
ESOTERIC PSYCHOLOGY
VOLUME I
A TREATISE ON THE SEVEN RAYS
by
ALICE A. BAILEY
Index Edition
Published by the Lucis Publishing Companies
The first and only publisher of the complete works
of Alice A. Bailey
DEDICATED TO
D.M.M.M. ~ M.K.A.P. ~ E.A.S.L.
Initiation, Human and Solar
Letters on Occult Meditation
The Consciousness of the Atom
A Treatise on Cosmic Fire
The Light of the Soul
The Soul and its Mechanism
From Intellect to Intuition
A Treatise on White Magic
From Bethlehem to Calvary
Discipleship in the New Age–Vol. I
Discipleship in the New Age–Vol. II
Problems of Humanity
The Reappearance of the Christ
The Destiny of the Nations
Glamour: A World Problem
Telepathy and the Etheric Vehicle
The Unfinished Autobiography
Education in the New Age
The Externalisation of the Hierarchy
A Treatise on the Seven Rays:
Vol. I–Esoteric Psychology
Vol. II–Esoteric Psychology
Vol. III–Esoteric Astrology
Vol. IV–Esoteric Healing
Vol. V–The Rays and the Initiations
EXTRACT FROM A STATEMENT BY THE TIBETAN
|
From the point of Light within the Mind of God |
Từ điểm Ánh sáng trong Trí Thượng Đế |
|
Let light stream forth into the minds of men. |
Cầu xin Ánh sáng tràn vào Trí Con người |
|
Let Light descend on Earth. |
Cầu xin Ánh sáng giáng xuống trần gian |
|
From the point of Love within the Heart of God |
Từ điểm Tình thương trong Tâm Thượng đế |
|
Let love stream forth into the hearts of men. |
Cầu xin Tình thương tràn vào Tâm Con người |
|
May Christ return to Earth. |
Cầu xin Đức Christ trở lại trần gian |
|
From the centre where the Will of God is known |
Từ Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế |
|
Let purpose guide the little wills of men— |
Cầu xin Thiên Ý dẫn dắt ý chí nhỏ bé của Con người |
|
The purpose which the Masters know and serve. |
Thiên Ý mà các Chân sư đều biết và phụng sự |
|
From the centre which we call the race of men |
Từ trung tâm mà chúng ta gọi là Loài người |
|
Let the Plan of Love and Light work out. |
Cầu xin Thiên Cơ của Tình thương và Ánh sáng được thực thi |
|
And may it seal the door where evil dwells. |
Và cầu mong Thiên cơ đóng kín cửa vào nẻo ác |
|
Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth. |
Cầu xin Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng phục hồi Thiên cơ trên Trần gian |
|
“The above Invocation or Prayer does not belong to any person or group but to all Humanity. The beauty and the strength of this Invocation lies in its simplicity, and in its expression of certain central truths which all men, innately and normally, accept—the truth of the existence of a basic Intelligence to Whom we vaguely give the name of God; the truth that behind all outer seeming, the motivating power of the universe is Love; the truth that a great Individuality came to earth, called by Christians, the Christ, and embodied that love so that we could understand; the truth that both love and intelligence are effects of what is called the Will of God; and finally the self-evident truth that only through humanity itself can the Divine Plan work out.” |
“Bài Khấn Nguyện hay Lời Cầu Nguyện trên không thuộc về bất kỳ cá nhân hay nhóm nào mà thuộc về toàn thể Nhân loại. Vẻ đẹp và sức mạnh của bài Khấn Nguyện này nằm ở sự đơn giản của nó, và ở sự diễn đạt những chân lý cốt lõi nhất định mà tất cả mọi người, một cách bẩm sinh và bình thường, đều chấp nhận—chân lý về sự tồn tại của một Trí Thông Minh cơ bản mà chúng ta mơ hồ đặt tên là Thượng đế; chân lý rằng đằng sau mọi vẻ ngoài, động lực của vũ trụ là Tình Thương; chân lý rằng một Cá Thể vĩ đại đã đến trái đất, được người Kitô giáo gọi là Đức Christ, và hiện thân cho tình thương đó để chúng ta có thể hiểu được; chân lý rằng cả tình thương và trí thông minh đều là kết quả của cái được gọi là Ý Chí của Thượng đế; và cuối cùng là chân lý hiển nhiên rằng chỉ thông qua chính nhân loại, Thiên Cơ mới có thể thực hiện được.” |
|
ALICE A. BAILEY |
|
|
“Matter is the Vehicle for the manifestation |
“Vật chất là Vận Cụ cho sự biểu hiện |
|
of Soul on this plane of existence, and Soul is the |
của Linh hồn trên cõi tồn tại này, và Linh hồn là |
|
Vehicle on a higher plane for the manifestation of |
Vận cụ trên một cõi cao hơn cho sự biểu hiện của |
|
Spirit, and these three are a Trinity synthesized |
Tinh thần, và ba điều này là một Tam Vị được tổng hợp |
|
by Life, which pervades them all.” |
bởi Sự Sống, cái thâm nhập tất cả chúng.” |
|
“THE SECRET DOCTRINE” VOL. I. PAGE 80. |
“GIÁO LÝ BÍ NHIỆM” TẬP I. TRANG 80. |
|
THIRD EDITION |
ẤN BẢN LẦN THỨ BA |
|
THREE SOULS, ONE MAN |
BA LINH HỒN, MỘT CON NGƯỜI |
|
Three souls which make up one soul: first, to wit, |
Ba linh hồn hợp thành một linh hồn: trước hết, |
|
A soul of each and all the bodily parts, |
là linh hồn của từng phần và của toàn thân thể, |
|
Seated therein, which works, and is what Does, |
ngự trong thân, vận hành, là Cái Làm, |
|
And has the use of earth, and ends the man |
và dùng thế giới đất này, và hoàn tất con người |
|
Downward: but, tending upward for advice, |
ở đường đi xuống; nhưng rồi, hướng lên để tìm lời khuyên, |
|
Grows into, and again is grown into |
nó lớn lên thành linh hồn kế tiếp, và lại được linh hồn ấy nâng lên – |
|
By the next soul, which, seated in the brain, |
linh hồn ấy ngự trong bộ não, |
|
Useth the first with its collected use, |
sử dụng linh hồn đầu tiên với toàn bộ công dụng đã tích lũy, |
|
And feeleth, thinketh, willeth,– is what Knows: |
và biết cảm, biết nghĩ, biết muốn – là Cái Biết. |
|
Which, duly tending upward in its turn, |
Và linh hồn này, đến lượt mình hướng lên trên, |
|
Grows into, and again is grown« into |
lớn lên thành, và lại được lớn lên thành |
|
By the last soul, that uses both the first, |
bởi linh hồn cuối cùng, linh hồn sử dụng cả hai linh hồn trước, |
|
Subsisting whether they assist or no, |
vẫn tồn tại dù chúng có trợ giúp hay không, |
|
And, constituting man’s self, is what Is – |
và, cấu thành bản ngã của con người, là Cái Là |
|
And leans upon the former, makes it play, |
và tựa lên linh hồn trước đó, khiến nó vận hành, |
|
As that played off the first: and, tending up, |
như linh hồn ấy khiến linh hồn đầu vận hành; và, hướng lên, |
|
Holds, is upheld by, God, and ends the man |
nắm lấy, được Thượng Đế nâng đỡ, và hoàn tất con người |
|
Upward in that dread point of intercourse, |
ở đường đi lên nơi điểm giao cảm uy nghi ấy, |
|
Nor needs a place, for it returns to Him. |
và không cần nơi chốn nào nữa, vì nó trở về với Ngài. |
|
What Does, what Knows, what Is; three souls, one man. |
Cái Làm, Cái Biết, Cái Là; ba linh hồn, một con người. |
|
|
FROM “DEATH IN THE DESERT”. |
|
BY ROBERT BROWNING. |
CỦA ROBERT BROWNING |
SECTION 1 – CHAPTER I… Introductory Remarks
1. The Three Objectives in Studying the Rays—Ba Mục Tiêu trong Việc Nghiên Cứu Các Cung
|
[3] |
[3] |
|
The study of the rays, and a true and deep comprehension of the inner significance of the teaching, will do for us three things: |
Việc nghiên cứu các cung, cùng với sự thấu hiểu chân thực và sâu sắc ý nghĩa nội tại của giáo lý, sẽ mang lại cho chúng ta ba điều: |
|
A. It will throw much light upon the times and cycles in the unfolding panorama of history. In the last analysis, history is an account of the growth and development of man from the stage of the cave man, with his consciousness centred in his animal life, up to the present time wherein the human consciousness is steadily becoming more inclusive and mental, and so on and up to the stage of a perfected son of God. It is an account of the apprehension, by man, of the creative ideas which have moulded the race and are establishing its destiny. It gives us a dramatic picture of the progress of those souls who are carried in or out of manifestation by the appearance or disappearance of a ray. We shall find, as we study, that words will greatly handicap our expression of the realities involved, and we must endeavour to penetrate beneath the surface meaning to the esoteric structure of truth. These rays are in constant movement and circulation, and demonstrate an activity which is progressive and cyclic and evidences increasing momentum. They are dominant at one time and [4] quiescent at another, and according to the particular ray which is making its presence felt at any particular time, so will be the quality of the civilisation, the type of forms which will make their appearance in the kingdoms of nature, and the consequent stage of awareness (the state of consciousness) of the human beings who are carried into form life in that particular era. These embodied lives (again in all four kingdoms) will be responsive to the peculiar vibration, quality, colouring and nature of the ray in question. The ray in manifestation will affect potently the three bodies which constitute the personality of man, and the influence of the ray will produce changes in the mind content and the emotional nature of the man and determine the calibre of the physical body. |
A. Việc ấy sẽ soi sáng rất nhiều về các thời kỳ và chu kỳ trong toàn cảnh lịch sử đang khai mở. Xét đến cùng, lịch sử là bản tường thuật về sự tăng trưởng và phát triển của con người, từ giai đoạn người sống trong hang động, với tâm thức tập trung vào đời sống thú tính, cho đến thời hiện tại, khi tâm thức nhân loại đang ngày càng trở nên bao quát hơn và thiên về trí tuệ hơn, rồi tiếp tục tiến lên đến giai đoạn một người con hoàn thiện của Thượng đế. Đó là bản tường thuật về việc con người lĩnh hội những ý tưởng sáng tạo đã định hình nhân loại và đang xác lập vận mệnh của nhân loại. Lịch sử cho chúng ta một bức tranh sống động về sự tiến triển của những linh hồn được đưa vào hoặc rút ra khỏi sự biểu hiện theo sự xuất hiện hay biến mất của một cung. Khi nghiên cứu, chúng ta sẽ nhận thấy rằng ngôn từ gây trở ngại rất lớn cho việc diễn đạt những thực tại có liên quan, và chúng ta phải nỗ lực xuyên qua lớp nghĩa bề mặt để thâm nhập vào cấu trúc nội môn của chân lý. Các cung này không ngừng chuyển động và lưu chuyển, biểu lộ một hoạt động vừa tiến triển vừa có tính chu kỳ, với động lực ngày càng gia tăng. Có lúc chúng chiếm ưu thế, và [4] có lúc lại ở trạng thái tĩnh lặng; tùy theo cung cụ thể đang làm cho ảnh hưởng của mình được cảm nhận vào một thời điểm nhất định mà phẩm tính của nền văn minh, loại hình tướng sẽ xuất hiện trong các giới của thiên nhiên, và do đó, giai đoạn nhận biết (trạng thái tâm thức) của những con người được đưa vào đời sống hình tướng trong thời đại ấy, sẽ được xác định. Những sự sống nhập thể này (cũng trong cả bốn giới) sẽ đáp ứng với rung động, phẩm tính, sắc thái và bản chất đặc thù của cung đang được xét đến. Cung đang biểu hiện sẽ tác động mạnh mẽ đến ba thể cấu thành phàm ngã của con người; ảnh hưởng của cung ấy sẽ tạo ra những thay đổi trong nội dung thể trí và bản chất tình cảm của con người, đồng thời quyết định phẩm chất của thể xác. |
|
I am aware, therefore, that in giving out this relatively new teaching upon the rays I may, in my endeavour to shed fresh light, temporarily increase the complexity of the subject. But as experiment is made, as people are studied in the laboratories of the psychologists and the psychoanalysts in connection with their ray indications, and as the newer sciences come into wise use and their proper sphere, we shall gain much and the teaching will find corroboration. We shall see emerging a new approach to the ancient truths, and a new mode of investigating humanity. In the meantime let us concentrate upon the clear enunciation of the truth anent the rays, and seek to tabulate, outline and indicate their nature, purpose and effects. |
Vì vậy, Tôi ý thức rằng, khi truyền dạy giáo lý tương đối mới mẻ này về các cung, trong nỗ lực soi rọi thêm ánh sáng, Tôi có thể tạm thời làm cho đề tài trở nên phức tạp hơn. Nhưng khi việc thực nghiệm được tiến hành, khi con người được nghiên cứu trong các phòng thí nghiệm của các nhà tâm lý học và phân tâm học trong mối liên hệ với những dấu hiệu biểu thị cung của họ, và khi các ngành khoa học mới hơn được vận dụng một cách minh triết, đúng với phạm vi của chúng, chúng ta sẽ thu được nhiều thành quả và giáo lý sẽ được chứng thực. Chúng ta sẽ thấy xuất hiện một cách tiếp cận mới đối với những chân lý cổ xưa, cùng một phương thức mới để khảo cứu nhân loại. Trong khi chờ đợi, chúng ta hãy tập trung vào việc trình bày rõ ràng chân lý về các cung, và tìm cách lập bảng, phác thảo và chỉ ra bản chất, mục đích cùng những tác động của chúng. |
|
The seven rays, being cyclic in appearance, have continuously passed in and out of manifestation and have thus left their mark down the ages upon mankind, and therefore hold the clue to any true historical survey. Such a survey still remains to be made. |
Bảy cung, vốn xuất hiện theo chu kỳ, đã liên tục đi vào rồi rút khỏi sự biểu hiện, và như thế đã để lại dấu ấn của chúng trên nhân loại qua các thời đại; do đó, chúng nắm giữ chìa khóa cho bất kỳ cuộc khảo cứu lịch sử chân thực nào. Một cuộc khảo cứu như thế vẫn còn chưa được thực hiện. |
|
B. A second result of the study of the rays will be to clarify our knowledge as to the nature of man. Modern psychology, experimental and academic, has done much to gather [5] information as to how a man functions, what is the nature of his reactions, the calibre of his thought apparatus and the quality of his physical mechanism, the mode of his thinking and the sum total of complexes, psychoses, neuroses, instincts, intuitions and intellectual fixations which he undoubtedly is. Medical psychology has also given us much, and we have learnt that the human being is entirely conditioned by his instrument of expression and can express no more than his nervous system, brain and glands permit. We find, however, that some of the theories, even the best proven, break down, given varying conditions. The field covered by psychology today is so vast, its schools so many and varied, and its terminology so cumbersome, that I can make no attempt to deal with it here. |
B. Kết quả thứ hai của việc nghiên cứu các cung sẽ là làm sáng tỏ hiểu biết của chúng ta về bản chất con người. Tâm lý học hiện đại, cả thực nghiệm lẫn hàn lâm, đã làm được nhiều việc trong việc thu thập [5] thông tin về cách con người hoạt động, bản chất các phản ứng của họ, phẩm chất bộ máy tư duy và cơ chế thể xác của họ, cách họ suy nghĩ, cùng toàn bộ những phức cảm, chứng loạn thần, chứng loạn thần kinh, bản năng, trực giác và những định chấp trí tuệ mà con người quả thực là tổng thể của chúng. Tâm lý học y khoa cũng đã mang lại cho chúng ta nhiều điều, và chúng ta đã học được rằng con người hoàn toàn bị chi phối bởi công cụ biểu hiện của mình, và không thể biểu hiện vượt quá những gì hệ thần kinh, bộ não và các tuyến cho phép. Tuy nhiên, chúng ta nhận thấy rằng một số lý thuyết, ngay cả những lý thuyết đã được chứng minh vững chắc nhất, cũng không còn đứng vững khi các điều kiện thay đổi. Phạm vi mà tâm lý học ngày nay bao quát rộng lớn đến mức, các trường phái của nó nhiều và đa dạng đến mức, và hệ thuật ngữ của nó cồng kềnh đến mức Tôi không thể bàn đến lĩnh vực ấy ở đây. |
|
The indebtedness of the world to the trained psychologists cannot be estimated, but unless there is a key idea interjected into the whole field of thought, it will fall of its own weight, and produce (as it is already producing) problems, complexes and diseases of the mind which are direct results of its own methods. The knowledge we now have of how men work on the physical plane as integrated personalities, and of how they can be expected to work, given certain conditions, is broad and sound, and the wideness of its grasp can be somewhat gauged if we compare what we know today with what was known a hundred and fifty years ago. But it has been largely based upon a study of the abnormal, and upon the form aspect (this latter being the true scientific method), and is therefore limited and circumscribed when it is put to the test in the last analysis and in the light of the undoubtedly existent supernormal. What I seek to do, and the contribution I seek to make to the subject, have to do with the emphasis we shall lay upon the nature of the integrating principle found within all coherent forms and on that which can (for lack of [6] a better word) be called the soul or self. This principle, which informs the body nature and expresses its reactions through the emotional and mental states, is of course recognised by many schools of psychology, but remains nevertheless an unknown and undefinable quantity. They find it impossible to discover its origin; they know not what it is, whether or no it is an informing entity, detached and separate from the body nature; they question whether it is an integrated energetic sum total brought into existence through the fusion of the body cells, and therefore, through the process of evolution, constituting a thinking, feeling entity; or whether it is no more than the aggregated life and consciousness of the cells themselves. |
Công lao của các nhà tâm lý học được đào tạo chuyên môn đối với thế giới thật không thể đo lường; nhưng nếu không có một ý tưởng then chốt được đưa vào toàn bộ lĩnh vực tư tưởng này, nó sẽ sụp đổ dưới chính sức nặng của mình, và tạo ra những vấn đề, phức cảm và bệnh tật của thể trí vốn là kết quả trực tiếp của chính các phương pháp của nó—như nó đã và đang tạo ra. Kiến thức hiện nay của chúng ta về cách con người hoạt động trên cõi hồng trần với tư cách những phàm ngã tích hợp, và về cách họ có thể được dự đoán là sẽ hoạt động trong những điều kiện nhất định, là sâu rộng và vững chắc; chúng ta có thể phần nào đánh giá tầm bao quát của kiến thức ấy nếu so sánh những gì chúng ta biết ngày nay với những gì đã được biết cách đây một trăm năm mươi năm. Nhưng kiến thức ấy phần lớn được xây dựng trên việc nghiên cứu những trạng thái bất thường và phương diện hình tướng (việc nghiên cứu phương diện hình tướng này chính là phương pháp khoa học đích thực); do đó, xét đến cùng, nó vẫn bị giới hạn và bó hẹp khi được đưa ra kiểm nghiệm dưới ánh sáng của những trạng thái siêu thường vốn chắc chắn hiện hữu. Điều Tôi tìm cách thực hiện, và sự đóng góp mà Tôi muốn đem lại cho đề tài này, liên quan đến việc chúng ta sẽ nhấn mạnh bản chất của nguyên khí tích hợp hiện diện bên trong mọi hình tướng cố kết, và điều mà, vì thiếu [6] một từ thích hợp hơn, có thể được gọi là linh hồn hay bản ngã. Nguyên khí này truyền sự sống cho bản chất thể xác và biểu lộ những phản ứng của nó qua các trạng thái tình cảm và trí tuệ; dĩ nhiên, nhiều trường phái tâm lý học thừa nhận nguyên khí ấy, nhưng nó vẫn là một yếu tố chưa được biết đến và chưa thể định nghĩa. Họ nhận thấy mình không thể khám phá nguồn gốc của nó; họ không biết nó là gì, liệu nó có phải là một thực thể truyền sự sống, tồn tại độc lập và tách biệt với bản chất thể xác hay không; họ đặt câu hỏi liệu nó có phải là một tổng thể năng lượng tích hợp, được hình thành qua sự dung hợp của các tế bào cơ thể, và do đó, qua tiến trình tiến hóa, trở thành một thực thể biết suy nghĩ và cảm nhận; hay nó chẳng qua chỉ là sự sống và tâm thức tập hợp lại của chính các tế bào ấy. |
|
The above is a generalisation which will serve our purpose and will cover the general proposition. It will appear, as we study, that the energies which inform the personalities and which constitute the nature of the human being fall naturally into three groups: |
Những điều trên là một sự khái quát sẽ đáp ứng mục đích của chúng ta và bao quát được luận đề tổng quát. Khi nghiên cứu, sẽ hiển lộ rằng các năng lượng thấm nhuần phàm ngã và cấu thành bản chất của con người tự nhiên rơi vào ba nhóm: |
|
1. Those energies which we call “the spirits in men.” You note here the utter superficiality of that phrase. It is meaningless and misleading. Spirit is One, but within that essential unity the “points of fire” or “the divine sparks” can be seen and noted. These unities, within the unity, are coloured by and react qualitatively to, three types of energy, for it is scientifically true, and a spiritual fact in nature, that God is the Three in One and the One in Three. The spirit of man came into incarnation along a line of force emanation from one or other of these three streams, which form one stream, emanating from the Most High. |
1. Những năng lượng mà chúng ta gọi là “các tinh thần trong con người.” Bạn lưu ý ở đây sự hời hợt hoàn toàn của cụm từ đó. Nó vô nghĩa và gây hiểu lầm. Tinh thần là Một, nhưng trong sự thống nhất thiết yếu đó, các “điểm lửa” hay “các tia lửa thiêng liêng” có thể được nhìn thấy và ghi nhận. Những sự đơn nhất này, trong sự thống nhất, được tô màu bởi và phản ứng một cách định tính với ba loại năng lượng, vì đây là một sự thật khoa học và là một sự thật tinh thần trong thiên nhiên: Thượng đế là Ba trong Một và Một trong Ba. Tinh thần của con người đã đi vào lâm phàm theo một tuyến phát xạ mãnh lực từ một trong ba dòng chảy ấy—những dòng vốn hợp thành một dòng duy nhất, xuất lộ từ Đấng Tối Cao. |
|
2. These streams of energy differentiate into a major three, yet remain one stream. This is an occult fact worthy of [7] the deepest meditation. In their turn they differentiate into seven streams which “carry into the light,” as it is called, the seven types of souls. It is with these seven that we shall deal. |
2. Các dòng năng lượng này phân hóa thành ba dòng chính, nhưng vẫn là một dòng. Đây là một sự thật huyền bí xứng đáng để [7] tham thiền sâu sắc nhất. Đến lượt mình, chúng phân hóa thành bảy dòng, “mang vào ánh sáng,” như nó được gọi, bảy loại linh hồn. Chính với bảy loại này mà chúng ta sẽ đề cập đến. |
|
3. The energies into which the three distribute themselves, thus becoming seven, in their turn produce the forty-nine types of force which express themselves through all the forms in the three worlds and the four kingdoms in nature. You have therefore: |
3. Những năng lượng thành phần mà ba dòng tự phân chia thành, do đó trở thành bảy, đến lượt mình tạo ra bốn mươi chín loại lực thể hiện qua tất cả các hình tướng trong ba cõi và bốn giới trong tự nhiên. Do đó, bạn có: |
|
a. Three monadic groups of energies. The essential Unity expresses, through these three, the qualities of Will, Love and Intelligence. |
a. Ba nhóm năng lượng chân thần. Sự Thống Nhất thiết yếu thể hiện, thông qua ba nhóm này, các phẩm tính của Ý Chí, Tình Thương và Trí Tuệ. |
|
b. Seven groups of energies which are the medium through which the three major groups express the divine qualities. |
b. Bảy nhóm năng lượng là phương tiện qua đó ba nhóm chính thể hiện các phẩm tính thiêng liêng. |
|
c. Forty-nine groups of forces to which all forms respond and which constitute the body of expression for the seven, who in their turn are reflections of the three divine qualities. |
c. Bốn mươi chín nhóm lực mà mọi hình tướng đáp ứng và cấu thành thể biểu hiện cho bảy nhóm, những nhóm này đến lượt mình là phản chiếu của ba phẩm tính thiêng liêng. |
|
In some mysterious ways, therefore, the differentiations which manifest in nature are found in the realm of quality and not in the realm of reality. |
Vì vậy, theo một số cách bí ẩn, các sự phân hóa biểu hiện trong tự nhiên được tìm thấy trong lĩnh vực của phẩm tính và không phải trong lĩnh vực của thực tại. |
|
It is with the seven groups of souls (or soul energies) that we shall deal, and with the threefold forms in the fourth kingdom of nature which they create, and through which they have to express the quality of their ray group and the energy of that one of the three essential groups to which their soul ray is related. We shall therefore, if possible, endeavour to add to modern psychology and enrich its content with that esoteric psychology which deals with the soul or self, the ensouling entity within the form. [8] |
Chúng ta sẽ làm việc với bảy nhóm linh hồn (hoặc các năng lượng linh hồn) và với các hình tướng tam phân trong giới thứ tư của thiên nhiên mà chúng tạo ra, và qua đó chúng phải biểu lộ phẩm tính của nhóm cung của chúng và năng lượng của một trong ba nhóm cốt yếu mà cung linh hồn của chúng liên hệ. Do đó, chúng ta sẽ cố gắng, nếu có thể, đóng góp thêm vào tâm lý học hiện đại và làm phong phú nội dung của nó bằng Tâm Lý Học Nội Môn, vốn bàn về linh hồn hay tự ngã, thực thể phú linh đang ngự trong hình tướng. [8] |
|
C. The third effect of the study of these rays should be twofold. Not only shall we understand somewhat the inner side of history, not only shall we gain an idea of the divine qualities emerging from the three aspects and determining the forms of expression on the physical plane, but we shall have a practical method of analysis whereby we can arrive at a right understanding of ourselves as ensouling entities, and at a wiser comprehension of our fellowmen. When, through our study, we ascertain for instance that the tendency of our soul ray is that of will or power, but that the ray governing the personality is that of devotion, we can more truly gauge our opportunity, our capacities and our limitations; we can more justly determine our vocation and service, our assets and our debits, our true value and strength. When we can add to that knowledge an analysis which enables us to realise that the physical body is reacting preeminently to the soul ray, whilst the emotional body is under the influence of the personality ray which is historically in manifestation at the time, we are then in a position to gauge our particular problem with judgment. We can then deal more intelligently with ourselves, with our children and with our friends and associates. We shall find ourselves able to cooperate more wisely with the Plan as it is seeking expression at any particular time. |
C. Tác động thứ ba của việc nghiên cứu các cung nên mang tính lưỡng phân. Không những chúng ta sẽ phần nào hiểu được mặt bên trong của lịch sử, không những chúng ta sẽ có một ý tưởng về các phẩm tính thiêng liêng đang xuất lộ từ ba phương diện và quyết định các hình thức biểu lộ trên cõi hồng trần, mà chúng ta còn có được một phương pháp phân tích thực tiễn nhờ đó chúng ta có thể đạt đến sự thấu hiểu đúng đắn về chính mình như những thực thể phú linh, và đạt đến một sự thấu hiểu minh triết hơn về đồng loại. Khi qua việc nghiên cứu, chúng ta xác định được, chẳng hạn, rằng khuynh hướng của cung linh hồn của mình là ý chí hay quyền năng, nhưng cung cai quản phàm ngã lại là cung sùng tín, chúng ta có thể lượng giá đúng hơn cơ hội, các năng lực và những giới hạn của mình; chúng ta có thể xác định công việc và phụng sự của mình, các sở trường và sở đoản, giá trị và sức mạnh chân thực của mình một cách công bằng hơn. Khi chúng ta có thể bổ sung vào hiểu biết ấy một phân tích cho phép chúng ta nhận ra rằng thể xác đang phản ứng nổi bật với cung linh hồn, trong khi thể cảm dục lại chịu ảnh hưởng của cung phàm ngã vốn đang biểu lộ theo chu kỳ của nó vào thời điểm ấy, chúng ta sẽ ở trong vị thế có thể lượng định vấn đề riêng của mình một cách sáng suốt. Lúc ấy, chúng ta có thể cư xử với chính mình, với con cái và với bạn bè, cộng sự một cách thông tuệ hơn. Chúng ta sẽ thấy mình có khả năng hợp tác một cách minh triết hơn với Thiên Cơ khi nó tìm cách biểu lộ vào bất kỳ thời điểm nào. |
|
It is a platitude to say that the true meaning of “psychology” is the “word of the soul.” It is the sound, producing an effect in matter, which a particular ray may make. This is in some ways a difficult way of expressing it, but if it is realised that each of the seven rays emits its own sound, and in so doing sets in motion those forces which must work in unison with it, the entire question of man’s free will, of his eternal destiny and of his power to be self-assertive comes up for solution. These questions we shall seek to answer as we proceed. |
Chẳng có gì mới khi nói rằng ý nghĩa thực sự của “tâm lý học” là “lời của linh hồn.” Đó là âm thanh—tạo ra một tác động trong vật chất—mà một cung đặc thù có thể phát ra. Đây, theo một vài cách, là một lối diễn đạt khó, nhưng nếu người ta nhận ra rằng mỗi trong bảy cung phát xạ âm thanh riêng của nó, và khi làm như vậy, nó khởi động những mãnh lực phải vận hành hòa điệu với nó, thì toàn bộ vấn đề về ý chí tự do của con người, về định mệnh vĩnh cửu của y và về quyền năng tự khẳng định của y sẽ được đặt ra để tìm lời giải. Chúng ta sẽ tìm cách trả lời những câu hỏi này khi tiếp tục tiến trình nghiên cứu. |
|
[9] |
[9] |
|
Some of the points which I may seek to make clear will not be capable of substantiation and cannot be proved by you. These it would be wise to accept as working hypotheses, in order to understand that whereof I seek to speak. Some of the points I may make you may find yourself capable of checking up in your own life experience, and they will call forth from you a recognition coming from your concrete mind; or they may produce in you a reaction of the intensest conviction, emanating from your intuitively aware Self. In any case, read slowly; apply the laws of analogy and of correspondence; study yourself and your brethren; seek to link what I say to any knowledge you may possess of the modern theories, and remember that the more truly you live as a soul the more surely you will comprehend that which may be imparted. |
Một vài điểm mà tôi có thể tìm cách làm sáng tỏ sẽ không thể được chứng minh và các bạn cũng không thể kiểm chứng. Sẽ là điều khôn ngoan nếu chấp nhận chúng như những giả thuyết làm việc, để có thể hiểu điều mà tôi đang cố gắng trình bày. Một vài điểm tôi nêu ra, các bạn có thể thấy mình có khả năng kiểm nghiệm từ chính kinh nghiệm sống của mình, và chúng sẽ gợi lên nơi các bạn một sự nhận biết xuất phát từ trí cụ thể; hoặc chúng có thể tạo nơi các bạn một phản ứng của sự xác tín mãnh liệt nhất, phát xuất từ Bản Ngã có trực giác tỉnh thức của các bạn. Dù trong trường hợp nào, hãy đọc chậm rãi; hãy áp dụng các định luật tương đồng và tương ứng; hãy nghiên cứu chính mình và các huynh đệ; hãy cố gắng nối kết những điều tôi nói với bất kỳ hiểu biết nào mà các bạn có về các học thuyết hiện đại, và hãy ghi nhớ rằng các bạn càng thực sự sống như một linh hồn bao nhiêu thì các bạn càng chắc chắn thấu hiểu điều có thể được truyền đạt bấy nhiêu. |
|
As you study you must not forget the basic concept that in all occult work one is occupied with energy—energy units, energy embodied in forms, energy streams in flow; and that these energies are made potent and embody our purpose through the use of thought; they follow along the well-defined thought currents of the group. |
Khi các bạn nghiên cứu, các bạn không được quên khái niệm cơ bản rằng trong mọi công việc huyền bí, người ta làm việc với năng lượng—các đơn vị năng lượng, năng lượng được hiện thân trong các hình tướng, các dòng năng lượng đang tuôn chảy; và rằng các năng lượng này được làm cho mạnh mẽ và thể hiện mục đích của chúng ta thông qua việc sử dụng tư tưởng; chúng đi theo các dòng tư tưởng được xác định rõ ràng của nhóm. |
|
It must be remembered, however, that it is in this region of thought that the cleavage comes between black and white magic. It is in the use of thought power that the two aspects of magic can be seen functioning, and therefore it is true that there is no black magic, per se, until one reaches the realm of mind. No one can be a black magician until the will and the thought work in unison, until mind control and the creative work of the focussed mind can be seen. It has oft been said the black magician is rare, indeed, and that is verily true, because the creative thinker, with power to use the sustained will, is also rare. |
Tuy nhiên, cần ghi nhớ rằng chính ở vùng tư tưởng này mà sự phân tách giữa hắc thuật và chánh thuật xuất hiện. Chính trong việc sử dụng quyền năng của tư tưởng mà hai phương diện của huyền thuật có thể được thấy đang vận hành; và do đó, đúng là không có hắc thuật, xét chính nó, cho đến khi con người đạt đến cõi trí. Không ai có thể là một huyền thuật gia hắc đạo cho đến khi ý chí và tư tưởng vận hành hòa điệu, cho đến khi có thể thấy được sự kiểm soát thể trí và công việc sáng tạo của thể trí được tập trung nhất tâm. Người ta thường nói rằng nhà hắc thuật thật hiếm hoi, và điều đó thực sự đúng, vì nhà tư tưởng sáng tạo có quyền năng sử dụng ý chí bền bỉ cũng hiếm hoi không kém. |
|
Let me illustrate. There is need for clear thinking on these matters, for as we study the psychology of the microcosm [10] and arrive at an understanding of his ray impulses and energies we shall need to see clearly the way we go so that we shall tread the path of selflessness, leading to group awareness, and not the path of individualism, leading eventually and inevitably (as the mind aspect becomes organised) to the left hand path of black magic. |
Hãy để tôi minh họa. Cần có sự tư duy rõ ràng về các vấn đề này, vì khi chúng ta nghiên cứu tâm lý học của tiểu thiên địa [10] và đi đến sự thấu hiểu về các xung lực và năng lượng cung của y, chúng ta sẽ cần phải thấy rõ ràng con đường chúng ta đi để chúng ta sẽ bước trên con đường của sự vô ngã, dẫn đến tâm thức nhóm, chứ không phải con đường của chủ nghĩa cá nhân, dẫn đến cuối cùng và chắc chắn (khi phương diện trí tuệ trở nên có tổ chức) đến tả đạo của hắc thuật. |
|
Those strong souls who consciously and knowingly enter into the realms of spiritual force and take thence that which they need and that which they choose, must work with intelligence, so that there may be a subsequent wise distribution of force within a chosen area. Those who know themselves to be in the rank and file of aspirants, but who possess the persistence which will drive them forward to the goal, need to remember that theirs is the responsibility of adding their quota to the sum total, and that this is done every time they think of the group, correspond with a fellow aspirant or meditate. |
Những linh hồn mạnh mẽ, những người một cách có ý thức và hiểu biết bước vào các cõi của mãnh lực tinh thần và từ đó lấy những gì họ cần và những gì họ chọn, phải làm việc với trí tuệ, để rồi có thể phân phối một cách minh triết mãnh lực ấy trong một khu vực đã được chọn. Những người biết mình thuộc hàng ngũ của các người chí nguyện, nhưng có sự bền chí sẽ thúc đẩy họ tiến về mục tiêu, cần ghi nhớ rằng trách nhiệm của họ là đóng góp phần của mình vào tổng số chung, và điều này được thực hiện mỗi khi họ nghĩ về nhóm, thư từ với một người chí nguyện đồng môn, hoặc tham thiền. |
|
Extend the idea, then, from the student in a group to the group itself, regarding it as a group unit within a larger group. You have there a perfect analogy to the way the Great Ones work at this time. Regard, therefore, all your work as group work, causing effects which are inevitable and contributing to the potency of the group thought form. |
Khi đó, hãy mở rộng ý tưởng từ đạo sinh trong một nhóm đến chính nhóm đó, coi nó như một đơn vị nhóm trong một nhóm lớn hơn. Bạn có ở đó một sự tương đồng hoàn hảo với cách Các Đấng Cao Cả làm việc vào lúc này. Do đó, hãy coi tất cả công việc của bạn là công việc nhóm, gây ra những hiệu ứng là tất yếu và đóng góp vào uy lực của hình tư tưởng nhóm. |
|
The second thing upon which I seek to touch concerns the testing going on inevitably among the aspirants and disciples at this time. This is not so much a testing of their place upon the Path, as of their power to live in the world as citizens of another kingdom, and as the custodians of that which the world as a rule does not recognise. In so far as that testing is applied, and in so far as it can be gauged, I seek to point out that the testing is not applied, as some think, because of their affiliation with any group or because of their one-pointed determination to tread the Path. It is applied because the aspirants” own souls so ordained it, prior to incarnation, and it [11] was the will of their souls that a certain measure of growth, hitherto unknown, should be attained, a certain degree of detachment from form should be achieved, and a certain preparation should be undergone which would lead to a liberation from the form life. The idea that a renewed effort towards the goal of spiritual light is the cause of trouble or precipitates disaster is not a statement of fact. The extent of the discipline to be undergone by a disciple is settled and known by his soul before he even takes a body; it is determined by law. |
Điều thứ hai mà tôi muốn đề cập liên quan đến sự thử thách đang diễn ra một cách tất yếu nơi các người chí nguyện và các đệ tử vào thời điểm này. Đây không phải là sự thử thách về vị trí của họ trên Đường Đạo, mà là về khả năng của họ sống trong thế gian như những công dân của một vương quốc khác, và như những người gìn giữ điều mà thế gian nhìn chung không nhận biết. Trong phạm vi sự thử thách ấy được áp dụng, và trong phạm vi nó có thể được lượng định, tôi muốn chỉ ra rằng sự thử thách không được áp đặt, như một số người nghĩ, vì sự liên kết của họ với bất kỳ nhóm nào hoặc vì quyết tâm nhất tâm của họ để bước đi trên Đường Đạo. Nó được áp dụng vì chính linh hồn của các người chí nguyện đã an bài như vậy trước khi lâm phàm, và [11] chính là ý chí của linh hồn họ rằng một mức độ tăng trưởng nào đó—cho đến nay chưa từng biết đến—phải được đạt tới, một mức độ ly cách khỏi hình tướng phải được thực hiện, và một sự chuẩn bị nào đó phải được kinh qua để dẫn đến sự giải thoát khỏi đời sống hình tướng. Quan niệm cho rằng một nỗ lực mới hướng đến mục tiêu của ánh sáng tinh thần là nguyên nhân của khó khăn hoặc là điều khiến tai họa ngưng tụ xuống không phải là một phát biểu đúng sự thật. Mức độ kỷ luật mà một đệ tử phải trải qua được linh hồn y ấn định và biết trước ngay cả trước khi y khoác lấy một thân thể; nó được xác lập bởi định luật. |
|
It is this problem of energy units and their mutual interplay which underlies the entire subject of the rays which we shall seek to investigate. Every group in the world is a nucleus for the focussing and interplay of the seven types of force, just as every human being is also a meeting place for the seven types of energy,—two in the ascendant and five less potent. Every group can consequently be a creative centre and produce that which is an expression of the controlling energies and of the directed thought of the thinkers in the group. From the standpoint of Those Who see and guide, therefore, every group is constructing something that is relatively tangible and governed by certain building laws. The great work of the Builders proceeds steadily. Often that which is built is inchoate, futile and without form or purpose, and of no use to either gods or men. But the race as a whole is now coming into an era wherein the mind is becoming a potent factor; many are learning to hold the mind steady in the light, and consequently are receptive to ideas hitherto unrecognised. If a group of minds can be so drawn together and fused into an adequate synthesis, and if they (in their individual and daily meditation) keep focussed or oriented towards that which can be apprehended, great concepts can be grasped and great ideas intuited. Men can train themselves—as a group—to think these intuited ideas of the true and the beautiful and of the Plan into manifested [12] existence, and thus a creation of beauty, embodying a divine principle, can be built. Ponder on this, seek to fit yourselves for the registering of these ideas, and train yourselves to formulate them into thoughts and to transmit them so that others can apprehend them also. This is the nature of the real work to be done by the new groups, and students today who can grasp this idea have the opportunity to do some of this pioneering work. |
Chính vấn đề về các đơn vị năng lượng và sự tương tác qua lại của chúng là điều nằm bên dưới toàn bộ chủ đề về các cung mà chúng ta sẽ tìm cách khảo sát. Mỗi nhóm trên thế giới là một hạt nhân để tập trung và tương tác bảy loại mãnh lực, cũng như mỗi con người cũng là một nơi hội tụ của bảy loại năng lượng—hai loại trội hơn và năm loại kém mạnh hơn. Do đó, mỗi nhóm đều có thể là một trung tâm sáng tạo và có thể sản sinh ra điều gì đó biểu lộ các năng lượng kiểm soát và tư tưởng được hướng dẫn của những người tư duy trong nhóm. Vì vậy, từ quan điểm của Các Ngài—những Đấng nhìn thấy và dẫn dắt—mỗi nhóm đang kiến tạo một điều gì đó tương đối hữu hình và được quy định bởi những định luật kiến tạo nhất định. Công việc vĩ đại của các Đấng Kiến Tạo vẫn tiếp diễn đều đặn. Thường thì điều được kiến tạo còn rời rạc, vô ích và không có hình tướng hay mục đích, và chẳng mang lại ích lợi gì cho cả chư thần lẫn con người. Nhưng nhân loại như một toàn thể hiện đang bước vào một thời kỳ mà thể trí đang trở thành một yếu tố có uy lực; nhiều người đang học cách giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng và do đó trở nên tiếp nhận được những ý tưởng trước nay chưa từng được nhận biết. Nếu một nhóm các thể trí có thể được quy tụ với nhau và dung hợp thành một sự tổng hợp đầy đủ, và nếu họ (trong sự tham thiền cá nhân và hằng ngày) giữ cho mình được tập trung nhất tâm hay được định hướng vào điều có thể được lĩnh hội, thì các khái niệm lớn lao có thể được nắm bắt và các ý tưởng vĩ đại có thể được trực nhận. Con người có thể tự rèn luyện mình—như một nhóm—để tư duy những ý tưởng được trực nhận ấy về điều chân thật và điều đẹp đẽ và về Thiên Cơ thành sự biểu lộ [12], và như vậy có thể được kiến tạo một sáng tạo của vẻ đẹp, thấm nhuần một nguyên lý thiêng liêng. Hãy suy ngẫm về điều này, hãy tìm cách chuẩn bị cho chính mình để ghi nhận những ý tưởng này, và hãy rèn luyện bản thân để hình thành chúng thành tư tưởng và truyền đạt chúng để những người khác cũng có thể lĩnh hội. Đây là bản chất của công việc chân thực cần được thực hiện bởi các nhóm mới, và những đạo sinh ngày nay có thể nắm bắt được ý tưởng này thì có cơ hội thực hiện một phần công tác tiên phong ấy. |
|
Always the individual of advancement and of poise has been able to do this intuiting, and to concretise the idea. Groups of students meditating synchronously should now attempt to do the same. The effort to synchronise effort does not relate so much to the time element as to unity of intent and of purpose. |
Luôn luôn, cá nhân nào có tiến bộ và có sự quân bình đều có thể thực hiện việc trực giác này và kết tinh ý tưởng thành hình tướng. Giờ đây, các nhóm đạo sinh tham thiền đồng bộ nên cố gắng làm điều tương tự. Nỗ lực đồng bộ hóa công việc không liên quan nhiều đến yếu tố thời gian cho bằng sự hợp nhất về ý định và mục tiêu. |
|
There is to be found today in the realm of the intuition much of wonder; this can be contacted. It is now the privilege of the race to contact that “raincloud of knowable things” to which the ancient seer Patanjali refers in his fourth book; the race, through its many aspirants, can today precipitate this “raincloud” so that the brains of men everywhere can register the contact. Hitherto this has been the privilege of the illumined and rare seer. In this way the New Age will be ushered in and the new knowledge will enter into the minds of humanity. |
Ngày nay trong lĩnh vực của trực giác có thể tìm thấy nhiều điều kỳ diệu; điều này có thể được tiếp xúc. Giờ đây là đặc quyền của nhân loại để tiếp xúc với “đám mây mưa của những điều khả tri” mà nhà tiên kiến cổ xưa Patanjali đề cập đến trong quyển sách thứ tư của ông; nhân loại, thông qua nhiều người chí nguyện của nó, ngày nay có thể làm ngưng tụ “đám mây mưa” này để bộ não của con người ở khắp mọi nơi có thể ghi nhận sự tiếp xúc. Cho đến nay đây là đặc quyền của nhà tiên kiến được soi sáng và hiếm hoi. Theo cách này, Thời Đại Mới sẽ được khai mở và kiến thức mới sẽ đi vào tâm trí của nhân loại. |
|
This can be practically demonstrated if those who are interested in this Treatise on the Seven Rays can attune themselves to think clearly, and with a poised and illumined mind seek to understand what is relatively a new aspect of truth. |
Điều này có thể được chứng minh một cách thực tiễn nếu những người quan tâm đến Luận về Bảy Cung này có thể hòa hợp bản thân để suy nghĩ rõ ràng, và với một thể trí quân bình, được soi sáng, tìm cách thấu hiểu cái tương đối là một phương diện mới của chân lý. |
|
In undertaking to reveal something anent the nature of the seven rays, I feel it necessary to remind all of you who take up this study that any speculation as to the emanating source of the rays must remain profitless until there is developed within each student that apparatus of response and that sensitive mechanism which will enable him to register a wider field of contacts than is at present possible. Many are as yet in [13] the initial stage of registering an awareness of a field of expression which they know exists—the field of soul awareness—but which is not yet for them their normal field of expression. Many know a great deal about it, theoretically, but the practical effects of applied knowledge are not yet theirs. Many are conscious of consciousness, and are aware of the kingdom of the soul and of an occasional reaction to impression from that kingdom, but they are not yet consciousness itself, nor so identified with the soul that consciousness of all else drops away. To achieve that is their aim and objective. |
Khi đảm nhận việc tiết lộ đôi điều về bản chất của bảy cung, tôi cảm thấy cần thiết phải nhắc nhở tất cả các bạn, những người bắt đầu nghiên cứu này, rằng bất kỳ sự suy đoán nào về nguồn phát xuất của các cung đều sẽ không có lợi cho đến khi bên trong mỗi đạo sinh phát triển bộ máy đáp ứng và cơ chế nhạy cảm sẽ cho phép y ghi nhận một lĩnh vực tiếp xúc rộng hơn mức có thể hiện tại. Nhiều người vẫn còn đang trong [13] giai đoạn ban đầu của việc ghi nhận một nhận thức về một lĩnh vực biểu hiện mà họ biết là tồn tại—lĩnh vực nhận thức linh hồn—nhưng lĩnh vực đó chưa phải là lĩnh vực biểu hiện bình thường đối với họ. Nhiều người biết rất nhiều về nó, về mặt lý thuyết, nhưng những tác dụng thực tiễn của kiến thức ứng dụng vẫn chưa thuộc về họ. Nhiều người có ý thức về tâm thức, và nhận thức được vương quốc của linh hồn và về một phản ứng thỉnh thoảng đối với ấn tượng từ vương quốc đó, nhưng họ chưa phải là chính tâm thức, cũng không đồng nhất với linh hồn đến mức tâm thức về mọi điều khác đều tan biến. Đạt được điều đó là mục đích và mục tiêu của họ. |
|
Let me also remind you that the career of the Monad (an aspect of energy found on one or other of the three major rays) can be roughly divided into three parts, leading to a fourth: |
Hãy để tôi cũng nhắc nhở các bạn rằng sự nghiệp của Chân Thần (một phương diện năng lượng được tìm thấy trên cung này hoặc cung khác của ba cung chính) có thể được chia đại khái thành ba phần, dẫn đến phần thứ tư: |
|
1. A lower realisation of a unity which is the unit of the form nature. In this unity, the soul is so closely identified with the matter aspect that it sees no distinction, but is the form, and knows not itself as soul. This often reaches its height in some life of full personality expression, wherein the soul is completely centred in personality reactions; the lower life is so strong and vital that a powerful and material expression eventuates. |
1. Một sự nhận biết ở cấp độ thấp hơn về sự thống nhất vốn là đơn vị của bản chất hình tướng. Trong sự thống nhất này, linh hồn được đồng nhất chặt chẽ với phương diện vật chất đến nỗi nó không thấy sự phân biệt nào, mà là hình tướng, và không biết chính mình là linh hồn. Điều này thường đạt đến đỉnh cao trong một kiếp sống biểu hiện phàm ngã trọn vẹn, trong đó linh hồn hoàn toàn tập trung vào các phản ứng của phàm ngã; đời sống hạ đẳng mạnh mẽ và đầy sức sống đến nỗi một biểu hiện đầy uy lực và vật chất diễn ra. |
|
2. A subsequent and painful differentiation of the consciousness into a realised duality. In this condition, the man is distinctly aware of what is termed his essential duality; he knows he is spirit-matter, is form-life, and is the soul in manifestation. During this stage, which covers many lives and carries the man along the path of probation and discipleship as far as the third initiation, the centre of gravity (if I may so express it) shifts steadily out of the form side and centres itself more and more in that of the soul. There is a growing consciousness that there is a [14] Reality which embraces, and at the same time extinguishes, duality. |
2. Một sự phân hóa đau đớn sau đó của tâm thức thành một nhị nguyên tính được chứng nghiệm. Trong điều kiện này, con người nhận thức rõ ràng về cái được gọi là nhị nguyên tính thiết yếu của mình; y biết mình là tinh thần-vật chất, là hình tướng-sự sống, và là linh hồn trong biểu hiện. Trong giai đoạn này, kéo dài nhiều kiếp sống và đưa con người đi dọc theo Con Đường Dự Bị và Con Đường Đệ Tử cho đến lần điểm đạo thứ ba, trọng tâm (nếu tôi có thể diễn đạt như vậy) chuyển dịch đều đặn ra khỏi phía hình tướng và tập trung ngày càng nhiều vào phía của linh hồn. Tâm thức ngày càng nhận biết rằng có một [14] Thực Tại bao trùm, và đồng thời dập tắt, nhị nguyên tính. |
|
Remember that the entire story of evolution is the story of consciousness, and of a growing expansion of the “becoming-aware” principle, so that from the microscopic interest of the self-conscious man—for we shall retain the parable within the confines of the fourth kingdom in nature—we have a slowly developing inclusiveness which finally leads him into the consciousness of the cosmic Christ. |
Hãy nhớ rằng toàn bộ câu chuyện về sự tiến hóa là câu chuyện về tâm thức, và về một sự mở rộng ngày càng tăng của nguyên lý “trở nên-nhận biết”, để từ mối quan tâm vi mô của con người có ngã thức—vì chúng ta sẽ giữ câu chuyện ngụ ngôn trong giới hạn của giới thứ tư trong tự nhiên—chúng ta có một tính bao gồm đang phát triển chậm chạp, cuối cùng dẫn y vào tâm thức của Đức Christ vũ trụ. |
|
3. The higher realisation of unity follows upon this sense of duality, and in this final stage the sense of being soul and body is lost. The consciousness identifies itself with the indwelling Life of the planet and of the solar system. When this happens, there is the registering of a state of being which lies beyond word, mind and form expression of any kind. |
3. Sự chứng nghiệm cao hơn về sự thống nhất theo sau cảm giác về nhị nguyên tính này, và trong giai đoạn cuối cùng này, cảm giác là linh hồn và cơ thể bị mất đi. Tâm thức đồng nhất chính nó với Sự Sống nội tại của hành tinh và của thái dương hệ. Khi điều này xảy ra, có sự ghi nhận một trạng thái tồn tại nằm ngoài từ ngữ, tâm trí và biểu hiện hình tướng dưới bất kỳ loại nào. |
|
The great Jewish seer sought to convey these three stages in the words, I Am—That—I Am. He thus expressed them tritely and succinctly and adequately, had we but the development to know it. The third (however understood) defies expression, and hints at a fourth type of realisation which is that of Deity itself, about which it profits us not to speculate. |
Nhà tiên kiến Do Thái vĩ đại đã tìm cách truyền tải ba giai đoạn này trong các từ, Ta Là—Cái Đó—Ta Là. Ông do đó đã diễn đạt chúng một cách súc tích, ngắn gọn và đầy đủ, nếu chúng ta có sự phát triển để biết điều đó. Giai đoạn thứ ba (dù được hiểu như thế nào) bất chấp sự diễn đạt, và gợi ý về một loại chứng nghiệm thứ tư đó là của chính Thượng đế, về điều mà chúng ta không có lợi gì khi suy đoán. |
2. Life-Quality-Appearance—Sự Sống-Phẩm Tính- Sắc Tướng
3. The Seven Rays Enumerated—Bảy Cung Được Liệt Kê
|
As part of the initial Plan, the one Life sought expansion, and the seven aeons or emanations came forth from the central vortex and actively repeated the earlier process in all its details. They too came into manifestation and in the work of expressing active life, qualified by love and limited by an outward phenomenal appearance, they swept into a secondary activity and became the seven Builders, the seven Sources of [23] life and the seven Rishis of all the ancient scriptures. They are the original psychic Entities, imbued with the capacity to express love (which involves the concept of duality, for the loving and the loved, the desiring and the desired, must here be posited) and to emerge from subjective being into objective becoming. We call these seven by various names, as follows: |
Như một phần của Thiên Cơ ban đầu, Sự Sống Duy Nhất tìm kiếm sự mở rộng, và bảy Aeon hay bảy sự xuất lộ đã đi ra từ xoáy trung tâm và lặp lại tích cực quá trình trước đó trong tất cả các chi tiết của nó. Các Ngài cũng đi vào biểu hiện và trong công việc thể hiện sự sống tích cực, được định tính bởi tình thương và bị giới hạn bởi một sắc tướng hiện tượng bên ngoài, Các Ngài bước vào một hoạt động thứ cấp và trở thành bảy Đấng Kiến Tạo, bảy Nguồn [23] sống và bảy Rishi của tất cả các kinh điển cổ xưa. Các Ngài là các Thực Thể thông linh nguyên sơ, được thấm nhuần khả năng thể hiện tình thương (liên quan đến khái niệm về nhị nguyên tính, vì người yêu và kẻ được yêu, người mong muốn và cái được mong muốn, phải được giả định ở đây) và để nổi lên từ bản thể chủ quan vào sự trở thành khách quan. Chúng ta gọi bảy Đấng này bằng nhiều tên khác nhau, như sau: |
|
1. The Lord of Power or Will. This Life wills to love, and uses power as an expression of divine beneficence. For His body of manifestation He uses that planet for which the sun is regarded as the esoteric substitute. |
1. Đức Chúa Tể của Quyền Năng hay Ý Chí. Sự Sống này muốn yêu thương, và sử dụng quyền năng như một biểu hiện của lòng nhân từ thiêng liêng. Đối với thể biểu hiện của Ngài, Ngài sử dụng hành tinh mà mặt trời được coi là vật thay thế nội môn. |
|
2. The Lord of Love-Wisdom, Who is the embodiment of pure love, is regarded by esotericists as being as close to the heart of the Solar Logos as was the beloved disciple close to the heart of the Christ of Galilee. This Life instils into all forms the quality of love, with its more material manifestation of desire, and is the attractive principle in nature and the custodian of the Law of Attraction, which is the life-demonstration of pure Being. This Lord of Love is the most potent of the seven rays, because He is on the same cosmic ray as the solar Deity. He expresses Himself primarily through the planet Jupiter, which is His body of manifestation. |
2. Đức Chúa Tể của Bác Ái – Minh Triết, Ngài là hiện thân của tình thương thuần khiết, được các nhà huyền bí học coi là gần gũi với trái tim của Thái dương Thượng đế, giống như người đệ tử yêu dấu gần gũi với trái tim của Đức Christ xứ Galilee. Sự Sống này thấm nhuần vào tất cả các hình tướng phẩm tính tình thương, với biểu hiện vật chất hơn của nó là ham muốn, và là nguyên lý hấp dẫn trong tự nhiên và là người trông coi Định luật Hấp dẫn, là sự thể hiện-sự sống của Bản thể thuần khiết. Đức Chúa Tể của Tình Thương này mạnh mẽ nhất trong bảy cung, bởi vì Ngài ở trên cùng cung vũ trụ như Thái dương Thượng đế. Ngài thể hiện Chính Ngài chủ yếu thông qua hành tinh Sao Mộc, là thể biểu hiện của Ngài. |
|
3. The Lord of Active Intelligence. His work is more closely linked to matter and He works in cooperation with the Lord of the second ray. He is the motivating impulse in the initial work of creation. The planet Saturn is His body of expression within the solar system, and through the medium of matter (which beneficently obstructs and hinders) He provides humanity with a vast field of experiment and experience. |
3. Đức Chúa Tể của Hoạt Động Thông Tuệ. Công việc của Ngài liên kết chặt chẽ hơn với vật chất và Ngài làm việc hợp tác với Đức Chúa Tể cung hai. Ngài là xung lực thúc đẩy trong công việc ban đầu của sự sáng tạo. Hành tinh Sao Thổ là thể biểu hiện của Ngài trong thái dương hệ, và thông qua trung gian của vật chất (cái cản trở và gây trở ngại một cách nhân từ), Ngài cung cấp cho nhân loại một lĩnh vực thử nghiệm và kinh nghiệm rộng lớn. |
|
I should like to point out here that when I speak in terms of [24] personality and perforce employ the personal pronoun, I must not be accused of personalizing these great forces. I speak in terms of entity, of pure Being, and not in terms of human personality. But the handicap of language persists; and in teaching those who think in terms of the lower concrete mind, and whose intuition is dormant or only manifesting in flashes, I am compelled to speak in parables and use the language of word symbols. Let me point out also that all statements which I may make are in relation to our particular planet and couched in terms that can be understood by the humanity which our planet has produced. The work, as I outline it, constitutes only a fraction of the work undertaken by these Beings; They each have Their own purpose and radius of influence, and as our Earth is not one of the seven sacred planets (nor the body of manifestation of one of the basic seven rays), They have purposes and activities in which our Earth plays only a minor part. |
Tôi muốn chỉ ra ở đây rằng khi tôi nói bằng các thuật ngữ về [24] phàm ngã và bắt buộc phải sử dụng đại từ nhân xưng, không nên quy cho tôi việc nhân cách hóa các mãnh lực vĩ đại này. Tôi đang nói theo các thuật ngữ của thực thể, của Bản Thể thuần khiết, và không theo các thuật ngữ của phàm ngã con người. Nhưng sự hạn chế của ngôn ngữ vẫn tồn tại; và trong việc dạy những người suy nghĩ theo các thuật ngữ của hạ trí cụ thể, và những người mà trực giác đang ngủ yên hoặc chỉ biểu hiện trong những tia chớp, tôi buộc phải nói bằng những câu chuyện ngụ ngôn và sử dụng ngôn ngữ của các biểu tượng từ ngữ. Hãy để tôi cũng chỉ ra rằng tất cả các tuyên bố mà tôi có thể đưa ra đều liên quan đến hành tinh cụ thể của chúng ta và được diễn đạt bằng các thuật ngữ có thể được hiểu bởi nhân loại mà hành tinh của chúng ta đã sản sinh. Như tôi phác thảo, công việc chỉ cấu thành một phần nhỏ của công việc được đảm nhận bởi các Đấng này; Mỗi Ngài có mục đích và phạm vi ảnh hưởng riêng của Mình, và vì Trái Đất của chúng ta không phải là một trong bảy hành tinh thiêng liêng (cũng không phải là thể biểu hiện của một trong bảy cung cơ bản), Các Ngài có những mục đích và hoạt động trong đó Trái Đất của chúng ta chỉ đóng một phần nhỏ. |
|
4. The Lord of Harmony, Beauty and Art. The main function of this Being is the creation of Beauty (as an expression of truth) through the free interplay of life and form, basing the design of beauty upon the initial plan as it exists in the mind of the solar Logos. The body of manifestation of this life is not revealed, but the activity emanating from it produces that combination of sounds, colours and word music that expresses—through the form of the ideal—that which is the originating idea. This fourth Lord of creative expression will resume activity upon the Earth about six hundred years hence, though already the first faint impress of His influence is being felt and the next century will see a re-awakening of creative art in all its branches. |
4. Đức Chúa Tể của Sự Hài Hòa, Vẻ Đẹp và Nghệ Thuật. Chức năng chính của Ngài là sự sáng tạo Vẻ Đẹp (như một biểu hiện của chân lý) thông qua sự tương tác tự do của sự sống và hình tướng, dựa trên thiết kế của vẻ đẹp trên kế hoạch ban đầu khi nó tồn tại trong trí của Thái dương Thượng đế. Thể biểu hiện của sự sống này không được tiết lộ, nhưng hoạt động phát ra từ nó tạo ra sự kết hợp của âm thanh, màu sắc và âm nhạc từ ngữ thể hiện—thông qua hình tướng của lý tưởng—cái là ý tưởng khởi sinh. Đức Chúa Tể thứ tư của biểu hiện sáng tạo này sẽ tiếp tục hoạt động trên Trái Đất khoảng sáu trăm năm nữa, mặc dù ấn tượng mờ nhạt đầu tiên về ảnh hưởng của Ngài đã được cảm nhận và thế kỷ tới sẽ chứng kiến sự thức tỉnh lại của nghệ thuật sáng tạo trong tất cả các nhánh của nó. |
|
5. The Lord of Concrete Knowledge and Science. This is a Great Life in close touch with the mind of the creative [25] Deity, just as the Lord of the second ray is in close touch with the heart of that same Deity. His influence is great at this time, though not as potent as it will be later. Science is a psychological unfoldment in man due to this ray influence, and is only entering into its real work. His influence is waxing in power, just as the influence of the sixth Lord is waning. |
5. Đức Chúa Tể của Kiến Thức Cụ Thể và Khoa Học. Đây là một Sự Sống Vĩ Đại tiếp xúc chặt chẽ với trí của Thượng Đế [25] sáng tạo, cũng như Đức Chúa Tể cung hai tiếp xúc chặt chẽ với trái tim của cùng Thượng Đế đó. Ảnh hưởng của Ngài rất lớn vào thời điểm này, mặc dù không mạnh mẽ như nó sẽ là sau này. Khoa học là một sự khai mở tâm lý ở con người do ảnh hưởng cung này, và chỉ mới bước vào công việc thực sự của nó. Ảnh hưởng của Ngài đang tăng lên về sức mạnh, cũng như ảnh hưởng của Đức Chúa Tể thứ sáu đang suy yếu. |
|
6. The Lord of Devotion and Idealism. This solar Deity is a peculiar and characteristic expression of the quality of the solar Logos. Forget not that in the great scheme of the universal universe (not just our universe) our solar Logos is as differentiated and distinctive in quality as are any of the sons of men. This ray force, with the second ray, is a true and vital expression of the divine nature. A militant focussing upon the ideal, a one-pointed devotion to the intent of the life urge, and a divine sincerity are the qualities of this Lord, and set their impress upon all that is found within His body of manifestation. Advanced esotericists debate as to whether Mars is, or is not, the planet through which He manifests. You must remember that only a few of the planets are the bodies of expression of the Lords of the rays. There are ten “planets of expression” (to use the term employed by the ancient Rishis), and only seven ray Lives are regarded as the Builders of the system. The great mystery, which is finally revealed in the higher initiations, is the relation of a ray to a planet. Therefore seek not full information at this time. The influence of this sixth Lord is now passing out. |
6. Đức Chúa Tể của Sự Sùng Tín và Chủ Nghĩa Lý Tưởng. Đấng Thượng Đế thái dương này là một biểu hiện đặc biệt và đặc trưng cho phẩm tính của Thái dương Thượng đế. Đừng quên rằng trong sơ đồ vĩ đại của vũ trụ phổ quát (không chỉ vũ trụ của chúng ta), Thái dương Thượng đế của chúng ta cũng được phân hóa và đặc biệt về phẩm tính như bất kỳ người con nào của nhân loại. Mãnh lực cung này, cùng với cung hai, là một biểu hiện chân thực và sống động của bản chất thiêng liêng. Một sự tập trung quyết liệt vào lý tưởng, một sự sùng tín nhất tâm vào ý định của sự thúc đẩy sự sống, và một sự chân thành thiêng liêng là những phẩm tính của Đức Chúa Tể này, và đặt ấn tượng của chúng lên tất cả những gì được tìm thấy trong thể biểu hiện của Ngài. Các nhà huyền bí học cao cấp tranh luận xem liệu Sao Hỏa có phải là, hay không phải là, hành tinh mà qua đó Ngài biểu hiện. Bạn phải nhớ rằng chỉ một vài hành tinh là thể biểu hiện của các Đức Chúa Tể của các cung. Có mười “hành tinh của biểu hiện” (sử dụng thuật ngữ được các Rishi cổ đại sử dụng), và chỉ có bảy Sự Sống cung được coi là các Đấng Kiến Tạo của hệ thống. Bí ẩn lớn, cuối cùng được tiết lộ trong các cuộc điểm đạo cao hơn, là mối quan hệ của một cung với một hành tinh. Do đó, đừng tìm kiếm thông tin đầy đủ vào lúc này. Ảnh hưởng của Đức Chúa Tể thứ sáu này hiện đang rút ra khỏi biểu hiện. |
|
7. The Lord of Ceremonial Order or Magic is now coming into power and is slowly but surely making His pressure felt. His influence is most potent upon the physical plane, for there is a close numerical interrelation between (for [26] instance) the Lord of the seventh ray and the seventh plane, the physical, just as the seventh root race will see complete conformity to and a perfect expression of law and order. This ray of order and its incoming is partially responsible for the present tendency in world affairs toward governmental dictatorship and the imposed control of a central governing body. |
7. Đức Chúa Tể của Trật Tự Nghi Lễ hay Huyền Thuật hiện đang nắm quyền và đang chậm chạp nhưng chắc chắn làm cho áp lực của Ngài được cảm nhận. Ảnh hưởng của Ngài mạnh mẽ nhất trên cõi hồng trần, vì có một mối tương quan số học chặt chẽ giữa (ví dụ) [26] Đức Chúa Tể cung bảy và cõi thứ bảy, cõi hồng trần, cũng như giống dân gốc thứ bảy sẽ thấy sự phù hợp hoàn toàn với và một biểu hiện hoàn hảo của luật pháp và trật tự. Cung của trật tự này và sự đi vào của nó chịu trách nhiệm một phần cho xu hướng hiện tại trong các vấn đề thế giới hướng tới chế độ độc tài chính phủ và sự kiểm soát áp đặt của một cơ quan quản lý trung ương. |
|
It may be of value here if I give you the following statement as to the activity, or non-activity, of the rays, begging you to bear in mind that this statement refers only to our Earth and its evolutions: |
Có thể có giá trị ở đây nếu tôi đưa cho các bạn tuyên bố sau đây về hoạt động, hoặc không hoạt động, của các cung, cầu xin các bạn ghi nhớ rằng tuyên bố này chỉ đề cập đến Trái Đất của chúng ta và các cuộc tiến hóa của nó: |
|
Ray One |
Not in manifestation. |
|
|
Cung Một |
Không biểu hiện. |
|
|
* |
Ray Two |
In manifestation since 1575 A.D. |
|
Cung Hai |
Đang biểu hiện từ năm 1575 S.C.N. |
|
|
* |
Ray Three |
In manifestation since 1425 A.D. |
|
Cung Ba |
Đang biểu hiện từ năm 1425 S.C.N. |
|
|
Ray Four |
To come slowly into manifestation after 2025 A.D. |
|
|
Cung Bốn |
Sẽ từ từ đi vào biểu hiện sau năm 2025 S.C.N. |
|
|
* |
Ray Five |
In manifestation since 1775 A.D. |
|
Cung Năm |
Đang biểu hiện từ năm 1775 S.C.N. |
|
|
Ray Six |
Passing rapidly out of manifestation. It began to pass out in 1625 A.D. |
|
|
Cung Sáu |
Đang nhanh chóng rút ra khỏi biểu hiện. Nó bắt đầu rút ra vào năm 1625 S.C.N. |
|
|
* |
Ray Seven |
In manifestation since 1675 A.D. |
|
Cung Bảy |
Đang biểu hiện từ năm 1675 S.C.N. |