TCF 1013-1021: S8S7 Part I
|
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR) |
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ các sách AAB khác và từ các trang khác của TCF được đặt ở cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện) |
|
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary |
Xin gợi ý rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ được tính liên tục. Khi việc phân tích bản văn được tiếp tục, nhiều đoạn được chia nhỏ ra, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận |
|
RULE VII. The dual forces on the plane whereon the vital power must be sought, are seen; the two paths face the Solar Angel; the poles vibrate. A choice confronts the one who meditates. |
QUY LUẬT VII. Các mãnh lực nhị nguyên trên cõi nơi quyền năng thiết yếu phải được tìm kiếm, được nhìn thấy; hai con đường đối diện với Thái dương Thiên Thần; các cực rung động. Một sự lựa chọn đối diện với người hành thiền. |
|
1. Here we have two figures at work—the Solar Angel and the “one who meditates”. |
1. Ở đây chúng ta có hai nhân vật đang hoạt động—Thái dương Thiên Thần và “người hành thiền”. |
|
2. Two paths face the Solar Angel. Choice confronts the one who meditates. |
2. Hai con đường đối diện với Thái dương Thiên Thần. Sự lựa chọn đối diện với người hành thiền. |
|
3. It would seem that the Solar Angel, facing the two paths (right and left) will always choose the “right”. |
3. Dường như Thái dương Thiên Thần, khi đối diện với hai con đường (chánh đạo và tả đạo), sẽ luôn chọn con đường “đúng”. |
|
4. The “one who meditates” (i.e., the human soul or disciple) is far less illumined and must wisely deliberate so he chooses aright. |
4. “Người hành thiền” (tức linh hồn con người hay đệ tử) kém được soi sáng hơn nhiều và phải cân nhắc một cách minh triết để chọn đúng. |
|
5. Probably no plane is more dualistic that the astral plane. |
5. Có lẽ không cõi nào mang tính nhị nguyên hơn cõi cảm dục. |
|
6. The following is an important excerpt from TWM on the “dual forces”. It is required that we have a clear idea of the meaning of the pairs of opposites. Speaking of the astral plane, Chân sư DK says: |
6. Sau đây là một đoạn trích quan trọng từ TWM về “các mãnh lực nhị nguyên”. Chúng ta cần phải có một ý niệm rõ ràng về ý nghĩa của các cặp đối đãi. Nói về cõi cảm dục, Chân sư DK nói: |
|
It is first of all the plane of dual forces. The first thing the aspirant becomes aware of is duality. The little evolved man is aware of synthesis, but it is the synthesis of his material nature. The highly spiritual man is aware also of synthesis but it is that in his soul, whose consciousness is that of unity. But in between is the wretched aspirant, conscious of duality above all else and pulled hither and thither between the two. His first step has, for its objective, to make him aware of the pairs of opposites and of the necessity to choose between them. Through the light, which he has discovered in himself, he becomes aware of the dark. Through the good which attracts him, he sees the evil which is for him the line of least resistance. Through the activity of pain, he can visualize and become aware of pleasure, and heaven and hell become to him realities. Through the activity of the attractive life of his soul, he realizes the attraction of matter and of form, and is forced to recognize the urge and pull of both of them. He learns to feel himself as “pendant ‘twixt the two great forces”, and, once the dualities are grasped, it dawns on him slowly and surely that the deciding factor in the struggle is his divine will, in contradistinction to his selfish will. [229] Thus the dual forces play their part until they are seen as two great streams of divine energy, pulling in opposite directions, and he becomes then aware of the two paths, mentioned in our rule. One path leads back into the dreary land of rebirth, and the other leads through the golden gate to the city of free souls. One is therefore involutionary and involves him in deepest matter; the other leads him out of the body nature, and makes him eventually aware of his spiritual body, through which he can function in the kingdom of the soul. One path, later on (when he is a true and pledged chela) is known to him as the left hand path and the other the path of right activity. On one path, he becomes proficient in black magic, which is only the developed powers of the personality, subordinated to the selfish purposes of a man whose motives are those of self interest and worldly ambition. These confine him to the three worlds and shut the door which opens on to life. On the other path, he subordinates his personality and exercises the magic of the White Brotherhood, working always in the light of the soul with the soul in all forms, and laying no emphasis upon the ambitions of the personal self. Clear discrimination of these two paths reveals what is called in some occult books that “narrow razor-edged Path” which lies between the two. This is the “noble middle Path” of the Buddha and marks the fine line of demarcation between the pairs of opposites, and between the two streams which he has learnt to recognize—one going up unto the gates of heaven, and the other passing down into the nethermost hell. (TWM 228-229) |
Trước hết, đó là cõi của các mãnh lực nhị nguyên. Điều đầu tiên mà người chí nguyện nhận biết là nhị nguyên tính. Con người ít tiến hoá nhận biết sự tổng hợp, nhưng đó là sự tổng hợp của bản chất vật chất của y. Con người có tinh thần cao cũng nhận biết sự tổng hợp, nhưng đó là sự tổng hợp trong linh hồn của y, mà tâm thức của linh hồn là tâm thức hợp nhất. Nhưng ở giữa là người chí nguyện khốn khổ, trên hết ý thức về nhị nguyên tính và bị kéo qua kéo lại giữa hai bên. Bước đầu tiên của y có mục tiêu là làm cho y nhận biết các cặp đối đãi và sự cần thiết phải chọn lựa giữa chúng. Nhờ ánh sáng mà y đã khám phá trong chính mình, y nhận biết bóng tối. Nhờ điều thiện lôi cuốn y, y thấy điều ác, vốn đối với y là con đường ít trở ngại nhất. Nhờ hoạt động của đau khổ, y có thể hình dung và nhận biết khoái lạc, và thiên đàng cùng địa ngục trở thành những thực tại đối với y. Nhờ hoạt động của sự sống hấp dẫn của linh hồn mình, y chứng nghiệm sức hút của vật chất và của hình tướng, và bị buộc phải thừa nhận sự thôi thúc và sức kéo của cả hai. Y học cách cảm thấy mình như “lơ lửng giữa hai mãnh lực lớn”, và một khi các nhị nguyên tính đã được nắm bắt, thì dần dần và chắc chắn y bừng hiểu rằng yếu tố quyết định trong cuộc đấu tranh là ý chí thiêng liêng của y, đối lập với ý chí ích kỷ của y. [229] Như vậy các mãnh lực nhị nguyên đóng vai trò của chúng cho đến khi chúng được thấy là hai dòng năng lượng thiêng liêng lớn, kéo theo hai hướng đối nghịch, và khi ấy y nhận biết hai con đường được nhắc đến trong quy luật của chúng ta. Một con đường dẫn trở lại miền tái sinh ảm đạm, và con đường kia dẫn qua cánh cổng vàng đến thành phố của các linh hồn tự do. Vì vậy, một con đường là giáng hạ tiến hoá và cuốn y vào vật chất sâu đậm nhất; con đường kia dẫn y ra khỏi bản chất thể xác, và cuối cùng làm cho y nhận biết thể tinh thần của mình, nhờ đó y có thể hoạt động trong giới linh hồn. Về sau, một con đường (khi y là một đệ tử chân chính và đã tuyên thệ) được y biết là tả đạo, còn con đường kia là con đường của hoạt động chân chính. Trên một con đường, y trở nên tinh thông hắc thuật, vốn chỉ là các quyền năng đã phát triển của phàm ngã, bị đặt dưới những mục đích ích kỷ của một con người có động cơ là tư lợi và tham vọng thế gian. Những điều này giam hãm y trong ba cõi giới và đóng lại cánh cửa mở vào sự sống. Trên con đường kia, y đặt phàm ngã của mình dưới quyền và thực hành huyền thuật của Huynh đệ Đoàn Chánh đạo, luôn luôn hoạt động trong ánh sáng của linh hồn với linh hồn trong mọi hình tướng, và không nhấn mạnh vào các tham vọng của bản ngã cá nhân. Sự phân biện rõ ràng giữa hai con đường này sẽ làm lộ ra điều được gọi trong một số sách huyền bí là “Con Đường hẹp sắc như lưỡi dao cạo” nằm giữa hai con đường ấy. Đây là “Con Đường trung đạo cao quý” của Đức Phật và đánh dấu ranh giới tinh tế giữa các cặp đối đãi, và giữa hai dòng mà y đã học cách nhận ra—một dòng đi lên đến cổng trời, và dòng kia đi xuống địa ngục sâu thẳm nhất. (TWM 228-229) |
|
7. We understand how the power of choice under Libra must be applied to this plane to achieve the necessary balance. We must learn to decide using the spiritual will which is a reflection of the Divine Will. |
7. Chúng ta hiểu quyền năng của sự lựa chọn dưới Libra phải được áp dụng vào cõi này như thế nào để đạt được sự quân bình cần thiết. Chúng ta phải học cách quyết định bằng ý chí tinh thần, vốn là sự phản chiếu của Ý Chí thiêng liêng. |
|
8. The “vital power” that power which will further vitalize the thoughtform in process of construction and will render it sufficiently vital to descend onto the next plane—the etheric plane while remaining viable. |
8. “Quyền năng thiết yếu” là quyền năng sẽ tiếp sinh lực thêm nữa cho hình tư tưởng đang trong tiến trình kiến tạo và sẽ làm cho nó đủ sinh động để giáng xuống cõi kế tiếp—cõi dĩ thái—mà vẫn còn khả năng tồn tại. |
|
9. A much fuller elaboration would be possible by consulting A Treatise on White Magic where these ideas are quite thoroughly explored. |
9. Có thể khai triển đầy đủ hơn nhiều bằng cách tham khảo Luận về Chánh Thuật, nơi những ý tưởng này được khảo sát khá thấu đáo. |
|
Upon the astral plane the thought form must now function, and a body must be provided so as to make this possible. |
Trên cõi cảm dục, hình tư tưởng giờ đây phải hoạt động, và một thể phải được cung cấp để làm cho điều này trở nên khả hữu. |
|
10. We notice that we still call the descending form a ‘thoughtform’ even though its sphere of functioning has now become the astral plane. |
10. Chúng ta lưu ý rằng ta vẫn gọi hình tướng đang giáng xuống là một ‘hình tư tưởng’ dù cho khối cầu hoạt động của nó nay đã trở thành cõi cảm dục. |
|
11. We note that we retain the idea of thought as the form descends to the dense physical plane. Every form on the physical plane is known occultly as a ‘thoughtform’. |
11. Chúng ta lưu ý rằng ta vẫn giữ ý niệm về tư tưởng khi hình tướng giáng xuống cõi hồng trần đậm đặc. Mọi hình tướng trên cõi hồng trần đều được biết một cách huyền bí như một ‘hình tư tưởng’. |
|
The energy of desire enters it, |
Năng lượng của dục vọng đi vào nó, |
|
12. We note that the thoughtform can be penetrated by the energy of desire from the astral plane. |
12. Chúng ta lưu ý rằng hình tư tưởng có thể được năng lượng của dục vọng từ cõi cảm dục thâm nhập vào. |
|
13. All the planes, as we know, are interpenetrating and can thus occupy the same ‘space’. |
13. Như chúng ta biết, tất cả các cõi đều xuyên thấu lẫn nhau và do đó có thể cùng chiếm một “không gian”. |
|
and “he who meditates” has to energise the form with one of two types of force before it passes into objectivity. |
và “người hành thiền” phải tiếp năng lượng cho hình tướng bằng một trong hai loại mãnh lực trước khi nó đi vào tính khách quan. |
|
14. The two types of force are found upon the astral plane—the “dual” forces. |
14. Hai loại mãnh lực này được tìm thấy trên cõi cảm dục—các mãnh lực “nhị nguyên”. |
|
15. One type of force operates under the influence of the personality; the other operates under the influence of the soul. One type of force leads into the world of form and the other into the worlds of soul and Spirit. |
15. Một loại mãnh lực hoạt động dưới ảnh hưởng của phàm ngã; loại kia hoạt động dưới ảnh hưởng của linh hồn. Một loại mãnh lực dẫn vào thế giới hình tướng, còn loại kia dẫn vào các thế giới của linh hồn và tinh thần. |
|
16. We see that the human being, the disciple, the soul-in-incarnation has the responsibility of energizing the thoughtform in a certain manner—according to the choice which has been made. |
16. Chúng ta thấy rằng con người, đệ tử, linh hồn đang nhập thể có trách nhiệm tiếp năng lượng cho hình tư tưởng theo một cách nhất định—phù hợp với sự lựa chọn đã được thực hiện. |
|
Upon the action taken depends the construction of the etheric body, |
Tùy theo hành động được thực hiện mà việc kiến tạo thể dĩ thái, |
|
17. In this instance, the etheric body of the thoughtform, if the human magician is the one who constructs. |
17. Trong trường hợp này, đó là thể dĩ thái của hình tư tưởng, nếu nhà huyền thuật con người là kẻ kiến tạo. |
|
18. Whatever Chân sư DK says of thoughtform construction can be applied to the creation of that thoughtform we call the incarnated human being. |
18. Bất cứ điều gì Chân sư DK nói về việc kiến tạo hình tư tưởng đều có thể được áp dụng cho sự sáng tạo hình tư tưởng mà chúng ta gọi là con người nhập thể. |
|
and the consequent physical manifestation. |
và sự biểu hiện hồng trần tiếp theo. |
|
19. Choice upon the astral plane lies behind the type of physical manifestation which will result. |
19. Sự lựa chọn trên cõi cảm dục nằm phía sau loại biểu hiện hồng trần sẽ phát sinh. |
|
20. However the etheric body of a thoughtform or of a man is constructed, so will be the resultant dense physical manifestation. |
20. Dù thể dĩ thái của một hình tư tưởng hay của một con người được kiến tạo như thế nào, thì biểu hiện hồng trần đậm đặc phát sinh cũng sẽ như thế ấy. |
|
This point is but little realised by the average thinker, but the parallel with his own life experience is exact, as is the correspondence with the cosmic process. |
Điểm này chỉ được nhà tư tưởng trung bình chứng nghiệm rất ít, nhưng sự song song với kinh nghiệm sống của chính y là chính xác, cũng như sự tương ứng với tiến trình vũ trụ. |
|
21. As always, Chân sư DK takes us into the realm of analogy, paralleling the microcosmic process with that of the macrocosm. |
21. Như thường lệ, Chân sư DK đưa chúng ta vào lĩnh vực của định luật tương đồng, đặt tiến trình vi mô song song với tiến trình của đại thiên địa. |
|
22. Whenever we are faced with choice, we are faced with responsibility. |
22. Bất cứ khi nào chúng ta đối diện với sự lựa chọn, chúng ta đối diện với trách nhiệm. |
|
23. We are also faced with the type of will which we shall employ. |
23. Chúng ta cũng đối diện với loại ý chí mà chúng ta sẽ sử dụng. |
|
The “nature of the deva” (as it is called), enters in, and upon the quality of its love nature, and the specific type of that which is the object of love will depend the nature of the thought form. |
“bản chất của thiên thần” (như cách gọi), đi vào, và tùy theo phẩm tính của bản chất bác ái của nó, và loại đặc thù của điều là đối tượng của tình yêu mà bản chất của hình tư tưởng sẽ được quyết định. |
|
24. We are here offered a very occult piece of information. The “nature of the deva”, its quality, will determine the destiny of the thoughtform when that thoughtform precipitates finally upon the physical plane. |
24. Ở đây chúng ta được trao cho một mẩu thông tin rất huyền bí. “Bản chất của thiên thần”, phẩm tính của nó, sẽ quyết định định mệnh của hình tư tưởng khi hình tư tưởng ấy cuối cùng ngưng tụ trên cõi hồng trần. |
|
25. When we speak above of the “love nature” of the deva we are speaking very much of the quality of desire which it evidences. |
25. Khi ở trên chúng ta nói về “bản chất bác ái” của thiên thần, chúng ta đang nói rất nhiều về phẩm tính của dục vọng mà nó biểu lộ. |
|
26. It also seems clear that the nature of the thoughtform itself will be influential in attracting a deva of a certain quality. |
26. Dường như cũng rõ ràng rằng bản chất của chính hình tư tưởng sẽ có ảnh hưởng trong việc thu hút một thiên thần có phẩm tính nhất định. |
|
If the deva, or solar Angel, is as yet in love with manifestation, and has a desire for objective existence, thus identifying himself voluntarily with substance, there ensues the phenomenon of reincarnated physical life. |
Nếu thiên thần, hay Thái dương Thiên Thần, vẫn còn yêu sự biểu hiện, và có dục vọng đối với sự tồn tại khách quan, do đó tự nguyện đồng hoá mình với chất liệu, thì hiện tượng đời sống hồng trần tái sinh sẽ tiếp diễn. |
|
27. Here we have a fascinating idea concerning the desire nature of the astral deva who is to ensoul a thoughtform. And yet, we can hardly consider such a deva as a ‘solar Angel” |
27. Ở đây chúng ta có một ý tưởng hấp dẫn liên quan đến bản chất dục vọng của thiên thần cảm dục sẽ phú linh cho một hình tư tưởng. Tuy nhiên, chúng ta khó có thể xem một thiên thần như thế là một “Thái dương Thiên Thần” |
|
28. Has Master Chân sư DK now changed the focus and is He speaking of the general quality of the Ego of the magician? |
28. Phải chăng giờ đây Chân sư DK đã thay đổi trọng tâm và Ngài đang nói về phẩm tính tổng quát của chân ngã của nhà huyền thuật? |
|
29. This section of text is perplexing in as much as the very presence of a Solar Angel associated with a man assures the phenomenon of “reincarnated physical life”. This is so whether there have been few incarnations or many. |
29. Phần bản văn này gây bối rối ở chỗ chính sự hiện diện của một Thái dương Thiên Thần gắn liền với một con người đã bảo đảm hiện tượng “đời sống hồng trần tái sinh”. Điều này đúng dù đã có ít hay nhiều lần nhập thể. |
|
30. A Solar Angel who was no longer in love with manifestation would, it seems, be a ‘liberated’ Solar Angel (i.e., one who had been released from its supervisory duties over an evolving human being). |
30. Dường như một Thái dương Thiên Thần không còn yêu sự biểu hiện nữa sẽ là một Thái dương Thiên Thần “được giải thoát” (tức một vị đã được giải phóng khỏi các nhiệm vụ giám hộ đối với một con người đang tiến hoá). |
|
31. So, strangely, it seems, we are now speaking of a very high type of deva, when originally we were speaking the effect upon a descending thoughtform of an astral deva. |
31. Vì vậy, có vẻ lạ lùng là giờ đây chúng ta đang nói về một loại thiên thần rất cao, trong khi ban đầu chúng ta đang nói về ảnh hưởng trên một hình tư tưởng đang giáng xuống của một thiên thần cảm dục. |
|
32. Using his analogical mode of thought, Chân sư DK often switches contexts without informing us. |
32. Khi sử dụng lối tư duy tương đồng của mình, Chân sư DK thường chuyển ngữ cảnh mà không báo cho chúng ta biết. |
|
33. Solar Angels, we understand, are not astral devas, so their mention in this context will require close interpretive analysis. |
33. Như chúng ta hiểu, Thái dương Thiên Thần không phải là các thiên thần cảm dục, nên việc nhắc đến các vị ấy trong ngữ cảnh này sẽ đòi hỏi sự phân tích diễn giải chặt chẽ. |
|
34. Of course, if the Solar Angel is, in a certain sense, the Ego and if the true Ego is the spiritual triad, then, once the man has absorbed that which the Solar Angel came to give, it might be possible to consider the spiritual triad as the Solar Angel or as the substitute for the qualities of the Solar Angel. |
34. Dĩ nhiên, nếu Thái dương Thiên Thần, theo một nghĩa nào đó, là chân ngã và nếu chân ngã đích thực là Tam Nguyên Tinh Thần, thì một khi con người đã hấp thụ điều mà Thái dương Thiên Thần đến để ban cho, có lẽ có thể xem Tam Nguyên Tinh Thần là Thái dương Thiên Thần hoặc là sự thay thế cho các phẩm tính của Thái dương Thiên Thần. |
|
35. It is certainly possible to be focused in the spiritual triad (as are the Great Ones) and have no attraction towards physical incarnation. For such a being there need not recur the phenomenon of “reincarnated physical life”. |
35. Chắc chắn có thể tập trung trong Tam Nguyên Tinh Thần (như Các Đấng Cao Cả) mà không có sức hút nào đối với sự nhập thể hồng trần. Đối với một hữu thể như thế, hiện tượng “đời sống hồng trần tái sinh” không nhất thiết phải tái diễn. |
|
If the deva, or solar Angel, is no longer attracted by matter, then there is no identification, and objective life is no longer the law of his existence. |
Nếu thiên thần, hay Thái dương Thiên Thần, không còn bị vật chất lôi cuốn nữa, thì không còn sự đồng hoá, và đời sống khách quan không còn là định luật của sự tồn tại của nó nữa. |
|
36. Here Chân sư DK continues to speak of the Solar Angel and its general orientation to physical incarnation. |
36. Ở đây Chân sư DK tiếp tục nói về Thái dương Thiên Thần và định hướng tổng quát của nó đối với sự nhập thể hồng trần. |
|
37. The two processes—that of human physical incarnation and that of creating a manifested thoughtform—are often considered in a parallel manner. Perhaps he is speaking of both types of beings—both astral devas and Solar Angels. |
37. Hai tiến trình—tiến trình nhập thể hồng trần của con người và tiến trình tạo ra một hình tư tưởng biểu hiện—thường được xem xét theo cách song song. Có lẽ Ngài đang nói về cả hai loại hữu thể—cả các thiên thần cảm dục lẫn Thái dương Thiên Thần. |
|
38. Perhaps the type of astral deva which is likely to ensoul a descending mental thoughtform depends very much on the basic orientation of the Solar Angel which informs the Ego on the higher mental plane. |
38. Có lẽ loại thiên thần cảm dục có khả năng phú linh cho một hình tư tưởng trí tuệ đang giáng xuống phụ thuộc rất nhiều vào định hướng căn bản của Thái dương Thiên Thần, vốn thấm nhuần chân ngã trên Cõi thượng trí. |
|
39. At a certain point in the process, the orientation of the Ego is not towards experience in physical incarnation but towards service within physical incarnation and for gradual extrication from incarnation. |
39. Tại một điểm nào đó trong tiến trình, định hướng của chân ngã không hướng về kinh nghiệm trong sự nhập thể hồng trần mà hướng về sự phụng sự trong sự nhập thể hồng trần và hướng đến việc dần dần thoát khỏi nhập thể. |
|
40. This more spiritual orientation will affect the choice made by the “one who meditates”, for that one is really the ‘Ego-in-extension’. |
40. Định hướng tinh thần hơn này sẽ ảnh hưởng đến sự lựa chọn do “người hành thiền” thực hiện, vì người ấy thực sự là “chân ngã-trong-sự-mở-rộng”. |
|
He identifies himself then with quality, or energy, and becomes an expression of the divine attributes. |
Khi ấy y đồng hoá mình với phẩm tính, hay năng lượng, và trở thành một biểu hiện của các thuộc tính thiêng liêng. |
|
41. Chân sư DK seems to be speaking about the level of identification of man as the Ego. |
41. Dường như Chân sư DK đang nói về cấp độ đồng hoá của con người như là chân ngã. |
|
42. We know that there must come a time when every human being does just as this sentence describes—“identifies himself…with quality, or energy, and becomes an expression of the divine attributes”. Obviously, a true white magician must do so. |
42. Chúng ta biết rằng phải đến một lúc nào đó mọi con người đều làm đúng như câu này mô tả—“đồng hoá mình… với phẩm tính, hay năng lượng, và trở thành một biểu hiện của các thuộc tính thiêng liêng”. Hiển nhiên, một nhà huyền thuật trắng chân chính phải làm như vậy. |
|
43. One could think that an Ego (which the Solar Angel substands) always would do so, but obviously a man (considered as an Ego) is always evolving and has differing orientations towards physical manifestation depending upon his evolutionary progress. |
43. Người ta có thể nghĩ rằng một chân ngã (mà Thái dương Thiên Thần làm nền tảng) luôn luôn sẽ làm như thế, nhưng hiển nhiên một con người (được xét như một chân ngã) luôn luôn đang tiến hoá và có những định hướng khác nhau đối với biểu hiện hồng trần tùy theo sự tiến hoá của mình. |
|
44. Let us pause to realize: |
44. Hãy dừng lại để chứng nghiệm: |
|
a. There is the Ego as higher man. We might call this ‘transpersonal human consciousness’. |
a. Có chân ngã như con người cao hơn. Chúng ta có thể gọi đây là “tâm thức con người siêu cá nhân”. |
|
b. There is the Ego as the instrument of the Solar Angel. An aspect of the consciousness of the Solar Angel infuses the egoic nature and guides it. |
b. Có chân ngã như công cụ của Thái dương Thiên Thần. Một phương diện của tâm thức Thái dương Thiên Thần thấm nhuần bản chất chân ngã và hướng dẫn nó. |
|
c. The Ego, per se, is not omniscient. Consciousnesses within causal bodies continue to develop and their orientation to physical plane life evolves over time. |
c. Chính chân ngã không phải là toàn tri. Các tâm thức bên trong các thể nguyên nhân tiếp tục phát triển và định hướng của chúng đối với đời sống cõi hồng trần tiến hoá theo thời gian. |
|
d. The Solar Angel, however, is, with respect to the customary knowledge of man, relatively omniscient and will always be oriented toward the better choice within the lower worlds. |
d. Tuy nhiên, Thái dương Thiên Thần, quả thực là, xét theo tri thức thông thường của con người, tương đối toàn tri và luôn luôn sẽ được định hướng về sự lựa chọn tốt hơn trong các cõi thấp. |
|
Objectivity may then ensue as a voluntary offering to the good of the group or planetary existence, but identification with the separated form is no longer the case. |
Khi ấy tính khách quan có thể tiếp diễn như một sự hiến dâng tự nguyện cho thiện ích của nhóm hay của sự tồn tại hành tinh, nhưng sự đồng hoá với hình tướng biệt lập không còn nữa. |
|
45. Here we would have entry into incarnation for service purposes. It would be, as stated, a “voluntary offering to the good of the group of planetary existence”. |
45. Ở đây chúng ta sẽ có sự đi vào nhập thể vì mục đích phụng sự. Như đã nói, đó sẽ là một “sự hiến dâng tự nguyện cho thiện ích của nhóm hay của sự tồn tại hành tinh”. |
|
46. This can occur even after the Solar Angel, per se, has returned to the Heart of the Sun or the Central Spiritual Sun (the monadic nature of the Solar Logos), for the true Ego is the spiritual triad and there are those who have achieved the fourth degree who voluntarily offer themselves through the process of physical incarnation to serve the good of the group or the planet. |
46. Điều này có thể xảy ra ngay cả sau khi chính Thái dương Thiên Thần đã trở về Tâm của Mặt Trời hay Mặt trời Tinh thần Trung Ương (bản chất chân thần của Thái dương Thượng đế), vì chân ngã đích thực là Tam Nguyên Tinh Thần và có những vị đã đạt đến cấp độ thứ tư tự nguyện hiến mình qua tiến trình nhập thể hồng trần để phụng sự thiện ích của nhóm hay của hành tinh. |
|
47. We could ponder well the differences and similarities between the Solar Angel and the spiritual triad of man. Most men, as we realize, are ‘apprentice Solar Angels’. |
47. Chúng ta có thể suy ngẫm kỹ về những khác biệt và tương đồng giữa Thái dương Thiên Thần và Tam Nguyên Tinh Thần của con người. Như chúng ta nhận ra, phần lớn con người là những “Thái dương Thiên Thần tập sự”. |
|
The human vehicle then created is as much a thought form in this case as any other particularised idea, |
Vận cụ con người được tạo ra khi ấy cũng là một hình tư tưởng trong trường hợp này chẳng khác gì bất kỳ ý tưởng biệt thể hoá nào khác, |
|
48. Yes, Master Chân sư DK has been working analogically: the orientation of the Solar Angel/Ego and its effect upon the production of a manifested human being has been compared to the tendency of an astral deva (of a specific quality) to ensoul a thoughtform and thus determine the physical plane destiny of that thoughtform. |
48. Đúng vậy, Chân sư DK đã vận dụng định luật tương đồng: định hướng của Thái dương Thiên Thần/chân ngã và ảnh hưởng của nó lên việc tạo ra một con người biểu hiện đã được so sánh với khuynh hướng của một thiên thần cảm dục (có phẩm tính đặc thù) phú linh cho một hình tư tưởng và do đó quyết định định mệnh cõi hồng trần của hình tư tưởng ấy. |
|
and [1014] the greatest act of conscious magic is to be seen. All other magical creations are subsidiary to this. |
và [1014] hành vi huyền thuật có ý thức vĩ đại nhất được thấy ở đây. Mọi sáng tạo huyền thuật khác đều phụ thuộc vào điều này. |
|
49. Here we have an idea of real importance. The process of human incarnation is the “greatest act of conscious magic”. The creation of thoughtforms by human beings reflect this greater process and is definitely subsidiary to it. |
49. Ở đây chúng ta có một ý tưởng thật sự quan trọng. Tiến trình nhập thể của con người là “hành vi huyền thuật có ý thức vĩ đại nhất”. Việc con người tạo ra các hình tư tưởng phản ánh tiến trình lớn lao hơn này và rõ ràng là phụ thuộc vào nó. |
|
Through manipulation of negative and positive energy, thus bringing them to the point of equilibrium before informing them, the perfected body of the Adept is formed. |
Qua sự vận dụng năng lượng âm và dương, do đó đưachúng đến điểm quân bình trước khi thấm nhuần chúng, thể hoànhảo của chân sư được hình thành. |
|
50. If an “Adept” is a Master, is Chân sư DK here speaking technically of the method of creating a mayavirupa? |
50. Nếu một “adept” là một Chân sư, thì ở đây Chân sư DK có đang nói theo nghĩa kỹ thuật về phương pháp tạo ra một mayavirupa không? |
|
51. One can also become an Adept while still in a body which has been created by normal generative means. Master Chân sư DK appears to have done this. Perhaps while in such a normal body, negative and positive energies can be manipulated until a state of equilibrium is achieved. |
51. Người ta cũng có thể trở thành một chân sư trong khi vẫn ở trong một thể đã được tạo ra bằng những phương tiện sinh sản thông thường. Dường như Chân sư DK đã làm điều này. Có lẽ khi ở trong một thể bình thường như thế, các năng lượng âm và dương có thể được vận dụng cho đến khi đạt được một trạng thái quân bình. |
|
52. Later in this text, Chân sư DK will focus on the contrast between desire and will. Probably it is these two energies which the adept must manipulate. In one way, Kriyashakti, as it found on the sixth or monadic plane, is has a close relation to the energy of desire. |
52. Về sau trong bản văn này, Chân sư DK sẽ tập trung vào sự tương phản giữa dục vọng và ý chí. Có lẽ chính hai năng lượng này là những gì chân sư phải vận dụng. Theo một cách nào đó, Kriyashakti, như được tìm thấy trên cõi thứ sáu hay cõi chân thần, có liên hệ mật thiết với năng lượng của dục vọng. |
|
53. However, the manner in which this sentence is worded seems to suggest that such a body is prepared before being informed. This would strongly suggest the creation of a mayavirupa. |
53. Tuy nhiên, cách câu này được diễn đạt dường như gợi ý rằng một thể như thế được chuẩn bị trước khi được thấm nhuần. Điều này gợi ý rất mạnh đến việc tạo ra một mayavirupa. |
|
54. The mayavirupa, as well, is a thoughtform. |
54. Mayavirupa cũng là một hình tư tưởng. |
|
55. It is often the way of Master Chân sư DK to seem to be speaking of one thing while speaking of several, giving a variety of hints all the time. |
55. Thường là cách của Chân sư DK: dường như đang nói về một điều trong khi thực ra nói về nhiều điều, luôn luôn đưa ra nhiều gợi ý khác nhau. |
|
All magical work on the astral plane has to be along the line of equilibrising activity, |
Mọi công việc huyền thuật trên cõi cảm dục đều phải theo đường lối của hoạt động quân bình hoá, |
|
56. The importance of Libra (a sign through which the third ray is conveyed) is emphasized. Along with this, fifth ray Venus and seventh Ray Uranus will be important. Saturn as the strongest ruler in Libra will be a dominant equilibrizing force. |
56. Tầm quan trọng của Libra (một dấu hiệu hoàng đạo mà qua đó cung ba được truyền dẫn) được nhấn mạnh. Cùng với điều này, Sao Kim cung năm và Sao Thiên Vương cung bảy sẽ quan trọng. Sao Thổ, với tư cách là chủ tinh mạnh nhất trong Libra, sẽ là một mãnh lực quân bình hoá chi phối. |
|
57. The skillful magician, we realize, is a controlled and controlling individual, and Saturn is the planet of control. We often hear of the “magical controls” which the magician must master. |
57. Như chúng ta nhận ra, nhà huyền thuật khéo léo là một cá nhân được kiểm soát và biết kiểm soát, và Sao Thổ là hành tinh của sự kiểm soát. Chúng ta thường nghe nói đến những “kiểm soát huyền thuật” mà nhà huyền thuật phải làm chủ. |
|
and the distinctive nature of this type of work on the three planes in the three worlds might be summed up as follows: |
và bản chất đặc thù của loại công việc này trên ba cõi trong ba cõi giới có thể được tóm lược như sau: |
|
58. In the three examples below we seem, again, to be speaking of the task of creating a human physical manifestation, with the Solar Angel standing in the role of the magician. The other interpretation, however, is always possible, with the Solar Angel strongly influencing all that the magician carries out in the process of creative thoughtform building. |
58. Trong ba ví dụ dưới đây, dường như một lần nữa chúng ta đang nói về nhiệm vụ tạo ra một biểu hiện hồng trần của con người, với Thái dương Thiên Thần đứng trong vai trò nhà huyền thuật. Tuy nhiên, cách diễn giải kia vẫn luôn có thể có, với Thái dương Thiên Thần ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi điều mà nhà huyền thuật thực hiện trong tiến trình kiến tạo hình tư tưởng sáng tạo. |
|
On the mental plane, the positive force of the solar Angel drives the substance needed into the correct form. |
Trên cõi trí, mãnh lực dương của Thái dương Thiên Thần đẩy chất liệu cần thiết vào đúng hình tướng. |
|
59. Are we speaking of creating the mental body of the incarnated man? If so, the Solar Angel is working through the mental unit. |
59. Phải chăng chúng ta đang nói về việc tạo ra thể trí của con người nhập thể? Nếu vậy, Thái dương Thiên Thần đang hoạt động qua đơn vị hạ trí. |
|
60. If we are speaking of man as magician, then under the influence of the Solar Angel, the substance to be utilized in created a mental thoughtform is driven into the correct form. |
60. Nếu chúng ta đang nói về con người như nhà huyền thuật, thì dưới ảnh hưởng của Thái dương Thiên Thần, chất liệu được sử dụng để tạo ra một hình tư tưởng trí tuệ được đẩy vào đúng hình tướng. |
|
61. The Solar Angel, we realize, is still influential in the creative process of the human magician. Actually, the Solar Angel instigates even the process which creates thoughtforms in line with its own purposes, so, in a way, is present and active in the creative process of the white magician. |
61. Như chúng ta nhận ra, Thái dương Thiên Thần vẫn còn có ảnh hưởng trong tiến trình sáng tạo của nhà huyền thuật con người. Thực ra, Thái dương Thiên Thần khởi xướng ngay cả tiến trình tạo ra các hình tư tưởng phù hợp với các mục đích riêng của nó, nên theo một nghĩa nào đó, nó hiện diện và hoạt động trong tiến trình sáng tạo của nhà huyền thuật trắng. |
|
On the astral plane, the equilibrising force of the solar Angel gathers the needed material and energy from all directions and builds it into the necessary astral sheath. |
Trên cõi cảm dục, mãnh lực quân bình hoá của Thái dương Thiên Thần thu hút chất liệu và năng lượng cần thiết từ mọi phương hướng và xây dựng chúng thành thể cảm dục cần thiết. |
|
62. Yes, it is clear that we are speaking principally of the creation of the human astral body. |
62. Đúng vậy, rõ ràng là chúng ta đang nói chủ yếu về việc tạo ra thể cảm dục của con người. |
|
63. The Solar Angel, in this instance, is definitely the magician and must work through the atomic triangle. The work, in this case, is magnetic, and comes under the second aspect. |
63. Trong trường hợp này, Thái dương Thiên Thần rõ ràng là nhà huyền thuật và phải hoạt động qua tam giác nguyên tử. Công việc trong trường hợp này là từ tính, và thuộc về phương diện thứ hai. |
|
64. We must remember that the members of the atomic triangle are within the causal body and thus the Solar Angel has immediate access to them. We can say that the Angel can work through them without ever ‘leaving’ the causal body. |
64. Chúng ta phải nhớ rằng các thành viên của tam giác nguyên tử nằm trong thể nguyên nhân và do đó Thái dương Thiên Thần có sự tiếp cận trực tiếp với chúng. Chúng ta có thể nói rằng Thiên Thần có thể hoạt động qua chúng mà không bao giờ “rời khỏi” thể nguyên nhân. |
|
On the physical plane the negative force of the solar Angel is all that is needed to gather the desired etheric substance. By this I mean the form has now achieved a vitality and distinction of its own, so that no aggressive action emanating from the egoic centre is required to continue the work. The note and vibration of the form itself suffices. |
Trên cõi hồng trần mãnh lực âm của Thái dương Thiên Thần là tất cả những gì cần thiết để thu hút chất liệu dĩ thái mong muốn. Qua điều này tôi muốn nói rằng hình tướng nay đã đạt được một sinh lực và một tính phân biệt riêng của nó, đến mức không cần một hành động mạnh bạo nào phát ra từ trung tâm chân ngã để tiếp tục công việc. Chính âm điệu và rung động của bản thân hình tướng là đủ. |
|
65. We see we have three types of force expressed by the Solar Angel through the sheaths: positive (in relation to the mental body), equilibrizing (in relation to the astral body) and negative (in relation to the physical body). |
65. Chúng ta thấy có ba loại mãnh lực được Thái dương Thiên Thần biểu lộ qua các thể: dương (liên hệ với thể trí), quân bình hoá (liên hệ với thể cảm dục) và âm (liên hệ với thể xác). |
|
66. On the astral and physical planes, the Solar Angel “gathers”, using its magnetism. On the mental plane, the Solar Angel “drives” substance into correct form rather than gathering it. |
66. Trên cõi cảm dục và cõi hồng trần, Thái dương Thiên Thần “thu hút”, sử dụng từ điện của nó. Trên cõi trí, Thái dương Thiên Thần “đẩy” chất liệu vào đúng hình tướng hơn là thu hút nó. |
|
67. We note that the Solar Angel does not have to work aggressively in order to create the dense physical form. This implies that the action on the two higher planes is more “aggressive”. Apparently, the negative force of the Solar Angel is the least aggressive of the three types of forces used to create the vehicles. We would expect the driving method on the mental plane to be the most aggressive. |
67. Chúng ta lưu ý rằng Thái dương Thiên Thần không phải hoạt động một cách mạnh bạo để tạo ra hình tướng hồng trần đậm đặc. Điều này hàm ý rằng hành động trên hai cõi cao hơn thì “mạnh bạo” hơn. Dường như mãnh lực âm của Thái dương Thiên Thần là ít mạnh bạo nhất trong ba loại mãnh lực được dùng để tạo ra các hiện thể. Chúng ta sẽ mong đợi phương pháp đẩy trên cõi trí là mạnh bạo nhất. |
|
68. From what is here said it is as if the “distinction” of the thoughtform is created largely on the mental plane and its “vitality” (considering that word in its non-etheric meaning—shall we call it ‘attractive vibrancy’) is generated on the astral plane. |
68. Từ những gì được nói ở đây, dường như “tính phân biệt” của hình tư tưởng phần lớn được tạo ra trên cõi trí và “sinh lực” của nó (xét từ ấy theo nghĩa không-dĩ-thái—ta có nên gọi là “sự rung động hấp dẫn” chăng) được phát sinh trên cõi cảm dục. |
|
69. We are given a hint regarding the creation of a dense physical form. Such a form is created by a “note” and by a “vibration”. It is as if the Solar Angel is minimally involved in this process. |
69. Chúng ta được cho một gợi ý liên quan đến việc tạo ra một hình tướng hồng trần đậm đặc. Một hình tướng như thế được tạo ra bởi một “âm điệu” và bởi một “rung động”. Dường như Thái dương Thiên Thần chỉ tham dự tối thiểu vào tiến trình này. |
|
RULE VIII. The Agnisuryans respond to the sound. The waters ebb and flow. |
QUY LUẬT VIII. Các Agnisuryan đáp ứng với âm thanh. Nước lên rồi xuống. |
|
70. Always we will have dual motion on this plane—in this case, contracting and expanding. |
70. Trên cõi này, chúng ta sẽ luôn có chuyển động nhị nguyên—trong trường hợp này là co lại và giãn ra. |
|
Let the magician guard himself from drowning at the point where land and water meet. The midway spot which is neither dry nor wet must provide the standing place whereon his feet are set. When water, land and air meet there is the place for magic to be wrought. |
Nhà huyền thuật hãy tự canh chừng để khỏi bị chết đuối tại điểm mà đất và nước gặp nhau. Nơi ở giữa, không khô cũng không ướt, phải cung cấp chỗ đứng để chân y đặt vững. Khi nước, đất và khí gặp nhau, đó là nơi huyền thuật phải được thực hiện. |
|
71. Here, in relation to the Agnisuryans, we must discover whether Chân sư DK is indicating the devas of the astral plane or the elemental lives. Sometimes they are considered together under the term “Agnisuryans” and sometimes differentiated. |
71. Ở đây, liên hệ đến các Agnisuryans, chúng ta phải khám phá xem Chân sư DK có đang chỉ các thiên thần của cõi cảm dục hay các sự sống hành khí. Đôi khi chúng được xét chung dưới thuật ngữ “Agnisuryans” và đôi khi được phân biệt. |
|
72. Upon the astral plane we will always find dual forces, ebbs and flows. |
72. Trên cõi cảm dục, chúng ta sẽ luôn luôn thấy các mãnh lực nhị nguyên, những đợt lên xuống và những dòng chảy rút. |
|
73. We must determine the occult significance of “drowning”. References below indicate its nature. |
73. Chúng ta phải xác định thâm nghĩa huyền bí của “chết đuối”. Những dẫn chiếu dưới đây cho biết bản chất của nó. |
|
74. As well it will be necessary to determine the occult meaning of the “midway spot”. One suspects that the dense physical plane is “dry” and the astral plane is “wet”, but as we are not yet dealing with the Rules of Magic for the etheric subplanes, there may be other and more specific meanings. |
74. Cũng cần phải xác định ý nghĩa huyền bí của “nơi ở giữa”. Người ta có thể ngờ rằng cõi hồng trần đậm đặc là “khô” và cõi cảm dục là “ướt”, nhưng vì chúng ta chưa bàn đến các Quy Luật Huyền Thuật dành cho các cõi phụ dĩ thái, nên có thể còn có những ý nghĩa khác và chuyên biệt hơn. |
|
75. In fact, if we do not consult A Treatise on White Magic we will be in no position fully to understand “the midway spot”, so this we shall do below. |
75. Thật vậy, nếu chúng ta không tham khảo Luận về Chánh Thuật thì chúng ta sẽ không ở vào vị thế để thấu hiểu trọn vẹn “nơi ở giữa”, vì thế dưới đây chúng ta sẽ làm điều đó. |
|
76. In A Treatise on White Magic the Tibetan gives a very full analysis of this rule. The pertinent sections of A Treatise on Cosmic Fire and A Treatise on White Magic must be read carefully in conjunction with each other. |
76. Trong Luận về Chánh Thuật, Chân sư Tây Tạng đưa ra một phân tích rất đầy đủ về quy luật này. Những phần thích đáng trong Luận về Lửa Vũ Trụ và Luận về Chánh Thuật phải được đọc cẩn thận kết hợp với nhau. |
|
It will be noted that in this rule, no mention is made of the fourth element, fire. The reason for this is that the magician has to accomplish the stupendous task of generating the needed fire at this triple “meeting place.” |
Cần lưu ý rằng trong quy luật này, không hề nhắc đến nguyên tố thứ tư, lửa. Lý do là nhà huyền thuật phải hoàn thành nhiệm vụ phi thường là phát sinh ngọn lửa cần thiết tại “điểm gặp gỡ” tam phân này. |
|
77. The occultism is deep. |
77. Tính huyền bí học ở đây thật sâu xa. |
|
78. What is the meaning of “fire” in this context? What will such fire accomplish? We gather the implication that fire will make the magical work effective. We may also gather that the production of magic is a fiery act. |
78. “Lửa” trong ngữ cảnh này có nghĩa là gì? Ngọn lửa ấy sẽ hoàn thành điều gì? Chúng ta rút ra hàm ý rằng lửa sẽ làm cho công việc huyền thuật trở nên hữu hiệu. Chúng ta cũng có thể rút ra rằng việc tạo ra huyền thuật là một hành vi rực lửa. |
|
79. We may infer that the magician must generate the needed “fire” from within himself. This, will be substantiated by stanzas from the Old Commentary below. |
79. Chúng ta có thể suy ra rằng nhà huyền thuật phải phát sinh “lửa” cần thiết từ bên trong chính mình. Điều này sẽ được xác chứng bằng các bài kệ từ Cổ Luận dưới đây. |
|
This is one of the most occult and most puzzling of the [1015] rules. |
Đây là một trong những quy luật huyền bí nhất và khó hiểu nhất trong số [1015] các quy luật. |
|
80. Surely, on first reading, many of us thought the same. |
80. Chắc chắn, khi đọc lần đầu, nhiều người trong chúng ta đã nghĩ như vậy. |
|
Some light is thrown on it by the following three sentences from the old Commentary: |
Một ít ánh sáng được soi rọi lên điều này nhờ ba câu sau đây từ Cổ Luận: |
|
81. The following three excerpts deal with the origins of the fire to be used in the magical creative process. |
81. Ba trích đoạn sau đây bàn đến nguồn gốc của ngọn lửa sẽ được dùng trong tiến trình sáng tạo huyền thuật. |
|
82. Perhaps, if we extend the analogy, fire must be drawn upon the Ego when it creates its personal reflection—the incarnated human being. |
82. Có lẽ, nếu chúng ta mở rộng phép loại suy, lửa phải được rút ra từ chân ngã khi nó tạo ra phản ảnh cá nhân của mình—con người đang lâm phàm. |
|
“When the fire is drawn from the inmost point within the heart the waters suffice not to subdue it. Like a stream of flame it issues forth, and traverses the waters, which disappear before it. Thus the goal is found.” |
“Khi lửa được rút ra từ điểm thâm sâu nhất bên trong tim thì nước không đủ sức khuất phục nó. Như một dòng lửa, nó tuôn ra, và băng qua nước, là thứ biến mất trước nó. Như thế mục tiêu được tìm thấy.” |
|
83. In this context, the “heart” may have more than one meaning. One occult meaning would be the soul or egoic lotus. In this case, the “inmost point within the heart” would be the Jewel in the Lotus. If so, the fire drawn forth would have its point of origin in the Monad. |
83. Trong ngữ cảnh này, “tim” có thể có hơn một ý nghĩa. Một ý nghĩa huyền bí sẽ là linh hồn hay hoa sen chân ngã. Trong trường hợp này, “điểm thâm sâu nhất bên trong tim” sẽ là Bảo Châu trong Hoa Sen. Nếu vậy, ngọn lửa được rút ra sẽ có điểm khởi nguyên trong chân thần. |
|
84. Should the waters “subdue” the fire, drowning would ensue. |
84. Nếu nước “khuất phục” được lửa, thì chết đuối sẽ xảy ra. |
|
85. In reading this section of text, one is reminded of the first words from Formula I from DINA II—“A line of fire between two blazing points.” The “blazing points” can be interpreted as the Monad and the Jewel in the Lotus |
85. Khi đọc phần văn bản này, người ta nhớ đến những lời đầu tiên của Công Thức I trong DINA II—“Một đường lửa giữa hai điểm rực cháy.” Các “điểm rực cháy” có thể được diễn giải là chân thần và Bảo Châu trong Hoa Sen |
|
86. The fire issuing forth from the heart has the effect of negating any harm which might be perpetrated by the water devas—whether harm to the thoughtform or harm to the magician. |
86. Ngọn lửa phát ra từ tim có tác dụng phủ nhận bất kỳ tổn hại nào có thể do các thiên thần nước gây ra—dù là tổn hại đối với hình tư tưởng hay đối với nhà huyền thuật. |
|
87. The “inmost point within the heart” might also have a more anatomical meaning related to the heart center of the creator. Surely, however, it suggests the presence of the energy of the first aspect. The heart, let us remember, is the seat for both the second aspect of divinity and the first as well. |
87. “Điểm thâm sâu nhất bên trong tim” cũng có thể có một ý nghĩa giải phẫu học hơn, liên hệ đến trung tâm tim của đấng sáng tạo. Tuy nhiên, chắc chắn nó gợi ý sự hiện diện của năng lượng của phương diện thứ nhất. Xin nhớ rằng tim là chỗ ngự của cả phương diện thứ hai của thiên tính lẫn phương diện thứ nhất. |
|
88. If we are to relate the “inmost point within the heart” to the etheric heart center, that point should probably be considered the jewel within that heart center. |
88. Nếu chúng ta liên hệ “điểm thâm sâu nhất bên trong tim” với trung tâm tim dĩ thái, thì điểm ấy có lẽ nên được xem là bảo châu bên trong trung tâm tim đó. |
|
89. Uniting the two perspectives, we could say that the jewel in the heart center is definitely connected to the Jewel in the Lotus. Further, every jewel in every chakra is ultimately connected to the Monad. |
89. Kết hợp hai góc nhìn, chúng ta có thể nói rằng bảo châu trong trung tâm tim chắc chắn có liên hệ với Bảo Châu trong Hoa Sen. Hơn nữa, mọi bảo châu trong mọi luân xa rốt cuộc đều liên hệ với chân thần. |
|
“When the fire descends from the One Who watches above, the wind suffices not to blow it out. |
“Khi lửa giáng xuống từ Đấng quan sát từ trên cao, gió không đủ sức thổi tắt nó. |
|
90. It is becoming clear that the fire is to be drawn from the higher Ego on the higher mental plane. The Solar Angel/Ego is the “One who watches from above”. |
90. Đang trở nên rõ ràng rằng lửa phải được rút ra từ chân ngã cao hơn trên Cõi thượng trí. Thái dương Thiên Thần/chân ngã là “Đấng quan sát từ trên cao”. |
|
91. While the lower mental plane is rightfully associated with fire, mental currents can also be associated with air and, thus, with wind. |
91. Trong khi cõi hạ trí được liên kết một cách chính đáng với lửa, các dòng trí tuệ cũng có thể được liên kết với khí và do đó với gió. |
|
92. In this sentence, then, we can see a relation between the higher mental plane and the lower four mental subplanes. The fire originates on the higher mental plane and the wind can be understood as forces upon the lower mental plane which could blow out the higher fire or some how blow out the descending idea emanating from the higher mental plane. |
92. Vậy thì trong câu này, chúng ta có thể thấy một mối liên hệ giữa Cõi thượng trí và bốn cõi phụ hạ trí. Lửa khởi nguyên trên Cõi thượng trí, còn gió có thể được hiểu là các mãnh lực trên cõi hạ trí, những mãnh lực có thể thổi tắt ngọn lửa cao hơn hoặc bằng cách nào đó thổi tắt ý tưởng giáng xuống phát ra từ Cõi thượng trí. |
|
The very winds protect, shield and aid the work, guiding the falling fire unto the point of entrance.” |
Chính những cơn gió bảo vệ, che chở và trợ giúp công việc, dẫn dắt ngọn lửa đang rơi xuống đến điểm đi vào.” |
|
93. This is a very occult passage and there is no way we can be certain as we attempt to interpret it. |
93. Đây là một đoạn rất huyền bí và không có cách nào để chúng ta có thể chắc chắn khi cố gắng diễn giải nó. |
|
94. We could say that the fire from the higher mental plane has such an effect upon the lower mental plane that the mental currents guard rather than disrupt the thoughtform in process of creation. |
94. Chúng ta có thể nói rằng lửa từ Cõi thượng trí có một tác động như thế lên cõi hạ trí đến nỗi các dòng trí tuệ canh giữ thay vì phá vỡ hình tư tưởng đang trong tiến trình được tạo ra. |
|
95. What might be the “point of entrance”? Are we speaking of the point of entrance onto the astral plane? If so, then the thought currents of the lower mental plane assist the passage of fire from the higher mental plane as it enters and descends through the lower planes towards the magician on the physical plane. |
95. “Điểm đi vào” có thể là gì? Chúng ta có đang nói đến điểm đi vào cõi cảm dục không? Nếu vậy, thì các dòng tư tưởng của cõi hạ trí trợ giúp sự đi qua của lửa từ Cõi thượng trí khi nó đi vào và giáng xuống qua các cõi thấp hơn hướng về nhà huyền thuật trên cõi hồng trần. |
|
96. Since in this chapter we are dealing with the Rules of Magic for the astral plane, the “point of entrance” might be considered more physical. The guarding of the thought form by the winds would occur then on the astral plane and the “point of entrance” would lead into etheric-physical manifestation. |
96. Vì trong chương này chúng ta đang bàn đến các Quy Luật Huyền Thuật dành cho cõi cảm dục, “điểm đi vào” có thể được xem là có tính hồng trần hơn. Khi đó, sự canh giữ hình tư tưởng bởi các cơn gió sẽ xảy ra trên cõi cảm dục và “điểm đi vào” sẽ dẫn đến sự biểu hiện dĩ thái-hồng trần. |
|
“When the fire emanates from the mouth of the one who thinks and sees, |
“Khi lửa phát ra từ miệng của kẻ suy tư và thấy, |
|
97. We may gather that “the one who thinks and sees” is the magician upon the physical plane. |
97. Chúng ta có thể rút ra rằng “kẻ suy tư và thấy” là nhà huyền thuật trên cõi hồng trần. |
|
98. The fire has been drawn from occult sources: either from the Jewel in the Lotus (fed by the fire of the Monad) or, we suggest, the jewel at the center of the heart chakra—or both. |
98. Lửa đã được rút ra từ các nguồn huyền bí: hoặc từ Bảo Châu trong Hoa Sen (được nuôi bởi lửa của chân thần) hoặc, như chúng tôi gợi ý, từ bảo châu ở trung tâm của luân xa tim—hoặc cả hai. |
|
99. It makes its way towards the throat center of the magician as is released in magical words and creative mantrams. |
99. Nó tiến về trung tâm cổ họng của nhà huyền thuật khi được giải phóng trong những lời huyền thuật và các mantram sáng tạo. |
|
then the earth sufficeth not to hide or kill the flame. |
thì đất không đủ sức che giấu hay giết chết ngọn lửa. |
|
100. The forces of the dense physical plane could suffocate or bury the flame, halting the further progress of the magical process. |
100. Các mãnh lực của cõi hồng trần đậm đặc có thể làm ngạt hoặc chôn vùi ngọn lửa, ngăn chặn sự tiến triển tiếp theo của tiến trình huyền thuật. |
|
101. Since the physical plane includes both an etheric and dense physical aspect, we could consider the etheric energies to be those of “earth”. This may make sense in the context of the next sentence. |
101. Vì cõi hồng trần bao gồm cả phương diện dĩ thái lẫn hồng trần đậm đặc, chúng ta có thể xem các năng lượng dĩ thái là những năng lượng của “đất”. Điều này có thể hợp lý trong ngữ cảnh của câu tiếp theo. |
|
102. We have seen so far, when speaking of the fire which has issued forth, that wind could not blow it out, water could not drown it and earth could not kill or suffocate it. |
102. Cho đến nay, khi nói về ngọn lửa đã phát ra, chúng ta đã thấy rằng gió không thể thổi tắt nó, nước không thể làm nó chết đuối và đất không thể giết hay làm ngạt nó. |
|
103. The normal antagonism of the elements is moderated and, instead, they are made to become supportive of the descending fire. |
103. Sự đối kháng thông thường của các nguyên tố được điều hòa, và thay vào đó, chúng được làm cho trở thành những yếu tố hỗ trợ ngọn lửa đang giáng xuống. |
|
It feeds the flame, causing a growth and magnitude of fire which reaches to the narrow door of entrance.” |
Nó nuôi ngọn lửa, làm cho lửa tăng trưởng và lớn mạnh đến mức chạm tới cánh cửa hẹp của lối vào.” |
|
104. What feeds the flame? It would seem that “earth” can be made to feed the flame. If this is the case, then “earth” will have a closer connection to the ethers of the systemic physical plane than to the densest aspects of that plane. |
104. Điều gì nuôi ngọn lửa? Có vẻ như “đất” có thể được làm cho nuôi ngọn lửa. Nếu đúng như vậy, thì “đất” sẽ có liên hệ gần gũi hơn với các dĩ thái của cõi hồng trần hệ thống hơn là với những phương diện đậm đặc nhất của cõi ấy. |
|
105. One can rather easily envision the ethers feeding the flame and augmenting the intensity of fire. The ethers are connected with “air” just as it the buddhic plane. “Air” feeds “fire”. |
105. Người ta có thể khá dễ dàng hình dung các dĩ thái nuôi ngọn lửa và làm tăng cường độ của lửa. Các dĩ thái có liên hệ với “khí” cũng như cõi Bồ đề. “Khí” nuôi “lửa”. |
|
106. As for the “narrow door of entrance” it can be conceived as entrance upon the dense physical plane which final manifestation must occur. This, ultimately, is probably the best interpretation. |
106. Còn về “cánh cửa hẹp của lối vào”, nó có thể được quan niệm là lối đi vào cõi hồng trần đậm đặc, nơi sự biểu hiện cuối cùng phải xảy ra. Rốt cuộc, đây có lẽ là cách diễn giải tốt nhất. |
|
107. As well we have the suggestion of the birth canal through which all human beings find entrance into incarnated life. |
107. Ngoài ra, chúng ta còn có gợi ý về ống sinh, qua đó mọi con người tìm được lối vào đời sống lâm phàm. |
|
Under this symbology much is hidden anent the life-giving energy, the centres symbolised to focalise it, and to drive it forth, and the place the various types of receptive matter play in the magical work. |
Dưới biểu tượng học này, nhiều điều được che giấu liên quan đến năng lượng ban sự sống, các trung tâm được biểu tượng hoá để hội tụ nó, và phóng nó ra, cùng vai trò mà các loại vật chất tiếp nhận khác nhau đảm nhiệm trong công việc huyền thuật. |
|
108. In discussing what is hidden in the arcane symbology, Chân sư DK offers us hints. |
108. Khi bàn về điều được che giấu trong biểu tượng học huyền môn, Chân sư DK trao cho chúng ta những gợi ý. |
|
109. We are definitely speaking of certain centers or chakras. As well, the energy of the fire is to be associated with life and, thus, with the first aspect. |
109. Chúng ta chắc chắn đang nói đến một số trung tâm hay luân xa nhất định. Đồng thời, năng lượng của lửa phải được liên kết với sự sống và do đó với phương diện thứ nhất. |
|
110. The chakras, and especially the jewels within the chakras, act as focal points for the descending life energy. Centers focalize and drive forth this energy. These functions are most significant to the magician engaged in the creative process. |
110. Các luân xa, và đặc biệt là các bảo châu bên trong các luân xa, hoạt động như những điểm hội tụ cho năng lượng sự sống đang giáng xuống. Các trung tâm hội tụ và phóng ra năng lượng này. Những chức năng này có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với nhà huyền thuật đang tham gia vào tiến trình sáng tạo. |
|
111. The elements discussed—the wind, the waters, the earth—are all in the category of “receptive matter”. This receptive matter is to be used by the descending fire and is not to present a hindrance to that fire as might usually be the case. |
111. Các nguyên tố được bàn đến—gió, nước, đất—đều thuộc loại “vật chất tiếp nhận”. Vật chất tiếp nhận này sẽ được ngọn lửa đang giáng xuống sử dụng và không được gây cản trở cho ngọn lửa ấy như thường có thể xảy ra. |
|
112. Certain secret formulas prevent the elemental matter through which the descending idea must pass from overwhelming the thoughtform which represents that idea. |
112. Một số công thức bí mật ngăn không cho vật chất hành khí mà ý tưởng đang giáng xuống phải đi qua áp đảo hình tư tưởng đại diện cho ý tưởng ấy. |
|
113. Now let us look at an excerpt from A Treatise on White Magic to better understand the meaning of the “midway spot”. |
113. Bây giờ, chúng ta hãy xem một trích đoạn từ Luận về Chánh Thuật để hiểu rõ hơn ý nghĩa của “nơi ở giữa”. |
|
114. At each of the following categories of “midway spot” different types of students find their point of focus and their labor. |
114. Tại mỗi loại “nơi ở giữa” sau đây, những loại đạo sinh khác nhau tìm thấy điểm tập trung và công việc của mình. |
|
Most true aspirants are now at the midway spot, and can either drown (and so make no further progress this life), stand and so hold the ground gained, or become true practicing magicians, efficient in white magic, which is based on love, animated by wisdom and intelligently applied to forms. (TWM 235-236) |
Hầu hết những người chí nguyện chân chính hiện nay đều ở nơi ở giữa, và có thể либо chết đuối (và như thế không tiến bộ thêm trong kiếp này), hoặc đứng vững và như thế giữ được phần đất đã giành được, hoặc trở thành những nhà huyền thuật thực hành chân chính, hữu hiệu trong Chánh Thuật, vốn đặt nền trên bác ái, được minh triết làm sinh động và được áp dụng một cách thông minh vào các hình tướng. (TWM 235-236) |
|
115. Chân sư DK’s use of the word “drown” in relation to aspirants is a much milder use than its meaning in connection with certain errant magicians. |
115. Việc Chân sư DK dùng từ “chết đuối” liên hệ đến những người chí nguyện là một cách dùng nhẹ hơn nhiều so với ý nghĩa của nó khi liên hệ đến một số nhà huyền thuật lầm lạc. |
|
You ask for a clearer definition of the “midway” spot. |
Các bạn yêu cầu một định nghĩa rõ ràng hơn về nơi “ở giữa”. |
|
For the probationer it is the emotional plane, the Kurukshetra, or the plane of illusion, where land (physical nature) and water (emotional nature) meet. |
Đối với người dự bị, đó là cõi cảm xúc, Kurukshetra, hay cõi ảo tưởng, nơi đất (bản chất hồng trần) và nước (bản chất cảm xúc) gặp nhau. |
|
For the disciple it is the mental plane where form and soul make contact and the great transition becomes possible. For the advanced disciple and the initiate, the midway spot is the causal body, the karana sarira, the spiritual body of the soul, standing as the intermediary between Spirit and matter, Life and form, the monad and the personality. |
Đối với đệ tử, đó là cõi trí, nơi hình tướng và linh hồn tiếp xúc và cuộc chuyển tiếp lớn trở nên khả hữu. Đối với đệ tử tiến bộ và điểm đạo đồ, nơi ở giữa là thể nguyên nhân, karana sarira, thể tinh thần của linh hồn, đứng như trung gian giữa Tinh thần và vật chất, Sự sống và hình tướng, chân thần và phàm ngã. |
|
This can also be discussed and understood in terms of the centres. |
Điều này cũng có thể được bàn đến và thấu hiểu theo các trung tâm. |
|
As every student knows, there are two centres in the head. One centre is between the eyebrows and has the pituitary body as its objective manifestation. The other is in the region at the top of the head and has the pineal gland as its concrete aspect. The pure mystic has his consciousness centred in the top of the head, almost entirely in the etheric body. The advanced worldly man is centred in the pituitary region. When, through occult unfoldment and esoteric knowledge, the relation between the personality and the soul is established there is a midway spot in the centre of the head in the magnetic field which is called the “light in the head”, and it is here that the aspirant takes his stand. This is the spot of vital import. It is neither land or physical, nor water or emotional. It might be regarded as the vital or etheric body which has become the field of conscious service, of directed control, and of force utilisation towards specific ends. |
Như mọi đạo sinh đều biết, có hai trung tâm trong đầu. Một trung tâm ở giữa hai chân mày và có tuyến yên là biểu hiện khách quan của nó. Trung tâm kia ở vùng đỉnh đầu và có tuyến tùng quả là phương diện cụ thể của nó. Nhà thần bí thuần túy có tâm thức tập trung ở đỉnh đầu, gần như hoàn toàn trong thể dĩ thái. Người thế tục tiến bộ thì tập trung ở vùng tuyến yên. Khi, nhờ sự khai mở huyền bí và tri thức nội môn, mối liên hệ giữa phàm ngã và linh hồn được thiết lập, sẽ có một nơi ở giữa trong trung tâm đầu, trong từ trường được gọi là “ánh sáng trong đầu”, và chính tại đây người chí nguyện đứng vững. Đây là điểm có tầm quan trọng sinh tử. Nó không phải là đất hay hồng trần, cũng không phải là nước hay cảm xúc. Nó có thể được xem là thể sinh lực hay thể dĩ thái đã trở thành trường phụng sự có ý thức, của sự kiểm soát có định hướng, và của việc sử dụng mãnh lực hướng đến những mục đích chuyên biệt. |
|
Here the magician takes his stand and through the [248] medium of his force or energy body performs the magical creative work. (TWM 247-248) |
Tại đây nhà huyền thuật đứng vững và qua trung gian [248] thể mãnh lực hay thể năng lượng của mình, thực hiện công việc sáng tạo huyền thuật. (TWM 247-248) |
|
116. Master Chân sư DK’s words from TWM are self-explanatory. We are dealing with the occultism of the head. |
116. Những lời của Chân sư DK từ TWM tự chúng đã giải thích rõ. Chúng ta đang bàn đến huyền bí học của đầu. |
|
117. It is clear that it is not sufficient to work exclusively from either the top of the head (as does the mystic) or from the area of the pituitary body (as does the worldly man). A point ‘midway’ between the two is needed and at the point the magician takes his stand. |
117. Rõ ràng là không đủ nếu chỉ làm việc riêng từ đỉnh đầu (như nhà thần bí làm) hoặc từ vùng tuyến yên (như người thế tục làm). Cần có một điểm “ở giữa” giữa hai nơi ấy, và tại điểm đó nhà huyền thuật đứng vững. |
|
118. We will learn later that from a point of soul focus the advanced magician can influence the process undertaken at the “midway spot”. |
118. Về sau chúng ta sẽ học rằng từ một điểm tập trung của linh hồn, nhà huyền thuật tiến bộ có thể ảnh hưởng đến tiến trình được thực hiện tại “nơi ở giữa”. |
|
119. The occultist, then, focuses within that magnetic field called the light in the head and from this ‘place’ performs his work. |
119. Vậy thì nhà huyền bí học tập trung trong từ trường được gọi là ánh sáng trong đầu và từ “nơi” này thực hiện công việc của mình. |
|
120. Here also from TWM is a useful summary of the work covered to this point: |
120. Ở đây cũng từ TWM có một bản tóm lược hữu ích về công việc đã được trình bày cho đến điểm này: |
|
The situation might be stated in the following terse statements. The rules already studied convey the truth anent the magician. |
Tình huống có thể được phát biểu trong những mệnh đề vắn tắt sau đây. Những quy luật đã được nghiên cứu truyền đạt chân lý liên quan đến nhà huyền thuật. |
|
1. The soul has communicated with his instrument in the three worlds. |
1. Linh hồn đã truyền thông với khí cụ của mình trong ba cõi giới. |
|
2. The man on the physical plane recognises the contact, and the light in the head shines forth, sometimes recognised and sometimes unrecognised by the aspirant. |
2. Con người trên cõi hồng trần nhận ra sự tiếp xúc ấy, và ánh sáng trong đầu chiếu rạng, đôi khi được người chí nguyện nhận biết và đôi khi kh y. |
|
3. The soul sounds forth its note. A thought-form is created in consonance with the united meditation of the soul and the man, his instrument. |
3. Linh hồn xướng lên âm điệu của mình. Một hình tư tưởng được tạo ra phù hợp với sự tham thiền hợp nhất của linh hồn và con người, là khí cụ của nó. |
|
4. This thought-form, embodying the will of the ego or soul, cooperating with the personality, takes to itself a triple form, constituted of the matter of all three planes, and vitalized through the activity and by the emanations from the heart, throat and [237] ajna centres of the white magician—the soul in conjunction with its instrument. |
4. Hình tư tưởng này, thể hiện ý chí của chân ngã hay linh hồn, hợp tác với phàm ngã, khoác lấy cho mình một hình thức tam phân, được cấu thành từ vật chất của cả ba cõi, và được tiếp sinh lực nhờ hoạt động và nhờ các phát xạ từ các trung tâm tim, cổ họng và [237] ajna của nhà huyền thuật trắng—linh hồn kết hợp với khí cụ của nó. |
|
5. The personality sheaths, each with its own individual life, feel they are losing their power and the battle between the forces of matter and the force of the soul is violently renewed. |
5. Các vỏ bọc phàm ngã, mỗi vỏ bọc với sự sống cá biệt riêng của nó, cảm thấy rằng chúng đang mất quyền lực, và cuộc chiến giữa các mãnh lực của vật chất và mãnh lực của linh hồn được tái diễn một cách dữ dội. |
|
6. This battle must be fought out on the astral plane and will decide three things: |
6. Cuộc chiến này phải được chiến đấu trên cõi cảm dục và sẽ quyết định ba điều: |
|
a. Whether the soul will, in any one life (for some life holds the critical stage), be the dominant factor and the personality from henceforth be the servant of the soul. |
a. Liệu linh hồn có, trong bất kỳ một kiếp sống nào (vì có những kiếp sống giữ giai đoạn khủng hoảng), là yếu tố chi phối và từ đó về sau phàm ngã sẽ là người phụng sự của linh hồn hay kh y. |
|
b. Whether the astral plane is no longer the plane of illusion, but can become the field of service. |
b. Liệu cõi cảm dục không còn là cõi ảo tưởng nữa, mà có thể trở thành cánh đồng phụng sự hay kh y. |
|
c. Whether the man can become an active co-operator with the Hierarchy, able to create and to wield mental matter, and so work out the purposes of the Universal Mind, which are prompted by boundless and infinite love, and are the expression of the One Life. (TWM 236-237) |
c. Liệu con người có thể trở thành một cộng tác viên tích cực với Thánh đoàn, có khả năng sáng tạo và vận dụng chất liệu trí tuệ, và như thế thực hiện các mục đích của Vũ Trụ Trí, vốn được thúc đẩy bởi tình thương vô biên và vô hạn, và là biểu hiện của Sự Sống Duy Nhất hay kh y. (TWM 236-237) |
|
121. Let us include another paragraph which deals with the nature of “air” and the relation between the soul and the midway point. It becomes increasingly clear that this section of A Treatise on Cosmic Fire cannot be fully understood without recourse to the Tibetan’s explanations found in A Treatise on White Magic. |
121. Chúng ta hãy thêm một đoạn nữa bàn đến bản chất của “khí” và mối liên hệ giữa linh hồn với nơi ở giữa. Ngày càng rõ rằng phần này của Luận về Lửa Vũ Trụ không thể được thấu hiểu trọn vẹn nếu không viện đến những giải thích của Chân sư Tây Tạng trong Luận về Chánh Thuật. |
|
One point is rather abstrusely dealt with in this rule, but it clarifies, if the words are studied with care. At the close of the rule we are told that when “water, land and air meet” there is the place for the working of magic. Curiously in these phrases the idea of location is omitted and only the time equation considered. |
Có một điểm được bàn đến khá tối nghĩa trong quy luật này, nhưng nó làm sáng tỏ nếu các lời được nghiên cứu cẩn thận. Ở cuối quy luật, chúng ta được bảo rằng khi “nước, đất và khí gặp nhau” thì đó là nơi huyền thuật hoạt động. Lạ thay, trong những cụm từ này, ý niệm về vị trí bị lược bỏ và chỉ phương trình thời gian được xét đến. |
|
Air is the symbol of the buddhic vehicle, of the plane of spiritual love, and when the three above enumerated (in their energy aspects) meet, it is indicative of a focussing in the soul consciousness and a centralisation of the man in the spiritual body. From that point of power, outside of form, from the central sphere of unification and from the focussed point within that circle of consciousness, the spiritual man projects his consciousness into the midway spot within the brain cavity where the magical work must, in relation to the physical plane, be carried out. This ability to project the consciousness from the plane of soul realisation into that of creative magical work on the etheric subplanes is gradually made possible as the student in his meditation work develops facility in focussing his attention in one or other of the centres in the body. This is accomplished through the medium of the force centres in the etheric body. He gradually gains that plasticity and that fluidity of the self-directed consciousness which will enable him to play on the centres, as a musician utilises the seven notes of music. When this has been achieved he can begin to train himself in wider and more extended focussings and must learn to withdraw his consciousness, not only to the brain, but to the soul on its own plane and thence re-direct his energies in the performance of the magical work of the soul. (TWM 248) |
Khí là biểu tượng của vận cụ Bồ đề, của cõi bác ái tinh thần, và khi ba điều kể trên (trong các phương diện năng lượng của chúng) gặp nhau, điều đó cho thấy có một sự tập trung trong tâm thức linh hồn và một sự tập trung hoá của con người trong thể tinh thần. Từ điểm quyền năng ấy, ở ngoài hình tướng, từ khối cầu trung tâm của sự hợp nhất và từ điểm tập trung bên trong vòng tròn tâm thức ấy, con người tinh thần phóng chiếu tâm thức của mình vào nơi ở giữa trong khoang não, nơi công việc huyền thuật phải được thực hiện liên hệ đến cõi hồng trần. Khả năng phóng chiếu tâm thức từ cõi chứng nghiệm linh hồn vào cõi công việc sáng tạo huyền thuật trên các cõi phụ dĩ thái dần dần trở nên khả hữu khi đạo sinh, trong công việc tham thiền của mình, phát triển sự thành thạo trong việc tập trung sự chú ý của mình vào trung tâm này hay trung tâm khác trong thể. Điều này được hoàn thành qua trung gian các trung tâm mãnh lực trong thể dĩ thái. Dần dần y đạt được tính linh hoạt và tính lưu chất của tâm thức tự định hướng, điều sẽ giúp y có thể tác động lên các trung tâm như một nhạc sĩ sử dụng bảy nốt nhạc. Khi điều này đã đạt được, y có thể bắt đầu tự huấn luyện trong những sự tập trung rộng hơn và bao quát hơn, và phải học cách rút tâm thức của mình không chỉ vào bộ não, mà còn vào linh hồn trên cõi riêng của nó, rồi từ đó tái định hướng các năng lượng của mình trong việc thực hiện công việc huyền thuật của linh hồn. (TWM 248) |
|
122. Continuing now with the text on which this commentary is based— |
122. Bây giờ tiếp tục với bản văn làm nền tảng cho phần bình giải này— |
|
As is ever the case in all white magic, the activity of the solar Angel is the primary factor and the work of the man upon the physical plane is regarded as secondary; |
Như luôn luôn là trường hợp trong mọi Chánh Thuật, hoạt động của Thái dương Thiên Thần là yếu tố chính yếu và công việc của con người trên cõi hồng trần được xem là thứ yếu; |
|
123. This thought is recommended to the consideration of egocentric magicians who think of themselves (in the lower sense) as the center of the magical process. |
123. Tư tưởng này được khuyến nghị để những nhà huyền thuật tự ngã trung tâm suy ngẫm, những kẻ nghĩ về chính mình (theo nghĩa thấp) như trung tâm của tiến trình huyền thuật. |
|
his physical body, and the work engendered therein, being frequently referred to as “fuel and its warmth.” |
thể xác của y, và công việc được phát sinh trong đó, thường được gọi là “nhiên liệu và hơi ấm của nó.” |
|
124. We see how peripheral the physical body is to the actual work of magic. The physical body allows the magic to manifest on the physical plane, but it is, in the last analysis, only a final conduit for a process originating on higher planes. |
124. Chúng ta thấy thể xác ở vị trí ngoại vi như thế nào đối với công việc huyền thuật thực sự. Thể xác cho phép huyền thuật biểu hiện trên cõi hồng trần, nhưng xét đến cùng, nó chỉ là một ống dẫn cuối cùng cho một tiến trình khởi nguyên trên các cõi cao hơn. |
|
125. We are speaking here of the “latent fires” of the dense physical vehicle. |
125. Ở đây chúng ta đang nói đến “những ngọn lửa tiềm ẩn” của vận cụ hồng trần đậm đặc. |
|
This needs careful remembering, and will give the clue to the necessity of egoic alignment, and to the problem of the extinction of certain workers in magic, who were “destroyed by their own fire” or energy. |
Điều này cần được ghi nhớ cẩn thận, và sẽ cho manh mối về sự cần thiết của chỉnh hợp chân ngã, và về vấn đề của sự tắt lịm của một số người hoạt động trong huyền thuật, những kẻ đã “bị hủy diệt bởi chính lửa hay năng lượng của mình”. |
|
126. Without the proper egoic alignment, danger lurks for the magician. |
126. Nếu không có chỉnh hợp chân ngã thích đáng, hiểm nguy rình rập nhà huyền thuật. |
|
127. The word “extinction” is a arresting. It is a rather drastic word and suggests the putting out of a flame (“extinguished”) but even more the elimination of such workers, leaving in doubt their ability to return to the process even in another incarnation. Some, on the left hand path, can never return. |
127. Từ “tắt lịm” thật gây chú ý. Đó là một từ khá quyết liệt và gợi ý việc dập tắt một ngọn lửa (“bị dập tắt”), nhưng còn hơn thế nữa là sự loại bỏ những người hoạt động như vậy, khiến người ta nghi ngờ khả năng họ có thể trở lại tiến trình ấy ngay cả trong một kiếp tái sinh khác. Một số kẻ trên tả đạo có thể không bao giờ trở lại. |
|
128. The word also suggests that the methods which contributed to their “extinction” were old, form-bound methods, now surpassed by the methods associated with white magic. |
128. Từ này cũng gợi ý rằng những phương pháp góp phần vào sự “tắt lịm” của họ là những phương pháp cũ, bị ràng buộc vào hình tướng, nay đã bị vượt qua bởi những phương pháp gắn liền với Chánh Thuật. |
|
129. The section of text seems to suggest that such magicians were destroyed by their own latent fires—the “ancient fires” which are among the most dangerous with which the magician has to deal. |
129. Phần văn bản dường như gợi ý rằng những nhà huyền thuật như thế đã bị hủy diệt bởi chính những ngọn lửa tiềm ẩn của mình—“những ngọn lửa cổ xưa”, vốn thuộc loại nguy hiểm nhất mà nhà huyền thuật phải đối diện. |
|
130. The implication is that this fate would not have befallen them had they been properly aligned with the Ego/Solar Angel. |
130. Hàm ý là số phận này đã không giáng xuống họ nếu họ được chỉnh hợp đúng đắn với chân ngã/Thái dương Thiên Thần. |
|
The discreet magician is one who sees to the readiness of his lowest vehicle to carry the fire wherewith he works, and this he accomplishes through discipline and strict purity. |
Nhà huyền thuật thận trọng là người bảo đảm vận cụ thấp nhất của mình sẵn sàng mang ngọn lửa mà y làm việc cùng, và điều này y hoàn thành bằng kỷ luật và sự thanh khiết nghiêm ngặt. |
|
131. Even that which is not a principle is not ignored by the “discreet magician”. Such a magician is characterized by great caution. His knowledge of all the vehicles is extensive. He is aware of many pitfalls and he avoids them scrupulously. |
131. Ngay cả điều không phải là một nguyên khí cũng không bị “nhà huyền thuật thận trọng” bỏ qua. Một nhà huyền thuật như thế được đặc trưng bởi sự cẩn trọng lớn lao. Tri thức của y về mọi vận cụ đều rộng lớn. Y ý thức được nhiều cạm bẫy và tránh chúng một cách nghiêm ngặt. |
|
132. We notice the importance of discipline, and not only of purity, but of strict purity. No point of entry must be given to lower forces which could overcome the magician or force him to lose control of the delicate processes with which he is engaged. |
132. Chúng ta nhận thấy tầm quan trọng của kỷ luật, và không chỉ của sự thanh khiết, mà còn của sự thanh khiết nghiêm ngặt. Không được để bất kỳ điểm xâm nhập nào cho các mãnh lực thấp hơn, những mãnh lực có thể chế ngự nhà huyền thuật hoặc buộc y mất quyền kiểm soát các tiến trình tinh tế mà y đang dấn thân vào. |
|
133. We realize that the elemental lives on every level of descent must be controlled and the impurity gives these elementals an opportunity to seize control. |
133. Chúng ta nhận ra rằng các sự sống hành khí ở mọi cấp độ giáng xuống đều phải được kiểm soát, và sự ô uế trao cho các hành khí này cơ hội chiếm quyền kiểm soát. |
|
The magician guards himself from “drowning” or from coming under the influence of the water or astral elementals, |
Nhà huyền thuật tự canh chừng để khỏi “chết đuối” hay rơi vào dưới ảnh hưởng của các hành khí nước hay cảm dục, |
|
134. This, then, is the occult definition of “drowning”. It means to come under the control of the “water or astral elementals”. Here, apparently, we are not speaking of the Agnisuryans as devas on the evolutionary path but strictly of water elementals. |
134. Vậy thì đây là định nghĩa huyền bí của “chết đuối”. Nó có nghĩa là rơi vào dưới sự kiểm soát của các “hành khí nước hay cảm dục”. Ở đây, rõ ràng chúng ta không nói về các Agnisuryans như những thiên thần trên đường tiến hoá mà chỉ nói nghiêm ngặt về các hành khí nước. |
|
135. In less drastic cases, if a man came increasingly under the control of the water or astral elementals, he would find himself under the constant sway of desires which were contrary to his soul purposes. He would be overcome by feeling and emotion and would not be able to sustain his mental focus. |
135. Trong những trường hợp ít nghiêm trọng hơn, nếu một người ngày càng rơi vào dưới sự kiểm soát của các hành khí nước hay cảm dục, y sẽ thấy mình ở dưới sự chi phối thường xuyên của những ham muốn trái ngược với các mục đích linh hồn của mình. Y sẽ bị cảm giác và cảm xúc chế ngự và sẽ không thể duy trì tập trung trí tuệ của mình. |
|
136. While the term “Agnisuryans” can be used broadly, perhaps including water elementals, so often, in the books, the term indicates devas on the evolutionary path. |
136. Mặc dù thuật ngữ “Agnisuryans” có thể được dùng theo nghĩa rộng, có lẽ bao gồm cả các hành khí nước, nhưng rất thường trong các sách, thuật ngữ này chỉ các thiên thần trên đường tiến hoá. |
|
through a knowledge of certain formulas, and until these sounds and mantrams are imparted and known, it is not safe for the man on the physical plane to attempt magical creation. |
nhờ tri thức về một số công thức nhất định, và cho đến khi những âm thanh và mantram này được truyền dạy và được biết đến, thì con người trên cõi hồng trần không an toàn nếu cố gắng sáng tạo huyền thuật. |
|
137. This is a point blank statement. There is no way to evade its implications. “Do not attempt magical work until the protective formulas have been imparted and until they are assimilated.” Readers of this book cannot say they have not been warned. |
137. Đây là một phát biểu thẳng thừng. Không có cách nào né tránh các hàm ý của nó. “Đừng cố gắng làm công việc huyền thuật cho đến khi các công thức bảo vệ đã được truyền dạy và cho đến khi chúng được đồng hoá.” Những độc giả của cuốn sách này không thể nói rằng họ đã không được cảnh báo. |
|
138. Below are some hints regarding the formulas but naturally, they are not imparted.. |
138. Dưới đây là một số gợi ý liên quan đến các công thức ấy, nhưng dĩ nhiên, chúng không được truyền dạy.. |
|
These formulas are three in number: [1016] |
Các công thức này có số lượng là ba: [1016] |
|
First, those which blend the two notes, add a third, and thus call into activity the builders of the astral plane, the Agnisuryans, in some one or other of their grades. |
Thứ nhất, những công thức hòa trộn hai âm điệu, thêm vào một âm điệu thứ ba, và nhờ đó gọi vào hoạt động các đấng kiến tạo của cõi cảm dục, các Agnisuryan, ở một cấp bậc nào đó của họ. |
|
139. In this section of text the Agnisuryans are indicated as “builders” and thus, most probably, as evolutionary devas. Earlier in the text Chân sư DK discussed the difference between the dangerous elementals and the devas who are evolutionary builders. Far greater purity of life was needed to contact the latter. |
139. Trong phần văn bản này, các Agnisuryan được chỉ ra là “các đấng kiến tạo” và do đó, rất có thể, là các thiên thần trên đường tiến hoá. Trước đó trong văn bản, Chân sư DK đã bàn đến sự khác biệt giữa các hành khí nguy hiểm và các thiên thần là những đấng kiến tạo tiến hoá. Muốn tiếp xúc với loại sau này cần có sự thanh khiết của đời sống lớn lao hơn nhiều. |
|
140. Below we have the nature of the three notes sounded. |
140. Dưới đây chúng ta có bản chất của ba âm điệu được xướng lên. |
|
These are based on the initiatory sound of the Ego, |
Những âm điệu này dựa trên âm thanh điểm đạo của chân ngã, |
|
141. Given the sequence of notes discussed in the section of text above, this is the first note. |
141. Theo trình tự các âm điệu được bàn đến trong phần văn bản trên, đây là âm điệu thứ nhất. |
|
and distinguish between it and the sound of the note of the builders |
và phân biệt nó với âm thanh của âm điệu của các đấng kiến tạo |
|
142. This is the third note, calling into activity the Agnisuryans. |
142. Đây là âm điệu thứ ba, gọi các Agnisuryan vào hoạt động. |
|
and lives of the tiny thought form already formed. |
và các sự sống của hình tư tưởng nhỏ bé đã được tạo thành. |
|
143. The note emanating from these tiny elemental lives is presumably the second note. |
143. Âm điệu phát ra từ các sự sống hành khí nhỏ bé này hẳn là âm điệu thứ hai. |
|
The formula is chanted on a basis of these three notes, |
Công thức được tụng trên nền tảng của ba âm điệu này, |
|
144. Though exactly how it is chanted we are not told. We see that the voice is involved and an ability to sing or chant on certain pitches. |
144. Tuy nhiên, chúng ta không được cho biết chính xác nó được tụng như thế nào. Chúng ta thấy rằng tiếng nói có liên quan, cùng với khả năng hát hay tụng ở những cao độ nhất định. |
|
variation of tone and note, though not of formula, producing the types of forms. |
sự biến đổi của âm sắc và âm điệu, dù không phải của công thức, tạo ra các loại hình tướng. |
|
145. Probably, in this context, “tone” is not the equivalent of “note”. Tone may have more to do with quality of voice and with the pitch of the note. The “note” is probably one of the notes of the scale. As we know, the same note can be intoned in different octaves. |
145. Có lẽ, trong ngữ cảnh này, “âm sắc” không tương đương với “âm điệu”. Âm sắc có thể liên quan nhiều hơn đến phẩm tính của giọng nói và đến cao độ của âm điệu. “Âm điệu” có lẽ là một trong các nốt của thang âm. Như chúng ta biết, cùng một nốt có thể được ngân lên ở những quãng tám khác nhau. |
|
146. We see there is much to be learned. Such knowledge must be imparted by One who knows. Can the soul itself impart such detail? |
146. Chúng ta thấy còn rất nhiều điều phải học. Tri thức như thế phải được truyền đạt bởi Đấng biết rõ. Chính linh hồn có thể tự truyền đạt những chi tiết như thế chăng? |
|
147. We might think that such a formula would control any relationship developing between these three factors. |
147. Chúng ta có thể nghĩ rằng một công thức như thế sẽ kiểm soát bất kỳ mối liên hệ nào phát triển giữa ba yếu tố này. |
|
148. The formula would remain the same but the notes and their relationship could change. Much would depend upon the vibratory notes of the subplanes upon which magical work was being attempted. |
148. Công thức sẽ vẫn như nhau nhưng các âm điệu và mối liên hệ của chúng có thể thay đổi. Nhiều điều sẽ tùy thuộc vào các âm điệu rung động của những cõi phụ mà trên đó công việc huyền thuật đang được thử thực hiện. |
|
149. Different kinds of forms would result from the use of different notes, but the formula for chanting would remain the same. |
149. Những loại hình tướng khác nhau sẽ là kết quả của việc dùng những âm điệu khác nhau, nhưng công thức để tụng sẽ vẫn không đổi. |
|
Second, those which are of a purely protective nature, and which, through a knowledge of the laws of sound as they are known in connection with water (or the astral plane), place a vacuum between the magician and the waters, as well as between him and his creation. |
Thứ hai, những công thức có bản chất thuần túy bảo vệ, và nhờ đó, qua tri thức về các định luật của âm thanh như chúng được biết trong liên hệ với nước (hay cõi cảm dục), đặt một khoảng chân không ở giữanhà huyền thuật và các làn nước, cũng như giữa y và tạo vật của mình. |
|
150. Perhaps the most important thought to be extracted from the second paragraph is that through a knowledge of sound, protective vacuums can be created. |
150. Có lẽ tư tưởng quan trọng nhất có thể rút ra từ đoạn thứ hai là: nhờ tri thức về âm thanh, có thể tạo ra những khoảng chân không bảo vệ. |
|
151. A vacuum is a protective barrier preventing the elementals of water from reaching and disrupting the magician. |
151. Một khoảng chân không là một hàng rào bảo vệ ngăn các hành khí của nước tiếp cận và làm rối loạn nhà huyền thuật. |
|
152. Why the vacuum between the magician and the thoughtform he is in process of creating? We have read of the need to keep the magician distinct from that which he creates. It is disastrous to the magician for the thoughtform to return and lodge within the aura of the magician or be absorbed by that aura. There it would act as a vampire and obsessing agent. It would seem that the vacuum created is one of the methods to prevent this ‘return to sender’. |
152. Tại sao lại có khoảng chân không giữa nhà huyền thuật và hình tư tưởng mà y đang trong tiến trình tạo ra? Chúng ta đã đọc về nhu cầu phải giữ cho nhà huyền thuật tách biệt với điều mà y tạo ra. Sẽ là tai hại cho nhà huyền thuật nếu hình tư tưởng quay trở lại và trú ngụ trong hào quang của y hoặc bị hào quang ấy hấp thụ. Ở đó nó sẽ hoạt động như một ma cà rồng và một tác nhân ám nhập. Có vẻ như khoảng chân không được tạo ra là một trong những phương pháp để ngăn chặn sự “hoàn trả về người gửi” này. |
|
This formula is based on the sounds connected with air as well, |
Công thức này cũng dựa trên các âm thanh gắn liền với nguyên tố khí, |
|
153. We are learning that there are sounds connected with all the elements. |
153. Chúng ta đang học rằng có những âm thanh gắn liền với mọi nguyên tố. |
|
for it is through placing around himself a protecting shell of air atoms, esoterically understood, that the magician guards himself from the approach of the water builders. |
vì chính nhờ đặt quanh mình một vỏ bảo vệ bằng các nguyên tử khí, được hiểu theo nghĩa huyền bí, mà nhà huyền thuật tự bảo vệ khỏi sự tiếp cận của các đấng kiến tạo nước. |
|
154. This seems to be a definition of what it means to create a vacuum between the magician and the waters. |
154. Điều này dường như là một định nghĩa về ý nghĩa của việc tạo ra một khoảng chân không giữa nhà huyền thuật và các làn nước. |
|
155. Perhaps at this point we should remember that the element of “air” is associated with the buddhic plane. Are buddhic atoms involved in creating this protective shell? We have often been told of the necessity for the astral plane to become responsive to the buddhic plane and of the close interplay between the two planes. |
155. Có lẽ tại điểm này chúng ta nên nhớ rằng nguyên tố “khí” được liên kết với cõi Bồ đề. Có phải các nguyên tử Bồ đề tham gia vào việc tạo ra lớp vỏ bảo vệ này không? Chúng ta thường được bảo rằng cõi cảm dục cần trở nên đáp ứng với cõi Bồ đề và rằng có sự tương tác rất mật thiết giữa hai cõi này. |
|
156. Here again we find the term “builders”—the “water builders”. We have to determine whether Chân sư DK is referencing the elementals of water or the Agnisuryans. |
156. Ở đây một lần nữa chúng ta gặp thuật ngữ “các đấng kiến tạo” — “các đấng kiến tạo nước”. Chúng ta phải xác định liệu Chân sư DK đang nói đến các hành khí của nước hay các Agnisuryan. |
|
157. We know that the magician can be menaced by the elementals of the various elements in which he is working? To what degree is he menaced by the Agnisuryans? |
157. Chúng ta biết rằng nhà huyền thuật có thể bị đe dọa bởi các hành khí của những nguyên tố khác nhau mà y đang làm việc trong đó. Y bị các Agnisuryan đe dọa đến mức nào? |
|
Third, those which, when sounded, produce two results: the sending forth of the perfected creation, so that it may take to itself a physical body, and next, the dispersal of the building forces, now that their work is completed. |
Thứ ba, những công thức mà khi được xướng lên sẽ tạo ra hai kết quả: sự phóng xuất tạo vật đã hoàn thiện, để nó có thể tự nhận lấy một thể xác, và kế đó là sự phân tán các mãnh lực kiến tạo, nay khi công việc của chúng đã hoàn tất. |
|
158. Let us tabulate the results of this third kind of formula: |
158. Hãy lập bảng các kết quả của loại công thức thứ ba này: |
|
a. The sending forth of the perfected creation. It is clear that this creation is etheric in nature. Such an etheric form naturally takes to itself a physical body. |
a. Sự phóng xuất tạo vật đã hoàn thiện. Rõ ràng tạo vật này có bản chất dĩ thái. Một hình tướng dĩ thái như thế tự nhiên sẽ nhận lấy cho mình một thể xác. |
|
b. The dispersal of the building forces. These devas must not be bound once their work is completed. So much in the magical process consists of binding and then releasing. Naturally, there would be both binding and releasing formulas. |
b. Sự phân tán các mãnh lực kiến tạo. Những thiên thần này không được bị trói buộc khi công việc của họ đã hoàn tất. Rất nhiều trong tiến trình huyền thuật bao gồm việc trói buộc rồi giải phóng. Tự nhiên sẽ có cả những công thức trói buộc lẫn giải phóng. |
|
This last set of formulas is of exceeding interest, and were they not so powerful the magician might find himself cumbered with the produce of his thought, and the prey of a vital form, and of certain “devas of the waters” who would never leave him until they had completely drained from him all the “waters of his nature,” absorbing it into their own nature, and producing his astral death. |
Bộ công thức cuối cùng này cực kỳ đáng quan tâm, và nếu chúng không mạnh mẽ đến thế thì nhà huyền thuật có thể thấy mình bị chất chồng bởi sản phẩm của tư tưởng mình, và trở thành mồi của một hình tướng đầy sinh lực, và của một số “thiên thần của các làn nước” sẽ không bao giờ rời y cho đến khi chúng rút cạn hoàn toàn mọi “nước của bản chất y” khỏi y, hấp thụ nó vào bản chất riêng của chúng, và gây ra cái chết cảm dục của y. |
|
159. Here we have a fascinating section. Chân sư DK tells us how fortunate the magician is that the third type of formula is so powerful. |
159. Ở đây chúng ta có một đoạn rất hấp dẫn. Chân sư DK cho chúng ta biết nhà huyền thuật may mắn biết bao vì loại công thức thứ ba mạnh mẽ đến vậy. |
|
160. What does this type of formula prevent? |
160. Loại công thức này ngăn chặn điều gì? |
|
a. Becoming the prey of a vital form—presumably, a vital thought form. This, we know, leads often to obsession. |
a. Trở thành mồi của một hình tướng đầy sinh lực — hẳn là một hình tư tưởng đầy sinh lực. Điều này, như chúng ta biết, thường dẫn đến ám nhập. |
|
b. Becoming the prey of certain “devas of the waters” who would induce his astral death. Would this mean the magician had become completely incapable of sensitive response or of normal desire? Or would it mean the death of the incarnated personality? The link between the mental body and the etheric-physical body would be broken. |
b. Trở thành mồi của một số “thiên thần của các làn nước” có thể gây ra cái chết cảm dục của y. Điều này có nghĩa là nhà huyền thuật trở nên hoàn toàn bất lực trong sự đáp ứng nhạy cảm hay trong dục vọng bình thường chăng? Hay nó có nghĩa là cái chết của phàm ngã đang lâm phàm? Mối liên kết giữa thể trí và thể dĩ thái-hồng trần sẽ bị cắt đứt. |
|
161. Regarding these “devas of the waters”, Chân sư DK is being purposely obscure. Are they elemental forces? If so, why does He use the word “devas”. Are they, then, certain devic forces on the evolutionary path, but still dangerous to the magician if not controlled? One day when we are practical white magicians, a mastery of these technicalities will be ours. |
161. Liên quan đến những “thiên thần của các làn nước” này, Chân sư DK cố ý nói một cách mơ hồ. Chúng có phải là các mãnh lực hành khí không? Nếu vậy, tại sao Ngài lại dùng từ “thiên thần”? Vậy thì chúng có phải là một số mãnh lực thiên thần trên đường tiến hoá, nhưng vẫn nguy hiểm đối với nhà huyền thuật nếu không được kiểm soát? Một ngày kia, khi chúng ta là những nhà huyền thuật trắng thực hành, sự làm chủ các chi tiết kỹ thuật này sẽ thuộc về chúng ta. |
|
162. Subtle forms of interplay are at work here. Our vehicles are composed of subtle substances, and subtle beings will have their inevitable effect upon such substances. It is our ignorance of these matters which makes us at times, foolhardy. |
162. Những hình thức tương tác vi tế đang hoạt động ở đây. Các vận cụ của chúng ta được cấu thành từ những chất liệu vi tế, và các hữu thể vi tế tất sẽ có tác động không thể tránh khỏi lên những chất liệu ấy. Chính sự vô minh của chúng ta về những vấn đề này khiến chúng ta đôi khi trở nên liều lĩnh. |
|
The curious phenomenon would then be seen of the Ego or solar Angel |
Khi ấy sẽ thấy hiện tượng kỳ lạ là chân ngã hay Thái dương Thiên Thần |
|
163. Note here again the equivalence between the term “Ego” and the term “solar Angel”. |
163. Hãy lưu ý ở đây một lần nữa sự tương đương giữa thuật ngữ “chân ngã” và thuật ngữ “Thái dương Thiên Thần”. |
|
being incarnated in the mental sheath, yet separated from the physical body, owing to the occult “drowning” of the magician. |
đang nhập thể trong thể trí, nhưng lại bị tách khỏi thể xác, do sự “chết đuối” huyền bí của nhà huyền thuật. |
|
164. “Drowning” we see, in this instance (different from the normal “drowning” of the aspirant), is much more drastic than merely being overcome by the astral devas and compelled by them. It is as if the astral body is completely destroyed. Naturally, the astral permanent atom would remain. |
164. Trong trường hợp này, như chúng ta thấy, “chết đuối” (khác với sự “chết đuối” bình thường của người chí nguyện) nghiêm trọng hơn nhiều so với việc chỉ bị các thiên thần cảm dục chế ngự và cưỡng bách. Dường như thể cảm dục bị hủy diệt hoàn toàn. Tự nhiên, nguyên tử trường tồn cảm dục vẫn còn lại. |
|
165. This could create an easily ‘obsessable’ physical vehicle if the vehicle endured for long. |
165. Điều này có thể tạo ra một vận cụ hồng trần dễ bị “ám nhập” nếu vận cụ ấy còn tồn tại lâu. |
|
There is nothing left for the Ego to do then but to snap the sutratma [1017] or thread, and sever all connection with the lowest sheath. |
Khi ấy chân ngã không còn gì để làm ngoài việc cắt đứt sutratma [1017] hay sợi dây, và đoạn tuyệt mọi liên hệ với thể thấp nhất. |
|
166. We should note that this option is well within the capacity of the Ego. It can control the death process. |
166. Chúng ta nên lưu ý rằng lựa chọn này hoàn toàn nằm trong khả năng của chân ngã. Nó có thể kiểm soát tiến trình chết. |
|
167. Apparently, without the astral vehicle the lowest sheath is useless to the Ego. All communication between the lower and the higher would be severed. |
167. Rõ ràng, không có thể cảm dục thì thể thấp nhất trở nên vô dụng đối với chân ngã. Mọi sự giao tiếp giữa phần thấp và phần cao sẽ bị cắt đứt. |
|
This lowest sheath then may persist for a short time, according to the strength of the animal life, |
Khi ấy thể thấp nhất này có thể còn tồn tại trong một thời gian ngắn, tùy theo sức mạnh của sự sống thú tính, |
|
168. The physical vehicle, we realize, has a life of its own. There are many more normal cases in which the vegetative life of the physical vehicle persists but “no one is at home”. |
168. Chúng ta nhận ra rằng vận cụ hồng trần có một sự sống riêng của nó. Có nhiều trường hợp bình thường hơn trong đó sự sống thực vật của vận cụ hồng trần vẫn tiếp tục nhưng “không có ai ở nhà”. |
|
but more probably death would immediately ensue.4 Several magicians have perished thus. |
nhưng có lẽ nhiều hơn là cái chết sẽ xảy ra ngay lập tức.4 Một số nhà huyền thuật đã chết theo cách ấy. |
|
169. Master Chân sư DK has access to the records. |
169. Chân sư DK có quyền tiếp cận các hồ sơ. |
|
170. How would such a death appear to the onlooker? As a heart attack? As a stroke? |
170. Một cái chết như thế sẽ hiện ra thế nào đối với người quan sát? Như một cơn đau tim? Như một cơn đột quỵ? |
|
171. Below are some footnotes from The Secret Doctrine telling of what may result following the separation of the Ego from the physical body. We must note carefully—when are we speaking of a temporary separation (if the footnotes deal with this at all) and when of a permanent separation. |
171. Dưới đây là một số cước chú từ Giáo Lý Bí Nhiệm nói về những gì có thể xảy ra sau khi chân ngã tách khỏi thể xác. Chúng ta phải lưu ý cẩn thận — khi nào chúng ta đang nói về một sự tách rời tạm thời (nếu các cước chú có bàn đến điều này) và khi nào là một sự tách rời vĩnh viễn. |
|
Footnote 4: |
Cước chú 4: |
|
The courses open to the Divine Ego after separation are two.—S. D., III, 524. |
Có hai con đường mở ra cho Chân ngã thiêng liêng sau khi tách rời.—S. D., III, 524. |
|
a. It can start a fresh series of incarnations. |
a. Nó có thể bắt đầu một chuỗi lâm phàm mới. |
|
172. We note that a “series” may begin. It may be that such a series would be characterized by a ‘corrective theme’—some trend or pursuit which would not lead the magician into the same fatal predicament again. |
172. Chúng ta lưu ý rằng một “chuỗi” có thể bắt đầu. Có thể một chuỗi như thế sẽ được đặc trưng bởi một “chủ đề hiệu chỉnh” — một xu hướng hay sự theo đuổi nào đó sẽ không dẫn nhà huyền thuật vào cùng hoàn cảnh chí tử ấy lần nữa. |
|
173. To start such a series would be the normal course of action and would not suggest the Ego’s retreat due to the moral turpitude of its personality. |
173. Bắt đầu một chuỗi như thế sẽ là tiến trình hành động bình thường và sẽ không gợi ý sự rút lui của chân ngã do sự bại hoại đạo đức của phàm ngã nó. |
|
174. The separation which preceded this “fresh series” was obviously not permanent. |
174. Sự tách rời đi trước “chuỗi mới” này rõ ràng không phải là vĩnh viễn. |
|
b. It can return to the ‘bosom of the Father’ and be gathered back to the Monad. |
b. Nó có thể trở về “lòng Cha” và được thu hồi về chân thần. |
|
175. Why would this occur? And if it did occur, would it not interrupt the overall evolution of the Ego from individualization to initiation? |
175. Tại sao điều này lại xảy ra? Và nếu nó thực sự xảy ra, chẳng phải nó sẽ làm gián đoạn toàn bộ tiến hoá của chân ngã từ biệt ngã hóa đến điểm đạo sao? |
|
176. However, is Chân sư DK hinting that periodically the Ego is gathered back to the “bosom of the Father”? |
176. Tuy nhiên, có phải Chân sư DK đang gợi ý rằng theo chu kỳ, chân ngã được thu hồi về “lòng Cha” chăng? |
|
177. If this should occur on any periodic basis according to egoic cycles, would it not mean the premature destruction of the causal body? Factors mysterious to us seem to be involved. |
177. Nếu điều này xảy ra trên một cơ sở chu kỳ nào đó theo các chu kỳ chân ngã, chẳng phải nó sẽ có nghĩa là sự hủy diệt non yểu của thể nguyên nhân sao? Dường như có những yếu tố huyền nhiệm mà chúng ta chưa hiểu đang can dự vào đây. |
|
178. Before considering these footnotes, we seemed to have been speaking of a calamity which could befall an unwise magician. Yet, in this context, we seem most likely to be speaking of those who have chosen the left hand path, as a result of which the Ego has given up its association with the evil-tending personality. |
178. Trước khi xem xét các cước chú này, dường như chúng ta đã nói về một tai họa có thể giáng xuống một nhà huyền thuật thiếu khôn ngoan. Tuy nhiên, trong ngữ cảnh này, dường như rất có thể chúng ta đang nói về những kẻ đã chọn tả đạo, kết quả là chân ngã đã từ bỏ sự liên kết của nó với phàm ngã có xu hướng ác. |
|
179. These do not seem to be the same subjects. The appended footnote, then, (at least in point b.) is interesting but not directly explanatory of calamity encountered through the faulty execution of the magical process. |
179. Dường như đây không phải là cùng một đối tượng. Vì vậy, cước chú được thêm vào ấy (ít nhất là ở điểm b.) thì thú vị nhưng không trực tiếp giải thích tai họa gặp phải do việc thực hiện sai lầm tiến trình huyền thuật. |
|
Two courses are open to the lower discarded self.—S. D., III, 525, 527. |
Có hai con đường mở ra cho phàm ngã bị loại bỏ.—S. D., III, 525, 527. |
|
180. Here we are speaking of the second course of action and not of the self which is given the opportunity of a fresh series of incarnations. |
180. Ở đây chúng ta đang nói về tiến trình hành động thứ hai chứ không phải về cái ngã được trao cơ hội cho một chuỗi lâm phàm mới. |
|
a. If with a physical body it becomes a soulless man. In this case there is hope. |
a. Nếu có thể xác, nó trở thành một con người vô hồn. Trong trường hợp này vẫn còn hy vọng. |
|
181. How long can a discarded self survive? How long can the physical body of a discarded self survive? Can a discarded self reincarnate? It would seem not as this would require the soul. Does a discarded self, once death ensures, persist upon the astral plane? This is possible. |
181. Một cái ngã bị loại bỏ có thể tồn tại bao lâu? Thể xác của một cái ngã bị loại bỏ có thể tồn tại bao lâu? Một cái ngã bị loại bỏ có thể tái sinh không? Dường như là kh y, vì điều này đòi hỏi linh hồn. Một cái ngã bị loại bỏ, một khi cái chết xảy ra, có còn tồn tại trên cõi cảm dục không? Điều này là có thể. |
|
182. The instances in this footnote seem to suggest the survival of the personality once the sutratma has been snapped. Or, in the case here discussed, has the sutratma actually been snapped. Perhaps not. Perhaps there is still a sutratma, otherwise the physical body would immediately die and the other vehicles in short order. Perhaps in the case here discussed, the soul has merely turned away for a time. Perhaps discarding does mean the fatal snapping of the sutratma, otherwise how could there be the kind of case discussed above—i.e., “with a physical body”. |
182. Những trường hợp trong cước chú này dường như gợi ý sự tồn tại của phàm ngã sau khi sutratma đã bị cắt đứt. Hoặc, trong trường hợp đang được bàn ở đây, liệu sutratma có thực sự đã bị cắt đứt không? Có lẽ là kh y. Có lẽ vẫn còn một sutratma, nếu không thì thể xác sẽ chết ngay lập tức và các thể khác cũng sẽ theo sau trong thời gian ngắn. Có lẽ trong trường hợp đang được bàn ở đây, linh hồn chỉ mới quay đi trong một thời gian. Có lẽ sự loại bỏ quả thực có nghĩa là sự cắt đứt chí tử của sutratma, nếu không thì làm sao có thể có loại trường hợp được bàn ở trên — tức là, “có thể xác”. |
|
183. The term “discarded self” needs examination. Before taking up the footnote, Chân sư DK was speaking of a discarded physical body, probably followed by a fresh series of incarnations. But when H.P.B. speaks of a “discarded self” she could be speaking of the Ego’s dissociation from the atomic triangle and, thus, its dissociation from the remaining personality. This would produce, then, in the words of the footnote, the “soulless man”. |
183. Thuật ngữ “cái ngã bị loại bỏ” cần được khảo sát. Trước khi nêu cước chú, Chân sư DK đang nói về một thể xác bị loại bỏ, có lẽ tiếp theo là một chuỗi lâm phàm mới. Nhưng khi H.P.B. nói về một “cái ngã bị loại bỏ”, bà có thể đang nói về sự tách rời của chân ngã khỏi tam giác nguyên tử và do đó khỏi phàm ngã còn lại. Khi ấy điều này sẽ tạo ra, theo lời cước chú, “con người vô hồn”. |
|
b. If without a physical body it becomes a spook, or one form of the Dweller on the Threshold. |
b. Nếu không có thể xác, nó trở thành một bóng ma, hay một dạng của Kẻ Chận Ngõ. |
|
184. A “soulless man” has a physical body. A “spook” does not. We still need to solve the problem of the condition of the sutratma in the soulless man. |
184. Một “con người vô hồn” có thể xác. Một “bóng ma” thì kh y. Chúng ta vẫn cần giải quyết vấn đề về tình trạng của sutratma trong con người vô hồn. |
|
185. We see that it is possible for the Ego/Solar Angel either to ‘snap the cord’ or dissociated itself when the lower center of consciousness is focussed upon the astral plane and there is no physical body. |
185. Chúng ta thấy rằng chân ngã/Thái dương Thiên Thần có thể либо “cắt sợi dây” hoặc tự tách rời khi trung tâm tâm thức thấp được tập trung trên cõi cảm dục và không có thể xác. |
|
186. Reviewing, then, two types of disaster seem to have been discussed above: |
186. Vậy, khi xét lại, dường như có hai loại tai họa đã được bàn đến ở trên: |
|
a. The ‘drowning’ of the magician and the subsequent “astral death”, followed by a deliberate snapping of the sutratma by the Ego. This process does not necessarily imply moral wickedness—perhaps only foolishness on the part of the magician. |
a. Sự “chết đuối” của nhà huyền thuật và “cái chết cảm dục” tiếp theo, rồi sau đó là sự cắt đứt sutratma có chủ ý bởi chân ngã. Tiến trình này không nhất thiết hàm ý sự xấu ác về đạo đức — có lẽ chỉ là sự ngu xuẩn từ phía nhà huyền thuật. |
|
b. The discarding by the Ego of the personality (whether focussed in a physical body or upon the astral plane) for reasons other than failed magic. Such reasons usually involve focus on the left hand path and wickedness. In the first place we have only a temporary discarding of the personality, perhaps only for an incarnational period. In the second case, we seem to have a more permanent dissociation, perhaps for many lives, or even for a monadic cycle. |
b. Sự chân ngã loại bỏ phàm ngã (dù được tập trung trong một thể xác hay trên cõi cảm dục) vì những lý do khác với huyền thuật thất bại. Những lý do như thế thường liên quan đến sự tập trung vào tả đạo và sự xấu ác. Trong trường hợp thứ nhất, chúng ta chỉ có sự loại bỏ tạm thời phàm ngã, có lẽ chỉ trong một giai đoạn lâm phàm. Trong trường hợp thứ hai, dường như chúng ta có một sự tách rời bền lâu hơn, có lẽ trong nhiều kiếp sống, hay thậm chí trong một chu kỳ chân thần. |
|
c. That to which the second footnote and its elaborations refer are, therefore, much more serious cases. |
c. Do đó, điều mà cước chú thứ hai và những phần khai triển của nó nói đến là những trường hợp nghiêm trọng hơn nhiều. |
|
d. Perhaps this discarding of the lower self, especially when permanent or of lengthy duration, is the real occult meaning of “excommunication”. |
d. Có lẽ sự loại bỏ phàm ngã này, đặc biệt khi là vĩnh viễn hay kéo dài lâu, chính là ý nghĩa huyền bí thực sự của “vạ tuyệt thông”. |
|
RULE IX. Condensation next ensues. The fire and waters meet, the form swells and grows. Let the magician set his form upon the proper path. |
QUY LUẬT IX. Sự ngưng tụ tiếp theo đó diễn ra. Lửa và nước gặp nhau, hình tướng phồng lên và lớn dần. Hãy để nhà huyền thuật đặt hình tướng của mình trên con đường thích hợp. |
|
187. It is clear that we are in the midst of an alchemical process. |
187. Rõ ràng là chúng ta đang ở giữa một tiến trình luyện kim. |
|
188. In the meeting of fire and water lies much difficulty for the average aspirant. We will see its result in relation to the magical process. |
188. Trong sự gặp gỡ của lửa và nước có rất nhiều khó khăn đối với người chí nguyện trung bình. Chúng ta sẽ thấy kết quả của nó trong liên hệ với tiến trình huyền thuật. |
|
This rule is very briefly summed up in the injunction: Let desire and mind be so pure and so equally apportioned and the created form so justly balanced that it cannot be attracted towards the destructive or “left-hand” path. |
Quy luật này được tóm lược rất ngắn gọn trong lời huấn thị: Hãy để dục vọng và trí tuệ thanh khiết đến thế và được phân phối đồng đều đến thế, và hình tướng được tạo ra cân bằng công chính đến thế, đến nỗi nó không thể bị lôi cuốn về con đường hủy diệt hay “tả đạo”. |
|
189. Here we have one of the shortest synopses. |
189. Ở đây chúng ta có một trong những bản tóm lược ngắn nhất. |
|
190. There is a very important indication—imbalance within the created form may attract it to the left hand path. |
190. Có một chỉ dẫn rất quan trọng — sự mất cân bằng bên trong hình tướng được tạo ra có thể lôi kéo nó về tả đạo. |
|
191. We may also say that imbalance within the thoughtform which is man may attract him to the left hand path. |
191. Chúng ta cũng có thể nói rằng sự mất cân bằng bên trong hình tư tưởng là con người có thể lôi kéo y về tả đạo. |
|
192. As well we see that the left hand path is the “destructive” path. |
192. Chúng ta cũng thấy rằng tả đạo là con đường “hủy diệt”. |
|
RULE X. As the waters bathe the form created, they are absorbed and used. |
QUY LUẬT X. Khi các làn nước tắm gội hình tướng đã được tạo ra, chúng được hấp thụ và sử dụng. |
|
193. This bathing seems a gentle act and not disruptive to the welfare of the thoughtform. |
193. Sự tắm gội này dường như là một hành động nhẹ nhàng chứ không làm xáo trộn phúc lợi của hình tư tưởng. |
|
The form increases in its strength; let the magician thus continue until the work suffices. |
Hình tướng gia tăng sức mạnh; hãy để nhà huyền thuật tiếp tục như thế cho đến khi công việc đầy đủ. |
|
194. We have a slow and balanced process. The factor of balance has been much emphasized in the discussion of magical work upon the astral plane. |
194. Chúng ta có một tiến trình chậm rãi và cân bằng. Yếu tố cân bằng đã được nhấn mạnh rất nhiều trong cuộc bàn luận về công việc huyền thuật trên cõi cảm dục. |
|
195. Upon the astral plane the thoughtform is gradually increasing in strength. |
195. Trên cõi cảm dục, hình tư tưởng đang dần dần gia tăng sức mạnh. |
|
Let the outer builders cease their labors then, and let the inner workers enter on their cycle. |
Hãy để các đấng kiến tạo bên ngoài ngưng lao tác khi ấy, và hãy để các người hoạt động bên trong bước vào chu kỳ của họ. |
|
196. Here is a quotation from A Treatise on White Magic which clarifies the meaning of “the outer builders” |
196. Đây là một trích dẫn từ Luận về Chánh Thuật làm sáng tỏ ý nghĩa của “các đấng kiến tạo bên ngoài” |
|
There is first the group of forces which concerns purely the form side, that are the work of the outer Builders, and which are the predominant factors right up to the stage of the Probationary Path. These are the forces inherent in matter itself; they deal with the body nature…(TWM 281) |
Trước hết có nhóm các mãnh lực chỉ liên quan đến phương diện hình tướng, là công việc của các đấng kiến tạo bên ngoài, và là những yếu tố chi phối chủ yếu cho đến tận giai đoạn của Con Đường Dự Bị. Đây là những mãnh lực vốn có trong chính vật chất; chúng xử lý bản chất thể…(TWM 281) |
|
197. These “outer builders” concern both the physical and etheric forces. |
197. Những “đấng kiến tạo bên ngoài” này liên quan đến cả các mãnh lực hồng trần lẫn dĩ thái. |
|
198. The section immediately following tells us how outer and inner builders are directed: |
198. Phần ngay sau đó cho chúng ta biết các đấng kiến tạo bên ngoài và bên trong được chỉ đạo như thế nào: |
|
Let him withdraw the builders of the outer form, and let the inner builders of dynamic force push it forth into manifestation. Through the eye of the creator are these inner builders brought to functioning, directed action. Through the word of the creator were the outer builders guided. (TWM 279) |
Hãy để y rút các đấng kiến tạo của hình tướng bên ngoài lại, và hãy để các đấng kiến tạo bên trong của mãnh lực năng động đẩy nó ra vào biểu hiện. Chính qua mắt của đấng sáng tạo mà các đấng kiến tạo bên trong này được đưa vào hoạt động, vào hành động có định hướng. Chính qua lời của đấng sáng tạo mà các đấng kiến tạo bên ngoài được hướng dẫn. (TWM 279) |
|
199. There comes a time for every evolving Son of God when he must learn to build from within rather than only labor on the periphery manually moving and arranging the most material building forces. |
199. Đến một lúc đối với mọi Con của Thượng đế đang tiến hoá, khi y phải học cách kiến tạo từ bên trong thay vì chỉ lao tác ở chu vi, bằng tay di chuyển và sắp đặt những mãnh lực kiến tạo vật chất nhất. |
|
One of the fundamental concepts which is grasped by all magical workers, is that both will and desire are force emanations. |
Một trong những khái niệm nền tảng được mọi người hoạt động huyền thuật nắm bắt là cả ý chí lẫn dục vọng đều là những phát xạ của mãnh lực. |
|
200. As occultists we are workers within fields of energy. We have to realize that energy goes forth from energy centers. Will and desire are different types of emanations and their impact will be different. The first is impressive. The second is attractive. |
200. Là những nhà huyền bí học, chúng ta là những người hoạt động trong các trường năng lượng. Chúng ta phải nhận ra rằng năng lượng phát ra từ các trung tâm năng lượng. Ý chí và dục vọng là những loại phát xạ khác nhau và tác động của chúng sẽ khác nhau. Loại thứ nhất có tính áp đặt. Loại thứ hai có tính hấp dẫn. |
|
They differ in quality and vibration, but are essentially currents of energy, one forming an initial vortex or centre of activity, being centrifugal, and the other being centripetal, and the main factor in the accretion of matter into a form around the central vortex. |
Chúng khác nhau về phẩm tính và rung động, nhưng về bản chất đều là những dòng năng lượng, một dòng tạo thành một xoáy ban đầu hay trung tâm hoạt động, có tínhly tâm, và dòng kia có tính hướng tâm, là yếu tố chính trong sự bồi tụ vật chất thành một hình tướng quanh xoáy trung tâm. |
|
201. Chân sư DK is speaking of centrifugal and centripetal force. In this context, we can think of desire as related to Mars and centrifugal. Will emphasizes the center and gathers to the center. |
201. Chân sư DK đang nói về lực ly tâm và lực hướng tâm. Trong ngữ cảnh này, chúng ta có thể nghĩ đến dục vọng như liên hệ với Sao Hỏa và tính ly tâm. Ý chí nhấn mạnh trung tâm và thu gom về trung tâm. |
|
202. Desire rushes outwards. Will “holds the center”. |
202. Dục vọng lao ra ngoài. Ý chí thì “giữ vững trung tâm”. |
|
203. However we find ourselves interpreting these statements, we find will emphasizing the center and desire, the periphery. |
203. Dù chúng ta diễn giải những phát biểu này theo cách nào, chúng ta vẫn thấy ý chí nhấn mạnh trung tâm còn dục vọng nhấn mạnh chu vi. |
|
204. The will is involved in a number of motions. When a line of energy leaves the center and imposes itself upon the surroundings, will can be seen as the propelling factor. Also, when the center is emphasized and ‘held’, sustaining coherently all related circumstantial factors, again it is the will. |
204. Ý chí tham dự vào một số chuyển động. Khi một đường năng lượng rời trung tâm và áp đặt chính nó lên môi trường xung quanh, ý chí có thể được thấy là yếu tố thúc đẩy. Đồng thời, khi trung tâm được nhấn mạnh và được “giữ vững”, duy trì một cách mạch lạc mọi yếu tố hoàn cảnh liên hệ, thì một lần nữa đó lại là ý chí. |
|
This can be seen demonstrating in an interesting way in the case of the egoic lotus, where we have the will aspect forming the “jewel in the lotus,” or the inner [1018] centre of electrical energy, and the desire or love aspect forming the egoic lotus itself, or the form which hides the centre. |
Điều này có thể được thấy biểu lộ một cách thú vị trong trường hợp của Hoa Sen Chân Ngã, nơi chúng ta có phương diện ý chí tạo thành “ngọc trong hoa sen”, hay trung tâm bên trong [1018] của năng lượng điện, và phương diện dục vọng hay bác ái tạo thành chính Hoa Sen Chân Ngã, hay hình tướng che giấu trung tâm. |
|
205. Desire/love is always structurally peripheral–external to the will. |
205. Dục vọng/bác ái luôn luôn có tính chu vi về mặt cấu trúc—ở bên ngoài ý chí. |
|
206. We have a planetary contrast here between Vulcan and Mars—two planets often in contention in the life of the disciple. Vulcan represents the will and the Jewel in the Lotus and Mars represents the factor of desire and all that is peripheral to will. |
206. Ở đây chúng ta có một sự tương phản hành tinh giữa Vulcan và Sao Hỏa—hai hành tinh thường xung khắc trong đời sống của người đệ tử. Vulcan tượng trưng cho ý chí và Viên Ngọc trong Hoa Sen, còn Sao Hỏa tượng trưng cho yếu tố dục vọng và mọi điều thuộc về chu vi đối với ý chí. |
|
207. As well they emphasize the difference between centralization (Vulcan) and outgoing (Mars). |
207. Đồng thời, chúng cũng nhấn mạnh sự khác biệt giữa sự tập trung vào trung tâm (Vulcan) và sự hướng ngoại (Sao Hỏa). |
|
The analogy in all form building holds good for gods, men and atoms. The solar system is (from the higher cosmic planes), seen as a vast blue lotus, and so on down the scale; |
Sự tương đồng trong mọi công cuộc xây dựng hình tướng đều đúng cho các vị thần, những người nam và nữ, và các nguyên tử. Hệ mặt trời được nhìn thấy (từ các cõi vũ trụ cao hơn) như là một hoa sen xanh bao la, và cứ thế đi xuống theo thang bậc; |
|
208. We are presented with a beautiful and powerful image. We note that this perception requires a vantage point on higher cosmic planes. How high? From the cosmic mental plane? The solar system is seen as a chakra—a heart chakra, presumably? From what vantage point are the human chakras clearly seen? Is a correspondence to the “Eye of the Soul” involved? |
208. Chúng ta được trình bày một hình ảnh đẹp đẽ và đầy mãnh lực. Chúng ta lưu ý rằng sự tri nhận này đòi hỏi một điểm quan sát trên các cõi vũ trụ cao hơn. Cao đến mức nào? Từ cõi trí vũ trụ chăng? Hệ mặt trời được nhìn như một luân xa—có lẽ là một luân xa tim? Từ điểm quan sát nào mà các luân xa của con người được thấy rõ ràng? Có phải một sự tương ứng với “Con Mắt của Linh Hồn” có liên quan ở đây không? |
|
209. Are we also to think that every being, grand or minute, can be perceived, from a certain vantage point, as a “lotus”? The implication seems to be here. |
209. Chúng ta cũng nên nghĩ rằng mọi hữu thể, dù vĩ đại hay cực vi, đều có thể được tri nhận, từ một điểm quan sát nào đó, như một “hoa sen” chăng? Hàm ý ở đây dường như là như vậy. |
|
even the tiny atom of substance can be so considered. |
ngay cả nguyên tử nhỏ bé của chất liệu cũng có thể được xem như thế. |
|
210. These visions will open up to properly trained psychics. When it comes to observation of the “tiny atom of substance”, perhaps Master H., Who seeks to relate science and psychism, will play an important role. |
210. Những linh ảnh này sẽ mở ra cho các nhà thông linh được huấn luyện đúng đắn. Khi nói đến việc quan sát “nguyên tử nhỏ bé của chất liệu”, có lẽ Chân sư H., Đấng tìm cách liên kết khoa học và thông linh, sẽ giữ một vai trò quan trọng. |
|
The distinction between these various lotuses exists in the number and arrangement of the petals. The solar system is literally a twelve-petalled lotus, each petal being formed of forty-nine lesser petals. |
Sự phân biệt giữa các hoa sen khác nhau này nằm ở số lượng và sự sắp xếp của các cánh hoa. Hệ mặt trời theo nghĩa đen là một hoa sen mười hai cánh, mỗi cánh được tạo thành từ bốn mươi chín cánh nhỏ hơn. |
|
211. Here we have a very important statement. |
211. Ở đây chúng ta có một phát biểu rất quan trọng. |
|
212. If all beings can be conceived, from a certain vantage point, as lotuses, the number of petals in each lotus and their arrangement will be of the greatest interest when determining the nature and function of the being. This matter obviously touches on the deeper secrets of occultism. |
212. Nếu mọi hữu thể đều có thể được quan niệm, từ một điểm quan sát nào đó, như những hoa sen, thì số lượng cánh hoa trong mỗi hoa sen và sự sắp xếp của chúng sẽ có mối quan tâm lớn lao nhất khi xác định bản chất và chức năng của hữu thể ấy. Vấn đề này hiển nhiên chạm đến những bí mật sâu xa hơn của huyền bí học. |
|
213. We note the use of the word “literally” telling us that we are not here dealing with symbolism but with fact. |
213. Chúng ta lưu ý việc dùng từ “theo nghĩa đen”, cho chúng ta biết rằng ở đây chúng ta không bàn đến biểu tượng mà là sự kiện. |
|
214. From what is here said we may imagine that there are or will be twelve major planets (one connected with each sign of the zodiac), each one of them considered as a major petal. Each of these planets or petals will be understood as forty-nine-fold. The forty nine lesser petals would indicate the globes within planetary schemes. |
214. Từ những gì được nói ở đây, chúng ta có thể hình dung rằng có hoặc sẽ có mười hai hành tinh chính (mỗi hành tinh liên kết với một dấu hiệu hoàng đạo), và mỗi hành tinh trong số đó được xem như một cánh hoa chính. Mỗi hành tinh hay cánh hoa này sẽ được hiểu là có tính bốn mươi chín phân. Bốn mươi chín cánh nhỏ hơn sẽ chỉ các bầu hành tinh bên trong các hệ hành tinh. |
|
215. One would wonder (when considering the forty-nine), whether seven petals, more prominent than any of the forty-nine and representing planetary chains would not also be seen. The chain is a significant structure in the planetary scheme and one can hardly emphasize the globe-level without emphasizing the chain-level which is superordinate to the globe level. |
215. Người ta sẽ tự hỏi (khi xét đến con số bốn mươi chín), liệu có phải cũng sẽ thấy bảy cánh hoa nổi bật hơn bất kỳ cánh nào trong số bốn mươi chín cánh ấy và tượng trưng cho các Dãy hành tinh hay kh y. Dãy là một cấu trúc quan trọng trong hệ hành tinh, và người ta khó có thể nhấn mạnh cấp độ bầu hành tinh mà không nhấn mạnh cấp độ Dãy, vốn ở bậc cao hơn cấp độ bầu hành tinh. |
|
The planetary lotuses differ in each scheme, |
Các hoa sen hành tinh khác nhau trong mỗi hệ hành tinh, |
|
216. Much will depend upon the chakric function of each planet within the solar system. Would we be justified in relating the number of petals in a human chakra to the number of petals in a solar systemic chakra—i.e., in a planet? |
216. Nhiều điều sẽ tùy thuộc vào chức năng luân xa của mỗi hành tinh trong hệ mặt trời. Liệu chúng ta có chính đáng khi liên hệ số cánh hoa trong một luân xa của con người với số cánh hoa trong một luân xa của hệ mặt trời—tức là, trong một hành tinh—hay không? |
|
and one of the secrets of initiation is revealed when the number of the petals of |
và một trong những bí mật của điểm đạo được tiết lộ khi số cánh hoa của |
|
a. Our earth planet, |
a. hành tinh Trái Đất của chúng ta, |
|
b. Our planetary polar opposite, |
b. hành tinh đối cực phân cực của hành tinh chúng ta, |
|
217. This is probably Venus. |
217. Đây có lẽ là Sao Kim. |
|
c. Our complementary or equilibrising planet, |
c. hành tinh bổ sung hay cân bằng của chúng ta, |
|
218. This is probably Mars. |
218. Đây có lẽ là Sao Hỏa. |
|
is committed to the initiate. |
được trao cho điểm đạo đồ. |
|
219. If we consider Earth as a base of the spine center, Mars as related to the sacral and Venus as the solar plexus center of our Solar Logos, and if we further relate to these planetary centers the numbers of petals in the human energy system, we have 4 + 6 + 10 = 20. The human base of the spine center has four petals; the human sacral center has six petals; the human solar plexus has ten petals. |
219. Nếu chúng ta xem Trái Đất như một trung tâm đáy cột sống, Sao Hỏa như liên hệ với trung tâm xương cùng, và Sao Kim như trung tâm tùng thái dương của Thái dương Thượng đế của chúng ta, và nếu chúng ta còn liên hệ với các trung tâm hành tinh này số cánh hoa trong hệ thống năng lượng con người, thì chúng ta có 4 + 6 + 10 = 20. Trung tâm đáy cột sống của con người có bốn cánh hoa; trung tâm xương cùng của con người có sáu cánh hoa; tùng thái dương của con người có mười cánh hoa. |
|
220. It is interesting that the numbers associated with the base of the spine center and the sacral center sum to the number associated with the solar plexus center. |
220. Điều đáng chú ý là các con số gắn với trung tâm đáy cột sống và trung tâm xương cùng cộng lại thành con số gắn với trung tâm tùng thái dương. |
|
221. While we so not know whether it would be legitimate to reckon using the numbers of petals in the human chakras when dealing with planetary chakras, the total number of petals (taking Earth, Mars and Venus as chakras) would be most significant. Even more fundamentally, the number of petals associated with each of these planets (considering them as chakras within the system of the Solar Logos) would be of great importance. |
221. Dù chúng ta không biết liệu có hợp pháp hay không khi tính bằng số cánh hoa trong các luân xa con người khi bàn đến các luân xa hành tinh, tổng số cánh hoa (nếu lấy Trái Đất, Sao Hỏa và Sao Kim làm các luân xa) sẽ có ý nghĩa hết sức quan trọng. Còn căn bản hơn nữa, số cánh hoa gắn với mỗi hành tinh trong số này (khi xem chúng như các luân xa trong hệ thống của Thái dương Thượng đế) sẽ có tầm quan trọng lớn lao. |
|
222. At the moment we can only attempt to understand the function of these planets within the solar system, and speculate upon the number of petals based on that function. |
222. Hiện nay chúng ta chỉ có thể cố gắng thấu hiểu chức năng của các hành tinh này trong hệ mặt trời, và suy đoán về số cánh hoa dựa trên chức năng ấy. |
|
223. If Venus represents a heart rather than a solar plexus, the number would more likely be twelve than ten and the total would be the master number 22. Six is a number always associated with Mars (“Mars was called the six-faced planet.” SD I. 399.), and the number four is easily associated with Earth (the fourth major planet from the Sun, counting Vulcan) and a planet the symbol of which includes and emphasizes the cross. |
223. Nếu Sao Kim tượng trưng cho một trung tâm tim thay vì tùng thái dương, thì con số có lẽ là mười hai hơn là mười, và tổng số sẽ là con số chân sư 22. Sáu là một con số luôn gắn với Sao Hỏa (“Sao Hỏa được gọi là hành tinh sáu mặt.” SD I. 399.), và con số bốn dễ dàng gắn với Trái Đất (hành tinh chính thứ tư tính từ Mặt Trời, kể cả Vulcan) và với một hành tinh mà biểu tượng của nó bao hàm và nhấn mạnh thập giá. |
|
Armed with this knowledge, he can then work out certain formulas of magic which enable him to create in the three spheres. |
Được trang bị tri thức này, khi đó y có thể khai triển một số công thức huyền thuật giúp y sáng tạo trong ba khối cầu. |
|
224. Here we have an amazing thought. Knowledge of planetary function and of petal numbers and petal arrangement will equip the magician with creative powers within and upon those planets to which the numbers and arrangement pertain. |
224. Ở đây chúng ta có một tư tưởng đáng kinh ngạc. Tri thức về chức năng hành tinh, về số cánh hoa và sự sắp xếp cánh hoa sẽ trang bị cho nhà huyền thuật những quyền năng sáng tạo bên trong và trên các hành tinh mà các con số và sự sắp xếp ấy liên quan đến. |
|
225. We can begin with the Earth and relate magical, creative possibilities on our planet to the factors under discussion. |
225. Chúng ta có thể bắt đầu với Trái Đất và liên hệ các khả năng huyền thuật, sáng tạo trên hành tinh của chúng ta với những yếu tố đang được bàn đến. |
|
226. When dealing with magic upon the Earth, the function of the base of the spine center has certainly to be considered, but the Earth can also be understood in relation to the sacral center and the spleen. |
226. Khi bàn đến huyền thuật trên Trái Đất, chức năng của trung tâm đáy cột sống chắc chắn phải được xét đến, nhưng Trái Đất cũng có thể được hiểu trong liên hệ với trung tâm xương cùng và luân xa lá lách. |
|
227. What seems to be suggested is that a knowledge of number, and of rhythm based on number, will be very important in the magical creative process. |
227. Điều dường như được gợi ý là tri thức về con số, và về nhịp điệu dựa trên con số, sẽ rất quan trọng trong tiến trình sáng tạo huyền thuật. |
|
228. Each chakra will as well have it note and its color and these will be important factors in the devising or discovery of magical formulas. Each chakra will also have a rhythm of pulsation and this will be important to know when using the energy of that chakra for purposes of magic. |
228. Mỗi luân xa cũng sẽ có âm điệu và màu sắc của nó, và đây sẽ là những yếu tố quan trọng trong việc thiết lập hay khám phá các công thức huyền thuật. Mỗi luân xa cũng sẽ có một nhịp điệu rung động, và điều này sẽ quan trọng cần biết khi sử dụng năng lượng của luân xa ấy cho các mục đích huyền thuật. |
|
It is the same basic concept which governs thought form building, and which enables a magician of white magic to produce objective phenomena on the physical plane. |
Đó cũng là cùng một khái niệm căn bản chi phối việc xây dựng Hình tư tưởng, và giúp một nhà huyền thuật của Chánh Thuật tạo ra các hiện tượng khách quan trên cõi hồng trần. |
|
229. There is surely a hint here. Can we penetrate it? That is another matter. |
229. Chắc chắn ở đây có một gợi ý. Chúng ta có thể thâm nhập vào đó chăng? Đó lại là chuyện khác. |
|
230. Certain mantric rhythms, notes and colors will probably be involved in working with the creative process on certain planes. Upon each plane, the use of a different chakra may be necessitated. The nature of the chakra will give hints concerning the mantrams, rhythms, colors and notes to be used. The matter is complex but will be rendered into scientific technique as the centuries unfold. |
230. Một số nhịp điệu mantram, âm điệu và màu sắc có lẽ sẽ liên quan đến việc làm việc với tiến trình sáng tạo trên một số cõi nhất định. Trên mỗi cõi, có thể cần phải sử dụng một luân xa khác nhau. Bản chất của luân xa sẽ cho những gợi ý liên quan đến các mantram, nhịp điệu, màu sắc và âm điệu cần được sử dụng. Vấn đề này phức tạp nhưng sẽ được chuyển thành kỹ thuật khoa học khi các thế kỷ dần mở ra. |
|
He works with the two types of energy, will and desire, and their equilibrising is what leads to the balancing of the pairs of opposites, and the subsequent release of energy-substance in the formation of the physical plane structure. |
Ông làm việc với hai loại năng lượng, ý chí và dục vọng, và sự cân bằng của chúng là điều dẫn đến sự quân bình của các cặp đốilập, và sự giải phóng tiếp theo của năng lượng-chất liệu trong sự hình thành cấu trúc cõi hồng trần. |
|
231. Chân sư DK is emphasizing the importance of will and desire as fundamental energies in the magical process. |
231. Chân sư DK đang nhấn mạnh tầm quan trọng của ý chí và dục vọng như những năng lượng căn bản trong tiến trình huyền thuật. |
|
232. If we consider the three planets discussed above, perhaps the Earth (with its base of the spine associations) can be considered a source of will; Mars always relates to desire. Is Venus, then, the equilibrizing, balancing force? Its relation to the equilibrizing sign, Libra, makes this a reasonable thought. |
232. Nếu chúng ta xét ba hành tinh được bàn đến ở trên, có lẽ Trái Đất (với các liên hệ đến đáy cột sống) có thể được xem là một nguồn ý chí; Sao Hỏa luôn liên hệ với dục vọng. Vậy thì Sao Kim có phải là mãnh lực cân bằng, quân bình không? Mối liên hệ của nó với dấu hiệu cân bằng, Libra, khiến đây là một ý nghĩ hợp lý. |
|
233. When we think of the egoic lotus, and of Vulcan/Mars, and of will/desire, perhaps the creation for which the Ego is responsible (i.e., the incarnated human being) requires an equilibrizing between the forces of the Jewel in the Lotus (Vulcan) and the forces of the petals (related to desire). |
233. Khi chúng ta nghĩ đến Hoa Sen Chân Ngã, và đến Vulcan/Sao Hỏa, và đến ý chí/dục vọng, có lẽ sự sáng tạo mà Chân ngã chịu trách nhiệm (tức là con người đang lâm phàm) đòi hỏi một sự cân bằng giữa các mãnh lực của Viên Ngọc trong Hoa Sen (Vulcan) và các mãnh lực của các cánh hoa (liên hệ với dục vọng). |
|
234. What is interesting here is the idea that the appearance of physical plane structure is dependent upon the equilibrization of forces. |
234. Điều thú vị ở đây là ý tưởng cho rằng sự xuất hiện của cấu trúc cõi hồng trần tùy thuộc vào sự cân bằng hóa của các mãnh lực. |
|
235. There is also suggested a kind of ‘etheric release’ (the “release of energy substance”) which, arising from the equilibrization of will and desire, results in the production of dense physical form. |
235. Ở đây cũng gợi ý một loại “giải phóng dĩ thái” (sự “giải phóng năng lượng chất liệu”), phát sinh từ sự cân bằng hóa của ý chí và dục vọng, và dẫn đến việc tạo ra hình tướng hồng trần đậm đặc. |
|
The magician has to know the following facts: |
Nhà huyền thuật phải biết các sự kiện sau đây: |
|
The formulas for the two aspects of logoic energy, will and desire. |
Các công thức cho hai phương diện của năng lượng logoic, ý chí và dục vọng. |
|
236. This is the magician as he works with solar and planetary energy. The term “logoic” refers to the Solar Logos. |
236. Đây là nhà huyền thuật khi y làm việc với năng lượng thái dương và hành tinh. Thuật ngữ “logoic” ở đây chỉ Thái dương Thượng đế. |
|
237. Chân sư DK seems to hint that the magician must understand these energies and be able to wield them if he is to work effectively upon a certain planet. |
237. Chân sư DK dường như gợi ý rằng nhà huyền thuật phải thấu hiểu các năng lượng này và có thể vận dụng chúng nếu y muốn làm việc hữu hiệu trên một hành tinh nhất định. |
|
238. Each of these aspects (both will and desire) interestingly, has a formula associated with it. |
238. Điều thú vị là mỗi phương diện này (cả ý chí lẫn dục vọng) đều có một công thức gắn liền với nó. |
|
This is literally apprehension of the note and formula of the Brahma or substance aspect, and the note and formula of the Vishnu, or building aspect. |
Đây theo nghĩa đen là sự lĩnh hội âm điệu và công thức của phương diện Brahma hay chất liệu, và âm điệu và công thức của Vishnu, hay phương diện kiến tạo. |
|
239. This may come as a surprise. One can understand desire as related to Brahma but the real source of will—the Shiva aspect—is not included. Vishnu takes His place. |
239. Điều này có thể gây ngạc nhiên. Người ta có thể hiểu dục vọng là liên hệ với Brahma, nhưng nguồn thực sự của ý chí—phương diện Shiva—lại không được bao gồm. Vishnu thay vào vị trí đó. |
|
240. It seems that the magician is using the constructive aspect of will as it expresses through the Vishnu aspect. The energy of Vulcan, though strongly upon the first ray, also has its constructive aspect and can be related to the Heart of the Sun, over which Vishnu rules. |
240. Dường như nhà huyền thuật đang sử dụng phương diện kiến tạo của ý chí khi nó biểu lộ qua phương diện Vishnu. Năng lượng của Vulcan, tuy mạnh mẽ trên cung một, cũng có phương diện kiến tạo của nó và có thể được liên hệ với Trái Tim của Mặt Trời, mà Vishnu cai quản. |
|
2. Vulcan.—The one who reveals that which is deeply hidden and brings it up into the light. Esoterically—the heart of the Sun. (EA 393) |
2. Vulcan.—Đấng tiết lộ điều được ẩn giấu sâu xa và đưa nó ra ánh sáng. Về mặt huyền bí—trái tim của Mặt Trời. (EA 393) |
|
One he ascertains because he has mastered matter; the other is revealed to him when he has achieved group consciousness. [1019] |
Một công thức y xác định được bởi vì y đã làm chủ vật chất; công thức kia được mặc khải cho y khi y đã đạt được tâm thức nhóm. [1019] |
|
241. The formula for the energy of desire comes to the magician through the mastery of matter, i.e., of the third aspect. |
241. Công thức cho năng lượng của dục vọng đến với nhà huyền thuật qua sự làm chủ vật chất, tức là phương diện thứ ba. |
|
242. The formula for the energy of will (as will is expressed in this process) comes to the magician through soul consciousness which is here called “group consciousness”. We note that we have related Vulcan to “group consciousness” and to the soul. |
242. Công thức cho năng lượng của ý chí (khi ý chí được biểu lộ trong tiến trình này) đến với nhà huyền thuật qua tâm thức linh hồn, ở đây được gọi là “tâm thức nhóm”. Chúng ta lưu ý rằng chúng ta đã liên hệ Vulcan với “tâm thức nhóm” và với linh hồn. |
|
243. It is apparent that every formula is closely associated with a “note”. This is a hint. If the formula is a form of words or sounds, the note on which it is chanted or intoned will be required if the formula is to be effective. |
243. Rõ ràng là mọi công thức đều gắn chặt với một “âm điệu”. Đây là một gợi ý. Nếu công thức là một dạng ngôn từ hay âm thanh, thì âm điệu mà trên đó nó được tụng hay xướng lên sẽ là điều cần thiết nếu công thức muốn có hiệu lực. |
|
244. Of course, there are formulas which are not used through the throat center but through the ajna center through the process of visualization. We have seen this in relation to some of the formulas presented in DINA II. |
244. Dĩ nhiên, có những công thức không được sử dụng qua trung tâm cổ họng mà qua trung tâm ajna bằng tiến trình sự hình dung. Chúng ta đã thấy điều này liên hệ với một số công thức được trình bày trong DINA II. |
|
245. We see that these formulas are not lightly conferred and come into the possession of the magician only which certain types of masteries or achievements are his. |
245. Chúng ta thấy rằng các công thức này không được ban truyền một cách dễ dãi và chỉ đi vào quyền sở hữu của nhà huyền thuật khi một số loại làm chủ hay thành tựu nhất định đã là của y. |
|
246. Note—we are dealing with ascertainment (a more mental process) and revelation (which the soul confers). |
246. Lưu ý—chúng ta đang bàn đến sự xác định được (một tiến trình thiên về trí tuệ hơn) và sự mặc khải (điều mà linh hồn ban cho). |
|
The formula for the particular type of energy substance which he is seeking to employ. |
Công thức cho loại năng lượng-chất liệu đặc thù mà y đang tìm cách sử dụng. |
|
247. This appears to be a different type of formula than the formula for will or for desire. Rather, it depends upon the type of energy-substance in which the magician is working and which he seeks to utilize. |
247. Đây dường như là một loại công thức khác với công thức cho ý chí hay cho dục vọng. Đúng hơn, nó tùy thuộc vào loại năng lượng-chất liệu mà nhà huyền thuật đang làm việc trong đó và mà y tìm cách sử dụng. |
|
This will have relation to that particular petal in the solar lotus from which the desired force emanates. |
Điều này sẽ có liên hệ với cánh hoa đặc thù trong hoa sen thái dương mà từ đó mãnh lực mong muốn phát xạ ra. |
|
248. The magician is becoming a selective manipulator of emanating forces. |
248. Nhà huyền thuật đang trở thành một người điều khiển có chọn lọc các mãnh lực phát xạ. |
|
249. Chân sư DK uses the interesting term “solar lotus”. Is He speaking of the lotus of the Solar Logos and of a particular planet (solar chakra) which is the source of that type of force? He does not seem to be speaking of the egoic lotus of the Solar Logos, but of course there would be a connection between this vast egoic lotus and the blue “solar lotus” of twelve petals. |
249. Chân sư DK dùng thuật ngữ thú vị “hoa sen thái dương”. Ngài có đang nói về hoa sen của Thái dương Thượng đế và về một hành tinh đặc thù (luân xa thái dương) là nguồn của loại mãnh lực ấy không? Dường như Ngài không nói về Hoa Sen Chân Ngã của Thái dương Thượng đế, nhưng dĩ nhiên sẽ có một mối liên hệ giữa hoa sen chân ngã bao la này và “hoa sen thái dương” xanh mười hai cánh. |
|
250. If so, there will be a solar and planetary correspondence within the human egoic lotus and the greater forces can make their way through corresponding petals within the human egoic lotus. |
250. Nếu vậy, sẽ có một sự tương ứng thái dương và hành tinh bên trong Hoa Sen Chân Ngã của con người, và các mãnh lực lớn hơn có thể đi qua các cánh hoa tương ứng bên trong Hoa Sen Chân Ngã của con người. |
|
251. We are learning that the magician must be solar-systemically attuned—understanding the solar and planetary sources from which certain energies emanate. He must have the ability to appropriate these forces. This appropriation is accomplished through correct formulas. |
251. Chúng ta đang học rằng nhà huyền thuật phải được chỉnh hợp theo hệ mặt trời—thấu hiểu các nguồn thái dương và hành tinh mà từ đó một số năng lượng phát xạ ra. Y phải có khả năng chiếm dụng các mãnh lực này. Sự chiếm dụng này được thực hiện qua các công thức đúng đắn. |
|
252. We can see how important a knowledge of astrology and rayology would be to the white magician. |
252. Chúng ta có thể thấy tri thức về chiêm tinh học và khoa học về cung sẽ quan trọng biết bao đối với nhà huyền thuật trắng. |
|
The formula for the particular type of energy which is transmitted to him via one or other of the three circles of petals in his own egoic lotus. |
Công thức cho loại năng lượng đặc thù được truyền đến y qua một hay một vòng nào khác trong ba vòng cánh hoa của hoa sen chân ngã của chính y. |
|
253. Yes, as stated above. These types of energy will be correlated with the types of solar and planetary forces he is accessing. |
253. Đúng vậy, như đã nói ở trên. Các loại năng lượng này sẽ được tương quan với các loại mãnh lực thái dương và hành tinh mà y đang tiếp cận. |
|
254. When we wish to access various higher energies, visualizations involving the three tiers of petals in our egoic lotus and even certain petals within the tiers are recommended—once we know what we are doing. |
254. Khi chúng ta muốn tiếp cận các năng lượng cao hơn khác nhau, những sự hình dung liên quan đến ba tầng cánh hoa trong Hoa Sen Chân Ngã của chúng ta và thậm chí một số cánh hoa nhất định trong các tầng ấy được khuyến nghị—một khi chúng ta biết mình đang làm gì. |
|
The formula for the particular petal in a circle of petals with which he may choose to work. |
Công thức cho cánh hoa đặc thù trong một vòng cánh hoa mà y có thể chọn để làm việc cùng. |
|
255. We have been told of a number of formulas which a man must use in accessing the energies necessary to render the magical process effective: |
255. Chúng ta đã được cho biết về một số công thức mà một người phải sử dụng khi tiếp cận các năng lượng cần thiết để làm cho tiến trình huyền thuật có hiệu quả: |
|
a. The formula related to a particular petal in the solar lotus from which the force to be used emanates. This suggests a formula for a particular type of planetary forces, for the major planets are petals within the solar lotus. (Parenthetically, we must learn to discriminate between the egoic lotus of the Solar Logos and the blue, twelve-petalled lotus mentioned above. Though related, they are not the same.) |
a. Công thức liên hệ với một cánh hoa đặc thù trong hoa sen thái dương mà từ đó mãnh lực được sử dụng phát xạ ra. Điều này gợi ý một công thức cho một loại mãnh lực hành tinh đặc thù, vì các hành tinh chính là những cánh hoa trong hoa sen thái dương. (Nói thêm, chúng ta phải học cách phân biện giữa Hoa Sen Chân Ngã của Thái dương Thượng đế và hoa sen xanh mười hai cánh được nhắc đến ở trên. Dù có liên hệ, chúng không phải là một.) |
|
b. The formula which emanates from one or other of the three tiers of the human egoic lotus. |
b. Công thức phát xạ từ một hay một vòng nào khác trong ba tầng của Hoa Sen Chân Ngã con người. |
|
c. The formula which emanates from a particular petal within any tier of the human egoic lotus. |
c. Công thức phát xạ từ một cánh hoa đặc thù trong bất kỳ tầng nào của Hoa Sen Chân Ngã con người. |
|
256. Formulas are used for the correct access of energy. There will be different formulas for every source of energy and each formula will be related to a different quality and intensity of energy. |
256. Các công thức được dùng để tiếp cận năng lượng một cách đúng đắn. Sẽ có những công thức khác nhau cho mọi nguồn năng lượng, và mỗi công thức sẽ liên hệ với một phẩm tính và cường độ năng lượng khác nhau. |
|
257. We can see how much we have to learn about scientific magic. Our knowledge of these factors is in its infancy. |
257. Chúng ta có thể thấy mình còn phải học biết bao về huyền thuật khoa học. Tri thức của chúng ta về các yếu tố này vẫn còn ở thời kỳ ấu trĩ. |
|
All these concern primarily the will aspect, as far as the thought form to be produced is concerned, for the magician is the will, or purpose, or spirit behind the objective phenomenon which he is in process of producing. |
Tất cả những điều này chủ yếu liên quan đến phương diện ý chí, xét theo Hình tư tưởng sẽ được tạo ra, vì nhà huyền thuật là ý chí, hay mục đích, hay tinh thần đứng sau hiện tượng khách quan mà y đang trong tiến trình tạo ra. |
|
258. Previously we spoke of will-related formulas and desire-related formulas. |
258. Trước đây chúng ta đã nói đến các công thức liên hệ với ý chí và các công thức liên hệ với dục vọng. |
|
259. The types of formulas noted above (related to the solar lotus and to the human egoic lotus) concern, therefore, the Vishnu aspect, which Chân sư DK relates to the will. |
259. Vì vậy, các loại công thức được lưu ý ở trên (liên hệ với hoa sen thái dương và với Hoa Sen Chân Ngã con người) liên quan đến phương diện Vishnu, mà Chân sư DK liên hệ với ý chí. |
|
260. The white magician is soul-infused and a representative of the solar forces, and, thus, of the second aspect of divinity. |
260. Nhà huyền thuật trắng là phàm ngã được linh hồn thấm nhuần và là một đại diện của các mãnh lực thái dương, và do đó, của phương diện thứ hai của thiên tính. |
|
261. With regard to the thoughtform to be produce, however, the magician represents the directing will aspect. |
261. Tuy nhiên, đối với Hình tư tưởng sẽ được tạo ra, nhà huyền thuật tượng trưng cho phương diện ý chí chỉ đạo. |
|
262. Thus far, then, we have been enumerating formulas related to the will aspect. |
262. Như vậy, cho đến nay, chúng ta đã liệt kê các công thức liên hệ với phương diện ý chí. |
|
263. Now, it seems, we will be discussing formulas related to the factor of desire. |
263. Giờ đây, dường như chúng ta sẽ bàn đến các công thức liên hệ với yếu tố dục vọng. |
|
The formula which sweeps into activity (and thus produces a form), those Agnisuryans who are energised by any particular aspect of solar force. |
Công thức làm quét vào hoạt động (và do đó tạo ra một hình tướng), những Agnisuryan được tiếp năng lượng bởi một phương diện đặc thù nào đó của mãnh lực thái dương. |
|
264. We are still dealing with the astral plane. |
264. Chúng ta vẫn đang bàn đến cõi cảm dục. |
|
265. Chân sư DK now discusses formulas related to the activity aspect—the Brahma aspect. |
265. Chân sư DK giờ đây bàn đến các công thức liên hệ với phương diện hoạt động—phương diện Brahma. |
|
266. There is a definite line of connection between the forces of the Agnisuryans and solar forces. This relationship occurs along the “soft line”—the 2—4—6 line. |
266. Có một đường liên kết rõ rệt giữa các mãnh lực của các Agnisuryan và các mãnh lực thái dương. Mối liên hệ này xảy ra dọc theo “đường mềm”—đường 2—4—6. |
|
267. Each type of Agnisuryan, we are leaning, is responsive to a particular type of “solar” force. |
267. Mỗi loại Agnisuryan, như chúng ta đang học, đều đáp ứng với một loại mãnh lực “thái dương” đặc thù. |
|
268. Microcosmically, the various types of Agnisuryans in our astral body are responsive to different types of forces from our egoic lotus—i.e., microcosmic solar forces. |
268. Ở cấp vi mô, các loại Agnisuryan khác nhau trong thể cảm dục của chúng ta đáp ứng với các loại mãnh lực khác nhau từ Hoa Sen Chân Ngã của chúng ta—tức là các mãnh lực thái dương vi mô. |
|
269. Less is said about the formula which sweeps the Agnisuryans into activity. |
269. Ít điều được nói hơn về công thức quét các Agnisuryan vào hoạt động. |
|
Where the two forces [the force of will and the force of desire] are brought into contact, the form is produced, or the third energy centre appears or manifests: |
Nơi hai mãnh lực [mãnh lực của ý chí và mãnh lực của dục vọng] được đưa vào tiếpxúc, hình tướng được tạo ra, hay trung tâm năng lượng thứ ba xuất hiện hoặc biểu lộ: |
|
270. The will force corresponds to the Father; the desire force (in this instance) to the Mother; and the resultant thoughtform to the Son. |
270. Mãnh lực ý chí tương ứng với Cha; mãnh lực dục vọng (trong trường hợp này) tương ứng với Mẹ; và Hình tư tưởng kết quả tương ứng với Con. |
|
a. The energy of the will aspect. |
a. Năng lượng của phương diện ý chí. |
|
b. The energy of the desire or love aspect. |
b. Năng lượng của phương diện dục vọng hay bác ái. |
|
c. The energy of the consequent thought form. |
c. Năng lượng của Hình tư tưởng hệ quả. |
|
271. In this particular creative process, however, the unmodified energy of Shiva is not to be seen. Perhaps we could say that for the time being it manifests through the Vishnu aspect. |
271. Tuy nhiên, trong tiến trình sáng tạo đặc thù này, năng lượng không biến đổi của Shiva không được thấy. Có lẽ chúng ta có thể nói rằng trong lúc này nó biểu lộ qua phương diện Vishnu. |
|
There is no contradiction here to the occult teaching that Father and Mother, or Spirit and Matter, when brought into contact, produce the Son. |
Ở đây không có mâu thuẫn nào với giáo huấn huyền bí rằng Cha và Mẹ, hay Tinh thần và Vật chất, khi được đưa vào tiếp xúc, sẽ tạo ra Con. |
|
272. Chân sư DK knows that we, working with our understanding of the usual correspondences, will pause and wonder at the apparent rearrangement of aspects. Desire is usually not associated with Mother. |
272. Chân sư DK biết rằng chúng ta, khi làm việc với sự thấu hiểu của mình về các tương ứng thông thường, sẽ dừng lại và tự hỏi về sự sắp xếp lại các phương diện có vẻ như thế. Dục vọng thường không được liên hệ với Mẹ. |
|
273. The section of text immediately above is foundational to all occult understanding. |
273. Đoạn văn ngay bên trên là nền tảng cho mọi sự thấu hiểu huyền bí. |
|
The difficulty which students have to surmount consists in the true interpretation of the three terms: Mother—Matter—Moisture (or the waters). |
Khó khăn mà các đạo sinh phải vượt qua nằm ở sự giải thích đúng đắn ba thuật ngữ: Mẹ—Vật chất—Ẩm tính (hay các nước). |
|
274. Here the alchemical aspect is introduced. |
274. Ở đây phương diện thuật luyện kim được đưa vào. |
|
275. When the term “Mother” is expanded to mean “Moisture”, we can understand the link between desire (found upon the astral plane, the plane of “water”) and the Mother aspect. |
275. Khi thuật ngữ “Mẹ” được mở rộng để có nghĩa là “Ẩm tính”, chúng ta có thể hiểu mối liên kết giữa dục vọng (được tìm thấy trên cõi cảm dục, cõi của “nước”) và phương diện Mẹ. |
|
In creation, the three vibratory spheres: |
Trong sáng tạo, ba khối cầu rung động: |
|
1. The dense physical Mother…… Matter, |
1. Mẹ hồng trần đậm đặc…… Vật chất, |
|
2. The etheric…………….. Matter……. Holy Spirit, |
2. Dĩ thái…………….. Vật chất……. Chúa Thánh Thần, |
|
3. The astral………………. Moisture… Water, |
3. Cảm dục………………. Ẩm tính… Nước, |
|
work as a unit, and in the occult teaching, during the earlier stages of creation, must not be separated or distinguished apart. |
hoạt động như một đơn vị, và trong giáo huấn huyền bí, trong các giai đoạn đầu của sáng tạo, không được tách rời hay phân biệt riêng ra. |
|
276. Here is yet another set of important correspondences. We see that, in Chân sư DK’s understanding, matter is etheric. |
276. Đây lại là một bộ tương ứng quan trọng khác. Chúng ta thấy rằng, trong sự thấu hiểu của Chân sư DK, vật chất là dĩ thái. |
|
277. Yet “Mother” and “Matter” have elsewhere, in different sets of correspondences, been considered equivalent and “Water” has also been considered as “Matter”. |
277. Tuy nhiên, “Mẹ” và “Vật chất” ở nơi khác, trong những bộ tương ứng khác, đã được xem là tương đương, và “Nước” cũng đã được xem là “Vật chất”. |
|
278. We have been given a kind of lower Trinity which must not be separated. Indeed there is often to be seen an equivalence between Mother, Matter and Moisture. |
278. Chúng ta đã được trao cho một loại Tam Vị thấp không được tách rời. Thật vậy, thường có thể thấy một sự tương đương giữa Mẹ, Vật chất và Ẩm tính. |
|
279. The excerpt below establishes the equivalence between “water” and “matter”. |
279. Đoạn trích dưới đây xác lập sự tương đương giữa “nước” và “vật chất”. |
|
As we well know, water stands for matter, and the substances of the astral plane which are now under consideration are of prime importance in all form-building. According to the substance used and the nature of the Builders who respond to the note of the form in mental matter, will the purpose be accomplished. (TCF 1005) |
Như chúng ta đều biết rõ, nước tượng trưng cho vật chất, và các chất liệu của cõi cảm dục hiện đang được xem xét có tầm quan trọng hàng đầu trong mọi công cuộc xây dựng hình tướng. Tùy theo chất liệu được sử dụng và bản chất của các đấng kiến tạo đáp ứng với âm điệu của hình tướng trong vật chất trí tuệ, mà mục đích sẽ được hoàn thành. (TCF 1005) |
|
On the path of involution, if the subject may be approached from a different angle, and thus [1020] somewhat clarify, distinctions are made, and on the path of evolution, or of return, they are, as we well know, surmounted; |
Trên con đường giáng hạ tiến hoá, nếu chủ đề này có thể được tiếp cận từ một góc độ khác, và nhờ đó [1020] làm sáng tỏ phần nào, những sự phân biệt được tạo ra, và trên con đường tiến hoá, hay Con Đường Trở Về, như chúng ta đều biết rõ, chúng được vượt qua; |
|
280. This simple sentence summarizes all outgoing and incoming. |
280. Câu đơn giản này tóm lược toàn bộ tiến trình đi ra và quay về. |
|
281. To diversify is the way of involution. To re-unite is the way of evolution. |
281. Đa dạng hoá là con đường của giáng hạ tiến hoá. Tái hợp nhất là con đường của tiến hoá. |
|
282. This statement touches on Chân sư DK’s earlier statement that the three in this Trinity—Mother, Matter and Moisture—work as a unit and must not be separated. |
282. Phát biểu này chạm đến nhận định trước đó của Chân sư DK rằng bộ ba trong Tam Vị này—Mẹ, Vật chất và Ẩm tính—hoạt động như một đơn vị và không được tách rời. |
|
on the middle point of equilibrium, as on our globe, for instance, confusion ensues in the mind of the student owing to the occult fact that the various formulas are being employed simultaneously, |
tại điểm ở giữa của sự quân bình, như chẳng hạn trên bầu hành tinh của chúng ta, sự lẫn lộn nảy sinh trong trí tuệ của đạo sinh do sự kiện huyền bí rằng các công thức khác nhau đang được sử dụng đồng thời, |
|
283. Presumably, both will formulas and desire formulas. |
283. Có lẽ là cả các công thức của ý chí lẫn các công thức của dục vọng. |
|
284. On our planet, the forces if involution and evolution are somewhat balanced. |
284. Trên hành tinh của chúng ta, các lực của giáng hạ tiến hoá và tiến hoá phần nào ở thế quân bình. |
|
285. Who, we may ask, is applying these formulas? Most men can only apply them unconsciously if at all. |
285. Chúng ta có thể hỏi, ai là người đang áp dụng các công thức này? Phần lớn nhân loại chỉ có thể áp dụng chúng một cách vô thức, nếu quả thật có áp dụng. |
|
286. Chân sư DK is telling us that on our planet, we have reached “the middle point of equilibrium”. |
286. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng trên hành tinh của chúng ta, chúng ta đã đạt đến “điểm ở giữa của sự quân bình”. |
|
the thought-forms are at all stages of construction, and the ensuing chaos is terrible. |
các hình tư tưởng hiện ở trong mọi giai đoạn kiến tạo, và tình trạng hỗn loạn phát sinh thật khủng khiếp. |
|
287. Chân sư DK is a Thinker Who is not given to exaggeration. |
287. Chân sư DK là một Đấng Tư Tưởng không có khuynh hướng cường điệu. |
|
288. On our planet we are passing through a stage strongly characterized by the fourth ray with its “confused [and confusing] combat”. |
288. Trên hành tinh của chúng ta, chúng ta đang đi qua một giai đoạn mang đậm đặc tính của cung bốn với “cuộc chiến hỗn loạn [và gây hỗn loạn]” của nó. |
|
289. We see that before magic can be safely and sanely practiced, confusion in the mind of the practitioner must be brought to an end. |
289. Chúng ta thấy rằng trước khi huyền thuật có thể được thực hành một cách an toàn và lành mạnh, sự lẫn lộn trong trí tuệ của người thực hành phải được chấm dứt. |
|
The rule [Rule X] which we are commenting upon may be interpreted as stating that in the magical work, the energy of the waters becomes paramount, and desire for the form and the fulfilment of its objective increases. |
Quy luật [Rule X] mà chúng ta đang bình giải có thể được diễn giải như nói rằng trong công việc huyền thuật, năng lượng của nước trở nên tối quan trọng, và dục vọng đối với hình tướng cùng sự hoàn thành mục tiêu của nó gia tăng. |
|
290. Certainly this is true of the stage of the creative process under discussion. |
290. Chắc chắn điều này đúng với giai đoạn của tiến trình sáng tạo đang được bàn đến. |
|
291. The thoughtform will not see the light of day unless the desire for it to manifest is sufficient. Many good ideas are born but do not manifest for just this reason. The creator has insufficient desire to manifest his idea. |
291. Hình tư tưởng sẽ không thấy ánh sáng ban ngày trừ phi dục vọng để nó biểu hiện là đủ mạnh. Nhiều ý tưởng tốt được sinh ra nhưng không biểu hiện chỉ vì lý do này. Đấng sáng tạo có dục vọng không đủ để biểu hiện ý tưởng của mình. |
|
This takes place after the will energy has formed the central nucleus by being brought into contact with the desire force. |
Điều này diễn ra sau khi năng lượng ý chí đã hình thành hạt nhân trung tâm bằng cách được đưa vào tiếp xúc với lực dục vọng. |
|
292. We cannot dissociate will from centralization. |
292. Chúng ta không thể tách rời ý chí khỏi sự tập trung hoá. |
|
293. We might as well be speaking of the formation of the egoic lotus. The jewel or nucleus relates to the will force. The tiers of petals are related to love or desire force. Love and desire are, of course, closely related. |
293. Chúng ta cũng có thể đang nói về sự hình thành của Hoa Sen Chân Ngã. Viên ngọc hay hạt nhân liên hệ với lực ý chí. Các tầng cánh hoa liên hệ với lực bác ái hay dục vọng. Dĩ nhiên, bác ái và dục vọng có liên hệ mật thiết với nhau. |
|
294. Are we speaking of the central nucleus of the thoughtform to be manifested? If so, why is the formation of this nucleus dependent on contact with desire force? It would seem that the nucleus was present once the idea from the Solar Angel had been apprehended and once a thoughtform on the lower mental plane had been constructed around that idea. Does not the nucleus pre-exist contact with the “desire force”. |
294. Có phải chúng ta đang nói về hạt nhân trung tâm của hình tư tưởng sẽ được biểu hiện không? Nếu vậy, tại sao sự hình thành hạt nhân này lại phụ thuộc vào sự tiếp xúc với lực dục vọng? Có vẻ như hạt nhân đã hiện diện một khi ý tưởng từ Thái dương Thiên Thần đã được nắm bắt và một hình tư tưởng trên cõi hạ trí đã được kiến tạo quanh ý tưởng đó. Chẳng phải hạt nhân đã hiện hữu trước sự tiếp xúc với “lực dục vọng” sao. |
|
295. Of course, what is the central nucleus? When considering the formation of the egoic lotus, both atmic and buddhic forces unite to form the Jewel in the Lotus (atmic) and the three synthesizing petals (buddhic). Can buddhic forces be related to the quality of desire? We must remember that Agnisuryans (usually considered devas of desire) are definitely found upon the buddhic plane. |
295. Dĩ nhiên, điều gì là hạt nhân trung tâm? Khi xét đến sự hình thành của Hoa Sen Chân Ngã, cả các lực atma lẫn Bồ đề hợp nhất để tạo thành Viên Ngọc trong Hoa Sen (atma) và ba cánh hoa tổng hợp (Bồ đề). Liệu các lực Bồ đề có thể liên hệ với phẩm tính của dục vọng không? Chúng ta phải nhớ rằng các Agnisuryan (thường được xem là các thiên thần của dục vọng) chắc chắn hiện diện trên cõi Bồ đề. |
|
296. Nevertheless, we have to accept the sentence just as Chân sư DK presents it and ponder its meaning. |
296. Tuy nhiên, chúng ta phải chấp nhận câu này đúng như Chân sư DK trình bày và suy ngẫm về ý nghĩa của nó. |
|
The magician, through desire (or strong motive), increases the vitality of the form until it is so powerful and intense in its own separated life that it is ready to go forth on its mission upon the physical plane. |
Nhà huyền thuật, thông qua dục vọng (hay động cơ mạnh mẽ), làm tăng sinh lực của hình tướng cho đến khi nó mạnh mẽ và mãnh liệt đến mức trong sự sống biệt lập của chính nó, nó sẵn sàng đi ra thi hành sứ mệnh của mình trên cõi hồng trần. |
|
297. This is very straightforward. |
297. Điều này rất trực tiếp và rõ ràng. |
|
298. We see that, in this sense, vitalization is produced upon the astral plane. We are not speaking of etheric vitality, but of the induction of a vibrant tendency towards manifestation. |
298. Chúng ta thấy rằng, theo nghĩa này, sự tiếp sinh lực được tạo ra trên cõi cảm dục. Chúng ta không nói về sinh lực dĩ thái, mà nói về việc khơi dẫn một khuynh hướng rung động hướng tới biểu hiện. |
|
299. The thoughtform must achieve a certain degree of astral vitality before it can be viable upon the physical plane. |
299. Hình tư tưởng phải đạt được một mức độ sinh lực cảm dục nhất định trước khi nó có thể khả thi trên cõi hồng trần. |
|
The building devas who have been impelled to construct the form out of the myriads of elemental lives available, |
Các thiên thần kiến tạo đã được thúc đẩy để kiến tạo hình tướng từ vô số sự sống hành khí sẵn có, |
|
300. This is clear. Both types of water beings are involved—water devas (Agnisuryans) and water elementals. |
300. Điều này rõ ràng. Cả hai loại hữu thể nước đều tham dự—các thiên thần nước (Agnisuryan) và các hành khí nước. |
|
301. Sometimes it is unclear whether Chân sư DK is speaking of devas or elementals, but in this instance, it is clear. |
301. Đôi khi không rõ Chân sư DK đang nói về thiên thần hay hành khí, nhưng trong trường hợp này thì rõ ràng. |
|
302. We note that the “building devas” have been “impelled”, which is not the same as “compelled”. We could say with justification that the elementals are compelled. |
302. Chúng ta lưu ý rằng các “thiên thần kiến tạo” đã được “thúc đẩy”, điều này không giống như “bị cưỡng bách”. Chúng ta có thể nói một cách chính đáng rằng các hành khí thì bị cưỡng bách. |
|
303. To be impelled is to be stimulated into activity, to be urged along, to be given an irresistible impulse to act. To be compelled is to be forced. The blind, lower lives (i.e., the elementals) are forced. |
303. Được thúc đẩy là được kích thích vào hoạt động, được thôi thúc tiến lên, được ban cho một xung lực không thể cưỡng lại để hành động. Bị cưỡng bách là bị ép buộc. Các sự sống thấp mù quáng (tức các hành khí) bị ép buộc. |
|
have completed their work, and now cease from constructing; |
đã hoàn tất công việc của mình, và giờ đây ngừng việc kiến tạo; |
|
304. It is the “building devas” who have completed their work. The passive elementals have been built into a completed from |
304. Chính các “thiên thần kiến tạo” đã hoàn tất công việc của mình. Các hành khí thụ động đã được xây dựng thành một hình tướng hoàn chỉnh. |
|
this particular type of energy no longer drives the lesser lives in any specific direction, |
loại năng lượng đặc thù này không còn thúc đẩy các sự sống nhỏ bé theo bất kỳ hướng chuyên biệt nào nữa, |
|
305. We are speaking of the type of astral energy used in the constructive process. |
305. Chúng ta đang nói về loại năng lượng cảm dục được dùng trong tiến trình kiến tạo. |
|
and the final cycle of work upon the astral plane is entered upon. |
và chu kỳ công việc cuối cùng trên cõi cảm dục được bắt đầu. |
|
306. On every level there comes a termination of the construction process. This occurs when sufficiency is reached. The astrally-enhanced thoughtform is now vibrant enough to make its way onto the next lower plane. |
306. Trên mọi cấp độ đều có lúc tiến trình kiến tạo chấm dứt. Điều này xảy ra khi đạt đến mức đầy đủ. Hình tư tưởng được tăng cường bằng cảm dục giờ đây đã đủ rung động để tự mở đường xuống cõi thấp kế tiếp. |
|
This is summed up in the next rule. |
Điều này được tóm lược trong quy luật kế tiếp. |
|
RULE XI. Three things the worker with the law must now accomplish. First, ascertain the formula which will confine the lives within the ensphering wall; |
QUY LUẬT XI. Người hoạt động với định luật giờ đây phải hoàn thành ba điều. Trước hết, xác định công thức sẽ giam giữ các sự sống bên trong bức tường bao bọc hình cầu; |
|
307. Martian energy is always seeking to break through. Neptunian energy (also associated with the astral plane) is useless in the attempt to maintain ring-pass-nots. |
307. Năng lượng Sao Hỏa luôn tìm cách phá vỡ để xuyên qua. Năng lượng Sao Hải Vương (cũng liên hệ với cõi cảm dục) vô dụng trong nỗ lực duy trì các vòng-giới-hạn. |
|
308. We note that the true magician is the “worker with the law”. If the worker does not work with and under the law, he cannot be a white magician. |
308. Chúng ta lưu ý rằng nhà huyền thuật chân chính là “người hoạt động với định luật”. Nếu người hoạt động không làm việc cùng với và dưới định luật, y không thể là một nhà huyền thuật chánh đạo. |
|
next, pronounce the words which will tell them what to do and where to carry that which has been made; |
kế đó, phát âm những lời sẽ bảo cho chúng biết phải làm gì và mang điều đã được tạo ra đến đâu; |
|
309. The magician does not only think the words, but pronounces them This involves the throat center and a physical act. |
309. Nhà huyền thuật không chỉ suy nghĩ những lời ấy, mà còn phát âm chúng. Điều này liên quan đến trung tâm cổ họng và một hành động hồng trần. |
|
and finally, to utter forth the mystic phrase which will save him from their work. |
và sau cùng, thốt ra cụm từ thần bí sẽ cứu y khỏi công việc của chúng. |
|
310. The phrase is “mystic” which means that it is arcane in its nature. |
310. Cụm từ ấy là “thần bí”, nghĩa là nó có bản chất huyền nhiệm. |
|
311. We are told clearly that danger is ever present. |
311. Chúng ta được nói rõ rằng hiểm nguy luôn hiện diện. |
|
The embodied idea has now form and shape upon the astral plane; but all is as yet in a state of flux, |
Ý tưởng đã nhập thể giờ đây có hình tướng và hình dạng trên cõi cảm dục; nhưng mọi sự vẫn còn ở trong trạng thái lưu động, |
|
312. Instability characterizes the state of the form. An unstable form is unready for further descent. It would not maintain its integrity. It would disintegrate. |
312. Tính bất ổn đặc trưng cho trạng thái của hình tướng. Một hình tướng bất ổn chưa sẵn sàng cho sự giáng xuống thêm nữa. Nó sẽ không giữ được tính toàn vẹn của mình. Nó sẽ tan rã. |
|
and the lives are only held in place through the fixed attention [1021] of the magician, working through the greater builders. |
và các sự sống chỉ được giữ tại chỗ nhờ sự chú ý cố định [1021] của nhà huyền thuật, hoạt động thông qua các đấng đại kiến tạo. |
|
313. Again there are two types of lives: |
313. Một lần nữa có hai loại sự sống: |
|
a. Those that are held in form |
a. Những sự sống được giữ trong hình tướng |
|
b. Those who are the “greater builders”. “Greater than what?” we might ask. The term “greater builders” is applied in so many contexts. In this case, they are certainly greater than the confined elemental lives. They are evolutionary devas, and, though unconscious, are not blind, elemental lives. |
b. Những vị là “các đấng đại kiến tạo”. “Lớn hơn cái gì?” chúng ta có thể hỏi. Thuật ngữ “đấng đại kiến tạo” được dùng trong rất nhiều ngữ cảnh. Trong trường hợp này, chắc chắn các vị lớn hơn các sự sống hành khí bị giam giữ. Các vị là những thiên thần thăng thượng tiến hoá, và tuy vô thức, nhưng không phải là những sự sống hành khí mù quáng. |
|
314. We see that the willful “fixed attention” of the magician must be relieved. He cannot keep his mind on his creation forever. It must achieve some degree of independent life. |
314. Chúng ta thấy rằng “sự chú ý cố định” đầy ý chí của nhà huyền thuật phải được giảm nhẹ. Y không thể giữ trí tuệ mình mãi mãi trên sáng tạo của mình. Nó phải đạt được một mức độ sự sống độc lập nào đó. |
|
315. Further, we note that the magician works through the greater builders, directing and impelling them, though not in the full sense compelling them. |
315. Hơn nữa, chúng ta lưu ý rằng nhà huyền thuật làm việc thông qua các đấng đại kiến tạo, chỉ đạo và thúc đẩy các vị ấy, dù không theo nghĩa trọn vẹn là cưỡng bách các vị ấy. |
|
316. It is through these greater builders that the magician controls the elemental lives which, in this context, should be called “lesser builders”. |
316. Chính thông qua các đấng đại kiến tạo này mà nhà huyền thuật kiểm soát các sự sống hành khí, trong ngữ cảnh này nên được gọi là “các vị tiểu kiến tạo”. |
|
317. We should bear in mind that those called “greater builders” in this context would be called “lesser builders” in other contexts. |
317. Chúng ta nên ghi nhớ rằng những vị được gọi là “đấng đại kiến tạo” trong ngữ cảnh này sẽ được gọi là “vị tiểu kiến tạo” trong những ngữ cảnh khác. |
|
He must, through knowledge of certain magical phrases, make the work more permanent and independent and fix the place of the vitalising elements within the form, and give them an impetus that will result in more settled concretion. |
Ông phải, thông qua tri thức về một số cụm từ huyền thuật nhất định, làm cho công việc trở nên bền vững và độc lập hơn và ấn định vị trí của các yếu tố tiếp sinh lực bên trong hình tướng, và ban cho chúng một xung lực sẽ dẫn đến sự cô đọng ổn định hơn. |
|
318. Yes, the thoughtform must achieve greater permanence and independence. A creator cannot be tied to his creation. It must not forever demand his attention or he will be bound and constricted by that thoughtform. |
318. Đúng vậy, hình tư tưởng phải đạt được tính bền vững và tính độc lập lớn hơn. Một đấng sáng tạo không thể bị trói buộc vào sáng tạo của mình. Nó không được mãi mãi đòi hỏi sự chú ý của y, nếu không y sẽ bị ràng buộc và hạn chế bởi hình tư tưởng ấy. |
|
319. Let us tabulate what the magician must do at this point: |
319. Chúng ta hãy liệt kê điều nhà huyền thuật phải làm ở điểm này: |
|
a. He must make the thoughtform more permanent and more independent. |
a. Y phải làm cho hình tư tưởng bền vững hơn và độc lập hơn. |
|
b. He must “fix the place of the vitalising elements within the form”. What these elements may be Chân sư DK does not discuss, but they have to be permanently associated with the form. This is fixation. If he had called the “vitalizing elements” by the name “vitalized elements or elementals” understanding would come more easily. |
b. Y phải “ấn định vị trí của các yếu tố tiếp sinh lực bên trong hình tướng”. Chân sư DK không bàn đến các yếu tố này có thể là gì, nhưng chúng phải được gắn kết thường trực với hình tướng. Điều này là sự cố định. Nếu Ngài gọi các “yếu tố tiếp sinh lực” bằng tên “các yếu tố hay hành khí đã được tiếp sinh lực” thì sự thấu hiểu sẽ đến dễ dàng hơn. |
|
c. He must impel these vitalizing elements towards more permanent concretion. The concretion thus far achieved is tangible but insufficient. |
c. Y phải thúc đẩy các yếu tố tiếp sinh lực này hướng tới sự cô đọng bền vững hơn. Sự cô đọng đạt được cho đến nay là hữu hình nhưng chưa đủ. |
|
Having accomplished that, he becomes, if it might so be expressed, an agent of Karma, and sends forth the dual thought form (clothed in mental and astral matter), to fulfil its mission, whatever that may be. |
Sau khi hoàn thành điều đó, y trở thành, nếu có thể diễn đạt như vậy, một tác nhân của nghiệp quả, và phóng ra hình tư tưởng nhị phân (được khoác trong vật chất trí tuệ và cảm dục), để hoàn thành sứ mệnh của nó, dù sứ mệnh ấy là gì đi nữa. |
|
320. Why an “agent of Karma”? May we say that he has created a form which will affect the environment and thus produced harmony or disharmony? That which he has created will either accord with the Plan or not. If it does not, it will attract to itself the ‘Karma of adjustment’. |
320. Tại sao lại là một “tác nhân của nghiệp quả”? Chúng ta có thể nói rằng y đã tạo ra một hình tướng sẽ tác động đến môi trường và do đó tạo ra hài hoà hay bất hoà chăng? Điều y đã tạo ra hoặc sẽ phù hợp với Thiên Cơ hoặc kh y. Nếu kh y, nó sẽ tự thu hút về mình “nghiệp quả điều chỉnh”. |
|
321. The word “karma” is based on “karman”—to act. If we do not act, no karma is produced. If we act when identified with the greater Life, then the karma produced is the karma of the greater Life, and our participation in it is as one identified with that greater Life. We could call this “planetary Karma”, or the “karma of humanity” depending on our level of identification. |
321. Từ “karma” dựa trên “karman”—nghĩa là hành động. Nếu chúng ta không hành động, không có nghiệp quả nào được tạo ra. Nếu chúng ta hành động khi đồng hoá với Sự sống Vĩ Đại hơn, thì nghiệp quả được tạo ra là nghiệp quả của Sự sống Vĩ Đại hơn ấy, và sự tham dự của chúng ta vào đó là như một kẻ đã đồng hoá với Sự sống Vĩ Đại hơn ấy. Chúng ta có thể gọi đây là “nghiệp quả hành tinh”, hay “nghiệp quả của nhân loại” tùy theo cấp độ đồng hoá của chúng ta. |
|
322. The term “mission” is important as it suggests the impelling force of the sixth ray acquired upon the astral plane. |
322. Thuật ngữ “sứ mệnh” rất quan trọng vì nó gợi ý mãnh lực thúc đẩy của cung sáu có được trên cõi cảm dục. |
|
Finally, he has to take steps to protect himself from the attractive forces of his own nature, which might eventuate in his holding the thought form so closely within the radius of his own influence that it would be rendered useless, its own inherent energy neutralised, and its purpose negated. |
Sau cùng, y phải thực hiện các bước để tự bảo vệ mình khỏi các lực hấp dẫn của chính bản chất mình, những lực có thể dẫn đến việc y giữ hình tư tưởng quá chặt trong bán kính ảnh hưởng của chính mình đến nỗi nó trở nên vô dụng, năng lượng cố hữu của chính nó bị trung hoà, và mục đích của nó bị phủ nhận. |
|
323. This is surely interesting. There is something within the magician which may not wish to release the prepared thoughtform. There are attractive forces with the astral body which desire to withhold that which has been created. |
323. Điều này quả thật thú vị. Có điều gì đó bên trong nhà huyền thuật có thể không muốn phóng thích hình tư tưởng đã được chuẩn bị. Có những lực hấp dẫn trong thể cảm dục muốn giữ lại điều đã được tạo ra. |
|
324. Through this final set of formulas, the magician seeks to protect the creative process from futility. |
324. Thông qua bộ công thức cuối cùng này, nhà huyền thuật tìm cách bảo vệ tiến trình sáng tạo khỏi sự vô ích. |
|
325. There are many analogies to the human birth process and early child rearing, and to the mother, for instance, who does not want to let go. |
325. Có nhiều sự tương đồng với tiến trình sinh nở của con người và việc nuôi dưỡng trẻ nhỏ thời kỳ đầu, và chẳng hạn với người mẹ không muốn buông ra. |
|
They might also produce such a powerful, attractive force that he would draw the form so closely to himself that he would be forced to absorb it. |
Chúng cũng có thể tạo ra một lực hấp dẫn mạnh mẽ đến nỗi y sẽ kéo hình tướng lại quá gần mình đến mức y buộc phải hấp thụ nó. |
|
326. This is like having to ‘eat’ one’s own creation. |
326. Điều này giống như phải “ăn” chính sáng tạo của mình. |
|
This can be harmlessly accomplished by the man who knows how, but results, nevertheless, in a waste of energy which is forbidden under the Law of Economy. |
Điều này có thể được thực hiện một cách vô hại bởi người biết cách, nhưng tuy vậy vẫn dẫn đến một sự lãng phí năng lượng bị cấm theo Định luật Tiết Kiệm. |
|
327. It is interesting that laws cannot be violated—ultimately. The Law of Karma enforces adherence to law in general. |
327. Điều thú vị là các định luật rốt cuộc không thể bị vi phạm. Định luật Nghiệp quả cưỡng hành sự tuân thủ đối với định luật nói chung. |
|
328. It is wasteful to create and then fail to utilize that which has been created. |
328. Thật lãng phí khi sáng tạo rồi lại không sử dụng điều đã được tạo ra. |
|
329. Chân sư DK seems to suggest that absorption may also be a harmful process. |
329. Chân sư DK dường như gợi ý rằng sự hấp thụ cũng có thể là một tiến trình có hại. |
|
With the majority of men, who are oft unconscious magicians, many thought forms are malicious or destructive, and react back upon their creators in a disastrous manner. |
Đối với đa số nhân loại, vốn thường là những nhà huyền thuật vô thức, nhiều hình tư tưởng là ác ý hay phá hoại, và phản tác động trở lại lên những người tạo ra chúng theo một cách tai hại. |
|
330. Here something of real importance is said. There is a type of absorption which can bring real harm to the generator. |
330. Ở đây có điều gì đó thật sự quan trọng được nói ra. Có một loại hấp thụ có thể gây tổn hại thực sự cho người phát sinh nó. |
|
331. The minute we begin to think, we are engaged in a karmic process. |
331. Ngay khoảnh khắc chúng ta bắt đầu suy nghĩ, chúng ta đã tham dự vào một tiến trình nghiệp quả. |
|
332. The Fifteen Counsels given in A Treatise on White Magic, p. 473, are invaluable in this respect. |
332. Mười Lăm Lời Khuyên được đưa ra trong Luận về Chánh Thuật, tr. 473, là vô giá về phương diện này. |
|
333. It must be brought home to us that we are definitely responsible for our creations. |
333. Cần phải khắc sâu vào chúng ta rằng chúng ta chắc chắn chịu trách nhiệm về các sáng tạo của mình. |
|
334. As long as we cannot help but be magicians (though largely unconscious) we had best with all due deliberate speed become conscious white magicians. |
334. Chừng nào chúng ta còn không thể không là những nhà huyền thuật (dù phần lớn là vô thức), thì tốt hơn hết với tất cả sự khẩn trương thận trọng cần thiết, chúng ta nên trở thành những nhà huyền thuật chánh đạo hữu thức. |