SECTION TWO. The Fire of Mind – Solar Fire
[Commentary S3S1]
INTRODUCTORY QUESTIONS—CÁC CÂU HỎI DẪN NHẬP
I. WHAT IS THE RELATIONSHIP OF THE SON TO THE SUN?—MỐI QUAN HỆ CỦA ĐẤNG CON VỚI MẶT TRỜI LÀ GÌ?
II. WHAT IS EVOLUTION AND HOW DOES IT PROCEED?TIẾN HÓA LÀ GÌ VÀ NÓ DIỄN RA NHƯ THẾ NÀO?
[Commentary S3S2]
|
1. Life Cycles. |
1. Các Chu Kỳ Sự Sống. |
|
I do not propose to deal here with the evolutionary process in any other way than briefly to indicate that the whole method of evolution is simply that of adjusting the matter aspect to the Spirit aspect, so that the former proves entirely adequate as a body of expression for the latter. The life cycle of the Son is one hundred years of Brahma in the same sense as man has a life cycle consisting of a certain number of years, dependent upon his karma. During the life cycle of a man, he expresses what is in him at his particular stage, and gradually develops from the stage of the ante-natal period wherein the Self overshadows the matter aspect until the period wherein that Higher Self takes full possession of the prepared form. This stage varies with every individual. From that time on fuller self-consciousness is sought, and the man (if proceeding normally) expresses himself through the form ever more adequately. Each life of lesser cycle in the great cycle of the Ego or Self, sees that expression more complete, brings the form more under control and develops a conscious realisation of the Self until there comes a culminating cycle of lives in which the Self within rapidly dominates, and takes full authority. The form becomes wholly adequate; the fusion of the two poles of Spirit and matter is fully brought about; and the light (fire) and heat (radiation) is seen and felt systemically. Then the form is either consciously utilised for specific ends or is vacated, and the man is liberated. Electric fire and fire by friction are fused, and the consequent solar fire blazes forth in radiant glory. |
Tôi không đề xuất giải quyết ở đây quá trình tiến hóa theo bất kỳ cách nào khác ngoài việc chỉ ra vắn tắt rằng toàn bộ phương pháp tiến hóa chỉ đơn giản là việc điều chỉnh phương diện vật chất cho phù hợp với phương diện Tinh thần, sao cho phương diện vật chất chứng tỏ hoàn toàn thích đáng như một cơ thể biểu hiện cho phương diện Tinh thần. Chu kỳ sự sống của Đấng Con là một trăm năm của Brahma theo cùng nghĩa như con người có một chu kỳ sự sống bao gồm một số năm nhất định, phụ thuộc vào nghiệp quả của y. Trong chu kỳ sống của một con người, y biểu hiện những gì có trong y ở giai đoạn cụ thể của mình, và dần dần phát triển từ giai đoạn trước khi sinh ra trong đó Bản Ngã phủ bóng lên phương diện vật chất cho đến giai đoạn mà Chân Ngã Cao Cả đó chiếm hữu hoàn toàn hình tướng đã được chuẩn bị. Giai đoạn này thay đổi đối với mỗi cá nhân. Từ thời điểm đó trở đi, ngã thức đầy đủ hơn được tìm kiếm, và con người (nếu tiến triển bình thường) thể hiện bản thân qua hình tướng ngày càng thích đáng hơn. Mỗi kiếp sống của chu kỳ nhỏ hơn trong chu kỳ lớn của Chân ngã hay Bản Ngã, đều thấy sự biểu hiện đó trọn vẹn hơn, đưa hình tướng vào tầm kiểm soát nhiều hơn và phát triển một sự chứng nghiệm có ý thức về Bản Ngã cho đến khi đến một chu kỳ đỉnh điểm của các kiếp sống, trong đó Bản Ngã bên trong nhanh chóng thống trị, và nắm trọn quyền. Hình tướng trở nên hoàn toàn thích đáng; sự dung hợp của hai cực Tinh thần và vật chất được thực hiện đầy đủ; và ánh sáng (lửa) cùng nhiệt (bức xạ) được nhìn thấy và cảm nhận trong toàn hệ thống. Khi đó hình tướng hoặc được sử dụng một cách có ý thức cho các mục đích cụ thể hoặc bị bỏ trống, và con người được giải thoát. Lửa điện và lửa ma sát được dung hợp, và kết quả là lửa thái dương bùng cháy trong vinh quang rực rỡ. |
|
Extend this idea from man, an individualised unit of [232] consciousness, to the great Heavenly Men, in one of Whose bodies a man forms a cell. The body of expression of each Heavenly Man is one of the sacred planets, and They aim at the same goal as man—the attainment, on Their own levels, of full expression, and the development of Their vehicles of consciousness to a point where the Spirit may blaze forth as light divine, and as heat. This heat radiates consciously and with intense magnetic attraction between all the seven systemic groups, or planetary schemes. Their magnetic field of action will include the planetary radius of one and all. Carry this thought still further to include the Son, and the entire solar system which He animates; His attempt is to find full expression therein, so that eventually and consciously His light may be seen and His heat, or magnetic radiation, may be felt beyond His immediate sphere of influence, the logoic ring-pass-not. Both the light of the Son and the heat of the Son must be felt by the opposite cosmic pole, that constellation which is our system’s magnetic opposite. |
Mở rộng ý tưởng này từ con người, một đơn vị [232] tâm thức cá thể hóa, đến các Đấng Thiên Nhân vĩ đại, mà trong cơ thể của một trong các Ngài, con người tạo thành một tế bào. Cơ thể biểu hiện của mỗi Đấng Thiên Nhân là một trong các hành tinh thiêng liêng, và các Ngài nhắm đến cùng một mục tiêu như con người—đạt được, trên các cấp độ riêng của các Ngài, sự biểu hiện trọn vẹn, và sự phát triển các vận cụ tâm thức của các Ngài đến một điểm mà Tinh thần có thể bùng cháy như ánh sáng thiêng liêng, và như nhiệt. Nhiệt này bức xạ một cách có ý thức và với sức hút từ tính mãnh liệt giữa tất cả bảy nhóm hệ thống, hay các hệ hành tinh. Trường hoạt động từ tính của các Ngài sẽ bao gồm bán kính hành tinh của từng và mọi hệ thống. Đẩy ý nghĩ này xa hơn nữa để bao gồm Đấng Con, và toàn bộ hệ mặt trời mà Ngài làm cho sinh động; nỗ lực của Ngài là tìm kiếm sự biểu hiện trọn vẹn trong đó, để cuối cùng và một cách có ý thức, ánh sáng của Ngài có thể được nhìn thấy và nhiệt của Ngài, hay bức xạ từ tính, có thể được cảm nhận bên ngoài phạm vi ảnh hưởng trực tiếp của Ngài, vòng-giới-hạn của Thượng đế. Cả ánh sáng của Đấng Con và nhiệt của Đấng Con đều phải được cảm nhận bởi cực đối lập vũ trụ, chòm sao đó là đối cực từ tính của hệ thống chúng ta. |
|
2. The objective of the units of consciousness. |
2. Mục tiêu của các đơn vị tâm thức. |
|
Thus, the thought of union and of fusion underlies the entire scheme of evolution; Man, the Heavenly Men, and the cosmic Man (the Son of the Father and the Mother) have to |
Do đó, tư tưởng về sự hợp nhất và sự dung hợp nằm dưới toàn bộ hệ thống tiến hóa; Con người, các Đấng Thiên Nhân, và Con người vũ trụ (Đấng Con của Cha và Mẹ) phải |
|
a. Radiate occult heat beyond their own individualised ring-pass-not. |
a. Bức xạ nhiệt huyền bí ra ngoài vòng-giới-hạn cá thể hóa của chính họ. |
|
b. Occultly blaze forth and demonstrate light or fiery objectivity. |
b. Bùng cháy một cách huyền bí và biểu hiện ánh sáng hay tính khách quan thuộc lửa. |
|
c. Expand so as to include that which lies beyond their own immediate spheres. |
c. Mở rộng để bao gồm cái nằm ngoài phạm vi trực tiếp của chính họ. |
|
d. Fuse and blend the two fires so as to produce perfectly the central fire, solar fire. |
d. Dung hợp và hòa quyện hai ngọn lửa để tạo ra một cách hoàn hảo ngọn lửa trung tâm, lửa thái dương. |
|
e. Blend Spirit and matter so that a body is produced that will adequately express Spirit. |
e. Hòa quyện Tinh thần và vật chất sao cho tạo ra một cơ thể biểu hiện thích đáng Tinh thần. |
|
f. Merge the essence within the form, which is occultly [233] qualified during evolution, with the essence in all form—humanly, in a planetary sense, and cosmically. |
f. Hợp nhất tinh chất bên trong hình tướng, vốn được [233] xác định phẩm tính một cách huyền bí trong quá trình tiến hóa, với tinh chất trong tất cả các hình tướng—về mặt nhân loại, theo nghĩa hành tinh, và về mặt vũ trụ. |
|
g. Attain human, systemic and cosmic manhood. |
g. Đạt được sự trưởng thành của con người, của hệ thống và của vũ trụ. |
|
h. Achieve mastery on three planes of the solar system, humanly speaking. |
h. Đạt được sự làm chủ trên ba cõi của hệ mặt trời, nói theo cách của con người. |
|
i. Achieve mastery on five planes of the solar system, when speaking of a Heavenly Man. |
i. Đạt được sự làm chủ trên năm cõi của hệ mặt trời, khi nói về một Đấng Thiên Nhân. |
|
j. Achieve mastery on three cosmic planes when speaking of the cosmic Christ, the Son, or the Logos manifesting objectively. |
j. Đạt được sự làm chủ trên ba cõi vũ trụ khi nói về Đức Christ vũ trụ, Đấng Con, hay Thượng đế biểu hiện một cách khách quan. |
|
3. The Manifesting Units of Consciousness. (94) |
3. Các Đơn Vị Tâm Thức Đang Biểu Hiện. ( |
|
If these stated aims are carefully considered, it will be seen how each has its place within the plan, and how [234] evolution is but a term used to express the gradual development in time and space of the inherent capacity of a human being, of a Heavenly Man, and of the Grand Man of the Heavens. The place and position of one and all to each other must be borne in mind, for no one can develop without the other. What, therefore, have we? |
Nếu những mục tiêu đã nêu này được xem xét cẩn thận, sẽ thấy mỗi mục tiêu có vị trí như thế nào trong kế hoạch, và [234] tiến hóa chỉ là một thuật ngữ được sử dụng để diễn tả sự phát triển dần dần trong thời gian và không gian của năng lực vốn có của một con người, của một Đấng Thiên Nhân, và của Đấng Đại Thiên Nhân của Các Tầng Trời. Vị trí và địa vị của từng và mọi đơn vị đối với nhau phải được ghi nhớ, vì không ai có thể phát triển mà không có người kia. Vậy, chúng ta có gì? |
|
a. The Son, the Grand Man of the Heavens. He manifests through the Sun and the seven sacred planets, each of whom embodies one of His seven principles, just as He in His totality embodies one of the principles of a greater cosmic Entity. |
a. Đấng Con, Đấng Đại Thiên Nhân của Các Tầng Trời. Ngài biểu hiện qua Mặt trời và bảy hành tinh thiêng liêng, mỗi hành tinh thể hiện một trong bảy nguyên khí của Ngài, cũng như Ngài trong tính toàn vẹn của mình thể hiện một trong các nguyên khí của một Thực Thể vũ trụ vĩ đại hơn. |
|
b. A Heavenly Man. He manifests through a planet, and embodies one of the principles of the Son, the Logos. He Himself is likewise developing through seven principles, which are the source of His essential unity with all other Heavenly Men. Cosmically considered, the Son is developing the principle of a greater cosmic Being, that principle which we call love-wisdom. That is the fundamental characteristic He has to develop during His life cycle. Each Heavenly Man, therefore, embodies predominantly a subsidiary principle of the fundamental one. In like manner He Himself has six subsidiary principles, as has the Son. |
b. Một Đấng Thiên Nhân. Ngài biểu hiện qua một hành tinh, và thể hiện một trong các nguyên khí của Đấng Con, Thượng đế. Bản thân Ngài cũng đang phát triển thông qua bảy nguyên khí, vốn là nguồn gốc của sự thống nhất thiết yếu của Ngài với tất cả các Đấng Thiên Nhân khác. Xét về mặt vũ trụ, Đấng Con đang phát triển nguyên khí của một Đấng vũ trụ vĩ đại hơn, nguyên khí mà chúng ta gọi là bác ái-minh triết. Đó là đặc tính cơ bản mà Ngài phải phát triển trong chu kỳ sự sống của mình. Do đó, mỗi Đấng Thiên Nhân thể hiện chủ yếu một nguyên khí phụ trợ của nguyên khí cơ bản đó. Tương tự như vậy, chính Ngài cũng có sáu nguyên khí phụ trợ, giống như Đấng Con. |
|
c. A Human Being, Man. He manifests on the physical [235] plane through form, and has also seven principles; in each life cycle he works at their development. He likewise has His primary coloring, dependent upon the fundamental principle embodied by the Heavenly Man, Who is his originating source. Thus we have: |
c. Một Con Người, Nhân loại. Y biểu hiện trên cõi [235] hồng trần thông qua hình tướng, và cũng có bảy nguyên khí; trong mỗi chu kỳ sự sống, y làm việc để phát triển chúng. Y cũng có sắc thái chủ đạo của mình, phụ thuộc vào nguyên khí cơ bản được thể hiện bởi Đấng Thiên Nhân, Đấng là nguồn gốc xuất phát của y. Do đó chúng ta có: |
|
THƯỢNG ĐẾ |
|
|
Father-Spirit . . . . . . . . . . . .Mother-Matter. |
Cha-Tinh thần . . . . . . . . . . . .Mẹ-Vật chất. |
|
producing |
tạo ra |
|
The Son or the Grand Man of the Heavens, |
Đấng Con hay Đấng Đại Thiên Nhân của Các Tầng Trời, |
|
the conscious logoic Ego |
Chân ngã thượng đế có ý thức |
|
evolving through |
tiến hóa thông qua |
|
The Sun and the seven sacred planets |
Mặt trời và bảy hành tinh thiêng liêng |
|
each embodying a |
mỗi hành tinh thể hiện một |
|
Cosmic principle, in six differentiations |
Nguyên khí vũ trụ, trong sáu sự biến phân |
|
by method of |
bằng phương pháp |
|
a. Expansion, vibratory stimulation, magnetic interaction, or the law of attraction and repulsion. |
a. Mở rộng, kích thích rung động, tương tác từ tính, hay định luật thu hút và đẩy lùi. |
|
b. Cyclic progress, rotary repetition, coupled to spiralling ascension, and developing |
b. Tiến bộ theo chu kỳ, lặp lại xoay tròn, kết hợp với sự thăng lên theo hình xoắn ốc, và phát triển |
|
a. The quality of love-wisdom, through the utilization of form by the means of active intelligence. |
a. Phẩm tính bác ái-minh triết, thông qua việc sử dụng hình tướng bằng phương tiện của trí tuệ hoạt động. |
|
b. Full self-consciousness. |
b. Ngã thức trọn vẹn. |
|
c. A perfected solar system, or the form, adequate to the needs of the indwelling spirit. |
c. Một hệ mặt trời hoàn thiện, hay hình tướng, thích đáng với nhu cầu của tinh thần ngự bên trong. |
|
Here a similar tabulation may be worked out to demonstrate the similarity of the process in the case of a Heavenly Man and a human being. If we ask why ten schemes, and in effect ten planets (seven sacred and three concealed) [236] it is because the seven sacred planets are eventually merged into the three, and finally the three are blended into the one. This can be traced along the line of analogy as we consider the seven Rays. These seven Rays, which in manifestation are diverse, are eventually synthesised. The minor four are blended, we are told, into the third major ray, and the three major rays are finally merged into the one synthetic ray, the Love-Wisdom Ray (the Dragon of Wisdom, the occult serpent swallowing its tail) (S. D., I, 704; II, 531). This has been pointed out by H. P. B. We have, therefore, the three crowning rays, but seven seen during the evolutionary process. In connection with the Heavenly Men, functioning through the planets, there are, therefore, three planets which might be considered as synthesising planets, and four which are blended eventually, until the three have absorbed the essence of the four; finally the one absorbs the essence of the three, and the work is completed. This process lies many millennia ahead, during the inevitable period of the gradual obscuration of our system. Four of the Heavenly Men find Their magnetic opposites, and fuse and blend. First this takes place between Themselves, the negative and the positive rays merging and fusing, forming then the two from the four. Again the two merge, producing a united whole, and the one thus produced blends with the major third ray, the intelligence aspect,—the ray represented in our planetary Hierarchy by the Mahachohan. So the fusion will proceed until ultimately unity is reached in the system, and the Son has accomplished His purpose. He is perfected love-wisdom; his light shines forth cosmically; His magnetic radius touches the periphery of His cosmic opposite, and the marriage of the Son is effected. The two cosmic units merge. |
Ở đây một bảng kê tương tự có thể được lập ra để chứng minh sự tương đồng của quy trình trong trường hợp của một Đấng Thiên Nhân và một con người. Nếu chúng ta hỏi tại sao mười hệ hành tinh, và thực tế là mười hành tinh (bảy thiêng liêng và ba ẩn giấu) [236] thì đó là vì bảy hành tinh thiêng liêng cuối cùng được hợp nhất vào ba, và cuối cùng ba được hòa quyện vào một. Điều này có thể được theo dõi dọc theo dòng tương đồng khi chúng ta xem xét bảy Cung. Bảy Cung này, vốn đa dạng trong biểu hiện, cuối cùng được tổng hợp lại. Bốn cung phụ, chúng ta được bảo, được hòa quyện vào cung chính thứ ba, và ba cung chính cuối cùng được hợp nhất vào một cung tổng hợp, Cung Bác ái-Minh triết (Rồng Minh Triết, con rắn huyền bí nuốt đuôi của nó) (S. D., I, 704; II, 531). Điều này đã được Bà H. P. B. chỉ ra. Do đó, chúng ta có ba cung đăng quang, nhưng bảy cung được nhìn thấy trong quá trình tiến hóa. Liên quan đến các Đấng Thiên Nhân, hoạt động thông qua các hành tinh, do đó có ba hành tinh có thể được coi là các hành tinh tổng hợp, và bốn hành tinh cuối cùng được hòa quyện, cho đến khi ba hành tinh hấp thụ tinh chất của bốn hành tinh kia; cuối cùng hành tinh duy nhất hấp thụ tinh chất của ba hành tinh, và công việc hoàn tất. Quá trình này nằm ở phía trước nhiều thiên niên kỷ, trong thời kỳ không thể tránh khỏi của sự mờ dần từ từ của hệ thống chúng ta. Bốn trong số các Đấng Thiên Nhân tìm thấy các đối cực từ tính của Các Ngài, rồi dung hợp và hòa quyện. Đầu tiên điều này diễn ra giữa chính Các Ngài, các cung âm và dương hợp nhất và dung hợp, sau đó hình thành hai từ bốn. Một lần nữa hai lại hợp nhất, tạo ra một tổng thể thống nhất, và cái một được tạo ra như vậy hòa quyện với cung chính thứ ba, phương diện trí tuệ,—cung được đại diện trong Thánh đoàn hành tinh của chúng ta bởi Đức MahaChohan. Vì vậy sự dung hợp sẽ tiếp diễn cho đến khi đạt được sự thống nhất cuối cùng trong hệ thống, và Đấng Con đã hoàn thành mục đích của Ngài. Ngài là bác ái-minh triết hoàn thiện; ánh sáng của Ngài tỏa sáng về mặt vũ trụ; bán kính từ tính của Ngài chạm đến ngoại vi của đối cực vũ trụ của Ngài, và cuộc hôn phối của Đấng Con được thực hiện. Hai đơn vị vũ trụ hợp nhất. |
|
If we here naturally ask which is the cosmic unit that is our solar opposite, we shall be told that that question [237] lies hid for the present, though it is hinted at in the Secret Doctrine, and in other sacred books. A hint lies concealed in the relationship of the Pleiades to our earth, but not until a further precession of the equinoxes will it be more fully seen what is the exact relationship involved. (96) |
Nếu ở đây chúng ta tự nhiên hỏi đơn vị vũ trụ nào là đối cực thái dương của chúng ta, chúng ta sẽ được bảo rằng câu hỏi đó [237] vẫn còn ẩn giấu trong hiện tại, mặc dù nó được gợi ý trong bộ Giáo Lý Bí Nhiệm, và trong các sách thiêng liêng khác. Một gợi ý nằm ẩn giấu trong mối quan hệ của các Pleiades với trái đất của chúng ta, nhưng phải đợi đến một sự tiến động của các điểm phân xa hơn nữa thì mới thấy rõ hơn mối quan hệ chính xác liên quan là gì. ) |
III. WHY IS THIS SOLAR SYSTEM EVOLVING ALONG THE LINES OF DUALITY?—III. TẠI SAO HỆ MẶT TRỜI NÀY LẠI TIẾN HÓA THEO CÁC ĐƯỜNG LỐI NHỊ NGUYÊN?
[Commentary S3S3]
IV. WHAT IS CONSCIOUSNESS? WHAT IS ITS PLACE IN THE SCHEME OF THINGS?—IV. TÂM THỨC LÀ GÌ? VỊ TRÍ CỦA NÓ TRONG HỆ THỐNG CỦA MỌI SỰ VẬT LÀ GÌ?
|
Consciousness might be defined as the faculty of apprehension, and concerns primarily the relation of the Self to the not-self, of the Knower to the Known, and of the Thinker to that which is thought about. All these definitions involve the acceptance of the idea of duality, of that which is objective and of that which lies back of objectivity. (99) |
Tâm thức có thể được định nghĩa là năng lực nhận thức, và liên quan chủ yếu đến mối quan hệ của Bản Ngã với phi-ngã, của Người Biết với Cái Được Biết, và của Người Suy Tư với cái được suy nghĩ về. Tất cả các định nghĩa này đều liên quan đến việc chấp nhận ý tưởng về tính nhị nguyên, về cái là khách quan và về cái nằm đằng sau tính khách quan. ) |
||||||||||||||||||||||||||||||
|
Consciousness expresses that which might be regarded as the middle point in manifestation. It does not involve entirely the pole of Spirit. It is produced by the union of the two poles, and the process of interplay and of adaptation that necessarily ensues. It might be tabulated as follows, in an effort to clarify by visualisation: [244] |
Tâm thức thể hiện cái có thể được coi là điểm giữa trong biểu hiện. Nó không bao hàm hoàn toàn cực Tinh thần. Nó được tạo ra bởi sự kết hợp của hai cực, và quá trình tương tác và thích nghi tất yếu diễn ra sau đó. Nó có thể được lập bảng như sau, trong nỗ lực làm rõ bằng trực quan: [244] |
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||||
|
One could go on piling up terms, but the above suffices to demonstrate the relationship between the threefold Logos, during manifestation. Emphasis must be laid upon the above fact: The solar system embodies the above logoic relationship during evolutionary objectivity, and the whole aim of progressive development is to bring the Son of the Father and the Mother, to a point of full realisation, of complete self-consciousness, and to full and active knowledge. This Son is objectively the solar system, inherently will or power, and subjectively He is love-wisdom. This latter quality is in process of development through the utilisation of active intelligence. |
Người ta có thể tiếp tục chồng chất các thuật ngữ, nhưng những điều trên cũng đủ để chứng minh mối quan hệ giữa Thượng đế tam phân, trong quá trình biểu hiện. Phải nhấn mạnh vào thực tế trên: Hệ mặt trời thể hiện mối quan hệ thượng đế nói trên trong tính khách quan tiến hóa, và toàn bộ mục đích của sự phát triển tiến bộ là đưa Đấng Con của Cha và Mẹ, đến điểm chứng nghiệm trọn vẹn, tự ý thức hoàn toàn, và đạt tri thức đầy đủ và hoạt động. Đấng Con này về mặt khách quan là hệ mặt trời, về mặt vốn có là ý chí hay quyền năng, và về mặt chủ quan Ngài là bác ái-minh triết. Phẩm tính sau này đang trong quá trình phát triển thông qua việc sử dụng trí tuệ hoạt động. |
||||||||||||||||||||||||||||||
|
The three manifested Persons of the logoic Triad seek full development by means of each other. The will to be, of the Mahadeva aspect, seeks, with the aid of the intelligence of Brahma, to develop love-wisdom, or the Son aspect, the Vishnu aspect. In the microcosmic system, the reflection of the threefold Logos, the man is endeavoring through the three vehicles to attain the same development on his own plane. On higher planes the Heavenly Men (through atma-buddhi-manas) aim at a similar progression. These two, the Heavenly Men plus the units in Their bodies, which are composed of deva and human monads form, in their totality, the Grand Heavenly Man. When man achieves, then the Heavenly Men likewise achieve; when They reach Their full growth and knowledge, [245] and are self-conscious on all planes, then the Son achieves, and the solar system (His body of manifestation and experience) has served its purpose. The Son is liberated. Extend the idea of this threefold development of consciousness to the Logos in a still larger cycle (to that of the three solar systems of which this is the middle one) and we have repeated on cosmic levels in connection with the Logos, the process of the development of man in the three worlds. |
Ba Ngôi biểu hiện của Tam Nguyên Thượng đế tìm kiếm sự phát triển trọn vẹn bằng phương tiện của nhau. Ý chí tồn tại, của phương diện Mahadeva, tìm cách, với sự trợ giúp của trí tuệ Brahma, phát triển bác ái-minh triết, hay phương diện Con, phương diện Vishnu. Trong hệ thống tiểu thiên địa, phản chiếu của Thượng đế tam phân, con người đang nỗ lực thông qua ba vận cụ để đạt được sự phát triển tương tự trên cõi riêng của mình. Trên các cõi cao hơn, các Đấng Thiên Nhân (thông qua atma-buddhi-manas) nhắm đến một sự tiến bộ tương tự. Hai yếu tố này, các Đấng Thiên Nhân cộng với các đơn vị trong cơ thể các Ngài, vốn bao gồm các chân thần deva và con người tạo thành, trong tính toàn vẹn của họ, Đấng Đại Thiên Nhân. Khi con người đạt thành tựu, thì các Đấng Thiên Nhân cũng đạt thành tựu; khi các Ngài đạt đến sự trưởng thành và tri thức trọn vẹn, [245] và tự ý thức trên mọi cõi, thì Đấng Con đạt thành tựu, và hệ mặt trời (cơ thể biểu hiện và kinh nghiệm của Ngài) đã phục vụ xong mục đích của nó. Đấng Con được giải thoát. Mở rộng ý tưởng về sự phát triển ba mặt này của tâm thức đến Thượng đế trong một chu kỳ lớn hơn (đến chu kỳ của ba hệ mặt trời mà hệ này là hệ ở giữa) và chúng ta có lặp lại trên các cấp độ vũ trụ liên quan đến Thượng đế, quy trình phát triển của con người trong ba cõi. |
||||||||||||||||||||||||||||||
|
THE MACROCOSM |
ĐẠI THIÊN ĐỊA |
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||||
|
THE MICROCOSM |
TIỂU THIÊN ĐỊA |
||||||||||||||||||||||||||||||
|
The first manifestation, the Personality, embodies the “I am” principle. |
Biểu hiện đầu tiên, Phàm ngã, thể hiện nguyên lý “Tôi là”. |
||||||||||||||||||||||||||||||
|
The second manifestation, the Ego, is embodying the “I am that” principle. |
Biểu hiện thứ hai, Chân ngã, đang thể hiện nguyên lý “Tôi là cái đó”. |
||||||||||||||||||||||||||||||
|
The third manifestation, the Monad, will embody the “I am that I am” principle. |
Biểu hiện thứ ba, Chân thần, sẽ thể hiện nguyên lý “Tôi là cái tôi là”. |
||||||||||||||||||||||||||||||
|
Thus the different factors play their part in the general scheme of things, and all are interrelated, and all are interested parts and members one of the other. |
Như vậy các yếu tố khác nhau đóng vai trò của chúng trong hệ thống chung của mọi sự vật, và tất cả đều liên quan với nhau, và tất cả đều là những phần và thành viên quan tâm đến nhau. |
V. IS THERE A DIRECT ANALOGY BETWEEN THE DEVELOPMENT OF A SYSTEM, A PLANET, A MAN AND AN ATOM?—V. CÓ SỰ TƯƠNG ĐỒNG TRỰC TIẾP GIỮA SỰ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT HỆ THỐNG, MỘT HÀNH TINH, MỘT CON NGƯỜI VÀ MỘT NGUYÊN TỬ KHÔNG?
[Commentary S3S4]
|
If by this question the desire exists to demonstrate exact similarity, the answer must be: No, the analogy is never exact in detail but only in certain broad basic correspondences. In all the four factors, there will be found unchangeable points of resemblance, but in development the stages of growth may not appear the same in detailed evolution, viewed from the standpoint of a man in the [246] three worlds, handicapped as he is by limited apprehension. The points of resemblance between the four might be summed up as follows, taking the atom on the physical plane as our starting point, and developing the concept from stage to stage: |
Nếu câu hỏi này mong muốn chứng minh sự tương đồng chính xác, câu trả lời phải là: Không, sự tương đồng không bao giờ chính xác trong chi tiết mà chỉ ở một số điểm tương ứng cơ bản rộng lớn. Trong tất cả bốn yếu tố, sẽ tìm thấy những điểm giống nhau không thể thay đổi, nhưng trong quá trình phát triển, các giai đoạn tăng trưởng có thể không xuất hiện giống nhau trong tiến hóa chi tiết, nhìn từ quan điểm của một người trong [246] ba cõi, bị hạn chế như y vốn vậy bởi sự nhận thức giới hạn. Các điểm giống nhau giữa bốn yếu tố có thể được tóm tắt như sau, lấy nguyên tử trên cõi hồng trần làm điểm xuất phát của chúng ta, và phát triển khái niệm từ giai đoạn này sang giai đoạn khác: |
|
An Atom. (101) |
Một Nguyên Tử.) |
|
a. An atom consists of a spheroidal form containing within itself a nucleus of life. |
a. Một nguyên tử bao gồm một hình cầu chứa đựng bên trong nó một hạt nhân sự sống. |
|
b. An atom contains within itself differentiated molecules, which in their totality form the atom itself. For instance, we are told that the physical atom contains within its periphery fourteen thousand millions of the archetypal atoms, yet these myriads demonstrate as one. |
b. Một nguyên tử chứa đựng bên trong nó các phân tử được phân hóa, mà trong tính toàn vẹn của chúng tạo thành chính nguyên tử đó. Ví dụ, chúng ta được bảo rằng nguyên tử vật lý chứa bên trong ngoại vi của nó mười bốn ngàn triệu nguyên tử nguyên mẫu, nhưng vô số này biểu hiện như một. |
|
c. An atom is distinguished by activity, and shows forth the qualities of: |
c. Một nguyên tử được phân biệt bởi hoạt động, và thể hiện các phẩm tính: |
|
a. Rotary motion. |
a. Chuyển động quay. |
|
b. Discriminative power. |
b. Năng lực phân biện. |
|
c. Ability to develop. |
c. Khả năng phát triển. |
|
d. An atom, we are told, contains within itself three major spirals and seven lesser (102). which ten are in process [247] of vitalisation, but have not yet attained full activity. Only four are functioning at this stage, and the fifth is in process of development. |
d. Một nguyên tử, chúng ta được bảo, chứa đựng bên trong nó ba vòng xoắn chính và bảy vòng xoắn nhỏ hơn ). trong đó mười vòng đang trong quá trình [247] được tiếp sinh lực, nhưng chưa đạt được hoạt động trọn vẹn. Chỉ có bốn đang hoạt động ở giai đoạn này, và cái thứ năm đang trong quá trình phát triển. |
|
e. An atom is governed by the Law of Economy, is coming slowly under the Law of Attraction, and will eventually come under the Law of Synthesis. |
e. Một nguyên tử được cai quản bởi Định luật Tiết kiệm, đang dần dần đi vào dưới Định luật Hấp dẫn, và cuối cùng sẽ đi vào dưới Định luật Tổng hợp. |
|
f. An atom finds its place within all forms; it is the aggregation of atoms that produces form. |
f. Một nguyên tử tìm thấy vị trí của nó bên trong tất cả các hình tướng; chính sự tập hợp của các nguyên tử tạo ra hình tướng. |
|
g. Its responsiveness to outer stimulation: |
g. Sự đáp ứng của nó đối với kích thích bên ngoài: |
|
Electrical stimulation, affecting its objective form. |
Kích thích điện, ảnh hưởng đến hình tướng khách quan của nó. |
|
Magnetic stimulation, acting upon its subjective life. |
Kích thích từ tính, tác động lên sự sống chủ quan của nó. |
|
The united effect of the two stimulations, producing consequent internal growth and development. |
Hiệu quả thống nhất của hai kích thích, tạo ra sự tăng trưởng và phát triển bên trong tương ứng. |
|
An atom therefore is distinguished by: |
Do đó, một nguyên tử được phân biệt bởi: |
|
1. Its spheroidal shape. Its ring-pass-not is definite and seen. |
1. Hình dạng cầu của nó. Vòng-giới-hạn của nó xác định và được nhìn thấy. |
|
2. Its internal arrangement, which comprises the sphere of influence of any particular atom. |
2. Sự sắp xếp bên trong của nó, bao gồm phạm vi ảnh hưởng của bất kỳ nguyên tử cụ thể nào. |
|
3. Its life-activity, or the extent to which the life at the centre animates the atom, a relative thing at this stage. |
3. Hoạt động sống của nó, hay mức độ mà sự sống tại trung tâm làm sinh động nguyên tử, một điều tương đối ở giai đoạn này. |
|
4. Its sevenfold inner economy in process of evolution. |
4. Cơ cấu kinh tế thất phân bên trong của nó đang trong quá trình tiến hóa. |
|
5. Its eventual synthesis internally from the seven into the three. |
5. Sự tổng hợp cuối cùng của nó ở bên trong từ bảy thành ba. |
|
6. Its group relation. |
6. Mối quan hệ nhóm của nó. |
|
7. Its development of consciousness, or responsiveness. |
7. Sự phát triển tâm thức của nó, hay sự đáp ứng. |
|
Having predicated the above facts of the atom, we can extend the idea now to man, following the same general outline: |
Đã khẳng định các thực tế trên về nguyên tử, bây giờ chúng ta có thể mở rộng ý tưởng đến con người, theo cùng một phác thảo chung: |
|
A Man. |
Một Con Người. |
|
a. A man is spheroidal in form, he can be seen as a circular ring-pass-not, a sphere of matter with a nucleus [248] of life at the centre. In predicating this we are considering the true man in his fundamental position as the Ego, with his sphere of manifestation, the causal body,—that body which forms the middle point between Spirit and matter. |
a. Một con người có hình cầu, y có thể được nhìn thấy như một vòng-giới-hạn tròn, một quả cầu vật chất với một hạt nhân [248] sự sống ở trung tâm. Khi khẳng định điều này, chúng ta đang xem xét con người thực sự ở vị trí cơ bản của y là Chân ngã, với phạm vi biểu hiện của y, thể nguyên nhân,—cơ thể tạo thành điểm giữa giữa Tinh thần và vật chất. |
|
b. A man contains within himself differentiated atoms, which in their totality make up the objective form of the man on the planes of his manifestation. All are animated by his life, by his persistent will-to-be; all vibrate according to the point reached by the man in evolution. As seen from the higher planes man demonstrates as a sphere (or spheres) of differentiated matter, vibrating to a certain measure, tinctured by a certain color, and rotating to a fixed key—the key of his life cycle. |
b. Một con người chứa đựng bên trong mình các nguyên tử được phân hóa, mà trong tính toàn vẹn của chúng tạo nên hình tướng khách quan của con người trên các cõi biểu hiện của y. Tất cả đều được làm sinh động bởi sự sống của y, bởi ý chí tồn tại kiên trì của y; tất cả đều rung động theo điểm mà con người đạt được trong tiến hóa. Như được nhìn thấy từ các cõi cao hơn, con người biểu hiện như một quả cầu (hay các quả cầu) của vật chất được phân hóa, rung động theo một nhịp điệu nhất định, được nhuốm bởi một màu sắc nhất định, và quay theo một âm điệu cố định—âm điệu của chu kỳ sống của y. |
|
c. A man is distinguished by activity on one or more planes in the three worlds, and shows forth the qualities of: |
c. Một con người được phân biệt bởi hoạt động trên một hay nhiều cõi trong ba cõi, và thể hiện các phẩm tính: |
|
1. Rotary motion, or his particular cycling on the wheel of life, around his egoic pole. |
1. Chuyển động quay, hay chu kỳ cụ thể của y trên bánh xe sự sống, xung quanh cực chân ngã của y. |
|
2. Discriminative capacity, or the power to choose and gain experience. |
2. Khả năng phân biện, hay quyền năng lựa chọn và thu thập kinh nghiệm. |
|
3. Ability to evolve, to increase vibration and to make contact. |
3. Khả năng tiến hóa, gia tăng rung động và tạo sự tiếp xúc. |
|
d. A man contains within himself three major principles,—will, love-wisdom, active intelligence or adaptability—and their differentiation into the seven principles. These, making the eventual ten of perfected manifestation, are in process of vitalisation, but have not yet attained full expression. Only four principles in man are active, and he is in process of developing the fifth, or manasic principle. Note how perfect is the analogy between man, viewed as the lower quaternary developing the principle of mind, and the atom with its four spirillae active; and the fifth in process of stimulation. |
d. Một con người chứa đựng bên trong mình ba nguyên khí chính,—ý chí, bác ái-minh triết, trí tuệ hoạt động hay khả năng thích nghi—và sự phân hóa của chúng thành bảy nguyên khí. Những nguyên khí này, tạo nên con số mười cuối cùng của biểu hiện hoàn thiện, đang trong quá trình được tiếp sinh lực, nhưng chưa đạt được sự thể hiện trọn vẹn. Chỉ có bốn nguyên khí ở con người là hoạt động, và y đang trong quá trình phát triển nguyên khí thứ năm, hay nguyên khí manas. Lưu ý sự tương đồng hoàn hảo giữa con người, được xem như bộ tứ thấp đang phát triển nguyên khí của trí tuệ, và nguyên tử với bốn vòng xoắn nhỏ hoạt động; và cái thứ năm đang trong quá trình kích thích. |
|
e. A man is governed by the Law of Attraction, is [249] evolved through the Law of Economy, and is coming under the Law of Synthesis. Economy governs the material process with which he is not so much consciously concerned; attraction governs his connection with other units or groups, and synthesis is the law of his inner Self, of the life within the form. |
e. Một con người được cai quản bởi Định luật Hấp dẫn, được [249] tiến hóa thông qua Định luật Tiết kiệm, và đang đi vào dưới Định luật Tổng hợp. Tiết kiệm chi phối quá trình vật chất mà y không quan tâm một cách có ý thức lắm; hấp dẫn chi phối sự kết nối của y với các đơn vị hoặc nhóm khác, và tổng hợp là quy luật của Bản Ngã bên trong của y, của sự sống bên trong hình tướng. |
|
f. Man finds his place within the group form. Egoic groups and the Heavenly Men are formed by the aggregate of human and of deva units. |
f. Con người tìm thấy vị trí của mình bên trong hình tướng nhóm. Các nhóm Chân ngã và các Đấng Thiên Nhân được hình thành bởi tập hợp của các đơn vị con người và deva. |
|
g. His responsiveness to outer stimulation: |
g. Sự đáp ứng của y đối với kích thích bên ngoài: |
|
a. Electrical stimulation, affecting the outer form, or pranic response. |
a. Kích thích điện, ảnh hưởng đến hình tướng bên ngoài, hay phản ứng prana. |
|
b. Magnetic stimulation, acting upon his subjective life. This emanates from his egoic group, and later from the Heavenly Man, in Whose body he is a cell. |
b. Kích thích từ tính, tác động lên sự sống chủ quan của y. Điều này phát xuất từ nhóm chân ngã của y, và sau đó từ Đấng Thiên Nhân, mà trong cơ thể Ngài y là một tế bào. |
|
c The united effect of these two stimulations, inducing steady growth and development. |
c Hiệu quả thống nhất của hai kích thích này, tạo ra sự tăng trưởng và phát triển ổn định. |
|
A man is distinguished therefore by: |
Do đó, một con người được phân biệt bởi: |
|
1. His spheroidal shape. His ring-pass-not is definite and seen. |
1. Hình dạng cầu của y. Vòng-giới-hạn của y xác định và được nhìn thấy. |
|
2. His internal arrangement; his entire sphere of influence is in process of development. At present that sphere is limited and his range of activity is small. As the body egoic is developed, the nucleus of life at the centre increases its radius of control until the whole is brought under rule and government. |
2. Sự sắp xếp bên trong của y; toàn bộ phạm vi ảnh hưởng của y đang trong quá trình phát triển. Hiện tại phạm vi đó bị hạn chế và tầm hoạt động của y nhỏ. Khi thể chân ngã được phát triển, hạt nhân sự sống ở trung tâm gia tăng bán kính kiểm soát của nó cho đến khi toàn bộ được đưa vào dưới sự cai trị và quản lý. |
|
3. His life activity or the extent to which at any given time he demonstrates self-consciousness, or controls his threefold lower nature. |
3. Hoạt động sống của y hay mức độ mà tại bất kỳ thời điểm nào y thể hiện ngã thức, hay kiểm soát bản chất thấp tam phân của mình. |
|
4. His sevenfold inner economy; the development of his seven principles. [250] |
4. Cơ cấu kinh tế thất phân bên trong của y; sự phát triển của bảy nguyên khí của y. [250] |
|
5. His eventual internal synthesis under the working of the three laws from the seven into the three and later into the one. |
5. Sự tổng hợp bên trong cuối cùng của y dưới sự vận hành của ba định luật từ bảy thành ba và sau đó thành một. |
|
6. His group relation. |
6. Mối quan hệ nhóm của y. |
|
7. His development of consciousness, of responsiveness to contact, involving therefore the growth of awareness. |
7. Sự phát triển tâm thức của y, về sự đáp ứng với tiếp xúc, do đó bao hàm sự tăng trưởng của nhận thức. |
|
A Heavenly Man. (103) |
Một Đấng Thiên Nhân. ) |
|
a. Each Heavenly Man is likewise to be seen as spheroidal in shape. He has His ring-pass-not as has the atom and the man. This ring-pass-not comprises the entire planetary scheme; the dense physical globe of any one chain being analogous in His case to the physical body of any man, and to the atom on the physical plane. Each scheme of seven chains is the expression of the life of an Entity, Who occupies it, as does a man his body, for purposes of manifestation and in order to gain experience. |
a. Mỗi Đấng Thiên Nhân cũng được nhìn thấy có hình cầu. Ngài có vòng-giới-hạn của mình cũng như nguyên tử và con người. Vòng-giới-hạn này bao gồm toàn bộ hệ hành tinh; bầu hồng trần đậm đặc của bất kỳ một dãy nào trong trường hợp của Ngài tương đương với cơ thể vật lý của bất kỳ người nào, và với nguyên tử trên cõi hồng trần. Mỗi hệ thống gồm bảy dãy là sự biểu hiện của sự sống của một Thực Thể, Người chiếm giữ nó, cũng như một con người chiếm giữ cơ thể mình, cho các mục đích biểu hiện và để thu thập kinh nghiệm. |
|
[251] b. A Heavenly Man contains within Himself that which corresponds to the cells within the vehicles of expression of a human being. The atoms or cells in His body are made up of the aggregate of the deva and human units who vibrate to His key note, and who respond to the measure of His life. All are held together and animated by His will to be, and all vibrate according to the point achieved by Him in evolution. From the cosmic standpoint a Heavenly Man can be seen as a sphere of wondrous life, which includes within its radius of influence the vibratory capacity of an entire planetary scheme. He vibrates to a certain measure, which can be estimated by the activity of the life pulsating at the centre of the sphere; the entire planetary scheme is tinctured by a certain color, is rotating to a fixed key which is the key of His life cycle within the still greater mahamanvantara or logoic cycle. |
[251]b. Một Đấng Thiên Nhân chứa đựng bên trong Chính Ngài cái tương ứng với các tế bào bên trong các vận cụ biểu hiện của một con người. Các nguyên tử hay tế bào trong cơ thể Ngài được tạo thành từ tập hợp của các đơn vị deva và con người rung động theo chủ âm của Ngài, và đáp ứng với nhịp điệu sự sống của Ngài. Tất cả được giữ lại với nhau và được làm sinh động bởi ý chí tồn tại của Ngài, và tất cả rung động theo điểm mà Ngài đạt được trong tiến hóa. Từ quan điểm vũ trụ, một Đấng Thiên Nhân có thể được nhìn thấy như một quả cầu của sự sống kỳ diệu, bao gồm trong bán kính ảnh hưởng của nó khả năng rung động của toàn bộ một hệ hành tinh. Ngài rung động theo một nhịp điệu nhất định, có thể ước tính bằng hoạt động của sự sống đập ở trung tâm của quả cầu; toàn bộ hệ hành tinh được nhuốm bởi một màu sắc nhất định, đang quay theo một âm điệu cố định vốn là âm điệu của chu kỳ sống của Ngài bên trong đại giai kỳ sinh hóa (mahamanvantara) hay chu kỳ thượng đế vĩ đại hơn. |
|
c. A Heavenly Man is distinguished by His activity on one or other of the planes which we call the Triadal, or Atma-Buddhi-Manas, in the same way as a man is distinguished by his activity on one of the planes in the three worlds, mental-astral-physical. Eventually a man is self-conscious on all three. Eventually a Heavenly Man is fully self-conscious on the higher three. Every forward movement or increased vitality in the aggregate of men in the three worlds, is paralleled by an analogous activity on the three higher planes. The action and the interaction between the life animating the groups or the Heavenly Men, and the life animating the atoms or men who form the units in groups is both mysterious and wonderful. A Heavenly Man on His own planes likewise shows forth the qualities of: |
c. Một Đấng Thiên Nhân được phân biệt bởi hoạt động của Ngài trên một hay các cõi khác mà chúng ta gọi là thuộc Tam Nguyên, hay Atma-Buddhi-Manas, theo cùng cách như một con người được phân biệt bởi hoạt động của y trên một trong các cõi trong ba cõi, thượng trí-cảm dục-hồng trần. Cuối cùng một con người tự ý thức trên cả ba cõi. Cuối cùng một Đấng Thiên Nhân hoàn toàn tự ý thức trên ba cõi cao hơn. Mọi chuyển động tiến về phía trước hay sinh lực gia tăng trong tập hợp của con người trong ba cõi, đều được song hành bởi một hoạt động tương tự trên ba cõi cao hơn. Hành động và sự tương tác giữa sự sống làm sinh động các nhóm hay các Đấng Thiên Nhân, và sự sống làm sinh động các nguyên tử hay con người tạo thành các đơn vị trong các nhóm vừa bí ẩn vừa tuyệt vời. Một Đấng Thiên Nhân trên các cõi riêng của Ngài cũng thể hiện các phẩm tính: |
|
Rotary motion, or His particular cycling activity around His life wheel, a planetary scheme, and thus around His egoic pole. [252] |
Chuyển động quay, hay hoạt động chu kỳ cụ thể của Ngài xung quanh bánh xe sự sống của Ngài, một hệ hành tinh, và do đó xung quanh cực chân ngã của Ngài. [252] |
|
Discriminating capacity, or the power to choose and thereby gain experience. They are the embodiments of manas or the intelligent faculty (hence Their title of Divine Manasaputras) which comprehends, chooses and discards, thus attaining knowledge and self-consciousness. This manasic faculty They developed in earlier kalpas or solar systems. Their purpose is now to utilise that which is developed to bring about certain specific effects and to attain certain specific goals. |
Khả năng phân biện, hay quyền năng lựa chọn và nhờ đó thu thập kinh nghiệm. Các Ngài là hiện thân của manas hay năng lực thông tuệ (do đó có tước hiệu Manasaputra Thiêng liêng của các Ngài) vốn thấu hiểu, lựa chọn và loại bỏ, do đó đạt được kiến thức và ngã thức. Năng lực manas này Các Ngài đã phát triển trong các kiếp hay hệ mặt trời trước đó. Mục đích của Các Ngài bây giờ là sử dụng cái đã được phát triển để mang lại những hiệu quả cụ thể nhất định và đạt được những mục tiêu cụ thể nhất định. |
|
Ability to evolve, to increase vibration, to gain knowledge, and to make contact. This increased vibration is of a gradual and evolutionary order and proceeds from centre to centre as it does in man, and as it does in the case of the atomic spirillae. Their aim is to achieve uniformity of contact with each other, and to merge eventually Their separated identities in the One Identity, retaining simultaneously full self-consciousness or individualised self-apprehension. |
Khả năng tiến hóa, gia tăng rung động, thu nhận kiến thức, và tạo sự tiếp xúc. Rung động gia tăng này thuộc một trật tự dần dần và tiến hóa và tiến hành từ trung tâm này sang trung tâm khác như nó diễn ra ở con người, và như nó diễn ra trong trường hợp của các vòng xoắn nhỏ nguyên tử. Mục tiêu của các Ngài là đạt được sự đồng nhất trong tiếp xúc với nhau, và cuối cùng hợp nhất các bản sắc riêng biệt của Các Ngài trong Bản Sắc Duy Nhất, đồng thời giữ lại ngã thức trọn vẹn hay sự tự nhận thức cá thể hóa. |
|
d. A Heavenly Man contains within Himself three major principles—will, love-wisdom, intelligence, and their manifestation through the seven principles so often discussed in our occult literature. These make the ten of His ultimate perfection, for the seven are resolved into the three, and the three into the one. |
d. Một Đấng Thiên Nhân chứa đựng bên trong Chính Ngài ba nguyên khí chính—ý chí, bác ái-minh triết, trí tuệ, và sự biểu hiện của chúng thông qua bảy nguyên khí thường được thảo luận trong văn học huyền môn của chúng ta. Những nguyên khí này tạo thành mười của sự hoàn thiện tối hậu của Ngài, vì bảy được giải quyết vào ba, và ba vào một. |
|
Each Heavenly Man has, of course, His primary coloring or principle as has man and the atom. Man has for his primary coloring or principle that of the Heavenly Man in Whose body he is a unit. He has also the other two major principles (as has the Heavenly Man), and their differentiation into the seven as earlier said. The atom has for primary coloring or principle, that of the egoic ray of the human being for instance in whose body it finds place. This, of course, is in connection with the [253] physical atom in a man’s body. This coloring manifests as the vibration setting the measure of the major three spirillae and the minor seven. |
Mỗi Đấng Thiên Nhân, dĩ nhiên, có màu sắc hay nguyên khí chủ đạo của Ngài cũng như con người và nguyên tử. Con người có màu sắc hay nguyên khí chủ đạo của mình là màu sắc hay nguyên khí của Đấng Thiên Nhân mà trong cơ thể Ngài y là một đơn vị. Y cũng có hai nguyên khí chính khác (như Đấng Thiên Nhân), và sự phân hóa của chúng thành bảy như đã nói trước đó. Nguyên tử có màu sắc hay nguyên khí chủ đạo là màu sắc hay nguyên khí của cung chân ngã của con người chẳng hạn, mà trong cơ thể người đó nó tìm thấy vị trí. Điều này, dĩ nhiên, có liên quan đến [253] nguyên tử vật lý trong cơ thể con người. Màu sắc này biểu hiện như là rung động thiết lập nhịp điệu của ba vòng xoắn chính và bảy vòng xoắn nhỏ. |
|
Only four principles in the Heavenly Men are as yet manifesting to any extent, though One of Them is rather in advance of the others, and has the fifth principle vibrating adequately, while certain others are in process of perfecting the fourth. The Heavenly Man of our chain is vibrating somewhat to the fifth principle, or rather is in process of awakening it to life. His fourth vibration or principle in this fourth round or cycle, and on this fourth globe, is awakened, though not functioning as it will in the fifth round. Much of the trouble present in the planet at this time arises from the coming into activity of the higher or fifth vibration, which will be completed and transcended in the next or fifth cycle. The analogy, as in man and the atom, again holds good but not in exact detail. |
Chỉ có bốn nguyên khí trong các Đấng Thiên Nhân cho đến nay đang biểu hiện ở bất kỳ mức độ nào, mặc dù Một trong số Các Ngài có phần đi trước những vị khác, và có nguyên khí thứ năm rung động một cách thích đáng, trong khi một số vị khác đang trong quá trình hoàn thiện nguyên khí thứ tư. Đấng Thiên Nhân của dãy chúng ta đang rung động đôi chút với nguyên khí thứ năm, hay đúng hơn là đang trong quá trình đánh thức nó vào sự sống. Rung động hay nguyên khí thứ tư của Ngài trong vòng hay chu kỳ thứ tư này, và trên bầu thứ tư này, đã được đánh thức, mặc dù không hoạt động như nó sẽ hoạt động trong vòng thứ năm. Phần lớn những rắc rối hiện nay trên hành tinh nảy sinh từ việc đi vào hoạt động của rung động cao hơn hay thứ năm, vốn sẽ được hoàn tất và vượt qua trong chu kỳ tiếp theo hay thứ năm. Sự tương đồng, như ở con người và nguyên tử, một lần nữa vẫn đúng nhưng không chính xác đến từng chi tiết. |
|
e. A Heavenly Man is governed by the Law of Attraction, has transcended the Law of Economy, and is rapidly coming under the Law of Synthesis. Note therefore the gradual stepping-up of the control and the fact that: |
e. Một Đấng Thiên Nhân được cai quản bởi Định luật Hấp dẫn, đã vượt qua Định luật Tiết kiệm, và đang nhanh chóng đi vào dưới Định luật Tổng hợp. Do đó, hãy lưu ý sự nâng cấp dần dần của sự kiểm soát và thực tế là: |
|
First. The Law of Economy is the primary law of the atom. The Law of Attraction is coming into control of the atom. The Law of Synthesis is but slightly felt by the life of the atom. It is the law of life. |
Thứ nhất. Định luật Tiết kiệm là định luật chính của nguyên tử. Định luật Hấp dẫn đang đi vào kiểm soát nguyên tử. Định luật Tổng hợp chỉ được cảm nhận chút ít bởi sự sống của nguyên tử. Nó là định luật của sự sống. |
|
Second. The Law of Attraction is the primary law of man. The Law of Economy is a secondary law for man. It governs the matter of his vehicles. The Law of Synthesis is steadily beginning to be felt. |
Thứ hai. Định luật Hấp dẫn là định luật chính của con người. Định luật Tiết kiệm là định luật thứ yếu đối với con người. Nó chi phối vật chất của các vận cụ của y. Định luật Tổng hợp đang dần bắt đầu được cảm nhận. |
|
Third. The Law of Synthesis is the primary law of a Heavenly Man. The Law of Attraction has full sway. The Law of Economy is transcended. |
Thứ ba. Định luật Tổng hợp là định luật chính của một Đấng Thiên Nhân. Định luật Hấp dẫn có toàn quyền thống trị. Định luật Tiết kiệm đã bị vượt qua. |
|
The dense physical body is not a principle for a Heavenly Man, hence the Law of Economy is transcended. [254] The Law of Attraction governs the material process of form building. The Law of Synthesis is the law of His Being. |
Cơ thể vật lý đậm đặc không phải là một nguyên khí đối với một Đấng Thiên Nhân, do đó Định luật Tiết kiệm bị vượt qua. [254] Định luật Hấp dẫn chi phối quá trình vật chất của việc xây dựng hình tướng. Định luật Tổng hợp là định luật của Bản Thể Ngài. |
|
f. A Heavenly Man is finding His place within the logoic groups, and is seeking to realise His position among the seven and by realisation to approximate unity. |
f. Một Đấng Thiên Nhân đang tìm vị trí của Ngài bên trong các nhóm thượng đế, và đang tìm cách nhận ra vị thế của Ngài trong số bảy vị và bằng sự chứng nghiệm để đạt tới sự thống nhất. |
|
g. His responsiveness to outer stimulation. This viewed from the limited human standpoint touches on realms unattainable by man’s intellect as yet. It deals with: |
g. Sự đáp ứng của Ngài đối với kích thích bên ngoài. Điều này nhìn từ quan điểm hạn hẹp của con người chạm đến những lĩnh vực mà trí năng con người chưa thể đạt tới. Nó đề cập đến: |
|
Electrical stimulation, and concerns the response to solar radiation, and to paralleling planetary radiation. |
Kích thích điện, và liên quan đến sự đáp ứng với bức xạ thái dương, và với bức xạ hành tinh song hành. |
|
Magnetic stimulation, acting upon His subjective life. This radiation emanates from sources outside the system altogether. We might note the following facts: |
Kích thích từ tính, tác động lên sự sống chủ quan của Ngài. Bức xạ này phát xuất từ các nguồn hoàn toàn bên ngoài hệ thống. Chúng ta có thể lưu ý các sự kiện sau: |
|
Magnetic stimulation of the physical atom emanates from man on astral levels, and later from buddhic levels. |
Kích thích từ tính của nguyên tử vật lý phát xuất từ con người trên các cấp độ cảm dục, và sau đó từ các cấp độ bồ đề. |
|
Magnetic stimulation of man emanates from the Heavenly Men on buddhic, and later on monadic levels. |
Kích thích từ tính của con người phát xuất từ các Đấng Thiên Nhân trên các cấp độ bồ đề, và sau đó trên các cấp độ chân thần. |
|
Magnetic stimulation of a Heavenly Man emanates extra-systemically, from the cosmic astral, the united effect of these stimulations inducing steady internal development. |
Kích thích từ tính của một Đấng Thiên Nhân phát xuất từ bên ngoài hệ thống, từ cõi cảm dục vũ trụ, hiệu quả thống nhất của những kích thích này tạo ra sự phát triển nội tại ổn định. |
|
A Heavenly Man is distinguished therefore by: |
Do đó, một Đấng Thiên Nhân được phân biệt bởi: |
|
1. His spheroidal shape. His ring-pass-not, during objectivity, is definite and seen. |
1. Hình dạng cầu của Ngài. Vòng-giới-hạn của Ngài, trong thời gian khách quan, xác định và được nhìn thấy. |
|
2. His internal arrangement and His sphere of influence, or that activity animating the planetary chain. |
2. Sự sắp xếp bên trong của Ngài và phạm vi ảnh hưởng của Ngài, hay hoạt động đó đang làm sinh động dãy hành tinh. |
|
3. His spiritual life control at any given period. It is the power whereby He animates His sevenfold [255] nature. Note the increase of influence as compared to man’s threefold radius. |
3. Sự kiểm soát sự sống tinh thần của Ngài tại bất kỳ thời kỳ nhất định nào. Đó là quyền năng nhờ đó Ngài làm sinh động bản chất [255] thất phân của mình. Lưu ý sự gia tăng ảnh hưởng so với bán kính ba phần của con người. |
|
4. His eventual ultimate synthesis from the seven into the three and from thence into one. This covers the obscuration of the globes, and the blending into unity of the seven principles which each globe is evolving. |
4. Sự tổng hợp tối hậu cuối cùng của Ngài từ bảy vào ba và từ đó vào một. Điều này bao gồm sự mờ dần của các bầu, và sự hòa quyện vào sự thống nhất của bảy nguyên khí mà mỗi bầu đang tiến hóa. |
|
5. His evolution under Law and consequent development. |
5. Sự tiến hóa của Ngài dưới Định luật và sự phát triển do đó. |
|
6. His group relation. |
6. Mối quan hệ nhóm của Ngài. |
|
7. His development of consciousness and of awareness. |
7. Sự phát triển tâm thức và nhận thức của Ngài. |
|
Finally, we must extend these ideas to a solar Logos, and see how completely the analogy persists. The paragraphs dealing with stimulation, magnetic and electric, inevitably brings us back to the contemplation of fire, the basis and source of all life. |
Cuối cùng, chúng ta phải mở rộng những ý tưởng này đến một Thái dương Thượng đế, và xem sự tương đồng tồn tại hoàn toàn như thế nào. Các đoạn đề cập đến kích thích, từ tính và điện, chắc chắn đưa chúng ta trở lại việc chiêm ngưỡng lửa, cơ sở và nguồn gốc của mọi sự sống. |
|
A Solar Logos. |
Một Thái dương Thượng đế. |
|
a. A solar Logos, the Grand Man of the Heavens, is equally spheroidal in shape. His ring-pass-not comprises the entire circumference of the solar system, and all that is included within the sphere of influence of the Sun. The Sun holds a position analogous to the nucleus of life at the centre of the atom. This sphere comprises within its periphery the seven planetary chains with the synthesising three, making the ten of logoic manifestation. The Sun is the physical body of the solar Logos, His body of manifestation, and His life sweeps cycling through the seven schemes in the same sense as the life of a planetary Logos sweeps seven times around His scheme of seven chains. Each chain holds a position analogous to a globe in a planetary chain. Note the beauty of the correspondence, yet withal the lack of detailed analogy. (S.D., I, 136) |
a. Một Thái dương Thượng đế, Đấng Đại Thiên Nhân của Các Tầng Trời, cũng có hình cầu tương tự. Vòng-giới-hạn của Ngài bao gồm toàn bộ chu vi của hệ mặt trời, và tất cả những gì được bao gồm trong phạm vi ảnh hưởng của Mặt trời. Mặt trời giữ một vị trí tương tự như hạt nhân sự sống ở trung tâm của nguyên tử. Quả cầu này bao gồm trong ngoại vi của nó bảy dãy hành tinh cùng với ba dãy tổng hợp, tạo thành mười của biểu hiện thượng đế. Mặt trời là cơ thể vật lý của Thái dương Thượng đế, cơ thể biểu hiện của Ngài, và sự sống của Ngài quét theo chu kỳ qua bảy hệ thống theo cùng nghĩa như sự sống của một Hành tinh Thượng đế quét bảy lần quanh hệ thống bảy dãy của Ngài. Mỗi dãy giữ một vị trí tương tự như một bầu trong một dãy hành tinh. Lưu ý vẻ đẹp của sự tương ứng, nhưng đồng thời là sự thiếu tương đồng chi tiết. (S.D., I, 136) |
|
b. A solar Logos contains within Himself, as the atoms in His body of manifestation, all groups of every kind, [256] from the involutionary group-soul to the egoic groups on the mental plane. He has (for the animating centres of His body) the seven major groups or the seven Heavenly Men, who ray forth Their influence to all parts of the logoic sphere, and who embody within Themselves all lesser lives, the lesser groups, human and deva units, cells, atoms and molecules. |
b. Một Thái dương Thượng đế chứa đựng bên trong Chính Ngài, như các nguyên tử trong cơ thể biểu hiện của Ngài, tất cả các nhóm thuộc mọi loại, [256] từ hồn nhóm đang tiến hóa giáng hạ đến các nhóm chân ngã trên cõi trí. Ngài có (cho các trung tâm làm sinh động cơ thể của Ngài) bảy nhóm chính hay bảy Đấng Thiên Nhân, những vị chiếu rọi ảnh hưởng của Các Ngài đến mọi phần của quả cầu thượng đế, và những vị thể hiện bên trong Chính Các Ngài tất cả các sự sống nhỏ hơn, các nhóm nhỏ hơn, các đơn vị con người và deva, các tế bào, nguyên tử và phân tử. |
|
Seen from cosmic levels, the sphere of the Logos can be visualised as a vibrating ball of fire of supernal glory, containing within its circle of influence, the planetary spheres likewise vibrating balls of fire. The Grand Man of the Heavens vibrates to a steadily increasing measure; the entire system is tinctured by a certain color,—the color of the life of the Logos, the One Divine Ray; and the system rotates to a certain measure, which is the key of the great kalpa or solar cycle, and revolves around its central solar pole. |
Nhìn từ các cấp độ vũ trụ, quả cầu của Thượng đế có thể được hình dung như một quả cầu lửa rung động với vinh quang tuyệt trần, chứa đựng bên trong vòng ảnh hưởng của nó, các quả cầu hành tinh cũng là những quả cầu lửa rung động. Đấng Đại Thiên Nhân của Các Tầng Trời rung động theo một nhịp điệu gia tăng đều đặn; toàn bộ hệ thống được nhuốm bởi một màu sắc nhất định,—màu sắc của sự sống của Thượng đế, Cung Thiêng Liêng Duy Nhất; và hệ thống quay theo một nhịp điệu nhất định, vốn là âm điệu của đại kalpa hay chu kỳ thái dương, và quay quanh cực thái dương trung tâm của nó. |
|
c. The solar Logos is distinguished by His activity on all the planes of the solar system; He is the sumtotal of all manifestation, from the lowest and densest physical atom up to the most radiant and cosmic ethereal Dhyan Chohan. This sevenfold vibratory measure is the key of the lowest cosmic plane, and its rate of rhythm can be felt on the cosmic astral, with a faint response on the cosmic mental. Thus the life of the logoic existence on cosmic levels, may be seen paralleling the life of a man in the three worlds, the lowest of the systemic planes. |
c. Thái dương Thượng đế được phân biệt bởi hoạt động của Ngài trên tất cả các cõi của hệ mặt trời; Ngài là tổng thể của tất cả biểu hiện, từ nguyên tử vật lý thấp nhất và đậm đặc nhất lên đến Dhyan Chohan thanh nhẹ và thuộc vũ trụ rạng ngời nhất. Nhịp điệu rung động thất phân này là âm điệu của cõi vũ trụ thấp nhất, và tốc độ nhịp điệu của nó có thể được cảm nhận trên cõi cảm dục vũ trụ, với một sự đáp ứng mờ nhạt trên cõi trí vũ trụ. Như vậy, sự sống của sự tồn tại thượng đế trên các cấp độ vũ trụ, có thể được nhìn thấy song hành với sự sống của một con người trong ba cõi, các cõi thấp nhất của hệ thống. |
|
On His own planes the Logos likewise shows forth: |
Trên các cõi riêng của Ngài, Thượng đế cũng thể hiện: |
|
First. Rotary motion. His life as it cycles through a day of Brahma, can be seen spiralling around His greater wheel, the ten schemes of a solar system. |
Thứ nhất. Chuyển động quay. Sự sống của Ngài khi nó quay qua một ngày của Brahma, có thể được nhìn thấy xoắn ốc quanh bánh xe lớn hơn của Ngài, mười hệ thống của một hệ mặt trời. |
|
Second. Discriminatory capacity. His first act, as we know, was to discriminate or choose the matter he needed for manifestation. That choice was controlled by: [257] |
Thứ hai. Khả năng phân biện. Hành động đầu tiên của Ngài, như chúng ta biết, là phân biện hoặc lựa chọn vật chất Ngài cần cho sự biểu hiện. Sự lựa chọn đó được kiểm soát bởi: [257] |
|
Cosmic Karma. |
Nghiệp quả Vũ trụ. |
|
Vibratory capacity. |
Khả năng rung động. |
|
Responsive coloring or quality. |
Màu sắc hay phẩm tính đáp ứng. |
|
Numerical factors involved in cosmic mathematics. |
Các yếu tố số học liên quan trong toán học vũ trụ. |
|
He is the embodiment of cosmic manas, and through the use of this faculty He seeks—by means of animated form—to build into His cosmic causal body, a paralleling quality of love-wisdom. |
Ngài là hiện thân của manas vũ trụ, và thông qua việc sử dụng năng lực này, Ngài tìm cách—bằng phương tiện của hình tướng được làm sinh động—xây dựng vào thể nguyên nhân vũ trụ của Ngài, một phẩm tính song hành là bác ái-minh triết. |
|
Third. Ability to progress, to increase vibration, and to gain full self-consciousness on cosmic levels. |
Thứ ba. Khả năng tiến bộ, gia tăng rung động, và đạt được ngã thức trọn vẹn trên các cấp độ vũ trụ. |
|
d. The solar Logos contains within Himself the three major principles or aspects, and their differentiation into seven principles. These make the ten of His ultimate perfection and are eventually synthesised into the one perfected principle of love-wisdom. This ultimate principle is His primary coloring. Each principle is embodied in one of the schemes, and is being worked out through one of the Heavenly Men. Only four principles are as yet manifested to any extent, for the evolution of the Logos parallels that of the Heavenly Men. |
d. Thái dương Thượng đế chứa đựng bên trong Chính Ngài ba nguyên khí hay phương diện chính, và sự phân hóa của chúng thành bảy nguyên khí. Những nguyên khí này tạo thành mười của sự hoàn thiện tối hậu của Ngài và cuối cùng được tổng hợp thành một nguyên khí hoàn thiện duy nhất là bác ái-minh triết. Nguyên khí tối hậu này là màu sắc chủ đạo của Ngài. Mỗi nguyên khí được thể hiện trong một trong các hệ thống, và đang được thực hiện thông qua một trong các Đấng Thiên Nhân. Chỉ có bốn nguyên khí cho đến nay được biểu hiện ở bất kỳ mức độ nào, vì sự tiến hóa của Thượng đế song hành với sự tiến hóa của các Đấng Thiên Nhân. |
|
e. The solar Logos is governed by the Law of Synthesis. He holds all in synthetic unity or homogeneity. His subjective life is governed by the Law of Attraction; His material form is governed by the Law of Economy. He is coming under another cosmic law as yet incomprehensible to men, which law is but revealed to the highest initiates. |
e. Thái dương Thượng đế được cai quản bởi Định luật Tổng hợp. Ngài giữ tất cả trong sự thống nhất tổng hợp hay tính đồng nhất. Sự sống chủ quan của Ngài được cai quản bởi Định luật Hấp dẫn; hình tướng vật chất của Ngài được cai quản bởi Định luật Tiết kiệm. Ngài đang đi vào dưới một định luật vũ trụ khác mà cho đến nay con người chưa thể hiểu được, định luật này chỉ được tiết lộ cho những vị điểm đạo đồ cao cấp nhất. |
|
f. The solar Logos is in process of ascertaining His place within the greater system in which He holds a place analogous to that of a Heavenly Man in a solar system. He seeks first to find the secret of His own existence, and to achieve full Self-Consciousness; secondly to ascertain the position and place of His polar opposite; thirdly to [258] merge and blend with that polar opposite. This is the cosmic marriage of the Logos. |
f. Thái dương Thượng đế đang trong quá trình xác định vị trí của Ngài bên trong hệ thống lớn hơn mà trong đó Ngài giữ một vị trí tương tự như vị trí của một Đấng Thiên Nhân trong một hệ mặt trời. Ngài tìm cách trước hết tìm ra bí mật về sự tồn tại của chính mình, và đạt được Tự Ý Thức trọn vẹn; thứ hai xác định vị trí và chỗ đứng của đối cực của Ngài; thứ ba [258] dung hợp và hòa quyện với đối cực đó. Đây là cuộc hôn phối vũ trụ của Thượng đế. |
|
g. A solar Logos is distinguished by His responsiveness to outer stimulation. This concerns itself with: |
g. Một Thái dương Thượng đế được phân biệt bởi sự đáp ứng của Ngài đối với kích thích bên ngoài. Điều này liên quan đến: |
|
Electrical stimulation or His response to electrical fohatic force emanating from other stellar centres, and controlling largely the action of our system and its movements in space in relation to other constellations. |
Kích thích điện hay sự đáp ứng của Ngài đối với lực fohat điện tính phát xuất từ các trung tâm tinh tú khác, và kiểm soát phần lớn hành động của hệ thống chúng ta và các chuyển động của nó trong không gian liên quan đến các chòm sao khác. |
|
Magnetic stimulation, acting upon His subjective Life, and emanating from certain cosmic centres hinted at in the Secret Doctrine. These find their source on cosmic buddhic levels. |
Kích thích từ tính, tác động lên Sự Sống chủ quan của Ngài, và phát xuất từ các trung tâm vũ trụ nhất định được gợi ý trong bộ Giáo Lý Bí Nhiệm. Những trung tâm này tìm thấy nguồn gốc của chúng trên các cấp độ bồ đề vũ trụ. |
|
It is their united effect which induces steady development. |
Chính hiệu quả thống nhất của chúng tạo ra sự phát triển ổn định. |
|
The solar Logos is distinguished |
Thái dương Thượng đế được phân biệt |
|
1. By the spheroidicity of His manifesting existence. His solar ring-pass-not is definite and seen. This can only be demonstrated as yet by the endeavour to ascertain the extent of the subjective control, by the measure of the solar sphere of influence, or the magnetic attraction of the Sun to other lesser bodies which it holds in circular motion around itself. |
1. Bởi tính hình cầu của sự tồn tại biểu hiện của Ngài. Vòng-giới-hạn thái dương của Ngài xác định và được nhìn thấy. Điều này cho đến nay chỉ có thể được chứng minh bằng nỗ lực xác định phạm vi kiểm soát chủ quan, bằng thước đo phạm vi ảnh hưởng của mặt trời, hay lực hút từ tính của Mặt trời đối với các thiên thể nhỏ hơn khác mà nó giữ trong chuyển động tròn quanh chính nó. |
|
2. By the activity of the life animating the ten schemes. |
2. Bởi hoạt động của sự sống làm sinh động mười hệ thống. |
|
3. By the extent of the control exerted by the Logos at any given period. |
3. Bởi mức độ kiểm soát được thực hiện bởi Thượng đế tại bất kỳ thời kỳ nhất định nào. |
|
4. By the ultimate synthesis of the seven schemes into three and thence into one. This covers the obscuration of the schemes and the unification of the seven principles which they embody. |
4. Bởi sự tổng hợp tối hậu của bảy hệ thống thành ba và từ đó thành một. Điều này bao gồm sự mờ dần của các hệ thống và sự thống nhất của bảy nguyên khí mà chúng thể hiện. |
|
5. By His subjection to the Law of His Being. |
5. Bởi sự tuân phục của Ngài đối với Định luật của Bản Thể Ngài. |
|
6. By His group relation. |
6. Bởi mối quan hệ nhóm của Ngài. |
|
7. By His unfoldment of Consciousness, the time factor [259] being controlled by the measure of the unfoldment of all the conscious units in His body. |
7. Bởi sự mở ra của Tâm thức của Ngài, yếu tố thời gian [259] được kiểm soát bởi mức độ mở ra của tất cả các đơn vị có ý thức trong cơ thể Ngài. |
|
Here we have traced very briefly some of the analogies between the four factors earlier mentioned, and have in a cursory way answered the question. These points, if dwelt upon, will be found of real assistance in developing the mental appreciation of the student, and in increasing his apprehension of the beauty of the entire solar scheme. |
Ở đây chúng ta đã theo dõi rất ngắn gọn một số sự tương đồng giữa bốn yếu tố đã đề cập trước đó, và đã trả lời câu hỏi một cách sơ lược. Những điểm này, nếu được suy ngẫm kỹ, sẽ được tìm thấy là sự hỗ trợ thực sự trong việc phát triển sự đánh giá tinh thần của đạo sinh, và trong việc gia tăng sự nhận thức của y về vẻ đẹp của toàn bộ hệ thống thái dương. |
VI. WHAT IS THE MIND ASPECT? WHY IS THE MANASIC PRINCIPLE OF SUCH IMPORTANCE? WHO ARE THE MANASAPUTRAS?—VI. PHƯƠNG DIỆN TRÍ LÀ GÌ? TẠI SAO NGUYÊN KHÍ MANAS LẠI QUAN TRỌNG NHƯ VẬY? CÁC MANASAPUTRA LÀ AI?
[Commentary S3S5]
|
First aspect |
Atma or spiritual will. |
|
Second aspect. |
Buddhi, the Christ principle. |
|
Third aspect |
Manas, or higher mind. |
|
The Son aspect in objectivity. |
Phương diện Con trong tính khách quan. |
|
The body egoic or causal body. |
Thể chân ngã hay thể nguyên nhân. |
|
The lower quaternary. |
Bộ tứ thấp. |
|
1. The mental body. |
3. Prana, or vital energy. |
|
2. The astral or emotional body. (108) |
4. Etheric body |
|
The microcosm reproduces the solar system in miniature. The above deals with the objective forms, corresponding to the sun and the seven sacred planets. But the exoteric form is paralleled by a psychic development which we call the seven principles. Man develops seven principles, which might be enumerated as follows: |
Tiểu thiên địa tái tạo hệ mặt trời trong thu nhỏ. Phần trên đề cập đến các hình tướng khách quan, tương ứng với mặt trời và bảy hành tinh thiêng liêng. Nhưng hình tướng ngoại môn được song hành bởi một sự phát triển tâm linh mà chúng ta gọi là bảy nguyên khí. Con người phát triển bảy nguyên khí, có thể được liệt kê như sau: |
|
MICROCOSMIC PRINCIPLES (109) |
CÁC NGUYÊN KHÍ TIỂU THIÊN ĐỊA |
|
Two higher principles: |
Hai nguyên khí cao hơn: |
|
1. Active intelligence. |
1. Trí tuệ linh hoạt. |
|
2. Latent love-wisdom. |
2. Bác ái-minh triết tiềm tàng. |
|
[263] (The psychic nature of the Monad is twofold.) |
[263] (Bản chất tâm linh của Chân thần là kép.) |
|
1. The principle of atma. Spiritual nature. Will. |
1. Nguyên khí atma. Bản chất tinh thần. Ý chí. |
|
2. The principle of buddhi. Love nature. Wisdom. |
2. Nguyên khí bồ đề (buddhi). Bản chất tình thương. Minh triết. |
|
3. The principle of manas. Intelligence nature, Activity. |
3. Nguyên khí manas. Bản chất trí tuệ, Hoạt động. |
|
Note here that the three principles in terms of the Triad with the two synthesising principles on the plane of the Monad, make five principles and give the key to H. P. B.’s numbering in certain places. We might express it thus: |
Lưu ý ở đây rằng ba nguyên khí theo thuật ngữ của Tam Nguyên với hai nguyên khí tổng hợp trên cõi của Chân thần, tạo thành năm nguyên khí và đưa ra chìa khóa cho việc đánh số của Bà H. P. B. ở một số nơi. Chúng ta có thể diễn đạt nó như thế này: |
|
I. |
The Absolute |
The Monad. |
|
II. |
1. Prakriti |
Active intelligence. The Divine Manasaputra. |
|
2. Purusha |
Love-Wisdom. The Vishnu aspect. |
|
On the plane of objectivity. |
Trên cõi của tính khách quan. |
|
III |
3. Atma |
The Triad. |
|
4. Buddhi |
The Triad. |
|
|
5. Manas |
The Triad. |
|
From the standpoint of evolution we regard the higher two and the highest one as the correspondence to the Absolute as He manifests in duality. This is prior to objectivity, which requires the presence of the three. In manifestation we might regard the principles as follows: [264] |
Từ quan điểm tiến hóa, chúng ta coi hai nguyên khí cao hơn và nguyên khí cao nhất là sự tương ứng với Tuyệt Đối khi Ngài biểu hiện trong tính nhị nguyên. Điều này có trước tính khách quan, vốn đòi hỏi sự hiện diện của ba. Trong biểu hiện, chúng ta có thể coi các nguyên khí như sau: [264] |
|
First Principle |
The sphere of manifestation, the monadic egg. |
The sphere of manifestation, the monadic egg. |
|
Second Principle |
Atma |
Will. |
|
Third Principle |
Buddhi |
Pure reason, wisdom. |
|
Fourth Principle |
Manas |
Pure mind, higher mind. |
|
Fifth Principle |
Manas |
Lower mind. |
|
Sixth Principle |
Kama-manas |
|
|
Seventh Principle |
Pure emotion, or feeling. |
|
These are the principles for the microcosm viewed as having transcended the physical bodies altogether, and thus the tabulation deals entirely with the subjective life, or the development of the psyche or soul. |
Đây là các nguyên khí cho tiểu thiên địa được xem như đã vượt qua các cơ thể vật lý hoàn toàn, và do đó bảng kê đề cập hoàn toàn đến sự sống chủ quan, hay sự phát triển của linh hồn (psyche). |
|
This should be borne carefully in mind else confusion will ensue. In our enumeration we are here dealing with subjectivity and not with form. We have, therefore, considered: |
Điều này nên được ghi nhớ cẩn thận kẻo sự nhầm lẫn sẽ xảy ra. Trong sự liệt kê của chúng ta, chúng ta đang giải quyết tính chủ quan ở đây chứ không phải hình tướng. Do đó, chúng ta đã xem xét: |
|
a. |
Sevenfold objectivity |
the material forms. |
|
b. |
Sevenfold subjectivity |
the psychic evolution. |
|
c. |
Sevenfold spirituality |
the life of the Entity. |
|
We will note also that in the tabulation of the spiritual life of the Monad we considered it as fivefold. This was necessarily so in this fivefold evolution, but the remaining two principles might be considered as: |
Chúng ta cũng sẽ lưu ý rằng trong bảng kê về sự sống tinh thần của Chân thần, chúng ta đã coi nó là ngũ phân. Điều này nhất thiết phải như vậy trong cuộc tiến hóa ngũ phân này, nhưng hai nguyên khí còn lại có thể được coi là: |
|
6. The life of the Heavenly Man in Whose body the human Monad finds a place. |
6. Sự sống của Đấng Thiên Nhân mà trong cơ thể Ngài Chân thần con người tìm thấy một vị trí. |
|
7. The life of the Logos in Whose body the Heavenly Man finds place. |
7. Sự sống của Thượng đế mà trong cơ thể Ngài Đấng Thiên Nhân tìm thấy vị trí. |
|
It might be useful here to consider another enumeration of the principles of man (110) as he manifests in the [265] three worlds, the planes whereon the subjective and the objective are united. What have we there? Let us begin where man begins, with the lowest: |
Có lẽ hữu ích ở đây để xem xét một sự liệt kê khác về các nguyên khí của con người ) khi y biểu hiện trong [265] ba cõi, các cõi nơi cái chủ quan và cái khách quan được hợp nhất. Chúng ta có gì ở đó? Hãy bắt đầu từ nơi con người bắt đầu, với cái thấp nhất: |
|
7. |
The etheric body |
1. |
The vital body. |
|
6. |
Prana |
2. |
Vital force. |
|
5. |
Kama-manas |
3. |
Desire Mind. |
|
4. |
Lower mind |
4. |
Concrete mind. |
|
3. |
Manas |
5. |
Higher or abstract mind. |
|
2. |
Buddhi |
6. |
Wisdom, Christ force, intuition. |
|
1. |
Atma |
7. |
Spiritual Will. |
|
This is the lowest enumeration for little evolved man at the present time. |
Đây là sự liệt kê thấp nhất cho con người ít tiến hóa vào thời điểm hiện tại. |
|
From the standpoint of the Ego what can be seen? |
Từ quan điểm của Chân ngã, những gì có thể được nhìn thấy? |
|
I. The Absolute . . . . . . . Atma. Pure will-to-be. |
I. Tuyệt Đối . . . . . . . Atma. Ý chí tồn tại thuần khiết. |
|
II. The Duad. |
II. Bộ Nhị. |
|
1. Buddhi . . . . . . . . . Pure reason, wisdom. |
1. Bồ đề (Buddhi) . . . . . . . . . Lý trí thuần khiết, minh triết. |
|
2. Manas . . . . . . . . . .Pure mind. |
2. Manas . . . . . . . . . .Trí thuần khiết. |
|
III. The Triad. |
III. Tam Nguyên. |
|
3. The causal body. |
3. Thể nguyên nhân. |
|
4. Hạ trí.[266] |
|
|
5. Kama-manas. |
5. Trí-cảm (Kama-manas). |
|
6. Prana. |
6. Prana. |
|
7. The etheric body. |
7. Thể dĩ thái. |
|
In these various enumerations of the principles we are dealing with them (as H. P. B. has pointed out they must be dealt with) (S. D., III, 456.) (111), from differing standpoints, dependent upon the stage reached and the angle of vision. We have considered them thus in answering question six because we have sought to emphasise and to impress clearly upon our minds that the three lines of development must be remembered when considering the evolution of the Manasaputras. |
Trong những sự liệt kê khác nhau này về các nguyên khí, chúng ta đang giải quyết chúng (như Bà H. P. B. đã chỉ ra chúng phải được giải quyết) (S. D., III, 456.) , từ các quan điểm khác nhau, phụ thuộc vào giai đoạn đạt được và góc nhìn. Chúng ta đã xem xét chúng như vậy trong việc trả lời câu hỏi sáu vì chúng ta đã tìm cách nhấn mạnh và khắc sâu rõ ràng vào tâm trí chúng ta rằng ba dòng phát triển phải được ghi nhớ khi xem xét sự tiến hóa của các Manasaputra. |
|
2. The Objective Development. |
2. Sự Phát Triển Khách Quan. |
|
This is sevenfold in evolution and in time, ninefold during obscuration, and tenfold at dissolution. |
Điều này là thất phân trong tiến hóa và trong thời gian, cửu phân trong thời gian mờ dần, và thập phân khi giải thể. |
|
Macrocosmic |
Đại thiên địa |
|
1. The seven sacred planets of the solar system. |
1. Bảy hành tinh thiêng liêng của hệ mặt trời. |
|
2. The two which are hid, which are the synthesising planets. |
2. Hai hành tinh được ẩn giấu, vốn là các hành tinh tổng hợp. |
|
3. The one final synthesising planet—the Sun. Seven added to two added to one make ten. |
3. Một hành tinh tổng hợp cuối cùng—Mặt trời. Bảy cộng với hai cộng với một làm thành mười. |
|
There are ten centres in the Grand Heavenly Man. |
Có mười trung tâm trong Đấng Đại Thiên Nhân. |
|
A Heavenly Man |
Một Đấng Thiên Nhân |
|
1. The seven chains of a scheme. |
1. Bảy dãy của một hệ thống. |
|
2. The two synthesising chains. |
2. Hai dãy tổng hợp. |
|
3. One ultimate chain. |
3. Một dãy tối hậu. |
|
[267] There are ten centres in a planetary Logos. |
[267]Có mười trung tâm trong một Hành tinh Thượng đế. |
|
Microcosm |
Tiểu thiên địa |
|
1. The seven vehicles employed: |
1. Bảy vận cụ được sử dụng: |
|
a. The atmic sheath. |
a. Vỏ bọc atma. |
|
b. The buddhic vehicle. |
b. Vận cụ bồ đề. |
|
c. Thể nguyên nhân hay thể chân ngã. |
|
|
d. The mental body. |
d. Thể trí. |
|
e. The astral body. |
e. Thể cảm dục. |
|
f. The etheric body. |
f. Thể dĩ thái. |
|
g. The dense physical. |
g. Thể hồng trần đậm đặc. |
|
2. Two synthesising bodies: |
2. Hai cơ thể tổng hợp: |
|
a. The causal body. |
a. Thể nguyên nhân. |
|
b. The physical body. |
b. Cơ thể vật lý. |
|
3. One synthesising body: |
3. Một cơ thể tổng hợp: |
|
a. The monadic sheath. |
a. Vỏ bọc chân thần. |
|
There are seven centres in the physical vehicle which correspond to these bodies, with the synthesising centres at the heart and throat; the head is then the ultimate synthesiser. This tabulation deals entirely with the form side, and with the vehicles indwelt by the Logos, the Manasaputras and by Man. |
Có bảy trung tâm trong vận cụ vật lý tương ứng với các cơ thể này, với các trung tâm tổng hợp tại tim và họng; đầu khi đó là bộ tổng hợp tối hậu. Bảng kê này đề cập hoàn toàn đến phương diện hình tướng, và với các vận cụ được cư ngụ bởi Thượng đế, các Manasaputra và bởi Con người. |
|
3. The Subjective Development. |
3. Sự Phát Triển Chủ Quan. |
|
This is also sevenfold: |
Điều này cũng là thất phân: |
|
1. Astral |
pure desire, emotion, feeling. |
|
2. Kama-manas |
desire-mind. |
|
3. Manas |
lower concrete mind. |
|
4. Higher manas |
abstract or pure mind. |
|
5. Buddhi |
pure reason, intuition. |
|
6. Atma |
pure will, realisation. |
|
7. Monadic |
Will, love-wisdom, intelligence. |
|
Objectively |
Subjectively |
|
|
1. The sea of fire |
1. Our God is a consuming fire |
Energising will |
|
2. The akasha |
2. The Light of God |
Form aspect. |
|
3. The aether |
3. The heat of matter |
Activity aspect. |
|
4. The air |
4. The illumination of the intuition. |
|
|
5. Fire |
5. The fire of mind. |
|
|
6. The astral light |
6. The heat of the emotions. |
|
|
7. Physical plane electricity |
7. Kundalini and prana. |
|
Spiritually. |
Về mặt tinh thần. |
|
This is hid in a threefold mystery: |
Điều này được ẩn giấu trong một bí nhiệm tam phân: |
|
1. The mystery of electricity. |
1. Bí nhiệm về điện. |
|
2. The mystery of the seven constellations. |
2. Bí nhiệm về bảy chòm sao. |
|
3. The mystery of the ONE ABOVE THE LOGOS. |
3. Bí nhiệm về ĐẤNG Ở TRÊN THƯỢNG ĐẾ. |
[Commentary S3S6] |
|
|
4. The Heavenly Men and Man. |
4. Các Đấng Thiên Nhân và Con Người. |
|
The final part of question six is: Who are the Manasaputras? |
Phần cuối của câu hỏi thứ sáu là: Manasaputras là ai? |
|
This will be dealt with in greater detail in connection with our planet when taking up the subject of the coming of the Lords of Flame. It is desirable now to make certain facts clear which must form the basis of any thought upon this subject. |
Điều này sẽ được đề cập chi tiết hơn liên quan đến hành tinh của chúng ta khi đề cập đến chủ đề về sự xuất hiện của các Đấng Chúa Tể Lửa. Bây giờ điều đáng mong muốn là làm rõ một số sự thật nhất định vốn phải hình thành nên cơ sở của bất kỳ suy nghĩ nào về chủ đề này. |
|
[270] The Divine Manasaputras, (113) (114) Who are known in the Secret Doctrine by diverse names, are the Mind-born Sons of Brahma, the third aspect logoic. |
[270] Các Manasaputra Thiêng liêng, Những Đấng được biết đến trong Giáo Lý Bí Nhiệm bằng nhiều tên gọi khác nhau, là Các Đấng Con Sinh Ra Từ Trí của Brahma, phương diện thứ ba của Thượng đế. |
|
They are the seven planetary Logoi, and are the Lords of the Rays, the seven Heavenly Men. They developed the mind aspect in the first solar system, that in which Brahma was paramount, and in Himself embodied objective existence. This He did in the same sense as that in which the second aspect (the Vishnu or Dragon of Wisdom aspect) is the sumtotal of existence in this the second system. |
Các Ngài là bảy Hành Tinh Thượng đế, và là các Đấng Chúa Tể Cung, bảy Đấng Thiên Nhân. Các Ngài đã phát triển phương diện trí trong hệ mặt trời thứ nhất, hệ mà trong đó Brahma là tối cao, và trong Bản thân Ngài thể hiện sự hiện tồn khách quan. Ngài đã làm điều này theo cùng ý nghĩa mà trong đó phương diện thứ hai (phương diện Vishnu hay Rồng Minh Triết) là tổng thể của sự hiện tồn trong hệ thống thứ hai này. |
|
The cells in Their bodies are made up of the units of the human and deva evolutions in the same manner (only on a higher turn of the spiral) as the bodies of human beings are made up of living organisms, the various animated cells, or the lesser lives. This is a basic fact in occultism, and the relationship between the cells in the human vehicles, and the cells in the bodies of a Heavenly [271] Man, will be productive of illumination if carefully studied. |
Các tế bào trong thể của Các Ngài được tạo thành từ các đơn vị của các cuộc tiến hóa nhân loại và deva theo cùng cách thức (chỉ là trên một vòng xoắn ốc cao hơn) như các thể của con người được tạo thành từ các sinh vật sống, các tế bào hoạt động khác nhau, hay các sự sống nhỏ hơn. Đây là một sự thật cơ bản trong huyền bí học, và mối quan hệ giữa các tế bào trong các hiện thể của con người, và các tế bào trong các thể của một Đấng Thiên [271]Nhân, sẽ mang lại sự soi sáng nếu được nghiên cứu kỹ lưỡng. |
|
Just as a human being has an originating source, the Monad, and a semi-permanent vehicle, the causal body, but manifests through his lower principles (of which the dense physical is not one) so a Heavenly Man has an originating source, His Monad, a semi-permanent body on the monadic levels of the solar system, but manifests through three lower sheaths, our atmic, buddhic, and manasic levels. He is extraneous to the astral and physical planes just as a human being is to the physical. Man vitalises the physical vehicle with his force or heat but he does not occultly count it as a principle. So the Heavenly Man is extraneous to the two lower planes of manifestation though He vitalises them with His force. The human being realises his relationship (as a cell in the body) to a Heavenly Man only when he is developing the consciousness of the Ego on its own plane. If it might be so expressed, the groups of causal bodies are the lowest forms through which a Heavenly Man manifests, just as the physical body is the lowest through which a human being manifests, and this in its etheric connotation. |
Cũng như một con người có một nguồn gốc khởi nguyên, là Chân thần, và một hiện thể bán-trường tồn, là thể nguyên nhân, nhưng biểu hiện thông qua các nguyên khí thấp của y (trong đó thể hồng trần đậm đặc không phải là một) thì một Đấng Thiên Nhân cũng có một nguồn gốc khởi nguyên, Chân thần của Ngài, một thể bán-trường tồn trên các cấp độ chân thần của hệ mặt trời, nhưng biểu hiện thông qua ba lớp vỏ thấp hơn, là các cấp độ atma, bồ đề và manas của chúng ta. Ngài không thuộc về các cõi cảm dục và hồng trần giống như con người không thuộc về cõi hồng trần. Con người tiếp sinh lực cho hiện thể hồng trần bằng mãnh lực hay sức nóng của y nhưng về mặt huyền bí y không coi nó như một nguyên khí. Vì vậy Đấng Thiên Nhân không thuộc về hai cõi biểu hiện thấp hơn mặc dù Ngài tiếp sinh lực cho chúng bằng mãnh lực của Ngài. Con người chỉ nhận ra mối quan hệ của mình (như một tế bào trong cơ thể) với một Đấng Thiên Nhân khi y đang phát triển tâm thức của Chân ngã trên cõi riêng của nó. Nếu có thể diễn đạt như vậy, các nhóm thể nguyên nhân là những hình tướng thấp nhất mà qua đó một Đấng Thiên Nhân biểu hiện, cũng giống như thể xác là hình tướng thấp nhất mà qua đó một con người biểu hiện, và điều này theo nghĩa dĩ thái của nó. |
|
It should be borne in mind that the manifesting Existences embody certain planes, and have Their points of deepest involution on diverse levels: |
Cần lưu ý rằng các Sự Hiện Tồn đang biểu hiện hiện thân cho các cõi giới nhất định, và có các điểm giáng hạ tiến hóa sâu nhất của Các Ngài trên các cấp độ khác nhau: |
|
a. A Man originates on the monadic level, has his main focal point on the fifth level, the mental, but is seeking full conscious development on the three lower planes, the mental, the astral and the physical. |
a. Một Con Người bắt nguồn trên cấp độ chân thần, có tiêu điểm chính của mình trên cấp độ thứ năm, cõi trí, nhưng đang tìm kiếm sự phát triển ý thức đầy đủ trên ba cõi thấp hơn, là cõi trí, cõi cảm dục và cõi hồng trần. |
|
b. A Heavenly Man has His source outside the solar system (as man outside the three worlds of his endeavor), has His main focal point on the second plane of the system, the monadic, and is seeking consciousness on the planes of the Triad,—this in relation to all the cells in His body. He developed consciousness on the three [272] lower planes of the three worlds during the first solar system, again in relation to the cells in His body. Man is repeating His endeavor up to the fifth Initiation which will bring him to a stage of consciousness achieved by a Heavenly Man in a much earlier mahamanvantara. In connection with the initiations this should be carefully borne in mind. |
b. Một Đấng Thiên Nhân có nguồn gốc của Ngài bên ngoài hệ mặt trời (như con người bên ngoài ba cõi giới nỗ lực của y), có tiêu điểm chính của Ngài trên cõi thứ hai của hệ thống, cõi chân thần, và đang tìm kiếm tâm thức trên các cõi của Tam Nguyên,—điều này liên quan đến tất cả các tế bào trong thể của Ngài. Ngài đã phát triển tâm thức trên ba [272] cõi thấp hơn của ba cõi giới trong suốt hệ mặt trời thứ nhất, một lần nữa liên quan đến các tế bào trong thể của Ngài. Con người đang lặp lại nỗ lực của Ngài cho đến lần điểm đạo thứ năm, điều sẽ đưa y đến một giai đoạn tâm thức mà một Đấng Thiên Nhân đã đạt được trong một đại giai kỳ sinh hóa sớm hơn nhiều. Liên quan đến các cuộc điểm đạo, điều này cần được ghi nhớ kỹ lưỡng. |
|
c. A solar Logos has His origin on a still higher cosmic level, has His main focal point on the cosmic mental plane but is expressing Himself through the three lower cosmic planes just as man is seeking self-expression in the three worlds. Therefore, the seven major planes of the solar system are in the same relation to Him cosmically as the physical plane is to a human being. They form His etheric and dense bodies. It might be stated that: |
c. Một Thái dương Thượng đế có nguồn gốc của Ngài trên một cấp độ vũ trụ cao hơn nữa, có tiêu điểm chính của Ngài trên cõi trí vũ trụ nhưng đang thể hiện Bản thân qua ba cõi vũ trụ thấp hơn giống như con người đang tìm kiếm sự tự biểu hiện trong ba cõi giới. Do đó, bảy cõi chính của hệ mặt trời có cùng mối quan hệ với Ngài về mặt vũ trụ như cõi hồng trần đối với một con người. Chúng hình thành nên các thể dĩ thái và đậm đặc của Ngài. Có thể nói rằng: |
|
1. He vitalises them by His life and heat. |
1. Ngài tiếp sinh lực cho chúng bằng sự sống và sức nóng của Ngài. |
|
2. He animates them. |
2. Ngài làm cho chúng linh hoạt. |
|
3. He is fully conscious through them. |
3. Ngài hoàn toàn ý thức thông qua chúng. |
|
4. The etheric is in time His lowest principle, but the dense physical is not counted. The dense cosmic physical body is composed of matter of the three lower planes of the solar system, the mental, the astral and the physical. The buddhic plane is consequently the fourth cosmic ether. |
4. Thể dĩ thái trong thời gian là nguyên khí thấp nhất của Ngài, nhưng thể hồng trần đậm đặc không được tính đến. Thể hồng trần đậm đặc vũ trụ được cấu tạo từ vật chất của ba cõi thấp hơn của hệ mặt trời, là cõi trí, cõi cảm dục và cõi hồng trần. Do đó, cõi bồ đề là dĩ thái vũ trụ thứ tư. |
|
d. The Heavenly Men form the seven centres in the body of the Logos. Therefore, They are the spheres of fire which animate His body, and each of Them expresses one form of His force manifestation, according to Their place within the body. |
d. Các Đấng Thiên Nhân hình thành nên bảy trung tâm trong thể của Thượng đế. Do đó, Các Ngài là những quả cầu lửa làm linh hoạt thể xác của Ngài, và mỗi Đấng trong số Các Ngài biểu hiện một hình thức biểu lộ mãnh lực của Ngài, tùy theo vị trí của Các Ngài trong cơ thể đó. |
|
e. Human beings, when centred within their groups on causal levels, form one or other of the seven centres in the body of a Heavenly Man. |
e. Con người, khi được tập trung trong các nhóm của họ trên các cấp độ nguyên nhân, hình thành nên một hoặc trung tâm khác trong bảy trung tâm trong thể của một Đấng Thiên Nhân. |
|
f. The solar Logos forms one centre in the body of a still greater cosmic ENTITY. Human beings therefore [273] find their place within one of the forty-nine centres (not groups, for a centre may be made up of many groups, corresponding to the different parts) of the seven Heavenly Men. |
f. Thái dương Thượng đế hình thành nên một trung tâm trong thể của một THỰC THỂ vũ trụ vĩ đại hơn nữa. Do đó, con người [273] tìm thấy vị trí của mình trong một trong bốn mươi chín trung tâm (không phải các nhóm, vì một trung tâm có thể được tạo thành từ nhiều nhóm, tương ứng với các bộ phận khác nhau) của bảy Đấng Thiên Nhân. |
|
A Heavenly Man, with His seven centres, forms one centre in the body of the solar Logos. I would here point out to you the close connection existing between the seven Rishis of the Great Bear and the seven Heavenly Men. The seven Rishis of the Great Bear are to Them what the Monad is to the evolving human unit. |
Một Đấng Thiên Nhân, với bảy trung tâm của Ngài, hình thành nên một trung tâm trong thể của Thái dương Thượng đế. Ở đây Tôi muốn chỉ ra cho các bạn mối liên hệ chặt chẽ tồn tại giữa bảy vị Rishi của chòm Đại Hùng Tinh và bảy Đấng Thiên Nhân. Bảy vị Rishi của chòm Đại Hùng Tinh đối với Các Ngài cũng giống như Chân thần đối với đơn vị nhân loại đang tiến hóa. |
VII. WHY IS THE PROGRESS OF EVOLUTION CYCLIC?—VII. TẠI SAO TIẾN TRÌNH CỦA TIẾN HÓA LẠI THEO CHU KỲ?
|
This question is one which necessarily appals us and makes us wonder. |
Câu hỏi này nhất thiết làm chúng ta kinh ngạc và khiến chúng ta tự hỏi. |
|
Let us, therefore, deal with it as follows: Certain ideas are involved in the thought of cyclic progression, and these ideas it might pay us well to contemplate. |
Do đó, hãy để chúng ta giải quyết nó như sau: Một số ý tưởng nhất định được bao hàm trong tư tưởng về sự tiến triển theo chu kỳ, và những ý tưởng này có thể rất đáng để chúng ta chiêm nghiệm. |
|
1. The Idea of Repetition. |
1. Ý tưởng về Sự Lặp Lại. |
|
This repetition involves the following factors: |
Sự lặp lại này bao gồm các yếu tố sau: |
|
a. Repetition in time: The thought of cyclic activity necessitates periods of time of differing length—greater or lesser cycles—but (according to their length) of uniform degree. A manvantara, or Day of Brahma, is always of a certain length, and so is a mahamanvantara. The cycles wherein an atom of any plane revolves upon its axis are uniform on its own plane. |
a. Sự lặp lại về thời gian: Tư tưởng về hoạt động theo chu kỳ đòi hỏi các khoảng thời gian có độ dài khác nhau—các chu kỳ lớn hơn hoặc nhỏ hơn—nhưng (tùy theo độ dài của chúng) có mức độ đồng nhất. Một giai kỳ sinh hóa, hay Ngày của Brahma, luôn có một độ dài nhất định, và một đại giai kỳ sinh hóa cũng vậy. Các chu kỳ mà trong đó một nguyên tử của bất kỳ cõi nào quay quanh trục của nó đều đồng nhất trên cõi riêng của nó. |
|
b. Repetition in fact: This involves the idea of a key measure, or sound of any particular group of atoms that go to the composition of any particular form. This grouping of atoms will tend to the make-up of a particular series of circumstances and will repeat the measure or sound when an animating factor is brought to bear upon them. When the vitalising force is contacting at stated periods a certain set of atoms, it will call forth from them a specific sound which will demonstrate objectively as environing circumstances. In other words, [274] the interplay of the Self and the not-self is invariably of a cyclic nature. The same quality in tone will be called forth by the Self as it indwells the form, but the key will ascend by gradual degrees. It is similar to the effect produced in striking the same note in different octaves, beginning at the base. |
b. Sự lặp lại về sự việc: Điều này bao gồm ý tưởng về một nhịp điệu chủ đạo, hay âm thanh của bất kỳ nhóm nguyên tử cụ thể nào đi vào cấu tạo của bất kỳ hình tướng cụ thể nào. Sự nhóm họp các nguyên tử này sẽ có xu hướng tạo nên một chuỗi các hoàn cảnh cụ thể và sẽ lặp lại nhịp điệu hay âm thanh đó khi một yếu tố linh hoạt được đưa vào tác động lên chúng. Khi mãnh lực tiếp sinh lực tiếp xúc tại các giai đoạn đã định với một tập hợp nguyên tử nhất định, nó sẽ gọi ra từ chúng một âm thanh cụ thể vốn sẽ thể hiện một cách khách quan như là các hoàn cảnh môi trường. Nói cách khác, [274] sự tương tác giữa Chân ngã và phi-chân ngã luôn luôn có tính chất chu kỳ. Cùng một phẩm tính trong âm điệu sẽ được gọi ra bởi Chân ngã khi nó cư ngụ trong hình tướng, nhưng chủ âm sẽ thăng lên theo các mức độ dần dần. Nó tương tự như hiệu quả được tạo ra khi đánh cùng một nốt nhạc ở các quãng tám khác nhau, bắt đầu từ đáy. |
|
c. Repetition in space: This concept is involved deep in the greater concept of karma, which is really the law that governs the matter of the solar system, and which commenced its work in earlier solar systems. We have, therefore, cycles in order, and repetition in an ever-ascending spiral, under definite law. |
c. Sự lặp lại trong không gian: Khái niệm này bao hàm sâu sắc trong khái niệm lớn hơn về nghiệp quả, vốn thực sự là định luật chi phối vật chất của hệ mặt trời, và đã bắt đầu công việc của nó trong các hệ mặt trời trước đó. Do đó, chúng ta có các chu kỳ theo trật tự, và sự lặp lại trong một vòng xoắn ốc không ngừng đi lên, theo định luật xác định. |
|
The thoughts thus conveyed might be expressed likewise as follows: |
Các tư tưởng được truyền tải như vậy có thể được diễn đạt tương tự như sau: |
|
a. The solar system repeating its activity….Repetition in Space. |
a. Hệ mặt trời lặp lại hoạt động của nó….Sự Lặp Lại trong Không Gian. |
|
b. A planetary chain repeating its activity….Repetition in Time. |
b. Một dãy hành tinh lặp lại hoạt động của nó….Sự Lặp Lại trong Thời Gian. |
|
c. The constant consecutive reverberation of a plane note, of a subplane note, and of all that is called into objectivity by that note…..Plane Repetition. |
c. Sự vang vọng liên tiếp liên tục của một nốt nhạc cõi giới, của một nốt nhạc cõi phụ, và của tất cả những gì được gọi vào tính khách quan bởi nốt nhạc đó…..Sự Lặp Lại Cõi Giới. |
|
d. The tendency of atoms to perpetuate their activity, and thus produce similarity of circumstance, of environment and of vehicle….Form Repetition. |
d. Xu hướng của các nguyên tử duy trì hoạt động của chúng, và do đó tạo ra sự tương đồng về hoàn cảnh, về môi trường và về vận cụ….Sự Lặp Lại Hình Tướng. |
|
When we carry these ideas on to every plane in the solar system, and from thence to the cosmic planes, we have opened up for ourselves infinitude. |
Khi chúng ta mang những ý tưởng này đến mọi cõi trong hệ mặt trời, và từ đó đến các cõi vũ trụ, chúng ta đã mở ra cho mình sự vô tận. |
|
2. Repetition of Cyclic Action is Governed by Two Laws: |
2. Sự Lặp Lại của Hành Động Theo Chu Kỳ được Chi Phối bởi Hai Định Luật: |
|
Perhaps it is more accurate to say that it is governed by one law, primarily, and a subsidiary law. This leads [275] to two general types of cycles, and is involved in the very nature of the Self and of the not-self. The interplay of the two by the aid of mind produces that which we call environment or circumstance. |
Có lẽ chính xác hơn khi nói rằng nó được chi phối chủ yếu bởi một định luật, và một định luật phụ trợ. Điều này dẫn [275]đến hai loại chu kỳ chung, và được bao hàm trong chính bản chất của Chân ngã và của phi-chân ngã. Sự tương tác của cả hai nhờ sự trợ giúp của trí tuệ tạo ra cái mà chúng ta gọi là môi trường hay hoàn cảnh. |
|
The general law, which produces cyclic effect, is the Law of Attraction and Repulsion, of which the subsidiary law is the Law of Periodicity, and of Rebirth. Cyclic evolution is entirely the result of the activity of matter, and of the Will or Spirit. It is produced by the interaction of active matter and moulding Spirit. Every form holds hid a Life. Every life constantly reaches out after the similar life latent in other forms. When Spirit and matter sound the same note evolution will cease. When the note sounded by the form is stronger than that of Spirit, we have attraction between forms. When the note sounded by Spirit is stronger than that of matter and form, we have Spirit repelling form. Here we have the basis for the battlefield of life, and its myriads of intermediate stages, which might be expressed as follows: |
Định luật chung, vốn tạo ra hiệu quả chu kỳ, là Định luật Hấp dẫn và Đẩy lùi, trong đó định luật phụ trợ là Định luật Chu kỳ, và Tái sinh. Sự tiến hóa theo chu kỳ hoàn toàn là kết quả của hoạt động của vật chất, và của Ý Chí hay Tinh thần. Nó được tạo ra bởi sự tương tác của vật chất hoạt động và Tinh thần đúc nặn. Mọi hình tướng đều ẩn giấu một Sự Sống. Mọi sự sống liên tục vươn tới sự sống tương tự tiềm tàng trong các hình tướng khác. Khi Tinh thần và vật chất xướng lên cùng một nốt nhạc, sự tiến hóa sẽ chấm dứt. Khi nốt nhạc được xướng lên bởi hình tướng mạnh hơn nốt nhạc của Tinh thần, chúng ta có sự hấp dẫn giữa các hình tướng. Khi nốt nhạc được xướng lên bởi Tinh thần mạnh hơn nốt nhạc của vật chất và hình tướng, chúng ta có Tinh thần đẩy lùi hình tướng. Ở đây chúng ta có cơ sở cho chiến trường của cuộc sống, và vô số các giai đoạn trung gian của nó, có thể được diễn đạt như sau: |
|
a. The period of the domination of the form note is that of involution. |
a. Thời kỳ thống trị của nốt nhạc hình tướng là thời kỳ của giáng hạ tiến hóa. |
|
b. The period of the repulsion of form by Spirit is that of the battlefield of the three worlds. |
b. Thời kỳ đẩy lùi hình tướng bởi Tinh thần là thời kỳ của chiến trường trong ba cõi giới. |
|
c. The period of the attraction of Spirit and Spirit, and the consequent withdrawal from form is that of the Path. |
c. Thời kỳ hấp dẫn của Tinh thần với Tinh thần, và sự rút lui tất yếu khỏi hình tướng là thời kỳ của Thánh Đạo. |
|
d. The period of domination of the note of Spirit is that of the higher planes of evolution. |
d. Thời kỳ thống trị của nốt nhạc Tinh thần là thời kỳ của các cõi tiến hóa cao hơn. |
|
To the synchronisation of the notes, or to the lack of synchronisation, may be attributed all that occurs in the world cycles. Thus we have the production of harmony; first, the basic note of matter, then the note of Spirit gradually overcoming the lower note and usurping attention [276] till gradually the note of Spirit overpowers all other notes. Yet it must be borne in mind that it is the note of the life that holds the form together. The note of the Sun, for instance, holds in just attraction the circling spheres, the planets. The notes synchronise and harmonise till the stage of adequacy is reached and the period of abstraction. Cyclic evolution proceeds. A human being, similarly, holds (by means of his note) the atoms of the three bodies together, being to them as the central sun to the planets. Primarily, nevertheless, it may be posited that the Law of Attraction is the demonstration of the powers of Spirit, whilst the Law of Repulsion governs the form. Spirit attracts Spirit throughout the greater cycle. In lesser cycles, Spirit temporarily attracts matter. The tendency of Spirit is to merge and blend with Spirit. Form repulses form, and thus brings about separation. But—during the great cycle of evolution—when the third factor of Mind comes in, and when the point of balance is the goal, the cyclic display of the interaction between Spirit and form is seen, and the result is the ordered cycles of the planets, of a human being, and of an atom. Thus, through repetition, is consciousness developed, and responsive faculty induced. When this faculty is of such a nature that it is an inherent part of the Entity’s working capital, it has to be exercised on every plane, and again cyclic action is the law, and hence rebirth again and again is the method of exercise. When the innate conscious faculty of every unit of consciousness has become co-ordinated as part of the equipment of the Logos on every plane of the solar system, then, and only then, will cyclic evolution cease, will rotary movement on every plane of the cosmic physical plane be of such a uniform vibration as to set up action on the next cosmic plane, the astral. [277] |
Đối với sự đồng bộ của các nốt nhạc, hay sự thiếu đồng bộ, có thể quy cho tất cả những gì xảy ra trong các chu kỳ thế giới. Như vậy chúng ta có sự tạo ra sự hài hòa; đầu tiên, nốt nhạc cơ bản của vật chất, sau đó nốt nhạc của Tinh thần dần dần khắc phục nốt nhạc thấp hơn và chiếm lấy sự chú ý [276]cho đến khi dần dần nốt nhạc của Tinh thần áp đảo tất cả các nốt nhạc khác. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng chính nốt nhạc của sự sống giữ cho hình tướng liên kết với nhau. Ví dụ, nốt nhạc của Mặt trời giữ các quả cầu đang quay, các hành tinh, trong sự hấp dẫn đúng đắn. Các nốt nhạc đồng bộ và hài hòa cho đến khi đạt đến giai đoạn thỏa đáng và thời kỳ rút lui. Sự tiến hóa theo chu kỳ tiếp diễn. Tương tự, một con người giữ (bằng phương tiện nốt nhạc của y) các nguyên tử của ba thể lại với nhau, đối với chúng y giống như mặt trời trung tâm đối với các hành tinh. Tuy nhiên, chủ yếu có thể khẳng định rằng Định luật Hấp dẫn là sự biểu thị các quyền năng của Tinh thần, trong khi Định luật Đẩy lùi chi phối hình tướng. Tinh thần hấp dẫn Tinh thần trong suốt chu kỳ lớn hơn. Trong các chu kỳ nhỏ hơn, Tinh thần tạm thời hấp dẫn vật chất. Xu hướng của Tinh thần là sáp nhập và hòa quyện với Tinh thần. Hình tướng đẩy lùi hình tướng, và do đó mang lại sự chia rẽ. Nhưng—trong chu kỳ lớn của tiến hóa—khi yếu tố thứ ba là Trí tuệ đi vào, và khi điểm cân bằng là mục tiêu, sự hiển thị theo chu kỳ của sự tương tác giữa Tinh thần và hình tướng được nhìn thấy, và kết quả là các chu kỳ trật tự của các hành tinh, của một con người, và của một nguyên tử. Như vậy, thông qua sự lặp lại, tâm thức được phát triển, và năng lực đáp ứng được tạo ra. Khi năng lực này có bản chất sao cho nó là một phần vốn có trong vốn hoạt động của Thực thể, nó phải được thực hành trên mọi cõi, và một lần nữa hành động theo chu kỳ là quy luật, và do đó sự tái sinh lặp đi lặp lại là phương pháp thực hành. Khi năng lực ý thức bẩm sinh của mọi đơn vị tâm thức đã trở nên được phối kết như một phần trang bị của Thượng đế trên mọi cõi của hệ mặt trời, thì khi đó, và chỉ khi đó, sự tiến hóa theo chu kỳ mới chấm dứt, chuyển động xoay tròn trên mọi cõi của cõi hồng trần vũ trụ sẽ có rung động đồng nhất đến mức thiết lập hành động trên cõi vũ trụ tiếp theo, cõi cảm dục. [277] |
|
3. The Third Idea Involved Is That of the Two Types of Cycles |
3. Ý Tưởng Thứ Ba Được Bao Hàm Là Về Hai Loại Chu Kỳ |
|
1. Rotation on the axis: This is to be seen whether we are dealing with a minute atom of substance, with a planet revolving on its axis, with the rotation of the causal body, or with the rotation of a solar system. |
1. Sự xoay quanh trục: Điều này có thể được nhìn thấy cho dù chúng ta đang giải quyết với một nguyên tử vật chất nhỏ bé, với một hành tinh đang quay quanh trục của nó, với sự xoay chuyển của thể nguyên nhân, hay với sự xoay chuyển của một hệ mặt trời. |
|
a. In relation to the human being, this might be considered as the rotation of the various sheaths around the central consciousness during any one incarnation. |
a. Liên quan đến con người, điều này có thể được coi là sự xoay chuyển của các lớp vỏ khác nhau quanh tâm thức trung tâm trong bất kỳ một kiếp sống nào. |
|
b. In relation to a Heavenly Man it might be considered as the rotation of a globe within a chain, or the period of one incarnation. |
b. Liên quan đến một Đấng Thiên Nhân, điều này có thể được coi là sự xoay chuyển của một bầu hành tinh trong một dãy, hay thời kỳ của một kiếp sống. |
|
c. In relation to a solar Logos it might be considered as one complete revolution of the Sun in space, with all that is included within the ring-pass-not. |
c. Liên quan đến một Thái dương Thượng đế, điều này có thể được coi là một vòng quay trọn vẹn của Mặt trời trong không gian, với tất cả những gì được bao gồm trong vòng-giới-hạn. |
|
2. Rotation around an orbit. This is the revolution of a sphere of life, not only on its axis, but along a spheroidal path or orbit around a central point. |
2. Sự xoay quanh một quỹ đạo. Đây là vòng quay của một quả cầu sự sống, không chỉ trên trục của nó, mà còn dọc theo một đường đi hình cầu hay quỹ đạo quanh một điểm trung tâm. |
|
a. In connection with man this might be considered as the revolution of the wheel of life, or the passage of an entity through the three lower planes down into incarnation and back again. |
a. Liên quan đến con người, điều này có thể được coi là vòng quay của bánh xe luân hồi, hay sự đi qua của một thực thể qua ba cõi thấp xuống cõi trần để lâm phàm và quay trở lại. |
|
b. In connection with a Heavenly Man it might be considered as the cycle which we call a round in which the life of the Heavenly Man cycles through all the seven globes. |
b. Liên quan đến một Đấng Thiên Nhân, điều này có thể được coi là chu kỳ mà chúng ta gọi là một cuộc tuần hoàn trong đó sự sống của Đấng Thiên Nhân đi theo chu kỳ qua tất cả bảy bầu hành tinh. |
|
c. In connection with the solar Logos it is the complete revolution of the solar system around its cosmic centre. |
c. Liên quan đến Thái dương Thượng đế, đó là vòng quay trọn vẹn của hệ mặt trời quanh tâm điểm vũ trụ của nó. |
|
It is to be noted at this point that the ideas dealt with in connection with cyclic evolution cannot be posited apart from the concept of consciousness. The ideas of [278] time, of space, and of activity (from the point of view of the occultist), can only be conceived as relative to some conscious entity, to some Thinker. |
Cần lưu ý tại điểm này rằng các ý tưởng được đề cập liên quan đến sự tiến hóa theo chu kỳ không thể được khẳng định tách rời khỏi khái niệm về tâm thức. Các ý tưởng về [278] thời gian, về không gian, và về hoạt động (từ quan điểm của nhà huyền bí học), chỉ có thể được quan niệm một cách tương đối với một thực thể có ý thức nào đó, với một Người Suy Nghĩ nào đó. |
|
Time to the occultist is that cycle, greater or lesser, in which some life runs some specific course, in which some particular period begins, continues, and ends, in connection with the awareness of some Entity, and is recognised only as time when the participating life has reached a considerable stage of awareness. Time has been defined as a succession of states of consciousness, (115) and it therefore may be studied from the point of view of |
Thời gian đối với nhà huyền bí học là chu kỳ đó, lớn hơn hay nhỏ hơn, trong đó một sự sống nào đó vận hành một lộ trình cụ thể nào đó, trong đó một thời kỳ cụ thể nào đó bắt đầu, tiếp diễn, và kết thúc, liên quan đến sự nhận thức của một Thực thể nào đó, và chỉ được công nhận là thời gian khi sự sống tham gia đã đạt đến một giai đoạn nhận thức đáng kể. Thời gian đã được định nghĩa là một chuỗi các trạng thái tâm thức, ) và do đó nó có thể được nghiên cứu từ quan điểm của |
|
[279] a. Logoic consciousness, or the successive states of divine realisation within the solar sphere. |
[279]a. Tâm thức Thượng đế, hay các trạng thái liên tiếp của sự chứng nghiệm thiêng liêng trong phạm vi thái dương. |
|
b. Planetary consciousness, or the consciousness of a Heavenly Man as He cycles successively through the scheme. |
b. Tâm thức Hành tinh, hay tâm thức của một Đấng Thiên Nhân khi Ngài đi theo chu kỳ liên tiếp qua hệ hành tinh. |
|
c. Causal consciousness, or the successive expanding of the intelligent awareness of a human being from life to life. |
c. Tâm thức Nguyên nhân, hay sự mở rộng liên tiếp của nhận thức thông minh của một con người từ kiếp này sang kiếp khác. |
|
d. Human consciousness, or the awareness of a man on the physical plane, and progressively on the emotional and the mental planes. |
d. Tâm thức Nhân loại, hay sự nhận thức của một người trên cõi hồng trần, và tiến dần lên trên các cõi cảm dục và cõi trí. |
|
e. Animal, vegetable and mineral consciousness which differs from the human consciousness in many particulars, and primarily in that it does not co-ordinate, or deduce and recognise separate identity. It resembles human consciousness in that it covers the response to successive contacts of the units involved during their small cycles. |
e. Tâm thức Động vật, Thực vật và Kim thạch vốn khác với tâm thức nhân loại ở nhiều điểm cụ thể, và chủ yếu ở chỗ nó không phối kết, hay suy luận và nhận ra bản sắc riêng biệt. Nó giống tâm thức nhân loại ở chỗ nó bao gồm sự đáp ứng với các tiếp xúc liên tiếp của các đơn vị liên quan trong các chu kỳ nhỏ của chúng. |
|
f. Atomic consciousness, demonstrating through successive states of repulsion and attraction. In this last definition lies the key to the other states of consciousness. |
f. Tâm thức Nguyên tử, thể hiện qua các trạng thái đẩy lùi và hấp dẫn liên tiếp. Trong định nghĩa cuối cùng này nằm chìa khóa cho các trạng thái tâm thức khác. |
|
An atom revolves upon its axis. In its revolution it comes within the field of activity of other atoms. These it either attracts and swings into its own field of operation, or it repulses and drives them outside its range of activity, causing separation. One thing to be borne in mind in the concept of mutual attraction is the preservation of identity in cohesion. |
Một nguyên tử quay quanh trục của nó. Trong vòng quay của mình, nó đi vào trường hoạt động của các nguyên tử khác. Nó hoặc thu hút và kéo các nguyên tử này vào trường hoạt động của chính nó, hoặc đẩy lùi và xua chúng ra ngoài phạm vi hoạt động của nó, gây ra sự chia rẽ. Một điều cần ghi nhớ trong khái niệm về sự hấp dẫn lẫn nhau là việc bảo tồn bản sắc trong sự gắn kết. |
|
A human being in objective manifestation likewise revolves upon his axis, or around his central point, his mainspring of animation; this brings him within the range of activity of other men, other human atoms. This similarly either tends to co-operation or cohesion, or to separation or repulsion. Again it must be borne in mind that even in cohesion identity is preserved. |
Một con người trong biểu hiện khách quan cũng tương tự quay quanh trục của y, hay quanh điểm trung tâm của y, nguồn sinh khí chính của y; điều này đưa y vào phạm vi hoạt động của những người khác, những nguyên tử nhân loại khác. Tương tự, điều này hoặc có xu hướng hợp tác hay gắn kết, hoặc chia rẽ hay đẩy lùi. Một lần nữa cần ghi nhớ rằng ngay cả trong sự gắn kết, bản sắc vẫn được bảo tồn. |
|
[280] A Heavenly Man, through the form of a planetary chain, similarly revolves upon His axis, and a like phenomenon may be observed. A planet repulses a planet similarly charged, for it is a known law that like particles repel each other, but occultly it is a known law that they will eventually attract each other as the vibration becomes sufficiently strong. A negative planet will be attracted by a positive, and so on through all forms. This is the manifestation of SEX in substance of every kind, from the tiny atom in the body to the vast planetary chains, and this is the basis of activity. Radiatory activity is simply the interplay between male and female, and this can be seen in the physical atom of the scientist, among men and women, and in the vaster atom of a solar system as it vibrates with its cosmic opposite. |
[280]Một Đấng Thiên Nhân, thông qua hình tướng của một dãy hành tinh, cũng tương tự quay quanh trục của Ngài, và một hiện tượng giống như vậy có thể được quan sát thấy. Một hành tinh đẩy lùi một hành tinh được tích điện tương tự, vì đó là một định luật đã biết rằng các hạt giống nhau đẩy nhau, nhưng về mặt huyền bí, đó là một định luật đã biết rằng chúng cuối cùng sẽ thu hút lẫn nhau khi rung động trở nên đủ mạnh. Một hành tinh âm sẽ bị thu hút bởi một hành tinh dương, và cứ thế qua tất cả các hình tướng. Đây là biểu hiện của GIỚI TÍNH trong chất liệu của mọi loại, từ nguyên tử nhỏ bé trong cơ thể đến các dãy hành tinh rộng lớn, và đây là cơ sở của hoạt động. Hoạt động bức xạ chỉ đơn giản là sự tương tác giữa nam và nữ, và điều này có thể được nhìn thấy trong nguyên tử vật lý của nhà khoa học, giữa những người nam và nữ, và trong nguyên tử vĩ đại hơn của một hệ mặt trời khi nó rung động với đối cực vũ trụ của nó. |
|
We might, therefore, consider time as that process of activity, or that progression in development, wherein the indwelling Consciousness is seeking its opposite, and coming under the Law of Attraction, which leads to atomic, human, planetary, spiritual, solar and cosmic marriage. This idea is comparatively simple in relation to a human being, and can be seen in daily demonstration in his contacts with other men; these contacts are governed, for instance, very largely by his likes and dislikes. All these attractions and repulsions are under law, and their cause exists in form itself. The emotion of like or of dislike is nothing else but the realisation by the conscious entity of the swinging into his magnetic radius of an atomic form which he is led, by the very law of his own being, to either attract or repulse. Only when the form is transcended, and Spirit seeks out Spirit, will the phenomena of repulsion cease. This will be the inevitable finale at the cessation of solar evolution, and it will bring about pralaya. The duration of the interplay, the period of the search of Spirit for Spirit, and [281] the vibratory process necessitated by the utilisation of the form, this we call Time, whether in connection with a man, a planetary Logos, or the Deity. |
Do đó, chúng ta có thể coi thời gian như là quá trình hoạt động đó, hay sự tiến triển trong phát triển đó, trong đó Tâm thức nội tại đang tìm kiếm đối cực của nó, và đi vào dưới Định luật Hấp dẫn, điều dẫn đến cuộc hôn nhân nguyên tử, nhân loại, hành tinh, tinh thần, thái dương và vũ trụ. Ý tưởng này tương đối đơn giản liên quan đến một con người, và có thể được nhìn thấy trong biểu hiện hàng ngày trong các tiếp xúc của y với những người khác; chẳng hạn, những tiếp xúc này được chi phối rất lớn bởi những điều y thích và không thích. Tất cả những sự hấp dẫn và đẩy lùi này đều tuân theo quy luật, và nguyên nhân của chúng tồn tại trong chính hình tướng. Cảm xúc thích hay không thích không gì khác hơn là sự nhận thức của thực thể có ý thức về việc đưa vào bán kính từ tính của y một hình tướng nguyên tử mà y được dẫn dắt, bởi chính quy luật tồn tại của y, để hoặc thu hút hoặc đẩy lùi. Chỉ khi hình tướng được vượt qua, và Tinh thần tìm kiếm Tinh thần, thì các hiện tượng đẩy lùi mới chấm dứt. Đây sẽ là sự kết thúc tất yếu khi chấm dứt sự tiến hóa thái dương, và nó sẽ mang lại giai kỳ qui nguyên. Khoảng thời gian của sự tương tác, thời kỳ tìm kiếm của Tinh thần đối với Tinh thần, và [281] quá trình rung động cần thiết bởi sự sử dụng hình tướng, điều này chúng ta gọi là Thời gian, cho dù liên quan đến một con người, một Hành Tinh Thượng đế, hay Thượng đế. |
|
Space, again, is included in the idea of consciousness, and its utilisation of matter. Space, for the Logos, is literally the form wherein His conscious activities and purposes are worked out—the solar ring-pass-not. The space wherein a planetary Logos works out His plans is similarly as much of solar space as His consciousness is developed enough to use. Man again repeats the process and his ring-pass-not is included in the radius of his consciousness, and may be very circumscribed as in the case of the little evolved, or may be inclusive of a portion of planetary space of great extent, and even in the case of the very highly evolved may begin to touch the periphery of the sphere of influence of the planetary Logos in Whose body he is a cell. |
Không gian, một lần nữa, được bao gồm trong ý tưởng về tâm thức, và việc sử dụng vật chất của nó. Không gian, đối với Thượng đế, theo nghĩa đen là hình tướng trong đó các hoạt động và mục đích có ý thức của Ngài được thực hiện—vòng-giới-hạn thái dương. Không gian nơi một Hành Tinh Thượng đế thực hiện các kế hoạch của Ngài cũng tương tự là nhiều phần của không gian thái dương mà tâm thức của Ngài phát triển đủ để sử dụng. Con người một lần nữa lặp lại quá trình này và vòng-giới-hạn của y được bao gồm trong bán kính tâm thức của y, và có thể rất hạn hẹp như trong trường hợp của người ít tiến hóa, hoặc có thể bao gồm một phần không gian hành tinh rộng lớn, và thậm chí trong trường hợp của người tiến hóa rất cao có thể bắt đầu chạm tới chu vi của phạm vi ảnh hưởng của Hành Tinh Thượng đế mà trong cơ thể Ngài y là một tế bào. |
|
Space for the atom (for instance, the atom in the physical body of man) will be the radius of the form in which is found the greater centre of consciousness of which it is a part and it will be both attracted and repulsed—attracted and built into the form of the greater Life, yet repulsed and thereby prevented from moving from a certain point within that form. |
Không gian đối với nguyên tử (chẳng hạn, nguyên tử trong thể xác của con người) sẽ là bán kính của hình tướng trong đó tìm thấy trung tâm tâm thức lớn hơn mà nó là một phần và nó sẽ vừa bị thu hút vừa bị đẩy lùi—bị thu hút và xây dựng vào hình tướng của Sự Sống lớn hơn, nhưng bị đẩy lùi và do đó bị ngăn cản di chuyển khỏi một điểm nhất định bên trong hình tướng đó. |
|
We have here dealt a little with time and space in their relation to a specific centre of consciousness; we have seen that they are simply forms of ideas to express the cyclic activity of an entity. The subject is exceedingly abstruse, due to the low stage of the human intelligence, which is as yet so occupied with the objective or material side of manifestation that the attraction existing between Spirit and Spirit is little more than a concept. When more of the human family have their centre of consciousness in the Ego and hence are busy with the work of repulsing matter, and with the withdrawal of [282] Spirit from form, then only will the transmutative process be comprehended, then only will time (as known in the three worlds) be transcended, and then only will space (as manifested to man through the three lower planes or the eighteen subplanes) be found to be a barrier. This same statement can be predicated of the seven Logoi and of the solar Logos, extending the idea to other planes, solar and cosmic. So also can it be narrowed down to the subhuman, and to the involutionary lives, remembering ever that as the consciousness is more confined and restricted so inertia, lack of response and limitation of radiation will be seen. |
Ở đây chúng ta đã đề cập một chút về thời gian và không gian trong mối quan hệ của chúng với một trung tâm tâm thức cụ thể; chúng ta đã thấy rằng chúng chỉ đơn giản là các hình thức của ý tưởng để diễn đạt hoạt động theo chu kỳ của một thực thể. Chủ đề này cực kỳ trừu tượng, do giai đoạn thấp kém của trí thông minh nhân loại, vốn cho đến nay quá bận rộn với khía cạnh khách quan hay vật chất của biểu hiện đến nỗi sự hấp dẫn tồn tại giữa Tinh thần và Tinh thần chỉ hơn một khái niệm một chút. Khi nhiều người trong gia đình nhân loại có trung tâm tâm thức của họ trong Chân ngã và do đó bận rộn với công việc đẩy lùi vật chất, và với việc rút lui của[282] Tinh thần khỏi hình tướng, thì chỉ khi đó quá trình chuyển hóa mới được thấu hiểu, chỉ khi đó thời gian (như được biết trong ba cõi giới) mới được vượt qua, và chỉ khi đó không gian (như biểu hiện với con người qua ba cõi thấp hơn hay mười tám cõi phụ) mới được thấy là một rào cản. Cùng một tuyên bố này có thể được khẳng định về bảy Thượng đế và về Thái dương Thượng đế, mở rộng ý tưởng sang các cõi khác, thái dương và vũ trụ. Vì vậy, nó cũng có thể được thu hẹp xuống các sự sống dưới nhân loại, và các sự sống giáng hạ tiến hóa, luôn nhớ rằng khi tâm thức càng bị giam hãm và hạn chế thì sự trơ ì, thiếu đáp ứng và giới hạn của bức xạ sẽ càng được nhìn thấy. |
|
By a close scrutiny of chart V, it will be apparent wherein lies the problem of the Logos, and wherein lies the accuracy of the correspondence between Him and His reflection Man. |
Bằng cách xem xét kỹ lưỡng biểu đồ V, sẽ thấy rõ vấn đề của Thượng đế nằm ở đâu, và sự chính xác của sự tương ứng giữa Ngài và phản ảnh của Ngài là Con Người nằm ở đâu. |
|
First. Both are in objective manifestation on the physical plane. |
Thứ nhất. Cả hai đều đang trong biểu hiện khách quan trên cõi hồng trần. |
|
Second. Both are at their point of deepest involution. |
Thứ hai. Cả hai đều ở điểm giáng hạ tiến hóa sâu nhất của họ. |
|
Third. Both are trammelled by matter, and are developing consciousness (egoic consciousness) on the physical plane—man on the solar physical, and the Logos on the cosmic physical plane. |
Thứ ba. Cả hai đều bị trói buộc bởi vật chất, và đang phát triển tâm thức (tâm thức chân ngã) trên cõi hồng trần—con người trên cõi hồng trần thái dương, và Thượng đế trên cõi hồng trần vũ trụ. |
|
Fourth. Man has to bring down into conscious full control, the God within. Through that control he must dominate circumstance, make his environment his instrument and manipulate matter. On cosmic levels the Logos does likewise. Both are far from achievement. |
Thứ tư. Con người phải mang xuống sự kiểm soát hoàn toàn có ý thức, vị Thượng đế bên trong. Thông qua sự kiểm soát đó, y phải chế ngự hoàn cảnh, biến môi trường thành công cụ của mình và vận dụng vật chất. Trên các cấp độ vũ trụ, Thượng đế cũng làm như vậy. Cả hai đều còn xa mới đạt được thành tựu. |
|
Fifth. Both work in, with, and by, electrical force. |
Thứ năm. Cả hai đều làm việc trong, với, và bằng, mãnh lực điện. |
|
Sixth. Both come under the laws governing forms and hence both are controlled in time and space by KARMA, which is the Law of forms. It has to do with quality, as force has to do with vibration. |
Thứ sáu. Cả hai đều nằm dưới các quy luật chi phối hình tướng và do đó cả hai đều bị kiểm soát trong thời gian và không gian bởi NGHIỆP QUẢ, vốn là Định luật của các hình tướng. Nó liên quan đến phẩm tính, cũng như mãnh lực liên quan đến rung động. |
|
Seventh. Both work through forms made up of: [283] |
Thứ bảy. Cả hai đều làm việc thông qua các hình tướng được tạo thành từ: [283] |
|
a. Three main types of forms: A mental form, one aspect of manifestation; an astral form, a second aspect; and a physical form, the third aspect. The mental vibration sets the key measure and seeks to utilise and co-ordinate the physical body at Will. It deals with or links up the consciousness to the three forms in one direction; it repulses and causes separation in another. The astral vibration deals with the quality, with the attractive measure. It is the psychic element. The physical is the meeting ground of consciousness with the material form. This last is the result produced by the union of the key measure and the quality of tone. |
a. Ba loại hình tướng chính: Một hình tướng trí tuệ, một phương diện của biểu hiện; một hình tướng cảm dục, một phương diện thứ hai; và một hình tướng hồng trần, phương diện thứ ba. Rung động trí tuệ thiết lập nhịp điệu chủ đạo và tìm cách sử dụng và phối kết thể xác theo Ý Chí. Nó giải quyết hoặc liên kết tâm thức với ba hình tướng theo một hướng; nó đẩy lùi và gây ra sự chia rẽ theo hướng khác. Rung động cảm dục giải quyết phẩm tính, với nhịp độ hấp dẫn. Đó là yếu tố tâm linh. Hồng trần là nơi gặp gỡ của tâm thức với hình tướng vật chất. Điều cuối cùng này là kết quả được tạo ra bởi sự hợp nhất của nhịp điệu chủ đạo và phẩm tính của âm điệu. |
|
b. Seven centres of force which hold the three forms in one coherent whole, and cause their vitalisation and their co-ordination. They put the triple unit into correlation with their main centre of consciousness on the higher planes, whether that centre is the causal body of man, of a planetary Logos, or of a solar Logos. |
b. Bảy trung tâm mãnh lực giữ ba hình tướng trong một tổng thể gắn kết, và gây ra sự sinh hoạt hóa và sự phối kết của chúng. Chúng đặt đơn vị tam phân vào sự tương quan với trung tâm tâm thức chính của họ trên các cõi cao hơn, cho dù trung tâm đó là thể nguyên nhân của con người, của một Hành Tinh Thượng đế, hay của một Thái dương Thượng đế. |
|
c. Millions of infinitesimal cells, each embodying a lesser life, each in a condition of constant activity, and each repulsing other cells so as to preserve individuality or identity, yet each held to each by a central attractive force. Thus we have produced the objective form of a crystal, a vegetable, an animal, a man, a planet, a system. |
c. Hàng triệu tế bào cực nhỏ, mỗi tế bào hiện thân cho một sự sống nhỏ hơn, mỗi tế bào trong tình trạng hoạt động liên tục, và mỗi tế bào đẩy lùi các tế bào khác để bảo tồn cá tính hay bản sắc, nhưng mỗi tế bào được giữ với nhau bởi một lực hấp dẫn trung tâm. Như vậy chúng ta đã tạo ra hình tướng khách quan của một tinh thể, một thực vật, một động vật, một con người, một hành tinh, một hệ thống. |
|
Finally, both work, therefore, in a dual manner and each demonstrates both attraction and repulsion. |
Cuối cùng, do đó, cả hai đều hoạt động theo một cách thức kép và mỗi bên đều thể hiện cả sự hấp dẫn và đẩy lùi. |
|
Attraction of matter to Spirit and the building of a form for the use of Spirit is the result of electrical energy in the universe, which in each case brings the lesser lives or spheres into its range of influence. The magnetic force, the life of the Logos gathers together His body of manifestation. The magnetic force of the Heavenly Man, the planetary Logos, gathers out of the solar ring-pass-not that which He needs for each incarnation. |
Sự hấp dẫn của vật chất đối với Tinh thần và việc xây dựng một hình tướng cho việc sử dụng của Tinh thần là kết quả của năng lượng điện trong vũ trụ, vốn trong mỗi trường hợp mang các sự sống hay các quả cầu nhỏ hơn vào phạm vi ảnh hưởng của nó. Lực từ tính, sự sống của Thượng đế tập hợp lại cơ thể biểu hiện của Ngài. Lực từ tính của Đấng Thiên Nhân, Hành Tinh Thượng đế, thu thập từ bên ngoài vòng-giới-hạn thái dương những gì Ngài cần cho mỗi lần lâm phàm. |
|
[284] The magnetic force of the Ego gathers, at each rebirth, matter within the particular sphere or scheme within which the Ego has place. So on down the scale, we find the lesser pursuing its round ever within the greater. |
[284] Lực từ tính của Chân ngã thu thập, tại mỗi lần tái sinh, vật chất trong phạm vi hay hệ thống cụ thể mà trong đó Chân ngã có vị trí. Vì vậy, đi xuống thang bậc, chúng ta thấy cái nhỏ hơn theo đuổi vòng quay của nó luôn ở bên trong cái lớn hơn. |
|
Therefore we have (during a period of Attraction and Repulsion, or a life cycle) that which we call Time and Space, and this holds equally true in the life cycle of a Logos or an ant, or a crystal. There are cycles of activity in matter, due to some energising Will, and then Time and Space are known. There are cycles of non-being when Time and Space are not, and the energising Will is withdrawn. But we must not forget that this is purely relative, and only to be considered from the standpoint of the particular life or entity involved, and the special stage of awareness reached. All must be interpreted in terms of consciousness. |
Do đó chúng ta có (trong một thời kỳ Hấp dẫn và Đẩy lùi, hay một chu kỳ sống) cái mà chúng ta gọi là Thời gian và Không gian, và điều này cũng đúng trong chu kỳ sống của một Thượng đế hay một con kiến, hay một tinh thể. Có các chu kỳ hoạt động trong vật chất, do một Ý Chí tiếp sinh lực nào đó, và khi đó Thời gian và Không gian được biết đến. Có các chu kỳ phi-hiện hữu khi Thời gian và Không gian không tồn tại, và Ý Chí tiếp sinh lực được rút lui. Nhưng chúng ta không được quên rằng điều này hoàn toàn tương đối, và chỉ được xem xét từ quan điểm của sự sống hay thực thể cụ thể liên quan, và giai đoạn nhận thức đặc biệt đã đạt được. Tất cả phải được giải thích theo thuật ngữ của tâm thức. |
|
The first type of cycle, or the period involved in one entire revolution of a sphere around its own centre of consciousness, is to the particular Entity involved (be he God or man) a lesser cycle. The second type of cycle or the period involved in the complete circling of an orbit, or the revolution of a sphere around the centre of which it is an integral part, we can consider as a greater cycle. The third type of cycle has not so much to do with the transition of the form through a certain location in space but as the cycle which includes both the greater and the lesser cycles. It has to do with the response of the ENTITY, to Whom our solar Logos is but a centre in His Body, to the contacts made on that centre and on its cosmic opposite. These two centres, for instance, our solar system and its cosmic opposite, in their interaction create a cycle period which has a relation to the “ONE WHO IS ABOVE OUR LOGOS.” This is, of course, beyond human conception, but must be included in our enumeration of cycles if exactitude is to be achieved. [285] |
Loại chu kỳ đầu tiên, hay thời kỳ bao hàm trong một vòng quay trọn vẹn của một quả cầu quanh trung tâm tâm thức của chính nó, đối với Thực thể cụ thể liên quan (dù là Thượng đế hay con người) là một chu kỳ nhỏ hơn. Loại chu kỳ thứ hai hay thời kỳ bao hàm trong việc đi trọn vẹn một quỹ đạo, hay vòng quay của một quả cầu quanh trung tâm mà nó là một phần không thể thiếu, chúng ta có thể coi là một chu kỳ lớn hơn. Loại chu kỳ thứ ba không liên quan nhiều đến sự chuyển dịch của hình tướng qua một vị trí nhất định trong không gian mà như chu kỳ bao gồm cả chu kỳ lớn hơn và nhỏ hơn. Nó liên quan đến sự đáp ứng của THỰC THỂ, mà Thái dương Thượng đế của chúng ta chỉ là một trung tâm trong Thể của Ngài, đối với các tiếp xúc được thực hiện trên trung tâm đó và trên đối cực vũ trụ của nó. Ví dụ, hai trung tâm này, hệ mặt trời của chúng ta và đối cực vũ trụ của nó, trong sự tương tác của chúng tạo ra một thời kỳ chu kỳ có quan hệ với “ĐẤNG Ở TRÊN THƯỢNG ĐẾ CỦA CHÚNG TA.” Điều này, tất nhiên, vượt quá sự quan niệm của con người, nhưng phải được đưa vào sự liệt kê các chu kỳ của chúng ta nếu muốn đạt được sự chính xác. [285] |
VIII. WHY IS KNOWLEDGE BOTH EXOTERIC AND ESOTERIC?—VIII. TẠI SAO KIẾN THỨC VỪA LÀ NGOẠI MÔN VỪA LÀ NỘI MÔN?
[Commentary S3S7]
|
(116) |
|
|
We can now take up the question next in order, which was worded: “Why do we consider certain aspects of knowledge esoteric and other aspects as exoteric?” |
Bây giờ chúng ta có thể tiếp nhận câu hỏi tiếp theo theo thứ tự, được diễn đạt là: “Tại sao chúng ta coi một số phương diện của kiến thức là nội môn và các phương diện khác là ngoại môn?” |
|
The answer to this practically involves the realisation that some knowledge deals with the subjective side of life, and the other type of knowledge with the objective side; that one type of knowledge is concerned with energy and force (hence the danger of undue hasty revelation) and another with that which is energised. Therefore it will be apparent that until the faculty of ascertaining subjective information is achieved, whole ranges of facts will remain outside the scope of the consciousness of the majority. |
Câu trả lời cho điều này thực tế bao hàm sự chứng nghiệm rằng một số kiến thức đề cập đến khía cạnh chủ quan của cuộc sống, và loại kiến thức khác đề cập đến khía cạnh khách quan; rằng một loại kiến thức liên quan đến năng lượng và mãnh lực (do đó nguy cơ của sự tiết lộ vội vã quá mức) và loại khác liên quan đến cái được tiếp năng lượng. Do đó, sẽ rõ ràng rằng cho đến khi khả năng xác định thông tin chủ quan đạt được, toàn bộ các phạm vi sự kiện sẽ nằm ngoài tầm với của tâm thức của đa số. |
|
As we have been told, the goal of evolution is the attainment of consciousness on all planes; owing to the small evolutionary attainment of the race only the physical plane is as yet in any way brought under conscious control. The knowledge which deals with that plane, [286] the information which is concerned with densest objectivity, the sumtotal of facts connected with the five lower subplanes of the physical plane are (from the occult standpoint) considered exoteric. During the next two races the other two subplanes will be mastered, and the entire mass of knowledge concerned with physical and etheric matter, with energy, form and experience on the physical plane, will be easily available to man, and concern only his five physical senses. |
Như chúng ta đã được bảo, mục tiêu của tiến hóa là việc đạt được tâm thức trên tất cả các cõi; do sự đạt được tiến hóa nhỏ bé của giống dân nên cho đến nay chỉ có cõi hồng trần được đưa dưới sự kiểm soát có ý thức theo bất kỳ cách nào. Kiến thức đề cập đến cõi đó, [286] thông tin liên quan đến tính khách quan đậm đặc nhất, tổng thể các sự kiện kết nối với năm cõi phụ thấp hơn của cõi hồng trần (từ quan điểm huyền bí) được coi là ngoại môn. Trong hai giống dân tiếp theo, hai cõi phụ khác sẽ được làm chủ, và toàn bộ khối lượng kiến thức liên quan đến vật chất hồng trần và dĩ thái, với năng lượng, hình tướng và kinh nghiệm trên cõi hồng trần, sẽ dễ dàng có sẵn cho con người, và chỉ liên quan đến năm giác quan vật lý của y. |
|
Information and knowledge of the life evolving through the forms will for a considerably longer time be considered esoteric, as also will the apprehension and comprehension of the matter aspect, and the laws governing energy on the astral and the mental planes. This is stated in connection with average man, the rank and file of humanity. Objective or exoteric information is largely that obtained or ascertained by men in the Hall of Learning by means of the five senses, and by experiment. Experiment in due course of time and after many cycles of incarnation is transmuted into experience, and this produces eventually that which we call instinct, or the habitual reaction of some type of consciousness to a given set of circumstances, or of environment. These two factors of the senses and of experimental contact can be seen working out in the animal and human kingdoms; the difference between the two exists in the ability of the man consciously to remember, apprehend, anticipate, and utilise the fruits of past experience, and thus influence the present and prepare for the future. He employs the physical brain for this purpose. An animal likewise has an instinctual memory, apprehension, and an embryo anticipation, but (lacking mind) he is unable to adjust them to circumstances in the sense of prearrangement, and lacks the capacity consciously to utilise, and thus reap, the benefit of past events, and to learn from experience in the manner which a man does. The [287] animal uses the solar plexus in the same way that a man uses the brain; it is the organ of instinct. |
Thông tin và kiến thức về sự sống đang tiến hóa thông qua các hình tướng sẽ trong một thời gian dài đáng kể được coi là nội môn, cũng như sự nhận thức và thấu hiểu về phương diện vật chất, và các quy luật chi phối năng lượng trên các cõi cảm dục và cõi trí. Điều này được nêu ra liên quan đến con người trung bình, đại chúng nhân loại. Thông tin khách quan hay ngoại môn phần lớn là những gì thu được hay xác định được bởi con người trong Phòng Học Tập bằng phương tiện năm giác quan, và bằng thực nghiệm. Thực nghiệm trong quá trình thời gian và sau nhiều chu kỳ lâm phàm được chuyển hóa thành kinh nghiệm, và điều này cuối cùng tạo ra cái mà chúng ta gọi là bản năng, hay phản ứng theo thói quen của một loại tâm thức nào đó đối với một tập hợp hoàn cảnh nhất định, hay của môi trường. Hai yếu tố này của các giác quan và của tiếp xúc thực nghiệm có thể được thấy đang hoạt động trong các giới động vật và nhân loại; sự khác biệt giữa hai giới tồn tại ở khả năng của con người để ghi nhớ, nhận thức, dự đoán và sử dụng một cách có ý thức các thành quả của kinh nghiệm quá khứ, và do đó ảnh hưởng đến hiện tại và chuẩn bị cho tương lai. Y sử dụng bộ não vật lý cho mục đích này. Một con vật cũng có trí nhớ bản năng, sự nhận thức, và một sự dự đoán phôi thai, nhưng (thiếu trí tuệ) nó không thể điều chỉnh chúng theo hoàn cảnh theo nghĩa sắp xếp trước, và thiếu năng lực để sử dụng một cách có ý thức, và do đó gặt hái, lợi ích của các sự kiện quá khứ, và học hỏi từ kinh nghiệm theo cách mà một con người làm. [287] Con vật sử dụng tùng thái dương theo cùng cách mà một con người sử dụng bộ não; đó là cơ quan của bản năng. |
|
All that can be acquired by instinct and by the use of the concrete mind functioning through the physical brain can be considered as dealing with that which we call exoteric. It is thus evident how the range of fact will differ according to: |
Tất cả những gì có thể đạt được bằng bản năng và bằng việc sử dụng trí cụ thể hoạt động thông qua bộ não vật lý có thể được coi là đề cập đến cái mà chúng ta gọi là ngoại môn. Do đó hiển nhiên là phạm vi sự kiện sẽ khác nhau tùy theo: |
|
a. The age of the soul. |
a. Tuổi của linh hồn. |
|
b. Experience developed and used. |
b. Kinh nghiệm được phát triển và sử dụng. |
|
c. Condition of the brain and the physical body. |
c. Tình trạng của bộ não và cơ thể vật lý. |
|
d. Circumstances and environment. |
d. Hoàn cảnh và môi trường. |
|
As time progresses and man reaches a fair state of evolution, mind is more rapidly developed, and a new factor comes gradually into play. Little by little the intuition, or the transcendental mind, begins to function, and eventually supersedes the lower or concrete mind. It then utilises the physical brain as a receiving plate, but at the same time develops certain centres in the head, and thus transfers the zone of its activity from the physical brain to the higher head centres, existing in etheric matter. For the mass of humanity, this will be effected during the opening up of the etheric subplanes during the next two races. This is paralleled in the animal kingdom by the gradual transference of the zone of activity from the solar plexus to the rudimentary brain, and its gradual development by the aid of manas. |
Khi thời gian trôi qua và con người đạt đến một trạng thái tiến hóa khá, trí tuệ được phát triển nhanh chóng hơn, và một yếu tố mới dần dần đi vào hoạt động. Từng chút một trực giác, hay trí tuệ siêu việt, bắt đầu hoạt động, và cuối cùng thay thế trí thấp hay trí cụ thể. Khi đó nó sử dụng bộ não vật lý như một tấm thu nhận, nhưng đồng thời phát triển các trung tâm nhất định trong đầu, và do đó chuyển vùng hoạt động của nó từ bộ não vật lý sang các trung tâm đầu cao hơn, tồn tại trong vật chất dĩ thái. Đối với đại chúng nhân loại, điều này sẽ được thực hiện trong quá trình mở ra các cõi phụ dĩ thái trong hai giống dân tiếp theo. Điều này được song hành trong giới động vật bởi sự chuyển dịch dần dần vùng hoạt động từ tùng thái dương sang bộ não sơ khai, và sự phát triển dần dần của nó nhờ sự trợ giúp của manas. |
|
As we consider these points, it will become apparent that the esoteric aspects of knowledge are really those zones of consciousness which are not yet conquered, and brought within the radius of control of the indwelling Entity. |
Khi chúng ta xem xét những điểm này, sẽ trở nên rõ ràng rằng các phương diện nội môn của kiến thức thực sự là những vùng tâm thức chưa bị chinh phục, và chưa được đưa vào trong bán kính kiểm soát của Thực thể nội tại. |
|
The point to be emphasised is that when this is realised the true significance of the esoteric and the occult will be appreciated, and the endeavor of all KNOWERS will be to draw within the zone of their knowledge other [288] units who are ready for a similar expansion of consciousness. In this thought lies the key to the work of the Brotherhood. They attract by Their force into certain fields of realisation and endeavor and by that attraction and the response of those human atoms who are ready, the group soul on the upward arc, or a particular centre of a Heavenly Man, is co-ordinated. |
Điểm cần nhấn mạnh là khi điều này được chứng nghiệm, ý nghĩa thực sự của nội môn và huyền bí sẽ được đánh giá cao, và nỗ lực của tất cả CÁC THỨC GIẢ sẽ là thu hút vào trong vùng kiến thức của họ những [288] đơn vị khác vốn đã sẵn sàng cho một sự mở rộng tâm thức tương tự. Trong tư tưởng này nằm chìa khóa cho công việc của Huynh đệ đoàn. Các Ngài thu hút bằng mãnh lực của Các Ngài vào các lĩnh vực chứng nghiệm và nỗ lực nhất định và bằng sự thu hút đó và sự đáp ứng của những nguyên tử nhân loại đã sẵn sàng đó, hồn nhóm trên cung vươn lên, hay một trung tâm cụ thể của một Đấng Thiên Nhân, được phối kết. |
|
In the same way the animal is brought at a certain stage into the zone of influence of the lesser sons of mind—human beings who are the elder brothers of the animals, as the Masters of the Wisdom are the Elder Brothers where humanity is concerned. So the interlocking proceeds and the division of responsibility. |
Theo cùng cách đó, con vật được đưa ở một giai đoạn nhất định vào vùng ảnh hưởng của những Đấng Con nhỏ hơn của trí tuệ—những con người vốn là các huynh trưởng của loài vật, giống như Các Chân sư Minh triết là Các Huynh Trưởng ở nơi có liên quan đến nhân loại. Vì vậy sự liên kết tiếp diễn và sự phân chia trách nhiệm. |
IX. WHAT IS THE RELATION BETWEEN:—IX. MỐI QUAN HỆ LÀ GÌ GIỮA:
|
a. The ten planetary schemes? |
a. Mười hệ hành tinh? |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
b. The seven sacred planets? |
b. Bảy hành tinh thiêng liêng? |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
c. The seven chains in a scheme? |
c. Bảy dãy trong một hệ thống? |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
d. The seven globes in a chain? |
d. Bảy bầu trong một dãy? |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
e. The seven rounds on a globe? |
e. Bảy cuộc tuần hoàn trên một bầu? |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
f. The seven root-races and the seven subraces? |
f. Bảy giống dân gốc và bảy giống dân phụ? |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
We have in this question a vast quantity of matter to deal with and it will be impossible for us to do more than to get a broad and general idea. |
Chúng ta có trong câu hỏi này một lượng lớn vấn đề để giải quyết và sẽ không thể làm gì hơn ngoài việc có được một ý tưởng rộng và tổng quát. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
The subject is so vast and the comprehensiveness of the interrelated points is so great that we shall only attain lucidity if we confine our attention to certain broad general conceptions, leaving the subsidiary points for more detailed elucidation at some later period. |
Chủ đề này quá rộng lớn và tính bao hàm của các điểm tương quan quá lớn đến mức chúng ta sẽ chỉ đạt được sự sáng tỏ nếu chúng ta giới hạn sự chú ý của mình vào những quan niệm tổng quát rộng lớn nhất định, để lại các điểm phụ cho sự làm sáng tỏ chi tiết hơn vào một giai đoạn sau. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
1. The Inter-related Parts |
1. Các Phần Tương Quan |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Primarily I would suggest that we consider this subject only as it concerns a Heavenly Man, that we omit from our immediate calculations the consideration of the cellular composition of His body (those separated units of consciousness which we call deva and human [289] beings), and that we view the matter from what is to the human being, the group concept, and not the individual. |
Chủ yếu Tôi gợi ý rằng chúng ta chỉ xem xét chủ đề này khi nó liên quan đến một Đấng Thiên Nhân, rằng chúng ta bỏ qua khỏi các tính toán tức thời của mình việc xem xét thành phần tế bào của thể của Ngài (những đơn vị tâm thức tách biệt mà chúng ta gọi là deva và [289] con người), và rằng chúng ta xem xét vấn đề từ những gì đối với con người là khái niệm nhóm, chứ không phải cá nhân. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
The entire middle section of this treatise on the Fires has to do with the development of the consciousness of a Heavenly Man, and the application by Him of the knowledge gained (through the aid of manas or mind) in a previous solar system, to the acquisition of wisdom through objectivity, and to the transmutation of the earlier acquired faculty into applied Love. This is His work in the same sense that the work of the cells within His body is to develop the mind principle. When through experience in the three worlds the human units have accomplished this, they can then gain—through the final initiations—something of the group concept, or the conscious realisation of place, and of energised activity within the ring-pass-not of their particular planetary Logos. Therefore, we might consider the following points: |
Toàn bộ phần giữa của luận thuyết này về Lửa liên quan đến sự phát triển tâm thức của một Đấng Thiên Nhân, và sự áp dụng bởi Ngài kiến thức đạt được (nhờ sự trợ giúp của manas hay trí tuệ) trong một hệ mặt trời trước, vào việc đạt được minh triết thông qua tính khách quan, và vào việc chuyển hóa năng lực đã đạt được trước đó thành Tình thương được áp dụng. Đây là công việc của Ngài theo cùng ý nghĩa rằng công việc của các tế bào bên trong thể của Ngài là phát triển nguyên khí trí tuệ. Khi thông qua kinh nghiệm trong ba cõi giới, các đơn vị nhân loại đã hoàn thành điều này, họ có thể đạt được—thông qua các cuộc điểm đạo cuối cùng—điều gì đó thuộc về khái niệm nhóm, hay sự chứng nghiệm có ý thức về vị trí, và về hoạt động được tiếp năng lượng bên trong vòng-giới-hạn của Hành Tinh Thượng đế cụ thể của họ. Do đó, chúng ta có thể xem xét các điểm sau: |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
First: The work of the units who go to the make-up of a particular planetary Logos. This is of a threefold nature: |
Thứ nhất: Công việc của các đơn vị đi vào cấu tạo của một Hành Tinh Thượng đế cụ thể. Điều này có bản chất tam phân: |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
a. To attain the consciousness of the realised control of their own individual ring-pass-not, or of their own sphere of activity. This covers the period of evolution up to the first Initiation, or their entrance upon the Path, and thus into the spiritual kingdom. It concerns the awakening of consciousness on the three lower planes. |
a. Đạt được tâm thức về sự kiểm soát được chứng nghiệm đối với vòng-giới-hạn cá nhân của chính họ, hay phạm vi hoạt động của chính họ. Điều này bao gồm thời kỳ tiến hóa cho đến lần Điểm đạo thứ nhất, hay sự bước vào của họ trên Thánh Đạo, và do đó vào giới tinh thần. Nó liên quan đến sự thức tỉnh tâm thức trên ba cõi thấp. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
b. To attain the consciousness of the particular centre in the body of one of the planetary Logoi—which centre embodies their group activity. This carries them to the fifth Initiation, and covers the period wherein consciousness is awakened on the five planes of evolution. |
b. Đạt được tâm thức của trung tâm cụ thể trong thể của một trong các Hành Tinh Thượng đế—trung tâm thể hiện hoạt động nhóm của họ. Điều này đưa họ đến lần Điểm đạo thứ năm, và bao gồm thời kỳ mà trong đó tâm thức được thức tỉnh trên năm cõi tiến hóa. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
c. To attain to the consciousness of the centre in the Body of the Logos of which any particular planetary [290] Logos is the sumtotal. This carries them to the seventh Initiation and covers the period of the awakening of consciousness on the seven planes of the solar system. |
c. Đạt được tâm thức của trung tâm trong Thể của Thượng đế mà bất kỳ Hành Tinh Thượng đế [290] cụ thể nào là tổng thể. Điều này đưa họ đến lần Điểm đạo thứ bảy và bao gồm thời kỳ thức tỉnh tâm thức trên bảy cõi của hệ mặt trời. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
These expansions are attained by the aid of mind, transmuted in due course of time into love-wisdom, and entail the conscious control of the entire seven planes of the solar system, or of the lowest cosmic plane. |
Những sự mở rộng này đạt được nhờ sự trợ giúp của trí tuệ, được chuyển hóa trong quá trình thời gian thành bác ái-minh triết, và đòi hỏi sự kiểm soát có ý thức đối với toàn bộ bảy cõi của hệ mặt trời, hay của cõi vũ trụ thấp nhất. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Second: The work of the Heavenly Men Who in their totality are the seven centres in the body of the Logos. This work is again threefold: |
Thứ hai: Công việc của các Đấng Thiên Nhân Những Đấng trong tổng thể của mình là bảy trung tâm trong thể của Thượng đế. Công việc này một lần nữa là tam phân: |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
a. To attain to full self-consciousness, or to individual consciousness on the five planes; to vibrate with conscious activity within Their Own ring-pass-not, a planetary scheme. This covers a period in the scheme of involution, and of that period during the evolutionary stage which is comprised within the first three rounds up to the entrance upon the fourth round. |
a. Đạt được ngã thức đầy đủ, hay tâm thức cá nhân trên năm cõi; rung động với hoạt động có ý thức bên trong vòng-giới-hạn của Chính Các Ngài, một hệ hành tinh. Điều này bao gồm một thời kỳ trong sơ đồ của giáng hạ tiến hóa, và thời kỳ đó trong giai đoạn tiến hóa được bao hàm trong ba cuộc tuần hoàn đầu tiên cho đến khi bước vào cuộc tuần hoàn thứ tư. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
b. To attain to the consciousness of the solar Logos, within Whose body They form the centres. It entails the attainment by a Heavenly Man of a group consciousness of a sevenfold nature, or the achievement of accurate vibratory relationship with the other Heavenly Men Who form the other centres. It carries with it the capacity to have full conscious control on the seven planes of the solar system, and covers that period of development which is undergone in a planetary chain during the fourth, fifth, and sixth rounds. It should be borne in mind that a paralleling recognition should here be given to the fact that the solar Logos holds an analogous position in the body of a cosmic Entity to that held by a Heavenly Man in the body of a solar Logos. |
b. Đạt được tâm thức của Thái dương Thượng đế, bên trong thể của Ngài Các Đấng hình thành nên các trung tâm. Nó đòi hỏi việc đạt được bởi một Đấng Thiên Nhân một tâm thức nhóm có bản chất thất phân, hay việc đạt được mối quan hệ rung động chính xác với các Đấng Thiên Nhân khác Những Đấng hình thành nên các trung tâm khác. Nó mang theo khả năng có sự kiểm soát hoàn toàn có ý thức trên bảy cõi của hệ mặt trời, và bao gồm thời kỳ phát triển đó được trải qua trong một dãy hành tinh trong các cuộc tuần hoàn thứ tư, thứ năm và thứ sáu. Cần ghi nhớ rằng một sự thừa nhận song hành ở đây nên được dành cho thực tế là Thái dương Thượng đế giữ một vị trí tương tự trong thể của một Thực thể vũ trụ như vị trí được giữ bởi một Đấng Thiên Nhân trong thể của một Thái dương Thượng đế. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
c. To attain to the consciousness of a greater centre on cosmic levels. This covers the period of the seventh round, and gives to a Heavenly Man (when these rounds are viewed in the light of the Eternal Now, and not from the standpoint of time and of space) the consciousness of [291] the cosmic astral, or the second lowest plane of the cosmic planes. A great deal of the problem to be seen slowly working out at this time to a solution is due to the fact that the control of the Heavenly Man, Whose body our scheme may be, is as yet but partial, and His cosmic experience is as yet but imperfect. This necessarily affects the cells in His body in the same way that lack of astral control in the case of a human being, affects his vehicle. It might here be pointed out that the evolution of the Heavenly Men is unequal, and that our planetary Logos has not the control, for instance, that the Heavenly Man of the Venus chain has achieved. In each round one subplane of the cosmic astral plane is brought under control, and the consciousness of the Heavenly Man expands to include one subplane more. The planetary Lord of Venus has dominated and controlled the five subplanes and is working on the sixth. Our planetary Logos is engaged in a similar work on the fourth and fifth. The work, as in all cycles, overlaps and it might be explained thus: |
c. Đạt được tâm thức của một trung tâm lớn hơn trên các cấp độ vũ trụ. Điều này bao gồm thời kỳ của cuộc tuần hoàn thứ bảy, và mang lại cho một Đấng Thiên Nhân (khi các cuộc tuần hoàn này được nhìn dưới ánh sáng của Hiện Tại Vĩnh Cửu, và không phải từ quan điểm của thời gian và của không gian) tâm thức của [291] cõi cảm dục vũ trụ, hay cõi thấp thứ hai của các cõi vũ trụ. Rất nhiều vấn đề được thấy đang dần dần được giải quyết vào thời điểm này là do thực tế rằng sự kiểm soát của Đấng Thiên Nhân, Mà hệ thống của chúng ta có thể là thể của Ngài, cho đến nay chỉ là một phần, và kinh nghiệm vũ trụ của Ngài cho đến nay chỉ là không hoàn hảo. Điều này nhất thiết ảnh hưởng đến các tế bào trong thể của Ngài theo cùng cách mà sự thiếu kiểm soát cảm dục trong trường hợp của một con người, ảnh hưởng đến hiện thể của y. Ở đây có thể chỉ ra rằng sự tiến hóa của các Đấng Thiên Nhân là không đồng đều, và rằng Hành Tinh Thượng đế của chúng ta không có sự kiểm soát, chẳng hạn, mà Đấng Thiên Nhân của dãy sao Kim đã đạt được. Trong mỗi cuộc tuần hoàn, một cõi phụ của cõi cảm dục vũ trụ được đưa dưới sự kiểm soát, và tâm thức của Đấng Thiên Nhân mở rộng để bao gồm thêm một cõi phụ. Đấng Chúa Tể hành tinh của sao Kim đã chế ngự và kiểm soát năm cõi phụ và đang làm việc trên cõi thứ sáu. Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đang tham gia vào một công việc tương tự trên cõi thứ tư và thứ năm. Công việc, cũng như trong tất cả các chu kỳ, chồng chéo lên nhau và nó có thể được giải thích như sau: |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
He is perfecting the control of the fourth subplane on the cosmic astral plane, and has nearly completed it. He is beginning to work at the control of the fifth subplane—a control which will be perfected in the fifth round. |
Ngài đang hoàn thiện sự kiểm soát cõi phụ thứ tư trên cõi cảm dục vũ trụ, và gần như đã hoàn thành nó. Ngài đang bắt đầu làm việc ở sự kiểm soát cõi phụ thứ năm—một sự kiểm soát sẽ được hoàn thiện trong cuộc tuần hoàn thứ năm. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
He is sensing and responding to the vibration of the sixth subplane, but is not as yet fully conscious on that subplane. |
Ngài đang cảm nhận và đáp ứng với rung động của cõi phụ thứ sáu, nhưng cho đến nay vẫn chưa hoàn toàn ý thức trên cõi phụ đó. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
We have a corresponding reflection to this in the fourth and fifth root-races on this planet, in which the astral consciousness of the Atlantean cycle is being perfected, the fifth principle is being developed, and the sixth is being gradually sensed. This deserves thoughtful consideration. |
Chúng ta có một phản ảnh tương ứng với điều này trong các giống dân gốc thứ tư và thứ năm trên hành tinh này, trong đó tâm thức cảm dục của chu kỳ Atlantis đang được hoàn thiện, nguyên khí thứ năm đang được phát triển, và nguyên khí thứ sáu đang dần được cảm nhận. Điều này xứng đáng được xem xét kỹ lưỡng. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Third: The work of a solar logos is again of a corresponding nature: |
Thứ ba: Công việc của một thái dương thượng đế một lần nữa có bản chất tương ứng: |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
[292] a. He has to attain to the full consciousness of His entire ring-pass-not, or of the seven planes of the solar system. This covers a period wherein five of the Heavenly Men, or five of His centres, and therefore, five schemes, reach a stage of accurate response to contact and stimulation. |
[292]a. Ngài phải đạt được tâm thức đầy đủ về toàn bộ vòng-giới-hạn của Ngài, hay về bảy cõi của hệ mặt trời. Điều này bao gồm một thời kỳ trong đó năm trong số các Đấng Thiên Nhân, hay năm trong số các trung tâm của Ngài, và do đó, năm hệ thống, đạt đến một giai đoạn đáp ứng chính xác với tiếp xúc và kích thích. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
b. He has to attain to the consciousness of the cosmic Logos within Whose body He is a centre. He must find by experience His place within the cosmic group of which He is a part, in much the same way as a planetary Logos pursues a similar course. This is achieved when all the Heavenly Men or each of the seven centres are awakened and functioning consciously and freely, with their systemic inter-relation adjusted and controlled by the Law of Action and Reaction. It brings within His control not only the seven subplanes of the cosmic physical plane (our seven major planes) but necessarily also the cosmic astral plane. |
b. Ngài phải đạt được tâm thức của Thượng đế vũ trụ mà bên trong thể của Ngài, Ngài là một trung tâm. Ngài phải tìm thấy qua kinh nghiệm vị trí của Ngài bên trong nhóm vũ trụ mà Ngài là một phần, theo cùng cách mà một Hành Tinh Thượng đế theo đuổi một lộ trình tương tự. Điều này đạt được khi tất cả các Đấng Thiên Nhân hay mỗi một trong bảy trung tâm được thức tỉnh và hoạt động một cách có ý thức và tự do, với mối tương quan hệ thống của Các Ngài được điều chỉnh và kiểm soát bởi Định luật Tác động và Phản ứng. Nó mang lại trong sự kiểm soát của Ngài không chỉ bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ (bảy cõi chính của chúng ta) mà nhất thiết cả cõi cảm dục vũ trụ. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
c. To attain to the consciousness of the centre in the body of the ONE ABOUT WHOM NOUGHT MAY BE SAID. This centre is formed by the sphere of influence of a cosmic Logos. In the body of a cosmic Logos, a solar Logos is a centre. |
c. Đạt được tâm thức của trung tâm trong thể của ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ. Trung tâm này được hình thành bởi phạm vi ảnh hưởng của một Thượng đế vũ trụ. Trong thể của một Thượng đế vũ trụ, một Thái dương Thượng đế là một trung tâm. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
We must bear in mind that this enumeration is given from the standpoint of the present, and from the angle of vision (relatively limited) of the Heavenly Man of our particular scheme, and that it is therefore circumscribed by His peculiar conditions, which govern the intelligence of the cells in His body; it is given from the point of view of differentiation and not of synthesis. A synthetic absorption proceeds eventually in connection with all these Entities, and each undergoes a process, paralleling on His Own level that undergone by the Microcosm; in the case of the Microcosm the causal body or the body of the Ego acts as the synthesiser of the energy of the Quaternary or lower Self, and the spiritual |
Chúng ta phải ghi nhớ rằng sự liệt kê này được đưa ra từ quan điểm của hiện tại, và từ góc nhìn (tương đối hạn chế) của Đấng Thiên Nhân của hệ thống cụ thể của chúng ta, và do đó nó bị giới hạn bởi các điều kiện đặc biệt của Ngài, vốn chi phối trí thông minh của các tế bào trong thể của Ngài; nó được đưa ra từ quan điểm của sự phân biệt và không phải của sự tổng hợp. Một sự hấp thụ tổng hợp diễn ra cuối cùng liên quan đến tất cả các Thực thể này, và mỗi Thực thể trải qua một quá trình, song song trên cấp độ Riêng của Ngài với quá trình trải qua bởi Tiểu thiên địa; trong trường hợp của Tiểu thiên địa, thể nguyên nhân hay thể của Chân ngã đóng vai trò là chất tổng hợp năng lượng của Bộ tứ hay Phàm ngã thấp, và vỏ bọc tinh thần |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
[293] TABULATION II |
[293]BẢNG II |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
EVOLUTION IN THE UNIVERSE |
TIẾN HÓA TRONG VŨ TRỤ |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
[294] or monadic sheath as the synthesiser of the seven principles, making thus the three, the seven, and the ten. |
[294] hay lớp vỏ chân thần như là chất tổng hợp của bảy nguyên khí, do đó tạo nên bộ ba, bộ bảy, và bộ mười. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
In closing I would point out that the mind must carefully be kept from reducing all these ideas into a rankly materialistic concept. It must be rigidly borne in mind that we are dealing with the subjective life, and not with the objective form, and that we are considering, for instance, the synthesis of the principles or the qualitating energies and not the synthesis of form. |
Khi kết thúc, Tôi muốn chỉ ra rằng tâm trí phải được giữ gìn cẩn thận khỏi việc quy giản tất cả những ý tưởng này thành một khái niệm vật chất thô thiển. Phải ghi nhớ một cách cứng rắn rằng chúng ta đang giải quyết với sự sống chủ quan, và không phải với hình tướng khách quan, và rằng chúng ta đang xem xét, chẳng hạn, sự tổng hợp của các nguyên khí hay các năng lượng phẩm tính và không phải sự tổng hợp của hình tướng. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Through each etheric centre man is bringing to perfect vibration some one principle or quality through which the subjective life may express itself. |
Thông qua mỗi trung tâm dĩ thái, con người đang mang lại rung động hoàn hảo cho một nguyên khí hay phẩm tính nào đó mà qua đó sự sống chủ quan có thể tự biểu hiện. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Through each chain in a scheme a Heavenly Man is endeavoring to do the same. |
Thông qua mỗi dãy trong một hệ thống, một Đấng Thiên Nhân đang nỗ lực làm điều tương tự. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Through each scheme in a system, a solar Logos is working at the same thing; the goal is synthetic quality and not primarily the perfection of the form. The response of the energised form to the qualitative life is naturally—under the law—equal to the demand, but this is of secondary importance and is not the object in view. |
Thông qua mỗi hệ thống trong một hệ mặt trời, một Thái dương Thượng đế đang làm việc ở cùng một điều; mục tiêu là phẩm tính tổng hợp và không phải chủ yếu là sự hoàn thiện của hình tướng. Sự đáp ứng của hình tướng được tiếp năng lượng đối với sự sống phẩm tính một cách tự nhiên—theo quy luật—bằng với nhu cầu, nhưng điều này có tầm quan trọng thứ yếu và không phải là đối tượng trong tầm ngắm. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
We have seen that the work to be accomplished in all the above cases is necessarily threefold: |
Chúng ta đã thấy rằng công việc phải hoàn thành trong tất cả các trường hợp trên nhất thiết là tam phân: |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
First. The development of individual consciousness. |
Thứ nhất. Sự phát triển của tâm thức cá nhân. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Second. The development of group consciousness. |
Thứ hai. Sự phát triển của tâm thức nhóm. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Third. The development of God consciousness, of that consciousness in each case which represents the highest spiritual Source, and which is recognised as the same in essence as the God within the individual, whether man or solar Logos. |
Thứ ba. Sự phát triển của tâm thức Thượng đế, của tâm thức đó trong mỗi trường hợp đại diện cho Nguồn tinh thần cao nhất, và được công nhận là giống nhau về bản chất như Thượng đế bên trong cá nhân, cho dù là con người hay Thái dương Thượng đế. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
This concept must be meditated upon by all thinkers and its synthesis emphasised. The relation of the cell to the group, of the group to the aggregate of groups, and of them all to the indwelling Entity Who holds them in synthetic correlation by means of the Law of Attraction and Repulsion is of vital moment. Two main ideas must always be borne in mind: [295] |
Khái niệm này phải được thiền định bởi tất cả các nhà tư tưởng và sự tổng hợp của nó được nhấn mạnh. Mối quan hệ của tế bào với nhóm, của nhóm với tập hợp các nhóm, và của tất cả chúng với Thực thể nội tại Người giữ chúng trong mối tương quan tổng hợp bằng phương tiện của Định luật Hấp dẫn và Đẩy lùi là thời điểm quan trọng. Hai ý tưởng chính luôn phải được ghi nhớ: [295] |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
That the terms “cell, group, or congery of groups” relate entirely to the form of vehicle, and thus to the matter aspect. |
Rằng các thuật ngữ “tế bào, nhóm, hay tập hợp các nhóm” liên quan hoàn toàn đến hình tướng của vận cụ, và do đó đến phương diện vật chất. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
That the idea of an Entity Who synthesises the groups and is the animating life of the cell has to do with the Spirit aspect. |
Rằng ý tưởng về một Thực thể Người tổng hợp các nhóm và là sự sống làm linh hoạt tế bào liên quan đến phương diện Tinh thần. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
These two concepts lead necessarily to a third, that of the development of consciousness, which is the gradual expansion of the realisation of the Indweller in the form, the apprehension by the Self of the relation of the form to Itself, and of its slow utilisation and control. This persists until that Realisation includes the cell, the group, and the totality of groups. These ideas can be applied to the three grades of consciousness referred to. As follows: |
Hai khái niệm này nhất thiết dẫn đến khái niệm thứ ba, khái niệm về sự phát triển của tâm thức, vốn là sự mở rộng dần dần của sự chứng nghiệm của Đấng Nội Tại trong hình tướng, sự nhận thức bởi Chân ngã về mối quan hệ của hình tướng với Chính Nó, và về sự sử dụng và kiểm soát chậm chạp của nó. Điều này tồn tại cho đến khi Sự Chứng Nghiệm đó bao gồm tế bào, nhóm, và tổng thể các nhóm. Những ý tưởng này có thể được áp dụng cho ba cấp độ của tâm thức được đề cập. Như sau: |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Man, the lowest type of coherent consciousness (using the word “consciousness” in its true connotation as the “One who knows”) is but a cell, a minute atom within a group. |
Con người, loại tâm thức gắn kết thấp nhất (sử dụng từ “tâm thức” theo nghĩa thực sự của nó như là “Người biết”) chỉ là một tế bào, một nguyên tử nhỏ bé bên trong một nhóm. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
A Heavenly Man represents a coherent conscious group. |
Một Đấng Thiên Nhân đại diện cho một nhóm có ý thức gắn kết. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
A solar Logos on His Own plane holds an analogous place to that of a Heavenly Man in a solar system, and from a still higher standpoint to that of a man within the solar system. When the place of the solar planes within the cosmic scheme is duly apprehended it will be recognised that on cosmic levels of a high order the solar Logos is an Intelligence as relatively low in the order of cosmic consciousness as man is in relation to solar consciousness. He is but a cell in the body of the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID. His work parallels on cosmic levels the work of man on the solar planes. He has to undergo on the three lower cosmic planes a process of developing an apprehension of His environment of the same nature as man in the three worlds. This fact should be remembered by all students [296] of this central division of our subject; above all the analogy between the cosmic physical planes and the solar physical planes must be pondered upon. It holds hid the fourfold mystery: |
Một Thái dương Thượng đế trên Cấp độ Riêng của Ngài giữ một vị trí tương tự vị trí của một Đấng Thiên Nhân trong một hệ mặt trời, và từ một quan điểm cao hơn nữa đến vị trí của một con người bên trong hệ mặt trời. Khi vị trí của các cõi thái dương bên trong sơ đồ vũ trụ được nhận thức đúng đắn, sẽ được công nhận rằng trên các cấp độ vũ trụ bậc cao, Thái dương Thượng đế là một Trí Thông Minh tương đối thấp trong trật tự tâm thức vũ trụ như con người trong mối quan hệ với tâm thức thái dương. Ngài chỉ là một tế bào trong thể của ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ. Công việc của Ngài song song trên các cấp độ vũ trụ với công việc của con người trên các cõi thái dương. Ngài phải trải qua trên ba cõi vũ trụ thấp hơn một quá trình phát triển sự nhận thức về môi trường của Ngài có cùng bản chất như con người trong ba cõi giới. Sự thật này nên được ghi nhớ bởi tất cả các đạo sinh [296]của bộ phận trung tâm này trong chủ đề của chúng ta; trên hết sự tương đồng giữa các cõi hồng trần vũ trụ và các cõi hồng trần thái dương phải được suy ngẫm. Nó ẩn giấu bí nhiệm tứ phân: |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
1. The mystery of the Akasha. |
1. Bí nhiệm về Akasha. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
2. The secret of the fifth round. |
2. Bí mật của cuộc tuần hoàn thứ năm. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
3. The esoteric significance of Saturn, the third planet. |
3. Ý nghĩa huyền bí của Sao Thổ, hành tinh thứ ba. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
4. The occult nature of cosmic kundalini, or the electrical force of the system. |
4. Bản chất huyền bí của kundalini vũ trụ, hay mãnh lực điện của hệ thống. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
One hint on this fourth point may be given for wise consideration. When the electrical interplay between the planets is better ascertained (and by this I mean their negative or positive interplay), then it will be revealed which are related or connected, and which are nearing the point of balance. I would here point out very briefly certain facts, not pausing to elaborate or to elucidate, but simply making various statements which—as the knowledge of man progresses—will assume their rightful place in the ordered scheme. They will then be seen as enlightening and revealing the necessary sequence of development. |
Một gợi ý về điểm thứ tư này có thể được đưa ra để xem xét một cách khôn ngoan. Khi sự tương tác điện giữa các hành tinh được xác định rõ hơn (và bằng điều này Tôi ngụ ý sự tương tác âm hoặc dương của chúng), thì sẽ được tiết lộ cái nào có liên quan hay kết nối, và cái nào đang đến gần điểm cân bằng. Ở đây Tôi muốn chỉ ra rất ngắn gọn một số sự thật nhất định, không dừng lại để trau chuốt hay làm sáng tỏ, mà chỉ đơn giản đưa ra các tuyên bố khác nhau vốn—khi kiến thức của con người tiến bộ—sẽ đảm nhận vị trí chính đáng của chúng trong hệ thống trật tự. Khi đó chúng sẽ được xem là khai sáng và tiết lộ trình tự phát triển cần thiết. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
[Commentary S3S8] |
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
2. The Work of the Atomic Units. |
2. Công Việc của Các Đơn Vị Nguyên Tử. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
a. The seven Heavenly Men, considered in relation to the Entity of Whom the solar Logos is a reflection, are as the seven centres in the physical body of a human being. This will be realised as the correspondence between the cosmic physical plane and the systemic physical plane is studied. |
a. Bảy Đấng Thiên Nhân, được xem xét trong mối quan hệ với Thực thể Mà Thái dương Thượng đế là một phản ảnh, cũng giống như bảy trung tâm trong thể xác của một con người. Điều này sẽ được chứng nghiệm khi sự tương ứng giữa cõi hồng trần vũ trụ và cõi hồng trần hệ thống được nghiên cứu. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
b. Three of these centres, therefore |
b. Ba trong số các trung tâm này, do đó |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Concern the lower centres of the cosmic Being. |
Liên quan đến các trung tâm thấp hơn của Đấng Vũ Trụ. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Have their analogies on the dense, liquid and gaseous planes. |
Có sự tương tự của chúng trên các cõi đậm đặc, lỏng và khí. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Are at present the object of the attention of cosmic kundalini. |
Hiện tại là đối tượng chú ý của kundalini vũ trụ. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
[297] c. One of these centres corresponds to the solar plexus and is the synthesiser of the lower three, thus making a quaternary. |
[297]c. Một trong những trung tâm này tương ứng với tùng thái dương và là chất tổng hợp của ba trung tâm thấp hơn, do đó tạo nên một bộ tứ. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
d. The centre which is analogous to that at the base of the spine, or the reservoir of kundalini, has a permanence which is not seen in the other two lower centres. The Heavenly Man Who embodies this principle and is the source of generative heat to His Brothers, must be sought for by the aid of the intuition. Concrete Mind will not here avail. |
d. Trung tâm tương tự như trung tâm ở đáy cột sống, hay kho chứa của kundalini, có một sự trường tồn không được thấy ở hai trung tâm thấp hơn khác. Đấng Thiên Nhân, Người hiện thân cho nguyên khí này và là nguồn nhiệt sinh sản cho các Huynh Đệ của Ngài, phải được tìm kiếm nhờ sự trợ giúp của trực giác. Trí Cụ Thể sẽ không có ích gì ở đây. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
e. The three higher centres, or the Heavenly Men Who correspond to the head, the heart and the throat of the solar Logos, have Their etheric analogies on the three higher etheric levels of the cosmic physical plane, just as the Heavenly Man Who embodies the logoic solar plexus finds His manifesting source on the fourth etheric. |
e. Ba trung tâm cao hơn, hay các Đấng Thiên Nhân tương ứng với đầu, tim và cuống họng của Thái dương Thượng đế, có sự tương tự dĩ thái của Các Ngài trên ba cấp độ dĩ thái cao hơn của cõi hồng trần vũ trụ, giống như Đấng Thiên Nhân hiện thân cho tùng thái dương của Thượng đế tìm thấy nguồn biểu hiện của mình trên dĩ thái thứ tư. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
f. This Heavenly Man, with His etheric vortex or wheel of force on the fourth cosmic ether, is in this fourth round, a vital factor in planetary evolution. |
f. Đấng Thiên Nhân này, với xoáy dĩ thái hay bánh xe mãnh lực của Ngài trên dĩ thái vũ trụ thứ tư, trong cuộc tuần hoàn thứ tư này, là một yếu tố quan trọng trong tiến hóa hành tinh. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
g. When the Heavenly Man, Who is at present demonstrating through the Earth scheme, has succeeded in vitalising His middle centre, or in directing the force of planetary kundalini away from the lower centres to the solar plexus centre, a new cycle will be reached, and much of the present distress will be ended. His work is as yet in an embryonic condition, and two and a half more cycles must transpire before He has accomplished the necessary work. When that is done, the result in connection with the human units in incarnation will be threefold: |
g. Khi Đấng Thiên Nhân, Người hiện tại đang thể hiện qua hệ thống Trái Đất, đã thành công trong việc làm linh hoạt trung tâm ở giữa của Ngài, hay trong việc hướng mãnh lực của kundalini hành tinh ra khỏi các trung tâm thấp hơn đến trung tâm tùng thái dương, một chu kỳ mới sẽ đạt được, và phần lớn sự đau khổ hiện tại sẽ chấm dứt. Công việc của Ngài cho đến nay vẫn đang trong tình trạng phôi thai, và hai chu kỳ rưỡi nữa phải trôi qua trước khi Ngài hoàn thành công việc cần thiết. Khi điều đó được thực hiện, kết quả liên quan đến các đơn vị nhân loại đang lâm phàm sẽ là tam phân: |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Sex stimulation, as now understood, will be showing a tendency to manifest in creation, not so much on the physical plane, as on the astral and mental, demonstrating in the creations of art and beauty, and the objective work of the scientists. |
Sự kích thích tình dục, như được hiểu hiện nay, sẽ cho thấy xu hướng biểu hiện trong sáng tạo, không quá nhiều trên cõi hồng trần, mà trên cõi cảm dục và cõi trí, thể hiện trong các sáng tạo nghệ thuật và cái đẹp, và công việc khách quan của các nhà khoa học. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Crime, as now seen, based largely on the sex emotion, [298] will be a thing of the past, and physical plane license, orgy and horror will be reduced seventy-five per cent. |
Tội ác, như được thấy hiện nay, dựa phần lớn vào cảm xúc tình dục, [298] sẽ là chuyện của quá khứ, và sự phóng túng, trác táng và kinh hoàng trên cõi trần sẽ giảm bảy mươi lăm phần trăm. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
The interplay between the three dense physical planets will be perfected and man will pass at will from one to another. |
Sự tương tác giữa ba hành tinh vật lý đậm đặc sẽ được hoàn thiện và con người sẽ chuyển từ hành tinh này sang hành tinh khác theo ý muốn. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
I would here point out the inadvisability of the method whereby the names of the globes in a chain, just as the names of a chain in a scheme, follow the planetary nomenclature. This has led to confusion. |
Ở đây Tôi muốn chỉ ra sự không nên của phương pháp theo đó tên của các bầu trong một dãy, cũng như tên của một dãy trong một hệ thống, tuân theo danh pháp hành tinh. Điều này đã dẫn đến sự nhầm lẫn. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
A clue tending towards the correct understanding lies hid in the words: “Venus is the Earth’s primary.” (S.D., II, 33. I, 323) |
Một manh mối hướng tới sự hiểu biết đúng đắn nằm ẩn trong các từ ngữ: “Sao Kim là hành tinh chủ của Trái Đất.” (G.L.B.N., II, 33. I, 323) |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
It is not permissible to say much about this mystery, that “Venus is the Earth’s alter ego,” nor is it advisable, but certain ideas may be suggested which—if brooded on—may result in a wider grasp of the beauty of nature’s synthesis, and of the wonderful correlation of all that is in process of evolution. |
Không được phép nói nhiều về bí nhiệm này, rằng “Sao Kim là cái tôi thứ hai của Trái Đất,” cũng không nên, nhưng một số ý tưởng có thể được gợi ý vốn—nếu được nghiền ngẫm—có thể dẫn đến sự nắm bắt rộng hơn về vẻ đẹp của sự tổng hợp của tự nhiên, và về sự tương quan tuyệt vời của tất cả những gì đang trong quá trình tiến hóa. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Perhaps some idea may be gained if we remember that, in an occult sense, Venus is to the Earth what the higher Self is to man. |
Có lẽ một số ý tưởng có thể đạt được nếu chúng ta nhớ rằng, theo một nghĩa huyền bí, Sao Kim đối với Trái Đất cũng giống như Chân ngã đối với con người. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
The coming of the Lords of Flame to the Earth was all under law and not just an accidental and fortunate happening; it was a planetary matter which finds its correspondence in the connection between the mental unit and the manasic permanent atom. Again, as the antaskarana is built by individual man between these two points, so—again in a planetary sense—is a channel being built by collective man on this planet to its primary, Venus. |
Sự xuất hiện của các Đấng Chúa Tể Lửa đến Trái Đất hoàn toàn theo quy luật và không chỉ là một sự kiện ngẫu nhiên và may mắn; đó là một vấn đề hành tinh tìm thấy sự tương ứng của nó trong mối liên hệ giữa đơn vị trí tuệ và nguyên tử manas trường tồn. Một lần nữa, khi antahkarana được xây dựng bởi cá nhân con người giữa hai điểm này, thì—một lần nữa theo nghĩa hành tinh—một kênh đang được xây dựng bởi con người tập thể trên hành tinh này tới hành tinh chủ của nó, Sao Kim. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
In connection with these two planets, it must be remembered that Venus is a sacred planet and the Earth is not. This means that certain of the planets are to the Logos what the permanent atoms are to man. They embody principles. Certain planets afford only temporary [299] homes to these principles. Others persist throughout the mahamanvantara. Of these Venus is one. |
Liên quan đến hai hành tinh này, phải nhớ rằng Sao Kim là một hành tinh thiêng liêng và Trái Đất thì không. Điều này có nghĩa là một số hành tinh đối với Thượng đế cũng giống như các nguyên tử trường tồn đối với con người. Chúng hiện thân cho các nguyên khí. Một số hành tinh chỉ cung cấp những ngôi nhà [299] tạm thời cho các nguyên khí này. Những hành tinh khác tồn tại trong suốt đại giai kỳ sinh hóa. Trong số này Sao Kim là một. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Three of the sacred planets, it should be remembered, are the home of the three major Rays, of the embodied forms of the three logoic aspects or principles. Other planets are embodiments of the four minor rays. We might consider—from the standpoint of the present—that Venus, Jupiter and Saturn might be considered as the vehicles of the three super-principles at this time. Mercury, the Earth and Mars are closely allied to these three, but a hidden mystery lies here. The evolution of the inner round has a close connection with this problem. Perhaps some light may be thrown upon the obscurity of the matter by the realisation that just as the Logos has (in the non-sacred planets) the correspondence to the permanent atoms in the human being, so the middle evolution between these two (God and man) is the Heavenly Man, whose body is made up of human and deva monads, and Who has likewise His permanent atoms. Always the three higher principles can be distinguished in importance from the four lower. |
Ba trong số các hành tinh thiêng liêng, cần nhớ, là ngôi nhà của ba Cung chính, của các hình tướng hiện thân của ba phương diện hay nguyên khí của Thượng đế. Các hành tinh khác là hiện thân của bốn cung phụ. Chúng ta có thể xem xét—từ quan điểm của hiện tại—rằng Sao Kim, Sao Mộc và Sao Thổ có thể được coi là các vận cụ của ba siêu-nguyên khí vào thời điểm này. Sao Thủy, Trái Đất và Sao Hỏa liên minh chặt chẽ với ba hành tinh này, nhưng một bí nhiệm ẩn giấu nằm ở đây. Sự tiến hóa của cuộc tuần hoàn bên trong có mối liên hệ chặt chẽ với vấn đề này. Có lẽ một chút ánh sáng có thể được chiếu rọi lên sự tối tăm của vấn đề bằng sự chứng nghiệm rằng cũng như Thượng đế có (trong các hành tinh không thiêng liêng) sự tương ứng với các nguyên tử trường tồn trong con người, thì sự tiến hóa ở giữa hai điều này (Thượng đế và con người) là Đấng Thiên Nhân, mà thể của Ngài được tạo thành từ các chân thần nhân loại và deva, và Người cũng có các nguyên tử trường tồn của Ngài. Luôn luôn ba nguyên khí cao hơn có thể được phân biệt về tầm quan trọng với bốn nguyên khí thấp hơn. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
The key is hidden in the fact that between the number of a globe in a chain and its corresponding chain lies a method of communication. The same is true likewise of the correspondence between a chain of globes and a scheme of analogous number. The connection between Venus and the Earth lies hid in number, and it took a moment of mysterious alignment between a globe, its corresponding chain and the scheme of allied number to effect the momentous occurrence known as the coming of the Lords of Flame. It occurred in the third rootrace in the fourth round. Here we have an analogy between the quaternary and the Triad, carrying the interpretation up to a Heavenly Man. The chain was the fourth chain and the globe, the fourth. The fourth [300] chain in the Venus scheme and the fourth globe in that chain were closely involved in the transaction. |
Chìa khóa được ẩn giấu trong thực tế rằng giữa số của một bầu trong một dãy và dãy tương ứng của nó nằm một phương pháp giao tiếp. Điều tương tự cũng đúng đối với sự tương ứng giữa một dãy các bầu và một hệ thống có số tương tự. Sự kết nối giữa Sao Kim và Trái Đất nằm ẩn trong con số, và phải mất một khoảnh khắc của sự chỉnh hợp huyền bí giữa một bầu, dãy tương ứng của nó và hệ thống có số liên minh để thực hiện sự kiện quan trọng được gọi là sự xuất hiện của các Đấng Chúa Tể Lửa. Nó xảy ra trong giống dân gốc thứ ba trong cuộc tuần hoàn thứ tư. Ở đây chúng ta có một sự tương tự giữa bộ tứ và Tam Nguyên, mang sự diễn giải lên tới một Đấng Thiên Nhân. Dãy là dãy thứ tư và bầu, là bầu thứ tư. Dãy thứ tư [300] trong hệ thống Sao Kim và bầu thứ tư trong dãy đó có liên quan chặt chẽ đến giao dịch này. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
h. The progress of development of the Heavenly Men is by no means uniform. One point has not been emphasised hitherto, and that is, that the problem before each of Them is dissimilar, and, therefore, it is not possible for man correctly to gauge the work done by Them and Their relative point of attainment. It has been said that as Venus is in the fifth round, the Venusian Lord is further progressed than His brothers. This is not altogether so. Just as in the development of humanity three main lines may be seen with four lesser lines merging into one of the three main lines, so in connection with the Heavenly Men, there are three main lines of which the Venusian is not one. The Lord of Venus holds place in the logoic quaternary, as does the Lord of Earth. |
h. Tiến trình phát triển của các Đấng Thiên Nhân không hề đồng nhất. Một điểm đã không được nhấn mạnh cho đến nay, và đó là, vấn đề trước mỗi Đấng trong số Các Ngài là không giống nhau, và do đó, con người không thể đánh giá chính xác công việc được thực hiện bởi Các Ngài và điểm đạt được tương đối của Các Ngài. Người ta đã nói rằng vì Sao Kim đang ở trong cuộc tuần hoàn thứ năm, nên Đấng Chúa Tể Sao Kim tiến bộ hơn các huynh đệ của Ngài. Điều này không hoàn toàn như vậy. Cũng như trong sự phát triển của nhân loại, ba dòng chính có thể được nhìn thấy với bốn dòng nhỏ hơn hợp nhất vào một trong ba dòng chính, vì vậy liên quan đến các Đấng Thiên Nhân, có ba dòng chính mà dòng Sao Kim không phải là một. Đấng Chúa Tể của Sao Kim giữ vị trí trong bộ tứ của Thượng đế, cũng như Đấng Chúa Tể của Trái Đất. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
The main idea underlying the question we have been endeavoring to answer has to do with the relationship between the schemes, chains, rounds, and races, and it should be borne in mind that these manifestations bear the same relationship to a Heavenly Man as incarnations do to a human being. This gives the opportunity here to bring out perhaps a little more clearly the place of cycles in the evolution of all these Entities from a man up to a cosmic Logos, via a Heavenly Man and a solar Logos. (S.D., I, 258) Just as it is pointed out in the Secret Doctrine that there are greater and lesser cycles in the evolution of a solar system, so it can be predicated equally of a Heavenly Man, of a human being, and of an atom. This brings us, therefore, to another statement: |
Ý tưởng chính nằm dưới câu hỏi mà chúng ta đang nỗ lực trả lời liên quan đến mối quan hệ giữa các hệ thống, các dãy, các cuộc tuần hoàn, và các giống dân, và cần ghi nhớ rằng các biểu hiện này mang cùng mối quan hệ với một Đấng Thiên Nhân như các kiếp sống đối với một con người. Điều này mang lại cơ hội ở đây để đưa ra có lẽ rõ ràng hơn một chút vị trí của các chu kỳ trong sự tiến hóa của tất cả các Thực thể này từ một con người lên đến một Thượng đế vũ trụ, thông qua một Đấng Thiên Nhân và một Thái dương Thượng đế. (G.L.B.N., I, 258) Cũng như được chỉ ra trong Giáo Lý Bí Nhiệm rằng có các chu kỳ lớn hơn và nhỏ hơn trong sự tiến hóa của một hệ mặt trời, điều đó cũng có thể được khẳng định tương tự về một Đấng Thiên Nhân, về một con người, và về một nguyên tử. Do đó, điều này đưa chúng ta đến một tuyên bố khác: |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
i. The cycles in the evolutionary process of all these Entities may be divided mainly into three groups, though necessarily these groups can be extended into septennates and into an infinity of multiples of seven. [301] |
i. Các chu kỳ trong quá trình tiến hóa của tất cả các Thực thể này có thể được chia chủ yếu thành ba nhóm, mặc dù nhất thiết các nhóm này có thể được mở rộng thành các bộ bảy và thành vô số các bội số của bảy. [301] |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
In connection with a solar Logos the cycles might be called: |
Liên quan đến một Thái dương Thượng đế các chu kỳ có thể được gọi là: |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
1. One hundred years of Brahma. |
1. Một trăm năm của Brahma. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
2. A year of Brahma. |
2. Một năm của Brahma. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
3. A day of Brahma. |
3. Một ngày của Brahma. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
These periods have been computed by the Hindu students and are the sumtotal of time as we understand it or the duration of a solar system. |
Các thời kỳ này đã được tính toán bởi các học giả Hindu và là tổng thể của thời gian như chúng ta hiểu nó hay khoảng thời gian của một hệ mặt trời. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
In connection with a Heavenly Man we have the corresponding cycles to those of the Logos: |
Liên quan đến một Đấng Thiên Nhân chúng ta có các chu kỳ tương ứng với các chu kỳ của Thượng đế: |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
1. The period of a planetary scheme. |
1. Thời kỳ của một hệ hành tinh. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
2. The period of a planetary chain. |
2. Thời kỳ của một dãy hành tinh. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
3. The period of a planetary round. |
3. Thời kỳ của một cuộc tuần hoàn hành tinh. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Within these three divisions, which are the differentiations of the three great cycles of incarnation of a planetary Logos, are numerous lesser cycles or incarnations but they all fall within one or other of the three main divisions. Such lesser cycles might be easily comprehended if it were pointed out that they mark such periods as: |
Bên trong ba phân chia này, vốn là sự biến phân của ba chu kỳ lâm phàm lớn của một Hành Tinh Thượng đế, là vô số các chu kỳ nhỏ hơn hay các kiếp sống nhưng tất cả chúng đều nằm trong một hoặc phân chia khác của ba phân chia chính. Các chu kỳ nhỏ hơn như vậy có thể được hiểu dễ dàng nếu được chỉ ra rằng chúng đánh dấu các thời kỳ như: |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
a. The period of manifestation on a globe. |
a. Thời kỳ biểu hiện trên một bầu. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
b. The period of a root-race. |
b. Thời kỳ của một giống dân gốc. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
c. The period of a sub-race. |
c. Thời kỳ của một giống dân phụ. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
d. The period of a branch race. |
d. Thời kỳ của một nhánh giống dân. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
In order to apprehend even cursorily the identity of manifestation of a planetary Logos in a root-race, for instance, it must be remembered that the sumtotal of human and deva units upon a planet make the body vital of a planetary Logos, whilst the sumtotal of lesser lives upon a planet (from the material bodies of men or devas down to the other kingdoms of nature) form His body corporeal, and are divisible into two types of such lives: |
Để nhận thức dù chỉ lướt qua về bản sắc biểu hiện của một Hành Tinh Thượng đế trong một giống dân gốc, chẳng hạn, phải nhớ rằng tổng thể các đơn vị con người và deva trên một hành tinh tạo nên thể sinh lực của một Hành Tinh Thượng đế, trong khi tổng thể các sự sống nhỏ hơn trên một hành tinh (từ các cơ thể vật chất của con người hay devas xuống đến các giới khác của tự nhiên) hình thành nên thể xác hữu hình của Ngài, và có thể phân chia thành hai loại sự sống như vậy: |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
a. Those on the evolutionary arc, such as in the animal kingdom.[302] |
a. Những loại trên cung tiến hóa, chẳng hạn như trong giới động vật.[302] |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
b. Those on the involutionary arc, such as the totality of all elemental material forms within His sphere of influence. All the involutionary lives, as earlier pointed out, form the vehicles for the spirit of the planet, or the planetary entity, who is the sumtotal of the elemental essences in process of involution. He holds a position (in relation to a Heavenly Man) analogous to that held by the different elementals that go to the make-up of man’s three bodies, physical, astral and mental, and he is—like all manifesting beings—threefold in his nature, but involutionary. Therefore, man and devas (differentiating the devas from the lesser Builders) form the SOUL of a Heavenly Man. Other lives form his BODY, and it is with body and soul that we are concerned in these two divisions of our thesis on FIRE. One group manifests the fire of matter, the other group the fire of mind, for the devas are the personification of the active universal mind, even though man is considered manasic in a different sense. Man bridges in essence; the devas bridge in matter. |
b. Những loại trên cung giáng hạ tiến hóa, chẳng hạn như tổng thể của tất cả các hình tướng vật chất hành khí bên trong phạm vi ảnh hưởng của Ngài. Tất cả các sự sống giáng hạ tiến hóa, như đã chỉ ra trước đó, hình thành nên các vận cụ cho tinh linh của hành tinh, hay thực thể hành tinh, người là tổng thể của các tinh chất hành khí trong quá trình giáng hạ tiến hóa. Người này giữ một vị trí (liên quan đến một Đấng Thiên Nhân) tương tự vị trí được giữ bởi các hành khí khác nhau đi vào cấu tạo của ba thể của con người, thể xác, thể cảm dục và thể trí, và y—giống như tất cả các sinh linh đang biểu hiện—là tam phân trong bản chất của mình, nhưng là giáng hạ tiến hóa. Do đó, con người và devas (phân biệt các devas với các vị tiểu kiến tạo) hình thành nên LINH HỒN của một Đấng Thiên Nhân. Các sự sống khác hình thành nên THỂ XÁC của Ngài, và chính với thể xác và linh hồn mà chúng ta quan tâm trong hai phần này của luận thuyết của chúng ta về LỬA. Một nhóm biểu hiện lửa của vật chất, nhóm kia lửa của trí tuệ, vì các devas là hiện thân của trí tuệ phổ quát chủ động, mặc dù con người được coi là thuộc về manas theo một nghĩa khác. Con người bắc cầu trong bản chất tinh túy; các devas bắc cầu trong vật chất. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
In connection with Man the cycles are equally threefold: |
Liên quan đến Con Người các chu kỳ cũng tương tự là tam phân: |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
1. The Monadic cycle, which corresponds in man to the 100 years of Brahma, and to a planetary scheme. |
1. Chu kỳ Chân thần, tương ứng ở con người với 100 năm của Brahma, và với một hệ hành tinh. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
2. The Egoic cycle. |
2. Chu kỳ Chân ngã. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
3. The Personality cycle. |
3. Chu kỳ Phàm ngã. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
In these thoughts on cycles we have opened up a vast range of thought, especially if we link the idea of egoic and personality cycles to the vaster periods in connection with a planetary Logos. The idea is capable of vast expansion, and is governed by certain fundamental ideas that must be carefully considered and contemplated. |
Trong những suy nghĩ về các chu kỳ này, chúng ta đã mở ra một phạm vi tư tưởng rộng lớn, đặc biệt nếu chúng ta liên kết ý tưởng về các chu kỳ chân ngã và phàm ngã với các thời kỳ rộng lớn hơn liên quan đến một Hành Tinh Thượng đế. Ý tưởng có khả năng mở rộng to lớn, và được chi phối bởi những ý tưởng cơ bản nhất định phải được xem xét và chiêm nghiệm cẩn thận. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
[303] The cycles in a man’s personality manifestation demonstrate in groups of fours and sevens, and follow the usual evolutionary sequence, as: |
[303]Các chu kỳ trong biểu hiện phàm ngã của một người thể hiện trong các nhóm bốn và bảy, và tuân theo trình tự tiến hóa thông thường, như: |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
a. Differentiation, the involutionary process, or the one becoming the many, the homogeneous becoming the heterogeneous. |
a. Biến phân, quá trình giáng hạ tiến hóa, hay cái một trở thành cái nhiều, cái đồng nhất trở thành cái dị biệt. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
b. Balance, or the process of karmic adjustment. |
b. Cân bằng, hay quá trình điều chỉnh nghiệp quả. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
c. Synthesis, or spiritualisation, the many again becoming the One. |
c. Tổng hợp, hay tinh thần hóa, cái nhiều một lần nữa trở thành cái Một. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
d. Obscuration, or liberation, the end of the evolutionary process, or the freeing of Spirit from the limitations of matter. |
d. Sự che khuất, hay giải thoát, sự kết thúc của quá trình tiến hóa, hay sự giải phóng Tinh thần khỏi các giới hạn của vật chất. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
By this we must understand that all incarnations on the physical plane are not of equal importance, but some are of more moment than others; some, from the point of view of the Ego, are practically negligible, others count; some are to the evolving human Spirit of importance analogous to the incarnation of a planetary Logos in a globe, or through a root-race, whilst others are as relatively unimportant to him as the manifestation of a branch-race is to a Heavenly Man. |
Qua điều này chúng ta phải hiểu rằng tất cả các kiếp sống trên cõi hồng trần không có tầm quan trọng như nhau, nhưng một số có ý nghĩa hơn những kiếp sống khác; một số, từ quan điểm của Chân ngã, thực tế là không đáng kể, những kiếp khác có giá trị; một số đối với Tinh thần nhân loại đang tiến hóa có tầm quan trọng tương tự như sự lâm phàm của một Hành Tinh Thượng đế trong một bầu, hay thông qua một giống dân gốc, trong khi những kiếp khác tương đối không quan trọng đối với y như sự biểu hiện của một nhánh giống dân đối với một Đấng Thiên Nhân. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
As yet, owing to the small point of development of the average man, the astral incarnations or cycles count for little, but they are by no means to be discounted, and are oft relatively of more importance than the physical. In due course of time the astral cycles will be better comprehended and their relation to the physical. When it is realised that the physical body is not a principle but that the kama-manasic principle (or desire-mind principle) is one of the most vital to man then the period or cycle in which a man functions on the fifth subplane of the astral (the fundamentally kama-manasic plane) will assume its rightful place. It is so again with the mental cycles and so with the causal. The causal cycles or the egoic cycles, which include all the groups of lesser [304] cycles in the three worlds correspond to a complete round in the cycles of a Heavenly Man. There are seven such cycles, but the number of lesser cycles (included within the seven) is one of the secrets of Initiation. |
Cho đến nay, do điểm phát triển nhỏ bé của con người trung bình, các kiếp sống hay chu kỳ cảm dục ít được tính đến, nhưng chúng không hề bị coi thường, và thường tương đối quan trọng hơn so với hồng trần. Trong quá trình thời gian, các chu kỳ cảm dục sẽ được thấu hiểu rõ hơn và mối quan hệ của chúng với hồng trần. Khi nhận thức được rằng thể xác không phải là một nguyên khí mà nguyên khí trí-cảm (hay nguyên khí dục vọng-trí tuệ) là một trong những nguyên khí quan trọng nhất đối với con người thì thời kỳ hay chu kỳ mà trong đó một người hoạt động trên cõi phụ thứ năm của cõi cảm dục (cõi trí-cảm cơ bản) sẽ đảm nhận vị trí chính đáng của nó. Đối với các chu kỳ trí tuệ cũng vậy và đối với nguyên nhân cũng vậy. Các chu kỳ nguyên nhân hay các chu kỳ chân ngã, bao gồm tất cả các nhóm [304] chu kỳ nhỏ hơn trong ba cõi giới tương ứng với một cuộc tuần hoàn trọn vẹn trong các chu kỳ của một Đấng Thiên Nhân. Có bảy chu kỳ như vậy, nhưng số lượng các chu kỳ nhỏ hơn (bao gồm trong bảy) là một trong những bí mật của Điểm đạo. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
The egoic cycles proceed in groups of sevens and of threes, and not in groups of fours and sevens as do the personality cycles, and the same ratio must be predicated of the central cycles of a Heavenly Man and of a solar Logos. |
Các chu kỳ chân ngã diễn ra trong các nhóm bảy và ba, và không phải trong các nhóm bốn và bảy như các chu kỳ phàm ngã, và tỷ lệ tương tự phải được khẳng định về các chu kỳ trung tâm của một Đấng Thiên Nhân và của một Thái dương Thượng đế. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
The monadic cycles proceed in groups of ones and of threes as do the basic cycles of those great Entities of which man is the microcosmic reflection. If the general concept here laid down is studied in relation to the schemes, and other forms of manifestation to each other and, if the microcosm himself is studied as the clue to the whole, some idea will begin to permeate the mind as to the purpose underlying all these manifestations. It should be borne also in mind that just as the average man in each incarnation achieves three objects: |
Các chu kỳ chân thần diễn ra trong các nhóm một và ba như các chu kỳ cơ bản của những Thực thể vĩ đại đó mà con người là phản ảnh tiểu thiên địa. Nếu khái niệm chung được đặt ra ở đây được nghiên cứu liên quan đến các hệ thống, và các hình thức biểu hiện khác với nhau và, nếu bản thân tiểu thiên địa được nghiên cứu như là manh mối cho toàn bộ, một số ý tưởng sẽ bắt đầu thấm nhuần vào tâm trí về mục đích ẩn dưới tất cả các biểu hiện này. Cũng cần ghi nhớ rằng cũng như con người trung bình trong mỗi kiếp sống đạt được ba mục tiêu: |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
1. The development of consciousness or the awakening of the faculty of awareness, |
1. Sự phát triển của tâm thức hay sự thức tỉnh năng lực nhận thức, |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
2. The achievement of a certain proportion of permanent faculty, or the definite increase of the content of the causal body, |
2. Việc đạt được một tỷ lệ nhất định về năng lực thường xuyên, hay sự gia tăng xác định nội dung của thể nguyên nhân, |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
3. The making of karma, or the setting in motion (by action), of causes which necessitate certain unavoidable effects, |
3. Việc tạo tác nghiệp quả, hay sự thiết lập chuyển động (bằng hành động), của các nguyên nhân đòi hỏi những kết quả không thể tránh khỏi nhất định, |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
so a Heavenly Man at one stage of His evolution does the same. As man progresses and as he enters upon the Probationary Path and the subsequent Path of Initiation, he succeeds in bringing about some further noticeable developments. |
vì vậy một Đấng Thiên Nhân ở một giai đoạn tiến hóa của Ngài cũng làm như vậy. Khi con người tiến bộ và khi y bước vào Đường Dự Bị và Thánh Đạo tiếp theo, y thành công trong việc mang lại một số phát triển đáng chú ý hơn nữa. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
1. As before, his consciousness expands, but he begins to work intelligently from above and does not work blindly on the lower planes. [305] |
1. Như trước đây, tâm thức của y mở rộng, nhưng y bắt đầu làm việc một cách thông minh từ trên cao và không làm việc một cách mù quáng trên các cõi thấp hơn. [305] |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
2. The building of the causal body is carried to full completion, and he begins next to shatter what he earlier wrought, and to destroy the Temple so carefully constructed, finding it too to be a limitation. |
2. Việc xây dựng thể nguyên nhân được thực hiện đến sự hoàn tất đầy đủ, và tiếp theo y bắt đầu phá vỡ những gì y đã làm trước đó, và phá hủy Ngôi Đền được xây dựng cẩn thận, nhận thấy nó cũng là một giới hạn. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
3. He ceases to make karma in the three worlds, but begins to work it off, or, literally, to “wind up his affairs.” |
3. Y ngừng tạo nghiệp trong ba cõi giới, nhưng bắt đầu trả sạch nó, hay, theo nghĩa đen, “kết thúc các công việc của mình.” |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
So do the Heavenly Men, for They likewise have a cosmic path to tread, analogous to that trodden by man, as he nears the goal of his endeavor. |
Các Đấng Thiên Nhân cũng vậy, vì Các Ngài cũng có một thánh đạo vũ trụ để bước đi, tương tự như con đường mà con người bước đi, khi y đến gần mục tiêu nỗ lực của mình. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Again we can with exactitude carry the concept further still, and predicate action of a similar nature by the solar Logos. |
Một lần nữa chúng ta có thể với sự chính xác mang khái niệm đi xa hơn nữa, và khẳng định hành động có bản chất tương tự bởi Thái dương Thượng đế. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
The consideration of this question is nearly concluded and it must be apparent that the relation between the aforementioned manifestations is of a psychic nature (using the word psychic in its true sense, as having reference to the psyche, or soul, or consciousness) and deals with the gradual expansion of Soul-Knowledge in a Heavenly Man. A word of warning should here be sounded. Though all these cosmic Beings find in man a reflection of Their Own Nature, yet the analogy of resemblance must not be pushed to extremity. Man reflects, but he reflects not perfectly; man is evolving, but he is not occupied with the same problems in exact detail as are the perfected Manasaputras. |
Việc xem xét câu hỏi này gần như đã kết thúc và phải rõ ràng rằng mối quan hệ giữa các biểu hiện nói trên có bản chất tâm linh (sử dụng từ tâm linh theo nghĩa thực sự của nó, như có liên quan đến tâm hồn, hay linh hồn, hay tâm thức) và đề cập đến sự mở rộng dần dần của Kiến thức Linh hồn trong một Đấng Thiên Nhân. Một lời cảnh báo nên được gióng lên ở đây. Mặc dù tất cả các Đấng vũ trụ này tìm thấy trong con người một phản ảnh về Bản chất Riêng của Các Ngài, tuy nhiên sự tương đồng về sự giống nhau không được đẩy đến cực điểm. Con người phản ảnh, nhưng y phản ảnh không hoàn hảo; con người đang tiến hóa, nhưng y không bận rộn với các vấn đề tương tự một cách chi tiết chính xác như các Manasaputra hoàn hảo. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Man aims at becoming a Divine Manasaputra, or perfected Son of Mind showing forth all the powers inherent in mind, and thus becoming like unto his monadic source, a Heavenly Man. A Heavenly Man has developed Manas, and is occupied with the problem of becoming a Son of Wisdom, not inherently but in full manifestation. A solar Logos is both a Divine Manasaputra and likewise a Dragon of Wisdom, and His problem concerns itself [306] with the development of the principle of cosmic Will which will make Him what has been called a “Lion of Cosmic Will.” |
Con người nhắm đến việc trở thành một Manasaputra Thiêng liêng, hay Con của Trí tuệ hoàn hảo thể hiện tất cả các quyền năng vốn có trong trí tuệ, và do đó trở nên giống như nguồn gốc chân thần của y, một Đấng Thiên Nhân. Một Đấng Thiên Nhân đã phát triển Manas, và bận rộn với vấn đề trở thành một Đấng Con của Minh Triết, không phải vốn có mà trong biểu hiện đầy đủ. Một Thái dương Thượng đế vừa là một Manasaputra Thiêng liêng và cũng là một Rồng Minh Triết, và vấn đề của Ngài liên quan [306] đến sự phát triển của nguyên khí Ý Chí vũ trụ điều sẽ làm cho Ngài trở thành cái đã được gọi là một “Sư Tử của Ý Chí Vũ Trụ.” |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Throughout all these graded manifestations the law holds good, and the lesser is included in the greater. Hence the need for the student to preserve with care a due sense of proportion, a discrimination as to time in evolution, and a just appreciation of the place of each unit within its greater sphere. Having sounded this note of warning we can now proceed with the concluding remarks anent this final question. |
Xuyên suốt tất cả các biểu hiện được phân cấp này, định luật vẫn giữ nguyên giá trị, và cái nhỏ hơn được bao gồm trong cái lớn hơn. Do đó cần thiết cho người học đạo phải giữ gìn cẩn thận một ý thức đúng đắn về tỷ lệ, một sự phân biện về thời gian trong tiến hóa, và một sự đánh giá công bằng về vị trí của mỗi đơn vị bên trong phạm vi lớn hơn của nó. Sau khi đã gióng lên nốt nhạc cảnh báo này, bây giờ chúng ta có thể tiến hành với những nhận xét kết luận về câu hỏi cuối cùng này. |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
It has been stated that a mystery lies hid in the 777 incarnations. This figure provides room for much speculation. (S.D., I, 191) It should be pointed out that it does not hold the number of a stated cycle of incarnations through which a man must pass, but holds the key to the three major cycles previously mentioned. Primarily this number applies to the planetary Logos of our scheme and not so much to other schemes. Each Heavenly Man has His number and the number of our Heavenly Man lies hid in the above three figures, just as 666 and 888 holds the mystery hid of two other Heavenly Men. This number 777 is also the number of transmutation, which is the fundamental work of all the Heavenly Men. The basic work of man is accumulation and acquisition, or the acquiring of that which must later be transmuted. The work of transmutation, or the true cycle of 777 commences on the Probationary Path, and is definitely the activity of a Heavenly Man being realised and responded to by the cells in His Body. Only when His Body has reached a certain vibratory movement can He truly influence the individual cells. This work of transmuting cell activity was begun on this planet during the last root-race, and the divine alchemy proceeds. The progress made is as yet but small, but each transmuted [307] conscious cell increases the speed and the accuracy of the work. Time alone is needed for the completion of the work. In connection with this matter of transmutation comes the legend of the Philosopher’s Stone, which is literally the application of the Rod of Initiation, in one sense. |
Đã được tuyên bố rằng một bí nhiệm nằm ẩn trong 777 kiếp sống. Con số này cung cấp chỗ cho nhiều suy đoán. (G.L.B.N., I, 191) Cần chỉ ra rằng nó không giữ con số của một chu kỳ các kiếp sống đã định mà qua đó một người phải trải qua, nhưng giữ chìa khóa cho ba chu kỳ chính đã đề cập trước đó. Chủ yếu con số này áp dụng cho Hành Tinh Thượng đế của hệ thống chúng ta và không quá nhiều cho các hệ thống khác. Mỗi Đấng Thiên Nhân có con số của Ngài và con số của Đấng Thiên Nhân của chúng ta nằm ẩn trong ba con số trên, giống như 666 và 888 giữ bí nhiệm ẩn giấu của hai Đấng Thiên Nhân khác. Con số 777 này cũng là con số của sự chuyển hóa, vốn là công việc cơ bản của tất cả các Đấng Thiên Nhân. Công việc cơ bản của con người là tích lũy và thu đạt, hay việc thu được cái mà sau này phải được chuyển hóa. Công việc chuyển hóa, hay chu kỳ thực sự của 777 bắt đầu trên Đường Dự Bị, và chắc chắn là hoạt động của một Đấng Thiên Nhân đang được nhận thức và đáp ứng bởi các tế bào trong Thể của Ngài. Chỉ khi Thể của Ngài đã đạt được một chuyển động rung động nhất định, Ngài mới có thể thực sự ảnh hưởng đến các tế bào cá nhân. Công việc chuyển hóa hoạt động tế bào này đã được bắt đầu trên hành tinh này trong giống dân gốc vừa qua, và thuật luyện kim thiêng liêng tiếp diễn. Tiến bộ đạt được cho đến nay vẫn còn nhỏ, nhưng mỗi tế bào [307] có ý thức được chuyển hóa làm tăng tốc độ và độ chính xác của công việc. Thời gian là điều duy nhất cần thiết cho sự hoàn thành công việc. Liên quan đến vấn đề chuyển hóa này xuất hiện truyền thuyết về Hòn Đá Triết Gia, vốn theo nghĩa đen là sự áp dụng của Thần Trượng Điểm đạo, theo một nghĩa nào đó. |
DIVISION A – THE NATURE MANAS OR MIND—
BẢN CHẤT MANAS HAY TRÍ TUỆ
[Commentary S3S10]
|
[308] I. Three manifestations of manas. |
[308]I. Ba biểu hiện của manas. |
|
II. Some definitions of manas: |
II. Một số định nghĩa về manas: |
|
1. Manas is the fifth principle. |
1. Manas là nguyên khí thứ năm. |
|
2. Manas is electricity. |
2. Manas là điện. |
|
3. Manas is that which produces cohesion. |
3. Manas là cái tạo ra sự gắn kết. |
|
4. Manas is the key opening the door into the fifth kingdom. |
4. Manas là chìa khóa mở cánh cửa vào giới thứ năm. |
|
5. Manas is the synthetic vibration of five rays. |
5. Manas là rung động tổng hợp của năm cung. |
|
6. Manas is the intelligent will or ordered purpose of an existence. |
6. Manas là ý chí thông minh hay mục đích trật tự của một sự hiện tồn. |
|
We enter now upon a very important division of our subject, and take up for consideration the Fire of Mind, cosmically, systemically, and humanly considered. We have dealt with the fire of matter, and studied for a while its purpose, origin and work. We considered somewhat the factor of Consciousness, and saw that the great work of a solar Logos, with all included manifesting lives, was the development of a conscious control, and a psychic awareness within certain set limits. Having laid down these preliminary foundation thoughts, we need now to block out, for the sake of clarity, the mass of material that is available on the subject of the manasic fire, which is the animating principle of consciousness itself. Let us first of all get one broad general outline and then proceed to fill in the details. |
Bây giờ chúng ta bước vào một phân đoạn rất quan trọng của chủ đề chúng ta, và xem xét Lửa của Trí tuệ, được xem xét về mặt vũ trụ, về mặt hệ thống, và về mặt con người. Chúng ta đã giải quyết với lửa của vật chất, và đã nghiên cứu một thời gian mục đích, nguồn gốc và công việc của nó. Chúng ta đã xem xét đôi chút yếu tố Tâm thức, và thấy rằng công việc vĩ đại của một Thái dương Thượng đế, cùng với tất cả các sự sống biểu hiện được bao gồm, là sự phát triển của một sự kiểm soát có ý thức, và một sự nhận thức tâm linh bên trong các giới hạn đã định nhất định. Sau khi đã đặt xuống những tư tưởng nền tảng sơ bộ này, bây giờ chúng ta cần phác thảo, vì sự rõ ràng, khối lượng tài liệu có sẵn về chủ đề lửa manas, vốn là nguyên khí làm linh hoạt của chính tâm thức. Trước hết hãy để chúng ta có được một phác thảo chung rộng lớn và sau đó tiến hành điền vào các chi tiết. |
I. THREE MANIFESTATIONS OF MANAS—I. BA BIỂU HIỆN CỦA MANAS
|
(120) |
|
|
1. The fire of mind, cosmically considered. [309] |
1. Lửa của trí tuệ, được xem xét về mặt vũ trụ. [309] |
|
2. The fire of mind viewed systemically. |
2. Lửa của trí tuệ được nhìn nhận về mặt hệ thống. |
|
3. The fire of mind in connection with a human being. |
3. Lửa của trí tuệ liên quan đến một con người. |
|
In other words, what we are endeavoring to do is to study Mind in a solar Logos, a planetary Logos and in the Microcosm. Each of these three main divisions may be dealt with under four lesser heads which may be expressed as follows: |
Nói cách khác, những gì chúng ta đang nỗ lực làm là nghiên cứu Trí tuệ trong một Thái dương Thượng đế, một Hành Tinh Thượng đế và trong Tiểu thiên địa. Mỗi một trong ba phân chia chính này có thể được giải quyết dưới bốn tiêu đề nhỏ hơn có thể được diễn đạt như sau: |
|
a. The origin of cosmic, systemic and microcosmic mind. |
a. Nguồn gốc của trí tuệ vũ trụ, hệ thống và tiểu thiên địa. |
|
b. The place of mind in evolution in all three cases. |
b. Vị trí của trí tuệ trong tiến hóa trong cả ba trường hợp. |
|
c. The present stage of development of mind in each of the three groups. |
c. Giai đoạn phát triển hiện tại của trí tuệ trong mỗi một của ba nhóm. |
|
d. The future of mind, or of manasic unfoldment. |
d. Tương lai của trí tuệ, hay của sự mở rộng manas. |
|
When we have taken up these points, we should have a clearer idea as to the purpose and place of the fire of the intelligence, and should be able accurately to comprehend its correlating synthetic work. |
Khi chúng ta đã tiếp nhận các điểm này, chúng ta sẽ có một ý tưởng rõ ràng hơn về mục đích và vị trí của lửa của sự thông minh, và sẽ có thể thấu hiểu chính xác công việc tổng hợp tương quan của nó. |
|
Before, however, following up these ideas it might prove of value to us if we sought to define this principle of manas and see what is already understood by it. |
Tuy nhiên, trước khi theo dõi các ý tưởng này, có thể sẽ có giá trị cho chúng ta nếu chúng ta tìm cách định nghĩa nguyên khí manas này và xem những gì đã được hiểu về nó. |
II. DEFINITIONS OF MANAS OR MIND—II. CÁC ĐỊNH NGHĨA VỀ MANAS HAY TRÍ TUỆ
|
1. Manas, as we already know, is the fifth principle. |
1. Manas, như chúng ta đã biết, là nguyên khí thứ năm. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Here enter in certain factors and analogies that it would be of profit to us to mention at this juncture. |
Ở đây đi vào các yếu tố và sự tương đồng nhất định mà sẽ có lợi cho chúng ta khi đề cập đến tại thời điểm này. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
This fifth principle embodies the basic vibration of the fifth plane, either cosmically or systemically considered. A certain sound of the logoic Word, when it [310] reaches the mental plane, causes a vibration in the matter of that plane, arrests its tendency to dissipate, causes it to take spheroidal form, and builds it literally into a body which is held in coherent shape by a mighty deva Entity, the Raja Lord of the mental plane. Exactly the same procedure ensued on cosmic levels, when a still mightier sound was uttered by the ONE ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID, and the utterance of this caused a vibration on the fifth cosmic plane. Certain great Entities became active, including such relatively unimportant Beings as our solar Logos and His group. |
Nguyên khí thứ năm này hiện thân cho rung động cơ bản của cõi thứ năm, được xem xét hoặc về mặt vũ trụ hoặc về mặt hệ thống. Một âm thanh nhất định của Linh từ của Thượng đế, khi nó [310] chạm tới cõi trí, gây ra một rung động trong vật chất của cõi đó, ngăn chặn xu hướng tiêu tan của nó, khiến nó có hình dạng hình cầu, và xây dựng nó theo nghĩa đen thành một hình thể được giữ trong hình dạng gắn kết bởi một Thực thể deva hùng mạnh, Đấng Chúa Tể Raja của cõi trí. Chính xác quy trình tương tự đã diễn ra trên các cấp độ vũ trụ, khi một âm thanh hùng mạnh hơn nữa được thốt ra bởi ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ, và sự thốt ra của điều này đã gây ra một rung động trên cõi vũ trụ thứ năm. Một số Thực thể vĩ đại nhất định đã trở nên hoạt động, bao gồm cả những Đấng tương đối không quan trọng như Thái dương Thượng đế của chúng ta và nhóm của Ngài. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
This fifth principle is the distinctive coloring of a particular group of solar Logoi on the causal level of the cosmic mental, and is the animating factor of Their Existence, the reason of Their manifesting through various solar systems, and the great Will-to-be that brings Them forth into objectivity. |
Nguyên khí thứ năm này là màu sắc đặc biệt của một nhóm Thái dương Thượng đế cụ thể trên cấp độ nguyên nhân của cõi trí vũ trụ, và là yếu tố làm linh hoạt Sự Hiện Tồn của Các Ngài, lý do của sự biểu hiện của Các Ngài thông qua các hệ mặt trời khác nhau, và Ý Chí-muốn-hiện-tồn vĩ đại mang Các Ngài ra vào tính khách quan. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Manas has been defined as mind, or that faculty of logical deduction and reasoning, and of rational activity that distinguishes man from the animals. Yet it is something much more than that for it underlies all manifestation, and the very shape of an amoeba, and the discriminative faculty of the lowest atom or cell, is actuated by mind of some kind or another. It is only as the place of that discriminating cell or atom within its greater sphere is apprehended, and recognised, that any clear conception will be gained of what that coherent rational inclusive mentality may be. |
Manas đã được định nghĩa là trí tuệ, hay khả năng suy diễn logic và lý luận, và hoạt động hợp lý phân biệt con người với động vật. Tuy nhiên, nó là một cái gì đó nhiều hơn thế vì nó nằm dưới tất cả các biểu hiện, và ngay cả hình dạng của một con amip, và năng lực phân biện của nguyên tử hay tế bào thấp nhất, được thúc đẩy bởi trí tuệ của một loại nào đó. Chỉ khi vị trí của tế bào hay nguyên tử phân biện đó bên trong phạm vi lớn hơn của nó được nhận thức, và công nhận, thì bất kỳ quan niệm rõ ràng nào mới đạt được về việc trí tuệ bao hàm hợp lý gắn kết đó có thể là gì. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
2. Manas is electricity. (121) |
2. Manas là điện. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
The fire of Mind is fundamentally electricity, shown in its higher workings, and not considered so much as [311] force in matter. Electricity in the solar system shows itself in seven major forms, which might be expressed as follows: |
Lửa của Trí tuệ về cơ bản là điện, được thể hiện trong các hoạt động cao hơn của nó, và không được coi quá nhiều như [311] mãnh lực trong vật chất. Điện trong hệ mặt trời thể hiện chính nó trong bảy hình thức chính, có thể được diễn đạt như sau: |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Electricity on the first plane, the logoic or divine, demonstrates as the Will-to-be, the primary aspect of that force which eventually results in objectivity. Cosmically considered, it is that initial impulse or vibration, which emanates from the logoic causal body on the cosmic mental plane, and makes contact with the first cosmic etheric, or the solar plane of adi. |
Điện trên cõi thứ nhất, cõi của Thượng đế hay cõi thiêng liêng, biểu lộ như là Ý Chí-hiện-hữu, phương diện sơ cấp của lực đó mà cuối cùng dẫn đến tính khách quan. Xét về mặt vũ trụ, đó là xung lực hay rung động ban đầu, phát xuất từ thể nguyên nhân của Thượng đế trên cõi trí vũ trụ, và tạo sự tiếp xúc với cõi dĩ thái vũ trụ thứ nhất, hay cõi adi thái dương. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Electricity on the monadic plane demonstrates as the first manifestation of form, as that which causes forms to cohere. Matter (electrified by “fire by friction”) and the electric fire of spirit meet and blend, and form appears. Form is the result of the desire for existence, hence the dynamic fire of Will is transmuted into the burning fire of Desire. I would call attention to the choice of those two phrases, which might also be expressed under the terms: |
Điện trên cõi chân thần biểu lộ như sự biểu hiện đầu tiên của hình tướng, như cái làm cho các hình tướng gắn kết với nhau. Vật chất (được tích điện bởi “lửa ma sát”) và lửa điện của tinh thần gặp gỡ và hòa quyện, và hình tướng xuất hiện. Hình tướng là kết quả của dục vọng tồn tại, do đó lửa năng động của Ý Chí được chuyển hóa thành lửa cháy của Dục vọng. Tôi muốn lưu ý đến việc lựa chọn hai cụm từ này, vốn cũng có thể được diễn đạt dưới các thuật ngữ: |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Dynamic electrical manifestation. |
Biểu lộ điện năng động. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Burning electrical manifestation. |
Biểu lộ điện rực cháy. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Here on the second plane, the sea of electrical fire, which distinguished the first plane, is transformed into the akasha, or burning etheric matter. It is the plane of the flaming Sun, just as the first plane is that of the fire mist [312] or the nebulae. This idea will be easier to comprehend if it is borne in mind that we are dealing with the cosmic physical plane. |
Tại đây trên cõi thứ hai, biển lửa điện, vốn đặc trưng cho cõi thứ nhất, được biến đổi thành akasha, hay vật chất dĩ thái rực cháy. Đó là cõi của Mặt trời rực lửa, cũng giống như cõi thứ nhất là cõi của sương lửa [312] hay các tinh vân. Ý tưởng này sẽ dễ hiểu hơn nếu ghi nhớ rằng chúng ta đang đề cập đến cõi hồng trần vũ trụ. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Certain things take place on the second plane which need realisation, even if already theoretically conceded: |
Một số điều diễn ra trên cõi thứ hai cần sự chứng nghiệm, ngay cả khi đã được thừa nhận về mặt lý thuyết: |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Heat or flaming radiation is first seen. |
Nhiệt hay bức xạ rực lửa lần đầu tiên được nhìn thấy. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Form is taken, and the spheroidal shape of all existence originates. |
Hình tướng được đón nhận, và hình cầu của mọi sự tồn tại bắt nguồn từ đây. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
The first interplay between the polar opposites is felt. |
Sự tác động qua lại đầu tiên giữa các cực đối lập được cảm nhận. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Differentiation is first seen, not only in the recognised duality of all things, but in differentiation in motion; two vibrations are recognised. |
Sự biến phân lần đầu tiên được nhìn thấy, không chỉ trong tính nhị nguyên được công nhận của mọi vật, mà còn trong sự biến phân về chuyển động; hai rung động được ghi nhận. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Certain vibratory factors begin to work such as attraction, repulsion, discriminative rejection, coherent assimilation, and the allied manifestation of revolving forms, orbital paths and the beginning of that curious downward pull into matter that results in evolution itself. |
Một số yếu tố rung động bắt đầu hoạt động như hấp thu, đẩy lùi, loại bỏ có phân biện, đồng hóa gắn kết, và sự biểu lộ liên kết của các hình tướng xoay tròn, các quỹ đạo và sự bắt đầu của sức hút xuống kỳ lạ vào vật chất vốn dẫn đến chính sự tiến hóa. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
The primary seven manifestations of logoic existence find expression and the three, with the four, commence their work. |
Bảy biểu lộ sơ cấp của sự tồn tại của Thượng đế tìm thấy sự diễn đạt và bộ ba, cùng với bộ bốn, bắt đầu công việc của Các Ngài. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
The seven wheels, or etheric centres in the body etheric of that great cosmic Entity, of Whom our solar Logos is a reflection, begin to vibrate and His life activity can be seen. |
Bảy bánh xe, hay các luân xa dĩ thái trong thể dĩ thái của Thực thể vũ trụ vĩ đại đó, mà Thái dương Thượng đế của chúng ta là một phản ảnh của Ngài, bắt đầu rung động và hoạt động sự sống của Ngài có thể được nhìn thấy. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
We are at this juncture considering the manifestations of electricity on the different planes of the cosmic physical plane, or on our solar systemic planes. Hence, all that can be seen in manifestation is fundamentally physical electricity. We have seen that the primary manifestation is that which vitalised, tinctured, and pervaded the matter of space, thus embodying—in connection with logoic manifestation—that which is analogous to the vital heat, activity and radiation of a human being, [313] manifesting on the solar physical plane. Certain electrical phenomena distinguish a human being, only (as they have not been expressed or considered in terms of electricity) the analogy has been lost sight of. These demonstrations might be considered as: |
Tại giao điểm này, chúng ta đang xem xét các biểu lộ của điện trên các cõi khác nhau của cõi hồng trần vũ trụ, hay trên các cõi của hệ thái dương chúng ta. Vì vậy, tất cả những gì có thể thấy trong biểu lộ về cơ bản là điện hồng trần. Chúng ta đã thấy rằng biểu lộ sơ cấp là cái đã tiếp sinh lực, nhuốm màu, và thâm nhập vật chất của không gian, do đó hiện thân—trong mối liên hệ với biểu lộ của Thượng đế—điều tương tự như nhiệt sinh lực, hoạt động và bức xạ của một con người, [313]biểu lộ trên cõi hồng trần thái dương. Một số hiện tượng điện phân biệt một con người, chỉ có điều (vì chúng chưa được diễn đạt hoặc xem xét dưới khía cạnh điện) sự tương đồng đã bị bỏ sót. Những biểu hiện này có thể được xem như là: |
||||||||||||||||||||||||||||
|
First, that coherent VITALITY which holds the entire body revolving around the central unit of force. It must here be remembered that the entire manifestation of a solar system consists of the etheric body, and the dense body of a Logos. |
Thứ nhất, SỨC SỐNG gắn kết vốn giữ cho toàn bộ cơ thể xoay quanh đơn vị lực trung tâm. Ở đây cần nhớ rằng toàn bộ sự biểu lộ của một hệ thái dương bao gồm thể dĩ thái, và thể đậm đặc của một Thượng đế. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Second, that radiatory MAGNETISM which distinguishes man, and makes him active in two ways: |
Thứ hai, TỪ TÍNH bức xạ vốn phân biệt con người, và làm cho y hoạt động theo hai cách: |
||||||||||||||||||||||||||||
|
In relation to the matter of which his vehicles are composed. |
Trong mối quan hệ với vật chất cấu tạo nên các hiện thể của y. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
In relation to the units which form his group. |
Trong mối quan hệ với các đơn vị hình thành nên nhóm của y. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Third, that ACTIVITY on the physical plane which results in due performance of the will and desire of the indwelling entity, and which in man is the correspondence of the Brahma aspect. |
Thứ ba, HOẠT ĐỘNG trên cõi hồng trần dẫn đến sự thực hiện đúng đắn ý chí và dục vọng của thực thể nội trú, và ở nơi con người là sự tương ứng của phương diện Brahma. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
These three electrical manifestations—vitality, magnetism, and fohatic impulse—are to be seen at work in a solar Logos, a Heavenly Man and a human being. They are the objective manifestations of the psychic nature, which (in a solar Logos, for instance) we speak of in terms of quality, and call will, wisdom, activity. Therefore, it should be noted here that the first three planes of the cosmic physical plane—the logoic, monadic, and atmic planes—are of prime importance and are the basic planes from whence emanate the secondary four; in other words, the first three cosmic ethers embody in a literal sense those three Entities whom we know as Mahadeva, Vishnu, and Brahma. In a similar sense these Three find Their densest objectivity in the three physical ethers. The lower four manifest during evolution, but are eventually synthesised into the higher [314] three. It should be also remembered that on all the seven subplanes of a solar plane a process, in connection with electrical phenomena in etheric matter, will parallel all the processes on the major planes. This is easily to be seen on the mental plane, for instance, in connection with Man. Theoretically, the absorption of all faculty by the causal body, and the discontinuance of all enforced objectivity in the three worlds at the close of the synthesising period is conceded. On the other planes it is not so obvious. On the buddhic plane, the Builders on the evolutionary arc, or a large part of the deva evolution, undergo a paralleling synthesis. On the physical plane a mysterious synthesis in connection with the “spirit of the Earth” is undergone, and the first three ethers are related to him in a way as yet little understood. |
Ba biểu lộ điện này—sức sống, từ tính, và xung lực fohat—có thể được thấy đang hoạt động trong một Thái dương Thượng đế, một Đấng Thiên Nhân và một con người. Chúng là những biểu lộ khách quan của bản chất tâm linh, mà (ví dụ như trong một Thái dương Thượng đế) chúng ta nói đến dưới khía cạnh phẩm tính, và gọi là ý chí, minh triết, hoạt động. Do đó, cần lưu ý ở đây rằng ba cõi đầu tiên của cõi hồng trần vũ trụ—các cõi của Thượng đế, chân thần, và atma—có tầm quan trọng hàng đầu và là các cõi cơ bản từ đó phát xuất bốn cõi thứ cấp; nói cách khác, ba cõi dĩ thái vũ trụ đầu tiên hiện thân theo nghĩa đen cho ba Thực thể mà chúng ta biết là Mahadeva, Vishnu, và Brahma. Theo một ý nghĩa tương tự, Ba Đấng này tìm thấy tính khách quan đậm đặc nhất của Các Ngài trong ba cõi dĩ thái hồng trần. Bốn cõi thấp biểu lộ trong quá trình tiến hóa, nhưng cuối cùng được tổng hợp vào [314] ba cõi cao. Cũng cần nhớ rằng trên tất cả bảy cõi phụ của một cõi thái dương, một quá trình, liên quan đến các hiện tượng điện trong vật chất dĩ thái, sẽ song hành với tất cả các quá trình trên các cõi chính. Điều này dễ dàng thấy được trên cõi trí, chẳng hạn, liên quan đến Con người. Về mặt lý thuyết, việc hấp thu mọi năng lực bởi thể nguyên nhân, và sự chấm dứt mọi tính khách quan bắt buộc trong ba cõi giới khi kết thúc giai đoạn tổng hợp được thừa nhận. Trên các cõi khác, điều đó không quá rõ ràng. Trên cõi bồ đề, các Đấng Kiến Tạo trên cung thăng thượng, hay một phần lớn của cuộc tiến hóa thiên thần, trải qua một sự tổng hợp song hành. Trên cõi hồng trần, một sự tổng hợp huyền bí liên quan đến “tinh linh của Địa Cầu” được trải qua, và ba cõi dĩ thái đầu tiên liên quan đến vị này theo một cách thức chưa được hiểu rõ bao nhiêu. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
We might sum it up thus: |
Chúng ta có thể tóm tắt như sau: |
||||||||||||||||||||||||||||
|
First, the balancing of electrical phenomena, or the achievement of synthesis in connection with Man, transpires on the three higher levels of the mental plane. |
Thứ nhất, sự cân bằng các hiện tượng điện, hay việc đạt được sự tổng hợp liên quan đến Con người, diễn ra trên ba cấp độ cao hơn của cõi trí. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Second, a similar process in connection with a Heavenly Man transpires on the three higher subplanes of the monadic plane. Viewed in a larger sense it takes place on the three major planes—the atmic, buddhic, and manasic—just as in the three worlds of human evolution—the physical, astral, and mental—the synthesising process proceeds on the higher of the three involved. |
Thứ hai, một quá trình tương tự liên quan đến một Đấng Thiên Nhân diễn ra trên ba cõi phụ cao hơn của cõi chân thần. Nhìn theo nghĩa rộng hơn, nó diễn ra trên ba cõi chính—atma, bồ đề, và manas—cũng giống như trong ba cõi giới của cuộc tiến hóa nhân loại—hồng trần, cảm dục, và trí tuệ—quá trình tổng hợp tiến hành trên cõi cao hơn trong ba cõi liên quan. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Third, in connection with a solar Logos (within the system and not considering His cosmic synthesis) the three higher subplanes of the logoic plane see His final absorption or abstraction, and the three planes of the three Logoi are similarly concerned. |
Thứ ba, liên quan đến một Thái dương Thượng đế (trong hệ thống và không xét đến sự tổng hợp vũ trụ của Ngài), ba cõi phụ cao hơn của cõi Thượng đế chứng kiến sự hấp thu hay sự rút lui cuối cùng của Ngài, và ba cõi của ba Thượng đế cũng liên quan tương tự. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
It should here be carefully borne in mind that we are dealing with electrical matter, and are therefore concerned with cosmic etheric substance; all matter in the system is necessarily etheric. We are consequently dealing literally with physical phenomena on all planes of [315] the system. In time and space we are concerned with units of different polarity which—during the evolutionary process—seek union, balance, equilibrium or synthesis, and eventually find it. This electrical interplay between two units causes that which we call light, and thereby objectivity. During evolution this demonstrates as heat and magnetic interaction and is the source of all vital growth; at the achievement of the desired goal, at union, or at-one-ment, two things occur: |
Ở đây cần ghi nhớ kỹ rằng chúng ta đang đối phó với vật chất điện, và do đó quan tâm đến chất liệu dĩ thái vũ trụ; mọi vật chất trong hệ thống nhất thiết là dĩ thái. Do đó, chúng ta đang thực sự đối phó với các hiện tượng vật lý trên mọi cõi của [315] hệ thống. Trong thời gian và không gian, chúng ta quan tâm đến các đơn vị có cực tính khác nhau mà—trong quá trình tiến hóa—tìm kiếm sự hợp nhất, cân bằng, thăng bằng hay tổng hợp, và cuối cùng tìm thấy nó. Sự tác động qua lại của điện giữa hai đơn vị gây ra cái mà chúng ta gọi là ánh sáng, và nhờ đó có tính khách quan. Trong quá trình tiến hóa, điều này biểu lộ như nhiệt và tương tác từ tính và là nguồn gốc của mọi sự tăng trưởng sinh lực; khi đạt được mục tiêu mong muốn, tại sự hợp nhất, hay sự đồng nhất, hai điều xảy ra: |
||||||||||||||||||||||||||||
|
First, the approximation of the two poles, or their blending, causes a blazing forth, or radiant light. |
Thứ nhất, sự xích lại gần nhau của hai cực, hay sự hòa quyện của chúng, gây ra một sự bùng lên, hay ánh sáng rạng rỡ. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Second, obscuration, or the final disintegration of matter owing to intense heat. |
Thứ hai, sự che mờ, hay sự phân rã cuối cùng của vật chất do nhiệt độ dữ dội. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
This can be seen in connection with man, a Heavenly Man and a solar Logos, and their bodies of objectivity. In man this polarity is achieved, the three different types of electrical phenomena are demonstrated, and the light blazes forth, irradiating the causal body, and lighting up the entire sutratma, or thread (literally the Path) which connects the causal vehicle with the physical brain. Then disintegration or destruction ensues; the causal body vanishes in a blaze of electrical fire, and the real “man” or self is abstracted from the three world-bodies. So will it be seen in the body of a Heavenly Man, a planetary scheme, and so likewise in the body of the Logos, a solar system. |
Điều này có thể được thấy liên quan đến con người, một Đấng Thiên Nhân và một Thái dương Thượng đế, và các thể khách quan của các Ngài. Ở con người, cực tính này đạt được, ba loại hiện tượng điện khác nhau được biểu lộ, và ánh sáng bùng lên, chiếu rọi thể nguyên nhân, và thắp sáng toàn bộ sutratma, hay sợi dây (theo nghĩa đen là Đường Đạo) kết nối hiện thể nguyên nhân với bộ não vật lý. Sau đó sự phân rã hay hủy diệt xảy ra; thể nguyên nhân biến mất trong một luồng lửa điện, và “con người” thực sự hay bản ngã được rút ra khỏi ba thể của thế gian. Cũng sẽ thấy như vậy trong thể của một Đấng Thiên Nhân, một hệ hành tinh, và cũng tương tự như vậy trong thể của Thượng đế, một hệ thái dương. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
The difficulty in apprehending these thoughts is great, for we are necessarily handicapped by lack of adequate terms, but the main ideas only are those I seek to deal with, and the one we are primarily concerned with in this division is the electrical manifestation of magnetism, just as earlier we dealt cursorily with the same electrical phenomena, manifesting as the activity of matter. |
Khó khăn trong việc lĩnh hội những tư tưởng này là rất lớn, vì chúng ta nhất thiết bị hạn chế bởi sự thiếu thụt các thuật ngữ thích hợp, nhưng tôi chỉ tìm cách đề cập đến những ý tưởng chính, và ý tưởng mà chúng ta quan tâm chủ yếu trong phần này là sự biểu lộ điện của từ tính, cũng như trước đó chúng ta đã đề cập sơ qua về cùng những hiện tượng điện đó, biểu lộ như hoạt động của vật chất. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Therefore you have: [316] |
Vì vậy bạn có:[316] |
||||||||||||||||||||||||||||
|
1. Activity . . . . . . electrical manifestation of matter. |
1. Hoạt động . . . . . . biểu lộ điện của vật chất. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
2. Magnetism . . . electrical manifestation of form. |
2. Từ tính . . . . . . . . biểu lộ điện của hình tướng. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
3. Vitality . . . . . . electrical manifestation of existence. |
3. Sức sống . . . . . . . biểu lộ điện của sự tồn tại. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
This is literally (as pointed out by H. P. B.) (S.D.,I, 567. II, 258) fire by friction, solar fire, and electric fire. |
Điều này theo nghĩa đen (như đã được chỉ ra bởi Bà H.P.B.) (S.D.,I, 567. II, 258) là lửa ma sát, lửa thái dương, và lửa điện. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Fire by friction is electricity animating the atoms of matter, or the substance of the solar system, and resulting in: |
Lửa ma sát là điện làm linh hoạt các nguyên tử của vật chất, hay chất liệu của hệ thái dương, và dẫn đến: |
||||||||||||||||||||||||||||
|
The spheroidal form of all manifestation. |
Hình cầu của mọi sự biểu lộ. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
The innate heat of all spheres. |
Nhiệt bẩm sinh của tất cả các quả cầu. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Differentiation of all atoms one from another. |
Sự biến phân của tất cả các nguyên tử cái này với cái khác. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Solar fire is electricity animating forms or congeries of atoms, and resulting in: |
Lửa thái dương là điện làm linh hoạt các hình tướng hay các khối kết tập nguyên tử, và dẫn đến: |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Coherent groups. |
Các nhóm gắn kết. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
The radiation from all groups, or the magnetic interaction of these groups. |
Bức xạ từ tất cả các nhóm, hay sự tương tác từ tính của các nhóm này. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
The synthesis of form. |
Sự tổng hợp của hình tướng. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Electric fire is electricity demonstrating as vitality or the will-to-be of some Entity, and manifests as: |
Lửa điện là điện biểu lộ như sức sống hay ý chí-hiện-hữu của một Thực thể nào đó, và biểu lộ như: |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Abstract Being. |
Bản thể Trừu tượng. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Darkness. |
Bóng tối. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Sự Duy nhất. |
|||||||||||||||||||||||||||||
|
We have seen that electrical manifestation on the first plane caused initial vibration, and on the second its activity resulted in the archetypal form of all manifestation from a God to man, and an atom. |
Chúng ta đã thấy rằng biểu lộ điện trên cõi thứ nhất gây ra rung động ban đầu, và trên cõi thứ hai hoạt động của nó dẫn đến hình tướng nguyên mẫu của mọi sự biểu lộ từ một Thượng đế đến con người, và một nguyên tử. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
On the third plane which, is primarily the plane of Brahma, this electrical force showed itself in intelligent purpose. The will-to-be, and the form desired, are correlated by intelligent purpose underlying all. This intelligent purpose, or active will, utilising an instrument, brings us to that most difficult of metaphysical problems, the distinction between will and desire. It is not possible [317] here to handle this delicate subject, save simply to point out that in both will and desire, intelligence or manas is a fundamental factor, and must be recognised. This permeating principle of manas—colouring as it does both the will aspect and the desire aspect—is the cause of much confusion to students, and clarity of thought will eventuate only as it is realised: |
Trên cõi thứ ba, vốn chủ yếu là cõi của Brahma, lực điện này tự thể hiện trong mục đích thông tuệ. Ý chí-hiện-hữu, và hình tướng được mong muốn, được tương quan bởi mục đích thông tuệ nằm bên dưới tất cả. Mục đích thông tuệ này, hay ý chí hoạt động, sử dụng một công cụ, đưa chúng ta đến vấn đề khó khăn nhất trong các vấn đề siêu hình, sự phân biệt giữa ý chí và dục vọng. Không thể [317] xử lý chủ đề tế nhị này ở đây, ngoại trừ chỉ đơn giản chỉ ra rằng trong cả ý chí và dục vọng, trí tuệ hay manas là một yếu tố cơ bản, và phải được nhận biết. Nguyên khí manas thâm nhập này—nhuốm màu cả phương diện ý chí và phương diện dục vọng—là nguyên nhân gây ra nhiều sự nhầm lẫn cho các đạo sinh, và sự rõ ràng trong tư tưởng sẽ chỉ đến khi người ta nhận ra rằng: |
||||||||||||||||||||||||||||
|
First, that all manifestation emanates, or is electrified, from the cosmic mental plane. |
Thứ nhất, mọi biểu lộ đều phát xuất, hay được tích điện, từ cõi trí vũ trụ. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Second, that the Universal Mind, or the divine thinker, is the intelligent Principle which makes Itself known as the Will-to-be, Desire or Love-of-Being, and that active intelligent purpose which animates the solar system. |
Thứ hai, Trí Tuệ Vũ Trụ, hay người tư duy thiêng liêng, là Nguyên khí thông tuệ làm cho Chính Nó được biết đến như là Ý Chí-hiện-hữu, Dục vọng hay Tình thương-của-Sự Hiện Hữu, và mục đích thông tuệ hoạt động làm linh hoạt hệ thái dương. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Third, that Maha-deva, or the Divine Will, Vishnu, the Wisdom aspect, or the manifested “Son of Necessity,” and Brahma or active purpose are the sum-total of intelligent consciousness, and are (to the manifesting cosmic Entity) what the mental body, the desire body, and the physical body are to man, the thinker in the three worlds, functioning in the causal body. We must not forget that the causal body contains the three permanent atoms or the three spheres which embody the principle of intelligence, of desire, and of physical objectivity. Always must the analogy be held between the threefold Logos and threefold man, and definiteness of thought and of concept results when the one likeness between these is pondered on. Man is a unit, functioning as a unit in the causal body. He is a triplicity functioning under the will aspect, or mental body; under the desire or wisdom aspect, the astral body; and under the activity aspect, the physical body. He electrifies or vitalises all three bodies or aspects, unifying them into one, and bringing about—by means of the Intelligence He is—coherency of action, simultaneity of purpose, and synthetic endeavour. |
Thứ ba, Maha-deva, hay Ý Chí Thiêng Liêng, Vishnu, phương diện Minh triết, hay “Con của Sự Cần Thiết” được biểu lộ, và Brahma hay mục đích hoạt động là tổng thể của tâm thức thông tuệ, và (đối với Thực thể vũ trụ đang biểu lộ) là những gì mà thể trí, thể dục vọng, và thể xác đối với con người, người tư duy trong ba cõi, hoạt động trong thể nguyên nhân. Chúng ta không được quên rằng thể nguyên nhân chứa ba nguyên tử trường tồn hay ba quả cầu vốn hiện thân cho nguyên khí trí tuệ, dục vọng, và tính khách quan hồng trần. Luôn luôn phải giữ sự tương đồng giữa Thượng đế tam phân và con người tam phân, và sự xác định của tư tưởng và khái niệm sẽ đến khi sự giống nhau duy nhất giữa những điều này được suy ngẫm. Con người là một đơn vị, hoạt động như một đơn vị trong thể nguyên nhân. Y là một bộ ba hoạt động dưới phương diện ý chí, hay thể trí; dưới phương diện dục vọng hay minh triết, thể cảm dục; và dưới phương diện hoạt động, thể xác. Y tích điện hay tiếp sinh lực cho cả ba thể hay phương diện, hợp nhất chúng thành một, và mang lại—bằng phương tiện của Trí Thông Minh là Y—sự gắn kết của hành động, sự đồng thời của mục đích, và nỗ lực tổng hợp. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
[318] Finally, therefore, it is apparent that, no matter from what angle we study, the threefold Logos (or His reflection, the microcosm) through the Manasic principle, intelligently reduces matter to form, and utilises that form for the fulfilment of the will, desire and purpose of the indwelling Existence; this principle can be seen underlying all three aspects. |
[318] Cuối cùng, do đó, rõ ràng là, bất kể chúng ta nghiên cứu từ góc độ nào, Thượng đế tam phân (hay sự phản ảnh của Ngài, tiểu thiên địa) thông qua nguyên khí Manas, làm giảm vật chất thành hình tướng một cách thông tuệ, và sử dụng hình tướng đó cho việc hoàn thành ý chí, dục vọng và mục đích của Sự Tồn Tại nội trú; nguyên khí này có thể được thấy nằm bên dưới cả ba phương diện. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
There is no need here to point out the different triplicities which can be built up on the basic idea of Spirit and Matter, linked by Intelligence. This has often been done. I but seek to emphasize that INTELLIGENCE is the main quality of the Logos; that it shows as will, as desire or wisdom, and as activity; and that the reason for this is due to the work earlier accomplished by the cosmic Entity, involving cycles which have passed into the dim mist of retrospect, even from the angle of vision of a solar Logos. |
Không cần phải chỉ ra ở đây những bộ ba khác nhau có thể được xây dựng dựa trên ý tưởng cơ bản về Tinh thần và Vật chất, được liên kết bởi Trí tuệ. Điều này đã thường được thực hiện. Tôi chỉ tìm cách nhấn mạnh rằng TRÍ TUỆ là phẩm tính chính của Thượng đế; rằng nó thể hiện như ý chí, như dục vọng hay minh triết, và như hoạt động; và rằng lý do cho điều này là do công việc đã được hoàn thành trước đó bởi Thực thể vũ trụ, liên quan đến các chu kỳ đã trôi vào sương mù mờ ảo của sự hồi tưởng, ngay cả từ góc nhìn của một Thái dương Thượng đế. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
This developed manasic principle is the intelligent purpose that is bringing about at-one-ment on each plane of the solar system in connection with the subplanes. It will eventually bring about the synthesis of all the planes, and thus bring the cosmic physical plane, as a unified whole, under the complete control of that cosmic Entity Who is seeking expression through that threefold manifestation we call a solar system, or the body logoic. |
Nguyên khí manas phát triển này là mục đích thông tuệ đang mang lại sự hợp nhất trên mỗi cõi của hệ thái dương liên quan đến các cõi phụ. Cuối cùng nó sẽ mang lại sự tổng hợp của tất cả các cõi, và do đó đưa cõi hồng trần vũ trụ, như một tổng thể thống nhất, dưới sự kiểm soát hoàn toàn của Thực thể vũ trụ đó, Người đang tìm kiếm sự biểu hiện thông qua biểu lộ tam phân mà chúng ta gọi là một hệ thái dương, hay thể của Thượng đế. |
||||||||||||||||||||||||||||
[Commentary S3S11] |
|||||||||||||||||||||||||||||
|
On this third plane that intelligent principle demonstrates as coherent activity, either systemic, planetary, or monadic, and also as the triple vibration of spirit-matter-intelligence, sounding as the threefold Sacred Word, or electricity manifesting as sound. |
Trên cõi thứ ba này, nguyên khí thông tuệ đó biểu lộ như hoạt động gắn kết, hoặc thuộc hệ thống, hành tinh, hay chân thần, và cũng như rung động kép ba của tinh thần-vật chất-trí tuệ, vang lên như Linh Từ Thiêng Liêng tam phân, hay điện biểu lộ thành âm thanh. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
We have here an interesting sequence or inversion, according to the angle of vision, involving the planes as we know them: |
Chúng ta có ở đây một trình tự thú vị hay sự đảo ngược, tùy theo góc nhìn, liên quan đến các cõi như chúng ta biết: |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Electricity as vibratory impulse. This causes the aggregation of matter, and its activity within certain bounds, or its awakening to activity within the solar [319] ring-pass-not. This is the first syllable of the Sacred Word. |
Điện như là xung lực rung động. Điều này gây ra sự kết tập của vật chất, và hoạt động của nó trong những giới hạn nhất định, hay sự thức tỉnh hoạt động của nó bên trong [319] vòng-giới-hạn thái dương. Đây là âm tiết đầu tiên của Linh Từ Thiêng Liêng. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Electricity as Light, causing spheroidal objectivity. This is the birth of the Son. It covers the enunciation of the second syllable of the Sacred Word. (123) |
Điện như là Ánh sáng, gây ra tính khách quan hình cầu. Đây là sự ra đời của Ngôi Con. Nó bao gồm sự phát âm của âm tiết thứ hai của Linh Từ Thiêng Liêng. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Electricity as Sound. Here we have the completed threefold Sacred Word. |
Điện như là Âm thanh. Ở đây chúng ta có Linh Từ Thiêng Liêng tam phân hoàn chỉnh. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
On the fourth plane this electrical force shows itself as colour. In these four we have the fundamental concepts of all manifestation; all four have an electrical dynamic origin; all are basically a differentiation or effect of impulse, emanating from the cosmic mental plane and taking form (with intelligent purpose in view) on the cosmic physical. Man repeats the process on his tiny scale, dealing only with three planes, and flashing into objectivity on the solar physical. It will be demonstrated later as science attains more and more of the truth that |
Trên cõi thứ tư, lực điện này tự thể hiện như màu sắc. Trong bốn điều này, chúng ta có các khái niệm cơ bản của mọi biểu lộ; cả bốn đều có nguồn gốc năng động điện; tất cả về cơ bản là một sự biến phân hay hiệu quả của xung lực, phát xuất từ cõi trí vũ trụ và lấy hình tướng (với mục đích thông tuệ được nhắm đến) trên cõi hồng trần vũ trụ. Con người lặp lại quá trình trên quy mô nhỏ bé của mình, chỉ đối phó với ba cõi, và lóe lên thành tính khách quan trên cõi hồng trần thái dương. Sau này sẽ được chứng minh khi khoa học đạt được ngày càng nhiều sự thật rằng: |
||||||||||||||||||||||||||||
|
1. All physical phenomena as we understand the term have an electrical origin, and an initial vibration on the first sub-plane of the physical plane. [320] |
1. Tất cả các hiện tượng vật lý như chúng ta hiểu thuật ngữ này đều có nguồn gốc điện, và một rung động ban đầu trên cõi phụ thứ nhất của cõi hồng trần. [320] |
||||||||||||||||||||||||||||
|
2. That Light, physical plane light, has a close connection with, and uses, as a medium, the second ether. |
2. Rằng Ánh sáng, ánh sáng cõi hồng trần, có mối liên hệ chặt chẽ với, và sử dụng, như một môi trường, cõi dĩ thái thứ hai. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
3. That sound functions through the third ether. |
3. Rằng âm thanh hoạt động thông qua cõi dĩ thái thứ ba. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
4. That colour in a peculiar sense is allied to the fourth ether. |
4. Rằng màu sắc theo một ý nghĩa đặc biệt liên kết với cõi dĩ thái thứ tư. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
We must note here that in the development of the senses, hearing preceded sight, as sound precedes colour. |
Chúng ta phải lưu ý ở đây rằng trong sự phát triển của các giác quan, thính giác đi trước thị giác, cũng như âm thanh đi trước màu sắc. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
An interesting analogy may here be noted between the fourth cosmic ether, and the fourth ether on the physical plane of the solar system. Both are in process of becoming exoteric—one from the standpoint of man in the three worlds, and the other from the standpoint of a Heavenly Man. The fourth ether is even now being investigated by scientists, and much that they predicate concerning ether, the atom, radium, and the ultimate “protyle” has to do with this fourth ether. It will eventually be brought under scientific formula, and some of its properties, knowledge concerning its range of influence, and its utilisation will become known unto men. Paralleling this, the buddhic plane, the plane of the Christ principle, is gradually becoming known to those advanced beings who are individually able to cognise their place in the body of a Logos of a planetary scheme. The influence of the buddhic plane, and the electrical force that is its peculiar characteristic, are beginning to be felt, and its energy is also beginning to have a definite effect on the egoic bodies of men; the fourth ether of the physical systemic plane is likewise assuming its rightful place in the minds of men, and the electrical force of that subplane is already being adapted and utilised by man in the assistance of the mechanical arts, for methods of transportation, for widespread illumination, and in healing. These four adaptations of electricity: [321] |
Một sự tương đồng thú vị có thể được ghi nhận ở đây giữa cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư, và cõi dĩ thái thứ tư trên cõi hồng trần của hệ thái dương. Cả hai đều đang trong quá trình trở nên ngoại môn—một từ quan điểm của con người trong ba cõi giới, và cái kia từ quan điểm của một Đấng Thiên Nhân. Cõi dĩ thái thứ tư thậm chí hiện nay đang được các nhà khoa học điều tra, và nhiều điều mà họ xác quyết liên quan đến ether, nguyên tử, radium, và “protyle” tối thượng đều liên quan đến cõi dĩ thái thứ tư này. Cuối cùng nó sẽ được đưa vào công thức khoa học, và một số tính chất của nó, kiến thức liên quan đến phạm vi ảnh hưởng của nó, và việc sử dụng nó sẽ được con người biết đến. Song hành với điều này, cõi bồ đề, cõi của nguyên khí Christ, dần dần được biết đến bởi những thực thể tiến hóa cao, những người có khả năng nhận biết vị trí của họ trong thể của một Thượng đế của một hệ hành tinh. Ảnh hưởng của cõi bồ đề, và lực điện vốn là đặc tính riêng biệt của nó, đang bắt đầu được cảm nhận, và năng lượng của nó cũng đang bắt đầu có tác dụng rõ rệt lên các thể chân ngã của con người; cõi dĩ thái thứ tư của cõi hồng trần hệ thống cũng tương tự đang đảm nhận vị trí xứng đáng của nó trong tâm trí con người, và lực điện của cõi phụ đó đã và đang được con người thích ứng và sử dụng trong sự hỗ trợ các kỹ nghệ cơ khí, cho các phương thức giao thông vận tải, cho sự chiếu sáng rộng rãi, và trong trị liệu. Bốn sự thích ứng này của điện: [321] |
||||||||||||||||||||||||||||
|
1. For mechanical uses, |
1. Cho các mục đích cơ khí, |
||||||||||||||||||||||||||||
|
2. For transportation, |
2. Cho giao thông vận tải, |
||||||||||||||||||||||||||||
|
3. For illumination, |
3. Cho chiếu sáng, |
||||||||||||||||||||||||||||
|
4. In healing, |
4. Trong trị liệu, |
||||||||||||||||||||||||||||
|
are but the working out on the physical plane of paralleling utilisation of buddhic electrical force. |
chỉ là sự thực hiện trên cõi hồng trần việc sử dụng song hành lực điện bồ đề. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
It might here be asked why colour primarily is spoken of as the buddhic manifestation of electricity. We are employing the word “colour” here in its original and basic sense as “that which veils.” Colour veils the sevenfold differentiation of logoic manifestation and, from the angle of vision of man in the three worlds, can be seen only in its full significance on the buddhic plane. All fire and electrical display will be seen to embody the seven colours. |
Ở đây có thể hỏi tại sao màu sắc chủ yếu được nói đến như là biểu lộ bồ đề của điện. Chúng ta đang sử dụng từ “màu sắc” ở đây theo nghĩa gốc và cơ bản của nó là “cái che khuất”. Màu sắc che khuất sự biến phân thất phân của biểu lộ Thượng đế và, từ góc nhìn của con người trong ba cõi giới, chỉ có thể được thấy trong ý nghĩa đầy đủ của nó trên cõi bồ đề. Tất cả lửa và sự phô diễn điện sẽ được thấy hiện thân cho bảy màu sắc. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Again another correspondence between the fourth cosmic ether and the fourth physical ether lies in the fact that they are both primarily concerned with the work of the great builders, bearing in mind that they build the real body of the Logos in etheric matter; the dense physical vehicle is not so much the result of their work as it is the result of the meeting of the seven streams of force or electricity, which causes that apparent congestion in matter that we call the dense physical planes (the three lower subplanes). This apparent congestion is, after all, but the exceeding electronic activity or energy of the mass of negative atoms awaiting the stimulation that will result from the presence of a certain number of positive atoms. This needs to be borne in mind. The work of evolution is based on two methods and demonstrates as: |
Một lần nữa, một sự tương ứng khác giữa cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư và cõi dĩ thái hồng trần thứ tư nằm ở thực tế là cả hai đều quan tâm chủ yếu đến công việc của các đấng đại kiến tạo, ghi nhớ rằng các ngài xây dựng thể thực của Thượng đế bằng vật chất dĩ thái; hiện thể vật lý đậm đặc không phải là kết quả công việc của các ngài nhiều bằng kết quả của sự gặp gỡ của bảy dòng lực hay điện, vốn gây ra sự tắc nghẽn rõ ràng trong vật chất mà chúng ta gọi là các cõi vật lý đậm đặc (ba cõi phụ thấp). Sự tắc nghẽn rõ ràng này, rốt cuộc, chỉ là hoạt động hay năng lượng điện tử vượt quá của khối các nguyên tử âm đang chờ đợi sự kích thích sẽ dẫn đến từ sự hiện diện của một số lượng nhất định các nguyên tử dương. Điều này cần được ghi nhớ. Công việc tiến hóa dựa trên hai phương pháp và biểu lộ như: |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Involution, wherein the negative electrons of matter preponderate. The percentage of these feminine electrons is one of the secrets of initiation and is so vast during the involutionary stage that the rarity of the positive [322] atoms is very noticeable; they are so rare as only to serve to keep the mass coherent. |
Giáng hạ tiến hóa, trong đó các điện tử âm của vật chất chiếm ưu thế. Tỷ lệ của các điện tử nữ tính này là một trong những bí mật của điểm đạo và lớn đến mức trong giai đoạn giáng hạ tiến hóa, sự hiếm hoi của các nguyên tử [322] dương rất đáng chú ý; chúng hiếm đến mức chỉ dùng để giữ cho khối vật chất gắn kết. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Evolution, wherein, due to the action of manas, these negative atoms become stimulated and either dissipate back into the central electrical reservoir, or merge in their opposite pole, and are consequently again lost. This results in: |
Tiến hóa, trong đó, do tác động của manas, các nguyên tử âm này trở nên được kích thích và hoặc tiêu tan trở lại vào hồ chứa điện trung tâm, hoặc hợp nhất trong cực đối lập của chúng, và do đó lại bị mất đi. Điều này dẫn đến: |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Synthesis. |
Sự tổng hợp. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Tính đồng nhất. |
|||||||||||||||||||||||||||||
|
The rarity instead of the density of matter. The fourth cosmic ether, the buddhic, is the plane of air, and is also the plane of absorption for the three worlds. This rarefication of dense matter (as we know it) simply means that at the close of the evolutionary process it will have been transmuted and be practically, from our point of view, non-existent; all that will be left will be the positive atoms, or certain vortices of force which—having absorbed the negative will demonstrate as electrical phenomena of a form inconceivable to man at his present stage of knowledge. These vortices will be distinguished by: |
Sự loãng thay vì sự đậm đặc của vật chất. Cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư, cõi bồ đề, là cõi của khí, và cũng là cõi hấp thu cho ba cõi giới. Sự làm loãng vật chất đậm đặc này (như chúng ta biết) đơn giản có nghĩa là khi kết thúc quá trình tiến hóa, nó sẽ được chuyển hóa và thực tế, theo quan điểm của chúng ta, là không tồn tại; tất cả những gì còn lại sẽ là các nguyên tử dương, hoặc các xoáy lực nhất định mà—sau khi hấp thu cực âm sẽ biểu lộ như các hiện tượng điện của một hình thức không thể tưởng tượng được đối với con người ở giai đoạn kiến thức hiện tại của y. Các xoáy này sẽ được phân biệt bởi: |
||||||||||||||||||||||||||||
|
1. Intense vibratory activity. |
1. Hoạt động rung động dữ dội. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
2. The predominance of one certain colour according to the quality of the etheric display, and its source. |
2. Sự chiếm ưu thế của một màu nhất định tùy theo phẩm tính của sự phô diễn dĩ thái, và nguồn gốc của nó. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
3. Repulsion to all bodies of similar vibratory rate and polarity. Their attractive quality at the end of evolution will cease owing to the fact that naught remains to be attracted. |
3. Sự đẩy lùi đối với tất cả các thể có tần số rung động và cực tính tương tự. Phẩm tính hấp dẫn của chúng vào cuối giai đoạn tiến hóa sẽ chấm dứt do thực tế là không còn gì để thu hút. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
The vortices in each planetary scheme will be, during evolution, seven. Later, during the period of obscuration, three of the vortices will approximate their masculine pole and eventually but one will be left. In man a similar procedure can be seen in connection with his [323] seven centres during the process of initiation. First there are seven, then three absorb the lower four through electrical interaction. We are here viewing the subject wholly from the point of view of our present discussion. Finally, only the head centre is left, for it is the positive pole to all the others. |
Các xoáy trong mỗi hệ hành tinh, trong quá trình tiến hóa, sẽ là bảy. Sau đó, trong giai đoạn che mờ, ba trong số các xoáy sẽ xích lại gần cực dương của chúng và cuối cùng chỉ còn lại một. Ở con người, một quy trình tương tự có thể được thấy liên quan đến [323] bảy luân xa của y trong quá trình điểm đạo. Đầu tiên có bảy, sau đó ba luân xa hấp thu bốn luân xa thấp hơn thông qua tương tác điện. Chúng ta đang xem xét chủ đề hoàn toàn từ quan điểm của cuộc thảo luận hiện tại của chúng ta. Cuối cùng, chỉ còn lại luân xa đầu, vì nó là cực dương đối với tất cả các luân xa khác. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
This question of the electrical polarity of the centres is one of real difficulty, and little can be communicated on the matter. It may be safely pointed out, however, that the generative organs are the negative pole to the throat centre as is the solar plexus to the heart. The order of the development of the centres, the ray-type and colour, coupled to the fact that during certain stages of the evolutionary process different centres (such as the base of the spine) are positive to all the others, not even excluding the head centre, leads to the vast complexity of the subject. Likewise certain of the planetary schemes are positive and others negative; three of the schemes are dual, both negative and positive. The same can be predicated anent a solar system, and, curiously enough, anent the planes themselves. For instance, in connection with the earth scheme we have a positive polarity of a temporary nature based on the type of incarnation our particular Heavenly Man is undergoing on our planet. By this is meant that there are masculine and feminine incarnations undergone by Heavenly Men as by men, considering the entire subject from the angle of electrical polarity and not from sex as understood in connection with the physical body. |
Vấn đề về cực tính điện của các luân xa này là một khó khăn thực sự, và rất ít điều có thể được truyền đạt về vấn đề này. Tuy nhiên, có thể chỉ ra một cách an toàn rằng các cơ quan sinh dục là cực âm đối với luân xa cuống họng cũng như tùng thái dương đối với luân xa tim. Thứ tự phát triển của các luân xa, loại cung và màu sắc, kết hợp với thực tế là trong các giai đoạn nhất định của quá trình tiến hóa, các luân xa khác nhau (như luân xa đáy cột sống) là dương đối với tất cả các luân xa khác, thậm chí không loại trừ luân xa đầu, dẫn đến sự phức tạp to lớn của chủ đề. Tương tự như vậy, một số hệ hành tinh là dương và những hệ khác là âm; ba trong số các hệ thống là kép, vừa âm vừa dương. Điều tương tự có thể được xác quyết liên quan đến một hệ thái dương, và, kỳ lạ thay, liên quan đến chính các cõi. Chẳng hạn, liên quan đến hệ Trái Đất, chúng ta có một cực tính dương có tính chất tạm thời dựa trên loại hình nhập thể mà Đấng Thiên Nhân cụ thể của chúng ta đang trải qua trên hành tinh của chúng ta. Điều này có nghĩa là có những kiếp sống nam tính và nữ tính được trải qua bởi các Đấng Thiên Nhân cũng như bởi con người, xem xét toàn bộ chủ đề từ góc độ cực tính điện và không phải từ giới tính như được hiểu liên quan đến cơ thể vật lý. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Venus is negatively polarised, and hence it became possible for a mysterious absorption by the Earth of Venusian force. Again in this connection the question of sex may serve to elucidate. The karmic tie between the two Heavenly Men—one in a positive incarnation and the other in a negative—caused the working out of an old debt and a planetary alliance. Light flashed forth [324] in Lemurian days in a number of great groups of the human family when these two opposite poles made electrical connection. It needed the joint work of the two Heavenly Men, working on buddhic levels (the fourth cosmic ether) to bring about the blazing forth of the light of manas in the causal groups on the fifth cosmic gaseous plane, the mental plane of the solar system. It will be remembered that it was earlier pointed out that the majority of men function consciously on the fifth subplane of the three planes in the three worlds. In them the fifth principle is beginning to function, but not in sufficient force as yet to do more than keep them in line with the electrical force flowing from the fourth cosmic ether down to the next subplane of the cosmic physical. |
Sao Kim được phân cực âm, và do đó, một sự hấp thu huyền bí lực của Sao Kim bởi Trái Đất đã trở nên khả thi. Một lần nữa trong mối liên hệ này, vấn đề giới tính có thể giúp làm sáng tỏ. Mối ràng buộc nghiệp quả giữa hai Đấng Thiên Nhân—một trong kiếp sống dương và người kia trong kiếp sống âm—đã gây ra việc giải quyết một món nợ cũ và một liên minh hành tinh. Ánh sáng lóe lên [324] trong những ngày tháng Lemuria trong một số nhóm lớn của gia đình nhân loại khi hai cực đối lập này tạo ra kết nối điện. Cần có công việc chung của hai Đấng Thiên Nhân, làm việc trên các cấp độ bồ đề (cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư) để mang lại sự bùng lên của ánh sáng manas trong các nhóm nguyên nhân trên cõi khí vũ trụ thứ năm, cõi trí của hệ thái dương. Sẽ nhớ lại rằng trước đó đã chỉ ra rằng đa số con người hoạt động một cách có ý thức trên cõi phụ thứ năm của ba cõi trong ba cõi giới. Ở họ, nguyên khí thứ năm đang bắt đầu hoạt động, nhưng chưa đủ lực để làm gì hơn ngoài việc giữ họ thẳng hàng với lực điện chảy từ cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư xuống cõi phụ tiếp theo của cõi hồng trần vũ trụ. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
It must ever be borne in mind that each plane and each subplane which is numerically allied, is embodying the same type of force, and is consequently of the same polarity. |
Luôn phải ghi nhớ rằng mỗi cõi và mỗi cõi phụ được liên kết về mặt số học, đều đang hiện thân cho cùng một loại lực, và do đó có cùng cực tính. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Again, the astral plane and the buddhic plane are related, as we already know; the astral is negative in relation to the buddhic plane. When the polarity of the different planes is known, when the polarity of the subplanes is comprehended, and when the interaction between them and the corresponding cosmic planes is grasped, then will man be free, but not before. When the polarity of the ethers to each other and their relationship to the whole is comprehended, human evolution will have run its course. A Master has solved the problem of electrical phenomena in the three worlds, hence His freedom. Further, when the relationship of the negative form to the positive Spirit is grasped, and their joint connection with the cosmic Entities Who indwell the whole system is somewhat apprehended, group liberation will be achieved. |
Một lần nữa, cõi cảm dục và cõi bồ đề có liên quan với nhau, như chúng ta đã biết; cõi cảm dục là âm trong mối quan hệ với cõi bồ đề. Khi cực tính của các cõi khác nhau được biết đến, khi cực tính của các cõi phụ được lĩnh hội, và khi sự tác động qua lại giữa chúng và các cõi vũ trụ tương ứng được nắm bắt, thì con người sẽ được tự do, nhưng không phải trước đó. Khi cực tính của các ether đối với nhau và mối quan hệ của chúng với toàn thể được lĩnh hội, sự tiến hóa của nhân loại sẽ hoàn tất lộ trình của nó. Một Chân sư đã giải quyết vấn đề về các hiện tượng điện trong ba cõi giới, do đó Ngài được tự do. Hơn nữa, khi mối quan hệ của hình tướng âm với Tinh thần dương được nắm bắt, và sự kết nối chung của chúng với các Thực thể vũ trụ cư ngụ trong toàn bộ hệ thống được lĩnh hội phần nào, sự giải thoát nhóm sẽ đạt được. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Perhaps in considering this abstruse matter it may [325] help to clarify the point of view if it is recollected that man is essentially positive in his own nature but his vehicles are negative; hence he is the central unit of positive electricity that draws and holds to him atoms of an opposite polarity. When he has merged and blended the two poles, and produced light of a definite magnitude during any particular incarnation (which magnitude is settled by the Ego prior to incarnation) then obscuration takes place. The electrical manifestation burns up and destroys the medium, and the light goes out; what we call physical death ensues, for the electrical current burns up that which had caused objectivity, and that which shone. Let us carry this idea further and realise that these units called men (who are positive as regards their own vehicles) are but the negative cells in the body of a Heavenly Man, and are held within His sphere of influence by the force of His electrical life. Bear in mind again that the Heavenly Men are thus positive as regards the lesser lives, but in Their turn are negative as regards the greater Life that contains Them. |
Có lẽ trong việc xem xét vấn đề trừu tượng này, nó có thể [325] giúp làm rõ quan điểm nếu nhớ lại rằng con người về cơ bản là dương trong bản chất của mình nhưng các hiện thể của y là âm; do đó y là đơn vị trung tâm của điện dương thu hút và giữ chặt các nguyên tử có cực tính đối lập với mình. Khi y đã hợp nhất và hòa quyện hai cực, và tạo ra ánh sáng có độ lớn xác định trong bất kỳ kiếp sống cụ thể nào (độ lớn được quyết định bởi Chân ngã trước khi nhập thể) thì sự che mờ diễn ra. Biểu lộ điện thiêu rụi và phá hủy môi trường, và ánh sáng tắt; cái mà chúng ta gọi là cái chết vật lý xảy ra, vì dòng điện thiêu rụi cái đã gây ra tính khách quan, và cái đã tỏa sáng. Hãy đưa ý tưởng này đi xa hơn và nhận ra rằng những đơn vị gọi là con người này (vốn là dương đối với các hiện thể của chính họ) chỉ là các tế bào âm trong cơ thể của một Đấng Thiên Nhân, và được giữ trong phạm vi ảnh hưởng của Ngài bởi lực của sự sống điện của Ngài. Hãy nhớ lại rằng các Đấng Thiên Nhân do đó là dương đối với các sự sống nhỏ hơn, nhưng đến lượt Các Ngài lại là âm đối với Sự sống vĩ đại hơn chứa đựng Các Ngài. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Here again is demonstrated the truth of the teaching given by H. P. B. |
Ở đây một lần nữa sự thật của lời dạy do Bà H.P.B. đưa ra được chứng minh. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||
|
We have thus considered the question of the electrical origin of all manifestation in connection with the four higher subplanes of the solar system—those four planes which are the four cosmic ethers, and therefore form the body of objectivity of a Heavenly Man in exactly the same sense as the four physical ethers of the solar system form the etheric body of a man. I have here repeated the fact, as its importance has not yet been grasped by the average occult student; this fact—when [326] conceded and realised—serves in a wonderful way to clarify the whole subject of planetary evolution. We have now reached the three planes wherein man functions, or the gaseous, liquid, and dense subplanes of the cosmic physical. |
Chúng ta đã xem xét vấn đề nguồn gốc điện của mọi biểu lộ liên quan đến bốn cõi phụ cao hơn của hệ thái dương—bốn cõi đó là bốn cõi dĩ thái vũ trụ, và do đó tạo thành thể khách quan của một Đấng Thiên Nhân theo cùng một ý nghĩa như bốn cõi dĩ thái vật lý của hệ thái dương tạo thành thể dĩ thái của một con người. Tôi đã lặp lại thực tế này ở đây, vì tầm quan trọng của nó vẫn chưa được nắm bắt bởi các học viên huyền bí học trung bình; thực tế này—khi [326] được thừa nhận và nhận ra—giúp làm rõ một cách tuyệt vời toàn bộ chủ đề về tiến hóa hành tinh. Chúng ta bây giờ đã đạt đến ba cõi nơi con người hoạt động, hay các cõi phụ khí, lỏng, và đặc của cõi hồng trần vũ trụ. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
The whole subject of the akasha will be greatly clarified as exoteric science delves into the question of the ethers. As knowledge of the four types of ethers is available, as the vibratory action of these ethers is realised, and as the details concerning their composition, utilisation, light-bearing capacity, and the various angles from which they may be studied become known then paralleling knowledge anent the corresponding four cosmic ethers will be forthcoming. Much concerning them may be deduced from the already apprehended facts which relate to the four solar physical ethers. |
Toàn bộ chủ đề về akasha sẽ được làm rõ rất nhiều khi khoa học ngoại môn đi sâu vào vấn đề các loại ether. Khi kiến thức về bốn loại ether có sẵn, khi hoạt động rung động của các ether này được nhận ra, và khi các chi tiết liên quan đến thành phần, việc sử dụng, khả năng mang ánh sáng, và các góc độ khác nhau mà từ đó chúng có thể được nghiên cứu trở nên được biết đến, thì kiến thức song hành về bốn cõi dĩ thái vũ trụ tương ứng sẽ xuất hiện. Nhiều điều liên quan đến chúng có thể được suy luận từ những thực tế đã được lĩnh hội liên quan đến bốn cõi dĩ thái vật lý thái dương. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
For instance, the fourth ether (which is even now being what we might call “discovered”), is at this stage characterised by certain things. I might enumerate a few of these facts with exceeding brevity, as follows: |
Chẳng hạn, cõi dĩ thái thứ tư (thậm chí hiện nay đang là cái mà chúng ta có thể gọi là “được khám phá”), ở giai đoạn này được đặc trưng bởi một số điều. Tôi có thể liệt kê một vài trong số những thực tế này một cách cực kỳ ngắn gọn, như sau: |
||||||||||||||||||||||||||||
|
a. It is the ether which the violet ray uses as a medium. |
a. Đó là ether mà cung tím sử dụng làm môi trường. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
b. The fourth ether is that whereof the majority of the etheric bodies of men are made. |
b. Ether thứ tư là cái mà phần lớn các thể dĩ thái của con người được tạo thành. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
c. The fourth ether is largely the principal sphere of influence of the “devas of the shadows,” or those violet devas which are closely concerned with the physical evolution of man. |
c. Ether thứ tư phần lớn là phạm vi ảnh hưởng chính của “các thiên thần của bóng tối,” hay những thiên thần màu tím liên quan mật thiết đến sự tiến hóa vật lý của con người. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
d. It is the etheric sphere within which, at a little later date, the human and the deva evolutions will touch. |
d. Đó là cõi dĩ thái mà trong đó, vào một ngày sau này, sự tiến hóa của nhân loại và thiên thần sẽ chạm nhau. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
e. From this fourth etheric sphere the dense physical bodies are created. |
e. Từ cõi dĩ thái thứ tư này, các cơ thể vật lý đậm đặc được tạo ra. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
f. It is the sphere of physical individualisation. Only when the animal to be individualised was fully conscious on that subplane of the physical plane was it possible to co-ordinate the corresponding spheres on the astral and mental planes and by means of this triple co-ordination to effect the necessary steps which enabled the quaternary to succeed in its effort to approximate the Triad. [327] |
f. Đó là cõi của sự cá thể hóa vật lý. Chỉ khi con thú được cá thể hóa hoàn toàn ý thức trên cõi phụ đó của cõi hồng trần thì mới có thể phối hợp các cõi tương ứng trên cõi cảm dục và cõi trí và bằng phương tiện của sự phối hợp bộ ba này để thực hiện các bước cần thiết cho phép bộ tứ thành công trong nỗ lực xích lại gần Tam Nguyên. [327] |
||||||||||||||||||||||||||||
|
g. This fourth ether in this fourth round and on this fourth chain has to be completely mastered and controlled by the Human Hierarchy, the fourth creative. Every unit of the human family has to attain this mastery before the end of this round. |
g. Cõi dĩ thái thứ tư này trong cuộc tuần hoàn thứ tư này và trên dãy thứ tư này phải được làm chủ và kiểm soát hoàn toàn bởi Huyền Giai Nhân loại, huyền giai sáng tạo thứ tư. Mọi đơn vị của gia đình nhân loại phải đạt được sự làm chủ này trước khi kết thúc cuộc tuần hoàn này. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
h. It is the sphere wherein the initiations of the threshold are undergone, and the fivefold initiations of the physical plane are entered upon. |
h. Đó là cõi nơi các cuộc điểm đạo của ngưỡng cửa được trải qua, và các cuộc điểm đạo ngũ phân của cõi hồng trần được bắt đầu. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Much more might be further added to this list, but I have sought only to point out those which can be easily realised as having a correspondence on the buddhic plane, the fourth cosmic ether. It should be borne in mind that our physical plane in its subplanes has its analogy likewise to the entire cosmic physical plane. |
Có thể thêm nhiều điều nữa vào danh sách này, nhưng tôi chỉ tìm cách chỉ ra những điều có thể dễ dàng nhận ra là có sự tương ứng trên cõi bồ đề, cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư. Cần ghi nhớ rằng cõi hồng trần của chúng ta trong các cõi phụ của nó cũng có sự tương đồng tương tự với toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
COSMIC PHYSICAL PLANE |
CÕI HỒNG TRẦN VŨ TRỤ |
||||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||
|
The solar physical plane might also be expressed accurately as follows, working out the anaIogy to the major planes: |
Cõi hồng trần thái dương cũng có thể được diễn đạt chính xác như sau, thực hiện sự tương đồng với các cõi chính: |
||||||||||||||||||||||||||||
|
SOLAR PHYSICAL PLANE |
CÕI HỒNG TRẦN THÁI DƯƠNG |
||||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||
|
[328] In both the cosmic and solar physical planes, the plane of buddhi is ever the plane of at-one-ment, or the meeting ground of diversities, and of their blending—not into a fundamental unity—but into group unity. This is owing to the fact that the buddhic plane is pre-eminently the plane most concerned with the evolution of the Heavenly Men. What I have therefore predicated anent the fourth physical ether can likewise be extended to the fourth cosmic ether, and find its analogy on the buddhic plane. The place, for instance, of violet in the spectrum is of prime importance in connection with the greater cycles, and marks the end of a cycle and the beginning of a new one. The buddhic plane is peculiarly the plane of violet, even though all the colours find their place there; the Lord of the Ray of Ceremonial Magic, Who embodies the violet ray or hierarchy, has a special relationship to the buddhic plane. It must be borne in mind that each planetary Logos works primarily on one of the seven planes; from this we can infer that His influence finds its line of least resistance on some one plane, even though it be exerted on all planes. |
[328] Trong cả cõi hồng trần vũ trụ và thái dương, cõi bồ đề luôn là cõi của sự hợp nhất, hay nơi gặp gỡ của các sự đa dạng, và sự hòa quyện của chúng—không phải thành một sự thống nhất cơ bản—mà thành sự thống nhất nhóm. Điều này là do thực tế rằng cõi bồ đề là cõi ưu việt liên quan nhất đến sự tiến hóa của các Đấng Thiên Nhân. Do đó, những gì tôi đã xác quyết liên quan đến ether vật lý thứ tư cũng có thể được mở rộng sang ether vũ trụ thứ tư, và tìm thấy sự tương đồng của nó trên cõi bồ đề. Chẳng hạn, vị trí của màu tím trong quang phổ có tầm quan trọng hàng đầu liên quan đến các chu kỳ lớn hơn, và đánh dấu sự kết thúc của một chu kỳ và sự bắt đầu của một chu kỳ mới. Cõi bồ đề đặc biệt là cõi của màu tím, mặc dù tất cả các màu đều tìm thấy vị trí của chúng ở đó; Đấng Chúa Tể Cung Nghi Lễ Pháp Thuật, Người hiện thân cho cung tím hay huyền giai này, có một mối quan hệ đặc biệt với cõi bồ đề. Phải ghi nhớ rằng mỗi Hành Tinh Thượng đế hoạt động chủ yếu trên một trong bảy cõi; từ điều này chúng ta có thể suy ra rằng ảnh hưởng của Ngài tìm thấy con đường ít trở ngại nhất trên một cõi nào đó, ngay cả khi nó được phát huy trên tất cả các cõi. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Again, extend the second statement anent the etheric composition of the bodies of men to Those of the Heavenly Men, and it will be found that just as the majority of human etheric bodies are built of matter of the fourth ether, so it may also be said that four of the Heavenly Men have Their etheric vehicles composed of this fourth cosmic ether (buddhic matter). |
Một lần nữa, hãy mở rộng tuyên bố thứ hai liên quan đến thành phần dĩ thái của các thể của con người sang Các Thể của các Đấng Thiên Nhân, và sẽ thấy rằng cũng giống như đa số các thể dĩ thái của con người được xây dựng bằng vật chất của ether thứ tư, cũng có thể nói rằng bốn trong số các Đấng Thiên Nhân có các vận cụ dĩ thái của Các Ngài được cấu tạo từ ether vũ trụ thứ tư này (vật chất bồ đề). |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Further, the two great evolutions (human and deva) find their group unity on the buddhic plane, and portions of both hierarchies blend and merge so as to form the body of the divine Hermaphrodite. (124, 125) Earlier, at certain fixed points, they may temporarily approximate each [329] other. On the buddhic plane definite and permanent alliance may be seen. On this plane also the “devas of the shadows” who are concerned in the building of the planetary scheme, pursue their work, and thus parallel the work done in the three worlds by the lesser builders who work with the etheric body of man. So can the analogies be worked out, for ever this Law of Resemblance holds good; yet ever must it be remembered that the analogy is of a psychic nature, and demonstrates in work, activity, and quality, and not in literal identity of form. |
Hơn nữa, hai cuộc tiến hóa lớn (nhân loại và thiên thần) tìm thấy sự thống nhất nhóm của họ trên cõi bồ đề, và các phần của cả hai thánh đoàn hòa quyện và hợp nhất để tạo thành cơ thể của Đấng Lưỡng Tính thiêng liêng. Trước đó, tại một số điểm cố định, họ có thể tạm thời xích lại gần [329] nhau. Trên cõi bồ đề, liên minh xác định và vĩnh viễn có thể được nhìn thấy. Trên cõi này, “các thiên thần của bóng tối” có liên quan đến việc xây dựng hệ hành tinh, cũng theo đuổi công việc của họ, và do đó song hành với công việc được thực hiện trong ba cõi giới bởi các tiểu kiến tạo làm việc với thể dĩ thái của con người. Các sự tương đồng có thể được thực hiện như vậy, vì luôn luôn Định luật Tương Đồng này vẫn giữ giá trị; nhưng luôn phải nhớ rằng sự tương đồng là về bản chất tâm linh, và biểu lộ trong công việc, hoạt động, và phẩm tính, chứ không phải trong sự đồng nhất theo nghĩa đen của hình tướng. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
As time elapses the work of the Heavenly Men in the cosmic etheric spheres will be better comprehended, and assisted intelligently by those lesser intelligences who—by the study of the physical ethers—will eventually hold the key of the greater manifestation. Science is the handmaiden of wisdom, and opens the door to those infinite reaches and to those cosmic expanses, where stand Those vaster Intelligences, Who manipulate the matter of the higher planes, and bend it to the desired form, causing the vibrations thus set up to be felt at the furthest bounds of the solar ring-pass-not. Automatically then all lesser lives and all the denser materials are swept and carried into the needed channels and forms. Vibration, or initial activity, light, or activity taking form and animating form, sound the basis of differentiation and the source of the evolutionary process, and colour the sevenfold differentiation—thus is the work carried on. We have been dealing with these four in connection with a solar Logos, and equally with the work of a Heavenly Man and of Man, of the human monad. |
Khi thời gian trôi qua, công việc của các Đấng Thiên Nhân trong các cõi dĩ thái vũ trụ sẽ được hiểu rõ hơn, và được hỗ trợ một cách thông minh bởi những trí tuệ nhỏ hơn, những người—bằng việc nghiên cứu các ether vật lý—cuối cùng sẽ nắm giữ chìa khóa của sự biểu lộ lớn hơn. Khoa học là người hầu của minh triết, và mở cánh cửa đến những phạm vi vô hạn và những khoảng không vũ trụ đó, nơi đứng Các Trí Tuệ rộng lớn hơn, Những Vị vận dụng vật chất của các cõi cao hơn, và uốn nắn nó theo hình tướng mong muốn, khiến các rung động được tạo ra được cảm nhận ở những giới hạn xa nhất của vòng-giới-hạn thái dương. Tự động sau đó tất cả các sự sống nhỏ hơn và tất cả các vật liệu đậm đặc hơn bị cuốn quét và mang vào các kênh và hình tướng cần thiết. Rung động, hay hoạt động ban đầu, ánh sáng, hay hoạt động lấy hình tướng và làm linh hoạt hình tướng, âm thanh cơ sở của sự biến phân và nguồn gốc của quá trình tiến hóa, và màu sắc sự biến phân thất phân—công việc được thực hiện như vậy. Chúng ta đã giải quyết bốn điều này liên quan đến một Thái dương Thượng đế, và tương tự với công việc của một Đấng Thiên Nhân và của Con người, của chân thần nhân loại. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Students should also bear in mind another point that is often forgotten, which is that every plane can be studied and divided in two ways: |
Các đạo sinh cũng nên ghi nhớ một điểm khác thường bị lãng quên, đó là mọi cõi đều có thể được nghiên cứu và phân chia theo hai cách: |
||||||||||||||||||||||||||||
|
First. The seven subplanes can be divided into the [330] higher three planes or the abstract planes, and the lower four or the concrete planes. This division is the best and most purely metaphysical, for it embodies the entire idea of the Self, the Not-Self, and the Intelligence, with their synthesis, which produces the objective universe, whether solar system, planetary scheme, or human incarnation. In connection with the Logos it is fully discussed and illuminatingly considered in the first volume of the Secret Doctrine, where the work of the Father and the Mother in producing the Son through conscious intelligent co-operation is handled by H. P. B. in a masterly manner. |
Thứ nhất. Bảy cõi phụ có thể được chia thành [330] ba cõi cao hơn hay các cõi trừu tượng, và bốn cõi thấp hơn hay các cõi cụ thể. Sự phân chia này là tốt nhất và siêu hình thuần túy nhất, vì nó hiện thân cho toàn bộ ý tưởng về Bản ngã, Phi ngã, và Trí tuệ, với sự tổng hợp của chúng, tạo ra vũ trụ khách quan, dù là hệ thái dương, hệ hành tinh, hay kiếp sống con người. Liên quan đến Thượng đế, điều này được thảo luận đầy đủ và xem xét một cách sáng tỏ trong tập đầu tiên của Giáo Lý Bí Nhiệm, nơi công việc của Cha và Mẹ trong việc sinh ra Con thông qua sự hợp tác thông tuệ có ý thức được xử lý bởi Bà H.P.B. một cách bậc thầy. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
In connection with man the point can be grasped more easily if the causal body on the abstract levels of the mental plane is considered in connection with the lower four or concrete levels from whence manifestation emanates. |
Liên quan đến con người, điểm này có thể được nắm bắt dễ dàng hơn nếu thể nguyên nhân trên các cấp độ trừu tượng của cõi trí được xem xét trong mối liên hệ với bốn cấp độ thấp hơn hay cụ thể từ đó biểu lộ phát xuất. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Second. Dividing the seven subplanes into the same higher three but making the fourth plane the plane of meeting or of at-one-ment, and regarding the lower three as the planes of endeavour. This division primarily concerns man. |
Thứ hai. Chia bảy cõi phụ thành cùng ba cõi cao hơn nhưng làm cho cõi thứ tư thành cõi gặp gỡ hay cõi hợp nhất, và coi ba cõi thấp hơn là các cõi của sự nỗ lực. Sự phân chia này chủ yếu liên quan đến con người. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Both these divisions will be seen later as existing on every plane in the system and as having their origin in electrical force which shows itself differently on each plane but acts on all under three laws: Attraction or Repulsion, Economy, and Synthesis. The lower three planes or subplanes act under the Law of Economy primarily; the plane of meeting or of union acts under a phase of the Law of Attraction. Paralleling them, of course, during evolution are their opposites, showing as Dispersion, Repulsion, and Differentiation. |
Cả hai sự phân chia này sẽ được thấy sau này là tồn tại trên mọi cõi trong hệ thống và có nguồn gốc trong lực điện tự thể hiện khác nhau trên mỗi cõi nhưng hoạt động trên tất cả theo ba định luật: Hấp dẫn hay Đẩy lùi, Tiết kiệm, và Tổng hợp. Ba cõi thấp hoặc cõi phụ hoạt động chủ yếu theo Định luật Tiết kiệm; cõi gặp gỡ hay hợp nhất hoạt động theo một giai đoạn của Định luật Hấp dẫn. Tất nhiên, song hành với chúng trong quá trình tiến hóa là các mặt đối lập của chúng, thể hiện như Phân tán, Đẩy lùi, và Biến phân. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
The question of the electrical manifestation of the akasha on the seven planes has therefore to be studied in its three main divisions, then plane by plane or the sevenfold consideration, and finally as the forty-nine [331] fires. Throughout it must be recollected that the subject is still further complicated by the factor of time which brings these forty-nine fires at different stages under different spheres of influence and under the three laws of the cosmos. Thus the same fire at different periods will show itself forth as constructive light, or again bring about combustion and eventual obscuration as the result of burning out. |
Vấn đề về sự biểu lộ điện của akasha trên bảy cõi do đó phải được nghiên cứu trong ba phân chia chính của nó, sau đó từng cõi một hay sự xem xét thất phân, và cuối cùng là bốn mươi chín [331] ngọn lửa. Trong suốt quá trình đó, cần phải nhớ lại rằng chủ đề còn phức tạp hơn nữa bởi yếu tố thời gian mang lại bốn mươi chín ngọn lửa này ở các giai đoạn khác nhau dưới các phạm vi ảnh hưởng khác nhau và dưới ba định luật của vũ trụ. Do đó, cùng một ngọn lửa ở các thời kỳ khác nhau sẽ tự thể hiện như ánh sáng kiến tạo, hoặc một lần nữa mang lại sự bốc cháy và sự che mờ cuối cùng như là kết quả của sự cháy hết. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
In connection with the manifestation of electricity on the mental, astral and physical planes. We will not enlarge upon the subject, as it will later be discussed as fully as may be possible. Suffice it to say that the law holds good and that what is laid down as fact anent a Heavenly Man on His Own planes is equally true of man on the four lower planes. Thus: |
Liên quan đến sự biểu lộ của điện trên các cõi trí, cảm dục và hồng trần. Chúng tôi sẽ không mở rộng về chủ đề này, vì nó sẽ được thảo luận sau này đầy đủ nhất có thể. Chỉ cần nói rằng định luật vẫn giữ giá trị và những gì được đặt ra như một thực tế liên quan đến một Đấng Thiên Nhân trên các cõi của Riêng Ngài cũng đúng như vậy đối với con người trên bốn cõi thấp. Như vậy: |
||||||||||||||||||||||||||||
|
A SOLAR LOGOS |
MỘT THÁI DƯƠNG THƯỢNG ĐẾ |
||||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||
|
A HEAVENLY MAN |
MỘT ĐẤNG THIÊN NHÂN |
||||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||
|
MAN |
CON NGƯỜI |
||||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||
|
We need to remember here that we were earlier dealing with the Logos, and with the Heavenly Men as incorporate parts of His body of manifestation. In the tabulation above given we are dealing with each separately, [332] and it should be observed that the manifestation of the groups of causal bodies on the mental plane is the colour manifestation of a Heavenly Man and His lowest point of objectivity. In man his lowest point of objectivity is the fifth subplane of the physical plane, as the liquid and the dense subplanes are not counted as principles any more than the cosmic liquid and dense (the astral and the systemic physical planes) count with a Heavenly Man. |
Chúng ta cần nhớ ở đây rằng trước đó chúng ta đã đề cập đến Thượng đế, và với các Đấng Thiên Nhân như là các phần kết hợp trong thể biểu lộ của Ngài. Trong bảng liệt kê trên, chúng ta đang giải quyết từng phần riêng biệt, [332] và cần quan sát rằng sự biểu lộ của các nhóm thể nguyên nhân trên cõi trí là sự biểu lộ màu sắc của một Đấng Thiên Nhân và điểm khách quan thấp nhất của Ngài. Ở con người, điểm khách quan thấp nhất của y là cõi phụ thứ năm của cõi hồng trần, vì các cõi phụ lỏng và đặc không được tính là các nguyên khí cũng giống như cõi lỏng và đặc vũ trụ (các cõi cảm dục và hồng trần hệ thống) không được tính với một Đấng Thiên Nhân. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
We have seen that manas or mind is the fifth principle, or the basic vibration of the cosmic mental plane, the fifth plane; it was therefore impulse originating from the causal levels of the cosmic mental plane, which drove our solar Logos into manifestation, in the same way that the force which brings man into incarnation emanates from his causal body on the mental plane of the solar system. We have seen also that manas is that discriminative faculty which animates all substance, and which is also the electrical fire of the system showing forth as attraction and repulsion, with all that is involved in those two words. In the widest sense of the idea the Laws of Economy and of Synthesis are only divisions of that same cosmic law of which Attraction and Repulsion are also manifestations. This cosmic law, demonstrating thus in a threefold manner, might (for lack of a better term) be called the Law of Being, and is of a nature so incomprehensible to the finite mind of man that he can only sense it partially through the aforesaid three branches. |
Chúng ta đã thấy rằng manas hay trí là nguyên khí thứ năm, hay rung động cơ bản của cõi trí vũ trụ, cõi thứ năm; do đó, chính xung lực bắt nguồn từ các cấp độ nguyên nhân của cõi trí vũ trụ đã thúc đẩy Thái dương Thượng đế của chúng ta vào biểu lộ, giống như cách mà lực đưa con người vào nhập thể phát xuất từ thể nguyên nhân của y trên cõi trí của hệ thái dương. Chúng ta cũng đã thấy rằng manas là năng lực phân biện làm linh hoạt mọi chất liệu, và cũng là lửa điện của hệ thống thể hiện như lực hấp dẫn và đẩy lùi, với tất cả những gì liên quan trong hai từ đó. Theo nghĩa rộng nhất của ý tưởng, các Định luật Tiết kiệm và Tổng hợp chỉ là các phân chia của cùng một định luật vũ trụ đó mà Hấp dẫn và Đẩy lùi cũng là các biểu lộ. Định luật vũ trụ này, chứng minh như vậy theo một cách thức tam phân, có thể (vì thiếu thuật ngữ tốt hơn) được gọi là Định luật của Sự Tồn Tại, và có bản chất quá khó hiểu đối với tâm trí hữu hạn của con người đến nỗi y chỉ có thể cảm nhận nó một phần thông qua ba nhánh đã nói ở trên. |
||||||||||||||||||||||||||||
[Commentary S3S12] |
|||||||||||||||||||||||||||||
|
3. MANAS IS THAT WHICH PRODUCES COHESION |
3. MANAS LÀ CÁI TẠO RA SỰ GẮN KẾT |
||||||||||||||||||||||||||||
|
We come now to our third definition: The manasic principle is above all else that cohesive something which enables an Entity (whether Logos, Heavenly Man, or man) to work: |
Bây giờ chúng ta đến với định nghĩa thứ ba của mình: Nguyên khí manas trên hết là cái gì đó gắn kết cho phép một Thực thể (dù là Thượng đế, Đấng Thiên Nhân, hay con người) làm việc: |
||||||||||||||||||||||||||||
|
a. Through form, and thus exist. [333] |
a. Thông qua hình tướng, và do đó tồn tại. [333] |
||||||||||||||||||||||||||||
|
b. By means of progressive development or cyclic evolution. |
b. Bằng phương tiện của sự phát triển lũy tiến hay tiến hóa theo chu kỳ. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
c. On certain planes, that are, for the entity concerned, the battleground of life, and the field of experience. |
c. Trên một số cõi nhất định, vốn là, đối với thực thể liên quan, chiến trường của cuộc sống, và trường trải nghiệm. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
d. By the method of manifestation, which is a gradual growth from a dim and distant dawn through an ever increasing splendour of light to a blaze of effulgent glory; then through a steadily dimming twilight to final obscuration. Dawn, day, midday, twilight, night—thus is the order for the Logos, for a planetary Logos, and for man. |
d. Bằng phương pháp biểu lộ, vốn là một sự tăng trưởng dần dần từ một bình minh mờ nhạt và xa xăm qua một sự huy hoàng ngày càng tăng của ánh sáng đến một sự bùng nổ của vinh quang rực rỡ; sau đó qua một hoàng hôn mờ dần đều đặn đến sự che mờ cuối cùng. Bình minh, ban ngày, giữa trưa, hoàng hôn, ban đêm—đó là trật tự cho Thượng đế, cho một Hành Tinh Thượng đế, và cho con người. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
If the above four points are carefully studied, it will be found that they are fairly comprehensive, and embody the four points that are as yet the only ones available for man in this fourth round. |
Nếu bốn điểm trên được nghiên cứu kỹ lưỡng, sẽ thấy rằng chúng khá toàn diện, và hiện thân cho bốn điểm mà cho đến nay là những điểm duy nhất có sẵn cho con người trong cuộc tuần hoàn thứ tư này. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Man regards himself as a synthesised aggregate of physical body, emotional nature, and mentality, yet knows himself as more than these three, and recognises himself as the utiliser of form, of emotion, and of mentality, holding them all together coherently so that he is a unit. A planetary Logos similarly does the same, with the difference that manas is not the medium whereby he is a coherent whole. Owing to his more advanced stage of development, wisdom is for Him the dominant factor. A solar logos achieves through Will what a planetary Logos does through wisdom or buddhi, and man (on his tiny scale) through manas. Yet, as both planetary Logos and man are but parts of their greater whole, the electric fire of will permeates them also, merging with the solar fire of buddhi, and fanning the fires of matter. In all these distinctions and differentiations it must be remembered that they do not exist from the logoic standpoint, but are only to be predicated in relation [334] to the lesser bodies which are included in the solar ring-pass-not. |
Con người coi mình là một tập hợp tổng hợp của cơ thể vật lý, bản chất cảm xúc, và trí tuệ, nhưng biết mình còn hơn cả ba thứ này, và nhận ra mình là người sử dụng hình tướng, cảm xúc, và trí tuệ, giữ chúng lại với nhau một cách gắn kết để y là một đơn vị. Một Hành Tinh Thượng đế tương tự cũng làm như vậy, với sự khác biệt là manas không phải là môi trường để qua đó Ngài là một tổng thể gắn kết. Do giai đoạn phát triển tiến bộ hơn của Ngài, minh triết đối với Ngài là yếu tố chủ đạo. Một Thái dương Thượng đế đạt được thông qua Ý Chí những gì một Hành Tinh Thượng đế làm thông qua minh triết hay bồ đề, và con người (trên quy mô nhỏ bé của mình) thông qua manas. Tuy nhiên, vì cả Hành Tinh Thượng đế và con người chỉ là các bộ phận của tổng thể lớn hơn của họ, lửa điện của ý chí cũng thâm nhập họ, hòa nhập với lửa thái dương của bồ đề, và thổi bùng những ngọn lửa của vật chất. Trong tất cả những sự phân biệt và biến phân này, cần nhớ rằng chúng không tồn tại từ quan điểm của Thượng đế, mà chỉ được xác quyết trong mối liên hệ [334] với các cơ thể nhỏ hơn được bao gồm trong vòng-giới-hạn thái dương. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
A man is a coherent unit in objective manifestation for very brief periods on the physical plane simply because as yet he works only through manas and not through wisdom. His cycles are consequently soon run, and gone like a flash in the night. A planetary Logos, Who is perfected manas and works through wisdom, has longer cycles, and from the angle of vision of man endures for aeons; His life is the basis of the comparative permanence of the egoic cycles of man. The cycle of objectivity of a solar Logos persists for the greater mahamanvantara or solar cycle because it is based on will as well as on wisdom and manas. Therefore, it will be apparent that: |
Một con người là một đơn vị gắn kết trong biểu lộ khách quan trong những khoảng thời gian rất ngắn trên cõi hồng trần đơn giản vì cho đến nay y chỉ làm việc thông qua manas và không thông qua minh triết. Các chu kỳ của y do đó sớm chạy hết, và biến mất như một tia chớp trong đêm. Một Hành Tinh Thượng đế, Người là manas hoàn thiện và làm việc thông qua minh triết, có các chu kỳ dài hơn, và từ góc nhìn của con người kéo dài trong nhiều kiếp; cuộc sống của Ngài là cơ sở cho sự trường tồn tương đối của các chu kỳ chân ngã của con người. Chu kỳ khách quan của một Thái dương Thượng đế tồn tại trong đại giai kỳ sinh hóa lớn hơn hay chu kỳ thái dương vì nó dựa trên ý chí cũng như trên minh triết và manas. Do đó, sẽ rõ ràng rằng: |
||||||||||||||||||||||||||||
|
a. Manas or intelligence is the basis of the separative manifestation of man. |
a. Manas hay trí thông minh là cơ sở của biểu lộ chia rẽ của con người. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
b. Wisdom or buddhi is the basis of the group manifestation of a Heavenly Man. |
b. Minh triết hay bồ đề là cơ sở của biểu lộ nhóm của một Đấng Thiên Nhân. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
c. Will is the basis of the One Life which synthesises all groups. |
c. Ý chí là cơ sở của Sự Sống Duy Nhất tổng hợp tất cả các nhóm. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Therefore again, in studying this Fire of Mind, we must remember that it is that which man is developing and with which he is learning to work, but that it is also that which a Heavenly Man has developed in an earlier system; it is to Him as automatic in its action as is the subconscious activity of a man’s physical organs. |
Do đó một lần nữa, trong việc nghiên cứu Lửa của Trí này, chúng ta phải nhớ rằng đó là cái mà con người đang phát triển và đang học cách làm việc với nó, nhưng đó cũng là cái mà một Đấng Thiên Nhân đã phát triển trong một hệ thống trước đó; đối với Ngài nó tự động trong hành động của mình cũng như hoạt động tiềm thức của các cơ quan vật lý của một con người. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
4. MANAS IS THE KEY TO THE FIFTH KINGDOM IN NATURE |
4. MANAS LÀ CHÌA KHÓA DẪN ĐẾN GIỚI THỨ NĂM TRONG TỰ NHIÊN |
||||||||||||||||||||||||||||
|
We might also define manas as the key to the door through which entrance is made into the fifth kingdom of nature, the spiritual kingdom. Each of the five kingdoms is entered by some one key, and in connection the first two kingdoms—the mineral and vegetable—the key or method whereby the life escapes into the higher kingdom is so inexplicable to man as his present stage [335] of intelligent apprehension that we will not pause to consider it. In relation to the animal kingdom it might be said that the key whereby entrance is effected into the human kingdom is that of instinct. This instinct, towards the final stages of the animal’s evolution, and as it becomes more and more detached from the group soul, (126) becomes transmuted into mentality, or into that embryo mind which is latent in animal-man, and which simply needed the stimulating vibration which emanated from the Earth’s Primary to be fanned into something definitely human. We must always bear in mind that the method of individualisation on this globe was not the one followed on others, and that many of the present advanced units of humanity individualised normally, and through the driving force of evolution itself. They found (to express it as far as possible in terms of fire), their opposite electrical pole through the activity of animal instinct, and by the blending of the two a human being was produced,—the union of the three fires in the causal vehicle. |
Chúng ta cũng có thể định nghĩa manas là chìa khóa mở cánh cửa qua đó sự thâm nhập được thực hiện vào giới thứ năm của tự nhiên, giới tinh thần. Mỗi trong năm giới được thâm nhập bằng một chìa khóa nào đó, và liên quan đến hai giới đầu tiên—khoáng vật và thực vật—chìa khóa hay phương pháp mà nhờ đó sự sống thoát vào giới cao hơn là quá khó giải thích đối với con người ở giai đoạn [335] lĩnh hội thông tuệ hiện tại của y đến nỗi chúng ta sẽ không dừng lại để xem xét nó. Liên quan đến giới động vật, có thể nói rằng chìa khóa nhờ đó sự thâm nhập được thực hiện vào giới nhân loại là chìa khóa của bản năng. Bản năng này, hướng tới các giai đoạn cuối cùng của sự tiến hóa của động vật, và khi nó trở nên ngày càng tách biệt khỏi hồn nhóm, trở nên chuyển hóa thành trí tuệ, hay thành trí phôi thai tiềm tàng trong người-thú, và chỉ cần rung động kích thích phát xuất từ Hành Tinh Chủ của Trái Đất để được thổi bùng thành một cái gì đó chắc chắn là con người. Chúng ta luôn phải ghi nhớ rằng phương pháp cá thể hóa trên bầu hành tinh này không phải là phương pháp được tuân theo trên các bầu khác, và rằng nhiều đơn vị tiên tiến hiện nay của nhân loại đã cá thể hóa một cách bình thường, và thông qua lực đẩy của chính sự tiến hóa. Họ đã tìm thấy (để diễn đạt càng nhiều càng tốt theo thuật ngữ của lửa), cực điện đối lập của họ thông qua hoạt động của bản năng động vật, và bằng sự hòa quyện của cả hai, một con người đã được tạo ra,—sự hợp nhất của ba ngọn lửa trong hiện thể nguyên nhân. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Man passes into the fifth kingdom through the transmutation of the discriminative faculty of mind, which—as in the animal’s individualisation—brings about at a certain stage a spiritual individualisation which is the correspondence on higher levels to what transpired in Lemurian days. Therefore, we have: |
Con người chuyển sang giới thứ năm thông qua sự chuyển hóa năng lực phân biện của trí, cái mà—như trong sự cá thể hóa của động vật—mang lại ở một giai đoạn nhất định một sự cá thể hóa tinh thần vốn là sự tương ứng trên các cấp độ cao hơn với những gì đã diễn ra trong những ngày tháng Lemuria. Do đó, chúng ta có: |
||||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||
|
[336] Higher we need not go, for the transmutation of manas proceeds, and much as yet remains to be done. |
[336] Cao hơn chúng ta không cần đi tới, vì sự chuyển hóa của manas vẫn tiếp diễn, và nhiều điều vẫn còn phải được thực hiện. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
5. MANAS IS THE SYNTHESIS OF FIVE RAYS |
5. MANAS LÀ SỰ TỔNG HỢP CỦA NĂM CUNG |
||||||||||||||||||||||||||||
|
One other definition might be given even though its abstruseness may prove but a bewilderment to the student. |
Một định nghĩa khác có thể được đưa ra mặc dù sự trừu tượng của nó có thể chỉ chứng tỏ là một sự hoang mang đối với đạo sinh. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Manas is the united faculty of four of the Heavenly Men, synthesised through a fifth Heavenly Man on the third plane of the system. These five Heavenly Men were the logoic embodiment in an earlier system and achieved the fullness of manasic life. Their synthetic life is that which is primarily understood when we speak of Brahma, that cosmic Entity Who is the sum-total of logoic active intelligence. For lack of better terms we call Them the Lords of the four minor Rays, Who find Their synthesis through the third Ray of Activity. They have been called in an endeavour to express the principles which They embody: |
Manas là năng lực hợp nhất của bốn trong số các Đấng Thiên Nhân, được tổng hợp thông qua một Đấng Thiên Nhân thứ năm trên cõi thứ ba của hệ thống. Năm Đấng Thiên Nhân này là hiện thân của Thượng đế trong một hệ thống trước đó và đã đạt được sự trọn vẹn của đời sống manas. Sự sống tổng hợp của Các Ngài là cái được hiểu chủ yếu khi chúng ta nói về Brahma, Thực thể vũ trụ đó, Người là tổng thể của trí thông minh hoạt động của Thượng đế. Vì thiếu các thuật ngữ tốt hơn, chúng ta gọi Các Ngài là các Chúa Tể của bốn Cung phụ, Những Vị tìm thấy sự tổng hợp của mình thông qua Cung Hoạt động thứ ba. Các Ngài đã được gọi tên trong một nỗ lực để diễn đạt các nguyên khí mà Các Ngài hiện thân: |
||||||||||||||||||||||||||||
|
1. Đấng Chúa Tể của Nghi Lễ Pháp Thuật. |
|||||||||||||||||||||||||||||
|
2. The Lord of Abstract Idealism, or Devotion. |
2. Đấng Chúa Tể của Lý Tưởng Trừu Tượng, hay Sùng Tín. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
3. The Lord of Concrete Science. |
3. Đấng Chúa Tể của Khoa Học Cụ Thể. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
4. The Lord of Harmony and Art. |
4. Đấng Chúa Tể của Hài Hòa và Nghệ Thuật. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
These four function through the fourth cosmic ether, and have vehicles of buddhic matter. They merge into the greater life of the Lord of the third Ray of Aspect on atmic levels, and these four (with the one synthetic Ray), are the totality of manasic energy. They are the life of the five lower planes. They are the five Kumaras, and two remain, making the seven Kumaras or Builders of the universe; these five have been called the five Mind-born Sons of Brahma. (S. D., I, 119, 493; II, 111, 112.) Manas, therefore, is the psychic effect of Their united group work, and shows forth in different ways according to the units involved, the forms [337] animated, and the planes concerned. They demonstrate predominantly on the five lower subplanes of each plane, and this factor should be remembered in connection with the major initiations of manas. Nevertheless—as They are the sumtotal of the third or Brahma aspect—Their main sphere of influence is on the lowest or third division of the manifested universe or on the mental, astral, and physical planes. |
Bốn Vị này hoạt động thông qua cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư, và có các vận cụ bằng vật chất bồ đề. Các Ngài hợp nhất vào sự sống lớn hơn của Đấng Chúa Tể Cung ba của Cung Trạng Thái trên các cấp độ atma, và bốn Vị này (với một Cung tổng hợp), là toàn bộ năng lượng manas. Các Ngài là sự sống của năm cõi thấp. Các Ngài là năm Kumara, và hai vị còn lại, tạo thành bảy Kumara hay các Đấng Kiến Tạo của vũ trụ; năm vị này đã được gọi là năm Đấng Con Sinh Ra Từ Trí của Brahma. (S. D., I, 119, 493; II, 111, 112.) Do đó, Manas là hiệu quả tâm linh của công việc nhóm thống nhất của Các Ngài, và thể hiện theo những cách khác nhau tùy thuộc vào các đơn vị liên quan, các hình tướng [337] được làm linh hoạt, và các cõi liên quan. Các Ngài biểu lộ chủ yếu trên năm cõi phụ thấp của mỗi cõi, và yếu tố này nên được ghi nhớ liên quan đến các cuộc điểm đạo lớn của manas. Tuy nhiên—vì Các Ngài là tổng thể của phương diện thứ ba hay Brahma—phạm vi ảnh hưởng chính của Các Ngài là trên phân chia thấp nhất hay thứ ba của vũ trụ biểu lộ hoặc trên các cõi trí, cảm dục, và hồng trần. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
I would here suggest a third division of the major planes of the system which will hold much of interest for the real student of occultism. |
Tôi muốn gợi ý ở đây một sự phân chia thứ ba của các cõi chính của hệ thống sẽ chứa đựng nhiều điều thú vị cho người thực sự nghiên cứu huyền bí học. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||
|
In these five definitions of manas we have suggested scope for thought and much has been hinted at for those who have ears to hear. Many more explanatory words might be spoken but we aim to start students thinking for themselves, and seek to see them defining these ideas in their own words. |
Trong năm định nghĩa này về manas, chúng ta đã gợi ý phạm vi cho suy nghĩ và nhiều điều đã được gợi ý cho những ai có tai để nghe. Nhiều từ giải thích hơn có thể được nói ra nhưng chúng tôi nhắm đến việc bắt đầu cho các đạo sinh tự suy nghĩ, và tìm cách thấy họ định nghĩa những ý tưởng này bằng ngôn từ của riêng họ. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
6. MANAS IS THE INTELLIGENT WILL OR PURPOSE OF AN EXISTENCE |
6. MANAS LÀ Ý CHÍ THÔNG TUỆ HAY MỤC ĐÍCH CỦA MỘT SỰ TỒN TẠI |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Manas might finally be defined as the intelligent will and ordered purpose of every self-conscious entity. I would urge the student to bear in mind certain basic facts which will serve to keep his mind clear, and which will enable him to comprehend something of the place which this fire of mind holds in the cosmos and the solar system, and (needless to say), in his life also,—the reflection of the other two. |
Manas cuối cùng có thể được định nghĩa là ý chí thông tuệ và mục đích có trật tự của mọi thực thể tự ý thức. Tôi muốn thúc giục đạo sinh ghi nhớ một số sự thật cơ bản nhất định sẽ giúp giữ cho tâm trí y rõ ràng, và sẽ cho phép y lĩnh hội đôi điều về vị trí mà ngọn lửa của trí này nắm giữ trong vũ trụ và hệ thái dương, và (không cần phải nói), trong cuộc sống của y nữa,—sự phản ảnh của hai điều kia. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
He should ever remember that manas is a principle of the Logos, and necessarily therefore is felt in all those [338] evolutions which are a part of His nature but is allied especially to the throat and head centres; it is the active intelligent factor which enables a solar Logos, a planetary Logos or Heavenly Man, and a human being to: |
Y phải luôn nhớ rằng manas là một nguyên khí của Thượng đế, và do đó nhất thiết được cảm nhận trong tất cả những [338] cuộc tiến hóa vốn là một phần của bản chất Ngài nhưng liên kết đặc biệt với luân xa cuống họng và luân xa đầu; nó là yếu tố thông minh hoạt động cho phép một Thái dương Thượng đế, một Hành Tinh Thượng đế hay Đấng Thiên Nhân, và một con người: |
||||||||||||||||||||||||||||
|
a. Use intelligently a form or vehicle. |
a. Sử dụng một cách thông minh một hình tướng hay vận cụ. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
b. Build faculty into the causal body. |
b. Xây dựng năng lực vào thể nguyên nhân. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
c. Reap the benefit of experience. |
c. Gặt hái lợi ích của kinh nghiệm. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
d. Expand the consciousness. |
d. Mở rộng tâm thức. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
e. Make progress towards a specified goal. |
e. Tiến bộ hướng tới một mục tiêu xác định. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
f. Discriminate between the two poles. |
f. Phân biện giữa hai cực. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
g. Choose the direction in which his activity shall trend. |
g. Chọn hướng mà hoạt động của mình sẽ xu hướng tới. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
h. Perfect the form as well as use it. |
h. Hoàn thiện hình tướng cũng như sử dụng nó. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
i. Obtain control of active substance, and turn its forces into desired channels. |
i. Đạt được sự kiểm soát chất liệu hoạt động, và chuyển các lực của nó vào các kênh mong muốn. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
j. Co-ordinate the different grades of matter, and synthesise the utilised forms till each and all show a unanimous line of action and express simultaneously the will of the Indweller. |
j. Phối hợp các cấp độ vật chất khác nhau, và tổng hợp các hình tướng được sử dụng cho đến khi tất cả và mỗi hình tướng thể hiện một đường lối hành động nhất trí và diễn đạt đồng thời ý chí của Đấng Nội Trú. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
All these ends are the result of the manasic development and perhaps the student might apprehend the underlying idea more clearly if it is realised that |
Tất cả những mục đích này là kết quả của sự phát triển manas và có lẽ đạo sinh có thể lĩnh hội ý tưởng cơ bản rõ ràng hơn nếu nhận ra rằng |
||||||||||||||||||||||||||||
|
a. The Spirit employs manas in all that concerns matter, the electrical substance, or the active akasha. |
a. Tinh thần sử dụng manas trong tất cả những gì liên quan đến vật chất, chất liệu điện, hay akasha hoạt động. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
b. The Spirit employs buddhi in all that relates to the psyche, that relates to the soul of the world, to the soul of an individual, or to the soul of every form. |
b. Tinh thần sử dụng bồ đề trong tất cả những gì liên quan đến tâm linh, liên quan đến linh hồn của thế giới, đến linh hồn của một cá nhân, hay đến linh hồn của mọi hình tướng. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
c. The Spirit employs will or atma in all that relates to the essence of all, to itself, considering the essence and the Self as pure Spirit as distinguished from spirit-matter. |
c. Tinh thần sử dụng ý chí hay atma trong tất cả những gì liên quan đến tinh túy của tất cả, đến chính nó, xem xét tinh túy và Bản ngã như là Tinh thần thuần khiết được phân biệt với tinh thần-vật chất. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
In the first case, the distinctive quality of manas is discrimination which enables the Spirit to differentiate between: [339] |
Trong trường hợp đầu tiên, phẩm tính đặc biệt của manas là sự phân biện cho phép Tinh thần phân biệt giữa: [339] |
||||||||||||||||||||||||||||
|
1. The Self and the Not-Self. |
1. Bản ngã và Phi ngã. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
2. Spirit and Matter. |
2. Tinh thần và Vật chất. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
3. The planes and the subplanes. |
3. Các cõi và các cõi phụ. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
4. The different grades of atomic matter in the system. |
4. Các cấp độ vật chất nguyên tử khác nhau trong hệ thống. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
5. Vibrations, engendered by will, working through love-wisdom, and energising substance. |
5. Các rung động, được sinh ra bởi ý chí, hoạt động thông qua tình thương-minh triết, và nạp năng lượng cho chất liệu. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
6. All that concerns forms of every kind and in every type of essential existence. |
6. Tất cả những gì liên quan đến các hình tướng thuộc mọi loại và trong mọi loại tồn tại thiết yếu. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
In the second case, the buddhic principle has for its distinctive quality love, and demonstrates as wisdom working through love and producing: |
Trong trường hợp thứ hai, nguyên khí bồ đề có phẩm tính đặc biệt là tình thương, và biểu lộ như minh triết hoạt động thông qua tình thương và tạo ra: |
||||||||||||||||||||||||||||
|
1. Unity between all Selves. |
1. Sự thống nhất giữa tất cả các Bản ngã. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
2. Group coherence. |
2. Sự gắn kết nhóm. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
3. Qualities that are distinctively along the line of what we call love. |
3. Các phẩm tính đặc biệt theo dòng của cái mà chúng ta gọi là tình thương. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
4. Effective work in connection with evolution, or the fundamentals of hierarchical work. |
4. Công việc hiệu quả liên quan đến sự tiến hóa, hay các nền tảng của công việc thánh đoàn. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
In the third case the Spirit employs the will aspect or atma (in man), which has, for its distinctive feature, that coherent force which keeps the purpose of the entity ever in view, working it out through love in substantial form. |
Trong trường hợp thứ ba, Tinh thần sử dụng phương diện ý chí hay atma (ở con người), vốn có đặc điểm riêng biệt là lực gắn kết giữ cho mục đích của thực thể luôn trong tầm nhìn, thực hiện nó thông qua tình thương trong hình tướng chất liệu. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
I have pointed out these distinctions as it serves to bring the scope, and equally the limitations, of the active mental principle somewhat more clearly before the student. In the Hall of Ignorance the accumulative side of manas and its ability to store and acquire knowledge and information is being developed. A man, for instance, acquires facts, and application, and sets up vibrations which have to be worked out intelligently. The acquisitive side of this principle is showing forth. In the Hall of Learning the discriminative side is being developed, and the man learns not only to choose but to discard, and he begins to merge the two poles intelligently. In the [340] Hall of Wisdom he discards also, and perfectly blends the two poles, thereby producing that objective something we call light. The illuminating side of manas is shown. He becomes an intelligent creator, and by the time he has taken the four major initiations he has: |
Tôi đã chỉ ra những sự phân biệt này vì nó giúp đưa phạm vi, và cũng như những hạn chế, của nguyên khí trí tuệ hoạt động ra trước đạo sinh một cách rõ ràng hơn phần nào. Trong Phòng Vô Minh khía cạnh tích lũy của manas và khả năng lưu trữ và thu thập kiến thức và thông tin của nó đang được phát triển. Chẳng hạn, một người thu thập các dữ kiện, và sự ứng dụng, và thiết lập các rung động phải được thực hiện một cách thông minh. Khía cạnh tiếp thu của nguyên khí này đang thể hiện ra. Trong Phòng Hiểu Biết khía cạnh phân biện đang được phát triển, và con người học không chỉ lựa chọn mà còn loại bỏ, và y bắt đầu hợp nhất hai cực một cách thông minh. Trong [340] Phòng Minh triết y cũng loại bỏ, và hòa quyện hoàn hảo hai cực, từ đó tạo ra cái gì đó khách quan mà chúng ta gọi là ánh sáng. Khía cạnh soi sáng của manas được thể hiện. Y trở thành một đấng sáng tạo thông minh, và vào thời điểm y đã nhận bốn cuộc điểm đạo lớn, y đã: |
||||||||||||||||||||||||||||
|
1. Developed perfectly the Brahma aspect, which—as pointed out—functions primarily in the three worlds. It is the active intelligent aspect. |
1. Phát triển hoàn hảo phương diện Brahma, cái mà—như đã chỉ ra—hoạt động chủ yếu trong ba cõi giới. Đó là phương diện thông minh hoạt động. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
2. Achieved the point of development at which a Heavenly Man, the Divine Manasaputra, commenced this circle of manifestation we call a solar system. |
2. Đạt được điểm phát triển mà tại đó một Đấng Thiên Nhân, Manasaputra Thiêng Liêng, đã bắt đầu vòng biểu lộ này mà chúng ta gọi là một hệ thái dương. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
3. Transmuted manas into wisdom or love. |
3. Chuyển hóa manas thành minh triết hay tình thương. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
4. Synthesised the Rays of Activity or Intelligence and is beginning to merge this synthesis into the higher one of love-wisdom. |
4. Tổng hợp các Cung của Hoạt động hay Trí Thông Minh và đang bắt đầu hợp nhất sự tổng hợp này vào sự tổng hợp cao hơn của tình thương-minh triết. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
To sum it all up in words of fire: The fire of matter has blazed out perfectly, and the vibratory activity of the man has been keyed up to synchronise with that of a Heavenly Man, thus enabling a man to function consciously, or be vitally active on the buddhic plane. |
Để tóm tắt tất cả bằng những lời lẽ rực lửa: Ngọn lửa của vật chất đã bùng lên hoàn hảo, và hoạt động rung động của con người đã được nâng lên để đồng bộ với hoạt động của một Đấng Thiên Nhân, do đó cho phép một người hoạt động một cách có ý thức, hay hoạt động tích cực trên cõi bồ đề. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
The fire of mind has blended with the fire of matter and has stimulated it to such an extent that it has brought about the liberation of the entity, man, from the three worlds, and has occultly “obscured” his manifestation on the three planes in exactly the same way as the manifestation of a Logos “goes out” (occultly) when the fires are sufficiently fierce. As regards the fire of Spirit, or pure electric fire, this is finally synthesised with the other two and brings about the escape of the life on to another plane cosmically considered. [341] |
Lửa của trí đã hòa quyện với lửa của vật chất và đã kích thích nó đến mức nó mang lại sự giải thoát cho thực thể, con người, khỏi ba cõi giới, và đã “che mờ” một cách huyền bí sự biểu lộ của y trên ba cõi theo cách chính xác như sự biểu lộ của một Thượng đế “tắt ngấm” (về mặt huyền bí) khi những ngọn lửa đủ dữ dội. Liên quan đến lửa của Tinh thần, hay lửa điện thuần khiết, thứ này cuối cùng được tổng hợp với hai thứ kia và mang lại sự thoát khỏi của sự sống sang một cõi khác xét về mặt vũ trụ. [341] |
||||||||||||||||||||||||||||
|
A MAN |
MỘT CON NGƯỜI |
||||||||||||||||||||||||||||
|
a. The blending of the fire of matter and of the fire of mind liberates from the three worlds. |
a. Sự hòa quyện của lửa vật chất và của lửa trí giải thoát khỏi ba cõi giới. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
b. The blending of electric fire with the two other fires brings about liberation from the five lower planes, and enables a man to function consciously on the cosmic physical plane. |
b. Sự hòa quyện của lửa điện với hai ngọn lửa kia mang lại sự giải thoát khỏi năm cõi thấp, và cho phép một người hoạt động một cách có ý thức trên cõi hồng trần vũ trụ. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
A HEAVENLY MAN |
MỘT ĐẤNG THIÊN NHÂN |
||||||||||||||||||||||||||||
|
a. The blending of the fire of matter and of mind liberates from the three planes of His manifestation. |
a. Sự hòa quyện của lửa vật chất và của trí giải thoát khỏi ba cõi biểu lộ của Ngài. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
b. The blending of the electric fire in His case brings about escape from the planetary ring-pass-not and enables Him to function consciously on the cosmic astral plane. |
b. Sự hòa quyện của lửa điện trong trường hợp của Ngài mang lại sự thoát khỏi vòng-giới-hạn hành tinh và cho phép Ngài hoạt động một cách có ý thức trên cõi cảm dục vũ trụ. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
A SOLAR LOGOS |
MỘT THÁI DƯƠNG THƯỢNG ĐẾ |
||||||||||||||||||||||||||||
|
a. The blending of the fire of matter and of mind liberates Him from the solar ring-pass-not, and gives Him the freedom of the cosmic physical, astral and the lower subplanes of the cosmic mental planes. |
a. Sự hòa quyện của lửa vật chất và của trí giải thoát Ngài khỏi vòng-giới-hạn thái dương, và mang lại cho Ngài sự tự do của cõi hồng trần vũ trụ, cảm dục vũ trụ và các cõi phụ thấp của cõi trí vũ trụ. |
||||||||||||||||||||||||||||
|
b. The blending of electric fire with the other two enables Him to function consciously in His causal body thus paralleling the work of Man in the three worlds. |
b. Sự hòa quyện của lửa điện với hai ngọn lửa kia cho phép Ngài hoạt động một cách có ý thức trong thể nguyên nhân của Ngài, do đó song hành với công việc của Con người trong ba cõi giới. |
NOTES
|
(94) “Matter, it must be remembered, is that totality of Existence in the Kosmos which falls within any of the planes of possible perception.”—S. D., I, 560. |
(94) “Cần phải nhớ rằng, vật chất là tổng thể của Sự Hiện Hữu trong Vũ Trụ nằm trong bất kỳ cõi nào của tri giác khả dĩ.”—S. D., I, 560. |
|
These Existences might be enumerated as follows: |
Những Sự Hiện Hữu này có thể được liệt kê như sau: |
|
1. The Seven Heavenly Men. In their totality they make up the Body of the Grand Man of the Heavens, the Logos. |
1. Bảy Đấng Thiên Nhân. Trong tổng thể của mình, Các Ngài tạo nên Cơ Thể của Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại của các Tầng Trời, Thượng đế. |
|
Các tên gọi khác cho những Đấng này: |
|
|
a. The seven planetary Logoi or Spirits. |
a. Bảy Hành Tinh Thượng đế hay các Tinh thần. |
|
b. The Prajapatis. |
b. Các Prajapati. |
|
c. The seven Lords of the Rays. |
c. Bảy Vị Chúa Tể của các Cung. |
|
d. The Dyhan Chohans. |
d. Các Dhyan Chohan. |
|
e. The seven Spirits before the Throne. |
e. Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai. |
|
f. The seven Archangels. |
f. Bảy Thiên Thần Trưởng. |
|
g. The seven Logoi. |
g. Bảy Thượng đế. |
|
h. The seven Builders. |
h. Bảy nhà Kiến tạo. |
|
—S. D., I, 115, 130, 152, 535. |
—S. D., I, 115, 130, 152, 535. |
|
They are the informing Entities of the Divine Ray, the Ray of the Second Logos, in much the same sense as Fohat and his seven Brothers are the totality of the Primordial Ray.—S. D., I, 100, 108, 155. |
Các Ngài là các Thực thể phú linh của Cung Thiêng Liêng, Cung của Thượng đế Ngôi Hai, theo cùng một ý nghĩa như Fohat và bảy Huynh đệ của y là tổng thể của Cung Nguyên Thủy.—S. D., I, 100, 108, 155. |
|
a. Matter is fecundated by the Primordial Ray of Intelligence. This is the anima mundi, the soul of the world. |
a. Vật chất được thụ tinh bởi Cung Trí Thông Minh Nguyên Thủy. Đây là anima mundi, hồn của thế giới. |
|
b. The Primordial Ray is the vehicle for the Divine Ray of Love and Wisdom. The merging of these two is the aim of evolution. |
b. Cung Nguyên Thủy là hiện thể cho Cung Tình Thương và Minh Triết Thiêng Liêng. Sự hợp nhất của hai cung này là mục đích của tiến hóa. |
|
c. The Divine Ray is sevenfold. It brings in seven Entities. |
c. Cung Thiêng Liêng là thất phân. Nó mang lại bảy Thực thể. |
|
d. These seven are: |
d. Bảy vị này là: |
|
1. The Logos of Will or Power. |
1. Thượng đế của Ý Chí hay Quyền Lực. |
|
2. The Logos of Love and Wisdom. |
2. Thượng đế của Tình Thương và Minh Triết. |
|
3. The Logos of Activity. |
3. Thượng đế của Hoạt Động. |
|
4. The Logos of Harmony. |
4. Thượng đế của Sự Hài Hòa. |
|
5. The Logos of Concrete Science |
5. Thượng đế của Khoa Học Cụ Thể |
|
6. The Logos of Devotion or Abstract Idealism. |
6. Thượng đế của Sùng Tín hay Chủ Nghĩa Lý Tưởng Trừu Tượng. |
|
7. The Logos of Ceremonial Law or Order. |
7. Thượng đế của Nghi Lễ hay Trật Tự. |
|
2. Men, The Monad, The Units of Consciousness. They, in their totality, make up the Bodies of the seven Heavenly Men. Each Monad is found upon one of the seven Rays.—S. D., I, 197, 285, 624; S. D., II, 85, 176, 196. |
2. Con người, Chân Thần, Các Đơn Vị Tâm Thức. Trong tổng thể của mình, họ tạo nên các Cơ Thể của bảy Đấng Thiên Nhân. Mỗi Chân Thần được tìm thấy trên một trong bảy Cung.—S. D., I, 197, 285, 624; S. D., II, 85, 176, 196. |
|
3. Devas.—S. D. I, 308; S. D., II, 107. |
3. Các Deva.—S. D. I, 308; S. D., II, 107. |
|
Such devas are, for instance: |
Những deva như vậy, ví dụ như: |
|
a. The deva Lord of a plane. The sphere of his body is the entire plane. |
a. Vị deva Chúa Tể của một cõi. Phạm vi cơ thể của ngài là toàn bộ cõi đó. |
|
b. Groups of building devas. |
b. Các nhóm deva kiến tạo. |
|
4. Entities involved in the mineral, vegetable, and animal kingdoms.—S. D., I, 210, 298. |
4. Các thực thể tham gia vào các giới kim thạch, thực vật, và động vật.—S. D., I, 210, 298. |
|
a. The life of the third Logos—the atom of matter. |
a. Sự sống của Thượng đế ngôi ba—nguyên tử của vật chất. |
|
b. The life of the second Logos—groups of atoms built into forms, plant, animal. |
b. Sự sống của Thượng đế ngôi hai—các nhóm nguyên tử được xây dựng thành các hình tướng, thực vật, động vật. |
|
c. The life of the first Logos—the forms indwelt by highest Spirit. |
c. Sự sống của Thượng đế ngôi một—các hình tướng được Tinh thần cao nhất cư ngụ. |
|
5. The spirit of a planet.—S. D., I, 178; S. D., II, 251, 500. |
5. Tinh thần của một hành tinh.—S. D., I, 178; S. D., II, 251, 500. |
|
He is the sum-total of the many involutionary lives upon a planet. |
Ngài là tổng cộng của nhiều sự sống giáng hạ tiến hóa trên một hành tinh. |
|
6. The atom.—S. D., I, 559, 620-622. |
6. Nguyên tử.—S. D., I, 559, 620-622. |
|
Summing Up: For the purpose and the goal see S. D., I, 70, 132 (back) |
Tóm tắt: Về mục đích và mục tiêu xem S. D., I, 70, 132 |
|
(96) Students might compare the following references and then form their own conclusions.—S. D., I, 711 note, 545, 439; II, 811, 830, 581, 582, 426, 454, 654, 371. (back) |
(96) Các môn sinh có thể so sánh các tham chiếu sau đây và sau đó hình thành kết luận của riêng mình.—S. D., I, 711 chú thích, 545, 439; II, 811, 830, 581, 582, 426, 454, 654, 371. (quay lại) |
|
(99) “Consciousness is the kosmic seed of superkosmic omniscience. It has the potentiality of budding into divine consciousness.”—S. D., III, 555. |
(99) “Tâm thức là hạt giống vũ trụ của sự toàn tri siêu vũ trụ. Nó có tiềm năng nảy mầm thành tâm thức thiêng liêng.”—S. D., III, 555. |
|
The universe is an aggregate of states of consciousness.—S. D., II, 633. |
Vũ trụ là một tập hợp các trạng thái tâm thức.—S. D., II, 633. |
|
Consciousness may be roughly divided into: |
Tâm thức có thể được phân chia đại khái thành: |
|
1. Absolute or God Consciousness . . . . . Unmanifested Logos. |
1. Tâm thức Tuyệt đối hay Tâm thức của Thượng đế . . . . . Thượng đế Không Biểu Hiện. |
|
“Ta là Đấng Ta là.” |
|
|
2. Universal or Group Consciousness . . . Manifested Logos. |
2. Tâm thức Vũ trụ hay Tâm thức Nhóm . . . Thượng đế Biểu Hiện. |
|
“I am That.” . . . . Consciousness of planetary Logos. |
“Ta là Cái Đó.” . . . . Tâm thức của Hành Tinh Thượng đế. |
|
3. Individual or Self-Consciousness . . . . Human consciousness. |
3. Tâm thức Cá nhân hay Tự Tâm thức . . . . Tâm thức con người. |
|
“I am.” |
“Ta là.” |
|
4. Consciousness or Atomic |
4. Tâm thức hay Tâm thức Nguyên tử . . . Tâm thức dưới nhân loại. |
|
Consciousness . . . Sub-human consciousness. |
|
|
The goal of consciousness for: |
Mục tiêu của tâm thức đối với: |
|
1. A planetary Logos . . . . . . . Absolute consciousness. |
1. Một Hành Tinh Thượng đế . . . . . . . Tâm thức tuyệt đối. |
|
2. Man . . . . . . . . . . . . . . . . . . Group consciousness. |
2. Con người . . . . . . . . . . . . . . . . . . Tâm thức nhóm. |
|
3. Atom . . . . . . . . . . . . . . . . . Self-consciousness. |
3. Nguyên tử . . . . . . . . . . . . . . . . . Tự tâm thức. |
|
The Logos is the Macrocosm for Man.—S. D., I, 288, 295. |
Thượng đế là Đại thiên địa đối với Con người.—S. D., I, 288, 295. |
|
Man is the Macrocosm for the Atom…. |
Con người là Đại thiên địa đối với Nguyên tử…. |
|
Summation: The Life and the Lives.—S. D., I, 281, 282. (back) |
Tóm tắt: Sự Sống và các Sự Sống.—S. D., I, 281, 282. |
|
(101) In connection with the Atom, the Secret Doctrine says: |
(101) Liên quan đến Nguyên tử, Giáo Lý Bí Nhiệm nói: |
|
1. Absolute intelligence thrills through every atom. S. D., I, 298. |
1. Trí tuệ tuyệt đối rung động qua mọi nguyên tử. S. D., I, 298. |
|
2. Wherever there is an atom of matter, there is life. S. D., I, 245, 269, 279. |
2. Bất cứ nơi nào có một nguyên tử vật chất, ở đó có sự sống. S. D., I, 245, 269, 279. |
|
3. The atom is a concrete manifestation of the Universal Energy. S. D., I, 281. |
3. Nguyên tử là một biểu hiện cụ thể của Năng Lượng Vũ Trụ. S. D., I, 281. |
|
4. The same invisible lives compose the atoms, etc.. S. D., I, 218. |
4. Cùng những sự sống vô hình cấu thành nên các nguyên tử, v.v.. S. D., I, 218. |
|
5. Every atom in the universe has the potentiality of self-consciousness. S. D., I, 132; II, 742. |
5. Mọi nguyên tử trong vũ trụ đều có tiềm năng tự tâm thức. S. D., I, 132; II, 742. |
|
6. Atoms and souls are synonymous in the language of Initiates. S. D., I., 620, 622. |
6. Các nguyên tử và các linh hồn là đồng nghĩa trong ngôn ngữ của các Điểm đạo đồ. S. D., I., 620, 622. |
|
7. The atom belongs wholly to the domain of metaphysics. S. D., I, 559. |
7. Nguyên tử hoàn toàn thuộc về lĩnh vực siêu hình học. S. D., I, 559. |
|
8. Thượng đế ở bên trong mỗi nguyên tử. S. D., I, 89, 183. |
|
|
9. Every atom is doomed to incessant differentiation. S. D., I, 167. |
9. Mọi nguyên tử đều chịu số phận biến phân không ngừng. S. D., I, 167. |
|
l0. The object of the evolution of the atom is Man. S. D., I, 206. |
l0. Mục đích của sự tiến hóa của nguyên tử là Con Người. S. D., I, 206. |
|
11. A germ exists in the centre of every atom. S. D., I, 87; II, 622. |
11. Một mầm mống tồn tại ở trung tâm của mỗi nguyên tử. S. D., I, 87; II, 622. |
|
12. There is heat in every atom. S. D., I, 112. |
12. Có nhiệt trong mỗi nguyên tử. S. D., I, 112. |
|
13. Every atom has 7 planes of being. S. D., I, 174. |
13. Mỗi nguyên tử có 7 cõi hiện hữu. S. D., I, 174. |
|
14. Atoms are vibrations. S. D., I, 694. (back) |
14. Các nguyên tử là những rung động. S. D., I, 694. ) |
|
(102) Inner Life: Vol. II, 177-179. Occult Chemistry, p. 22. Occult Chemistry, Appendix II and III. Babbitt’s “Light and Colour,” pp. 97-101. (back) |
(102) Đời sống Nội tâm: Tập II, 177-179. Hóa Học Huyền Bí, tr. 22. Hóa Học Huyền Bí, Phụ lục II và III. “Ánh Sáng và Màu Sắc” của Babbitt, tr. 97-101. ) |
|
(103) Những Đấng Thiên Nhân này là: |
|
|
1. The sum-total of consciousness…S. D., I, 626, |
1. Tổng cộng của tâm thức…S. D., I, 626, |
|
2. The Creators…S. D., I, 477, 481-485. |
2. Các Đấng Sáng tạo…S. D., I, 477, 481-485. |
|
Compare S. D., II, 244. |
So sánh S. D., II, 244. |
|
a. They are the seven primary creations, or the taking of the etheric body by a Heavenly Man. |
a. Các Ngài là bảy cuộc sáng tạo sơ cấp, hay việc nhận lấy thể dĩ thái bởi một Đấng Thiên Nhân. |
|
b. They are the seven secondary creations, or the taking of the dense physical body. |
b. Các Ngài là bảy cuộc sáng tạo thứ cấp, hay việc nhận lấy thể xác đậm đặc. |
|
Trace this in the Microcosm, and the work of the devas of the ethers in building the body. |
Hãy theo dõi điều này trong Tiểu thiên địa, và công việc của các deva của các dĩ thái trong việc xây dựng cơ thể. |
|
c. The aggregate of divine intelligence…S. D., I, 488, |
c. Tập hợp của trí thông minh thiêng liêng…S. D., I, 488, |
|
d. The mindborn Sons of Brahma…S. D., I, 493, S. D., II, 610, 618. |
d. Các Con sinh ra từ Trí của Brahma…S. D., I, 493, S. D., II, 610, 618. |
|
They are the logoic Quaternary, the Five, and the Seven. |
Các Ngài là Bộ Tứ thượng đế, Bộ Năm, và Bộ Bảy. |
|
e. The seven Rays…S. D., I, 561, S. D., II, 201. |
e. Bảy Cung…S. D., I, 561, S. D., II, 201. |
|
They are the seven paths back to God……Spirit. |
Các Ngài là bảy con đường trở về với Thượng đế……Tinh thần. |
|
They are the seven principles metaphysically. |
Các Ngài là bảy nguyên khí về mặt siêu hình. |
|
They are the seven races physically. |
Các Ngài là bảy giống dân về mặt vật lý. |
|
f. The Lords of ceaseless and untiring devotion…S. D., II, 92, |
f. Các Chúa Tể của sự sùng tín không ngừng nghỉ và không mệt mỏi…S. D., II, 92, |
|
g. The failures of the last system…S. D., II, 243, |
g. Những sự thất bại của hệ thống trước…S. D., II, 243, |
|
h. The polar opposites to the Pleiades…S. D., II, 579, 581. |
h. Các cực đối lập với Thất Tinh (Pleiades)…S. D., II, 579, 581. |
|
Our system is masculine occultly and the Pleiades is feminine. |
Hệ thống của chúng ta là nam tính về mặt huyền bí và Thất Tinh là nữ tính. |
|
A Heavenly Man in His planetary scheme creates in a similar manner. See S. D., II, 626. (back) |
Một Đấng Thiên Nhân trong hệ hành tinh của Ngài sáng tạo theo một cách thức tương tự. Xem S. D., II, 626. ( |
|
(108) Kamamanas—That blending of the mental and desire element that forms the personality or common brain-intelligence of the man. |
(108) Kamamanas (Kama-manas)—Sự pha trộn của yếu tố trí tuệ và dục vọng tạo nên phàm ngã hay trí thông minh bộ não thông thường của con người. |
|
“The energies that express themselves through the lower kinds of mental matter are so changed by it into slower vibrations that are responded to by astral matter that the two bodies are continually vibrating together, and become very closely interwoven.”—The Ancient Wisdom by Mrs. Besant. (back) |
“Các năng lượng biểu hiện qua các loại vật chất trí tuệ thấp hơn bị thay đổi bởi nó thành những rung động chậm hơn đến mức được đáp ứng bởi vật chất cảm dục khiến cho hai thể liên tục rung động cùng nhau, và trở nên đan quyện rất chặt chẽ.”—Minh Triết Cổ Truyền bởi bà Besant. |
|
(109) 1. Có hai nguyên khí vũ trụ chính trong tự nhiên:— |
|
|
a. Active and passive, male and female.—S. D., II, 556. I, 46. |
a. Chủ động và thụ động, nam và nữ.—S. D., II, 556. I, 46. |
|
b. Buddhi and mahat. See also S. D., I, 357. II, 649. III, 273. |
b. Bồ đề và mahat. Xem thêm S. D., I, 357. II, 649. III, 273. |
|
2. These higher principles united produce the three and the seven.—S. D., I, 46. |
2. Những nguyên khí cao hơn này hợp nhất tạo ra bộ ba và bộ bảy.—S. D., I, 46. |
|
a. They are called the three Rays of Essence and the four Aspects.—S. D., I, 147. |
a. Chúng được gọi là ba Cung Tinh chất và bốn Phương diện.—S. D., I, 147. |
|
b. They can be called the three Vehicles with their three Aspects and Atma.—S. D., I, 182. |
b. Chúng có thể được gọi là ba Hiện thể với ba Phương diện của chúng và Atma.—S. D., I, 182. |
|
c. They are also called the three-tongued Flame of the Four Wicks.—S. D., I, 257. |
c. Chúng cũng được gọi là Ngọn Lửa ba lưỡi của Bốn Bấc đèn.—S. D., I, 257. |
|
This is true cosmically and humanly. |
Điều này đúng về mặt vũ trụ và con người. |
|
The Principles of the Logos . . . . the seven Planetary Logoi.—S. D., I, 358, 365. |
Các Nguyên khí của Thượng đế . . . . bảy Hành Tinh Thượng đế.—S. D., I, 358, 365. |
|
The Principles of the planetary Logos . . . . The vehicle called a chain.—S. D., I, 194, 196. II, 626. |
Các Nguyên khí của Hành Tinh Thượng đế . . . . Hiện thể được gọi là một dãy.—S. D., I, 194, 196. II, 626. |
|
The Principles of man . . . . The different vehicles. Note also:—S. D., I, 176, 177. II, 630, 631. I, 189. |
Các Nguyên khí của con người . . . . Các hiện thể khác nhau. Cũng lưu ý:—S. D., I, 176, 177. II, 630, 631. I, 189. |
|
Summation:—S. D., III, 475. |
Tóm tắt:—S. D., III, 475. |
|
3. Cosmic Ideation, focussed in a principle results as the consciousness of the individual.—S. D., I, 351. |
3. Tư Tưởng Vũ Trụ, tập trung vào một nguyên khí dẫn đến kết quả là tâm thức của cá nhân.—S. D., I, 351. |
|
a. Appropriation by the individual of a vehicle produces a display of energy of any particular plane. This energy will be of a peculiar colour and quality, according to the plane involved. |
a. Sự chiếm hữu bởi cá nhân đối với một hiện thể tạo ra một sự phô diễn năng lượng của bất kỳ cõi cụ thể nào. Năng lượng này sẽ có một màu sắc và phẩm tính đặc biệt, tùy theo cõi liên quan. |
|
4. The seven principles are the manifestation of the one Flame.—S. D., 45. III, 374. |
4. Bảy nguyên khí là sự biểu hiện của một Ngọn Lửa.—S. D., 45. III, 374. |
|
Note also the function of the Gods in furnishing man with his principles. S. D., I, 308. (back) |
Cũng lưu ý chức năng của các Vị Thần trong việc cung cấp cho con người các nguyên khí của y. S. D., I, 308. |
|
(110) Liệt kê các Nguyên khí.—S. D., II, 627, 631. |
|
|
1st Principle . . . . . . . Dense physical body. Sthula Sharira. |
Nguyên khí 1 . . . . . . . Thể xác đậm đặc. Sthula Sharira. |
|
2nd Principle . . . . . . .Etheric body. Linga Sharira. |
Nguyên khí 2 . . . . . . .Thể dĩ thái. Linga Sharira. |
|
3rd Principle . . . . . . . Prana. Vital energy. |
Nguyên khí 3 . . . . . . . Prana. Năng lượng sinh lực. |
|
4th Principle . . . . . . . Kama-rupa. The energy of desire. —S. D., I, 136. |
Nguyên khí 4 . . . . . . . Kama-rupa. Năng lượng của dục vọng. —S. D., I, 136. |
|
(These are the lower four principles.) |
(Đây là bốn nguyên khí thấp hơn.) |
|
5th Principle . . . . . . . Manas. The energy of thought. The middle principle.—S. D., II, 83, 84. II, 332. S. D., II, 669. |
Nguyên khí 5 . . . . . . . Manas. Năng lượng của tư tưởng. Nguyên khí giữa.—S. D., II, 83, 84. II, 332. S. D., II, 669. |
|
6th Principle . . . . . . . Buddhi. The energy of love.—S. D., II, 649, 676. S. D., III, 58. |
Nguyên khí 6 . . . . . . . Bồ đề. Năng lượng của tình thương.—S. D., II, 649, 676. S. D., III, 58. |
|
7th Principle . . . . . . . Atma. The synthetic principle.—S. D., I, 357, 201. S. D., III, 142. |
Nguyên khí 7 . . . . . . . Atma. Nguyên khí tổng hợp.—S. D., I, 357, 201. S. D., III, 142. |
|
See S. D., III, 201, note. |
Xem S. D., III, 201, chú thích. |
|
a. Buddhi is the vehicle for atma. |
a. Bồ đề là hiện thể cho atma. |
|
b. Manas is the vehicle for buddhi. |
b. Manas là hiện thể cho bồ đề. |
|
c. Kamarupa is the vehicle for manas.—S. D., II, 171. |
c. Kamarupa là hiện thể cho manas.—S. D., II, 171. |
|
d. Thể dĩ thái là hiện thể cho prana. |
|
|
Remember also:— |
Cũng hãy nhớ rằng:— |
|
a. That the physical body is not a principle.—S. D., II, 652. III, 445. III, 652. |
a. Rằng thể xác không phải là một nguyên khí.—S. D., II, 652. III, 445. III, 652. |
|
b. That atma is not a principle. See also S. D., III, 62, 63. III, 293. |
b. Rằng atma không phải là một nguyên khí. Xem thêm S. D., III, 62, 63. III, 293. |
|
(Other enumerations, differing in certain particulars will be found:—S. D., 177, 181, 685. II, 669. III, 476, 560. The latter is more esoteric.) (back) |
(Các cách liệt kê khác, khác biệt ở một số điểm cụ thể sẽ được tìm thấy:—S. D., 177, 181, 685. II, 669. III, 476, 560. Cách sau mang tính nội môn hơn.) |
|
(111) H. P. Blavatsky says in the Secret Doctrine in connection with the Principles. |
(111) H. P. Blavatsky nói trong Giáo Lý Bí Nhiệm liên quan đến các Nguyên khí. |
|
a. That mistakes in the classification are very possible.—S. D., II, 677. |
a. Rằng những sai lầm trong việc phân loại là rất có thể xảy ra.—S. D., II, 677. |
|
b. That we must seek the occult meaning.—S. D., II, 652. |
b. Rằng chúng ta phải tìm kiếm ý nghĩa huyền bí.—S. D., II, 652. |
|
That there are really six not seven principles. |
Rằng thực sự có sáu chứ không phải bảy nguyên khí. |
|
c. That there are several classifications.—S. D., III, 374, 446. |
c. Rằng có một vài cách phân loại.—S. D., III, 374, 446. |
|
d. That the esoteric enumeration cannot be made to correspond with the exoteric—S. D., III, 476. |
d. Rằng cách liệt kê nội môn không thể làm cho tương ứng với ngoại môn—S. D., III, 476. |
|
e. That the numbering of the principles is a question of spiritual progress.—S. D., III, 456, 460. (back) |
e. Rằng việc đánh số các nguyên khí là một vấn đề của sự tiến bộ tinh thần.—S. D., III, 456, 460. |
|
(113) In the Secret Doctrine the Heavenly Men are spoken of as: |
(113) Trong Giáo Lý Bí Nhiệm, các Đấng Thiên Nhân được nói đến như là: |
|
1. Agents of creation. They are the totality of manifestation.—S. D., I, 470. |
1. Các tác nhân của sự sáng tạo. Các Ngài là tổng thể của sự biểu hiện.—S. D., I, 470. |
|
2. They are pre-cosmic.—S. D., I, 470. |
2. Các Ngài là tiền vũ trụ.—S. D., I, 470. |
|
3. They are the sumtotal of solar and lunar entities.—S. D., I, 152, 470. Compare II, 374. |
3. Các Ngài là tổng cộng của các thực thể thái dương và thái âm.—S. D., I, 152, 470. So sánh II, 374. |
|
4. They are the seven Biblical Archangels. |
4. Các Ngài là bảy Thiên Thần Trưởng trong Kinh Thánh. |
|
They are the seven Forces or creative Powers. |
Các Ngài là bảy Lực hay Quyền năng sáng tạo. |
|
They are the seven Spirits before the Throne. |
Các Ngài là bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai. |
|
They are the seven Spirits of the Planets.—S. D., I, 472, 153. |
Các Ngài là bảy Tinh thần của các Hành tinh.—S. D., I, 472, 153. |
|
5. In Their totality They are the Secret Unpronounceable Name.—S. D., I, 473. |
5. Trong tổng thể của Các Ngài, Các Ngài là Danh Hiệu Bí Mật Không Thể Phát Âm.—S. D., I, 473. |
|
6. They are the collective Dhyan Chohans.—S. D., I, 477. |
6. Các Ngài là tập thể Dhyan Chohan.—S. D., I, 477. |
|
7. They are the seven Kumaras. The seven Rishis.—S. D., I, 493. III, 196, 327. |
7. Các Ngài là bảy Kumara. Bảy Rishi.—S. D., I, 493. III, 196, 327. |
|
8. They are the Sons of Light.—S. D., I, 521, 522. |
8. Các Ngài là Các Con của Ánh sáng.—S. D., I, 521, 522. |
|
9. They are the Hierarchy of creative Powers.—S. D., I, 233. |
9. Các Ngài là Huyền Giai của các Quyền năng sáng tạo.—S. D., I, 233. |
|
10. They are the veiled synthesis.—S. D., I, 362. |
10. Các Ngài là sự tổng hợp bị che khuất.—S. D., I, 362. |
|
11. They are our own planetary deities.—S. D., I, 153. |
11. Các Ngài là chính các vị thần hành tinh của chúng ta.—S. D., I, 153. |
|
12. They are all men, the product of other worlds.—S. D., I, 132. |
12. Các Ngài đều là những con người, sản phẩm của các thế giới khác.—S. D., I, 132. |
|
13. They are closely connected with the seven stars of the Great Bear.—S. D., I, 488. S. D., II 332. II, 579, 668. S. D., III, 195. |
13. Các Ngài kết nối chặt chẽ với bảy ngôi sao của chòm Đại Hùng Tinh.—S. D., I, 488. S. D., II 332. II, 579, 668. S. D., III, 195. |
|
14. They are symbolised by circles.—S. D., II, 582. |
14. Các Ngài được biểu tượng bởi các vòng tròn.—S. D., II, 582. |
|
15. They are collectively the fallen Angels.—S. D., II, 284, 541. (back) |
15. Các Ngài là tập thể các Thiên Thần sa ngã.—S. D., II, 284, 541. |
|
(114) The Sons of Mind: are known by various terms, such as:— “The Manasaputras, the Prajapatis, the Kumaras, the Primordial Seven, the Rudras, the Heavenly Men, the Rishis, the Spirits before the Throne.” (back) |
(114) Các Con của Trí Tuệ: được biết đến bởi nhiều thuật ngữ khác nhau, chẳng hạn như:— “Các Manasaputra, các Prajapati, các Kumara, Bảy Đấng Nguyên Thủy, các Rudra, các Đấng Thiên Nhân, các Rishi, các Thánh Linh trước Thánh Ngai.” (quay lại) |
|
(115) Giáo Lý Bí Nhiệm nói: |
|
|
1. The Universe is in reality but a huge aggregation of states of consciousness.—S. D., II, 633. I, 70, 626, |
1. Vũ trụ thực tế chỉ là một sự tập hợp khổng lồ của các trạng thái tâm thức.—S. D., II, 633. I, 70, 626, |
|
2. Spirit and consciousness are synonymous terms.—S. D., I, 43, 125, 349, 350, 592, 593. |
2. Tinh thần và tâm thức là các thuật ngữ đồng nghĩa.—S. D., I, 43, 125, 349, 350, 592, 593. |
|
3. Every atom in the universe is endowed with consciousness.—S. D., I, 105. II, 709, 742. |
3. Mọi nguyên tử trong vũ trụ đều được phú cho tâm thức.—S. D., I, 105. II, 709, 742. |
|
4. Six types of Consciousness as embodied in the Kingdom of Nature on the five planes of Human Evolution.—S. D., I, 123. II, 678. |
4. Sáu loại Tâm thức như được thể hiện trong Giới Tự nhiên trên năm cõi của Tiến hóa Nhân loại.—S. D., I, 123. II, 678. |
|
a. Giới Kim thạch 1. |
|
|
Intelligent activity. All atoms show ability to select, to discriminate intelligently under the Law of Attraction and Repulsion.—S. D., I, 295. |
Hoạt động thông minh. Tất cả các nguyên tử cho thấy khả năng chọn lựa, phân biệt một cách thông minh theo Định luật Thu hút và Đẩy lùi.—S. D., I, 295. |
|
b. Vegetable Kingdom 2. |
b. Giới Thực vật 2. |
|
Intelligent activity plus embryo sensation or feeling. |
Hoạt động thông minh cộng với cảm nhận hay cảm giác phôi thai. |
|
c. Animal Kingdom 3. |
c. Giới Động vật 3. |
|
Intelligent activity, sensation plus instinct, or embryo mentality.—S. D., III, 573, 574. |
Hoạt động thông minh, cảm giác cộng với bản năng, hay trí tuệ phôi thai.—S. D., III, 573, 574. |
|
These three embody the sub-human consciousness. |
Ba loại này thể hiện tâm thức dưới nhân loại. |
|
d. Human consciousness 4. |
d. Tâm thức con người 4. |
|
Intelligent activity, love or perfected feeling or realisation and will, or intelligent purpose. The three aspects. S. D., I, 215, 231.—S. D., II, 552. III, 579. |
Hoạt động thông minh, tình thương hay cảm nhận hoàn hảo hoặc sự chứng nghiệm và ý chí, hay mục đích thông minh. Ba phương diện. S. D., I, 215, 231.—S. D., II, 552. III, 579. |
|
This is Self-Consciousness—the middle point.—S. D., I, 297. |
Đây là Tự Tâm thức—điểm ở giữa.—S. D., I, 297. |
|
e. Spiritual Consciousness 5. |
e. Tâm thức Tinh thần 5. |
|
Buddhic realisation. The unit is aware of his group. The separated unit identifies himself with his ray or type.—S. D., III, 572. I, 183, 623. |
Chứng nghiệm bồ đề. Đơn vị nhận thức được nhóm của mình. Đơn vị tách biệt đồng nhất bản thân với cung hay loại hình của mình.—S. D., III, 572. I, 183, 623. |
|
f. Atmic Consciousness 6. |
f. Tâm thức Atma 6. |
|
The consciousness of the unit of the Septenary solar system.—S. D., II, 673. II, 741. |
Tâm thức của đơn vị của thái dương hệ Thất phân.—S. D., II, 673. II, 741. |
|
These two embody super-consciousness. |
Hai loại này thể hiện siêu tâm thức. |
|
The seventh type embraces them all and is God Consciousness.—S. D., II, 740 note. |
Loại thứ bảy bao trùm tất cả chúng và là Tâm thức của Thượng đế.—S. D., II, 740 chú thích. |
|
Study also S. D., I, 300, 301, 183, 221, 623. S. D., II, 32 note, 741, 552 note.—S. D., III, 573, 574, 558, 557, 584. (back) |
Nghiên cứu thêm S. D., I, 300, 301, 183, 221, 623. S. D., II, 32 chú thích, 741, 552 chú thích.—S. D., III, 573, 574, 558, 557, 584. |
|
(116) In the Secret Doctrine we are told that there are seven branches of knowledge mentioned in the Puranas. S. D., I, 192. |
(116) Trong Giáo Lý Bí Nhiệm chúng ta được bảo rằng có bảy nhánh tri thức được đề cập trong các Purana. S. D., I, 192. |
|
Correspondences can here be worked out in connection with:— |
Các sự tương ứng có thể được khai triển ở đây trong mối liên hệ với:— |
|
a. The seven Rays, the Lords of Sacrifice, Love and Knowledge. |
a. Bảy Cung, các Chúa Tể của Hy sinh, Tình thương và Tri kiến. |
|
b. The seven states of consciousness. |
b. Bảy trạng thái của tâm thức. |
|
c. The seven states of matter or planes. |
c. Bảy trạng thái của vật chất hay các cõi. |
|
d. The seven types of forces. |
d. Bảy loại lực. |
|
e. The seven Initiations and many other septenates. |
e. Bảy cuộc Điểm đạo và nhiều bộ bảy khác. |
|
The Gnosis, the hidden knowledge, is the seventh Principle, the six schools of Indian philosophy are the six principles.—S. D., I, 299. |
Gnosis, hay tri thức bị che giấu, là Nguyên khí thứ bảy, sáu trường phái triết học Ấn Độ là sáu nguyên khí.—S. D., I, 299. |
|
These six schools are:— |
Sáu trường phái này là:— |
|
a. The school of Logic..Proof of right perception. |
a. Trường phái Logic..Bằng chứng của tri giác đúng đắn. |
|
b. The atomic school…System of particulars. Elements. Alchemy and chemistry. |
b. Trường phái Nguyên tử…Hệ thống các chi tiết. Các nguyên tố. Giả kim thuật và hóa học. |
|
c. The Sankhya school…System of numbers. The materialistic school. The theory of the seven states of matter or prakriti. |
c. Trường phái Sankhya…Hệ thống các con số. Trường phái duy vật. Lý thuyết về bảy trạng thái của vật chất hay prakriti. |
|
d. The school of Yoga…Union. The rule of daily life. Mysticism. |
d. Trường phái Yoga…Sự hợp nhất. Quy luật của đời sống hàng ngày. Chủ nghĩa thần bí. |
|
e. The school of Ceremonial religion…Ritual. Worship of the devas or Gods. |
e. Trường phái Tôn giáo Nghi lễ…Nghi thức. Thờ phụng các deva hay các Vị Thần. |
|
f. The Vedanta school…Has to do with non-duality. Deals with the relation of Atma in man to the Logos. |
f. Trường phái Vedanta…Liên quan đến tính bất nhị. Đề cập đến mối quan hệ của Atma trong con người với Thượng đế. |
|
The Gnosis or hidden knowledge is the same as Atma vidya, or Theosophy, and includes the other six. (back) |
Gnosis hay tri thức bị che giấu cũng giống như Atma vidya, hay Thông Thiên Học, và bao gồm sáu cái kia. |
|
(120) “Manas is the individuality or the spiritual Ego on the side of the higher Triad, and the personality or the kamic ego on the side of the lower quaternary. Manas is the pivot of the human structure, or the centre on which the spiritual and material parts of man are made to turn.” |
(120) “Manas là cá tính hay Chân ngã tinh thần ở phía của Tam nguyên cao, và phàm ngã hay ngã cảm dục ở phía của bộ tư thấp. Manas là trục của cấu trúc con người, hay trung tâm mà trên đó các phần tinh thần và vật chất của con người được làm cho xoay chuyển.” |
|
“Lower manas is only a ray of the higher manas let into the fleshly tabernacle for illuminating its being and giving it thought, desire and memory.” |
“Hạ manas chỉ là một tia của thượng manas chiếu vào căn nhà tạm bằng xác thịt để soi sáng sự hiện hữu của nó và mang lại cho nó tư tưởng, dục vọng và ký ức.” |
|
“It is because manas is the turning point in the cycle that H. P. B. has considered it under the two aspects—higher and lower—the higher the attainer and experiencer of spiritual heights and the lower, the soul of the lower three, the triangle that completes embodiment. Manas is therefore the battle-ground of forces contained in the microcosm….The stage of evolution which we have reached is the very starting point of the great struggle.”—Some Thoughts on the Gita. (back) |
“Chính vì manas là điểm chuyển hướng trong chu kỳ mà H. P. B. đã xem xét nó dưới hai phương diện—cao và thấp—cái cao là người đạt được và người trải nghiệm các đỉnh cao tinh thần và cái thấp, linh hồn của ba cái thấp, tam giác hoàn tất sự hiện thân. Do đó Manas là chiến trường của các lực chứa đựng trong tiểu thiên địa….Giai đoạn tiến hóa mà chúng ta đã đạt đến chính là điểm khởi đầu của cuộc đấu tranh vĩ đại.”—Vài Suy Ngẫm về Gita. ) |
|
(121) Điện: |
|
|
. . . “We know of no phenomenon in nature—entirely unconnected with either magnetism or electricity—since, where there are motion, heat, friction, light, there magnetism and its Alter Ego (according to our humble opinion)—electricity will always appear, as either cause or effect—or rather both if we but fathom the manifestation to its origin. All the phenomena of earth currents, terrestrial magnetism and atmospheric electricity, are due to the fact that the earth is an electrified conductor, whose potential is ever changing owing to its rotation and its annual orbital motion, the successive cooling and heating of the air, the formation of clouds and rain, storms and winds, etc. This you may perhaps find in some text book. But then Science would be unwilling to admit that all these changes are due to Akasic magnetism incessantly generating electric currents which tend to restore the disturbed equilibrium.” |
. . . “Chúng tôi không biết đến hiện tượng nào trong tự nhiên—hoàn toàn không kết nối với từ tính hoặc điện—vì, ở đâu có chuyển động, nhiệt, ma sát, ánh sáng, ở đó từ tính và Bản ngã thứ hai của nó (theo ý kiến khiêm tốn của chúng tôi)—điện sẽ luôn xuất hiện, hoặc là nguyên nhân hoặc là kết quả—hay đúng hơn là cả hai nếu chúng ta dò tìm sự biểu hiện đến tận nguồn gốc của nó. Tất cả các hiện tượng dòng điện trong đất, từ tính trái đất và điện khí quyển, là do thực tế rằng trái đất là một vật dẫn điện, có điện thế luôn thay đổi do sự tự quay và chuyển động quỹ đạo hàng năm của nó, sự nguội đi và nóng lên liên tiếp của không khí, sự hình thành của mây và mưa, bão và gió, v.v. Bạn có lẽ có thể tìm thấy điều này trong một số sách giáo khoa. Nhưng Khoa học sẽ không sẵn lòng thừa nhận rằng tất cả những thay đổi này là do từ tính Akasha không ngừng tạo ra các dòng điện có xu hướng khôi phục lại sự cân bằng bị xáo trộn.” |
|
. . . “The sun is neither a Solid nor a Liquid, nor yet a gaseous glow; but a gigantic ball of electro-magnetic Forces, the store-house of universal Life and Motion, from which the latter pulsate in all directions, feeding the smallest atom as the greatest genius with the same material unto the end of the Maha Yug.”—Mahatma Letters to A. P. Sinnett, pp. 160, 165. (back) |
. . . “Mặt trời không phải là Chất rắn hay Chất lỏng, cũng không phải là một khối khí rực sáng; mà là một quả cầu khổng lồ của các Lực điện từ, nhà kho của Sự sống và Chuyển động vũ trụ, mà từ đó cái sau rung động ra mọi hướng, nuôi dưỡng nguyên tử nhỏ nhất cũng như thiên tài vĩ đại nhất với cùng một chất liệu cho đến khi kết thúc Đại Yuga.”—The Mahatma Letters gửi A. P. Sinnett, tr. 160, 165. ) |
|
(123) “Through perfectly concentrated meditation on the light in the head comes the vision of the Masters who have attained.” |
(123) “Qua sự tham thiền tập trung hoàn hảo vào ánh sáng trong đầu, linh ảnh về các Chân sư đã đắc đạo sẽ đến.” |
|
“The tradition is that there is a certain centre of force in the head, perhaps the ‘pineal gland,’ which some of our Western philosophers have supposed to be the dwelling of the soul,—a centre which is, as it were, the doorway between the natural and the spiritual man. It is the seat of that better and wiser consciousness behind the outward looking consciousness in the forward part of the head; that better and wiser consciousness of “the back of the mind,” which views spiritual things, and seeks to impress the spiritual view on the outward looking consciousness in the forward part of the head. It is the spiritual man seeking to guide the natural man, seeking to bring the natural man to concern himself with the things of his immortality. This is suggested in the words of the Upanishad already quoted. “There, where the dividing of the hair turns, extending upward to the crown of the head’; all of which may sound very fantastical, until one comes to understand it.” |
“Truyền thống cho rằng có một trung tâm lực nhất định trong đầu, có lẽ là ‘tuyến tùng,’ mà một số triết gia phương Tây của chúng ta đã cho là nơi cư ngụ của linh hồn,—một trung tâm, dường như là, cửa ngõ giữa con người tự nhiên và con người tinh thần. Đó là chỗ của tâm thức tốt hơn và khôn ngoan hơn đằng sau tâm thức hướng ngoại ở phần trước của đầu; tâm thức tốt hơn và khôn ngoan hơn đó của “phần sau của tâm trí,” cái nhìn thấy những điều tinh thần, và tìm cách ấn loát cái nhìn tinh thần lên tâm thức hướng ngoại ở phần trước của đầu. Đó là con người tinh thần đang tìm cách hướng dẫn con người tự nhiên, tìm cách đưa con người tự nhiên đến chỗ quan tâm đến những điều bất tử của y. Điều này được gợi ý trong những lời của Upanishad đã trích dẫn. ‘Ở đó, nơi sự rẽ ngôi tóc chuyển hướng, mở rộng lên đến đỉnh đầu’; tất cả những điều này nghe có vẻ rất kỳ ảo, cho đến khi người ta đi đến chỗ hiểu được nó.” |
|
“It is said that when this power is fully awakened, it brings a vision of the great Companions of the spiritual man, those who have already attained, crossing over to the further shore of the sea of death and rebirth. Perhaps it is to this divine sight that the Master alluded, who is reported to have said: ‘I counsel you to buy of me eye salve, that you may see.’”—Yoga Sutras of Patanjali, Book III, 32. (C. Johnston’s Edition.) (back) |
“Người ta nói rằng khi quyền năng này được đánh thức hoàn toàn, nó mang lại một linh ảnh về những người Bạn Đồng hành vĩ đại của con người tinh thần, những người đã đạt đạo, băng qua bờ bên kia của biển chết và tái sinh. Có lẽ chính về cái thấy thiêng liêng này mà Chân sư đã ám chỉ, người được báo cáo là đã nói: ‘Ta khuyên con hãy mua thuốc xức mắt của ta, để con có thể thấy.’”—Kinh Yoga của Patanjali, Quyển III, 32. (Ấn bản của C. Johnston.) |
|
(124) The Pairs of Opposites:—From The Science of Social Organization, by Bhagavan Das. (back) |
(124) Các Cặp Đối Lập:—Trích Khoa học về Tổ chức Xã hội, bởi Bhagavan Das. ( |
|
(125) The Divine Hermaphrodite—this is the great Being, planetary or solar, who manifests in Himself the pair of opposites. (back) |
(125) Đấng Lưỡng Tính Thiêng Liêng—đây là Đấng vĩ đại, hành tinh hay thái dương, người biểu hiện trong Chính Ngài cặp đối lập. ( |
|
(126) “A Group-soul is a collection of permanent Triads in a triple envelope of monadic essence. The permanent Triads are a reflection upon the lower planes of the spiritual Triads on the higher. This description is true of all group-souls functioning on the physical plane, but gives no idea of the extreme complexity of the subject.”—From A Study in Consciousness, by Annie Besant. (back) |
(126) “Một Hồn nhóm là một tập hợp các Tam nguyên trường tồn trong một lớp vỏ ba lớp bằng tinh chất chân thần. Các Tam nguyên trường tồn là một sự phản chiếu trên các cõi thấp của các Tam nguyên tinh thần trên các cõi cao. Mô tả này đúng với tất cả các hồn nhóm hoạt động trên cõi hồng trần, nhưng không đưa ra ý tưởng nào về sự phức tạp tột cùng của chủ đề này.”—Trích Nghiên cứu về Tâm thức, bởi Annie Besant. |
