Luận Về Chánh Thuật – Quy Luật 4-6 (Trang 122-216)

📘 Sách: Luận Về Chánh Thuật – Tác giả: Alice Bailey

Mental Rules 29 – Rule 4.1 (pages 122-127)

Transcript of Video Commentaries by Michael D. Robbins

Rule IV

QUY LUẬT BỐN

Sound, light, vibration, and the form blend and merge, and thus the work is one. It proceedeth under the law, and naught can hinder now the work from going forward. The man breathes deeply. He concentrates his forces, and drives the thought-form from him.

Âm thanh, ánh sáng, rung động, và hình tướng hòa trộn và dung hợp, và như thế công việc trở thành một. Công việc tiến hành theo định luật, và không gì có thể ngăn cản công việc tiến tới. Con người hít thở sâu. Y tập trung các lực của mình và đẩy hình tư tưởng ra khỏi y.

The Creative Work of Sound

CÔNG VIỆC SÁNG TẠO CỦA ÂM THANH.

[125] Before centering our attention upon this rule, it would be well to recollect certain things, so that our reflection on the rule may proceed with profit.

Trước khi tập trung sự chú ý vào quy luật này, sẽ rất hữu ích nếu chúng ta nhớ lại một số điều, để sự suy ngẫm về quy luật có thể diễn ra một cách hiệu quả.

First, the rule we are at present considering concerns work on the mental plane, and before such work is possible it is important to have a developed mind, a well-nurtured intelligence, and also to have achieved some measure of mind control. These rules are not for beginners in the occult sciences; they are for those who are ready for magical work and for labour on the plane of mind. Love is the great unifier, the prime attractive impulse, cosmic and microcosmic, but the mind is the main creative factor and the utiliser of the energies of the cosmos. Love attracts, but the mind attracts, repels and co-ordinates, so that its potency is inconceivable. Is it not possible dimly to sense a state of affairs in mental realms analogous to that now seen in the emotional? Can we picture the condition of the world when the intellect is as potent and as compelling as is the emotional nature at this time? The race is progressing into an era wherein men will function as minds; when intelligence will be stronger than desire, and when thought powers will be used for appeal and for the guidance of the world, as now physical and emotional means are employed.

Thứ nhất, quy luật mà chúng ta đang xem xét liên quan đến công việc trên cõi trí, và trước khi công việc như vậy có thể thực hiện được, điều quan trọng là phải có một thể trí phát triển, một trí thông minh được nuôi dưỡng tốt, và cũng cần đạt được một mức độ kiểm soát thể trí nhất định. Những quy luật này không dành cho những người mới bắt đầu trong khoa học huyền bí; chúng dành cho những ai đã sẵn sàng cho công việc huyền thuật và lao động trên cõi trí. Tình thương là yếu tố hợp nhất vĩ đại, là động lực thu hút chính, cả trên cấp vũ trụ lẫn tiểu vũ trụ, nhưng thể trí là yếu tố sáng tạo chính và là công cụ sử dụng các năng lượng của vũ trụ. Tình thương thu hút, nhưng thể trí vừa thu hút, vừa đẩy lùi, vừa điều phối, đến mức sức mạnh của nó không thể tưởng tượng được. Liệu chúng ta có thể mơ hồ cảm nhận được một trạng thái sự kiện trong các lãnh vực trí tuệ tương tự như những gì hiện nay thấy ở cõi cảm dục không? Liệu chúng ta có thể hình dung tình trạng của thế giới khi thể trí mạnh mẽ và có sức thuyết phục như bản chất cảm xúc hiện nay không? Nhân loại đang tiến bộ vào một thời đại mà con người sẽ hoạt động như những thể trí; khi trí thông minh sẽ mạnh hơn dục vọng, và khi sức mạnh tư tưởng sẽ được sử dụng để kêu gọi và hướng dẫn thế giới, giống như cách mà hiện tại các phương tiện vật lý và cảm xúc đang được sử dụng.

There lies in this thought a profoundly necessary incentive for a right understanding of the laws of thought, and a correct instruction to be given of the use of mental [126] matter, and the building of that matter into thought forms.

Suy nghĩ này chứa đựng một động lực cực kỳ cần thiết để có một sự thấu hiểu đúng đắn về các định luật của tư tưởng, và một sự chỉ dẫn chính xác về việc sử dụng chất liệu trí tuệ, cũng như việc xây dựng chất liệu đó thành các hình tư tưởng.

These rules concern themselves with this information. The second necessary recollection is that the worker in magic and the potent entity wielding these forces must be the soul, the spiritual man, and this for the following reasons:

Những quy luật này liên quan đến thông tin này. Sự nhớ lại cần thiết thứ hai là người làm việc trong huyền thuật và thực thể có sức mạnh điều khiển các mãnh lực này phải là linh hồn, con người tinh thần, vì các lý do sau đây:

1. Only the soul has a direct and clear understanding of the creative purpose and of the plan.

1. Chỉ có linh hồn mới có sự hiểu biết trực tiếp và rõ ràng về mục đích sáng tạo và về Thiên Cơ.

2. Only the soul, whose nature is intelligent love can be trusted with the knowledge, the symbols and the formulas which are necessary to the correct conditioning of the magical work.

2. Chỉ có linh hồn, với bản chất là tình thương thông minh, mới có thể được tin tưởng giao phó tri thức, các biểu tượng và các công thức cần thiết cho việc qui định chính xác công việc huyền thuật.

3. Only the soul has power to work in all three worlds at once, and yet remain detached, and therefore karmically free from the results of such work.

3. Chỉ linh hồn mới có sức mạnh để hoạt động trong cả ba cõi giới cùng một lúc mà vẫn tách rời và do đó thoát khỏi nghiệp quả từ kết quả của công việc đó.

4. Only the soul is truly group-conscious and actuated by pure unselfish purpose.

4. Chỉ có linh hồn mới thật sự có tâm thức nhóm và được thúc đẩy bởi mục đích thuần khiết, không vị kỷ.

5. Only the soul, with the open eye of vision, can see the end from the beginning, and can hold in steadiness the true picture of the ultimate consummation.

5. Chỉ có linh hồn, với con mắt mở của tầm nhìn, mới có thể thấy được kết quả cuối cùng từ lúc khởi đầu, và có thể giữ vững bức tranh chân thật về sự hoàn tất cuối cùng.

You ask, whether workers in black magic possess not an equal power? I answer, no. They can work in the three worlds, but they work from and in the plane of mind, and do not function, therefore, outside their field of endeavour, as does the soul. They can achieve, from their proximity and identification with their working materials, results more potent temporarily and more rapid in accomplishment than the worker in the White Brotherhood, but the results are ephemeral; they carry destruction and disaster in their wake, and the black magician is eventually submerged in the resulting cataclysm.

Bạn hỏi rằng, liệu những người thực hành hắc thuật có sở hữu quyền năng tương đương không? Tôi trả lời, không. Họ có thể hoạt động trên ba cõi giới, nhưng họ hoạt động từ và trong cõi trí, và do đó không hoạt động bên ngoài phạm vi nỗ lực của họ, như linh hồn. Họ có thể đạt được kết quả mạnh mẽ hơn trong thời gian ngắn và thực hiện nhanh chóng hơn so với những người phụng sự trong Huynh Đệ Đoàn Chánh Đạo, nhưng kết quả đó chỉ là tạm thời; chúng mang theo sự hủy diệt và thảm họa, và nhà hắc thuật cuối cùng bị nhấn chìm trong thảm họa mà họ gây ra.

Let us therefore remember the necessity of a correct [127] use of the mind, and (at the same time) let us ever hold a position beyond and detached from the creative work of our minds, desires and physical accomplishment.

Do đó, chúng ta hãy ghi nhớ tầm quan trọng của việc sử dụng đúng đắn thể trí, và (đồng thời) hãy luôn giữ vị trí vượt lên và tách rời khỏi công việc sáng tạo của thể trí, dục vọng và thành tựu trần gian của chúng ta.

Four words stand forth as one considers Rule IV. First, sound, the formula, or word of power which the soul communicates and so starts the work. This word is dual. It is sounded forth on the note to which the soul responds, his own peculiar note, blended with that of his personality. This chord of two notes is the producer of the resulting effects, and is more important than the set phrase composing the word of power.

Bốn từ nổi bật khi xem xét Quy luật IV. Đầu tiên là âm thanh, công thức, hoặc Quyền Lực Từ mà linh hồn truyền đạt và từ đó bắt đầu công việc. Quyền lực từ này có tính nhị nguyên. Nó được xướng lên theo nốt mà linh hồn phản ứng, chính là nốt đặc biệt của linh hồn, hòa trộn với nốt của phàm ngã. Hợp âm của hai nốt này tạo ra các hiệu ứng kết quả, và quan trọng hơn cụm từ tạo nên Quyền Lực Từ.

Herein lies the problem—to sound these two notes synchronously and with the mind focussed. Herein lies a clue to the significance of the AUM or OM. In the early stages of meditation work, the word is sounded audibly, whilst later it is sounded inaudibly. This training in the sound of the AUM is an unconscious preparation for the dual work of spiritual creation; and facility comes as the attentive aspirant accustoms himself to hear within his brain the soundless sound of OM.

Đây chính là vấn đề — làm sao để xướng hai nốt này đồng thời và với thể trí được tập trung. Đây cũng là manh mối cho thâm nghĩa của AUM hay OM. Trong những giai đoạn đầu của công việc tham thiền, từ này được xướng lên thành tiếng, trong khi sau này nó được xướng lên một cách thầm lặng. Việc huấn luyện xướng linh từ AUM này là một sự chuẩn bị vô thức cho công việc sáng tạo tinh thần lưỡng phân; và sự thành thạo sẽ đến khi người chí nguyện chú tâm quen dần với việc nghe âm thanh không phát ra tiếng của OM bên trong bộ não mình.

I would suggest here, that students accustom themselves to work in this manner, sounding the word audibly and with much frequency at the close of the morning meditation, but emphasizing in the early part that close attention to the inaudible hearing which will develop the sensitivity of the inner ear, the etheric ear. Later, when the personal note or sound is established and the inner sound is sensed, there can be definite practise in blending the two. This entails the closest attention and the power to perform two activities simultaneously, with the mental attitude of attention to both.

Tôi muốn đề xuất rằng các học viên nên tập quen làm việc theo cách này, xướng linh từ thành tiếng và với tần suất lớn vào cuối buổi tham thiền buổi sáng, nhưng nhấn mạnh ở phần đầu sự chú ý kỹ lưỡng đến việc nghe thầm lặng, điều này sẽ phát triển sự nhạy cảm của nội nhĩ, tai dĩ thái. Sau này, khi nốt hoặc âm thanh cá nhân được thiết lập và âm thanh nội tại được cảm nhận, có thể bắt đầu thực hành cụ thể việc hòa trộn hai âm thanh này. Điều này đòi hỏi sự tập trung cao độ và khả năng thực hiện hai hoạt động cùng lúc, với thái độ tinh thần chú ý đến cả hai.

Mental Rules 30 – Rule 4.2 (pages 127-132)

Transcript of Video Commentaries by Michael D. Robbins

Herein lies the problem—to sound these two notes synchronously and with the mind focussed. Herein lies a clue to the significance of the AUM or OM. In the early stages of meditation work, the word is sounded audibly, whilst later it is sounded inaudibly. This training in the sound of the AUM is an unconscious preparation for the dual work of spiritual creation; and facility comes as the attentive aspirant accustoms himself to hear within his brain the soundless sound of OM.

Đây chính là vấn đề — làm sao để xướng hai nốt này đồng thời và với thể trí được tập trung. Đây cũng là manh mối cho thâm nghĩa của AUM hay OM. Trong những giai đoạn đầu của công việc tham thiền, từ này được xướng lên thành tiếng, trong khi sau này nó được xướng lên một cách thầm lặng. Việc huấn luyện xướng linh từ AUM này là một sự chuẩn bị vô thức cho công việc sáng tạo tinh thần lưỡng phân; và sự thành thạo sẽ đến khi người chí nguyện chú tâm quen dần với việc nghe âm thanh không phát ra tiếng của OM bên trong bộ não mình.

I would suggest here, that students accustom themselves to work in this manner, sounding the word audibly and with much frequency at the close of the morning meditation, but emphasizing in the early part that close attention to the inaudible hearing which will develop the sensitivity of the inner ear, the etheric ear. Later, when the personal note or sound is established and the inner sound is sensed, there can be definite practise in blending the two. This entails the closest attention and the power to perform two activities simultaneously, with the mental attitude of attention to both.

Tôi muốn đề xuất rằng các học viên nên tập quen làm việc theo cách này, xướng linh từ thành tiếng và với tần suất lớn vào cuối buổi tham thiền buổi sáng, nhưng nhấn mạnh ở phần đầu sự chú ý kỹ lưỡng đến việc nghe thầm lặng, điều này sẽ phát triển sự nhạy cảm của nội nhĩ, tai dĩ thái. Sau này, khi nốt hoặc âm thanh cá nhân được thiết lập và âm thanh nội tại được cảm nhận, có thể bắt đầu thực hành cụ thể việc hòa trộn hai âm thanh này. Điều này đòi hỏi sự tập trung cao độ và khả năng thực hiện hai hoạt động cùng lúc, với thái độ tinh thần chú ý đến cả hai.

Students whose aspiration is keen and clear would do well to face the issue where the magical work is concerned, and study their aptitude in meditation and their willingness to proceed with stability and caution with the needed discipline. To facilitate this I would suggest [128] that any who are deeply concerned in the work should study and answer the following questions in the light of their souls, and to their higher selves make reply.

Các học viên có khát vọng mãnh liệt và rõ ràng nên đối diện với vấn đề liên quan đến công việc huyền thuật, và nghiên cứu khả năng của họ trong tham thiền cũng như sự sẵn sàng tiến bước với sự ổn định và thận trọng, cùng với kỷ luật cần thiết. Để hỗ trợ điều này, tôi đề xuất [128] rằng bất kỳ ai thực sự quan tâm sâu sắc đến công việc nên nghiên cứu và trả lời những câu hỏi sau dưới ánh sáng của linh hồn mình, và đáp lại với chân ngã của họ.

1. Do you feel you have reached the stage wherein you can:

1. Bạn có cảm thấy mình đã đạt đến giai đoạn mà bạn có thể:

a. Eliminate the meditation form as you now have it.

a. Loại bỏ hình thức tham thiền như hiện tại bạn đang thực hành.

b. Enter with relative facility into the state of contemplation.

b. Bước vào trạng thái chiêm ngưỡng một cách tương đối dễ dàng.

c. Recognize the vibration of your own soul.

c. Nhận ra rung động của chính linh hồn mình.

2. Does the Sacred Word mean anything to you, and could you formulate clearly the reason you sound it?

2. Linh Từ Thiêng Liêng có ý nghĩa gì đối với bạn, và bạn có thể diễn đạt rõ ràng lý do bạn xướng nó không?

3. Are you anxious to proceed in this work because your personality aspires, or because your soul is beginning consciously to utilize its mechanism?

3. Bạn có háo hức tiến bước trong công việc này vì phàm ngã của bạn khao khát, hay vì linh hồn của bạn đang bắt đầu một cách có ý thức sử dụng cơ chế của nó?

In connection with this last question, a close analysis is called for, and I conjure you to speak truth to yourself and thus clearly ascertain the true position. This question lies between a man’s soul and himself.

Liên quan đến câu hỏi cuối cùng này, cần có sự phân tích kỹ lưỡng, và tôi khuyên bạn nên nói sự thật với chính mình để xác định rõ vị trí thực sự của bạn. Câu hỏi này nằm giữa linh hồn của một người và chính bản thân y.

I would like to interpolate here a few words in connection with myself. Students can side-track their energies in idle speculation as to my identity. Of what moment is it? My province in relation to the group is to give needed assistance to those who seek to fit themselves for active work as disciples. I am a disciple and, having progressed further along the Path of Return than the aspirants who study these instructions, know somewhat the pitfalls, understand what is needed, and can aid in the preparation for the momentous moment when they pass the portal. Is more necessary? Is not truth of equal value if enunciated by an aspirant, a disciple or a Master, or e’en a Christ? Mayhap the nearer I am to you the greater may be my usefulness. My anonymity will not be broken and speculations as to my identity are fruitless [129] waste of time. Suffice it that I am an Oriental, that I am on the Teaching Ray, and closely associated with the Master K. H., that part of my work is the steady search for aspirants of strong heart, fervent devotion and trained minds, and that I am a disciple, as are all from the humblest probationer up to the greatest of the Great Ones. One lesson all aspirants need to learn and to learn early and that is, that concentration upon the personality of the Teacher, hoping for personal contact with him, and constant visioning of that condition called “accepted chelaship” serves to postpone that contact and delay the acceptance. Seek to equip your instrument, learn to function in quietness, fulfill your obligations and do your duty, develop restraint of speech and that calm poise that comes from an unselfish life motive and forget the selfish satisfaction that might well up in the heart when recognition of faithfulness comes from the watching Hierarchy.

Tôi muốn xen vào đây một vài lời liên quan đến bản thân mình. Các học viên có thể lãng phí năng lượng của mình trong việc suy đoán vô ích về danh tính của tôi. Điều đó có ý nghĩa gì? Nhiệm vụ của tôi trong mối quan hệ với nhóm là cung cấp sự hỗ trợ cần thiết cho những ai tìm cách thích nghi bản thân để làm công việc đệ tử tích cực. Tôi là một đệ tử và, vì đã tiến xa hơn trên Con Đường Trở Về so với những người chí nguyện đang nghiên cứu các chỉ dẫn này, tôi hiểu được phần nào những cạm bẫy, biết điều gì cần thiết, và có thể hỗ trợ trong việc chuẩn bị cho khoảnh khắc trọng đại khi họ vượt qua cánh cổng. Điều đó có cần gì thêm không? Liệu Chân lý không có giá trị như nhau dù được phát biểu bởi một người chí nguyện, một đệ tử, một Chân sư, hay thậm chí là Đức Christ không? Có thể tôi càng gần bạn thì sự hữu ích của tôi càng lớn. Tính ẩn danh của tôi sẽ không bị phá vỡ và việc suy đoán về danh tính của tôi là sự lãng phí thời gian vô ích [129] . Chỉ cần biết rằng tôi là một người phương Đông, rằng tôi thuộc Cung Giảng Dạy, và có mối liên hệ mật thiết với Chân sư K. H., rằng một phần công việc của tôi là tìm kiếm những người chí nguyện có trái tim mạnh mẽ, lòng nhiệt thành và trí tuệ đã được huấn luyện, và rằng tôi là một đệ tử, giống như tất cả mọi người, từ người dự bị khiêm tốn nhất cho đến những Đấng Vĩ Đại nhất. Một bài học mà tất cả các người chí nguyện cần học và học sớm, đó là việc tập trung vào phàm ngã của Huấn sư, hy vọng có sự tiếp xúc cá nhân với Ngài, và luôn mong đợi tình trạng được gọi là “đệ tử được chấp nhận” sẽ làm trì hoãn sự tiếp xúc đó và làm chậm sự chấp nhận. Hãy tìm cách trang bị công cụ của bạn, học cách hoạt động trong sự tĩnh lặng, hoàn thành nghĩa vụ của bạn và làm tròn bổn phận của mình, phát triển sự kiềm chế lời nói và sự bình thản đến từ động cơ sống vị tha, và quên đi sự thỏa mãn vị kỷ có thể nảy sinh trong tim khi sự trung thành của bạn được Thánh Đoàn theo dõi công nhận.

Give this Instruction careful consideration. These are days wherein many adjustments and changes are being wrought in the world of men. In the resulting confusion, individuals are appreciating the necessity for the uniting of their forces and for cooperation in their efforts, and the need for group work is more apparent than ever before. These are days, therefore, wherein quietness and confidence must be your strength, and wherein the only safeguard lies in a close searching of all underlying motives. As seen on the surface, many apparently diverse principles emerge and the surge of battle appears to go, first one way and then another. As seen on the inner side, the emerging factors are simpler. The contest leads primarily to a testing of motives, and through this testing it is made apparent (to the watching Guides) who, in every group, are capable of clear thinking, accurate discrimination, patient endurance, and an ability to proceed along the probationary path toward the portal of initiation, [130] untrammelled and undisturbed in their inner life by the upheavals on the surface. Could you but see it, the unrest and difficulty everywhere is producing a good which far outweighs the seeming evil. Souls are finding themselves and learning dependence upon the inner Ruler. When all outward props fail and when all the apparent authorities differ in the solution proffered, then souls are thrown back upon themselves and learn to seek within. This inner contact with the higher self is becoming apparent in gradually unfolding degree, and leads to that self-reliance and inward calm which is based upon the rule of the inner God and which, therefore, makes a man an instrument for service in the world.

Hãy suy xét kỹ lưỡng Chỉ dẫn này. Đây là những ngày mà nhiều sự điều chỉnh và thay đổi đang diễn ra trong thế giới của loài người. Trong sự hỗn loạn kéo theo đó, các cá nhân đang nhận ra sự cần thiết của việc hợp nhất các mãnh lực của họ và sự hợp tác trong nỗ lực của họ, và nhu cầu cho công việc nhóm rõ ràng hơn bao giờ hết. Vì vậy, đây là những ngày mà sự tĩnh lặng và tự tin phải là sức mạnh của bạn, và nơi sự bảo vệ duy nhất nằm ở việc kiểm tra kỹ lưỡng tất cả các động cơ tiềm ẩn. Khi nhìn từ bề mặt, nhiều nguyên tắc có vẻ khác biệt xuất hiện và dòng chảy của trận chiến dường như chuyển biến, lúc về hướng này, lúc về hướng khác. Khi nhìn từ bên trong, các yếu tố nổi bật trở nên đơn giản hơn. Cuộc chiến chủ yếu dẫn đến việc thử thách các động cơ, và thông qua thử thách này, nó trở nên rõ ràng (đối với các Đấng Hướng Đạo đang quan sát) rằng ai, trong mỗi nhóm, có khả năng suy nghĩ rõ ràng, phân biệt chính xác, chịu đựng kiên nhẫn, và khả năng tiến bước trên con đường dự bị hướng đến cánh cổng điểm đạo, [130] không bị cản trở và không bị xáo trộn trong đời sống nội tâm của họ bởi những xáo động bên ngoài. Nếu bạn có thể thấy điều đó, thì sự bất an và khó khăn ở khắp nơi đang tạo ra một điều tốt lành vượt xa cái ác dường như đang tồn tại. Các linh hồn đang tự khám phá bản thân và học cách phụ thuộc vào Đấng Chỉ Đạo nội tại. Khi mọi sự hỗ trợ bên ngoài đều thất bại và khi mọi thẩm quyền bề ngoài đều đưa ra những giải pháp khác nhau, thì các linh hồn được đưa trở về với chính mình và học cách tìm kiếm bên trong. Sự tiếp xúc nội tại này với chân ngã đang dần dần trở nên rõ ràng ở các mức độ đang mở ra, và dẫn đến sự tự tin và tĩnh lặng bên trong dựa trên sự cai quản của Thượng Đế nội tại, và do đó, khiến một con người trở thành một công cụ để phụng sự trong thế giới.

Several things are apparent at this juncture to the careful thoughtful student of men and of motives.

Vài điều rõ ràng ở thời điểm này đối với những học viên thận trọng và suy xét kỹ về con người và các động cơ.

First: That idealism and the sensing of the plan for humanity have a close relationship. Idealism is analogous to the thought that precedes creation. The capacity for abstract thought and for concentration on the ideal is only now in process of development, for this capacity involves the utilization of certain atoms, the employment of matter of the higher sub-planes and the ability to synchronize one’s vibrations with the Great Ones. Only a few people in the race are true idealists (though their numbers are increasing); the small minority only, employ the concrete mind; while the masses are swayed entirely by the emotions. The time is coming when the intuitional body (the buddhic vehicle) will be organized, utilizing the higher spiritual mind as its medium. When that organization is completed the lower concrete mind will be nothing but a transmitter or an interpreter. Even abstract or concrete thought will be superseded, and we shall have simply the inflow of the intuition, taking form through the medium of the mind stuff. We shall, therefore, have the apprehension of much that is now incomprehensible to our lower plane vision.

Đầu tiên, Chủ nghĩa lý tưởng và sự cảm nhận về Thiên Cơ dành cho nhân loại có mối liên hệ mật thiết với nhau. Chủ nghĩa lý tưởng tương tự như ý nghĩ xuất hiện trước sự sáng tạo. Khả năng tư duy trừu tượng và tập trung vào lý tưởng chỉ mới đang trong quá trình phát triển, vì khả năng này liên quan đến việc sử dụng một số nguyên tử nhất định, việc sử dụng vật chất của các cõi phụ cao hơn và khả năng đồng bộ hóa các rung động của một người với các Đấng Vĩ Đại. Chỉ một số ít người trong nhân loại là những người theo chủ nghĩa lý tưởng thực sự (mặc dù số lượng của họ đang gia tăng); chỉ một thiểu số nhỏ sử dụng trí cụ thể; trong khi quần chúng hoàn toàn bị chi phối bởi cảm xúc. Thời gian sẽ đến khi thể trực giác (thể Bồ đề) sẽ được tổ chức, sử dụng trí tinh thần cao siêu làm phương tiện của nó. Khi tổ chức đó được hoàn thiện, trí cụ thể thấp sẽ chỉ là một công cụ truyền tải hoặc một người phiên dịch. Ngay cả tư duy trừu tượng hay tư duy cụ thể cũng sẽ bị thay thế, và chúng ta sẽ đơn giản có dòng chảy của trực giác, hình thành thông qua chất liệu của trí. Do đó, chúng ta sẽ có sự nắm bắt được nhiều điều mà hiện nay không thể hiểu được từ tầm nhìn ở cõi giới thấp hơn của chúng ta.

[131] In all great movements you have some thought or aggregation of thoughts cast into the minds of the so-called idealists by the Great White Brotherhood. The idea is sounded forth by Them. They choose a man or a group of men and cast into their minds some idea. There it germinates and is embodied by them in other thoughts, not so pure or so wise but necessarily colored by the individuality of the thinker. These thought-forms are, in their turn, picked up by the concrete thinkers of the world who—grasping the main outline of the idea—crystallize it and build it into more definite shape, into one more easily apprehended by the general public. It has therefore now reached the lower levels of the mental plane, and a further development becomes possible. It is then seized upon as desirable by those who are focussed upon the astral plane; to them it makes an emotional appeal, becoming public opinion. It is now practically ready to take shape upon the physical plane, and we have the practical adaptation of an ideal to the needs of the physical life. It has been stepped down; it has lost much of its original beauty; it is not as pure and as lovely as when first conceived, and it is distorted from its original shape but it is, nevertheless, more adapted to public use and can be employed as a stepping-stone to higher things.

Trong tất cả các phong trào vĩ đại, có một tư tưởng hoặc sự tập hợp của những tư tưởng được truyền vào tâm trí của những người mà ta gọi là nhà lý tưởng bởi Thánh Đoàn. Ý tưởng đó được các Ngài xướng lên. Các Ngài chọn một người hoặc một nhóm người và truyền vào tâm trí của họ một ý tưởng nào đó. Tại đó, ý tưởng này nảy mầm và được họ hiện thực hóa thành những tư tưởng khác, không còn thuần khiết hoặc minh triết nữa nhưng tất yếu bị nhuốm màu bởi cá tính của người suy nghĩ. Những hình tư tưởng này lần lượt được các nhà tư tưởng cụ thể của thế giới tiếp nhận—những người nắm bắt được đường nét chính của ý tưởng—kết tinh nó và xây dựng nó thành hình dạng cụ thể hơn, dễ hiểu hơn đối với công chúng. Vì vậy, nó đã đạt đến các mức độ thấp hơn của cõi trí, và sự phát triển tiếp theo trở nên khả thi. Sau đó, nó được những người tập trung vào cõi cảm dục nắm bắt vì họ thấy điều này hấp dẫn về mặt cảm xúc, và nó trở thành dư luận xã hội. Giờ đây, nó thực tế đã sẵn sàng để hiện hình trên cõi vật lý, và chúng ta có sự thích nghi thực tiễn của một lý tưởng với các nhu cầu của cuộc sống vật lý. Nó đã được hạ thấp; nó đã mất đi nhiều vẻ đẹp nguyên thủy của nó; nó không còn thuần khiết và đẹp đẽ như khi mới được hình thành, và nó đã bị biến dạng khỏi hình dạng ban đầu của nó, nhưng dù sao nó cũng phù hợp hơn với công chúng và có thể được sử dụng như một bước đệm để tiến đến những điều cao hơn.

Secondly: In this sensing of the plan and its later materialization, human units are involved and men have perforce to be employed. A vision is given of tremendous possibilities and indications are also granted of the manner in which these possibilities may become facts, but beyond that the Great Ones do not go. The detail and the method of concretizing the ideal and the necessary work is left to the sons of men. To the disciple who is an organizer and transmitter of the Plan falls the work of filling in the details and of taking the necessary action. At this point it is wise for him to remember that he comes (with his little plans) under the same law as do the Great [132] Ones in Their large endeavours, and that it is in his dealings with people and his manipulation of the human equation that the difficulties arise.

Thứ hai: Trong quá trình cảm nhận Thiên Cơ và sự hiện thực hóa sau đó của nó, các đơn vị con người tham gia vào và con người buộc phải được sử dụng. Một tầm nhìn về những khả năng to lớn được trao, và cũng có những gợi ý về cách thức mà những khả năng này có thể trở thành hiện thực, nhưng các Đấng Vĩ Đại không đi xa hơn thế. Chi tiết và phương pháp cụ thể hóa lý tưởng và công việc cần thiết được giao lại cho con người. Đối với người đệ tử, người tổ chức và truyền đạt Thiên Cơ, nhiệm vụ của y là hoàn thiện các chi tiết và thực hiện những hành động cần thiết. Tại thời điểm này, điều khôn ngoan là y nên nhớ rằng y (với những kế hoạch nhỏ bé của mình) chịu sự chi phối của cùng một định luật như các Đấng Vĩ Đại trong những nỗ lực lớn lao của các Ngài, và rằng chính trong việc xử lý con người và việc vận dụng yếu tố con người mà các khó khăn phát sinh. TWM 131-132

Units for work fall into three groups:

Các đơn vị làm việc được chia thành ba nhóm:

(a) Those who can sense the plan and are commissioned to work it out.

(a) Những người có thể cảm nhận được Thiên Cơ và được giao nhiệm vụ triển khai nó.

(b) Those who can be used but who are blind to the greater issues.

(b) Những người có thể được sử dụng nhưng mù quáng trước các vấn đề lớn hơn.

(c) Those who can sense nothing except those things which concern their own selfish interests.

(c) Những người không cảm nhận được điều gì ngoài những điều liên quan đến lợi ích ích kỷ của họ.

The first group the Masters can contact. They work with these units of the human family and expect fair promise of average success. These both hear the sound, and vision the Plan. The second group have to be utilized as best may be, by the disciples of the world. The final group are frequently to be offset from the energy standpoint, and only used when necessary.

Nhóm đầu tiên, các Chân Sư có thể liên hệ. Họ làm việc với những đơn vị này của gia đình nhân loại và mong đợi có được thành công trung bình hợp lý. Những người này vừa nghe được âm thanh, vừa thấy được Thiên Cơ. Nhóm thứ hai phải được các đệ tử trên thế giới sử dụng tốt nhất có thể. Nhóm cuối cùng, từ quan điểm năng lượng, thường cần được hóa giải và chỉ sử dụng khi cần thiết.

One of the primary conditions that a disciple has to cultivate, in order to sense the plan and be used by the Master, is solitude. In solitude the rose of the soul flourishes; in solitude the divine self can speak; in solitude the faculties and the graces of the higher self can take root and blossom in the personality. In solitude also the Master can approach and impress upon the quiescent soul the knowledge that He seeks to impart, the lesson that must be learnt, the method and plan for work that the disciple must grasp. In solitude the sound is heard. The Great Ones have to work through human instruments and the plan and the vision are much handicapped by failure on the part of these instruments.

Một trong những điều kiện cơ bản mà người đệ tử cần trau dồi để cảm nhận được Thiên Cơ và được Chân Sư sử dụng là sự tĩnh lặng. Trong sự tĩnh lặng, hoa hồng của linh hồn nở rộ; trong sự tĩnh lặng, chân ngã thiêng liêng có thể lên tiếng; trong sự tĩnh lặng, các khả năng và đức tính của chân ngã cao siêu có thể bén rễ và nở hoa trong phàm ngã. Trong sự tĩnh lặng, Chân Sư cũng có thể đến gần và ấn tượng lên linh hồn yên tĩnh kiến thức mà Ngài muốn truyền đạt, bài học cần được học, phương pháp và kế hoạch công việc mà người đệ tử phải nắm bắt. Trong sự tĩnh lặng, âm thanh được nghe thấy. Các Đấng Vĩ Đại phải làm việc thông qua những công cụ con người và Thiên Cơ cùng tầm nhìn bị cản trở nhiều bởi sự thất bại của những công cụ này. TWM 132

Mental Rules 31 – Rule 4.3 (pages 132-137)

Transcript of Video Commentaries by Michael D. Robbins

Third: This brings me to the third point, the problems and the difficulties with which the Masters have to contend as They seek to further the plans of evolution through the medium of the sons of men. In conclave wise They make Their plans; with judgment, after due [133] discussion, They apportion the tasks; then, to those who offer themselves for service and who have some measure of soul contact, They seek to transmit as much of the plan as possible. They impress the plan and some suggestion as to its scope upon the mind of some man or some woman upon the physical plane. If that mind is unstable or oversatisfied, if it is filled with pride, with despair, or with self-depreciation, the vision does not come through with clarity of outline; if the emotional body is vibrating violently with some rhythm set up by the personality, or if the physical vehicle is ailing and concentrated attention is therefore prevented, what will happen? The Master will turn sadly away, distressed to think of the opportunity for service that the worker has lost through his own fault, and He will seek someone else to fill the need, —someone perhaps not so fundamentally suitable, but the only one available on account of the failure of the first one approached.

Thứ ba: Điều này dẫn tôi đến điểm thứ ba, những vấn đề và khó khăn mà các Chân sư phải đối mặt khi các Ngài tìm cách thúc đẩy các kế hoạch tiến hóa thông qua phương tiện của những người con của nhân loại. Trong sự sáng suốt và hợp lý, các Ngài lập kế hoạch của mình; với sự phán xét, sau khi thảo luận đầy đủ, các Ngài phân chia các nhiệm vụ; sau đó, với những ai tự nguyện phụng sự và có một mức độ tiếp xúc nào đó với linh hồn, các Ngài tìm cách truyền đạt càng nhiều kế hoạch càng tốt. Các Ngài gây ấn tượng về kế hoạch và gợi ý một phạm vi nào đó lên tâm trí của một người nam hoặc một người nữ trên cõi trần. Nếu tâm trí đó không ổn định hoặc quá tự mãn, nếu nó tràn đầy kiêu ngạo, tuyệt vọng, hoặc sự tự ti, tầm nhìn sẽ không được truyền tải rõ ràng; nếu thể cảm dục đang rung động mãnh liệt với một nhịp điệu được tạo ra bởi phàm ngã, hoặc nếu thể xác đang bệnh tật và do đó sự chú ý bị ngăn cản, điều gì sẽ xảy ra? Chân sư sẽ buồn bã quay đi, thất vọng khi nghĩ về cơ hội phụng sự mà người lao động đã đánh mất do lỗi của chính mình, và Ngài sẽ tìm một người khác để lấp đầy nhu cầu—có thể người này không hoàn toàn phù hợp, nhưng là người duy nhất có sẵn vì sự thất bại của người đầu tiên được tiếp cận. TWM 132-133

It might incidentally be of value here to remind aspirants to service that much work done by many is the result of over-zealousness and is not a carrying forward of the Master’s work. With wise discrimination He apportions the work and never lays upon one human being more than he can adequately accomplish. He can and does train His disciple so that it appears to the on-looking world as if he accomplishes miracles but forget not that the vast amount of work accomplished by one useful disciple only becomes possible when the control of all his three bodies is co-ordinated and his alignment accomplished. He who has a stable mental body that is strongly positive in reception from above, whilst negative to lower vibrations, he who has an astral body that is clear, uncoloured and still, he who also has a physical body with steady nerves and stable rhythm (it will be like a casket, beautiful, yet strong as steel) will serve as a vessel meet for the Master’s use, a channel [134] through which He can unhindered pour His blessing upon the world.

Cũng có thể là hữu ích khi nhắc nhở những người chí nguyện phụng sự rằng nhiều công việc của nhiều người thực hiện chỉ là kết quả của sự quá nhiệt thành và không phải là sự tiếp nối công việc của Chân sư. Với sự phân biện khôn ngoan, Ngài phân chia công việc và không bao giờ giao cho một con người nhiều hơn khả năng y có thể hoàn thành một cách thích đáng. Ngài có thể và thực sự huấn luyện đệ tử của Ngài để thế giới bên ngoài nhìn vào tưởng rằng y làm nên những phép lạ, nhưng đừng quên rằng khối lượng công việc khổng lồ được hoàn thành bởi một đệ tử hữu dụng chỉ trở nên khả thi khi sự kiểm soát của cả ba thể của y được phối hợp và sự chỉnh hợp của y được hoàn tất. Người có thể trí ổn định, mạnh mẽ, tích cực trong việc tiếp nhận từ cõi cao, trong khi tiêu cực với những rung động thấp hơn, người có thể cảm dục trong sáng, không màu sắc và tĩnh lặng, người có thể xác với dây thần kinh vững vàng và nhịp điệu ổn định (nó sẽ như một cái hộp, đẹp đẽ nhưng mạnh mẽ như thép) sẽ phụng sự như một bình chứa thích hợp cho Chân sư sử dụng, một kênh thông qua đó Ngài có thể tuôn đổ phước lành của mình lên thế gian mà không bị cản trở.

Fourth: It should be noted that even the Great Ones Themselves have to lay Their plans largely allowing for the lack of perception of those on the physical plane through whom They have to work. They are handicapped and dependent upon Their physical plane instruments and Their main trouble concerns the point of evolution reached by the mass of men in the Occident.

Thứ tư: Cần lưu ý rằng ngay cả những Đấng Vĩ Đại cũng phải lập kế hoạch của các Ngài cho phép phần lớn vào việc tính toán cho sự thiếu sót trong nhận thức của những người trên cõi trần, những người mà các Ngài phải làm việc thông qua. Các Ngài bị hạn chế và phụ thuộc vào các công cụ trên cõi trần của mình và vấn đề chính của các Ngài liên quan đến mức tiến hóa mà phần đông nhân loại ở phương Tây đã đạt được. TWM 133-134

Remember that this point is indicative of the success of the evolutionary process and not of its failure but, because much yet remains to be done, the work of the Lodge is often hindered. The point reached at this time might be expressed as a swinging from the rank materialism of the past into a growing and profound realization of the unseen worlds without the balance that comes from self-acquired knowledge. The forces that have been set in motion by the thinkers—the scientists of the world, the truly advanced religious men, the Spiritualists, the Christian Scientists, the New Thought workers, the Theosophists and the modern philosophers and workers in other fields of human thought—are gradually and steadily affecting the subtler bodies of humanity and are bringing them to a point where they are beginning to realize three things:

Hãy nhớ rằng điểm này chỉ ra sự thành công của quá trình tiến hóa chứ không phải sự thất bại của nó, nhưng vì còn nhiều việc cần phải hoàn thành, nên công việc của Thánh Đoàn thường bị cản trở. Điểm mà nhân loại đạt được vào thời điểm này có thể được diễn đạt như một sự dao động từ chủ nghĩa vật chất cấp thấp của quá khứ sang một sự nhận thức ngày càng sâu sắc về các thế giới vô hình mà thiếu đi sự cân bằng đến từ kiến thức tự thân. Những mãnh lực đã được khởi động bởi các nhà tư tưởng—các nhà khoa học của thế giới, những người tôn giáo thực sự tiến bộ, những người theo Thần Linh học, các nhà Khoa học Cơ Đốc, những người làm việc trong phong trào Tư Tưởng Mới, các nhà Thông Thiên Học và các triết gia hiện đại cùng những người làm việc trong các lĩnh vực tư tưởng khác của nhân loại—đang dần dần và ổn định ảnh hưởng đến các thể vi tế của nhân loại và đang đưa họ đến một điểm mà họ bắt đầu nhận ra ba điều:

a. The reality of the unseen worlds.

a. Thực tại của các thế giới vô hình.

b. The terrific power of thought.

b. Sức mạnh khủng khiếp của tư tưởng.

c. The need for scientific knowledge on these two matters.

c. Sự cần thiết của tri thức khoa học về hai vấn đề này. [TWM 134]

Fifth: Certain dangers which aspirants must watch as they seek to be of use should here be mentioned:

Thứ năm: Cần phải đề cập đến một số nguy hiểm mà những người chí nguyện phải cảnh giác khi họ tìm cách trở nên hữu dụng:

They must guard against overemphasizing one aspect at the expense of another part of the plan or vision.

– Họ phải cẩn trọng để không quá nhấn mạnh một khía cạnh nào đó mà bỏ qua phần khác của Thiên Cơ hoặc tầm nhìn.

They must avoid unequal concentration of thought [135] upon that part of the plan which appeals the most to them personally.

– Họ phải tránh việc tập trung không đều vào phần của Thiên Cơ mà cá nhân họ cảm thấy thu hút nhất.

They must recognize the inability of the workers to continue to bring through the plans and to work together peacefully and steadily. Friction is oft unavoidable.

– Họ phải nhận ra sự bất lực của các người lao động trong việc tiếp tục thực hiện kế hoạch và làm việc cùng nhau một cách hòa bình và ổn định. Sự xung đột thường khó tránh khỏi.

They must watch for the creeping in of self-interest and of ambition.

– Họ phải cảnh giác trước sự xâm nhập dần dần của lợi ích cá nhân và tham vọng.

They must guard against fatigue, due to long effort in materializing the plan and the strain incident upon high endeavour.

– Họ phải đề phòng sự mệt mỏi do nỗ lực kéo dài trong việc hiện thực hóa Thiên Cơ và căng thẳng liên quan đến những nỗ lực cao cả.

They must develop the capacity to recognize those who are sent to help them in the work.

– Họ phải phát triển khả năng nhận ra những người được gửi đến để giúp đỡ họ trong công việc.

They must above all watch against failure to keep in touch with the higher self and with the Master.

– Trên hết, họ phải luôn cẩn thận để không thất bại trong việc giữ liên lạc với chân ngã và với Chân sư. [TWM 134-135]

Another point that has to be remembered is that the problem to be solved by all who are seeking to co-operate with the Great White Lodge has four objects in view.

Một điểm khác cần nhớ là vấn đề mà tất cả những ai đang tìm cách hợp tác với Thánh Đoàn phải giải quyết có bốn mục tiêu trước mắt:

First, that in the working out of the plan there is also the working out of karma. This karma is not merely individual nor purely national, but is part of the total working out of world karma.

Thứ nhất, trong việc thực hiện Thiên Cơ, đồng thời cũng là sự giải quyết nghiệp quả. Nghiệp quả này không chỉ là nghiệp quả cá nhân hay nghiệp quả quốc gia, mà là một phần của tổng thể nghiệp quả thế giới.

Second. Another object is the preparing of an instrument for service in the inauguration of the New Age during the next two hundred years. The integration of a group of knowers and of mystics is going on steadily in all parts of the world and in all organizations. One group is being gathered but its members belong to many groups. To this group of knowers and mystics is given the opportunity of being the channel through which the Hierarchy can work, and through which the Great Ones can send Their illuminating thought. Through it also they can work for the uplift (in the occult sense) of humanity and thus aid evolution on every plane. According to the response of disciples, of mystics and of knowers everywhere, so will be the rapid coming in of the New Age. [136]

Thứ hai, một mục tiêu khác là chuẩn bị một công cụ để phụng sự cho sự khởi đầu của Kỷ Nguyên Mới trong vòng hai trăm năm tới. Sự tích hợp của một nhóm những thức giả và những nhà thần bí đang diễn ra đều đặn ở mọi nơi trên thế giới và trong tất cả các tổ chức. Một nhóm đang được tập hợp nhưng các thành viên của nhóm này thuộc về nhiều nhóm khác nhau. Nhóm này của những thức giả và nhà thần bí được trao cơ hội trở thành kênh qua đó Thánh Đoàn có thể làm việc, và qua đó các Đấng Vĩ Đại có thể gửi những tư tưởng soi sáng của Các Ngài. Thông qua nhóm này, họ cũng có thể làm việc để nâng cao (theo nghĩa huyền bí) nhân loại và do đó hỗ trợ cho sự tiến hóa trên mọi cõi giới. Tùy thuộc vào sự đáp ứng của các đệ tử, các nhà thần bí và những thức giả ở khắp mọi nơi, Kỷ Nguyên Mới sẽ đến nhanh chóng. [TWM 135]

I here seek to sound a word of warning: In the failure to respond, in the failure to adjust, construct and refine, in the failure to turn the inner ear to those voices on the subtler planes which utter “the Words of Reconstruction” may come the ultimate transference of the forces of reconstruction to other channels, the consequent withholding of opportunities and the ultimate discarding of the instrumentality of the group as a medium of service. I would like to emphasize the statement anent “the Words of Reconstruction,” begging all of you who earnestly desire to hear these words to study the Introduction to the book, Light on the Path. Let it be remembered that if the Great Ones have to change Their plans as to this integrating group of mystics, it will be changed by the mystics themselves—viewed as a group.

Tôi muốn đưa ra một lời cảnh báo: Trong việc thất bại trong sự đáp ứng, trong việc không điều chỉnh, xây dựng và tinh luyện, trong việc không lắng nghe bằng nội nhĩ đến những giọng nói trên các cõi vi tế phát ra “Linh Từ của Sự Tái Thiết,” có thể dẫn đến việc cuối cùng chuyển dịch các mãnh lực của sự tái thiết sang các kênh khác, đồng thời dẫn đến việc cơ hội bị rút lại và cuối cùng là việc loại bỏ nhóm này như một phương tiện phụng sự. Tôi muốn nhấn mạnh về “Linh Từ của Sự Tái Thiết,” mong các bạn, những ai chân thành mong muốn nghe được những từ này, hãy nghiên cứu phần Giới thiệu của cuốn sách “Ánh sáng trên Đường Đạo.” Hãy nhớ rằng nếu các Đấng Vĩ Đại phải thay đổi kế hoạch của Các Ngài đối với nhóm các nhà thần bí đang được tích hợp này, thì sự thay đổi đó sẽ được quyết định bởi chính các nhà thần bí—khi được nhìn nhận như một nhóm.

The third objective is the development of the intuition and discrimination of the disciples in the world, and their ability to sense the higher vision and to achieve at the cost of the lower, the consciousness of that higher plane. They will have to remember that the lower objective, owing to its proximity, will loom in many ways more attractive, and can only be transcended at infinite cost. Intuition must be developed in many people, and their sense of values adequately adjusted before this group, which must inaugurate the New Age, can measure up to the requirements.

Mục tiêu thứ ba là phát triển trực giác và sự phân biện của các đệ tử trên thế giới, cùng với khả năng của họ để cảm nhận tầm nhìn cao hơn và đạt được, bằng cách hy sinh điều thấp hơn, tâm thức của cõi cao hơn đó. Họ sẽ phải nhớ rằng mục tiêu thấp hơn, do sự gần gũi của nó, sẽ xuất hiện hấp dẫn hơn theo nhiều cách và chỉ có thể được vượt qua với một cái giá vô cùng lớn. Trực giác phải được phát triển ở nhiều người, và hệ giá trị của họ phải được điều chỉnh một cách thích hợp trước khi nhóm này, nhóm sẽ khởi đầu Kỷ Nguyên Mới, có thể đáp ứng được các yêu cầu. [TWM 136]

Present day troubles are largely due to the lack of intuitive perception in the past and this fault lies primarily among the mystics of the world and not so much among the lower aspirants. The trouble has not lain in lack of idealism or even in a lack of intelligence and sincerity, it consists in the failure to sacrifice the personality at all times in order to make the intuitive realization demonstrate its realities. Compromise has been permitted and in the occult world compromise is forbidden. When indulged in, it leads to disaster and sweeps away eventually, [137] in ruin and in storm, the personalities of those who so stoop. People have sought to adjust the truth to the hour instead of adjusting the hour to the truth, and in diplomacy they have endeavored to bring about as much of the reality as they deem wise. The Masters are looking out for those with clear vision, uncompromising adherence to the truth as sensed, and capacity to drive steadily forward toward the ideal. This entails the following factors:

Những rắc rối hiện nay phần lớn là do sự thiếu sót trong việc nhận thức trực giác trong quá khứ, và lỗi này chủ yếu nằm ở các nhà thần bí trên thế giới, chứ không phải nhiều ở các người chí nguyện thấp hơn. Vấn đề không nằm ở sự thiếu lý tưởng hay thậm chí sự thiếu thông minh và chân thành, mà nằm ở sự thất bại trong việc hy sinh phàm ngã mọi lúc để làm cho sự nhận thức trực giác thể hiện thực tại của nó. Sự thỏa hiệp đã được cho phép, và trong thế giới huyền bí, sự thỏa hiệp bị cấm. Khi tham gia vào sự thỏa hiệp, nó dẫn đến thảm họa và cuối cùng quét sạch, trong đổ nát và bão tố, những phàm ngã của những người đã cúi xuống như vậy. Mọi người đã cố gắng điều chỉnh sự thật theo thời điểm thay vì điều chỉnh thời điểm theo sự thật, và trong ngoại giao, họ đã nỗ lực đem lại càng nhiều thực tại như họ cho là khôn ngoan. Các Chân sư đang tìm kiếm những người có tầm nhìn rõ ràng, trung thành không thỏa hiệp với sự thật như họ cảm nhận, và có khả năng tiến tới một cách ổn định hướng tới lý tưởng. Điều này bao gồm các yếu tố sau:

1. A recognition of that ideal through meditation.

1. Nhận thức được lý tưởng đó thông qua tham thiền.

2. Its application to the present through one-pointedness.

2. Áp dụng lý tưởng vào hiện tại thông qua sự nhất tâm.

3. Removal of the old and hindering thought-forms through self-sacrifice.

3. Loại bỏ những hình tư tưởng cũ và cản trở thông qua sự tự hy sinh.

4. A refusal to compromise, through clear vision.

4. Sự từ chối thỏa hiệp, thông qua tầm nhìn rõ ràng.

5. A discrimination that enables the disciple always to distinguish between the acts of an individual and the individual himself.

5. Phân biện cho phép đệ tử luôn phân biệt giữa hành động của một cá nhân và chính cá nhân đó.

6. Realization that, in the occult work, it is not permitted to interfere with personal karma any more than it is permitted to shield from the consequences of action. This entails therefore a refusal to interfere in anyone’s business—that is, as regards the personality life, and yet involves a refusal to shirk the business of the larger cause. It is essential that the workers learn to discriminate between the factors which make for personal liberty and those which militate against group liberty.

6. Nhận thức rằng trong công việc huyền bí, không được phép can thiệp vào nghiệp quả cá nhân cũng như không được phép bảo vệ ai đó khỏi hậu quả của hành động. Điều này đòi hỏi sự từ chối can thiệp vào công việc cá nhân của ai đó — nghĩa là, liên quan đến đời sống phàm ngã, nhưng cũng đòi hỏi sự từ chối né tránh công việc của một nguyên nhân lớn hơn. Điều cốt yếu là những người công tác phải học cách phân biệt giữa các yếu tố tạo nên sự tự do cá nhân và những yếu tố chống lại sự tự do của nhóm. [TWM 136-137]

Mental Rules 32 – Rule 4.4 (pages 137-141)

Transcript of Video Commentaries by Michael D. Robbins

The third objective is the development of the intuition and discrimination of the disciples in the world, and their ability to sense the higher vision and to achieve at the cost of the lower, the consciousness of that higher plane. They will have to remember that the lower objective, owing to its proximity, will loom in many ways more attractive, and can only be transcended at infinite cost. Intuition must be developed in many people, and their sense of values adequately adjusted before this group, which must inaugurate the New Age, can measure up to the requirements.

Mục tiêu thứ ba là phát triển trực giác và sự phân biện của các đệ tử trên thế giới, cùng với khả năng của họ để cảm nhận tầm nhìn cao hơn và đạt được, bằng cách hy sinh điều thấp hơn, tâm thức của cõi cao hơn đó. Họ sẽ phải nhớ rằng mục tiêu thấp hơn, do sự gần gũi của nó, sẽ xuất hiện hấp dẫn hơn theo nhiều cách và chỉ có thể được vượt qua với một cái giá vô cùng lớn. Trực giác phải được phát triển ở nhiều người, và hệ giá trị của họ phải được điều chỉnh một cách thích hợp trước khi nhóm này, nhóm sẽ khởi đầu Kỷ Nguyên Mới, có thể đáp ứng được các yêu cầu. [TWM 136]

Present day troubles are largely due to the lack of intuitive perception in the past and this fault lies primarily among the mystics of the world and not so much among the lower aspirants. The trouble has not lain in lack of idealism or even in a lack of intelligence and sincerity, it consists in the failure to sacrifice the personality at all times in order to make the intuitive realization demonstrate its realities. Compromise has been permitted and in the occult world compromise is forbidden. When indulged in, it leads to disaster and sweeps away eventually, [137] in ruin and in storm, the personalities of those who so stoop. People have sought to adjust the truth to the hour instead of adjusting the hour to the truth, and in diplomacy they have endeavored to bring about as much of the reality as they deem wise. The Masters are looking out for those with clear vision, uncompromising adherence to the truth as sensed, and capacity to drive steadily forward toward the ideal. This entails the following factors:

Những rắc rối hiện nay phần lớn là do sự thiếu sót trong việc nhận thức trực giác trong quá khứ, và lỗi này chủ yếu nằm ở các nhà thần bí trên thế giới, chứ không quá nhiều ở các người chí nguyện cấp thấp hơn. Vấn đề không nằm ở sự thiếu lý tưởng hay thậm chí sự thiếu thông minh và chân thành, mà nằm ở sự thất bại trong việc hy sinh phàm ngã mọi lúc để làm cho sự nhận thức trực giác thể hiện thực tại của nó. Sự thỏa hiệp đã được cho phép, và trong thế giới huyền bí, sự thỏa hiệp bị cấm. Khi tham gia vào sự thỏa hiệp, nó dẫn đến thảm họa và cuối cùng quét sạch, trong đổ nát và bão tố, những phàm ngã của những người đã cúi xuống như vậy. Mọi người đã cố gắng điều chỉnh sự thật theo thời điểm thay vì điều chỉnh thời điểm theo sự thật, và trong ngoại giao, họ đã cố gắng mang lại một phần của sự thật mà họ cho là khôn ngoan. Các Chân sư đang tìm kiếm những người có tầm nhìn rõ ràng, trung thành không thỏa hiệp với sự thật như họ cảm nhận, và có khả năng tiến tới một cách ổn định hướng tới lý tưởng. Điều này bao gồm các yếu tố sau:

1. A recognition of that ideal through meditation.

1. Nhận thức được lý tưởng đó thông qua tham thiền.

2. Its application to the present through one-pointedness.

2. Áp dụng lý tưởng vào hiện tại thông qua sự nhất tâm.

3. Removal of the old and hindering thought-forms through self-sacrifice.

3. Loại bỏ những hình tư tưởng cũ và cản trở thông qua sự tự hy sinh.

4. A refusal to compromise, through clear vision.

4. Sự từ chối thỏa hiệp, thông qua tầm nhìn rõ ràng.

5. A discrimination that enables the disciple always to distinguish between the acts of an individual and the individual himself.

5. Phân biện cho phép đệ tử luôn phân biệt giữa hành động của một cá nhân và chính cá nhân đó.

6. Realization that, in the occult work, it is not permitted to interfere with personal karma any more than it is permitted to shield from the consequences of action. This entails therefore a refusal to interfere in anyone’s business—that is, as regards the personality life, and yet involves a refusal to shirk the business of the larger cause. It is essential that the workers learn to discriminate between the factors which make for personal liberty and those which militate against group liberty.

6. Nhận thức rằng trong công việc huyền bí, không được phép can thiệp vào nghiệp quả cá nhân cũng như không được phép bảo vệ ai đó khỏi hậu quả của hành động. Điều này đòi hỏi sự từ chối can thiệp vào công việc cá nhân của ai đó — nghĩa là, liên quan đến đời sống phàm ngã, nhưng cũng đòi hỏi sự từ chối né tránh công việc của một nguyên nhân lớn hơn. Điều cốt yếu là những người công tác phải học cách phân biệt giữa các yếu tố tạo nên sự tự do cá nhân và những yếu tố chống lại sự tự do của nhóm. [TWM 136-137]

The fourth result to be brought about by the present opportunity to work is the bringing in the new cycle and the new group of participants. Workers in the new era will be drawn from all groups and the test of their choice depends largely upon the measure of impersonality with which they work and the strength of their [138] inner contact with the soul. It is not easy for any of you, therefore, submerged as you are in the smoke and roar of battle, to judge results with accuracy or to judge people with perfect propriety. These things have to be dealt with on the inner planes and are noted by the watching guides of the race. I would like here briefly to point out a few of the things for which the Great Ones look.

Kết quả thứ tư cần đạt được từ cơ hội làm việc hiện tại là sự khởi đầu của chu kỳ mới và nhóm những người tham gia mới. Những người công tác trong kỷ nguyên mới sẽ được thu hút từ mọi nhóm, và sự lựa chọn của họ phần lớn phụ thuộc vào mức độ vô ngã mà họ làm việc và sức mạnh của sự liên kết nội tại với linh hồn. Do đó, không dễ dàng gì cho bất kỳ ai trong các bạn, khi đang chìm trong khói lửa và tiếng gầm của trận chiến, để đánh giá kết quả một cách chính xác hoặc đánh giá người khác một cách hoàn toàn thích hợp. Những điều này phải được xử lý trên các cõi nội tại và được ghi nhận bởi các vị hướng dẫn luôn quan sát của nhân loại. Tôi muốn ở đây ngắn gọn chỉ ra một vài điều mà các Ngài đang tìm kiếm.

They look to see whether the inner flame—the result of effort wisely to work and think and do—burns with increased brilliance; they note whether it remains hidden and dim through the whirl of astral currents and by thought forms of personal antagonism, ambition and envy. As a result of world work some will be drawn into closer connection with the work of the Hierarchy, and others will be temporarily set back. Capacity to dominate the astral and to work from mental levels will largely count.

Các Ngài quan sát để xem liệu ngọn lửa nội tại—kết quả của nỗ lực làm việc, suy nghĩ và hành động một cách khôn ngoan—có cháy sáng với độ rực rỡ tăng lên không; các Ngài ghi nhận liệu nó có bị che khuất và mờ nhạt bởi dòng xoáy của các dòng cảm dục và bởi các hình tư tưởng của sự đối kháng cá nhân, tham vọng và đố kỵ không. Kết quả của công việc thế giới sẽ khiến một số người được kéo vào mối liên hệ chặt chẽ hơn với công việc của Huyền Giai, và những người khác sẽ tạm thời bị chậm lại. Khả năng chế ngự cảm dục và làm việc từ các cấp độ trí tuệ sẽ có giá trị lớn.

They look to see who can struggle and contend for principle with personalities, and yet keep the link of love intact. This counts perhaps more than men realize and a man who can stand for principle and yet love all human beings—refusing compromise and yet refusing hate—has something rare to offer in these days and the Great Ones can use him. See to it, therefore, all of you who work, that with clear vision, upright purpose and firm undeviating action you forge ahead. See to it that you deal with patience and forbearance with those of your brothers who choose the lesser principle and the lesser right, who sacrifice the good of the group for their own personal ends or who use unworthy methods. Give to them love and care and a ready helping hand, for they will stumble on the way and sound the depth of the law. Stand ready then to lift them up and to offer to them opportunities for service, knowing that service is the great healer and teacher. [139]

Các Ngài tìm kiếm những ai có thể đấu tranh và bảo vệ nguyên tắc với phàm ngã, nhưng vẫn giữ được mối liên kết yêu thương vẹn nguyên. Điều này có lẽ quan trọng hơn nhiều so với những gì con người nhận ra, và một người có thể đứng lên vì nguyên tắc nhưng vẫn yêu thương tất cả mọi người—từ chối thỏa hiệp nhưng cũng từ chối thù ghét—thì có điều gì đó quý giá để cống hiến trong những ngày này, và các Ngài có thể sử dụng y. Vì vậy, tất cả các bạn đang làm việc hãy đảm bảo rằng, với tầm nhìn rõ ràng, mục đích chính trực và hành động vững chắc, không chệch hướng, các bạn sẽ tiến lên. Hãy đảm bảo rằng các bạn đối xử với sự kiên nhẫn và khoan dung đối với những huynh đệ của mình, những người đã chọn nguyên tắc thấp hơn và chân lý nhỏ hơn, những người hy sinh lợi ích của nhóm cho mục đích cá nhân của họ hoặc sử dụng các phương pháp không xứng đáng. Hãy trao cho họ tình yêu, sự quan tâm và một bàn tay sẵn sàng giúp đỡ, vì họ sẽ vấp ngã trên con đường và sẽ nhận ra chiều sâu của định luật. Hãy sẵn sàng nâng họ dậy và trao cho họ cơ hội phụng sự, vì phụng sự là người thầy và người chữa lành vĩ đại. TWM 137-138

The Great Ones look to see the faculty of pliability and adaptability working out, that faculty of adaptation that is one of the fundamental laws of species which nature so wonderfully demonstrates. The transference of this law to the inner planes and its working out in the new cycle of effort must be undertaken. This law of adaptation involves the appreciation of the need, the recognition of the new force coming in with the new cycle and the consequent bringing together in wide synthesis of the need and of the force, regarding the personal self simply as a focal point for action and transmutation. It involves the transmutation of the five senses and their extension into the subtler planes so that sight, hearing, touch, taste and smell are welded into one synthetic cooperating whole, for use in the great work. On the physical plane, these tend to the unification of the personal life and to the adaptation of the physical world to the needs of the personal self. On the subtler planes they must be transmuted until they are adequate to the needs of the group of which the individual forms a fragmentary part. The ability to do this is one of the things that the Great Ones look for in those individuals whose privilege it may be to inaugurate the New Age.

Các Đấng Cao Cả quan sát để xem khả năng linh hoạt và thích ứng đang được phát triển, khả năng thích ứng này là một trong những định luật căn bản của loài mà tự nhiên đã thể hiện một cách tuyệt vời. Việc chuyển giao định luật này lên các cõi nội tại và thực hiện nó trong chu kỳ nỗ lực mới phải được đảm nhận. Định luật thích ứng này bao hàm sự thấu hiểu nhu cầu, nhận biết mãnh lực mới đến cùng chu kỳ mới, và kết hợp chúng trong một tổng hợp rộng lớn giữa nhu cầu và mãnh lực, coi phàm ngã đơn thuần là một điểm tập trung cho hành động và chuyển hóa. Điều này bao gồm sự chuyển hóa năm giác quan và sự mở rộng của chúng lên các cõi tinh tế hơn để thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác và khứu giác được hợp nhất thành một toàn thể hợp tác tổng hợp, để sử dụng trong công việc vĩ đại. Trên cõi vật lý, những giác quan này có xu hướng thống nhất đời sống cá nhân và thích ứng thế giới vật chất với nhu cầu của phàm ngã. Trên các cõi tinh tế hơn, chúng phải được chuyển hóa cho đến khi chúng đủ đáp ứng các nhu cầu của nhóm mà cá nhân chỉ là một phần nhỏ bé của nó. Khả năng làm được điều này là một trong những điều mà các Đấng Cao Cả tìm kiếm ở những cá nhân có đặc quyền khởi xướng Kỷ nguyên Mới. TWM 139

Above all, They look for an enlarged channel from the soul to the physical brain, via the mind. Such an enlarged channel indicates that a man can be used. One might almost express it by saying that They look for the perfecting of the antaskarana, that channel of communication between the soul consciousness and the brain whose possessor is one whom the Masters can successfully use. They are guided in their choice of workers by a man’s personally achieved capacity and by his own hard won ability. When there is capacity, ability, and faculty, then the Great Ones joyfully employ him. The wrong angle has been, at times, over-emphasized and the reverse of this taught. The Masters must not be sought [140] because a man seeks capacity. They will be found when a man has capacity—capacity that makes him available for group work and that can be extended under careful instruction into the higher powers of the soul. Leadership in groups controlling the work of the New Age will grow out of the discipline of the individual, and leaders will be found among those who sense the inner issue. Leadership that endures does not come to those who strive for place and power nor for those who have their eyes only on outward conditions and overlook the underlying causes. Leadership does not come to those who place the personal self and its position and power before the good of the group. It comes enduringly to those who seek nothing for the separated self, to those who lose themselves in the good of the whole.

Trên hết, các Ngài tìm kiếm một kênh mở rộng từ linh hồn đến bộ não vật lý, thông qua thể trí. Một kênh mở rộng như vậy cho thấy rằng một người có thể được sử dụng. Có thể diễn đạt điều này bằng cách nói rằng các Ngài tìm kiếm sự hoàn thiện của antaskarana, kênh liên lạc giữa tâm thức linh hồn và bộ não, và người sở hữu kênh này là người mà các Chân sư có thể sử dụng thành công. Các Ngài được hướng dẫn trong việc lựa chọn những người công tác dựa trên khả năng cá nhân đạt được của một người và khả năng mà y đã giành được qua nỗ lực gian khổ của bản thân. Khi có năng lực, khả năng và tài năng, thì các Đấng Cao Cả vui mừng sử dụng y. Góc nhìn sai lầm đôi khi đã bị nhấn mạnh quá mức, và điều ngược lại đã được dạy. Một người không nên tìm kiếm các Chân sư để tìm kiếm năng lực. Các Ngài sẽ được tìm thấy khi một người đã có năng lực—năng lực khiến y sẵn sàng cho công việc nhóm và có thể được mở rộng dưới sự hướng dẫn cẩn trọng thành các quyền năng cao hơn của linh hồn. Sự lãnh đạo trong các nhóm kiểm soát công việc của Kỷ Nguyên Mới sẽ phát triển từ sự kỷ luật của cá nhân, và những người lãnh đạo sẽ được tìm thấy trong số những người cảm nhận được các vấn đề nội tại. Sự lãnh đạo bền vững không đến với những người khao khát địa vị và quyền lực, cũng không dành cho những người chỉ chăm chú vào các điều kiện bên ngoài mà bỏ qua các nguyên nhân nền tảng. Sự lãnh đạo không đến với những người đặt phàm ngã và vị trí, quyền lực của nó lên trước lợi ích của nhóm. Sự lãnh đạo đến bền vững với những người không tìm kiếm điều gì cho cái ngã riêng biệt, những người đánh mất chính mình trong lợi ích của toàn thể. TWM 139-140

To resume our consideration of the AUM. The Sound or the Sacred Word when correctly used has various effects which might be touched upon here.

Tiếp tục xem xét về AUM. Âm thanh hay Linh Từ khi được sử dụng đúng cách sẽ có nhiều tác động khác nhau mà chúng ta có thể đề cập đến ở đây.

OM sounded forth, with intent thought behind it, acts as a disturber, a loosener of the coarse matter of the body of thought, of emotion, and of the physical body. When sounded forth with intense spiritual aspiration behind it, it acts as an attractive medium, and gathers in particles of pure matter to fill the places of those earlier thrown out. Students should strive to have these two activities in their minds as they use the Word in their meditation. This utilization of the Word is of practical value, and results in the building of good bodies for the use of the soul.

OM được xướng lên, với tư tưởng chủ đích phía sau, hoạt động như một tác nhân khuấy động, làm lỏng rời các chất liệu thô của thể trí, cảm xúc và thể xác. Khi được xướng lên với sự khát vọng tinh thần mãnh liệt phía sau, nó hoạt động như một phương tiện thu hút, và thu gom các hạt vật chất tinh khiết để lấp đầy những chỗ đã bị loại bỏ trước đó. Các học viên nên cố gắng giữ hai hoạt động này trong tâm trí khi sử dụng Linh Từ trong tham thiền của mình. Việc sử dụng Linh Từ này có giá trị thực tiễn, và mang lại kết quả là việc xây dựng các thể tốt để linh hồn sử dụng.

The use of the OM serves also to indicate to the workers on the universal planes, and to those in the outer world who are gifted with spiritual perception that a disciple is available for work and can be utilized actively in the needed places of the earth. This should be borne in mind by all aspirants and should serve as an [141] incentive in making the outer phenomenal life coincide with the spiritual impulse.

Việc sử dụng OM cũng giúp chỉ ra cho các người công tác trên các cõi vũ trụ, và cho những người trong thế giới bên ngoài có năng lực nhận thức tinh thần rằng một đệ tử sẵn sàng cho công việc và có thể được sử dụng một cách tích cực tại các địa điểm cần thiết trên trần gian. Điều này nên được ghi nhớ bởi tất cả các người chí nguyện và nên được xem như là một động lực để làm cho cuộc sống hiện tượng bên ngoài trùng khớp với xung lực tinh thần.

The use of the Sacred Word has its place also in the magical work of the Hierarchy. Thought forms are created for the embodiment of ideas and these embodied forms are sent forth to contact the minds of the disciples who are responsible in the group of a Master for the carrying forward of the plan.

Việc sử dụng Linh Từ có vai trò trong công việc huyền thuật của Thánh đoàn. Các hình tư tưởng được tạo ra để hiện thân cho các ý tưởng và các hình thể này được gửi đi để tiếp xúc với tâm trí của các đệ tử, những người chịu trách nhiệm trong nhóm của một Chân sư về việc thực hiện Thiên Cơ. TWM 140-141

Through the cultivated receptivity of the developed and controlled mental body, aspirants become aware of the ideas which the Masters bring through from the plane of the Universal Mind, and hence are in a position to co-operate intelligently. They, in their turn, as this Rule seeks to indicate, create thought forms of those received ideas, and utilize them in their groups for the helping of the world. The main work of a disciple on the mental plane is to train himself to do four things:

Thông qua khả năng tiếp nhận được nuôi dưỡng của thể trí phát triển và được kiểm soát, các người chí nguyện trở nên nhận thức được những ý tưởng mà các Chân sư mang xuống từ cõi Trí Tuệ Vũ Trụ, và do đó họ có thể hợp tác một cách thông minh. Họ, đến lượt mình, như Quy Luật này chỉ ra, tạo ra các hình tư tưởng từ những ý tưởng đã nhận được và sử dụng chúng trong nhóm của mình để giúp đỡ thế giới. Công việc chính của một đệ tử trên cõi trí là tự rèn luyện để làm bốn điều:

1. To be receptive to the mind of the Master.

1. Tiếp nhận trí của Chân sư.

2. To cultivate a right intuitive understanding of the thoughts sent him by the Master.

2. Nuôi dưỡng sự thấu hiểu trực giác đúng đắn về những tư tưởng mà Chân sư gửi cho y.

3. To embody the ideas received in such form as will be suitable for those he is engaged in helping.

3. Hiện thực hóa các ý tưởng đã nhận được thành một hình thức thích hợp cho những người mà y đang hỗ trợ.

4. Through sound, light and vibration to make his thought form active (embodying as much of the universal thought as is desirable) so that other minds may contact it.

4. Thông qua âm thanh, ánh sáng và rung động, làm cho hình tư tưởng của y trở nên tích cực (hiện thực hóa càng nhiều càng tốt ý tưởng vũ trụ) để các tâm trí khác có thể tiếp xúc với nó.

Thus are groups gathered, organized, taught and lifted, and thus the Hierarchy of Adepts can reach the world.

Nhờ vậy, các nhóm được tập hợp, tổ chức, giảng dạy và nâng cao, và nhờ đó, Huyền Giai Chân sư có thể tiếp cận thế giới.

There are many other uses, of course, but if the students will ponder on these three they will make it possible for further uses to be imparted later.

Tất nhiên còn nhiều cách sử dụng khác, nhưng nếu các học viên suy ngẫm về ba điều này, họ sẽ tạo điều kiện cho những cách sử dụng khác được truyền dạy sau này. TWM 141

May I add, that the sound is only truly potent when the disciple has learnt to subordinate the lesser sounds. Only as the sounds he sends forth normally into the [142] three worlds are reduced in volume and in activity, as well as in quantity will it be possible for the Sound to be heard, and so to accomplish its purpose. Only as the multitude of spoken words is reduced, and silence in speech is cultivated, will it be possible for the Word to make its power felt on the physical plane. Only when the many voices of the lower nature and of our environment are silenced, will the “Voice that speaketh in the stillness” make its presence felt. Only when the sound of many waters dies away in the adjustment of the emotions will the clear note of the God of the waters be heard.

Hãy để tôi thêm rằng âm thanh chỉ thực sự có sức mạnh khi đệ tử đã học được cách khuất phục những âm thanh nhỏ hơn. Chỉ khi những âm thanh mà y thường phát ra vào ba cõi giới được giảm về cường độ, hoạt động và cả số lượng, thì mới có thể nghe được Âm Thanh, và từ đó hoàn thành mục đích của nó. Chỉ khi số lượng từ ngữ được phát ra giảm đi, và sự im lặng trong lời nói được nuôi dưỡng, thì Linh Từ mới có thể khiến sức mạnh của nó được cảm nhận trên cõi trần. Chỉ khi nhiều tiếng nói của bản chất thấp hơn và môi trường xung quanh bị im lặng, thì “Tiếng Nói nói trong sự tĩnh lặng” mới khiến sự hiện diện của nó được cảm nhận. Chỉ khi âm thanh của nhiều dòng nước dừng lại trong sự điều chỉnh của cảm xúc, thì âm vang trong trẻo của Thần của các dòng nước mới có thể được nghe thấy.

People seldom realize the potency of a word, yet it is stated, “In the beginning was the Word, and the Word was God. Without Him was not anything made that was made.” When therefore we read those words our minds go back to the dawn of the creative process when, through the medium of sound, God spoke and the worlds were made.

Mọi người hiếm khi nhận ra sức mạnh của một từ, nhưng người ta đã nói, “Ban đầu là Ngôi Lời, và Ngôi Lời là Thượng Đế. Không có Ngài thì chẳng có điều gì được tạo ra.” Vì vậy, khi chúng ta đọc những lời đó, tâm trí của chúng ta quay trở lại buổi bình minh của quá trình sáng tạo khi, thông qua phương tiện âm thanh, Thượng Đế phán và các thế giới được tạo ra.

It has been said that, “the chief agency by which Nature’s wheel is moved in a phenomenal direction is sound,” for the original sound or word sets in vibration the matter of which all forms are made and initiates that activity which characterizes even the atom of substance.

Người ta đã nói rằng, “công cụ chính mà bánh xe của Tự Nhiên được vận hành theo hướng hiện tượng là âm thanh,” vì âm thanh hoặc Linh lời nguyên thủy đặt chất liệu của mọi hình thức vào rung động và khởi đầu hoạt động đó, vốn đặc trưng ngay cả trong nguyên tử vật chất. [TWM 141-142]

Mental Rules 33 – Rule 4.5 (pages 141-145.)

Transcript of Video Commentaries by Michael D. Robbins

May I add, that the sound is only truly potent when the disciple has learnt to subordinate the lesser sounds. Only as the sounds he sends forth normally into the [142] three worlds are reduced in volume and in activity, as well as in quantity will it be possible for the Sound to be heard, and so to accomplish its purpose. Only as the multitude of spoken words is reduced, and silence in speech is cultivated, will it be possible for the Word to make its power felt on the physical plane. Only when the many voices of the lower nature and of our environment are silenced, will the “Voice that speaketh in the stillness” make its presence felt. Only when the sound of many waters dies away in the adjustment of the emotions will the clear note of the God of the waters be heard.

Hãy để tôi thêm rằng âm thanh chỉ thực sự có sức mạnh khi đệ tử đã học được cách khuất phục những âm thanh nhỏ hơn. Chỉ khi những âm thanh mà y thường phát ra vào ba cõi giới được giảm về cường độ, hoạt động và cả số lượng, thì mới có thể nghe được Âm Thanh, và từ đó hoàn thành mục đích của nó. Chỉ khi số lượng từ được phát ra giảm đi, và sự im lặng trong lời nói được nuôi dưỡng, thì Linh Từ mới có thể khiến sức mạnh của nó được cảm nhận trên cõi trần. Chỉ khi nhiều tiếng nói của bản chất thấp hơn và môi trường xung quanh bị im lặng, thì “Tiếng Nói nói trong sự tĩnh lặng” mới khiến sự hiện diện của nó được cảm nhận. Chỉ khi âm thanh của nhiều dòng nước tan biến trong sự điều chỉnh của cảm xúc, nốt trong trẻo của Chúa Tể của các Dòng Nước mới được nghe thấy.

People seldom realize the potency of a word, yet it is stated, “In the beginning was the Word, and the Word was God. Without Him was not anything made that was made.” When therefore we read those words our minds go back to the dawn of the creative process when, through the medium of sound, God spoke and the worlds were made.

Con người hiếm khi nhận ra sức mạnh của một từ, nhưng có lời nói rằng, “Ban đầu là Ngôi Lời, và Ngôi Lời là Thượng Đế. Không có Ngài thì chẳng có điều gì được tạo ra.” Vì vậy, khi chúng ta đọc những lời đó, tâm trí của chúng ta quay trở lại buổi bình minh của quá trình sáng tạo khi, thông qua phương tiện âm thanh, Thượng Đế phán và các thế giới được tạo ra.

It has been said that, “the chief agency by which Nature’s wheel is moved in a phenomenal direction is sound,” for the original sound or word sets in vibration the matter of which all forms are made and initiates that activity which characterizes even the atom of substance.

Người ta đã nói rằng, “công cụ chính mà bánh xe của Tự Nhiên được vận hành theo hướng hiện tượng là âm thanh,” vì âm thanh hoặc lời nguyên thủy đưa chất liệu của mọi hình tướng vào rung động và khởi đầu hoạt động đó, vốn đặc trưng ngay cả trong nguyên tử vật chất. TWM 141-142

The literature and the scriptures of all the ancient nations and great religions bear testimony to the efficacy of sound in producing all that is tangible and visible. The Hindus say very beautifully that “the Great Singer built the worlds, and the Universe is His Song.” This is another way of expressing the same idea. If this is realized and the science of this concept somewhat understood, the significance of our own words and the utterance of sound in speech, becomes almost a momentous happening.

Các tài liệu và kinh thánh của tất cả các quốc gia cổ đại và các tôn giáo vĩ đại đều làm chứng cho hiệu quả của âm thanh trong việc tạo ra tất cả những gì hữu hình và hữu hình. Người Hindu diễn tả rất đẹp đẽ rằng “Ca Sĩ Vĩ Đại đã xây dựng các thế giới, và Vũ Trụ là Bài Hát của Ngài.” Đây là một cách khác để diễn đạt cùng một ý tưởng. Nếu điều này được nhận ra và khoa học về khái niệm này được hiểu phần nào, ý nghĩa của chính lời nói của chúng ta và việc phát ra âm thanh trong lời nói sẽ trở thành một sự kiện gần như trọng đại.

Sound or speech and the use of words have been regarded [143] by the ancient philosophers (and are increasingly so regarded by modern thinkers) as the highest agent used by man in moulding himself and his surroundings. Thought, speech and the resultant activity on the physical plane complete the triplicity which make a man what he is, and place him where he is.

Âm thanh hoặc lời nói và việc sử dụng từ ngữ đã được các triết gia cổ đại coi trọng (và ngày càng được các nhà tư tưởng hiện đại coi trọng) như là phương tiện cao nhất mà con người sử dụng để định hình bản thân và môi trường xung quanh mình. Tư tưởng, lời nói và hoạt động kết quả trên cõi trần hoàn thành bộ ba giúp con người trở thành những gì y là, và đặt y vào vị trí của y.

The purpose of all speech is to clothe thought and thus make our thoughts available for others. When we speak we evoke a thought and make it present, and we bring that which is concealed within us into audible expression. Speech reveals, and right speech can create a form of beneficent purpose, just as wrong speech can produce a form which has a malignant objective. Without realizing this, however, ceaselessly and irresponsibly, day after day, we speak; we use words; we multiply sounds; and surround ourselves with form worlds of our own creation. Is it not essential, therefore, that before we speak we should think, thus remembering the injunction, “You must attain to knowledge, ere you can attain to speech”? Having thought, let us then choose the right words to express the right thought, attempting to give correct pronunciation, proper values, and true tonal quality to every word we utter.

Mục đích của mọi lời nói là để bao bọc tư tưởng và nhờ đó khiến tư tưởng của chúng ta trở nên tiếp cận được với người khác. Khi chúng ta nói, chúng ta gợi lên một tư tưởng và làm cho nó hiện diện, và chúng ta mang những gì ẩn giấu bên trong mình ra ngoài thông qua biểu hiện âm thanh. Lời nói bộc lộ, và lời nói đúng có thể tạo ra một hình thể với mục đích thiện lành, cũng như lời nói sai có thể tạo ra một hình thể với mục tiêu độc hại. Tuy nhiên, không nhận thức được điều này, ngày qua ngày, không ngừng và vô trách nhiệm, chúng ta nói; chúng ta dùng từ ngữ; chúng ta nhân lên những âm thanh; và tự bao quanh mình với những thế giới hình thể do chính chúng ta tạo ra. Vậy có phải điều cần thiết là trước khi nói, chúng ta nên suy nghĩ, ghi nhớ lời khuyên rằng, “Bạn phải đạt đến tri thức trước khi có thể đạt đến lời nói”? Sau khi suy nghĩ, hãy chọn những từ ngữ đúng để thể hiện tư tưởng đúng, cố gắng phát âm chính xác, đưa ra giá trị phù hợp và âm chất đúng cho mỗi từ mà chúng ta nói ra.

Then will our spoken word create a thought form which will embody the idea we have in our minds. Then too will our words carry no discord, but will add their quota to that great harmonizing chord or unifying word which it is the function of mankind ultimately to utter. Wrong speech separates, and it is interesting to bear in mind that the word, the symbol of unity, is divine, whereas speech in its many diversifications is human.

Khi đó, lời nói của chúng ta sẽ tạo ra một hình tư tưởng thể hiện ý tưởng mà chúng ta có trong tâm trí. Và khi đó, những lời nói của chúng ta sẽ không mang theo sự bất hòa, mà sẽ đóng góp phần của nó vào bản hợp âm lớn hòa giải hoặc từ ngữ hợp nhất mà cuối cùng loài người có trách nhiệm thốt ra. Lời nói sai lầm gây chia rẽ, và điều thú vị là nên ghi nhớ rằng từ, biểu tượng của sự hợp nhất, là thiêng liêng, trong khi lời nói với nhiều sự phân hóa của nó là thuộc về con người.

As evolution proceeds, and the human family rises into its true position in the great plan of the universe, right and correct speech will be increasingly cultivated, because we shall think more before we utter words, or, as a great teacher has said, “through meditation we shall [144] rectify the mistakes of wrong speech;” and the significance of word forms, true and correct sounds, and vocal quality will become ever more apparent.

Khi tiến hóa tiếp diễn, và gia đình nhân loại vươn lên vị trí thật sự của nó trong đại kế hoạch của vũ trụ, lời nói đúng và chính xác sẽ ngày càng được trau dồi, bởi vì chúng ta sẽ suy nghĩ nhiều hơn trước khi thốt ra lời, hoặc, như một vị thầy vĩ đại đã nói, “thông qua tham thiền, chúng ta sẽ chỉnh sửa những sai lầm của lời nói sai;” và ý nghĩa của các hình thức từ ngữ, âm thanh đúng đắn và chất lượng giọng nói sẽ trở nên ngày càng rõ ràng hơn. TWM 143-144

The second word of importance in this fourth Rule is the word light. First the sound and then the first effect of sound, the pouring forth of light, causing the revelation of the thought form.

Từ thứ hai quan trọng trong Quy Luật thứ tư này là ánh sáng. Trước tiên là âm thanh, và sau đó là hiệu ứng đầu tiên của âm thanh, sự tỏa sáng của ánh sáng, gây ra sự mặc khải của hình tư tưởng.

Light is known by what is revealed. The absence of light produces the fading away, into apparent non-existence, of the phenomenal world.

Ánh sáng được biết đến qua những gì được tiết lộ. Sự vắng mặt của ánh sáng tạo ra sự phai mờ, dẫn đến sự biến mất dường như vào sự không tồn tại của thế giới hiện tượng.

The thought form created by the Sound is intended to be a source of revelation. It must reveal truth, and bring an aspect of reality to the cognisance of the onlooker. Hence the second quality of the thought form in its highest use is that it brings light to those who need it, to those who walk in darkness.

Hình tư tưởng được tạo ra bởi Âm Thanh được dự định là một nguồn mặc khải. Nó phải tiết lộ chân lý, và mang một khía cạnh của thực tại đến nhận thức của người quan sát. Do đó, phẩm tính thứ hai của hình tư tưởng trong việc sử dụng cao nhất của nó là mang ánh sáng đến những người cần nó, đến những người bước đi trong bóng tối.

I deal not here with light as the soul, cosmically or individually. I touch not upon light as the universal second aspect of divinity. I seek only in these Instructions to deal with that aspect of truth which will make the aspirant a practical worker, and so enable him to work with intelligence. His main work (and increasingly he will find this to be so) is to create thought-forms to carry revelation to thinking human beings. To do this he must work occultly, and through the sound of his breathed forth work, through the truth revealed in form, will he carry light and illumination into the dark places of the earth

Ở đây, tôi không đề cập đến ánh sáng như linh hồn, về mặt vũ trụ hoặc cá nhân. Tôi không bàn về ánh sáng như khía cạnh thứ hai của thiên tính phổ quát. Trong những Hướng Dẫn này, Tôi chỉ tìm cách để đề cập đến khía cạnh của chân lý sẽ làm cho người chí nguyện trở thành một người phụng sự thực tiễn, và như vậy sẽ giúp y làm việc với sự thông tuệ. Công việc chính của y (và y sẽ ngày càng nhận ra điều này) là tạo ra các hình tư tưởng để mang lại sự mặc khải cho những con người đang suy nghĩ. Để làm điều này, y phải làm việc một cách huyền bí, và thông qua âm thanh của công việc thở ra của mình, thông qua chân lý được tiết lộ trong hình thức, y sẽ mang ánh sáng và sự soi sáng vào những nơi tối tăm của thế giới. TWM 144

Then he finally makes his thought form live through the power of his own assurance, spiritual understanding and vitality. Thus the significance of the third word, vibration, appears. His message is heard, for it is sounded forth; it carries illumination, for it conveys the Truth and reveals Reality; it is of vital import, for it vibrates with the life of its creator, and is held in being as long as his thought and sound and intelligence animate [145] it. This is true of a message, of an organization, and of all forms of life, which are but the embodied ideas of a cosmic or a human creator.

Sau đó, cuối cùng, y làm cho hình tư tưởng của mình trở nên sống động thông qua sức mạnh của sự chắc chắn, sự thấu hiểu tinh thần và sức sống của chính y. Do đó, ý nghĩa của từ thứ ba, rung động, xuất hiện. Thông điệp của y được lắng nghe, vì nó được phát ra; nó mang lại sự soi sáng, vì nó truyền tải Chân Lý và tiết lộ Thực Tại; nó có tầm quan trọng sống còn, vì nó rung động với sự sống của người sáng tạo ra nó, và được duy trì tồn tại miễn là tư tưởng, âm thanh và trí tuệ của y làm cho nó sống động. Điều này đúng với một thông điệp, một tổ chức, và tất cả các hình thức sống, vốn chỉ là những ý tưởng được hiện thân của một Đấng sáng tạo vũ trụ hoặc nhân loại. TWM 144

Students would find it of value to take these three vital words and trace their relation to all embodied thought forms—a cosmos, a plane, a kingdom in nature, a race, a nation, a human being. Consider the diverse groups of creating agencies—solar Logoi, solar Angels, human beings, and others. Consider the spheres of the creative process and see how true the Old Commentary is when it says:

Các sinh viên sẽ thấy có giá trị khi lấy ba từ quan trọng này và truy tìm mối liên hệ của chúng với tất cả các hình tư tưởng được thể hiện—một vũ trụ, một cõi giới, một vương quốc trong tự nhiên, một giống dân, một quốc gia, một con người. Hãy xem xét các nhóm sáng tạo đa dạng—các Thái Dương Thượng Đế, các Thái Dương Thiên Thần, con người và những thực thể khác. Hãy xem xét các lĩnh vực của quá trình sáng tạo và thấy được sự đúng đắn của Cổ Luận khi nói rằng:

“The sound reverberated amidst varying wheels of uncreated matter; and lo, the sun and all the lesser wheels appeared. The light shone forth amidst the many wheels, and thus the many forms of God, the diverse aspects of his radiant robe blazed forth.

“Âm thanh vang vọng giữa những bánh xe đa dạng của vật chất chưa được tạo thành; và kìa, mặt trời và tất cả những bánh xe nhỏ hơn xuất hiện. Ánh sáng chiếu tỏa giữa những bánh xe đa dạng, và thế là nhiều hình tướng của Thượng Đế, những khía cạnh đa dạng của tấm áo rực rỡ của Ngài, bừng sáng.

“The vibrant palpitating wheels turned over. Life, in its many stages and in its many grades commenced the process of unfolding, and lo, the law began to work. Forms arose, and disappeared, but life moved on. Kingdoms arose, holding their many forms which drew together, turned together, and later separated, but still the life moved on.

“Các bánh xe rung động, đập mạnh xoay chuyển. Sự sống, trong nhiều giai đoạn và cấp bậc của nó, bắt đầu quá trình khai mở, và kìa, luật bắt đầu hoạt động. Các hình tướng xuất hiện và biến mất, nhưng sự sống vẫn tiếp tục chuyển động. Các giới xuất hiện, chứa đựng nhiều hình tướng của chúng, những hình tướng tập hợp lại, xoay chuyển cùng nhau, và sau đó tách ra, nhưng sự sống vẫn tiếp tục.

“Mankind, hiding the Son of God, the Word incarnate, broke forth into the light of revelation. Races appeared and disappeared. The forms, veiling the radiant soul, emerged, achieved their purpose and vanished into night, but lo, the life moved on, blended this time with light. Life merged with light, both blending to reveal a beauty and a power, an active liberating force, a wisdom and a love that we call a Son of God.

“Nhân loại, ẩn giấu Đấng Con của Thượng Đế, Ngôi Lời nhập thể, bùng nổ trong ánh sáng của sự mặc khải. Các giống dân xuất hiện và biến mất. Các hình tướng, che phủ linh hồn rực rỡ, xuất hiện, hoàn thành mục đích của chúng và tan biến vào bóng tối, nhưng kìa, sự sống vẫn tiếp tục, lần này được hòa quyện với ánh sáng. Sự sống hòa lẫn với ánh sáng, cả hai hòa quyện để tiết lộ một vẻ đẹp và một sức mạnh, một mãnh lực giải phóng tích cực, một minh triết và tình yêu mà chúng ta gọi là Con của Thượng Đế.

“Through the many Sons of God, who in their inmost centre are but one, God in his Fatherhood is known. Yet still that lighted life moved on to a dread point of power, of force creative, concerning which we say: It is the All, the Container of the Universe, the persistent centre of the Spheres, the One.”

“Thông qua nhiều Con của Thượng Đế, mà ở tận trung tâm của họ chỉ là Một, Thượng Đế trong vai trò Làm Cha được biết đến. Nhưng ánh sáng sự sống vẫn tiếp tục di chuyển đến một điểm quyền năng kính sợ, một mãnh lực sáng tạo, mà về điều đó chúng ta nói: Đó là Tất Cả, Đấng Bao Trùm Vũ Trụ, trung tâm kiên định của các Thiên Cầu, Đấng Duy Nhất.” TWM 144-145

Mental Rules 34 Rule 4.6 (pages 145-148.)

Transcript of Video Commentaries by Michael D. Robbins

Students would find it of value to take these three vital words and trace their relation to all embodied thought forms—a cosmos, a plane, a kingdom in nature, a race, a nation, a human being. Consider the diverse groups of creating agencies—solar Logoi, solar Angels, human beings, and others. Consider the spheres of the creative process and see how true the Old Commentary is when it says:

Các sinh viên sẽ thấy có giá trị khi lấy ba từ quan trọng này và truy tìm mối liên hệ của chúng với tất cả các hình tư tưởng được thể hiện—một vũ trụ, một cõi giới, một vương quốc trong tự nhiên, một giống dân, một quốc gia, một con người. Hãy xem xét các nhóm sáng tạo đa dạng—các Thái Dương Thượng Đế, các Thái Dương Thiên Thần, con người và những thực thể khác. Hãy xem xét các lĩnh vực của quá trình sáng tạo và thấy được sự đúng đắn của Cổ Luận khi nói rằng:

“The sound reverberated amidst varying wheels of uncreated matter; and lo, the sun and all the lesser wheels appeared. The light shone forth amidst the many wheels, and thus the many forms of God, the diverse aspects of his radiant robe blazed forth.

“Âm thanh vang vọng giữa những bánh xe đa dạng của vật chất chưa được tạo thành; và kìa, mặt trời và tất cả những bánh xe nhỏ hơn xuất hiện. Ánh sáng chiếu tỏa giữa những bánh xe đa dạng, và thế là nhiều hình tướng của Thượng Đế, những khía cạnh đa dạng của tấm áo rực rỡ của Ngài, bừng sáng.

“The vibrant palpitating wheels turned over. Life, in its many stages and in its many grades commenced the process of unfolding, and lo, the law began to work. Forms arose, and disappeared, but life moved on. Kingdoms arose, holding their many forms which drew together, turned together, and later separated, but still the life moved on.

“Các bánh xe rung động, đập nhịp và xoay chuyển. Sự sống, trong nhiều giai đoạn và cấp bậc của nó, bắt đầu quá trình khai mở, và kìa, lđịnh uật bắt đầu hoạt động. Các hình tướng xuất hiện và biến mất, nhưng sự sống vẫn tiếp tục chuyển động. Các giới xuất hiện, chứa đựng nhiều hình tướng của chúng, những hình tướng tập hợp lại, xoay chuyển cùng nhau, và sau đó tách ra, nhưng sự sống vẫn tiếp tục.

“Mankind, hiding the Son of God, the Word incarnate, broke forth into the light of revelation. Races appeared and disappeared. The forms, veiling the radiant soul, emerged, achieved their purpose and vanished into night, but lo, the life moved on, blended this time with light. Life merged with light, both blending to reveal a beauty and a power, an active liberating force, a wisdom and a love that we call a Son of God.

“Nhân loại, ẩn giấu Đấng Con của Thượng Đế, Ngôi Lời nhập thể, bùng nổ trong ánh sáng của sự mặc khải. Các giống dân xuất hiện và biến mất. Các hình tướng, che phủ linh hồn rực rỡ, xuất hiện, hoàn thành mục đích của chúng và tan biến vào bóng tối, nhưng kìa, sự sống vẫn tiếp tục, lần này được hòa quyện với ánh sáng. Sự sống hòa lẫn với ánh sáng, cả hai hòa quyện để tiết lộ một vẻ đẹp và một sức mạnh, một mãnh lực giải phóng tích cực, một minh triết và tình yêu mà chúng ta gọi là Con của Thượng Đế.

“Through the many Sons of God, who in their inmost centre are but one, God in his Fatherhood is known. Yet still that lighted life moved on to a dread point of power, of force creative, concerning which we say: It is the All, the Container of the Universe, the persistent centre of the Spheres, the One.”

“Thông qua nhiều Con của Thượng Đế, mà ở tận trung tâm của họ chỉ là Một, Thượng Đế trong vai trò Làm Cha được biết đến. Nhưng ánh sáng sự sống vẫn tiếp tục di chuyển đến một điểm quyền năng kính sợ, một mãnh lực sáng tạo, mà về điều đó chúng ta nói: Đó là Tất Cả, Đấng Bao Trùm Vũ Trụ, trung tâm kiên định của các Thiên Cầu, Đấng Duy Nhất.” TWM 144-145

We have touched upon two words of significance in the fourth Rule, —sound and light, —and one paramount idea emerges. The soul is to be known as light, as the [146] revealer, whilst the Spirit aspect will later be recognized as sound. Complete light and illumination is the right of the disciple who attains to the third initiation, whilst the true comprehension of the sound, of the triple AUM, the synthesizing factor in manifestation appears only to the one who stands master of the three worlds.

Chúng ta đã đề cập đến hai từ có ý nghĩa trong Quy Luật thứ tư — âm thanh và ánh sáng — và một ý tưởng tối quan trọng xuất hiện. Linh hồn được biết đến như là ánh sáng, như là Người Tiết Lộ, trong khi khía cạnh Tinh Thần sẽ được nhận ra sau này là âm thanh. Ánh sáng hoàn chỉnh và sự soi sáng là quyền của người đệ tử đã đạt được lần điểm đạo thứ ba, trong khi sự hiểu biết thực sự về âm thanh, của AUM tam phân— yếu tố tổng hợp trong sự biểu hiện — chỉ xuất hiện đối với người làm chủ ba cõi giới.

The word vibration must next engage our attention but it may not be dissociated from the next word in the sequence form. Vibration, the effect of divine activity, is two-fold. There is the first effect in which the vibration (issuing from the realm of subjectivity in response to sound and light) produces response in matter, and therefore attracts or calls together the atoms out of which molecules, cells, organisms and finally the integrated form can be built. This effected, the aspect of vibration is to be noted as a duality.

Từ “rung động” là từ tiếp theo cần thu hút sự chú ý của chúng ta, nhưng nó không thể được tách rời khỏi từ tiếp theo trong chuỗi, là “hình tướng”. Rung động, hiệu ứng của hoạt động thiêng liêng, có hai khía cạnh. Có hiệu ứng đầu tiên, trong đó rung động (xuất phát từ lĩnh vực chủ quan để phản ứng với âm thanh và ánh sáng) tạo ra sự phản hồi trong vật chất, và do đó thu hút hoặc tập hợp các nguyên tử lại với nhau, từ đó các phân tử, tế bào, sinh vật và cuối cùng là hình tướng tích hợp có thể được hình thành. Khi điều này đã được thực hiện, khía cạnh của rung động cần được lưu ý là một nhị nguyên. TWM 145-146

The form, through the medium of the five senses, becomes aware of the vibratory aspect of all forms in the environment wherein it, itself, is a functioning entity. Later, in time and space, that functioning form becomes increasingly aware of its own interior vibration, and by tracing back that vibration to its originating source becomes aware of the Self, and later of the Kingdom of the Self. Humanity as a whole is aware of its environment and, through the information conveyed by the sense of sight, hearing, touch, taste and smell, the phenomenal world, the outer garment of God, is known, and communication between the Self and what we call the natural world is set up. As the mind appropriates and synthesizes this knowledge, the dweller in the form passes through the following stages:

Hình tướng, thông qua phương tiện của năm giác quan, nhận thức được khía cạnh rung động của tất cả các hình tướng trong môi trường mà chính nó là một thực thể đang hoạt động. Sau này, trong thời gian và không gian, hình tướng hoạt động đó ngày càng nhận thức rõ ràng hơn về rung động bên trong của chính nó, và bằng cách lần theo rung động đó trở về nguồn gốc ban đầu, nó trở nên nhận biết về Chân Ngã, và sau này là Giới của Chân Ngã. Nhân loại nói chung nhận thức về môi trường xung quanh và, thông qua thông tin được truyền tải bởi các giác quan thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác và khứu giác, thế giới hiện tượng, chiếc áo ngoài của Thượng Đế, được biết đến, và sự giao tiếp giữa Chân Ngã và cái mà chúng ta gọi là thế giới tự nhiên được thiết lập. Khi thể trí chiếm hữu và tổng hợp tri thức này, người cư ngụ trong hình tướng trải qua các giai đoạn sau:

1. Vibration is registered, and the environment has its effect upon the form.

1. Rung động được ghi nhận, và môi trường có ảnh hưởng đến hình tướng.

2. This effect is noted, but not understood. The man, under the slow and steady impact of this vibratory [147] effect, slowly awakens to consciousness or awareness.

2. Ảnh hưởng này được ghi nhận, nhưng không được hiểu rõ. Con người, dưới tác động chậm và đều đặn của ảnh hưởng rung động này, dần dần thức tỉnh đến ý thức hoặc nhận thức.

3. The environment begins to interest the man and he regards it as desirable. Steadily the attraction of the three worlds grows and holds the man in reiterated incarnation. (The word “re-iterated” is literally and more academically correct than the word “repeated.” Each of us is really a re-iterated word, sounding in time and space.)

3. Môi trường bắt đầu thu hút con người và y coi nó là đáng mong muốn. Sự hấp dẫn của ba cõi dần dần tăng lên và giữ chặt con người trong những lần tái sinh liên tục. (Từ “re-iterated” thực sự đúng hơn về mặt học thuật so với từ “repeated.” Mỗi chúng ta thực sự là một từ được nhắc lại, vang lên trong thời gian và không gian.)

4. Later, when the vibration of the environing forms of the natural world becomes monotonous through constant impact over many lives, the man begins to turn a deaf ear and an un-seeing eye upon the familiar phenomenal world of desire. He becomes insensitive to its vibratory impact and increasingly aware of the vibration of the Self.

4. Sau này, khi rung động của các hình tướng trong môi trường tự nhiên trở nên đơn điệu do tác động liên tục qua nhiều kiếp, con người bắt đầu quay lưng và nhắm mắt trước thế giới hiện tượng quen thuộc của dục vọng. Y trở nên vô cảm trước tác động rung động của nó và ngày càng nhận thức rõ ràng hơn về rung động của Chân Ngã.

5. Later, on the Path of Probation and of Discipleship, this subtler vibratory activity exerts an increasing allure. The outer world ceases to attract. The inner world of the self assumes paramount place in the desire nature.

5. Sau này, trên Con Đường Dự Bị và Con Đường Đệ Tử, hoạt động rung động tinh tế này ngày càng thu hút mạnh mẽ. Thế giới bên ngoài không còn hấp dẫn. Thế giới bên trong của Chân Ngã chiếm vị trí tối thượng trong bản chất dục vọng.

6. Little by little, using the language of modern psychology, within the outer form, which is the response apparatus for the process of becoming aware of the phenomenal world, the disciple builds a new subtler response apparatus whereby the subjective worlds can be known.

6. Sử dụng ngôn ngữ của tâm lý học hiện đại, từng bước một, trong hình tướng bên ngoài—là cơ quan phản ứng cho quá trình nhận thức về thế giới hiện tượng—người đệ tử xây dựng một cơ quan phản ứng tinh tế hơn, nhờ đó các thế giới chủ quan có thể được biết đến. TWM 146-147

When this stage is reached there ensues a steady turning away from vibratory contact with the outer worlds of form, and an atrophying of desire in that direction. All seems arid and undesirable, and all fails to satisfy the ardent and aspiring soul. The difficult process of re-orientation toward a new world, a new state of being and a new condition of awareness is set up, and because the inner subtle response apparatus is only in an embryonic [148] condition there is a devastating sense of loss, a groping in the dark, and a period of spiritual wrestling and exploration that tests the endurance and steadfastness of purpose of the aspirant to the very limits.

Khi giai đoạn này được đạt tới, một sự quay lưng đều đặn khỏi các tiếp xúc rung động với thế giới hình tướng bên ngoài diễn ra, và dục vọng hướng về đó bắt đầu suy yếu. Tất cả dường như khô khan và không đáng mong muốn, và tất cả đều không làm thỏa mãn linh hồn nhiệt huyết và đầy khát vọng. Quá trình khó khăn của việc tái định hướng về một thế giới mới, một trạng thái tồn tại mới và một điều kiện nhận thức mới được thiết lập, và bởi vì cơ quan phản ứng tinh tế bên trong chỉ ở trong trạng thái phôi thai, nên có một cảm giác mất mát tàn khốc, một sự mò mẫm trong bóng tối, và một giai đoạn đấu tranh và thăm dò tinh thần thử thách sự kiên trì và mục đích vững chắc của người chí nguyện đến tận giới hạn.

But (and this is the encouraging point to be remembered) all “proceedeth under the law and naught can hinder the work from going forward.” Note these words in Rule IV. There comes a stage when a man is verily and indeed “founded on the rock,” and though he may experience the alternation of light and shade, though the waves of the purifying waters may roll over him, and threaten to sweep him off his feet, and though he may feel himself deaf and dumb and blind, naught can ultimately defeat the purpose of the soul. All that is lacking is the developed spiritual body which is equipped to respond to the vibration of the inner spiritual world. It exists in embryo, and the secret of its use lies in the attitude of the brain to the functions of the etheric body, as it exists as an intermediary between the brain, nervous system and the mind, or between the soul, mind and the brain. This cannot be elaborated here but the hint can be given for the reflection of the keen aspirant.

Nhưng (và đây là điểm khích lệ cần ghi nhớ) tất cả “diễn tiến theo định luật và không có gì có thể cản trở công việc tiến về phía trước.” Hãy lưu ý những lời này trong Quy Luật IV. Có một giai đoạn khi con người thực sự và đích thực “được đặt nền tảng trên đá”, và mặc dù y có thể trải qua sự luân phiên giữa ánh sáng và bóng tối, mặc dù những con sóng của nước thanh tẩy có thể lăn qua y và đe dọa quét y khỏi đôi chân của mình, và mặc dù y có thể cảm thấy mình điếc, câm và mù, không có gì cuối cùng có thể đánh bại mục đích của linh hồn. Điều duy nhất thiếu là thể tinh thần phát triển đủ để phản ứng với rung động của thế giới tinh thần nội tại. Thể này tồn tại trong dạng phôi thai, và bí mật về cách sử dụng nó nằm trong thái độ của bộ não đối với các chức năng của thể dĩ thái, vì nó tồn tại như một trung gian giữa bộ não, hệ thần kinh và thể trí, hoặc giữa linh hồn, thể trí và bộ não. Điều này không thể được giải thích chi tiết tại đây, nhưng một gợi ý có thể được đưa ra cho sự suy ngẫm của người chí nguyện sắc sảo. TWM 147-148

We have therefore the following stages dealt with in Rule IV and pointed out with lucid clarity, yet with that parsimony of phrase which distinguishes all occult and symbolic writings:

Vì thế, chúng ta có các giai đoạn sau đây được đề cập trong Quy Luật IV và được chỉ ra với sự rõ ràng sáng tỏ, nhưng với sự tiết kiệm ngôn từ đặc trưng cho tất cả các văn bản huyền bí và tượng trưng:

1. The integration of the form, as the result of the activity of the soul, through the use of

1. Sự tích hợp của hình tướng, là kết quả của hoạt động của linh hồn, thông qua việc sử dụng:

a. Sound,

a. Âm thanh,

b. Light,

b. Ánh sáng,

c. Vibration.

c. Rung động.

2. The development of a response apparatus for use in the phenomenal world.

2. Sự phát triển của một cơ quan phản ứng để sử dụng trong thế giới hiện tượng.

3. The eventual turning away from the phenomenal world, as the result of use and consequent satiety, [149] and the gradual use of the subtler response apparatus.

3. Cuối cùng là sự quay lưng khỏi thế giới hiện tượng, do sự sử dụng và thỏa mãn theo sau, và sự sử dụng dần dần cơ quan phản ứng tinh tế hơn.

4. The response apparatus of the soul—mind, etheric body, brain and nervous system—is re-oriented, and the man becomes aware of the kingdom of the soul, another kingdom in nature.

4. Cơ quan phản ứng của linh hồn—thể trí, thể dĩ thái, bộ não và hệ thần kinh—được tái định hướng, và con người trở nên nhận thức về giới của linh hồn, một giới khác trong tự nhiên.

5. The turning away from the kingdom of the world to the kingdom of the soul becomes an esoteric habit, and in this thought lies hid the secret of esoteric psychology. The man is stabilized in the spiritual life. Naught can now hinder.

5. Sự quay lưng khỏi giới của thế giới để hướng đến giới của linh hồn trở thành một thói quen nội môn, và trong ý tưởng này ẩn chứa bí mật của Tâm Lý Học Nội Môn. Con người được ổn định trong đời sống tinh thần. Không gì có thể cản trở nữa. TWM 148-149

Mental Rules 35 – Rule 4.7 (pages 148-153)

Transcript of Video Commentaries by Michael D. Robbins

We have therefore the following stages dealt with in Rule IV and pointed out with lucid clarity, yet with that parsimony of phrase which distinguishes all occult and symbolic writings:

Vì thế, chúng ta có các giai đoạn sau đây được đề cập trong Quy Luật IV và được chỉ ra với sự rõ ràng sáng tỏ, nhưng với sự tiết kiệm ngôn từ đặc trưng cho tất cả các văn bản huyền bí và tượng trưng:

1. The integration of the form, as the result of the activity of the soul, through the use of

1. Sự tích hợp của hình tướng, là kết quả của hoạt động của linh hồn, thông qua việc sử dụng:

a. Sound,

a. Âm thanh,

b. Light,

b. Ánh sáng,

c. Vibration.

c. Rung động.

2. The development of a response apparatus for use in the phenomenal world.

2. Sự phát triển của một cơ quan phản ứng để sử dụng trong thế giới hiện tượng.

3. The eventual turning away from the phenomenal world, as the result of use and consequent satiety, [149] and the gradual use of the subtler response apparatus.

3. Cuối cùng là sự quay lưng khỏi thế giới hiện tượng, do sự sử dụng và thỏa mãn theo sau, và sự sử dụng dần dần cơ quan phản ứng tinh tế hơn.

4. The response apparatus of the soul—mind, etheric body, brain and nervous system—is re-oriented, and the man becomes aware of the kingdom of the soul, another kingdom in nature.

4. Cơ quan phản ứng của linh hồn—thể trí, thể dĩ thái, bộ não và hệ thần kinh—được tái định hướng, và con người trở nên nhận thức về giới của linh hồn, một giới khác trong tự nhiên.

5. The turning away from the kingdom of the world to the kingdom of the soul becomes an esoteric habit, and in this thought lies hid the secret of esoteric psychology. The man is stabilized in the spiritual life. Naught can now hinder.

5. Sự quay lưng khỏi giới của thế giới để hướng đến giới của linh hồn trở thành một thói quen nội môn, và trong ý tưởng này ẩn chứa bí mật của Tâm Lý Học Nội Môn. Con người được ổn định trong đời sống tinh thần. Không gì có thể cản trở nữa. TWM 148-149

The Science of the Breath

KHOA HỌC VỀ HƠI THỞ

Now we come to the significant words in Rule IV. “The man breathes deeply.” This is a phrase covering many aspects of rhythmic living. It is the magical formula for the science of pranayama. It covers the art of the creative life. It sweeps a man into tune with the pulsating life of God Himself, and this through detachment and re-orientation.

Bây giờ chúng ta đến với những lời quan trọng trong Quy Luật IV. “Con người thở sâu.” Đây là một cụm từ bao quát nhiều khía cạnh của cuộc sống nhịp nhàng. Đây là công thức huyền thuật cho khoa học pranayama. Nó bao hàm nghệ thuật của cuộc sống sáng tạo. Nó cuốn con người hòa vào nhịp điệu của sự sống đang đập nhịp của chính Thượng Đế, thông qua sự tách rời và tái định hướng.

It is notably interesting as a demonstration of the succinctness and inclusiveness of occult phrases as in Rule IV. The art of breathing is dealt with in three phases, and these I commend to each of you for the most careful consideration.

Nó đặc biệt thú vị như một sự minh họa cho tính súc tích và toàn diện của các cụm từ huyền bí như trong Quy Luật IV. Nghệ thuật hít thở được đề cập ở ba giai đoạn, và tôi khuyến khích mỗi người trong các bạn hãy xem xét chúng thật cẩn thận.

There is first the aspect of Inhalation. “The man breathes deeply.” From the very depths of his being he draws the breath. In the process of phenomenal living, he draws the very breath of life from the soul. This is the first stage. In the process of detaching himself from phenomenal living, he draws from the depths of his being and experiences the life, that it may be rendered again back to the source from whence it came. In the occult life of the disciple, as he develops a new and subtler use of his response apparatus, he practices the science of the breath, and discovers that through deep [150] breathing (including the three stages of the deep, middle, and top breath) he can bring into activity, in the world of esoteric experiences, his vital body with its force centres. Thus the three aspects of “deep breathing” cover the entire soul experience, and the relationship to the three types of breath, touched upon above, can be worked out by the interested aspirant.

Đầu tiên là khía cạnh Hít vào. “Con người thở sâu.” Từ tận sâu trong bản thể của mình, y rút lấy hơi thở. Trong quá trình sống hiện tượng, y rút lấy chính hơi thở của sự sống từ linh hồn. Đây là giai đoạn đầu tiên. Trong quá trình tách mình khỏi cuộc sống hiện tượng, y rút từ sâu thẳm trong bản thể của mình và trải nghiệm sự sống, để rồi nó được trả lại nguồn gốc từ nơi nó đến. Trong đời sống huyền bí của người đệ tử, khi y phát triển việc sử dụng mới và tinh tế hơn đối với cơ quan phản ứng của mình, y thực hành khoa học về hơi thở, và phát hiện rằng thông qua việc thở sâu (bao gồm ba giai đoạn: thở sâu, thở giữa, và thở đỉnh), y có thể kích hoạt trong thế giới trải nghiệm nội môn thể sinh lực của mình cùng với các trung tâm lực. Như vậy, ba khía cạnh của “hít thở sâu” bao quát toàn bộ trải nghiệm của linh hồn, và mối quan hệ với ba loại hơi thở, được đề cập ở trên, có thể được nghiên cứu kỹ lưỡng bởi người chí nguyện có quan tâm. TWM 149-150

Next we read “he concentrates his forces.” Here we have the stage indicated which can be called retention of the breath. It is a holding of all the forces of the life steadily in the place of silence, and when this can be done with ease and with forgetfulness of process through familiarity and experience, then the man can see and hear and know in a realm other than the phenomenal world. In the higher sense this is the stage of contemplation, that “lull between two activities” as it has been so aptly called. The soul, the breath, the life has withdrawn out of the three worlds, and in the “secret place of the most high” is at rest and at peace, contemplating the beatific vision. In the life of the active disciple it produces those interludes which every disciple knows, when (through detachment and the capacity to withdraw) he is held by nothing in the world of form. As he is but wrestling toward perfection and has not yet attained, these interludes of silence, withdrawingness, and of detachment are frequently difficult and dark. All is silence and he stands appalled by the unknown, and by the apparently empty stillness in which he finds himself. This is called, in advanced cases, “the dark night of the soul”—the moment before the dawn, the hour before the light streams forth.

Tiếp theo, chúng ta đọc “y tập trung các mãnh lực của mình.” Ở đây, chúng ta có giai đoạn được chỉ định, có thể được gọi là sự giữ hơi thở. Đây là việc giữ tất cả các mãnh lực của sự sống ổn định trong trạng thái tĩnh lặng, và khi điều này có thể được thực hiện một cách dễ dàng và với sự quên lãng về quy trình nhờ vào sự quen thuộc và kinh nghiệm, thì con người có thể thấy, nghe và biết trong một cõi khác với thế giới hiện tượng. Theo nghĩa cao hơn, đây là giai đoạn chiêm ngưỡng, “khoảng lặng giữa hai hoạt động” như nó đã được diễn đạt rất phù hợp. Linh hồn, hơi thở, sự sống đã rút lui khỏi ba cõi giới, và trong “nơi bí mật của Đấng Tối Cao” đang yên nghỉ và bình an, chiêm nghiệm tầm nhìn hạnh phúc. Trong đời sống của người đệ tử năng động, nó tạo ra những khoảng ngừng mà mỗi đệ tử đều biết, khi (thông qua sự tách rời và khả năng rút lui) y không bị ràng buộc bởi bất cứ điều gì trong thế giới hình tướng. Khi y chỉ đang cố gắng hướng đến sự hoàn thiện và chưa đạt được, những khoảng ngừng này của sự tĩnh lặng, rút lui và tách biệt thường xuyên khó khăn và tối tăm. Mọi thứ đều im lặng và y đứng sững sờ trước điều chưa biết, và bởi sự tĩnh lặng dường như trống rỗng mà y thấy mình trong đó. Điều này được gọi, trong những trường hợp tiến triển, là “đêm tối của linh hồn” — khoảnh khắc trước khi bình minh ló dạng, giờ trước khi ánh sáng tràn ngập. TWM 150

In the science of Pranayama it is the moment following upon inhalation wherein all the forces of the body have (through the medium of the breath) been carried upward to the head and concentrated there, prior to the stage of breathing forth. This moment of retention, when [151] properly carried forward, produces an interlude of intense concentration and it is in this moment that the aspirant must seize opportunity. Herein lies a hint.

Trong khoa học Pranayama, đó là khoảnh khắc sau khi hít vào, khi tất cả các mãnh lực của cơ thể (thông qua trung gian của hơi thở) đã được đưa lên đầu và tập trung tại đó, trước khi bước vào giai đoạn thở ra. Khoảnh khắc giữ lại này, khi được thực hiện đúng cách, tạo ra một khoảng ngừng của sự tập trung mãnh liệt và trong khoảnh khắc này người chí nguyện phải nắm bắt cơ hội. Đây là một gợi ý.

Then comes the process of exhalation. We read in Rule IV “he drives the thought-form from him.” This is ever the result of the final stage of the science of the breath. The form, vitalized by the one who breathes in correct rhythm, is sent forth to do its work and fulfil its mission. Study this idea with care, for it holds the secret of creative work.

Sau đó là quá trình thở ra. Chúng ta đọc trong Quy Luật IV “y xua đi hình tư tưởng của mình.” Đây luôn là kết quả của giai đoạn cuối cùng của khoa học về hơi thở. Hình tư tưởng, được sinh lực hóa bởi người thở đúng nhịp điệu, được gửi ra ngoài để thực hiện công việc của nó và hoàn thành sứ mệnh. Hãy nghiên cứu ý tưởng này một cách cẩn thận, vì nó chứa đựng bí mật của công việc sáng tạo.

In the experience of the soul, the form for manifestation in the three worlds is created through intense meditation, which is ever the paralleling activity of breathing. Then by an act of the will, resulting in a “breathing forth”, and engendered or arrived at dynamically in the interlude of contemplation or retention of the breath, the created form is sent forth into the phenomenal world, to serve as a channel of experience, a medium of expression and a response apparatus in the three worlds of human living.

Trong trải nghiệm của linh hồn, hình thể cho sự biểu hiện trong ba cõi được tạo ra thông qua sự thiền định mãnh liệt, đây luôn là hoạt động song song của việc thở. Sau đó, bằng một hành động của ý chí, kết quả từ một “hơi thở ra”, và được sinh ra hoặc đạt được một cách mạnh mẽ trong khoảng ngừng của sự chiêm nghiệm hoặc giữ hơi thở, hình thể được tạo ra sẽ được gửi vào thế giới hiện tượng, để phục vụ như một kênh kinh nghiệm, một phương tiện biểu đạt và một cơ quan phản hồi trong ba cõi của đời sống con người.

In the life of the disciple, through meditation and discipline he learns to reach high moments of interlude whenever he concentrates his forces on the plane of soul life, and then again by an act of his will, he breathes forth his spiritual purposes, plans and life into the world of experience. The thought form that he has constructed as to the part he has to play, and the concentration of energy which he has succeeded in bringing about become effective. The energy needed for the next step is breathed forth by the soul and passes down into the vital body, thus galvanizing the physical instrument with the needed constructive activity. That aspect of the plan which he has appreciated in contemplation, and that part of the general purpose of the Hierarchy in which his soul feels called upon to co-operate is breathed forth simultaneously, [152] via the mind into the brain, and thus “he drives the thought forms from him.”

Trong đời sống của người đệ tử, thông qua thiền định và kỷ luật, y học cách đạt đến những khoảnh khắc cao của khoảng ngừng bất cứ khi nào y tập trung các mãnh lực của mình vào cõi sống của linh hồn, và sau đó một lần nữa, bằng một hành động của ý chí, y thở ra những mục đích, kế hoạch và sự sống tinh thần của mình vào thế giới của trải nghiệm. Hình tư tưởng mà y đã xây dựng về phần việc mà y phải thực hiện, và sự tập trung năng lượng mà y đã đạt được, trở nên có hiệu quả. Năng lượng cần thiết cho bước tiếp theo được linh hồn thở ra và truyền xuống thể sinh lực, qua đó kích hoạt công cụ vật lý với hoạt động xây dựng cần thiết. Phần của Thiên Cơ mà y đã hiểu trong sự chiêm nghiệm, và phần trong mục đích chung của Thánh đoàn mà linh hồn y cảm thấy được kêu gọi hợp tác, được thở ra đồng thời, thông qua thể trí vào bộ não, và như vậy “y xua đi hình tư tưởng của mình.” TWM 150-152.

Finally, in the science of Pranayama, this stage covers that exhaling breath which, when carried forward with thought and conscious purpose behind it, serves to vitalize the centres and fill each of them with dynamic life. More need not be said here.

Cuối cùng, trong khoa học Pranayama, giai đoạn này bao gồm hơi thở ra, khi được thực hiện với suy nghĩ và mục đích có ý thức phía sau nó, sẽ giúp tiếp sinh lực cho các trung tâm và lấp đầy từng trung tâm bằng sức sống mạnh mẽ. Không cần nói thêm gì ở đây.

Thus, in this science of “breathing deeply” we have the whole process of creative work and of the evolutionary unfoldment of God in nature covered. It is the process whereby the Life, the One Existence, has brought the phenomenal world into being, and Rule IV is a digest of the Creation. It is equally the formula under which the individual soul works as it centres its forces for manifestation in the three worlds of human experience.

Như vậy, trong khoa học về “thở sâu”, chúng ta có toàn bộ quá trình công việc sáng tạo và sự phát triển tiến hóa của Thượng Đế trong thiên nhiên được bao trùm. Đây là quá trình mà Sự Sống, Sự Tồn Tại Duy Nhất, đã đưa thế giới hiện tượng vào tồn tại, và Quy Luật IV là bản tóm lược của Sự Sáng Tạo. Đó cũng là công thức mà linh hồn cá nhân sử dụng khi tập trung các mãnh lực của mình để biểu lộ trong ba cõi trải nghiệm của con người.

The right use of the Life-Breath is the whole art at which the aspirant, the disciple, and the initiate work, bearing in mind however that the science of the physical breath is the least important aspect and follows sequentially upon the right use of energy, which is the word we apply to the divine breath or life.

Việc sử dụng đúng cách Hơi Thở của Sự Sống là toàn bộ nghệ thuật mà người chí nguyện, đệ tử, và điểm đạo đồ phải làm, nhưng hãy nhớ rằng, khoa học về hơi thở vật lý là khía cạnh ít quan trọng nhất và chỉ tiếp theo sau việc sử dụng đúng năng lượng, thuật ngữ mà chúng ta áp dụng cho hơi thở hoặc sự sống thiêng liêng.

Finally, in the mental life of the disciple, and in the great work of learning to be a conscious creator in mental matter and so produce results in the phenomenal world, this fourth Rule holds the instructions upon which the work is based. It embodies the science of the entire magical work.

Cuối cùng, trong đời sống trí tuệ của người đệ tử, và trong công việc vĩ đại của việc học để trở thành một nhà sáng tạo có ý thức trong chất liệu trí tuệ và do đó tạo ra kết quả trong thế giới hiện tượng, Quy luật thứ tư này chứa đựng các chỉ dẫn mà trên đó công việc dựa vào. Nó bao hàm khoa học của toàn bộ công việc huyền thuật.

Therefore, this Rule warrants the closest consideration and study. Rightly understood and rightly studied it would lead each aspirant out of the phenomenal world into the kingdom of the soul. Its instructions, if carried out, would lead the soul back again into the phenomenal world as the creating force in soul magic and as the manipulator and dominating factor of, and through, the medium of the form.

Vì vậy, Quy luật này xứng đáng được cân nhắc và nghiên cứu kỹ lưỡng nhất. Hiểu đúng và nghiên cứu đúng, nó sẽ dẫn mỗi người chí nguyện ra khỏi thế giới hiện tượng và vào vương quốc của linh hồn. Các chỉ dẫn của nó, nếu được thực hiện, sẽ dẫn linh hồn trở lại thế giới hiện tượng như là lực lượng sáng tạo trong huyền thuật linh hồn và như là yếu tố chi phối, thông qua và qua trung gian hình tướng.

In the training of the occidental student, blind unquestioning [153] obedience is never asked. Suggestions are made as to method and as to a technique which has proved effective for thousands of years and with many disciples. Some rules as to breathing, as to helpful process and as to practical living on the physical plane will be imparted, but in the training of the new type of disciple during the coming age, it is the will of the watching Gurus and Rishis that they be left freer than has heretofore been the case. This may mean a slightly slower development at the beginning but will result, it is hoped, in a more rapid unfoldment during the later stages upon the Path of Initiation.

Trong việc huấn luyện học viên phương Tây, sự vâng lời mù quáng và không chất vấn không bao giờ được yêu cầu. Những đề xuất được đưa ra về phương pháp và về một kỹ thuật đã chứng minh hiệu quả trong hàng nghìn năm và với nhiều đệ tử. Một số quy tắc về việc thở, về quy trình hữu ích và về cách sống thực tế trên cõi trần sẽ được truyền đạt, nhưng trong việc huấn luyện loại đệ tử mới trong thời đại sắp tới, ý chí của các Guru và Rishi quan sát là để họ được tự do hơn so với trước đây. Điều này có thể có nghĩa là sự phát triển chậm hơn một chút lúc ban đầu nhưng sẽ dẫn đến, hy vọng, sự phát triển nhanh hơn trong các giai đoạn sau trên Con đường Điểm đạo.

Therefore, students are urged to go forward during their period of training with courage and with joy, knowing that they are members of a band of disciples, knowing that they are not alone but that the strength of the band is theirs, the knowledge of the band is theirs too as they develop the capacity to apprehend it, —and knowing also that the love and wisdom and understanding of the watching Elder Brothers are back of every aspiring Son of God, e’en though apparently (and wisely) he is left to wrestle through to the light in the strength of his own omnipotent soul.

Do đó, các học viên được khuyến khích tiến lên trong thời gian huấn luyện của mình với lòng dũng cảm và niềm vui, biết rằng họ là thành viên của một nhóm đệ tử, biết rằng họ không đơn độc mà sức mạnh của nhóm là của họ, tri thức của nhóm cũng là của họ khi họ phát triển khả năng nắm bắt nó,—và cũng biết rằng tình yêu, minh triết và sự hiểu biết của các Huynh Trưởng Quan Sát luôn đứng sau lưng mỗi người Con của Thượng Đế đang khát khao, dù rằng dường như (và một cách khôn ngoan) người đó được để tự mình chiến đấu tìm đến ánh sáng bằng sức mạnh của linh hồn toàn năng của chính mình. TWM 152-153

Webinar 36—Rule 5.1

Rule FIVE

QUY LUẬT NĂM

Three things engage the Solar Angel before the sheath created passes downward; the condition of the waters, the safety of the one who thus creates, and steady contemplation. Thus are the heart, the throat, and eye, allied for triple service.

Ba điều thu hút Thái Dương Thiên Thần trước khi cái vỏ được tạo ra đi xuống; tình trạng của các dòng nước, sự an toàn của người tạo ra hình tư tưởng như vậy, và sự chiêm ngưỡng đều đặn. Như vậy, tim, cổ họng và mắt, được liên kết cho sự phụng sự tam phân.

The Soul and Its Thought Forms

Linh Hồn và các Hình Tư Tưởng của Nó

[157]

[157]

We have been dealing with the processes of creation as they concern:

Chúng ta đã và đang bàn đến các quá trình sáng tạo liên quan đến:

1. The Creator of a solar system or a planetary scheme.

1. Đấng Sáng Tạo của một hệ thống thái dương hoặc một dãy hành tinh.

2. The Ego, as it creates its body of manifestation. It should here be remembered that the entire human family has been brought into manifestation by a paralleling group of egos.

2. Chân ngã, khi nó tạo ra thể biểu hiện của mình. Ở đây, cần nhớ rằng toàn bộ gia đình nhân loại đã được đưa vào biểu hiện bởi một nhóm các chân ngã song hành.

3. Man, as he creates those thought-forms by which he expresses himself, through which he works, and by which he is surrounded. It should also here be borne in mind that this definite creative work is only possible to those who function on mental levels—the thinkers of the world and the disciples of the Masters.

3. Con người, khi y tạo ra những hình tư tưởng mà qua đó y thể hiện bản thân, làm việc, và bị bao quanh. Ở đây, cũng cần lưu ý rằng công việc sáng tạo rõ ràng này chỉ khả thi đối với những ai vận hành trên các mức trí tuệ—những nhà tư tưởng của thế giới và các đệ tử của các Chân sư.

In every case, as we have seen, the objective form has been the result of meditation on the part of the creating agency, of response from the material acted upon by the force generated in meditation, thus producing the building of the form, and its utilization through sound. This is succeeded by the stage wherein the form is seen objectively and becomes a vibrant living entity. Thus is “the Word made Flesh,” and thus do all forms—universes, men, and ensouled thoughts—come into being.

Trong mọi trường hợp, như chúng ta đã thấy, hình tướng khách quan là kết quả của sự tham thiền từ phía tác nhân sáng tạo, của sự đáp ứng từ vật chất bị tác động bởi mãnh lực được tạo ra trong sự tham thiền, do đó tạo ra sự xây dựng hình tướng, và sự sử dụng nó thông qua âm thanh. Tiếp theo là giai đoạn mà hình tướng được nhìn thấy một cách khách quan và trở thành một thực thể sống rung động. Như vậy là “Ngôi Lời đã trở thành Xác Thịt”, và như vậy tất cả các hình tướng — vũ trụ, con người, và những tư tưởng được ban cho linh hồn —được sinh ra.

This fifth rule touches upon three factors which engage the attention of the creating agent before the physical form emerges into view on the exterior plane. These three are: [158]

Quy luật thứ năm này đề cập đến ba yếu tố thu hút sự chú ý của tác nhân sáng tạo trước khi hình tướng vật lý xuất hiện trên cõi ngoại hiện. Ba điều này là: [158]

1. The condition of the waters.

1. Tình trạng của các dòng nước.

2. The safety of the one who thus creates.

2. Sự an toàn của người tạo ra như vậy.

3. Steady contemplation.

3. Sự chiêm ngưỡng đều đặn.

We will deal briefly with these three and then we will consider the three factors which the disciple needs to relate if he ever aims to become an active and potent co-operator with the Hierarchy. These are the Eye, the Heart, the Throat. The interpretation and significance of these rules can be carried forward along several lines. For our purposes, the one followed will be that relating to the disciple and his work, and will deal with his training in the magical work of the ego, as that ego occupies and employs a physical form. These teachings are intended to be practical; they will emphasize the training and discipline of the disciple, and, scattered throughout, will be found those hints and esoteric suggestions which, when followed, will lead the aspirant on to experiment and to experience of truth. Those who are not true aspirants will fail to recognize the hints and thus will be preserved from danger and premature experience.

Chúng ta sẽ đề cập ngắn gọn đến ba điều này và sau đó chúng ta sẽ xem xét ba yếu tố mà đệ tử cần liên hệ nếu y muốn trở thành người hợp tác tích cực và mạnh mẽ với Thánh Đoàn. Đó là Mắt, Tim, Cổ Họng. Việc giải thích và ý nghĩa của những quy luật này có thể được thực hiện theo nhiều hướng. Đối với mục đích của chúng ta, hướng được theo đuổi sẽ là hướng liên quan đến đệ tử và công việc của y, và sẽ đề cập đến sự huấn luyện của y trong công việc huyền thuật của Chân ngã, khi Chân ngã đó chiếm giữ và sử dụng một hình tướng vật lý. Những lời dạy này nhằm mục đích thực tế; chúng sẽ nhấn mạnh đến sự huấn luyện và kỷ luật của đệ tử, và, rải rác khắp nơi, sẽ tìm thấy những gợi ý và đề xuất bí truyền mà khi được tuân theo, sẽ dẫn dắt người chí nguyện tiến hành thử nghiệm và trải nghiệm chân lý. Những người không phải là người chí nguyện chân chính sẽ không nhận ra những gợi ý và do đó sẽ được bảo vệ khỏi nguy hiểm và trải nghiệm sớm.

Let us therefore take up the three factors which engage our attention, and let us consider them from the standpoint of the human being who is creating thought-forms, and not primarily from the standpoint of a solar Creator or of an ego, preparing to take incarnation through the medium of form. Two collateral thoughts are here of value. One is that the process of creating thought-forms is part of the work done by every aspirant in the daily meditation process. If the student would remember that every time he sits down to his morning meditation he is learning to build and vitalize thought-forms, his work might assume greater interest. The tendency of most aspirants is to be occupied with their deficiencies in the work of meditation and their inability to control their minds, whereas both those aspects of their endeavour [159] would be aided if they were to be occupied by the profoundly engrossing work of thought-form building.

Vì vậy, chúng ta hãy xem xét ba yếu tố thu hút sự chú ý của chúng ta, và chúng ta hãy xem xét chúng từ quan điểm của con người đang tạo ra hình tư tưởng, chứ không phải chủ yếu từ quan điểm của Đấng Sáng Tạo Thái Dương hay của Chân ngã, đang chuẩn bị lâm phàm thông qua phương tiện hình tướng. Hai ý tưởng bổ sung ở đây có giá trị. Một là quá trình tạo ra hình tư tưởng là một phần công việc được thực hiện bởi mỗi người chí nguyện trong quá trình tham thiền hàng ngày. Nếu người học viên nhớ rằng mỗi khi ngồi xuống tham thiền buổi sáng, y đang học cách xây dựng và tiếp sinh lực cho hình tư tưởng, thì công việc của y có thể sẽ trở nên thú vị hơn. Khuynh hướng của hầu hết những người chí nguyện là bận tâm đến những thiếu sót của họ trong công việc tham thiền và việc họ không có khả năng kiểm soát tâm trí của mình, trong khi cả hai khía cạnh đó trong nỗ lực của họ [159] sẽ được hỗ trợ nếu họ bận tâm đến công việc hấp dẫn sâu sắc là xây dựng hình tư tưởng.

A secondary and less important thought is that as egos, preparing to take human bodies, are deeply engaged in meditation work, it is highly improbable that they can be reached by the ordinary medium in the ordinary seance. At the most, only those who have passed over quite recently can be thus contacted, and they are, in most cases, in a condition of deep abstraction of a different kind. There is no time or purpose in enlarging upon this theme here but it is of interest to those investigating these matters.

Một ý tưởng thứ yếu và ít quan trọng hơn là khi các Chân ngã, đang chuẩn bị chiếm lấy cơ thể con người, đang bận rộn với công việc tham thiền, thì rất khó có khả năng người ta có thể tiếp cận được họ bằng phương tiện thông thường trong buổi cầu hồn thông thường. Nhiều nhất chỉ những người đã qua đời gần đây mới có thể được liên lạc như vậy, và trong hầu hết các trường hợp, họ đang ở trong tình trạng trừu xuất sâu sắc theo một cách khác. Không có thời gian hay mục đích để mở rộng chủ đề này ở đây nhưng nó đáng quan tâm đối với những người tìm hiểu những vấn đề này.

1. The Condition of the Waters

1. Tình Trạng của các Dòng Nước

The creating agency, man, has through the incentives of a co-ordinating purpose, intent meditation, and creative activity built the thought-form which he is ensouling with his own vitality and directing with his will. The time has come for that thought-form to be sent upon its mission and to carry out the purpose of its being. As we saw in the earlier rule, the form is “driven” from its creator by the power of the expulsive breath. This is a symbolic statement but, at the same time, an experimental fact in the magical work. In the disciple’s work, there is often failure owing to his inability to understand both the esoteric and the literal significance of this expulsive breath as he carries forward his meditation work. This expulsive breath is the result of a preceding period of rhythmic breathing, paralleled by concentrated meditation work, then a definite focussing of the attention and the breath, as the purpose of the created form is mentally defined, and finally, the vitalizing of the thought-form, by its creator, and its consequent energizing into independent life and activity.

Tác nhân sáng tạo, con người, thông qua sự thúc đẩy của một mục đích phối hợp, sự tham thiền chuyên tâm và hoạt động sáng tạo đã xây dựng nên hình tư tưởng mà y đang hun đúc bằng sức sống của chính mình và điều khiển bằng ý chí của mình. Đã đến lúc hình tư tưởng đó được gửi đi thực hiện sứ mệnh và thực hiện mục đích tồn tại của nó. Như chúng ta đã thấy trong quy luật trước đó, hình tướng được “đẩy ra” khỏi người tạo ra nó bởi sức mạnh của hơi thở xua đẩy. Đây là một tuyên bố mang tính biểu tượng nhưng đồng thời là một thực tế mang tính thử nghiệm trong công việc huyền thuật. Trong công việc của đệ tử, thường có sự thất bại do y không có khả năng hiểu cả ý nghĩa bí truyền và nghĩa đen của hơi thở đẩy ra này khi y tiếp tục công việc tham thiền của mình. Hơi thở đẩy ra này là kết quả của một giai đoạn thở nhịp nhàng trước đó, song song với công việc tham thiền tập trung, sau đó là sự tập trung chú ý và hơi thở nhất định, khi mục đích của hình tướng được tạo ra được xác định rõ ràng về mặt trí tuệ, và cuối cùng, là việc tiếp sinh lực cho hình tư tưởng, bởi người tạo ra nó, và do đó, tiếp năng lượng cho nó thành sự sống và hoạt động độc lập.

The first hindrance to the potency of the work comes through the failure of the disciple to carry on these activities [160] simultaneously. The second cause of failure lies in his neglecting to consider the condition of the waters or the state of the emotional substance into which this mental form must go and so gather to itself the matter of the astral plane which will enable it to become a functioning entity on that plane. If it cannot do this, it becomes simply and eventually a dead form on the plane of mind, for it will lack that motivating power of desire which is necessary to carry it forward to completion on the physical plane.

Trở ngại đầu tiên đối với năng lực của công việc xuất phát từ việc đệ tử không thực hiện được những hoạt động này [160] đồng thời. Nguyên nhân thứ hai của sự thất bại nằm ở việc y bỏ qua việc xem xét tình trạng của các dòng nước hay trạng thái của chất liệu cảm xúc mà hình tướng trí tuệ này phải đi vào và do đó tập hợp cho chính nó vật chất của cõi cảm dục, điều này sẽ cho phép nó trở thành một thực thể hoạt động trên cõi đó. Nếu nó không thể làm được điều này, thì nó chỉ đơn giản là, và cuối cùng trở thành, một hình tướng chết trên cõi trí, vì nó sẽ thiếu sức mạnh thúc đẩy của dục vọng cần thiết để đưa nó đến chỗ hoàn thiện trên cõi vật lý.

It is interesting to remember this: If a thought-form is sent forth into the emotional world to gather to itself a body of desire (the impelling force which produces all objectivity) and is immersed in a “condition of the waters” which can best be described as purely selfish, all that occurs is as follows: It is lost, by being drawn into the astral body of the disciple, which is the focal point for all astral energy employed by the disciple. It is swept into a vortex of which the individual astral body is the centre and loses its separate existence. The simile of the whirlpool is of value here. The thinker is like a man throwing a toy boat from the shore into a stream of water. If he throws it into a whirlpool, it is sucked in time into the central vortex and so disappears. Many forms, thus constructed by an aspirant in his meditation work are lost and fail in their objective because of the chaotic and whirling state of the aspirant’s emotional body. Thus good intentions come to naught; thus good purpose and planned work for the Master fail to materialize because, as the thought-form passes downward on to the plane of desire and emotion, it contacts only the seething waters of fear, of suspicion, of hatred, of vicious or purely physical desire. These being more potent than the little form, drown it, and it passes out of sight and out of existence, and the man becomes conscious of another abortive effort. [161]

Điều thú vị cần nhớ là: Nếu một hình tư tưởng được gửi vào thế giới cảm xúc để tập hợp cho chính nó một thể dục vọng (mãnh lực thúc đẩy tạo ra mọi biểu lộ khách quan) và bị chìm đắm trong “tình trạng của các dòng nước” mà có thể mô tả tốt nhất là hoàn toàn ích kỷ, thì tất cả những gì xảy ra như sau: Nó bị mất đi, do bị kéo vào thể cảm xúc của đệ tử, là tiêu điểm cho tất cả năng lượng cảm dục được đệ tử sử dụng. Nó bị cuốn vào một vòng xoáy mà thể cảm xúc cá nhân là trung tâm và mất đi sự tồn tại riêng biệt của nó. Hình ảnh so sánh về xoáy nước có giá trị ở đây. Nhà tư tưởng giống như một người ném một chiếc thuyền đồ chơi từ bờ vào một dòng nước. Nếu y ném nó vào xoáy nước, thì theo thời gian nó sẽ bị hút vào vòng xoáy trung tâm và biến mất. Nhiều hình tướng, được xây dựng bởi người chí nguyện trong công việc tham thiền của y, bị mất đi và thất bại trong mục tiêu của chúng vì trạng thái hỗn loạn và quay cuồng của thể cảm xúc của người chí nguyện. Như vậy, những ý định tốt đẹp đều trở nên vô ích; như vậy, mục đích tốt đẹp và công việc được lên kế hoạch cho Chân Sư không thể hiện thực hóa được vì khi hình tư tưởng đi xuống cõi dục vọng và cảm xúc, nó chỉ tiếp xúc với những dòng nước sôi sục của sợ hãi, nghi ngờ, thù hận, dục vọng xấu xa hoặc thuần túy vật chất. Những thứ này mạnh hơn hình tướng nhỏ bé, nhấn chìm nó, và nó biến mất khỏi tầm nhìn và không còn tồn tại, và con người ý thức được một nỗ lực thất bại khác. [161]

Or again, the “condition of the waters” is not that of a self-engendered whirlpool, but is more allied to that of a pool, stirred into a frothy and boiling surge, through the activities of others. There are many disciples who have achieved a fair measure of self-control and of personal disinterestedness. They are not the victims of personality desire and aims, and are comparatively free from the whirlpool of selfish tendencies. But their astral bodies are again and again swept into a state of agitation by the group for, and in which, they work. They are elated or depressed, satisfied or dissatisfied by the results they achieve or fail to achieve; this achievement or lack of achievement and the steadiness or disloyalties of their fellow servers produce agitation and emotional upset, and on this powerful reaction their thought-forms, constructed so diligently and prayerfully, come to naught. Their “skill in action” is lost, because they are tied to the desired result and so their labour produces nothing.

Hoặc một lần nữa, “tình trạng của các dòng nước” không phải là xoáy nước được tự tạo ra, mà giống với một hồ nước hơn, bị khuấy động thành một làn sóng sủi bọt và sôi sục, thông qua các hoạt động của những người khác. Có nhiều đệ tử đã đạt được mức độ tự chủ và vị tha cá nhân tương đối. Họ không phải là nạn nhân của dục vọng và mục tiêu cá nhân, và tương đối thoát khỏi vòng xoáy của những khuynh hướng ích kỷ. Nhưng thể cảm xúc của họ hết lần này đến lần khác bị cuốn vào trạng thái kích động bởi nhóm mà họ làm việc cho, và nhóm mà trong đó họ làm việc. Họ cảm thấy hân hoan hoặc chán nản, hài lòng hoặc không hài lòng bởi những kết quả mà họ đạt được hoặc không đạt được; sự thành công hay thất bại này, cùng với sự ổn định hay thiếu trung thành của những người đồng phụng sự, gây ra sự xao động và rối loạn cảm xúc, và chính vì những phản ứng mạnh mẽ này, các hình tư tưởng mà họ đã dày công xây dựng trong cầu nguyện và nỗ lực trở nên vô nghĩa. “Kỹ năng hành động” của họ bị mất đi, vì họ bị ràng buộc với kết quả mong muốn, và do đó công sức của họ không mang lại gì.

There are many other “conditions of the waters” which each aspirant can for himself supply. There is one more however upon which I would like to touch. The emotional body of the disciple which must feed and nurture the baby thought-form (with its mental nucleus) is necessarily part of the planetary emotional form and hence vibrates in unison with that form. This should also be carefully considered, for the emotional body is thrown into a state of activity by the general astral condition and must be handled wisely from this angle.

Có nhiều “tình trạng của các dóng nước” khác nữa mà mỗi người chí nguyện có thể tự cung cấp. Tuy nhiên, có một điều nữa mà tôi muốn đề cập đến. Thể cảm xúc của đệ tử, cái phải nuôi dưỡng hình tư tưởng sơ sinh (với hạt nhân trí tuệ của nó), nhất thiết phải là một phần của hình tướng cảm xúc hành tinh và do đó rung động đồng điệu với hình tướng đó. Điều này cũng nên được xem xét cẩn thận, vì thể cảm xúc bị đưa vào trạng thái hoạt động bởi tình trạng cảm dục chung và phải được xử lý một cách khôn ngoan từ góc độ này.

At this time there are three qualities predominating in the planetary form—fear, expectancy and a climaxing desire (in the human family) for material possession. Note the word “climaxing”. The summation of human desire for material happiness has been reached, and the peak of that desire has been passed; thus mankind has achieved and surmounted much. But the rhythm of the ages is strong.

Tại thời điểm này, có ba phẩm tính chiếm ưu thế trong hình tướng hành tinh — sợ hãi, kỳ vọng và dục vọng lên đến đỉnh điểm (trong nhân loại) đối với của cải vật chất. Lưu ý từ “lên đến đỉnh điểm”. Tổng số dục vọng của con người đối với hạnh phúc vật chất đã đạt đến, và đỉnh cao của dục vọng đó đã qua đi; do đó nhân loại đã đạt được và vượt qua rất nhiều. Nhưng nhịp điệu của các thời đại rất mạnh mẽ.

[162]

[162]

These three qualities have to be grasped and discounted by the aspirant as he seeks to serve from mental levels. In the place of fear he must substitute that peace which is the prerogative of those who live always in the Light of the Eternal; in the place of questioning expectancy he must substitute that placid, yet active, assurance of the ultimate objective which comes from a vision of the Plan and his contact with other disciples and later with the Master. Desire for material possession must be superseded by aspiration for those possessions which are the joy of the soul—wisdom, love and power to serve. Peace, assurance and right aspiration! These three words, when understood and experienced in the life of every day, will bring about that right “condition of the waters” which will ensure the survival of every thought-form, rightly engendered in meditation by the man, functioning as a soul.

Ba phẩm tính này phải được người chí nguyện nắm bắt và loại bỏ khi y tìm cách phụng sự từ các cõi trí. Thay vì sợ hãi, y phải thay thế bằng sự bình an vốn là đặc quyền của những người luôn sống trong Ánh sáng của Vĩnh Cửu; thay vì sự kỳ vọng nghi vấn, y phải thay thế bằng sự đảm bảo ôn hòa, nhưng chủ động, về mục tiêu cuối cùng đến từ tầm nhìn về Thiên Cơ và sự tiếp xúc của y với các đệ tử khác và sau đó là với Chân Sư. Dục vọng đối với của cải vật chất phải được thay thế bằng khát vọng đối với những của cải là niềm vui của linh hồn — minh triết, tình thương và sức mạnh để phụng sự. Bình an, đảm bảo và khát vọng đúng đắn! Ba từ này, khi được thấu hiểu và trải nghiệm trong cuộc sống hàng ngày, sẽ mang lại “tình trạng của nước” đúng đắn, điều này sẽ đảm bảo sự tồn tại của mọi hình tư tưởng, được con người tạo ra một cách đúng đắn trong sự tham thiền, hoạt động như một linh hồn.

2. The Safety of the One Who Thus Creates

2. Sự An Toàn của Người Sáng Tạo Như Vậy

It might be said here with emphasis, even if it is a recognized truism, that people are frequently slain (in the occult and therefore in the more important sense) by their own thought-forms. Thought creation, through concentration and meditation, is a potently dangerous matter. This must never be forgotten. There are forms of thought, unencumbered by much desire matter, which, failing to pass downward, poison the man on mental levels. This they do in two ways:

Cần nhấn mạnh ở đây, mặc dù đó là một chân lý hiển nhiên, rằng con người thường bị “giết chết” (theo nghĩa huyền bí, do đó là ý nghĩa quan trọng hơn) bởi chính các hình tư tưởng của mình. Việc tạo ra hình tư tưởng, thông qua sự tập trung và tham thiền, là một vấn đề đầy nguy hiểm. Điều này không bao giờ được quên. Có những hình tư tưởng, không bị ràng buộc nhiều bởi chất liệu dục vọng, khi không thể đi xuống các cấp độ thấp hơn, lại đầu độc con người trên các cấp độ trí tuệ. Chúng thực hiện điều này theo hai cách:

1. By growing so potent on the mental plane that the man falls a victim to the thing he has created. This is the “idée fixe” of the psychiatrist; the obsession which drives to lunacy; the one-pointed line of thought which eventually terrorises its creator.

1. Bằng cách phát triển mạnh mẽ trên cõi trí đến mức con người trở thành nạn nhân của cái mà y đã tạo ra. Đây là “ý tưởng cố định” của các nhà tâm thần học; sự ám ảnh dẫn đến mất trí; dòng suy nghĩ nhất tâm cuối cùng khủng bố người tạo ra nó.

2. By multiplying so fast that the mental aura of the man becomes like unto a thick and dense cloud, through [163] which the light of the soul must fail to penetrate, and through which the love of human beings, the lovely and beautiful and comforting activities of nature and of life in the three worlds equally fail to pierce. The man is smothered, is suffocated by his own thought-forms, and succumbs to the miasma which he himself has engendered.

2. Bằng cách nhân lên nhanh chóng đến mức hào quang trí tuệ của con người trở nên giống như một đám mây dày đặc, [163] mà qua đó ánh sáng của linh hồn không thể xuyên qua, và qua đó tình thương của con người, các hoạt động đáng yêu và xinh đẹp và an ủi của thiên nhiên và của sự sống trong ba cõi cũng không thể xuyên thủng. Con người bị bóp nghẹt, bị ngạt thở bởi chính hình tư tưởng của mình, và không chịu nổi khí độc mà chính y đã tạo ra.

Webinar 37—Rule 5.2

2. The Safety of the One Who Thus Creates

2. Sự An Toàn của Người Sáng Tạo Như Vậy

It might be said here with emphasis, even if it is a recognized truism, that people are frequently slain (in the occult and therefore in the more important sense) by their own thoughtforms. Thought creation, through concentration and meditation, is a potently dangerous matter. This must never be forgotten.

Có thể nói ở đây với sự nhấn mạnh, ngay cả khi đó là một sự thật hiển nhiên được công nhận, rằng con người thường xuyên bị giết (theo nghĩa huyền bí và do đó theo nghĩa quan trọng hơn) bởi chính hình tư tưởng của họ. Việc tạo ra tư tưởng, thông qua sự tập trung và tham thiền, là một vấn đề nguy hiểm tiềm tàng. Điều này không bao giờ được quên.

There are forms of thought, unencumbered by much desire matter, which, failing to pass downward, poison the man on mental levels. This they do in two ways:

Có những hình thức tư tưởng, không bị vướng bận bởi nhiều vật chất dục vọng, mà nếu không đi xuống được, sẽ đầu độc con người trên các cõi trí. Chúng làm điều này theo hai cách:

1. By growing so potent on the mental plane that the man falls a victim to the thing he has created. This is the “idée fixe” of the psychiatrist; the obsession which drives to lunacy; the one-pointed line of thought which eventually terrorises its creator.

1. Bằng cách phát triển mạnh mẽ trên cõi trí đến mức con người trở thành nạn nhân của thứ mà y đã tạo ra. Đây là “ý tưởng cố định” của nhà tâm thần học; sự ám ảnh dẫn đến điên loạn; dòng suy nghĩ nhất tâm cuối cùng khủng bố người tạo ra nó.

2. By multiplying so fast that the mental aura of the man becomes like unto a thick and dense cloud, through which the light of the soul must fail to penetrate, and through which the love of human beings, the lovely and beautiful and comforting activities of nature and of life in the three worlds equally fail to pierce. The man is smothered, is suffocated by his own thought-forms, and succumbs to the miasma which he himself has engendered. TWM 162-163

2. Bằng cách nhân lên nhanh chóng đến mức hào quang trí tuệ của con người trở nên giống như một đám mây dày đặc, [163] mà qua đó ánh sáng của linh hồn không thể xuyên qua, và qua đó tình thương của con người, các hoạt động đáng yêu và xinh đẹp và an ủi của thiên nhiên và của sự sống trong ba cõi cũng không thể xuyên thủng. Con người bị bóp nghẹt, bị ngạt thở bởi chính hình tư tưởng của mình, và không chịu nổi khí độc mà chính y đã tạo ra.

Or again, there are lines of thought which draw forth from the emotional body a reaction of a poisonous nature. A certain line of thought is followed by a human being in relation to his brethren. It breeds hatred, jealousy and envy, and works through into manifestation in such a manner that it produces those physical plane activities which cause the death of their creator. This may be literal as in the case of murder, which is in many cases the result of crystallised intent, or it may result in disease.

Hoặc , cũng có những dòng tư tưởng khơi dậy từ thể cảm xúc một phản ứng mang tính chất độc hại. Một người nào đó theo đuổi một dòng tư tưởng nhất định trong mối quan hệ với các huynh đệ của mình. Dòng tư tưởng này nuôi dưỡng sự thù hận, đố kỵ và ghen ghét, và thể hiện ra trong sự biểu hiện trên cõi trần theo cách khiến nó gây ra các hoạt động dẫn đến cái chết của chính người tạo ra nó. Điều này có thể là cái chết thực sự, như trong trường hợp giết người—thường là kết quả của ý định đã kết tinh—hoặc nó có thể dẫn đến bệnh tật.

Pure thought, right motive and loving desire are the true correctives of disease, and where the desire for these (which does animate many) is raised to constructive thinking there will be the gradual elimination of disease. As yet, though many desire, few think. Let it never be forgotten that the Great Ones do not look for those who only desire and aspire. They look for those who blend with their desire the determination to learn to use their mental bodies and become creators, and who will work constructively towards these ends.

Tư tưởng thanh khiết, động cơ đúng đắn và mong muốn yêu thương chính là các phương pháp chỉnh sửa thực sự của bệnh tật, và khi khát vọng về những điều này (vốn khơi động nhiều người) được nâng lên thành tư tưởng mang tính xây dựng, bệnh tật sẽ dần dần bị loại bỏ. Tuy nhiên, cho đến nay, dù nhiều người có khát vọng, nhưng ít người suy nghĩ. Hãy luôn nhớ rằng các Đấng Cao Cả không tìm kiếm những người chỉ đơn thuần có khát vọng và chí nguyện. Các Ngài tìm kiếm những người kết hợp khát vọng của mình với sự quyết tâm học cách sử dụng thể trí và trở thành những người sáng tạo, cũng như sẽ làm việc một cách xây dựng để đạt đến những mục tiêu này.

Thus it will be seen why, in all systems of true occult training, the emphasis is laid on right thinking, loving desire, and pure, clean living. Only thus can the creative work be carried forward with safety, and only thus can the thought-form pass downward into objectivity, and be a constructive agent on the plane of human existence.

Như vậy, chúng ta sẽ thấy lý do tại sao, trong tất cả các hệ thống huấn luyện huyền bí chân chính, trọng tâm được đặt vào suy nghĩ đúng đắn, mong muốn yêu thương và lối sống thuần khiết, trong sạch. Chỉ bằng cách này, công việc sáng tạo mới có thể được thực hiện một cách an toàn, và chỉ bằng cách này, hình tư tưởng mới có thể đi xuống vào sự biểu hiện khách quan và trở thành tác nhân mang tính xây dựng trên cõi tồn tại của con người.

3. Steady Contemplation

3. Sự Chiêm Ngưỡng Đều Đặn

You will note here that the word ‘meditation’ is not used. The thought is a different one. The meditation [164] process, involving the use of thought and the mental building of the form so that it can be completed and rounded out and in line with the thought-form of the disciple’s group of co-disciples, and therefore with the Plan, has been completed to the best of the man’s ability. Now he must, with steadiness, contemplate that which he has created, and with equal steadiness inspire it with needed life, so that it can fulfill its function.

Bạn sẽ lưu ý ở đây rằng từ ‘tham thiền’ không được sử dụng. Đây là một suy nghĩ khác. Quá trình tham thiền [164] liên quan đến việc sử dụng tư tưởng và xây dựng hình tướng về mặt trí tuệ để nó có thể được hoàn thiện và làm tròn và phù hợp với hình tư tưởng của nhóm đồng môn đệ tử, và do đó với Thiên Cơ, đã được hoàn thành đến mức tốt nhất khả năng của con người. Giờ đây, y phải, với sự kiên định, chiêm ngưỡng những gì y đã tạo ra, và với sự kiên định tương đương, truyền cảm hứng cho nó bằng sự sống cần thiết, để nó có thể hoàn thành chức năng của mình.

He ceases to reason, to think, to formulate, and to build in mental matter. He simply pours his life into the form and sends it forth to carry out his will. Just as long as he can contemplate and hold steady, so will his creation fulfill his intention and act as his agent.

Y ngừng lý luận, suy nghĩ, hình thành và xây dựng trong vật chất trí tuệ. Y chỉ đơn giản là đổ sự sống của mình vào hình tướng và gửi nó đi để thực hiện ý chí của mình. Miễn là y có thể chiêm ngưỡng và giữ vững, thì sự sáng tạo của y sẽ hoàn thành ý định của y và hoạt động như tác nhân của y.

Just so long as he can focus his attention on the ideal for which he created his thought-form and can link the form and the ideal together in one steady vision, just so long will it serve his purpose and express his ideal. Herein lies the secret of all successful co-operation with the Plan.

Chừng nào y có thể tập trung sự chú ý vào lý tưởng mà vì đó y đã tạo ra hình tư tưởng của mình và có thể liên kết hình tướng và lý tưởng với nhau trong một tầm nhìn vững chắc, chừng đó nó sẽ phục vụ mục đích của y và thể hiện lý tưởng của y. Đây là bí mật của tất cả sự hợp tác thành công với Thiên Cơ.

We will now study for a while the words “heart, throat, and eye,” for they have a peculiar significance. These three form the apparatus to be employed by all disciples during the world cycle which is so rapidly coming.

Bây giờ chúng ta sẽ nghiên cứu một chút về các từ “tim, cổ họng và mắt”, vì chúng có một ý nghĩa đặc biệt. Ba điều này tạo thành bộ máy được tất cả các đệ tử sử dụng trong chu kỳ thế giới đang đến rất nhanh chóng.

That there is not as yet a very large body of disciples in incarnation at this time, and that the apparatus with many who are functioning on the level of discipleship is but in embryo, is profoundly true. It should be remembered however, that the world cycle has only just been inaugurated and will cover a vast period of time. There are only about four hundred accepted disciples in the world at this time—that is, men and women who really know they are disciples and know what their work is and are doing it. There are nevertheless many hundreds (out of the present generation of young people) who stand on the verge of acceptance, and thousands are upon the probationary path.

Việc cho đến nay vẫn chưa có một lượng lớn đệ tử đang lâm phàm vào thời điểm này, và cơ cấu với nhiều người đang hoạt động ở cấp độ đệ tử chỉ mới ở giai đoạn phôi thai, là hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, cần nhớ rằng chu kỳ thế giới chỉ mới được bắt đầu và sẽ bao gồm một khoảng thời gian rộng lớn. Chỉ có khoảng bốn trăm đệ tử chính thức trên thế giới vào thời điểm này — nghĩa là, những người nam và nữ thực sự biết họ là đệ tử và biết công việc của họ là gì và đang làm công việc đó. Tuy nhiên, có hàng trăm người (trong thế hệ trẻ hiện tại) đang đứng trước ngưỡng cửa được chấp nhận, và hàng nghìn người đang trên con đường dự bị.

[165]

[165]

In all truly esoteric groups, there should be forming a group in which an intellectual understanding of this mechanism of heart, throat, and eye, will be found. It should be constituted of those who are submitting themselves to a discipline and a training which will make its use a demonstrated fact in nature to them. I would call attention to those words, and request their careful study.

Trong tất cả các nhóm thực sự bí truyền, nên hình thành một nhóm mà trong đó người ta sẽ tìm thấy sự hiểu biết về mặt trí tuệ về bộ máy này của tim, cổ họng và mắt. Nó nên được cấu thành từ những người đang tự nguyện tuân theo một kỷ luật và một sự huấn luyện sẽ làm cho việc sử dụng nó trở thành một thực tế được chứng minh trong tự nhiên đối với họ. Tôi muốn kêu gọi sự chú ý đến những từ đó, và yêu cầu nghiên cứu chúng một cách cẩn thận.

A mechanism in the natural body comes into use in two ways: First, its use is involuntary, and there is no comprehension of how, or why, or when, the apparatus is used. An animal employs a mechanism, analogous in many respects to that employed by man. He sees, and hears and functions organically along similar lines to the human, but lacks the mental understanding and the linking of cause and effect which are characteristic of the higher kingdom in nature.

Một bộ máy trong cơ thể tự nhiên được sử dụng theo hai cách: Thứ nhất, việc sử dụng nó là không tự nguyện, và không có sự hiểu biết về cách thức, lý do hoặc thời điểm sử dụng bộ máy. Một con vật sử dụng một bộ máy, tương tự về nhiều mặt với bộ máy được con người sử dụng. Nó nhìn, nghe và hoạt động hữu cơ theo những đường nét tương tự như con người, nhưng thiếu sự hiểu biết về mặt tinh thần và sự liên kết giữa nguyên nhân và kết quả vốn là đặc điểm của giới cao hơn trong tự nhiên.

A similar state of affairs exists in the early stages of the path of discipleship, and the final stages of the probationary path. The disciple becomes aware of capacities and powers which are not as yet intelligently under his control. He experiences flashes of insight, and of knowledge which seem unaccountable and of no immediate value. He contacts vibrations and the phenomena of other realms but remains unaware of the process whereby he has done so, and is incompetent either to renew or recall the experience. Within his etheric body, he senses active forces. Sometimes he can localise them, and in any case he admits theoretically that there is awakening into conscious activity, a sevenfold structure, which is symbolic in form, and potent when employed. He cannot as yet control it and he is quite incapable of calling it into intelligent co-operation with his purposes and ideas, no matter how hard he tries. All that he can do is to register such phenomena and keep a record of these experiences, bearing always in mind that in the early stages of his unfoldment only the coarsest and most material [166] of the vibrations will be registered on his brain consciousness. He simply has to wait and to bring his mind to bear upon the purifying of his vehicles and the elimination of all that he recognises as liable to distort his vision. This period may be long or short according as the aspirant is entering into the subjective consciousness for the first time or is taking up the thread of an older or partially achieved undertaking.

Một tình trạng tương tự tồn tại trong giai đoạn đầu của con đường đệ tử, và giai đoạn cuối của con đường dự bị. Đệ tử nhận thức được năng lực và sức mạnh mà y chưa kiểm soát được một cách thông minh. Y trải nghiệm những tia sáng của sự thấu hiểu và kiến thức dường như không thể giải thích được và không có giá trị tức thời. Y tiếp xúc với các rung động và hiện tượng của các cõi khác nhưng vẫn không nhận thức được quá trình mà y đã thực hiện, và không có khả năng làm mới hoặc nhớ lại trải nghiệm. Bên trong thể dĩ thái của mình, y cảm nhận được các mãnh lực đang hoạt động. Đôi khi y có thể xác định vị trí của chúng, và trong mọi trường hợp, y thừa nhận về mặt lý thuyết rằng có sự thức tỉnh thành hoạt động có ý thức, một cấu trúc thất phân, mang tính biểu tượng về hình thức và mạnh mẽ khi được sử dụng. Y vẫn chưa thể kiểm soát nó và y hoàn toàn không có khả năng kêu gọi nó hợp tác một cách thông minh với mục đích và ý tưởng của mình, cho dù y có cố gắng đến đâu. Tất cả những gì y có thể làm là ghi nhận những hiện tượng như vậy và lưu giữ hồ sơ về những trải nghiệm này, luôn ghi nhớ rằng trong giai đoạn đầu của sự khai mở, chỉ những rung động thô nhất và vật chất nhất [166] mới được ghi nhận vào ý thức não bộ của y. Y chỉ đơn giản là phải chờ đợi và tập trung tâm trí vào việc thanh lọc các thể của mình và loại bỏ tất cả những gì y nhận ra là có khả năng bóp méo tầm nhìn của mình. Giai đoạn này có thể dài hoặc ngắn tùy thuộc vào việc người chí nguyện bước vào ý thức chủ quan lần đầu tiên hay đang tiếp tục một công việc cũ hơn hoặc đã đạt được một phần.

I would like here, to make perfectly clear to all true and earnest aspirants that, in the training to be given during the next few decades, the unfoldment of astral vision and hearing will be entirely ruled out, or (if it exists) will eventually have to be overcome. The true disciple has endeavoured to centre himself on the mental plane with the object in view of transferring his consciousness higher still, into the wider and inclusive awareness of the soul.

Tôi muốn nói rõ ở đây, với tất cả những người chí nguyện chân chính và nghiêm túc rằng, trong quá trình huấn luyện sẽ được đưa ra trong vài thập kỷ tới, việc khai mở tầm nhìn và thính giác cảm dục sẽ hoàn toàn bị loại trừ, hoặc (nếu nó tồn tại) cuối cùng sẽ phải được khắc phục. Người đệ tử chân chính đã cố gắng tập trung bản thân vào cõi trí với mục tiêu chuyển tâm thức của mình lên cao hơn nữa, vào nhận thức rộng lớn hơn và bao quát hơn của linh hồn.

His aim is to include the higher, and there is no need for him, at this stage, to regain that astral facility which was the possession, as you well know, of the little evolved races of the earth, and of many of the higher animals. Later on, when adeptship has been reached, he can function on the astral plane should he so choose, but it should be remembered, that the Master works with the soul aspect of humanity (and of all forms) and does not work with their astral bodies. This has been oft forgotten by teachers both in the East and in the West.

Mục đích của y là bao gồm cái cao hơn, và ở giai đoạn này, y không cần phải lấy lại khả năng cảm dục đó vốn là sở hữu, như bạn biết rõ, của các chủng tộc ít tiến hóa trên trái đất, và của nhiều loài động vật cao cấp hơn. Sau này, khi đã đạt đến địa vị Chân Sư, y có thể hoạt động trên cõi cảm dục nếu y muốn, nhưng cần nhớ rằng Chân Sư làm việc với khía cạnh linh hồn của nhân loại (và của tất cả các hình tướng) và không làm việc với thể cảm xúc của họ. Điều này thường bị các huấn sư ở cả phương Đông và phương Tây lãng quên.


Webinar 38—Rule 5.3

In working with souls the true technique of evolution is carried forward, for it is the soul within the forms in every kingdom in nature which is responsible for the developing work of, and within, the form. May I say therefore to students that their main objective is to become aware of the soul, to cultivate soul consciousness, and to learn to live and work as souls. Until such time as their use of their apparatus becomes voluntary they would be well advised to train their minds, study the [167] laws governing manifestation, and learn to include all that which we now cover by the word ‘higher’—a misnomer, but it must suffice.

Khi làm việc với các linh hồn, kỹ thuật tiến hóa chân chính được tiến hành, bởi vì chính linh hồn trong các hình tướng ở mọi giới trong trong thiên nhiên chịu trách nhiệm cho công việc phát triển của hình tướng và trong hình tướng. Do đó, tôi muốn nói với các đạo sinh rằng mục tiêu chính của họ là trở nên nhận thức về linh hồn, rèn luyện tâm thức linh hồn và học cách sống và làm việc như những linh hồn. Cho đến khi họ có thể sử dụng công cụ của mình một cách tự nguyện, họ nên huấn luyện tâm trí, nghiên cứu các định luật chi phối sự biểu hiện, và học cách bao gồm tất cả những gì hiện nay chúng ta gọi là “cao hơn”—một thuật ngữ không hoàn toàn chính xác, nhưng vẫn có thể chấp nhận được.

Second, when the use of the subjective instrument becomes voluntary and a man knows how it should be employed, when he is using it, and can discontinue its use or resume it at will, then his whole status changes and his usefulness increases. Through the use of the mind, humanity has become aware of the purposes and employment of the physical apparatus. Now through the use of a still higher faculty, which is a characteristic of the soul, he enters into voluntary and intelligent control of his instrument and learns to understand the purposes for which it exists. This higher faculty is the intuition.

Thứ hai, khi việc sử dụng công cụ chủ quan trở nên tự nguyện, và một người biết cách bằng cách nó nên được sử dụng, khi nào y đang sử dụng nó, và có thể ngừng sử dụng hoặc tiếp tục theo ý muốn, thì toàn bộ vị thế của y thay đổi và sự hữu ích của y được gia tăng. Thông qua việc sử dụng thể trí, nhân loại đã nhận thức được mục đích và cách sử dụng công cụ thể xác. Giờ đây, thông qua việc sử dụng một năng lực cao hơn nữa, vốn là đặc trưng của linh hồn, y bước vào sự kiểm soát tự nguyện và thông minh đối với công cụ của mình, và học cách hiểu các mục đích mà công cụ đó tồn tại. Năng lực cao hơn này chính là trực giác.

May I add with emphasis that only as the man becomes intuitive does he become of use in a Master’s group and I commend to all aspirants that they most carefully study the meaning and significance of the intuition. When it is beginning to function, then the disciple can pass from the stage of probation to that of acceptance in a Master’s group.

Tôi có thể nói thêm với sự nhấn mạnh rằng chỉ khi con người trở nên trực giác thì y mới trở nên hữu ích trong nhóm của Chân Sư, và tôi khuyên tất cả những người chí nguyện nên nghiên cứu kỹ lưỡng ý nghĩa và tầm quan trọng của trực giác. Khi nó bắt đầu hoạt động, thì đệ tử có thể chuyển từ giai đoạn dự bị sang giai đoạn được chấp nhận trong nhóm của Chân Sư.

You might ask here how this can be known or ascertained by the probationer.

Bạn có thể hỏi ở đây làm thế nào một người dự bị biết hoặc xác định được điều này.

A great deal of training is given to a probationer without his really recognising it consciously. Fault tendencies are indicated to him as he seeks with sincerity to train himself for service, and the analysis of motive when truthfully undertaken, serves amazingly to lift the would-be disciple out of the astral or emotional world into that of the mind. It is in the mental world that the Masters are first contacted, and there They must be sought.

Rất nhiều sự huấn luyện được trao cho một người dự bị mà y không thực sự nhận ra một cách ý thức. Những xu hướng sai lầm được chỉ ra cho y khi y thành tâm cố gắng rèn luyện bản thân để phụng sự, và việc phân tích động cơ, khi được thực hiện một cách trung thực, sẽ giúp đáng kinh ngạc trong việc nâng người muốn trở thành đệ tử ra khỏi thế giới cảm dục hoặc cảm xúc, để bước vào thế giới của trí tuệ. Chính trong thế giới trí tuệ, các Chân sư được tiếp xúc lần đầu tiên, và chính ở đó các Ngài phải được tìm kiếm.

But the time has come when the Light in the head is not only present but can be somewhat used. The karma of the aspirant is such that it becomes possible for him, through strenuously applied effort, to handle his life in [168] such a way that he can not only fulfill his karma and carry out his obligations, but has sufficient determination to enable him to handle the problems and obligations of discipleship also. His service to others is carried out with the right motive, and is beginning to count and make its power felt, and he is losing sight of his own interests in those of others. When this occurs certain esoteric happenings take place.

Nhưng giờ đây, ánh sáng trong đầu không chỉ hiện diện mà còn có thể được sử dụng phần nào. Nghiệp quả của người chí nguyện đã đến mức cho phép y, nhờ nỗ lực cố gắng bền bỉ, xử lý đời sống mình sao cho y không chỉ hoàn thành nghiệp quả và thực hiện các nghĩa vụ của mình, mà còn có đủ quyết tâm để y xử lý các vấn đề và trách nhiệm của địa vị đệ tử. Sự phụng sự của y đối với người khác được thực hiện với động cơ đúng đắn, và đang bắt đầu được công nhận, thể hiện sức mạnh của nó, đồng thời y đang dần quên đi lợi ích của bản thân để hướng đến lợi ích của người khác. Khi điều này xảy ra, một số sự kiện huyền bí sẽ diễn ra.

The Master confers with some of His senior disciples as to the advisability of admitting the aspirant within the group aura, and of blending his vibration with that of the group. Then, if decision is arrived at, for the space of two years a senior disciple acts as the intermediary betwixt the Master and the newly accepted aspirant. He works with the new disciple, stepping down (if I so might express it) the vibration of the Master so as to accustom the disciple’s bodies to the higher increased rate. He impresses the disciple’s mind, via his Ego, with the group plans and ideals, and he watches his reaction to life’s occurrences and opportunities. He practically assumes, pro tem, the duties and position of Master.

Chân Sư hội ý với một số đệ tử cao cấp của Ngài về việc nên kết nạp người chí nguyện vào trong hào quang của nhóm, và việc hòa trộn rung động của y với rung động của nhóm. Sau đó, nếu quyết định được đưa ra, trong khoảng thời gian hai năm, một đệ tử cao cấp sẽ đóng vai trò trung gian giữa Chân Sư và người chí nguyện mới được chấp nhận. Y làm việc với người đệ tử mới, hạ thấp (nếu tôi có thể diễn đạt như vậy) rung động của Chân Sư để làm quen các thể của đệ tử với tốc độ tăng cao hơn. Y gây ấn tượng với tâm trí của đệ tử, thông qua Chân ngã của y, với các kế hoạch và lý tưởng của nhóm, và y quan sát phản ứng của đệ tử đối với các sự kiện và cơ hội trong cuộc sống. Y thực tế đảm nhận, tạm thời, nhiệm vụ và vị trí của Chân Sư.

All this time the aspirant remains in ignorance of what has happened and is unaware of his subjective contacts. He, however, recognizes in himself three things:

Trong suốt thời gian này, người chí nguyện vẫn không biết những gì đã xảy ra và không nhận thức được các mối liên hệ bên trong của mình. Tuy nhiên, y nhận ra trong bản thân ba điều:

Increased mental activity. This at first will give him much trouble, and he will feel as if he were losing in mind control instead of gaining it, but this is only a temporary condition and gradually he will assume command.

Hoạt động trí tuệ gia tăng. Điều này lúc đầu sẽ gây cho y nhiều rắc rối, và y sẽ cảm thấy như thể mình đang mất kiểm soát tâm trí thay vì đạt được nó, nhưng đây chỉ là tình trạng tạm thời và dần dần y sẽ nắm quyền chỉ huy.

Increased responsiveness to ideas and increased capacity to vision the plan of the Hierarchy. This will make him, in the early stages, fanatical to a degree. He will be continually swept off his feet with new ideals, new isms, new modes of living, new dreams for race betterment. He will take up one cult after another as they seem to make possible the coming millennium. But after [169] a time he regains his poise, and purpose assumes control of his life. He works at his own job, and carries forward his contribution to the activity of the whole, to the best of his ability.

Khả năng đáp ứng với các ý tưởng ngày càng tăng và khả năng hình dung kế hoạch của Thánh Đoàn ngày càng tăng. Điều này sẽ khiến y, trong giai đoạn đầu, trở nên cuồng tín đến một mức độ nào đó. Y sẽ liên tục bị cuốn theo những lý tưởng mới, chủ nghĩa mới, cách sống mới, ước mơ mới vì sự cải thiện nhân loại. Y sẽ tiếp nhận hết giáo phái này đến giáo phái khác khi chúng dường như biến thiên niên kỷ sắp tới thành hiện thực. Nhưng sau [169] một thời gian, y lấy lại sự thăng bằng, và mục đích nắm quyền kiểm soát cuộc sống của y. Y làm công việc của riêng mình, và tiếp tục đóng góp của mình vào hoạt động của toàn thể, đến mức tốt nhất khả năng của y.

Increased psychic sensitiveness. This is both an indication of growth and at the same time a test. He is apt to be taken in by the allurements of the psychic powers; he will be tempted to side-track his efforts from specialised service to the race into the exploitation of the psychic powers, and their use for self assertion. The aspirant has to grow in all parts of his nature, but until he can function as the soul, the psyche, consciously and with the use of cooperative intelligence, the lower powers must be quiescent. They can only be safely used by advanced disciples and initiates. They are weapons and instruments of service to be then used in the three worlds by those who are still tied by the Law of Rebirth to those worlds. Those who have passed through the great Liberation and have “occultly crossed the bridge” have no need to employ the powers inherent in the lower sheaths. They can use the infallible knowledge of the intuition, and the illumination of the principle of Light.

Nhạy cảm thông linh gia tăng. Đây vừa là dấu hiệu của sự trưởng thành vừa là một thử thách. Y có thể bị cuốn hút bởi sự cám dỗ của các năng lực thông linh; y sẽ bị cám dỗ để chuyển hướng nỗ lực của mình khỏi sự phụng sự chuyên biệt cho nhân loại sang việc khai thác các năng lực thông linh, và sử dụng chúng để khẳng định bản thân. Người chí nguyện phải phát triển trong tất cả các phần của bản chất mình, nhưng cho đến khi y có thể hoạt động như linh hồn, tâm linh, một cách có ý thức và với việc sử dụng trí thông minh hợp tác, thì các năng lực thấp hơn phải im lặng. Chúng chỉ có thể được sử dụng một cách an toàn bởi các đệ tử và điểm đạo đồ cao cấp. Chúng là vũ khí và công cụ phụng sự để sau đó được sử dụng trong ba cõi bởi những người vẫn bị ràng buộc bởi Định luật Tái Sinh với những cõi đó. Những người đã trải qua sự Giải Thoát vĩ đại và đã “huyền bí vượt qua cây cầu” không cần phải sử dụng các năng lực vốn có trong các lớp vỏ thấp hơn. Họ có thể sử dụng kiến thức không thể sai lầm của trực giác và sự soi sáng của nguyên lý Ánh sáng.

Webinar 39—Rule 5.4

There is much misapprehension in people’s minds as to how a Master lets an accepted disciple become aware that he is accepted. An impression is abroad that he is told so and that an interview is accorded wherein the Master accepts him and starts him to work. Such is not the case. The occult law holds good in discipleship as in initiation, and the man goes forward blindly. He hopes, but he does not know; he expects that it may be so, but no tangible assurance is given; from a study of himself and of the requirements he arrives at the conclusion that perhaps he has reached the status of accepted disciple. He therefore acts on that assumption and with care he watches his acts, guards his words, and controls his thoughts so that no overt act, unnecessary word or unkind [170] thought will break the rhythm which he believes has been set up. He proceeds with his work but intensifies his meditation; he searches his motives; he seeks to equip his mental body; he sets before himself the ideal of service and seeks ever to serve; and then (when he is so engrossed in the work on hand that he has forgotten himself), suddenly one day he sees the One Who has for so long seen him.

Có nhiều hiểu lầm trong tâm trí mọi người về cách Chân Sư cho phép một đệ tử được chấp nhận nhận thức được rằng y đã được chấp nhận. Có một ấn tượng phổ biến rằng y được cho biết như vậy và một cuộc phỏng vấn được chấp thuận, trong đó Chân Sư chấp nhận y và bắt đầu cho y làm việc. Không phải như vậy. Quy luật huyền bí vẫn đúng trong việc làm đệ tử cũng như trong điểm đạo, và con người tiến về phía trước một cách mù quáng. Y hy vọng, nhưng y không biết; y mong đợi rằng có thể như vậy, nhưng không có sự đảm bảo hữu hình nào được đưa ra; từ việc nghiên cứu bản thân và các yêu cầu, y đi đến kết luận rằng có lẽ y đã đạt đến trạng thái đệ tử được chấp nhận. Do đó, y hành động dựa trên giả định đó và cẩn thận quan sát hành động của mình, bảo vệ lời nói của mình và kiểm soát suy nghĩ của mình để không có hành động công khai, lời nói không cần thiết hoặc suy nghĩ không tử tế [170] nào sẽ phá vỡ nhịp điệu mà y tin rằng đã được thiết lập. Y tiếp tục công việc của mình nhưng tăng cường sự tham thiền của mình; y tìm kiếm động cơ của mình; y tìm cách trang bị cho thể trí của mình; y đặt ra trước mắt mình lý tưởng phụng sự và luôn tìm cách phụng sự; và sau đó (khi y quá mải mê với công việc đang làm đến nỗi quên cả bản thân), thì đột nhiên một ngày y nhìn thấy Đấng mà từ lâu đã nhìn thấy y.

This may come in two ways: in full waking consciousness or by the registering of the interview on the physical brain as it has been participated in during the hours of sleep.

Điều này có thể xảy ra theo hai cách: trong trạng thái tỉnh thức hoàn toàn hoặc qua việc ghi nhận buổi phỏng vấn trên bộ não vật lý, như đã trải qua trong những giờ ngủ.

But accompanying this recognition of the event by the disciples will come certain other recognitions.

Tuy nhiên, cùng với sự nhận biết sự kiện này bởi đệ tử sẽ xuất hiện những nhận thức khác sau đây:

1. The event is recognised as fact past all controversy. No doubt remains in the disciple’s mind.

1. Sự kiện được công nhận là một thực tế không thể bàn cãi. Không còn nghi ngờ nào trong tâm trí của đệ tử.

2. There is recognised an inhibition on the disciple’s part to mention the happening to any one. Months or years may slip away before the disciple will mention it, and then only to those who are also recognised as disciples or to some fellow worker, also under the same group influence, whose right it is to know and whose right is sanctioned by the Master of the group.

2. Đệ tử nhận thức được một sự kiềm chế từ phía mình để không nhắc đến sự việc với bất kỳ ai. Nhiều tháng hoặc thậm chí nhiều năm có thể trôi qua trước khi đệ tử đề cập đến điều này, và ngay cả khi đó, chỉ nói với những người cũng được công nhận là đệ tử hoặc một đồng sự, cũng chịu ảnh hưởng từ cùng một nhóm, người có quyền biết điều này và quyền đó được Chân sư của nhóm chấp thuận.

3. Certain factors, governing the Master’s relation to the disciple, are gradually recognised and begin increasingly to govern the disciple’s life.

3. Một số yếu tố liên quan đến mối quan hệ giữa Chân sư và đệ tử dần dần được nhận ra và bắt đầu ngày càng chi phối cuộc sống của đệ tử.

a. He recognises that his points of contact with his Master are governed by group emergency and need, and deal with his group service. It gradually dawns on him that his Master is only interested in him insofar as his ego can be used in service, through the personality on the physical plane. He begins to realise that his Master works with his soul and that it is his ego, therefore, which is en rapport with the Master and not the personal self. His problem, therefore, becomes increasingly clear and this is the problem of all disciples. It is to keep the [171] channel of communication open between the soul and the brain, via the mind, so that when the Master seeks to communicate, He can do so at once and easily. Sometimes a Master has to wait weeks before He can get His disciple’s ear, for the channel upward is closed and the soul is not en rapport with the brain. This is especially true of the early stages of discipleship.

a. Y nhận thức rằng các điểm tiếp xúc của mình với Chân sư được điều chỉnh bởi các tình huống khẩn cấp và nhu cầu của nhóm, và liên quan đến công việc phụng sự trong nhóm. Y dần nhận ra rằng Chân sư chỉ quan tâm đến y trong phạm vi Chân ngã của y có thể được sử dụng trong sự phụng sự, thông qua phàm ngã trên cõi vật lý. Y bắt đầu hiểu rằng Chân sư làm việc với linh hồn của y, và do đó, chính Chân ngã của y mới là điều hòa hợp với Chân sư, chứ không phải là bản thân phàm ngã. Vấn đề của y vì thế trở nên ngày càng rõ ràng, và đây cũng là vấn đề của tất cả các đệ tử: duy trì kênh liên lạc mở giữa linh hồn và bộ não, thông qua thể trí, để khi Chân sư muốn giao tiếp, Ngài có thể làm điều đó ngay lập tức và dễ dàng. Đôi khi, Chân sư phải chờ đợi hàng tuần trước khi Ngài có thể thu hút sự chú ý của đệ tử, bởi vì kênh đi lên bị đóng, và linh hồn không hòa hợp với bộ não. Điều này đặc biệt đúng trong giai đoạn đầu của địa vị đệ tử.

b. He finds that it is he who shuts the door in the majority of cases through lower psychism, physical disability, and lack of mind control, and he therefore discovers that he has to work constantly and ceaselessly with his lower self.

b. Y nhận ra rằng chính y là người đóng cánh cửa trong phần lớn các trường hợp, do thông linh thấp kém, sự suy yếu về thể chất và thiếu kiểm soát trí tuệ. Do đó, y phát hiện rằng mình phải làm việc không ngừng với phàm ngã thấp của mình.

c. He finds that one of the first things he has to do is to learn to discriminate between:

c. Y nhận ra rằng một trong những điều đầu tiên y phải làm là học cách phân biện giữa:

His own soul’s vibration.

– Rung động của chính linh hồn y.

The vibration of the group of disciples with whom he is associated.

– Rung động của nhóm đệ tử mà y liên kết.

The vibration of the Master.

– Rung động của Chân sư.

All three are different and it is easy to confuse them, especially at first. It is a safe rule for aspirants to assume when they contact a high vibration and stimulus, that it is their own soul contacting them, the Master in the heart, and not run off with the idea (so flattering to their pride and personality) that the Master is endeavouring to reach them.

Cả ba loại rung động đều khác nhau và rất dễ nhầm lẫn, đặc biệt là trong giai đoạn đầu. Một nguyên tắc an toàn cho những người chí nguyện là giả định rằng khi họ tiếp xúc với một rung động cao và kích thích, đó chính là Chân ngã của họ đang kết nối với họ – Chân sư trong trái tim – và không nên vội vàng cho rằng (một ý nghĩ dễ dàng làm thỏa mãn lòng kiêu hãnh và phàm ngã của họ) Chân sư đang cố gắng tiếp cận họ.

d. He finds also that it is not the habit of the Masters to flatter or to make promises to their disciples. They are too busy and too wise, nor do They trouble Themselves to tell Their disciples that they are destined for high office, or that they are Their intermediaries and that the Hierarchy is depending upon them. Ambition, love of power, and the self-sufficiency which characterises many mental types test out the struggling aspirant, and he gets from his personality all that he needs in that line. These qualities delude him and lead him astray, forcing [172] him onto a pedestal from which eventually he must descend. The Masters say nothing to feed pride in Their disciples, nor do They speak words to them which could foster in Their chelas the spirit of separateness.

d. Y cũng thấy rằng các Chân Sư không có thói quen tâng bốc hoặc hứa hẹn với đệ tử của mình. Các Ngài quá bận rộn và quá minh triết, các Ngài cũng không bận tâm nói với đệ tử của mình rằng họ được định sẵn cho chức vụ cao, hoặc rằng họ là trung gian của các Ngài và Thánh Đoàn đang phụ thuộc vào họ. Tham vọng, ham muốn quyền lực và sự tự mãn vốn là đặc điểm của nhiều kiểu người trí tuệ thử thách người chí nguyện đang đấu tranh, và y nhận được từ phàm ngã của mình tất cả những gì y cần trong khía cạnh đó. Những phẩm tính này đánh lừa y và dẫn y đi lạc lối, buộc [172] y lên một bệ đỡ mà cuối cùng y phải đi xuống. Các Chân Sư không nói gì để nuôi dưỡng lòng kiêu hãnh trong các đệ tử của các Ngài, các Ngàihọ cũng không nói những lời với họ có thể nuôi dưỡng tinh thần chia rẻ trong các đệ tử của các Ngài.

e. The disciple soon finds also that the Masters are not easily accessible. They are busy men, ill able to spare even a few moments in which to communicate with the disciple, and only in emergencies, in the case of a beginner on the Path of Discipleship, do the Masters expend the necessary energy with which to get en rapport. With old and tried disciples, the contacts are more frequent, being more easily achieved and bearing more rapid results. It should be remembered, however, that the newer the disciple the more he demands attention and considers he should have it. The old and more experienced servers seek to fulfil their obligations and carry forward their work with as little contact with the Masters as possible. They seek to save the Master’s time and frequently consider an interview with the Master as demonstrating failure on their part, and producing, therefore, regret that they have had to take the Master’s precious time, and force Him to use His energy in order to safeguard the work from error and the disciple perhaps from harm. The aim of every high disciple is to carry out his work and be en rapport with the spiritual force centre which is his group, and thus in steady touch with the Master, without interviews and phenomenal contacts. Many only expect to contact their Master once a year, usually at the time of the full moon in May.

e. Đệ tử sớm nhận ra rằng các Chân sư không dễ tiếp cận. Các Ngài là những người rất bận rộn, khó có thể dành ra thậm chí chỉ vài phút để giao tiếp với đệ tử, và chỉ trong những trường hợp khẩn cấp, với những người mới bước vào Con Đường Đệ Tử, các Chân sư mới bỏ ra năng lượng cần thiết để đạt được sự hòa hợp. Với những đệ tử lâu năm và đã được thử thách, các lần tiếp xúc thường xuyên hơn, dễ đạt được hơn và mang lại kết quả nhanh chóng hơn. Tuy nhiên, cần nhớ rằng đệ tử càng mới, y càng đòi hỏi sự chú ý và cho rằng mình nên được quan tâm. Những người phụng sự lâu năm và giàu kinh nghiệm hơn tìm cách hoàn thành nghĩa vụ của họ và tiếp tục công việc của mình với ít tiếp xúc với các Chân sư nhất có thể. Họ cố gắng tiết kiệm thời gian của Chân sư và thường coi một buổi gặp gỡ với Chân sư là dấu hiệu cho thấy sự thất bại của bản thân, và do đó cảm thấy hối tiếc vì đã phải lấy đi thời gian quý báu của Ngài, buộc Ngài phải sử dụng năng lượng của mình để đảm bảo công việc không bị sai sót và bảo vệ đệ tử khỏi những nguy hại có thể xảy ra. Mục tiêu của mọi đệ tử cao cấp là thực hiện công việc của mình và hòa hợp với trung tâm năng lượng tinh thần là nhóm của y, từ đó duy trì sự kết nối ổn định với Chân sư mà không cần đến các buổi gặp gỡ hay tiếp xúc mang tính hiện tượng. Nhiều người chỉ mong chờ tiếp xúc với Chân sư một lần mỗi năm, thường vào thời điểm trăng tròn tháng Năm.

f. He finds also that the relationship between Master and disciple is governed by law and that there are definite stages of contact and grades in the desired rapport. These can be enumerated, but cannot be enlarged upon.

f. Y cũng nhận thấy rằng mối quan hệ giữa Chân Sư và đệ tử bị chi phối bởi định luật và có những giai đoạn tiếp xúc và cấp bậc nhất định trong mối quan hệ mong muốn. Những điều này có thể được liệt kê, nhưng không thể được mở rộng.

1. The stage wherein a disciple is contacted by the Master through another chela on the physical plane. This is the stage of “Little Chelaship”.

1. Giai đoạn mà đệ tử được Chân Sư liên lạc thông qua một đệ tử khác trên cõi vật lý. Đây là giai đoạn “Tiểu Đệ Tử ”.

[Page 173]

[173]

2. The stage wherein a higher disciple directs the chela from the egoic level. This is the stage called a “Chela in the Light”.

2. Giai đoạn mà một đệ tử cao hơn hướng dẫn đệ tử từ cõi Chân ngã. Đây là giai đoạn được gọi là “Đệ Tử trong Ánh Sáng”.

3. The stage wherein, according to necessity, the Master contacts the chela through:

3. Giai đoạn mà, tùy theo nhu cầu, Chân Sư liên lạc với đệ tử thông qua:

a. A vivid dream experience.

a. Trải nghiệm giấc mơ sống động.

b. A symbolic teaching.

b. Giáo lý mang tính biểu tượng.

c. A using of a thought form of the Master.

c. Sử dụng hình tư tưởng của Chân Sư.

d. A contact in meditation.

d. Tiếp xúc trong sự tham thiền.

e. A definite, remembered interview in the Master’s Ashram.

e. Cuộc gặp gỡ nhất định, đáng nhớ trong Ashram của Chân Sư.

This is definitely the stage of Accepted Disciple.

Đây chắc chắn là giai đoạn của Đệ Tử Được Chấp Nhận.

4. The stage wherein, having shown his wisdom in work, and his appreciation of the Master’s problem, the disciple is taught how (in emergencies) to attract the Master’s attention and thus draw on His strength and knowledge and advice. This is an instantaneous happening, and practically takes none of the Master’s time. This stage has the peculiar name of “a chela on the Thread, or Sutratma.”

4. Giai đoạn mà, sau khi thể hiện sự thông thái của mình trong công việc và sự đánh giá cao vấn đề của Chân Sư, đệ tử được dạy cách (trong trường hợp khẩn cấp) thu hút sự chú ý của Chân Sư và do đó tận dụng sức mạnh, kiến thức và lời khuyên của Ngài. Đây là một sự kiện tức thời, và thực tế không chiếm thời gian của Chân Sư. Giai đoạn này có tên gọi đặc biệt là “đệ tử trên Sinh Mệnh Tuyến, hay Sutratma.”

5. The stage wherein he is permitted to know the method whereby he may set up a vibration and a call which will entitle him to an interview with the Master. This is only permitted to those trusted chelas who can be depended upon not to use the knowledge for anything except the need of the work; no personality reason or distress would prompt them to use it. At this stage the disciple is called “one within the aura.”

5. Giai đoạn mà y được phép biết phương pháp mà y có thể thiết lập rung động và lời kêu gọi sẽ cho phép y được gặp gỡ Chân Sư. Điều này chỉ được phép đối với những đệ tử đáng tin cậy, những người có thể tin tưởng rằng sẽ không sử dụng kiến thức cho bất cứ điều gì ngoại trừ nhu cầu của công việc; không có lý do cá nhân hay đau khổ nào sẽ thúc đẩy họ sử dụng nó. Ở giai đoạn này, đệ tử được gọi là “người trong hào quang”.

6. The stage wherein the disciple can get his Master’s ear at any time. He is in close touch always. This is the stage wherein a chela is being definitely prepared for an immediate initiation or, having taken initiation, is being given specialised work to do in collaboration with his ——. At this stage he is described as “one within his Master’s heart.”

6. Giai đoạn mà đệ tử có thể tiếp cận được Chân Sư của mình bất cứ lúc nào. Y luôn liên lạc chặt chẽ. Đây là giai đoạn mà đệ tử chắc chắn đang được chuẩn bị cho một sự điểm đạo ngay lập tức hoặc, sau khi đã điểm đạo, được giao công việc chuyên môn để làm trong sự hợp tác với —— của y. Ở giai đoạn này, y được mô tả là “người trong trái tim của Chân Sư mình”.

[174]

[174]

Webinar 40—Rule 5.5

f. He finds also that the relationship between Master and disciple is governed by law and that there are definite stages of contact and grades in the desired rapport. These can be enumerated, but cannot be enlarged upon.

f. Y cũng nhận thấy rằng mối quan hệ giữa Chân Sư và đệ tử bị chi phối bởi quy luật và có những giai đoạn tiếp xúc và cấp bậc nhất định trong mối quan hệ mong muốn. Những điều này có thể được liệt kê, nhưng không thể được mở rộng.

1. The stage wherein a disciple is contacted by the Master through another chela on the physical plane. This is the stage of “Little Chelaship”.

1. Giai đoạn mà đệ tử được Chân Sư liên lạc thông qua một đệ tử khác trên cõi trần. Đây là giai đoạn “Tiểu Đệ Tử”.

[173]

[173]

2. The stage wherein a higher disciple directs the chela from the egoic level. This is the stage called a “Chela in the Light”.

2. Giai đoạn mà một đệ tử cao hơn hướng dẫn đệ tử từ cõi Chân ngã. Đây là giai đoạn được gọi là “Đệ Tử trong Ánh Sáng”.

3. The stage wherein, according to necessity, the Master contacts the chela through:

3. Giai đoạn mà, tùy theo nhu cầu, Chân Sư tiếp xúc với đệ tử thông qua:

a. A vivid dream experience.

a. Một trải nghiệm giấc mơ sống động.

b. A symbolic teaching.

b. Một giảng dạy mang tính biểu tượng.

c. A using of a thought form of the Master.

c. Việc sử dụng hình tư tưởng của Chân Sư.

d. A contact in meditation.

d. Một sự tiếp xúc trong tham thiền.

e. A definite, remembered interview in the Master’s Ashram.

e. Cuộc gặp gỡ nhất định trong Ashram của Chân Sư được nhớ lại.

This is definitely the stage of Accepted Disciple.

Đây chắc chắn là giai đoạn của Đệ Tử Được Chấp Nhận.

4. The stage wherein, having shown his wisdom in work, and his appreciation of the Master’s problem, the disciple is taught how (in emergencies) to attract the Master’s attention and thus draw on His strength and knowledge and advice. This is an instantaneous happening, and practically takes none of the Master’s time. This stage has the peculiar name of “a chela on the Thread, or Sutratma.”

Giai đoạn trong đó, sau khi thể hiện minh triết của mình trong công việc và sự thấu hiểu vấn đề của Chân sư, đệ tử được dạy cách (trong các trường hợp khẩn cấp) thu hút sự chú ý của Chân sư và nhờ đó tiếp nhận sức mạnh, tri thức và lời khuyên của Ngài. Điều này xảy ra ngay lập tức và hầu như không chiếm thời gian của Chân sư. Giai đoạn này có tên đặc biệt là “một đệ tử trên đường dây hay Sutratma.”

5. The stage wherein he is permitted to know the method whereby he may set up a vibration and a call which will entitle him to an interview with the Master. This is only permitted to those trusted chelas who can be depended upon not to use the knowledge for anything except the need of the work; no personality reason or distress would prompt them to use it. At this stage the disciple is called “one within the aura.”

Giai đoạn trong đó đệ tử được phép biết phương pháp thiết lập rung động và lời kêu gọi, cho phép y có quyền được gặp Chân sư. Điều này chỉ được phép đối với những đệ tử đáng tin cậy, những người có thể được trông cậy sẽ không sử dụng kiến thức này vì bất kỳ lý do cá nhân nào ngoài nhu cầu công việc; không một lý do cá nhân hay nỗi đau khổ nào khiến họ sử dụng nó. Ở giai đoạn này, đệ tử được gọi là “một người trong hào quang.”

6. The stage wherein the disciple can get his Master’s ear at any time. He is in close touch always. This is the stage wherein a chela is being definitely prepared for an immediate initiation or, having taken initiation, is being given specialised work to do in collaboration with his ——. At this stage he is described as “one within his Master’s heart.”

Giai đoạn trong đó đệ tử có thể thu hút sự chú ý của Chân sư bất cứ lúc nào. Y luôn ở trong mối liên hệ mật thiết. Đây là giai đoạn trong đó một đệ tử được chuẩn bị rõ ràng để thực hiện một lần điểm đạo ngay lập tức, hoặc, sau khi đã trải qua điểm đạo, được giao phó công việc chuyên biệt để thực hiện phối hợp với Chân sư của mình. Ở giai đoạn này, y được mô tả là “một người trong trái tim của Chân sư.”

[174]

[174]

There is a later stage of a still closer identification, where there is a blending of the Lights, but there is no adequate paraphrase of the terms used to cover the name. The six stages above mentioned have been paraphrased for occidental understanding and must in no way be considered as translations of the ancient terms.

Có một giai đoạn sau này với sự đồng nhất chặt chẽ hơn, nơi xảy ra sự hòa quyện giữa các Ánh Sáng, nhưng không có sự diễn giải nào đủ thích hợp để bao quát được tên gọi của nó. Sáu giai đoạn đã được đề cập ở trên đã được diễn giải để phù hợp với sự hiểu biết của phương Tây, và không nên coi chúng là bản dịch của các thuật ngữ cổ xưa.

Such are some of the teachings concerning disciples and their recognitions and it is valuable for aspirants to ponder them. It should be realised that though good character, high ethics, sound morality and spiritual aspiration are basic and unalterable requirements, yet more is needed if the right to enter the Master’s Ashram is to be granted.

Đây là một số giáo huấn liên quan đến các đệ tử và sự nhận thức của họ, và điều này rất giá trị để những người chí nguyện suy ngẫm. Cần nhận ra rằng, mặc dù tính cách tốt, đạo đức cao, luân lý vững chắc và khát vọng tinh thần là những yêu cầu cơ bản và không thể thay đổi, nhưng vẫn cần nhiều hơn thế nếu muốn có được quyền bước vào Ashram của Chân sư.

To be admitted to the privilege of being an outpost of His consciousness requires an unselfishness and a self-surrender for which few are prepared; to be drawn within His aura so that the disciple’s aura forms an integral part of the group aura presupposes a purity which few can cultivate; to have the ear of the Master and to earn the right to contact Him at will necessitates a sensitiveness and a fine discrimination which few would care to purchase at the price. Yet a door stands wide open to all who care to come, and no earnest, sincere soul, who meets the requirements, ever receives a rebuff.

Để được chấp nhận đặc ân trở thành một tiền đồn của tâm thức Ngài đòi hỏi một sự vị tha và một sự từ bỏ bản ngã mà rất ít người sẵn sàng chuẩn bị; để được thu hút vào trong hào quang của Ngài sao cho hào quang của đệ tử trở thành một phần không thể tách rời của hào quang nhóm thì đòi hỏi một sự thanh khiết mà rất ít người có thể phát triển; để có được sự chú ý của Chân sư và xứng đáng với quyền được tiếp xúc với Ngài theo ý muốn đòi hỏi một sự nhạy cảm và sự phân biện tinh tế mà ít ai sẵn lòng đạt được bằng cái giá phải trả. Tuy nhiên, một cánh cửa luôn rộng mở cho tất cả những ai quan tâm bước vào, và không một linh hồn chân thành, nghiêm túc nào, đáp ứng được các yêu cầu, lại bị từ chối.

There is no question at this time that those who are in any way advanced in evolution are having that evolution hastened as never before in the history of the world. The crisis is so grave and the need of the world so great, that those who can contact the inner side of life, who can even in a small way sense the vibrations of the senior disciples and the Elder Brothers of the race, and who can bring down the ideals, as known on the higher planes, are being very carefully, forcefully, yet strenuously trained. It is necessary that they should be enabled to act accurately and adequately as transmitters and interpreters.

Hiện nay, không có nghi ngờ gì rằng những ai đã tiến bộ theo một cách nào đó trong sự tiến hóa đang chứng kiến quá trình tiến hóa của mình được thúc đẩy nhanh chóng hơn bao giờ hết trong lịch sử thế giới. Cuộc khủng hoảng này nghiêm trọng đến mức và nhu cầu của thế giới quá lớn, đến nỗi những ai có thể tiếp xúc với mặt bên trong của cuộc sống, những người có thể cảm nhận được dù chỉ một phần nhỏ các rung động của những đệ tử cao cấp và các Huynh trưởng của giống dân, và những ai có thể mang lại những lý tưởng như được biết đến trên các cõi cao, đang được huấn luyện rất cẩn thận, mạnh mẽ, nhưng cũng vô cùng nỗ lực. Cần thiết phải trang bị cho họ khả năng hành động chính xác và đầy đủ như những người truyền tải và giải thích.

I would like to point out certain factors and methods [175] which should be borne in mind in connection with inspirational writing and mediumship, and which have a bearing on the writing of such books as The Secret Doctrine, the Scriptures of the world and those transmitted volumes which potently affect the thought of the race. The interpretation of the process arises from many causes; the status of the writers can be overestimated or not sufficiently appreciated; the terms used by the transmitter being dependent upon his educational status may also be incorrect or give rise to misinterpretation. It is necessary, therefore, that some understanding of the process should be found.

Tôi muốn chỉ ra một số yếu tố và phương pháp nhất định [175] cần được ghi nhớ liên quan đến việc viết truyền cảm hứng và thuật đồng cốt, và những điều có liên quan đến việc viết những cuốn sách như Giáo Lý Bí Nhiệm, Kinh sách của thế giới và những tập sách được truyền tải có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng của nhân loại. Việc giải thích quá trình này phát sinh từ nhiều nguyên nhân; trạng thái của người viết có thể bị đánh giá quá cao hoặc không được đánh giá đầy đủ; các thuật ngữ được người truyền tải sử dụng phụ thuộc vào trình độ học vấn của y cũng có thể không chính xác hoặc gây ra sự hiểu sai. Do đó, cần phải tìm hiểu đôi chút về quá trình này.

Some transmitters work entirely on astral levels and their work is necessarily part of the great illusion. They are unconscious mediums and are unable to check the source from whence the teachings come; if they claim to know that source, they are frequently in error. Some receive teaching from discarnate entities of no higher evolution, and frequently of lower, than themselves. Some are simply abstracting the content of their own subconsciousnesses, and hence we have the beautiful platitudes, couched in Christian phraseology, and tinctured by the mystical writings of the past, which litter the desks of disciples, working consciously on the physical plane.

Một số người truyền tải làm việc hoàn toàn trên các cõi cảm dục và công việc của họ nhất thiết phải là một phần của ảo tưởng lớn. Họ là những đồng cốt vô ý thức và không thể kiểm tra nguồn gốc của những lời dạy; nếu họ tuyên bố biết nguồn đó, họ thường xuyên mắc lỗi. Một số người nhận được lời dạy từ các thực thể không còn xác thịt không có sự tiến hóa cao hơn, và thường xuyên thấp hơn, so với bản thân họ. Một số người chỉ đơn giản là rút nội dung từ tiềm thức của chính họ, và do đó chúng ta có những lời nói sáo rỗng đẹp đẽ, được diễn đạt bằng cụm từ Cơ đốc giáo, và được tô màu bởi các tác phẩm thần bí trong quá khứ, chất đầy bàn làm việc của các đệ tử, làm việc có ý thức trên cõi vật lý.

Some work only on mental levels, learning, through telepathy, that which the Elder Brothers of the race and their own souls have to impart. They tap the sources of knowledge stored in the egoic consciousness. They become aware of the knowledge stored up in the brains of disciples on the same ray as themselves. Some of them, being outposts of the Master’s consciousness, become also cognizant of His thought. Some use several of the methods, either consciously or unconsciously. When they work consciously, it is then possible for them to correlate the teaching given and, under the Law of Correspondences [176] and through the use of symbols (which they see through mental clairvoyance), to ascertain the accuracy of their teaching. Those who work unconsciously (I refer not to astral psychics), can use only trust and discrimination until they are further evolved. They must accept nothing that contradicts facts imparted through the Lodge’s great Messengers, and they must be ready to superimpose upon the modicum of knowledge which they possess a further structure of greater extent.

Một số người chỉ làm việc trên các cõi trí, học hỏi, thông qua viễn cảm, những gì mà các Huynh Trưởng của nhân loại và linh hồn của chính họ phải truyền đạt. Họ khai thác các nguồn kiến thức được lưu trữ trong tâm thức Chân ngã. Họ nhận thức được kiến thức được lưu trữ trong não bộ của các đệ tử trên cùng một cung với họ. Một số người trong số họ, là tiền đồn của tâm thức Chân Sư, cũng nhận thức được tư tưởng của Ngài. Một số người sử dụng một số phương pháp, có ý thức hoặc vô ý thức. Khi họ làm việc có ý thức, thì họ có thể tương quan lời dạy được đưa ra và, theo Định luật Tương Ứng [176] và thông qua việc sử dụng các biểu tượng (mà họ nhìn thấy thông qua khả năng thông nhãn trí tuệ), để xác định độ chính xác của lời dạy của họ. Những người làm việc vô ý thức (tôi không đề cập đến các nhà tâm linh cảm dục), chỉ có thể sử dụng sự tin tưởng và phân biệt cho đến khi họ tiến hóa hơn nữa. Họ không được chấp nhận bất cứ điều gì mâu thuẫn với sự thật được truyền đạt thông qua các Sứ Giả vĩ đại của Thánh Đoàn, và họ phải sẵn sàng chồng chất lên lượng kiến thức ít ỏi mà họ sở hữu một cấu trúc mở rộng hơn nữa.

Webinar 41—Rule 5.6

Each generation now should produce its seers. I like the word spelt “see-ers”, for to see is to know. The fault of all of you is that you see not; you perceive an angle, a point of vision, a partial aspect of the great fabric of truth, but all that lies hidden behind is occult to your three dimensional vision. It is necessary for those who want to act as true transmitters and intermediaries between the Knowers of the race and the “little ones” that they keep their eyes on the horizon and seek thus to extend their vision; that they hold steadily the inner realization that they already have and seek to increase its scope; that they hold on to the truth that all things are headed towards the revelation, and that the form matters not. They must seek pre-eminently to be dependable instruments, unswayed by passing storms. They must endeavor to remain free from depression, no matter what occurs; liberated from discouragement; with a keen sense of proportion; a right judgment in all things; a regulated life; a disciplined physical body and a whole-hearted devotion to humanity. Where these qualities are present, the Masters can begin to use Their destined workers; where they are absent, other instruments must be found.

Mỗi thế hệ bây giờ nên tạo ra những nhà tiên tri của mình. Tôi thích từ được đánh vần như là “người-nhìn-thấy”, vì nhìn thấy là biết. Lỗi của tất cả các bạn là các bạn không nhìn thấy; các bạn nhận thức được một góc độ, một điểm của tầm nhìn, một khía cạnh của tấm thảm chân lý vĩ đại, nhưng tất cả những gì ẩn giấu đằng sau đều huyền bí đối với tầm nhìn ba chiều của các bạn. Điều cần thiết cho những ai muốn hành động như những người truyền đạt và trung gian thực sự giữa các Thức giả của nhân loại và “những người bé nhỏ” là phải luôn giữ ánh mắt hướng về chân trời và tìm cách mở rộng tầm nhìn của mình; phải giữ vững nhận thức nội tại mà họ đã có và cố gắng gia tăng phạm vi của nó; phải nắm giữ chân lý rằng mọi sự đều hướng về sự mặc khải, và hình tướng không quan trọng. Họ phải cố gắng trở thành những công cụ đáng tin cậy, không bị dao động bởi những cơn bão thoáng qua. Họ phải cố gắng không bị trầm cảm, cho dù có chuyện gì xảy ra; thoát khỏi sự chán nản; với ý thức nhạy bén về tỷ lệ; phán đoán đúng đắn trong mọi việc; một cuộc sống điều độ; một cơ thể vật lý được rèn luyện kỷ luật và sự tận tâm hết lòng vì nhân loại. Nơi nào có những phẩm chất này, các Chân Sư có thể bắt đầu sử dụng những người làm việc được định sẵn của các Ngài; nơi nào thiếu, các Ngài phải tìm thấy các công cụ khác.

Some people learn at night and regularly bring over into their physical brain consciousness the facts they need to know and the teachings they should transmit. Many methods are tried, suited to the nature of the aspirant [177] or chela. Some have brains that act telepathically as transmitters. I deal with safer and rarer methods which utilize the mental vehicle as the intermediary between the soul and the brain, or between the teacher and the disciple. Methods of communication on the astral level, such as the ouija board, the planchette pencil, automatic writing, the direct voice and statements made by the temporarily obsessed medium are not utilized as a rule by chelas, though the direct voice has had its use at times. The higher mental methods are more advanced and surer—even if rarer.

Một số người học vào ban đêm và thường xuyên mang vào tâm thức não bộ vật lý của họ những sự thật họ cần biết và những lời dạy họ nên truyền tải. Nhiều phương pháp được thử nghiệm, phù hợp với bản chất của người chí nguyện [177] hoặc đệ tử. Một số người có bộ não hoạt động viễn cảm như những người truyền tải. Tôi đề cập đến các phương pháp an toàn hơn và hiếm hơn sử dụng thể trí làm trung gian giữa linh hồn và não bộ, hoặc giữa người thầy và đệ tử. Các phương pháp giao tiếp trên cõi cảm dục, chẳng hạn như bảng cầu cơ, bút tự động, viết tự động, giọng nói trực tiếp và những tuyên bố được đưa ra bởi những đồng tử tạm thời bị ám thường không được các đệ tử sử dụng, mặc dù giọng nói trực tiếp đôi khi đã được sử dụng. Các phương pháp trí tuệ cao hơn thì tiên tiến hơn và chắc chắn hơn — ngay cả khi hiếm hơn.

The true transmitters from the higher egoic levels to the physical plane proceed in one or other of the following ways:

Những người truyền tải chân thực từ các cấp độ Chân ngã cao đến cõi vật lý tiến hành theo một trong những cách sau:

1. They write from personal knowledge, and therefore employ their concrete minds at the task of stating this knowledge in terms that will reveal the truth to those that have the eyes to see, and yet will conceal that which is dangerous from the curious and the blind. This is a hard task to accomplish, for the concrete mind expresses the abstract most inadequately and, in the task of embodying the truth in words, much of the true significance is lost.

1. Họ viết từ kiến thức cá nhân, và do đó sử dụng trí cụ thể của họ vào nhiệm vụ trình bày kiến thức này bằng những thuật ngữ sẽ tiết lộ sự thật cho những người có mắt để nhìn, nhưng vẫn sẽ che giấu những gì nguy hiểm khỏi những người tò mò và mù quáng. Đây là một nhiệm vụ khó hoàn thành, vì trí cụ thể thể hiện cái trừu tượng một cách không đầy đủ nhất và, trong nhiệm vụ thể hiện chân lý bằng lời nói, phần lớn ý nghĩa thực sự bị mất đi.

2. They write because they are inspired. Because of their physical equipment, their purity of life, their singleness of purpose, their devotion to humanity and the very karma of service itself, they have developed the capacity to touch the higher sources from which pure truth, or symbolic truth, flows. They can tap thought currents that have been set in motion by that great band of Contemplators, called Nirmanakayas, or those definite, specialized thought currents originated by one of the great staff of teachers. Their brains, being receptive transmitters, enable them to express these contacted thoughts on paper—the accuracy of the transmission being dependent upon the receptivity of the instrument (that is, [178] the mind and the brain) of the transmitter. In these cases, the form of words and the sentences are largely left to the writer. Therefore, the appropriateness of the terms used and the correctness of the phraseology will depend upon his mental equipment, his educational advantages, the extent of his vocabulary and his inherent capacity to understand the nature and quality of the imparted thought and ideas.

Họ viết vì họ được truyền cảm hứng. Nhờ vào khả năng thể chất, sự trong sạch của đời sống, sự nhất tâm về mục đích, lòng tận tụy với nhân loại và chính nghiệp quả của sự phụng sự, họ đã phát triển khả năng chạm đến các nguồn cao cấp nơi mà chân lý thuần khiết hoặc chân lý biểu tượng tuôn chảy. Họ có thể khai thác các dòng tư tưởng đã được khởi động bởi nhóm lớn các Nhà Chiêm Nghiệm, được gọi là Nirmanakaya, hoặc những dòng tư tưởng đặc biệt, chuyên biệt do một trong những vị Huấn Sư lớn khởi tạo. Bộ não của họ, hoạt động như những thiết bị truyền đạt tiếp nhận, cho phép họ diễn đạt những tư tưởng tiếp nhận được trên giấy—độ chính xác của sự truyền tải tùy thuộc vào tính tiếp nhận của công cụ (tức là [178] trí tuệ và bộ não) của người truyền tải. Trong các trường hợp này, hình thức từ ngữ và câu cú phần lớn được để cho người viết quyết định. Vì vậy, sự thích hợp của các thuật ngữ được sử dụng và tính chính xác của cách diễn đạt sẽ phụ thuộc vào trình độ trí tuệ, lợi thế giáo dục, mức độ phong phú trong vốn từ vựng và khả năng bẩm sinh của người đó trong việc hiểu được bản chất và phẩm chất của các tư tưởng và ý tưởng được truyền đạt.

3. They write because of the development of the inner hearing. Their work is largely stenographic, yet is also partially dependent upon their standard of development and their education. A certain definite unfoldment of the centres, coupled with karmic availability, constitutes the basis of choice by the teacher on the subtler planes who seeks to impart a definite instruction and a specialized line of thought. The responsibility as to accuracy is therefore divided between the one who imparts the teaching and the transmitting agent. The physical plane agent must be carefully chosen and the accuracy of the imparted information, as expressed on the physical plane, will depend upon his willingness to be used, his positive mental polarization, and his freedom from astralism. To this must be added the fact that the better educated a man may be, the wider his range of knowledge and scope of world interests, the easier it will be for the teacher on the inner side to render, through his agency, the knowledge to be imparted. Frequently the dictated data may be entirely foreign to the receiver. He must have a certain amount, therefore, of education, and be himself a profound seeker of truth before he will be chosen to be the recipient of teachings that are intended for the general public or for esoteric use. Above everything else, he must have learnt through meditation to focus himself on the mental plane. Similarity of vibration and of interests hold the clue to the choice of a transmitter. [179] Note that I say; similarity of vibration and of interests and not equality of vibration and of interests.

Họ viết nhờ vào sự phát triển của khả năng nghe nội tại (nội nhĩ). Công việc của họ phần lớn mang tính chất tốc ký, nhưng cũng phần nào phụ thuộc vào tiêu chuẩn phát triển và trình độ học vấn của họ. Một sự khai mở nhất định của các trung tâm, kết hợp với sự khả dụng về nghiệp quả, tạo thành cơ sở để vị thầy trên các cõi tế vi chọn lựa, khi muốn truyền đạt một giáo huấn cụ thể và một dòng tư tưởng chuyên biệt. Do đó, trách nhiệm về tính chính xác được chia đều giữa người truyền đạt giáo huấn và người trung gian truyền tải. Người đại diện trên cõi trần phải được chọn lọc kỹ lưỡng, và độ chính xác của thông tin được truyền đạt, khi được diễn tả trên cõi trần, sẽ phụ thuộc vào sự sẵn sàng để được sử dụng, sự phân cực trí tuệ tích cực, và sự tự do khỏi chủ nghĩa cảm dục của họ. Thêm vào đó, người có trình độ học vấn cao hơn, phạm vi kiến thức rộng hơn và quan tâm sâu sắc hơn đến các vấn đề thế giới sẽ dễ dàng hơn để vị thầy ở phía bên trong truyền đạt kiến thức qua họ. Thông thường, các dữ liệu được truyền đạt có thể hoàn toàn xa lạ với người nhận. Do đó, họ cần có một trình độ học vấn nhất định, đồng thời là người tìm kiếm chân lý sâu sắc trước khi được chọn để tiếp nhận các giáo huấn dành cho công chúng hoặc sử dụng trong nội môn. Trên hết, họ phải học được thông qua tham thiền cách tập trung bản thân trên cõi trí. Sự tương đồng về rung động và sở thích là mấu chốt trong việc chọn lựa một người truyền tải. [179] Lưu ý rằng tôi nói: sự tương đồng về rung động và sở thích, chứ không phải sự đồng nhất về rung động và sở thích.

This form of work might be divided into three methods: There is first the higher clairaudience that speaks directly from mind to mind. This is not exactly telepathy but a form of direct hearing. The teacher will speak to the disciple as person to person. A conversation is therefore carried on entirely on mental levels with the higher faculties as the focusing point. The use of the head centres is involved and they must both be vivified before this method can be employed. In the astral body the centres corresponding to the physical have to be awakened before astral psychism is possible. The work that I refer to here involves a corresponding vivification in the mental body counterparts.

Hình thức công việc này có thể được chia thành ba phương pháp: Đầu tiên là thông nhĩ cao cấp, nói trực tiếp từ tâm trí này sang tâm trí khác. Đây không phải là viễn cảm, mà là một hình thức nghe trực tiếp. Vị thầy sẽ nói chuyện với đệ tử như giữa hai con người với nhau. Một cuộc đối thoại do đó được thực hiện hoàn toàn trên các cấp độ trí tuệ, với các năng lực cao cấp hơn làm điểm tập trung. Việc sử dụng các trung tâm ở vùng đầu được bao gồm và cả hai phải được hoạt hóa trước khi phương pháp này có thể được áp dụng. Trong thể cảm dục, các trung tâm tương ứng với các trung tâm thể xác phải được đánh thức trước khi các hiện tượng tâm linh cảm dục có thể xảy ra. Công việc mà tôi đề cập ở đây liên quan đến sự hoạt hóa tương ứng ở các phần đối ứng trong thể trí.

Secondly, we have telepathic communication. This is the registry in the physical brain consciousness of information imparted:

Thứ hai, chúng ta có giao tiếp viễn cảm. Đây là sự ghi nhận trong tâm thức não bộ vật lý về thông tin được truyền đạt:

a. Direct from Master to pupil; from disciple to disciple; from student to student.

a. Trực tiếp từ Chân Sư đến đệ tử; từ đệ tử này sang đệ tử khác; từ học viên này sang học viên khác.

b. From Master or disciple to the ego and thence to the personality, via the atomic sub-planes. You will note therefore that only those in whose bodies atomic sub-plane matter is found can work this way. Safety and accuracy lie in this equipment.

b. Từ Chân Sư hoặc đệ tử đến Chân ngã và từ đó đến phàm ngã, thông qua các cõi phụ nguyên tử. Do đó, bạn sẽ lưu ý rằng chỉ những người có vật chất cõi phụ nguyên tử trong các thể mới có thể làm việc theo cách này. Sự an toàn và chính xác nằm ở thiết bị này.

c. From ego to ego via the causal body and transmitted direct according to the preceding method or stored up to work through gradually and at need.

c. Từ Chân ngã này sang Chân ngã khác thông qua Thể nguyên nhân và được truyền trực tiếp theo phương pháp trước đó hoặc được lưu trữ để hoạt động dần dần và khi cần thiết.

Thirdly, we have inspiration. This involves another aspect of development. Inspiration is analogous to mediumship, but is entirely egoic. It utilizes the mind as the medium of transmission to the brain of that which the soul knows. Mediumship usually describes the process when confined entirely to the astral levels. On the egoic plane this involves inspiration. Ponder on this explanation for it explains much. Mediumship is dangerous. [180] Why is this so? Because the mental body is not involved and so the soul is not in control. The medium is an unconscious instrument, he is not himself the controlling factor; he is controlled. Frequently also the discarnate entities who employ this method of communication, utilizing the brain or voice apparatus of the medium, are not highly evolved, and are quite incapable of employing mental plane methods.

Thứ ba, chúng ta có cảm hứng. Điều này liên quan đến một khía cạnh khác của sự phát triển. Cảm hứng tương tự như sự giao tiếp đồng cốt, nhưng hoàn toàn thuộc về Chân ngã. Nó sử dụng thể trí làm phương tiện truyền tải đến não bộ những gì linh hồn biết. Thuật đồng cốt thường mô tả quá trình này khi bị giới hạn hoàn toàn ở các cõi cảm dục. Trên cõi Chân ngã, điều này liên quan đến cảm hứng. Suy ngẫm về lời giải thích này vì nó giải thích rất nhiều điều. Giao tiếp đồng cốt rất nguy hiểm. [180] Tại sao lại như vậy? Bởi vì thể trí không liên quan và do đó linh hồn không kiểm soát được. Đồng cốt là một công cụ vô ý thức, bản thân y không phải là yếu tố kiểm soát; y bị kiểm soát. Thông thường, các thực thể không còn xác thân sử dụng phương pháp giao tiếp này, sử dụng bộ não hoặc bộ máy giọng nói của đồng cốt, họ không tiến hóa cao và hoàn toàn không có khả năng sử dụng các phương pháp cõi trí.

Some people combine the method of inspiration and of receiving instruction along various lines and, when this is the case, great accuracy of transmission is found. Occasionally again, as in the case of H. P. B. you have deep knowledge, ability to be inspired and mental clairaudience combined. When this is the case you have a rare and useful instrument for the aiding of humanity.

Một số người kết hợp phương pháp cảm hứng và nhận được chỉ dẫn theo nhiều cách khác nhau và, khi đó, người ta thấy độ chính xác của việc truyền tải rất cao. Đôi khi một lần nữa, như trong trường hợp của H.P.B., bạn có kiến thức sâu sắc, khả năng được truyền cảm hứng và khả năng thông nhĩ trí tuệ kết hợp. Khi đó, bạn có một công cụ hiếm có và hữu ích để hỗ trợ nhân loại.

Inspiration originates on the higher levels; it presupposes a very high point in evolution, for it involves the egoic consciousness and necessitates the use of atomic matter, thus opening up a wide range of communicators. It spells safety. It should be remembered that the soul is always good; it may lack knowledge in the three worlds and in this way be deficient; but it harbors no evil. Inspiration is always safe, whereas mediumship is always to be avoided. Inspiration may involve telepathy, for the person inspiring may do three things:

Cảm hứng bắt nguồn từ các cấp độ cao hơn; nó giả định một điểm tiến hóa rất cao, vì nó liên quan đến tâm thức Chân ngã và đòi hỏi việc sử dụng vật chất nguyên tử, qua đó mở ra một phạm vi rộng lớn cho những người truyền đạt. Điều này mang lại sự an toàn. Cần nhớ rằng linh hồn luôn thiện lành; nó có thể thiếu tri thức trong ba cõi giới và theo cách này còn thiếu sót, nhưng nó không chứa điều ác. Cảm hứng luôn an toàn, trong khi đồng cốt luôn cần tránh xa. Cảm hứng có thể bao hàm viễn cảm, vì người truyền cảm hứng có thể thực hiện ba việc sau:

Webinar 42—Rule 5.7

a. He may use the brain of the appointed channel, throwing thoughts into it.

a. Ngài có thể sử dụng bộ não của kênh được chỉ định, đưa những tư tưởng vào đó.

b. He may occupy his disciple’s body, the latter standing aside, consciously, in his subtler bodies, but surrendering his physical body.

b. Ngài có thể chiếm giữ cơ thể của đệ tử mình, trong khi người đệ tử, một cách có ý thức, đứng sang một bên trong các thể vi tế hơn của y, nhưng dâng hiến thể xác của y.

c. A third method is one of a temporary fusing, if I might so call it, —an intermingling when the user and the used alternate or supplement, as needed, to do the appointed work. I cannot explain more clearly.

c. Phương pháp thứ ba là một trong những phương pháp hợp nhất tạm thời, nếu tôi có thể gọi như vậy, — một sự pha trộn khi người sử dụng và người được sử dụng thay thế hoặc bổ sung, khi cần thiết, để thực hiện công việc được chỉ định. Tôi không thể giải thích rõ ràng hơn.

4. They write what they see. This method is not of such a high order. You will note that in the first case [181] you have wisdom or availability on buddhic or intuitional levels; in the second case you have transmission from the causal body, from the higher mental levels; in the third case you have sufficient development to enable the aspirant to receive dictation.

4. Họ viết những gì họ thấy. Phương pháp này không thuộc cấp độ cao. Bạn sẽ nhận thấy rằng trong trường hợp đầu tiên, bạn có minh triết hoặc khả năng tiếp cận ở các cấp độ bồ-đề hoặc trực giác; trong trường hợp thứ hai, bạn có sự truyền tải từ thể nguyên nhân, từ các cấp độ thượng trí; trong trường hợp thứ ba, bạn có sự phát triển đủ để người chí nguyện có thể tiếp nhận sự đọc cho ghi chép.

In the fourth case, you have the ability to read in the astral light but frequently no ability to differentiate between that which is past, that which is, and that which will be. Therefore you have illusion and inaccuracy. This is a method, however, sometimes used but—unless directly used under stimulation applied by a Master—it is liable to be most misleading, as is its corollary, astral clairaudience. It is the method of mental clairvoyance, and requires a trained interpreting mind, which is rare indeed to find.

Trong trường hợp thứ tư, bạn có khả năng đọc trong ánh sáng cảm dục nhưng thường không có khả năng phân biệt giữa điều đã qua, điều hiện tại và điều sẽ đến. Do đó, có sự ảo tưởng và thiếu chính xác. Tuy nhiên, đây là một phương pháp đôi khi được sử dụng, nhưng—trừ khi được sử dụng trực tiếp dưới sự kích thích do một Chân sư áp dụng—nó dễ bị dẫn đến sai lệch nhất, giống như tương ứng của nó, là thông nhĩ cảm dục. Chính phương pháp của thông nhãn cõi trí, và yêu cầu một thể trí được huấn luyện để giải thích, điều thật hiếm gặp.

In all these cases that I have cited error may creep in owing to physical limitation and the handicap of words, but in the case of those who write from personal knowledge the errors in expression will be of no real moment; whilst in the second and third cases the errors will be dependent upon the point in evolution of the transmitting agent. If, however, he couples intelligence, devotion and service, with his capacity to receive and hear, he will soon correct the errors himself and his understanding will grow.

Trong tất cả các trường hợp mà tôi đã đề cập, sai lầm có thể xuất hiện do giới hạn vật lý và trở ngại của ngôn từ, nhưng trong trường hợp những người viết từ tri thức cá nhân, các sai sót trong diễn đạt sẽ không thực sự quan trọng; trong khi ở các trường hợp thứ hai và thứ ba, các sai sót sẽ phụ thuộc vào điểm tiến hóa của người truyền tải. Tuy nhiên, nếu người này kết hợp trí tuệ, lòng tận tụy và sự phụng sự với khả năng tiếp nhận và lắng nghe của mình, y sẽ sớm tự sửa chữa các sai sót và sự hiểu biết của y sẽ phát triển.

Later two new methods will be employed which will facilitate the transmission of truth from the inner side to the outer plane. Precipitated writing will be given to those who can be trusted, but the time is not yet for its general use. It will be necessary to wait until the work of the esoteric schools has reached a more definite phase of development. Conditions as yet are not appropriate, but humanity is urged to be ready and open-minded and prepared for this development. Later will come the power to materialize thought-forms. People will come into incarnation who will have the ability temporarily to create and vitalize these thought-forms, and [182] so enable the general public to see them. The time, however, is not yet. There is too much fear, and not enough experience of truth in the world. More knowledge must be acquired as to the nature of thought and of matter, and this must be followed experimentally by those with acute trained minds, a high rate of vibration, and bodies built of the finest matter. The attainment of this will involve discipline, pain, self-abnegation and abstinence. See you to it.

Sau này, hai phương pháp mới sẽ được sử dụng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc truyền tải chân lý từ nội giới ra cõi ngoài. Viết ngưng tụ sẽ được trao cho những người đáng tin cậy, nhưng thời điểm để sử dụng phổ biến phương pháp này vẫn chưa đến. Cần phải chờ đợi cho đến khi công việc của các trường phái huyền môn đạt đến một giai đoạn phát triển rõ ràng hơn. Hiện tại, các điều kiện vẫn chưa phù hợp, nhưng nhân loại được khuyến khích sẵn sàng, cởi mở và chuẩn bị cho sự phát triển này. Sau đó, sẽ đến giai đoạn năng lực làm hiện hình các hình tư tưởng. Sẽ có những người nhập thể với khả năng tạm thời tạo ra và tiếp sinh lực cho các hình tư tưởng này, từ đó giúp công chúng nói chung có thể nhìn thấy chúng. Tuy nhiên, thời điểm này vẫn chưa đến. Thế giới hiện tại còn quá nhiều nỗi sợ hãi và chưa đủ kinh nghiệm về chân lý. Cần có thêm tri thức về bản chất của tư tưởng và vật chất, và tri thức này phải được kiểm nghiệm thực nghiệm bởi những người có trí tuệ sắc bén, được huấn luyện kỹ càng, với tần số rung động cao và các thể được cấu thành từ vật chất tinh khiết nhất. Việc đạt được điều này đòi hỏi kỷ luật, đau khổ, sự từ bỏ bản thân và sự tiết chế. Hãy lưu ý đến điều này. (TWM 181-182)

The group of Teachers with whom the average aspirants and probationary disciples may be in touch on the mental plane are but men of like passions but with a longer experience upon the path and a wiser control of themselves. They do not work with aspirants because They personally like or care for them, but because the need is great and They seek those whom They can train. The attitude of mind that They look for is that of teachableness and the ability to record and refrain from questioning until more is known. Then the aspirant is urged to question everything. May I remind you of the words of one Teacher who said, “Know us for sane and balanced men who teach as we taught on earth, not flattering our pupils but disciplining them. We lead them on, not forcing them forward by feeding their ambitions by promises of power, but giving them information and leading them to use it in their work, knowing that right use of knowledge leads to experience and achievement of the goal.”

Nhóm các Huấn sư mà những người chí nguyện bình thường và các đệ tử dự bị có thể tiếp xúc trên cõi trí chỉ là những con người với cùng đam mê, nhưng có kinh nghiệm lâu dài hơn trên đường đạo và khả năng kiểm soát bản thân khôn ngoan hơn. Họ không làm việc với những người chí nguyện vì yêu mến hoặc quan tâm cá nhân đến họ, mà vì nhu cầu lớn lao và Họ tìm kiếm những người mà Họ có thể huấn luyện. Thái độ mà Họ mong muốn ở các học viên là sự dễ dạy và khả năng ghi nhận, đồng thời kiềm chế đặt câu hỏi cho đến khi hiểu biết thêm. Sau đó, người chí nguyện được khuyến khích đặt câu hỏi về mọi thứ. Tôi xin nhắc bạn về lời của một Huấn sư đã nói: “Hãy nhận biết chúng tôi là những con người sáng suốt và cân bằng, những người giảng dạy như chúng tôi từng dạy trên trần gian, không tâng bốc môn sinh mà rèn luyện họ. Chúng tôi dẫn dắt họ tiến lên, không ép buộc họ tiến bước bằng cách nuôi dưỡng tham vọng với những lời hứa về quyền lực, mà cung cấp cho họ thông tin và dẫn dắt họ sử dụng nó trong công việc của mình, biết rằng việc sử dụng đúng đắn tri thức sẽ dẫn đến kinh nghiệm và đạt được mục tiêu.”

How often does one find a student more occupied with the Master and what He will do than he is with his own side of the question! And yet the fitting of himself for service and the equipping of himself for useful cooperation is, or should be, his main preoccupation.

Người ta thường thấy một môn sinh bận tâm nhiều hơn đến Chân sư và những gì Ngài sẽ làm thay vì tập trung vào phần việc của chính mình biết bao! Tuy nhiên, việc chuẩn bị bản thân cho sự phụng sự và trang bị cho mình khả năng hợp tác hữu ích là, hoặc nên là, mối bận tâm chính của y.

Inquiry about the Master is more interesting than inquiry about the needed qualifications for discipleship. Interest for the data available in relation to the Adepts is more potent than the steadfast investigation into limitations [183] and disabilities which should engross the aspirant’s attention. Curiosity as to the habits and methods of specific Masters and Their ways of handling Their disciples is more prone to be displayed than patient application to right habits and ways of work in the life of the would-be disciple. All these matters are side issues and only handicap and limit, and one of the first things we advise one who would enter into communication with the Masters is to take his eyes off those things which concern him not, focus his attention on the needed steps and stages which should demonstrate in his life, and eliminate those wasted moments, moods and thought periods which so often occupy the major part of his thought life.

Việc tìm hiểu về Chân sư thường thú vị hơn là tìm hiểu về các phẩm chất cần thiết để trở thành một đệ tử. Sự quan tâm đến những thông tin có sẵn liên quan đến các Chân sư thường mạnh mẽ hơn sự điều tra kiên định vào những hạn chế và khiếm khuyết mà người chí nguyện nên chú ý. Sự tò mò về thói quen và phương pháp của các Chân sư cụ thể, cũng như cách họ hướng dẫn đệ tử, thường dễ bộc lộ hơn là sự kiên nhẫn áp dụng vào các thói quen và phương pháp đúng đắn trong đời sống của người muốn trở thành đệ tử. Tất cả những vấn đề này đều là những điều phụ và chỉ gây trở ngại và giới hạn. Một trong những điều đầu tiên chúng tôi khuyên những ai muốn kết nối với các Chân sư là hãy rời mắt khỏi những điều không liên quan đến mình, tập trung chú ý vào những bước và giai đoạn cần thiết cần được thể hiện trong đời sống của mình, đồng thời loại bỏ những khoảnh khắc lãng phí, những tâm trạng và những chuỗi suy nghĩ không cần thiết vốn thường chiếm phần lớn trong đời sống tư tưởng của y.

When a Master seeks to find those fitted to be instructed and taught by Him, He looks for three things first of all. Unless these are present, no amount of devotion or aspiration, and no purity of life and mode of living suffices. It is essential that all aspirants should grasp these three factors and so save themselves much distress of mind and wasted motion.

Khi Chân Sư tìm cách tìm kiếm những người phù hợp để được Ngài hướng dẫn và dạy dỗ, trước hết Ngài tìm kiếm ba điều. Trừ khi những điều này hiện diện, không có sự tận tâm hay khát vọng nào, và không có sự thuần khiết nào trong cuộc sống và cách sống là đủ. Điều cần thiết là tất cả những người chí nguyện phải nắm bắt được ba yếu tố này và do đó tự cứu mình khỏi nhiều đau khổ về tinh thần và chuyển động lãng phí.

1. The Master looks for the light in the head.

1. Chân Sư tìm kiếm ánh sáng trong đầu.

2. He investigates the karma of the aspirant.

2. Ngài điều tra nghiệp quả của người chí nguyện.

3. He notes his service in the world.

3. Ngài lưu ý đến sự phụng sự của y trên thế giới.

Unless there is indication that the man is what is termed esoterically “a lighted lamp” it is useless for the Master to waste His time. The light in the head, when present, is indicative of:

Trừ khi có dấu hiệu cho thấy người đó, theo nghĩa huyền môn, là “một ngọn đèn đã được thắp sáng,” nếu không, Chân sư sẽ không lãng phí thời gian của Ngài. Ánh sáng trong đầu, khi hiện hữu, là dấu hiệu của:

a. The functioning to a greater or less extent of the pineal gland, which is (as is well known) the seat of the soul and the organ of spiritual perception. It is in this gland that the first physiological changes take place incident upon soul contact and this contact is brought about through definite work along meditation lines, mind control, and the inflow of spiritual force. [184]

a. Sự hoạt động ở một mức độ nào đó của tuyến tùng, vốn (như được biết rõ) là trung tâm của linh hồn và cơ quan của nhận thức tinh thần. Trong tuyến này, những thay đổi sinh lý đầu tiên xảy ra do sự tiếp xúc với linh hồn, và sự tiếp xúc này được mang lại thông qua công việc cụ thể trong các phương pháp tham thiền, kiểm soát tâm trí và dòng chảy của lực tinh thần.

b. The aligning of the man on the physical plane with his ego, soul or higher self, on the mental plane and the subordination of the physical plane life and nature to the impress and control of the soul. This is covered sufficiently in the first two or three chapters of Letters on Occult Meditation and these should be studied by aspirants.

b. Sự chỉnh hợp của con người trên cõi trần với chân ngã, linh hồn hay chân ngã cao của y trên cõi trí, và sự phụ thuộc của đời sống và bản chất cõi trần vào sự ảnh hưởng và kiểm soát của linh hồn. Điều này được trình bày đủ rõ trong hai hoặc ba chương đầu tiên của Letters on Occult Meditation và cần được người chí nguyện nghiên cứu kỹ lưỡng.

c. The downflow of force via the sutratma, magnetic cord, or thread from the soul to the brain via the mind body. The whole secret of spiritual vision, correct perception and right contact lies in the proper appreciation of the above statement, and therefore the Yoga Sutras of Patanjali are ever the text-book of disciples, initiates and adepts, for therein are found those rules and methods which bring the mind under control, stabilize the astral body and so develop and strengthen the thread soul that it can and does become a veritable channel of communication between the man and his ego. The light of illumination streams down into the brain cavity and throws into objectivity three fields of knowledge. This is often forgotten and hence the undue distress and premature interpretations of the partially illuminated disciple or probationer.

c. Dòng chảy xuống của mãnh lực thông qua sutratma, sợi dây từ tính, hoặc tuyến nối từ linh hồn đến não qua thể trí. Toàn bộ bí mật của tầm nhìn tinh thần, nhận thức đúng đắn và sự tiếp xúc đúng nằm ở sự hiểu biết đúng đắn về tuyên bố trên, và do đó Yoga Sutras của Patanjali luôn là sách giáo khoa của các đệ tử, điểm đạo đồ và Chân sư, bởi vì trong đó chứa những quy tắc và phương pháp đưa tâm trí vào kiểm soát, ổn định thể cảm dục, và phát triển cũng như củng cố sợi dây linh hồn để nó có thể và thực sự trở thành một kênh giao tiếp thực sự giữa con người và chân ngã của y. Ánh sáng của sự soi sáng chảy xuống trong khoang não và làm hiện rõ ba lĩnh vực tri thức. Điều này thường bị lãng quên, do đó gây ra sự phiền não quá mức và những diễn giải sớm không chính xác của người đệ tử hoặc người dự bị chỉ mới được soi sáng một phần. TWM 183-184

Webinar 43—Rule 5.8

c. The downflow of force via the sutratma, magnetic cord, or thread from the soul to the brain via the mind body. The whole secret of spiritual vision, correct perception and right contact lies in the proper appreciation of the above statement, and therefore the Yoga Sutras of Patanjali are ever the text-book of disciples, initiates and adepts, for therein are found those rules and methods which bring the mind under control, stabilize the astral body and so develop and strengthen the thread soul that it can and does become a veritable channel of communication between the man and his ego. The light of illumination streams down into the brain cavity and throws into objectivity three fields of knowledge. This is often forgotten and hence the undue distress and premature interpretations of the partially illuminated disciple or probationer.

c. Dòng chảy xuống của mãnh lực thông qua sutratma, sợi dây từ tính, hoặc tuyến nối từ linh hồn đến não qua thể trí. Toàn bộ bí mật của tầm nhìn tinh thần, nhận thức đúng đắn và sự tiếp xúc đúng nằm ở sự hiểu biết đúng đắn về tuyên bố trên, và do đó Yoga Sutras của Patanjali luôn là sách giáo khoa của các đệ tử, điểm đạo đồ và Chân sư, bởi vì trong đó chứa những quy tắc và phương pháp đưa tâm trí vào kiểm soát, ổn định thể cảm dục, và phát triển cũng như củng cố sợi dây linh hồn để nó có thể và thực sự trở thành một kênh giao tiếp thực sự giữa con người và chân ngã của y. Ánh sáng của sự soi sáng chảy xuống trong khoang não và làm hiện rõ ba lĩnh vực tri thức. Điều này thường bị lãng quên, do đó gây ra sự phiền não quá mức và những diễn giải sớm không chính xác của người đệ tử hoặc người dự bị chỉ mới được soi sáng một phần. TWM 183-184

The light first throws into relief and brings into the foreground of consciousness those thought-forms and entities which depict the lower life, and which (in their aggregate) form the Dweller on the Threshold.

Ánh sáng trước tiên làm nổi bật và đưa lên bề mặt tâm thức những hình tư tưởng và thực thể biểu thị đời sống thấp kém, và những điều này (khi được hợp nhất) hình thành nên Kẻ Chận Ngõ.

Thus the first thing of which the aspirant becomes aware is that which he knows to be undesirable and the revelation of his own unworthiness and limitations, and the undesirable constituents of his own aura burst on his vision. The darkness which is in him is intensified by the light which glimmers faintly from the centre of his being and frequently he despairs of himself and descends into the depths of depression. All mystics bear witness to this and it is a period which must be [185] lived through until the pure light of day drives all shadows and darkness away and little by little the life is brightened and lightened until the sun in the head is shining in all its glory.

Do đó, điều đầu tiên mà người chí nguyện nhận thức được là những gì y biết là không mong muốn và sự mặc khải về sự không xứng đáng và hạn chế của chính mình, và những thành phần không mong muốn của hào quang của chính y bùng nổ trong tầm nhìn của y. Bóng tối bên trong y được tăng cường bởi ánh sáng le lói mờ nhạt từ trung tâm con người y, và thường thì y tuyệt vọng về bản thân và rơi vào vực sâu của trầm cảm. Tất cả các nhà thần bí đều làm chứng cho điều này và đó là giai đoạn mà người ta phải [185] sống cho đến khi ánh sáng thuần khiết của ban ngày xua tan mọi bóng tối và bóng tối và từng chút một cuộc sống được soi sáng và sáng sủa cho đến khi mặt trời trong đầu tỏa sáng trong tất cả vinh quang của nó.

d. Finally, the light in the head is indicative of the finding of the Path and there remains then for the man to study and understand the technique whereby the light is centralized, intensified, entered and eventually becomes that magnetic line (like unto a spider’s thread) which can be followed back until the source of the lower manifestation is reached and the soul consciousness is entered. The above language is symbolic and yet vitally accurate but is expressed thus in order to convey information to those who know, and protect those who as yet know not.

d. Cuối cùng, ánh sáng trong đầu là dấu hiệu của việc tìm thấy Thánh đạo, và lúc đó, người ấy cần học hỏi và hiểu rõ kỹ thuật mà qua đó ánh sáng được tập trung, tăng cường, đi vào và cuối cùng trở thành tuyến từ tính (giống như sợi tơ của nhện), có thể được lần theo ngược lại cho đến khi nguồn của sự biểu hiện thấp được tiếp cận và tâm thức linh hồn được đi vào. Ngôn ngữ trên mang tính biểu tượng nhưng lại cực kỳ chính xác, được diễn đạt như vậy để truyền đạt thông tin cho những ai đã biết, đồng thời bảo vệ những người chưa biết.

“The path of the just is as a shining Light” and yet at the same time a man has to become that path itself. He enters the light and becomes the light and functions then as a lamp set in a dark place, carrying illumination to others and lighting the way before them.

“Con đường của người công chính giống như một ánh sáng rực rỡ,” nhưng đồng thời, con người phải trở thành chính con đường đó. Y bước vào ánh sáng, trở thành ánh sáng, và sau đó hoạt động như một ngọn đèn đặt trong nơi tối tăm, mang sự soi sáng đến cho người khác và chiếu sáng con đường phía trước họ.

The next point that a Master has to consider before admitting a man into His group is whether or no such a step is karmically possible or whether there exist in a man’s record those conditions which negate his admission in this life.

Điểm tiếp theo mà một Chân sư phải cân nhắc trước khi cho phép một người gia nhập nhóm của Ngài là liệu bước đi đó có thể xảy ra về mặt nghiệp quả hay không, hoặc liệu có tồn tại trong hồ sơ nghiệp quả của người đó những điều kiện ngăn cản sự gia nhập trong kiếp sống này.

There are three main factors to be considered separately and in their relation to each other.

Có ba yếu tố chính cần được xem xét riêng biệt và trong mối quan hệ của chúng với nhau.

First, are there such karmic obligations in a man’s present life as would render it impossible for him to function as a disciple? In this connection it must be carefully borne in mind that a man can become a disciple and merit the attention of a Master only when his life counts for something in the world of men, when he is an influence in his sphere, and when he is moulding and acting upon the minds and hearts of other men.

Đầu tiên, có những nghĩa vụ nghiệp quả nào trong cuộc sống hiện tại của một người khiến y không thể hoạt động như một đệ tử hay không? Về vấn đề này, cần phải cẩn thận ghi nhớ rằng một người chỉ có thể trở thành đệ tử và xứng đáng nhận được sự quan tâm của Chân Sư khi cuộc sống của y có giá trị đối với thế giới loài người, khi y có ảnh hưởng trong lĩnh vực của mình, và khi y đang uốn nắn và tác động đến tâm trí và trái tim của những người khác.

Until that is the case it is waste of a Master’s time to [186] personally deal with him, for he can be adequately helped in other ways and has, for instance, much knowledge from books and teachers which is as yet theory and not practice, and much experience to pass through under the guidance of his own ego, the Master in his heart. When a man is a disciple he is one because he can be used for working out the plan of the Hierarchy, and can be influenced to materialize those endeavours which are planned to enable humanity to make the needed forward steps. This involves (in his physical plane life) time, and thought, right circumstance, and other considerations and it is quite possible for a man to have reached the stage from the character standpoint, where he merits the recognition of a Master, and yet have obligations and duties to work through which would handicap him for active service in some particular life. This the Master has to consider and this a man’s own ego also considers.

Cho đến khi điều đó xảy ra, việc một Chân sư đích thân xử lý người ấy chỉ là lãng phí thời gian [ 186 ] , bởi y có thể được hỗ trợ đầy đủ theo những cách khác, chẳng hạn như qua kiến thức từ sách vở và các giáo viên, những điều mà hiện tại vẫn chỉ là lý thuyết chứ chưa trở thành thực hành, và còn nhiều kinh nghiệm mà y phải trải qua dưới sự hướng dẫn của chân ngã của chính mình, vị Chân sư trong tâm y.

Khi một người trở thành đệ tử, y đạt được điều đó bởi vì y có thể được sử dụng để thực hiện Thiên Cơ của Thánh đoàn và có thể được ảnh hưởng để hiện thực hóa những nỗ lực đã được hoạch định nhằm giúp nhân loại tiến lên những bước cần thiết. Điều này đòi hỏi, trong đời sống trên cõi trần của y, thời gian, sự suy xét, hoàn cảnh đúng đắn và các yếu tố khác. Hoàn toàn có khả năng một người đã đạt đến giai đoạn về mặt phẩm cách mà y xứng đáng được Chân sư công nhận, nhưng vẫn có những nghĩa vụ và trách nhiệm mà y phải thực hiện, điều có thể gây trở ngại cho sự phụng sự tích cực trong một kiếp sống cụ thể nào đó. Đây là điều mà Chân sư phải cân nhắc, và cũng là điều mà chân ngã của y xem xét.

The result quite frequently at this time is that (perhaps unconsciously to the physical brain) a man will shoulder a great amount of experience, and undertake the working out of an abnormal amount of responsibility in one particular life, in order to free himself for service and chelaship in a later life. He works then at the equipping of himself for the next life, and at the patient performance of duty in his home, his circle of friends, and his business. He realises that from the egoic standpoint one life is but a short matter and soon gone and that by study, intelligent activity, loving service, and patient endurance, he is working out of those conditions which are preventing his prompt acceptance in a Master’s group.

Kết quả thường xảy ra vào thời điểm này là một người (có lẽ không ý thức được ở bộ não vật lý) sẽ gánh vác một lượng lớn kinh nghiệm và đảm nhận việc giải quyết một số lượng trách nhiệm bất thường trong một kiếp sống cụ thể, nhằm giải phóng bản thân để phục vụ và trở thành đệ tử trong một kiếp sống sau. Lúc đó, y làm việc để trang bị cho chính mình cho kiếp sau, đồng thời kiên nhẫn thực hiện bổn phận trong gia đình, với bạn bè và trong công việc kinh doanh của mình. Y nhận ra rằng, từ quan điểm của chân ngã, một kiếp sống chỉ là một vấn đề ngắn ngủi và nhanh chóng trôi qua, và rằng qua việc học tập, hoạt động trí tuệ thông minh, sự phụng sự yêu thương và sự chịu đựng kiên nhẫn, y đang làm việc để thoát khỏi những điều kiện đang ngăn cản sự chấp nhận nhanh chóng của y vào nhóm của một Chân sư.

A Master also studies the condition of an aspirant’s physical body and of the subtler bodies to see whether in them are to be found states of consciousness which would hinder usefulness and act as obstacles. These conditions are likewise karmic and must be adjusted before his admission among other chelas becomes possible. A sick [187] physical body, an astral body prone to moods, emotions and psychic delusions, and a mental body uncontrolled or ill-equipped are all dangerous to the student unless straightened out and perfected. A chela is subjected constantly to the play of force coming to him from three main sources:

Một Chân sư cũng nghiên cứu tình trạng thể xác của người chí nguyện và các thể vi tế của y để xem liệu trong đó có tồn tại các trạng thái tâm thức nào có thể cản trở sự hữu ích và gây ra trở ngại hay không. Những tình trạng này cũng là nghiệp quả và phải được điều chỉnh trước khi việc y gia nhập cùng các đệ tử khác trở nên khả thi. Một thể xác ốm yếu, một thể cảm xúc dễ bị chi phối bởi tâm trạng, cảm xúc và ảo tưởng tâm linh, và một thể trí không được kiểm soát hoặc không được trang bị tốt đều là những yếu tố nguy hiểm cho người học, trừ khi chúng được sửa chữa và hoàn thiện. Một đệ tử liên tục phải chịu sự tác động của các mãnh lực đến từ ba nguồn chính:

1. His own ego,

1. Chân ngã của y,

2. His Master,

2. Chân sư của y,

3. The group of co-disciples,

3. Nhóm các đồng đệ tử,

and unless he is strong, purified and controlled, these forces will serve but to stimulate undesirable conditions, to foster that which should be eliminated and to bring to the surface all the hidden weaknesses. That this has to be done inevitably is so, but much must be done along this line before admission into a group of disciples; otherwise much of the Master’s valuable time will perforce be given to the elimination and nullifying of the effects of the chela’s violent reactions on other chelas in the same group. It is better to wait and work gradually and intelligently oneself than force one’s way unprepared into lines of forces before one can handle either them or their consequences.

Và trừ khi y mạnh mẽ, được thanh lọc và kiểm soát, những mãnh lực này chỉ có tác dụng kích thích các điều kiện không mong muốn, nuôi dưỡng những gì cần được loại bỏ và đưa ra bề mặt tất cả những điểm yếu tiềm ẩn. Việc này tất nhiên phải được thực hiện, nhưng cần hoàn thành nhiều điều theo hướng này trước khi được gia nhập vào một nhóm đệ tử; nếu không, phần lớn thời gian quý báu của Chân sư sẽ bị buộc phải dành để loại bỏ và hóa giải những tác động từ các phản ứng dữ dội của đệ tử lên các đệ tử khác trong cùng nhóm. Tốt hơn là chờ đợi và tự mình làm việc một cách dần dần và thông minh hơn là vội vàng tiến vào các dòng mãnh lực khi chưa chuẩn bị, trước khi có thể xử lý chúng hoặc các hậu quả của chúng.

The Rules of the Road

Another factor that an adept has to consider is whether there are in incarnation those chelas with whom a man has to work and who are karmically linked to him by ancient ties and old familiarity in similar work.

Một yếu tố khác mà một Chân sư phải cân nhắc là liệu có những đệ tử khác đang trong giai đoạn nhập thế mà một người phải làm việc cùng, những người có liên kết nghiệp quả với y thông qua các mối quan hệ cổ xưa và sự quen thuộc từ những công việc tương tự trong quá khứ.

Sometimes it may be deemed wiser for a man to wait a little while before being permitted to step off the physical path until a life comes in which his own co-workers, keyed to his vibration, and accustomed to work with him, are also in physical bodies, for a Master’s group is entered in service to be rendered and specific work to be done, and not because a man is to receive a cultural training which will make him an adept some day. Chelas train themselves and when ready for any work a Master uses [188] them. They develop themselves and work out their own salvation and as step by step is taken their particular Master lays more and more responsibility upon them. He will train them in service technique, and in vibratory response to the Plan, but they learn to control themselves and to fit themselves for service.

Đôi khi, có thể được cho là khôn ngoan hơn nếu một người đợi thêm một thời gian trước khi được phép rời khỏi con đường trần thế, cho đến khi một kiếp sống xuất hiện mà trong đó những cộng sự của y, hòa hợp với rung động của y và quen thuộc với việc làm việc cùng y, cũng đang có mặt trong các thể xác. Bởi vì một nhóm của Chân sư được gia nhập để phụng sự và thực hiện công việc cụ thể, chứ không phải để một người nhận được sự huấn luyện văn hóa nhằm trở thành một điểm đạo đồ trong tương lai. Các đệ tử tự rèn luyện chính mình, và khi họ sẵn sàng cho bất kỳ công việc nào, một Chân sư sẽ sử dụng [ 188 ] họ. Họ tự phát triển bản thân và tự giải thoát mình, và từng bước một, vị Chân sư của họ giao phó ngày càng nhiều trách nhiệm hơn cho họ. Ngài sẽ huấn luyện họ về kỹ thuật phụng sự và về sự đáp ứng rung động đối với Thiên Cơ, nhưng họ phải tự học cách kiểm soát bản thân và tự chuẩn bị mình cho sự phụng sự.

There are other karmic factors to be considered by a Master but these are the three paramount ones and of the most importance for aspirants to consider now. They are specified so that no true and earnest worker need be depressed and discouraged if he has no conscious link with the Master and is unaware of any affiliation with an esoteric group of chelas. It may not be because he is not fit. It may simply be because his ego has chosen this life to clear the decks for later action, to eliminate hindrances in one or other, or all of the three lower bodies, or to wait for that time when his admission may count the most.

Có những yếu tố nghiệp quả khác mà một Chân sư phải cân nhắc, nhưng đây là ba yếu tố quan trọng nhất và là điều quan trọng nhất để người chí nguyện xem xét ngay bây giờ. Chúng được chỉ rõ để không một người lao động chân chính và nghiêm túc nào cần phải chán nản hoặc nản lòng nếu y không có liên kết ý thức với Chân sư và không nhận biết được bất kỳ mối liên hệ nào với một nhóm đệ tử nội môn. Điều này có thể không phải vì y không đủ năng lực. Đơn giản, có thể là vì chân ngã của y đã chọn kiếp sống này để dọn dẹp những chướng ngại cho hành động sau này, loại bỏ các trở ngại trong một hoặc tất cả ba thể thấp, hoặc để chờ đợi thời điểm mà sự gia nhập của y sẽ mang lại giá trị lớn nhất.

The third factor, that of service, for which the Master looks is one upon which the aspirant has the least to say and may very probably misinterpret. Spiritual ambition, the desire to function as the centre of a group, the longing to hear oneself speaking, teaching, lecturing, or writing are often wrongly interpreted by the aspirant as service. The Master looks not at a worker’s worldly force or status, not at the numbers of people who are gathered around his personality but at the motives which prompt his activity and at the effect of his influence upon his fellowmen. True service is the spontaneous outflow of a loving heart and an intelligent mind; it is the result of being in the right place and staying there; it is produced by the inevitable inflow of spiritual force and not by strenuous physical plane activity; it is the effect of a man’s being what he truly is, a divine Son of God, and not by the studied effect of his words or deeds. A true server gathers around him those whom it is his duty to serve [189] and aid by the force of his life and his spiritualised personality, and not by his claims or loud speaking. In self-forgetfulness he serves; in self-abnegation he walks the earth, and he gives no thought to the magnitude or the reverse of his accomplishment and has no pre-conceived ideas as to his own value or usefulness. He lives, serves, works and influences, asking nothing for the separated self.

Yếu tố thứ ba, yếu tố về sự phụng sự, là điều mà Chân sư tìm kiếm và cũng là điều mà người chí nguyện ít có khả năng hiểu đúng nhất, và rất có thể sẽ diễn giải sai. Tham vọng tinh thần, khao khát trở thành trung tâm của một nhóm, mong muốn được nghe chính mình nói, giảng dạy, thuyết trình, hoặc viết lách thường được người chí nguyện hiểu lầm là sự phụng sự. Chân sư không nhìn vào sức mạnh hay vị thế thế gian của một người lao động, không nhìn vào số lượng người tụ họp xung quanh phàm ngã của y, mà nhìn vào các động cơ thúc đẩy hoạt động của y và tác động của ảnh hưởng của y lên những người đồng hành. Sự phụng sự chân chính là dòng chảy tự nhiên từ một trái tim yêu thương và một trí tuệ sáng suốt; đó là kết quả của việc ở đúng nơi và ở lại đó; nó được tạo ra bởi dòng chảy tất yếu của mãnh lực tinh thần, chứ không phải bởi các hoạt động vất vả trên cõi trần; nó là kết quả của việc một người sống đúng với bản chất thật sự của mình – một người con thiêng liêng của Thượng đế – chứ không phải bởi các tác động được tính toán từ lời nói hay hành động của y. Một người phụng sự chân chính thu hút xung quanh mình những người mà y có nhiệm vụ phục vụ [ 189 ] và hỗ trợ thông qua sức mạnh của đời sống và nhân cách đã được tinh thần hóa của y, chứ không phải qua các tuyên bố hay lời nói khoa trương của y. Trong sự quên mình, y phụng sự; trong sự hy sinh bản thân, y bước đi trên trần gian, và y không bận tâm đến quy mô hay sự nhỏ bé của thành tựu của mình, cũng không có những ý tưởng định trước về giá trị hay sự hữu ích của bản thân. Y sống, phụng sự, làm việc và tạo ảnh hưởng mà không đòi hỏi điều gì cho cái tôi tách biệt của mình.

Webinar 44—Rule 5.9

The third factor, that of service, for which the Master looks is one upon which the aspirant has the least to say and may very probably misinterpret. Spiritual ambition, the desire to function as the centre of a group, the longing to hear oneself speaking, teaching, lecturing, or writing are often wrongly interpreted by the aspirant as service. The Master looks not at a worker’s worldly force or status, not at the numbers of people who are gathered around his personality but at the motives which prompt his activity and at the effect of his influence upon his fellowmen. True service is the spontaneous outflow of a loving heart and an intelligent mind; it is the result of being in the right place and staying there; it is produced by the inevitable inflow of spiritual force and not by strenuous physical plane activity; it is the effect of a man’s being what he truly is, a divine Son of God, and not by the studied effect of his words or deeds. A true server gathers around him those whom it is his duty to serve [189] and aid by the force of his life and his spiritualised personality, and not by his claims or loud speaking. In self-forgetfulness he serves; in self-abnegation he walks the earth, and he gives no thought to the magnitude or the reverse of his accomplishment and has no pre-conceived ideas as to his own value or usefulness. He lives, serves, works and influences, asking nothing for the separated self.

Yếu tố thứ ba, yếu tố về sự phụng sự, là điều mà Chân sư tìm kiếm và cũng là điều mà người chí nguyện ít có khả năng hiểu đúng nhất, và rất có thể sẽ diễn giải sai. Tham vọng tinh thần, khao khát trở thành trung tâm của một nhóm, mong muốn được nghe chính mình nói, giảng dạy, thuyết trình, hoặc viết lách thường được người chí nguyện hiểu lầm là sự phụng sự. Chân sư không nhìn vào sức mạnh hay vị thế thế gian của một người lao động, không nhìn vào số lượng người tụ họp xung quanh phàm ngã của y, mà nhìn vào các động cơ thúc đẩy hoạt động của y và tác động của ảnh hưởng của y lên những người đồng hành. Sự phụng sự chân chính là dòng chảy tự nhiên từ một trái tim yêu thương và một trí tuệ sáng suốt; đó là kết quả của việc ở đúng nơi và ở lại đó; nó được tạo ra bởi dòng chảy tất yếu của mãnh lực tinh thần, chứ không phải bởi các hoạt động vất vả trên cõi trần; nó là kết quả của việc một người sống đúng với bản chất thật sự của mình – một người con thiêng liêng của Thượng đế – chứ không phải bởi các tác động được tính toán từ lời nói hay hành động của y. Một người phụng sự chân chính thu hút xung quanh mình những người mà y có nhiệm vụ phục vụ [ 189 ] và hỗ trợ thông qua sức mạnh của đời sống và nhân cách đã được tinh thần hóa của y, chứ không phải qua các tuyên bố hay lời nói khoa trương của y. Trong sự quên mình, y phụng sự; trong sự hy sinh bản thân, y bước đi trên trần gian, và y không bận tâm đến quy mô hay sự nhỏ bé của thành tựu của mình, cũng không có những ý tưởng định trước về giá trị hay sự hữu ích của bản thân. Y sống, phụng sự, làm việc và tạo ảnh hưởng mà không đòi hỏi điều gì cho cái tôi tách biệt của mình.

When a Master sees this manifestation in a man’s life, as the result of the awakening of the inner light and the adjustment of his karmic obligations, then He sounds out a note and waits to see if the man recognises his own group note. On this recognition, he is admitted into his own group of co-workers, and can stand in the presence of his Master.

Khi một Chân sư thấy biểu hiện này trong cuộc sống của một người như là kết quả của sự tỉnh thức của ánh sáng nội tại và sự điều chỉnh các nghĩa vụ nghiệp quả của y, thì Ngài phát ra một nốt và chờ đợi để xem liệu người đó có nhận ra nốt của nhóm mình hay không. Trên cơ sở sự nhận biết này, y được gia nhập vào nhóm các đồng sự của mình và có thể đứng trước sự hiện diện của Chân sư của mình.

Heart, Throat and Eye

Tim, Cổ Họng và Mắt

Later, when the knowledge here conveyed is assimilated, the aspirant will come to an understanding of the true meaning of the heart, the throat, and the eye—which it is the object of the Guides of the race to stimulate into functioning activity at this time. We will therefore consider now:

Sau này, khi kiến thức được truyền đạt ở đây được hấp thụ, người chí nguyện sẽ hiểu được ý nghĩa thực sự của tim, cổ họng, và mắt—mà hiện nay các Đấng Hướng Dẫn của nhân loại đang tìm cách kích hoạt để đưa vào hoạt động. Vì vậy, chúng ta sẽ xem xét:

1. The heart centre, the throat centre, and the centre between the eyes.

1. Trung tâm tim, trung tâm cổ họng, và trung tâm giữa hai mắt.

2. Their awakening and co-ordination.

2. Sự thức tỉnh và phối hợp của chúng.

3. To what uses they will be put in the coming world cycle.

3. Những mục đích mà chúng sẽ được sử dụng trong chu kỳ thế giới sắp tới.

This subject is of vital importance to the modern aspirant, for the mechanism of the heart, the throat, and the eye—constituting part of the inner structure which he must learn to use—has to be mastered and consciously employed by him before any true creative work is possible. When I use the words ‘creative work’ I am speaking esoterically and am not referring to the valuable work [190] done by the artists of the world in their many lines of expression. Their efforts, to the seer, are indicative of an inner stirring, of an inner co-ordination and a motivated activity which will lead to true esoteric endeavour and to creative work on the subtler planes.

Chủ đề này có tầm quan trọng thiết yếu đối với người chí nguyện hiện đại, vì cơ chế của trái tim, cổ họng, và mắt—một phần cấu trúc nội tại mà y phải học cách sử dụng—phải được y làm chủ và sử dụng một cách có ý thức trước khi bất kỳ công việc sáng tạo thực sự nào trở nên khả thi. Khi tôi sử dụng cụm từ “công việc sáng tạo,” tôi đang nói theo cách huyền bí và không đề cập đến công việc quý giá [190] được thực hiện bởi các nghệ sĩ trên thế giới trong nhiều hình thức biểu đạt của họ. Những nỗ lực của họ, đối với người có khả năng thấy biết, chỉ ra sự khuấy động bên trong, sự phối hợp nội tại và một hoạt động có định hướng, điều này sẽ dẫn đến sự nỗ lực huyền bí thực sự và công việc sáng tạo trên các cõi tinh tế hơn.

I am assuming in the student an elementary knowledge of the vital body and of its force centres and I am assuming that these seven centres or lotuses have, theoretically, a place in his imagination. I use the word imagination with purposeful intent, for until there is knowledge and clear vision, imaginative assumption is a potent factor in bringing about the activity of the centres.

Tôi giả định rằng người học đã có kiến thức sơ đẳng về thể sinh lực và các trung tâm lực của nó, và tôi giả định rằng bảy trung tâm hay hoa sen này, trên lý thuyết, có một vị trí trong trí tưởng tượng của y. Tôi sử dụng từ “trí tưởng tượng” với mục đích rõ ràng, vì cho đến khi có tri thức và tầm nhìn rõ ràng, sự giả định mang tính tưởng tượng là một yếu tố mạnh mẽ trong việc kích hoạt hoạt động của các trung tâm.

Let us, for the sake of clarity, list these lotuses with their petal numbers, and their location. Their colours are immaterial at present from the standpoint of the student, for much that has been given out is erroneous or in the nature of a blind, and in any case, the esoteric colours are widely different from the exoteric.

Vì mục đích rõ ràng, chúng ta hãy liệt kê các hoa sen này cùng với số lượng cánh hoa và vị trí của chúng. Hiện tại, màu sắc của chúng không quan trọng từ quan điểm của người học, vì nhiều điều đã được công bố là sai lầm hoặc mang tính chất ẩn dụ, và dù sao đi nữa, các màu sắc huyền môn thường khác biệt đáng kể so với các màu sắc ngoại môn.

1. The base of the spine…………..4 petals.

1. Trung tâm đáy cột sống……..4 cánh hoa.

2. The sacral centre…………………6 petals.

2. Trung tâm xương cùng………..6 cánh hoa.

3. The solar plexus centre………..10 petals.

3. Trung tâm tùng thái dương…10 cánh hoa.

Diaphragm.

Cơ hoành.

4. Heart centre………………………..12 petals.

4. Trung tâm tim………………………12 cánh hoa.

5. Throat centre………………………16 petals.

5. Trung tâm cổ họng………………..16 cánh hoa.

6. Centre between the eyebrows..2 petals.

6. Trung tâm giữa lông mày……….2 cánh hoa.

7. Head centre…………………………1000 petals.

7. Trung tâm đầu………………………1000 cánh hoa.

Next, let the student remember two important facts, which may be regarded as elementary and preliminary but which nevertheless have to be worked out into conscious realisation and become part of the purposed intent of the aspirant’s training. It is easy to generalise. It is difficult to realise. It is simple to grasp the informative intellectual data regarding the centres of force; it is most difficult to bring about the rearrangement of the forces flowing through these vortices, and to learn to function consciously through the higher centres, subordinating the [191] lower ones. This has to be done also without laying the emphasis upon the form aspect as is the case in many practices used to vitalise the centres. The two facts of importance are:

Tiếp theo, người học cần ghi nhớ hai sự thật quan trọng, có thể được coi là cơ bản và sơ khởi, nhưng vẫn cần được thực hành để đạt tới sự nhận thức có ý thức và trở thành một phần trong mục đích đào luyện của người chí nguyện. Tổng quát hóa là điều dễ dàng. Hiện thực hóa lại khó khăn. Hiểu biết các dữ liệu tri thức về các trung tâm lực là đơn giản; nhưng việc tái sắp xếp các mãnh lực lưu chuyển qua các xoáy lực này và học cách vận hành một cách có ý thức thông qua các trung tâm cao hơn, đồng thời đặt các trung tâm thấp hơn [191] vào trạng thái phụ thuộc, lại là điều cực kỳ khó khăn. Việc này cũng cần được thực hiện mà không nhấn mạnh đến khía cạnh hình tướng, như trong nhiều phương pháp thực hành nhằm kích hoạt các trung tâm. Hai sự thật quan trọng là:

1. The three centres below the diaphragm,

1. Ba trung tâm dưới cơ hoành:

a. Base of spine,

a. Trung tâm đáy cột sống,

b. Sacral centre,

b. Trung tâm xương cùng,

c. Solar plexus centre,

c. Trung tâm tùng thái dương,

which are, at present, the most potent in average humanity and the most ‘alive’, require to be re-organised, re-oriented, and to be brought from a state of positivity into that of negativity.

những trung tâm này hiện tại là những trung tâm mạnh nhất ở nhân loại trung bình và “sống động” nhất, cần được tái tổ chức, tái định hướng và chuyển từ trạng thái dương sang trạng thái âm.

Equally, the four centres above the diaphragm,

Tương tự, bốn trung tâm trên cơ hoành:

a. The heart centre,

a. Trung tâm tim,

b. The throat centre,

b. Trung tâm cổ họng,

c. The centre between the eyebrows,

c. Trung tâm giữa lông mày,

d. The head centre,

d. Trung tâm đầu,

must be awakened and brought from a state of negativity into that of positivity.

phải được đánh thức và chuyển từ trạng thái âm sang trạng thái dương.

This has to be brought about in two ways. First, by the transference of the positive energy of the lower centres into that of the higher, and secondly by the awakening of the head centre by the demonstration of the activity of the will. The first effect is produced by character building, and by the purification of the bodies, as used by the soul in the three worlds. The second is the result of meditation and the development of organised purpose, imposed by the will upon the daily life. Character building, clean living, controlled emotional reactions, and right thinking are the platitudes of all religious systems and have lost weight from our very familiarity with them. It is not easy to remember that as we live purely and rightly, we are verily and indeed working with forces, subjecting energies to our needs, subordinating [192] elemental lives to the requirements of spiritual being, and bringing into activity a mechanism and a vital structure which has hitherto been only latent and quiescent. Nevertheless, it remains a fact that when the energies, latent at the base of the spine, are carried to the head and are brought (via the solar plexus, that clearing house of energy, and the medulla oblongata) to the centre between the eyebrows, then the personality, the matter aspect, reaches its apotheosis and the Virgin Mary—in the individual sense, which is a finite parallel of an infinite Reality—is “carried up into Heaven” there to sit by the side of her son, the Christ, the soul.

Điều này cần được thực hiện theo hai cách. Thứ nhất, bằng cách chuyển năng lượng dương của các trung tâm thấp hơn sang các trung tâm cao hơn, và thứ hai, bằng cách đánh thức trung tâm đầu thông qua việc thể hiện hoạt động của ý chí. Tác động đầu tiên được tạo ra thông qua việc xây dựng nhân cách và thanh lọc các thể, như linh hồn sử dụng trong ba cõi giới. Tác động thứ hai là kết quả của tham thiền và sự phát triển mục đích được tổ chức, được áp đặt bởi ý chí lên đời sống hằng ngày. Việc xây dựng nhân cách, sống trong sạch, kiểm soát các phản ứng cảm xúc, và suy nghĩ đúng đắn là những điều quen thuộc trong mọi hệ thống tôn giáo và đã mất đi sức nặng bởi vì chúng quá quen thuộc với chúng ta. Không dễ để nhớ rằng khi chúng ta sống thanh khiết và đúng đắn, chúng ta thực sự và thực tế đang làm việc với các mãnh lực, điều khiển năng lượng theo nhu cầu của chúng ta, đặt các sự sống hành khí vào sự phụ thuộc đối với các yêu cầu của bản thể tinh thần, và kích hoạt một cơ chế và một cấu trúc sinh lực vốn trước đây chỉ là tiềm ẩn và tĩnh lặng. Tuy nhiên, vẫn là một sự thật rằng khi các năng lượng tiềm ẩn tại đáy cột sống được mang lên đầu và được dẫn đến (thông qua tùng thái dương, trung tâm trung chuyển năng lượng, và hành tủy) trung tâm giữa hai lông mày, thì phàm ngã, khía cạnh vật chất, đạt đến đỉnh cao của nó, và Đức Mẹ Đồng Trinh Maria—trong ý nghĩa cá nhân, là một tương đồng hữu hạn của một Thực Tại vô hạn—được “đưa lên Thiên Đàng” để ngồi bên cạnh con mình, Đức Christ, tức linh hồn.

Webinar 45—Rule 5.10

This has to be brought about in two ways. First, by the transference of the positive energy of the lower centres into that of the higher, and secondly by the awakening of the head centre by the demonstration of the activity of the will. The first effect is produced by character building, and by the purification of the bodies, as used by the soul in the three worlds. The second is the result of meditation and the development of organised purpose, imposed by the will upon the daily life. Character building, clean living, controlled emotional reactions, and right thinking are the platitudes of all religious systems and have lost weight from our very familiarity with them. It is not easy to remember that as we live purely and rightly, we are verily and indeed working with forces, subjecting energies to our needs, subordinating [192] elemental lives to the requirements of spiritual being, and bringing into activity a mechanism and a vital structure which has hitherto been only latent and quiescent. Nevertheless, it remains a fact that when the energies, latent at the base of the spine, are carried to the head and are brought (via the solar plexus, that clearing house of energy, and the medulla oblongata) to the centre between the eyebrows, then the personality, the matter aspect, reaches its apotheosis and the Virgin Mary—in the individual sense, which is a finite parallel of an infinite Reality—is “carried up into Heaven” there to sit by the side of her son, the Christ, the soul.

Điều này cần được thực hiện theo hai cách. Thứ nhất, bằng cách chuyển năng lượng dương của các trung tâm thấp hơn sang các trung tâm cao hơn, và thứ hai, bằng cách đánh thức trung tâm đầu thông qua việc thể hiện hoạt động của ý chí. Tác động đầu tiên được tạo ra thông qua việc xây dựng nhân cách và thanh lọc các thể, như linh hồn sử dụng trong ba cõi giới. Tác động thứ hai là kết quả của tham thiền và sự phát triển mục đích được tổ chức, được áp đặt bởi ý chí lên đời sống hằng ngày. Việc xây dựng nhân cách, sống trong sạch, kiểm soát các phản ứng cảm xúc, và suy nghĩ đúng đắn là những điều quen thuộc trong mọi hệ thống tôn giáo và đã mất đi sức nặng bởi vì chúng quá quen thuộc với chúng ta. Không dễ để nhớ rằng khi chúng ta sống thanh khiết và đúng đắn, chúng ta thực sự và thực tế đang làm việc với các mãnh lực, điều khiển năng lượng theo nhu cầu của chúng ta, đặt các sự sống hành khí vào sự phụ thuộc đối với các yêu cầu của bản thể tinh thần, và kích hoạt một cơ chế và một cấu trúc sinh lực vốn trước đây chỉ là tiềm ẩn và tĩnh lặng. Tuy nhiên, vẫn là một sự thật rằng khi các năng lượng tiềm ẩn tại đáy cột sống được mang lên đầu và được dẫn đến (thông qua tùng thái dương, trung tâm trung chuyển năng lượng, và hành tủy) trung tâm giữa hai lông mày, thì phàm ngã, khía cạnh vật chất, đạt đến đỉnh cao của nó, và Đức Mẹ Đồng Trinh Maria—trong ý nghĩa cá nhân, là một tương đồng hữu hạn của một Thực Tại vô hạn—được “đưa lên Thiên Đàng” để ngồi bên cạnh con mình, Đức Christ, tức linh hồn.

When the energies of the sacral centre, focussed hitherto on the work of physical creation and generation and therefore the source of physical sex life and interest, are sublimated, re-oriented and carried up to the throat centre, then the aspirant becomes a conscious creative force in the higher worlds; he enters within the veil, and begins to create the pattern of things which will bring about eventually the new heavens and the new earth.

Khi các năng lượng của trung tâm xương cùng, vốn tập trung vào công việc sáng tạo và sinh sản thể xác, và do đó là nguồn của đời sống và mối quan tâm tính dục, được thăng hoa, tái định hướng và đưa lên trung tâm cổ họng, thì người chí nguyện trở thành một lực lượng sáng tạo có ý thức trong các cõi giới cao hơn; y đi vào bức màn và bắt đầu sáng tạo mô hình của những điều sẽ dẫn đến trời mới và đất mới.

When the energies of the solar plexus—expressions hitherto of the potent desire nature, feeding the emotional life of the personality—are equally transmuted and re-oriented, then they are carried to the heart centre and there is brought about as a result a realisation of group consciousness, of group love, and group purpose which makes the aspirant a server of humanity and a fit associate of the Elder Brethren of the race.

Khi các năng lượng của trung tâm tùng thái dương — vốn là biểu hiện của bản chất ham muốn mạnh mẽ, nuôi dưỡng đời sống cảm xúc của phàm ngã — cũng được chuyển hóa và tái định hướng, thì chúng được đưa lên trung tâm tim, và kết quả là nhận thức về tâm thức nhóm, tình thương nhóm, và mục đích nhóm, điều này khiến người chí nguyện trở thành người phụng sự nhân loại và một cộng tác viên xứng đáng của các Huynh trưởng của nhân loại.

When these three transfers have been consummated then an activity transpires in the head centre, the ultimate governing factor, and by an act of the will of the indwelling ruling soul, certain happenings take place which we can consider later in our studies.

Khi ba sự chuyển dịch này đã hoàn tất, một hoạt động sẽ xảy ra ở trung tâm đầu, yếu tố quản trị tối cao, và bằng một hành động của ý chí từ linh hồn ngự trị bên trong, một số sự kiện sẽ xảy ra mà chúng ta sẽ xem xét sau trong các nghiên cứu của mình.

2. The second fact to bear in mind is that as these changes and re-orientations take place, the disciple begins to awaken psychologically to new states of consciousness, [193] to new states of existence, and to new states of being. It will be apparent therefore how necessary it is to go slowly in these matters, so that the mental apprehension and ability to reason logically and sanely may parallel the growth of the intuition and of spiritual perception. Many schools are simply forcing schools, prematurely developing the higher faculties and leading the aspirant (if I might express it in mystical language) directly out of the realm of feeling and of desire into that of the intuition, but leaving the intellectual faculties and the mental apparatus totally undeveloped and latent. When this is the case then—again speaking mystically—an hiatus or a gap occurs, in part of the equipment which the soul must perforce use in the three worlds of its endeavour. The interpreting, organising, understanding mind is unable to play its part. Where there is lack of understanding and of mental ability, there is danger of misapprehension, of credulity and of wrong interpretation of the phenomena of other states of being. A sense of values will be lacking, and the aspirant will over-estimate the non-essentials and fail to grasp the value of the spiritual realities.

Sự thực thứ hai cần ghi nhớ là khi những thay đổi và sự tái định hướng này diễn ra, người đệ tử bắt đầu thức tỉnh về mặt tâm lý đối với các trạng thái tâm thức mới, [193] các trạng thái tồn tại mới, và các trạng thái bản thể mới. Do đó, có thể thấy rõ sự cần thiết phải tiến chậm trong những vấn đề này, để sự hiểu biết trí tuệ và khả năng lý luận một cách hợp lý và sáng suốt có thể song hành với sự phát triển của trực giác và nhận thức tinh thần. Nhiều trường phái hiện nay chỉ là các trường phái cưỡng ép, phát triển sớm các năng lực cao hơn và dẫn dắt người chí nguyện (nếu tôi có thể diễn đạt điều này bằng ngôn ngữ huyền bí) trực tiếp ra khỏi lĩnh vực cảm xúc và ham muốn để bước vào lĩnh vực trực giác, nhưng lại để cho các năng lực trí tuệ và cơ chế tâm trí hoàn toàn chưa được phát triển và vẫn tiềm ẩn. Khi điều này xảy ra—lại nói theo cách huyền bí—một khoảng trống hoặc một lỗ hổng xuất hiện trong một phần của công cụ mà linh hồn buộc phải sử dụng trong ba cõi của nỗ lực của nó. Tâm trí có vai trò giải thích, tổ chức, và thấu hiểu không thể đảm nhận được nhiệm vụ của nó. Khi thiếu sự hiểu biết và khả năng trí tuệ, sẽ có nguy cơ hiểu sai, dễ tin vào những điều không chính xác, và diễn giải sai các hiện tượng thuộc các trạng thái khác của bản thể. Sẽ thiếu một ý thức về các giá trị, và người chí nguyện sẽ đánh giá quá cao những điều không quan trọng và không nắm bắt được giá trị của các thực tại tinh thần.

Energy may pour into the force centres in these cases, but because there is no directing intelligence it will run riot and we then have those sad cases which strew the path of occult endeavour and have brought the work of the Lodge into disrepute—cases of over-emphasized personalities, of superstitious devotees, of credulous followers of leaders, of fanatical unbalanced idealists, and of those warped minds which arrogate to themselves powers which are not theirs. Men and women become swayed by astralism and wander in the vale of illusion regarding themselves as different from other men, placing themselves upon a pedestal far above average humanity. They fall consciously into the sin of separateness. Add to the above category, the cases of sex perversion, [194] brought about by over-stimulation of the sacral centre, the cases of neuroticism and over-sensitivity and emotionalism, brought about by the premature vitalisation of the solar plexus centre, and lastly the cases of insanity, brought about by over-stimulation of the brain cells through unwise meditation work, and it will become increasingly clear why it is deemed necessary to proceed slowly and to develop the mental processes as well as the spiritual nature.

Năng lượng có thể tuôn vào các trung tâm lực trong những trường hợp này, nhưng do thiếu trí tuệ điều hướng, năng lượng sẽ chạy hỗn loạn và dẫn đến những trường hợp đáng buồn trên con đường nỗ lực huyền môn, gây tai tiếng cho công việc của Thánh Đoàn — những trường hợp phô trương phàm ngã quá mức, những người sùng đạo mê tín, những kẻ dễ tin theo các lãnh đạo, những nhà lý tưởng cực đoan và mất cân bằng, và những đầu óc méo mó tự nhận những quyền năng không thuộc về họ. Những người nam và nữ bị chi phối bởi cảm dục và lang thang trong thung lũng ảo tưởng, tự xem mình khác biệt với người khác, đặt mình lên bệ cao hơn rất xa so với nhân loại trung bình. Họ cố ý rơi vào tội chia rẽ. Thêm vào danh sách này là các trường hợp lệch lạc về tình dục, [194] do sự kích thích quá mức của trung tâm xương cùng, các trường hợp nhạy cảm cảm xúc , nhạy cảm quá mức và cảm xúc thái quá, do sự kích hoạt trung tâm tùng thái dương quá sớm, và cuối cùng là các trường hợp mất trí, do kích thích quá mức các tế bào não qua công việc thiền định không khôn ngoan, và sẽ trở nên ngày càng rõ ràng tại sao cần tiến hành từ từ và phát triển cả quá trình tư duy lẫn bản chất tinh thần.

The average student starts with the knowledge that he has centres, and with a desire for purity of character. He is assured by those who know that, as he strives, meditates, studies and serves, certain changes will take place within him, and that there will arise from the depths of his being, an awakening which will be dynamic. He is told that there will follow a breathing forth, a stirring and a vitalising which will bring his subjective spiritual life into prominence. This subjective life expresses itself as spiritual energy, through the medium of the energy or vital body and the energy thus expressed will change his life focus and interests, and produce a magnetic and dynamic effect which will attract and lift humanity. This energy is sevenfold in nature and utilises seven focal points in the etheric body as its agents.

Học viên trung bình bắt đầu với nhận thức rằng y có các trung tâm lực và với mong muốn đạt được sự thanh khiết trong tính cách. Y được những người hiểu biết đảm bảo rằng, khi y nỗ lực, tham thiền, học tập và phụng sự, những thay đổi nhất định sẽ xảy ra bên trong y, và từ sâu thẳm trong bản thể y sẽ trỗi dậy một sự thức tỉnh đầy năng động. Y được cho biết rằng sẽ có một sự phóng thích năng lượng, một sự khuấy động và kích hoạt, điều này sẽ làm nổi bật đời sống tinh thần chủ quan của y. Đời sống chủ quan này tự biểu lộ như năng lượng tinh thần, thông qua trung gian là thể sinh lực hoặc năng lượng, và năng lượng được biểu lộ theo cách này sẽ thay đổi trọng tâm và mối quan tâm trong đời sống của y, đồng thời tạo ra một tác động từ tính và năng động, thu hút và nâng cao nhân loại. Năng lượng này mang bản chất thất phân và sử dụng bảy điểm tập trung trong thể dĩ thái làm công cụ của nó.

It is not possible for the aspirant to work with and utilise all these seven types of energy intelligently in the early stages of the Path of Discipleship. The emphasis, for training purposes, is laid upon only three of them. These are:

Người chí nguyện không thể làm việc với và sử dụng tất cả bảy loại năng lượng này một cách thông minh ở các giai đoạn đầu của Con Đường Đệ Tử. Nhằm mục đích đào tạo, sự tập trung chỉ đặt trên ba loại. Đó là:

1. That of Will, strength or power, through the medium of the head centre. This is the energy of the spiritual man, and comes directly from the Monad, via the soul. Up to the third initiation however, all that the disciple needs to grasp is that the will aspect of the soul should control the personality, via the mental [195] body to the head centre. When this is the case the thousand-petalled lotus begins to function. The line of this stream of force is:

1. Năng lượng của Ý chí, sức mạnh hoặc quyền năng, qua trung gian của trung tâm đầu. Đây là năng lượng của con người tinh thần, đến trực tiếp từ Chân thần, qua linh hồn. Tuy nhiên, cho đến lần điểm đạo thứ ba, tất cả những gì đệ tử cần hiểu là khía cạnh ý chí của linh hồn phải kiểm soát phàm ngã, qua [195] thể trí đến trung tâm đầu. Khi điều này xảy ra, hoa sen ngàn cánh bắt đầu hoạt động. Dòng chảy của dòng mãnh lực này là:

Monad.

– Chân thần.

Atma. Spiritual will.

– Atma. Ý chí tinh thần.

The inner circle of petals in the egoic lotus, the will petals.

– Vòng tròn cánh hoa bên trong của Hoa sen Chân Ngã, các cánh hoa ý chí.

The mental body.

– Thể trí.

The head centre in the etheric body.

– Trung tâm đầu trong thể dĩ thái.

The nervous system and brain.

– Hệ thần kinh và não bộ.

2. That of Love-Wisdom, through the medium of the heart centre. This centre, when awakened, leads to that expansion of consciousness which initiates a man into his group life. He loses the sense of separateness, and finally emerges into the full light of realisation—a realisation of unity with his own indwelling God, with all humanity, with all souls in all forms of nature, and so with the Oversoul. This force stream comes likewise from the Monad, via the soul, and its line is as follows:

2. Năng lượng của Bác Ái-Minh Triết, qua trung gian của trung tâm tim. Trung tâm này, khi được thức tỉnh, dẫn đến sự mở rộng tâm thức đưa một người vào đời sống nhóm. Y mất đi cảm giác chia rẽ và cuối cùng xuất hiện trong ánh sáng trọn vẹn của sự nhận thức — một nhận thức về sự hợp nhất với Thượng đế nội tại của mình, với toàn thể nhân loại, với mọi linh hồn trong mọi hình thức của tự nhiên, và như vậy với Đại Hồn. Dòng mãnh lực này cũng đến từ Chân thần, qua linh hồn, và dòng chảy của nó như sau:

Monad.

– Chân thần.

Buddhi. Spiritual love. The intuition.

– Bồ đề. Tình thương tinh thần. Trực giác.

The second circle of petals in the egoic lotus, the love petals.

– Vòng tròn cánh hoa thứ hai trong Hoa sen Chân Ngã, các cánh hoa bác ái.

The astral body.

– Thể cảm dục.

The heart centre.

– Trung tâm tim.

The blood stream.

– Dòng máu.

In the little evolved man, this force stream simply passes through the heart centre direct to the solar plexus and expends its two aspects of vital life and of soul quality, one energising the blood stream and the other awakening the solar plexus centre. This then becomes the dominant factor in the energy life of the man, and the force through which his desire nature expresses itself, until such time as the aspirant brings [196] about the needed transmutation and re-orientation of his emotional desire nature. Then the heart awakens into activity and the life of the solar plexus centre becomes subordinated to that of the heart. This is brought about by the development of group interests, by the cultivation of inclusiveness and the steady loss of interest in the personality, and in things separative and selfish.

Ở người ít tiến hóa, dòng mãnh lực này chỉ đơn giản đi qua luân xa tim trực tiếp đến luân xa tùng thái dương và biểu hiện hai khía cạnh: sự sống sinh động và phẩm chất linh hồn – một khía cạnh làm sinh động dòng máu và khía cạnh khác đánh thức luân xa tùng thái dương. Luân xa này sau đó trở thành yếu tố chi phối trong đời sống năng lượng của con người, và là mãnh lực mà qua đó bản chất dục vọng của y tự biểu hiện, cho đến khi người chí nguyện thực hiện được sự chuyển hóa và định hướng lại cần thiết đối với bản chất dục vọng cảm xúc của mình. Khi đó, luân xa tim thức tỉnh và hoạt động, và đời sống của luân xa tùng thái dương trở nên phụ thuộc vào đời sống của luân xa tim. Điều này được thực hiện thông qua sự phát triển những mối quan tâm nhóm, việc nuôi dưỡng tính bao gồm và giảm dần mối quan tâm đến phàm ngã, cũng như những điều tách biệt và ích kỷ. TWM 196

Webinar 46—Rule 5.11

3. That of active intelligence, or the energy which animates the form aspect, and which creates forms in line with the subjective purposes of the presiding intelligence—God or man, human or divine. This also proceeds from the third aspect of the Monad, and the line of its contact is:

3. Năng lượng của Thông tuệ linh hoạt, hoặc năng lượng làm sống động khía cạnh hình tướng và tạo ra các hình tướng theo mục đích chủ quan của trí tuệ chủ trì — có thể là Thượng đế hoặc con người, nhân loại hoặc thiêng liêng. Năng lượng này cũng bắt nguồn từ khía cạnh thứ ba của Chân thần, và đường tiếp xúc của nó là:

Monad.

– Chân thần.

Manas. Spiritual intelligence. The higher mind.

– Manas. Trí tuệ tinh thần. Thượng trí.

The third or outer circle of petals in the egoic lotus, the knowledge petals.

– Lớp cánh hoa thứ ba hoặc bên ngoài của Hoa sen Chân Ngã, các cánh hoa tri thức.

The etheric body as a whole, as it pervades the dense physical body.

– Toàn thể thể dĩ thái, vì nó thẩm thấu thể xác đậm đặc.

The throat centre.

– Trung tâm cổ họng.

The cells of the body.

– Các tế bào của cơ thể.

In the little evolved man, as in the case of the second aspect and its unfoldment, the energy simply passes through the throat centre and goes directly to the sacral centre, and thus brings into activity the generative processes and creative faculties, utilised in the reproductive work and sex life of the race.

Ở người kém tiến hóa, như trong trường hợp của khía cạnh thứ hai và sự phát triển của nó, năng lượng đơn giản đi qua trung tâm cổ họng và đi thẳng đến trung tâm xương cùng, và như vậy kích hoạt các quá trình sinh sản và các năng lực sáng tạo, được sử dụng trong công việc sinh sản và đời sống tính dục của nhân loại.

This is a broad and general outline of the three main streams of force or divine energy and their direction.

Đây là một phác thảo rộng và tổng quát về ba dòng mãnh lực chính hay năng lượng thiêng liêng và phương hướng của chúng.

The relationship of the head centre to the base of the spine, where lies the sleeping fire, will not be considered here, nor will the function of the solar plexus centre as a clearing-house for the lower energies be touched upon. I [197] am anxious for the students simply to grasp the general idea and the skeleton of the teaching.

Mối quan hệ giữa trung tâm đầu và đáy cột sống, nơi có ngọn lửa đang ngủ, sẽ không được đề cập ở đây, cũng như không nói về chức năng của trung tâm tùng thái dương như một trạm trung chuyển cho các năng lượng thấp hơn. Tôi [197] chỉ muốn học viên nắm bắt ý tưởng chung và khung sườn của giáo lý.

Every human being in the course of time works his way back on the Path of Return to one of the three major rays. All have eventually to express intelligent creative faculty, to be animated by divine love, and to bring into functioning activity the Will, as it works out divine purpose and plan.

Mọi con người theo thời gian đều tìm đường quay trở lại trên Con Đường Trở Về với một trong ba cung chính. Cuối cùng, tất cả đều phải thể hiện năng lực sáng tạo thông minh, được linh hoạt bởi tình thương thiêng liêng, và đưa vào hoạt động chức năng của Ý Chí, khi nó thực hiện mục đích và Thiên Cơ.

The first centre which the aspirant seeks consciously to energise and on which he concentrates during the early stages of his novitiate, is the heart centre. He has to learn to be group conscious, to be sensitive to group ideals, and to be inclusive in his plans and concepts; he has to learn to love collectively and purely, and not be actuated by personality attraction, and the motive of reward. Until there is this awakening in the heart, he cannot be trusted to wield the creative powers of the throat centre, for they would be subordinated to self-aggrandisement and ambitions of various kinds.

Trung tâm đầu tiên mà người chí nguyện cố gắng có ý thức truyền sinh lực và tập trung vào trong giai đoạn đầu của sự tập sự là trung tâm tim. Y phải học cách có ý thức nhóm, nhạy cảm với các lý tưởng nhóm, và bao gồm trong các kế hoạch và quan niệm của mình; y phải học cách yêu thương tập thể và thuần khiết, không bị tác động bởi sự thu hút của phàm ngã và động cơ của phần thưởng. Cho đến khi có sự thức tỉnh này trong tim, y không thể được tin tưởng để sử dụng các quyền năng sáng tạo của trung tâm cổ họng, vì những quyền năng đó sẽ bị khuất phục bởi sự tự tôn và các tham vọng đa dạng.

Here it should be noted that none of these unfoldments can ever be approached from the standpoint of complete static passivity or from the angle of an entirely new undertaking. We are in process of evolution. Certain aspects of our force centres are already awakened, and functioning in relation to the form aspect, but are not yet expressing soul qualities. We have behind us a long and fruitful past. We are none of us purely selfish or separative. Human society is now cohesive and inter-dependent. Humanity, as a whole, has already done much in bringing the heart centre into partial activity, and in awakening some of the more important aspects of the throat centre.

Ở đây cần lưu ý rằng không một sự phát triển nào trong số này có thể tiếp cận từ quan điểm của sự thụ động tĩnh hoàn toàn hoặc từ góc độ của một công việc hoàn toàn mới. Chúng ta đang trong quá trình tiến hóa. Một số khía cạnh của các trung tâm lực của chúng ta đã được đánh thức và đang hoạt động trong mối quan hệ với khía cạnh hình tướng, nhưng chưa biểu lộ các phẩm chất của linh hồn. Chúng ta có một quá khứ dài và phong phú phía sau. Không ai trong chúng ta hoàn toàn ích kỷ hay chia rẽ. Xã hội loài người hiện nay gắn kết và phụ thuộc lẫn nhau. Nhân loại, như một tổng thể, đã làm được nhiều điều trong việc đưa trung tâm tim vào hoạt động một phần và trong việc đánh thức một số khía cạnh quan trọng của trung tâm cổ họng.

The problem with many aspirants today is that of the solar plexus, for it is wide open, actively functioning and almost fully awakened. The work of transmutation is however going on simultaneously, leading—as one might [198] naturally suppose—to a good deal of difficulty and to chaotic conditions. The heart centre is also beginning to vibrate, but is not yet awakened; the throat centre is frequently prematurely awakened, through the transfer of energy from the sacral centre. This is due to several causes—sometimes to spiritual purpose and intent, but more frequently to a negation of the normal sex life, owing to economic conditions, or to a lack of physical vitality, which predisposes to celibacy. This lack of vital force is in its turn due to many factors, but primarily to a long heredity, producing a degeneracy of the physical body, or to enforced celibacy in past lives; this enforced celibacy was very often the result of monasticism and the living of the mystical life. When this creative awakening finds expression through any of the arts—literature, painting, music,—or in group organization and executive work there is no harm wrought, for the energy finds a normal creative outlet. These points should he remembered by the aspirant. He is facing a most complex problem. He enters blindly into a situation which is the result of a long evolutionary process and to which he has not the key. Especially in the early stages and prior to the first initiation is this the case, for he has no knowledge of the history of the past, nor any prevision as to the future. He has simply to take his equipment and his opportunity and do the best he can, guided by the age-old rules of Raja Yoga, and the light of his own soul.

Vấn đề của nhiều người chí nguyện ngày nay là trung tâm tùng thái dương, vì trung tâm này mở rộng, hoạt động mạnh mẽ và gần như đã thức tỉnh hoàn toàn. Tuy nhiên, công việc chuyển hóa đang diễn ra đồng thời, dẫn đến—như chúng ta có thể [198] tự nhiên suy luận—một số khó khăn đáng kể và các tình trạng hỗn loạn. Trung tâm tim cũng bắt đầu rung động nhưng chưa được đánh thức; trung tâm cổ họng thường thức tỉnh sớm, qua sự chuyển giao năng lượng từ trung tâm xương cùng. Điều này do nhiều nguyên nhân—đôi khi là mục đích và ý định tinh thần, nhưng thường là do phủ nhận đời sống tính dục bình thường, do điều kiện kinh tế hoặc thiếu sinh lực thể xác, khiến người ta nghiêng về đời sống độc thân. Sự thiếu sinh lực này, đến lượt nó, có nguyên nhân từ nhiều yếu tố, nhưng chủ yếu là do di truyền lâu dài, gây suy thoái thể xác, hoặc do sống độc thân bắt buộc trong các kiếp sống trước; tình trạng độc thân bắt buộc này thường là kết quả của đời sống tu viện và lối sống thần bí. Khi sự thức tỉnh sáng tạo này biểu lộ qua các loại hình nghệ thuật—văn học, hội họa, âm nhạc—hoặc trong công việc tổ chức nhóm và điều hành, thì không gây hại gì, vì năng lượng tìm thấy một lối thoát sáng tạo bình thường. Những điểm này cần được người chí nguyện ghi nhớ. Y đang đối diện với một vấn đề vô cùng phức tạp. Y bước vào một tình huống một cách mù quáng, tình huống này là kết quả của một quá trình tiến hóa dài lâu mà y không nắm giữ được chìa khóa. Đặc biệt trong các giai đoạn đầu và trước lần điểm đạo thứ nhất, điều này càng đúng, vì y không có kiến thức về lịch sử của quá khứ, cũng như không có sự tiên tri nào về tương lai. Y chỉ đơn giản cần sử dụng các năng lực và cơ hội của mình để làm tốt nhất có thể, được dẫn dắt bởi các quy tắc cổ xưa của Raja Yoga và ánh sáng của chính linh hồn mình.

As the heart centre is awakened and the throat centre swings into creative work, a definite relation is set up and there is an interplay of energy between the two. This activity in its turn brings about a response from that aspect of the thousand petalled lotus (a synthetic lotus) through which the energy always animating the heart and throat centres normally passes. This responsive [199] activity and inter-action brings about two results, and these should be most carefully noted.

Khi trung tâm tim được đánh thức và trung tâm cổ họng bắt đầu hoạt động sáng tạo, một mối quan hệ rõ ràng được thiết lập và có sự tương tác năng lượng giữa hai trung tâm này. Hoạt động này, đến lượt nó, tạo ra sự đáp ứng từ khía cạnh của hoa sen ngàn cánh (một hoa sen tổng hợp) mà qua đó năng lượng luôn luôn thúc đẩy trung tâm tim và cổ họng thường xuyên đi qua. Hoạt động đáp ứng [199] và sự tương tác này mang lại hai kết quả, và những kết quả này cần được lưu ý thật cẩn thận.

First, the light in the head makes its appearance. A sparking (if I might so express it) is set up between the higher positive over-shadowing energy as it is centralised within the form of the thousand-petalled lotus, and the steadily heightening vibration of the heart and throat centres or lotuses. These two lower centres in their turn are responding to the energies being lifted and raised from the centres below the diaphragm.

Thứ nhất, ánh sáng trong đầu xuất hiện. Có một tia lửa (nếu tôi có thể diễn đạt như vậy) được thiết lập giữa năng lượng dương cao hơn đang bao phủ, khi nó tập trung bên trong hình thể của hoa sen ngàn cánh, và sự rung động ngày càng mạnh mẽ của các trung tâm hoặc hoa sen tim và cổ họng. Hai trung tâm thấp hơn này đến lượt mình phản ứng với các năng lượng được nâng lên từ các trung tâm dưới cơ hoành.

Secondly, the centre between the eyebrows also begins to make its presence felt, and this significant two-petalled lotus begins to vibrate. It symbolises the work of at-one-ing the soul and the body, the subjective and the objective. In some occult books it is called the lotus with the ninety-six petals, but this is only a differentiation dealing with the energies focussed in the two petals. It will be noted that the sum total of the force petals in the centres (excluding the two head centres) amount in all to forty-eight petals. These energies in their two aspects of physical vital energy and soul qualities make up the ninety-six aspects or vibrations of the two petals of the Ajna or eyebrow centre. It must be remembered also that the word ‘petal’ only symbolises an expression of force and its apparent effect in matter.

Thứ hai, trung tâm giữa hai lông mày cũng bắt đầu hiện diện, và hoa sen hai cánh đầy ý nghĩa này bắt đầu rung động. Nó tượng trưng cho công việc hợp nhất linh hồn và thể xác, chủ thể và khách thể. Trong một số sách huyền môn, nó được gọi là hoa sen có chín mươi sáu cánh, nhưng đây chỉ là một sự phân biệt, liên quan đến các năng lượng tập trung trong hai cánh hoa. Cần lưu ý rằng tổng số cánh hoa lực trong các trung tâm (không bao gồm hai trung tâm đầu) tổng cộng là bốn mươi tám cánh. Các năng lượng này trong hai khía cạnh là năng lượng sinh lực thể xác và phẩm tính linh hồn tạo thành chín mươi sáu khía cạnh hoặc rung động của hai cánh hoa của trung tâm Ajna hoặc giữa hai lông mày. Cũng cần nhớ rằng từ “cánh hoa” chỉ tượng trưng cho một biểu hiện của mãnh lực và tác động rõ ràng của nó lên vật chất.

Webinar 47—Rule 5.12

The five centres with their forty-eight petals are synthesised therefore into the two-petalled lotus, and then we have forty-eight plus two equals fifty, the number of the perfected personality, for five is the number of man and ten is that of perfection. Symbolically also, if the sum total of the forty-eight petals of the five centres is added to the ninety-six petals of the centre between the eyebrows, the number one hundred and forty-four appears. This number signifies the completed work of the twelve creative Hierarchies, twelve times twelve, and thus the bringing together of the subjective soul and the [200] objective body in perfect union and at-one-ment. This is the consummation. To these figures, one hundred and forty-four add that of the number one thousand (the number of the petals in the lotus of the head centre) and you have the number of the saved in the Book of Revelations, the one hundred and forty-four thousand who can stand before God, for the three ciphers which are found indicate the personality. When man has completed within himself the great work, when the number one hundred and forty-four thousand is seen as symbolising his point of attainment, then he can stand before God—standing now not only before the Angel of the Presence, but before the very Presence Itself.

Năm trung tâm với bốn mươi tám cánh hoa của chúng được tổng hợp lại thành hoa sen hai cánh, và khi đó chúng ta có 48 cộng với 2 bằng 50, con số của phàm ngã hoàn thiện, vì số năm là con số của con người và số mười là con số của sự hoàn thiện. Về mặt biểu tượng, nếu tổng số bốn mươi tám cánh hoa của năm trung tâm được cộng với chín mươi sáu cánh hoa của trung tâm giữa hai lông mày, con số một trăm bốn mươi bốn xuất hiện. Con số này biểu thị công việc hoàn thiện của mười hai Huyền Giai Sáng Tạo, mười hai lần mười hai, và như vậy là sự hợp nhất giữa linh hồn chủ quan và [200] thể xác khách quan trong sự hợp nhất và hòa hợp hoàn hảo. Đây là sự viên mãn. Khi thêm vào các con số này số một nghìn (là số cánh hoa trong hoa sen trung tâm đầu), chúng ta có con số của những người được cứu trong Sách Khải Huyền, một trăm bốn mươi bốn ngàn người có thể đứng trước Thượng Đế, vì ba số không tượng trưng cho phàm ngã. Khi con người hoàn thành công trình vĩ đại trong chính mình, khi con số một trăm bốn mươi bốn ngàn được nhìn nhận như biểu tượng cho điểm đạt được của y, thì lúc đó y có thể đứng trước Thượng Đế—giờ đây không chỉ đứng trước Thiên Thần của Hiện Diện, mà còn đứng trước chính Sự Hiện Diện.

The Awakening of the Centres

Sự Thức Tỉnh của Các Trung Tâm

The question now arises: How can this awakening and co-ordination be brought about? What steps must be taken in order to produce this vitalisation and the eventual synthetic activity of the three centres? Faced with these questions, the true teacher finds a difficulty. It is not easy to make clear the esoteric and paralleling activities which are the result of character building. So oft the aspirant is anxious to be told some new thing and when he is told some old truth—so old and so familiar that it fails to call forth a registering response—he feels that the teacher has failed him and so succumbs to a sense of futility and depression. However, this must be met and the questions must be answered. I will state therefore the necessary requirements as succinctly as possible, giving them in their sequential order and according to their importance from the standpoint of the average aspirant. Let us then enumerate them in tabulated form, and then we will deal briefly with each point afterwards.

Câu hỏi hiện nay được đặt ra: Làm thế nào để tạo ra sự thức tỉnh và phối hợp này? Những bước nào cần thực hiện để dẫn đến sự truyền sinh lực và hoạt động tổng hợp cuối cùng của ba trung tâm? Đối mặt với những câu hỏi này, người thầy chân chính gặp một khó khăn. Không dễ để làm rõ các hoạt động huyền bí và song song là kết quả của việc xây dựng tính cách. Rất t hường người chí nguyện nóng lòng muốn được chỉ dạy một điều gì đó mới mẻ, và khi được nói đến một chân lý cũ—quá cũ và quen thuộc đến mức không khơi gợi được một phản ứng nhận thức nào—y cảm thấy rằng người thầy đã không đáp ứng được kỳ vọng của y, và từ đó y rơi vào cảm giác vô vọng và chán nản. Tuy nhiên, điều này phải được giải quyết và các câu hỏi phải được trả lời. Do đó, tôi sẽ trình bày các yêu cầu cần thiết một cách ngắn gọn nhất có thể, đưa chúng theo thứ tự tuần tự và theo mức độ quan trọng từ quan điểm của người chí nguyện trung bình. Chúng ta hãy liệt kê chúng theo dạng bảng, và sau đó sẽ phân tích từng điểm một cách ngắn gọn.

1. Character building, the first and essential requisite.

1. Xây dựng tính cách, yêu cầu đầu tiên và cần thiết.

2. Right motive. [201]

2. Động cơ đúng đắn. [201]

3. Service.

3. Phụng sự.

4. Meditation.

4. Tham thiền.

5. A technical study of the science of the centres.

5. Nghiên cứu kỹ thuật về khoa học các trung tâm lực.

6. Breathing exercises.

6. Các bài tập thở.

7. Learning the technique of the Will.

7. Học kỹ thuật của Ý chí.

8. The development of the power to employ time.

8. Phát triển khả năng sử dụng thời gian.

9. The arousing of the Kundalini fire.

9. Khơi hoạt ngọn lửa Kundalini.

This last and ninth point will not be considered at this stage of our training. The reason is obvious. Most aspirants are at the stage of the third and fourth points and are just beginning to work at the fifth and sixth. Let us touch briefly upon each of these necessary steps, and let me enjoin upon you the need there is to realise in some measure the responsibility entailed by knowledge. Do you appreciate the fact that if you were making full use of each piece of information given in the course of the training, and making it a fact in your experience, and were living out in your daily life the teaching so steadily imparted, you would be standing ere now before the Portal of Initiation? Do you realise that truth has to be wrought out in the texture of daily living before new truth can be safely imparted?

Điểm thứ chín và cuối cùng này sẽ không được xem xét ở giai đoạn huấn luyện hiện tại của chúng ta. Lý do là hiển nhiên. Hầu hết những người chí nguyện đang ở giai đoạn thứ ba và thứ tư, và chỉ mới bắt đầu làm việc với giai đoạn thứ năm và thứ sáu. Hãy cùng điểm qua từng bước cần thiết này, và tôi nhấn mạnh với các bạn về nhu cầu cần thiết để nhận thức ở một mức độ nào đó trách nhiệm mà kiến thức đòi hỏi. Bạn có nhận ra rằng nếu bạn tận dụng đầy đủ mỗi thông tin được cung cấp trong quá trình huấn luyện, biến nó thành một thực tế trong kinh nghiệm của mình, và sống theo những giáo huấn được truyền dạy một cách đều đặn trong đời sống hàng ngày, thì giờ đây bạn đã đứng trước Cửa Điểm Đạo? Bạn có hiểu rằng chân lý phải được rèn luyện trong cấu trúc của đời sống hằng ngày trước khi chân lý mới có thể được truyền đạt một cách an toàn không?

1. Character building. These nine points are to be studied from their force aspect, and not from their ethical or spiritual import. It is the “world of force into which the initiate enters,” and it is the training he receives as an aspirant that makes such a step possible. Each of us enters life with a certain equipment—the product of past lives of endeavour and of experience. That equipment has in it certain deficiencies or lacks, and is seldom of a balanced nature. One man is too mental. Another is too psychic. A third is primarily physical, and still another is too mystical. One man is sensitive, irritable, and impressionable. Another is the reverse of all these qualities. One person is centred in [202] his animal nature, or is strictly material in his outlook on life, whilst another is visionary and free from the sins of the flesh. The diversities among men are innumerable, but in each life there is a predominant trend towards which all the energies of his nature turn. Perhaps he is swayed strongly by his physical forces and lives consequently the life of an animal. Or he is swayed by astral energy and lives a potently emotional and psychic life. Perhaps—like so many—he is swayed by three types of energy, physical, emotional and an occasional flow of soul energy. The point to be remembered is that the bodies in which we, as souls, are functioning, constitute primarily energy bodies. They are composed of energy units, atoms in a state of constant flux and movement and find their place in an environment of a similar nature. Acting as the positive nucleus in these energy bodies, and at present, in the majority of cases relatively static, is the soul. It exerts as yet little pressure upon its sheaths and identifies itself with them, thus temporarily negating its own intrinsic life.

1. Xây dựng tính cách. Chín điểm này cần được nghiên cứu từ khía cạnh mãnh lực, chứ không phải từ ý nghĩa đạo đức hay tinh thần của chúng. Chính là “thế giới của mãnh lực mà người điểm đạo đồ bước vào,” và đó là sự huấn luyện mà y nhận được khi còn là một người chí nguyện, điều này làm cho một bước tiến như vậy trở nên khả thi. Mỗi chúng ta bước vào cuộc sống với một số trang bị nhất định—sản phẩm của những nỗ lực và kinh nghiệm từ các kiếp sống trước. Trang bị đó chứa đựng một số khiếm khuyết hoặc thiếu sót, và hiếm khi có tính cân bằng. Một người quá thiên về trí tuệ. Một người khác lại quá thiên về cảm dục. Một người thứ ba chủ yếu là về mặt thể chất, trong khi một người khác lại quá thiên về thần bí. Một người nhạy cảm, dễ cáu kỉnh và dễ bị ảnh hưởng. Một người khác thì hoàn toàn ngược lại với những phẩm chất đó. Một người có thể tập trung vào [202] bản chất thú vật của mình, hoặc có quan điểm hoàn toàn vật chất về cuộc sống, trong khi một người khác lại có tầm nhìn và thoát khỏi những tội lỗi của xác thịt. Những sự khác biệt giữa con người là vô số, nhưng trong mỗi kiếp sống, có một xu hướng chi phối, hướng mà tất cả các năng lượng trong bản chất của y đều tập trung vào. Có lẽ y bị chi phối mạnh mẽ bởi các lực thể chất và do đó sống một cuộc đời giống như một con vật. Hoặc y bị chi phối bởi năng lượng cảm dục và sống một cuộc đời đầy cảm xúc mãnh liệt và thông linh. Có lẽ—giống như nhiều người—y bị chi phối bởi ba loại năng lượng: thể chất, cảm xúc và thỉnh thoảng là một dòng năng lượng từ linh hồn. Điều cần ghi nhớ là các thể mà chúng ta, với tư cách là linh hồn, đang hoạt động trong đó, chủ yếu là các thể năng lượng. Chúng được cấu thành từ các đơn vị năng lượng, các nguyên tử trong trạng thái luôn biến động và di chuyển, và tìm vị trí của chúng trong một môi trường có bản chất tương tự. Hoạt động như hạt nhân dương trong các thể năng lượng này, và hiện tại, trong hầu hết các trường hợp, ở trạng thái tương đối tĩnh, là linh hồn. Nó hiện tại chỉ tác động ít lên các thể của nó và đồng hoá với chúng, do đó tạm thời phủ nhận đời sống nội tại vốn có của chính mình.

The day comes, however, when the soul awakens to the need of dominating the situation and of asserting its own authority. Then the man (spasmodically at the beginning) takes stock of the situation. He has to discover first which type of energy preponderates and is the motivating force in his daily experience. Having discovered this, he begins to re-organize, to re-orient and to re-build his bodies. The whole of this teaching can be summed up in two words: Vice and Virtue.

Tuy nhiên, ngày sẽ đến khi linh hồn thức tỉnh trước nhu cầu chi phối tình huống và khẳng định quyền uy của chính nó. Lúc đó, con người (ban đầu chỉ đôi khi và không đều đặn) sẽ đánh giá tình huống. Y phải khám phá trước hết loại năng lượng nào chiếm ưu thế và là động lực thúc đẩy trong trải nghiệm hàng ngày của y. Khi đã khám phá điều này, y bắt đầu tái tổ chức, tái định hướng và tái xây dựng các thể của mình. Toàn bộ giáo huấn này có thể được tóm gọn trong hai từ: Thói xấu và Đức hạnh.

Vice is the energy of the sheaths, individual or synthesised in the personality, as it controls the life activities and subordinates the soul to the sheaths and to the impulses and tendencies of the lower self.

Thói xấu là năng lượng của các thể, cá nhân hoặc được tổng hợp trong phàm ngã, khi nó kiểm soát các hoạt động sống và khiến linh hồn phụ thuộc vào các thể và những xung lực cũng như khuynh hướng của phàm ngã.

Virtue is the calling in of new energies and of a new vibratory rhythm so that the soul becomes the positive controlling factor and the soul forces supersede those of [203] the bodies. This process is that of character building. Let me illustrate! A man is the victim of an irritable and nervous disposition. We say to him that he needs to be calm and peaceful and to cultivate detachment and so gain control of himself. We teach him that in place of a cross disposition there should be sweetness and calm. This sounds a platitude and most uninteresting. Yet what is really being stated is that in place of the restless self-centered emotional nature and the activity of the solar plexus centre (carrying the powerful forces of the astral plane) there should be imposed the steady detached and harmonising rhythm of the soul, the higher self.

Đức hạnh là việc thu hút các năng lượng mới và một nhịp rung động mới, để linh hồn trở thành yếu tố kiểm soát tích cực và các lực của linh hồn thay thế cho những lực của [203] các thể. Quá trình này chính là xây dựng tính cách. Hãy để tôi minh họa, một người là nạn nhân của một tâm tính dễ cáu gắt và lo âu. Chúng ta nói với y rằng y cần phải bình tĩnh và an nhiên, rèn luyện sự tách rời và nhờ đó kiểm soát được chính mình. Chúng ta dạy y rằng thay vì một tâm trạng bực bội, nên có sự ngọt ngào và bình an. Điều này nghe có vẻ là một lẽ thường tình và khá tẻ nhạt. Nhưng thực sự điều đang được nói ở đây là thay vì bản chất cảm xúc bất an và tập trung vào bản thân, cùng với sự hoạt động của luân xa tùng thái dương (mang theo những lực mạnh mẽ của cõi cảm dục), cần áp đặt nhịp điệu ổn định, tách biệt và hài hòa của linh hồn, tức là chân ngã.

This work of imposing the higher vibration on the lower is character building, the first pre-requisite upon the Path of Probation. On reading this the earnest student can begin to sum up his energy assets; he can tabulate the forces which he feels control his life, and thus arrive at a reasonable and truthful understanding of the forces which require to be subordinated and those which require to be strengthened. Then in the light of true knowledge, let him go forward upon the path of his destiny.

Công việc áp đặt nhịp rung động cao hơn lên nhịp rung động thấp hơn này chính là xây dựng tính cách, điều kiện tiên quyết đầu tiên trên Con Đường Dự Bị. Khi đọc điều này, học viên nghiêm túc có thể bắt đầu đánh giá tài sản năng lượng của mình; y có thể lập bảng các lực mà y cảm thấy đang kiểm soát cuộc đời mình, và do đó đạt đến một sự hiểu biết hợp lý và chân thực về các lực cần được chế ngự và những lực cần được củng cố. Sau đó, dưới ánh sáng của tri thức chân thực, y hãy tiến bước trên con đường định mệnh của mình.

2. Right Motive. The Master of the Wisdom, we are told, is the “rare efflorescence of a generation of enquirers.” The question which the seeker now asks and which he only has the right to answer is: What is the motive governing my aspiration and my endeavour? Why do I seek to build upon a true foundation? Why do I so diligently invoke my soul?

2. Động cơ đúng đắn. Chúng ta được dạy rằng Chân sư Minh Triết là “sự nở hoa hiếm hoi của một thế hệ những người tìm kiếm.” Câu hỏi mà người tìm đạo giờ đây đặt ra, và mà chỉ y mới có quyền trả lời, là: Động cơ nào đang chi phối khát vọng và nỗ lực của tôi? Tại sao tôi tìm cách xây dựng trên một nền tảng chân chính? Tại sao tôi siêng năng kêu gọi linh hồn mình như vậy?

The development of right motive is a progressive effort, and constantly one shifts the focus of one’s incentive when one discovers himself, as the Light shines ever more steadily upon one’s way, and constantly a newer and higher motive emerges. Again, let me illustrate: An aspirant in the early stages is practically always a devotee. To measure up to the standard set by a loved friend and teacher, he struggles and strives and gains [204] ground. Later, this object of his devotion and ardent effort is superseded by devotion to one of the Great Ones, the Elder Brothers of the race. He bends all his powers and the forces of his nature to Their service. This incentive is, in its turn, surely and steadily superseded by a vital love for humanity, and love of one individual (be he ever so perfect) is lost sight of in love for the whole brotherhood of men. Unceasingly, as the soul takes more and more control of its instrument and the soul nature steadily manifests, this too is superseded by love of the ideal, of the Plan, and of the purposes underlying the universe itself. The man comes to know himself as naught but a channel through which spiritual agencies can work, and realises himself as a corporate part of the One Life. Then he sees even humanity as relative and fractional, and becomes immersed in the great Will.

Sự phát triển động cơ đúng đắn là một nỗ lực tiến hóa dần dần, và liên tục y điều chỉnh trọng tâm của động lực của mình khi y tự khám phá bản thân, trong khi ánh sáng ngày càng chiếu rọi ổn định hơn trên con đường của y, và liên tục xuất hiện một động cơ mới và cao hơn. Một lần nữa, hãy để tôi minh họa, một người chí nguyện ở giai đoạn đầu gần như luôn là một người sùng tín. Để đạt tới tiêu chuẩn do một người bạn hay vị thầy yêu mến đặt ra, y phấn đấu và nỗ lực và đạt được [204] tiến bộ. Sau đó, đối tượng của lòng sùng tín và nỗ lực mãnh liệt này được thay thế bởi lòng sùng tín đối với một trong các Đấng Vĩ Đại, những Huynh trưởng của nhân loại. Y dồn tất cả sức mạnh và các năng lực của bản chất mình để phụng sự các Ngài. Động lực này, đến lượt nó, chắc chắn và ổn định được thay thế bởi một tình yêu mãnh liệt dành cho nhân loại, và tình yêu đối với một cá nhân (dù cá nhân đó có hoàn hảo đến đâu) dần dần nhường chỗ cho tình yêu dành cho toàn thể huynh đệ nhân loại. Không ngừng nghỉ, khi linh hồn ngày càng kiểm soát được công cụ của mình và bản chất linh hồn ngày càng được biểu lộ, điều này cũng được thay thế bởi tình yêu dành cho lý tưởng, Thiên Cơ và các mục đích nền tảng của vũ trụ. Con người nhận ra mình không là gì ngoài một kênh qua đó các cơ quan tinh thần có thể hoạt động, và y tự ý thức mình là một phần liên kết của Sự Sống Duy Nhất. Lúc đó, y nhận ra nhân loại chỉ là tương đối và phân mảnh, và y hòa mình vào Ý Chí Vĩ Đại.

3. Service. A study of right motive leads naturally to right service, and often parallels in its objective form, the motivating consciousness. From service to an individual as an expression of love, to the family, or to the nation, there grows service to a member of the Hierarchy, to a Master’s group and thence service to humanity. Eventually there is developed a consciousness of and service of the Plan, and a consecration to the underlying purpose of the great Existence Who has brought all into being for the fulfillment of some specific objective.

3. Phụng sự. Việc nghiên cứu động cơ đúng đắn dẫn một cách tự nhiên đến sự phụng sự đúng đắn, và thường song song trong hình thức biểu hiện của nó với tâm thức thúc đẩy. Từ việc phụng sự một cá nhân như là biểu hiện của tình thương, đến phụng sự gia đình hoặc quốc gia, dần dần phát triển thành sự phụng sự một thành viên của Thánh đoàn, một nhóm của Chân sư, và từ đó là phụng sự nhân loại. Cuối cùng, ý thức về Thiên Cơ và sự phụng sự Thiên Cơ được phát triển, cùng với sự hiến dâng cho mục đích nền tảng của Đấng Hiện Hữu Vĩ Đại, Đấng đã mang tất cả vào hiện hữu để hoàn thành một mục tiêu cụ thể nào đó.

Webinar 48—Rule 5.13

4. Meditation. Upon this matter we will not enlarge as it has formed the basis of much of the teaching in my other books and many of you are working steadily upon the work of meditation. I have placed it fourth upon the list, for meditation is dangerous and unprofitable to the man who enters upon it without the basis of a good character and of clean living. Meditation then becomes only a medium for the bringing in of energies which but serve to stimulate the undesirable aspects of his life, just [205] as the fertilising of a garden full of weeds will produce a stupendous crop of them, and so crush out the weak and tiny flowers. Meditation is dangerous where there is wrong motive, such as desire for personal growth and for spiritual powers, for it produces, under these conditions only a strengthening of the shadows in the vale of illusion and brings to full growth the serpent of pride, lurking in the valley of selfish desire. Meditation is dangerous when the desire to serve is lacking. Service is another word for the utilisation of soul force for the good of the group. Where this impulse is lacking, energy may pour into the bodies, but—lacking use and finding no outlet—will tend to over-stimulate the centres, and produce conditions disastrous to the neophyte. Assimilation and elimination are laws of the soul life as well as of the physical life, and when this simple law is disregarded serious consequences will follow as inevitably as in the physical body.

4. Tham thiền. Về vấn đề này, chúng ta sẽ không mở rộng thêm, vì nó đã hình thành nền tảng của nhiều giáo lý trong các sách khác của tôi, và nhiều bạn đang làm việc đều đặn trong công việc tham thiền. Tôi đặt tham thiền ở vị trí thứ tư trong danh sách này, bởi vì tham thiền là nguy hiểm và không có lợi đối với người bước vào nó mà không có nền tảng của một tính cách tốt và một đời sống trong sạch. Tham thiền khi đó chỉ trở thành một phương tiện để thu hút các năng lượng vốn chỉ phục vụ việc kích thích những khía cạnh không mong muốn trong cuộc đời y, giống như [205] việc bón phân cho một khu vườn đầy cỏ dại sẽ tạo ra một vụ mùa cỏ khổng lồ, và nhấn chìm những bông hoa yếu ớt và nhỏ bé. Tham thiền là nguy hiểm khi có động cơ sai lầm, chẳng hạn như mong muốn phát triển cá nhân hoặc đạt được các năng lực tinh thần, vì trong những điều kiện này, nó chỉ làm mạnh mẽ thêm các bóng tối trong thung lũng ảo tưởng và làm cho con rắn kiêu ngạo—ẩn nấp trong thung lũng của những khát vọng ích kỷ—phát triển toàn diện. Tham thiền là nguy hiểm khi thiếu đi mong muốn phụng sự. Phụng sự là một cách khác để nói về việc sử dụng năng lực linh hồn vì lợi ích của nhóm. Khi động lực này bị thiếu, năng lượng có thể tuôn chảy vào các thể, nhưng—thiếu sự sử dụng và không tìm được lối thoát—sẽ có xu hướng kích thích quá mức các luân xa và tạo ra những điều kiện tai hại cho người sơ cơ. Sự đồng hóa và loại bỏ là những định luật của đời sống linh hồn cũng như của đời sống thể chất, và khi định luật đơn giản này bị coi thường, những hậu quả nghiêm trọng sẽ xảy ra một cách không thể tránh khỏi, giống như trong cơ thể vật lý.

5. Study of the centres. This we are now beginning. It is a study as yet in its infancy in the West, and little applied in the East. Our approach will be somewhat new, for though we will accustom ourselves to the names, locations and relationships of the centres we shall do no meditation work upon them. Eventually we shall arrive at an appreciation of their vibration, of their tone and colours and of the astrological significances. We shall not work with the centres down the spinal column, nor aim at their conscious utilisation as does the clairvoyant and clairaudient person. All the work done by students must be done entirely in the head and from the head. There is the seat of the Will, or Spirit aspect, working through the soul. There also is the synthetic expression of the personality, and in the understanding of the relation of the two head centres and their mutual interplay will come gradually the domination of the personality by the soul. This will lead to the consequent and subsequent [206] guided activity of the five other centres. The work in these five centres will eventually be as automatic as the present functioning of the heart and the lungs in the physical body.

5. Nghiên cứu các luân xa. Đây là điều mà chúng ta đang bắt đầu. Đây vẫn là một nghiên cứu còn sơ khai ở phương Tây và ít được áp dụng ở phương Đông. Cách tiếp cận của chúng ta sẽ có phần mới mẻ, vì mặc dù chúng ta sẽ làm quen với tên gọi, vị trí và mối quan hệ của các luân xa, nhưng chúng ta sẽ không thực hiện công việc tham thiền trên chúng. Cuối cùng, chúng ta sẽ đạt đến một sự đánh giá về rung động, âm điệu và màu sắc của chúng, cũng như các ý nghĩa chiêm tinh học. Chúng ta sẽ không làm việc với các luân xa dọc theo cột sống, cũng không nhằm mục đích sử dụng chúng một cách có ý thức như những người thông nhãn và thông nhĩ. Toàn bộ công việc mà học viên thực hiện phải hoàn toàn tập trung ở trong đầu và từ đầu. Ở đó là nơi ngự trị của Ý chí, hoặc khía cạnh Tinh thần, hoạt động thông qua linh hồn. Nơi đó cũng là sự biểu hiện tổng hợp của phàm ngã, và trong việc hiểu mối quan hệ giữa hai luân xa đầu và sự tương tác qua lại của chúng, sẽ dần dần dẫn đến sự chi phối của phàm ngã bởi linh hồn. Điều này sẽ dẫn đến và kéo theo [206] hoạt động có hướng dẫn của năm luân xa khác. Công việc ở năm luân xa này cuối cùng sẽ diễn ra tự động, giống như sự hoạt động hiện tại của tim và phổi trong cơ thể vật lý.

The presiding Intelligence, the Self, “seated on the throne between the eyebrows” and guided by the Light in the head will be awake to the interests of the soul and as alert as is the ‘I’ consciousness of the average self-centered man. By the rhythm of his divine life and by his conscious cooperation with the Plan, and functioning through the use of the Will, must the disciple in incarnation act as the agent of his soul in the three worlds.

Trí tuệ chủ trì, Chân Ngã, “ngự trên ngai giữa hai lông mày” và được hướng dẫn bởi Ánh sáng trong đầu, sẽ thức tỉnh trước các lợi ích của linh hồn và cảnh giác như ý thức ‘Tôi’ của con người bình thường tập trung vào bản thân. Bằng nhịp điệu của đời sống thiêng liêng của mình và nhờ sự hợp tác có ý thức với Thiên Cơ, và hoạt động thông qua việc sử dụng Ý chí, người đệ tử đang nhập thể phải hành động như một tác nhân của linh hồn mình trong ba cõi giới.

6. Breathing Exercises. Little by little as progress is made will the needed instruction be imparted. Let me point out however that no breathing exercises can be safely used where there is no attempt to impose rhythm upon the life of every day. The two activities must go hand in hand.

6. Các bài tập thở . Từng chút một, khi tiến bộ sẽ có sự hướng dẫn cần thiết được truyền đạt. Tuy nhiên, tôi muốn chỉ ra rằng không có bài tập thở nào có thể được sử dụng một cách an toàn khi không có sự cố gắng để áp đặt nhịp điệu lên cuộc sống hàng ngày. Hai hoạt động này phải song hành.

The effect of breathing exercises is varied:

Tác động của các bài tập thở rất đa dạng:

a. There is an oxygenating effect. The blood stream is purified and pressure is relieved. A symbolism underlies this:—for as the blood is oxygenated so is the life of the man in the three worlds permeated by spiritual energy.

a. Có tác dụng oxy hóa. Dòng máu được thanh lọc và áp lực được giảm bớt. Điều này mang một ý nghĩa biểu tượng: —khi máu được oxy hóa, cuộc sống của con người trong ba cõi cũng được thấm nhuần năng lượng tinh thần.

b. There is the imposition of a peculiar rhythm, brought about by the particular spacing and time limit of the breaths—inhalation, retention, and exhalation—and this will vary according to the counts.

b. Có sự áp đặt một nhịp điệu đặc biệt, được tạo ra bởi sự phân khoảng và giới hạn thời gian cụ thể của các hơi thở—hít vào, giữ lại và thở ra—và điều này sẽ thay đổi tùy theo nhịp đếm.

c. There is a subtle effect of prana (which is the subjective element underlying the air breathed in and out) which affects most potently the body of prana, the vital or etheric body. Students should remember that subtle effects are more powerful than the physical effects. They produce results [207] in two directions; on the physical body and on the etheric body. The entire vital body assumes a particular rhythm according to the breathing exercises. This kept up for a long period of time will have a shattering or a cohesive effect upon the physical body, and devitalise or vitalise the etheric body correspondingly.

c. Có một tác động vi tế của prana (là yếu tố chủ quan nằm dưới không khí hít vào và thở ra) ảnh hưởng mạnh mẽ đến thể prana, hay thể sinh lực/dĩ thái. Học viên nên nhớ rằng các tác động vi tế mạnh mẽ hơn tác động vật chất. Chúng tạo ra kết quả [207] theo hai hướng: trên thể xác và trên thể dĩ thái. Toàn bộ thể sinh lực sẽ tuân theo một nhịp điệu nhất định tùy thuộc vào các bài tập thở. Nếu duy trì trong một thời gian dài, điều này sẽ có tác động phá vỡ hoặc kết dính lên thể xác và làm giảm hoặc tăng sinh lực cho thể dĩ thái tương ứng.

d. There is the effect upon the centres, which is most effectual and which follows the trend of the aspirant’s thought. If, for instance, a man thinks upon the solar plexus, that centre will inevitably be vitalised and his emotional nature be strengthened. Hence the need for students to hold their meditation steady in the head and so awaken the head centre.

d. Có tác động lên các trung tâm, hiệu quả nhất và theo xu hướng suy nghĩ của người chí nguyện. Nếu, chẳng hạn, một người nghĩ đến trung tâm tùng thái dương, trung tâm đó sẽ không tránh khỏi được truyền sinh lực và bản chất cảm xúc của y được củng cố. Do đó, học viên cần duy trì tham thiền trong đầu và từ đó đánh thức trung tâm đầu.

Let no one doubt the effect of breathing exercises upon the vital body. As surely as eating and drinking build or destroy the physical body, and aid or hinder its right functioning, so do breathing exercises produce potent effects, if rightly used over a long enough period of time.

Không ai nên nghi ngờ về tác động của các bài tập thở lên thể sinh lực. Cũng chắc chắn như việc ăn uống xây dựng hoặc phá hủy thể xác, và hỗ trợ hoặc cản trở chức năng đúng của nó, các bài tập thở nếu được sử dụng đúng cách trong một khoảng thời gian dài cũng tạo ra các tác động mạnh mẽ.

And what shall I say about the last three requirements? Nothing much, for the time is not yet ripe for their correct understanding. Step by step must the aspirant proceed and his theory must not persistently run ahead of his experience. Perhaps I can give the clue to each of these three through the formulation of a simple rule for daily living. This will be grasped by those for whom it is intended and will not work harm to the unevolved. This rule, when followed will bring about, gently and subjectively, the necessary conditions for the manifestation of the requirement.

Và tôi sẽ nói gì về ba yêu cầu cuối cùng? Không nhiều, vì thời gian chưa chín muồi để hiểu chúng một cách đúng đắn. Người chí nguyện phải tiến từng bước và lý thuyết không nên chạy trước trải nghiệm. Có lẽ tôi có thể đưa ra manh mối cho từng yêu cầu trong ba yêu cầu này qua việc đưa ra một quy tắc đơn giản cho cuộc sống hàng ngày. Điều này sẽ được những người có ý định thấu hiểu nắm bắt và sẽ không gây hại cho những người chưa phát triển. Quy tắc này, khi được tuân thủ, sẽ mang lại một cách nhẹ nhàng và chủ quan các điều kiện cần thiết cho sự biểu hiện của yêu cầu.

Learn to use the will through the development of steady purpose and the organising of the daily life, so that that purpose may reach fulfillment.

Học cách sử dụng ý chí qua việc phát triển mục đích vững chắc và tổ chức đời sống hàng ngày, sao cho mục đích đó có thể đạt đến hoàn thành.

Learn to do something else with time besides organise [208] it and use it. Learn to do several things simultaneously and utilise therefore all the three bodies synchronously. Let me illustrate: —When you are practicing your daily breathing exercise keep your count with accuracy, listen attentively for the sound that “soundeth in the silence” of the interlude. At the same time think of yourself as the soul, the imposer of rhythm, and the voice that speaks. This is something which can be acquired by practice by each of you.

Học cách làm điều gì đó khác với thời gian ngoài việc tổ chức [208] và sử dụng nó. Học cách làm nhiều việc đồng thời và do đó sử dụng cả ba thể cùng lúc. Để tôi minh họa: —Khi bạn đang luyện tập bài tập thở hàng ngày, hãy giữ nhịp đếm chính xác, lắng nghe một cách chăm chú âm thanh “vang lên trong im lặng” của khoảng nghỉ. Đồng thời, hãy nghĩ về bản thân như là linh hồn, người áp đặt nhịp điệu và là tiếng nói đang nói. Đây là điều mà mỗi người trong các bạn có thể đạt được qua thực hành.

Discover the serpent of illusion by the help of the serpent of wisdom and then will the sleeping serpent mount upwards to the place of meeting.

Khám phá con rắn ảo tưởng với sự trợ giúp của con rắn minh triết, và khi đó con rắn đang ngủ sẽ tiến lên phía trên đến nơi hội ngộ.

Webinar 49—Rule 6.1

RULE SIX

QUI LUẬT SÁU (208-216)

The devas of the lower four feel the force when the eye opens; they are driven forth and lose their master.

Các thiên thần của bốn cõi thấp cảm nhận được mãnh lực khi con mắt mở ra; họ bị xua đuổi và đánh mất chủ nhân của mình.

THE WORK OF THE EYE

Công việc của Con Mắt [211]

We have for consideration now one of the simplest of the Rules for Magic yet at the same time one of the most practical, and one upon which the entire success of all magical work depends.

Bây giờ chúng ta xem xét một trong những Quy luật về Huyền Thuật đơn giản nhất, nhưng đồng thời cũng là một trong những quy luật thực tế nhất, và là quy luật mà toàn bộ thành công của mọi công việc huyền thuật phụ thuộc vào.

I would like to point out to the investigating aspirant that the key to the situation depicted in the rule lies in the word contemplation found in the preceding one. Let us therefore study that word with care and seek its accurate definition.

Tôi muốn chỉ rõ cho những người chí nguyện đang tìm hiểu rằng chìa khóa của tình huống được miêu tả trong quy luật nằm ở từ “chiêm ngưỡng” được tìm thấy trong quy luật trước đó. Vì vậy, chúng ta hãy nghiên cứu kỹ từ này và tìm kiếm định nghĩa chính xác của nó.

To contemplate involves steady vision, one-pointedly directed towards a specific objective. The soul or Solar Angel might be regarded as gazing in three directions. TWM 209-211

Chiêm ngưỡng bao hàm tầm nhìn ổn định, nhất tâm hướng đến một mục tiêu cụ thể. Linh hồn hay Thái dương Thiên Thần có thể được xem như đang nhìn theo ba hướng:

1. Towards the Light Supernal, towards that central Life or Energy which holds hid within Itself the purpose and plan towards which all Being tends. I know not how to express this more clearly. What that directive force may be, what is the secret of Being Itself is only revealed during the more advanced initiations, and is only finally grasped when the causal body itself, the karana sarira, disintegrates and the final limitation slips away. With this direction of the Solar Angel’s vision we need not concern ourselves.

1. Hướng về Ánh Sáng Siêu Phàm, hướng về Sự Sống hay Năng Lượng trung tâm đang ẩn giấu trong Chính Nó mục đích và kế hoạch mà mọi Sự Sống đều hướng đến. Tôi không biết làm cách nào để diễn đạt điều này rõ ràng hơn. Mãnh Lực dẫn dắt đó là gì, bí mật của Chính Bản Thể đó là gì chỉ được tiết lộ trong những cuộc điểm đạo cao hơn, và chỉ được nắm bắt cuối cùng khi thể nhân quả, tức karana sarira, tan rã và sự giới hạn cuối cùng biến mất. Với hướng nhìn này của Thái dương Thiên Thần, chúng ta không cần bận tâm.

2. Over the kingdom wherein the Solar Angel reigns supreme, over the world of souls, or egoic impulses, of hierarchical work and of pure thought. This is the Kingdom of God, the world of heavenly Being. It is the state whereof disciples are becoming increasingly aware, wherein initiates work, and from which the Masters in Their graded ranks direct the evolutionary process of the planet. These two directions in which the soul looks constitute the world of its spiritual experience and the object of its aspiration. Let it not be forgotten that the spiritual man, the Solar Angel, has also his goal of endeavour, and that his becomes the predominant impulse once the subjugation of the vehicle in the three worlds is brought about. Just as the fully intelligent human being can only begin consciously to function as a soul and to contact the kingdom of the soul, so only the fully active and dominant soul, in which the buddhic principle is potentially controlling, can begin to contact the state of pure Being in which the monad or spirit eternally rests.

2. Hướng về vương quốc nơi Thái dương Thiên Thần trị vì tối cao, trên thế giới của các linh hồn, hay những xung lực của chân ngã, công việc huyền giai, và tư tưởng thuần khiết. Đây là Vương quốc của Thượng Đế, thế giới của Bản Thể Cõi Trời. Đó là trạng thái mà các đệ tử ngày càng nhận thức rõ hơn, nơi mà các điểm đạo đồ làm việc, và từ đó các Chân sư trong các cấp bậc của Các Ngài điều hành tiến trình tiến hóa của [212] hành tinh. Hai hướng nhìn này của linh hồn tạo thành thế giới kinh nghiệm tinh thần của Ngài và mục tiêu của sự khao khát của Ngài. Đừng quên rằng con người tinh thần, tức Thái dương Thiên Thần, cũng có mục tiêu nỗ lực của mình, và điều này trở thành xung lực chính yếu một khi sự chế ngự các thể trong ba cõi được hoàn tất. Cũng giống như con người trí tuệ đầy đủ chỉ có thể bắt đầu hoạt động một cách có ý thức như một linh hồn và tiếp xúc với vương quốc của linh hồn, chỉ có linh hồn hoạt động đầy đủ và chi phối, trong đó nguyên lý bồ đề có tiềm năng chi phối, mới có thể bắt đầu tiếp xúc với trạng thái Bản Thể thuần khiết nơi chân thần hay linh hồn vĩnh viễn an trú.

The development of the intellect in man marks his fitness for the work of treading the Path, back to full soul consciousness. The development of the buddhic or wisdom-love aspect in the Solar Angel demonstrates his fitness for further progression in the awareness of the state of pure Being. TWM 211-212

Sự phát triển trí tuệ ở con người đánh dấu sự thích hợp của y cho công việc đi trên Đường Đạo, trở lại với tâm thức đầy đủ của linh hồn. Sự phát triển khía cạnh bồ đề hay bác ái-minh triết ở Thái dương Thiên Thần biểu lộ sự thích hợp của Ngài cho sự tiến triển xa hơn trong việc nhận thức trạng thái của Bản Thể thuần khiết. TWM 211-212

3. The third direction in which the soul looks and wherein he exercises the faculty of contemplative vision is towards his reflection in the three worlds. The object of the long struggle between the higher and the lower man has been to make the lower responsive to and sensitively aware of the forces emanating from the soul as the soul “contemplates” his triple instrument.

3. Hướng thứ ba mà linh hồn nhìn vào và nơi Ngài thực hiện năng lực của tầm nhìn chiêm ngưỡng là hướng đến phản chiếu của Ngài trong ba cõi giới. Mục tiêu của cuộc đấu tranh lâu dài giữa con người cao cả và thấp kém là làm cho con người thấp kém trở nên đáp ứng và nhạy bén với những mãnh lực phát ra từ linh hồn khi linh hồn “chiêm ngưỡng” công cụ tam phân của mình.

There is an interesting relation between these three “directions of contemplation” and the awakening in the three major centres. This cannot be more than hinted at owing to the abstruseness of the subject. So many factors govern this awakening, and each aspirant has to determine for himself the order and mode of his awakening.

Có một mối liên hệ thú vị giữa ba “hướng chiêm ngưỡng” này và sự thức tỉnh trong ba trung tâm chính. Điều này không thể được gợi ý nhiều hơn do tính chất trừu tượng của chủ đề. Quá nhiều yếu tố chi phối sự thức tỉnh này, và mỗi người chí nguyện phải tự xác định trình tự và phương thức thức tỉnh của mình.

The centre between the eyebrows, commonly called the third eye has a unique and peculiar function. As I have pointed out elsewhere, students must not confound the pineal gland with the third eye. They are related, but not the same. In The Secret Doctrine they are apparently regarded as the same, and the casual reader can easily confound them but they are by no means identical. This H. P. B. knew, but the apparent confusion was permitted until more of the etheric nature of forms was known. The third eye manifests as a result of the vibratory interaction between the forces of the soul, working through the pineal gland, and the forces of the personality, working through the pituitary body. These negative and positive forces interact, and when potent enough produce the light in the head. Just as the physical eye came into being in response to the light of the sun so the spiritual eye equally comes into being in response to the light of the spiritual sun. As the aspirant develops he becomes aware of the light. I refer to the light in all forms, veiled by all sheaths and expressions of the divine life, and not just to the light within the aspirant himself. As his awareness of this light increases so does the apparatus of vision develop, and the mechanism whereby he can see things in the spiritual light comes into being in the etheric body.

Trung tâm giữa hai chân mày, thường được gọi là con mắt thứ ba, có một chức năng độc đáo và đặc biệt. Như tôi đã chỉ ra ở nơi khác, học viên không được nhầm lẫn tuyến tùng với con mắt thứ ba. Chúng có liên quan nhưng không giống nhau. Trong Giáo Lý Bí Nhiệm, chúng dường như [213] được xem là giống nhau, và người đọc không cẩn thận dễ nhầm lẫn chúng, nhưng chúng hoàn toàn không đồng nhất. H. P. Blavatsky biết điều này, nhưng sự nhầm lẫn rõ ràng đó được phép tồn tại cho đến khi bản chất dĩ thái của các hình tướng được hiểu rõ hơn. Con mắt thứ ba biểu hiện như một kết quả của sự tương tác dao động giữa các mãnh lực của linh hồn, hoạt động thông qua tuyến tùng, và các mãnh lực của phàm ngã, hoạt động thông qua tuyến yên. Những mãnh lực âm và dương này tương tác, và khi đủ mạnh, tạo ra ánh sáng trong đầu. Cũng như con mắt vật lý xuất hiện để đáp ứng với ánh sáng của mặt trời, con mắt tinh thần cũng xuất hiện để đáp ứng với ánh sáng của mặt trời tinh thần. Khi người chí nguyện phát triển, y nhận thức được ánh sáng này. Tôi muốn nói đến ánh sáng trong tất cả các hình tướng, bị che phủ bởi các lớp vỏ và sự biểu hiện của sự sống thiêng liêng, chứ không chỉ ánh sáng trong chính người chí nguyện. Khi nhận thức về ánh sáng này tăng lên, bộ máy thị giác phát triển, và cơ chế nhờ đó y có thể nhìn thấy mọi vật trong ánh sáng tinh thần được hình thành trong thể dĩ thái.

This is the eye of Shiva, for it is only fully utilized in the magical work when the monadic aspect, the will aspect, is controlling. TWM 212-213

Đây là con mắt của Shiva, vì nó chỉ được sử dụng đầy đủ trong công việc huyền thuật khi khía cạnh chân thần, khía cạnh ý chí, chi phối. TWM 212-213

By means of the third eye the soul accomplishes three activities:

Bằng cách sử dụng con mắt thứ ba, linh hồn thực hiện ba hoạt động:

1. It is the eye of vision. By its means, the spiritual man sees behind the forms of all aspects of divine expression. He becomes aware of the light of the world, and contacts the soul within all forms. Just as the physical eye registers forms, so does the spiritual eye register the illumination within those forms which “illumination” indicates a specific state of being. It opens up the world of radiance.

1. Đây là con mắt của tầm nhìn. Nhờ nó, con người tinh thần nhìn thấy đằng sau các hình tướng của mọi khía cạnh biểu hiện thiêng liêng. Y nhận biết ánh sáng của thế giới và tiếp xúc với linh hồn trong tất cả các hình tướng. Cũng như mắt vật lý ghi nhận các hình tướng, con mắt tinh thần ghi nhận sự soi sáng bên trong các hình tướng đó, và “sự soi sáng” này biểu thị một trạng thái bản thể cụ thể. Nó mở ra thế giới của sự chói rạng.

2. It is the controlling factor of the magical work. All white magical work is carried forward with a definitely constructive purpose, made possible through the use of the intelligent will. In other words, the soul knows the plan, and when the alignment is right and the attitude correct, the will aspect of the divine man can function and bring about results in the three worlds. The organ used is the third eye. The analogy to this can be seen in the often noticed power of the human eye as it controls other human beings and animals by a look, and through steady gazing can act magnetically. Force flows through the focused human eye. Force flows through the focused third eye.

2. Đây là yếu tố kiểm soát công việc huyền thuật. Tất cả công việc huyền thuật chánh đạo được thực hiện với một mục đích mang tính xây dựng rõ ràng, nhờ vào việc sử dụng ý chí trí tuệ. Nói cách khác, linh hồn biết [214] Thiên Cơ, và khi sự chỉnh hợp đúng đắn và thái độ thích hợp, khía cạnh ý chí của con người thiêng liêng có thể hoạt động và mang lại kết quả trong ba cõi. Công cụ được sử dụng là con mắt thứ ba. Sự tương tự có thể được thấy trong năng lực thường được nhận thấy của mắt người khi nó kiểm soát các sinh vật khác hoặc động vật bằng một cái nhìn, và thông qua việc nhìn chăm chú có thể hành động một cách từ tính. Mãnh lực chảy qua con mắt người tập trung; mãnh lực chảy qua con mắt thứ ba tập trung.

3. It has a destructive aspect and the energy flowing through the third eye can have a disintegrating and destroying effect. It can, through its focused attention, directed by the intelligent will, drive out physical matter. It is the agent of the soul in the purificatory work. TWM 213-214

3. Nó có một khía cạnh phá hủy, và năng lượng chảy qua con mắt thứ ba có thể có hiệu ứng phân rã và phá hủy. Nó có thể, thông qua sự tập trung chú ý, được hướng dẫn bởi ý chí trí tuệ, đẩy lùi vật chất vật lý. Nó là công cụ của linh hồn trong công việc thanh tẩy.

Webinar 50—Rule 6.2

By means of the third eye the soul accomplishes three activities:

Thông qua con mắt thứ ba, linh hồn thực hiện ba hoạt động:

1. It is the eye of vision. By its means, the spiritual man sees behind the forms of all aspects of divine expression. He becomes aware of the light of the world, and contacts the soul within all forms. Just as the physical eye registers forms, so does the spiritual eye register the illumination within those forms which “illumination” indicates a specific state of being. It opens up the world of radiance.

1. Đây là con mắt của tầm nhìn. Nhờ nó, con người tinh thần nhìn thấy đằng sau các hình tướng của mọi khía cạnh biểu hiện thiêng liêng. Y nhận biết ánh sáng của thế giới và tiếp xúc với linh hồn trong tất cả các hình tướng. Cũng như mắt vật lý ghi nhận các hình tướng, con mắt tinh thần ghi nhận sự soi sáng bên trong các hình tướng đó, và “sự soi sáng” này biểu thị một trạng thái bản thể cụ thể. Nó mở ra thế giới của sự chói rạng.

2. It is the controlling factor of the magical work. All white magical work is carried forward with a definitely constructive purpose, made possible through the use of the intelligent will. In other words, the soul knows the [214] plan, and when the alignment is right and the attitude correct, the will aspect of the divine man can function and bring about results in the three worlds. The organ used is the third eye. The analogy to this can be seen in the often noticed power of the human eye as it controls other human beings and animals by a look, and through steady gazing can act magnetically. Force flows through the focused human eye. Force flows through the focused third eye.

2. Nó là yếu tố kiểm soát của công việc huyền thuật. Mọi công việc huyền thuật chánh đạo đều được thực hiện với mục đích xây dựng rõ ràng, được thực hiện thông qua việc sử dụng ý chí thông minh. Nói cách khác, linh hồn biết Thiên Cơ, và khi sự chỉnh hợp là đúng và thái độ chính xác, khía cạnh ý chí của con người thiêng liêng có thể hoạt động và mang lại kết quả trong ba cõi giới. Cơ quan được sử dụng là con mắt thứ ba. Sự tương đồng với điều này có thể được nhìn thấy trong sức mạnh thường thấy của mắt người khi nó điều khiển những người khác và động vật bằng một cái nhìn, và thông qua cái nhìn chằm chằm ổn định có thể hoạt động từ tính. Mãnh lực tuôn chảy qua con mắt người tập trung. Mãnh lực tuôn chảy qua con mắt thứ ba tập trung.

3. It has a destructive aspect and the energy flowing through the third eye can have a disintegrating and destroying effect. It can, through its focused attention, directed by the intelligent will, drive out physical matter. It is the agent of the soul in the purificatory work.

3. Nó có một khía cạnh hủy diệt và năng lượng chảy qua con mắt thứ ba có thể có tác dụng phân rã và hủy diệt. Thông qua sự chú ý tập trung của nó, được điều khiển bởi ý chí thông minh, nó có thể đẩy lùi vật chất hữu hình. Nó là tác nhân của linh hồn trong công việc thanh lọc. TWM 213-214

It should be noted here that in each of the subtle bodies in the three worlds there is a corresponding point of focus, and the centre between the eyebrows is but the physical counterpart (for etheric matter is physical) of inner correspondences.

Cần lưu ý ở đây rằng trong mỗi thể vi tế thuộc ba cõi giới đều có một điểm tập trung tương ứng, và trung tâm giữa hai lông mày chỉ là đối phần vật lý (vì chất dĩ thái là vật chất) của các tương ứng nội tại.

Through this point of focus the soul looks out upon, or contemplates the mental plane, including the mental mechanism. Similarly on the emotional plane, the soul is brought into a state of awareness or vision of its emotional sheath and the world of astral phenomena, and the physical parallel exists for the etheric body.

Thông qua điểm tập trung này, linh hồn quan sát hoặc chiêm ngưỡng cõi trí, bao gồm cơ chế trí tuệ. Tương tự, trên cõi cảm dục, linh hồn được đưa vào trạng thái nhận thức hoặc thị kiến về thể cảm xúc của nó và thế giới hiện tượng cảm dục, và tương ứng vật lý tồn tại với thể dĩ thái.

It is this third work of the soul that is touched upon here, the destructive work of getting rid of the old forms, of shaking out of the bodies matter of an undesirable nature and of breaking down the barriers and limitations to true soul activity.

Chính công việc thứ ba này của linh hồn được đề cập đến ở đây, công việc phá hủy để loại bỏ các hình tướng cũ, rũ bỏ khỏi các thể vật chất có bản chất không mong muốn và phá vỡ các rào cản và hạn chế đối với hoạt động thực sự của linh hồn.

These three activities of the soul, through the medium of the third eye, are the correspondences to the three aspects, and students would find it of interest to work these out.

Ba hoạt động này của linh hồn, thông qua phương tiện của con mắt thứ ba, là các tương ứng với ba khía cạnh, và học viên sẽ thấy thú vị khi khám phá ra các mối liên hệ này.

The seeing of the light within all forms through the agency of the third eye (brought into being through the realization of the light in the head, the spiritual light) is [215] but the correspondence to the physical eye, revealing forms in the light of the physical sun. This corresponds to the personality.

Việc nhìn thấy ánh sáng bên trong mọi hình tướng thông qua con mắt thứ ba (được mang lại nhờ sự nhận thức ánh sáng trong đầu, tức ánh sáng tinh thần) [215] chỉ là sự tương ứng với con mắt vật lý, cái giúp tiết lộ các hình tướng dưới ánh sáng của mặt trời vật lý. Điều này tương ứng với phàm ngã.

The aspect of control through magnetic energy and the attractive force in the spiritual eye, which is the dominant factor in magical work, is the correspondence to the soul. In a most mysterious sense, the soul is the eye of the monad, enabling the monad, which is pure Being, to work, to contact, to know, and to see.

Khía cạnh kiểm soát thông qua năng lượng từ tính và lực thu hút của con mắt tinh thần, yếu tố chi phối trong công việc huyền thuật, là sự tương ứng với linh hồn. Theo một ý nghĩa huyền bí sâu sắc, linh hồn là con mắt của chân thần, cho phép chân thần, vốn là Bản Thể thuần khiết, làm việc, tiếp xúc, hiểu biết và nhìn thấy.

The aspect of destruction is the correspondence to the monad or will aspect; in the last analysis it is the monad that brings about the final abstraction, destroys all forms, withdraws itself from manifestation and ends the cycle of creative work.

Khía cạnh hủy diệt là sự tương ứng với Chân thần hay khía cạnh ý chí; trong phân tích cuối cùng, chính Chân thần mang lại sự trừu tượng cuối cùng, phá hủy mọi hình tướng, rút ​​​​mình khỏi sự biểu hiện và kết thúc chu kỳ của công việc sáng tạo.

Bringing these concepts down to practical expression in relation to the Rule under consideration, it can be noted that all these three activities are dealt with in this Rule. The third eye opens as the result of conscious development, right alignment and the inflow of soul life. Then its magnetic controlling force makes itself felt, controlling the lives of the lower bodies, driving forth the lower four elementals (of earth, water, fire, air) and forcing the lunar lords to abdicate. The personality, which has hitherto been the master, no longer can control, and the soul comes into full domination in the three worlds.

Mang những khái niệm này xuống biểu hiện thực tiễn liên quan đến Quy Luật đang được xem xét, có thể thấy rằng cả ba hoạt động này đều được đề cập trong Quy Luật này. Con mắt thứ ba mở ra nhờ vào sự phát triển có ý thức, sự chỉnh hợp đúng đắn và sự tuôn chảy của sự sống linh hồn. Sau đó, lực kiểm soát từ tính của nó tự biểu lộ, kiểm soát đời sống của các thể thấp, điều khiển bốn tinh linh hành khí thấp (đất, nước, lửa, khí) và buộc các nguyệt tinh quân phải thoái vị. Phàm ngã, vốn trước đây là chủ nhân, không còn khả năng kiểm soát nữa, và linh hồn hoàn toàn làm chủ trong ba cõi giới.

The elemental of earth, who is the sum total of the many lives which form the physical body, is controlled and feels the eye of the Master (the one Master in the head) upon it. The gross elements constituting that body are “driven forth” and better and more adequate atoms or lives are built in.

Tinh linh đất, tổng thể của vô số sự sống tạo thành thể xác, được kiểm soát và cảm nhận con mắt của Chủ nhân (Chủ Nhân duy nhất trong đầu) hướng vào nó. Các yếu tố thô tạo thành thể xác đó bị “đẩy đi,” và những nguyên tử hay sự sống tốt hơn và đầy đủ hơn được xây dựng vào.

The elemental of the astral or body of water undergoes a similar activity plus a stabilising effect which brings to an end the restlessness and fluidic tempestuousness which have hitherto characterised it. Through the controlling magnetic power of the spiritual eye, the soul [216] rebuilds the astral body and holds it steady and coherent through its focused attention.

Tinh linh cảm dục hoặc thể của nước trải qua một hoạt động tương tự, cộng với hiệu ứng ổn định hóa, kết thúc sự bất an và tính khí thất thường đã đặc trưng cho nó từ trước. Thông qua năng lực từ tính kiểm soát của mắt tinh thần, linh hồn tái tạo thể cảm dục và giữ nó vững vàng, hòa hợp nhờ sự chú tâm tập trung.

Again, an analogous process goes forward in the mental body. Old forms disappear before the clear light in which the spiritual man is working and as the Old Commentary puts it:

Một quá trình tương tự cũng diễn ra trong thể trí. Các hình tướng cũ biến mất trước ánh sáng rõ ràng trong đó con người tinh thần đang làm việc, và như Cổ Luận diễn đạt:

“One glance the soul doth cast upon the forms of mind. A ray of light streams out and darkness disappears; distortions and evil forms fade out, and all the little fires die out; the lesser lights are no more seen.

“Linh hồn ném một cái nhìn về các hình tướng của thể trí Một tia sáng chiếu ra và bóng tối biến mất; những biến dạng và hình tướng xấu xí tan biến, tất cả các ngọn lửa nhỏ lụi tàn; những ánh sáng nhỏ hơn không còn được thấy.

“The eye through light awakens into life the needed modes of Being. To the disciple this will carry knowledge. To the ignorant no sense is seen for a sense lacks.”

“Con mắt qua ánh sáng đánh thức vào sự sống những mô thức cần thiết của Bản Thể. Với người đệ tử, điều này sẽ mang lại sự hiểu biết. Với kẻ vô minh, không cảm nhận được gì bởi vì y thiếu một giác quan.”

The elemental of the air symbolically understood is that substratum of energy which works through the forms of the etheric body, which is dealt with through the breath, and handled through the science of pranayama. This elemental form is the intricate etheric structure, the nadis and centres, and all advanced students know well how these are controlled by the focused attention of the soul in contemplation, acting through the head centre, focused in the region of the third eye and swept into right and specific activity by an act of the will. In the above sentence I have concentrated the formula for all magical work on the physical plane. It is through the etheric body and the force, directed through one or other of the centres, that the soul carries on the work in magic.

Tinh linh của không khí, hiểu theo nghĩa biểu tượng, là nền tảng năng lượng hoạt động thông qua các hình tướng của thể dĩ thái, được xử lý thông qua hơi thở và kiểm soát nhờ khoa học pranayama. Hình tướng hành khí này là cấu trúc dĩ thái phức tạp, các nadi và các trung tâm, và tất cả các học viên tiên tiến đều biết rõ cách chúng được kiểm soát nhờ sự tập trung chú ý của linh hồn trong trạng thái chiêm ngưỡng, hoạt động qua trung tâm đầu, tập trung tại vùng con mắt thứ ba và được kích hoạt đúng và cụ thể nhờ một hành động của ý chí. Trong câu trên, tôi đã cô đọng công thức cho mọi công việc huyền thuật trên cõi trần. Chính qua thể dĩ thái và mãnh lực, được hướng qua một trong các trung tâm, mà linh hồn thực hiện công việc huyền thuật.

It is through the intense focusing of intention in the head and the turning of the attention through the third eye towards the centre to be used that the force finds its correct outlet. That force is made potent by the energising, directed intelligent will. Study these points, for in them you will find the clue to the magical work in your own life reconstruction, to the magical work of human reconstruction which certain adepts are carrying on, and to the magical work of the evolution of the divine plan which is the motivating power of the occult Hierarchy.

Chính nhờ sự tập trung ý định mãnh liệt trong đầu và sự hướng chú ý qua con mắt thứ ba đến trung tâm cần được sử dụng mà mãnh lực tìm thấy lối thoát đúng đắn của nó. Mãnh lực đó trở nên mạnh mẽ nhờ ý chí được tăng cường, hướng dẫn và thông tuệ. Hãy nghiên cứu các điểm này, vì trong đó bạn sẽ tìm thấy manh mối cho công việc huyền thuật trong việc tái cấu trúc cuộc sống của chính mình, công việc huyền thuật tái cấu trúc nhân loại mà các Chân sư đang thực hiện, và công việc huyền thuật của sự tiến hóa Thiên Cơ, vốn là động lực thúc đẩy của Thánh đoàn Huyền bí.

Scroll to Top