Tâm Lý Học Nội Môn I – Phần I – Chương I

📘 Sách: Tâm Lý Học Nội Môn I – Tác giả: Alice Bailey

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF
Cover

ESOTERIC PSYCHOLOGY

VOLUME I

A TREATISE ON THE SEVEN RAYS

by

ALICE A. BAILEY

Published by the Lucis Publishing Companies

The first and only publisher of the complete works

of Alice A. Bailey

www.lucistrust.org/books

DEDICATED TO

D.M.M.M. ~ M.K.A.P. ~ E.A.S.L.

COPYRIGHT © 1962 BY LUCIS TRUST

COPYRIGHT © RENEWED 1990 BY LUCIS TRUST

First Printing, 1936

Seventh Printing, 1971 (First Paperback Edition)

Fourteenth Printing, 2014

Library of Congress Catalog Card Number: 62006365

E Book edition: First 2012. This 2016. ISBN No. 978-085330-418-0

All rights reserved. No part of this book may be reproduced or utilised in any form or by any means, electronic or mechanical, including photocopying, recording, or by any information storage and retrieval system, without permission in writing from the publisher.

The publication of this book is financed by the Tibetan Book Fund which is established for the perpetuation of the teachings of the Tibetan and Alice A. Bailey.

This Fund is controlled by the Lucis Trust, a tax-exempt, religious, educational corporation.

The Lucis Publishing Companies are non-profit organisations owned by the Lucis Trust. No royalties are paid on this book.

This book has been translated into Danish, Dutch, French, German, Greek, Italian, Portuguese, Russian, Spanish and Swedish. Translation into other languages is proceeding.

LUCIS PUBLISHING COMPANY

120 Wall Street, New York, NY 10005

LUCIS PRESS LIMITED

Suite 54, 3 Whitehall Court, London SW1A 2EF

EXTRACT FROM A STATEMENT BY THE TIBETAN—TRÍCH TỪ MỘT TUYÊN BỐ CỦA CHÂN SƯ TÂY TẠNG

Suffice it to say, that I am a Tibetan disciple of a certain degree, and this tells you but little, for all are disciples from the humblest aspirant up to, and beyond, the Christ Himself. I live in a physical body like other men, on the borders of Tibet, and at times (from the exoteric standpoint) preside over a large group of Tibetan lamas, when my other duties permit. It is this fact that has caused it to be reported that I am an abbot of this particular lamasery. Those associated with me in the work of the Hierarchy (and all true disciples are associated in this work) know me by still another name and office. A.A.B. knows who I am and recognises me by two of my names.

Chỉ cần nói rằng, tôi là một đệ tử người Tây Tạng ở một cấp độ nhất định, và điều này nói cho các bạn biết rất ít, vì tất cả đều là đệ tử từ người chí nguyện khiêm tốn nhất cho đến, và vượt lên trên, chính Đức Christ. Tôi sống trong một thể xác giống như những người khác, ở biên giới Tây Tạng, và đôi khi (theo quan điểm ngoại môn) chủ trì một nhóm lớn các lạt ma Tây Tạng, khi các nhiệm vụ khác của tôi cho phép. Chính sự thật này đã khiến người ta đồn rằng tôi là một tu viện trưởng của tu viện lạt ma đặc biệt này. Những người liên kết với tôi trong công việc của Thánh Đoàn (và tất cả các đệ tử chân chính đều liên kết trong công việc này) biết tôi qua một cái tên và chức vụ khác. A.A.B. biết tôi là ai và nhận ra tôi qua hai trong số các tên gọi của tôi.

I am a brother of yours, who has travelled a little longer upon the Path than has the average student, and has therefore incurred greater responsibilities. I am one who has wrestled and fought his way into a greater measure of light than has the aspirant who will read this article, and I must therefore act as a transmitter of the light, no matter what the cost. I am not an old man, as age counts among the teachers, yet I am not young or inexperienced. My work is to teach and spread the knowledge of the Ageless Wisdom wherever I can find a response, and I have been doing this for many years. I seek also to help the Master M. and the Master K.H. whenever opportunity offers, for I have been long connected with Them and with Their work. In all the above, I have told you much; yet at the same time I have told you nothing which would lead you to offer me that blind obedience and the foolish devotion which the emotional aspirant offers to the Guru and Master Whom he is as yet unable to contact. Nor will he make that desired contact until he has transmuted emotional devotion into unselfish service to humanity–not to the Master.

Tôi là một huynh đệ của các bạn, người đã đi trên Đường Đạo lâu hơn một chút so với người đạo sinh trung bình, và do đó đã gánh vác những trách nhiệm lớn hơn. Tôi là một người đã phấn đấu và chiến đấu để tiến vào một mức độ ánh sáng lớn hơn so với người chí nguyện sẽ đọc bài viết này, và vì vậy tôi phải hành động như một người truyền dẫn ánh sáng, bất kể giá nào. Tôi không phải là một người già, theo cách tính tuổi tác của các vị giáo sư, tuy nhiên tôi không còn trẻ hay thiếu kinh nghiệm. Công việc của tôi là giảng dạy và truyền bá kiến thức về Minh Triết Ngàn Đời bất cứ nơi nào tôi có thể tìm thấy một sự đáp ứng, và tôi đã làm điều này trong nhiều năm. Tôi cũng tìm cách giúp đỡ Chân sư M. và Chân sư K.H. bất cứ khi nào có cơ hội, vì tôi đã liên kết lâu dài với Các Ngài và với công việc của Các Ngài. Trong tất cả những điều trên, tôi đã nói với các bạn nhiều điều; tuy nhiên đồng thời tôi chưa nói với các bạn điều gì có thể khiến các bạn dâng hiến cho tôi sự vâng lời mù quáng và sự sùng tín ngu muội mà người chí nguyện đầy cảm xúc thường dâng lên cho Vị Guru và Chân sư Mà y chưa thể tiếp xúc. Y cũng sẽ không thực hiện được sự tiếp xúc mong muốn đó cho đến khi y chuyển hóa sự sùng tín đầy cảm xúc thành sự phụng sự vô kỷ vị tha cho nhân loại – chứ không phải cho Chân sư.

The books that I have written are sent out with no claim for their acceptance. They may, or may not, be correct, true and useful. It is for you to ascertain their truth by right practice and by the exercise of the intuition. Neither I nor A.A.B. is the least interested in having them acclaimed as inspired writings, or in having anyone speak of them (with bated breath) as being the work of one of the Masters. If they present truth in such a way that it follows sequentially upon that already offered in the world teachings, if the information given raises the aspiration and the will-to-serve from the plane of the emotions to that of the mind (the plane whereon the Masters can be found) then they will have served their purpose. If the teaching conveyed calls forth a response from the illumined mind of the worker in the world, and brings a flashing forth of his intuition, then let that teaching be accepted. But not otherwise. If the statements meet with eventual corroboration, or are deemed true under the test of the Law of Correspondences, then that is well and good. But should this not be so, let not the student accept what is said.

Những quyển sách mà tôi đã viết được đưa ra mà không đòi hỏi sự chấp nhận. Chúng có thể, hoặc có thể không, chính xác, đúng đắn và hữu ích. Việc xác minh sự thật của chúng bằng thực hành đúng đắn và bằng sự rèn luyện trực giác là tùy thuộc vào các bạn. Cả tôi và A.A.B. đều không quan tâm chút nào đến việc chúng được tung hô như những bài viết đầy cảm hứng, hay việc bất kỳ ai nói về chúng (với hơi thở hổn hển) như là công trình của một trong các Chân sư. Nếu chúng trình bày sự thật theo cách mà nó tiếp nối một cách tuần tự những gì đã được đưa ra trong các giáo lý thế giới, nếu thông tin được đưa ra nâng cao khát vọng và ý chí-phụng sự từ cõi cảm xúc lên cõi trí (cõi mà các Chân sư có thể được tìm thấy) thì chúng đã phục vụ mục đích của mình. Nếu giáo huấn được truyền tải gợi lên một sự đáp ứng từ tâm trí được soi sáng của người hoạt động trên thế gian, và mang lại một sự lóe sáng của trực giác nơi y, thì hãy để giáo huấn đó được chấp nhận. Nhưng nếu không thì thôi. Nếu các tuyên bố nhận được sự chứng thực cuối cùng, hoặc được coi là đúng dưới sự kiểm chứng của Định luật Tương ứng, thì điều đó thật tốt. Nhưng nếu không phải như vậy, thì đạo sinh đừng chấp nhận những gì được nói.

AUGUST 1934

THÁNG 8 NĂM 1934

THE GREAT INVOCATION

From the point of Light within the Mind of God

Từ điểm Ánh sáng trong Trí Thượng Đế

Let light stream forth into the minds of men.

Cầu xin Ánh sáng tràn vào Trí Con người

Let Light descend on Earth.

Cầu xin Ánh sáng giáng xuống trần gian

From the point of Love within the Heart of God

Từ điểm Tình thương trong Tâm Thượng đế

Let love stream forth into the hearts of men.

Cầu xin Tình thương tràn vào Tâm Con người

May Christ return to Earth.

Cầu xin Đức Christ trở lại trần gian

From the centre where the Will of God is known

Từ Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế

Let purpose guide the little wills of men—

Cầu xin Thiên Ý dẫn dắt ý chí nhỏ bé của Con người

The purpose which the Masters know and serve.

Thiên Ý mà các Chân sư đều biết và phụng sự

From the centre which we call the race of men

Từ trung tâm mà chúng ta gọi là Loài người

Let the Plan of Love and Light work out.

Cầu xin Thiên Cơ, Tình thương và Ánh sáng được thực thi

And may it seal the door where evil dwells.

Và cầu mong Thiên cơ đóng kín cửa vào nẻo ác

Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth.

Cầu xin Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng phục hồi Thiên cơ trên Trần gian

“The above Invocation or Prayer does not belong to any person or group but to all Humanity. The beauty and the strength of this Invocation lies in its simplicity, and in its expression of certain central truths which all men, innately and normally, accept—the truth of the existence of a basic Intelligence to Whom we vaguely give the name of God; the truth that behind all outer seeming, the motivating power of the universe is Love; the truth that a great Individuality came to earth, called by Christians, the Christ, and embodied that love so that we could understand; the truth that both love and intelligence are effects of what is called the Will of God; and finally the self-evident truth that only through humanity itself can the Divine Plan work out.”

“Bài Khấn Nguyện hay Lời Cầu Nguyện trên không thuộc về bất kỳ cá nhân hay nhóm nào mà thuộc về toàn thể Nhân loại. Vẻ đẹp và sức mạnh của bài Khấn Nguyện này nằm ở sự đơn giản của nó, và ở sự diễn đạt những chân lý cốt lõi nhất định mà tất cả mọi người, một cách bẩm sinh và bình thường, đều chấp nhận—chân lý về sự tồn tại của một Trí Thông Minh cơ bản mà chúng ta mơ hồ đặt tên là Thượng đế; chân lý rằng đằng sau mọi Sắc tướng, động lực của vũ trụ là Tình Thương; chân lý rằng một Cá Thể Tính vĩ đại đã đến trái đất, được người Kitô giáo gọi là Đức Christ, và hiện thân cho tình thương đó để chúng ta có thể hiểu được; chân lý rằng cả tình thương và trí thông minh đều là kết quả của cái được gọi là Ý Chí của Thượng đế; và cuối cùng là chân lý hiển nhiên rằng chỉ thông qua chính nhân loại, Thiên Cơ mới có thể thực hiện được.”

ALICE A. BAILEY

“Matter is the Vehicle for the manifestation

“Vật chất là Vận Cụ cho sự biểu hiện

of Soul on this plane of existence, and Soul is the

của Linh hồn trên cõi tồn tại này, và Linh hồn là

Vehicle on a higher plane for the manifestation of

Vận cụ trên một cõi cao hơn cho sự biểu hiện của

Spirit, and these three are a Trinity synthesized

Tinh thần, và ba điều này là một Tam Vị được tổng hợp

by Life, which pervades them all.”

bởi Sự Sống, cái thâm nhập tất cả chúng.”

THE SECRET DOCTRINE” VOL. I. PAGE 80.

“GIÁO LÝ BÍ NHIỆM” TẬP I. TRANG 80.

THIRD EDITION

ẤN BẢN LẦN THỨ BA

THREE SOULS, ONE MAN

BA LINH HỒN, MỘT CON NGƯỜI

Three souls which make up one soul: first, to wit,

Ba linh hồn hợp thành một linh hồn: trước hết,

A soul of each and all the bodily parts,

là linh hồn của từng phần và của toàn thân thể,

Seated therein, which works, and is what Does,

ngự trong thân, vận hành, là Cái Làm,

And has the use of earth, and ends the man

và dùng thế giới đất này, và hoàn tất con người

Downward: but, tending upward for advice,

ở đường đi xuống; nhưng rồi, hướng lên để tìm lời khuyên,

Grows into, and again is grown into

nó lớn lên thành linh hồn kế tiếp, và lại được linh hồn ấy nâng lên –

By the next soul, which, seated in the brain,

linh hồn ấy ngự trong bộ não,

Useth the first with its collected use,

sử dụng linh hồn đầu tiên với toàn bộ công dụng đã tích lũy,

And feeleth, thinketh, willeth,– is what Knows:

và biết cảm, biết nghĩ, biết muốn – là Cái Biết.

Which, duly tending upward in its turn,

Và linh hồn này, đến lượt mình hướng lên trên,

Grows into, and again is grown« into

lớn lên thành, và lại được lớn lên thành

By the last soul, that uses both the first,

bởi linh hồn cuối cùng, linh hồn sử dụng cả hai linh hồn trước,

Subsisting whether they assist or no,

vẫn tồn tại dù chúng có trợ giúp hay không,

And, constituting man’s self, is what Is –

và, cấu thành bản ngã của con người, là Cái Là

And leans upon the former, makes it play,

và tựa lên linh hồn trước đó, khiến nó vận hành,

As that played off the first: and, tending up,

như linh hồn ấy khiến linh hồn đầu vận hành; và, hướng lên,

Holds, is upheld by, God, and ends the man

nắm lấy, được Thượng Đế nâng đỡ, và hoàn tất con người

Upward in that dread point of intercourse,

ở đường đi lên nơi điểm giao cảm uy nghi ấy,

Nor needs a place, for it returns to Him.

và không cần nơi chốn nào nữa, vì nó trở về với Ngài.

What Does, what Knows, what Is; three souls, one man.

Cái Làm, Cái Biết, Cái Là; ba linh hồn, một con người.

FROM “DEATH IN THE DESERT”.

BY ROBERT BROWNING.

CỦA ROBERT BROWNING

Foreword

[xvii]

[xvii]

The question arises, each time a book is written which is to be read by earnest aspirants: What line of instruction will carry forward their training with the most speed?—for speed is an essential factor, if the present day unfoldment is to be rightly utilised and the stress and strain in the world relieved. The teaching to be given must likewise increase their mental competency, and lead to that stabilisation of the emotional body which will most rapidly set them free for service. It must be remembered that constant study (of papers), and the apprehension by the ear and eye of statements anent the Ageless Wisdom, serve only to increase responsibility, or produce brain fatigue and staleness, with subsequent revolt from instruction. Only that which is brought into use in the life is of practical value and retains its livingness. Sincerity is the first thing for which those of us who teach inevitably look.

Một câu hỏi nảy sinh mỗi khi một quyển sách được viết ra để cho những người chí nguyện tha thiết đọc: Dòng hướng dẫn nào sẽ thúc đẩy quá trình rèn luyện của họ với tốc độ nhanh nhất?—vì tốc độ là một yếu tố thiết yếu, nếu sự khai mở trong thời hiện đại được sử dụng đúng đắn và sự căng thẳng cùng áp lực trên thế giới được giảm nhẹ. Giáo lý được đưa ra cũng phải làm tăng năng lực trí tuệ của họ, và dẫn đến sự ổn định của thể cảm xúc, điều sẽ giải phóng họ nhanh chóng nhất cho việc phụng sự. Cần phải nhớ rằng việc nghiên cứu liên tục (các tài liệu), và việc nắm bắt bằng tai và mắt những tuyên bố về Minh Triết Ngàn Đời, chỉ làm tăng trách nhiệm, hoặc tạo ra sự mệt mỏi của não bộ và sự cũ kỹ, với sự chán ghét sau đó đối với sự hướng dẫn. Chỉ những gì được đưa vào sử dụng trong cuộc sống mới có giá trị thực tiễn và giữ lại được sức sống của nó. Sự chân thành là điều đầu tiên mà những người giảng dạy như chúng tôi nhất thiết tìm kiếm.

Let me remind those I reach through these books that the main result I look for is one of group co-operation and understanding, and not that of individual benefit. By studying and reading with care, a group interplay is set up, the group becomes more closely integrated, the units in it more closely linked together and as a group more closely blended in the unfolding Plan of the treat Ones. We are building and planning for the future and for humanity, and not for the personal unfoldment of any particular aspirant. The individual growth is of no tremendous significance. The formation and development of a band of pledged aspirants, trained to work together and to respond in unison to a teaching, is of real moment [xviii] to those of us who are responsible for the training and for the preparation of the group of world disciples who will function with freedom and power in a later cycle. You see a tiny portion of the Plan. We see the Plan as it unfolds for a series of lives ahead, and we are today seeking those who can be taught to work in group formation and who can constitute one of the active units in the vast happenings that lie ahead, connected with that two-thirds of humanity who will stand upon the Path at the close of the age, and with that one-third who will be held over for later unfoldment. We are training men and women everywhere so that they can be sensitive to the Plan, sensitive to their group vibration, and thus able to co-operate intelligently with the unfolding purpose. It is a mistake to think that the Plan is to train aspirants to be sensitive to the vibration of a Master or to the Hierarchy. That is but incidental and of minor importance.

Hãy để tôi nhắc nhở những người tôi tiếp cận qua những quyển sách này rằng kết quả chính mà tôi tìm kiếm là sự hợp tác và thấu hiểu của nhóm, chứ không phải lợi ích cá nhân. Bằng cách nghiên cứu và đọc với sự cẩn thận, một sự tương tác nhóm được thiết lập, nhóm trở nên tích hợp chặt chẽ hơn, các đơn vị trong đó liên kết chặt chẽ hơn và như một nhóm hòa quyện chặt chẽ hơn vào Thiên Cơ đang khai mở của Các Đấng Cao Cả. Chúng tôi đang xây dựng và lập kế hoạch cho tương lai và cho nhân loại, chứ không phải cho sự khai mở cá nhân của bất kỳ người chí nguyện cụ thể nào. Sự phát triển cá nhân không có ý nghĩa to lớn. Việc hình thành và phát triển một nhóm những người chí nguyện đã cam kết, được rèn luyện để làm việc cùng nhau và đáp ứng đồng nhất với một giáo lý, là điều thực sự quan trọng [xviii] đối với những người chịu trách nhiệm rèn luyện và chuẩn bị cho nhóm các đệ tử thế gian, những người sẽ hoạt động với sự tự do và quyền năng trong một chu kỳ sau này. Các bạn nhìn thấy một phần nhỏ bé của Thiên Cơ. Chúng tôi nhìn thấy Thiên Cơ khi nó khai mở cho một loạt các kiếp sống phía trước, và ngày nay chúng tôi đang tìm kiếm những người có thể được dạy để làm việc trong đội hình nhóm và những người có thể cấu thành một trong những đơn vị tích cực trong các sự kiện to lớn đang ở phía trước, kết nối với hai phần ba nhân loại sẽ đứng trên Đường Đạo vào cuối thời đại này, và với một phần ba những người sẽ được giữ lại cho sự khai mở sau này. Chúng tôi đang rèn luyện những người nam và nữ ở khắp mọi nơi để họ có thể nhạy cảm với Thiên Cơ, nhạy cảm với rung động nhóm của họ, và do đó có thể hợp tác một cách thông minh với mục đích đang khai mở. Thật sai lầm khi nghĩ rằng Thiên Cơ là rèn luyện những người chí nguyện để trở nên nhạy cảm với rung động của một Chân sư hoặc với Thánh Đoàn. Đó chỉ là ngẫu nhiên và có tầm quan trọng thứ yếu.

It is for the purpose of training aspirants so that group awareness may be developed that these books have been written. Recognise clearly that you personally do not count, but that the group most surely does. Teaching is not given only in order to train you or to provide you with opportunity. All life is opportunity, and individual reaction to opportunity is one of the factors which indicate soul growth. For this, the training school of the world itself suffices.

Chính vì mục đích rèn luyện những người chí nguyện để tâm thức nhóm có thể được phát triển mà những quyển sách này đã được viết ra. Hãy nhận thức rõ ràng rằng cá nhân bạn không quan trọng, nhưng nhóm chắc chắn là có. Giáo lý không được đưa ra chỉ để rèn luyện bạn hoặc cung cấp cho bạn cơ hội. Mọi cuộc sống đều là cơ hội, và phản ứng của cá nhân đối với cơ hội là một trong những yếu tố chỉ ra sự phát triển của linh hồn. Đối với điều này, trường học rèn luyện của chính thế gian là đủ.

There should be in all impartation of truth no imposition of authority. Aspirants must be left free to avail themselves of the teaching or not, and spiritual work must go forward because of the free choice and self-initiated effort of the individual student.

Trong mọi sự truyền đạt chân lý không nên có sự áp đặt uy quyền. Những người chí nguyện phải được tự do để tận dụng giáo lý hoặc không, và công việc tinh thần phải tiến lên nhờ sự lựa chọn tự do và nỗ lực tự khởi xướng của cá nhân đạo sinh.

In the books already published three basic lines of teaching can be traced:

Trong các quyển sách đã xuất bản, ba dòng giáo lý cơ bản có thể được tìm thấy:

First, a relatively new technique has been given as to the control of the body.

Thứ nhất, một kỹ thuật tương đối mới đã được đưa ra về việc kiểm soát cơ thể.

[xix]

[xix]

Second, teaching has been given anent the formation of the New Group of World Servers.

Thứ hai, giáo lý đã được đưa ra về việc hình thành Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

Third, the general lines of the magical work of creation have received attention.

Thứ ba, các đường lối chung của công việc huyền thuật sáng tạo đã nhận được sự chú ý.

The first line of teaching concerns the individual and his development; the second indicates the nature and ideals of the group into which he may find his way if he profits by the teaching and learns control; the third, could you but realise it, details in some measure the methods and modes of work during the coming new age.

Dòng giáo lý thứ nhất liên quan đến cá nhân và sự phát triển của y; dòng thứ hai chỉ ra bản chất và lý tưởng của nhóm mà y có thể tìm thấy con đường của mình vào đó nếu y hưởng lợi từ giáo lý và học cách kiểm soát; dòng thứ ba, nếu các bạn có thể nhận ra, trình bày chi tiết ở một mức độ nào đó các phương pháp và cách thức làm việc trong thời đại mới sắp tới.

Ponder upon these three main approaches to truth, and think upon them with clarity of thought. Mental appreciation of their significance will produce understanding and will likewise increase the group apprehension of the teaching which I have sought to impart. Any student who thinks clearly and applies the teaching to his daily life is contributing most valuably to the group awareness.

Hãy suy ngẫm về ba cách tiếp cận chân lý chính này, và suy nghĩ về chúng với sự rõ ràng của tư tưởng. Sự đánh giá cao bằng trí tuệ về ý nghĩa của chúng sẽ tạo ra sự thấu hiểu và cũng sẽ làm tăng sự nắm bắt của nhóm đối với giáo lý mà tôi đã tìm cách truyền đạt. Bất kỳ đạo sinh nào suy nghĩ rõ ràng và áp dụng giáo lý vào cuộc sống hàng ngày của mình đều đang đóng góp một cách quý giá nhất cho tâm thức nhóm.

Oft an aspirant says to himself: “Of what real use am I? How can I, in my small sphere, be of service to the world?” Let me reply to these questions by pointing out that by thinking this book into the minds of the public, by expressing before your fellow men the teaching it imparts, and by a life lived in conformity with its teaching, your service is very real.

Thường thì một người chí nguyện tự nhủ: “Tôi có ích lợi thực sự gì? Làm thế nào tôi, trong phạm vi nhỏ bé của mình, có thể phụng sự thế giới?” Hãy để tôi trả lời những câu hỏi này bằng cách chỉ ra rằng bằng cách gieo suy nghĩ về quyển sách này vào tâm trí của công chúng, bằng cách diễn đạt trước đồng loại của bạn giáo lý mà nó truyền đạt, và bằng một cuộc sống phù hợp với giáo lý của nó, sự phụng sự của bạn là rất thực tế.

This will necessarily involve a pledging of the entire personality to the helping of humanity, and the promise to the Higher Self that endeavour will be made to lose sight of self in service—a service to be rendered in the place and under the circumstances which a man’s destiny and duty have imposed upon him. I mean a renewal of the effort to bring about the purification of all the bodies so that the entire lower man may be a pure channel and instrument through which spiritual force may flow unimpeded. I mean the attaining of an attitude [xx] wherein the aspirant desires nothing for the separated self, and in which he regards all that he has as something which he can lay upon the altar of sacrifice for the aiding of his brethren. Could all who read this book see the results of such a united effort, there would emerge a group activity, intelligently undertaken, which would achieve great things. So many people run hither and thither after this individual or that, or this piece of work or that, and, working with lack of intelligent co-ordination, achieve nothing and no group results. But united group effort would eventuate in an inspired reorganisation of the entire world, and the elimination of hindrances; there would be the making of real sacrifices and the giving up of personal wishes and desires in order that group purposes may be served.

Điều này nhất thiết sẽ liên quan đến việc cam kết toàn bộ phàm ngã cho việc giúp đỡ nhân loại, và lời hứa với Chân Ngã rằng nỗ lực sẽ được thực hiện để quên mình trong sự phụng sự—một sự phụng sự được thực hiện tại nơi chốn và dưới những hoàn cảnh mà vận mệnh và bổn phận của một người đã áp đặt lên y. Tôi muốn nói đến một sự đổi mới nỗ lực nhằm mang lại sự thanh lọc tất cả các thể để toàn bộ con người thấp kém có thể là một kênh dẫn và công cụ trong sạch qua đó lực tinh thần có thể tuôn chảy không bị cản trở. Tôi muốn nói đến việc đạt được một thái độ [xx] trong đó người chí nguyện không mong muốn điều gì cho cái tôi tách biệt, và trong đó y coi tất cả những gì y có là thứ mà y có thể đặt lên bàn thờ hy sinh để giúp đỡ các huynh đệ của mình. Nếu tất cả những người đọc quyển sách này có thể thấy kết quả của một nỗ lực thống nhất như vậy, sẽ xuất hiện một hoạt động nhóm, được thực hiện một cách thông minh, sẽ đạt được những điều to lớn. Rất nhiều người chạy ngược chạy xuôi theo cá nhân này hay cá nhân kia, hoặc mẫu công việc này hay mẫu công việc kia, và làm việc với sự thiếu phối hợp thông minh, không đạt được gì và không có kết quả nhóm nào. Nhưng nỗ lực nhóm thống nhất sẽ dẫn đến một sự tổ chức lại đầy cảm hứng của toàn bộ thế giới, và sự loại bỏ các chướng ngại; sẽ thực hiện những hy sinh thực sự và sự từ bỏ các mong muốn và dục vọng cá nhân để các mục đích nhóm có thể được phụng sự.

Above all, there must be the elimination of fear. With this I have dealt at length in A Treatise on White Magic, and have given likewise certain rules and formulas for its control. How many who have read the teaching profited by the information imparted? Will you not, with determination and because the world cries out for help, cast away fear and go forward with joy and courage into the future?

Trên tất cả, phải có sự loại bỏ nỗi sợ hãi. Về điều này, tôi đã đề cập chi tiết trong cuốn Luận về Chánh Thuật, và cũng đã đưa ra những quy luật và công thức nhất định để kiểm soát nó. Có bao nhiêu người đã đọc giáo lý đã hưởng lợi từ thông tin được truyền đạt? Liệu các bạn sẽ không—với lòng quyết tâm và vì thế giới đang kêu cứu—vứt bỏ nỗi sợ hãi và tiến về phía trước với niềm vui và lòng can đảm vào tương lai sao?

There has been, behind all the books which I have written, a definite purpose and a planned sequence of teaching. It may be of interest to you if I trace them for you:

Đằng sau tất cả các quyển sách mà tôi đã viết có một mục đích xác định và một trình tự giáo lý được hoạch định. Có thể các bạn sẽ quan tâm nếu tôi truy nguyên chúng cho các bạn:

The first book issued was Initiation, Human and Solar. This book was intended for the average aspirant, to lead him on from where he was to a vision of an organised band of teachers who were seeking to aid humanity (and incidentally himself), and to give some idea of their technique of work and modes of procedure.

Quyển sách đầu tiên được phát hành là Điểm Đạo trong Nhân Loại và Thái Dương Hệ. Quyển sách này dành cho người chí nguyện trung bình, để dẫn dắt y từ nơi y đang đứng đến một tầm nhìn về một nhóm các huấn sư có tổ chức đang tìm cách hỗ trợ nhân loại (và ngẫu nhiên là hỗ trợ chính y), và để đưa ra một số ý tưởng về kỹ thuật làm việc và các phương thức tiến hành của Các Ngài.

Letters on Occult Meditation indicated how these teachers could be reached and the discipline of life that the treading of the Path involved. These two are especially for aspirants.

Thư về Tham Thiền Huyền Môn chỉ ra cách thức để có thể tiếp cận các huấn sư này và kỷ luật của cuộc sống mà việc bước đi trên Đường Đạo đòi hỏi. Hai cuốn này đặc biệt dành cho những người chí nguyện.

[xxi]

[xxi]

A Treatise on Cosmic Fire is in an entirely different category. In the last analysis, it is for the guidance of the initiates of the world, and will lift the aspirant’s eyes away from himself and his own growth to a vaster conception and a universal ideal. The mark of the initiate is his lack of interest in himself, in his own unfoldment and his own personal fate, and all aspirants who become accepted disciples have to master the technique of disinterestedness. Their eyes have also to be lifted away from the group of workers and from the hierarchy which they constitute and to be fixed on wider horizons and vaster realms of activity. The great creative Plan, its laws and technique of unfoldment, and the work of the Builders of the Universe was dealt with; emerging out of the mass of imparted facts, and underlying all the teaching, was the idea of a great Life with its own psychology and ideas. It was an attempt to give a synthetic picture of the unfolding Mind of God as It works out Its plans through the lesser Sons of Mind. In symbolism and archaic phrases it veiled the truths and principles which lie at the root of the creative process, and in its entirety is beyond the grasp of the advanced student. At the same time, it is a most valuable compendium of information, and will serve to convey truth and to develop the intuition.

A Treatise on Cosmic Fire nằm trong một phạm trù hoàn toàn khác. Sau cùng, nó được dùng để hướng dẫn các điểm đạo đồ của thế giới và sẽ nâng tầm nhìn của người chí nguyện ra khỏi chính y và sự trưởng thành riêng của y, để hướng đến một nhận thức bao la hơn và một lý tưởng phổ quát. Dấu hiệu của điểm đạo đồ là sự thiếu quan tâm đến chính bản thân y, đến sự khai mở riêng của y và số phận cá nhân của y, và mọi người chí nguyện trở thành đệ tử chính thức đều phải tinh thông kỹ thuật vô tư lợi. Đôi mắt của họ cũng phải được nâng lên khỏi nhóm những người phụng sự và khỏi Thánh đoàn mà họ là thành phần, để được cố định vào những chân trời rộng lớn hơn và những lĩnh vực hoạt động bao la hơn. Thiên Cơ sáng tạo vĩ đại, các định luật và kỹ thuật khai mở của nó, và công việc của các Đấng Kiến Tạo của Vũ Trụ đã được đề cập; và nổi lên từ khối lượng khổng lồ những dữ kiện được truyền đạt, đồng thời nằm bên dưới toàn bộ giáo huấn, là ý tưởng về một Sự Sống vĩ đại với tâm lý và những ý tưởng riêng của chính Ngài. Đó là một nỗ lực nhằm đưa ra một bức tranh tổng hợp về Trí của Thượng đế đang khai mở, khi Ngài triển khai các kế hoạch của mình thông qua những Con của Trí Tuệ thấp hơn. Bằng các biểu tượng và những cụm từ cổ xưa, nó che giấu những chân lý và các nguyên lý nằm ở cội rễ của tiến trình sáng tạo, và trong toàn bộ tính tổng thể của nó thì vượt khỏi tầm nắm bắt của đạo sinh tiến bộ. Đồng thời, nó là một bộ tập đại thành vô cùng quý giá về thông tin và sẽ giúp truyền đạt chân lý cùng phát triển trực giác.

The last book, A Treatise on White Magic, is a parallel volume to A Treatise on Cosmic Fire. Just as the first dealt with the psychology of Deity, the work of the Macrocosm, and the laws whereby the Solar Logos works, so this book constitutes a treatise on the psychology of the Son of God and the work of the Microcosm. It intimately concerns His place in the larger whole.

Quyển sách gần đây nhất, Luận về Chánh Thuật, là một tập sách song song với Luận về Lửa Vũ Trụ. Cũng như cuốn đầu tiên đề cập đến tâm lý học của Thượng đế, công việc của Đại thiên địa, và các định luật mà qua đó Thái dương Thượng đế làm việc, thì quyển sách này cấu thành một luận thuyết về tâm lý học của Con của Thượng đế và công việc của Tiểu thiên địa. Nó liên quan mật thiết đến vị trí của Ngài trong cái toàn thể lớn hơn.

I have also aided A.A.B. in getting out a translation of the Yoga Sutras of Patanjali, which is a bridging book, intended to show the aspirant the rules whereby the light within him [xxii] may be developed and the power of the intuition be brought to bear on all problems and on the phenomena of life itself. This book was given the name The Light on the Soul.

Tôi cũng đã hỗ trợ A.A.B. trong việc đưa ra một bản dịch của Kinh Yoga Sutras của Patanjali, đây là một quyển sách bắc cầu, nhằm chỉ cho người chí nguyện các quy luật mà qua đó ánh sáng bên trong y [xxii] có thể được phát triển và quyền năng của trực giác được đưa vào để giải quyết tất cả các vấn đề và các hiện tượng của chính cuộc sống. Quyển sách này được đặt tên là Ánh Sáng của Linh Hồn.

Here I am fulfilling my intention to write a book on the subject of the Seven Rays. This topic has always been of real interest for students, but about these rays little is known. We know, from The Secret Doctrine, that they are the building Forces and the sum total of all that is in the manifested universe, but their effect in the human kingdom, and their essential quality and nature, remain as yet a mystery. It will be necessary for me to avoid the cosmic note, if I may so call it, for I seek to make the information of practical value to the student and to the intelligent reader. I shall therefore approach the subject entirely from the standpoint of the human family and deal with the subject in terms of psychological values, laying the foundation for that new psychology which is much needed, and so dealing primarily with the human equation. What I have to say will be a commentary upon an expansion of the words found in the proem of The Secret Doctrine, that “All Souls are one with the Oversoul.”

Tại đây, tôi đang thực hiện ý định viết một cuốn sách về chủ đề Bảy Cung. Chủ đề này luôn là mối quan tâm thực sự đối với các môn sinh, nhưng người ta biết rất ít về các cung này. Chúng ta biết, từ bộ Giáo Lý Bí Nhiệm, rằng chúng là các Mãnh lực kiến tạo và là tổng thể của tất cả những gì có trong vũ trụ biểu hiện, nhưng tác động của chúng trong giới nhân loại, cũng như phẩm tính thiết yếu và bản chất của chúng, vẫn còn là một bí ẩn. Tôi sẽ cần phải tránh âm điệu vũ trụ, nếu tôi có thể gọi như vậy, vì tôi tìm cách làm cho thông tin này có giá trị thực tiễn đối với môn sinh và độc giả thông tuệ. Vì vậy, tôi sẽ tiếp cận chủ đề này hoàn toàn từ quan điểm của gia đình nhân loại và bàn về chủ đề này dưới khía cạnh các giá trị tâm lý, đặt nền tảng cho nền tâm lý học mới vốn rất cần thiết đó, và do đó bàn chủ yếu về phương trình nhân loại. Những điều tôi trình bày sẽ là một bài bình giải về sự mở rộng của những lời được tìm thấy trong lời mở đầu của bộ Giáo Lý Bí Nhiệm, rằng “Tất cả các Linh hồn là một với Đại hồn.”

We shall, from the outset, accept the fact of the soul. We shall not consider the arguments for or against the hypothesis of there being a soul-universal, cosmic, and divine, or individual and human. For our purposes of discussion, the soul exists, and its intrinsic reality is assumed, as a basic and proven principle. Those who do not admit this assumption can, however, study the book from the angle of a temporarily accepted hypothesis, and thus seek to gather those analogies and indications which may substantiate the point of view. To the aspirant, and to those who are seeking to demonstrate the existence of the soul because they believe in its existence, this expression of its laws and tradition, its nature, origin and [xxiii] potentialities will become a gradually deepening and experienced phenomenon.

Ngay từ đầu, chúng ta sẽ chấp nhận sự thật về linh hồn. Chúng ta sẽ không xem xét các lập luận ủng hộ hay chống lại giả thuyết về việc có một linh hồn—phổ quát, vũ trụ, và thiêng liêng, hay cá nhân và con người. Vì các mục đích thảo luận của chúng ta, linh hồn tồn tại, và thực tại nội tại của nó được giả định, như một nguyên lý cơ bản và đã được chứng minh. Tuy nhiên, những ai không thừa nhận giả định này có thể nghiên cứu quyển sách từ góc độ của một giả thuyết được chấp nhận tạm thời, và do đó tìm cách thu thập những sự tương đồng và chỉ dẫn có thể chứng minh quan điểm đó. Đối với người chí nguyện, và đối với những người đang tìm cách chứng minh sự tồn tại của linh hồn bởi vì họ tin vào sự tồn tại của nó, sự diễn đạt này về các định luật và truyền thống của nó, bản chất, nguồn gốc và [xxiii] các tiềm năng của nó sẽ trở thành một hiện tượng được trải nghiệm và ngày càng sâu sắc dần.

What I indicate and the suggestions I may make, will, I forecast, be demonstrated, in the scientific sense, during the coming Aquarian Age. Science will then have penetrated a little further into the field of intangible yet real phenomena; it will have discovered mayhap it has already made this discovery) that the dense and concrete do not exist; it will know that there is but one substance, present in nature in varying degrees of density and of vibratory activity, and that this substance is impelled by urgent purpose and expressive of divine intent.

Tôi dự báo, những gì tôi chỉ ra và những gợi ý tôi có thể đưa ra sẽ được chứng minh, theo nghĩa khoa học, trong Kỷ Nguyên Bảo Bình sắp tới. Khoa học khi đó sẽ thâm nhập xa hơn một chút vào lĩnh vực của các hiện tượng vô hình nhưng có thực; nó sẽ khám phá ra (có lẽ nó đã thực hiện khám phá này rồi) rằng cái đậm đặc và cụ thể không tồn tại; nó sẽ biết rằng chỉ có một chất liệu, hiện diện trong tự nhiên ở các mức độ đậm đặc và hoạt động rung động khác nhau, và rằng chất liệu này được thúc đẩy bởi mục đích khẩn thiết và biểu hiện ý định thiêng liêng.

We shall seek to avoid as far as possible those loose generalities which are so distressing to the academic and critical mind, and in which the mystic finds such relief and joy. I will however ask those who study this treatise to reserve their opinion and come to no crystallised judgment until the entire proposition has been presented to them, and its outlines have been clearly sensed and its detail somewhat elaborated.

Chúng ta sẽ tìm cách tránh càng xa càng tốt những khái quát lỏng lẻo vốn gây khó chịu cho tâm trí hàn lâm và phê phán, và trong đó nhà thần bí tìm thấy sự nhẹ nhõm và niềm vui như vậy. Tuy nhiên, tôi sẽ yêu cầu những người nghiên cứu luận thuyết này bảo lưu ý kiến của họ và không đi đến phán quyết cứng nhắc nào cho đến khi toàn bộ mệnh đề đã được trình bày cho họ, và các phác thảo của nó đã được cảm nhận rõ ràng và chi tiết của nó được giải thích phần nào.

It will be necessary for us to introduce the subject on a wide basis and to link the individual with the general, and this may (at the first) seem too vast a theme, too speculative a presentation and too misty and vague an outline. But this situation cannot be avoided, for the argument—as must be the case in all truly occult work-must be considered from the universal to the particular, from the cosmic to the individual. Men are, as yet, too interested in the particular and the individual to find it easy to apply the same interest to the greater Whole in which they “live and move and have their being,” nor do they at this time (as a general rule) possess that inner mechanism of thought and that intuitive perception of truth which will enable them easily to grasp the significance of that which underlies the symbolism of words, or to see clearly the subjective [xxiv] outline under the objective form. But the effort to understand carries its own reward, and the attempt to grasp and comprehend the Soul-cosmic, universal, planetary and individual leads inevitably to an unfoldment of the mental apparatus (with a subsequent development of the, as yet, quiescent brain cells) which must eventually produce a co-ordination of the thinking faculty, and resultant illumination.

Chúng ta sẽ cần phải giới thiệu chủ đề trên một cơ sở rộng lớn và liên kết cá nhân với cái chung, và điều này (lúc đầu) có thể có vẻ là một chủ đề quá lớn, một cách trình bày quá suy đoán và một phác thảo quá mơ hồ và không rõ ràng. Nhưng tình huống này không thể tránh khỏi, vì lập luận—như phải là trường hợp trong tất cả các công việc thực sự huyền bí—phải được xem xét từ cái phổ quát đến cái cụ thể, từ cái vũ trụ đến cái cá nhân. Cho đến nay, con người quá quan tâm đến cái cụ thể và cái cá nhân để có thể dễ dàng áp dụng cùng sự quan tâm đó cho cái Toàn Thể lớn hơn mà trong đó họ “sống, hoạt động và có sự hiện hữu của mình,” họ cũng không (như một quy luật chung) sở hữu vào lúc này cơ chế tư tưởng bên trong và nhận thức trực giác về chân lý, điều sẽ cho phép họ dễ dàng nắm bắt ý nghĩa của cái nằm bên dưới biểu tượng của ngôn từ, hoặc nhìn thấy rõ ràng phác thảo chủ quan [xxiv] dưới hình tướng khách quan. Nhưng nỗ lực để thấu hiểu mang lại phần thưởng của riêng nó, và nỗ lực để nắm bắt và thấu hiểu Linh hồn—vũ trụ, phổ quát, hành tinh và cá nhân—dẫn đến một cách tất yếu sự khai mở của bộ máy trí tuệ (với sự phát triển sau đó của các tế bào não, cho đến nay, vẫn còn im lìm) điều cuối cùng phải tạo ra một sự phối hợp của năng lực tư duy, và kết quả là sự soi sáng.

The nature of our septenary universe must be considered, and the relation of the threefold human being to the divine Trinity must be noted. A general idea of the entire symbolic picture is of value. Each student, as he takes up the study of the rays, must steadily bear in mind that he himself–as a human unit–finds his place on one or other of these rays. The problem thus produced is a very real one. The physical body may be responsive to one type of ray force, whilst the personality as a whole may vibrate in unison with another. The ego or soul may find itself upon still a third type of ray, thus responding to another type of ray energy. The question of the monadic ray brings in still another factor in many cases, but this can only be implied and not really elucidated. As I have oft told you, it is only the initiate of the third initiation who can come in touch with his monadic ray, or his highest life aspect, and the humble aspirant cannot as yet ascertain whether he is a monad of Power, of Love or of Intelligent Activity.

Bản chất của vũ trụ thất phân của chúng ta phải được xem xét, và mối quan hệ của con người tam phân với Tam Vị thiêng liêng phải được lưu ý. Một ý tưởng chung về toàn bộ bức tranh biểu tượng là có giá trị. Khi bắt đầu nghiên cứu về các cung, mỗi đạo sinh phải luôn ghi nhớ rằng chính y—như một đơn vị con người—tìm thấy vị trí của mình trên một trong các cung này. Do đó, vấn đề được tạo ra là rất thực tế. Thể xác có thể đáp ứng với một loại lực cung, trong khi phàm ngã nói chung có thể rung động đồng nhất với một loại khác. Chân ngã hay linh hồn có thể thấy mình trên một loại cung thứ ba, do đó đáp ứng với một loại năng lượng cung khác. Câu hỏi về cung chân thần đưa vào một yếu tố khác nữa trong nhiều trường hợp, nhưng điều này chỉ có thể được ngụ ý và không thực sự được làm sáng tỏ. Như tôi đã thường nói với các bạn, chỉ có điểm đạo đồ của lần điểm đạo thứ ba mới có thể tiếp xúc với cung chân thần của mình, hoặc phương diện sự sống cao nhất của mình, và người chí nguyện khiêm tốn chưa thể xác định liệu y là một chân thần của Quyền Năng, của Tình Thương hay của Hoạt Động Thông Tuệ.

In concluding, I ask for your sincere cooperation in the work which we are undertaking. It may be of more general and public value than any other of my writings. I shall seek to make this treatise upon the soul relatively brief. I shall seek to express these abstract truths in such a way that the general public, with its profound interest in the soul, may be intrigued and won to a deeper consideration of what is as yet a veiled surmise. The Aquarian Age will see the fact of the soul demonstrated. This is an attempt, carried forward in the difficulties [xxv] of a transition period which lacks even the needed terminology, to aid that demonstration.

Để kết luận, tôi yêu cầu sự hợp tác chân thành của các bạn trong công việc mà chúng ta đang thực hiện. Nó có thể có giá trị chung và công khai hơn bất kỳ bài viết nào khác của tôi. Tôi sẽ tìm cách làm cho luận thuyết này về linh hồn tương đối ngắn gọn. Tôi sẽ tìm cách diễn đạt những chân lý trừu tượng này theo cách mà công chúng, với sự quan tâm sâu sắc đến linh hồn, nói chung có thể bị hấp dẫn và giành được một sự xem xét sâu sắc hơn về những gì cho đến nay vẫn là một phỏng đoán bị che khuất. Kỷ Nguyên Bảo Bình sẽ thấy sự thật về linh hồn được chứng minh. Đây là một nỗ lực, được tiến hành trong những khó khăn [xxv] của một giai đoạn chuyển tiếp thiếu ngay cả các thuật ngữ cần thiết, để hỗ trợ sự chứng minh đó.

Let me also add that your attitude to the imparted instruction should be that of the student who is seeking truth that can be verified and information that can be applied to the daily life and tested in the crucible of life experience. If, for instance, there are indeed seven rays, embodying seven types of divine energy, then a man should be able to recognise these types and energies in the particular field of phenomena in which he plays his little part. If the truth given is veiled in symbolism and offered as an hypothesis, it should at the same time be unveiled sufficiently so as to be recognisable, and should have in it if sufficient intelligent appeal to warrant its investigation. The words “All souls are one with the Oversoul” may and do, I believe, embody a basic and essential piece of information, but unless there is evidence in the world that there is appearing a living relation between all sentient beings, then the statement is meaningless. But the fact is that universal sentiency and a general awareness are recognised everywhere as existing and as developing. The world is full of knowledge, which is in the last analysis sentient response to conditions which exist, by minds which are developing but are not fully developed. It is becoming gradually apparent that under diversity lies a basic unity, and that our awareness is right and true and correct in so far as we can identify ourselves with this unity.

Hãy để tôi nói thêm rằng thái độ của các bạn đối với sự hướng dẫn được truyền đạt nên là thái độ của người đạo sinh đang tìm kiếm chân lý có thể được xác minh và thông tin có thể được áp dụng vào cuộc sống hàng ngày và được thử nghiệm trong lò luyện của kinh nghiệm sống. Ví dụ, nếu thực sự có bảy cung, thể hiện bảy loại năng lượng thiêng liêng, thì một người nên có thể nhận ra các loại và năng lượng này trong lĩnh vực hiện tượng cụ thể mà y đóng vai trò nhỏ bé của mình. Nếu chân lý được đưa ra bị che khuất trong biểu tượng và được đưa ra như một giả thuyết, thì đồng thời nó cũng nên được vén màn đủ để có thể nhận ra được, và nên có trong đó đủ sức hấp dẫn thông minh để bảo đảm cho việc nghiên cứu nó. Tôi tin rằng, những từ “Tất cả các linh hồn đều là một với Đại Hồn” có thể và thực sự thể hiện một mẫu thông tin cơ bản và thiết yếu, nhưng trừ khi có bằng chứng trên thế giới rằng đang xuất hiện một mối quan hệ sống động giữa tất cả các chúng sinh, thì tuyên bố đó là vô nghĩa. Nhưng thực tế là sự tri giác phổ quát và một sự nhận thức chung được thừa nhận ở khắp mọi nơi là tồn tại và đang phát triển. Thế giới đầy rẫy kiến thức, mà trong phân tích cuối cùng là phản ứng tri giác đối với các điều kiện đang tồn tại, bởi các tâm trí đang phát triển nhưng chưa phát triển đầy đủ. Điều dần trở nên rõ ràng là bên dưới sự đa dạng có một sự thống nhất cơ bản, và rằng nhận thức của chúng ta là đúng và thật và chính xác chừng nào chúng ta có thể đồng hóa mình với sự thống nhất này.

In closing, may I beg all of you to go forward. Let nothing in the past—physical inertia, mental depression, lack of emotional control—keep you from taking fresh hold and with joy and interest making that needed progress which will fit you for more active and useful service. That none of you may be hindered by the past or by the present, but may live as Onlookers, is the prayer, constant and believing, of your teacher.

Để kết thúc, tôi có thể cầu xin tất cả các bạn hãy tiến về phía trước. Đừng để bất cứ điều gì trong quá khứ—sự trì trệ về thể xác, sự trầm cảm về tinh thần, sự thiếu kiểm soát cảm xúc—ngăn cản các bạn nắm lấy một cách mới mẻ và với niềm vui cùng sự quan tâm tạo ra sự tiến bộ cần thiết đó, điều sẽ trang bị cho các bạn cho sự phụng sự tích cực và hữu ích hơn. Rằng không ai trong các bạn bị cản trở bởi quá khứ hay bởi hiện tại, mà có thể sống như những Người Quan Sát, là lời cầu nguyện, liên tục và tin tưởng, của huấn sư các bạn.

THE TIBETAN.

CHÂN SƯ TÂY TẠNG.

SECTION 1 – CHAPTER I … Introductory Remarks

1. The Three Objectives in Studying the RaysBa Mục Tiêu trong Việc Nghiên Cứu Các Cung

[3]

[3]

The study of the rays, and a true and deep comprehension of the inner significance of the teaching, will do for us three things:

Việc nghiên cứu các cung, và một sự thấu hiểu thực sự và sâu sắc về ý nghĩa bên trong của giáo lý, sẽ làm cho chúng ta ba điều:

A. It will throw much light upon the times and cycles in the unfolding panorama of history. In the last analysis, history is an account of the growth and development of man from the stage of the cave man, with his consciousness centred in his animal life, up to the present time wherein the human consciousness is steadily becoming more inclusive and mental, and so on and up to the stage of a perfected son of God. It is an account of the apprehension, by man, of the creative ideas which have moulded the race and are establishing its destiny. It gives us a dramatic picture of the progress of those souls who are carried in or out of manifestation by the appearance or disappearance of a ray. We shall find, as we study, that words will greatly handicap our expression of the realities involved, and we must endeavour to penetrate beneath the surface meaning to the esoteric structure of truth. These rays are in constant movement and circulation, and demonstrate an activity which is progressive and cyclic and evidences increasing momentum. They are dominant at one time and [4] quiescent at another, and according to the particular ray which is making its presence felt at any particular time, so will be the quality of the civilisation, the type of forms which will make their appearance in the kingdoms of nature, and the consequent stage of awareness (the state of consciousness) of the human beings who are carried into form life in that particular era. These embodied lives (again in all four kingdoms) will be responsive to the peculiar vibration, quality, colouring and nature of the ray in question. The ray in manifestation will affect potently the three bodies which constitute the personality of man, and the influence of the ray will produce changes in the mind content and the emotional nature of the man and determine the calibre of the physical body.

A. Nó sẽ soi rọi nhiều ánh sáng lên các thời đại và các chu kỳ trong bức tranh toàn cảnh đang khai mở của lịch sử. Xét đến cùng, lịch sử là tường thuật về sự tăng trưởng và phát triển của con người từ giai đoạn người sống trong hang động, với tâm thức của y tập trung trong sự sống động vật của mình, cho đến thời hiện đại khi tâm thức nhân loại ngày càng trở nên bao gồm hơn và trí tuệ hơn, và cứ thế tiến lên tới giai đoạn của một Con của Thượng đế đã được hoàn thiện. Đó là tường thuật về sự lĩnh hội của con người về các ý tưởng sáng tạo đã tạo khuôn cho nhân loại và đang thiết lập vận mệnh của nhân loại. Nó cho chúng ta một bức tranh đầy kịch tính về sự tiến bộ của những linh hồn được cuốn vào hoặc rút khỏi biểu lộ bởi sự xuất hiện hoặc biến mất của một cung. Khi nghiên cứu, chúng ta sẽ thấy rằng ngôn từ sẽ gây nhiều hạn chế cho việc diễn đạt các thực tại liên quan, và chúng ta phải cố gắng xuyên thấu bên dưới ý nghĩa bề mặt để tiếp cận cấu trúc huyền môn của chân lý. Các cung này luôn luôn chuyển động và lưu hành, và biểu lộ một hoạt động có tính tiến hoá và chu kỳ, đồng thời cho thấy một xung lực ngày càng tăng. Chúng thống trị vào một thời điểm và [4] yên lặng vào thời điểm khác, và tùy theo cung đặc thù đang làm cho sự hiện hữu của nó được cảm nhận vào bất kỳ thời đại nào, phẩm tính của nền văn minh, kiểu loại các hình tướng sẽ xuất hiện trong các giới của thiên nhiên, và giai đoạn nhận biết tương ứng (tức trạng thái tâm thức) của các con người được cuốn vào sự sống trong hình tướng trong thời đại đó, sẽ được định đoạt. Những sự sống đang nhập thể này (một lần nữa, trong cả bốn giới) sẽ đáp ứng với rung động, phẩm tính, sắc thái và bản chất đặc trưng của cung đang được đề cập. Cung đang biểu lộ sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến ba thể cấu thành phàm ngã của con người, và ảnh hưởng của cung sẽ tạo ra những thay đổi trong nội dung trí tuệ và bản chất cảm dục của con người, đồng thời quyết định tầm vóc của thể xác.

I am aware, therefore, that in giving out this relatively new teaching upon the rays I may, in my endeavour to shed fresh light, temporarily increase the complexity of the subject. But as experiment is made, as people are studied in the laboratories of the psychologists and the psychoanalysts in connection with their ray indications, and as the newer sciences come into wise use and their proper sphere, we shall gain much and the teaching will find corroboration. We shall see emerging a new approach to the ancient truths, and a new mode of investigating humanity. In the meantime let us concentrate upon the clear enunciation of the truth anent the rays, and seek to tabulate, outline and indicate their nature, purpose and effects.

Do đó, tôi nhận thức được rằng khi đưa ra giáo lý tương đối mới này về các cung, tôi có thể, trong nỗ lực làm sáng tỏ thêm, tạm thời làm tăng tính phức tạp của chủ đề. Nhưng khi thử nghiệm được thực hiện, khi con người được nghiên cứu trong các phòng thí nghiệm của các nhà tâm lý học và các nhà phân tâm học liên quan đến các chỉ báo cung của họ, và khi các ngành khoa học mới hơn được đưa vào sử dụng khôn ngoan và đúng lĩnh vực của chúng, chúng ta sẽ thu được nhiều điều và giáo lý sẽ tìm thấy sự chứng thực. Chúng ta sẽ thấy xuất hiện một cách tiếp cận mới đối với các chân lý cổ xưa, và một phương thức mới để nghiên cứu nhân loại. Trong khi chờ đợi, chúng ta hãy tập trung vào sự phát biểu rõ ràng về chân lý liên quan đến các cung, và tìm cách lập bảng, phác thảo và chỉ ra bản chất, mục đích và tác dụng của chúng.

The seven rays, being cyclic in appearance, have continuously passed in and out of manifestation and have thus left their mark down the ages upon mankind, and therefore hold the clue to any true historical survey. Such a survey still remains to be made.

Bảy cung, có tính chu kỳ trong sự xuất hiện, đã liên tục đi vào và đi ra khỏi biểu hiện, và do đó đã để lại dấu ấn của chúng qua các thời đại lên nhân loại, và vì vậy nắm giữ manh mối cho bất kỳ cuộc khảo sát lịch sử thực sự nào. Một cuộc khảo sát như vậy vẫn còn phải được thực hiện.

B. A second result of the study of the rays will be to clarify our knowledge as to the nature of man. Modern psychology, experimental and academic, has done much to gather [5] information as to how a man functions, what is the nature of his reactions, the calibre of his thought apparatus and the quality of his physical mechanism, the mode of his thinking and the sum total of complexes, psychoses, neuroses, instincts, intuitions and intellectual fixations which he undoubtedly is. Medical psychology has also given us much, and we have learnt that the human being is entirely conditioned by his instrument of expression and can express no more than his nervous system, brain and glands permit. We find, however, that some of the theories, even the best proven, break down, given varying conditions. The field covered by psychology today is so vast, its schools so many and varied, and its terminology so cumbersome, that I can make no attempt to deal with it here.

B. Kết quả thứ hai của việc nghiên cứu các cung sẽ là làm rõ kiến thức của chúng ta về bản chất của con người. Tâm lý học hiện đại, thực nghiệm và hàn lâm, đã làm nhiều điều để thu thập [5] thông tin về cách một người hoạt động, bản chất các phản ứng của y là gì, tầm cỡ của bộ máy tư tưởng và phẩm chất của cơ chế vật lý của y, phương thức suy nghĩ của y và tổng thể các phức cảm, loạn thần, loạn tâm, bản năng, trực giác và các cố chấp trí tuệ mà y chắc chắn là như vậy. Tâm lý học y khoa cũng đã cho chúng ta nhiều điều, và chúng ta đã biết rằng con người hoàn toàn bị quy định bởi công cụ biểu hiện của mình và không thể biểu hiện nhiều hơn những gì hệ thần kinh, bộ não và các tuyến của y cho phép. Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng một số lý thuyết, ngay cả những lý thuyết được chứng minh tốt nhất, cũng bị phá vỡ, trong những điều kiện khác nhau. Lĩnh vực được bao phủ bởi tâm lý học ngày nay quá rộng lớn, các trường phái của nó quá nhiều và đa dạng, và thuật ngữ của nó quá cồng kềnh, đến nỗi tôi không thể cố gắng đề cập đến nó ở đây.

The indebtedness of the world to the trained psychologists cannot be estimated, but unless there is a key idea interjected into the whole field of thought, it will fall of its own weight, and produce (as it is already producing) problems, complexes and diseases of the mind which are direct results of its own methods. The knowledge we now have of how men work on the physical plane as integrated personalities, and of how they can be expected to work, given certain conditions, is broad and sound, and the wideness of its grasp can be somewhat gauged if we compare what we know today with what was known a hundred and fifty years ago. But it has been largely based upon a study of the abnormal, and upon the form aspect (this latter being the true scientific method), and is therefore limited and circumscribed when it is put to the test in the last analysis and in the light of the undoubtedly existent supernormal. What I seek to do, and the contribution I seek to make to the subject, have to do with the emphasis we shall lay upon the nature of the integrating principle found within all coherent forms and on that which can (for lack of [6] a better word) be called the soul or self. This principle, which informs the body nature and expresses its reactions through the emotional and mental states, is of course recognised by many schools of psychology, but remains nevertheless an unknown and undefinable quantity. They find it impossible to discover its origin; they know not what it is, whether or no it is an informing entity, detached and separate from the body nature; they question whether it is an integrated energetic sum total brought into existence through the fusion of the body cells, and therefore, through the process of evolution, constituting a thinking, feeling entity; or whether it is no more than the aggregated life and consciousness of the cells themselves.

Sự mang ơn của thế giới đối với các nhà tâm lý học được đào tạo là không thể ước tính, nhưng trừ khi có một ý tưởng chủ đạo được đưa vào toàn bộ lĩnh vực tư tưởng, nó sẽ sụp đổ bởi sức nặng của chính nó, và tạo ra (như nó đang tạo ra) các vấn đề, phức cảm và bệnh tật của tâm trí là kết quả trực tiếp của các phương pháp của chính nó. Kiến thức chúng ta hiện có về cách con người làm việc trên cõi hồng trần như những phàm ngã tích hợp, và về cách họ có thể được mong đợi làm việc, trong những điều kiện nhất định, là rộng lớn và đúng đắn, và độ rộng của sự nắm bắt của nó có thể được đo lường phần nào nếu chúng ta so sánh những gì chúng ta biết ngày nay với những gì đã biết cách đây một trăm năm mươi năm. Nhưng phần lớn nó dựa trên nghiên cứu về cái bất thường, và dựa trên phương diện hình tướng (điều này là phương pháp khoa học thực sự), và do đó bị giới hạn và hạn chế khi nó được đưa vào thử nghiệm trong phân tích cuối cùng và dưới ánh sáng của cái siêu thường chắc chắn tồn tại. Những gì tôi tìm cách làm, và sự đóng góp mà tôi tìm cách thực hiện cho chủ đề này, có liên quan đến sự nhấn mạnh mà chúng ta sẽ đặt lên bản chất của nguyên lý tích hợp được tìm thấy trong tất cả các hình tướng gắn kết, và lên cái có thể (do thiếu [6] một từ tốt hơn) được gọi là linh hồn hay bản ngã. Nguyên lý này, cái thấm nhuần bản chất cơ thể và thể hiện các phản ứng của nó qua các trạng thái cảm xúc và trí tuệ, dĩ nhiên được công nhận bởi nhiều trường phái tâm lý học, nhưng dù sao vẫn là một đại lượng chưa biết và không thể định nghĩa. Họ thấy không thể khám phá nguồn gốc của nó; họ không biết nó là gì, liệu nó có phải là một thực thể thấm nhuần, tách biệt và riêng biệt khỏi bản chất cơ thể hay không; họ đặt câu hỏi liệu nó có phải là một tổng thể năng lượng tích hợp được đưa vào sự tồn tại thông qua sự dung hợp của các tế bào cơ thể, và do đó, thông qua quá trình tiến hóa, cấu thành một thực thể suy nghĩ, cảm nhận; hay liệu nó không hơn gì sự sống và tâm thức tập hợp của chính các tế bào.

The above is a generalisation which will serve our purpose and will cover the general proposition. It will appear, as we study, that the energies which inform the personalities and which constitute the nature of the human being fall naturally into three groups:

Những điều trên là một sự khái quát sẽ đáp ứng mục đích của chúng ta và bao quát được luận đề tổng quát. Khi nghiên cứu, sẽ hiển lộ rằng các năng lượng thấm nhuần phàm ngã và cấu thành bản chất của con người tự nhiên rơi vào ba nhóm:

1. Those energies which we call “the spirits in men.” You note here the utter superficiality of that phrase. It is meaningless and misleading. Spirit is One, but within that essential unity the “points of fire” or “the divine sparks” can be seen and noted. These unities, within the unity, are coloured by and react qualitatively to, three types of energy, for it is scientifically true, and a spiritual fact in nature, that God is the Three in One and the One in Three. The spirit of man came into incarnation along a line of force emanation from one or other of these three streams, which form one stream, emanating from the Most High.

1. Những năng lượng mà chúng ta gọi là “các tinh thần trong con người.” Bạn lưu ý ở đây sự hời hợt hoàn toàn của cụm từ đó. Nó vô nghĩa và gây hiểu lầm. Tinh thần là Một, nhưng trong sự thống nhất thiết yếu đó, các “điểm lửa” hay “các tia lửa thiêng liêng” có thể được nhìn thấy và ghi nhận. Những sự đơn nhất này, trong sự thống nhất, được tô màu bởi và phản ứng một cách định tính với ba loại năng lượng, vì đây là một sự thật khoa học và là một sự thật tinh thần trong thiên nhiên: Thượng đế là Ba trong Một và Một trong Ba. Tinh thần của con người đã đi vào lâm phàm theo một tuyến phát xạ mãnh lực từ một trong ba dòng chảy ấy—những dòng vốn hợp thành một dòng duy nhất, xuất lộ từ Đấng Tối Cao.

2. These streams of energy differentiate into a major three, yet remain one stream. This is an occult fact worthy of [7] the deepest meditation. In their turn they differentiate into seven streams which “carry into the light,” as it is called, the seven types of souls. It is with these seven that we shall deal.

2. Các dòng năng lượng này phân hóa thành ba dòng chính, nhưng vẫn là một dòng. Đây là một sự thật huyền bí xứng đáng để [7] tham thiền sâu sắc nhất. Đến lượt mình, chúng phân hóa thành bảy dòng, “mang vào ánh sáng,” như nó được gọi, bảy loại linh hồn. Chính với bảy loại này mà chúng ta sẽ đề cập đến.

3. The energies into which the three distribute themselves, thus becoming seven, in their turn produce the forty-nine types of force which express themselves through all the forms in the three worlds and the four kingdoms in nature. You have therefore:

3. Các năng lượng mà ba dòng phân phối vào, do đó trở thành bảy, đến lượt mình tạo ra bốn mươi chín loại lực thể hiện qua tất cả các hình tướng trong ba cõi và bốn giới trong tự nhiên. Do đó, bạn có:

a. Three monadic groups of energies. The essential Unity expresses, through these three, the qualities of Will, Love and Intelligence.

a. Ba nhóm năng lượng chân thần. Sự Thống Nhất thiết yếu thể hiện, thông qua ba nhóm này, các phẩm chất của Ý Chí, Tình Thương và Trí Tuệ.

b. Seven groups of energies which are the medium through which the three major groups express the divine qualities.

b. Bảy nhóm năng lượng là phương tiện qua đó ba nhóm chính thể hiện các phẩm chất thiêng liêng.

c. Forty-nine groups of forces to which all forms respond and which constitute the body of expression for the seven, who in their turn are reflections of the three divine qualities.

c. Bốn mươi chín nhóm lực mà mọi hình tướng đáp ứng và cấu thành thể biểu hiện cho bảy nhóm, những nhóm này đến lượt mình là phản chiếu của ba phẩm chất thiêng liêng.

In some mysterious ways, therefore, the differentiations which manifest in nature are found in the realm of quality and not in the realm of reality.

Vì vậy, theo một số cách bí ẩn, các sự phân hóa biểu hiện trong tự nhiên được tìm thấy trong lĩnh vực của phẩm chất và không phải trong lĩnh vực của thực tại.

It is with the seven groups of souls (or soul energies) that we shall deal, and with the threefold forms in the fourth kingdom of nature which they create, and through which they have to express the quality of their ray group and the energy of that one of the three essential groups to which their soul ray is related. We shall therefore, if possible, endeavour to add to modern psychology and enrich its content with that esoteric psychology which deals with the soul or self, the ensouling entity within the form. [8]

Chúng ta sẽ làm việc với bảy nhóm linh hồn (hoặc các năng lượng linh hồn) và với các hình tướng tam phân trong giới thứ tư của thiên nhiên mà chúng tạo ra, và qua đó chúng phải biểu lộ phẩm chất của nhóm cung của chúng và năng lượng của một trong ba nhóm cốt yếu mà cung linh hồn của chúng liên hệ. Do đó, chúng ta sẽ cố gắng, nếu có thể, đóng góp thêm vào tâm lý học hiện đại và làm phong phú nội dung của nó bằng tâm lý học huyền bí, vốn bàn về linh hồn hay tự ngã, thực thể phú linh đang ngự trong hình tướng. [8]

C. The third effect of the study of these rays should be twofold. Not only shall we understand somewhat the inner side of history, not only shall we gain an idea of the divine qualities emerging from the three aspects and determining the forms of expression on the physical plane, but we shall have a practical method of analysis whereby we can arrive at a right understanding of ourselves as ensouling entities, and at a wiser comprehension of our fellowmen. When, through our study, we ascertain for instance that the tendency of our soul ray is that of will or power, but that the ray governing the personality is that of devotion, we can more truly gauge our opportunity, our capacities and our limitations; we can more justly determine our vocation and service, our assets and our debits, our true value and strength. When we can add to that knowledge an analysis which enables us to realise that the physical body is reacting preeminently to the soul ray, whilst the emotional body is under the influence of the personality ray which is historically in manifestation at the time, we are then in a position to gauge our particular problem with judgment. We can then deal more intelligently with ourselves, with our children and with our friends and associates. We shall find ourselves able to cooperate more wisely with the Plan as it is seeking expression at any particular time.

C. Tác động thứ ba của việc nghiên cứu các cung nên mang tính lưỡng phân. Không những chúng ta sẽ phần nào hiểu được mặt bên trong của lịch sử, không những chúng ta sẽ có một ý tưởng về các phẩm tính thiêng liêng đang xuất lộ từ ba phương diện và quyết định các hình thức biểu lộ trên cõi hồng trần, mà chúng ta còn có được một phương pháp phân tích thực tiễn nhờ đó chúng ta có thể đạt đến sự thấu hiểu đúng đắn về chính mình như những thực thể phú linh, và đạt đến một sự thấu hiểu minh triết hơn về đồng loại. Khi qua việc nghiên cứu, chúng ta xác định được, chẳng hạn, rằng khuynh hướng của cung linh hồn của mình là ý chí hay quyền năng, nhưng cung cai quản phàm ngã lại là cung sùng tín, chúng ta có thể lượng giá đúng hơn cơ hội, các năng lực và những giới hạn của mình; chúng ta có thể xác định công việc và phụng sự của mình, các sở trường và sở đoản, giá trị và sức mạnh chân thực của mình một cách công bằng hơn. Khi chúng ta có thể bổ sung vào hiểu biết ấy một phân tích cho phép chúng ta chứng nghiệm rằng thể xác đang phản ứng nổi bật với cung linh hồn, trong khi thể cảm dục lại chịu ảnh hưởng của cung phàm ngã vốn đang biểu lộ theo chu kỳ của nó vào thời điểm ấy, chúng ta sẽ ở trong vị thế có thể lượng định vấn đề riêng của mình một cách sáng suốt. Lúc ấy, chúng ta có thể cư xử với chính mình, với con cái và với bạn bè, cộng sự một cách thông tuệ hơn. Chúng ta sẽ thấy mình có khả năng hợp tác một cách minh triết hơn với Thiên Cơ khi nó tìm cách biểu lộ vào bất kỳ thời điểm nào.

It is a platitude to say that the true meaning of “psychology” is the “word of the soul.” It is the sound, producing an effect in matter, which a particular ray may make. This is in some ways a difficult way of expressing it, but if it is realised that each of the seven rays emits its own sound, and in so doing sets in motion those forces which must work in unison with it, the entire question of man’s free will, of his eternal destiny and of his power to be self-assertive comes up for solution. These questions we shall seek to answer as we proceed.

Thật là sáo rỗng khi nói rằng ý nghĩa thực sự của “tâm lý học” là “lời của linh hồn.” Đó là âm thanh—tạo ra một tác động trong vật chất—mà một cung đặc thù có thể phát ra. Đây, theo một vài cách, là một lối diễn đạt khó, nhưng nếu người ta nhận ra rằng mỗi trong bảy cung phát xạ âm thanh riêng của nó, và khi làm như vậy, nó khởi động những mãnh lực phải vận hành hòa điệu với nó, thì toàn bộ vấn đề về ý chí tự do của con người, về định mệnh vĩnh cửu của y và về quyền năng tự khẳng định của y sẽ được đặt ra để tìm lời giải. Chúng ta sẽ tìm cách trả lời những câu hỏi này khi tiếp tục tiến trình nghiên cứu.

[9]

[9]

Some of the points which I may seek to make clear will not be capable of substantiation and cannot be proved by you. These it would be wise to accept as working hypotheses, in order to understand that whereof I seek to speak. Some of the points I may make you may find yourself capable of checking up in your own life experience, and they will call forth from you a recognition coming from your concrete mind; or they may produce in you a reaction of the intensest conviction, emanating from your intuitively aware Self. In any case, read slowly; apply the laws of analogy and of correspondence; study yourself and your brethren; seek to link what I say to any knowledge you may possess of the modern theories, and remember that the more truly you live as a soul the more surely you will comprehend that which may be imparted.

Một vài điểm mà tôi có thể tìm cách làm sáng tỏ sẽ không thể được chứng minh và các bạn cũng không thể kiểm chứng. Sẽ là điều khôn ngoan nếu chấp nhận chúng như những giả thuyết làm việc, để có thể hiểu điều mà tôi đang cố gắng trình bày. Một vài điểm tôi nêu ra, các bạn có thể thấy mình có khả năng kiểm nghiệm từ chính kinh nghiệm sống của mình, và chúng sẽ gợi lên nơi các bạn một sự nhận biết xuất phát từ trí cụ thể; hoặc chúng có thể tạo nơi các bạn một phản ứng của sự xác tín mãnh liệt nhất, phát xuất từ Bản Ngã có trực giác tỉnh thức của các bạn. Dù trong trường hợp nào, hãy đọc chậm rãi; hãy áp dụng các định luật tương đồng và tương ứng; hãy nghiên cứu chính mình và các huynh đệ; hãy cố gắng nối kết những điều tôi nói với bất kỳ hiểu biết nào mà các bạn có về các học thuyết hiện đại, và hãy ghi nhớ rằng các bạn càng thực sự sống như một linh hồn bao nhiêu thì các bạn càng chắc chắn thấu hiểu điều có thể được truyền đạt bấy nhiêu.

As you study you must not forget the basic concept that in all occult work one is occupied with energy—energy units, energy embodied in forms, energy streams in flow; and that these energies are made potent and embody our purpose through the use of thought; they follow along the well-defined thought currents of the group.

Khi các bạn nghiên cứu, các bạn không được quên khái niệm cơ bản rằng trong mọi công việc huyền bí, người ta bận rộn với năng lượng—các đơn vị năng lượng, năng lượng được hiện thân trong các hình tướng, các dòng năng lượng đang tuôn chảy; và rằng các năng lượng này được làm cho mạnh mẽ và thể hiện mục đích của chúng ta thông qua việc sử dụng tư tưởng; chúng đi theo các dòng tư tưởng được xác định rõ ràng của nhóm.

It must be remembered, however, that it is in this region of thought that the cleavage comes between black and white magic. It is in the use of thought power that the two aspects of magic can be seen functioning, and therefore it is true that there is no black magic, per se, until one reaches the realm of mind. No one can be a black magician until the will and the thought work in unison, until mind control and the creative work of the focussed mind can be seen. It has oft been said the black magician is rare, indeed, and that is verily true, because the creative thinker, with power to use the sustained will, is also rare.

Tuy nhiên, cần ghi nhớ rằng chính ở vùng tư tưởng này mà sự phân tách giữa hắc thuật và chánh thuật xuất hiện. Chính trong việc sử dụng quyền năng của tư tưởng mà hai phương diện của huyền thuật có thể được thấy đang vận hành; và do đó, đúng là không có hắc thuật, xét chính nó, cho đến khi con người đạt đến cõi trí. Không ai có thể là một huyền thuật gia hắc đạo cho đến khi ý chí và tư tưởng vận hành hòa điệu, cho đến khi có thể thấy được sự kiểm soát thể trí và công việc sáng tạo của thể trí được tập trung nhất tâm. Người ta thường nói rằng nhà hắc thuật thật hiếm hoi, và điều đó thực sự đúng, vì nhà tư tưởng sáng tạo có quyền năng sử dụng ý chí bền bỉ cũng hiếm hoi không kém.

Let me illustrate. There is need for clear thinking on these matters, for as we study the psychology of the microcosm [10] and arrive at an understanding of his ray impulses and energies we shall need to see clearly the way we go so that we shall tread the path of selflessness, leading to group awareness, and not the path of individualism, leading eventually and inevitably (as the mind aspect becomes organised) to the left hand path of black magic.

Hãy để tôi minh họa. Cần có sự tư duy rõ ràng về các vấn đề này, vì khi chúng ta nghiên cứu tâm lý học của tiểu thiên địa [10] và đi đến sự thấu hiểu về các xung lực và năng lượng cung của y, chúng ta sẽ cần phải thấy rõ ràng con đường chúng ta đi để chúng ta sẽ bước trên con đường của sự vô ngã, dẫn đến tâm thức nhóm, chứ không phải con đường của chủ nghĩa cá nhân, dẫn đến cuối cùng và chắc chắn (khi phương diện trí tuệ trở nên có tổ chức) đến tả đạo của hắc thuật.

Those strong souls who consciously and knowingly enter into the realms of spiritual force and take thence that which they need and that which they choose, must work with intelligence, so that there may be a subsequent wise distribution of force within a chosen area. Those who know themselves to be in the rank and file of aspirants, but who possess the persistence which will drive them forward to the goal, need to remember that theirs is the responsibility of adding their quota to the sum total, and that this is done every time they think of the group, correspond with a fellow aspirant or meditate.

Những linh hồn mạnh mẽ, những người một cách có ý thức và hiểu biết bước vào các cõi của mãnh lực tinh thần và từ đó lấy những gì họ cần và những gì họ chọn, phải làm việc với trí tuệ, để rồi có thể phân phối một cách minh triết mãnh lực ấy trong một khu vực đã được chọn. Những người biết mình thuộc hàng ngũ của các người chí nguyện, nhưng có sự bền chí sẽ thúc đẩy họ tiến về mục tiêu, cần ghi nhớ rằng trách nhiệm của họ là đóng góp phần của mình vào tổng số chung, và điều này được thực hiện mỗi khi họ nghĩ về nhóm, thư từ với một người chí nguyện đồng môn, hoặc tham thiền.

Extend the idea, then, from the student in a group to the group itself, regarding it as a group unit within a larger group. You have there a perfect analogy to the way the Great Ones work at this time. Regard, therefore, all your work as group work, causing effects which are inevitable and contributing to the potency of the group thought form.

Khi đó, hãy mở rộng ý tưởng từ đạo sinh trong một nhóm đến chính nhóm đó, coi nó như một đơn vị nhóm trong một nhóm lớn hơn. Bạn có ở đó một sự tương đồng hoàn hảo với cách Các Đấng Cao Cả làm việc vào lúc này. Do đó, hãy coi tất cả công việc của bạn là công việc nhóm, gây ra những hiệu ứng là tất yếu và đóng góp vào tiềm năng của hình tư tưởng nhóm.

The second thing upon which I seek to touch concerns the testing going on inevitably among the aspirants and disciples at this time. This is not so much a testing of their place upon the Path, as of their power to live in the world as citizens of another kingdom, and as the custodians of that which the world as a rule does not recognise. In so far as that testing is applied, and in so far as it can be gauged, I seek to point out that the testing is not applied, as some think, because of their affiliation with any group or because of their one-pointed determination to tread the Path. It is applied because the aspirants” own souls so ordained it, prior to incarnation, and it [11] was the will of their souls that a certain measure of growth, hitherto unknown, should be attained, a certain degree of detachment from form should be achieved, and a certain preparation should be undergone which would lead to a liberation from the form life. The idea that a renewed effort towards the goal of spiritual light is the cause of trouble or precipitates disaster is not a statement of fact. The extent of the discipline to be undergone by a disciple is settled and known by his soul before he even takes a body; it is determined by law.

Điều thứ hai mà tôi muốn đề cập liên quan đến sự thử thách đang diễn ra một cách tất yếu nơi các người chí nguyện và các đệ tử vào thời điểm này. Đây không phải là sự thử thách về vị trí của họ trên Con Đường, mà là về khả năng của họ sống trong thế gian như những công dân của một vương quốc khác, và như những người gìn giữ điều mà thế gian nhìn chung không nhận biết. Trong phạm vi sự thử thách ấy được áp dụng, và trong phạm vi nó có thể được lượng định, tôi muốn chỉ ra rằng sự thử thách không được áp đặt, như một số người nghĩ, vì sự liên kết của họ với bất kỳ nhóm nào hoặc vì quyết tâm nhất tâm của họ để bước đi trên Thánh đạo. Nó được áp dụng vì chính linh hồn của các người chí nguyện đã an bài như vậy trước khi lâm phàm, và [11] chính là ý chí của linh hồn họ rằng một mức độ tăng trưởng nào đó—cho đến nay chưa từng biết đến—phải được đạt tới, một mức độ ly cách khỏi hình tướng phải được thực hiện, và một sự chuẩn bị nào đó phải được kinh qua để dẫn đến sự giải thoát khỏi đời sống hình tướng. Quan niệm cho rằng một nỗ lực mới hướng đến mục tiêu của ánh sáng tinh thần là nguyên nhân của khó khăn hoặc là điều khiến tai họa ngưng tụ xuống không phải là một phát biểu đúng sự thật. Mức độ kỷ luật mà một đệ tử phải trải qua được linh hồn y ấn định và biết trước ngay cả trước khi y khoác lấy một thể xác; nó được xác lập bởi định luật.

It is this problem of energy units and their mutual interplay which underlies the entire subject of the rays which we shall seek to investigate. Every group in the world is a nucleus for the focussing and interplay of the seven types of force, just as every human being is also a meeting place for the seven types of energy,—two in the ascendant and five less potent. Every group can consequently be a creative centre and produce that which is an expression of the controlling energies and of the directed thought of the thinkers in the group. From the standpoint of Those Who see and guide, therefore, every group is constructing something that is relatively tangible and governed by certain building laws. The great work of the Builders proceeds steadily. Often that which is built is inchoate, futile and without form or purpose, and of no use to either gods or men. But the race as a whole is now coming into an era wherein the mind is becoming a potent factor; many are learning to hold the mind steady in the light, and consequently are receptive to ideas hitherto unrecognised. If a group of minds can be so drawn together and fused into an adequate synthesis, and if they (in their individual and daily meditation) keep focussed or oriented towards that which can be apprehended, great concepts can be grasped and great ideas intuited. Men can train themselves—as a group—to think these intuited ideas of the true and the beautiful and of the Plan into manifested [12] existence, and thus a creation of beauty, embodying a divine principle, can be built. Ponder on this, seek to fit yourselves for the registering of these ideas, and train yourselves to formulate them into thoughts and to transmit them so that others can apprehend them also. This is the nature of the real work to be done by the new groups, and students today who can grasp this idea have the opportunity to do some of this pioneering work.

Chính vấn đề về các đơn vị năng lượng và sự tương tác qua lại của chúng là điều nằm bên dưới toàn bộ chủ đề về các cung mà chúng ta sẽ tìm cách khảo sát. Mỗi nhóm trên thế giới là một hạt nhân để tập trung và tương tác bảy loại mãnh lực, cũng như mỗi con người cũng là một nơi hội tụ của bảy loại năng lượng—hai loại trội hơn và năm loại kém mạnh hơn. Do đó, mỗi nhóm đều có thể là một trung tâm sáng tạo và có thể sản sinh ra điều gì đó biểu lộ các năng lượng kiểm soát và tư tưởng được hướng dẫn của những người tư duy trong nhóm. Vì vậy, từ quan điểm của Các Ngài—những Đấng nhìn thấy và dẫn dắt—mỗi nhóm đang kiến tạo một điều gì đó tương đối hữu hình và được quy định bởi những định luật kiến tạo nhất định. Công việc vĩ đại của các Đấng Kiến Tạo vẫn tiếp diễn đều đặn. Thường thì điều được kiến tạo còn rời rạc, vô ích và không có hình tướng hay mục đích, và chẳng mang lại ích lợi gì cho cả chư thần lẫn con người. Nhưng nhân loại như một toàn thể hiện đang bước vào một thời kỳ mà thể trí đang trở thành một yếu tố có uy lực; nhiều người đang học cách giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng và do đó trở nên tiếp nhận được những ý tưởng trước nay chưa từng được nhận biết. Nếu một nhóm các thể trí có thể được quy tụ với nhau và dung hợp thành một sự tổng hợp đầy đủ, và nếu họ (trong sự tham thiền cá nhân và hằng ngày) giữ cho mình được tập trung nhất tâm hay được định hướng vào điều có thể được lĩnh hội, thì các khái niệm lớn lao có thể được nắm bắt và các ý tưởng vĩ đại có thể được trực nhận. Con người có thể tự rèn luyện mình—như một nhóm—để tư duy những ý tưởng được trực nhận ấy về điều chân thật và điều đẹp đẽ và về Thiên Cơ thành sự biểu lộ [12], và như vậy có thể được kiến tạo một sáng tạo của vẻ đẹp, thấm nhuần một nguyên lý thiêng liêng. Hãy suy ngẫm về điều này, hãy tìm cách chuẩn bị cho chính mình để ghi nhận những ý tưởng này, và hãy rèn luyện bản thân để hình thành chúng thành tư tưởng và truyền đạt chúng để những người khác cũng có thể lĩnh hội. Đây là bản chất của công việc chân thực cần được thực hiện bởi các nhóm mới, và những đạo sinh ngày nay có thể nắm bắt được ý tưởng này thì có cơ hội thực hiện một phần công tác tiên phong ấy.

Always the individual of advancement and of poise has been able to do this intuiting, and to concretise the idea. Groups of students meditating synchronously should now attempt to do the same. The effort to synchronise effort does not relate so much to the time element as to unity of intent and of purpose.

Luôn luôn, cá nhân nào có tiến bộ và có sự quân bình đều có thể thực hiện việc trực giác này và kết tinh ý tưởng thành hình tướng. Giờ đây, các nhóm đạo sinh tham thiền đồng bộ nên cố gắng làm điều tương tự. Nỗ lực đồng bộ hóa công việc không liên quan nhiều đến yếu tố thời gian cho bằng sự hợp nhất về ý định và mục tiêu.

There is to be found today in the realm of the intuition much of wonder; this can be contacted. It is now the privilege of the race to contact that “raincloud of knowable things” to which the ancient seer Patanjali refers in his fourth book; the race, through its many aspirants, can today precipitate this “raincloud” so that the brains of men everywhere can register the contact. Hitherto this has been the privilege of the illumined and rare seer. In this way the New Age will be ushered in and the new knowledge will enter into the minds of humanity.

Ngày nay trong lĩnh vực của trực giác có thể tìm thấy nhiều điều kỳ diệu; điều này có thể được tiếp xúc. Giờ đây là đặc quyền của nhân loại để tiếp xúc với “đám mây mưa của những điều khả tri” mà nhà tiên kiến cổ xưa Patanjali đề cập đến trong quyển sách thứ tư của ông; nhân loại, thông qua nhiều người chí nguyện của nó, ngày nay có thể làm ngưng tụ “đám mây mưa” này để bộ não của con người ở khắp mọi nơi có thể ghi nhận sự tiếp xúc. Cho đến nay đây là đặc quyền của nhà tiên kiến được soi sáng và hiếm hoi. Theo cách này, Thời Đại Mới sẽ được khai mở và kiến thức mới sẽ đi vào tâm trí của nhân loại.

This can be practically demonstrated if those who are interested in this Treatise on the Seven Rays can attune themselves to think clearly, and with a poised and illumined mind seek to understand what is relatively a new aspect of truth.

Điều này có thể được chứng minh một cách thực tiễn nếu những người quan tâm đến Luận về Bảy Cung này có thể hòa hợp bản thân để suy nghĩ rõ ràng, và với một tâm trí quân bình, được soi sáng, tìm cách thấu hiểu cái tương đối là một phương diện mới của chân lý.

In undertaking to reveal something anent the nature of the seven rays, I feel it necessary to remind all of you who take up this study that any speculation as to the emanating source of the rays must remain profitless until there is developed within each student that apparatus of response and that sensitive mechanism which will enable him to register a wider field of contacts than is at present possible. Many are as yet in [13] the initial stage of registering an awareness of a field of expression which they know exists—the field of soul awareness—but which is not yet for them their normal field of expression. Many know a great deal about it, theoretically, but the practical effects of applied knowledge are not yet theirs. Many are conscious of consciousness, and are aware of the kingdom of the soul and of an occasional reaction to impression from that kingdom, but they are not yet consciousness itself, nor so identified with the soul that consciousness of all else drops away. To achieve that is their aim and objective.

Khi đảm nhận việc tiết lộ đôi điều về bản chất của bảy cung, tôi cảm thấy cần thiết phải nhắc nhở tất cả các bạn, những người bắt đầu nghiên cứu này, rằng bất kỳ sự suy đoán nào về nguồn phát xuất của các cung đều sẽ không có lợi cho đến khi bên trong mỗi đạo sinh phát triển bộ máy đáp ứng và cơ chế nhạy cảm sẽ cho phép y ghi nhận một lĩnh vực tiếp xúc rộng hơn mức có thể hiện tại. Nhiều người vẫn còn đang trong [13] giai đoạn ban đầu của việc ghi nhận một nhận thức về một lĩnh vực biểu hiện mà họ biết là tồn tại—lĩnh vực nhận thức linh hồn—nhưng lĩnh vực đó chưa phải là lĩnh vực biểu hiện bình thường đối với họ. Nhiều người biết rất nhiều về nó, về mặt lý thuyết, nhưng những tác dụng thực tiễn của kiến thức ứng dụng vẫn chưa thuộc về họ. Nhiều người có ý thức về tâm thức, và nhận thức được vương quốc của linh hồn và về một phản ứng thỉnh thoảng đối với ấn tượng từ vương quốc đó, nhưng họ chưa phải là chính tâm thức, cũng không đồng nhất với linh hồn đến mức ý thức về tất cả những cái khác rơi rụng đi. Đạt được điều đó là mục đích và mục tiêu của họ.

Let me also remind you that the career of the Monad (an aspect of energy found on one or other of the three major rays) can be roughly divided into three parts, leading to a fourth:

Hãy để tôi cũng nhắc nhở các bạn rằng sự nghiệp của Chân Thần (một phương diện năng lượng được tìm thấy trên cung này hoặc cung khác của ba cung chính) có thể được chia đại khái thành ba phần, dẫn đến phần thứ tư:

1. A lower realisation of a unity which is the unit of the form nature. In this unity, the soul is so closely identified with the matter aspect that it sees no distinction, but is the form, and knows not itself as soul. This often reaches its height in some life of full personality expression, wherein the soul is completely centred in personality reactions; the lower life is so strong and vital that a powerful and material expression eventuates.

1. Một sự chứng nghiệm thấp hơn về sự thống nhất vốn là đơn vị của bản chất hình tướng. Trong sự thống nhất này, linh hồn được đồng nhất chặt chẽ với phương diện vật chất đến nỗi nó không thấy sự phân biệt nào, mà là hình tướng, và không biết chính mình là linh hồn. Điều này thường đạt đến đỉnh cao trong một kiếp sống biểu hiện phàm ngã trọn vẹn, trong đó linh hồn hoàn toàn tập trung vào các phản ứng của phàm ngã; đời sống thấp kém mạnh mẽ và đầy sức sống đến nỗi một biểu hiện đầu uy lực và vật chất diễn ra.

2. A subsequent and painful differentiation of the consciousness into a realised duality. In this condition, the man is distinctly aware of what is termed his essential duality; he knows he is spirit-matter, is form-life, and is the soul in manifestation. During this stage, which covers many lives and carries the man along the path of probation and discipleship as far as the third initiation, the centre of gravity (if I may so express it) shifts steadily out of the form side and centres itself more and more in that of the soul. There is a growing consciousness that there is a [14] Reality which embraces, and at the same time extinguishes, duality.

2. Một sự phân hóa đau đớn sau đó của tâm thức thành một nhị nguyên tính được chứng nghiệm. Trong điều kiện này, con người nhận thức rõ ràng về cái được gọi là nhị nguyên tính thiết yếu của mình; y biết mình là tinh thần-vật chất, là hình tướng-sự sống, và là linh hồn trong biểu hiện. Trong giai đoạn này, kéo dài nhiều kiếp sống và đưa con người đi dọc theo con đường dự bị và địa vị đệ tử xa đến mức lần điểm đạo thứ ba, trọng tâm (nếu tôi có thể diễn đạt như vậy) chuyển dịch đều đặn ra khỏi phía hình tướng và tập trung ngày càng nhiều vào phía của linh hồn. Có một ý thức ngày càng tăng trưởng rằng có một [14] Thực Tại bao trùm, và đồng thời dập tắt, nhị nguyên tính.

Remember that the entire story of evolution is the story of consciousness, and of a growing expansion of the “becoming-aware” principle, so that from the microscopic interest of the self-conscious man—for we shall retain the parable within the confines of the fourth kingdom in nature—we have a slowly developing inclusiveness which finally leads him into the consciousness of the cosmic Christ.

Hãy nhớ rằng toàn bộ câu chuyện về sự tiến hóa là câu chuyện về tâm thức, và về một sự mở rộng ngày càng tăng của nguyên lý “trở nên-nhận biết”, để từ mối quan tâm vi mô của con người tự ý thức—vì chúng ta sẽ giữ câu chuyện ngụ ngôn trong giới hạn của giới thứ tư trong tự nhiên—chúng ta có một tính bao gồm đang phát triển chậm chạp, cuối cùng dẫn y vào tâm thức của Đức Christ vũ trụ.

3. The higher realisation of unity follows upon this sense of duality, and in this final stage the sense of being soul and body is lost. The consciousness identifies itself with the indwelling Life of the planet and of the solar system. When this happens, there is the registering of a state of being which lies beyond word, mind and form expression of any kind.

3. Sự chứng nghiệm cao hơn về sự thống nhất theo sau cảm giác về nhị nguyên tính này, và trong giai đoạn cuối cùng này, cảm giác là linh hồn và cơ thể bị mất đi. Tâm thức đồng nhất chính nó với Sự Sống nội tại của hành tinh và của thái dương hệ. Khi điều này xảy ra, có sự ghi nhận một trạng thái tồn tại nằm ngoài từ ngữ, tâm trí và biểu hiện hình tướng dưới bất kỳ loại nào.

The great Jewish seer sought to convey these three stages in the words, I Am—That—I Am. He thus expressed them tritely and succinctly and adequately, had we but the development to know it. The third (however understood) defies expression, and hints at a fourth type of realisation which is that of Deity itself, about which it profits us not to speculate.

Nhà tiên kiến Do Thái vĩ đại đã tìm cách truyền tải ba giai đoạn này trong các từ, Ta Là—Cái Đó—Ta Là. Ông do đó đã diễn đạt chúng một cách súc tích, ngắn gọn và đầy đủ, nếu chúng ta có sự phát triển để biết điều đó. Giai đoạn thứ ba (dù được hiểu như thế nào) bất chấp sự diễn đạt, và gợi ý về một loại chứng nghiệm thứ tư đó là của chính Thượng đế, về điều mà chúng ta không có lợi gì khi suy đoán.

2. Life-Quality-AppearanceSự Sống-Phẩm Tính-Sắc tướng

In our study of the rays it must therefore be remembered that we are dealing with life-expression, through the medium of matter-form. The highest unity will be cognised only when this dual relation is perfected. The theory of the One Life may be held, but I deal not basically with theory but with that which may be known, provided there is growth and intelligent application of truth. I deal with possibility and with that which is capable of achievement. Many these days like to [15] talk and think in terms of that One Life, but it remains but speech and thought, whilst the true awareness of that essential Unity remains a dream and an imagining. Whenever this reality is put into words duality is emphasised and the spiritual controversy (using the word in its basic meaning and not in its ordinary warlike connotation) is enhanced. Take for example the words: “I believe in the One Life” or “To me, there is but one Reality,” and note how they are in their phraseology an expression of duality. Life cannot be expressed in words nor can its realised perfection. The process of “becoming,” which leads to “being,” is a cosmic event, involving all forms, and no son of God lies separated from that mutable process as yet. As long as he is in form he cannot know what Life is, though, when he has attained certain steps and can function on the higher planes of the system in full awareness, he can begin to glimpse that awful Reality. Certain great initiates, down the ages, have fulfilled their function of revealers, and have held before the eyes of the pioneering disciples of life the ideal of Oneness and of Unity. It has nevertheless been a matter of shifting the focus of attention progressively out of one form into another, and thus, from a higher standpoint getting a fresh glimpse of a possible truth. Each age (and the present is no exception) has believed its grasp of Reality and its sensitivity to the inner Beauty to be greater and nearer the True than was ever previously possible. The highest realisation of what is termed the One Life is the awareness (of the initiate of high degree) of the embodied Logos, of Deity, and his identification with the consciousness of that stupendous Creator Who is seeking expression through the medium of the solar system. No initiate on the planet can identify himself with the consciousness of that Identified Being (in the esoteric sense of the term) Who, speaking in the Bhagavad Gita, says: “Having [16] pervaded the entire universe with a fragment of Myself, I remain.”

Do đó, trong nghiên cứu của chúng ta về các cung, phải nhớ rằng chúng ta đang đề cập đến sự sống-biểu hiện, thông qua trung gian của vật chất-hình tướng. Sự thống nhất cao nhất sẽ chỉ được nhận thức khi mối quan hệ kép này được hoàn thiện. Lý thuyết về Sự Sống Duy Nhất có thể được giữ, nhưng tôi không đề cập cơ bản đến lý thuyết mà đến cái có thể được biết, miễn là có sự tăng trưởng và áp dụng thông minh chân lý. Tôi đề cập đến khả năng và với cái có khả năng đạt được. Nhiều người ngày nay thích [15] nói và nghĩ về Sự Sống Duy Nhất đó, nhưng nó vẫn chỉ là lời nói và suy nghĩ, trong khi nhận thức thực sự về Sự Thống Nhất thiết yếu đó vẫn là một giấc mơ và một sự tưởng tượng. Bất cứ khi nào thực tại này được đưa vào từ ngữ, nhị nguyên tính được nhấn mạnh và cuộc tranh luận tinh thần (sử dụng từ này theo nghĩa cơ bản của nó và không theo nghĩa hiếu chiến thông thường) được tăng cường. Hãy lấy ví dụ những từ: “Tôi tin vào Sự Sống Duy Nhất” hoặc “Đối với tôi, chỉ có một Thực Tại,” và lưu ý cách chúng, trong cách diễn đạt của chúng, là một biểu hiện của nhị nguyên tính. Sự sống không thể được diễn đạt bằng lời cũng như sự hoàn hảo được chứng nghiệm của nó. Quá trình “trở thành,” dẫn đến “hiện hữu,” là một sự kiện vũ trụ, liên quan đến mọi hình tướng, và không có người con nào của Thượng đế nằm tách biệt khỏi quá trình biến đổi đó vào lúc này. Chừng nào y còn ở trong hình tướng, y không thể biết Sự Sống là gì, mặc dù khi y đã đạt được những bước nhất định và có thể hoạt động trên các cõi cao hơn của hệ thống trong nhận thức đầy đủ, y có thể bắt đầu thoáng thấy Thực Tại đáng kinh ngạc đó. Một số điểm đạo đồ vĩ đại, qua các thời đại, đã hoàn thành chức năng là những người tiết lộ, và đã giữ trước mắt các đệ tử tiên phong của sự sống lý tưởng về Sự Đồng Nhất và về Sự Thống Nhất. Tuy nhiên, đó là vấn đề chuyển trọng tâm chú ý dần dần ra khỏi một hình tướng này sang một hình tướng khác, và do đó, từ một quan điểm cao hơn có được một cái nhìn thoáng qua mới mẻ về một chân lý khả dĩ. Mỗi thời đại (và hiện tại không phải là ngoại lệ) đã tin rằng sự nắm bắt Thực Tại của nó và sự nhạy cảm của nó đối với Vẻ Đẹp bên trong là lớn hơn và gần với Chân Lý hơn bao giờ hết trước đây. Sự chứng nghiệm cao nhất về cái được gọi là Sự Sống Duy Nhất là sự nhận thức (của điểm đạo đồ cấp cao) về Thượng Đế hiện thân, về Thượng đế, và sự đồng nhất của y với tâm thức của Đấng Sáng Tạo phi thường Đó, Người đang tìm kiếm biểu hiện thông qua trung gian của thái dương hệ. Không có điểm đạo đồ nào trên hành tinh có thể đồng nhất mình với tâm thức của Đấng Được Đồng Nhất Đó (theo nghĩa nội môn của thuật ngữ) Người, nói trong Chí Tôn Ca, rằng: “Sau khi [16] thâm nhập toàn bộ vũ trụ bằng một mảnh của Chính Mình, Ta vẫn tồn tại.”

These thoughts I commend to your consideration and to your careful pondering, begging you to see to it that there is a steady expansion of your sense of awareness and a growing capacity to make understanding contacts with that emerging Truth, Reality and Beauty which the universe declares. Guard yourself at the same time from mystical rhapsodies anent the One Life, which are apt to be no more than the negation of all mental apprehension and a luxuriating in the sensuous perception of a highly developed and high grade emotional nature.

Tôi gửi những suy nghĩ này đến các bạn để các bạn xem xét và suy ngẫm cẩn thận, và khẩn khoản mong các bạn bảo đảm rằng cảm quan nhận biết của mình được mở rộng đều đặn, cùng với năng lực ngày càng tăng để thiết lập những tiếp xúc thấu hiểu với Chân Lý, Thực Tại và Vẻ Đẹp đang khai mở mà vũ trụ đang tuyên xưng. Đồng thời hãy bảo vệ bản thân khỏi những sự ngây ngất thần bí về Sự Sống Duy Nhất, những điều có xu hướng không hơn gì sự phủ định mọi sự nắm bắt của trí tuệ và một sự tận hưởng xa hoa trong nhận thức giác quan của một bản chất cảm xúc phát triển và cao cấp.

All our considerations therefore in this Treatise on the Seven Rays will necessarily be held within the realm of thought which involves awareness of duality. I shall employ the language of duality, and this I shall do, not because I seek to emphasize it to the neglect of unity (for this unity is to me somewhat of a reality and I glimpse more than a possibility), but because all aspirants and disciples and all initiates up to the third initiation—as I earlier said—are swinging as a pendulum between the pairs of opposites, spirit and matter. I speak not here of the pairs of opposites of the astral or emotional plane, which are illusory reflections of the true pairs of opposites, but of the basic duality of manifestation. I seek to deal with that material which is of practical value and which can be grasped by the illumined intelligence of the average man. It is necessary for all students who seek illumination and a right apprehension of truth to drop the emphasis so often laid upon certain aspects and presentations of truth being spiritual and others being mental. It is in the realm of so-called mind that the great principle of separateness is found. It is also in the realm of mind that the great at-one-ment is made. The words of the initiate Paul have here a fitting place, wherein he says: “Let this mind be in you which was also in Christ,” and adds [17] in another place that Christ had made “in himself, of twain, one new man”. It is through the mind that theory is formulated, truth distinguished and Deity apprehended. When we are more advanced upon the Path, we shall see naught but spirit everywhere, and the aphorism, enunciated by that great disciple, H.P.B., that “matter is spirit at the lowest point of its cyclic activity” and “spirit is matter on the seventh plane,” or the highest, will be a realised fact in our consciousness. It is as yet but an intellectual phrase which means little except the enunciation of a truth, incapable of proof. Everything is an expression of a spiritual consciousness, which spiritualises by its inherent life all matter-forms. A grub or worm working out its little life in a mass of decaying substance is as much a spiritual manifestation as an initiate working out his destiny in a mass of rapidly changing human forms. It is all manifested Deity; it is all divine expression and all a form of sensitive awareness and of response to environment, and therefore a form of conscious expression.

Do đó, tất cả những xem xét của chúng ta trong Luận về Bảy Cung này nhất thiết sẽ được giữ trong lĩnh vực của tư tưởng liên quan đến nhận thức về nhị nguyên tính. Tôi sẽ sử dụng ngôn ngữ của nhị nguyên tính, và tôi sẽ làm điều này, không phải vì tôi tìm cách nhấn mạnh nó để bỏ qua sự thống nhất (vì sự thống nhất này đối với tôi là một phần của thực tại và tôi thoáng thấy nhiều hơn một khả năng), mà bởi vì tất cả những người chí nguyện và đệ tử và tất cả các điểm đạo đồ cho đến lần điểm đạo thứ ba—như tôi đã nói trước đó—đang đung đưa như một con lắc giữa các cặp đối lập, tinh thần và vật chất. Tôi không nói ở đây về các cặp đối lập của cõi cảm dục hay cõi cảm xúc, vốn là những phản chiếu huyễn hoặc của các cặp đối lập thực sự, mà về nhị nguyên tính cơ bản của biểu hiện. Tôi tìm cách đề cập đến nội dung có giá trị thực tiễn và có thể được nắm bắt bởi trí thông minh được soi sáng của người bình thường. Tất cả những đạo sinh tìm kiếm sự soi sáng và sự thấu hiểu đúng đắn về chân lý cần phải loại bỏ sự nhấn mạnh—vốn thường được đặt vào—việc xem một số phương diện và trình bày của chân lý là tinh thần, còn những phương diện khác là trí tuệ. Chính trong lĩnh vực của cái gọi là tâm trí mà nguyên lý vĩ đại của sự chia rẽ được tìm thấy. Cũng chính trong lĩnh vực của tâm trí mà sự hợp nhất vĩ đại được thực hiện. Lời của điểm đạo đồ Paul có một vị trí phù hợp ở đây, trong đó Ngài nói: “Hãy để cho thể trí từng ở trong Đức Christ cũng hiện diện trong các bạn”; và [17] ở một chỗ khác, Ngài thêm rằng Đức Christ đã làm cho trong chính Ngài, từ hai, nên một con người mới.” Chính thông qua tâm trí mà lý thuyết được hình thành, chân lý được phân biệt và Thượng đế được nắm bắt. Khi chúng ta tiến bộ hơn trên Đường Đạo, chúng ta sẽ không thấy gì ngoài tinh thần ở khắp mọi nơi, và câu châm ngôn, được phát biểu bởi người đệ tử vĩ đại, H.P.B., rằng “vật chất là tinh thần ở điểm thấp nhất của hoạt động chu kỳ của nó” và “tinh thần là vật chất trên cõi thứ bảy,” hay cõi cao nhất, sẽ là một thực tế được chứng nghiệm trong tâm thức của chúng ta. Cho đến nay đó chỉ là một cụm từ trí tuệ có nghĩa rất ít ngoại trừ việc phát biểu một chân lý không có khả năng chứng minh. Mọi thứ là một biểu hiện của một tâm thức tinh thần, cái tinh thần hóa tất cả các hình tướng vật chất bằng sự sống vốn có của nó. Một con sâu hay con giun đang làm việc trong cuộc sống nhỏ bé của nó trong một khối chất liệu đang phân hủy cũng là một biểu hiện tinh thần giống như một điểm đạo đồ đang làm việc với vận mệnh của mình trong một khối các hình tướng con người đang thay đổi nhanh chóng. Tất cả đều là Thượng đế biểu hiện; tất cả đều là sự thể hiện thiêng liêng và tất cả là một hình thức của nhận thức nhạy cảm và của sự đáp ứng với môi trường, và do đó là một hình thức của biểu hiện có ý thức.

The seven rays are the first differentiation of the divine triplicity of Spirit-Consciousness-Form, and they provide the entire field of expression for the manifested Deity. We are told in the scriptures of the world that the interplay, or the relation between, Father—Spirit and Mother—Matter produces eventually a third, which is the Son, or the consciousness aspect. That Son, the product of the two, is esoterically defined as “the One Who was third but is the second.” The reason for this wording is that there first existed the two divine aspects, Spirit-Matter, or matter impregnated with life, and it was only when these two realised their mutual unity (note the necessary ambiguity of that phrase) that the Son emerged. The esotericist, however, regards Spirit-Matter as the first unity, and the Son therefore is the second factor. This Son, Who is divine Life incarnate in matter, and consequently the producer [18] of the diversity and immensity of forms, is the embodiment of divine quality. We might therefore utilise—for the sake of clarity—the terms Life-Quality-Appearance as interchangeable with the more usual trinity of Spirit-Soul-Body, or Life-Consciousness-Form.

Bảy cung là sự phân hóa đầu tiên của bộ ba thiêng liêng Tinh thần-Tâm thức-Hình tướng, và chúng cung cấp toàn bộ lĩnh vực biểu hiện cho Thượng đế biểu hiện. Chúng ta được kể trong các kinh điển của thế giới rằng sự tương tác, hay mối quan hệ giữa, Cha—Tinh thần và Mẹ—Vật chất tạo ra cuối cùng một cái thứ ba, là Người Con, hay phương diện tâm thức. Người Con đó, sản phẩm của hai, được định nghĩa một cách huyền bí là “Đấng là thứ ba nhưng là thứ hai.” Lý do cho cách diễn đạt này là trước tiên đã tồn tại hai phương diện thiêng liêng, Tinh thần-Vật chất, hay vật chất được thấm nhuần với sự sống, và chỉ khi hai cái này nhận ra sự thống nhất lẫn nhau của chúng (lưu ý sự mơ hồ cần thiết của cụm từ đó) thì Người Con mới xuất hiện. Tuy nhiên, nhà huyền bí học coi Tinh thần-Vật chất là sự thống nhất đầu tiên, và Người Con do đó là yếu tố thứ hai. Người Con này, Đấng là Sự Sống thiêng liêng nhập thể trong vật chất, và do đó là người tạo ra [18] sự đa dạng và bao la của các hình tướng, là hiện thân của phẩm chất thiêng liêng. Do đó, để rõ ràng, chúng ta có thể sử dụng các thuật ngữ Sự Sống-Phẩm Tính-Hình Dạng hoán đổi cho nhau với bộ ba thông thường hơn là Tinh thần-Linh hồn-Cơ thể, hay Sự Sống-Tâm thức-Hình tướng.

I shall utilise the word Life when referring to Spirit, to energy, to the Father, to the first aspect of Divinity, and to that essential dynamic electric Fire which produces all that is, and is the sustaining, originating Cause and Source of all manifestation.

Tôi sẽ sử dụng từ Sự Sống khi đề cập đến Tinh thần, đến năng lượng, đến Cha, đến phương diện thứ nhất của Thiên Tính, và đến Lửa điện năng động thiết yếu đó, cái tạo ra tất cả những gì đang hiện hữu, và là Nguyên nhân duy trì, khởi sinh và Nguồn gốc của mọi biểu hiện.

I shall use the word Appearance to express that which we call matter, or form, or objective expression; it is that illusory tangible outer appearance which is animated by life. This is the third aspect, the Mother, overshadowed and fertilised by the Holy Ghost, or Life, united with intelligent substance. This is fire by friction—a friction brought about by life and matter and their interplay, and producing change and constant mutation.

Tôi sẽ sử dụng từ Sắc tướng để diễn đạt cái mà chúng ta gọi là vật chất, hay hình tướng, hay biểu hiện khách quan; đó là sắc tướng hữu hình huyễn hoặc được hoạt hóa bởi sự sống. Đây là phương diện thứ ba, Mẹ, được bao phủ và thụ tinh bởi Chúa Thánh Thần, hay Sự Sống, hợp nhất với chất liệu thông minh. Đây là lửa do ma sát—một ma sát được mang lại bởi sự sống và vật chất và sự tương tác của chúng, và tạo ra sự thay đổi và biến đổi liên tục.

I shall use the word Quality as expressive of the second aspect, the Son of God, the cosmic Christ incarnate in form—a form brought into being by the relation of spirit and matter. This interplay produces that psychological Entity which we call the Christ. This cosmic Christ demonstrated to us His perfection, as far as the human family is concerned, through the medium of the historical Christ. This psyphological Entity can bring into functioning activity a quality within all human forms which esoterically can “obliterate the forms” and so engross the attention as to be regarded eventually as the main factor and as constituting all that is. This truth as to life and quality and form is made most clearly apparent to us in the story of the Christ of Galilee. He was constantly reminding the people that He was not what He appeared to be, neither was He the Father in Heaven, and He is ever referred [19] to by those who know and love Him in terms of quality. He demonstrated to us the quality of the love of God, and in Himself He embodied not only that which He had evolved of the seven ray qualities, but also—as do few of the sons of God—a basic principle of the ray of the Solar Logos Himself, the quality of Love. This we shall study more closely when we take up the consideration of the second Ray of Love-Wisdom.

Tôi sẽ sử dụng từ Phẩm Tính để diễn đạt phương diện thứ hai, Con của Thượng đế, Đức Christ vũ trụ nhập thể trong hình tướng—một hình tướng được đưa vào sự tồn tại bởi mối quan hệ của tinh thần và vật chất. Sự tương tác này tạo ra Thực Thể tâm lý mà chúng ta gọi là Đấng Christ. Đấng Christ vũ trụ này đã biểu lộ cho chúng ta thấy sự toàn hảo của Ngài—trong phạm vi gia đình nhân loại—thông qua phương tiện của Đấng Christ lịch sử. Thực Thể tâm lý ấy có thể làm khởi hoạt một phẩm tính nơi mọi hình tướng con người mà, theo thuật ngữ nội môn, có thể “xóa nhoà các hình tướng” và thu hút sự chú ý đến mức rốt cuộc được xem là yếu tố chủ đạo và là tất cả những gì hiện hữu. Chân lý này về sự sống và phẩm tính và hình tướng được làm cho sáng tỏ nhất đối với chúng ta trong câu chuyện về Đức Christ của xứ Galilee. Ngài liên tục nhắc nhở mọi người rằng Ngài không phải là những gì Ngài có vẻ là, Ngài cũng không phải là Cha trên Thiên đàng, và Ngài luôn được đề cập [19] bởi những người biết và yêu mến Ngài theo các thuật ngữ về phẩm tính. Ngài đã chứng minh cho chúng ta phẩm chất tình thương của Thượng đế, và trong Chính Ngài, Ngài là hiện thân không chỉ của cái mà Ngài đã tiến hóa của bảy phẩm chất cung, mà còn—như rất ít người con của Thượng đế làm được—một nguyên lý cơ bản của cung của Chính Thái dương Thượng đế, phẩm chất Tình Thương. Điều này chúng ta sẽ nghiên cứu kỹ hơn khi chúng ta xem xét Cung hai của Bác Ái-Minh triết.

The seven rays are therefore embodiments of seven types of force which demonstrate to us the seven qualities of Deity. These seven qualities have consequently a sevenfold effect upon the matter and forms to be found in all parts of the universe, and have also a sevenfold interrelation between themselves.

Do đó, bảy cung là hiện thân của bảy loại lực vốn chứng minh cho chúng ta bảy phẩm chất của Thượng đế. Do đó bảy phẩm chất này có tác dụng thất phân lên vật chất và các hình tướng được tìm thấy trong tất cả các phần của vũ trụ, và cũng có mối tương quan thất phân giữa chính chúng.

Life-quality-appearance are brought together into a synthesis in the manifested universe and in man incarnate, and the result of this synthesis is sevenfold, producing seven types of qualified forms which emerge on all planes and in all kingdoms. It must be remembered that all the planes which we, from our little point of view, regard as formless are not really so. Our seven planes are but the seven subplanes of the cosmic physical plane. We shall not deal with the planes, except in their relation to man’s unfoldment, nor shall we deal with the macrocosm, or with the developing life of the Cosmic Christ. We shall confine our attention entirely to man and to his psychological reactions to the qualified forms in three directions: to those in the subhuman kingdoms in nature, to those with whom he associates in the human family and to the guiding Hierarchy and the world of souls. The seven ray types must be dealt with entirely from the human angle, for this treatise is intended to give the new psychological approach to man through an understanding of the energies, seven in number, with their forty-nine differentiations, which animate him and make him what he is. Later, as we take up each ray [20] type, we shall subject man to a close analysis and study his reactions in these three directions.

Sự sống-phẩm tính-sắc tướng được mang lại với nhau thành một sự tổng hợp trong vũ trụ biểu hiện và trong con người nhập thể, và kết quả của sự tổng hợp này là thất phân, tạo ra bảy loại hình tướng được định tính nổi lên trên tất cả các cõi và trong tất cả các giới. Cần phải nhớ rằng tất cả các cõi mà chúng ta, từ quan điểm nhỏ bé của mình, coi là vô sắc tướng thực sự không phải như vậy. Bảy cõi của chúng ta chỉ là bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ. Chúng ta sẽ không đề cập đến các cõi, ngoại trừ trong mối quan hệ của chúng với sự khai mở của con người, chúng ta cũng sẽ không đề cập đến đại thiên địa, hay với sự sống đang phát triển của Đức Christ Vũ Trụ. Chúng ta sẽ giới hạn sự chú ý của mình hoàn toàn vào con người và các phản ứng tâm lý của y đối với các hình tướng được định tính theo ba hướng: đối với những hình tướng trong các giới dưới nhân loại trong tự nhiên, đối với những hình tướng mà y liên kết trong gia đình nhân loại và đối với Thánh Đoàn hướng dẫn và thế giới của các linh hồn. Bảy loại cung phải được xem xét hoàn toàn từ góc độ con người, vì luận thuyết này nhằm đưa ra cách tiếp cận tâm lý học mới đối với con người thông qua sự thấu hiểu các năng lượng, bảy năng lượng, với bốn mươi chín sự phân hóa của chúng, vốn làm hoạt hóa y và làm cho y trở nên như y đang là. Sau này, khi chúng ta xem xét từng loại [20] cung, chúng ta sẽ đưa con người vào phân tích chặt chẽ và nghiên cứu các phản ứng của y theo ba hướng này.

These seven rays are the seven streams of force issuing from a central energy after (in point of time) that vortex of energy had been set up. Spirit and matter became mutually interactive and the form or appearance of the solar system began its process of becoming,—a process leading to an eventual being. This idea is ancient and true. We find reference to the seven aeons and the seven emanations and to the life and nature of the seven “Spirits which are before the Throne of God” in the writings of Plato and of all initiates who laid down in ancient times the basic propositions which have guided the human mentality down the ages. These great Lives, functioning within the boundaries of the solar system, gathered to Themselves that substance which They required for manifestation and built it into those forms and appearances through which They could best express Their innate qualities. Within the radius of Their influence, They gathered all that now appears. This aggregated, qualified material constitutes Their body of manifestation, just as the solar system is the body of manifestation of the Trinity of aspects.

Bảy cung này là bảy dòng lực phát ra từ một năng lượng trung tâm sau khi (xét về mặt thời gian) cơn xoáy năng lượng đó đã được thiết lập. Tinh thần và vật chất trở nên tương tác lẫn nhau và hình tướng hay Sắc tướng của thái dương hệ bắt đầu quá trình trở thành của nó,—một quá trình dẫn đến một bản thể cuối cùng. Ý tưởng này cổ xưa và đúng. Chúng ta tìm thấy sự tham chiếu đến bảy aeon và bảy sự xuất lộ và đến sự sống và bản chất của bảy “Thánh Linh ở trước Ngai của Thượng đế” trong các bài viết của Plato và của tất cả các điểm đạo đồ đã đặt ra trong thời cổ đại các mệnh đề cơ bản đã hướng dẫn tâm thức con người qua các thời đại. Những Sự sống vĩ đại này, hoạt động trong ranh giới của thái dương hệ, đã thu thập về cho Chính Mình chất liệu mà Các Ngài cần cho sự biểu hiện và xây dựng nó thành những hình tướng và Sắc tướng qua đó Các Ngài có thể thể hiện tốt nhất các phẩm chất bẩm sinh của Các Ngài. Trong phạm vi ảnh hưởng của Các Ngài, Các Ngài đã thu thập tất cả những gì hiện đang xuất hiện. Chất liệu được tập hợp, được định tính này cấu thành thể biểu hiện của Các Ngài, cũng như thái dương hệ là thể biểu hiện của Tam Vị các phương diện.

This idea can best be apprehended if one remembers that every human being is, in his turn, an aggregate of atoms and cells built into form and having scattered throughout that form organs and centres of differentiated life which function in rhythm and relation, but which have varying influences and differing purposes. These aggregated and animated forms present an appearance of an entity or central life which is characterised by its own quality, and which functions according to the point in evolution, thus making an impress by its radiation and life upon every atom and cell and organism within the radius of immediate influence and also upon every other human being contacted. Man is a psychic entity, a Life Who, [21] through radiatory influence, has built a form, coloured it with His own psychic quality and thus presented an appearance to the environing world which will persist for as long a time as He lives in form.

Ý tưởng này có thể được nắm bắt tốt nhất nếu người ta nhớ rằng mỗi con người, đến lượt mình, là một tập hợp các nguyên tử và tế bào được xây dựng thành hình tướng và có rải rác trong hình tướng đó các cơ quan và trung tâm của sự sống phân hóa hoạt động theo nhịp điệu và mối quan hệ, nhưng có những ảnh hưởng khác nhau và mục đích khác nhau. Các hình tướng được tập hợp và hoạt hóa này trình bày một hình dạng của một thực thể hay sự sống trung tâm được đặc trưng bởi phẩm chất riêng của nó, và hoạt động theo điểm trong tiến hóa, do đó tạo ấn tượng bằng sự bức xạ và sự sống của Nó lên mọi nguyên tử và tế bào và sinh vật trong phạm vi ảnh hưởng trực tiếp và cũng lên mọi con người khác được tiếp xúc. Con người là một thực thể tâm linh, Sự Sống Duy Nhất, Người mà [21] thông qua ảnh hưởng bức xạ, đã xây dựng một hình tướng, tô màu nó bằng phẩm chất tâm linh của riêng y và do đó trình bày một hình dáng với thế giới xung quanh sẽ tồn tại trong một thời gian chừng nào y còn sống trong hình tướng.

This statement covers also the life story and the qualified appearance of any one of the seven rays. God, Ray, Life, and Man are all psychological entities and builders of forms. Therefore a great psychological life is appearing through the medium of a solar system. Seven psychological lives, qualified by seven types of force, are appearing through the medium of the seven planets. Each planetary life repeats the same technique of manifestation—life-quality-appearance—and in its second aspect of quality demonstrates as a psychological entity. Every human being is a miniature replica of the entire plan. He is also spirit-soul-body, life-quality-appearance. He colours his appearance with his quality and animates it with his life. Because all appearances are expressions of quality and the lesser is included in the greater, every form in nature and every human being is found upon one or other of the seven qualifying rays and his appearance in a phenomenal form is coloured by the quality of his basic ray. It is qualified predominantly by the ray of the particular life upon whose emanation he issued forth, but it will include also in a secondary measure the six other ray types.

Tuyên bố này cũng bao gồm câu chuyện sự sống và sắc tướng được định tính của bất kỳ cung nào trong bảy cung. Thượng đế, Cung, Sự Sống, và Con người đều là các thực thể tâm lý và là những người xây dựng hình tướng. Do đó, sự sống tâm lý duy nhất vĩ đại đang xuất hiện thông qua trung gian của một thái dương hệ. Bảy sự sống tâm lý, được định tính bởi bảy loại lực, đang xuất hiện thông qua trung gian của bảy hành tinh. Mỗi sự sống hành tinh lặp lại cùng một kỹ thuật biểu hiện—sự sống-phẩm tính-sắc tướng—và trong phương diện thứ hai về phẩm chất của nó chứng minh như một thực thể tâm lý. Mỗi con người là một bản sao thu nhỏ của toàn bộ kế hoạch. Y cũng là tinh thần-linh hồn-cơ thể, sự sống-phẩm tính-sắc tướng. Y tô màu sắc tướng của mình bằng phẩm chất của mình và làm hoạt hóa nó bằng sự sống của mình. Bởi vì tất cả các sắc tướng là biểu hiện của phẩm chất và cái nhỏ hơn được bao gồm trong cái lớn hơn, mọi hình tướng trong tự nhiên và mọi con người đều được tìm thấy trên một hoặc một cung khác của bảy cung phẩm tính và sự xuất hiện của y trong một hình tướng hiện tượng được tô màu bởi phẩm chất của cung cơ bản của y. Nó được định tính chủ yếu bởi cung của sự sống cụ thể mà trên sự xuất lộ của nó y đã phát ra, nhưng nó cũng sẽ bao gồm ở một mức độ thứ yếu sáu loại cung khác.

Let us therefore posit—as a symbolical analogy—the fact of a Central Life (extraneous and outside our solar system yet within it during the process of manifestation) Which decides within Itself to take a material form and to incarnate. A vortex of force is set up as a preliminary step and we then have God immanent and God transcendent at the same time. This vortex, as a result of this initial activity, demonstrates through the medium of what we call substance or (to use a technical term of modern science, which is the best we can do at this time) [22] through the ether of space. The consequence of this active interplay of life and substance is that a basic unity is constituted. Father and mother are at-one. This unity is characterised by quality. Through this triplicity of life-quality-form, the central Life evokes and manifests consciousness, or awareness of response to all that is eventuating, but in a degree which it is impossible for us to cognise, limited as we are by our present relatively undeveloped point in evolution.

Vì vậy, chúng ta hãy giả định—như một phép tương đồng mang tính biểu tượng—rằng có một Sự Sống Trung Tâm (vốn không thuộc về và ở bên ngoài Thái dương hệ của chúng ta, nhưng vẫn trong Thái dương hệ trong suốt tiến trình biểu lộ) tự quyết định khoác lấy một hình tướng vật chất và giáng lâm. Một cơn xoáy lực được thiết lập như một bước sơ bộ sau đó và chúng ta có Thượng đế nội tại và Thượng đế siêu việt cùng một lúc. Cơn xoáy này, như một kết quả của hoạt động ban đầu này, chứng minh thông qua trung gian của cái chúng ta gọi là chất liệu hoặc (để sử dụng một thuật ngữ kỹ thuật của khoa học hiện đại, là cái tốt nhất chúng ta có thể làm vào lúc này) [22] thông qua dĩ thái của không gian. Hậu quả của sự tương tác tích cực này của sự sống và chất liệu là một sự thống nhất cơ bản được cấu thành. Cha và mẹ là đồng nhất. Sự thống nhất này được đặc trưng bởi phẩm chất. Thông qua bộ ba sự sống-phẩm tính-hình tướng này, Sự Sống trung tâm gợi lên và biểu hiện tâm thức, hay nhận thức về sự đáp ứng với tất cả những gì đang diễn ra, nhưng ở một mức độ mà chúng ta không thể nhận thức được, bị giới hạn như chúng ta đang là bởi điểm tương đối chưa phát triển hiện tại của chúng ta trong tiến hóa.

Students of this treatise must bear in mind, from the very start of their studies, the necessity for familiarising themselves with these four conditioning factors—life-quality-appearance—and their result or synthesis which we call Consciousness.

Các đạo sinh của luận thuyết này phải ghi nhớ, ngay từ khi bắt đầu việc nghiên cứu của mình, sự cần thiết phải làm quen với bốn yếu tố quy định này—sự sống-phẩm tính-sắc tướng—và kết quả hay sự tổng hợp của chúng mà chúng ta gọi là Tâm Thức.

Always, therefore, we predicate that which stands outside of the appearance and which is conscious of that appearance. This involves awareness of its material development and consequent adequacy of expression, and also awareness of its psychic unfoldment. No study of the rays is possible apart from this fourfold recognition. Our grasp of the subject will be much facilitated if we train ourselves to regard ourselves as an accurate (though as yet undeveloped) expression and reflection of this initial creative quaternary. We are lives, making an appearance, expressing quality and slowly becoming aware of the process and the objective, as our consciousness becomes more like that of Divinity Itself.

Do đó, chúng ta luôn xác nhận cái đứng bên ngoài sắc tướng và cái có ý thức về sắc tướng đó. Điều này liên quan đến nhận thức về sự phát triển vật chất của nó và sự thỏa đáng của biểu hiện sau đó, và cũng nhận thức về sự khai mở tâm linh của nó. Không có nghiên cứu nào về các cung là có thể tách rời khỏi sự công nhận bốn phần này. Sự nắm bắt của chúng ta về chủ đề sẽ được tạo thuận lợi nhiều nếu chúng ta rèn luyện bản thân để coi mình như một sự phản chiếu và biểu hiện chính xác (mặc dù chưa phát triển) của bộ bốn sáng tạo ban đầu này. Chúng ta là những sự sống, tạo ra một hình dạng, thể hiện phẩm chất và dần dần trở nên nhận biết về quá trình và mục tiêu, khi tâm thức của chúng ta trở nên giống với tâm thức của chính Thượng Đế.

3. The Seven Rays EnumeratedBảy Cung Được Liệt Kê

As part of the initial Plan, the one Life sought expansion, and the seven aeons or emanations came forth from the central vortex and actively repeated the earlier process in all its details. They too came into manifestation and in the work of expressing active life, qualified by love and limited by an outward phenomenal appearance, they swept into a secondary activity and became the seven Builders, the seven Sources of [23] life and the seven Rishis of all the ancient scriptures. They are the original psychic Entities, imbued with the capacity to express love (which involves the concept of duality, for the loving and the loved, the desiring and the desired, must here be posited) and to emerge from subjective being into objective becoming. We call these seven by various names, as follows:

Như một phần của Thiên Cơ ban đầu, Sự Sống Duy Nhất tìm kiếm sự mở rộng, và bảy Aeon (Bảy Thực Thể Vĩ Đại) hay bảy sự xuất lộ đã đi ra từ xoáy trung tâm và lặp lại tích cực quá trình trước đó trong tất cả các chi tiết của nó. Chúng cũng đi vào biểu hiện và trong công việc thể hiện sự sống tích cực, được định tính bởi tình thương và bị giới hạn bởi một sắc tướng hiện tượng bên ngoài, chúng quét vào một hoạt động thứ cấp và trở thành bảy Đấng Kiến Tạo, bảy Nguồn [23] sống và bảy Rishi của tất cả các kinh điển cổ xưa. Các Ngài là các Thực thể tâm linh ban đầu, được thấm nhuần khả năng thể hiện tình thương (liên quan đến khái niệm về nhị nguyên tính, vì người yêu và kẻ được yêu, người mong muốn và cái được mong muốn, phải được giả định ở đây) và để nổi lên từ bản thể chủ quan vào sự trở thành khách quan. Chúng ta gọi bảy Đấng này bằng nhiều tên khác nhau, như sau:

1. The Lord of Power or Will. This Life wills to love, and uses power as an expression of divine beneficence. For His body of manifestation He uses that planet for which the sun is regarded as the esoteric substitute.

1. Đức Chúa Tể của Quyền Năng hay Ý Chí. Sự Sống này muốn yêu thương, và sử dụng quyền năng như một biểu hiện của lòng nhân từ thiêng liêng. Đối với thể biểu hiện của Ngài, Ngài sử dụng hành tinh mà mặt trời được coi là vật thay thế huyền bí.

2. The Lord of Love-Wisdom, Who is the embodiment of pure love, is regarded by esotericists as being as close to the heart of the Solar Logos as was the beloved disciple close to the heart of the Christ of Galilee. This Life instils into all forms the quality of love, with its more material manifestation of desire, and is the attractive principle in nature and the custodian of the Law of Attraction, which is the life-demonstration of pure Being. This Lord of Love is the most potent of the seven rays, because He is on the same cosmic ray as the solar Deity. He expresses Himself primarily through the planet Jupiter, which is His body of manifestation.

2. Đức Chúa Tể của Bác Ái – Minh Triết , Ngài là hiện thân của tình thương thuần khiết, được các nhà huyền bí học coi là gần gũi với trái tim của Thái dương Thượng đế, giống như người đệ tử yêu dấu gần gũi với trái tim của Đức Christ xứ Galilee. Sự Sống này thấm nhuần vào tất cả các hình tướng phẩm chất tình thương, với biểu hiện vật chất hơn của nó là ham muốn, và là nguyên lý hấp dẫn trong tự nhiên và là người trông coi Định luật Hấp dẫn, là sự thể hiện-sự sống của Bản thể thuần khiết. Đức Chúa Tể của Tình Thương này mạnh mẽ nhất trong bảy cung, bởi vì Ngài ở trên cùng cung vũ trụ như Thái dương Thượng đế. Ngài thể hiện Chính Ngài chủ yếu thông qua hành tinh Sao Mộc, là thể biểu hiện của Ngài.

3. The Lord of Active Intelligence. His work is more closely linked to matter and He works in cooperation with the Lord of the second ray. He is the motivating impulse in the initial work of creation. The planet Saturn is His body of expression within the solar system, and through the medium of matter (which beneficently obstructs and hinders) He provides humanity with a vast field of experiment and experience.

3. Đức Chúa Tể của Hoạt Động Thông Tuệ. Công việc của Ngài liên kết chặt chẽ hơn với vật chất và Ngài làm việc hợp tác với Đức Chúa Tể cung hai. Ngài là xung lực thúc đẩy trong công việc ban đầu của sự sáng tạo. Hành tinh Sao Thổ là thể biểu hiện của Ngài trong thái dương hệ, và thông qua trung gian của vật chất (cái cản trở và gây trở ngại một cách nhân từ), Ngài cung cấp cho nhân loại một lĩnh vực thử nghiệm và kinh nghiệm rộng lớn.

I should like to point out here that when I speak in terms of [24] personality and perforce employ the personal pronoun, I must not be accused of personalizing these great forces. I speak in terms of entity, of pure Being, and not in terms of human personality. But the handicap of language persists; and in teaching those who think in terms of the lower concrete mind, and whose intuition is dormant or only manifesting in flashes, I am compelled to speak in parables and use the language of word symbols. Let me point out also that all statements which I may make are in relation to our particular planet and couched in terms that can be understood by the humanity which our planet has produced. The work, as I outline it, constitutes only a fraction of the work undertaken by these Beings; They each have Their own purpose and radius of influence, and as our Earth is not one of the seven sacred planets (nor the body of manifestation of one of the basic seven rays), They have purposes and activities in which our Earth plays only a minor part.

Tôi muốn chỉ ra ở đây rằng khi tôi nói theo các thuật ngữ của [24] nhân cách và bắt buộc phải sử dụng đại từ nhân xưng, tôi không được bị buộc tội là nhân cách hóa các mãnh lực to lớn này. Tôi đang nói theo các thuật ngữ của thực thể, của Bản thể thuần khiết, và không theo các thuật ngữ của nhân cách con người. Nhưng sự hạn chế của ngôn ngữ vẫn tồn tại; và trong việc dạy những người suy nghĩ theo các thuật ngữ của hạ trí cụ thể, và những người mà trực giác đang ngủ yên hoặc chỉ biểu hiện trong những tia chớp, tôi buộc phải nói bằng những câu chuyện ngụ ngôn và sử dụng ngôn ngữ của các biểu tượng từ ngữ. Hãy để tôi cũng chỉ ra rằng tất cả các tuyên bố mà tôi có thể đưa ra đều liên quan đến hành tinh cụ thể của chúng ta và được diễn đạt bằng các thuật ngữ có thể được hiểu bởi nhân loại mà hành tinh của chúng ta đã sản sinh. Như tôi phác thảo, công việc chỉ cấu thành một phần nhỏ của công việc được đảm nhận bởi các Đấng này; Mỗi Ngài có mục đích và phạm vi ảnh hưởng riêng của Mình, và vì Trái Đất của chúng ta không phải là một trong bảy hành tinh thiêng liêng (cũng không phải là thể biểu hiện của một trong bảy cung cơ bản), Các Ngài có những mục đích và hoạt động trong đó Trái Đất của chúng ta chỉ đóng một phần nhỏ.

4. The Lord of Harmony, Beauty and Art. The main function of this Being is the creation of Beauty (as an expression of truth) through the free interplay of life and form, basing the design of beauty upon the initial plan as it exists in the mind of the solar Logos. The body of manifestation of this life is not revealed, but the activity emanating from it produces that combination of sounds, colours and word music that expresses—through the form of the ideal—that which is the originating idea. This fourth Lord of creative expression will resume activity upon the Earth about six hundred years hence, though already the first faint impress of His influence is being felt and the next century will see a re-awakening of creative art in all its branches.

4. Đức Chúa Tể của Sự Hài Hòa, Vẻ Đẹp và Nghệ Thuật. Chức năng chính của Ngài là sự sáng tạo Vẻ Đẹp (như một biểu hiện của chân lý) thông qua sự tương tác tự do của sự sống và hình tướng, dựa trên thiết kế của vẻ đẹp trên kế hoạch ban đầu khi nó tồn tại trong trí của Thái dương Thượng đế. Thể biểu hiện của sự sống này không được tiết lộ, nhưng hoạt động phát ra từ nó tạo ra sự kết hợp của âm thanh, màu sắc và âm nhạc từ ngữ thể hiện—thông qua hình tướng của lý tưởng—cái là ý tưởng khởi sinh. Đức Chúa Tể thứ tư của biểu hiện sáng tạo này sẽ tiếp tục hoạt động trên Trái Đất khoảng sáu trăm năm nữa, mặc dù ấn tượng mờ nhạt đầu tiên về ảnh hưởng của Ngài đã được cảm nhận và thế kỷ tới sẽ chứng kiến sự thức tỉnh lại của nghệ thuật sáng tạo trong tất cả các nhánh của nó.

5. The Lord of Concrete Knowledge and Science. This is a Great Life in close touch with the mind of the creative [25] Deity, just as the Lord of the second ray is in close touch with the heart of that same Deity. His influence is great at this time, though not as potent as it will be later. Science is a psychological unfoldment in man due to this ray influence, and is only entering into its real work. His influence is waxing in power, just as the influence of the sixth Lord is waning.

5. Đức Chúa Tể của Kiến Thức Cụ Thể và Khoa Học. Đây là Sự Sống Duy Nhất Vĩ Đại tiếp xúc chặt chẽ với trí của Thượng Đế [25] sáng tạo, cũng như Đức Chúa Tể cung hai tiếp xúc chặt chẽ với trái tim của cùng Thượng Đế đó. Ảnh hưởng của Ngài rất lớn vào thời điểm này, mặc dù không mạnh mẽ như nó sẽ là sau này. Khoa học là một sự khai mở tâm lý ở con người do ảnh hưởng cung này, và chỉ mới bước vào công việc thực sự của nó. Ảnh hưởng của Ngài đang tăng lên về sức mạnh, cũng như ảnh hưởng của Đức Chúa Tể thứ sáu đang suy yếu.

6. The Lord of Devotion and Idealism. This solar Deity is a peculiar and characteristic expression of the quality of the solar Logos. Forget not that in the great scheme of the universal universe (not just our universe) our solar Logos is as differentiated and distinctive in quality as are any of the sons of men. This ray force, with the second ray, is a true and vital expression of the divine nature. A militant focussing upon the ideal, a one-pointed devotion to the intent of the life urge, and a divine sincerity are the qualities of this Lord, and set their impress upon all that is found within His body of manifestation. Advanced esotericists debate as to whether Mars is, or is not, the planet through which He manifests. You must remember that only a few of the planets are the bodies of expression of the Lords of the rays. There are ten “planets of expression” (to use the term employed by the ancient Rishis), and only seven ray Lives are regarded as the Builders of the system. The great mystery, which is finally revealed in the higher initiations, is the relation of a ray to a planet. Therefore seek not full information at this time. The influence of this sixth Lord is now passing out.

6. Đức Chúa Tể của Sự Sùng Tín và Chủ Nghĩa Lý Tưởng. Vị Thần thái dương này là một biểu hiện đặc biệt và đặc trưng cho phẩm chất của Thái dương Thượng đế. Đừng quên rằng trong sơ đồ vĩ đại của vũ trụ phổ quát (không chỉ vũ trụ của chúng ta), Thái dương Thượng đế của chúng ta cũng được phân hóa và đặc biệt về phẩm chất như bất kỳ người con nào của nhân loại. Lực cung này, cùng với cung hai, là một biểu hiện chân thực và sống động của bản chất thiêng liêng. Một sự tập trung chiến đấu vào lý tưởng, một sự sùng tín nhất tâm vào ý định của sự thúc đẩy sự sống, và một sự chân thành thiêng liêng là những phẩm chất của Đức Chúa Tể này, và đặt ấn tượng của chúng lên tất cả những gì được tìm thấy trong thể biểu hiện của Ngài. Các nhà huyền bí học cao cấp tranh luận xem liệu Sao Hỏa có phải là, hay không phải là, hành tinh mà qua đó Ngài biểu hiện. Bạn phải nhớ rằng chỉ một vài hành tinh là thể biểu hiện của các Đức Chúa Tể của các cung. Có mười “hành tinh của biểu hiện” (sử dụng thuật ngữ được các Rishi cổ đại sử dụng), và chỉ có bảy Sự Sống cung được coi là các Đấng Kiến Tạo của hệ thống. Bí ẩn lớn, cuối cùng được tiết lộ trong các cuộc điểm đạo cao hơn, là mối quan hệ của một cung với một hành tinh. Do đó, đừng tìm kiếm thông tin đầy đủ vào lúc này. Ảnh hưởng của Đức Chúa Tể thứ sáu này hiện đang đi qua.

7. The Lord of Ceremonial Order or Magic is now coming into power and is slowly but surely making His pressure felt. His influence is most potent upon the physical plane, for there is a close numerical interrelation between (for [26] instance) the Lord of the seventh ray and the seventh plane, the physical, just as the seventh root race will see complete conformity to and a perfect expression of law and order. This ray of order and its incoming is partially responsible for the present tendency in world affairs toward governmental dictatorship and the imposed control of a central governing body.

7. Đức Chúa Tể của Trật Tự Nghi Lễ hay Huyền Thuật hiện đang nắm quyền và đang chậm chạp nhưng chắc chắn làm cho áp lực của Ngài được cảm nhận. Ảnh hưởng của Ngài mạnh mẽ nhất trên cõi hồng trần, vì có một mối tương quan số học chặt chẽ giữa (ví dụ) [26] Đức Chúa Tể cung bảy và cõi thứ bảy, cõi hồng trần, cũng như giống dân gốc thứ bảy sẽ thấy sự phù hợp hoàn toàn với và một biểu hiện hoàn hảo của luật pháp và trật tự. Cung của trật tự này và sự đi vào của nó chịu trách nhiệm một phần cho xu hướng hiện tại trong các vấn đề thế giới hướng tới chế độ độc tài chính phủ và sự kiểm soát áp đặt của một cơ quan quản lý trung ương.

It may be of value here if I give you the following statement as to the activity, or non-activity, of the rays, begging you to bear in mind that this statement refers only to our Earth and its evolutions:

Có thể có giá trị ở đây nếu tôi đưa cho các bạn tuyên bố sau đây về hoạt động, hoặc không hoạt động, của các cung, cầu xin các bạn ghi nhớ rằng tuyên bố này chỉ đề cập đến Trái Đất của chúng ta và các cuộc tiến hóa của nó:

Ray One

Not in manifestation.

Cung Một

Không biểu hiện.

*

Ray Two

In manifestation since 1575 A.D.

Cung Hai

Đang biểu hiện từ năm 1575 S.C.N.

*

Ray Three

In manifestation since 1425 A.D.

Cung Ba

Đang biểu hiện từ năm 1425 S.C.N.

Ray Four

To come slowly into manifestation after 2025 A.D.

Cung Bốn

Sẽ từ từ đi vào biểu hiện sau năm 2025 S.C.N.

*

Ray Five

In manifestation since 1775 A.D.

Cung Năm

Đang biểu hiện từ năm 1775 S.C.N.

Ray Six

Passing rapidly out of manifestation. It began to pass out in 1625 A.D.

Cung Sáu

Đang nhanh chóng rút ra khỏi biểu hiện. Nó bắt đầu rút ra vào năm 1625 S.C.N.

*

Ray Seven

In manifestation since 1675 A.D.

Cung Bảy

Đang biểu hiện từ năm 1675 S.C.N.

These are of course all lesser cycles within the influence of the sign Pisces. You will see that four rays are in manifestation at this time—the second, third, fifth, and seventh.

Tất nhiên, tất cả đều là các chu kỳ nhỏ hơn trong ảnh hưởng của dấu hiệu Song Ngư. Các bạn sẽ thấy rằng bốn cung đang trong biểu hiện vào thời điểm này—cung hai, cung ba, cung năm, và cung bảy.

The question arises here: How does it happen that we find people in incarnation on all the rays at practically the same time? The reason is that, as you can easily see, the fourth is beginning to approach and the sixth is passing out, which puts six of the rays in the position of having their egos in manifestation. There are however very few of the fourth ray egos on the Earth at this time, and a very large number of sixth ray egos, for it will be about two hundred years before all the sixth ray egos pass out of incarnation. As to the first ray egos, there are no pure first ray types on the planet. All so-called [27] first ray egos are on the first subray of the second ray, which is in incarnation. A pure first ray ego in incarnation at this time would be a disaster. There is not sufficient intelligence and love in the world to balance the dynamic will of an ego on the ray of the destroyer.

Câu hỏi nảy sinh ở đây: Làm thế nào mà chúng ta tìm thấy những người đang nhập thể trên tất cả các cung vào thực tế cùng một thời điểm? Như các bạn có thể dễ dàng thấy, lý do là cung bốn đang bắt đầu tiếp cận và cung sáu đang đi ra, điều này đặt sáu trong số các cung vào vị thế có chân ngã của chúng trong biểu hiện. Tuy nhiên, có rất ít chân ngã cung bốn trên Trái Đất vào lúc này, và một số lượng rất lớn chân ngã cung sáu, vì sẽ mất khoảng hai trăm năm trước khi tất cả các chân ngã cung sáu đi ra khỏi sự nhập thể. Đối với các chân ngã cung một, không có loại hình cung một thuần túy nào trên hành tinh. Tất cả những cái gọi là [27] chân ngã cung một đều ở trên cung phụ thứ nhất của cung hai, vốn đang nhập thể. Một chân ngã cung một thuần túy nhập thể vào lúc này sẽ là một thảm họa. Không có đủ trí tuệ và tình thương trên thế giới để cân bằng ý chí năng động của một chân ngã trên cung của kẻ hủy diệt.

Just as the human family has a relation to the planetary Logos of our Earth which is best expressed by stating that it constitutes His heart and brain, so does the sum total of analogous evolutions within the entire solar system constitute the heart and brain of the solar Logos. Intelligent activity and love are the outstanding characteristics of a developed son of God, whilst their lower reflections—sex and desire—are the characteristics of the average man and the undeveloped sons of God.

Cũng như gia đình nhân loại có một mối quan hệ với Hành Tinh Thượng đế của Trái Đất chúng ta, được diễn đạt tốt nhất bằng cách nói rằng nó cấu thành trái tim và bộ não của Ngài, thì tổng thể các cuộc tiến hóa tương tự trong toàn bộ thái dương hệ cấu thành trái tim và bộ não của Thái dương Thượng đế. Hoạt động thông minh và tình thương là những đặc điểm nổi bật của một người con phát triển của Thượng đế, trong khi những phản chiếu thấp hơn của chúng—tình dục và dục vọng—là những đặc điểm của người bình thường và những người con chưa phát triển của Thượng đế.

These seven living qualified emanations from the central vortex of force are composed of untold myriads of energy units which are inherently and innately aspects of life, endowed with quality and capable of appearance. Below the human, the combination of these three produces conscious response to the environment, regarding the environment as composed of the sum total of all lives, qualities and appearances,—the synthesis of the seven rays or emanations of the Deity. They produce in the human kingdom a self-conscious awareness, and in the superhuman world a synthetic inclusiveness. All human monads, carried into manifestation by the will and desire of some ray Lord, are part of His body of manifestation. Potentially they express His quality and appear phenomenally according to the point in evolutionary expression which has been reached. “As He is, so are we in this world,” but only as yet potentially,—the goal of evolution being to make the potential into the real, and the latent into the expressed. The work of the esotericist is just this very thing: to bring out of latency, the hidden quality.

Bảy sự xuất lộ được định tính sống động này từ xoáy lực trung tâm bao gồm vô số đơn vị năng lượng vốn dĩ và bẩm sinh là các phương diện của sự sống, được phú cho phẩm tính và có khả năng tạo ra hình tướng. Dưới mức con người, sự kết hợp của ba điều này tạo ra đáp ứng có ý thức đối với môi trường, coi môi trường bao gồm tổng thể của tất cả các sự sống, phẩm chất và sắc tướng—sự tổng hợp của bảy cung hay sự xuất lộ của Thượng đế. Chúng tạo ra trong giới nhân loại một nhận thức ngã thức, và trong thế giới siêu nhân loại một sự bao gồm tổng hợp. Tất cả các chân thần con người, được đưa vào biểu hiện bởi ý chí và mong muốn của một Đức Chúa Tể cung nào đó, là một phần của thể biểu hiện của Ngài. Về mặt tiềm năng, họ thể hiện phẩm chất của Ngài và xuất hiện một cách hiện tượng tùy theo điểm trong biểu hiện tiến hóa đã đạt được. ” Ngài như thế nào, chúng ta sẽ cũng vậy trong thế giới này,” nhưng chỉ mới ở dạng tiềm năng,—mục tiêu của tiến hóa là làm cho cái tiềm năng trở thành cái thực, và cái tiềm ẩn trở thành cái được biểu hiện. Công việc của nhà huyền bí học chỉ là điều này: đưa ra phẩm chất ẩn giấu ra khỏi trạng thái tiềm ẩn.

4. The Function of ChristianityChức Năng của Kitô Giáo

[28]

[28]

I have now laid down the basic premise that all that is known to us is a manifesting divine Entity, expressing Itself through three aspects which (for the purposes of this treatise and because they are more in line with the terminology of emerging modern thought) I choose to call Life-Quality-Appearance. These are but other names for the Trinity of all the great religions, and are synonymous with the Christian phrase, Father, Son and Holy Ghost (those old anthropomorphic terms!); with Spirit, Soul and Body, the current phraseology; and with the Life, Consciousness and Form of the Indian philosophy.

Bây giờ tôi đã đặt ra tiền đề cơ bản rằng tất cả những gì chúng ta biết là một Thực Thể thiêng liêng đang biểu hiện, thể hiện Chính Ngài thông qua ba phương diện mà (cho các mục đích của luận thuyết này và vì chúng phù hợp hơn với thuật ngữ của tư tưởng hiện đại đang xuất hiện) tôi chọn gọi là Sự Sống-Phẩm Tính-Sắc tướng. Đây chỉ là những tên gọi khác cho Tam Vị của tất cả các tôn giáo lớn, và đồng nghĩa với cụm từ Kitô giáo, Cha, Con và Chúa Thánh Thần (những thuật ngữ nhân hình hóa cũ kỹ đó!); với Tinh thần, Linh hồn và Cơ thể, thuật ngữ hiện hành; và với Sự Sống, Tâm thức và Hình tướng của triết học Ấn Độ.

May I interpolate here the comment that modern thinkers would do well to bear in mind that the importance of Christianity lies in the realisation that it is a bridging religion. This is symbolised for us by the fact that the Master of all the Masters took incarnation in Palestine, that slice of land which is midway between Asia and Europe, and which partakes of the character of both. Christianity is the religion of the transitional period which links the era of self-conscious existence with that of a group-conscious world. It is extant in the age which will see that type of thought prevailing which (when rightly applied) will serve as the connecting link between the worlds of concrete and of abstract mind. The Old Commentary puts it thus:

Tôi có thể thêm vào đây lời bình luận rằng các nhà tư tưởng hiện đại sẽ làm tốt khi ghi nhớ rằng tầm quan trọng của Kitô giáo nằm ở sự nhận thức rằng nó là một tôn giáo bắc cầu. Điều này được tượng trưng cho chúng ta bởi thực tế là Chân sư của tất cả các Chân sư đã lâm phàm ở Palestine, mảnh đất nằm giữa châu Á và châu Âu, và mang đặc điểm của cả hai. Kitô giáo là tôn giáo của giai đoạn chuyển tiếp liên kết kỷ nguyên của sự tồn tại tự ý thức với kỷ nguyên của một thế giới tâm thức nhóm. Nó đang tồn tại trong thời đại sẽ chứng kiến loại tư tưởng đó chiếm ưu thế (khi được áp dụng đúng đắn) sẽ phục vụ như mối liên kết kết nối giữa các thế giới của trí cụ thể và trí trừu tượng. Cổ Luận diễn đạt điều đó như thế này:

“When the hour arrives wherein the light of the soul reveals the antaskarana (the bridge between the personality consciousness and the soul consciousness, A.A.B.) then shall men be known by their knowledge, be coloured by the despair of desire unappeased, be divided into those who recognise their dharma (meet all implied obligations and duties) and those who only see the working out of karma, and from the very nature of their need find light and peace at last.”

“Khi giờ khắc đến, khi mà ánh sáng của linh hồn phơi bày antaskarana (cây cầu nối giữa tâm thức phàm ngã và tâm thức linh hồn, A.A.B.), lúc ấy con người sẽ được nhận biết bởi tri thức của họ, sẽ được nhuộm màu bởi nỗi tuyệt vọng của ham muốn không được thỏa mãn, sẽ được phân chia thành những ai nhận ra dharma của mình (chu toàn mọi nghĩa vụ và bổn phận hàm ẩn) và những ai chỉ thấy sự vận hành của nghiệp quả, và chính từ bản chất nhu cầu của họ mà cuối cùng tìm được ánh sáng và bình an.”

[29]

[29]

Christianity is primarily a religion of cleavage, demonstrating to man his duality and so laying the foundation for future unity. This is a most needed stage and has served humanity well; the purpose and intent of Christianity has been definite and high, and it has done its divine work. Today it is in the process of being superseded, but by what new formulation of truth is not yet revealed. The light is slowly pouring into man’s life, and in this lighted radiance he will formulate the new religion and arrive at a fresh enunciation of ancient truth. Through the lens of the illumined mind, he will shortly see aspects of divinity hitherto unknown. Has it ever dawned on you that there may be qualities and characteristics of the divine nature, latent as yet within the form, that have hitherto remained totally unknown and not even dimly sensed, and which, as yet, are literally unprecedented and for which we have neither words nor other adequate medium of expression? So it is. Just as the phrase “group-consciousness” would carry, for early primitive man, no significance whatsoever, and would have been only a meaningless string of alphabetical forms, so (lingering just below the surface of our manifested world) lie divine qualities and a purpose which is as far removed from the consciousness of our present humanity as the idea of collective awareness was from the consciousness of prehistoric humanity. Take courage from this thought. The past guarantees the infinite expansion of the future.

Kitô giáo chủ yếu là một tôn giáo của sự chia tách, chứng minh cho con người thấy nhị nguyên tính của mình, và do đó đặt nền tảng cho sự thống nhất trong tương lai. Đây là một giai đoạn cần thiết nhất và đã phục vụ nhân loại tốt; mục đích và ý định của Kitô giáo đã rõ ràng và cao cả, và nó đã thực hiện công việc thiêng liêng của mình. Ngày nay nó đang trong quá trình bị thay thế, nhưng bởi sự hình thành chân lý mới nào thì chưa được tiết lộ. Ánh sáng đang từ từ tuôn đổ vào cuộc sống của con người, và trong sự rạng rỡ được soi sáng này, y sẽ hình thành tôn giáo mới và đi đến một sự phát biểu mới mẻ về chân lý cổ xưa. Qua lăng kính của tâm trí được soi sáng, y sẽ sớm thấy các phương diện của Thiên Tính cho đến nay chưa được biết đến. Đã bao giờ bạn nghĩ rằng có thể có những phẩm chất và đặc điểm của bản chất thiêng liêng, vẫn còn tiềm ẩn bên trong hình tướng, mà cho đến nay vẫn hoàn toàn chưa được biết đến, và thậm chí chưa được cảm nhận lờ mờ, và cho đến nay, đúng theo nghĩa đen là chưa từng có tiền lệ và chúng ta không có từ ngữ hay phương tiện diễn đạt thích hợp nào khác cho chúng không? Đúng là như vậy. Cũng như cụm từ “tâm thức nhóm” sẽ không mang ý nghĩa gì đối với người nguyên thủy sơ khai, và sẽ chỉ là một chuỗi các dạng chữ cái vô nghĩa, thì cũng vậy (nằm ngay bên dưới bề mặt thế giới biểu hiện của chúng ta) là những phẩm chất thiêng liêng và một mục đích khác xa với tâm thức của nhân loại hiện tại của chúng ta như ý tưởng về nhận thức tập thể khác xa với tâm thức của nhân loại thời tiền sử. Hãy lấy can đảm từ suy nghĩ này. Quá khứ bảo đảm cho sự mở rộng vô hạn của tương lai.

Scroll to Top