Luận Về Chánh Thuật – Quy Luật 1-3 (Trang 51-121)

📘 Sách: Luận Về Chánh Thuật – Tác giả: Alice Bailey

RULE ONE

The Solar Angel collects himself, scatters not his force but, in meditation deep, communicates with his reflection.

Thái Dương Thiên Thần thu mình lại, không phân tán thần lực của Ngài mà, trong thiền định sâu sắc, giao tiếp với phản ảnh của Ngài.

Some Basic Assumptions

[53]

[53]

We are entering upon a course of study wherein the entire tendency will be to throw the student back upon himself, and thus upon that larger self which has only, in most cases, made its presence felt at rare and highly emotional intervals. When the self is known and not simply felt and, when the realisation is mental as well as sensory, then truly can the aspirant be prepared for initiation.

Chúng ta đang bước vào một khóa học mà toàn bộ khuynh hướng sẽ là đưa đạo sinh trở về với chính mình, và do đó trở về với Bản Ngã rộng lớn hơn ấy, vốn trong đa số trường hợp chỉ làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận vào những khoảng hiếm hoi và đầy cảm xúc mạnh. Khi bản ngã được nhận biết chứ không chỉ được cảm nhận, và khi sự chứng nghiệm vừa thuộc trí tuệ vừa thuộc cảm quan, bấy giờ người chí nguyện mới thật sự có thể được chuẩn bị cho điểm đạo.

I would like to point out that I am basing my words upon certain basic assumptions, which for the sake of clarity, I want briefly to state.

Tôi muốn nêu rõ rằng tôi đặt lời mình trên một số giả định căn bản, và vì sự sáng tỏ, tôi muốn trình bày vắn tắt các giả định ấy.

Firstly, that the student is sincere in his aspiration, and is determined to go forward no matter what may be the reaction of and upon the lower self. Only those who can clearly differentiate between the two aspects of their nature, the real self and the illusory self, can work intelligently. This has been well expressed in the Yoga Sutras of Patanjali.

Thứ nhất, đạo sinh chân thành trong khát vọng của mình, và quyết tâm tiến tới bất kể phản ứng của phàm ngã sẽ ra sao và tác động lên phàm ngã thế nào. Chỉ những ai có thể phân biệt rõ ràng giữa hai phương diện của bản chất mình, bản ngã chân thật và bản ngã ảo tưởng, mới có thể làm việc một cách thông minh. Điều này đã được diễn đạt rất hay trong Kinh Yoga của Patanjali.

“Experience (of the pairs of opposites) comes from the inability of the soul to distinguish between the personal self, and the purusa (or spirit). The objective forms exist for the use and experience of the spiritual man. By meditation upon this arises the intuitive perception of the spiritual man.” Book III.35.

“Kinh nghiệm về các cặp đối cực phát sinh từ sự bất lực của linh hồn trong việc phân biệt giữa bản ngã cá nhân và tinh thần. Các hình tướng khách quan hiện hữu để con người tinh thần sử dụng và trải nghiệm. Nhờ tham thiền về điều này, tri giác trực giác của con người tinh thần phát sinh.” Quyển III.35.

The forty-eighth Sutra in the same book gives a statement covering a later stage of this discriminative realisation. This discerning quality is fostered by a re-collected attitude of mind, and by careful attention to the method of a constant review of the life. [54]

Câu kinh thứ bốn mươi tám trong cùng quyển đưa ra một phát biểu bao quát một giai đoạn về sau của sự chứng nghiệm phân biện này. Phẩm tính phân biện tinh thần ấy được nuôi dưỡng bằng một thái độ thể trí hồi tâm, và bằng sự chú tâm cẩn thận vào phương pháp thường xuyên ôn xét đời sống. [54]

Secondly, I am acting upon the assumption that all have lived long enough and battled sufficiently with deterrent forces of life to have enabled them to develop a fairly true sense of values. I assume they are endeavouring to live as those who know something of the true eternal values of the soul. They are not to be kept back by any happenings to the personality or by the pressure of time and circumstance, by age or physical disability. They have wisely learnt that enthusiastic rushing forward and a violent energetic progress has its drawbacks, and that a steady, regular, persistent endeavour will carry them further in the long run. Spasmodic spurts of effort and temporary pressure peter out into disappointment and a weighty sense of failure. It is the tortoise and not the hare that arrives first at the goal, though both achieve eventually.

Thứ hai, tôi hành động dựa trên giả định rằng tất cả các bạn đã sống đủ lâu và đã chiến đấu đủ nhiều với các mãnh lực cản trở của đời sống để phát triển một ý thức khá đúng về các giá trị. Tôi giả định rằng các bạn đang nỗ lực sống như những người biết đôi chút về các giá trị vĩnh cửu chân thật của linh hồn. Các bạn không được để bất cứ biến cố nào xảy đến với phàm ngã, hay áp lực của thời gian và hoàn cảnh, tuổi tác hoặc khuyết tật hồng trần, giữ mình lại. Các bạn đã học một cách khôn ngoan rằng sự lao tới đầy nhiệt huyết và một tiến trình mãnh liệt, đầy năng lực, cũng có những bất lợi của nó; và rằng một nỗ lực đều đặn, thường xuyên, bền bỉ, về lâu dài sẽ đưa các bạn đi xa hơn. Những đợt cố gắng bộc phát và áp lực tạm thời sẽ tàn lụi trong thất vọng và một cảm thức nặng nề về thất bại. Chính con rùa, chứ không phải con thỏ, đến đích trước, dù cuối cùng cả hai đều đạt tới.

Thirdly, I assume that those who set themselves seriously to benefit by the instructions in this book are prepared to carry out the simple requirements, to read what is written thoughtfully, to attempt to organise their minds and adhere to their meditation work. The organising of the mind is an all-day affair, and the application of the mind to the thing in hand throughout the daily avocations, is the best way to make study and meditation periods fruitful and bring about fitness for the vocation of disciple.

Thứ ba, tôi giả định rằng những ai nghiêm túc đặt mình vào việc hưởng lợi từ các huấn thị trong quyển sách này đều sẵn sàng thực hiện những yêu cầu đơn giản, đọc điều được viết ra một cách suy tư, cố gắng tổ chức thể trí của mình và kiên trì với công việc tham thiền. Việc tổ chức thể trí là công việc của cả ngày, và việc áp dụng thể trí vào việc đang làm trong suốt các bổn phận hằng ngày là cách tốt nhất để làm cho các thời kỳ học hỏi và tham thiền sinh hoa kết quả, đồng thời tạo nên sự thích hợp cho thiên chức của người đệ tử.

With these assumptions clearly understood, my words are for those who are seeking to measure up to the need for trained servers. I say not, you note, those who measure up. Intention and effort are considered by us of prime importance, and are the two main requisites for all disciples, initiates and masters, plus the power of persistence.

Khi những giả định này đã được thấu hiểu rõ ràng, lời tôi dành cho những ai đang tìm cách đáp ứng nhu cầu về những người phụng sự được huấn luyện. Các bạn lưu ý, tôi không nói là những người đã đáp ứng. Ý định và nỗ lực được chúng tôi xem là có tầm quan trọng hàng đầu, và là hai điều kiện chính yếu cho mọi đệ tử, điểm đạo đồ và Chân sư, cộng thêm quyền năng bền bỉ.

In our consideration of these rules, I am not so much interested in their application to the magical work itself as in training the magician, and in developing him from [55] the standpoint of his own character. Later we may get down to the application of knowledge to the outer manifestation of world forces, but now our objective is something different; I seek to interest the minds and brains (and therefore the lower self) of students in the higher self, thereby keying up their mental interest so that sufficient impetus is generated to enable them to go forward.

Trong khi xem xét các quy luật này, tôi không quan tâm nhiều đến việc áp dụng chúng vào chính công việc huyền thuật cho bằng việc huấn luyện nhà huyền thuật, và phát triển y từ [55] quan điểm Tính cách của chính y. Về sau, chúng ta có thể đi vào việc áp dụng tri thức vào sự biểu hiện bên ngoài của các mãnh lực thế giới; nhưng hiện nay mục tiêu của chúng ta là một điều khác. Tôi tìm cách khơi dậy nơi thể trí và bộ não, và do đó nơi phàm ngã, của các đạo sinh sự quan tâm đến chân ngã, nhờ vậy nâng cao hứng thú trí tuệ của họ đến mức tạo ra đủ xung lực để giúp họ tiến tới.

Also, let it not be forgotten that once the magic of the soul is grasped by the personality, that soul steadily dominates and can be trusted to carry forward the training of the man to fruition, unhampered (as you necessarily are) by thoughts of time and space, and by an ignorance of the past career of the soul concerned. It should always be borne in mind that, when dealing with individuals, the work required is twofold:

Cũng đừng quên rằng một khi huyền thuật của linh hồn được phàm ngã nắm bắt, linh hồn ấy sẽ đều đặn làm chủ và có thể được tin cậy để đưa việc huấn luyện con người đến chỗ viên mãn, không bị cản trở như các bạn tất yếu bị cản trở bởi những tư tưởng về thời gian và không gian, cũng như bởi sự không biết về tiến trình quá khứ của linh hồn liên hệ. Cần luôn ghi nhớ rằng khi đề cập đến các cá nhân, công việc cần làm có tính nhị phân:

1. To teach them how to link up the personal lower self with the overshadowing soul so that in the physical brain there is an assured consciousness as to the reality of that divine fact. This knowledge renders the hitherto assumed reality of the three worlds futile to attract and hold, and is the first step, out of the fourth, into the fifth kingdom.

1. Dạy họ cách liên kết phàm ngã cá nhân với linh hồn đang phủ bóng, để trong bộ não hồng trần có một tâm thức chắc chắn về thực tại của sự kiện thiêng liêng ấy. Tri thức này khiến cho thực tại của ba cõi thấp, vốn trước đây được giả định là có thật, trở nên vô ích trong việc thu hút và cầm giữ; và đây là bước đầu tiên, từ giới thứ tư, đi vào giới thứ năm.

2. To give such practical instruction as will enable the aspirant to—

2. Đưa ra những huấn thị thực tiễn giúp người chí nguyện có thể—

a. Understand his own nature. This involves some knowledge of the teaching of the past as to the constitution of man and an appreciation of the interpretations of modern Eastern and Western investigators.

a. Thấu hiểu bản chất của chính mình. Điều này bao hàm một ít tri thức về giáo huấn quá khứ liên quan đến cấu tạo của con người, và sự đánh giá đúng các diễn giải của những nhà khảo cứu hiện đại ở Đông phương và Tây phương.

b. Control the forces of his own nature and learn something of the forces with which he is surrounded.

b. Kiểm soát các mãnh lực thuộc bản chất của chính mình, và học biết đôi chút về các mãnh lực bao quanh y.

c. Enable him so to unfold his latent powers that he can deal with his own specific problems, stand on his own feet, handle his own life, solve his [56] own difficulties and become so strong and poised in spirit that he forces recognition of his fitness to be recognized as a worker in the plan of evolution, as a white magician, and as one of that band of consecrated disciples whom we call the “hierarchy of our planet”.

c. Giúp y khai mở những quyền năng tiềm tàng của mình đến mức y có thể xử lý các vấn đề riêng biệt của chính mình, tự đứng vững trên đôi chân của mình, điều khiển đời sống của mình, giải quyết [56] những khó khăn của mình, và trở nên mạnh mẽ, quân bình trong tinh thần đến mức y buộc người ta phải công nhận sự thích hợp của y để được nhận biết như một người hoạt động trong Thiên Cơ tiến hoá, như một nhà huyền thuật chánh đạo, và như một thành viên của đoàn thể các đệ tử thánh hiến mà chúng ta gọi là “Thánh đoàn của hành tinh chúng ta”.

Students of these matters are therefore begged to extend their concept of that hierarchy of souls so that they include all the exoteric fields of human life (political, social, economic, and religious). They are begged not to narrow down the concept as so many do, to only those who have brought their own little particular organisation into being, or to those who are working purely on the subjective side of life, and along what are reoognised by the conservative as the so-called religious or spiritual lines. All that tends to lift the status of humanity on any plane of manifestation is religious work and has a spiritual goal, for matter is but spirit on the lowest plane, and spirit, we are told, is but matter on the highest. All is spirit and these differentiations are but the products of the finite mind. Therefore, all workers and knowers of God in or out of fleshly bodies, and working in any field of divine manifestation form part of the planetary hierarchy and are integral units in that great cloud of witnesses who are the “onlookers and observers”. They possess the power of spiritual insight or perception as well as objective or physical vision.

Vì vậy, các đạo sinh về những vấn đề này được khẩn thiết yêu cầu mở rộng quan niệm của mình về Thánh đoàn các linh hồn ấy, để họ bao gồm tất cả các lĩnh vực ngoại môn của đời sống nhân loại: chính trị, xã hội, kinh tế và tôn giáo. Họ được khẩn thiết yêu cầu đừng thu hẹp quan niệm ấy, như rất nhiều người vẫn làm, vào chỉ những ai đã tạo lập một tổ chức nhỏ bé riêng biệt của mình, hay vào những ai làm việc thuần túy ở mặt chủ quan của đời sống, và theo những đường lối mà người bảo thủ công nhận là những đường lối được gọi là tôn giáo hay tinh thần. Tất cả những gì có khuynh hướng nâng cao địa vị của nhân loại trên bất cứ cõi biểu hiện nào đều là công việc tôn giáo và có mục tiêu tinh thần; vì vật chất chỉ là tinh thần trên cõi thấp nhất, và tinh thần, như chúng ta được dạy, chỉ là vật chất trên cõi cao nhất. Tất cả đều là tinh thần, và những biến phân này chỉ là sản phẩm của thể trí hữu hạn. Vì vậy, tất cả những người hoạt động và những thức giả của Thượng đế, dù ở trong hay ngoài thân xác bằng thịt, và đang làm việc trong bất cứ lĩnh vực biểu hiện thiêng liêng nào, đều là một phần của Thánh đoàn hành tinh và là những đơn vị toàn vẹn trong đám mây lớn gồm các chứng nhân, những “người đứng nhìn và quan sát”. Họ có quyền năng của tuệ kiến hay tri giác tinh thần, cũng như thị giác khách quan hay hồng trần.

In studying Rule I we could summarize it simply yet profoundly under the following words: —

Khi nghiên cứu Quy Luật I, chúng ta có thể tóm lược nó một cách đơn giản nhưng sâu xa dưới những từ sau: —

1. Egoic Communication.

1. Giao tiếp chân ngã.

2. Cyclic Meditation.

2. Tham thiền theo chu kỳ.

3. Coordination, or At-one-ment.

3. Phối hợp, hay Hợp Nhất.

The rules start off in A Treatise on Cosmic Fire with a brief summary of the process and a statement as to the nature of the white magician.[57]

Các quy luật khởi đầu trong Luận về Lửa Vũ Trụ bằng một bản tóm lược ngắn gọn về tiến trình và một phát biểu về bản chất của nhà huyền thuật chánh đạo.[57]

I would like in this first consideration of our subject to enumerate briefly the facts given in the commentary so as to demonstrate to the aspirant how much is given him for his consideration and helping if he knows how to read and ponder upon that which he reads. The brief exegesis of Rule I gives the following statements:

Trong lần xem xét đầu tiên này về chủ đề của chúng ta, tôi muốn liệt kê vắn tắt những sự kiện được đưa ra trong phần bình giải, để chứng minh cho người chí nguyện thấy y đã được trao cho biết bao điều để suy xét và để giúp đỡ y, nếu y biết cách đọc và suy ngẫm về điều mình đọc. Phần chú giải ngắn của Quy Luật I đưa ra những phát biểu sau:

1. The white magician is one who is in touch with his soul.

1. Nhà huyền thuật chánh đạo là người tiếp xúc với linh hồn của mình.

2. He is receptive to and aware of the purpose and the plan of his soul.

2. Y tiếp nhận và nhận biết mục đích cùng Thiên Cơ của linh hồn mình.

3. He is capable of receiving impressions from the realm of spirit and of registering them in his physical brain.

3. Y có khả năng tiếp nhận các ấn tượng từ cõi tinh thần và ghi nhận chúng trong bộ não hồng trần của mình.

4. It is stated also that white magic—

4. Cũng có phát biểu rằng Chánh Thuật—

a. Works from above downwards.

a. Hoạt động từ trên xuống dưới.

b. Is the result of solar vibration, and therefore of egoic energy.

b. Là kết quả của rung động thái dương, và do đó của năng lượng chân ngã.

c. Is not an effect of the vibration of the form side of life, being divorced from emotion and mental impulse.

c. Không phải là hiệu quả của rung động thuộc phía hình tướng của đời sống, vì tách khỏi cảm xúc và xung lực trí tuệ.

5. The downflow of energy from the soul is the result of

5. Dòng năng lượng tuôn xuống từ linh hồn là kết quả của

a. Constant internal re-collectedness.

a. Sự hồi tâm nội tại liên tục.

b. Concentrated one-pointed communication by the soul with the mind and the brain.

b. Sự giao tiếp tập trung, nhất tâm, của linh hồn với thể trí và bộ não.

c. Steady meditation upon the plan of evolution.

c. Sự tham thiền đều đặn về Thiên Cơ tiến hoá.

6. The soul is, therefore, in deep meditation during the whole cycle of physical incarnation, which is all that concerns the student here.

6. Vì vậy, linh hồn ở trong thiền định sâu suốt toàn bộ chu kỳ lâm phàm hồng trần, và đây là tất cả những gì liên hệ đến đạo sinh ở đây.

7. This meditation is rhythmic and cyclic in nature as is all else in the cosmos. The soul breathes and its form lives thereby.

7. Sự tham thiền này có bản chất nhịp nhàng và theo chu kỳ, như mọi điều khác trong vũ trụ. Linh hồn thở, và nhờ đó hình tướng của nó sống.

8. When the communication between the soul and its instrument is conscious and steady, the man becomes a white magician.

8. Khi sự giao tiếp giữa linh hồn và khí cụ của nó trở nên hữu thức và đều đặn, con người trở thành một nhà huyền thuật chánh đạo.

9. Therefore workers in white magic are invariably, and through the very nature of things, advanced human beings, for it takes many cycles of lives to train a magician.

9. Vì vậy, những người hoạt động trong Chánh Thuật luôn luôn, và do chính bản chất của sự việc, là những con người tiến bộ, vì phải mất nhiều chu kỳ sống mới huấn luyện được một nhà huyền thuật.

10. The soul dominates its form through the medium of the sutratma or life thread, and (through it) vitalises its triple instrument (mental, emotional and physical) and thus sets up a communication with the [58] brain. Through the brain, consciously controlled, the man is galvanised into intelligent activity on the physical plane.

10. Linh hồn làm chủ hình tướng của mình qua trung gian của sinh mệnh tuyến, hay Sợi dây Sự Sống, và nhờ đó tiếp sinh lực cho khí cụ tam phân của nó, tức thể trí, thể cảm xúc và thể xác; như vậy thiết lập một sự giao tiếp với [58] bộ não. Qua bộ não được kiểm soát một cách hữu thức, con người được kích hoạt vào hoạt động thông minh trên cõi hồng trần.

The above is a brief analysis of the first rule for magic and I would like to suggest that in the future as the students meditate on the rules that they make such an analysis themselves. If they do this during their consideration of each rule they will approach the whole matter with greater interest and knowledge. They will also save themselves much looking back and reference.

Trên đây là một phân tích ngắn về quy luật thứ nhất dành cho huyền thuật, và tôi muốn đề nghị rằng trong tương lai, khi các đạo sinh tham thiền về các quy luật, họ hãy tự mình thực hiện một phân tích như thế. Nếu họ làm điều này trong khi xem xét từng quy luật, họ sẽ tiếp cận toàn bộ vấn đề với sự quan tâm và tri thức lớn hơn. Họ cũng sẽ tránh được nhiều việc phải quay lại và tra cứu.

It will be seen from a consideration of the above analysis that a very clear summation is given and that the student is started in his study of magic with a brief understanding of the past situation, his equipment and the method of approach. Let us realize from the start the simplicity of the idea intended to be conveyed by my remarks hitherto. Just as in the past the instrument and its relation to the outer world has been the paramount fact in the experience of the spiritual man, so now it is possible for a readjustment to take place wherein the outstanding fact will be the spiritual man, the solar angel or soul. It will also be realised that his relationship (through the form side) will be to the inner as well as the outer worlds. Man has included in his relation only the form side of the field of average human evolution.

Từ việc xem xét phân tích trên, người ta sẽ thấy rằng một bản tổng kết rất rõ ràng đã được đưa ra, và đạo sinh được khởi đầu việc nghiên cứu huyền thuật với một sự thấu hiểu ngắn gọn về tình trạng quá khứ, trang bị của y và phương pháp tiếp cận. Ngay từ đầu, chúng ta hãy nhận ra tính đơn giản của ý tưởng mà những nhận xét của tôi từ trước đến nay muốn truyền đạt. Cũng như trong quá khứ khí cụ và mối liên hệ của nó với thế giới bên ngoài là sự kiện tối quan trọng trong kinh nghiệm của con người tinh thần, thì nay một sự điều chỉnh lại có thể diễn ra, trong đó sự kiện nổi bật sẽ là con người tinh thần, Thái dương Thiên Thần hay linh hồn. Người ta cũng sẽ nhận ra rằng mối liên hệ của y, thông qua phía hình tướng, sẽ hướng đến các thế giới bên trong cũng như bên ngoài. Con người chỉ mới bao gồm trong mối liên hệ của mình phía hình tướng của trường tiến hoá nhân loại trung bình.

He has used it and has been dominated by it. He has also suffered from it and consequently in time revolted, through utter satiety, from all that pertains to the material world. Dissatisfaction, disgust, distaste, and a deep fatigue are characteristic very frequently of those who are on the verge of discipleship. For what is a disciple? He is one who seeks to learn a new rhythm, to enter a new field of experience, and to follow the steps of that advanced humanity who have trodden ahead of him the path, leading from darkness to light, from the unreal to the real. He has tasted the joys of life in the [59] world of illusion and has learnt their powerlessness to satisfy and hold him. Now he is in a state of transition between the new and the old states of being. He is vibrating between the condition of soul awareness and form awareness. He is “seeing double”.

Y đã sử dụng nó và đã bị nó chi phối. Y cũng đã chịu đau khổ vì nó, và do đó, theo thời gian, qua sự no chán hoàn toàn, đã nổi dậy chống lại tất cả những gì thuộc về thế giới vật chất. Sự bất mãn, ghê chán, chán ngấy và một mệt mỏi sâu xa rất thường là đặc trưng của những ai đang ở ngưỡng cửa địa vị đệ tử. Vì đệ tử là gì? Y là người tìm cách học một nhịp điệu mới, bước vào một trường kinh nghiệm mới, và đi theo bước chân của nhân loại tiến bộ đã đi trước y trên con đường dẫn từ bóng tối đến ánh sáng, từ điều không thật đến điều thật. Y đã nếm trải những niềm vui của đời sống trong [59] thế giới ảo tưởng, và đã học biết sự bất lực của chúng trong việc thỏa mãn và cầm giữ y. Nay y đang ở trong một trạng thái chuyển tiếp giữa các trạng thái hiện tồn mới và cũ. Y rung động giữa tình trạng nhận biết linh hồn và nhận biết hình tướng. Y đang “nhìn đôi”.

His spiritual perception grows slowly and surely as the brain becomes capable of illumination from the soul, via the mind. As the intuition develops, the radius of awareness grows and new fields of knowledge unfold.

Tri giác tinh thần của y tăng trưởng chậm rãi và chắc chắn khi bộ não trở nên có khả năng nhận sự soi sáng từ linh hồn, qua thể trí. Khi trực giác phát triển, bán kính nhận biết tăng lên và những lĩnh vực tri thức mới khai mở.

The first field of knowledge receiving illumination might be described as comprising the totality of forms to be found in the three worlds of human endeavour, etheric, astral and mental. The would-be disciple, through this process, becomes aware of his lower nature and begins to realize the extent of his imprisonment and (as Patanjali puts it) “the modifications of the versatile psychic nature.” The hindrances to achievement and the obstacles to progress are revealed to him and his problem becomes specific. Frequently then he reaches the position in which Arjuna found himself, confronted by enemies who are those of his own household, confused as to his duty and discouraged as he seeks to balance himself between the pairs of opposites. His prayer then should be the famous prayer of India, uttered by the heart, comprehended by the head, and supplemented by an ardent life of service to humanity.

Lĩnh vực tri thức đầu tiên nhận được sự soi sáng có thể được mô tả là bao gồm toàn thể các hình tướng có trong ba cõi giới của nỗ lực nhân loại: dĩ thái, cảm dục và cõi trí. Qua tiến trình này, người muốn làm đệ tử trở nên nhận biết bản chất thấp của mình và bắt đầu nhận ra mức độ giam hãm của mình, cũng như “những biến thái của bản chất thông linh linh hoạt”, như Patanjali diễn đạt. Những chướng ngại đối với thành tựu và những vật cản đối với tiến bộ được mặc khải cho y, và vấn đề của y trở nên cụ thể. Khi đó, y thường đạt đến vị thế mà Arjuna đã gặp: đối diện với những kẻ thù vốn là người trong chính nhà mình, bối rối về bổn phận và nản lòng khi tìm cách giữ quân bình giữa các cặp đối cực. Bấy giờ lời cầu nguyện của y nên là lời cầu nguyện nổi tiếng của Ấn Độ, được thốt ra bằng trái tim, được thấu hiểu bằng đầu óc, và được bổ sung bằng một đời sống phụng sự nhân loại nồng nhiệt.

“Unveil to us the face of the true spiritual sun,

“Xin vén mở cho chúng con khuôn mặt của mặt trời tinh thần chân thật,

Hidden by a disk of golden light,

Đang bị che khuất bởi một đĩa ánh sáng vàng,

That we may know the truth and do our whole duty

Để chúng con có thể biết chân lý và làm trọn bổn phận của mình

As we journey to Thy sacred feet.”

Khi chúng con hành trình đến đôi chân thiêng liêng của Ngài.”

As he perseveres and struggles, surmounts his problems and brings his desires and thoughts under control, the second field of knowledge is revealed—knowledge of the self in the spiritual body, knowledge of the ego as it expresses itself through the medium of the causal body, [60] the Karana Sarira, and awareness of that source of spiritual energy which is the motivating impulse behind the lower manifestation. The “disk of golden light” is pierced; the true sun is seen; the path is found and the aspirant struggles forward into ever clearer light.

Khi y kiên trì và tranh đấu, vượt qua các vấn đề của mình và đưa những ham muốn cùng tư tưởng của mình vào vòng kiểm soát, lĩnh vực tri thức thứ hai được mặc khải — tri thức về bản ngã trong thể tinh thần, tri thức về chân ngã khi nó biểu lộ qua trung gian của thể nguyên nhân, [60] và sự nhận biết về nguồn năng lượng tinh thần là xung lực thúc đẩy đằng sau sự biểu hiện thấp. “Đĩa ánh sáng vàng” bị xuyên thủng; mặt trời chân thật được nhìn thấy; con đường được tìm ra và người chí nguyện phấn đấu tiến tới trong ánh sáng ngày càng rõ ràng hơn.

As the knowledge of the self and as the consciousness of that which the self sees, hears, knows and contacts is stabilized, the Master is found; his group of disciples is contacted; the plan for the immediate share of work he must assume is realized and gradually worked out on the physical plane. Thus the activity of the lower nature decreases, and the man little by little enters into conscious contact with his Master and his group. But this follows upon the “lighting of the lamp”—the aligning of the lower and higher and the downflow of illumination to the brain.

Khi tri thức về bản ngã và tâm thức về những gì bản ngã thấy, nghe, biết và tiếp xúc được ổn định, Chân sư được tìm thấy; nhóm đệ tử của Ngài được tiếp xúc; Thiên Cơ cho phần công việc trước mắt mà y phải đảm nhận được nhận ra và dần dần được thực hiện trên cõi hồng trần. Như vậy hoạt động của bản chất thấp giảm dần, và con người từng chút một bước vào sự tiếp xúc hữu thức với Chân sư của mình và nhóm của Ngài. Nhưng điều này theo sau “việc thắp sáng ngọn đèn” — tức sự chỉnh hợp của cái thấp và cái cao, cùng dòng soi sáng tuôn xuống bộ não.

It is essential that these points should be grasped and studied by all aspirants so that they may take the needed steps and develop the desired awareness. Until this is done, the Master, no matter how willing He may be, is powerless, and can take no steps to admit a man to His group and thus take him into His auric influence, making him an outpost of His consciousness. Every step of the way has to be carried out by a man himself, and there is no short or easy road out of darkness into light.

Điều thiết yếu là mọi người chí nguyện phải nắm bắt và nghiên cứu những điểm này, để họ có thể thực hiện các bước cần thiết và phát triển sự nhận biết mong muốn. Cho đến khi điều này được thực hiện, Chân sư, dù Ngài có thiện chí đến đâu, cũng bất lực và không thể thực hiện bước nào để thu nhận một người vào nhóm của Ngài, và như vậy đưa y vào ảnh hưởng hào quang của Ngài, khiến y trở thành một tiền đồn của tâm thức Ngài. Mỗi bước trên đường đều phải do chính con người thực hiện, và không có con đường ngắn hay dễ dàng nào ra khỏi bóng tối để đi vào ánh sáng.

The Way of the Disciple

The white magician is ever one who, through conscious alignment with his ego, with his “angel”, is receptive to his plans and purposes, and therefore capable of receiving the higher impression. We must remember that while magic works from above downwards, and is the result of solar vibration, and not the impulses emanating from one or the other of the lunar pitris, the downflow of the impressing energy from the solar pitri is the result of his internal recollectedness, the indrawing of his [61] forces, prior to sending them concentratedly to his shadow, man, and his steady meditation upon the purpose and the plan. It may be of use to the student if he here remembers that the ego (as well as the Logos) is in deep meditation during the whole cycle of physical incarnation. This meditation is cyclic in nature, the pitri involved sending out to his “reflection” rhythmic streams of energy, which streams are recognised by the man concerned as his “high impulses,” his dreams and aspirations. Therefore, it will be apparent why workers in white magic are ever advanced and spiritual men, for the “reflection” is seldom responsive to the ego or the solar angel until many cycles of incarnation have transpired. The solar pitri communicates with his “shadow” or reflection by means of the sutratma, which passes down through the bodies to a point of entrance in the physical brain, if I might so express it, but the man, as yet, cannot focus or see clearly in any direction.

Nhà huyền thuật chánh đạo luôn là người, nhờ sự chỉnh hợp hữu thức với chân ngã của mình, với “thiên thần” của mình, mà tiếp nhận các Thiên Cơ và mục đích của Ngài, và do đó có khả năng tiếp nhận ấn tượng cao hơn. Chúng ta phải nhớ rằng, dù huyền thuật hoạt động từ trên xuống dưới, và là kết quả của rung động thái dương chứ không phải các xung lực phát xuất từ một thái âm tổ phụ này hay khác, dòng năng lượng gây ấn tượng tuôn xuống từ thái dương tổ phụ là kết quả của sự hồi tâm nội tại của Ngài, của việc thu vào các [61] mãnh lực của Ngài trước khi gửi chúng một cách tập trung đến cái bóng của Ngài, tức con người, và của sự tham thiền đều đặn của Ngài về mục đích và Thiên Cơ. Có thể hữu ích cho đạo sinh nếu ở đây y nhớ rằng chân ngã, cũng như Thượng đế, ở trong thiền định sâu suốt toàn bộ chu kỳ lâm phàm hồng trần. Sự tham thiền này có bản chất theo chu kỳ, vị tổ phụ liên hệ gửi đến “phản ảnh” của mình những dòng năng lượng nhịp nhàng, và những dòng này được con người liên hệ nhận biết như “các xung lực cao” của mình, các giấc mơ và khát vọng của mình. Vì vậy, sẽ thấy rõ vì sao những người hoạt động trong Chánh Thuật luôn là những người tiến bộ và tinh thần, bởi “phản ảnh” hiếm khi đáp ứng với chân ngã hay Thái dương Thiên Thần cho đến khi nhiều chu kỳ lâm phàm đã trôi qua. Thái dương tổ phụ giao tiếp với “cái bóng” hay phản ảnh của mình bằng sinh mệnh tuyến, vốn đi xuống xuyên qua các thể đến một điểm vào trong bộ não hồng trần, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy; nhưng con người, cho đến lúc này, vẫn chưa thể tập trung hay nhìn rõ theo bất cứ hướng nào.

If he looks backward he can see only the fogs and miasmas of the planes of illusion, and fails to be interested. If he looks forward he sees a distant light which attracts him, but he cannot as yet see that which the light reveals. If he looks around, he sees but shifting forms and the cinematograph of the form side of life. If he looks within, he sees the shadows cast by the light, and becomes aware of much impedimenta which must be discarded before the light he sees in the distance can be approached, and then enter within him. Then he can know himself as light itself, and walk in that light and transmit it likewise to others.

Nếu y nhìn về phía sau, y chỉ có thể thấy những màn sương và khí độc của các cõi ảo tưởng, và không còn hứng thú. Nếu y nhìn về phía trước, y thấy một ánh sáng xa xăm thu hút y, nhưng y chưa thể thấy điều mà ánh sáng ấy mặc khải. Nếu y nhìn chung quanh, y chỉ thấy những hình tướng biến dịch và cuộn phim của phía hình tướng của đời sống. Nếu y nhìn vào bên trong, y thấy những bóng đổ do ánh sáng tạo ra, và nhận biết nhiều trở ngại phải được loại bỏ trước khi ánh sáng y thấy ở xa có thể được tiếp cận, rồi đi vào trong y. Khi ấy y có thể biết mình chính là ánh sáng, bước đi trong ánh sáng ấy và cũng truyền nó cho người khác.

It is perhaps well to remember that the stage of discipleship is in many ways the most difficult part of the entire ladder of evolution. The solar angel is unceasingly in deep meditation. The impulses of energy, emanating from him are increasing in vibratory rate and are becoming more and more powerful. The energy is [62] affecting more and more the forms through which the soul is seeking expression, and endeavouring to control.

Có lẽ nên nhớ rằng giai đoạn địa vị đệ tử, theo nhiều cách, là phần khó khăn nhất của toàn bộ nấc thang tiến hoá. Thái dương Thiên Thần không ngừng ở trong thiền định sâu. Các xung lực năng lượng phát xuất từ Ngài đang gia tăng tốc độ rung động và ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn. Năng lượng ấy [62] ngày càng tác động nhiều hơn đến các hình tướng qua đó linh hồn đang tìm cách biểu lộ và nỗ lực kiểm soát.

This brings me to the consideration of the seventh point I made in my earlier analysis of Rule I. I said, “The soul’s meditation is rhythmic and cyclic in its nature as is all else in the cosmos. The soul breathes and its form lives thereby”. The rhythmic nature of the soul’s meditation must not be overlooked in the life of the aspirant. There is an ebb and flow in all nature, and in the tides of the ocean we have a wonderful picturing of an eternal law. As the aspirant adjusts himself to the tides of the soul life he begins to realise that there is ever a flowing in, a vitalising and a stimulating which is followed by a flowing out as sure and as inevitable as the immutable laws of force. This ebb and flow can be seen functioning in the processes of death and incarnation. It can be seen also over the entire process of a man’s lives, for some lives can be seen to be apparently static and uneventful, slow and inert from the angle of the soul’s experience, whilst others are vibrant, full of experience and of growth. This should be remembered by all of you who are workers when you are seeking to help others to live rightly. Are they on the ebb or are they being subjected to the flow of the soul energy? Are they passing through a period of temporary quiescence, preparatory to greater impulse and effort, so that the work to be done must be that of strengthening and stabilising in order to enable them to “stand in spiritual being”, or are they being subjected to a cyclic inflow of forces? In this case the worker must seek to aid in the direction and utilisation of the energy which (if misdirected) will eventuate in wrecked lives but which when wisely utilised will produce a full and fruitful service.

Điều này đưa tôi đến việc xem xét điểm thứ bảy mà tôi đã nêu trong phân tích trước đây về Quy Luật I. Tôi đã nói: “Sự tham thiền của linh hồn có bản chất nhịp nhàng và theo chu kỳ, như mọi điều khác trong vũ trụ. Linh hồn thở, và nhờ đó hình tướng của nó sống”. Bản chất nhịp nhàng của sự tham thiền của linh hồn không được bỏ qua trong đời sống của người chí nguyện. Trong toàn thể thiên nhiên có sự lên xuống, và trong thủy triều của đại dương, chúng ta có một hình ảnh kỳ diệu về một định luật vĩnh cửu. Khi người chí nguyện tự điều chỉnh theo thủy triều của đời sống linh hồn, y bắt đầu nhận ra rằng luôn có một dòng chảy vào, một sự tiếp sinh lực và kích thích, rồi sau đó là một dòng chảy ra chắc chắn và tất yếu như các định luật bất biến của mãnh lực. Sự lên xuống này có thể được thấy đang vận hành trong các tiến trình của sự chết và lâm phàm. Nó cũng có thể được thấy trong toàn bộ tiến trình các kiếp sống của một con người; vì có những kiếp sống dường như tĩnh tại và không biến cố, chậm chạp và trì trệ xét từ góc độ kinh nghiệm của linh hồn, trong khi những kiếp khác thì rung động mạnh, đầy kinh nghiệm và tăng trưởng. Tất cả các bạn là những người hoạt động nên nhớ điều này khi tìm cách giúp người khác sống đúng. Họ đang ở thời kỳ suy triều hay đang chịu tác động của dòng chảy năng lượng linh hồn? Họ đang trải qua một giai đoạn tạm thời yên lặng, chuẩn bị cho một xung lực và nỗ lực lớn hơn, để công việc cần làm phải là củng cố và ổn định nhằm giúp họ “đứng vững trong hiện tồn tinh thần”; hay họ đang chịu tác động của một dòng mãnh lực tuôn vào theo chu kỳ? Trong trường hợp này, người hoạt động phải tìm cách trợ giúp trong việc định hướng và sử dụng năng lượng ấy; nếu bị hướng sai, nó sẽ dẫn đến những đời sống đổ vỡ, nhưng khi được sử dụng khôn ngoan, nó sẽ tạo ra một sự phụng sự đầy đủ và phong phú.

The above thoughts can also be applied by the student of humanity to the great racial cycles and much of interest will be discovered. Again, and of more vital importance [63] to us, these cyclic impulses in the life of the disciple are of a greater frequency and speed and forcefulness than in the life of the average man. They alternate with a distressing rapidity. The hill and valley experience of the mystic is but one way of expressing this ebb and flow. Sometimes the disciple is walking in the sunlight and at other times in the dark; sometimes he knows the joy of full communion and again all seems dull and sterile; his service is on occasion a fruitful and satisfying experience and he seems to be able to really aid; at other times he feels that he has naught to offer and his service is arid and apparently without results. All is clear to him some days and he seems to stand on the mountain top looking out over a sunlit landscape, where all is clear to his vision. He knows and feels himself to be a son of God. Later, however, the clouds seem to descend and he is sure of nothing, and seems to know nothing. He walks in the sunlight and is almost overpowered by the brilliance and heat of the solar rays, and wonders how long this uneven experience and the violent alternation of these opposites is to go on.

Những tư tưởng trên cũng có thể được đạo sinh về nhân loại áp dụng vào các đại chu kỳ nhân loại, và nhiều điều thú vị sẽ được khám phá. Một lần nữa, và có tầm quan trọng thiết yếu hơn [63] đối với chúng ta, những xung lực theo chu kỳ này trong đời sống của người đệ tử có tần suất, tốc độ và sức mạnh lớn hơn trong đời sống của người trung bình. Chúng thay phiên nhau với một sự nhanh chóng gây đau khổ. Kinh nghiệm đỉnh núi và thung lũng của nhà thần bí chỉ là một cách diễn đạt sự lên xuống này. Có lúc người đệ tử bước đi trong ánh mặt trời, và lúc khác trong bóng tối; có lúc y biết niềm hoan hỉ của sự hiệp thông trọn vẹn, rồi lại có lúc tất cả dường như u ám và cằn cỗi; sự phụng sự của y có khi là một kinh nghiệm phong phú và thỏa mãn, và y dường như thật sự có thể trợ giúp; lúc khác, y cảm thấy mình không có gì để hiến dâng, và sự phụng sự của y khô cằn, dường như không có kết quả. Có những ngày mọi sự đều rõ ràng đối với y, và y dường như đứng trên đỉnh núi nhìn ra một phong cảnh ngập nắng, nơi mọi sự đều sáng tỏ trước tầm nhìn của y. Y biết và cảm thấy mình là Con của Thượng đế. Tuy nhiên, về sau, mây dường như kéo xuống, và y không chắc chắn về điều gì, dường như chẳng biết gì. Y bước đi trong ánh mặt trời và gần như bị choáng ngợp bởi vẻ rực rỡ và sức nóng của các tia thái dương, rồi tự hỏi kinh nghiệm không đều này và sự luân phiên dữ dội của các đối cực ấy sẽ còn tiếp diễn bao lâu.

Once however that he grasps the fact he is watching the effect of the cyclic impulses and the effect of the soul’s meditation upon his form nature, the meaning becomes clearer and he realises that it is that form aspect which is failing in its response, and re-acting to energy with unevenness. He then learns that once he can live in the soul consciousness and attain that ‘high altitude’ (if I might so express it) at will, the fluctuations of the form life will not touch him. He then perceives the narrow-edged razor path which leads from the plane of physical life to the soul realm, and finds that when he can tread it with steadiness it leads him out of the ever changing world of the senses into the clear light of day and into the world of reality.

Tuy nhiên, một khi y nắm bắt được sự kiện rằng y đang quan sát hiệu quả của các xung lực theo chu kỳ và hiệu quả của sự tham thiền của linh hồn trên bản chất hình tướng của mình, ý nghĩa trở nên rõ ràng hơn; và y nhận ra rằng chính phương diện hình tướng ấy đang thất bại trong sự đáp ứng của nó, và đang phản ứng với năng lượng một cách không đều. Khi đó y học biết rằng một khi y có thể sống trong tâm thức linh hồn và đạt đến “độ cao” ấy theo ý muốn, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy, những dao động của đời sống hình tướng sẽ không chạm đến y. Khi đó y nhận ra con đường lưỡi dao hẹp dẫn từ cõi đời sống hồng trần đến cõi giới linh hồn, và thấy rằng khi y có thể bước trên đó một cách vững vàng, nó dẫn y ra khỏi thế giới giác quan luôn biến đổi để đi vào ánh sáng ban ngày trong trẻo và vào thế giới của thực tại.

The form side of life then becomes to him simply a [64] field for service and not a field of sensuous perception. Let the student ponder upon this last sentence. Let him aim to live as a soul. Then the cyclic impulses, emanating from the soul, are known to be impulses for which he himself is responsible and which he has sent forth; he then knows himself to be the initiating cause and is not subject to the effects.

Khi ấy, phía hình tướng của đời sống đối với y chỉ còn là một [64] lĩnh vực để phụng sự, chứ không phải là một lĩnh vực của tri giác cảm quan. Hãy để đạo sinh suy ngẫm về câu cuối này. Hãy để y nhắm đến việc sống như một linh hồn. Khi đó các xung lực theo chu kỳ phát xuất từ linh hồn được nhận biết là những xung lực mà chính y chịu trách nhiệm và đã gửi ra; bấy giờ y biết mình là nguyên nhân khởi phát và không còn lệ thuộc vào các hiệu quả.

Looked at from another angle we get two factors, the breath and the form which the breath energises and drives into activity. Upon careful study, it becomes apparent that we have, for aeons of time, identified ourselves with the form; we have emphasised the effects of the imparted activity but have not understood the nature of the breath, nor known the nature of the One who breathes. Now in our work we are concerning ourselves with that One Who, breathing rhythmically, will drive the form into right action and right control. This is our objective and our goal. A right understanding is necessary nevertheless if we are to appreciate intelligently our task and its effects.

Nhìn từ một góc độ khác, chúng ta có hai yếu tố: hơi thở và hình tướng mà hơi thở tiếp năng lượng và thúc đẩy vào hoạt động. Khi nghiên cứu kỹ, điều trở nên hiển nhiên là qua vô số thời đại, chúng ta đã đồng hoá mình với hình tướng; chúng ta đã nhấn mạnh các hiệu quả của hoạt động được truyền vào nhưng chưa thấu hiểu bản chất của hơi thở, cũng chưa biết bản chất của Đấng đang thở. Nay trong công việc của mình, chúng ta đang liên hệ đến Đấng ấy, Đấng khi thở một cách nhịp nhàng sẽ thúc đẩy hình tướng vào hành động đúng và sự kiểm soát đúng. Đây là mục tiêu và đích đến của chúng ta. Tuy nhiên, một sự thấu hiểu đúng là cần thiết nếu chúng ta muốn đánh giá một cách thông minh nhiệm vụ của mình và các hiệu quả của nó.

Much more could be said on this rule but enough has been here given for the average applicant to discipleship to consider and upon which to base action. Most of us are average, are we not? If we regard ourselves otherwise, we divorce ourselves from others and become guilty of the sin of separateness—the one real sin.

Có thể nói thêm rất nhiều về quy luật này, nhưng những gì đã được đưa ra ở đây là đủ để người xin vào địa vị đệ tử ở mức trung bình xem xét và dựa vào đó mà hành động. Phần lớn chúng ta đều là người trung bình, phải vậy không? Nếu chúng ta tự xem mình khác đi, chúng ta tách mình khỏi người khác và phạm vào tội chia rẽ — tội lỗi thật sự duy nhất.

An appreciation of the above thoughts should build in the aspirant a realisation of the value of his meditation work, whilst the idea of a cyclic response to soul impulse lies back of the activities of a morning meditation, a noonday recollection, and an evening review. A larger ebb and flow is also indicated in the two aspects of the full moon and the new moon. Let this be borne in mind.

Sự đánh giá đúng các tư tưởng trên sẽ xây dựng trong người chí nguyện một nhận thức về giá trị của công việc tham thiền của y, trong khi ý tưởng về một sự đáp ứng theo chu kỳ đối với xung lực linh hồn nằm sau các hoạt động của tham thiền buổi sáng, sự hồi tâm giữa trưa, và việc ôn xét buổi tối. Một sự lên xuống rộng lớn hơn cũng được chỉ ra trong hai phương diện của trăng tròn và trăng non. Hãy ghi nhớ điều này.

May there be a full and steady play of cyclic force from the kingdom of spirit upon each one of us calling us forth into the realm of light, love and service and producing [65] a cyclic response from each one! May there be a constant interchange between those who teach and the disciple who seeks instruction!

Cầu mong có sự vận hành đầy đủ và đều đặn của mãnh lực theo chu kỳ từ giới tinh thần tác động lên mỗi người chúng ta, gọi chúng ta tiến vào cõi giới của ánh sáng, tình thương và phụng sự, và tạo ra [65] một sự đáp ứng theo chu kỳ từ mỗi người! Cầu mong có sự trao đổi liên tục giữa những người dạy và người đệ tử tìm cầu huấn thị!

Much preliminary work will have to be done. The disciple on the physical plane and the inner teacher (whether one of the Great Ones or the “Master within the Heart”) need to know each other somewhat, and to accustom themselves to each other’s vibration. Teachers on the inner planes have much to contend with owing to the slowness of the mental processes of students in physical bodies. But confidence and trust will set up the right vibration which will produce eventually accurate work. Lack of faith, of calmness, of application, and the presence of emotional unrest will hinder. Long patience those on the inner side need in dealing with all who must, for lack of other and better material, be utilized. Some physical injudiciousness may make the physical body non-receptive; some worry or care may cause the astral body to vibrate to a rhythm impossible for the right reception of the inner purpose; some prejudice, some criticism, some pride, may be present that will make the mental vehicle of no use. Aspirants to this difficult work must watch themselves with infinite care, and keep the inner serenity and peace and a mental pliability that will tend to make them of some use in the guarding and guiding of humanity.

Nhiều công việc sơ bộ sẽ phải được thực hiện. Người đệ tử trên cõi hồng trần và huấn sư bên trong, dù là một trong Các Đấng Cao Cả hay “Chân sư trong Tim”, cần biết nhau phần nào, và tập quen với rung động của nhau. Các huấn sư trên các cõi bên trong phải đối phó với nhiều điều do sự chậm chạp của các tiến trình trí tuệ nơi các đạo sinh trong thân xác hồng trần. Nhưng lòng tin và sự tín nhiệm sẽ thiết lập rung động đúng, cuối cùng tạo ra công việc chính xác. Thiếu đức tin, thiếu sự điềm tĩnh, thiếu chuyên cần, và sự hiện diện của bất ổn cảm xúc sẽ cản trở. Những vị ở phía bên trong cần có sự kiên nhẫn lâu dài khi làm việc với tất cả những ai, vì thiếu chất liệu khác và tốt hơn, phải được sử dụng. Một chút thiếu khôn ngoan về hồng trần có thể làm cho thể xác không tiếp nhận; một lo âu hay bận tâm nào đó có thể khiến thể cảm dục rung theo một nhịp điệu không thể tiếp nhận đúng mục đích bên trong; một định kiến, một sự phê bình, một lòng kiêu hãnh nào đó có thể hiện diện, khiến thể trí trở nên vô dụng. Những người chí nguyện với công việc khó khăn này phải tự quan sát mình với sự cẩn trọng vô hạn, và giữ sự tĩnh lặng cùng an bình bên trong, cũng như một sự mềm dẻo trí tuệ có khuynh hướng khiến họ phần nào hữu dụng trong việc gìn giữ và dẫn dắt nhân loại.

The following rules might therefore be given:

Vì vậy, có thể đưa ra các quy luật sau:

1. It is essential that there should be an endeavor to arrive at absolute purity of motive.

1. Điều thiết yếu là phải có nỗ lực đạt đến sự thuần khiết tuyệt đối của động cơ.

2. The ability to enter the silence of the high places will follow next. The stilling of the mind depends upon the law of rhythm. If you are vibrating in many directions and registering thoughts from all sides, this law will be unable to touch you. Balance and poise must be restored before equilibrium can be reached. The law of vibration and the study of atomic substance are closely [66] intertwined. When more is known about these atoms and their action, reaction and inter-action, then people will control their bodies scientifically, synchronizing the laws of vibration and of rhythm. They are the same and yet unlike. They are phases of the law of gravitation. The earth is itself an entity which, by the force of will, holds all things to itself. This is an obscure matter, little has been learned about it as yet. The inbreathing and outbreathing of the entity of the earth affects vibration potently, —that is the vibration of the physical plane matter. There is a connection also between this and the moon. Those members of humanity who are specially under lunar influence respond to this attraction more than any others, and they are difficult to use as transmitters. The silence that comes from the inner calm is the one to cultivate. Aspirants are urged to remember that the time will come when they too will form part of the group of teachers on the inner side of the veil. If then they have not learnt the silence that comes from strength and from knowledge, how will they bear the apparent lack of communication that they will then find exists between them and those on the outer side? Learn therefore, how to keep quiet or usefulness will be hampered by astral fretfulness when on the other side of death.

2. Tiếp theo sẽ là khả năng bước vào sự im lặng của những nơi cao. Việc làm lắng yên thể trí tùy thuộc vào định luật nhịp điệu. Nếu các bạn đang rung động theo nhiều hướng và ghi nhận tư tưởng từ mọi phía, định luật này sẽ không thể chạm đến các bạn. Sự quân bình và ổn định phải được phục hồi trước khi có thể đạt đến thế cân bằng. Định luật rung động và việc nghiên cứu chất liệu nguyên tử có liên hệ [66] mật thiết với nhau. Khi người ta biết nhiều hơn về các nguyên tử này và về tác động, phản tác động cùng tương tác của chúng, bấy giờ con người sẽ kiểm soát các thể của mình một cách khoa học, đồng bộ hóa các định luật rung động và nhịp điệu. Chúng là một mà cũng không giống nhau. Chúng là các phương diện của định luật hấp dẫn. Chính Trái Đất là một thực thể, bằng mãnh lực ý chí, giữ mọi sự lại với mình. Đây là một vấn đề mờ tối; cho đến nay người ta mới học biết rất ít về nó. Sự hít vào và thở ra của thực thể Trái Đất tác động mạnh mẽ đến rung động — tức rung động của vật chất cõi hồng trần. Cũng có một mối liên hệ giữa điều này và mặt trăng. Những thành viên của nhân loại đặc biệt chịu ảnh hưởng mặt trăng đáp ứng với sức hút này nhiều hơn bất cứ ai khác, và họ khó được dùng làm những người truyền dẫn. Sự im lặng phát sinh từ sự an tĩnh bên trong là điều cần được vun bồi. Những người chí nguyện được thôi thúc nhớ rằng sẽ đến lúc chính họ cũng sẽ trở thành một phần của nhóm huấn sư ở phía bên trong bức màn. Nếu khi đó họ chưa học được sự im lặng phát sinh từ sức mạnh và tri thức, họ sẽ chịu đựng thế nào tình trạng dường như thiếu giao tiếp mà khi ấy họ sẽ thấy tồn tại giữa họ và những người ở phía bên ngoài? Vì vậy, hãy học cách giữ yên lặng, nếu không sự hữu dụng sẽ bị cản trở bởi sự bồn chồn cảm dục khi ở phía bên kia của sự chết.

3. Remember always that lack of calm in the daily life prevents the teachers on egoic levels from reaching you. Endeavor therefore to remain quiescent as life unrolls, work, toil, strive, aspire, and hold the inner calm. Withdraw steadily into interior work and so cultivate a responsiveness with the higher planes. A perfect steadiness of inner poise is what the Masters need in those whom They seek to use. It is an inner poise that holds to the vision yet does its outer work on the physical plane with a concentrated physical brain attention which is in no way deviated by the inner receptiveness. It involves a dual activity. [67]

3. Hãy luôn nhớ rằng sự thiếu điềm tĩnh trong đời sống hằng ngày ngăn cản các huấn sư trên các cấp độ chân ngã chạm đến các bạn. Vì vậy, hãy cố gắng giữ an tĩnh khi đời sống diễn tiến; hãy làm việc, lao nhọc, phấn đấu, khát vọng, và giữ sự an tĩnh bên trong. Hãy đều đặn rút vào công việc nội tâm và nhờ đó vun bồi sự đáp ứng với các cõi cao hơn. Một sự vững vàng hoàn hảo của thế quân bình bên trong là điều các Chân sư cần nơi những người mà Các Ngài tìm cách sử dụng. Đó là một thế quân bình bên trong vẫn bám giữ tầm nhìn, nhưng đồng thời thực hiện công việc bên ngoài trên cõi hồng trần với sự chú tâm tập trung của bộ não hồng trần, không bị lệch hướng chút nào bởi khả năng tiếp nhận bên trong. Nó bao hàm một hoạt động kép. [67]

4. Learn to control thought. It is necessary to guard what you think. These are days when the race as a whole is becoming sensitive and telepathic and responsive to thought interplay. The time is approaching when thought will become public property, and others will sense what you think. Thought has, therefore, to be carefully guarded. Those who are contacting the higher truths and becoming sensitive to the Universal Mind must protect some of their knowledge from the intrusion of other minds. Aspirants must learn to inhibit certain thoughts, and prevent certain knowledge from leaking out into the public consciousness when in contact with their fellow men.

4. Hãy học kiểm soát tư tưởng. Cần phải canh giữ những gì các bạn nghĩ. Đây là những ngày mà nhân loại nói chung đang trở nên nhạy cảm, có tính viễn cảm và đáp ứng với sự tương tác tư tưởng. Thời điểm đang đến gần khi tư tưởng sẽ trở thành tài sản chung, và người khác sẽ cảm nhận được điều các bạn nghĩ. Vì vậy, tư tưởng phải được canh giữ cẩn thận. Những ai đang tiếp xúc với các chân lý cao hơn và trở nên nhạy cảm với Vũ Trụ Trí phải bảo vệ một phần tri thức của mình khỏi sự xâm nhập của những thể trí khác. Những người chí nguyện phải học cách ngăn giữ một số tư tưởng nhất định, và ngăn không cho một số tri thức rò rỉ vào tâm thức công cộng khi tiếp xúc với đồng loại.

It is of course of vital interest to appreciate the significance of the words “scatters not his force.” There are so many lines of activity into which the soul-inspired disciple may throw himself. Assurance as to varying lines of activity is not easy to reach and every aspirant knows perplexity. Let us put the problem in the form of a question, relegating it to the plane of every-day endeavour, as we are not yet in a position to comprehend in what way a soul can “scatter its forces” on the higher planes.

Dĩ nhiên, việc đánh giá đúng thâm nghĩa của những lời “không phân tán thần lực của Ngài” có tầm quan trọng thiết yếu. Có rất nhiều đường hoạt động mà người đệ tử được linh hồn gợi hứng có thể lao mình vào. Không dễ đạt đến sự chắc chắn về các đường hoạt động khác nhau, và mọi người chí nguyện đều biết sự bối rối. Chúng ta hãy đặt vấn đề dưới dạng một câu hỏi, đưa nó xuống cõi của nỗ lực hằng ngày, vì chúng ta chưa ở trong vị thế để thấu hiểu linh hồn có thể “phân tán các mãnh lực của mình” trên các cõi cao hơn theo cách nào.

What is the criterion whereby a man may know which out of several lines of activity is the right line to take? Is there, in other words, a revealing something which will enable a man unerringly to choose the right action and go the right way? The question has no reference to a choice existing between the path of spiritual endeavour and the way of the man of the world. It refers to right action when faced with a choice.

Đâu là tiêu chuẩn nhờ đó một người có thể biết trong số nhiều đường hoạt động, đâu là đường đúng để theo? Nói cách khác, có điều gì mặc khải giúp con người chọn đúng hành động một cách không sai lầm và đi đúng đường hay không? Câu hỏi này không liên quan đến sự chọn lựa giữa con đường nỗ lực tinh thần và con đường của người thế gian. Nó liên quan đến hành động đúng khi đứng trước một sự chọn lựa.

There is no question but that a man is faced, in his progress, with increasingly subtle distinctions. The crude discrimination between right and wrong which occupies the child soul is succeeded by the finer distinctions of right, or of more right, of high, or higher, and the [68] moral or spiritual values have to be faced with the most meticulous spiritual perception. In the stress and toil of life and in the constant pressure on each one from those who constitute their group, the complexity of the problem is very great.

Không còn nghi vấn gì rằng trong bước tiến của mình, con người phải đối diện với những phân biệt ngày càng tinh tế. Sự phân biện thô sơ giữa đúng và sai, vốn chiếm lĩnh linh hồn non trẻ, được tiếp nối bằng những phân biệt tinh tế hơn về điều đúng, hoặc điều đúng hơn, điều cao, hoặc cao hơn, và các giá trị [68] đạo đức hay tinh thần phải được đối diện bằng nhận thức tinh thần tỉ mỉ nhất. Trong sự căng thẳng và nhọc nhằn của đời sống, và dưới áp lực liên tục đè lên mỗi người từ những người cấu thành nhóm của họ, tính phức tạp của vấn đề trở nên rất lớn.

In solving such problems, certain broad discriminations can precede the more subtle and when these decisions have been made the more subtle can then take their place. The choice between selfish and unselfish action is the most obvious one to follow upon the choice between right and wrong, and is easily settled by the honest soul. A choice which involves discrimination between individual benefit and group responsibility rapidly eliminates other factors, and is easy to the man who shoulders his just responsibility. Note the use of the words “just responsibility.” We are considering the normal, sane man and not the over-conscientious morbid fanatic. There follows next the distinction between the expedient, involving factors of physical plane relations of business and of finance, leading up to a consideration of the highest good for all parties concerned. But having through this triple eliminative process arrived at a certain position, cases arise where choice still remains in which neither common sense nor logical, discerning reason seem to help. The desire is only to do the right thing; the intent is to act in the highest possible way and to take that line of action which will produce the best good of the group apart from personal considerations altogether. Yet light upon the path, which must be trodden, is not seen; the door which should be entered is unrecognized and the man remains in the state of constant indecision. What, then, must be done? One of two things:

Trong việc giải quyết những vấn đề như thế, một vài phân biện rộng lớn có thể đi trước những phân biện tinh tế hơn; và khi các quyết định ấy đã được đưa ra, những phân biện tinh tế hơn bấy giờ có thể chiếm vị trí của mình. Sự lựa chọn giữa hành động ích kỷ và hành động vô ngã là điều hiển nhiên nhất tiếp theo sau sự lựa chọn giữa đúng và sai, và được linh hồn chân thật giải quyết dễ dàng. Một lựa chọn bao hàm sự phân biện giữa lợi ích cá nhân và trách nhiệm nhóm nhanh chóng loại bỏ các yếu tố khác, và trở nên dễ dàng đối với người gánh vác trách nhiệm chính đáng của mình. Hãy lưu ý cách dùng các từ “trách nhiệm chính đáng.” Chúng ta đang xét đến con người bình thường, lành mạnh, chứ không phải kẻ cuồng tín bệnh hoạn và quá câu nệ về đạo đức. Kế đó là sự phân biện về điều thích hợp với hoàn cảnh, bao hàm các yếu tố của những quan hệ trên cõi hồng trần về công việc và tài chính, dẫn đến việc cân nhắc điều thiện cao nhất cho tất cả các bên liên hệ. Nhưng sau khi, qua tiến trình loại trừ tam phân này, đã đi đến một lập trường nào đó, vẫn nảy sinh những trường hợp trong đó sự lựa chọn còn tồn tại, mà cả lẽ thường lẫn lý trí hợp lý, có phân biện dường như đều không giúp được. Ước muốn chỉ là làm điều đúng; ý định là hành động theo cách cao nhất có thể và chọn đường lối hành động sẽ tạo ra điều thiện tốt nhất cho nhóm, hoàn toàn tách khỏi mọi cân nhắc cá nhân. Tuy vậy, ánh sáng trên Đường Đạo phải bước đi lại không được nhìn thấy; cánh cửa cần bước vào lại không được nhận ra, và con người vẫn ở trong trạng thái do dự liên miên. Vậy phải làm gì? Một trong hai điều:

First the aspirant can follow his inclination and choose that line of action out of the residue of possible lines which seems to him the wisest and the best. This involves belief in the working of the law of Karma and also [69] a demonstration of that firm decisiveness which is the best way in which his personality can learn to abide by the decisions of his own soul. It involves also the ability to go forward upon the grounds of the decision made, and so to abide by the results without forebodings or regrets.

Thứ nhất, người chí nguyện có thể đi theo khuynh hướng của mình và chọn, trong phần còn lại của những đường lối khả hữu, đường lối hành động nào đối với y dường như minh triết nhất và tốt nhất. Điều này bao hàm niềm tin vào sự vận hành của định luật Nghiệp quả, và cũng [69] là một sự biểu lộ của tính quyết đoán vững chắc, vốn là cách tốt nhất để phàm ngã của y học cách tuân theo các quyết định của chính linh hồn mình. Nó cũng bao hàm khả năng tiến tới trên nền tảng của quyết định đã được đưa ra, và như thế chấp nhận các kết quả mà không lo sợ hay hối tiếc.

Secondly, he can wait, resting back upon an inner sense of direction, knowing that in due time he will ascertain, through the closing of all doors but one, which is the way he should go. For there is only one open door through which such a man can go. Intuition is needed for its recognition. In the first case mistakes may be made, and the man thereby learns and is enriched; in the second case, mistakes are impossible and only right action can be taken.

Thứ hai, y có thể chờ đợi, nương tựa vào một cảm thức định hướng bên trong, biết rằng đúng lúc y sẽ xác định được, qua việc mọi cánh cửa đều khép lại ngoại trừ một cánh, đâu là con đường y phải đi. Vì chỉ có một cánh cửa mở qua đó một người như thế có thể đi. Trực giác là cần thiết để nhận ra cánh cửa ấy. Trong trường hợp thứ nhất, sai lầm có thể xảy ra, và nhờ đó con người học hỏi và được làm phong phú; trong trường hợp thứ hai, sai lầm là không thể có, và chỉ hành động đúng mới có thể được thực hiện.

It is obvious, therefore, that all resolves itself into an understanding of one’s place upon the ladder of evolution. Only the highly advanced man can know the times and seasons and can adequately discern the subtle distinction between a psychic inclination and the intuition.

Do đó, rõ ràng là tất cả quy về việc thấu hiểu vị trí của mình trên chiếc thang tiến hoá. Chỉ người rất tiến hoá mới có thể biết thời điểm và chu kỳ, và có thể phân biện đầy đủ sự khác biệt tinh tế giữa một khuynh hướng thông linh và trực giác.

In considering these two ways of ultimate decision let not the man who should use his common sense and take a line of action based upon the use of the concrete mind, practice the higher method of waiting for a door to open. He is expecting too much in the place where he is. He has to learn through right decision and right use of the mind to solve his problems. Through this method he will grow, for the roots of intuitive knowledge are laid deep within the soul and the soul, therefore, must be contacted before the intuition can work. One hint only can here be given: —the intuition ever concerns itself with group activity and not with petty personal affairs. If you are still a man centered in the personality, recognize it, and with the equipment available, govern your actions. If you know yourself to be functioning as a soul and are lost in the interest of others, untrammeled by selfish desire, then [70] your just obligation will be met, your responsibilities shouldered, your group work carried forward, and the way will unfold before you, whilst you do the next thing and fulfill the nest duty. Out of duty, perfectly performed, will emerge those larger duties which we call world work; out of the carrying of family responsibilities will come that strengthening of our shoulders which will enable us to carry those of the larger group. What, then, is the criterion?

Khi xét hai cách quyết định tối hậu này, đừng để người cần dùng lẽ thường của mình và chọn một đường lối hành động dựa trên việc sử dụng trí cụ thể lại thực hành phương pháp cao hơn là chờ một cánh cửa mở ra. Y đang mong đợi quá nhiều ở vị trí hiện tại của mình. Y phải học cách giải quyết các vấn đề của mình qua quyết định đúng và việc sử dụng đúng thể trí. Nhờ phương pháp này y sẽ trưởng thành, vì các rễ của tri thức trực giác được đặt sâu trong linh hồn, và do đó phải tiếp xúc được với linh hồn trước khi trực giác có thể hoạt động. Ở đây chỉ có thể đưa ra một gợi ý: trực giác luôn liên quan đến hoạt động nhóm, chứ không liên quan đến những việc cá nhân nhỏ nhặt. Nếu bạn vẫn là một người tập trung trong phàm ngã, hãy nhận ra điều đó, và với trang bị sẵn có, hãy điều khiển các hành động của mình. Nếu bạn biết mình đang vận hành như một linh hồn và quên mình trong mối quan tâm đến người khác, không bị ham muốn ích kỷ trói buộc, thì [70] nghĩa vụ chính đáng của bạn sẽ được đáp ứng, trách nhiệm của bạn sẽ được gánh vác, công việc nhóm của bạn sẽ được tiến hành, và con đường sẽ khai mở trước bạn, trong khi bạn làm điều kế tiếp và chu toàn bổn phận kế tiếp. Từ bổn phận được thực hiện một cách hoàn hảo sẽ nảy sinh những bổn phận lớn lao hơn mà chúng ta gọi là công việc thế giới; từ việc gánh vác trách nhiệm gia đình sẽ đến sự làm mạnh đôi vai chúng ta, giúp chúng ta có thể gánh vác trách nhiệm của nhóm lớn hơn. Vậy tiêu chuẩn là gì?

For the high grade aspirant, let me repeat, the choice of action depends upon a sound use of the lower mind, the employment of a sane common-sense and the forgetfulness of selfish comfort and personal ambition. This leads to the fulfillment of duty. For the disciple there will be the automatic and necessary carrying forward of all the above, plus the use of the intuition which will reveal the moment when wider group responsibilities can be justly shouldered and carried simultaneously with those of the smaller group. Ponder on this. The intuition reveals not the way ambition can be fed, nor the manner in which desire for selfish advancement can be gratified.

Đối với người chí nguyện bậc cao, tôi xin nhắc lại, sự lựa chọn hành động tùy thuộc vào việc sử dụng lành mạnh hạ trí, vào việc vận dụng lẽ thường đúng đắn, và vào sự quên đi tiện nghi ích kỷ cùng tham vọng cá nhân. Điều này dẫn đến sự chu toàn bổn phận. Đối với đệ tử, tất cả những điều trên sẽ được thực hiện một cách tự động và cần thiết, cộng thêm việc sử dụng trực giác, vốn sẽ mặc khải thời điểm khi các trách nhiệm nhóm rộng lớn hơn có thể được gánh vác một cách chính đáng và được mang đồng thời với trách nhiệm của nhóm nhỏ hơn. Hãy suy ngẫm về điều này. Trực giác không mặc khải cách nuôi dưỡng tham vọng, cũng không chỉ ra phương thức thỏa mãn ham muốn tiến thân ích kỷ.

RULE TWO

When the shadow hath responded, in meditation deep the work proceedeth. The lower light is thrown upward; the greater light illuminates the three, and the work of the four proceedeth.

Khi cái bóng đã đáp ứng, trong thiền định sâu thẳm, công việc tiến triển. Ánh sáng thấp được ném lên trên; ánh sáng lớn hơn soi sáng bộ ba, và công việc của bốn tiến triển.

Hindrances to Occult Study

[73]

[73]

This rule is one of the most difficult in the book and yet one of the most comprehensive. It will take us some time rightly to handle it. We have in it an interesting illustration of the microcosmic correspondence to the macrocosm. It can be elucidated in two ways in relation to the light it mentions.

Quy luật này là một trong những quy luật khó nhất trong sách, nhưng cũng là một trong những quy luật bao quát nhất. Chúng ta sẽ cần một thời gian để tìm hiểu nó một cách đúng đắn. Trong quy luật này, chúng ta có một minh họa thú vị về sự tương ứng giữa tiểu thiên địa và đại thiên địa. Có thể làm sáng tỏ quy luật này theo hai cách, xét trong mối liên hệ với ánh sáng được đề cập trong đó.

Reference is made to the “greater light” which illuminates the three and, secondly, to the throwing upward of the “lower light”.

Trước hết, quy luật nói đến “ánh sáng lớn hơn” soi sáng cả ba, và thứ hai, đến việc phóng “ánh sáng thấp hơn” lên trên.

The “greater light” is that of the soul, who is light itself illuminating the manifestation of the three-fold personality. Herein lies the correspondence to the macrocosm as it is symbolized for us in God, the manifesting light of the solar system. The solar system is three in one, or one in three, and the light of the Logos illuminates the whole. The “lower light” is that which is hidden within the human being on the physical plane. This light, at a certain stage of man’s experience, is awakened throughout the physical body and blends eventually with the “greater light”. The light and life of God Himself may emanate from the central Spiritual Sun, but it is only as the light within the solar system itself is awakened and aroused that there will come that eventual blazing forth which will typify the glory of the Sun shining in its strength. Similarly, the light of the soul may emanate from the Monad, but it is only as the light within the little system (directed by the soul) is awakened and aroused that there will come the eventual shining forth of a son of God.

“Ánh sáng lớn hơn” là ánh sáng của linh hồn, vốn chính là ánh sáng, soi sáng sự biểu hiện của phàm ngã tam phân. Chính trong điều này có sự tương ứng với Đại thiên địa, như được biểu tượng hóa cho chúng ta nơi Thượng đế, ánh sáng biểu hiện của hệ mặt trời. Hệ mặt trời là ba trong một, hay một trong ba, và ánh sáng của Thượng đế soi sáng toàn thể. “Ánh sáng thấp” là ánh sáng ẩn trong con người trên cõi hồng trần. Ánh sáng này, ở một giai đoạn nào đó trong kinh nghiệm của con người, được đánh thức khắp thể xác và sau cùng hòa nhập với “ánh sáng lớn hơn”. Ánh sáng và sự sống của chính Thượng đế có thể phát ra từ Mặt trời Tinh thần Trung Ương, nhưng chỉ khi ánh sáng bên trong chính hệ mặt trời được đánh thức và khơi dậy thì sự bừng sáng cuối cùng mới xảy đến, biểu thị vinh quang của Mặt Trời chiếu rạng trong sức mạnh của nó. Tương tự, ánh sáng của linh hồn có thể phát ra từ chân thần, nhưng chỉ khi ánh sáng trong hệ thống nhỏ bé, do linh hồn điều khiển, được đánh thức và khơi dậy thì sự tỏa sáng cuối cùng của một Con của Thượng đế mới xuất hiện.

[74]

[74]

In these instructions, however, we are dealing primarily with the microcosm and the light within it; we shall not enlarge upon the macrocosmic analogies.

Tuy nhiên, trong các huấn thị này, chúng ta chủ yếu đề cập đến Tiểu thiên địa và ánh sáng bên trong nó; chúng ta sẽ không mở rộng về các tương đồng Đại thiên địa.

In considering this second rule, we must note that a conscious relation has been established between the soul and its shadow, the man on the physical plane. Both have been meditating. Students would do well to note this and to remember that one of the objectives of the daily meditation is to enable the brain and mind to vibrate in unison with the soul as it seeks “in meditation deep” to communicate with its reflection.

Khi xét quy luật thứ hai này, chúng ta phải lưu ý rằng một mối liên hệ có ý thức đã được thiết lập giữa linh hồn và bóng của nó, tức con người trên cõi hồng trần. Cả hai đều đã tham thiền. Các đạo sinh nên lưu ý điều này và nhớ rằng một trong những mục tiêu của tham thiền hằng ngày là làm cho bộ não và thể trí có thể rung động đồng điệu với linh hồn khi linh hồn tìm cách, “trong thiền định sâu sắc,” giao tiếp với hình phản chiếu của mình.

The correspondence to this relation, or synchronizing vibration is interesting:

Sự tương ứng với mối liên hệ này, hay sự rung động đồng bộ này, thật thú vị:

Soul………………….Man on the Physical Plane

Linh hồn………………….Con người trên Cõi Hồng Trần

Mind…………………Brain

Thể trí…………………Bộ não

Pineal Gland………Pituitary Body

Tuyến tùng………Tuyến yên

The relation also between the centers, and their synchronization is interesting and in it is epitomized the evolution of the race as well as the racial unit, man.

Mối liên hệ giữa các trung tâm, cùng sự đồng bộ của chúng, cũng thật thú vị; và trong đó được tóm lược sự tiến hoá của nhân loại cũng như của đơn vị nhân loại, tức con người.

Head Center………..Base of the Spine

Trung tâm đầu………..Đáy cột sống

Heart Center………..Solar Plexus

Trung tâm tim………..Tùng thái dương

Throat Center……….Sacral Center

Trung tâm cổ họng……….Trung tâm xương cùng

In the above lies a hint for the more advanced student (and he is the one who hesitates so to regard himself). It is also symbolized for us in the relation between the Eastern and the Western hemispheres and between those great bodies of truth which we call Religion and Science.

Trong những điều trên có một gợi ý dành cho đạo sinh tiến xa hơn, và y chính là người do dự khi tự xem mình như vậy. Điều này cũng được biểu tượng hóa cho chúng ta trong mối liên hệ giữa bán cầu Đông và bán cầu Tây, cũng như giữa những khối chân lý lớn lao mà chúng ta gọi là Tôn giáo và Khoa học.

The life of meditation proceeds and the rapport between the soul and its triple instrument becomes steadily closer, and the resulting vibration more powerful. How many lives this will take depends upon various factors, which are too numerous to be mentioned here but which the student will find it useful to consider. Let him list the factors which he feels he needs to take into account as he seeks to decide his evolutionary standpoint. [75]

Đời sống tham thiền tiếp diễn, mối giao cảm giữa linh hồn và khí cụ tam phân của nó ngày càng trở nên gần gũi hơn, và rung động phát sinh ngày càng mạnh mẽ hơn. Điều này sẽ cần bao nhiêu kiếp sống tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, quá nhiều để có thể nêu ra ở đây, nhưng đạo sinh sẽ thấy hữu ích khi suy xét chúng. Hãy để y liệt kê những yếu tố mà y cảm thấy cần lưu ý khi tìm cách xác định vị trí tiến hoá của mình. [75]

The result of this response is a reorientation of the lower man in order to produce a synthesis of the Three and the One so that the work of the Four may proceed. Here you have the reflection consummated in the microcosm of that with which the Solar Logos started, the “Sacred Four” of the Cosmos; man in his turn becomes a “Sacred Four”—spirit and the three of manifestation.

Kết quả của sự đáp ứng này là sự tái định hướng của phàm nhân nhằm tạo ra một tổng hợp của Ba và Một, để công việc của Bốn có thể tiếp diễn. Ở đây các bạn có sự phản chiếu được hoàn tất trong Tiểu thiên địa của điều mà Thái dương Thượng đế đã khởi đầu: “Bộ Bốn Thiêng Liêng” của Vũ trụ; đến lượt mình, con người trở thành một “Bộ Bốn Thiêng Liêng” — tinh thần và bộ ba của sự biểu hiện.

Four words should be pondered upon here:

Bốn từ cần được suy ngẫm ở đây:

1. Communication

1. Giao tiếp

2. Response

2. Đáp ứng

3. Reorientation

3. Tái định hướng

4.Union

4. Hợp nhất

The Old Commentary expresses it in the following terms:

Cổ Luận diễn đạt điều này bằng những lời sau:

“When communion is established, words are forthwith used, and mantric law assumes its rightful place, provided that the One communicates the words and the three remain in silence.

“Khi sự giao cảm được thiết lập, linh từ liền được sử dụng, và định luật mantram đảm nhận vị trí chính đáng của nó, miễn là Đấng Duy Nhất truyền đạt lời, còn bộ ba giữ im lặng.

“When response is recognized as emanating from the three, the One, in silence, listens. The roles are changed. A three-fold word issues from out the triple form. A turning round is caused. The eyes no longer look upon the world of form; they turn within, focus the light, and see, revealed, an inner world of being. With this the Manas stills itself, for eyes and mind are one.

“Khi sự đáp ứng được nhận ra là phát ra từ bộ ba, Đấng Duy Nhất, trong im lặng, lắng nghe. Các vai trò được đổi thay. Một lời tam phân phát ra từ hình tướng tam phân. Một sự xoay chiều được gây nên. Đôi mắt không còn nhìn vào thế giới của hình tướng; chúng quay vào trong, tập trung ánh sáng, và thấy, được mặc khải, một thế giới bản thể nội tại. Với điều này, trí tuệ lắng yên, vì mắt và thể trí là một.

“The heart no longer beats in tune with low desire, nor wastes its love upon the things that group and hide the Real. It beats with rhythm new; it pours its love upon the Real, and Maya fades away. Kama and heart are close allied; love and desire form one whole—one seen at night, the other in the light of day….

“Trái tim không còn đập theo nhịp với dục vọng thấp, cũng không lãng phí tình thương của nó trên những sự vật tụ hợp và che giấu Cái Thực. Nó đập theo nhịp điệu mới; nó tuôn tình thương của mình lên Cái Thực, và ảo lực phai tàn. Dục vọng và trái tim liên minh chặt chẽ; tình thương và ham muốn tạo thành một toàn thể — cái này được thấy trong đêm, cái kia trong ánh sáng ban ngày….

…….

…….

“When fire and love and mind submit themselves, sounding the three-fold word, there comes response.

“Khi lửa, tình thương và thể trí tự quy phục, xướng lên lời tam phân, thì sự đáp ứng xuất hiện.

“The One enunciates a word which drowns the triple sound. God speaks. A quivering and a shaking in the form responds. The new stands forth, a man remade; the form rebuilt; the house prepared. The fires unite, and [76] great the light that shines: the three merge with the One and through the blaze a four-fold fire is seen.”

“Đấng Duy Nhất phát âm một lời nhấn chìm âm thanh tam phân. Thượng đế phán. Một sự rung động và chấn động trong hình tướng đáp ứng. Cái mới hiện ra, một con người được tái tạo; hình tướng được xây dựng lại; ngôi nhà được chuẩn bị. Các ngọn lửa hợp nhất, và [76] ánh sáng chiếu rạng thật lớn lao: bộ ba hòa vào Đấng Duy Nhất, và xuyên qua ánh rực cháy, một ngọn lửa tứ phân được thấy.”

In this pictorial writing which I have sought to convey in modern English, the sages of old embodied an idea. The Old Commentary from which these words are taken has no assignable date. Should I endeavor to tell you its age I have no means of proving the truth of my words and hence would be faced with credulity—a thing aspirants must avoid in their search for the essential and Real. I have sought in the above few phrases to give the gist of what is expressed in the Commentary, through the means of a few symbols and a cryptic text. These old Scriptures are not read in the way modern students read books. They are seen, touched and realized. The meaning is disclosed in a flash. Let me illustrate: —The words “the One enunciates the word which drowns the triple sound” are depicted by a shaft of light ending in a symbolic word in gold superimposed over three symbols in black, rose and green. Thus are the secrets guarded with care.

Trong lối viết bằng hình ảnh này, điều mà tôi đã tìm cách chuyển tải bằng tiếng Anh hiện đại, các bậc hiền triết xưa đã kết tinh một ý tưởng. Cổ Luận, nơi những lời này được trích ra, không có niên đại có thể xác định. Nếu tôi cố nói cho các bạn biết tuổi của nó, tôi không có phương tiện nào để chứng minh sự thật trong lời mình, và vì thế sẽ phải đối diện với sự cả tin — một điều mà những người chí nguyện phải tránh trong cuộc tìm kiếm cái cốt yếu và Cái Thực. Trong vài câu trên, tôi đã tìm cách đưa ra phần cốt lõi của điều được diễn đạt trong Luận, qua phương tiện của một vài biểu tượng và một văn bản bí ẩn. Những Thánh thư cổ này không được đọc theo cách các đạo sinh hiện đại đọc sách. Chúng được thấy, được chạm đến và được chứng nghiệm. Ý nghĩa được hé lộ trong một tia chớp. Hãy để tôi minh họa: những lời “Đấng Duy Nhất phát âm lời nhấn chìm âm thanh tam phân” được mô tả bằng một tia sáng kết thúc nơi một từ biểu tượng bằng vàng, chồng lên trên ba biểu tượng màu đen, hồng và xanh lục. Như vậy các bí mật được gìn giữ cẩn trọng.

I felt it might be of interest to students to know this much about this ancient test book of the Adepts.

Tôi cảm thấy có thể sẽ hữu ích cho các đạo sinh khi biết được bấy nhiêu về sách giáo khoa cổ xưa này của các Chân sư.

Our consideration of this rule will fall into two parts:

Việc chúng ta xét quy luật này sẽ chia thành hai phần:

The relation between the soul and the personality. This will be handled particularly with reference to meditation in the daily life, more than from the theoretical and the academical.

Mối liên hệ giữa linh hồn và phàm ngã. Điều này sẽ được xử lý đặc biệt trong tương quan với tham thiền trong đời sống hằng ngày, hơn là từ phương diện lý thuyết và hàn lâm.

The significance of the words, “the lower light is thrown upward.” These deal with the centers and the Kundalini Fire.

Thâm nghĩa của những lời “Ánh sáng thấp được ném lên trên.” Những lời này đề cập đến các trung tâm và Lửa hỏa xà.

I would like here to point out the advisability of each student arriving at an understanding of his etheric body, and this for certain reasons.

Ở đây, tôi muốn chỉ ra rằng mỗi đạo sinh nên đi đến một sự thấu hiểu về thể dĩ thái của mình, và điều này vì một số lý do nhất định.

First, the etheric body is the next aspect of the world substance to be studied by scientists and investigators. This time will be hastened if thinking men and women [77] can formulate intelligent ideas anent this interesting subject. We can aid in the revelation of the truth by our clear thinking and from the standpoint of the present pronouncements about the ether, scientists will eventually arrive at an understanding of etheric forms or bodies.

Thứ nhất, thể dĩ thái là phương diện kế tiếp của chất liệu thế giới sẽ được các nhà khoa học và nhà nghiên cứu khảo sát. Thời điểm này sẽ được thúc nhanh nếu những người nam và nữ biết suy nghĩ [77] có thể hình thành những ý tưởng thông minh về chủ đề thú vị này. Chúng ta có thể hỗ trợ sự mặc khải chân lý bằng tư duy rõ ràng của mình; và từ lập trường của những tuyên bố hiện nay về dĩ thái, các nhà khoa học rốt cuộc sẽ đi đến sự thấu hiểu các hình tướng hay các thể dĩ thái.

Secondly, the etheric body is composed of force currents, and in it are vital centers linked by lines of force with each other and with the nervous system of the physical man. Through these lines of force, it is connected also with the etheric body of the environing system. Note that in this lies the basis for a belief in immortality, for the law of brotherhood or unity and for astrological truth.

Thứ hai, thể dĩ thái được cấu thành bởi các dòng mãnh lực, và trong đó có các trung tâm sinh lực được liên kết với nhau và với hệ thần kinh của con người hồng trần bằng các đường mãnh lực. Qua những đường mãnh lực này, nó cũng được nối kết với thể dĩ thái của hệ thống bao quanh. Hãy lưu ý rằng chính trong điều này có nền tảng cho niềm tin vào sự bất tử, cho định luật huynh đệ hay hợp nhất, và cho chân lý chiêm tinh.

Thirdly, the need of realizing that the etheric body is vitalized and controlled by thought and can (through thought) be brought into full functioning activity. This is done by right thinking and not by breathing exercises and holding the nose. When this is grasped, much dangerous practice will be avoided and people will come into a normal and safe control of that most potent instrument, the vital body. That this end may rapidly be consummated is my earnest wish.

Thứ ba, cần nhận ra rằng tư tưởng tiếp sinh lực và kiểm soát thể dĩ thái, và có thể, qua tư tưởng, được đưa vào hoạt động đầy đủ. Điều này được thực hiện bằng tư duy đúng, chứ không phải bằng các bài tập thở và việc bịt mũi. Khi điều này được nắm vững, nhiều thực hành nguy hiểm sẽ được tránh, và con người sẽ đi đến sự kiểm soát bình thường và an toàn đối với khí cụ đầy quyền năng ấy, tức thể sinh lực. Ước nguyện tha thiết của tôi là mục tiêu này có thể nhanh chóng được hoàn tất.

Occult study is of profound importance, and students of these sciences must bring to bear upon them, all that they have of mental application and concentrated attention. It involves also the steady working out of the truths learnt.

Việc nghiên cứu huyền bí có tầm quan trọng sâu xa, và các đạo sinh của những khoa học này phải đem vào đó tất cả năng lực ứng dụng trí tuệ và sự chú tâm tập trung mà họ có. Nó cũng bao hàm việc kiên trì thực hành các chân lý đã học.

Occult study, as understood in the Occident, is intellectually investigated but not practically followed. Theoretically some glimmering of light may be appreciated by the man who aspires to the occult path, but the systematic working out of the laws involved has made small progress as yet.

Nghiên cứu huyền bí, như được hiểu ở phương Tây, được khảo sát bằng trí năng nhưng chưa được thực hành trong thực tế. Về mặt lý thuyết, một vài tia sáng lờ mờ có thể được người khát vọng bước vào con đường huyền bí nhận biết, nhưng việc thực hành có hệ thống các định luật liên quan cho đến nay vẫn đạt rất ít tiến bộ.

Wherein lies the hindrance? It may be of value if we study three things: [78]

Trở ngại nằm ở đâu? Có thể hữu ích nếu chúng ta nghiên cứu ba điều: [78]

1. The Occidental hindrances to correct occult study.

1. Những trở ngại của phương Tây đối với việc nghiên cứu huyền bí đúng đắn.

2. How these hindrances may be surmounted.

2. Làm thế nào các trở ngại này có thể được vượt qua.

3. Certain things the aspirant may safely undertake in the equipping of himself for treading the occult path, for that is the stage, and for the majority, the only stage at present possible.

3. Một số điều người chí nguyện có thể an toàn đảm nhận trong việc trang bị cho mình để bước trên con đường huyền bí, vì đó là giai đoạn, và đối với đa số, là giai đoạn duy nhất hiện nay có thể có.

One of the main hindrances to the correct apprehension of the laws of occultism and their practical application lies in the fact of the comparative newness of the occident, and the rapid changes which have been the outstanding feature of European and American civilisation. The history of Europe dates back a bare three thousand years, and that of America, as we know, barely as many centuries. Occultism flourishes in a prepared atmosphere, in a highly magnetised environment, and in a settled condition which is the result of age-long work upon the mental plane.

Một trong những trở ngại chính đối với sự lĩnh hội đúng đắn các định luật của huyền bí học và sự áp dụng thực tiễn của chúng nằm ở sự kiện rằng phương Tây tương đối còn mới, và những thay đổi nhanh chóng đã là đặc điểm nổi bật của nền văn minh châu Âu và châu Mỹ. Lịch sử châu Âu chỉ lùi lại vỏn vẹn ba nghìn năm, còn lịch sử châu Mỹ, như chúng ta biết, chỉ xấp xỉ ba thế kỷ. Huyền bí học phát triển trong một bầu không khí đã được chuẩn bị, trong một môi trường được từ hóa cao độ, và trong một tình trạng ổn định vốn là kết quả của công việc lâu dài trên cõi trí.

This is one reason why India provides such an adequate school of endeavour. There knowledge of occultism dates back tens of thousands of years and time has set its mark even upon the physique of the people, providing them with bodies which offer not that resistance which occidental bodies so oft afford. The environment has been long permeated with the strong vibrations of the great Ones who reside within its borders and who, in Their passage to and fro, and through Their proximity, continuously magnetise the environing ether. This in itself affords another line of least resistance, for this etheric magnetisation affects the etheric bodies of the contacted population. These two facts, of time and of high vibration, result in that stability of rhythm which facilitates occult work, and offer a quiet field for mantric and ceremonial enterprise.

Đây là một lý do khiến Ấn Độ cung cấp một trường học nỗ lực thích hợp đến thế. Ở đó, tri thức về huyền bí học có từ hàng chục nghìn năm, và thời gian đã ghi dấu ấn ngay cả trên thể chất của người dân, cung cấp cho họ những thân thể không tạo ra sự kháng cự mà các thân thể phương Tây thường gây nên. Môi trường đã từ lâu thấm nhuần các rung động mạnh mẽ của các Đấng Cao Cả cư ngụ trong biên giới của nó, và các Ngài, trong khi qua lại và nhờ sự gần gũi của mình, liên tục từ hóa dĩ thái bao quanh. Chính điều này tạo nên một con đường ít trở ngại nhất khác, vì sự từ hóa dĩ thái này ảnh hưởng đến các thể dĩ thái của dân cư được tiếp xúc. Hai sự kiện này, về thời gian và rung động cao, dẫn đến sự ổn định của nhịp điệu, vốn tạo thuận lợi cho công việc huyền bí, và cung cấp một trường yên tĩnh cho công trình mantram và nghi lễ.

These conditions are not to be found in the West, where constant change in every branch of life is found, where [79] frequent rapid shifting of the scene of action causes wide areas of disturbance which militate against any work of a magic nature. The amount of force required to effect certain results does not warrant their use, and time has been allowed to elapse in an effort to produce an equilibrising effect.

Những điều kiện này không có ở phương Tây, nơi người ta thấy sự thay đổi liên tục trong mọi ngành của đời sống, nơi [79] sự chuyển dịch nhanh chóng và thường xuyên của khung cảnh hành động gây ra những vùng xáo trộn rộng lớn, chống lại bất kỳ công việc nào có bản chất huyền thuật. Lượng mãnh lực cần thiết để tạo ra một số kết quả nào đó không biện minh cho việc sử dụng chúng, và thời gian đã được phép trôi qua trong nỗ lực tạo ra một hiệu quả quân bình.

The climax of the disturbed condition has been passed, and a more stable state of affairs is gradually being brought about, and this may permit of definite occult work being attempted with success. The Master R. is working upon this problem, and likewise the Master of the English race, —not the Master who occupies Himself with the Labour Movement or the betterment of social conditions. They are aided by a disciple of rare capability in Sweden, and by an initiate in the southern part of Russia, who works much on the mental levels. Their aim is so to tap the resources of force stored up by the Nirmanakayas that its downflow may sweep out lower grade matter, and thus permit the free play of a higher vibration.

Đỉnh điểm của tình trạng xáo trộn đã qua, và một trạng thái sự việc ổn định hơn đang dần được tạo lập; điều này có thể cho phép công việc huyền bí xác định được thử nghiệm với thành công. Chân sư R. đang làm việc trên vấn đề này, và tương tự là Chân sư của dân tộc Anh — không phải Chân sư bận tâm đến Phong trào Lao động hay việc cải thiện các điều kiện xã hội. Các Ngài được trợ giúp bởi một đệ tử có năng lực hiếm có tại Thụy Điển, và bởi một điểm đạo đồ ở miền nam nước Nga, người làm việc nhiều trên các cấp độ trí tuệ. Mục tiêu của các Ngài là khai mở các nguồn mãnh lực được tích trữ bởi những Đấng phụng sự đã siêu thoát, để dòng tuôn đổ của nó có thể quét sạch vật chất cấp thấp, và như thế cho phép một rung động cao hơn hoạt động tự do.

Another hindrance may be found in the strong development of the concrete mind. I would here impress upon you that this development must in no way be considered a detriment. All has been in due course of evolution, and later when the Orient and the Occident have reached a point of better understanding and interplay their interaction will be of mutual benefit; the East will profit from the mental stimulation afforded by the strong mental vibration of its Western brother, whilst the Occidental will gain much from the abstract reasoning of the Oriental, and, through the effort to grasp that which the first subrace of the Aryan root race so easily apprehended, he will contact his higher mind, and thus build with greater facility the bridge between the higher and the lower mind. The two types need each other, and their effect upon each other tends to eventual synthesis. [80]

Một trở ngại khác có thể được thấy trong sự phát triển mạnh mẽ của trí cụ thể. Ở đây tôi muốn nhấn mạnh với các bạn rằng sự phát triển này tuyệt đối không nên được xem là một điều bất lợi. Tất cả đã diễn ra theo đúng tiến trình tiến hoá, và về sau, khi Đông phương và Tây phương đã đạt đến một điểm thấu hiểu và tương tác tốt hơn, sự tác động qua lại của họ sẽ đem lại lợi ích hỗ tương; phương Đông sẽ hưởng lợi từ sự kích thích trí tuệ do rung động trí tuệ mạnh mẽ của người huynh đệ phương Tây đem lại, trong khi người phương Tây sẽ thu được nhiều từ lý luận trừu tượng của người phương Đông; và qua nỗ lực nắm bắt điều mà giống dân phụ thứ nhất của giống dân gốc Arya đã lĩnh hội rất dễ dàng, y sẽ tiếp xúc với Thượng trí của mình, và như thế xây dựng dễ dàng hơn cây cầu giữa thượng trí và hạ trí. Hai loại hình này cần nhau, và ảnh hưởng của họ đối với nhau hướng đến tổng hợp cuối cùng. [80]

The concrete mind, in itself, offers opportunity for a treatise of great length, but here it will suffice to point out a few of the ways in which it hinders those races who so paramountly represent it.

Trí cụ thể, tự nó, cung cấp cơ hội cho một khảo luận rất dài, nhưng ở đây chỉ cần chỉ ra một vài cách thức mà nó cản trở những nhân loại đại diện nổi bật cho nó.

a. By its intense activity and stimulated action it hinders the downflow of inspiration from on high. It acts as a dark curtain that shuts out the higher illumination. Only through steadiness and a stable restfulness can that illumination percolate, via the higher bodies, to the physical brain and so be available for practical service.

a. Bằng hoạt động mãnh liệt và tác động được kích thích của mình, nó cản trở dòng chảy xuống của cảm hứng từ trên cao. Nó hoạt động như một bức màn tối che khuất sự soi sáng cao hơn. Chỉ qua sự vững vàng và trạng thái an nghỉ ổn định, sự soi sáng ấy mới có thể thấm qua các thể cao hơn đến bộ não hồng trần, và nhờ vậy trở nên khả dụng cho phụng sự thực tiễn.

b. The wisdom of the Triad exists for the use of the personality, but is barred by the disquisitions of the lower mind. When the fire of mind burns too fiercely, it forms a current which counteracts the higher downflow, and forces the lower fire back into seclusion. Only when the three fires meet, through the regulation of the middle fire of mind, can a full light be achieved, and the whole body be full of light, the fire from above—the triadal light—the fire of the lower self, —kundalini—and the fire of mind, —cosmic manas—must meet upon the altar. In their union comes the burning away of all that hinders and the completed emancipation.

b. Minh triết của Tam Nguyên Tinh Thần hiện hữu để phàm ngã sử dụng, nhưng bị ngăn chặn bởi các luận giải của hạ trí. Khi lửa của trí tuệ cháy quá dữ dội, nó tạo thành một dòng chảy chống lại dòng chảy xuống cao hơn, và buộc lửa thấp rút lui vào ẩn kín. Chỉ khi ba ngọn lửa gặp nhau, qua sự điều hòa ngọn lửa trung gian của trí tuệ, thì ánh sáng trọn vẹn mới có thể đạt được, và toàn bộ thân thể sẽ đầy ánh sáng; lửa từ trên cao — ánh sáng của Tam Nguyên Tinh Thần — lửa của phàm ngã, tức hỏa xà, và lửa của trí tuệ, tức manas vũ trụ, phải gặp nhau trên bàn thờ. Trong sự hợp nhất của chúng, tất cả những gì cản trở bị thiêu rụi và sự giải thoát hoàn tất xuất hiện.

c. By discrimination—a faculty of the concrete mental body—the lower bodies are trained in the art of distinguishing illusion from the centre of reality, the real from the unreal, the self from the not-self. Then ensues, consequently, a period that must be surmounted wherein the attention of the Ego is centred necessarily on the lower self and its vehicles, and wherein, therefore, the vibrations of the Triad, the laws that deal with macrocosmic evolution, and the subjugation of fire for the use of the [81] Divine, have temporarily to be in abeyance. When man quickly sees the truth in all that he contacts, and automatically chooses truth or the real, then he learns next the lesson of joyful action, and the path of bliss opens before him. When this is so, the path of occultism becomes possible for him, for the concrete mind has served its purpose, and has become his instrument and not his master, his interpreter and not his hinderer.

c. Bằng sự phân biện — một năng lực của thể trí cụ thể — các thể thấp được rèn luyện trong nghệ thuật phân biệt ảo tưởng với trung tâm của thực tại, cái thực với cái không thực, bản ngã với phi-ngã. Khi đó, hệ quả là xuất hiện một giai đoạn phải được vượt qua, trong đó sự chú ý của Chân ngã tất yếu tập trung vào phàm ngã và các hiện thể của nó; và do đó, các rung động của Tam Nguyên Tinh Thần, các định luật liên quan đến sự tiến hoá Đại thiên địa, và sự chế ngự lửa để dùng cho [81] cái Thiêng Liêng, tạm thời phải ở trong trạng thái đình chỉ. Khi con người nhanh chóng thấy chân lý trong mọi điều y tiếp xúc, và tự động chọn chân lý hay cái thực, bấy giờ y kế tiếp học bài học về hành động hoan hỉ, và con đường chí phúc mở ra trước y. Khi điều này xảy ra, con đường huyền bí học trở nên khả hữu đối với y, vì trí cụ thể đã phục vụ mục đích của nó, và đã trở thành khí cụ của y chứ không phải chủ nhân của y, thông dịch viên của y chứ không phải kẻ cản trở y.

d. The concrete mind hinders in another and more unusual way, and one that is not realised by the student who attempts, at first, to tread the thorny road of occult development. When the concrete mind is rampant, and dominates the entire personality the aspirant cannot cooperate with these other lives and diverse evolutions until love supersedes concrete mind (even though he may, in theory, comprehend the laws that govern the evolution of the Logoic plan and the development of other solar entities besides his own Hierarchy). Mind separates; love attracts. Mind creates a barrier betwixt a man and every suppliant deva. Love breaks down every barrier, and fuses diverse groups in union. Mind repels by a powerful, strong vibration, casting off all that is contacted, as a wheel casts off all that hinders its whirling periphery. Love gathers all to itself, and carries all on with itself, welding separated units into a unified homogeneous whole. Mind repels through its own abundant heat, scorching and burning aught that approaches it. Love soothes and heals by the similarity of its heat to the heat in that which it contacts, and blends its warmth and flame with the warmth and flame of other evolving lives. Finally, mind disrupts and destroys whilst love produces coherence and heals. [82]

d. Trí cụ thể cản trở theo một cách khác và khác thường hơn, một cách mà đạo sinh, khi lần đầu cố bước trên con đường gai góc của sự phát triển huyền bí, không nhận ra. Khi trí cụ thể lan tràn và thống trị toàn bộ phàm ngã, người chí nguyện không thể hợp tác với các sự sống khác và các dòng tiến hoá đa dạng này cho đến khi tình thương thay thế trí cụ thể, dù về mặt lý thuyết y có thể thấu hiểu các định luật chi phối sự tiến hoá của Thiên Cơ Thượng đế và sự phát triển của các thực thể thái dương khác ngoài chính Huyền Giai của mình. Trí tuệ phân cách; tình thương thu hút. Trí tuệ tạo nên một rào chắn giữa con người và mọi thiên thần thỉnh cầu. Tình thương phá đổ mọi rào chắn, và dung hợp các nhóm đa dạng trong hợp nhất. Trí tuệ đẩy lui bằng một rung động mạnh mẽ và cường liệt, hất văng mọi điều được tiếp xúc, như một bánh xe hất văng mọi thứ cản trở chu vi đang quay của nó. Tình thương gom tất cả về với mình, và mang tất cả đi cùng mình, hàn gắn các đơn vị tách rời thành một toàn thể đồng nhất, hợp nhất. Trí tuệ đẩy lui qua sức nóng dồi dào của chính nó, thiêu sém và đốt cháy bất cứ điều gì đến gần nó. Tình thương xoa dịu và chữa lành nhờ sự tương đồng giữa sức nóng của nó và sức nóng trong điều mà nó tiếp xúc, và hòa trộn hơi ấm cùng ngọn lửa của nó với hơi ấm và ngọn lửa của các sự sống đang tiến hoá khác. Sau cùng, trí tuệ phá vỡ và hủy diệt, trong khi tình thương tạo ra sự cố kết và chữa lành. [82]

Every change, in human life, is subject to immutable laws, if such a paradoxical statement may be permitted. In the attempt to find out those laws, in order to conform to them, the occultist begins to offset karma, and thus colours not the astral light. The only method whereby these laws can as yet be apprehended by the many who are interested is by a close study of the vicissitudes of daily existence, as spread over a long period of years. By the outstanding features of a cycle of ten years, for instance, as they are contrasted with the preceding or succeeding similar period a student can approximate the trend of affairs and guide himself thereby. When the point in evolution is reached where the student can contrast preceding lives, and gain knowledge of the basic colouring of his previous life cycle, then rapid progress in adjusting the life to law is made. When succeeding lives can be likewise apprehended by the student, and their colouring seen and known, then karma (as known in the three worlds) ceases, and the adept stands master of all causes and effects as they condition and regulate his lower vehicle.

Mọi thay đổi trong đời sống con người đều chịu sự chi phối của các định luật bất biến, nếu được phép nói một câu có vẻ nghịch lý như thế. Trong nỗ lực tìm ra các định luật ấy để thuận theo chúng, nhà huyền bí học bắt đầu hóa giải nghiệp quả, và nhờ vậy không nhuộm màu ánh sáng cảm dục. Phương pháp duy nhất mà nhờ đó các định luật này cho đến nay có thể được đông đảo những người quan tâm lĩnh hội là nghiên cứu kỹ các thăng trầm của đời sống hằng ngày, trải dài qua một thời kỳ nhiều năm. Chẳng hạn, qua những đặc điểm nổi bật của một chu kỳ mười năm, khi được đối chiếu với một thời kỳ tương tự trước đó hoặc sau đó, đạo sinh có thể ước đoán xu hướng của sự việc và nhờ đó tự hướng dẫn mình. Khi đạt đến điểm tiến hoá mà đạo sinh có thể đối chiếu các kiếp sống trước, và thu được tri thức về sắc thái căn bản của chu kỳ đời sống trước của mình, bấy giờ sự tiến bộ nhanh chóng trong việc điều chỉnh đời sống theo định luật được thực hiện. Khi các kiếp sống kế tiếp cũng có thể được đạo sinh lĩnh hội tương tự, và sắc thái của chúng được thấy và được biết, bấy giờ nghiệp quả, như được biết trong ba cõi thấp, chấm dứt, và chân sư đứng làm chủ mọi nguyên nhân và kết quả khi chúng tác động và điều hòa hiện thể thấp của y.

He aspires to the occult path and considers changes and events in the light of all preceding events, and the longer and more accurate his memory the more he can dominate all possible situations.

Y khát vọng bước vào con đường huyền bí và xem xét các thay đổi cùng biến cố dưới ánh sáng của mọi biến cố trước đó; ký ức của y càng dài và càng chính xác, y càng có thể làm chủ mọi tình huống khả hữu.

Thus two of the hindrances will be found to be:

Như vậy, hai trong số các trở ngại sẽ được thấy là:

a. The comparative newness and change which is characteristic of the Occident.

a. Tính tương đối mới mẻ và sự thay đổi vốn là đặc trưng của phương Tây.

b. The development of the concrete mind.

b. Sự phát triển của trí cụ thể.

Our third hindrance grows out of the preceding one. It consists of the emphasis that has been laid in the West upon the material side of things. This has resulted in a three-fold condition of affairs. First, the world of spirit, or the formless abstract world of subjective consciousness is not recognised in a scientific sense. It is recognised [83] innately by those of mystic temperament, and by those who are able to study the subjective history of men and races, but science recognises not this aspect of manifestation, nor do scientific men, as a whole, believe in a world of super-physical endeavour. All that in the earlier races held paramount place in the lives and thought of the peoples is now approached sceptically, and discussions are preceded by a question mark. But progress has been made and much has arisen out of the war. The question, for instance, is rapidly changing from the formula “Is there a life after death?” to the enquiry “Of what nature is the future life?” and this is a portent of much encouragement.

Trở ngại thứ ba của chúng ta phát sinh từ trở ngại trước. Nó gồm sự nhấn mạnh đã được đặt ở phương Tây vào mặt vật chất của sự vật. Điều này đã dẫn đến một tình trạng sự việc tam phân. Thứ nhất, thế giới của tinh thần, hay thế giới trừu tượng vô hình tướng của tâm thức chủ quan, không được thừa nhận theo nghĩa khoa học. Nó được thừa nhận [83] một cách bẩm sinh bởi những người có khí chất thần bí, và bởi những người có khả năng nghiên cứu lịch sử chủ quan của con người và các nhân loại, nhưng khoa học không thừa nhận phương diện này của sự biểu hiện, và nói chung, các nhà khoa học không tin vào một thế giới nỗ lực siêu hồng trần. Tất cả những gì trong các nhân loại sơ khai từng giữ vị trí tối thượng trong đời sống và tư tưởng của các dân tộc, nay được tiếp cận bằng thái độ hoài nghi, và các cuộc thảo luận được đặt trước một dấu hỏi. Nhưng đã có tiến bộ, và nhiều điều đã nảy sinh từ chiến tranh. Chẳng hạn, câu hỏi đang nhanh chóng chuyển từ công thức “Có sự sống sau khi chết không?” sang sự tìm hiểu “Đời sống tương lai có bản chất như thế nào?”, và đây là một điềm báo rất đáng khích lệ.

Secondly, the masses of the people are suffering from suppression and from the effects of inhibition. Science has said, There is no God and no spirit within man. Religion has said, There must be a God, but where may He be found? The masses say, We desire not a God constructed by the brains of theologians. Therefore the true inner comprehension finds no room for expansion, and the activity that should be finding its legitimate expression in the higher aspiration, turns itself to the deification of things, —things pertaining to flesh, connected with the emotions, or having a relation to the mind. The war, again, has accomplished much by relegating things to their just position, and, by the removal of possessions, many have learnt the value of essentials, and the necessity of eliminating that which is superfluous.

Thứ hai, quần chúng đang chịu khổ vì sự đè nén và các tác động của sự ức chế. Khoa học đã nói: Không có Thượng đế và không có tinh thần trong con người. Tôn giáo đã nói: Phải có một Thượng đế, nhưng Ngài có thể được tìm thấy ở đâu? Quần chúng nói: Chúng tôi không muốn một Thượng đế do bộ não của các nhà thần học dựng nên. Do đó, sự thấu hiểu nội tại chân thật không tìm được chỗ để mở rộng, và hoạt động vốn phải tìm thấy sự biểu lộ chính đáng của nó trong khát vọng cao hơn lại quay sang thần thánh hóa các sự vật — những sự vật thuộc về xác thịt, liên hệ với cảm xúc, hoặc có quan hệ với thể trí. Một lần nữa, chiến tranh đã làm được nhiều điều bằng cách đưa sự vật về vị trí chính đáng của chúng; và qua việc mất đi tài sản, nhiều người đã học được giá trị của những điều thiết yếu và sự cần thiết phải loại bỏ những gì dư thừa.

A third condition of affairs grows out of the above two. A right apprehension of the future does not exist. When the life of the spirit is negated, when the manifesting life concentrates itself on things concrete and apparent then the true goal of existence disappears, the true incentive to right living is lost, and the sarcastic words of the initiate, Paul, “Let us eat and drink for tomorrow we die” characterise the attitude of the majority of men. [84]

Một tình trạng sự việc thứ ba phát sinh từ hai điều trên. Không tồn tại sự lĩnh hội đúng đắn về tương lai. Khi đời sống của tinh thần bị phủ nhận, khi sự sống đang biểu hiện tập trung vào những điều cụ thể và hiển hiện, thì mục tiêu chân thật của hiện hữu biến mất, động cơ chân thật cho đời sống đúng đắn bị mất đi, và những lời châm biếm của điểm đạo đồ Phao-lô: “Hãy ăn và uống, vì ngày mai chúng ta chết,” đặc trưng cho thái độ của đa số con người. [84]

Men deaden the inner voice that bears witness to the life hereafter, and they drown the words that echo in the silence by the noise and whirl of business, pleasure and excitement.

Con người làm tê liệt tiếng nói bên trong vốn làm chứng cho đời sống mai sau, và họ nhấn chìm những lời vang vọng trong im lặng bằng tiếng ồn và vòng xoáy của công việc, khoái lạc và kích động.

The whole secret of success in treading the occult path depends upon an attitude of mind; when the attitude is one of concrete materialism, of concentration upon form, and a desire for the things of the present moment, little progress can be made in apprehending the higher esoteric truth.

Toàn bộ bí quyết thành công trong việc bước trên con đường huyền bí tùy thuộc vào một thái độ của thể trí; khi thái độ ấy là chủ nghĩa duy vật cụ thể, là sự tập trung vào hình tướng, và là ham muốn những sự vật của khoảnh khắc hiện tại, thì rất ít tiến bộ có thể được thực hiện trong việc lĩnh hội chân lý huyền bí cao hơn.

A fourth hindrance is found in the physical body, which has been built up by the aid of meat and fermented foods and drinks, and nurtured in an environment in which fresh air and sunlight are not paramount factors. I am here generalising, and speaking for the masses of men, and not for the would-be earnest occult student. For long centuries food that has been decomposing, and hence in a condition of fermentation, has been the basic food of the occidental races; and the result can be seen in bodies unfitted for any strain such as occultism imposes, and which form a barrier to the clear shining forth of the life within. When fresh fruit and vegetables, clear water, nuts and grains, cooked and uncooked, form the sole diet of the evolving sons of men, then will be built bodies fitted to be vehicles for highly evolved Egos. They patiently await the turning of the wheel, and the coming in of a cycle which will permit of their fulfilling their destiny. The time is not yet, and the work of elimination and adjustment must be slow and tedious.

Một trở ngại thứ tư được tìm thấy trong thể xác, vốn đã được xây dựng với sự hỗ trợ của thịt, thức ăn và đồ uống lên men, và được nuôi dưỡng trong một môi trường nơi không khí trong lành và ánh sáng mặt trời không phải là những yếu tố chủ đạo. Ở đây tôi đang nói khái quát, và nói cho đại chúng, chứ không nói cho người đạo sinh huyền bí nghiêm túc đang mong muốn trở thành như vậy. Trong nhiều thế kỷ dài, thức ăn đang phân hủy, và do đó ở trong trạng thái lên men, đã là thức ăn căn bản của các nhân loại phương Tây; và kết quả có thể thấy trong những thân thể không thích hợp với bất kỳ sự căng thẳng nào như huyền bí học áp đặt, và tạo thành một rào chắn đối với sự tỏa sáng rõ ràng của sự sống bên trong. Khi trái cây và rau củ tươi, nước trong, các loại hạt và ngũ cốc, đã nấu hoặc chưa nấu, trở thành chế độ ăn duy nhất của những người con của nhân loại đang tiến hoá, bấy giờ những thân thể thích hợp làm hiện thể cho các Chân ngã tiến hoá cao sẽ được xây dựng. Các Ngài kiên nhẫn chờ bánh xe xoay chuyển, và sự xuất hiện của một chu kỳ cho phép các Ngài hoàn thành định mệnh của mình. Thời điểm ấy chưa đến, và công việc loại bỏ cùng điều chỉnh phải chậm rãi và nhọc nhằn.

The Overcoming of the Hindrances

Certain paramount realisations must precede this work of removing hindrances, and they might be enumerated as follows:

Một vài nhận thức tối quan trọng phải đi trước công việc loại bỏ các trở ngại này, và chúng có thể được liệt kê như sau:

a. A realisation that in obedience to the next duty and [85] adherence to the highest known form of truth lies the path of further revelation.

a. Một nhận thức rằng trong việc tuân theo bổn phận kế tiếp và [85] bám sát hình thức chân lý cao nhất đã biết, có con đường của sự mặc khải xa hơn.

b. A realisation that dispassion is the great thing to cultivate, and that a willingness to undergo joyously any amount of temporary inconvenience, pain or agony, must be developed, having in view the future glory which will blot out the clouds of the passing hour.

b. Một nhận thức rằng sự vô dục là điều lớn lao cần vun trồng, và rằng phải phát triển sự sẵn lòng vui vẻ chịu đựng bất kỳ mức độ bất tiện, đau đớn hay thống khổ tạm thời nào, với tầm nhìn hướng đến vinh quang tương lai vốn sẽ xóa tan những đám mây của giờ phút thoáng qua.

c. A realisation that synthesis is the method whereby comprehension is attained, and that, by blending the pairs of opposites, the middle path is gained that leads straight to the heart of the citadel.

c. Một nhận thức rằng tổng hợp là phương pháp nhờ đó sự thấu hiểu được đạt đến, và rằng bằng cách hòa trộn các cặp đối nghịch, con đường trung đạo được đạt tới, dẫn thẳng đến trái tim của thành trì.

With these three things paramountly controlling his views on life, the student may hope, by strenuous endeavour, to overcome the four hindrances which we have touched upon.

Với ba điều này giữ vai trò chi phối tối thượng trong quan điểm của y về đời sống, đạo sinh có thể hy vọng, bằng nỗ lực mạnh mẽ, vượt qua bốn trở ngại mà chúng ta đã đề cập.

In taking up our consideration of the second Rule we will deal first with the relation of the soul to the personality, primarily from the standpoint of meditation. We are dealing therefore with “the greater light” and will take up later the “throwing upward of the lower light”. This is in line also with the law of occult knowledge that one begins with universals.

Khi bắt đầu xét Quy luật thứ hai, trước hết chúng ta sẽ bàn đến mối liên hệ của linh hồn với phàm ngã, chủ yếu từ lập trường tham thiền. Do đó, chúng ta đang đề cập đến “ánh sáng lớn hơn” và về sau sẽ xét đến “việc phóng lên trên của ánh sáng thấp”. Điều này cũng phù hợp với định luật của tri thức huyền bí rằng người ta bắt đầu với những điều phổ quát.

It should be borne in mind that these rules are only for those whose personality is coordinated and whose minds are gradually being brought under control. The man therefore is utilising the lower mind, the reasoning mind, whilst the soul is utilising the higher or abstract mind. Both units are working with two aspects of the universal principle of mind, and on this ground their relation becomes possible. The man’s work with his mind is to render it negative and receptive to the soul, and this is his positive occupation (note the use here of the word ‘positive’ in the attempt to make the mind receptive, for herein lies the clue to right action). The soul’s work in [86] meditation is to make the point of that meditation so positive that the lower mind can be impressed, and so the lower man can be brought into line with the Eternal Plan.

Cần ghi nhớ rằng các quy luật này chỉ dành cho những người có phàm ngã đã được phối hợp và có thể trí đang dần được đưa vào kiểm soát. Do đó, con người đang sử dụng hạ trí, tức trí lý luận, trong khi linh hồn đang sử dụng thượng trí hay trí trừu tượng. Cả hai đơn vị đều làm việc với hai phương diện của nguyên khí trí tuệ phổ quát, và trên nền tảng này mối liên hệ của chúng trở nên khả hữu. Công việc của con người với thể trí của mình là làm cho nó trở nên âm tính và tiếp nhận đối với linh hồn; và đây là công việc mang tính dương của y, hãy lưu ý cách dùng từ “dương” ở đây trong nỗ lực làm cho thể trí trở nên tiếp nhận, vì chính trong điều này có chìa khóa cho hành động đúng. Công việc của linh hồn trong [86] tham thiền là làm cho tiêu điểm của sự tham thiền ấy trở nên dương tính đến mức hạ trí có thể được in dấu, và nhờ đó phàm nhân có thể được điều chỉnh cho phù hợp với Thiên Cơ vĩnh cửu.

Thus, again, we have a relation established between a positive and a negative vibration, and the study of these relations carries much information to the student, and is part of the teaching given in preparation for the first initiation. A list of these related situations might here be given showing them in their progressive relation on the path of evolution.

Như vậy, một lần nữa, chúng ta có một mối liên hệ được thiết lập giữa một rung động dương tính và một rung động âm tính; và việc nghiên cứu các mối liên hệ này mang lại nhiều thông tin cho đạo sinh, đồng thời là một phần của giáo huấn được đưa ra để chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất. Ở đây có thể đưa ra một danh sách các tình huống liên hệ này, cho thấy chúng trong mối quan hệ tiến triển của chúng trên con đường tiến hoá.

1. The relation between male and female physical bodies, called by man, the sex relation, and deemed of such paramount importance at this time. In the vale of illusion, the symbol oft engrosses attention and that which it represents is forgotten. In the solving of this relationship will come racial initiation, and it is with this that the race is now engrossed.

1. Mối liên hệ giữa các thể xác nam và nữ, được con người gọi là quan hệ tính dục, và được xem là có tầm quan trọng tối thượng vào thời điểm này. Trong thung lũng ảo tưởng, biểu tượng thường chiếm trọn sự chú ý, còn điều mà nó đại diện thì bị lãng quên. Trong việc giải quyết mối quan hệ này sẽ đến sự điểm đạo của nhân loại, và chính điều này hiện đang thu hút sự bận tâm của nhân loại.

2. The relation between the astral body and the physical, which, for the majority, is the control, by the positive astral nature, of the negative automatic physical. The physical body, the instrument of desire, is swayed and controlled by desire, —desire for physical life, and desire for the acquisition of the tangible.

2. Mối liên hệ giữa thể cảm dục và thể xác, vốn đối với đa số là sự kiểm soát của bản chất cảm dục dương tính đối với thể xác âm tính, tự động. Thể xác, khí cụ của ham muốn, bị ham muốn lay chuyển và kiểm soát — ham muốn đối với đời sống hồng trần, và ham muốn chiếm hữu những điều hữu hình.

3. The relation between the mind and the brain, which constitutes the problem of the more advanced men and races and of which the vast system of schools, colleges, and universities indicate the importance. Much progress in this relation has been made during the past fifty years, and the work of the psychologists marks its highest point. When this is understood, the mind will be regarded as the positive factor and the other two aspects of the form nature will respond receptively. They will be the automatons of the mind.

3. Mối liên hệ giữa thể trí và bộ não, vốn cấu thành vấn đề của những người và những nhân loại tiến hoá hơn, và tầm quan trọng của nó được chỉ ra bởi hệ thống rộng lớn các trường học, học viện và đại học. Nhiều tiến bộ trong mối liên hệ này đã được thực hiện trong năm mươi năm qua, và công trình của các nhà tâm lý học đánh dấu điểm cao nhất của nó. Khi điều này được thấu hiểu, thể trí sẽ được xem là yếu tố dương tính, và hai phương diện kia của bản chất hình tướng sẽ đáp ứng một cách tiếp nhận. Chúng sẽ là các cơ cấu tự động của thể trí.

4. The relation between the soul and the personality, which is the problem engrossing the attention of aspirants now, for they are the pioneers of the human family, the pathfinders into the world of the soul. With this [87] relation, the mystics and the occultists concern themselves.

4. Mối liên hệ giữa linh hồn và phàm ngã, vốn là vấn đề đang thu hút sự chú ý của những người chí nguyện hiện nay, vì họ là những người tiên phong của gia đình nhân loại, những người mở đường vào thế giới của linh hồn. Với mối [87] liên hệ này, các nhà thần bí và các nhà huyền bí học bận tâm.

5. The relation between the centres below the diaphragm and those above, or between:

5. Mối liên hệ giữa các trung tâm bên dưới cơ hoành và các trung tâm bên trên, hay giữa:

a. The centre at the base of the spine and the thousand petalled lotus, the head centre. In this the four petals of the basic centre become the many, or the quaternary is lost in the universal.

a. Trung tâm ở đáy cột sống và Hoa sen nghìn cánh, tức trung tâm đầu. Trong điều này, bốn cánh hoa của trung tâm căn bản trở thành nhiều cánh, hay tứ phân mất hút trong cái phổ quát.

b. The sacral centre and the throat. In this there comes a union between the twelve Creative Hierarchies and the quaternary, and the secret of the sixteen petals of the throat lotus is seen.

b. Trung tâm xương cùng và trung tâm cổ họng. Trong điều này, có sự hợp nhất giữa mười hai Huyền Giai Sáng Tạo và tứ phân, và bí mật của mười sáu cánh hoa nơi Hoa sen cổ họng được nhìn thấy.

c. The solar plexus centre and the heart, in which the ten of the perfect man in this solar system is lost in the consummated twelve. As the twelve Creative Hierarchies (in their outer and creative aspect) are contacted by the man, who is the perfected quaternary from the standpoint of the form, so in the relation between the solar plexus and heart is the second aspect perfected; the love of the soul can express itself perfectly through the emotional nature.

c. Trung tâm tùng thái dương và trái tim, trong đó con số mười của con người hoàn thiện trong hệ mặt trời này mất hút trong con số mười hai đã viên mãn. Khi mười hai Huyền Giai Sáng Tạo, trong phương diện bên ngoài và sáng tạo của các Ngài, được con người tiếp xúc — con người vốn là tứ phân đã hoàn thiện theo quan điểm của hình tướng — thì trong mối liên hệ giữa tùng thái dương và trái tim, phương diện thứ hai cũng được hoàn thiện; tình thương của linh hồn có thể biểu lộ một cách hoàn hảo qua bản chất cảm xúc.

6. The relation between the two head centres, or between the centre between the eyebrows and the centre above the head. This relation is set up and stabilised when soul and body are a functioning unit.

6. Mối liên hệ giữa hai trung tâm đầu, hay giữa trung tâm giữa hai chân mày và trung tâm phía trên đầu. Mối liên hệ này được thiết lập và ổn định khi linh hồn và thân thể là một đơn vị đang vận hành.

7. The relation between the pineal gland and the pituitary body as a result of the above.

7. Mối liên hệ giữa tuyến tùng và tuyến yên như kết quả của điều trên.

8. The relation between the higher and the lower mind, involving steady and increasing soul contact. The meditative attitude of the soul is duplicated in the three bodies (or by the spiritual man) and the steady meditation of the soul goes on also on its own plane. It is with this and with its effects that we are primarily concerned in this rule.

8. Mối liên hệ giữa thượng trí và hạ trí, bao hàm sự tiếp xúc linh hồn vững chắc và ngày càng tăng. Thái độ tham thiền của linh hồn được tái hiện trong ba thể, hay bởi con người tinh thần, và sự tham thiền bền bỉ của linh hồn cũng tiếp diễn trên chính cõi của nó. Chính điều này và các hiệu quả của nó là điều chúng ta chủ yếu quan tâm trong quy luật này.

A later relationship, which in no way concerns us, is [88] set up after the third initiation between the soul and the monad, and throughout the course of cosmic evolution these relationships will emerge. The race as a whole is, however, only concerned with the setting up of a relation between soul and body and beyond this there is no need to go.

Một mối liên hệ về sau, vốn không liên quan gì đến chúng ta, được [88] thiết lập sau lần điểm đạo thứ ba giữa linh hồn và chân thần, và trong suốt tiến trình tiến hoá vũ trụ, các mối liên hệ này sẽ xuất hiện. Tuy nhiên, toàn thể nhân loại chỉ liên quan đến việc thiết lập một mối liên hệ giữa linh hồn và thân thể, và không cần đi xa hơn điều này.

As the man seeks to reach control of the mind, the soul in its turn becomes more actively aggressive. The work of the solar Angel has hitherto been largely in its own world and concerned with its relation to spirit, and with this the man, working through his cycles on the physical plane, has had no concern. The main expenditure of energy by the soul has been general, and outward-going into the fifth kingdom. Now the solar Angel approaches a time of crisis and of re-orientation. In the early history of humanity there was a great crisis which we call individualisation. At that time the solar Angels, in response to a demand or a pull from the race of animal-men (as a whole, note that), sent a portion of their energy, embodying the quality of mentalisation, to these animal-men. They fecundated, if I might so express it, the brain. Thus was humanity brought into being. This germ, however, carried within it two other potentialities, that of spiritual love and spiritual life. These must in due time make their appearance.

Khi con người tìm cách đạt quyền kiểm soát thể trí, linh hồn đến lượt mình trở nên tích cực và mạnh mẽ hơn. Công việc của Thái dương Thiên Thần cho đến nay phần lớn diễn ra trong thế giới riêng của Ngài, và liên quan đến mối liên hệ của Ngài với tinh thần; còn con người, khi hoạt động qua các chu kỳ của mình trên cõi hồng trần, đã không liên quan đến điều này. Sự tiêu hao năng lượng chính của linh hồn đã có tính tổng quát, và hướng ra ngoài vào giới thứ năm. Giờ đây Thái dương Thiên Thần tiến đến một thời kỳ khủng hoảng và tái định hướng. Trong lịch sử sơ khai của nhân loại, đã có một cuộc khủng hoảng lớn mà chúng ta gọi là biệt ngã hóa. Vào thời điểm đó, các Thái dương Thiên Thần, đáp ứng một nhu cầu hay một sức kéo từ nhân loại người thú, xét như một toàn thể, hãy lưu ý điều đó, đã gửi một phần năng lượng của các Ngài, mang phẩm tính trí tuệ hóa, đến những người thú này. Nếu có thể diễn đạt như vậy, các Ngài đã thụ tinh cho bộ não. Như thế, nhân loại được đưa vào hiện hữu. Tuy nhiên, mầm này mang trong nó hai tiềm năng khác: tình thương tinh thần và sự sống tinh thần. Đến đúng thời, hai điều này phải xuất hiện.

The flowering forth of the mind in men, which so distinguishes the present age, indicates to the solar Angel a second crisis, of which the first was but the symbol. That for which the solar Angel exists is making its presence felt within humanity, and another strong pull is being exerted upon the solar Angel which this time will produce a second fecundation. This will give to man those qualities which will enable him to transcend human limitations, and become a part of the fifth or spiritual Kingdom in nature. The first effort of the solar Angel turned animal-men into human beings; the second will [89] turn human beings into spiritual entities, plus the gains of experience in the human family.

Sự nở rộ của trí tuệ nơi con người, vốn phân biệt thời đại hiện nay một cách rõ rệt, báo hiệu cho Thái dương Thiên Thần một cuộc khủng hoảng thứ hai, mà cuộc khủng hoảng thứ nhất chỉ là biểu tượng. Điều vì đó Thái dương Thiên Thần hiện hữu đang làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận trong nhân loại, và một sức kéo mạnh mẽ khác đang tác động lên Thái dương Thiên Thần; lần này sức kéo ấy sẽ tạo nên một sự thụ tinh thứ hai. Điều này sẽ ban cho con người những phẩm tính giúp y vượt qua các giới hạn của con người, và trở thành một phần của giới thứ năm hay giới tinh thần trong thiên nhiên. Nỗ lực đầu tiên của Thái dương Thiên Thần đã biến những người thú thành những con người; nỗ lực thứ hai sẽ [89] biến con người thành các thực thể tinh thần, cộng thêm những thành quả kinh nghiệm trong gia đình nhân loại.

For this the solar Angel, the soul, is organising itself and re-orienting itself so that its power can be redirected into the world of men. Contact must be made by the soul between the lower aspect of its triple nature and the aspect which has already found lodgment in the brain of man. Intelligent activity and love wisdom must be united, and the union must take place on the physical plane. In order to do this the soul is entering into “meditation deep”, in union with all other souls who may have brought their instrument into a responsive state. This is the basic group meditation, and when a man achieves what the oriental books call “samadhi”, he has succeeded in participating, as a soul, in this group meditation, and enters upon that cycle of service which expresses itself through the planetary Hierarchy. The rational mind and the abstract mind function as a unit, and the motivating principle is love. The soul, expressing love and abstract intelligence, is at one with its expression on the physical plane through the brain, and, when this is the case, the lower man has synchronised his meditation with that of the soul.

Vì điều này, Thái dương Thiên Thần, tức linh hồn, đang tự tổ chức và tự tái định hướng để quyền năng của Ngài có thể được chuyển hướng vào thế giới của con người. Linh hồn phải tạo sự tiếp xúc giữa phương diện thấp của bản chất tam phân của nó và phương diện đã tìm được chỗ trú trong bộ não của con người. Hoạt động thông tuệ và Bác Ái – Minh Triết phải được hợp nhất, và sự hợp nhất ấy phải diễn ra trên cõi hồng trần. Để làm điều này, linh hồn đang bước vào “thiền định sâu sắc”, trong sự hợp nhất với tất cả những linh hồn khác có thể đã đưa khí cụ của mình vào trạng thái đáp ứng. Đây là sự tham thiền nhóm căn bản, và khi một người đạt được điều mà các sách phương Đông gọi là “đại định”, y đã thành công trong việc tham dự, với tư cách linh hồn, vào sự tham thiền nhóm này, và bước vào chu kỳ phụng sự biểu lộ qua Thánh Đoàn hành tinh. Trí lý luận và trí trừu tượng vận hành như một đơn vị, và nguyên khí thúc đẩy là tình thương. Linh hồn, biểu lộ tình thương và trí tuệ trừu tượng, hợp nhất với sự biểu lộ của nó trên cõi hồng trần qua bộ não; và khi điều này xảy ra, phàm nhân đã đồng bộ sự tham thiền của mình với sự tham thiền của linh hồn.

This is the objective of our work. Let this not be forgotten, and let every effort be made to bring mind and brain into such a functioning condition that a man can slip out of his own meditation and (losing sight of his own thoughts) become the soul, the thinker in the kingdom of the soul.

Đây là mục tiêu công việc của chúng ta. Đừng quên điều này, và hãy thực hiện mọi nỗ lực để đưa thể trí và bộ não vào một tình trạng vận hành đến mức con người có thể thoát ra khỏi sự tham thiền riêng của mình và, khi không còn chú ý đến các tư tưởng riêng, trở thành linh hồn, tức chủ thể tư duy trong giới của linh hồn.

It is perhaps a new thought to some that the soul is organising itself for effort, re-orienting its forces, and preparing for a fresh and powerful impulse, but so it is. All forms of life under the force of evolution pass from initiation to initiation and the soul is not exempt from the process. Just as the soul of animal-man became united with another divine principle, and so brought into [90] being the fourth kingdom in nature, so the soul in humanity is seeking contact with another divine aspect. When that contact is made the Kingdom of God will come on earth; the physical plane will thereby be transformed and that peculiar period, presented symbolically under the term millennium, will come.

Có lẽ đối với một số người, ý tưởng rằng linh hồn đang tự tổ chức cho nỗ lực, tái định hướng các mãnh lực của nó, và chuẩn bị cho một xung lực mới mẻ và mạnh mẽ là một tư tưởng mới, nhưng sự thật là như vậy. Mọi hình tướng của sự sống dưới mãnh lực tiến hoá đều đi từ điểm đạo này đến điểm đạo khác, và linh hồn không được miễn trừ khỏi tiến trình ấy. Cũng như linh hồn của người thú đã hợp nhất với một nguyên khí thiêng liêng khác, và nhờ vậy đưa [90] giới thứ tư trong thiên nhiên vào hiện hữu, thì linh hồn trong nhân loại cũng đang tìm cách tiếp xúc với một phương diện thiêng liêng khác. Khi sự tiếp xúc ấy được tạo lập, Thiên Giới sẽ đến trên Trái Đất; nhờ đó cõi hồng trần sẽ được chuyển đổi, và thời kỳ đặc biệt ấy, được trình bày một cách biểu tượng dưới thuật ngữ thiên niên kỷ, sẽ đến.

The Knowers of God in that era will preponderate over those who are simply aspiring to that knowledge, and their contact and the results of the force they transmit will be felt in all the kingdoms of nature. Dominion over all forms, and the power to act as transmitters of that spiritual energy we call love is the promised reward of the triumphant solar Angels, and the prized goal of their meditation work. The Sons of God will triumph on earth in full incarnated expression, and will bring light (therefore life) to all the manifested forms. This is the “life more abundant” of which the Christ speaks. This is the achievement of the true Nirvanee who, living in unbroken meditation in the spiritual realm yet can work on earth. The work of initiation is to enable a man to live ever at the centre, but to act as a distributor of divine energy in any direction and—after the later initiations—in all directions.

Những thức giả của Thượng đế trong thời đại ấy sẽ chiếm ưu thế hơn những người chỉ đơn thuần khát vọng đến tri thức ấy, và sự tiếp xúc của họ cùng các kết quả của mãnh lực họ truyền dẫn sẽ được cảm nhận trong mọi giới của thiên nhiên. Quyền thống trị trên mọi hình tướng, và quyền năng hoạt động như những vị truyền dẫn năng lượng tinh thần mà chúng ta gọi là tình thương, là phần thưởng đã hứa dành cho các Thái dương Thiên Thần chiến thắng, và là mục tiêu quý báu trong công việc tham thiền của các Ngài. Các Con của Thượng đế sẽ khải hoàn trên Trái Đất trong sự biểu lộ nhập thể trọn vẹn, và sẽ đem ánh sáng, do đó là sự sống, đến mọi hình tướng đã biểu hiện. Đây là “sự sống dồi dào hơn” mà Đức Christ nói đến. Đây là thành tựu của nirvani chân chính, người sống trong sự tham thiền không gián đoạn trong cõi tinh thần mà vẫn có thể hoạt động trên Trái Đất. Công việc của điểm đạo là giúp con người luôn sống tại trung tâm, nhưng hành động như một vị phân phối năng lượng thiêng liêng theo bất cứ hướng nào và, sau các lần điểm đạo về sau, theo mọi hướng.

We will now, in our consideration of the next rule, take up the work of the “lesser light” of man on the physical plane. I, who have entered somewhat into an understanding of the life of the solar Angel, seek to assure my fellow pilgrims that the passing things of the senses are but trivial, and of no value compared to the rewards, here and in this life, to the man who seeks to merge his everyday consciousness with that of his own soul. He enters then into the community of souls, and stands not alone. The only lonely periods are the result of wrong orientation and the holding on to that which hides the vision, and fills the hands so full that they cannot grasp what has been called “the jewel in the lotus.”

Giờ đây, khi xem xét quy luật kế tiếp, chúng ta sẽ bàn đến công việc của “ánh sáng nhỏ hơn” của con người trên cõi hồng trần. Tôi, người đã phần nào đi vào sự thấu hiểu đời sống của Thái dương Thiên Thần, tìm cách bảo đảm với các bạn đồng hành của tôi rằng những điều thoáng qua của giác quan chỉ là tầm thường, và không có giá trị gì so với các phần thưởng, ngay tại đây và trong đời sống này, dành cho người tìm cách hòa nhập tâm thức hằng ngày của mình với tâm thức của linh hồn mình. Khi ấy y bước vào cộng đồng các linh hồn, và không đứng một mình. Những giai đoạn cô đơn duy nhất là kết quả của định hướng sai lầm và sự bám giữ vào điều che khuất tầm nhìn, làm cho đôi tay đầy ắp đến mức chúng không thể nắm lấy điều đã được gọi là “viên ngọc trong Hoa sen”.

RULE THREE

The Energy circulates. The point of light, the product of the labours of the four, waxeth and groweth. The myriads gather round ita glowing warmth until its light recedes. Its fire grows dim. Then shall the second sound go forth.

Năng Lượng tuần hoàn. Điểm ánh sáng, sản phẩm do công sức của bốn, trở nên mạnh mẽ và tăng trưởng. Vô số sinh linh tập trung quanh hơi ấm rực rỡ của nó cho đến khi ánh sáng của nó mờ dần. Ngọn lửa của nó mờ đi. Kế đó, âm thanh thứ hai sẽ phát ra.

Soul Light and Body Light

[93]

[93]

In these Rules for Magic, the laws of creative work are embodied and the means whereby man can function as an incarnated soul. They do not deal primarily with the rules governing man’s development. Incidentally, of course, much may be learnt in this connection, for man grows through creative work and understanding, but this is not the primary objective of the teaching.

Trong các Quy Luật về Huyền Thuật này, các định luật của công việc sáng tạo được hàm chứa, cũng như các phương tiện nhờ đó con người có thể vận hành như một linh hồn nhập thể. Chúng không chủ yếu đề cập đến các quy luật chi phối sự phát triển của con người. Dĩ nhiên, qua đó có thể học được nhiều điều trong liên hệ này, vì con người tăng trưởng qua công việc sáng tạo và sự thấu hiểu, nhưng đó không phải là mục tiêu chính của giáo huấn.

Through the gradually growing synthesis of the meditation process carried on by the soul on its own plane and that of the aspirant the man manifests (in the physical brain) a point of light which has been occultly lighted on the plane of the mind. Light ever signifies two things, energy and its manifestation in form of some kind, for light and matter are synonymous terms. The thought of the man and the idea of the soul have found a point of rapport, and the germ of a thought form has come into being. This thought form, when completed, will embody as much of the great plan (on which the Hierarchy is working) as the man can vision, grasp, and embody on the mental plane. This, in the early stages of a man’s aspiration, in his first steps along the Path of Discipleship, and for the first two initiations, is covered by the word “Service”. He grasps, gropingly at first, the idea of the unity of the Life, and its manifestation as the Brotherhood existing between all forms of that divine Life. This subjective ideal gradually leads to an appreciation of the way in which this essential relationship can work out practically. This can be seen finding its expression in the great humanitarian efforts, in the organisations [94] for the relief of human and animal suffering, and in world wide efforts for the betterment of the internal relations of nations, religions and groups.

Thông qua sự tổng hợp tăng trưởng dần dần giữa tiến trình tham thiền do linh hồn thực hiện trên cõi riêng của nó và tiến trình tham thiền của người chí nguyện, con người biểu hiện, trong bộ não hồng trần, một điểm ánh sáng đã được thắp lên một cách huyền bí trên cõi trí. Ánh sáng bao giờ cũng chỉ hai điều: năng lượng và sự biểu hiện của nó trong một loại hình tướng nào đó, vì ánh sáng và vật chất là những thuật ngữ đồng nghĩa. Tư tưởng của con người và ý tưởng của linh hồn đã tìm thấy một điểm tương giao, và mầm của một hình tư tưởng đã đi vào hiện hữu. Hình tư tưởng này, khi hoàn tất, sẽ hiện thân được chừng nào mà con người có thể nhìn thấy, nắm bắt và thể hiện trên cõi trí của Thiên Cơ vĩ đại, mà Thánh Đoàn đang hoạt động theo đó. Điều này, trong các giai đoạn đầu của khát vọng nơi con người, trong những bước đầu tiên của y trên Con Đường Đệ Tử, và trong hai lần điểm đạo đầu, được bao hàm trong từ “Phụng sự”. Y nắm bắt, lúc đầu còn dò dẫm, ý tưởng về sự hợp nhất của Sự sống, và sự biểu hiện của nó như tình huynh đệ hiện hữu giữa mọi hình tướng của Sự sống thiêng liêng ấy. Lý tưởng chủ quan này dần dần dẫn đến sự đánh giá đúng phương cách mà mối liên hệ thiết yếu này có thể được thực hiện một cách thực tiễn. Điều này có thể được thấy đang tìm sự biểu lộ của nó trong những nỗ lực nhân đạo lớn lao, trong các tổ chức [94] cứu trợ nỗi đau khổ của con người và động vật, và trong những nỗ lực trên toàn thế giới nhằm cải thiện các quan hệ nội tại giữa các quốc gia, tôn giáo và nhóm.

Enough human units have now contacted the hierarchical plan so that it may be safely concluded that the collective brain of the human family (that entity which we call the fourth Kingdom of Nature) is susceptible to the vision, and has fashioned its lighted form on the mental plane. Later, the thought of service and of self will be found inadequate, and a more suitable form of expression will be found, but this suffices for the present.

Hiện nay đã có đủ các đơn vị nhân loại tiếp xúc với Thiên Cơ của Thánh Đoàn, đến mức có thể kết luận một cách an toàn rằng bộ não tập thể của gia đình nhân loại, thực thể mà chúng ta gọi là giới thứ tư trong Thiên nhiên, có khả năng tiếp nhận tầm nhìn, và đã tạo nên hình tướng được soi sáng của nó trên cõi trí. Về sau, tư tưởng về phụng sự và về bản ngã sẽ được nhận thấy là không còn thích đáng, và một hình thức biểu lộ phù hợp hơn sẽ được tìm ra, nhưng hiện tại điều này là đủ.

This thought form, created by the aspirant, is brought into being by the focussed energies of the soul and the re-oriented forces of the personality. This is pictured as covering three stages.

Hình tư tưởng này, do người chí nguyện tạo ra, được đưa vào hiện hữu bởi các năng lượng được tập trung của linh hồn và các mãnh lực được tái định hướng của phàm ngã. Điều này được mô tả như bao gồm ba giai đoạn.

1. The period wherein the aspirant struggles to achieve that inner quiet and directed attentiveness which will enable him to hear the Voice of the Silence. That voice expresses to him, through symbol and interpreted life experience the purposes and plans with which he may cooperate. According to his stage of development those plans will express either:

1. Thời kỳ trong đó người chí nguyện phấn đấu để đạt sự yên tĩnh nội tâm và sự chú tâm có định hướng, nhờ đó y có thể nghe Tiếng Nói của Im Lặng. Tiếng nói ấy biểu lộ cho y, qua biểu tượng và kinh nghiệm sống đã được giải thích, các mục đích và kế hoạch mà y có thể cộng tác. Tùy theo giai đoạn phát triển của y, các kế hoạch ấy sẽ biểu lộ hoặc là:

a. The already materialized plans, taking group form on the physical plane, with which he may cooperate and in whose interest he may submerge his own.

a. Các kế hoạch đã hiện hình, đang mang hình thức nhóm trên cõi hồng trần, mà y có thể cộng tác và vì lợi ích của chúng mà y có thể làm chìm mất lợi ích riêng của mình.

b. The plan, or fraction of a plan, which is his individual privilege to bring through into manifestation and thus cause to materialize as a group activity on the physical plane. It is the function of some aspirants to aid and help those groups which are already in functioning activity. It is the function of others to bring into being those forms of activity which are, as yet, on the subjective plane. Only those aspirants who are freed from personal [95] ambition can truly cooperate in this second aspect of the work. Therefore “Kill out ambition.”

b. Kế hoạch, hay một phần của kế hoạch, mà y có đặc ân cá nhân là đưa xuyên qua vào biểu hiện và nhờ đó khiến nó hiện hình như một hoạt động nhóm trên cõi hồng trần. Chức năng của một số người chí nguyện là trợ giúp và hỗ trợ những nhóm đã đang hoạt động. Chức năng của những người khác là đưa vào hiện hữu những hình thức hoạt động hiện còn ở trên cõi chủ quan. Chỉ những người chí nguyện đã được giải thoát khỏi tham vọng cá nhân [95] mới có thể thật sự cộng tác trong phương diện thứ hai này của công việc. Vì vậy, “Hãy diệt trừ tham vọng”.

2. The period wherein he habituates himself to the clear hearing and correct interpretation of the inner voice of the soul and broods reflectively upon the imparted message. During this period “the Energy circulates.” A constant rhythmic response to the thought energy of the soul is set up, and, figuratively speaking, there is a steady flow of force between that centre of energy we call the soul on its own plane, and that centre of force which is a human being. The energy travels along the “thread” we call the sutratma and sets up a vibratory response between the brain and the soul.

2. Thời kỳ trong đó y tự tập cho quen với việc nghe rõ và giải thích đúng tiếng nói bên trong của linh hồn, và trầm tư suy ngẫm về thông điệp được truyền trao. Trong thời kỳ này, “Năng Lượng tuần hoàn”. Một sự đáp ứng nhịp nhàng liên tục đối với năng lượng tư tưởng của linh hồn được thiết lập, và, nói theo nghĩa bóng, có một dòng mãnh lực đều đặn giữa trung tâm năng lượng mà chúng ta gọi là linh hồn trên cõi riêng của nó, và trung tâm mãnh lực là một con người. Năng lượng đi dọc theo “sợi dây” mà chúng ta gọi là sinh mệnh tuyến, và thiết lập một đáp ứng rung động giữa bộ não và linh hồn.

An interesting angle of information might here be given, as it is my intent in these Instructions ever to link up the analogies between the different aspects of divinity, as they express themselves in man or in the macrocosm, the Heavenly Man.

Ở đây có thể đưa ra một góc nhìn thông tin thú vị, vì ý định của tôi trong các Huấn thị này luôn là nối kết các tương đồng giữa những phương diện khác nhau của thiên tính, khi chúng biểu lộ nơi con người hay nơi Đại thiên địa, Đấng Thiên Nhân.

The ancient yoga of Atlantean days (which has come down to us in the necessarily fragmentary teaching of the yoga of the centres) conveys to us the information that the reflection of the sutratma in the human organism is called the spinal cord, and expresses itself in three nerve channels. These three are called ida, pingala, and the central channel, the sushumna. When the negative and positive forces of the body, which express themselves via the ida and pingala nerve routes, are equilibrized, the forces can ascend and descend by the central channel to and from the brain, passing through the centres up the spine without hindrance. When this is the case we have perfected soul expression in the physical man.

Yoga cổ xưa của thời Atlantis, vốn đã truyền đến chúng ta trong giáo huấn tất yếu là rời rạc của yoga về các trung tâm, cho chúng ta biết rằng phản ảnh của sinh mệnh tuyến trong cơ thể con người được gọi là tủy sống, và biểu lộ qua ba kinh mạch thần kinh. Ba kinh này được gọi là kinh trái, kinh phải và kinh trung ương. Khi các mãnh lực âm và dương của thể xác, biểu lộ qua các đường thần kinh trái và phải, được quân bình, các mãnh lực có thể đi lên và đi xuống qua kinh trung ương đến và từ bộ não, đi qua các trung tâm dọc theo cột sống mà không bị cản trở. Khi điều này xảy ra, chúng ta có sự biểu lộ linh hồn hoàn thiện nơi con người hồng trần.

This is in reality a correspondence to the sutratma as it links the physical man and the soul, for the sutratma in its turn expresses the positive energy of spirit, the negative energy of matter, and the equilibrized energy [96] of the soul—the attainment of equilibrium being the present objective of humanity. During the period of the later initiations, the positive use of the spiritual energy supersedes the equilibrized use of soul force, but that is a later stage with which the aspirant need not as yet trouble himself. Let him find the “noble middle Path” between the pairs of opposites, and incidentally he will find that the forces he uses on the physical plane will employ the central nerve channel up the spine. This will occur as the transmission of light and truth to the physical brain, via the central channel of the linking sutratma, really works out into satisfactory usefulness. Those ideas and concepts (speaking in symbol) which come via the sutratmic negative channel are well meaning, but lack force and peter out into insignificance. They are emotionally coloured, and lack the organized form which pure mind can give. Those which come via the opposite channel (speaking figuratively) produce too rapid concretion, and are motivated by the personal ambition of a ruling mentality. The mind is ever egoistic, self-seeking, and expresses that personal ambition which carries within it the germ of its own destruction.

Điều này thật ra là một tương ứng với sinh mệnh tuyến khi nó nối kết con người hồng trần và linh hồn, vì đến lượt mình, sinh mệnh tuyến biểu lộ năng lượng dương của tinh thần, năng lượng âm của vật chất, và năng lượng quân bình [96] của linh hồn — việc đạt được quân bình là mục tiêu hiện nay của nhân loại. Trong thời kỳ của các lần điểm đạo về sau, việc vận dụng năng lượng tinh thần theo cực dương thay thế cho việc sử dụng quân bình mãnh lực linh hồn, nhưng đó là một giai đoạn về sau mà người chí nguyện chưa cần bận tâm. Hãy để y tìm thấy “Con Đường trung dung cao quý” giữa các cặp đối nghịch, và nhân tiện y sẽ thấy rằng các mãnh lực y sử dụng trên cõi hồng trần sẽ vận dụng kinh thần kinh trung ương dọc theo cột sống. Điều này sẽ xảy ra khi việc truyền dẫn ánh sáng và chân lý đến bộ não hồng trần, qua kinh trung ương của sinh mệnh tuyến nối kết, thật sự được thể hiện thành sự hữu dụng thỏa đáng. Những ý tưởng và khái niệm, nói theo biểu tượng, đến qua kinh âm của sinh mệnh tuyến thì có thiện chí, nhưng thiếu mãnh lực và tàn lụi thành vô nghĩa. Chúng bị nhuộm màu cảm xúc, và thiếu hình thức có tổ chức mà trí tuệ thuần khiết có thể đem lại. Những điều đến qua kinh đối nghịch, nói theo nghĩa bóng, tạo ra sự kết tinh quá nhanh, và được thúc đẩy bởi tham vọng cá nhân của một trí tuệ thích cai trị. Thể trí bao giờ cũng vị kỷ, tìm kiếm cho bản thân, và biểu lộ tham vọng cá nhân vốn mang trong nó mầm mống tự hủy diệt.

When, however, the sutratmic sushumna, the central nerve channel and its energy is employed, the soul, as a magnetic intelligent creator, transmits its energies. The plans can then mature according to divine purpose and proceed with their building activities “in the light”. The point of egoic and lunar contact emits ever the point of light, as we have seen from our Rules for Magic, and that has its focus at the point in the sutratma which has its correspondence in the light in the head of the aspirant.

Tuy nhiên, khi kinh trung ương của sinh mệnh tuyến, tức kinh thần kinh trung ương và năng lượng của nó, được sử dụng, linh hồn, với tư cách một đấng sáng tạo thông tuệ, mang từ tính, truyền dẫn các năng lượng của mình. Khi ấy các kế hoạch có thể chín muồi phù hợp với Thiên Ý và tiến hành các hoạt động kiến tạo của chúng “trong ánh sáng”. Điểm tiếp xúc giữa chân ngã và phương diện thái âm luôn phát ra điểm ánh sáng, như chúng ta đã thấy từ các Quy Luật về Huyền Thuật, và điểm ấy có tiêu điểm tại điểm trong sinh mệnh tuyến có sự tương ứng của nó trong ánh sáng nơi đầu của người chí nguyện.

3. The period wherein he sounds the sacred Word and—blending it with the voice of the Ego or Soul—sets in motion mental matter for the building of his thought form. It is the man on the physical plane who now sounds the Word, and he does it in four ways: [97]

3. Thời kỳ trong đó y xướng Linh từ thiêng liêng và, hòa nó với tiếng nói của Chân ngã hay Linh hồn, làm cho vật chất cõi trí chuyển động để kiến tạo hình tư tưởng của y. Chính con người trên cõi hồng trần giờ đây xướng Linh từ, và y làm điều đó theo bốn cách: [97]

a. He becomes the Word incarnated, and endeavours “to be what he is.”

a. Y trở thành Linh từ nhập thể, và cố gắng “hiện hữu đúng như điều y là”.

b. He sounds the Word within himself, seeking to do it as the soul. He visualizes himself as the soul breathing out energy through the medium of that Word through the entire system which his soul animates—his mental, emotional, vital, and physical instruments.

b. Y xướng Linh từ bên trong chính mình, tìm cách làm điều đó như linh hồn. Y hình dung chính mình là linh hồn đang thở ra năng lượng qua phương tiện của Linh từ ấy, xuyên suốt toàn bộ hệ thống mà linh hồn y làm linh hoạt — các khí cụ của y: thể trí, thể cảm dục, thể sinh lực và thể xác.

c. He sounds the Word literally on the physical plane, thus affecting the three grades of matter in his environment. All the time that he is thus occupied he is “holding the mind steady in the light”, and is keeping his consciousness immovably in the realm of the soul.

c. Y xướng Linh từ theo nghĩa đen trên cõi hồng trần, nhờ đó tác động đến ba cấp độ vật chất trong môi trường của y. Trong suốt thời gian y bận rộn như vậy, y đang “giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng”, và đang giữ tâm thức của mình bất lay chuyển trong cõi giới của linh hồn.

d. Also he carries forward (and this is the most difficult stage) a paralleling activity of a steady visualization of the thought form through which he hopes to express that aspect of the plan which he has contacted, and which he hopes to bring into active being through his own life and in his own environment.

d. Y cũng tiếp tục, và đây là giai đoạn khó khăn nhất, một hoạt động song hành là sự hình dung bền bỉ về hình tư tưởng mà qua đó y hy vọng biểu lộ phương diện của Thiên Cơ mà y đã tiếp xúc, và y hy vọng đưa vào hiện hữu và hoạt động qua đời sống riêng của mình và trong môi trường riêng của mình.

This is only truly possible when a steady rapport has been established between the soul and the brain. The process involves the capacity of the brain to register what the soul is visioning and becoming aware of in the Kingdom of the Soul. It involves also a paralleling activity in the mind, for the aspirant must interpret the vision and utilize the concrete intelligent faculty for the wise adaptation of time and of form to the true expression of that which has been learnt. This is by no means an easy thing to do, but the aspirant has eventually to learn to express himself in full consciousness in more than one way and that simultaneously. He begins to learn a triple activity in this manner. This the Old Commentary expresses as follows: [98]

Điều này chỉ thật sự có thể xảy ra khi một tương giao vững chắc đã được thiết lập giữa linh hồn và bộ não. Tiến trình này bao hàm năng lực của bộ não ghi nhận điều linh hồn đang nhìn thấy và đang nhận biết trong Giới của Linh hồn. Nó cũng bao hàm một hoạt động song hành trong thể trí, vì người chí nguyện phải giải thích tầm nhìn và sử dụng năng lực thông tuệ cụ thể để thích ứng thời gian và hình tướng một cách khôn ngoan với sự biểu lộ chân thật của điều đã học được. Điều này tuyệt nhiên không dễ thực hiện, nhưng cuối cùng người chí nguyện phải học cách biểu lộ chính mình trong tâm thức trọn vẹn theo hơn một cách, và đồng thời như vậy. Y bắt đầu học một hoạt động tam phân theo cách này. Cổ Luận diễn tả điều này như sau: [98]

The Solar Orb shines forth in radiant splendor. The illuminated mind reflects the solar glory. The lunar orb rises from the centre to the summit, and is transformed into a radiant sun of light. When these three suns are one, Brahma breaks forth. A lighted world is born.

Quả cầu Thái dương tỏa sáng trong vẻ huy hoàng rực rỡ. Thể trí được soi sáng phản chiếu vinh quang Thái dương. Quả cầu mặt trăng vươn lên từ trung tâm đến đỉnh cao, và được chuyển đổi thành một mặt trời ánh sáng rạng rỡ. Khi ba mặt trời này là một, Brahma bừng hiện. Một thế giới được soi sáng ra đời.

This literally means that when the soul (symbolized as the Solar Orb) the mind, and the light in the head form one unit, the creative power of the solar Angel can express itself in the three worlds, and can construct a form through which its energy can actively express itself. The lunar orb is a symbolic way of expressing the solar plexus which eventually must do two things:

Điều này theo nghĩa đen có nghĩa là khi linh hồn, được biểu tượng như Quả cầu Thái dương, thể trí, và ánh sáng trong đầu hình thành một đơn vị, quyền năng sáng tạo của Thái dương Thiên Thần có thể biểu lộ trong ba cõi thấp, và có thể kiến tạo một hình tướng qua đó năng lượng của Ngài có thể biểu lộ một cách tích cực. Quả cầu mặt trăng là một cách biểu tượng để chỉ tùng thái dương, vốn cuối cùng phải làm hai điều:

1. Blend and fuse the energies of the lower two centres of force, and

1. Hòa trộn và dung hợp các năng lượng của hai trung tâm mãnh lực thấp hơn, và

2. Raise these fused energies and so, blending with the energies of the other and higher centres, reach the head.

2. Nâng các năng lượng đã được dung hợp này lên, rồi nhờ hòa trộn với các năng lượng của những trung tâm khác và cao hơn, đạt đến đầu.

All the above embodies a teaching and a theory. This has to be wrought out in the practical experiment and experience and conscious activity of the aspirant.

Tất cả những điều trên hiện thân một giáo huấn và một lý thuyết. Điều này phải được thực hiện trong thí nghiệm thực tiễn, trong kinh nghiệm và hoạt động hữu thức của người chí nguyện.

I would like also to point out the nature of the service humanity as a whole is rendering in the general plan of evolution. The rule under our consideration applies not only to the individual man but to the predestined activity of the fourth Kingdom in Nature. Through his meditation, discipline and service, man fans into radiant light, illuminating the three worlds, that point of light which flickered into being at the time of his individualization in past ages. This finds its reflection in the light in the head. Thus a rapport is set up, which permits not only of vibratory synchronization but of a radiation and display of magnetic force, permitting of its recognition in the three worlds of a man’s immediate environment.

Tôi cũng muốn chỉ ra bản chất của sự phụng sự mà toàn thể nhân loại đang thực hiện trong Thiên Cơ chung của tiến hoá. Quy luật chúng ta đang xem xét không chỉ áp dụng cho từng con người riêng lẻ mà còn cho hoạt động đã được tiền định của giới thứ tư trong Thiên nhiên. Qua sự tham thiền, kỷ luật và phụng sự của mình, con người thổi bùng thành ánh sáng rạng rỡ, soi sáng ba cõi thấp, điểm ánh sáng đã le lói đi vào hiện hữu vào thời điểm y biệt ngã hóa trong các thời đại quá khứ. Điều này tìm thấy phản ảnh của nó trong ánh sáng nơi đầu. Như vậy, một tương giao được thiết lập, cho phép không chỉ sự đồng bộ rung động mà còn sự bức xạ và phô diễn mãnh lực từ tính, nhờ đó nó có thể được nhận ra trong ba cõi thấp thuộc môi trường trực tiếp của con người.

So it is with the human kingdom. As its illumination increases, as its light waxes more potent, its effect upon [99] the sub-human kingdoms is analogous to that of the individual soul, its reflection, upon man in physical incarnation. I say analogous as a causative force, though not a correspondence in effects. Note this difference. Humanity is macrocosmic in relation to the sub-human states of consciousness, and this H. P. B. has well pointed out. The effect upon these lesser and more material states is primarily four-fold.

Đối với giới nhân loại cũng như vậy. Khi sự soi sáng của nó gia tăng, khi ánh sáng của nó trở nên mạnh mẽ hơn, hiệu quả của nó trên [99] các giới dưới nhân loại tương tự với hiệu quả của linh hồn cá nhân, phản ảnh của nó, trên con người đang lâm phàm. Tôi nói là tương tự như một mãnh lực nguyên nhân, dù không phải là một tương ứng về các hiệu quả. Hãy lưu ý sự khác biệt này. Nhân loại có tính Đại thiên địa trong quan hệ với các trạng thái tâm thức dưới nhân loại, và H. P. B. đã chỉ rõ điều này. Hiệu quả trên các trạng thái thấp hơn và vật chất hơn này chủ yếu là tứ phân.

1. The stimulating of the spiritual aspect, expressing itself as the soul in all forms, such as the form of a mineral, a flower, or an animal. The positive aspect of energy in all these forms will wax stronger, producing radiation, for instance, increasingly in the mineral kingdom. In this lies a hint of the nature of the process that will set a term to our own planetary existence and eventually, to our solar system. In the vegetable kingdom, the effect will be the demonstration of increased beauty and diversity, and the evolution of new species with an objective impossible to explain to those not yet initiate. The production of nutritive forms which will serve the needs of the lesser devas and angels will be one of the results.

1. Sự kích thích phương diện tinh thần, biểu lộ như linh hồn trong mọi hình tướng, chẳng hạn hình tướng của một khoáng vật, một bông hoa, hay một con vật. Phương diện dương của năng lượng trong tất cả những hình tướng này sẽ trở nên mạnh hơn, tạo ra sự bức xạ, chẳng hạn ngày càng tăng trong giới kim thạch. Chính trong điều này có một gợi ý về bản chất của tiến trình sẽ đặt dấu chấm hết cho sự hiện hữu hành tinh của chúng ta và cuối cùng cho hệ mặt trời của chúng ta. Trong giới thực vật, hiệu quả sẽ là sự biểu lộ vẻ đẹp và tính đa dạng gia tăng, và sự tiến hoá của các loài mới với một mục tiêu không thể giải thích cho những ai chưa là điểm đạo đồ. Việc tạo ra các hình tướng dinh dưỡng sẽ phục vụ nhu cầu của các thiên thần và các thiên sứ thấp hơn sẽ là một trong những kết quả.

In the animal kingdom the effect will be the elimination of pain and suffering and a return to the ideal conditions of the Garden of Eden. When man functions as a soul, he heals; he stimulates and vitalizes; he transmits the spiritual forces of the universe, and all harmful emanations and all destructive forces find in the human kingdom a barrier. Evil and its effects are largely dependent upon humanity for a functioning channel. Humanity’s function is to transmit and handle force. This is done in the early and ignorant stages destructively and with harmful results. Later when acting under the influence of the soul, force is rightly and wisely handled and good eventuates. True indeed it is that “the whole creation travaileth in pain until now, waiting for the manifestation of the sons of God.” [100]

Trong giới động vật, hiệu quả sẽ là sự loại trừ đau đớn và khổ đau, và sự trở lại những điều kiện lý tưởng của Vườn Ê-đen. Khi con người vận hành như một linh hồn, y chữa lành; y kích thích và tiếp sinh lực; y truyền dẫn các mãnh lực tinh thần của vũ trụ, và mọi phát xạ có hại cùng mọi mãnh lực phá hoại đều tìm thấy trong giới nhân loại một hàng rào ngăn chặn. Điều ác và các hiệu quả của nó phần lớn tùy thuộc vào nhân loại để có một kênh vận hành. Chức năng của nhân loại là truyền dẫn và xử lý mãnh lực. Trong các giai đoạn đầu và vô minh, điều này được thực hiện một cách phá hoại và với những kết quả có hại. Về sau, khi hành động dưới ảnh hưởng của linh hồn, mãnh lực được xử lý đúng đắn và khôn ngoan, và điều thiện xảy ra. Quả thật đúng rằng “toàn thể tạo vật vẫn quằn quại trong đau đớn cho đến nay, chờ đợi sự hiển lộ của các Con của Thượng đế”. [100]

2. The bringing of light. Humanity is the planetary light bearer, transmitting the light of knowledge, of wisdom, and of understanding, and this in the esoteric sense. These three aspects of light carry three aspects of soul energy to the soul in all forms, through the medium of the anima mundi, the world soul. Physically speaking, this can be realized if we can appreciate the difference between our planetary illumination today and that of five hundred years ago—our brilliantly lit cities, our rural districts, shining through the night with their lighted streets and homes; our airways, outlined with their search-lights and fields of blazing globes; our oceans, dotted with their lighted ships, and increasingly our lighted airships will be seen, darting through the skies.

2. Việc đem lại ánh sáng. Nhân loại là vị mang ánh sáng của hành tinh, truyền dẫn ánh sáng của tri thức, của minh triết và của sự thấu hiểu, và điều này theo nghĩa huyền bí. Ba phương diện ánh sáng này mang ba phương diện của năng lượng linh hồn đến linh hồn trong mọi hình tướng, qua phương tiện của linh hồn thế giới. Nói theo hồng trần, điều này có thể được nhận ra nếu chúng ta có thể đánh giá đúng sự khác biệt giữa sự chiếu sáng của hành tinh chúng ta ngày nay và sự chiếu sáng cách đây năm trăm năm — các thành phố rực rỡ ánh đèn của chúng ta, những vùng thôn quê của chúng ta, sáng lên suốt đêm với đường phố và nhà cửa được thắp sáng; các tuyến đường hàng không của chúng ta, được vạch rõ bằng đèn pha và những sân bãi đầy các quả cầu sáng rực; các đại dương của chúng ta, điểm xuyết những con tàu sáng đèn, và ngày càng nhiều khí cầu sáng đèn của chúng ta sẽ được thấy lao qua bầu trời.

These are but the result of man’s growing illumination. His knowledge aspect of light has brought this into being. Who shall say what will eventuate when the wisdom aspect predominates? When these are welded by understanding, the soul will control in the three worlds and in all kingdoms of nature.

Những điều này chỉ là kết quả của sự soi sáng ngày càng tăng của con người. Phương diện ánh sáng của tri thức nơi y đã đưa điều này vào hiện hữu. Ai có thể nói điều gì sẽ xảy ra khi phương diện minh triết chiếm ưu thế? Khi những điều này được hợp nhất bằng sự thấu hiểu, linh hồn sẽ kiểm soát trong ba cõi thấp và trong mọi giới của thiên nhiên.

3. The transmission of energy. The clue to the significance of this can be grasped as a concept, though as yet it will fail of comprehension, in the realization that the human kingdom acts upon and affects the three sub-human kingdoms. The downpouring spiritual Triangle and the upraising matter Triangle meet point to point in humanity when the point of balance can be found. In man’s achievement and spiritualization is the hope of the world. Mankind itself is the world Saviour, of which all world Saviours have been but the symbol and the guarantee.

3. Sự truyền dẫn năng lượng. Chìa khóa cho thâm nghĩa của điều này có thể được nắm bắt như một khái niệm, dù hiện nay nó vẫn chưa thể được thấu hiểu đầy đủ, trong nhận thức rằng giới nhân loại tác động lên và ảnh hưởng đến ba giới dưới nhân loại. Tam giác tinh thần tuôn xuống và Tam giác vật chất nâng lên gặp nhau đầu mút với đầu mút trong nhân loại khi điểm quân bình có thể được tìm thấy. Trong thành tựu và sự tinh thần hóa của con người có niềm hy vọng của thế giới. Chính nhân loại là Đấng Cứu Thế của thế giới, mà tất cả các Đấng Cứu Thế của thế giới chỉ là biểu tượng và bảo chứng.

4. The blending of the deva or angel evolution and the human. This is a mystery which will be solved as man arrives at the consciousness of his own solar Angel, only to discover that that too is also but a form of life which, [101] having served its purpose, must be left behind. The angel or deva evolution is one of the great lines of force, contained in the divine expression and the solar Angels, the Agnishvattas of The Secret Doctrine and of A Treatise on Cosmic Fire belong—in their form aspect—to this line.

4. Sự hòa trộn của dòng tiến hoá thiên thần và dòng tiến hoá nhân loại. Đây là một huyền nhiệm sẽ được giải quyết khi con người đạt đến tâm thức của chính Thái dương Thiên Thần của mình, chỉ để khám phá rằng điều ấy cũng chỉ là một hình thức của sự sống, [101] sau khi đã phục vụ mục đích của nó, phải được bỏ lại phía sau. Dòng tiến hoá thiên thần là một trong những đường mãnh lực lớn, được chứa trong sự biểu lộ thiêng liêng; và các Thái dương Thiên Thần, các Agnishvatta của Giáo Lý Bí Nhiệm và của Luận về Lửa Vũ Trụ, thuộc về đường này trong phương diện hình tướng của các Ngài.

Thus humanity serves, and in the development of a conscious aptitude for service, in the growth of a conscious understanding of the individual part to be played in the working out of the plan and in the rendering of the personality subject to the soul, will come the steady progress of humanity towards its goal of world service.

Như vậy nhân loại phụng sự, và trong sự phát triển của một năng lực hữu thức đối với phụng sự, trong sự tăng trưởng của một sự thấu hiểu hữu thức về phần việc cá nhân phải đảm nhận trong việc thực hiện Thiên Cơ, và trong việc khiến phàm ngã phục tùng linh hồn, sẽ đến sự tiến bộ vững chắc của nhân loại hướng tới mục tiêu phụng sự thế giới của mình.

May I speak a word here so as to make this consummation a practical goal in your life? Harmful magnetic conditions, as the result of man’s wrong handling of force are the causes of evil in the world around us, including the three sub-human kingdoms. How can we, as individuals, change this? By the development in ourselves of Harmlessness. Therefore, study yourself from this angle. Study your daily conduct and words and thoughts so as to make them utterly harmless. Set yourself to think those thoughts about yourself and others which will be constructive and positive, and hence harmless in their effects. Study your emotional effect on others so that by no mood, no depression, and no emotional reaction can you harm a fellow-man. Remember in this connection, violent spiritual aspiration and enthusiasm, misplaced or misdirected, may quite easily harm a fellow-man, so look not only at your wrong tendencies but at the use of your virtues.

Tôi có thể nói một lời ở đây để làm cho sự viên mãn này trở thành một mục tiêu thực tiễn trong đời sống của các bạn không? Các tình trạng từ tính có hại, như kết quả của việc con người xử lý mãnh lực sai lầm, là nguyên nhân của điều ác trong thế giới quanh chúng ta, bao gồm cả ba giới dưới nhân loại. Làm thế nào chúng ta, với tư cách những cá nhân, có thể thay đổi điều này? Bằng sự phát triển trong chính mình tính vô tổn hại. Vì vậy, hãy nghiên cứu chính mình từ góc độ này. Hãy nghiên cứu hành vi, lời nói và tư tưởng hằng ngày của bạn để làm cho chúng hoàn toàn vô tổn hại. Hãy tự đặt mình vào việc suy nghĩ những tư tưởng về chính mình và về người khác mang tính xây dựng và tích cực, và do đó vô tổn hại trong các hiệu quả của chúng. Hãy nghiên cứu hiệu quả cảm xúc của bạn trên người khác để không một tâm trạng nào, không một sự chán nản nào, và không một phản ứng cảm xúc nào có thể khiến bạn gây hại cho một đồng loại. Trong liên hệ này, hãy nhớ rằng khát vọng và nhiệt thành tinh thần mãnh liệt, nếu đặt sai chỗ hay hướng sai đường, rất dễ gây hại cho một đồng loại; vì vậy, hãy nhìn không chỉ vào các khuynh hướng sai lầm của bạn mà còn vào cách bạn sử dụng các đức tính của mình.

If harmlessness is the keynote of your life, you will do more to produce right harmonious conditions in your personality than any amount of discipline along other lines. The drastic purgation brought about by the attempt to be harmless will go far to eliminate wrong [102] states of consciousness. See to it therefore, and bring this idea in your evening review.

Nếu tính vô tổn hại là chủ âm của đời sống bạn, bạn sẽ làm được nhiều hơn để tạo ra những điều kiện hài hòa đúng đắn trong phàm ngã của mình so với bất cứ mức độ kỷ luật nào theo các đường hướng khác. Sự thanh lọc quyết liệt do nỗ lực trở nên vô tổn hại đem lại sẽ tiến xa trong việc loại trừ các trạng thái tâm thức [102] sai lầm. Vì vậy, hãy chú tâm đến điều đó, và đưa ý tưởng này vào phần hồi quán buổi tối của bạn.

I would like to urge each one who reads these pages to make a fresh beginning in spiritual living. I would say to him, forget all past achievements, realize fervour, and concentrate upon the Plan.

Tôi muốn thúc giục mỗi người đọc những trang này hãy khởi đầu lại trong đời sống tinh thần. Tôi muốn nói với y rằng: hãy quên mọi thành tựu quá khứ, hãy khơi dậy nhiệt tâm, và hãy tập trung vào Thiên Cơ.

By this time some progress in group realization has surely been made, and less interest in the separated self has been gained. More faith in the Good Law which guides all creation to ultimate perfection has been visioned without doubt, and, through this vision, has come the capacity to take one’s eyes off the affairs of individual experience, and fasten them on the working out of the purpose for the whole. This is the objective and the goal. Breadth of vision, inclusiveness of understanding and a widened horizon are the preliminary essentials to all work under the guidance of the hierarchy of adepts; the stabilizing of the consciousness in the one life, and the recognition of the basic unity of all creation has to be somewhat developed before any one can be trusted with certain knowledges and Words of Power and the manipulation of those forces which bring the subjective reality into outer manifestation.

Đến lúc này, chắc chắn đã có một vài tiến bộ trong sự chứng nghiệm nhóm, và sự quan tâm đến bản ngã tách biệt đã giảm bớt. Không nghi ngờ gì, đã có thêm niềm tin vào Định luật Thiện lành đang hướng dẫn toàn thể tạo vật đến sự hoàn thiện tối hậu; và qua tầm nhìn này đã đến năng lực rời mắt khỏi các sự vụ của kinh nghiệm cá nhân, và hướng chúng vào việc thực hiện mục đích cho toàn thể. Đây là mục tiêu và cứu cánh. Tầm nhìn rộng lớn, sự thấu hiểu bao gồm và chân trời mở rộng là những điều thiết yếu sơ khởi cho mọi công việc dưới sự hướng dẫn của Thánh đoàn các chân sư; sự ổn định tâm thức trong sự sống duy nhất, và sự nhận biết về sự hợp nhất căn bản của toàn thể tạo vật, phải được phát triển phần nào trước khi bất cứ ai có thể được tin cậy trao cho một số tri thức và Quyền năng từ nhất định, cũng như việc vận dụng những mãnh lực đưa thực tại chủ quan vào biểu hiện bên ngoài.

Therefore, I say to you at this time, I—an older and perhaps more experienced disciple and worker in the great vineyard of the Lord—practice harmlessness with zest and understanding, for it is (if truly carried out) the destroyer of all limitation. Harmfulness is based on selfishness, and on an ego-centric attitude. It is the demonstration of forces concentrated for self-enforcement, self-aggrandisement, and self-gratification. Harmlessness is the expression of the life of the man who realizes himself to be everywhere, who lives consciously as a soul, whose nature is love, whose method is inclusiveness, and to whom all forms are alike in that they veil and hide the light, and are but externalizations of [103] the one Infinite Being. This realization, let me remind you, will demonstrate in a true comprehension of a brother’s need, divorced from sentiment and expediency. It will lead to that silence of the tongue which grows out of non-reference to the separate self. It will produce that instantaneous response to true need which characterizes the Great Ones who (passing beneath the outer appearance) see the inner cause which produces the conditions noted in the outer life, and so, from that point of wisdom, true help and guidance can be given. Harmlessness brings about in the life caution in judgment, reticence in speech, ability to refrain from impulsive action, and the demonstration of a non-critical spirit. So, free passage can be given to the forces of true love, and to those spiritual energies which seem to vitalize the personality, leading consequently to right action.

Vì vậy, vào lúc này, tôi — một đệ tử và người hoạt động lớn tuổi hơn và có lẽ nhiều kinh nghiệm hơn trong vườn nho lớn của Chúa — nói với các bạn: hãy thực hành tính vô tổn hại với nhiệt tâm và sự thấu hiểu, vì nếu được thực hiện thật sự, nó là kẻ hủy diệt mọi giới hạn. Tính gây hại đặt nền trên tính ích kỷ và trên một thái độ lấy bản thân làm trung tâm. Nó là sự biểu lộ của các mãnh lực được tập trung để tự củng cố, tự khuếch trương và tự thỏa mãn. Tính vô tổn hại là sự biểu lộ đời sống của con người nhận ra chính mình ở khắp nơi, sống một cách hữu thức như một linh hồn, có bản chất là tình thương, có phương pháp là tính bao gồm, và đối với y mọi hình tướng đều như nhau ở chỗ chúng che phủ và giấu kín ánh sáng, và chỉ là các sự ngoại hiện của [103] Đấng Hiện Hữu Vô Biên duy nhất. Sự nhận biết này, hãy để tôi nhắc các bạn, sẽ biểu lộ trong một sự thấu hiểu chân thật về nhu cầu của huynh đệ, tách khỏi tình cảm ủy mị và sự tiện lợi. Nó sẽ dẫn đến sự im lặng của lưỡi, vốn phát sinh từ việc không quy chiếu về bản ngã riêng biệt. Nó sẽ tạo ra sự đáp ứng tức thời đối với nhu cầu chân thật, điều đặc trưng cho Các Đấng Cao Cả, những Đấng khi vượt qua bên dưới vẻ ngoài, thấy nguyên nhân bên trong tạo ra các điều kiện được ghi nhận trong đời sống bên ngoài, và vì thế, từ điểm minh triết ấy, sự giúp đỡ và hướng dẫn chân thật có thể được trao. Tính vô tổn hại đem lại trong đời sống sự thận trọng khi phán xét, sự dè dặt trong lời nói, năng lực kiềm chế hành động bốc đồng, và sự biểu lộ một tinh thần không phê phán. Nhờ vậy, lối đi tự do có thể được trao cho các mãnh lực của tình thương chân thật, và cho những năng lượng tinh thần dường như tiếp sinh lực cho phàm ngã, do đó dẫn đến hành động đúng đắn.

Let harmlessness, therefore, be the keynote of your life. An evening review should be carried forward entirely along this line; divide the review work in three parts and consider:

Vì vậy, hãy để tính vô tổn hại là chủ âm của đời sống bạn. Một cuộc hồi quán buổi tối nên được tiến hành hoàn toàn theo đường hướng này; hãy chia công việc hồi quán thành ba phần và xem xét:

1. Harmlessness in thought. This will primarily result in the control of speech.

1. Tính vô tổn hại trong tư tưởng. Điều này chủ yếu sẽ dẫn đến việc kiểm soát lời nói.

2. Harmlessness in emotional reaction. This will result in being a channel for the love aspect of the soul.

2. Tính vô tổn hại trong phản ứng cảm xúc. Điều này sẽ dẫn đến việc trở thành một kênh dẫn cho phương diện tình thương của linh hồn.

3. Harmlessness in act. This will produce poise, skill in action and the release of the creative will.

3. Tính vô tổn hại trong hành động. Điều này sẽ tạo ra sự quân bình, kỹ năng trong hành động và sự giải phóng ý chí sáng tạo.

These three approaches to the subject should be studied from their effects upon one’s own self and development, and from their effect upon those whom one contacts and upon one’s environing associates.

Ba cách tiếp cận này đối với chủ đề cần được nghiên cứu từ các hiệu quả của chúng trên bản thân và sự phát triển của chính mình, cũng như từ hiệu quả của chúng trên những người mà mình tiếp xúc và trên các cộng sự bao quanh mình.

May I interpolate here the remark that I make suggestions, based on experience in occult work. There is no obligation to obey. We seek to train intelligent servers of the race, and these are developed by self-initiated [104] effort, freedom in action and discrimination in method and not by unquestioning obedience, negative acquiescence, and blind following. Let this not be forgotten. If any command may ever emanate from the subjective band of teachers of whom I am a humble member, let it be to follow the dictates of your own soul and the promptings of your higher self.

Tôi có thể xen vào đây nhận xét rằng tôi đưa ra các gợi ý, dựa trên kinh nghiệm trong công việc huyền bí. Không có nghĩa vụ phải tuân theo. Chúng tôi tìm cách đào luyện những người phụng sự thông tuệ của nhân loại, và những người này được phát triển bằng nỗ lực [104] tự khởi xướng, bằng tự do trong hành động và phân biện trong phương pháp, chứ không bằng sự vâng phục không thắc mắc, sự thuận phục thụ động và sự đi theo mù quáng. Đừng quên điều này. Nếu có bất cứ mệnh lệnh nào có thể từng phát ra từ nhóm huấn sư chủ quan mà tôi là một thành viên khiêm tốn, thì hãy để đó là: hãy đi theo các mệnh lệnh của chính linh hồn bạn và những thôi thúc của chân ngã của bạn.

Before we proceed to an analysis of this Rule and of the previous one, for Rules II and III are the two halves of a whole, I would like to remind you that, in this series of meditations upon these ancient formulas, we are concerned with the magical work of the aspirant as a co-worker in the enterprises of the Great White Lodge. We are dealing with the methods of white magic. Let me remind you also, that the magical work of our planetary Hierarchy consists of tending the psyche in the world of forms, so that the unfolding flower of the soul may be nurtured and fostered in such wise that radiant glory, magnetic force and (ultimately) spiritual energy may be demonstrated through the medium of the form. Thus the power of the three Rays of divine Manifestation may be seen.

Trước khi chúng ta tiến hành phân tích Quy luật này và quy luật trước, vì Quy luật Hai và Quy luật Ba là hai nửa của một toàn thể, tôi muốn nhắc các bạn rằng, trong loạt tham thiền này về những công thức cổ xưa, chúng ta đang quan tâm đến công việc huyền thuật của người chí nguyện với tư cách một cộng sự trong các công cuộc của Thánh đoàn. Chúng ta đang đề cập đến các phương pháp của Chánh Thuật. Tôi cũng xin nhắc các bạn rằng công việc huyền thuật của Thánh Đoàn hành tinh của chúng ta cốt ở việc chăm sóc tâm hồn trong thế giới của các hình tướng, để đóa hoa linh hồn đang khai mở có thể được nuôi dưỡng và vun bồi theo cách mà vinh quang rạng rỡ, mãnh lực từ tính và cuối cùng là năng lượng tinh thần có thể được biểu lộ qua phương tiện của hình tướng. Như vậy, quyền năng của ba Cung của sự Biểu Hiện thiêng liêng có thể được nhìn thấy.

First Ray……….. Spiritual Energy

Cung một……….. Năng lượng tinh thần

Second Ray……… Magnetic Force

Cung hai……… Mãnh lực từ tính

Third Ray……….. Radiant Glory

Cung ba……….. Vinh quang rạng rỡ

These rays likewise find their microcosmic reflections in the aura of perfected man.

Các cung này cũng tìm thấy những phản ảnh Tiểu thiên địa của chúng trong hào quang của con người hoàn thiện.

First Ray… Monadic… Spiritual Energy… Head Centre

Cung một… Chân thần… Năng lượng tinh thần… Trung tâm đầu

Second Ray. Egoic….. Magnetic Force… Heart Centre

Cung hai. Chân ngã….. Mãnh lực từ tính… Trung tâm tim

Third Ray.. Personality..Radiant Glory…. Solar Plexus

Cung ba.. Phàm ngã..Vinh quang rạng rỡ…. Tùng thái dương

You inquire, Why do I not say the throat centre? Because the centres below the diaphragm symbolize primarily the personal lower self, and in their synthesising centre, the solar plexus, express the magnetic force of the matter aspect in man. The throat centre is swept [105] into increasing creative activity as the personality vibrates to the soul.

Các bạn hỏi: Tại sao tôi không nói trung tâm cổ họng? Bởi vì các trung tâm bên dưới cơ hoành chủ yếu tượng trưng cho phàm ngã thấp cá nhân, và trong trung tâm tổng hợp của chúng, tức tùng thái dương, biểu lộ mãnh lực từ tính của phương diện vật chất trong con người. Trung tâm cổ họng được cuốn [105] vào hoạt động sáng tạo ngày càng tăng khi phàm ngã rung động theo linh hồn.

Let us now consider the words at the end of the previous rule: “The lower light is thrown upward and the greater light illuminates the three; the work of the four proceedeth.”

Giờ đây chúng ta hãy xem xét các lời ở cuối quy luật trước: “Ánh sáng thấp được ném lên trên; ánh sáng lớn hơn soi sáng bộ ba, và công việc của bốn tiến triển.”

What of this lower light? The student should remember that for the present purposes he has three bodies of light to consider:

Ánh sáng thấp hơn này là gì? Đạo sinh cần nhớ rằng, cho các mục đích hiện nay, y có ba thể ánh sáng cần xem xét:

There is the radiant body of the soul itself, found on its own plane, and called, frequently, the Karana Sarira or the causal body.

Có một thể rạng rỡ của chính linh hồn, được tìm thấy trên cõi riêng của nó, và thường được gọi là thể nguyên nhân.

There is the vital or etheric body, the vehicle of prana which is the body of golden light, or rather the flame coloured vehicle.

Có một thể sinh lực hay thể dĩ thái, vận cụ của prana, là thể ánh sáng vàng, hay đúng hơn là vận cụ màu lửa.

There is the body of “dark light”, which is the occult way of referring to the hidden light of the physical body, and to the light latent in the atom itself.

Có một thể “ánh sáng tối”, là cách nói huyền bí chỉ ánh sáng ẩn tàng của thể xác, và ánh sáng tiềm tàng trong chính nguyên tử.

These three types of energy are referred to in the Old Commentary under the following symbolic terms:

Ba loại năng lượng này được nhắc đến trong Cổ Luận dưới các thuật ngữ biểu tượng sau:

“When the radiant light of the Solar Angel is fused with the golden light of the cosmic intermediary, it awakens from darkness the rush light of anu, the speck.”

“Khi ánh sáng rạng rỡ của Thái dương Thiên Thần được dung hợp với ánh sáng vàng của trung gian vũ trụ, nó đánh thức từ bóng tối ánh sáng nhỏ bé của nguyên tử, đốm vi trần.”

The “cosmic intermediary” is the term given to the etheric body, which is part and parcel of the universal ether. It is through the etheric body that all the energies flow, whether emanating from the soul, or from the sun, or from a planet. Along those living lines of fiery essence pass all the contacts that do not emanate specifically from the tangible world.

“Trung gian vũ trụ” là thuật ngữ chỉ thể dĩ thái, vốn là một phần không thể tách rời của dĩ thái phổ quát. Chính qua thể dĩ thái mà mọi năng lượng tuôn chảy, dù xuất phát từ linh hồn, từ mặt trời, hay từ một hành tinh. Dọc theo những đường sống động của tinh chất rực lửa ấy đi qua mọi tiếp xúc không xuất phát một cách đặc thù từ thế giới hữu hình.

The dark light of the tiny atoms of which the physical vehicle is constructed is responsive to the stimulation passing down from the soul into its vehicle, and, when the man is under control of the soul, there eventuates the shining forth of the light throughout the body. This [106] shows as the radiance emanating from the bodies of adepts and saints, giving the effect of bright and shining light.

Ánh sáng tối của những nguyên tử bé nhỏ cấu tạo nên vận cụ hồng trần đáp ứng với sự kích thích truyền xuống từ linh hồn vào vận cụ của nó; và khi con người ở dưới sự kiểm soát của linh hồn, ánh sáng bừng tỏa khắp thể xác. Điều này [106] biểu hiện như hào quang phát ra từ các thể của các chân sư và các thánh nhân, tạo nên ấn tượng về ánh sáng rực rỡ và chói lọi.

When the radiant light of the soul is blended with the magnetic light of the vital body, it stimulates the atoms of the physical body to such an extent that each atom becomes in turn a tiny radiant centre. This only becomes possible when the head, heart, the solar plexus and the centre at the base of the spine are connected in a peculiar fashion, which is one of the secrets of the first initiation. When these four are in close cooperation the “floor of the triangle” as it is symbolically called, is prepared for the magical work. In other words—these can be enumerated as follows:

Khi ánh sáng rạng rỡ của linh hồn hòa trộn với ánh sáng từ tính của thể sinh lực, nó kích thích các nguyên tử của thể xác đến mức mỗi nguyên tử lần lượt trở thành một trung tâm rạng rỡ bé nhỏ. Điều này chỉ có thể xảy ra khi đầu, tim, tùng thái dương và trung tâm ở đáy cột sống được nối kết theo một cách đặc biệt, vốn là một trong những bí mật của lần điểm đạo thứ nhất. Khi bốn trung tâm này hợp tác mật thiết, “đáy của tam giác”, như cách gọi biểu tượng, được chuẩn bị cho công việc huyền thuật. Nói cách khác, các yếu tố này có thể được liệt kê như sau:

a. The physical material form with its centre at the base of the spine.

a. Hình tướng vật chất hồng trần, với trung tâm của nó ở đáy cột sống.

b. The vital body working through the heart centre where the life principle has its seat. The activities of the body which are due to this stimulation are carried through the circulation of the blood.

b. Thể sinh lực hoạt động qua trung tâm tim, nơi nguyên khí sự sống an tọa. Các hoạt động của thể xác do sự kích thích này tạo ra được thực hiện qua tuần hoàn máu.

c. The emotional body, working through the solar plexus centre.

c. Thể cảm xúc, hoạt động qua trung tâm tùng thái dương.

d. The head centre, the direct agent of the soul and its interpreter, the mind. These four are in complete accord and alignment.

d. Trung tâm đầu, tác nhân trực tiếp của linh hồn và của thể trí, vốn là khí cụ diễn giải của linh hồn. Bốn yếu tố này hoàn toàn hòa hợp và chỉnh hợp.

When this is the case, the work of initiation and its interludes of active discipleship become possible. Before this time the work cannot proceed. This is foreshadowed in the aspirant when there is enacted a symbolic happening in the light in the head which is the forerunner of the later stage of initiation.

Khi tình trạng này hiện hữu, công việc điểm đạo và các giai đoạn xen kẽ của địa vị đệ tử tích cực trở nên khả hữu. Trước thời điểm này, công việc không thể tiến hành. Điều này được báo trước nơi người chí nguyện khi một sự kiện biểu tượng diễn ra trong ánh sáng nơi đầu, vốn là tiền thân của giai đoạn điểm đạo về sau.

In this stage, the soul light penetrates into the region of the pineal gland; there it produces an irradiation of the ethers of the head, of the vital airs; this produces a stimulation of the atoms of the brain so that their light [107] is fused and blended with the other two, the etheric light and the soul light, and there is then produced that inner radiant sun of which the aspirant becomes conscious in his physical brain experience. Frequently students speak of a diffused light or glow, this is the light of the physical plane atoms of which the brain is composed; later they may speak of seeing what appears to be like a sun in the head. This is the contacting of the etheric light, plus the physical atomic light. Later they become aware of an intensely bright electric light; this is the soul light, plus the etheric and the atomic. When that is seen, they frequently become aware of a dark centre within the radiant sun. This is the entrance to the Path disclosed by the “shining of the light upon the door.”

Ở giai đoạn này, ánh sáng linh hồn thâm nhập vào vùng tuyến tùng; tại đó nó tạo ra sự chiếu rạng trong các chất dĩ thái của đầu, trong các luồng sinh khí; điều này kích thích các nguyên tử của bộ não, khiến ánh sáng của chúng [107] được dung hợp và hòa trộn với hai ánh sáng kia: ánh sáng dĩ thái và ánh sáng linh hồn; bấy giờ mặt trời rạng rỡ bên trong được tạo ra, và người chí nguyện trở nên có ý thức về nó trong kinh nghiệm của bộ não hồng trần. Các đạo sinh thường nói đến một ánh sáng hay vầng sáng lan tỏa; đó là ánh sáng của các nguyên tử cõi hồng trần cấu tạo nên bộ não. Về sau, họ có thể nói đến việc thấy một điều gì tựa như mặt trời trong đầu. Đó là sự tiếp xúc với ánh sáng dĩ thái, cộng với ánh sáng nguyên tử hồng trần. Về sau nữa, họ trở nên nhận biết một ánh sáng điện cực kỳ chói lọi; đó là ánh sáng linh hồn, cộng với ánh sáng dĩ thái và ánh sáng nguyên tử. Khi điều ấy được thấy, họ thường nhận biết một trung tâm tối nằm trong mặt trời rạng rỡ. Đây là lối vào Đường Đạo, được hiển lộ nhờ “ánh sáng chiếu rạng trên cánh cửa”.

Students must remember that it is possible to have reached a high stage of spiritual consciousness without seeing any of this brain radiance. This is altogether in the nature of phenomena, and is largely determined by the calibre of the physical body, by past karma and achievement, and by the ability of the aspirant to bring down “power from on high”, and to hold that energy steady in the brain centre whilst he himself in meditation is detached from the form aspect, and can look serenely at it.

Các đạo sinh phải nhớ rằng có thể đạt tới một giai đoạn cao của tâm thức tinh thần mà không thấy bất kỳ ánh sáng rạng rỡ nào trong bộ não. Điều này hoàn toàn thuộc về bản chất của hiện tượng, và phần lớn được quyết định bởi phẩm chất của thể xác, bởi nghiệp quả và thành tựu trong quá khứ, cũng như bởi khả năng của người chí nguyện trong việc đưa “quyền năng từ trên cao” xuống và giữ năng lượng ấy ổn định trong trung tâm bộ não, trong khi chính y, khi tham thiền, vẫn tách rời khỏi phương diện hình tướng và có thể nhìn nó một cách tĩnh lặng.

When this has been accomplished (and it is not an objective to be worked for, but is simply an indication to be registered in the consciousness and then dismissed) the consequent stimulation produces a reaction of the physical body. The magnetic power of the light in the head, and the radiant force of the soul produce stimulation. The centres begin to vibrate, and their vibration awakens the atoms of the material body until eventually the powers of the vibrating etheric body have swung even the lowest centre into line with the highest. Thus the fires of the body (the sum total of the energy of the atoms) are swept into increased activity until such time [108] as there is a rising up the spine of that fiery energy. This is brought about by the magnetic control of the soul, seated “on the throne between the eyebrows”.

Khi điều này đã được hoàn tất — và đó không phải là một mục tiêu cần cố đạt, mà chỉ đơn giản là một dấu hiệu cần ghi nhận trong tâm thức rồi buông bỏ — sự kích thích phát sinh sẽ tạo ra một phản ứng nơi thể xác. Quyền năng từ tính của ánh sáng trong đầu và mãnh lực rạng rỡ của linh hồn tạo nên sự kích thích. Các trung tâm bắt đầu rung động, và rung động của chúng đánh thức các nguyên tử của thể vật chất cho đến khi, cuối cùng, các quyền năng của thể dĩ thái đang rung động đã chỉnh hợp ngay cả trung tâm thấp nhất với trung tâm cao nhất. Như vậy, các lửa của thể xác — tổng số năng lượng của các nguyên tử — được cuốn vào hoạt động gia tăng cho đến thời điểm [108] có sự trỗi dậy dọc theo cột sống của năng lượng bốc lửa ấy. Điều này được tạo nên bởi sự kiểm soát từ tính của linh hồn, an tọa “trên ngai giữa hai lông mày”.

Here enters in the work of one of the means of yoga, abstraction or withdrawal. Where the three lights are blended, where the centres are aroused and the atoms are also vibrating, it becomes possible for the man to centre all three in the head at will. Then, by the act of the will and the knowledge of certain words of Power he can enter into samadhi and be withdrawn from his body, carrying the light with him. In this way the greater light (the three fused and blended) illuminates the three worlds of man’s endeavours and “the light is thrown upward” and illuminates all the spheres of man’s conscious and unconscious experience. This is spoken of in the occult writings of the Masters in these words:

Ở đây, công việc của một trong các phương tiện yoga bước vào: sự trừu xuất hay rút lui. Nơi ba ánh sáng đã hòa trộn, nơi các trung tâm được khơi động và các nguyên tử cũng đang rung động, con người có thể tập trung cả ba nơi đầu tùy ý. Khi đó, bằng hành động của ý chí và tri thức về một số Quyền năng từ, y có thể nhập đại định và rút khỏi thể xác, mang ánh sáng theo mình. Bằng cách này, ánh sáng lớn hơn — ba ánh sáng đã dung hợp và hòa trộn — soi sáng ba cõi giới của nỗ lực con người; “ánh sáng được ném lên trên” và soi sáng mọi phạm vi thuộc kinh nghiệm hữu thức và vô thức của con người. Trong các trước tác huyền bí của các Chân sư, điều này được nói bằng những lời sau:

“Then the Bull of God carries the light in his forehead, and his eye transmits the radiance; His head, with magnetic force, resembles the blazing sun, and from the lotus of the head, the path of light issues. It enters into the Greater Being, producing a living fire. The Bull of God sees the Solar Angel, and knows that Angel to be the light wherein he walks.”

“Bấy giờ Bò Đực của Thượng đế mang ánh sáng nơi trán, và mắt của Ngài truyền phát hào quang; đầu Ngài, với mãnh lực từ tính, giống như mặt trời rực cháy, và từ Hoa sen nơi đầu, con đường ánh sáng phát xuất. Nó đi vào Hữu Thể vĩ đại hơn, tạo nên một ngọn lửa sống. Bò Đực của Thượng đế thấy Thái dương Thiên Thần, và biết Thiên Thần ấy là ánh sáng trong đó Ngài bước đi.”

Then the work of the four proceeds. The four are at-one. The Solar Angel is identified with his instrument; the life of the sheaths is subordinated to the life of the inner divinity; the light of the sheaths is fused with the light of the soul. The head, the heart, and the base of the spine are geometrically aligned and certain developments then become possible.

Bấy giờ công việc của bốn yếu tố tiếp diễn. Bốn yếu tố là một. Thái dương Thiên Thần đồng hoá với khí cụ của Ngài; sự sống của các lớp vỏ phục tùng sự sống của thiên tính bên trong; ánh sáng của các lớp vỏ được dung hợp với ánh sáng của linh hồn. Đầu, tim và đáy cột sống được chỉnh hợp theo hình học, và khi ấy một số phát triển nhất định trở nên khả hữu.

In these two Rules, the foundation of the magical work of the soul has been laid down. Let us list, for the sake of clarity, the steps outlined:

Trong hai Quy luật này, nền tảng của công việc huyền thuật của linh hồn đã được đặt ra. Để rõ ràng, chúng ta hãy liệt kê các bước đã được phác thảo:

1. The Solar Angel begins the work of initiating the Personality.[109]

1. Thái dương Thiên Thần bắt đầu công việc điểm đạo Phàm ngã.[109]

2. He withdraws his forces from soul enterprises in the spiritual Kingdom, and centres his attention on the work to be done.

2. Ngài rút các mãnh lực của mình khỏi những công việc của linh hồn trong giới tinh thần, và tập trung sự chú ý vào công việc phải làm.

3. He enters into deep meditation.

3. Ngài đi vào thiền định sâu.

4. Magnetic rapport with the instrument in the three worlds is instituted.

4. Mối liên hệ từ tính với khí cụ trong ba cõi được thiết lập.

5. The instrument, man, responds, and also enters into meditation.

5. Khí cụ, tức con người, đáp ứng và cũng đi vào tham thiền.

6. The work proceeds in ordered stages and with cyclic activity.

6. Công việc tiến hành theo các giai đoạn có trật tự và với hoạt động theo chu kỳ.

7. The light of the soul is thrown downwards.

7. Ánh sáng của linh hồn được phóng xuống dưới.

8. The light of the vital body and the physical form is synchronised with that of the head.

8. Ánh sáng của thể sinh lực và hình tướng hồng trần được đồng bộ với ánh sáng của đầu.

9. The centres swing into activity.

9. Các trung tâm chuyển vào hoạt động.

10. The light of the soul and the two other aspects of light are so intense that now all life in the three worlds is illumined.

10. Ánh sáng của linh hồn và hai phương diện ánh sáng kia mãnh liệt đến mức bấy giờ toàn bộ sự sống trong ba cõi đều được soi sáng.

11. Alignment is produced, the work of discipleship and of initiation becomes possible and proceeds according to the Law of Being.

11. Sự chỉnh hợp được tạo ra; công việc địa vị đệ tử và điểm đạo trở nên khả hữu và tiến hành theo Định luật Bản Thể.

Principles and Personalities

There is, however, a point which merits consideration and which could be approached in the form of a question. The student might well enquire into the matter as follows:

Tuy nhiên, có một điểm đáng được xem xét và có thể được tiếp cận dưới hình thức một câu hỏi. Đạo sinh có thể tìm hiểu vấn đề như sau:

“Some people approach the problem of Being through mental appreciation; others through heart understanding; some are motivated through the head and others through the heart; some do things or avoid doing them because they know, rather than feel; some react to their surroundings mentally rather than emotionally.

“Một số người tiếp cận vấn đề Bản Thể qua sự lĩnh hội trí tuệ; những người khác qua sự thấu hiểu của tim; một số được thúc đẩy qua đầu, những người khác qua tim; một số làm hoặc tránh làm các việc vì họ biết hơn là vì họ cảm thấy; một số đáp ứng với môi trường xung quanh bằng trí tuệ hơn là bằng cảm xúc.

“The point on which to seek illumination is whether the path for some is not to serve because they know rather than love God, Who, after all, is but their innermost selves. Is [110] this not the path of the occultist and of the sage rather than of the mystic and the saint? When all is said and done, is it not a question, primarily, of the ray one is on and the Master under whom one serves one’s apprenticeship? Is not true knowledge a species of intellectual love? If a poet can pen an ode to intellectual beauty why may not we express appreciation of a unity that is conceived of the head rather than of the heart? Hearts are well enough in their way but they are not suited to the world’s rough usage.

“Điểm cần tìm sự soi sáng là liệu con đường của một số người có phải là phụng sự bởi vì họ biết Thượng đế hơn là yêu Thượng đế — Đấng, xét cho cùng, chỉ là bản ngã sâu kín nhất của họ. Đây [110] chẳng phải là con đường của nhà huyền bí học và bậc hiền triết hơn là của nhà thần bí và thánh nhân sao? Sau cùng, chẳng phải chủ yếu là vấn đề cung mà một người thuộc về và Chân sư dưới quyền người ấy học việc phụng sự sao? Chẳng phải tri thức chân thật là một loại tình thương trí tuệ sao? Nếu một thi sĩ có thể viết một bài tụng ca vẻ đẹp trí tuệ, tại sao chúng ta lại không thể bày tỏ sự trân trọng đối với một sự hợp nhất được nhận thức bằng đầu hơn là bằng tim? Tim có giá trị theo cách riêng của nó, nhưng nó không thích hợp với sự va đập thô nhám của thế gian.

“Can one do aught but accept his present limitation while seeking such transcendence as is his by the Divine Law of evolution? Is there not such a thing (by comparison) as a spiritual inferiority complex on the part of such as are sensible (and perhaps over-sensitive) of the fact that while their lives intellectually are replete with interest, the desert of their hearts has not yet been made to blossom like the rose?

“Một người có thể làm gì khác hơn là chấp nhận giới hạn hiện tại của mình, trong khi tìm kiếm sự siêu vượt vốn thuộc về mình theo Định luật thiêng liêng của tiến hóa? Chẳng phải có một điều như vậy — nếu so sánh — là phức cảm tự ti tinh thần nơi những người ý thức rõ, và có lẽ quá nhạy cảm, rằng dù đời sống trí tuệ của họ đầy hứng thú, sa mạc trong tim họ vẫn chưa được làm cho nở hoa như hoa hồng sao?

“In other words, provided one repairs to his appointed station and there serves in his acceptance of Brotherhood in the Presence of Fatherhood, what difference does it make that the fundamental postulate is with him a thing of the head rather than of the heart?”

“Nói cách khác, miễn là một người trở về vị trí đã được chỉ định cho mình và tại đó phụng sự trong sự chấp nhận tình huynh đệ trước Sự Hiện Diện của Tình Phụ Tử, thì có gì khác biệt nếu định đề căn bản nơi người ấy là một điều thuộc về đầu hơn là thuộc về tim?”

I would answer such a questioning as follows:

Tôi xin đáp lại câu hỏi ấy như sau:

It is not a question of ray or even of the basic distinction between the occultist and the mystic. In the rounded-out individual both head and heart must function with equal power. In time and space, however, and during the process of evolution, individuals are distinguished by a predominating tendency in any one life; it is only because we do not see all the picture that we draw these temporary distinctions. In one life a man may be predominantly mental and for him the path of the Love of God would be unsuited. The Love of God is shed abroad in his heart and to a considerable degree his occult approach is based on the mystic perception of past lives. For him the problem is to know God, with the view of interpreting that knowledge in love to all. Responsible [111] love, demonstrated in duty to group and family, is therefore for him the line of least resistance. Universal love, raying out to all nature and all forms of life, will follow on a more developed knowledge of God, but this will be part of his development in another life.

Đây không phải là vấn đề cung, hay thậm chí là sự phân biệt căn bản giữa nhà huyền bí học và nhà thần bí. Trong cá nhân đã phát triển trọn vẹn, cả đầu lẫn tim phải vận hành với quyền năng ngang nhau. Tuy nhiên, trong thời gian và không gian, và trong tiến trình tiến hóa, các cá nhân được phân biệt bởi một khuynh hướng trội hơn trong một đời sống nào đó; chỉ vì chúng ta không thấy toàn bộ bức tranh nên chúng ta mới đưa ra những phân biệt tạm thời này. Trong một đời sống, một người có thể thiên về trí tuệ, và đối với y, con đường yêu kính Thượng đế sẽ không thích hợp. Tình thương của Thượng đế được tuôn rải trong tim y, và ở một mức độ đáng kể, cách tiếp cận huyền bí của y đặt nền trên tri giác thần bí của các kiếp trước. Vấn đề của y là biết Thượng đế, với mục đích diễn giải tri thức ấy trong tình thương đối với tất cả. Tình thương có trách nhiệm [111], được biểu lộ qua bổn phận đối với nhóm và gia đình, vì thế đối với y là con đường ít trở ngại nhất. Tình thương phổ quát, tỏa chiếu đến toàn thể thiên nhiên và mọi hình thái sự sống, sẽ theo sau một tri thức phát triển hơn về Thượng đế; nhưng điều này sẽ là một phần trong sự phát triển của y ở một đời sống khác.

Students of human nature (and this all aspirants should be) would do well to bear in mind that there are temporary differences. People differ in:

Những đạo sinh về bản chất con người — và tất cả người chí nguyện nên là như vậy — cần ghi nhớ rằng có những khác biệt tạm thời. Con người khác nhau về:

a. Ray (which affects predominantly the magnetism of the life).

a. Cung, vốn ảnh hưởng chủ yếu đến từ tính của sự sống.

b. Approach to truth, either the occult or the mystic path having the stronger drawing power.

b. Cách tiếp cận chân lý, trong đó con đường huyền bí học hoặc con đường thần bí có sức hút mạnh hơn.

c. Polarisation, deciding the emotional, mental or physical intent of a life.

c. Sự phân cực, quyết định ý hướng cảm xúc, trí tuệ hay hồng trần của một đời sống.

d. Status in evolution, leading to the diversities seen among men.

d. Địa vị trong tiến hóa, dẫn đến những sai biệt được thấy giữa người với người.

e. Astrological sign, determining the trend of any particular life.

e. Dấu hiệu chiêm tinh, quyết định khuynh hướng của một đời sống cụ thể.

f. Race, bringing the personality under the peculiar racial thought form.

f. Giống dân, đặt phàm ngã dưới hình tư tưởng đặc thù của chủng tộc.

The sub-ray on which a man is found, that minor ray which varies from incarnation to incarnation, largely gives him his coloring for this life. It is his secondary hue. Forget not, the primary ray of the Monad continues through the aeon. It changes not. It is one of the three primary rays that eventually synthesise the sons of men. The ray of the ego varies from round to round, and, in more evolved souls, from race to race, and comprises one of the five rays of our present evolution. It is the predominating ray to which a man’s causal body vibrates. It may correspond to the ray of the monad, or it may be one of the complementary colours to the primary. The ray of the personality varies from [112] life to life, till the gamut of the seven sub-rays of the Monadic ray has been passed through.

Cung phụ mà một người thuộc về, cung nhỏ thay đổi từ kiếp lâm phàm này sang kiếp lâm phàm khác, phần lớn đem lại sắc thái cho y trong đời sống này. Đó là màu sắc thứ yếu của y. Đừng quên rằng cung chính của chân thần vẫn tiếp tục suốt đại kiếp. Nó không thay đổi. Nó là một trong ba cung chính cuối cùng tổng hợp những người con của nhân loại. Cung của chân ngã thay đổi từ cuộc tuần hoàn này sang cuộc tuần hoàn khác, và nơi các linh hồn tiến hóa hơn, từ giống dân này sang giống dân khác; nó là một trong năm cung của cuộc tiến hóa hiện tại của chúng ta. Đó là cung chủ đạo mà thể nguyên nhân của một người rung động theo. Nó có thể tương ứng với cung của chân thần, hoặc có thể là một trong các màu bổ sung cho cung chính. Cung của phàm ngã thay đổi từ [112] đời sống này sang đời sống khác, cho đến khi toàn bộ thang bảy cung phụ của cung chân thần đã được đi qua.

Therefore, in dealing with people whose monads are on a similar or complementary ray it will be found that they approach each other sympathetically. We must remember however that evolution must be far advanced for the ray of the monad to influence extensively. So the majority of cases come not under this category.

Do đó, khi tiếp xúc với những người có chân thần ở trên một cung tương tự hoặc bổ sung, người ta sẽ thấy họ tiếp cận nhau một cách cảm thông. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng tiến hóa phải rất cao thì cung của chân thần mới có ảnh hưởng rộng rãi. Vì vậy, đa số trường hợp không thuộc phạm trù này.

With average advanced men, who are struggling to approximate themselves to the ideal, similarity of the egoic ray will produce mutual comprehension, and friendship follows. It is easy for two people on the same egoic ray to comprehend each other’s point of view, and they become great friends, with unshaken faith in each other, for each recognizes the other acting as he himself would act.

Với những người trung bình nhưng tiến hóa cao, đang nỗ lực tiến gần đến lý tưởng, sự tương đồng của cung chân ngã sẽ tạo ra sự thấu hiểu lẫn nhau, và tình bạn tiếp theo sau. Hai người ở trên cùng cung chân ngã dễ dàng thấu hiểu quan điểm của nhau, và họ trở thành bạn thân, với niềm tin không lay chuyển nơi nhau, vì mỗi người nhận ra người kia hành động như chính mình sẽ hành động.

But when (added to the egoic similarity of ray) you have the same ray of personality, then you have one of those rare things a perfect friendship, a successful marriage, an unbreakable link between two. This is rare indeed.

Nhưng khi, ngoài sự tương đồng về cung chân ngã, bạn còn có cùng cung phàm ngã, thì bạn có một trong những điều hiếm có: một tình bạn hoàn hảo, một cuộc hôn nhân thành công, một mối liên kết không thể phá vỡ giữa hai người. Điều này quả thật hiếm.

When you have two people on the same personality ray but with the egoic ray dissimilar, you may have those brief and sudden friendships and affinities, that are as ephemeral as a butterfly. These things need bearing in mind and with their recognition comes the ability to be adaptable. Clarity of vision results in a circumspect attitude.

Khi có hai người ở cùng cung phàm ngã nhưng khác cung chân ngã, bạn có thể thấy những tình bạn và sự tương hợp ngắn ngủi, đột ngột, phù du như cánh bướm. Những điều này cần được ghi nhớ, và cùng với sự nhận biết chúng, khả năng thích nghi sẽ đến. Sự sáng rõ của tầm nhìn đưa đến một thái độ thận trọng.

Another cause of difference can be due to the polarization of the bodies. Unless this too meets with recognition in dealing with people lack of comprehension ensues. When you use the term: “a man polarized in his astral body”—you really mean a man whose ego works principally through that vehicle. Polarity indicates the clarity of the channel. Let me illustrate. The ego of the average [113] man has its home on the third sub-plane of the mental plane. If a man has an astral vehicle largely composed of third sub-plane astral matter, and a mental vehicle mostly on the fifth sub-plane, the ego will centre his endeavour on the astral body. If he has a mental body of fourth sub-plane matter and an astral body of fifth sub-plane, the polarization will be mental.

Một nguyên nhân khác của sự khác biệt có thể do sự phân cực của các thể. Nếu điều này cũng không được nhận biết khi tiếp xúc với con người, sự thiếu thấu hiểu sẽ xảy ra. Khi bạn dùng thuật ngữ “một người phân cực trong thể cảm dục của mình”, bạn thật sự muốn nói đến một người mà chân ngã của y hoạt động chủ yếu qua hiện thể ấy. Sự phân cực chỉ ra độ sáng rõ của kênh dẫn. Hãy để tôi minh họa. Chân ngã của người trung bình [113] có trú sở trên cõi phụ thứ ba của cõi trí. Nếu một người có hiện thể cảm dục phần lớn được cấu tạo bằng vật chất cảm dục của cõi phụ thứ ba, và hiện thể trí chủ yếu ở cõi phụ thứ năm, chân ngã sẽ tập trung nỗ lực của mình vào thể cảm dục. Nếu y có thể trí bằng vật chất của cõi phụ thứ tư và thể cảm dục thuộc cõi phụ thứ năm, sự phân cực sẽ là trí tuệ.

When you speak of the ego taking more or less control of a man you really mean that he has built into his bodies matter of the higher sub-planes.

Khi bạn nói về việc chân ngã kiểm soát một người ít hay nhiều, bạn thật sự muốn nói rằng y đã xây vào các thể của mình vật chất của các cõi phụ cao hơn.

The ego takes control with interest only when the man has almost entirely eliminated matter of the seventh, sixth, and fifth sub-planes from his vehicles. When he has built in a certain proportion of matter of the fourth sub-plane the ego extends his control; when there is a certain proportion of the third sub-plane, then the man is on the Path; when second sub-plane matter predominates then he takes initiation, and when he has matter only of atomic substance, he becomes a Master. Therefore, the sub-plane a man is on is of importance, and the recognition of his polarization elucidates life.

Chân ngã chỉ thật sự quan tâm nắm quyền kiểm soát khi con người gần như đã loại bỏ hoàn toàn vật chất của các cõi phụ thứ bảy, thứ sáu và thứ năm khỏi các hiện thể của mình. Khi y đã xây vào một tỷ lệ nhất định vật chất của cõi phụ thứ tư, chân ngã mở rộng sự kiểm soát của mình; khi có một tỷ lệ nhất định của cõi phụ thứ ba, bấy giờ con người ở trên Đường Đạo; khi vật chất của cõi phụ thứ hai chiếm ưu thế, y thọ điểm đạo; và khi y chỉ có vật chất thuộc chất liệu nguyên tử, y trở thành một Chân sư. Do đó, cõi phụ mà một người đang ở trên đó có tầm quan trọng, và sự nhận biết về sự phân cực của y soi sáng đời sống.

The third thing you need to remember is that even when these two points are admitted, the age of the soul’s experience frequently causes lack of comprehension. The above two points do not carry us very far, for the capacity to sense a man’s ray is not for this race as yet. Approximate supposition and the use of the intuition is all that is now possible. The little evolved cannot comprehend completely the much evolved, and in a lesser degree, the advanced ego comprehends not an initiate. The greater can apprehend the lesser but the reverse is not the case.

Điều thứ ba bạn cần nhớ là, ngay cả khi hai điểm này được thừa nhận, tuổi đời kinh nghiệm của linh hồn thường gây ra sự thiếu thấu hiểu. Hai điểm trên không đưa chúng ta đi xa lắm, vì năng lực cảm nhận cung của một người hiện nay chưa thuộc về nhân loại này. Điều duy nhất hiện có thể là phỏng đoán gần đúng và sử dụng trực giác. Người tiến hóa ít không thể hoàn toàn thấu hiểu người tiến hóa nhiều; và ở mức độ thấp hơn, chân ngã tiến hóa cao cũng không thấu hiểu một điểm đạo đồ. Cái lớn hơn có thể nhận thức cái nhỏ hơn, nhưng điều ngược lại thì không.

As regards the action of those whose point of attainment greatly transcends your own, I can only ask you to do three things: [114]

Về hành động của những vị có điểm thành tựu vượt xa chính bạn, tôi chỉ có thể yêu cầu bạn làm ba điều: [114]

a. Reserve judgment. Their vision is greater. Forget not that one of the greatest qualities members of the Lodge have achieved is their ability to view the destruction of form as unimportant. Their concern is with the evolving life.

a. Khoan phán xét. Tầm nhìn của các Ngài rộng lớn hơn. Đừng quên rằng một trong những phẩm tính lớn nhất mà các thành viên của Thánh đoàn đã đạt được là khả năng xem sự hủy hoại hình tướng là không quan trọng. Mối quan tâm của các Ngài là sự sống đang tiến hóa.

b. Realize that all events are brought around by the Brothers with a wise purpose in view. Lesser grade initiates, though utterly free agents, fit into the plans of their superiors just as do you in your lesser way. They have their lessons to learn, and the rule of learning is that all experience has to be bought. Apprehension comes by the punishment that follows an ill-judged act. Their superiors stand by to turn to good account situations brought about by the errors of those inferior in point of development.

b. Nhận ra rằng mọi biến cố đều được các Huynh Đệ đưa đến với một mục đích minh triết trong tầm nhìn. Các điểm đạo đồ cấp thấp hơn, dù hoàn toàn là những tác nhân tự do, vẫn ăn khớp với các thiên cơ của những vị cao hơn họ, cũng như bạn theo cách nhỏ bé hơn của mình. Họ có những bài học phải học, và quy luật của việc học là mọi kinh nghiệm đều phải được trả giá. Sự nhận thức đến qua hình phạt theo sau một hành động phán đoán sai lầm. Những vị cao hơn họ đứng bên để chuyển các tình huống do sai lầm của những người thấp hơn về điểm phát triển thành điều hữu ích.

c. Remember also that the Law of Rebirth holds hidden the secret of the present crisis. Groups of egos come together to work out certain karma involved in past days. Men have erred grievously in the past. Punishment and transmutation are the natural working out. Violence and cruelty in the past will reap its heavy karma, but it lies in the hands of you all now to transmute the old mistakes.

c. Cũng hãy nhớ rằng Định luật Tái sinh che giấu bí mật của cuộc khủng hoảng hiện tại. Các nhóm chân ngã đến với nhau để giải quyết một số nghiệp quả nhất định liên quan đến những ngày đã qua. Con người đã phạm sai lầm nghiêm trọng trong quá khứ. Hình phạt và sự chuyển hoá là kết quả vận hành tự nhiên. Bạo lực và tàn ác trong quá khứ sẽ gặt lấy nghiệp quả nặng nề của chúng, nhưng hiện nay việc chuyển hoá các sai lầm xưa nằm trong tay tất cả các bạn.

Also bear in mind that principles are eternal, personalities temporal. Principles are to be viewed in the light of eternity; personalities from the standpoint of time. The trouble is that, in many situations, two principles are involved, one of which is secondary. The difficulty lies in the fact that (both being principles) both are right. It is a rule for safe guidance always to remember that usually basic principles (for their wise comprehension and fruitful working out) call for the play of the intuition whilst secondary principles are more purely mental. The methods hence necessarily differ. When holding to the basic principles, the wisest methods are [115] silence and a joyful confidence that the Law works, an avoidance of all personality innuendo except wise and loving comment, and a determination to see all in the light of eternity and not of time, coupled with a constant endeavour to follow the law of love and see only the divine in your brothers, e’en if on an opposing side.

Cũng hãy ghi nhớ rằng các nguyên lý là vĩnh cửu, các phàm ngã là tạm thời. Các nguyên lý phải được nhìn trong ánh sáng của vĩnh cửu; các phàm ngã từ quan điểm của thời gian. Vấn đề là, trong nhiều tình huống, có hai nguyên lý cùng liên quan, một trong hai là thứ yếu. Khó khăn nằm ở chỗ, vì cả hai đều là nguyên lý, nên cả hai đều đúng. Một quy luật để hướng dẫn an toàn là luôn nhớ rằng các nguyên lý căn bản thường đòi hỏi sự vận dụng của trực giác để được thấu hiểu minh triết và triển khai hữu hiệu, trong khi các nguyên lý thứ yếu thuần túy thuộc trí tuệ hơn. Vì thế, các phương pháp tất yếu khác nhau. Khi giữ vững các nguyên lý căn bản, những phương pháp minh triết nhất là [115] im lặng và một niềm tin hoan hỉ rằng Định luật đang vận hành; tránh mọi ám chỉ phàm ngã ngoại trừ nhận xét minh triết và đầy tình thương; và một quyết tâm nhìn mọi sự trong ánh sáng của vĩnh cửu chứ không phải của thời gian, đi đôi với nỗ lực thường xuyên tuân theo định luật bác ái và chỉ thấy điều thiêng liêng nơi các huynh đệ của bạn, ngay cả khi họ ở phía đối lập.

In secondary principles, which all opposing forces are at present emphasizing, the use of the lower mind involves the danger of criticism, the employment of methods sanctioned by time in the three worlds—methods involving personal attack, invective and the expenditure of force along destructive lines, and a spirit contrary to the law of the plane of unity. The term “opposing forces” is used rightly if you employ it only in a scientific sense and mean the contrasting pole that leads to equilibrium. Remember therefore, that opposing groups may be quite sincere, but the concrete mind acts in them as a barrier to the free play of the higher vision. Their sincerity is great but their point of attainment along some lines less than that of those who adhere to basic principles, seen in the light of the intuition.

Trong các nguyên lý thứ yếu, mà tất cả các mãnh lực đối lập hiện nay đang nhấn mạnh, việc sử dụng hạ trí kéo theo nguy cơ chỉ trích, việc dùng những phương pháp được thời gian trong ba cõi chuẩn nhận — các phương pháp bao hàm công kích cá nhân, lời mắng nhiếc và sự tiêu hao mãnh lực theo các đường lối phá hoại — cùng một tinh thần trái với định luật của cõi hợp nhất. Thuật ngữ “các mãnh lực đối lập” được dùng đúng nếu bạn chỉ dùng nó theo nghĩa khoa học và hiểu là cực tương phản dẫn đến quân bình. Vì vậy, hãy nhớ rằng các nhóm đối lập có thể hoàn toàn chân thành, nhưng trí cụ thể hoạt động nơi họ như một rào cản đối với sự vận hành tự do của tầm nhìn cao hơn. Sự chân thành của họ rất lớn, nhưng điểm thành tựu của họ theo một số đường lối lại thấp hơn điểm thành tựu của những người bám giữ các nguyên lý căn bản, được thấy trong ánh sáng của trực giác.

A principle is that which embodies some aspect of the truth on which this system of ours is based; it is the seeping through to the consciousness of the man of a little of the idea on which our Logos bases all He does. The basis of all Logoic action is love in activity, and the fundamental idea on which He bases action connected with the human Hierarchy is the power of love to drive onward, —call it evolution, if you like, call it inherent urge, should you so prefer, but it is love causing motion and urging onward to completion. It is the driving of one and all to further expression. Hence, this principle should underlie all activity, and the government of the lesser organizations, if founded on love leading to activity, would lead to a divine urge in all its members, driving them likewise on to fullest expression, and thus tend [116] to more adequate completeness and more satisfactory endeavour.

Một nguyên lý là điều thể hiện một phương diện nào đó của chân lý mà thái dương hệ của chúng ta đặt nền trên đó; đó là sự thấm vào tâm thức con người một chút ý tưởng mà Thượng đế của chúng ta đặt nền cho mọi điều Ngài làm. Nền tảng của mọi hành động thuộc Thượng đế là bác ái trong hoạt động, và ý tưởng căn bản mà Ngài đặt nền cho hành động liên quan đến Huyền Giai nhân loại là quyền năng của tình thương thúc đẩy tiến tới — hãy gọi đó là tiến hóa nếu bạn muốn, hãy gọi đó là thôi thúc nội tại nếu bạn thích hơn — nhưng đó là tình thương gây nên chuyển động và thúc giục tiến tới hoàn tất. Đó là sự thúc đẩy từng người và tất cả đi đến sự biểu lộ xa hơn. Vì thế, nguyên lý này phải nằm dưới mọi hoạt động; và việc quản trị các tổ chức nhỏ hơn, nếu được đặt nền trên tình thương dẫn đến hoạt động, sẽ đưa đến một thôi thúc thiêng liêng nơi tất cả thành viên của chúng, cũng thúc đẩy họ tiến tới sự biểu lộ trọn vẹn nhất, và như vậy có khuynh hướng [116] đưa đến sự hoàn chỉnh thích đáng hơn và nỗ lực thỏa đáng hơn.

A principle, when really fundamental, appeals at once to the intuition and calls out an immediate re-action of assent from the man’s higher Self. It makes little or no appeal to the personality. It embodies a conception of the ego in his relationship to others. A principle is that which governs always the action of the ego on his own plane, and it is only as we come more and more under the guidance of that ego that our personality conceives of, and responds to these ideas. This is a point to be borne in mind in all dealings with others and should modify judgments. To apprehend a principle justly marks a point in evolution.

Một nguyên lý, khi thật sự căn bản, lập tức kêu gọi trực giác và khơi dậy một phản ứng tán đồng tức thời từ Bản Ngã Cao Siêu của con người. Nó ít hoặc hầu như không kêu gọi phàm ngã. Nó thể hiện một quan niệm của chân ngã trong mối quan hệ của y với những người khác. Một nguyên lý là điều luôn luôn chi phối hành động của chân ngã trên cõi riêng của y, và chỉ khi chúng ta ngày càng ở dưới sự hướng dẫn của chân ngã ấy thì phàm ngã của chúng ta mới nhận thức và đáp ứng với các ý tưởng này. Đây là một điểm cần ghi nhớ trong mọi giao tiếp với người khác và phải làm dịu các phán xét. Nhận thức một nguyên lý một cách đúng đắn đánh dấu một điểm trong tiến hóa.

A principle is that which ensouls a statement dealing with the highest good of the greatest number. That a man should love his wife is a statement of a principle governing the personality but it must later be transmuted into the greater principle that a man must love his fellow men. Principles are of three kinds and the higher must be reached via the lower:

Một nguyên lý là điều phú linh cho một phát biểu liên quan đến lợi ích cao nhất của số đông lớn nhất. Việc một người nên yêu vợ mình là một phát biểu về một nguyên lý chi phối phàm ngã, nhưng về sau nó phải được chuyển hoá thành nguyên lý lớn hơn rằng một người phải yêu đồng loại của mình. Các nguyên lý có ba loại, và cái cao hơn phải được đạt tới qua cái thấp hơn:

(a) Principles governing the lower personal self, dealing with the actions or active life of that lower self. They embody the third aspect or the activity aspect of logoic manifestation and form the basis of later progress. They control the man during his little evolved state, and during his period of thoughtlessness and might be comprehended more easily if I were to say that they are embodied in the commonly accepted rules of decent living. Thou shalt not kill, thou shalt not steal, have to do with a man’s active life, with the building up of character.

(a) Các nguyên lý chi phối phàm ngã thấp, liên quan đến các hành động hay đời sống hoạt động của phàm ngã thấp ấy. Chúng thể hiện phương diện thứ ba, hay phương diện hoạt động, của sự biểu lộ thuộc Thượng đế và tạo thành nền tảng cho bước tiến về sau. Chúng kiểm soát con người trong trạng thái còn ít tiến hóa và trong giai đoạn thiếu suy nghĩ của y; có thể thấu hiểu chúng dễ hơn nếu tôi nói rằng chúng được thể hiện trong các quy luật sống đứng đắn được chấp nhận phổ biến. “Ngươi không được giết”, “ngươi không được trộm cắp” liên quan đến đời sống hoạt động của con người, đến việc lập hạnh.

(b) Principles governing the higher self and dealing with the love or wisdom aspect. It is with these that we are now concerned and half the troubles in [117] the world at present arise from the fact that these higher principles, having to do with love or wisdom in all their fullness, are only now beginning to be apprehended by the rank and file of mankind. In the quick recognition of their truthfulness and the attempt to make them facts, without previously adjusting the environment to those ideals, comes the frequent clashing and warfare between those actuated by the principles governing the personality and those governing the higher Self. Until more of the race are governed by the soul consciousness this warfare is inevitable and cannot be avoided. When the emotional plane is dominated by the intuitional, then will come universal comprehension.

(b) Các nguyên lý chi phối chân ngã và liên quan đến phương diện bác ái hay minh triết. Chính với những nguyên lý này mà chúng ta hiện đang quan tâm, và một nửa những rắc rối trong [117] thế giới hiện nay phát sinh từ sự kiện rằng các nguyên lý cao hơn này, liên quan đến bác ái hay minh triết trong toàn bộ sự viên mãn của chúng, chỉ mới bắt đầu được đại đa số nhân loại nhận thức. Trong sự nhanh chóng nhận ra tính chân thật của chúng và nỗ lực biến chúng thành sự kiện, mà chưa điều chỉnh môi trường trước cho phù hợp với các lý tưởng ấy, thường phát sinh sự va chạm và chiến tranh giữa những người được thúc đẩy bởi các nguyên lý chi phối phàm ngã và những người được thúc đẩy bởi các nguyên lý chi phối Bản Ngã Cao Siêu. Cho đến khi nhiều người hơn trong nhân loại được tâm thức linh hồn chi phối, cuộc chiến này là không tránh khỏi. Khi cõi trực giác chế ngự cõi cảm xúc, bấy giờ sự thấu hiểu phổ quát sẽ đến.

The first set of principles is learnt by the man through grasping, and the subsequent disaster that results from that seizure. He stole, he suffered the penalty and he stole no more. The principle was wrought into him by pain and he learnt that only that which was his by right and not by seizure could be enjoyed. The world is learning this lesson in groups now, for, as its revolutionaries seize and unlawfully hold, they find the stolen property suffices not but brings sorrow. Thus in time they learn the principles.

Nhóm nguyên lý thứ nhất được con người học qua sự chiếm đoạt, và qua tai họa theo sau hành vi chiếm đoạt ấy. Y đã trộm cắp, y chịu hình phạt, và y không trộm nữa. Nguyên lý được rèn vào y bằng đau khổ, và y học rằng chỉ điều gì thuộc về y theo lẽ phải, chứ không do chiếm đoạt, mới có thể được hưởng thụ. Thế giới hiện nay đang học bài học này theo nhóm; vì khi những người cách mạng chiếm lấy và giữ một cách phi pháp, họ thấy tài sản bị đánh cắp không đủ dùng mà còn đem lại đau khổ. Như vậy, theo thời gian họ học các nguyên lý.

The second set of principles is learnt through renunciation and service. A man looks away (having learnt first principles) from the things of the personality and in service learns the power of love in its occult significance. He spends and consequently receives; he lives the life of renunciation and the wealth of the heavens pours in on him; he gives all and is full to completeness; he asks nothing for himself and is the richest man on earth.

Nhóm nguyên lý thứ hai được học qua sự từ bỏ và phụng sự. Một người quay mắt khỏi những sự vật của phàm ngã — sau khi đã học các nguyên lý đầu tiên — và trong phụng sự, y học quyền năng của tình thương theo thâm nghĩa huyền bí của nó. Y cho đi và do đó nhận lại; y sống đời từ bỏ và sự giàu có của các cõi trời tuôn đổ vào y; y cho tất cả và được đầy trọn đến viên mãn; y không cầu xin gì cho bản thân và là người giàu có nhất trên Trái Đất.

First principles deal with the differentiated unit and with evolution through heterogeneity. Principles such as the race is learning now have to do with groups; the [118] question is not — “What will be best for the man?” but “What will be best for the many?” and only those who can think with vision of the many as one, can state these principles satisfactorily. They are the most important, for they are the basic principles of this love system. The trouble today is that men are confused. Certain first principles, the lower activity fundamentals are ingrained and inherent now, and a few of the higher egoic or love principles are seeping through into their bewildered brains causing an apparent momentary clashing of ideas. Therefore like Pilate they say: “What is truth?” If they will but remember that the higher principles deal with the good of the group and the lower with the good of the individual, mayhap clarity, will ensue. The lower activity of personal life, no matter how good or how worthy, must eventually be transcended by the higher love life that seeks the good of the group and not of the unit.

Các nguyên lý đầu tiên liên quan đến đơn vị đã biến phân và đến tiến hóa qua tính dị biệt. Những nguyên lý mà nhân loại hiện đang học liên quan đến các nhóm; vấn đề [118] không phải là: “Điều gì sẽ tốt nhất cho một người?” mà là “Điều gì sẽ tốt nhất cho nhiều người?” và chỉ những ai có thể suy nghĩ bằng tầm nhìn về nhiều người như một mới có thể phát biểu các nguyên lý này một cách thỏa đáng. Chúng là những nguyên lý quan trọng nhất, vì chúng là các nguyên lý căn bản của thái dương hệ bác ái này. Khó khăn ngày nay là con người bị lẫn lộn. Một số nguyên lý đầu tiên, các nền tảng hoạt động thấp, hiện đã ăn sâu và trở thành bẩm sinh; và một vài nguyên lý chân ngã hay nguyên lý bác ái cao hơn đang thấm vào các bộ não rối bời của họ, gây nên một sự va chạm ý tưởng có vẻ nhất thời. Vì vậy, như Pilate, họ nói: “Chân lý là gì?” Nếu họ chỉ cần nhớ rằng các nguyên lý cao hơn liên quan đến lợi ích của nhóm, còn các nguyên lý thấp hơn liên quan đến lợi ích của cá nhân, có lẽ sự sáng rõ sẽ theo sau. Hoạt động thấp của đời sống cá nhân, dù tốt đẹp hay xứng đáng đến đâu, cuối cùng phải được siêu vượt bởi đời sống bác ái cao hơn, vốn tìm kiếm lợi ích của nhóm chứ không phải của đơn vị.

All that tends to synthesis and divine expression in collections of units is approaching closer to the ideal and approximating the higher principles. In thinking out these ideas may come some helpfulness. You have an illustration of what I say in the fact that many of the struggles that arise in organizations are based on the fact that some worthy people follow personalities, sacrificing themselves for a principle, yes, but a principle governing the personality life. Others, dimly glimpsing something higher and seeking the good of the groups and not of a person, stumble onto a higher principle, and in so doing bring in the force of the ego. They are working for others and aiming at the helping of their group. When egos and personalities clash, the victory of the higher is sure; the lower principle must give way to the higher. One is concentrated on what seems to him to be of paramount value, the fulfilling of the wish of the personal life, and (at this period) is only secondarily [119] interested in the good of the many though he may have moments when he thinks that is his primary intent. The other cares naught for what becomes of the personal self and is only interested in the helping of the many. It boils down, to use an apt expression, to the question of selfish or unselfish motive, and, as you know, motives vary as time speeds by and the man nears the goal of the probationary path.

Tất cả những gì có khuynh hướng đưa đến tổng hợp và sự biểu lộ thiêng liêng trong các tập hợp đơn vị đều tiến gần hơn đến lý tưởng và gần với các nguyên lý cao hơn. Khi suy ngẫm các ý tưởng này, có thể nảy sinh một sự trợ giúp nào đó. Bạn có một minh họa cho điều tôi nói trong sự kiện rằng nhiều cuộc đấu tranh phát sinh trong các tổ chức đặt nền trên việc một số người xứng đáng đi theo các phàm ngã, hy sinh chính mình cho một nguyên lý — đúng vậy — nhưng là một nguyên lý chi phối đời sống phàm ngã. Những người khác, lờ mờ thoáng thấy điều gì cao hơn và tìm kiếm lợi ích của các nhóm chứ không phải của một cá nhân, tình cờ chạm đến một nguyên lý cao hơn, và khi làm như vậy, họ đưa mãnh lực của chân ngã vào. Họ đang làm việc cho người khác và nhắm đến việc trợ giúp nhóm của mình. Khi các chân ngã và các phàm ngã va chạm, chiến thắng của cái cao hơn là điều chắc chắn; nguyên lý thấp phải nhường chỗ cho nguyên lý cao. Một người tập trung vào điều dường như đối với y có giá trị tối thượng: sự hoàn thành ước muốn của đời sống cá nhân; và trong giai đoạn này, y chỉ quan tâm thứ yếu [119] đến lợi ích của nhiều người, dù y có thể có những lúc nghĩ rằng đó là ý hướng chính của mình. Người kia không bận tâm đến điều gì sẽ xảy đến cho phàm ngã cá nhân và chỉ quan tâm đến việc trợ giúp nhiều người. Nói cho cùng, dùng một cách diễn đạt thích hợp, vấn đề quy về động cơ ích kỷ hay vô kỷ; và như bạn biết, động cơ thay đổi khi thời gian trôi nhanh và con người tiến gần mục tiêu của Con Đường Dự Bị.

(c) Still higher principles are those comprehended by the Spirit and are only readily comprehended by the monadic consciousness. Only as the man transcends his active personal life and substitutes the life of love or wisdom as led by the ego can he begin to understand the scope of that life of love and know it as demonstrated power. Just as the personality deals with the principles governing the life of activity of the lower self, and the ego works with the law of love as demonstrated in group work, or love showing itself in the synthesis of the many into the few, so the Monad deals with the active life of love shown in power through the synthesis of the few into the one.

(c) Các nguyên lý còn cao hơn nữa là những nguyên lý được Tinh thần thấu hiểu và chỉ dễ dàng được thấu hiểu bởi tâm thức chân thần. Chỉ khi con người siêu vượt đời sống cá nhân hoạt động của mình và thay thế bằng đời sống bác ái hay minh triết do chân ngã dẫn dắt, y mới có thể bắt đầu hiểu phạm vi của đời sống bác ái ấy và biết nó như quyền năng được biểu lộ. Cũng như phàm ngã liên quan đến các nguyên lý chi phối đời sống hoạt động của phàm ngã thấp, và chân ngã làm việc với định luật bác ái được biểu lộ trong công việc nhóm, tức bác ái tự biểu lộ trong sự tổng hợp nhiều thành ít, thì chân thần liên quan đến đời sống hoạt động của bác ái được biểu lộ trong quyền năng qua sự tổng hợp ít thành một.

One deals with the life of the man on the physical plane, or in the three worlds, the second with his life on causal levels, and the last with his life after the attainment of the goal of present human endeavour. One deals with units, another with groups and the last with unity. One deals with differentiation at its most diverse point, the second with the many resolved into the egoic groups, whilst the third sees the differentiation resolved back into the seven, which marks unity for the human hierarchy.

Một nguyên lý liên quan đến đời sống của con người trên cõi hồng trần, hay trong ba cõi; nguyên lý thứ hai liên quan đến đời sống của y trên các cấp độ nguyên nhân; và nguyên lý sau cùng liên quan đến đời sống của y sau khi đạt mục tiêu của nỗ lực nhân loại hiện tại. Một nguyên lý liên quan đến các đơn vị, một nguyên lý khác liên quan đến các nhóm, và nguyên lý sau cùng liên quan đến sự hợp nhất. Một nguyên lý liên quan đến sự biến phân ở điểm đa dạng nhất của nó; nguyên lý thứ hai liên quan đến nhiều người được quy về các nhóm chân ngã; trong khi nguyên lý thứ ba thấy sự biến phân được quy trở lại thành bảy, điều đánh dấu sự hợp nhất đối với Huyền Giai nhân loại.

All these factors and many others produce differences among human beings, and in sizing himself up a man must needs bring them into his consideration.

Tất cả những yếu tố này và nhiều yếu tố khác tạo nên các khác biệt giữa con người, và khi tự đánh giá mình, con người tất yếu phải đưa chúng vào sự xem xét.

It should therefore be borne in mind that a disciple of any of the Masters will have his peculiar equipment, and his individual assets and deficiencies. He can nevertheless [120] rest assured that, until the path of Knowledge has been added to the path of Love, he can never take the major initiations, for these are undergone on the higher levels of the mental plane. Until the path of light is united to the path of life the great transition from the fourth into the fifth kingdom cannot be taken. Certain expansions of consciousness are possible; initiations on the astral and lower mental planes can be taken; some of the vision can be seen, the sense of the Presence can be felt; the Beloved can be reached by love, and the bliss and the joy of this contact can carry with it its abiding joy, but that clear perception which comes from the experience undergone on the Mount of Illumination is a different thing to the joy experienced on the Mount of Blessing. The Heart leads in the one, the Head leads in the other.

Vì vậy, cần ghi nhớ rằng một đệ tử của bất kỳ Chân sư nào cũng sẽ có trang bị riêng, cùng những tài sản và thiếu sót cá nhân của mình. Tuy nhiên, y có thể [120] yên tâm rằng, cho đến khi con đường Tri thức được thêm vào con đường Bác ái, y không bao giờ có thể thọ các cuộc điểm đạo lớn, vì các cuộc điểm đạo này được trải qua trên các cấp độ cao hơn của cõi trí. Cho đến khi con đường ánh sáng được hợp nhất với con đường sự sống, cuộc chuyển tiếp lớn từ giới thứ tư sang giới thứ năm không thể được thực hiện. Một số mở rộng tâm thức là khả hữu; các cuộc điểm đạo trên cõi cảm dục và cõi hạ trí có thể được thọ nhận; một phần tầm nhìn có thể được thấy; cảm thức về Sự Hiện Diện có thể được cảm nhận; Đấng Yêu Dấu có thể được đạt tới bằng tình thương, và chí phúc cùng sự hoan hỉ của sự tiếp xúc này có thể mang theo niềm hoan hỉ bền vững của nó; nhưng tri giác sáng rõ đến từ kinh nghiệm được trải qua trên Núi Soi Sáng là điều khác với niềm hoan hỉ được kinh nghiệm trên Núi Chúc Phúc. Trong trường hợp này, Tim dẫn dắt; trong trường hợp kia, Đầu dẫn dắt.

To answer categorically: The path of knowledge is that of the occultist and the sage; that of love is that of the mystic and the saint. The head or the heart approach is not dependent upon the ray, for both ways must be known; the mystic must become the occultist; the white occultist has been the saintly mystic. True knowledge is intelligent love, for it is the blending of the intellect and the devotion. Unity is sensed in the heart; its intelligent application to life has to be worked out through knowledge.

Trả lời một cách dứt khoát: Con đường tri thức là con đường của nhà huyền bí học và bậc hiền triết; con đường bác ái là con đường của nhà thần bí và thánh nhân. Cách tiếp cận bằng đầu hay bằng tim không tùy thuộc vào cung, vì cả hai con đường đều phải được biết; nhà thần bí phải trở thành nhà huyền bí học; nhà huyền bí học chánh đạo đã từng là nhà thần bí thánh thiện. Tri thức chân thật là tình thương thông minh, vì đó là sự hòa trộn của trí năng và sự sùng tín. Sự hợp nhất được cảm nhận trong tim; việc áp dụng nó một cách thông minh vào đời sống phải được thực hiện qua tri thức.

It is of prime value to recognize the tendency of the life purpose, and to know whether the head or the heart method is the objective of any specific life. A fine spiritual discrimination is needed here however, lest the glamour of illusion tempt to the path of inertia. Ponder these words with care, and see that the question is based on a true foundation and does not grow out of an inferiority complex, the consideration of a brother’s enterprise and a consequent jealous tendency, or upon a placid complacency which negates activity. [121]

Điều có giá trị hàng đầu là nhận ra khuynh hướng của mục đích đời sống, và biết liệu phương pháp của đầu hay của tim là mục tiêu của một đời sống cụ thể nào đó. Tuy nhiên, ở đây cần có sự phân biện tinh thần tinh tế, kẻo ảo cảm của ảo tưởng cám dỗ người ta vào con đường của Quán tính. Hãy suy ngẫm kỹ những lời này, và hãy thấy rằng câu hỏi được đặt trên một nền tảng chân thật, chứ không phát sinh từ một phức cảm tự ti, từ việc cân nhắc công việc của một huynh đệ và khuynh hướng ghen tị theo sau, hay từ một sự tự mãn bình thản phủ định hoạt động. [121]

As a general rule for the average aspirant to discipleship, it may be safely assumed that the past has seen much application of the heart way, and that in this incarnation the mental unfoldment is of prime importance.

Như một quy luật tổng quát đối với người chí nguyện trung bình hướng đến địa vị đệ tử, có thể an toàn giả định rằng quá khứ đã chứng kiến nhiều sự áp dụng con đường của tim, và trong lần lâm phàm này, sự khai mở trí tuệ có tầm quan trọng hàng đầu.

An ancient Scripture says:

Một Kinh văn cổ nói:

“Seek not, Oh twice-blessed One, to attain the spiritual essence before the mind absorbs. Not thus is wisdom sought. Only he who hath the mind in leash, and seeth the world as in a mirror can be safely trusted with the inner senses. Only he who knoweth the five senses to be illusion, and that naught remaineth save the two ahead, can be admitted into the secret of the Cruciform transposed.

“Hỡi Đấng hai lần được ban phúc, đừng tìm cách đạt tới tinh hoa tinh thần trước khi thể trí hấp thu. Minh triết không được tìm kiếm theo cách ấy. Chỉ người nào giữ thể trí trong dây cương, và thấy thế gian như trong một tấm gương, mới có thể được tin cậy an toàn với các giác quan bên trong. Chỉ người nào biết năm giác quan là ảo tưởng, và không còn gì ngoài hai giác quan phía trước, mới có thể được nhận vào bí mật của Thập Giá được chuyển vị.

“The path that is trodden by the Server is the path of fire that passeth through his heart and leadeth to the head. It is not on the path of pleasure, nor on the path of pain that liberation may be taken nor that wisdom cometh. It is by the transcendence of the two, by the blending of pain with pleasure, that the goal is reached, that goal that lieth ahead, like a point of light seen in the darkness of a winter’s night. That point of light may call to mind the tiny candle in some attic drear, but—as the path that leadeth to that light is trodden through the blending of the pairs of opposites—that pin-point, cold and flickering, groweth with steady radiance till the warm light of some blazing lamp cometh to the mind of the wanderer by the way.

“Con đường mà Người Phụng Sự bước đi là con đường lửa đi qua tim y và dẫn đến đầu. Không phải trên con đường khoái lạc, cũng không phải trên con đường đau khổ mà sự giải thoát có thể được đạt tới hay minh triết đến. Chính bằng sự siêu vượt cả hai, bằng sự hòa trộn đau khổ với khoái lạc, mà mục tiêu được đạt tới — mục tiêu nằm phía trước như một điểm sáng được thấy trong bóng tối của một đêm đông. Điểm sáng ấy có thể gợi nhớ ngọn nến nhỏ trong một căn gác buồn tẻ nào đó; nhưng khi con đường dẫn đến ánh sáng ấy được bước đi qua sự hòa trộn các cặp đối cực, thì điểm sáng nhỏ xíu, lạnh lẽo và chập chờn ấy lớn dần với hào quang ổn định, cho đến khi ánh sáng ấm áp của một ngọn đèn rực cháy hiện ra trong trí người lữ hành trên đường.

“Pass on, O Pilgrim, with steady perseverance. No candle is there nor earth lamp fed with oil. Ever the radiance groweth till the path ends within a blaze of glory, and the wanderer through the night becometh the child of the sun, and entereth within the portals of that radiant orb.”

“Hãy tiến lên, hỡi Người Hành Hương, với sự kiên trì vững chắc. Ở đó không có ngọn nến nào, cũng không có đèn trần thế nào được nuôi bằng dầu. Hào quang mãi lớn dần cho đến khi con đường kết thúc trong một ánh rực rỡ vinh quang, và kẻ lang thang trong đêm trở thành đứa con của mặt trời, đi vào các cổng của quầng sáng rạng rỡ ấy.”

Leave a Comment

Scroll to Top