Tâm Lý Học Nội Môn I – Phần I – Chương II

📘 Sách: Tâm Lý Học Nội Môn I – Tác giả: Alice Bailey

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF

SECTION 1 – CHAPTER II … Certain Questions and Their Answers —Một Số Câu Hỏi và Câu Trả Lời

[33]

[33]

I indicated that in this treatise we would give our main attention to the central one of the three aspects, and would concentrate upon quality. What do I mean by this? I mean that we shall occupy ourselves with that which is emerging through the medium of form, with that which veils or hides itself behind the appearance, which is expressive of life or spirit, and which is produced through the interplay of life with matter. This, when posited of man, the reflection of divinity, and when applied to the subject of his quality, involves three recognitions:

Tôi đã chỉ ra rằng trong chuyên luận này chúng ta sẽ dành sự chú ý chính cho phương diện trung tâm của ba phương diện, và sẽ tập trung vào phẩm tính. Tôi muốn nói gì với điều này? Ý tôi là chúng ta sẽ chuyên chú vào điều đang khai mở thông qua trung gian của hình tướng, vào điều đang tự che phủ hay ẩn mình phía sau hình tướng, vào điều biểu lộ Sự sống hay Tinh thần, và điều ấy được tạo ra qua sự tương tác giữa sự sống với vật chất. Khi được xác lập nơi con người—vốn là phản ảnh của thiên tính—và khi được áp dụng vào chủ đề về phẩm tính của y, điều này bao hàm ba sự công nhận:

1. That a human being is, as earlier said, an embodied Life, expressing quality and registering that quality in consciousness or as sensitive response to the interplay going forward, during the evolutionary process, between spirit and matter.

1. Rằng một con người, như đã nói trước đó, là Sự Sống Duy Nhất nhập thể, thể hiện phẩm chất và ghi nhận phẩm chất đó trong tâm thức hoặc như sự phản ứng nhạy cảm đối với sự tương tác đang diễn ra, trong quá trình tiến hóa, giữa tinh thần và vật chất.

2. That man, being a synthesis (and the only complete synthesis, except the Macrocosmic Deity), registers a self-recognition which is potent enough today to enable him to differentiate reactions to…

2. Rằng con người, là một sự tổng hợp (và là sự tổng hợp hoàn chỉnh duy nhất, ngoại trừ Thượng đế Đại Thiên Địa), ghi nhận một sự tự nhận biết đủ mạnh mẽ ngày nay để cho phép y phân biệt các phản ứng đối với…

a. The triplicity (as the Bhagavad Gita calls it) of the Knower, the field of knowledge, and knowledge.

a. Bộ ba (như Chí Tôn Ca gọi nó) của Người Biết, lĩnh vực kiến thức, và kiến thức.

b. A growing realisation that the field of knowledge is but an appearance or an illusion, that knowledge itself can be a hindrance unless transmuted into wisdom. [34]

b. Một sự nhận thức ngày càng tăng rằng lĩnh vực kiến thức chỉ là một hình tướng hoặc một ảo tưởng, rằng bản thân kiến thức có thể là một trở ngại trừ khi được chuyển hóa thành minh triết. [34]

c. An evolutionary growth in responsiveness to one or other of these three, and which indicates a developing sensitivity. This is leading to a growth of interest in the Knower and to a belief that this Knower is the Soul, one with Deity, illimitable and eternal and—in time and space—the determining factor in human existence.

c. Một sự tăng trưởng tiến hóa trong khả năng đáp ứng với một hoặc một phương diện khác của ba điều này, và điều đó chỉ ra một sự nhạy cảm đang phát triển. Điều này đang dẫn đến một sự tăng trưởng quan tâm đến Người Biết (Thức Giả) và đến một niềm tin rằng Người Biết này là Linh hồn, là một với Thượng đế, vô hạn và vĩnh cửu, và—trong không gian và thời gian—là yếu tố quyết định trong sự tồn tại của con người.

3. That the endless diversity of forms hides a subjective synthesis. Man can therefore eventually see, expressing itself through all forms in all kingdoms, a universal septenate, and when this happens, he is then entering into the world of subjective unity, and can proceed on his way consciously towards the One. He cannot as yet enter into the consciousness of that basic essential Unity, but he can enter into that of his own ray-life, of the emanating source of his own temporarily specialised life.

3. Rằng sự đa dạng vô tận của các hình tướng ẩn giấu một sự tổng hợp chủ quan. Do đó, con người cuối cùng có thể nhìn thấy một bộ bảy phổ quát đang thể hiện chính nó qua tất cả các hình tướng trong tất cả các giới, và khi điều này xảy ra, y sau đó bước vào thế giới của sự thống nhất chủ quan, và có thể tiến bước trên con đường của mình một cách có ý thức hướng tới Đấng Duy Nhất. Y chưa thể đi vào tâm thức của Sự Thống Nhất thiết yếu cơ bản đó, nhưng y có thể đi vào tâm thức của sự sống cung của chính mình, của nguồn phát xuất sự sống tạm thời được chuyên biệt hóa của chính mình.

This triplicity of ideas requires careful study. It might be expressed thus:

Bộ ba ý tưởng này đòi hỏi sự nghiên cứu cẩn thận. Nó có thể được diễn đạt như sau:

o

The One Life. Unity. Sự Sống Duy Nhất. Hợp Nhất

o

o

o

The Major three Rays] Ba Cung Chính

Making seven

o

o

o

o

The Minor four Rays ] Bốn Cung Phụ

Tạo thành bảy

o

The Unity of Appearance Sự Thống Nhất của Sắc tướng

With the one Life we shall not concern ourselves. We accept it as a basic truth and we realise that we are on our way back from the unity of form-identified existence, through the varying unfoldments of a conscious response to divine interplay and activity, to a final identification with the one Life. Form awareness has to give place to the qualified radiation of the self-conscious spiritual identity which is that of a son of God, appearing through form. This will be finally superseded by two phases of expression wherein there is:

Chúng ta sẽ không bận tâm với Sự Sống Duy Nhất. Chúng ta chấp nhận nó như một chân lý cơ bản và chúng ta nhận ra rằng chúng ta đang trên đường trở về từ sự thống nhất của sự tồn tại đồng nhất với hình tướng, qua các sự khai mở khác nhau của một phản ứng có ý thức đối với sự tương tác và hoạt động thiêng liêng, đến một sự đồng nhất cuối cùng với Sự Sống Duy Nhất. Nhận thức hình tướng phải nhường chỗ cho sự bức xạ được định tính của bản sắc tinh thần tự ý thức vốn là của một người con của Thượng đế, xuất hiện qua hình tướng. Điều này cuối cùng sẽ được thay thế bởi hai giai đoạn biểu hiện trong đó có:

1. A sense of divine synthesis, of which our bodily “well-being” [35] is the lowest form of material, yet symbolic, reflection. It is a sense of coordinated blissful satisfaction, based on realised Being.

1. Một cảm thức về sự tổng hợp thiêng liêng, mà trong đó trạng thái “khoẻ mạnh” của thân xác chúng ta [35] chỉ là hình thức thấp nhất của phản ảnh vật chất, song vẫn mang tính biểu tượng. Đó là một cảm thức về sự thoả mãn phúc lạc đã được phối kết, dựa trên Bản Thể được chứng nghiệm.

2. A withdrawal from even this life-awareness to a phase still more intensive and detached, which involves an awareness of the life of God Itself, free from form, but still, in a mysterious sense, aware of quality.

2. Một sự rút lui khỏi ngay cả nhận thức sự sống này sang một giai đoạn còn sâu sắc và tách biệt hơn nữa, liên quan đến một nhận thức về sự sống của chính Thượng Đế, tự do khỏi hình tướng, nhưng, theo một nghĩa bí ẩn, vẫn nhận thức về phẩm chất.

In the language of mysticism it might be expressed this way:

Trong ngôn ngữ của chủ nghĩa thần bí, nó có thể được diễn đạt theo cách này:

“I take a body. That body is alive. I know its life. I therefore know my mother.

“Tôi nhận một cơ thể. Cơ thể đó đang sống. Tôi biết sự sống của nó. Do đó tôi biết mẹ tôi.

“I use a body. That body is not me. I serve the group and in this serving live within the body, detached, a son of God. I know my Self.

“Tôi sử dụng một cơ thể. Cơ thể đó không phải là tôi. Tôi phụng sự nhóm và trong sự phụng sự này, tôi sống bên trong thể xác, tách biệt, một người con của Thượng đế. Tôi biết Chân Ngã của mình.

“I infuse a body. I am its life and in that life shall I see life. That life is known as love. I am the love of God. I know the Father, and know His life is love.

“Tôi phú linh cho một thể. Tôi là sự sống của nó và trong sự sống đó, tôi sẽ thấy sự sống. Sự sống đó được biết đến là tình thương. Tôi là tình thương của Thượng đế. Tôi biết Cha, và biết sự sống của Ngài là tình thương.

“I am the body and its loving life. I am the Self, whose quality is love. I am the life of God Himself. The Mother-Father-Son am I.

“Tôi là thể xác và sự sống yêu thương của nó. Tôi là Chân Ngã, mà phẩm tính là tình thương. Tôi là sự sống của chính Thượng đế. Tôi là Mẹ-Cha-Con.

“Behind these three there stands the unknown God. That God am I.”

“Đằng sau ba ngôi này là Thượng đế ẩn danh. Thượng đế đó chính là Tôi.”

Let us be perfectly clear even at the expense of reiteration. In this treatise, though we may touch upon form and consider its nature, we shall lay emphasis upon self-consciousness as it expresses itself as responsiveness, as awareness of a peculiar kind which we call the “quality of consciousness,” or its inherent characteristic. We have always the subsidiary triplicities, which are only adjectival terms employed to express the quality of the appearing life.

Chúng ta hãy hoàn toàn rõ ràng dù có phải lặp lại. Trong luận thuyết này, mặc dù chúng ta có thể đề cập đến hình tướng và xem xét bản chất của nó, chúng ta sẽ nhấn mạnh vào ngã thức khi nó biểu lộ như là sự đáp ứng, như là sự nhận biết về một loại đặc biệt mà chúng ta gọi là “phẩm tính của tâm thức,” hay đặc tính vốn có của nó. Chúng ta luôn có những bộ ba phụ thuộc, vốn chỉ là những thuật ngữ tính từ được dùng để diễn tả phẩm tính của sự sống đang xuất hiện.

Form

Mutability, conscious response to radiation. Matter.

Hình tướng

Tính biến đổi, sự đáp ứng có ý thức đối với bức xạ. Vật chất.

Self-Consciousness

Responsiveness. Awareness of identity. Soul.

Ngã thức

Tính đáp ứng. Nhận thức về bản sắc. Linh hồn.

Life

Immutability. Emanation. Cause. Source. Spirit.

Sự Sống

Tính bất biến. Xuất lộ/phát xạ. Nguyên nhân. Nguồn. Tinh thần.

[36]

[36]

The synthesis of all these in manifestation we call God, the Isolated, the All-pervading, the Detached and the Withdrawn.

Sự tổng hợp của tất cả những điều này trong biểu hiện chúng ta gọi là Thượng đế, Đấng Cô Lập, Đấng Thấm Nhuần Tất Cả, Đấng Tách Biệt và Đấng Rút Lui.

The above abstract truths are difficult of apprehension, but need here to be expressed, so that our platform is understood and we are not open to the criticism that we neglect reality and regard diversity as the only truth.

Những chân lý trừu tượng trên rất khó lĩnh hội, nhưng cần phải được diễn bày ở đây, để nền tảng của chúng ta được thấu hiểu và chúng ta không bị chỉ trích rằng mình phớt lờ thực tại và xem tính đa dạng là chân lý duy nhất.

We shall now answer five questions that I have formulated and answered for the reader.

Bây giờ chúng ta sẽ trả lời năm câu hỏi mà tôi đã thiết lập và giải đáp cho độc giả.

Question 1. What is the soul? Can we define it? What is its nature? Câu hỏi 1. Linh hồn là gì? Chúng ta có thể định nghĩa nó không? Bản chất của nó là gì?

Here I shall give but four definitions which will serve as a basis for all that follows.

Ở đây tôi sẽ chỉ đưa ra bốn định nghĩa vốn sẽ dùng làm cơ sở cho tất cả những gì theo sau.

A. The soul can be spoken of as the Son of the Father and of the Mother (Spirit-Matter) and is therefore the embodied life of God, coming into incarnation in order to reveal the quality of the nature of God, which is essential love. This life, taking form, nurtures the quality of love within all forms, and ultimately reveals the purpose of all creation. This is the simplest definition for average humanity, being couched in the language of mysticism, thus linking the truth as found in all religions. It is necessarily inadequate, for it fails to emphasize the truth that what can be posited of man can also be posited of the cosmic reality, and that just as a human appearance on Earth veils both the quality and purpose (in varying degree), so does that synthesis of all forms or appearances, within that unity which we call a solar system, veil the quality and purpose of Deity. It is only when man is no longer deluded by appearance and has freed himself from the veil of illusion that he arrives at a knowledge of the quality of God’s consciousness and at the purpose which it is revealing. This he does in a triple way:

A. Linh hồn có thể được nói đến như là Con của Cha và Mẹ (Tinh thần-Vật chất) và do đó là sự sống hiện thân của Thượng đế, đi vào lâm phàm để hiển lộ phẩm tính của bản chất Thượng đế, vốn là tình thương cốt yếu. Sự sống này, khi khoác lấy hình tướng, nuôi dưỡng phẩm tính tình thương bên trong mọi hình tướng, và cuối cùng hiển lộ mục đích của mọi tạo vật. Đây là định nghĩa đơn giản nhất cho nhân loại trung bình, được diễn đạt bằng ngôn ngữ của thần bí học, do đó liên kết chân lý như được tìm thấy trong tất cả các tôn giáo. Nó nhất thiết là không đầy đủ, vì nó không nhấn mạnh chân lý rằng những gì có thể được giả định về con người cũng có thể được giả định về thực tại vũ trụ, và rằng cũng giống như một sự xuất hiện của con người trên Trái Đất che giấu cả phẩm tính và mục đích (ở các mức độ khác nhau), thì sự tổng hợp của mọi hình tướng hay sự xuất hiện đó, bên trong sự đơn nhất mà chúng ta gọi là một hệ mặt trời, cũng che giấu phẩm tính và mục đích của Thượng đế. Chỉ khi con người không còn bị lừa dối bởi vẻ bề ngoài và đã tự giải thoát mình khỏi bức màn ảo tưởng, y mới đạt đến sự hiểu biết về phẩm tính của tâm thức Thượng đế và về mục đích mà nó đang hiển lộ. Y thực hiện điều này theo ba cách:

a. He discovers his own soul, the product of the union of his [37] Father in heaven with the Mother or the material nature. This last is the personality. He then, having discovered the personality, discovers the quality of his own soul life, and the purpose for which he has “appeared.”

a. Y khám phá linh hồn của chính mình, sản phẩm của sự kết hợp giữa [37] Cha trên trời với Mẹ hay bản chất vật chất. Cái sau cùng này là phàm ngã. Sau đó, khi đã khám phá ra phàm ngã, y khám phá phẩm tính của đời sống linh hồn mình, và mục đích mà vì đó y đã “xuất hiện.”

b. He finds that this quality expresses itself through seven aspects or basic differentiations, and that this septenate of qualities colours, esoterically, all forms in all kingdoms in nature, thus constituting the totality of the revelations of the divine purpose. This, he finds, is essentially a septenary aggregation of energies, each energy producing differing effects and appearances. This discovery he makes by finding that his own soul is tinctured by one of the seven ray qualities, that he is identified with his ray purpose—whatever it may be—and is expressing a particular type of divine energy.

b. Y nhận thấy rằng phẩm tính này tự biểu lộ qua bảy phương diện hay bảy sự biến phân cơ bản, và rằng bộ bảy phẩm tính này, về mặt huyền linh, tô màu cho tất cả các hình tướng trong mọi giới của tự nhiên, do đó cấu thành tổng thể các mặc khải về mục đích thiêng liêng. Y nhận thấy điều này về cơ bản là một tập hợp thất phân của các năng lượng, mỗi năng lượng tạo ra các hiệu quả và sự xuất hiện khác nhau. Sự khám phá này y thực hiện bằng cách nhận ra rằng linh hồn của chính y được nhuốm màu bởi một trong bảy phẩm tính cung, rằng y được đồng nhất với mục đích cung của mình—bất kể đó là gì—và đang biểu lộ một loại năng lượng thiêng liêng cụ thể.

c. From this point he proceeds to a recognition of the entire septenate, and upon the Path of Initiation he gains a glimpse of a Unity, hitherto unrealised, nor even sensed.

c. Từ điểm này, y tiến tới sự nhận biết toàn bộ bộ bảy, và trên Con Đường Điểm Đạo, y đạt được một cái nhìn thoáng qua về một Sự Hợp Nhất, cho đến nay chưa từng được chứng nghiệm, thậm chí chưa từng được cảm nhận.

Thus from a consciousness of himself, man arrives at an awareness of the interrelation between the seven basic energies or rays; and from that he proceeds to a realisation of the triple deity, until at the final initiation (the fifth) he finds himself consciously at-one with the unified divine intent lying behind all appearances and all qualities. It might be added that initiations, higher than the fifth, reveal a purpose wider and deeper than that which is working out within our solar system. The purpose of our manifested Logos is but a part of a greater intent. It might also be noted that in the fourth kingdom of nature, on the path of evolution and of probation, a man arrives at a knowledge of his individual soul, and glimpses the quality and purpose of that soul. On the path of discipleship and of initiation, he glimpses the quality and purpose of his [38] planetary Life, and discovers himself as a part of a ray Life, Which is appearing through the form of a planet and is embodying an aspect of the divine purpose and energy. After the third initiation he glimpses the quality and purpose of the solar system; he sees his ray life and energy as a part of a greater whole. These are but modes of expressing the emerging quality and the hidden purpose of the graded Lives which inform all appearances and colour them with quality

Vì vậy, từ ý thức về chính mình, con người đạt đến sự nhận biết về mối tương quan giữa bảy năng lượng cơ bản hay bảy cung; và từ đó y tiến tới sự chứng nghiệm về thượng đế tam phân, cho đến khi tại cuộc điểm đạo cuối cùng (lần thứ năm), y thấy mình hợp nhất một cách có ý thức với ý định thiêng liêng thống nhất nằm đằng sau mọi sự xuất hiện và mọi phẩm tính. Có thể nói thêm rằng các cuộc điểm đạo cao hơn lần thứ năm tiết lộ một mục đích rộng lớn hơn và sâu sắc hơn mục đích đang diễn ra trong hệ mặt trời của chúng ta. Mục đích của Thượng đế biểu hiện của chúng ta chỉ là một phần của một ý định vĩ đại hơn. Cũng có thể lưu ý rằng trong giới thứ tư của tự nhiên, trên con đường tiến hóa và con đường dự bị, một người đạt đến sự hiểu biết về linh hồn cá nhân của mình, và thoáng thấy phẩm tính cùng mục đích của linh hồn đó. Trên con đường đệ tử và con đường điểm đạo, y thoáng thấy phẩm tính và mục đích của [38] Sự Sống hành tinh của mình, và khám phá bản thân như một phần của Sự Sống Cung Duy Nhất, Đấng đang xuất hiện thông qua hình tướng của một hành tinh và đang hiện thân cho một phương diện của mục đích và năng lượng thiêng liêng. Sau cuộc điểm đạo thứ ba, y thoáng thấy phẩm tính và mục đích của hệ mặt trời; y thấy sự sống và năng lượng cung của mình như một phần của một tổng thể lớn hơn. Đây chỉ là những phương thức biểu lộ phẩm tính đang trỗi dậy và mục đích ẩn giấu của các Sự Sống đẳng cấp, Những Đấng phú linh cho mọi sự xuất hiện và tô màu chúng bằng phẩm tính.

B. The soul can be regarded as the principle of intelligence—an intelligence whose characteristics are mind and mental awareness, which in turn demonstrate as the power to analyse, to discriminate, to separate, and to distinguish, to choose or to reject, with all the implications conveyed in these terms. As long as a man is identified with the appearance, these aspects of the mental principle produce in him the “great heresy of separateness.” It is the appearance of the form nature that glamours him and completely deludes him. He regards himself as the form, and then proceeds from a realisation of himself as the material form, and as identified with the outer appearance, to a realisation of himself as an insatiable desire. He then becomes identified with his desire body, with his appetites, good and bad, and considers himself as one with his moods, his feelings, his longings, whether they ray out in the direction of the material world or inward toward the world of thought or the Kingdom of the soul. He is torn by a sense of duality. Later, he becomes identified with still another of the appearances,—with the mind body or nature. Thoughts become to him so tangible that he is swayed, turned and influenced by them; and to the world of material appearances, and to the world of the great Illusion is added the world of thought forms. He is then subjected to a triple illusion, and he, the conscious life behind the illusion, begins to unify the forms into one coordinated whole, in order the better to control them.

B. Linh hồn có thể được xem như là nguyên khí thông tuệ—một sự thông tuệ mà các đặc điểm là tâm trí và sự nhận biết của trí tuệ, vốn đến lượt nó biểu thị như là khả năng phân tích, phân biện, tách biệt, và phân biệt, lựa chọn hoặc bác bỏ, với tất cả những hàm ý được truyền tải trong các thuật ngữ này. Chừng nào một người còn đồng nhất với vẻ bề ngoài, các phương diện này của nguyên khí trí tuệ tạo ra trong y “đại tà thuyết về sự chia rẽ.” Chính vẻ bề ngoài của bản chất hình tướng đã gây ảo cảm cho y và hoàn toàn đánh lừa y. Y tự xem mình là hình tướng, và rồi tiến từ việc chứng nghiệm bản thân là hình tướng vật chất, và đồng nhất với vẻ bề ngoài, đến việc chứng nghiệm bản thân là một ham muốn vô tận. Sau đó, y trở nên đồng nhất với thể dục vọng của mình, với những sự thèm muốn của mình, tốt và xấu, và tự coi mình là một với những tâm trạng, cảm xúc, khao khát của mình, cho dù chúng hướng ra thế giới vật chất hay hướng vào thế giới tư tưởng hoặc Vương quốc của linh hồn. Y bị giằng xé bởi ý thức nhị nguyên. Sau đó, y trở nên đồng nhất với một vẻ bề ngoài khác nữa,—với thể trí hay bản chất trí tuệ. Các tư tưởng trở nên quá hữu hình đối với y đến nỗi y bị dao động, bị xoay chuyển và bị ảnh hưởng bởi chúng; và thế giới của các hình tư tưởng được thêm vào thế giới của các vẻ bề ngoài vật chất và thế giới của Đại Ảo Tưởng. Khi đó, y phải chịu một ảo tưởng tam phân, và y, sự sống có ý thức đằng sau ảo tưởng, bắt đầu hợp nhất các hình tướng thành một tổng thể phối hợp, để kiểm soát chúng tốt hơn.

[39]

[39]

Thus the Personality of the soul makes its appearance. He stands then on the verge of the probationary path. He enters the world of quality and of value, and begins to discover the nature of the soul and to shift the emphasis from the appearance to the quality of the Life which has produced it. This identification of the quality with the appearance grows steadily upon the path until the fusion of quality and appearance, of energy and that which it energises, is so perfect that appearance no longer veils the reality, and the soul is now the dominant factor; consciousness is now identified with itself (or with its ray) and not with its phenomenal appearance. Later, the soul itself is superseded by the Monad, and that Monad becomes, in verity, embodied purpose.

Do đó, Phàm ngã của linh hồn xuất hiện. Khi đó, y đứng trên bờ vực của con đường dự bị. Y bước vào thế giới của phẩm tính và giá trị, và bắt đầu khám phá bản chất của linh hồn và chuyển trọng tâm từ vẻ bề ngoài sang phẩm tính của Sự Sống đã tạo ra nó. Sự đồng nhất hóa phẩm tính với vẻ bề ngoài này phát triển đều đặn trên đường đạo cho đến khi sự dung hợp của phẩm tính và vẻ bề ngoài, của năng lượng và cái mà nó cung cấp năng lượng, hoàn hảo đến mức vẻ bề ngoài không còn che giấu thực tại nữa, và linh hồn giờ đây là yếu tố chủ đạo; tâm thức giờ đây đồng nhất với chính nó (hoặc với cung của nó) chứ không phải với vẻ bề ngoài hiện tượng của nó. Sau đó, chính linh hồn được thay thế bởi Chân Thần, và Chân Thần đó trở thành, trong thực tế, mục đích hiện thân.

The process can be expressed by a very simple symbology, as follows:—o.o.o. or o.o…o or o…o.o., thus portraying the separateness of the three aspects. The union, then, of the aspects of appearance—quality—purpose or life, results in an abstraction from the appearance, and therefore the end of phenomenal existence. Ponder on the simple arrangement of these signs, for they portray your life and progress:

Quá trình này có thể được diễn tả bằng một biểu tượng rất đơn giản, như sau:—o.o.o. hoặc o.o…o hoặc o…o.o., qua đó mô tả sự tách biệt của ba phương diện. Sự hợp nhất, sau đó, của các phương diện hình tướng—phẩm tính—mục đích hay sự sống, dẫn đến một sự trừu tượng hóa khỏi vẻ bề ngoài, và do đó là sự kết thúc của sự tồn tại hiện tượng. Hãy suy ngẫm về sự sắp xếp đơn giản của các dấu hiệu này, vì chúng mô tả cuộc sống và sự tiến bộ của bạn:

A black and white text with a circle in the middle



AI-generated content may be incorrect.

This is true of the human being, of the Christ in incarnation; it is equally true of the cosmic Christ, of God incarnate in the solar system. In the system a similar fusion and blending is going on, and the separated aspects are entering into an evolutionary relationship, resulting in an eventual synthesis of appearance and quality, and then of quality and purpose. It might be noted here that the Hierarchy as a whole is distinguished by the sign o..oo; the New Group of World [40] Servers by the sign oo..o; and the unevolved masses by o o o. Forget not, that in all three groups, as in nature, there are the intermediate stages composed of those who are on their way to a transitional accomplishment.

Điều này đúng với con người, với Đức Christ khi lâm phàm; điều này cũng đúng như vậy đối với Đức Christ vũ trụ, đối với Thượng đế hiện thân trong hệ mặt trời. Trong hệ thống, một sự dung hợp và hòa quyện tương tự đang diễn ra, và các phương diện tách biệt đang đi vào một mối quan hệ tiến hóa, dẫn đến một sự tổng hợp cuối cùng của vẻ bề ngoài và phẩm tính, và sau đó là của phẩm tính và mục đích. Có thể lưu ý ở đây rằng Thánh Đoàn nói chung được phân biệt bởi dấu hiệu o..oo; Đoàn Người Mới [40] Phụng Sự Thế Gian bởi dấu hiệu oo..o; và quần chúng chưa tiến hóa bởi o o o. Đừng quên rằng, trong cả ba nhóm, cũng như trong tự nhiên, có những giai đoạn trung gian bao gồm những người đang trên đường tới một thành tựu chuyển tiếp.

The work before all students of this Treatise on the Seven Rays is the fusion of quality and appearance, and therefore they need to study the nature of that quality in order to produce a true appearance. In the ancient rules given to mystics in Atlantean times we find these words:

Công việc trước mắt tất cả các học viên của bộ Luận về Bảy Cung này là sự dung hợp của phẩm tính và vẻ bề ngoài, và do đó họ cần nghiên cứu bản chất của phẩm tính đó để tạo ra một vẻ bề ngoài chân thực. Trong các quy luật cổ xưa được trao cho các nhà thần bí vào thời Atlantis, chúng ta tìm thấy những lời này:

“Let the disciple know the nature of his Lord of Love. Seven the aspects of the love of God; seven the colours of that manifesting One; sevenfold the work; seven the energies and sevenfold the Path back to the centre of peace. Let the disciple live in love, and love in life.”

“Đệ tử hãy biết bản chất của Chúa Tể Tình Thương của mình. Bảy là các phương diện của tình yêu thương của Thượng đế; bảy là các màu sắc của Đấng biểu lộ đó; thất phân là công việc; bảy là các năng lượng và thất phân là Con Đường trở về trung tâm bình an. Hãy để đệ tử sống trong tình thương, và yêu thương trong sự sống.”

In those olden days no thought of purpose entered into the minds of men, for the race was not mental nor was it intended so to be. The emphasis was laid upon the quality of the appearance in all preparation for initiation, and the highest initiate of that time endeavoured to express only the quality of God’s love. The Plan was the great mystery. The Christ, cosmic and individual, was sensed and known, but purpose was as yet veiled and unrevealed. The “noble eightfold path” was not known, and only seven steps into the Temple were seen. With the coming in of the Aryan race, the purpose and the plan began to be revealed. Only when the appearance is beginning to be dominated by quality, and consciousness is expressing itself in directed awareness through the form, is the purpose dimly sensed.

Trong những ngày xưa cũ đó, không có tư tưởng nào về mục đích đi vào tâm trí con người, vì giống dân không thuộc về trí tuệ và cũng không được dự định như vậy. Sự nhấn mạnh được đặt vào phẩm tính của vẻ bề ngoài trong mọi sự chuẩn bị cho điểm đạo, và vị điểm đạo đồ cao nhất vào thời đó chỉ nỗ lực để thể hiện phẩm tính tình yêu thương của Thượng đế. Thiên Cơ là đại bí nhiệm. Đức Christ, vũ trụ và cá nhân, được cảm nhận và được biết đến, nhưng mục đích vẫn còn bị che giấu và chưa được tiết lộ. “Bát chánh đạo” cao quý chưa được biết đến, và chỉ bảy bậc vào Thánh Điện được nhìn thấy. Với sự xuất hiện của giống dân Arya, mục đích và thiên cơ bắt đầu được tiết lộ. Chỉ khi vẻ bề ngoài bắt đầu bị chi phối bởi phẩm tính, và tâm thức đang biểu lộ chính nó trong sự nhận biết có định hướng thông qua hình tướng, thì mục đích mới được cảm nhận một cách lờ mờ.

I seek in various ways to convey through the symbol of words the significance of the soul. The soul is therefore the son of God, the product of the marriage of spirit and matter. The soul is an expression of the mind of God, for mind and intellect are terms expressing the cosmic principle of intelligent [41] love,—a love which produces an appearance through the nature of mind and thus is the builder of the separate forms or appearances. The soul also, through the quality of love, produces the fusion of appearance and of quality, of awareness and of form.

Tôi tìm cách bằng nhiều phương thức khác nhau để truyền tải ý nghĩa của linh hồn thông qua biểu tượng của ngôn từ. Do đó, linh hồn là con của Thượng đế, là sản phẩm của cuộc hôn phối giữa tinh thần và vật chất. Linh hồn là một sự biểu đạt của trí của Thượng đế, vì trí tuệ và tri thức là những thuật ngữ biểu đạt nguyên khí vũ trụ của [41] tình thương thông tuệ,—một tình thương tạo ra một vẻ bề ngoài thông qua bản chất của tâm trí và do đó là đấng kiến tạo nên các hình tướng hay các sự xuất hiện tách biệt. Linh hồn cũng vậy, thông qua phẩm tính tình thương, tạo ra sự dung hợp của vẻ bề ngoài và phẩm tính, của sự nhận biết và hình tướng.

C. The soul is (and here words limit and distort) a unit of light, coloured by a particular ray vibration; it is a vibrating centre of energy found within the appearance or form of its entire ray life. It is one of seven groups of millions of lives which in their totality constitute the One Life. From its very nature, the soul is conscious or aware in three directions. It is God-conscious; it is group-conscious; it is self-conscious. This self-conscious aspect is brought to fruition in the phenomenal appearance of a human being; the group-conscious aspect retains the human state of consciousness, but adds to it awareness of its ray life, progressively unfolded; its awareness then is the awareness of love, of quality, of spirit in its relationships; it is God-conscious only potentially, and in that unfoldment lies, for the soul, its own growth upward and outward after its self-conscious aspect is perfected and its group-awareness is recognised. The soul therefore has the following points, or appearances:

C. Linh hồn là (và ở đây ngôn từ giới hạn và làm sai lệch) một đơn vị ánh sáng, được tô màu bởi một rung động cung cụ thể; nó là một trung tâm năng lượng rung động được tìm thấy bên trong vẻ bề ngoài hay hình tướng của toàn bộ sự sống cung của nó. Nó là một trong bảy nhóm của hàng triệu sự sống mà trong tổng thể của chúng cấu thành nên Sự Sống Duy Nhất. Từ chính bản chất của mình, linh hồn có ý thức hay nhận biết theo ba hướng. Nó có ý thức về Thượng đế; nó có tâm thức nhóm; nó tự ý thức. Phương diện tự ý thức này được đưa đến kết quả trong vẻ bề ngoài hiện tượng của một con người; phương diện tâm thức nhóm giữ lại trạng thái tâm thức của con người, nhưng thêm vào đó sự nhận biết về sự sống cung của nó, được khai mở dần dần; sự nhận biết của nó sau đó là sự nhận biết về tình thương, về phẩm tính, về tinh thần trong các mối quan hệ của nó; nó chỉ có ý thức về Thượng đế một cách tiềm tàng, và trong sự mở rộng đó có sự tăng trưởng của chính nó hướng lên trên và hướng ra ngoài sau khi phương diện tự ý thức của nó được hoàn thiện và sự nhận biết nhóm của nó được công nhận. Do đó, linh hồn có các điểm, hay các sự xuất hiện sau:

A white paper with black text



AI-generated content may be incorrect.

Aspirants who are studying and training themselves to live the life of service might be regarded as having reached the point where the line is to be found. To visualise this correctly [42] the sign should be regarded as in rapid revolution, thus producing a turning wheel, which is the wheel of life.

Những người chí nguyện đang nghiên cứu và tự rèn luyện để sống cuộc đời phụng sự có thể được coi là đã đạt đến điểm nơi đường kẻ được tìm thấy. Để hình dung điều này một cách chính xác [42] , dấu hiệu này nên được xem như đang quay nhanh, do đó tạo ra một bánh xe quay, đó là bánh xe của sự sống.

Let me again repeat:

Hãy để tôi lặp lại một lần nữa:

1. The soul is the son of God, the product of the union of spirit and matter.

1. Linh hồn là con của Thượng đế, sản phẩm của sự kết hợp giữa tinh thần và vật chất.

2. The soul is an embodiment of conscious mind, the expression, if one might so phrase it, of divine intelligent awareness.

2. Linh hồn là một hiện thân của thể trí có ý thức, sự biểu đạt, nếu người ta có thể diễn đạt như vậy, của sự nhận biết thông tuệ thiêng liêng.

3. The soul is a unit of energy, vibrating in unison with one of the seven ray Lives, and coloured by a particular ray light.

3. Linh hồn là một đơn vị năng lượng, rung động hòa hợp với một trong bảy Sự Sống cung, và được tô màu bởi một ánh sáng cung cụ thể.

The personality of the soul is intended to be an embodiment of love, applied with intelligence and producing those “attractive” forms which will serve to express that loving intelligence. The soul in its turn is intended to be the embodiment of divine purpose or will, intelligently applied in the great creative work, which is produced through the power of creative love.

Phàm ngã của linh hồn được dự định là một hiện thân của tình thương, được áp dụng với trí tuệ và tạo ra những hình tướng “thu hút” vốn sẽ phục vụ để biểu đạt trí tuệ yêu thương đó. Linh hồn đến lượt nó được dự định là hiện thân của mục đích hay ý chí thiêng liêng, được áp dụng một cách thông tuệ trong công trình sáng tạo vĩ đại, vốn được tạo ra thông qua quyền năng của tình thương sáng tạo.

Each son of God can say: I am born of the love of the Father for the Mother, of the desire of life for form. I express, therefore, the love and the magnetic attractiveness of the God nature, and the responsiveness of the form nature, and am consciousness itself, aware of Deity or Life.

Mỗi người con của Thượng đế đều có thể nói: Tôi được sinh ra từ tình thương của Cha dành cho Mẹ, từ sự khao khát của sự sống đối với hình tướng. Do đó, tôi biểu lộ tình thương và sự thu hút từ tính của bản chất Thượng đế, và sự phản hồi của bản chất hình tướng, và tôi chính là tâm thức, nhận biết về Thượng đế hay Sự Sống.

Each intelligent point of life can say: I am the product of intelligent will, working through intelligent activity and producing a world of created forms which embody or veil the loving purpose of Deity.

Mỗi điểm sự sống thông tuệ đều có thể nói: Tôi là sản phẩm của ý chí thông tuệ, hoạt động thông qua hoạt động thông tuệ và tạo ra một thế giới của các hình tướng được tạo tác vốn hiện thân hoặc che giấu mục đích yêu thương của Thượng đế.

Each vibrating unit of energy can say: I am part of a divine whole, which in its septenary nature expresses the love and life of the One Reality, coloured by one of the seven qualities of the love of Deity and responsive to the other qualities.

Mỗi đơn vị năng lượng rung động đều có thể nói: Tôi là một phần của một tổng thể thiêng liêng, vốn trong bản chất thất phân của nó biểu lộ tình thương và sự sống của Thực Tại Duy Nhất, được tô màu bởi một trong bảy phẩm tính của tình yêu thương của Thượng đế và đáp ứng với các phẩm tính khác.

For our purposes in this treatise, we must grasp the fact [43] that the world of appearances is energised by and vibrating to the world of qualities or values, which world, in its turn, is energised by or vibrating to the world of purpose or of will. Therefore, as is stated in The Secret Doctrine and in A Treatise on Cosmic Fire, the electric fire of will, and the solar fire of love, in cooperation with fire by friction, produce the world of created and creative forms. These proceed under the law of attractive magnetic love towards the evolutionary accomplishment of a purpose at present inscrutable. This purpose remains unknown only on account of the limitations of the “appearance” which is not yet responsive to the quality. When the illusory appearance and the veiled quality of the life are known and comprehended the underlying purpose will emerge with clarity. Indications of this can be dimly sensed and the attribute of this growing awareness can be noted in the tendency of modern thought to speak of patterns and of plans, of blue prints and synthetic formulations of ideas, and in the tracing of historical developments—national, racial, human and psychological. As we read, ponder and study, the dim outlines of the Plan appear, but until the consciousness has transcended all human limitations and has included the subhuman, as well as the superhuman, within its range of contacts, the true Plan cannot be rightly grasped. The will, lying behind the purpose, cannot be understood until the consciousness has transcended even that of the superhuman man, and has become one with the divine.

Vì mục đích của chúng ta trong luận thuyết này, chúng ta phải nắm bắt sự thật [43] rằng thế giới của những vẻ bề ngoài được cung cấp năng lượng bởi và rung động với thế giới của những phẩm tính hay giá trị, thế giới này, đến lượt nó, được cung cấp năng lượng bởi hoặc rung động với thế giới của mục đích hay ý chí. Do đó, như đã được nêu trong Giáo Lý Bí Nhiệm và trong Luận về Lửa Vũ Trụ, lửa điện của ý chí, và lửa thái dương của tình thương, hợp tác với lửa ma sát, tạo ra thế giới của các hình tướng được tạo tác và sáng tạo. Những điều này tiến triển dưới định luật của tình yêu từ tính hấp dẫn hướng tới việc hoàn thành một cách tiến hóa một mục đích mà hiện tại là không thể dò thấu. Mục đích này vẫn chưa được biết đến chỉ vì những hạn chế của “vẻ bề ngoài” vốn chưa đáp ứng với phẩm tính. Khi vẻ bề ngoài huyễn hoặc và phẩm tính bị che giấu của sự sống được biết đến và thấu hiểu, mục đích tiềm ẩn sẽ xuất lộ một cách rõ ràng. Những dấu hiệu của điều này có thể được cảm nhận một cách lờ mờ và thuộc tính của sự nhận biết ngày càng tăng này có thể được ghi nhận trong xu hướng của tư tưởng hiện đại khi nói về các mô hình và các kế hoạch, về các bản thiết kế và các công thức tổng hợp của các ý tưởng, và trong việc truy nguyên các sự phát triển lịch sử—quốc gia, chủng tộc, con người và tâm lý. Khi chúng ta đọc, suy ngẫm và nghiên cứu, những phác thảo lờ mờ của Thiên Cơ xuất hiện, nhưng cho đến khi tâm thức đã vượt qua mọi giới hạn của con người và đã bao gồm cả giới dưới nhân loại, cũng như siêu nhân loại, trong phạm vi tiếp xúc của nó, thì Thiên Cơ thực sự vẫn chưa thể được nắm bắt một cách đúng đắn. Ý chí, nằm đằng sau mục đích, không thể được hiểu cho đến khi tâm thức đã vượt qua ngay cả tâm thức của con người siêu phàm, và đã trở thành một với cái thiêng liêng.

Will or the energy of life are synonymous terms and are an abstraction, existing apart from all form expression. The will-to-be emerges from outside the solar system altogether. It is the all-pervading energy of God which informs with a fraction of itself the solar system, and yet remains outside. Plan and purpose concern the emanating energies of that central Life and involve duality,—will or the life urge plus attractive [44] magnetic love which, in its turn, is the response of the vibrating universal substance to the impact of the energy of will. This initial activity precedes the creative process of form building; and the play of the divine will on the ocean of space, matter, or etheric substance produced the first differentiation into the major rays, and their mutual interplay produced the minor four rays. Thus the seven emanations, the seven potencies and the seven rays came into manifestation. They are the seven breaths of the one Life, the seven basic energies; they streamed forth from the centre formed by the impact of the will of God on divine substance, and divided into seven streams of force. The radius of the influence of these seven streams determined the extent or scope of activity of a solar system and “outlined” the limits of the form of the incarnated cosmic Christ. Each of these seven streams or emanations of energy was coloured by a divine quality, an aspect of love, and all of them were needed for the ultimate perfecting of the latent and unrevealed purpose.

Ý chí hay năng lượng của sự sống là những thuật ngữ đồng nghĩa và là một sự trừu tượng, tồn tại tách biệt khỏi mọi biểu lộ hình tướng. Ý-chí-tồn-tại xuất lộ hoàn toàn từ bên ngoài hệ mặt trời. Đó là năng lượng thâm nhập tất cả của Thượng đế, Đấng thấm nhuần hệ mặt trời bằng một phần nhỏ của chính Ngài, nhưng vẫn ở bên ngoài. Thiên cơ và mục đích liên quan đến các năng lượng phát xuất của Sự Sống trung tâm đó và liên quan đến tính nhị nguyên,—ý chí hay sự thúc đẩy của sự sống cộng với tình thương [44] từ tính hấp dẫn, vốn đến lượt nó, là sự đáp ứng của chất liệu vũ trụ rung động đối với tác động của năng lượng ý chí. Hoạt động ban đầu này đi trước quá trình sáng tạo xây dựng hình tướng; và sự tác động của ý chí thiêng liêng lên đại dương không gian, vật chất, hay chất liệu dĩ thái đã tạo ra sự biến phân đầu tiên thành các cung chính, và sự tương tác lẫn nhau của chúng đã tạo ra bốn cung phụ. Như vậy bảy sự phát xuất, bảy tiềm năng và bảy cung đã đi vào biểu hiện. Chúng là bảy hơi thở của Sự Sống duy nhất, bảy năng lượng cơ bản; chúng tuôn ra từ trung tâm được hình thành bởi tác động của ý chí Thượng đế lên chất liệu thiêng liêng, và chia thành bảy dòng lực. Bán kính ảnh hưởng của bảy dòng này xác định phạm vi hay quy mô hoạt động của một hệ mặt trời và “phác thảo” các giới hạn của hình tướng của Đức Christ vũ trụ đang lâm phàm. Mỗi dòng trong bảy dòng hay sự phát xuất năng lượng này được tô màu bởi một phẩm tính thiêng liêng, một phương diện của tình thương, và tất cả chúng đều cần thiết cho sự hoàn thiện tối hậu của mục đích tiềm tàng và chưa được tiết lộ.

The will of Deity coloured the stream of energy units which we call by the name of the Ray of Will or Power, the first ray, and the impact of that stream on the matter of space insured that the hidden purpose of Deity would inevitably and eventually be revealed. It is a ray of such dynamic intensity that we call it the ray of the Destroyer. It is not as yet functioning actively. It will come into full play only when the time comes for the purpose to be safely revealed. Its units of energy in manifestation in the human kingdom are very few. As I earlier said, there is not a true first ray type in incarnation as yet. Its main potency is to be found in the mineral kingdom, and the key to the mystery of the first ray is to be found in radium.

Ý chí của Thượng đế tô màu dòng các đơn vị năng lượng mà chúng ta gọi bằng cái tên Cung của Ý Chí hay Quyền Năng, cung một, và tác động của dòng đó lên vật chất của không gian đảm bảo rằng mục đích ẩn giấu của Thượng đế chắc chắn và cuối cùng sẽ được tiết lộ. Đó là một cung có cường độ năng động đến mức chúng ta gọi nó là cung của Kẻ Hủy Diệt. Nó chưa hoạt động tích cực. Nó sẽ chỉ phát huy tác dụng đầy đủ khi thời điểm đến để mục đích được tiết lộ một cách an toàn. Các đơn vị năng lượng của nó trong biểu hiện ở giới nhân loại là rất ít. Như tôi đã nói trước đó, chưa có một mẫu người cung một thực sự nào đang lâm phàm. Tiềm năng chính của nó được tìm thấy trong giới kim thạch, và chìa khóa cho bí ẩn của cung một được tìm thấy trong radium.

In the vegetable kingdom the second ray is peculiarly active, producing among other things the magnetic attractiveness [45] of flowers. The mystery of the second ray is found to be hidden in the significance of the perfume of flowers. Perfume and radium are related, being emanatory expressions of ray effects upon differing groupings of material substance. The third ray is, in its turn, peculiarly related to the animal kingdom, producing the tendency to intelligent activity which we note in the higher domestic animals. The correspondence to radioactivity and to emanatory perfumes which we found in the mineral and vegetable kingdoms, we here call devotion, the characteristic of the attractive interplay between the domestic animals and man. Devotees of personalities might more rapidly transmute that devotion into its higher correspondence—love of principles—if they realised that they were only displaying an animal emanation.

Trong giới thực vật, cung hai hoạt động một cách đặc biệt mạnh mẽ, tạo ra – bên cạnh nhiều điều khác – sức hấp dẫn từ tính [45] của các loài hoa. Sự huyền nhiệm của cung hai được ẩn giấu trong thâm nghĩa của hương thơm nơi hoa cỏ. Hương thơm và radium có liên hệ với nhau, vì cả hai đều là những biểu hiện mang tính phát xạ của các hiệu ứng cung tác động lên những tổ hợp khác nhau của chất liệu vật chất. Cung ba, đến lượt nó, lại có mối liên hệ đặc thù với giới động vật, tạo nên khuynh hướng hoạt động có trí tuệ mà chúng ta ghi nhận nơi các loài thú nuôi bậc cao. Sự tương ứng với tính phóng xạ và hương thơm phát xạ mà chúng ta thấy trong giới kim thạch và giới thực vật, ở đây được gọi là sự tận tụy—đặc trưng của sự tương tác mang tính hấp dẫn giữa các loài thú nuôi và con người. Những người tận tụy với các phàm ngã có lẽ sẽ chuyển hoá sự tận tụy ấy sang tương ứng cao hơn của nó—tình yêu đối với các nguyên lý—một cách nhanh chóng hơn, nếu họ nhận ra rằng họ chỉ đang phô bày một sự phát xạ thuộc động vật.

The desire of the Deity expresses itself through the second Ray of Love-Wisdom. Desire is a word which has been prostituted to cover the tendency of humanity to crave material things or those pleasures which bring satisfaction to the sensuous nature. It is applied to those conditions which will satisfy the personality, but in the last analysis, desire is essentially love. This desire expresses itself by attractiveness, by its capacity to draw to itself and into the radius of its influence that which is loved. It is the bond of coherence, and is that principle of magnetic cohesion which lies behind all creative work and which produces the emergence into the light of manifestation of those forms or appearances through which it is possible to satisfy desire. This second ray is pre-eminently the ray of applied consciousness, and works through the creation and development of those forms which are found throughout the universe. They are essentially mechanisms for the development of responsiveness or awareness; they are sensitive machines, responsive to an enveloping environment. This is true of all [46] forms, from that of a crystal to that of a solar system. They have been created in the great process of satisfying desire and of providing the media of contact which will guarantee a progressive satisfaction. In the human family, the effect of this dual interplay of Life (desiring satisfaction) and of form (providing the field of experience) is a consciousness which is striving towards a love of the formless instead of desire for form, and the wise adaptation of all experience to the process of transmuting desire into love. Hence this ray is, par excellence, the dual ray of the solar Logos Himself, and hence colours all manifested forms, directing all consciousness in all forms in all kingdoms of nature, and in all fields of development; it carries the life through the range of forms in that basic search or urge for the attainment of bliss through the satisfaction of desire. This urge and the interaction of the pairs of opposites produced the varying types of conscious reaction to experience which, in their main stages, we call consciousness, animal consciousness, and allied differentiating phrases.

Khao khát của Thượng đế biểu lộ chính Ngài qua cung hai của Bác Ái–Minh Triết. “Khao khát” là một từ đã bị lạm dụng để chỉ khuynh hướng của nhân loại ham muốn các sự vật vật chất hoặc những khoái cảm đem lại sự thoả mãn cho bản chất cảm giác. Nó được áp dụng cho những trạng thái có thể làm thỏa mãn phàm ngã, nhưng, xét đến cùng, khao khát vốn dĩ là tình thương. Khao khát này tự biểu hiện qua sức hấp dẫn, qua khả năng tự lôi kéo về mình và vào trong phạm vi ảnh hưởng của mình cái được thương yêu. Nó là mối dây kết dính, là nguyên lý liên kết từ tính nằm phía sau mọi công trình sáng tạo và tạo ra sự xuất hiện trong ánh sáng của biểu lộ những hình tướng hay những vẻ ngoài mà qua đó có thể thỏa mãn khao khát. Cung hai này trước hết là cung của tâm thức được vận dụng, và hoạt động thông qua sự tạo lập và phát triển các hình tướng được tìm thấy khắp vũ trụ. Chúng vốn là những cơ chế phục vụ cho sự phát triển của khả năng đáp ứng hay nhận biết; chúng là những cỗ máy nhạy cảm, biết đáp ứng với môi trường bao quanh. Điều này đúng với mọi [46] hình tướng, từ một tinh thể cho đến một hệ mặt trời. Chúng đã được tạo dựng trong tiến trình vĩ đại nhằm thỏa mãn khao khát và cung cấp các môi giới tiếp xúc, bảo đảm sự thỏa mãn ngày càng tăng. Trong nhân loại, hệ quả của sự tương tác kép giữa Sự Sống (khao khát sự thỏa mãn) và hình tướng (cung cấp trường kinh nghiệm) là một tâm thức đang nỗ lực hướng đến tình yêu đối với cái vô hình dạng thay vì ước muốn hình tướng, cùng với sự thích ứng minh triết mọi kinh nghiệm vào tiến trình chuyển hóa khao khát thành tình thương. Vì vậy, cung này, trên tất cả, là cung kép của chính Thái dương Thượng đế, và vì thế nhuộm màu mọi hình tướng biểu lộ, dẫn dắt mọi tâm thức trong mọi hình tướng thuộc mọi giới trong thiên nhiên và trong mọi trường phát triển; nó mang sự sống đi qua mọi cấp độ hình tướng trong cuộc kiếm tìm căn bản hay thúc đẩy bẩm sinh nhằm đạt tới an lạc thông qua sự thỏa mãn khao khát. Chính sự thúc đẩy này và sự tương tác của hai cực đối nghịch đã tạo ra những loại phản ứng có ý thức khác nhau đối với kinh nghiệm, mà trong những giai đoạn chính của chúng, chúng ta gọi là tâm thức, tâm thức động vật, và những cách diễn đạt phân biệt có liên quan.

This second ray is the ray of Deity Itself, and is coloured by distinctive aspects of desire or love. They produce the totality of the manifested appearances, animated by the Life Which determines the quality. The Father, Spirit or Life, wills to seek the satisfaction of desire. The Mother or matter meets the desire and is attracted also by the Father. Their mutual response initiates the creative work, and the Son is born, inheriting from the Father the urge to desire or love, and from the Mother the tendency actively to create forms. Thus, in the language of symbolism, have the form worlds come into being, and through the evolutionary work the process is going forward of satisfying the desire of spirit. Thus in the two major rays of Will and Love we have the two main characteristics of the divine nature, which lie latent behind all the [47] myriad of forms. The aeons will see these two energies steadily dominating all appearance and driving the created world on to a full display of the divine nature. This is true of gods and men.

Cung hai này là cung của Chính Thượng đế, và được tô màu bởi các phương diện đặc biệt của khao khát hay tình thương. Chúng tạo ra tổng thể các vẻ bề ngoài biểu hiện, được hoạt hóa bởi Sự Sống Vốn xác định phẩm tính. Cha, Tinh thần hay Sự Sống, chủ định tìm kiếm sự thỏa mãn khao khát. Mẹ hay vật chất đáp ứng khao khát và cũng bị thu hút bởi Cha. Sự phản hồi lẫn nhau của họ khởi đầu công việc sáng tạo, và Người Con được sinh ra, thừa hưởng từ Cha sự thôi thúc khao khát hay yêu thương, và từ Mẹ khuynh hướng tích cực tạo ra các hình tướng. Do đó, theo ngôn ngữ của biểu tượng, các thế giới hình tướng đã ra đời, và thông qua công việc tiến hóa, quá trình thỏa mãn khao khát của tinh thần đang tiến triển. Do đó, trong hai cung chính của Ý Chí và Tình Thương, chúng ta có hai đặc điểm chính của bản chất thiêng liêng, nằm tiềm tàng đằng sau tất cả [47] vô số các hình tướng. Vô vàn thời đại sẽ thấy hai năng lượng này dần dần thống trị mọi vẻ bề ngoài và thúc đẩy thế giới được tạo tác tiến tới sự hiển thị đầy đủ của bản chất thiêng liêng. Điều này đúng với các Thượng đế và con người.

But in the same way in which the Father contributes to the Son the divine qualities of will and love, so the Mother contributes much also, and the initial duality is increased and the qualities are enhanced by the addition of a quality inherent in matter itself,—the quality or Ray of Intelligent Activity. This is the third of the divine attributes and completes, if I may so express it, the equipment of the appearing forms, and predisposes all creation to an intelligent appreciation of the true goal of desire and to an intelligent use of the technique of form building in order to reveal divine purpose. The Knower (man) is the custodian of that wisdom which will enable him to further the divine plan and bring the will of God to fruition. The field of knowledge is so constituted that it vibrates with intelligent response to the slowly emerging will. Knowledge itself is that which knows its own ends and works towards those ends through the process of experiment, expectation, experience, examination and exaltation which produces a final exit. Words such as these are synthetic symbols, conveying a cosmic story in terms of constructive brevity.

Nhưng cũng giống như cách Người Cha đóng góp cho Người Con các phẩm tính thiêng liêng của ý chí và tình thương, Người Mẹ cũng đóng góp rất nhiều, và tính nhị nguyên ban đầu được gia tăng và các phẩm tính được nâng cao nhờ sự bổ sung của một phẩm tính vốn có trong chính vật chất,—phẩm tính hay Cung của Trí Tuệ Hoạt Động. Đây là thuộc tính thứ ba của các thuộc tính thiêng liêng và hoàn thiện, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy, trang bị của các hình tướng đang xuất hiện, và chuẩn bị sẵn cho mọi tạo vật một sự đánh giá thông tuệ về mục tiêu thực sự của khao khát và một sự sử dụng thông tuệ kỹ thuật xây dựng hình tướng để tiết lộ mục đích thiêng liêng. Thức Giả (con người) là người trông coi sự minh triết đó vốn sẽ cho phép y thúc đẩy thiên cơ và mang ý chí của Thượng đế đến kết quả. Lĩnh vực tri thức được cấu tạo sao cho nó rung động với sự phản hồi thông tuệ đối với ý chí đang từ từ xuất lộ. Bản thân tri thức là cái biết được mục đích của chính nó và làm việc hướng tới những mục đích đó thông qua quá trình thử nghiệm, mong đợi, kinh nghiệm, kiểm tra và tôn vinh vốn tạo ra một lối ra cuối cùng. Những từ ngữ như thế này là những biểu tượng tổng hợp, truyền tải một câu chuyện vũ trụ dưới dạng sự ngắn gọn mang tính xây dựng.

Thus the three rays of Will, Love and Intelligence produce appearance, donate quality and, through the life principle which is the underlying aspect of unity, ensure continuity of growth until such time as the will of God has evidenced itself as power, has attracted to itself the desired, has with wisdom utilised the experience of a gradually growing satisfaction, and has intelligently applied the gain of experience to the production of forms more sensitive, more beautiful and more fully expressive of the quality of the life. [48] Each of these rays is dual in time and space, though only the second ray is dual when they are regarded from the standpoint of the final abstraction. In their temporary duality can be seen, for each of them, the interplay which we call cause and effect.

Do đó, ba cung của Ý Chí, Tình Thương và Trí Tuệ tạo ra vẻ bề ngoài, ban tặng phẩm tính và, thông qua nguyên khí sự sống vốn là phương diện cơ bản của sự thống nhất, đảm bảo sự liên tục của sự phát triển cho đến khi ý chí của Thượng đế tự chứng tỏ là quyền năng, đã thu hút về mình điều được khao khát, đã sử dụng với sự minh triết kinh nghiệm của một sự thỏa mãn ngày càng tăng, và đã áp dụng một cách thông tuệ cái đạt được của kinh nghiệm vào việc tạo ra các hình tướng nhạy cảm hơn, đẹp đẽ hơn và biểu đạt đầy đủ hơn phẩm tính của sự sống. [48] Mỗi cung trong số này là nhị nguyên trong thời gian và không gian, mặc dù chỉ có cung hai là nhị nguyên khi chúng được xem xét từ quan điểm của sự trừu tượng hóa cuối cùng. Trong tính nhị nguyên tạm thời của chúng có thể thấy, đối với mỗi cung, sự tương tác mà chúng ta gọi là nguyên nhân và kết quả.

Ray I

Will, dynamically applied, emerges in manifestation as power.

Cung I

Ý Chí, vốn được áp dụng một cách năng động, xuất hiện trong biểu hiện dưới dạng quyền năng.

Ray II

Love, magnetically functioning, produces wisdom.

Cung II

Tình thương/Bác ái, vốn hoạt động bằng từ tính, tạo ra minh triết.

Ray III

Intelligence, potentially found in substance, causes activity.

Cung III

Trí tuệ, vốn tiềm ẩn trong chất liệu, gây ra hoạt động.

The result of the interplay of these three major rays can be seen in the activity of the four minor rays. The Secret Doctrine speaks of the Lords of Knowledge and of Love, and also of the Lords of Ceaseless Devotion. We might, in order more clearly to understand the mystical significance of these names, point out that the dynamic persistent will of the Logos expresses itself through the Lords of Ceaseless Devotion. Here devotion is not the quality to which I referred earlier in this treatise, but is the persistent directed one-pointed will of God, embodied in a Life which is that of the Lord of the first ray. The Lords of Love and of Knowledge are the two great Lives Who embody or ensoul the Love-Wisdom and the creative Intelligence aspects of the two major rays. These three are the sum total of all forms or appearances, the givers of all qualities, and the emerging Life aspect behind the tangible manifestations. They correspond, in the human family, to the three aspects of Personality, Soul and Monad. The Monad is dynamic will or purpose, but remains unrevealed until after the third initiation. The Monad is Life, the sustaining force, a Lord of persevering and ceaseless devotion to the pursuit of a seen and determined objective. The soul is a Lord of love and wisdom, whilst the personality is a Lord of knowledge [49] and of intelligent activity. This use of terms involves the realisation of an achieved goal. It is not true of the present stage as regards expression, for this is the intermediate stage. None are as yet working with full intelligent activity, though some day each will do so. None are as yet manifesting Lords of love, but they sense the ideal and are striving towards its expression. None are as yet Lords of ceaseless will and none realise as yet the plan of the monad nor the true goal towards which all are striving. Some day all will. But potentially every human unit is all these three, and some day the appearances which were called personalities, that mask or veil reality, will fully reveal the qualities of Deity. When that time comes, the purpose for which all creation waits will burst upon the awakened vision, and we shall know the true meaning of bliss, and why the morning stars sang together. Joy is the strong basic note of our particular solar system.

Kết quả của sự tương tác của ba cung chính này có thể được nhìn thấy trong hoạt động của bốn cung phụ. Giáo Lý Bí Nhiệm nói về các Chúa Tể của Tri Thức và của Tình Thương, và cũng về các Chúa Tể của Sự Tận Tụy Không Ngừng. Để hiểu rõ hơn ý nghĩa thần bí của những cái tên này, chúng ta có thể chỉ ra rằng ý chí kiên trì năng động của Thượng đế tự biểu lộ qua các Chúa Tể của Sự Tận Tụy Không Ngừng. Ở đây sự tận tụy không phải là phẩm tính mà tôi đã đề cập trước đó trong luận thuyết này, mà là ý chí nhất tâm kiên trì được định hướng của Thượng đế, hiện thân trong Sự Sống Duy Nhất vốn là Sự Sống của Chúa Tể cung một. Các Chúa Tể của Tình Thương và của Tri Thức là hai Sự Sống vĩ đại, Những Đấng hiện thân hay phú linh cho các phương diện Bác Ái-Minh Triết và Trí Tuệ sáng tạo của hai cung chính. Ba Đấng này là tổng thể của mọi hình tướng hay vẻ bề ngoài, những người ban tặng mọi phẩm tính, và phương diện Sự Sống đang trỗi dậy đằng sau các biểu hiện hữu hình. Trong gia đình nhân loại, Các Ngài tương ứng với ba phương diện Phàm ngã, Linh hồn và Chân thần. Chân thần là ý chí hay mục đích năng động, nhưng vẫn chưa được tiết lộ cho đến sau cuộc điểm đạo thứ ba. Chân thần là Sự Sống, lực duy trì, một Chúa Tể của sự tận tụy kiên trì và không ngừng nghỉ để theo đuổi một mục tiêu đã thấy và đã xác định. Linh hồn là một Chúa Tể của tình thương và minh triết, trong khi phàm ngã là một Chúa Tể của tri thức [49] và của hoạt động thông tuệ. Việc sử dụng các thuật ngữ này bao hàm sự nhận biết về một mục tiêu đã đạt được. Nó không đúng với giai đoạn hiện tại về mặt biểu hiện, vì đây là giai đoạn trung gian. Chưa có ai đang làm việc với hoạt động thông tuệ trọn vẹn, mặc dù một ngày nào đó mỗi người sẽ làm như vậy. Chưa có ai đang biểu lộ là các Chúa Tể của tình thương, nhưng họ cảm nhận được lý tưởng và đang phấn đấu hướng tới sự biểu hiện của nó. Chưa có ai là các Chúa Tể của ý chí không ngừng và chưa có ai nhận ra kế hoạch của chân thần hay mục tiêu thực sự mà tất cả đang phấn đấu hướng tới. Một ngày nào đó tất cả sẽ làm được. Nhưng về mặt tiềm năng, mọi đơn vị con người đều là cả ba điều này, và một ngày nào đó những vẻ bề ngoài được gọi là phàm ngã, cái mặt nạ hay tấm màn che thực tại đó, sẽ tiết lộ đầy đủ các phẩm tính của Thượng đế. Khi thời điểm đó đến, mục đích mà mọi tạo vật chờ đợi sẽ bùng nổ trước tầm nhìn đã thức tỉnh, và chúng ta sẽ biết ý nghĩa thực sự của phúc lạc, và tại sao các ngôi sao buổi sáng lại cùng nhau ca hát. Niềm vui là âm hưởng cơ bản mạnh mẽ của hệ mặt trời cụ thể của chúng ta.

One of the foundational septenate of rays embodies in itself the principle of harmony, and this fourth Ray of Harmony gives to all forms that which produces beauty and works towards the harmonising of all effects emanating from the world of causes, which is the world of the three major rays. The ray of beauty, of art and harmony is the producer of the quality of organisation through form. It is in the last analysis the ray of mathematical exactitude and is not the ray of the artist, as so many seem to think. The artist is found on all rays, just as is the engineer or the physician, the home-maker or the musician. I want to make this clear, for there is much misunderstanding on this matter.

Một trong bộ bảy cung nền tảng thể hiện trong chính nó nguyên khí hài hòa, và Cung bốn của Hài Hòa này mang lại cho mọi hình tướng cái tạo nên vẻ đẹp và hoạt động hướng tới việc làm hài hòa mọi hiệu quả phát xuất từ thế giới của các nguyên nhân, vốn là thế giới của ba cung chính. Cung của vẻ đẹp, của nghệ thuật và hài hòa là đấng tạo ra phẩm tính của sự tổ chức thông qua hình tướng. Trong phân tích cuối cùng, nó là cung của sự chính xác toán học và không phải là cung của người nghệ sĩ, như rất nhiều người dường như nghĩ. Người nghệ sĩ được tìm thấy trên tất cả các cung, cũng giống như kỹ sư hay bác sĩ, người nội trợ hay nhạc sĩ. Tôi muốn làm rõ điều này, vì có nhiều sự hiểu lầm về vấn đề này.

Each of the great rays has a form of teaching truth to humanity which is its unique contribution, and in this way develops man by a system or technique which is qualified by the ray quality and is therefore specific and unique. Let me point out to you the modes of this group teaching: [50]

Mỗi cung vĩ đại đều có một hình thức dạy chân lý cho nhân loại vốn là sự đóng góp độc đáo của nó, và theo cách này phát triển con người bằng một hệ thống hay kỹ thuật được định tính bởi phẩm tính cung và do đó là cụ thể và độc đáo. Hãy để tôi chỉ ra cho các bạn các phương thức của việc giảng dạy nhóm này: [50]

Ray

Higher Expression

Lower Expression

Cung

Biểu hiện cao hơn

Biểu hiện thấp hơn

I

The science of statesmanship, of government.

Modern diplomacy and politics.

I

Khoa học về chính trị, về cai quản.

Ngoại giao và chính trị hiện đại.

II

The process of initiation as taught by the hierarchy of adepts.

Religion.

II

Tiến trình điểm đạo như được thánh đoàn chân sư giảng dạy.

Tôn giáo.

III

Means of communication or interaction. The radio, telephone, telegraph and the power to travel.

The use and spread of money and gold.

III

Phương tiện truyền thông hoặc tương tác. Radio, điện thoại, điện báo và quyền năng du hành.

Việc sử dụng và lan truyền tiền tệ và vàng.

IV

The Masonic work, based on the formation of the hierarchy, and related to the second ray.

Architectural construction. Modern city planning.

IV

Công việc Hội Tam Điểm, dựa trên sự hình thành thánh đoàn, và liên quan đến cung hai.

Xây dựng kiến trúc. Quy hoạch thành phố hiện đại.

V

The science of the soul. Esoteric psychology.

Modern educational systems and mental science.

V

Khoa học về linh hồn. Tâm Lý Học Nội Môn.

Các hệ thống giáo dục hiện đại và khoa học trí tuệ.

VI

Christianity and diversified religions. (Notice here relation to Ray II.)

Churches and organised religions.

VI

Cơ Đốc giáo và các tôn giáo đa dạng. (Cần lưu ý mối quan hệ với Cung Hai.)

Các nhà thờ và các tôn giáo có tổ chức.

VII

All forms of white magic.

Spiritualism of “phenomena.”

VII

Tất cả các hình thức chánh thuật.

Thần linh học của “các hiện tượng.”

The fourth ray is essentially the refiner, the producer of perfection within the form, and the prime manipulator of the energies of God in such a way that the Temple of the Lord is indeed known in its true nature as that which “houses” the Light. Thus the Shekinah will shine forth within the secret place of the Temple in its full glory. Such is the work of the seven Builders. This ray is expressive primarily on the first [51] the formless planes, counting from below upwards, and its true purpose cannot emerge until the soul is awakened and consciousness is adequately recording the known. The planes or manifested spheres of expression are influenced in manifestation in a numerical order:

Cung bốn về cơ bản là đấng tinh luyện, đấng tạo ra sự hoàn hảo bên trong hình tướng, và là người thao túng chính các năng lượng của Thượng đế theo cách mà Thánh Điện của Chúa thực sự được biết đến trong bản chất thật của nó như là cái “chứa đựng” Ánh sáng. Do đó Shekinah sẽ tỏa sáng bên trong nơi bí mật của Thánh Điện với vinh quang trọn vẹn của nó. Đó là công việc của bảy Đấng Kiến Tạo. Cung này biểu hiện chủ yếu trên cõi đầu tiên [51] của các cõi vô sắc tướng, tính từ dưới lên, và mục đích thực sự của nó không thể xuất lộ cho đến khi linh hồn được đánh thức và tâm thức ghi nhận đầy đủ cái đã biết. Các cõi hay các khối cầu biểu hiện được ảnh hưởng trong biểu hiện theo một trật tự số học:

Ray I

Will or Power

Plane of divinity.

Ray II

Love-Wisdom

Plane of the monad.

Ray III

Active Intelligence

Plane of spirit, atma.

Ray IV

Harmony

Plane of the intuition.

Ray V

Concrete Knowledge

Mental Plane.

Ray VI

Devotion, Idealism

Astral Plane.

Ray VII

Ceremonial Order

Physical Plane.

The fifth ray therefore works actively on the plane of the greatest moment to humanity, being, for man, the plane of the soul, and of the higher and the lower mind. It embodies the principle of knowledge, and because of its activity and its close relation to the third Ray of Active Intelligence might be regarded as a ray having a most vital relation to man at this time in particular. It is the ray which—when active, as it was in Lemurian times,—produces individualisation, which is literally the shifting of the evolving life of God into a new sphere of awareness. This particular transference into higher forms of awareness tends, at the beginning, to separativeness.

Do đó, cung năm hoạt động tích cực trên cõi quan trọng nhất đối với nhân loại, vì đối với con người, đó là cõi của linh hồn, và của thượng trí và hạ trí. Nó hiện thân cho nguyên khí tri thức, và vì hoạt động của nó và mối quan hệ chặt chẽ của nó với Cung ba của Trí Tuệ Hoạt Động, nó có thể được coi là một cung có mối quan hệ thiết yếu nhất với con người vào thời điểm cụ thể này. Đó là cung mà—khi hoạt động, như trong thời Lemuria,—tạo ra sự biệt ngã hóa, nghĩa đen là sự chuyển dịch sự sống đang tiến hóa của Thượng đế vào một lãnh vực nhận biết mới. Sự chuyển dịch cụ thể này vào các hình thức nhận biết cao hơn có xu hướng, ngay từ đầu, dẫn đến sự chia rẽ.

The fifth ray has produced what we call science. In science we find a condition which is rare in the extreme. Science is separative in its approach to the differing aspects of the divine manifestation which we call the world of natural phenomena, but it is non-separative in actuality, for there is little warring between the sciences and little competition between scientists. In this the workers in the scientific field differ profoundly from those of the religious. The reason for this is to be found in the fact that the true scientist, being a coordinated personality and working therefore on mental levels, works very close to the soul. The developed personality produces the [52] clear distinctions of the dominant lower mind, but (if one may use such a symbolic way of expression) the close proximity of the soul negates a separative attitude. The religious man is pre-eminently astral or emotional and works in a more separative manner, particularly in this Piscean age which is passing away. When I say the religious man I refer to the mystic and to the man who senses the beatific vision. I refer not to disciples nor to those who are called initiates, for they add to the mystical vision a trained mental apprehension.

Cung năm đã tạo ra cái mà chúng ta gọi là khoa học. Trong khoa học, chúng ta tìm thấy một điều kiện cực kỳ hiếm hoi. Khoa học có tính chia rẽ trong cách tiếp cận của nó đối với các phương diện khác nhau của biểu hiện thiêng liêng mà chúng ta gọi là thế giới của các hiện tượng tự nhiên, nhưng nó thực tế là không chia rẽ, vì có rất ít sự chiến tranh giữa các ngành khoa học và rất ít sự cạnh tranh giữa các nhà khoa học. Về điểm này, những người làm việc trong lĩnh vực khoa học khác biệt sâu sắc với những người trong lĩnh vực tôn giáo. Lý do cho điều này được tìm thấy trong thực tế là nhà khoa học thực thụ, vốn là một phàm ngã đã được phối kết và do đó làm việc trên các cấp độ trí tuệ, làm việc rất gần với linh hồn. Phàm ngã đã phát triển tạo ra [52] những sự phân biệt rõ ràng của hạ trí vượt trội, nhưng (nếu người ta có thể sử dụng một cách diễn đạt tượng trưng như vậy) sự gần gũi của linh hồn phủ nhận một thái độ chia rẽ. Người tôn giáo chủ yếu thuộc về cảm dục hoặc cảm xúc và làm việc theo một cách chia rẽ hơn, đặc biệt là trong thời đại Song Ngư đang trôi qua. Khi tôi nói người tôn giáo, tôi ám chỉ nhà thần bí và người cảm nhận được linh ảnh phúc lạc. Tôi không ám chỉ các đệ tử hay những người được gọi là điểm đạo đồ, vì họ thêm vào linh ảnh thần bí một sự lĩnh hội trí tuệ đã được rèn luyện.

The sixth Ray of Devotion embodies the principle of recognition. By this I mean the capacity to see the ideal reality lying behind the form; this implies a one-pointed application of desire and of intelligence in order to produce an expression of that sensed idea. It is responsible for much of the formulation of the ideas which have led man on, and for much of the emphasis on the appearance which has veiled and hidden those ideals. It is on this ray primarily—as it cycles in and out of manifestation—that the work of distinguishing between appearance and quality is carried forward, and this work has its field of activity upon the astral plane. The complexity of this subject and the acuteness of the feeling evolved become therefore apparent.

Cung sáu của Sự Sùng Tín hiện thân cho nguyên khí của sự nhận biết. Với điều này, tôi muốn nói đến khả năng nhìn thấy thực tại lý tưởng nằm đằng sau hình tướng; điều này ngụ ý một sự áp dụng nhất tâm của khao khát và của trí tuệ để tạo ra một sự biểu đạt của ý tưởng đã cảm nhận đó. Nó chịu trách nhiệm cho phần lớn sự hình thành các ý tưởng đã dẫn dắt con người tiến lên, và cho phần lớn sự nhấn mạnh vào vẻ bề ngoài vốn đã che giấu và ẩn giấu những lý tưởng đó. Chính chủ yếu trên cung này—khi nó quay vào và ra khỏi biểu hiện—mà công việc phân biệt giữa vẻ bề ngoài và phẩm tính được tiến hành, và công việc này có lĩnh vực hoạt động của nó trên cõi cảm dục. Do đó, sự phức tạp của chủ đề này và sự nhạy bén của cảm xúc được phát triển trở nên rõ ràng.

The seventh Ray of Ceremonial Order or Magic embodies a curious quality which is the outstanding characteristic of the particular Life which ensouls this ray. It is the quality or principle which is the coordinating factor unifying the inner quality and the outer tangible form or appearance. This work goes on primarily on etheric levels and involves physical energy. This is the true magical work. I should like to point out that when the fourth ray and the seventh ray come into incarnation together, we shall have a most peculiar period of revelation and of light-bringing. It is said of this time that then “the temple of the Lord will take on an added glory and the Builders will rejoice together.” This will be the high moment [53] of the Masonic work, spiritually understood. The Lost Word will then be recovered and uttered for all to hear, and the Master will arise and walk among His builders in the full light of the glory which shines from the east.

Cung bảy của Trật Tự Nghi Lễ hay Huyền Thuật hiện thân cho một phẩm tính kỳ lạ vốn là đặc điểm nổi bật của Sự Sống cụ thể phú linh cho cung này. Đó là phẩm tính hay nguyên khí là yếu tố phối hợp hợp nhất phẩm tính bên trong và hình tướng hữu hình hay vẻ bề ngoài bên ngoài. Công việc này diễn ra chủ yếu trên các cấp độ dĩ thái và liên quan đến năng lượng vật lý. Đây là công việc huyền thuật thực sự. Tôi muốn chỉ ra rằng khi cung bốn và cung bảy cùng lâm phàm, chúng ta sẽ có một thời kỳ mặc khải và mang lại ánh sáng kỳ lạ nhất. Người ta nói về thời điểm này rằng khi đó “ngôi đền của Chúa sẽ khoác lên một vinh quang gia tăng và các Đấng Kiến Tạo sẽ cùng nhau vui mừng.” Đây sẽ là thời điểm cao trào [53] của công việc Hội Tam Điểm, được hiểu theo nghĩa tinh thần. Linh Từ Đã Mất sau đó sẽ được phục hồi và thốt ra cho tất cả mọi người cùng nghe, và Chân Sư sẽ trỗi dậy và bước đi giữa các thợ xây của Ngài trong ánh sáng trọn vẹn của vinh quang tỏa sáng từ phương đông.

The spiritualising of forms might be regarded as the main work of the seventh ray, and it is this principle of fusion, of coordination and of blending which is active on etheric levels every time a soul comes into incarnation and a child is born on earth.

Việc tinh thần hóa các hình tướng có thể được coi là công việc chính của cung bảy, và chính nguyên khí dung hợp, phối hợp và hòa quyện này hoạt động trên các cấp độ dĩ thái mỗi khi một linh hồn lâm phàm và một đứa trẻ được sinh ra trên trái đất.

D. The soul is the principle of sentiency, underlying all outer manifestation, pervading all forms, and constituting the consciousness of God Himself. When the soul, immersed in substance, is simply sentiency, it produces through its evolutionary interplay an addition, and we find emerging quality and capacity to react to vibration and to environment. This is the soul as it expresses itself in all the subhuman kingdoms in nature.

D. Linh hồn là nguyên khí của tính thụ cảm, nằm dưới mọi biểu hiện bên ngoài, thâm nhập vào mọi hình tướng, và cấu thành tâm thức của chính Thượng đế. Khi linh hồn, đắm chìm trong chất liệu, chỉ đơn giản là tính thụ cảm, nó tạo ra, thông qua sự tương tác tiến hóa của nó, một sự bổ sung, và chúng ta thấy xuất hiện phẩm tính và năng lực phản ứng với rung động và với môi trường. Đây là linh hồn khi nó tự biểu lộ trong tất cả các giới dưới nhân loại trong tự nhiên.

When the soul, an expression of sentiency and quality, adds to these the capacity of detached self-awareness, there appears that self-identified entity which we call a human being.

Khi linh hồn, một sự biểu đạt của tính thụ cảm và phẩm tính, thêm vào những thứ này năng lực tự nhận biết tách biệt, thì xuất hiện thực thể tự đồng nhất mà chúng ta gọi là một con người.

When the soul adds to sentiency, quality and self-awareness, the consciousness of the group, then we have identification with a ray-group, and there appears the disciple, the initiate and the master.

Khi linh hồn thêm vào tính thụ cảm, phẩm tính và sự tự nhận biết, tâm thức của nhóm, thì chúng ta có sự đồng nhất với một nhóm cung, và xuất hiện đệ tử, điểm đạo đồ và chân sư.

When the soul adds to sentiency, quality, self-awareness and group consciousness, a consciousness of divine synthetic purpose (called by us the Plan), then we have that state of being and knowledge which is distinctive of all upon the Path of Initiation, and includes those graded Lives, from the more advanced disciple up to the planetary Logos Himself.

Khi linh hồn thêm vào tính thụ cảm, phẩm tính, sự tự nhận biết và tâm thức nhóm, một tâm thức về mục đích tổng hợp thiêng liêng (được chúng ta gọi là Thiên Cơ), thì chúng ta có trạng thái hiện hữu và tri thức đặc trưng của tất cả những người trên Con Đường Điểm Đạo, và bao gồm những Sự Sống với thứ bậc, từ người đệ tử tiến bộ hơn cho đến chính Hành Tinh Thượng đế.

But forget not that when we make these distinctions it is nevertheless one Soul that is functioning, acting through vehicles of varying capacities, of differentiated refinements and of greater and lesser limitations, in just the same sense as [54] a man is one identity, working sometimes through a physical body and sometimes through a feeling body or a mental body, and sometimes knowing himself to be the Self—a rare and unusual occurrence for the majority.

Nhưng đừng quên rằng khi chúng ta thực hiện những sự phân biệt này, tuy nhiên đó vẫn chỉ là một Linh Hồn đang hoạt động, hành động thông qua các hiện thể có năng lực khác nhau, có sự tinh tế khác biệt và những giới hạn lớn nhỏ khác nhau, cũng giống như [54] một người là một bản sắc, hoạt động đôi khi thông qua một thể xác và đôi khi thông qua một thể cảm giác hay một thể trí, và đôi khi biết mình là Chân Ngã—một sự kiện hiếm hoi và bất thường đối với đa số.

Every form in manifestation does two things:

Mọi hình tướng trong biểu hiện đều làm hai việc:

1. Appropriates, or is pervaded by, as much of the world soul as its capacity will permit. The atom of substance, the molecule or the cell all have soul, but not in the same degree as has an animal; and an animal has soul, but not in the same degree as has a Master, and so on up or down the scale.

1. Chiếm hữu, hoặc được thâm nhập bởi, nhiều linh hồn thế giới nhất mà khả năng của nó cho phép. Nguyên tử của chất liệu, phân tử hay tế bào đều có linh hồn, nhưng không cùng mức độ như một con vật; và một con vật có linh hồn, nhưng không cùng mức độ như một Chân Sư, và cứ thế đi lên hoặc đi xuống thang bậc.

2. Through the interaction between the indwelling soul and the form, two things occur:

2. Thông qua sự tương tác giữa linh hồn nội trú và hình tướng, hai điều xảy ra:

a. Sentiency and quality are expressed according to the type of body and its point of evolution.

a. Tính thụ cảm và phẩm tính được biểu lộ tùy theo loại thể và điểm tiến hóa của nó.

b. The pervading soul drives the body nature into activity, and forces it forward along the path of development, and thus provides for the soul a field of experience and for the body the opportunity to react to the higher soul impulse. Thus the field of expression is benefited, and the soul masters the technique of contact which is its objective in any particular form.

b. Linh hồn thâm nhập thúc đẩy bản chất cơ thể hoạt động, và buộc nó tiến lên con đường phát triển, và do đó cung cấp cho linh hồn một trường kinh nghiệm và cho cơ thể cơ hội để phản ứng với xung lực linh hồn cao hơn. Do đó, trường biểu đạt được hưởng lợi, và linh hồn làm chủ kỹ thuật tiếp xúc vốn là mục tiêu của nó trong bất kỳ hình tướng cụ thể nào.

The soul therefore, viewed from one angle, is an aspect of the body, for there is a soul in every atom comprising all bodies in all kingdoms in nature. The subtle coherent soul which is the result of the bringing together of spirit and matter exists as an entity apart from the body nature, and constitutes (when separated from the body) the etheric body, the double, as it is sometimes called, or the counterpart of the physical body. This is the sum total of the soul of the atoms constituting the physical body. It is the true form; it is the principle of coherence in every form.

Do đó, linh hồn, nhìn từ một góc độ, là một phương diện của cơ thể, vì có một linh hồn trong mỗi nguyên tử bao gồm tất cả các thể trong tất cả các giới của tự nhiên. Linh hồn gắn kết tinh tế vốn là kết quả của sự kết hợp giữa tinh thần và vật chất tồn tại như một thực thể tách biệt khỏi bản chất cơ thể, và cấu thành (khi tách khỏi bản chất cơ thể) thể dĩ thái, cái bóng, như đôi khi nó được gọi, hay đối phần của thể xác. Đây là tổng thể linh hồn của các nguyên tử cấu thành nên thể xác. Nó là hình tướng thực sự; nó là nguyên khí của sự gắn kết trong mọi hình tướng.

The soul, in relation to the human being, is the mind principle [55] in two capacities, or the mind expressing itself in two ways. These two ways are registered and become part of the organised equipment of the human body when it is adequately refined and sufficiently developed:

Linh hồn, trong mối quan hệ với con người, là nguyên khí trí tuệ [55] trong hai năng lực, hay trí tuệ tự biểu lộ theo hai cách. Hai cách này được ghi nhận và trở thành một phần của trang bị có tổ chức của cơ thể con người khi nó được tinh luyện thỏa đáng và phát triển đầy đủ:

1. The lower concrete mind, the mental body, the “chitta” or mind stuff.

1. Hạ trí cụ thể, thể trí, “chitta” hay chất liệu trí tuệ.

2. The higher spiritual or abstract mind.

2. Thượng trí tinh thần hay trí trừu tượng.

These two aspects of the soul, its two basic qualities, bring into being the human kingdom and enable man to contact both the lower kingdoms in nature and the higher spiritual realities. The first, the quality of mind in its lower manifestation, is owned potentially by every atom in every form in every kingdom in nature. It is a part of the body nature, inherent and potential, and is the basis of brotherhood, of absolute unity, of universal synthesis and divine coherence in manifestation. The other, the higher aspect, is the principle of self-awareness, and when combined with the lower aspect produces the self-consciousness of the human being. When the lower aspect has informed and pervaded the forms in the subhuman kingdoms, and when it has worked upon those forms and their latent sentiency so as to produce adequate refinement and sentiency, the vibration becomes so potent that the higher is attracted and there is a fusion or at-one-ing. This is like a higher recapitulation of the initial union of spirit and matter which brought the world into being. A human soul is thus brought into existence and begins its long career. It is now a differentiated entity.

Hai phương diện này của linh hồn, hai phẩm tính cơ bản của nó, mang lại sự tồn tại cho giới nhân loại và cho phép con người tiếp xúc với cả các giới thấp hơn trong tự nhiên và các thực tại tinh thần cao hơn. Cái thứ nhất, phẩm tính của trí tuệ trong biểu hiện thấp hơn của nó, được sở hữu một cách tiềm tàng bởi mọi nguyên tử trong mọi hình tướng trong mọi giới của tự nhiên. Nó là một phần của bản chất cơ thể, vốn có và tiềm tàng, và là cơ sở của tình huynh đệ, của sự thống nhất tuyệt đối, của sự tổng hợp phổ quát và sự gắn kết thiêng liêng trong biểu hiện. Cái kia, phương diện cao hơn, là nguyên khí của sự tự nhận biết, và khi kết hợp với phương diện thấp hơn tạo ra ngã thức của con người. Khi phương diện thấp hơn đã thấm nhuần và thâm nhập các hình tướng trong các giới dưới nhân loại, và khi nó đã tác động lên các hình tướng đó và tính thụ cảm tiềm tàng của chúng để tạo ra sự tinh luyện và tính thụ cảm thỏa đáng, sự rung động trở nên mạnh mẽ đến nỗi cái cao hơn bị thu hút và có sự dung hợp hay sự hợp nhất. Điều này giống như một sự tóm tắt lại ở mức cao hơn sự kết hợp ban đầu của tinh thần và vật chất đã mang thế giới vào sự hiện hữu. Một linh hồn con người do đó được đưa vào sự tồn tại và bắt đầu sự nghiệp lâu dài của mình. Giờ đây nó là một thực thể được biến phân.

“Soul” also is a word used to express the sum total of the psychic nature—the vital body, the emotional nature and the mind stuff. But it is also more than that, once the human stage is reached. It constitutes the spiritual entity, a conscious psychical being, a son of God, possessing life, quality and appearance— [56] a unique manifestation in time and space of the three expressions of the soul as we have just outlined them:

“Linh hồn” cũng là một từ được sử dụng để diễn tả tổng thể bản chất thông linh—thể sinh lực, bản chất cảm xúc và chất liệu trí tuệ. Nhưng nó cũng còn hơn thế nữa, một khi giai đoạn con người đạt được. Nó cấu thành thực thể tinh thần, một sinh linh thông linh có ý thức, một người con của Thượng đế, sở hữu sự sống, phẩm tính và vẻ bề ngoài— [56] một biểu hiện độc đáo trong thời gian và không gian của ba sự biểu đạt của linh hồn như chúng ta vừa phác thảo chúng:

1. The soul of all the atoms, composing the tangible appearance.

1. Linh hồn của tất cả các nguyên tử, cấu thành vẻ bề ngoài hữu hình.

2. The personal soul or the subtle coherent sum total which we call the Personality, composed of the subtle bodies, etheric or vital, astral or emotional, and the lower mental apparatus. These three vehicles humanity shares with the animal kingdom as regards its possession of vitality, sentiency, and potential mind; with the vegetable kingdom as regards vitality and sentiency; and with the mineral kingdom as regards vitality and potential sentiency.

2. Linh hồn cá nhân hay tổng thể gắn kết tinh tế mà chúng ta gọi là Phàm ngã, bao gồm các thể tinh tế, dĩ thái hay sinh lực, cảm dục hay cảm xúc, và bộ máy hạ trí. Ba hiện thể này nhân loại chia sẻ với giới động vật về mặt sở hữu sinh lực, tính thụ cảm, và trí tuệ tiềm tàng; với giới thực vật về mặt sinh lực và tính thụ cảm; và với giới kim thạch về mặt sinh lực và tính thụ cảm tiềm tàng.

3. The soul is also the spiritual being, or the union of life and quality. When there is the union of the three souls, so called, we have a human being.

3. Linh hồn cũng là sinh linh tinh thần, hay sự kết hợp của sự sống và phẩm tính. Khi có sự kết hợp của ba linh hồn, được gọi như vậy, chúng ta có một con người.

Thus in man you have the blending or fusion of life, quality and appearance, or spirit, soul and body, through the medium of a tangible form.

Do đó trong con người, bạn có sự hòa quyện hay dung hợp của sự sống, phẩm tính và vẻ bề ngoài, hay tinh thần, linh hồn và thể xác, thông qua trung gian của một hình tướng hữu hình.

In the process of differentiation these various aspects have attracted attention, and the underlying synthesis has been overlooked or disregarded. Yet all forms are differentiations of the soul, but that soul is one Soul, when viewed and considered spiritually. When studied from the form side, naught but differentiation and separation can be seen. When studied from the consciousness or sentiency aspect, unity emerges. When the human stage is reached and self-awareness is blended with the sentiency of forms and with the tiny consciousness of the atom, some idea of a possible subjective unity begins dimly to dawn on the thinker’s mind. When the stage of discipleship is reached, a man begins to see himself as a sentient part of a sentient whole, and slowly reacts to the purpose and intent [57] of that whole. He grasps that purpose little by little as he swings consciously into the rhythm of the sum total of which he is a part. When more advanced stages and more rarefied and refined forms are possible, the part is lost in the whole; the rhythm of the whole subjects the individual to a uniform participation in the synthetic purpose, but the realisation of individual self-awareness persists and enriches the individual contribution, which is now intelligently and willingly offered, so that the form not only constitutes an aspect of the sum total (which has always and inevitably been the case, even when unrealised), but the conscious thinking entity knows the fact of the unity of consciousness and of the synthesis of life. Thus we have three things to bear in mind as we read and study:

Trong quá trình biến phân, các phương diện khác nhau này đã thu hút sự chú ý, và sự tổng hợp cơ bản đã bị bỏ qua hoặc coi thường. Tuy nhiên, mọi hình tướng đều là sự biến phân của linh hồn, nhưng linh hồn đó là một Linh Hồn, khi được nhìn và xem xét về mặt tinh thần. Khi nghiên cứu từ phía hình tướng, không gì ngoài sự biến phân và chia rẽ có thể được nhìn thấy. Khi nghiên cứu từ phương diện tâm thức hay tính thụ cảm, sự thống nhất xuất hiện. Khi giai đoạn con người đạt được và sự tự nhận biết được hòa quyện với tính thụ cảm của các hình tướng và với tâm thức nhỏ bé của nguyên tử, một ý tưởng nào đó về một sự thống nhất chủ quan khả dĩ bắt đầu lờ mờ xuất hiện trong tâm trí của người tư duy. Khi giai đoạn đệ tử đạt được, một người bắt đầu thấy mình là một phần có cảm giác của một tổng thể có cảm giác, và từ từ phản ứng với mục đích và ý định [57] của tổng thể đó. Y nắm bắt mục đích đó từng chút một khi y xoay chuyển một cách có ý thức vào nhịp điệu của tổng thể mà y là một phần. Khi các giai đoạn tiến bộ hơn và các hình tướng loãng hơn và tinh tế hơn là khả thi, phần được hòa nhập vào trong toàn thể; nhịp điệu của toàn thể buộc cá nhân phải tham gia thống nhất vào mục đích tổng hợp, nhưng sự chứng nghiệm về tự nhận biết cá nhân vẫn tồn tại và làm phong phú thêm sự đóng góp của cá nhân, vốn giờ đây được dâng hiến một cách thông tuệ và tự nguyện, để hình tướng không chỉ cấu thành một phương diện của tổng thể (vốn luôn luôn và chắc chắn là trường hợp, ngay cả khi chưa được nhận ra), mà thực thể tư duy có ý thức biết được sự thật về sự thống nhất của tâm thức và về sự tổng hợp của sự sống. Vì vậy, chúng ta có ba điều cần ghi nhớ khi đọc và nghiên cứu:

1. The synthesis of life . . . . . . . . . . spirit.

1. Sự tổng hợp của sự sống . . . . . . . . . . tinh thần.

2. The unity of consciousness . . . . .soul.

2. Sự thống nhất của tâm thức . . . . .linh hồn.

3. The integration of forms . . . . . . .body.

3. Sự tích hợp của các hình tướng . . . . . . .thể xác.

These three always have been at-one, but the human consciousness has not known it. It is the realisation of these three factors and their integration into the technique of living which is, for man, the objective of his entire evolutionary experience.

Ba điều này luôn luôn là hợp nhất, nhưng tâm thức con người đã không biết điều đó. Chính sự chứng nghiệm về ba yếu tố này và sự tích hợp của chúng vào kỹ thuật sống là mục tiêu, đối với con người, của toàn bộ kinh nghiệm tiến hóa của y.

Let us, talking necessarily in symbols, consider the universal Soul, or the consciousness of the Logos Who brought our universe into being. Let us regard the Deity as pervading the form of His solar system with life, and as being conscious of His work, of His project and His goal. This solar system is an appearance, but God remains transcendent. Within all forms God is immanent, yet persists aloof and withdrawn. Just as a thinking, intelligent human being functions through his body but dwells primarily in his mental consciousness or in his emotional processes, so God dwells withdrawn in His mind nature; the world that He has created and pervaded with His life, goes forward towards the goal for which He has [58] created it. Within, however, the radius of His appearing form, greater activities are going forward; varying states of consciousness and stages of awareness are to be seen; developing degrees of sentiency emerge, and even in the symbolism of the human form we have such differing states of sentiency as are registered by the hair, by the internal organisms in the body, by the nervous system, by the brain, and by the entity we call the self (who registers emotion and thought). In the same way does the Deity, within the solar system, express as wide a divergence of consciousness.

Chúng ta hãy, nói một cách nhất thiết bằng các biểu tượng, xem xét Linh hồn phổ quát, hay tâm thức của Thượng đế, Đấng đã đưa vũ trụ của chúng ta vào sự hiện hữu. Hãy xem Thượng đế như đang thấm nhuần hình tướng của hệ mặt trời của Ngài bằng sự sống, và như đang ý thức về công việc của Ngài, về dự án của Ngài và mục tiêu của Ngài. Hệ mặt trời này là một vẻ bề ngoài, nhưng Thượng đế vẫn siêu việt. Bên trong mọi hình tướng, Thượng đế là nội tại, nhưng vẫn tồn tại tách biệt và rút lui. Cũng giống như một con người tư duy, thông tuệ hoạt động thông qua cơ thể của mình nhưng cư ngụ chủ yếu trong tâm thức trí tuệ hoặc trong các quá trình cảm xúc của mình, thì Thượng đế cũng cư ngụ rút lui trong bản chất tâm trí của Ngài; thế giới mà Ngài đã tạo ra và thấm nhuần sự sống của Ngài, tiến về phía trước hướng tới mục tiêu mà Ngài đã [58] tạo ra nó. Tuy nhiên, trong bán kính của hình tướng đang xuất hiện của Ngài, các hoạt động lớn hơn đang diễn ra; các trạng thái tâm thức và các giai đoạn nhận biết khác nhau được nhìn thấy; các mức độ phát triển của tính thụ cảm xuất hiện, và ngay cả trong biểu tượng của hình tướng con người, chúng ta cũng có những trạng thái thụ cảm khác nhau như được ghi nhận bởi tóc, bởi các cơ quan nội tạng trong cơ thể, bởi hệ thần kinh, bởi bộ não, và bởi thực thể mà chúng ta gọi là cái tôi (người ghi nhận cảm xúc và tư tưởng). Cũng theo cách tương tự, Thượng đế, bên trong hệ mặt trời, biểu lộ một sự khác biệt rộng lớn về tâm thức.

There is a body consciousness; there is a sensory apparatus, registering reaction to the environment; there is a consciousness of moods, of quality, of mental reactions to a world of ideas; there is a higher consciousness of plan and of purpose; there is a consciousness of life.

Có một tâm thức cơ thể; có một bộ máy giác quan, ghi nhận phản ứng với môi trường; có một tâm thức về các tâm trạng, về phẩm tính, về các phản ứng trí tuệ đối với một thế giới của các ý tưởng; có một tâm thức cao hơn về kế hoạch và về mục đích; có một tâm thức về sự sống.

It is interesting to note in connection with the Deity that this sensory response to environment provides the entire basis for astrology and for the effect of the constellations upon the solar system and the interplanetary forces.

Thật thú vị khi lưu ý liên quan đến Thượng đế rằng phản ứng giác quan này đối với môi trường cung cấp toàn bộ cơ sở cho chiêm tinh học và cho hiệu quả của các chòm sao lên hệ mặt trời và các lực liên hành tinh.

We might sum it all up in relation to man as follows:

Chúng ta có thể tóm tắt tất cả trong mối quan hệ với con người như sau:

Man’s form nature reacts in its consciousness to the form nature of Deity. The outer garment of the soul (physical, vital and psychic) is part of the outer garment of God.

Bản chất hình tướng của con người phản ứng trong tâm thức của nó với bản chất hình tướng của Thượng đế. Lớp vỏ bên ngoài của linh hồn (vật lý, sinh lực và thông linh) là một phần của lớp vỏ bên ngoài của Thượng đế.

Man’s self-conscious soul is en rapport with the soul of all things. It is an integral part of the universal Soul, and because of this can become aware of the conscious purpose of Deity; can intelligently cooperate with the will of God, and thus work with the plan of Evolution.

Linh hồn ngã thức của con người giao cảm với linh hồn của vạn vật. Nó là một phần không thể thiếu của Linh hồn phổ quát, và nhờ điều này mà có thể trở nên nhận biết về mục đích có ý thức của Thượng đế; có thể hợp tác một cách thông tuệ với ý chí của Thượng đế, và do đó làm việc với thiên cơ của sự Tiến hóa.

Man’s spirit is one with the life of God and is within him, deep-seated in his soul, as his soul is seated within the body.

Tinh thần của con người là một với sự sống của Thượng đế và ở bên trong y, nằm sâu trong linh hồn y, cũng như linh hồn y nằm trong cơ thể.

This spirit will in some distant time put him en rapport with that aspect of God which is transcendent, and thus each son of God will eventually find his way to that centre—withdrawn [59] and abstracted—where God dwells beyond the confines of the solar system.

Tinh thần này, trong một thời gian xa xôi nào đó, sẽ đưa y vào sự giao cảm với phương diện đó của Thượng đế vốn là siêu việt, và do đó mỗi người con của Thượng đế cuối cùng sẽ tìm được đường đến trung tâm đó—rút lui [59] và trừu tượng—nơi Thượng đế cư ngụ bên ngoài biên giới của hệ mặt trời.

These are words which are formulated in an endeavour to convey an idea of order, of plan, of universal synthesis, of the integration and incorporation of the fragment in the whole, and of the part with the all.

Đây là những từ ngữ được thiết lập trong một nỗ lực để truyền tải một ý tưởng về trật tự, về thiên cơ, về sự tổng hợp phổ quát, về sự tích hợp và sáp nhập của mảnh vụn vào trong cái toàn thể, và của bộ phận với cái tất cả.

Let us endeavour now to answer the second question, remembering as we proceed, that it is not possible for us to do more than enter symbolically into the practical purposes of Deity. As I write for simple aspirants, I cannot convey the truth until such time as their rapport with their own souls is complete, or more complete than is now the case. The effort, however, to grasp that which cannot be expressed in words produces a downpouring of the abstract mind or of the intuition, and this, in its turn, stimulates and develops the brain cells and produces a steady stabilisation of the power to stand in “spiritual being”; then it becomes possible to grasp the inexpressible and to live by its power.

Bây giờ chúng ta hãy cố gắng trả lời câu hỏi thứ hai, ghi nhớ khi chúng ta tiến hành, rằng chúng ta không thể làm gì hơn ngoài việc đi vào các mục đích thực tiễn của Thượng đế một cách tượng trưng. Vì tôi viết cho những người chí nguyện đơn sơ, tôi không thể truyền tải chân lý cho đến khi sự giao cảm của họ với linh hồn của chính họ được trọn vẹn, hoặc trọn vẹn hơn so với hiện nay. Tuy nhiên, nỗ lực để nắm bắt cái không thể diễn tả bằng lời tạo ra một sự tuôn đổ của trí trừu tượng hoặc của trực giác, và điều này, đến lượt nó, kích thích và phát triển các tế bào não và tạo ra sự ổn định đều đặn cho khả năng đứng vững trong “thực thể tinh thần”; khi đó mới có thể nắm bắt được cái không thể diễn tả và sống bằng quyền năng của nó.

Question 2. What are the origin, goal, purpose and plan of the soul? Câu hỏi 2. Nguồn gốc, mục tiêu, mục đích và kế hoạch của linh hồn là gì?

The seven rays are the sum total of the divine Consciousness, of the universal Mind; They might be regarded as seven intelligent entities through Whom the plan is working out. They embody divine purpose, express the qualities required for the materialising of that purpose, and They create the forms and are the forms through which the divine idea can be carried forward to completion. Symbolically, They may be regarded as constituting the brain of the divine Heavenly Man. They correspond to the ventricles of the brain, to the seven centres within the brain, to the seven centres of force, and to the seven major glands which determine the quality of the physical body. They are the conscious executors of [60] divine purpose; They are the seven Breaths, animating all forms which have been created by Them to carry out the plan.

Bảy cung là tổng thể của Tâm thức thiêng liêng, của Trí Tuệ Vũ Trụ; Các Ngài có thể được coi là bảy thực thể thông tuệ mà qua đó thiên cơ đang được thực hiện. Các Ngài hiện thân cho mục đích thiêng liêng, biểu lộ các phẩm tính cần thiết cho việc vật chất hóa mục đích đó, và Các Ngài tạo ra các hình tướng và là các hình tướng mà qua đó ý tưởng thiêng liêng có thể được đưa đến sự hoàn thành. Về mặt biểu tượng, Các Ngài có thể được coi là cấu thành bộ não của Đấng Thiên Nhân thiêng liêng. Các Ngài tương ứng với các não thất, với bảy trung tâm bên trong bộ não, với bảy trung tâm lực, và với bảy tuyến nội tiết chính xác định phẩm tính của thể xác. Các Ngài là những người thực thi có ý thức của [60] mục đích thiêng liêng; Các Ngài là bảy Hơi Thở, làm sinh động tất cả các hình tướng đã được Các Ngài tạo ra để thực hiện thiên cơ.

It may perhaps be easier to understand the relation of the seven rays to Deity if we remember that man himself (being made in the image of God) is a seven-fold being, capable of seven states of consciousness, expressive of the seven principles or basic qualities which enable him to be aware of the seven planes upon which he is, consciously or unconsciously, functioning. He is a septenate at all times, but his objective is to be consciously aware of all the states of being, to express consciously all the qualities, and to function freely on all the planes.

Có lẽ sẽ dễ hiểu hơn mối quan hệ của bảy cung với Thượng đế nếu chúng ta nhớ rằng bản thân con người (được tạo ra theo hình ảnh của Thượng đế) là một thực thể thất phân, có khả năng có bảy trạng thái tâm thức, biểu lộ bảy nguyên khí hay phẩm tính cơ bản cho phép y nhận biết về bảy cõi mà trên đó y đang hoạt động một cách có ý thức hoặc vô thức,. Y luôn là một bộ bảy, nhưng mục tiêu của y là nhận biết một cách có ý thức về tất cả các trạng thái hiện hữu, biểu lộ một cách có ý thức tất cả các phẩm tính, và hoạt động tự do trên tất cả các cõi.

The seven ray Beings, unlike man, are fully conscious and entirely aware of the purpose and the Plan. They are “ever in deep meditation,” and have reached the point where, through Their advanced stage of development, They are “impelled toward fulfillment.” They are fully self-conscious and group-conscious; They are the sum total of the universal mind; They are “awake and active.” Their goal and Their purpose is such that it is idle for us to speculate about it, for the highest point of achievement for man is the lowest point for Them. These seven Rays, Breaths and Heavenly Men have the task of wrestling with matter in order to subjugate it to divine purpose, and the goal—as far as one can sense it—is to subject the material forms to the play of the life aspect, thus producing those qualities which will carry the will of God to completion. They are therefore the sum total of all the souls within the solar system, and Their activity produces all forms; according to the nature of the form so will be the grade of consciousness. Through the seven rays, the life or spirit aspect flows, cycling through every kingdom in nature and producing thus all states of consciousness in all fields of awareness.

Bảy Thực Thể cung, không giống như con người, hoàn toàn có ý thức và hoàn toàn nhận biết về mục đích và Thiên Cơ. Các Ngài “luôn tham thiền sâu lắng,” và đã đạt đến điểm mà, thông qua giai đoạn phát triển tiến bộ của Các Ngài, Các Ngài được “thúc đẩy hướng tới sự hoàn thành.” Các Ngài hoàn toàn tự ý thức và tâm thức nhóm; Các Ngài là tổng thể của trí tuệ vũ trụ; Các Ngài “tỉnh thức và hoạt động.” Thật vô ích khi chúng ta suy đoán Mục tiêu và mục đích của Các Ngài là như thế nào, vì điểm thành tựu cao nhất đối với con người là điểm thấp nhất đối với Các Ngài. Bảy Cung, Bảy Hơi Thở và Bảy Thiên Nhân này có nhiệm vụ đấu tranh với vật chất để khuất phục nó theo mục đích thiêng liêng, và mục tiêu—theo như người ta có thể cảm nhận—là bắt các hình tướng vật chất phải chịu tác động của phương diện sự sống, do đó tạo ra những phẩm tính sẽ đưa ý chí của Thượng đế đến sự hoàn thành. Do đó, Các Ngài là tổng thể của tất cả các linh hồn trong hệ mặt trời, và hoạt động của Các Ngài tạo ra tất cả các hình tướng; tùy theo bản chất của hình tướng mà cấp độ tâm thức sẽ tương ứng. Thông qua bảy cung, phương diện sự sống hay tinh thần tuôn chảy, luân chuyển qua mọi giới trong tự nhiên và do đó tạo ra mọi trạng thái tâm thức trong mọi lĩnh vực nhận biết.

For the purpose of this treatise students will have to accept [61] the hypothesis that every human being is swept into manifestation on the impulse of some ray, and is coloured by that particular ray quality, which determines the form aspect, indicates the way he should go, and enables him (by the time the third initiation is reached) to have sensed and then to have cooperated with his ray purpose. After the third initiation he begins to sense the synthetic purpose towards which all the seven rays are working; but as this treatise is written for aspirants and disciples, and not for initiates of the third degree, it is needless to speculate upon this ultimate destiny.

Vì mục đích của luận thuyết này, các học viên sẽ phải chấp nhận [61] giả thuyết rằng mọi con người đều bị cuốn vào biểu hiện do xung lực của một cung nào đó, được tô màu bởi phẩm tính cung cụ thể đó, vốn xác định phương diện hình tướng, chỉ ra con đường y nên đi, và cho phép y (vào thời điểm đạt đến cuộc điểm đạo thứ ba) cảm nhận và sau đó hợp tác với mục đích cung của mình. Sau cuộc điểm đạo thứ ba, y bắt đầu cảm nhận được mục đích tổng hợp mà tất cả bảy cung đang hướng tới; nhưng vì luận thuyết này được viết cho những người chí nguyện và đệ tử, chứ không phải cho các điểm đạo đồ bậc ba, nên không cần thiết phải suy đoán về định mệnh tối hậu này.

The human soul is a synthesis of material energy, qualified by intelligent consciousness, plus the spiritual energy which is, in its turn, qualified by one of the seven ray types.

Linh hồn con người là một sự tổng hợp của năng lượng vật chất, được định tính bởi tâm thức thông tuệ, cộng với năng lượng tinh thần mà, đến lượt nó, được định tính bởi một trong bảy loại cung.

Thus the human being emerges, a son of God incarnate in form, with one hand (as the Old Commentary says) holding firmly to the rock of matter and with the other hand plunged into a sea of love. An ancient scripture puts it thus:

Do đó, con người xuất hiện, một người con của Thượng đế hiện thân trong hình tướng, với một tay (như Cổ Luận nói) nắm chặt vào tảng đá của vật chất và tay kia nhúng vào biển tình thương. Một kinh văn cổ xưa diễn đạt như sau:

“When the right hand of the man of matter grasps the flower of life and plucks it for himself, the left hand remains in emptiness.

“Khi bàn tay phải của con người vật chất nắm lấy đóa hoa của sự sống và hái nó cho chính mình, bàn tay trái vẫn trống rỗng.

“When the right hand of the man of matter grasps the golden lotus of the soul, the left descends seeking the flower of life, though he seeks it not for selfish ends.

“Khi bàn tay phải của con người vật chất nắm lấy đóa sen vàng của linh hồn, bàn tay trái hạ xuống tìm kiếm đóa hoa của sự sống, mặc dù y không tìm kiếm nó vì những mục đích ích kỷ.

“When the right hand holds the golden lotus firm and the left hand grasps the flower of life, man finds himself to be the seven-leaved plant which flowers on earth and flowers before the Throne of God.”

“Khi bàn tay phải giữ chặt đóa sen vàng và bàn tay trái nắm lấy đóa hoa của sự sống, con người thấy mình là loài cây bảy lá nở hoa trên trái đất và nở hoa trước Ngai của Thượng đế.”

The purpose of Deity, as it is known to the Creator, is totally unknown to all save the higher initiates. But the purpose of each ray Life may be sensed and defined, subject of course to the limitations of the human mind and to the inadequacy of words. The planned activity of every ray qualifies every form found within its body of manifestation.

Mục đích của Thượng đế, như Đấng Tạo Hóa biết, hoàn toàn không được biết đến đối với tất cả trừ những điểm đạo đồ cao cấp. Nhưng mục đích của mỗi Sự Sống cung có thể được cảm nhận và xác định, tất nhiên là tùy thuộc vào những hạn chế của tâm trí con người và sự không đầy đủ của ngôn từ. Hoạt động được hoạch định của mỗi cung định tính cho mọi hình tướng được tìm thấy trong thể biểu hiện của nó.

We come now to a technical statement which must be accepted for the sake of argument, being incapable of proof. [62] All the Lords of the rays create a body of expression, and thus the seven planets have come into being. These are their major expressions.

Bây giờ chúng ta đến với một tuyên bố kỹ thuật phải được chấp nhận vì mục đích lập luận, vì không thể chứng minh. [62] Tất cả các Chúa Tể của các cung tạo ra một thể biểu đạt, và do đó bảy hành tinh đã ra đời. Đây là những biểu đạt chính của các Ngài.

The Sun (Veiling Vulcan)

Mặt Trời (Che giấu Vulcan)

Jupiter

Sao Mộc

Saturn

Sao Thổ

Mercury

Sao Thủy

Venus

Sao Kim

Mars

Sao Hỏa

The Moon

Mặt Trăng

The energies of these seven Lives however are not confined to their planetary expressions, but sweep around the confines of the solar system just as the life impulses of a human being—his vital forces, his desire impulses, and his mental energies—sweep throughout his body, bringing the various organs into activity and enabling him to carry out his intent, to live his life, and to fulfill the objective for which he created his body of manifestation.

Tuy nhiên, năng lượng của bảy Sự Sống này không giới hạn ở các biểu đạt hành tinh của các Ngài, mà quét quanh biên giới của hệ mặt trời giống như các xung lực sự sống của một con người—các lực sinh khí của y, các xung lực khao khát của y, và các năng lượng trí tuệ của y—quét khắp cơ thể y, đưa các cơ quan khác nhau vào hoạt động và cho phép y thực hiện ý định của mình, sống cuộc đời của mình, và hoàn thành mục tiêu mà vì đó y đã tạo ra thể biểu hiện của mình.

Each of the seven kingdoms in nature reacts to the energy of some particular ray Life. Each of the seven planes similarly reacts; each septenate in nature vibrates to one or another of the initial septenates, for the seven rays establish that process which assigns the limits of influence of all forms. They are that which determines all things, and when I use these words I indicate the necessity of Law. Law is the will of the seven Deities, making its impression upon substance in order to produce a specific intent through the method of the evolutionary process.

Mỗi giới trong bảy giới của tự nhiên phản ứng với năng lượng của một Sự Sống cung cụ thể nào đó. Mỗi cõi trong bảy cõi cũng phản ứng tương tự; mỗi bộ bảy trong tự nhiên rung động với cái này hay cái khác của các bộ bảy ban đầu, vì bảy cung thiết lập quá trình ấn định giới hạn ảnh hưởng của mọi hình tướng. Chúng là cái xác định mọi thứ, và khi tôi sử dụng những từ này, tôi chỉ ra sự cần thiết của Định luật. Định luật là ý chí của bảy vị Thượng đế, tạo ấn tượng của nó lên chất liệu để tạo ra một ý định cụ thể thông qua phương pháp của quá trình tiến hóa.

A. The Three Rays of Aspect—Ba Cung Trạng Thái.

We shall now express the ray purpose in the form of an ancient teaching preserved on leaves that are so old that the writing is slowly fading. I now translate it into modern language though much is lost thereby. [63]

Bây giờ chúng ta sẽ diễn đạt mục đích cung dưới dạng một giáo huấn cổ xưa được bảo tồn trên những chiếc lá cũ đến nỗi chữ viết đang dần phai mờ. Bây giờ tôi dịch nó sang ngôn ngữ hiện đại mặc dù nhiều điều do đó sẽ bị mất đi. [63]

THE FIRST PURPOSE OF DEITY

MỤC ĐÍCH ĐẦU TIÊN CỦA THƯỢNG ĐẾ

Ray I. Will or Power.

Cung I. Ý Chí hay Quyền Năng.

Behind the central sacred sun, hidden within its rays, a form is found. Within that form there glows a point of power which vibrates not as yet but shines as light electric.

Đằng sau mặt trời thiêng liêng trung tâm, ẩn trong các tia của nó, một hình tướng được tìm thấy. Bên trong hình tướng đó rực sáng một điểm quyền năng vốn chưa rung động nhưng chiếu sáng như ánh sáng điện.

Fierce are its rays. It burns all forms, yet touches not the life of God incarnate.

Các tia của nó thật dữ dội. Nó thiêu đốt mọi hình tướng, nhưng không chạm đến sự sống của Thượng đế đang hiện thân.

From the One who is the seven goes forth a word. That word reverberates along the line of fiery essence, and when it sounds within the circle of the human lives it takes the form of affirmation, an uttered fiat or word of power. Thus there is impressed upon the living mold the thought of ….. (the hidden, inexpressible ray name.)

Từ Đấng là bảy phát ra một từ. Từ đó vang vọng dọc theo dòng tinh chất lửa, và khi nó vang lên trong vòng tròn của các sự sống con người, nó mang hình thức của sự khẳng định, một mệnh lệnh được thốt ra hay quyền năng từ. Do đó, được in lên khuôn đúc sống động tư tưởng của ….. (tên cung ẩn giấu, không thể diễn tả.)

Let dynamic power, electric light, reveal the past, destroy the form that is, and open up the golden door. This door reveals the way which leads towards the centre where dwells the one whose name cannot be heard within the confines of our solar sphere.

Hãy để quyền năng năng động, ánh sáng điện, tiết lộ quá khứ, hủy diệt hình tướng hiện tại, và khai mở cánh cửa vàng. Cánh cửa này tiết lộ con đường dẫn về trung tâm nơi ngự trị của đấng mà tên không thể được nghe thấy trong biên giới của khối cầu thái dương của chúng ta.

His robe of blue veils his eternal purpose, but in the rising and the setting sun his orb of red is seen.

Chiếc áo choàng màu xanh của ngài che giấu mục đích vĩnh cửu của ngài, nhưng trong mặt trời mọc và mặt trời lặn, quả cầu đỏ của ngài được nhìn thấy.

His word is power. His light, electric. The lightning is his symbol. His will is hidden in the counsel of his thought. Nought is revealed.

Lời của ngài là quyền năng. Ánh sáng của ngài, là điện. Tia chớp là biểu tượng của ngài. Ý chí của ngài ẩn trong ý định của tư tưởng ngài. Không gì được tiết lộ.

His power is felt. The sons of men, reacting to his power, send to the utmost bounds of light a question:

Quyền năng của ngài được cảm nhận. Những người con của nhân loại, phản ứng với quyền năng của ngài, gửi đến tận cùng giới hạn của ánh sáng một câu hỏi:

Why this blind power? Why death? Why this decay of forms? Why the negation of the power to hold? Why death, Oh Mighty Son of God?

Tại sao lại là quyền năng mù quáng này? Tại sao lại là cái chết? Tại sao lại là sự tan rả của các hình tướng? Tại sao lại là sự phủ định của quyền năng duy trì? Tại sao lại là cái chết, Ôi Người Con Hùng Mạnh của Thượng đế?

Faintly the answer comes: I hold the keys of life and death. I bind and loose again. I, the Destroyer, am.

Câu trả lời đến một cách nhẹ nhàng: Ta giữ chìa khóa của sự sống và cái chết. Ta buộc chặt và lại thả lỏng. Ta là Kẻ Hủy Diệt.

This ray Lord is not yet in full expression, except as He causes destruction and brings cycles to an end. The Monads of power are much fewer in number than any others. Egos upon the power ray are relatively not so few. They are characterised by a dynamic will, and their power within the human family works out as the force of destruction, but in the last analysis it is a destruction that will produce liberation. We shall see as we continue to study first ray egos and personalities [64] that death and destruction are always to be found in their work, and hence the apparent cruelty and impersonality of their reactions. Form does not count with first ray types; their energy produces death to form, but ushers in great periods of cyclic pralaya; the first ray is the controller of the death drama in all kingdoms—a destruction of forms which brings about release of power and permits “entrance into Light through the gateway of Death.” The intent of the Lord of the first ray is to stand behind His six Brothers, and when They have achieved Their purpose, to shatter the forms which They have built. This He does by passing His power through Their bodies, and Their united effort leads to abstraction and a return to the center whence the initial impulse came. The first ray purpose therefore is to produce death, and some idea of that purpose may be gleaned if we study some of the names by which the ray Lord is called:

Chúa Tể cung này chưa biểu lộ trọn vẹn, ngoại trừ việc Ngài gây ra sự hủy diệt và đưa các chu kỳ đến hồi kết thúc. Các Chân thần quyền năng ít hơn nhiều về số lượng so với bất kỳ loại nào khác. Các Chân ngã trên cung quyền năng tương đối không quá ít. Họ được đặc trưng bởi một ý chí năng động, và quyền năng của họ trong gia đình nhân loại phát huy tác dụng như lực lượng hủy diệt, nhưng trong phân tích cuối cùng, đó là một sự hủy diệt sẽ tạo ra sự giải thoát. Chúng ta sẽ thấy khi tiếp tục nghiên cứu các chân ngã và phàm ngã cung một [64] rằng cái chết và sự hủy diệt luôn được tìm thấy trong công việc của họ, và do đó có sự tàn nhẫn và vô tư dường như trong các phản ứng của họ. Hình tướng không quan trọng đối với các mẫu người cung một; năng lượng của họ tạo ra cái chết cho hình tướng, nhưng khai mở những giai đoạn đại giai kỳ qui nguyên vĩ đại; cung một là người kiểm soát vở kịch cái chết trong tất cả các giới—một sự hủy diệt các hình tướng mang lại sự giải phóng quyền năng và cho phép “bước vào Ánh sáng qua cánh cổng của Cái Chết.” Ý định của Chúa Tể cung một là đứng phía sau sáu Huynh đệ của Ngài, và khi Các Ngài đã đạt được mục đích của mình, thì đập tan các hình tướng mà Các Ngài đã xây dựng. Ngài thực hiện điều này bằng cách truyền quyền năng của mình qua cơ thể của Các Ngài, và nỗ lực thống nhất của Các Ngài dẫn đến sự trừu tượng hóa và sự trở về trung tâm nơi xung lực ban đầu xuất phát. Do đó, mục đích cung một là tạo ra cái chết, và một số ý tưởng về mục đích đó có thể được thu thập nếu chúng ta nghiên cứu một số cái tên mà Chúa Tể cung này được gọi:

The Lord of Death

Chúa Tể của Cái Chết

The Opener of the Door

Đấng Mở Cửa

The Liberator from Form

Đấng Giải Phóng khỏi Hình Tướng

The Great Abstractor

Đấng Trừu Tượng Hóa Vĩ Đại

The Fiery Element, producing shattering

Yếu Tố Lửa, tạo ra sự đập tan

The Crystallizer of the Form

Đấng Làm Kết Tinh Hình Tướng

The Power that touches and withdraws

Quyền Năng chạm vào và rút lui

The Lord of the Burning Ground

Chúa Tể của Vùng Đất Cháy

The Will that breaks into the Garden

Ý Chí đột nhập vào Khu Vườn

The Ravisher of Souls

Kẻ Cướp Đoạt các Linh Hồn

The Finger of God

Ngón Tay của Thượng đế

The Breath that blasts

Hơi Thở làm khô héo

The Lightning which annihilates

Tia Chớp hủy diệt

The Most High

Đấng Tối Cao

The qualities and characteristics of this Lord Who brings release may be gathered from the following six aphorisms which, an ancient legend says, His six Brothers gave to Him, as They begged Him to hold His hand till They had had time to work out Their purposes: [65]

Các phẩm tính và đặc điểm của Chúa Tể Này, Đấng mang lại sự giải phóng, có thể được thu thập từ sáu câu cách ngôn sau đây mà, theo một truyền thuyết cổ xưa, sáu người Anh Em của Ngài đã trao cho Ngài, khi Các Ngài cầu xin Ngài giữ tay lại cho đến khi Các Ngài có thời gian để thực hiện các mục đích của mình: [65]

1. Kill out desire when desire has fulfilled its work. Thou art the one who indicates fulfillment.

1. Diệt trừ ham muốn khi ham muốn đã hoàn thành công việc của nó. Ngươi là kẻ chỉ ra sự hoàn thành.

Quality……clear vision.

Phẩm tính……tầm nhìn rõ ràng.

2. Seek out the gentle way, Oh Lord of Power. Wait for thy brother on the path of Love. He builds the forms that can withstand thy power.

2. Tìm kiếm con đường nhẹ nhàng, Ôi Chúa Tể Quyền Năng. Hãy chờ đợi người anh em của ngươi trên con đường của Tình Thương. Y xây dựng các hình tướng có thể chịu đựng quyền năng của ngươi.

Quality…… dynamic power.

Phẩm tính…… quyền năng năng động.

3. Withhold the hand until the time has come. Then give the gift of death, Oh Opener of the Door.

3. Giữ tay lại cho đến khi thời điểm đến. Sau đó hãy ban tặng món quà của cái chết, Ôi Người Mở Cửa.

Quality……sense of time.

Phẩm tính……ý thức về thời gian.

4. Stand not alone, but with the many join thyself. Thou art the One, the Isolated. Come forth unto thine own.

4. Đừng đứng một mình, mà hãy gia nhập với số đông. Ngươi là Đấng Duy Nhất, Đấng Cô Lập. Hãy đi ra đến với những người của riêng ngươi.

Quality…… solitariness.

Phẩm tính…… sự đơn độc.

5. Lead thine own forth but learn to know thine own. Hate not attachment but see its plan and purpose.

5. Dẫn dắt những người của riêng ngươi đi ra nhưng hãy học cách biết những người của riêng ngươi. Đừng ghét sự luyến ái nhưng hãy thấy kế hoạch và mục đích của nó.

Quality…… detachment.

Phẩm tính…… sự tách biệt.

6. Through thee the life pulsates, the rhythm is imposed. The life is all. Love life in all its forms.

6. Thông qua ngươi, sự sống đập, nhịp điệu được áp đặt. Sự sống là tất cả. Hãy yêu sự sống trong tất cả các hình tướng của nó.

Quality……singleness of purpose.

Phẩm tính……mục đích đơn nhất.

The six qualities enumerated above express the force of this ray as it makes its presence felt in the fourth kingdom in nature. The effects in other kingdoms differ, but we shall confine our attention to the standpoint of humanity. The purpose of the first ray, and its main work, is to produce cessation and the death of all forms in all kingdoms in nature and on all planes. The energy of this ray Lord brings about the death of an ant or of a solar system, of an organisation, a religion, or a government, of a race type or of a planet. His will or purpose works out through the law of periodicity.

Sáu phẩm tính được liệt kê ở trên biểu đạt lực của cung này khi nó làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận trong giới thứ tư của tự nhiên. Các hiệu quả trong các giới khác thì khác nhau, nhưng chúng ta sẽ giới hạn sự chú ý của mình từ quan điểm của nhân loại. Mục đích của cung một, và công việc chính của nó, là tạo ra sự chấm dứt và cái chết của tất cả các hình tướng trong tất cả các giới của tự nhiên và trên tất cả các cõi. Năng lượng của Chúa Tể cung này mang lại cái chết của một con kiến hay của một hệ mặt trời, của một tổ chức, một tôn giáo, hay một chính phủ, của một loại chủng tộc hay của một hành tinh. Ý chí hay mục đích của Ngài phát huy tác dụng thông qua định luật chu kỳ.

THE SECOND PURPOSE OF DEITY

MỤC ĐÍCH THỨ HAI CỦA THƯỢNG ĐẾ

Ray II. Love-Wisdom

Cung II. Bác Ái-Minh Triết

The Word is issuing from the heart of God, emerging from a central point of love. That Word is love itself. Divine desire colours all that life of love. Within the human hierarchy, the affirmation gathers power and sound.

Linh Từ đang phát ra từ trái tim của Thượng đế, xuất lộ từ một điểm trung tâm của tình thương. Linh Từ đó chính là tình thương. Sự khao khát thiêng liêng tô màu tất cả sự sống của tình thương đó. Trong huyền giai nhân loại, sự khẳng định thu thập quyền năng và âm thanh.

The Word in the beginning was. The Word hath dwelt and dwells with God. In Him was light. In Him was life. Within His light we walk. [66]

Linh Từ lúc ban đầu đã hiện hữu. Linh Từ đã ngự và đang ngự với Thượng đế. Trong Ngài là ánh sáng. Trong Ngài là sự sống. Trong ánh sáng của Ngài, chúng ta bước đi. [66]

His symbol is the thunder, the Word that cycles down the ages.

Biểu tượng của Ngài là sấm sét, Linh Từ luân chuyển qua các thời đại.

Some of the names of this ray Lord which convey his purpose are as follows:

Một số tên của Chúa Tể cung này truyền tải mục đích của ngài như sau:

The Displayer of Glory

Đấng Hiển Lộ Vinh Quang

The Lord of Eternal Love

Chúa Tể của Tình Yêu Vĩnh Cửu

The Cosmic Magnet

Nam Châm Vũ Trụ

The Giver of Wisdom

Đấng Ban Tặng Minh Triết

The Radiance in the Form

Sự Tỏa Sáng trong Hình Tướng

The Master Builder

Đấng Đại Kiến Tạo

The Conferrer of Names

Đấng Ban Tên

The Great Geometrician

Nhà Hình Học Vĩ Đại

The One Who hides the Life

Đấng Che Giấu Sự Sống

The Cosmic Mystery

Bí Nhiệm Vũ Trụ

The Light Bringer

Đấng Mang Lại Ánh Sáng

The Son of God Incarnate

Con của Thượng đế Lâm Phàm

The Cosmic Christ

Đức Christ Vũ Trụ

The legend tells us that the six Brothers summarise His qualities in the following aphorisms:

Truyền thuyết cho chúng ta biết rằng sáu Huynh đệ tóm tắt các phẩm tính của Ngài trong các câu cách ngôn sau:

1. Send forth the Word and speak the radiant love of God. Make all men hear.

1. Phát ra Linh Từ và nói lên tình yêu tỏa sáng của Thượng đế. Làm cho tất cả mọi người đều nghe thấy.

Quality……love divine.

Phẩm tính……tình yêu thiêng liêng.

2. Let the glory of the Lord shine forth. Let there be radiant light as well as radiant love.

2. Hãy để vinh quang của Chúa tỏa sáng. Hãy để có ánh sáng tỏa rạng cũng như tình yêu tỏa rạng.

Quality……radiance.

Phẩm tính……sự tỏa rạng.

3. Draw to thyself the object of thy search. Pull forth into the light of day from out the night of time the one thou lovest.

3. Thu hút về phía mình đối tượng tìm kiếm của ngươi. Kéo ra ánh sáng ban ngày từ trong đêm đen của thời gian kẻ mà ngươi yêu thương.

Quality……attraction.

Phẩm tính……sự thu hút.

4. When light and love are shewn forth then let the power within produce the perfect flower. Let the word that heals the form go forth. That secret word that then must be revealed.

4. Khi ánh sáng và tình yêu được hiển lộ thì hãy để quyền năng bên trong tạo ra đóa hoa hoàn hảo. Hãy để lời chữa lành hình tướng vang lên. Từ bí mật đó sau đó phải được tiết lộ.

Quality……the power to save.

Phẩm tính……quyền năng cứu rỗi.

5. Salvation, light, and love, with the magnetic power of God, produce the word of wisdom. Send forth that word, and lead the sons of men from off the path of knowledge on to the path of understanding.

5. Sự cứu rỗi, ánh sáng, và tình yêu, với quyền năng từ tính của Thượng đế, tạo ra lời minh triết. Hãy phát ra lời đó, và dẫn dắt các con của nhân loại từ con đường kiến thức sang con đường thấu hiểu.

Quality……wisdom. [67]

Phẩm tính……minh triết. [67]

6. Within the radius of the love of God, within the circle of the solar system, all forms, all souls, all lives revolve. Let each son of God enter into this wisdom. Reveal to each the Oneness of the many lives.

6. Trong phạm vi tình yêu của Thượng đế, trong vòng tròn của hệ mặt trời, tất cả các hình tướng, tất cả các linh hồn, tất cả các sự sống đều xoay vần. Hãy để mỗi người con của Thượng đế đi vào sự minh triết này. Tiết lộ cho mỗi người sự Nhất Thể của nhiều sự sống.

Quality……expansion or inclusiveness.

Phẩm tính……sự mở rộng hay tính bao gồm.

The third ray, which is one that has a very long cycle, having been in manifestation since A.D. 1425, has a direct effect upon the fifth root race, the Aryan, and has connected with it a set of curious phrases which express its purpose.

Cung ba, vốn là một cung có chu kỳ rất dài, đã ở trong biểu hiện từ năm 1425 sau Công nguyên, có hiệu quả trực tiếp lên giống dân gốc thứ năm, giống dân Arya, và có liên quan với nó một tập hợp các cụm từ kỳ lạ diễn tả mục đích của nó.

THE THIRD PURPOSE OF DEITY

MỤC ĐÍCH THỨ BA CỦA THƯỢNG ĐẾ

Ray III. Active Intelligence or Adaptability

Cung III. Trí Tuệ Hoạt Động hay Khả Năng Thích Nghi

Let the Warden of the South continue with the building.

Hãy để Người Giám Hộ Phương Nam tiếp tục việc xây dựng.

Let him apply the force Which will produce the shining living stone that fits into the temple’s plan with right exactitude. Let him prepare the corner stone and wisely place it in the north, under the eye of God Himself, and subject to the balance of the triangle.

Hãy để Ngài áp dụng lực Vốn sẽ tạo ra viên đá sống động tỏa sáng phù hợp với kế hoạch của ngôi đền với sự chính xác đúng đắn. Hãy để Ngài chuẩn bị viên đá góc và đặt nó một cách khôn ngoan ở phương bắc, dưới con mắt của chính Thượng đế, và chịu sự cân bằng của tam giác.

Let the Researcher of the past uncover the thought of God, hidden deep within the mind of the Kumaras of Love, and thus let him lead the Agnishvattas, waiting within the place of darkness, into the place of light.

Hãy để Nhà Nghiên Cứu quá khứ khám phá tư tưởng của Thượng đế, ẩn sâu trong tâm trí của các Kumaras Tình Thương, và do đó hãy để Ngài dẫn dắt các Agnishvattas, đang chờ đợi trong nơi bóng tối, vào nơi ánh sáng.

Let the Keeper of the sparks breathe with the breath divine upon the points of fire, and let him kindle to a blaze that which is hidden, that which is not seen, and so illumine all the spheres whereon God works.

Hãy để Người Giữ các tia lửa thở bằng hơi thở thiêng liêng lên các điểm lửa, và hãy để Ngài thắp lên thành ngọn lửa cái bị ẩn giấu, cái không được nhìn thấy, và như thế chiếu sáng tất cả các quả cầu nơi Thượng đế làm việc.

I would call attention to the fact that all I can do here is to put into words certain ancient symbols, and so emphasize the process (adopted by the early initiate-teachers) of enunciating a word or sound, which produces a symbolic form, which in its turn, is capable of translation into words. These must in their turn be comprehended intuitively and adapted to individual need, and thus be assimilated into the life practice. Otherwise these ancient and interesting ideas, these interpretative names, and these aphorisms, conveying the “power of qualities”, are worse than useless and serve but to increase responsibility. The capacity to see objective significances and [68] then apply them to life is an expression of the true esoteric sense. If one studies these tabulations and phrases with care, they will be found to convey indication as to one’s individual ray, life tendencies and purpose; if the appeal the various statements make anent a particular ray evoke an intuitive understanding on the part of the student, so that he recognises himself, his ray energy and aspects of his latent and deeply desired spiritual nature, then these communications I am making here as to Purpose, Name and Quality will be profitable and useful.

Tôi muốn lưu ý đến thực tế rằng tất cả những gì tôi có thể làm ở đây là diễn đạt thành lời một số biểu tượng cổ xưa, và vì thế nhấn mạnh quá trình (được các huấn sư-điểm đạo đồ thời kỳ đầu áp dụng) phát âm một từ hoặc âm thanh, tạo ra một hình thức biểu tượng, vốn đến lượt nó, có khả năng dịch sang từ ngữ. Những từ ngữ này đến lượt chúng phải được lĩnh hội bằng trực giác và thích ứng với nhu cầu cá nhân, và do đó được đồng hóa vào thực hành cuộc sống. Nếu không, những ý tưởng cổ xưa và thú vị này, những cái tên diễn giải này, và những câu cách ngôn này, truyền tải “quyền năng của các phẩm tính”, còn tệ hơn là vô dụng và chỉ làm tăng thêm trách nhiệm. Khả năng nhìn thấy những ý nghĩa khách quan và [68] sau đó áp dụng chúng vào cuộc sống là một biểu hiện của giác quan bí truyền thực sự. Nếu một người nghiên cứu các bảng và cụm từ này một cách cẩn thận, chúng sẽ được tìm thấy để truyền tải chỉ dẫn về cung cá nhân, khuynh hướng cuộc sống và mục đích của người đó; nếu sự hấp dẫn mà các tuyên bố khác nhau tạo ra liên quan đến một cung cụ thể gợi lên một sự thấu hiểu trực giác từ phía người học viên, để y nhận ra chính mình, năng lượng cung của mình và các phương diện của bản chất tinh thần tiềm ẩn và khao khát sâu sắc của mình, thì những thông tin liên lạc mà tôi đang thực hiện ở đây về Mục Đích, Tên và Phẩm Tính sẽ có lợi và hữu ích.

Some of the names of the Lord of the third ray indicate His use of force and His real nature. They are as follows:

Một số tên của Chúa Tể cung ba chỉ ra việc sử dụng mãnh lực của Ngài và bản chất thực sự của Ngài. Chúng như sau:

The Keeper of the Records.

Người Giữ các Hồ Sơ.

The Lord of Memory

Chúa Tể của Ký Ức

The Unifier of the lower Four

Đấng Thống Nhất Bốn cái thấp hơn

The Interpreter of That Which is seen

Người Diễn Giải Cái được nhìn thấy

The Lord of Balance

Chúa Tể của Sự Cân Bằng

The Divine Separator

Đấng Phân Chia Thiêng Liêng

The Discriminating Essential Life

Sự Sống Cốt Yếu Phân Biện

The One Who produces Alliance

Đấng tạo ra Liên Minh

The Three-sided Triangle

Tam Giác Ba Cạnh

The Illuminator of the Lotus

Đấng Soi Sáng Hoa Sen

The Builder of the Foundation

Đấng Xây Dựng Nền Móng

The Forerunner of the Light

Đấng Tiên Phong của Ánh Sáng

The One Who veils and yet reveals

Đấng che giấu nhưng lại tiết lộ

The Dispenser of Time

Đấng Phân Phối Thời Gian

The Lord of Space

Chúa Tể của Không Gian

The Universal Mind

Vũ Trụ Trí

The Threefold Wick

Bấc Đèn Tam Phân

The Great Architect of the Universe

Kiến Trúc Sư Vĩ Đại của Vũ Trụ

and many others terms which indicate relation to light, to time, to space, to the manifested Logos, to matter and to the “power which evokes the form.”

và nhiều thuật ngữ khác chỉ ra mối quan hệ với ánh sáng, với thời gian, với không gian, với Thượng đế biểu lộ, với vật chất và với “quyền năng gợi lên hình tướng.”

If all these names are studied in connection with modern developments or modern culture and science, it will become apparent how potent and influential in our day and time is [69] this particular ray Life, and how His energies (having produced the tangible objective worlds) are turned to the manifestation of our modern civilisation, with its material emphasis, its search as to the nature of time and space, and that mental unfoldment which it is the glory and the destiny of our particular race to demonstrate.

Nếu tất cả những cái tên này được nghiên cứu trong mối liên hệ với các sự phát triển hiện đại hoặc văn hóa và khoa học hiện đại, điều sẽ trở nên rõ ràng là [69] Sự Sống cung cụ thể này mạnh mẽ và có ảnh hưởng như thế nào trong ngày và thời đại của chúng ta, và năng lượng của Ngài (đã tạo ra các thế giới khách quan hữu hình) được chuyển hướng sang sự biểu hiện của nền văn minh hiện đại của chúng ta như thế nào, với sự nhấn mạnh vật chất của nó, sự tìm kiếm của nó về bản chất của thời gian và không gian, và sự mở rộng trí tuệ mà đó là vinh quang và định mệnh của giống dân cụ thể của chúng ta để chứng minh.

The qualities which characterise this ray Lord might be enumerated in the following phrases. We must bear in mind that the seventh or synthetic characteristic of each of the rays is denoted by the ray name and is not specifically stated in the other six qualities. His six Brothers, Sons of the one Father, chanted these injunctions to Him on the day of His renewed activity (on what we call the day of creation):

Các phẩm tính đặc trưng cho Chúa Tể cung này có thể được liệt kê trong các cụm từ sau. Chúng ta phải ghi nhớ rằng đặc điểm thứ bảy hoặc tổng hợp của mỗi cung được biểu thị bằng tên cung và không được nêu cụ thể trong sáu phẩm tính kia. Sáu Huynh đệ của Ngài, Những Người Con của một Cha, đã tụng những lời giáo huấn này cho Ngài vào ngày hoạt động đổi mới của Ngài (vào cái mà chúng ta gọi là ngày sáng tạo):

1. Produce the dual form and veil the life. Let form appear, and prove itself divine. All is of God.

1. Tạo ra hình tướng kép và che giấu sự sống. Hãy để hình tướng xuất hiện, và chứng minh chính nó là thiêng liêng. Tất cả là của Thượng đế.

Quality……the power to manifest.

Phẩm tính……quyền năng biểu lộ.

2. Conform the shell to that which dwells within. Let the world egg appear. Let ages pass, then let the soul appear. Let life emerge within a destined time.

2. Làm cho vỏ bọc phù hợp với cái cư ngụ bên trong. Hãy để quả trứng thế giới xuất hiện. Hãy để các thời đại trôi qua, sau đó hãy để linh hồn xuất hiện. Hãy để sự sống xuất lộ trong một thời gian định mệnh.

Quality……the power to evolve.

Phẩm tính……quyền năng tiến hóa.

3. Let mind control. Let the clear shining of the sun of life reveal the mind of God, and set the shining one upon his way. Then lead him to the central point where all is lost within the light supernal.

3. Hãy để tâm trí kiểm soát. Hãy để sự chiếu sáng rõ ràng của mặt trời sự sống tiết lộ tâm trí của Thượng đế, và đặt đấng tỏa sáng lên con đường của mình. Sau đó dẫn y đến điểm trung tâm nơi tất cả bị mất trong ánh sáng thiên thượng.

Quality……mental illumination.

Phẩm tính……sự soi sáng trí tuệ.

4. God and His form are one. Reveal this fact, Oh sovereign Lord of form. God and His form are one. Negate the dual concept. Lend colour to the form. The life is one; the harmony complete. Prove thus the two are one.

4. Thượng đế và hình tướng của Ngài là một. Tiết lộ sự thật này, Ôi Chúa Tể tối cao của hình tướng. Thượng đế và hình tướng của Ngài là một. Phủ định khái niệm nhị nguyên. Cho mượn màu sắc cho hình tướng. Sự sống là một; sự hài hòa trọn vẹn. Chứng minh như thế hai là một.

Quality…… the power to produce synthesis on the physical plane.

Phẩm tính…… quyền năng tạo ra sự tổng hợp trên cõi trần.

5. Produce the garment of the Lord; set forth the robe of many colours. Then separate that robe from That Which hides behind its many folds. Take off the veiling sheaths. Let God be seen. Take Christ from off the cross.

5. Tạo ra trang phục của Chúa; bày ra chiếc áo choàng nhiều màu. Sau đó tách chiếc áo choàng đó khỏi Cái ẩn đằng sau nhiều nếp gấp của nó. Cởi bỏ các lớp vỏ che giấu. Hãy để Thượng đế được nhìn thấy. Đưa Đức Christ ra khỏi thập giá.

Quality……scientific investigation.

Phẩm tính……nghiên cứu khoa học.

6. Let the two paths converge. Balance the pairs of opposites [70] and let the path appear between the two. God and the Path and man are one.

6. Hãy để hai con đường hội tụ. Cân bằng các cặp đối lập [70] và hãy để con đường xuất hiện giữa hai cái đó. Thượng đế và Con Đường và con người là một.

Quality……balance.

Phẩm tính……sự cân bằng.

Thus the three major rays sum up in themselves the process of creation, of energising, through the urge of the divine will; and the work of the four minor rays (as they are called, though with no idea of there being lesser or greater) is to elaborate or differentiate the qualities of the life, and so produce the infinite multiplicity of forms which will enable the life to assume its many points of focus and express—through the process of evolutionary manifestation—its diverse characteristics.

Do đó, ba cung chính tóm tắt trong chính chúng quá trình sáng tạo, cung cấp năng lượng, thông qua sự thúc đẩy của ý chí thiêng liêng; và công việc của bốn cung phụ (như chúng được gọi, mặc dù không có ý tưởng về việc có cái nhỏ hơn hay lớn hơn) là trau chuốt hoặc biến phân các phẩm tính của sự sống, và do đó tạo ra vô số hình tướng sẽ cho phép sự sống đảm nhận nhiều điểm tập trung của nó và biểu lộ—thông qua quá trình biểu hiện tiến hóa—các đặc điểm đa dạng của nó.

B. The Four Rays of Attribute—Bốn Cung Thuộc Tính.

THE FOURTH PURPOSE OF DEITY

MỤC ĐÍCH THỨ TƯ CỦA THƯỢNG ĐẾ

Ray IV. Harmony, Beauty, Art

Cung IV. Hài Hòa, Mỹ Lệ, Nghệ Thuật

Colour, and yet no colour now is seen. Sound and the soundless One meet in an infinite point of peace. Time and the timeless One negate the thoughts of men. But time is not.

Màu sắc, và tuy nhiên không màu sắc nào được nhìn thấy lúc này. Âm thanh và Đấng vô thanh gặp nhau trong một điểm an bình vô hạn. Thời gian và Đấng vô thời gian phủ định những suy nghĩ của con người. Nhưng thời gian không tồn tại.

Form is there found, and yet the psychic sense reveals that which the form is powerless to hide,—the inner synthesis, the all-embracing prism, that point of unity which—when it is duly reached—reveals a further point where all the three are one, and not the two alone.

Hình tướng được tìm thấy ở đó, và tuy nhiên giác quan thông linh tiết lộ cái mà hình tướng không có khả năng che giấu,—sự tổng hợp bên trong, lăng kính bao trùm tất cả, điểm thống nhất mà—khi nó được đạt tới một cách đúng đắn—tiết lộ một điểm xa hơn nơi tất cả ba là một, và không chỉ hai.

Form and its soul are merged. The inner vision watches o’er the fusion, knows the divine relation and sees the two as one. But from that point of high attainment, a higher vision blazes forth before the opened inner eye. The three are one, and not alone the two. Pass on, O pilgrim on the Way.

Hình tướng và linh hồn của nó được hòa nhập. Tầm nhìn bên trong quan sát sự dung hợp, biết mối quan hệ thiêng liêng và thấy hai như là một. Nhưng từ điểm thành tựu cao đó, một tầm nhìn cao hơn rực sáng trước con mắt bên trong đã mở. Ba là một, và không chỉ hai. Hãy đi tiếp, hỡi người hành hương trên Đường Đạo.

In reading these words, the student must bear in mind that the antechamber has been left behind and man stands (when he has allowed the fourth ray to do its work and can therefore function on the fourth or buddhic plane) within the temple of the Lord. He has found a measure of light, but in that light he now sees light, and visions a greater revelation and brilliance. This now becomes the object of his search. [71] He has mastered the uses of duality and has learnt to at-one soul and body into one instrument for spirit. Now he passes on his way to achieve the greater synthesis.

Khi đọc những lời này, học viên phải ghi nhớ rằng tiền sảnh đã bị bỏ lại phía sau và con người đứng (khi y đã cho phép cung bốn thực hiện công việc của nó và do đó có thể hoạt động trên cõi thứ tư hay cõi bồ đề) bên trong Thánh Điện của Chúa. Y đã tìm thấy một mức độ ánh sáng, nhưng trong ánh sáng đó, giờ đây y thấy ánh sáng, và hình dung một sự mặc khải và rực rỡ lớn hơn. Điều này giờ đây trở thành đối tượng tìm kiếm của y. [71] Y đã làm chủ việc sử dụng nhị nguyên và đã học cách hợp nhất linh hồn và thể xác thành một công cụ cho tinh thần. Bây giờ y tiếp tục con đường của mình để đạt được sự tổng hợp lớn hơn.

The Lord of the fourth ray has many names which warrant careful study and much consideration. In less than a hundred years this Lord of harmonising power will have more influence and will offset some of the Saturn disruption of the first decanate of Aquarius. In the meantime a study of His names will produce a simplification of His efforts and build up a body of constructive thought which will facilitate His work when He is again in active manifestation. He is always, however, more or less in power where the human family is concerned, for there is a numerical alliance between the fourth ray, the fourth Creative Hierarchy, or the human monads, and the fourth kingdom in nature. His power is always consequently active.

Chúa Tể của cung bốn có nhiều tên gọi đáng để nghiên cứu cẩn thận và suy ngẫm nhiều. Trong vòng chưa đầy một trăm năm nữa, Chúa Tể của quyền năng hài hòa này sẽ có nhiều ảnh hưởng hơn và sẽ hóa giải một số sự phá vỡ của Sao Thổ trong thập độ đầu tiên của Bảo Bình. Trong khi chờ đợi, một nghiên cứu về các tên của Ngài sẽ tạo ra một sự đơn giản hóa các nỗ lực của Ngài và xây dựng một thể tư tưởng mang tính xây dựng sẽ tạo điều kiện cho công việc của Ngài khi Ngài trở lại biểu hiện tích cực. Tuy nhiên, Ngài luôn ít nhiều nắm quyền ở nơi liên quan đến gia đình nhân loại, vì có một liên kết số học giữa cung bốn, Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, hay các chân thần con người, và giới thứ tư trong tự nhiên. Do đó, quyền năng của Ngài luôn hoạt động.

The Perceiver on the Way

Người Nhận Thức trên Đường Đạo

The Link between the Three and Three

Sự Liên Kết giữa Ba và Ba

The Divine Intermediary

Đấng Trung Gian Thiêng Liêng

The Hand of God

Bàn Tay của Thượng đế

The Hidden One

Đấng Ẩn Giấu

The Seed, that is the Flower

Hạt Giống, chính là Đóa Hoa

The Mountain whereon Form dies

Ngọn Núi nơi Hình Tướng chết

The Light within the Light

Ánh Sáng bên trong Ánh Sáng

The Corrector of the Form

Người Chỉnh Sửa Hình Tướng

The One Who marks the parting of the Way

Đấng đánh dấu sự rẽ lối của Con Đường

The Master

Chân Sư

The Dweller in the Holy Place

Đấng Ngụ trong Nơi Thánh

The Lower than the Three, the Highest of the Four

Thấp hơn Ba, Cao nhất của Bốn

The Trumpet of the Lord.

Cây Kèn của Chúa.

The aphorisms connected with this fourth ray are not easy of comprehension. They require an exercise of the intuition and are conveyed by six short and excessively brief commands uttered, curiously enough, late in the creative period [72] and at the time when the fourth Creative Hierarchy came into incarnation:

Các câu cách ngôn liên quan đến cung bốn này không dễ lĩnh hội. Chúng đòi hỏi sự vận dụng trực giác và được truyền tải bằng sáu mệnh lệnh ngắn và cực kỳ ngắn gọn được thốt ra, một cách kỳ lạ, vào cuối thời kỳ sáng tạo [72] và vào thời điểm Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư lâm phàm:

1. Speak low the Word. Speak low.

1. Nói khẽ Linh Từ. Nói khẽ.

Quality……power to penetrate the depths of matter.

Phẩm tính……quyền năng thâm nhập vào chiều sâu của vật chất.

2. Champion desire. Give what is needed to the seeker.

2. Ủng hộ sự khao khát. Hãy ban những gì cần thiết cho người tìm kiếm.

Quality……the dual aspects of desire.

Phẩm tính……các phương diện kép của khao khát.

3. Lower the thread. Unfold the Way. Link man with God. Arise.

3. Hạ sợi dây xuống. Khai mở Con Đường. Liên kết con người với Thượng đế. Hãy trỗi dậy.

Quality……power to reveal the path.

Phẩm tính……quyền năng tiết lộ con đường.

4. All flowers are thine. Settle the roots in mud, the flowers in sun. Prove mud and sun, and roots and flowers are one.

4. Tất cả hoa là của ngươi. Đặt rễ trong bùn, hoa trong nắng. Chứng minh bùn và nắng, và rễ và hoa là một.

Quality……power to express divinity. Growth.

Phẩm tính……quyền năng biểu đạt thiên tính. Sự tăng trưởng.

5. Roll and return, and roll again. Cycle around the circle of the Heavens. Prove all is one.

5. Lăn và trở lại, và lăn lần nữa. Xoay quanh vòng tròn của các Tầng Trời. Chứng minh tất cả là một.

Quality……the harmony of the spheres.

Phẩm tính……sự hài hòa của các khối cầu.

6. Colour the sound. Sound forth the colour. Produce the notes and see them pass into the shades, which in their turn produce the sounds. Thus all are seen as one.

6. Tô màu âm thanh. Phát ra màu sắc. Tạo ra các nốt và thấy chúng chuyển vào các sắc thái, vốn đến lượt chúng tạo ra các âm thanh. Như thế tất cả được nhìn thấy là một.

Quality……the synthesis of true beauty.

Phẩm tính……sự tổng hợp của vẻ đẹp thực sự.

This instruction on the rays is of deeper significance than can as yet be comprehended. Careful systematic study and a sane refraining from the forming of rapid deductions will be the wisest way in which to approach its consideration. It is not possible for me to deal with the definite human psychological applications at this early stage. I am occupied with stating a general outline, with the impartation of ideas, with the grounding of a few basic concepts in the consciousness of the reader, and with an attempt to clothe this most abstruse and difficult subject in such a form that some new rhythm of thought may be set in motion, and some new realisations be grasped and held. These concern at present a prototypal cosmic process, and will lead eventually to an understanding of the part an individual may play in a stupendous cosmic whole. [73] We begin with the universal and end with the particular, which is ever the truly occult method.

Sự hướng dẫn này về các cung có ý nghĩa sâu sắc hơn mức có thể lĩnh hội được vào lúc này. Nghiên cứu có hệ thống cẩn thận và sự kiềm chế lành mạnh khỏi việc hình thành những suy luận nhanh chóng sẽ là cách khôn ngoan nhất để tiếp cận việc xem xét nó. Tôi không thể đề cập đến các ứng dụng tâm lý con người xác định ở giai đoạn đầu này. Tôi đang bận rộn với việc nêu ra một phác thảo chung, với việc truyền đạt các ý tưởng, với việc đặt nền tảng cho một vài khái niệm cơ bản trong tâm thức của độc giả, và với một nỗ lực để khoác cho chủ đề trừu tượng và khó khăn nhất này một hình thức sao cho một nhịp điệu tư tưởng mới nào đó có thể được khởi động, và một số chứng nghiệm mới được nắm bắt và giữ lại. Những điều này hiện tại liên quan đến một quá trình vũ trụ nguyên mẫu, và cuối cùng sẽ dẫn đến sự hiểu biết về vai trò mà một cá nhân có thể đóng trong một tổng thể vũ trụ to lớn. [73] Chúng ta bắt đầu với cái phổ quát và kết thúc với cái cụ thể, đó luôn là phương pháp huyền môn thực sự.

However, all that I am positing about a ray Life may be equally well posited anent a human life, but it should be borne in mind that the pure ray type does not as yet exist, for there is not to be found that perfect form, mechanism or expression of the ray quality, nor that absolutely purified appearance in the human family, except in such rare cases as the Buddha, or Christ, and (in another field of expression) an Alexander or Julius Caesar. Leonardo da Vinci was an analogous expression. The rays concern energy and consciousness, and determine expression, but where the matter utilised and the vehicle informed is as yet imperfectly evolved, there is then limitation and the “tuning out” automatically of much of the energy. The effect of ray force, working through imperfect forms, must be distorted and curtailed and misapplied. Let me illustrate. I have said that first ray energy works out as the destruction of forms; it must be remembered that a pure destroyer is utterly unknown, and mercifully for the race this is so. It is a beneficent condition that as yet a first ray ego is so handicapped and limited by the form nature and the quality of that form nature that it is unable to make adequate or intelligent use of its destructive force. First ray personalities are oft destructive, as well you know, but the energy generated is insufficient to work much harm. Again, pure love is incapable of expression today, its flow being impeded by the form nature. A consideration of these two cases will help the reader to appreciate the situation. But the time is near at hand wherein there will be a fuller expression of ray purpose, type or quality, and therefore a truer appearance.

Tuy nhiên, tất cả những gì tôi đang giả định về Sự Sống Duy Nhất cung có thể được giả định tốt như vậy về một đời sống con người, nhưng cần phải ghi nhớ rằng loại cung thuần khiết vẫn chưa tồn tại, vì chưa tìm thấy hình tướng, cơ chế hay sự biểu đạt hoàn hảo đó của phẩm tính cung, cũng như vẻ bề ngoài hoàn toàn tinh khiết đó trong gia đình nhân loại, ngoại trừ trong những trường hợp hiếm hoi như Đức Phật, hay Đức Christ, và (trong một lĩnh vực biểu đạt khác) một Alexander hay Julius Caesar. Leonardo da Vinci là một biểu đạt tương tự. Các cung liên quan đến năng lượng và tâm thức, và xác định sự biểu đạt, nhưng khi vật chất được sử dụng và vận cụ được phú linh vẫn chưa tiến hóa hoàn hảo, thì sẽ có sự hạn chế và sự “tắt đi” một cách tự động phần lớn năng lượng. Hiệu quả của mãnh lực cung, làm việc thông qua các hình tướng không hoàn hảo, phải bị bóp méo, cắt giảm và áp dụng sai. Hãy để tôi minh họa. Tôi đã nói rằng năng lượng cung một phát huy tác dụng như sự hủy diệt các hình tướng; cần phải nhớ rằng một kẻ hủy diệt thuần túy hoàn toàn không được biết đến, và may mắn thay cho nhân loại là như vậy. Đó là một điều kiện nhân từ khi một chân ngã cung một cho đến nay bị cản trở và hạn chế bởi bản chất hình tướng và phẩm tính của bản chất hình tướng đó đến mức nó không thể sử dụng đầy đủ hoặc thông tuệ lực hủy diệt của mình. Các phàm ngã cung một thường phá hoại, như các bạn biết rõ, nhưng năng lượng được tạo ra không đủ để gây ra nhiều tác hại. Một lần nữa, tình thương thuần khiết không có khả năng biểu đạt ngày nay, dòng chảy của nó bị cản trở bởi bản chất hình tướng. Việc xem xét hai trường hợp này sẽ giúp người đọc đánh giá đúng tình hình. Nhưng thời gian đã gần kề trong đó sẽ có một sự biểu đạt đầy đủ hơn về mục đích, loại hoặc phẩm tính cung, và do đó là một vẻ bề ngoài chân thực hơn.

This is owing to the imminent appearance, or manifestation, of certain great Lives Who will embody the energy of rays two, three, five and seven. They will thus constitute focal [74] points for the inflow of these four types of divine energy and, this will produce a tremendous stimulation of their corresponding and responding units of life. These four Beings, Who will appear as human beings in the field of the modern world, may be looked for before the end of this century and Their united effort will inaugurate definitely the New Age, and usher in the period which will go down in history as the time of glory for the fifth root race. Each of these four Masters, for that They will be, is also subjectively the focal point for a triple inflow of energy from the centre in the Body of God which is symbolically spoken of as “the heart of the Sun.” For each ray is in its turn a triple manifesting entity as is the solar Deity Himself. Love will be Their outstanding characteristic, and through that attractive magnetic force the new forms will come into being which will permit of purer ray types, and thus of more truly expressive appearances. A great deal of the destructive energy extant in the world today is due to the presence on the astral plane of a first ray disciple of the planetary Logos. His work it is to clear the way for the manifestation of these other four major Disciples, Who are primarily Builders; They will enter on Their work when the task of the wreckers of form has been accomplished.

Điều này là do sự xuất hiện sắp tới, hay sự biểu hiện, của một số Sự Sống vĩ đại, Những Đấng sẽ hiện thân năng lượng của các cung hai, ba, năm và bảy. Do đó, Các Ngài sẽ cấu thành các điểm [74] hội tụ cho dòng chảy vào của bốn loại năng lượng thiêng liêng này, và điều này sẽ tạo ra một sự kích thích to lớn đối với các đơn vị sự sống tương ứng và đáp ứng của chúng. Bốn Đấng này, Những Đấng sẽ xuất hiện như những con người trong lĩnh vực của thế giới hiện đại, có thể được mong đợi trước khi kết thúc thế kỷ này và nỗ lực thống nhất của Các Ngài sẽ khai mạc dứt khoát Kỷ Nguyên Mới, và khai mở thời kỳ sẽ đi vào lịch sử như là thời gian vinh quang cho giống dân gốc thứ năm. Mỗi vị trong bốn Chân Sư này, vì Các Ngài sẽ là như vậy, cũng là điểm hội tụ chủ quan cho một dòng chảy năng lượng tam phân từ trung tâm trong Thể của Thượng đế vốn được nói đến một cách tượng trưng là “trái tim của Mặt trời.” Đối với mỗi cung, đến lượt nó, là một thực thể biểu hiện tam phân cũng như chính Thái dương Thượng đế. Tình thương sẽ là đặc điểm nổi bật của Các Ngài, và thông qua lực từ tính hấp dẫn đó, các hình tướng mới sẽ ra đời cho phép các loại cung tinh khiết hơn, và do đó các vẻ bề ngoài biểu đạt chân thực hơn. Một phần lớn năng lượng hủy diệt còn tồn tại trên thế giới ngày nay là do sự hiện diện trên cõi cảm dục của một đệ tử cung một của Hành Tinh Thượng đế. Công việc của đệ tử này là dọn đường cho sự biểu hiện của bốn Đệ tử chính khác này, Những Đấng chủ yếu là các Đấng Kiến Tạo; Các Ngài sẽ bắt đầu công việc của mình khi nhiệm vụ của những người phá hủy hình tướng đã hoàn thành.

I should like here to give a suggestion, for it is necessary that some of the methods of the Hierarchy should begin to be understood. The work of what in the West is called “the Christ Principle” is to build the forms for the expression of quality and life. That is the characteristic work of the second aspect of divinity. The work of the Antichrist is to destroy forms, and this is essentially the work of the first expression of divinity. But the work of the destroyer is not the work of black magic, and when ignorant humanity regards Antichrist as working on the black side, their error is great. His work is as beneficent as that of the building aspect, and it is but man’s [75] hatred of the death of forms which makes him regard the work of the destroyer as “black,” as being against the divine will, and as subversive of the divine programme. The work of the representatives of that mysterious power which we call cosmic evil, and their responding representatives, is indeed worthy of the word “black”; but it is not applicable to the work of Antichrist. It might be added that the work of the black forces wells up from below, whilst the work of the destroyers is impelled from above. The symbols of these two ways are the sword and the cross.

Tôi muốn đưa ra một gợi ý ở đây, vì điều cần thiết rằng một số phương pháp của Thánh Đoàn nên được bắt đầu thấu hiểu. Công việc của cái mà phương Tây gọi là “Nguyên khí Christ” là xây dựng các hình tướng cho sự biểu đạt của phẩm tính và sự sống. Đó là công việc đặc trưng của phương diện thứ hai của thiên tính. Công việc của Vị Anti-Christ là phá hủy các hình tướng, và đây về cơ bản là công việc của sự biểu đạt đầu tiên của thiên tính. Nhưng công việc của kẻ hủy diệt không phải là công việc của hắc thuật, và khi nhân loại vô minh coi Antichrist là làm việc ở phe hắc đạo, sai lầm của họ là rất lớn. Công việc của y cũng nhân từ như công việc của phương diện xây dựng, và chỉ vì [75] sự căm ghét của con người đối với cái chết của các hình tướng khiến y coi công việc của kẻ hủy diệt là “đen tối,” là chống lại ý chí thiêng liêng, và là lật đổ chương trình thiêng liêng. Công việc của các đại diện của quyền năng bí ẩn mà chúng ta gọi là cái ác vũ trụ, và các đại diện đáp ứng của họ, thực sự xứng đáng với từ “hắc ám”; nhưng nó không áp dụng cho công việc của Antichrist. Có thể nói thêm rằng công việc của các lực lượng hắc ám trào lên từ bên dưới, trong khi công việc của các kẻ hủy diệt được thúc đẩy từ bên trên. Biểu tượng của hai con đường này là thanh kiếm và thập giá.

After these preliminary remarks, which are intended to indicate the magnitude of the subject, we shall now proceed to an analysis of the three rays which still remain to be considered.

Sau những nhận xét sơ bộ này, nhằm chỉ ra tầm vóc của chủ đề, chúng ta sẽ tiến hành phân tích ba cung còn lại cần được xem xét.

THE FIFTH PURPOSE OF DEITY

MỤC ĐÍCH THỨ NĂM CỦA THƯỢNG ĐẾ

Ray V. Concrete Knowledge or Science

Cung V. Kiến Thức Cụ Thể hay Khoa Học

The thunders crash around the mountain top; dark clouds conceal the form. The mists, arising from the watery sphere, serve to distort the wondrous…… found within the secret place. The form is there. Its note is sounding forth.

Sấm sét nổ vang quanh đỉnh núi; mây đen che khuất hình tướng. Sương mù, bốc lên từ quả cầu nước, phục vụ để làm sai lệch điều kỳ diệu…… được tìm thấy bên trong nơi bí mật. Hình tướng ở đó. Âm thanh của nó đang vang lên.

A beam of light illuminates the form; the hidden now appears. Knowledge of God and how He veils Himself finds consummation in the thoughts of man. The energies and forces receive their secret names, reveal their inner purpose, and all is seen as rhythm, a returning on itself. The great scroll can now be read. God’s purpose and His plans are fixed, and man can read the form.

Một chùm ánh sáng soi rọi hình tướng; cái ẩn giấu giờ xuất hiện. Kiến thức về Thượng đế và cách Ngài che giấu Chính Ngài tìm thấy sự viên mãn trong tư tưởng của con người. Các năng lượng và mãnh lực nhận được những cái tên bí mật của chúng, tiết lộ mục đích bên trong của chúng, và tất cả được nhìn thấy là nhịp điệu, một sự quay trở lại với chính nó. Cuộn giấy vĩ đại giờ có thể được đọc. Mục đích của Thượng đế và các kế hoạch của Ngài được cố định, và con người có thể đọc hình tướng.

The plan takes form. The plan is form. Its purpose is the revelation of the mind of God. The past reveals the form, but the present indicates the flowing in of energy.

Kế hoạch khoác lấy hình tướng. Kế hoạch là hình tướng. Mục đích của nó là sự mặc khải tâm trí của Thượng đế. Quá khứ tiết lộ hình tướng, nhưng hiện tại chỉ ra dòng chảy vào của năng lượng.

That which is on its way comes as a cloud which veils the sun. But hid behind this cloud of immanence is love, and on the earth is love and in the heaven is love, and this,—the love which maketh all things new—must stand revealed. This is the purpose back of all the acts of this great Lord of Knowledge.

Cái đang trên đường đến như một đám mây che khuất mặt trời. Nhưng ẩn đằng sau đám mây nội tại này là tình thương, và trên trái đất là tình thương và trên thiên đường là tình thương, và điều này,—tình thương làm cho mọi thứ trở nên mới mẻ—phải được tiết lộ. Đây là mục đích đằng sau tất cả các hành động của Chúa Tể Tri Thức vĩ đại này.

Before enumerating the names of this great Life, I should [76] like to point out that the fifth ray is one of unique and peculiar potency in relation to the human kingdom. The reason is that the fifth plane of mind is the sphere of His major activity and it is on this plane that we find the triple aspects of mind:

Trước khi liệt kê những cái tên của Sự Sống vĩ đại này, tôi [76] muốn chỉ ra rằng cung năm là một cung có quyền năng độc đáo và đặc biệt liên quan đến giới nhân loại. Lý do là cõi trí thứ năm là phạm vi hoạt động chính của Ngài và chính trên cõi này mà chúng ta tìm thấy ba phương diện của trí tuệ:

1. Abstract or higher mind, the embodiment of a higher triad.

1. Trí trừu tượng hay thượng trí, hiện thân của một tam nguyên cao hơn.

2. The concrete or lower mind, the highest aspect of the lower self.

2. Trí cụ thể hay hạ trí, phương diện cao nhất của phàm ngã.

3. The ego or solar Angel, the pure Son of Mind, Who expresses intelligence, both abstractly and concretely, and is the point of unification.

3. Chân ngã hay Thái dương Thiên Thần, Người Con thuần khiết của Trí Tuệ, Đấng biểu lộ sự thông tuệ, cả một cách trừu tượng và cụ thể, và là điểm thống nhất.

This Life has also much power today in connection with the fifth root-race and with the transference of the consciousness of humanity into the fifth or spiritual kingdom. Students would learn much if they contrasted the building power of the higher mind with the destroying power of the lower. Just as the personality has no other function in the divine plan than to be a channel for, and the medium of expression of, the soul, so the lower mind is intended to be the channel for the pure inflow of higher mind energy.

Ngày nay Sự Sống này cũng có nhiều quyền năng liên quan đến giống dân gốc thứ năm và với sự chuyển dịch tâm thức của nhân loại vào giới thứ năm hay giới tinh thần. Các đạo sinh sẽ học được nhiều điều nếu họ đối chiếu quyền năng xây dựng của thượng trí với quyền năng hủy diệt của hạ trí. Cũng giống như phàm ngã không có chức năng nào khác trong thiên cơ ngoài việc là một kênh dẫn, và là phương tiện biểu đạt của linh hồn, thì hạ trí cũng được dự định là kênh dẫn cho dòng chảy thuần khiết của năng lượng thượng trí.

This fifth ray is a Being of the intensest spiritual light and in His manifestation on this fifth plane, which is peculiarly His, He symbolises the three aspects in a way achieved by no other ray. Through His quality of higher mind, this ray is a pure channel for the divine will. Through the septenary grouping of the solar lives on the mental levels whereon they appear, He brought into functioning activity seven corresponding reflections of the seven centres of Deity, as far as our planet is concerned, a thing which none of His six brother rays have done. This statement means little to you, but the tremendous sacrifice and effort thus involved are paralleled only by the life of the Buddha, and this is one of the reasons why, [77] in this fifth race, love and mind must eventually and mutually reveal each other.

Cung năm này là một Đấng có ánh sáng tinh thần mãnh liệt nhất và trong biểu hiện của Ngài trên cõi thứ năm này, vốn đặc biệt là của Ngài, Ngài tượng trưng cho ba phương diện theo một cách mà không cung nào khác đạt được. Thông qua phẩm tính thượng trí của mình, cung này là một kênh dẫn thuần khiết cho ý chí thiêng liêng. Thông qua sự phân nhóm thất phân của các sự sống thái dương trên các cấp độ trí tuệ nơi chúng xuất hiện, Ngài đã đưa vào hoạt động chức năng bảy sự phản chiếu tương ứng của bảy trung tâm của Thượng đế, trong chừng mực liên quan đến hành tinh của chúng ta, một điều mà không một huynh đệ nào trong sáu huynh đệ cung của Ngài đã làm. Tuyên bố này có ít ý nghĩa đối với bạn, nhưng sự hy sinh và nỗ lực to lớn liên quan được so sánh chỉ với cuộc đời của Đức Phật, và đây là một trong những lý do tại sao, [77] trong giống dân thứ năm này, tình thương và trí tuệ cuối cùng phải tiết lộ lẫn nhau.

Some of the names given to the Lord of this ray are as follows:

Một số tên được đặt cho Chúa Tể của cung này như sau:

The Revealer of Truth

Đấng Tiết Lộ Chân Lý

The great Connector

Đấng Kết Nối vĩ đại

The Divine Intermediary

Đấng Trung Gian Thiêng Liêng

The Crystallizer of Forms

Đấng Làm Kết Tinh các Hình Tướng

The Three-fold Thinker

Người Tư Duy Tam Phân

The Cloud upon the Mountain-top

Đám Mây trên Đỉnh Núi

The Precipitator of the Cross

Đấng Ngưng Tụ Thập Giá

The Dividing Sword

Thanh Kiếm Phân Chia

The Winnower of the Chaff

Người Sàng Lọc Trấu

The Fifth great Judge

Vị Thẩm Phán vĩ đại Thứ Năm

The Rose of God

Hoa Hồng của Thượng đế

The Heavenly One

Đấng Thiên Thượng

The Door into the Mind of God

Cánh Cửa vào Tâm Trí của Thượng đế

The Initiating Energy

Năng Lượng Khởi Đầu

The Ruler of the Third Heaven

Đấng Cai Trị Tầng Trời Thứ Ba

The Guardian of the Door

Đấng Giữ Cửa

The Dispenser of Knowledge

Đấng Phân Phối Tri Thức

The Angel with the Flaming Sword

Thiên Thần với Thanh Kiếm Rực Lửa

The Keeper of the Secret

Đấng Giữ Bí Mật

The Beloved of the Logos

Đấng Được Thượng Đế Yêu Dấu

The Brother from Sirius

Huynh đệ từ Sao Thiên Lang

The Master of the Hierophants

Chân Sư của các Đấng Điểm Đạo

This fifth ray has so many names, owing to His close connection with man (since man was originally created), that it has not been easy to choose those which are of the most use in enabling the student to form an idea of the fifth ray characteristics and mission; but the study of the six aphorisms, and the qualities which they indicate, will show how potent and important is this ray Lord. These six aphorisms were chanted by His six Brothers at that momentous crisis wherein the human family came into existence and the solar Angels sacrificed themselves. Esoterically speaking, they “went down into hell, and found their place in prison.” On that day souls [78] were born. A new kingdom of expression came into being, and the three highest planes and the three lower were brought into a scintillating interchange.

Cung năm này có rất nhiều tên, do mối liên hệ chặt chẽ của Ngài với con người (kể từ khi con người được tạo ra ban đầu), nên không dễ để chọn những cái tên hữu ích nhất trong việc cho phép học viên hình thành một ý tưởng về các đặc điểm và sứ mệnh của cung năm; nhưng việc nghiên cứu sáu câu cách ngôn, và các phẩm tính mà chúng chỉ ra, sẽ cho thấy Chúa Tể cung này mạnh mẽ và quan trọng như thế nào. Sáu câu cách ngôn này được sáu người Huynh Đệ của Ngài xướng tụng vào cuộc khủng hoảng trọng đại đó, trong đó gia đình nhân loại ra đời và các Thái dương Thiên Thần đã hy sinh chính mình. Về mặt huyền linh, các ngài “đã đi xuống địa ngục, và tìm thấy vị trí của mình trong tù ngục.” Vào ngày đó các linh hồn [78] đã được sinh ra. Một giới biểu đạt mới đã ra đời, và ba cõi cao nhất và ba cõi thấp hơn đã được đưa vào một sự trao đổi lấp lánh.

1. God and His Angels now arise and see. Let the mountaintops emerge from out the dense wet mist. Let the sun touch their summits and let them stand in light. Shine forth.

1. Thượng đế và các Thiên Thần của Ngài giờ đây trỗi dậy và nhìn thấy. Hãy để các đỉnh núi nổi lên từ đám sương mù ẩm ướt dày đặc. Hãy để mặt trời chạm vào đỉnh của chúng và để chúng đứng trong ánh sáng. Tỏa sáng.

Quality…… emergence into form and out of form.

Phẩm tính…… sự xuất lộ vào hình tướng và ra khỏi hình tướng.

2. God and His Angels now arise and hear. Let a deep murmur rise and let the cry of seeking man enter into their ears. Let man listen. Let man call. Speak loud.

2. Thượng đế và các Thiên Thần của Ngài giờ đây trỗi dậy và nghe. Hãy để một tiếng thì thầm sâu lắng trỗi dậy và hãy để tiếng kêu của con người tìm kiếm đi vào tai Các Ngài. Hãy để con người lắng nghe. Hãy để con người gọi. Nói to lên.

Quality……power to make the Voice of the Silence heard.

Phẩm tính……quyền năng làm cho Tiếng Nói của Im Lặng được nghe thấy.

3. God and His Angels now arise and touch. Bring forth the rod of power. Extend it outward toward the sons of men; touch them with fire, then bring them near. Bring forth.

3. Thượng đế và các Thiên Thần của Ngài giờ đây trỗi dậy và chạm vào. Mang cây gậy quyền năng ra. Kéo dài nó về phía các con của nhân loại; chạm vào họ bằng lửa, rồi mang họ lại gần. Mang lại.

Quality…… initiating activity.

Phẩm tính…… hoạt động khai mở.

4. God and His Angels now arise and taste. Let all experience come. Let all the ways appear. Discern and choose; dissect and analyse. All ways are one.

4. Thượng đế và các Thiên Thần của Ngài giờ đây trỗi dậy và nếm. Hãy để tất cả kinh nghiệm đến. Hãy để tất cả các con đường xuất hiện. Phân biện và lựa chọn; mổ xẻ và phân tích. Tất cả các con đường là một.

Quality……revelation of the way.

Phẩm tính……sự tiết lộ con đường.

5. God and His Angels now arise and sense the odor rising from the burning-ground of man. Let the fire do its work. Draw man within the furnace and let him drop within the rose-red centre the nature that retards. Let the fire burn.

5. Thượng đế và các Thiên Thần của Ngài giờ đây trỗi dậy và cảm nhận mùi hương bốc lên từ vùng đất cháy của con người. Hãy để lửa làm công việc của nó. Kéo con người vào trong lò lửa và để y thả vào trung tâm đỏ hồng bản chất làm chậm trễ. Hãy để lửa cháy.

Quality……purification with fire.

Phẩm tính……sự thanh lọc bằng lửa.

6. God and His Angels now arise and fuse the many in the One. Let the blending work proceed. Let that which causes all to be produce the cause of their cessation. Let one temple now emerge. Produce the crowning glory. So let it be.

6. Thượng Đế và các Thiên Thần của Ngài giờ đây trỗi dậy và dung hợp muôn ngàn vào trong Một. Hãy để công cuộc hòa quyện tiếp tục. Hãy để Đấng tạo ra mọi sự biểu hiện tạo ra nguyên nhân của sự chấm dứt chúng. Hãy để một đền thờ duy nhất xuất hiện. Hãy tạo ra vinh quang tối thượng. Nguyện được như vậy.

Quality……the manifestation of the great white light. (The Shekinah. A.A.B.)

Phẩm tính……sự biểu hiện của ánh sáng trắng vĩ đại. (Shekinah. A.A.B.)

There is much of practical usefulness to the reader in a study of these qualities. When he believes himself to be upon a particular ray, they will indicate to him some of the characteristics for which he may look, and perhaps demonstrate [79] to him what he has to do, what he has to express, and what he has to overcome. These qualities should be studied from two angles: their divine aspect and their reverse aspect or the form side. This ray, for instance, is shown to be the revealer of the way, and it should be remembered therefore that this fifth ray reveals the way down into death or into incarnation (which is the death-like prison of the soul), or it reveals the way up and out of darkness into the pure light of God’s day. I mention this as I am exceedingly anxious that all who read this treatise should make application of this teaching to their daily lives. I am not interested in imparting weird or unusual items of information anent these matters for the delectation of an unhealthy mental appetite. The stocking of the memory with occult detail which serves no useful purpose only strains the brain cells and feeds the pride.

Có nhiều điều hữu ích thực tế cho người đọc trong việc nghiên cứu các phẩm tính này. Khi y tin rằng mình thuộc một cung cụ thể, chúng sẽ chỉ cho y một số đặc điểm mà y có thể tìm kiếm, và có lẽ chứng minh [79] cho y thấy những gì y phải làm, những gì y phải biểu đạt, và những gì y phải vượt qua. Những phẩm tính này nên được nghiên cứu từ hai góc độ: phương diện thiêng liêng của chúng và phương diện ngược lại của chúng hay phía hình tướng. Ví dụ, cung này được cho thấy là người tiết lộ con đường, và do đó cần nhớ rằng cung năm này tiết lộ con đường đi xuống cái chết hoặc đi vào sự lâm phàm (vốn là nhà tù giống như cái chết của linh hồn), hoặc nó tiết lộ con đường đi lên và ra khỏi bóng tối vào ánh sáng tinh khiết của ngày của Thượng đế. Tôi đề cập đến điều này vì tôi cực kỳ lo lắng rằng tất cả những ai đọc luận thuyết này nên áp dụng giáo huấn này vào cuộc sống hàng ngày của họ. Tôi không quan tâm đến việc truyền đạt những thông tin kỳ lạ hoặc bất thường về những vấn đề này để làm hài lòng một sự thèm muốn trí tuệ không lành mạnh. Việc tích trữ trong trí nhớ những chi tiết huyền bí không phục vụ mục đích hữu ích nào chỉ làm căng thẳng các tế bào não và nuôi dưỡng sự kiêu ngạo.

THE SIXTH PURPOSE OF DEITY

MỤC ĐÍCH THỨ SÁU CỦA THƯỢNG ĐẾ

Ray VI. Devotion or Idealism

Cung VI. Sùng Tín hay Chủ Nghĩa Lý Tưởng.

This ray which is just going out of manifestation, is of vital interest to us, for it has set its mark upon our western civilisation in a more definite way than any of the others. It is for us the most familiar and the best known of the rays. The mantram which defines its purpose is unlike the others and might be expressed somewhat as follows:

Cung này vốn đang đi ra khỏi biểu hiện, có sự quan tâm thiết yếu đối với chúng ta, vì nó đã đặt dấu ấn của nó lên nền văn minh phương tây của chúng ta theo một cách xác định hơn bất kỳ cung nào khác. Đối với chúng ta, nó là cung quen thuộc nhất và được biết đến nhiều nhất trong các cung. Mantram xác định mục đích của nó không giống như các cung khác và có thể được diễn đạt đại loại như sau:

The Crusade is on. The warriors march upon their way. They crush and kill all that impedes their way, and aught that rises on their onward path is trampled under foot. March towards the light.

Cuộc Thập Tự Chinh đã bắt đầu. Các chiến binh diễu hành trên con đường của họ. Họ nghiền nát và giết chết tất cả những gì cản trở con đường của họ, và bất cứ thứ gì trỗi dậy trên con đường tiến lên của họ đều bị chà đạp dưới chân. Diễu hành về phía ánh sáng.

The work goes forward. The workers veil their eyes from pity as from fear. The work is all that counts. The form must disappear so that the loving spirit may enter into rest. Naught must arrest the progress of the workers with the plan. They enter upon the work assigned with paean and with song.

Công việc vẫn tiến bước. Những người phụng sự che mắt mình trước nỗi thương xót cũng như trước nỗi sợ hãi. Công việc là điều duy nhất có ý nghĩa. Hình tướng phải tan biến để tinh thần yêu thương có thể bước vào an nghỉ. Không gì được phép ngăn chặn tiến trình của những người phụng sự với Thiên Cơ. Họ bước vào công việc được giao trong khúc hoan ca và tiếng hát.

The cross is reared on high; the form is laid thereon, and [80] on that cross must render up its life. Each builds a cross which forms the cross. They mount upon the cross.

Thập giá được dựng cao; hình tướng được đặt lên đó, và [80] trên thập giá ấy, nó phải trao trả sự sống của mình. Mỗi người xây dựng một thập giá vốn tạo nên thập giá chung. Họ bước lên thập giá ấy.

Through war, through work, through pain and toil, the purpose is achieved. Thus saith the symbol.

Thông qua chiến tranh, thông qua công việc, thông qua đau đớn và nhọc nhằn, mục đích được hoàn thành. Biểu tượng đã phán như thế.

It will be noted how this purpose, when applied by man to himself, works his release. When applied by man to man, it has produced the corrupt and awful story of man’s cruelty to man. In the above mantram you will find the clue to the sixth ray purpose as it appears in the human kingdom, and a close expansive study (note that paradoxical phrase) of the underlying ideas will reveal a little of the larger purpose. The soul is and should be pitiless to its form and its problem. The soul can, however, comprehend the need for pain and difficulty in the world, for he can extend a knowledge of his own technique with himself to the technique of God with His world; but he does nothing knowingly that could possibly increase the world’s pain or sorrow.

Sẽ được lưu ý rằng mục đích này, khi được con người áp dụng cho chính mình, tạo ra sự giải thoát của y. Khi được con người áp dụng cho con người, nó đã tạo ra câu chuyện thối nát và khủng khiếp về sự tàn ác của con người đối với con người. Trong mantram trên, bạn sẽ tìm thấy manh mối cho mục đích cung sáu khi nó xuất hiện trong giới nhân loại, và một nghiên cứu mở rộng chặt chẽ (lưu ý cụm từ nghịch lý đó) về các ý tưởng cơ bản sẽ tiết lộ một chút về mục đích lớn hơn. Linh hồn là và nên tàn nhẫn với hình tướng của nó và vấn đề của nó. Tuy nhiên, linh hồn có thể thấu hiểu sự cần thiết của đau đớn và khó khăn trên thế giới, vì nó có thể mở rộng kiến thức về kỹ thuật của chính nó với bản thân sang kỹ thuật của Thượng đế với thế giới của Ngài; nhưng nó không cố ý làm bất cứ điều gì có thể làm tăng thêm nỗi đau hay nỗi buồn của thế giới.

Some of the names for this beneficent yet somewhat violently energised Lord of a ray are as follows:

Một số tên cho Chúa Tể của một cung nhân từ nhưng được cung cấp năng lượng có phần bạo lực này như sau:

The Negator of Desire

Đấng Phủ Định Ham Muốn

The One Who sees the Right

Đấng thấy Lẽ Phải

The Visioner of Reality

Đấng Tri Kiến Thực Tại

The Divine Robber

Tên Cướp Thiêng Liêng

The Devotee of Life

Kẻ Tận Tụy của Sự Sống

The Hater of Forms

Kẻ Căm Ghét Hình Tướng

The Warrior on the March

Chiến Binh đang Hành Quân

The Sword Bearer of the Logos

Đấng Cầm Gươm của Thượng Đế

The Upholder of the Truth

Đấng Nâng Đỡ Chân Lý

The Crucifier and the Crucified

Đấng Đóng Đinh và Kẻ Bị Đóng Đinh

The Breaker of Stones

Đấng Phá Vỡ Đá

The Imperishable Flaming One

Đấng Rực Lửa Bất Diệt

The One Whom Naught can turn

Đấng mà Không Gì có thể làm lay chuyển

The Implacable Ruler

Đấng Cai Quản Bất Khuất

The General on the Perfect Way

Vị Tướng Quân trên Đường Hoàn Thiện

The One Who leads the Twelve

Đấng dẫn dắt Mười Hai

Curiously enough, this sixth ray Lord has always been a [81] loved enigma to His six Brethren. This comes out in the questions which They addressed to Him on one occasion when They met “under the eye of the Lord” to interchange Their plans for united, divine, harmonious action. They asked these questions in a spirit of heavenly joy and love, but with the intent to throw some light upon the somewhat obscure quality of Their loved Brother.

Thật kỳ lạ thay, Chúa Tể cung sáu này luôn là một [81] bí ẩn được yêu mến đối với sáu vị Huynh Đệ của Ngài. Điều này thể hiện qua những câu hỏi mà Các Ngài đã đặt ra cho Ngài vào một dịp nọ khi Các Ngài gặp nhau “dưới con mắt của Thượng đế” để trao đổi kế hoạch của Các Ngài cho hành động hợp nhất, thiêng liêng và hài hòa. Các Ngài đã hỏi những câu hỏi này trong tinh thần của niềm vui và tình thương nơi thiên thượng, nhưng với ý định làm sáng tỏ phần nào phẩm tính có phần khó hiểu của người Huynh Đệ được yêu mến của Các Ngài.

1. Why is desire red? Why red as blood? Tell us, Oh Son of God, why thy way is red with blood?

1. Tại sao dục vọng lại màu đỏ? Tại sao đỏ như máu? Hãy nói cho chúng tôi biết, hỡi Con của Thượng đế, tại sao con đường của ngài lại đỏ thẫm máu?

Quality……power to kill out desire.

Phẩm tính……quyền năng diệt trừ dục vọng.

2. Why do you turn your back upon the sphere of earth? Is it too small, too poor? Why kick it as a ball upon a playing field?

2. Tại sao ngài quay lưng lại với khối cầu của trái đất? Có phải nó quá nhỏ bé, quá nghèo nàn không? Tại sao lại đá nó như một quả bóng trên sân chơi?

Quality…… spurning that which is not desired.

Phẩm tính…… cự tuyệt những gì không được mong muốn.

3. Why set the cross from earth to heaven? But earth can be a heaven. Why mount the cross and die?

3. Tại sao lại dựng thập giá từ đất lên trời? Nhưng đất có thể là một thiên đường. Tại sao lại leo lên thập giá và chết?

Quality……self-immolation.

Phẩm tính……sự tự hiến tế.

4. Why battle thus with all that is around? Seek you not peace? Why stand between the forces of the night and day? Why thus unmoved and calm, untired and unafraid?

4. Tại sao lại chiến đấu như thế với tất cả những gì xung quanh? Ngài không tìm kiếm hòa bình sao? Tại sao lại đứng giữa các mãnh lực của đêm và ngày? Tại sao lại bất động và bình thản, không mệt mỏi và không sợ hãi như vậy?

Quality….. endurance and fearlessness.

Phẩm tính….. sự bền bỉ và vô úy.

5. See you not God in all, the life in all, and love in all? Why separate yourself and leave behind the loved and the well-known?

5. Ngài không thấy Thượng đế trong tất cả, sự sống trong tất cả, và tình thương trong tất cả sao? Tại sao lại tách mình ra và bỏ lại phía sau những người thân yêu và quen thuộc?

Quality……power to detach oneself.

Phẩm tính……quyền năng tự tách rời.

6. Can you arrest the waters of the sixth great sphere? Can you stem the flood? Can you recover both the raven and the dove? Can you, the Fish, swim free?

6. Ngài có thể ngăn chặn những dòng nước của khối cầu vĩ đại thứ sáu không? Ngài có thể chặn dòng nước lũ không? Ngài có thể phục hồi cả con quạ và con chim bồ câu không? Ngài, Con Cá, có thể bơi tự do không?

Quality……overcoming the waters of the emotional nature.

Phẩm tính……vượt qua những dòng nước của bản chất cảm dục.

This out-going ray of devotion to the ideal, and the incoming ray of magical order or organisation are largely responsible for the type of man’s consciousness today. Man is essentially devoted (to the point of fanaticism) to whatever may be the goal of his life’s attention. This goal may be to achieve discipleship, or to raise a family, or to get money, or to achieve [82] popularity, or any other objective to which he consecrates his time and energy; but whatever it may be, to it he devotes all that he is or has. Man also is essentially and inherently a producer of law and order, though this quality is only just beginning to make its presence felt. This is because mankind is, at last, becoming mentally centred, and hence we have in the world at this time the many and varied attempts to straighten out affairs along business, national, economic, social and other lines, to produce some system and order, and to bring about the re-arranging of all energies with the objective (unrealised consciously as yet) of inaugurating the New Age. Owing, however, to defective mental control and to an almost universal ignorance as to the laws of thought, and in addition, to a profound lack of knowledge as to man’s own nature, man works blindly. The ideals sensed are not correctly interpreted by the mind nor applied in such a way that they are of general and appropriate application. Hence the confusion and the chaotic experimentation going on, and hence also the imposition of personal authority to enforce an individual’s idea of the ideal.

Cung sùng tín đối với lý tưởng đang đi ra, và cung trật tự huyền thuật hay tổ chức đang đi vào chịu trách nhiệm phần lớn cho loại tâm thức của con người ngày nay. Con người về cơ bản là tận tụy (đến mức cuồng tín) với bất cứ điều gì có thể là mục tiêu cho sự chú ý trong cuộc đời y. Mục tiêu này có thể là đạt được địa vị đệ tử, hoặc nuôi nấng một gia đình, hoặc kiếm tiền, hoặc đạt được [82] sự nổi tiếng, hoặc bất kỳ mục tiêu nào khác mà y hiến dâng thời gian và năng lượng của mình; nhưng bất kể đó là gì, y đều dâng hiến tất cả những gì y là hoặc có cho nó. Con người cũng về cơ bản và cố hữu là một người tạo ra luật lệ và trật tự, mặc dù phẩm tính này chỉ mới bắt đầu làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận. Điều này là do cuối cùng nhân loại đang trở nên tập trung vào trí tuệ, và do đó, vào lúc này chúng ta có nhiều nỗ lực đa dạng trên thế giới nhằm chấn chỉnh các công việc theo các đường hướng kinh doanh, quốc gia, kinh tế, xã hội và các đường hướng khác, nhằm tạo ra một hệ thống và trật tự nào đó, và nhằm mang lại sự sắp xếp lại tất cả các năng lượng với mục tiêu (chưa được nhận thức một cách có ý thức) là khai mở Kỷ Nguyên Mới. Tuy nhiên, do sự kiểm soát trí tuệ khiếm khuyết và sự thiếu hiểu biết gần như phổ quát về các quy luật của tư tưởng, và thêm vào đó, sự thiếu kiến thức sâu sắc về bản chất của chính con người, con người làm việc một cách mù quáng. Những lý tưởng được cảm nhận không được trí tuệ diễn giải một cách chính xác cũng không được áp dụng theo cách sao cho chúng có thể ứng dụng chung và thích hợp. Do đó mới có sự nhầm lẫn và sự thử nghiệm hỗn loạn đang diễn ra, và do đó cũng có sự áp đặt uy quyền cá nhân để thực thi ý tưởng của một cá nhân về cái lý tưởng.

The need today is for sound teaching as to the laws of thought, and the rules which govern the building of those thought-forms which must embody the ideas sent forth from the universal divine Mind. Men must begin on the subjective planes of life to work out the needed order. When this is realised, we shall have every important group of men engaged in world affairs, or in the work of government in all its branches, aided on the mental plane by trained thinkers, so that there may be right application and correct adjustment to the Plan. This time is as yet far away, and hence the distortions and misrepresentations on earth of the Plan as it exists in heaven, to use the Christian phraseology.

Nhu cầu ngày nay là sự giảng dạy đúng đắn về các quy luật của tư tưởng, và các quy luật chi phối việc xây dựng những hình tư tưởng vốn phải thể hiện các ý tưởng được gửi đi từ Trí Tuệ thiêng liêng vũ trụ. Con người phải bắt đầu trên các cõi nội tại của sự sống để thực hiện trật tự cần thiết. Khi điều này được chứng nghiệm, chúng ta sẽ có mọi nhóm người quan trọng tham gia vào các công việc thế giới, hoặc trong công việc chính phủ ở tất cả các chi nhánh của nó, được hỗ trợ trên cõi trí bởi những nhà tư tưởng được huấn luyện, để có thể có sự áp dụng đúng đắn và sự điều chỉnh chính xác đối với Thiên Cơ. Thời điểm này vẫn còn xa, và do đó mới có những sự biến dạng và trình bày sai lệch trên trần gian về Thiên Cơ như nó tồn tại trên thiên đường, theo cách nói của Cơ Đốc giáo.

It was the realisation of the present world need for illumined [83] thinkers and subjective workers which prompted Those Who guide so to direct the incoming spiritual energies that the formation of the esoteric groups everywhere came about; it led also to the publication of the mass of mystical and Oriental literature on meditation and allied topics which has flooded the world today. Hence also the effort that I, a worker on the inner side of life, am making to teach the newer psychology in this treatise, and so show to man what is his equipment and how well suited he is to the work for which he has been created, and which he has as yet failed to comprehend. The force and the effect of the seventh ray influence will, however, reveal to him the magical work, and the next twenty five hundred years will bring about so much change and make possible the working of so many so-called “miracles” that even the outer appearance of the world will be profoundly altered; the vegetation and the animal life will be modified and developed, and much that is latent in the forms of both kingdoms will be brought into expression through the freer flow and the more intelligent manipulation of the energies which create and constitute all forms. The world has been changed beyond belief during the past five hundred years, and during the next two hundred years the changes will be still more rapid and deep-seated, for the growth of the intellectual powers of man is gathering momentum, and Man, the Creator, is coming into possession of His powers.

Chính sự nhận biết về nhu cầu hiện tại của thế giới đối với các [83] nhà tư tưởng được soi sáng và các người hoạt động chủ quan đã thúc đẩy Các Đấng Hướng Dẫn chỉ đạo các năng lượng tinh thần đang đi vào sao cho sự hình thành của các nhóm huyền môn ở khắp mọi nơi diễn ra; nó cũng dẫn đến việc xuất bản khối lượng lớn văn học thần bí và Phương Đông về tham thiền và các chủ đề liên quan vốn đang tràn ngập thế giới ngày nay. Do đó cũng có nỗ lực mà tôi, một người hoạt động ở phía bên trong của sự sống, đang thực hiện để giảng dạy nền tâm lý học mới hơn trong luận thuyết này, và qua đó chỉ cho con người thấy trang thiết bị của y là gì và y thích hợp như thế nào đối với công việc mà y đã được tạo ra để làm, và công việc mà y cho đến nay vẫn chưa hiểu được. Tuy nhiên, mãnh lực và hiệu quả của ảnh hưởng cung bảy sẽ tiết lộ cho y công việc huyền thuật, và hai ngàn năm trăm năm tiếp theo sẽ mang lại nhiều thay đổi và làm cho khả thi sự hoạt động của rất nhiều cái gọi là “phép lạ” đến nỗi ngay cả diện mạo bên ngoài của thế giới cũng sẽ thay đổi sâu sắc; thảm thực vật và đời sống động vật sẽ được sửa đổi và phát triển, và nhiều điều tiềm ẩn trong các hình tướng của cả hai giới sẽ được đưa vào biểu hiện thông qua dòng chảy tự do hơn và sự thao tác thông minh hơn các năng lượng tạo ra và cấu thành nên mọi hình tướng. Thế giới đã thay đổi ngoài sức tưởng tượng trong suốt năm trăm năm qua, và trong hai trăm năm tới, những thay đổi sẽ còn nhanh chóng và sâu sắc hơn nữa, vì sự tăng trưởng các quyền năng trí tuệ của con người đang thu thập đà tiến, và Con Người, Đấng Sáng Tạo, đang đi vào việc sở hữu các quyền năng của Mình.

THE SEVENTH PURPOSE OF DEITY

MỤC ĐÍCH THỨ BẢY CỦA THƯỢNG ĐẾ

Ray VII. Ceremonial Order or Magic

Cung VII. Trật Tự Nghi Lễ hay Huyền Thuật

“Let the Temple of the Lord be built”, the seventh great Angel cried. Then to their places in the north, the south, the west and east, seven great sons of God moved with measured pace and took their seats. The work of building thus began.

“Hãy để Ngôi Đền của Đấng Chúa được xây dựng”, vị Thiên Thần vĩ đại thứ bảy kêu lên. Sau đó, bảy người con vĩ đại của Thượng đế di chuyển với nhịp bước đều đặn về vị trí của họ ở phía bắc, phía nam, phía tây và đông, và an tọa. Công việc xây dựng do đó bắt đầu.

The doors were closed. The light shone dim. The temple walls could not be seen. The seven were silent and their forms were veiled. The time had not arrived for the breaking [84] forth of light. The Word could not be uttered. Only between the seven Forms the work went on. A silent call went forth from each to each. Yet still the temple door stayed shut.

Các cánh cửa đã đóng. Ánh sáng chiếu lờ mờ. Các bức tường ngôi đền không thể được nhìn thấy. Bảy vị im lặng và hình tướng của họ bị che khuất. Thời điểm chưa đến để ánh sáng [84] bùng phát. Linh từ không thể được thốt ra. Chỉ giữa bảy Hình Tướng công việc mới tiếp diễn. Một tiếng gọi thầm lặng phát ra từ mỗi vị đến từng vị khác. Tuy nhiên, cửa đền vẫn đóng chặt.

As time went on, the sounds of life were heard. The door was opened, and the door was shut. Each time it opened, the power within the temple grew; each time the light waxed stronger, for one by one the sons of men entered the temple, passed from north to south, from west to east and in the centre of the heart found light, found understanding and the power to work. They entered through the door; they passed before the Seven; they raised the temple’s veil and entered into life.

Khi thời gian trôi qua, những âm thanh của sự sống được nghe thấy. Cánh cửa khai mở, và cánh cửa đóng lại. Mỗi lần nó khai mở, quyền năng bên trong ngôi đền lại lớn lên; mỗi lần ánh sáng lại rực rỡ hơn, vì từng người một, những người con của nhân loại bước vào ngôi đền, đi từ bắc xuống nam, từ tây sang đông và ở trung tâm của trái tim tìm thấy ánh sáng, tìm thấy sự thấu hiểu và quyền năng để làm việc. Họ bước qua cánh cửa; họ đi ngang qua trước Bảy Vị; họ vén bức màn của ngôi đền và bước vào sự sống.

The temple grew in beauty. Its lines, its walls, its decorations, and its height and depth and breadth slowly emerged and entered into light.

Ngôi đền lớn lên trong vẻ đẹp. Các đường nét, các bức tường, các đồ trang trí, và chiều cao, chiều sâu và chiều rộng của nó từ từ xuất lộ và đi vào ánh sáng.

Out from the east, the Word went forth: Open the door to all the sons of men who come from all the darkened valleys of the land and seek the temple of the Lord. Give them the light. Unveil the inner shrine, and through the work of all the craftsmen of the Lord extend the temple’s walls and thus irradiate the world. Sound forth the Word creative and raise the dead to life.

Từ phương đông, Linh từ vang lên: Hãy mở cửa cho tất cả những người con của nhân loại đến từ khắp các thung lũng tăm tối của vùng đất và tìm kiếm ngôi đền của Đấng Chúa Tể. Hãy ban cho họ ánh sáng. Hãy vén màn điện thờ bên trong, và thông qua công việc của tất cả những người thợ thủ công của Đấng Chúa Tể hãy mở rộng các bức tường của ngôi đền và do đó chiếu rọi thế giới. Hãy xướng lên Linh từ sáng tạo và làm cho kẻ chết sống lại.

Thus shall the temple of the light be carried from heaven to earth. Thus shall its walls be reared upon the great plains of the world of men. Thus shall the light reveal and nurture all the dreams of men.

Do đó, ngôi đền của ánh sáng sẽ được mang từ thiên đường xuống trái đất. Do đó, các bức tường của nó sẽ được dựng lên trên những đồng bằng rộng lớn của thế giới con người. Do đó, ánh sáng sẽ tiết lộ và nuôi dưỡng tất cả những giấc mơ của con người.

Then shall the Master in the east awaken those who are asleep. Then shall the warden in the west test and try all the true seekers after light. Then shall the warden in the south instruct and aid the blind. Then shall the gate into the north remain wide open, for there the unseen Master stands with welcoming hand and understanding heart, to lead the pilgrims to the east where the true light shines forth.

Khi đó, Chân sư ở phương đông sẽ đánh thức những kẻ đang ngủ. Khi đó, người giám hộ ở phương tây sẽ thử thách và kiểm tra tất cả những người tìm kiếm ánh sáng chân chính. Khi đó, người giám hộ ở phương nam sẽ hướng dẫn và hỗ trợ người mù. Khi đó, cánh cổng đi vào phương bắc sẽ mở toang, vì ở đó Chân sư vô hình đang đứng với bàn tay chào đón và trái tim thấu hiểu, để dẫn dắt những người hành hương về phương đông nơi ánh sáng chân thật tỏa rạng.

“Why this opening of the temple?” demand the greater Seven. “Because the work is ready; the craftsmen are prepared. God has created in the light. His sons can now create. What can else be done?”

“Tại sao lại mở ngôi đền này?” Bảy Vị lớn hơn yêu cầu. “Bởi vì công việc đã sẵn sàng; những người thợ thủ công đã chuẩn bị. Thượng đế đã sáng tạo trong ánh sáng. Các con của Ngài giờ đây có thể sáng tạo. Còn có thể làm gì khác nữa?”

“Naught!” came the answer from the greater Seven. “Let the work proceed. Let the sons of God create.”

“Không gì cả!” câu trả lời đến từ Bảy Vị lớn hơn. “Hãy để công việc tiến hành. Hãy để các con của Thượng đế sáng tạo.”

These words will be noted by many as of deep significance and as indicating a wide intention (during the coming cycle) [85] to open the door wide into the temple of the hidden mystery to man. One by one we shall undergo the esoteric and spiritual counterpart of the psychological factor which is called “a mental test.” That test will demonstrate a man’s usefulness in mental work and power, it will show his capacity to build thought-forms and to vitalise them. This I dealt with in A Treatise on White Magic, and the relation of that treatise to the magical work of the seventh ray and its cycle of activity will become increasingly apparent. A Treatise on White Magic is an attempt to lay down the rules for training and for work which will make it possible for the candidate to the mysteries to enter the temple and to take his place as a creative worker and thus aid in the magical work of the Lord of the Temple.

Những lời này sẽ được nhiều người ghi nhận là có thâm nghĩa sâu sắc và chỉ ra một ý định rộng lớn (trong chu kỳ sắp tới) [85] nhằm mở rộng cánh cửa vào ngôi đền của bí nhiệm ẩn giấu đối với con người. Từng người một, chúng ta sẽ trải qua đối phần huyền bí và tinh thần của yếu tố tâm lý được gọi là “bài kiểm tra trí tuệ”. Bài kiểm tra đó sẽ chứng minh sự hữu ích của một người trong công việc trí tuệ và quyền năng trí tuệ, nó sẽ cho thấy năng lực của y trong việc xây dựng các hình tư tưởng và tiếp sinh lực cho chúng. Tôi đã đề cập đến điều này trong Luận về Chánh Thuật, và mối quan hệ của luận thuyết đó với công việc huyền thuật của cung bảy và chu kỳ hoạt động của nó sẽ ngày càng trở nên rõ ràng. Luận về Chánh Thuật là một nỗ lực nhằm đặt ra các quy luật cho việc rèn luyện và làm việc vốn sẽ giúp cho ứng viên đối với các bí nhiệm có thể bước vào ngôi đền và đảm nhận vị trí của mình như một người hoạt động sáng tạo và do đó hỗ trợ trong công việc huyền thuật của Chúa Tể của Ngôi Đền.

The names whereby this ray Lord is known are many, and their meaning is of prime significance today. The work of the future can be seen from a study of these names.

Những cái tên mà qua đó Chúa Tể cung này được biết đến rất nhiều, và ý nghĩa của chúng có tầm quan trọng hàng đầu ngày nay. Công việc của tương lai có thể được nhìn thấy từ việc nghiên cứu những cái tên này.

The Unveiled Magician

Nhà Huyền Thuật Được Tiết Lộ

The Worker in the Magical Art

Người Hoạt Động trong Nghệ Thuật Huyền Thuật

The Creator of the Form

Đấng Sáng Tạo Hình Tướng

The Bestower of Light from the Second Lord

Đấng Ban Tặng Ánh Sáng từ Chúa Tể Thứ Hai

The Manipulator of the Wand

Đấng Thao Tác Đũa Thần

The Watcher in the East

Đấng Canh Giữ ở Phương Đông

The Custodian of the Seventh Plan

Đấng Trông Coi Kế Hoạch Thứ Bảy

The Invoker of Wrath

Đấng Gợi Lên Cơn Thịnh Nộ

The Keeper of the Magical Word

Đấng Giữ Gìn Linh Từ Huyền Thuật

The Temple Guardian

Đấng Bảo Vệ Ngôi Đền

The Representative of God

Đại Diện của Thượng Đế

The One Who lifts to Life

Đấng Nâng lên đến Sự Sống

The Lord of Death

Chúa Tể của Cái Chết

The One Who feeds the Sacred Fire

Đấng Nuôi Dưỡng Ngọn Lửa Thiêng

The Whirling Sphere

Khối Cầu Xoay Chuyển

The Sword of the Initiator

Thanh Gươm của Đấng Điểm Đạo

The Divine Alchemical Worker

Người Thợ Luyện Kim Thiêng Liêng

The Builder of the Square

Đấng Xây Dựng Hình Vuông

The Orienting Force

Mãnh Lực Định Hướng

The Fiery Unifier [86]

Đấng Hợp Nhất Rực Lửa [86]

The Key to the Mystery

Chìa Khóa của Bí Nhiệm

The Expression of the Will

Sự Biểu Hiện của Ý Chí

The Revealer of Beauty

Đấng Tiết Lộ Vẻ Đẹp

This ray Lord has a peculiar power on earth and on the physical plane of divine manifestation. His usefulness to His six Brothers is therefore apparent. He makes Their work appear. He is the most active of all the rays in this world period, and is never out of manifestation for more than fifteen hundred years. It is almost as if He whirled in and out of active work under a very rapid cycle, and His closest relation, symbolically, is to His Brethren of the second and fifth rays in this world period.

Chúa Tể cung này có một quyền năng đặc biệt trên trái đất và trên cõi hồng trần của sự biểu hiện thiêng liêng. Do đó, sự hữu ích của Ngài đối với sáu Huynh Đệ của Ngài là rõ ràng. Ngài làm cho công việc của Các Ngài xuất hiện. Ngài là cung tích cực nhất trong tất cả các cung trong giai kỳ thế giới này, và không bao giờ ngưng biểu hiện quá một ngàn năm trăm năm. Gần như thể Ngài xoay vào và ra khỏi công việc tích cực theo một chu kỳ rất nhanh, và mối quan hệ gần gũi nhất của Ngài, về mặt biểu tượng, là với các Huynh Đệ của Ngài thuộc cung hai và cung năm trong giai kỳ thế giới này.

He builds (using second ray cooperation) through the power of thought (thus cooperating with the Lord of the fifth ray and on the physical plane, which is His own essential and peculiar sphere). In another world period His relation with the other ray Lords may undergo change, but at this time His work will be more easily understood when He is recognised as aiding the building Lord of the second ray and utilising the energies of the Lord of concrete thought.

Ngài xây dựng (sử dụng sự hợp tác của cung hai) thông qua sức mạnh của tư tưởng (do đó hợp tác với Chúa Tể cung năm và trên cõi hồng trần, vốn là phạm vi thiết yếu và đặc biệt của riêng Ngài). Trong một giai kỳ thế giới khác, mối quan hệ của Ngài với các Chúa Tể cung khác có thể trải qua sự thay đổi, nhưng vào lúc này, công việc của Ngài sẽ dễ hiểu hơn khi Ngài được công nhận là đang hỗ trợ Chúa Tể xây dựng của cung hai và sử dụng các năng lượng của Chúa Tể tư tưởng cụ thể.

The aphorisms embodying His qualities run as follows, and were esoterically whispered into His ears when He “left the most high place and descended into the seventh sphere to carry out the work assigned.”

Các câu cách ngôn thể hiện các phẩm tính của Ngài như sau, và đã được thì thầm một cách huyền bí vào tai Ngài khi Ngài “rời khỏi nơi cao nhất và giáng xuống khối cầu thứ bảy để thực hiện công việc được giao.”

1. Take thy tools with thee, brother of the building light. Carve deep. Construct and shape the living stone.

1. Hãy mang theo các công cụ của ngươi, hỡi Huynh đệ của ánh sáng xây dựng. Hãy chạm khắc sâu. Hãy kiến tạo và định hình viên đá sống động.

Quality……power to create.

Phẩm tính……quyền năng sáng tạo.

2. Choose well thy workers. Love them all. Pick six to do thy will. Remain the seventh in the east. Yet call the world to enter into that which thou shalt build. Blend all together in the will of God.

2. Hãy chọn kỹ những người thợ của ngươi. Hãy thương yêu tất cả họ. Chọn sáu người để thực hiện ý chí của ngươi. Hãy vẫn là người thứ bảy ở phương đông. Nhưng hãy kêu gọi thế giới bước vào những gì ngươi sẽ xây dựng. Hãy hòa trộn tất cả lại với nhau trong ý chí của Thượng đế.

Quality……power to cooperate.

Phẩm tính……quyền năng hợp tác.

3. Sit in the centre and the east as well. Move not from there. [87] Send out thy force to do thy will and gather back thy forces. Use well the power of thought. Sit still.

3. Hãy ngồi ở trung tâm cũng như ở phương đông. Đừng di chuyển khỏi đó. [87] Hãy gửi lực của ngươi ra để thực hiện ý chí của ngươi và thu hồi lại các lực lượng của ngươi. Hãy sử dụng tốt sức mạnh của tư tưởng. Hãy ngồi yên.

Quality…… power to think.

Phẩm tính…… quyền năng tư duy.

4. See all parts enter into the purpose. Build towards beauty, brother Lord. Make all colours bright and clear. See to the inner glory. Build the shrine well. Use care.

4. Hãy nhìn thấy tất cả các phần đi vào mục đích. Hãy xây dựng hướng tới vẻ đẹp, hỡi người anh em Chúa Tể. Hãy làm cho tất cả các màu sắc tươi sáng và rõ ràng. Hãy chú ý đến vinh quang bên trong. Hãy xây dựng điện thờ thật tốt. Hãy cẩn trọng.

Quality……revelation of the beauty of God.

Phẩm tính……sự tiết lộ vẻ đẹp của Thượng đế.

5. Watch well thy thought. Enter at will into the mind of God. Pluck thence the power, the plan, the part to play. Reveal the mind of God.

5. Hãy canh chừng tư tưởng của ngươi thật kỹ. Hãy tùy ý đi vào trí tuệ của Thượng đế. Hãy lấy từ đó quyền năng, kế hoạch, vai trò cần đóng. Hãy tiết lộ trí tuệ của Thượng đế.

Quality……mental power.

Phẩm tính……quyền năng trí tuệ.

6. Stay in the east. The five have given thee a friendly Word. I, the sixth, tell thee to use it on the dead. Revive the dead. Build forms anew. Guard well that Word. Make all men seek it for themselves.

6. Hãy ở lại phương đông. Năm người kia đã cho ngươi một Linh từ thân thiện. Ta, người thứ sáu, bảo ngươi hãy sử dụng nó trên kẻ chết. Hãy làm cho kẻ chết sống lại. Hãy xây dựng hình tướng một lần nữa. Hãy canh giữ Linh từ đó thật kỹ. Hãy làm cho mọi người tự tìm kiếm nó cho chính họ.

Quality……power to vivify.

Phẩm tính……quyền năng làm cho sinh động.

Thus we have studied a little the work of the seven rays. The teaching has had to be conveyed symbolically and its understanding necessitates an awakened esoteric sense; to comprehend it all is not as yet possible.

Như vậy chúng ta đã nghiên cứu một chút về công việc của bảy cung. Giáo huấn đã phải được truyền đạt một cách tượng trưng và sự thấu hiểu nó đòi hỏi một giác quan huyền bí đã thức tỉnh; việc thấu hiểu tất cả vẫn chưa thể thực hiện được.

The Chohans of the sixth initiation have the guidance of those units of consciousness in whom their particular ray vibration and colour predominate. The vast importance of this fact is often overlooked, even when theoretically acknowledged by aspirants to initiation. Hence the importance of determining the ray of the ego and of the Monad,—something of vital moment after the third initiation. A majority and a minority always exist in every department of life. So it is in the work of the Logos, for at the end of the greater cycle (manvantara) the majority will find their way to the synthetic love ray; a small minority will find their way to the power ray. This minority are destined for an important function. They will constitute the nucleus which (in the next solar system) will constitute the majority, finding their synthesis on ray one. This is a great mystery and not easily understood. [88] Some hint towards its solution will be found hidden in the real meaning of the words “exoteric” and “esoteric.”

Các Chohan của lần điểm đạo thứ sáu hướng dẫn những đơn vị tâm thức mà trong họ, rung động và màu sắc của cung tương ứng với các Ngài chiếm ưu thế. Tầm quan trọng vô cùng lớn lao của sự kiện này thường bị bỏ qua, ngay cả khi những ứng viên điểm đạo chỉ thừa nhận nó về mặt lý thuyết. Do đó, việc xác định cung của chân ngã và của Chân Thần trở thành điều có ý nghĩa sống còn sau lần điểm đạo thứ ba. Một đa số và một thiểu số luôn tồn tại trong mọi lĩnh vực của sự sống. Trong công việc của Thượng đế cũng vậy, vì vào cuối đại chu kỳ (manvantara), đa số sẽ tìm đường đến cung tình thương tổng hợp; một thiểu số nhỏ sẽ tìm đường đến cung quyền năng. Thiểu số này được định sẵn cho một chức năng quan trọng. Họ sẽ cấu thành hạt nhân mà (trong hệ mặt trời tiếp theo) sẽ cấu thành đa số, tìm thấy sự tổng hợp của họ trên cung một. Đây là một bí nhiệm lớn và không dễ hiểu. [88] Một vài gợi ý hướng tới lời giải của nó sẽ được tìm thấy ẩn giấu trong ý nghĩa thực sự của các từ “ngoại môn” và “nội môn.”

The fact should be remembered that only five rays dominate at any one time. All manifest, but only five dominate. A distinction should be made between the rays dominating in a solar system and those dominating in a scheme, or a chain. To this reference has been made in A Treatise on Cosmic Fire. Three rays out of the seven synthesise. One ray out of the three will synthesise at the culmination. For the first solar system the third ray was the synthetic ray, but for this solar system the second ray is the synthetic ray, and for the next solar system the first ray will perform a similar function.

Cần ghi nhớ thực tế là chỉ có năm cung chi phối tại bất kỳ thời điểm nào. Tất cả đều biểu hiện, nhưng chỉ có năm cung chi phối. Cần phân biệt giữa các cung chi phối trong một hệ mặt trời và các cung chi phối trong một hệ hành tinh, hoặc một dãy. Điều này đã được đề cập đến trong Luận về Lửa Vũ Trụ. Ba cung trong số bảy cung thực hiện sự tổng hợp. Một cung trong số ba cung sẽ tổng hợp tại điểm cực thịnh. Đối với hệ mặt trời đầu tiên, cung ba là cung tổng hợp, nhưng đối với hệ mặt trời này, cung hai là cung tổng hợp, và đối với hệ mặt trời tiếp theo, cung một sẽ thực hiện một chức năng tương tự.

Two rays are largely the goal of human endeavour, the first ray and the second ray. One ray is the goal of the deva or angel evolution, the third ray. All these three rays contact the two poles, and the attainment of the goal at the end of the cycle marks the achievement of the solar Logos. This again is hidden in mystery. The seventh ray and the first ray are very closely allied, with the third ray linking them, so that we have the relation expressed thus,— 1. 3. 7. There is a close association also between rays 2. 4. 6., with the fifth ray in a peculiar position, as a central point of attainment, the home of the ego or soul, the embodied plane of mind, the point of consummation for the personality, and the reflection in the three worlds of the threefold monad.

Hai cung phần lớn là mục tiêu nỗ lực của con người, cung một và cung hai. Một cung là mục tiêu của cuộc tiến hóa deva hay thiên thần, là cung ba. Cả ba cung này đều tiếp xúc với hai cực, và việc đạt được mục tiêu vào cuối chu kỳ đánh dấu thành tựu của Thái dương Thượng đế. Điều này một lần nữa ẩn giấu trong bí nhiệm. Cung bảy và cung một liên kết rất chặt chẽ, với cung ba liên kết chúng, vì vậy chúng ta có mối quan hệ được thể hiện như sau, — 1. 3. 7. Cũng có một sự liên kết chặt chẽ giữa các cung 2. 4. 6., với cung năm ở một vị trí đặc biệt, như một điểm thành tựu trung tâm, ngôi nhà của chân ngã hay linh hồn, cõi trí hiện thân, điểm thành tựu cho phàm ngã, và sự phản chiếu trong ba cõi của chân thần tam phân.

Ray I

Will, demonstrating as power in the unfolding of the Plan of the Logos.

Cung I

Ý Chí, biểu lộ dưới dạng quyền năng trong sự khai mở Thiên Cơ của Thượng Đế.

Ray III.

Adaptability of activity with intelligence. This ray was the dominant one in the past solar system; it is the foundation or basis of this system, and is controlled by the Mahachohan.

Cung III.

Tính thích nghi của hoạt động với trí tuệ. Cung này là cung thống trị trong hệ mặt trời quá khứ; nó là nền tảng hoặc cơ sở của hệ thống này, và được điều khiển bởi Đức Mahachohan.

Ray VII

Ceremonial ritual or organisation. This is the reflection on the physical plane of the two above, and is likewise connected with the Mahachohan. It controls the elemental forces and the involutionary process and the form side of the three kingdoms in nature. It holds hid the secret of physical colour and sound. It is the law.

Cung VII

Nghi lễ hoặc tổ chức nghi thức. Cung này là sự phản chiếu trên cõi vật lý của hai cung trên, và cũng liên quan đến Đức Mahachohan. Nó kiểm soát các mãnh lực hành khí và tiến trình nội tiến và khía cạnh hình tướng của ba giới trong thiên nhiên. Nó chứa đựng bí mật về màu sắc và âm thanh vật lý. Nó là định luật.

[89]

[89]

These three rays together embrace and embody all. They are Power, Activity and the Law in manifestation.

Ba cung này cùng nhau bao gồm và thể hiện tất cả. Chúng là Quyền Năng, Hoạt Động và Định Luật trong biểu hiện.

Ray II

Love and Wisdom, the synthetic ray which is the goal for this system, holding all in close harmony and relation.

Cung II

Tình thương/Bác ái và Minh Triết, cung tổng hợp vốn là mục tiêu cho hệ thống này, giữ mọi thứ trong sự hài hòa và quan hệ mật thiết.

Ray IV

The expression of Harmony, beauty, music and unity.

Cung IV

Sự biểu hiện của Hoà hợp, vẻ đẹp, âm nhạc và hợp nhất.

Ray VI

The ray of Devotion to the ardour of aspiration, and of the sacrifice of the personal self for the good of all, with the object in view of harmony and beauty, impelled thereto by love

Cung VI

Cung Sùng kính đối với nhiệt tâm của khát vọng, và của sự hi sinh cái ngã cá nhân vì lợi ích của tất cả, với mục tiêu là sự hòa hợp và vẻ đẹp, được thúc đẩy bởi tình thương/bác ái.

These two groups of rays might be related to each other as follows:

Hai nhóm cung này có thể liên quan với nhau như sau:

Rays 1. 3. 7

are the great rays connected with the form, with the evolutionary process, with the intelligent functioning of the system, and with the laws controlling the life in all forms in all the kingdoms in nature.

Cung 1. 3. 7

là các cung vĩ đại liên quan đến hình tướng, với tiến trình tiến hóa, với sự hoạt động trí tuệ của hệ thống, và với các định luật kiểm soát sự sống trong tất cả các hình tướng trong tất cả các giới trong thiên nhiên.

Rays 2. 4. 6

are the rays connected with the inner life, expanding through those forms,—the rays of motive, aspiration and sacrifice. Rays pre-eminently of quality.

Cung 2. 4. 6

là các cung liên quan đến đời sống nội tại, mở rộng thông qua các hình tướng đó,—các cung của động cơ, khát vọng và hy sinh. Các cung nổi trội về phẩm tính.

Rays 1. 3. 7

deal with things concrete and with the functioning of matter and form from the lowest plane to the highest.

Cung 1. 3. 7

đối phó với những thứ cụ thể và với sự hoạt động của vật chất và hình tướng từ cõi thấp nhất đến cõi cao nhất.

Rays 2. 4. 6

deal with things abstract, with spiritual expression through the medium of form.

Cung 2. 4. 6

đối phó với những thứ trừu tượng, với sự biểu hiện tinh thần thông qua môi giới của hình tướng.

Ray 5

forms the connecting link of the intelligence.

Cung 5

tạo thành mối liên kết của trí tuệ.

Our third question comes up now for consideration and is as follows:

Câu hỏi thứ ba của chúng ta giờ đây được đưa ra để xem xét và như sau:

Question 3. Can the fact of the Soul be proved? Câu hỏi 3. Sự thật về Linh Hồn có thể được chứng minh không?

The soul has been satisfactorily disproved from the standpoint of academic science. For ages the search has gone on, [90] with the objective of the search—scientifically speaking— being laid on the demonstration of the location of the soul in the human bodv. That has been the emphasis and the important factor to the scientific mind, which is so different to that of its more mystically inclined brother.

Linh hồn đã bị bác bỏ một cách thỏa đáng từ quan điểm của khoa học hàn lâm. Trong nhiều thời đại, cuộc tìm kiếm đã diễn ra, [90] với mục tiêu của cuộc tìm kiếm — nói theo khoa học — được đặt vào việc chứng minh vị trí của linh hồn trong cơ thể con người. Đó là sự nhấn mạnh và là yếu tố quan trọng đối với trí tuệ khoa học, vốn rất khác với trí tuệ của người anh em có khuynh hướng thần bí hơn của nó.

All research, especially that carried on lately in connection with the modern materialistic schools and with the fuller understanding of the mechanism of the human body, has tended to prove that the soul is a superstition, a defense mechanism, and that conscious thought with all the higher manifestations of the human mind (and hence also the lower expressions of personality, selfhood and conscious integration) can well be provided for and accounted for by man’s present equipment of brain, nervous system and the endocrine system. All these in their turn are understood to be the result of a long evolutionary and selective process. The wonder of the machine itself is divine in its completion and in its scope. From a primeval germ, developing under the pressure of nature’s laws, and of environing conditions plus a consistent adaptation to requirements and a most careful selection, man has developed; he now possesses a mechanism which is responsive to the natural world, to sensation and to thought. That which is called the soul is regarded frequently as the result of this selective process and as constituting the sum total of the responsive and discriminating powers of the cells and organs of the body, plus the life principle. All, we are told, is inherent in the parental germ, and the conditions of the environment, added to heredity and education, are sufficient to account for the phenomena of the human consciousness. Man is a machine, a part of a still greater machine which we call nature, and both man and nature are run on immutable laws. There is no free will except within certain clearly defined limits, which are defined by equipment and by circumstance. [91] There can be no immortality, for when the machine breaks down and disintegrates there is nothing left but the dissociated cells and atoms of which it was originally composed. When the principle of coherence or of integration ceases to function, that which it produced—the coherent functioning body—likewise ceases to function. Consciousness and choice, awareness and affection, thought and temperament, life and love, character and capacities—all disappear, and there is nothing left but the atoms of which the body had been composed. These in their turn are dissipated and disappear, and all has finally been reabsorbed into the general reservoir of forces and atoms.

Tất cả các nghiên cứu, đặc biệt là những nghiên cứu được thực hiện gần đây liên quan đến các trường phái duy vật hiện đại và với sự hiểu biết đầy đủ hơn về cơ chế của cơ thể con người, đã có xu hướng chứng minh rằng linh hồn là một sự mê tín, một cơ chế phòng vệ, và rằng tư duy có ý thức với tất cả các biểu hiện cao hơn của trí tuệ con người (và do đó cả các biểu hiện thấp hơn của phàm ngã, cái tôi và sự tích hợp có ý thức) hoàn toàn có thể được cung cấp và giải thích bởi trang thiết bị hiện tại của con người gồm bộ não, hệ thần kinh và hệ nội tiết. Tất cả những thứ này đến lượt chúng được hiểu là kết quả của một quá trình tiến hóa và chọn lọc lâu dài. Sự kỳ diệu của chính cỗ máy là thiêng liêng trong sự hoàn thiện và trong phạm vi của nó. Từ một mầm sống nguyên thủy, phát triển dưới áp lực của các định luật tự nhiên, và của các điều kiện môi trường cộng với sự thích nghi nhất quán với các yêu cầu và sự chọn lọc cẩn thận nhất, con người đã phát triển; giờ đây y sở hữu một cơ chế đáp ứng với thế giới tự nhiên, với cảm giác và với tư tưởng. Cái được gọi là linh hồn thường được coi là kết quả của quá trình chọn lọc này và cấu thành tổng thể các quyền năng đáp ứng và phân biện của các tế bào và cơ quan của cơ thể, cộng với nguyên khí sự sống. Chúng ta được bảo rằng, tất cả đều vốn có trong mầm sống của cha mẹ, và các điều kiện của môi trường, cộng thêm vào sự di truyền và giáo dục, là đủ để giải thích cho các hiện tượng của tâm thức con người. Con người là một cỗ máy, một phần của một cỗ máy vĩ đại hơn mà chúng ta gọi là tự nhiên, và cả con người và tự nhiên đều vận hành theo những định luật bất biến. Không có ý chí tự do ngoại trừ trong những giới hạn được xác định rõ ràng, vốn được xác định bởi trang thiết bị và bởi hoàn cảnh. [91] Không thể có sự bất tử, vì khi cỗ máy hỏng hóc và tan rã, không còn gì sót lại ngoài các tế bào và nguyên tử rời rạc mà ban đầu nó được cấu thành. Khi nguyên khí liên kết hay tích hợp ngừng hoạt động, thì cái mà nó tạo ra — cơ thể hoạt động gắn kết — cũng ngừng hoạt động tương tự. Tâm thức và sự lựa chọn, nhận thức và tình cảm, tư tưởng và khí chất, sự sống và tình thương, tính cách và năng lực — tất cả đều biến mất, và không còn gì sót lại ngoài các nguyên tử mà cơ thể đã được cấu thành. Những thứ này đến lượt chúng bị tiêu tan và biến mất, và tất cả cuối cùng đã được tái hấp thụ vào hồ chứa chung của các lực và nguyên tử.

Of the countless millions of human beings who have lived and loved, suffered and rejoiced upon our planet, what is left today to guarantee to us their existence in the past, not to speak of their continuing existence in the present? A few bones, a few buildings, and, later, traces of their historical influence; later still, we note what they have left behind of beauty in the field of literature, of architecture, of painting, and in those forms in which they have embodied their thought and aspiration, their visions and their ideals. On the planet today we find a humanity at all stages of development, with mechanisms of varying kinds, adequate and inadequate. We find all of them, without exception, breaking down under test and limited by disease, or hiding the seeds of disease; the perfect equipment is totally unknown, and every man harbors the germs of trouble. No man possesses a perfect mechanism, but owns one that must inevitably break down at some point that is conditioned by an under-developed or over-developed glandular system, that hides at some point inherited disease and racial weaknesses, and that fails somewhere, in some portion of the mechanism, to meet the needs (physical, emotional, and mental) of the day and hour. Of what does this speak? Of the sum total of the united cell life; of the environing [92] group in which a particular form finds itself; of the life, impersonal and abstract in nature, which pervades it; of a vague group spirit that is expressing itself through the fourth kingdom in nature; of a temporary and impermanent self; or of an immortal entity who is the dweller in the body?

Trong vô số hàng triệu con người đã sống và yêu thương, đau khổ và vui mừng trên hành tinh của chúng ta, ngày nay còn lại gì để đảm bảo cho chúng ta về sự tồn tại của họ trong quá khứ, chưa nói đến sự tồn tại tiếp diễn của họ trong hiện tại? Một vài khúc xương, một vài tòa nhà, và sau đó, những dấu vết về ảnh hưởng lịch sử của họ; sau này nữa, chúng ta ghi nhận những gì họ đã để lại về vẻ đẹp trong lĩnh vực văn học, kiến trúc, hội họa, và trong những hình thức mà họ đã thể hiện tư tưởng và khát vọng, những linh ảnh và lý tưởng của họ. Trên hành tinh ngày nay, chúng ta thấy một nhân loại ở mọi giai đoạn phát triển, với các loại cơ chế khác nhau, đầy đủ và không đầy đủ. Chúng ta thấy tất cả họ, không có ngoại lệ, đều suy sụp khi bị thử thách và bị giới hạn bởi bệnh tật, hoặc ẩn chứa mầm mống bệnh tật; trang thiết bị hoàn hảo hoàn toàn không được biết đến, và mọi người đều chứa chấp mầm mống của rắc rối. Không người nào sở hữu một cơ chế hoàn hảo, mà sở hữu một cơ chế chắc chắn phải hỏng hóc tại một điểm nào đó được quy định bởi một hệ thống tuyến nội tiết kém phát triển hoặc phát triển quá mức, che giấu tại một điểm nào đó bệnh tật di truyền và những điểm yếu chủng tộc, và thất bại ở đâu đó, trong một phần nào đó của cơ chế, trong việc đáp ứng các nhu cầu (thể xác, cảm xúc và trí tuệ) của ngày và giờ. Điều này nói lên điều gì? Về tổng thể của đời sống tế bào hợp nhất; về nhóm môi trường [92] mà một hình tướng cụ thể tìm thấy chính nó trong đó; về sự sống, vô ngã và trừu tượng về bản chất, vốn thâm nhập nó; về một hồn nhóm mơ hồ đang thể hiện chính nó thông qua giới thứ tư trong tự nhiên; về một cái tôi tạm thời và vô thường; hay về một thực thể bất tử là người cư ngụ trong cơ thể?

Such are some of the questions which arise today; and in the last analysis, belief in the soul can be posited as being largely a matter of temperament, of the wish and desire of the ages wherein man struggled and suffered and relieved the strain of living by constructing a body of thought around a happy immortal being, who was to be free, eventually and finally, from all the difficulties of physical existence. The soul can be regarded as a beautiful vision or as an hallucination, for all that tends to prove its existence is the testimony of the many mystics down the ages to a contact and an experience which can be accounted for in terms of dream life, of brain lesions or of escape reactions, but which rests on no sure foundation. So say the materialists and the upholders of proven scientific facts. Belief, verbal testimony, hope, curious and inexplicable psychic happenings, the mass of untrained opinion and the findings of visionary people (who were probably psychopathic cases) are not enough to prove the fact of the soul. They prove only man’s power to imagine, to build images and pictures, and to lose himself and his dreadful present in a dream world of a possible and ardently desired future in which frustration will end, in which full expression will be achieved, and in which each man will enter into an impossible heritage which he has himself constructed out of the unrealised hopes and dim unuttered longings of his deeply hidden thought life. Belief in God and Heaven and in an immortal future have grown out of the ancient awe and ignorant terror of infant humanity. They saw in all the phenomena of nature (incomprehensible and terrifying) the [93] activity of a gigantic man, built on lines which were the projection of their own consciousness, and who could be propitiated or angered by the behaviour of a human being. The result of a man’s effect upon this deity provided man’s destiny, which was either good or bad according to the reactions of this God to his deeds. Thus we have the origin of the heaven or hell complexes of the present religious faiths. From this grew, automatically, the idea of a persistent entity called the soul, which could enjoy heaven or suffer hell at the will of God and as the result of actions done whilst in the human form. As the forms of man grew in sensitivity; as they became more and more refined under the influence of the law of selection and of adaptation; as the group life grew closer and the group integration was improved; as the heritage of history, of tradition and of the arts grew richer and made its impress, so that ideas of God grew, and likewise ideas of the soul and of the world, man’s concepts of reality grew richer and deeper, so that today we are faced with the problem of a thought inheritance which testifies to a world of concepts, ideas and intuitions which deal with the immaterial and the intangible, and which testify to an age-long belief in a soul and its immortality for which there is no true justification. At the same time we have demonstrated to us by science that all we can really know with certainty is the tangible world of phenomena, with its forms, its mechanisms, its test tubes and its laboratories, and the bodies of men “fearfully and wonderfully made,” diverse and different. These in some mysterious way produce thoughts and dreams and imaginings, and which, in their turn, find expression in the formulated schemes of the past, the present and the future, or in the fields of literature, art and of science itself, or in the simple everyday life of the ordinary human being who lives and loves and works and plays and bears children and eats food and earns money and sleeps.

Đó là một số câu hỏi nảy sinh ngày nay; và trong phân tích cuối cùng, niềm tin vào linh hồn có thể được thừa nhận phần lớn là vấn đề của khí chất, của ước muốn và mong mỏi của các thời đại mà trong đó con người đã đấu tranh và chịu đựng và làm giảm bớt sự căng thẳng của cuộc sống bằng cách xây dựng một cơ thể tư tưởng xung quanh một thực thể bất tử hạnh phúc, người cuối cùng sẽ được giải thoát khỏi mọi khó khăn của sự tồn tại vật lý. Linh hồn có thể được coi là một linh ảnh đẹp đẽ hoặc như một ảo giác, vì tất cả những gì có xu hướng chứng minh sự tồn tại của nó là lời chứng của nhiều nhà thần bí qua các thời đại về một sự tiếp xúc và một trải nghiệm có thể được giải thích theo khía cạnh của đời sống giấc mơ, của các tổn thương não bộ hoặc của các phản ứng trốn tránh, nhưng không dựa trên nền tảng chắc chắn nào. Các nhà duy vật và những người ủng hộ các sự kiện khoa học đã được chứng minh nói như vậy. Niềm tin, lời chứng bằng lời nói, hy vọng, những sự kiện thông linh kỳ lạ và không thể giải thích được, khối lượng ý kiến chưa được huấn luyện và những phát hiện của những người hay nhìn thấy linh ảnh (những người có lẽ là những trường hợp tâm thần) là không đủ để chứng minh sự thật về linh hồn. Chúng chỉ chứng minh quyền năng tưởng tượng của con người, quyền năng xây dựng các hình ảnh và bức tranh, và quyền năng đánh mất chính mình và hiện tại khủng khiếp của mình trong một thế giới mộng mơ về một tương lai khả thi và được khao khát cháy bỏng, trong đó sự thất vọng sẽ chấm dứt, trong đó sự biểu hiện trọn vẹn sẽ đạt được, và trong đó mỗi người sẽ bước vào một di sản bất khả thi mà chính y đã xây dựng từ những hy vọng chưa được thực hiện và những khao khát lờ mờ chưa nói thành lời của đời sống tư tưởng sâu kín của mình. Niềm tin vào Thượng đế và Thiên đường và vào một tương lai bất tử đã phát triển từ nỗi kinh sợ cổ xưa và nỗi kinh hoàng ngu muội của nhân loại ấu thơ. Họ đã nhìn thấy trong tất cả các hiện tượng của tự nhiên (không thể hiểu được và đáng sợ) [93] hoạt động của một con người khổng lồ, được xây dựng trên những đường nét là sự phóng chiếu của chính tâm thức họ, và là người có thể được xoa dịu hoặc bị chọc giận bởi hành vi của một con người. Kết quả từ tác động của một người lên vị thần này quy định số phận của con người, vốn hoặc là tốt hoặc là xấu tùy theo phản ứng của vị Thượng đế này đối với những hành động của y. Do đó, chúng ta có nguồn gốc của các mặc cảm thiên đường hay địa ngục của các tín ngưỡng tôn giáo hiện tại. Từ điều này đã phát triển, một cách tự động, ý tưởng về một thực thể trường tồn được gọi là linh hồn, có thể hưởng thiên đường hoặc chịu địa ngục theo ý muốn của Thượng đế và là kết quả của những hành động được thực hiện khi còn trong hình tướng con người. Khi các hình tướng của con người phát triển về độ nhạy cảm; khi chúng trở nên ngày càng tinh tế hơn dưới ảnh hưởng của định luật chọn lọc và thích nghi; khi đời sống nhóm trở nên chặt chẽ hơn và sự tích hợp nhóm được cải thiện; khi di sản lịch sử, truyền thống và nghệ thuật trở nên phong phú hơn và tạo ấn tượng, để các ý tưởng về Thượng đế phát triển, và tương tự các ý tưởng về linh hồn và thế giới, các khái niệm của con người về thực tại trở nên phong phú và sâu sắc hơn, để ngày nay chúng ta phải đối mặt với vấn đề của một sự thừa kế tư tưởng làm chứng cho một thế giới của các khái niệm, ý tưởng và trực giác liên quan đến cái phi vật chất và cái vô hình, và làm chứng cho một niềm tin lâu đời vào một linh hồn và sự bất tử của nó mà không có sự biện minh thực sự nào. Đồng thời, chúng ta đã được khoa học chứng minh rằng tất cả những gì chúng ta thực sự có thể biết một cách chắc chắn là thế giới hữu hình của các hiện tượng, với các hình tướng, các cơ chế, các ống nghiệm và các phòng thí nghiệm của nó, và các cơ thể của con người “được tạo ra một cách đáng sợ và kỳ diệu,” đa dạng và khác biệt. Những thứ này theo một cách bí ẩn nào đó tạo ra những suy nghĩ và giấc mơ và sự tưởng tượng, và đến lượt chúng, tìm thấy sự biểu hiện trong các kế hoạch đã được hình thành của quá khứ, hiện tại và tương lai, hoặc trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật và chính khoa học, hoặc trong cuộc sống hàng ngày đơn giản của một con người bình thường sống và yêu và làm việc và chơi và sinh con và ăn uống và kiếm tiền và ngủ.

[94]

[94]

And then what? Does man disappear into nothingness, or does, somewhere, a part of him (hitherto unseen) live on? Does this aspect survive for a time and then in its turn disappear, or is there an immortal principle, a subtle intangible entity which has an existence either in the body or out of the body, and which is the undying immutable Being, belief in Whom has sustained countless millions down the ages? Is the soul a fiction of the imagination and has science satisfactorily disproved its existence? Is consciousness a function of the brain and of the allied nervous system, or shall we accept the idea of a conscious dweller in the form? Does our power to become aware of and to react to our surroundings find its source in the body-nature, or is there an entity who beholds and takes action? Is this entity different to and separable from the body, or is it the result of the body type and life, and so either persists after the body disappears, or disappears with it and is lost? Is there nothing but matter or energies in constant movement which produce the appearances of men who react in their turn and express the energy that is pouring through them blindly and unconsciously, having no individual existence? Or are all these theories partially true, and shall we really comprehend the nature and being of man only in the synthesis of all of them and in the acceptance of the general premises? Is it not possible that the mechanically minded and scientific investigators are right in their conclusion anent the mechanism and the form nature, and that the spiritually minded thinkers who posit an immortal entity are also right? As yet perhaps something is lacking which would bridge the gap between the two positions. Is it possible that we may discover a something which will link the intangible world of true being with the tangible world (so-called) of form life?

Và rồi sao nữa? Liệu con người có biến mất vào hư vô không, hay một phần nào đó của y (cho đến nay chưa được nhìn thấy) vẫn tiếp tục sống ở đâu đó? Khía cạnh này có tồn tại trong một thời gian rồi đến lượt nó cũng biến mất không, hay có một nguyên khí bất tử, một thực thể vi tế vô hình có sự tồn tại hoặc trong cơ thể hoặc ngoài cơ thể, và là Bản Thể bất biến bất diệt, niềm tin vào Đấng mà đã duy trì vô số hàng triệu người qua các thời đại? Linh hồn có phải là một hư cấu của trí tưởng tượng và khoa học đã bác bỏ thỏa đáng sự tồn tại của nó chưa? Tâm thức có phải là một chức năng của bộ não và của hệ thần kinh liên quan không, hay chúng ta sẽ chấp nhận ý tưởng về một người cư ngụ có ý thức trong hình tướng? Quyền năng nhận biết và phản ứng với môi trường xung quanh của chúng ta có tìm thấy nguồn gốc của nó trong bản chất cơ thể không, hay có một thực thể quan sát và hành động? Thực thể này có khác biệt và có thể tách rời khỏi cơ thể không, hay nó là kết quả của loại hình cơ thể và sự sống, và vì vậy hoặc tồn tại sau khi cơ thể biến mất, hoặc biến mất cùng với nó và bị mất đi? Phải chăng không có gì ngoài vật chất hay các năng lượng chuyển động liên tục tạo ra Sắc tướng của những con người phản ứng theo lượt của họ và biểu hiện năng lượng đang tuôn chảy qua họ một cách mù quáng và vô thức, không có sự tồn tại cá nhân? Hay tất cả những lý thuyết này đều đúng một phần, và chúng ta sẽ thực sự hiểu bản chất và bản thể của con người chỉ trong sự tổng hợp của tất cả chúng và trong sự chấp nhận các tiền đề chung? Chẳng phải có thể rằng những nhà nghiên cứu có tư duy máy móc và khoa học đã đúng trong kết luận của họ về cơ chế và bản chất hình tướng, và rằng những nhà tư tưởng có tư tưởng tinh thần khẳng định một thực thể bất tử cũng đúng sao? Tuy nhiên có lẽ vẫn còn thiếu một cái gì đó để bắc cầu qua khoảng cách giữa hai lập trường. Liệu có thể rằng chúng ta có thể khám phá ra một cái gì đó sẽ liên kết thế giới vô hình của bản thể chân thực với thế giới hữu hình (cái gọi là) của đời sống hình tướng?

When humanity is assured of divinity and of immortality, and has entered into a state of knowledge as to the nature of [95] the soul and of the kingdom in which that soul functions, its attitude to daily life and to current affairs will undergo such a transformation that we shall verily and indeed see the emergence of a new heaven and a new earth. Once the central entity within each human form is recognised and known for what it essentially is, and once its divine persistence is established, then we shall necessarily see the beginning of the reign of divine law on earth—a law imposed without friction and without rebellion. This beneficent reaction will come about because the thinkers of the race will be blended together in a general soul awareness, and a consequent group consciousness will permit them to see the purpose underlying the working of the law.

Khi nhân loại tin chắc vào thiên tính và sự bất tử, và đã bước vào một trạng thái hiểu biết về bản chất của [95] linh hồn và của giới mà linh hồn đó hoạt động, thái độ của họ đối với cuộc sống hàng ngày và đối với các công việc hiện tại sẽ trải qua một sự chuyển đổi đến mức chúng ta sẽ thực sự và quả thật nhìn thấy sự xuất hiện của một thiên đường mới và một trái đất mới. Một khi thực thể trung tâm bên trong mỗi hình tướng con người được công nhận và được biết đến về bản chất cốt yếu của nó, và một khi sự trường tồn thiêng liêng của nó được thiết lập, thì chúng ta nhất thiết sẽ thấy sự khởi đầu của triều đại của luật thiêng liêng trên trái đất — một luật được áp đặt không có sự ma sát và không có sự nổi loạn. Phản ứng tốt đẹp này sẽ xảy ra bởi vì các nhà tư tưởng của giống dân sẽ được hòa trộn cùng nhau trong một nhận thức linh hồn chung, và một tâm thức nhóm theo sau sẽ cho phép họ nhìn thấy mục đích nằm dưới sự vận hành của luật.

Let us put this a little more simply. We are told in the New Testament that we must endeavour to let the mind which was in Christ also be manifest in us. We are working towards the perfecting of the rule of Christ on earth; we are aiming at the development of the Christ consciousness and at the bringing in of the rule or law of Christ, which is Love. This will come to fruition in the Aquarian Age, and we shall see brotherhood established on earth. The rule of Christ is the dominance of the basic spiritual laws. The mind of Christ is a phrase conveying the concept of the rule of divine intelligent love, which stimulates the rule of the soul within all forms, and brings in the reign of the Spirit. It is not easy to express the nature of the revelation which is on the way. It involves the recognition by men everywhere that the “mind-stuff,” as the Hindus call it, to which their own minds are related and of which their mental bodies are an integral part, is also part of the mind of Christ, the cosmic Christ, of Whom the historical Christ is—upon our planet—the ordained representative. When men, through meditation and group service, have developed an awareness of their own controlled and illumined minds, they [96] will find themselves initiated into a consciousness of true being and into a state of knowledge which will prove to them the fact of the soul, beyond all doubt or questioning.

Chúng ta hãy diễn đạt điều này đơn giản hơn một chút. Chúng ta được bảo trong Tân Ước rằng chúng ta phải nỗ lực để để cho tâm trí vốn có trong Đức Christ cũng được biểu hiện trong chúng ta. Chúng ta đang làm việc hướng tới sự hoàn thiện quy luật của Đức Christ trên trái đất; chúng ta đang nhắm đến sự phát triển của tâm thức Christ và việc mang lại sự cai trị hay luật của Đức Christ, vốn là Tình Thương. Điều này sẽ đơm hoa kết trái trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, và chúng ta sẽ thấy tình huynh đệ được thiết lập trên trái đất. Sự cai trị của Đức Christ là sự thống trị của các luật tinh thần cơ bản. Tâm trí của Đức Christ là một cụm từ truyền đạt khái niệm về sự cai trị của tình thương thông tuệ thiêng liêng, vốn kích thích sự cai trị của linh hồn bên trong tất cả các hình tướng, và mang lại triều đại của Tinh thần. Không dễ để diễn đạt bản chất của sự mặc khải đang trên đường đến. Nó liên quan đến sự thừa nhận của con người ở khắp mọi nơi rằng “chất liệu trí tuệ,” như người Hindu gọi nó, mà tâm trí của chính họ liên quan đến và thể trí của họ là một phần không thể thiếu, cũng là một phần của tâm trí của Đức Christ, Đức Christ vũ trụ, Đấng mà Đức Christ lịch sử — trên hành tinh của chúng ta — là đại diện được sắc phong. Khi con người, thông qua tham thiền và phụng sự nhóm, đã phát triển một nhận thức về tâm trí được kiểm soát và soi sáng của chính họ, họ [96] sẽ thấy mình được điểm đạo vào một tâm thức của bản thể chân thực và vào một trạng thái hiểu biết sẽ chứng minh cho họ sự thật về linh hồn, vượt ra ngoài mọi nghi ngờ hay thắc mắc.

The Mystery of the Ages is on the verge of revelation, and through the revelation of the soul that mystery which it veils will stand revealed. The scriptures of the world, we know, have ever prophesied that at the end of the age we shall see the revelation of that which is secret, and the emergence into the light of day of that which has hitherto been concealed and veiled. This, our present cycle, is the end of the age, and the next two hundred years will see the abolition of death, as we now understand that great transition, and the establishing of the fact of the soul’s existence. The soul will be known as an entity, as the motivating impulse and the spiritual centre back of all manifested forms. The next few decades will see certain great beliefs substantiated. The work of Christ, and His main mission two thousand years ago, was to demonstrate the divine possibilities and powers latent in every human being. The proclamation which He made to the effect that we were all sons of God and own one universal Father will, in the future, no longer be regarded as a beautiful, mystical and symbolic statement, but will be regarded as a scientific pronouncement. Our universal brotherhood and our essential immortality will be demonstrated and realised to be facts in nature. He came, He said, not to bring peace but a sword, and esoterically, He has been the “Cosmic Divider.” Why? Because, in establishing unity, He also makes a distinction between body and soul. Body and soul are, however, only two parts of one whole, and this must not be forgotten. In establishing the fact of the soul and its expression, the body, the totality emerges in completeness.

Bí Nhiệm của các Thời Đại đang trên bờ vực được tiết lộ, và thông qua sự tiết lộ của linh hồn, bí nhiệm mà nó che giấu sẽ được hiển lộ. Chúng ta biết rằng thánh thư của thế giới đã luôn tiên tri rằng vào cuối thời đại, chúng ta sẽ thấy sự tiết lộ của cái vốn là bí mật, và sự xuất hiện ra ánh sáng ban ngày của cái cho đến nay vẫn bị che giấu và che phủ. Đây, chu kỳ hiện tại của chúng ta, là sự kết thúc của thời đại, và hai trăm năm tới sẽ chứng kiến sự xóa bỏ cái chết, như chúng ta hiện hiểu về sự chuyển tiếp vĩ đại đó, và sự thiết lập thực tế về sự tồn tại của linh hồn. Linh hồn sẽ được biết đến như một thực thể, như xung lực thúc đẩy và trung tâm tinh thần đằng sau tất cả các hình tướng đã biểu hiện. Vài thập kỷ tới sẽ chứng kiến một số niềm tin lớn được chứng minh. Công việc của Đức Christ, và sứ mệnh chính của Ngài hai ngàn năm trước, là chứng minh những khả năng và quyền năng thiêng liêng tiềm ẩn trong mỗi con người. Tuyên bố mà Ngài đã đưa ra có hiệu lực rằng tất cả chúng ta đều là con của Thượng đế và có một Người Cha chung, trong tương lai, sẽ không còn được coi là một tuyên bố đẹp đẽ, thần bí và mang tính biểu tượng nữa, mà sẽ được coi là một tuyên bố khoa học. Tình huynh đệ đại đồng của chúng ta và sự bất tử cốt yếu của chúng ta sẽ được chứng minh và nhận ra là những sự thật trong tự nhiên. Ngài đã đến, Ngài nói, không phải để mang lại hòa bình mà là một thanh gươm, và về mặt huyền môn, Ngài đã là “Đấng Phân Chia Vũ Trụ.” Tại sao? Bởi vì, trong khi thiết lập sự hợp nhất, Ngài cũng tạo ra sự phân biệt giữa cơ thể và linh hồn. Tuy nhiên, cơ thể và linh hồn chỉ là hai phần của một tổng thể, và điều này không được quên. Trong việc thiết lập sự thật về linh hồn và sự biểu hiện của nó, cơ thể, cái tổng thể xuất hiện trong sự trọn vẹn.

How will this revelation come? We enter here into the realm of foretelling and of prevision to which many have an [97] objection on the ground that the thing of the moment is that which aids the soul’s spiritual living; they feel that the holding out of promises of future help and revelation, and the encouragement in the aspirant of a happy speculation and an idle expectancy carry the seeds of danger, of static inertia, and of idle imaginings. But “where there is no vision, the people perish,” and so much has happened during the last two hundred years, and so much has already been revealed, that we are provided with a firm basis for all our forward looking. Had the unfoldments of the nineteenth and twentieth centuries, in the departments of science and psychology alone, been forecast to the thinkers of the world in the sixteenth century, how strange and impossible it would all have seemed to them! Stranger than anything I might here prophecy to you, for we have already seen so much occur, and the testimony to the world of true being is accumulating so fast, that we can no longer stand amazed at any occurrence.

Sự mặc khải này sẽ đến như thế nào? Chúng ta bước vào đây trong lĩnh vực tiên đoán và nhìn trước mà nhiều người có [97] sự phản đối với lý do rằng điều quan trọng của thời điểm hiện tại là điều hỗ trợ cho đời sống tinh thần của linh hồn; họ cảm thấy rằng việc đưa ra những lời hứa về sự giúp đỡ và tiết lộ trong tương lai, và việc khuyến khích nơi người chí nguyện một sự suy đoán vui vẻ và một sự mong đợi nhàn rỗi mang theo những mầm mống nguy hiểm, của quán tính tĩnh tại, và của những tưởng tượng nhàn rỗi. Nhưng “nơi nào không có tầm nhìn, con người sẽ diệt vong,” và quá nhiều điều đã xảy ra trong suốt hai trăm năm qua, và quá nhiều điều đã được tiết lộ, đến nỗi chúng ta được cung cấp một cơ sở vững chắc cho tất cả sự nhìn về phía trước của mình. Nếu những sự khai mở của thế kỷ mười chín và hai mươi, chỉ riêng trong các lĩnh vực khoa học và tâm lý học, được dự báo cho các nhà tư tưởng của thế giới vào thế kỷ mười sáu, thì tất cả những điều đó sẽ có vẻ kỳ lạ và không thể tin được đối với họ biết bao! Kỳ lạ hơn bất cứ điều gì tôi có thể tiên tri cho các bạn ở đây, vì chúng ta đã thấy quá nhiều điều xảy ra, và bằng chứng cho thế giới về bản thể chân thực đang tích lũy nhanh đến mức chúng ta không còn có thể đứng kinh ngạc trước bất kỳ sự kiện nào nữa.

The fact of the soul will be brought to the racial recognition in many ways, and the revelation will come along so many lines that all types of minds will be satisfied. I shall indicate only a few.

Sự thật về linh hồn sẽ được đưa đến sự thừa nhận của nhân loại theo nhiều cách, và sự mặc khải sẽ đến dọc theo rất nhiều đường hướng đến mức mọi loại tâm trí sẽ được thỏa mãn. Tôi sẽ chỉ nêu ra một vài cách.

The psychics of the world are increasing greatly in number, and the growing sensitivity of the race to impression is a cause of rejoicing and of danger. All over the world aspirants are registering contacts hitherto unknown, are seeing a phenomenal world usually hidden to them, and are generally becoming aware of an expansion of consciousness. They are registering a world of phenomena—often astral, sometimes mental, and occasionally egoic—which does initiate them into a new dimension of consciousness and into a different state of being. This expansion of consciousness serves both to encourage them in their endeavour and to complicate the way of the aspirant. This growing sensitivity is universal; hence the [98] rapid growth of spiritualism and of the psychic sciences, and hence also the increase among men of nervous tension, of neurotic conditions, and of the greatly increased problems of the psychiatrist; hence also the spread of new nervous and mental diseases. This sensitivity is the response of the mechanism of man to the approaching developments, and the race as a whole is being brought into a condition wherein it will be ready to “see and hear” that which has been up to the present unrevealed.

Số lượng những người thông linh trên thế giới đang gia tăng mạnh mẽ, và sự nhạy cảm ngày càng lớn của giống dân đối với các ấn tượng là một nguyên nhân vừa đáng mừng vừa đáng lo. Khắp nơi trên thế giới, những người chí nguyện đang ghi nhận những tiếp xúc trước đây chưa từng biết đến, đang nhìn thấy một thế giới hiện tượng vốn thường ẩn giấu đối với họ, và nhìn chung đang trở nên nhận biết về một sự mở rộng của tâm thức. Họ đang ghi nhận một thế giới các hiện tượng—thường là cảm dục, đôi khi là trí tuệ, và thỉnh thoảng là chân ngã—vốn khởi đầu đưa họ vào một chiều kích mới của tâm thức và vào một trạng thái hiện tồn khác. Sự mở rộng tâm thức này vừa khích lệ nỗ lực của họ vừa làm phức tạp con đường của người chí nguyện. Sự nhạy cảm đang tăng trưởng này là phổ quát; do đó [98] sự phát triển nhanh chóng của thần linh học và các khoa học thông linh, và cũng vì thế mà nơi con người gia tăng sự căng thẳng thần kinh, các tình trạng loạn thần kinh, và những vấn đề ngày càng lớn của các bác sĩ tâm thần; cũng bởi vậy mà các bệnh thần kinh và tâm trí mới lan rộng. Sự nhạy cảm này chính là sự đáp ứng của bộ máy con người trước những phát triển đang đến gần, và toàn thể giống dân đang được đưa vào một trạng thái trong đó nó sẽ sẵn sàng “thấy và nghe” những gì cho đến nay vẫn chưa được mặc khải.

The growth of the colour sense and the capacity to respond musically to quarter tones and subtle nuances indicate a thinning of the veil which separates the world of external and tangible phenomena from that of subjective being and of more subtle matter. The growth also of etheric vision and the largely increased numbers of clairvoyant and clairaudient people are steadily revealing the existence of the astral plane and the etheric counterpart of the physical world. More and more people are becoming aware of this subjective realm; they see people walking around who are either the so-called “dead,” or who in sleep have dropped the physical sheath. They become aware of colours and distinctive hues and streams of organised light which are not of this physical world; they hear sounds and voices which emanate from those who are not using the physical vocal apparatus, and from forms of existence which are not corporeal.

Sự phát triển của cảm giác về màu sắc và khả năng đáp ứng âm nhạc với các phần tư cung và những sắc thái tinh tế cho thấy một sự mỏng đi của bức màn ngăn cách thế giới của các hiện tượng bên ngoài và hữu hình với thế giới của bản thể chủ quan và của vật chất vi tế hơn. Sự phát triển của nhãn quan dĩ thái và số lượng người có thông nhãn và thông nhĩ tăng lên đáng kể cũng đang dần dần tiết lộ sự tồn tại của cõi cảm dục và đối phần dĩ thái của thế giới vật lý. Ngày càng có nhiều người trở nên nhận biết về cõi giới chủ quan này; họ nhìn thấy những người đi lại xung quanh vốn hoặc là những người được gọi là “đã chết,” hoặc những người trong giấc ngủ đã trút bỏ lớp vỏ vật lý. Họ trở nên nhận biết về màu sắc và các sắc thái đặc biệt và các dòng ánh sáng có tổ chức vốn không thuộc về thế giới vật lý này; họ nghe thấy những âm thanh và giọng nói phát ra từ những người không sử dụng bộ máy phát âm vật lý, và từ các dạng tồn tại không có cơ thể.

The first step towards substantiating the fact of the soul is to establish the fact of survival, though this may not necessarily prove the fact of immortality. It can nevertheless be regarded as a step in the right direction. That something survives the process of death, and that something persists after the disintegration of the physical body, is steadily being proved. If that is not so, then we are the victims of a collective hallucination, and the brains and minds of thousands [99] of people are untrue and deceiving, are diseased and distorted. Such a gigantic collective insanity is more difficult to credit than the alternative of an expanded consciousness. This development along psychic lines does not prove the fact of the soul, however; it only serves to break down the materialistic position.

Bước đầu tiên hướng tới việc chứng minh sự thật về linh hồn là thiết lập thực tế về sự tồn tại sau khi chết, mặc dù điều này có thể không nhất thiết chứng minh thực tế về sự bất tử. Tuy nhiên, nó có thể được coi là một bước đi đúng hướng. Rằng một cái gì đó sống sót qua quá trình cái chết, và rằng một cái gì đó tồn tại sau sự tan rã của cơ thể vật lý, đang dần dần được chứng minh. Nếu không phải vậy, thì chúng ta là nạn nhân của một ảo giác tập thể, và bộ não cùng tâm trí của hàng ngàn [99] người là không đúng sự thật và lừa dối, là bệnh hoạn và méo mó. Một sự điên rồ tập thể khổng lồ như vậy khó tin hơn so với phương án thay thế của một tâm thức được mở rộng. Tuy nhiên, sự phát triển dọc theo các đường hướng thông linh này không chứng minh sự thật về linh hồn; nó chỉ phục vụ để phá vỡ lập trường duy vật.

It is among the thinkers of the race that the first assured recognition of the soul will come, and this event will be the result of the study and analysis, by the psychologists of the world, of the nature of genius and the significance of creative work.

Chính trong số các nhà tư tưởng của nhân loại mà sự thừa nhận chắc chắn đầu tiên về linh hồn sẽ đến, và sự kiện này sẽ là kết quả của việc nghiên cứu và phân tích, bởi các nhà tâm lý học của thế giới, về bản chất của thiên tài và ý nghĩa của công việc sáng tạo.

Some men and women in the world tower above their fellow men, and produce that which is superlative in its own field; their work has in it the element of divinity and of immortality. The work of creative artists, the intuitive perception of great scientific investigators, the inspired imagination of the poets of the world and the vision of the illumined idealists, have all to be accounted for and explained, for the laws under which such men and women work have yet to be discovered. The close study, by the psychologist, of the abnormal and the subnormal, of warped and distorted minds and of defective equipments, has been over-emphasized, and due attention has not been given to the divinely abnormal, and to those types of consciousness which transcend the ordinary human state of intelligent awareness. These latter super-normal states find expression through the medium of the great artists, musicians, dramatists, writers, and the many other types of creative workers who have been the glory of the human kingdom down the ages, and who will flame forth during the coming century with greater glory still.

Một số người nam và nữ trong thế giới vượt lên trên đồng loại của họ, và tạo ra cái là siêu phàm trong lĩnh vực riêng của nó; công việc của họ có trong đó yếu tố của thiên tính và của sự bất tử. Công việc của các nghệ sĩ sáng tạo, sự nhận thức trực giác của các nhà nghiên cứu khoa học vĩ đại, trí tưởng tượng đầy cảm hứng của các nhà thơ của thế giới và tầm nhìn của những người theo chủ nghĩa lý tưởng được soi sáng, tất cả đều phải được giải thích và làm rõ, vì các quy luật mà những người nam và nữ như vậy làm việc theo vẫn chưa được khám phá. Sự nghiên cứu kỹ lưỡng, bởi nhà tâm lý học, về những điều bất thường và dưới mức bình thường, về những tâm trí lệch lạc và méo mó và về các trang thiết bị khiếm khuyết, đã bị nhấn mạnh quá mức, và sự chú ý đúng mức chưa được dành cho những điều bất thường một cách thiêng liêng, và cho những loại tâm thức vượt qua trạng thái nhận biết thông minh thông thường của con người. Những trạng thái siêu thường sau này tìm thấy sự biểu hiện thông qua trung gian của các nghệ sĩ vĩ đại, các nhạc sĩ, các nhà soạn kịch, các nhà văn, và nhiều loại người hoạt động sáng tạo khác, những người đã là vinh quang của giới nhân loại qua các thời đại, và những người sẽ rực sáng trong thế kỷ tới với vinh quang lớn hơn nữa.

When the hypothesis of the soul is accepted, when the nature of the spiritual energy which flows through the soul is admitted, and when the mechanism of the force centres is [100] studied, we shall make rapid progress towards knowledge. When, through meditation, experiment is made to produce creatively some of the beauty contacted, some of the ideas revealed and some of the patterns seen, we shall learn to cultivate genius and understand how to train people to work creatively. Then much will be discovered about the centres in man where the divine principle has its dwelling, and from which the Christ within can work. The study of the super-conscious must be undertaken, and not simply the study of the self-conscious or of the sub-conscious. Through this study, carried forward with an open mind, modern psychology will eventually arrive at a recognition of the soul.

Khi giả thuyết về linh hồn được chấp nhận, khi bản chất của năng lượng tinh thần chảy qua linh hồn được thừa nhận, và khi cơ chế của các trung tâm lực được [100] nghiên cứu, chúng ta sẽ đạt được tiến bộ nhanh chóng hướng tới kiến thức. Khi, thông qua tham thiền, thử nghiệm được thực hiện để tạo ra một cách sáng tạo một số vẻ đẹp đã tiếp xúc, một số ý tưởng đã được tiết lộ và một số mô hình đã được nhìn thấy, chúng ta sẽ học cách trau dồi thiên tài và hiểu cách huấn luyện mọi người làm việc một cách sáng tạo. Khi đó, nhiều điều sẽ được khám phá về các trung tâm trong con người nơi nguyên khí thiêng liêng cư ngụ, và từ đó Đức Christ bên trong có thể làm việc. Việc nghiên cứu cái siêu thức phải được thực hiện, chứ không chỉ đơn giản là nghiên cứu cái tự ý thức hay tiềm thức. Thông qua nghiên cứu này, được thực hiện với một tâm trí cởi mở, tâm lý học hiện đại cuối cùng sẽ đi đến sự thừa nhận linh hồn.

The range of investigation is so wide that I can only indicate some of the possible fields of research:

Phạm vi nghiên cứu rộng đến mức tôi chỉ có thể chỉ ra một số lĩnh vực nghiên cứu khả thi:

1. The investigation of the nature of genius, and its definite and specialised cultivation.

1. Việc nghiên cứu bản chất của thiên tài, và sự trau dồi xác định và chuyên biệt của nó.

2. Training in creative work and a study of the difference between this kind of training and training for vocational work. Creative work proves the fact of the soul; vocational training demonstrates the type of the personality.

2. Huấn luyện trong công việc sáng tạo và nghiên cứu sự khác biệt giữa loại huấn luyện này và huấn luyện cho công việc nghề nghiệp. Công việc sáng tạo chứng minh sự thật về linh hồn; huấn luyện nghề nghiệp chứng minh loại hình của phàm ngã.

3. Scientific investigation of the powers in man, with particular attention to telepathy. It will be found that telepathic work is from mind to mind, or from soul to mind, and does not necessarily imply brain to brain communication and contact. This is one of the most promising fields of investigation, though it still presents much difficulty. The fact of the existence of the soul will not be proved through the medium of telepathy until after the year 1945. By that time an event will have happened in the world and a particular new teaching will have been given which will put the entire subject of telepathic phenomena in a new light.

3. Nghiên cứu khoa học về các quyền năng trong con người, với sự chú ý đặc biệt đến viễn cảm. Người ta sẽ thấy rằng công việc viễn cảm là từ trí tuệ đến trí tuệ, hoặc từ linh hồn đến trí tuệ, và không nhất thiết ngụ ý sự giao tiếp và tiếp xúc từ não bộ đến não bộ. Đây là một trong những lĩnh vực nghiên cứu hứa hẹn nhất, mặc dù nó vẫn còn nhiều khó khăn. Thực tế về sự tồn tại của linh hồn sẽ không được chứng minh thông qua trung gian của viễn cảm cho đến sau năm 1945. Vào thời điểm đó, một sự kiện sẽ xảy ra trên thế giới và một giáo huấn mới cụ thể sẽ được đưa ra vốn sẽ đặt toàn bộ chủ đề về các hiện tượng viễn cảm dưới một ánh sáng mới.

4. The scientific training of clairvoyants and the intelligent development of clairvoyant powers by the intelligentsia of [101] the world leaves as yet much to be desired, but it will come as the result of mind control and illumination. Men will learn to subject the mechanism of the body to a downflow of spiritual energy and stimulation, and thus will bring the powers of the psychic nature into activity, and the old method of sitting for development in order to awaken the centres will be seen as dangerous and unnecessary.

4. Việc huấn luyện khoa học cho những người thông nhãn và sự phát triển thông minh các quyền năng thông nhãn bởi tầng lớp trí thức của [101] thế giới vẫn còn nhiều điều đáng mong đợi, nhưng nó sẽ đến như là kết quả của sự kiểm soát tâm trí và sự soi sáng. Con người sẽ học cách đặt cơ chế của cơ thể chịu sự tuôn đổ xuống của năng lượng tinh thần và sự kích thích, và do đó sẽ đưa các quyền năng của bản chất thông linh vào hoạt động, và phương pháp cũ là ngồi để phát triển nhằm đánh thức các trung tâm sẽ được coi là nguy hiểm và không cần thiết.

In the field of modern psychology we can look for a gradual recognition of the fact of the self. The problem of the psychologists is to comprehend the relationship or the identity of that self with the soul.

Trong lĩnh vực tâm lý học hiện đại, chúng ta có thể mong đợi một sự thừa nhận dần dần về thực tế của cái tôi. Vấn đề của các nhà tâm lý học là thấu hiểu mối quan hệ hoặc sự đồng nhất của cái tôi đó với linh hồn.

It is, however, from the field of science that the greatest help will come. The fact of the soul will eventually be proved through the study of light and of radiation and through a coming evolution in particles of light. Through this imminent development we shall find ourselves seeing more and penetrating deeper into that which we see today. One of the recognised facts in the realm of natural science has been the cyclic change in the fauna and flora of our planet. Animals, plentiful and familiar many thousands of years ago, are now extinct, and by means of their bones we endeavour to reconstruct their forms. Flowers and trees that once covered the surface of our planet have now entirely disappeared and only their fossilized remains are left to indicate to us a vegetation vastly different to that which we now enjoy. Man himself has changed so much that we find it difficult to recognise homo sapiens in the early primitive races of the far distant past. This mutability and obliteration of earlier types is due to a major factor among many. The quality of the light which promotes and nurtures growth, vitality and fertility in the kingdoms of nature has changed several times during the ages, and as it has changed it has produced corresponding mutations in the phenomenal world. From the standpoint of the esotericist, all [102] forms of life on our planet are affected by three types of light substance, and at the present time a fourth type is gradually making its presence felt. These types of light are:

Tuy nhiên, chính từ lĩnh vực khoa học mà sự trợ giúp lớn nhất sẽ đến. Sự thật về linh hồn cuối cùng sẽ được chứng minh thông qua việc nghiên cứu ánh sáng và bức xạ và thông qua một sự tiến hóa sắp tới trong các hạt ánh sáng. Thông qua sự phát triển sắp xảy ra này, chúng ta sẽ thấy mình nhìn thấy nhiều hơn và thâm nhập sâu hơn vào những gì chúng ta thấy ngày nay. Một trong những thực tế được thừa nhận trong lĩnh vực khoa học tự nhiên là sự thay đổi theo chu kỳ trong hệ động thực vật của hành tinh chúng ta. Các loài động vật, phong phú và quen thuộc hàng ngàn năm trước, giờ đã tuyệt chủng, và bằng xương của chúng, chúng ta nỗ lực tái tạo lại hình dáng của chúng. Hoa và cây cối từng bao phủ bề mặt hành tinh của chúng ta giờ đã hoàn toàn biến mất và chỉ còn lại những hóa thạch của chúng để chỉ cho chúng ta thấy một thảm thực vật rất khác so với những gì chúng ta đang tận hưởng hiện nay. Bản thân con người đã thay đổi nhiều đến mức chúng ta thấy khó nhận ra homo sapiens trong các chủng tộc nguyên thủy ban đầu của quá khứ xa xôi. Sự biến đổi và xóa bỏ các loại hình trước đó là do một yếu tố chính trong số nhiều yếu tố. Phẩm tính của ánh sáng thúc đẩy và nuôi dưỡng sự tăng trưởng, sức sống và khả năng sinh sản trong các giới tự nhiên đã thay đổi nhiều lần trong các thời đại, và khi nó thay đổi, nó đã tạo ra những đột biến tương ứng trong thế giới hiện tượng. Từ quan điểm của nhà bí truyền học, tất cả [102] các dạng sự sống trên hành tinh của chúng ta đều bị ảnh hưởng bởi ba loại chất liệu ánh sáng, và vào thời điểm hiện tại, một loại thứ tư đang dần dần làm cho sự hiện diện của nó được cảm thấy. Các loại ánh sáng này là:

1. The light of the sun.

1. Ánh sáng của mặt trời.

2. The light in the planet itself—not the reflected light of the sun but its own inherent radiance.

2. Ánh sáng trong chính hành tinh — không phải ánh sáng phản chiếu của mặt trời mà là sự rạng rỡ cố hữu của chính nó.

3. A light seeping in (if I may use such a phrase) from the astral plane, a steady and gradual penetration of the “astral light” and its fusion with the other two types of radiance.

3. Một ánh sáng rỉ vào (nếu tôi có thể dùng cụm từ như vậy) từ cõi cảm dục, một sự thâm nhập đều đặn và dần dần của “ánh sáng cảm dục” và sự dung hợp của nó với hai loại rạng rỡ kia.

4. A light which is beginning to merge itself with the other three types and which comes from that state of matter which we call the mental plane—a light in its turn reflected from the realm of the soul.

4. Một ánh sáng đang bắt đầu tự hòa nhập với ba loại kia và đến từ trạng thái vật chất mà chúng ta gọi là cõi trí — một ánh sáng đến lượt nó phản chiếu từ cõi giới của linh hồn.

An intensification of the light is going on all the time, and this increase in intensity began on the earth at about the time when man discovered the uses of electricity, which discovery was a direct result of this intensification. The electrification of the planet through the wide-spread use of electricity is one of the things which is inaugurating the new age, and which will aid in bringing about the revelation of the presence of the soul. Before long this intensification will become so great that it will materially assist in the rending of the veil which separates the astral plane from the physical plane; the dividing etheric web will shortly be dissipated, and this will permit a more rapid inflow of the third aspect of light. The light from the astral plane (a starry radiance) and the light of the planet itself will be more closely blended, and the result upon humanity and upon the three other kingdoms in nature cannot be over-emphasized. It will, for one thing, profoundly affect the human eye and make the present sporadic etheric vision a universal asset. It will bring within the radius of our range of [103] contact the infra-red and ultra-violet gamut of colours, and we shall see what at present is hidden. All this will tend to destroy the platform upon which the materialists stand, and to pave the way, first, for the admission of the soul as a sound hypothesis, and secondly, for the demonstration of its existence. We only need more light, in the esoteric sense, in order to see the soul, and that light will shortly be available and we shall understand the meaning of the words, “And in Thy light shall we see light.”

Một sự tăng cường ánh sáng đang diễn ra mọi lúc, và sự gia tăng cường độ này bắt đầu trên trái đất vào khoảng thời gian con người khám phá ra các công dụng của điện, khám phá này là kết quả trực tiếp của sự tăng cường này. Sự điện khí hóa hành tinh thông qua việc sử dụng rộng rãi điện năng là một trong những điều đang khai mở kỷ nguyên mới, và sẽ hỗ trợ trong việc mang lại sự tiết lộ về sự hiện diện của linh hồn. Chẳng bao lâu nữa, sự tăng cường này sẽ trở nên lớn đến mức nó sẽ hỗ trợ một cách vật chất trong việc xé toạc bức màn ngăn cách cõi cảm dục với cõi hồng trần; mạng lưới dĩ thái ngăn cách sẽ sớm bị tiêu tan, và điều này sẽ cho phép một dòng chảy vào nhanh hơn của phương diện thứ ba của ánh sáng. Ánh sáng từ cõi cảm dục (một sự rạng rỡ đầy sao) và ánh sáng của chính hành tinh sẽ được hòa trộn chặt chẽ hơn, và kết quả đối với nhân loại và đối với ba giới khác trong tự nhiên là không thể bị nhấn mạnh quá mức. Một mặt, nó sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến mắt người và làm cho nhãn quan dĩ thái lác đác hiện nay trở thành một tài sản phổ quát. Nó sẽ đưa vào bán kính phạm vi [103] tiếp xúc của chúng ta gam màu hồng ngoại và tử ngoại, và chúng ta sẽ thấy những gì hiện đang bị che giấu. Tất cả những điều này sẽ có xu hướng phá hủy nền tảng mà các nhà duy vật đang đứng, và mở đường, trước hết, cho sự thừa nhận linh hồn như một giả thuyết đúng đắn, và thứ hai, cho việc chứng minh sự tồn tại của nó. Chúng ta chỉ cần thêm ánh sáng, theo nghĩa huyền môn, để nhìn thấy linh hồn, và ánh sáng đó sẽ sớm có sẵn và chúng ta sẽ hiểu ý nghĩa của những lời, “Và trong ánh sáng của Ngài, chúng ta sẽ thấy ánh sáng.”

This intensification of the light will continue until A.D. 2025, when there will come a cycle of relative stability and of steady shining without much augmentation. In the second decanate of Aquarius these three aspects will again be augmented by increased light from the fourth aspect, that is the light from the soul realm, reaching us via the universal “chitta” or mind stuff. This will flood the world. By that time, however, the soul will be recognised as a fact, and as a consequence of this recognition our entire civilisation will have changed so radically that we cannot today even guess at the form it will take. The next ten years will see a greatly increased merging of the first three forms of light, and those of you who are awake to these issues and happenings will find it interesting to note what is going on. The consensus of opinion in the religious and spiritualistic fields and in the field of biblical prophecy, and likewise a study of the symbolism of the Pyramid, lead students to believe that the immediate future will see some great event and some unforeseen spiritual happening. This should be duly anticipated, and careful preparation should be made for it. I refer not to any coming of any individual. I refer to a natural process with far-reaching effects.

Sự tăng cường ánh sáng này sẽ tiếp tục cho đến năm 2025 S.C.N., khi sẽ có một chu kỳ ổn định tương đối và tỏa sáng đều đặn mà không có nhiều sự gia tăng. Trong thập độ thứ hai của Bảo Bình, ba phương diện này một lần nữa sẽ được gia tăng bởi ánh sáng tăng cường từ phương diện thứ tư, đó là ánh sáng từ cõi giới linh hồn, đến với chúng ta thông qua “chitta” hay chất liệu trí tuệ vũ trụ. Điều này sẽ tràn ngập thế giới. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, linh hồn sẽ được công nhận là một thực tế, và như một hệ quả của sự công nhận này, toàn bộ nền văn minh của chúng ta sẽ thay đổi hoàn toàn đến mức ngày nay chúng ta thậm chí không thể đoán được hình thức mà nó sẽ có. Mười năm tới sẽ chứng kiến sự hợp nhất gia tăng đáng kể của ba hình thức ánh sáng đầu tiên, và những ai trong các bạn thức tỉnh trước những vấn đề và diễn biến này sẽ thấy thú vị khi ghi nhận những gì đang diễn ra. Sự đồng thuận ý kiến trong các lĩnh vực tôn giáo và thần linh học và trong lĩnh vực tiên tri kinh thánh, và tương tự là một nghiên cứu về biểu tượng của Kim Tự Tháp, khiến các đạo sinh tin rằng tương lai trước mắt sẽ chứng kiến một sự kiện lớn nào đó và một diễn biến tinh thần không lường trước được. Điều này nên được dự đoán một cách thích đáng, và sự chuẩn bị cẩn thận nên được thực hiện cho nó. Tôi không đề cập đến bất kỳ sự xuất hiện nào của bất kỳ cá nhân nào. Tôi đề cập đến một quá trình tự nhiên với những tác động sâu rộng.

There are certain other fields of activity which will all do their part in demonstrating the fact of the soul.

Có một số lĩnh vực hoạt động khác, tất cả sẽ thực hiện phần việc của chúng trong việc chứng minh sự thật về linh hồn.

There is an aspect of human consciousness which has for [104] long baffled the materialistic psychologist, and this is the curious power of prevision, the ability to foresee and foretell with accuracy events coming in the immediate future, or distant happenings. There are warnings given by some inner monitor which have again and again saved man from death and disaster; there are the appearances, to their friends and relatives, of men or women who have just died, before any word of their death has been received. This is not in the field of telepathic knowledge of the death, but involves the appearance of the person. There is the power to participate in events in distant places and to recover the recollection of what transpired with accuracy as to place, personnel and detail. These powers and many similar previsions and recognitions have long bewildered investigators and must find correct explanation. In their wise investigation, in the accumulation of responsible evidence, and in the later substantiation of the prevision, it will begin to be seen that some factor exists in man which is not bound by space-time limitations, but which transcends the normal human consciousness. The present attempted investigation and explanations are inadequate and do not account satisfactorily for all the facts. When, however, they are approached from the standpoint of the soul, with its faculty of omniscience and its freedom from categories of past, present and future (for they are lost in the consciousness of the Eternal Now), we shall begin to understand the process a little more clearly. When the true Dweller in the body is recognised and the laws of prevision are discovered, and when the power to foresee is generally prevalent, then we shall begin to find ample proof of the existence of the soul. It will be impossible to account for the ordinary phenomena then current without admitting its existence.

Có một khía cạnh của tâm thức con người mà trong [104] thời gian dài đã làm bối rối nhà tâm lý học duy vật, và đây là quyền năng tiên tri kỳ lạ, khả năng nhìn thấy trước và báo trước chính xác các sự kiện sắp xảy ra trong tương lai gần, hoặc những diễn biến xa xôi. Có những lời cảnh báo được đưa ra bởi một người giám sát bên trong nào đó đã nhiều lần cứu con người khỏi cái chết và thảm họa; có sự xuất hiện, đối với bạn bè và người thân của họ, của những người nam hay nữ vừa mới qua đời, trước khi bất kỳ tin tức nào về cái chết của họ được nhận. Đây không phải là trong lĩnh vực kiến thức viễn cảm về cái chết, mà liên quan đến sự xuất hiện của người đó. Có quyền năng tham gia vào các sự kiện ở những nơi xa xôi và hồi phục ký ức về những gì đã xảy ra với sự chính xác về địa điểm, nhân sự và chi tiết. Những quyền năng này và nhiều sự tiên tri và nhận biết tương tự đã làm bối rối các nhà nghiên cứu từ lâu và phải tìm được lời giải thích chính xác. Trong cuộc nghiên cứu khôn ngoan của họ, trong việc tích lũy bằng chứng đáng tin cậy, và trong sự chứng minh sau đó về sự tiên tri, người ta sẽ bắt đầu thấy rằng có một yếu tố nào đó tồn tại trong con người không bị ràng buộc bởi các giới hạn không gian-thời gian, nhưng vượt qua tâm thức con người bình thường. Cuộc nghiên cứu và những giải thích đã cố gắng hiện tại là không đầy đủ và không giải thích thỏa đáng cho tất cả các thực tế. Tuy nhiên, khi chúng được tiếp cận từ quan điểm của linh hồn, với khả năng toàn tri của nó và sự tự do của nó khỏi các phạm trù quá khứ, hiện tại và tương lai (vì chúng bị mất trong tâm thức của Hiện Tại Vĩnh Cửu), chúng ta sẽ bắt đầu hiểu quá trình rõ ràng hơn một chút. Khi Người Cư Ngụ thực sự trong cơ thể được công nhận và các quy luật tiên tri được khám phá, và khi quyền năng nhìn thấy trước trở nên phổ biến, thì chúng ta sẽ bắt đầu tìm thấy bằng chứng phong phú về sự tồn tại của linh hồn. Sẽ không thể giải thích cho các hiện tượng thông thường khi đó đang lưu hành mà không thừa nhận sự tồn tại của nó.

Along these various lines proof of the soul will accumulate. In the massing of testimony and of evidence a fruitful field of [105] activity lies. In the training of the higher types of men in the use of the soul force and soul powers, and in the trained control of the mechanism, that evidence so produced will be seen to be of so high an order and will be so scientifically presented that it will be regarded as of as much importance and as justifiable as any views presented by our leading scientists in their various fields of research today. The study of the soul will before long be as legitimate and respectable an investigation as any scientific problem, such as research into the nature of the atom. The investigation of the soul and its governing laws will, before long, engross the attention of our finest minds. The newer psychology will eventually succeed in proving the fact of its existence, and the paralleling intuitive and instinctive response of mankind to soul nurture, emanating from the invisible side of life, will steadily and successfully prove the existence of a spiritual entity in man,—an entity all-wise, immortal, divine and creative.

Dọc theo những dòng hướng khác nhau này, bằng chứng về linh hồn sẽ tích lũy. Trong việc thu thập lời chứng và bằng chứng, một lĩnh vực [105] hoạt động hiệu quả nằm ở đó. Trong việc huấn luyện các loại người cao hơn trong việc sử dụng mãnh lực linh hồn và các quyền năng linh hồn, và trong sự kiểm soát được huấn luyện đối với cơ chế, bằng chứng được tạo ra như vậy sẽ được thấy là thuộc một trật tự cao như vậy và sẽ được trình bày một cách khoa học đến mức nó sẽ được coi là quan trọng và chính đáng như bất kỳ quan điểm nào được trình bày bởi các nhà khoa học hàng đầu của chúng ta trong các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau của họ ngày nay. Việc nghiên cứu về linh hồn chẳng bao lâu nữa sẽ là một cuộc nghiên cứu hợp pháp và đáng kính như bất kỳ vấn đề khoa học nào, chẳng hạn như nghiên cứu về bản chất của nguyên tử. Việc nghiên cứu về linh hồn và các quy luật chi phối nó, chẳng bao lâu nữa, sẽ thu hút sự chú ý của những bộ óc tốt nhất của chúng ta. Tâm lý học mới rồi sẽ chứng minh được sự kiện này, và vì vậy, sự đáp ứng trực giác và bản năng song hành của nhân loại đối với sự nuôi dưỡng của linh hồn, xuất phát từ phương diện vô hình của sự sống, sẽ ngày càng và vững chắc chứng minh sự hiện tồn của một thực thể tinh thần trong con người—một thực thể toàn-trí, bất tử, thiêng liêng và sáng tạo..

But the process would be slow were it not for the work now being done by a group of disciples and initiates working in collaboration with the Master P—, Who has His headquarters in America and Who, with His disciples, is doing much to stimulate the various psychological schools in the world today. It is needless for students to endeavour to ascertain His identity. He works through movements and schools of thought, and does no work with private individuals. He works practically entirely on the mental plane, with the power of thought, and is quite unknown and unrecognised, except by His fellow workers in the various countries in the world, and by the disciples on His ray, the fourth ray. Much that is opening in the world of psychology today is due to the work He does in stimulating the minds of the leaders of movements. He works with them on the mental plane, but does not contact them as physical plane individuals.

Nhưng quá trình này sẽ chậm nếu không có công việc hiện đang được thực hiện bởi một nhóm các đệ tử và điểm đạo đồ làm việc cộng tác với Chân sư P—, Ngài có trụ sở chính tại Mỹ và là Người, cùng với các đệ tử của Ngài, đang làm rất nhiều để kích thích các trường phái tâm lý học khác nhau trên thế giới ngày nay. Các đạo sinh không cần phải nỗ lực để xác định danh tính của Ngài. Ngài làm việc thông qua các phong trào và các trường phái tư tưởng, và không làm việc với các cá nhân riêng tư. Ngài làm việc thực tế hoàn toàn trên cõi trí, với sức mạnh của tư tưởng, và hoàn toàn không được biết đến và không được công nhận, ngoại trừ bởi các đồng nghiệp của Ngài ở các quốc gia khác nhau trên thế giới, và bởi các đệ tử trên cung của Ngài, cung bốn. Phần lớn những gì đang khai mở trong thế giới tâm lý học ngày nay là do công việc Ngài làm trong việc kích thích tâm trí của các nhà lãnh đạo các phong trào. Ngài làm việc với họ trên cõi trí, nhưng không tiếp xúc với họ như những cá nhân cõi hồng trần.

[106]

[106]

The urgency of the time is great, and the Masters are exceedingly active and profoundly concerned at this time with the work of salvaging the world. They have not the time for personal work, except with Their own groups of accepted chelas, all of whom are active in the world work, or they would not be in the Masters’ group. Also They may work intermittently with small groups of probationers to whom They offer opportunity and give an occasional hint. Each of Them has a few, a very few, probationers in training, to take the place of chelas who pass on to initiation, but beyond these two groups, during this century, They do no personal work, leaving the many aspirants to the care of lesser initiates and chelas. Even Their work and Their personal chelas at this time are much restricted, and word has been sent out to the working disciples in the world to stand on their own feet, to use their own judgment and not handicap the Masters at this time of intense strain and danger by attracting Their attention needlessly. The world issues today are of such importance, and the opportunity before humanity is so great, and the Masters are so entirely occupied with world affairs and with the dominant and prominent figures in high places in the nations, that the instruction of unimportant people in the various little occult groups and societies is temporarily suspended. The time is relatively so short in which to accomplish and carry out certain aspects of the Plan as entrusted to the Great Ones, that all true chelas are going about their work and endeavouring to solve their own problems without having to call on the Master’s help, thus leaving Him free for more important work. The closer a disciple is to a Master, the more deeply he realises this fact, and the more he endeavours to fulfill his duty, learn his lessons, serve humanity, and lift some of the load of work off the shoulders of the Master.

Sự cấp bách của thời gian là rất lớn, và các Chân sư đang cực kỳ tích cực và quan tâm sâu sắc vào lúc này với công việc cứu vớt thế giới. Các Ngài không có thời gian cho công việc cá nhân, ngoại trừ với các nhóm đệ tử được chấp nhận của riêng Các Ngài, tất cả những người này đều tích cực trong công việc thế giới, nếu không họ sẽ không ở trong nhóm của các Chân sư. Ngoài ra Các Ngài có thể làm việc không liên tục với các nhóm nhỏ các đệ tử dự bị mà Các Ngài trao cơ hội và thỉnh thoảng đưa ra một gợi ý. Mỗi người trong số Các Ngài có một vài, rất ít, đệ tử dự bị đang được huấn luyện, để thay thế các chela chuyển sang điểm đạo, nhưng ngoài hai nhóm này, trong thế kỷ này, Các Ngài không làm công việc cá nhân nào, để lại nhiều người chí nguyện cho sự chăm sóc của các điểm đạo đồ thấp hơn và các chela. Ngay cả công việc của Các Ngài và các chela cá nhân của Các Ngài vào thời điểm này cũng bị hạn chế nhiều, và lời đã được gửi đến các đệ tử đang làm việc trên thế giới để tự đứng trên đôi chân của mình, sử dụng phán đoán của riêng họ và không gây trở ngại cho các Chân sư vào thời điểm căng thẳng và nguy hiểm dữ dội này bằng cách thu hút sự chú ý của Các Ngài một cách không cần thiết. Các vấn đề thế giới ngày nay quan trọng đến mức, và cơ hội trước mắt nhân loại lớn đến mức, và các Chân sư hoàn toàn bận rộn với các công việc thế giới và với các nhân vật thống trị và nổi bật ở các vị trí cao trong các quốc gia, đến nỗi việc hướng dẫn những người không quan trọng trong các nhóm và hội huyền bí nhỏ khác nhau tạm thời bị đình chỉ. Thời gian tương đối ngắn để hoàn thành và thực hiện các khía cạnh nhất định của Thiên Cơ như đã được giao phó cho Các Đấng Cao Cả, đến nỗi tất cả các chela chân chính đều đang tiến hành công việc của họ và nỗ lực giải quyết các vấn đề của riêng họ mà không phải kêu gọi sự giúp đỡ của Chân sư, do đó để cho Ngài rảnh rang cho công việc quan trọng hơn. Một đệ tử càng gần gũi với một Chân sư, y càng nhận ra sâu sắc thực tế này, và y càng nỗ lực hoàn thành bổn phận của mình, học các bài học của mình, phụng sự nhân loại, và trút bỏ một phần gánh nặng công việc khỏi vai Chân sư.

The world today is full of disciples of varying degree, and [107] each of them is, in his place, able to guide and help some aspirants. The world is full of teaching and of books able to inspire and help all true seekers after spiritual knowledge. The last fifty years have seen much teaching given out and much esoteric training given to the world and available now to all who earnestly seek it. Aspirants have much to work upon and much theory to render into practice, and this leaves the Masters free for more important work.

Thế giới ngày nay đầy rẫy các đệ tử ở các mức độ khác nhau, và [107] mỗi người trong số họ, ở vị trí của mình, đều có thể hướng dẫn và giúp đỡ một số người chí nguyện. Thế giới đầy rẫy những giáo huấn và những quyển sách có thể truyền cảm hứng và giúp đỡ tất cả những người tìm kiếm chân chính kiến thức tinh thần. Năm mươi năm qua đã chứng kiến nhiều giáo huấn được đưa ra và nhiều sự huấn luyện nội môn được trao cho thế giới và hiện có sẵn cho tất cả những ai tha thiết tìm kiếm nó. Các người chí nguyện có nhiều thứ để làm việc và nhiều lý thuyết để đưa vào thực hành, và điều này để cho các Chân sư rảnh rang cho công việc quan trọng hơn.

One of the interesting things that is happening, and one of the factors which will serve eventually in the work of demonstrating the fact of the soul, is the mass of communications, inspired writings, and telepathic dictations which is flooding the world today. As you know, the spiritualistic movement is producing a vast amount of this inspired or pseudo-inspired literature, some of it of the very highest order and unquestionably the work of highly evolved disciples, and some of it most mediocre in quality. The various theosophical societies have been the recipients of similar communications, and they are found in every occult group. True communications are frequently of deep spiritual value, and contain much teaching and help for the aspirant. Students of the times would do well to remember that it is the teaching that is of moment, not the supposed source; by their intrinsic value alone these writings and communications must be judged. These communications emanate in the majority of instances from the soul plane, and the recipient or the communicator (the intermediary or scribe) is either inspired by his own soul or has tapped the thought level and knowledge of the ray group to which his soul belongs. He tunes in on a reservoir of thought, and his mind and brain translate these thoughts into words and phrases.

Một trong những điều thú vị đang xảy ra, và cũng là một trong những yếu tố sau này sẽ hỗ trợ cho công cuộc chứng minh sự kiện về linh hồn, chính là khối lượng đồ sộ các truyền đạt, các trước tác được linh hứng và các sự đọc truyền viễn cảm đang tuôn tràn khắp thế giới ngày nay. Như các bạn biết, phong trào thần linh học đang sản sinh một lượng lớn loại trước tác được linh hứng hoặc giả-linh-hứng này, một số có phẩm chất cao nhất và chắc chắn là công trình của các đệ tử đã tiến hoá cao, và một số cũng có phần chất lượng hết sức tầm thường. Các hội Thông Thiên Học khác nhau cũng đã nhận được những truyền đạt tương tự, và chúng được tìm thấy trong mọi nhóm huyền môn. Những truyền đạt đích thực thường có giá trị tinh thần sâu sắc và chứa đựng nhiều giáo huấn và trợ giúp cho người chí nguyện. Những người nghiên cứu của thời đại nên ghi nhớ rằng điều quan trọng là giáo huấn, chứ không phải nguồn gốc được cho là của chúng; chính dựa trên giá trị nội tại mà những trước tác và truyền đạt này phải được đánh giá. Trong đa số trường hợp, những truyền đạt này phát xuất từ cõi linh hồn, và người tiếp nhận hay người truyền đạt (trung gian hoặc người ghi chép) hoặc được linh hồn của chính y linh hứng, hoặc đã tiếp cận được bình diện tư tưởng và tri thức của nhóm cung mà linh hồn y thuộc về. Y bắt được một “hồ chứa” tư tưởng, và thể trí cùng bộ não của y chuyển dịch các tư tưởng đó thành ngôn từ và câu cú.

In a lesser number of cases, the man who is receiving a dictation or writing is in telepathic rapport with some more advanced [108] disciple than himself, and his mind is being impressed by some chela in his group. This chela, who is closer to the Master than he is, passes on to him some of the knowledge that he has absorbed through being able to live within the Master’s aura. But the Master is not concerned in the process; it lies between the chela and the aspirant. In these cases the receiver of the communication is often misled, and thinks that the Master Himself is dictating to him, whereas in reality he has—through a more advanced chela than himself—tuned in on the Master’s thought atmosphere.

Trong một số ít trường hợp hơn, người đang nhận một sự truyền đạt qua lời nói hoặc đang viết có mối quan hệ viễn cảm với một đệ tử [108] tiến bộ hơn chính mình, và tâm trí của y đang được ấn tượng bởi một chela nào đó trong nhóm của y. Chela này, người gần gũi với Chân sư hơn y, truyền lại cho y một số kiến thức mà y đã hấp thụ thông qua việc có thể sống trong hào quang của Chân sư. Nhưng Chân sư không liên quan đến quá trình này; nó nằm giữa chela và người chí nguyện. Trong những trường hợp này, người nhận thông điệp thường bị lừa dối, và nghĩ rằng Chính Chân sư đang đọc cho y, trong khi thực tế y đã — thông qua một chela tiến bộ hơn chính mình — hoà vào bầu không khí tư tưởng của Chân sư.

None of the Masters of the sixth initiation (such as the Masters M. and K. H.) are at this time working through dictation with Their disciples. They are too much engrossed with world problems, and with the work of watching over the destinies of the prominent world figures in the various nations, to have any opportunity to dictate teaching to any particular disciple in some small field of activity and upon subjects of which sufficient is already known to enable the disciple to go ahead alone and unaided. Two of the Masters are working telepathically and through dictation with several accepted disciples, and Their effort is to inspire these disciples, who are active in world work, to greater usefulness in the Plan. They are working in this way in order to impress a few of the prominent thinkers in the field of science and of social welfare with the needed knowledge which will enable them to make the right moves in the emergence of the race into greater freedom. But I know of no others, in this particular generation, who are so doing, for They have delegated much of this work to Their initiates and disciples. The bulk of the communicators today (working through aspirants on the physical plane) are active working chelas of accepted degree who (living as they do in the thought aura of the Master and His group) are steadily endeavouring to reach all kinds of people, all over the world, [109] in all groups. Hence the increasing flood of communications, of inspired writings, and of personal messages and teaching.

Không ai trong số các Chân sư của lần điểm đạo thứ sáu (như Chân sư M. và K. H.) vào thời điểm này đang làm việc thông qua đọc chính tả với các đệ tử của Các Ngài. Các Ngài quá mải mê với các vấn đề thế giới, và với công việc trông coi số phận của các nhân vật thế giới nổi bật trong các quốc gia khác nhau, để có bất kỳ cơ hội nào đọc giáo huấn cho bất kỳ đệ tử cụ thể nào trong một lĩnh vực hoạt động nhỏ và về các chủ đề mà đã có đủ kiến thức được biết để cho phép đệ tử đi trước một mình và không cần trợ giúp. Hai trong số các Chân sư đang làm việc theo cách viễn cảm và thông qua việc đọc với một số đệ tử được chấp nhận, và nỗ lực của Các Ngài là truyền cảm hứng cho những đệ tử này, những người đang tích cực trong công việc thế giới, để trở nên hữu ích hơn trong Thiên Cơ. Các Ngài đang làm việc theo cách này để gây ấn tượng với một số ít các nhà tư tưởng nổi bật trong lĩnh vực khoa học và phúc lợi xã hội với kiến thức cần thiết vốn sẽ cho phép họ thực hiện những bước đi đúng đắn trong sự xuất hiện của nhân loại vào sự tự do lớn hơn. Nhưng tôi không biết ai khác, trong thế hệ cụ thể này, đang làm như vậy, vì Các Ngài đã giao phó nhiều công việc này cho các điểm đạo đồ và đệ tử của Các Ngài. Phần lớn các người giao tiếp ngày nay (làm việc thông qua các người chí nguyện trên cõi hồng trần) là những chela đang làm việc tích cực ở cấp độ được chấp nhận, những người (đang sống trong hào quang tư tưởng của Chân sư và nhóm của Ngài) đang nỗ lực đều đặn để tiếp cận tất cả các loại người, trên khắp thế giới, [109] trong tất cả các nhóm. Do đó mới có dòng thác ngày càng tăng của các thông điệp, của các bài viết được truyền cảm hứng, và của các thông điệp cá nhân và giáo huấn.

When you add to the above the equally large flood of communications which emanate from the transmitters’ own souls and from the realm of the subconscious, you have accounted for the mass of the material going out now. In all this there is need for deep thankfulness at the growing responsiveness and sensitivity of man.

Khi bạn thêm vào những điều trên dòng thác lớn tương đương của các thông điệp phát ra từ chính linh hồn của người truyền phát và từ cõi tiềm thức, bạn đã giải thích được cho khối lượng tài liệu đang đi ra hiện nay. Trong tất cả điều này, cần có sự biết ơn sâu sắc đối với sự đáp ứng và nhạy cảm ngày càng tăng của con người.

That the first reaction and effect of such an outpouring of communications is oft an increase of spiritual pride and ambition, and that the stepping down of the teaching from the mind to the brain and from the brain into words and sentences often fails in adequacy is sadly true, and that there is frequently misapprehension as to the emanating source of the instructions is also true, for the lack of humility in man and the lack of a true sense of proportion are great. But out of this inflow from the subjective side of life are coming new knowledge, increased devotion to the Plan, and those indications which will eventually bring us assurance. Men will know, and know soon, that the soul is not an imaginary fiction, that it is not just a symbolic way of expressing a deep-seated hope, and is not man’s method of building a defense mechanism; nor is it an illusory way of escape from a distressing present. They will know that the soul is a Being, a Being that is responsible for all that appears upon the phenomenal plane.

Rằng phản ứng và hiệu quả đầu tiên của một sự tuôn đổ các thông điệp như vậy thường là sự gia tăng kiêu ngạo tinh thần và tham vọng, và rằng việc chuyển tải giáo huấn từ tâm trí xuống bộ não và từ bộ não thành từ ngữ và câu cú thường thất bại trong sự đầy đủ là điều đáng buồn nhưng có thật, và rằng thường có sự hiểu lầm về nguồn phát ra của các hướng dẫn cũng là sự thật, vì sự thiếu khiêm tốn ở con người và sự thiếu ý thức đúng đắn về tỉ lệ là rất lớn. Nhưng từ dòng chảy vào này từ phía chủ quan của sự sống đang đến kiến thức mới, sự tận tụy gia tăng đối với Thiên Cơ, và những chỉ dẫn cuối cùng sẽ mang lại cho chúng ta sự đảm bảo. Con người sẽ biết, và sớm biết, rằng linh hồn không phải là một hư cấu tưởng tượng, rằng nó không chỉ là một cách tượng trưng để diễn đạt một niềm hy vọng sâu xa, và không phải là phương pháp của con người để xây dựng một cơ chế phòng vệ; cũng không phải là một con đường trốn chạy ảo tưởng khỏi một hiện tại đau khổ. Họ sẽ biết rằng linh hồn là một Bản Thể, một Bản Thể chịu trách nhiệm cho tất cả những gì xuất hiện trên cõi hiện tượng.

We have two more questions to consider now, and they are as follows:

Chúng ta có thêm hai câu hỏi để xem xét bây giờ, và chúng như sau:

Question 4. Of what value is it to know about the Seven Rays?— Câu hỏi 4. Có giá trị gì khi biết về Bảy Cung?

Question 5. What is the significance of the outstanding soul qualities such as sentiency, consciousness, awareness and light?

Câu hỏi 5. Ý nghĩa của các phẩm tính linh hồn nổi bật như tri giác, tâm thức, nhận thức và ánh sáng là gì?

[110]

[110]

Above everything else, it is necessary that the aspirant be practical. The days of a mystical and dreamy consciousness are rapidly passing away, and as man, through understanding of psychology, comes to a more accurate knowledge of himself he will begin to act with precision and with intelligence; he will know with exactitude the way that he should go, and will comprehend the forces in his own nature which will lead to specific action when brought into touch with the forces of his environment. Aspirants should endeavour to make practical application of the imparted truths, and so minimise their responsibility. Where there is acquired knowledge and when no use is made of it there exists a condition of danger and subsequent penalty.

Trên hết mọi thứ khác, điều cần thiết là người chí nguyện phải thực tế. Những ngày của một tâm thức thần bí và mơ mộng đang nhanh chóng trôi qua, và khi con người, thông qua sự hiểu biết về tâm lý học, đi đến một kiến thức chính xác hơn về bản thân, y sẽ bắt đầu hành động với sự chính xác và với trí thông minh; y sẽ biết chính xác con đường mà y nên đi, và sẽ hiểu các mãnh lực trong bản chất của chính mình vốn sẽ dẫn đến hành động cụ thể khi được đưa vào tiếp xúc với các mãnh lực của môi trường của y. Người chí nguyện nên nỗ lực thực hiện ứng dụng thực tế các chân lý được truyền đạt, và do đó giảm thiểu trách nhiệm của mình. Nơi nào có kiến thức thu được và khi không sử dụng nó, tồn tại một tình trạng nguy hiểm và hình phạt theo sau.

Much has been given in previous books which awaits your adaptation and useful service. Much will be given in the present volume, but students need to remember that they themselves evoke and call forth the teaching they receive. The position between me and those who are reading is not that of a teacher imposing a system of knowledge upon a group of waiting pupils. The group is simply the channel through which a particular aspect of the Ageless Wisdom can reach a waiting world. I do not regard you as a body of good men and women, who, because of your point in evolution, are deemed worthy to receive something esoteric and unusual, and hence withheld from the rest of the race. I regard you as sincerely interested in the spiritual life, as concerned with the endeavour to be intelligent, and as willing (more or less) to try to live as souls, and to use as much of the imparted teaching as can be understood. What use students make of it is entirely their own affair. But the value of any group of aspirants and disciples consists [111] in this: They can—if they so choose and if their united aspiration is strong enough—draw forth the teaching, and so form a centre through which that teaching may go forth and begin its work of moulding human thought, of throwing light upon the problems of psychology, and of so expanding the point of truth (anent the seven rays, an ancient septenate, but little comprehended) that a new realisation may be evolved and a new science of psychology may be launched upon its career.

Nhiều điều đã được đưa ra trong các quyển sách trước đây đang chờ đợi sự thích nghi và sự phụng sự hữu ích của bạn. Nhiều điều sẽ được đưa ra trong tập sách hiện tại, nhưng các đạo sinh cần nhớ rằng chính họ gợi lên và kêu gọi giáo huấn mà họ nhận được. Vị trí giữa tôi và những người đang đọc không phải là của một giáo viên áp đặt một hệ thống kiến thức lên một nhóm học trò đang chờ đợi. Nhóm chỉ đơn giản là kênh qua đó một khía cạnh cụ thể của Minh Triết Ngàn Đời có thể tiếp cận một thế giới đang chờ đợi. Tôi không coi các bạn là một tập thể những người nam và nữ tốt, những người, vì điểm tiến hóa của các bạn, được coi là xứng đáng nhận được một cái gì đó huyền môn và khác thường, và do đó được giữ lại khỏi phần còn lại của nhân loại. Tôi coi các bạn là những người quan tâm chân thành đến đời sống tinh thần, quan tâm đến nỗ lực trở nên thông minh, và sẵn sàng (ít nhiều) cố gắng sống như những linh hồn, và sử dụng càng nhiều giáo huấn được truyền đạt càng tốt để có thể hiểu được. Việc các đạo sinh sử dụng nó như thế nào hoàn toàn là việc riêng của họ. Nhưng giá trị của bất kỳ nhóm người chí nguyện và đệ tử nào bao gồm [111] trong điều này: Họ có thể — nếu họ tự chọn như vậy và nếu khát vọng hợp nhất của họ đủ mạnh — rút được giáo huấn ấy ra, và như thế hình thành một trung tâm qua đó giáo huấn ấy có thể tuôn chảy ra ngoài và bắt đầu công việc định khuôn tư tưởng nhân loại, soi sáng các vấn đề của tâm lý học, và mở rộng điểm chân lý (liên quan đến bảy cung, một thất phân cổ xưa nhưng ít được thấu hiểu) đến mức một chứng nghiệm mới có thể được khai mở và một ngành khoa học tâm lý học mới có thể được khởi sự trên hành trình của nó.

You ask, therefore: What must we as a group do that we may be of service, and so constitute a good channel for the helping of humanity?

Do đó, các bạn hỏi: Chúng tôi với tư cách là một nhóm phải làm gì để có thể hữu ích, và do đó tạo thành một kênh tốt cho việc giúp đỡ nhân loại?

First of all, you must see to it that your attitude towards all teaching is that of willing service, with no thought of self. The growth in spiritual realisation and the lifting of humanity is that which is of moment, and not your own personal growth or development, nor your own satisfaction at receiving special and new information. You will grow, and your soul will take increasing hold upon its instrument, when your mind and effort are turned towards group service, and when your tongue is rendered harmless, through the inflow of Love.

Trước hết, các bạn phải đảm bảo rằng thái độ của các bạn đối với mọi giáo huấn là thái độ sẵn sàng phụng sự, không nghĩ đến bản thân. Sự tăng trưởng trong sự chứng nghiệm tinh thần và sự nâng cao nhân loại là điều quan trọng, chứ không phải sự tăng trưởng hay phát triển cá nhân của riêng bạn, cũng không phải sự thỏa mãn của riêng bạn khi nhận được thông tin đặc biệt và mới mẻ. Các bạn sẽ phát triển, và linh hồn các bạn sẽ ngày càng nắm giữ công cụ của nó, khi tâm trí và nỗ lực của các bạn hướng về phụng sự nhóm, và khi lưỡi của các bạn trở nên vô hại, thông qua dòng chảy vào của Tình Thương.

Secondly, let not your mind be occupied with idle speculations as to the identity of the teacher. What matters it who he is? Can you prove his identity in one way or another? And of what value is it to accept the statements of any fellow student who may claim to be informed on the matter, be he who he may? You cannot prove him right or wrong, and therefore it remains a waste of time which could well be given to more fruitful service, to closer study of the life-essentials, and to meditation.

Thứ hai, đừng để tâm trí của các bạn bị chiếm đóng bởi những suy đoán nhàn rỗi về danh tính của huấn sư. Có quan trọng gì ông ấy là ai? Các bạn có thể chứng minh danh tính của ông ấy bằng cách này hay cách khác không? Và có giá trị gì khi chấp nhận những tuyên bố của bất kỳ đạo sinh đồng môn nào có thể tuyên bố là được thông báo về vấn đề này, bất kể người đó là ai? Các bạn không thể chứng minh người đó đúng hay sai, và do đó nó vẫn là một sự lãng phí thời gian vốn có thể được dành cho việc phụng sự hiệu quả hơn, cho việc nghiên cứu kỹ hơn những điều cốt yếu của sự sống, và cho tham thiền.

What is taught should matter. The aspects of truth which I present to your consideration should count; the measure of help which I can give and the spiritual and mental stimulation which I may impart are of moment to you. The training [112] of the intuition to recognise spiritual truth should be the subject of your effort. The sole authority is the teaching, and not the teacher; upon the rock of authority many schools have foundered. There is but one authority—each man’s own immortal soul, and that is the only authority which should be recognised.

Cái được dạy mới quan trọng. Các khía cạnh của chân lý mà tôi trình bày cho sự xem xét của các bạn mới đáng kể; mức độ giúp đỡ mà tôi có thể đưa ra và sự kích thích tinh thần và trí tuệ mà tôi có thể truyền đạt là quan trọng đối với các bạn. Việc rèn luyện [112] trực giác để nhận ra chân lý tinh thần nên là chủ đề nỗ lực của các bạn. Thẩm quyền duy nhất là giáo huấn, chứ không phải giáo viên; trên tảng đá của thẩm quyền, nhiều trường phái đã bị đắm. Chỉ có một thẩm quyền duy nhất — linh hồn bất tử của mỗi người, và đó là thẩm quyền duy nhất nên được công nhận.

Learn to grasp the teaching correctly, and see it for what it is. Some of it is written for a distant time, and the true significance of this Treatise on the Seven Rays will begin to emerge as part of the general knowledge of humanity only towards the close of this century, unless the imminent outpouring evokes greater change than is now deemed possible by the watching Hierarchy. Some of the teaching is of immediate usefulness to all of you. Some of it will throw light upon the problems of modern psychology, and link the many aspects of the science of the soul. Disciples grow these days by finding out the reservoir of their soul’s nourishment; they will discover that the source of their strength is to be found in group teaching and in group endeavour. We are training men to live as souls and not as children to be nursed and cared for in a protected nursery run by rules and orders. As souls, men derive their life from the ocean of the universal, and not from the tiny well of the particular. Carrying their little pitchers, they find their way to that ocean, and for themselves they draw into that receptacle that which they need. In the light of your own intuition and illumined mind (developed and brought to usefulness through meditation) take that aspect of the teaching which suits and aids you, and interpret it in the light of your own need and growth.

Hãy học cách nắm bắt giáo huấn một cách chính xác, và nhìn thấy nó đúng như bản chất của nó. Một số trong đó được viết cho một thời gian xa xôi, và thâm nghĩa thực sự của Luận về Bảy Cung này sẽ bắt đầu nổi lên như một phần của kiến thức chung của nhân loại chỉ vào khoảng cuối thế kỷ này, trừ khi sự tuôn đổ sắp tới gợi lên sự thay đổi lớn hơn mức hiện được coi là có thể bởi Thánh Đoàn đang quan sát. Một số giáo huấn có ích ngay lập tức cho tất cả các bạn. Một số trong đó sẽ làm sáng tỏ các vấn đề của tâm lý học hiện đại, và liên kết nhiều khía cạnh của khoa học về linh hồn. Các đệ tử phát triển trong những ngày này bằng cách tìm ra hồ chứa nguồn nuôi dưỡng của linh hồn họ; họ sẽ khám phá ra rằng nguồn sức mạnh của họ được tìm thấy trong giáo huấn nhóm và trong nỗ lực nhóm. Chúng tôi đang huấn luyện con người sống như những linh hồn chứ không phải như những đứa trẻ được nuôi dưỡng và chăm sóc trong một nhà trẻ được bảo vệ điều hành bởi các quy tắc và mệnh lệnh. Là linh hồn, con người lấy sự sống của họ từ đại dương của cái phổ quát, chứ không phải từ cái giếng nhỏ bé của cái riêng biệt. Mang theo những chiếc bình nhỏ của mình, họ tìm đường đến đại dương đó, và cho chính họ, họ rút vào vật chứa đó cái mà họ cần. Trong ánh sáng của trực giác và tâm trí được soi sáng của chính bạn (được phát triển và đưa vào sự hữu ích thông qua tham thiền), hãy lấy khía cạnh đó của giáo huấn phù hợp và hỗ trợ bạn, và diễn giải nó dưới ánh sáng của nhu cầu và sự phát triển của chính bạn.

The days of personality contact, of personality attention and of personal messages are over, and have been over for quite a while, save in the vale of illusion, on the astral plane. This is a hard message, but no true disciple will misunderstand. From [113] the depths of his own experience and struggle he knows it to be so. It is the group of Masters, the Hierarchy as a whole, that is of moment and its interaction with humanity; it is the Masters’ group of disciples that counts, and its relation to probationary disciples on the physical plane, who are seen by the group as existing in group formation all over the world, no matter where its units may be; it is the body of teaching that can be made available, and its effect upon the collective mind of the thinkers of the race, that is of vital importance; it is the interplay between the subjective group of world workers and—on the outer plane of objectivity—the lovers of humanity which seems to us, the teachers, to be of supreme importance. The satisfying of individual aspiration, the meeting of the desire of the probationers and the feeding of spiritual ambition appeal to us not at all. The times are too serious, and the crisis too acute.

Những ngày của sự tiếp xúc phàm ngã, của sự chú ý phàm ngã và của những thông điệp cá nhân đã qua, và đã qua được một thời gian khá lâu, ngoại trừ trong thung lũng của ảo tưởng, trên cõi cảm dục. Đây là một thông điệp khó nghe, nhưng không đệ tử chân chính nào sẽ hiểu lầm. Từ [113] sâu thẳm kinh nghiệm và đấu tranh của chính mình, y biết điều đó là như vậy. Chính nhóm các Chân sư, Thánh Đoàn nói chung, mới là quan trọng và sự tương tác của nó với nhân loại; chính nhóm đệ tử của các Chân sư mới đáng kể, và mối quan hệ của nó với các đệ tử dự bị trên cõi hồng trần, những người được nhóm nhìn thấy như đang tồn tại trong sự hình thành nhóm trên khắp thế giới, bất kể các đơn vị của nó có thể ở đâu; chính khối lượng giáo huấn có thể được cung cấp, và hiệu quả của nó đối với tâm trí tập thể của các nhà tư tưởng của nhân loại, mới có tầm quan trọng sống còn; chính sự tương tác giữa nhóm những người hoạt động thế giới chủ quan và — trên cõi khách quan bên ngoài — những người yêu thương nhân loại dường như đối với chúng tôi, những người thầy, là có tầm quan trọng tối cao. Việc thỏa mãn khát vọng cá nhân, đáp ứng mong muốn của các đệ tử dự bị và nuôi dưỡng tham vọng tinh thần hoàn toàn không hấp dẫn chúng tôi. Thời thế quá nghiêm trọng, và cuộc khủng hoảng quá cấp bách.

It is of course a fact that there are today groups of aspirants receiving definite instruction, and disciples being subjected to definite training. But it must be remembered (in spite of all statements by the devotees of the world to the contrary) that no training is given in these cases as to the handling of the details of the personality life; the specific problems of health, finance and family concerns are not dealt with nor considered; nor is comfort given or time taken to reassure or satisfy the unstable personality. Training aspirants as to the technique of spiritual growth is undertaken; correction of the hidden factors producing emotional conditions may be suggested; meditations may be arranged in order to bring about certain results; and instruction in the laws governing soul union may be offered; but no personality work is attempted. Disciples handle their own personalities. In the pressure of world work, the Masters are finding Themselves with less and less time to give even to Their disciples. How then do those who are not in the [114] ranks of accepted disciples expect the Master to have the time to deal with their little affairs?

Tất nhiên, sự thật là ngày nay có các nhóm người chí nguyện đang nhận được sự hướng dẫn xác định, và các đệ tử đang chịu sự huấn luyện xác định. Nhưng cần nhớ (mặc dù tất cả các tuyên bố ngược lại của những người sùng tín trên thế giới) rằng không có sự huấn luyện nào được đưa ra trong các trường hợp này về việc xử lý các chi tiết của đời sống phàm ngã; các vấn đề cụ thể về sức khỏe, tài chính và mối quan tâm gia đình không được giải quyết hay xem xét; cũng không có sự an ủi được đưa ra hoặc thời gian được dành để trấn an hoặc thỏa mãn phàm ngã không ổn định. Việc huấn luyện những người chí nguyện về kỹ thuật tăng trưởng tinh thần được thực hiện; việc sửa chữa các yếu tố ẩn giấu tạo ra các điều kiện cảm xúc có thể được gợi ý; các bài thiền có thể được sắp xếp để mang lại những kết quả nhất định; và sự hướng dẫn về các quy luật chi phối sự hợp nhất linh hồn có thể được cung cấp; nhưng không có công việc phàm ngã nào được cố gắng thực hiện. Các đệ tử tự xử lý phàm ngã của chính họ. Trong áp lực của công việc thế giới, các Chân sư đang thấy Chính Mình ngày càng có ít thời gian hơn để dành cho ngay cả các đệ tử của Các Ngài. Vậy thì làm sao những người không ở trong [114] hàng ngũ các đệ tử được chấp nhận lại mong đợi Chân sư có thời gian để giải quyết những công việc nhỏ nhặt của họ?

In the future, however, groups will be formed increasingly, which will function on a new basis, and some of these new “group organisms” are forming in the world at this time. They are still in the nature of an experiment and may prove premature or undesirable. The teaching given in these new groups, the suggestions made, the experiments in training to be attempted, and the technique imparted will not be given personally and privately to an individual group member, but all of it is open and can be read, known and considered by every other member in the group. These groups are as yet necessarily few, and very small in number. They are in the nature of an attempt to see if it will be possible eventually to externalise the groups gathered around a Master on the inner planes. These groups of accepted disciples on the inner side are sensitive organisms, and each member of these circles gathered around a Master is aware of that which concerns his fellow disciples” spiritual unfoldment, within the radius of the circle in which he finds himself. These small outer attempts at a tentative duplication are in an embryonic condition as yet. It is a test and a trial effort, and may fail. The members of these tiny outer groups (whose membership and grouping are known only to those who form part of them) have to be willing to be instructed and developed as group units, with the other members of their group aware of their failures or successes. They have also to preserve complete silence as to the existence of the group, and a breaking of this silence warrants their elimination from the group. The personnel of these groups is forgotten in the life of the group entity as a whole. The members are trained in the group, and the group is trained as a whole, with no emphasis upon the individual but only on the group interplay and interaction, its integration and growth. [115] Only those factors in the life of the individual are noted and handled which would hinder the growth of the group life and expression. It is the group note, the group colour, and the group development which count with the training staff of workers, and the individual is never considered as an individual, but only in his relation to the group. What he is told to do, and the discipline applied, is all based on the desire to preserve the group balance, and not on any personal interest in the individual. In this experiment a man is tried out to see his fitness. He will be tested early in his career as a group unit. If he passes the test and makes the grade, the group is enriched and grows thereby. If he fails, he drops out and others take his place until such time as the group unit is attuned and completed, and those who are sincere and true, impersonal and mentally poised, self-forgetful and loving, are found to work together in harmony. Thus they can, as a group entity, form a focal point for the transmission of spiritual force to a needy and waiting world.

Tuy nhiên, trong tương lai, các nhóm sẽ được hình thành ngày càng nhiều, hoạt động trên một cơ sở mới, và một số “cơ thể nhóm” mới này đang hình thành trên thế giới vào lúc này. Chúng vẫn còn mang tính chất thử nghiệm và có thể chứng tỏ là quá sớm hoặc không mong muốn. Giáo huấn được đưa ra trong các nhóm mới này, những gợi ý được đưa ra, những thử nghiệm trong việc huấn luyện được cố gắng thực hiện, và kỹ thuật được truyền đạt sẽ không được đưa ra một cách cá nhân và riêng tư cho một thành viên nhóm cá nhân, mà tất cả đều công khai và có thể được đọc, biết và xem xét bởi mọi thành viên khác trong nhóm. Những nhóm này hiện tại nhất thiết là rất ít, và rất nhỏ về số lượng. Chúng mang tính chất của một nỗ lực để xem liệu cuối cùng có thể ngoại hiện các nhóm tập hợp quanh một Chân sư trên các cõi bên trong hay không. Những nhóm đệ tử được chấp nhận này ở phía bên trong là những cơ thể nhạy cảm, và mỗi thành viên của những vòng tròn này tập hợp quanh một Chân sư đều nhận biết về những gì liên quan đến sự khai mở tinh thần của các đệ tử đồng môn của y, trong phạm vi bán kính của vòng tròn mà y thấy mình trong đó. Những nỗ lực nhỏ bên ngoài này tại một sự sao chép thăm dò đang trong tình trạng phôi thai vào lúc này. Nó là một bài kiểm tra và một nỗ lực thử nghiệm, và có thể thất bại. Các thành viên của những nhóm nhỏ bên ngoài này (những người có tư cách thành viên và sự phân nhóm chỉ được biết đến bởi những người tạo thành một phần của chúng) phải sẵn sàng được hướng dẫn và phát triển như những đơn vị nhóm, với các thành viên khác trong nhóm của họ nhận biết về những thất bại hoặc thành công của họ. Họ cũng phải giữ im lặng hoàn toàn về sự tồn tại của nhóm, và việc phá vỡ sự im lặng này đảm bảo cho việc loại bỏ họ khỏi nhóm. Nhân sự của các nhóm này bị lãng quên trong đời sống của thực thể nhóm nói chung. Các thành viên được huấn luyện trong nhóm, và nhóm được huấn luyện như một tổng thể, không chú trọng vào cá nhân mà chỉ chú trọng vào sự tương tác và tác động lẫn nhau của nhóm, sự tích hợp và phát triển của nó. [115] Chỉ những yếu tố trong đời sống của cá nhân được ghi nhận và xử lý nếu chúng cản trở sự phát triển của đời sống và biểu hiện nhóm. Chính âm điệu nhóm, màu sắc nhóm, và sự phát triển nhóm mới quan trọng đối với đội ngũ nhân viên huấn luyện, và cá nhân không bao giờ được coi như một cá nhân, mà chỉ trong mối quan hệ của y với nhóm. Những gì y được bảo phải làm, và kỷ luật được áp dụng, tất cả đều dựa trên mong muốn duy trì sự cân bằng nhóm, chứ không phải dựa trên bất kỳ mối quan tâm cá nhân nào đối với cá nhân đó. Trong thử nghiệm này, một người được thử thách để xem sự phù hợp của y. Y sẽ được kiểm tra sớm trong sự nghiệp của mình như một đơn vị nhóm. Nếu y vượt qua bài kiểm tra và đạt yêu cầu, nhóm sẽ được làm giàu và phát triển nhờ đó. Nếu y thất bại, y sẽ bị loại và những người khác sẽ thay thế vị trí của y cho đến khi đơn vị nhóm được hòa hợp và hoàn thiện, và những người chân thành và trung thực, vô tư và thăng bằng về mặt trí tuệ, quên mình và yêu thương, được tìm thấy để làm việc cùng nhau trong sự hài hòa. Do đó, họ có thể, như một thực thể nhóm, hình thành một tiêu điểm cho việc truyền tải lực tinh thần đến một thế giới đang cần và đang chờ đợi.

But it is important to remember that the attitude of the training initiate or teacher is one of complete detachment and impersonality; he is aware of the soul light and condition, and of the mental state, but he does not turn his attention to the handling of the affairs of the aspirant on the physical plane, nor to the training of his emotional nature and his astral development. Aspirants learn to be master and adept by handling their own physical plane affairs and their astral idiosyncrasies. This they must do in the light and strength of their own souls. We who teach would break a law and hinder their development if we attempted to enforce conditions which come not naturally. We should also overstimulate their lower natures. When will aspirants learn that the teachers and senior disciples in charge of them work only on mental levels and with the soul? When will they grasp the fact that until a man has contacted his own [116] soul, and has learned to function as a controlled mind as well, there is little we can do for him? Again I say, we are not interested in personalities and their small affairs. We have neither the time nor the inclination to interfere with the way and method of a man’s daily life. Why should we, when enough has been printed and taught to occupy the attention of the aspiring man for many a day? When a man is beginning to live as a soul, and when his consciousness has shifted away from the world of illusion, then he can be useful. The first lesson he has to learn is a sense of values in time and space, and to know that we work with souls and do not nurse the personality.

Nhưng điều quan trọng cần nhớ là thái độ của điểm đạo đồ huấn luyện hay người thầy là một thái độ hoàn toàn tách rời và vô tư; y nhận biết về ánh sáng và điều kiện linh hồn, và về trạng thái tâm trí, nhưng y không hướng sự chú ý của mình vào việc xử lý các công việc của người chí nguyện trên cõi hồng trần, cũng không vào việc huấn luyện bản chất cảm xúc và sự phát triển cảm dục của người đó. Những người chí nguyện học cách trở thành chân sư và bậc chân tu bằng cách xử lý các công việc cõi hồng trần của chính họ và những đặc thù cảm dục của họ. Điều này họ phải làm trong ánh sáng và sức mạnh của chính linh hồn họ. Chúng tôi, những người giảng dạy, sẽ phá vỡ một quy luật và cản trở sự phát triển của họ nếu chúng tôi cố gắng thực thi các điều kiện không đến một cách tự nhiên. Chúng tôi cũng sẽ kích thích quá mức bản chất thấp của họ. Khi nào những người chí nguyện sẽ học được rằng các giáo viên và các đệ tử cao cấp phụ trách họ chỉ làm việc trên các cấp độ trí tuệ và với linh hồn? Khi nào họ sẽ nắm bắt được thực tế rằng cho đến khi một người đã tiếp xúc với [116] linh hồn của chính mình, và đã học cách hoạt động như một tâm trí được kiểm soát nữa, thì có rất ít điều chúng tôi có thể làm cho y? Một lần nữa tôi nói, chúng tôi không quan tâm đến các phàm ngã và những công việc nhỏ nhặt của chúng. Chúng tôi không có thời gian cũng không có hứng thú để can thiệp vào cách thức và phương pháp của cuộc sống hàng ngày của một người. Tại sao chúng tôi phải làm vậy, khi đã có đủ những điều được in ấn và giảng dạy để chiếm lĩnh sự chú ý của người đang khao khát trong nhiều ngày? Khi một người đang bắt đầu sống như một linh hồn, và khi tâm thức của y đã chuyển dịch ra khỏi thế giới ảo tưởng, thì y mới có thể hữu ích. Bài học đầu tiên y phải học là ý thức về các giá trị trong thời gian và không gian, và biết rằng chúng tôi làm việc với các linh hồn và không nuôi dưỡng phàm ngã.

Seems this too hard a saying to you? If it is indeed so to you, it means that you are as yet somewhat self-centred and in love with your own individual soul, having not yet duly contacted it, and having but perhaps sensed its vibration and no more. You have not yet that true picture of the world’s need which will release you from your own ambition and set you free to work as we (on the subjective side) work, with no thought of self or of spiritual happiness, and with no desire for any self-appointed task; with no longing for glittering promises of future success, and with no demanding ache for the tender touch and contact with those greater in consciousness than ourselves. If this lies still beyond your realisation, recognise the fact, and understand that there is no blame attached. It only indicates to you the ground whereon you stand, and that the illusion of the astral plane still holds you in its thrall and still leads you to place personality reactions before group realisation. As long as you walk on that plane and function on that level of consciousness, it is not possible to draw you consciously into the Masters’ groups on mental levels. You are still too destructive and personal; you would be apt to hurt the group and cause trouble; you would see things (through the group stimulation) with a clarity for which you are not yet [117] ready, and would be shattered thereby. You have need to learn the lessons of accepting guidance from your own soul, and of learning to work with harmony and impersonality on the physical plane with the group or groups to which your destiny impels you. When you have learnt the lesson of self-forgetfulness, when you seek nothing for the separated self, when you stand firmly on your own feet and look for aid within yourself, and when the trend of your life is towards cooperation, then you may pass from the stage of Observer to that of Communicator. This will happen because you can be trusted to communicate only that which is impersonal and truly constructive, and which will not feed the emotional nature and satisfy the desire-self.

Câu nói này có vẻ quá khó đối với bạn không? Nếu quả thực là như vậy đối với bạn, điều đó có nghĩa là bạn vẫn còn hơi tập trung vào bản thân và yêu thích linh hồn cá nhân của riêng bạn, chưa tiếp xúc đúng mức với nó, và có lẽ chỉ mới cảm nhận được rung động của nó và không hơn thế nữa. Bạn vẫn chưa có bức tranh chân thực về nhu cầu của thế giới vốn sẽ giải phóng bạn khỏi tham vọng của chính mình và giải phóng bạn để làm việc như chúng tôi (ở phía chủ quan) làm việc, không nghĩ đến bản thân hay hạnh phúc tinh thần, và không mong muốn bất kỳ nhiệm vụ tự chỉ định nào; không khao khát những lời hứa hẹn lấp lánh về thành công trong tương lai, và không có nỗi đau đòi hỏi sự chạm vào dịu dàng và tiếp xúc với những người vĩ đại hơn chúng ta trong tâm thức. Nếu điều này vẫn nằm ngoài sự chứng nghiệm của bạn, hãy nhận ra thực tế, và hiểu rằng không có sự trách cứ nào được gắn vào. Nó chỉ chỉ ra cho bạn nền tảng nơi bạn đang đứng, và rằng ảo tưởng của cõi cảm dục vẫn giữ bạn trong sự nô lệ của nó và vẫn dẫn bạn đến việc đặt các phản ứng phàm ngã lên trước sự chứng nghiệm nhóm. Chừng nào bạn còn bước đi trên cõi giới đó và hoạt động ở cấp độ tâm thức đó, thì không thể lôi kéo bạn một cách có ý thức vào các nhóm của các Chân sư trên các cấp độ trí tuệ. Bạn vẫn còn quá phá hoại và cá nhân; bạn sẽ có khuynh hướng làm tổn thương nhóm và gây rắc rối; bạn sẽ nhìn thấy mọi thứ (thông qua sự kích thích nhóm) với một sự rõ ràng mà bạn chưa sẵn sàng [117] , và sẽ bị tan vỡ bởi điều đó. Bạn cần phải học các bài học về việc chấp nhận sự hướng dẫn từ chính linh hồn của bạn, và học cách làm việc với sự hài hòa và vô tư trên cõi hồng trần với nhóm hoặc các nhóm mà định mệnh của bạn thúc đẩy bạn đến. Khi bạn đã học được bài học về sự quên mình, khi bạn không tìm kiếm gì cho cái tôi tách biệt, khi bạn đứng vững trên đôi chân của chính mình và tìm kiếm sự trợ giúp bên trong chính mình, và khi xu hướng cuộc sống của bạn là hướng tới sự hợp tác, thì bạn có thể chuyển từ giai đoạn Người Quan Sát sang giai đoạn Người Giao Tiếp. Điều này sẽ xảy ra bởi vì bạn có thể được tin cậy để chỉ giao tiếp những gì là vô tư và thực sự mang tính xây dựng, và những gì sẽ không nuôi dưỡng bản chất cảm xúc và thỏa mãn cái tôi ham muốn.

An interesting point might here be noted and a question answered. In A Treatise on White Magic I referred to the two groups of Observers and Communicators (the third group lies outside our present discussion), and the question was asked: Who trains these Observers and Communicators? I should like to make it clear that the observers train themselves or—more accurately—the soul of each trains the personality in true observation. In the case of the communicators, they are slowly and gradually trained by senior disciples, working from the subjective side of life. The training is never organised and arranged for on the physical plane,nor are any disciples—working on the physical plane—engaged in training groups of communicators to be employed later by the Hierarchy. In this matter (as in all else in the spiritual life) the disciple first trains himself to be responsive to his own soul, and then trains himself to be responsive to the inner group of workers, who later, as a result of his self-initiated effort, teach him to be a communicator, an intermediary. The hallmark of such communicators is mental clarity, true impersonality, spiritual tolerance, [118] and a frugality in the use of words, when embodying concepts. It should be remembered that in the wealth of psychic writings pouring into the world today, the work of the true communicators will concern itself with the Plan and not with personalities; with principles and not with individual purposes; and that all such communicators will be mental types, channels for the love of God, and group conscious. There will be nothing in their work to produce separativeness, and nothing to feed the fires of controversy, antagonism or partisanship. Much of value may come along other lines than through this group of communicators, and you may look for an increased flood of inspirational writings of a high order, and for an outpouring of wisdom from the world of souls through the hundreds who are in touch with their own souls; there will also be much emanating from the highest level of the astral plane, of a high order along devotional lines, but none of this will be the work of the band of communicators now in process of forming. Only a handful are doing this work as yet, and the true influx of communicators will not start for another fifteen years.

Một điểm thú vị có thể được ghi nhận ở đây và một câu hỏi được trả lời. Trong Luận về Chánh Thuật, tôi đã đề cập đến hai nhóm Người Quan Sát và Người Giao Tiếp (nhóm thứ ba nằm ngoài cuộc thảo luận hiện tại của chúng ta), và câu hỏi đã được đặt ra: Ai huấn luyện những Người Quan Sát và Người Giao Tiếp này? Tôi muốn làm rõ rằng những người quan sát tự huấn luyện mình hoặc — chính xác hơn — linh hồn của mỗi người huấn luyện phàm ngã trong sự quan sát chân thực. Trong trường hợp của những người giao tiếp, họ được huấn luyện chậm rãi và dần dần bởi các đệ tử cao cấp, làm việc từ phía bên trong của sự sống. Việc huấn luyện không bao giờ được tổ chức và sắp xếp trên cõi hồng trần, cũng không có bất kỳ đệ tử nào — đang làm việc trên cõi hồng trần — tham gia vào việc huấn luyện các nhóm người giao tiếp để được Thánh Đoàn sử dụng sau này. Trong vấn đề này (cũng như trong mọi vấn đề khác trong đời sống tinh thần), người đệ tử trước tiên tự huấn luyện mình để trở nên đáp ứng với linh hồn của chính mình, và sau đó tự huấn luyện mình để trở nên đáp ứng với nhóm người hoạt động bên trong, những người sau này, như là kết quả của nỗ lực tự khởi xướng của y, dạy y trở thành một người giao tiếp, một người trung gian. Dấu hiệu của những người giao tiếp như vậy là sự rõ ràng về trí tuệ, sự vô tư thực sự, sự khoan dung tinh thần, [118] và sự tiết kiệm trong việc sử dụng từ ngữ, khi thể hiện các khái niệm. Cần nhớ rằng trong sự phong phú của các bài viết thông linh đang tuôn vào thế giới ngày nay, công việc của những người giao tiếp chân chính sẽ liên quan đến Thiên Cơ chứ không phải với các phàm ngã; với các nguyên tắc chứ không phải với các mục đích cá nhân; và rằng tất cả những người giao tiếp như vậy sẽ là những loại hình trí tuệ, những kênh dẫn cho tình thương của Thượng đế, và có tâm thức nhóm. Sẽ không có gì trong công việc của họ tạo ra sự chia rẽ, và không có gì để nuôi dưỡng ngọn lửa tranh cãi, đối kháng hay bè phái. Nhiều giá trị có thể đến dọc theo các đường hướng khác hơn là thông qua nhóm người giao tiếp này, và các bạn có thể mong đợi một dòng thác gia tăng của các bài viết đầy cảm hứng thuộc trật tự cao, và một sự tuôn đổ minh triết từ thế giới của các linh hồn thông qua hàng trăm người đang tiếp xúc với linh hồn của chính họ; cũng sẽ có nhiều điều phát ra từ cấp độ cao nhất của cõi cảm dục, thuộc trật tự cao dọc theo các đường hướng sùng tín, nhưng không có điều nào trong số này sẽ là công việc của nhóm người giao tiếp hiện đang trong quá trình hình thành. Chỉ một số ít đang làm công việc này vào lúc này, và dòng chảy thực sự của những người giao tiếp sẽ không bắt đầu trong mười lăm năm nữa.

To return to our two questions, and particularly to the one concerning the value of studying the rays. I have felt the need to write on this matter for the following reasons:

Để trở lại với hai câu hỏi của chúng ta, và đặc biệt là câu hỏi liên quan đến giá trị của việc nghiên cứu các cung. Tôi đã cảm thấy cần phải viết về vấn đề này vì những lý do sau:

1. Modern psychology is in a cul-de-sac. The many psychologies have made their contribution to the whole subject, and all of them have value, for all have embodied an aspect of truth. Through them we have arrived at an amazing knowledge of man, of his instincts and animal mechanisms, of his reactions to his environment and of his sensitive apparatus; we have learnt much about the sub-conscious, through which ancient racial sins and knowledges, suppressed complexes and latent desires, as well as highly organised psychic reactions, [119] well up into the conscious mind so disastrously. We know much anent the man as a whole functioning unity, and of the interactions existing between the nervous system, the glandular system, the muscles, and their expression, in forms of quality, character, personality, and the environment. We have learnt much, therefore, about that composite being called man, and man, as a psychic entity, is an established fact in nature, as is man, the animal. But man, the soul, remains still a speculation, a hope, a belief. The fact of the soul is not yet substantiated; and in helping the truth into the light I seek to bring the subject of the seven rays to the notice of the thinkers of modern times, so that the light of this esoteric knowledge may be thrown upon the science of psychology. Thus may the work of revelation be aided.

1. Tâm lý học hiện đại đang ở trong ngõ cụt. Nhiều nền tâm lý học đã đóng góp vào toàn bộ chủ đề, và tất cả chúng đều có giá trị, vì tất cả đều đã thể hiện một khía cạnh của chân lý. Thông qua chúng, chúng ta đã đạt được một kiến thức đáng kinh ngạc về con người, về các bản năng và cơ chế động vật của y, về các phản ứng của y đối với môi trường và về bộ máy nhạy cảm của y; chúng ta đã học được nhiều điều về tiềm thức, qua đó những tội lỗi và kiến thức chủng tộc cổ xưa, những mặc cảm bị dồn nén và những dục vọng tiềm ẩn, cũng như các phản ứng thông linh được tổ chức cao, [119] trào lên tâm trí có ý thức một cách tai hại. Do đó, chúng ta biết nhiều về con người như một đơn vị hoạt động toàn thể, và về các tương tác tồn tại giữa hệ thần kinh, hệ tuyến, các cơ bắp, và sự biểu hiện của chúng, dưới các hình thức phẩm chất, tính cách, phàm ngã, và môi trường. Do đó, chúng ta đã học được nhiều về thực thể hỗn hợp được gọi là con người đó, và con người, như một thực thể thông linh, là một thực tế đã được thiết lập trong tự nhiên, cũng như con người, con vật. Nhưng con người, linh hồn, vẫn còn là một sự suy đoán, một niềm hy vọng, một niềm tin. Sự thật về linh hồn vẫn chưa được chứng minh; và trong việc giúp đưa sự thật ra ánh sáng, tôi tìm cách đưa chủ đề về bảy cung đến sự chú ý của các nhà tư tưởng thời hiện đại, để ánh sáng của kiến thức huyền môn này có thể được chiếu vào khoa học tâm lý học. Do đó, công việc của sự mặc khải có thể được hỗ trợ.

2. If there is one thing that has emerged into the minds of investigators, as they have studied man, it is the fact that he is essentially dual. Psychology has shown that in the consciousness of every human being is a sense of duality, that man is in some mysterious sense two beings, and that it is the warfare between these two which has led to all the neuroses and complexes which tax the ingenuity of trained psychologists to solve. The initiate Paul referred to this when he spoke of the eternal warfare going on between the carnal mind and the heavenly nature, and all aspirants who are occupied with an intelligent struggle towards liberation bear witness to the same. Paul points out that victory is won through Christ, and I give a clue to the importance of this study of the rays when I state that, esoterically, these seven rays are the sevenfold expressions of the Cosmic Christ, the second Person of the Trinity. Bewildered men and women go in their thousands to the clinics of the psychologists, carrying with them the burden of their dual natures; and psychologists in their thousands recognise [120] this duality and seek to unify the dissociated aspects. When the true nature of the seven rays is grasped, and when their effect on humanity in expressing the seven types of men is also understood, we shall then approach the subject of man”s duality with greater intelligence. We shall comprehend better the nature of the forces which constitute one or another of these dualities. This is the true esoteric science. The science of the seven qualities or rays, and their effect upon the myriad forms which they mould and energise, is the coming new approach to the correct method of training and developing the human family. Modern exoteric science knows much about the outer form, or matter aspect, and its electrical nature. Esoteric science knows much about the nature of the subjective energies and the qualities which colour and condition the form. When these two knowledges are brought intelligently together, we shall evolve a truer and more accurate psychology and a new science of human culture. Then the work of unifying man—man, the psychic entity, and man, the conditioning soul—will go rapidly forward.

2. Nếu có một điều đã nổi lên trong tâm trí của các nhà nghiên cứu, khi họ nghiên cứu con người, thì đó là thực tế rằng y về cơ bản là kép. Tâm lý học đã chỉ ra rằng trong tâm thức của mọi con người đều có ý thức về tính nhị nguyên, rằng con người theo một nghĩa bí ẩn nào đó là hai thực thể, và rằng chính cuộc chiến giữa hai thực thể này đã dẫn đến tất cả các chứng loạn thần kinh và mặc cảm vốn thách thức sự khéo léo của các nhà tâm lý học được đào tạo để giải quyết. Điểm đạo đồ Phao-lô đã đề cập đến điều này khi ông nói về cuộc chiến vĩnh cửu đang diễn ra giữa tâm trí xác thịt và bản chất thiên thượng, và tất cả những người chí nguyện đang bận rộn với một cuộc đấu tranh thông minh hướng tới sự giải thoát đều làm chứng cho điều tương tự. Phao-lô chỉ ra rằng chiến thắng giành được thông qua Đức Christ, và tôi đưa ra một manh mối về tầm quan trọng của việc nghiên cứu các cung này khi tôi tuyên bố rằng, về mặt huyền môn, bảy cung này là bảy biểu hiện của Đức Christ Vũ trụ, Ngôi Hai của Tam Vị Nhất Thể. Những người nam và nữ hoang mang đi hàng ngàn người đến các phòng khám của các nhà tâm lý học, mang theo gánh nặng về bản chất kép của họ; và hàng ngàn nhà tâm lý học nhận ra [120] tính nhị nguyên này và tìm cách thống nhất các khía cạnh bị phân ly. Khi bản chất thực sự của bảy cung được nắm bắt, và khi ảnh hưởng của chúng đối với nhân loại trong việc thể hiện bảy loại người cũng được hiểu, thì chúng ta sẽ tiếp cận chủ đề về tính nhị nguyên của con người với trí thông minh lớn hơn. Chúng ta sẽ hiểu rõ hơn bản chất của các lực cấu thành nên cái này hay cái kia trong những nhị nguyên này. Đây là khoa học huyền môn chân chính. Khoa học về bảy phẩm tính hay cung, và ảnh hưởng của chúng đối với vô số hình tướng mà chúng nhào nặn và cấp năng lượng, là cách tiếp cận mới sắp tới đối với phương pháp đúng đắn để huấn luyện và phát triển gia đình nhân loại. Khoa học ngoại môn hiện đại biết nhiều về hình tướng bên ngoài, hay phương diện vật chất, và bản chất điện của nó. Khoa học huyền môn biết nhiều về bản chất của các năng lượng chủ quan và các phẩm tính tô màu và quy định hình tướng. Khi hai kiến thức này được đưa lại với nhau một cách thông minh, chúng ta sẽ phát triển một nền tâm lý học chân thực và chính xác hơn và một khoa học mới về văn hóa con người. Khi đó công việc thống nhất con người — con người, thực thể thông linh, và con người, linh hồn quy định — sẽ tiến nhanh về phía trước.

3. A knowledge of the rays and their tendencies and energies will bring much illumination to the workers in the field of the various sciences. All the sciences find themselves on some one or other of the rays, and a science is literally the light thrown by a ray into a particular field of divine manifestation. The four kingdoms in nature are embodiments of four great Lives Who are found, each on one of the four minor rays. The Being Who is the life of the fourth or human kingdom in nature (regarding that kingdom as a distinct organism, just as man’s body nature or personality is a distinct organism, separable from him as a soul) is on the fifth ray. The Being Who ensouls similarly the third kingdom, the animal kingdom, vibrates to the sixth ray. The Being Who is the expression [121] and active force of the entire vegetable kingdom is to be found upon the fourth ray. Therefore we have:

3. Một kiến thức về các cung và các khuynh hướng cũng như năng lượng của chúng sẽ mang lại nhiều sự soi sáng cho những người làm việc trong lĩnh vực của các khoa học khác nhau. Tất cả các khoa học đều thấy mình trên một cung nào đó trong các cung, và một khoa học theo nghĩa đen là ánh sáng được chiếu bởi một cung vào một lĩnh vực cụ thể của sự biểu hiện thiêng liêng. Bốn giới trong tự nhiên là hiện thân của bốn Sự Sống vĩ đại được tìm thấy, mỗi vị trên một trong bốn cung phụ. Bản Thể là sự sống của giới thứ tư hay giới nhân loại trong tự nhiên (coi giới đó như một cơ thể riêng biệt, giống như bản chất cơ thể hay phàm ngã của con người là một cơ thể riêng biệt, có thể tách rời khỏi y như một linh hồn) ở trên cung năm. Bản Thể phú linh tương tự cho giới thứ ba, giới động vật, rung động với cung sáu. Bản Thể là sự biểu hiện [121] và lực tích cực của toàn bộ giới thực vật được tìm thấy trên cung bốn. Do đó chúng ta có:

Humanity

4th Kingdom

5th Ray

Concrete Knowledge.

Animal

3rd Kingdom

6th Ray

Devotion upwards or forwards.

Vegetable

2nd Kingdom

4th Ray

Harmony and Beauty.

Mineral

1st Kingdom

7th Ray

Organisation and Ritual.

These statements mean little to you at present, but we shall elaborate them later, when we come to the consideration of these rays in greater detail. I am but giving a general impression at this time. It is apparent nevertheless that when the nature of the energy permeating and animating any particular kingdom in nature is recognised and accepted (even if hypothetically) by the scientists, much light will be thrown upon the outer form qualified by a particular force and life.

Những tuyên bố này có rất ít ý nghĩa đối với bạn vào lúc này, nhưng chúng ta sẽ thảo luận chi tiết hơn sau này, khi chúng ta xem xét các cung này chi tiết hơn. Tôi chỉ đưa ra một ấn tượng chung vào lúc này. Tuy nhiên, rõ ràng là khi bản chất của năng lượng thâm nhập và làm sinh động bất kỳ giới cụ thể nào trong tự nhiên được các nhà khoa học công nhận và chấp nhận (ngay cả khi theo giả thuyết), nhiều ánh sáng sẽ được chiếu vào hình tướng bên ngoài được quy định bởi một lực và sự sống cụ thể.

There is, for instance, a definite reason why the bulk of the wild flowers and garden flowers in the occident, and also those found during the autumn season, are at this time found in tones of yellow and orange; and the mental calibre of the later sub-races of the Aryan race, as well as its general tone throughout the Aryan age, is also related to the same reason. The influence of the fourth Ray of Harmony and Beauty, and the developing power of the fifth Ray of Knowledge (synonymous to the merging of the intuition and the intellect in highly evolved man) have a definite effect upon the vegetable kingdom and upon the human aura. Yellow-orange shines forth in both. I mention this as an illustration of an externalisation of ray force, and as an indication of the value of the esoteric science when applied to the exoteric.

Chẳng hạn, có một lý do xác định tại sao phần lớn hoa dại và hoa vườn ở phương tây, và cả những loài được tìm thấy trong mùa thu, vào thời điểm này được tìm thấy trong các tông màu vàng và cam; và tầm cỡ trí tuệ của các giống dân phụ sau này của giống dân Arya, cũng như tông màu chung của nó trong suốt thời đại Arya, cũng liên quan đến cùng một lý do. Ảnh hưởng của Cung Bốn về Sự Hài Hòa và Vẻ Đẹp, và quyền năng đang phát triển của Cung Năm về Kiến Thức (đồng nghĩa với sự hòa nhập của trực giác và trí năng ở con người tiến hóa cao) có một hiệu quả xác định đối với giới thực vật và đối với hào quang con người. Vàng-cam tỏa sáng trong cả hai. Tôi đề cập đến điều này như một minh họa về sự ngoại hiện của lực cung, và như một chỉ báo về giá trị của khoa học huyền môn khi áp dụng cho cái ngoại môn.

The blue ray of devotion passes now into the violet of what we term the ceremonial ray. What do these words mean? Simply that the great Musician of the universe is moving the [122] keys, is sounding another note and thus bringing in another turn of the wheel, and swinging into the arc of manifestation the ray of violet, the great note G. These rays bring with them—in every kingdom in nature—all that is attuned to them: Human beings, devas of order high or low, elementals of a desirable or undesirable nature, flowers, fruits, and vegetable life of a certain kind, and animals and forms of varying species. It is the passing out of a ray that signals the ultimate extinction of some particular form, some type of animal life, and leads to some vegetable aspect coming to an end. Hence the confusion among the scientists at this time. The process of coming in is slow, as is all work in nature, and as is the process of passing out. Simultaneously with the cyclic birth and emergence of a new ray is the slow return to its source of the prevailing ray, present at the advent of the new.

Cung xanh dương của sự sùng tín giờ đây chuyển sang màu tím của cái mà chúng ta gọi là cung nghi lễ. Những từ này có nghĩa là gì? Đơn giản là Nhạc sĩ vĩ đại của vũ trụ đang di chuyển các [122] phím đàn, đang xướng lên một nốt nhạc khác và do đó mang lại một vòng quay khác của bánh xe, và đưa vào vòng cung biểu hiện cung màu tím, nốt Sol vĩ đại. Những cung này mang theo chúng — trong mọi giới trong tự nhiên — tất cả những gì hòa điệu với chúng: Con người, các deva trật tự cao hay thấp, các hành khí có bản chất đáng mong đợi hay không mong đợi, hoa, quả, và đời sống thực vật thuộc một loại nhất định, và động vật và các hình thức thuộc các loài khác nhau. Chính việc đi ra của một cung báo hiệu sự tuyệt chủng cuối cùng của một hình thức cụ thể nào đó, một loại đời sống động vật nào đó, và dẫn đến một khía cạnh thực vật nào đó đi đến hồi kết. Do đó mới có sự bối rối giữa các nhà khoa học vào thời điểm này. Quá trình đi vào thì chậm chạp, cũng như mọi công việc trong tự nhiên, và quá trình đi ra cũng vậy. Đồng thời với sự ra đời theo chu kỳ và sự xuất hiện của một cung mới là sự trở về nguồn chậm chạp của cung đang thịnh hành, hiện diện khi cung mới ra đời.

At this time the sixth ray is passing out and is taking with it all those forms whose keynote is blue—those people, for instance, who with devotion (misplaced or not) followed some particular object, person or idea. With it passes, therefore, those whom we term fanatics, those who with one-pointed zeal work towards some sensed objective. Many of the flowers in which you now rejoice are passing out, the bluebell, the hyacinth and the olive for example; the sapphire will become scarce and the turquoise will lose its hue. Flowers of violet colour, of lavender and of purple will come into favour. Behind all this lies a purpose profound.

Vào thời điểm này, cung sáu đang đi ra và đang mang theo nó tất cả những hình tướng có chủ âm là màu xanh dương — chẳng hạn như những người với lòng sùng tín (đặt sai chỗ hay không) đã theo đuổi một đối tượng, con người hoặc ý tưởng cụ thể nào đó. Do đó, cùng với nó đi qua những người mà chúng ta gọi là những kẻ cuồng tín, những người với lòng nhiệt thành nhất tâm làm việc hướng tới một mục tiêu được cảm nhận nào đó. Nhiều loài hoa mà bạn hiện đang vui thích đang đi ra, ví dụ như hoa chuông xanh, hoa lục bình và cây ô liu; đá sapphire sẽ trở nên khan hiếm và đá ngọc lam sẽ mất đi màu sắc của nó. Những loài hoa màu tím, màu oải hương và màu tía sẽ được ưa chuộng. Đằng sau tất cả những điều này nằm một mục đích sâu sắc.

The physical plane, in its densest aspect, holds little of mystery for man today; he has knowledge on these matters. But the rarer levels of the physical plane lie hid and are, for man, his next field of discovery. The ceremonial ray brings with it the means whereby that knowledge may be acquired and revealed to all, and thus not be the sole property of the wise and of the occultists. The three higher etheric levels, with their [123] denizens, are waiting to become the property of all, and with their inhabitants comes the next approximation.

Cõi hồng trần, ở khía cạnh đậm đặc nhất của nó, chứa đựng ít bí ẩn đối với con người ngày nay; y có kiến thức về những vấn đề này. Nhưng các cấp độ hiếm hơn của cõi hồng trần nằm ẩn giấu và là, đối với con người, lĩnh vực khám phá tiếp theo của y. Cung nghi lễ mang theo nó các phương tiện mà qua đó kiến thức đó có thể được thu thập và tiết lộ cho tất cả mọi người, và do đó không phải là tài sản duy nhất của những người khôn ngoan và các nhà huyền bí học. Ba cấp độ dĩ thái cao hơn, với các [123] cư dân của chúng, đang chờ đợi để trở thành tài sản của tất cả mọi người, và cùng với cư dân của chúng đến sự tiếp cận gần đúng tiếp theo.

It is possible at this time to foretell certain events which will come to pass during the next one hundred years.

Vào thời điểm này, có thể tiên đoán một số sự kiện sẽ xảy ra trong một trăm năm tới.

First, in about ten years time the first ether, with all that is composed of that matter, will be recognised scientific fact, and the scientists who work intuitionally will come to recognise the devas of that plane. People coming into incarnation on this seventh ray will have the eyes that see, and the purple devas and the lesser devas of the etheric body will be visioned by them.

Thứ nhất, trong khoảng mười năm nữa, dĩ thái thứ nhất, với tất cả những gì được cấu thành từ vật chất đó, sẽ là sự thật khoa học được công nhận, và các nhà khoa học làm việc theo trực giác sẽ đi đến việc công nhận các deva của cõi đó. Những người đi vào kiếp sống trên cung bảy này sẽ có đôi mắt nhìn thấy, và các deva màu tím và các deva thấp hơn của thể dĩ thái sẽ được họ nhìn thấy.

Secondly, when He Whom both angels and men await, will approach near unto this physical plane, He will bring with Him not only some of the Great Ones and the Masters, but some of the Devas who stand to the deva evolution as the Masters to the human. Forget not that the human evolution is but one of many, and that this is a period of crisis among the devas likewise. The call has gone forth for them to approach humanity, and with their heightened vibration and superior knowledge unite their forces with those of humanity, for the progression of the two evolutions. They have much to impart anent colour and sound, and their effect upon the etheric bodies of men and animals. When that which they have to give is apprehended by the race, physical ills will be nullified and attention will be centred upon the infirmities of the astral or emotional body.

Thứ hai, khi Ngài Mà cả thiên thần và con người đang chờ đợi, sẽ đến gần cõi hồng trần này, Ngài sẽ mang theo Ngài không chỉ một số Đấng Cao Cả và các Chân sư, mà còn một số Deva đứng đối với cuộc tiến hóa deva giống như các Chân sư đối với con người. Đừng quên rằng cuộc tiến hóa của con người chỉ là một trong nhiều cuộc tiến hóa, và rằng đây cũng là thời kỳ khủng hoảng giữa các deva tương tự. Lời kêu gọi đã được đưa ra cho họ để tiếp cận nhân loại, và với rung động cao hơn và kiến thức vượt trội của họ hợp nhất các lực lượng của họ với các lực lượng của nhân loại, cho sự tiến bộ của cả hai cuộc tiến hóa. Họ có nhiều điều để truyền đạt về màu sắc và âm thanh, và hiệu quả của chúng đối với thể dĩ thái của con người và động vật. Khi cái mà họ phải cho đi được nhân loại lĩnh hội, những căn bệnh thể xác sẽ bị vô hiệu hóa và sự chú ý sẽ được tập trung vào những ốm yếu của thể cảm dục hay thể cảm xúc.

These violet devas of the four ethers form, as you may imagine, four great groups with seven subsidiary divisions. These four groups work with the four types of men now in incarnation, for it is a statement of fact that at no time in this round are more than four types of men in incarnation at any one time. Four rays dominate at any given period, with one in excess of the other three. I mean by this, that only four rays are in physical incarnation; for on the plane of the soul all [124] seven types are of course found. This idea is brought out in the four castes in India, and you will find that these four are found universally. The four groups of devas are a band of servers to the Lord, and their special work is to contact men and to give them definite and experimental teaching.

Những deva màu tím của bốn cõi dĩ thái hình thành, như bạn có thể tưởng tượng, bốn nhóm lớn với bảy phân chia phụ. Bốn nhóm này làm việc với bốn loại người hiện đang nhập thể, vì đó là một tuyên bố thực tế rằng không lúc nào trong cuộc tuần hoàn này có nhiều hơn bốn loại người đang nhập thể cùng một lúc. Bốn cung chi phối tại bất kỳ thời kỳ nhất định nào, với một cung vượt trội hơn ba cung kia. Ý tôi là, chỉ có bốn cung đang trong sự nhập thể vật lý; vì trên cõi linh hồn tất cả [124] bảy loại tất nhiên đều được tìm thấy. Ý tưởng này được đưa ra trong bốn đẳng cấp ở Ấn Độ, và bạn sẽ thấy rằng bốn đẳng cấp này được tìm thấy phổ biến. Bốn nhóm deva là một nhóm những người phụng sự cho Chúa Tể, và công việc đặc biệt của họ là tiếp xúc với con người và cung cấp cho họ giáo huấn xác định và thực nghiệm.

They will instruct in the effect of colour in the healing of disease, especially the effect of the violet light in the lessening of human ills and in the cure of those physical plane sicknesses which have their origin in the etheric body or double.

Họ sẽ hướng dẫn về hiệu quả của màu sắc trong việc chữa lành bệnh tật, đặc biệt là hiệu quả của ánh sáng tím trong việc làm giảm bớt những căn bệnh của con người và trong việc chữa trị những ốm đau cõi hồng trần có nguồn gốc trong thể dĩ thái hay bản sao dĩ thái.

They will teach men to see etherically, by heightening human vibration by action of their own.

Họ sẽ dạy con người nhìn bằng nhãn quan dĩ thái, bằng cách nâng cao rung động của con người thông qua hành động của chính họ.

They will demonstrate to the materialistic thinkers of the world the fact that the superconscious states exist—not the superhuman only—and will also make clear the hitherto unrecognised fact that other beings, besides the human, have their habitat on earth.

Chúng sẽ chứng minh cho các nhà tư tưởng duy vật của thế giới sự thật rằng các trạng thái siêu thức tồn tại—chứ không chỉ siêu nhân loại—và cũng sẽ làm sáng tỏ sự thật vốn chưa được công nhận cho đến nay rằng các sinh mệnh khác, ngoài con người, cũng cư trú trên trái đất.

They will also teach the sounding of the tones that correspond to the gradations of violet, and through that sounding enable man to utilise the ethers, as he now utilises physical plane matter for his various needs.

Chúng cũng sẽ dạy việc xướng lên những âm điệu tương ứng với các cấp độ của màu tím, và thông qua việc xướng âm đó cho phép con người sử dụng dĩ thái, cũng như hiện nay y đang sử dụng vật chất cõi hồng trần cho các nhu cầu khác nhau của mình.

They will enable human beings so to control the ethers that weight will be for them transmuted, and motion will be intensified, becoming more rapid, more gliding, noiseless, and therefore less tiring. In the human control of the etheric levels lie the lessening of fatigue, rapidity of transit, and the ability to transcend time. Until this prophecy is a fact in consciousness, its meaning is obscure.

Chúng sẽ giúp con người kiểm soát dĩ thái sao cho trọng lượng đối với họ sẽ được chuyển hóa, và sự chuyển động sẽ được tăng cường, trở nên nhanh hơn, lướt nhẹ hơn, không tiếng động, và do đó ít mệt mỏi hơn. Trong sự kiểm soát của con người đối với các cấp độ dĩ thái có sự giảm bớt mệt mỏi, tốc độ di chuyển nhanh chóng, và khả năng vượt thời gian. Cho đến khi lời tiên tri này trở thành một sự thật trong tâm thức, ý nghĩa của nó vẫn còn mơ hồ.

They will also teach men how rightly to nourish the body and to draw from the surrounding ethers the requisite food. Man will in the future concentrate more on the sound condition of the etheric body, and the functioning of the dense physical body will become practically automatic.

Chúng cũng sẽ dạy con người cách nuôi dưỡng cơ thể một cách đúng đắn và rút lấy từ dĩ thái xung quanh thức ăn cần thiết. Trong tương lai, con người sẽ tập trung nhiều hơn vào tình trạng lành mạnh của thể dĩ thái, và hoạt động của thể xác đậm đặc sẽ trở nên gần như tự động.

They will enable human beings, as a race, and not as individuals, [125] to expand their consciousness so that it will embrace the superphysical. Forget not the important fact that in the accomplishment of this the web that divides the physical plane from the astral plane will be discovered by the scientists, and its purpose will eventually be acknowledged. With that discovery will come the power to penetrate the web, and so link up consciously with the astral body. Another material unification will have been accomplished.

Chúng sẽ giúp con người, với tư cách là một nhân loại chứ không phải là những cá nhân, [125] mở rộng tâm thức của họ sao cho nó bao gồm cả siêu vật lý. Đừng quên sự thật quan trọng rằng trong việc hoàn thành điều này, lớp màng ngăn cách cõi hồng trần với cõi cảm dục sẽ được các nhà khoa học khám phá, và mục đích của nó cuối cùng sẽ được thừa nhận. Cùng với khám phá đó sẽ đến quyền năng thâm nhập lớp màng, và nhờ vậy liên kết một cách có ý thức với thể cảm dục. Một sự hợp nhất vật chất khác sẽ được hoàn thành.

Then what else will occur, and what will be the method of approach to these devas?

Vậy thì điều gì khác sẽ xảy ra, và phương pháp tiếp cận các thiên thần này sẽ là gì?

More and more, during the next fifteen years, will men receive definite teaching, often subconsciously, from devas to whom they are linked. This will be done telepathically at first. Doctors today get much information from certain devas. There are two great devas belonging to the green group on mental levels who assist in this work, and some physicians get much knowledge subjectively from a violet deva working on the atomic subplane of the physical plane, aided by a deva of the causal level who works with, or through, their egos. As men learn to sense and recognise these devas, more and more teaching will be given. They teach in three ways:

Càng ngày, trong mười lăm năm tới, con người sẽ càng nhận được sự dạy dỗ xác định, thường là trong tiềm thức, từ các thiên thần mà họ được liên kết. Điều này ban đầu sẽ được thực hiện bằng phương pháp viễn cảm. Các bác sĩ ngày nay nhận được nhiều thông tin từ một số thiên thần nhất định. Có hai thiên thần vĩ đại thuộc nhóm màu xanh lục trên các cấp độ trí tuệ hỗ trợ công việc này, và một số thầy thuốc nhận được nhiều kiến thức một cách chủ quan từ một thiên thần màu tím đang làm việc trên cõi phụ nguyên tử của cõi hồng trần, được hỗ trợ bởi một thiên thần thuộc cấp độ nguyên nhân làm việc với, hoặc thông qua, chân ngã của họ. Khi con người học cách cảm nhận và nhận biết các thiên thần này, ngày càng nhiều sự dạy dỗ sẽ được ban cho. Chúng dạy theo ba cách:

a. By means of intuitional telepathy.

a. Bằng phương tiện viễn cảm trực giác.

b. Through demonstration of colour, proving the accomplishment of certain things in this way.

b. Thông qua việc biểu thị màu sắc, chứng minh sự hoàn thành của một số điều theo cách này.

c. By definite musical sounds, which will cause vibrations in the ethers, which in their turn will produce forms.

c. Bằng các âm thanh âm nhạc xác định, sẽ gây ra những rung động trong dĩ thái, đến lượt nó sẽ tạo ra các hình tướng.

The ether will eventually appear to the enhanced vision of humanity to have more substance than it now has, and as etheric vision increases, the ethers will be recognised as being strictly physical plane matter. Therefore when in sickness men shall call a deva, when that deva can destroy diseased [126] tissue by sounding a note that will result in the elimination of the corrupt tissue, when by the presence caused by the vibration new tissue is visibly built in, then the presence of these devas will be generally acknowledged and their power will be utilised.

Dĩ thái cuối cùng sẽ xuất hiện trước linh thị được nâng cao của nhân loại như có nhiều chất liệu hơn hiện nay, và khi linh thị dĩ thái gia tăng, dĩ thái sẽ được công nhận là vật chất cõi hồng trần một cách nghiêm ngặt. Do đó, khi trong bệnh tật, con người sẽ gọi một thiên thần, khi thiên thần đó có thể phá hủy [126] mô bệnh bằng cách xướng lên một nốt nhạc dẫn đến việc loại bỏ mô hư hỏng, khi nhờ sự hiện diện do rung động gây ra mà mô mới được xây dựng một cách hữu hình, thì sự hiện diện của các thiên thần này sẽ được công nhận rộng rãi và quyền năng của chúng sẽ được sử dụng.

By what means will their presence be realised and their powers employed?

Bằng phương tiện nào sự hiện diện của chúng sẽ được chứng nghiệm và quyền năng của chúng được sử dụng?

First of all, by a definite development of the human eye, which will then see that which is now unseen. It will be a change within the eye, and not a form of clairvoyance.

Trước hết, bằng một sự phát triển xác định của con mắt con người, khi đó sẽ nhìn thấy những gì hiện không nhìn thấy được. Đó sẽ là một sự thay đổi bên trong con mắt, chứ không phải là một dạng thông nhãn.

Next, by a steady experimentation with invocations, and through their use the method of calling the devas will be discovered. This development must be approached with caution, for to the unprotected it leads to disaster. Hence the necessity to inculcate pure living, the learning of protective invocations and formulas, and the power of the church and of Masonry to protect. Forget not that evil entities exist on other planes than the physical, that they can respond to analogous vibrations, and that the invocations that call a deva may, if sounded inaccurately, call a being that will work havoc. In ritual lies protection. Hence the emphasis laid upon church forms and on the Masonic rituals,—an emphasis which will increase and not grow less as the years slip by. The force of invocations will be known later.

Tiếp theo, bằng sự thử nghiệm kiên trì với các lời khấn nguyện, và thông qua việc sử dụng chúng, phương pháp gọi các thiên thần sẽ được khám phá. Sự phát triển này phải được tiếp cận một cách thận trọng, vì đối với những người không được bảo vệ, nó dẫn đến thảm họa. Do đó sự cần thiết phải khắc ghi lối sống trong sạch, việc học các lời khấn nguyện và công thức bảo vệ, và quyền năng bảo vệ của nhà thờ và của Hội Tam Điểm. Đừng quên rằng các thực thể tà ác tồn tại trên các cõi khác ngoài cõi hồng trần, rằng chúng có thể đáp ứng với các rung động tương tự, và rằng các lời khấn nguyện gọi một thiên thần, nếu được xướng lên không chính xác, có thể gọi đến một sinh mệnh sẽ gây ra sự tàn phá. Sự bảo vệ nằm ở trong nghi lễ. Do đó sự nhấn mạnh được đặt vào các hình thức nhà thờ và các nghi lễ Tam Điểm,—một sự nhấn mạnh sẽ gia tăng chứ không giảm đi khi những năm tháng trôi qua. Mãnh lực của các lời khấn nguyện sẽ được biết đến sau này.

Every individual vibrates to some particular measure. Those who know and who work clairvoyantly and clairaudiently find that all matter sounds, all matter pulsates, and all matter has its own colour. Each human being can therefore be made to give forth some specific sound; in making that sound he flashes into colour, and the combination of the two is indicative of some measure which is peculiarly his own.

Mỗi cá nhân rung động theo một nhịp điệu cụ thể nào đó. Những người hiểu biết và làm việc bằng thông nhãn và thông nhĩ thấy rằng tất cả vật chất đều phát ra âm thanh, tất cả vật chất đều rung động, và tất cả vật chất đều có màu sắc riêng của nó. Do đó, mỗi con người có thể được làm cho phát ra một âm thanh cụ thể nào đó; khi tạo ra âm thanh đó, y lóe lên thành màu sắc, và sự kết hợp của cả hai là biểu thị của một nhịp điệu nào đó vốn đặc biệt là của riêng y.

Every unit of the human race is on some one of the seven [127] rays; therefore some one colour predominates, and some one tone sounds forth; infinite are the gradations and many the shades of colour and tone. Each ray has its subsidiary rays which it dominates, acting as the synthetic ray. These seven rays are linked with the colours of the spectrum. There are the rays of red, blue, yellow, orange, green and violet. There is the ray that synthesises them all, that of indigo. There are the three major rays—red, blue and yellow—and the four subsidiary colours which, in the evolving Monad, find their correspondence in the spiritual Triad and the lower quaternary. The Logos of our system is concentrating on the love or blue aspect. This—as the synthesis—manifests as indigo. This matter of the rays and their colours is confusing to the neophyte. I can but indicate some thoughts, and in the accumulation of suggestion light may eventually come. The clue lies in similarity of colour, which entails a resemblance in note and rhythm. When, therefore, a man is on the red and yellow rays, with red as his primary ray, and meets another human being who is on the blue and yellow rays, with a secondary resemblance to the yellow, there may be recognition. But when a man on the yellow and blue rays, with yellow as his primary colour, meets a brother on the yellow and red rays, the recognition is immediate and mutual, for the primary colour is the same. When this fundamental cause of association or dissociation is better understood, the secondary colours will be made to act as the meeting ground, to the mutual benefit of the parties concerned.

Mỗi đơn vị của nhân loại đều thuộc về một trong bảy [127] cung; do đó một màu sắc nào đó chiếm ưu thế, và một âm điệu nào đó vang lên; vô hạn là các cấp độ và nhiều là các sắc thái của màu sắc và âm điệu. Mỗi cung có các cung phụ mà nó chi phối, hoạt động như cung tổng hợp. Bảy cung này liên kết với các màu sắc của quang phổ. Có các cung màu đỏ, xanh lam, vàng, cam, xanh lục và tím. Có cung tổng hợp tất cả chúng, đó là màu chàm. Có ba cung chính—đỏ, xanh lam và vàng—và bốn màu phụ mà trong Chân Thần đang tiến hóa, tìm thấy sự tương ứng của chúng trong Tam Nguyên Tinh Thần và phàm ngã thấp thấp. Thượng đế của hệ thống chúng ta đang tập trung vào phương diện tình thương hoặc màu xanh lam. Điều này—như là sự tổng hợp—biểu hiện là màu chàm. Vấn đề về các cung và màu sắc của chúng gây nhầm lẫn cho người sơ cơ. Tôi chỉ có thể chỉ ra một số tư tưởng, và trong sự tích lũy gợi ý, ánh sáng cuối cùng có thể đến. Manh mối nằm ở sự tương đồng về màu sắc, đòi hỏi một sự giống nhau về nốt nhạc và nhịp điệu. Do đó, khi một người thuộc các cung đỏ và vàng, với màu đỏ là cung sơ cấp của y, và gặp một con người khác thuộc các cung xanh lam và vàng, với sự tương đồng thứ cấp với màu vàng, có thể có sự nhận biết. Nhưng khi một người thuộc các cung vàng và xanh lam, với màu vàng là màu sơ cấp của y, gặp một huynh đệ thuộc các cung vàng và đỏ, sự nhận biết là ngay lập tức và tương hỗ, vì màu sơ cấp là giống nhau. Khi nguyên nhân cơ bản này của sự liên kết hoặc phân ly được thấu hiểu tốt hơn, các màu thứ cấp sẽ được làm cho hoạt động như nền tảng gặp gỡ, vì lợi ích chung của các bên liên quan.

Of the colours, red, blue and yellow are primary and irreducible. They are the colours of the major rays.

Trong các màu sắc, đỏ, xanh lam và vàng là sơ cấp và không thể giảm lược. Chúng là màu sắc của các cung chủ yếu.

a. Will or Power . . . . . . . . Red

a. Ý Chí hoặc Quyền Năng . . . . . . . . Đỏ

b. Love-Wisdom . . . . . . . .Blue

b. Bác Ái – Minh Triết . . . . . . . .Xanh Lam

c. Active Intelligence . . . .Yellow

c. Trí Tuệ Hoạt Động . . . .Vàng

[128]

[128]

We have then the subsidiary rays:

Sau đó chúng ta có các cung phụ:

d. Orange.

d. Cam.

e. Green.

e. Xanh lục.

f. Violet.

f. Tím.

and the synthesising ray, Indigo.

và cung tổng hợp, Chàm.

4. It is of course to the human interest that a study of the rays makes its main appeal. It is this study that will vivify and awaken psychologists to the true understanding of man. Every human being finds himself upon one of the seven rays. His personality is found, in every life, upon one of them, in varying rotation, according to the ray of the ego or soul. After the third initiation he locates his soul (if one may use such an inappropriate word) on one of the three major rays, though until that time it may be found in one of the seven ray groups. From that exalted attitude he strives towards the essential unity of the Monad. The fact of there being seven ray types carries great implications, and the intricacy of the subject is baffling to the neophyte.

4. Dĩ nhiên việc nghiên cứu về các cung tạo ra sự thu hút chính đối với mối quan tâm của con người. Chính việc nghiên cứu này sẽ làm sinh động và đánh thức các nhà tâm lý học đến sự thấu hiểu chân thực về con người. Mỗi con người thấy mình thuộc về một trong bảy cung. Phàm ngã của y được tìm thấy, trong mỗi kiếp sống, thuộc về một trong số chúng, trong sự luân phiên thay đổi, tùy thuộc vào cung của chân ngã hoặc linh hồn. Sau lần điểm đạo thứ ba, y định vị linh hồn của mình (nếu người ta có thể sử dụng một từ không thích hợp như vậy) trên một trong ba cung chủ yếu, mặc dù cho đến thời điểm đó nó có thể được tìm thấy trong một trong bảy nhóm cung. Từ thái độ cao cả đó, y phấn đấu hướng tới sự hợp nhất thiết yếu của Chân Thần. Sự thật về việc có bảy loại cung mang những hàm ý to lớn, và sự phức tạp của chủ đề này gây bối rối cho người sơ cơ.

A ray confers, through its energy, peculiar physical conditions, and determines the quality of the astral-emotional nature; it colours the mind body; it controls the distribution of energy, for the rays are of differing rates of vibration, and govern a particular centre in the body (differing with each ray) through which that distribution is made. Each ray works through one centre primarily and through the remaining six, in a specific order. The ray predisposes a man to certain strengths and weaknesses, and constitutes his principle of limitation, as well as endowing him with capacity. It governs the method of his relations to other human types and is responsible for his reactions in form to other forms. It gives him his colouring and quality, his general tone on the three planes of the personality, and it moulds his physical appearance. Certain attitudes of mind are easy for one ray type and difficult for [129] another, and hence the changing personality shifts from ray to ray, from life to life, until all the qualities are developed and expressed. Certain souls, by their ray destiny, are found in certain fields of activity, and a particular field of endeavour remains relatively the same for many life expressions. A governor or statesman has learnt facility in his craft through much experience in that field. A world Teacher has been teaching for age-long cycles. A world Saviour has been, for many lives, at the task of salvaging. When a man is two-thirds of the way along the evolutionary path his soul ray type begins to dominate the personality ray type and will therefore govern the trend of his expression on earth, not in the spiritual sense (so-called) but in the sense of pre-disposing the personality towards certain activities.

Một cung ban cho, thông qua năng lượng của nó, những điều kiện thể chất đặc biệt, và xác định phẩm tính của bản chất cảm dục-cảm xúc; nó nhuộm màu thể trí; nó kiểm soát sự phân phối năng lượng, vì các cung có các tốc độ rung động khác nhau, và cai quản một trung tâm cụ thể trong cơ thể (khác nhau với mỗi cung) mà qua đó sự phân phối đó được thực hiện. Mỗi cung hoạt động thông qua một trung tâm chủ yếu và thông qua sáu trung tâm còn lại, theo một trật tự cụ thể. Cung định hướng con người đến những điểm mạnh và điểm yếu nhất định, và cấu thành nguyên khí giới hạn của y, cũng như ban cho y năng lực. Nó cai quản phương pháp quan hệ của y với các loại người khác và chịu trách nhiệm về các phản ứng của y trong hình tướng đối với các hình tướng khác. Nó mang lại cho y màu sắc và phẩm tính, âm điệu chung của y trên ba cõi của phàm ngã, và nó đúc khuôn ngoại hình của y. Một số thái độ nhất định của tâm trí là dễ dàng đối với một loại cung này và khó khăn đối với [129] một loại cung khác, và vì thế phàm ngã đang thay đổi chuyển dịch từ cung này sang cung khác, từ kiếp sống này sang kiếp sống khác, cho đến khi tất cả các phẩm tính được phát triển và biểu hiện. Một số linh hồn nhất định, do định mệnh cung của họ, được tìm thấy trong các lĩnh vực hoạt động nhất định, và một lĩnh vực nỗ lực cụ thể vẫn tương đối giống nhau trong nhiều biểu hiện kiếp sống. Một thống đốc hoặc chính khách đã học được sự thành thạo trong nghề của mình qua nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực đó. Một Đức Chưởng Giáo đã giảng dạy trong các chu kỳ dài đằng đẵng. Một Đấng Cứu Thế đã, trong nhiều kiếp sống, làm công việc cứu rỗi. Khi một người đi được hai phần ba chặng đường trên con đường tiến hóa, loại cung linh hồn của y bắt đầu chi phối loại cung phàm ngã và do đó sẽ cai quản xu hướng biểu hiện của y trên trái đất, không phải theo nghĩa tinh thần (được gọi như vậy) mà theo nghĩa định hướng phàm ngã hướng tới những hoạt động nhất định.

A knowledge therefore of the rays and their qualities and activities is, from the standpoint of psychology, of profound importance, and hence this treatise.

Do đó, một kiến thức về các cung và các phẩm tính cùng hoạt động của chúng, từ quan điểm tâm lý học, là vô cùng quan trọng, và vì thế có luận thuyết này.

5. Groups of people, organisations, nations and groups of nations are all the result of ray activity and magnetism. Hence an understanding of the forces which stream forth from the divine creative centre, and which we call the rays, is of value in understanding the quality, nature, and destiny of vast human masses. The seven planets are governed by one or other of the rays. Countries (viewed independently of their nationals) are likewise the result of ray activity, and thus the importance of the subject cannot be overestimated.

5. Các nhóm người, các tổ chức, các quốc gia và các nhóm quốc gia đều là kết quả của hoạt động cung và từ tính. Vì vậy, một sự thấu hiểu về các lực tuôn ra từ trung tâm sáng tạo thiêng liêng, và cái mà chúng ta gọi là các cung, có giá trị trong việc thấu hiểu phẩm tính, bản chất và định mệnh của các khối quần chúng nhân loại rộng lớn. Bảy hành tinh được cai quản bởi cung này hay cung khác trong các cung. Các quốc gia (được xem xét độc lập với công dân của họ) cũng tương tự là kết quả của hoạt động cung, và do đó tầm quan trọng của chủ đề này không thể bị đánh giá quá cao.

Question 5. What is the meaning of the following words: Sentiency; Consciousness or Awareness; The Energy of Light? Câu hỏi 5. Ý nghĩa của các từ sau là gì: Tri giác (Sentiency); Tâm thức (Consciousness) hay Sự nhận biết (Awareness); Năng lượng của Ánh sáng (The Energy of Light)?

We shall now consider our last question, and I shall indicate to you, in general terms,—necessarily limited by the inadequacy [130] of language,—the significance of the outstanding soul qualities:

Bây giờ chúng ta sẽ xem xét câu hỏi cuối cùng của chúng ta, và tôi sẽ chỉ ra cho các bạn, theo những thuật ngữ chung,—nhất thiết bị hạn chế bởi sự không đầy đủ [130] của ngôn ngữ,—ý nghĩa của các phẩm tính linh hồn nổi bật:

a. Sentiency, or sensitive response to contact, and by that means the subsequent growth in knowledge.

a. Tri giác, hay sự đáp ứng nhạy cảm với sự tiếp xúc, và bằng phương tiện đó sự tăng trưởng tiếp theo trong tri thức.

b. Consciousness, awareness of environment, and the development of instruments whereby consciousness may be increasingly developed.

b. Tâm thức, sự nhận biết môi trường, và sự phát triển của các công cụ nhờ đó tâm thức có thể ngày càng phát triển.

c. Light, or radiation, the effect of the interplay between the life and the environment.

c. Ánh sáng, hay sự bức xạ, hiệu quả của sự tương tác giữa sự sống và môi trường.

The first point that I seek to make is a difficult one to grasp for those beneath the rank of initiate or accepted disciple of the higher stages. The soul is that factor in matter (or rather that which emerges out of the contact between spirit and matter) which produces sentient response and what we call consciousness in its varying forms; it is also that latent or subjective essential quality which makes itself felt as light or luminous radiation. It is the “self-shining from within” which is characteristic of all forms. Matter, per se, and in its undifferentiated state, prior to being swept into activity through the creative process, is not possessed of soul, and does not therefore possess the qualities of response and of radiation. Only when,—in the creative and evolutionary process,—these two are brought into conjunction and fusion does the soul appear and give to these two aspects of divinity the opportunity to manifest as a trinity and the chance to demonstrate sentient activity and magnetic radiatory light. As all that we shall posit in this treatise is to be approached from the angle of human evolution, it might be stated that only when the soul aspect is dominant is the response apparatus (the form nature of man) fulfilling its complete destiny, and only then does true magnetic radiation and the pure shining forth of light become possible. Symbolically, in the early stages of human evolution, [131] man is, from the angle of consciousness, relatively unresponsive and unconscious, as is matter in its early stages in the formative process. The achievement of full awareness is of course the goal of the evolutionary process. Again symbolically speaking, the unevolved man emits or manifests no light. The light in the head is invisible, though the clairvoyant investigators would see the dim glow of the light within the elements which constitute the body, and the light hidden in the atoms which constitute the form nature.

Điểm đầu tiên mà tôi tìm cách đưa ra là một điểm khó nắm bắt đối với những ai ở dưới cấp bậc điểm đạo đồ hoặc đệ tử được chấp nhận ở các giai đoạn cao hơn. Linh hồn là yếu tố đó trong vật chất (hay đúng hơn là cái xuất hiện từ sự tiếp xúc giữa tinh thần và vật chất) tạo ra sự đáp ứng tri giác và cái mà chúng ta gọi là tâm thức trong các hình thức khác nhau của nó; nó cũng là phẩm tính thiết yếu tiềm tàng hoặc chủ quan đó làm cho chính nó được cảm thấy như ánh sáng hoặc bức xạ phát sáng. Đó là sự “tự tỏa sáng từ bên trong” vốn là đặc trưng của tất cả các hình tướng. Vật chất, bản thân nó, và trong trạng thái chưa biến phân của nó, trước khi bị cuốn vào hoạt động qua tiến trình sáng tạo, không sở hữu linh hồn, và do đó không sở hữu các phẩm tính của sự đáp ứng và của sự bức xạ. Chỉ khi,—trong tiến trình sáng tạo và tiến hóa,—hai điều này được đưa vào sự kết hợp và dung hợp thì linh hồn mới xuất hiện và mang lại cho hai phương diện này của thiên tính cơ hội để biểu hiện như một bộ ba và cơ hội để chứng minh hoạt động tri giác và ánh sáng bức xạ từ tính. Vì tất cả những gì chúng ta sẽ giả định trong luận thuyết này phải được tiếp cận từ góc độ tiến hóa của con người, có thể nói rằng chỉ khi phương diện linh hồn chiếm ưu thế thì bộ máy đáp ứng (bản chất hình tướng của con người) mới hoàn thành định mệnh trọn vẹn của nó, và chỉ khi đó sự bức xạ từ tính thực sự và sự tỏa sáng tinh khiết của ánh sáng mới trở nên khả thi. Một cách tượng trưng, trong các giai đoạn đầu của sự tiến hóa con người, [131] con người, từ góc độ tâm thức, tương đối không đáp ứng và vô thức, cũng như vật chất trong các giai đoạn đầu của nó trong quá trình hình thành. Việc đạt được sự nhận biết đầy đủ tất nhiên là mục tiêu của tiến trình tiến hóa. Một lần nữa, nói một cách tượng trưng, người chưa tiến hóa không phát ra hoặc biểu hiện ánh sáng nào. Ánh sáng trong đầu là vô hình, mặc dù các nhà nghiên cứu thông nhãn sẽ thấy ánh sáng mờ nhạt của ánh sáng bên trong các nguyên tố cấu thành cơ thể, và ánh sáng ẩn trong các nguyên tử cấu thành bản chất hình tướng.

As evolution proceeds, these dim points of “dark light” intensify their glow; the light within the head flickers at intervals during the life of the average man, and becomes a shining light as he enters upon the path of discipleship. When he becomes an initiate, the light of the atoms is so bright, and the light in the head so intense (with a paralleling stimulation of the centres of force in the body), that the light body appears. Eventually this body of light becomes externalised and of greater prominence than the dense tangible physical body. This is the body of light in which the true son of God consciously dwells. After the third initiation, the dual light becomes accentuated and takes on a still greater brilliancy through the blending with it of the energy of spirit. This is not really the admission or the re-combining of a third light, but the fanning of the light of matter and the light of the soul into a greater glory through the Breath of the spirit. Something anent this light has been earlier indicated in A Treatise on Cosmic Fire. Study it and seek to understand the significance of this process. In the understanding of these aspects of light comes a truer perspective as to the nature of the fires in the human expression of divinity.

Khi sự tiến hóa tiếp diễn, những điểm mờ nhạt của “ánh sáng tối” này tăng cường độ sáng của chúng; ánh sáng bên trong đầu nhấp nháy theo từng khoảng thời gian trong cuộc đời của một người bình thường, và trở thành một ánh sáng tỏa sáng khi y bước vào con đường đệ tử. Khi y trở thành một điểm đạo đồ, ánh sáng của các nguyên tử sáng đến mức, và ánh sáng trong đầu dữ dội đến mức (với sự kích thích song hành của các trung tâm lực trong cơ thể), mà thể ánh sáng xuất hiện. Cuối cùng, thể ánh sáng này trở nên ngoại hiện và nổi bật hơn so với cơ thể vật lý hữu hình đậm đặc. Đây là thể ánh sáng mà người con thực sự của Thượng đế cư trú một cách có ý thức. Sau lần điểm đạo thứ ba, ánh sáng kép trở nên nổi bật và mang một sự rực rỡ còn lớn hơn nữa thông qua sự hòa quyện với nó của năng lượng tinh thần. Đây thực sự không phải là sự tiếp nhận hoặc tái kết hợp của một ánh sáng thứ ba, mà là sự thổi bùng ánh sáng của vật chất và ánh sáng của linh hồn thành một vinh quang lớn hơn thông qua Hơi thở của tinh thần. Một điều gì đó về ánh sáng này đã được chỉ ra trước đó trong Luận về Lửa Vũ Trụ. Hãy nghiên cứu nó và tìm cách thấu hiểu thâm nghĩa của tiến trình này. Trong sự thấu hiểu các phương diện này của ánh sáng, một tầm nhìn chân thật hơn về bản chất của các ngọn lửa trong sự biểu hiện con người của thiên tính sẽ đến.

It must never be forgotten that the soul of all things, the anima mundi, as it expresses itself through all the four kingdoms in nature, is that which gives to our planet its light in [132] the heavens. The planetary light is the sum total of the light, dim and uncertain, to be found in all atoms of radiatory and vibratory matter or substance, which compose all forms in all kingdoms. Added to this, there is, within the planet and also within each kingdom in nature, the correspondence to the etheric body with its centres of radiant energy, found underlying or “substanding” the outer physical form. Man’s etheric body is a corporate part of the planetary etheric body, and constitutes its most refined and most highly developed aspect. As the aeons pass away there is a growing intensity of light radiating forth from our planet. This does not necessarily mean that a dweller on Neptune would see our planet glowing with an increasingly brighter light, though this does happen in a few cases in the universe. But it means that, from the standpoint of a clairvoyant vision, the etheric planetary body will grow in vivid radiation and glory as that radiation expresses more and more the true light of the soul.

Không bao giờ được quên rằng linh hồn của vạn vật, anima mundi, khi nó tự biểu hiện qua tất cả bốn giới trong tự nhiên, là cái mang lại cho hành tinh của chúng ta ánh sáng của nó trên [132] bầu trời. Ánh sáng hành tinh là tổng số của ánh sáng, mờ nhạt và không chắc chắn, được tìm thấy trong tất cả các nguyên tử của vật chất hoặc chất liệu bức xạ và rung động, vốn cấu thành tất cả các hình tướng trong tất cả các giới. Thêm vào đó, bên trong hành tinh và cũng bên trong mỗi giới trong tự nhiên, có sự tương ứng với thể dĩ thái với các trung tâm năng lượng bức xạ của nó, được tìm thấy nằm dưới hoặc “đứng dưới” hình tướng vật lý bên ngoài. Thể dĩ thái của con người là một phần hợp nhất của thể dĩ thái hành tinh, và cấu thành phương diện tinh tế nhất và phát triển cao nhất của nó. Khi các thời đại trôi qua, có một cường độ ánh sáng ngày càng tăng tỏa ra từ hành tinh của chúng ta. Điều này không nhất thiết có nghĩa là một cư dân trên Sao Hải Vương sẽ thấy hành tinh của chúng ta phát sáng với ánh sáng ngày càng rực rỡ hơn, mặc dù điều này có xảy ra trong một vài trường hợp trong vũ trụ. Nhưng nó có nghĩa là, từ quan điểm của một linh thị thông nhãn, thể hành tinh dĩ thái sẽ tăng trưởng trong bức xạ sống động và vinh quang khi bức xạ đó biểu hiện ngày càng nhiều ánh sáng thực sự của linh hồn.

The soul is light essentially, both literally from the vibratory angle, and philosophically from the angle of constituting the true medium of knowledge. The soul is light symbolically, for it is like the rays of the sun, which pour out into the darkness; the soul, through the medium of the brain, causes revelation. It throws its light into the brain, and thus the way of the human being becomes increasingly illumined. The brain is like the eye of the soul, looking out into the physical world; in the same sense the soul is the eye of the Monad, and in a curious and occult sense, the fourth kingdom in nature constitutes on our planet the eye of the planetary Deity. The brain is responsive to the seven senses:

Linh hồn trong bản chất là ánh sáng, cả theo nghĩa đen từ góc độ rung động, và về mặt triết học từ góc độ cấu thành phương tiện thực sự của tri thức. Linh hồn là ánh sáng một cách biểu tượng, vì nó giống như những tia nắng mặt trời, tuôn đổ vào bóng tối; linh hồn, thông qua phương tiện của bộ não, gây ra sự mặc khải. Nó ném ánh sáng của nó vào bộ não, và do đó con đường của con người trở nên ngày càng được soi sáng. Bộ não giống như con mắt của linh hồn, nhìn ra thế giới vật lý; theo cùng một nghĩa đó, linh hồn là con mắt của Chân Thần, và theo một nghĩa kỳ lạ và huyền bí, giới thứ tư trong tự nhiên cấu thành trên hành tinh của chúng ta con mắt của Thượng đế hành tinh. Bộ não đáp ứng với bảy giác quan:

1. Hearing

1. Thính giác

2. Touch

2. Xúc giác

3. Sight

3. Thị giác

4. Taste

4. Vị giác

5. Smell

5. Khứu giác

6. The mind, the common-sense

6. Trí tuệ, lương tri (common-sense)

7. The intuition or the synthetic sense.

7. Trực giác hay giác quan tổng hợp.

[133]

[133]

Through these seven senses contact with the world of matter and of spirit becomes possible. The seven senses are, in a peculiar way, the physical plane correspondences of the seven rays, and are closely related to and governed by them all. The following tabulation will be found suggestive. That is all that it is intended to be:

Thông qua bảy giác quan này, sự tiếp xúc với thế giới vật chất và tinh thần trở nên khả thi. Bảy giác quan, theo một cách đặc biệt, là những tương ứng trên cõi hồng trần của bảy cung, và có quan hệ mật thiết với và được cai quản bởi tất cả chúng. Bảng liệt kê sau đây sẽ được tìm thấy là có tính gợi mở. Đó là tất cả những gì nó được dự định trở thành:

1. Hearing

7th Ray

Magic

The Word of Power.

Thính giác

Cung Bảy

Huyền thuật

Lời của Quyền năng.

2. Touch

1st Ray

Destroyer

The Finger of God.

Xúc giác

Cung Một

Kẻ Hủy Diệt

Ngón Tay của Thượng Đế.

3. Sight

3rd Ray

Vision

The Eye of God.

Thị giác

Cung Ba

Tầm nhìn

Mắt của Thượng Đế.

4. Taste

6th Ray

Idealism

The Desire of Nations.

Vị giác

Cung Sáu

Chủ nghĩa Duy tâm

Dục Vọng của các Quốc gia.

5. Smell

4th Ray

Art

The Beauty of Revelation.

Khứu giác

Cung Bốn

Nghệ thuật

Vẻ Đẹp của Khải huyền.

6. The Intellect

5th Ray

Mind

The Knowledge of God.

Trí năng

Cung Năm

Trí

Tri Thức về Thượng Đế.

7. The Intuition

2nd Ray

Love-Wisdom

Understanding of God.

Trực giác

Cung Hai

Bác Ái – Minh Triết

Sự Hiểu biết về Thượng Đế.

Through the Words of Power the worlds came into ordered being, and the Lord of the Ray of Ceremonial Magic brings about the organisation of the divine organism.

Thông qua các Quyền năng từ, các thế giới đã đi vào hiện hữu có trật tự, và Đấng Chúa Tể của Cung Huyền Thuật Nghi Lễ mang lại sự tổ chức của cơ thể thiêng liêng.

Through the application of the Finger of God in its directing and forceful work, we have the cyclic destruction of forms, so that the manifestation of Deity may grow in power and beauty. Thus the Lord of Power or Will performs the task of destruction, thereby bringing beauty into being and the revelation of God’s will and His beneficent purpose.

Thông qua việc áp dụng Ngón tay của Thượng đế trong công việc chỉ đạo và đầy uy lực của nó, chúng ta có sự hủy diệt theo chu kỳ của các hình tướng, để sự biểu hiện của Thượng đế có thể tăng trưởng trong quyền năng và vẻ đẹp. Do đó, Đấng Chúa Tể của Quyền Năng hay Ý Chí thực hiện nhiệm vụ hủy diệt, qua đó đưa vẻ đẹp vào hiện hữu và sự mặc khải ý chí của Thượng đế cùng mục đích nhân từ của Ngài.

By means of the Eye of God light shines forth upon the way of the sun, the path of the planets, and the path of man. The Lord of Adaptability and the Intellect brings into expression and into objectivity the intelligent working out of the divine idea and Plan.

Bằng phương tiện Con mắt của Thượng đế, ánh sáng chiếu rọi lên con đường của mặt trời, con đường của các hành tinh, và con đường của con người. Đấng Chúa Tể của Khả năng Thích Ứng và Trí năng mang vào biểu hiện và vào tính khách quan sự vận hành thông tuệ của ý tưởng và Thiên Cơ thiêng liêng.

When the “Desire of all nations” shall come, and the Cosmic Christ shall stand revealed, all men and all creatures shall occultly [134] “taste” or share in that great happening, and the Lord of the Ray of Devotion and Idealism shall see the consummation of His work and be “satisfied.”

Khi “Đấng được mong cầu của mọi quốc gia” đến, và Đức Christ Vũ Trụ sẽ được mặc khải, tất cả mọi người và mọi sinh vật sẽ một cách huyền bí [134] “nếm” hoặc chia sẻ sự kiện vĩ đại đó, và Đấng Chúa Tể của Cung Sùng Tín và Lý Tưởng Hóa sẽ thấy sự hoàn tất công việc của Ngài và được “thỏa mãn”.

Also the Lord of the fourth Ray of Harmony, Beauty and Art will add His share to the great creative work, and it will be found that, in the elusive following to its source of that mysterious revelation which we call beauty, there will be expressed that subtle quality of which “smell,” in the animal sense, is the symbol. The great search and the esoteric “following of the scent” will come to an end. This fourth ray is pre-eminently the way of the seeker, the searcher and the sensitive reflector of beauty. The Jewish nation has a close relation to this fourth ray and to the fourth root race, and hence their eminence at this time in the world of art, and hence the magnitude of their endless symbolic wandering and searching.

Đồng thời Đấng Chúa Tể của Cung bốn về Sự Hài Hòa, Vẻ Đẹp và Nghệ Thuật sẽ thêm phần chia sẻ của Ngài vào công việc sáng tạo vĩ đại, và sẽ thấy rằng, trong việc theo đuổi khó nắm bắt đến tận nguồn gốc của sự mặc khải bí ẩn mà chúng ta gọi là vẻ đẹp đó, sẽ được biểu hiện phẩm tính tinh tế mà “khứu giác”, theo nghĩa động vật, là biểu tượng. Cuộc tìm kiếm vĩ đại và việc “theo dấu mùi hương” nội môn sẽ đi đến hồi kết. Cung bốn này ưu việt là con đường của người tìm kiếm, người nghiên cứu và người phản chiếu nhạy cảm của vẻ đẹp. Dân tộc Do Thái có mối quan hệ mật thiết với cung bốn này và với giống dân gốc thứ tư, và do đó sự nổi bật của họ vào lúc này trong thế giới nghệ thuật, và do đó tầm vóc của cuộc lang thang và tìm kiếm mang tính biểu tượng vô tận của họ.

When the Knowledge of God shall shine forth universally (and this is not the knowledge of, or awareness of a great Being but the expression through human instrumentality of the divine omniscience), then will the Lord of Concrete Science, Who is the embodiment of the fifth principle of mind, see His work brought to a conclusion. He stimulates the sense of awareness in humanity and nurtures the consciousness aspect in the subhuman kingdoms, producing the response, therefore, of matter to spirit, and bringing about the interpretation of that to which there has been a sentient rapport.

Khi Tri thức của Thượng đế sẽ tỏa sáng khắp vũ trụ (và đây không phải là tri thức về, hay sự nhận biết về một Đấng vĩ đại mà là sự biểu hiện thông qua công cụ con người của sự toàn tri thiêng liêng), thì Đấng Chúa Tể của Khoa Học Cụ Thể, Đấng là hiện thân của nguyên khí thứ năm của trí tuệ, sẽ thấy công việc của Ngài kết thúc. Ngài kích thích ý thức nhận biết trong nhân loại và nuôi dưỡng phương diện tâm thức trong các giới dưới nhân loại, do đó tạo ra sự đáp ứng của vật chất đối với tinh thần, và mang lại sự diễn giải về cái mà đã có một mối tương giao tri giác.

The intuition is literally the synthetic and immediate grasp of the truth, as it essentially exists, and the Lord of the second ray will bring to a conclusion the entire evolutionary process through the development in humanity of that perfect insight which will make every human being a complete and intelligent cooperator with the Plan.

Trực giác theo nghĩa đen là sự nắm bắt tổng hợp và ngay lập tức sự thật, như nó trong bản chất tồn tại, và Đấng Chúa Tể của cung hai sẽ đưa toàn bộ tiến trình tiến hóa đến hồi kết thông qua sự phát triển trong nhân loại cái nhìn sâu sắc hoàn hảo đó, cái sẽ biến mọi con người thành một người hợp tác hoàn chỉnh và thông tuệ với Thiên Cơ.

[135]

[135]

A close study of these ray forces in relation to the creative work and the furthering of the Plan (in so far as we can, at this time, grasp it) will reveal how closely the entire building-wrecking-rebuilding process is tied up with the question of the three qualities of the soul, sentiency, consciousness and awareness, and will demonstrate how the problem of light, with which I have just been dealing, has a definite relation to our ability to interpret and comprehend these three qualities.

Một nghiên cứu kỹ lưỡng về các mãnh lực cung này trong mối quan hệ với công việc sáng tạo và sự thúc đẩy Thiên Cơ (trong chừng mực chúng ta có thể, vào lúc này, nắm bắt nó) sẽ tiết lộ tiến trình xây dựng-phá hủy-tái xây dựng toàn bộ gắn bó chặt chẽ như thế nào với vấn đề về ba phẩm tính của linh hồn, tri giác, tâm thức và sự nhận biết, và sẽ chứng minh làm thế nào vấn đề ánh sáng, mà tôi vừa đề cập, có một mối quan hệ xác định với khả năng của chúng ta trong việc diễn giải và lĩnh hội ba phẩm tính này.

Consciousness, in the esoteric teaching, concerns the response of the form aspect in the three subhuman kingdoms:

Trong giáo lý huyền môn, tâm thức liên quan đến sự đáp ứng của phương diện hình tướng trong ba giới dưới nhân loại:

1. To the world of living, vibratory and magnetic forms, in which each form is immersed. Every form, through its radiation, affects every other form, and according to the quality of the form and according to its evolutionary status, so will be its response to its environment.

1. Với thế giới của các hình tướng sống động, rung động và từ tính, mà trong đó mỗi hình tướng được đắm mình. Mọi hình tướng, thông qua bức xạ của nó, ảnh hưởng đến mọi hình tướng khác, và tùy theo phẩm tính của hình tướng, và sự đáp ứng của nó đối với môi trường sẽ tùy theo trạng thái tiến hóa của nó,

2. To the subjective world of forces which we call the etheric world. All forms in all four kingdoms thus respond in some degree and manner.

2. Với thế giới chủ quan của các mãnh lực mà chúng ta gọi là thế giới dĩ thái. Tất cả các hình tướng trong tất cả bốn giới đều đáp ứng như thế ở một mức độ và cách thức nào đó.

3. To the world of quality, or of desire intent. All forms in all kingdoms respond, en masse, to the urge or the desire aspect of divinity which lies at the root of the entire evolutionary process. This is recognised as an incentive and is more or less self-directed in the human family; it is blindly followed by the forms in the other kingdoms, who respond according to the nature of their response mechanisms to these varying urges.

3. Với thế giới của phẩm tính, hay của ý định dục vọng. Tất cả các hình tướng trong tất cả các giới đều đáp ứng, một cách tổng thể, với sự thôi thúc hay phương diện dục vọng của thiên tính vốn nằm ở gốc rễ của toàn bộ tiến trình tiến hóa. Điều này được công nhận là một động cơ và ít nhiều được tự định hướng trong gia đình nhân loại; nó được tuân theo một cách mù quáng bởi các hình tướng trong các giới khác, những kẻ đáp ứng tùy theo bản chất của các cơ chế đáp ứng của chúng đối với các thôi thúc khác nhau này.

When we deal with the inflow of mental energy and with the forces emanating from the fifth plane of mind (higher mind, lower mind and the egoic intelligent entity) we enter more entirely into the domain of human evolution itself, and the vague word “consciousness” could well be superseded by the word “awareness.” In varying degree man is aware, but [136] only man is aware that he is aware. His response apparatus responds to, and is influenced by, all the contacts to which the subhuman forms respond, but he is also aware of himself, and his response mechanism is capable of reacting, not only to external stimuli but to contacts emanating from within himself, from the Self so called, and also from the worlds of introspection and of mystical vision which seem sealed to all subhuman forms of life.

Khi chúng ta đề cập đến dòng năng lượng trí tuệ tuôn vào và với các mãnh lực phát ra từ cõi thứ năm của trí tuệ (thượng trí, hạ trí và thực thể thông tuệ chân ngã), chúng ta bước vào lãnh vực của chính sự tiến hóa nhân loại, và từ ngữ mơ hồ “tâm thức” cũng có thể được thay thế bằng từ “sự nhận biết”. Ở các mức độ khác nhau, con người nhận biết, nhưng [136] chỉ con người mới nhận biết rằng mình đang nhận biết. Bộ máy đáp ứng của y đáp ứng với, và bị ảnh hưởng bởi, tất cả các tiếp xúc mà các hình tướng dưới nhân loại đáp ứng, nhưng y cũng nhận biết về bản thân mình, và cơ chế đáp ứng của y có khả năng phản ứng, không chỉ với các kích thích bên ngoài mà còn với các tiếp xúc phát ra từ bên trong chính y, từ cái gọi là Chân Ngã, và cũng từ các thế giới của sự nội quan và của linh ảnh thần bí dường như bị niêm phong đối với tất cả các hình thức sự sống dưới nhân loại.

In the larger picture, with which we are not to occupy ourselves in this treatise, the planet constitutes the response apparatus of a superhuman Life, and that Life responds consciously to impacts emanating from the solar system as a whole, and from certain constellations (embodied Lives) with which our solar system is linked. Similarly the solar Logos functions through the medium of that gigantic response apparatus which is bounded by the ring-pass-not of a solar system. Each form, from that of the tiniest atom to that of a vast constellation, is an embodiment of a life, which expresses itself as consciousness, awareness, and responsive sentiency through the medium of some type of response mechanism. Thus we have the establishing of a universe of lives, interacting and interrelated, all of them conscious, some of them self-conscious, and others group-conscious, but all grounded in the universal mind, all possessing souls, and all presenting aspects of the divine Life.

Trong bức tranh rộng lớn hơn, mà chúng ta sẽ không bận tâm trong luận thuyết này, hành tinh cấu thành bộ máy đáp ứng của Sự Sống Duy Nhất siêu nhân loại, và Sự sống đó đáp ứng một cách có ý thức với các tác động phát ra từ hệ mặt trời như một tổng thể, và từ các chòm sao nhất định (là các Sự Sống hiện thân) mà hệ mặt trời của chúng ta được liên kết. Tương tự, Thái dương Thượng đế hoạt động thông qua phương tiện của bộ máy đáp ứng khổng lồ được giới hạn bởi vòng-giới-hạn của một hệ mặt trời. Mỗi hình tướng, từ hình tướng của nguyên tử nhỏ nhất đến hình tướng của một chòm sao rộng lớn, là một hiện thân của Sự Sống Duy Nhất, cái tự biểu hiện như là tâm thức, sự nhận biết, và tri giác đáp ứng thông qua phương tiện của một loại cơ chế đáp ứng nào đó. Do đó, chúng ta có sự thiết lập của một vũ trụ của các sự sống, tương tác và liên quan lẫn nhau, tất cả chúng đều có ý thức, một số trong chúng có ngã thức, và những kẻ khác có tâm thức nhóm, nhưng tất cả đều bắt nguồn trong vũ trụ trí, tất cả đều sở hữu linh hồn, và tất cả đều trình bày các phương diện của Sự sống thiêng liêng.

Life, quality, appearance remain thus the primal triplicity. Appearance is objective, and forms have been studied scientifically, analysed and classified, for ages. Now we are introverting and introspecting, and have the commencement of a cycle wherein the world of quality and of meaning will be subjected to a similar investigation and classification. This will result in the giving of new values to life, to an enriching of our understanding, and will produce, as a result, the growth and substitution of the intuition for the intellect.

Sự sống, phẩm tính, biểu hiện do đó vẫn là bộ ba nguyên thủy. Biểu hiện là khách quan, và các hình tướng đã được nghiên cứu một cách khoa học, được phân tích và phân loại, trong nhiều thời đại. Bây giờ chúng ta đang hướng nội và nội quan, và có sự khởi đầu của một chu kỳ trong đó thế giới của phẩm tính và của ý nghĩa sẽ chịu một cuộc nghiên cứu và phân loại tương tự. Điều này sẽ dẫn đến việc đưa ra các giá trị mới cho cuộc sống, làm phong phú thêm sự thấu hiểu của chúng ta, và kết quả là sẽ tạo ra sự tăng trưởng và sự thay thế trí năng bằng trực giác.

[137]

[137]

May I urge upon all to live more continuously in the world of meaning and less in the world of appearances? It is a truer world and less full of illusion. When the understanding is developed, when men have learnt to see below the surface and have cultivated true vision, then we shall have the steady emergence of the quality of the soul in all forms and the relative subsiding into the background of the power of the form nature. It is this world of meaning which it is the privilege of humanity to reveal, and all true esoteric students should be pioneers in this field.

Liệu Tôi có thể thúc giục tất cả mọi người sống liên tục hơn trong thế giới của ý nghĩa và ít hơn trong thế giới của các biểu hiện không? Đó là một thế giới chân thực hơn, ít đầy rẫy ảo tưởng hơn. Khi sự thấu hiểu được phát triển, khi con người học cách nhìn xuống bên dưới bề mặt và đã trau dồi linh thị chân thực, thì chúng ta sẽ có sự xuất hiện đều đặn của phẩm tính linh hồn trong mọi hình tướng và sự lắng xuống tương đối vào hậu cảnh của quyền năng của bản chất hình tướng. Chính thế giới ý nghĩa này là đặc quyền của nhân loại để mặc khải, và tất cả các môn sinh huyền môn chân chính nên là những người tiên phong trong lĩnh vực này.

Scroll to Top