Luận Về Chánh Thuật – Quy Luật 4-6 (Trang 122-216)

📘 Sách: Luận Về Chánh Thuật – Tác giả: Alice Bailey

RULE FOUR

Sound, light, vibration, and the form blend and merge, and thus the work is one. It proceedeth under the law, and naught can hinder now the work from going forward. The man breathes deeply. He concentrates his forces, and drives the thought-form from him.

Âm thanh, ánh sáng, rung động, và hình tướng hòa trộn và dung hợp, và như thế công việc trở thành một. Công việc tiến hành theo định luật, và không gì có thể ngăn cản công việc tiến tới. Con người hít thở sâu. Y tập trung các lực của mình và đẩy hình tư tưởng ra khỏi y.

The Creative Work of Sound

[125]

[125]

Before centering our attention upon this rule, it would be well to recollect certain things, so that our reflection on the rule may proceed with profit.

Trước khi tập trung sự chú ý của chúng ta vào quy luật này, sẽ hữu ích nếu nhớ lại một vài điều, để sự suy ngẫm của chúng ta về quy luật có thể tiến hành có lợi.

First, the rule we are at present considering concerns work on the mental plane, and before such work is possible it is important to have a developed mind, a well-nurtured intelligence, and also to have achieved some measure of mind control. These rules are not for beginners in the occult sciences; they are for those who are ready for magical work and for labour on the plane of mind. Love is the great unifier, the prime attractive impulse, cosmic and microcosmic, but the mind is the main creative factor and the utiliser of the energies of the cosmos. Love attracts, but the mind attracts, repels and co-ordinates, so that its potency is inconceivable. Is it not possible dimly to sense a state of affairs in mental realms analogous to that now seen in the emotional? Can we picture the condition of the world when the intellect is as potent and as compelling as is the emotional nature at this time? The race is progressing into an era wherein men will function as minds; when intelligence will be stronger than desire, and when thought powers will be used for appeal and for the guidance of the world, as now physical and emotional means are employed.

Trước hết, quy luật mà chúng ta hiện đang xem xét liên quan đến công việc trên cõi trí; và trước khi công việc như thế trở nên khả hữu, điều quan trọng là phải có một thể trí phát triển, một trí tuệ được nuôi dưỡng tốt, và cũng phải đạt được một mức độ kiểm soát thể trí nào đó. Những quy luật này không dành cho người mới bắt đầu trong các khoa học huyền bí; chúng dành cho những ai đã sẵn sàng cho công việc huyền thuật và cho công việc trên cõi trí. Tình thương là yếu tố hợp nhất vĩ đại, xung lực hấp dẫn chủ yếu, cả vũ trụ lẫn tiểu thiên địa; nhưng thể trí là yếu tố sáng tạo chính và là khí cụ sử dụng các năng lượng của vũ trụ. Tình thương thu hút, nhưng thể trí thu hút, đẩy lùi và phối hợp, đến mức quyền năng của nó không thể quan niệm nổi. Chẳng phải có thể lờ mờ cảm nhận một tình trạng trong các cõi trí tương đồng với điều hiện nay được thấy trong cõi cảm xúc sao? Chúng ta có thể hình dung tình trạng thế giới khi trí năng mạnh mẽ và có sức cưỡng dẫn như bản chất cảm xúc vào lúc này không? Nhân loại đang tiến vào một kỷ nguyên trong đó con người sẽ vận hành như các thể trí; khi trí tuệ sẽ mạnh hơn dục vọng, và khi các quyền năng tư tưởng sẽ được dùng để kêu gọi và hướng dẫn thế giới, như hiện nay các phương tiện hồng trần và cảm xúc đang được sử dụng.

There lies in this thought a profoundly necessary incentive for a right understanding of the laws of thought, and a correct instruction to be given of the use of mental [126] matter, and the building of that matter into thought forms.

Trong tư tưởng này có một động lực hết sức cần thiết để thấu hiểu đúng các định luật của tư tưởng, và để đưa ra sự huấn luyện đúng đắn về cách sử dụng chất liệu cõi trí [126], cũng như việc kiến tạo chất liệu ấy thành các hình tư tưởng.

These rules concern themselves with this information. The second necessary recollection is that the worker in magic and the potent entity wielding these forces must be the soul, the spiritual man, and this for the following reasons:

Các quy luật này liên quan đến thông tin ấy. Điều cần ghi nhớ thứ hai là người hoạt động trong huyền thuật và thực thể mạnh mẽ vận dụng các mãnh lực này phải là linh hồn, con người tinh thần, vì những lý do sau đây:

1. Only the soul has a direct and clear understanding of the creative purpose and of the plan.

1. Chỉ linh hồn mới có sự thấu hiểu trực tiếp và rõ ràng về mục đích sáng tạo và về Thiên Cơ.

2. Only the soul, whose nature is intelligent love can be trusted with the knowledge, the symbols and the formulas which are necessary to the correct conditioning of the magical work.

2. Chỉ linh hồn, với bản chất là tình thương sáng suốt, mới có thể được tin cậy giao phó tri thức, các biểu tượng và các công thức cần thiết cho việc định hình đúng đắn công việc huyền thuật.

3. Only the soul has power to work in all three worlds at once, and yet remain detached, and therefore karmically free from the results of such work.

3. Chỉ linh hồn mới có quyền năng hoạt động đồng thời trong cả ba cõi thấp mà vẫn tách rời, và do đó tự do về mặt nghiệp quả đối với các kết quả của công việc ấy.

4. Only the soul is truly group-conscious and actuated by pure unselfish purpose.

4. Chỉ linh hồn mới thật sự có tâm thức nhóm và được thúc đẩy bởi mục đích thanh khiết, vô tư lợi.

5. Only the soul, with the open eye of vision, can see the end from the beginning, and can hold in steadiness the true picture of the ultimate consummation.

5. Chỉ linh hồn, với con mắt tầm nhìn đã mở, mới có thể thấy kết cuộc ngay từ khởi đầu, và giữ vững hình ảnh chân thật của sự viên mãn tối hậu.

You ask, whether workers in black magic possess not an equal power? I answer, no. They can work in the three worlds, but they work from and in the plane of mind, and do not function, therefore, outside their field of endeavour, as does the soul. They can achieve, from their proximity and identification with their working materials, results more potent temporarily and more rapid in accomplishment than the worker in the White Brotherhood, but the results are ephemeral; they carry destruction and disaster in their wake, and the black magician is eventually submerged in the resulting cataclysm.

Các bạn hỏi liệu những người hoạt động trong Hắc thuật có sở hữu một quyền năng ngang bằng hay không? Tôi trả lời là không. Họ có thể hoạt động trong ba cõi thấp, nhưng họ hoạt động từ và trong cõi trí, và do đó không vận hành bên ngoài phạm vi nỗ lực của họ như linh hồn vẫn làm. Nhờ sự gần gũi và đồng hoá với chất liệu làm việc của họ, họ có thể đạt được những kết quả tạm thời mạnh mẽ hơn và thành tựu nhanh chóng hơn người hoạt động trong Huynh đệ Đoàn Chánh đạo, nhưng các kết quả ấy chóng tàn; chúng kéo theo sự hủy diệt và tai họa, và nhà hắc thuật cuối cùng bị nhấn chìm trong cơn đại biến do chính kết quả ấy gây ra.

Let us therefore remember the necessity of a correct [127] use of the mind, and (at the same time) let us ever hold a position beyond and detached from the creative work of our minds, desires and physical accomplishment.

Vì vậy, chúng ta hãy nhớ đến sự cần thiết phải sử dụng thể trí một cách đúng đắn [127], đồng thời luôn giữ một vị thế vượt lên trên và tách rời khỏi công việc sáng tạo của thể trí, dục vọng và thành tựu hồng trần của chúng ta.

Four words stand forth as one considers Rule IV. First, sound, the formula, or word of power which the soul communicates and so starts the work. This word is dual. It is sounded forth on the note to which the soul responds, his own peculiar note, blended with that of his personality. This chord of two notes is the producer of the resulting effects, and is more important than the set phrase composing the word of power.

Bốn từ nổi bật khi người ta xem xét Quy luật IV. Trước hết là âm thanh, công thức, hay Quyền năng từ mà linh hồn truyền đạt và nhờ đó khởi động công việc. Linh từ này có tính nhị phân. Nó được xướng lên theo âm điệu mà linh hồn đáp ứng, âm điệu riêng biệt của chính y, hòa quyện với âm điệu của phàm ngã y. Hợp âm gồm hai âm điệu này tạo ra các hiệu quả tiếp theo, và quan trọng hơn cụm từ cố định cấu thành Quyền năng từ.

Herein lies the problem—to sound these two notes synchronously and with the mind focussed. Herein lies a clue to the significance of the AUM or OM. In the early stages of meditation work, the word is sounded audibly, whilst later it is sounded inaudibly. This training in the sound of the AUM is an unconscious preparation for the dual work of spiritual creation; and facility comes as the attentive aspirant accustoms himself to hear within his brain the soundless sound of OM.

Chính trong đó có vấn đề: xướng hai âm điệu này đồng thời và với thể trí được tập trung. Chính trong đó có một chìa khóa cho thâm nghĩa của AUM hay OM. Trong những giai đoạn đầu của công việc tham thiền, Linh từ được xướng thành tiếng; về sau, nó được xướng không thành tiếng. Sự rèn luyện trong âm thanh của AUM này là một sự chuẩn bị vô thức cho công việc nhị phân của sáng tạo tinh thần; và sự thuần thục đến khi người chí nguyện chăm chú tự tập quen nghe trong bộ não của mình âm thanh vô thanh của OM.

I would suggest here, that students accustom themselves to work in this manner, sounding the word audibly and with much frequency at the close of the morning meditation, but emphasizing in the early part that close attention to the inaudible hearing which will develop the sensitivity of the inner ear, the etheric ear. Later, when the personal note or sound is established and the inner sound is sensed, there can be definite practise in blending the two. This entails the closest attention and the power to perform two activities simultaneously, with the mental attitude of attention to both.

Ở đây, tôi muốn đề nghị rằng các đạo sinh nên tự tập quen làm việc theo cách này, xướng Linh từ thành tiếng và thường xuyên vào cuối buổi tham thiền buổi sáng, nhưng trong phần đầu cần nhấn mạnh sự chú tâm sát sao vào việc nghe không thành tiếng, điều sẽ phát triển độ nhạy của nội nhĩ, tức tai dĩ thái. Về sau, khi âm điệu hay âm thanh cá nhân đã được thiết lập và âm thanh bên trong được cảm nhận, có thể thực hành rõ ràng việc hòa quyện hai âm ấy. Điều này đòi hỏi sự chú tâm cao độ nhất và quyền năng thực hiện đồng thời hai hoạt động, với thái độ trí tuệ chú ý đến cả hai.

Students whose aspiration is keen and clear would do well to face the issue where the magical work is concerned, and study their aptitude in meditation and their willingness to proceed with stability and caution with the needed discipline. To facilitate this I would suggest [128] that any who are deeply concerned in the work should study and answer the following questions in the light of their souls, and to their higher selves make reply.

Những đạo sinh có khát vọng mãnh liệt và rõ ràng nên đối diện vấn đề liên quan đến công việc huyền thuật, và nghiên cứu khả năng của mình trong tham thiền cũng như sự sẵn lòng tiến tới với sự ổn định và thận trọng, cùng với kỷ luật cần thiết. Để tạo thuận lợi cho điều này, tôi đề nghị [128] rằng bất cứ ai thật sự quan tâm sâu xa đến công việc này nên nghiên cứu và trả lời các câu hỏi sau đây trong ánh sáng của linh hồn mình, và đáp lại chân ngã của mình.

1. Do you feel you have reached the stage wherein you can:

1. Bạn có cảm thấy mình đã đạt đến giai đoạn trong đó bạn có thể:

a. Eliminate the meditation form as you now have it.

a. Loại bỏ hình thức tham thiền như hiện nay bạn đang có.

b. Enter with relative facility into the state of contemplation.

b. Đi vào trạng thái chiêm ngưỡng với sự tương đối dễ dàng.

c. Recognize the vibration of your own soul.

c. Nhận ra rung động của linh hồn chính mình.

2. Does the Sacred Word mean anything to you, and could you formulate clearly the reason you sound it?

2. Linh từ Thiêng liêng có ý nghĩa gì đối với bạn không, và bạn có thể trình bày rõ ràng lý do bạn xướng Linh từ ấy không?

3. Are you anxious to proceed in this work because your personality aspires, or because your soul is beginning consciously to utilize its mechanism?

3. Bạn nóng lòng tiến hành công việc này vì phàm ngã của bạn khát vọng, hay vì linh hồn của bạn đang bắt đầu sử dụng bộ máy của nó một cách có ý thức?

In connection with this last question, a close analysis is called for, and I conjure you to speak truth to yourself and thus clearly ascertain the true position. This question lies between a man’s soul and himself.

Liên quan đến câu hỏi cuối cùng này, cần có một sự phân tích sát sao, và tôi khẩn thiết kêu gọi các bạn hãy nói thật với chính mình, nhờ đó xác định rõ vị trí chân thật. Câu hỏi này nằm giữa linh hồn của một người và chính y.

I would like to interpolate here a few words in connection with myself. Students can side-track their energies in idle speculation as to my identity. Of what moment is it? My province in relation to the group is to give needed assistance to those who seek to fit themselves for active work as disciples. I am a disciple and, having progressed further along the Path of Return than the aspirants who study these instructions, know somewhat the pitfalls, understand what is needed, and can aid in the preparation for the momentous moment when they pass the portal. Is more necessary? Is not truth of equal value if enunciated by an aspirant, a disciple or a Master, or e’en a Christ? Mayhap the nearer I am to you the greater may be my usefulness. My anonymity will not be broken and speculations as to my identity are fruitless [129] waste of time. Suffice it that I am an Oriental, that I am on the Teaching Ray, and closely associated with the Master K. H., that part of my work is the steady search for aspirants of strong heart, fervent devotion and trained minds, and that I am a disciple, as are all from the humblest probationer up to the greatest of the Great Ones. One lesson all aspirants need to learn and to learn early and that is, that concentration upon the personality of the Teacher, hoping for personal contact with him, and constant visioning of that condition called “accepted chelaship” serves to postpone that contact and delay the acceptance. Seek to equip your instrument, learn to function in quietness, fulfill your obligations and do your duty, develop restraint of speech and that calm poise that comes from an unselfish life motive and forget the selfish satisfaction that might well up in the heart when recognition of faithfulness comes from the watching Hierarchy.

Ở đây, tôi muốn chen vào vài lời liên quan đến chính tôi. Các đạo sinh có thể làm lệch hướng năng lượng của mình vào những suy đoán vô ích về lai lịch của tôi. Điều đó quan trọng gì? Phạm vi của tôi trong liên hệ với nhóm là đem lại sự trợ giúp cần thiết cho những ai tìm cách tự chuẩn bị cho công việc tích cực với tư cách là các đệ tử. Tôi là một đệ tử và, vì đã tiến xa hơn trên Con Đường Trở Về so với những người chí nguyện đang nghiên cứu các huấn thị này, tôi biết phần nào các cạm bẫy, thấu hiểu điều cần thiết, và có thể trợ giúp trong việc chuẩn bị cho thời điểm trọng đại khi họ đi qua cánh cửa. Cần gì hơn nữa? Chân lý há chẳng có cùng giá trị dù được phát biểu bởi một người chí nguyện, một đệ tử hay một Chân sư, thậm chí bởi một Đức Christ sao? Có lẽ tôi càng gần các bạn thì sự hữu ích của tôi càng lớn. Sự ẩn danh của tôi sẽ không bị phá vỡ, và những suy đoán về lai lịch của tôi chỉ là sự lãng phí thời gian vô ích [129]. Chỉ cần biết rằng tôi là một người phương Đông, rằng tôi thuộc Cung Giáo Huấn và liên hệ mật thiết với Chân sư K.H.; rằng một phần công việc của tôi là kiên trì tìm kiếm những người chí nguyện có trái tim mạnh mẽ, lòng sùng tín nhiệt thành và thể trí được rèn luyện; và rằng tôi là một đệ tử, cũng như tất cả mọi người, từ người dự bị khiêm tốn nhất cho đến vị vĩ đại nhất trong Các Đấng Cao Cả. Một bài học mà mọi người chí nguyện cần học, và học từ sớm, là việc tập trung vào phàm ngã của Huấn sư, hy vọng có sự tiếp xúc cá nhân với Ngài, và liên tục hình dung tình trạng được gọi là “địa vị đệ tử được chấp nhận” chỉ làm trì hoãn sự tiếp xúc ấy và làm chậm sự chấp nhận. Hãy tìm cách trang bị khí cụ của bạn, học cách vận hành trong tĩnh lặng, hoàn thành các bổn phận và làm tròn trách nhiệm, phát triển sự kiềm chế lời nói và sự quân bình điềm tĩnh phát sinh từ động cơ sống vô tư lợi, và quên đi sự thỏa mãn ích kỷ có thể dâng lên trong tim khi sự trung thành được Thánh đoàn đang quan sát công nhận.

Give this Instruction careful consideration. These are days wherein many adjustments and changes are being wrought in the world of men. In the resulting confusion, individuals are appreciating the necessity for the uniting of their forces and for cooperation in their efforts, and the need for group work is more apparent than ever before. These are days, therefore, wherein quietness and confidence must be your strength, and wherein the only safeguard lies in a close searching of all underlying motives. As seen on the surface, many apparently diverse principles emerge and the surge of battle appears to go, first one way and then another. As seen on the inner side, the emerging factors are simpler. The contest leads primarily to a testing of motives, and through this testing it is made apparent (to the watching Guides) who, in every group, are capable of clear thinking, accurate discrimination, patient endurance, and an ability to proceed along the probationary path toward the portal of initiation, [130] untrammelled and undisturbed in their inner life by the upheavals on the surface. Could you but see it, the unrest and difficulty everywhere is producing a good which far outweighs the seeming evil. Souls are finding themselves and learning dependence upon the inner Ruler. When all outward props fail and when all the apparent authorities differ in the solution proffered, then souls are thrown back upon themselves and learn to seek within. This inner contact with the higher self is becoming apparent in gradually unfolding degree, and leads to that self-reliance and inward calm which is based upon the rule of the inner God and which, therefore, makes a man an instrument for service in the world.

Hãy xem xét kỹ Huấn thị này. Đây là những ngày mà nhiều điều chỉnh và thay đổi đang được thực hiện trong thế giới của con người. Trong sự hỗn loạn phát sinh, các cá nhân đang nhận ra sự cần thiết phải hợp nhất các mãnh lực của họ và hợp tác trong các nỗ lực của họ, và nhu cầu về công việc nhóm hiện rõ hơn bao giờ hết. Vì vậy, đây là những ngày trong đó sự tĩnh lặng và lòng tin cậy phải là sức mạnh của các bạn, và trong đó sự bảo vệ duy nhất nằm ở việc khảo sát kỹ lưỡng mọi động cơ nền tảng. Khi nhìn trên bề mặt, nhiều nguyên tắc dường như khác biệt xuất hiện, và làn sóng chiến đấu dường như lúc nghiêng bên này, lúc nghiêng bên kia. Khi nhìn từ phía bên trong, các yếu tố đang xuất hiện đơn giản hơn. Cuộc tranh đấu chủ yếu dẫn đến một cuộc thử thách các động cơ, và qua cuộc thử thách này, các Đấng Hướng Đạo đang quan sát thấy rõ ai, trong mỗi nhóm, có khả năng tư duy rõ ràng, phân biện chính xác, chịu đựng kiên nhẫn, và có khả năng tiến bước trên con đường dự bị hướng đến cổng điểm đạo [130], không bị trói buộc và không bị xáo động trong đời sống nội tâm bởi những biến động trên bề mặt. Nếu các bạn có thể thấy được, sự bất ổn và khó khăn ở khắp nơi đang tạo ra một điều thiện vượt xa điều ác bề ngoài. Các linh hồn đang tìm thấy chính mình và học nương tựa vào Đấng Cai Quản bên trong. Khi mọi chỗ dựa bên ngoài sụp đổ và khi mọi thẩm quyền bề ngoài khác nhau trong giải pháp được đưa ra, bấy giờ các linh hồn bị đẩy trở lại với chính mình và học tìm kiếm bên trong. Sự tiếp xúc nội tâm này với chân ngã đang trở nên rõ ràng theo mức độ khai mở dần dần, và dẫn đến sự tự lực cùng sự an tĩnh bên trong vốn dựa trên quyền cai quản của Thượng đế nội tâm, và do đó khiến con người trở thành một khí cụ phụng sự trong thế gian.

Several things are apparent at this juncture to the careful thoughtful student of men and of motives.

Vào thời điểm này, có vài điều trở nên rõ ràng đối với đạo sinh biết suy tư cẩn trọng về con người và các động cơ.

First: That idealism and the sensing of the plan for humanity have a close relationship. Idealism is analogous to the thought that precedes creation. The capacity for abstract thought and for concentration on the ideal is only now in process of development, for this capacity involves the utilization of certain atoms, the employment of matter of the higher sub-planes and the ability to synchronize one’s vibrations with the Great Ones. Only a few people in the race are true idealists (though their numbers are increasing); the small minority only, employ the concrete mind; while the masses are swayed entirely by the emotions. The time is coming when the intuitional body (the buddhic vehicle) will be organized, utilizing the higher spiritual mind as its medium. When that organization is completed the lower concrete mind will be nothing but a transmitter or an interpreter. Even abstract or concrete thought will be superseded, and we shall have simply the inflow of the intuition, taking form through the medium of the mind stuff. We shall, therefore, have the apprehension of much that is now incomprehensible to our lower plane vision.

Trước hết: chủ nghĩa lý tưởng và sự cảm nhận Thiên Cơ dành cho nhân loại có một mối liên hệ mật thiết. Chủ nghĩa lý tưởng tương tự với tư tưởng đi trước sự sáng tạo. Khả năng tư duy trừu tượng và tập trung vào lý tưởng hiện chỉ mới đang trong tiến trình phát triển, vì khả năng này liên quan đến việc sử dụng một số nguyên tử nhất định, dùng chất liệu của các cõi phụ cao hơn, và khả năng đồng bộ hóa các rung động của mình với Các Đấng Cao Cả. Chỉ một ít người trong nhân loại là những nhà lý tưởng đích thực, dù số lượng của họ đang tăng lên; chỉ một thiểu số nhỏ sử dụng trí cụ thể; còn quần chúng thì hoàn toàn bị cảm xúc chi phối. Thời điểm đang đến khi thể trực giác, tức vận cụ Bồ đề, sẽ được tổ chức, sử dụng trí tuệ tinh thần cao hơn làm trung gian. Khi sự tổ chức ấy hoàn tất, hạ trí cụ thể sẽ không là gì khác ngoài một bộ truyền dẫn hay một người diễn giải. Ngay cả tư tưởng trừu tượng hay cụ thể cũng sẽ bị thay thế, và chúng ta sẽ chỉ có dòng tuôn nhập của trực giác, mang hình tướng qua trung gian chất liệu cõi trí. Vì vậy, chúng ta sẽ có sự lĩnh hội nhiều điều hiện nay còn không thể hiểu được đối với tầm nhìn ở cõi thấp của chúng ta.

[131]

[131]

In all great movements you have some thought or aggregation of thoughts cast into the minds of the so-called idealists by the Great White Brotherhood. The idea is sounded forth by Them. They choose a man or a group of men and cast into their minds some idea. There it germinates and is embodied by them in other thoughts, not so pure or so wise but necessarily colored by the individuality of the thinker. These thought-forms are, in their turn, picked up by the concrete thinkers of the world who—grasping the main outline of the idea—crystallize it and build it into more definite shape, into one more easily apprehended by the general public. It has therefore now reached the lower levels of the mental plane, and a further development becomes possible. It is then seized upon as desirable by those who are focussed upon the astral plane; to them it makes an emotional appeal, becoming public opinion. It is now practically ready to take shape upon the physical plane, and we have the practical adaptation of an ideal to the needs of the physical life. It has been stepped down; it has lost much of its original beauty; it is not as pure and as lovely as when first conceived, and it is distorted from its original shape but it is, nevertheless, more adapted to public use and can be employed as a stepping-stone to higher things.

Trong mọi phong trào lớn, các bạn có một tư tưởng hay một tập hợp tư tưởng được Huynh đệ Đoàn Chánh đạo gieo vào thể trí của những người được gọi là các nhà lý tưởng. Ý tưởng được Các Ngài xướng ra. Các Ngài chọn một người hoặc một nhóm người và gieo vào thể trí họ một ý tưởng nào đó. Ở đó, nó nảy mầm và được họ thể hiện trong những tư tưởng khác, không thuần khiết hay minh triết bằng, nhưng tất yếu được nhuộm màu bởi cá tính của người tư duy. Đến lượt mình, các hình tư tưởng này được những người tư duy cụ thể của thế gian tiếp nhận; khi nắm được đường nét chính của ý tưởng, họ kết tinh nó và kiến tạo nó thành hình dạng xác định hơn, dễ được công chúng nói chung lĩnh hội hơn. Do đó, nó nay đã đạt đến các cấp độ thấp hơn của cõi trí, và một sự phát triển tiếp theo trở nên khả hữu. Rồi nó được những người tập trung trên cõi cảm dục nắm lấy như một điều đáng mong muốn; đối với họ, nó có sức hấp dẫn cảm xúc và trở thành công luận. Lúc này, nó gần như đã sẵn sàng mang hình tướng trên cõi hồng trần, và chúng ta có sự thích nghi thực tiễn của một lý tưởng với các nhu cầu của đời sống hồng trần. Nó đã được hạ xuống; nó đã mất đi nhiều vẻ đẹp nguyên thủy; nó không còn thuần khiết và đẹp đẽ như khi mới được hình thành, và nó bị méo mó so với hình dạng ban đầu, nhưng dù vậy, nó thích hợp hơn cho việc sử dụng của công chúng và có thể được dùng như một bậc thang dẫn đến những điều cao hơn.

Secondly: In this sensing of the plan and its later materialization, human units are involved and men have perforce to be employed. A vision is given of tremendous possibilities and indications are also granted of the manner in which these possibilities may become facts, but beyond that the Great Ones do not go. The detail and the method of concretizing the ideal and the necessary work is left to the sons of men. To the disciple who is an organizer and transmitter of the Plan falls the work of filling in the details and of taking the necessary action. At this point it is wise for him to remember that he comes (with his little plans) under the same law as do the Great [132] Ones in Their large endeavours, and that it is in his dealings with people and his manipulation of the human equation that the difficulties arise.

Thứ hai: trong sự cảm nhận Thiên Cơ này và sự hiện hình về sau của nó, các đơn vị nhân loại đều có liên quan, và con người tất yếu phải được sử dụng. Một tầm nhìn về những khả năng vô cùng lớn lao được ban cho, và những chỉ dẫn cũng được trao về cách thức qua đó các khả năng ấy có thể trở thành sự kiện, nhưng Các Đấng Cao Cả không đi xa hơn thế. Chi tiết và phương pháp cụ thể hóa lý tưởng cùng công việc cần thiết được giao lại cho những người con của nhân loại. Đối với người đệ tử là nhà tổ chức và người truyền dẫn Thiên Cơ, công việc lấp đầy các chi tiết và thực hiện hành động cần thiết được trao phó. Ở điểm này, y nên nhớ rằng y, với những kế hoạch nhỏ bé của mình, cũng ở dưới cùng một định luật như Các [132] Đấng Cao Cả trong những nỗ lực lớn lao của Các Ngài, và chính trong các giao tiếp của y với con người cùng việc xử lý phương trình nhân loại mà các khó khăn phát sinh.

Units for work fall into three groups:

Các đơn vị cho công việc chia thành ba nhóm:

(a) Those who can sense the plan and are commissioned to work it out.

(a) Những người có thể cảm nhận Thiên Cơ và được ủy nhiệm để thực hiện nó.

(b) Those who can be used but who are blind to the greater issues.

(b) Những người có thể được sử dụng nhưng mù lòa trước các vấn đề lớn hơn.

(c) Those who can sense nothing except those things which concern their own selfish interests.

(c) Những người không thể cảm nhận điều gì ngoài những điều liên quan đến các lợi ích ích kỷ của riêng họ.

The first group the Masters can contact. They work with these units of the human family and expect fair promise of average success. These both hear the sound, and vision the Plan. The second group have to be utilized as best may be, by the disciples of the world. The final group are frequently to be offset from the energy standpoint, and only used when necessary.

Nhóm thứ nhất, các Chân sư có thể tiếp xúc. Các Ngài làm việc với những đơn vị này của gia đình nhân loại và kỳ vọng một triển vọng hợp lý về thành công trung bình. Những người này vừa nghe âm thanh, vừa thấy Thiên Cơ. Nhóm thứ hai phải được các đệ tử của thế gian tận dụng tốt nhất có thể. Nhóm cuối cùng thường phải được hóa giải từ lập trường năng lượng, và chỉ được sử dụng khi cần thiết.

One of the primary conditions that a disciple has to cultivate, in order to sense the plan and be used by the Master, is solitude. In solitude the rose of the soul flourishes; in solitude the divine self can speak; in solitude the faculties and the graces of the higher self can take root and blossom in the personality. In solitude also the Master can approach and impress upon the quiescent soul the knowledge that He seeks to impart, the lesson that must be learnt, the method and plan for work that the disciple must grasp. In solitude the sound is heard. The Great Ones have to work through human instruments and the plan and the vision are much handicapped by failure on the part of these instruments.

Một trong những điều kiện chính yếu mà một đệ tử phải vun bồi để cảm nhận Thiên Cơ và được Chân sư sử dụng là sự cô tịch. Trong cô tịch, đóa hồng của linh hồn nở rộ; trong cô tịch, bản ngã thiêng liêng có thể lên tiếng; trong cô tịch, các năng lực và ân huệ của chân ngã có thể bén rễ và nở hoa trong phàm ngã. Cũng trong cô tịch, Chân sư có thể đến gần và ghi khắc lên linh hồn tĩnh lặng tri thức mà Ngài tìm cách truyền đạt, bài học phải được học, phương pháp và kế hoạch công việc mà đệ tử phải nắm bắt. Trong cô tịch, âm thanh được nghe thấy. Các Đấng Cao Cả phải làm việc qua các khí cụ nhân loại, và Thiên Cơ cùng tầm nhìn bị cản trở rất nhiều do sự thất bại của các khí cụ này.

Third: This brings me to the third point, the problems and the difficulties with which the Masters have to contend as They seek to further the plans of evolution through the medium of the sons of men. In conclave wise They make Their plans; with judgment, after due [133] discussion, They apportion the tasks; then, to those who offer themselves for service and who have some measure of soul contact, They seek to transmit as much of the plan as possible. They impress the plan and some suggestion as to its scope upon the mind of some man or some woman upon the physical plane. If that mind is unstable or oversatisfied, if it is filled with pride, with despair, or with self-depreciation, the vision does not come through with clarity of outline; if the emotional body is vibrating violently with some rhythm set up by the personality, or if the physical vehicle is ailing and concentrated attention is therefore prevented, what will happen? The Master will turn sadly away, distressed to think of the opportunity for service that the worker has lost through his own fault, and He will seek someone else to fill the need, —someone perhaps not so fundamentally suitable, but the only one available on account of the failure of the first one approached.

Thứ ba: điều này đưa tôi đến điểm thứ ba, các vấn đề và khó khăn mà các Chân sư phải đối diện khi Các Ngài tìm cách thúc đẩy các kế hoạch tiến hoá qua trung gian những người con của nhân loại. Trong mật nghị minh triết, Các Ngài lập kế hoạch; với sự phán đoán, sau khi thảo luận [133] đầy đủ, Các Ngài phân chia các nhiệm vụ; rồi đối với những ai tự hiến dâng cho phụng sự và có một mức độ tiếp xúc linh hồn nào đó, Các Ngài tìm cách truyền đạt càng nhiều Thiên Cơ càng tốt. Các Ngài ghi khắc Thiên Cơ và một vài gợi ý về phạm vi của nó lên thể trí của một người nam hay một người nữ trên cõi hồng trần. Nếu thể trí ấy bất ổn hoặc quá tự mãn, nếu nó đầy kiêu hãnh, tuyệt vọng hay tự hạ thấp mình, tầm nhìn sẽ không truyền xuống với đường nét rõ ràng; nếu thể cảm dục rung động dữ dội theo một nhịp điệu nào đó do phàm ngã thiết lập, hoặc nếu vận cụ hồng trần đau yếu và vì thế sự chú tâm tập trung bị ngăn cản, điều gì sẽ xảy ra? Chân sư sẽ buồn bã quay đi, đau lòng khi nghĩ đến cơ hội phụng sự mà người hoạt động đã đánh mất do lỗi của chính y, và Ngài sẽ tìm một người khác để đáp ứng nhu cầu — có lẽ một người không phù hợp căn bản bằng, nhưng là người duy nhất hiện có vì người đầu tiên được tiếp cận đã thất bại.

It might incidentally be of value here to remind aspirants to service that much work done by many is the result of over-zealousness and is not a carrying forward of the Master’s work. With wise discrimination He apportions the work and never lays upon one human being more than he can adequately accomplish. He can and does train His disciple so that it appears to the on-looking world as if he accomplishes miracles but forget not that the vast amount of work accomplished by one useful disciple only becomes possible when the control of all his three bodies is co-ordinated and his alignment accomplished. He who has a stable mental body that is strongly positive in reception from above, whilst negative to lower vibrations, he who has an astral body that is clear, uncoloured and still, he who also has a physical body with steady nerves and stable rhythm (it will be like a casket, beautiful, yet strong as steel) will serve as a vessel meet for the Master’s use, a channel [134] through which He can unhindered pour His blessing upon the world.

Nhân đây, có thể hữu ích khi nhắc nhở những người chí nguyện phụng sự rằng nhiều công việc do nhiều người thực hiện là kết quả của sự quá nhiệt thành, chứ không phải là việc xúc tiến công việc của Chân sư. Với sự phân biện sáng suốt, Ngài phân chia công việc và không bao giờ đặt lên một con người nhiều hơn những gì y có thể hoàn thành một cách thích đáng. Ngài có thể và thật sự huấn luyện đệ tử của Ngài đến mức đối với thế gian quan sát, dường như y làm được các phép lạ; nhưng đừng quên rằng khối lượng công việc lớn lao mà một đệ tử hữu dụng hoàn thành chỉ trở nên khả hữu khi sự kiểm soát cả ba thể của y được phối hợp và sự chỉnh hợp của y được hoàn tất. Người nào có thể trí ổn định, mang tính dương mạnh mẽ trong việc tiếp nhận từ bên trên, đồng thời mang tính âm đối với các rung động thấp hơn; người nào có thể cảm dục trong sáng, không nhuốm màu và tĩnh lặng; người nào cũng có thể xác với thần kinh vững vàng và nhịp điệu ổn định, giống như một chiếc tráp đẹp đẽ mà bền chắc như thép, người ấy sẽ phụng sự như một bình chứa thích hợp cho Chân sư sử dụng, một vận hà [134] qua đó Ngài có thể tuôn đổ phúc lành của Ngài xuống thế gian mà không bị cản trở.

Fourth: It should be noted that even the Great Ones Themselves have to lay Their plans largely allowing for the lack of perception of those on the physical plane through whom They have to work. They are handicapped and dependent upon Their physical plane instruments and Their main trouble concerns the point of evolution reached by the mass of men in the Occident.

Thứ tư: cần lưu ý rằng ngay cả chính Các Đấng Cao Cả cũng phải lập kế hoạch phần lớn có xét đến sự thiếu tri giác của những người trên cõi hồng trần mà qua họ Các Ngài phải làm việc. Các Ngài bị hạn chế và tùy thuộc vào các khí cụ trên cõi hồng trần của Các Ngài, và khó khăn chính của Các Ngài liên quan đến điểm tiến hoá mà khối đông con người ở phương Tây đã đạt tới.

Remember that this point is indicative of the success of the evolutionary process and not of its failure but, because much yet remains to be done, the work of the Lodge is often hindered. The point reached at this time might be expressed as a swinging from the rank materialism of the past into a growing and profound realization of the unseen worlds without the balance that comes from self-acquired knowledge. The forces that have been set in motion by the thinkers—the scientists of the world, the truly advanced religious men, the Spiritualists, the Christian Scientists, the New Thought workers, the Theosophists and the modern philosophers and workers in other fields of human thought—are gradually and steadily affecting the subtler bodies of humanity and are bringing them to a point where they are beginning to realize three things:

Hãy nhớ rằng điểm này biểu thị sự thành công của tiến trình tiến hoá chứ không phải sự thất bại của nó; nhưng vì còn nhiều điều phải làm, công việc của Thánh đoàn thường bị cản trở. Điểm đã đạt được vào lúc này có thể được diễn tả như một sự dao động từ chủ nghĩa vật chất thô thiển của quá khứ sang một sự nhận biết ngày càng sâu sắc về các thế giới vô hình, nhưng chưa có sự cân bằng đến từ tri thức tự mình đạt được. Các mãnh lực đã được các nhà tư tưởng khởi động — các nhà khoa học của thế gian, những người tôn giáo thật sự tiến bộ, các nhà thần linh học, các nhà Khoa học Kitô giáo, những người hoạt động trong Tư tưởng Mới, các nhà Thông Thiên Học, và các triết gia hiện đại cùng những người hoạt động trong các lĩnh vực khác của tư tưởng nhân loại — đang dần dần và đều đặn ảnh hưởng đến các thể tinh anh hơn của nhân loại và đưa họ đến điểm bắt đầu nhận ra ba điều:

a. The reality of the unseen worlds.

a. Thực tại của các thế giới vô hình.

b. The terrific power of thought.

b. Quyền năng khủng khiếp của tư tưởng.

c. The need for scientific knowledge on these two matters.

c. Nhu cầu về tri thức khoa học đối với hai vấn đề này.

Fifth: Certain dangers which aspirants must watch as they seek to be of use should here be mentioned:

Thứ năm: ở đây cần nêu ra một số nguy cơ mà những người chí nguyện phải canh chừng khi họ tìm cách trở nên hữu ích:

They must guard against overemphasizing one aspect at the expense of another part of the plan or vision.

Họ phải đề phòng việc nhấn mạnh quá mức một phương diện gây thiệt hại cho một phần khác của Thiên Cơ hay tầm nhìn.

They must avoid unequal concentration of thought [135] upon that part of the plan which appeals the most to them personally.

Họ phải tránh sự tập trung tư tưởng không cân bằng [135] vào phần Thiên Cơ hấp dẫn họ nhất về mặt cá nhân.

They must recognize the inability of the workers to continue to bring through the plans and to work together peacefully and steadily. Friction is oft unavoidable.

Họ phải nhận ra sự bất lực của những người hoạt động trong việc tiếp tục truyền dẫn các kế hoạch và làm việc chung với nhau một cách hòa bình, đều đặn. Ma sát thường khó tránh khỏi.

They must watch for the creeping in of self-interest and of ambition.

Họ phải canh chừng sự len lỏi của tư lợi và tham vọng.

They must guard against fatigue, due to long effort in materializing the plan and the strain incident upon high endeavour.

Họ phải đề phòng sự mệt mỏi do nỗ lực lâu dài trong việc hiện hình Thiên Cơ và sức căng phát sinh từ nỗ lực cao cả.

They must develop the capacity to recognize those who are sent to help them in the work.

Họ phải phát triển khả năng nhận ra những người được gửi đến để giúp họ trong công việc.

They must above all watch against failure to keep in touch with the higher self and with the Master.

Trên hết, họ phải canh chừng nguy cơ không duy trì được sự tiếp xúc với chân ngã và với Chân sư.

Another point that has to be remembered is that the problem to be solved by all who are seeking to co-operate with the Great White Lodge has four objects in view.

Một điểm khác cần được ghi nhớ là vấn đề phải được giải quyết bởi tất cả những ai tìm cách hợp tác với Thánh đoàn có bốn mục tiêu trước mắt.

First, that in the working out of the plan there is also the working out of karma. This karma is not merely individual nor purely national, but is part of the total working out of world karma.

Thứ nhất, trong việc thực hiện Thiên Cơ cũng có việc thực hiện nghiệp quả. Nghiệp quả này không chỉ là cá nhân cũng không thuần túy là quốc gia, mà là một phần của toàn bộ sự vận hành nghiệp quả thế giới.

Second. Another object is the preparing of an instrument for service in the inauguration of the New Age during the next two hundred years. The integration of a group of knowers and of mystics is going on steadily in all parts of the world and in all organizations. One group is being gathered but its members belong to many groups. To this group of knowers and mystics is given the opportunity of being the channel through which the Hierarchy can work, and through which the Great Ones can send Their illuminating thought. Through it also they can work for the uplift (in the occult sense) of humanity and thus aid evolution on every plane. According to the response of disciples, of mystics and of knowers everywhere, so will be the rapid coming in of the New Age.

Thứ hai. Một mục tiêu khác là chuẩn bị một khí cụ để phụng sự trong việc khai mở Kỷ Nguyên Mới trong hai trăm năm tới. Sự tích hợp của một nhóm các thức giả và nhà thần bí đang diễn ra đều đặn ở mọi nơi trên thế giới và trong mọi tổ chức. Một nhóm đang được quy tụ, nhưng các thành viên của nó thuộc về nhiều nhóm. Nhóm các thức giả và nhà thần bí này được trao cơ hội trở thành vận hà qua đó Thánh đoàn có thể làm việc, và qua đó Các Đấng Cao Cả có thể gửi tư tưởng soi sáng của Các Ngài. Qua nhóm ấy, Các Ngài cũng có thể làm việc để nâng cao nhân loại theo nghĩa huyền bí, và nhờ đó trợ giúp tiến hoá trên mọi cõi. Tùy theo sự đáp ứng của các đệ tử, các nhà thần bí và các thức giả ở khắp nơi, Kỷ Nguyên Mới sẽ đến nhanh chóng như thế.

[136]

[136]

I here seek to sound a word of warning: In the failure to respond, in the failure to adjust, construct and refine, in the failure to turn the inner ear to those voices on the subtler planes which utter “the Words of Reconstruction” may come the ultimate transference of the forces of reconstruction to other channels, the consequent withholding of opportunities and the ultimate discarding of the instrumentality of the group as a medium of service. I would like to emphasize the statement anent “the Words of Reconstruction,” begging all of you who earnestly desire to hear these words to study the Introduction to the book, Light on the Path. Let it be remembered that if the Great Ones have to change Their plans as to this integrating group of mystics, it will be changed by the mystics themselves—viewed as a group.

Ở đây, tôi tìm cách xướng lên một lời cảnh báo: trong sự thất bại đáp ứng, trong sự thất bại điều chỉnh, kiến tạo và tinh luyện, trong sự thất bại quay nội nhĩ về phía những tiếng nói trên các cõi tinh anh đang thốt ra “những Linh từ Tái thiết”, có thể xảy ra sự chuyển dịch tối hậu các mãnh lực tái thiết sang những vận hà khác, hệ quả là các cơ hội bị giữ lại và cuối cùng khí cụ nhóm bị loại bỏ như một phương tiện phụng sự. Tôi muốn nhấn mạnh lời phát biểu liên quan đến “những Linh từ Tái thiết”, khẩn cầu tất cả các bạn, những người tha thiết mong muốn nghe các Linh từ này, hãy nghiên cứu phần Dẫn nhập của sách Ánh sáng trên Đường Đạo. Hãy nhớ rằng nếu Các Đấng Cao Cả phải thay đổi kế hoạch của Các Ngài liên quan đến nhóm các nhà thần bí đang được tích hợp này, thì sự thay đổi ấy sẽ do chính các nhà thần bí thực hiện, khi được nhìn như một nhóm.

The third objective is the development of the intuition and discrimination of the disciples in the world, and their ability to sense the higher vision and to achieve at the cost of the lower, the consciousness of that higher plane. They will have to remember that the lower objective, owing to its proximity, will loom in many ways more attractive, and can only be transcended at infinite cost. Intuition must be developed in many people, and their sense of values adequately adjusted before this group, which must inaugurate the New Age, can measure up to the requirements.

Mục tiêu thứ ba là phát triển trực giác và sự phân biện của các đệ tử trong thế gian, cũng như khả năng của họ cảm nhận tầm nhìn cao hơn và đạt được tâm thức của cõi cao ấy với cái giá là cái thấp. Họ sẽ phải nhớ rằng mục tiêu thấp hơn, do ở gần hơn, sẽ hiện ra theo nhiều cách hấp dẫn hơn, và chỉ có thể được vượt qua với cái giá vô cùng lớn. Trực giác phải được phát triển nơi nhiều người, và ý thức về giá trị của họ phải được điều chỉnh thích đáng trước khi nhóm này, vốn phải khai mở Kỷ Nguyên Mới, có thể đáp ứng các yêu cầu.

Present day troubles are largely due to the lack of intuitive perception in the past and this fault lies primarily among the mystics of the world and not so much among the lower aspirants. The trouble has not lain in lack of idealism or even in a lack of intelligence and sincerity, it consists in the failure to sacrifice the personality at all times in order to make the intuitive realization demonstrate its realities. Compromise has been permitted and in the occult world compromise is forbidden. When indulged in, it leads to disaster and sweeps away eventually, [137] in ruin and in storm, the personalities of those who so stoop. People have sought to adjust the truth to the hour instead of adjusting the hour to the truth, and in diplomacy they have endeavored to bring about as much of the reality as they deem wise. The Masters are looking out for those with clear vision, uncompromising adherence to the truth as sensed, and capacity to drive steadily forward toward the ideal. This entails the following factors:

Những rắc rối ngày nay phần lớn do sự thiếu tri giác trực giác trong quá khứ, và lỗi này chủ yếu nằm nơi các nhà thần bí của thế gian hơn là nơi những người chí nguyện thấp hơn. Rắc rối không nằm ở sự thiếu chủ nghĩa lý tưởng, cũng không hẳn ở sự thiếu trí tuệ và lòng thành thật; nó nằm ở sự thất bại trong việc luôn luôn hy sinh phàm ngã để sự nhận biết trực giác có thể biểu lộ các thực tại của nó. Sự thỏa hiệp đã được cho phép, và trong thế giới huyền bí, thỏa hiệp bị cấm. Khi được nuông chiều, nó dẫn đến tai họa và cuối cùng cuốn phăng [137] trong đổ nát và bão tố các phàm ngã của những kẻ hạ mình như thế. Con người đã tìm cách điều chỉnh chân lý cho phù hợp với thời điểm, thay vì điều chỉnh thời điểm cho phù hợp với chân lý; và bằng ngoại giao, họ đã cố gắng đem lại thực tại trong chừng mực mà họ cho là khôn ngoan. Các Chân sư đang tìm kiếm những người có tầm nhìn rõ ràng, sự trung thành không thỏa hiệp với chân lý như đã cảm nhận, và khả năng tiến thẳng vững vàng về phía lý tưởng. Điều này đòi hỏi các yếu tố sau:

1. A recognition of that ideal through meditation.

1. Nhận ra lý tưởng ấy qua tham thiền.

2. Its application to the present through one-pointedness.

2. Áp dụng nó vào hiện tại qua sự nhất tâm.

3. Removal of the old and hindering thought-forms through self-sacrifice.

3. Loại bỏ các hình tư tưởng cũ kỹ và cản trở qua sự tự hy sinh.

4. A refusal to compromise, through clear vision.

4. Từ chối thỏa hiệp qua tầm nhìn rõ ràng.

5. A discrimination that enables the disciple always to distinguish between the acts of an individual and the individual himself.

5. Sự phân biện giúp đệ tử luôn phân biệt giữa hành vi của một cá nhân và chính cá nhân ấy.

6. Realization that, in the occult work, it is not permitted to interfere with personal karma any more than it is permitted to shield from the consequences of action. This entails therefore a refusal to interfere in anyone’s business—that is, as regards the personality life, and yet involves a refusal to shirk the business of the larger cause. It is essential that the workers learn to discriminate between the factors which make for personal liberty and those which militate against group liberty.

6. Nhận biết rằng trong công việc huyền bí, không được phép can thiệp vào nghiệp quả cá nhân, cũng như không được phép che chắn khỏi các hệ quả của hành động. Do đó, điều này đòi hỏi sự từ chối can thiệp vào công việc của bất cứ ai, tức là liên quan đến đời sống phàm ngã, nhưng đồng thời cũng bao hàm sự từ chối né tránh công việc của chính nghĩa lớn hơn. Điều thiết yếu là những người hoạt động phải học phân biện giữa các yếu tố tạo nên tự do cá nhân và những yếu tố chống lại tự do nhóm.

The fourth result to be brought about by the present opportunity to work is the bringing in the new cycle and the new group of participants. Workers in the new era will be drawn from all groups and the test of their choice depends largely upon the measure of impersonality with which they work and the strength of their [138] inner contact with the soul. It is not easy for any of you, therefore, submerged as you are in the smoke and roar of battle, to judge results with accuracy or to judge people with perfect propriety. These things have to be dealt with on the inner planes and are noted by the watching guides of the race. I would like here briefly to point out a few of the things for which the Great Ones look.

Kết quả thứ tư cần được đem lại bởi cơ hội làm việc hiện nay là sự đưa vào chu kỳ mới và nhóm những người tham dự mới. Những người hoạt động trong kỷ nguyên mới sẽ được rút ra từ mọi nhóm, và sự thử thách cho việc chọn lựa họ phần lớn tùy thuộc vào mức độ phi cá nhân mà họ thể hiện trong công việc và sức mạnh của sự tiếp xúc [138] nội tâm với linh hồn. Vì vậy, không dễ cho bất cứ ai trong các bạn, khi đang chìm trong khói và tiếng gầm của trận chiến, phán đoán kết quả một cách chính xác hay phán đoán con người một cách hoàn toàn thích đáng. Những điều này phải được xử lý trên các cõi bên trong và được các vị hướng đạo đang quan sát nhân loại ghi nhận. Ở đây, tôi muốn vắn tắt chỉ ra một vài điều mà Các Đấng Cao Cả tìm kiếm.

They look to see whether the inner flame—the result of effort wisely to work and think and do—burns with increased brilliance; they note whether it remains hidden and dim through the whirl of astral currents and by thought forms of personal antagonism, ambition and envy. As a result of world work some will be drawn into closer connection with the work of the Hierarchy, and others will be temporarily set back. Capacity to dominate the astral and to work from mental levels will largely count.

Các Ngài quan sát xem ngọn lửa bên trong, kết quả của nỗ lực làm việc, suy nghĩ và hành động một cách sáng suốt, có cháy sáng hơn không; Các Ngài ghi nhận liệu nó có vẫn bị che khuất và mờ nhạt bởi vòng xoáy của các dòng cảm dục và bởi các hình tư tưởng của sự đối kháng cá nhân, tham vọng và ganh tị hay không. Do kết quả của công việc thế giới, một số người sẽ được kéo vào mối liên hệ gần gũi hơn với công việc của Thánh đoàn, còn những người khác sẽ tạm thời bị đẩy lùi. Khả năng chế ngự cảm dục và làm việc từ các cấp độ của cõi trí sẽ có giá trị rất lớn.

They look to see who can struggle and contend for principle with personalities, and yet keep the link of love intact. This counts perhaps more than men realize and a man who can stand for principle and yet love all human beings—refusing compromise and yet refusing hate—has something rare to offer in these days and the Great Ones can use him. See to it, therefore, all of you who work, that with clear vision, upright purpose and firm undeviating action you forge ahead. See to it that you deal with patience and forbearance with those of your brothers who choose the lesser principle and the lesser right, who sacrifice the good of the group for their own personal ends or who use unworthy methods. Give to them love and care and a ready helping hand, for they will stumble on the way and sound the depth of the law. Stand ready then to lift them up and to offer to them opportunities for service, knowing that service is the great healer and teacher.

Các Ngài quan sát xem ai có thể đấu tranh và tranh đấu vì nguyên tắc với các phàm ngã, mà vẫn giữ nguyên vẹn mối dây tình thương. Điều này có lẽ quan trọng hơn con người nhận ra; và một người có thể đứng vững vì nguyên tắc mà vẫn thương yêu mọi con người, từ chối thỏa hiệp nhưng cũng từ chối thù hận, có một điều hiếm quý để dâng hiến trong những ngày này, và Các Đấng Cao Cả có thể sử dụng y. Vì vậy, tất cả các bạn đang hoạt động, hãy đảm bảo rằng với tầm nhìn rõ ràng, mục đích ngay thẳng và hành động vững chắc không lệch hướng, các bạn tiến lên phía trước. Hãy đảm bảo rằng các bạn đối xử bằng kiên nhẫn và khoan dung với những huynh đệ của mình, những người chọn nguyên tắc nhỏ hơn và điều đúng nhỏ hơn, những người hy sinh lợi ích của nhóm cho mục đích cá nhân của riêng họ, hoặc những người sử dụng các phương pháp không xứng đáng. Hãy trao cho họ tình thương, sự chăm sóc và bàn tay trợ giúp sẵn sàng, vì họ sẽ vấp ngã trên đường và thăm dò chiều sâu của định luật. Khi ấy, hãy sẵn sàng nâng họ dậy và trao cho họ các cơ hội phụng sự, biết rằng phụng sự là người chữa lành và huấn sư vĩ đại.

[139]

[139]

The Great Ones look to see the faculty of pliability and adaptability working out, that faculty of adaptation that is one of the fundamental laws of species which nature so wonderfully demonstrates. The transference of this law to the inner planes and its working out in the new cycle of effort must be undertaken. This law of adaptation involves the appreciation of the need, the recognition of the new force coming in with the new cycle and the consequent bringing together in wide synthesis of the need and of the force, regarding the personal self simply as a focal point for action and transmutation. It involves the transmutation of the five senses and their extension into the subtler planes so that sight, hearing, touch, taste and smell are welded into one synthetic cooperating whole, for use in the great work. On the physical plane, these tend to the unification of the personal life and to the adaptation of the physical world to the needs of the personal self. On the subtler planes they must be transmuted until they are adequate to the needs of the group of which the individual forms a fragmentary part. The ability to do this is one of the things that the Great Ones look for in those individuals whose privilege it may be to inaugurate the New Age.

Các Đấng Cao Cả quan sát xem năng lực mềm dẻo và thích nghi có được thể hiện hay không, năng lực thích nghi vốn là một trong những định luật căn bản của các loài mà thiên nhiên biểu lộ một cách kỳ diệu. Việc chuyển định luật này sang các cõi bên trong và thực hiện nó trong chu kỳ nỗ lực mới phải được đảm nhận. Định luật thích nghi này bao hàm sự nhận thức nhu cầu, sự nhận ra mãnh lực mới đang đi vào cùng với chu kỳ mới, và hệ quả là sự kết hợp trong một tổng hợp rộng lớn giữa nhu cầu và mãnh lực, xem bản ngã cá nhân chỉ như một điểm tập trung cho hành động và sự chuyển hoá. Nó bao hàm sự chuyển hoá năm giác quan và sự mở rộng của chúng vào các cõi tinh anh hơn, để thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác và khứu giác được hàn kết thành một toàn thể tổng hợp hợp tác, dùng cho công việc vĩ đại. Trên cõi hồng trần, các giác quan này có khuynh hướng thống nhất đời sống cá nhân và thích nghi thế giới hồng trần với các nhu cầu của bản ngã cá nhân. Trên các cõi tinh anh hơn, chúng phải được chuyển hoá cho đến khi chúng đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của nhóm mà cá nhân chỉ là một phần mảnh nhỏ trong đó. Khả năng làm điều này là một trong những điều Các Đấng Cao Cả tìm kiếm nơi những cá nhân có thể có đặc ân khai mở Kỷ Nguyên Mới.

Above all, They look for an enlarged channel from the soul to the physical brain, via the mind. Such an enlarged channel indicates that a man can be used. One might almost express it by saying that They look for the perfecting of the antaskarana, that channel of communication between the soul consciousness and the brain whose possessor is one whom the Masters can successfully use. They are guided in their choice of workers by a man’s personally achieved capacity and by his own hard won ability. When there is capacity, ability, and faculty, then the Great Ones joyfully employ him. The wrong angle has been, at times, over-emphasized and the reverse of this taught. The Masters must not be sought [140] because a man seeks capacity. They will be found when a man has capacity—capacity that makes him available for group work and that can be extended under careful instruction into the higher powers of the soul. Leadership in groups controlling the work of the New Age will grow out of the discipline of the individual, and leaders will be found among those who sense the inner issue. Leadership that endures does not come to those who strive for place and power nor for those who have their eyes only on outward conditions and overlook the underlying causes. Leadership does not come to those who place the personal self and its position and power before the good of the group. It comes enduringly to those who seek nothing for the separated self, to those who lose themselves in the good of the whole.

Trên hết, Các Ngài tìm kiếm một vận hà được mở rộng từ linh hồn đến bộ não hồng trần, qua thể trí. Một vận hà được mở rộng như thế cho thấy rằng một người có thể được sử dụng. Hầu như có thể diễn tả điều ấy bằng cách nói rằng Các Ngài tìm kiếm sự hoàn thiện của antahkarana, vận hà giao tiếp giữa tâm thức linh hồn và bộ não, mà người sở hữu nó là người các Chân sư có thể sử dụng thành công. Các Ngài được hướng dẫn trong việc chọn lựa những người hoạt động bởi khả năng do cá nhân đạt được của một người và năng lực mà chính y đã gian khổ giành được. Khi có khả năng, năng lực và bản lĩnh, bấy giờ Các Đấng Cao Cả hoan hỉ sử dụng y. Đôi khi, góc nhìn sai đã bị nhấn mạnh quá mức và điều ngược lại đã được dạy. Không nên tìm kiếm các Chân sư [140] vì một người tìm kiếm khả năng. Các Ngài sẽ được tìm thấy khi một người có khả năng — khả năng khiến y sẵn sàng cho công việc nhóm và có thể được mở rộng, dưới sự huấn luyện cẩn trọng, thành các quyền năng cao hơn của linh hồn. Quyền lãnh đạo trong các nhóm kiểm soát công việc của Kỷ Nguyên Mới sẽ phát sinh từ kỷ luật của cá nhân, và các nhà lãnh đạo sẽ được tìm thấy giữa những người cảm nhận vấn đề bên trong. Quyền lãnh đạo bền vững không đến với những ai cố gắng giành địa vị và quyền lực, cũng không đến với những ai chỉ chăm chú vào các điều kiện bên ngoài mà bỏ qua các nguyên nhân nền tảng. Quyền lãnh đạo không đến với những ai đặt bản ngã cá nhân cùng địa vị và quyền lực của nó lên trước lợi ích của nhóm. Nó đến một cách bền vững với những ai không tìm kiếm điều gì cho bản ngã biệt lập, với những ai đánh mất chính mình trong lợi ích của toàn thể.

To resume our consideration of the AUM. The Sound or the Sacred Word when correctly used has various effects which might be touched upon here.

Trở lại việc xem xét AUM. Âm thanh hay Linh từ Thiêng liêng, khi được sử dụng đúng, có nhiều hiệu quả khác nhau có thể được đề cập ở đây.

OM sounded forth, with intent thought behind it, acts as a disturber, a loosener of the coarse matter of the body of thought, of emotion, and of the physical body. When sounded forth with intense spiritual aspiration behind it, it acts as an attractive medium, and gathers in particles of pure matter to fill the places of those earlier thrown out. Students should strive to have these two activities in their minds as they use the Word in their meditation. This utilization of the Word is of practical value, and results in the building of good bodies for the use of the soul.

OM được xướng ra, với tư tưởng có chủ đích phía sau, hoạt động như một tác nhân khuấy động, làm lỏng ra chất liệu thô của thể tư tưởng, thể cảm xúc và thể xác. Khi được xướng ra với khát vọng tinh thần mãnh liệt phía sau, nó hoạt động như một trung gian hấp dẫn, quy tụ các hạt chất liệu tinh khiết để lấp vào chỗ của những hạt trước đó đã bị đẩy ra. Các đạo sinh nên cố gắng giữ hai hoạt động này trong thể trí khi họ sử dụng Linh từ trong tham thiền. Việc sử dụng Linh từ này có giá trị thực tiễn và đem lại kết quả là kiến tạo các thể tốt đẹp cho linh hồn sử dụng.

The use of the OM serves also to indicate to the workers on the universal planes, and to those in the outer world who are gifted with spiritual perception that a disciple is available for work and can be utilized actively in the needed places of the earth. This should be borne in mind by all aspirants and should serve as an [141] incentive in making the outer phenomenal life coincide with the spiritual impulse.

Việc sử dụng OM cũng nhằm báo hiệu cho những người hoạt động trên các cõi phổ quát, và cho những người ở thế giới bên ngoài có thiên phú tri giác tinh thần, rằng một đệ tử đang sẵn sàng cho công việc và có thể được sử dụng tích cực tại những nơi cần thiết trên Trái Đất. Điều này nên được mọi người chí nguyện ghi nhớ và nên đóng vai trò như một [141] động lực để khiến đời sống hiện tượng bên ngoài phù hợp với xung lực tinh thần.

The use of the Sacred Word has its place also in the magical work of the Hierarchy. Thought forms are created for the embodiment of ideas and these embodied forms are sent forth to contact the minds of the disciples who are responsible in the group of a Master for the carrying forward of the plan.

Việc sử dụng Linh từ Thiêng liêng cũng có vị trí của nó trong công việc huyền thuật của Thánh đoàn. Các hình tư tưởng được tạo ra để thể hiện các ý tưởng, và các hình tướng đã được thể hiện này được gửi đi để tiếp xúc với thể trí của những đệ tử chịu trách nhiệm trong nhóm của một Chân sư về việc xúc tiến Thiên Cơ.

Through the cultivated receptivity of the developed and controlled mental body, aspirants become aware of the ideas which the Masters bring through from the plane of the Universal Mind, and hence are in a position to co-operate intelligently. They, in their turn, as this Rule seeks to indicate, create thought forms of those received ideas, and utilize them in their groups for the helping of the world. The main work of a disciple on the mental plane is to train himself to do four things:

Nhờ khả năng tiếp nhận được vun bồi của thể trí đã phát triển và được kiểm soát, những người chí nguyện trở nên nhận biết các ý tưởng mà các Chân sư truyền xuống từ cõi của Vũ Trụ Trí, và do đó ở trong vị thế có thể hợp tác một cách thông minh. Đến lượt họ, như Quy luật này tìm cách chỉ ra, họ tạo ra các hình tư tưởng từ những ý tưởng đã tiếp nhận ấy, và sử dụng chúng trong các nhóm của họ để trợ giúp thế gian. Công việc chính của một đệ tử trên cõi trí là tự rèn luyện để làm bốn điều:

1. To be receptive to the mind of the Master.

1. Có khả năng tiếp nhận từ thể trí của Chân sư.

2. To cultivate a right intuitive understanding of the thoughts sent him by the Master.

2. Vun bồi sự thấu hiểu trực giác đúng đắn về những tư tưởng được Chân sư gửi đến cho y.

3. To embody the ideas received in such form as will be suitable for those he is engaged in helping.

3. Thể hiện các ý tưởng đã nhận được trong hình tướng thích hợp với những người mà y đang tham gia trợ giúp.

4. Through sound, light and vibration to make his thought form active (embodying as much of the universal thought as is desirable) so that other minds may contact it.

4. Qua âm thanh, ánh sáng và rung động, làm cho hình tư tưởng của y trở nên hoạt động, thể hiện nhiều tư tưởng phổ quát đến mức thích hợp, để các thể trí khác có thể tiếp xúc với nó.

Thus are groups gathered, organized, taught and lifted, and thus the Hierarchy of Adepts can reach the world.

Nhờ vậy, các nhóm được quy tụ, tổ chức, giảng dạy và nâng cao, và nhờ vậy Thánh đoàn các Chân sư có thể vươn tới thế gian.

There are many other uses, of course, but if the students will ponder on these three they will make it possible for further uses to be imparted later.

Dĩ nhiên còn nhiều cách sử dụng khác, nhưng nếu các đạo sinh suy ngẫm về ba cách này, họ sẽ khiến những cách sử dụng tiếp theo có thể được truyền đạt về sau.

May I add, that the sound is only truly potent when the disciple has learnt to subordinate the lesser sounds. Only as the sounds he sends forth normally into the [142] three worlds are reduced in volume and in activity, as well as in quantity will it be possible for the Sound to be heard, and so to accomplish its purpose. Only as the multitude of spoken words is reduced, and silence in speech is cultivated, will it be possible for the Word to make its power felt on the physical plane. Only when the many voices of the lower nature and of our environment are silenced, will the “Voice that speaketh in the stillness” make its presence felt. Only when the sound of many waters dies away in the adjustment of the emotions will the clear note of the God of the waters be heard.

Tôi xin nói thêm rằng âm thanh chỉ thật sự mạnh mẽ khi đệ tử đã học cách đặt các âm thanh thấp hơn vào vị trí phụ thuộc. Chỉ khi các âm thanh mà y thường phát ra vào [142] ba cõi thấp được giảm bớt về âm lượng, hoạt động cũng như số lượng, thì Âm Thanh mới có thể được nghe thấy và nhờ đó hoàn thành mục đích của nó. Chỉ khi vô số lời nói được giảm bớt, và sự im lặng trong lời nói được vun bồi, Linh từ mới có thể khiến quyền năng của nó được cảm nhận trên cõi hồng trần. Chỉ khi nhiều tiếng nói của bản chất thấp và của môi trường quanh ta được làm im lặng, thì “Tiếng Nói lên tiếng trong tĩnh lặng” mới khiến sự hiện diện của nó được cảm nhận. Chỉ khi âm thanh của nhiều dòng nước lắng xuống trong sự điều chỉnh các cảm xúc, âm điệu trong trẻo của Thượng đế của các dòng nước mới được nghe thấy.

People seldom realize the potency of a word, yet it is stated, “In the beginning was the Word, and the Word was God. Without Him was not anything made that was made.” When therefore we read those words our minds go back to the dawn of the creative process when, through the medium of sound, God spoke and the worlds were made.

Con người hiếm khi nhận ra quyền năng của một lời, tuy vậy có lời chép rằng: “Ban đầu là Linh từ, và Linh từ là Thượng đế. Không có Ngài thì chẳng có điều gì đã được tạo ra mà được tạo ra.” Vì vậy, khi đọc những lời ấy, thể trí chúng ta quay về buổi bình minh của tiến trình sáng tạo, khi qua trung gian âm thanh, Thượng đế đã phán và các thế giới được tạo nên.

It has been said that, “the chief agency by which Nature’s wheel is moved in a phenomenal direction is sound,” for the original sound or word sets in vibration the matter of which all forms are made and initiates that activity which characterizes even the atom of substance.

Người ta đã nói rằng: “tác nhân chính nhờ đó bánh xe của Thiên nhiên được chuyển động theo hướng hiện tượng là âm thanh,” vì âm thanh hay Linh từ nguyên thủy làm rung động chất liệu mà mọi hình tướng được tạo nên từ đó, và khởi phát hoạt động vốn đặc trưng ngay cả cho nguyên tử chất liệu.

The literature and the scriptures of all the ancient nations and great religions bear testimony to the efficacy of sound in producing all that is tangible and visible. The Hindus say very beautifully that “the Great Singer built the worlds, and the Universe is His Song.” This is another way of expressing the same idea. If this is realized and the science of this concept somewhat understood, the significance of our own words and the utterance of sound in speech, becomes almost a momentous happening.

Văn học và kinh điển của mọi dân tộc cổ xưa và các tôn giáo lớn đều làm chứng cho hiệu lực của âm thanh trong việc tạo ra mọi điều hữu hình và khả kiến. Người Ấn nói rất đẹp rằng “Đấng Ca Sĩ Vĩ Đại đã xây dựng các thế giới, và Vũ trụ là Bài Ca của Ngài.” Đây là một cách khác để diễn đạt cùng một ý tưởng. Nếu điều này được nhận ra và khoa học của quan niệm này được thấu hiểu phần nào, thì thâm nghĩa của chính lời nói chúng ta và việc phát ra âm thanh trong ngôn từ trở thành một sự kiện gần như trọng đại.

Sound or speech and the use of words have been regarded [143] by the ancient philosophers (and are increasingly so regarded by modern thinkers) as the highest agent used by man in moulding himself and his surroundings. Thought, speech and the resultant activity on the physical plane complete the triplicity which make a man what he is, and place him where he is.

Âm thanh hay lời nói và việc sử dụng ngôn từ đã được các triết gia cổ xưa xem [143] là tác nhân cao nhất mà con người dùng để uốn nắn chính mình và môi trường quanh mình, và các nhà tư tưởng hiện đại ngày càng nhìn nhận như vậy. Tư tưởng, lời nói và hoạt động phát sinh trên cõi hồng trần hoàn tất bộ ba khiến một người trở thành điều y là, và đặt y vào nơi y đang ở.

The purpose of all speech is to clothe thought and thus make our thoughts available for others. When we speak we evoke a thought and make it present, and we bring that which is concealed within us into audible expression. Speech reveals, and right speech can create a form of beneficent purpose, just as wrong speech can produce a form which has a malignant objective. Without realizing this, however, ceaselessly and irresponsibly, day after day, we speak; we use words; we multiply sounds; and surround ourselves with form worlds of our own creation. Is it not essential, therefore, that before we speak we should think, thus remembering the injunction, “You must attain to knowledge, ere you can attain to speech”? Having thought, let us then choose the right words to express the right thought, attempting to give correct pronunciation, proper values, and true tonal quality to every word we utter.

Mục đích của mọi lời nói là khoác áo cho tư tưởng và nhờ đó làm cho tư tưởng của chúng ta trở nên khả dụng đối với người khác. Khi nói, chúng ta gợi lên một tư tưởng và làm cho nó hiện diện, và chúng ta đưa điều vốn ẩn giấu bên trong mình vào sự biểu đạt có thể nghe được. Lời nói mặc khải, và lời nói đúng đắn có thể tạo nên một hình tướng của mục đích thiện ích, cũng như lời nói sai lầm có thể tạo ra một hình tướng mang mục tiêu ác hại. Tuy nhiên, không nhận ra điều này, chúng ta nói không ngừng và thiếu trách nhiệm, ngày này qua ngày khác; chúng ta dùng lời; chúng ta nhân bội âm thanh; và bao quanh mình bằng những thế giới hình tướng do chính mình tạo ra. Do đó, chẳng phải điều thiết yếu là trước khi nói, chúng ta phải suy nghĩ, nhờ đó ghi nhớ huấn thị: “Bạn phải đạt tới tri thức, trước khi bạn có thể đạt tới lời nói” sao? Sau khi đã suy nghĩ, chúng ta hãy chọn những lời đúng đắn để biểu đạt tư tưởng đúng đắn, cố gắng đem lại cách phát âm chuẩn xác, giá trị thích hợp, và phẩm tính âm điệu chân thực cho mỗi lời chúng ta thốt ra.

Then will our spoken word create a thought form which will embody the idea we have in our minds. Then too will our words carry no discord, but will add their quota to that great harmonizing chord or unifying word which it is the function of mankind ultimately to utter. Wrong speech separates, and it is interesting to bear in mind that the word, the symbol of unity, is divine, whereas speech in its many diversifications is human.

Bấy giờ lời nói của chúng ta sẽ tạo ra một hình tư tưởng thể hiện ý tưởng mà chúng ta có trong thể trí. Khi ấy, lời của chúng ta cũng sẽ không mang sự bất hòa, mà sẽ đóng góp phần của mình vào hợp âm điều hòa vĩ đại ấy, hay linh từ hợp nhất ấy, vốn là chức năng mà nhân loại cuối cùng phải xướng lên. Lời nói sai lầm gây chia rẽ, và điều đáng ghi nhớ là linh từ, biểu tượng của sự hợp nhất, là thiêng liêng, trong khi lời nói trong nhiều biến thể của nó là thuộc về con người.

As evolution proceeds, and the human family rises into its true position in the great plan of the universe, right and correct speech will be increasingly cultivated, because we shall think more before we utter words, or, as a great teacher has said, “through meditation we shall [144] rectify the mistakes of wrong speech;” and the significance of word forms, true and correct sounds, and vocal quality will become ever more apparent.

Khi tiến hoá tiếp diễn, và gia đình nhân loại vươn lên vị trí chân thực của mình trong Thiên Cơ vĩ đại của vũ trụ, lời nói đúng đắn và chuẩn xác sẽ ngày càng được vun bồi, bởi vì chúng ta sẽ suy nghĩ nhiều hơn trước khi thốt lời, hoặc như một huấn sư vĩ đại đã nói, “qua tham thiền chúng ta sẽ [144] sửa chữa những sai lầm của lời nói sai trái;” và thâm nghĩa của các hình tướng lời nói, các âm thanh chân thực và chuẩn xác, cùng phẩm tính giọng nói sẽ ngày càng trở nên hiển nhiên hơn.

The second word of importance in this fourth Rule is the word light. First the sound and then the first effect of sound, the pouring forth of light, causing the revelation of the thought form.

Từ thứ hai có tầm quan trọng trong Quy luật thứ tư này là từ ánh sáng. Trước hết là âm thanh, rồi đến hiệu quả đầu tiên của âm thanh, tức sự tuôn đổ ánh sáng, gây nên sự mặc khải của hình tư tưởng.

Light is known by what is revealed. The absence of light produces the fading away, into apparent non-existence, of the phenomenal world.

Ánh sáng được nhận biết qua điều được mặc khải. Sự vắng mặt của ánh sáng khiến thế giới hiện tượng phai mờ đi, đi vào trạng thái dường như không hiện hữu.

The thought form created by the Sound is intended to be a source of revelation. It must reveal truth, and bring an aspect of reality to the cognisance of the onlooker. Hence the second quality of the thought form in its highest use is that it brings light to those who need it, to those who walk in darkness.

Hình tư tưởng do Âm Thanh tạo ra được dự định là một nguồn mặc khải. Nó phải mặc khải chân lý, và đưa một phương diện của thực tại đến sự nhận biết của người quan sát. Do đó, phẩm tính thứ hai của hình tư tưởng trong công dụng cao nhất của nó là nó đem ánh sáng đến cho những ai cần ánh sáng, cho những ai bước đi trong bóng tối.

I deal not here with light as the soul, cosmically or individually. I touch not upon light as the universal second aspect of divinity. I seek only in these Instructions to deal with that aspect of truth which will make the aspirant a practical worker, and so enable him to work with intelligence. His main work (and increasingly he will find this to be so) is to create thought-forms to carry revelation to thinking human beings. To do this he must work occultly, and through the sound of his breathed forth work, through the truth revealed in form, will he carry light and illumination into the dark places of the earth

Ở đây tôi không đề cập đến ánh sáng như là linh hồn, dù theo vũ trụ hay theo cá nhân. Tôi không chạm đến ánh sáng như phương diện thứ hai phổ quát của thiên tính. Trong các Huấn thị này, tôi chỉ tìm cách đề cập đến phương diện chân lý nào sẽ làm cho người chí nguyện trở thành một người hoạt động thực tiễn, và nhờ vậy giúp y làm việc bằng trí tuệ. Công việc chính của y, và y sẽ ngày càng thấy điều này là đúng, là tạo ra các hình tư tưởng để chuyển tải sự mặc khải đến những người biết suy nghĩ trong nhân loại. Để làm điều này, y phải làm việc một cách huyền bí, và qua âm thanh của công việc được y thở ra, qua chân lý được mặc khải trong hình tướng, y sẽ mang ánh sáng và sự soi sáng vào những nơi tối tăm của Trái Đất.

Then he finally makes his thought form live through the power of his own assurance, spiritual understanding and vitality. Thus the significance of the third word, vibration, appears. His message is heard, for it is sounded forth; it carries illumination, for it conveys the Truth and reveals Reality; it is of vital import, for it vibrates with the life of its creator, and is held in being as long as his thought and sound and intelligence animate [145] it. This is true of a message, of an organization, and of all forms of life, which are but the embodied ideas of a cosmic or a human creator.

Rồi cuối cùng y làm cho hình tư tưởng của mình sống động nhờ quyền năng của sự xác tín, thấu hiểu tinh thần và sinh lực của chính mình. Như vậy thâm nghĩa của từ thứ ba, rung động, xuất hiện. Thông điệp của y được nghe thấy, vì nó được xướng ra; nó mang sự soi sáng, vì nó truyền đạt Chân lý và mặc khải Thực tại; nó có tầm quan trọng sống còn, vì nó rung động bằng sự sống của người tạo ra nó, và được giữ trong hiện hữu chừng nào tư tưởng, âm thanh và trí tuệ của y còn làm linh hoạt [145] nó. Điều này đúng với một thông điệp, một tổ chức, và mọi hình tướng sự sống, vốn chỉ là các ý tưởng được thể hiện của một đấng sáng tạo vũ trụ hay con người.

Students would find it of value to take these three vital words and trace their relation to all embodied thought forms—a cosmos, a plane, a kingdom in nature, a race, a nation, a human being. Consider the diverse groups of creating agencies—solar Logoi, solar Angels, human beings, and others. Consider the spheres of the creative process and see how true the Old Commentary is when it says:

Các đạo sinh sẽ thấy có giá trị khi lấy ba từ thiết yếu này và truy nguyên mối liên hệ của chúng với mọi hình tư tưởng được thể hiện—một vũ trụ, một cõi, một giới trong thiên nhiên, một giống dân, một quốc gia, một con người. Hãy xem xét các nhóm tác nhân sáng tạo khác nhau—các Thái dương Thượng đế, các Thái dương Thiên Thần, con người, và những tác nhân khác. Hãy xem xét các phạm vi của tiến trình sáng tạo và nhận thấy Cổ Luận chân thực biết bao khi nói:

“The sound reverberated amidst varying wheels of uncreated matter; and lo, the sun and all the lesser wheels appeared. The light shone forth amidst the many wheels, and thus the many forms of God, the diverse aspects of his radiant robe blazed forth.

“Âm thanh vang vọng giữa những bánh xe khác nhau của vật chất chưa được tạo thành; và kìa, mặt trời cùng mọi bánh xe nhỏ hơn xuất hiện. Ánh sáng chiếu rạng giữa nhiều bánh xe, và như thế nhiều hình tướng của Thượng đế, những phương diện khác nhau của chiếc áo rực rỡ của Ngài, bừng sáng.

“The vibrant palpitating wheels turned over. Life, in its many stages and in its many grades commenced the process of unfolding, and lo, the law began to work. Forms arose, and disappeared, but life moved on. Kingdoms arose, holding their many forms which drew together, turned together, and later separated, but still the life moved on.

“Những bánh xe rung động và đập nhịp quay chuyển. Sự sống, trong nhiều giai đoạn và ở nhiều cấp bậc, bắt đầu tiến trình khai mở, và kìa, định luật bắt đầu vận hành. Các hình tướng xuất hiện rồi biến mất, nhưng sự sống vẫn tiến bước. Các giới xuất hiện, chứa đựng nhiều hình tướng của chúng, những hình tướng tụ lại, cùng xoay chuyển, rồi về sau tách rời, nhưng sự sống vẫn tiến bước.

“Mankind, hiding the Son of God, the Word incarnate, broke forth into the light of revelation. Races appeared and disappeared. The forms, veiling the radiant soul, emerged, achieved their purpose and vanished into night, but lo, the life moved on, blended this time with light. Life merged with light, both blending to reveal a beauty and a power, an active liberating force, a wisdom and a love that we call a Son of God.

“Nhân loại, che giấu Con của Thượng đế, Linh từ nhập thể, bừng ra trong ánh sáng của sự mặc khải. Các giống dân xuất hiện rồi biến mất. Các hình tướng, che phủ linh hồn rạng ngời, hiện ra, hoàn thành mục đích của chúng rồi tan vào đêm tối, nhưng kìa, sự sống vẫn tiến bước, lần này hòa quyện với ánh sáng. Sự sống hợp nhất với ánh sáng, cả hai hòa quyện để mặc khải một vẻ đẹp và một quyền năng, một mãnh lực giải thoát linh hoạt, một minh triết và một bác ái mà chúng ta gọi là Con của Thượng đế.

“Through the many Sons of God, who in their inmost centre are but one, God in his Fatherhood is known. Yet still that lighted life moved on to a dread point of power, of force creative, concerning which we say: It is the All, the Container of the Universe, the persistent centre of the Spheres, the One.”

“Qua nhiều Con của Thượng đế, những Đấng trong trung tâm sâu thẳm nhất của mình chỉ là một, Thượng đế trong cương vị Cha được nhận biết. Tuy vậy, sự sống được soi sáng ấy vẫn tiến bước đến một điểm quyền năng đáng sợ, của mãnh lực sáng tạo, mà về đó chúng ta nói: Đó là Toàn Thể, Đấng Chứa Đựng Vũ Trụ, trung tâm bền bỉ của các Khối Cầu, Đấng Duy Nhất.”

We have touched upon two words of significance in the fourth Rule, —sound and light, —and one paramount idea emerges. The soul is to be known as light, as the [146] revealer, whilst the Spirit aspect will later be recognized as sound. Complete light and illumination is the right of the disciple who attains to the third initiation, whilst the true comprehension of the sound, of the triple AUM, the synthesizing factor in manifestation appears only to the one who stands master of the three worlds.

Chúng ta đã chạm đến hai từ có thâm nghĩa trong Quy luật thứ tư—âm thanh và ánh sáng—và một ý tưởng tối quan trọng xuất hiện. Linh hồn phải được nhận biết như ánh sáng, như đấng [146] mặc khải, trong khi phương diện Tinh thần về sau sẽ được nhận ra như âm thanh. Ánh sáng và sự soi sáng trọn vẹn là quyền của đệ tử đạt đến lần điểm đạo thứ ba, trong khi sự lĩnh hội chân thực về âm thanh, về AUM tam phân, yếu tố tổng hợp trong biểu hiện, chỉ xuất hiện đối với người đứng làm chủ ba cõi giới.

The word vibration must next engage our attention but it may not be dissociated from the next word in the sequence form. Vibration, the effect of divine activity, is two-fold. There is the first effect in which the vibration (issuing from the realm of subjectivity in response to sound and light) produces response in matter, and therefore attracts or calls together the atoms out of which molecules, cells, organisms and finally the integrated form can be built. This effected, the aspect of vibration is to be noted as a duality.

Tiếp theo, từ rung động phải thu hút sự chú ý của chúng ta, nhưng nó không thể bị tách rời khỏi từ kế tiếp trong chuỗi là hình tướng. Rung động, hiệu quả của hoạt động thiêng liêng, có tính nhị phân. Có hiệu quả đầu tiên trong đó rung động, phát xuất từ cõi giới chủ quan để đáp ứng với âm thanh và ánh sáng, tạo ra sự đáp ứng trong vật chất, và do đó thu hút hoặc triệu tập các nguyên tử, từ đó các phân tử, tế bào, cơ thể và cuối cùng hình tướng tích hợp có thể được xây dựng. Khi điều này đã được thực hiện, phương diện rung động phải được ghi nhận như một nhị nguyên.

The form, through the medium of the five senses, becomes aware of the vibratory aspect of all forms in the environment wherein it, itself, is a functioning entity. Later, in time and space, that functioning form becomes increasingly aware of its own interior vibration, and by tracing back that vibration to its originating source becomes aware of the Self, and later of the Kingdom of the Self. Humanity as a whole is aware of its environment and, through the information conveyed by the sense of sight, hearing, touch, taste and smell, the phenomenal world, the outer garment of God, is known, and communication between the Self and what we call the natural world is set up. As the mind appropriates and synthesizes this knowledge, the dweller in the form passes through the following stages:

Hình tướng, qua trung gian của năm giác quan, trở nên nhận biết phương diện rung động của mọi hình tướng trong môi trường nơi chính nó là một thực thể đang hoạt động. Về sau, trong thời gian và không gian, hình tướng đang hoạt động ấy ngày càng nhận biết rung động nội tại của chính nó, và bằng cách truy ngược rung động ấy đến nguồn gốc phát sinh, nó trở nên nhận biết Bản Ngã, và về sau là Giới của Bản Ngã. Nhân loại nói chung nhận biết môi trường của mình, và qua thông tin được truyền đạt bởi thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác và khứu giác, thế giới hiện tượng, lớp áo bên ngoài của Thượng đế, được nhận biết, và sự giao tiếp giữa Bản Ngã với điều chúng ta gọi là thế giới tự nhiên được thiết lập. Khi thể trí chiếm hữu và tổng hợp tri thức này, cư dân trong hình tướng trải qua các giai đoạn sau:

1. Vibration is registered, and the environment has its effect upon the form.

1. Rung động được ghi nhận, và môi trường tạo hiệu quả của nó lên hình tướng.

2. This effect is noted, but not understood. The man, under the slow and steady impact of this vibratory [147] effect, slowly awakens to consciousness or awareness.

2. Hiệu quả này được nhận thấy, nhưng chưa được thấu hiểu. Con người, dưới tác động chậm rãi và đều đặn của hiệu quả rung động [147] này, dần dần thức tỉnh đến tâm thức hay sự nhận biết.

3. The environment begins to interest the man and he regards it as desirable. Steadily the attraction of the three worlds grows and holds the man in reiterated incarnation. (The word “re-iterated” is literally and more academically correct than the word “repeated.” Each of us is really a re-iterated word, sounding in time and space.)

3. Môi trường bắt đầu làm con người quan tâm và y xem nó là đáng khao khát. Sức hấp dẫn của ba cõi giới đều đặn gia tăng và giữ con người trong sự nhập thể tái diễn. Từ “tái diễn” theo nghĩa đen và theo học thuật thì chính xác hơn từ “lặp lại.” Mỗi chúng ta thật sự là một linh từ được tái xướng, vang lên trong thời gian và không gian.

4. Later, when the vibration of the environing forms of the natural world becomes monotonous through constant impact over many lives, the man begins to turn a deaf ear and an un-seeing eye upon the familiar phenomenal world of desire. He becomes insensitive to its vibratory impact and increasingly aware of the vibration of the Self.

4. Về sau, khi rung động của các hình tướng bao quanh thuộc thế giới tự nhiên trở nên đơn điệu do tác động liên tục qua nhiều kiếp sống, con người bắt đầu ngoảnh tai không nghe và nhắm mắt không nhìn đối với thế giới hiện tượng quen thuộc của dục vọng. Y trở nên không nhạy cảm với tác động rung động của nó và ngày càng nhận biết rung động của Bản Ngã.

5. Later, on the Path of Probation and of Discipleship, this subtler vibratory activity exerts an increasing allure. The outer world ceases to attract. The inner world of the self assumes paramount place in the desire nature.

5. Về sau, trên Con Đường Dự Bị và Con Đường Đệ Tử, hoạt động rung động tinh tế hơn này tạo nên một sức lôi cuốn ngày càng tăng. Thế giới bên ngoài không còn hấp dẫn. Thế giới bên trong của bản ngã chiếm vị trí tối quan trọng trong bản chất dục vọng.

6. Little by little, using the language of modern psychology, within the outer form, which is the response apparatus for the process of becoming aware of the phenomenal world, the disciple builds a new subtler response apparatus whereby the subjective worlds can be known.

6. Từng chút một, dùng ngôn ngữ của tâm lý học hiện đại, bên trong hình tướng bên ngoài, vốn là bộ máy đáp ứng cho tiến trình trở nên nhận biết thế giới hiện tượng, đệ tử xây dựng một bộ máy đáp ứng mới tinh tế hơn, nhờ đó các thế giới chủ quan có thể được nhận biết.

When this stage is reached there ensues a steady turning away from vibratory contact with the outer worlds of form, and an atrophying of desire in that direction. All seems arid and undesirable, and all fails to satisfy the ardent and aspiring soul. The difficult process of re-orientation toward a new world, a new state of being and a new condition of awareness is set up, and because the inner subtle response apparatus is only in an embryonic [148] condition there is a devastating sense of loss, a groping in the dark, and a period of spiritual wrestling and exploration that tests the endurance and steadfastness of purpose of the aspirant to the very limits.

Khi đạt đến giai đoạn này, sẽ tiếp theo một sự quay lưng đều đặn khỏi sự tiếp xúc rung động với các thế giới hình tướng bên ngoài, và một sự teo mòn của dục vọng theo hướng ấy. Mọi sự dường như khô cằn và không đáng khao khát, và mọi sự đều không làm thỏa mãn linh hồn nồng nhiệt và đầy khát vọng. Tiến trình khó khăn của sự tái định hướng về một thế giới mới, một trạng thái hiện hữu mới và một tình trạng nhận biết mới được thiết lập, và vì bộ máy đáp ứng tinh tế bên trong chỉ mới ở trong tình trạng phôi thai [148] nên có một cảm thức mất mát tàn phá, một sự mò mẫm trong bóng tối, và một giai đoạn vật lộn và thăm dò tinh thần thử thách sức chịu đựng và sự kiên định mục đích của người chí nguyện đến tận giới hạn.

But (and this is the encouraging point to be remembered) all “proceedeth under the law and naught can hinder the work from going forward.” Note these words in Rule IV. There comes a stage when a man is verily and indeed “founded on the rock,” and though he may experience the alternation of light and shade, though the waves of the purifying waters may roll over him, and threaten to sweep him off his feet, and though he may feel himself deaf and dumb and blind, naught can ultimately defeat the purpose of the soul. All that is lacking is the developed spiritual body which is equipped to respond to the vibration of the inner spiritual world. It exists in embryo, and the secret of its use lies in the attitude of the brain to the functions of the etheric body, as it exists as an intermediary between the brain, nervous system and the mind, or between the soul, mind and the brain. This cannot be elaborated here but the hint can be given for the reflection of the keen aspirant.

Nhưng, và đây là điểm khích lệ cần được ghi nhớ, tất cả “đều tiến hành theo định luật và không gì có thể ngăn cản công việc tiến tới.” Hãy lưu ý những lời này trong Quy luật IV. Có một giai đoạn khi con người thật sự và đúng nghĩa “được đặt nền trên đá,” và dù y có thể trải nghiệm sự luân phiên của ánh sáng và bóng tối, dù những làn sóng của nước thanh luyện có thể cuộn qua y và đe dọa cuốn y khỏi chỗ đứng, và dù y có thể cảm thấy mình điếc, câm và mù, cuối cùng không gì có thể đánh bại mục đích của linh hồn. Điều còn thiếu chỉ là thể tinh thần đã phát triển, được trang bị để đáp ứng với rung động của thế giới tinh thần bên trong. Nó hiện hữu trong phôi thai, và bí mật của việc sử dụng nó nằm trong thái độ của bộ não đối với các chức năng của thể dĩ thái, khi thể này hiện hữu như một trung gian giữa bộ não, hệ thần kinh và thể trí, hoặc giữa linh hồn, thể trí và bộ não. Điều này không thể được khai triển ở đây, nhưng gợi ý có thể được đưa ra để người chí nguyện sắc bén suy ngẫm.

We have therefore the following stages dealt with in Rule IV and pointed out with lucid clarity, yet with that parsimony of phrase which distinguishes all occult and symbolic writings:

Do đó, chúng ta có các giai đoạn sau được bàn đến trong Quy luật IV và được chỉ ra với sự sáng tỏ minh bạch, nhưng bằng sự tiết kiệm ngôn từ vốn phân biệt mọi trước tác huyền bí và biểu tượng:

1. The integration of the form, as the result of the activity of the soul, through the use of

1. Sự tích hợp của hình tướng, như kết quả của hoạt động của linh hồn, qua việc sử dụng

a. Sound,

a. Âm thanh,

b. Light,

b. Ánh sáng,

c. Vibration.

c. Rung động.

2. The development of a response apparatus for use in the phenomenal world.

2. Sự phát triển một bộ máy đáp ứng để sử dụng trong thế giới hiện tượng.

3. The eventual turning away from the phenomenal world, as the result of use and consequent satiety, [149] and the gradual use of the subtler response apparatus.

3. Sự quay lưng cuối cùng khỏi thế giới hiện tượng, như kết quả của việc sử dụng và sự no chán theo sau, [149] và việc sử dụng dần dần bộ máy đáp ứng tinh tế hơn.

4. The response apparatus of the soul—mind, etheric body, brain and nervous system—is re-oriented, and the man becomes aware of the kingdom of the soul, another kingdom in nature.

4. Bộ máy đáp ứng của linh hồn—thể trí, thể dĩ thái, bộ não và hệ thần kinh—được tái định hướng, và con người trở nên nhận biết giới của linh hồn, một giới khác trong thiên nhiên.

5. The turning away from the kingdom of the world to the kingdom of the soul becomes an esoteric habit, and in this thought lies hid the secret of esoteric psychology. The man is stabilized in the spiritual life. Naught can now hinder.

5. Sự quay lưng khỏi giới của thế gian để hướng về giới của linh hồn trở thành một thói quen huyền bí, và trong tư tưởng này ẩn giấu bí mật của Tâm Lý Học Nội Môn. Con người được ổn định trong đời sống tinh thần. Giờ đây không gì có thể ngăn cản.

The Science of the Breath

Now we come to the significant words in Rule IV. “The man breathes deeply.” This is a phrase covering many aspects of rhythmic living. It is the magical formula for the science of pranayama. It covers the art of the creative life. It sweeps a man into tune with the pulsating life of God Himself, and this through detachment and re-orientation.

Bây giờ chúng ta đến với những lời có thâm nghĩa trong Quy luật IV. “Con người hít thở sâu.” Đây là một cụm từ bao hàm nhiều phương diện của đời sống có nhịp điệu. Nó là công thức huyền thuật cho khoa học pranayama. Nó bao trùm nghệ thuật của đời sống sáng tạo. Nó đưa con người vào hòa điệu với sự sống đang đập nhịp của chính Thượng đế, và điều này được thực hiện qua sự tách rời và tái định hướng.

It is notably interesting as a demonstration of the succinctness and inclusiveness of occult phrases as in Rule IV. The art of breathing is dealt with in three phases, and these I commend to each of you for the most careful consideration.

Điều này đặc biệt thú vị như một minh chứng cho tính hàm súc và tính bao gồm của các cụm từ huyền bí, như trong Quy luật IV. Nghệ thuật thở được bàn đến trong ba giai đoạn, và tôi khuyên mỗi bạn hãy xem xét những giai đoạn này hết sức cẩn trọng.

There is first the aspect of Inhalation. “The man breathes deeply.” From the very depths of his being he draws the breath. In the process of phenomenal living, he draws the very breath of life from the soul. This is the first stage. In the process of detaching himself from phenomenal living, he draws from the depths of his being and experiences the life, that it may be rendered again back to the source from whence it came. In the occult life of the disciple, as he develops a new and subtler use of his response apparatus, he practices the science of the breath, and discovers that through deep [150] breathing (including the three stages of the deep, middle, and top breath) he can bring into activity, in the world of esoteric experiences, his vital body with its force centres. Thus the three aspects of “deep breathing” cover the entire soul experience, and the relationship to the three types of breath, touched upon above, can be worked out by the interested aspirant.

Trước hết có phương diện Hít vào. “Con người hít thở sâu.” Từ tận chiều sâu của bản thể mình, y rút vào hơi thở. Trong tiến trình sống hiện tượng, y rút chính hơi thở sự sống từ linh hồn. Đây là giai đoạn đầu tiên. Trong tiến trình tách mình khỏi đời sống hiện tượng, y rút từ những chiều sâu của bản thể mình và trải nghiệm sự sống, để sự sống ấy có thể được trao trả lại nguồn cội từ đó nó đã đến. Trong đời sống huyền bí của đệ tử, khi y phát triển một cách sử dụng mới và tinh tế hơn đối với bộ máy đáp ứng của mình, y thực hành khoa học về hơi thở, và khám phá rằng qua việc thở sâu [150], bao gồm ba giai đoạn của hơi thở sâu, giữa và trên, y có thể đưa thể sinh lực với các trung tâm mãnh lực của nó vào hoạt động trong thế giới của những kinh nghiệm huyền bí. Như vậy ba phương diện của “thở sâu” bao trùm toàn bộ kinh nghiệm của linh hồn, và mối liên hệ với ba loại hơi thở đã được chạm đến ở trên có thể được người chí nguyện quan tâm tự mình khai triển.

Next we read “he concentrates his forces.” Here we have the stage indicated which can be called retention of the breath. It is a holding of all the forces of the life steadily in the place of silence, and when this can be done with ease and with forgetfulness of process through familiarity and experience, then the man can see and hear and know in a realm other than the phenomenal world. In the higher sense this is the stage of contemplation, that “lull between two activities” as it has been so aptly called. The soul, the breath, the life has withdrawn out of the three worlds, and in the “secret place of the most high” is at rest and at peace, contemplating the beatific vision. In the life of the active disciple it produces those interludes which every disciple knows, when (through detachment and the capacity to withdraw) he is held by nothing in the world of form. As he is but wrestling toward perfection and has not yet attained, these interludes of silence, withdrawingness, and of detachment are frequently difficult and dark. All is silence and he stands appalled by the unknown, and by the apparently empty stillness in which he finds himself. This is called, in advanced cases, “the dark night of the soul”—the moment before the dawn, the hour before the light streams forth.

Kế tiếp chúng ta đọc: “Y tập trung các lực của mình.” Ở đây chúng ta có giai đoạn được chỉ ra, có thể gọi là sự giữ hơi thở. Đó là việc giữ vững tất cả các mãnh lực của sự sống nơi chốn im lặng, và khi điều này có thể được thực hiện dễ dàng, với sự quên đi tiến trình nhờ quen thuộc và kinh nghiệm, bấy giờ con người có thể thấy, nghe và biết trong một cõi giới khác với thế giới hiện tượng. Theo nghĩa cao hơn, đây là giai đoạn chiêm ngưỡng, là “khoảng lặng giữa hai hoạt động” như đã được gọi rất thích đáng. Linh hồn, hơi thở, sự sống đã rút khỏi ba cõi giới, và trong “nơi kín nhiệm của Đấng Tối Cao” nó nghỉ ngơi và an bình, chiêm ngưỡng linh ảnh chí phúc. Trong đời sống của đệ tử linh hoạt, điều này tạo ra những khoảng xen kẽ mà mọi đệ tử đều biết, khi, nhờ sự tách rời và khả năng rút lui, y không bị điều gì trong thế giới hình tướng giữ lại. Vì y chỉ đang vật lộn hướng tới sự hoàn thiện và chưa đạt tới, nên những khoảng xen kẽ của im lặng, rút lui và tách rời này thường khó khăn và tối tăm. Tất cả đều im lặng và y đứng kinh hãi trước điều chưa biết, và trước sự tĩnh lặng dường như trống rỗng trong đó y thấy mình hiện diện. Trong những trường hợp tiến bộ, điều này được gọi là “đêm tối của linh hồn”—khoảnh khắc trước bình minh, giờ trước khi ánh sáng tuôn trào.

In the science of Pranayama it is the moment following upon inhalation wherein all the forces of the body have (through the medium of the breath) been carried upward to the head and concentrated there, prior to the stage of breathing forth. This moment of retention, when [151] properly carried forward, produces an interlude of intense concentration and it is in this moment that the aspirant must seize opportunity. Herein lies a hint.

Trong khoa học Pranayama, đó là khoảnh khắc theo sau việc hít vào, khi mọi mãnh lực của thân thể, qua trung gian của hơi thở, đã được đưa lên đầu và tập trung ở đó, trước giai đoạn thở ra. Khoảnh khắc giữ lại này, khi [151] được tiến hành đúng đắn, tạo ra một khoảng xen kẽ của sự tập trung mãnh liệt, và chính trong khoảnh khắc này người chí nguyện phải nắm lấy cơ hội. Chính trong đó có một gợi ý.

Then comes the process of exhalation. We read in Rule IV “he drives the thought-form from him.” This is ever the result of the final stage of the science of the breath. The form, vitalized by the one who breathes in correct rhythm, is sent forth to do its work and fulfil its mission. Study this idea with care, for it holds the secret of creative work.

Rồi đến tiến trình thở ra. Chúng ta đọc trong Quy luật IV: “Y đẩy hình tư tưởng ra khỏi y.” Đây luôn là kết quả của giai đoạn cuối cùng trong khoa học về hơi thở. Hình tướng, được tiếp sinh lực bởi người thở theo nhịp điệu đúng đắn, được gửi đi để làm công việc của nó và hoàn thành sứ mệnh của nó. Hãy nghiên cứu ý tưởng này cẩn trọng, vì nó nắm giữ bí mật của công việc sáng tạo.

In the experience of the soul, the form for manifestation in the three worlds is created through intense meditation, which is ever the paralleling activity of breathing. Then by an act of the will, resulting in a “breathing forth”, and engendered or arrived at dynamically in the interlude of contemplation or retention of the breath, the created form is sent forth into the phenomenal world, to serve as a channel of experience, a medium of expression and a response apparatus in the three worlds of human living.

Trong kinh nghiệm của linh hồn, hình tướng để biểu hiện trong ba cõi giới được tạo ra qua tham thiền mãnh liệt, vốn luôn là hoạt động song hành với hơi thở. Rồi bằng một hành vi của ý chí, dẫn đến một “sự thở ra”, và được phát sinh hoặc đạt tới một cách năng động trong khoảng xen kẽ của chiêm ngưỡng hay giữ hơi thở, hình tướng đã được tạo ra được gửi vào thế giới hiện tượng, để phụng sự như một kênh kinh nghiệm, một phương tiện biểu đạt và một bộ máy đáp ứng trong ba cõi giới của đời sống con người.

In the life of the disciple, through meditation and discipline he learns to reach high moments of interlude whenever he concentrates his forces on the plane of soul life, and then again by an act of his will, he breathes forth his spiritual purposes, plans and life into the world of experience. The thought form that he has constructed as to the part he has to play, and the concentration of energy which he has succeeded in bringing about become effective. The energy needed for the next step is breathed forth by the soul and passes down into the vital body, thus galvanizing the physical instrument with the needed constructive activity. That aspect of the plan which he has appreciated in contemplation, and that part of the general purpose of the Hierarchy in which his soul feels called upon to co-operate is breathed forth simultaneously, [152] via the mind into the brain, and thus “he drives the thought forms from him.”

Trong đời sống của đệ tử, qua tham thiền và kỷ luật, y học cách đạt tới những khoảnh khắc cao của khoảng xen kẽ bất cứ khi nào y tập trung các mãnh lực của mình trên cõi của đời sống linh hồn, rồi một lần nữa bằng một hành vi của ý chí, y thở ra các mục đích, kế hoạch và sự sống tinh thần của mình vào thế giới kinh nghiệm. Hình tư tưởng mà y đã kiến tạo về phần việc y phải đóng, và sự tập trung năng lượng mà y đã thành công trong việc tạo nên, trở nên hữu hiệu. Năng lượng cần thiết cho bước kế tiếp được linh hồn thở ra và đi xuống thể sinh lực, nhờ đó kích hoạt khí cụ hồng trần bằng hoạt động kiến tạo cần thiết. Phương diện của Thiên Cơ mà y đã nhận thức trong chiêm ngưỡng, và phần của mục đích chung của Thánh Đoàn mà linh hồn y cảm thấy được kêu gọi cộng tác, được thở ra đồng thời, [152] qua thể trí vào bộ não, và như vậy “y đẩy các hình tư tưởng ra khỏi mình.”

Finally, in the science of Pranayama, this stage covers that exhaling breath which, when carried forward with thought and conscious purpose behind it, serves to vitalize the centres and fill each of them with dynamic life. More need not be said here.

Cuối cùng, trong khoa học Pranayama, giai đoạn này bao hàm hơi thở ra, khi được tiến hành với tư tưởng và mục đích có ý thức phía sau, sẽ phụng sự để tiếp sinh lực cho các trung tâm và làm đầy mỗi trung tâm bằng sự sống năng động. Không cần nói thêm ở đây.

Thus, in this science of “breathing deeply” we have the whole process of creative work and of the evolutionary unfoldment of God in nature covered. It is the process whereby the Life, the One Existence, has brought the phenomenal world into being, and Rule IV is a digest of the Creation. It is equally the formula under which the individual soul works as it centres its forces for manifestation in the three worlds of human experience.

Như vậy, trong khoa học “thở sâu” này, chúng ta có toàn bộ tiến trình của công việc sáng tạo và sự khai mở tiến hoá của Thượng đế trong thiên nhiên được bao hàm. Đó là tiến trình nhờ đó Sự Sống, Hiện Hữu Duy Nhất, đã đưa thế giới hiện tượng vào hiện hữu, và Quy luật IV là bản tóm lược của Sự Sáng Tạo. Nó cũng chính là công thức theo đó linh hồn cá nhân làm việc khi linh hồn ấy tập trung các mãnh lực của mình để biểu hiện trong ba cõi giới của kinh nghiệm con người.

The right use of the Life-Breath is the whole art at which the aspirant, the disciple, and the initiate work, bearing in mind however that the science of the physical breath is the least important aspect and follows sequentially upon the right use of energy, which is the word we apply to the divine breath or life.

Việc sử dụng đúng đắn Hơi Thở-Sự Sống là toàn bộ nghệ thuật mà người chí nguyện, đệ tử và điểm đạo đồ làm việc hướng tới; tuy nhiên cần ghi nhớ rằng khoa học về hơi thở hồng trần là phương diện ít quan trọng nhất và theo sau một cách tuần tự việc sử dụng đúng đắn năng lượng, là từ chúng ta áp dụng cho hơi thở hay sự sống thiêng liêng.

Finally, in the mental life of the disciple, and in the great work of learning to be a conscious creator in mental matter and so produce results in the phenomenal world, this fourth Rule holds the instructions upon which the work is based. It embodies the science of the entire magical work.

Cuối cùng, trong đời sống trí tuệ của đệ tử, và trong công việc vĩ đại học cách trở thành một đấng sáng tạo có ý thức trong chất liệu cõi trí để nhờ đó tạo ra các kết quả trong thế giới hiện tượng, Quy luật thứ tư này chứa đựng những huấn thị làm nền tảng cho công việc. Nó thể hiện khoa học của toàn bộ công việc huyền thuật.

Therefore, this Rule warrants the closest consideration and study. Rightly understood and rightly studied it would lead each aspirant out of the phenomenal world into the kingdom of the soul. Its instructions, if carried out, would lead the soul back again into the phenomenal world as the creating force in soul magic and as the manipulator and dominating factor of, and through, the medium of the form.

Do đó, Quy luật này xứng đáng được xem xét và nghiên cứu kỹ lưỡng nhất. Nếu được thấu hiểu đúng đắn và nghiên cứu đúng đắn, nó sẽ dẫn mỗi người chí nguyện ra khỏi thế giới hiện tượng vào giới của linh hồn. Các huấn thị của nó, nếu được thực hiện, sẽ dẫn linh hồn trở lại thế giới hiện tượng như mãnh lực sáng tạo trong huyền thuật của linh hồn và như tác nhân điều khiển, yếu tố chi phối của hình tướng và thông qua trung gian của hình tướng.

In the training of the occidental student, blind unquestioning [153] obedience is never asked. Suggestions are made as to method and as to a technique which has proved effective for thousands of years and with many disciples. Some rules as to breathing, as to helpful process and as to practical living on the physical plane will be imparted, but in the training of the new type of disciple during the coming age, it is the will of the watching Gurus and Rishis that they be left freer than has heretofore been the case. This may mean a slightly slower development at the beginning but will result, it is hoped, in a more rapid unfoldment during the later stages upon the Path of Initiation.

Trong việc huấn luyện đạo sinh phương Tây, sự vâng lời mù quáng không thắc mắc [153] không bao giờ được đòi hỏi. Những gợi ý được đưa ra về phương pháp và về một kỹ thuật đã chứng tỏ hiệu quả qua hàng ngàn năm và với nhiều đệ tử. Một số quy luật về hơi thở, về tiến trình hữu ích và về đời sống thực tiễn trên cõi hồng trần sẽ được truyền đạt, nhưng trong việc huấn luyện kiểu đệ tử mới trong thời đại sắp đến, ý muốn của các Đạo sư và Thánh triết đang quan sát là họ được để tự do hơn so với trước đây. Điều này có thể hàm ý một sự phát triển hơi chậm hơn vào lúc khởi đầu, nhưng hy vọng sẽ đưa đến một sự khai mở nhanh hơn trong các giai đoạn về sau trên Con Đường Điểm Đạo.

Therefore, students are urged to go forward during their period of training with courage and with joy, knowing that they are members of a band of disciples, knowing that they are not alone but that the strength of the band is theirs, the knowledge of the band is theirs too as they develop the capacity to apprehend it, —and knowing also that the love and wisdom and understanding of the watching Elder Brothers are back of every aspiring Son of God, e’en though apparently (and wisely) he is left to wrestle through to the light in the strength of his own omnipotent soul.

Do đó, các đạo sinh được thúc giục tiến bước trong thời kỳ huấn luyện của mình với lòng can đảm và sự hoan hỉ, biết rằng họ là thành viên của một đoàn đệ tử, biết rằng họ không đơn độc mà sức mạnh của đoàn là của họ, tri thức của đoàn cũng là của họ khi họ phát triển khả năng lĩnh hội nó,—và cũng biết rằng bác ái, minh triết và sự thấu hiểu của các Huynh Trưởng đang quan sát đứng sau mỗi Con của Thượng đế đầy khát vọng, dù bề ngoài, và một cách minh triết, y được để tự mình vật lộn đi tới ánh sáng trong sức mạnh của linh hồn toàn năng của chính mình.

RULE FIVE

Three things engage the Solar Angel before the sheath created passes downward; the condition of the waters, the safety of the one who thus creates, and steady contemplation. Thus are the heart, the throat, and eye, allied for triple service.

Ba điều thu hút Thái Dương Thiên Thần trước khi cái vỏ được tạo ra đi xuống; tình trạng của các dòng nước, sự an toàn của người tạo ra hình tư tưởng như vậy, và sự chiêm ngưỡng đều đặn. Như vậy, tim, cổ họng và mắt, được liên kết cho sự phụng sự tam phân.

The Soul and Its Thought Forms

[157]

[157]

We have been dealing with the processes of creation as they concern:

Chúng ta đã bàn đến các tiến trình sáng tạo khi chúng liên quan đến:

1. The Creator of a solar system or a planetary scheme.

1. Đấng Sáng Tạo của một hệ mặt trời hay một hệ hành tinh.

2. The Ego, as it creates its body of manifestation. It should here be remembered that the entire human family has been brought into manifestation by a paralleling group of egos.

2. Chân ngã, khi nó tạo ra thể biểu hiện của mình. Ở đây cần nhớ rằng toàn thể gia đình nhân loại đã được đưa vào biểu hiện bởi một nhóm chân ngã song hành.

3. Man, as he creates those thought-forms by which he expresses himself, through which he works, and by which he is surrounded. It should also here be borne in mind that this definite creative work is only possible to those who function on mental levels—the thinkers of the world and the disciples of the Masters.

3. Con người, khi y tạo ra những hình tư tưởng nhờ đó y biểu đạt chính mình, qua đó y làm việc, và bởi đó y được bao quanh. Ở đây cũng cần ghi nhớ rằng công việc sáng tạo xác định này chỉ có thể thực hiện bởi những ai hoạt động trên các cấp độ của cõi trí—những nhà tư tưởng của thế giới và các đệ tử của các Chân sư.

In every case, as we have seen, the objective form has been the result of meditation on the part of the creating agency, of response from the material acted upon by the force generated in meditation, thus producing the building of the form, and its utilization through sound. This is succeeded by the stage wherein the form is seen objectively and becomes a vibrant living entity. Thus is “the Word made Flesh,” and thus do all forms—universes, men, and ensouled thoughts—come into being.

Trong mọi trường hợp, như chúng ta đã thấy, hình tướng khách quan là kết quả của tham thiền về phía tác nhân sáng tạo, của sự đáp ứng từ vật liệu chịu tác động bởi mãnh lực được sinh ra trong tham thiền, nhờ đó tạo nên việc xây dựng hình tướng, và sự sử dụng nó qua âm thanh. Tiếp theo là giai đoạn trong đó hình tướng được thấy một cách khách quan và trở thành một thực thể sống động, rung động. Như vậy “Linh từ trở thành Xác thịt,” và như vậy mọi hình tướng—các vũ trụ, con người, và các tư tưởng được phú linh—đi vào hiện hữu.

This fifth rule touches upon three factors which engage the attention of the creating agent before the physical form emerges into view on the exterior plane. These three are: [158]

Quy luật thứ năm này chạm đến ba yếu tố thu hút sự chú ý của tác nhân sáng tạo trước khi hình tướng hồng trần hiện ra trên cõi bên ngoài. Ba yếu tố này là: [158]

1. The condition of the waters.

1. Tình trạng của các dòng nước.

2. The safety of the one who thus creates.

2. Sự an toàn của người tạo ra hình tư tưởng như vậy.

3. Steady contemplation.

3. Sự chiêm ngưỡng đều đặn.

We will deal briefly with these three and then we will consider the three factors which the disciple needs to relate if he ever aims to become an active and potent co-operator with the Hierarchy. These are the Eye, the Heart, the Throat. The interpretation and significance of these rules can be carried forward along several lines. For our purposes, the one followed will be that relating to the disciple and his work, and will deal with his training in the magical work of the ego, as that ego occupies and employs a physical form. These teachings are intended to be practical; they will emphasize the training and discipline of the disciple, and, scattered throughout, will be found those hints and esoteric suggestions which, when followed, will lead the aspirant on to experiment and to experience of truth. Those who are not true aspirants will fail to recognize the hints and thus will be preserved from danger and premature experience.

Chúng ta sẽ bàn ngắn gọn về ba yếu tố này, rồi sẽ xem xét ba yếu tố mà đệ tử cần liên hệ nếu y từng nhắm đến việc trở thành một cộng sự viên linh hoạt và có quyền năng với Thánh Đoàn. Đó là Mắt, Tim, Cổ Họng. Việc diễn giải và thâm nghĩa của các quy luật này có thể được tiến hành theo nhiều đường hướng. Vì mục đích của chúng ta, đường hướng được theo sẽ là đường hướng liên quan đến đệ tử và công việc của y, và sẽ bàn đến việc huấn luyện y trong công việc huyền thuật của chân ngã, khi chân ngã ấy chiếm hữu và sử dụng một hình tướng hồng trần. Những giáo huấn này nhằm có tính thực tiễn; chúng sẽ nhấn mạnh việc huấn luyện và kỷ luật của đệ tử, và rải rác trong đó sẽ tìm thấy những gợi ý và đề nghị huyền bí, những điều khi được noi theo sẽ dẫn người chí nguyện đến sự thử nghiệm và kinh nghiệm chân lý. Những ai không phải là người chí nguyện chân chính sẽ không nhận ra các gợi ý và nhờ vậy sẽ được gìn giữ khỏi nguy hiểm và kinh nghiệm quá sớm.

Let us therefore take up the three factors which engage our attention, and let us consider them from the standpoint of the human being who is creating thought-forms, and not primarily from the standpoint of a solar Creator or of an ego, preparing to take incarnation through the medium of form. Two collateral thoughts are here of value. One is that the process of creating thought-forms is part of the work done by every aspirant in the daily meditation process. If the student would remember that every time he sits down to his morning meditation he is learning to build and vitalize thought-forms, his work might assume greater interest. The tendency of most aspirants is to be occupied with their deficiencies in the work of meditation and their inability to control their minds, whereas both those aspects of their endeavour [159] would be aided if they were to be occupied by the profoundly engrossing work of thought-form building.

Vậy chúng ta hãy tiếp nhận ba yếu tố thu hút sự chú ý của mình, và hãy xem xét chúng từ quan điểm của con người đang tạo ra các hình tư tưởng, chứ không chủ yếu từ quan điểm của một Đấng Sáng Tạo thái dương hay của một chân ngã đang chuẩn bị nhập thể qua trung gian của hình tướng. Hai tư tưởng phụ trợ ở đây có giá trị. Một là tiến trình tạo ra các hình tư tưởng là một phần công việc được mọi người chí nguyện thực hiện trong tiến trình tham thiền hằng ngày. Nếu đạo sinh nhớ rằng mỗi lần y ngồi xuống tham thiền buổi sáng, y đang học cách xây dựng và tiếp sinh lực cho các hình tư tưởng, công việc của y có thể trở nên thú vị hơn. Khuynh hướng của hầu hết người chí nguyện là bận tâm với những thiếu sót của họ trong công việc tham thiền và sự bất lực của họ trong việc kiểm soát thể trí, trong khi cả hai phương diện ấy của nỗ lực [159] sẽ được trợ giúp nếu họ bận tâm với công việc xây dựng hình tư tưởng vô cùng cuốn hút.

A secondary and less important thought is that as egos, preparing to take human bodies, are deeply engaged in meditation work, it is highly improbable that they can be reached by the ordinary medium in the ordinary seance. At the most, only those who have passed over quite recently can be thus contacted, and they are, in most cases, in a condition of deep abstraction of a different kind. There is no time or purpose in enlarging upon this theme here but it is of interest to those investigating these matters.

Một tư tưởng thứ yếu và ít quan trọng hơn là, vì các chân ngã đang chuẩn bị nhận lấy các thân thể con người đang dấn sâu vào công việc tham thiền, nên rất khó có khả năng họ có thể được tiếp xúc bởi đồng tử thông thường trong buổi gọi hồn thông thường. Nhiều nhất, chỉ những người vừa mới qua đời gần đây mới có thể được tiếp xúc theo cách ấy, và trong hầu hết các trường hợp, họ ở trong một tình trạng trừu xuất sâu thuộc một loại khác. Không có thời gian hay mục đích để mở rộng chủ đề này ở đây, nhưng nó có điều đáng quan tâm đối với những ai đang khảo cứu các vấn đề này.

1. The Condition of the Waters

1. Tình Trạng của Các Dòng Nước

The creating agency, man, has through the incentives of a co-ordinating purpose, intent meditation, and creative activity built the thought-form which he is ensouling with his own vitality and directing with his will. The time has come for that thought-form to be sent upon its mission and to carry out the purpose of its being. As we saw in the earlier rule, the form is “driven” from its creator by the power of the expulsive breath. This is a symbolic statement but, at the same time, an experimental fact in the magical work. In the disciple’s work, there is often failure owing to his inability to understand both the esoteric and the literal significance of this expulsive breath as he carries forward his meditation work. This expulsive breath is the result of a preceding period of rhythmic breathing, paralleled by concentrated meditation work, then a definite focussing of the attention and the breath, as the purpose of the created form is mentally defined, and finally, the vitalizing of the thought-form, by its creator, and its consequent energizing into independent life and activity.

Tác nhân sáng tạo, con người, qua các động cơ của một mục đích phối hợp, tham thiền chuyên chú, và hoạt động sáng tạo, đã xây dựng hình tư tưởng mà y đang phú linh bằng sinh lực của chính mình và định hướng bằng ý chí của mình. Thời điểm đã đến để hình tư tưởng ấy được gửi đi trong sứ mệnh của nó và thực hiện mục đích hiện hữu của nó. Như chúng ta đã thấy trong quy luật trước, hình tướng được “đẩy” ra khỏi người tạo ra nó bằng quyền năng của hơi thở tống xuất. Đây là một phát biểu biểu tượng nhưng đồng thời cũng là một sự kiện thực nghiệm trong công việc huyền thuật. Trong công việc của đệ tử, thường có thất bại do y không thể thấu hiểu cả thâm nghĩa huyền bí lẫn nghĩa đen của hơi thở tống xuất này khi y tiến hành công việc tham thiền. Hơi thở tống xuất này là kết quả của một giai đoạn trước đó của hơi thở có nhịp điệu, song hành với công việc tham thiền tập trung, rồi một sự tập trung xác định của sự chú ý và hơi thở, khi mục đích của hình tướng được tạo ra được xác định trong trí, và cuối cùng là việc người tạo ra hình tư tưởng tiếp sinh lực cho nó, cùng sự cấp năng lượng theo sau khiến nó đi vào đời sống và hoạt động độc lập.

The first hindrance to the potency of the work comes through the failure of the disciple to carry on these activities [160] simultaneously. The second cause of failure lies in his neglecting to consider the condition of the waters or the state of the emotional substance into which this mental form must go and so gather to itself the matter of the astral plane which will enable it to become a functioning entity on that plane. If it cannot do this, it becomes simply and eventually a dead form on the plane of mind, for it will lack that motivating power of desire which is necessary to carry it forward to completion on the physical plane.

Chướng ngại đầu tiên đối với quyền năng của công việc đến từ sự thất bại của đệ tử trong việc tiến hành các hoạt động này [160] đồng thời. Nguyên nhân thất bại thứ hai nằm ở việc y bỏ qua không xem xét tình trạng của các vùng nước hay trạng thái của chất liệu cảm xúc mà hình tướng cõi trí này phải đi vào, để nhờ đó thu hút vào nó vật chất của cõi cảm dục, vốn sẽ giúp nó trở thành một thực thể hoạt động trên cõi ấy. Nếu nó không thể làm điều này, cuối cùng nó chỉ trở thành một hình tướng chết trên cõi trí, vì nó sẽ thiếu quyền năng thúc đẩy của dục vọng cần thiết để đưa nó tiến tới sự hoàn thành trên cõi hồng trần.

It is interesting to remember this: If a thought-form is sent forth into the emotional world to gather to itself a body of desire (the impelling force which produces all objectivity) and is immersed in a “condition of the waters” which can best be described as purely selfish, all that occurs is as follows: It is lost, by being drawn into the astral body of the disciple, which is the focal point for all astral energy employed by the disciple. It is swept into a vortex of which the individual astral body is the centre and loses its separate existence. The simile of the whirlpool is of value here. The thinker is like a man throwing a toy boat from the shore into a stream of water. If he throws it into a whirlpool, it is sucked in time into the central vortex and so disappears. Many forms, thus constructed by an aspirant in his meditation work are lost and fail in their objective because of the chaotic and whirling state of the aspirant’s emotional body. Thus good intentions come to naught; thus good purpose and planned work for the Master fail to materialize because, as the thought-form passes downward on to the plane of desire and emotion, it contacts only the seething waters of fear, of suspicion, of hatred, of vicious or purely physical desire. These being more potent than the little form, drown it, and it passes out of sight and out of existence, and the man becomes conscious of another abortive effort.

Điều này đáng ghi nhớ: Nếu một hình tư tưởng được phóng ra vào thế giới cảm xúc để thu hút vào nó một thể dục vọng, tức mãnh lực thúc đẩy tạo ra mọi tính khách quan, và bị nhúng vào một “tình trạng của các dòng nước” mà tốt nhất có thể mô tả là thuần túy ích kỷ, thì tất cả những gì xảy ra là như sau: Nó bị mất đi, do bị kéo vào thể cảm dục của đệ tử, vốn là tiêu điểm cho mọi năng lượng cảm dục mà đệ tử sử dụng. Nó bị cuốn vào một xoáy nước mà thể cảm dục cá nhân là trung tâm, và đánh mất sự hiện hữu riêng biệt của nó. Hình ảnh ví von về xoáy nước ở đây có giá trị. Nhà tư tưởng giống như một người ném chiếc thuyền đồ chơi từ bờ vào một dòng nước. Nếu y ném nó vào một xoáy nước, nó sẽ dần dần bị hút vào xoáy trung tâm và biến mất. Nhiều hình tướng do một người chí nguyện xây dựng như thế trong công việc tham thiền của y bị mất đi và thất bại trong mục tiêu của chúng vì trạng thái hỗn loạn và xoáy cuộn của thể cảm xúc nơi người chí nguyện. Như vậy các ý định tốt đẹp trở nên vô ích; như vậy mục đích tốt đẹp và công việc đã hoạch định cho Chân sư không thể hiện hình, bởi vì khi hình tư tưởng đi xuống cõi dục vọng và cảm xúc, nó chỉ tiếp xúc với những vùng nước sôi sục của sợ hãi, nghi ngờ, hận thù, dục vọng xấu xa hoặc thuần túy hồng trần. Những điều này mạnh hơn hình tướng nhỏ bé ấy, nhận chìm nó, và nó khuất khỏi tầm nhìn và khỏi hiện hữu, còn con người trở nên ý thức về một nỗ lực thất bại khác.

[161]

[161]

Or again, the “condition of the waters” is not that of a self-engendered whirlpool, but is more allied to that of a pool, stirred into a frothy and boiling surge, through the activities of others. There are many disciples who have achieved a fair measure of self-control and of personal disinterestedness. They are not the victims of personality desire and aims, and are comparatively free from the whirlpool of selfish tendencies. But their astral bodies are again and again swept into a state of agitation by the group for, and in which, they work. They are elated or depressed, satisfied or dissatisfied by the results they achieve or fail to achieve; this achievement or lack of achievement and the steadiness or disloyalties of their fellow servers produce agitation and emotional upset, and on this powerful reaction their thought-forms, constructed so diligently and prayerfully, come to naught. Their “skill in action” is lost, because they are tied to the desired result and so their labour produces nothing.

Hoặc nữa, “tình trạng của các dòng nước” không phải là một xoáy nước tự sinh, mà giống hơn một ao nước bị khuấy lên thành một đợt dâng sủi bọt và sôi sục do các hoạt động của người khác. Có nhiều đệ tử đã đạt được một mức độ khá về tự chủ và vô tư cá nhân. Họ không phải là nạn nhân của dục vọng và mục tiêu phàm ngã, và tương đối tự do khỏi xoáy nước của những khuynh hướng ích kỷ. Nhưng thể cảm dục của họ hết lần này đến lần khác bị cuốn vào trạng thái kích động bởi nhóm mà họ làm việc cho và trong đó. Họ phấn chấn hoặc chán nản, thỏa mãn hoặc bất mãn bởi những kết quả họ đạt được hoặc không đạt được; sự thành tựu hay thiếu thành tựu này, và sự vững vàng hay bất trung của các bạn đồng phụng sự, tạo ra sự kích động và xáo trộn cảm xúc, và trên phản ứng mạnh mẽ này các hình tư tưởng của họ, được xây dựng hết sức chuyên cần và đầy cầu nguyện, trở nên vô ích. “Kỹ năng trong hành động” của họ bị mất, vì họ bị ràng buộc vào kết quả mong muốn, và vì thế lao động của họ không tạo ra gì.

There are many other “conditions of the waters” which each aspirant can for himself supply. There is one more however upon which I would like to touch. The emotional body of the disciple which must feed and nurture the baby thought-form (with its mental nucleus) is necessarily part of the planetary emotional form and hence vibrates in unison with that form. This should also be carefully considered, for the emotional body is thrown into a state of activity by the general astral condition and must be handled wisely from this angle.

Có nhiều “tình trạng của các dòng nước” khác mà mỗi người chí nguyện có thể tự mình bổ sung. Tuy nhiên, có một điều nữa mà tôi muốn chạm đến. Thể cảm xúc của đệ tử, vốn phải nuôi dưỡng và chăm sóc hình tư tưởng non trẻ với hạt nhân trí tuệ của nó, tất yếu là một phần của hình tướng cảm xúc hành tinh và vì thế rung động đồng điệu với hình tướng ấy. Điều này cũng cần được xem xét cẩn thận, vì thể cảm xúc bị đưa vào trạng thái hoạt động bởi tình trạng cảm dục chung và phải được xử lý một cách minh triết từ góc độ này.

At this time there are three qualities predominating in the planetary form—fear, expectancy and a climaxing desire (in the human family) for material possession. Note the word “climaxing”. The summation of human desire for material happiness has been reached, and the peak of that desire has been passed; thus mankind has achieved and surmounted much. But the rhythm of the ages is strong.

Vào lúc này có ba phẩm tính đang chiếm ưu thế trong hình tướng hành tinh—sợ hãi, mong đợi và một dục vọng đang lên tới đỉnh điểm trong gia đình nhân loại đối với sở hữu vật chất. Hãy lưu ý từ “đang lên tới đỉnh điểm”. Dục vọng của con người về hạnh phúc vật chất đã đạt đến đỉnh điểm, và đỉnh cao của dục vọng ấy đã được vượt qua; như vậy nhân loại đã đạt được và vượt qua nhiều điều. Nhưng nhịp điệu của các thời đại vẫn mạnh mẽ.

[162]

[162]

These three qualities have to be grasped and discounted by the aspirant as he seeks to serve from mental levels. In the place of fear he must substitute that peace which is the prerogative of those who live always in the Light of the Eternal; in the place of questioning expectancy he must substitute that placid, yet active, assurance of the ultimate objective which comes from a vision of the Plan and his contact with other disciples and later with the Master. Desire for material possession must be superseded by aspiration for those possessions which are the joy of the soul—wisdom, love and power to serve. Peace, assurance and right aspiration! These three words, when understood and experienced in the life of every day, will bring about that right “condition of the waters” which will ensure the survival of every thought-form, rightly engendered in meditation by the man, functioning as a soul.

Ba phẩm tính này phải được người chí nguyện nắm bắt và loại trừ ảnh hưởng khi y tìm cách phụng sự từ các cấp độ của cõi trí. Thay cho sợ hãi, y phải đặt vào sự an bình vốn là đặc quyền của những ai luôn sống trong Ánh sáng của Đấng Vĩnh Cửu; thay cho sự mong đợi đầy nghi vấn, y phải đặt vào sự xác tín bình thản nhưng linh hoạt về mục tiêu tối hậu, vốn đến từ tầm nhìn về Thiên Cơ và sự tiếp xúc của y với các đệ tử khác, và về sau với Chân sư. Dục vọng đối với sở hữu vật chất phải được thay thế bằng khát vọng hướng tới những sở hữu là niềm hoan hỉ của linh hồn—minh triết, bác ái và quyền năng phụng sự. An bình, xác tín và khát vọng đúng đắn! Ba từ này, khi được thấu hiểu và trải nghiệm trong đời sống hằng ngày, sẽ tạo nên “tình trạng của các dòng nước” đúng đắn, bảo đảm sự sống còn của mọi hình tư tưởng được sinh ra đúng đắn trong tham thiền bởi con người đang hoạt động như một linh hồn.

2. The Safety of the One Who Thus Creates

2. Sự An Toàn của Người Tạo Ra Hình Tư Tưởng Như Vậy

It might be said here with emphasis, even if it is a recognized truism, that people are frequently slain (in the occult and therefore in the more important sense) by their own thought-forms. Thought creation, through concentration and meditation, is a potently dangerous matter. This must never be forgotten. There are forms of thought, unencumbered by much desire matter, which, failing to pass downward, poison the man on mental levels. This they do in two ways:

Ở đây có thể nói một cách nhấn mạnh, dù đó là một sự thật hiển nhiên được công nhận, rằng con người thường bị sát hại, theo nghĩa huyền bí và do đó là nghĩa quan trọng hơn, bởi chính các hình tư tưởng của mình. Việc tạo ra tư tưởng, qua tập trung và tham thiền, là một vấn đề nguy hiểm đầy quyền năng. Điều này không bao giờ được quên. Có những hình tướng tư tưởng, không bị nhiều vật chất dục vọng làm nặng nề, khi không thể đi xuống, sẽ đầu độc con người trên các cấp độ của cõi trí. Chúng làm điều này theo hai cách:

1. By growing so potent on the mental plane that the man falls a victim to the thing he has created. This is the “idée fixe” of the psychiatrist; the obsession which drives to lunacy; the one-pointed line of thought which eventually terrorises its creator.

1. Bằng cách trở nên mạnh mẽ đến mức trên cõi trí, con người trở thành nạn nhân của chính điều y đã tạo ra. Đây là “ý tưởng cố định” của nhà tâm thần học; là sự ám ảnh thúc đẩy đến điên loạn; là đường tư tưởng nhất tâm cuối cùng làm kinh hoàng chính người tạo ra nó.

2. By multiplying so fast that the mental aura of the man becomes like unto a thick and dense cloud, through [163] which the light of the soul must fail to penetrate, and through which the love of human beings, the lovely and beautiful and comforting activities of nature and of life in the three worlds equally fail to pierce. The man is smothered, is suffocated by his own thought-forms, and succumbs to the miasma which he himself has engendered.

2. Bằng cách nhân bội nhanh đến mức hào quang cõi trí của con người trở nên giống như một đám mây dày đặc, qua [163] đó ánh sáng của linh hồn không thể xuyên thấu, và qua đó tình thương của con người, các hoạt động đáng yêu, đẹp đẽ và an ủi của thiên nhiên và của đời sống trong ba cõi giới cũng không thể xuyên qua. Con người bị bóp nghẹt, bị ngạt thở bởi chính các hình tư tưởng của mình, và gục ngã trước khí độc do chính y đã sinh ra.

Or again, there are lines of thought which draw forth from the emotional body a reaction of a poisonous nature. A certain line of thought is followed by a human being in relation to his brethren. It breeds hatred, jealousy and envy, and works through into manifestation in such a manner that it produces those physical plane activities which cause the death of their creator. This may be literal as in the case of murder, which is in many cases the result of crystallised intent, or it may result in disease. Pure thought, right motive and loving desire are the true correctives of disease, and where the desire for these (which does animate many) is raised to constructive thinking there will be the gradual elimination of disease. As yet, though many desire, few think. Let it never be forgotten that the Great Ones do not look for those who only desire and aspire. They look for those who blend with their desire the determination to learn to use their mental bodies and become creators, and who will work constructively towards these ends.

Lại nữa, có những dòng tư tưởng khơi ra từ thể cảm xúc một phản ứng có tính độc hại. Một dòng tư tưởng nào đó được con người theo đuổi trong tương quan với các huynh đệ của y. Nó sinh ra hận thù, ganh ghét và đố kỵ, rồi tác động xuyên qua để đi vào biểu hiện theo cách tạo ra những hoạt động trên cõi hồng trần gây nên cái chết cho chính kẻ đã tạo ra chúng. Điều này có thể theo nghĩa đen, như trong trường hợp sát nhân, vốn trong nhiều trường hợp là kết quả của ý định đã kết tinh, hoặc có thể đưa đến bệnh tật. Tư tưởng thanh khiết, động cơ đúng đắn và ước muốn đầy tình thương là những phương thuốc sửa chữa chân thật đối với bệnh tật; và nơi nào ước muốn về những điều này, vốn quả thật đang làm sinh động nhiều người, được nâng lên thành tư duy xây dựng, nơi đó bệnh tật sẽ dần dần được loại trừ. Cho đến nay, dù nhiều người ước muốn, nhưng ít người tư duy. Đừng bao giờ quên rằng Các Đấng Cao Cả không tìm kiếm những người chỉ biết ước muốn và khát vọng. Các Ngài tìm kiếm những người biết hòa vào ước muốn của mình quyết tâm học cách sử dụng thể trí và trở thành những người sáng tạo, và những người sẽ làm việc một cách xây dựng hướng tới các mục tiêu ấy.

Thus it will be seen why, in all systems of true occult training, the emphasis is laid on right thinking, loving desire, and pure, clean living. Only thus can the creative work be carried forward with safety, and only thus can the thought-form pass downward into objectivity, and be a constructive agent on the plane of human existence.

Do đó, có thể thấy vì sao, trong mọi hệ thống huấn luyện huyền bí chân chính, trọng tâm được đặt vào tư duy đúng đắn, ước muốn đầy tình thương, và đời sống thanh khiết, trong sạch. Chỉ như thế công việc sáng tạo mới có thể được tiến hành an toàn, và chỉ như thế hình tư tưởng mới có thể đi xuống vào tính khách quan, trở thành một tác nhân xây dựng trên cõi hiện tồn của nhân loại.

3. Steady Contemplation

3. Sự Chiêm ngưỡng Đều đặn

You will note here that the word ‘meditation’ is not used. The thought is a different one. The meditation [164] process, involving the use of thought and the mental building of the form so that it can be completed and rounded out and in line with the thought-form of the disciple’s group of co-disciples, and therefore with the Plan, has been completed to the best of the man’s ability. Now he must, with steadiness, contemplate that which he has created, and with equal steadiness inspire it with needed life, so that it can fulfill its function.

Ở đây các bạn sẽ lưu ý rằng từ “tham thiền” không được dùng. Ý tưởng ở đây là một ý tưởng khác. Tiến trình tham thiền [164], bao gồm việc sử dụng tư tưởng và việc kiến tạo hình tướng bằng trí tuệ để hình tướng ấy có thể được hoàn tất, được làm tròn đầy, và phù hợp với hình tư tưởng của nhóm các đệ tử đồng môn của đệ tử, và do đó phù hợp với Thiên Cơ, đã được hoàn tất đến mức tốt nhất theo khả năng của con người ấy. Giờ đây y phải, với sự vững vàng, chiêm ngưỡng điều mà y đã tạo ra, và với cùng một sự vững vàng ấy, tiếp cho nó sự sống cần thiết, để nó có thể hoàn thành chức năng của mình.

He ceases to reason, to think, to formulate, and to build in mental matter. He simply pours his life into the form and sends it forth to carry out his will. Just as long as he can contemplate and hold steady, so will his creation fulfill his intention and act as his agent.

Y thôi lý luận, thôi suy nghĩ, thôi hình thành công thức, và thôi xây dựng trong chất liệu cõi trí. Y chỉ đơn giản tuôn sự sống của mình vào hình tướng và phóng nó ra để thi hành ý chí của y. Chừng nào y còn có thể chiêm ngưỡng và giữ vững, chừng ấy sáng tạo của y sẽ hoàn thành ý định của y và hành động như tác nhân của y.

Just so long as he can focus his attention on the ideal for which he created his thought-form and can link the form and the ideal together in one steady vision, just so long will it serve his purpose and express his ideal. Herein lies the secret of all successful co-operation with the Plan.

Chừng nào y còn có thể tập trung sự chú ý vào lý tưởng mà vì đó y đã tạo ra hình tư tưởng của mình, và có thể nối kết hình tướng cùng lý tưởng trong một tầm nhìn vững bền duy nhất, chừng ấy nó sẽ phụng sự mục đích của y và biểu lộ lý tưởng của y. Chính trong điều này có bí quyết của mọi sự hợp tác thành công với Thiên Cơ.

We will now study for a while the words “heart, throat, and eye,” for they have a peculiar significance. These three form the apparatus to be employed by all disciples during the world cycle which is so rapidly coming.

Bây giờ chúng ta sẽ nghiên cứu trong một thời gian các từ “tim, cổ họng và mắt”, vì chúng có một thâm nghĩa đặc biệt. Ba điều này tạo thành bộ khí cụ sẽ được mọi đệ tử sử dụng trong chu kỳ thế giới đang đến rất nhanh.

That there is not as yet a very large body of disciples in incarnation at this time, and that the apparatus with many who are functioning on the level of discipleship is but in embryo, is profoundly true. It should be remembered however, that the world cycle has only just been inaugurated and will cover a vast period of time. There are only about four hundred accepted disciples in the world at this time—that is, men and women who really know they are disciples and know what their work is and are doing it. There are nevertheless many hundreds (out of the present generation of young people) who stand on the verge of acceptance, and thousands are upon the probationary path.

Việc hiện nay chưa có một đoàn thể đệ tử rất đông đảo đang lâm phàm, và bộ khí cụ nơi nhiều người đang hoạt động ở cấp độ địa vị đệ tử mới chỉ ở trạng thái phôi thai, là điều hết sức đúng. Tuy nhiên, cần nhớ rằng chu kỳ thế giới chỉ vừa mới được khai mở và sẽ bao trùm một thời kỳ rộng lớn. Hiện nay trên thế giới chỉ có khoảng bốn trăm đệ tử được chấp nhận, nghĩa là những người nam và nữ thật sự biết mình là đệ tử, biết công việc của mình là gì và đang thực hiện công việc ấy. Tuy vậy, có nhiều trăm người, trong thế hệ trẻ hiện nay, đang đứng trên ngưỡng cửa của sự chấp nhận, và hàng ngàn người đang ở trên Con Đường Dự Bị.

[165]

[165]

In all truly esoteric groups, there should be forming a group in which an intellectual understanding of this mechanism of heart, throat, and eye, will be found. It should be constituted of those who are submitting themselves to a discipline and a training which will make its use a demonstrated fact in nature to them. I would call attention to those words, and request their careful study.

Trong mọi nhóm nội môn chân chính, cần phải hình thành một nhóm trong đó có sự thấu hiểu bằng trí tuệ về cơ cấu tim, cổ họng và mắt này. Nhóm ấy nên được cấu thành bởi những người đang tự đặt mình dưới một kỷ luật và một sự huấn luyện sẽ khiến việc sử dụng cơ cấu ấy trở thành một sự kiện đã được chứng minh trong tự nhiên đối với họ. Tôi muốn lưu ý đến những từ này, và yêu cầu các bạn nghiên cứu chúng cẩn thận.

A mechanism in the natural body comes into use in two ways: First, its use is involuntary, and there is no comprehension of how, or why, or when, the apparatus is used. An animal employs a mechanism, analogous in many respects to that employed by man. He sees, and hears and functions organically along similar lines to the human, but lacks the mental understanding and the linking of cause and effect which are characteristic of the higher kingdom in nature.

Một cơ cấu trong thân thể tự nhiên được đưa vào sử dụng theo hai cách: Thứ nhất, việc sử dụng nó là không chủ ý, và không có sự thấu hiểu về cách thức, lý do, hay thời điểm bộ khí cụ ấy được dùng. Một con vật sử dụng một cơ cấu, về nhiều phương diện tương tự với cơ cấu con người sử dụng. Nó thấy, nghe và hoạt động về mặt cơ thể theo những đường lối tương tự như con người, nhưng thiếu sự thấu hiểu trí tuệ và sự nối kết nguyên nhân với kết quả vốn là đặc điểm của giới cao hơn trong tự nhiên.

A similar state of affairs exists in the early stages of the path of discipleship, and the final stages of the probationary path. The disciple becomes aware of capacities and powers which are not as yet intelligently under his control. He experiences flashes of insight, and of knowledge which seem unaccountable and of no immediate value. He contacts vibrations and the phenomena of other realms but remains unaware of the process whereby he has done so, and is incompetent either to renew or recall the experience. Within his etheric body, he senses active forces. Sometimes he can localise them, and in any case he admits theoretically that there is awakening into conscious activity, a sevenfold structure, which is symbolic in form, and potent when employed. He cannot as yet control it and he is quite incapable of calling it into intelligent co-operation with his purposes and ideas, no matter how hard he tries. All that he can do is to register such phenomena and keep a record of these experiences, bearing always in mind that in the early stages of his unfoldment only the coarsest and most material [166] of the vibrations will be registered on his brain consciousness. He simply has to wait and to bring his mind to bear upon the purifying of his vehicles and the elimination of all that he recognises as liable to distort his vision. This period may be long or short according as the aspirant is entering into the subjective consciousness for the first time or is taking up the thread of an older or partially achieved undertaking.

Một tình trạng tương tự tồn tại trong các giai đoạn đầu của Con Đường Đệ Tử, và trong các giai đoạn cuối của Con Đường Dự Bị. Đệ tử trở nên ý thức về những năng lực và quyền năng chưa nằm dưới sự kiểm soát thông minh của y. Y trải nghiệm những tia chớp linh thị và tri thức dường như không thể giải thích và không có giá trị tức thời. Y tiếp xúc với các rung động và hiện tượng của những cõi khác, nhưng vẫn không biết tiến trình nhờ đó y đã làm như vậy, và không có khả năng tái lập hay hồi tưởng kinh nghiệm ấy. Trong thể dĩ thái của mình, y cảm nhận những mãnh lực đang hoạt động. Đôi khi y có thể định vị chúng, và trong mọi trường hợp, y thừa nhận về mặt lý thuyết rằng có một cấu trúc thất phân đang thức tỉnh vào hoạt động hữu thức, cấu trúc ấy có hình thức biểu tượng và đầy uy lực khi được sử dụng. Y chưa thể kiểm soát nó, và hoàn toàn không có khả năng kêu gọi nó hợp tác một cách thông minh với các mục đích và ý tưởng của mình, dù y cố gắng đến đâu. Tất cả những gì y có thể làm là ghi nhận các hiện tượng ấy và giữ một hồ sơ về những kinh nghiệm này, luôn luôn ghi nhớ rằng trong các giai đoạn đầu của sự khai mở nơi y, chỉ những rung động thô nhất và vật chất nhất [166] mới được ghi nhận trong tâm thức bộ não của y. Y chỉ cần chờ đợi và đem thể trí của mình tác động vào việc thanh lọc các hiện thể của mình, cũng như loại bỏ tất cả những gì y nhận ra là có khả năng làm méo mó tầm nhìn của y. Thời kỳ này có thể dài hoặc ngắn tùy theo việc người chí nguyện lần đầu tiên bước vào tâm thức chủ quan, hay đang tiếp nối sợi dây của một công trình cũ hơn hoặc đã được thành tựu một phần.

I would like here, to make perfectly clear to all true and earnest aspirants that, in the training to be given during the next few decades, the unfoldment of astral vision and hearing will be entirely ruled out, or (if it exists) will eventually have to be overcome. The true disciple has endeavoured to centre himself on the mental plane with the object in view of transferring his consciousness higher still, into the wider and inclusive awareness of the soul.

Ở đây, tôi muốn làm cho mọi người chí nguyện chân thật và nghiêm túc hoàn toàn rõ rằng, trong sự huấn luyện sẽ được trao trong vài thập niên tới, sự khai mở thị giác và thính giác cảm dục sẽ bị loại trừ hoàn toàn, hoặc nếu đã có, cuối cùng sẽ phải được vượt qua. Đệ tử chân chính đã cố gắng đặt trung tâm của mình trên cõi trí, với mục tiêu chuyển tâm thức của mình lên cao hơn nữa, vào nhận thức rộng lớn và bao gồm hơn của linh hồn.

His aim is to include the higher, and there is no need for him, at this stage, to regain that astral facility which was the possession, as you well know, of the little evolved races of the earth, and of many of the higher animals. Later on, when adeptship has been reached, he can function on the astral plane should he so choose, but it should be remembered, that the Master works with the soul aspect of humanity (and of all forms) and does not work with their astral bodies. This has been oft forgotten by teachers both in the East and in the West.

Mục tiêu của y là bao gồm cái cao hơn; và ở giai đoạn này, y không cần khôi phục lại khả năng cảm dục vốn, như các bạn biết rõ, là sở hữu của các giống dân ít tiến hóa trên Trái Đất và của nhiều loài thú cao hơn. Về sau, khi đã đạt đến địa vị chân sư, y có thể hoạt động trên cõi cảm dục nếu y chọn như vậy; nhưng cần nhớ rằng Chân sư làm việc với phương diện linh hồn của nhân loại, và của mọi hình tướng, chứ không làm việc với các thể cảm dục của họ. Điều này thường bị các huấn sư ở cả Đông phương lẫn Tây phương quên mất.

In working with souls the true technique of evolution is carried forward, for it is the soul within the forms in every kingdom in nature which is responsible for the developing work of, and within, the form. May I say therefore to students that their main objective is to become aware of the soul, to cultivate soul consciousness, and to learn to live and work as souls. Until such time as their use of their apparatus becomes voluntary they would be well advised to train their minds, study the [167] laws governing manifestation, and learn to include all that which we now cover by the word ‘higher’—a misnomer, but it must suffice.

Trong việc làm việc với các linh hồn, kỹ thuật chân chính của tiến hóa được tiến hành, vì chính linh hồn bên trong các hình tướng, trong mọi giới của tự nhiên, chịu trách nhiệm cho công việc phát triển của hình tướng và bên trong hình tướng. Vì vậy, tôi có thể nói với các đạo sinh rằng mục tiêu chính của họ là trở nên ý thức về linh hồn, vun trồng tâm thức linh hồn, và học sống cùng làm việc như các linh hồn. Cho đến khi việc sử dụng bộ khí cụ của họ trở nên chủ động, họ nên huấn luyện thể trí của mình, nghiên cứu các [167] định luật chi phối sự biểu hiện, và học bao gồm tất cả những gì hiện nay chúng ta gọi bằng từ “cao hơn”, một cách gọi sai, nhưng phải tạm đủ dùng.

Second, when the use of the subjective instrument becomes voluntary and a man knows how it should be employed, when he is using it, and can discontinue its use or resume it at will, then his whole status changes and his usefulness increases. Through the use of the mind, humanity has become aware of the purposes and employment of the physical apparatus. Now through the use of a still higher faculty, which is a characteristic of the soul, he enters into voluntary and intelligent control of his instrument and learns to understand the purposes for which it exists. This higher faculty is the intuition.

Thứ hai, khi việc sử dụng khí cụ chủ quan trở nên chủ động và một người biết nó phải được dùng như thế nào, khi nào y đang sử dụng nó, và có thể ngưng sử dụng hoặc tiếp tục sử dụng nó tùy ý, bấy giờ toàn bộ địa vị của y thay đổi và sự hữu dụng của y tăng lên. Nhờ sử dụng thể trí, nhân loại đã trở nên ý thức về các mục đích và công dụng của bộ khí cụ hồng trần. Giờ đây, nhờ sử dụng một quan năng còn cao hơn, vốn là đặc tính của linh hồn, y bước vào sự kiểm soát chủ động và thông minh đối với khí cụ của mình, và học thấu hiểu các mục đích mà vì đó khí cụ ấy hiện hữu. Quan năng cao hơn này là trực giác.

May I add with emphasis that only as the man becomes intuitive does he become of use in a Master’s group and I commend to all aspirants that they most carefully study the meaning and significance of the intuition. When it is beginning to function, then the disciple can pass from the stage of probation to that of acceptance in a Master’s group.

Tôi xin nhấn mạnh thêm rằng chỉ khi con người trở nên trực giác, y mới trở nên hữu dụng trong nhóm của một Chân sư; và tôi khuyên tất cả những người chí nguyện hãy nghiên cứu thật cẩn thận ý nghĩa và thâm nghĩa của trực giác. Khi trực giác bắt đầu hoạt động, bấy giờ đệ tử có thể chuyển từ giai đoạn dự bị sang giai đoạn được chấp nhận trong nhóm của một Chân sư.

You might ask here how this can be known or ascertained by the probationer.

Ở đây các bạn có thể hỏi làm sao điều này có thể được người dự bị biết hay xác định.

A great deal of training is given to a probationer without his really recognising it consciously. Fault tendencies are indicated to him as he seeks with sincerity to train himself for service, and the analysis of motive when truthfully undertaken, serves amazingly to lift the would-be disciple out of the astral or emotional world into that of the mind. It is in the mental world that the Masters are first contacted, and there They must be sought.

Rất nhiều sự huấn luyện được trao cho một người dự bị mà y không thật sự nhận biết một cách hữu thức. Những khuynh hướng sai lỗi được chỉ ra cho y khi y chân thành tìm cách huấn luyện mình để phụng sự; và việc phân tích động cơ, khi được thực hiện một cách trung thực, có tác dụng kỳ diệu trong việc nâng người muốn làm đệ tử ra khỏi thế giới cảm dục hay cảm xúc, vào thế giới của thể trí. Chính trong thế giới cõi trí mà các Chân sư lần đầu được tiếp xúc, và chính ở đó Các Ngài phải được tìm kiếm.

But the time has come when the Light in the head is not only present but can be somewhat used. The karma of the aspirant is such that it becomes possible for him, through strenuously applied effort, to handle his life in [168] such a way that he can not only fulfill his karma and carry out his obligations, but has sufficient determination to enable him to handle the problems and obligations of discipleship also. His service to others is carried out with the right motive, and is beginning to count and make its power felt, and he is losing sight of his own interests in those of others. When this occurs certain esoteric happenings take place.

Nhưng thời điểm đã đến khi Ánh sáng trong đầu không chỉ hiện diện mà còn có thể được sử dụng phần nào. Nghiệp quả của người chí nguyện là như thế, đến nỗi nhờ nỗ lực được áp dụng mạnh mẽ, y có thể điều khiển đời sống mình theo [168] cách không chỉ hoàn thành nghiệp quả và thi hành các bổn phận của mình, mà còn có đủ quyết tâm để giúp y xử lý cả những vấn đề và bổn phận của địa vị đệ tử. Sự phụng sự của y đối với người khác được thực hiện với động cơ đúng đắn, và bắt đầu có giá trị cùng làm cho quyền năng của nó được cảm nhận; và y đang quên đi các lợi ích riêng của mình để quan tâm đến lợi ích của người khác. Khi điều này xảy ra, một số sự kiện nội môn diễn ra.

The Master confers with some of His senior disciples as to the advisability of admitting the aspirant within the group aura, and of blending his vibration with that of the group. Then, if decision is arrived at, for the space of two years a senior disciple acts as the intermediary betwixt the Master and the newly accepted aspirant. He works with the new disciple, stepping down (if I so might express it) the vibration of the Master so as to accustom the disciple’s bodies to the higher increased rate. He impresses the disciple’s mind, via his Ego, with the group plans and ideals, and he watches his reaction to life’s occurrences and opportunities. He practically assumes, pro tem, the duties and position of Master.

Chân sư bàn bạc với một số đệ tử cao cấp của Ngài về sự thích hợp của việc thu nhận người chí nguyện vào trong hào quang nhóm, và hòa rung động của y với rung động của nhóm. Rồi, nếu quyết định được đưa ra, trong khoảng thời gian hai năm, một đệ tử cao cấp đóng vai trò trung gian giữa Chân sư và người chí nguyện mới được chấp nhận. Vị ấy làm việc với đệ tử mới, hạ thấp, nếu tôi có thể diễn tả như vậy, rung động của Chân sư để làm cho các thể của đệ tử quen với nhịp độ cao hơn và gia tăng ấy. Vị ấy gây ấn tượng lên thể trí của đệ tử, qua Chân ngã của y, bằng các kế hoạch và lý tưởng của nhóm, và theo dõi phản ứng của y trước những biến cố và cơ hội của đời sống. Trên thực tế, vị ấy tạm thời đảm nhận các bổn phận và vị trí của Chân sư.

All this time the aspirant remains in ignorance of what has happened and is unaware of his subjective contacts. He, however, recognizes in himself three things:

Trong suốt thời gian này, người chí nguyện vẫn không biết điều gì đã xảy ra và không ý thức về các tiếp xúc chủ quan của mình. Tuy nhiên, y nhận ra trong chính mình ba điều:

Increased mental activity. This at first will give him much trouble, and he will feel as if he were losing in mind control instead of gaining it, but this is only a temporary condition and gradually he will assume command.

Hoạt động trí tuệ gia tăng. Ban đầu điều này sẽ gây cho y nhiều phiền toái, và y sẽ cảm thấy như thể mình đang mất sự kiểm soát thể trí thay vì đạt được nó; nhưng đây chỉ là một tình trạng tạm thời, và dần dần y sẽ nắm quyền điều khiển.

Increased responsiveness to ideas and increased capacity to vision the plan of the Hierarchy. This will make him, in the early stages, fanatical to a degree. He will be continually swept off his feet with new ideals, new isms, new modes of living, new dreams for race betterment. He will take up one cult after another as they seem to make possible the coming millennium. But after [169] a time he regains his poise, and purpose assumes control of his life. He works at his own job, and carries forward his contribution to the activity of the whole, to the best of his ability.

Sự đáp ứng gia tăng đối với các ý tưởng và năng lực gia tăng để thấy Thiên Cơ của Thánh Đoàn. Trong các giai đoạn đầu, điều này sẽ khiến y trở nên cuồng tín ở một mức độ nào đó. Y sẽ liên tục bị cuốn đi bởi những lý tưởng mới, những chủ thuyết mới, những lối sống mới, những giấc mơ mới về sự cải thiện nhân loại. Y sẽ lần lượt tiếp nhận hết giáo phái này đến giáo phái khác, khi chúng dường như làm cho thiên niên kỷ sắp đến trở nên khả hữu. Nhưng sau [169] một thời gian, y lấy lại sự quân bình, và mục đích nắm quyền kiểm soát đời sống của y. Y làm công việc riêng của mình, và tiến hành phần đóng góp của mình vào hoạt động của toàn thể, theo khả năng tốt nhất của y.

Increased psychic sensitiveness. This is both an indication of growth and at the same time a test. He is apt to be taken in by the allurements of the psychic powers; he will be tempted to side-track his efforts from specialised service to the race into the exploitation of the psychic powers, and their use for self assertion. The aspirant has to grow in all parts of his nature, but until he can function as the soul, the psyche, consciously and with the use of cooperative intelligence, the lower powers must be quiescent. They can only be safely used by advanced disciples and initiates. They are weapons and instruments of service to be then used in the three worlds by those who are still tied by the Law of Rebirth to those worlds. Those who have passed through the great Liberation and have “occultly crossed the bridge” have no need to employ the powers inherent in the lower sheaths. They can use the infallible knowledge of the intuition, and the illumination of the principle of Light.

Sự nhạy cảm thông linh gia tăng. Điều này vừa là dấu hiệu của sự tăng trưởng, đồng thời cũng là một thử thách. Y dễ bị lôi cuốn bởi những quyến rũ của các quyền năng thông linh; y sẽ bị cám dỗ chuyển hướng nỗ lực của mình khỏi sự phụng sự chuyên biệt cho nhân loại sang việc khai thác các quyền năng thông linh, và sử dụng chúng để tự khẳng định. Người chí nguyện phải tăng trưởng trong mọi phần của bản chất mình; nhưng cho đến khi y có thể hoạt động như linh hồn, như nguyên lý tâm linh, một cách hữu thức và với việc sử dụng trí tuệ hợp tác, các quyền năng thấp phải ở trạng thái yên lặng. Chúng chỉ có thể được sử dụng an toàn bởi các đệ tử tiến bộ và các điểm đạo đồ. Khi ấy, chúng là vũ khí và khí cụ phụng sự được dùng trong ba cõi thấp bởi những người vẫn còn bị Định luật Tái sinh ràng buộc với các cõi ấy. Những ai đã trải qua cuộc Giải Thoát lớn lao và đã “vượt qua cây cầu một cách huyền bí” thì không cần sử dụng các quyền năng vốn có trong những lớp vỏ thấp. Họ có thể sử dụng tri thức không sai lầm của trực giác và sự soi sáng của nguyên khí Ánh sáng.

There is much misapprehension in people’s minds as to how a Master lets an accepted disciple become aware that he is accepted. An impression is abroad that he is told so and that an interview is accorded wherein the Master accepts him and starts him to work. Such is not the case. The occult law holds good in discipleship as in initiation, and the man goes forward blindly. He hopes, but he does not know; he expects that it may be so, but no tangible assurance is given; from a study of himself and of the requirements he arrives at the conclusion that perhaps he has reached the status of accepted disciple. He therefore acts on that assumption and with care he watches his acts, guards his words, and controls his thoughts so that no overt act, unnecessary word or unkind [170] thought will break the rhythm which he believes has been set up. He proceeds with his work but intensifies his meditation; he searches his motives; he seeks to equip his mental body; he sets before himself the ideal of service and seeks ever to serve; and then (when he is so engrossed in the work on hand that he has forgotten himself), suddenly one day he sees the One Who has for so long seen him.

Có nhiều sự hiểu lầm trong tâm trí con người về cách một Chân sư cho một đệ tử được chấp nhận biết rằng y đã được chấp nhận. Có một ấn tượng lan truyền rằng y được thông báo như vậy, và được ban cho một cuộc phỏng vấn trong đó Chân sư chấp nhận y và khởi sự giao công việc cho y. Sự việc không phải như thế. Định luật huyền bí vẫn đúng trong địa vị đệ tử cũng như trong điểm đạo, và con người tiến bước trong mù mờ. Y hy vọng, nhưng y không biết; y mong rằng có thể đúng như vậy, nhưng không có sự bảo đảm hữu hình nào được trao; từ việc nghiên cứu chính mình và các đòi hỏi, y đi đến kết luận rằng có lẽ y đã đạt đến địa vị đệ tử được chấp nhận. Vì thế, y hành động trên giả định ấy, và cẩn thận quan sát các hành vi của mình, giữ gìn lời nói, và kiểm soát tư tưởng, để không hành vi lộ liễu nào, lời nói không cần thiết nào, hay tư tưởng không tử tế nào [170] phá vỡ nhịp điệu mà y tin rằng đã được thiết lập. Y tiếp tục công việc của mình nhưng tăng cường tham thiền; y khảo sát các động cơ của mình; y tìm cách trang bị cho thể trí của mình; y đặt trước mình lý tưởng phụng sự và luôn tìm cách phụng sự; rồi khi y quá mải mê với công việc đang làm đến nỗi quên chính mình, bỗng một ngày kia y thấy Đấng đã thấy y từ rất lâu.

This may come in two ways: in full waking consciousness or by the registering of the interview on the physical brain as it has been participated in during the hours of sleep.

Điều này có thể đến theo hai cách: trong tâm thức tỉnh thức đầy đủ, hoặc qua việc ghi nhận cuộc gặp gỡ trên bộ não hồng trần như một điều đã được tham dự trong những giờ ngủ.

But accompanying this recognition of the event by the disciples will come certain other recognitions.

Nhưng đi kèm với việc các đệ tử nhận ra biến cố này sẽ có một số nhận biết khác.

1. The event is recognised as fact past all controversy. No doubt remains in the disciple’s mind.

1. Biến cố được nhận ra như một sự kiện vượt ngoài mọi tranh cãi. Không còn nghi ngờ nào trong tâm trí đệ tử.

2. There is recognised an inhibition on the disciple’s part to mention the happening to any one. Months or years may slip away before the disciple will mention it, and then only to those who are also recognised as disciples or to some fellow worker, also under the same group influence, whose right it is to know and whose right is sanctioned by the Master of the group.

2. Đệ tử nhận ra nơi mình có một sự kìm giữ, không được nhắc đến sự việc ấy với bất kỳ ai. Nhiều tháng hoặc nhiều năm có thể trôi qua trước khi đệ tử nhắc đến nó, và khi ấy chỉ với những người cũng được nhận ra là đệ tử, hoặc với một bạn đồng sự cũng ở dưới cùng một ảnh hưởng nhóm, người có quyền được biết, và quyền ấy được Chân sư của nhóm chuẩn nhận.

3. Certain factors, governing the Master’s relation to the disciple, are gradually recognised and begin increasingly to govern the disciple’s life.

3. Một số yếu tố chi phối mối liên hệ của Chân sư với đệ tử dần dần được nhận ra và ngày càng bắt đầu chi phối đời sống của đệ tử.

a. He recognises that his points of contact with his Master are governed by group emergency and need, and deal with his group service. It gradually dawns on him that his Master is only interested in him insofar as his ego can be used in service, through the personality on the physical plane. He begins to realise that his Master works with his soul and that it is his ego, therefore, which is en rapport with the Master and not the personal self. His problem, therefore, becomes increasingly clear and this is the problem of all disciples. It is to keep the [171] channel of communication open between the soul and the brain, via the mind, so that when the Master seeks to communicate, He can do so at once and easily. Sometimes a Master has to wait weeks before He can get His disciple’s ear, for the channel upward is closed and the soul is not en rapport with the brain. This is especially true of the early stages of discipleship.

a. Y nhận ra rằng các điểm tiếp xúc của y với Chân sư được chi phối bởi nhu cầu và tình thế khẩn cấp của nhóm, và liên quan đến sự phụng sự nhóm của y. Dần dần y hiểu ra rằng Chân sư chỉ quan tâm đến y trong chừng mực Chân ngã của y có thể được sử dụng trong phụng sự, thông qua phàm ngã trên cõi hồng trần. Y bắt đầu nhận ra rằng Chân sư làm việc với linh hồn của y, và do đó chính chân ngã của y ở trong sự giao cảm với Chân sư, chứ không phải phàm ngã cá nhân. Vì vậy, vấn đề của y ngày càng trở nên rõ ràng, và đây là vấn đề của mọi đệ tử. Đó là giữ cho [171] kênh giao tiếp giữa linh hồn và bộ não, qua thể trí, luôn mở, để khi Chân sư tìm cách giao tiếp, Ngài có thể làm điều đó ngay lập tức và dễ dàng. Đôi khi một Chân sư phải chờ nhiều tuần trước khi Ngài có thể khiến đệ tử của Ngài lắng nghe, vì kênh hướng thượng bị đóng lại và linh hồn không ở trong sự giao cảm với bộ não. Điều này đặc biệt đúng trong các giai đoạn đầu của địa vị đệ tử.

b. He finds that it is he who shuts the door in the majority of cases through lower psychism, physical disability, and lack of mind control, and he therefore discovers that he has to work constantly and ceaselessly with his lower self.

b. Y thấy rằng trong đa số trường hợp, chính y là người đóng cánh cửa lại qua thông linh thấp, khiếm khuyết hồng trần, và thiếu kiểm soát thể trí; vì vậy y khám phá rằng y phải làm việc liên tục và không ngừng với phàm ngã của mình.

c. He finds that one of the first things he has to do is to learn to discriminate between:

c. Y thấy rằng một trong những điều đầu tiên y phải làm là học phân biện giữa:

His own soul’s vibration.

Rung động của linh hồn chính y.

The vibration of the group of disciples with whom he is associated.

Rung động của nhóm đệ tử mà y liên kết.

The vibration of the Master.

Rung động của Chân sư.

All three are different and it is easy to confuse them, especially at first. It is a safe rule for aspirants to assume when they contact a high vibration and stimulus, that it is their own soul contacting them, the Master in the heart, and not run off with the idea (so flattering to their pride and personality) that the Master is endeavouring to reach them.

Cả ba đều khác nhau, và rất dễ nhầm lẫn chúng, đặc biệt lúc ban đầu. Một quy luật an toàn cho người chí nguyện là, khi họ tiếp xúc với một rung động và kích thích cao, hãy giả định rằng đó là linh hồn của chính họ đang tiếp xúc với họ, Chân sư trong tim, và đừng vội chạy theo ý tưởng, vốn rất nịnh nọt lòng kiêu hãnh và phàm ngã của họ, rằng Chân sư đang cố gắng tiếp cận họ.

d. He finds also that it is not the habit of the Masters to flatter or to make promises to their disciples. They are too busy and too wise, nor do They trouble Themselves to tell Their disciples that they are destined for high office, or that they are Their intermediaries and that the Hierarchy is depending upon them. Ambition, love of power, and the self-sufficiency which characterises many mental types test out the struggling aspirant, and he gets from his personality all that he needs in that line. These qualities delude him and lead him astray, forcing [172] him onto a pedestal from which eventually he must descend. The Masters say nothing to feed pride in Their disciples, nor do They speak words to them which could foster in Their chelas the spirit of separateness.

d. Y cũng thấy rằng các Chân sư không có thói quen tâng bốc hay hứa hẹn với các đệ tử của Các Ngài. Các Ngài quá bận rộn và quá minh triết, cũng không bận tâm nói với các đệ tử rằng họ được định sẵn cho chức vụ cao, hoặc rằng họ là các trung gian của Các Ngài và Thánh Đoàn đang nương tựa vào họ. Tham vọng, lòng yêu quyền lực, và sự tự mãn vốn đặc trưng cho nhiều kiểu người trí tuệ sẽ thử thách người chí nguyện đang phấn đấu, và y nhận được từ phàm ngã của mình tất cả những gì y cần theo đường lối ấy. Những phẩm tính này mê hoặc y và dẫn y lạc đường, buộc [172] y bước lên một bệ cao mà cuối cùng y phải đi xuống. Các Chân sư không nói điều gì để nuôi dưỡng lòng kiêu hãnh nơi các đệ tử của Các Ngài, cũng không nói với họ những lời có thể nuôi lớn nơi các đệ tử tinh thần chia rẽ.

e. The disciple soon finds also that the Masters are not easily accessible. They are busy men, ill able to spare even a few moments in which to communicate with the disciple, and only in emergencies, in the case of a beginner on the Path of Discipleship, do the Masters expend the necessary energy with which to get en rapport. With old and tried disciples, the contacts are more frequent, being more easily achieved and bearing more rapid results. It should be remembered, however, that the newer the disciple the more he demands attention and considers he should have it. The old and more experienced servers seek to fulfil their obligations and carry forward their work with as little contact with the Masters as possible. They seek to save the Master’s time and frequently consider an interview with the Master as demonstrating failure on their part, and producing, therefore, regret that they have had to take the Master’s precious time, and force Him to use His energy in order to safeguard the work from error and the disciple perhaps from harm. The aim of every high disciple is to carry out his work and be en rapport with the spiritual force centre which is his group, and thus in steady touch with the Master, without interviews and phenomenal contacts. Many only expect to contact their Master once a year, usually at the time of the full moon in May.

e. Đệ tử cũng sớm thấy rằng các Chân sư không dễ tiếp cận. Các Ngài là những người bận rộn, khó có thể dành ra dù chỉ vài khoảnh khắc để giao tiếp với đệ tử; và chỉ trong những trường hợp khẩn cấp, đối với một người mới bước vào Con Đường Đệ Tử, các Chân sư mới sử dụng năng lượng cần thiết để thiết lập sự giao cảm. Với các đệ tử lâu năm và đã được thử thách, các tiếp xúc thường xuyên hơn, vì chúng dễ đạt được hơn và đem lại kết quả nhanh hơn. Tuy nhiên, cần nhớ rằng đệ tử càng mới thì càng đòi hỏi sự chú ý và cho rằng mình phải được nhận điều đó. Những người phụng sự lâu năm và nhiều kinh nghiệm hơn tìm cách hoàn thành các bổn phận của mình và tiến hành công việc với càng ít tiếp xúc với các Chân sư càng tốt. Họ tìm cách tiết kiệm thời gian của Chân sư và thường xem một cuộc gặp với Chân sư là dấu hiệu cho thấy họ đã thất bại phần nào, do đó sinh ra sự tiếc nuối vì họ đã phải lấy thời gian quý báu của Chân sư, và buộc Ngài sử dụng năng lượng của Ngài để bảo vệ công việc khỏi sai lầm, và có lẽ bảo vệ đệ tử khỏi tổn hại. Mục tiêu của mọi đệ tử cao cấp là thực hiện công việc của mình và ở trong sự giao cảm với trung tâm mãnh lực tinh thần là nhóm của mình, và như thế ở trong sự liên hệ vững bền với Chân sư, không cần các cuộc gặp gỡ hay những tiếp xúc hiện tượng. Nhiều người chỉ mong tiếp xúc với Chân sư của mình mỗi năm một lần, thường vào thời điểm trăng tròn tháng Năm.

f. He finds also that the relationship between Master and disciple is governed by law and that there are definite stages of contact and grades in the desired rapport. These can be enumerated, but cannot be enlarged upon.

f. Y cũng thấy rằng mối quan hệ giữa Chân sư và đệ tử được chi phối bởi định luật, và có những giai đoạn tiếp xúc cùng các cấp độ rõ ràng trong sự giao cảm mong muốn. Những điều này có thể được liệt kê, nhưng không thể được khai triển.

1. The stage wherein a disciple is contacted by the Master through another chela on the physical plane. This is the stage of “Little Chelaship”.

1. Giai đoạn trong đó một đệ tử được Chân sư tiếp xúc thông qua một đệ tử khác trên cõi hồng trần. Đây là giai đoạn “Địa vị tiểu đệ tử”.

[173]

[173]

2. The stage wherein a higher disciple directs the chela from the egoic level. This is the stage called a “Chela in the Light”.

2. Giai đoạn trong đó một đệ tử cao hơn hướng dẫn đệ tử từ cấp độ chân ngã. Đây là giai đoạn được gọi là “Đệ tử trong Ánh sáng”.

3. The stage wherein, according to necessity, the Master contacts the chela through:

3. Giai đoạn trong đó, tùy theo nhu cầu, Chân sư tiếp xúc với đệ tử qua:

a. A vivid dream experience.

a. Một kinh nghiệm mộng sống động.

b. A symbolic teaching.

b. Một giáo huấn biểu tượng.

c. A using of a thought form of the Master.

c. Việc sử dụng một hình tư tưởng của Chân sư.

d. A contact in meditation.

d. Một tiếp xúc trong tham thiền.

e. A definite, remembered interview in the Master’s Ashram.

e. Một cuộc gặp rõ ràng, được ghi nhớ, trong ashram của Chân sư.

This is definitely the stage of Accepted Disciple.

Đây rõ ràng là giai đoạn của Đệ tử được chấp nhận.

4. The stage wherein, having shown his wisdom in work, and his appreciation of the Master’s problem, the disciple is taught how (in emergencies) to attract the Master’s attention and thus draw on His strength and knowledge and advice. This is an instantaneous happening, and practically takes none of the Master’s time. This stage has the peculiar name of “a chela on the Thread, or Sutratma.”

4. Giai đoạn trong đó, sau khi đã chứng tỏ minh triết trong công việc và sự thấu hiểu vấn đề của Chân sư, đệ tử được dạy cách, trong các trường hợp khẩn cấp, thu hút sự chú ý của Chân sư và nhờ đó rút lấy sức mạnh, tri thức và lời khuyên của Ngài. Đây là một sự kiện tức thời, và trên thực tế hầu như không lấy chút thời gian nào của Chân sư. Giai đoạn này có tên đặc biệt là “đệ tử trên Sợi dây, hay sinh mệnh tuyến”.

5. The stage wherein he is permitted to know the method whereby he may set up a vibration and a call which will entitle him to an interview with the Master. This is only permitted to those trusted chelas who can be depended upon not to use the knowledge for anything except the need of the work; no personality reason or distress would prompt them to use it. At this stage the disciple is called “one within the aura.”

5. Giai đoạn trong đó y được phép biết phương pháp nhờ đó y có thể thiết lập một rung động và một lời kêu gọi, khiến y có quyền được gặp Chân sư. Điều này chỉ được cho phép đối với những đệ tử đáng tin cậy, những người có thể được trông cậy rằng sẽ không sử dụng tri thức ấy cho bất cứ điều gì ngoài nhu cầu của công việc; không một lý do hay nỗi đau khổ phàm ngã nào thúc đẩy họ sử dụng nó. Ở giai đoạn này, đệ tử được gọi là “người ở trong hào quang”.

6. The stage wherein the disciple can get his Master’s ear at any time. He is in close touch always. This is the stage wherein a chela is being definitely prepared for an immediate initiation or, having taken initiation, is being given specialised work to do in collaboration with his ——. At this stage he is described as “one within his Master’s heart.”

6. Giai đoạn trong đó đệ tử có thể được Chân sư lắng nghe bất cứ lúc nào. Y luôn ở trong sự tiếp xúc mật thiết. Đây là giai đoạn trong đó một đệ tử đang được chuẩn bị rõ ràng cho một cuộc điểm đạo sắp tới, hoặc sau khi đã thọ điểm đạo, đang được giao một công việc chuyên biệt để làm trong sự cộng tác với vị —— của mình. Ở giai đoạn này, y được mô tả là “người ở trong tim của Chân sư mình”.

[174]

[174]

There is a later stage of a still closer identification, where there is a blending of the Lights, but there is no adequate paraphrase of the terms used to cover the name. The six stages above mentioned have been paraphrased for occidental understanding and must in no way be considered as translations of the ancient terms.

Có một giai đoạn về sau của sự đồng hóa còn mật thiết hơn nữa, nơi có sự hòa nhập của các Ánh sáng, nhưng không có cách diễn giải thích đáng nào cho các thuật ngữ được dùng để bao hàm danh xưng ấy. Sáu giai đoạn nêu trên đã được diễn giải cho sự thấu hiểu của phương Tây, và tuyệt đối không được xem là những bản dịch của các thuật ngữ cổ xưa.

Such are some of the teachings concerning disciples and their recognitions and it is valuable for aspirants to ponder them. It should be realised that though good character, high ethics, sound morality and spiritual aspiration are basic and unalterable requirements, yet more is needed if the right to enter the Master’s Ashram is to be granted.

Đó là một vài giáo huấn liên quan đến các đệ tử và những nhận biết của họ, và rất hữu ích cho người chí nguyện suy ngẫm về chúng. Cần nhận ra rằng dù tính cách tốt, đạo đức cao, luân lý lành mạnh và khát vọng tinh thần là những đòi hỏi căn bản và bất biến, song vẫn cần nhiều hơn nữa nếu quyền được vào ashram của Chân sư phải được ban.

To be admitted to the privilege of being an outpost of His consciousness requires an unselfishness and a self-surrender for which few are prepared; to be drawn within His aura so that the disciple’s aura forms an integral part of the group aura presupposes a purity which few can cultivate; to have the ear of the Master and to earn the right to contact Him at will necessitates a sensitiveness and a fine discrimination which few would care to purchase at the price. Yet a door stands wide open to all who care to come, and no earnest, sincere soul, who meets the requirements, ever receives a rebuff.

Để được nhận vào đặc ân làm một tiền đồn của tâm thức Ngài đòi hỏi một sự vô ngã và một sự tự hiến mà ít người chuẩn bị sẵn; để được thu hút vào trong hào quang của Ngài, sao cho hào quang của đệ tử tạo thành một phần không thể tách rời của hào quang nhóm, giả định một sự thanh khiết mà ít người có thể vun trồng; để được Chân sư lắng nghe và giành được quyền tiếp xúc với Ngài tùy ý đòi hỏi một sự nhạy cảm và một năng lực phân biện tinh tế mà ít người sẵn lòng mua bằng cái giá phải trả. Tuy nhiên, một cánh cửa vẫn mở rộng cho tất cả những ai muốn đến, và không một linh hồn nghiêm túc, chân thành nào, khi đáp ứng các đòi hỏi, lại từng bị xua đuổi.

There is no question at this time that those who are in any way advanced in evolution are having that evolution hastened as never before in the history of the world. The crisis is so grave and the need of the world so great, that those who can contact the inner side of life, who can even in a small way sense the vibrations of the senior disciples and the Elder Brothers of the race, and who can bring down the ideals, as known on the higher planes, are being very carefully, forcefully, yet strenuously trained. It is necessary that they should be enabled to act accurately and adequately as transmitters and interpreters.

Hiện nay không còn nghi ngờ gì rằng những ai đã tiến xa trong tiến hóa theo bất cứ cách nào đang được thúc đẩy tiến hóa nhanh hơn bao giờ hết trong lịch sử thế giới. Cuộc khủng hoảng nghiêm trọng đến thế và nhu cầu của thế giới lớn lao đến thế, đến nỗi những người có thể tiếp xúc với phía bên trong của sự sống, những người dù chỉ phần nào có thể cảm nhận các rung động của các đệ tử cao cấp và các Huynh Trưởng của nhân loại, và những người có thể đem xuống các lý tưởng như chúng được biết trên các cõi cao, đang được huấn luyện rất cẩn thận, mạnh mẽ, nhưng cũng đầy gian khổ. Cần phải làm cho họ có khả năng hành động chính xác và đầy đủ như những người truyền đạt và diễn giải.

I would like to point out certain factors and methods [175] which should be borne in mind in connection with inspirational writing and mediumship, and which have a bearing on the writing of such books as The Secret Doctrine, the Scriptures of the world and those transmitted volumes which potently affect the thought of the race. The interpretation of the process arises from many causes; the status of the writers can be overestimated or not sufficiently appreciated; the terms used by the transmitter being dependent upon his educational status may also be incorrect or give rise to misinterpretation. It is necessary, therefore, that some understanding of the process should be found.

Tôi muốn chỉ ra một số yếu tố và phương pháp [175] cần được ghi nhớ liên quan đến việc viết do cảm hứng và đồng tử thuật, và có liên quan đến việc viết những quyển sách như Giáo Lý Bí Nhiệm, các kinh sách của thế giới và những tập sách được truyền đạt vốn ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng của nhân loại. Việc diễn giải tiến trình này phát sinh từ nhiều nguyên nhân; địa vị của các tác giả có thể bị đánh giá quá cao hoặc không được đánh giá đầy đủ; các thuật ngữ mà người truyền đạt sử dụng, vì tùy thuộc vào trình độ giáo dục của y, cũng có thể không chính xác hoặc làm phát sinh sự diễn giải sai lầm. Vì vậy, cần phải có một sự thấu hiểu nào đó về tiến trình này.

Some transmitters work entirely on astral levels and their work is necessarily part of the great illusion. They are unconscious mediums and are unable to check the source from whence the teachings come; if they claim to know that source, they are frequently in error. Some receive teaching from discarnate entities of no higher evolution, and frequently of lower, than themselves. Some are simply abstracting the content of their own subconsciousnesses, and hence we have the beautiful platitudes, couched in Christian phraseology, and tinctured by the mystical writings of the past, which litter the desks of disciples, working consciously on the physical plane.

Một số người truyền đạt làm việc hoàn toàn trên các cấp độ cảm dục, và công việc của họ tất yếu là một phần của ảo tưởng lớn lao. Họ là những đồng tử vô thức và không thể kiểm chứng nguồn gốc từ đó các giáo huấn đến; nếu họ tuyên bố biết nguồn ấy, họ thường sai lầm. Một số nhận giáo huấn từ các thực thể không còn xác thân, có mức tiến hóa không cao hơn, và thường thấp hơn, chính họ. Một số chỉ đơn giản rút ra nội dung từ tiềm thức của chính mình, và do đó chúng ta có những lời sáo ngữ đẹp đẽ, được đặt trong ngôn ngữ Cơ Đốc và nhuốm màu bởi các tác phẩm thần bí của quá khứ, chất đầy trên bàn làm việc của các đệ tử đang làm việc một cách hữu thức trên cõi hồng trần.

Some work only on mental levels, learning, through telepathy, that which the Elder Brothers of the race and their own souls have to impart. They tap the sources of knowledge stored in the egoic consciousness. They become aware of the knowledge stored up in the brains of disciples on the same ray as themselves. Some of them, being outposts of the Master’s consciousness, become also cognizant of His thought. Some use several of the methods, either consciously or unconsciously. When they work consciously, it is then possible for them to correlate the teaching given and, under the Law of Correspondences [176] and through the use of symbols (which they see through mental clairvoyance), to ascertain the accuracy of their teaching. Those who work unconsciously (I refer not to astral psychics), can use only trust and discrimination until they are further evolved. They must accept nothing that contradicts facts imparted through the Lodge’s great Messengers, and they must be ready to superimpose upon the modicum of knowledge which they possess a further structure of greater extent.

Một số chỉ làm việc trên các cấp độ của cõi trí, học qua viễn cảm những gì các Huynh Trưởng của nhân loại và linh hồn của chính họ phải truyền đạt. Họ chạm đến các nguồn tri thức được lưu giữ trong tâm thức chân ngã. Họ trở nên ý thức về tri thức được tích lũy trong bộ não của các đệ tử cùng cung với họ. Một số người trong họ, vì là những tiền đồn của tâm thức Chân sư, cũng trở nên biết được tư tưởng của Ngài. Một số sử dụng nhiều phương pháp, hoặc hữu thức hoặc vô thức. Khi họ làm việc một cách hữu thức, bấy giờ họ có thể tương quan giáo huấn được trao và, dưới Định luật Tương Ứng [176] cùng qua việc sử dụng các biểu tượng mà họ thấy bằng thông nhãn trên cõi trí, xác định sự chính xác của giáo huấn mình. Những người làm việc vô thức, tôi không nói đến những nhà thông linh cảm dục, chỉ có thể dùng lòng tin và sự phân biện cho đến khi họ tiến hóa hơn nữa. Họ không được chấp nhận điều gì mâu thuẫn với các sự kiện được truyền đạt qua những Sứ giả vĩ đại của Thánh đoàn, và họ phải sẵn sàng đặt lên trên phần tri thức nhỏ bé mà họ sở hữu một cấu trúc rộng lớn hơn.

Each generation now should produce its seers. I like the word spelt “see-ers”, for to see is to know. The fault of all of you is that you see not; you perceive an angle, a point of vision, a partial aspect of the great fabric of truth, but all that lies hidden behind is occult to your three dimensional vision. It is necessary for those who want to act as true transmitters and intermediaries between the Knowers of the race and the “little ones” that they keep their eyes on the horizon and seek thus to extend their vision; that they hold steadily the inner realization that they already have and seek to increase its scope; that they hold on to the truth that all things are headed towards the revelation, and that the form matters not. They must seek pre-eminently to be dependable instruments, unswayed by passing storms. They must endeavor to remain free from depression, no matter what occurs; liberated from discouragement; with a keen sense of proportion; a right judgment in all things; a regulated life; a disciplined physical body and a whole-hearted devotion to humanity. Where these qualities are present, the Masters can begin to use Their destined workers; where they are absent, other instruments must be found.

Mỗi thế hệ hiện nay nên sản sinh ra những nhà thông nhãn của mình. Tôi thích hiểu từ ấy là “những người thấy”, vì thấy là biết. Lỗi của tất cả các bạn là các bạn không thấy; các bạn chỉ nhận biết một góc độ, một điểm nhìn, một phương diện phần nào của tấm thảm chân lý vĩ đại, nhưng tất cả những gì ẩn phía sau vẫn còn huyền ẩn đối với tầm nhìn ba chiều của các bạn. Điều cần thiết đối với những ai muốn hành động như những người truyền đạt chân chính và những trung gian giữa các thức giả của nhân loại và “những người bé nhỏ” là họ phải giữ mắt mình hướng về chân trời và nhờ đó tìm cách mở rộng tầm nhìn; họ phải giữ vững nhận thức nội tâm mà họ đã có và tìm cách gia tăng phạm vi của nó; họ phải bám giữ chân lý rằng mọi sự đang tiến về phía sự mặc khải, và hình tướng không quan trọng. Trước hết, họ phải tìm cách trở thành những khí cụ đáng tin cậy, không bị lay chuyển bởi những cơn bão thoáng qua. Họ phải cố gắng giữ mình thoát khỏi sự chán nản, bất kể điều gì xảy ra; thoát khỏi sự nhụt chí; với Ý thức về tỉ lệ sắc bén; phán đoán đúng đắn trong mọi việc; một đời sống điều hòa; một thể xác được kỷ luật và một sự sùng hiến trọn vẹn cho nhân loại. Nơi nào có những phẩm tính này, các Chân sư có thể bắt đầu sử dụng những người hoạt động đã được định sẵn của Các Ngài; nơi nào chúng vắng mặt, những khí cụ khác phải được tìm thấy.

Some people learn at night and regularly bring over into their physical brain consciousness the facts they need to know and the teachings they should transmit. Many methods are tried, suited to the nature of the aspirant [177] or chela. Some have brains that act telepathically as transmitters. I deal with safer and rarer methods which utilize the mental vehicle as the intermediary between the soul and the brain, or between the teacher and the disciple. Methods of communication on the astral level, such as the ouija board, the planchette pencil, automatic writing, the direct voice and statements made by the temporarily obsessed medium are not utilized as a rule by chelas, though the direct voice has had its use at times. The higher mental methods are more advanced and surer—even if rarer.

Một số người học vào ban đêm và đều đặn đem vào tâm thức bộ não hồng trần của mình những sự kiện họ cần biết và những giáo huấn họ nên truyền đạt. Nhiều phương pháp được thử nghiệm, phù hợp với bản chất của người chí nguyện [177] hoặc đệ tử. Một số có bộ não hoạt động theo viễn cảm như các máy truyền đạt. Tôi đề cập đến những phương pháp an toàn hơn và hiếm hơn, sử dụng thể trí làm trung gian giữa linh hồn và bộ não, hoặc giữa huấn sư và đệ tử. Các phương pháp giao tiếp trên cấp độ cảm dục, như bàn cầu cơ, bút cầu cơ, viết tự động, tiếng nói trực tiếp và những lời tuyên bố do đồng tử tạm thời bị ám đưa ra, thông thường không được các đệ tử sử dụng, dù tiếng nói trực tiếp đôi lúc cũng đã có công dụng của nó. Các phương pháp trí tuệ cao hơn thì tiến bộ hơn và chắc chắn hơn, dù hiếm hơn.

The true transmitters from the higher egoic levels to the physical plane proceed in one or other of the following ways:

Những người truyền đạt chân chính từ các cấp độ chân ngã cao xuống cõi hồng trần tiến hành theo một trong những cách sau:

1. They write from personal knowledge, and therefore employ their concrete minds at the task of stating this knowledge in terms that will reveal the truth to those that have the eyes to see, and yet will conceal that which is dangerous from the curious and the blind. This is a hard task to accomplish, for the concrete mind expresses the abstract most inadequately and, in the task of embodying the truth in words, much of the true significance is lost.

1. Họ viết từ tri thức cá nhân, và do đó sử dụng trí cụ thể của mình trong nhiệm vụ diễn đạt tri thức ấy bằng những thuật ngữ sẽ mặc khải chân lý cho những ai có mắt để thấy, nhưng đồng thời che giấu điều nguy hiểm khỏi kẻ tò mò và mù lòa. Đây là một nhiệm vụ khó thực hiện, vì trí cụ thể diễn đạt cái trừu tượng một cách rất không đầy đủ, và trong nhiệm vụ hiện thân chân lý bằng lời, nhiều thâm nghĩa chân thật bị mất đi.

2. They write because they are inspired. Because of their physical equipment, their purity of life, their singleness of purpose, their devotion to humanity and the very karma of service itself, they have developed the capacity to touch the higher sources from which pure truth, or symbolic truth, flows. They can tap thought currents that have been set in motion by that great band of Contemplators, called Nirmanakayas, or those definite, specialized thought currents originated by one of the great staff of teachers. Their brains, being receptive transmitters, enable them to express these contacted thoughts on paper—the accuracy of the transmission being dependent upon the receptivity of the instrument (that is, [178] the mind and the brain) of the transmitter. In these cases, the form of words and the sentences are largely left to the writer. Therefore, the appropriateness of the terms used and the correctness of the phraseology will depend upon his mental equipment, his educational advantages, the extent of his vocabulary and his inherent capacity to understand the nature and quality of the imparted thought and ideas.

2. Họ viết vì họ được cảm hứng. Nhờ trang bị hồng trần của họ, sự thanh khiết của đời sống họ, mục đích nhất tâm của họ, sự sùng hiến của họ đối với nhân loại và chính nghiệp quả phụng sự, họ đã phát triển năng lực chạm đến các nguồn cao hơn, từ đó chân lý thanh khiết hoặc chân lý biểu tượng tuôn chảy. Họ có thể chạm đến các dòng tư tưởng đã được nhóm lớn những Đấng Chiêm ngưỡng, được gọi là các vị Hóa Thân, khởi động, hoặc những dòng tư tưởng rõ ràng, chuyên biệt do một vị trong đội ngũ huấn sư vĩ đại khởi phát. Bộ não của họ, vì là các cơ quan truyền đạt có khả năng tiếp nhận, giúp họ biểu lộ trên giấy những tư tưởng đã được tiếp xúc ấy, độ chính xác của sự truyền đạt tùy thuộc vào khả năng tiếp nhận của khí cụ, tức là [178] thể trí và bộ não, của người truyền đạt. Trong những trường hợp này, hình thức từ ngữ và câu văn phần lớn được để cho người viết. Vì vậy, sự thích hợp của các thuật ngữ được dùng và sự chính xác của lối diễn đạt sẽ tùy thuộc vào trang bị trí tuệ của y, các thuận lợi giáo dục của y, phạm vi từ vựng của y, và năng lực bẩm sinh của y trong việc thấu hiểu bản chất và phẩm tính của tư tưởng cùng các ý tưởng được truyền trao.

3. They write because of the development of the inner hearing. Their work is largely stenographic, yet is also partially dependent upon their standard of development and their education. A certain definite unfoldment of the centres, coupled with karmic availability, constitutes the basis of choice by the teacher on the subtler planes who seeks to impart a definite instruction and a specialized line of thought. The responsibility as to accuracy is therefore divided between the one who imparts the teaching and the transmitting agent. The physical plane agent must be carefully chosen and the accuracy of the imparted information, as expressed on the physical plane, will depend upon his willingness to be used, his positive mental polarization, and his freedom from astralism. To this must be added the fact that the better educated a man may be, the wider his range of knowledge and scope of world interests, the easier it will be for the teacher on the inner side to render, through his agency, the knowledge to be imparted. Frequently the dictated data may be entirely foreign to the receiver. He must have a certain amount, therefore, of education, and be himself a profound seeker of truth before he will be chosen to be the recipient of teachings that are intended for the general public or for esoteric use. Above everything else, he must have learnt through meditation to focus himself on the mental plane. Similarity of vibration and of interests hold the clue to the choice of a transmitter. [179] Note that I say; similarity of vibration and of interests and not equality of vibration and of interests.

3. Họ viết nhờ sự phát triển của thính giác bên trong. Công việc của họ phần lớn mang tính tốc ký, tuy cũng phần nào tùy thuộc vào mức độ phát triển và nền giáo dục của họ. Một sự khai mở rõ ràng nào đó của các trung tâm, kết hợp với khả năng theo nghiệp quả, tạo thành nền tảng cho sự lựa chọn của huấn sư trên các cõi tinh vi hơn, khi vị ấy tìm cách truyền trao một huấn thị rõ ràng và một đường lối tư tưởng chuyên biệt. Do đó, trách nhiệm về sự chính xác được chia giữa người truyền trao giáo huấn và tác nhân truyền đạt. Tác nhân trên cõi hồng trần phải được chọn lựa cẩn thận, và độ chính xác của thông tin được truyền trao, như được biểu lộ trên cõi hồng trần, sẽ tùy thuộc vào sự sẵn lòng được sử dụng của y, sự phân cực dương trên cõi trí của y, và sự tự do của y khỏi khuynh hướng cảm dục. Thêm vào đó phải kể đến sự kiện rằng một người càng được giáo dục tốt, phạm vi tri thức và tầm quan tâm thế giới của y càng rộng, thì huấn sư ở phía bên trong càng dễ chuyển đạt, qua trung gian của y, tri thức cần được truyền trao. Thường khi dữ liệu được đọc truyền có thể hoàn toàn xa lạ với người tiếp nhận. Vì vậy, y phải có một mức độ giáo dục nào đó, và chính y phải là một người tìm kiếm chân lý sâu xa trước khi y được chọn làm người tiếp nhận các giáo huấn dành cho công chúng nói chung hoặc cho việc sử dụng nội môn. Trên hết mọi điều, y phải đã học qua tham thiền cách tập trung chính mình trên cõi trí. Sự tương đồng về rung động và về mối quan tâm nắm giữ chìa khóa cho việc lựa chọn một người truyền đạt. [179] Hãy lưu ý rằng tôi nói: sự tương đồng về rung động và về mối quan tâm, chứ không phải sự bằng nhau về rung động và về mối quan tâm.

This form of work might be divided into three methods: There is first the higher clairaudience that speaks directly from mind to mind. This is not exactly telepathy but a form of direct hearing. The teacher will speak to the disciple as person to person. A conversation is therefore carried on entirely on mental levels with the higher faculties as the focusing point. The use of the head centres is involved and they must both be vivified before this method can be employed. In the astral body the centres corresponding to the physical have to be awakened before astral psychism is possible. The work that I refer to here involves a corresponding vivification in the mental body counterparts.

Hình thức công việc này có thể được chia thành ba phương pháp: Trước hết có thông nhĩ cao, nói trực tiếp từ trí này sang trí khác. Đây không hẳn là viễn cảm mà là một hình thức nghe trực tiếp. Huấn sư sẽ nói với đệ tử như người với người. Vì vậy, một cuộc đối thoại được tiến hành hoàn toàn trên các cấp độ của cõi trí, với các quan năng cao hơn làm điểm tập trung. Việc sử dụng các trung tâm đầu có liên quan, và cả hai phải được tiếp sinh lực trước khi phương pháp này có thể được sử dụng. Trong thể cảm dục, các trung tâm tương ứng với các trung tâm hồng trần phải được đánh thức trước khi thông linh cảm dục có thể xảy ra. Công việc mà tôi đề cập ở đây liên quan đến một sự tiếp sinh lực tương ứng trong các đối phần của thể trí.

Secondly, we have telepathic communication. This is the registry in the physical brain consciousness of information imparted:

Thứ hai, chúng ta có Giao tiếp viễn cảm. Đây là việc ghi nhận trong tâm thức bộ não hồng trần thông tin được truyền đạt:

a. Direct from Master to pupil; from disciple to disciple; from student to student.

a. Trực tiếp từ Chân sư đến môn sinh; từ đệ tử đến đệ tử; từ đạo sinh đến đạo sinh.

b. From Master or disciple to the ego and thence to the personality, via the atomic sub-planes. You will note therefore that only those in whose bodies atomic sub-plane matter is found can work this way. Safety and accuracy lie in this equipment.

b. Từ Chân sư hoặc đệ tử đến chân ngã và từ đó đến phàm ngã, qua các cõi phụ nguyên tử. Vì vậy, các bạn sẽ lưu ý rằng chỉ những ai trong các thể của họ có chất liệu cõi phụ nguyên tử mới có thể làm việc theo cách này. Sự an toàn và chính xác nằm trong trang bị này.

c. From ego to ego via the causal body and transmitted direct according to the preceding method or stored up to work through gradually and at need.

c. Từ chân ngã đến chân ngã qua thể nguyên nhân, và được truyền đạt trực tiếp theo phương pháp trước, hoặc được tích trữ để tác động dần dần và khi cần.

Thirdly, we have inspiration. This involves another aspect of development. Inspiration is analogous to mediumship, but is entirely egoic. It utilizes the mind as the medium of transmission to the brain of that which the soul knows. Mediumship usually describes the process when confined entirely to the astral levels. On the egoic plane this involves inspiration. Ponder on this explanation for it explains much. Mediumship is dangerous. [180] Why is this so? Because the mental body is not involved and so the soul is not in control. The medium is an unconscious instrument, he is not himself the controlling factor; he is controlled. Frequently also the discarnate entities who employ this method of communication, utilizing the brain or voice apparatus of the medium, are not highly evolved, and are quite incapable of employing mental plane methods.

Thứ ba, chúng ta có cảm hứng. Điều này bao hàm một phương diện phát triển khác. Cảm hứng tương tự như trạng thái đồng tử, nhưng hoàn toàn thuộc về chân ngã. Nó sử dụng thể trí như trung gian truyền đạt đến bộ não những gì linh hồn biết. Trạng thái đồng tử thường mô tả tiến trình khi nó hoàn toàn bị giới hạn trong các cấp độ cảm dục. Trên cõi chân ngã, điều này bao hàm cảm hứng. Hãy suy ngẫm về lời giải thích này, vì nó giải thích được nhiều điều. Trạng thái đồng tử là nguy hiểm. [180] Tại sao lại như vậy? Vì thể trí không tham dự, nên linh hồn không nắm quyền kiểm soát. Đồng tử là một công cụ vô thức; y không phải là yếu tố kiểm soát; y bị kiểm soát. Thường khi, các thực thể đã lìa xác sử dụng phương pháp giao tiếp này, bằng cách dùng bộ não hoặc bộ máy phát âm của đồng tử, cũng không tiến hoá cao, và hoàn toàn không có khả năng dùng các phương pháp thuộc cõi trí.

Some people combine the method of inspiration and of receiving instruction along various lines and, when this is the case, great accuracy of transmission is found. Occasionally again, as in the case of H. P. B. you have deep knowledge, ability to be inspired and mental clairaudience combined. When this is the case you have a rare and useful instrument for the aiding of humanity.

Một số người kết hợp phương pháp cảm hứng với việc tiếp nhận giáo huấn theo nhiều đường lối khác nhau; và khi điều này xảy ra, sự truyền đạt có độ chính xác lớn. Đôi khi nữa, như trong trường hợp của H. P. B., các bạn có sự kết hợp giữa tri thức sâu xa, khả năng được cảm hứng và thông nhĩ trên cõi trí. Khi điều này xảy ra, các bạn có một công cụ hiếm có và hữu ích để trợ giúp nhân loại.

Inspiration originates on the higher levels; it presupposes a very high point in evolution, for it involves the egoic consciousness and necessitates the use of atomic matter, thus opening up a wide range of communicators. It spells safety. It should be remembered that the soul is always good; it may lack knowledge in the three worlds and in this way be deficient; but it harbors no evil. Inspiration is always safe, whereas mediumship is always to be avoided. Inspiration may involve telepathy, for the person inspiring may do three things:

Cảm hứng bắt nguồn từ các cấp độ cao hơn; nó giả định một điểm tiến hoá rất cao, vì nó bao hàm tâm thức chân ngã và đòi hỏi việc sử dụng vật chất nguyên tử, nhờ đó mở ra một phạm vi rộng lớn các nguồn giao tiếp. Nó hàm ý sự an toàn. Cần nhớ rằng linh hồn luôn luôn thiện; linh hồn có thể thiếu tri thức trong ba cõi giới và theo cách ấy có thể còn khiếm khuyết; nhưng nó không chứa chấp điều ác. Cảm hứng luôn luôn an toàn, trong khi trạng thái đồng tử luôn luôn cần tránh. Cảm hứng có thể bao hàm viễn cảm, vì người truyền cảm hứng có thể làm ba điều:

a. He may use the brain of the appointed channel, throwing thoughts into it.

a. Y có thể sử dụng bộ não của kênh đã được chỉ định, ném các tư tưởng vào đó.

b. He may occupy his disciple’s body, the latter standing aside, consciously, in his subtler bodies, but surrendering his physical body.

b. Y có thể chiếm lấy thể xác của đệ tử mình, trong khi người sau đứng sang một bên, một cách hữu thức, trong các thể vi tế hơn của mình, nhưng nhường lại thể xác của mình.

c. A third method is one of a temporary fusing, if I might so call it, —an intermingling when the user and the used alternate or supplement, as needed, to do the appointed work. I cannot explain more clearly.

c. Phương pháp thứ ba là một sự dung hợp tạm thời, nếu Tôi có thể gọi như vậy, — một sự hòa trộn trong đó người sử dụng và người được sử dụng thay phiên nhau hoặc bổ sung cho nhau, tùy nhu cầu, để thực hiện công việc đã được chỉ định. Tôi không thể giải thích rõ hơn.

4. They write what they see. This method is not of such a high order. You will note that in the first case [181] you have wisdom or availability on buddhic or intuitional levels; in the second case you have transmission from the causal body, from the higher mental levels; in the third case you have sufficient development to enable the aspirant to receive dictation. In the fourth case, you have the ability to read in the astral light but frequently no ability to differentiate between that which is past, that which is, and that which will be. Therefore you have illusion and inaccuracy. This is a method, however, sometimes used but—unless directly used under stimulation applied by a Master—it is liable to be most misleading, as is its corollary, astral clairaudience. It is the method of mental clairvoyance, and requires a trained interpreting mind, which is rare indeed to find.

4. Họ viết những gì họ thấy. Phương pháp này không thuộc một cấp độ cao như vậy. Các bạn sẽ lưu ý rằng trong trường hợp thứ nhất [181] các bạn có minh triết hoặc khả năng sẵn có trên các cấp độ Bồ đề hay trực giác; trong trường hợp thứ hai, các bạn có sự truyền đạt từ thể nguyên nhân, từ các cấp độ thượng trí; trong trường hợp thứ ba, các bạn có sự phát triển đủ để giúp người chí nguyện tiếp nhận sự đọc cho chép. Trong trường hợp thứ tư, các bạn có khả năng đọc trong ánh sáng cảm dục, nhưng thường không có khả năng phân biệt giữa điều đã qua, điều đang là, và điều sẽ đến. Do đó các bạn có ảo tưởng và sự thiếu chính xác. Tuy nhiên, đây là một phương pháp đôi khi được sử dụng, nhưng — trừ phi được dùng trực tiếp dưới sự kích thích do một Chân sư áp dụng — nó rất dễ gây lầm lạc, cũng như hệ quả của nó là thông nhĩ cảm dục. Đó là phương pháp thông nhãn trên cõi trí, và đòi hỏi một thể trí diễn giải đã được huấn luyện, điều quả thật hiếm gặp.

In all these cases that I have cited error may creep in owing to physical limitation and the handicap of words, but in the case of those who write from personal knowledge the errors in expression will be of no real moment; whilst in the second and third cases the errors will be dependent upon the point in evolution of the transmitting agent. If, however, he couples intelligence, devotion and service, with his capacity to receive and hear, he will soon correct the errors himself and his understanding will grow.

Trong tất cả các trường hợp Tôi đã nêu, sai lầm có thể len vào do giới hạn hồng trần và sự bất lợi của ngôn từ; nhưng trong trường hợp những người viết từ tri thức cá nhân, các sai lầm trong cách diễn đạt sẽ không có ý nghĩa thực sự; còn trong trường hợp thứ hai và thứ ba, các sai lầm sẽ tùy thuộc vào điểm tiến hoá của tác nhân truyền đạt. Tuy nhiên, nếu y kết hợp trí tuệ, sự sùng tín và phụng sự với khả năng tiếp nhận và nghe của mình, y sẽ sớm tự sửa chữa các sai lầm, và sự thấu hiểu của y sẽ tăng trưởng.

Later two new methods will be employed which will facilitate the transmission of truth from the inner side to the outer plane. Precipitated writing will be given to those who can be trusted, but the time is not yet for its general use. It will be necessary to wait until the work of the esoteric schools has reached a more definite phase of development. Conditions as yet are not appropriate, but humanity is urged to be ready and open-minded and prepared for this development. Later will come the power to materialize thought-forms. People will come into incarnation who will have the ability temporarily to create and vitalize these thought-forms, and [182] so enable the general public to see them. The time, however, is not yet. There is too much fear, and not enough experience of truth in the world. More knowledge must be acquired as to the nature of thought and of matter, and this must be followed experimentally by those with acute trained minds, a high rate of vibration, and bodies built of the finest matter. The attainment of this will involve discipline, pain, self-abnegation and abstinence. See you to it.

Về sau, hai phương pháp mới sẽ được sử dụng, giúp việc truyền đạt chân lý từ phía bên trong ra cõi bên ngoài trở nên dễ dàng hơn. Chữ viết ngưng tụ sẽ được ban cho những người có thể được tin cậy, nhưng thời điểm chưa đến để nó được sử dụng rộng rãi. Cần phải chờ cho đến khi công việc của các trường huyền bí đạt tới một giai đoạn phát triển rõ ràng hơn. Các điều kiện hiện nay chưa thích hợp, nhưng nhân loại được thúc giục hãy sẵn sàng, cởi mở trong trí tuệ và chuẩn bị cho sự phát triển này. Về sau sẽ đến quyền năng hiện hình các hình tư tưởng. Những người sẽ lâm phàm có khả năng tạm thời tạo ra và tiếp sinh lực cho các hình tư tưởng này, và [182] nhờ đó giúp công chúng nói chung có thể thấy chúng. Tuy nhiên, thời điểm chưa đến. Có quá nhiều sợ hãi, và chưa đủ kinh nghiệm về chân lý trong thế gian. Cần phải đạt được nhiều tri thức hơn về bản chất của tư tưởng và của vật chất, và điều này phải được theo đuổi bằng thực nghiệm bởi những người có thể trí sắc bén đã được huấn luyện, có mức rung động cao, và có các thể được kiến tạo bằng vật chất tinh anh nhất. Việc đạt tới điều này sẽ bao hàm kỷ luật, đau đớn, sự từ bỏ bản thân và tiết chế. Các bạn hãy chú tâm thực hiện điều đó.

The group of Teachers with whom the average aspirants and probationary disciples may be in touch on the mental plane are but men of like passions but with a longer experience upon the path and a wiser control of themselves. They do not work with aspirants because They personally like or care for them, but because the need is great and They seek those whom They can train. The attitude of mind that They look for is that of teachableness and the ability to record and refrain from questioning until more is known. Then the aspirant is urged to question everything. May I remind you of the words of one Teacher who said, “Know us for sane and balanced men who teach as we taught on earth, not flattering our pupils but disciplining them. We lead them on, not forcing them forward by feeding their ambitions by promises of power, but giving them information and leading them to use it in their work, knowing that right use of knowledge leads to experience and achievement of the goal.”

Nhóm các Huấn sư mà những người chí nguyện trung bình và các đệ tử dự bị có thể tiếp xúc trên cõi trí chỉ là những con người có cùng những cảm xúc như họ, nhưng có kinh nghiệm lâu dài hơn trên Đường Đạo và có sự tự chủ minh triết hơn. Các Ngài không làm việc với những người chí nguyện vì Các Ngài thích hoặc quan tâm đến họ về mặt cá nhân, mà vì nhu cầu rất lớn và Các Ngài tìm kiếm những người có thể được huấn luyện. Thái độ trí tuệ mà Các Ngài tìm kiếm là khả năng học hỏi, khả năng ghi nhận và kiềm chế không chất vấn cho đến khi biết nhiều hơn. Khi đó, người chí nguyện được thúc giục hãy chất vấn mọi điều. Tôi xin nhắc các bạn những lời của một Huấn sư đã nói: “Hãy biết chúng tôi là những người lành mạnh và quân bình, giảng dạy như chúng tôi đã giảng dạy trên Trái Đất, không tâng bốc học trò của mình mà kỷ luật họ. Chúng tôi dẫn họ tiến lên, không ép họ tiến tới bằng cách nuôi dưỡng tham vọng của họ bằng những lời hứa hẹn về quyền năng, mà trao cho họ thông tin và dẫn họ sử dụng nó trong công việc của họ, vì biết rằng việc sử dụng tri thức đúng đắn đưa đến kinh nghiệm và thành tựu mục tiêu.”

How often does one find a student more occupied with the Master and what He will do than he is with his own side of the question! And yet the fitting of himself for service and the equipping of himself for useful cooperation is, or should be, his main preoccupation.

Biết bao lần người ta thấy một đạo sinh quan tâm đến Chân sư và những gì Ngài sẽ làm hơn là quan tâm đến phần việc của chính mình trong vấn đề ấy! Thế nhưng, việc chuẩn bị chính y cho phụng sự và trang bị chính y để hợp tác hữu ích mới là, hoặc phải là, mối bận tâm chính của y.

Inquiry about the Master is more interesting than inquiry about the needed qualifications for discipleship. Interest for the data available in relation to the Adepts is more potent than the steadfast investigation into limitations [183] and disabilities which should engross the aspirant’s attention. Curiosity as to the habits and methods of specific Masters and Their ways of handling Their disciples is more prone to be displayed than patient application to right habits and ways of work in the life of the would-be disciple. All these matters are side issues and only handicap and limit, and one of the first things we advise one who would enter into communication with the Masters is to take his eyes off those things which concern him not, focus his attention on the needed steps and stages which should demonstrate in his life, and eliminate those wasted moments, moods and thought periods which so often occupy the major part of his thought life.

Việc tìm hiểu về Chân sư thú vị hơn việc tìm hiểu về những phẩm tính cần thiết cho địa vị đệ tử. Sự quan tâm đến dữ kiện sẵn có liên quan đến các Chân sư mạnh mẽ hơn việc bền bỉ khảo sát những hạn chế [183] và khiếm khuyết lẽ ra phải chiếm trọn sự chú ý của người chí nguyện. Sự tò mò về các thói quen và phương pháp của những Chân sư cụ thể, cùng cách Các Ngài xử lý các đệ tử của Các Ngài, dễ được biểu lộ hơn là sự kiên nhẫn áp dụng vào các thói quen đúng đắn và các phương cách làm việc đúng đắn trong đời sống của người muốn trở thành đệ tử. Tất cả những điều này đều là vấn đề phụ, chỉ gây trở ngại và giới hạn; và một trong những điều đầu tiên chúng tôi khuyên người muốn bước vào giao tiếp với các Chân sư là hãy rời mắt khỏi những điều không liên quan đến y, tập trung sự chú ý vào các bước và giai đoạn cần thiết phải được thể hiện trong đời sống y, và loại bỏ những khoảnh khắc, tâm trạng và thời kỳ tư tưởng bị lãng phí, vốn rất thường chiếm phần lớn đời sống tư tưởng của y.

When a Master seeks to find those fitted to be instructed and taught by Him, He looks for three things first of all. Unless these are present, no amount of devotion or aspiration, and no purity of life and mode of living suffices. It is essential that all aspirants should grasp these three factors and so save themselves much distress of mind and wasted motion.

Khi một Chân sư tìm kiếm những người thích hợp để được Ngài giáo huấn và dạy dỗ, trước hết Ngài tìm kiếm ba điều. Nếu ba điều này không hiện diện, thì không mức độ sùng tín hay khát vọng nào, cũng như không sự thanh khiết nào trong đời sống và cách sống, là đủ. Điều thiết yếu là mọi người chí nguyện phải nắm vững ba yếu tố này, nhờ đó tự cứu mình khỏi nhiều khổ tâm và những nỗ lực vô ích.

1. The Master looks for the light in the head.

1. Chân sư tìm kiếm ánh sáng trong đầu.

2. He investigates the karma of the aspirant.

2. Ngài khảo sát nghiệp quả của người chí nguyện.

3. He notes his service in the world.

3. Ngài ghi nhận sự phụng sự của y trong thế gian.

Unless there is indication that the man is what is termed esoterically “a lighted lamp” it is useless for the Master to waste His time. The light in the head, when present, is indicative of:

Nếu không có dấu hiệu cho thấy con người là điều mà một cách huyền bí được gọi là “một ngọn đèn được thắp sáng”, thì việc Chân sư dành thời gian cho y sẽ vô ích. Ánh sáng trong đầu, khi hiện diện, là dấu hiệu của:

a. The functioning to a greater or less extent of the pineal gland, which is (as is well known) the seat of the soul and the organ of spiritual perception. It is in this gland that the first physiological changes take place incident upon soul contact and this contact is brought about through definite work along meditation lines, mind control, and the inflow of spiritual force.

a. Sự hoạt động, ở mức độ lớn hơn hoặc nhỏ hơn, của tuyến tùng, vốn là — như đã biết rõ — trụ sở của linh hồn và cơ quan của tri giác tinh thần. Chính trong tuyến này, những biến đổi sinh lý đầu tiên xảy ra do tiếp xúc với linh hồn; và sự tiếp xúc này được tạo ra nhờ công việc xác định theo các đường lối tham thiền, kiểm soát thể trí, và luồng tuôn vào của mãnh lực tinh thần.

[184]

[184]

b. The aligning of the man on the physical plane with his ego, soul or higher self, on the mental plane and the subordination of the physical plane life and nature to the impress and control of the soul. This is covered sufficiently in the first two or three chapters of Letters on Occult Meditation and these should be studied by aspirants.

b. Sự chỉnh hợp của con người trên cõi hồng trần với chân ngã, linh hồn hay chân ngã của y trên cõi trí, và sự đặt đời sống cũng như bản chất trên cõi hồng trần dưới ấn tượng và sự kiểm soát của linh hồn. Điều này đã được đề cập đầy đủ trong hai hoặc ba chương đầu của Thư Về Tham thiền Huyền môn, và những chương này cần được người chí nguyện nghiên cứu.

c. The downflow of force via the sutratma, magnetic cord, or thread from the soul to the brain via the mind body. The whole secret of spiritual vision, correct perception and right contact lies in the proper appreciation of the above statement, and therefore the Yoga Sutras of Patanjali are ever the text-book of disciples, initiates and adepts, for therein are found those rules and methods which bring the mind under control, stabilize the astral body and so develop and strengthen the thread soul that it can and does become a veritable channel of communication between the man and his ego. The light of illumination streams down into the brain cavity and throws into objectivity three fields of knowledge. This is often forgotten and hence the undue distress and premature interpretations of the partially illuminated disciple or probationer.

c. Dòng mãnh lực tuôn xuống qua sutratma, dây từ tính, hay sợi dây từ linh hồn đến bộ não qua thể trí. Toàn bộ bí mật của tầm nhìn tinh thần, tri giác đúng đắn và tiếp xúc đúng đắn nằm trong sự thấu hiểu đúng mức lời phát biểu trên; và vì vậy Yoga Sutras của Patanjali luôn là sách giáo khoa của các đệ tử, điểm đạo đồ và chân sư, vì trong đó có các quy luật và phương pháp đưa thể trí vào dưới sự kiểm soát, ổn định thể cảm dục, và nhờ đó phát triển cũng như củng cố sợi dây linh hồn để nó có thể và thật sự trở thành một kênh giao tiếp chân thực giữa con người và chân ngã của y. Ánh sáng soi sáng tuôn xuống vào khoang não và đưa ba lĩnh vực tri thức ra thành khách quan. Điều này thường bị quên lãng, và từ đó phát sinh sự đau khổ quá mức cùng những diễn giải non sớm của đệ tử hoặc người dự bị chỉ được soi sáng một phần.

The light first throws into relief and brings into the foreground of consciousness those thought-forms and entities which depict the lower life, and which (in their aggregate) form the Dweller on the Threshold.

Trước hết, ánh sáng làm nổi bật và đưa lên tiền cảnh của tâm thức những hình tư tưởng và thực thể mô tả đời sống thấp, và những điều này, trong tổng thể của chúng, tạo thành Kẻ Chận Ngõ.

Thus the first thing of which the aspirant becomes aware is that which he knows to be undesirable and the revelation of his own unworthiness and limitations, and the undesirable constituents of his own aura burst on his vision. The darkness which is in him is intensified by the light which glimmers faintly from the centre of his being and frequently he despairs of himself and descends into the depths of depression. All mystics bear witness to this and it is a period which must be [185] lived through until the pure light of day drives all shadows and darkness away and little by little the life is brightened and lightened until the sun in the head is shining in all its glory.

Như vậy, điều đầu tiên mà người chí nguyện nhận biết là điều y biết là không đáng mong muốn, cùng sự mặc khải về sự bất xứng và các giới hạn của chính y; và những thành phần không đáng mong muốn trong chính hào quang của y bùng hiện trước tầm nhìn của y. Bóng tối ở trong y được tăng cường bởi ánh sáng le lói từ trung tâm bản thể của y, và thường khi y tuyệt vọng về chính mình, rơi xuống những vực sâu của trầm uất. Tất cả các nhà thần bí đều làm chứng cho điều này; và đó là một giai đoạn phải được [185] sống qua cho đến khi ánh sáng tinh khiết của ban ngày xua tan mọi bóng râm và bóng tối, và từng chút một đời sống được làm sáng lên, nhẹ đi, cho đến khi mặt trời trong đầu chiếu rạng trong toàn bộ vinh quang của nó.

d. Finally, the light in the head is indicative of the finding of the Path and there remains then for the man to study and understand the technique whereby the light is centralized, intensified, entered and eventually becomes that magnetic line (like unto a spider’s thread) which can be followed back until the source of the lower manifestation is reached and the soul consciousness is entered. The above language is symbolic and yet vitally accurate but is expressed thus in order to convey information to those who know, and protect those who as yet know not.

d. Cuối cùng, ánh sáng trong đầu là dấu hiệu cho thấy Đường Đạo đã được tìm thấy; và khi đó con người còn phải nghiên cứu và thấu hiểu kỹ thuật nhờ đó ánh sáng được tập trung, tăng cường, đi vào, và cuối cùng trở thành đường từ tính ấy — giống như sợi tơ nhện — có thể được lần ngược trở lại cho đến khi nguồn của biểu hiện thấp được đạt tới và tâm thức linh hồn được bước vào. Ngôn ngữ trên là biểu tượng, nhưng vẫn chính xác một cách thiết yếu; tuy nhiên, nó được diễn đạt như vậy nhằm truyền đạt thông tin cho những ai biết, và bảo vệ những ai hiện chưa biết.

“The path of the just is as a shining Light” and yet at the same time a man has to become that path itself. He enters the light and becomes the light and functions then as a lamp set in a dark place, carrying illumination to others and lighting the way before them.

“Con đường của người công chính như Ánh sáng chói rạng”, và đồng thời con người phải trở thành chính con đường ấy. Y đi vào ánh sáng và trở thành ánh sáng, rồi hoạt động như một ngọn đèn đặt nơi tối tăm, mang sự soi sáng đến cho người khác và chiếu sáng con đường trước mặt họ.

The next point that a Master has to consider before admitting a man into His group is whether or no such a step is karmically possible or whether there exist in a man’s record those conditions which negate his admission in this life.

Điểm kế tiếp mà một Chân sư phải xem xét trước khi nhận một người vào nhóm của Ngài là liệu bước ấy có khả thi về mặt nghiệp quả hay không, hoặc liệu trong hồ sơ của người ấy có tồn tại những điều kiện phủ nhận việc y được nhận vào trong đời này hay không.

There are three main factors to be considered separately and in their relation to each other.

Có ba yếu tố chính cần được xem xét riêng rẽ và trong mối liên hệ với nhau.

First, are there such karmic obligations in a man’s present life as would render it impossible for him to function as a disciple? In this connection it must be carefully borne in mind that a man can become a disciple and merit the attention of a Master only when his life counts for something in the world of men, when he is an influence in his sphere, and when he is moulding and acting upon the minds and hearts of other men.

Trước hết, trong đời sống hiện tại của một người có những nghĩa vụ nghiệp quả nào khiến y không thể hoạt động như một đệ tử hay không? Trong mối liên hệ này, cần ghi nhớ cẩn thận rằng một người chỉ có thể trở thành đệ tử và xứng đáng với sự chú ý của một Chân sư khi đời sống của y có giá trị nào đó trong thế giới loài người, khi y là một ảnh hưởng trong phạm vi của mình, và khi y đang uốn nắn cũng như tác động lên trí tuệ và trái tim của những người khác.

Until that is the case it is waste of a Master’s time to [186] personally deal with him, for he can be adequately helped in other ways and has, for instance, much knowledge from books and teachers which is as yet theory and not practice, and much experience to pass through under the guidance of his own ego, the Master in his heart. When a man is a disciple he is one because he can be used for working out the plan of the Hierarchy, and can be influenced to materialize those endeavours which are planned to enable humanity to make the needed forward steps. This involves (in his physical plane life) time, and thought, right circumstance, and other considerations and it is quite possible for a man to have reached the stage from the character standpoint, where he merits the recognition of a Master, and yet have obligations and duties to work through which would handicap him for active service in some particular life. This the Master has to consider and this a man’s own ego also considers.

Cho đến khi điều ấy xảy ra, Chân sư sẽ lãng phí thời gian nếu [186] đích thân làm việc với y, vì y có thể được trợ giúp đầy đủ bằng những cách khác; chẳng hạn, y có nhiều tri thức từ sách vở và các huấn sư, vốn cho đến nay vẫn là lý thuyết chứ chưa phải thực hành, và còn nhiều kinh nghiệm phải trải qua dưới sự hướng dẫn của chính chân ngã mình, vị Chân sư trong trái tim y. Khi một người là đệ tử, y là đệ tử vì y có thể được sử dụng để thực hiện Thiên Cơ của Thánh Đoàn, và có thể được ảnh hưởng để hiện hình những nỗ lực đã được hoạch định nhằm giúp nhân loại thực hiện những bước tiến cần thiết. Điều này bao hàm, trong đời sống trên cõi hồng trần của y, thời gian, tư tưởng, hoàn cảnh đúng đắn và những xét đoán khác; và hoàn toàn có thể có trường hợp một người đã đạt tới giai đoạn, xét từ quan điểm Tính cách, trong đó y xứng đáng được một Chân sư công nhận, nhưng vẫn có những nghĩa vụ và bổn phận phải hoàn tất, vốn sẽ cản trở y trong việc phụng sự tích cực ở một đời sống cụ thể nào đó. Điều này Chân sư phải xem xét, và chính chân ngã của người ấy cũng xem xét.

The result quite frequently at this time is that (perhaps unconsciously to the physical brain) a man will shoulder a great amount of experience, and undertake the working out of an abnormal amount of responsibility in one particular life, in order to free himself for service and chelaship in a later life. He works then at the equipping of himself for the next life, and at the patient performance of duty in his home, his circle of friends, and his business. He realises that from the egoic standpoint one life is but a short matter and soon gone and that by study, intelligent activity, loving service, and patient endurance, he is working out of those conditions which are preventing his prompt acceptance in a Master’s group.

Kết quả khá thường thấy vào lúc này là, có lẽ một cách vô thức đối với bộ não hồng trần, một người sẽ gánh lấy một lượng lớn kinh nghiệm, và đảm nhận việc thực hiện một lượng trách nhiệm bất thường trong một đời sống cụ thể, nhằm tự giải phóng cho phụng sự và địa vị đệ tử trong một đời sống sau. Khi ấy y làm việc để tự trang bị cho đời sống kế tiếp, và kiên nhẫn chu toàn bổn phận trong gia đình, trong vòng bạn bè và trong công việc của mình. Y nhận ra rằng, từ quan điểm chân ngã, một đời sống chỉ là một việc ngắn ngủi và sớm qua đi; và rằng bằng học hỏi, hoạt động thông minh, phụng sự đầy tình thương và chịu đựng kiên nhẫn, y đang thoát ra khỏi những điều kiện ngăn trở việc y được chấp nhận nhanh chóng vào nhóm của một Chân sư.

A Master also studies the condition of an aspirant’s physical body and of the subtler bodies to see whether in them are to be found states of consciousness which would hinder usefulness and act as obstacles. These conditions are likewise karmic and must be adjusted before his admission among other chelas becomes possible. A sick [187] physical body, an astral body prone to moods, emotions and psychic delusions, and a mental body uncontrolled or ill-equipped are all dangerous to the student unless straightened out and perfected. A chela is subjected constantly to the play of force coming to him from three main sources:

Một Chân sư cũng nghiên cứu tình trạng thể xác và các thể vi tế hơn của người chí nguyện, để xem trong chúng có những trạng thái tâm thức nào cản trở sự hữu dụng và hoạt động như chướng ngại hay không. Những điều kiện này cũng thuộc về nghiệp quả và phải được điều chỉnh trước khi việc y được nhận vào giữa các đệ tử khác trở nên khả thi. Một thể xác bệnh tật [187], một thể cảm dục dễ rơi vào tâm trạng, cảm xúc và những ảo tưởng thông linh, cùng một thể trí không được kiểm soát hoặc trang bị kém, tất cả đều nguy hiểm cho đạo sinh nếu chưa được chỉnh đốn và hoàn thiện. Một đệ tử thường xuyên chịu tác động của mãnh lực đến với y từ ba nguồn chính:

1. His own ego,

1. Chân ngã của chính y,

2. His Master,

2. Chân sư của y,

3. The group of co-disciples,

3. Nhóm các đệ tử đồng môn,

and unless he is strong, purified and controlled, these forces will serve but to stimulate undesirable conditions, to foster that which should be eliminated and to bring to the surface all the hidden weaknesses. That this has to be done inevitably is so, but much must be done along this line before admission into a group of disciples; otherwise much of the Master’s valuable time will perforce be given to the elimination and nullifying of the effects of the chela’s violent reactions on other chelas in the same group. It is better to wait and work gradually and intelligently oneself than force one’s way unprepared into lines of forces before one can handle either them or their consequences.

và nếu y không mạnh mẽ, thanh luyện và được kiểm soát, những mãnh lực này chỉ sẽ kích thích các tình trạng không đáng mong muốn, nuôi dưỡng điều cần phải loại bỏ và đưa lên bề mặt mọi yếu điểm ẩn giấu. Điều này chắc chắn phải được thực hiện, nhưng nhiều việc theo đường lối này cần phải được làm trước khi được nhận vào một nhóm đệ tử; nếu không, nhiều thời gian quý báu của Chân sư tất yếu sẽ phải dành cho việc loại bỏ và vô hiệu hóa các tác động do những phản ứng dữ dội của đệ tử đối với các đệ tử khác trong cùng nhóm. Tốt hơn là chờ đợi và tự mình làm việc dần dần, một cách thông minh, hơn là chưa chuẩn bị mà ép mình đi vào các đường mãnh lực trước khi có thể xử lý chúng hoặc các hậu quả của chúng.

Another factor that an adept has to consider is whether there are in incarnation those chelas with whom a man has to work and who are karmically linked to him by ancient ties and old familiarity in similar work.

Một yếu tố khác mà một chân sư phải xem xét là liệu hiện đang lâm phàm có những đệ tử mà một người phải làm việc cùng, những người liên kết nghiệp quả với y bằng những mối dây cổ xưa và sự quen thuộc lâu đời trong công việc tương tự hay không.

Sometimes it may be deemed wiser for a man to wait a little while before being permitted to step off the physical path until a life comes in which his own co-workers, keyed to his vibration, and accustomed to work with him, are also in physical bodies, for a Master’s group is entered in service to be rendered and specific work to be done, and not because a man is to receive a cultural training which will make him an adept some day. Chelas train themselves and when ready for any work a Master uses [188] them. They develop themselves and work out their own salvation and as step by step is taken their particular Master lays more and more responsibility upon them. He will train them in service technique, and in vibratory response to the Plan, but they learn to control themselves and to fit themselves for service.

Đôi khi, có thể được xem là khôn ngoan hơn nếu một người chờ đợi thêm một thời gian trước khi được phép bước ra khỏi con đường hồng trần, cho đến khi một đời sống đến trong đó các đồng sự của chính y, được điều chỉnh theo rung động của y và quen làm việc với y, cũng đang ở trong các thể xác; vì người ta bước vào nhóm của một Chân sư để phụng sự cần được thực hiện và công việc cụ thể cần được làm, chứ không phải vì một người sẽ nhận được sự huấn luyện văn hóa giúp y một ngày nào đó trở thành chân sư. Các đệ tử tự huấn luyện chính mình; và khi họ sẵn sàng cho bất cứ công việc nào, Chân sư sử dụng [188] họ. Họ phát triển chính mình và thực hiện sự giải thoát của chính mình; và khi từng bước được thực hiện, Chân sư riêng của họ đặt ngày càng nhiều trách nhiệm lên họ. Ngài sẽ huấn luyện họ về kỹ thuật phụng sự và về đáp ứng rung động đối với Thiên Cơ, nhưng họ học cách kiểm soát chính mình và làm cho mình thích hợp để phụng sự.

There are other karmic factors to be considered by a Master but these are the three paramount ones and of the most importance for aspirants to consider now. They are specified so that no true and earnest worker need be depressed and discouraged if he has no conscious link with the Master and is unaware of any affiliation with an esoteric group of chelas. It may not be because he is not fit. It may simply be because his ego has chosen this life to clear the decks for later action, to eliminate hindrances in one or other, or all of the three lower bodies, or to wait for that time when his admission may count the most.

Có những yếu tố nghiệp quả khác mà một Chân sư phải xem xét, nhưng ba yếu tố này là tối quan trọng và là điều quan trọng nhất để những người chí nguyện hiện nay suy xét. Chúng được nêu rõ để không một người hoạt động chân thành và đúng đắn nào phải buồn nản hay nản lòng nếu y không có liên hệ hữu thức với Chân sư và không biết đến bất cứ sự liên kết nào với một nhóm đệ tử huyền bí. Có thể không phải vì y không thích hợp. Có thể chỉ đơn giản là vì chân ngã của y đã chọn đời sống này để dọn đường cho hành động về sau, để loại bỏ các chướng ngại trong một hoặc nhiều, hay trong cả ba thể thấp, hoặc để chờ thời điểm khi việc y được nhận vào có thể mang lại hiệu quả lớn nhất.

The third factor, that of service, for which the Master looks is one upon which the aspirant has the least to say and may very probably misinterpret. Spiritual ambition, the desire to function as the centre of a group, the longing to hear oneself speaking, teaching, lecturing, or writing are often wrongly interpreted by the aspirant as service. The Master looks not at a worker’s worldly force or status, not at the numbers of people who are gathered around his personality but at the motives which prompt his activity and at the effect of his influence upon his fellowmen. True service is the spontaneous outflow of a loving heart and an intelligent mind; it is the result of being in the right place and staying there; it is produced by the inevitable inflow of spiritual force and not by strenuous physical plane activity; it is the effect of a man’s being what he truly is, a divine Son of God, and not by the studied effect of his words or deeds. A true server gathers around him those whom it is his duty to serve [189] and aid by the force of his life and his spiritualised personality, and not by his claims or loud speaking. In self-forgetfulness he serves; in self-abnegation he walks the earth, and he gives no thought to the magnitude or the reverse of his accomplishment and has no pre-conceived ideas as to his own value or usefulness. He lives, serves, works and influences, asking nothing for the separated self.

Yếu tố thứ ba, tức phụng sự, mà Chân sư tìm kiếm là điều mà người chí nguyện ít có tiếng nói nhất và rất có thể diễn giải sai. Tham vọng tinh thần, mong muốn hoạt động như trung tâm của một nhóm, niềm khao khát được nghe chính mình nói, giảng dạy, thuyết trình hoặc viết lách, thường bị người chí nguyện diễn giải sai là phụng sự. Chân sư không nhìn vào mãnh lực hay địa vị thế gian của một người hoạt động, cũng không nhìn vào số người quy tụ quanh phàm ngã của y, mà nhìn vào các động cơ thúc đẩy hoạt động của y và tác động của ảnh hưởng của y lên đồng loại. Phụng sự chân chính là dòng tuôn trào tự phát của một trái tim đầy tình thương và một thể trí thông minh; nó là kết quả của việc ở đúng nơi và ở lại đó; nó được tạo ra bởi luồng tuôn vào tất yếu của mãnh lực tinh thần, chứ không phải bởi hoạt động căng thẳng trên cõi hồng trần; nó là hiệu quả của việc một người là điều y thật sự là — một Con thiêng liêng của Thượng đế — chứ không phải bởi hiệu quả được sắp đặt của lời nói hay hành động của y. Một người phụng sự chân chính quy tụ quanh mình những người mà y có bổn phận phụng sự [189] và trợ giúp bằng mãnh lực của đời sống mình và phàm ngã đã được tinh thần hóa của mình, chứ không bằng những tuyên bố hay lời nói ồn ào. Trong sự quên mình, y phụng sự; trong sự từ bỏ bản thân, y bước đi trên Trái Đất; và y không nghĩ đến tầm vóc lớn hay nhỏ của thành tựu mình, cũng không có những ý tưởng định sẵn về giá trị hay sự hữu dụng của chính mình. Y sống, phụng sự, làm việc và ảnh hưởng, không đòi hỏi điều gì cho bản ngã biệt lập.

When a Master sees this manifestation in a man’s life, as the result of the awakening of the inner light and the adjustment of his karmic obligations, then He sounds out a note and waits to see if the man recognises his own group note. On this recognition, he is admitted into his own group of co-workers, and can stand in the presence of his Master.

Khi một Chân sư thấy sự biểu hiện này trong đời sống của một người, như kết quả của sự thức tỉnh ánh sáng bên trong và sự điều chỉnh các nghĩa vụ nghiệp quả của y, khi ấy Ngài xướng lên một âm điệu và chờ xem người ấy có nhận ra âm điệu nhóm của chính mình hay không. Trên sự nhận ra này, y được nhận vào nhóm đồng sự của chính mình, và có thể đứng trước sự hiện diện của Chân sư mình.

Heart, Throat and Eye

Later, when the knowledge here conveyed is assimilated, the aspirant will come to an understanding of the true meaning of the heart, the throat, and the eye—which it is the object of the Guides of the race to stimulate into functioning activity at this time. We will therefore consider now:

Về sau, khi tri thức được truyền đạt ở đây được đồng hóa, người chí nguyện sẽ đi đến sự thấu hiểu ý nghĩa chân thật của tim, cổ họng và mắt — những điều mà các Đấng Dẫn Dắt nhân loại đang nhằm kích thích để đi vào hoạt động trong thời điểm này. Vì vậy, giờ đây chúng ta sẽ xem xét:

1. The heart centre, the throat centre, and the centre between the eyes.

1. Trung tâm tim, trung tâm cổ họng, và trung tâm giữa hai mắt.

2. Their awakening and co-ordination.

2. Sự thức tỉnh và phối hợp của chúng.

3. To what uses they will be put in the coming world cycle.

3. Những công dụng mà chúng sẽ được dùng đến trong chu kỳ thế giới sắp tới.

This subject is of vital importance to the modern aspirant, for the mechanism of the heart, the throat, and the eye—constituting part of the inner structure which he must learn to use—has to be mastered and consciously employed by him before any true creative work is possible. When I use the words ‘creative work’ I am speaking esoterically and am not referring to the valuable work [190] done by the artists of the world in their many lines of expression. Their efforts, to the seer, are indicative of an inner stirring, of an inner co-ordination and a motivated activity which will lead to true esoteric endeavour and to creative work on the subtler planes.

Chủ đề này có tầm quan trọng thiết yếu đối với người chí nguyện hiện đại, vì bộ máy của tim, cổ họng và mắt — cấu thành một phần của cấu trúc bên trong mà y phải học cách sử dụng — phải được y làm chủ và vận dụng một cách hữu thức trước khi bất cứ công việc sáng tạo chân chính nào có thể xảy ra. Khi Tôi dùng các từ “công việc sáng tạo”, Tôi đang nói một cách huyền bí và không ám chỉ công việc giá trị [190] được các nghệ sĩ của thế gian thực hiện trong nhiều đường lối biểu đạt của họ. Đối với nhà thông nhãn, các nỗ lực của họ là dấu hiệu của một sự khuấy động bên trong, một sự phối hợp bên trong và một hoạt động có động cơ, những điều sẽ dẫn tới nỗ lực huyền bí chân chính và công việc sáng tạo trên các cõi vi tế hơn.

I am assuming in the student an elementary knowledge of the vital body and of its force centres and I am assuming that these seven centres or lotuses have, theoretically, a place in his imagination. I use the word imagination with purposeful intent, for until there is knowledge and clear vision, imaginative assumption is a potent factor in bringing about the activity of the centres.

Tôi giả định nơi đạo sinh một tri thức sơ đẳng về thể sinh lực và các trung tâm mãnh lực của nó; và Tôi giả định rằng bảy trung tâm hay hoa sen này, về mặt lý thuyết, có một vị trí trong sự tưởng tượng của y. Tôi dùng từ sự tưởng tượng với ý định có chủ đích, vì cho đến khi có tri thức và tầm nhìn rõ ràng, sự giả định bằng tưởng tượng là một yếu tố mạnh mẽ trong việc đưa các trung tâm vào hoạt động.

Let us, for the sake of clarity, list these lotuses with their petal numbers, and their location. Their colours are immaterial at present from the standpoint of the student, for much that has been given out is erroneous or in the nature of a blind, and in any case, the esoteric colours are widely different from the exoteric.

Để rõ ràng, chúng ta hãy liệt kê các hoa sen này với số cánh hoa và vị trí của chúng. Từ quan điểm của đạo sinh, màu sắc của chúng hiện không quan trọng, vì nhiều điều đã được đưa ra là sai lầm hoặc mang tính che đậy; và trong mọi trường hợp, các màu sắc huyền bí khác xa với các màu sắc ngoại môn.

1. The base of the spine…………..4 petals.

1. Đáy cột sống…………..4 cánh hoa.

2. The sacral centre…………………6 petals.

2. Trung tâm xương cùng…………………6 cánh hoa.

3. The solar plexus centre………..10 petals.

3. Trung tâm tùng thái dương………..10 cánh hoa.

Diaphragm.

Cơ hoành.

4. Heart centre………………………..12 petals.

4. Trung tâm tim………………………..12 cánh hoa.

5. Throat centre………………………16 petals.

5. Trung tâm cổ họng………………………16 cánh hoa.

6. Centre between the eyebrows..2 petals.

6. Trung tâm giữa hai lông mày..2 cánh hoa.

7. Head centre…………………………1000 petals.

7. Trung tâm đầu…………………………1000 cánh hoa.

Next, let the student remember two important facts, which may be regarded as elementary and preliminary but which nevertheless have to be worked out into conscious realisation and become part of the purposed intent of the aspirant’s training. It is easy to generalise. It is difficult to realise. It is simple to grasp the informative intellectual data regarding the centres of force; it is most difficult to bring about the rearrangement of the forces flowing through these vortices, and to learn to function consciously through the higher centres, subordinating the [191] lower ones. This has to be done also without laying the emphasis upon the form aspect as is the case in many practices used to vitalise the centres. The two facts of importance are:

Kế tiếp, đạo sinh hãy nhớ hai sự kiện quan trọng, có thể được xem là sơ đẳng và mở đầu, nhưng dù vậy vẫn phải được khai triển thành sự chứng nghiệm hữu thức và trở thành một phần trong ý định có chủ đích của việc huấn luyện người chí nguyện. Khái quát hóa thì dễ. Chứng nghiệm thì khó. Nắm bắt dữ kiện trí năng mang tính thông tin về các trung tâm mãnh lực thì đơn giản; nhưng tạo ra sự sắp xếp lại các mãnh lực tuôn chảy qua những xoáy lực này, và học cách hoạt động hữu thức qua các trung tâm cao hơn, đặt các trung tâm [191] thấp dưới quyền phụ thuộc, là điều hết sức khó. Điều này cũng phải được thực hiện mà không đặt nhấn mạnh lên phương diện hình tướng, như trường hợp trong nhiều thực hành được dùng để tiếp sinh lực cho các trung tâm. Hai sự kiện quan trọng là:

1. The three centres below the diaphragm,

1. Ba trung tâm dưới cơ hoành,

a. Base of spine,

a. Đáy cột sống,

b. Sacral centre,

b. Trung tâm xương cùng,

c. Solar plexus centre,

c. Trung tâm tùng thái dương,

which are, at present, the most potent in average humanity and the most ‘alive’, require to be re-organised, re-oriented, and to be brought from a state of positivity into that of negativity.

vốn hiện nay là những trung tâm mạnh nhất nơi nhân loại trung bình và “sống động” nhất, cần được tái tổ chức, tái định hướng, và được đưa từ trạng thái dương tính sang trạng thái âm tính.

Equally, the four centres above the diaphragm,

Tương tự, bốn trung tâm trên cơ hoành,

a. The heart centre,

a. Trung tâm tim,

b. The throat centre,

b. Trung tâm cổ họng,

c. The centre between the eyebrows,

c. Trung tâm giữa hai lông mày,

d. The head centre,

d. Trung tâm đầu,

must be awakened and brought fr om a state of negativity into that of positivity.

phải được đánh thức và đưa từ trạng thái âm tính sang trạng thái dương tính.

This has to be brought about in two ways. First, by the transference of the positive energy of the lower centres into that of the higher, and secondly by the awakening of the head centre by the demonstration of the activity of the will. The first effect is produced by character building, and by the purification of the bodies, as used by the soul in the three worlds. The second is the result of meditation and the development of organised purpose, imposed by the will upon the daily life. Character building, clean living, controlled emotional reactions, and right thinking are the platitudes of all religious systems and have lost weight from our very familiarity with them. It is not easy to remember that as we live purely and rightly, we are verily and indeed working with forces, subjecting energies to our needs, subordinating [192] elemental lives to the requirements of spiritual being, and bringing into activity a mechanism and a vital structure which has hitherto been only latent and quiescent. Nevertheless, it remains a fact that when the energies, latent at the base of the spine, are carried to the head and are brought (via the solar plexus, that clearing house of energy, and the medulla oblongata) to the centre between the eyebrows, then the personality, the matter aspect, reaches its apotheosis and the Virgin Mary—in the individual sense, which is a finite parallel of an infinite Reality—is “carried up into Heaven” there to sit by the side of her son, the Christ, the soul.

Điều này phải được thực hiện theo hai cách. Thứ nhất, bằng sự chuyển dịch năng lượng dương tính của các trung tâm thấp vào các trung tâm cao; và thứ hai, bằng sự thức tỉnh trung tâm đầu nhờ sự biểu lộ hoạt động của ý chí. Hiệu quả thứ nhất được tạo ra bằng lập hạnh và bằng sự thanh luyện các thể, như linh hồn sử dụng trong ba cõi giới. Hiệu quả thứ hai là kết quả của tham thiền và sự phát triển mục đích có tổ chức, được ý chí áp đặt lên đời sống hằng ngày. Lập hạnh, đời sống trong sạch, các phản ứng cảm xúc được kiểm soát và tư duy đúng đắn là những điều sáo mòn của mọi hệ thống tôn giáo, và đã mất sức nặng vì chúng ta quá quen thuộc với chúng. Không dễ nhớ rằng khi chúng ta sống thanh khiết và đúng đắn, chúng ta thật sự và quả thực đang làm việc với các mãnh lực, đặt các năng lượng dưới nhu cầu của mình, đặt [192] các sự sống hành khí dưới các yêu cầu của bản thể tinh thần, và đưa vào hoạt động một bộ máy cùng một cấu trúc sinh lực vốn cho đến nay chỉ tiềm tàng và yên lặng. Tuy nhiên, vẫn là sự thật rằng khi các năng lượng tiềm tàng ở đáy cột sống được đưa lên đầu và được mang, qua tùng thái dương — trạm trung chuyển năng lượng ấy — và hành tủy, đến trung tâm giữa hai lông mày, thì phàm ngã, phương diện vật chất, đạt tới sự tôn vinh tối cao của nó; và Đức Mẹ Đồng Trinh Maria — theo nghĩa cá nhân, vốn là một song đối hữu hạn của một Thực Tại vô hạn — được “đưa lên Thiên Đường” để ngồi bên cạnh con của bà, Đức Christ, tức linh hồn.

When the energies of the sacral centre, focussed hitherto on the work of physical creation and generation and therefore the source of physical sex life and interest, are sublimated, re-oriented and carried up to the throat centre, then the aspirant becomes a conscious creative force in the higher worlds; he enters within the veil, and begins to create the pattern of things which will bring about eventually the new heavens and the new earth.

Khi các năng lượng của trung tâm xương cùng, vốn cho đến nay tập trung vào công việc sáng tạo và sinh sản hồng trần, và do đó là nguồn của đời sống và sự quan tâm tính dục hồng trần, được thăng hoa, tái định hướng và đưa lên trung tâm cổ họng, khi ấy người chí nguyện trở thành một mãnh lực sáng tạo hữu thức trong các thế giới cao hơn; y đi vào bên trong bức màn, và bắt đầu tạo ra mô hình của những sự vật sẽ cuối cùng đem lại trời mới và đất mới.

When the energies of the solar plexus—expressions hitherto of the potent desire nature, feeding the emotional life of the personality—are equally transmuted and re-oriented, then they are carried to the heart centre and there is brought about as a result a realisation of group consciousness, of group love, and group purpose which makes the aspirant a server of humanity and a fit associate of the Elder Brethren of the race.

Khi các năng lượng của tùng thái dương — cho đến nay là các biểu hiện của bản chất dục vọng mạnh mẽ, nuôi dưỡng đời sống cảm xúc của phàm ngã — cũng được chuyển hoá và tái định hướng, khi ấy chúng được đưa đến trung tâm tim; và kết quả là sự chứng nghiệm về tâm thức nhóm, tình thương nhóm và mục đích nhóm được tạo ra, điều này làm cho người chí nguyện trở thành người phụng sự nhân loại và một cộng sự thích hợp của các Huynh Trưởng của nhân loại.

When these three transfers have been consummated then an activity transpires in the head centre, the ultimate governing factor, and by an act of the will of the indwelling ruling soul, certain happenings take place which we can consider later in our studies.

Khi ba sự chuyển dịch này đã hoàn tất, bấy giờ một hoạt động diễn ra trong trung tâm đầu, yếu tố cai quản tối hậu; và bằng một hành động của ý chí từ linh hồn cai quản nội tại, một số biến cố xảy ra mà chúng ta có thể xem xét về sau trong các nghiên cứu của mình.

2. The second fact to bear in mind is that as these changes and re-orientations take place, the disciple begins to awaken psychologically to new states of consciousness, [193] to new states of existence, and to new states of being. It will be apparent therefore how necessary it is to go slowly in these matters, so that the mental apprehension and ability to reason logically and sanely may parallel the growth of the intuition and of spiritual perception. Many schools are simply forcing schools, prematurely developing the higher faculties and leading the aspirant (if I might express it in mystical language) directly out of the realm of feeling and of desire into that of the intuition, but leaving the intellectual faculties and the mental apparatus totally undeveloped and latent. When this is the case then—again speaking mystically—an hiatus or a gap occurs, in part of the equipment which the soul must perforce use in the three worlds of its endeavour. The interpreting, organising, understanding mind is unable to play its part. Where there is lack of understanding and of mental ability, there is danger of misapprehension, of credulity and of wrong interpretation of the phenomena of other states of being. A sense of values will be lacking, and the aspirant will over-estimate the non-essentials and fail to grasp the value of the spiritual realities.

2. Sự kiện thứ hai cần ghi nhớ là khi những thay đổi và tái định hướng này xảy ra, đệ tử bắt đầu thức tỉnh về mặt tâm lý đối với các trạng thái tâm thức mới, [193] các trạng thái hiện hữu mới, và các trạng thái bản thể mới. Do đó sẽ hiển nhiên rằng cần thiết biết bao phải tiến hành chậm rãi trong những vấn đề này, để sự nắm bắt trí tuệ và khả năng lý luận hợp lý, lành mạnh có thể song hành với sự tăng trưởng của trực giác và tri giác tinh thần. Nhiều trường phái chỉ đơn giản là những trường phái cưỡng bức, phát triển non sớm các năng lực cao hơn và dẫn người chí nguyện — nếu Tôi có thể diễn đạt bằng ngôn ngữ thần bí — trực tiếp ra khỏi lĩnh vực cảm xúc và dục vọng vào lĩnh vực trực giác, nhưng để các năng lực trí năng và bộ máy trí tuệ hoàn toàn chưa phát triển và còn tiềm tàng. Khi điều này xảy ra, thì — lại nói một cách thần bí — có một khoảng gián đoạn hay khoảng trống xuất hiện trong một phần của trang bị mà linh hồn tất yếu phải sử dụng trong ba cõi giới nỗ lực của nó. Thể trí diễn giải, tổ chức và thấu hiểu không thể đóng vai trò của mình. Nơi nào thiếu sự thấu hiểu và năng lực trí tuệ, nơi đó có nguy cơ hiểu lầm, cả tin và diễn giải sai các hiện tượng của những trạng thái bản thể khác. Ý thức về giá trị sẽ thiếu vắng, và người chí nguyện sẽ đánh giá quá cao những điều không thiết yếu, đồng thời không nắm bắt được giá trị của các thực tại tinh thần.

Energy may pour into the force centres in these cases, but because there is no directing intelligence it will run riot and we then have those sad cases which strew the path of occult endeavour and have brought the work of the Lodge into disrepute—cases of over-emphasized personalities, of superstitious devotees, of credulous followers of leaders, of fanatical unbalanced idealists, and of those warped minds which arrogate to themselves powers which are not theirs. Men and women become swayed by astralism and wander in the vale of illusion regarding themselves as different from other men, placing themselves upon a pedestal far above average humanity. They fall consciously into the sin of separateness. Add to the above category, the cases of sex perversion, [194] brought about by over-stimulation of the sacral centre, the cases of neuroticism and over-sensitivity and emotionalism, brought about by the premature vitalisation of the solar plexus centre, and lastly the cases of insanity, brought about by over-stimulation of the brain cells through unwise meditation work, and it will become increasingly clear why it is deemed necessary to proceed slowly and to develop the mental processes as well as the spiritual nature.

Trong những trường hợp này, năng lượng có thể tuôn vào các trung tâm mãnh lực, nhưng vì không có trí tuệ chỉ đạo nên nó sẽ chạy loạn; và khi đó chúng ta có những trường hợp đáng buồn rải rác trên con đường nỗ lực huyền bí, đã khiến công việc của Thánh đoàn bị mang tiếng — những trường hợp của các phàm ngã được nhấn mạnh quá mức, các tín đồ mê tín, các môn đồ cả tin của những người lãnh đạo, các nhà lý tưởng cuồng tín và mất quân bình, và những tâm trí lệch lạc tự nhận cho mình các quyền năng không thuộc về họ. Những người nam và nữ bị chi phối bởi tính cảm dục và lang thang trong thung lũng ảo tưởng, tự xem mình khác với những người khác, đặt mình lên một bệ cao vượt xa nhân loại trung bình. Họ rơi một cách hữu thức vào tội chia rẽ. Hãy thêm vào loại trên các trường hợp lệch lạc tính dục, [194] do sự kích thích quá mức trung tâm xương cùng gây ra; các trường hợp nhiễu tâm, quá nhạy cảm và duy cảm, do việc tiếp sinh lực non sớm cho trung tâm tùng thái dương gây ra; và sau cùng các trường hợp mất trí, do sự kích thích quá mức các tế bào não qua công việc tham thiền thiếu khôn ngoan; và điều sẽ ngày càng rõ ràng là tại sao cần phải tiến hành chậm rãi và phát triển các tiến trình trí tuệ cũng như bản chất tinh thần.

The average student starts with the knowledge that he has centres, and with a desire for purity of character. He is assured by those who know that, as he strives, meditates, studies and serves, certain changes will take place within him, and that there will arise from the depths of his being, an awakening which will be dynamic. He is told that there will follow a breathing forth, a stirring and a vitalising which will bring his subjective spiritual life into prominence. This subjective life expresses itself as spiritual energy, through the medium of the energy or vital body and the energy thus expressed will change his life focus and interests, and produce a magnetic and dynamic effect which will attract and lift humanity. This energy is sevenfold in nature and utilises seven focal points in the etheric body as its agents.

Đạo sinh trung bình bắt đầu với tri thức rằng y có các trung tâm, và với một mong muốn về sự thanh khiết của Tính cách. Y được những người biết bảo đảm rằng, khi y nỗ lực, tham thiền, học hỏi và phụng sự, những thay đổi nhất định sẽ diễn ra trong y, và từ các chiều sâu của bản thể y sẽ phát sinh một sự thức tỉnh có tính năng động. Y được nói rằng tiếp theo đó sẽ có một sự thở ra, một sự khuấy động và một sự tiếp sinh lực, điều sẽ đưa đời sống tinh thần nội tại của y lên vị trí nổi bật. Đời sống nội tại này tự biểu hiện như năng lượng tinh thần, qua trung gian của thể năng lượng hay thể sinh lực; và năng lượng được biểu hiện như vậy sẽ thay đổi trọng tâm đời sống và các mối quan tâm của y, đồng thời tạo ra một hiệu quả từ tính và năng động, sẽ thu hút và nâng cao nhân loại. Năng lượng này có bản chất thất phân và sử dụng bảy điểm tập trung trong thể dĩ thái làm các tác nhân của nó.

It is not possible for the aspirant to work with and utilise all these seven types of energy intelligently in the early stages of the Path of Discipleship. The emphasis, for training purposes, is laid upon only three of them. These are:

Người chí nguyện không thể làm việc với và sử dụng một cách thông minh tất cả bảy loại năng lượng này trong các giai đoạn đầu của Con Đường Đệ Tử. Vì mục đích huấn luyện, sự nhấn mạnh chỉ được đặt lên ba loại trong số đó. Đó là:

1. That of Will, strength or power, through the medium of the head centre. This is the energy of the spiritual man, and comes directly from the Monad, via the soul. Up to the third initiation however, all that the disciple needs to grasp is that the will aspect of the soul should control the personality, via the mental [195] body to the head centre. When this is the case the thousand-petalled lotus begins to function. The line of this stream of force is:

1. Năng lượng của Ý chí, sức mạnh hay quyền năng, qua trung gian của trung tâm đầu. Đây là năng lượng của con người tinh thần, và đến trực tiếp từ chân thần, qua linh hồn. Tuy nhiên, cho đến lần điểm đạo thứ ba, tất cả những gì đệ tử cần nắm bắt là phương diện ý chí của linh hồn phải kiểm soát phàm ngã, qua thể trí [195] đến trung tâm đầu. Khi điều này xảy ra, hoa sen nghìn cánh bắt đầu hoạt động. Đường của dòng mãnh lực này là:

Monad.

Chân thần.

Atma. Spiritual will.

Atma. Ý chí tinh thần.

The inner circle of petals in the egoic lotus, the will petals.

Vòng cánh hoa bên trong của Hoa Sen Chân Ngã, các cánh hoa ý chí.

The mental body.

Thể trí.

The head centre in the etheric body.

Trung tâm đầu trong thể dĩ thái.

The nervous system and brain.

Hệ thần kinh và bộ não.

2. That of Love-Wisdom, through the medium of the heart centre. This centre, when awakened, leads to that expansion of consciousness which initiates a man into his group life. He loses the sense of separateness, and finally emerges into the full light of realisation—a realisation of unity with his own indwelling God, with all humanity, with all souls in all forms of nature, and so with the Oversoul. This force stream comes likewise from the Monad, via the soul, and its line is as follows:

2. Năng lượng của Bác Ái – Minh Triết, qua trung gian của trung tâm tim. Trung tâm này, khi được đánh thức, dẫn đến sự mở rộng tâm thức vốn điểm đạo con người vào đời sống nhóm của y. Y mất đi ý thức chia rẽ, và cuối cùng đi vào ánh sáng trọn vẹn của chứng nghiệm — chứng nghiệm về sự hợp nhất với Thượng đế nội tại của chính mình, với toàn thể nhân loại, với mọi linh hồn trong mọi hình tướng của tự nhiên, và do đó với đại hồn. Dòng mãnh lực này cũng đến từ chân thần, qua linh hồn, và đường của nó như sau:

Monad.

Chân thần.

Buddhi. Spiritual love. The intuition.

Bồ đề. Tình thương tinh thần. Trực giác.

The second circle of petals in the egoic lotus, the love petals.

Vòng cánh hoa thứ hai trong Hoa Sen Chân Ngã, các cánh hoa bác ái.

The astral body.

Thể cảm dục.

The heart centre.

Trung tâm tim.

The blood stream.

Dòng máu.

In the little evolved man, this force stream simply passes through the heart centre direct to the solar plexus and expends its two aspects of vital life and of soul quality, one energising the blood stream and the other awakening the solar plexus centre. This then becomes the dominant factor in the energy life of the man, and the force through which his desire nature expresses itself, until such time as the aspirant brings [196] about the needed transmutation and re-orientation of his emotional desire nature. Then the heart awakens into activity and the life of the solar plexus centre becomes subordinated to that of the heart. This is brought about by the development of group interests, by the cultivation of inclusiveness and the steady loss of interest in the personality, and in things separative and selfish.

Ở người ít tiến hoá, dòng mãnh lực này chỉ đơn giản đi qua trung tâm tim thẳng đến tùng thái dương và tiêu dùng hai phương diện của nó là sự sống sinh lực và phẩm tính linh hồn, một phương diện tiếp năng lượng cho dòng máu, còn phương diện kia đánh thức trung tâm tùng thái dương. Khi ấy, trung tâm này trở thành yếu tố chi phối trong đời sống năng lượng của con người, và là mãnh lực qua đó bản chất dục vọng của y tự biểu hiện, cho đến khi người chí nguyện tạo ra [196] sự chuyển hoá và tái định hướng cần thiết đối với bản chất dục vọng cảm xúc của mình. Khi đó, tim thức tỉnh vào hoạt động, và đời sống của trung tâm tùng thái dương trở nên phụ thuộc vào đời sống của tim. Điều này được tạo ra nhờ sự phát triển các mối quan tâm nhóm, nhờ việc vun bồi tính bao gồm và sự mất dần mối quan tâm đối với phàm ngã, cũng như đối với những điều chia rẽ và ích kỷ.

3. That of active intelligence, or the energy which animates the form aspect, and which creates forms in line with the subjective purposes of the presiding intelligence—God or man, human or divine. This also proceeds from the third aspect of the Monad, and the line of its contact is:

3. Năng lượng của trí tuệ hoạt động, hay năng lượng làm sinh động phương diện hình tướng, và tạo ra các hình tướng phù hợp với các mục đích nội tại của trí tuệ chủ quản — Thượng đế hay con người, nhân loại hay thiêng liêng. Năng lượng này cũng phát xuất từ phương diện thứ ba của chân thần, và đường tiếp xúc của nó là:

Monad.

Chân thần.

Manas. Spiritual intelligence. The higher mind.

Manas. Trí tuệ tinh thần. Thượng trí.

The third or outer circle of petals in the egoic lotus, the knowledge petals.

Vòng thứ ba hay vòng ngoài của các cánh hoa trong Hoa Sen Chân Ngã, tức các cánh hoa tri thức.

The etheric body as a whole, as it pervades the dense physical body.

Thể dĩ thái xét như một toàn thể, khi nó thấm khắp thể xác đậm đặc.

The throat centre.

Trung tâm cổ họng.

The cells of the body.

Các tế bào của thể xác.

In the little evolved man, as in the case of the second aspect and its unfoldment, the energy simply passes through the throat centre and goes directly to the sacral centre, and thus brings into activity the generative processes and creative faculties, utilised in the reproductive work and sex life of the race.

Nơi người kém tiến hóa, cũng như trong trường hợp phương diện thứ hai và sự khai mở của nó, năng lượng chỉ đơn giản đi xuyên qua trung tâm cổ họng và đi thẳng đến trung tâm xương cùng, nhờ đó đưa các tiến trình sinh sản và những năng lực sáng tạo vào hoạt động, được sử dụng trong công việc sinh sản và đời sống tính dục của nhân loại.

This is a broad and general outline of the three main streams of force or divine energy and their direction.

Đây là một phác thảo rộng và tổng quát về ba dòng chính của mãnh lực hay năng lượng thiêng liêng và hướng đi của chúng.

The relationship of the head centre to the base of the spine, where lies the sleeping fire, will not be considered here, nor will the function of the solar plexus centre as a clearing-house for the lower energies be touched upon. I [197] am anxious for the students simply to grasp the general idea and the skeleton of the teaching.

Mối liên hệ giữa trung tâm đầu và đáy cột sống, nơi lửa đang ngủ yên, sẽ không được xét đến ở đây; chức năng của trung tâm tùng thái dương như một trạm trung chuyển cho các năng lượng thấp cũng sẽ không được đề cập. Tôi [197] mong các đạo sinh chỉ nắm được ý tưởng tổng quát và bộ khung của giáo huấn.

Every human being in the course of time works his way back on the Path of Return to one of the three major rays. All have eventually to express intelligent creative faculty, to be animated by divine love, and to bring into functioning activity the Will, as it works out divine purpose and plan.

Theo thời gian, mọi con người đều tự mở đường trở lại trên Con Đường Trở Về để đến một trong ba cung chính. Cuối cùng, tất cả đều phải biểu lộ năng lực sáng tạo thông minh, được linh hoạt bởi tình thương thiêng liêng, và đưa Ý Chí vào hoạt động chức năng, khi nó thực hiện Thiên Ý và Thiên Cơ.

The first centre which the aspirant seeks consciously to energise and on which he concentrates during the early stages of his novitiate, is the heart centre. He has to learn to be group conscious, to be sensitive to group ideals, and to be inclusive in his plans and concepts; he has to learn to love collectively and purely, and not be actuated by personality attraction, and the motive of reward. Until there is this awakening in the heart, he cannot be trusted to wield the creative powers of the throat centre, for they would be subordinated to self-aggrandisement and ambitions of various kinds.

Trung tâm đầu tiên mà người chí nguyện tìm cách tiếp sinh lực một cách có ý thức, và cũng là trung tâm mà y tập trung vào trong các giai đoạn đầu của thời kỳ sơ tu, là trung tâm tim. Y phải học trở nên có tâm thức tập thể, nhạy cảm với các lý tưởng tập thể, và bao gồm trong các kế hoạch cùng quan niệm của mình; y phải học yêu thương một cách tập thể và trong sạch, chứ không bị thúc đẩy bởi sự hấp dẫn của phàm ngã hay động cơ được tưởng thưởng. Cho đến khi có sự thức tỉnh này trong tim, y chưa thể được tin cậy để sử dụng các quyền năng sáng tạo của trung tâm cổ họng, vì chúng sẽ bị lệ thuộc vào sự tự tôn và những tham vọng đủ loại.

Here it should be noted that none of these unfoldments can ever be approached from the standpoint of complete static passivity or from the angle of an entirely new undertaking. We are in process of evolution. Certain aspects of our force centres are already awakened, and functioning in relation to the form aspect, but are not yet expressing soul qualities. We have behind us a long and fruitful past. We are none of us purely selfish or separative. Human society is now cohesive and inter-dependent. Humanity, as a whole, has already done much in bringing the heart centre into partial activity, and in awakening some of the more important aspects of the throat centre.

Ở đây cần lưu ý rằng không một sự khai mở nào trong các sự khai mở này có thể được tiếp cận từ lập trường hoàn toàn thụ động tĩnh tại, hay từ góc độ của một công việc hoàn toàn mới. Chúng ta đang ở trong tiến trình tiến hóa. Một vài phương diện của các trung tâm mãnh lực nơi chúng ta đã thức tỉnh và đang hoạt động trong liên hệ với phương diện hình tướng, nhưng chưa biểu lộ các phẩm tính của linh hồn. Phía sau chúng ta là một quá khứ dài lâu và phong phú. Không ai trong chúng ta hoàn toàn ích kỷ hay chia rẽ. Xã hội nhân loại hiện nay có tính cố kết và nương tựa lẫn nhau. Nhân loại, xét như một toàn thể, đã làm được nhiều điều trong việc đưa trung tâm tim vào hoạt động một phần, và trong việc đánh thức một vài phương diện quan trọng hơn của trung tâm cổ họng.

The problem with many aspirants today is that of the solar plexus, for it is wide open, actively functioning and almost fully awakened. The work of transmutation is however going on simultaneously, leading—as one might [198] naturally suppose—to a good deal of difficulty and to chaotic conditions. The heart centre is also beginning to vibrate, but is not yet awakened; the throat centre is frequently prematurely awakened, through the transfer of energy from the sacral centre. This is due to several causes—sometimes to spiritual purpose and intent, but more frequently to a negation of the normal sex life, owing to economic conditions, or to a lack of physical vitality, which predisposes to celibacy. This lack of vital force is in its turn due to many factors, but primarily to a long heredity, producing a degeneracy of the physical body, or to enforced celibacy in past lives; this enforced celibacy was very often the result of monasticism and the living of the mystical life. When this creative awakening finds expression through any of the arts—literature, painting, music, —or in group organization and executive work there is no harm wrought, for the energy finds a normal creative outlet. These points should he remembered by the aspirant. He is facing a most complex problem. He enters blindly into a situation which is the result of a long evolutionary process and to which he has not the key. Especially in the early stages and prior to the first initiation is this the case, for he has no knowledge of the history of the past, nor any prevision as to the future. He has simply to take his equipment and his opportunity and do the best he can, guided by the age-old rules of Raja Yoga, and the light of his own soul.

Vấn đề của nhiều người chí nguyện ngày nay là vấn đề của tùng thái dương, vì trung tâm này đang rộng mở, hoạt động mạnh mẽ và hầu như đã thức tỉnh hoàn toàn. Tuy nhiên, công việc chuyển hóa đang diễn ra đồng thời, dẫn đến — như người ta có thể [198] tự nhiên giả định — nhiều khó khăn và những tình trạng hỗn loạn. Trung tâm tim cũng đang bắt đầu rung động, nhưng chưa thức tỉnh; trung tâm cổ họng thường thức tỉnh quá sớm do sự chuyển dịch năng lượng từ trung tâm xương cùng. Điều này do nhiều nguyên nhân — đôi khi do mục đích và ý hướng tinh thần, nhưng thường hơn là do sự phủ nhận đời sống tính dục bình thường, vì các điều kiện kinh tế, hoặc do thiếu sinh lực thể chất, điều khiến người ta dễ thiên về đời sống độc thân. Sự thiếu mãnh lực sống này, đến lượt nó, do nhiều yếu tố, nhưng chủ yếu do di truyền lâu đời tạo nên sự suy thoái của thể xác, hoặc do đời sống độc thân bị cưỡng ép trong các kiếp trước; đời sống độc thân bị cưỡng ép này rất thường là kết quả của đời sống tu viện và đời sống thần bí. Khi sự thức tỉnh sáng tạo này được biểu lộ qua bất cứ nghệ thuật nào — văn chương, hội họa, âm nhạc — hoặc trong tổ chức tập thể và công việc điều hành, thì không gây hại gì, vì năng lượng tìm được một lối thoát sáng tạo bình thường. Người chí nguyện cần ghi nhớ những điểm này. Y đang đối diện với một vấn đề hết sức phức tạp. Y bước vào một tình huống một cách mù quáng, tình huống ấy là kết quả của một tiến trình tiến hóa lâu dài mà y không có chìa khóa để hiểu. Điều này đặc biệt đúng trong các giai đoạn đầu và trước lần điểm đạo thứ nhất, vì y không biết lịch sử quá khứ, cũng không có tiên kiến nào về tương lai. Y chỉ phải tiếp nhận trang bị và cơ hội của mình, rồi làm hết sức mình, được hướng dẫn bởi các quy luật ngàn xưa của Yoga Vương giả và ánh sáng của chính linh hồn mình.

As the heart centre is awakened and the throat centre swings into creative work, a definite relation is set up and there is an interplay of energy between the two. This activity in its turn brings about a response from that aspect of the thousand petalled lotus (a synthetic lotus) through which the energy always animating the heart and throat centres normally passes. This responsive [199] activity and inter-action brings about two results, and these should be most carefully noted.

Khi trung tâm tim được đánh thức và trung tâm cổ họng chuyển vào công việc sáng tạo, một mối liên hệ xác định được thiết lập và có sự tương tác năng lượng giữa hai trung tâm. Hoạt động này, đến lượt nó, tạo ra một đáp ứng từ phương diện của hoa sen ngàn cánh, tức một hoa sen tổng hợp, qua đó năng lượng vốn luôn linh hoạt các trung tâm tim và cổ họng thường đi qua. Hoạt động [199] đáp ứng và tương tác này tạo nên hai kết quả, và những điều này cần được ghi nhận hết sức cẩn thận.

First, the light in the head makes its appearance. A sparking (if I might so express it) is set up between the higher positive over-shadowing energy as it is centralised within the form of the thousand-petalled lotus, and the steadily heightening vibration of the heart and throat centres or lotuses. These two lower centres in their turn are responding to the energies being lifted and raised from the centres below the diaphragm.

Thứ nhất, ánh sáng trong đầu xuất hiện. Một sự phát tia, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy, được thiết lập giữa năng lượng cao hơn, mang tính dương, đang phủ bóng và được tập trung bên trong hình tướng của hoa sen ngàn cánh, với rung động ngày càng cao của các trung tâm hay các hoa sen tim và cổ họng. Đến lượt mình, hai trung tâm thấp hơn này đang đáp ứng với các năng lượng được nâng lên từ những trung tâm bên dưới cơ hoành.

Secondly, the centre between the eyebrows also begins to make its presence felt, and this significant two-petalled lotus begins to vibrate. It symbolises the work of at-one-ing the soul and the body, the subjective and the objective. In some occult books it is called the lotus with the ninety-six petals, but this is only a differentiation dealing with the energies focussed in the two petals. It will be noted that the sum total of the force petals in the centres (excluding the two head centres) amount in all to forty-eight petals. These energies in their two aspects of physical vital energy and soul qualities make up the ninety-six aspects or vibrations of the two petals of the Ajna or eyebrow centre. It must be remembered also that the word ‘petal’ only symbolises an expression of force and its apparent effect in matter.

Thứ hai, trung tâm giữa hai chân mày cũng bắt đầu làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận, và hoa sen hai cánh đầy thâm nghĩa này bắt đầu rung động. Nó tượng trưng cho công việc hợp nhất linh hồn và thân thể, cái chủ quan và cái khách quan. Trong một vài sách huyền bí, nó được gọi là hoa sen chín mươi sáu cánh, nhưng đây chỉ là một sự biến phân liên quan đến các năng lượng được tập trung trong hai cánh. Cần lưu ý rằng tổng số các cánh mãnh lực trong các trung tâm, không kể hai trung tâm đầu, cộng lại là bốn mươi tám cánh. Các năng lượng này, trong hai phương diện là năng lượng sinh lực hồng trần và các phẩm tính của linh hồn, hợp thành chín mươi sáu phương diện hay rung động của hai cánh thuộc trung tâm ajna hay trung tâm giữa hai chân mày. Cũng cần nhớ rằng từ “cánh hoa” chỉ tượng trưng cho một biểu lộ của mãnh lực và hiệu quả biểu kiến của nó trong vật chất.

The five centres with their forty-eight petals are synthesised therefore into the two-petalled lotus, and then we have forty-eight plus two equals fifty, the number of the perfected personality, for five is the number of man and ten is that of perfection. Symbolically also, if the sum total of the forty-eight petals of the five centres is added to the ninety-six petals of the centre between the eyebrows, the number one hundred and forty-four appears. This number signifies the completed work of the twelve creative Hierarchies, twelve times twelve, and thus the bringing together of the subjective soul and the [200] objective body in perfect union and at-one-ment. This is the consummation. To these figures, one hundred and forty-four add that of the number one thousand (the number of the petals in the lotus of the head centre) and you have the number of the saved in the Book of Revelations, the one hundred and forty-four thousand who can stand before God, for the three ciphers which are found indicate the personality. When man has completed within himself the great work, when the number one hundred and forty-four thousand is seen as symbolising his point of attainment, then he can stand before God—standing now not only before the Angel of the Presence, but before the very Presence Itself.

Do đó, năm trung tâm với bốn mươi tám cánh của chúng được tổng hợp vào hoa sen hai cánh; khi ấy ta có bốn mươi tám cộng hai bằng năm mươi, con số của phàm ngã đã hoàn thiện, vì năm là con số của con người và mười là con số của sự hoàn thiện. Về mặt biểu tượng cũng vậy, nếu tổng số bốn mươi tám cánh của năm trung tâm được cộng với chín mươi sáu cánh của trung tâm giữa hai chân mày, con số một trăm bốn mươi bốn xuất hiện. Con số này biểu thị công việc đã hoàn tất của mười hai Huyền Giai Sáng Tạo, mười hai nhân mười hai, và như vậy là sự kết hợp linh hồn chủ quan với [200] thân thể khách quan trong sự hợp nhất và hiệp nhất hoàn hảo. Đây là sự viên mãn. Cộng vào con số một trăm bốn mươi bốn này con số một ngàn, tức số cánh của hoa sen trung tâm đầu, và các bạn có con số những người được cứu trong Sách Khải Huyền: một trăm bốn mươi bốn ngàn người có thể đứng trước Thượng đế, vì ba số không trong đó chỉ phàm ngã. Khi con người đã hoàn tất công trình vĩ đại bên trong chính mình, khi con số một trăm bốn mươi bốn ngàn được thấy như tượng trưng cho điểm thành tựu của y, bấy giờ y có thể đứng trước Thượng đế — không chỉ đứng trước Thiên Thần của Hiện Diện, mà còn đứng trước chính Sự Hiện Diện.

The Awakening of the Centres

The question now arises: How can this awakening and co-ordination be brought about? What steps must be taken in order to produce this vitalisation and the eventual synthetic activity of the three centres? Faced with these questions, the true teacher finds a difficulty. It is not easy to make clear the esoteric and paralleling activities which are the result of character building. So oft the aspirant is anxious to be told some new thing and when he is told some old truth—so old and so familiar that it fails to call forth a registering response—he feels that the teacher has failed him and so succumbs to a sense of futility and depression. However, this must be met and the questions must be answered. I will state therefore the necessary requirements as succinctly as possible, giving them in their sequential order and according to their importance from the standpoint of the average aspirant. Let us then enumerate them in tabulated form, and then we will deal briefly with each point afterwards.

Bấy giờ câu hỏi nảy sinh: Làm thế nào sự thức tỉnh và phối hợp này có thể được thực hiện? Những bước nào phải được thực hiện để tạo ra sự tiếp sinh lực này và hoạt động tổng hợp sau cùng của ba trung tâm? Đối diện với các câu hỏi này, vị huấn sư chân chính gặp một khó khăn. Không dễ làm sáng tỏ các hoạt động huyền bí và song hành vốn là kết quả của lập hạnh. Người chí nguyện rất thường nóng lòng muốn được chỉ dạy một điều mới, và khi y được nói cho nghe một chân lý cũ — cũ đến mức quá quen thuộc, đến nỗi không gợi lên được một đáp ứng ghi nhận — y cảm thấy vị huấn sư đã làm mình thất vọng, rồi rơi vào cảm giác vô ích và chán nản. Tuy nhiên, điều này phải được đối diện và các câu hỏi phải được trả lời. Vì vậy, tôi sẽ nêu các yêu cầu cần thiết một cách ngắn gọn nhất có thể, trình bày chúng theo thứ tự tuần tự và theo tầm quan trọng của chúng từ lập trường của người chí nguyện trung bình. Vậy chúng ta hãy liệt kê chúng dưới dạng bảng, rồi sau đó sẽ bàn vắn tắt từng điểm.

1. Character building, the first and essential requisite.

1. Lập hạnh, điều kiện đầu tiên và thiết yếu.

2. Right motive. [201]

2. Động cơ đúng. [201]

3. Service.

3. Phụng sự.

4. Meditation.

4. Tham thiền.

5. A technical study of the science of the centres.

5. Nghiên cứu kỹ thuật về khoa học các trung tâm.

6. Breathing exercises.

6. Các bài tập thở.

7. Learning the technique of the Will.

7. Học kỹ thuật của Ý Chí.

8. The development of the power to employ time.

8. Phát triển năng lực sử dụng thời gian.

9. The arousing of the Kundalini fire.

9. Khơi dậy lửa hỏa xà.

This last and ninth point will not be considered at this stage of our training. The reason is obvious. Most aspirants are at the stage of the third and fourth points and are just beginning to work at the fifth and sixth. Let us touch briefly upon each of these necessary steps, and let me enjoin upon you the need there is to realise in some measure the responsibility entailed by knowledge. Do you appreciate the fact that if you were making full use of each piece of information given in the course of the training, and making it a fact in your experience, and were living out in your daily life the teaching so steadily imparted, you would be standing ere now before the Portal of Initiation? Do you realise that truth has to be wrought out in the texture of daily living before new truth can be safely imparted?

Điểm cuối cùng, điểm thứ chín này, sẽ không được xét đến ở giai đoạn huấn luyện hiện nay của chúng ta. Lý do rất hiển nhiên. Phần lớn người chí nguyện đang ở giai đoạn của điểm thứ ba và thứ tư, và chỉ mới bắt đầu làm việc với điểm thứ năm và thứ sáu. Chúng ta hãy đề cập vắn tắt từng bước cần thiết này, và tôi xin nhấn mạnh với các bạn nhu cầu phải nhận biết, trong một mức độ nào đó, trách nhiệm mà tri thức kéo theo. Các bạn có nhận thức được sự thật rằng nếu các bạn sử dụng trọn vẹn từng mảnh thông tin được trao trong tiến trình huấn luyện, biến nó thành một sự kiện trong kinh nghiệm của mình, và sống giáo huấn được truyền dạy đều đặn ấy trong đời sống hằng ngày, thì giờ đây các bạn đã đứng trước Cổng Điểm Đạo rồi chăng? Các bạn có nhận ra rằng chân lý phải được thực hiện trong kết cấu của đời sống hằng ngày trước khi chân lý mới có thể được truyền đạt một cách an toàn chăng?

1. Character building. These nine points are to be studied from their force aspect, and not from their ethical or spiritual import. It is the “world of force into which the initiate enters,” and it is the training he receives as an aspirant that makes such a step possible. Each of us enters life with a certain equipment—the product of past lives of endeavour and of experience. That equipment has in it certain deficiencies or lacks, and is seldom of a balanced nature. One man is too mental. Another is too psychic. A third is primarily physical, and still another is too mystical. One man is sensitive, irritable, and impressionable. Another is the reverse of all these qualities. One person is centred in [202] his animal nature, or is strictly material in his outlook on life, whilst another is visionary and free from the sins of the flesh. The diversities among men are innumerable, but in each life there is a predominant trend towards which all the energies of his nature turn. Perhaps he is swayed strongly by his physical forces and lives consequently the life of an animal. Or he is swayed by astral energy and lives a potently emotional and psychic life. Perhaps—like so many—he is swayed by three types of energy, physical, emotional and an occasional flow of soul energy. The point to be remembered is that the bodies in which we, as souls, are functioning, constitute primarily energy bodies. They are composed of energy units, atoms in a state of constant flux and movement and find their place in an environment of a similar nature. Acting as the positive nucleus in these energy bodies, and at present, in the majority of cases relatively static, is the soul. It exerts as yet little pressure upon its sheaths and identifies itself with them, thus temporarily negating its own intrinsic life.

1. Lập hạnh. Chín điểm này phải được nghiên cứu từ phương diện mãnh lực của chúng, chứ không từ ý nghĩa đạo đức hay tinh thần. Chính “thế giới của mãnh lực mà điểm đạo đồ bước vào”, và chính sự huấn luyện mà y nhận được với tư cách người chí nguyện làm cho bước ấy trở nên khả hữu. Mỗi người chúng ta bước vào đời với một trang bị nào đó — sản phẩm của những kiếp sống quá khứ đầy nỗ lực và kinh nghiệm. Trong trang bị ấy có những thiếu sót hay khiếm khuyết nhất định, và hiếm khi nó có tính cân bằng. Một người quá trí tuệ. Một người khác quá thông linh. Người thứ ba chủ yếu là hồng trần, và một người khác nữa quá thần bí. Một người nhạy cảm, dễ cáu kỉnh và dễ bị ấn tượng. Người khác lại trái ngược với tất cả các phẩm tính ấy. Một người tập trung trong [202] bản chất thú tính của mình, hoặc có cái nhìn về đời sống hoàn toàn vật chất, trong khi một người khác lại có tầm nhìn và thoát khỏi các tội lỗi của xác thịt. Sự đa dạng giữa con người là vô số, nhưng trong mỗi đời sống có một khuynh hướng chủ đạo mà mọi năng lượng trong bản chất của y đều hướng về. Có thể y bị các mãnh lực thể chất chi phối mạnh mẽ và do đó sống đời sống của một con vật. Hoặc y bị năng lượng cảm dục chi phối và sống một đời sống cảm xúc và thông linh mãnh liệt. Có lẽ — như rất nhiều người — y bị ba loại năng lượng chi phối: thể chất, cảm xúc và một dòng chảy thỉnh thoảng của năng lượng linh hồn. Điểm cần ghi nhớ là các thể mà trong đó chúng ta, với tư cách các linh hồn, đang hoạt động, trước hết là các thể năng lượng. Chúng được cấu thành bởi các đơn vị năng lượng, các nguyên tử ở trong trạng thái luôn biến động và chuyển động, và tìm vị trí của chúng trong một môi trường có bản chất tương tự. Hành động như hạt nhân dương trong các thể năng lượng này, và hiện nay trong đa số trường hợp tương đối tĩnh tại, là linh hồn. Cho đến nay, linh hồn chỉ tạo rất ít áp lực lên các lớp vỏ của mình và đồng hóa với chúng, do đó tạm thời phủ nhận sự sống nội tại của chính mình.

The day comes, however, when the soul awakens to the need of dominating the situation and of asserting its own authority. Then the man (spasmodically at the beginning) takes stock of the situation. He has to discover first which type of energy preponderates and is the motivating force in his daily experience. Having discovered this, he begins to re-organize, to re-orient and to re-build his bodies. The whole of this teaching can be summed up in two words: Vice and Virtue.

Tuy nhiên, ngày đến khi linh hồn thức tỉnh trước nhu cầu làm chủ tình thế và khẳng định uy quyền của mình. Khi ấy con người, lúc đầu một cách rời rạc, bắt đầu xem xét tình trạng. Trước hết y phải khám phá loại năng lượng nào chiếm ưu thế và là mãnh lực thúc đẩy trong kinh nghiệm hằng ngày của mình. Khi đã khám phá điều này, y bắt đầu tái tổ chức, tái định hướng và tái xây dựng các thể của mình. Toàn bộ giáo huấn này có thể được tóm gọn trong hai từ: thói xấu và đức hạnh.

Vice is the energy of the sheaths, individual or synthesised in the personality, as it controls the life activities and subordinates the soul to the sheaths and to the impulses and tendencies of the lower self.

Thói xấu là năng lượng của các lớp vỏ, riêng rẽ hoặc được tổng hợp trong phàm ngã, khi nó kiểm soát các hoạt động đời sống và khiến linh hồn lệ thuộc vào các lớp vỏ, vào các xung lực và khuynh hướng của phàm ngã.

Virtue is the calling in of new energies and of a new vibratory rhythm so that the soul becomes the positive controlling factor and the soul forces supersede those of [203] the bodies. This process is that of character building. Let me illustrate! A man is the victim of an irritable and nervous disposition. We say to him that he needs to be calm and peaceful and to cultivate detachment and so gain control of himself. We teach him that in place of a cross disposition there should be sweetness and calm. This sounds a platitude and most uninteresting. Yet what is really being stated is that in place of the restless self-centered emotional nature and the activity of the solar plexus centre (carrying the powerful forces of the astral plane) there should be imposed the steady detached and harmonising rhythm of the soul, the higher self. This work of imposing the higher vibration on the lower is character building, the first pre-requisite upon the Path of Probation. On reading this the earnest student can begin to sum up his energy assets; he can tabulate the forces which he feels control his life, and thus arrive at a reasonable and truthful understanding of the forces which require to be subordinated and those which require to be strengthened. Then in the light of true knowledge, let him go forward upon the path of his destiny.

Đức hạnh là sự kêu gọi các năng lượng mới và một nhịp điệu rung động mới, để linh hồn trở thành yếu tố kiểm soát mang tính dương và các mãnh lực linh hồn thay thế những mãnh lực của [203] các thể. Tiến trình này là lập hạnh. Hãy để tôi minh họa. Một người là nạn nhân của một khí chất dễ cáu kỉnh và căng thẳng thần kinh. Chúng ta nói với y rằng y cần trở nên bình thản và an hòa, cần vun bồi sự tách rời, và nhờ đó đạt được sự tự chủ. Chúng ta dạy y rằng thay cho tính khí gắt gỏng phải có sự dịu dàng và điềm tĩnh. Điều này nghe như một lời sáo rỗng và hết sức không thú vị. Tuy nhiên, điều thật sự được nói ở đây là: thay cho bản chất cảm xúc bất an, tập trung vào bản thân và hoạt động của trung tâm tùng thái dương, vốn mang các mãnh lực mạnh mẽ của cõi cảm dục, phải áp đặt nhịp điệu vững vàng, tách rời và hài hòa của linh hồn, tức chân ngã. Công việc áp đặt rung động cao hơn lên rung động thấp hơn này chính là lập hạnh, điều kiện tiên quyết đầu tiên trên Con Đường Dự Bị. Khi đọc điều này, đạo sinh nghiêm túc có thể bắt đầu tổng kết các tài sản năng lượng của mình; y có thể lập bảng các mãnh lực mà y cảm thấy đang kiểm soát đời sống mình, và nhờ đó đi đến một sự thấu hiểu hợp lý và chân thật về những mãnh lực cần phải được đặt dưới quyền và những mãnh lực cần được tăng cường. Rồi trong ánh sáng của tri thức chân thật, y hãy tiến bước trên con đường định mệnh của mình.

2. Right Motive. The Master of the Wisdom, we are told, is the “rare efflorescence of a generation of enquirers.” The question which the seeker now asks and which he only has the right to answer is: What is the motive governing my aspiration and my endeavour? Why do I seek to build upon a true foundation? Why do I so diligently invoke my soul?

2. Động cơ đúng. Như chúng ta được cho biết, Chân sư Minh Triết là “đóa hoa hiếm hoi của một thế hệ những người tìm kiếm”. Câu hỏi mà người tìm đạo bây giờ đặt ra, và chỉ y mới có quyền trả lời, là: Động cơ nào chi phối khát vọng và nỗ lực của tôi? Vì sao tôi tìm cách xây dựng trên một nền tảng chân thật? Vì sao tôi khẩn cầu linh hồn mình một cách chuyên cần đến vậy?

The development of right motive is a progressive effort, and constantly one shifts the focus of one’s incentive when one discovers himself, as the Light shines ever more steadily upon one’s way, and constantly a newer and higher motive emerges. Again, let me illustrate: An aspirant in the early stages is practically always a devotee. To measure up to the standard set by a loved friend and teacher, he struggles and strives and gains [204] ground. Later, this object of his devotion and ardent effort is superseded by devotion to one of the Great Ones, the Elder Brothers of the race. He bends all his powers and the forces of his nature to Their service. This incentive is, in its turn, surely and steadily superseded by a vital love for humanity, and love of one individual (be he ever so perfect) is lost sight of in love for the whole brotherhood of men. Unceasingly, as the soul takes more and more control of its instrument and the soul nature steadily manifests, this too is superseded by love of the ideal, of the Plan, and of the purposes underlying the universe itself. The man comes to know himself as naught but a channel through which spiritual agencies can work, and realises himself as a corporate part of the One Life. Then he sees even humanity as relative and fractional, and becomes immersed in the great Will.

Sự phát triển động cơ đúng là một nỗ lực tiệm tiến, và người ta không ngừng chuyển dịch trọng tâm của động lực thúc đẩy khi tự khám phá chính mình, khi Ánh sáng chiếu ngày càng vững chắc trên đường đi, và khi một động cơ mới hơn, cao hơn không ngừng xuất hiện. Một lần nữa, hãy để tôi minh họa: Người chí nguyện trong các giai đoạn đầu hầu như luôn là một người sùng tín. Để đạt đến chuẩn mực do một người bạn và huấn sư được yêu quý đặt ra, y phấn đấu, nỗ lực và tiến bộ [204] từng bước. Về sau, đối tượng của sự sùng tín và nỗ lực nồng nhiệt ấy được thay thế bằng sự sùng tín đối với một trong Các Đấng Cao Cả, các Huynh Trưởng của nhân loại. Y dồn mọi quyền năng và các mãnh lực trong bản chất của mình vào việc phụng sự Các Ngài. Động lực này, đến lượt nó, chắc chắn và đều đặn được thay thế bằng một tình thương sống động dành cho nhân loại; và tình thương dành cho một cá nhân, dù người ấy có hoàn hảo đến đâu, cũng bị khuất lấp trong tình thương dành cho toàn thể huynh đệ nhân loại. Không ngừng, khi linh hồn ngày càng kiểm soát khí cụ của nó và bản chất linh hồn biểu lộ đều đặn, điều này cũng được thay thế bằng tình thương đối với lý tưởng, đối với Thiên Cơ, và đối với các mục đích nằm bên dưới chính vũ trụ. Con người đi đến chỗ biết mình chẳng là gì ngoài một kênh dẫn qua đó các tác nhân tinh thần có thể làm việc, và nhận biết mình là một phần hữu cơ của Sự Sống Duy Nhất. Khi ấy y thấy ngay cả nhân loại cũng chỉ là tương đối và phân mảnh, và y đắm mình trong Ý Chí vĩ đại.

3. Service. A study of right motive leads naturally to right service, and often parallels in its objective form, the motivating consciousness. From service to an individual as an expression of love, to the family, or to the nation, there grows service to a member of the Hierarchy, to a Master’s group and thence service to humanity. Eventually there is developed a consciousness of and service of the Plan, and a consecration to the underlying purpose of the great Existence Who has brought all into being for the fulfillment of some specific objective.

3. Phụng sự. Việc nghiên cứu động cơ đúng tự nhiên dẫn đến phụng sự đúng, và trong hình thức khách quan của nó thường song hành với tâm thức thúc đẩy. Từ việc phụng sự một cá nhân như một biểu lộ của tình thương, đến gia đình, hay đến quốc gia, phát triển thành phụng sự một thành viên của Thánh đoàn, một nhóm của Chân sư, và từ đó là phụng sự nhân loại. Cuối cùng, một tâm thức về Thiên Cơ và sự phụng sự Thiên Cơ được phát triển, cùng với sự thánh hiến cho mục đích nền tảng của Đấng Hiện Hữu vĩ đại, Đấng đã đưa tất cả vào hiện tồn để hoàn thành một mục tiêu đặc thù nào đó.

4. Meditation. Upon this matter we will not enlarge as it has formed the basis of much of the teaching in my other books and many of you are working steadily upon the work of meditation. I have placed it fourth upon the list, for meditation is dangerous and unprofitable to the man who enters upon it without the basis of a good character and of clean living. Meditation then becomes only a medium for the bringing in of energies which but serve to stimulate the undesirable aspects of his life, just [205] as the fertilising of a garden full of weeds will produce a stupendous crop of them, and so crush out the weak and tiny flowers. Meditation is dangerous where there is wrong motive, such as desire for personal growth and for spiritual powers, for it produces, under these conditions only a strengthening of the shadows in the vale of illusion and brings to full growth the serpent of pride, lurking in the valley of selfish desire. Meditation is dangerous when the desire to serve is lacking. Service is another word for the utilisation of soul force for the good of the group. Where this impulse is lacking, energy may pour into the bodies, but—lacking use and finding no outlet—will tend to over-stimulate the centres, and produce conditions disastrous to the neophyte. Assimilation and elimination are laws of the soul life as well as of the physical life, and when this simple law is disregarded serious consequences will follow as inevitably as in the physical body.

4. Tham thiền. Về vấn đề này, chúng ta sẽ không bàn rộng, vì nó đã là nền tảng của nhiều giáo huấn trong các sách khác của tôi, và nhiều người trong các bạn đang đều đặn làm công việc tham thiền. Tôi đặt nó ở vị trí thứ tư trong danh sách, vì tham thiền nguy hiểm và không đem lại lợi ích cho người bước vào đó mà không có nền tảng của tính cách tốt và đời sống trong sạch. Khi ấy tham thiền chỉ trở thành một phương tiện đưa vào các năng lượng vốn chỉ kích thích những phương diện không đáng mong muốn trong đời sống của y, [205] cũng như việc bón phân cho một khu vườn đầy cỏ dại sẽ tạo ra một vụ cỏ dại khổng lồ, và như vậy bóp nghẹt những bông hoa yếu ớt, nhỏ bé. Tham thiền nguy hiểm khi có động cơ sai lầm, như ham muốn sự phát triển cá nhân và các quyền năng tinh thần, vì trong các điều kiện ấy, nó chỉ tạo ra sự củng cố các bóng tối trong thung lũng ảo tưởng, và làm cho con rắn kiêu hãnh, ẩn náu trong thung lũng của ham muốn ích kỷ, lớn mạnh đầy đủ. Tham thiền nguy hiểm khi thiếu ước muốn phụng sự. Phụng sự là một từ khác chỉ việc sử dụng mãnh lực linh hồn vì lợi ích của tập thể. Khi xung lực này thiếu vắng, năng lượng có thể tuôn vào các thể, nhưng vì thiếu sự sử dụng và không tìm được lối thoát, nó sẽ có khuynh hướng kích thích quá mức các trung tâm và tạo ra những tình trạng tai hại cho người sơ cơ. Đồng hóa và loại thải là các định luật của đời sống linh hồn cũng như của đời sống hồng trần; và khi định luật đơn giản này bị xem nhẹ, những hậu quả nghiêm trọng sẽ xảy ra tất yếu như trong thể xác.

5. Study of the centres. This we are now beginning. It is a study as yet in its infancy in the West, and little applied in the East. Our approach will be somewhat new, for though we will accustom ourselves to the names, locations and relationships of the centres we shall do no meditation work upon them. Eventually we shall arrive at an appreciation of their vibration, of their tone and colours and of the astrological significances. We shall not work with the centres down the spinal column, nor aim at their conscious utilisation as does the clairvoyant and clairaudient person. All the work done by students must be done entirely in the head and from the head. There is the seat of the Will, or Spirit aspect, working through the soul. There also is the synthetic expression of the personality, and in the understanding of the relation of the two head centres and their mutual interplay will come gradually the domination of the personality by the soul. This will lead to the consequent and subsequent [206] guided activity of the five other centres. The work in these five centres will eventually be as automatic as the present functioning of the heart and the lungs in the physical body.

5. Nghiên cứu các trung tâm. Điều này hiện nay chúng ta đang bắt đầu. Đó là một ngành nghiên cứu vẫn còn ở thời kỳ ấu thơ tại phương Tây, và ít được áp dụng ở phương Đông. Cách tiếp cận của chúng ta sẽ hơi mới, vì mặc dù chúng ta sẽ làm quen với tên gọi, vị trí và các mối liên hệ của các trung tâm, chúng ta sẽ không làm công việc tham thiền trên chúng. Cuối cùng, chúng ta sẽ đi đến sự nhận thức về rung động, âm điệu và màu sắc của chúng, cũng như các thâm nghĩa chiêm tinh của chúng. Chúng ta sẽ không làm việc với các trung tâm dọc theo cột sống, cũng không nhằm đến việc sử dụng chúng một cách có ý thức như người thông nhãn và thông nhĩ thường làm. Mọi công việc do các đạo sinh thực hiện phải được thực hiện hoàn toàn trong đầu và từ đầu. Tại đó là trụ sở của Ý Chí, hay phương diện Tinh thần, hoạt động thông qua linh hồn. Tại đó cũng là biểu lộ tổng hợp của phàm ngã; và trong sự thấu hiểu mối liên hệ giữa hai trung tâm đầu cùng sự tương tác lẫn nhau của chúng, dần dần sẽ đến sự thống trị phàm ngã bởi linh hồn. Điều này sẽ dẫn đến hoạt động được hướng dẫn, như hệ quả và tiếp sau đó, [206] của năm trung tâm còn lại. Công việc trong năm trung tâm này cuối cùng sẽ tự động như sự vận hành hiện nay của tim và phổi trong thể xác.

The presiding Intelligence, the Self, “seated on the throne between the eyebrows” and guided by the Light in the head will be awake to the interests of the soul and as alert as is the ‘I’ consciousness of the average self-centered man. By the rhythm of his divine life and by his conscious cooperation with the Plan, and functioning through the use of the Will, must the disciple in incarnation act as the agent of his soul in the three worlds.

Trí Tuệ chủ trì, Bản Ngã, “ngự trên ngai giữa hai chân mày” và được hướng dẫn bởi Ánh sáng trong đầu, sẽ tỉnh thức trước các lợi ích của linh hồn và tỉnh táo như tâm thức “cái tôi” của người bình thường tập trung vào bản thân. Bằng nhịp điệu của đời sống thiêng liêng của mình, bằng sự hợp tác có ý thức với Thiên Cơ, và hoạt động thông qua việc sử dụng Ý Chí, đệ tử đang lâm phàm phải hành động như tác nhân của linh hồn mình trong ba cõi thấp.

6. Breathing Exercises. Little by little as progress is made will the needed instruction be imparted. Let me point out however that no breathing exercises can be safely used where there is no attempt to impose rhythm upon the life of every day. The two activities must go hand in hand.

6. Các bài tập thở. Từng chút một, khi có tiến bộ, sự chỉ dạy cần thiết sẽ được truyền đạt. Tuy nhiên, hãy để tôi chỉ ra rằng không một bài tập thở nào có thể được sử dụng an toàn khi không có nỗ lực áp đặt nhịp điệu lên đời sống hằng ngày. Hai hoạt động này phải song hành với nhau.

The effect of breathing exercises is varied:

Tác dụng của các bài tập thở rất đa dạng:

a. There is an oxygenating effect. The blood stream is purified and pressure is relieved. A symbolism underlies this: —for as the blood is oxygenated so is the life of the man in the three worlds permeated by spiritual energy.

a. Có tác dụng bổ sung oxy. Dòng máu được thanh lọc và áp lực được giảm nhẹ. Một biểu tượng nằm bên dưới điều này: vì như máu được bổ sung oxy, đời sống của con người trong ba cõi thấp cũng được thấm nhuần bởi năng lượng tinh thần.

b. There is the imposition of a peculiar rhythm, brought about by the particular spacing and time limit of the breaths—inhalation, retention, and exhalation—and this will vary according to the counts.

b. Có sự áp đặt một nhịp điệu đặc thù, được tạo ra bởi khoảng cách và thời lượng riêng của các hơi thở — hít vào, giữ lại và thở ra — và điều này sẽ thay đổi tùy theo số đếm.

c. There is a subtle effect of prana (which is the subjective element underlying the air breathed in and out) which affects most potently the body of prana, the vital or etheric body. Students should remember that subtle effects are more powerful than the physical effects. They produce results [207] in two directions; on the physical body and on the etheric body. The entire vital body assumes a particular rhythm according to the breathing exercises. This kept up for a long period of time will have a shattering or a cohesive effect upon the physical body, and devitalise or vitalise the etheric body correspondingly.

c. Có một tác dụng vi tế của sinh khí, tức yếu tố chủ quan nằm bên dưới không khí được hít vào và thở ra, tác động hết sức mạnh mẽ lên thể sinh khí, tức thể sinh lực hay thể dĩ thái. Các đạo sinh nên nhớ rằng các tác dụng vi tế mạnh hơn các tác dụng hồng trần. Chúng tạo ra kết quả [207] theo hai hướng: trên thể xác và trên thể dĩ thái. Toàn bộ thể sinh lực nhận lấy một nhịp điệu đặc thù tùy theo các bài tập thở. Nếu duy trì điều này trong một thời gian dài, nó sẽ có tác dụng phá vỡ hoặc cố kết đối với thể xác, và tương ứng sẽ làm suy giảm sinh lực hoặc tiếp sinh lực cho thể dĩ thái.

d. There is the effect upon the centres, which is most effectual and which follows the trend of the aspirant’s thought. If, for instance, a man thinks upon the solar plexus, that centre will inevitably be vitalised and his emotional nature be strengthened. Hence the need for students to hold their meditation steady in the head and so awaken the head centre.

d. Có tác dụng lên các trung tâm, một tác dụng rất hữu hiệu và đi theo chiều hướng tư tưởng của người chí nguyện. Chẳng hạn, nếu một người nghĩ đến tùng thái dương, trung tâm ấy tất yếu sẽ được tiếp sinh lực và bản chất cảm xúc của y sẽ được tăng cường. Vì vậy, các đạo sinh cần giữ tham thiền của mình vững chắc trong đầu và nhờ đó đánh thức trung tâm đầu.

Let no one doubt the effect of breathing exercises upon the vital body. As surely as eating and drinking build or destroy the physical body, and aid or hinder its right functioning, so do breathing exercises produce potent effects, if rightly used over a long enough period of time.

Đừng ai nghi ngờ tác dụng của các bài tập thở đối với thể sinh lực. Cũng chắc chắn như việc ăn uống xây dựng hoặc phá hủy thể xác, trợ giúp hoặc cản trở sự vận hành đúng của nó, các bài tập thở cũng tạo ra những tác dụng mạnh mẽ nếu được sử dụng đúng trong một thời gian đủ dài.

And what shall I say about the last three requirements? Nothing much, for the time is not yet ripe for their correct understanding. Step by step must the aspirant proceed and his theory must not persistently run ahead of his experience. Perhaps I can give the clue to each of these three through the formulation of a simple rule for daily living. This will be grasped by those for whom it is intended and will not work harm to the unevolved. This rule, when followed will bring about, gently and subjectively, the necessary conditions for the manifestation of the requirement.

Và tôi sẽ nói gì về ba yêu cầu cuối cùng? Không nhiều, vì thời điểm chưa chín muồi để thấu hiểu đúng về chúng. Người chí nguyện phải tiến từng bước, và lý thuyết của y không được liên tục chạy trước kinh nghiệm của mình. Có lẽ tôi có thể trao chìa khóa cho từng yêu cầu trong ba yêu cầu này qua việc hình thành một quy luật đơn giản cho đời sống hằng ngày. Những ai được dành cho điều đó sẽ nắm bắt được, và nó sẽ không gây hại cho người chưa tiến hóa. Quy luật này, khi được tuân theo, sẽ nhẹ nhàng và chủ quan tạo ra các điều kiện cần thiết cho sự biểu lộ của yêu cầu.

Learn to use the will through the development of steady purpose and the organising of the daily life, so that that purpose may reach fulfillment.

Hãy học sử dụng ý chí qua việc phát triển mục đích vững chắc và tổ chức đời sống hằng ngày, để mục đích ấy có thể đi đến hoàn thành.

Learn to do something else with time besides organise [208] it and use it. Learn to do several things simultaneously, and utilise therefore all the three bodies synchronously. Let me illustrate: —When you are practicing your daily breathing exercise keep your count with accuracy, listen attentively for the sound that “soundeth in the silence” of the interlude. At the same time think of yourself as the soul, the imposer of rhythm, and the voice that speaks. This is something which can be acquired by practice by each of you.

Hãy học làm một điều gì khác với thời gian ngoài việc tổ chức [208] và sử dụng nó. Hãy học làm nhiều việc đồng thời, và do đó sử dụng đồng bộ cả ba thể. Hãy để tôi minh họa: Khi các bạn thực hành bài tập thở hằng ngày, hãy giữ số đếm chính xác, lắng nghe chăm chú âm thanh “vang lên trong im lặng” của khoảng lặng. Đồng thời, hãy nghĩ về mình như linh hồn, như Đấng áp đặt nhịp điệu, và như tiếng nói đang cất lời. Đây là điều mà mỗi người trong các bạn có thể đạt được nhờ thực hành.

Discover the serpent of illusion by the help of the serpent of wisdom and then will the sleeping serpent mount upwards to the place of meeting.

Hãy khám phá con rắn ảo tưởng nhờ sự trợ giúp của con rắn minh triết; khi ấy con rắn đang ngủ sẽ vươn lên đến nơi gặp gỡ.

RULE SIX

The devas of the lower four feel the force when the eye opens; they are driven forth and lose their master.

Các thiên thần của bốn cõi thấp cảm nhận được mãnh lực khi con mắt mở ra; họ bị xua đuổi và đánh mất chủ nhân của mình.

The Work of the Eye

[211]

[211]

We have for consideration now one of the simplest of the Rules for Magic yet at the same time one of the most practical, and one upon which the entire success of all magical work depends.

Bây giờ chúng ta phải xem xét một trong những Quy luật về huyền thuật đơn giản nhất, nhưng đồng thời cũng là một trong những quy luật thực tiễn nhất, và là một quy luật mà toàn bộ sự thành công của mọi công việc huyền thuật tùy thuộc vào.

I would like to point out to the investigating aspirant that the key to the situation depicted in the rule lies in the word contemplation found in the preceding one. Let us therefore study that word with care and seek its accurate definition.

Tôi muốn chỉ ra cho người chí nguyện đang khảo cứu rằng chìa khóa của tình huống được mô tả trong quy luật nằm trong từ chiêm ngưỡng đã xuất hiện trong quy luật trước. Vì vậy, chúng ta hãy nghiên cứu từ ấy một cách cẩn thận và tìm định nghĩa chính xác của nó.

To contemplate involves steady vision, one-pointedly directed towards a specific objective. The soul or solar angel might be regarded as gazing in three directions.

Chiêm ngưỡng hàm ý tầm nhìn vững chắc, được hướng nhất tâm về một mục tiêu xác định. Linh hồn hay Thái dương Thiên Thần có thể được xem như đang nhìn theo ba hướng.

1. Towards the Light Supernal, towards that central Life or Energy which holds hid within Itself the purpose and plan towards which all Being tends. I know not how to express this more clearly. What that directive force may be, what is the secret of Being Itself is only revealed during the more advanced initiations, and is only finally grasped when the causal body itself, the karana sarira, disintegrates and the final limitation slips away. With this direction of the solar Angel’s vision we need not concern ourselves.

1. Hướng về Ánh sáng Thiên thượng, hướng về Sự Sống hay Năng lượng trung tâm, vốn giữ kín bên trong Chính Nó mục đích và Thiên Cơ mà mọi Bản Thể đều hướng đến. Tôi không biết diễn đạt điều này rõ ràng hơn thế nào. Mãnh lực chỉ đạo ấy là gì, bí mật của chính Bản Thể là gì, chỉ được mặc khải trong các cuộc điểm đạo cao hơn, và chỉ được nắm bắt sau cùng khi thể nguyên nhân tan rã và giới hạn cuối cùng rơi đi. Chúng ta không cần bận tâm đến hướng nhìn này của Thái dương Thiên Thần.

2. Over the kingdom wherein the solar Angel reigns supreme, over the world of souls, or egoic impulses, of hierarchical work and of pure thought. This is the Kingdom of God, the world of heavenly Being. It is the state whereof disciples are becoming increasingly aware, wherein initiates work, and from which the Masters in Their graded ranks direct the evolutionary process of [212] the planet. These two directions in which the soul looks constitute the world of its spiritual experience and the object of its aspiration. Let it not be forgotten that the spiritual man, the solar Angel, has also his goal of endeavour, and that his becomes the predominant impulse once the subjugation of the vehicle in the three worlds is brought about. Just as the fully intelligent human being can only begin consciously to function as a soul and to contact the kingdom of the soul, so only the fully active and dominant soul, in which the buddhic principle is potentially controlling, can begin to contact the state of pure Being in which the monad or spirit eternally rests.

2. Trên giới mà Thái dương Thiên Thần trị vì tối thượng, trên thế giới của các linh hồn, hay các xung lực chân ngã, của công việc thánh đoàn và của tư tưởng thuần khiết. Đây là Thiên Giới, thế giới của Bản Thể thiên thượng. Đó là trạng thái mà các đệ tử ngày càng ý thức hơn, nơi các điểm đạo đồ làm việc, và từ đó các Chân sư trong những cấp bậc phân định của Các Ngài chỉ đạo tiến trình tiến hóa của [212] hành tinh. Hai hướng nhìn này của linh hồn cấu thành thế giới kinh nghiệm tinh thần của nó và đối tượng khát vọng của nó. Đừng quên rằng con người tinh thần, Thái dương Thiên Thần, cũng có mục tiêu nỗ lực của riêng mình, và mục tiêu ấy trở thành xung lực chi phối khi sự khuất phục vận cụ trong ba cõi thấp đã được thực hiện. Cũng như con người hoàn toàn thông minh chỉ có thể bắt đầu hoạt động một cách có ý thức như một linh hồn và tiếp xúc với giới của linh hồn, thì chỉ linh hồn hoàn toàn hoạt động và thống trị, trong đó nguyên khí Bồ đề đang có tiềm năng kiểm soát, mới có thể bắt đầu tiếp xúc với trạng thái Bản Thể thuần khiết, nơi chân thần hay tinh thần an trụ vĩnh cửu.

The development of the intellect in man marks his fitness for the work of treading the Path, back to full soul consciousness. The development of the buddhic or wisdom-love aspect in the solar Angel demonstrates his fitness for further progression in the awareness of the state of pure Being.

Sự phát triển trí năng nơi con người đánh dấu sự thích hợp của y đối với công việc bước trên Đường Đạo, trở về với tâm thức linh hồn trọn vẹn. Sự phát triển phương diện Bồ đề hay minh triết-bác ái nơi Thái dương Thiên Thần chứng tỏ sự thích hợp của Ngài đối với sự tiến bộ xa hơn trong nhận thức về trạng thái Bản Thể thuần khiết.

3. The third direction in which the soul looks and wherein he exercises the faculty of contemplative vision is towards his reflection in the three worlds. The object of the long struggle between the higher and the lower man has been to make the lower responsive to and sensitively aware of the forces emanating from the soul as the soul “contemplates” his triple instrument.

3. Hướng thứ ba mà linh hồn nhìn về, và trong đó Ngài vận dụng năng lực của tầm nhìn chiêm ngưỡng, là hướng về phản ảnh của Ngài trong ba cõi thấp. Mục tiêu của cuộc đấu tranh lâu dài giữa con người cao và con người thấp là làm cho cái thấp trở nên đáp ứng và nhạy bén nhận biết các mãnh lực phát xuất từ linh hồn khi linh hồn “chiêm ngưỡng” khí cụ tam phân của mình.

There is an interesting relation between these three “directions of contemplation” and the awakening in the three major centres. This cannot be more than hinted at owing to the abstruseness of the subject. So many factors govern this awakening, and each aspirant has to determine for himself the order and mode of his awakening.

Có một mối liên hệ thú vị giữa ba “hướng chiêm ngưỡng” này và sự thức tỉnh trong ba trung tâm chính. Điều này chỉ có thể được gợi ý, vì đề tài quá thâm sâu. Quá nhiều yếu tố chi phối sự thức tỉnh này, và mỗi người chí nguyện phải tự xác định cho mình trình tự và phương thức thức tỉnh của mình.

The centre between the eyebrows, commonly called the third eye has a unique and peculiar function. As I have pointed out elsewhere, students must not confound the pineal gland with the third eye. They are related, but not the same. In The Secret Doctrine they are apparently [213] regarded as the same, and the casual reader can easily confound them but they are by no means identical. This H. P. B. knew, but the apparent confusion was permitted until more of the etheric nature of forms was known. The third eye manifests as a result of the vibratory interaction between the forces of the soul, working through the pineal gland, and the forces of the personality, working through the pituitary body. These negative and positive forces interact, and when potent enough produce the light in the head. Just as the physical eye came into being in response to the light of the sun so the spiritual eye equally comes into being in response to the light of the spiritual sun. As the aspirant develops he becomes aware of the light. I refer to the light in all forms, veiled by all sheaths and expressions of the divine life, and not just to the light within the aspirant himself. As his awareness of this light increases so does the apparatus of vision develop, and the mechanism whereby he can see things in the spiritual light comes into being in the etheric body.

Trung tâm giữa hai chân mày, thường được gọi là con mắt thứ ba, có một chức năng độc đáo và đặc thù. Như tôi đã chỉ ra ở nơi khác, các đạo sinh không được lẫn lộn tuyến tùng với con mắt thứ ba. Chúng có liên hệ, nhưng không phải là một. Trong Giáo Lý Bí Nhiệm, dường như [213] chúng được xem là một, và độc giả đọc lướt có thể dễ dàng nhầm lẫn chúng, nhưng chúng tuyệt nhiên không đồng nhất. Bà Blavatsky biết điều này, nhưng sự lẫn lộn biểu kiến ấy được cho phép cho đến khi người ta biết nhiều hơn về bản chất dĩ thái của các hình tướng. Con mắt thứ ba biểu lộ như kết quả của sự tương tác rung động giữa các mãnh lực của linh hồn, hoạt động qua tuyến tùng, và các mãnh lực của phàm ngã, hoạt động qua tuyến yên. Các mãnh lực âm và dương này tương tác với nhau, và khi đủ mạnh, chúng tạo ra ánh sáng trong đầu. Cũng như mắt hồng trần xuất hiện để đáp ứng với ánh sáng của mặt trời, con mắt tinh thần cũng xuất hiện để đáp ứng với ánh sáng của mặt trời tinh thần. Khi người chí nguyện phát triển, y trở nên ý thức về ánh sáng. Tôi nói đến ánh sáng trong mọi hình tướng, bị che phủ bởi mọi lớp vỏ và các biểu lộ của sự sống thiêng liêng, chứ không chỉ ánh sáng bên trong chính người chí nguyện. Khi nhận thức của y về ánh sáng này tăng lên, bộ máy của tầm nhìn cũng phát triển, và cơ chế nhờ đó y có thể thấy các sự vật trong ánh sáng tinh thần xuất hiện trong thể dĩ thái.

This is the eye of Shiva, for it is only fully utilized in the magical work when the monadic aspect, the will aspect, is controlling.

Đây là con mắt của Shiva, vì nó chỉ được sử dụng trọn vẹn trong công việc huyền thuật khi phương diện chân thần, phương diện ý chí, đang kiểm soát.

By means of the third eye the soul accomplishes three activities:

Nhờ con mắt thứ ba, linh hồn hoàn thành ba hoạt động:

1. It is the eye of vision. By its means, the spiritual man sees behind the forms of all aspects of divine expression. He becomes aware of the light of the world, and contacts the soul within all forms. Just as the physical eye registers forms, so does the spiritual eye register the illumination within those forms which “illumination” indicates a specific state of being. It opens up the world of radiance.

1. Nó là con mắt của tầm nhìn. Nhờ nó, con người tinh thần nhìn thấy phía sau các hình tướng của mọi phương diện biểu lộ thiêng liêng. Y trở nên ý thức về ánh sáng của thế giới và tiếp xúc với linh hồn bên trong mọi hình tướng. Cũng như mắt hồng trần ghi nhận các hình tướng, con mắt tinh thần ghi nhận sự soi sáng bên trong các hình tướng ấy; “sự soi sáng” này chỉ một trạng thái hiện tồn đặc thù. Nó mở ra thế giới của hào quang rực rỡ.

2. It is the controlling factor of the magical work. All white magical work is carried forward with a definitely constructive purpose, made possible through the use of the intelligent will. In other words, the soul knows the [214] plan, and when the alignment is right and the attitude correct, the will aspect of the divine man can function and bring about results in the three worlds. The organ used is the third eye. The analogy to this can be seen in the often noticed power of the human eye as it controls other human beings and animals by a look, and through steady gazing can act magnetically. Force flows through the focused human eye. Force flows through the focused third eye.

2. Nó là yếu tố kiểm soát của công việc huyền thuật. Mọi công việc chánh thuật được tiến hành với một mục đích xây dựng xác định, điều này trở nên khả hữu nhờ việc sử dụng ý chí thông minh. Nói cách khác, linh hồn biết [214] Thiên Cơ; và khi sự chỉnh hợp đúng đắn, thái độ chính xác, phương diện ý chí của con người thiêng liêng có thể hoạt động và tạo ra kết quả trong ba cõi thấp. Cơ quan được sử dụng là con mắt thứ ba. Sự tương đồng với điều này có thể được thấy trong quyền năng thường được nhận ra của mắt người, khi nó kiểm soát những con người khác và thú vật bằng một cái nhìn, và qua việc nhìn chăm chú vững vàng có thể tác động một cách từ tính. Mãnh lực tuôn chảy qua mắt người được tập trung. Mãnh lực tuôn chảy qua con mắt thứ ba được tập trung.

3. It has a destructive aspect and the energy flowing through the third eye can have a disintegrating and destroying effect. It can, through its focused attention, directed by the intelligent will, drive out physical matter. It is the agent of the soul in the purificatory work.

3. Nó có một phương diện phá hủy, và năng lượng tuôn qua con mắt thứ ba có thể tạo ra một tác dụng làm tan rã và phá hủy. Nhờ sự chú tâm được tập trung, do ý chí thông minh điều hướng, nó có thể xua đuổi vật chất hồng trần. Nó là tác nhân của linh hồn trong công việc thanh lọc.

It should be noted here that in each of the subtle bodies in the three worlds there is a corresponding point of focus, and the centre between the eyebrows is but the physical counterpart (for etheric matter is physical) of inner correspondences.

Ở đây cần lưu ý rằng trong mỗi thể vi tế thuộc ba cõi thấp đều có một điểm tập trung tương ứng, và trung tâm giữa hai chân mày chỉ là đối phần hồng trần, vì vật chất dĩ thái là hồng trần, của các tương ứng bên trong.

Through this point of focus the soul looks out upon, or contemplates the mental plane, including the mental mechanism. Similarly on the emotional plane, the soul is brought into a state of awareness or vision of its emotional sheath and the world of astral phenomena, and the physical parallel exists for the etheric body.

Qua điểm tập trung này, linh hồn nhìn ra, hay chiêm ngưỡng, cõi trí, bao gồm cả bộ máy trí tuệ. Tương tự, trên cõi cảm xúc, linh hồn được đưa vào trạng thái nhận biết hay tầm nhìn về lớp vỏ cảm xúc của mình và thế giới các hiện tượng cảm dục; và sự song hành hồng trần tồn tại đối với thể dĩ thái.

It is this third work of the soul that is touched upon here, the destructive work of getting rid of the old forms, of shaking out of the bodies matter of an undesirable nature and of breaking down the barriers and limitations to true soul activity.

Chính công việc thứ ba này của linh hồn được đề cập ở đây: công việc phá hủy nhằm loại bỏ các hình tướng cũ, rũ bỏ khỏi các thể loại vật chất có bản chất không đáng mong muốn, và phá vỡ các rào cản cùng giới hạn đối với hoạt động chân thật của linh hồn.

These three activities of the soul, through the medium of the third eye, are the correspondences to the three aspects, and students would find it of interest to work these out.

Ba hoạt động này của linh hồn, qua trung gian con mắt thứ ba, là các tương ứng với ba phương diện, và các đạo sinh sẽ thấy thú vị khi tự triển khai chúng.

The seeing of the light within all forms through the agency of the third eye (brought into being through the realization of the light in the head, the spiritual light) is [215] but the correspondence to the physical eye, revealing forms in the light of the physical sun. This corresponds to the personality.

Việc thấy ánh sáng bên trong mọi hình tướng nhờ tác nhân con mắt thứ ba, được đưa vào hiện tồn qua sự nhận ra ánh sáng trong đầu, tức ánh sáng tinh thần, [215] chỉ là sự tương ứng với mắt hồng trần, vốn mặc khải các hình tướng trong ánh sáng của mặt trời hồng trần. Điều này tương ứng với phàm ngã.

The aspect of control through magnetic energy and the attractive force in the spiritual eye, which is the dominant factor in magical work, is the correspondence to the soul. In a most mysterious sense, the soul is the eye of the monad, enabling the monad, which is pure Being, to work, to contact, to know, and to see.

Phương diện kiểm soát qua năng lượng từ tính và mãnh lực hấp dẫn trong con mắt tinh thần, vốn là yếu tố chi phối trong công việc huyền thuật, là sự tương ứng với linh hồn. Theo một ý nghĩa hết sức huyền nhiệm, linh hồn là con mắt của chân thần, giúp chân thần, vốn là Bản Thể thuần khiết, có thể làm việc, tiếp xúc, hiểu biết và thấy.

The aspect of destruction is the correspondence to the monad or will aspect; in the last analysis it is the monad that brings about the final abstraction, destroys all forms, withdraws itself from manifestation and ends the cycle of creative work.

Phương diện phá hủy là sự tương ứng với chân thần hay phương diện ý chí; rốt cuộc, chính chân thần tạo ra sự trừu xuất cuối cùng, phá hủy mọi hình tướng, rút chính mình khỏi biểu lộ và kết thúc chu kỳ của công việc sáng tạo.

Bringing these concepts down to practical expression in relation to the Rule under consideration, it can be noted that all these three activities are dealt with in this Rule. The third eye opens as the result of conscious development, right alignment and the inflow of soul life. Then its magnetic controlling force makes itself felt, controlling the lives of the lower bodies, driving forth the lower four elementals (of earth, water, fire, air) and forcing the lunar lords to abdicate. The personality, which has hitherto been the master, no longer can control, and the soul comes into full domination in the three worlds.

Khi đưa các quan niệm này xuống biểu lộ thực tiễn trong liên hệ với Quy luật đang được xem xét, có thể lưu ý rằng cả ba hoạt động này đều được đề cập trong Quy luật này. Con mắt thứ ba mở ra như kết quả của sự phát triển có ý thức, sự chỉnh hợp đúng và dòng tuôn vào của sự sống linh hồn. Khi ấy mãnh lực kiểm soát từ tính của nó làm cho chính nó được cảm nhận, kiểm soát các sự sống của các thể thấp, xua đuổi bốn hành khí thấp, tức đất, nước, lửa, khí, và buộc các nguyệt tinh quân phải thoái vị. Phàm ngã, vốn cho đến nay là chủ nhân, không còn có thể kiểm soát, và linh hồn đi vào sự thống trị trọn vẹn trong ba cõi thấp.

The elemental of earth, who is the sum total of the many lives which form the physical body, is controlled and feels the eye of the Master (the one Master in the head) upon it. The gross elements constituting that body are “driven forth” and better and more adequate atoms or lives are built in.

Hành khí của đất, tức tổng thể của nhiều sự sống tạo thành thể xác, được kiểm soát và cảm nhận con mắt của Chân sư, vị Chân sư duy nhất trong đầu, đang đặt trên nó. Các nguyên tố thô trược cấu thành thể ấy bị “xua đi”, và những nguyên tử hay sự sống tốt hơn, thích hợp hơn được xây dựng vào.

The elemental of the astral or body of water undergoes a similar activity plus a stabilising effect which brings to an end the restlessness and fluidic tempestuousness which have hitherto characterised it. Through the controlling magnetic power of the spiritual eye, the soul [216] rebuilds the astral body and holds it steady and coherent through its focused attention.

Hành khí của thể cảm dục, hay thể nước, trải qua một hoạt động tương tự, cộng thêm một tác dụng ổn định, chấm dứt sự bất an và tính bão tố linh động vốn cho đến nay đã đặc trưng cho nó. Nhờ quyền năng từ tính kiểm soát của con mắt tinh thần, linh hồn [216] xây dựng lại thể cảm dục và giữ nó vững vàng, cố kết nhờ sự chú tâm tập trung của mình.

Again, an analogous process goes forward in the mental body. Old forms disappear before the clear light in which the spiritual man is working and as the Old Commentary puts it:

Một lần nữa, một tiến trình tương đồng diễn ra trong thể trí. Các hình tướng cũ biến mất trước ánh sáng trong trẻo nơi con người tinh thần đang làm việc, và như Cổ Luận diễn tả:

“One glance the soul doth cast upon the forms of mind. A ray of light streams out and darkness disappears; distortions and evil forms fade out, and all the little fires die out; the lesser lights are no more seen.

“Linh hồn phóng một thoáng nhìn lên các hình tướng của trí. Một tia sáng tuôn ra và bóng tối biến mất; những biến dạng và các hình tướng xấu ác phai tàn, và mọi ngọn lửa nhỏ đều tắt; các ánh sáng nhỏ hơn không còn được thấy nữa.

“The eye through light awakens into life the needed modes of Being. To the disciple this will carry knowledge. To the ignorant no sense is seen for a sense lacks.”

“Con mắt, nhờ ánh sáng, đánh thức vào sự sống những phương thức cần thiết của Bản Thể. Đối với đệ tử, điều này sẽ mang lại tri thức. Đối với kẻ vô minh, không thấy ý nghĩa nào, vì thiếu một giác quan.”

The elemental of the air symbolically understood is that substratum of energy which works through the forms of the etheric body, which is dealt with through the breath, and handled through the science of pranayama. This elemental form is the intricate etheric structure, the nadis and centres, and all advanced students know well how these are controlled by the focused attention of the soul in contemplation, acting through the head centre, focused in the region of the third eye and swept into right and specific activity by an act of the will. In the above sentence I have concentrated the formula for all magical work on the physical plane. It is through the etheric body and the force, directed through one or other of the centres, that the soul carries on the work in magic.

Hành khí của khí, hiểu theo nghĩa biểu tượng, là nền tảng năng lượng hoạt động qua các hình tướng của thể dĩ thái, được đề cập đến qua hơi thở, và được xử lý bằng khoa học pranayama. Hình tướng hành khí này là cấu trúc dĩ thái phức tạp, các kinh mạch và các trung tâm, và mọi đạo sinh cao cấp đều biết rõ những điều này được kiểm soát bởi sự chú tâm tập trung của linh hồn trong chiêm ngưỡng, tác động qua trung tâm đầu, tập trung tại vùng con mắt thứ ba và được đưa vào hoạt động đúng đắn, chuyên biệt bằng một hành vi của ý chí. Trong câu trên, tôi đã cô đọng công thức cho mọi công việc huyền thuật trên cõi hồng trần. Chính qua thể dĩ thái và mãnh lực, được hướng dẫn qua một trong các trung tâm, mà linh hồn tiến hành công việc trong huyền thuật.

It is through the intense focusing of intention in the head and the turning of the attention through the third eye towards the centre to be used that the force finds its correct outlet. That force is made potent by the energising, directed intelligent will. Study these points, for in them you will find the clue to the magical work in your own life reconstruction, to the magical work of human reconstruction which certain adepts are carrying on, and to the magical work of the evolution of the divine plan which is the motivating power of the occult Hierarchy.

Chính nhờ sự tập trung mãnh liệt của ý định trong đầu và sự chuyển hướng chú tâm qua con mắt thứ ba về phía trung tâm sẽ được dùng mà mãnh lực tìm được lối thoát đúng đắn của nó. Mãnh lực ấy trở nên mạnh mẽ nhờ ý chí thông minh có định hướng và có khả năng tiếp năng lượng. Hãy nghiên cứu những điểm này, vì trong đó các bạn sẽ tìm thấy chìa khóa cho công việc huyền thuật trong việc tái kiến tạo đời sống của chính mình, cho công việc huyền thuật tái kiến tạo nhân loại mà một số chân sư đang tiến hành, và cho công việc huyền thuật của sự tiến hoá Thiên Cơ thiêng liêng, vốn là quyền năng thúc đẩy của Thánh Đoàn huyền bí.

Leave a Comment

Scroll to Top