga, tức Krita, Treta, Dwapara, và Kali; và độ dài của mỗi Yuga trong bốn Yuga này lần lượt theo các số 4, 3, 2 và 1.

The number of sidereal years embraced in the foregoing different periods are as follows:

Số năm tinh tú bao gồm trong các thời kỳ khác nhau nói trên như sau:

Mortal years

360 days of mortals make a year

1

Krita Yuga contains

1,728,000

Treta Yuga contains

1,296,000

Dwapara Yuga contains

864,000

Kali Yuga contains

432,000

The total of the said four Yugas constitute a Maha Yuga

4,320,000

Seventy-one of such Maha Yugas form the period

of the reign of one Manu

306,720,000

The reign of 14 Manus embraces the duration of 994

Maha Yugas, which is equal to

4,294,080,000

Add Sandhis, i.e., intervals between the reign of each

Manu, which amount to 6 Maha Yugas, equal to

25,920,000

The total of these reigns and interregnums of 14

Manus, is 1,000 Maha Yugas, which constitute

a Kalpa, i.e., one day of Brahma, equal to

4,320,000,000

As Brahma’s night is of equal duration,

one day and night of Brahma will contain

8,640,000,000

360 of such days and nights make one year

of Brahma, equal to

3,110,400,000.000

100 of such years constitute the whole period

of Brahma’s age, i.e., Maha Kalpa

311,040,000,000,000

That these figures are not fanciful, but are founded upon astronomical facts, has been demonstrated by Mr. Davis, in an essay in the Asiatic Researches; and this receives further corroboration from the geological investigations and calculations made by Dr. Hunt, formerly President of the Anthropological Society, and also in some respects from the researches made by Professor Huxley.

Rằng các con số này không phải là tưởng tượng, mà dựa trên các sự kiện thiên văn, đã được ông Davis chứng minh trong một tiểu luận đăng trong Asiatic Researches; và điều này còn được xác nhận thêm bởi các khảo cứu và tính toán địa chất của Tiến sĩ Hunt, nguyên Chủ tịch Hội Nhân chủng học, và cũng phần nào bởi các nghiên cứu của Giáo sư Huxley.

Great as the period of the Maha Kalpa seems to be, we are assured that thousands and thousands of millions of such Maha Kalpas have passed, and as many more are yet to come. (Vide Brahma-Vaivarta and Bhavishyre Puranas; and Linga Purana, ch. 171, verse 107, &c.) and this in plain language means that the Time past is infinite and the Time to come is equally infinite. The Universe is formed, dissolved, and reproduced, in an indeterminate succession (Bhagavata-gita, VIII, 19).”—The Theosophist, Vol. VII, p. 115.5. (back)

Dù thời kỳ của Maha Kalpa có vẻ lớn lao đến đâu, chúng ta vẫn được bảo đảm rằng hàng ngàn và hàng ngàn triệu Maha Kalpa như thế đã trôi qua, và cũng còn bấy nhiêu nữa sẽ đến. (Xem Brahma-Vaivarta và Bhavishyre Purana; và Linga Purana, ch. 171, câu 107, v.v.) và điều này, nói một cách đơn giản, có nghĩa là Thời gian đã qua là vô hạn và Thời gian sắp đến cũng vô hạn như vậy. Vũ trụ được hình thành, tan rã, và tái tạo, trong một chuỗi tiếp nối bất định (Bhagavata-gita, VIII, 19).”—The Theosophist, Tập VII, tr. 115.5. (trở lại)

The Ray of intelligent love. This is the ray which embodies the highest vibration of which our solar Logos or Deity is capable in this present solar system. It is not yet vibrating adequately nor has it yet attained the peak of its activity. It is the basis of the cyclic spiral movement of the body logoic, and just as the Law of Economy is the law governing the internal fires of the system so the cosmic Law of Attraction and Repulsion is the basic law of this divine Ray.

Cung của tình thương thông tuệ. Đây là cung thể hiện rung động cao nhất mà Thái dương Thượng đế hay Thượng đế của chúng ta có khả năng đạt được trong hệ mặt trời hiện tại này. Nó vẫn chưa rung động đầy đủ, cũng chưa đạt đến đỉnh cao hoạt động của nó. Nó là nền tảng của chuyển động xoắn ốc theo chu kỳ của thể Thượng đế, và cũng như Định luật Tiết Kiệm là định luật chi phối các lửa nội tại của hệ thống, thì Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi vũ trụ là định luật căn bản của Cung thiêng liêng này.

The Ray of intelligent will. Little as yet can be said about this ray. It is the ray of cosmic mind and in its evolution parallels that of cosmic love, but as yet its vibration is slower and its development more retarded. This is definitely and deliberately so, and is due to the underlying purpose and choice of the solar Logos, Who seeks on His high level (just as do His reflections, the sons of men) to achieve a more rounded out development, [Page 41] and He therefore concentrates on the development of cosmic love in this greater cycle.

Cung của ý chí thông tuệ. Hiện nay còn rất ít điều có thể được nói về cung này. Đây là cung của trí tuệ vũ trụ và trong tiến hóa của nó song hành với tiến hóa của tình thương vũ trụ, nhưng hiện nay rung động của nó còn chậm hơn và sự phát triển của nó còn bị trì hoãn hơn. Điều này rõ ràng và có chủ ý là như vậy, và là do mục đích nền tảng cùng sự lựa chọn của Thái dương Thượng đế, Đấng tìm cách trên cấp độ cao của Ngài (cũng như các phản chiếu của Ngài, những người con của nhân loại, đang làm) đạt được một sự phát triển viên mãn hơn, [Page 41] và vì vậy Ngài tập trung vào sự phát triển của tình thương vũ trụ trong chu kỳ lớn hơn này.

This ray is governed by the Law of Synthesis, and is the basis of the systemic movement which may be best described as that of driving forward through space, or forward progression. Little can be predicated anent this ray and its expression. It controls the movements of the entire ring-pass-not in connection with its cosmic centre. (7)

Cung này được chi phối bởi Định luật Tổng Hợp, và là nền tảng của chuyển động hệ thống có thể được mô tả đúng nhất như là sự lao tới xuyên qua không gian, hay sự tiến triển về phía trước. Còn rất ít điều có thể được khẳng định liên quan đến cung này và biểu hiện của nó. Nó kiểm soát các chuyển động của toàn bộ vòng-giới-hạn trong mối liên hệ với trung tâm vũ trụ của nó. (7)

(7) The term “ring-pass-not” is used in occult literature to denote the periphery of the sphere of influence of any central life force, and is applied equally to all atoms, from the atom of matter as dealt with by the physicist or chemist through the human and planetary atoms up to the great atom of a solar system. The ring-pass-not of the average human being is the spheroidal form of his mental body which extends considerably beyond the physical and enables him to function on the lower levels of the mental plane. (back)

(7) Thuật ngữ “vòng-giới-hạn” được dùng trong văn liệu huyền bí học để chỉ chu vi của khối cầu ảnh hưởng của bất kỳ mãnh lực sự sống trung tâm nào, và được áp dụng đồng đều cho mọi nguyên tử, từ nguyên tử vật chất như nhà vật lý hay nhà hoá học đề cập đến, xuyên qua các nguyên tử nhân loại và hành tinh, cho đến đại nguyên tử của một hệ mặt trời. Vòng-giới-hạn của con người trung bình là hình cầu noãn của thể trí của y, mở rộng khá xa vượt ra ngoài thể xác và giúp y hoạt động trên các cấp thấp của cõi trí. (back)

The tabulation on page 42 may make the above ideas somewhat clearer.

Bảng liệt kê ở trang 42 có thể làm cho các ý tưởng trên phần nào rõ ràng hơn.

These three expressions of the divine Life may be regarded as expressing the triple mode of manifestation. First, the objective or tangible universe; second, the subjective worlds or form; and thirdly, the spiritual aspect which is to be found at the heart of all. (8) The internal fires that animate and vitalise shew themselves in a twofold manner: [Page 42]

Ba biểu hiện này của Sự sống thiêng liêng có thể được xem như biểu lộ phương thức biểu hiện tam phân. Thứ nhất, vũ trụ khách quan hay hữu hình; thứ hai, các thế giới chủ quan hay hình tướng; và thứ ba, phương diện tinh thần được tìm thấy nơi trung tâm của tất cả. (8) Các lửa nội tại làm sinh động và tiếp sinh lực biểu lộ theo cách nhị phân: [Page 42]

(8) 1. The Primordial is the Ray and the direct emanation of the Sacred Four. S. D, I, 115, 116.

(8) 1. Cái Nguyên Sơ là cung và là sự phát xạ trực tiếp của Bộ Bốn Thiêng Liêng. S. D, I, 115, 116.

The Sacred Four are:

Bộ Bốn Thiêng Liêng là:

Unity

Hợp nhất

a. Father… Mahadeva…1st Logos… Will… Spirit.

a. Cha… Mahadeva… Logos 1… Ý chí… Tinh thần.

Duality

Nhị nguyên tính

b. Son… Vishnu…2nd Logos… Love-Wisdom.

b. Con… Vishnu… Logos 2… Bác Ái – Minh Triết.

Trinity

Ba Ngôi

c. Mother… Brahma… 3rd Logos… Intelligent activity.

c. Mẹ… Brahma… Logos 3… Hoạt động thông tuệ.

Sacred Four

Bộ Bốn Thiêng Liêng

d. The united manifestation of the three—Macrocosm.

d. Biểu hiện hợp nhất của ba Đấng—Đại thiên địa.

2. The manifested Quaternary and the seven Builders proceed from the Mother.—S. D., I, 402.

2. Bộ Bốn biểu hiện và bảy đấng kiến tạo phát xuất từ Mẹ.—S. D., I, 402.

a. The seven Builders are the Manasaputras, the Mind-born sons of Brahma, the third aspect. S. D., III, 540.

a. Bảy đấng kiến tạo là các Manasaputras, các con sinh ra từ Trí của Brahma, phương diện thứ ba. S. D., III, 540.

b. They come into manifestation to develop the second aspect.

b. Các Ngài đi vào biểu hiện để phát triển phương diện thứ hai.

S. D., I., 108.

S. D., I., 108.

c. Their method is objectivity.

c. Phương pháp của Các Ngài là tính khách quan.

3. The re-awakened Energies sprang into space.

3. Các Năng Lượng được đánh thức trở lại phóng vào không gian.

a. They are the veiled synthesis. S. D., I, 362

a. Chúng là tổng hợp được che giấu. S. D., I, 362

b. They are the totality of manifestation. S. D., I, 470

b. Chúng là toàn thể biểu hiện. S. D., I, 470

c. They are pre-cosmic. S. D., I, 152, 470. (back)

c. Chúng là tiền vũ trụ. S. D., I, 152, 470. (back)

TABULATION I.

BẢNG LIỆT KÊ I.

Fire

Ray

Aspect

Expression

Law

Quality

1.

Internal

Primordial

Intelligent Activity

Rotary motion

Economy

Fire by friction

2.

Of Mind

Love

Intelligent Love

Spiral Cyclic motion

Attraction

Solar Fire.

3.

Divine Flame

Will

Intelligent Will.

Forward Progression

Synthesis

Electric Fire.

[Page 43]  First as latent heat. This is the basis of rotary motion and the cause of the spheroidal coherent manifestation of all existence, from the logoic atom, the solar ring-pass-not, down to the minutest atom of the chemist or physicist.

[Page 43]  Thứ nhất nhưnhiệt tiềm ẩn. Đây là nền tảng của chuyển động quay và là nguyên nhân của biểu hiện hình cầu kết hợp của mọi hiện hữu, từ nguyên tử logoi, vòng-giới-hạn mặt trời, xuống đến nguyên tử nhỏ nhất của nhà hoá học hay nhà vật lý.

Second, as active heat. This results in the activity and the driving forward of material evolution. On the highest plane the combination of these three factors (active heat, latent heat and the primordial substance which they animate) is known as the ‘sea of fire,’ of which akasha is the first differentiation of pregenetic matter. Akasha, in manifestation, expresses itself as Fohat, or divine Energy, and Fohat on the different planes is known as aether, air, fire, water, electricity, ether, prana and similar terms.(9),(10), (11) It is the sumtotal [Page 44] of that which is active, animated, or vitalized, and of all that concerns itself with the adaptation of the form to the needs of the inner flame of life.

Thứ hai, như nhiệt hoạt động. Điều này dẫn đến hoạt động và sự thúc đẩy tiến lên của tiến hoá vật chất. Trên cõi cao nhất, sự kết hợp của ba yếu tố này (nhiệt hoạt động, nhiệt tiềm ẩn và chất liệu nguyên sơ mà chúng làm sinh động) được gọi là “biển lửa”, trong đó akasha là sự biến phân đầu tiên của vật chất tiền sinh thành. Akasha, trong biểu hiện, tự biểu lộ như Fohat, hay Năng lượng thiêng liêng, và Fohat trên các cõi khác nhau được biết đến như aether, không khí, lửa, nước, điện, dĩ thái, prana và các thuật ngữ tương tự. (9), (10), (11) Nó là tổng thể [Page 44] của tất cả những gì hoạt động, được làm sinh động, hay được tiếp sinh lực, và của mọi điều liên quan đến việc thích ứng hình tướng với các nhu cầu của ngọn lửa sự sống bên trong.

(10) H. P. B., defines the Akasha in the following terms: S. D., II, 538. “Akasha the astral Light can be defined in a few words: It is the Universal soul, the Matrix of the Universe, the Mysterium Magicum from which all that exists is born by separation or differentiation. In the various occult books it is called by different terms and it would be of value perhaps if we enumerate some of them here: There is one universal element with its differentiations.

(10) H. P. B. định nghĩa Akasha theo các thuật ngữ sau đây: S. D., II, 538. “Akasha, Ánh sáng cảm dục, có thể được định nghĩa bằng vài lời: Nó là đại hồn Vũ trụ, Mẫu thể của Vũ trụ, Mysterium Magicum mà từ đó mọi cái hiện hữu được sinh ra bằng sự phân ly hay biến phân. Trong các sách huyền bí học khác nhau, nó được gọi bằng những thuật ngữ khác nhau, và có lẽ sẽ hữu ích nếu chúng ta liệt kê một số thuật ngữ ấy ở đây: Có một nguyên tố vũ trụ duy nhất với các biến phân của nó.

Homogeneous

Differentiated.

1.

Undifferentiated cosmic substance

1.

Astral Light.

2.

Primordial ether

2.

Sea of fire.

3.

Primordial electric entity

3.

Electricity.

4.

Akasha

4.

Prakriti.

5.

Super-astral light

5.

Atomic matter.

6.

Fiery serpent

6.

The serpent of evil.

7.

Mulaprakriti

7.

Ether, with its four divisions, air, fire, water, earth. “

8.

Pregenetic matter.

(back)

(back)

(11) Fohat is divine thought or energy (Shakti) as manifested on any plane of the cosmos. It is the interplay between Spirit and matter. The seven differentiations of Fohat are:

(11) Fohat là tư tưởng hay năng lượng thiêng liêng (Shakti) như được biểu lộ trên bất kỳ cõi nào của vũ trụ. Nó là sự tương tác giữa tinh thần và vật chất. Bảy biến phân của Fohat là:

1.

The Plane of divine life

Adi

Sea of fire.

2.

The Plane of monadic life

Anupadaka

Akasha.

3.

The Plane of Spirit

Atma

Aether.

4.

The Plane of the intuition

Buddhi

Air.

5.

The Plane of mind

Mental

Fire.

6.

The Plane of desire

Astral

Astral Light.

7.

The Plane of density

Physical

Ether.

—S. D. I, 105, 134, 135, 136. (back)

—S. D. I, 105, 134, 135, 136. (back)

It might here be useful to point out that magnetism is the effect of the divine ray in manifestation in the same sense that electricity is the manifested effect of the primordial ray of active intelligence. It would be well to ponder on this for it holds hid a mystery.

Ở đây có lẽ hữu ích khi chỉ ra rằng từ điện là hiệu quả của tia thiêng liêng trong biểu hiện cũng theo cùng ý nghĩa như điện là hiệu quả biểu hiện của tia nguyên sơ của thông tuệ hoạt động. Sẽ là điều tốt nếu suy ngẫm về điều này vì trong đó ẩn giấu một huyền nhiệm.

The fires of the mental plane also demonstrate in a twofold manner:

Các lửa của cõi trí cũng biểu lộ theo cách nhị phân:

First, as the Fire of Mind, the basis of all expression and in one peculiar occult sense the sumtotal of existence. It provides the relation between the life and the form, between spirit and matter, and is the basis of consciousness itself.

Thứ nhất, như Lửa của Trí Tuệ, nền tảng của mọi biểu lộ và theo một ý nghĩa huyền bí đặc biệt là tổng thể của hiện hữu. Nó cung cấp mối liên hệ giữa sự sống và hình tướng, giữa tinh thần và vật chất, và là nền tảng của chính tâm thức.

Second, as the Elementals of Fire, or the sumtotal of the active expression of thought, showing itself through the medium of those entities who, in their very essence, are fire itself.

Thứ hai, như các hành khí của lửa, hay tổng thể của biểu lộ hoạt động của tư tưởng, tự cho thấy qua trung gian của những thực thể mà trong chính bản chất của chúng là lửa.

These dualities of expression make the four necessary factors in the logoic quaternary, (12) or the lower nature of the Logos viewing His manifestation from one esoteric angle; exoterically, they are the sumtotal of the logoic quaternary, plus the logoic fifth principle, cosmic mind.

Các nhị nguyên tính biểu lộ này tạo nên bốn yếu tố cần thiết trong bộ bốn logoi, (12) hay bản chất thấp của Logos khi nhìn biểu hiện của Ngài từ một góc độ huyền bí; theo ngoại môn, chúng là tổng thể của bộ bốn logoi, cộng với nguyên khí thứ năm của logoi, trí tuệ vũ trụ.

(12) The quaternary is composed of the four lower principles and the sheaths through which they manifest as a coherent unit, being held together during manifestation by the life force of the indwelling entity. (back)

(12) Bộ bốn được cấu thành bởi bốn nguyên khí thấp và các vỏ bọc qua đó chúng biểu lộ như một đơn vị kết hợp, được giữ lại với nhau trong thời kỳ biểu hiện bởi mãnh lực sự sống của thực thể nội tại. (back)

The divine spark does not as yet manifest (as do the other two fires) as a duality, though what lies hidden in a later cycle, evolution alone will disclose. This third fire, along with the other two, make the necessary five of logoic evolutionary development and by its perfected merging with the other two fires as the evolutionary process proceeds is seen the goal of logoic attainment for this greater cycle or period of this solar system.

Tia lửa thiêng liêng chưa biểu lộ (như hai lửa kia) thành một nhị nguyên tính, dù điều gì ẩn giấu trong một chu kỳ sau này thì chỉ có tiến hoá mới tiết lộ. Lửa thứ ba này, cùng với hai lửa kia, tạo nên bộ năm cần thiết của sự phát triển tiến hoá logoi, và qua sự hoà nhập hoàn hảo của nó với hai lửa kia khi tiến trình tiến hoá tiếp diễn, mục tiêu thành tựu logoi cho đại chu kỳ này hay thời kỳ này của hệ mặt trời được thấy rõ.

[Page 45]  When the primordial ray of intelligent activity, the divine ray of intelligent love, and the third cosmic ray of intelligent will meet, blend, merge, and blaze forth, the Logos will take His fifth initiation, thus completing one of His cycles. When the rotary, the forward, and the spiral cyclic movements are working in perfect synthesis then the desired vibration will have been reached. When the three Laws of Economy, of Attraction, and of Synthesis work with perfect adjustment to each other, then nature will perfectly display the needed functioning, and the correct adaptation of the material form to the indwelling spirit, of matter to life, and of consciousness to its vehicle.

[Page 45]  Khi tia nguyên sơ của hoạt động thông tuệ, tia thiêng liêng của bác ái thông tuệ, và tia vũ trụ thứ ba của ý chí thông tuệ gặp nhau, hòa trộn, hợp nhất và bùng cháy rực lên, Logos sẽ nhận lần điểm đạo thứ năm của Ngài, nhờ đó hoàn tất một trong các chu kỳ của Ngài. Khi các chuyển động quay, tiến tới và xoắn ốc tuần hoàn hoạt động trong sự tổng hợp hoàn hảo, thì rung động mong muốn sẽ đạt được. Khi ba Định luật Tiết Kiệm, Hấp Dẫn và Tổng Hợp hoạt động trong sự điều chỉnh hoàn hảo với nhau, thì bản chất sẽ biểu lộ một cách hoàn hảo sự vận hành cần thiết, và sự thích ứng đúng đắn của hình tướng vật chất với tinh thần nội tại, của vật chất với sự sống, và của tâm thức với vận cụ của nó.

II. FIRE IN THE MICROCOSM

II. LỬA TRONG TIỂU THIÊN ĐỊA

Let us briefly consider therefore the correspondence between the greater whole and the unit man and then block out our subject in detail and consider the sections into which it will be wise to divide it.

Vì vậy, chúng ta hãy ngắn gọn xem xét sự tương ứng giữa toàn thể lớn lao hơn và đơn vị con người, rồi phác thảo chủ đề của chúng ta một cách chi tiết và xem xét các phần mà sẽ là khôn ngoan nếu chia nó ra.

Fire in the Microcosm is likewise threefold in essence and fivefold in manifestation.

Lửa trong Tiểu thiên địa cũng tam phân trong bản chất và ngũ phân trong biểu hiện.

1. There is Internal Vitalising Fire, which is the correspondence to fire by friction. This is the sumtotal of individual kundalini; it animates the corporeal frame and demonstrates also in the twofold manner:

1. Có Lửa Tiếp Sinh Lực Nội Tại, là sự tương ứng với lửa ma sát. Đây là tổng thể của kundalini cá nhân; nó làm sinh động khung thể xác và cũng biểu lộ theo cách nhị phân:

First, as latent heat which is the basis of life of the spheroidal cell, or atom, and of its rotary adjustment to all other cells.

Thứ nhất, như nhiệt tiềm ẩn là nền tảng của sự sống của tế bào hay nguyên tử hình cầu, và của sự điều chỉnh quay của nó với mọi tế bào khác.

Second, as active heat or prana; this animates all, and is the driving force of the evolving form. It shows itself in the four ethers and in the gaseous state, and a correspondence is here found on the physical plane in connection with man to the Akasha and its fivefold manifestation on the plane of the solar system.

Thứ hai, như nhiệt hoạt động hay prana; điều này làm sinh động tất cả, và là động lực của hình tướng đang tiến hoá. Nó tự biểu lộ trong bốn dĩ thái và trong trạng thái khí, và ở đây tìm thấy một sự tương ứng trên cõi hồng trần liên quan đến con người với Akasha và biểu hiện ngũ phân của nó trên cõi của hệ mặt trời.

This fire is the basic vibration of the little system in which the monad or human spirit is the logos, and it [Page 46] holds the personality or lower material man in objective manifestation thus permitting the spiritual unit to contact the plane of densest matter. It has its correspondence in the ray of intelligent activity and is controlled by the Law of Economy in one of its subdivisions, the Law of Adaptation in Time.

Lửa này là rung động căn bản của tiểu hệ trong đó chân thần hay tinh thần con người là logos, và nó [Page 46] giữ phàm ngã hay phàm nhân vật chất thấp trong biểu hiện khách quan, nhờ đó cho phép đơn vị tinh thần tiếp xúc với cõi vật chất đậm đặc nhất. Nó có sự tương ứng trong tia hoạt động thông tuệ và được kiểm soát bởi Định luật Tiết Kiệm trong một trong các phân bộ của nó, Định luật Thích Ứng trong Thời Gian.

2. There is next the Fire or Spark of Mind which is the correspondence in man to solar fire. This constitutes the thinking self-conscious unit or the soul. This fire of mind is governed by the Law of Attraction as is its greater correspondence. Later we can enlarge on this. It is this spark of mind in man, manifesting as spiral cyclic activity, which leads to expansion and to his eventual return to the centre of his system, the Monad—the origin and goal for the reincarnating Jiva or human being. As in the macrocosm this fire also manifests in a twofold manner.

2. Kế đến là Lửa hay Tia Lửa của Trí Tuệ là sự tương ứng nơi con người với lửa thái dương. Điều này cấu thành đơn vị tư duy có ngã thức hay linh hồn. Lửa của trí tuệ này được chi phối bởi Định luật Hấp Dẫn cũng như sự tương ứng lớn hơn của nó. Sau này chúng ta có thể khai triển thêm về điều này. Chính tia lửa của trí tuệ này nơi con người, biểu lộ như hoạt động xoắn ốc tuần hoàn, dẫn đến sự mở rộng và đến sự trở về sau cùng của y với trung tâm của hệ thống của y, Chân thần—nguồn gốc và mục tiêu của Jiva hay con người tái sinh. Cũng như trong đại thiên địa, lửa này cũng biểu lộ theo cách nhị phân.

It shows as that intelligent will which links the Monad or spirit with its lowest point of contact, the personality, functioning through a physical vehicle.

Nó biểu lộ như ý chí thông tuệ liên kết Chân thần hay tinh thần với điểm tiếp xúc thấp nhất của nó, phàm ngã, đang hoạt động qua một vận cụ hồng trần.

It likewise demonstrates, as yet imperfectly, as the vitalising factor in the thought forms fabricated by the thinker. As yet but few thought forms, comparatively, can be said to be constructed by the center of consciousness, the thinker, the Ego. Few people as yet are in such close touch with their higher self, or Ego, that they can build the matter of the mental plane into a form which can be truly said to be an expression of the thoughts, purpose or desire of their Ego, functioning through the physical brain. Most of the thought forms at present in circulation may be said to be aggregations of matter, built into form with the aid of kama-manas (or of desire faintly tinged with mind producing thus an admixture of astral and mental matter, mostly astral), and largely due to reflex elemental action.

Nó cũng biểu lộ, tuy còn bất toàn, như yếu tố tiếp sinh lực trong các hình tư tưởng do người tư duy tạo ra. Hiện nay, tương đối mà nói, chỉ có ít hình tư tưởng có thể được nói là được kiến tạo bởi trung tâm tâm thức, người tư duy, chân ngã. Hiện nay ít người còn ở trong sự tiếp xúc gần gũi đến thế với chân ngã, hay chân ngã cao hơn, của họ đến mức họ có thể xây dựng chất liệu của cõi trí thành một hình tướng mà thực sự có thể nói là biểu lộ các tư tưởng, mục đích hay ham muốn của chân ngã của họ, đang hoạt động qua bộ não hồng trần. Phần lớn các hình tư tưởng hiện đang lưu hành có thể được nói là những tập hợp chất liệu, được xây dựng thành hình tướng với sự trợ giúp của kama-manas (hay ham muốn được nhuốm nhẹ bởi trí tuệ, do đó tạo ra một hỗn hợp của vật chất cảm dục và trí tuệ, phần lớn là cảm dục), và phần lớn là do hoạt động phản xạ của hành khí.

These dualities of expression are: [Page 47]

Các nhị nguyên tính biểu lộ này là: [Page 47]

1. Active fire or prana.

1. Lửa hoạt động hay prana.

Latent fire or bodily heat.

Lửa tiềm ẩn hay nhiệt của thể xác.

2. Mental energy in the mental body.

2. Năng lượng trí tuệ trong thể trí.

Purely mental thought forms, animated by self-engendered fire, or by the fifth principle, and therefore part of the sphere, or system of control, of the Monad.

Các hình tư tưởng thuần túy trí tuệ, được làm sinh động bởi lửa tự phát sinh, hay bởi nguyên khí thứ năm, và do đó là một phần của khối cầu, hay hệ thống kiểm soát, của Chân thần.

These form an esoteric quaternary which with the fifth factor, the divine spark of intelligent will, make the five of monadic manifestation—manifestation in this case connotating a purely subjective manifestation which is neither altogether spiritual nor altogether material.

Chúng tạo thành một bộ bốn huyền bí mà cùng với yếu tố thứ năm, tia lửa thiêng liêng của ý chí thông tuệ, làm nên bộ năm của biểu hiện chân thần—biểu hiện trong trường hợp này hàm ý một biểu hiện chủ quan không hoàn toàn tinh thần cũng không hoàn toàn vật chất.

3. Finally there is the Monadic Flame Divine. This embodies the highest vibration of which the Monad is capable, is governed by the Law of Synthesis, and is the cause of the forward progressive movement of the evolving Jiva.

3. Sau cùng là Ngọn Lửa Thiêng Liêng Chân Thần. Điều này thể hiện rung động cao nhất mà Chân thần có khả năng đạt tới, được chi phối bởi Định luật Tổng Hợp, và là nguyên nhân của chuyển động tiến tới không ngừng của Jiva đang tiến hoá.

We now come, in due course, to the point of merging or to the end of manifestation, and to the consummation (viewing it monadically) of the great cycle or manvantara. What shall we therefore find? Just as in the macrocosm the blending of the three essential fires of the cosmos marked the point of logoic attainment, so, in the blending of the essential fires of the microcosm, do we arrive at the apotheosis of human attainment for this cycle.

Giờ đây, theo tiến trình tự nhiên, chúng ta đi đến điểm hoà nhập hay đến chỗ kết thúc biểu hiện, và đến sự viên mãn (khi nhìn theo chân thần) của đại chu kỳ hay giai kỳ sinh hóa. Vậy chúng ta sẽ thấy gì? Cũng như trong đại thiên địa, sự hòa trộn của ba lửa cốt yếu của vũ trụ đánh dấu điểm thành tựu logoi, thì trong sự hòa trộn của các lửa cốt yếu của tiểu thiên địa, chúng ta đi đến sự tôn vinh tối hậu của thành tựu nhân loại cho chu kỳ này.

When the latent fire of the personality or lower self blends with the fire of mind, that of the higher self, and finally merges with the Divine Flame, then the man takes the fifth Initiation in this solar system, and has completed one of his greater cycles. (13) When the three blaze forth as one fire, liberation from matter, or from material form is achieved. Matter has been correctly adjusted to spirit, and finally the indwelling life slips forth out of its sheath which forms now only a channel for liberation.

Khi lửa tiềm ẩn của phàm nhân hay phàm ngã hòa trộn với lửa của trí tuệ, tức lửa của Bản Ngã Cao Siêu, và cuối cùng hợp nhất với Ngọn Lửa Thiêng Liêng, thì con người nhận lần điểm đạo thứ năm trong hệ mặt trời này, và đã hoàn tất một trong các đại chu kỳ của y. (13) Khi cả ba bùng cháy như một lửa duy nhất, sự giải thoát khỏi vật chất, hay khỏi hình tướng vật chất, được thành tựu. Vật chất đã được điều chỉnh đúng đắn với tinh thần, và cuối cùng sự sống nội tại trượt ra khỏi vỏ bọc của nó, vỏ bọc giờ đây chỉ còn tạo thành một kênh giải thoát.

(13) These terms, Lower Self, Higher Self, Divine Self, are apt to be confusing until the student apprehends the various synonyms connected with them. The following table may be found helpful:

(13) Các thuật ngữ này, phàm ngã, Bản Ngã Cao Siêu, Bản Ngã Thiêng Liêng, dễ gây lẫn lộn cho đến khi đạo sinh nắm bắt được các từ đồng nghĩa khác nhau liên hệ với chúng. Bảng sau đây có thể hữu ích:

Father

Son

Mother

Spirit

Soul

Body

Life

Consciousness

Form

Monad

Ego

Personality

Divine Self

Higher Self

Lower Self

Spirit

Individuality

Personal Self

The Point

The Triad

The Quaternary

Monad

Solar Angel

Lunar Lords

(back)

(back)

III. FIRE IN MANIFESTATION.

III. LỬA TRONG BIỂU HIỆN.

[Page 48]  To continue our consideration of the fires which sustain the economy of the visible solar system, and of the visible objective human being, which produce evolutionary development, and which are the bases of all objective efflorescence, it must be noted that they demonstrate as the sumtotal of the vital life of a solar system, of a planet, of the entire constitution of active functioning man upon the physical plane, and of the atom of substance.

[Page 48]  Để tiếp tục việc xem xét các lửa duy trì sự vận hành của hệ mặt trời hữu hình, và của con người hữu hình khách quan, tạo ra sự phát triển tiến hoá, và là nền tảng của mọi sự nở rộ khách quan, cần lưu ý rằng chúng biểu lộ như tổng thể của sự sống sinh động của một hệ mặt trời, của một hành tinh, của toàn bộ cấu tạo của con người hoạt động tích cực trên cõi hồng trần, và của nguyên tử chất liệu.

Speaking broadly we would say that the first fire deals entirely with:

Nói một cách khái quát, chúng tôi sẽ nói rằng lửa thứ nhất hoàn toàn liên quan đến:

a. Activity of matter.

a. Hoạt động của vật chất.

b. The rotary motion of matter.

b. Chuyển động quay của vật chất.

c. The development of matter by the means of friction, under the law of Economy. H. P. B. touches on this in the Secret Doctrine. (14)

c. Sự phát triển của vật chất bằng phương tiện ma sát, dưới Định luật Tiết Kiệm. H. P. B. có đề cập đến điều này trong Giáo Lý Bí Nhiệm. (14)

(14) See S. D., I, 169, 562, 567, 569; II, 258, 390, 547, 551, 552. (back)

(14) Xem S. D., I, 169, 562, 567, 569; II, 258, 390, 547, 551, 552. (back)

The second fire, that from the cosmic mental plane, deals with:

Lửa thứ hai, lửa từ cõi trí tuệ vũ trụ, liên quan đến:

a. The expression of the evolution of mind or manas.

a. Sự biểu lộ của tiến hoá của trí tuệ hay manas.

b. The vitality of the soul.

b. Sinh lực của linh hồn.

c. The evolutionary expression of the soul as it shows forth in the form of that elusive something which brings about the synthesis of matter. As the two merge by means of this active energising factor, that which is termed consciousness appears. (15) As [Page 49] the merging proceeds and the fires become more and more synthesised, that totality of manifestation which we regard as a conscious existence becomes ever more perfected.

c. Sự biểu lộ tiến hoá của linh hồn khi nó tự bày tỏ trong hình thức của một cái gì đó khó nắm bắt, mang lại sự tổng hợp của vật chất. Khi cả hai hòa nhập nhờ yếu tố hoạt động tiếp năng lượng này, cái được gọi là tâm thức xuất hiện. (15) Khi [Page 49] sự hòa nhập tiếp diễn và các lửa ngày càng được tổng hợp hoá nhiều hơn, thì toàn thể biểu hiện mà chúng ta xem là một hiện hữu có tâm thức trở nên ngày càng hoàn hảo hơn.

(15) In the Study of Consciousness Mrs. Besant says (page 37): “Consciousness is the one reality, in the fullest sense of that much-used phrase; it follows from this that any reality found anywhere is drawn from consciousness. Hence, everything which is thought, is. That consciousness in which everything is, everything literally, “possible” as well as “actual”—actual being that which is thought of as existent by a separated consciousness in time and space, and possible all that which is not so being thought of at any period in time and any point in space—we call Absolute Consciousness. It is the All, the Eternal, the Infinite, the Changeless. Consciousness, thinking time and space, and of all forms as existing in them in succession and in places, is the Universal Consciousness, the One, called by the Hindu the Saguna Brahman—the Eternal with attributes—the Pratyag-Atma—the Inner Self; by the Parsi, Hormuzd; by the Mussulman, Allah. Consciousness dealing with a definite time, however long or short, with a definite space, however vast or restricted, is individual, that of a concrete Being, a Lord of many universes, or a universe or of any so-called portion of a universe, his portion and to him therefore a universe—these terms varying as to extent with the power of the consciousness; so much of the universal thought as a separate consciousness can completely think, i.e., on which he can impose his own reality, can think of as existing like himself, is his universe.” (back)

(15) Trong Nghiên Cứu về Tâm Thức bà Besant nói (trang 37): “Tâm thức là thực tại duy nhất, theo ý nghĩa đầy đủ nhất của cụm từ được dùng quá nhiều ấy; từ đó suy ra rằng bất kỳ thực tại nào được tìm thấy ở bất cứ đâu đều được rút ra từ tâm thức. Vì vậy, mọi điều được nghĩ tới, đều là. Tâm thức trong đó mọi sự đều hiện hữu, mọi sự theo nghĩa đen, cả “khả hữu” lẫn “hiện thực”—hiện thực là cái được một tâm thức tách biệt trong thời gian và không gian nghĩ là hiện hữu, còn khả hữu là tất cả những gì không được nghĩ như thế vào bất kỳ thời kỳ nào trong thời gian và bất kỳ điểm nào trong không gian—chúng ta gọi là Tâm thức Tuyệt đối. Nó là Tất Cả, Vĩnh Cửu, Vô Hạn, Bất Biến. Tâm thức, khi nghĩ về thời gian và không gian, và về mọi hình tướng như hiện hữu trong đó theo trình tự và ở các nơi chốn, là Tâm thức Vũ trụ, Đấng Duy Nhất, được người Hindu gọi là Saguna Brahman—Đấng Vĩnh Cửu với các thuộc tính—Pratyag-Atma—Bản Ngã Bên Trong; người Parsi gọi là Hormuzd; người Hồi giáo gọi là Allah. Tâm thức xử lý một thời gian xác định, dù dài hay ngắn, với một không gian xác định, dù rộng lớn hay hạn hẹp, là tâm thức cá nhân, tức tâm thức của một Hữu thể cụ thể, một Chúa Tể của nhiều vũ trụ, hay của một vũ trụ hoặc của bất kỳ phần nào được gọi là một phần của một vũ trụ, phần của ông và vì thế đối với ông là một vũ trụ—các thuật ngữ này thay đổi về phạm vi theo quyền năng của tâm thức; chừng nào tư tưởng vũ trụ mà một tâm thức tách biệt có thể nghĩ trọn vẹn, nghĩa là cái mà ông có thể áp đặt thực tại riêng của mình lên đó, có thể nghĩ là hiện hữu giống như chính ông, thì đó là vũ trụ của ông.” (back)

d. The operation of this fire under the Law of Attraction.

d. Sự vận hành của lửa này dưới Định luật Hấp Dẫn.

e. The subsequent result in the spiral-cyclic movement which we call, within the system, solar evolution, but which (from the standpoint of a cosmos) is the approximation of our system to its central point. This must be considered from the standpoint of time. (16)

e. Kết quả tiếp theo trong chuyển động xoắn ốc tuần hoàn mà chúng ta gọi, trong nội bộ hệ thống, là tiến hoá thái dương, nhưng (từ quan điểm của một vũ trụ) là sự tiến gần của hệ thống chúng ta đến điểm trung tâm của nó. Điều này phải được xem xét từ quan điểm thời gian. (16)

(16) Universal consciousness, manifesting as consciousness in time and space, as Mrs. Besant so ably expresses it, includes all forms of activity and spiral cyclic evolution from the standpoint of cosmic evolution, and in terms of absolute consciousness, may again be rotary. (back)

(16) Tâm thức vũ trụ, biểu lộ như tâm thức trong thời gian và không gian, như bà Besant đã diễn đạt rất tài tình, bao gồm mọi hình thức hoạt động và tiến hoá xoắn ốc tuần hoàn từ quan điểm tiến hoá vũ trụ, và xét theo các thuật ngữ của tâm thức tuyệt đối, lại có thể là chuyển động quay. (back)

The third fire deals with:

Lửa thứ ba liên quan đến:

a. The evolution of spirit.

a. Sự tiến hoá của tinh thần.

Practically nothing can at this stage be communicated anent this evolution. The development of spirit can be only expressed as yet in terms of the evolution of matter, and only through the adequacy of the vehicle, and through the suitability of the sheath, the body or form, can the point of [Page 50] spiritual development reached in any way be appraised. A word of warning should here be interpolated:—

Trên thực tế, ở giai đoạn này hầu như không thể truyền đạt điều gì liên quan đến sự tiến hoá này. Sự phát triển của tinh thần hiện nay chỉ có thể được diễn tả bằng các thuật ngữ của sự tiến hoá của vật chất, và chỉ thông qua sự đầy đủ của vận cụ, và thông qua sự thích hợp của vỏ bọc, thể hay hình tướng, mà điểm [Page 50] phát triển tinh thần đạt được mới có thể được lượng định theo bất kỳ cách nào. Ở đây cần xen vào một lời cảnh báo:—

Just as it is not possible upon the physical plane for the physical vehicle fully to express the total point of development of the Ego or higher self, so it is not possible even for the Ego fully to sense and express the quality of spirit. Hence the utter impossibility for human consciousness justly to appraise the life of the spirit or Monad.

Cũng như trên cõi hồng trần, vận cụ hồng trần không thể biểu lộ trọn vẹn toàn bộ mức phát triển của chân ngã hay Bản Ngã Cao Siêu, thì ngay cả chân ngã cũng không thể cảm nhận và biểu lộ đầy đủ phẩm tính của tinh thần. Vì thế, tâm thức con người hoàn toàn không thể lượng định một cách đúng đắn sự sống của tinh thần hay Chân thần.

b. The working of the flame divine under the Law of Synthesis—a generic term which will be seen eventually to include the other two laws as subdivisions.

b. Sự vận hành của ngọn lửa thiêng liêng dưới Định luật Tổng Hợp—một thuật ngữ tổng quát mà về sau sẽ thấy là bao gồm hai định luật kia như những phân bộ.

c. The subsequent result of forward progressive motion—a motion which is rotary, cyclic and progressive.

c. Kết quả tiếp theo của chuyển động tiến tới—một chuyển động vừa quay, vừa tuần hoàn, vừa tiến triển.

The whole matter dealt with in this Treatise concerns the subjective essence of the solar system, not primarily either the objective or spiritual aspect. It concerns the Entities who indwell the form, who demonstrate as animating factors through the medium of matter, and primarily through etheric matter; who are evolving a second faculty, the fire of mind, and who are essentially themselves points of fire, cast off through cosmic friction, produced by the turning of the cosmic wheel, swept into temporary limited manifestation and due eventually to return to their central cosmic centre. They will return plus the results of evolutionary growth, and through assimilation they will have intensified their fundamental nature, and be spiritual fire plus the fire manasic.

Toàn bộ vấn đề được bàn đến trong bộ Luận này liên quan đến tinh chất chủ quan của hệ mặt trời, chứ không chủ yếu liên quan đến phương diện khách quan hay tinh thần. Nó liên quan đến các Thực Thể cư ngụ trong hình tướng, biểu lộ như các yếu tố làm sinh động qua trung gian của vật chất, và chủ yếu qua vật chất dĩ thái; các Đấng đang tiến hoá một năng lực thứ hai, lửa của trí tuệ, và về bản chất chính Các Ngài là những điểm lửa, bị bắn ra do ma sát vũ trụ, được tạo ra bởi sự quay của bánh xe vũ trụ, bị cuốn vào biểu hiện tạm thời có giới hạn và cuối cùng phải trở về trung tâm vũ trụ trung tâm của mình. Các Ngài sẽ trở về cộng thêm các kết quả của sự tăng trưởng tiến hoá, và qua sự đồng hoá, Các Ngài sẽ tăng cường bản chất căn bản của mình, và sẽ là lửa tinh thần cộng với lửa manas.

The internal fire of matter is called in the Secret Doctrine “Fire by Friction.” It is an effect and not a cause. It is produced by the two fires of spirit and of mind (electric and solar fire) contacting each other through the medium of matter. This energy demonstrates in [Page 51] matter itself as the internal fires of the sun, and of the planets and finds a reflection in the internal fires of man. Man is the Flame Divine and the fire of Mind brought into contact through the medium of substance or form. When evolution ends, the fire of matter is not cognisable. It persists only when the other two fires are associated, and it does not persist apart from substance itself.

Lửa nội tại của vật chất được gọi trong Giáo Lý Bí Nhiệm là “Lửa ma sát.” Nó là một kết quả chứ không phải nguyên nhân. Nó được tạo ra bởi hai lửa của tinh thần và của trí tuệ (lửa điện và lửa thái dương) tiếp xúc với nhau qua trung gian của vật chất. Năng lượng này biểu lộ trong chính [Page 51] vật chất như các lửa nội tại của mặt trời và của các hành tinh, và tìm thấy một sự phản chiếu trong các lửa nội tại của con người. Con người là Ngọn Lửa Thiêng liêng và là lửa của Trí Tuệ được đưa vào tiếp xúc qua trung gian của chất liệu hay hình tướng. Khi tiến hoá chấm dứt, lửa của vật chất không còn có thể nhận biết được. Nó chỉ tồn tại khi hai lửa kia kết hợp với nhau, và nó không tồn tại tách rời khỏi chính chất liệu.

Let us now briefly recognise certain facts regarding fire in matter and let us take them in order, leaving time to elucidate their significance. First we might say that the internal fire being both latent and active, shows itself as the synthesis of the acknowledged fires of the system, and demonstrates, for instance, as solar radiation and inner planetary combustion. This subject has been somewhat covered by science, and is hidden in the mystery of physical plane electricity, which is an expression of the active internal fires of the system and of the planet just as inner combustion is an expression of the latent internal fires. These latter fires are to be found in the interior of each globe, and are the basis of all objective physical life.

Giờ đây, chúng ta hãy ngắn gọn ghi nhận một số sự kiện liên quan đến lửa trong vật chất và hãy xét chúng theo thứ tự, dành thời gian để làm sáng tỏ thâm nghĩa của chúng. Trước hết, chúng ta có thể nói rằng lửa nội tại, vừa tiềm ẩn vừa hoạt động, tự biểu lộ như sự tổng hợp của các lửa đã được thừa nhận của hệ thống, và chẳng hạn biểu lộ như bức xạ mặt trời và sự đốt cháy nội tại của hành tinh. Đề tài này phần nào đã được khoa học đề cập đến, và được che giấu trong huyền nhiệm của điện năng cõi hồng trần, vốn là một biểu hiện của các lửa nội tại hoạt động của hệ thống và của hành tinh, cũng như sự đốt cháy nội tại là biểu hiện của các lửa nội tại tiềm ẩn. Những lửa sau này được tìm thấy trong nội thất của mỗi bầu hành tinh, và là nền tảng của mọi sự sống hồng trần khách quan.

Secondly, we might note that the internal fires are the basis of life in the lower three kingdoms of nature, and in the fourth or human kingdom in connection with the two lower vehicles. The Fire of Mind, when blended with the internal fires, is the basis of life in the fourth kingdom, and united they control (partially now and later entirely) the lower threefold man or the personality; this control lasts up to the time of the first Initiation.

Thứ hai, chúng ta có thể lưu ý rằng các lửa nội tại là nền tảng của sự sống trong ba giới thấp của bản chất, và trong giới thứ tư hay giới nhân loại liên hệ với hai vận cụ thấp. Lửa của Trí Tuệ, khi hòa trộn với các lửa nội tại, là nền tảng của sự sống trong giới thứ tư, và khi hợp nhất lại chúng kiểm soát (một phần hiện nay và về sau là hoàn toàn) con người tam phân thấp hay phàm ngã; sự kiểm soát này kéo dài cho đến thời điểm của lần điểm đạo thứ nhất.

The fire of Spirit finally, when blended with the two other fires (which blending commences in man at the first initiation), forms a basis of spiritual life or existence. As evolution proceeds in the fifth or spiritual kingdom, these three fires blaze forth simultaneously, producing perfected consciousness. This blaze results in the final [Page 52] purification of matter and its consequent adequacy; at the close of manifestation it brings about eventually the destruction of the form and its dissolution, and the termination of existence as understood on the lower planes. In terms of Buddhistic theology it produces annihilation; this involves, not loss of identity, but the cessation of objectivity and the escape of Spirit, plus mind, to its cosmic centre. It has its analogy in the initiation at which the adept stands free from the limitations of matter in the three worlds.

Sau cùng, lửa của Tinh thần, khi hòa trộn với hai lửa kia (sự hòa trộn này bắt đầu nơi con người vào lần điểm đạo thứ nhất), tạo thành nền tảng của sự sống hay sự tồn tại tinh thần. Khi tiến hoá tiếp diễn trong giới thứ năm hay giới tinh thần, ba lửa này cùng lúc bùng cháy, tạo ra tâm thức hoàn hảo. Sự bùng cháy này dẫn đến sự [Page 52] thanh lọc cuối cùng của vật chất và do đó làm cho nó trở nên thích đáng; vào lúc kết thúc biểu hiện, cuối cùng nó mang lại sự hủy diệt của hình tướng và sự tan rã của nó, và sự chấm dứt của tồn tại như được hiểu trên các cõi thấp. Theo thuật ngữ thần học Phật giáo, nó tạo ra sự hủy diệt; điều này không hàm ý mất bản sắc, mà là sự chấm dứt tính khách quan và sự thoát ly của Tinh thần, cộng với trí tuệ, về trung tâm vũ trụ của nó. Nó có sự tương đồng của mình trong cuộc điểm đạo mà tại đó chân sư đứng tự do khỏi các giới hạn của vật chất trong ba cõi giới.

The internal fires of the system, of the planet, and of man are threefold:

Các lửa nội tại của hệ thống, của hành tinh và của con người là tam phân:

1. Interior fire at the centre of the sphere, those inner furnaces which produce warmth. This is latent fire.

1. Lửa bên trong tại trung tâm của khối cầu, những lò lửa nội tại tạo ra hơi ấm. Đây là lửa tiềm ẩn.

2. Radiatory fire. This type of fire might be expressed in terms of physical plane electricity, of light rays, and of etheric energy. This is active fire.

2. Lửa bức xạ. Loại lửa này có thể được diễn tả theo điện năng cõi hồng trần, các tia sáng, và năng lượng dĩ thái. Đây là lửa hoạt động.

3. Essential fire, or the fire elementals who are themselves the essence of fire. They are mainly divided into two groups:

3. Lửa bản chất, hay các hành khí của lửa vốn chính là tinh chất của lửa. Chúng chủ yếu được chia thành hai nhóm:

a. Fire devas or evolutionary entities.

a. Các thiên thần lửa hay các thực thể thăng thượng tiến hoá.

b. Fire elementals or involutionary entities.

b. Các hành khí của lửa hay các thực thể giáng hạ tiến hoá.

Later we will elaborate on this when we consider the Fire of Mind and deal with the nature of the thought elementals. All these elementals and devas are under the control of the fire Lord, Agni. When considering Him and His kingdom the subject can be taken up at greater length.

Về sau chúng ta sẽ khai triển điều này khi xét đến Lửa của Trí Tuệ và bàn đến bản chất của các hành khí tư tưởng. Tất cả các hành khí và thiên thần này đều ở dưới sự kiểm soát của Chúa Tể lửa, Agni. Khi xét đến Ngài và giới của Ngài, đề tài này có thể được trình bày dài hơn.

We might here point out, however, that our first two statements concerning the internal fires, express the effect that the fire entities have upon their environment. Heat and radiation are other terms which might be applied in this sense. Each of these effects produces a [Page 53] different class of phenomena. Latent fire causes the active growth of that in which it is embedded and causes that upward pushing which brings into manifestation all that is found in the kingdoms of nature. Radiatory fire causes the continued growth of that which has progressed, under the influence of latent fire, to a point receptive of the radiatory. Let us tabulate it thus:

Tuy nhiên, ở đây chúng ta có thể chỉ ra rằng hai phát biểu đầu tiên của chúng ta liên quan đến các lửa nội tại diễn tả kết quả mà các thực thể lửa tạo ra trên môi trường của chúng. Nhiệt và bức xạ là những thuật ngữ khác có thể được áp dụng theo nghĩa này. Mỗi một trong các kết quả này tạo ra một [Page 53] loại hiện tượng khác nhau. Lửa tiềm ẩn gây ra sự tăng trưởng hoạt động của cái trong đó nó được cắm vào và gây nên sự thúc đẩy đi lên, mang vào biểu hiện tất cả những gì được tìm thấy trong các giới của bản chất. Lửa bức xạ gây ra sự tăng trưởng liên tục của cái đã tiến triển, dưới ảnh hưởng của lửa tiềm ẩn, đến một điểm có khả năng tiếp nhận lửa bức xạ. Chúng ta hãy lập bảng như sau:

Systemic or Macrocosmic: The solar Logos or The Grand Man of the Heavens.

Hệ thống hay Đại thiên địa: Thái dương Thượng đế hay Đấng Đại Nhân của Thiên Giới.

Latent or interior fire produces the internal heat which makes the solar system productive of all forms of life. It is the inherent warmth that causes all fertilisation, whether human, animal, or vegetable.

Lửa tiềm ẩn hay lửa bên trong tạo ra nhiệt nội tại khiến hệ mặt trời sinh sản mọi hình tướng sự sống. Đó là hơi ấm cố hữu gây ra mọi sự thụ tinh, dù là nơi con người, động vật hay thực vật.

Active or radiatory fire retains in life and causes the evolution of all that has evolved into objectivity by means of latent fire.

Lửa hoạt động hay lửa bức xạ duy trì sự sống và gây ra sự tiến hoá của tất cả những gì đã tiến hoá vào tính khách quan bằng phương tiện của lửa tiềm ẩn.

Planetary, or the Heavenly Men:

Hành tinh, hay các Đấng Thiên Nhân:

What is laid down anent the system, as a whole, can be predicated of all planets which in their nature reflect the Sun, their elder brother.

Điều được xác lập liên quan đến toàn thể hệ thống có thể được khẳng định về mọi hành tinh, vốn trong bản chất của chúng phản chiếu Mặt Trời, người anh cả của chúng.

Human, or the Microcosmic Man:

Con người, hay Con Người Tiểu thiên địa:

Human latent fire, the heat interior of the human frame causes production of other forms of life, such as—

Lửa tiềm ẩn của con người, nhiệt bên trong cơ thể con người, gây ra việc sản sinh các hình tướng sự sống khác, như—

1. The physical body cells.

1. Các tế bào của thể xác.

2. Organisms nourished by the latent heat.

2. Các cơ thể sống được nuôi dưỡng bởi nhiệt tiềm ẩn.

3. The reproduction of itself in other human forms, the basis of the sex function.

3. Sự tái tạo chính nó trong các hình tướng con người khác, nền tảng của chức năng tính dục.

Human radiatory, or active fire, is a factor as yet but little comprehended; it relates to the health aura and to that radiation from the etheric which makes a man a healer, and able to transmit active heat.

Lửa bức xạ hay lửa hoạt động của con người là một yếu tố cho đến nay vẫn còn rất ít được thấu hiểu; nó liên hệ đến hào quang sức khỏe và đến bức xạ từ thể dĩ thái khiến một người trở thành người chữa lành, và có khả năng truyền dẫn nhiệt hoạt động.

It is necessary to differentiate between this radiation from the etheric, which is a radiation of prana, and magnetism, which is an emanation from a subtler body (usually the astral), and has to do with the manifestation of [Page 54] the Divine Flame within the material sheaths. The Divine Flame is formed on the second plane, the monadic, and magnetism (which is a method of demonstrating radiatory fire) is therefore felt paramountly on the fourth and sixth planes, or through the buddhic and astral vehicles. These are, as we know, closely allied to the second plane. This distinction is of importance and should be carefully recognised.

Cần phải phân biệt giữa bức xạ này từ thể dĩ thái, vốn là bức xạ của prana, và từ điện, vốn là một phát xạ từ một thể vi tế hơn (thường là thể cảm dục), và liên quan đến sự biểu lộ của [Page 54] Ngọn Lửa Thiêng liêng bên trong các lớp vỏ vật chất. Ngọn Lửa Thiêng liêng được hình thành trên cõi thứ hai, cõi chân thần, và vì thế từ điện (vốn là một phương pháp biểu lộ lửa bức xạ) được cảm nhận mạnh mẽ nhất trên cõi thứ tư và thứ sáu, hay qua các vận cụ Bồ đề và cảm dục. Như chúng ta biết, các cõi này có liên hệ mật thiết với cõi thứ hai. Sự phân biệt này rất quan trọng và cần được ghi nhận một cách cẩn thận.

Having, therefore, made the above statements, we can proceed to take up somewhat in greater detail the interior fires of the systems, microcosmic and macrocosmic.

Vì vậy, sau khi đã đưa ra các phát biểu trên, chúng ta có thể tiếp tục xét chi tiết hơn đôi chút về các lửa bên trong của các hệ thống, tiểu thiên địa và đại thiên địa.

DIVISION A – THE INTERNAL FIRES OF THE SHEATHS.

PHÂN ĐOẠN A – CÁC LỬA NỘI TẠI CỦA CÁC THỂ.

I. The three channels.

I. Ba kênh.

II. Fire Elementals and devas.

II. Các hành khí của lửa và các thiên thần.

I. THE THREE CHANNELS FOR THE FIRE

BA KÊNH CHO LỬA

[Page 55]  From the very use of the term “sheath” it will be noted that we are considering those fires which manifest through the medium of those externalities, of those veils of substance which hide and conceal the inner Reality. We shall not here take up the subject of the sheaths on the higher planes, but simply deal with the fires that animate the three lower vehicles,—the physical body in its two divisions (etheric and dense), the emotional or astral body, and the mental sheath. It is frequently overlooked by the casual student that both the astral and the mental bodies are material, and just as material in their own way, as is the dense physical body, and also that the substance of which they are composed is animated by a triple fire, as is the physical.

[Page 55]  Từ chính việc dùng thuật ngữ “thể”, cần lưu ý rằng chúng ta đang xét đến những lửa biểu lộ qua trung gian của những cái bên ngoài ấy, của những màn che bằng chất liệu che giấu và bao phủ Thực Tại bên trong. Ở đây chúng ta sẽ không đề cập đến chủ đề các thể trên các cõi cao, mà chỉ bàn đến các lửa làm sinh động ba vận cụ thấp,—thể xác trong hai phần của nó (dĩ thái và đậm đặc), thể cảm xúc hay thể cảm dục, và thể trí. Đạo sinh thông thường thường bỏ qua rằng cả thể cảm dục lẫn thể trí đều là vật chất, và theo cách riêng của chúng cũng vật chất y như thể xác đậm đặc, và rằng chất liệu cấu thành chúng cũng được làm sinh động bởi một lửa tam phân, giống như thể xác.

In the physical body we have the fires of the lower nature (the animal plane) centralised at the base of the spine. They are situated at a spot which stands in relation to the physical body as the physical sun to the solar system. This central point of heat radiates in all directions, using the spinal column as its main artery, but working in close connection with certain central ganglia, wherever located, and having a special association with the spleen. [Page 56]

Trong thể xác chúng ta có các lửa của bản chất thấp (cõi động vật) được tập trung tại đáy cột sống. Chúng tọa lạc tại một điểm có liên hệ với thể xác giống như mặt trời vật lý đối với hệ mặt trời. Điểm nhiệt trung tâm này bức xạ theo mọi hướng, dùng cột sống làm động mạch chính của nó, nhưng hoạt động trong liên hệ mật thiết với một số hạch trung tâm, ở bất cứ nơi nào chúng tọa lạc, và có một sự liên kết đặc biệt với lá lách. [Page 56]

[picture]

[picture]

cosmic-fire-s1-02.png

[Page 57]  In the etheric body, which is an exact replica of its denser counterpart, we have the organ of active or radiatory fire, and, as is well known, the vehicle of prana. Its function is to store up the rays of radiatory light and heat which are secured from the sun, and to transmit them, via the spleen, to all parts of the physical body. Hence in the future it will come to be recognised that the spine and the spleen are of the utmost importance to the physical well-being of man, and that when the spinal column is duly adjusted and aligned, and when the spleen is freed from congestion and in a healthy condition, there will be little trouble in the dense physical body. When the physical furnace burns brightly and when the fuel of the body (pranic rays) is adequately assimilated, the human frame will function as desired.

[Page 57]  Trong thể dĩ thái, vốn là một bản sao chính xác của đối phần đậm đặc hơn của nó, chúng ta có cơ quan của lửa hoạt động hay lửa bức xạ, và như ai cũng biết, là vận cụ của prana. Chức năng của nó là tích trữ các tia sáng và nhiệt bức xạ thu nhận từ mặt trời, và truyền chúng, qua lá lách, đến mọi phần của thể xác. Vì thế, trong tương lai người ta sẽ nhận ra rằng cột sống và lá lách có tầm quan trọng tối đa đối với sự an khang hồng trần của con người, và rằng khi cột sống được điều chỉnh và chỉnh hợp đúng đắn, và khi lá lách được giải phóng khỏi sự tắc nghẽn và ở trong tình trạng lành mạnh, thì sẽ có rất ít rắc rối trong thể xác đậm đặc. Khi lò lửa hồng trần cháy sáng và khi nhiên liệu của thể (các tia prana) được đồng hoá đầy đủ, cơ thể con người sẽ hoạt động như mong muốn.

The subject of the blending of these two fires, which is complete in a normal and healthy person, should engross the attention of the modern physician. He will then concern himself with the removal of nerve congestion or material congestion, so as to leave a free channel for the inner warmth. This blending, which is now a natural and usual growth in every human being, was one of the signs of attainment or of initiation in an earlier solar system. Just as initiation and liberation are marked in this solar system by the blending of the fires of the body, of the mind and of the Spirit, so in an earlier cycle attainment was marked by the blending of the latent fires of matter with the radiatory or active fires, and then their union with the fires of mind. In the earlier period the effects in manifestation of the divine Flame were so remote and deeply hidden as to be scarcely recognisable, though dimly there. Its correspondence can be seen in the animal kingdom, in which instinct holds the intuition in latency, [Page 58] and the Spirit dimly overshadows. Yet all is part of a divine whole.

Chủ đề về sự hòa trộn của hai lửa này, vốn hoàn tất nơi một người bình thường và khỏe mạnh, cần thu hút sự chú ý của y học hiện đại. Khi đó, thầy thuốc sẽ quan tâm đến việc loại bỏ sự tắc nghẽn thần kinh hay sự tắc nghẽn vật chất, để chừa ra một kênh thông suốt cho hơi ấm bên trong. Sự hòa trộn này, hiện nay là một sự tăng trưởng tự nhiên và thông thường nơi mỗi con người, đã từng là một trong những dấu hiệu của thành tựu hay của điểm đạo trong một hệ mặt trời trước đây. Cũng như điểm đạo và giải thoát được đánh dấu trong hệ mặt trời này bởi sự hòa trộn của các lửa của thể, của trí tuệ và của Tinh thần, thì trong một chu kỳ trước kia, thành tựu được đánh dấu bởi sự hòa trộn của các lửa tiềm ẩn của vật chất với các lửa bức xạ hay hoạt động, rồi sau đó là sự hợp nhất của chúng với các lửa của trí tuệ. Trong thời kỳ trước đó, các hiệu quả trong biểu hiện của Ngọn Lửa thiêng liêng xa xôi và ẩn kín sâu đến mức hầu như không thể nhận ra được, dù vẫn mờ nhạt hiện diện. Sự tương ứng của nó có thể được thấy trong giới động vật, nơi bản năng giữ trực giác ở trạng thái tiềm ẩn, [Page 58] và Tinh thần phủ bóng một cách mờ nhạt. Tuy nhiên, tất cả đều là một phần của một toàn thể thiêng liêng.

The subject of the radiatory heat of the macrocosmic and microcosmic systems will be dealt with in detail in a later subdivision. Here we will only deal with the latent interior fire of the

Chủ đề về nhiệt bức xạ của các hệ thống đại thiên địa và tiểu thiên địa sẽ được bàn chi tiết trong một phân mục sau. Ở đây chúng ta sẽ chỉ bàn đến lửa nội tại tiềm ẩn của

a. Sun.

a. Mặt trời.

b. Planet.

b. Hành tinh.

c. Man.

c. Con người.

d. Atom.

d. Nguyên tử.

We must remember that in both the astral and the mental sheaths there exist the counterparts of the centres as found in the physical body. These centres concern matter and its evolution. One fundamental statement can be laid down anent the internal fires of all these four (sun, planet, man, and atom):

Chúng ta phải nhớ rằng trong cả thể cảm dục lẫn thể trí đều tồn tại các đối phần của các trung tâm như được tìm thấy trong thể xác. Các trung tâm này liên quan đến vật chất và sự tiến hoá của nó. Có thể nêu ra một phát biểu căn bản liên quan đến các lửa nội tại của cả bốn loại này (mặt trời, hành tinh, con người và nguyên tử):

There exists in the Sun, in the planet, in man, and in the atom, a central point of heat, or (if I might use so limiting and inappropriate a term) a central cavern of fire, or nucleus of heat, and this central nucleus reaches the bounds of its sphere of influence, its ring-pass-not by means of a threefold channel. (17)

Trong Mặt Trời, trong hành tinh, trong con người và trong nguyên tử, đều tồn tại một điểm nhiệt trung tâm, hay (nếu tôi có thể dùng một thuật ngữ quá giới hạn và không thích hợp như vậy) một hang lửa trung tâm, hay một hạt nhân nhiệt, và hạt nhân trung tâm này vươn đến các biên giới của khối cầu ảnh hưởng của nó, vòng-giới-hạn của nó, bằng phương tiện của một kênh tam phân. (17)

(17) “The divine essence that, pervading the entire universe of millions of solar systems, is caught up by our sun and passed out in a manifested form to the utmost boundaries of our solar system, so that this manifested essence may be the basic soil of the growth, preservation and destruction of our worlds, that divine essence is simple Nadam of our yogic philosophy and that Nadam or OM subsequently manifests itself as seven streams. The unmanifested is manifested by or borne by the subsequent ramifications. These streams are the seven vowels or seven notes. These seven vowels and notes must have special correlations with the seven vedic metres, since in the Vishnu Purana, Parasara describes the vedic metres as the coursers of the solar essence.”—Some Thoughts on the Gita, p. 74. (back)

(17) “Tinh chất thiêng liêng, thấm nhuần toàn thể vũ trụ gồm hàng triệu hệ mặt trời, được mặt trời của chúng ta thu hút và truyền ra dưới một hình thức biểu lộ đến tận những biên giới xa nhất của hệ mặt trời שלנו, ताकि tinh chất biểu lộ này có thể là mảnh đất căn bản cho sự tăng trưởng, bảo tồn và hủy diệt của các thế giới chúng ta, tinh chất thiêng liêng ấy chính là Nadam đơn nhất của triết học yoga của chúng ta, và Nadam hay OM ấy về sau biểu lộ thành bảy dòng. Cái không biểu lộ được biểu lộ ra bởi hay được chuyên chở bởi các phân nhánh tiếp theo. Những dòng này là bảy nguyên âm hay bảy nốt. Bảy nguyên âm và nốt này hẳn phải có những tương quan đặc biệt với bảy vedic nhịp luật, vì trong Vishnu Purana, Parasara mô tả các vedic nhịp luật như những tuấn mã của tinh chất thái dương.”—Một Vài Tư Tưởng về Gita, tr. 74. (trở lại)

a. The Sun. Within the sun, right at its very heart, is a sea of fire or heat, but not a sea of flame. Herein may lie a distinction that perhaps will convey no meaning to some. It is the centre of the sphere, and the point of fiercest internal burning, but has little relation to the flames or burning gases (whatever terms you care [Page 59] to use) that are generally understood to exist whenever the sun is considered. It is the point of fiercest incandescence, and the objective sphere of fire is but the manifestation of that internal combustion. This central heat radiates its warmth to all parts of the system by means of a triple channel, or through its “Rays of Approach” which in their totality express to us the idea of “the heat of the sun.”

a. Mặt trời. Bên trong mặt trời, ngay tại chính tim của nó, là một biển lửa hay nhiệt, nhưng không phải một biển ngọn lửa. Chính trong đây có thể có một sự phân biệt mà có lẽ sẽ không chuyển tải ý nghĩa gì đối với một số người. Đó là trung tâm của khối cầu, và là điểm bốc cháy nội tại mãnh liệt nhất, nhưng ít liên hệ với các ngọn lửa hay các khí đang cháy (dù bạn muốn dùng thuật ngữ nào [Page 59] đi nữa) mà người ta thường hiểu là tồn tại bất cứ khi nào xét đến mặt trời. Đó là điểm phát sáng mãnh liệt nhất, và khối cầu lửa khách quan chỉ là biểu hiện của sự đốt cháy nội tại ấy. Nhiệt trung tâm này bức xạ hơi ấm của nó đến mọi phần của hệ thống bằng phương tiện của một kênh tam phân, hay qua các “Cung Tiếp Cận” của nó, mà trong tổng thể của chúng biểu lộ cho chúng ta ý niệm về “nhiệt của mặt trời.”

1. The akasha, itself vitalised matter, or substance animated by latent heat.

1. Akasha, bản thân nó là vật chất được tiếp sinh lực, hay chất liệu được làm sinh động bởi nhiệt tiềm ẩn.

2. Electricity, substance of one polarity, and energised by one of the three aspects logoic. To express it more occultly, substance showing forth the quality of the cosmic Lord Whose energy it is.

2. Điện, chất liệu của một cực tính, và được tiếp năng lượng bởi một trong ba phương diện Thượng đế. Diễn tả một cách huyền bí hơn, đó là chất liệu biểu lộ phẩm tính của Đấng Chúa Tể vũ trụ mà năng lượng của Ngài là nó.

3. Light Rays of pranic aspect, some of which are being now recognised by the modern scientist. They are but aspects of the latent heat of the sun as it approaches the Earth by a particular line of least resistance.

3. Các tia sáng thuộc phương diện prana, một số trong đó hiện nay đang được nhận ra bởi nhà khoa học hiện đại. Chúng chỉ là các phương diện của nhiệt tiềm ẩn của mặt trời khi nó tiếp cận Trái Đất theo một con đường ít trở ngại nhất đặc biệt.

When the term “channel or ray of approach” is used, it means approach from the centre of solar radiation to the periphery. What is encountered during that approach—such as planetary bodies, for instance—will be affected by the akashic current, the electrical current, or the pranic current in some way, but all of these currents are only the internal fires of the system when viewed from some other point in universal, though not solar, space. It is, therefore, obvious that this matter of fire is as complex as that of the rays. The internal fires of the solar system become external and radiatory when considered from the standpoint of a planet, while the internal fires of the planet will affect a human being as radiation in exactly the same way as the pranic emanations of his etheric body affect another physical body as radiatory. The point to be grasped in all these [Page 60] aspects is that one and all have to do with matter or substance, and not with mind or Spirit.

Khi dùng thuật ngữ “kênh hay cung tiếp cận”, điều đó có nghĩa là sự tiếp cận từ trung tâm bức xạ mặt trời đến chu vi. Bất cứ điều gì gặp phải trong quá trình tiếp cận ấy—chẳng hạn như các thiên thể hành tinh—sẽ bị tác động bởi dòng akasha, dòng điện, hay dòng prana theo một cách nào đó, nhưng tất cả các dòng này chỉ là các lửa nội tại của hệ thống khi được nhìn từ một điểm khác trong không gian vũ trụ, dù không phải không gian thái dương. Vì vậy, hiển nhiên là vấn đề lửa này phức tạp cũng như vấn đề các cung. Các lửa nội tại của hệ mặt trời trở thành bên ngoài và bức xạ khi được xét từ quan điểm của một hành tinh, trong khi các lửa nội tại của hành tinh sẽ tác động lên một con người như bức xạ theo đúng cùng cách mà các phát xạ prana của thể dĩ thái của y tác động lên một thể xác khác như bức xạ. Điểm cần nắm bắt trong tất cả các [Page 60] phương diện này là tất cả đều liên quan đến vật chất hay chất liệu, chứ không liên quan đến trí tuệ hay Tinh thần.

b. The Planet. Deep in the heart of the planet—such a planet as the Earth, for instance—are the internal fires that occupy the central sphere, or the caverns which—filled with incandescent burning—make life upon the globe possible at all. The internal fires of the moon are practically burnt out, and, therefore, she does not shine save through reflection, having no inner fire to blend and merge with light external. These inner fires of the earth can be seen functioning, as in the sun, through three main channels:

b. Hành tinh. Sâu trong tim của hành tinh—chẳng hạn một hành tinh như Trái Đất—là các lửa nội tại chiếm giữ khối cầu trung tâm, hay các hang động mà—đầy sự cháy sáng rực—làm cho sự sống trên bầu hành tinh trở nên khả hữu. Các lửa nội tại của mặt trăng thực tế đã cháy cạn, và vì thế nó không chiếu sáng ngoại trừ bằng phản chiếu, không có lửa bên trong để hòa trộn và hợp nhất với ánh sáng bên ngoài. Các lửa nội tại này của trái đất có thể được thấy đang hoạt động, như trong mặt trời, qua ba kênh chính:

1. Productive substance, or the matter of the planet vitalised by heat. This heat and matter together act as the mother of all that germinates, and as the protector of all that dwells therein and thereon. This corresponds to the akasha, the active vitalised matter of the solar system, that nourishes all as does a mother.

1. Chất liệu sinh sản, hay vật chất của hành tinh được tiếp sinh lực bởi nhiệt. Nhiệt và vật chất này cùng nhau hoạt động như người mẹ của mọi thứ nảy mầm, và như người bảo hộ của mọi thứ cư ngụ trong đó và trên đó. Điều này tương ứng với akasha, vật chất hoạt động được tiếp sinh lực của hệ mặt trời, nuôi dưỡng mọi sự như một người mẹ.

2. Electrical fluid, a fluid which is latent in the planet though as yet but little recognized. It is perhaps better expressed by the term “animal magnetism.” It is the distinctive quality of the atmosphere of a planet, or its electrical ring-pass-not. It is the opposite pole to the solar electrical fluid, and the contact of the two and their correct manipulation is the aim—perhaps unrealised—-of all scientific endeavor at this time.

2. Lưu chất điện, một lưu chất tiềm ẩn trong hành tinh dù cho đến nay còn rất ít được nhận biết. Có lẽ nó được diễn tả tốt hơn bằng thuật ngữ “từ điện động vật.” Đó là phẩm tính đặc thù của khí quyển của một hành tinh, hay vòng-giới-hạn điện của nó. Nó là cực đối nghịch với lưu chất điện thái dương, và sự tiếp xúc của cả hai cùng sự vận dụng đúng đắn chúng là mục tiêu—có lẽ chưa được nhận ra—của mọi nỗ lực khoa học vào lúc này.

3. That emanation of the planet which we might term Planetary Prana. It is that which is referred to when one speaks of the health-giving qualities of Mother Nature, and which is back of the cry of the modern physician, when he wisely says “Back to the Earth.” It is the fluidic emanation of this prana which acts upon the physical body, though in this case not via the etheric body. It is absorbed [Page 61] through the skin purely and the pores are its line of least resistance.

3. Phát xạ của hành tinh mà chúng ta có thể gọi là Prana Hành Tinh. Đó là điều được nhắc đến khi người ta nói về các phẩm tính ban sức khỏe của Mẹ Thiên Nhiên, và là điều đứng sau tiếng kêu của vị thầy thuốc hiện đại, khi ông khôn ngoan nói “Hãy trở về với Trái Đất.” Chính phát xạ linh động của prana này tác động lên thể xác, dù trong trường hợp này không phải qua thể dĩ thái. Nó được hấp thu [Page 61] hoàn toàn qua da và các lỗ chân lông là con đường ít trở ngại nhất của nó.

c. The Man. At the base of the spine lie hid the fires of the human system, or the internal fires of the Microcosm. The centre is located there, and from it the radiations go forth along the three channels, recognisable in the spine.

c. Con người. Ở đáy cột sống ẩn giấu các lửa của hệ thống con người, hay các lửa nội tại của Tiểu thiên địa. Trung tâm tọa lạc ở đó, và từ đó các bức xạ phát ra dọc theo ba kênh, có thể nhận biết được trong cột sống.

1. Bodily warmth, the channel along which the heat radiates and which finds the goal of its attention to be the heating of the corporeal frame. This vitalisation of the dense matter of the body finds its correspondence in the systemic akasha, and in planetary productive substance.

1. Hơi ấm cơ thể, kênh dọc theo đó nhiệt bức xạ và mục tiêu chú ý của nó là làm nóng khung thể xác. Sự tiếp sinh lực này cho vật chất đậm đặc của thể tìm thấy sự tương ứng của nó trong akasha hệ thống, và trong chất liệu sinh sản của hành tinh.

2. Nervous response. This is the vitalising tenuous fluid which applies itself to the stimulation of the nervous centres, and which creates electrical response to contact between the nerves and the brain. It should now be more closely studied. It corresponds to systemic electricity, and to planetary electricity.

2. Đáp ứng thần kinh. Đây là lưu chất vi tế tiếp sinh lực, tự áp dụng vào việc kích thích các trung tâm thần kinh, và tạo ra đáp ứng điện đối với sự tiếp xúc giữa các dây thần kinh và bộ não. Hiện nay điều này cần được nghiên cứu chặt chẽ hơn. Nó tương ứng với điện của hệ thống, và với điện của hành tinh.

3. Pranic emanation. The emanation, via the etheric body, which corresponds in man to solar prana and to planetary prana. This demonstrates principally in the health aura and has naught to do with magnetic qualities, as generally interpreted when considering a personality, or man as a unit. I make this repetition as it is very necessary that no mental confusion exists between that magnetism which is a spiritual emanation and that which is purely animal.

3. Phát xạ prana. Phát xạ, qua thể dĩ thái, tương ứng nơi con người với prana thái dương và prana hành tinh. Nó biểu lộ chủ yếu trong hào quang sức khỏe và không liên quan gì đến các phẩm tính từ điện, như thường được diễn giải khi xét đến một phàm ngã, hay con người như một đơn vị. Tôi lặp lại điều này vì rất cần thiết để không có sự lẫn lộn trí tuệ nào giữa từ điện vốn là một phát xạ tinh thần và cái vốn thuần túy động vật.

It might be wise here to point out that this triple manifestation of fire demonstrates in the astral and mental bodies likewise, having to do with the substance of those bodies. We might express this fire in its triple manifestation as the sumtotal of the essential fire, or life activity of the third Logos. It should be carefully borne [Page 62] in mind that the manifestation of the work of the three Logoi is the expression of the mind of some cosmic Entity. In the same way, the seven planetary Entities, the seven Heavenly Men, are seven Logoi (likewise cosmic Beings) Who in Their totality form the Body of the threefold Logos. We have, therefore:

Ở đây có lẽ nên chỉ ra rằng sự biểu lộ tam phân này của lửa cũng biểu lộ trong thể cảm dục và thể trí, liên quan đến chất liệu của các thể ấy. Chúng ta có thể diễn tả lửa này trong biểu lộ tam phân của nó như là tổng số toàn bộ của lửa bản chất, hay hoạt động sự sống của Thượng đế thứ ba. Cần phải luôn ghi nhớ cẩn thận [Page 62] rằng sự biểu lộ công việc của Ba Ngôi Các Thượng đế là biểu hiện của trí tuệ của một Thực Thể vũ trụ nào đó. Cũng theo cách ấy, bảy Thực Thể Hành Tinh, bảy Đấng Thiên Nhân, là bảy Các Thượng đế (cũng là các Hữu thể vũ trụ), Đấng mà trong tổng thể của Các Ngài tạo thành Thể của Thượng đế tam phân. Vì vậy, chúng ta có:

1. The undifferentiated Logos—a cosmic Entity.

1. Thượng đế không phân hoá—một Thực Thể vũ trụ.

2. The Logos, threefold in manifestation:

2. Thượng đế, tam phân trong biểu lộ:

a. The cosmic Lord of Will Power.

a. Đấng Chúa Tể vũ trụ của Quyền năng Ý Chí.

b. The cosmic Lord of Love and Wisdom.

b. Đấng Chúa Tể vũ trụ của Bác Ái và Minh Triết.

c. The cosmic Lord of Active Intelligence.

c. Đấng Chúa Tể vũ trụ của Trí Tuệ Hoạt Động.

3. The triple Logos, sevenfold in manifestation., i.e. The seven planetary Logoi.(18),(19), (20)

3. Thượng đế tam phân, thất phân trong biểu lộ, tức là bảy Hành Tinh Thượng đế. (18), (19), (20)

(18) T. Subba Rao says on page 20, of Esoteric Writings: “As a general rule, whenever seven entities are mentioned in the ancient occult science of India in any connection whatsoever, you must suppose that those seven entities came into existence from three primary entities and that these three entities again are evolved out of a single entity or monad. To take a familiar example, the seven coloured rays in the solar ray are evolved out of three primary coloured rays; and the three primary colours co-exist with the four secondary colours in the solar ray. Similarly the three primary entities which brought man into existence co-exist in him with the four secondary entities which arose from different combinations of the three primary entities.”

(18) T. Subba Rao nói ở trang 20 của Esoteric Writings: “Theo quy luật tổng quát, bất cứ khi nào bảy thực thể được nhắc đến trong khoa huyền bí học cổ xưa của Ấn Độ trong bất kỳ mối liên hệ nào, bạn phải giả định rằng bảy thực thể ấy đã đi vào hiện hữu từ ba thực thể sơ cấp và ba thực thể này lại được tiến hoá ra từ một thực thể hay chân thần duy nhất. Lấy một ví dụ quen thuộc, bảy tia màu sắc trong tia thái dương được tiến hoá ra từ ba tia màu sắc sơ cấp; và ba màu sơ cấp cùng đồng hiện hữu với bốn màu thứ cấp trong tia thái dương. Tương tự như vậy, ba thực thể sơ cấp đã đưa con người vào hiện hữu cũng đồng hiện hữu trong y với bốn thực thể thứ cấp đã phát sinh từ những sự kết hợp khác nhau của ba thực thể sơ cấp.”

In Christian terminology these are the three Persons of the Trinity, and the seven Spirits which are before the Throne. Compare “Our God is a consuming fire.” Heb: 12.29. (back)

Theo thuật ngữ Ki-tô giáo, đây là ba Ngôi của Tam Vị, và Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai. Hãy so sánh câu “Thượng đế của chúng ta là ngọn lửa thiêu đốt.” Hê-bơ-rơ 12:29. (back)

(19) “I have already said in speaking of this Logos, that it was quite possible that it was the Logos that appeared in the shape of the first Dhyan Chohan, or planetary Spirit, when the evolution of man was recommenced after the last period of inactivity on this planet, as stated in Mr. Sinnett’s book, Esoteric Buddhism, and after having set the evolutionary current in motion, retired to the spiritual plane congenial to its own nature, and has been watching since over the interests of humanity, and now and then appearing in connection with a human individuality for the good of mankind. Or you may look upon the Logos represented by Krishna as one belonging to the same class as the Logos which so appeared. In speaking of himself Krishna says, (chap. x, verse 6):

(19) “Tôi đã nói rồi khi bàn đến Logos này, rằng hoàn toàn có thể đó chính là Logos đã xuất hiện dưới hình tướng của vị Dhyan Chohan đầu tiên, hay Tinh thần hành tinh, khi sự tiến hoá của con người được tái khởi động sau thời kỳ bất động cuối cùng trên hành tinh này, như đã nêu trong sách của ông Sinnett, Esoteric Buddhism, và sau khi đã làm cho dòng tiến hoá chuyển động, đã lui về cõi tinh thần phù hợp với bản chất riêng của nó, và từ đó đến nay vẫn dõi theo những lợi ích của nhân loại, thỉnh thoảng lại xuất hiện trong mối liên hệ với một cá thể nhân loại vì lợi ích của loài người. Hoặc bạn có thể xem Logos được Krishna biểu hiện là một Đấng thuộc cùng loại với Logos đã xuất hiện như thế. Khi nói về chính mình, Krishna nói (chương x, câu 6):

“The seven great Rishis, the four preceding Manus, partaking of my nature were born from my mind: from them sprang, was (born) the human race and the world.”

“Bảy vị Rishi vĩ đại, bốn vị Manu đi trước, cùng dự phần vào bản chất của ta, đã sinh ra từ trí của ta: từ các vị ấy đã phát sinh, hay đã sinh ra, nhân loại và thế giới.”

He speaks of the sapta Rishis and of the Manus as his manasaputras, or mind-born sons, which they would be if he was the so-called Prajapati, who appeared on this planet and commenced the work of evolution.”—The Theosophist, Vol. VIII, p. 443. (back)

Ngài nói về các sapta Rishi và các Manu như những manasaputras của Ngài, hay những người con sinh từ trí, đúng như họ sẽ là nếu Ngài là vị Prajapati như người ta thường gọi, Đấng đã xuất hiện trên hành tinh này và khởi sự công việc tiến hoá.”—The Theosophist, Tập VIII, tr. 443. (back)

(20) The following tabulation should be borne in mind:

(20) Cần ghi nhớ bảng liệt kê sau đây:

Seven branch races make

one subrace

Seven subraces make

one rootrace

Seven rootraces make

one world period

Seven world periods make

one round

Seven rounds make

one chain period

Seven chain periods make

one planetary scheme

Ten planetary schemes make

one solar system

(back)

(back)

[Page 63]  Each of these cosmic Entities is, in His essential essence, Fire; each manifests as fire in a threefold manner. In point of time the cosmic Lord of active Intelligence, considered from the standpoint of cosmic evolution, is more evolved than His two Brothers. He is the life of matter, its latent internal Fire. His is the fire essence that lies at the heart of the Sun, of the planet, and of man’s material forms. He is the sumtotal of the Past.

[Page 63]  Mỗi Thực Thể vũ trụ này, trong tinh túy cốt yếu của Ngài, là Lửa; mỗi Ngài biểu lộ như lửa theo cách tam phân. Xét về thời gian, Chúa Tể vũ trụ của Trí Tuệ linh hoạt, được nhìn từ quan điểm của sự tiến hoá vũ trụ, thì tiến hoá hơn hai Huynh Đệ của Ngài. Ngài là sự sống của vật chất, là Lửa nội tại tiềm ẩn của nó. Ngọn lửa tinh túy của Ngài nằm ở trung tâm của Mặt Trời, của hành tinh, và của các hình tướng vật chất của con người. Ngài là tổng thể của Quá Khứ.

The Lord of Cosmic Love now seeks union with His Brother, and, in point of time, embodies all the Present. He is the sumtotal of all that is embodied; He is conscious Existence. He is the Son divine and His life and nature evolve through every existent form. The Lord of Cosmic Will holds hid the future within His plans and consciousness. They are all three the Sons of one Father, all three the aspects of the One God, all three are Spirit, all three are Soul, and all three are Rays emanating from one cosmic centre. All three are substance, but in the past one Lord was the elder Son, in the present another Lord comes to the fore, and in the future still another. But this is so only in Time. From the standpoint of the Eternal Now, none is greater nor less than another, for the last shall be first, and the first last. Out of manifestation time is not, and freed from objectivity states of consciousness are not.

Chúa Tể của Bác Ái Vũ Trụ hiện đang tìm cách hợp nhất với Huynh Đệ của Ngài, và xét về thời gian, Ngài thể hiện toàn bộ Hiện Tại. Ngài là tổng thể của mọi điều được thể hiện; Ngài là Hiện Hữu hữu thức. Ngài là Con thiêng liêng và sự sống cùng bản chất của Ngài tiến hoá qua mọi hình tướng hiện hữu. Chúa Tể của Ý Chí Vũ Trụ giữ kín tương lai trong các kế hoạch và tâm thức của Ngài. Cả ba đều là những Người Con của một Cha, cả ba đều là các phương diện của một Thượng đế Duy Nhất, cả ba đều là tinh thần, cả ba đều là linh hồn, và cả ba đều là những cung phát ra từ một trung tâm vũ trụ. Cả ba đều là chất liệu, nhưng trong quá khứ một Chúa Tể là Người Con trưởng, trong hiện tại một Chúa Tể khác nổi lên hàng đầu, và trong tương lai lại là một Chúa Tể khác nữa. Nhưng điều này chỉ đúng trong Thời gian. Từ quan điểm của Hiện Tại Vĩnh Cửu, không ai lớn hơn hay nhỏ hơn ai, vì kẻ sau sẽ thành trước, và kẻ trước sẽ thành sau. Ngoài biểu hiện thì không có thời gian, và khi được giải thoát khỏi tính khách thể thì cũng không có các trạng thái tâm thức.

The fire of Spirit is the essential fire of the first Lord of Will plus the fire of the second Logos of Love. These two cosmic Entities blend, merge, and demonstrate as Soul, utilising for purposes of manifestation the aid of the third Logos. The three fires blend and merge. In this fourth round and on this fourth globe of our planetary scheme, the fires of the third Logos of intelligent matter are fusing somewhat with the fires of cosmic [Page 64] mind, showing as will or power, and animating the Thinker on all planes. The object of Their co-operation is the perfected manifestation of the cosmic Lord of Love. This should be pondered upon for it reveals a mystery.

Lửa của tinh thần là ngọn lửa cốt yếu của Chúa Tể thứ nhất của Ý Chí cộng với lửa của Logos thứ hai của Bác Ái. Hai Thực Thể vũ trụ này hòa trộn, dung nhập, và biểu lộ như linh hồn, sử dụng sự trợ giúp của Logos thứ ba cho các mục đích biểu hiện. Ba ngọn lửa hòa trộn và dung nhập. Trong cuộc tuần hoàn thứ tư này và trên bầu hành tinh thứ tư này của hệ hành tinh chúng ta, các ngọn lửa của Logos thứ ba của vật chất thông tuệ đang dung hợp phần nào với các ngọn lửa của trí tuệ [Page 64] vũ trụ, biểu lộ như ý chí hay quyền năng, và làm sinh động Nhà Tư Tưởng trên mọi cõi. Mục đích của sự hợp tác của Các Ngài là sự biểu hiện hoàn hảo của Chúa Tể vũ trụ của Bác Ái. Điều này cần được suy gẫm vì nó mặc khải một huyền nhiệm.

The blending of the three fires, the merging of the three Rays, and the co-operation of the three Logoi have in view (at this time and within this solar system) the development of the Essence of the cosmic Lord of Love, the second Person in the logoic trinity. Earlier it was not so, later it will not be, but now it is. When viewed from the cosmic mental plane these Three constitute the PERSONALITY OF THE LOGOS, and are seen functioning as one. Hence the secret (well recognised as fact, though not understood) of the excessive heat, occultly expressed, of the astral or central body of the triple personality. It animates and controls the physical body, and its desires hold sway in the majority of cases; it demonstrates in time and space the correspondence of the temporary union of spirit and matter, the fires of cosmic love and the fires of matter blended. A similar analogy is found in the heat apparent in this second solar system.

Sự hòa trộn của ba ngọn lửa, sự dung nhập của ba cung, và sự hợp tác của ba Logos đều nhắm đến (vào lúc này và trong hệ mặt trời này) sự phát triển Tinh Túy của Chúa Tể vũ trụ của Bác Ái, Ngôi thứ hai trong Tam Vị Thượng đế. Trước đây không phải vậy, về sau cũng sẽ không phải vậy, nhưng hiện nay là như thế. Khi được nhìn từ cõi trí vũ trụ, Ba Đấng này cấu thành PHÀM NGÃ CỦA LOGOS, và được thấy là vận hành như một. Do đó mới có bí mật (một sự kiện đã được thừa nhận rõ, dù chưa được thấu hiểu) về nhiệt quá mức, được diễn đạt theo huyền bí học, của thể cảm dục hay thể trung tâm của phàm ngã tam phân. Nó làm sinh động và kiểm soát thể xác, và các ham muốn của nó chi phối trong đa số trường hợp; nó biểu lộ trong thời gian và không gian sự tương ứng của sự hợp nhất tạm thời giữa tinh thần và vật chất, các ngọn lửa của bác ái vũ trụ và các ngọn lửa của vật chất được hòa trộn. Một sự tương đồng tương tự được tìm thấy trong sức nóng biểu hiện trong hệ mặt trời thứ hai này.

d. The Atom. The inner fires of the atom can likewise be seen functioning along similar lines, their demonstration being already somewhat recognised by science. This being so there exists no necessity for further elaboration. (21)

d. Nguyên tử. Các ngọn lửa bên trong nguyên tử cũng có thể được thấy đang vận hành theo những đường lối tương tự, và sự biểu lộ của chúng đã phần nào được khoa học thừa nhận. Vì đã như vậy, không cần phải khai triển thêm nữa. (21)

(21) “It should be remembered that the mere scale does not matter, for greatness and smallness are essentially relative. The destiny of each atom is to create a brahmanda. Brahmandas like or smaller or larger than ours, held together by a sun, are present in every atom. Vishvas, great world-systems, exist in an atom, and atoms again exist in these vishvas. This is the significance of ‘many from one’; wherever we see the one we should recognise the many also, and conversely. After securing the ability of, and then actually, creating a brahmanda, the next step is the creation of a jagat, then a vishva, then a maha-vishva and so on, till the status of maha-vishnu is reached.”—Bhagavan Das in the Pranava Vada, p. 94. (back)

(21) “Cần nhớ rằng bản thân quy mô không quan trọng, vì lớn và nhỏ về bản chất đều là tương đối. Định mệnh của mỗi nguyên tử là tạo ra một brahmanda. Những brahmanda giống như, nhỏ hơn, hay lớn hơn của chúng ta, được giữ lại với nhau bởi một mặt trời, hiện diện trong mọi nguyên tử. Những vishva, những hệ thống thế giới vĩ đại, tồn tại trong một nguyên tử, và các nguyên tử lại tồn tại trong những vishva này. Đây là ý nghĩa của ‘nhiều từ một’; ở đâu chúng ta thấy cái một thì cũng nên nhận ra cái nhiều, và ngược lại. Sau khi đạt được khả năng, rồi thực sự, tạo ra một brahmanda, bước kế tiếp là tạo ra một jagat, rồi một vishva, rồi một maha-vishva, và cứ thế cho đến khi đạt tới địa vị maha-vishnu.”—Bhagavan Das trong Pranava Vada, tr. 94. (back)

II. FIRE ELEMENTALS AND DEVAS

II. HÀNH KHÍ CỦA LỬA VÀ THIÊN THẦN

[Page 65]  We might now briefly consider the subject of the fire elementals and devas, and then deal with the relation of the Personality Ray to this internal fire of the system in its threefold manifestation.

[Page 65]  Giờ đây chúng ta có thể xét ngắn gọn về đề tài các hành khí của lửa và thiên thần, rồi sau đó bàn đến mối liên hệ của cung phàm ngã với ngọn lửa nội tại này của hệ thống trong biểu hiện tam phân của nó.

Certain facts are known in connection with the fire spirits (if so they may be termed). The fundamental fact that should here be emphasised is that AGNI, the Lord of Fire, rules over all the fire elementals and devas on the three planes of human evolution, the physical, the astral, and the mental, and rules over them not only on this planet, called the Earth, but on the three planes in all parts of the system. He is one of the seven Brothers (to use an expression familiar to students of the Secret Doctrine) Who each embody one of the seven principles, or Who are in Themselves the seven centres in the body of the cosmic Lord of Fire, called by H. P. B. “Fohat.” He is that active fiery Intelligence, Who is the basis of the internal fires of the solar system. On each plane one of these Brothers holds sway, and the three elder Brothers (for always the three will be seen, and later the seven, who eventually merge into the primary three) rule on the first, third and the fifth planes, or on the plane of adi, of atma (22) and of manas. It is urgent that we here remember that They are fire viewed [Page 66] in its third aspect, the fire of matter. In Their totality these seven Lords form the essence of the cosmic Lord, called in the occult books, Fohat. (23)

Một số sự kiện nhất định đã được biết liên quan đến các tinh linh lửa (nếu có thể gọi như vậy). Sự kiện căn bản cần được nhấn mạnh ở đây là AGNI, Chúa Tể của Lửa, cai quản mọi hành khí của lửa và thiên thần trên ba cõi của sự tiến hoá nhân loại, cõi hồng trần, cõi cảm dục và cõi trí, và cai quản họ không chỉ trên hành tinh này, gọi là Trái Đất, mà còn trên ba cõi ấy trong mọi phần của hệ thống. Ngài là một trong bảy Huynh Đệ (dùng một cách diễn đạt quen thuộc với các đạo sinh của Giáo Lý Bí Nhiệm) mà mỗi Đấng thể hiện một trong bảy nguyên khí, hay tự thân là bảy trung tâm trong thể của Chúa Tể vũ trụ của Lửa, được H. P. B. gọi là “Fohat.” Ngài là Trí Tuệ lửa linh hoạt ấy, Đấng là nền tảng của các ngọn lửa nội tại của hệ mặt trời. Trên mỗi cõi, một trong các Huynh Đệ này nắm quyền chi phối, và ba Huynh Đệ trưởng (vì luôn luôn sẽ thấy ba, rồi sau đó là bảy, những Đấng cuối cùng dung nhập vào ba nguyên thủy) cai quản trên các cõi thứ nhất, thứ ba và thứ năm, hay trên cõi adi, của atma (22) và của manas. Điều cấp thiết là ở đây chúng ta phải nhớ rằng Các Ngài là lửa được nhìn [Page 66] trong phương diện thứ ba của nó, lửa của vật chất. Trong tổng thể của Các Ngài, bảy Chúa Tể này tạo thành tinh túy của Chúa Tể vũ trụ, được gọi trong các sách huyền bí là Fohat. (23)

(22) Atma means as you all know the self or the ego or an individualised centre of consciousness around which all worldly experiences in their dual aspect of subjective and objective cluster and arrange themselves. It is as it were one of the foci from which emerge rays of light to illumine the cosmic waters and in which also converge the rays sent back by those waters. In Theosophical writings, it is called the selfconscious individuality or the Higher Manas. From this point of view, you will see that the Higher Manas is the most important principle or the central pivot of the human constitution or the true soul. It is the thread which ought to be caught hold of by one who wants to know the truth and lift himself out of this conditioned existence. To this it may be objected that Atma represents the seventh principle of the theosophical septenary and that the Manas is far lower in the scale. But the plain answer is that the seventh principle is the ultimate state attainable by the self after crossing the ocean of conditioned existence or samsara.”—Some Thoughts on the Gita, p. 26. (back)

(22) Atma có nghĩa, như tất cả các bạn đều biết, là bản ngã hay chân ngã hoặc một trung tâm tâm thức đã được biệt ngã hóa, quanh đó mọi kinh nghiệm thế gian trong phương diện kép chủ quan và khách quan của chúng tụ lại và tự sắp xếp. Nó có thể nói là một trong những tiêu điểm từ đó các tia sáng phát ra để soi sáng các đại dương vũ trụ và trong đó cũng hội tụ các tia được những đại dương ấy phản chiếu trở lại. Trong các trước tác Thông Thiên Học, nó được gọi là cá thể tính ngã thức hay Thượng trí. Từ quan điểm này, bạn sẽ thấy rằng Thượng trí là nguyên khí quan trọng nhất hay trục trung tâm của cấu tạo con người, hay linh hồn đích thực. Nó là sợi dây mà người nào muốn biết chân lý và nâng mình ra khỏi hiện hữu bị điều kiện hóa này, hay luân hồi, phải nắm lấy. Có thể có người phản đối điều này rằng Atma biểu hiện nguyên khí thứ bảy của bộ bảy nguyên lý theo Thông Thiên Học và rằng Manas ở thấp hơn nhiều trong thang bậc. Nhưng câu trả lời rõ ràng là nguyên khí thứ bảy là trạng thái tối hậu mà bản ngã có thể đạt được sau khi vượt qua đại dương của hiện hữu bị điều kiện hóa hay samsara.”—Some Thoughts on the Gita, tr. 26. (back)

(23) Fohat, or electricity, is an Entity.

(23) Fohat, hay điện, là một Thực Thể.

He is the primordial

electric Entity

S. D., I, 105.

He is

Will

S. D., I, 136.

He is

Love-Wisdom

S. D., I, 100,144,155.

He is

Active Intelligence

S. D., I, 136.

Therefore He is God

S. D., I, 167.

He is the sumtotal of the energy of the seven Spirits, Who are the sumtotal of the Logos.—S. D., I, 169. (back)

Ngài là tổng thể của năng lượng của bảy Thánh Linh, các Đấng là tổng thể của Logos.—S. D., I, 169. (back)

This is so in the same sense as the seven Chohans, (24) with Their affiliated groups of pupils, form the essence or centres in the body of one of the Heavenly Men, one of the planetary Logoi. These seven again in Their turn form the essence of the Logos.

Điều này cũng đúng theo cùng ý nghĩa như bảy Chohan, (24) cùng với các nhóm đệ tử trực thuộc của Các Ngài, tạo thành tinh túy hay các trung tâm trong thể của một trong các Đấng Thiên Nhân, một trong các Hành Tinh Thượng đế. Bảy Đấng này, đến lượt mình, lại tạo thành tinh túy của Logos.

(24) Chohan (Tibetan). A Lord or Master. A high Adept. An initiate who has taken more Initiations than the five major Initiations which make man a “Master of the Wisdom.” (back)

(24) Chohan (Tây Tạng). Một Chúa Tể hay Chân sư. Một chân sư cao cấp. Một điểm đạo đồ đã nhận nhiều lần điểm đạo hơn năm lần điểm đạo lớn khiến con người trở thành một “Chân sư Minh Triết.” (back)

Each of the seven Lords of Fire (25) are differentiated into numerous groups of fire entities, from the Deva-Lords of a plane down to the little salamanders of the internal furnaces. We are not dealing with the fiery essences of the higher planes at this stage in our discussion. We will only enumerate somewhat briefly some of the better known groups, as contacted in the three worlds.

Mỗi một trong bảy Chúa Tể của Lửa (25) đều được biến phân thành vô số nhóm thực thể lửa, từ các Chúa Tể Thiên thần của một cõi cho đến những salamander nhỏ bé của các lò lửa bên trong. Ở giai đoạn này của cuộc bàn luận, chúng ta không đề cập đến các tinh túy lửa của các cõi cao hơn. Chúng ta sẽ chỉ liệt kê thật ngắn gọn một vài nhóm được biết đến nhiều hơn, như được tiếp xúc trong ba cõi thấp.

(25) The seven Brothers. See S. D., I, 105. These seven are the seven differentiations of primordial electric energy.

(25) Bảy Huynh Đệ. Xem S. D., I, 105. Bảy vị này là bảy sự biến phân của năng lượng điện nguyên thủy.

Plane. As used in occultism, the term denotes the range or extent of some state of consciousness or of the perceptive power of a particular set of senses or the action or a particular force, or the state of matter corresponding to any of the above. (back)

Cõi. Như được dùng trong huyền bí học, thuật ngữ này chỉ phạm vi hay tầm mức của một trạng thái tâm thức nào đó, hay của năng lực tri giác của một tập hợp giác quan nhất định, hay hoạt động của một mãnh lực đặc thù, hay trạng thái của vật chất tương ứng với bất kỳ điều nào kể trên. (back)

1. Physical Plane.

1. Cõi Hồng Trần.

Salamanders, those little fire elementals who can be seen dancing in every flame, tending the fires of the hearth and the home, and of the factory. They are of the same group as the fire spirits who can be contacted deep in the fiery bowels of the planet.

Salamander, những hành khí của lửa nhỏ bé có thể được thấy nhảy múa trong mọi ngọn lửa, chăm nom các bếp lửa của lò sưởi và gia đình, cũng như của nhà máy. Chúng thuộc cùng một nhóm với các tinh linh lửa có thể được tiếp xúc sâu trong những lòng lò rực lửa của hành tinh.

Fire spirits, latent in all focal points of heat, who are themselves the essence of warmth, and can be contacted [Page 67] in the heat of the bodily frame, whether human or animal, and who are likewise the warmth terrestrial.

Các tinh linh lửa, tiềm ẩn trong mọi tiêu điểm của nhiệt, bản thân chúng là tinh túy của hơi ấm, và có thể được tiếp xúc [Page 67] trong sức nóng của khung thể, dù là người hay thú, và cũng chính là hơi ấm của địa cầu.

The Agnichaitans, a higher grade of fire spirit, who form a vortex of fire when viewed on a large scale, such as in volcanoes and large destructive burnings. They are closely allied to a still more important group of devas, who form the fiery envelope of the sun.

Các Agnichaitan, một cấp bậc cao hơn của tinh linh lửa, tạo thành một xoáy lửa khi được nhìn trên quy mô lớn, như trong núi lửa và những đám cháy hủy diệt lớn. Chúng có liên hệ mật thiết với một nhóm thiên thần còn quan trọng hơn nữa, những vị tạo thành lớp bao lửa của mặt trời.

The pranic elementals, those minute fiery essences who have the ability to permeate the texture of the human body, of a tree, or of all that may be found in the human, vegetable and animal kingdoms, and who blend with the fires of the microcosmic systems.

Các hành khí prana, những tinh túy lửa cực vi có khả năng thấm vào kết cấu của thể người, của cây cối, hay của mọi thứ có thể tìm thấy trong giới nhân loại, giới thực vật và giới động vật, và hòa trộn với các ngọn lửa của các hệ thống tiểu thiên địa.

Certain of the deva kingdom who may be described as ensouling certain of the great light rays, and Who are in Themselves the essence of those rays. Other forms of such elemental lives and of deva groups might be enumerated, but the above tabulation will suffice for our present purpose.

Một số vị trong giới thiên thần có thể được mô tả là đang phú linh cho một số tia sáng lớn, và tự thân Các Ngài là tinh túy của những tia ấy. Có thể liệt kê thêm những dạng khác của các sự sống hành khí như thế và của các nhóm thiên thần, nhưng bảng trên là đủ cho mục đích hiện tại của chúng ta.

2. The Astral Plane.

2. Cõi Cảm Dục.

The fiery essences of this plane are more difficult for us to comprehend, having not, as yet, the seeing eye upon that plane. They are in themselves the warmth and heat of the emotional body, and of the body of feeling. They are of a low order when upon the path of desire, and of a high order when upon the path of aspiration, for the elemental is then transmuted into the deva.

Các tinh túy lửa của cõi này khó để chúng ta hiểu hơn, vì chúng ta chưa có con mắt thấy trên cõi ấy. Tự thân chúng là hơi ấm và sức nóng của thể cảm dục, và của thể cảm xúc. Chúng thuộc cấp thấp khi ở trên con đường dục vọng, và thuộc cấp cao khi ở trên con đường khát vọng, vì khi đó hành khí được chuyển hoá thành thiên thần.

Their grades and ranks are many, but their names matter not save in one instance. It may be of interest to know the appellation applied to the devas of fire whose part it is to tend the fires that will later destroy the causal body. We need to remember that it is the upspringing of the latent fire of matter and its merging with two other fires that causes destruction. These elementals and devas are called the Agnisuryans, and in [Page 68] their totality are the fiery essences of buddhi, hence their lowest manifestation is on the sixth plane, the astral.

Cấp bậc và thứ hạng của chúng rất nhiều, nhưng tên gọi của chúng không quan trọng ngoại trừ trong một trường hợp. Có lẽ điều đáng quan tâm là biết danh xưng được áp dụng cho các thiên thần lửa có phần việc là chăm nom những ngọn lửa mà về sau sẽ hủy diệt thể nguyên nhân. Chúng ta cần nhớ rằng chính sự bùng lên của lửa tiềm ẩn của vật chất và sự dung nhập của nó với hai ngọn lửa khác gây ra sự hủy diệt. Những hành khí và thiên thần này được gọi là Agnisuryan, và trong [Page 68] tổng thể của chúng, chúng là các tinh túy lửa của Bồ đề, vì vậy biểu hiện thấp nhất của chúng là trên cõi thứ sáu, cõi cảm dục.

Further information concerning these deva lives will be found further on in the Treatise, where they are dealt with at some length.

Thông tin thêm về các sự sống thiên thần này sẽ được tìm thấy ở phần sau của Luận thuyết, nơi chúng được bàn đến khá dài.

DIVISION B – THE PERSONALITY RAY AND FIRE BY FRICTION

PHÂN ĐOẠN B – CUNG PHÀM NGÃ VÀ LỬA MA SÁT

I. The work of the three rays

I. Công việc của ba cung

1. The personality ray.

1. Cung phàm ngã.

2. The wgoic ray.

2. Cung chân ngã.

3. The monadic ray.

3. Cung chân thần.

II. The personality ray and the permanent atom.

II. Cung phàm ngã và nguyên tử trường tồn.

III. The personality ray and karma,

III. Cung phàm ngã và nghiệp quả,

I. THE WORK OF THE THREE RAYS

I. CÔNG VIỆC CỦA BA CUNG

[Page 69]  We here touch upon a matter of wide general interest yet which is withal very little comprehended. I refer to the subject of the permanent atoms. (26) Each body or form wherein Spirit functions has, for its focal point on each plane, an atom composed of matter of the atomic subplane of each plane. This serves as a nucleus for the distribution of force, for the conservation of faculty, for the assimilation of experience, and for the preservation [Page 70] of memory. These atoms are in direct connection with one or other of the three Great rays in connection with the microcosm:—

[Page 69]  Ở đây chúng ta chạm đến một vấn đề được quan tâm rộng rãi nói chung nhưng lại rất ít được thấu hiểu. Tôi muốn nói đến đề tài các nguyên tử trường tồn. (26) Mỗi thể hay hình tướng mà trong đó tinh thần vận hành đều có, làm tiêu điểm của nó trên mỗi cõi, một nguyên tử được cấu tạo bằng vật chất của cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi. Nguyên tử này làm hạt nhân cho sự phân phối mãnh lực, cho sự bảo tồn năng lực, cho sự đồng hoá kinh nghiệm, và cho sự gìn giữ [Page 70] ký ức. Những nguyên tử này có liên hệ trực tiếp với một hay một khác trong ba cung lớn liên quan đến tiểu thiên địa:—

(26) Permanent Atom. An appropriated point of atomic matter. A tiny centre of force which forms the central factor and the attractive agency around which the sheaths of the incarnating Monad are built. These are strung like pearls upon the sutratma, or thread.

(26) Nguyên tử trường tồn. Một điểm vật chất nguyên tử được chiếm dụng. Một trung tâm mãnh lực cực nhỏ tạo thành yếu tố trung tâm và tác nhân hấp dẫn quanh đó các vỏ bọc của Chân thần đang lâm phàm được xây dựng. Chúng được xâu như những hạt ngọc trên sutratma, hay sợi dây.

Ray. A stream of force or an emanation. The solar Logos, or the Macrocosm, manifests through three major rays and four minor rays. The Monad or microcosm likewise manifests through three rays as mentioned in the text above. All rays express a peculiar and specialised type of force.

Cung. Một dòng mãnh lực hay một sự phát xạ. Thái dương Thượng đế, hay Đại thiên địa, biểu lộ qua ba cung chính và bốn cung phụ. Chân thần hay tiểu thiên địa cũng biểu lộ qua ba cung như đã nêu trong đoạn trên. Mọi cung đều biểu lộ một loại mãnh lực đặc thù và chuyên biệt.

Triad. This is literally Atma-buddhi-manas, the expression of the Monad, just as the personality is the expression of the Ego. The Monad expresses itself through the Triad, and in its lowest or third Aspect forms the Egoic or Causal body, the infant or germinal Ego. Similarly, the Ego expresses itself through the threefold lower man, mental, emotional, and etheric (these being the reflection of the higher triad) and these three give rise to the dense physical manifestation. (back)

Tam nguyên tinh thần. Theo nghĩa đen, đây là Atma-buddhi-manas, sự biểu lộ của chân thần, cũng như phàm ngã là sự biểu lộ của chân ngã. Chân thần biểu lộ qua Tam nguyên tinh thần, và trong Phương diện thấp nhất hay thứ ba của nó tạo thành thể Chân ngã hay thể nguyên nhân, chân ngã sơ sinh hay mầm mống. Tương tự như vậy, chân ngã biểu lộ qua phàm nhân tam phân thấp, trí tuệ, cảm xúc và dĩ thái (ba điều này là sự phản chiếu của tam nguyên cao hơn) và ba điều này làm phát sinh biểu hiện hồng trần đậm đặc. (back)

a. The Monadic Ray, the synthetic ray of the microcosm.

a. Cung Chân thần, cung tổng hợp của tiểu thiên địa.

b. The Egoic Ray.

b. Cung Chân ngã.

c. The Personality Ray.

c. Cung Phàm ngã.

of the higher Triad) and these three give rise to the dense physical manifestation.

của Tam nguyên tinh thần cao hơn) và ba điều này làm phát sinh biểu hiện hồng trần đậm đặc.

Each of these rays has a connection with one or other of the permanent atoms in the lower threefold man, and has a direct action upon the spirillae (27) found within the atom. We have noted in “Letters on Occult Meditation” that the atoms of the lower threefold man underwent a twofold process:—

Mỗi cung này có liên hệ với một hay một khác trong các nguyên tử trường tồn trong con người tam phân thấp, và có tác động trực tiếp lên các loa tuyến (27) được tìm thấy bên trong nguyên tử. Chúng ta đã lưu ý trong “Letters on Occult Meditation” rằng các nguyên tử của con người tam phân thấp đã trải qua một tiến trình nhị phân:—

(27) Spirilla: “In order to examine the construction of the atom, a space is artificially made, then, if an opening be made in the wall thus constructed, the surrounding force flows in, and three whorls immediately appear, surrounding the “hole” with their triple spiral of two and a half coils, and returning to their origin by a spiral within the atom; these are at once followed by seven finer whorls, which following the spiral of the first three on the outer surface and returning to their origin by a spiral within that, flowing in the opposite direction form a caduceus with the first three. Each of the three coarser whorls, flattened out, makes a closed circle; each of the seven finer ones, similarly flattened out, makes a closed circle. The forces which flow in them, again, come from “outside,” from a fourth-dimensional space. Each of the finer whorls is formed of seven yet finer ones, set successively at right angles to each other, each finer than its predecessor; these we call spirillae.

(27) Loa tuyến: “Để khảo sát cấu tạo của nguyên tử, người ta tạo ra một khoảng không một cách nhân tạo; rồi nếu tạo một lỗ mở trong bức tường được dựng nên như thế, mãnh lực chung quanh sẽ tràn vào, và ba vòng xoáy lập tức xuất hiện, bao quanh ‘lỗ’ bằng đường xoắn ốc tam phân của chúng gồm hai vòng rưỡi, rồi trở về điểm xuất phát bằng một đường xoắn ốc bên trong nguyên tử; ngay sau đó là bảy vòng xoáy mịn hơn, đi theo đường xoắn ốc của ba vòng đầu trên bề mặt ngoài và trở về điểm xuất phát bằng một đường xoắn ốc bên trong đường kia, chảy theo hướng ngược lại, tạo thành một caduceus với ba vòng đầu. Mỗi một trong ba vòng xoáy thô hơn, khi được trải phẳng ra, tạo thành một vòng tròn khép kín; mỗi một trong bảy vòng xoáy mịn hơn cũng vậy, khi được trải phẳng ra, tạo thành một vòng tròn khép kín. Các mãnh lực chảy trong chúng, một lần nữa, đến từ ‘bên ngoài’, từ một không gian bốn chiều. Mỗi vòng xoáy mịn hơn lại được tạo thành từ bảy vòng còn mịn hơn nữa, được đặt nối tiếp nhau theo góc vuông, mỗi vòng mịn hơn vòng trước; chúng tôi gọi những vòng này là các loa tuyến.

“Each spirilla is animated by the life-force of a plane, and four are at present normally active, one for each round. Their activity in an individual may be prematurely forced by yoga practice.”—Occult Chemistry, p. 28. (back)

“Mỗi loa tuyến được làm sinh động bởi sinh lực của một cõi, và hiện nay bốn loa tuyến hoạt động bình thường, một cho mỗi cuộc tuần hoàn. Hoạt động của chúng trong một cá nhân có thể bị cưỡng bức phát triển sớm bằng việc thực hành yoga.”—Occult Chemistry, tr. 28. (back)

They were first vivified in rotation, and each held the light in ordered sequence until the lower triangle was entirely illumined.

Thoạt tiên, chúng được tiếp sinh lực theo vòng tuần tự, và mỗi cái giữ ánh sáng theo trình tự có trật tự cho đến khi tam giác thấp hoàn toàn được soi sáng.

Eventually transmutation took place, or (to word it otherwise) the polarisation eventually shifted into the three permanent atoms of the Triad, and out of the three permanent atoms of the lower triangle. The physical permanent atom is transcended and the polarisation becomes manasic or mental, the astral permanent atom is transcended and the polarisation becomes buddhic, while the mental unit is superseded by the permanent [Page 71] atom, of the fifth plane, the atmic. This is all brought about by the action of the three rays upon the atoms and upon the life within each atom. The relationship between these three rays and the permanent atoms might be summarised as follows:

Cuối cùng, sự chuyển hoá đã diễn ra, hay (nói cách khác) sự phân cực rốt cuộc đã chuyển vào ba Nguyên tử trường tồn của Tam nguyên tinh thần, và ra khỏi ba Nguyên tử trường tồn của tam giác thấp. Nguyên tử trường tồn hồng trần được vượt qua và sự phân cực trở thành manas hay trí tuệ, nguyên tử trường tồn cảm dục được vượt qua và sự phân cực trở thành Bồ đề, trong khi đơn vị hạ trí được thay thế bởi nguyên tử trường tồn [Page 71] của cõi thứ năm, tức atma. Tất cả điều này được mang lại bởi tác động của ba cung lên các nguyên tử và lên sự sống bên trong mỗi nguyên tử. Mối liên hệ giữa ba cung này và các Nguyên tử trường tồn có thể được tóm lược như sau:

The Personality Ray has direct action upon the physical permanent atom.

Cung phàm ngã tác động trực tiếp lên nguyên tử trường tồn hồng trần.

The Egoic Ray has a similar action upon the astral permanent atom.

Cung chân ngã có tác động tương tự lên nguyên tử trường tồn cảm dục.

The Monadic Ray has a close connection with the mental unit.

Cung chân thần có liên hệ mật thiết với đơn vị hạ trí.

The effect which they have is threefold, but is not simultaneous; they work ever, as do all things in Nature, in ordered cycles. The stimulation, for instance, that is the result of the action of the monadic Ray upon the mental unit is only felt when the aspirant treads the Path, or after he has taken the first Initiation. The action of the egoic Ray upon the astral permanent atom is felt as soon as the Ego can make good connection with the physical brain; when this is so the egoic ray is beginning to affect the atom powerfully and continuously; this occurs when a man is highly evolved and is nearing the Path. This threefold force is felt in the following way:

Hiệu quả mà chúng tạo ra là tam phân, nhưng không đồng thời; chúng luôn hoạt động, như mọi sự trong bản chất, theo các chu kỳ có trật tự. Chẳng hạn, sự kích thích là kết quả của tác động của cung chân thần lên đơn vị hạ trí chỉ được cảm nhận khi người chí nguyện bước trên Con Đường, hoặc sau khi y đã nhận lần điểm đạo thứ nhất. Tác động của cung chân ngã lên nguyên tử trường tồn cảm dục được cảm nhận ngay khi chân ngã có thể tạo được sự liên kết tốt với bộ não hồng trần; khi điều này xảy ra, cung chân ngã bắt đầu ảnh hưởng mạnh mẽ và liên tục lên nguyên tử ấy; điều này xảy ra khi một người đã tiến hoá cao và đang đến gần Con Đường. Mãnh lực tam phân này được cảm nhận theo cách sau:

First. It plays upon the wall of the atom as an external force and affects its rotary and vibratory action.

Thứ nhất. Nó tác động lên vách của nguyên tử như một mãnh lực bên ngoài và ảnh hưởng đến chuyển động quay và rung động của nó.

Second. It stimulates the inner fire of the atom and causes its light to shine with increasing brilliancy.

Thứ hai. Nó kích thích lửa bên trong nguyên tử và khiến ánh sáng của nó chiếu rạng ngày càng chói lọi hơn.

Third. It works upon the spirillae, and brings them all gradually into play.

Thứ ba. Nó tác động lên các loa tuyến, và dần dần đưa tất cả chúng vào hoạt động.

II. THE PERSONALITY RAY AND THE PERMANENT ATOM

II. CUNG PHÀM NGÃ VÀ NGUYÊN TỬ TRƯỜNG TỒN

The Personality Ray deals with the first four spirillae, and is the source of their stimulation. Note here the [Page 72] correspondence to the lower quaternary and its stimulation by the ego. The Egoic Ray concerns itself with the fifth spirilla and with the sixth, and is the cause of their emerging from latency and potentiality into power and activity. The Monadic Ray is the source of the stimulation of the seventh spirilla.

Cung Phàm ngã đề cập đến bốn loa tuyến đầu tiên, và là nguồn kích thích của chúng. Ở đây, hãy lưu ý sự [Page 72] tương ứng với bộ tứ thấp và sự kích thích của nó bởi chân ngã. Cung Chân ngã liên quan đến loa tuyến thứ năm và thứ sáu, và là nguyên nhân khiến chúng thoát khỏi trạng thái tiềm ẩn và tiềm năng để đi vào quyền năng và hoạt động. Cung Chân thần là nguồn kích thích loa tuyến thứ bảy.

There is great interest attached to this subject and wide reaches of thought and vast fields for investigation open up before the earnest student. This threefold action varies in point of time and sequence according to the ray itself upon which the Monad may be found; but the subject is too vast to be handled at this time.

Đề tài này rất đáng quan tâm, và những chân trời tư tưởng rộng lớn cùng những lĩnh vực khảo cứu bao la mở ra trước mắt đạo sinh tha thiết. Tác động tam phân này thay đổi về thời điểm và trình tự tùy theo chính cung mà chân thần được tìm thấy trên đó; nhưng đề tài này quá bao la để có thể bàn đến vào lúc này.

In looking at the matter from the standpoint of fire the idea may be grasped a little through the realisation that the latent fire of matter in the atom is brought into brilliance and usefulness by the action of the personality Ray which merges with this fire and stands in the same position to the permanent atom in the microcosm as FOHAT does on the cosmic plane. The fire is there hidden within the sphere (whether the sphere systemic or the sphere atomic) and the personality Ray in the one case, and Fohat in the other, acts as the force which brings latency into activity and potentiality into demonstrated power. This correspondence should be thought out with care and judgment. Just as Fohat has to do with active manifestation or objectivity, so the personality Ray has to do with the third, or activity aspect in the microcosm. The work of the third aspect logoic was the arranging of the matter of the system so that eventually it could be built into form through the power of the second aspect. Thus the correspondence works out. By life upon the physical plane (that life wherein the physical permanent atom has its full demonstration) the matter is arranged and separated that must eventually be built into the Temple of Solomon, the egoic body, through the agency of the egoic life, the second [Page 73] aspect. In the quarry of the personal life are the stones prepared for the great Temple. In existence upon the physical plane and in the objective personal life is that experience gained which demonstrates as faculty in the Ego. What is here suggested would richly repay our closest attention, and open up before us reaches of ideas, which should eventuate in a wiser comprehension, a sounder judgment, and a greater encouragement to action.

Khi xem xét vấn đề từ quan điểm của lửa, ý tưởng này có thể được nắm bắt phần nào qua sự chứng nghiệm rằng lửa tiềm ẩn của vật chất trong nguyên tử được đưa đến chỗ rực sáng và hữu dụng nhờ tác động của cung phàm ngã, cung này hòa nhập với lửa ấy và đứng trong cùng vị trí đối với nguyên tử trường tồn trong tiểu thiên địa như FOHAT đứng trên cõi vũ trụ. Lửa ấy ẩn kín bên trong khối cầu (dù là khối cầu hệ thống hay khối cầu nguyên tử), và cung phàm ngã trong trường hợp này, còn Fohat trong trường hợp kia, hoạt động như mãnh lực đưa cái tiềm ẩn vào hoạt động và cái tiềm năng vào quyền năng được biểu lộ. Sự tương ứng này cần được suy nghĩ với sự cẩn trọng và phân biện. Cũng như Fohat liên quan đến sự biểu hiện tích cực hay tính khách quan, thì cung phàm ngã liên quan đến phương diện thứ ba, hay phương diện hoạt động, trong tiểu thiên địa. Công việc của phương diện thứ ba Thượng đế là sắp xếp vật chất của hệ thống để cuối cùng nó có thể được xây dựng thành hình tướng nhờ quyền năng của phương diện thứ hai. Như vậy sự tương ứng được triển khai. Bằng sự sống trên cõi hồng trần (sự sống mà trong đó nguyên tử trường tồn hồng trần có sự biểu lộ trọn vẹn của nó), vật chất được sắp xếp và phân tách để cuối cùng phải được xây dựng thành Đền thờ Solomon, thể chân ngã, thông qua tác nhân của sự sống chân ngã, phương diện thứ hai [Page 73] . Trong mỏ đá của đời sống cá nhân, những phiến đá được chuẩn bị cho Đại Đền thờ. Trong sự tồn tại trên cõi hồng trần và trong đời sống cá nhân khách quan, kinh nghiệm được thu nhận, kinh nghiệm ấy biểu lộ thành năng lực trong chân ngã. Điều được gợi ra ở đây rất đáng để chúng ta chú tâm sát sao nhất, và mở ra trước mắt chúng ta những chân trời ý tưởng, những điều này sẽ dẫn đến sự thấu hiểu minh triết hơn, sự phán đoán vững chắc hơn, và sự khích lệ hành động lớn lao hơn.

III. THE PERSONALITY RAY AND KARMA

III. CUNG PHÀM NGÃ VÀ NGHIỆP QUẢ

It might be wise here to recapitulate a little so that in the refreshing of the memory may come the basis of further knowledge. We dealt first with the three fires of the system, macrocosmic and microcosmic, and having laid down certain hypotheses we passed to the consideration of the first of the fires, that which is inherent in matter. Having studied it somewhat in its threefold manifestation in the various parts of the system, including man, we took up the matter of the personality Ray and its relationship to this third fire. We must recall here that all that has been dealt with has been in relation to matter, and for the whole of this first section this thought must be borne carefully in mind.

Ở đây, có lẽ nên tóm lược lại đôi chút để trong sự làm mới ký ức có thể xuất hiện nền tảng cho tri thức sâu hơn. Trước hết, chúng ta đã bàn đến ba ngọn lửa của hệ thống, đại thiên địa và tiểu thiên địa, và sau khi đặt ra một số giả thuyết, chúng ta chuyển sang xem xét ngọn lửa thứ nhất, tức ngọn lửa vốn cố hữu trong vật chất. Sau khi nghiên cứu phần nào sự biểu hiện tam phân của nó trong các phần khác nhau của hệ thống, kể cả con người, chúng ta đã đề cập đến vấn đề cung phàm ngã và mối liên hệ của nó với ngọn lửa thứ ba này. Ở đây, chúng ta phải nhớ rằng tất cả những gì đã được bàn đến đều liên quan đến vật chất, và trong toàn bộ phần thứ nhất này, tư tưởng ấy phải được ghi nhớ cẩn thận.

In our second section we will consider all from the standpoint of mind, and in the final from the standpoint of the Divine Ray. Here we are dealing with what H. P. B. calls the primordial ray and its manifestations in matter. (See S. D., I, 108; II, 596.) All these Rays of Cosmic Mind, Primordial Activity, and Divine Love-Wisdom are but essential quality demonstrating through the agency of some one factor.

Trong phần thứ hai, chúng ta sẽ xem xét mọi sự từ quan điểm của trí tuệ, và trong phần cuối cùng từ quan điểm của cung thiêng liêng. Ở đây, chúng ta đang bàn đến điều mà H. P. B. gọi là cung nguyên sơ và các biểu hiện của nó trong vật chất. (Xem S. D., I, 108; II, 596.) Tất cả các Cung của Trí Tuệ Vũ Trụ, Hoạt Động Nguyên Sơ, và Bác Ái – Minh Triết thiêng liêng này chỉ là phẩm tính cốt yếu được biểu lộ thông qua tác nhân của một yếu tố nào đó.

The Primordial Ray is the quality of motion, demonstrating through matter.

Cung Nguyên sơ là phẩm tính của chuyển động, được biểu lộ qua vật chất.

[Page 74]  The Ray of Mind is the quality of intelligent organisation, demonstrating through forms, which are the product of motion and matter.

[Page 74]  Cung Trí Tuệ là phẩm tính của sự tổ chức thông minh, được biểu lộ qua các hình tướng, vốn là sản phẩm của chuyển động và vật chất.

The Ray of Love-Wisdom is the quality of basic motive that utilises the intelligent organisation of matter in motion to demonstrate in one synthetic whole the great Love aspect of the Logos. (S. D., I, 99, 108; II, 596.)

Cung Bác Ái – Minh Triết là phẩm tính của động cơ căn bản, động cơ này sử dụng sự tổ chức thông minh của vật chất đang chuyển động để biểu lộ trong một toàn thể tổng hợp duy nhất phương diện Bác Ái vĩ đại của Logos. (S. D., I, 99, 108; II, 596.)

This line of thought can be worked out also correspondingly in the Microcosm, and will show how individual man is engaged in the same type of work on a lesser scale as the solar Logos.

Dòng tư tưởng này cũng có thể được triển khai tương ứng trong Tiểu thiên địa, và sẽ cho thấy con người cá nhân đang tham gia cùng một loại công việc ở quy mô nhỏ hơn như Thái dương Thượng đế.

At this point in the treatise we are confining our attention to the Ray of Active Matter, or to that latent heat in substance which underlies its activity and is the cause of its motion. If we think with sincerity and with clarity we will see how closely therefore the Lipika Lords or the Lords of Karma are associated with this work. Three of Them are closely connected with Karma as it concerns one or other of the three great Rays, or the three FIRES, while the fourth Lipika Lord synthesizes the work of his three Brothers and attends to the uniform blending and merging of the three fires. On our planet, the Earth, They find Their points of contact through the three “Buddhas of Activity,” (30) (the correspondence should be noted here) and the fourth Kumara, the Lord of the World. Therefore, we arrive at the realisation that the personality Ray, in its relation to the fire of matter, is directly influenced and adjusted in its working by one of the Buddhas of Activity.

Tại điểm này trong bộ luận, chúng ta đang giới hạn sự chú ý vào Cung của Vật Chất Hoạt Động, hay vào nhiệt tiềm ẩn trong chất liệu, thứ làm nền cho hoạt động của nó và là nguyên nhân của chuyển động của nó. Nếu chúng ta suy nghĩ với sự chân thành và sáng tỏ, do đó chúng ta sẽ thấy các Đấng Lipika hay các Đấng Nghiệp Quả gắn bó mật thiết với công việc này đến mức nào. Ba Vị trong Các Ngài liên hệ chặt chẽ với nghiệp quả khi nó liên quan đến một hay một khác trong ba Cung lớn, hay ba NGỌN LỬA, trong khi Đấng Lipika thứ tư tổng hợp công việc của ba Huynh đệ của Ngài và chăm lo sự hòa trộn và hòa nhập đồng đều của ba ngọn lửa. Trên hành tinh của chúng ta, Trái Đất, Các Ngài tìm thấy những điểm tiếp xúc của Các Ngài thông qua ba “Đức Phật Hoạt Động,” (30) (sự tương ứng ở đây cần được lưu ý) và Kumara thứ tư, Đức Chúa Tể Thế Giới. Vì vậy, chúng ta đi đến sự chứng nghiệm rằng cung phàm ngã, trong mối liên hệ của nó với lửa của vật chất, được một trong các Đức Phật Hoạt Động trực tiếp ảnh hưởng và điều chỉnh trong hoạt động của nó.

(30) “Buddhas of Activity.” The ‘Pratyeka Buddhas.’ This is a degree which belongs exclusively to the Yogacharya School, yet it is only one of high intellectual development with no true spirituality….It is one of the three paths to Nirvana, and the lowest, in which a yogi—”without teacher and without saving others”—by the mere force of will and technical observances, attains to a kind of nominal Buddahood individually.”—Theosophical Glossary. (back)

(30) “Các Đức Phật Hoạt Động.” Các ‘Pratyeka Buddha.’ Đây là một cấp độ chỉ riêng Trường phái Yogacharya mới có, tuy nhiên đó chỉ là một sự phát triển trí tuệ cao mà không có tinh thần chân chính…. Đó là một trong ba con đường dẫn đến Niết Bàn, và là con đường thấp nhất, trong đó một yogi—“không có huấn sư và không cứu giúp người khác”—chỉ bằng mãnh lực của ý chí và các nghi thức kỹ thuật, đạt đến một loại Phật quả trên danh nghĩa một cách cá nhân.”—Theosophical Glossary. (trở lại)

[Page 75]  The karma (31, 32, 33) of matter itself is an abstruse subject and has as yet scarcely been hinted at. It is nevertheless indissolubly mixed up with the karma of the individual. It involves a control of the evolution of the monadic essence, the elemental essence and of the atomic matter of the plane; it is concerned with the development of the four spirillae, with their activity, with their attachment to forms when atomic, and with the development of the inner latent heat and its gradual fiery increase until we have within the atom a repetition of what is seen within the causal body: the destruction of the periphery of the atom by the means of burning. It deals with the subject of the building of matter into form by the interaction of the two rays, the Divine and the Primordial, producing thereby that fire by friction which tends to life and fusing.

[Page 75]  Nghiệp quả (31, 32, 33) của chính vật chất là một đề tài thâm áo và cho đến nay hầu như chưa được gợi ý đến. Tuy nhiên, nó gắn bó bất khả phân ly với nghiệp quả của cá nhân. Nó bao hàm sự kiểm soát tiến hoá của tinh chất chân thần, tinh chất hành khí và vật chất nguyên tử của cõi; nó liên quan đến sự phát triển của bốn loa tuyến, hoạt động của chúng, sự gắn kết của chúng với các hình tướng khi ở trạng thái nguyên tử, và sự phát triển của nhiệt tiềm ẩn bên trong cùng sự gia tăng rực lửa dần dần của nó cho đến khi chúng ta có bên trong nguyên tử một sự lặp lại của điều được thấy bên trong thể nguyên nhân: sự phá hủy chu vi của nguyên tử bằng phương tiện đốt cháy. Nó bàn đến chủ đề xây dựng vật chất thành hình tướng bằng sự tương tác của hai cung, cung Thiêng liêng và cung Nguyên sơ, nhờ đó tạo ra lửa ma sát vốn có khuynh hướng hướng đến sự sống và sự dung hợp.

(31) “From the view taken of Karma as I have done it, you will see that no plane of the highest spirituality, be that the plane of the nirvanees, is outside the karmic wheel and when it is said in the Sanskrit writings and even in the Bhagavat Gita that men cross the karmic ocean, it must be understood with some allowance. The entities that have now succeeded in going outside the karmic wheel, have done so, only if that wheel be taken as the one that turns now. The cosmos is not going in one groove all the days of Brahma, but it is going on a higher and higher status as it fulfils its mission. Those who have attained unto a rest in a state of spirituality not reachable now, will therefore in a future day come within the action of the wheel, with perhaps a punishment for the great duties neglected for long ages.”—Some Thoughts on the Gita, p. 40.

(31) “Từ quan điểm về Karma như tôi đã trình bày, bạn sẽ thấy rằng không một cõi nào của tinh thần cao nhất, dù đó là cõi của các nirvanees, lại ở ngoài bánh xe nghiệp quả, và khi trong các trước tác Sanskrit và ngay cả trong Bhagavat Gita có nói rằng con người vượt qua đại dương nghiệp quả, thì điều đó phải được hiểu với một mức độ dè dặt nào đó. Những thực thể hiện nay đã thành công trong việc đi ra ngoài bánh xe nghiệp quả chỉ làm được như vậy nếu bánh xe ấy được hiểu là bánh xe hiện đang quay. Vũ trụ không đi trong một rãnh duy nhất suốt mọi ngày của Brahma, mà nó tiến lên những trạng thái ngày càng cao hơn khi nó hoàn thành sứ mệnh của mình. Vì vậy, những ai đã đạt đến sự an nghỉ trong một trạng thái tinh thần hiện nay chưa thể đạt tới, thì trong một ngày tương lai sẽ lại đi vào dưới tác động của bánh xe ấy, có lẽ kèm theo một sự trừng phạt vì những bổn phận lớn lao đã bị bỏ bê trong nhiều thời đại.”—Some Thoughts on the Gita, tr. 40.

The karma of form is likewise a vast subject, too [Page 76] involved for average comprehension but a factor of real importance which should not be overlooked in connection with the evolution of a world, a synthesis of worlds, or of a system when viewed from higher levels. Everything is, in its totality, the result of action taken by cosmic Essences and Entities in earlier solar systems, which is working out through the individual atoms, and through those congeries of atoms which we call forms. The effect of the personality Ray upon the internal fires is therefore, in effect, the result of the influence of the planetary Logos of whatever ray is implicated, as He works out that portion of Karma which falls to His share in any one cycle, greater or lesser. He thus brings about and eventually transmutes, the effects of causes which He set in motion earlier in relation to His six Brothers, the other planetary Logoi. We get an illustrative parallel in the effect which one individual will have upon another in worldly contact, in moulding and influencing, in stimulating or retarding. We have to remember that all fundamental influence and effects are felt on the astral plane and work thence through the etheric to the dense physical thereby bringing matter under its sphere of influence, yet not itself originating on the physical plane.

Nghiệp quả của hình tướng cũng là một đề tài bao la, quá [Page 76] phức tạp đối với sự thấu hiểu trung bình, nhưng là một yếu tố thực sự quan trọng không nên bị bỏ qua khi liên hệ với sự tiến hoá của một thế giới, một tổng hợp các thế giới, hay một hệ thống khi được nhìn từ các cấp độ cao hơn. Mọi sự, trong tính toàn thể của nó, đều là kết quả của hành động do các Tinh Chất và các Thực Thể vũ trụ thực hiện trong các hệ mặt trời trước đây, và hiện đang được triển khai qua các nguyên tử cá biệt, cũng như qua những tập hợp nguyên tử mà chúng ta gọi là các hình tướng. Vì vậy, hiệu quả của cung phàm ngã lên các ngọn lửa bên trong, trên thực tế, là kết quả của ảnh hưởng của Hành Tinh Thượng đế thuộc bất kỳ cung nào có liên can, khi Ngài triển khai phần Nghiệp Quả thuộc về phần của Ngài trong bất kỳ chu kỳ nào, lớn hay nhỏ. Như thế, Ngài mang lại và cuối cùng chuyển hoá các hiệu quả của những nguyên nhân mà trước đây Ngài đã khởi động trong mối liên hệ với sáu Huynh đệ của Ngài, các Hành Tinh Thượng đế khác. Chúng ta có một sự tương đồng minh họa trong hiệu quả mà một cá nhân sẽ có lên một cá nhân khác trong tiếp xúc thế gian, trong việc uốn nắn và ảnh hưởng, trong việc kích thích hay làm chậm lại. Chúng ta phải nhớ rằng mọi ảnh hưởng và hiệu quả căn bản đều được cảm nhận trên cõi cảm dục và từ đó hoạt động qua dĩ thái đến cõi hồng trần đậm đặc, nhờ đó đưa vật chất vào trong phạm vi ảnh hưởng của nó, tuy bản thân nó không khởi nguồn trên cõi hồng trần.

DIVISION C – THE ETHERIC BODY AND PRANA

PHÂN ĐOẠN C – THỂ DĨ THÁI VÀ PRANA

(34)

(34)

(34) “Prana, or the vital principle, is the special relation of the Atma with a certain form of matter which by the relation of Atma organises and builds up as a means of having experience. This special relation constitutes the individual Prana in the individual body. The cosmic all-pervading Prana is not Prana in the gross sense, but is a name for the Brahman as the author of the individual Prana….All beings, whether Devatas, men or animals, exist only so long as the Prana is within the body. It is the life duration of all….Prana, or vitality, is the common function of the mind and all the senses.”—Serpent Power, pp. 94, 95. (back)

(34) “Prana, hay nguyên khí sinh lực, là mối liên hệ đặc biệt của Atma với một dạng vật chất nào đó mà nhờ mối liên hệ của Atma, nó tổ chức và xây dựng lên như một phương tiện để có kinh nghiệm. Mối liên hệ đặc biệt này cấu thành prana cá nhân trong thể cá nhân. Prana vũ trụ bao trùm khắp nơi không phải là prana theo nghĩa thô trược, mà là một danh xưng dành cho Brahman như tác giả của prana cá nhân….Mọi hữu thể, dù là Devata, con người hay động vật, chỉ tồn tại chừng nào prana còn ở trong thể. Nó là thời lượng sự sống của tất cả….Prana, hay sinh lực, là chức năng chung của trí tuệ và mọi giác quan.”—Serpent Power, tr. 94, 95. (trở lại)

I. The nature of the etheric body.

I. Bản chất của thể dĩ thái.

1. Its purpose and description.

1. Mục đích và mô tả của nó.

2. Eight statements.

2. Tám mệnh đề.

II. The nature of prana.

II. Bản chất của prana.

1. Solar prana.

1. Prana thái dương.

2. Planetary prana.

2. Prana hành tinh.

3. The prana of forms.

3. Prana của các hình tướng.

III. The function of the etheric body.

III. Chức năng của thể dĩ thái.

1. It is the receiver of prana.

1. Nó là bộ tiếp nhận prana.

2. It is the assimilator of prana.

2. Nó là bộ đồng hoá prana.

3. It is the transmitter of prana.

3. Nó là bộ truyền dẫn prana.

4. Disorders of the etheric body.

4. Những rối loạn của thể dĩ thái.

IV. Macrocosmic and microcosmic ethers.

IV. Các dĩ thái đại thiên địa và tiểu thiên địa.

1. The planetary Logos and the ethers.

1. Hành Tinh Thượng đế và các dĩ thái.

2. Cosmic and systemic ethers.

2. Các dĩ thái vũ trụ và hệ thống.

3. Protective purpose of etheric body.

3. Mục đích bảo vệ của thể dĩ thái.

V. Death and the etheric body.

V. Cái chết và thể dĩ thái.

1. Microcosmic death.

1. Cái chết tiểu thiên địa.

2. Macrocosmic pralaya.

2. Giai kỳ qui nguyên đại thiên địa.

I. THE NATURE OF THE ETHERIC BODY

I. BẢN CHẤT CỦA THỂ DĨ THÁI

[Page 77]  In our consideration of the internal fires of the system we shall find much of very real interest to the coming [Page 78] generation of thinkers for three main reasons, which might be enumerated as follows:

[Page 77]  Trong khi xem xét các ngọn lửa bên trong của hệ thống, chúng ta sẽ thấy nhiều điều thực sự rất đáng quan tâm đối với thế hệ [Page 78] các nhà tư tưởng sắp đến vì ba lý do chính, có thể được liệt kê như sau:

1. Its Purpose and Description

1. Mục đích và Mô tả của nó

First. In the study of the etheric body lies hid (for scientists and those of the medical profession) a fuller comprehension of the laws of matter and the laws of health. The word health has become too localised in the past, and its meaning confined to the sanity of the body corporeal, to the co-operative action of the atoms of the physical body of man, and to the full expression of the powers of the physical elemental. In days to come it will be realised that the health of man is dependent upon the health of all allied evolutions, and upon the co-operative action and full expression of the matter of the planet and of the planetary elemental who is himself a composite manifestation of the physical elementals of all manifested nature.

Thứ nhất. Trong việc nghiên cứu thể dĩ thái, có ẩn giấu (đối với các nhà khoa học và những người trong ngành y) một sự thấu hiểu đầy đủ hơn về các định luật của vật chất và các định luật của sức khỏe. Từ ngữ sức khỏe trong quá khứ đã trở nên quá cục bộ hóa, và ý nghĩa của nó bị giới hạn vào sự lành mạnh của thể xác vật lý, vào hoạt động hợp tác của các nguyên tử trong thể xác hồng trần của con người, và vào sự biểu lộ trọn vẹn các quyền năng của tinh linh thể xác. Trong những ngày sắp đến, người ta sẽ chứng nghiệm rằng sức khỏe của con người tùy thuộc vào sức khỏe của mọi tiến hoá liên hệ, và vào hoạt động hợp tác cùng sự biểu lộ trọn vẹn của vật chất của hành tinh và của tinh linh linh địa cầu, vốn chính là một biểu hiện tổng hợp của các tinh linh thể xác của toàn bộ bản chất biểu hiện.

Second. In the study of the etheric body and prana lies the revelation of the effects of those rays of the sun which (for lack of better expression), we will call “solar pranic emanations.” These solar pranic emanations are the produced effect of the central heat of the sun approaching other bodies within the solar system by one of the three main channels of contact, and producing on the bodies then contacted certain effects differing somewhat from those produced by the other emanations. These effects might be considered as definitely stimulating and constructive, and (through their essential quality) as producing conditions that further the growth of cellular matter, and concern its adjustment to environing conditions; they concern likewise the internal health (demonstrating as the heat of the atom and its consequent activity) and the uniform evolution of the form of which that particular atom of matter forms a constituent part. Emanative prana does little in connection with [Page 79] form building; that is not its province, but it conserves the form through the preservation of the health of its component parts. Other rays of the sun act differently, upon the forms and upon their substance. Some perform the work of the Destroyer of forms, and others carry on the work of cohering and of attracting; the work of the Destroyer and of the Preserver is carried on under the Law of Attraction and Repulsion. Some rays definitely produce accelerated motion, others produce retardation. The ones we are dealing with here—pranic solar emanations—work within the four ethers, that matter which (though physical) is not as yet objectively visible to the eye of man. They are the basis of all physical plane life considered solely in connection with the life of the physical plane atoms of matter, their inherent heat and their rotary motion. These emanations are the basis of that “fire by friction” which demonstrates in the activity of matter.

Thứ hai. Trong việc nghiên cứu thể dĩ thái và prana có sự mặc khải về các hiệu quả của những tia của mặt trời mà (vì thiếu một cách diễn đạt tốt hơn), chúng ta sẽ gọi là “các phát xạ prana thái dương.” Các phát xạ prana thái dương này là hiệu quả được tạo ra bởi nhiệt trung tâm của mặt trời khi tiếp cận các thể khác trong hệ mặt trời qua một trong ba kênh tiếp xúc chính, và tạo ra trên các thể được tiếp xúc những hiệu quả phần nào khác với những hiệu quả do các phát xạ khác tạo ra. Những hiệu quả này có thể được xem là có tính kích thích và kiến tạo rõ rệt, và (qua phẩm tính cốt yếu của chúng) như tạo ra những điều kiện thúc đẩy sự tăng trưởng của vật chất tế bào, và liên quan đến sự điều chỉnh của nó đối với các điều kiện môi trường xung quanh; chúng cũng liên quan đến sức khỏe nội tại (biểu lộ như nhiệt của nguyên tử và hoạt động kéo theo của nó) và sự tiến hoá đồng đều của hình tướng mà nguyên tử vật chất đặc thù ấy tạo thành một phần cấu thành. Prana phát xạ ít làm việc liên quan đến [Page 79] việc xây dựng hình tướng; đó không phải là phạm vi của nó, nhưng nó bảo tồn hình tướng qua việc duy trì sức khỏe của các phần cấu thành của nó. Những tia khác của mặt trời tác động khác đi lên các hình tướng và lên chất liệu của chúng. Một số thực hiện công việc của Đấng Hủy Diệt các hình tướng, và những tia khác tiếp tục công việc kết dính và thu hút; công việc của Đấng Hủy Diệt và của Đấng Bảo Tồn được tiến hành dưới Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi. Một số tia rõ rệt tạo ra chuyển động gia tốc, những tia khác tạo ra sự trì hoãn. Những tia mà ở đây chúng ta đang bàn đến—các phát xạ thái dương prana—hoạt động bên trong bốn dĩ thái, tức loại vật chất mà (dù là hồng trần) vẫn chưa hiện rõ khách quan trước mắt người. Chúng là nền tảng của toàn bộ sự sống cõi hồng trần nếu chỉ xét trong mối liên hệ với sự sống của các nguyên tử vật chất của cõi hồng trần, nhiệt cố hữu của chúng và chuyển động quay của chúng. Các phát xạ này là nền tảng của “lửa ma sát” biểu lộ trong hoạt động của vật chất.

Finally, in the study of the etheric body and prana comes comprehension of the method of logoic manifestation, and therefore much of interest to the metaphysician, and all abstract thinkers. The etheric body of man holds hid the secret of his objectivity. It has its correspondence on the archetypal plane,—the plane we call that of the divine manifestation, the first plane of our solar system, the plane Adi. The matter of that highest plane is called often the “sea of fire” and it is the root of the akasha, the term applied to the substance of the second plane of manifestation. Let us trace the analogy a little more in detail, for in its just apprehension will be found much of illumination and much that will serve to elucidate problems both macrocosmic and microcosmic. We will begin with man and his etheric body.

Sau cùng, trong việc nghiên cứu thể dĩ thái và prana xuất hiện sự thấu hiểu về phương pháp biểu hiện Thượng đế, và do đó có nhiều điều đáng quan tâm đối với nhà siêu hình học và mọi nhà tư tưởng trừu tượng. Thể dĩ thái của con người ẩn giữ bí mật về tính khách quan của y. Nó có sự tương ứng của nó trên cõi nguyên mẫu,—cõi mà chúng ta gọi là cõi của sự biểu hiện thiêng liêng, cõi thứ nhất của hệ mặt trời chúng ta, cõi Adi. Vật chất của cõi cao nhất ấy thường được gọi là “biển lửa” và là cội rễ của akasha, thuật ngữ được áp dụng cho chất liệu của cõi biểu hiện thứ hai. Chúng ta hãy lần theo sự tương đồng này chi tiết hơn một chút, vì trong sự nắm bắt đúng đắn về nó sẽ tìm thấy nhiều sự soi sáng và nhiều điều sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề cả đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa. Chúng ta sẽ bắt đầu với con người và thể dĩ thái của y.

The etheric body has been described as a network, permeated with fire, or as a web, animated with golden light. It is spoken of in the Bible as the “golden bowl.” [Page 80] It is a composition of that matter of the physical plane which we call etheric, and its shape is brought about by the fine interlacing strands of this matter being built by the action of the lesser Builders into the form or mould upon which later the dense physical body can be moulded. Under the Law of Attraction, the denser matter of the physical plane is made to cohere to this vitalised form, and is gradually built up around it, and within it, until the interpenetration is so complete that the two forms make but one unit; the pranic emanations of the etheric body itself play upon the dense physical body in the same manner as the pranic emanations of the sun play upon the etheric body. It is all one vast system of transmission and of interdependence within the system. All receive in order to give, and to pass on to that which is lesser or not so evolved. Upon every plane this process can be seen.

Thể dĩ thái đã được mô tả như một mạng lưới thấm đẫm lửa, hay như một tấm lưới được làm sinh động bởi ánh sáng vàng kim. Trong Kinh Thánh, nó được nói đến như “chiếc bát vàng.” [Page 80] Nó là một cấu hợp của loại vật chất của cõi hồng trần mà chúng ta gọi là dĩ thái, và hình dạng của nó được tạo ra bởi những sợi mảnh đan xen của loại vật chất này được các vị tiểu kiến tạo xây dựng thành hình tướng hay khuôn mẫu mà về sau thể xác hồng trần đậm đặc có thể được nắn theo khuôn. Dưới Định luật Hấp Dẫn, vật chất đậm đặc hơn của cõi hồng trần được làm cho kết dính vào hình tướng đã được tiếp sinh lực này, và dần dần được xây dựng quanh nó và bên trong nó, cho đến khi sự xuyên thấm lẫn nhau hoàn toàn đến mức hai hình tướng chỉ tạo thành một đơn vị; các phát xạ prana của chính thể dĩ thái tác động lên thể xác hồng trần đậm đặc theo cùng cách như các phát xạ prana của mặt trời tác động lên thể dĩ thái. Tất cả chỉ là một hệ thống truyền dẫn và tương thuộc bao la bên trong hệ thống. Mọi sự đều nhận để cho đi, và để chuyển tiếp đến cái thấp hơn hay chưa tiến hoá bằng. Trên mọi cõi, tiến trình này đều có thể được thấy.

Thus the etheric body forms the archetypal plane in relation to the dense physical body. The thinker on his own plane stands, in relation to the physical, as the Logos to His system. In the synthesis of thought it might be expressed thus: The thinker on the astral plane, the plane of desire and of necessity, stands to the physical body as the Logos on the cosmic astral plane stands to His system.

Như vậy, thể dĩ thái tạo thành cõi nguyên mẫu trong mối liên hệ với thể xác hồng trần đậm đặc. Thức giả trên cõi riêng của y đứng, trong mối liên hệ với cõi hồng trần, như Logos đối với hệ thống của Ngài. Trong sự tổng hợp của tư tưởng, điều này có thể được diễn đạt như sau: thức giả trên cõi cảm dục, cõi của dục vọng và nhu cầu, đứng đối với thể xác hồng trần như Logos trên cõi cảm dục vũ trụ đứng đối với hệ thống của Ngài.

As we continue the study we will work out the correspondence in the cosmos, the system, and in the three worlds, for we need to remember that the analogy must be perfect.

Khi tiếp tục nghiên cứu, chúng ta sẽ triển khai sự tương ứng trong vũ trụ, trong hệ thống, và trong ba cõi thấp, vì chúng ta cần nhớ rằng sự tương đồng phải là hoàn hảo.

1. Man, the Microcosm, the manifesting Monad, or One.

1. Con người, Tiểu thiên địa, chân thần đang biểu hiện, hay Đấng Duy Nhất.

2. The Heavenly Man, the planetary Logos, or the manifesting group.

2. Đấng Thiên Nhân, Hành Tinh Thượng đế, hay nhóm đang biểu hiện.

3. The Grand Man of the Heavens, the Macrocosm, the solar Logos, the manifestation of all groups and of all evolutions within His Body, the solar system.

3. Đại Nhân của Thiên Giới, Đại thiên địa, Thái dương Thượng đế, sự biểu hiện của mọi nhóm và mọi tiến hoá bên trong Thể của Ngài, tức hệ mặt trời.

[Page 81]  All these bodies—the body of a man, a planetary Logos, and a solar Logos—are the product of desire originating on the planes of abstract mind, whether cosmic, systemic, or mind in the three worlds, whether cosmic desire-mind or human desire-mind, and all their bodies are “Sons of Necessity,” as H. P. B. so aptly expressed it. (S. D., I, 74), (36)

[Page 81]  Tất cả các thể này—thể của một con người, của một Hành Tinh Thượng đế, và của một Thái dương Thượng đế—đều là sản phẩm của dục vọng khởi nguồn trên các cõi trí trừu tượng, dù là vũ trụ, hệ thống, hay trí tuệ trong ba cõi thấp, dù là trí-cảm vũ trụ hay trí-cảm nhân loại, và tất cả các thể của chúng đều là “Các Con của Nhu Cầu,” như H. P. B. đã diễn đạt rất xác đáng. (S. D., I, 74), (36)

(36) “This whole solar system being conceived of as one vast mechanism, with an exquisite adjustment of its parts in all major details, is only the physical expression of Vishnu, or the ethereal basic substance, as we may understand the word for the present. All the harmonies observable in the manifested cosmos are only the result of the harmoniously working energies that resolve ether into the expression that we recognise. All planets, worlds, human beings, etc., are only parts of the body, each functioning in subordination to the law which governs the whole. The evolution, preservation and destruction of the world is therefore one vast process called Yagna, which takes place in the body of Yagna Purusha, or the psychical body of nature. Humanity taken collectively is the heart and brain of this Purusha and therefore all the Karma generated by humanity, physical, mental, or spiritual, determines mainly the character of this Yagnic process….Sri Krishna therefore calls the process the Yagnic life that he has been giving out to Arjuna as Yoga (1st Sloka 4th Chr). In fact, Yoga and Yagna are very closely allied and even inseparable, though at the present day people seem to disconnect the two. Yoga derived from the root Yuj to join means an act of joining. Now as the heart is the great centre in man, likewise the Yogee of the heart keeps his central position in the universe and hence his individuality. The individuality or the Higher Manas being the pivot of the human constitution or the centre on which two hemispheres of higher and lower existence turn as I have already said, the Yogee of the heart has a heavenly dome above and earthly abyss below and his yoga becomes twofold as a consequence. He joins himself on to the thing above in dhyana and the thing below in action. The word yagna derived from the root Yaj—to serve also means a twofold service, service done to the thing above through service done unto its expression the thing below.”—Some Thoughts on the Gita, pp. 18, 134. (back)

(36) “Toàn thể hệ mặt trời này, được quan niệm như một bộ máy bao la duy nhất, với sự điều chỉnh tinh vi của các bộ phận trong mọi chi tiết chính yếu, chỉ là biểu hiện hồng trần của Vishnu, hay chất liệu căn bản dĩ thái, theo cách chúng ta có thể hiểu từ ngữ ấy vào lúc này. Mọi sự hài hòa có thể quan sát được trong vũ trụ biểu hiện chỉ là kết quả của những năng lượng vận hành hài hòa, những năng lượng phân giải dĩ thái thành biểu hiện mà chúng ta nhận biết. Mọi hành tinh, thế giới, con người, v.v., chỉ là những phần của thể, mỗi phần hoạt động trong sự lệ thuộc vào định luật chi phối toàn thể. Do đó, sự tiến hoá, bảo tồn và hủy diệt của thế giới là một tiến trình bao la duy nhất gọi là Yagna, diễn ra trong thể thông linh của Purusha Yagna, hay thể thông linh của bản chất. Nhân loại, xét như một toàn thể, là tim và não của Purusha này, và vì thế mọi nghiệp quả do nhân loại tạo ra, dù hồng trần, trí tuệ hay tinh thần, chủ yếu quyết định đặc tính của tiến trình Yagna này….Vì vậy, Sri Krishna gọi tiến trình ấy là sự sống Yagna mà Ngài đã truyền đạt cho Arjuna như Yoga (Sloka thứ 1, Chương 4). Thật vậy, Yoga và Yagna liên hệ rất mật thiết với nhau, thậm chí không thể tách rời, mặc dù ngày nay người ta dường như tách rời hai điều ấy. Yoga, bắt nguồn từ gốc Yuj, nghĩa là nối kết, có nghĩa là một hành vi nối kết. Giờ đây, cũng như tim là trung tâm lớn trong con người, thì Yogi của tim cũng giữ vị trí trung tâm của mình trong vũ trụ, và do đó giữ được tính cá thể của mình. Tính cá thể hay Higher Manas, là trục xoay của cơ cấu con người hay trung tâm mà trên đó hai bán cầu của sự tồn tại cao và thấp xoay chuyển, như tôi đã nói, nên Yogi của tim có một vòm trời thiên thượng ở trên và một vực thẳm trần thế ở dưới, và vì vậy yoga của y trở thành nhị phân. Y nối kết chính mình với điều ở trên trong dhyana và với điều ở dưới trong hành động. Từ yagna, bắt nguồn từ gốc Yaj—phụng sự, cũng có nghĩa là một sự phụng sự nhị phân, sự phụng sự dâng lên điều ở trên thông qua sự phụng sự đối với biểu hiện của nó là điều ở dưới.”—Một Vài Tư Tưởng về Gita, tr. 18, 134. (trở lại)

2. Eight Statements.

2. Tám Mệnh Đề.

It is with the etheric bodies of all we are dealing, and with their vivification by prana (whether cosmic, solar, planetary or human), with the organs of reception and with the basis of emanations. Here, therefore, we can arrive at certain dicta anent the etheric body which for purposes of clarity might well be enumerated:

Điều chúng ta đang bàn đến là các thể dĩ thái của mọi hữu thể, và sự tiếp sinh lực cho chúng bằng prana (dù là vũ trụ, thái dương, hành tinh hay nhân loại), các cơ quan tiếp nhận và nền tảng của các phát xạ. Vì vậy, ở đây chúng ta có thể đi đến một số mệnh đề liên quan đến thể dĩ thái mà vì mục đích minh bạch, rất nên được liệt kê ra:

First. The etheric body is the mould of the physical body.

Thứ nhất. Thể dĩ thái là khuôn mẫu của thể xác.

Second. The etheric body is the archetype upon which [Page 82] the dense physical form is built, whether it is the form of a solar system, or of a human body in any one incarnation.

Thứ hai. Thể dĩ thái là nguyên mẫu mà trên đó [Page 82] hình tướng hồng trần đậm đặc được xây dựng, dù đó là hình tướng của một hệ mặt trời hay của một thể người trong bất kỳ một lần lâm phàm nào.

Third. The etheric body is a web or network of fine interlacing channels, formed of matter of the four ethers, and built into a specific form. It forms a focal point for certain radiatory emanations, which vivify, stimulate and produce the rotary action of matter.

Thứ ba. Thể dĩ thái là một mạng lưới hay hệ thống các kênh đan xen tinh vi, được tạo thành từ vật chất của bốn loại dĩ thái và được xây dựng thành một hình thể đặc thù. Nó tạo thành một tiêu điểm cho một số phát xạ bức xạ nhất định, những phát xạ này tiếp sinh lực, kích thích và tạo ra chuyển động quay của vật chất.

Fourth. These pranic emanations when focalised and received, react upon the dense matter which is built upon the etheric scaffolding and framework.

Thứ tư. Những phát xạ prana này, khi được hội tụ và tiếp nhận, sẽ tác động trở lại lên vật chất đậm đặc được xây dựng trên giàn khung và bộ khung dĩ thái.

Fifth. This etheric web, during incarnation, forms a barrier between the physical and astral planes, which can only be transcended when consciousness is sufficiently developed to permit of escape. This can be seen in both the microcosm and the macrocosm. When a man has, through meditation and concentration, expanded his consciousness to a certain point he is enabled to include the subtler planes, and to escape beyond the limits of the dividing web.

Thứ năm. Mạng dĩ thái này, trong thời kỳ lâm phàm, tạo thành một hàng rào giữa cõi hồng trần và cõi cảm dục, chỉ có thể được vượt qua khi tâm thức phát triển đủ để cho phép thoát ra. Điều này có thể thấy được trong cả tiểu thiên địa lẫn đại thiên địa. Khi một người, nhờ tham thiền và tập trung, đã mở rộng tâm thức của mình đến một mức độ nhất định, y có thể bao gồm các cõi vi tế hơn và thoát ra ngoài giới hạn của mạng ngăn cách.

Physical Sub Planes

Solar System Planes

1.

First ether. Atomic plane

Adi. Divine. Sea of fire. First cosmic ether.

2.

Second ether. Sub-atomic

Anupadaka. Monadic plane. Akasha. Second cosmic ether.

3.

Third ether. Super-etheric

Atmic. Spiritual plane. Aether. Third cosmic ether.

4.

Fourth ether. Super-gaseous

Buddhic. Intuitional Plane. Air. Fourth cosmic ether.

Dense Physical

Planes of Humanity

5.

Gaseous. Sub-etheric

Mental. Fire. Cosmic gaseous.

6.

Liquid

Astral. Emotional plane. Water. Cosmic liquid.

7.

Earthly. Dense

Physical plane. Earth. Cosmic dense.

[Page 83]  When the Logos has expanded His Consciousness on cosmic levels He can then transcend the logoic etheric web, and escape beyond the ring-pass-not of His objective manifestation. In thinking out this analogy we must hold closely in mind the fact that the seven major planes of our solar system are the seven subplanes of the cosmic physical or the lowest cosmic plane.

[Page 83]  Khi Thượng đế đã mở rộng Tâm thức của Ngài trên các cấp độ vũ trụ, khi đó Ngài có thể vượt qua mạng dĩ thái Thượng đế và thoát ra ngoài vòng-giới-hạn của biểu hiện khách quan của Ngài. Khi suy xét sự tương đồng này, chúng ta phải luôn ghi nhớ chặt chẽ sự kiện rằng bảy cõi chính của hệ mặt trời chúng ta là bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ, hay cõi vũ trụ thấp nhất.

We might note here the accurate working out of the correspondence in matter and the radiatory correspondence is equally accurate.

Ở đây, chúng ta có thể lưu ý đến sự vận hành chính xác của định luật tương ứng trong vật chất, và sự tương ứng bức xạ cũng chính xác như vậy.

Sixth. In all the three bodies—human, planetary, and systemic or logoic—will be found a great organ within the organism which acts as the receiver of prana. This organ has its etheric manifestation and its dense physical correspondence.

Thứ sáu. Trong cả ba thể—nhân loại, hành tinh và hệ thống hay Thượng đế—đều sẽ thấy có một cơ quan lớn bên trong cơ cấu, hoạt động như cơ quan tiếp nhận prana. Cơ quan này có biểu hiện dĩ thái của nó và sự tương ứng hồng trần đậm đặc của nó.

In the system. In the system, the organ of cosmic prana, of the force vitalising matter, is the central sun, which is the direct receiver and dispenser of cosmic radiation. This is one of the threefold divisions of the Primordial Ray of active intelligence. Each of the cosmic Rays is in essence threefold, a fact which is oft overlooked, though logically obvious; each Ray is the vehicle for a cosmic Entity, and all existence is necessarily triple in manifestation. The central Sun has within its periphery a centre of reception with a surface radiation.

Trong hệ thống. Trong hệ thống, cơ quan của prana vũ trụ, của mãnh lực tiếp sinh lực cho vật chất, là mặt trời trung tâm, vốn là cơ quan tiếp nhận và phân phối trực tiếp bức xạ vũ trụ. Đây là một trong ba phân bộ của Cung nguyên thủy của trí tuệ linh hoạt. Mỗi cung vũ trụ về bản chất đều là tam phân, một sự kiện thường bị bỏ qua, dù về mặt logic là hiển nhiên; mỗi cung là vận cụ cho một Thực Thể vũ trụ, và mọi sự tồn tại tất yếu đều là tam phân trong biểu hiện. Mặt trời trung tâm có bên trong chu vi của nó một trung tâm tiếp nhận với một bức xạ bề mặt.

In the Planet. In the planet there will be found a similar organ or receiver within its etheric body, the locality of which is not for exoteric publication and cannot therefore be revealed. It is connected with the location of the two poles, north and south, and is the centre around which the globe rotates, and is the source of the legend of a sacred fertile land within the sphere of polar influences. The mythic land of exceeding fertility, of abundant [Page 84] luxuriance, and of phenomenal growth, vegetable, animal and human would naturally lie where prana is received. It is the esoteric Garden of Eden, the land of physical perfection. Surface radiation demonstrates, after distribution, as planetary prana.

Trong Hành tinh. Trong hành tinh cũng sẽ thấy có một cơ quan hay bộ phận tiếp nhận tương tự bên trong thể dĩ thái của nó; vị trí của cơ quan này không thể công bố công truyền và vì vậy không thể tiết lộ. Nó liên hệ với vị trí của hai cực, bắc và nam, và là trung tâm quanh đó bầu hành tinh quay, đồng thời là nguồn gốc của truyền thuyết về một vùng đất thiêng liêng màu mỡ nằm trong phạm vi các ảnh hưởng cực. Vùng đất thần thoại với sự phì nhiêu tột bậc, sự sum suê dồi dào và sự tăng trưởng phi thường của giới thực vật, giới động vật và nhân loại, dĩ nhiên sẽ nằm ở nơi prana được tiếp nhận. Đó là Vườn Địa Đàng huyền bí, vùng đất của sự hoàn hảo hồng trần. Bức xạ bề mặt, sau khi được phân phối, biểu lộ thành prana hành tinh.

In Man. The organ of reception is the spleen through its etheric counterpart. After distribution over the entire body via the etheric network it demonstrates in surface radiation as the health aura.

Trong Con Người. Cơ quan tiếp nhận là lá lách thông qua đối phần dĩ thái của nó. Sau khi được phân phối khắp toàn thân qua mạng dĩ thái, nó biểu lộ trong bức xạ bề mặt như hào quang sức khỏe.

Seventh. Thus in all the three bodies will the resemblance clearly be seen, and the working out in perfect correspondence is easily demonstrable:

Thứ bảy. Như vậy, trong cả ba thể, sự tương tự sẽ được thấy rõ ràng, và sự triển khai trong tương ứng hoàn hảo có thể được chứng minh dễ dàng:

PRANA OF THE SOLAR SYSTEM

PRANA CỦA HỆ MẶT TRỜI

THE SOLAR SYSTEM

HỆ MẶT TRỜI

Entity manifesting

The solar Logos.

Body of manifestation

The solar system.

Receptive centre

Pole of the central Sun.

Surface radiation or emanation

Solar prana.

Movement produced

Systemic rotation.

Distributive effect

Solar etheric radiation (felt cosmically).

THE PLANET

HÀNH TINH

Entity manifesting

A planetary Logos.

Body of manifestation

A planet.

Receptive centre

The planetary pole.

Surface radiation or emanation

Planetary prana.

Movement produced

Planetary rotation.

Distributive effect

Planetary etheric radiation (felt within the system).

A HUMAN BEING

MỘT CON NGƯỜI

Entity manifesting

The thinker, a Dhyan Chohan

Body of manifestation

Physical body.

Receptive centre

The spleen.

Surface radiation or emanation

Health aura.

Movement produced

Atomic rotation.

Distributive effect

Human etheric radiation (felt by environment).

[Page 85]

[Page 85]

THE ATOM OF MATTER

NGUYÊN TỬ CỦA VẬT CHẤT

Entity manifesting

An elementary life.

Body of manifestation

The atomic sphere.

Receptive centre

Pole of the atom.

Surface radiation or emanation

Contribution of atom to the united health aura of body.

Movement produced

Atomic rotation.

Distributive effect

Atomic etheric radiation (felt within the physical form).

Eighth. When the “will to live” vanishes, then the “Sons of Necessity” cease from objective manifestation. This is logically inevitable, and its working out can be seen in every case of entified objectivity. When the Thinker on his own plane withdraws his attention from his little system within the three worlds and gathers within himself all his forces, then physical plane existence comes to an end and all returns within the causal consciousness; this is as much an abstraction in the three worlds of the Thinker as the Absolute is in the threefold solar system of the Logos. This demonstrates on the physical plane in the withdrawing from out of the top of the head of the radiant etheric body and the consequent disintegration of the physical. The framework goes and the dense physical form falls apart; the pranic life is abstracted bodily from out of the dense sheath, and the stimulation of the fires of matter ceases to be. The latent fire of the atom remains; it is inherent, but the form is made by the action of the two fires of matter—active and latent, radiatory and inherent—aided by the fire of the second Logos, and when they are separated the form falls apart. This is a picture in miniature of the essential duality of all things acted upon by Fohat.

Thứ tám. Khi “ý chí sống” biến mất, thì “Các Con của Sự Tất Yếu” chấm dứt biểu hiện khách quan. Điều này tất yếu về mặt logic, và sự vận hành của nó có thể thấy trong mọi trường hợp của tính khách quan được định danh. Khi Đấng Tư Tưởng trên cõi riêng của mình rút sự chú ý của y khỏi hệ thống nhỏ bé của y trong ba cõi thấp và thu hồi vào bên trong mình mọi mãnh lực, thì sự tồn tại trên cõi hồng trần chấm dứt và mọi sự trở về trong tâm thức nguyên nhân; điều này cũng là một sự trừu xuất trong ba cõi của Đấng Tư Tưởng, giống như Đấng Tuyệt Đối là như vậy trong hệ mặt trời tam phân của Thượng đế. Điều này biểu lộ trên cõi hồng trần bằng việc thể dĩ thái bức xạ rút ra khỏi đỉnh đầu và hậu quả là sự tan rã của thể xác. Bộ khung mất đi và hình tướng hồng trần đậm đặc tan rã; sự sống prana bị rút toàn bộ ra khỏi vỏ bọc đậm đặc, và sự kích thích các lửa của vật chất không còn nữa. Lửa tiềm ẩn của nguyên tử vẫn còn; nó vốn cố hữu, nhưng hình tướng được tạo ra bởi tác động của hai lửa của vật chất—chủ động và tiềm ẩn, bức xạ và cố hữu—được trợ giúp bởi lửa của Logos thứ hai, và khi chúng bị tách rời thì hình tướng tan rã. Đây là một bức tranh thu nhỏ về tính nhị nguyên cốt yếu của mọi sự vật chịu tác động của Fohat.

[Page 86] There is a close connection between the spleen and the top of the head in connection with the etheric body. The organ of the spleen has an interesting correspondence to thebilical cord which attaches an infant to the mother for purposes of nourishment, and which is separated at birth. When a man starts to live his own life of conscious desire, when a man is born into a new world of a subtler form of life, that interlaced cord of etheric matter (which had united him to his physical body) is broken; the “silver cord is loosed” and the man severs his connection with the dense physical body and passes out through the highest center of the body instead of the lowest to life in a higher world and of another dimension. So it will be found in all the bodies and sheaths of the microcosm, for the analogy will persist on all planes during manifestation. When more scientific knowledge has been gained it will be found that the same procedure on a larger scale, takes place in planetary manifestation. A planet is but the body of a planetary Logos, that body being etheric, and the Logos expressing Himself through it and building upon the etheric scaffolding a vehicle of manifestation. The MOON once was the body of expression for one of the Logoi; the Earth now is, and the cycles change continuously. The centre of escape for the etheric body is found likewise in a physical planet, and the planetary silver cord is loosed at the time appointed; but the times and cycles, their commencement and termination are hid in the mysteries of Initiation, and do not concern us.

[Page 86] Có một mối liên hệ mật thiết giữa lá lách và đỉnh đầu liên quan đến thể dĩ thái. Cơ quan lá lách có một sự tương ứng thú vị với dây rốn nối đứa trẻ với người mẹ nhằm mục đích nuôi dưỡng, và bị cắt đứt khi sinh ra. Khi một người bắt đầu sống đời sống riêng của mình với dục vọng có ý thức, khi một người được sinh ra vào một thế giới mới của một hình thái sự sống vi tế hơn, thì sợi dây đan xen bằng vật chất dĩ thái ấy (vốn đã nối y với thể xác) bị cắt đứt; “sợi dây bạc được tháo lỏng” và người ấy cắt đứt liên hệ với thể xác đậm đặc, rồi đi ra qua trung tâm cao nhất của thể thay vì trung tâm thấp nhất để bước vào sự sống trong một thế giới cao hơn và thuộc một chiều kích khác. Điều này cũng sẽ được thấy trong mọi thể và vỏ bọc của tiểu thiên địa, vì sự tương đồng sẽ tiếp diễn trên mọi cõi trong thời kỳ biểu hiện. Khi tri thức khoa học đạt được nhiều hơn, người ta sẽ thấy rằng cùng một tiến trình ấy, ở quy mô lớn hơn, diễn ra trong biểu hiện hành tinh. Một hành tinh chỉ là thể của một Hành Tinh Thượng đế, thể ấy là dĩ thái, và Thượng đế biểu hiện chính Ngài qua nó và xây dựng trên giàn khung dĩ thái một vận cụ biểu hiện. MẶT TRĂNG xưa kia từng là thể biểu hiện của một trong Các Thượng đế; nay Trái Đất là như vậy, và các chu kỳ liên tục thay đổi. Trung tâm thoát ra của thể dĩ thái cũng được tìm thấy tương tự trong một hành tinh hồng trần, và sợi dây bạc hành tinh được tháo lỏng vào thời điểm đã định; nhưng các thời kỳ và chu kỳ, sự khởi đầu và chấm dứt của chúng, đều được che giấu trong các huyền nhiệm của điểm đạo, và không liên quan đến chúng ta.

Again in the solar system itself similar action will eventuate at the close of a Mahamanvantara. The Logos will withdraw within Himself, abstracting His three major principles. (37) His body of manifestation—the Sun [Page 87] and the seven sacred Planets, all existing in etheric matter—will withdraw from objectivity and become obscured. From the usual physical standpoint, the light of the system will go out. This will be succeeded by a gradual inbreathing until He shall have gathered all unto Himself; the etheric will cease to exist, and the web will be no more. Full consciousness will be achieved, and in the moment of achievement existence or entified manifestation will cease. All will be reabsorbed within the Absolute; pralaya, (38) or the cosmic heaven of rest will then ensue, and the Voice of the Silence will be heard no more. The reverberations of the WORD will die away, and the “Silence of the High Places” will reign supreme.

Một lần nữa, trong chính hệ mặt trời, hành động tương tự sẽ xảy ra vào lúc kết thúc một Đại giai kỳ sinh hóa. Thượng đế sẽ rút vào bên trong chính Ngài, trừu xuất ba nguyên khí chính của Ngài. (37) Thể biểu hiện của Ngài—Mặt Trời [Page 87] và bảy Hành Tinh thiêng liêng, tất cả đều tồn tại trong vật chất dĩ thái—sẽ rút khỏi tính khách quan và trở nên mờ khuất. Theo quan điểm hồng trần thông thường, ánh sáng của hệ thống sẽ tắt. Tiếp theo đó sẽ là một sự hô hấp vào dần dần cho đến khi Ngài thu hồi mọi sự vào chính mình; dĩ thái sẽ không còn tồn tại nữa, và mạng lưới sẽ không còn. Tâm thức trọn vẹn sẽ đạt được, và trong khoảnh khắc đạt được ấy, sự tồn tại hay biểu hiện được định danh sẽ chấm dứt. Mọi sự sẽ được tái hấp thu vào trong Đấng Tuyệt Đối; giai kỳ qui nguyên, (38) hay cõi trời nghỉ ngơi vũ trụ, khi đó sẽ tiếp diễn, và Tiếng Nói của Im Lặng sẽ không còn được nghe nữa. Những vang động của LINH TỪ sẽ lịm dần, và “Sự Im Lặng của Những Chốn Cao Cả” sẽ ngự trị tối thượng.

(37) Principles, the basic differentiations, essential qualities or types of energy upon which all things are built; they give the distinctive nature of all forms. (back)

(37) Các nguyên khí, những sự biến phân căn bản, những phẩm tính cốt yếu hay những loại năng lượng mà trên đó mọi sự vật được xây dựng; chúng ban cho mọi hình tướng bản chất đặc thù của chúng. (trở lại)

(38) Pralaya….A period of obscuration or repose—planetary, systemic or cosmic. An interlude between two periods of manifestation. (back)

(38) Giai kỳ qui nguyên….Một thời kỳ mờ khuất hay nghỉ ngơi—hành tinh, hệ thống hay vũ trụ. Một quãng gián đoạn giữa hai thời kỳ biểu hiện. (trở lại)

II. THE NATURE OF PRANA

II. BẢN CHẤT CỦA PRANA

In dealing with the subject of the etheric body and its functions as an assimilator and distributor of prana, we have dealt with it from the standpoint of its place in the scheme of things. We have considered this matter of etherics from the angle of correspondences, and have traced analogies in the system, the planet, and man. We have seen that it formed the foundation of the dense physical form, and in itself constituted a most important link between:

Khi bàn đến chủ đề thể dĩ thái và các chức năng của nó như một bộ máy đồng hóa và phân phối prana, chúng ta đã bàn đến nó từ quan điểm về vị trí của nó trong hệ thống sự vật. Chúng ta đã xem xét vấn đề dĩ thái học này từ góc độ các tương ứng, và đã truy nguyên các tương đồng trong hệ thống, hành tinh và con người. Chúng ta đã thấy rằng nó tạo thành nền tảng của hình tướng hồng trần đậm đặc, và tự nó cấu thành một mối liên kết hết sức quan trọng giữa:

a. Physical man, and the emotional or astral plane.

a. Con người hồng trần và cõi cảm xúc hay cõi cảm dục.

b. Planetary Man, and essential emotional quality.

b. Con Người Hành Tinh và phẩm tính cảm xúc cốt yếu.

c. The Logos, the grand Heavenly Man, and the cosmic astral plane.

c. Thượng đế, Đấng Thiên Nhân vĩ đại, và cõi cảm dục vũ trụ.

We might now narrow the subject down to the consideration of the etheric body of the human being and not touch upon correspondences to things systemic or cosmic at all, though it may be necessary to remind ourselves that for the wise student the line along which wisdom [Page 88] comes is the interpretative one; he who knows himself (in objective manifestation, essential quality, and comprehensive development) knows likewise the Lord of his Ray, and the Logos of his system. It is only then a matter of application, conscious expansion, and intelligent interpretation, coupled to a wise abstention from dogmatic assertion, and a recognition that the correspondence lies in quality and method more than in detailed adherence to a specified action at any given time in evolution.

Giờ đây, chúng ta có thể thu hẹp chủ đề lại để chỉ xem xét thể dĩ thái của con người mà hoàn toàn không đụng đến các tương ứng với những sự vật thuộc hệ thống hay vũ trụ, mặc dù có lẽ cần nhắc mình rằng đối với đạo sinh minh triết, đường lối mà theo đó minh triết [Page 88] đến là đường lối diễn giải; ai biết chính mình (trong biểu hiện khách quan, phẩm tính cốt yếu và sự phát triển bao quát) thì cũng biết Chúa Tể cung của mình và Thượng đế của hệ thống mình. Khi đó, chỉ còn là vấn đề áp dụng, mở rộng có ý thức và diễn giải thông minh, đi đôi với sự kiêng tránh khôn ngoan đối với những khẳng định giáo điều, và sự nhìn nhận rằng sự tương ứng nằm ở phẩm tính và phương pháp nhiều hơn là ở sự tuân thủ chi tiết đối với một hành động xác định nào đó tại bất kỳ thời điểm nào trong tiến hoá.

All that it is possible to give here is material which, if rightly pondered on, may result in more intelligent practical living in the occult sense of the term “living”; which, if studied scientifically, religiously and philosophically, may lead to the furthering of the aims of the evolutionary process in the immediately coming lesser cycle. Our aim, therefore, is to make the secondary body of man more real, and to show some of its functions and how it can eventually be brought consciously into the range of mental comprehension.

Tất cả những gì có thể trình bày ở đây là tài liệu mà, nếu được suy ngẫm đúng đắn, có thể dẫn đến một đời sống thực tiễn thông minh hơn theo nghĩa huyền bí của từ “sống”; mà, nếu được nghiên cứu một cách khoa học, tôn giáo và triết học, có thể dẫn đến việc thúc đẩy các mục tiêu của tiến trình tiến hoá trong chu kỳ nhỏ sắp đến ngay trước mắt. Vì vậy, mục tiêu của chúng ta là làm cho thể thứ yếu của con người trở nên thực hơn, và chỉ ra một số chức năng của nó cùng cách cuối cùng nó có thể được đưa một cách có ý thức vào phạm vi thấu hiểu của trí tuệ.

Science, as we know, is fast reaching the point where it will be forced to admit the fact of the etheric body, because the difficulties of refusing to acknowledge it, will be far more insuperable than an admission of its existence. Scientists admit already the fact of etheric matter; the success of photographic endeavor has demonstrated the reality of that which has hitherto been considered unreal, because (from the standpoint of the physical) intangible. Phenomena are occurring all the time which remain in the domain of the supernatural unless accounted for through the medium of etheric matter, and in their anxiety to prove the spiritualists wrong, scientists have aided the cause of the true and higher spiritism by falling back on reality, and on the fact of the etheric body, even though they consider it a body of [Page 89] emanative radiation—being concerned with the effect and not having yet ascertained the cause. Medical men are beginning to study (blindly as yet) the question of vitality, the effect of solar rays upon the physical organism, and the underlying laws of inherent and radiatory heat. They are beginning to ascribe to the spleen functions hitherto not recognised, to study the effect of the action of the glands, and their relation to the assimilation of the vital essences by the bodily frame. They are on the right road, and before long (perhaps within this century) the FACT of the etheric body and its basic function will be established past all controversy, and the whole aim of preventive and curative medicine will shift to a higher level. All we can do here is to give simply, and in a condensed form, a few facts which may hasten the day of recognition, and further the interest of the true investigator. Let me, therefore, briefly state what will be dealt with in our remaining three points:

Như chúng ta biết, khoa học đang nhanh chóng đạt đến điểm mà ở đó nó sẽ buộc phải thừa nhận sự kiện về thể dĩ thái, bởi vì những khó khăn của việc từ chối thừa nhận nó sẽ vượt xa mức không thể khắc phục hơn là việc chấp nhận sự tồn tại của nó. Các nhà khoa học đã thừa nhận sự kiện về vật chất dĩ thái; thành công của nỗ lực nhiếp ảnh đã chứng minh tính hiện thực của điều từ trước đến nay bị xem là không thực, bởi vì (từ quan điểm hồng trần) không thể sờ chạm được. Các hiện tượng đang xảy ra mọi lúc vẫn còn nằm trong lĩnh vực siêu nhiên trừ phi được giải thích thông qua trung gian của vật chất dĩ thái, và trong sự sốt sắng muốn chứng minh các nhà thần linh học là sai, các nhà khoa học đã giúp ích cho chính nghĩa của thần linh học chân chính và cao hơn bằng cách quay về với thực tại, và với sự kiện về thể dĩ thái, dù họ xem nó là một thể của [Page 89] bức xạ phát xạ—vì họ quan tâm đến hiệu quả mà chưa xác định được nguyên nhân. Các y sĩ đang bắt đầu nghiên cứu (dù còn mù mờ) vấn đề sinh lực, tác động của các tia thái dương lên cơ thể hồng trần, và các định luật nền tảng của nhiệt cố hữu và nhiệt bức xạ. Họ đang bắt đầu quy cho lá lách những chức năng từ trước đến nay chưa được nhận biết, nghiên cứu tác động của hoạt động các tuyến và mối liên hệ của chúng với sự đồng hóa các tinh chất sinh lực bởi cơ thể. Họ đang đi đúng đường, và chẳng bao lâu nữa (có lẽ trong thế kỷ này) SỰ KIỆN về thể dĩ thái và chức năng căn bản của nó sẽ được xác lập vượt ngoài mọi tranh cãi, và toàn bộ mục tiêu của y học phòng ngừa và chữa trị sẽ chuyển lên một cấp độ cao hơn. Tất cả những gì chúng ta có thể làm ở đây chỉ là trình bày đơn giản, dưới hình thức cô đọng, một vài sự kiện có thể đẩy nhanh ngày được công nhận và thúc đẩy sự quan tâm của nhà nghiên cứu chân chính. Vì vậy, hãy để tôi ngắn gọn nêu ra những gì sẽ được bàn đến trong ba điểm còn lại của chúng ta:

The functions of the etheric body.

Các chức năng của thể dĩ thái.

Its relation to the physical during life.

Mối liên hệ của nó với thể xác trong lúc sống.

The ills or diseases of the etheric body (taking care to retain the original meaning of the word “disease.”)

Những tật bệnh hay bệnh tật của thể dĩ thái (cẩn thận giữ nguyên ý nghĩa nguyên thủy của từ “disease.”)

Its after death condition.

Tình trạng của nó sau khi chết.

This will embody all that is as yet of practical use. More may later be forthcoming for our helping if that which is now given to the public is carefully followed up, and if investigators wisely, sanely and broadly study this important matter.

Điều này sẽ bao gồm tất cả những gì hiện nay còn có ích về mặt thực tiễn. Về sau, có thể sẽ có thêm điều được đưa ra để giúp đỡ chúng ta nếu những gì hiện đang được công bố cho công chúng được theo đuổi cẩn trọng, và nếu các nhà nghiên cứu học hỏi vấn đề quan trọng này một cách khôn ngoan, lành mạnh và bao quát.

As the nature and functions of the etheric body of man assume their rightful place in the thought of the world and as it is realised that the etheric is the most important of the two physical bodies, man will be brought into closer conscious contact with the other evolutions [Page 90] that evolve in etheric matter just as he does in a dense physical body. There are certain large groups of devas, called “the devas of the shadows,” or the violet devas, who are closely allied with the evolutionary development of man’s etheric body, and who transmit to him solar and planetary radiation. The etheric body of man receives prana in different ways and of different kinds, and all these ways bring him into touch with varying entities.

Khi bản chất và các chức năng của thể dĩ thái của con người chiếm vị trí đúng đắn của chúng trong tư tưởng của thế giới, và khi người ta chứng nghiệm rằng thể dĩ thái là quan trọng hơn trong hai thể hồng trần, con người sẽ được đưa vào sự tiếp xúc có ý thức gần gũi hơn với các tiến hoá khác [Page 90] đang tiến hoá trong vật chất dĩ thái, cũng như y tiến hoá trong một thể hồng trần đậm đặc. Có những nhóm lớn thiên thần nhất định, được gọi là “các thiên thần của bóng tối,” hay các thiên thần tím, có liên hệ mật thiết với sự phát triển tiến hoá của thể dĩ thái con người, và truyền cho y bức xạ thái dương và hành tinh. Thể dĩ thái của con người tiếp nhận prana theo những cách khác nhau và thuộc những loại khác nhau, và tất cả những cách này đưa y vào tiếp xúc với những thực thể khác nhau.

1. Solar prana.

1. Prana thái dương.

This is that vital and magnetic fluid which radiates from the sun, and which is transmitted to man’s etheric body through the agency of certain deva entities of a very high order, and of a golden hue. It is passed through their bodies and emitted as powerful radiations, which are applied direct through certain plexi in the uppermost part of the etheric body, the head and shoulders, and passed down to the etheric correspondence of the physical organ, the spleen, and from thence forcibly transmitted into the spleen itself. These golden hued pranic entities are in the air above us, and are specially active in such parts of the world as California, in those tropical countries where the air is pure and dry, and the rays of the sun are recognised as being specially beneficial. Relations between man and this group of devas are very close, but fraught as yet with much danger to man. These devas are of a very powerful order, and, along their own line, are further evolved than man himself. Unprotected man lies at their mercy, and in this lack of protection, and man’s failure to understand the laws of magnetic resistance, or of solar repulsion comes, for instance, the menace of sunstroke. When the etheric body and its assimilative processes are comprehended scientifically, man will then be immune from dangers due to solar radiation. He will protect himself by the application of the laws governing [Page 91] magnetic repulsion and attraction, and not so much by clothing and shelter. It is largely a question of polarisation. One hint might here be given: When men understand the deva evolution somewhat more correctly and recognise their work along certain lines in connection with the Sun and realise that they represent the feminine pole as they themselves represent the masculine (the fourth Creative Hierarchy being male) (39) they will comprehend the mutual relationship, and govern that relationship by law.

Đây là lưu chất sinh lực và từ tính phát ra từ mặt trời, và được truyền đến thể dĩ thái của con người qua trung gian của một số thực thể thiên thần thuộc đẳng cấp rất cao và có sắc vàng. Nó đi qua các thể của họ và được phát ra như những bức xạ mạnh mẽ, được áp dụng trực tiếp qua một số đám rối ở phần cao nhất của thể dĩ thái, nơi đầu và vai, rồi được dẫn xuống đối phần dĩ thái của cơ quan hồng trần là lá lách, và từ đó được truyền mạnh mẽ vào chính lá lách. Những thực thể prana sắc vàng này ở trong không khí phía trên chúng ta, và đặc biệt hoạt động mạnh ở những vùng như California, ở những xứ nhiệt đới nơi không khí trong lành và khô ráo, và các tia mặt trời được nhận biết là đặc biệt có lợi. Mối liên hệ giữa con người và nhóm thiên thần này rất mật thiết, nhưng hiện nay vẫn đầy nguy hiểm đối với con người. Những thiên thần này thuộc một đẳng cấp rất mạnh, và trên đường lối riêng của họ, họ tiến hoá xa hơn chính con người. Con người không được bảo vệ nằm dưới quyền chi phối của họ, và chính trong sự thiếu bảo vệ này, cùng với việc con người không hiểu các định luật về sức kháng từ tính hay về sự đẩy lùi thái dương, mà chẳng hạn, xuất hiện mối đe dọa của chứng cảm nắng. Khi thể dĩ thái và các tiến trình đồng hóa của nó được thấu hiểu một cách khoa học, khi đó con người sẽ miễn nhiễm với những nguy hiểm do bức xạ thái dương gây ra. Y sẽ tự bảo vệ mình bằng cách áp dụng các định luật chi phối [Page 91] sự đẩy lùi và hút vào từ tính, chứ không quá nhiều bằng quần áo và nơi trú ẩn. Điều này phần lớn là vấn đề sự phân cực. Ở đây có thể đưa ra một gợi ý: Khi con người hiểu đúng hơn đôi chút về tiến hoá thiên thần và nhận biết công việc của họ theo một số đường lối nhất định liên quan đến Mặt Trời, và chứng nghiệm rằng họ tượng trưng cho cực nữ tính cũng như chính con người tượng trưng cho cực nam tính (Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư là nam) (39) thì họ sẽ hiểu mối liên hệ hỗ tương và chi phối mối liên hệ ấy bằng định luật.

(39) S. D., I, 232-238.

(39) S. D., I, 232-238.

The whole cosmos is guided, controlled and animated by an almost endless series of Hierarchies of sentient Beings, each having a mission to perform.—S. D., I, 295.

Toàn thể vũ trụ được hướng dẫn, kiểm soát và làm sinh động bởi một chuỗi gần như vô tận các Huyền Giai của những Hữu thể hữu tri, mỗi vị đều có một sứ mệnh phải hoàn thành.—S. D., I, 295.

Among these the Hierarchy of human Monads has a place. (back)

Trong số đó, Huyền Giai các Chân thần nhân loại có một vị trí. (trở lại)

These solar devas take the radiatory rays of the sun which reach from its centre to the periphery along one of the three channels of approach, pass them through their organism and focalise them there. They act almost as a burning glass acts. These rays are then reflected or transmitted to man’s etheric body, and caught up by him and again assimilated. When the etheric body is in good order and functioning correctly, enough of this prana is absorbed to keep the form organised. This is the whole object of the etheric body’s functioning, and is a point which cannot be sufficiently emphasised. The remainder is cast off in the form of animal radiation, or physical magnetism—all terms expressing the same idea. Man therefore repeats on a lesser scale the work of the great solar devas, and in his turn adds his quota of repolarised or remagnetised emanation to the sumtotal of the planetary aura.

Những thiên thần thái dương này tiếp nhận các tia bức xạ của mặt trời vươn từ trung tâm đến chu vi của nó theo một trong ba kênh tiếp cận, đưa chúng đi qua cơ cấu của họ và hội tụ chúng tại đó. Họ hoạt động gần giống như một thấu kính hội tụ. Những tia này sau đó được phản chiếu hay truyền đến thể dĩ thái của con người, và được y tiếp nhận rồi lại đồng hóa. Khi thể dĩ thái ở trong tình trạng tốt và hoạt động đúng đắn, đủ lượng prana này được hấp thu để giữ cho hình tướng được tổ chức. Đây là toàn bộ mục đích của hoạt động của thể dĩ thái, và là một điểm không thể được nhấn mạnh quá mức. Phần còn lại bị thải ra dưới dạng bức xạ động vật, hay từ điện hồng trần—tất cả đều là những thuật ngữ diễn đạt cùng một ý tưởng. Vì vậy, con người lặp lại ở quy mô nhỏ hơn công việc của các thiên thần thái dương vĩ đại, và đến lượt mình, y bổ sung phần phát xạ được tái phân cực hay được tái từ hóa của mình vào tổng thể hào quang hành tinh.

2. Planetary prana.

2. Prana hành tinh.

This is the vital fluid emanated from any planet, which constitutes its basic coloring or quality, and is produced by a repetition within the planet of the same process [Page 92] which is undergone in connection with man and solar prana. The planet (the Earth, or any other planet) absorbs solar prana, assimilates what is required, and radiates off that which is not essential to its well-being in the form of planetary radiation. Planetary prana, therefore, is solar prana which has passed throughout the planet, has circulated through the planetary etheric body, has been transmitted to the dense physical planet, and has been cast off thence in the form of a radiation of the same essential character as solar prana, plus the individual and distinctive quality of the particular planet concerned. This again repeats the process undergone in the human body. The physical radiations of men differ according to the quality of their physical bodies. So it is with a planet.

Đây là lưu chất sinh lực phát ra từ bất kỳ hành tinh nào, cấu thành sắc thái hay phẩm tính căn bản của nó, và được tạo ra bởi sự lặp lại bên trong hành tinh cùng một tiến trình [Page 92] đã diễn ra liên quan đến con người và prana thái dương. Hành tinh (Trái Đất, hay bất kỳ hành tinh nào khác) hấp thu prana thái dương, đồng hóa phần cần thiết, và bức xạ ra phần không thiết yếu cho sự an lành của nó dưới dạng bức xạ hành tinh. Vì vậy, prana hành tinh là prana thái dương đã đi xuyên suốt hành tinh, đã lưu chuyển qua thể dĩ thái hành tinh, đã được truyền đến hành tinh hồng trần đậm đặc, và từ đó đã bị thải ra dưới dạng một bức xạ có cùng bản chất cốt yếu như prana thái dương, cộng thêm phẩm tính cá biệt và đặc thù của hành tinh liên hệ. Điều này lại lặp lại tiến trình diễn ra trong thể người. Các bức xạ hồng trần của con người khác nhau tùy theo phẩm tính của các thể xác của họ. Hành tinh cũng vậy.

Planetary emanative prana (as in the case of solar prana) is caught up and transmitted via a particular group of devas, called the “devas of the shadows,” who are ethereal devas of a slightly violet hue. Their bodies are composed of the matter of one or other of the four ethers, and they focalise and concentrate the emanations of the planet, and of all forms upon the planet. They have a specially close connection with human beings owing to the fact of the essential resemblance of their bodily substance to man’s etheric substance, and because they transmit to him the magnetism of “Mother Earth” as it is called. Therefore we see that there are two groups of devas working in connection with man:

Prana phát xạ hành tinh (như trong trường hợp của prana thái dương) được một nhóm thiên thần đặc biệt tiếp nhận và truyền dẫn, được gọi là “thiên thần của bóng tối”, là những thiên thần dĩ thái có sắc tím nhạt. Thể của họ được cấu tạo bằng vật chất của một trong bốn cõi dĩ thái, và họ hội tụ và tập trung các phát xạ của hành tinh, cũng như của mọi hình tướng trên hành tinh. Họ có một mối liên hệ đặc biệt mật thiết với con người do sự tương đồng cốt yếu giữa chất liệu thể của họ với chất liệu dĩ thái của con người, và vì họ truyền cho y từ điện của “Mẹ Địa Cầu” như cách gọi thông thường. Do đó, chúng ta thấy có hai nhóm thiên thần hoạt động liên hệ với con người:

a. Solar devas, who transmit the vital fluid which circulates in the etheric body.

a. Các thiên thần thái dương, truyền dẫn lưu chất sinh lực lưu chuyển trong thể dĩ thái.

b. Planetary devas of a violet color, who are allied to man’s etheric body, and who transmit earth’s prana, or the prana of whichever planet man may be functioning upon during a physical incarnation.

b. Các thiên thần hành tinh có màu tím, liên kết với thể dĩ thái của con người, và truyền dẫn prana của địa cầu, hay prana của bất cứ hành tinh nào mà con người có thể đang hoạt động trên đó trong một kiếp lâm phàm hồng trần.

A very pertinent question might here be asked, and though we may not fully explain the mystery, a few suggestive [Page 93] hints may be possible. We might ask: What causes the apparent deadness of the Moon? Is there deva life upon it? Does solar prana have no effect there? What constitutes the difference between the apparently dead Moon, and a live planet, such as the Earth? (S. D., I, 170-180. )

Ở đây có thể nêu ra một câu hỏi rất thích đáng, và dù chúng ta có thể không giải thích trọn vẹn được huyền nhiệm này, một vài gợi ý [Page 93] ám chỉ có lẽ vẫn có thể đưa ra. Chúng ta có thể hỏi: Điều gì gây ra trạng thái dường như chết của Mặt Trăng? Có sự sống thiên thần trên đó không? Prana thái dương không có tác động gì ở đó sao? Điều gì tạo nên sự khác biệt giữa Mặt Trăng dường như đã chết và một hành tinh sống như Trái Đất? (S. D., I, 170-180.)

Here we touch upon a hidden mystery, of which the solution lies revealed for those who seek, in the fact that human beings and certain groups of devas are no longer found upon the Moon. Man has not ceased to exist upon the Moon because it is dead and cannot therefore support his life, but the Moon is dead because man and these deva groups have been removed from off its surface and from its sphere of influence. (S. D., I, 179.) Man and the devas act on every planet as intermediaries, or as transmitting agencies. Where they are not found, then certain great activities become impossible, and disintegration sets in. The reason for this removal lies in the cosmic Law of Cause and Effect, or cosmic karma, and in the composite, yet individual, history of that one of the Heavenly Men Whose body, the Moon or any other dead planet at any time happened to be.

Ở đây chúng ta chạm đến một huyền nhiệm ẩn kín, mà lời giải của nó được mặc khải cho những ai tìm kiếm, trong sự kiện rằng con người và một số nhóm thiên thần nào đó không còn được tìm thấy trên Mặt Trăng nữa. Con người không chấm dứt hiện hữu trên Mặt Trăng vì nó đã chết và do đó không thể duy trì sự sống của y, mà Mặt Trăng chết là vì con người và các nhóm thiên thần này đã bị dời khỏi bề mặt của nó và khỏi phạm vi ảnh hưởng của nó. (S. D., I, 179.) Con người và các thiên thần hoạt động trên mọi hành tinh như những trung gian, hay như những tác nhân truyền dẫn. Nơi nào họ không hiện diện, thì một số hoạt động lớn lao trở nên bất khả, và sự tan rã bắt đầu xuất hiện. Lý do của sự di dời này nằm trong Định luật Nhân Quả vũ trụ, hay nghiệp quả vũ trụ, và trong lịch sử tổng hợp nhưng cá biệt của một trong các Đấng Thiên Nhân mà thể của Ngài, vào một thời điểm nào đó, chính là Mặt Trăng hay bất kỳ hành tinh chết nào khác.

3. The prana of forms.

3. Prana của các hình tướng.

It must first be pointed out that forms are necessarily of two kinds, each having a different place in the scheme:

Trước hết cần chỉ ra rằng các hình tướng tất yếu thuộc hai loại, mỗi loại có một vị trí khác nhau trong hệ thống:

Forms that are the result of the work of the third and the second Logos, and Their united life. Such forms are the units in the vegetable, animal and mineral kingdoms.

Những hình tướng là kết quả công việc của Thượng đế thứ ba và thứ hai, cùng sự sống hợp nhất của Các Ngài. Những hình tướng như thế là các đơn vị trong giới thực vật, giới động vật và giới kim thạch.

Forms that are the result of the united action of the three Logoi, and comprise the strictly deva and human forms.

Những hình tướng là kết quả của tác động hợp nhất của ba Thượng đế, và bao gồm các hình tướng thiên thần và nhân loại theo nghĩa nghiêm ngặt.

There is also the still simpler form embodied in the substance of which all the other forms are made. This matter is strictly speaking the atomic and molecular matter, and is animated by the life or energy of the third Logos.

Cũng còn có hình tướng đơn giản hơn nữa được nhập thể trong chất liệu mà từ đó mọi hình tướng khác được tạo nên. Nói một cách chính xác, vật chất này là vật chất nguyên tử và phân tử, và được tiếp sinh lực bởi sự sống hay năng lượng của Thượng đế thứ ba.

[Page 94] CHART II — LOGOS OF A SOLAR SYSTEM

[Page 94] BIỂU ĐỒ II — THƯỢNG ĐẾ CỦA MỘT HỆ MẶT TRỜI

cosmic-fire-s1-03.png

[Page 95] In dealing with the first group of forms, it must be noted that the pranic emanations given off by units of the animal and vegetable kingdom (after they have absorbed both solar and planetary prana) are naturally a combination of the two, and are transmitted by means of surface radiation, as in solar and planetary prana, to certain lesser groups of devas of a not very high order, who have a curious and intricate relationship to the group soul of the radiating animal or vegetable. This matter cannot be dealt with here. These devas are also of a violet hue, but of such a pale color as to be almost grey; they are in a transitional state, and merge with a puzzling confusion with groups of entities that are almost on the involutionary arc. (42, 43, 43a)

[Page 95] Khi bàn đến nhóm hình tướng thứ nhất, cần lưu ý rằng các phát xạ prana do các đơn vị của giới động vật và giới thực vật phát ra (sau khi chúng đã hấp thu cả prana thái dương lẫn prana hành tinh) tự nhiên là một sự kết hợp của cả hai, và được truyền dẫn bằng bức xạ bề mặt, như trong prana thái dương và prana hành tinh, đến một số nhóm thiên thần nhỏ hơn thuộc cấp không cao lắm, những vị có một mối liên hệ kỳ lạ và phức tạp với Hồn nhóm của loài động vật hay thực vật đang bức xạ. Vấn đề này không thể được bàn đến ở đây. Các thiên thần này cũng có sắc tím, nhưng màu sắc nhạt đến mức gần như xám; họ ở trong một trạng thái chuyển tiếp, và hòa lẫn một cách rối rắm khó hiểu với các nhóm thực thể gần như đang ở trên cung giáng hạ tiến hoá. (42, 43, 43a)

(42) Involutionary Arc is the term applied to the first part of the evolutionary process. It covers the “path of descent,” or the coming down of Spirit into ever denser matter until the lowest point is reached, the point of densest concretion. The latter half of the process is called evolutionary and marks the ascent or return of Spirit to its emanating source, plus the gains of the evolutionary process. (back)

(42) Cung Giáng Hạ Tiến Hoá là thuật ngữ áp dụng cho phần đầu của tiến trình tiến hoá. Nó bao trùm “con đường đi xuống”, hay sự đi xuống của Tinh thần vào vật chất ngày càng đậm đặc hơn cho đến khi đạt tới điểm thấp nhất, điểm cô đặc dày đặc nhất. Nửa sau của tiến trình được gọi là tiến hoá và đánh dấu sự đi lên hay trở về của Tinh thần đến nguồn phát xạ của nó, cộng thêm những thành quả của tiến trình tiến hoá. (trở lại)

[Page 96] In dealing with the second group, the human form transmits the emanative radiations to a much higher grade of deva. These devas are of a more pronounced hue, and after due assimilation of the human radiation, they transmit it principally to the animal kingdom, thus demonstrating the close relationship between the two kingdoms. If the above explanation of the intricate inter-relation between the sun and the planets, between the planets and the evolving forms upon them, between the forms themselves in ever descending importance demonstrates nothing more than the exquisite interdependence of all existences, then much will have been achieved.

[Page 96] Khi bàn đến nhóm thứ hai, hình tướng con người truyền các bức xạ phát xạ đến một cấp thiên thần cao hơn nhiều. Các thiên thần này có sắc màu đậm hơn, và sau khi đồng hoá thích đáng bức xạ của con người, họ truyền nó chủ yếu đến giới động vật, nhờ đó chứng minh mối liên hệ mật thiết giữa hai giới này. Nếu lời giải thích trên về mối tương liên phức tạp giữa mặt trời và các hành tinh, giữa các hành tinh và các hình tướng đang tiến hoá trên chúng, giữa chính các hình tướng với nhau theo tầm quan trọng ngày càng giảm dần, không chứng minh gì hơn ngoài sự tương thuộc tinh tế của mọi hiện hữu, thì như thế cũng đã đạt được rất nhiều.

Another fact which must also be brought out is the close relationship between all these evolutions of nature, from the celestial sun down to the humblest violet via the [Page 97] deva evolution which acts as the transmitting transmuting force throughout the system.

Một sự kiện khác cũng cần được nêu ra là mối liên hệ mật thiết giữa tất cả các tiến hoá này của thiên nhiên, từ mặt trời thiên giới xuống đến loài tím khiêm tốn nhất thông qua [Page 97] tiến hoá thiên thần vốn hoạt động như mãnh lực truyền dẫn và chuyển hoá xuyên suốt toàn hệ thống.

Lastly, all work with fire. Fire internal, inherent and latent; fire radiatory and emanative; fire generated, assimilated and radiated; fire vivifying stimulating, and destroying; fire transmitted, reflected, and absorbed; fire, the basis of all life; fire, the essence of all existence; fire, the means of development, and the impulse behind all evolutionary process; fire, the builder, the preserver and the constructor; fire, the originator, the process and the goal; fire the purifier and the consumer. The God of Fire and the fire of God interacting upon each other, till all fires blend and blaze and till all that exists, is passed through the fire—from a solar system to an ant—and emerges as a triple perfection. Fire then passes out from the ring-pass-not as perfected essence, whether essence emerging from the human ring-pass-not, the planetary ring-pass-not or the solar. The wheel of fire turns and all within that wheel is subjected to the threefold flame, and eventually stands perfected.

Sau hết, tất cả đều làm việc với lửa. Lửa nội tại, cố hữu và tiềm ẩn; lửa bức xạ và phát xạ; lửa được tạo ra, được đồng hoá và được bức xạ; lửa tiếp sinh lực, kích thích và hủy diệt; lửa được truyền dẫn, phản chiếu và hấp thu; lửa, nền tảng của mọi sự sống; lửa, tinh túy của mọi hiện hữu; lửa, phương tiện phát triển và xung lực đứng sau mọi tiến trình tiến hoá; lửa, đấng kiến tạo, đấng bảo tồn và đấng cấu tạo; lửa, kẻ khởi xướng, tiến trình và mục tiêu; lửa, đấng thanh luyện và kẻ tiêu thụ. Thượng đế của Lửa và lửa của Thượng đế tương tác lẫn nhau, cho đến khi mọi ngọn lửa hòa nhập và bùng cháy, và cho đến khi mọi cái đang hiện hữu đều đi qua lửa—từ một hệ mặt trời đến một con kiến—và xuất hiện như một sự hoàn thiện tam phân. Khi đó lửa vượt ra khỏi vòng-giới-hạn như tinh chất đã được hoàn thiện, dù là tinh chất xuất hiện từ vòng-giới-hạn của con người, của hành tinh hay của thái dương. Bánh xe lửa quay chuyển và mọi thứ bên trong bánh xe ấy đều chịu tác động của ngọn lửa tam phân, và cuối cùng đứng vững trong sự hoàn thiện.

III. THE FUNCTION OF THE ETHERIC BODY

III. CHỨC NĂNG CỦA THỂ DĨ THÁI

We will now continue with the discussion of the etheric body, and take up the consideration of its function and its relation to the physical body.

Giờ đây chúng ta sẽ tiếp tục bàn về thể dĩ thái, và xét đến chức năng của nó cùng mối liên hệ của nó với thể xác.

The two may wisely be considered together, for the inter-relation is so close that it is not possible to discuss them separately. Primarily the functions of the etheric body are three in number:

Thật khôn ngoan khi xem xét hai thể này cùng nhau, vì mối tương liên quá mật thiết đến nỗi không thể bàn riêng từng thể. Trước hết, các chức năng của thể dĩ thái có ba loại:

1. It is the receiver of prana.

1. Nó là bộ tiếp nhận prana.

2. It is the assimilator of prana.

2. Nó là bộ đồng hoá prana.

3. It is the transmitter of prana.

3. Nó là bộ truyền dẫn prana.

1. The receiver of prana.

1. Bộ tiếp nhận prana.

The etheric body may therefore be described as negative or receptive in respect to the rays of the sun, and as [Page 98] positive and expulsive in respect to the dense physical body. The second function—that of assimilation—is strictly balanced or internal. As stated earlier, the pranic emanations of the sun are absorbed by the etheric body, via certain centres which are found principally in the upper part of the body, from whence they are directed downwards to the centre which is called the etheric spleen, as it is the counterpart in etheric matter of that organ. The main centre for the reception of prana at present is a centre between the shoulder blades. Another has been allowed to become partially dormant in man through the abuses of so-called civilisation, and is situated slightly above the solar plexus. In the coming rootrace, and increasingly in this, the necessity for the exposure of these two centres to the rays of the sun, will be appreciated, with a corresponding improvement in physical vitality and adaptability. These three centres,

Do đó, thể dĩ thái có thể được mô tả là âm hay tiếp nhận đối với các cung của mặt trời, và là [Page 98] dương và tống xuất đối với thể xác đậm đặc. Chức năng thứ hai—chức năng đồng hoá—được giữ cân bằng nghiêm ngặt hay mang tính nội tại. Như đã nói trước đây, các phát xạ prana của mặt trời được thể dĩ thái hấp thu qua một số trung tâm chủ yếu nằm ở phần trên của thể, từ đó chúng được dẫn xuống trung tâm được gọi là lá lách dĩ thái, vì nó là đối phần trong vật chất dĩ thái của cơ quan đó. Trung tâm chính để tiếp nhận prana hiện nay là một trung tâm nằm giữa hai xương bả vai. Một trung tâm khác đã được để cho trở nên phần nào ngủ yên nơi con người do những lạm dụng của cái gọi là văn minh, và nằm hơi phía trên tùng thái dương. Trong giống dân gốc sắp tới, và ngày càng nhiều trong giống dân này, sự cần thiết phải để hai trung tâm này tiếp xúc với các tia mặt trời sẽ được nhận thức, cùng với sự cải thiện tương ứng về sinh lực hồng trần và khả năng thích ứng. Ba trung tâm này,

1. Between the shoulder blades,

1. Giữa hai xương bả vai,

2. Above the diaphragm,

2. Phía trên cơ hoành,

3. And the spleen

3. Và lá lách

make, if one could but see it, a radiant etheric triangle, which triangle is the originating impulse for the later pranic circulation throughout the entire system. The etheric body is really a net-work of fine channels, which are the component parts of one interlacing fine cord,—one portion of this cord being the magnetic link which unites the physical and the astral bodies and which is snapped or broken after the withdrawal of the etheric body from the dense physical body at the time of death. The silver cord is loosed, as the Bible expresses it (The Bible. Ecc: XII, 6.), and this is the basis of the legend of the fateful sister who cuts the thread of life with the dreaded shears.

tạo thành, nếu người ta có thể thấy được, một tam giác dĩ thái rực sáng, mà tam giác này là xung lực khởi nguyên cho sự tuần hoàn prana về sau trong toàn bộ hệ thống. Thể dĩ thái thực sự là một mạng lưới các kênh nhỏ mịn, là những bộ phận cấu thành của một sợi dây mịn đan xen duy nhất,—một phần của sợi dây này là liên kết từ tính nối thể xác với thể cảm dục và bị đứt hay gãy sau khi thể dĩ thái rút ra khỏi thể xác đậm đặc vào lúc chết. Sợi dây bạc được tháo lỏng, như Kinh Thánh diễn tả (Kinh Thánh. Truyền: XII, 6.), và đây là cơ sở của truyền thuyết về người chị em định mệnh cắt sợi dây sự sống bằng chiếc kéo đáng sợ.

The etheric web is composed of the intricate weaving of this vitalised cord, and apart from the seven centres [Page 99] within the web (which correspond to the sacred centres, and of which the spleen is frequently counted as one) it has the two above mentioned, which make—with the spleen—a triangle of activity. The etheric web of the solar system is of an analogous nature, and likewise has its three receptive centres for cosmic prana. The mysterious band in the heavens, which we call the Milky Way, (S. D. II. 250) is closely connected with cosmic prana, or that cosmic vitality or nourishment which vitalises the solar etheric system.

Mạng dĩ thái được cấu tạo bởi sự dệt đan phức tạp của sợi dây đã được tiếp sinh lực này, và ngoài bảy trung tâm [Page 99] bên trong mạng (tương ứng với các trung tâm thiêng liêng, và trong đó lá lách thường được tính là một) nó còn có hai trung tâm đã nói ở trên, hợp với lá lách thành một tam giác hoạt động. Mạng dĩ thái của hệ mặt trời có bản chất tương tự, và cũng có ba trung tâm tiếp nhận prana vũ trụ. Dải bí ẩn trên bầu trời mà chúng ta gọi là Dải Ngân Hà, (S. D. II. 250) có liên hệ mật thiết với prana vũ trụ, hay sinh lực hay dưỡng chất vũ trụ tiếp sinh lực cho hệ dĩ thái thái dương.

2. The assimilator of prana.

2. Bộ đồng hoá prana.

The process of assimilation is carried on in this triangle, and the prana which enters into either centre, circulates three times around the triangle before being transmitted to all parts of the etheric vehicle and from thence to the dense physical body. The main organ of assimilation is the spleen—the etheric centre and the dense physical organ. The vital essence from the sun is passed into the etheric spleen, and is there subjected to a process of intensification or devitalisation, according to the condition, healthy or not, of that organ. If the man is in a healthy state the emanation received will be augmented by his own individual vibration, and its rate of vibration will be keyed up before it is passed on into the physical spleen; or it will be slowed down and lowered if the man is in a poor condition of health.

Tiến trình đồng hoá được thực hiện trong tam giác này, và prana đi vào bất kỳ trung tâm nào sẽ tuần hoàn ba lần quanh tam giác trước khi được truyền đến mọi phần của vận cụ dĩ thái và từ đó đến thể xác đậm đặc. Cơ quan chính của sự đồng hoá là lá lách—trung tâm dĩ thái và cơ quan hồng trần đậm đặc. Tinh chất sinh lực từ mặt trời được chuyển vào lá lách dĩ thái, và tại đó chịu một tiến trình tăng cường hay làm mất sinh lực, tùy theo tình trạng lành mạnh hay không của cơ quan ấy. Nếu con người ở trong trạng thái khỏe mạnh thì phát xạ tiếp nhận được sẽ được tăng cường bởi rung động cá nhân của chính y, và nhịp rung của nó sẽ được nâng cao trước khi được chuyển vào lá lách hồng trần; hoặc nó sẽ bị làm chậm lại và hạ thấp nếu con người ở trong tình trạng sức khỏe kém.

These three centres are in the form that all centres take, of saucer-like depressions, resembling somewhat the appearance of small whirlpools, and which draw within their sphere of influence the currents that come their way.

Ba trung tâm này có hình dạng mà mọi trung tâm đều có, là những chỗ lõm như chiếc đĩa, phần nào giống các xoáy nước nhỏ, và hút vào trong phạm vi ảnh hưởng của chúng các dòng chảy đi ngang qua.

The centres should be pictured as whirling vortices with a closely woven threefold channel passing from each centre to the other, and forming an almost separate circulatory system. This finds its point of departure for [Page 100] the entire system at the further side of the spleen to that at which the prana entered. The vital fluid circulates through and between these three centres three times, before it finally passes out from them to the periphery of its little system. This final circulation carries the prana, via the fine interlacing channels, to every part of the body, which becomes entirely impregnated by these emanations, if it might be so expressed. These emanations find their way finally out of the etheric system by means of surface radiation. The pranic essence escapes from the circumference of its temporary ring-pass-not as emanative human prana, which is the same prana as earlier received, plus the peculiar quality that any single individual may convey to it during its transitory circulation. The essence escapes, plus individual quality.

Nên hình dung các trung tâm như những xoáy lốc quay tròn với một kênh tam phân đan dệt chặt chẽ đi từ mỗi trung tâm sang trung tâm kia, tạo thành một hệ tuần hoàn gần như riêng biệt. Hệ này tìm thấy điểm khởi hành của nó cho [Page 100] toàn bộ hệ thống ở phía bên kia của lá lách so với nơi prana đi vào. Lưu chất sinh lực tuần hoàn xuyên qua và giữa ba trung tâm này ba lần, trước khi cuối cùng đi ra khỏi chúng đến chu vi của hệ nhỏ của nó. Sự tuần hoàn cuối cùng này mang prana, qua các kênh nhỏ đan xen, đến mọi phần của thể, vốn trở nên hoàn toàn thấm đẫm các phát xạ này, nếu có thể diễn tả như vậy. Các phát xạ này cuối cùng tìm đường ra khỏi hệ dĩ thái bằng bức xạ bề mặt. Tinh chất prana thoát ra khỏi chu vi của vòng-giới-hạn tạm thời của nó như prana phát xạ của con người, tức chính là prana đã tiếp nhận trước đó, cộng thêm phẩm tính đặc thù mà bất kỳ cá nhân nào cũng có thể truyền cho nó trong thời gian tuần hoàn thoáng qua của nó. Tinh chất thoát ra, cộng thêm phẩm tính cá nhân.

Here again can be seen the correspondence to the escape of all essences from within any ring-pass-not when the cycle has been completed.

Ở đây một lần nữa có thể thấy định luật tương ứng với sự thoát ra của mọi tinh chất từ bên trong bất kỳ vòng-giới-hạn nào khi chu kỳ đã hoàn tất.

This matter of the etheric body is of a very practical interest, and when its importance is better realised, men will attend to the distribution of prana within the body with closer attention, and will see that the vitalisation of the body, via the three centres, proceeds unhindered.

Vấn đề về thể dĩ thái này có một ý nghĩa thực tiễn rất lớn, và khi tầm quan trọng của nó được chứng nghiệm rõ hơn, con người sẽ chú ý sát sao hơn đến sự phân phối prana trong thể, và sẽ thấy rằng sự tiếp sinh lực cho thể, qua ba trung tâm, diễn ra không bị cản trở.

The subject has necessarily to be handled in a superficial manner, and only outlines and scattered hints can be given. Nevertheless, it will be found that if this teaching is studied with care, it will convey a knowledge of truths whose calibre and content will prove invaluable and of a kind hitherto not given out. The place of the etheric sheath as a separator or ring-pass-not, and its functions as a receiver and distributor of prana, are dealt with here in a larger sense than heretofore, and the subject may later be enlarged.

Đề tài này tất yếu phải được trình bày một cách khái quát, và chỉ có thể đưa ra những nét phác cùng những gợi ý rải rác. Tuy nhiên, sẽ thấy rằng nếu giáo huấn này được nghiên cứu cẩn trọng, nó sẽ truyền đạt tri thức về những chân lý mà tầm mức và nội dung của chúng sẽ chứng tỏ là vô giá và thuộc loại từ trước đến nay chưa từng được công bố. Vị trí của lớp vỏ dĩ thái như một vật ngăn cách hay vòng-giới-hạn, và các chức năng của nó như bộ tiếp nhận và phân phối prana, ở đây được bàn đến theo một ý nghĩa rộng lớn hơn trước kia, và đề tài này về sau có thể được khai triển thêm.

Two fundamental truths stand out from the aggregate of facts so slightly dealt with here: [Page 101]

Hai chân lý căn bản nổi bật lên từ toàn bộ các sự kiện chỉ được đề cập rất sơ lược ở đây: [Page 101]

First. The fourth etheric subplane of the physical plane is the immediate concern of

Thứ nhất. Cõi phụ dĩ thái thứ tư của cõi hồng trần là mối quan tâm trực tiếp của

a. Man, the Microcosm,

a. Con người, Tiểu thiên địa,

b. The Heavenly Man, the planetary Logos,

b. Đấng Thiên Nhân, Hành Tinh Thượng đế,

c. The Grand Man of the Heavens, the solar Logos.

c. Đại Nhân của Thiên Giới, Thái dương Thượng đế.

Second. In this fourth chain and fourth round, the fourth ether is beginning to be studied, and—viewed as a separating web—it permits occasional exit to those of suitable vibration.

Thứ hai. Trong dãy thứ tư và cuộc tuần hoàn thứ tư này, dĩ thái thứ tư đang bắt đầu được nghiên cứu, và—khi được xem như một mạng ngăn cách—nó cho phép sự thoát ra từng lúc của những ai có rung động thích hợp.

3. The Transmitter of Prana.

3. Bộ truyền dẫn Prana.

We have touched but little on the subject of the fire, the purpose of the etheric body being to convey it and distribute it to all parts of its system. We have dwelt on facts which might stimulate interest and emphasise the utility of this pranic vehicle. Certain facts need emphasis and consideration as we study this static ring and its circulating fires. Let me briefly recapitulate for the sake of clarity:

Chúng ta mới chỉ chạm rất ít đến đề tài lửa, trong khi mục đích của thể dĩ thái là chuyển tải nó và phân phối nó đến mọi phần trong hệ thống của nó. Chúng ta đã lưu tâm đến những sự kiện có thể khơi dậy sự quan tâm và nhấn mạnh tính hữu dụng của vận cụ prana này. Có một số sự kiện cần được nhấn mạnh và xem xét khi chúng ta nghiên cứu vòng tĩnh này và các ngọn lửa tuần hoàn của nó. Xin cho phép tôi tóm lược ngắn gọn để được rõ ràng:

The System receives prana from cosmic sources via three centres, and redistributes it to all parts of its extended influence, or to the bounds of the solar etheric web. This cosmic prana becomes colored by solar quality and reaches the furthest confines of the system. Its mission might be described as the vitalisation of the vehicle which is the physical material expression of the solar Logos.

Hệ thống tiếp nhận prana từ các nguồn vũ trụ qua ba trung tâm, và phân phối lại nó đến mọi phần trong phạm vi ảnh hưởng mở rộng của nó, hay đến các ranh giới của mạng dĩ thái thái dương. Prana vũ trụ này được nhuốm phẩm tính thái dương và đạt đến những biên giới xa nhất của hệ thống. Sứ mạng của nó có thể được mô tả như là sự tiếp sinh lực cho vận cụ là biểu hiện vật chất hồng trần của Thái dương Thượng đế.

The Planet receives prana from the solar centre, and redistributes it via the three receiving centres to all parts of its sphere of influence. This solar prana becomes colored by the planetary quality and is absorbed by all evolutions found within the planetary ring-pass-not. Its mission might be described as the vitalisation of the vehicle which is the physical material expression of one or other of the seven Heavenly Men.

Hành tinh tiếp nhận prana từ trung tâm thái dương, và phân phối lại nó qua ba trung tâm tiếp nhận đến mọi phần trong phạm vi ảnh hưởng của nó. Prana thái dương này được nhuốm phẩm tính hành tinh và được hấp thu bởi mọi tiến hoá hiện diện trong vòng-giới-hạn hành tinh. Sứ mạng của nó có thể được mô tả như là sự tiếp sinh lực cho vận cụ là biểu hiện vật chất hồng trần của một trong bảy Đấng Thiên Nhân.

[Page 102] The Microcosm receives prana from the sun after it has permeated the planetary etheric vehicle, so that it is solar prana, plus planetary quality. Each planet is the embodiment of some one ray aspect, and its quality is marked predominantly on all its evolution.

[Page 102] Tiểu thiên địa tiếp nhận prana từ mặt trời sau khi nó đã thấm qua vận cụ dĩ thái hành tinh, do đó nó là prana thái dương cộng thêm phẩm tính hành tinh. Mỗi hành tinh là hiện thân của một phương diện cung nào đó, và phẩm tính của nó được ghi dấu nổi trội trên toàn bộ tiến hoá của nó.

Prana, therefore, which is active radiatory heat, varies in vibration and quality according to the receiving Entity. Man passes the prana through his etheric vehicle, colors it with his own peculiar quality, and so transmits it to the lesser lives that make up his little system. Thus, the great interaction goes on, and all parts blend, merge and are interdependent; and all parts receive, color, qualify and transmit. An endless circulation goes on that has neither a conceivable beginning nor possible end from the point of view of finite man, for its source and end are hid in the unknown cosmic fount. Were conditions everywhere perfected this circulation would proceed unimpeded and might result in a condition of almost endless duration, but limitation and termination result as the effects of imperfection giving place to a gradual perfection. Every cycle originates from another cycle of a relative completeness, and will give place ever to a higher spiral; thus eventuate periods of apparent relative perfection leading to those which are still greater.

Do đó, prana, vốn là nhiệt bức xạ hoạt động, thay đổi về rung động và phẩm tính tùy theo Thực Thể tiếp nhận. Con người chuyển prana qua vận cụ dĩ thái của mình, nhuốm nó bằng phẩm tính đặc thù riêng của mình, và như thế truyền nó đến các sự sống nhỏ hơn cấu thành hệ nhỏ của mình. Như vậy, sự tương tác lớn lao tiếp diễn, và mọi phần hòa nhập, dung hợp và tương thuộc lẫn nhau; và mọi phần đều tiếp nhận, nhuốm màu, định tính và truyền dẫn. Một sự tuần hoàn vô tận tiếp diễn, không có khởi đầu nào con người hữu hạn có thể quan niệm được, cũng không có kết thúc nào có thể có theo quan điểm của con người hữu hạn, vì nguồn và đích của nó ẩn kín trong suối nguồn vũ trụ chưa biết. Nếu các điều kiện ở khắp nơi đều hoàn thiện thì sự tuần hoàn này sẽ diễn ra không bị ngăn trở và có thể dẫn đến một trạng thái gần như kéo dài vô tận, nhưng sự giới hạn và chấm dứt lại là kết quả của sự bất toàn nhường chỗ cho một sự hoàn thiện dần dần. Mỗi chu kỳ khởi sinh từ một chu kỳ khác có tính hoàn tất tương đối, và sẽ luôn nhường chỗ cho một vòng xoắn cao hơn; do đó xuất hiện những thời kỳ hoàn thiện tương đối bề ngoài dẫn đến những thời kỳ còn lớn lao hơn nữa.

The aim for this greater cycle is the blending, as we know, of the two fires of matter, latent and active, and their merging with the fires of mind and spirit till they are lost from sight in the general flame; the fires of mind and spirit burn up matter and thereby bring about liberation from the confining vehicles. The altar of earth is the birthplace of spirit, its liberator from the mother (matter), and its entrance into higher realms.

Mục tiêu của chu kỳ lớn hơn này, như chúng ta biết, là sự hòa nhập của hai ngọn lửa của vật chất, tiềm ẩn và hoạt động, và sự dung hợp của chúng với các ngọn lửa của trí tuệ và tinh thần cho đến khi chúng mất hút trong ngọn lửa chung; các ngọn lửa của trí tuệ và tinh thần thiêu đốt vật chất và nhờ đó đem lại sự giải thoát khỏi các vận cụ giam hãm. Bàn thờ của đất là nơi sinh ra tinh thần, là đấng giải thoát nó khỏi người mẹ (vật chất), và là lối vào của nó đến các cõi cao hơn.

Hence, when the pranic vehicle is working perfectly in all three groups, human, planetary and solar, the union with latent fire will be accomplished. Here lies [Page 103] the reason for the emphasis laid on the necessity for building pure, refined physical vehicles. The more refined and rarefied the form, the better a receiver of prana will it be, and the less will be the resistance found to the uprising of kundalini at the appointed time. Coarse matter and crude immature physical bodies are a menace to the occultist, and no true seer will be found with a body of a gross quality. The dangers of disruption are too great, and the menace of disintegration by fire too awful. Once in the history of the race (in Lemurian days) this was seen in the destruction of the race and the continents by means of fire. (45) The Guides of the race at that time availed Themselves of just this very thing to bring about the finish of an inadequate form. The latent fire of matter (as seen in volcanic display, for instance) and the radiatory fire of the system were combined. Planetary kundalini and solar emanation rushed into conjunction, and the work of destruction was accomplished. The same thing may again be seen, only in matter of the second ether, and the effects therefore will be less severe owing to the rarity of this ether and the comparatively greater refinement of the vehicles.

Do đó, khi vận cụ prana hoạt động hoàn hảo trong cả ba nhóm, nhân loại, hành tinh và thái dương, thì sự hợp nhất với lửa tiềm ẩn sẽ được hoàn thành. Chính trong đây có [Page 103] lý do của sự nhấn mạnh đặt vào nhu cầu xây dựng những vận cụ hồng trần thanh khiết, tinh luyện. Hình tướng càng tinh luyện và càng thanh nhẹ, nó sẽ càng là một bộ tiếp nhận prana tốt hơn, và sẽ càng ít gặp sự kháng cự đối với sự trỗi dậy của kundalini vào thời điểm đã định. Vật chất thô nặng và các thể xác hồng trần thô sơ chưa trưởng thành là một mối nguy cho nhà huyền bí học, và sẽ không tìm thấy một nhà thông nhãn chân chính nào với một thể có phẩm chất thô trược. Những nguy cơ đổ vỡ là quá lớn, và mối đe dọa tan rã bởi lửa là quá khủng khiếp. Đã từng có một lần trong lịch sử nhân loại (vào thời Lemuria) điều này được thấy trong sự hủy diệt của nhân loại và các lục địa bằng lửa. (45) Các Đấng Hướng Dẫn của nhân loại vào thời đó đã vận dụng chính điều này để đem lại sự kết thúc cho một hình tướng không thích hợp. Lửa tiềm ẩn của vật chất (chẳng hạn như thấy trong các biểu hiện núi lửa) và lửa bức xạ của hệ thống đã được kết hợp. Kundalini hành tinh và phát xạ thái dương lao vào đồng vị, và công việc hủy diệt đã được hoàn tất. Điều tương tự có thể lại được thấy, chỉ khác là trong vật chất của dĩ thái thứ hai, và do đó các hiệu quả sẽ ít nghiêm trọng hơn vì tính thanh nhẹ của dĩ thái này và sự tinh luyện tương đối lớn hơn của các vận cụ.

(45) In the Secret Doctrine, Vol. I, p. 473, footnote, the destruction of Lemuria by fire is hinted at, and in the Secret Doctrine, II, 149, footnote, the words occur, “Lemuria was not submerged but was destroyed by volcanic action, and afterward sank.” (back)

(45) Trong Giáo Lý Bí Nhiệm, Tập I, tr. 473, chú thích, sự hủy diệt của Lemuria bằng lửa được ám chỉ đến, và trong Giáo Lý Bí Nhiệm, II, 149, chú thích, có những lời như sau, “Lemuria không bị nhấn chìm mà bị hủy diệt bởi hoạt động núi lửa, và sau đó chìm xuống.” (trở lại)

We might here note a fact of interest, though of a mystery insoluble as yet to most of us, and that is, that these destructions by fire are part of the tests by fire of an initiation of that one of the Heavenly Men Whose karma is bound up with our earth.

Ở đây chúng ta có thể lưu ý một sự kiện đáng quan tâm, dù vẫn còn là một huyền nhiệm chưa thể giải được đối với phần lớn chúng ta, đó là những sự hủy diệt bằng lửa này là một phần của các cuộc thử thách bằng lửa trong một cuộc điểm đạo của một trong các Đấng Thiên Nhân mà nghiệp quả của Ngài gắn liền với địa cầu của chúng ta.

Each destruction of a portion of the web results in a greater facility of exit, and is in reality (when seen from the higher planes) a step forward and an expansion. A repetition of this takes place likewise in the system at the stated cycles.[Page 104]

Mỗi sự hủy diệt một phần của mạng đều dẫn đến sự dễ dàng thoát ra lớn hơn, và thực ra (khi được nhìn từ các cõi cao hơn) là một bước tiến và một sự mở rộng. Sự lặp lại của điều này cũng diễn ra trong hệ thống vào những chu kỳ đã định.[Page 104]

4. Disorders of the etheric body.

4. Những rối loạn của thể dĩ thái.

We will now study the etheric body, and its ills and also its after death condition. This matter can be only briefly touched upon. All that may now be indicated is a general idea of the fundamental ailments to which the etheric may be subject, and the trend which applied medicine may later take when occult laws are better understood. One fact must here be brought out—a fact but little comprehended or even apprehended. This is the significant fact that the ills of the etheric vehicle, in the case of the microcosm, will be found likewise in the Macrocosm. Herein lies the knowledge that ofttimes explains the apparent miseries of nature. Some of the great world evils have their source in etheric ills, extending the idea of the etheric to planetary conditions and even to solar. As we touch upon the causes of etheric distress in man, their planetary and solar correspondences and reactions may perhaps be realised. We will need to bear carefully in mind when studying this matter, that all the diseases of the etheric body will appertain to its threefold purpose and be either:

Giờ đây chúng ta sẽ nghiên cứu thể dĩ thái, các bệnh trạng của nó và cả tình trạng của nó sau khi chết. Vấn đề này chỉ có thể được chạm đến một cách ngắn gọn. Tất cả những gì hiện nay có thể nêu ra chỉ là một ý niệm tổng quát về các bệnh căn bản mà thể dĩ thái có thể phải chịu, và xu hướng mà y học ứng dụng về sau có thể đi theo khi các định luật huyền bí được thấu hiểu rõ hơn. Ở đây cần nêu ra một sự kiện—một sự kiện rất ít được thấu hiểu hay thậm chí được nhận biết. Đó là sự kiện quan trọng rằng các bệnh trạng của vận cụ dĩ thái, trong trường hợp của tiểu thiên địa, cũng sẽ được tìm thấy trong Đại thiên địa. Chính trong đây có tri thức thường giải thích những khổ đau bề ngoài của thiên nhiên. Một số đại ác của thế giới có nguồn gốc trong các bệnh trạng dĩ thái, nếu mở rộng ý niệm về dĩ thái sang các điều kiện hành tinh và thậm chí cả thái dương. Khi chúng ta chạm đến các nguyên nhân của sự khốn khổ dĩ thái nơi con người, các tương ứng và phản ứng hành tinh và thái dương của chúng có lẽ sẽ được chứng nghiệm. Khi nghiên cứu vấn đề này, chúng ta cần cẩn thận ghi nhớ rằng mọi bệnh của thể dĩ thái sẽ thuộc về mục đích tam phân của nó và sẽ hoặc là:

a. Functional and thereby affecting its apprehension of prana,

a. Chức năng và do đó ảnh hưởng đến sự tiếp nhận prana của nó,

b. Organic, and thereby affecting its distribution of prana,

b. Cơ quan, và do đó ảnh hưởng đến sự phân phối prana của nó,

c. Static, and thereby affecting the web, when viewed solely from the angle of providing a physical ring-pass-not, and acting as a separator between the physical and the astral.

c. Tĩnh, và do đó ảnh hưởng đến mạng, khi chỉ được nhìn từ góc độ cung cấp một vòng-giới-hạn hồng trần, và hoạt động như một vật ngăn cách giữa hồng trần và cảm dục.

These three different groups of functions or purposes are each of paramount interest, lead to totally different results, and react in a different manner both outwardly and inwardly.

Ba nhóm chức năng hay mục đích khác nhau này, mỗi nhóm đều cực kỳ quan trọng, dẫn đến những kết quả hoàn toàn khác nhau, và phản ứng theo những cách khác nhau cả bên ngoài lẫn bên trong.

Viewed from the planetary standpoint the same conditions will be perceived, and the etheric planetary body [Page 105] (which is fundamentally the body in the case of the sacred planets, of which the Earth is not one) will have its functional disorders, which will affect its reception of prana, will suffer its organic troubles which may affect its distribution, and those disorders which permit of trouble in the etheric web, which forms the ring-pass-not for the involved planetary Spirit. Here I would point out that in the case of the planetary Spirits Who are on the divine evolutionary arc, the Heavenly Men Whose bodies are planets, the etheric web does not form a barrier, but (like the Karmic Lords on a higher plane) They have freedom of movement outside the bounds of the planetary web within the circumference of the solar ring-pass-not. (46)

Được nhìn từ quan điểm hành tinh, cũng sẽ nhận thấy các điều kiện tương tự, và thể dĩ thái hành tinh [Page 105] (vốn về căn bản là thể trong trường hợp các hành tinh thiêng liêng, mà Trái Đất không phải là một trong số đó) sẽ có những rối loạn chức năng, ảnh hưởng đến sự tiếp nhận prana của nó, sẽ chịu những trục trặc hữu cơ có thể ảnh hưởng đến sự phân phối của nó, và những rối loạn cho phép phát sinh sự cố trong mạng dĩ thái, vốn tạo thành vòng-giới-hạn cho Tinh thần hành tinh liên hệ. Ở đây tôi muốn chỉ ra rằng trong trường hợp các Tinh thần hành tinh đang ở trên cung tiến hoá thiêng liêng, các Đấng Thiên Nhân mà thể của Các Ngài là các hành tinh, thì mạng dĩ thái không tạo thành một rào cản, mà (giống như các Đấng Nghiệp Quả ở một cõi cao hơn) Các Ngài có tự do di chuyển ra ngoài giới hạn của mạng hành tinh trong chu vi của vòng-giới-hạn thái dương. (46)

(46) The planetary Spirit is another term for the Logos of our planet, one of the “seven Spirits before the Throne,” and therefore one of the seven Heavenly Men. He is on the evolutionary arc of the universe, and has passed many stages beyond the human.

(46) Tinh thần hành tinh là một thuật ngữ khác chỉ Thượng đế của hành tinh chúng ta, một trong “Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai”, và do đó là một trong bảy Đấng Thiên Nhân. Ngài ở trên cung tiến hoá của vũ trụ, và đã vượt qua nhiều giai đoạn vượt xa con người.

The planetary Entity is on the involutionary arc and is a very low grade Entity. He is the sum total of all the elemental lives of the planet. (back)

Thực Thể Hành Tinh ở trên cung giáng hạ tiến hoá và là một Thực Thể có cấp độ rất thấp. Y là tổng thể của mọi sự sống hành khí của hành tinh. (back)

Again from the systemic standpoint, these same effects may be observed, functionally, this time in connection with the cosmic centre; organically, in connection with the sum total of the planetary systems; and statically, in connection with the solar or logoic ring-pass-not.

Một lần nữa, từ quan điểm hệ thống, cũng có thể quan sát các hiệu quả tương tự này: về mặt chức năng, lần này trong liên hệ với trung tâm vũ trụ; về mặt hữu cơ, trong liên hệ với tổng thể các hệ hành tinh; và về mặt tĩnh, trong liên hệ với vòng-giới-hạn thái dương hay logoi.

We might now, for purposes of clarity, take up these three groups separately and briefly touch upon them and hint (for more will not be possible) at methods of cure and of adjustment.

Giờ đây, để cho rõ ràng, chúng ta có thể xét riêng ba nhóm này và đề cập ngắn gọn đến chúng, đồng thời gợi ý (vì không thể làm hơn) về các phương pháp chữa trị và điều chỉnh.

a. Microcosmic functional disorders. These have to do with the reception by man, via the necessary centres, of the pranic fluids. We must always bear in mind, and thus keep the distinction clear, that these emanations of prana have to do with the heat latent in matter; when received and functioning through the etheric body correctly, they co-operate with the natural latent bodily [Page 106] warmth, and (merging therewith) hold the body in a vitalised condition, imposing upon the matter of the body a certain rate of vibratory action that leads to the necessary activity of the physical vehicle, and the right functioning of its organs. It will, therefore, be apparent that the A. B. C. of bodily health is wrapped up in the right reception of prana, and that one of the basic changes that must be made in the life of the human animal (which is the aspect we are dealing with now) will be in the ordinary conditions of living.

a. Các rối loạn chức năng vi mô. Những rối loạn này liên quan đến sự tiếp nhận của con người, qua các trung tâm cần thiết, các lưu chất prana. Chúng ta phải luôn ghi nhớ, và nhờ đó giữ cho sự phân biệt được rõ ràng, rằng các phát xạ prana này liên quan đến nhiệt ẩn tàng trong vật chất; khi được tiếp nhận và hoạt động đúng đắn qua thể dĩ thái, chúng hợp tác với nhiệt tự nhiên tiềm ẩn của thể [Page 106] và (hòa nhập với nó) giữ cho thể ở trong trạng thái được tiếp sinh lực, áp đặt lên vật chất của thể một nhịp độ hoạt động rung động nhất định dẫn đến hoạt động cần thiết của vận cụ hồng trần, và sự vận hành đúng đắn của các cơ quan của nó. Vì vậy, hiển nhiên là ABC của sức khỏe thể xác gắn liền với sự tiếp nhận đúng đắn prana, và một trong những thay đổi căn bản phải được thực hiện trong đời sống của người thú (là phương diện chúng ta đang bàn đến lúc này) sẽ nằm ở các điều kiện sinh hoạt thông thường.

The three fundamental centres whereby reception is brought about must be allowed to function with greater freedom, and with less restriction. Now, owing to centuries of wrong living, and to basic mistakes (originating in Lemurian days) man’s three pranic centres are not in good working order. The centre between the shoulder blades is in the best receptive condition, though owing to the poor condition of the spinal column (which in so many is out of accurate alignment), its position in the back is apt to be misplaced. The splenic centre near the diaphragm is sub-normal in size and its vibration is not correct. In the case of the aboriginal dwellers in such localities as the South Seas, better etheric conditions will be found; the life they lead is more normal (from the animal standpoint) than in any other portion of the world.

Ba trung tâm căn bản nhờ đó sự tiếp nhận được thực hiện phải được để cho hoạt động với tự do lớn hơn và với ít hạn chế hơn. Hiện nay, do nhiều thế kỷ sống sai lầm, và do những sai lầm căn bản (bắt nguồn từ thời Lemuria), ba trung tâm prana của con người không ở trong tình trạng hoạt động tốt. Trung tâm giữa hai bả vai ở trong tình trạng tiếp nhận tốt nhất, dù do tình trạng kém của cột sống (vốn ở rất nhiều người không được chỉnh hợp chính xác), vị trí của nó ở lưng dễ bị lệch chỗ. Trung tâm lá lách gần cơ hoành thì có kích thước dưới mức bình thường và rung động của nó không đúng. Trong trường hợp các cư dân bản địa ở những địa phương như Nam Hải, sẽ thấy các điều kiện dĩ thái tốt hơn; đời sống họ sống bình thường hơn (xét từ quan điểm động vật) so với bất kỳ phần nào khác của thế giới.

The race suffers from certain incapacities, which may be described as follows:

Nhân loại chịu đựng một số sự bất lực, có thể được mô tả như sau:

First. Inability to tap pranic currents, owing to the unhealthy lives passed by so many. This involves the cutting off of the source of supply, and the consequent atrophying and shrinkage of the receptive centres. This is seen in an exaggerated form in the children of the congested quarters of any great city, and in the vitiated anemic dwellers of the slums. The cure is apparent—the bringing about of better living conditions, the employment [Page 107] of more appropriate clothing, and the adoption of a freer and more salubrious mode of living. When the pranic rays can find free access to the shoulders, and to the diaphragm, the subnormal state of the average spleen will adjust itself automatically.

Thứ nhất. Không có khả năng khai thác các dòng prana, do đời sống không lành mạnh mà quá nhiều người đã sống. Điều này kéo theo việc cắt đứt nguồn cung cấp, và hậu quả là các trung tâm tiếp nhận bị teo đi và co rút lại. Điều này được thấy dưới hình thức cường điệu nơi trẻ em ở các khu chật chội của bất kỳ thành phố lớn nào, và nơi những cư dân thiếu máu, suy nhược của các khu ổ chuột. Phương thuốc thì rõ ràng—tạo ra các điều kiện sống tốt hơn, sử dụng [Page 107] y phục thích hợp hơn, và chấp nhận một lối sống tự do hơn và lành mạnh hơn. Khi các tia prana có thể tự do đi vào vai và cơ hoành, tình trạng dưới mức bình thường của lá lách trung bình sẽ tự động điều chỉnh.

Second. Over-ability to tap pranic currents. The first type of functional disorder is common and widespread. Its reverse can be found where conditions of life are such that the centres (through too direct and prolonged submittal to solar emanation) become overdeveloped, vibrate too rapidly, and receive prana in too great an amount. This is rarer, but is found in some tropical countries, and is responsible for much of the troublesome debility that attacks dwellers in these lands. The etheric body receives prana or solar rays too rapidly, passes it through and out of the system with too much force, and this leaves the victim a prey to inertia and devitalisation. Putting it otherwise, the etheric body becomes lazy, is like an unstrung web, or (to use a very homely illustration) it resembles a tennis racket which has become too soft, and has lost its resilience. The inner triangle transmits the pranic emanations with too great rapidity, giving no time for the subsidiary absorption, and the whole system is thereby the loser. Later it will be found that many of the ills that Europeans, living in India, fall heir to, originate in this way; and by attention, therefore, to the spleen, and by wise control of living conditions, some of the trouble may be obviated.

Thứ hai. Khả năng khai thác các dòng prana quá mức. Loại rối loạn chức năng thứ nhất là phổ biến và lan rộng. Điều ngược lại của nó có thể được tìm thấy ở nơi các điều kiện sống khiến cho các trung tâm (do chịu trực tiếp và kéo dài quá mức các phát xạ thái dương) trở nên phát triển quá độ, rung động quá nhanh, và tiếp nhận prana với số lượng quá lớn. Điều này hiếm hơn, nhưng được thấy ở một số nước nhiệt đới, và là nguyên nhân của phần lớn tình trạng suy nhược phiền toái tấn công cư dân ở những vùng đất này. Thể dĩ thái tiếp nhận prana hay các tia thái dương quá nhanh, truyền nó xuyên qua và ra khỏi hệ thống với lực quá mạnh, và điều này khiến nạn nhân trở thành mồi cho quán tính và sự mất sinh lực. Nói cách khác, thể dĩ thái trở nên lười biếng, giống như một mạng lưới bị chùng, hoặc (dùng một minh họa rất đời thường) nó giống như một cây vợt tennis đã trở nên quá mềm và đã mất tính đàn hồi. Tam giác bên trong truyền các phát xạ prana với tốc độ quá lớn, không cho thời gian để sự hấp thu phụ trợ diễn ra, và bởi vậy toàn bộ hệ thống bị thiệt hại. Về sau người ta sẽ thấy rằng nhiều chứng bệnh mà người châu Âu sống ở Ấn Độ phải gánh chịu phát sinh theo cách này; và do đó, bằng sự chú ý đến lá lách, và bằng sự kiểm soát khôn ngoan các điều kiện sống, một phần rắc rối có thể được ngăn ngừa.

In touching upon similar conditions in the planet, both these types of trouble will be found. More cannot be said, but in the wise study of solar radiation upon the surface of the planet in connection with its rotary action, some of the group rules of health may be comprehended and followed. The spirit of the planet (or the planetary entity) likewise has his cycles, and in the absorption of [Page 108] planetary prana, and in its correct distribution, lies the secret of fertility and equable vegetation. Much of this is hidden in the fabled story of the war between fire and water, which has its basis in the reaction of the fire latent in matter, to the fire emanating outside of matter, and playing upon it. In the interval that has to elapse while the two are in process of blending, come those periods where, through karmic inheritance, reception is unstable and distribution inequable. As the point of race equilibrium is reached, so planetary equilibrium will likewise be attained, and in planetary attainment will come the equilibrium that must mutually take place between the solar planets. When they attain a mutual balance and interaction then the system is stabilised and perfection reached. The even distribution of prana will parallel this balancing in the man, in the race, in the planet and in the system. This is but another way of saying that uniform vibration will be achieved.

Khi đề cập đến các điều kiện tương tự trong hành tinh, sẽ thấy cả hai loại rắc rối này. Không thể nói thêm, nhưng trong việc nghiên cứu khôn ngoan bức xạ thái dương trên bề mặt hành tinh liên hệ với chuyển động quay của nó, có thể thấu hiểu và tuân theo một số quy luật sức khỏe của nhóm. Tinh linh linh địa cầu của hành tinh (hay thực thể hành tinh) cũng có các chu kỳ của y, và chính trong sự hấp thu [Page 108] prana hành tinh, và trong sự phân phối đúng đắn của nó, có bí mật của sự phì nhiêu và thực vật sinh trưởng đồng đều. Phần lớn điều này được che giấu trong câu chuyện huyền thoại về cuộc chiến giữa lửa và nước, vốn có cơ sở trong phản ứng của lửa ẩn tàng trong vật chất đối với lửa phát ra từ bên ngoài vật chất và tác động lên nó. Trong khoảng thời gian phải trôi qua khi cả hai đang trong tiến trình hòa trộn, xuất hiện những giai đoạn mà, do di sản nghiệp quả, sự tiếp nhận thì bất ổn và sự phân phối thì không đồng đều. Khi đạt đến điểm quân bình của nhân loại, thì quân bình hành tinh cũng sẽ đạt được; và trong sự thành tựu của hành tinh sẽ đến sự quân bình phải diễn ra một cách hỗ tương giữa các hành tinh thái dương. Khi chúng đạt đến sự cân bằng và tương tác hỗ tương thì hệ thống được ổn định và sự hoàn hảo được đạt tới. Sự phân phối đồng đều prana sẽ song hành với sự quân bình này nơi con người, nơi nhân loại, nơi hành tinh và nơi hệ thống. Đây chỉ là một cách khác để nói rằng rung động đồng nhất sẽ được đạt tới.

b. Microcosmic organic disorders. These are basically two in number:

b. Các rối loạn hữu cơ vi mô. Về căn bản, chúng có hai loại:

Troubles due to congestion.

Các rắc rối do tắc nghẽn.

Destruction of tissue due to over-absorption of prana, or its too rapid blending with latent physical fire.

Sự phá hủy mô do hấp thu prana quá mức, hoặc do nó hòa trộn quá nhanh với lửa hồng trần tiềm ẩn.

We have a curious illustration of both of these forms of trouble in sun stroke and in heat stroke. Though supposedly understood by physicians, they are nevertheless altogether etheric disorders. When the nature of the etheric body is better understood, and its wise care followed both these types of disease will be prevented. They are due to solar pranic emanation; in one case the effect of the emanation is to bring about death or serious illness through the congestion of an etheric channel, while in the other the same result is brought about by destruction of etheric matter.

Chúng ta có một minh họa kỳ lạ cho cả hai dạng rắc rối này trong chứng say nắng và sốc nhiệt. Dù được cho là đã được các y sĩ hiểu rõ, tuy nhiên chúng hoàn toàn là các rối loạn dĩ thái. Khi bản chất của thể dĩ thái được hiểu rõ hơn, và việc chăm sóc khôn ngoan đối với nó được thực hiện, cả hai loại bệnh này sẽ được ngăn ngừa. Chúng là do phát xạ prana thái dương; trong một trường hợp, hiệu quả của phát xạ là gây ra cái chết hoặc bệnh nặng do sự tắc nghẽn của một kinh dĩ thái, trong khi ở trường hợp kia cùng một kết quả được gây ra bởi sự phá hủy vật chất dĩ thái.

The above illustration has been used with definite intent, [Page 109] but it should be pointed out that etheric congestion may lead to many forms of disease and of mental incompetence. Etheric congestion leads to the thickening of the web to an abnormal extent, and this thickening may prevent, for instance, contact with the higher Self or principles and its resultants, idiocy and mental unbalance. It may lead to abnormal fleshy development, to the thickening of some internal organ, and consequent undue pressure; one portion of the etheric body being congested may lead to the entire physical condition being upset, resulting in diverse complaints.

Minh họa trên đã được dùng với chủ ý rõ rệt, [Page 109] nhưng cần chỉ ra rằng sự tắc nghẽn dĩ thái có thể dẫn đến nhiều dạng bệnh tật và sự bất lực trí tuệ. Sự tắc nghẽn dĩ thái dẫn đến việc mạng lưới dày lên đến mức bất thường, và sự dày lên này có thể chẳng hạn ngăn cản sự tiếp xúc với chân ngã hay các nguyên khí cao hơn và các kết quả của chúng, là chứng đần độn và mất quân bình trí tuệ. Nó có thể dẫn đến sự phát triển thịt bất thường, đến sự dày lên của một cơ quan nội tạng nào đó, và hậu quả là áp lực quá mức; một phần của thể dĩ thái bị tắc nghẽn có thể dẫn đến toàn bộ tình trạng hồng trần bị xáo trộn, gây ra nhiều chứng bệnh khác nhau.

Destruction of tissue may lead to insanity of many kinds, especially those kinds deemed incurable. The burning of the web may let in extraneous astral currents against which man is helpless; the brain tissue may be literally destroyed by this pressure, and serious trouble be caused through the etheric ring-pass-not having been destroyed in some one place.

Sự phá hủy mô có thể dẫn đến nhiều loại điên loạn, đặc biệt là những loại được xem là không thể chữa. Sự đốt cháy mạng lưới có thể để cho các dòng cảm dục ngoại lai tràn vào mà con người bất lực trước chúng; mô não có thể bị hủy hoại theo đúng nghĩa đen bởi áp lực này, và rắc rối nghiêm trọng phát sinh do vòng-giới-hạn dĩ thái đã bị phá hủy tại một điểm nào đó.

In connection with the planet a similar state of affairs may be found. Later information may be forthcoming, which is at present withheld; this will show that whole races have been influenced, and certain kingdoms of nature troubled by planetary etheric congestion, or the destruction of planetary etheric tissue.

Liên hệ với hành tinh, cũng có thể thấy một tình trạng tương tự. Về sau có thể sẽ có thêm thông tin, hiện đang được giữ lại; điều này sẽ cho thấy rằng toàn bộ các nhân loại đã bị ảnh hưởng, và một số giới tự nhiên đã bị xáo trộn bởi sự tắc nghẽn dĩ thái hành tinh, hoặc bởi sự phá hủy mô dĩ thái hành tinh.

We have dealt with the functional and organic ills of the etheric, giving certain indications for the extension of the concept to other realms than the purely human. In the human kingdom lies the key, but the turning of that key opens up a door to a wider interpretation as it admits one into the mysteries of nature. Though that key has to be turned seven times, yet even one turn reveals untold avenues of eventual comprehension. (47, 48)

Chúng ta đã bàn đến các bệnh chức năng và hữu cơ của dĩ thái, đưa ra một số chỉ dẫn để mở rộng khái niệm này sang những lĩnh vực khác ngoài lĩnh vực thuần túy nhân loại. Trong giới nhân loại có chiếc chìa khóa, nhưng việc xoay chiếc chìa khóa đó mở ra cánh cửa cho một cách giải thích rộng lớn hơn khi nó cho phép người ta bước vào các huyền nhiệm của thiên nhiên. Dù chiếc chìa khóa đó phải được xoay bảy lần, nhưng ngay cả một lần xoay cũng hé lộ những con đường vô kể dẫn đến sự thấu hiểu rốt ráo. (47, 48)

(47) The keys to the Secret Doctrine, by H. P. Blavatsky. See S. D., I, 343; note; II, 551.

(47) Các chìa khóa của Giáo Lý Bí Nhiệm, của H. P. Blavatsky. Xem S. D., I, 343; chú thích; II, 551.

1. Every symbol and allegory has seven keys.—S. D., II, 567; III, 3.

1. Mọi biểu tượng và ẩn dụ đều có bảy chìa khóa.—S. D., II, 567; III, 3.

2. Only three keys available in the nineteenth century.—S. D., II, 543. Compare II, 617, 842.

2. Chỉ có ba chìa khóa khả dụng trong thế kỷ mười chín.—S. D., II, 543. So sánh II, 617, 842.

3. There are seven keys to the Entrance door to the Mysteries.—S. D., III, 178. Compare I, 346; II, 330; II, 668, II, 731.

3. Có bảy chìa khóa mở cánh cửa dẫn vào các Huyền nhiệm.—S. D., III, 178. So sánh I, 346; II, 330; II, 668, II, 731.

4. The keys, as hinted by H. P. B., are:

4. Các chìa khóa, như H. P. B. gợi ý, là:

a. Psychological.—S. D., II, 25, note; I, 389.

a. Tâm lý học.—S. D., II, 25, chú thích; I, 389.

b. Astronomical.—S. D., II, 25, note; I, 389; III, 198.

b. Thiên văn học.—S. D., II, 25, chú thích; I, 389; III, 198.

c. Physical or physiological.—S. D., II, 25, note; III, 198.

c. Hồng trần hay sinh lý học.—S. D., II, 25, chú thích; III, 198.

d. Metaphysical.—S. D., II, 25, note; II, 394.

d. Siêu hình học.—S. D., II, 25, chú thích; II, 394.

e. Anthropological.—S. D., I, 389; III, 198.

e. Nhân chủng học.—S. D., I, 389; III, 198.

f. Astrological.—S. D., II, 343.

f. Chiêm tinh học.—S. D., II, 343.

g. Geometrical.—S. D., II, 494; III, 176.

g. Hình học.—S. D., II, 494; III, 176.

h. Mystical.—S. D., I, 401.

h. Thần bí.—S. D., I, 401.

i. Symbolical.—S. D., II, 561.

i. Biểu tượng học.—S. D., II, 561.

j. Numerical.—S. D., II, 198.

j. Số học.—S. D., II, 198.

5. Each key must be turned seven times.—S. D., I, 22.

5. Mỗi chìa khóa phải được xoay bảy lần.—S. D., I, 22.

6. The Jews availed themselves of two keys out of the seven.

6. Người Do Thái đã sử dụng hai chìa khóa trong số bảy chìa khóa.

7. The Metaphysical key is available.—S. D., I, 338. Compare III, 198. (back)

7. Chìa khóa Siêu hình học là khả dụng.—S. D., I, 338. So sánh III, 198. (back)

[Page 110] We have considered the reception and distribution of pranic emanations in man, the planet, and the system, and have seen what produces temporary disorders, and the devitalisation or the over-vitalisation of the organic form. Now we can look at the subject from a third angle and therefore study:

[Page 110] Chúng ta đã xem xét sự tiếp nhận và phân phối các phát xạ prana nơi con người, hành tinh và hệ thống, và đã thấy điều gì tạo ra các rối loạn tạm thời, cùng sự mất sinh lực hay sự quá tiếp sinh lực của hình tướng hữu cơ. Giờ đây chúng ta có thể nhìn đề tài này từ một góc độ thứ ba và do đó nghiên cứu:

c. Microcosmic static disorders, or a consideration of the etheric body in connection with its work of providing a ring-pass-not from the purely physical to the astral. As has been said, both here and in the books of H. P. B., the ring-pass-not (48a) is that confining barrier which acts as a separator or a division between a system and that which is external to that system. This, as may well be seen, has its interesting correlations when the subject is viewed (as we must consistently endeavour to view it) from the point of view of a human being, a planet and a system, remembering always that in dealing with the [Page 111] etheric body we are dealing with physical matter. This must ever be borne carefully in mind. Therefore, one paramount factor will be found in all groups and formations, and this is the fact that the ring-pass-not acts only as a hindrance to that which is of small attainment in evolution, but forms no barrier to the more progressed. The whole question depends upon two things, which are the karma of the man, the planetary Logos, and the solar Logos, and the dominance of the spiritual indwelling entity over its vehicle.

c. Các rối loạn tĩnh vi mô, hay sự xem xét thể dĩ thái trong liên hệ với công việc của nó là cung cấp một vòng-giới-hạn từ cõi thuần hồng trần sang cõi cảm dục. Như đã nói, cả ở đây lẫn trong các sách của H. P. B., vòng-giới-hạn (48a) là rào cản giới hạn hoạt động như một yếu tố ngăn cách hay phân chia giữa một hệ thống và cái ở bên ngoài hệ thống đó. Điều này, như có thể thấy rõ, có những tương quan thú vị khi đề tài được nhìn (như chúng ta phải luôn cố gắng nhìn nó) từ quan điểm của một con người, một hành tinh và một hệ thống, luôn ghi nhớ rằng khi bàn về thể dĩ thái, chúng ta đang bàn về [Page 111] vật chất hồng trần. Điều này phải luôn được ghi nhớ cẩn thận. Do đó, sẽ thấy một yếu tố tối quan trọng trong mọi nhóm và mọi cấu tạo, và đó là sự kiện rằng vòng-giới-hạn chỉ hoạt động như một sự cản trở đối với cái có thành tựu nhỏ trong tiến hoá, nhưng không tạo thành rào cản nào đối với cái tiến bộ hơn. Toàn bộ vấn đề tùy thuộc vào hai điều, đó là nghiệp quả của con người, của Hành Tinh Thượng đế, và của Thái dương Thượng đế, cùng sự thống trị của thực thể tinh thần nội tại đối với vận cụ của nó.

IV. MACROCOSMIC AND MICROCOSMIC ETHERS

IV. CÁC DĨ THÁI VĨ MÔ VÀ VI MÔ

1. The Planetary Logos and the Ethers

1. Hành Tinh Thượng đế và các dĩ thái

Man, the indwelling thinker, passes at night from out of his etheric ring-pass-not and functions elsewhere. Therefore, under the law, the planetary Logos likewise can pass His ring-pass-not at stated seasons which correspond in the planet to the hours of man’s temporary repose, or pralaya.

Con người, thức giả nội tại, ban đêm đi ra khỏi vòng-giới-hạn dĩ thái của mình và hoạt động ở nơi khác. Do đó, theo định luật, Hành Tinh Thượng đế cũng có thể vượt qua vòng-giới-hạn của Ngài vào những mùa kỳ nhất định tương ứng nơi hành tinh với những giờ nghỉ ngơi tạm thời, hay giai kỳ qui nguyên, của con người.

The solar Logos likewise does the same during stated cycles, which are not the cycles succeeding those which we term solar pralaya, but lesser cycles succeeding the ‘days of Brahma’ or periods of lesser activity, periodically viewed. All these are governed by karma, and just as the true Man himself applies the law of karma to his vehicles, and in his tiny system is the correspondence to that fourth group of karmic entities whom we call the Lipika Lords; He applies the law to his threefold lower nature. The fourth group of extra-cosmic Entities Who have Their place subsidiary to the three cosmic Logoi Who are the threefold sumtotal of the logoic nature, can pass the bounds of the solar ring-pass-not in Their stated cycles. This is a profound mystery and its complexity is increased by the recollection that the fourth Creative Hierarchy of human Monads, and the Lipika Lords in Their three groups (the first [Page 112] group, the second, and the four Maharajahs, making the totality of the threefold karmic rulers who stand between the solar Logos and the seven planetary Logoi), are more closely allied than the other Hierarchies, and their destinies are intimately interwoven.

Thái dương Thượng đế cũng làm như vậy trong những chu kỳ nhất định, không phải là những chu kỳ tiếp nối những chu kỳ mà chúng ta gọi là thái dương pralaya, mà là những chu kỳ nhỏ hơn tiếp nối “những ngày của Brahma” hay những thời kỳ hoạt động nhỏ hơn, được nhìn theo chu kỳ. Tất cả những điều này đều do nghiệp quả chi phối, và cũng như Chân Nhân đích thực tự mình áp dụng định luật nghiệp quả lên các vận cụ của mình, và trong hệ thống nhỏ bé của y là sự tương ứng với nhóm thứ tư các thực thể nghiệp quả mà chúng ta gọi là các Đấng Lipika; y áp dụng định luật ấy lên bản chất thấp tam phân của mình. Nhóm thứ tư các Thực thể ngoài vũ trụ, có vị trí phụ thuộc vào ba Thượng đế vũ trụ là tổng thể tam phân của bản chất logoi, có thể vượt qua giới hạn của vòng-giới-hạn thái dương trong các chu kỳ nhất định của Các Ngài. Đây là một huyền nhiệm sâu xa và tính phức tạp của nó tăng thêm khi nhớ rằng Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư của các chân thần nhân loại, và các Đấng Lipika trong ba nhóm của Các Ngài (nhóm thứ nhất, [Page 112] nhóm thứ hai, và bốn Maharajah, tạo thành toàn thể các vị cai quản nghiệp quả tam phân đứng giữa Thái dương Thượng đế và bảy Hành Tinh Thượng đế), liên hệ mật thiết với nhau hơn các Huyền Giai khác, và số phận của họ đan xen mật thiết với nhau.

A further link in this chain which is offered for consideration lies in the fact that the four rays of mind (which concern the karma of the four planetary Logoi) in their totality hold in their keeping the present evolutionary process for Man, viewing him as the Thinker. These four, with the karmic four, work in the closest co-operation. Therefore, we have the following groups interacting:

Một mối liên kết nữa trong chuỗi này được đưa ra để suy xét nằm ở sự kiện rằng bốn cung của trí tuệ (liên quan đến nghiệp quả của bốn Hành Tinh Thượng đế) trong tổng thể của chúng nắm giữ trong tay tiến trình tiến hoá hiện tại của Con người, xét y như Thức Giả. Bốn cung này, cùng với bốn vị nghiệp quả, hoạt động trong sự hợp tác mật thiết nhất. Do đó, chúng ta có các nhóm tương tác sau đây:

First. The four Maharajahs, the lesser Lipika Lords, (49) who apply past karma and work it out in the present.

Thứ nhất. Bốn Maharajah, các Đấng Lipika nhỏ hơn, (49) là những Đấng áp dụng nghiệp quả quá khứ và triển khai nó trong hiện tại.

(49) The four Lipika Lords stand between the first and second plane.—S. D., I, 155.

(49) Bốn Đấng Lipika đứng giữa cõi thứ nhất và cõi thứ hai.—S. D., I, 155.

a. They can pass the ring-pass-not.—S. D., I, 157.

a. Các Ngài có thể vượt qua vòng-giới-hạn.—S. D., I, 157.

b. They are connected with karma.—S. D., I, 153.

b. Các Ngài liên hệ với nghiệp quả.—S. D., I, 153.

c. They are concerned with the Hereafter.—S. D., I, 151.

c. Các Ngài quan tâm đến đời sau.—S. D., I, 151.

d. They are in three groups.—S. D., I, 153.

d. Các Ngài ở trong ba nhóm.—S. D., I, 153.

e. They are the spirits of the Universe.—S. D., I, 153. (back)

e. Các Ngài là các tinh thần của Vũ trụ.—S. D., I, 153. (back)

Second. The four Lipikas of the second group, referred to by H. P. B. as occupied in applying future karma, and wielding the future destiny of the races. The work of the first group of four cosmic Lipika Lords is occult and is only revealed somewhat at the fourth Initiation (and even then but slightly) so it will not be touched upon here.

Thứ hai. Bốn Lipika của nhóm thứ hai, được H. P. B. nhắc đến như đang bận rộn áp dụng nghiệp quả tương lai, và nắm giữ vận mệnh tương lai của các nhân loại. Công việc của nhóm thứ nhất gồm bốn Đấng Lipika vũ trụ là huyền bí và chỉ được tiết lộ phần nào ở lần điểm đạo thứ tư (và ngay cả khi đó cũng chỉ rất ít) nên sẽ không được đề cập ở đây.

Third. The fourth Creative Hierarchy of human Monads, held by a fourfold karmic law under the guidance of the Lipikas.

Thứ ba. Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư của các chân thần nhân loại, bị giữ dưới một định luật nghiệp quả tứ phân dưới sự hướng dẫn của các Lipika.

Fourth. The four planetary Logoi (50) of Harmony, Knowledge, Abstract Thought and Ceremonial, who [Page 113] are in Their totality the Quaternary of Manas while in process of evolution, and who pass under Their influence all the sons of men.

Thứ tư. Bốn Hành Tinh Thượng đế (50) của Hài Hòa, Tri Thức, Tư Tưởng Trừu Tượng và Nghi Lễ, là những Đấng mà [Page 113] trong tổng thể của Các Ngài là Bộ Tứ của Manas trong tiến trình tiến hoá, và là những Đấng đưa tất cả những người con của nhân loại đi qua dưới ảnh hưởng của Các Ngài.

(50) The four rays of mind are the four minor rays which form the logoic Quaternary and which are synthesised eventually into a fifth ray, the third major ray of active intelligence, or adaptability. The names of the rays are as follows:

(50) Bốn cung của trí tuệ là bốn cung phụ tạo thành Bộ Tứ logoi và cuối cùng được tổng hợp thành một cung thứ năm, cung chính thứ ba của trí tuệ linh hoạt, hay khả năng thích ứng. Tên các cung như sau:

The three major rays:

Ba cung chính:

1. The Ray of Will or Power.

1. Cung Ý Chí hay Quyền Năng.

2. The Ray of Love or Wisdom.

2. Cung Bác Ái hay Minh Triết.

3. The Ray of Active Intelligence.

3. Cung Trí Tuệ Linh Hoạt.

The four minor Rays:

Bốn cung phụ:

4. The Ray of Beauty, Harmony, Art or Rhythm.

4. Cung Mỹ Lệ, Hài Hòa, Nghệ Thuật hay Nhịp Điệu.

5. The Ray of Concrete Knowledge or Science.

5. Cung Tri Thức Cụ Thể hay Khoa Học.

6. The Ray of Abstract Idealism.

6. Cung Lý Tưởng Trừu Tượng.

7. The Ray of Ceremonial Order or Organisation. (back)

7. Cung Trật Tự hay Tổ Chức Nghi Lễ. (back)

Fifth. The Deva Lords of the four planes of Buddhi, or the plane of spiritual Intuition, Manas, or the mental plane, Desire, and the Physical, who are likewise allied to the human evolution in a closer sense than the higher three.

Thứ năm. Các Chúa Tể thiên thần của bốn cõi Bồ đề, hay cõi Trực giác tinh thần, Manas, hay cõi trí, Dục vọng, và cõi Hồng trần, cũng liên hệ với tiến hoá nhân loại theo một ý nghĩa mật thiết hơn so với ba cõi cao hơn.

A further interesting correspondence is found in the following facts that are even now in process of development:

Một sự tương ứng thú vị nữa được tìm thấy trong các sự kiện sau đây hiện nay vẫn đang trong tiến trình phát triển:

The fourth plane of Buddhi is the one on which the planetary Logoi begin to make Their escape from Their planetary ring-pass-not, or from the etheric web that has its counterpart on all the planes.

Cõi thứ tư, cõi Bồ đề, là cõi trên đó các Hành Tinh Thượng đế bắt đầu thoát ra khỏi vòng-giới-hạn hành tinh của Các Ngài, hay khỏi mạng dĩ thái có đối phần của nó trên mọi cõi.

When man begins in a small sense to co-ordinate the buddhic vehicle or, to express it otherwise, when he has developed the power to contact ever so slightly the buddhic plane, then he begins simultaneously and consciously to achieve the ability to escape from the etheric web on the physical plane. Later he escapes from its correspondence on the astral plane, and finally from the correspondence on the fourth subplane of the mental plane this time via the mental unit. This leads eventually to causal functioning, or to the ability to dand to be active in, the vehicle of the Ego, who is the embodiment of the love and wisdom aspect of the Monad. Note here the correspondence to that proved fact, that many can even now escape from the etheric body, and function in their [Page 114] astral sheath, which is the personality reflection of that same second aspect.

Khi con người bắt đầu, theo một nghĩa nhỏ, phối hợp vận cụ Bồ đề hay, nói cách khác, khi y đã phát triển năng lực tiếp xúc dù chỉ rất nhẹ với cõi Bồ đề, thì y đồng thời và một cách hữu thức bắt đầu đạt được khả năng thoát ra khỏi mạng dĩ thái trên cõi hồng trần. Về sau y thoát khỏi đối phần của nó trên cõi cảm dục, và cuối cùng khỏi đối phần trên cõi phụ thứ tư của cõi trí, lần này qua đơn vị hạ trí. Điều này cuối cùng dẫn đến hoạt động nguyên nhân, hay đến khả năng dand và hoạt động trong vận cụ của chân ngã, là hiện thân của phương diện bác ái và minh triết của chân thần. Hãy lưu ý ở đây sự tương ứng với sự kiện đã được chứng minh rằng ngay cả hiện nay nhiều người có thể thoát ra khỏi thể dĩ thái và hoạt động trong [Page 114] thể cảm dục của họ, vốn là phản ánh phàm ngã của cùng phương diện thứ hai đó.

When a man takes the fourth Initiation, he functions in the fourth plane vehicle, the buddhic, and has escaped permanently from the personality ring-pass-not, on the fourth subplane of the mental. There is naught to hold him to the three worlds. At the first Initiation he escapes from the ring-pass-not in a more temporary sense, but he has yet to escape from the three higher mental levels, which are the mental correspondences to the higher ethers, and to develop full consciousness on these three higher subplanes. We have here a correspondence to the work to be done by the initiate after he has achieved the fourth solar plane, the buddhic. There yet remains the development of full consciousness on the three higher planes of spirit before he can escape from the solar ring-pass-not, which is achieved at the seventh Initiation, taken somewhere in the system, or in its cosmic correspondence reached by the cosmic sutratma, or cosmic thread of life. (51)

Khi một người trải qua lần điểm đạo thứ tư, y hoạt động trong vận cụ cõi thứ tư, tức vận cụ Bồ đề, và đã vĩnh viễn thoát khỏi vòng-giới-hạn phàm ngã trên cõi phụ thứ tư của cõi trí. Không còn gì giữ y lại với ba cõi thấp. Ở lần điểm đạo thứ nhất, y thoát khỏi vòng-giới-hạn theo một nghĩa tạm thời hơn, nhưng y vẫn còn phải thoát khỏi ba cấp độ trí tuệ cao hơn, là những tương ứng trí tuệ với các dĩ thái cao hơn, và phát triển tâm thức đầy đủ trên ba cõi phụ cao hơn này. Ở đây chúng ta có một sự tương ứng với công việc mà điểm đạo đồ phải làm sau khi đã đạt đến cõi thái dương thứ tư, cõi Bồ đề. Vẫn còn sự phát triển tâm thức đầy đủ trên ba cõi cao hơn của tinh thần trước khi y có thể thoát khỏi vòng-giới-hạn thái dương, điều này đạt được ở lần điểm đạo thứ bảy, được thực hiện ở một nơi nào đó trong hệ thống, hay trong sự tương ứng vũ trụ của nó do sutratma vũ trụ, hay sợi dây sự sống vũ trụ, đạt tới. (51)

(51) Sutratma. The “silver thread” which incarnates from the beginning of a period of manifestation until the end, stringing upon itself the pearls of human existence. It is the line of energy which connects the lower personal man with his Father in Heaven via the ego, the mediating middle principle. Upon it are found those focal points of energy we call the permanent atoms. (back)

(51) Sutratma. “Sợi chỉ bạc” nhập thể từ đầu một thời kỳ biểu hiện cho đến cuối thời kỳ ấy, xâu trên chính nó những hạt ngọc của sự tồn tại nhân loại. Nó là đường năng lượng nối kết con người phàm ngã thấp với Cha của y trên Thiên Đàng qua chân ngã, nguyên khí trung gian ở giữa. Trên đó có những điểm hội tụ năng lượng mà chúng ta gọi là các nguyên tử trường tồn. (back)

This fourth earth chain is in this connection one of the most important, for it is the appointed place for the domination of the etheric body by the human monad, with the aim in view of both human and planetary escape from limitations. This earth chain, though not one of the seven sacred planetary chains, is of vital importance at this time to the planetary Logos, who temporarily employs it as a medium of incarnation, and of expression. This fourth round finds the solution of its strenuous and chaotic life in the very simple fact of the shattering of [Page 115] the etheric web in order to effect liberation, and permit a later and more adequate form to be employed.

Dãy địa cầu thứ tư này, trong mối liên hệ này, là một trong những dãy quan trọng nhất, vì đó là nơi đã được chỉ định cho sự thống ngự của thể dĩ thái bởi chân thần nhân loại, nhằm mục đích giúp cả nhân loại lẫn hành tinh thoát khỏi các giới hạn. Dãy địa cầu này, tuy không phải là một trong bảy dãy hành tinh thiêng liêng, nhưng hiện nay có tầm quan trọng thiết yếu đối với Hành Tinh Thượng đế, Đấng tạm thời sử dụng nó như một trung gian lâm phàm và biểu lộ. Cuộc tuần hoàn thứ tư này tìm thấy giải pháp cho đời sống căng thẳng và hỗn loạn của nó trong sự kiện rất đơn giản là làm tan vỡ [Page 115] mạng lưới dĩ thái để thực hiện sự giải thoát, và cho phép về sau sử dụng một hình tướng thích đáng hơn.

A further chain of ideas may be followed up in the remembrance that the fourth ether is even now being studied and developed by the average scientist, and is already somewhat harnessed to the service of man; that the fourth subplane of the astral plane is the normal functioning ground of the average man and that in this round escape from the etheric vehicle is being achieved; that the fourth subplane of the mental plane is the present goal of endeavor of one-fourth of the human family; that the fourth manvantara will see the solar ring-pass-not offering avenues of escape to those who have reached the necessary point; that the four planetary Logoi will perfect Their escape from Their planetary environment, and will function with greater ease on the cosmic astral plane, paralleling on cosmic levels the achievement of the human units who are the cells in Their bodies.

Một chuỗi ý tưởng khác nữa có thể được theo đuổi nếu nhớ rằng dĩ thái thứ tư ngay lúc này đang được nhà khoa học trung bình nghiên cứu và phát triển, và đã phần nào được chế ngự để phụng sự con người; rằng cõi phụ thứ tư của cõi cảm dục là nền hoạt động bình thường của con người trung bình và rằng trong cuộc tuần hoàn này, sự thoát khỏi vận cụ dĩ thái đang được thành tựu; rằng cõi phụ thứ tư của cõi trí là mục tiêu nỗ lực hiện nay của một phần tư gia đình nhân loại; rằng giai kỳ sinh hóa thứ tư sẽ chứng kiến vòng-giới-hạn thái dương mở ra những lối thoát cho những ai đã đạt đến điểm cần thiết; rằng bốn Hành Tinh Thượng đế sẽ hoàn thiện sự thoát ly của Các Ngài khỏi môi trường hành tinh của Các Ngài, và sẽ hoạt động dễ dàng hơn trên cõi cảm dục vũ trụ, song hành trên các cấp độ vũ trụ với thành tựu của các đơn vị nhân loại là những tế bào trong các thể của Các Ngài.

Our solar Logos, being a Logos of the fourth order, will begin to co-ordinate His cosmic buddhic body, and as He develops cosmic mind He will gradually achieve, by the aid of that mind, the ability to touch the cosmic buddhic plane.

Thái dương Thượng đế của chúng ta, là một Thượng đế thuộc đẳng cấp thứ tư, sẽ bắt đầu phối hợp thể Bồ đề vũ trụ của Ngài, và khi Ngài phát triển trí tuệ vũ trụ, Ngài sẽ dần dần đạt được, nhờ sự trợ giúp của trí tuệ ấy, khả năng chạm đến cõi Bồ đề vũ trụ.

These possibilities and correspondences have been somewhat dwelt upon, as it is necessary for us to realise the work to be done in connection with the etheric web before we take up the matter of the various causes which may hinder the desired progress, and prevent the appointed escape and destined liberation. Later we will take up the consideration of the etheric web, and its static condition. This will entail the recollection of two things:

Những khả năng và những tương ứng này đã được bàn đến phần nào, vì chúng ta cần phải chứng nghiệm công việc phải được thực hiện liên quan đến mạng lưới dĩ thái trước khi xét đến vấn đề các nguyên nhân khác nhau có thể cản trở sự tiến bộ mong muốn, và ngăn trở sự thoát ra đã được chỉ định cùng sự giải thoát đã được định sẵn. Về sau chúng ta sẽ xem xét mạng lưới dĩ thái và trạng thái tĩnh của nó. Điều này đòi hỏi phải ghi nhớ hai điều:

First, that this static condition is only so when viewed from the standpoint of man at the present time, and is [Page 116] only termed so in order to make plainer the changes that must be effected and the dangers that must be offset. Evolution moves so slowly from man’s point of view that it seems to be almost stationary, especially where etheric evolution is concerned.

Thứ nhất, trạng thái tĩnh này chỉ là như vậy khi được nhìn từ quan điểm của con người ở thời điểm hiện tại, và chỉ được gọi như thế để [Page 116] làm rõ hơn những thay đổi phải được thực hiện và những nguy hiểm phải được hóa giải. Từ quan điểm của con người, tiến hoá vận động chậm đến nỗi dường như gần như đứng yên, đặc biệt là khi liên quan đến tiến hoá dĩ thái.

Second, that we are only concerning ourselves with the physical etheric body and not with its correspondences on all planes. This is because our system is on the cosmic etheric levels, and hence is of prime importance to us.

Thứ hai, chúng ta chỉ đang đề cập đến thể dĩ thái hồng trần chứ không phải các tương ứng của nó trên mọi cõi. Điều này là vì hệ thống của chúng ta ở trên các cấp độ dĩ thái vũ trụ, và do đó có tầm quan trọng hàng đầu đối với chúng ta.

2. Cosmic and Systemic Ethers

2. Các Dĩ Thái Vũ Trụ và Hệ Thống

For the sake of those who read this treatise, and because the sequential repetition of fact makes for clarity, let us here briefly tabulate certain fundamental hypotheses that have a definite bearing upon the matter in hand, and which may serve to clear up the present existing confusion concerning the matter of the solar system. Some of the facts stated are already well known, others are inferential, while some are the expression of old and true correspondences couched in a more modern form.

Vì lợi ích của những người đọc bộ luận này, và bởi vì sự lặp lại tuần tự của sự kiện tạo nên tính sáng tỏ, ở đây chúng ta hãy tóm lược ngắn gọn dưới dạng bảng một số giả thuyết nền tảng có liên hệ xác định đến vấn đề đang bàn, và có thể giúp làm sáng tỏ sự lẫn lộn hiện đang tồn tại liên quan đến vấn đề hệ mặt trời. Một số sự kiện được nêu ra đã được biết rõ, một số khác là suy luận, trong khi một số là sự biểu đạt của những tương ứng cổ xưa và chân thực được trình bày dưới một hình thức hiện đại hơn.

a. The lowest cosmic plane is the cosmic physical, and it is the only one which the finite mind of man can in any way comprehend.

a. Cõi vũ trụ thấp nhất là cõi hồng trần vũ trụ, và đó là cõi duy nhất mà trí tuệ hữu hạn của con người có thể hiểu được phần nào.

b. This cosmic physical plane exists in matter differentiated into seven qualities, groups, grades, or vibrations.

b. Cõi hồng trần vũ trụ này tồn tại trong vật chất được biến phân thành bảy phẩm tính, nhóm, cấp độ, hay rung động.

c. These seven differentiations are the seven major planes of our solar system.

c. Bảy sự biến phân này là bảy cõi chính của hệ mặt trời chúng ta.

For purposes of clarity, we might here tabulate under the headings physical, systemic, and cosmic, so that the relationship and the correspondences may be apparent, and the connection to that which is above, and to that which is below, or included, may be plainly seen. [Page 117]

Để làm sáng tỏ, ở đây chúng ta có thể lập bảng dưới các tiêu đề hồng trần, hệ thống và vũ trụ, để mối liên hệ và các tương ứng được hiển lộ, và mối nối kết với điều ở trên, và với điều ở dưới, hay được bao gồm, có thể được thấy rõ ràng. [Page 117]

CHART III

BIỂU ĐỒ III

[picture]

[picture]

cosmic-fire-s1-04.png

THE PLANES [Page 118]

CÁC CÕI [Page 118]

Physical Plane

Systemic Planes

Cosmic Planes

1.

Atomic plane

Divine. Adi.

Atomic plane

1st ether

Primordial matter

1st ether

2.

Sub-atomic

Monadic. Anupadaka The Akasha

Sub-atomic 2nd ether

3.

Super-etheric

Spiritual. Atmic Ether

3rd ether

Plane of Union or At-one-ment

Plane of Union or At-one-ment

4.

Etheric

Intuitional. Buddhic Air

4th Cosmic ether

The Lower Three Worlds

The Lower Three Worlds

5.

Gaseous

Mental. Fire

Gaseous Sub-etheric

6.

Liquid

Astral. Emotional

Liquid

7.

Dense physical

Physical plane

Dense physical

d. These major seven planes of our solar system being but the seven subplanes of the cosmic physical plane, we can consequently see the reason for the emphasis laid by H. P. B. (S. D., I, 136, 354; I, 87, 136, 731, 732. See also note page 8.) upon the fact that matter and ether are synonymous terms and that this ether is found in some form or other on all the planes, and is but a gradation of cosmic atomic matter, called when undifferentiated mulaprakriti or primordial pre-genetic substance, and when differentiated by Fohat (or the energising Life, the third Logos or Brahma) it is termed prakriti, or matter. (54)

d. Vì bảy cõi chính này của hệ mặt trời chúng ta chỉ là bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ, nên do đó chúng ta có thể thấy lý do của sự nhấn mạnh mà H. P. B. đặt (S. D., I, 136, 354; I, 87, 136, 731, 732. Xem thêm chú thích trang 8.) vào sự kiện rằng vật chất và dĩ thái là những thuật ngữ đồng nghĩa và rằng dĩ thái này được tìm thấy dưới hình thức này hay hình thức khác trên mọi cõi, và chỉ là một sự phân cấp của vật chất nguyên tử vũ trụ, được gọi khi chưa biến phân là mulaprakriti hay chất liệu nguyên sơ tiền sinh thành, và khi được Fohat (hay Sự sống tiếp sinh lực, Thượng đế thứ ba hay Brahma) biến phân thì được gọi là prakriti, hay vật chất. (54)

(54) Mulaprakriti. The Parabrahmic root, the abstract deific feminine principle—undifferentiated substance. Akasa. Literally, “the root of Nature” (Prakriti), or matter. (back)

(54) Mulaprakriti. Căn nguyên Parabrahmic, nguyên lý nữ tính thần thánh trừu tượng—chất liệu chưa biến phân. Akasa. Theo nghĩa đen là “căn nguyên của Bản Chất” (Prakriti), hay vật chất. (back)

e. Our solar system is what is called a system of the fourth order; that is, it has its location on the fourth cosmic etheric plane, counting, as always, from above downwards.[Page 119]

e. Hệ mặt trời của chúng ta là cái được gọi là một hệ thống thuộc đẳng cấp thứ tư; nghĩa là, nó có vị trí trên cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư, luôn luôn tính từ trên xuống dưới.[Page 119]

f. Hence this fourth cosmic etheric plane forms the meeting ground for the past and the future, and is the present.

f. Do đó cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư này tạo thành nơi gặp gỡ của quá khứ và tương lai, và là hiện tại.

g. Therefore, also, the buddhic or intuitional plane (the correspondence in the system of this fourth cosmic ether) is the meeting ground, or plane of union, for that which is man and for that which will be superman, and links the past with that which is to be.

g. Vì vậy, cõi Bồ đề hay trực giác (tương ứng trong hệ thống của dĩ thái vũ trụ thứ tư này) cũng là nơi gặp gỡ, hay cõi hợp nhất, của điều là con người và điều sẽ là siêu nhân, và nối kết quá khứ với điều sẽ đến.

h. The following correspondences in time would repay careful meditation. They are based on a realisation of the relationship between this fourth cosmic ether, the buddhic plane, and the fourth physical etheric subplane.

h. Những tương ứng sau đây trong thời gian rất đáng để tham thiền cẩn trọng. Chúng dựa trên sự chứng nghiệm về mối liên hệ giữa dĩ thái vũ trụ thứ tư này, cõi Bồ đề, và cõi phụ dĩ thái hồng trần thứ tư.

The fourth subplane of mind, the correspondence on the mental plane of the physical etheric, is likewise a point of transition from out of a lower into a higher, and is the transferring locality into a higher body.

Cõi phụ thứ tư của cõi trí, là tương ứng trên cõi trí của dĩ thái hồng trần, cũng là một điểm chuyển tiếp từ thấp lên cao, và là nơi chuyển dịch vào một thể cao hơn.

The fourth subplane of the monadic plane is in a very real sense the place of transition from off the egoic ray (whichever that ray may be) on to the monadic ray; these three major rays are organised on the three higher subplanes of the monadic plane in the same way that the three abstract subplanes of the mental are the group of transference from off the personality ray on to the egoic.

Cõi phụ thứ tư của cõi chân thần, theo một ý nghĩa rất thực, là nơi chuyển tiếp từ cung chân ngã (dù đó là cung nào) sang cung chân thần; ba cung chính này được tổ chức trên ba cõi phụ cao của cõi chân thần theo cùng cách mà ba cõi phụ trừu tượng của cõi trí là nhóm chuyển dịch từ cung phàm ngã sang cung chân ngã.

The four lesser rays blend with the third major ray of active intelligence on the mental plane and on the atmic plane. The four Logoi or planetary Spirits work as one, on the atmic plane.

Bốn cung nhỏ hòa nhập với cung chính thứ ba của trí tuệ linh hoạt trên cõi trí và trên cõi atma. Bốn Thượng đế hay các Tinh thần Hành tinh hoạt động như một trên cõi atma.

i. Another synthesis takes place on the synthetic second ray on the second subplane of the buddhic plane and the monadic plane, while the comparatively few Monads of will or power are synthesised on the atomic subplane of the atmic. All three groups of Monads work in triple form on the mental plane under the Mahachohan, the Manu, and the Bodhisattva, or the Christ; on the second or monadic plane they work as a unit, only demonstrating [Page 120] their dual work on the atmic plane, and their essential triplicity on the buddhic plane. (55)

i. Một sự tổng hợp khác diễn ra trên cung hai tổng hợp ở cõi phụ thứ hai của cõi Bồ đề và cõi chân thần, trong khi số tương đối ít các chân thần ý chí hay quyền năng được tổng hợp trên cõi phụ nguyên tử của cõi atma. Cả ba nhóm chân thần đều hoạt động dưới hình thức tam phân trên cõi trí dưới quyền Đức Mahachohan, Đức Manu, và Đức Bồ Tát, hay Đức Christ; trên cõi thứ hai hay cõi chân thần, các Ngài hoạt động như một đơn vị, chỉ biểu lộ [Page 120] công việc nhị phân của các Ngài trên cõi atma, và tính tam phân cốt yếu của các Ngài trên cõi Bồ đề. (55)

(55) The monads of the fourth Creative Hierarchy, the human Monads, exist in three main groups:

(55) Các chân thần của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, các chân thần nhân loại, tồn tại trong ba nhóm chính:

a. The Monads of Will.

a. Các Chân thần Ý chí.

b. The Monads of Love.

b. Các Chân thần Bác ái.

c. The Monads of Activity.

c. Các Chân thần Hoạt động.

Mahachohan. The officer in our planetary Hierarchy who presides over the activities carried on in the four minor rays and their synthesising third ray. He has to do with civilisation, with the intellectual culture of the races, and with intelligent energy. He is the head of all the Adepts.

Đức Mahachohan. Vị chức sắc trong Thánh đoàn hành tinh của chúng ta chủ trì các hoạt động được tiến hành trong bốn cung phụ và cung thứ ba tổng hợp của chúng. Ngài liên quan đến nền văn minh, đến văn hóa trí tuệ của các giống dân, và đến năng lượng thông tuệ. Ngài là thủ lĩnh của mọi chân sư.

Bodhisattva. The exponent of second ray force, the Teacher of the Adepts of men and of Angels. This office was originally held by the Buddha, but His place was taken (after His Illumination) by the Christ. The work of the Bodhisattva is with the religions of the world, and with the spiritual Essence in Man.

Đức Bồ Tát. Đấng biểu hiện mãnh lực cung hai, Huấn sư của các chân sư của loài người và của các Thiên Thần. Chức vụ này nguyên thủy do Đức Phật nắm giữ, nhưng vị trí của Ngài đã được Đức Christ đảm nhận (sau sự Soi Sáng của Ngài). Công việc của Đức Bồ Tát liên quan đến các tôn giáo của thế giới, và đến Tinh chất tinh thần trong Con Người.

The Manu. The One Who presides over the evolution of the races. He is the ideal man. He has to work with the forms through which Spirit is to manifest; he destroys, and builds up again. These three Individuals preside over the three Departments into which the Hierarchy is divided, and therefore represent in their particular sphere the three Aspects of divine manifestation. (back)

Đức Manu. Đấng chủ trì sự tiến hoá của các giống dân. Ngài là con người lý tưởng. Ngài phải làm việc với các hình tướng qua đó Tinh thần sẽ biểu lộ; Ngài hủy diệt, rồi xây dựng lại. Ba Cá Nhân này chủ trì ba Ban mà Thánh đoàn được phân chia thành, và do đó đại diện trong phạm vi riêng của các Ngài cho ba Phương diện của sự biểu lộ thiêng liêng. (back)

The fourth etheric plane holds the key to the dominance of matter, and it might be noted that:

Cõi dĩ thái thứ tư nắm giữ chìa khóa của sự thống ngự vật chất, và cần lưu ý rằng:

On the fourth physical ether man begins to co-ordinate his astral, or emotional body, and to escape at ever more frequent intervals into that vehicle. Continuity of consciousness is achieved when a man has mastered the four ethers.

Trên dĩ thái hồng trần thứ tư, con người bắt đầu phối hợp thể cảm dục, hay thể cảm xúc, của mình, và ngày càng thường xuyên thoát vào vận cụ đó. Sự liên tục của tâm thức đạt được khi con người đã làm chủ bốn dĩ thái.

On the fourth subplane of the mental plane, man begins to control his causal or egoic body, and to polarise his consciousness therein until the polarisation is complete. He functions then consciously on it when he has mastered the correspondences to the ethers on the mental plane.

Trên cõi phụ thứ tư của cõi trí, con người bắt đầu kiểm soát thể nguyên nhân hay thể chân ngã của mình, và phân cực tâm thức của mình trong đó cho đến khi sự phân cực hoàn tất. Khi đã làm chủ các tương ứng với các dĩ thái trên cõi trí, lúc ấy y hoạt động hữu thức trên đó.

On the buddhic plane (the fourth cosmic ether) the Heavenly Men (or the grouped consciousness of the human and deva Monads) begin to function, and to escape eventually from the cosmic etheric planes. When these three cosmic ethers are mastered, the functioning is perfected, polarisation is centred in the monadic vehicles, and the seven Heavenly Men have achieved Their goal.

Trên cõi Bồ đề (dĩ thái vũ trụ thứ tư), các Đấng Thiên Nhân (hay tâm thức nhóm của các chân thần nhân loại và thiên thần) bắt đầu hoạt động, và cuối cùng thoát khỏi các cõi dĩ thái vũ trụ. Khi ba dĩ thái vũ trụ này được làm chủ, sự hoạt động được hoàn thiện, sự phân cực được định tâm trong các vận cụ chân thần, và bảy Đấng Thiên Nhân đã đạt được mục tiêu của Các Ngài.

j. On these etheric levels, therefore, the Logos of our [Page 121] system repeats, as a grand totality, the experiences of His tiny reflections on the physical planes; He co-ordinates His cosmic astral body, and attains continuity of consciousness when He has mastered the three cosmic ethers.

j. Do đó, trên các cấp độ dĩ thái này, Thượng đế của hệ thống [Page 121] chúng ta lặp lại, như một toàn thể vĩ đại, những kinh nghiệm của các phản ánh nhỏ bé của Ngài trên các cõi hồng trần; Ngài phối hợp thể cảm dục vũ trụ của Ngài, và đạt được sự liên tục của tâm thức khi Ngài đã làm chủ ba dĩ thái vũ trụ.

k. It is to be observed that just as in man the dense physical body in its three grades—dense, liquid and gaseous—is not recognised as a principle, so in the cosmic sense the physical (dense) astral (liquid) and mental (gaseous) levels are likewise regarded as non-existing, and the solar system has its location on the fourth ether. The seven sacred planets are composed of matter of this fourth ether, and the seven Heavenly Men, whose bodies they are, function normally on the fourth plane of the system, the buddhic or the fourth cosmic ether. When man has attained the consciousness of the buddhic plane, he has raised his consciousness to that of the Heavenly Man in whose body he is a cell. This is achieved at the fourth Initiation, the liberating initiation. At the fifth Initiation he ascends with the Heavenly Man on to the fifth plane (from the human standpoint), the atmic, and at the sixth he has dominated the second cosmic ether and has monadic consciousness and continuity of function. At the seventh Initiation he dominates the entire sphere of matter contained in the lowest cosmic plane, escapes from all etheric contact, and functions on the cosmic astral plane.

k. Cần lưu ý rằng cũng như nơi con người, thể xác hồng trần đậm đặc trong ba cấp độ của nó—đậm đặc, lỏng và khí—không được thừa nhận là một nguyên khí, thì theo nghĩa vũ trụ, các cấp độ hồng trần (đậm đặc), cảm dục (lỏng) và trí tuệ (khí) cũng được xem như không tồn tại, và hệ mặt trời có vị trí của nó trên dĩ thái thứ tư. Bảy hành tinh thiêng liêng được cấu thành bằng vật chất của dĩ thái thứ tư này, và bảy Đấng Thiên Nhân, mà các hành tinh ấy là các thể của Các Ngài, hoạt động bình thường trên cõi thứ tư của hệ thống, cõi Bồ đề hay dĩ thái vũ trụ thứ tư. Khi con người đạt đến tâm thức của cõi Bồ đề, y đã nâng tâm thức của mình lên đến tâm thức của Đấng Thiên Nhân mà trong thể của Ngài y là một tế bào. Điều này đạt được ở lần điểm đạo thứ tư, cuộc điểm đạo giải thoát. Ở lần điểm đạo thứ năm, y thăng lên cùng với Đấng Thiên Nhân đến cõi thứ năm (theo quan điểm nhân loại), cõi atma, và ở lần thứ sáu, y đã thống ngự dĩ thái vũ trụ thứ hai và có tâm thức chân thần cùng sự liên tục của chức năng. Ở lần điểm đạo thứ bảy, y thống ngự toàn bộ khối cầu vật chất chứa trong cõi vũ trụ thấp nhất, thoát khỏi mọi tiếp xúc dĩ thái, và hoạt động trên cõi cảm dục vũ trụ.

The past solar system saw the surmounting of the three lowest cosmic physical planes viewed from the matter standpoint and the co-ordination of the dense threefold physical form in which all life is found, dense matter, liquid matter, gaseous matter. A correspondence may be seen here in the work achieved in the first three rootraces.(56, 57)

Hệ mặt trời quá khứ đã chứng kiến sự vượt qua ba cõi hồng trần vũ trụ thấp nhất xét từ quan điểm vật chất và sự phối hợp hình tướng hồng trần tam phân đậm đặc trong đó mọi sự sống được tìm thấy: vật chất đậm đặc, vật chất lỏng, vật chất khí. Ở đây có thể thấy một tương ứng trong công việc được hoàn thành trong ba giống dân gốc đầu tiên.giống dân gốc.(56, 57)

(56) Rootrace. The Secret Doctrine teaches us that in this evolution or Round on this planet the Jivatma—the human soul—passes through seven main types or “rootraces.” In the case of the two earliest of these, known as the “Adamic” and the “Hyperborean,” the forms ensouled were astral and etheric respectively: “huge and indefinite” they were with a low state or outward-going consciousness exercised through the one sense (hearing) possessed by the first race, or through the two senses (hearing and touch) possessed by the second. But with the third race the Lemurian, a denser and more human type was evolved, this being perfected in the fourth or Atlantean race. The fifth race, the Aryan, is now running its course on this globe concurrently with a large part of the fourth race and a few remnants of the third. For it must be noted that, although each race gives birth to the succeeding race, the two will overlap in time, coexisting for many ages. Of existing peoples the Tartars, Chinese and Mongolians belong to the fourth race, the Australian aborigines and Hottentots to the third. (back)

(56) Giống dân gốc. Giáo Lý Bí Nhiệm dạy chúng ta rằng trong cuộc tiến hoá này hay Cuộc tuần hoàn này trên hành tinh này, Jivatma—linh hồn nhân loại—đi qua bảy loại chính hay “giống dân gốc.” Trong trường hợp của hai loại sớm nhất này, được biết đến như “Adamic” và “Hyperborean,” các hình tướng được phú linh lần lượt là cảm dục và dĩ thái: chúng “khổng lồ và không xác định” với một trạng thái tâm thức thấp hay hướng ngoại được vận dụng qua một giác quan (thính giác) mà giống dân thứ nhất sở hữu, hoặc qua hai giác quan (thính giác và xúc giác) mà giống dân thứ hai sở hữu. Nhưng với giống dân thứ ba là Lemuria, một loại đậm đặc hơn và nhân loại hơn đã được tiến hóa, và loại này được hoàn thiện trong giống dân thứ tư hay Atlantis. Giống dân thứ năm, Arya, hiện đang vận hành tiến trình của nó trên bầu hành tinh này đồng thời với một phần lớn của giống dân thứ tư và một vài tàn dư của giống dân thứ ba. Vì cần lưu ý rằng, mặc dù mỗi giống dân sinh ra giống dân kế tiếp, hai giống dân sẽ chồng lấn nhau trong thời gian, cùng tồn tại trong nhiều thời đại. Trong các dân tộc hiện tồn, người Tartars, người Trung Hoa và người Mông Cổ thuộc giống dân thứ tư, còn thổ dân Úc và người Hottentots thuộc giống dân thứ ba. (back)

[Page 122]

[Page 122]

3. The Protective Purpose of the Etheric Body.

3. Mục Đích Bảo Vệ của Thể Dĩ Thái.

Now let us, after this somewhat lengthy digression, leave things cosmic and incomprehensible, and come down to practical evolution, and to the study of the matter of man’s etheric body, and of the harm that may ensue to him should that body (through the breaking of the law) no longer perform its protective function. Let us see first of all what those protective functions are:

Giờ đây, sau sự lạc đề khá dài này, chúng ta hãy rời khỏi những điều vũ trụ và bất khả lĩnh hội, để đi xuống tiến hoá thực tiễn, và đến với việc nghiên cứu vấn đề thể dĩ thái của con người, cùng sự tổn hại có thể xảy đến cho y nếu thể đó (do vi phạm định luật) không còn thực hiện chức năng bảo vệ của nó nữa. Trước hết hãy xem những chức năng bảo vệ ấy là gì:

First. The etheric web acts as a separator or a dividing web between the astral and the dense physical body.

Thứ nhất. Mạng lưới dĩ thái hoạt động như một tấm màn ngăn cách hay một mạng lưới phân chia giữa thể cảm dục và thể xác hồng trần đậm đặc.

Second. It circulates the inflowing vitality or pranic fluid and carries on its work in three stages.

Thứ hai. Nó luân chuyển sinh lực hay lưu chất prana đang tuôn vào và thực hiện công việc của nó trong ba giai đoạn.

The first stage is that wherein the pranic fluid and [Page 123] solar radiations are received, and circulated three times around the triangle, thence being distributed to the periphery of the body, animating and vitalising all the physical organs and conducing to the automatic subconscious workings of the body of dense matter. When perfectly accomplishing its object it protects from disease, and the ills of the flesh are unknown to the man who absorbs and distributes prana with accuracy. This hint is recommended to all physicians, and when properly comprehended, will result in a basic change in medicine, from a curative to a preventive foundation.

Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn trong đó lưu chất prana và [Page 123] các bức xạ thái dương được tiếp nhận, rồi luân chuyển ba lần quanh tam giác, từ đó được phân phối đến chu vi của thể, làm sinh động và tiếp sinh lực cho mọi cơ quan hồng trần và góp phần vào các hoạt động tự động vô thức của thể vật chất đậm đặc. Khi hoàn thành mục đích của nó một cách hoàn hảo, nó bảo vệ khỏi bệnh tật, và những chứng bệnh của xác thân là điều không được biết đến đối với người hấp thu và phân phối prana một cách chính xác. Gợi ý này được khuyến nghị cho mọi y sĩ, và khi được thấu hiểu đúng đắn, sẽ dẫn đến một thay đổi căn bản trong y học, từ nền tảng chữa trị sang nền tảng phòng ngừa.

The second stage is that in which the pranic fluids begin to blend with the fire at the base of the spine and to drive that fire slowly upwards, transferring its heat from the centres below the solar plexus to the three higher centres—that of the heart, the throat and the head. This is a long and slow process when left to the unaided force of nature, but it is just here that (in a few cases) a quickening of the process is permitted in order to equip workers in the field of human service. This is the object of all occult training. This angle of the matter we will take up in still greater detail when we handle our next point of “Kundalini and the Spine.”

Giai đoạn thứ hai là giai đoạn trong đó các lưu chất prana bắt đầu hòa trộn với lửa ở đáy cột sống và đẩy ngọn lửa ấy chậm rãi đi lên, chuyển nhiệt của nó từ các trung tâm bên dưới tùng thái dương đến ba trung tâm cao hơn—trung tâm tim, cổ họng và đầu. Đây là một tiến trình dài và chậm khi được để cho mãnh lực tự nhiên không được trợ giúp vận hành, nhưng chính ở đây mà (trong một vài trường hợp) sự thúc đẩy nhanh tiến trình được cho phép để trang bị cho những người hoạt động trong lĩnh vực phụng sự nhân loại. Đây là mục tiêu của mọi sự huấn luyện huyền bí học. Khía cạnh này của vấn đề chúng ta sẽ còn xét chi tiết hơn nữa khi bàn đến điểm kế tiếp là “Kundalini và Cột sống.”

The third stage is that in which active radiatory matter or prana is blended ever more perfectly with the fire latent in matter; this results (as will be brought out later) in certain effects.

Giai đoạn thứ ba là giai đoạn trong đó vật chất bức xạ linh hoạt hay prana ngày càng được hòa trộn hoàn hảo hơn với ngọn lửa tiềm ẩn trong vật chất; điều này dẫn đến (như sẽ được trình bày sau) một số hiệu quả nhất định.

It produces a quickening of the normal vibration of the physical body so that it responds with more readiness to the higher note of the Ego, and causes a steady rising of the blending fires through the threefold channel in the spinal column. In the second stage this vitalising blended fire reaches a centre between the lower part of the shoulder blades, which is the point of conjunction, and of complete merging, of the fire from the base of the [Page 124] spine and the fire circulating along the pranic triangle. It will be remembered how one point of this triangle originates there. When the threefold basic fire and the threefold pranic fire meet and merge, then evolution proceeds with greatly increased velocity. This is effected definitely at the first Initiation when the polarisation becomes fixed in one or other of the three higher centres,—which centre being dependent upon a man’s ray.

Nó tạo ra sự gia tốc trong rung động bình thường của thể xác hồng trần để thể này đáp ứng dễ dàng hơn với âm điệu cao hơn của chân ngã, và gây nên sự dâng lên đều đặn của các ngọn lửa hòa trộn qua kênh tam phân trong cột sống. Trong giai đoạn thứ hai, ngọn lửa hòa trộn tiếp sinh lực này đạt đến một trung tâm nằm giữa phần dưới của hai xương bả vai, là điểm giao hội và hòa nhập hoàn toàn của ngọn lửa từ đáy  [Page 124] cột sống và ngọn lửa luân chuyển dọc theo tam giác prana. Sẽ nhớ rằng một điểm của tam giác này phát nguyên tại đó. Khi lửa căn bản tam phân và lửa prana tam phân gặp nhau và hòa nhập, thì tiến hoá diễn ra với tốc độ tăng mạnh. Điều này được thực hiện một cách xác định ở lần điểm đạo thứ nhất khi sự phân cực trở nên cố định trong một trong ba trung tâm cao hơn,—trung tâm nào tùy thuộc vào cung của một người.

The result of this merging leads to a change in the action of the centres. They become “wheels turning upon themselves,” and from a purely rotary movement become fourth dimensional in action, and manifest as radiant whirling centres of living fire.

Kết quả của sự hòa nhập này dẫn đến một thay đổi trong hoạt động của các trung tâm. Chúng trở thành “những bánh xe tự xoay trên chính mình,” và từ một chuyển động thuần túy quay tròn trở thành có tác động bốn chiều, và biểu lộ như những trung tâm lửa sống động xoáy tròn rực xạ.

The three major head centres (the sequence varying according to ray) become active and a similar process is effected between them as was effected in the pranic triangle. From being three centres that react faintly to each other’s vibratory movement (feeling the warmth and rhythm of each other, yet separated), the fire leaps from centre to centre, and each whirling wheel becomes linked by a chain of fire till there is a triangle of fire through which the kundalini and pranic fires radiate back and forth. Circulation is also carried on. The fire of kundalini produces the heat of the centre, and its intense radiance and brilliance, while the pranic emanatory fire produces ever increasing activity and rotation.

Ba trung tâm đầu chính (trình tự thay đổi tùy theo cung) trở nên linh hoạt và một tiến trình tương tự được thực hiện giữa chúng như đã được thực hiện trong tam giác prana. Từ chỗ là ba trung tâm chỉ phản ứng mờ nhạt với chuyển động rung động của nhau (cảm nhận hơi ấm và nhịp điệu của nhau, nhưng vẫn tách biệt), lửa nhảy từ trung tâm này sang trung tâm khác, và mỗi bánh xe xoáy tròn được nối kết bằng một chuỗi lửa cho đến khi có một tam giác lửa qua đó các lửa kundalini và prana bức xạ qua lại. Sự luân chuyển cũng được tiếp tục. Lửa kundalini tạo ra nhiệt của trung tâm, cùng sự rực xạ và chói sáng mãnh liệt của nó, trong khi lửa phát xạ prana tạo ra hoạt động và sự quay tròn ngày càng tăng.

As time elapses between the first and fourth Initiation, the threefold channel in the spine, and the entire etheric body is gradually cleansed and purified by the action of the fire till all “dross” (as the Christian expresses it) is burnt away, and naught remains to impede the progress of this flame.

Khi thời gian trôi qua giữa lần điểm đạo thứ nhất và thứ tư, kênh tam phân trong cột sống, và toàn bộ thể dĩ thái, dần dần được tẩy sạch và thanh lọc bởi tác động của lửa cho đến khi mọi “cặn bã” (như người Cơ Đốc giáo diễn đạt) đều bị đốt cháy, và không còn gì ngăn trở bước tiến của ngọn lửa này nữa.

As the fire of kundalini and prana proceed with their work, and the channel becomes more and more cleared, the centres more active, and the body purer, the flame [Page 125] of spirit, or the fire from the Ego, comes more actively downwards till a flame of real brilliance issues from the top of the head. This flame surges upwards through the bodies towards its source, the causal body.

Khi lửa kundalini và prana tiếp tục công việc của chúng, và kênh ngày càng được khai thông, các trung tâm linh hoạt hơn, và thể thanh khiết hơn, thì ngọn lửa [Page 125] của tinh thần, hay lửa từ chân ngã, đi xuống xuống dưới một cách linh hoạt hơn cho đến khi một ngọn lửa thực sự rực rỡ phát ra từ đỉnh đầu. Ngọn lửa này dâng lên xuyên qua các thể hướng về nguồn của nó, thể nguyên nhân.

Simultaneously with the activity of these fires of matter and of Spirit, the fires of mind, or manas, burn with greater intensity. These are the fires given at individualisation. They are fed continuously by the fire of matter, and their heat is augmented by solar emanatory fire, which originates on the cosmic levels of mind. It is this aspect of the manasic fire that develops under the forms of instinct, animal memory, and functional recollection which are so apparent in the little evolved man. As time progresses the fire of mind burns more brightly and thus reaches a point where it begins to burn through the etheric web—that portion of the web that can be found guarding the centre at the very top of the head, and admitting entrance to the downflow from the Spirit. By its means certain things are brought about:

Đồng thời với hoạt động của các lửa vật chất và Tinh thần này, các lửa của trí tuệ, hay manas, bùng cháy với cường độ lớn hơn. Đây là những ngọn lửa được ban cho vào lúc biệt ngã hóa. Chúng liên tục được nuôi dưỡng bởi lửa vật chất, và nhiệt của chúng được tăng cường bởi lửa phát xạ thái dương, phát nguyên trên các cấp độ vũ trụ của trí tuệ. Chính phương diện này của lửa manas phát triển dưới các hình thức bản năng, ký ức động vật, và sự hồi tưởng chức năng vốn rất hiển nhiên nơi con người ít tiến hóa. Khi thời gian trôi qua, lửa trí tuệ cháy sáng hơn và do đó đạt đến một điểm mà nó bắt đầu đốt xuyên qua mạng lưới dĩ thái—phần của mạng lưới có thể được tìm thấy đang bảo vệ trung tâm ở ngay đỉnh đầu, và cho phép sự tuôn xuống từ Tinh thần đi vào. Nhờ đó một số điều được thực hiện:

The kundalini fire is consciously directed and controlled by the mind or will aspect from the mental plane. The two fires of matter by the power of the mind of man are blended first with each other, and, secondly, with the fire of mind.

Lửa kundalini được trí tuệ hay phương diện ý chí từ cõi trí điều khiển và kiểm soát một cách hữu thức. Hai lửa của vật chất, nhờ quyền năng của trí tuệ con người, trước hết được hòa trộn với nhau, và thứ hai, được hòa trộn với lửa trí tuệ.

The united result of this blending is the destruction (under rule and order), of the etheric web, and the consequent production of continuity of consciousness and the admission into the personal life of man of “Life more abundant,” or the third fire of Spirit.

Kết quả hợp nhất của sự hòa trộn này là sự hủy diệt (dưới quy luật và trật tự) của mạng lưới dĩ thái, và hậu quả là tạo ra sự liên tục của tâm thức cùng sự tiếp nhận vào đời sống cá nhân của con người “Sự sống dồi dào hơn,” hay ngọn lửa thứ ba của Tinh thần.

The downrush of Spirit, and the uprising of the inner fires of matter (controlled and directed by the conscious action of the fire of mind) produce corresponding results on the same levels on the astral and mental planes, so that a paralleling contact is brought about, and the great work of liberation proceeds in an ordered manner.

Sự tuôn xuống của Tinh thần, và sự dâng lên của các lửa nội tại của vật chất (được kiểm soát và điều khiển bởi tác động hữu thức của lửa trí tuệ) tạo ra những kết quả tương ứng trên cùng các cấp độ của cõi cảm dục và cõi trí, nhờ đó một sự tiếp xúc song hành được thiết lập, và đại công cuộc giải thoát tiến hành một cách có trật tự.

The three first initiations see these results perfected, [Page 126] and lead to the fourth, where the intensity of the united fires results in the complete burning away of all barriers, and the liberation of the Spirit by conscious directed effort from out its threefold lower sheath. Man has consciously to bring about his own liberation. These results are self-induced by the man himself, as he is emancipated from the three worlds, and has broken the wheel of rebirth himself instead of being broken upon it.

Ba lần điểm đạo đầu tiên chứng kiến những kết quả này được hoàn thiện, [Page 126] và dẫn đến lần thứ tư, nơi cường độ của các lửa hợp nhất dẫn đến sự thiêu hủy hoàn toàn mọi rào cản, và sự giải thoát của tinh thần bằng nỗ lực hữu thức có định hướng ra khỏi lớp vỏ thấp tam phân của nó. Con người phải tự mình một cách hữu thức tạo ra sự giải thoát của chính mình. Những kết quả này do chính con người tự gây ra, khi y được giải phóng khỏi ba cõi giới, và tự mình phá vỡ bánh xe tái sinh thay vì bị nó nghiền nát.

It will be apparent from this elucidation that the exceeding importance of the etheric vehicle as the separator of the fires has been brought forward, and consequently we have brought to our notice the dangers that must ensue should man tamper injudiciously, ignorantly or wilfully with these fires.

Từ sự làm sáng tỏ này, sẽ hiển nhiên rằng tầm quan trọng vượt bậc của vận cụ dĩ thái như yếu tố phân cách các ngọn lửa đã được nêu bật, và do đó chúng ta được lưu ý đến những nguy hiểm chắc chắn sẽ xảy ra nếu con người can thiệp một cách thiếu thận trọng, vô minh hay cố ý vào các ngọn lửa này.

Should a man, by the power of will or through an over-development of the mental side of his character, acquire the power to blend these fires of matter and to drive them forward, he stands in danger of obsession, insanity, physical death, or of dire disease in some part of his body, and he also runs the risk of an over-development of the sex impulse through the driving of the force in an uneven manner upwards, or in forcing its radiation to undesirable centres. The reason of this is that the matter of his body is not pure enough to stand the uniting of the flames, that the channel up the spine is still clogged and blocked, and therefore acts as a barrier, turning the flame backwards and downwards, and that the flame (being united by the power of mind and not being accompanied by a simultaneous downflow from the plane of spirit), permits the entrance, through the burning etheric, of undesirable and extraneous forces, currents, and even entities. These wreck and tear and ruin what is left of the etheric vehicle, of the brain tissue and even of the dense physical body itself.

Nếu một người, bằng quyền năng của ý chí hoặc do sự phát triển quá mức mặt trí tuệ trong tính cách của mình, đạt được quyền năng dung hợp các lửa của vật chất này và thúc đẩy chúng tiến lên, y đứng trước nguy cơ bị ám nhập, điên loạn, chết về thể xác, hoặc mắc bệnh hiểm nghèo ở một phần nào đó của thể mình, và y cũng có nguy cơ phát triển quá mức xung lực tính dục do thúc đẩy mãnh lực đi lên một cách không đồng đều, hoặc ép sự bức xạ của nó đến những trung tâm không mong muốn. Lý do là vì vật chất của thể y không đủ thanh khiết để chịu đựng sự hợp nhất của các ngọn lửa, rằng kênh dọc theo cột sống vẫn còn bị nghẽn và bít lại, do đó hoạt động như một rào cản, làm ngọn lửa quay ngược trở xuống, và rằng ngọn lửa ấy (được hợp nhất bởi quyền năng của trí tuệ mà không đi kèm với một dòng tuôn xuống đồng thời từ cõi tinh thần), cho phép những mãnh lực, dòng lực, và ngay cả những thực thể không mong muốn và ngoại lai xâm nhập qua thể dĩ thái đang cháy. Chúng tàn phá, xé nát và hủy hoại những gì còn lại của vận cụ dĩ thái, của mô não và ngay cả của chính thể xác đậm đặc.

The unwary man, being unaware of his Ray and therefore of the proper geometrical form of triangle that is [Page 127] the correct method of circulation from centre to centre, will drive the fire in unlawful progression and thus burn up tissue; this will result then (if in nothing worse), in a setting back for several lives of the clock of his progress, for he will have to spend much time in rebuilding where he destroyed, and with recapitulating on right lines all the work to be done.

Người bất cẩn, vì không biết cung của mình và do đó không biết hình tam giác hình học thích hợp là gì, tức là [Page 127] phương pháp tuần hoàn đúng đắn từ trung tâm này sang trung tâm khác, sẽ thúc đẩy lửa theo một tiến trình trái luật và do đó thiêu hủy mô; điều này rồi sẽ dẫn đến ít nhất là sự trì hoãn đồng hồ tiến bộ của y trong nhiều kiếp sống, vì y sẽ phải dành nhiều thời gian để tái tạo nơi mình đã phá hủy, và làm lại theo những đường lối đúng đắn toàn bộ công việc cần phải làm.

If a man persists from life to life in this line of action, if he neglects his spiritual development and concentrates on intellectual effort turned to the manipulation of matter for selfish ends, if he continues this in spite of the promptings of his inner self, and in spite of the warnings that may reach him from Those who watch, and if this is carried on for a long period he may bring upon himself a destruction that is final for this manvantara or cycle. He may, by the uniting of the two fires of matter and the dual expression of mental fire, succeed in the complete destruction of the physical permanent atom, and thereby sever his connection with the higher self for aeons of time. H. P. B. has somewhat touched on this when speaking of “lost souls”; (58,59) we must here emphasise the reality of this dire disaster and sound a warning note to those who approach this subject of the fires of matter with all its latent dangers. The blending of these fires must be the result of spiritualised knowledge, and must be directed solely by the Light of the Spirit, who works through love and is love, and who seeks this unification and this utter merging not from the point of view of sense or of material gratification, but because liberation and purification is desired in order that the higher union with the Logos may be effected; this union must be desired, not for selfish ends, but because group perfection is the goal and scope for greater service to the race must be achieved.

Nếu một người cứ tiếp tục đường lối hành động này từ đời này sang đời khác, nếu y sao lãng sự phát triển tinh thần của mình và tập trung vào nỗ lực trí tuệ hướng đến việc thao túng vật chất vì những mục đích ích kỷ, nếu y tiếp tục như vậy bất chấp những thôi thúc của bản ngã bên trong, và bất chấp những cảnh báo có thể đến với y từ Các Ngài đang quan sát, và nếu điều này được tiếp diễn trong một thời gian dài, y có thể tự chuốc lấy một sự hủy diệt mang tính chung cuộc đối với giai kỳ sinh hóa hay chu kỳ này. Y có thể, bằng sự hợp nhất của hai lửa của vật chất và biểu hiện nhị phân của lửa trí tuệ, thành công trong việc hủy diệt hoàn toàn nguyên tử trường tồn hồng trần, và do đó cắt đứt mối liên hệ của y với chân ngã trong những đại kiếp thời gian. H. P. B. đã phần nào đề cập đến điều này khi nói về “những linh hồn lạc mất”; (58,59) ở đây chúng ta phải nhấn mạnh tính hiện thực của tai họa khủng khiếp này và lên tiếng cảnh báo cho những ai tiếp cận chủ đề về các lửa của vật chất với tất cả những hiểm nguy tiềm ẩn của nó. Sự dung hợp các lửa này phải là kết quả của tri thức đã được tinh thần hóa, và chỉ phải được định hướng bởi Ánh sáng của Tinh thần, Đấng hoạt động qua tình thương và là tình thương, và Đấng tìm kiếm sự hợp nhất này cùng sự hòa tan hoàn toàn này không phải từ quan điểm của cảm giác hay sự thỏa mãn vật chất, mà bởi vì sự giải thoát và thanh lọc được mong cầu để sự hợp nhất cao hơn với Thượng đế có thể được thực hiện; sự hợp nhất này phải được mong cầu không vì những mục đích ích kỷ, mà bởi vì sự hoàn thiện nhóm là mục tiêu và phạm vi cho sự phụng sự lớn lao hơn đối với nhân loại phải được đạt đến.

(58) Lost Souls. See Isis Unveiled, Vol. II, p. 368; also S. D., I, 255, and S. D., III 493, 513-516, 521, 525, 527.cosmic aether. This will not be then counted. (back)

(58) Những linh hồn lạc mất. Xem Isis Unveiled, Tập II, tr. 368; cũng xem S. D., I, 255, và S. D., III 493, 513-516, 521, 525, 527.cosmic aether. Khi đó điều này sẽ không được tính đến. (back)

V. DEATH AND THE ETHERIC BODY

V. CÁI CHẾT VÀ THỂ DĨ THÁI

[Page 128] It is not our purpose to give facts for verification by science, or even to point the way to the next step onward for scientific investigators; that we may do so is but incidental and purely secondary. What we seek mainly is to give indications of the development and correspondence of the threefold whole that makes the solar system what it is—the vehicle through which a great cosmic ENTITY, the solar Logos, manifests active intelligence with the purpose in view of demonstrating perfectly the love side of His nature. Back of this design lies a yet more esoteric and ulterior purpose, hid in the Will Consciousness of the Supreme Being, which perforce will be later demonstrated when the present objective is attained. The dual alternation of objective manifestation and of subjective obscuration, the periodic out-breathing, followed by the in-breathing of all that has been carried forward through evolution embodies in the system one of the basic cosmic vibrations, and the key-note of that cosmic ENTITY whose body we are. The heart beats of the Logos (if it might be so inadequately expressed) are the source of all cyclic evolution, and hence the importance attached to that aspect of development called the “heart” or “love aspect,” and the interest that is awakened by the study of rhythm. This is true, not only cosmically and macrocosmically, but likewise in the study of the human unit. Underlying all the physical sense attached to rhythm, vibration, cycles and heart-beat, lie their subjective analogies—love, feeling, emotion, desire, harmony, synthesis and ordered sequence,—and back of these analogies lies the source of all, the identity of that Supreme Being Who thus expresses Himself.

[Page 128] Mục đích của chúng ta không phải là đưa ra những dữ kiện để khoa học kiểm chứng, hay thậm chí chỉ ra bước tiến kế tiếp cho các nhà nghiên cứu khoa học; việc chúng ta có thể làm như vậy chỉ là ngẫu nhiên và hoàn toàn thứ yếu. Điều chúng ta chủ yếu tìm cách làm là đưa ra những chỉ dẫn về sự phát triển và sự tương ứng của toàn thể tam phân tạo nên hệ mặt trời đúng như nó là—vận cụ qua đó một THỰC THỂ vũ trụ vĩ đại, Thái dương Thượng đế, biểu lộ trí tuệ linh hoạt với mục đích nhằm biểu hiện một cách hoàn hảo phương diện bác ái trong bản chất của Ngài. Đằng sau đồ án này còn có một mục đích huyền bí hơn và sâu xa hơn nữa, ẩn trong Tâm thức Ý Chí của Đấng Tối Cao, mục đích ấy tất yếu sẽ được biểu hiện về sau khi mục tiêu hiện tại đã đạt được. Sự luân phiên nhị nguyên giữa biểu hiện khách quan và sự che khuất chủ quan, sự thở ra theo chu kỳ tiếp theo bởi sự hít vào của tất cả những gì đã được đưa tiến lên qua tiến hoá, thể hiện trong hệ thống một trong những rung động vũ trụ căn bản, và chủ âm của THỰC THỂ vũ trụ mà chúng ta là thể của Ngài. Những nhịp đập tim của Thượng đế (nếu có thể diễn đạt một cách không đầy đủ như vậy) là nguồn gốc của mọi tiến hoá theo chu kỳ, và do đó tầm quan trọng được gán cho phương diện phát triển gọi là “tim” hay “phương diện bác ái,” cùng sự quan tâm được khơi dậy bởi việc nghiên cứu nhịp điệu. Điều này đúng không chỉ về mặt vũ trụ và đại thiên địa, mà cũng đúng trong việc nghiên cứu đơn vị con người. Nằm bên dưới mọi ý nghĩa hồng trần gắn với nhịp điệu, rung động, chu kỳ và nhịp tim là những tương đồng chủ quan của chúng—bác ái, cảm giác, cảm xúc, dục vọng, hài hòa, tổng hợp và trình tự có trật tự,—và đằng sau những tương đồng này là nguồn cội của tất cả, tức bản sắc của Đấng Tối Cao ấy, Đấng tự biểu lộ chính Ngài như vậy.

Therefore, the study of pralaya, or the withdrawal of the life from out of the etheric vehicle will be the same [Page 129] whether one studies the withdrawal of the human etheric double, the withdrawal of the planetary etheric double, or the withdrawal of the etheric double of the solar system. The effect is the same and the consequences similar.

Do đó, việc nghiên cứu pralaya, hay sự rút sự sống ra khỏi vận cụ dĩ thái sẽ giống nhau [Page 129] dù người ta nghiên cứu sự rút bản sao dĩ thái của con người, sự rút bản sao dĩ thái của hành tinh, hay sự rút bản sao dĩ thái của hệ mặt trời. Hiệu quả là như nhau và các hệ quả thì tương tự.

What is the result of this withdrawal, or rather what causes that something which we call death or pralaya? As we are strictly pursuing the text-book style in this treatise, we will continue our methods of tabulation. The withdrawal of the etheric double of a man, a planet, and a system is brought about by the following causes:

Kết quả của sự rút này là gì, hay đúng hơn điều gì gây ra cái mà chúng ta gọi là cái chết hay pralaya? Vì chúng ta đang nghiêm ngặt theo đuổi lối văn giáo khoa trong bộ luận này, chúng ta sẽ tiếp tục phương pháp liệt kê của mình. Sự rút bản sao dĩ thái của một người, một hành tinh và một hệ thống được gây ra bởi các nguyên nhân sau đây:

a. The cessation of desire. This should be the result of all evolutionary process. True death, under the law, is brought about by the attainment of the objective, and hence by the cessation of aspiration. This, as the perfected cycle draws to its close, will be true of the individual human being, of the Heavenly Man, and of the Logos Himself.

a. Sự chấm dứt dục vọng. Đây phải là kết quả của toàn bộ tiến trình tiến hoá. Cái chết chân chính, dưới định luật, được mang lại bởi việc đạt đến mục tiêu, và do đó bởi sự chấm dứt khát vọng. Điều này, khi chu kỳ hoàn thiện dần đi đến kết thúc, sẽ đúng đối với cá nhân con người, đối với Đấng Thiên Nhân, và đối với chính Thượng đế.

b. By the slowing down and gradual cessation of the cyclic rhythm, the adequate vibration is achieved, and the work accomplished. When the vibration or note is perfectly felt or sounded it causes (at the point of synthesis with other vibrations) the utter shattering of the forms.

b. Do sự chậm lại và dần dần chấm dứt của nhịp điệu chu kỳ, rung động thích đáng được đạt tới, và công việc được hoàn thành. Khi rung động hay âm điệu được cảm nhận hoặc được xướng lên một cách hoàn hảo, nó gây ra (tại điểm tổng hợp với các rung động khác) sự tan vỡ hoàn toàn của các hình tướng.

Motion is characterised, as we know, by three qualities:

Chuyển động được đặc trưng, như chúng ta biết, bởi ba phẩm tính:

1. Inertia,

1. Quán tính,

2. Mobility,

2. Tính động,

3. Rhythm.

3. Nhịp điệu.

These three are experienced in just the above sequence and presuppose a period of slow activity, succeeded by one of extreme movement. This middle period produces incidentally (as the true note and rate is sought) cycles of chaos, of experiment, of experience and of comprehension. Following on these two degrees of motion (which are characteristic of the atom, Man, of the Heavenly Man [Page 130] or group, and of the Logos or the Totality) comes a period of rhythm and of stabilisation wherein the point of balance is achieved. By the force of balancing the pairs of opposites, and thus producing equilibrium, pralaya is the inevitable sequence.

Ba phẩm tính này được trải nghiệm đúng theo trình tự trên và giả định trước một giai đoạn hoạt động chậm, tiếp theo là một giai đoạn chuyển động cực độ. Giai đoạn giữa này ngẫu nhiên tạo ra (khi âm điệu và tốc độ chân chính được tìm kiếm) các chu kỳ hỗn loạn, thử nghiệm, kinh nghiệm và thấu hiểu. Tiếp theo hai cấp độ chuyển động này (vốn là đặc trưng của nguyên tử, của Con Người, của Đấng Thiên Nhân [Page 130] hay nhóm, và của Thượng đế hay Toàn Thể) là một giai đoạn nhịp điệu và sự ổn định trong đó điểm quân bình được đạt tới. Bằng mãnh lực quân bình các cặp đối nghịch, và do đó tạo ra trạng thái cân bằng, pralaya là hệ quả tất yếu tiếp theo.

c. By the severing of the physical from the subtler body on the inner planes, through the shattering of the web. This has a threefold effect:

c. Do sự cắt rời thể xác khỏi thể vi tế hơn trên các cõi bên trong, thông qua sự phá vỡ màng lưới. Điều này có tác động tam phân:

First. The life that had animated the physical form (both dense and etheric) and which had its starting point in the permanent atom and from thence “pervaded the moving and the unmoving” (in God, the Heavenly Man, and the human being, as well as in the atom of matter) is withdrawn entirely within the atom upon the plane of abstraction. This “plane of abstraction” is a different one for the entities involved:

Thứ nhất. Sự sống đã làm sinh động hình tướng hồng trần (cả đậm đặc lẫn dĩ thái) và có điểm khởi đầu trong nguyên tử trường tồn, rồi từ đó “thấm khắp cái động và cái bất động” (trong Thượng đế, Đấng Thiên Nhân, và con người, cũng như trong nguyên tử vật chất) được rút hoàn toàn vào trong nguyên tử trên cõi trừu xuất. “Cõi trừu xuất” này là khác nhau đối với các thực thể liên quan:

a. For the physical permanent atom, it is the atomic level.

a. Đối với nguyên tử trường tồn hồng trần, đó là cấp độ nguyên tử.

b. For man, it is the causal vehicle.

b. Đối với con người, đó là vận cụ nguyên nhân.

c. For the Heavenly Man, it is the second plane of monadic life, His habitat.

c. Đối với Đấng Thiên Nhân, đó là cõi thứ hai của sự sống chân thần, nơi cư ngụ của Ngài.

d. For the Logos, it is the plane of Adi.

d. Đối với Thượng đế, đó là cõi Adi.

All these mark the points for the disappearance of the unit into pralaya. We need here to remember that it is always pralaya when viewed from below. From the higher vision, that sees the subtler continuously overshadowing the dense when not in objective manifestation, pralaya is simply subjectivity, and is not that “which is not,” but simply that which is esoteric.

Tất cả những điều này đánh dấu các điểm mà tại đó đơn vị biến mất vào pralaya. Ở đây chúng ta cần nhớ rằng đó luôn luôn là pralaya khi được nhìn từ bên dưới. Từ linh thị cao hơn, vốn thấy cái vi tế liên tục phủ bóng lên cái đậm đặc khi không ở trong biểu hiện khách quan, pralaya đơn giản chỉ là tính chủ quan, và không phải là “cái không hiện hữu,” mà chỉ đơn giản là cái huyền bí.

Second. The etheric double of a man, a planetary Logos, and a solar Logos, being shattered, becomes nonpolarised as regards its indweller, and permits therefore of escape. It is (to word it otherwise) no longer a source of attraction, nor a focal magnetic point. It becomes non-magnetic, and the great Law of Attraction ceases to [Page 131] control it; hence disintegration is the ensuing condition of the form. The Ego ceases to be attracted by its form on the physical plane, and, proceeding to inbreathe, withdraws its life from out of the sheath. The cycle draws to a close, the experiment has been made, the objective (a relative one from life to life and from incarnation to incarnation) has been achieved, and there remains nothing more to desire; the Ego, or the thinking entity, loses interest therefore in the form, and turns his attention inward. His polarisation changes, and the physical is eventually dropped.

Thứ hai. Bản sao dĩ thái của một người, một Hành Tinh Thượng đế, và một Thái dương Thượng đế, khi bị phá vỡ, trở nên không phân cực đối với đấng ngự bên trong của nó, và do đó cho phép sự thoát ra. Nói cách khác, nó không còn là một nguồn hấp dẫn, cũng không còn là một điểm hội tụ từ tính. Nó trở nên không từ tính, và Định luật Hấp Dẫn vĩ đại không còn [Page 131] kiểm soát nó nữa; do đó sự tan rã là tình trạng tiếp theo của hình tướng. Chân ngã không còn bị thu hút bởi hình tướng của mình trên cõi hồng trần, và, tiến tới hít vào, rút sự sống của mình ra khỏi vỏ bọc. Chu kỳ đi đến kết thúc, cuộc thử nghiệm đã được thực hiện, mục tiêu (một mục tiêu tương đối từ đời này sang đời khác và từ lần nhập thể này sang lần nhập thể khác) đã đạt được, và không còn gì để ham muốn nữa; do đó Chân ngã, hay thực thể tư duy, mất hứng thú đối với hình tướng, và quay sự chú ý vào bên trong. Sự phân cực của y thay đổi, và cuối cùng cái hồng trần bị buông bỏ.

The planetary Logos likewise in His greater cycle (the synthesis or the aggregate of the tiny cycles of the cells of His body) pursues the same course; He ceases to be attracted downward or outward, and turns His gaze within; He gathers inward the aggregate of the smaller lives within His body, the planet, and severs connection. Outer attraction ceases and all gravitates towards the centre instead of scattering to the periphery of His body.

Hành Tinh Thượng đế cũng vậy, trong chu kỳ lớn hơn của Ngài (sự tổng hợp hay tổng số các chu kỳ nhỏ bé của những tế bào trong thể Ngài) đi theo cùng một tiến trình; Ngài không còn bị thu hút xuống dưới hay ra bên ngoài nữa, mà quay ánh nhìn vào bên trong; Ngài thu gom vào trong tổng số các sự sống nhỏ hơn trong thể Ngài, tức hành tinh, và cắt đứt liên hệ. Sự hấp dẫn bên ngoài chấm dứt và mọi sự hấp dẫn về trung tâm thay vì tản ra chu vi thể Ngài.

In the system, the same process is followed by the solar Logos; from His high place of abstraction, He ceases to be attracted by His body of manifestation. He withdraws His interest and the two pairs of opposites, the spirit and the matter of the vehicle, dissociate. With this dissociation the solar system, that “Son of Necessity,” or of desire, ceases to be, and passes out of objective existence.

Trong hệ thống, cùng một tiến trình được Thái dương Thượng đế tuân theo; từ vị trí trừu xuất cao cả của Ngài, Ngài không còn bị thu hút bởi thể biểu hiện của Ngài nữa. Ngài rút lại sự quan tâm của mình và hai cặp đối nghịch, tinh thần và vật chất của vận cụ, phân ly. Với sự phân ly này, hệ mặt trời, “Con của Tất Yếu,” hay của dục vọng, không còn hiện hữu nữa, và ra khỏi sự tồn tại khách quan.

Third. This leads finally, to the scattering of the atoms of the etheric body into their primordial condition. The subjective life, the synthesis of will and love taking active form, is withdrawn. The partnership is dissolved. The form then breaks up; the magnetism that has held it in coherent shape is no longer present, and dissipation is complete. Matter persists, but the form no longer persists.

Thứ ba. Điều này cuối cùng dẫn đến sự phân tán các nguyên tử của thể dĩ thái trở về trạng thái nguyên sơ của chúng. Sự sống chủ quan, sự tổng hợp của ý chí và bác ái mang hình thức linh hoạt, được rút đi. Sự cộng tác bị giải thể. Khi đó hình tướng tan vỡ; từ điện đã giữ nó trong hình dạng kết hợp không còn hiện diện nữa, và sự tiêu tan hoàn tất. Vật chất vẫn tồn tại, nhưng hình tướng không còn tồn tại nữa.

The work of the second Logos ends, and the divine [Page 132] incarnation of the Son is concluded. But the faculty or inherent quality of matter also persists, and at the end of each period of manifestation, matter (though distributed again into its primal form) is active intelligent matter plus the gain of objectivity, and the increased radiatory and latent activity which it has gained through experience. Let us illustrate: The matter of the solar system, when undifferentiated, was active intelligent matter, and that is all that can be predicated of it. This active intelligent matter was matter qualified by an earlier experience, and coloured by an earlier incarnation. Now this matter is in form, the solar system is not in pralaya but in objectivity,—his objectivity having in view the addition of another quality to the logoic content, that of love and wisdom. Therefore at the next solar pralaya, at the close of the one hundred years of Brahma, the matter of the solar system will be coloured by active intelligence, and by active love. This means literally that the aggregate of solar atomic matter will eventually vibrate to another key than it did at the first dawn of manifestation.

Công việc của Thượng đế thứ hai chấm dứt, và sự nhập thể thiêng liêng [Page 132] của Người Con được hoàn tất. Nhưng năng lực hay phẩm tính cố hữu của vật chất cũng vẫn tồn tại, và vào cuối mỗi thời kỳ biểu hiện, vật chất (dù lại được phân bố vào hình thức nguyên sơ của nó) là vật chất trí tuệ linh hoạt cộng thêm thành quả của tính khách quan, và hoạt động bức xạ cùng hoạt động tiềm ẩn gia tăng mà nó đã đạt được qua kinh nghiệm. Chúng ta hãy minh họa: Vật chất của hệ mặt trời, khi chưa biến phân, là vật chất trí tuệ linh hoạt, và đó là tất cả những gì có thể được khẳng định về nó. Vật chất trí tuệ linh hoạt này là vật chất được định tính bởi một kinh nghiệm trước đó, và được nhuốm màu bởi một lần nhập thể trước đó. Hiện nay vật chất này đang ở trong hình tướng, hệ mặt trời không ở trong pralaya mà ở trong tính khách quan,—tính khách quan của nó nhằm thêm vào nội dung Thượng đế một phẩm tính khác, đó là bác ái và minh triết. Do đó, vào lần pralaya mặt trời kế tiếp, khi kết thúc một trăm năm của Brahma, vật chất của hệ mặt trời sẽ được nhuốm màu bởi trí tuệ linh hoạt, và bởi bác ái linh hoạt. Điều này theo nghĩa đen có nghĩa là tổng số vật chất nguyên tử mặt trời cuối cùng sẽ rung động theo một chủ âm khác với chủ âm của nó vào buổi bình minh đầu tiên của biểu hiện.

We can work this out in connection with the planetary Logos and the human unit, for the analogy holds good. We have a correspondence on a tiny scale in the fact that each human life period sees a man taking a more evolved physical body of a greater responsiveness, tuned to a higher key, of more adequate refinement, and vibrating to a different measure. In these three thoughts lies much information, if they are carefully studied and logically extended.

Chúng ta có thể triển khai điều này trong liên hệ với Hành Tinh Thượng đế và đơn vị con người, vì sự tương đồng là xác đáng. Chúng ta có một sự tương ứng ở quy mô nhỏ trong sự kiện là mỗi giai đoạn đời sống con người đều cho thấy một người đảm nhận một thể xác tiến hóa hơn, có khả năng đáp ứng lớn hơn, được chỉnh theo một chủ âm cao hơn, có sự tinh luyện thích đáng hơn, và rung động theo một nhịp độ khác. Chính trong ba ý tưởng này có nhiều thông tin, nếu chúng được nghiên cứu cẩn thận và được mở rộng một cách hợp lý.

d. By the transmutation of the violet into the blue. This we cannot enlarge on. We simply make the statement, and leave its working out to those students whose karma permits and whose intuition suffices.

d. Do sự chuyển hoá từ tím sang lam. Điều này chúng ta không thể nói rộng thêm. Chúng ta chỉ nêu ra mệnh đề ấy, và để việc triển khai nó cho những đạo sinh mà nghiệp quả cho phép và trực giác đủ sức đảm đương.

e. By the withdrawal of the life, the form should gradually dissipate. The reflex action here is interesting to note, for the greater Builders and Devas who are the [Page 133] active agents during manifestation, and who hold the form in coherent shape, transmuting, applying and circulating the pranic emanations, likewise lose their attraction to the matter of the form, and turn their attention elsewhere. On the path of out-breathing (whether human, planetary or logoic) these building devas (on the same Ray as the unit desiring manifestation, or on a complementary Ray) are attracted by his will and desire, and perform their office of construction. On the path of in-breathing (whether human, planetary or logoic) they are no longer attracted, and the form begins to dissipate. They withdraw their interest and the forces (likewise entities) who are the agents of destruction, carry on their necessary work of breaking up the form; they scatter it—as it is occultly expressed—to “The four winds of Heaven,” or to the regions of the four breaths,—a fourfold separation and distribution. A hint is here given for careful consideration.

e. Do sự rút sự sống, hình tướng phải dần dần tiêu tan. Phản ứng phản chiếu ở đây đáng chú ý, vì các đấng kiến tạo lớn hơn và các thiên thần là [Page 133] những tác nhân linh hoạt trong thời kỳ biểu hiện, và là những vị giữ hình tướng trong hình dạng kết hợp, chuyển hoá, áp dụng và tuần hoàn các phát xạ prana, cũng mất đi sự hấp dẫn đối với vật chất của hình tướng, và chuyển sự chú ý của họ sang nơi khác. Trên con đường thở ra (dù là con người, hành tinh hay Thượng đế) các thiên thần kiến tạo này (ở cùng cung với đơn vị mong muốn biểu hiện, hoặc ở một cung bổ sung) bị thu hút bởi ý chí và dục vọng của y, và thực hiện chức năng kiến tạo của mình. Trên con đường hít vào (dù là con người, hành tinh hay Thượng đế) họ không còn bị thu hút nữa, và hình tướng bắt đầu tiêu tan. Họ rút lại sự quan tâm của mình và các mãnh lực (cũng là các thực thể) là những tác nhân hủy diệt tiếp tục công việc cần thiết của họ là phá vỡ hình tướng; họ phân tán nó—như được diễn tả một cách huyền bí—vào “Bốn ngọn gió của Thiên Đàng,” hay vào các vùng của bốn hơi thở,—một sự phân ly và phân bố tứ phân. Ở đây có một gợi ý cần được suy xét cẩn thận.

Though no pictures have been drawn of death bed scenes nor of the dramatic escape of the palpitating etheric body from the centre in the head, as might have been anticipated, yet some of the rules and purposes governing this withdrawal have been mentioned. We have seen how the aim of each life (whether human, planetary or solar) should be the effecting and the carrying out of a definite purpose. This purpose is the development of a more adequate form for the use of the spirit; and when this purpose is achieved then the Indweller turns his attention away, and the form disintegrates, having served his need. This is not always the case in every human life nor even in each planetary cycle. The mystery of the moon is the mystery of failure. This leads, when comprehended, to a life of dignity and offers an aim worthy of our best endeavour. When this angle of truth is universally recognised, as it will be when the intelligence of the race suffices, then evolution will proceed with certainty, and the failures be less numerous.

Dù không có những bức tranh nào được vẽ ra về các cảnh bên giường chết hay về sự thoát ra đầy kịch tính của thể dĩ thái rung động từ trung tâm ở đầu, như người ta có thể chờ đợi, tuy nhiên một số quy luật và mục đích chi phối sự rút lui này đã được đề cập đến. Chúng ta đã thấy mục tiêu của mỗi đời sống (dù là con người, hành tinh hay mặt trời) phải là thực hiện và hoàn thành một mục đích xác định. Mục đích này là phát triển một hình tướng thích đáng hơn cho tinh thần sử dụng; và khi mục đích này đạt được thì Đấng Ngự Bên Trong quay sự chú ý đi nơi khác, và hình tướng tan rã, vì đã phục vụ nhu cầu của y. Điều này không phải lúc nào cũng đúng trong mọi đời sống con người, thậm chí cũng không đúng trong mỗi chu kỳ hành tinh. Bí nhiệm của mặt trăng là bí nhiệm của sự thất bại. Khi được thấu hiểu, điều này dẫn đến một đời sống có phẩm giá và đưa ra một mục tiêu xứng đáng với nỗ lực tốt nhất của chúng ta. Khi góc độ chân lý này được thừa nhận một cách phổ quát, như sẽ xảy ra khi trí tuệ của nhân loại đủ sức, thì tiến hoá sẽ tiến hành một cách chắc chắn, và những thất bại sẽ ít đi hơn.

Leave a Comment

Scroll to Top