|
c. A mass of individual distress and fear can be taken on by an individual and yet have nothing to do with him whatsoever. It is quite possible for a man to tune in on the fears of other people whilst he himself has literally nothing to fear of any kind. He can so identify himself with their forebodings of future disaster that he interprets them in terms of his own coming experience. He is unable to dissociate himself from their reactions and absorbs so much of the poison in their emotional and mental auras that he is swept into a very vortex of terror and of fear. Yet, if he did but know it, the future holds for him no hidden catastrophes. He is simply deluded, but the effect on his astral body and upon his solar plexus is identically the same. This is painfully the case now that there are so many thousands of sensitive aspiring souls, inexperienced in the handling of the world karma, wide open to the suffering of others and unable to distinguish between their own destiny in the immediate future and the destiny of others in their environment.
|
c. Một khối đau khổ và sợ hãi cá nhân có thể được một cá nhân tiếp nhận, nhưng lại không liên quan gì đến y cả. Hoàn toàn có thể một người bắt được làn sóng sợ hãi của người khác, trong khi bản thân y thật sự không có bất cứ điều gì phải sợ. Y có thể đồng hoá mình với những linh cảm của họ về tai họa tương lai đến mức diễn giải chúng như kinh nghiệm sắp đến của chính mình. Y không thể tách mình khỏi các phản ứng của họ và hấp thụ quá nhiều chất độc trong các hào quang xúc cảm và trí tuệ của họ đến mức bị cuốn vào chính một xoáy lốc kinh hoàng và sợ hãi. Thế nhưng, nếu y chỉ biết điều đó, thì tương lai không chứa đựng cho y những tai họa ẩn giấu nào. Y chỉ đơn giản bị mê lầm, nhưng hiệu quả trên thể cảm dục và trên tùng thái dương của y thì hoàn toàn giống nhau. Điều này hiện nay là trường hợp rất đau đớn, khi có hàng ngàn linh hồn chí nguyện nhạy cảm, thiếu kinh nghiệm trong việc xử lý nghiệp quả thế giới, mở rộng trước khổ đau của người khác và không thể phân biệt giữa định mệnh của chính mình trong tương lai gần với định mệnh của những người khác trong môi trường của họ.
|
|
It is possible also for the more advanced aspirant and those upon the Path of Discipleship to contact ancient vibrations of evil and misery on the astral plane—evil long past and gone; it is possible for them to read a tiny fragment of the akashic records which concerns coming distress to an individual or a group, which they themselves may never see and yet nevertheless appropriate the conveyed information to themselves and suffer consequently.
|
Cũng có thể đối với người chí nguyện tiến bộ hơn và những người trên Con Đường Đệ Tử, họ tiếp xúc với các rung động cổ xưa của cái ác và khốn khổ trên cõi cảm dục — cái ác đã qua từ lâu và đã mất; cũng có thể họ đọc được một mảnh rất nhỏ của các ký ảnh tiên thiên liên quan đến nỗi khổ sắp đến cho một cá nhân hay một nhóm, điều mà chính họ có thể không bao giờ thấy, nhưng tuy vậy lại quy thông tin được truyền đạt ấy về chính mình và do đó chịu khổ.
|
|
3. Fear of Physical Pain. Some people have this fear as the underlying cause of all their anxieties, little though [305] they may recognise it. It is really a result of the other three classes of fears; of the strain which they put upon their astral body, and the tension caused by the use of the imaginative faculty and the reasoning tension in the physical nervous system. This system becomes very much over-sensitised and capable of the most acute physical suffering. Ills and ails which would seem of no vital importance to the ordinary and more phlegmatic types are aggravated into a condition of real agony. This should be recognised by those who care for the sick and steps should be taken to minimise the physical condition through the use of sedatives and of anesthetics so that undue strain should not be put on an already overworked nervous system.
|
3. Nỗi sợ đau đớn thể xác. Một số người có nỗi sợ này như nguyên nhân nền tảng của mọi lo âu của họ, dù [305] họ có thể ít nhận ra điều ấy. Nó thật ra là kết quả của ba loại sợ hãi kia; của sức căng mà chúng đặt lên thể cảm dục của họ, và của sự căng thẳng do việc sử dụng năng lực tưởng tượng cùng sức căng lý luận trong hệ thần kinh thể xác. Hệ thống này trở nên quá nhạy cảm và có khả năng chịu đựng nỗi đau thể xác sắc bén nhất. Những bệnh tật và đau yếu dường như không có tầm quan trọng sống còn đối với những loại người bình thường và điềm đạm hơn lại bị khuếch đại thành một tình trạng thống khổ thật sự. Điều này nên được những người chăm sóc bệnh nhân nhận biết, và cần thực hiện các bước để giảm thiểu tình trạng thể xác qua việc dùng thuốc an thần và thuốc gây mê, sao cho không đặt sức căng quá mức lên một hệ thần kinh vốn đã làm việc quá tải.
|
|
You ask me whether I am endorsing the use of ether and chloroform in operations, and of sedative drugs. Not basically, but most certainly temporarily. When man’s contact with his soul is firmly established, and when he has developed the faculty of passing in and out of his physical body at will, these helps will no longer be needed. They may be regarded in the meantime as emergency measures, necessitated by world karma and the point of evolution of the race. I am not of course referring to the use of narcotics and of drugs by hysterical and unbalanced people, but to the judicious use of ameliorants of pain under the wise guidance of the physician.
|
Các bạn hỏi Tôi liệu Tôi có tán thành việc dùng ê-te và clorofom trong phẫu thuật, cũng như các thuốc an thần hay không. Về căn bản thì không, nhưng chắc chắn là tạm thời thì có. Khi sự tiếp xúc của con người với linh hồn của mình được thiết lập vững chắc, và khi y đã phát triển năng lực ra khỏi và đi vào thể xác theo ý muốn, những trợ giúp này sẽ không còn cần thiết. Trong lúc này, chúng có thể được xem như các biện pháp khẩn cấp, do nghiệp quả thế giới và điểm tiến hoá của nhân loại đòi hỏi. Dĩ nhiên, Tôi không nói đến việc dùng ma túy và thuốc men bởi những người cuồng loạn và mất quân bình, mà nói đến việc sử dụng thận trọng các phương tiện làm dịu đau dưới sự hướng dẫn minh triết của y sĩ.
|
|
4. Fear of Failure. This affects many people along many lines. The fear that one may fail to make good, the fear that we may not gain the love and admiration of those we love, the fear that others despise us or look down upon us, the fear that one may fail to see and grasp opportunity, these are all aspects of the fear complex which colours the lives of so many worthy people. This can be based upon an environment which is uncongenial and unappreciative, on an equipment which seems inadequate [306] to its task, and in many cases has its roots in the fact that a man is a disciple, or a really big soul ready to tread the Probationary Path.
|
4. Nỗi sợ thất bại. Điều này ảnh hưởng đến nhiều người trên nhiều đường hướng. Nỗi sợ rằng mình có thể không thành công, nỗi sợ rằng chúng ta có thể không giành được tình thương và sự ngưỡng mộ của những người chúng ta yêu, nỗi sợ rằng người khác khinh miệt hoặc xem thường chúng ta, nỗi sợ rằng mình có thể không thấy và nắm bắt được cơ hội — tất cả đều là các phương diện của phức cảm sợ hãi, vốn tô màu đời sống của rất nhiều người xứng đáng. Điều này có thể dựa trên một môi trường không thuận hợp và không biết trân trọng, trên một trang bị có vẻ không tương xứng [306] với nhiệm vụ của nó, và trong nhiều trường hợp có gốc rễ trong sự kiện rằng một người là đệ tử, hoặc là một linh hồn thật sự lớn lao, sẵn sàng bước vào Con Đường Dự Bị.
|
|
He has had a touch of soul contact; he has seen the vision and the possibility; he looks at his personality and ranges it up alongside the work to be done, and the quality of the people with whom that has brought him into contact. The result is an inferiority complex of a most powerful kind, because fed by real streams of force from above. Energy, we know, follows thought and is tinctured by the quality of that thought. The man turns a critical and disgusted eye upon his personality and by so doing feeds the very things which he deplores and thus renders himself still more inadequate to the task. It is a vicious circle of effort and must be offset by a complete realisation of the truth contained in the words: “As a man thinketh, so is he.” As he dwells upon the nature of his omniscient soul, he becomes like that soul. His thought is focussed in the soul consciousness and he becomes that soul in manifestation through the medium of the personality.
|
Y đã có một chạm đến tiếp xúc linh hồn; y đã thấy linh ảnh và khả năng; y nhìn vào phàm ngã của mình và đặt nó bên cạnh công việc cần làm, cùng phẩm tính của những người mà công việc ấy đã đưa y vào tiếp xúc. Kết quả là một phức cảm tự ti thuộc loại mạnh mẽ nhất, vì nó được nuôi dưỡng bởi những dòng mãnh lực thật sự từ trên cao. Như chúng ta biết, năng lượng đi theo tư tưởng và bị nhuốm màu bởi phẩm tính của tư tưởng ấy. Con người hướng một con mắt phê phán và chán ghét vào phàm ngã của mình, và khi làm như vậy, y nuôi dưỡng chính những điều mà y than trách, nhờ đó khiến mình càng thêm bất túc đối với nhiệm vụ. Đó là một vòng luẩn quẩn của nỗ lực và phải được hóa giải bằng một sự nhận biết trọn vẹn chân lý chứa trong những lời: “Con người suy nghĩ thế nào, y là thế ấy.” Khi y an trú trong bản chất của linh hồn toàn tri của mình, y trở nên giống như linh hồn ấy. Tư tưởng của y được tập trung trong tâm thức linh hồn, và y trở thành chính linh hồn ấy trong biểu hiện qua trung gian của phàm ngã.
|
|
This is but a brief summation of the major fears which afflict humanity and serves only to open up the subject and give opportunity for a few practical suggestions.
|
Đây chỉ là một tóm lược ngắn về những nỗi sợ chính yếu đang làm khổ nhân loại, và chỉ nhằm mở ra đề tài cũng như tạo cơ hội cho một vài gợi ý thực tiễn.
|
|
II. Depression or its polar opposite, hilarity. When we touch on the subject of depression we are dealing with something so widespread that few escape its attacks. It is like a miasma, a fog which environs the man and makes it impossible for him to see clearly, walk surely, and cognise Reality. It is part of the great astral illusion and, if this is grasped, it will become apparent why depression exists, for the cause of it is either astral or physical and incident to a world situation or a personal situation. We might therefore study depression in individuals and look at its causes. It is caused by: [307]
|
II. Trầm cảm hoặc cực đối lập của nó là sự vui nhộn quá độ. Khi chúng ta chạm đến đề tài trầm cảm, chúng ta đang xử lý một điều phổ biến đến mức ít người thoát khỏi các cuộc tấn công của nó. Nó giống như một chướng khí, một màn sương bao quanh con người và khiến y không thể thấy rõ, bước vững và nhận biết Thực Tại. Nó là một phần của đại ảo tưởng cảm dục, và nếu điều này được nắm bắt, sẽ trở nên hiển nhiên vì sao trầm cảm tồn tại, bởi nguyên nhân của nó hoặc là cảm dục hoặc là hồng trần, và gắn liền với một tình trạng thế giới hoặc một tình trạng cá nhân. Vì vậy, chúng ta có thể nghiên cứu trầm cảm nơi các cá nhân và xem xét các nguyên nhân của nó. Nó do những điều sau gây ra: [307]
|
|
1. The world glamour. This sweeps an isolated unit, otherwise free from individual conditions producing depression, into the depths of a world reaction. This world glamour with its devitalising and depressing results has its roots in various factors which we have only the time to briefly indicate:
|
1. Ảo cảm thế giới. Điều này cuốn một đơn vị cô lập, vốn ngoài ra không bị các điều kiện cá nhân gây trầm cảm, vào chiều sâu của một phản ứng thế giới. Ảo cảm thế giới này, với các kết quả làm suy giảm sinh lực và gây trầm uất, có gốc rễ trong nhiều yếu tố khác nhau mà chúng ta chỉ có thời gian nêu vắn tắt:
|
|
a. Astrological factors, either affecting the planetary chart and hence individuals, or primarily racial. These two factors are oft overlooked.
|
a. Các yếu tố chiêm tinh, hoặc ảnh hưởng đến lá số hành tinh và do đó đến các cá nhân, hoặc chủ yếu là thuộc nhân loại. Hai yếu tố này thường bị bỏ qua.
|
|
b. The path of the sun in the heavens. The southern path tends to a lowered vibratory influence and aspirants should bear this in mind in autumn and the early winter months.
|
b. Đường đi của mặt trời trên bầu trời. Đường đi phía nam có khuynh hướng tạo ảnh hưởng rung động thấp hơn, và những người chí nguyện nên ghi nhớ điều này trong các tháng mùa thu và đầu mùa đông.
|
|
c. The dark half of the moon, the period towards the end of the waning moon, and the early new moon. This, as you well know, affects the meditation work.
|
c. Nửa tối của mặt trăng, giai đoạn về cuối kỳ trăng tàn, và đầu kỳ trăng mới. Như các bạn biết rõ, điều này ảnh hưởng đến công việc tham thiền.
|
|
d. Psychological factors and mass inhibitions due undoubtedly to forces external to the planet and to plans, obscure in their intent to ordinary humanity. These forces, playing upon the human race, affect the most sensitive; they in their turn affect their environment and gradually a momentum is established which sweeps through a race or a nation, through a period or a cycle of years, and produces conditions of profound depression and of mutual distrust. It causes a sad self-absorption and this we term a panic or a wave of unrest. The fact that the working out may be military, economic, social or political, that it may take the form of a war, of a religious inquisition, of financial stringency or international distrust is incidental. The causes lie back in the blue prints of the evolutionary process
|
d. Các yếu tố tâm lý và những ức chế tập thể, chắc chắn do các mãnh lực bên ngoài hành tinh và do những kế hoạch có ý định mơ hồ đối với nhân loại bình thường. Những mãnh lực này, khi tác động lên nhân loại, ảnh hưởng đến những người nhạy cảm nhất; đến lượt họ, họ ảnh hưởng đến môi trường của mình, và dần dần một đà lực được thiết lập, quét qua một giống dân hay một quốc gia, qua một thời kỳ hay một chu kỳ năm tháng, và tạo ra những tình trạng trầm cảm sâu sắc cùng sự ngờ vực lẫn nhau. Nó gây nên một sự tự thu mình buồn bã, và điều này chúng ta gọi là một cơn hoảng loạn hay một làn sóng bất an. Việc sự biểu hiện có thể là quân sự, kinh tế, xã hội hay chính trị, có thể mang hình thức chiến tranh, cuộc truy bức tôn giáo, sự thắt chặt tài chính hay sự ngờ vực quốc tế, chỉ là điều phụ thuộc. Các nguyên nhân nằm sâu trong những bản thiết kế của tiến trình tiến hoá
|
|
and are governed—even if unrealised—by the good Law. [308]
|
và được chi phối — dù không được nhận ra — bởi Định luật thiện hảo. [308]
|
|
2. Astral polarisation. Just as long as a man identifies himself with his emotional body, just as long as he interprets life in terms of his moods and feelings, just as long as he reacts to desire, just so long will he have his moments of despair, of darkness, of doubt, of dire distress, and of depression. They are due to delusion, to the glamour of the astral plane, which distorts, reverses and deceives. There is no need to dwell on this. If there is one factor aspirants recognise it is the need of freeing themselves from the Great Illusion. Arjuna knew this, yet succumbed to despair. Yet in his hour of need, Krishna failed him not, but laid down in the Gita the simple rules whereby depression and doubt can be overcome. They may be briefly summarised as follows:
|
2. Sự phân cực cảm dục. Chừng nào con người còn đồng hoá mình với thể xúc cảm của mình, chừng nào y còn diễn giải đời sống theo các tâm trạng và cảm xúc của mình, chừng nào y còn phản ứng với dục vọng, thì chừng ấy y vẫn sẽ có những khoảnh khắc tuyệt vọng, tối tăm, hoài nghi, khổ đau dữ dội và trầm cảm. Chúng do mê lầm, do ảo cảm của cõi cảm dục, vốn bóp méo, đảo ngược và lừa dối. Không cần phải bàn dài về điều này. Nếu có một yếu tố mà những người chí nguyện nhận ra, thì đó là nhu cầu giải phóng mình khỏi Đại Ảo Tưởng. Arjuna biết điều này, nhưng vẫn khuất phục trước tuyệt vọng. Tuy nhiên, trong giờ phút cần thiết của ông, Đức Krishna đã không bỏ rơi ông, mà đã nêu ra trong Chí Tôn Ca những quy luật đơn giản nhờ đó trầm cảm và hoài nghi có thể được vượt qua. Chúng có thể được tóm tắt vắn tắt như sau:
|
|
a. Know thyself to be the undying One.
|
a. Hãy biết chính mình là Đấng bất tử.
|
|
b. Control thy mind, for through that mind the undying One can be known.
|
b. Hãy kiểm soát thể trí của ngươi, vì qua thể trí ấy Đấng bất tử có thể được biết.
|
|
c. Learn that the form is but the veil which hides the splendour of Divinity.
|
c. Hãy học rằng hình tướng chỉ là tấm màn che giấu huy hoàng của Thiên Tính.
|
|
d. Realise that the One Life pervades all forms so that there is no death, no distress, no separation.
|
d. Hãy nhận biết rằng Một Sự Sống thấm nhuần mọi hình tướng, để không có cái chết, không có khổ đau, không có chia ly.
|
|
e. Detach thyself therefore from the form side and come to Me, so dwelling in the place where Light and Life are found. Thus illusion ends.
|
e. Vì vậy, hãy tách rời khỏi phía hình tướng và đến với Ta, nhờ đó an trú nơi Ánh sáng và Sự Sống được tìm thấy. Như thế ảo tưởng chấm dứt.
|
|
It is his astral polarisation which lays a man open to his many emotional reactions and to waves of mass feeling of any kind. This is the cause of his being swept into that vortex of uncontrolled energy and misdirected emotional force which eventuates in a world war, a financial panic, a religious revival, or a lynching. It is this also that raises him to the heights of hilarity and of spurious happiness in which the “light deceptive” of the astral plane uncovers to him false sources of amusement, or the mass hilarity—owing to his sensitivity—sweeps him into that hysterical condition which finds its vent [309] in unrestrained merriment and which is the opposite pole of unrestrained weeping. I refer not here to true merriment nor the proper sense of humour, but to those hysterical outbreaks of hilarity which are so common among the rank and file of humanity and lead to reactions of fatigue.
|
Chính sự phân cực cảm dục của y đặt con người trước nhiều phản ứng xúc cảm và các làn sóng cảm xúc tập thể thuộc mọi loại. Đây là nguyên nhân khiến y bị cuốn vào xoáy lốc năng lượng không được kiểm soát và mãnh lực xúc cảm bị định hướng sai, điều dẫn đến chiến tranh thế giới, khủng hoảng tài chính, cuộc phục hưng tôn giáo hay hành động tư hình. Cũng chính điều này nâng y lên những đỉnh cao của sự vui nhộn quá độ và hạnh phúc giả tạo, trong đó “ánh sáng lừa dối” của cõi cảm dục hé lộ cho y những nguồn vui giả, hoặc sự vui nhộn tập thể — do tính nhạy cảm của y — cuốn y vào tình trạng cuồng loạn tìm lối thoát [309] trong tiếng cười không kiềm chế, và là cực đối lập của sự khóc lóc không kiềm chế. Ở đây Tôi không nói đến niềm vui chân thật hay ý thức hài hước đúng đắn, mà nói đến những bộc phát cuồng loạn của sự vui nhộn quá độ rất phổ biến trong đại đa số nhân loại và dẫn đến các phản ứng mệt mỏi.
|
|
3. A devitalised condition of the physical body. This is due to various causes, such as:
|
3. Một tình trạng suy giảm sinh lực của thể xác. Điều này do nhiều nguyên nhân khác nhau, chẳng hạn:
|
|
a. A depleted etheric or vital body.
|
a. Một thể dĩ thái hay thể sinh lực bị cạn kiệt.
|
|
b. Physical disease, either inherent or brought over from another life, accidental, or due to wrong emotional reactions, or produced as the result of group karma, such as an epidemic.
|
b. Bệnh tật thể xác, hoặc vốn có, hoặc được mang qua từ một đời sống khác, do tai nạn, do các phản ứng xúc cảm sai lầm, hoặc được tạo ra như kết quả của nghiệp quả nhóm, chẳng hạn một trận dịch.
|
|
c. Atmospheric. This is sometimes overlooked, but the condition of the atmosphere, the nature of the climate, the density, humidity or dryness, the heat or cold have a definite effect upon the psychological outlook.
|
c. Khí quyển. Điều này đôi khi bị bỏ qua, nhưng tình trạng khí quyển, bản chất của khí hậu, độ đậm đặc, độ ẩm hay khô, nóng hay lạnh, có ảnh hưởng rõ rệt lên cái nhìn tâm lý.
|
|
You will find, if you study, that all subsidiary and temporary causes of depression and its opposite can be grouped under one of these three heads, and when one has ascertained the cause, the cures will become apparent.
|
Nếu các bạn nghiên cứu, các bạn sẽ thấy rằng mọi nguyên nhân phụ thuộc và tạm thời của trầm cảm cùng đối cực của nó có thể được nhóm dưới một trong ba đề mục này; và khi đã xác định được nguyên nhân, các phương thuốc sẽ trở nên hiển nhiên.
|
|
I have dealt somewhat at length with the two first manifestations of astral force—Fear—fear of death, of the future, of suffering, of failure, and the many lesser fears to which humanity is subject—and Depression—because these two fears constitute for man the Dweller on the Threshold in this age and cycle. Both of them indicate sentient reaction to psychological factors and cannot be dealt with by the use of another factor such as courage. They must be met by the omniscience of the soul working through the mind, —not by its omnipotence. In this is to be found an occult hint. I shall not deal with the other factors listed, such as desire for happiness, for the satisfaction of the animal appetites, and [310] for liberation, for these do not constitute for the majority such a problem as the first two. One could write at length on the manifestation and the cause of all these, but when fear and depression are overcome, the race will enter into its heritage of happiness, of true satisfaction (of which the cravings above indicated are but the symbols) and of liberation. Let us deal with the basic evils first. Once they have been dominated all that remains is right orientation and polarisation in the soul.
|
Tôi đã bàn khá dài về hai biểu hiện đầu tiên của mãnh lực cảm dục—Sợ hãi—sợ chết, sợ tương lai, sợ đau khổ, sợ thất bại, và nhiều nỗi sợ nhỏ hơn mà nhân loại phải chịu—và Chán nản—bởi vì hai nỗi sợ này tạo thành Kẻ Chận Ngõ đối với con người trong thời đại và chu kỳ này. Cả hai đều biểu thị phản ứng cảm thụ trước các yếu tố tâm lý và không thể được xử lý bằng cách dùng một yếu tố khác như lòng can đảm. Chúng phải được đối diện bằng sự toàn tri của linh hồn hoạt động qua thể trí, chứ không phải bằng sự toàn năng của linh hồn. Chính trong điều này có một gợi ý huyền bí. Tôi sẽ không bàn đến các yếu tố khác đã liệt kê, như ham muốn hạnh phúc, ham muốn thỏa mãn các dục vọng thú tính, và [310] ham muốn giải thoát, vì đối với đa số, những điều này không tạo thành một vấn đề như hai điều đầu. Người ta có thể viết rất dài về sự biểu hiện và nguyên nhân của tất cả những điều này, nhưng khi sợ hãi và chán nản được vượt qua, nhân loại sẽ bước vào di sản của mình: hạnh phúc, sự thỏa mãn chân thật—mà những thèm khát nêu trên chỉ là các biểu tượng—và sự giải thoát. Trước hết, chúng ta hãy bàn đến những điều ác căn bản. Một khi chúng đã bị chế ngự, tất cả những gì còn lại là sự định hướng đúng và sự phân cực trong linh hồn.
|
|
We will next consider the overcoming of wrong vibration in the astral body and the use of astral energy in the right direction.
|
Tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét việc vượt qua rung động sai lầm trong thể cảm dục và việc sử dụng năng lượng cảm dục theo chiều hướng đúng.
|
|
We have been dealing at length with the subject of the astral or sentient body, and have considered the various wrong ways in which it makes its presence felt. Humanity vibrates primarily in one or other of these ways, and the sentient body of the average human being is scarcely ever free from some mood, some fear, some excitement. This has provided a condition whereby the solar plexus centre is abnormally developed. In the bulk of humanity the sacral centre and the solar plexus govern the life, and that is why desire for material living and for the sex life are so closely blended. The solar plexus in the animal is the brain and governs all the instinctual reactions, but is not so closely allied with the purely sex expression as it is in the human being. When the brain is becoming sensitive to the awakening mind and is not so entirely occupied with the mechanism which registers sensory impression, we shall have the orientation which will eventually raise the consciousness into those centres which lie above the diaphragm. The solar plexus will then again be relegated to its old function as a directing agent of the purely instinctual animal life. For the advanced pupil in the world, the solar plexus is largely the organ of psychic sensitivity and will remain so until the higher psychic powers supersede the lower [311] and man functions as a soul. Then the sensory life will drop below the threshold of consciousness.
|
Chúng ta đã bàn khá dài về đề tài thể cảm dục hay thể cảm thụ, và đã xem xét những cách sai lầm khác nhau qua đó nó làm cho sự hiện diện của mình được cảm nhận. Nhân loại rung động chủ yếu theo cách này hay cách khác trong số các cách ấy, và thể cảm thụ của con người trung bình hầu như không bao giờ thoát khỏi một tâm trạng nào đó, một nỗi sợ nào đó, một sự kích động nào đó. Điều này đã tạo nên một tình trạng trong đó trung tâm tùng thái dương phát triển bất thường. Trong phần lớn nhân loại, trung tâm xương cùng và tùng thái dương chi phối đời sống, và đó là lý do vì sao ham muốn đời sống vật chất và đời sống tính dục lại hòa quyện chặt chẽ đến thế. Tùng thái dương nơi con vật là bộ não và chi phối mọi phản ứng bản năng, nhưng không liên kết mật thiết với biểu hiện tính dục thuần túy như nơi con người. Khi bộ não trở nên nhạy bén với thể trí đang thức tỉnh và không còn hoàn toàn bận rộn với bộ máy ghi nhận ấn tượng giác quan, chúng ta sẽ có sự định hướng rốt cuộc nâng tâm thức lên các trung tâm nằm phía trên cơ hoành. Khi ấy, tùng thái dương sẽ lại được đưa trở về chức năng cũ của nó như một tác nhân điều hướng đời sống thú tính thuần bản năng. Đối với người học trò tiến hóa trên thế gian, tùng thái dương phần lớn là cơ quan của sự nhạy cảm thông linh và sẽ vẫn như vậy cho đến khi các quyền năng thông linh cao thay thế các quyền năng thấp [311] và con người hoạt động như một linh hồn. Khi đó đời sống giác quan sẽ rơi xuống dưới ngưỡng của tâm thức.
|
|
The effort on the part of all aspirants should not be to resist and repel the pressure or to fight and ward off. Such a method centres the attention upon the not-self and leads to added chaos. The effort should be along the lines of an endeavour to make contact with the higher self, and keep it stable and steady, and to be in such direct alignment that the force and power of the soul may be poured upon and through the lower threefold nature. This pouring through will bring about a steady radiation which will affect the surroundings exactly in proportion to the extent of the inner contact, and in direct relation to the clarity of the channel linking the [323] physical brain to the causal body. The aspirant should also strive after that self-forgetfulness which merges itself in the good of those contacted. This self-forgetfulness refers to the lower self. Self-recollectedness and self-forgetfulness should be companions.
|
Nỗ lực của mọi người chí nguyện không nên là chống lại và đẩy lùi áp lực, hoặc chiến đấu và ngăn chặn. Một phương pháp như thế tập trung sự chú ý vào phi-ngã và dẫn đến hỗn loạn thêm. Nỗ lực nên theo đường hướng cố gắng tiếp xúc với chân ngã, giữ cho tiếp xúc ấy ổn định và vững vàng, và ở trong một sự chỉnh hợp trực tiếp đến mức mãnh lực và quyền năng của linh hồn có thể được tuôn đổ lên và xuyên qua bản chất tam phân thấp. Sự tuôn đổ xuyên qua này sẽ tạo nên một bức xạ vững vàng, ảnh hưởng đến môi trường chung quanh đúng theo mức độ của tiếp xúc nội tâm, và trong mối liên hệ trực tiếp với độ trong sáng của kênh nối bộ não [323] hồng trần với thể nguyên nhân. Người chí nguyện cũng nên cố gắng đạt đến sự quên mình, hòa nhập vào điều thiện của những người được tiếp xúc. Sự quên mình này liên quan đến phàm ngã. Sự tự nhớ mình và sự quên mình nên là bạn đồng hành.
|
|
The man who aims at providing a point of contact, between conditions of chaos and Those Who work for constructive ends and order, should likewise use that most necessary factor of common-sense in all that he does. This involves always obedience to the law of economy of force, due to discrimination, and a true sense of values. Where these are present, time will be economised, strength will be husbanded, energy will be wisely distributed, excessive zeal will be eliminated, and the Great Ones will be able to depend upon an aspirant’s sagacity and thus find a helper.
|
Người nào nhằm mục tiêu cung cấp một điểm tiếp xúc giữa các tình trạng hỗn loạn và Những Đấng làm việc cho các mục đích kiến tạo và trật tự, cũng nên dùng yếu tố vô cùng cần thiết là lương tri trong tất cả những gì y làm. Điều này luôn bao hàm sự tuân phục định luật tiết kiệm mãnh lực, do phân biện, và một ý thức chân thật về các giá trị. Nơi nào những điều này hiện diện, thời gian sẽ được tiết kiệm, sức lực sẽ được giữ gìn, năng lượng sẽ được phân phối một cách minh triết, lòng nhiệt thành quá mức sẽ bị loại bỏ, và Các Đấng Cao Cả sẽ có thể nương cậy vào sự sáng suốt của một người chí nguyện và như vậy tìm được một người trợ giúp.
|
|
All occult training has in view the development of the aspirant so that he may indeed be a focal point of spiritual energy. It should be remembered, however, that under the law, this training will be cyclic, and will have its ebb and flow, as all else in nature. Times of activity succeed times of pralaya, and periods of registered contact alternate with periods of apparent silence. Note here the choice of words. This alternation is due to the imposition of the Law of Periodicity and if the student develops as desired, each pralayic period is succeeded by one of greater activity, and of more potent achievement. Rhythm, ebb and flow, and the measured beat of the pulsating life are ever the law of the universe, and in learning to respond to time vibration of the high Places this rhythmic periodicity must be borne in mind. The same law governs a human being, a planet, a solar system—all centres or focal points of energy in some greater Life. If such work as you are doing is to succeed (and it is largely the work of developing the ability to touch certain currents on mental levels—currents which [324] emanate from the higher self, from your egoic group, or from the Master) definite planned conditions must be provided. Certain factors must be present. If they do not exist, then the currents are (if I may so express it) deflected, and contact fails of accomplishment. If occupation with mundane affairs is necessitated—and such periods come in every life cycle—then the attention should be concentrated on these details, and the higher contact may be then temporarily unrealised. Such attention to affairs on the physical plane is not necessarily loss of time, for it may be as much a part of the plan at that particular time as any other kind of service. Full expression and consciousness on each and every plane is the objective, remembering that each plane with its varying states of consciousness is equally a part of the divine Life. What is lacking as yet with the majority of aspirants is a synthetic consciousness and the capacity to hold and register continuity.
|
Mọi huấn luyện huyền bí đều nhằm phát triển người chí nguyện để y thật sự có thể là một điểm tập trung của năng lượng tinh thần. Tuy nhiên, cần nhớ rằng dưới định luật, sự huấn luyện này sẽ có tính chu kỳ, và sẽ có sự lên xuống như mọi điều khác trong thiên nhiên. Các thời kỳ hoạt động nối tiếp các thời kỳ Giai kỳ qui nguyên, và các giai đoạn tiếp xúc được ghi nhận luân phiên với các giai đoạn dường như im lặng. Ở đây hãy lưu ý cách chọn từ. Sự luân phiên này là do tác động của Định luật Chu Kỳ; và nếu đạo sinh phát triển như mong muốn, mỗi thời kỳ qui nguyên sẽ được tiếp nối bởi một thời kỳ hoạt động lớn hơn và thành tựu mạnh mẽ hơn. Nhịp điệu, sự lên xuống, và nhịp đập đều đặn của sự sống đang rung động luôn luôn là định luật của vũ trụ; và trong việc học đáp ứng với rung động thời gian của các Nơi Cao, cần ghi nhớ tính chu kỳ nhịp nhàng này. Cùng một định luật chi phối một con người, một hành tinh, một hệ mặt trời—tất cả đều là các trung tâm hay điểm tập trung năng lượng trong một Sự Sống lớn hơn nào đó. Nếu công việc như công việc các bạn đang làm muốn thành công, và đó phần lớn là công việc phát triển khả năng chạm đến một số dòng lưu trên các cấp độ trí tuệ—những dòng lưu [324] xuất lộ từ chân ngã, từ nhóm chân ngã của các bạn, hoặc từ Chân sư—thì những điều kiện được hoạch định rõ ràng phải được cung cấp. Một số yếu tố nhất định phải hiện diện. Nếu chúng không tồn tại, thì các dòng lưu, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy, bị lệch hướng, và sự tiếp xúc không thành tựu. Nếu cần phải bận rộn với các công việc thế gian—và những thời kỳ như thế đến trong mọi chu kỳ đời sống—thì sự chú ý nên được tập trung vào các chi tiết ấy, và khi đó sự tiếp xúc cao có thể tạm thời không được nhận ra. Sự chú ý như thế đối với các công việc trên cõi hồng trần không nhất thiết là mất thời gian, vì nó có thể là một phần của Thiên Cơ vào thời điểm đặc biệt đó nhiều như bất kỳ loại phụng sự nào khác. Biểu hiện trọn vẹn và tâm thức trên từng cõi và mọi cõi là mục tiêu, khi nhớ rằng mỗi cõi với các trạng thái tâm thức khác nhau của nó đều là một phần của Sự Sống thiêng liêng. Điều còn thiếu nơi đa số người chí nguyện hiện nay là một tâm thức tổng hợp và năng lực duy trì cũng như ghi nhận sự liên tục.
|
|
If emotional or mental chaos exists, then again the currents are deflected and the brain makes no record of that which may be inwardly seen and heard. If fatigue is present and the physical body is in need of rest, then likewise the inner fails to be recorded. It is the centres in the etheric vehicle which are vitalised and become active in this work of contact and consequent transmission of energy; if therefore the vitality is low and the pranic fluids are not assimilated, then the whole vibratory contact is lowered and the centre fails to register vibration and response. When again the stimulation is adequate and the other conditions are resolved into the necessary quietude, then again the currents may be encountered, response follows and a fresh cycle of receptivity eventuates. I have entered thus into explanation as I have seen many questioning, and am anxious that the process followed may be somewhat clarified. It is wise that all who work should have a clear understanding [325] of that work and should—along lines so closely affecting their power to serve—be fully aware of each step taken.
|
Nếu có hỗn loạn cảm xúc hay trí tuệ, thì các dòng lưu lại bị lệch hướng và bộ não không ghi lại được điều có thể được thấy và nghe bên trong. Nếu có mệt mỏi và thể xác cần nghỉ ngơi, thì điều bên trong cũng không được ghi nhận. Chính các trung tâm trong vận cụ dĩ thái được tiếp sinh lực và trở nên hoạt động trong công việc tiếp xúc này và sự truyền dẫn năng lượng tiếp theo; do đó, nếu sinh lực thấp và các lưu chất prana không được đồng hóa, thì toàn bộ tiếp xúc rung động bị hạ thấp và trung tâm không ghi nhận được rung động và đáp ứng. Khi sự kích thích lại đầy đủ và các điều kiện khác được giải quyết thành sự tĩnh lặng cần thiết, thì các dòng lưu lại có thể được gặp gỡ, đáp ứng tiếp theo và một chu kỳ tiếp nhận mới xảy ra. Tôi đã đi vào giải thích như vậy vì tôi thấy nhiều người thắc mắc, và tôi mong tiến trình được theo có thể phần nào được làm sáng tỏ. Điều minh triết là mọi người hoạt động đều nên có một sự thấu hiểu rõ ràng [325] về công việc ấy, và nên—trong những đường hướng ảnh hưởng rất mật thiết đến quyền năng phụng sự của họ—nhận biết đầy đủ từng bước đã được thực hiện.
|
|
As regards the problems occupying the attention of all of you who are living in this time of world unrest and upheaval, I have a word of cheer to give you. Though, to you, the whole situation may have seemed clouded and the horizon darkened by storms, bear in mind that when the disturbance is general, as now, and the whole area involved, then the end is near. In nature, a general electric storm serves to clear the atmosphere, and ushers in a period of sunshine and more grateful living conditions. We have had the electrical storm of the world war, and the period of gradual dispersion of the clouds has been with us, with the thunder rumbling round, and sudden sharp storms of wind and rain upsetting the hopefulness of those desiring sunshine. Those who with patience carry on the work, who keep the inner calm and surety who lose sight of the foreground of personalities, and bear only in mind the formless forces that are at work through all forms and seasons, will see order brought out of chaos, construction out of past destruction and present adjustments; they will see the setting loose of fresh life forces, hitherto shut out by the crystallising shells built by man. So hold the inner vision steadily and have that long patience which endures through the lesser cycle, because the key to the greater cycle has been held with firmness.
|
Về các vấn đề đang chiếm sự chú ý của tất cả các bạn, những người đang sống trong thời kỳ bất ổn và biến động thế giới này, tôi có một lời khích lệ để trao cho các bạn. Dù đối với các bạn, toàn bộ tình thế có thể dường như bị mây mù che phủ và chân trời bị bão tố làm tối sầm, hãy ghi nhớ rằng khi sự xáo trộn là chung, như hiện nay, và toàn bộ khu vực đều liên can, thì kết thúc đã gần. Trong thiên nhiên, một cơn giông điện tổng quát có tác dụng làm sạch bầu khí quyển và mở ra một thời kỳ nắng sáng cùng những điều kiện sống dễ chịu hơn. Chúng ta đã có cơn giông điện của cuộc chiến tranh thế giới, và thời kỳ tan dần của mây đã ở với chúng ta, với tiếng sấm vẫn rền vang chung quanh, và những cơn gió mưa bất chợt, dữ dội làm chao đảo niềm hy vọng của những người mong muốn nắng sáng. Những ai kiên nhẫn tiếp tục công việc, giữ sự bình an và xác tín nội tâm, không còn chú ý đến tiền cảnh của các phàm ngã, mà chỉ ghi nhớ các mãnh lực vô hình đang hoạt động qua mọi hình tướng và mọi mùa, sẽ thấy trật tự được đưa ra từ hỗn loạn, sự kiến tạo phát sinh từ sự phá hủy trong quá khứ và các điều chỉnh hiện tại; họ sẽ thấy sự phóng thích các mãnh lực sự sống mới, trước đây bị ngăn lại bởi những cái vỏ kết tinh do con người xây dựng. Vì vậy, hãy giữ vững tầm nhìn nội tâm và có sự kiên nhẫn lâu dài chịu đựng qua chu kỳ nhỏ, bởi vì chìa khóa của chu kỳ lớn đã được nắm giữ vững chắc.
|
|
It might be of value to touch briefly upon certain main lines of thought which are emerging at the present time and which are the outgrowth of the past and the promise of the future.
|
Có lẽ sẽ hữu ích nếu chạm ngắn gọn đến một số đường hướng tư tưởng chính đang nổi lên hiện nay, vốn là kết quả của quá khứ và lời hứa hẹn của tương lai.
|
|
The thoughts of men have ever been religious. There has never been a time when religion or the thoughts of men about God, about the infinite, and about the Life which has brought all into being has not been present. [326] Even the most ignorant of savage races have recognized a Power and have attempted to define their relationship to that Power in terms of fear, of sacrifice or of propitiation. From the rudiments of nature worship, from the fetichism and degraded idol worship of primitive man we have built up a structure of truth which though as yet imperfect and inadequate, does verily lay the foundation of the future Temple of Truth where the light of the Lord will be seen and which will prove adequate as an expression of Reality.
|
Tư tưởng của con người bao giờ cũng mang tính tôn giáo. Chưa bao giờ có một thời kỳ mà tôn giáo, hay tư tưởng của con người về Thượng đế, về vô hạn, và về Sự Sống đã đưa mọi sự vào hiện hữu, lại không hiện diện. [326] Ngay cả những chủng tộc hoang dã ngu dốt nhất cũng đã nhận ra một Quyền Năng và đã cố gắng xác định mối quan hệ của họ với Quyền Năng ấy bằng các thuật ngữ của sợ hãi, hiến tế hoặc xoa dịu. Từ những mầm mống của việc thờ phụng thiên nhiên, từ bái vật giáo và sự thờ thần tượng suy đồi của con người nguyên thủy, chúng ta đã xây dựng nên một cấu trúc chân lý; dù hiện còn bất toàn và chưa đầy đủ, nó thật sự đặt nền móng cho Thánh Điện Chân Lý tương lai, nơi ánh sáng của Chúa sẽ được thấy và sẽ chứng tỏ là thích đáng như một biểu hiện của Thực Tại.
|
|
Out of the darkness of time there have emerged the great religions. These religions though diverse in their theologies and forms of worship, though characterized by distinctions of organization and ceremonial, and though differing in their methods of application of truth, are united in three basic aspects:
|
Từ bóng tối của thời gian, các tôn giáo lớn đã xuất hiện. Các tôn giáo này, dù khác nhau trong thần học và hình thức thờ phượng, dù được đặc trưng bởi những khác biệt về tổ chức và nghi lễ, và dù khác nhau trong các phương pháp áp dụng chân lý, vẫn hợp nhất trong ba phương diện căn bản:
|
|
1. In their teaching as to the nature of God and of man.
|
1. Trong giáo huấn của chúng về bản chất của Thượng đế và của con người.
|
|
2. In their symbolism.
|
2. Trong hệ thống biểu tượng của chúng.
|
|
3. In certain fundamental doctrines.
|
3. Trong một số giáo lý nền tảng.
|
|
When men recognize this and succeed in isolating that inner significant structure of truth which is the same in all climes and in all races, then there will emerge the universal religion, the One Church, and that unified though not uniform approach to God, which will demonstrate the truth of St. Paul’s words “One Lord, one faith, one baptism, one God and Father of all, who is above all and through all and in you all.” Theologies will disappear into the knowledge of God; doctrines and dogmas will no longer be regarded as necessary, for faith will be based on experience, and authority will give place to personal appreciation of Reality. The power of the Church over the group will be supplanted by the power of the awakened soul in men; the age of miracles and the disputations as to the why and how of those miracles [327] with the consequent scepticism or agnosticism will give way to the understanding of the laws of nature which control the superhuman realm and the supernatural stage of the evolutionary process. Man will enter into his divine heritage and know himself as the Son of the Father, with all the divine characteristics, powers and capacities which are his because of his divine endowment. But in the meantime what have we? A breaking away from old established tradition, a revolt from authority, whether of the Church, of dogma, doctrine or theology; a tendency towards self-determination and an overthrowing of the old standards, and of old barriers of thought and the divisions existing between races and faiths.
|
Khi con người nhận ra điều này và thành công trong việc tách riêng cấu trúc thâm nghĩa bên trong của chân lý — vốn đồng nhất trong mọi miền khí hậu và trong mọi nhân loại — bấy giờ tôn giáo phổ quát, Giáo hội Duy Nhất, và cách tiếp cận Thượng đế hợp nhất dù không đồng dạng sẽ xuất hiện; điều đó sẽ chứng minh chân lý trong lời của Thánh Phao-lô: “Một Chúa, một đức tin, một phép rửa, một Thượng đế và Cha của tất cả, Đấng ở trên tất cả, xuyên qua tất cả và ở trong tất cả các bạn.” Các nền thần học sẽ tan biến vào tri thức về Thượng đế; các giáo lý và tín điều sẽ không còn được xem là cần thiết, vì đức tin sẽ đặt nền trên kinh nghiệm, và quyền uy sẽ nhường chỗ cho sự thẩm nhận cá nhân về Thực Tại. Quyền lực của Giáo hội đối với tập thể sẽ được thay thế bằng quyền năng của linh hồn đã thức tỉnh nơi con người; thời đại của các phép lạ và những tranh luận về lý do và cách thức của các phép lạ ấy [327] cùng với sự hoài nghi hay thuyết bất khả tri phát sinh từ đó, sẽ nhường chỗ cho sự thấu hiểu các định luật của thiên nhiên vốn chi phối lĩnh vực siêu nhân và giai đoạn siêu nhiên của tiến trình thăng thượng tiến hoá. Con người sẽ bước vào di sản thiêng liêng của y và biết mình là Con của Cha, với mọi đặc tính, quyền năng và năng lực thiêng liêng vốn thuộc về y do thiên phú thiêng liêng của y. Nhưng trong lúc này, chúng ta có gì? Một sự tách rời khỏi truyền thống cũ đã được thiết lập, một cuộc phản kháng chống lại quyền uy, dù là của Giáo hội, của tín điều, giáo lý hay thần học; một khuynh hướng hướng tới quyền tự quyết và sự lật đổ các chuẩn mực cũ, các rào cản tư tưởng cũ và những phân chia hiện hữu giữa các nhân loại và các tín ngưỡng.
|
|
Hence we are passing through an intermediate stage of chaos and of questioning, of rebellion and consequent apparent license. The methods of science, —investigation and analysis, comparison and deduction, —are being applied to religious belief. The history of religions, the foundations of doctrine, the origin of ideas and the growth of the God idea are being subjected to research and study. This leads to much disputation; to the rejection of old established ideas as to God, the soul, man and his destiny. Schools of thought have ever existed differing in their ideas and methods and the six Schools of Indian Philosophy have embodied in themselves practically all the basic speculations of man as to the why and wherefore of manifestation. Little which is new has been added by the occident to these six speculative schools, though the western mind, with its genius for scientific techniques and method, has elaborated the ideas and differentiated the six theories into a multiplicity of lesser propositions. Out of the medley of ideas, theories, speculations, religions, churches, cults, sects and organizations, two main lines of thought are emerging—one doomed eventually to die out, the other to strengthen and grow until it, in its turn, gives birth to that (for us) [328] ultimate formulation of truth which will suffice for the next age and carry man to a high pinnacle of the Temple to the Mount of Initiation. These two lines are:
|
Do đó, chúng ta đang đi qua một giai đoạn trung gian của hỗn độn và chất vấn, của phản kháng và sự buông thả có vẻ như là hệ quả. Các phương pháp của khoa học — khảo sát và phân tích, so sánh và suy luận — đang được áp dụng vào niềm tin tôn giáo. Lịch sử các tôn giáo, nền tảng của giáo lý, nguồn gốc của các ý tưởng và sự tăng trưởng của ý niệm về Thượng đế đang được đặt dưới sự nghiên cứu và khảo cứu. Điều này dẫn đến nhiều tranh luận; đến sự bác bỏ những ý tưởng cũ đã được thiết lập về Thượng đế, linh hồn, con người và định mệnh của y. Các trường phái tư tưởng, khác nhau về ý tưởng và phương pháp, vẫn luôn tồn tại; và sáu Trường phái Triết học Ấn Độ đã hàm chứa trong chính chúng hầu như mọi suy tư căn bản của con người về lý do và nguyên nhân của sự biểu hiện. Tây phương đã thêm vào sáu trường phái suy tư này rất ít điều mới mẻ, dù trí tuệ Tây phương, với thiên tài về kỹ thuật và phương pháp khoa học, đã khai triển các ý tưởng và biến phân sáu lý thuyết ấy thành vô số mệnh đề nhỏ hơn. Từ hỗn hợp các ý tưởng, lý thuyết, suy tư, tôn giáo, giáo hội, giáo phái, tông phái và tổ chức, hai dòng tư tưởng chính đang xuất hiện — một dòng cuối cùng sẽ tiêu vong, dòng kia sẽ mạnh lên và tăng trưởng cho đến khi đến lượt nó sinh ra sự trình bày chân lý tối hậu đối với chúng ta [328], đủ cho thời đại kế tiếp và đưa con người lên một đỉnh cao của Đền thờ đến Núi Điểm Đạo. Hai dòng ấy là:
|
|
1. Those who look back to the past, who hang on to the old ways, the ancient theologies, and the reactionary rejection methods of finding truth. These are the people who recognize authority, whether that of a prophet, a bible or a theology. These are those who prefer obedience to imposed authority to the self-imposed guidance of an enlightened soul. These are the followers of a Church and a government, who are distinguished by a pure devotion and love, but refuse recognition to the divine intelligence with which they are gifted. Their devotion, their love of God, their strict but misguided conscience, their intolerance mark them out as devotees, but they are blinded by their own devotion and their growth is limited by their fanaticism. They belong mostly to the older generation and the hope for them lies in their devotion and the fact that evolution itself will carry them forward into the second group.
|
1. Những người nhìn về quá khứ, bám víu vào các đường lối cũ, các nền thần học cổ xưa, và các phương pháp phản động, phủ nhận trong việc tìm kiếm chân lý. Đây là những người thừa nhận quyền uy, dù là quyền uy của một tiên tri, một bộ kinh thánh hay một nền thần học. Đây là những người ưa thích sự vâng phục quyền uy áp đặt hơn là sự hướng dẫn tự nguyện của một linh hồn đã giác ngộ. Đây là những môn đồ của một Giáo hội và một chính quyền, được phân biệt bởi lòng sùng tín và tình thương thuần khiết, nhưng khước từ việc thừa nhận trí tuệ thiêng liêng mà họ được ban tặng. Lòng sùng tín của họ, tình thương Thượng đế của họ, lương tâm nghiêm khắc nhưng lầm hướng của họ, sự bất khoan dung của họ đánh dấu họ như những người sùng tín, nhưng họ bị chính lòng sùng tín của mình làm mù quáng và sự tăng trưởng của họ bị giới hạn bởi cuồng tín. Phần lớn họ thuộc thế hệ cũ, và hy vọng dành cho họ nằm trong lòng sùng tín của họ và trong sự kiện rằng chính tiến hoá sẽ đưa họ tiến vào nhóm thứ hai.
|
|
To this first group is committed the work of crystallization which will result in the complete destruction of the old form; to them is given the task of defining the old truths so that the mind of the race will be clarified, that non-essentials and essentials will be recognized for what they are, and fundamental ideas so contrasted with the formulation of dogmas that that which is basic will be seen and the secondary and unimportant beliefs therefore rejected, for only the basic and causative will be of value in the coming age.
|
Nhóm thứ nhất này được giao phó công việc kết tinh, vốn sẽ dẫn đến sự hủy diệt hoàn toàn hình tướng cũ; họ được trao nhiệm vụ xác định các chân lý cũ để trí tuệ của nhân loại được làm sáng tỏ, để những điều không cốt yếu và những điều cốt yếu được nhận ra đúng như chúng là, và để các ý tưởng nền tảng được đặt trong tương phản rõ rệt với sự lập thành các tín điều, hầu điều căn bản được thấy rõ và các niềm tin thứ yếu, không quan trọng, do đó bị loại bỏ; vì trong thời đại đang đến, chỉ những gì căn bản và có tính nguyên nhân mới có giá trị.
|
|
2. The second group is as yet a very small minority, but a steadily growing one. It is that inner group of lovers of God, the intellectual mystics, the knowers of reality who belong to no one religion or organization, but who regard themselves as members of the Church universal and as “members one of another”. They are [329] gathered out of every nation, race and people; they are of every color and school of thought, yet they speak the same language, learn by the same symbols, tread the same path, have rejected the same non-essentials, and have isolated the same body of essential beliefs. They recognize each other; they accord equal devotion to the spiritual leaders of all races, and use each other’s Bibles with equal freedom. They form the subjective background of the new world; they constitute the spiritual nucleus of the coming world religion; they are the unifying principle which will eventually save the world.
|
2. Nhóm thứ hai hiện vẫn là một thiểu số rất nhỏ, nhưng đang tăng trưởng đều đặn. Đó là nhóm nội tại gồm những người yêu Thượng đế, các nhà thần bí trí tuệ, các thức giả về thực tại, không thuộc về bất cứ tôn giáo hay tổ chức nào, nhưng tự xem mình là thành viên của Giáo hội phổ quát và là “các chi thể của nhau”. Họ được [329] tập hợp từ mọi quốc gia, nhân loại và dân tộc; họ thuộc mọi màu da và mọi trường phái tư tưởng, nhưng họ nói cùng một ngôn ngữ, học bằng cùng những biểu tượng, bước trên cùng một con đường, đã bác bỏ cùng những điều không cốt yếu, và đã tách riêng cùng một hệ thống các niềm tin cốt yếu. Họ nhận ra nhau; họ dành lòng sùng tín ngang nhau cho các nhà lãnh đạo tinh thần của mọi nhân loại, và sử dụng các Kinh Thánh của nhau với cùng một sự tự do. Họ tạo thành bối cảnh chủ quan của thế giới mới; họ cấu thành hạt nhân tinh thần của tôn giáo thế giới đang đến; họ là nguyên khí hợp nhất cuối cùng sẽ cứu thế giới.
|
|
In the past we have had world Saviours—Sons of God who have enunciated a world message and brought an increase of light to the peoples. Now, in the fullness of time, and through the work of evolution there is emerging a group who perhaps will bring salvation to the world, and who—embodying the group ideas and demonstrating the group nature, manifesting in a small way the true significance of the body of Christ, and giving to the world a picture of the true nature of a spiritual organism—will so stimulate and energize the thoughts and souls of men that the new age will be ushered in by an outpouring of the love, knowledge and harmony of God Himself.
|
Trong quá khứ, chúng ta đã có các Đấng Cứu Thế — các Con của Thượng đế đã tuyên thuyết một thông điệp thế giới và đem thêm ánh sáng cho các dân tộc. Giờ đây, trong sự viên mãn của thời gian, và qua công trình của tiến hoá, đang xuất hiện một nhóm có lẽ sẽ đem sự cứu rỗi đến cho thế giới; và nhóm ấy — hiện thân cho các ý tưởng tập thể và biểu lộ bản chất tập thể, biểu hiện theo một cách nhỏ bé thâm nghĩa đích thực của thân thể Đức Christ, và trao cho thế giới một hình ảnh về bản chất thật của một cơ cấu tinh thần — sẽ kích thích và tiếp sinh lực cho tư tưởng và linh hồn của con người đến mức thời đại mới sẽ được mở ra bằng một lần tuôn đổ tình thương, tri thức và sự hài hòa của chính Thượng đế.
|
|
Religions in the past have been founded by a great soul, by an Avatar, by an outstanding spiritual personality, and the stamp of their lives and words and teaching has been set upon the race and has persisted for many centuries. What will be the effect of the message of a group Avatar? What will be the potency of the work of a group of knowers of God, enunciating truth and banded together subjectively in the great work of saving the world? What will be the effect of the mission of a group of world Saviours, not as Christs, but all knowers of God in some degree, who supplement each other‘s efforts, reinforce each other’s message, and constitute an organism [330] through which the spiritual energy and principle of spiritual life can make their presence felt in the world?
|
Các tôn giáo trong quá khứ đã được sáng lập bởi một linh hồn vĩ đại, bởi một Đấng Hoá Thân, bởi một phàm ngã tinh thần nổi bật, và dấu ấn của đời sống, lời nói và giáo huấn của các Ngài đã được đặt lên nhân loại và tồn tại qua nhiều thế kỷ. Hiệu quả của thông điệp từ một Đấng Hoá Thân tập thể sẽ là gì? Quyền năng của công trình do một nhóm thức giả về Thượng đế, tuyên thuyết chân lý và liên kết với nhau một cách chủ quan trong đại sự nghiệp cứu thế giới, sẽ là gì? Hiệu quả của sứ mệnh do một nhóm các Đấng Cứu Thế của thế giới, không phải như các Đức Christ, nhưng đều là những thức giả về Thượng đế ở một mức độ nào đó, bổ sung nỗ lực của nhau, củng cố thông điệp của nhau, và cấu thành một cơ cấu [330] qua đó năng lượng tinh thần và nguyên khí của sự sống tinh thần có thể làm cho sự hiện diện của chúng được cảm nhận trong thế giới, sẽ là gì?
|
|
Such a body now exists with its members in every land. Relatively they are few and far between, but steadily their numbers are increasing and increasingly their message will be felt. In them is rested a spirit of construction; they are the builders of the new age; to them is given the work of preserving the spirit of truth, and the reorganizing of the thoughts of men so that the racial mind is controlled and brought into that meditative and reflective condition which will permit it to recognize the next unfoldment of divinity.
|
Một cơ thể như thế hiện đang tồn tại, với các thành viên ở mọi xứ sở. Tương đối mà nói, họ còn ít và rải rác, nhưng số lượng của họ đang tăng lên đều đặn và thông điệp của họ sẽ ngày càng được cảm nhận. Nơi họ an trụ một tinh thần xây dựng; họ là những đấng kiến tạo của thời đại mới; họ được trao công việc gìn giữ tinh thần của chân lý, và tổ chức lại tư tưởng của con người để trí tuệ nhân loại được kiểm soát và được đưa vào trạng thái tham thiền và suy tư, cho phép nó nhận ra sự khai mở kế tiếp của thiên tính.
|
|
Connected with these two groups, the reactionary doctrinaires and the subjective band of mystics, is the majority of the new generation of young people who are part of neither band and whose ideas are largely disorganized by the recognition of both. This majority do not belong to the past and refuse to accept the authority of that past. They do not belong to the inner group of Knowers who are working at the task of swinging the thoughts of men into right channels, for they have not reached as yet the point of knowledge. They only recognize two things: their need for freedom, and an intense eagerness for knowledge. They despise the tradition of the past; they reject the old formulations of truth; and because as yet they stand on no sure ground but are only in the position of seekers and enquirers, we have our present state of world upheaval, of apparent license and disruption. It should not be forgotten that this world state is therefore the result of the clashing of the three types of force prevalent in the world of today.
|
Liên hệ với hai nhóm này — những nhà giáo điều thủ cựu và đoàn thể chủ quan của các nhà thần bí — là đa số thế hệ trẻ mới, những người không thuộc về đoàn thể nào trong hai đoàn thể ấy và có các ý tưởng phần lớn bị xáo trộn do nhận biết cả hai. Đa số này không thuộc về quá khứ và từ chối chấp nhận quyền uy của quá khứ ấy. Họ không thuộc về nhóm nội tại của các Thức giả đang làm công việc đưa tư tưởng của con người vào những kênh đúng đắn, vì họ chưa đạt đến điểm tri thức. Họ chỉ nhận ra hai điều: nhu cầu tự do của họ, và một sự háo hức mãnh liệt đối với tri thức. Họ khinh thường truyền thống của quá khứ; họ bác bỏ các công thức cũ của chân lý; và bởi vì hiện họ chưa đứng trên một nền tảng chắc chắn nào mà chỉ ở vị thế của những người tìm kiếm và chất vấn, nên chúng ta có tình trạng hiện nay của thế giới: biến động, buông thả có vẻ như vậy và đổ vỡ. Không nên quên rằng tình trạng thế giới này vì thế là kết quả của sự va chạm giữa ba loại mãnh lực đang thịnh hành trong thế giới ngày nay.
|
|
1. That emanating from the holders with the old tradition, who, emphasizing the forms and the past produce the destruction of those forms.
|
1. Mãnh lực phát ra từ những người bám giữ truyền thống cũ, những người, khi nhấn mạnh các hình tướng và quá khứ, tạo ra sự hủy diệt các hình tướng ấy.
|
|
2. That emanating from the inner group of mystics, [331] who, under the guidance of the planetary Hierarchy are building the new form.
|
2. Mãnh lực phát ra từ nhóm nội tại của các nhà thần bí, [331] những người, dưới sự hướng dẫn của Thánh Đoàn hành tinh, đang xây dựng hình tướng mới.
|
|
3. That emanating from the masses who belong to neither group and who are wielding force as yet blindly and often unwisely until such time comes when they recognize those constructive channels into which it can wisely be poured.
|
3. Mãnh lực phát ra từ quần chúng, những người không thuộc về nhóm nào và hiện vẫn còn sử dụng mãnh lực một cách mù quáng và thường thiếu minh triết, cho đến khi đến thời điểm họ nhận ra những kênh xây dựng mà mãnh lực ấy có thể được tuôn đổ vào một cách khôn ngoan.
|
|
Hence the problem of this transition period and hence the necessity for the giving out of teaching which will enable the seeking aspirant and enquirer to find himself. Hence the need for the laws of the soul and for the truth as to individual unfoldment to be made clear to those who, rejecting the old tradition, and refusing recognition to the mystic, yet seek to know themselves as liberated souls. With that knowledge will come the steady growth of the Building Mystics, for when a man has found his soul and recognizes its relationship to its mechanism of expression, the threefold lower man, he automatically passes into the consciousness of the subjective life, begins to work with cause and is no longer lost in the world of effects. Then he finds himself standing shoulder to shoulder with the mystics and knowers of all time. This is the trend of the religious impulse at this time and this is the glory of the coming age.
|
Do đó có vấn đề của thời kỳ chuyển tiếp này, và do đó có sự cần thiết phải ban ra giáo huấn giúp người chí nguyện và người chất vấn đang tìm kiếm tìm thấy chính mình. Do đó có nhu cầu làm sáng tỏ các định luật của linh hồn và chân lý về sự khai mở cá nhân cho những ai, trong khi bác bỏ truyền thống cũ và từ chối thừa nhận nhà thần bí, vẫn tìm cách biết mình như những linh hồn được giải thoát. Cùng với tri thức ấy sẽ đến sự tăng trưởng đều đặn của các Nhà Thần Bí Kiến Tạo, vì khi một người đã tìm thấy linh hồn mình và nhận ra mối quan hệ của nó với bộ máy biểu hiện của nó, tức phàm nhân tam phân, y tự động đi vào tâm thức của đời sống chủ quan, bắt đầu làm việc với nguyên nhân và không còn lạc mất trong thế giới của các hiệu quả. Khi ấy y thấy mình đứng vai kề vai với các nhà thần bí và các thức giả của mọi thời. Đây là khuynh hướng của xung lực tôn giáo vào lúc này và đây là vinh quang của thời đại đang đến.
|
|
If it is true that there is being gathered together in the background of our present world-state a group of mystics who are distinguished by knowledge, vision, and a power to work on mental levels, unseen and unrecognized by men, it could also be noted that this band is not confined to the strictly religious types. Men and women in every branch of human thought are found among this group including scientists and philosophers.
|
Nếu đúng là trong hậu trường của tình trạng thế giới hiện nay của chúng ta đang có một nhóm các nhà thần bí được tập hợp lại, những người nổi bật bởi tri thức, tầm nhìn và quyền năng làm việc trên các cấp độ trí tuệ, không được con người thấy và không được công nhận, thì cũng có thể lưu ý rằng đoàn thể này không bị giới hạn trong các mẫu người thuần túy tôn giáo. Những người nam và nữ trong mọi ngành tư tưởng nhân loại đều được tìm thấy trong nhóm này, gồm cả các nhà khoa học và triết gia.
|
|
Like all else at this time, science itself is in process of transformation, and little as it is realized by many, their work with what they call matter, and their investigations of the atom are entering into a new field. In this [332] field the older techniques and mechanisms will gradually be discarded and a new approach and a different fundamental concept as to the nature of matter will mark the new age. Within the next twenty-five years, emerging out of the two seemingly different ideas as to the nature of the atom, a recognition of certain energy impulses will be seen and this will be based on the discovery of those energies which (playing on the atom and on atomic forms) produce the tangible concrete shapes to which we give names in the various kingdoms of nature. The truth of certain basic premises of the Ageless Wisdom will be demonstrated, such as:
|
Giống như mọi điều khác vào lúc này, chính khoa học cũng đang trong tiến trình chuyển đổi; và dù nhiều người ít nhận ra, công việc của họ với cái mà họ gọi là vật chất, cùng những khảo sát của họ về nguyên tử, đang bước vào một lĩnh vực mới. Trong lĩnh vực này [332], các kỹ thuật và bộ máy cũ sẽ dần dần bị loại bỏ, và một cách tiếp cận mới cùng một quan niệm nền tảng khác về bản chất của vật chất sẽ đánh dấu thời đại mới. Trong vòng hai mươi lăm năm tới, phát sinh từ hai ý tưởng có vẻ khác nhau về bản chất của nguyên tử, người ta sẽ thấy sự thừa nhận một số xung lực năng lượng nhất định; và điều này sẽ đặt nền trên sự khám phá những năng lượng vốn, khi tác động lên nguyên tử và các hình tướng nguyên tử, tạo ra những dạng thức cụ thể hữu hình mà chúng ta đặt tên trong các giới khác nhau của thiên nhiên. Chân lý của một số tiền đề căn bản thuộc Minh Triết Ngàn Đời sẽ được chứng minh, chẳng hạn như:
|
|
1. The soul is the form-building principle, producing attraction and cohesion.
|
1. Linh hồn là nguyên khí kiến tạo hình tướng, tạo ra sự hấp dẫn và cố kết.
|
|
2. This soul is an aspect or type of energy, distinguished from that of matter itself.
|
2. Linh hồn này là một phương diện hay một loại năng lượng, khác với năng lượng của chính vật chất.
|
|
3. The atom has been recognized as an energy unit, but as yet the energy which sweeps atoms into aggregates which we call organisms and forms has not been isolated. This the mystics in the scientific world will sense and work to demonstrate during the next generation. It is this type of energy, the energy of the form building aspect of manifestation which is the source of all magical work; and it is this energy in the various kingdoms of nature that produces form, shape, species, kind, type and the differentiations which mark and distinguish the myriad forms through which life itself manifests. It is the quality of the energy which produces the quantity of forms; it is the light which causes the emergence into consciousness of the race of heterogeneous shapes which aggregates of atoms can assume.
|
3. Nguyên tử đã được nhận ra như một đơn vị năng lượng, nhưng năng lượng cuốn các nguyên tử vào những tổ hợp mà chúng ta gọi là các cơ cấu và hình tướng vẫn chưa được tách riêng. Các nhà thần bí trong thế giới khoa học sẽ cảm nhận điều này và nỗ lực chứng minh nó trong thế hệ kế tiếp. Chính loại năng lượng này, năng lượng của phương diện kiến tạo hình tướng trong sự biểu hiện, là nguồn gốc của mọi công việc huyền thuật; và chính năng lượng này trong các giới khác nhau của thiên nhiên tạo ra hình tướng, dáng vẻ, loài, loại, mẫu và các biến phân đánh dấu và phân biệt vô số hình tướng qua đó chính sự sống biểu hiện. Chính phẩm tính của năng lượng tạo ra số lượng hình tướng; chính ánh sáng làm phát sinh vào trong tâm thức nhân loại những dạng thức dị biệt mà các tổ hợp nguyên tử có thể khoác lấy.
|
|
4. This type of energy which produces the shapes and forms and coherent organisms in all the kingdoms of nature is not the life principle. The life principle will remain undiscovered and unrecognized until such time as [333] the soul or qualifying principle, the builder of the forms is studied, recognized and in its turn investigated.
|
4. Loại năng lượng tạo ra các dạng thức, hình tướng và cơ cấu cố kết trong mọi giới của thiên nhiên này không phải là nguyên khí sự sống. Nguyên khí sự sống sẽ vẫn chưa được khám phá và chưa được nhận biết cho đến khi [333] linh hồn hay nguyên khí định phẩm, đấng kiến tạo các hình tướng, được nghiên cứu, được nhận ra và đến lượt nó được khảo sát.
|
|
5. This is only possible as man steps forth into a fuller conscious possession of his divine heritage, and working as a soul and in control of his mechanism (physical, emotional, and mental) can work consciously en rapport with the soul in all forms.
|
5. Điều này chỉ có thể xảy ra khi con người bước tới trong sự sở hữu có ý thức đầy đủ hơn đối với di sản thiêng liêng của mình, và khi y, làm việc như một linh hồn và kiểm soát bộ máy của mình — hồng trần, cảm xúc và trí tuệ — có thể làm việc một cách có ý thức trong quan hệ hòa hợp với linh hồn trong mọi hình tướng.
|
|
This will be possible only as the race grasps the above hypothesis, and recognizes it as a possibility and seeks to demonstrate the fact of the soul-factor lying back of its structure or body of manifestation, or equally, seeks to disprove it. All great scientists and workers in the realm of objective nature have worked as souls, and all the most amazing of the developments in the realm of physics and chemistry, as in other departments of human knowledge, have been made when the worker in any particular field has launched forth with faith in some hypothesis he has formed, and has investigated and progressed his work forward stage by stage until he has contacted an aspect of the truth hitherto unformulated by man. Then, having through the use of his intuition entered into a new realm of thought, he takes the knowledge there discovered and formulates it in such way by theory, principle, experiment and mechanical contrivance that it becomes the possession of the group, and in due time is understood and utilized by the world. But in its genesis it has been mystical work and based on a mystical intuition.
|
Điều này sẽ chỉ có thể xảy ra khi nhân loại nắm bắt giả thuyết trên, nhận ra nó như một khả thể và tìm cách chứng minh sự kiện về yếu tố linh hồn nằm phía sau cấu trúc hay thể biểu hiện của nó, hoặc cũng vậy, tìm cách bác bỏ nó. Mọi nhà khoa học vĩ đại và những người hoạt động trong lĩnh vực thiên nhiên khách quan đều đã làm việc như các linh hồn; và tất cả những phát triển đáng kinh ngạc nhất trong lĩnh vực vật lý và hóa học, cũng như trong các ngành tri thức nhân loại khác, đã được tạo ra khi người hoạt động trong một lĩnh vực đặc thù nào đó tiến bước với niềm tin vào một giả thuyết mà y đã hình thành, rồi khảo sát và thúc đẩy công việc của mình tiến lên từng giai đoạn cho đến khi y tiếp xúc với một phương diện của chân lý trước đó chưa từng được con người công thức hóa. Khi ấy, sau khi nhờ sử dụng trực giác mà bước vào một lĩnh vực tư tưởng mới, y lấy tri thức đã khám phá ở đó và công thức hóa nó bằng lý thuyết, nguyên khí, thí nghiệm và phương tiện cơ giới sao cho nó trở thành sở hữu của tập thể, và đúng thời được thế giới thấu hiểu và sử dụng. Nhưng trong nguồn gốc của nó, đó là công việc thần bí và đặt nền trên một trực giác thần bí.
|
|
It might be noted here that three great discoveries are imminent and during the next two generations will revolutionize modern thought and life.
|
Có thể lưu ý ở đây rằng ba khám phá lớn đang gần kề và trong hai thế hệ tới sẽ cách mạng hóa tư tưởng và đời sống hiện đại.
|
|
One is already sensed and is the subject of experiment and investigation, the releasing of the energy of the atom. This will completely change the economic and political situation in the world, for the latter is largely dependent upon the former. Our mechanical civilization will be simplified, and an era ushered in which will be [334] free from the incubus of money (its possession and its non-possession), and the human family will recognize universally its status as a bridging kingdom between the three lower kingdoms of nature and the fifth or spiritual kingdom. There will be time and freedom for a soul culture which will supersede our modern methods of education, and the significance of soul powers and the development of the superhuman consciousness will engross the attention of educators and students everywhere.
|
Một khám phá đã được cảm nhận và đang là đối tượng của thí nghiệm và khảo sát: sự giải phóng năng lượng của nguyên tử. Điều này sẽ thay đổi hoàn toàn tình hình kinh tế và chính trị trong thế giới, vì tình hình sau phần lớn lệ thuộc vào tình hình trước. Nền văn minh cơ giới của chúng ta sẽ được giản lược, và một kỷ nguyên sẽ được mở ra, [334] thoát khỏi gánh nặng của tiền bạc — việc có nó và không có nó — và gia đình nhân loại sẽ nhận ra một cách phổ quát địa vị của mình như một giới bắc cầu giữa ba giới thấp của thiên nhiên và giới thứ năm hay giới tinh thần. Sẽ có thời gian và tự do cho một nền văn hóa linh hồn, vốn sẽ thay thế các phương pháp giáo dục hiện đại của chúng ta; và thâm nghĩa của các quyền năng linh hồn cùng sự phát triển của tâm thức siêu nhân sẽ thu hút sự chú ý của các nhà giáo dục và đạo sinh ở khắp nơi.
|
|
A second discovery will grow out of the present investigations as to light and color. The effect of color on people, animals and units in the vegetable kingdom will be studied and the result of those studies will be the development of etheric vision or the power to see the next grade of matter with the strictly physical eye. Increasingly will people think and talk in terms of light, and the effect of the coming developments in this department of human thought will be triple.
|
Một khám phá thứ hai sẽ nảy sinh từ các khảo sát hiện nay về ánh sáng và màu sắc. Tác động của màu sắc lên con người, động vật và các đơn vị trong giới thực vật sẽ được nghiên cứu; và kết quả của những nghiên cứu ấy sẽ là sự phát triển của thị giác dĩ thái, hay quyền năng thấy cấp độ vật chất kế tiếp bằng chính con mắt hồng trần. Con người sẽ ngày càng suy nghĩ và nói năng theo các thuật ngữ của ánh sáng, và tác động của những phát triển đang đến trong ngành tư tưởng nhân loại này sẽ có tính tam phân.
|
|
a. People will possess etheric vision.
|
a. Con người sẽ sở hữu thị giác dĩ thái.
|
|
b. The vital or etheric body, lying as the inner structure of the outer forms, will be seen and noted and studied in all kingdoms of nature.
|
b. Thể sinh lực hay thể dĩ thái, nằm như cấu trúc bên trong của các hình tướng bên ngoài, sẽ được thấy, ghi nhận và nghiên cứu trong mọi giới của thiên nhiên.
|
|
c. This will break down all barriers of race and all distinctions of color; the essential brotherhood of man will be established. We shall see each other and all forms of divine manifestation as light units of varying degrees of brightness and shall talk and think increasingly in terms of electricity, of voltage, of intensity and of power. The age and status of men, in regard to the ladder of evolution, will be noted and become objectively apparent, the relative capacities of old souls, and young souls will be recognized, thereby re-establishing on earth the rule of the enlightened.
|
c. Điều này sẽ phá vỡ mọi rào cản nhân loại và mọi phân biệt về màu da; tình huynh đệ cốt yếu của con người sẽ được thiết lập. Chúng ta sẽ thấy nhau và mọi hình tướng biểu hiện thiêng liêng như các đơn vị ánh sáng với những mức độ sáng chói khác nhau, và sẽ ngày càng nói và nghĩ bằng các thuật ngữ về điện, điện thế, cường độ và quyền năng. Tuổi và địa vị của con người, xét theo nấc thang tiến hoá, sẽ được ghi nhận và trở nên hiển nhiên một cách khách quan; các năng lực tương đối của những linh hồn già và những linh hồn trẻ sẽ được nhận ra, qua đó tái lập trên Trái Đất sự cai quản của những người đã giác ngộ.
|
|
Note here, that these developments will be the work of the scientists of the next two generations and the result [335] of their efforts. Their work with the atom of substance, and their investigations in the realm of electricity, of light and of power, must inevitably demonstrate the relation between forms, which is another term for brotherhood, and the fact of the soul, the inner light and radiance of all forms.
|
Hãy lưu ý ở đây rằng những phát triển này sẽ là công việc của các nhà khoa học trong hai thế hệ tới và là kết quả [335] của các nỗ lực của họ. Công việc của họ với nguyên tử chất liệu, cùng những khảo sát của họ trong lĩnh vực điện, ánh sáng và quyền năng, tất yếu phải chứng minh mối quan hệ giữa các hình tướng — vốn là một thuật ngữ khác cho tình huynh đệ — và sự kiện về linh hồn, ánh sáng và hào quang bên trong của mọi hình tướng.
|
|
The third development, which will be the last probably to take place, will be more strictly in the realm of what the occultists call magic. It will grow out of the study of sound and the effect of sound and will put into man’s hands a tremendous instrument in the world of creation. Through the use of sound the scientist of the future will bring about his results; through sound, a new field of discovery will open up; the sound which every form in all kingdoms of nature gives forth will be studied and known and changes will be brought about and new forms developed through its medium. One hint only may I give here and that is, that the release of energy in the atom is linked to this new coming science of sound.
|
Phát triển thứ ba, có lẽ sẽ là điều cuối cùng xảy ra, sẽ thuộc về lĩnh vực mà các nhà huyền bí học gọi là huyền thuật theo nghĩa chặt chẽ hơn. Nó sẽ phát sinh từ việc nghiên cứu âm thanh và tác động của âm thanh, và sẽ đặt vào tay con người một công cụ phi thường trong thế giới sáng tạo. Qua việc sử dụng âm thanh, nhà khoa học tương lai sẽ tạo ra các kết quả của mình; qua âm thanh, một lĩnh vực khám phá mới sẽ mở ra; âm thanh mà mỗi hình tướng trong mọi giới của thiên nhiên phát ra sẽ được nghiên cứu và biết đến, và các thay đổi sẽ được tạo ra, các hình tướng mới sẽ được phát triển thông qua môi giới của nó. Tôi chỉ có thể đưa ra một gợi ý ở đây, đó là sự giải phóng năng lượng trong nguyên tử có liên hệ với khoa học mới về âm thanh sắp đến này.
|
|
The significance of what has happened in the world during the last century in the realm of sound is not appreciated yet nor understood. Terrific effects are however being produced by the unbelievably increased noise and sound emanating from the planet at this time. The roar of machinery, the rumble of the transportation mechanisms in all parts of the world—trains, vessels and airplanes—the focussing of the sounds of men in such congested areas as the great cities, and, at this time, the universal use of the radio bringing musical sounds into every home and into street life are producing effects upon the bodies of men and upon all forms of life everywhere which will become apparent only as time elapses. Some forms of life in the animal kingdom, but primarily in the vegetable kingdom, will disappear and the response of the human mechanism to this world of sound, uproar and [336] music in which it will increasingly find itself will be most interesting.
|
Thâm nghĩa của những gì đã xảy ra trong thế giới trong thế kỷ vừa qua thuộc lĩnh vực âm thanh vẫn chưa được đánh giá đúng cũng như chưa được thấu hiểu. Tuy nhiên, những hiệu quả khủng khiếp đang được tạo ra bởi tiếng ồn và âm thanh gia tăng đến mức khó tin phát ra từ hành tinh vào lúc này. Tiếng gầm của máy móc, tiếng ầm ì của các bộ máy vận chuyển ở khắp nơi trên thế giới — xe lửa, tàu bè và máy bay — sự tập trung các âm thanh của con người trong những khu vực đông nghẹt như các đại đô thị, và vào lúc này, việc sử dụng phổ quát vô tuyến truyền thanh đưa âm thanh âm nhạc vào mọi gia đình và vào đời sống đường phố, đang tạo ra các hiệu quả trên các thể của con người và trên mọi hình tướng sự sống ở khắp nơi, vốn chỉ trở nên rõ ràng khi thời gian trôi qua. Một số hình tướng sự sống trong giới động vật, nhưng chủ yếu trong giới thực vật, sẽ biến mất; và sự đáp ứng của bộ máy con người đối với thế giới âm thanh, náo động và [336] âm nhạc này, trong đó nó sẽ ngày càng thấy mình hiện diện, sẽ vô cùng đáng chú ý.
|
|
These three developments will usher in the new age, will produce in this transition period the needed changes, and will inaugurate a new era wherein brotherhood will be the keynote, for it will be a demonstrated fact in nature. It will be an age wherein men will walk in the light, for it will be a world of recognized inner radiance, wherein the work of the world will be carried forward through the medium of sound, and eventually through the use of words of power and the work of the trained magician. These trained workers in substance, understanding the nature of matter, seeing always in terms of light and comprehending the purpose of sound will bring about those structural changes and those material transformations which will establish a civilization adequate for the work of the coming race. This work will be that of the conscious unification of the soul and its vehicle of manifestation. Those cultural methods also which will take the undeveloped of the race and carry them forward to a better manifestation, and a truer expression of themselves will be established and this it is the privilege of the coming generation of scientific investigators to bring about.
|
Ba phát triển này sẽ mở ra thời đại mới, sẽ tạo ra trong thời kỳ chuyển tiếp này những thay đổi cần thiết, và sẽ khai mở một kỷ nguyên mới trong đó tình huynh đệ sẽ là chủ âm, vì nó sẽ là một sự kiện đã được chứng minh trong thiên nhiên. Đó sẽ là một thời đại trong đó con người bước đi trong ánh sáng, vì đó sẽ là một thế giới của hào quang bên trong đã được nhận biết; trong đó công việc của thế giới sẽ được tiến hành qua môi giới của âm thanh, và cuối cùng qua việc sử dụng các Linh từ quyền năng và công việc của nhà huyền thuật đã được huấn luyện. Những người hoạt động đã được huấn luyện này trong chất liệu, thấu hiểu bản chất của vật chất, luôn thấy theo các thuật ngữ của ánh sáng và lĩnh hội mục đích của âm thanh, sẽ tạo ra những thay đổi cấu trúc và những chuyển hoá vật chất vốn sẽ thiết lập một nền văn minh thích hợp cho công việc của nhân loại đang đến. Công việc này sẽ là sự hợp nhất có ý thức giữa linh hồn và vận cụ biểu hiện của nó. Những phương pháp văn hóa có thể đưa những người chưa phát triển trong nhân loại tiến lên đến một sự biểu hiện tốt đẹp hơn và một sự biểu đạt chân thật hơn về chính họ cũng sẽ được thiết lập; và chính đặc quyền của thế hệ các nhà khảo sát khoa học đang đến là tạo nên điều này.
|
|
Two things manifest when the spiritual vibration is exceedingly potent. All good aspirations and synchronous high vibrations are stimulated and, secondly, all that we term “evil” is likewise stimulated. Aspirants should bear this carefully in mind. There may demonstrate such a factor as a crime wave, but there will also demonstrate an increasing number of groups that stand for [348] spiritual endeavor and high aspiration. The effect of the heightening of the vibration on you, the aspirant, may manifest in various ways also. It may result in bodily fatigue and this must be dealt with—not so much by sleep and by rest, though a just proportion of them is necessary—but above all by a change of vibration, of recreation and of amusement. Secondly, it results frequently in a profound depression, in an utter sinking of the heart as the future is faced. Face that future, however, and remember that what the future holds is not revealed, but that “joy cometh in the morning”. It results also in a sensitiveness of the astral body that is, perhaps, even more hard to bear. This must be dealt with by the individual as best he may, bearing in mind the suggestions that I have given him. It results also in a permanent stimulation of the atoms in the various vehicles and their coherent, stabilized vibration. It lifts a little nearer to the goal, though perhaps the aspirant may not realize it.
|
Hai điều biểu lộ khi rung động tinh thần cực kỳ mạnh mẽ. Mọi khát vọng tốt đẹp và những rung động cao tương ứng được kích thích, và thứ hai, mọi điều mà chúng ta gọi là “ác” cũng được kích thích. Những người chí nguyện nên ghi nhớ kỹ điều này. Có thể biểu lộ một yếu tố như là làn sóng tội phạm, nhưng cũng sẽ biểu lộ số lượng ngày càng tăng các nhóm đại diện cho [348] nỗ lực tinh thần và khát vọng cao cả. Tác động của sự nâng cao rung động trên các bạn, người chí nguyện, cũng có thể biểu lộ theo nhiều cách. Nó có thể đưa đến sự mệt mỏi của thân thể, và điều này phải được xử lý—không hẳn bằng giấc ngủ và nghỉ ngơi, dù một tỉ lệ thích đáng của chúng là cần thiết—mà trên hết bằng sự thay đổi rung động, bằng giải trí và tiêu khiển. Thứ hai, nó thường đưa đến một sự chán nản sâu xa, một sự trĩu nặng hoàn toàn của trái tim khi đối diện với tương lai. Tuy nhiên, hãy đối diện với tương lai ấy, và nhớ rằng điều tương lai nắm giữ không được mặc khải, nhưng “niềm hoan hỉ đến vào buổi sáng”. Nó cũng đưa đến một sự nhạy cảm của thể cảm dục, có lẽ còn khó chịu đựng hơn. Điều này phải được cá nhân xử lý hết sức có thể, ghi nhớ những gợi ý mà tôi đã trao cho y. Nó cũng đưa đến sự kích thích thường xuyên các nguyên tử trong các hiện thể khác nhau và rung động cố kết, ổn định của chúng. Nó nâng người chí nguyện đến gần mục tiêu hơn một chút, dù có lẽ y không nhận ra điều đó.
|
|
Everything depends upon the pupil’s ability to grasp the inner meaning of all events. His entire progress upon the Path rests upon his attitude in making the teaching his own. It is only as we transmute the lessons on the inner planes into practical knowledge that they become part of our own experience and are no longer theoretical. Expansion of consciousness should be an ever increasing practical experience. Theories are of no value until we have changed them into fact. Hence the value of meditating on an ideal. In the meditation our thoughts vibrate temporarily to the measure of the conception, and in time that vibration becomes permanent.
|
Mọi sự tùy thuộc vào năng lực của môn sinh trong việc nắm bắt ý nghĩa bên trong của mọi biến cố. Toàn bộ sự tiến bộ của y trên Đường Đạo dựa vào thái độ của y trong việc biến giáo huấn thành của chính mình. Chỉ khi chúng ta chuyển hoá các bài học trên các cõi bên trong thành tri thức thực tiễn, chúng mới trở thành một phần kinh nghiệm của chính chúng ta và không còn là lý thuyết. Sự mở rộng tâm thức nên là một kinh nghiệm thực tiễn ngày càng gia tăng. Các lý thuyết không có giá trị cho đến khi chúng ta biến chúng thành sự kiện. Do đó có giá trị của việc tham thiền về một lý tưởng. Trong tham thiền, các tư tưởng của chúng ta rung động tạm thời theo mức độ của quan niệm ấy, và theo thời gian rung động đó trở nên thường xuyên.
|
|
Those who, with open eyes, enter on occult training need indeed to count the cost. The reward at the end is great, but the path is rough and the true occultist walks it alone. The capacity to stand alone, to assume responsibility, [349] and then to carry all through single-handed, and to brave evil for the sake of the good achieved is the mark of a White Brother. Be prepared then for loneliness, for dangers of a dim and obscure character, and expect to see your life spent for no reward that touches the personality. It is only as the consciousness expands, and one finds one’s true position in the cosmic whole that the reward becomes apparent; but cease from fear, and know that the personality is only temporary, and what matter if it suffer? Some good gained for the universal Brotherhood, some law explained and demonstrated in the life of every day, may make the Master say eventually (yes, eventually, after all is over) well done! Let your eyes therefore look straight on. Turn not to the right hand nor to the left. The path leads upward and on to greater rapidity of vibration and to greater sensitiveness. Seek the point of balance in your work and keep that balance, for the years hold much work, much pressure and much suffering.
|
Những ai, với đôi mắt mở, bước vào sự huấn luyện huyền bí quả thật cần tính đến cái giá phải trả. Phần thưởng ở cuối đường là lớn lao, nhưng con đường thì gồ ghề và nhà huyền bí học chân chính bước đi trên đó một mình. Năng lực đứng một mình, đảm nhận trách nhiệm, [349] rồi một tay gánh vác tất cả, và can đảm đối diện với điều ác vì lợi ích của điều thiện đã đạt được, là dấu hiệu của một Huynh đệ Chánh đạo. Vậy hãy chuẩn bị cho sự cô đơn, cho những nguy hiểm có tính chất mờ tối và không rõ ràng, và hãy trông đợi thấy đời mình được tiêu dùng mà không có phần thưởng nào chạm đến phàm ngã. Chỉ khi tâm thức mở rộng, và con người tìm thấy vị trí đích thực của mình trong toàn thể vũ trụ, phần thưởng mới trở nên hiển nhiên; nhưng hãy chấm dứt sợ hãi, và biết rằng phàm ngã chỉ là tạm thời, và có quan trọng gì nếu nó đau khổ? Một điều thiện nào đó đạt được cho Huynh Đệ Đoàn phổ quát, một định luật nào đó được giải thích và chứng minh trong đời sống hằng ngày, cuối cùng có thể khiến Chân sư nói: tốt lắm! Vậy hãy để mắt các bạn nhìn thẳng phía trước. Đừng rẽ sang phải hay sang trái. Con đường dẫn lên cao và tiến tới sự nhanh hơn của rung động cùng sự nhạy bén lớn hơn. Hãy tìm điểm quân bình trong công việc của các bạn và giữ sự quân bình ấy, vì những năm tháng phía trước chứa đựng nhiều công việc, nhiều áp lực và nhiều đau khổ.
|
|
Are you strong enough to see the world’s woe, to see disaster and yet keep joyful? Can you be a partner in the work of furthering the evolution of the race and see the necessity for trouble and for discipline and yet not move to stem the tide of sorrow? Picked and tried souls are being trained all over the world at the present time. The Masters are overwhelmed with the work and Their time is over-occupied. They give what They can but on the individual aspirant depends the use made of that which is given.
|
Các bạn có đủ mạnh để thấy nỗi thống khổ của thế giới, thấy tai họa mà vẫn giữ được sự hoan hỉ không? Các bạn có thể là cộng sự trong công việc thúc đẩy tiến hoá của nhân loại, thấy sự cần thiết của rắc rối và kỷ luật, mà vẫn không động lòng ngăn chặn dòng triều đau buồn không? Những linh hồn được chọn lọc và thử thách đang được huấn luyện khắp thế giới vào lúc này. Các Chân sư đang bị tràn ngập bởi công việc và thời gian của Các Ngài bị chiếm dụng quá mức. Các Ngài ban cho những gì Các Ngài có thể, nhưng việc sử dụng điều được ban tùy thuộc vào từng người chí nguyện cá nhân.
|
|
Those of us who watch and guide on the inner side of life realize more than perhaps you who bear the burden and heat of physical plane existence know. We know your physical disabilities and some day may be able to help definitely in the building up of strong bodies for world service. Now—such is the astral miasma—it is well nigh impossible for you, our struggling brethren, [350] to have good health; the karma of the world prohibits it. The astral corruption and the foul cesspools of the lower levels of the mental plane infect all, and lucky is he who escapes. We watch with tenderness all of you, who, with weak and sensitive bodies, struggle, work, fight, fail, continue and serve. Not one hour of service, given in pain and tension, not one day’s labor followed with racked nerves, with head tired and with heart sick, is allowed to pass unnoticed. We know and we care, yet, we may do naught that you, struggling in the field of the world, can do of that which is needed. The world’s karma engulfs each of you at this epoch. If you could but realize it, the time is short, and rest, joy and peace are on their way.
|
Những Chúng Tôi, những Đấng quan sát và hướng dẫn ở mặt bên trong của sự sống, nhận ra nhiều điều hơn có lẽ các bạn, những người gánh chịu gánh nặng và sức nóng của sự tồn tại trên cõi hồng trần, biết được. Chúng Tôi biết những khiếm khuyết thể xác của các bạn, và một ngày nào đó có thể giúp đỡ một cách xác định trong việc xây dựng những thân thể mạnh mẽ cho phụng sự thế gian. Hiện nay—vì miasma cảm dục như thế—hầu như không thể nào để các bạn, các huynh đệ đang phấn đấu của Chúng Tôi, [350] có sức khỏe tốt; nghiệp quả của thế giới ngăn cấm điều đó. Sự băng hoại cảm dục và những hố ô uế của các cấp thấp thuộc cõi trí lây nhiễm tất cả, và may mắn thay cho người nào thoát khỏi. Chúng Tôi quan sát với lòng trìu mến tất cả các bạn, những người, với các thân thể yếu ớt và nhạy cảm, đang phấn đấu, làm việc, chiến đấu, thất bại, tiếp tục và phụng sự. Không một giờ phụng sự nào được trao trong đau đớn và căng thẳng, không một ngày lao động nào tiếp nối với thần kinh rã rời, đầu mệt mỏi và tim đau buồn, lại được phép trôi qua mà không được ghi nhận. Chúng Tôi biết và Chúng Tôi quan tâm, tuy vậy, Chúng Tôi không thể làm điều mà các bạn, đang phấn đấu trong cánh đồng thế gian, có thể làm đối với điều cần thiết. Nghiệp quả của thế giới nhấn chìm mỗi người trong các bạn vào kỷ nguyên này. Giá như các bạn có thể nhận ra điều đó, thời gian thì ngắn, và nghỉ ngơi, hoan hỉ cùng bình an đang trên đường đến.
|
|
The half-gained victory, the days lived through with a certain measure of success, yet with an unachieved ideal, the minutes of exhaustion of soul and body when the emptiness of everything, even of service itself, seems the only noticeable thing, the weeks and months of endeavor and of struggle against apparently insuperable odds, against the stupendous power of the forces of evolution, against the roaring tide of the world’s ignorance, —all are known. Take comfort in the assurance that love rules all; take courage from the realization that the Hierarchy stands.
|
Chiến thắng mới đạt được một nửa, những ngày đã sống qua với một mức độ thành công nào đó nhưng với lý tưởng chưa thành tựu, những phút giây kiệt quệ của linh hồn và thân thể khi sự trống rỗng của mọi sự, ngay cả của chính việc phụng sự, dường như là điều duy nhất đáng chú ý, những tuần và tháng nỗ lực và chiến đấu chống lại những chênh lệch dường như không thể vượt qua, chống lại quyền năng phi thường của các mãnh lực tiến hoá, chống lại dòng triều gầm thét của sự vô minh thế giới—tất cả đều được biết đến. Hãy tìm sự an ủi trong niềm xác tín rằng tình thương cai quản tất cả; hãy lấy can đảm từ sự nhận ra rằng Thánh Đoàn vẫn đứng vững.
|
|
Those who are to teach the world more about the Masters and who are being trained to be focal points of contact are put through a very drastic disciplining. They are tested in every possible way and taught much through bitter experience. They are taught to attach no importance to recognition. They are trained not to judge from the appearance but from the inner vision. Capacity to recognize the Master’s purpose and the ability to love are counted of paramount importance. Aspirants who seek to be chosen for work as disciples must lose all desire for the things of self and must be willing at any [351] cost to pay the price of knowledge. If proof is to be given to the world of the subjective realm of reality it will be bought with the heart’s blood, for only “in the blood of the heart” can power be safely gained and wisely wielded. As you go on and, as aspirants, study the hidden laws of nature, you will realize the need for the price paid. The spiritual unfoldment of the disciple’s character must keep pace with his inner knowledge. This knowledge grows in three ways:
|
Những ai sẽ dạy thế giới nhiều hơn về các Chân sư và đang được huấn luyện để trở thành các điểm hội tụ tiếp xúc, phải trải qua một kỷ luật rất nghiêm khắc. Họ được thử thách bằng mọi cách có thể và được dạy nhiều qua kinh nghiệm cay đắng. Họ được dạy không xem trọng sự công nhận. Họ được huấn luyện không phán đoán theo vẻ ngoài mà theo linh thị bên trong. Năng lực nhận ra mục đích của Chân sư và khả năng yêu thương được xem là có tầm quan trọng tối thượng. Những người chí nguyện tìm cách được chọn cho công việc với tư cách đệ tử phải mất hết mọi ham muốn đối với những điều thuộc về cái tôi và phải sẵn lòng, bằng bất cứ [351] giá nào, trả cái giá của tri thức. Nếu bằng chứng phải được trao cho thế giới về cõi thực tại chủ quan, thì nó sẽ được mua bằng máu của trái tim, vì chỉ “trong máu của trái tim” quyền năng mới có thể được đạt được một cách an toàn và vận dụng một cách minh triết. Khi các bạn tiến bước và, với tư cách những người chí nguyện, nghiên cứu các định luật ẩn tàng của thiên nhiên, các bạn sẽ nhận ra sự cần thiết của cái giá đã trả. Sự khai mở tinh thần của Tính cách đệ tử phải theo kịp tri thức bên trong của y. Tri thức này tăng trưởng theo ba cách:
|
|
1. By definite expansions of consciousness, which open up to the disciple a realization of the points to be attained. This produces in his mind a formulation of what lies ahead to be grasped and is the first step towards acquirement. An aspirant is definitely taken on the inner planes and shown by a more advanced chela what is the work to be done, much in the same way as a pupil is shown by his master the lesson to be learned.
|
1. Bằng những mở rộng tâm thức xác định, mở ra cho đệ tử sự nhận ra các điểm phải đạt tới. Điều này tạo ra trong thể trí của y một sự định hình về điều nằm phía trước cần được nắm bắt, và là bước đầu tiên hướng tới sự thủ đắc. Một người chí nguyện được đưa một cách xác định lên các cõi bên trong và được một đệ tử tiến bộ hơn chỉ cho thấy công việc phải làm, phần nào giống như một môn sinh được thầy của mình chỉ cho bài học phải học.
|
|
2. The next step is the mastering of the lesson and the working out in meditation and experiment of the truths sensed. This is a lengthy process, for all has to be assimilated and made part and parcel of the disciple’s very self before he can go on. It resembles the working out of a sum—figure by figure, line by line, the working out being carried forward until the answer is achieved. This work is done both on the inner planes and on the physical. In the Hall of Learning the pupil is taught nightly for a short time before proceeding with any work of service. This teaching he brings over into his physical brain consciousness in the form of a deep interest in certain subjects, and in an increasing aptitude to think concretely and abstractly on the various occult matters that are occupying his attention. He attempts to experiment and tries various methods of studying the laws and in process of time arrives at results that are of value to him. Time passes and as he appropriates and knows more, his knowledge takes a synthetic form and he becomes [352] ready to teach and to impart to others the residue of knowledge of which he is sure.
|
2. Bước kế tiếp là làm chủ bài học và khai triển trong tham thiền cùng thực nghiệm những chân lý đã cảm nhận. Đây là một tiến trình lâu dài, vì tất cả phải được đồng hóa và trở thành một phần trọn vẹn của chính bản ngã đệ tử trước khi y có thể tiếp tục. Nó giống như việc giải một bài toán—từng con số, từng dòng một, công việc giải được tiếp tục cho đến khi đạt được đáp án. Công việc này được thực hiện cả trên các cõi bên trong lẫn trên cõi hồng trần. Trong Phòng Học Tập, môn sinh được dạy mỗi đêm trong một thời gian ngắn trước khi tiến hành bất cứ công việc phụng sự nào. Giáo huấn này y mang xuống tâm thức bộ não hồng trần của mình dưới hình thức một mối quan tâm sâu sắc đối với một số chủ đề nhất định, và trong một năng khiếu ngày càng tăng để suy nghĩ cụ thể và trừu tượng về các vấn đề huyền bí khác nhau đang chiếm sự chú ý của y. Y cố gắng thực nghiệm và thử nhiều phương pháp nghiên cứu các định luật, và theo thời gian đạt được những kết quả có giá trị đối với y. Thời gian trôi qua, và khi y chiếm hữu và biết nhiều hơn, tri thức của y mang hình thức tổng hợp, và y trở nên [352] sẵn sàng dạy dỗ và truyền đạt cho người khác phần tri thức còn lại mà y chắc chắn.
|
|
3. In teaching others comes further knowledge. The definition of truth in teaching crystallises the facts learnt, and, in the play of other minds, the aspirant’s own vibration becomes keyed up to ever higher planes, and thus fresh intuition and fresh reaches of truth pour in.
|
3. Trong việc dạy người khác, tri thức thêm nữa sẽ đến. Việc định nghĩa chân lý trong giảng dạy kết tinh các sự kiện đã học, và trong sự tương tác của những thể trí khác, rung động của chính người chí nguyện được nâng lên tới các cõi ngày càng cao hơn, và như thế trực giác mới cùng những tầm với mới của chân lý tuôn vào.
|
|
When one lesson has, in this way, been mastered, a further one is set, and when a pupil has learnt a particular series of lessons he graduates and passes an initiation. The whole group he teaches is benefited by his step forward, for every disciple carries those he instructs along with him in a curious indefinable sense. The benefit to the unit reacts upon the whole. A Master carries His disciples on and up with Him in a similar manner. The matter is abstruse and largely one of the secrets of the law of vibratory expansion. The initiation of the Logos has a universal effect.
|
Khi một bài học đã được làm chủ theo cách này, một bài học khác được đặt ra, và khi một môn sinh đã học xong một loạt bài học đặc thù, y tốt nghiệp và vượt qua một cuộc điểm đạo. Toàn bộ nhóm mà y dạy được lợi ích nhờ bước tiến của y, vì mỗi đệ tử mang theo những người y huấn luyện cùng tiến với mình theo một ý nghĩa kỳ lạ khó định nghĩa. Lợi ích đối với đơn vị tác động trở lại trên toàn thể. Một Chân sư cũng mang các đệ tử của Ngài tiến lên và đi lên với Ngài theo một cách tương tự. Vấn đề này sâu kín và phần lớn là một trong những bí mật của định luật mở rộng rung động. Cuộc điểm đạo của Thượng đế có một tác động phổ quát.
|
|
You are right in your assumption that the probationary path corresponds to the later stages of the period of gestation. At the first initiation what is called in the New Testament “the babe in Christ” starts upon the pilgrimage of the path. The first initiation simply stands for commencement. A certain structure of right living, of thinking and of conduct has been attained; the form that the Christ is to occupy has been constructed and now that form is to be vivified and indwelt. The Christ life enters and the form becomes alive. Therein lies the difference between theory and making that theory a part of yourself. You can have a perfect picture or image but it lacks the life. You have a person who has modelled his life on the divine as far as he can. He has a good copy yet something is lacking. What is this something? The manifestation of the indwelling Christ. The germ has been there but it has lain dormant. Now it is fostered and brought to birth, and the first initiation is [353] attained. Much then remains to be done. The analogy is complete. Many years were spent by the disciple Jesus between the birth and baptism. The remaining three initiations were taken in three years. You have the same situation on the path of the aspirant.
|
Các bạn đúng trong giả định rằng Con Đường Dự Bị tương ứng với các giai đoạn sau của thời kỳ thai nghén. Ở lần điểm đạo thứ nhất, điều trong Tân Ước gọi là “hài nhi trong Đức Christ” bắt đầu cuộc hành hương trên con đường. Lần điểm đạo thứ nhất chỉ đơn giản biểu thị sự khởi đầu. Một cấu trúc nhất định của đời sống đúng đắn, tư tưởng và hành vi đúng đắn đã đạt được; hình tướng mà Đức Christ sẽ chiếm ngự đã được kiến tạo, và nay hình tướng ấy phải được làm cho sinh động và được cư ngụ. Sự sống Đức Christ đi vào và hình tướng trở nên sống động. Chính trong đó có sự khác biệt giữa lý thuyết và việc biến lý thuyết ấy thành một phần của chính các bạn. Các bạn có thể có một bức tranh hay hình ảnh hoàn hảo nhưng nó thiếu sự sống. Các bạn có một người đã mô phỏng đời mình theo điều thiêng liêng hết mức y có thể. Y có một bản sao tốt, nhưng vẫn thiếu điều gì đó. Điều đó là gì? Sự biểu lộ của Đức Christ nội tại. Mầm đã có ở đó nhưng vẫn nằm yên. Nay nó được nuôi dưỡng và đưa đến sự sinh ra, và lần điểm đạo thứ nhất [353] được đạt tới. Khi ấy còn nhiều điều phải làm. Sự tương đồng là trọn vẹn. Nhiều năm đã trôi qua đối với đệ tử Jesus giữa lúc sinh ra và phép rửa. Ba cuộc điểm đạo còn lại được trải qua trong ba năm. Các bạn có cùng tình huống trên con đường của người chí nguyện.
|
|
The second initiation marks the crisis of the control of the astral body. After baptism there remain the three temptations, demonstrating the complete control of the three lower vehicles. Then comes the Transfiguration, followed by knowledge of the future and complete self-abnegation. Therefore, you have the following:
|
Lần điểm đạo thứ hai đánh dấu cuộc khủng hoảng của việc kiểm soát thể cảm dục. Sau phép rửa vẫn còn ba cám dỗ, chứng minh sự kiểm soát hoàn toàn ba hiện thể thấp. Rồi đến cuộc Biến hình, tiếp theo là tri thức về tương lai và sự tự quên mình hoàn toàn. Do đó, các bạn có những điều sau:
|
|
1. The moment of conception—i.e. individualization.
|
1. Khoảnh khắc thụ thai—tức là biệt ngã hóa.
|
|
2. Nine months gestation—i.e. the wheel of life.
|
2. Chín tháng thai nghén—tức là bánh xe sự sống.
|
|
3. First initiation—i.e. the birth hour.
|
3. Lần điểm đạo thứ nhất—tức là giờ sinh ra.
|
|
The path is, therefore, a path on which steady expansion of consciousness is undergone with increasing sensitivity to the higher vibrations. This works out at first as sensitiveness to the inner voice and this is one of the most necessary faculties in a disciple. The Great Ones are looking for those who can rapidly obey the inner voice of their soul. The times are critical and all aspirants are urged also to render themselves sensitive to the voice of their Master as well. His time is fully occupied and disciples must train themselves to be sensitive to His impression. A slight hint, a pointed finger, a hurried suggestion, may be all that He has time to give, and each disciple must be upon the watch. The pressure upon Them is great now that They are moving closer to the physical plane. More souls are conscious of Them than when They worked on mental levels only and They also, working on denser planes, are finding conditions more difficult. The devas and disciples, aspirants and those upon the probationary path are being gathered around Them now and are being organized into groups with special work assigned. Some souls can work only in mass [354] formation, banded together and unified by a common aspiration. Such are the majority of Christians, for instance, in the churches. These, knowing not the laws of occultism, and only sensing the inner truth, work on broad lines of preparation. They are aided by bands of lesser devas or angels who suggest, guide and control.
|
Do đó, con đường là một con đường trên đó diễn ra sự mở rộng tâm thức đều đặn với sự nhạy bén ngày càng tăng đối với các rung động cao hơn. Điều này lúc đầu biểu hiện thành sự nhạy bén với tiếng nói bên trong, và đây là một trong những năng lực cần thiết nhất nơi một đệ tử. Các Đấng Cao Cả đang tìm kiếm những ai có thể nhanh chóng vâng theo tiếng nói bên trong của linh hồn mình. Thời điểm đang nguy cấp, và mọi người chí nguyện cũng được thúc giục làm cho mình nhạy bén với tiếng nói của Chân sư mình. Thời gian của Ngài bị chiếm dụng hoàn toàn, và các đệ tử phải tự huấn luyện để nhạy bén với ấn tượng của Ngài. Một gợi ý nhẹ, một ngón tay chỉ hướng, một lời đề nghị vội vã, có thể là tất cả những gì Ngài có thời gian để trao, và mỗi đệ tử phải luôn canh chừng. Áp lực trên Các Ngài hiện nay rất lớn khi Các Ngài đang tiến gần hơn đến cõi hồng trần. Nhiều linh hồn có ý thức về Các Ngài hơn so với khi Các Ngài chỉ hoạt động trên các cấp độ trí tuệ, và chính Các Ngài, khi làm việc trên các cõi đậm đặc hơn, cũng thấy các điều kiện khó khăn hơn. Các thiên thần và đệ tử, người chí nguyện và những người trên Con Đường Dự Bị hiện đang được quy tụ quanh Các Ngài và được tổ chức thành các nhóm với công việc đặc biệt được giao. Một số linh hồn chỉ có thể làm việc trong đội hình quần chúng [354], liên kết với nhau và được thống nhất bởi một khát vọng chung. Chẳng hạn, đó là đa số tín hữu Ki-tô trong các giáo hội. Những người này, không biết các định luật của huyền bí học, và chỉ cảm nhận chân lý bên trong, làm việc theo các đường lối chuẩn bị rộng lớn. Họ được các nhóm thiên thần thấp hơn trợ giúp, những vị này gợi ý, hướng dẫn và kiểm soát.
|
|
Others more advanced work in smaller groups. They idealize more and in them you see the thinkers and leaders of social reform, of humanitarian regeneration and of church leadership, either Christian or Oriental. The higher devas guide them, the blue and yellow devas, as the former group are guided by the blue and rose.
|
Những người khác tiến bộ hơn làm việc trong các nhóm nhỏ hơn. Họ lý tưởng hóa nhiều hơn, và trong họ các bạn thấy những nhà tư tưởng và lãnh đạo của cải cách xã hội, của sự tái sinh nhân đạo và của sự lãnh đạo giáo hội, dù thuộc Ki-tô giáo hay phương Đông. Các thiên thần cao hơn hướng dẫn họ, các thiên thần xanh lam và vàng, cũng như nhóm trước được các thiên thần xanh lam và hồng hướng dẫn.
|
|
Back of them stand the still more advanced—the aspirants, probationers and disciples of the world. They work singly or in twos or threes and never in groups exceeding nine—the occult significance of these numbers being necessary to the success of their work. Great white and gold devas attend their labours.
|
Đứng phía sau họ là những người còn tiến bộ hơn—những người chí nguyện, dự bị đệ tử và đệ tử của thế giới. Họ làm việc đơn lẻ hoặc theo cặp đôi hay bộ ba, và không bao giờ trong các nhóm vượt quá chín người—ý nghĩa huyền bí của các con số này là cần thiết cho sự thành công của công việc họ. Các thiên thần lớn màu trắng và vàng phụ giúp những lao tác của họ.
|
|
Back again of these three groups stand the Masters and the devas of the formless levels—a Great Brotherhood, pledged to serve humanity.
|
Lại phía sau ba nhóm này là các Chân sư và các thiên thần của những cấp độ vô hình tướng—một Huynh Đệ Đoàn Vĩ Đại, đã nguyện phụng sự nhân loại.
|
|
Movements are being set on foot to transmute, if possible, the labours of destruction into constructive work. The time is critical, for a pause has come in the work of the destroyers. There is opportunity for the tide to turn and for the re-building of the body social.
|
Các phong trào đang được khởi sự để, nếu có thể, chuyển hoá những lao tác hủy diệt thành công việc xây dựng. Thời điểm đang nguy cấp, vì một khoảng dừng đã đến trong công việc của những kẻ hủy diệt. Có cơ hội để dòng triều xoay chuyển và để tái thiết cơ thể xã hội.
|
|
It is for this reason that each one of you needs to make a fresh dedication of himself to the work of the redemption. Personalities must be submerged. Aspirants must live harmlessly in thought and word and deed. In this way each one of you will provide a pure channel, will become an outpost for the consciousness of the Master and provide a centre of energy through which the Brotherhood can work.
|
Chính vì lý do này mà mỗi người trong các bạn cần thực hiện một sự hiến dâng mới của chính mình cho công việc cứu chuộc. Các phàm ngã phải được chìm xuống. Những người chí nguyện phải sống vô tổn hại trong tư tưởng, lời nói và hành động. Bằng cách này, mỗi người trong các bạn sẽ cung cấp một vận hà thanh khiết, sẽ trở thành một tiền đồn cho tâm thức của Chân sư và cung cấp một trung tâm năng lượng qua đó Huynh Đệ Đoàn có thể làm việc.
|
|
The prime problem of the aspirant is to dominate the emotional nature. Then he stands victor on the field of [355] Kurukshetra; the clouds have rolled away, and henceforth he can walk in the light. Let it here be remembered that this very freedom to walk in the light carries with it its own problems. You ask how this can be? Let me give one simple, yet (I think you will find) convincing argument.
|
Vấn đề chính yếu của người chí nguyện là chế ngự bản chất cảm xúc. Khi ấy y đứng như người chiến thắng trên chiến trường [355] Kurukshetra; mây đã tan đi, và từ đó về sau y có thể bước đi trong ánh sáng. Ở đây hãy nhớ rằng chính sự tự do được bước đi trong ánh sáng này mang theo những vấn đề riêng của nó. Các bạn hỏi điều này có thể như thế nào? Hãy để tôi đưa ra một lập luận đơn giản, nhưng tôi nghĩ các bạn sẽ thấy có sức thuyết phục.
|
|
When a man literally walks in the light of his soul and the clear light of the sun pours through him—revealing the Path, —it reveals at the same time the Plan. Simultaneously however, he becomes aware of the fact that the Plan is very far as yet from consummation. The dark becomes more truly apparent; the chaos and misery and failure of the world groups stand revealed; the filth and dust of the warring forces are noted, and the whole sorrow of the world bears down upon the astounded, yet illuminated, aspirant. Can he stand this pressure? Can he become indeed acquainted with grief and yet rejoice forever in the divine consciousness? Has he the ability to face what the light reveals and still go his way with serenity, sure of the ultimate triumph of good? Will he be overwhelmed by the surface evil and forget the heart of Love which beats behind all outer seeming? This situation should ever be remembered by the disciple, or he will be shattered by that which he has discovered.
|
Khi một người thật sự bước đi trong ánh sáng của linh hồn mình và ánh sáng trong trẻo của mặt trời tuôn qua y—mặc khải Đường Đạo—đồng thời nó cũng mặc khải Thiên Cơ. Tuy nhiên, cùng lúc ấy, y trở nên ý thức về sự kiện rằng Thiên Cơ vẫn còn rất xa mới hoàn tất. Bóng tối trở nên thật sự rõ ràng hơn; sự hỗn loạn, khốn khổ và thất bại của các nhóm thế giới hiện lộ; sự ô uế và bụi bặm của các mãnh lực giao chiến được ghi nhận, và toàn bộ nỗi buồn của thế giới đè nặng lên người chí nguyện kinh ngạc nhưng đã được soi sáng. Y có thể chịu được áp lực này không? Y có thể thật sự quen thuộc với đau khổ mà vẫn mãi vui mừng trong tâm thức thiêng liêng không? Y có khả năng đối diện với điều ánh sáng mặc khải mà vẫn đi con đường của mình với sự tĩnh lặng, chắc chắn về chiến thắng tối hậu của điều thiện không? Liệu y sẽ bị cái ác bề mặt áp đảo và quên mất trái tim Tình thương đang đập phía sau mọi sắc tướng bên ngoài không? Tình huống này đệ tử phải luôn ghi nhớ, nếu không y sẽ bị nghiền nát bởi điều y đã khám phá.
|
|
But with the advent of the light, he becomes aware of a new (for him) form of energy. He learns to work in a new field of opportunity. The realm of the mind opens up before him, and he discovers that he can differentiate between the emotional nature and the mental. He discovers also that the mind can be made to assume the position of the controller, and that the sentient forces respond with obedience to mental energies. “The light of reason” brings this about—light that is always present in man but which only becomes significant and potent when seen and known, either phenomenally or intuitionally.
|
Nhưng với sự xuất hiện của ánh sáng, y trở nên ý thức về một hình thức năng lượng mới đối với y. Y học làm việc trong một lĩnh vực cơ hội mới. Cõi của thể trí mở ra trước y, và y khám phá rằng y có thể phân biệt giữa bản chất cảm xúc và bản chất trí tuệ. Y cũng khám phá rằng thể trí có thể được khiến đảm nhận vị trí của người kiểm soát, và các mãnh lực cảm thọ đáp ứng bằng sự vâng phục đối với các năng lượng trí tuệ. “Ánh sáng của lý trí” đem điều này đến—ánh sáng luôn hiện diện trong con người nhưng chỉ trở nên có thâm nghĩa và mạnh mẽ khi được thấy và được biết, hoặc theo hiện tượng hoặc theo trực giác.
|
|
[356]
|
[356]
|
|
Much false teaching is going about these days in connection with the mind and the soul. It might be summed up in the teaching of one school which shall be nameless, as follows:
|
Ngày nay có nhiều giáo huấn sai lạc đang lưu hành liên quan đến thể trí và linh hồn. Nó có thể được tóm lược trong giáo huấn của một trường phái không cần nêu tên, như sau:
|
|
Nature is cruel and selective. She works by the Law of the survival of the fittest; in the process of selection, millions of lives are sacrificed and much birthing of forms comes to naught. Hence the achieving of soul life is a rare event. Few people have souls and only a few therefore possess immortality and go hence to their own place of power to return no more. The rest are lost, submerged and swallowed up in the general process of nature, and the human kingdom as a whole is a dead loss except for a few emerging and significant figures which the past and the present produce. They have achieved through the sacrifice of the many.
|
Thiên nhiên tàn nhẫn và có tính chọn lọc. Nàng hoạt động theo Định luật sinh tồn của kẻ thích nghi nhất; trong tiến trình chọn lọc, hàng triệu sự sống bị hy sinh và nhiều sự sinh ra của các hình tướng trở nên vô ích. Do đó, việc đạt được đời sống linh hồn là một biến cố hiếm hoi. Ít người có linh hồn, và vì vậy chỉ một số ít sở hữu sự bất tử và đi từ đây đến nơi quyền năng riêng của họ để không còn trở lại. Phần còn lại bị mất đi, bị chìm ngập và nuốt chửng trong tiến trình chung của thiên nhiên, và toàn thể giới nhân loại là một tổn thất hoàn toàn ngoại trừ một vài nhân vật đang xuất hiện và có thâm nghĩa mà quá khứ và hiện tại tạo ra. Họ đã đạt được thông qua sự hy sinh của số đông.
|
|
But the reaction of men themselves to this teaching is an adequate answer. The sense of immortality, the surety of an eternal future, the innate belief in God, the revelation of the light, the achieving of a wisdom which helps and aids is not the prerogative of the Senecas, of the St. Pauls, of the Akbars of the race. It is found (and sometimes in its purest form) in the humblest peasant. Words of wise counsel fall from the lips of the illiterate, and a knowledge of God and a belief in the soul’s immortality are discovered to be latent in the hearts of the most unlikely and oft of the most sinful. But when the highly evolved and the most intelligent of the race discover in themselves the divine Flame, and awaken the power of the supreme Controller, seated at the heart of their being, they are very apt to place themselves in a higher category than other people, and to classify those who do not have their mental grasp of the differentiations of the evolutionary development as differing so widely from them as not to deserve the name of Sons of God. They regard all not working in mental energy as lacking souls [357] and hence as lacking eternal persistence as individuals. This is only a glamour of the mind, is part of the great heresy of separateness, and indicates faintly the coming period wherein the mind will be as dominant and as misleading as is the sentient body at this time.
|
Nhưng phản ứng của chính con người đối với giáo huấn này là một câu trả lời đầy đủ. Ý thức về sự bất tử, niềm chắc chắn về một tương lai vĩnh cửu, niềm tin bẩm sinh vào Thượng đế, sự mặc khải của ánh sáng, việc đạt được một minh triết trợ giúp và nâng đỡ, không phải là đặc quyền của các Seneca, các Thánh Phao-lô, các Akbar của nhân loại. Nó được tìm thấy, và đôi khi trong hình thức tinh khiết nhất, nơi người nông dân khiêm hạ nhất. Những lời khuyên minh triết rơi từ môi người thất học, và tri thức về Thượng đế cùng niềm tin vào sự bất tử của linh hồn được phát hiện là tiềm tàng trong trái tim của những người ít ngờ nhất và thường là tội lỗi nhất. Nhưng khi những người tiến hoá cao và thông minh nhất của nhân loại khám phá trong chính mình Ngọn Lửa thiêng liêng, và đánh thức quyền năng của Đấng Kiểm Soát tối thượng ngự nơi trái tim bản thể họ, họ rất dễ đặt mình vào một phạm trù cao hơn những người khác, và phân loại những ai không có sự nắm bắt trí tuệ như họ về các biến phân của sự phát triển thăng thượng tiến hoá là khác biệt với họ đến mức không xứng đáng với danh hiệu Các Con của Thượng đế. Họ xem tất cả những ai không làm việc trong năng lượng trí tuệ là thiếu linh hồn [357] và do đó thiếu sự bền tồn vĩnh cửu như những cá nhân. Điều này chỉ là một ảo cảm của thể trí, là một phần của Đại Tà thuyết về sự chia rẽ, và chỉ ra một cách mờ nhạt thời kỳ sắp đến, khi thể trí sẽ thống trị và gây lầm lạc cũng như thể cảm thọ hiện nay.
|
|
Let us therefore study the types of mental energy with which the individual has to work and see how this great heresy of separateness and the “fallacy of repudiation”, as it is sometimes called, can be offset.
|
Vì vậy, chúng ta hãy nghiên cứu các loại năng lượng trí tuệ mà cá nhân phải làm việc với, và xem cách thức Đại Tà thuyết về sự chia rẽ này, cùng “sai lầm của sự phủ nhận”, như đôi khi được gọi, có thể được hóa giải.
|
|
One of the first things we have to remember as we consider these types of energy is that their trend and work can be grasped more easily in a larger sense in relation to humanity than can their effects in an individual use of mental energy. Only a few human beings are as yet consciously using this type of force and only a few can therefore understand what it really entails. Increasingly men will come, as units, into possession of their intellectual heritage but, numerically speaking, scarce one in ten thousand is utilising this inherent power and knowingly functioning in his mental body.
|
Một trong những điều đầu tiên chúng ta phải nhớ khi xem xét các loại năng lượng này là khuynh hướng và công việc của chúng có thể được nắm bắt dễ hơn theo nghĩa rộng trong liên hệ với nhân loại, hơn là các tác động của chúng trong việc cá nhân sử dụng năng lượng trí tuệ. Chỉ một số ít con người hiện nay đang sử dụng loại mãnh lực này một cách có ý thức, và vì vậy chỉ một số ít có thể thấu hiểu nó thật sự bao hàm điều gì. Ngày càng nhiều người, với tư cách các đơn vị, sẽ đi vào quyền sở hữu di sản trí tuệ của mình, nhưng xét về số lượng, hiếm có một người trong mười ngàn đang sử dụng quyền năng cố hữu này và hoạt động một cách biết rõ trong thể trí của mình.
|
|
When however we look at humanity as a whole and cast our eyes back over the past racial development, we can see how mental energy has had a most definite effect and has produced outstanding results. The use of two factors differentiates man from the animal, whether he uses them consciously or unconsciously. Both are latent in the animal but man is the only entity in the three worlds who can consciously reap benefit from them. One of these factors is pain, and the other is the faculty of discrimination. Through the means of pain and a subsequent process of analysis, of relation plus memory and visualisation, man has learnt what to avoid and what to cultivate. This works in the realm of physical plane happenings and of sensory experience. Through discrimination as to ideas and as to thought currents, man has learnt to decide upon what to base his activities in all departments [358] of human affairs, even though he has but an imperfect grasp as to the true nature of ideas and his application of the truths sensed is quite imperfect. That he often chooses unwisely, that the ideas governing group conduct are not of the highest, that public opinion is proverbially moulded by personal and selfish interests may be only too sadly true. Nevertheless—through pain and learning to utilise the power of choice in the realm of ideas—man is steadily forging ahead towards full liberty and full control of the earth, which it is his right to inherit. The Old Commentary says in relation to these two characteristics of man something that conveys much of beauty, couched in symbolic language. The phrases run as follows and it must be borne in mind whilst pondering upon them that water symbolises sentiency or astral reaction, and fire is the symbol of the mentality.
|
Tuy nhiên, khi chúng ta nhìn nhân loại như một toàn thể và ngoái mắt nhìn lại sự phát triển của nhân loại trong quá khứ, chúng ta có thể thấy năng lượng trí tuệ đã có một tác động rất rõ rệt và đã tạo ra những kết quả nổi bật. Việc sử dụng hai yếu tố phân biệt con người với con vật, dù y sử dụng chúng một cách có ý thức hay vô thức. Cả hai đều tiềm tàng trong con vật, nhưng con người là thực thể duy nhất trong ba cõi thấp có thể một cách có ý thức gặt hái lợi ích từ chúng. Một trong hai yếu tố này là đau khổ, và yếu tố kia là năng lực phân biện. Thông qua phương tiện đau khổ và một tiến trình tiếp theo gồm phân tích, liên hệ cộng với ký ức và sự hình dung, con người đã học điều gì phải tránh và điều gì phải vun trồng. Điều này hoạt động trong phạm vi các biến cố trên cõi hồng trần và kinh nghiệm giác quan. Thông qua sự phân biện về các ý tưởng và các dòng tư tưởng, con người đã học cách quyết định điều gì làm nền tảng cho các hoạt động của mình trong mọi ngành [358] của những sự vụ nhân loại, dù y chỉ có sự nắm bắt chưa hoàn hảo về bản chất thật của các ý tưởng và việc y áp dụng các chân lý đã cảm nhận thì khá bất toàn. Việc y thường chọn lựa thiếu minh triết, việc các ý tưởng chi phối hành vi nhóm không phải là những ý tưởng cao nhất, việc dư luận quần chúng thường được uốn nắn bởi các lợi ích cá nhân và ích kỷ—tất cả điều này có thể chỉ quá buồn thay là đúng. Tuy nhiên—thông qua đau khổ và việc học sử dụng quyền năng chọn lựa trong cõi của các ý tưởng—con người đang đều đặn rèn đường tiến tới tự do trọn vẹn và sự kiểm soát trọn vẹn Trái Đất, điều mà y có quyền thừa hưởng. Cổ Luận nói về hai đặc tính này của con người bằng những lời truyền đạt nhiều vẻ đẹp, được diễn đạt trong ngôn ngữ biểu tượng. Các câu như sau, và khi suy ngẫm về chúng, cần ghi nhớ rằng nước tượng trưng cho cảm thọ hay phản ứng cảm dục, còn lửa là biểu tượng của trí tuệ.
|
|
“The assuaging waters cool. They slowly bring relief, abstracting form from all that can be touched. The quivering fever heat of long repressed desire yields to the cooling draught. Water and pain negate each other. Long is the process of the cooling draught.
|
“Những dòng nước xoa dịu làm mát. Chúng chậm rãi đem lại sự nhẹ nhõm, rút hình tướng ra khỏi mọi điều có thể được chạm đến. Cơn sốt run rẩy của ham muốn bị kìm nén lâu ngày nhường chỗ cho thức uống làm mát. Nước và đau khổ phủ định lẫn nhau. Tiến trình của thức uống làm mát thì dài lâu.
|
|
“The burning fire releases all that blocks the way of life. Bliss comes and follows after fire, as fire upon the waters. Water and fire together blend and cause the great Illusion. Fog they produce and mist and steam and noise, veiling the Light, hiding the Truth and shutting out the Sun.
|
“Ngọn lửa thiêu đốt giải phóng mọi điều chặn đường sự sống. Chí phúc đến và theo sau lửa, như lửa trên nước. Nước và lửa cùng hòa trộn và gây nên đại Ảo tưởng. Chúng tạo ra sương mù, hơi mù, hơi nước và tiếng động, che phủ Ánh sáng, giấu kín Chân lý và ngăn khuất Mặt trời.
|
|
“The fire burns fiercely. Pain and the waters disappear. Cold, heat, the light of day, the radiance of the rising sun and perfect knowledge of the Truth appear.
|
“Ngọn lửa cháy dữ dội. Đau khổ và nước biến mất. Lạnh, nóng, ánh sáng ban ngày, vẻ rạng rỡ của mặt trời mọc và tri thức hoàn hảo về Chân lý xuất hiện.
|
|
“This is the path for all who seek the light. First form, and all its longing. Then pain. Then the assuaging waters and the appearance of a little fire. The fire grows, and heat is then active within the tiny sphere and does its fiery work. Moisture likewise is seen; dense fog, and to the pain is added sad bewilderment, for they who use the fire of mind during the early stage are lost within a light illusory.
|
“Đây là con đường cho tất cả những ai tìm kiếm ánh sáng. Trước hết là hình tướng, và mọi khao khát của nó. Rồi đau khổ. Rồi những dòng nước xoa dịu và sự xuất hiện của một ngọn lửa nhỏ. Ngọn lửa lớn dần, và sức nóng khi ấy hoạt động trong khối cầu nhỏ bé và thực hiện công việc bốc lửa của nó. Độ ẩm cũng được thấy; sương mù đậm đặc, và thêm vào đau khổ là sự hoang mang buồn bã, vì những ai sử dụng lửa của trí tuệ trong giai đoạn đầu bị lạc trong một ánh sáng hư ảo.
|
|
“Fierce grows the heat; next comes the loss of power to suffer. When this stage has been outgrown, there comes [359] the shining of the unobstructed sun and the clear bright light of truth. This is the path back to the hidden Centre.
|
“Sức nóng trở nên dữ dội; tiếp đến là sự mất đi năng lực chịu đau khổ. Khi giai đoạn này đã được vượt qua, bấy giờ [359] có sự chiếu rạng của mặt trời không bị che khuất và ánh sáng trong trẻo, rực rỡ của chân lý. Đây là con đường trở về Trung Tâm ẩn tàng.
|
|
“Use pain. Call for the fire, oh, pilgrim in a strange and foreign land. The waters wash away the mud and slime of nature’s growth. The fires burn the hindering forms which seek to hold the pilgrim back and so they bring release. The living waters, as a river, sweep the pilgrim to the Father’s Heart. The fires destroy the veil hiding the Father’s Face.”
|
“Hãy sử dụng đau khổ. Hãy kêu gọi lửa, hỡi người hành hương trong một vùng đất xa lạ và dị quốc. Những dòng nước rửa sạch bùn và nhớt của sự tăng trưởng trong thiên nhiên. Những ngọn lửa thiêu rụi các hình tướng cản trở tìm cách giữ người hành hương lại, và như thế chúng đem lại giải thoát. Những dòng nước sống động, như một con sông, cuốn người hành hương đến Trái Tim của Cha. Những ngọn lửa hủy diệt bức màn che giấu Thánh Nhan của Cha.”
|
|
Perhaps one of the first things that every student has to learn, as he seeks to grasp the nature and use of mind, is that public opinion has to give place to individual consciousness of right, and that then that individual consciousness has to be so employed and concentrated that it is seen in its right proportion as that living germ which can expand into the divine flower of the Son of Mind, the Manasaputra, and as the thread which leads back into the realm of the Universal Mind. This thread and this consciousness, when followed, will lead the individual into the Council Chamber wherein the plan and the purpose of the great Life will stand revealed, and wherein all human selfishness and self-seeking fade out in the clear light of the Will of God. Through right understanding and right use and control of the astral nature and a comprehension of the nature of the sentient consciousness, man can penetrate into the very heart of God Himself and know past all controversy that all is well, for all is Love. Through right use of the mind, and through correct understanding of the nature of the intellect, man can enter into the mind of God and know that all is well, for all is planned, and divine purpose is steadily working out its objectives.
|
Có lẽ một trong những điều đầu tiên mà mọi đạo sinh phải học, khi y tìm cách nắm bắt bản chất và cách sử dụng thể trí, là dư luận quần chúng phải nhường chỗ cho tâm thức cá nhân về điều đúng, và rồi tâm thức cá nhân ấy phải được sử dụng và tập trung đến mức nó được thấy trong tỉ lệ đúng của nó như mầm sống có thể mở rộng thành bông hoa thiêng liêng của Con của Trí Tuệ, Manasaputra, và như sợi dây dẫn trở về cõi của Vũ Trụ Trí. Sợi dây này và tâm thức này, khi được theo, sẽ dẫn cá nhân vào Phòng Hội Đồng, nơi Thiên Cơ và mục đích của Sự sống vĩ đại sẽ hiện lộ, và nơi mọi sự ích kỷ cùng tự lợi của con người phai biến trong ánh sáng trong trẻo của Ý Chí của Thượng Đế. Thông qua sự thấu hiểu đúng, sự sử dụng và kiểm soát đúng bản chất cảm dục, cùng một sự lĩnh hội bản chất của tâm thức cảm thọ, con người có thể thâm nhập vào chính trái tim của Thượng đế và biết, vượt ngoài mọi tranh cãi, rằng tất cả đều tốt đẹp, vì tất cả đều là Tình thương. Thông qua việc sử dụng đúng thể trí, và thông qua sự thấu hiểu đúng bản chất của trí năng, con người có thể đi vào trí của Thượng đế và biết rằng tất cả đều tốt đẹp, vì tất cả đều đã được hoạch định, và Thiên Ý đang đều đặn thực hiện các mục tiêu của nó.
|
|
The work of the Atlantean Adepts was to impress upon the world consciousness the fact that God is Love. This is a symbolic expression of the truth as is the use of the word God. The work of the Aryan Adepts is to impress upon the world consciousness that God is Will. To do [360] this for the human family, They work with the intellect so as to bring it into control, to subordinate other forms to the mind and through the mind to reveal to man the vision of what is and what will be. Man is therefore brought into line with the esoteric head centre of the one Life. In the animal kingdom, through the development of sentiency and its allied unfoldment through pain, They are bringing those types of forms into line with the heart centre in Nature. This is a phrase conveying a truth which cannot be more clearly expressed until man has become more inclusive in his consciousness. Through colour in the vegetable Kingdom those forms of divine manifestation are also brought into vibratory contact with that centre of force in Nature which is analogous to the throat centre in man.
|
Công việc của các Chân sư Atlantis là in sâu vào tâm thức thế giới sự kiện rằng Thượng đế là Tình thương. Đây là một cách diễn đạt biểu tượng của chân lý, cũng như việc dùng từ Thượng đế. Công việc của các Chân sư Arya là in sâu vào tâm thức thế giới rằng Thượng đế là Ý chí. Để làm [360] điều này cho gia đình nhân loại, Các Ngài làm việc với trí năng để đưa nó vào sự kiểm soát, để đặt các hình thức khác dưới quyền thể trí, và thông qua thể trí mặc khải cho con người tầm nhìn về điều đang là và điều sẽ là. Do đó con người được đưa vào sự chỉnh hợp với trung tâm đầu huyền bí của Sự sống duy nhất. Trong giới động vật, thông qua sự phát triển cảm thọ và sự khai mở liên hệ của nó qua đau khổ, Các Ngài đang đưa những loại hình tướng ấy vào sự chỉnh hợp với trung tâm tim trong Thiên nhiên. Đây là một cụm từ truyền đạt một chân lý không thể được diễn tả rõ ràng hơn cho đến khi con người trở nên bao gồm hơn trong tâm thức của mình. Thông qua màu sắc trong giới thực vật, những hình tướng biểu lộ thiêng liêng ấy cũng được đưa vào tiếp xúc rung động với trung tâm mãnh lực trong Thiên nhiên tương ứng với trung tâm cổ họng nơi con người.
|
|
In using these words I refer primarily to the Life which is expressing itself through our planet, to our planetary Logos, but the idea can (needless to say) be progressed to include the great Life of which our planetary Logos is but a reflection and an expression. Man, the brain of nature; the animals, the expression of the heart; the vegetable world, the expression of the creative force or of the throat centre; these three kingdoms in nature forming, in a peculiar manner, correspondences to the three higher centres in man, as the three kingdoms on the involutionary arc correspond to the three lower centres, and the mineral kingdom—abstruse as the idea may seem to those of you who have not the consciousness of the life-aspect—corresponding to the solar plexus, the great clearing house between that which is above and that which is below.
|
Khi dùng những lời này, tôi chủ yếu nói đến Sự sống đang biểu lộ chính nó qua hành tinh của chúng ta, đến Hành Tinh Thượng đế của chúng ta; nhưng ý tưởng này, dĩ nhiên, có thể được mở rộng để bao gồm Sự sống vĩ đại mà Hành Tinh Thượng đế của chúng ta chỉ là một phản ảnh và một biểu hiện. Con người, bộ não của thiên nhiên; các loài vật, biểu hiện của trái tim; thế giới thực vật, biểu hiện của mãnh lực sáng tạo hay của trung tâm cổ họng; ba giới này trong thiên nhiên, theo một cách đặc biệt, tạo thành các tương ứng với ba trung tâm cao nơi con người, cũng như ba giới trên cung giáng hạ tiến hoá tương ứng với ba trung tâm thấp, và giới kim thạch—dù ý tưởng này có thể có vẻ sâu kín đối với những ai trong các bạn chưa có tâm thức về phương diện sự sống—tương ứng với tùng thái dương, trạm trung chuyển lớn giữa cái ở trên và cái ở dưới.
|
|
These analogies change as time progresses. In Lemurian days, viewing it as a kingdom in nature, humanity expressed the solar plexus aspect, whilst the animal kingdom stood for the sacral centre, and the centre at the base of the spine was symbolised by the vegetable [361] kingdom. In the middle of the Atlantean period, when certain great changes and experiments were wrought, a shift in the entire process took place; certain egos came in, as you know, as related in the Secret Doctrine and in a Treatise on Cosmic Fire, and a tremendous stepping forward became possible through their efforts. The chitta or mind-stuff became more vibrant and now we have the period of its intensest activity in the concrete sense.
|
Những tương đồng này thay đổi theo thời gian. Vào thời Lemuria, xét như một giới trong thiên nhiên, nhân loại biểu hiện phương diện tùng thái dương, trong khi giới động vật tượng trưng cho trung tâm xương cùng, và trung tâm ở đáy cột sống được biểu tượng bằng giới thực vật [361]. Vào giữa thời kỳ Atlantis, khi một số thay đổi và thí nghiệm lớn được thực hiện, một sự chuyển dịch trong toàn bộ tiến trình đã diễn ra; như các bạn biết, một số chân ngã đã nhập vào, như được kể trong Giáo Lý Bí Nhiệm và trong Luận về Lửa Vũ Trụ, và nhờ nỗ lực của họ, một bước tiến vượt bậc đã trở nên khả hữu. Chitta, hay chất liệu trí tuệ, trở nên rung động mạnh hơn, và hiện nay chúng ta đang ở thời kỳ hoạt động mãnh liệt nhất của nó theo nghĩa cụ thể.
|
|
We are told in the esoteric teaching that all three aspects of Divinity are themselves triple, and hence we can divide the energy of mind as far as humanity is concerned into three aspects also. We have therefore:
|
Trong giáo huấn huyền bí, chúng ta được dạy rằng cả ba phương diện của thiên tính tự thân đều là tam phân, và do đó, xét riêng đối với nhân loại, chúng ta cũng có thể chia năng lượng của trí tuệ thành ba phương diện. Vì vậy, chúng ta có:
|
|
1. The lower concrete mind, called the chitta or mind-stuff in the Yoga Sutras of Patanjali.
|
1. Hạ trí cụ thể, được gọi là chitta hay chất liệu trí tuệ trong Kinh Du-già của Patanjali.
|
|
2. The abstract mind, or that aspect of the mind which is related to the world of ideas.
|
2. Trí trừu tượng, hay phương diện của trí tuệ liên hệ với thế giới của các ý tưởng.
|
|
3. The intuition or pure reason which is for man the highest aspect of the mentality.
|
3. Trực giác hay lý trí thuần khiết, vốn đối với con người là phương diện cao nhất của trí năng.
|
|
These three find their overshadowing or enveloping field of expression in the third aspect of the Logos, which we call the Universal Mind, the active intelligent Deity. The lines of force from these three lower aspects lead back (if one may use so inadequate an expression) on to the third plane, as the astral lines of force lead back to the second or monadic plane, though as far as man’s consciousness is concerned they only lead back to the buddhic or intuitional plane.
|
Ba phương diện này tìm thấy lĩnh vực biểu hiện được phủ bóng hay bao bọc của chúng trong phương diện thứ ba của Thượng đế, mà chúng ta gọi là Vũ Trụ Trí, Thượng đế hoạt động thông tuệ. Các đường mãnh lực từ ba phương diện thấp này dẫn trở về — nếu có thể dùng một cách diễn đạt bất toàn như thế — đến cõi thứ ba, cũng như các đường mãnh lực cảm dục dẫn trở về cõi thứ hai hay cõi chân thần, mặc dù xét theo tâm thức con người, chúng chỉ dẫn trở về cõi Bồ đề hay cõi trực giác.
|
|
It is interesting to note that just as the Monad, impelled by desire, produces that form of life which we call the personality, so the mind aspect, as part of the purpose working out through the Universal Mind, in its form produces that manifestation which we call a Manasaputra, the great Son of Mind on the mental plane. Hence it is the mind principle in humanity which brings into [362] manifestation the egoic body, the causal vehicle, the karana sarira, the twelve-petalled lotus. We are of course talking entirely in terms of the form aspect here. The reason for this lies back on the cosmic planes, whereon the planetary Logos has His life. From the cosmic astral plane comes the impulse which produces form existence and concrete expression—for all form-taking is the result of desire. From the cosmic mental plane comes the will-to-be in time and space, which produces the seven groups of egoic lives and the third outpouring.
|
Điều đáng chú ý là cũng như chân thần, bị thúc đẩy bởi dục vọng, tạo ra hình thức sự sống mà chúng ta gọi là phàm ngã, thì phương diện trí tuệ, như một phần của mục đích đang vận hành qua Vũ Trụ Trí, trong hình tướng của nó tạo ra sự biểu hiện mà chúng ta gọi là một Con của Trí Tuệ vĩ đại trên cõi trí. Do đó, chính nguyên khí trí tuệ trong nhân loại đưa vào [362] biểu hiện thể chân ngã, hiện thể nguyên nhân, thể nguyên nhân, hoa sen mười hai cánh. Dĩ nhiên, ở đây chúng ta hoàn toàn đang nói theo phương diện hình tướng. Lý do của điều này nằm sâu trên các cõi vũ trụ, nơi Hành Tinh Thượng đế có sự sống của Ngài. Từ cõi cảm dục vũ trụ phát ra xung lực tạo nên sự hiện hữu trong hình tướng và sự biểu hiện cụ thể — vì mọi sự khoác lấy hình tướng đều là kết quả của dục vọng. Từ cõi trí vũ trụ phát ra ý chí-hiện tồn trong thời gian và không gian, tạo nên bảy nhóm sự sống chân ngã và lần tuôn đổ thứ ba.
|
|
It will be seen then inferentially, how the right use of energy by the initiate puts him en rapport not only with the higher planes of the solar system but also with those cosmic planes whereon our Logos has His Personality aspect, using these words in symbolic fashion. The right use of physical energy by the initiate gives him the ‘freedom’ of the cosmic physical plane. The right use of astral energy gives him power on the cosmic astral, and the correct use of mental energy gives him entrance on to the cosmic mental. Inferentially then, the three higher centres in man when functioning perfectly play their part in this work of carrying energies from these exalted spheres into the field of activity of the initiate and of being doorways into realms hitherto closed to him.
|
Do đó, có thể suy ra rằng việc sử dụng đúng năng lượng của điểm đạo đồ đặt y trong mối liên hệ hòa điệu không chỉ với các cõi cao hơn của hệ mặt trời, mà còn với những cõi vũ trụ nơi Thượng đế của chúng ta có phương diện Phàm ngã của Ngài, dùng những từ này theo nghĩa biểu tượng. Việc sử dụng đúng năng lượng hồng trần của điểm đạo đồ đem lại cho y “quyền tự do” trên cõi hồng trần vũ trụ. Việc sử dụng đúng năng lượng cảm dục đem lại cho y quyền năng trên cõi cảm dục vũ trụ, và việc sử dụng đúng năng lượng trí tuệ cho y lối vào cõi trí vũ trụ. Do đó, có thể suy ra rằng ba trung tâm cao hơn trong con người, khi hoạt động hoàn hảo, góp phần vào công việc này: chuyển các năng lượng từ những khối cầu cao cả ấy vào lĩnh vực hoạt động của điểm đạo đồ, và trở thành những cửa ngõ dẫn vào các cảnh giới trước kia còn khép kín đối với y.
|
|
Each centre or chakra is composed of three concentric interblending whorls or wheels which in the spiritual man upon the probationary path move slowly in one direction, but gradually quicken their activity as he nears the portal of the Path of Initiation. On initiation, the centre of the chakra (a point of latent fire) is touched, and the rotation becomes intensified, and the activity, fourth dimensional. It is difficult to express these ideas in words that can be comprehended by the uninitiated, but the effect could be described as a changing from a measured turn to one of a scintillating radiation, a ‘wheel [363] turning upon itself’, as the ancient Scriptures express it. Hence, when by purification, conformity to rule, and an aspiration that brooks no hindrance and that ceases not for pain, the aspirant has caused his centres to pulsate and to rotate, then—and only then—can the Master lead him into the Presence of the Hierophant. The Initiator then, with full knowledge of the disciple’s ray and of his sub-ray, both egoic and personal, and recognising any karma that still may cling, touches the centre or centres which are in line for vivification, and the hidden fire will then rush up and become focalised. Remember always that in the vivification of a centre there is always a corresponding vitalisation of the analogous head centre, till eventually the seven centres in the body and the seven centres in the head rotate in unison. Remember also that just as the four minor rays pass into the three major rays, so the four minor centres carry on the correspondence and pass into pralaya, finding their focal point in the throat centre. Thus you will have the three centres—head, heart and throat—carrying the inner fire, with the three major head centres vibrating in unison also.
|
Mỗi trung tâm hay luân xa được cấu thành bởi ba vòng xoáy hay bánh xe đồng tâm đan hòa vào nhau; nơi con người tinh thần trên Con Đường Dự Bị, chúng chuyển động chậm rãi theo một hướng, nhưng dần dần gia tăng hoạt động khi y đến gần cổng của Con Đường Điểm Đạo. Khi điểm đạo, trung tâm của luân xa — một điểm lửa tiềm tàng — được chạm đến, và sự xoay chuyển trở nên mãnh liệt hơn, còn hoạt động thì mang tính chiều thứ tư. Thật khó diễn đạt những ý tưởng này bằng lời sao cho người chưa được điểm đạo có thể hiểu được, nhưng hiệu quả có thể được mô tả như sự chuyển đổi từ một vòng quay đều đặn sang một sự tỏa chiếu lấp lánh, một “bánh xe [363] tự xoay quanh chính nó”, như các Kinh văn cổ diễn tả. Vì vậy, khi nhờ thanh luyện, tuân hợp quy luật, và một khát vọng không chấp nhận trở ngại nào, không ngừng lại trước đau khổ, người chí nguyện đã khiến các trung tâm của mình rung nhịp và xoay chuyển, thì khi ấy — và chỉ khi ấy — Chân sư mới có thể dẫn y vào sự hiện diện của Đấng Chủ Lễ Điểm Đạo. Bấy giờ, Đấng Điểm đạo, với tri thức đầy đủ về cung và cung phụ của đệ tử, cả chân ngã lẫn phàm ngã, và nhận biết bất kỳ nghiệp quả nào còn có thể bám víu, chạm vào trung tâm hay các trung tâm đang đến kỳ được tiếp sinh lực, và khi ấy ngọn lửa ẩn tàng sẽ vọt lên và trở nên tập trung. Hãy luôn nhớ rằng trong sự tiếp sinh lực cho một trung tâm, luôn có một sự tiếp sinh lực tương ứng cho trung tâm đầu tương tự, cho đến cuối cùng bảy trung tâm trong thể và bảy trung tâm trong đầu cùng xoay chuyển đồng bộ. Cũng hãy nhớ rằng cũng như bốn cung phụ hòa nhập vào ba cung chính, thì bốn trung tâm phụ cũng tiếp nối sự tương ứng ấy và đi vào Giai kỳ qui nguyên, tìm thấy điểm tập trung của chúng nơi trung tâm cổ họng. Như vậy, các bạn sẽ có ba trung tâm — đầu, tim và cổ họng — mang ngọn lửa bên trong, đồng thời ba trung tâm chính trong đầu cũng rung động đồng bộ.
|
|
I realise that this is all intricate and technical. It has its place and value however, and much that here is communicated will find its usefulness when you are all passed over to the other side and a fresh band of aspirants will follow in your footsteps. The training of the mental body has a value, and many evade such technicalities, hiding behind an emphasis upon the life side of truth, all due to an inherent mental laziness. This that you now receive is but the A. B. C. of esotericism. Waste not time however in too detailed deduction. All that is now possible is a broad general outline, patient reserve, a willingness to recognise physical brain limitations and the accepting of an hypothesis. Believe these hypotheses possible unless your intuition revolts or they are contradicted [364] by past teaching given by other of the Lodge’s Messengers. I do not dogmatise to you. I only in these instructions give you certain information, —the correctness of which I leave the future to demonstrate. I simply ask that you make record and in the coming years much that may now seem peculiar or mayhap even contradictory will be elucidated, slowly unravelled, and more easily comprehended. A little knowledge leads to much confusion unless laid aside for future use when the years of instruction have increased the store.
|
Tôi nhận ra rằng tất cả điều này đều phức tạp và kỹ thuật. Tuy nhiên, nó có vị trí và giá trị của nó, và nhiều điều được truyền đạt ở đây sẽ tỏ ra hữu ích khi tất cả các bạn đã chuyển sang phía bên kia và một đoàn người chí nguyện mới sẽ theo dấu chân các bạn. Việc rèn luyện thể trí có giá trị, và nhiều người lảng tránh những chi tiết kỹ thuật như thế, ẩn mình sau sự nhấn mạnh vào phương diện sự sống của chân lý, tất cả đều do một sự lười biếng trí tuệ cố hữu. Điều các bạn đang nhận hiện nay chỉ là phần vỡ lòng của huyền bí học. Tuy nhiên, đừng phí thời gian vào sự suy diễn quá chi tiết. Tất cả những gì hiện nay có thể làm là một phác thảo tổng quát rộng rãi, sự dè dặt kiên nhẫn, thiện chí nhận ra các giới hạn của bộ não hồng trần và sự chấp nhận một giả thuyết. Hãy tin rằng các giả thuyết này có thể đúng, trừ khi trực giác của các bạn phản kháng hoặc chúng mâu thuẫn [364] với giáo huấn trước đây do các Sứ giả khác của Thánh đoàn trao truyền. Tôi không áp đặt giáo điều lên các bạn. Trong các huấn thị này, tôi chỉ trao cho các bạn một số thông tin, mà tính chính xác của nó tôi để tương lai chứng minh. Tôi chỉ yêu cầu các bạn ghi nhận, và trong những năm tới, nhiều điều hiện nay có thể có vẻ kỳ lạ hoặc có lẽ thậm chí mâu thuẫn sẽ được làm sáng tỏ, dần dần được tháo gỡ, và được thấu hiểu dễ dàng hơn. Một ít tri thức sẽ dẫn đến nhiều rối rắm nếu không được gác lại để dùng về sau, khi những năm tháng huấn luyện đã làm tăng thêm kho dự trữ.
|
|
To return to our theme: —The heart centre in man opens the door into what is called “the heart of the Sun.” The throat centre opens the way into full understanding of the path of the physical Sun and all true astrologers must eventually have that centre functioning. The head centre opens the way to the central spiritual Sun, each passing, via the planetary correspondence, to one of the cosmic planes.
|
Trở lại chủ đề của chúng ta: Trung tâm tim trong con người mở cánh cửa vào cái được gọi là “trái tim của Mặt Trời”. Trung tâm cổ họng mở đường vào sự thấu hiểu trọn vẹn về con đường của Mặt Trời hồng trần, và mọi nhà chiêm tinh chân chính cuối cùng phải có trung tâm ấy hoạt động. Trung tâm đầu mở đường đến Mặt trời Tinh thần Trung Ương, mỗi trung tâm đi qua sự tương ứng hành tinh để đến một trong các cõi vũ trụ.
|
|
Thus we have a summation of technicalities, and of facts, which are (under the Law of Analogy) of purely academic interest and no more. Even those of us who are initiate know practically nothing of the cosmic planes beyond the cosmic physical. Our consciousness is only beginning to be solar, and we are labouring in our small measure to overcome those planetary limitations which hold us back from solar knowledge and life. For aspirants who have not even a knowledge of what planetary consciousness signifies, the above information has only one value and that is, that it emphasises the synthetic nature of the great plan and the fact that the smallest unit is an integral part of the whole. It enforces the idea that energy is a life fluid circulating throughout the entire body of the Logos, and vivifying therefore even the tiniest atom in that whole. It is valuable to endeavour to grasp the picture and to vision the wonder of what is transpiring. It is waste of time, nevertheless, to [365] ponder upon the cosmic astral plane, for instance, when even the plane of the ego (the fifth subplane of the cosmic physical plane, counting from above downwards) is as yet inaccessible to the average man and is the goal for all his aspiration and meditation.
|
Như vậy, chúng ta có một sự tổng kết các chi tiết kỹ thuật và các sự kiện, vốn — dưới định luật tương đồng — chỉ có giá trị học thuật thuần túy, không hơn. Ngay cả những người trong chúng tôi đã được điểm đạo cũng hầu như không biết gì về các cõi vũ trụ vượt ngoài cõi hồng trần vũ trụ. Tâm thức của chúng tôi chỉ mới bắt đầu trở nên thái dương, và chúng tôi đang nỗ lực trong mức độ nhỏ bé của mình để vượt qua những giới hạn hành tinh đang cản trở chúng tôi khỏi tri thức và sự sống thái dương. Đối với những người chí nguyện thậm chí còn chưa biết tâm thức hành tinh hàm ý điều gì, thông tin trên chỉ có một giá trị: nó nhấn mạnh bản chất tổng hợp của Thiên Cơ vĩ đại và sự kiện rằng đơn vị nhỏ nhất là một phần không thể tách rời của toàn thể. Nó củng cố ý tưởng rằng năng lượng là một lưu chất sự sống lưu chuyển khắp toàn bộ thể của Thượng đế, và do đó tiếp sinh lực ngay cả cho nguyên tử nhỏ bé nhất trong toàn thể ấy. Thật có giá trị khi cố gắng nắm bắt bức tranh và hình dung điều kỳ diệu của những gì đang diễn ra. Tuy nhiên, sẽ là phí thời gian khi [365] suy ngẫm về cõi cảm dục vũ trụ chẳng hạn, trong khi ngay cả cõi của chân ngã — cõi phụ thứ năm của cõi hồng trần vũ trụ, tính từ trên xuống — hiện vẫn chưa thể tiếp cận đối với con người trung bình, và là mục tiêu của mọi khát vọng cùng tham thiền của y.
|
|
For man, therefore, the Universal Mind can best be grasped as it expresses itself through what we call the concrete mind, the abstract mind, and the intuition or pure reason.
|
Do đó, đối với con người, Vũ Trụ Trí có thể được nắm bắt tốt nhất khi nó biểu hiện qua cái chúng ta gọi là trí cụ thể, trí trừu tượng, và trực giác hay lý trí thuần khiết.
|
|
The concrete mind is the form building faculty. Thoughts are things. The abstract mind is the pattern building faculty, or the mind which works with the blue prints upon which the forms are modelled. The intuition or pure reason is the faculty which enables man to enter into contact with the Universal Mind and grasp the plan synthetically, to seize upon divine Ideas or isolate some fundamental and pure truth.
|
Trí cụ thể là năng lực kiến tạo hình tướng. Tư tưởng là sự vật. Trí trừu tượng là năng lực kiến tạo mô hình, hay trí tuệ làm việc với các bản thiết kế mà theo đó các hình tướng được tạo mẫu. Trực giác hay lý trí thuần khiết là năng lực giúp con người tiếp xúc với Vũ Trụ Trí và nắm bắt Thiên Cơ một cách tổng hợp, nắm lấy các Ý tưởng thiêng liêng hoặc tách ra một chân lý căn bản và thuần khiết nào đó.
|
|
The goal of all the work of an aspirant is to understand those aspects of the mind with which he has to learn to work. His work therefore might be summed up as follows:
|
Mục tiêu của toàn bộ công việc của một người chí nguyện là thấu hiểu những phương diện của trí tuệ mà y phải học cách làm việc với chúng. Vì vậy, công việc của y có thể được tóm lược như sau:
|
|
1. He has to learn to think; to discover that he has an apparatus which is called the mind and to uncover its faculties and powers. These have been well analysed for us in the first two books of the Yoga Sutras of Patanjali.
|
1. Y phải học suy nghĩ; khám phá rằng y có một bộ máy được gọi là thể trí, và phát hiện các năng lực cùng quyền năng của nó. Những điều này đã được phân tích kỹ cho chúng ta trong hai quyển đầu của Kinh Du-già của Patanjali.
|
|
2. He has to learn next to get back of his thought processes and form building propensities and discover the ideas which underlie the divine thought-form, the world process, and so learn to work in collaboration with the plan and subordinate his own thought-form building to these ideas. He has to learn to penetrate into the world of these divine ideas and to study the “pattern of things in the Heavens” as it is called in the Bible. He [366] must begin to work with the blue prints upon which all that is, is modelled and moulded. He becomes then a student-symbolist, and from being an idolater he becomes a divine idealist. I use these words in their true sense and connotation.
|
2. Kế đó, y phải học cách đi vào phía sau các tiến trình tư tưởng và các khuynh hướng kiến tạo hình tướng của mình, để khám phá những ý tưởng nằm dưới hình tư tưởng thiêng liêng, tiến trình thế giới, và nhờ vậy học cách làm việc cộng tác với Thiên Cơ, đồng thời đặt việc kiến tạo hình tư tưởng riêng của mình dưới sự chi phối của những ý tưởng ấy. Y phải học cách thâm nhập vào thế giới của các ý tưởng thiêng liêng này và nghiên cứu “mô hình của vạn vật trên các tầng trời”, như được gọi trong Kinh Thánh. Y [366] phải bắt đầu làm việc với các bản thiết kế mà theo đó mọi sự hiện hữu đều được tạo mẫu và khuôn đúc. Khi ấy, y trở thành một đạo sinh biểu tượng học, và từ một kẻ thờ ngẫu tượng, y trở thành một nhà lý tưởng thiêng liêng. Tôi dùng những từ này theo ý nghĩa và hàm ý chân thật của chúng.
|
|
3. From that developed idealism, he must progress even deeper still, until he enters the realm of pure intuition. He can then tap truth at its source. He enters into the mind of God Himself. He intuits as well as idealises and is sensitive to divine thoughts. They fertilise his mind. He calls these intuitions later, as he works them out, ideas or ideals, and bases all his work and conduct of affairs upon them.
|
3. Từ chủ nghĩa lý tưởng đã phát triển ấy, y phải tiến sâu hơn nữa, cho đến khi đi vào cảnh giới của trực giác thuần khiết. Khi ấy, y có thể chạm đến chân lý ngay tại nguồn. Y đi vào chính Trí của Thượng đế. Y trực nhận cũng như lý tưởng hóa, và trở nên nhạy bén với các tư tưởng thiêng liêng. Chúng làm phong nhiêu trí tuệ của y. Về sau, khi triển khai chúng, y gọi những trực nhận này là các ý tưởng hay lý tưởng, và đặt toàn bộ công việc cùng cách điều hành sự vụ của mình trên nền tảng đó.
|
|
4. Then follows the work of conscious thought-form building, based upon these divine ideas, emanating as intuitions from the Universal Mind. This goes forward through meditation.
|
4. Rồi tiếp theo là công việc kiến tạo hình tư tưởng một cách có ý thức, dựa trên những ý tưởng thiêng liêng ấy, vốn xuất phát như các trực giác từ Vũ Trụ Trí. Điều này tiến hành qua tham thiền.
|
|
Every true student knows that this involves concentration in order to focus or orient the lower mind to the higher. Temporarily the normal thought-form building tendencies are inhibited. Through meditation which is the mind’s power to hold itself in the light, and in that light become aware of the plan, he learns to “bring through” the needed ideas. Through contemplation he finds himself able to enter into that silence which will enable him to tap the divine mind, wrest God’s thought out of the divine consciousness and to know. This is the work before each aspirant and hence the necessity of his understanding the nature of his mental problem, the tools with which he must perforce work, and the use he must make of what he learns and gains through right use of the mental apparatus.
|
Mọi đạo sinh chân chính đều biết rằng điều này bao hàm sự tập trung để quy tụ hay định hướng hạ trí về phía thượng trí. Tạm thời, các khuynh hướng kiến tạo hình tư tưởng thông thường bị ức chế. Nhờ tham thiền, vốn là quyền năng của thể trí giữ chính nó trong ánh sáng, và trong ánh sáng ấy trở nên nhận biết Thiên Cơ, y học cách “đưa xuyên qua” các ý tưởng cần thiết. Nhờ chiêm ngưỡng, y thấy mình có khả năng đi vào sự tĩnh lặng cho phép y chạm đến trí tuệ thiêng liêng, giành lấy tư tưởng của Thượng đế từ tâm thức thiêng liêng và biết. Đây là công việc trước mắt mỗi người chí nguyện, và do đó cần thiết y phải thấu hiểu bản chất vấn đề trí tuệ của mình, các công cụ mà y buộc phải làm việc với chúng, và cách sử dụng những gì y học được và đạt được nhờ việc dùng đúng bộ máy trí tuệ.
|
|
How is this to be done? How bring through and how build afterwards?
|
Điều này phải được thực hiện như thế nào? Làm sao đưa xuyên qua và sau đó kiến tạo?
|
|
[367]
|
[367]
|
|
No matter how small or unimportant an individual thinker may be, yet in cooperation with his brethren, he wields a mighty force. Only through the steady strong right thinking of the people and the understanding of the correct use of mental energy can progressive evolution go forward along the desired lines. Right thinking depends upon many things, and it might be useful to state some of them very simply:
|
Dù một người tư tưởng cá nhân có nhỏ bé hay không quan trọng đến đâu, nhưng khi cộng tác với các huynh đệ của mình, y vận dụng một mãnh lực hùng mạnh. Chỉ nhờ tư tưởng đúng đắn, vững mạnh và bền bỉ của quần chúng, cùng sự thấu hiểu việc sử dụng đúng năng lượng trí tuệ, tiến hoá tiến bộ mới có thể đi tới theo những đường hướng mong muốn. Tư tưởng đúng đắn tùy thuộc vào nhiều điều, và có thể hữu ích khi nêu một số điều thật đơn giản:
|
|
1. An ability to sense the vision. That involves a capacity in a faint measure to realise the archetype on which the Lodge is endeavouring to fashion the race. It involves cooperation in the work of the Manu, and the development of abstract as well as synthetic thought, the flashing forth of the intuition. The intuition wrests from the high places a touch of the ideal plan as it lies latent in the mind of the Logos. As men develop this capacity, they will touch sources of power that are not on mental levels at all but which constitute those from which the mental plane itself draws sustenance.
|
1. Khả năng cảm nhận tầm nhìn. Điều đó bao hàm năng lực, dù còn mờ nhạt, để nhận ra nguyên mẫu mà Thánh đoàn đang cố gắng dùng để định hình nhân loại. Nó bao hàm sự cộng tác trong công việc của Đức Manu, và sự phát triển tư tưởng trừu tượng cũng như tổng hợp, sự lóe sáng của trực giác. Trực giác giành lấy từ những nơi cao một nét chạm của Thiên Cơ lý tưởng khi nó còn tiềm tàng trong trí của Thượng đế. Khi con người phát triển năng lực này, họ sẽ chạm đến những nguồn quyền năng vốn hoàn toàn không ở trên các cấp độ trí tuệ, nhưng chính là những nguồn mà cõi trí tự nó rút dưỡng chất từ đó.
|
|
2. Then, having sensed the vision and glimpsed a fraction of the beauty (how little men see is astounding!) in your hands lies the opportunity to bring down to the mental plane as much of the plan as you possibly can. Nebulous and faint at first is your grasp after it, yet it will begin to materialise. Seldom at first will you find that you can contact it, for the vision comes through the medium of the causal body and few can hold that high consciousness for a long time. But the struggle to apprehend will lead to results, and little by little the idea will seep through to the concrete levels of the mental plane. Then it becomes a concrete thought, something that can be definitely visualised and appropriated as a basis for thought.
|
2. Rồi, sau khi đã cảm nhận tầm nhìn và thoáng thấy một phần vẻ đẹp — con người thấy được ít ỏi đến kinh ngạc! — trong tay các bạn có cơ hội đem xuống cõi trí càng nhiều phần của Thiên Cơ càng tốt. Lúc đầu, sự nắm bắt của các bạn về nó còn mơ hồ và yếu ớt, nhưng nó sẽ bắt đầu hiện hình. Ban đầu, hiếm khi các bạn thấy mình có thể tiếp xúc với nó, vì tầm nhìn đến qua trung gian của thể nguyên nhân, và ít người có thể giữ được tâm thức cao ấy trong một thời gian dài. Nhưng nỗ lực nắm bắt sẽ đưa đến kết quả, và từng chút một ý tưởng sẽ thấm xuống các cấp độ cụ thể của cõi trí. Khi ấy, nó trở thành một tư tưởng cụ thể, một điều có thể được hình dung rõ ràng và được tiếp nhận làm nền tảng cho tư tưởng.
|
|
3. This accomplished, what comes next? A period of gestation, a period wherein you build your thought-form of as much of the vision as you can bring through into [368] your consciousness. Slowly must this be done, for a stable vibration and a well built form is desired. Hurried work leads nowhere. As you build there will gradually be sensed a longing, a desire to see this vision brought to earth, and see it becoming known to others among the sons of men. Then you vitalise the thoughtform with the power of your will, you seek to make it be; the rhythm becomes heavier and slower, the material built into your form is necessarily coarser, and you find that your thought-form of the vision is clothed in matter of the mental and astral planes.
|
3. Khi điều này hoàn tất, điều gì tiếp theo? Một thời kỳ thai nghén, một giai đoạn trong đó các bạn xây dựng hình tư tưởng của mình từ phần tầm nhìn mà các bạn có thể đưa xuyên qua vào [368] tâm thức. Điều này phải được làm chậm rãi, vì điều được mong muốn là một rung động ổn định và một hình tướng được kiến tạo tốt. Công việc vội vàng không dẫn đến đâu. Khi các bạn xây dựng, dần dần sẽ cảm nhận được một niềm khao khát, một ước muốn thấy tầm nhìn này được đưa xuống Trái Đất và trở nên được biết đến bởi những người khác trong số những người con của nhân loại. Khi ấy, các bạn tiếp sinh lực cho hình tư tưởng bằng quyền năng ý chí của mình, các bạn tìm cách làm cho nó hiện tồn; nhịp điệu trở nên nặng hơn và chậm hơn, chất liệu được đưa vào hình tướng của các bạn tất nhiên thô hơn, và các bạn thấy rằng hình tư tưởng về tầm nhìn của mình được khoác trong vật chất của cõi trí và cõi cảm dục.
|
|
4. Happy the disciple who can bring the vision nearer still to humanity, and work it into existence on the physical plane. Remember this, that the materialisation of any aspect of the vision on the physical plane is never the work of one man. Only when it has been sensed by the many, only when they have worked at its material form can their united efforts draw it into outer manifestation. Thus you see the value of educating public opinion; it brings the many helpers to the aid of the few visionaries. Always the Law holds good;—in descent, differentiation. The two or three sense the plan intuitively; then the rhythm they set up with their thought sweeps the mental plane matter into activity; thinkers seize hold of the idea. This is a hard thing to learn and difficult to do but the reward is great.
|
4. Hạnh phúc thay đệ tử nào có thể đưa tầm nhìn đến gần nhân loại hơn nữa, và làm cho nó hiện hữu trên cõi hồng trần. Hãy nhớ điều này: sự hiện hình của bất kỳ phương diện nào của tầm nhìn trên cõi hồng trần không bao giờ là công việc của một người. Chỉ khi nhiều người đã cảm nhận được nó, chỉ khi họ đã làm việc với hình tướng vật chất của nó, thì những nỗ lực hợp nhất của họ mới có thể kéo nó vào sự biểu hiện bên ngoài. Như vậy, các bạn thấy giá trị của việc giáo dục công luận; nó đem nhiều người trợ giúp đến hỗ trợ cho số ít những người có tầm nhìn. Định luật luôn đúng: trong sự giáng xuống có biến phân. Hai hoặc ba người cảm nhận Thiên Cơ bằng trực giác; rồi nhịp điệu mà họ thiết lập bằng tư tưởng của mình cuốn vật chất cõi trí vào hoạt động; các nhà tư tưởng nắm lấy ý tưởng. Đây là điều khó học và khó làm, nhưng phần thưởng thì lớn lao.
|
|
To those who wrestle, strive, and hold on, the joy is doubled when the materialisation comes. The joy of contrast will be yours, for knowing the past of darkness you will revel in the light of fruition; the joy of tried and tested companionship will be yours, for years will have proved to you who are your chosen associates, and in community of suffering will come the strengthened link; the joy of peace after victory will be yours, for to the tired warrior the fruits of achievement and rest are doubly sweet; the joy of participation in the Masters’ [369] plan will be yours, and all is well that associates you closely with Them; the joy of having helped to solace a needy world, of having brought light to darkened souls, of having healed in some measure the open sore of the world’s distress, will be yours, and in the consciousness of days well spent, and in the gratitude of salvaged souls, comes the deepest joy of all, —the joy a Master knows when He is instrumental in lifting a brother up a little higher on the ladder. This is the joy that is set before you all—and not so very far ahead it lies. So work, not for joy but towards it; not for reward, but from the inner need to help; not for gratitude, but from the urge that comes from having seen the vision and realisation of the part you have to play in bringing that vision down to earth.
|
Đối với những ai vật lộn, nỗ lực và kiên trì, niềm hoan hỉ được nhân đôi khi sự hiện hình xảy đến. Niềm hoan hỉ của tương phản sẽ thuộc về các bạn, vì khi biết quá khứ của bóng tối, các bạn sẽ vui sướng trong ánh sáng của sự thành tựu; niềm hoan hỉ của tình bạn đồng hành đã được thử thách và chứng nghiệm sẽ thuộc về các bạn, vì năm tháng sẽ chứng tỏ cho các bạn ai là những cộng sự được chọn, và trong cộng đồng khổ đau, mối liên kết sẽ được củng cố; niềm hoan hỉ của bình an sau chiến thắng sẽ thuộc về các bạn, vì đối với chiến sĩ mệt mỏi, hoa trái của thành tựu và nghỉ ngơi ngọt ngào gấp bội; niềm hoan hỉ được tham dự vào Thiên Cơ của các Chân sư [369] sẽ thuộc về các bạn, và mọi điều liên kết các bạn chặt chẽ với Các Ngài đều tốt lành; niềm hoan hỉ vì đã giúp an ủi một thế giới thiếu thốn, đã đem ánh sáng đến cho những linh hồn tối tăm, đã phần nào chữa lành vết thương hở của nỗi khổ thế gian, sẽ thuộc về các bạn; và trong tâm thức về những ngày tháng đã được dùng tốt, cùng trong lòng biết ơn của những linh hồn được cứu vớt, có niềm hoan hỉ sâu xa nhất trong tất cả — niềm hoan hỉ mà một Chân sư biết khi Ngài là khí cụ nâng một huynh đệ lên cao hơn một chút trên chiếc thang. Đây là niềm hoan hỉ được đặt trước tất cả các bạn — và nó không nằm quá xa phía trước. Vì vậy, hãy làm việc, không phải vì niềm hoan hỉ mà hướng tới nó; không phải vì phần thưởng, mà do nhu cầu bên trong muốn giúp đỡ; không phải vì lòng biết ơn, mà do thôi thúc phát sinh từ việc đã thấy tầm nhìn và nhận ra phần việc các bạn phải đóng trong việc đưa tầm nhìn ấy xuống Trái Đất.
|
|
It is helpful to differentiate between happiness, joy and bliss:
|
Sẽ hữu ích khi phân biệt giữa hạnh phúc, sự hoan hỉ và chí phúc:
|
|
First, happiness, which has its seat in the emotions, and is a personality reaction.
|
Thứ nhất, hạnh phúc, có chỗ trú trong các cảm xúc và là một phản ứng của phàm ngã.
|
|
Second, joy, which is a quality of the soul and is realised in the mind, when alignment takes place.
|
Thứ hai, sự hoan hỉ, là một phẩm tính của linh hồn và được nhận biết trong trí tuệ khi sự chỉnh hợp diễn ra.
|
|
Third, bliss, which is the nature of the Spirit and about which speculation is fruitless until the soul realises its oneness with the Father. This realisation follows upon an earlier stage wherein the personal self is at-oned with the soul. Therefore speculation and analysis as to the nature of bliss is profitless to the average man whose metaphors and terminologies must perforce be personal and related to the world of the senses. Does the aspirant refer to his happiness or joy? If he refers to the latter it must come as the effect of group consciousness, of group solidarity, of oneness with all beings, and may not be interpreted in terms of happiness after all. Happiness comes when the personality is meeting with those conditions which satisfy it in one part or other of its lower nature; it comes when there is a sense of physical [370] well being, of contentment with one’s environment or surrounding personalities, or of satisfaction with one’s mental opportunities and contacts. Happiness is the goal of the separated self.
|
Thứ ba, chí phúc, là bản chất của Tinh thần, và mọi suy đoán về nó đều vô ích cho đến khi linh hồn nhận ra sự hợp nhất của mình với Đấng Cha. Sự nhận ra này theo sau một giai đoạn trước đó, trong đó bản ngã phàm nhân được hợp nhất với linh hồn. Vì vậy, suy đoán và phân tích về bản chất của chí phúc là vô ích đối với con người trung bình, vì các ẩn dụ và thuật ngữ của y buộc phải mang tính cá nhân và liên hệ với thế giới của giác quan. Người chí nguyện đang nói đến hạnh phúc hay sự hoan hỉ của mình? Nếu y nói đến điều sau, thì nó phải đến như kết quả của tâm thức nhóm, của sự đoàn kết nhóm, của sự hợp nhất với mọi hữu thể, và rốt cuộc không thể được diễn giải theo nghĩa hạnh phúc. Hạnh phúc đến khi phàm ngã gặp được những điều kiện thỏa mãn nó trong một phần nào đó của bản chất thấp; nó đến khi có cảm giác an lành về hồng trần [370], sự hài lòng với môi trường hay những phàm ngã chung quanh, hoặc sự thỏa mãn với các cơ hội và tiếp xúc trí tuệ của mình. Hạnh phúc là mục tiêu của bản ngã tách biệt.
|
|
When however we seek to live as souls, the contentment of the lower man is discounted and we find joy in our group relationships and in bringing about those conditions which lead to the better expression of the souls of those we contact. This bringing of joy to others in order to produce conditions in which they may better express themselves may have a physical effect as we seek to better their material conditions, or an emotional effect as our presence brings to them peace and uplift, or an intellectual result as we stimulate them to clarity of thought and understanding. But the effect upon ourselves is joy, for our action has been selfless and non-acquisitive, and not dependent upon the aspirant’s circumstance or worldly state. Much happiness is necessarily foregone when ill-health makes its pressure felt, as the environment is difficult and the “accumulated karma of many births” presses down, or as the troubles of the family, nation or race weigh upon the sensitive personality. The happiness of youth or the self-centred contentment of the selfish insulated person (hiding himself behind the shield of his protective desires) must not be confounded with joy.
|
Tuy nhiên, khi chúng ta tìm cách sống như các linh hồn, sự mãn nguyện của phàm nhân bị giảm giá trị, và chúng ta tìm thấy sự hoan hỉ trong các mối quan hệ nhóm của mình, cũng như trong việc tạo ra những điều kiện dẫn đến sự biểu hiện tốt hơn của linh hồn nơi những người chúng ta tiếp xúc. Việc đem sự hoan hỉ đến cho người khác nhằm tạo ra các điều kiện trong đó họ có thể biểu hiện chính mình tốt hơn có thể có hiệu quả hồng trần, khi chúng ta tìm cách cải thiện điều kiện vật chất của họ; hoặc có hiệu quả cảm xúc, khi sự hiện diện của chúng ta đem đến cho họ bình an và nâng đỡ; hoặc có kết quả trí tuệ, khi chúng ta kích thích họ đạt đến sự sáng rõ trong tư tưởng và thấu hiểu. Nhưng hiệu quả đối với chính chúng ta là sự hoan hỉ, vì hành động của chúng ta đã vô ngã và không chiếm hữu, không tùy thuộc vào hoàn cảnh hay địa vị thế gian của người chí nguyện. Nhiều hạnh phúc tất yếu phải được từ bỏ khi bệnh tật tạo áp lực, khi môi trường khó khăn và “nghiệp quả tích lũy của nhiều kiếp” đè nặng, hoặc khi những rắc rối của gia đình, quốc gia hay nhân loại đè lên phàm ngã nhạy cảm. Hạnh phúc của tuổi trẻ hay sự mãn nguyện tập trung vào bản thân của người ích kỷ bị cô lập — ẩn mình sau tấm khiên của các dục vọng tự vệ — không được lẫn lộn với sự hoan hỉ.
|
|
It is a platitude as well as an occult paradox to say that in the midst of profound personality distress and unhappiness, the joy of the soul may be known and felt. Such however is the case, and it is for this the student must aim. Some people are happy because they shut their eyes to truth, or are self-hypnotised, hiding themselves within a shell of illusion. But the aspirant has frequently reached the stage wherein his eyes are wide open; he has learnt to speak truth to himself, and has built up no separating wall between himself and [371] others. He is awake and alive; he is sensitive and frequently suffering. He wonders why apparently what the world calls happiness and peace have left him, and asks what is to be the outcome.
|
Nói rằng giữa nỗi đau khổ và bất hạnh sâu xa của phàm ngã, sự hoan hỉ của linh hồn vẫn có thể được biết và cảm nhận, vừa là một lời sáo ngữ vừa là một nghịch lý huyền bí. Tuy nhiên, sự thật là như vậy, và đó là điều đạo sinh phải nhắm tới. Một số người hạnh phúc vì họ nhắm mắt trước chân lý, hoặc tự thôi miên, ẩn mình trong một lớp vỏ ảo tưởng. Nhưng người chí nguyện thường đã đạt đến giai đoạn mắt y mở rộng; y đã học nói sự thật với chính mình, và không dựng lên bức tường chia cách giữa mình và [371] người khác. Y tỉnh thức và sống động; y nhạy cảm và thường xuyên đau khổ. Y tự hỏi vì sao dường như điều thế gian gọi là hạnh phúc và bình an đã rời bỏ y, và hỏi kết quả sẽ là gì.
|
|
We who watch and guide on the inner side, watch with loving care all of you who struggle in the thick of the fray. We are like the General Headquarters Staff who follow the course of the battle from a secure eminence. In our security lies your ultimate success, for we hold in our hands the solution of many problems, and apply that solution when the battle goes contrary. One thing always would I have you remember. It is of vital importance. It is this statement, that in the destruction of the form lies hid the secret of all evolution. Think not this is truism. You will see it in constant application and need to be prepared for its demonstration. The Masters utilize the form to the uttermost; They seek to work through it, imprisoning the life in confining walls for just as long as the purpose is served and the race instructed through that form. Then the time comes that the form no longer serves the purpose intended, when the structure atrophies, crystallises and becomes easily destructible. Its destruction then becomes the matter of greatest concern and usefulness, and it goes, whilst a new form takes its place. Watch and see if this be not so. Always the building of the form, always its utilisation for as long as possible, always the destruction of the form when it hinders and cramps the expanding light, always then the rapid reconstruction of a new form. Such has been the method since the commencement of the aeon.
|
Chúng tôi, những người quan sát và hướng dẫn ở phía bên trong, dõi theo bằng sự chăm sóc đầy tình thương tất cả các bạn đang vật lộn giữa cuộc giao tranh ác liệt. Chúng tôi giống như Bộ tham mưu tổng hành dinh, theo dõi diễn tiến trận chiến từ một cao điểm an toàn. Trong sự an toàn của chúng tôi có thành công tối hậu của các bạn, vì chúng tôi nắm trong tay lời giải cho nhiều vấn đề, và áp dụng lời giải ấy khi trận chiến trở nên bất lợi. Tôi luôn muốn các bạn ghi nhớ một điều. Điều đó có tầm quan trọng thiết yếu. Đó là lời khẳng định này: trong sự phá hủy hình tướng ẩn giấu bí mật của mọi tiến hoá. Đừng nghĩ đây chỉ là một chân lý hiển nhiên. Các bạn sẽ thấy nó được áp dụng thường xuyên và cần chuẩn bị cho sự biểu lộ của nó. Các Chân sư sử dụng hình tướng đến mức tối đa; Các Ngài tìm cách làm việc qua nó, giam giữ sự sống trong những bức tường hạn định chừng nào mục đích còn được phụng sự và nhân loại còn được dạy dỗ qua hình tướng ấy. Rồi đến lúc hình tướng không còn phục vụ mục đích đã định, khi cấu trúc teo tóp, kết tinh và trở nên dễ bị phá hủy. Khi ấy sự phá hủy nó trở thành vấn đề có mối quan tâm và công dụng lớn nhất, và nó ra đi, trong khi một hình tướng mới thay thế. Hãy quan sát và xem có phải không phải như vậy chăng. Luôn luôn là việc xây dựng hình tướng, luôn luôn là việc sử dụng nó lâu nhất có thể, luôn luôn là việc phá hủy hình tướng khi nó cản trở và bó hẹp ánh sáng đang mở rộng, và rồi luôn luôn là sự tái kiến tạo nhanh chóng một hình tướng mới. Phương pháp đã như vậy từ khi khởi đầu kỷ nguyên.
|
|
In the infancy of the race the forms endured for a long time. Evolution moved more slowly, but now on the upward trend of all things, the form has but short duration. It lives vitally for a brief period; it moves with rapidity and then is succeeded by another form. This [372] rapidity will increase not decrease as the consciousness or inner expansion of the life of the race vibrates ever to a faster and lighter rate of rhythm.
|
Trong thời thơ ấu của nhân loại, các hình tướng tồn tại trong một thời gian dài. Tiến hoá vận hành chậm hơn, nhưng nay, trên khuynh hướng đi lên của vạn vật, hình tướng chỉ có thời hạn ngắn. Nó sống mạnh mẽ trong một giai đoạn ngắn; nó chuyển động nhanh chóng rồi được thay thế bằng một hình tướng khác. Tốc độ này [372] sẽ tăng lên chứ không giảm đi, khi tâm thức hay sự mở rộng bên trong của sự sống nhân loại rung động với một nhịp điệu ngày càng nhanh hơn và nhẹ hơn.
|
|
It is necessary likewise that you arrive at the realization that one of the principal objects of endeavor at the present time on the part of those whom you call the Elder Brothers of the race, is to stimulate, purify and coordinate the etheric body. This etheric body is not only the transmitter of prana but is the medium for all the energies which we are considering. Its importance also lies in other directions:
|
Cũng cần thiết để các bạn đi đến nhận thức rằng một trong những mục tiêu chính của nỗ lực hiện nay nơi những Đấng mà các bạn gọi là Huynh Trưởng của nhân loại là kích thích, thanh luyện và phối hợp thể dĩ thái. Thể dĩ thái này không chỉ là bộ truyền dẫn prana, mà còn là môi giới cho mọi năng lượng mà chúng ta đang xem xét. Tầm quan trọng của nó cũng nằm ở những phương diện khác:
|
|
a. Being of physical plane matter, literally, etheric consciousness is the next step ahead for the race. This will demonstrate at first as the ability to see etherically and to cognize etheric matter.
|
a. Vì nó đúng nghĩa là vật chất cõi hồng trần, nên tâm thức dĩ thái là bước kế tiếp phía trước của nhân loại. Điều này lúc đầu sẽ biểu lộ như khả năng thấy bằng dĩ thái và nhận biết vật chất dĩ thái.
|
|
b. It is the field of exploration immediately ahead of the modern scientist. In ten years time, many medical practitioners will be recognizing it as a fact of nature.
|
b. Nó là lĩnh vực khảo sát ngay trước mắt nhà khoa học hiện đại. Trong mười năm nữa, nhiều nhà y học sẽ nhận ra nó như một sự kiện của thiên nhiên.
|
|
c. Most of the diseases that the physical body suffers from at present have their roots in the etheric body. There are few, if any, purely physical diseases. Disease has its source in astral and etheric conditions.
|
c. Phần lớn các bệnh mà thể xác hiện nay phải chịu đều có gốc rễ trong thể dĩ thái. Có rất ít, nếu có, bệnh tật thuần túy hồng trần. Bệnh tật có nguồn gốc trong các điều kiện cảm dục và dĩ thái.
|
|
d. The secret of safe and sane clairvoyance and clairaudience depends upon the purification of the etheric vehicle.
|
d. Bí mật của thông nhãn và thông nhĩ an toàn, lành mạnh tùy thuộc vào sự thanh luyện hiện thể dĩ thái.
|
|
e. The etheric emanations of people can be great contaminators. In the purification, therefore, of this body lies the secret of a sweeter and saner humanity.
|
e. Các phát xạ dĩ thái của con người có thể là những tác nhân ô nhiễm lớn. Vì vậy, trong sự thanh luyện thể này có bí mật của một nhân loại dịu lành và lành mạnh hơn.
|
|
Hence, the importance of the etheric. There are many other reasons which will later be emphasized. In beginning to form your ideas on the subject, however, it is the part of wisdom to adhere to wide generalities until the whole matter has taken clear shape in your mind.
|
Do đó có tầm quan trọng của dĩ thái. Có nhiều lý do khác về sau sẽ được nhấn mạnh. Tuy nhiên, khi bắt đầu hình thành các ý tưởng của mình về chủ đề này, phần của minh triết là bám vào những khái quát rộng rãi cho đến khi toàn bộ vấn đề đã có hình dạng rõ ràng trong trí các bạn.
|
|
Work on the etheric body, however, from the standpoint of the Hierarchy is not confined only to the bodies of men. It is a planetary process. The etheric body of [373] the earth itself is being subjected to a definite stimulation. The spirit of the earth, that mysterious entity—not the planetary Logos—is being vivified in a new sense and in his vivification many interesting developments eventuate. In three ways this is being attempted:
|
Tuy nhiên, công việc trên thể dĩ thái, xét từ quan điểm của Thánh đoàn, không chỉ giới hạn vào các thể của con người. Đó là một tiến trình hành tinh. Thể dĩ thái của [373] chính Trái Đất đang chịu một sự kích thích xác định. Tinh linh địa cầu, thực thể huyền bí ấy — không phải Hành Tinh Thượng đế — đang được tiếp sinh lực theo một nghĩa mới, và trong sự tiếp sinh lực của y, nhiều phát triển thú vị xảy ra. Điều này đang được cố gắng theo ba cách:
|
|
1. By an increased rate of vibration of the etheric atoms, caused by the coming in of the ceremonial ray. This must not be pictured as a sudden and violent change. From the standpoint of the human student the rate of increase is apparently so slow and gradual as to be inappreciable. Nevertheless, the stimulation exists, and in the course of centuries will be recognized.
|
1. Bằng một tốc độ rung động gia tăng của các nguyên tử dĩ thái, do sự đi vào của cung nghi lễ gây nên. Điều này không nên được hình dung như một thay đổi đột ngột và dữ dội. Từ quan điểm của đạo sinh nhân loại, tốc độ gia tăng dường như chậm và dần dần đến mức không thể nhận thấy. Tuy vậy, sự kích thích vẫn tồn tại, và trong dòng nhiều thế kỷ sẽ được nhận biết.
|
|
2. By the play of certain astral forces on the etheric body that leads to slow but definite changes in the internal structure of the atom, the coming into consciousness of another of the spirillae and a general tightening up of the whole cosmos of the atom.
|
2. Bằng sự tác động của một số mãnh lực cảm dục lên thể dĩ thái, dẫn đến những thay đổi chậm nhưng xác định trong cấu trúc nội tại của nguyên tử, sự đi vào tâm thức của một loa tuyến khác, và một sự siết chặt chung của toàn bộ vũ trụ nhỏ của nguyên tử.
|
|
3. By the use on the inner planes by the Mahachohan of one of the powerful talismans of the seventh ray.
|
3. Bằng việc Đức Mahachohan sử dụng trên các cõi bên trong một trong những linh phù quyền năng của cung bảy.
|
|
The spirit of the earth, it might be noted, is of slow and gradual arousing. He is on the involutionary arc and passes on to the evolutionary in some dim and distant future. Therefore, he will not carry us with him. He but serves our purpose now, offering us a home within his body, yet remaining dissociated from us. The devas of the ethers from this very stimulation are consequently hastening forward in evolution and approximating also nearer to their ideal.
|
Cần lưu ý rằng tinh linh địa cầu đang được đánh thức một cách chậm rãi và dần dần. Y ở trên cung giáng hạ tiến hoá và sẽ chuyển sang cung thăng thượng tiến hoá trong một tương lai mờ xa. Vì vậy, y sẽ không mang chúng ta theo cùng y. Hiện nay y chỉ phục vụ mục đích của chúng ta, cho chúng ta một mái nhà trong thể của y, nhưng vẫn tách biệt với chúng ta. Do chính sự kích thích này, các thiên thần của dĩ thái đang tiến nhanh trong tiến hoá và cũng tiến gần hơn đến lý tưởng của họ.
|
|
In all I have said anent the etheric body of men, anent the planet, anent the spirit of the earth, the crux of the whole situation lies in the fact that the five rays at this time have the seventh ray as their predominating ray. The seventh ray is the ray that controls the etheric and the devas of the ethers. It controls the seventh sub-plane of all planes but it dominates at this time the seventh sub-plane of the physical plane. Being in the fourth [374] round also, when a ray comes into definite incarnation, it not only controls on planes of the same number but has a special influence on the fourth sub-plane. Note how this works at this time in the three worlds:
|
Trong tất cả những gì tôi đã nói về thể dĩ thái của con người, về hành tinh, về tinh linh địa cầu, điểm then chốt của toàn bộ tình thế nằm ở sự kiện rằng năm cung hiện nay có cung bảy làm cung chủ đạo của chúng. Cung bảy là cung kiểm soát dĩ thái và các thiên thần của dĩ thái. Nó kiểm soát cõi phụ thứ bảy của mọi cõi, nhưng hiện nay nó thống trị cõi phụ thứ bảy của cõi hồng trần. Vì chúng ta cũng đang ở cuộc tuần hoàn thứ tư [374], nên khi một cung đi vào lâm phàm xác định, nó không chỉ kiểm soát trên các cõi có cùng số, mà còn có ảnh hưởng đặc biệt trên cõi phụ thứ tư. Hãy lưu ý cách điều này vận hành hiện nay trong ba cõi thấp:
|
|
1. The fourth ether, the lowest of the ethers, is to be the next physical plane of consciousness. Etheric matter is even now becoming visible to some, and will be entirely visible at the end of this century to many.
|
1. Dĩ thái thứ tư, thấp nhất trong các dĩ thái, sẽ là cõi hồng trần kế tiếp của tâm thức. Vật chất dĩ thái ngay hiện nay đang trở nên hữu hình đối với một số người, và sẽ hoàn toàn hữu hình đối với nhiều người vào cuối thế kỷ này.
|
|
2. The fourth sub-plane of the astral holds the majority of men when they pass over and consequently much work on the greatest number can therefore be accomplished.
|
2. Cõi phụ thứ tư của cõi cảm dục giữ đa số con người khi họ chuyển sang bên kia, và do đó có thể thực hiện nhiều công việc đối với số đông nhất.
|
|
3. The fourth mental sub-plane is the plane of devachan.
|
3. Cõi phụ thứ tư của cõi trí là cõi thiên đường.
|
|
The various energies which play upon the human being and produce his unfoldment constitute his field of experience. Those two words—unfoldment and experience—should ever be linked, for each produces the other. As one is subjected to experience in the form world, a paralleling unfoldment of consciousness is carried forward. As that unfoldment produces constant changes in realisation and a consequent constant reorientation to a new state of awareness, it necessarily leads to new experience—experience of fresh phenomena, of new states of being, and of dimensional conditions hitherto unknown. Hence the frequent reaction of the disciple to the fact that for him, as yet, there is no point of peace. Peace was the objective of the Atlantean aspirant. Realisation is that of the Aryan disciple. He can never be static; he can never rest; he is constantly adjusting himself to new conditions; constantly learning to function therein, and then subsequently finding them pass away to give place, in their turn, to new. This goes on until the consciousness is stabilised in the Self, in the One. Then the initiate [375] knows himself to be the onlooking Unity watching the phenomenal phantasmagoria of life in form.
|
Các năng lượng khác nhau tác động lên con người và tạo nên sự khai mở của y cấu thành lĩnh vực kinh nghiệm của y. Hai từ ấy — sự khai mở và kinh nghiệm — luôn phải được liên kết, vì mỗi bên tạo ra bên kia. Khi một người chịu tác động của kinh nghiệm trong thế giới hình tướng, một sự khai mở song hành của tâm thức được tiến hành. Khi sự khai mở ấy tạo ra những thay đổi liên tục trong nhận thức và do đó một sự tái định hướng liên tục đến một trạng thái nhận biết mới, nó tất yếu dẫn đến kinh nghiệm mới — kinh nghiệm về các hiện tượng mới, các trạng thái hiện tồn mới, và những điều kiện chiều kích trước kia chưa biết. Do đó có phản ứng thường xuyên của đệ tử trước sự kiện rằng đối với y, cho đến nay, không có điểm bình an nào. Bình an là mục tiêu của người chí nguyện Atlantis. Nhận thức là mục tiêu của đệ tử Arya. Y không bao giờ có thể tĩnh tại; y không bao giờ có thể nghỉ ngơi; y liên tục tự điều chỉnh với các điều kiện mới; liên tục học cách hoạt động trong đó, và rồi sau đó thấy chúng qua đi để nhường chỗ, đến lượt chúng, cho những điều kiện mới. Điều này tiếp diễn cho đến khi tâm thức được ổn định trong Bản Ngã, trong Đấng Duy Nhất. Khi ấy điểm đạo đồ [375] biết mình là Hợp Nhất đang quan sát, chứng kiến cảnh huyễn hiện tượng của sự sống trong hình tướng.
|
|
He passes from one sense of unity to a sense of duality, and from thence again into a higher unity. First, the Self identifies itself with the form aspect to such an extent that all duality disappears in the illusion that the Self is the form. We have then the form constituting apparently all that there is. This is followed by the stage wherein the indwelling Self begins to be aware of Itself as well as of the form, and we talk then in terms of the higher and the lower self; we speak of the self and its sheaths, and of the self and the not-self. This dualistic stage is that of the aspirant and of the disciple, up to the time of his training for the third initiation. He begins with a knowledge that he is a spiritual entity confined in a form. His consciousness for a long period of time remains predominantly that of the form. Gradually this changes, —so gradually that the aspirant learns the lesson of endurance (even to the point of enduring the not-self!) until there comes a life of balance, wherein neither preponderates. This produces in the man a state of apparent negativity and inertia which may last for one life or two, and he seems to accomplish little in either direction. This is, for workers, a valuable hint in their dealings with people. Then the point of balance changes, and the soul appears to dominate from the standpoint of influence, and the entire consciousness aspect begins to shift into the higher of the two aspects. Duality however, still persists, for the man is sometimes identified with his soul and sometimes with his form nature; this is the stage wherein so many most earnest disciples are at this time to be found. Little by little however he becomes “absorbed” in the soul, and thus comes en rapport with all aspects of the soul in all forms until the day dawns when he realises that there is nothing but soul and then the higher state of unity supervenes.
|
Y chuyển từ một cảm thức hợp nhất sang một cảm thức nhị nguyên, và từ đó lại đi vào một hợp nhất cao hơn. Trước hết, Bản Ngã đồng hoá với phương diện hình tướng đến mức mọi nhị nguyên biến mất trong ảo tưởng rằng Bản Ngã chính là hình tướng. Khi ấy chúng ta có hình tướng dường như cấu thành tất cả những gì hiện hữu. Tiếp theo là giai đoạn trong đó Bản Ngã nội tại bắt đầu nhận biết Chính Nó cũng như hình tướng, và khi ấy chúng ta nói theo các thuật ngữ chân ngã và phàm ngã; chúng ta nói về bản ngã và các lớp vỏ của nó, về bản ngã và phi-ngã. Giai đoạn nhị nguyên này là giai đoạn của người chí nguyện và của đệ tử, cho đến thời điểm y được huấn luyện cho lần điểm đạo thứ ba. Y bắt đầu với tri thức rằng y là một thực thể tinh thần bị giam trong một hình tướng. Trong một thời gian dài, tâm thức của y vẫn chủ yếu là tâm thức của hình tướng. Dần dần điều này thay đổi — chậm đến mức người chí nguyện học bài học chịu đựng, thậm chí đến mức chịu đựng phi-ngã, cho đến khi xuất hiện một đời sống quân bình, trong đó không bên nào chiếm ưu thế. Điều này tạo ra trong con người một trạng thái tiêu cực và trì trệ bề ngoài, có thể kéo dài một hay hai kiếp, và y dường như đạt được rất ít theo cả hai hướng. Đây là một gợi ý có giá trị cho những người hoạt động trong cách họ xử lý con người. Rồi điểm quân bình thay đổi, và linh hồn dường như thống trị xét theo phương diện ảnh hưởng, và toàn bộ phương diện tâm thức bắt đầu chuyển sang phương diện cao hơn trong hai phương diện. Tuy nhiên, nhị nguyên vẫn tồn tại, vì con người lúc thì đồng hoá với linh hồn, lúc thì với bản chất hình tướng của mình; đây là giai đoạn mà hiện nay rất nhiều đệ tử chí thành nhất đang ở trong đó. Tuy nhiên, từng chút một, y trở nên “được hấp thu” vào linh hồn, và nhờ vậy đi vào mối liên hệ hòa điệu với mọi phương diện của linh hồn trong mọi hình tướng, cho đến khi bình minh ló rạng lúc y nhận ra rằng không có gì ngoài linh hồn, và khi ấy trạng thái hợp nhất cao hơn xuất hiện.
|
|
[376]
|
[376]
|
|
These points need consideration and are valuable, for there are schools of thought (such as the Vedanta and other mystical groups of thinkers) which emphasise the life aspect and appear to negate duality. Other schools (such as the Theosophical, in spite of denial) teach the fact of the self and the not-self, and hence can be interpreted in terms of duality. Both are right and both need each other. It should be remembered that in the process of manifestation we work from a relative unity, through duality, to another unity, in the following way:
|
Những điểm này cần được xem xét và có giá trị, vì có những trường phái tư tưởng — như Vedanta và các nhóm tư tưởng thần bí khác — nhấn mạnh phương diện sự sống và dường như phủ nhận nhị nguyên. Các trường phái khác — như Thông Thiên Học, bất chấp sự phủ nhận — dạy sự kiện về bản ngã và phi-ngã, và do đó có thể được diễn giải theo nhị nguyên. Cả hai đều đúng và cả hai đều cần nhau. Cần nhớ rằng trong tiến trình biểu hiện, chúng ta làm việc từ một hợp nhất tương đối, qua nhị nguyên, đến một hợp nhất khác, theo cách sau:
|
|
1. The unity of form, wherein the self is identified apparently with the form, and is absorbed in form life.
|
1. Sự hợp nhất của hình tướng, trong đó bản ngã dường như đồng hoá với hình tướng và bị hấp thu vào sự sống hình tướng.
|
|
2. Duality, with a fluctuating shift backward and forward between the self and the form, the focus of consciousness being sometimes in one and sometimes in the other.
|
2. Nhị nguyên, với một sự chuyển dịch dao động qua lại giữa bản ngã và hình tướng, tiêu điểm của tâm thức khi thì ở bên này, khi thì ở bên kia.
|
|
3. The unity of the soul, wherein naught but soul is seen to exist, and only being is registered in consciousness.
|
3. Sự hợp nhất của linh hồn, trong đó không gì ngoài linh hồn được thấy là hiện hữu, và chỉ hiện tồn được ghi nhận trong tâm thức.
|
|
Thus it will be found that both schools are right, and that the dualistic concept is a step upon the way to essential union with the One Life.
|
Như vậy sẽ thấy rằng cả hai trường phái đều đúng, và quan niệm nhị nguyên là một bước trên đường dẫn đến sự hợp nhất cốt yếu với Sự Sống Duy Nhất.
|
|
It should be remembered that just as the battle ground (the kurukshetra) for the aspirant or probationer is the astral plane, so the battle ground for the disciple is the mental plane. There is his kurukshetra. The aspirant has to learn to control his emotional psychic nature through right control of the mind, and this Krishna seeks to emphasise as he trains Arjuna to take the next step towards right vision. The disciple has to carry forward this mental attention, and, through right use of the mind, achieve a higher realisation, and bring into active use a still higher factor, —that of the intuition.
|
Cần nhớ rằng cũng như chiến trường của người chí nguyện hay người dự bị là cõi cảm dục, thì chiến trường của đệ tử là cõi trí. Ở đó là chiến trường của y. Người chí nguyện phải học kiểm soát bản chất thông linh cảm xúc của mình bằng sự kiểm soát đúng đắn thể trí, và điều này vị huấn sư tìm cách nhấn mạnh khi huấn luyện người chiến sĩ tiến bước kế tiếp hướng tới tầm nhìn đúng. Đệ tử phải tiếp tục sự chú tâm trí tuệ này, và nhờ sử dụng đúng thể trí, đạt được một nhận thức cao hơn, đồng thời đưa vào hoạt động một yếu tố còn cao hơn nữa — yếu tố trực giác.
|
|
In himself, the aspirant repeats the racial unfoldment, [377] and re-enacts the racial drama; and to comprehend this certain facts about that drama and the work of the Hierarchy should be grasped and I here enumerate them:
|
Trong chính mình, người chí nguyện lặp lại sự khai mở của nhân loại, [377] và tái diễn vở kịch của nhân loại; và để thấu hiểu điều này, cần nắm bắt một số sự kiện về vở kịch ấy và công việc của Thánh đoàn, tôi xin liệt kê ở đây:
|
|
1. The movement for the spreading of the Secret Doctrine is eighteen million years old.
|
1. Phong trào truyền bá Giáo Lý Bí Nhiệm đã có tuổi đời mười tám triệu năm.
|
|
2. Only four of the original Instigators still remain with us. The work (impulsive and controlling) lies now in the hands of three groups of lives, if it may be so expressed:
|
2. Chỉ còn bốn trong số các Đấng Khởi Xướng ban đầu vẫn ở với chúng ta. Công việc — thúc đẩy và kiểm soát — hiện nằm trong tay ba nhóm sự sống, nếu có thể diễn đạt như vậy:
|
|
a. In the hands of those of our Earth Humanity who have equipped themselves so as to serve.
|
a. Trong tay những vị thuộc Nhân loại Trái Đất của chúng ta, những người đã tự trang bị để phụng sự.
|
|
b. In the hands of certain Existences who have come into our earth scheme of evolution from other planetary schemes.
|
b. Trong tay một số Đấng Hiện Tồn đã đi vào hệ hành tinh tiến hoá của Trái Đất chúng ta từ các hệ hành tinh khác.
|
|
c. In the hands of a large number of devas of superhuman evolution.
|
c. Trong tay một số lượng lớn các thiên thần thuộc tiến hoá siêu nhân loại.
|
|
These in their aggregate, form the occult Hierarchy of the planet, working in three main divisions, and in seven groups as outlined in many Theosophical books and summarized in Initiation, Human and Solar.
|
Những Đấng này, trong tổng thể, hợp thành Thánh Đoàn huyền bí của hành tinh, hoạt động trong ba phân bộ chính và trong bảy nhóm như đã được phác họa trong nhiều sách Thông Thiên Học và được tóm lược trong Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương.
|
|
3. In the very early stages, this Hierarchy was called by various names; among others it was called the Temple of Ibez.
|
3. Trong những giai đoạn rất sơ khai, Thánh Đoàn này được gọi bằng nhiều danh xưng khác nhau; trong số đó, Thánh Đoàn được gọi là Đền Ibez.
|
|
4. Let us consider the founding of the Temple of Ibez. To do this it will be necessary to consider the period of the coming of the White Brotherhood to earth and the immediate problem before Them; this will involve the recognition of certain facts that have never been adequately considered. It is an acknowledged fact in occultism that for our earth humanity the advent of the occult Hierarchy was epochal; it brought about two things:
|
4. Chúng ta hãy xem xét việc thành lập Đền Ibez. Để làm điều này, cần phải xét đến thời kỳ Huynh đệ Đoàn Chánh đạo đến Trái Đất và vấn đề trước mắt đặt ra cho Các Ngài; điều này sẽ đòi hỏi phải thừa nhận một số sự kiện chưa bao giờ được xem xét đầy đủ. Trong huyền bí học, sự kiện được thừa nhận là đối với nhân loại trên Trái Đất chúng ta, sự giáng lâm của Thánh Đoàn huyền bí là một biến cố mở ra kỷ nguyên; sự kiện ấy đem lại hai điều:
|
|
The definite crystallization of that group soul which is now called thefourth or human kingdom. [378]
|
Sự kết tinh rõ rệt của hồn nhóm hiện nay được gọi là giới thứ tư hay giới nhân loại. [378]
|
|
The arousing of manas or mind in animal man in a triple way.
|
Sự khơi dậy manas hay trí tuệ trong người thú theo một cách tam phân.
|
|
a. By the direct incarnation of certain members of the White Brotherhood, in which way They brought in the new and necessary factors by transmission to their children.
|
a. Bằng sự nhập thể trực tiếp của một số thành viên Huynh đệ Đoàn Chánh đạo, nhờ đó Các Ngài đưa vào các yếu tố mới và cần thiết qua sự truyền trao cho con cái của Các Ngài.
|
|
b. By the definite implantation of what is called in the occult Scriptures “the spark of mind” in animal man. This is simply a pictorial way of picturing the creation, by a direct act, of the necessary mental unit or mental apparatus of thought, within the causal or spiritual body.
|
b. Bằng sự cấy đặt xác định điều được gọi trong Kinh sách huyền bí là “tia lửa của trí tuệ” vào người thú. Đây chỉ là một cách diễn tả bằng hình ảnh về việc tạo ra, bằng một hành động trực tiếp, đơn vị hạ trí hay bộ máy trí tuệ cần thiết của tư tưởng, bên trong thể nguyên nhân hay thể tinh thần.
|
|
c. By the gradual stimulation of the mental faculty in animal man, and the steady vitalisation of the latent germ of mind until it flowered forth as manifested mind.
|
c. Bằng sự kích thích dần dần quan năng trí tuệ trong người thú, và sự tiếp sinh lực đều đặn cho mầm trí tuệ tiềm tàng cho đến khi nó nở hoa thành trí tuệ biểu hiện.
|
|
This covered a vast period of time, and though the Brotherhood made its headquarters at Shamballa and directed its activities from there, it was found necessary during the first sub-race of the Atlantean Root Race to make certain efforts, if the evolution of the race was to proceed according to plan. Students of these mysteries need to remember that though Shamballa is spoken of as existing in physical matter and as occupying a definite location in space, the physical matter referred to is etheric, the Lord of the World and His assistants of the higher degrees occupying bodies formed of etheric matter.
|
Điều này bao trùm một thời kỳ vô cùng dài, và mặc dù Huynh đệ Đoàn đặt tổng hành dinh tại Shamballa và từ đó điều khiển các hoạt động của mình, trong giống dân phụ thứ nhất của giống dân gốc Atlantis, người ta thấy cần phải thực hiện một số nỗ lực nhất định nếu sự tiến hoá của nhân loại phải diễn tiến theo Thiên Cơ. Các đạo sinh của những bí nhiệm này cần nhớ rằng mặc dù Shamballa được nói đến như đang tồn tại trong vật chất hồng trần và chiếm một vị trí xác định trong không gian, vật chất hồng trần được nói đến ở đây là dĩ thái; Đức Chúa Tể Thế Giới và các phụ tá của Ngài thuộc những cấp độ cao hơn sử dụng các thể được tạo thành bằng vật chất dĩ thái.
|
|
5. It was decided about seventeen million years ago (the coming of the Hierarchy and the founding of Shamballa being about eighteen and a half million years ago) to have on the dense physical plane an organization and a headquarters for the mysteries, and to have a band of Adepts, and Chohans who would function in dense physical bodies and thus meet the need of the rapidly awakening humanity. [379]
|
5. Khoảng mười bảy triệu năm trước, quyết định đã được đưa ra rằng phải có trên cõi hồng trần đậm đặc một tổ chức và một tổng hành dinh cho các bí nhiệm, cùng một đoàn các chân sư và Chohan hoạt động trong các thể hồng trần đậm đặc, và như thế đáp ứng nhu cầu của nhân loại đang thức tỉnh nhanh chóng. Sự giáng lâm của Thánh Đoàn và việc thành lập Shamballa xảy ra khoảng mười tám triệu rưỡi năm trước. [379]
|
|
6. The first outpost for the Shamballa Fraternity was the original temple of Ibez and it was located in the centre of South America, and one of its branches at a much later period was to be found in the ancient Maya institutions, and the basic worship of the Sun as the source of life in the hearts of all men. A second branch was later established in Asia, and of this branch the Himalayan and southern Indian adepts are the representatives, though the work is materially changed. At a later date than the present, discoveries will be made, revealing the reality of the old form of hierarchical work; ancient records and monuments will be revealed, some above ground and many in subterranean fastnesses. As the mysteries of Central Asia in the land stretching from Chaldea and Babylon through Turkestan to Manchuria, including the Gobi desert, are opened up, it is planned that much of the early history of the Ibezhan workers will be revealed.
|
6. Tiền đồn đầu tiên của Huynh đệ đoàn Shamballa là Đền Ibez nguyên thủy, được đặt tại trung tâm Nam Mỹ; và một trong các chi nhánh của nó, vào một thời kỳ muộn hơn nhiều, có thể được tìm thấy trong các thiết chế Maya cổ xưa, cùng sự tôn thờ căn bản Mặt Trời như nguồn sự sống trong tâm của mọi người. Một chi nhánh thứ hai về sau được thiết lập tại Á Châu, và các chân sư vùng Hy Mã Lạp Sơn cùng miền nam Ấn Độ là những vị đại diện của chi nhánh này, mặc dù công việc đã thay đổi đáng kể. Vào một thời điểm muộn hơn hiện tại, những khám phá sẽ được thực hiện, mặc khải thực tại của hình thức công việc Thánh Đoàn xưa kia; các biên niên cổ và di tích cổ sẽ được phát lộ, một số trên mặt đất và nhiều di tích trong các cứ điểm dưới lòng đất. Khi những bí nhiệm của Trung Á, trong vùng đất trải dài từ Can Đê và Ba-bi-lon qua Turkestan đến Mãn Châu, bao gồm sa mạc Gobi, được mở ra, thì theo Thiên Cơ, phần lớn lịch sử sơ khai của những người hoạt động Ibez sẽ được mặc khải.
|
|
We might here note the fact that the word Ibez is literally in the nature of an acrostic veiling the true name of the planetary Logos of the earth, one of Whose principles is working in Sanat Kumara, making Him thus a direct incarnation of the planetary Logos and an expression of His divine consciousness. These four letters are the first letters of the real names of the four Avatars on the four globes of our earth chain who have embodied four of the divine principles. The letters I B E Z are not the true Sensar letters, if such an inaccurate expression can be used of an ideographic language, but are simply a Europeanized distortion. The true meaning is only conveyed at the fourth initiation when the nature of the planetary Logos is revealed and His four Avatars are definitely contacted through the direct mediatory work of Sanat Kumara.
|
Ở đây chúng ta có thể ghi nhận sự kiện rằng từ Ibez, theo nghĩa đen, có bản chất của một từ ghép chữ đầu che giấu danh xưng chân thật của Hành Tinh Thượng đế của Trái Đất, một trong các nguyên khí của Ngài đang hoạt động trong Đức Sanat Kumara, do đó khiến Ngài trở thành một sự nhập thể trực tiếp của Hành Tinh Thượng đế và một biểu hiện của tâm thức thiêng liêng của Ngài. Bốn chữ cái này là các chữ cái đầu của những danh xưng chân thật của bốn Đấng Hóa Thân trên bốn bầu hành tinh thuộc Dãy Địa Cầu của chúng ta, những Đấng đã hiện thân bốn nguyên khí thiêng liêng. Các chữ cái I B E Z không phải là những chữ Sensar chân thật, nếu có thể dùng một cách diễn đạt thiếu chính xác như thế về một ngôn ngữ biểu ý, mà chỉ là một sự bóp méo theo kiểu châu Âu. Ý nghĩa chân thật chỉ được truyền đạt ở lần điểm đạo thứ tư, khi bản chất của Hành Tinh Thượng đế được mặc khải và bốn Đấng Hóa Thân của Ngài được tiếp xúc một cách xác định qua công việc trung gian trực tiếp của Đức Sanat Kumara.
|
|
7. A word now as regards the work of the Ibezhan adepts and Their mysteries; it is necessary here to point [380] out that the whole trend of Their work was in a way different and necessarily so, to that of the adepts at this time. Their objective was to stimulate mysticism and the stimulating of the kingdom of God within the human atom. The nature of Their work is most difficult for the average man of this time to comprehend, owing to the different state of his consciousness. The Ibezhan adepts had to deal with a humanity which was in its infancy, whose polarization was most unstable, and whose coordination was very imperfect. There was very little mentality to be found and men were practically altogether astral; they functioned even more consciously on the astral plane than on the physical, and it was part of the work of these early adepts, working under instruction from Shamballa to develop the energy centres of the human unit, stimulate the brain and make him fully self-conscious on the physical plane. Their objective was to bring about a realization of the kingdom of God within, and little attention was paid (in Their training of Their disciples) to the bringing about of the realization of God in nature or in other units. It was necessary in those days to employ methods more definitely physical than are permissible now, and these methods of physical stimulation were employed and the laws of energy as they work through the various centres were taught until the time came when another big change was made in the hierarchical methods, and the door from the animal kingdom into the human was closed and the door of initiation was opened. It was felt at that time that man was then self-centered enough and individualized enough to permit of a drastic change in method and practice. All this took a vast period of time and it is the remnants of the earlier Temple practices which have come down to us in degraded phallic teaching, in Tantrik magic and the practices of Hatha Yogis. The infant humanity of Lemurian and early Atlantean days had to be taught what they [381] were by means of symbols and methods which to us would be crude, impossible and of a nature which the race should have transcended for many millions of years.
|
7. Bây giờ xin nói một lời về công việc của các chân sư Ibez và các bí nhiệm của Các Ngài; ở đây cần chỉ [380] ra rằng toàn bộ xu hướng công việc của Các Ngài theo một cách nào đó khác với xu hướng của các chân sư hiện nay, và tất yếu phải như vậy. Mục tiêu của Các Ngài là kích thích Thần bí học và khơi dậy Thiên Giới bên trong nguyên tử con người. Bản chất công việc của Các Ngài rất khó để con người trung bình thời nay thấu hiểu, do trạng thái tâm thức của y khác biệt. Các chân sư Ibez phải đề cập đến một nhân loại còn trong thời thơ ấu, có sự phân cực rất bất ổn và sự phối hợp còn rất bất toàn. Trí tuệ hầu như rất ít, và con người thực tế gần như hoàn toàn cảm dục; họ hoạt động trên cõi cảm dục còn có ý thức hơn trên cõi hồng trần, và một phần công việc của các chân sư sơ khai này, hoạt động theo chỉ thị từ Shamballa, là phát triển các trung tâm năng lượng của đơn vị con người, kích thích bộ não và làm cho y có ngã thức trọn vẹn trên cõi hồng trần. Mục tiêu của Các Ngài là đem lại sự nhận biết Thiên Giới bên trong, và trong việc huấn luyện các đệ tử của Các Ngài, rất ít chú ý được dành cho việc đem lại sự nhận biết Thượng đế trong thiên nhiên hay trong các đơn vị khác. Vào những ngày ấy, cần phải dùng những phương pháp có tính hồng trần rõ rệt hơn những gì hiện nay được phép, và các phương pháp kích thích hồng trần này đã được sử dụng; các định luật năng lượng, khi chúng hoạt động qua các trung tâm khác nhau, đã được giảng dạy cho đến khi thời điểm đến, một thay đổi lớn khác được thực hiện trong các phương pháp của Thánh Đoàn, cánh cửa từ giới động vật vào giới nhân loại được đóng lại và cánh cửa điểm đạo được mở ra. Vào thời điểm ấy, người ta cảm thấy rằng con người khi đó đã đủ tập trung vào bản thân và đủ biệt ngã hóa để cho phép một thay đổi triệt để trong phương pháp và thực hành. Tất cả điều này trải qua một thời kỳ vô cùng dài, và những tàn dư của các thực hành Đền thờ thuở ban đầu đã truyền xuống chúng ta trong giáo huấn sinh thực khí suy đồi, trong huyền thuật Tantra và các thực hành của những hành giả Hatha Yoga. Nhân loại thơ ấu của thời Lemuria và đầu Atlantis phải được dạy cho biết họ [381] là gì bằng các biểu tượng và phương pháp mà đối với chúng ta sẽ là thô sơ, bất khả và thuộc loại mà nhân loại lẽ ra đã phải vượt qua từ nhiều triệu năm trước.
|
|
8. At the time the door of initiation was opened, many millions of years ago the Lodge came to two decisions:
|
8. Vào thời điểm cánh cửa điểm đạo được mở ra, nhiều triệu năm trước, Thánh đoàn đi đến hai quyết định:
|
|
That individualisation must cease until man had not only coordinated the physical and astral bodies and could think self-consciously but until he had also transcended the physical and the astral. When he is becoming group-conscious, then the door into the kingdom of self-consciousness will again be opened.
|
Rằng sự biệt ngã hóa phải chấm dứt cho đến khi con người không những đã phối hợp các thể xác và thể cảm dục, và có thể suy nghĩ bằng ngã thức, mà còn phải vượt lên trên thể xác và thể cảm dục. Khi y đang trở nên có tâm thức nhóm, lúc ấy cánh cửa vào giới ngã thức sẽ lại được mở ra.
|
|
That the path of mysticism must lead eventually to the occult path, and that plans must be made to impart teaching, and mysteries must be organized which would reveal the nature of God in all that is seen, and not only in man. Man must be taught that though an individual, he is but part of a greater whole and that his interests must be made subservient to those of the group. Gradually the teaching was re-organized, and the curriculum increased; little by little the mysteries were developed as the people became ready for them until we have the marvelous Schools of the Mysteries of Chaldea, Egypt, Greece and many others.
|
Rằng con đường của Thần bí học rốt cuộc phải dẫn đến con đường huyền bí, và phải lập kế hoạch để truyền đạt giáo huấn; các bí nhiệm phải được tổ chức để mặc khải bản chất của Thượng đế trong tất cả những gì được thấy, chứ không chỉ trong con người. Con người phải được dạy rằng mặc dù là một cá nhân, y chỉ là một phần của một toàn thể lớn hơn và các lợi ích của y phải được đặt dưới lợi ích của nhóm. Dần dần, giáo huấn được tổ chức lại và chương trình học được mở rộng; từng chút một, các bí nhiệm được phát triển khi con người trở nên sẵn sàng với chúng, cho đến khi chúng ta có các Trường Bí nhiệm kỳ diệu của Can Đê, Ai Cập, Hy Lạp và nhiều nơi khác.
|
|
9. Three things might be mentioned:
|
9. Có thể nêu ba điều:
|
|
a. The relatively low point of evolution of many men and their naturally physical polarization.
|
a. Điểm tiến hoá tương đối thấp của nhiều người và sự phân cực hồng trần tự nhiên của họ.
|
|
b. The work of the black adepts and the followers of the left hand path. When the Ibezhan adepts (again under instructions from the Masters at Shamballa) began to withdraw into the Temples, to make the mysteries more difficult of attainment and to work against abuses and distortions, a number of Their erstwhile followers, many of great power and knowledge, fought Them and thus we have one of the causes of the appearing of [382] black and white magic, and one of the reasons of the purifying waters of the flood being deemed necessary.
|
b. Công việc của các chân sư hắc đạo và những người đi theo tả đạo. Khi các chân sư Ibez, một lần nữa theo chỉ thị từ các Chân sư tại Shamballa, bắt đầu rút vào các Đền, khiến các bí nhiệm trở nên khó đạt hơn và hoạt động chống lại các lạm dụng cùng những bóp méo, một số môn đồ trước kia của Các Ngài, nhiều người có quyền năng và tri thức lớn, đã chống lại Các Ngài; và như thế chúng ta có một trong các nguyên nhân của sự xuất hiện [382] của hắc thuật và chánh thuật, cũng như một trong các lý do khiến những dòng nước thanh tẩy của trận Đại hồng thủy được xem là cần thiết.
|
|
c. The powerful thought-forms built up in the early Ibezhan mysteries and which (particularly in America) are as yet undestroyed. This gigantic “Dweller on the Threshold” of all the true Mysteries has to be slaughtered before the aspirant can pass on.
|
c. Các hình tư tưởng đầy quyền lực được xây dựng trong các bí nhiệm Ibez sơ khai, và cho đến nay, đặc biệt tại châu Mỹ, vẫn chưa bị phá hủy. Kẻ Chận Ngõ khổng lồ này của tất cả các Bí nhiệm chân chính phải bị tiêu diệt trước khi người chí nguyện có thể tiến lên.
|
|
10. The work of the Ibezhan adepts and the mysteries of the Temple of Ibez are still persisting and are being carried on by the masters and adepts in physical incarnation throughout the world. They teach the meaning of the psyche, the ego or the soul and of the human unit, so that the man may indeed be what he is, a God walking on earth, his lower nature (physical, astral and mental) completely controlled by the soul or the love aspect, and this not in theory but in deed and truth.
|
10. Công việc của các chân sư Ibez và các bí nhiệm của Đền Ibez vẫn còn tồn tại và đang được các Chân sư cùng các chân sư trong sự nhập thể hồng trần trên khắp thế giới tiếp tục thực hiện. Các Ngài dạy ý nghĩa của tâm hồn, của chân ngã hay linh hồn và của đơn vị con người, để con người quả thật có thể là điều y vốn là: một Thượng đế bước đi trên Trái Đất, với bản chất thấp của y, tức hồng trần, cảm dục và trí tuệ, hoàn toàn được linh hồn hay Phương diện Bác ái kiểm soát, và điều này không phải trong lý thuyết mà trong hành động và chân lý.
|
|
When this is the case, the physical body will have no lure for the real man, the emotional nature and desire body will no longer lead astray nor will the mind shut out that which is true and spiritual, but the God will use the three bodies as vehicles of service to the race. Then will the human kingdom be transcended and man pass into the spiritual kingdom, there to have further lessons just as infant humanity when passing out of the animal kingdom was trained and taught its functions and work by the Ibezhan teachers.
|
Khi điều này xảy ra, thể xác sẽ không còn sức quyến rũ đối với con người chân thật; bản chất cảm xúc và thể dục vọng sẽ không còn dẫn y lạc đường, và thể trí cũng sẽ không che khuất điều chân thật và tinh thần; nhưng Thượng đế sẽ dùng ba thể như các vận cụ phụng sự nhân loại. Khi ấy giới nhân loại sẽ được vượt qua và con người sẽ đi vào giới tinh thần, ở đó để học thêm những bài học, cũng như nhân loại thơ ấu, khi thoát ra khỏi giới động vật, đã được các huấn sư Ibez huấn luyện và dạy dỗ về các chức năng và công việc của mình.
|
|
In Atlantean days, the goal that the Hierarchy of Teachers set before Themselves was the awakening in man of the love nature, as a step towards the awakening of the heart centre. To do this, the Teachers at that time were Themselves focussed (deliberately and of intent) in the heart centre, and chose to work entirely through that centre, subordinating Their mental equipment and [383] the mental energy They could use to the need of the time, They kept Their mental force in abeyance when training the initiates until the time the third initiation was reached. In our race, the condition is reversed. The Hierarchy is working now entirely on mental levels, though basing all endeavour upon past achievements in connection with the heart centre. Up to the third initiation therefore, disciples have to endeavour to work entirely with mental energy in an effort to control, master and use it. Their attempt is concentrated then upon transmitting (from egoic levels) the will aspect of the soul. That will has to be imposed upon the personality until it has become the automaton of the soul. Then the intuition takes control, and energies from the intuitional or buddhic plane begin to make their impact upon the form nature, the personality. Prior to this period of intuitional control, there are many lives wherein the intuition may begin to play its part, and the student learns the meaning of illumination. Until after the third initiation, however, it is the iilumined mind which is the dominant factor, and not the pure intuitive perception, or pure reason. After this great initiation, which marks a definite transition out of the form consciousness, the initiate can function at will on the plane of the intuition, and the mind is steadily relegated into the background till it becomes a part of the instinctual apparatus—as much a part of the subconscious instinctual nature as is the instinctual nature which the materialistic psychologist so much stresses. Intuitive perception, pure vision, direct knowledge, and an ability to utilise the undifferentiated energies of the Universal Mind are the main characteristics of the Aryan adepts. I use the word ‘undifferentiated’ in the sense of freedom from multiplicity; certain main distinctions will still be found to exist. The will of the soul, regarding that soul as having [384] its place on one of the seven Rays, is superseded by the will of the Whole.
|
Trong thời Atlantis, mục tiêu mà Thánh Đoàn các Huấn sư đặt ra cho Chính Các Ngài là sự khơi dậy nơi con người bản chất bác ái, như một bước hướng tới sự khơi dậy trung tâm tim. Để làm điều này, các Huấn sư thời ấy Chính Các Ngài tập trung, một cách cố ý và có chủ đích, trong trung tâm tim, và chọn hoạt động hoàn toàn qua trung tâm ấy, đặt trang bị trí tuệ của Các Ngài và [383] năng lượng trí tuệ Các Ngài có thể sử dụng ở vị trí phụ thuộc trước nhu cầu của thời đại; Các Ngài giữ mãnh lực trí tuệ của mình trong trạng thái tạm hoãn khi huấn luyện các điểm đạo đồ, cho đến khi đạt đến lần điểm đạo thứ ba. Trong nhân loại của chúng ta, tình trạng đã đảo ngược. Thánh Đoàn hiện nay hoạt động hoàn toàn trên các cấp độ trí tuệ, mặc dù đặt mọi nỗ lực trên nền tảng những thành tựu quá khứ liên hệ với trung tâm tim. Do đó, cho đến lần điểm đạo thứ ba, các đệ tử phải nỗ lực hoạt động hoàn toàn với năng lượng trí tuệ trong cố gắng kiểm soát, làm chủ và sử dụng nó. Khi ấy nỗ lực của họ tập trung vào việc truyền dẫn, từ các cấp độ chân ngã, phương diện ý chí của linh hồn. Ý chí ấy phải được áp đặt lên phàm ngã cho đến khi phàm ngã trở thành bộ máy tự động của linh hồn. Khi ấy trực giác nắm quyền kiểm soát, và các năng lượng từ cõi trực giác hay cõi Bồ đề bắt đầu tác động lên bản chất hình tướng, tức phàm ngã. Trước thời kỳ kiểm soát bằng trực giác này, có nhiều kiếp sống trong đó trực giác có thể bắt đầu đóng vai trò của nó, và đạo sinh học ý nghĩa của sự soi sáng. Tuy nhiên, cho đến sau lần điểm đạo thứ ba, chính thể trí được soi sáng là yếu tố chi phối, chứ không phải tri giác trực giác thuần túy hay lý trí thuần khiết. Sau cuộc điểm đạo vĩ đại này, vốn đánh dấu một chuyển tiếp xác định ra khỏi tâm thức hình tướng, điểm đạo đồ có thể hoạt động theo ý muốn trên cõi trực giác, và thể trí đều đặn bị đẩy lùi vào hậu cảnh cho đến khi nó trở thành một phần của bộ máy bản năng, cũng là một phần của bản chất bản năng tiềm thức như bản chất bản năng mà nhà tâm lý học duy vật nhấn mạnh rất nhiều. Tri giác trực giác, tầm nhìn thuần khiết, tri thức trực tiếp và khả năng sử dụng các năng lượng chưa biến phân của Vũ Trụ Trí là những đặc tính chính của các chân sư Arya. Tôi dùng từ “chưa biến phân” theo nghĩa thoát khỏi tính đa tạp; một số phân biệt chính vẫn còn được thấy là tồn tại. Ý chí của linh hồn, nếu xem linh hồn ấy như có [384] vị trí trên một trong bảy Cung, được thay thế bởi ý chí của Toàn Thể.
|
|
These are words meaning but little, or having at best only a theoretical significance to students in this group. When I say to you that the will which is transmitted through the medium of the controlled mind is embodied in seven types of energy, and to these seven types, there are corresponding types of humanity, you say doubtless that that is clear and not so difficult to grasp. Yet do you indeed understand? Seven types of energy, and seven types of responsive mentalities, dependent upon the seven ray types! In this statement, we note the differentiations of the soul aspect as grasped by the mind. These are the seven differentiations which take the place of the multiplicity of differences into which the form aspect falls. They are, nevertheless, distinctions and differentiations, and persist in their hold over man until the third initiation. By them he is swept into certain major activities and life tendencies, according to his particular ray. These are mental distinctions. All souls on the mental plane take the forms of the solar Angels, of the divine Sons of mind. Hence we have these groupings, and hence the focussing of the energies through which the Plan of the Ages works out through seven main departments.
|
Đây là những lời có rất ít ý nghĩa, hoặc may lắm chỉ có thâm nghĩa lý thuyết đối với các đạo sinh trong nhóm này. Khi tôi nói với các bạn rằng ý chí được truyền dẫn qua trung gian của thể trí đã được kiểm soát được hiện thân trong bảy loại năng lượng, và rằng tương ứng với bảy loại này có bảy loại nhân loại, hẳn các bạn sẽ nói rằng điều đó rõ ràng và không quá khó nắm bắt. Nhưng các bạn có thật sự thấu hiểu không? Bảy loại năng lượng, và bảy loại tâm trí đáp ứng, tùy thuộc vào bảy loại cung! Trong phát biểu này, chúng ta ghi nhận những biến phân của phương diện linh hồn như thể trí nắm bắt. Đây là bảy biến phân thay thế cho tính đa tạp của những khác biệt mà phương diện hình tướng rơi vào. Tuy nhiên, chúng vẫn là các phân biệt và biến phân, và tiếp tục nắm giữ quyền lực trên con người cho đến lần điểm đạo thứ ba. Nhờ chúng, y bị cuốn vào một số hoạt động và khuynh hướng sống chính yếu nào đó, tùy theo cung riêng của y. Đây là những phân biệt trí tuệ. Tất cả các linh hồn trên cõi trí mang hình tướng của các Thái dương Thiên Thần, của các Con thiêng liêng của Trí Tuệ. Vì thế chúng ta có những nhóm này, và vì thế có sự tập trung các năng lượng mà qua đó Thiên Cơ của các Thời Đại được thực hiện qua bảy bộ phận chính.
|
|
At a later stage, when certain great transitions in consciousness have taken place and the form has lost its hold, even these divisions disappear, and the plan is seen as a whole, the Life is known in its essential oneness, and the term, monad, begins to have some real significance.
|
Ở một giai đoạn về sau, khi một số chuyển tiếp lớn trong tâm thức đã xảy ra và hình tướng đã mất quyền nắm giữ, ngay cả những phân chia này cũng biến mất; Thiên Cơ được thấy như một toàn thể, Sự sống được biết trong nhất tính cốt yếu của nó, và thuật ngữ chân thần bắt đầu có một thâm nghĩa thật sự nào đó.
|
|
Students must always remember that all distinctions and categories are mental productions, and are due to the modifications of the thinking principle, and to the control of form by mental energy. As the central Thinker of the Universe works through the power of [385] thought, the problem of surmounting these distinctions and differences is well nigh insuperable until such time as the aspirant comes under complete control of the second aspect of divinity, and passes out of the domination of the third or matter aspect. But up to the third initiation even the second aspect (the aspect of love) implies duality, for it is inherent in love itself. Ever there is the Lover and the loved, the Desirer and the desired, the Seeker and the sought. It is only as the first aspect, that of energising unifying Life (which sweeps all forms and all dualities into one great synthesis) is sensed at the third initiation, that the words I have here dictated convey any practical meaning or realisation.
|
Các đạo sinh phải luôn nhớ rằng mọi phân biệt và phạm trù đều là sản phẩm của trí tuệ, và do những biến đổi của nguyên khí tư tưởng cũng như do sự kiểm soát hình tướng bằng năng lượng trí tuệ mà có. Vì Đấng Tư Tưởng trung tâm của Vũ Trụ hoạt động qua quyền năng của [385] tư tưởng, vấn đề vượt qua những phân biệt và khác biệt này hầu như không thể khắc phục cho đến khi người chí nguyện hoàn toàn đi vào dưới sự kiểm soát của phương diện thứ hai của thiên tính, và thoát khỏi sự thống trị của phương diện thứ ba hay phương diện vật chất. Nhưng cho đến lần điểm đạo thứ ba, ngay cả phương diện thứ hai, tức phương diện bác ái, cũng hàm ý nhị nguyên, vì điều này vốn cố hữu trong chính bác ái. Luôn luôn có Người Yêu và kẻ được yêu, Người Khao Khát và điều được khao khát, Người Tìm Kiếm và điều được tìm kiếm. Chỉ khi phương diện thứ nhất, phương diện của Sự sống hợp nhất hóa và tiếp sinh lực, vốn cuốn mọi hình tướng và mọi nhị nguyên vào một tổng hợp vĩ đại duy nhất, được cảm nhận ở lần điểm đạo thứ ba, thì những lời tôi đã đọc cho ghi ở đây mới truyền đạt bất kỳ ý nghĩa thực tiễn hay sự chứng nghiệm thật sự nào.
|
|
Let us simplify matters, if we can, by three clear statements; in them we will sum up the work the disciple accomplishes, as he struggles with and masters the energies of the mental world.
|
Nếu có thể, chúng ta hãy đơn giản hóa vấn đề bằng ba phát biểu rõ ràng; trong đó chúng ta sẽ tóm lược công việc mà đệ tử hoàn thành khi y vật lộn với các năng lượng của thế giới trí tuệ và làm chủ chúng.
|
|
1. Work on the mental plane produces realisation of duality. The disciple seeks to blend and merge the soul with its vehicle and to do this consciously. He seeks to fuse them into a unity. He aims at the realisation that, here and now, they are ONE. The unification of the self and of the not-self is his objective. The first step in this direction is taken when he begins to cease identifying himself with the form, and recognises (during this transitional period) that he is a duality.
|
1. Công việc trên cõi trí tạo ra sự nhận biết về nhị nguyên. Đệ tử tìm cách hòa trộn và hợp nhất linh hồn với vận cụ của nó, và làm điều này một cách có ý thức. Y tìm cách dung hợp chúng thành một nhất thể. Y nhắm đến sự nhận biết rằng, ở đây và bây giờ, chúng là MỘT. Mục tiêu của y là sự hợp nhất của ngã và phi-ngã. Bước đầu tiên theo hướng này được thực hiện khi y bắt đầu ngừng đồng hóa mình với hình tướng, và trong thời kỳ chuyển tiếp này, nhận ra rằng y là một nhị nguyên.
|
|
2. The mind, rightly used, becomes therefore a recorder of two types of energy or of two aspects of the manifestation of the One Life. It records and interprets the world of phenomena. It records and interprets the world of souls. It is sensitive to the three worlds of human evolution. It becomes equally sensitive to the kingdom of the soul. It is the great mediating principle, in this interim of dual recognition.
|
2. Do đó, thể trí, khi được sử dụng đúng đắn, trở thành bộ ghi nhận hai loại năng lượng hay hai phương diện của sự biểu hiện của Sự Sống Duy Nhất. Nó ghi nhận và diễn giải thế giới hiện tượng. Nó ghi nhận và diễn giải thế giới của các linh hồn. Nó nhạy cảm với ba cõi của tiến hoá nhân loại. Nó cũng trở nên nhạy cảm ngang như thế với giới của linh hồn. Trong khoảng thời gian tạm thời của sự nhận biết nhị nguyên này, nó là nguyên khí trung gian vĩ đại.
|
|
3. Later, the soul and its instrument become so unified and at-one that duality disappears, and the soul knows [386] itself to be all that is, all that has been and all that will be.
|
3. Về sau, linh hồn và khí cụ của nó trở nên hợp nhất và đồng nhất đến mức nhị nguyên biến mất, và linh hồn biết [386] chính mình là tất cả những gì đang là, tất cả những gì đã là và tất cả những gì sẽ là.
|
|
There is a curious and ancient Atlantean chant which is no longer used but in those far off times was chanted by the initiate who took the third initiation—the consummating initiation of that period. It goes as follows. The translation of the symbols in which it was written necessitates the loss of rhythm and potency.
|
Có một bài tụng Atlantis cổ xưa và kỳ lạ hiện nay không còn được sử dụng, nhưng trong những thời xa xưa ấy đã được điểm đạo đồ xướng lên khi y nhận lần điểm đạo thứ ba, cuộc điểm đạo hoàn tất của thời kỳ đó. Bài ấy như sau. Việc dịch các biểu tượng trong đó bài ấy được viết tất yếu làm mất đi nhịp điệu và quyền năng.
|
|
“I stand between the Heavens and Earth! I vision God; I see the forms God took. I hate them both. Naught do they mean to me, for one I cannot reach, and for the lower of the two I have no longer any love.
|
“Tôi đứng giữa các Cõi Trời và Trái Đất! Tôi thấy linh ảnh về Thượng đế; tôi thấy những hình tướng mà Thượng đế đã khoác lấy. Tôi ghét cả hai. Chúng chẳng có ý nghĩa gì đối với tôi, vì một điều thì tôi không thể vươn tới, còn điều thấp hơn trong hai điều ấy thì tôi không còn chút tình thương nào.
|
|
“Torn I am. Space and its Life I cannot know, and so I want it not. Time and its myriad forms I know too well. Pendant I hang betwixt the two, desiring neither.
|
“Tôi bị xé đôi. Không gian và Sự sống của nó, tôi không thể biết, và vì thế tôi không muốn nó. Thời gian và vô vàn hình tướng của nó, tôi biết quá rõ. Tôi treo lơ lửng giữa hai điều ấy, không khao khát điều nào.
|
|
“God from high Heaven speaks. There is a change. I hear with ear attentive, and, listening, turn my head. That which is visioned, yet visioning could not reach, is nearer to my heart. Old longings come again, yet die. Old chains with clamour snap. Forward I rush.
|
“Thượng đế từ Cõi Trời cao phán. Có một sự thay đổi. Tôi lắng tai chăm chú nghe, và trong khi lắng nghe, tôi quay đầu lại. Điều được thấy trong linh ảnh, nhưng việc thấy linh ảnh vẫn không thể vươn tới, nay gần với tâm tôi hơn. Những khát vọng cũ lại trở về, nhưng rồi tàn lụi. Những xiềng xích cũ gãy tung trong tiếng vang dội. Tôi lao về phía trước.
|
|
“Myriads of voices speak and halt me in my tracks. The thunder of the sounds of earth shuts out the voice of God. I turn me on my forward path, and vision once again the long held joys of earth, and flesh and kin. I lose the vision of eternal things. The voice of God dies out.
|
“Vô số tiếng nói cất lên và chặn tôi lại trên đường. Tiếng sấm của các âm thanh trần thế che lấp tiếng nói của Thượng đế. Tôi quay lại trên con đường tiến tới của mình, và một lần nữa thấy linh ảnh về những niềm vui trần thế, xác thịt và thân quyến đã được giữ lâu ngày. Tôi đánh mất linh ảnh về những điều vĩnh cửu. Tiếng nói của Thượng đế tắt lịm.
|
|
“Torn again am I, but only for a little time. Backward and forward shifts my little self, e’en as a bird soars into heaven and settles back again upon the tree. Yet God, in His high place, outlasts the little bird. Thus do I know that God will victor be and later hold my mind and me in thrall.
|
“Tôi lại bị xé đôi, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn. Cái ngã nhỏ bé của tôi dao động lui tới, như một con chim bay vút lên trời rồi lại đậu xuống cây. Nhưng Thượng đế, nơi chốn cao của Ngài, tồn tại lâu hơn con chim nhỏ. Vì thế tôi biết rằng Thượng đế sẽ chiến thắng và về sau sẽ giữ thể trí tôi và tôi trong quyền chế ngự của Ngài.
|
|
*
|
*
|
|
“Hark to the joyous paean that I chant; the work is done. My ear is deaf to all the calls of earth, except to that small voice of all the hidden souls within the outer forms, for they are as myself; with them I am at-one.
|
“Hãy lắng nghe khúc ca hân hoan tôi xướng lên; công việc đã hoàn tất. Tai tôi điếc trước mọi tiếng gọi của trần gian, ngoại trừ tiếng nói nhỏ bé ấy của mọi linh hồn ẩn kín bên trong các hình tướng bên ngoài, vì họ cũng như tôi; cùng họ tôi đồng nhất.
|
|
“God’s voice rings clear and in its tones and overtones the little voices of the little forms dim and fade out. I dwell within a world of unity. I know all souls are one.
|
“Tiếng nói của Thượng đế vang lên rõ ràng, và trong các âm điệu cùng âm bội của nó, những tiếng nói nhỏ bé của các hình tướng nhỏ bé mờ dần rồi tắt lịm. Tôi an trú trong một thế giới hợp nhất. Tôi biết mọi linh hồn là một.
|
|
“Swept am I by the universal Life and as I sweep upon [387] my onward way—the way of God—I see all lesser energies die out. I am the One; I, God. I am the form in which all forms are merged. I am the soul in which all souls are fused. I am the Life, and in that Life, all little lives remain.”
|
“Sự Sống vũ trụ cuốn tôi đi, và khi tôi lướt trên [387] con đường tiến tới của mình, con đường của Thượng đế, tôi thấy mọi năng lượng nhỏ hơn tắt lịm. Tôi là Đấng Duy Nhất; tôi, Thượng đế. Tôi là hình tướng trong đó mọi hình tướng được hợp nhất. Tôi là linh hồn trong đó mọi linh hồn được dung hợp. Tôi là Sự Sống, và trong Sự Sống ấy, mọi sự sống nhỏ bé đều tồn tại.”
|
|
These words, chanted in the ancient formulas on peculiar and selected notes, were most potent and brought definite results in certain ancient ceremonies that have long since died out.
|
Những lời này, được xướng trong các công thức cổ xưa trên những âm điệu đặc biệt và được chọn lọc, rất mạnh mẽ và đem lại những kết quả xác định trong một số nghi lễ cổ xưa đã từ lâu biến mất.
|
|
To the three concise statements above made we might add a fourth as follows:
|
Với ba phát biểu ngắn gọn đã nêu trên, chúng ta có thể thêm một phát biểu thứ tư như sau:
|
|
4. When the chitta, or mind stuff, is swept into activity by abstract ideas (the embodied thoughts of the divine mind, carrying the energy of their creator and consequently the cause of phenomenal effects in the three worlds) and when to this is added divine understanding and synthetic apprehension of the will and purpose of God, then the three aspects of mind are unified. These we touched upon earlier, and called them:
|
4. Khi chitta, hay chất trí, bị cuốn vào hoạt động bởi các ý tưởng trừu tượng, tức những tư tưởng được hiện thân của Trí thiêng liêng, mang năng lượng của đấng sáng tạo ra chúng và do đó là nguyên nhân của các hiệu quả hiện tượng trong ba cõi; và khi thêm vào điều này là sự thấu hiểu thiêng liêng cùng sự lĩnh hội tổng hợp về Ý Chí và Thiên Ý của Thượng đế, thì ba phương diện của thể trí được hợp nhất. Chúng ta đã đề cập đến những phương diện này trước đây, và gọi chúng là:
|
|
1. Mind stuff, or chitta.
|
1. Chất trí, hay chitta.
|
|
2. Abstract mind.
|
2. Trí trừu tượng.
|
|
3. Intuition or pure reason.
|
3. Trực giác hay lý trí thuần khiết.
|
|
These have to be unified in the consciousness of the aspirant. When this has happened, the disciple has built the bridge (the antaskarana) which links:
|
Những điều này phải được hợp nhất trong tâm thức của người chí nguyện. Khi điều này xảy ra, đệ tử đã xây cây cầu, tức antahkarana, liên kết:
|
|
1. The spiritual triad.
|
1. Tam Nguyên Tinh Thần.
|
|
2. The causal body.
|
2. Thể nguyên nhân.
|
|
3. The personality.
|
3. Phàm ngã.
|
|
When this is done the egoic body has served its purpose, the solar Angel has done its work, and the form side of existence is no longer needed, as we understand and utilise it, as a medium of experience. The man enters into the consciousness of the Monad, the ONE. The causal body [388] disintegrates; the personality fades out, and illusion is ended. This is the consummation of the Great Work, and another Son of God has entered into the Father’s home. That he may go out from there into the world of phenomena in order to work with the Plan is probable, but he will not need to undergo the processes of manifestation as humanity does. He can then construct, for the work, his body of expression. He can work through and with energy as the Plan dictates. Note these last words, for they hold the key to manifestation.
|
Khi điều này hoàn tất, thể chân ngã đã phục vụ xong mục đích của nó, Thái dương Thiên Thần đã hoàn tất công việc của mình, và phương diện hình tướng của sự tồn tại không còn cần thiết nữa, như chúng ta thấu hiểu và sử dụng nó, với tư cách là một phương tiện kinh nghiệm. Con người đi vào tâm thức của Chân thần, Đấng Duy Nhất. Thể nguyên nhân [388] tan rã; phàm ngã phai mờ, và ảo tưởng chấm dứt. Đây là sự hoàn tất của Đại Công Trình, và một Con của Thượng đế khác đã bước vào nhà của Cha. Y có thể từ đó đi ra vào thế giới hiện tượng để làm việc với Thiên Cơ, điều ấy là khả hữu, nhưng y sẽ không cần trải qua các tiến trình biểu hiện như nhân loại. Khi ấy, vì công việc, y có thể kiến tạo thể biểu hiện của mình. Y có thể hoạt động qua năng lượng và với năng lượng theo như Thiên Cơ quy định. Hãy lưu ý những lời sau cùng này, vì chúng nắm giữ chìa khóa của sự biểu hiện.
|
|
Our study of the energies which have been brought to our attention as we studied Rule X has brought us to a consideration of:
|
Nghiên cứu của chúng ta về các năng lượng đã được đưa ra cho chúng ta chú ý khi chúng ta học Quy luật Mười đã dẫn chúng ta đến việc xem xét:
|
|
Personality Energy: emanating from:
|
Năng lượng Phàm ngã: phát xuất từ:
|
|
a. Coordinated man.
|
a. Con người đã phối hợp.
|
|
b. Dominant human beings.
|
b. Những con người chi phối.
|
|
c. Groups: such as
|
c. Các nhóm, chẳng hạn như
|
|
1. The Hierarchy of Adepts.
|
1. Thánh Đoàn các Chân sư.
|
|
2. The integrating Group of Mystics of the New Age.
|
2. Nhóm các Nhà thần bí đang tích hợp của Kỷ Nguyên Mới.
|
|
This will be an important consideration, for this group of mystics is gaining each year in potency.
|
Đây sẽ là một điều cần xem xét quan trọng, vì nhóm các nhà thần bí này mỗi năm đều gia tăng quyền năng.
|
|
Planetary Energies: emanating from:
|
Các Năng lượng Hành tinh: phát xuất từ:
|
|
a. The seven planets.
|
a. Bảy hành tinh.
|
|
b. The Earth.
|
b. Trái Đất.
|
|
c. The Moon.
|
c. Mặt Trăng.
|
|
Only a few things can be noted about this section of energies and about the next, for this is a series of Instructions for the aspirant and not a treatise on energy.
|
Chỉ có thể ghi nhận một vài điều về phần năng lượng này và về phần tiếp theo, vì đây là một loạt Huấn thị dành cho người chí nguyện chứ không phải một khảo luận về năng lượng.
|
|
Solar Energies: emanating from:
|
Các Năng lượng Thái dương: phát xuất từ:
|
|
a. The physical sun.
|
a. Mặt trời hồng trần.
|
|
b. Cosmic sources.
|
b. Các nguồn vũ trụ.
|
|
In all thoughts concerning these energies it should be remembered that they are passed to us through, or rather [389] constitute the bodies of, certain lives whom we call the devas, in their greater and lesser groups, and that therefore we are all the time working in the bodies of lives and hence influencing them. Some of you therefore who have made a study of A Treatise on Cosmic Fire may find it of value to note the following items of information:
|
Trong mọi tư tưởng liên quan đến các năng lượng này, cần nhớ rằng chúng được truyền đến chúng ta qua, hay đúng hơn [389] cấu thành các thể của, một số sự sống mà chúng ta gọi là các thiên thần, trong các nhóm lớn hơn và nhỏ hơn của họ; và do đó, chúng ta luôn luôn hoạt động trong các thể của các sự sống, và vì thế ảnh hưởng đến họ. Vì vậy, một số bạn đã nghiên cứu Luận về Lửa Vũ Trụ có thể thấy hữu ích khi ghi nhận các điểm thông tin sau:
|
|
1. The lowest types of devas or builders on the evolutionary Path are violet devas; next come the green, and, last of all, the white devas. These are all dominated by a fourth and special group. These control the exoteric processes of physical plane existence.
|
1. Các loại thiên thần hay đấng kiến tạo thấp nhất trên Đường Đạo thăng thượng tiến hoá là các thiên thần màu tím; kế đến là màu xanh lục, và sau cùng là các thiên thần màu trắng. Tất cả những vị này đều chịu sự chi phối của một nhóm thứ tư và đặc biệt. Nhóm này kiểm soát các tiến trình ngoại môn của sự tồn tại trên cõi hồng trần.
|
|
2. It must not be forgotten, however, that, on a lower scale of the evolutionary ladder, are other groups of lives, wrongly entitled devas, which work in obedience to the law, and are controlled by the higher entities. There are, for instance, the denser forms of gaseous life, termed often salamanders, the elementals of the fire. These are directly under the control of the Lord Agni, Lord of the mental plane, and, in this mental age, we have the element of fire entering into the mechanics of living as never before. Eliminate the products which are controlled by heat and you will bring our civilisation to a stop; you will bring all means of transportation to an end and all modes of lighting; you would throw all manufactories into the discard. Basically again, these fiery lives, are found in all that burns, and in the warmth that holds all life formation on earth and causes the flourishing of all living things.
|
2. Tuy nhiên, không được quên rằng ở một nấc thang thấp hơn của thang tiến hoá còn có các nhóm sự sống khác, bị gọi sai là thiên thần, vốn hoạt động trong sự tuân phục định luật và chịu sự kiểm soát của các thực thể cao hơn. Chẳng hạn, có những hình thức đậm đặc hơn của sự sống khí, thường được gọi là salamander, các hành khí của lửa. Những sự sống này trực tiếp ở dưới sự kiểm soát của Đức Agni, Chúa Tể của cõi trí; và trong thời đại trí tuệ này, chúng ta có nguyên tố lửa đi vào cơ chế của đời sống hơn bao giờ hết. Hãy loại bỏ những sản phẩm được kiểm soát bằng nhiệt, và các bạn sẽ khiến nền văn minh của chúng ta dừng lại; các bạn sẽ chấm dứt mọi phương tiện vận chuyển và mọi phương thức chiếu sáng; các bạn sẽ khiến mọi nhà máy bị loại bỏ. Về căn bản, những sự sống lửa này cũng được tìm thấy trong tất cả những gì cháy, và trong hơi ấm duy trì mọi sự hình thành sự sống trên Trái Đất, khiến mọi sinh vật phát triển hưng thịnh.
|
|
3. Under the Law of Correspondences the mental plane has an analogy in the third subplane of the physical plane, the plane into which science is now entering. Mind has, for its main expression in the material world what we call our scientific civilisation.
|
3. Theo định luật tương ứng, cõi trí có một sự tương đồng nơi cõi phụ thứ ba của cõi hồng trần, cõi mà khoa học hiện đang bước vào. Trí tuệ có biểu hiện chính của nó trong thế giới vật chất nơi điều chúng ta gọi là nền văn minh khoa học của mình.
|
|
4. Agni rules on the mental plane, and has domination likewise on the third subplane of the etheric planes. He [390] is the Lord of the fifth or mental plane, counting from above downwards, if one must employ these terms for the sake of symbolism. For this world cycle, Agni is the dominating influence, though Indra, Lord of the buddhic or intuitional level has a subtle control which is steadily waxing stronger. All humanity is striving towards the fourth plane of union between the three higher and the three lower, but, at this present moment, the plane of mind or of fire is the most important.
|
4. Agni cai quản trên cõi trí, và cũng có quyền chi phối trên cõi phụ thứ ba của các cõi dĩ thái. Ngài [390] là Chúa Tể của cõi thứ năm hay cõi trí, nếu tính từ trên xuống dưới, nếu người ta phải dùng các thuật ngữ này vì mục đích biểu tượng. Đối với chu kỳ thế giới này, Agni là ảnh hưởng chi phối, mặc dù Indra, Chúa Tể của cấp độ Bồ đề hay trực giác, có một sự kiểm soát vi tế đang đều đặn trở nên mạnh hơn. Toàn thể nhân loại đang nỗ lực hướng tới cõi thứ tư của sự hợp nhất giữa ba cõi cao và ba cõi thấp, nhưng ngay lúc hiện tại, cõi trí hay cõi lửa là quan trọng nhất.
|
|
5. We need to remember that just as in particular incarnations, men are focussed or polarised in various bodies—sometimes the astral and sometimes the mental—so at this time one might infer that our planetary Logos Himself is focussed in His mental body. He, it has been said, is striving towards the fourth cosmic initiation, which makes possible our attainment of the fourth Initiation, for He carries us forward with Him, and, on our particular level, we achieve as cells in His Body.
|
5. Chúng ta cần nhớ rằng cũng như trong các lần nhập thể riêng biệt, con người tập trung hay phân cực trong các thể khác nhau, đôi khi thể cảm dục và đôi khi thể trí, thì vào lúc này, người ta có thể suy ra rằng chính Đức Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đang tập trung trong thể trí của Ngài. Người ta đã nói rằng Ngài đang nỗ lực hướng tới lần điểm đạo vũ trụ thứ tư, điều khiến cho sự đạt đến lần Điểm Đạo thứ tư của chúng ta trở nên khả hữu, vì Ngài mang chúng ta tiến tới cùng Ngài, và trên cấp độ riêng của chúng ta, chúng ta thành tựu như các tế bào trong Thể của Ngài.
|
|
6. As time progresses, Indra will swing into control and the age of air will be ushered in. More and more as the buddhic principle manifests and at-one-ment is achieved shall we see this age of air coming into being. A corroboration of this can be seen in the gradual control by men of the air. In an esoteric sense, all in the future will become lighter, more rarefied and more etherealized. I am choosing my words with care.
|
6. Khi thời gian tiến triển, Indra sẽ bước vào quyền kiểm soát và thời đại của khí sẽ được mở ra. Càng ngày, khi nguyên khí Bồ đề biểu hiện và sự hợp nhất được thành tựu, chúng ta sẽ càng thấy thời đại của khí đi vào hiện hữu. Một sự chứng thực cho điều này có thể được thấy trong việc con người dần dần kiểm soát không khí. Theo nghĩa huyền bí, trong tương lai, mọi sự sẽ trở nên nhẹ hơn, thanh loãng hơn và dĩ thái hóa hơn. Tôi đang chọn lời của mình một cách cẩn trọng.
|
|
7. “Our God is a consuming Fire” refers primarily to Agni, the controlling factor in this age. The devas of the fire will play an increasingly important part in all earth processes. To them is given the work of inaugurating the New Age, the new world and civilisation and the new continent. The last great transition was governed by Varuna.
|
7. “Thượng đế của chúng ta là một Lửa thiêu đốt” chủ yếu ám chỉ Agni, yếu tố kiểm soát trong thời đại này. Các thiên thần của lửa sẽ đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong mọi tiến trình trên Trái Đất. Họ được giao công việc mở đầu Kỷ Nguyên Mới, thế giới và nền văn minh mới, cùng lục địa mới. Cuộc Chuyển tiếp vĩ đại cuối cùng do Varuna chi phối.
|
|
8. Agni controls not only the fires of the earth and rules the mental plane but he is definitely associated with [391] the work of arousing the sacred fire, the kundalini. Note how the correspondence works out. A great part of the fifth root-race, three-fifths perhaps, stand close to the Probationary Path, and with the coming in of the new age and the advent of the Christ in due time and in His own place (note the care with which I express this; dogmatic assertions in terms of men’s concrete minds are inadvisable) many will find it possible to make the adequate extra effort, entailed in the taking of the first major Initiation. They will begin to pass from the fifth to the fourth plane. The Lord of Fire will achieve his peculiar work for this cycle by arousing the fire of kundalini in the large numbers of those who are ready. This will be begun in this century, and carried forward actively for the next one thousand years.
|
8. Agni không những kiểm soát các ngọn lửa của Trái Đất và cai quản cõi trí, mà Ngài còn liên hệ một cách xác định với [391] công việc khơi dậy lửa thiêng, kundalini. Hãy lưu ý cách sự tương ứng diễn ra. Một phần lớn của giống dân gốc thứ năm, có lẽ ba phần năm, đứng gần Con Đường Dự Bị; và với sự đi vào của kỷ nguyên mới, cùng sự giáng lâm của Đức Christ đúng thời và đúng vị trí của Ngài, hãy lưu ý sự cẩn trọng trong cách tôi diễn đạt điều này, vì những khẳng định giáo điều theo ngôn ngữ của trí cụ thể nơi con người là điều không nên, nhiều người sẽ thấy có thể thực hiện nỗ lực bổ sung thích đáng, vốn được đòi hỏi trong việc nhận lần Điểm Đạo chính yếu thứ nhất. Họ sẽ bắt đầu chuyển từ cõi thứ năm sang cõi thứ tư. Chúa Tể của Lửa sẽ hoàn thành công việc đặc thù của Ngài cho chu kỳ này bằng cách khơi dậy lửa kundalini nơi số lượng lớn những người đã sẵn sàng. Điều này sẽ được bắt đầu trong thế kỷ này, và được tiếp tục một cách tích cực trong một nghìn năm tới.
|
|
In your work you may later be shown—all depends upon your aptitude—methods of approach to these dominating forces, but this will come subjectively and not through magical work and formulas. The attainment of a right vibration will work automatically in the production of right conditions and right rapports.
|
Trong công việc của các bạn, về sau các bạn có thể được chỉ cho thấy, mọi sự tùy thuộc vào năng lực của các bạn, các phương pháp tiếp cận những mãnh lực chi phối này; nhưng điều này sẽ đến một cách chủ quan và không thông qua công việc huyền thuật và các công thức. Việc đạt được một rung động đúng đắn sẽ tự động tạo ra những điều kiện đúng đắn và những mối tương giao đúng đắn.
|
|
I would again point out that we shall not waste time in planetary intricacies and the interplay of solar energies, but will concern ourselves with the laws of practical spiritual living. I seek but to give a few thoughts which have relation to the coming age, and which will enable man to go forward to that glorious heritage which is his and into which he must inevitably enter under the good Law and through the experience of rebirth. Through rebirth he learns to dominate and utilise form correctly.
|
Tôi muốn một lần nữa chỉ ra rằng chúng ta sẽ không lãng phí thời gian vào những phức tạp hành tinh và sự tương tác của các năng lượng thái dương, mà sẽ quan tâm đến các định luật của đời sống tinh thần thực tiễn. Tôi chỉ tìm cách đưa ra một vài tư tưởng có liên hệ với kỷ nguyên sắp đến, và sẽ giúp con người tiến tới di sản vinh quang vốn là của y, di sản mà y tất yếu phải bước vào dưới Định luật lành và qua kinh nghiệm tái sinh. Qua tái sinh, y học cách chi phối và sử dụng hình tướng một cách đúng đắn.
|
|
All forms, in themselves, are not expressions of a personality. To warrant the term, three types of energy must be present, three types, fused, blended and coordinated into one functioning organism. A personality is therefore a blend of mental energy, of emotional energy and of vital force, and these three are masked, hidden [392] or revealed (note this terminology) by an outer shell or form of dense physical matter. This outer crust is in itself a form of negative energy. The result of this union of three energies in an objective form is self-consciousness. Their fusion produces that sense of individuality, which justifies the use of the word ‘I’, and which relates all occurrences to a self. Where this central conscious entity exists, utilising the mind, reacting sensuously through the emotional body and energising the dense physical (via the vital body) then one has a personality. It is self-conscious existence in form. It is awareness of identity in relation to other identities, and this is equally true of God or man. It is a sense of identity, however, which persists only during the creative process, and for as long as the matter aspect and the consciousness aspect present the eternal duality of nature. In our evolutionary development it is not realised in the sub-human forms; it is realised in the human kingdom, and is realised but merged into and negated by the greater forms and consciousness which we call the superhuman.
|
Tự chúng, mọi hình tướng không phải là các biểu hiện của một phàm ngã. Để xứng đáng với thuật ngữ ấy, ba loại năng lượng phải hiện diện, ba loại được dung hợp, hòa trộn và phối hợp thành một cơ thể hoạt động duy nhất. Do đó, phàm ngã là một sự hòa trộn của năng lượng trí tuệ, năng lượng cảm xúc và mãnh lực sinh lực; và ba loại này được che đậy, ẩn giấu [392] hay mặc khải, hãy lưu ý thuật ngữ này, bởi một lớp vỏ hay hình tướng bên ngoài bằng vật chất hồng trần đậm đặc. Lớp vỏ ngoài này tự nó là một hình thức năng lượng âm. Kết quả của sự hợp nhất ba năng lượng này trong một hình tướng khách quan là ngã thức. Sự dung hợp của chúng tạo ra ý thức về tính cá biệt, điều biện minh cho việc dùng từ “tôi”, và liên hệ mọi biến cố với một cái ngã. Nơi nào thực thể hữu thức trung tâm này tồn tại, sử dụng thể trí, phản ứng bằng cảm giác qua thể cảm xúc và tiếp năng lượng cho thể xác đậm đặc qua thể sinh lực, nơi đó có một phàm ngã. Đó là sự tồn tại có ngã thức trong hình tướng. Đó là sự nhận biết về bản sắc trong tương quan với các bản sắc khác, và điều này đúng như nhau đối với Thượng đế hay con người. Tuy nhiên, đó là một ý thức về bản sắc chỉ tồn tại trong tiến trình sáng tạo, và chừng nào phương diện vật chất cùng phương diện tâm thức còn trình bày nhị nguyên vĩnh cửu của thiên nhiên. Trong sự phát triển tiến hoá của chúng ta, nó không được nhận biết trong các hình tướng dưới nhân loại; nó được nhận biết trong giới nhân loại, và được nhận biết nhưng hòa nhập vào và bị phủ định bởi các hình tướng cùng tâm thức lớn hơn mà chúng ta gọi là siêu nhân loại.
|
|
Personality is that state of awareness which has its conditioning factor in the mind stuff, but this can be transcended when that mind stuff no longer controls. As the individual mind stuff is an integral part of the Universal Mind, and as the principle of mind is inherent in all forms, the sense of individuality and of self-awareness is always eternally possible. In the higher states of consciousness, it is however, eventually relegated to a subordinate position. God, for instance, can always and eternally be aware of that reality which constitutes the self, and which governs the integrity of the solar system, and of the solar interplay with other systems, but the consciousness of divinity and the awareness of the solar Deity is not primarily occupied with selfhood. That—as a result of past world periods and experience—lies below the threshold of the divine consciousness, and has [393] become as much a part of the cosmic instinctual nature as are any of the human instinctual attributes. The focus of the Eternal Attention (if I may use so unusual a phrase where words are necessarily almost worthless!) lies in realms of awareness beyond our comprehension. They lie as far beyond our ken as the awareness of a Master of the Wisdom lies beyond the ken of an ant or a mouse. It is therefore fruitless for us to dwell upon it. For us, there is the achieving of personality, or of a full registration or awareness of the indwelling self; there lies then the utilisation of that personality, and its sacrifice eventually to group good, with a consequent merging of the self in the one Self and the fusion of the individual soul (consciously and willingly) in the Oversoul.
|
Phàm ngã là trạng thái nhận biết có yếu tố tác động của nó trong chất trí, nhưng điều này có thể được vượt qua khi chất trí ấy không còn kiểm soát nữa. Vì chất trí cá nhân là một phần không thể tách rời của Vũ Trụ Trí, và vì nguyên khí trí tuệ vốn cố hữu trong mọi hình tướng, ý thức về tính cá biệt và về sự tự nhận biết luôn luôn là điều khả hữu vĩnh viễn. Tuy nhiên, trong các trạng thái tâm thức cao hơn, cuối cùng nó bị đẩy xuống một vị trí phụ thuộc. Chẳng hạn, Thượng đế luôn luôn và vĩnh viễn có thể nhận biết thực tại cấu thành cái ngã, và chi phối tính toàn vẹn của hệ mặt trời cũng như sự tương tác thái dương với các hệ khác; nhưng tâm thức của thiên tính và sự nhận biết của Thái dương Thượng đế không chủ yếu bận tâm đến tính ngã. Điều đó, như kết quả của các thời kỳ và kinh nghiệm thế giới quá khứ, nằm dưới ngưỡng của tâm thức thiêng liêng, và đã [393] trở thành một phần của bản chất bản năng vũ trụ chẳng khác gì bất cứ thuộc tính bản năng nào của con người. Tiêu điểm của Sự Chú Tâm Vĩnh Cửu, nếu tôi có thể dùng một cụm từ khác thường như thế trong khi lời lẽ tất yếu gần như vô giá trị, nằm trong các cõi nhận biết vượt ngoài sự thấu hiểu của chúng ta. Chúng nằm xa ngoài tầm biết của chúng ta cũng như sự nhận biết của một Chân sư Minh Triết nằm ngoài tầm biết của một con kiến hay một con chuột. Do đó, việc chúng ta dừng lại nơi điều ấy là vô ích. Đối với chúng ta, có sự thành tựu phàm ngã, hay sự ghi nhận hoặc nhận biết đầy đủ về cái ngã nội tại; rồi đến việc sử dụng phàm ngã ấy, và cuối cùng hiến dâng nó cho điều thiện của nhóm, với hệ quả là sự hòa nhập của cái ngã vào Bản Ngã duy nhất và sự dung hợp của linh hồn cá nhân, một cách có ý thức và tự nguyện, vào đại hồn.
|
|
‘I am’—the cry of every human being; ‘I am That’, —the cry of every personality, who realises his selfhood and uses his personality in order to express the will of the indwelling entity, the true person. ‘I am that I am’—the cry of the individual soul as it is lost in the whole and realises its oneness with the soul or self of all.
|
“Tôi là”, tiếng kêu của mọi con người; “Tôi là Cái Đó”, tiếng kêu của mọi phàm ngã nhận biết tính ngã của mình và dùng phàm ngã của mình để biểu hiện ý chí của thực thể nội tại, con người chân thật. “Tôi là Cái Tôi là”, tiếng kêu của linh hồn cá nhân khi nó mất hút trong toàn thể và nhận biết nhất tính của mình với linh hồn hay bản ngã của tất cả.
|
|
The characteristics of the individual who is beginning to function as a personality might be briefly enumerated as follows. They are simple and clear and preeminently selfish. Let it not be forgotten that the primitive step on the way to selfhood of necessity is selfishness. Let it be equally well remembered that the prime hindrance to the advanced and highly evolved personality is selfhood, or the prolongation of the selfish attitude. The characteristics therefore are in their sequential development as follows:
|
Các đặc tính của cá nhân bắt đầu hoạt động như một phàm ngã có thể được liệt kê ngắn gọn như sau. Chúng đơn giản và rõ ràng, và nổi bật là ích kỷ. Đừng quên rằng bước nguyên thủy trên đường đi đến tính ngã tất yếu là sự ích kỷ. Cũng cần nhớ rõ rằng trở ngại chính đối với phàm ngã tiến bộ và tiến hoá cao là tính ngã, hay sự kéo dài thái độ ích kỷ. Do đó, các đặc tính trong sự phát triển tuần tự của chúng là như sau:
|
|
1. The ability to say I am, I wish, I desire, I will.
|
1. Khả năng nói: tôi là, tôi muốn, tôi khao khát, tôi sẽ.
|
|
2. The consciousness of being in the centre of one’s tiny universe. “Around me the Heavens move and the stars in their courses revolve” is the motto of this stage. [394]
|
2. Tâm thức về việc ở trung tâm của vũ trụ nhỏ bé của mình. “Quanh tôi, các Cõi Trời chuyển động và các vì sao xoay vần theo quỹ đạo của chúng” là khẩu hiệu của giai đoạn này. [394]
|
|
3. The sense of drama and the capacity to visualise oneself as the centre of one’s environment.
|
3. Ý thức về kịch tính và năng lực hình dung chính mình như trung tâm của môi trường quanh mình.
|
|
4. The sense of responsibility and the aptitude to regard the surrounding members of the human family as dependent upon one.
|
4. Ý thức về trách nhiệm và khuynh hướng xem các thành viên chung quanh trong gia đình nhân loại như lệ thuộc vào mình.
|
|
5. The sense of importance—the outgrowth of the above. This demonstrates in power and influence where there is a real and steadily awakening entity behind the ‘persona’, and in braggadocio and bombast where a small selfish creature functions.
|
5. Ý thức về tầm quan trọng—kết quả phát sinh từ những điều trên. Điều này biểu lộ thành quyền năng và ảnh hưởng khi có một thực thể chân thật và đang thức tỉnh đều đặn đứng sau “mặt nạ phàm ngã”, và thành sự khoác lác cùng phô trương khi một sinh vật nhỏ bé ích kỷ đang hoạt động.
|
|
6. The power to use the entire equipment so that the mind and brain function synchronously and the emotional nature is thereby subordinated, inhibited or controlled. This involves the steady growth of the power to use thought.
|
6. Quyền năng sử dụng toàn bộ trang bị sao cho thể trí và bộ não hoạt động đồng bộ, nhờ đó bản chất cảm xúc được đặt vào vị trí phụ thuộc, bị ức chế hoặc được kiểm soát. Điều này bao hàm sự tăng trưởng đều đặn của quyền năng sử dụng tư tưởng.
|
|
7. Capacity to live a coordinated life so that the entire man functions and is guided by purpose (expressing the energy of will), by desire (expressing the energy of the emotional or psychic nature), and by vitality which swings the physical vehicle into line with purpose and desire.
|
7. Năng lực sống một đời sống được phối hợp, sao cho toàn thể con người hoạt động và được dẫn dắt bởi mục đích, vốn biểu lộ năng lượng của ý chí; bởi dục vọng, vốn biểu lộ năng lượng của bản chất cảm xúc hay thông linh; và bởi sinh lực, vốn đưa hiện thể hồng trần chỉnh hợp với mục đích và dục vọng.
|
|
8. Power to influence, sway, guide and hold others within the range of individual purpose and desire.
|
8. Quyền năng ảnh hưởng, chi phối, hướng dẫn và giữ người khác trong phạm vi mục đích và dục vọng cá nhân.
|
|
When this stage has been reached the three energies which constitute a personality have been successfully fused and merged and the mechanism or instrument of the indwelling self is a usable and valuable asset. The man is a potent personality and becomes the centre of a group; he finds himself to be a focal point for other lives, and is an influential magnetic individual, swaying others, coordinating human units into groups, and organisms. He becomes the head of organizations and of parties, of religious and political bodies and of nations in some cases. Thus do the dominant personalities come into being and find themselves; they discover thus the distinction [395] between the centre of power, the self, and the equipment; they finally become conscious of vocation in the true sense of the term.
|
Khi giai đoạn này đã đạt tới, ba năng lượng cấu thành một phàm ngã đã được dung hợp và hòa nhập thành công, và bộ máy hay khí cụ của bản ngã nội tại trở thành một tài sản hữu dụng và có giá trị. Con người là một phàm ngã mạnh mẽ và trở thành trung tâm của một nhóm; y thấy mình là tiêu điểm cho những sự sống khác, và là một cá nhân có từ tính, đầy ảnh hưởng, chi phối người khác, phối hợp các đơn vị nhân loại thành những nhóm và những cơ cấu. Y trở thành người đứng đầu các tổ chức và các đảng phái, các đoàn thể tôn giáo và chính trị, và trong vài trường hợp là các quốc gia. Như vậy các phàm ngã thống trị xuất hiện và tự tìm thấy chính mình; bằng cách đó họ khám phá sự phân biệt [395] giữa trung tâm quyền năng, bản ngã, và trang bị; cuối cùng họ trở nên có ý thức về thiên chức theo đúng nghĩa của từ này.
|
|
It should be noted that this sequential development is paralleled by an inner growth of soul awareness, though the mode of expression of that inner growth is largely dependent upon the ray upon which the spiritual Entity is found.
|
Cần lưu ý rằng sự phát triển tuần tự này được song hành bởi một sự tăng trưởng bên trong của nhận thức linh hồn, dù phương thức biểu hiện của sự tăng trưởng bên trong ấy phần lớn tùy thuộc vào cung mà Thực Thể tinh thần đang ở trên đó.
|
|
One point should be here noted and upon this point aspirants should exercise care. The usual connotation of the words ‘spiritual growth’ is largely that of religious growth in understanding. A man is deemed spiritual if he is interested in the world Scriptures, if he is a Church member and if he lives a saintly life. But this is no true definition for it is not sufficiently comprehensive. It has grown out of the impress set upon human thought and terminologies by the Piscean Age, and through the influence of the sixth ray, and the work of the Christian Church—all most necessary and all inherent in the great plan, but which (divorced from their eternal context) lead to the over-emphasis of certain divine expressions, and the overlooking of other as vital manifestations of the divine consciousness.
|
Ở đây cần lưu ý một điểm, và người chí nguyện nên thận trọng về điểm này. Ý nghĩa thông thường của các từ “tăng trưởng tinh thần” phần lớn là sự tăng trưởng tôn giáo trong thấu hiểu. Một người được xem là tinh thần nếu y quan tâm đến các Thánh kinh thế giới, nếu y là thành viên của một Giáo hội và nếu y sống một đời sống thánh thiện. Nhưng đây không phải là một định nghĩa đúng, vì nó chưa đủ bao quát. Nó đã phát sinh từ dấu ấn mà Kỷ nguyên Song Ngư đặt lên tư tưởng và thuật ngữ của nhân loại, qua ảnh hưởng của cung sáu và công việc của Giáo hội Cơ Đốc—tất cả đều hết sức cần thiết và đều vốn nằm trong Thiên Cơ vĩ đại, nhưng khi bị tách khỏi bối cảnh vĩnh cửu của chúng, chúng dẫn đến sự nhấn mạnh quá mức một vài biểu hiện thiêng liêng, và bỏ qua những biểu lộ khác cũng thiết yếu không kém của tâm thức thiêng liêng.
|
|
The true significance of the words ‘spiritual growth’ is far wider and more inclusive than their manifestation through the medium of religious and mystical literature and organisations for the imparting of metaphysical truth. Power, purpose and will are divine qualities and expressions, and show themselves with equal clarity through a Mussolini or through a Pope. In both cases the mechanism of expression modifies and steps down the qualities and serves as a handicap. A potent personality may function in any field of human expression and his work will warrant the word spiritual just in so far as it is based on high idealism, the greatest good of the largest number, and self-sacrificing endeavour. [396] these three—idealism, group service and sacrifice—are characteristics of those personalities who are becoming increasingly sensitive to the soul aspect, the qualities of that soul being knowledge, love and sacrifice.
|
Thâm nghĩa chân thật của các từ “tăng trưởng tinh thần” rộng hơn và bao gồm hơn rất nhiều so với sự biểu lộ của chúng qua phương tiện văn chương và tổ chức tôn giáo, thần bí nhằm truyền đạt chân lý siêu hình. Quyền năng, mục đích và ý chí là những phẩm tính và biểu hiện thiêng liêng, và chúng tự biểu lộ rõ ràng như nhau qua một Mussolini hay qua một Giáo hoàng. Trong cả hai trường hợp, bộ máy biểu hiện đều điều chỉnh và hạ thấp các phẩm tính ấy, đồng thời đóng vai trò như một chướng ngại. Một phàm ngã mạnh mẽ có thể hoạt động trong bất cứ lĩnh vực biểu hiện nào của nhân loại, và công việc của y sẽ xứng đáng với từ tinh thần chừng nào nó đặt nền trên chủ nghĩa lý tưởng cao cả, lợi ích lớn nhất cho số đông nhất, và nỗ lực tự hi sinh. [396] Ba điều này—chủ nghĩa lý tưởng, phụng sự nhóm và hi sinh—là các đặc tính của những phàm ngã đang ngày càng nhạy cảm với phương diện linh hồn; các phẩm tính của linh hồn ấy là tri thức, bác ái và hi sinh.
|
|
This is why the emphasis in all schools of true esotericism is laid on motive. People who are strongly individual and are developing a group consciousness inevitably, in some life, find their way into esoteric schools and have to be guided in such a manner that the soul nature enfolds, overpowers and uses the personality.
|
Đó là lý do trong mọi trường phái huyền bí học chân chính, trọng tâm được đặt vào động cơ. Những người có cá tính mạnh và đang phát triển tâm thức nhóm tất yếu, trong một kiếp sống nào đó, sẽ tìm đường vào các trường phái nội môn và phải được hướng dẫn sao cho bản chất linh hồn bao bọc, chế ngự và sử dụng phàm ngã.
|
|
The outstanding characteristics of those personalities who are not as yet soul-centered or controlled, are dominance, ambition, pride and a lack of love to the whole, though they frequently possess love for those who are necessary to them or to their comfort.
|
Những đặc tính nổi bật của các phàm ngã chưa tập trung nơi linh hồn hoặc chưa được linh hồn kiểm soát là sự thống trị, tham vọng, kiêu hãnh và thiếu tình thương đối với toàn thể, dù họ thường có tình thương đối với những ai cần thiết cho họ hoặc cho sự tiện nghi của họ.
|
|
You have therefore in the sequential development of humanity the following stages:
|
Vì vậy, trong sự phát triển tuần tự của nhân loại, các bạn có những giai đoạn sau:
|
|
1. That of the animal consciousness.
|
1. Giai đoạn của tâm thức động vật.
|
|
2. The emotionally polarised individual, selfish and governed by desire.
|
2. Cá nhân phân cực cảm xúc, ích kỷ và bị dục vọng chi phối.
|
|
3. The two above stages, plus a growing intellectual grasp of environing conditions.
|
3. Hai giai đoạn trên, cộng thêm sự nắm bắt trí tuệ đang tăng trưởng về các điều kiện bao quanh.
|
|
4. The stage of responsibility to family or friends.
|
4. Giai đoạn trách nhiệm đối với gia đình hoặc bạn bè.
|
|
5. The stage of ambition and of longing for influence and power in some field of human expression. This leads to fresh endeavor.
|
5. Giai đoạn tham vọng và khát khao ảnh hưởng cùng quyền năng trong một lĩnh vực biểu hiện nào đó của nhân loại. Điều này dẫn đến nỗ lực mới.
|
|
6. The coordinating of the personality equipment under the above stimulus.
|
6. Sự phối hợp trang bị của phàm ngã dưới kích thích nói trên.
|
|
7. The stage of influence, selfishly used and frequently destructive, because the higher issues are not registered as yet.
|
7. Giai đoạn ảnh hưởng, được sử dụng một cách ích kỷ và thường có tính phá hoại, vì các vấn đề cao hơn chưa được ghi nhận.
|
|
8. The stage of a steadily growing group awareness. This is viewed:
|
8. Giai đoạn nhận thức nhóm tăng trưởng đều đặn. Điều này được nhìn nhận:
|
|
a. As a field of opportunity
|
a. Như một lĩnh vực cơ hội
|
|
b. As a sphere of service. [397]
|
b. Như một phạm vi phụng sự. [397]
|
|
c. As a place wherein sacrifice for the good of all becomes gloriously possible.
|
c. Như một nơi mà sự hi sinh vì lợi ích của tất cả trở nên khả hữu một cách huy hoàng.
|
|
This latter stage puts a man upon the path of discipleship, which includes, needless to say, that of the earlier phase, probation or testing.
|
Giai đoạn sau cùng này đặt con người lên Con Đường Đệ Tử, vốn dĩ nhiên bao gồm cả giai đoạn trước đó, tức dự bị hay thử thách.
|
|
The problem consists in ascertaining upon which step of the ladder and in which phase one finds oneself at any particular time. Behind each human being stretches a long series of lives and some are now headed towards the stage of dominant selfish personality expression and are making themselves individuals in full conscious awareness. This is, for them, as much a step forward as is discipleship for all of you. Others are already personalities and are beginning to experiment with the energy flowing through them and to gather around themselves those people who vibrate to their note and for whom they definitely have a message. Hence the myriads of small groups all over the world, working in every known field of human expression. Others have passed beyond that stage and are becoming decentralised from the personality expression in the three worlds of human life and are motivated by an energy which is the higher aspect of the personality energy. No longer do they work and plan and struggle to express their personalities and to make their individual impact upon the world or to gather magnetically around themselves a group of people who look up to them and thus feed the springs of their pride and ambition and who make them both influential and important. They are beginning to see things in a newer and truer perspective. In the light of the Whole, the light of the little self fades out, just as the light that is inherent in every atom of the body is gathered together and obliterated in the light of the soul when that blazes forth in all its glory.
|
Vấn đề nằm ở chỗ xác định mình đang ở nấc thang nào và trong giai đoạn nào vào bất cứ thời điểm cụ thể nào. Sau lưng mỗi con người trải dài một chuỗi dài các kiếp sống, và một số hiện đang hướng tới giai đoạn biểu hiện phàm ngã thống trị và ích kỷ, đang làm cho chính mình trở thành những cá nhân trong nhận thức có ý thức trọn vẹn. Đối với họ, đây cũng là một bước tiến như địa vị đệ tử đối với tất cả các bạn. Những người khác đã là các phàm ngã và đang bắt đầu thử nghiệm với năng lượng tuôn chảy qua họ, đồng thời quy tụ quanh mình những người rung động theo âm điệu của họ và những người mà họ dứt khoát có một thông điệp dành cho. Do đó có vô số nhóm nhỏ trên khắp thế giới, hoạt động trong mọi lĩnh vực biểu hiện đã biết của nhân loại. Những người khác đã vượt qua giai đoạn đó và đang trở nên phi tập trung khỏi sự biểu hiện phàm ngã trong ba cõi thấp của đời sống nhân loại, và được thúc đẩy bởi một năng lượng vốn là phương diện cao hơn của năng lượng phàm ngã. Họ không còn làm việc, hoạch định và đấu tranh để biểu hiện phàm ngã của mình, để tạo ấn tượng cá nhân lên thế giới, hoặc để quy tụ bằng từ tính quanh mình một nhóm người ngưỡng mộ họ, qua đó nuôi dưỡng nguồn mạch kiêu hãnh và tham vọng của họ, khiến họ vừa có ảnh hưởng vừa quan trọng. Họ bắt đầu thấy sự vật trong một viễn cảnh mới hơn và chân thật hơn. Trong ánh sáng của Toàn Thể, ánh sáng của tiểu ngã mờ dần, cũng như ánh sáng vốn có trong mỗi nguyên tử của thể được quy tụ lại và bị xóa nhòa trong ánh sáng của linh hồn khi ánh sáng ấy bừng lên trong toàn bộ vinh quang của nó.
|
|
When this stage of selflessness, of service, of subordination [398] to the One Self, and of sacrifice to the group becomes the objective, a man has reached the point where he can be received into that group of world mystics and knowers and group workers which is the physical plane reflection of the planetary Hierarchy.
|
Khi giai đoạn vô ngã, phụng sự, quy phục [398] Đại Ngã Duy Nhất và hi sinh cho nhóm trở thành mục tiêu, con người đã đạt đến điểm mà y có thể được tiếp nhận vào nhóm các nhà thần bí thế giới, các thức giả và những người hoạt động nhóm, vốn là phản ảnh trên cõi hồng trần của Thánh Đoàn hành tinh.
|
|
We have spoken often of the integrating group of knowers who are beginning to function upon the earth, gathered together in loose formation and held by the inner spiritual tie and not by any outer organisation. The planetary Hierarchy has always existed and from time immemorial and right down the ages those sons of men who have fitted themselves for work and who have measured up to the requirements, have found their way into the ranks of those who stand behind the world evolution and guide the destinies of the little ones.
|
Chúng ta đã thường nói về nhóm các thức giả đang tích hợp và bắt đầu hoạt động trên Trái Đất, được quy tụ trong một hình thức lỏng lẻo và được giữ lại với nhau bởi mối liên hệ tinh thần bên trong chứ không bởi bất cứ tổ chức bên ngoài nào. Thánh Đoàn hành tinh luôn luôn hiện hữu, và từ thời xa xưa cho đến suốt các thời đại, những người con của nhân loại nào đã tự làm cho mình thích hợp với công việc và đáp ứng các yêu cầu, đều đã tìm được đường vào hàng ngũ của những Đấng đứng sau sự tiến hoá thế giới và hướng dẫn vận mệnh của những kẻ bé nhỏ.
|
|
Their grades and works are theoretically known, and names of some have been given out to the masses, —at what cost and personal sacrifice those masses will never know. With the Hierarchy of adepts I do not propose to deal. The books upon the subject are easily available and should be read with the needed reservations as to symbolical interpretations and the limiting effects of words.
|
Các cấp bậc và công việc của Các Ngài được biết đến về mặt lý thuyết, và tên của một số vị đã được công bố cho quần chúng—với cái giá và sự hi sinh cá nhân nào thì quần chúng ấy sẽ không bao giờ biết. Tôi không có ý định bàn đến Thánh Đoàn các chân sư. Những sách viết về đề tài này rất dễ tìm và nên được đọc với sự dè dặt cần thiết về các diễn giải biểu tượng và những giới hạn do ngôn từ gây ra.
|
|
An event is however transpiring upon earth which is, in its way, as momentous and as important as that crisis in Atlantean times when the physical, vital and astral bodies were coordinated and formed a functioning unit. Then the ‘yoga of devotion’ or bhakti yoga was initiated for the training of the aspirants at that time. A physical plane replica (as far as such a replica was then possible) was organised of those who could work devotedly and who could learn, through the use of ceremonial and pictures, some mode of activity which would carry on the hierarchical work on earth and thus constitute a training [399] school for those who later would be admitted into the ranks of the Hierarchy. The remnants of this Atlantean group remain with us in the modern Masonic movements, and the work of the Hierarchy was thus perpetuated in sign and symbol. There has thus been preserved in the consciousness of the race a pictorial representation of a momentous planetary condition which worked out in the human family in this threefold coordination. But it was primarily objective. Form and symbol, tool and furniture, temple and tone, office and externalities were the prominent factors; they veiled the truth and therefore preserved the ‘outer and visible form of an inner and spiritual’ reality. Only those were, in those days, allowed to participate in these mysteries and work who felt within themselves the longing and desire for the mystical vision, and who loved deeply and were devoted to the spiritual ideal. They were not required to possess active mentalities, and their intellectual powers were practically nil. They liked and needed authority: they learnt through ceremonial; they were devoted to the Great Ones Whose names and forms stood behind the office holders in the esoteric lodges. Mind entered not in. This must be remembered. There were no personalities.
|
Tuy nhiên, một biến cố đang diễn ra trên Trái Đất, theo cách riêng của nó, trọng đại và quan trọng như cuộc khủng hoảng trong thời Atlantis, khi các thể xác, thể sinh lực và thể cảm dục được phối hợp và tạo thành một đơn vị hoạt động. Khi ấy, “yoga của sùng tín” hay Bhakti Yoga được khởi xướng để huấn luyện những người chí nguyện thời đó. Một bản sao trên cõi hồng trần, trong chừng mực một bản sao như thế khi ấy có thể có, được tổ chức gồm những người có thể làm việc với lòng sùng tín và có thể học, qua việc sử dụng nghi lễ và hình ảnh, một phương thức hoạt động nào đó nhằm tiếp tục công việc của Thánh Đoàn trên Trái Đất, và như vậy tạo thành một trường huấn luyện [399] cho những người về sau sẽ được nhận vào hàng ngũ của Thánh Đoàn. Những tàn dư của nhóm Atlantis này còn lại với chúng ta trong các phong trào Tam Điểm hiện đại, và công việc của Thánh Đoàn do đó được duy trì qua dấu hiệu và biểu tượng. Nhờ vậy, trong tâm thức của nhân loại, một sự trình bày bằng hình ảnh về một tình trạng hành tinh trọng đại đã được bảo tồn; tình trạng ấy đã được thể hiện trong gia đình nhân loại qua sự phối hợp tam phân này. Nhưng nó chủ yếu mang tính khách quan. Hình tướng và biểu tượng, công cụ và vật dụng, đền thờ và âm điệu, chức vụ và các yếu tố bên ngoài là những nhân tố nổi bật; chúng che phủ chân lý và do đó bảo tồn “hình tướng bên ngoài và hữu hình của một thực tại bên trong và tinh thần”. Vào những ngày ấy, chỉ những ai cảm thấy trong chính mình niềm khao khát và dục vọng hướng tới linh ảnh thần bí, và những ai yêu thương sâu sắc cũng như sùng tín lý tưởng tinh thần, mới được phép tham dự vào các bí nhiệm và công việc này. Họ không bị đòi hỏi phải có trí tuệ hoạt động, và quyền năng trí tuệ của họ hầu như bằng không. Họ thích và cần uy quyền; họ học qua nghi lễ; họ sùng tín Các Đấng Cao Cả mà danh xưng và hình tướng đứng sau những người giữ chức vụ trong các hội quán nội môn. Trí tuệ không tham dự. Điều này phải được ghi nhớ. Khi ấy chưa có các phàm ngã.
|
|
Today, in the world, another great moment of crisis has arrived. I refer not to the present world condition, but to the state of the human consciousness. Mind has arrived at a functioning power, personalities are coordinated. The three aspects of man are being blended; another formation or precipitation from the Hierarchy of adepts has become possible. On the physical plane, without any exoteric organisation, ceremonials, or outer form, there is integrating—silently, steadily and powerfully—a group of men and women who will supersede eventually the previous hierarchical effort. They will supersede all churches, all groups, and all organisations and will [400] eventually constitute that oligarchy of elect souls who will govern and guide the world.
|
Ngày nay, trong thế giới, một thời điểm khủng hoảng vĩ đại khác đã đến. Tôi không nói đến tình trạng thế giới hiện nay, mà nói đến trạng thái của tâm thức nhân loại. Trí tuệ đã đạt đến một quyền năng hoạt động, các phàm ngã đã được phối hợp. Ba phương diện của con người đang được hòa trộn; một sự hình thành hay ngưng tụ khác từ Thánh Đoàn các chân sư đã trở nên khả hữu. Trên cõi hồng trần, không có bất cứ tổ chức ngoại môn, nghi lễ hay hình tướng bên ngoài nào, đang tích hợp—âm thầm, đều đặn và mạnh mẽ—một nhóm những người nam và nữ cuối cùng sẽ thay thế nỗ lực trước đây của Thánh Đoàn. Họ sẽ thay thế tất cả các giáo hội, mọi nhóm và mọi tổ chức, và [400] cuối cùng sẽ tạo thành tầng lớp ưu tuyển gồm các linh hồn được chọn, những người sẽ cai quản và hướng dẫn thế giới.
|
|
They are being gathered out of every nation, but are gathered and chosen, not by the watching Hierarchy or by any Master, but by the power of their response to the spiritual opportunity, tide and note. They are emerging out of every group and church and party, and will therefore be truly representative. This they do, not from the pull of their own ambition and prideful schemes, but through the very selflessness of their service. They are finding their way to the top in every department of human knowledge, not because of the clamour they make about their own ideas, discoveries and theories, but because they are so inclusive in their outlook and so wide in their interpretation of truth that they see the hand of God in all happenings, His imprint upon all forms and His note sounding forth through every channel of communication between the subjective reality and the objective outer form. They are of all races; they speak all languages; they embrace all religions, all sciences and all philosophies. Their characteristics are synthesis, inclusiveness, intellectuality and fine mental development. They own to no creed, save the creed of Brotherhood, based on the one Life. They recognise no authority, save that of their own souls, and no Master save the group they seek to serve, and humanity whom they deeply love. They have no barriers set up around themselves, but are governed by a wide tolerance, and a sane mentality and sense of proportion. They look with open eyes upon the world of men and recognise those whom they can lift and to whom they can stand as the Great Ones stand, —lifting, teaching and helping. They recognize their peers and equals, and know each other when they meet and stand shoulder to shoulder with their fellow workers in the work of salvaging humanity. It does not matter if their terminologies differ, their interpretations of symbols [401] and scriptures vary, or their words are few or many. They see their group members in all fields—political, scientific, religious, and economic—and give to them the sign of recognition and the hand of a brother. They recognise likewise Those who have passed ahead of them upon the ladder of evolution and hail Them Teacher, and seek to learn from Them that which They are so eager to impart.
|
Họ đang được quy tụ từ mọi quốc gia, nhưng được quy tụ và tuyển chọn không bởi Thánh Đoàn đang quan sát hay bởi bất cứ Chân sư nào, mà bởi quyền năng đáp ứng của họ trước cơ hội, dòng triều và âm điệu tinh thần. Họ đang xuất hiện từ mọi nhóm, mọi giáo hội và mọi đảng phái, và vì thế sẽ thật sự có tính đại diện. Họ làm điều này không do sức lôi kéo của tham vọng và những mưu đồ kiêu hãnh của chính họ, mà nhờ chính sự vô ngã trong phụng sự của họ. Họ đang tìm đường lên vị trí hàng đầu trong mọi ngành tri thức của nhân loại, không phải vì tiếng ồn ào họ tạo ra quanh các ý tưởng, khám phá và lý thuyết của riêng mình, mà vì họ có cái nhìn bao gồm đến thế và có sự diễn giải chân lý rộng lớn đến thế, nên họ thấy bàn tay của Thượng đế trong mọi sự kiện, dấu ấn của Ngài trên mọi hình tướng và âm điệu của Ngài vang lên qua mọi kênh giao tiếp giữa thực tại nội tại và hình tướng bên ngoài khách quan. Họ thuộc mọi nhân loại; họ nói mọi ngôn ngữ; họ ôm trọn mọi tôn giáo, mọi khoa học và mọi triết học. Các đặc tính của họ là tổng hợp, tính bao gồm, trí năng và sự phát triển trí tuệ tinh tế. Họ không thừa nhận tín điều nào, ngoại trừ tín điều về tình huynh đệ, đặt nền trên Sự sống duy nhất. Họ không công nhận uy quyền nào, ngoại trừ uy quyền của chính linh hồn họ, và không có Chân sư nào ngoài nhóm mà họ tìm cách phụng sự, cùng nhân loại mà họ yêu thương sâu sắc. Họ không dựng lên rào chắn quanh mình, mà được cai quản bởi một sự khoan dung rộng lớn, một trí tuệ lành mạnh và Ý thức về tỉ lệ. Họ nhìn thế giới con người bằng đôi mắt mở rộng và nhận ra những người mà họ có thể nâng đỡ, và đối với những người ấy họ có thể đứng như Các Đấng Cao Cả đang đứng—nâng đỡ, giảng dạy và trợ giúp. Họ nhận ra những người ngang hàng và tương đương với mình, biết nhau khi gặp gỡ, và kề vai sát cánh với các bạn đồng sự trong công việc cứu vớt nhân loại. Việc thuật ngữ của họ khác nhau, cách diễn giải biểu tượng [401] và thánh kinh của họ khác nhau, hay lời nói của họ ít hoặc nhiều, đều không quan trọng. Họ thấy các thành viên trong nhóm mình ở mọi lĩnh vực—chính trị, khoa học, tôn giáo và kinh tế—và trao cho họ dấu hiệu nhận biết cùng bàn tay của một huynh đệ. Họ cũng nhận ra Những Đấng đã đi trước họ trên thang tiến hoá, tôn Các Ngài là Huấn sư, và tìm cách học từ Các Ngài điều mà Các Ngài rất thiết tha truyền đạt.
|
|
This group is a product of the past and upon that past I will touch; I will also indicate the present situation and forecast somewhat the general lines along which their association and future work will run. That such a group is forming is true and holds a good augury for the coming decades. In quiet and subtle ways they are already making their presence felt but theirs is as yet primarily a subjective influence.
|
Nhóm này là sản phẩm của quá khứ, và tôi sẽ chạm đến quá khứ ấy; tôi cũng sẽ chỉ ra tình hình hiện tại và phác họa đôi chút những đường nét tổng quát theo đó sự liên kết và công việc tương lai của họ sẽ diễn tiến. Việc một nhóm như thế đang hình thành là điều chân thật và là một điềm lành cho các thập niên sắp tới. Bằng những cách âm thầm và tinh tế, họ đã bắt đầu làm cho sự hiện diện của mình được cảm nhận, nhưng ảnh hưởng của họ hiện vẫn chủ yếu là ảnh hưởng nội tại.
|
|
Let us begin with the past. About the year 1400, the Hierarchy of Masters was faced with a difficult situation. As far as the work of the second ray was concerned (which had to do with the impartation of spiritual truth) there had come to be what I might call a complete exteriorisation of that truth. The activity of the first ray had also brought about an intense differentiation and crystallisation among the nations and governments of the world. These two conditions of concrete orthodoxy and political differences persisted for many generations and are still manifesting. Today we have a similar condition both in the world of religion and in that of politics. This is true whether one is considering India or America, China or Germany, or whether one is studying the history of Buddhism with its many sects, Protestantism with its myriads of warring groups, or the many schools of philosophy in the orient or the occident. The condition is widespread, and the public consciousness tremendously diversified, but this state of affairs marks the summation [402] of the period of separativeness and the end, before so many centuries, of this intense distinctiveness of thought.
|
Chúng ta hãy bắt đầu với quá khứ. Vào khoảng năm 1400, Thánh Đoàn các Chân sư đối diện với một tình huống khó khăn. Đối với công việc của cung hai, vốn liên quan đến việc truyền đạt chân lý tinh thần, đã xuất hiện điều mà tôi có thể gọi là sự ngoại hiện hoàn toàn của chân lý ấy. Hoạt động của cung một cũng đã đem lại một sự biến phân và kết tinh mạnh mẽ giữa các quốc gia và chính phủ trên thế giới. Hai tình trạng chính thống cứng nhắc và khác biệt chính trị này đã kéo dài qua nhiều thế hệ và vẫn còn đang biểu lộ. Ngày nay chúng ta có một tình trạng tương tự cả trong thế giới tôn giáo lẫn trong thế giới chính trị. Điều này đúng dù người ta đang xét Ấn Độ hay Hoa Kỳ, Trung Quốc hay Đức, hoặc đang nghiên cứu lịch sử Phật giáo với nhiều tông phái, đạo Tin Lành với vô số nhóm xung đột, hay nhiều trường phái triết học ở phương Đông hoặc phương Tây. Tình trạng này lan rộng, và tâm thức công chúng vô cùng đa dạng, nhưng trạng thái sự việc này đánh dấu sự tổng kết [402] của thời kỳ chia rẽ, và trong không quá nhiều thế kỷ nữa, sẽ là sự kết thúc của tính dị biệt mãnh liệt này trong tư tưởng.
|
|
After noting and watching this trend of affairs for another one hundred years, the Elder Brothers of the race called a conclave of all departments about the year 1500 A.D. Their object was to determine how the urge to integration, which is essentially the keynote of our universal order, could be hastened, and what steps could be taken to produce that synthesis and unification in the world of thought which would make possible the manifestation of the purpose of the divine Life which had brought all into being. When the world of thought is unified, then the outer world will fall into a synthetic order. It should be remembered here that the Masters think in large terms and work in the wider cycles of evolutionary endeavour. The tiny and temporary cycles, the small ebb and flow of the cosmic processes do not engage Their attention in the first instance.
|
Sau khi ghi nhận và quan sát xu hướng sự việc này thêm một trăm năm nữa, các Huynh Trưởng của nhân loại đã triệu tập một mật nghị gồm mọi ngành vào khoảng năm 1500 sau Công nguyên. Mục tiêu của Các Ngài là xác định làm thế nào xung lực hướng tới sự tích hợp, vốn về bản chất là chủ âm của trật tự vũ trụ chúng ta, có thể được đẩy nhanh, và những bước nào có thể được thực hiện để tạo ra sự tổng hợp và hợp nhất trong thế giới tư tưởng, nhờ đó làm cho mục đích của Sự sống thiêng liêng, Đấng đã đưa tất cả vào hiện hữu, có thể biểu lộ. Khi thế giới tư tưởng được hợp nhất, thế giới bên ngoài sẽ đi vào một trật tự tổng hợp. Ở đây cần nhớ rằng các Chân sư tư duy trong những tầm mức rộng lớn và làm việc trong các chu kỳ rộng hơn của nỗ lực thăng thượng tiến hoá. Các chu kỳ nhỏ bé và tạm thời, những đợt lên xuống nhỏ của các tiến trình vũ trụ không phải là điều trước hết thu hút sự chú ý của Các Ngài.
|
|
At this conclave They had three things to do:
|
Tại mật nghị này, Các Ngài phải làm ba việc:
|
|
1. To view the divine plan on as large a scale as possible, and refresh Their minds with the vision.
|
1. Nhìn Thiên Cơ thiêng liêng trên quy mô rộng nhất có thể, và làm mới lại tâm trí Các Ngài bằng tầm nhìn ấy.
|
|
2. To note what influences or energies were available for use in the large endeavour to which They were pledged.
|
2. Ghi nhận những ảnh hưởng hay năng lượng nào sẵn có để sử dụng trong nỗ lực lớn lao mà Các Ngài đã cam kết.
|
|
3. To train the men and women who were then probationers, chelas and initiates so that in due time They could have a satisfactory band of assistants on whom They could in future centuries rely.
|
3. Huấn luyện những người nam và nữ khi ấy là người dự bị, đệ tử và điểm đạo đồ, để đúng thời, Các Ngài có thể có một đội ngũ phụ tá thỏa đáng mà Các Ngài có thể dựa vào trong các thế kỷ tương lai.
|
|
They had, in connection with these aspirants, two problems:
|
Liên quan đến những người chí nguyện này, Các Ngài có hai vấn đề:
|
|
1. They had to deal with the failure on the part of even the most advanced disciples to preserve continuity of consciousness, a failure even now manifested by even initiates. [403]
|
1. Các Ngài phải xử lý sự thất bại ngay cả nơi các đệ tử tiến bộ nhất trong việc duy trì tính liên tục của tâm thức, một thất bại hiện nay vẫn còn biểu lộ ngay cả nơi các điểm đạo đồ. [403]
|
|
2. The Masters found the minds and brains of chelas curiously insensitive to the higher contacts, and this again is a condition which still prevails. The chelas, then as now, possessed aspiration, a desire to serve humanity, devotion and occasionally a fair mental equipment, but that telepathic sensitivity, that instinctive response to hierarchical vibration, and that freedom from the lower psychism which are the needed prerequisites to intensive intelligent work were singularly lacking. For that matter, they are still distressingly so. Telepathic sensitivity is decidedly on the increase as a result of world conditions and the evolutionary trend, and this is (for the workers on the inner plane) a most encouraging sign, but love of psychic phenomena and failure to differentiate between the vibrations of the various grades of hierarchical workers still greatly hinder the work.
|
2. Các Chân sư nhận thấy thể trí và bộ não của các đệ tử lạ lùng thay lại thiếu nhạy cảm với các tiếp xúc cao hơn, và đây cũng là một tình trạng vẫn còn phổ biến. Các đệ tử, khi ấy cũng như bây giờ, có khát vọng, có dục vọng phụng sự nhân loại, có lòng sùng tín và đôi khi có một trang bị trí tuệ khá tốt, nhưng sự nhạy cảm viễn cảm, sự đáp ứng bản năng với rung động của Thánh Đoàn, và sự tự do khỏi thông linh thấp—những điều kiện tiên quyết cần thiết cho công việc trí tuệ chuyên sâu—lại thiếu vắng một cách đặc biệt. Về mặt này, chúng vẫn còn thiếu hụt một cách đáng buồn. Sự nhạy cảm viễn cảm chắc chắn đang gia tăng do kết quả của các tình trạng thế giới và xu hướng thăng thượng tiến hoá, và đây là một dấu hiệu rất đáng khích lệ đối với những người hoạt động trên cõi nội giới; nhưng lòng yêu thích các hiện tượng thông linh và sự thất bại trong việc phân biệt giữa các rung động của nhiều cấp bậc người hoạt động trong Thánh Đoàn vẫn còn cản trở công việc rất nhiều.
|
|
You might here ask and rightly so: What is this plan? When I speak of the plan I do not mean such a general one as the plan of evolution or the plan for humanity which we call by the somewhat unmeaning term of soul unfoldment. These two aspects of the scheme for our planet are taken for granted, and are but modes, processes and means to a specific end. The plan as at present sensed, and for which the Masters are steadily working, might be defined as follows: —It is the production of a subjective synthesis in humanity and of a telepathic interplay which will eventually annihilate time. It will make available to every man all past achievements and knowledges, it will reveal to man the true significance of his mind and brain and make him the master of that equipment and will make him therefore omnipresent and eventually open the door to omniscience. This next development of the plan will produce in man an understanding [404] —intelligent and cooperative—of the divine purpose for which the One in Whom we live and move and have our being has deemed it wise to submit to incarnation. Think not that I can tell of the plan as it truly is. It is not possible for any man, below the grade of initiate of the third degree, to glimpse it and far less understand it. The development of the mechanism whereby a disciple may be en rapport with Those responsible for the working out of the plans, and the capacity to know (and not just dimly sense) that tiny aspect of the whole which is the immediate step ahead and with which cooperation is possible, that can be achieved by all disciples and should be held as the goal before all aspirants. With the exception of probationary disciples who are not as yet sufficiently stable in their endeavour, all can therefore strive towards achieving continuity of consciousness and at awakening that inner light which, when seen and intelligently used, will serve to reveal other aspects of the Plan and specially that one to which the illumined knower can respond and usefully serve.
|
Ở đây các bạn có thể hỏi, và hỏi như vậy là đúng: Thiên Cơ này là gì? Khi tôi nói đến Thiên Cơ, tôi không muốn nói đến một điều tổng quát như kế hoạch tiến hoá hay kế hoạch dành cho nhân loại, điều mà chúng ta gọi bằng thuật ngữ hơi thiếu ý nghĩa là sự khai mở linh hồn. Hai phương diện này của cơ đồ dành cho hành tinh chúng ta được xem như điều hiển nhiên, và chỉ là các phương thức, tiến trình và phương tiện hướng tới một mục tiêu cụ thể. Thiên Cơ như hiện nay được cảm nhận, và vì đó các Chân sư đang làm việc đều đặn, có thể được định nghĩa như sau: đó là việc tạo ra một sự tổng hợp nội tại trong nhân loại và một sự giao lưu viễn cảm cuối cùng sẽ tiêu hủy thời gian. Nó sẽ làm cho mọi thành tựu và tri thức quá khứ trở nên sẵn có đối với mỗi người; nó sẽ mặc khải cho con người thâm nghĩa chân thật của thể trí và bộ não của y, làm cho y trở thành chủ nhân của trang bị ấy, và do đó làm cho y trở nên hiện diện khắp nơi, cuối cùng mở cửa đi vào toàn tri. Sự phát triển kế tiếp này của Thiên Cơ sẽ tạo ra nơi con người một sự thấu hiểu [404]—thông minh và hợp tác—về Thiên Ý mà vì đó Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu đã xem việc chịu lâm phàm là điều minh triết. Đừng nghĩ rằng tôi có thể nói về Thiên Cơ như nó thật sự là. Không người nào dưới cấp điểm đạo đồ lần thứ ba có thể thoáng thấy nó, càng ít có thể thấu hiểu nó. Sự phát triển bộ máy nhờ đó một đệ tử có thể liên thông hòa hợp với Những Đấng chịu trách nhiệm thực hiện các kế hoạch, và năng lực biết, chứ không chỉ cảm nhận mơ hồ, phương diện nhỏ bé của toàn thể vốn là bước kế tiếp trước mắt và có thể hợp tác với nó—điều ấy có thể được mọi đệ tử thành tựu và nên được giữ làm mục tiêu trước mọi người chí nguyện. Ngoại trừ các đệ tử dự bị chưa đủ ổn định trong nỗ lực của họ, tất cả do đó có thể phấn đấu để đạt được tính liên tục của tâm thức và để đánh thức ánh sáng bên trong; ánh sáng ấy, khi được thấy và được sử dụng một cách thông minh, sẽ phụng sự việc mặc khải các phương diện khác của Thiên Cơ, đặc biệt là phương diện mà thức giả được soi sáng có thể đáp ứng và phụng sự hữu ích.
|
|
To bring this about has been the objective of all training given during the past 400 years, and from this fact you can vision the utter patience of the Knowers of the race. They work slowly and with deliberation, free from any sense of speed, towards Their objective, but—and herein lies the immediate interest of what I have to communicate—They do have a time limit. This is based upon the Law of Cycles. It concerns the operation of certain periods of opportunity which necessarily have their term. During these times of opportunity, forces, influences, and energies are temporarily at work, and of these the Masters seek to make use.
|
Đem lại điều này đã là mục tiêu của mọi huấn luyện được trao trong 400 năm qua, và từ sự kiện này các bạn có thể hình dung sự kiên nhẫn tuyệt đối của các Thức giả của nhân loại. Các Ngài làm việc chậm rãi và có chủ ý, không bị bất cứ cảm thức vội vã nào chi phối, hướng tới mục tiêu của Các Ngài; nhưng—và chính trong đây có mối quan tâm trước mắt của điều tôi phải truyền đạt—Các Ngài quả có một giới hạn thời gian. Điều này đặt nền trên Định luật Chu Kỳ. Nó liên quan đến sự vận hành của một số thời kỳ cơ hội nhất định, vốn tất yếu có kỳ hạn của chúng. Trong các thời kỳ cơ hội này, các mãnh lực, ảnh hưởng và năng lượng tạm thời hoạt động, và các Chân sư tìm cách sử dụng chúng.
|
|
Looking ahead, during the conclave to which I have made reference, the assembled Servers of the race noted the future coming in of the Aquarian age, with its distinctive energies and its amazing opportunities. These [405] They noted and They sought to prepare man for that period which would approximate 2500 years, and which could if duly utilised, bring about the unification, consciously and intelligently, of mankind, and so produce the manifestation of what I prefer to call “scientific brotherhood” in contradistinction to the sentimental connotation of the term now so prevalent.
|
Nhìn về phía trước, trong mật nghị mà tôi đã nhắc đến, các Người Phụng Sự nhân loại quy tụ đã ghi nhận sự xuất hiện tương lai của Kỷ nguyên Bảo Bình, với những năng lượng đặc thù và những cơ hội kỳ diệu của nó. Những điều này [405] Các Ngài đã ghi nhận, và Các Ngài tìm cách chuẩn bị con người cho thời kỳ ấy, vốn sẽ kéo dài khoảng 2500 năm, và nếu được sử dụng đúng mức, có thể đem lại sự hợp nhất của nhân loại một cách có ý thức và thông minh, nhờ đó tạo ra sự biểu lộ của điều tôi thích gọi là “tình huynh đệ khoa học”, để phân biệt với sắc thái tình cảm của thuật ngữ này hiện nay quá phổ biến.
|
|
It appeared to Them at that time that it would be necessary to do two things before the coming potencies of the Aquarian age could profitably be employed. First of all, humanity must have its consciousness elevated to the mental plane; it must be expanded so that it included not only the world of emotion and of feeling but also that of the intellect. The minds of men must be made widely and generally active, and the entire level of human intelligence must be raised. It was necessary, secondly, that something should be done to break down the barriers of separateness, of isolation and of prejudice which were keeping men apart from each other and which They foresaw would increasingly do so. Cycle by cycle, men were becoming more and more wrapped up in their own selves—satisfaction and exclusiveness, and racial pride. The result of this would lead inevitably to wide cleavages and the erection of world barriers between nation and nation, and between race and race.
|
Vào thời điểm đó, đối với Các Ngài, dường như cần phải làm hai điều trước khi các quyền năng sắp đến của Kỷ nguyên Bảo Bình có thể được sử dụng một cách hữu ích. Trước hết, tâm thức của nhân loại phải được nâng lên cõi trí; nó phải được mở rộng để bao gồm không chỉ thế giới của xúc cảm và cảm giác, mà cả thế giới của trí năng. Thể trí của con người phải được làm cho hoạt động rộng rãi và phổ quát, và toàn bộ cấp độ trí thông minh của nhân loại phải được nâng cao. Thứ hai, cần phải làm một điều gì đó để phá vỡ các rào chắn của sự chia rẽ, cô lập và định kiến vốn đang giữ con người tách rời nhau, và Các Ngài thấy trước rằng những rào chắn ấy sẽ ngày càng làm như vậy. Chu kỳ này qua chu kỳ khác, con người ngày càng bị cuốn chặt hơn vào chính bản thân mình—sự tự mãn, tính biệt lập và niềm kiêu hãnh chủng tộc. Kết quả của điều này tất yếu sẽ dẫn đến những chia rẽ rộng lớn và việc dựng lên các rào chắn thế giới giữa quốc gia với quốc gia, và giữa nhân loại với nhân loại.
|
|
This determination of the members of the Hierarchy to train the minds of men more rapidly and to build towards a more synthetic unity brought them to a decision which involved the formation of group units, and brought about the emergence of those groups of workers and thinkers who, through their activities, have so largely governed and moulded our world for the past three or four centuries. We have therefore, dating from this conclave, the inauguration of definite and specific group work along clearly defined lines, with each group standing [406] for some peculiar presentation of truth and for some aspect of the knowledge of reality.
|
Quyết tâm này của các thành viên Thánh Đoàn nhằm huấn luyện thể trí của con người nhanh chóng hơn và xây dựng hướng tới một sự hợp nhất tổng hợp hơn đã đưa Các Ngài đến một quyết định bao hàm việc hình thành các đơn vị nhóm, và đem lại sự xuất hiện của những nhóm người hoạt động và tư tưởng gia mà qua các hoạt động của họ, đã phần lớn chi phối và định hình thế giới chúng ta trong ba hoặc bốn thế kỷ qua. Vì vậy, kể từ mật nghị này, chúng ta có sự khởi đầu của công việc nhóm xác định và chuyên biệt theo những đường lối được định rõ, mỗi nhóm đứng [406] cho một cách trình bày chân lý đặc thù nào đó và cho một phương diện nào đó của tri thức về thực tại.
|
|
These groups fall generally into four major divisions; cultural, political, religious, and scientific. In more modern times three other groups have definitely emerged; they are the philosophical, the psychological, and the financial groups. Philosophers have, of course, always been with us, but they have been for the most part isolated units who have founded schools characterised by partisanship and separativeness. Now there are no outstanding figures as in the past, but groups who represent certain ideas. It is of profound importance that the work of these seven groups of thinkers be recognised as part of the hierarchical programme, designed to produce a certain situation, to bring about certain preparatory conditions, and as playing a definite part in the work of world evolution as far as humanity is concerned.
|
Các nhóm này nói chung rơi vào bốn phân ngành chính: văn hóa, chính trị, tôn giáo và khoa học. Trong thời hiện đại hơn, ba nhóm khác đã xuất hiện một cách rõ rệt; đó là các nhóm triết học, tâm lý học và tài chính. Dĩ nhiên, các triết gia luôn luôn hiện diện với chúng ta, nhưng phần lớn họ là những đơn vị cô lập, sáng lập các trường phái mang đặc tính phe phái và chia rẽ. Ngày nay không còn những nhân vật nổi bật như trong quá khứ, mà là các nhóm đại diện cho những ý tưởng nhất định. Việc công nhận công việc của bảy nhóm tư tưởng gia này như một phần của chương trình Thánh Đoàn là điều có tầm quan trọng sâu xa; chương trình ấy được hoạch định nhằm tạo ra một tình huống nhất định, đem lại những điều kiện chuẩn bị nhất định, và đóng một vai trò xác định trong công việc tiến hoá thế giới xét trong phạm vi nhân loại.
|
|
Under the influence of the different rays as they cycled in and out of activity, little groups of men emerged, played their part in group formation, and disappeared, often unaware of their inherent synthesis and of their co-workers. As can be seen in any intelligent historical retrospect, the work that they did for the race and their contribution to the pageant of the progress of mankind stands out with clarity. I have not the time to take this procession of groups, each custodian of a special contribution, and trace for you the work they did or the subjective impulses under which they worked. I can but indicate the trend of their endeavour, and leave to some illumined student of history the delineation of the golden thread of their spiritual work as they raised the mental standard of the race and put man en rapport with the world in which he lived, opening his eyes not only to the nature of matter and of form but also to the hidden depths of his own being. Through their activities we [407] now have a humanity in close relation, though not at-one, and a humanity characterised by three things:
|
Dưới ảnh hưởng của các cung khác nhau khi chúng luân phiên đi vào và ra khỏi hoạt động, những nhóm nhỏ con người đã xuất hiện, đóng vai trò của họ trong sự hình thành nhóm, rồi biến mất, thường không nhận biết sự tổng hợp vốn có của họ và những người đồng sự của họ. Như có thể thấy trong bất cứ cuộc hồi cố lịch sử thông minh nào, công việc họ đã làm cho nhân loại và đóng góp của họ vào đoàn rước tiến bộ của nhân loại nổi bật một cách rõ ràng. Tôi không có thời gian để đi theo đoàn nối tiếp các nhóm này, mỗi nhóm là người gìn giữ một đóng góp đặc biệt, và truy nguyên cho các bạn công việc họ đã làm hay các xung lực nội tại dưới đó họ đã hoạt động. Tôi chỉ có thể chỉ ra xu hướng nỗ lực của họ, và để cho một đạo sinh lịch sử được soi sáng nào đó phác họa sợi chỉ vàng của công việc tinh thần của họ khi họ nâng chuẩn mực trí tuệ của nhân loại và đặt con người vào sự liên thông hòa hợp với thế giới mà y sống trong đó, mở mắt y không chỉ đối với bản chất của vật chất và hình tướng, mà còn đối với những chiều sâu ẩn kín của chính bản thể y. Qua các hoạt động của họ, [407] giờ đây chúng ta có một nhân loại ở trong mối liên hệ gần gũi, dù chưa hợp nhất, và một nhân loại được đặc trưng bởi ba điều:
|
|
1. An amazing interrelation and intercommunication, of which the radio, the press, modern transportation, and the telephone and telegraph are the servants.
|
1. Một sự tương quan và truyền thông lẫn nhau đáng kinh ngạc, mà truyền thanh, báo chí, vận tải hiện đại, điện thoại và điện báo là những người phục vụ.
|
|
2. A wide-spread philanthropic enterprise, and the growth of the sense of responsibility for one’s brother, which was totally unknown in the year 1500. Movements such as the Red Cross, educational foundations, hospitals, and the present economic relief measures to be found in every country are its exoteric manifestations.
|
2. Một công cuộc bác ái rộng khắp, và sự tăng trưởng của ý thức trách nhiệm đối với huynh đệ của mình, điều hoàn toàn chưa được biết đến vào năm 1500. Những phong trào như Hội Chữ thập đỏ, các quỹ giáo dục, bệnh viện và các biện pháp cứu trợ kinh tế hiện nay có mặt ở mọi quốc gia là những biểu lộ ngoại môn của nó.
|
|
3. A division of the entire human family, consciously or unconsciously, into two basic groups: first, those who stand for the old order of things, who are reactionary, and separative. They represent separative nationalism, boundaries, servitude, and servile obedience; they exemplify religious sectarianism and dependence upon authority. They are against all modern innovations and progress. Secondly, those who vision a unified world wherein love of God means love of one’s neighbour, and where the motives underlying all religious, political and educational activities are characterised by a world consciousness and the welfare of the entire body and not of the part.
|
3. Sự phân chia toàn bộ gia đình nhân loại, một cách có ý thức hoặc vô ý thức, thành hai nhóm căn bản: trước hết, những người đứng về trật tự cũ của sự vật, những người phản động và chia rẽ. Họ đại diện cho chủ nghĩa quốc gia chia rẽ, các biên giới, sự nô dịch và sự vâng phục nô lệ; họ tiêu biểu cho tinh thần giáo phái tôn giáo và sự lệ thuộc vào uy quyền. Họ chống lại mọi đổi mới và tiến bộ hiện đại. Thứ hai, những người hình dung một thế giới hợp nhất, trong đó tình thương đối với Thượng đế có nghĩa là tình thương đối với người lân cận, và nơi các động cơ nằm dưới mọi hoạt động tôn giáo, chính trị và giáo dục được đặc trưng bởi tâm thức thế giới và phúc lợi của toàn thể cơ thể, chứ không phải của một phần.
|
|
The unification to which the forward looking people aspire does not involve the neglect of any part, but it does involve the care and nurture of each part in order that it may contribute to the well being of the entire organism. It involves, for instance, the right government and proper development of every national unit so that it can adequately perform its international duties, and thus form part of a world brotherhood of nations. [408] This concept does not even involve the formation of a world state, but it does involve the development of a universal public consciousness which realises the unity of the whole, and thus produces the determination that each must be for all and all for each as it has been said. Only in this way can there be brought about an international synthesis which will be characterised by political and national unselfishness. This universal state of mind will not again inevitably involve the founding of a world or universal religion. It requires simply the recognition that all formulations of truth and of relief are only partial in time and space, and are temporarily suited to the temperaments and conditions of the age and race. Those who favour some particular approach to the truth will nevertheless achieve the realisation that other approaches and other modes of expression and terminologies, and other ways of defining deity can be equally correct and in themselves constitute aspects of a truth which is greater and vaster than man’s present equipment can grasp and express. Even the Great Ones Themselves but dimly sense reality and though They are aware of deeper underlying purposes than are Their chelas, yet even They see not the ultimate goal. They too are forced to use such unmeaning terms in Their teaching as Absolute Reality, and Ultimate Realisation.
|
Sự hợp nhất mà những người hướng về tương lai khát vọng không bao hàm việc bỏ bê bất cứ phần nào, nhưng bao hàm sự chăm sóc và nuôi dưỡng từng phần để nó có thể đóng góp cho phúc lợi của toàn bộ cơ cấu. Chẳng hạn, nó bao hàm sự cai quản đúng đắn và phát triển thích hợp của mỗi đơn vị quốc gia, để đơn vị ấy có thể thực hiện đầy đủ các bổn phận quốc tế của mình, và như vậy tạo thành một phần của tình huynh đệ thế giới giữa các quốc gia. [408] Khái niệm này thậm chí không bao hàm việc hình thành một nhà nước thế giới, nhưng nó bao hàm sự phát triển của một tâm thức công chúng phổ quát, nhận ra sự hợp nhất của toàn thể, và do đó tạo ra quyết tâm rằng mỗi người phải vì tất cả và tất cả vì mỗi người, như đã nói. Chỉ bằng cách này mới có thể đem lại một sự tổng hợp quốc tế được đặc trưng bởi tinh thần vị tha chính trị và quốc gia. Trạng thái tâm trí phổ quát này cũng không tất yếu bao hàm việc sáng lập một tôn giáo thế giới hay phổ quát. Nó chỉ đòi hỏi sự công nhận rằng mọi công thức về chân lý và niềm tin đều chỉ là một phần trong thời gian và không gian, và tạm thời thích hợp với khí chất cùng điều kiện của thời đại và nhân loại. Những người ủng hộ một cách tiếp cận đặc thù nào đó đối với chân lý tuy vậy sẽ đạt đến nhận thức rằng những cách tiếp cận khác, những phương thức biểu hiện và thuật ngữ khác, cũng như những cách định nghĩa Thượng đế khác, đều có thể đúng như nhau và tự chúng cấu thành các phương diện của một chân lý lớn lao và bao la hơn trang bị hiện tại của con người có thể nắm bắt và biểu đạt. Ngay cả Chính Các Đấng Cao Cả cũng chỉ cảm nhận thực tại một cách mờ nhạt, và dù Các Ngài nhận thức được những mục đích sâu xa hơn nằm bên dưới so với các đệ tử của Các Ngài, tuy vậy ngay cả Các Ngài cũng chưa thấy mục tiêu tối hậu. Các Ngài cũng buộc phải dùng trong giáo huấn của mình những thuật ngữ thiếu ý nghĩa như Thực Tại Tuyệt Đối và Chứng Nghiệm Tối Hậu.
|
|
Hence, during the past three centuries, group after group has appeared and played its part, and we today reap the benefit of their accomplishment. Under the cultural group for instance we find emerging the poets of the Elizabethan age, and the musicians of Germany and of the Victorian era. Groups of artists are likewise to be found, giving us the famous schools which are the glory of Europe. Two famous groups, one cultural and the other political, also played their parts, the one producing the Renaissance and the other bringing about the French Revolution. The effects of their work are still [409] to be felt, for the modern humanistic movement with its emphasis upon the past which is completed in the present, and its search for the roots of man’s equipment in the earlier trends, harks back to the Renaissance. Revolution and the determination to fight for the divine rights of man find their prime inaugurating influence and impetus in the revolution in France. Revolt, the formation of political parties, the class warfare which is so rampant today and the splitting of every country into warring political groups, though sporadic always, have become universal during the past two hundred years, and are all the results of the group activity started by the Masters. Men have grown thereby and have learnt how to think, and even though they may think wrongly and may initiate disastrous experiments, the ultimate good is inevitable and unavoidable. Temporary discomforts, passing depressions, war and bloodshed, penury and vice may lead the unthinking into the depths of pessimism. But those who know and who sense the inner guiding hand of the Hierarchy are aware that the heart of humanity is sound and that out of the present chaos and perhaps largely because of it, there will emerge those competent to deal with the situation and adequate to the task of unification and synthesis. This period has been occultly called the “age of restoration of what has been broken by the fall”. The time has come when the separate parts can be reunited and the whole stand together again in its earlier perfection.
|
Do đó, trong ba thế kỷ vừa qua, nhóm này sau nhóm khác đã xuất hiện và đóng vai trò của mình, và ngày nay chúng ta gặt hái lợi ích từ thành tựu của họ. Chẳng hạn, dưới nhóm văn hóa, chúng ta thấy xuất hiện các nhà thơ thời Elizabeth, và các nhạc sĩ của Đức cũng như thời Victoria. Các nhóm nghệ sĩ cũng được tìm thấy, đem lại cho chúng ta những trường phái nổi tiếng vốn là vinh quang của châu Âu. Hai nhóm nổi tiếng, một thuộc văn hóa và một thuộc chính trị, cũng đã đóng vai trò của họ; nhóm này tạo ra thời Phục hưng, nhóm kia đem lại Cách mạng Pháp. Các hiệu quả của công việc họ vẫn còn [409] được cảm nhận, vì phong trào nhân văn hiện đại, với sự nhấn mạnh vào quá khứ được hoàn tất trong hiện tại, và cuộc tìm kiếm các gốc rễ trang bị của con người trong những xu hướng trước kia, đều quay về thời Phục hưng. Cách mạng và quyết tâm đấu tranh cho các quyền thiêng liêng của con người tìm thấy ảnh hưởng và xung lực khởi đầu chính yếu của chúng trong cuộc cách mạng ở Pháp. Sự nổi dậy, sự hình thành các đảng phái chính trị, cuộc đấu tranh giai cấp hiện nay đang lan tràn mạnh mẽ, và việc chia rẽ mỗi quốc gia thành các nhóm chính trị xung đột—dù luôn luôn rời rạc—đã trở nên phổ quát trong hai trăm năm qua, và tất cả đều là kết quả của hoạt động nhóm do các Chân sư khởi xướng. Nhờ đó con người đã lớn lên và đã học cách tư duy; và dù họ có thể tư duy sai lầm và khởi xướng những thử nghiệm tai hại, điều thiện tối hậu vẫn là điều tất yếu và không thể tránh khỏi. Những khó chịu tạm thời, những suy thoái thoáng qua, chiến tranh và đổ máu, bần cùng và tội lỗi có thể dẫn những người không suy nghĩ vào vực sâu của bi quan. Nhưng những ai biết và cảm nhận bàn tay hướng dẫn bên trong của Thánh Đoàn đều nhận thức rằng trái tim của nhân loại là lành mạnh, và từ hỗn độn hiện tại, có lẽ phần lớn nhờ chính nó, sẽ xuất hiện những người có năng lực xử lý tình hình và đủ sức đảm đương nhiệm vụ hợp nhất và tổng hợp. Thời kỳ này đã được gọi một cách huyền bí là “thời đại phục hồi những gì đã bị phá vỡ bởi sự sa ngã”. Thời điểm đã đến khi các phần riêng rẽ có thể được tái hợp nhất, và toàn thể lại đứng cùng nhau trong sự hoàn thiện ban đầu của nó.
|
|
The religious groups have likewise been many, —so many that their enumeration is hopeless. We have the groups of Catholic mystics who are the glory of the occident, there are also the protesting Lutherans, Calvinists and Methodists, the Pilgrim Fathers—those sour and earnest men—the Huguenot and Moravian martyrs, and the thousands of modern sects in every group. These have all served their purpose and have led man to the [410] point of revolt and away from acquiescence in authority. They have driven man to the stage of thinking for himself by the force of their unique example. They stood for freedom and the personal right to know.
|
Các nhóm tôn giáo cũng nhiều như vậy—nhiều đến mức không thể liệt kê. Chúng ta có các nhóm nhà thần bí Công giáo, vốn là vinh quang của phương Tây; cũng có các tín đồ Tin Lành Luther, Calvin và Methodist, các Giáo phụ Hành hương—những con người khắc khổ và nghiêm nghị ấy—các tử đạo Huguenot và Moravia, cùng hàng ngàn giáo phái hiện đại trong mỗi nhóm. Tất cả những nhóm này đã phụng sự mục đích của mình và đã dẫn con người đến [410] điểm nổi dậy, rời khỏi sự phục tùng uy quyền. Họ đã đẩy con người đến giai đoạn tự suy nghĩ bằng sức mạnh của tấm gương độc đáo của họ. Họ đứng về tự do và quyền cá nhân được biết.
|
|
These latter groups have acted largely under the influence of the sixth and second rays. The cultural emerged under that of the fourth ray, whilst the first ray has impelled the political activities which have brought such changes in the nations. Under the fifth and third ray impulses, groups of scientific investigators have arisen, working with the forces and energies that constitute the divine Life, dealing with the outer garment of God, searching from without towards the within, and demonstrating to man his essential unity with all creation and his relationship, intrinsic and vital, with all forms of life. The names of the individuals in any group are legion and of relatively no importance. It is the group and its interrelated work that counts. It is interesting to note that in the scientific group the underlying unity is particularly noticeable, for its members are singularly free from sectarianism and selfish competition. This cannot be said of the religious and political groups.
|
Các nhóm sau này phần lớn đã hoạt động dưới ảnh hưởng của cung sáu và cung hai. Nhóm văn hóa xuất hiện dưới ảnh hưởng của cung bốn, trong khi cung một đã thúc đẩy các hoạt động chính trị đem lại những thay đổi như thế trong các quốc gia. Dưới các xung lực cung năm và cung ba, các nhóm nhà nghiên cứu khoa học đã trỗi dậy, làm việc với các mãnh lực và năng lượng cấu thành Sự sống thiêng liêng, bàn đến lớp áo bên ngoài của Thượng đế, tìm kiếm từ bên ngoài hướng vào bên trong, và chứng minh cho con người sự hợp nhất thiết yếu của y với toàn thể sáng tạo, cũng như mối liên hệ nội tại và thiết yếu của y với mọi hình tướng sự sống. Tên tuổi của các cá nhân trong bất cứ nhóm nào cũng vô số và tương đối không quan trọng. Chính nhóm và công việc liên hệ lẫn nhau của nó mới là điều đáng kể. Thật thú vị khi lưu ý rằng trong nhóm khoa học, sự hợp nhất nền tảng đặc biệt rõ rệt, vì các thành viên của nó đặc biệt tự do khỏi tinh thần giáo phái và cạnh tranh ích kỷ. Điều này không thể nói về các nhóm tôn giáo và chính trị.
|
|
In relation to the many nations and the myriads of men on earth, these moulding groups under the various divisions are few in number. Their personnel, their contribution to the growth of human expression, and their place in the plan can quite easily be traced. The point to be emphasised is that these have all been motivated from the inner subjective side of life; they have come forth under a divine urge and with a specific work to accomplish; they have all been composed in the primary stage of disciples and initiates of the lesser degrees; they have all been subjectively guided step by step by their own souls, which have, in their turn, been cooperating consciously with the Hierarchy of Knowers. This has [411] been the case even when the individual man has been totally unaware himself or his place in the group and that group’s divine mission. Let it be remembered also that there has not been a single failure, though again and again the individual has not been cognisant of success. The mark of these workers is that they build for posterity. That those who have followed them have failed, and that those who have responded to this work have not been true to the ideal is disastrously true, but the initial group has uniformly achieved. This surely negates pessimism and demonstrates the exceeding potency of the subjective activity.
|
Liên quan đến nhiều quốc gia và vô số con người trên Trái Đất, các nhóm định hình này dưới nhiều phân ngành khác nhau là ít về số lượng. Nhân sự của họ, đóng góp của họ cho sự tăng trưởng của biểu hiện nhân loại, và vị trí của họ trong Thiên Cơ đều có thể được truy nguyên khá dễ dàng. Điểm cần được nhấn mạnh là tất cả các nhóm này đều đã được thúc đẩy từ phương diện nội tại chủ quan của sự sống; họ đã xuất hiện dưới một xung lực thiêng liêng và với một công việc chuyên biệt phải hoàn thành; trong giai đoạn đầu, tất cả họ đều gồm các đệ tử và điểm đạo đồ thuộc các cấp thấp hơn; tất cả họ đều được hướng dẫn một cách nội tại, từng bước một, bởi chính linh hồn của họ, những linh hồn ấy đến lượt mình đã hợp tác có ý thức với Thánh Đoàn các Thức giả. Điều này [411] vẫn đúng ngay cả khi cá nhân con người hoàn toàn không tự biết về chính mình, về vị trí của mình trong nhóm, hay về sứ mệnh thiêng liêng của nhóm ấy. Cũng cần nhớ rằng không hề có một thất bại nào, dù hết lần này đến lần khác cá nhân không nhận biết thành công. Dấu hiệu của những người hoạt động này là họ xây dựng cho hậu thế. Việc những người đi theo họ đã thất bại, và những người đáp ứng công việc này đã không trung thành với lý tưởng, là điều tai hại nhưng đúng; tuy nhiên nhóm ban đầu thì luôn luôn thành tựu. Chắc chắn điều này phủ nhận chủ nghĩa bi quan và chứng minh quyền năng vượt trội của hoạt động nội tại.
|
|
The three groups to which I earlier referred require a word of comment. Their work is curiously different to that of the other groups and their ranks are recruited from all the ray groups, though the members of the third group (that of the financiers) are found primarily upon the seventh ray, that of ceremonial organisation. In the order of their emergence, they are the groups of philosophers, psychologists and business men.
|
Ba nhóm mà tôi đã nhắc đến trước đó cần một lời nhận xét. Công việc của họ khác biệt một cách lạ lùng với công việc của các nhóm khác, và hàng ngũ của họ được tuyển mộ từ mọi nhóm cung, dù các thành viên của nhóm thứ ba, tức nhóm các nhà tài chính, chủ yếu được tìm thấy trên cung bảy, cung của tổ chức nghi lễ. Theo thứ tự xuất hiện của họ, đó là các nhóm triết gia, nhà tâm lý học và doanh nhân.
|
|
The group of philosophers of more modern date are already powerfully moulding thought, whilst the ancient schools of Asiatic philosophers are just beginning to influence western ideas. Through analysis, correlation and synthesis, the thought power of man is developed and the abstract mind can be unified with the concrete. Through their work therefore that interesting sensitivity of man, with its three outstanding characteristics of instinct, intellect and intuition is brought to a condition of intelligent coordination. Instinct relates man to the animal world, intellect unites him to his fellow men, whilst the intuition reveals to him the life of divinity. All these three are the subject matter of philosophical investigation, for the theme of the philosophers is the nature of reality and the means of knowledge.
|
Nhóm các triết gia thuộc thời hiện đại hơn đã và đang định hình tư tưởng một cách mạnh mẽ, trong khi các trường phái cổ xưa của các triết gia Á châu chỉ mới bắt đầu ảnh hưởng đến tư tưởng phương Tây. Qua phân tích, tương quan và tổng hợp, quyền năng tư tưởng của con người được phát triển, và trí trừu tượng có thể được hợp nhất với trí cụ thể. Do đó, qua công việc của họ, sự nhạy cảm thú vị ấy của con người, với ba đặc tính nổi bật là bản năng, trí năng và trực giác, được đưa vào một trạng thái phối hợp thông minh. Bản năng liên hệ con người với giới động vật, trí năng hợp nhất y với đồng loại, trong khi trực giác mặc khải cho y sự sống của thiên tính. Cả ba điều này đều là đối tượng của nghiên cứu triết học, vì chủ đề của các triết gia là bản chất của thực tại và các phương tiện của tri thức.
|
|
The two most modern groups are the psychologists [412] who work under the Delphic injunction “Man, know thyself”, and the financiers who are the custodians of the means whereby man can live upon the physical plane. These two groups necessarily, and in spite of apparent divergences and differences are more synthetic in their foundational aspects, than any of the others. One group concerns itself with mankind, with the varying types of humanity the mechanism employed, and man’s urges, characteristics, and with the purpose—apparent or hidden—of his being. The other group controls and orders the means whereby he exists, controlling all that can be converted into energy and constituting a dictatorship over all modes of intercourse, commerce and exchange. They control the multiplicity of form-objects which modern man regards as essential to his mode of life. Money, as I have before said, is only crystallised energy or vitality, —what the oriental student calls pranic energy. It is a concretisation of etheric force. It is therefore vital energy externalised, and this form of energy is under the direction of the financial group. They are the latest group in point of date, and their work (it should be borne in mind) is most definitely planned by the Hierarchy. They are bringing about effects upon the earth which are most far reaching.
|
Hai nhóm hiện đại nhất là các nhà tâm lý học [412], những người làm việc dưới huấn lệnh Delphi: “Hỡi con người, hãy tự biết mình”, và các nhà tài chính, những người giữ gìn các phương tiện nhờ đó con người có thể sống trên cõi hồng trần. Hai nhóm này tất yếu, và bất chấp những dị biệt cùng khác biệt bề ngoài, có tính tổng hợp trong các phương diện nền tảng hơn bất cứ nhóm nào khác. Một nhóm quan tâm đến nhân loại, đến các kiểu loại khác nhau của con người, đến bộ máy được sử dụng, đến các thôi thúc, đặc tính của con người, và đến mục đích—hiển lộ hay ẩn tàng—của sự hiện hữu của y. Nhóm kia kiểm soát và sắp đặt các phương tiện nhờ đó y tồn tại, kiểm soát tất cả những gì có thể chuyển thành năng lượng và thiết lập một nền độc tài trên mọi phương thức giao tiếp, thương mại và trao đổi. Họ kiểm soát vô số đối tượng hình tướng mà con người hiện đại xem là thiết yếu đối với lối sống của mình. Như Tôi đã nói trước đây, tiền chỉ là năng lượng hay sinh lực đã kết tinh—điều mà đạo sinh phương Đông gọi là năng lượng prana. Nó là sự cụ thể hóa của mãnh lực dĩ thái. Do đó, nó là năng lượng sống đã ngoại hiện, và hình thức năng lượng này nằm dưới sự chỉ đạo của nhóm tài chính. Họ là nhóm mới nhất xét theo thời điểm xuất hiện, và công việc của họ, cần ghi nhớ điều này, được Thánh Đoàn hoạch định một cách hết sức rõ ràng. Họ đang tạo ra trên Trái Đất những hiệu quả có tầm ảnh hưởng sâu rộng nhất.
|
|
Now that centuries have elapsed since the conclave in the sixteenth century, these external groups have played their part and performed most notable service. The results achieved have reached a stage where they are internationally effective, and their influence is not confined to one nation or race. The Hierarchy is now faced with another situation which requires careful handling. They must gather up and weld together the various threads of influencing energy and the differing trends of thought power which the work of the groups since the year 1500 has produced. They have also now to offset some of the effects which are tending towards a further differentiation. [413] This must inevitably be so when force is brought into contact with the material world. Initial impulses have in them potency both for good and for evil. As long as the form remains of secondary importance and relatively negligible, we call it good. Then the idea and not its expression controls. As time elapses and the energy of the thought makes its impact upon matter and lesser minds seize upon the particular type of energy or are vitalised by it, then evil begins to make its presence felt. This finally demonstrates as selfishness, separateness, pride and those characteristics which have produced so much harm in the world.
|
Nay, khi nhiều thế kỷ đã trôi qua kể từ mật nghị vào thế kỷ mười sáu, các nhóm bên ngoài này đã đóng vai trò của mình và đã thực hiện sự phụng sự hết sức đáng kể. Những kết quả đạt được đã đến một giai đoạn mà chúng có hiệu lực quốc tế, và ảnh hưởng của chúng không còn giới hạn trong một quốc gia hay một nhân loại nào. Thánh Đoàn giờ đây đối diện với một tình thế khác đòi hỏi phải xử lý cẩn trọng. Các Ngài phải gom lại và hàn gắn với nhau những sợi dây khác nhau của năng lượng ảnh hưởng, cùng những khuynh hướng khác nhau của quyền năng tư tưởng mà công việc của các nhóm từ năm 1500 đã tạo ra. Các Ngài cũng phải hóa giải một số hiệu quả hiện đang có khuynh hướng dẫn đến sự biến phân xa hơn. [413] Điều này tất yếu phải như vậy khi mãnh lực được đưa vào tiếp xúc với thế giới vật chất. Những xung lực ban đầu chứa trong chúng quyền năng vừa hướng thiện vừa hướng ác. Chừng nào hình tướng vẫn còn giữ vị trí thứ yếu và tương đối không đáng kể, chúng ta gọi điều đó là thiện. Khi ấy ý tưởng, chứ không phải biểu hiện của nó, nắm quyền kiểm soát. Khi thời gian trôi qua và năng lượng của tư tưởng tác động lên vật chất, và những thể trí thấp hơn nắm lấy loại năng lượng đặc thù ấy hoặc được nó tiếp sinh lực, thì sự ác bắt đầu khiến sự hiện diện của nó được cảm nhận. Cuối cùng điều này biểu hiện thành tính ích kỷ, sự chia rẽ, kiêu hãnh và những đặc tính đã gây quá nhiều tai hại trong thế giới.
|
|
About seventeen years ago the Masters met and came to a momentous decision. Just as it had been decided at the earlier conclave to gather out of the inchoate masses of men, groups of workers along various lines, and set them the task of elevating humanity and expanding the human consciousness, so now it was felt wise to gather out of the many groups, a group which should contain (as does the Hierarchy itself) men of all races, of all types and tendencies. This group has a specific mission, and some of the facts about it might be stated as follows:
|
Khoảng mười bảy năm trước, các Chân sư đã nhóm họp và đi đến một quyết định trọng đại. Cũng như trong mật nghị trước kia đã quyết định rút ra từ những khối quần chúng còn hỗn độn của nhân loại các nhóm người hoạt động theo nhiều đường lối khác nhau, và giao cho họ nhiệm vụ nâng cao nhân loại cũng như mở rộng tâm thức con người, thì nay các Ngài thấy rằng nên rút ra từ nhiều nhóm một nhóm có thể bao gồm, như chính Thánh Đoàn, những người thuộc mọi nhân loại, mọi kiểu loại và khuynh hướng. Nhóm này có một sứ mệnh đặc thù, và một số sự kiện về nhóm ấy có thể được nêu như sau:
|
|
It is first of all an attempt at an externalisation of the Hierarchy upon the physical plane, or a small working replica of this essentially subjective body. Its members are all in physical bodies but must work entirely subjectively, thus utilising the inner subjective apparatus and the intuition. It is to be composed of men and women of all nations and ages, but each one must be spiritually oriented, all must be conscious servers, all must be mentally polarised and alert, and all must be inclusive.
|
Trước hết, đó là một nỗ lực nhằm ngoại hiện Thánh Đoàn trên cõi hồng trần, hay là một bản sao nhỏ đang hoạt động của đoàn thể vốn thiết yếu mang tính chủ quan này. Các thành viên của nhóm đều ở trong thể xác nhưng phải làm việc hoàn toàn trên bình diện chủ quan, do đó sử dụng bộ máy chủ quan bên trong và trực giác. Nhóm này phải được cấu thành bởi những người nam và nữ thuộc mọi quốc gia và mọi lứa tuổi, nhưng mỗi người phải có định hướng tinh thần; tất cả phải là những người phụng sự có ý thức, tất cả phải phân cực trí tuệ và tỉnh thức, và tất cả phải bao gồm.
|
|
One of the essential conditions imposed upon the personnel of the group is that they must be willing to work without recognition, on the subjective levels. They must work behind the scenes as do the Great Ones. Its members [414] therefore must be free from all taint of ambition, and from all pride of race and of accomplishment. They must be also sensitively aware of their fellowmen and of their thoughts and conditioning environment.
|
Một trong những điều kiện thiết yếu được đặt ra cho nhân sự của nhóm là họ phải sẵn lòng làm việc mà không cần được công nhận, trên các cấp độ chủ quan. Họ phải làm việc phía sau hậu trường như các Đấng Cao Cả vẫn làm. Do đó, các thành viên của nhóm [414] phải thoát khỏi mọi vết nhơ của tham vọng, cũng như mọi kiêu hãnh về nhân loại và thành tựu. Họ cũng phải nhạy bén nhận biết đồng loại, tư tưởng của đồng loại và môi trường tác động lên họ.
|
|
It is a group that has no exoteric organisation of any kind, no headquarters, no publicity, no group name. It is a band of obedient workers and servers of the WORD—obedient to their own souls and to group need. All true servers everywhere therefore belong to this group, whether their line of service is cultural, political, scientific, religious, philosophical, psychological or financial. They constitute part of the inner group of workers for humanity, and of the world mystics, whether they know it or not. They will be thus recognised by their fellow group members when contacted in the casual ways of world intercourse.
|
Đó là một nhóm không có bất kỳ tổ chức ngoại môn nào, không có trụ sở, không có quảng bá, không có tên nhóm. Đó là một đoàn thể gồm những người hoạt động và phụng sự vâng phục LINH TỪ—vâng phục linh hồn của chính họ và nhu cầu của nhóm. Vì vậy, mọi người phụng sự chân chính ở khắp nơi đều thuộc về nhóm này, dù đường lối phụng sự của họ là văn hóa, chính trị, khoa học, tôn giáo, triết học, tâm lý hay tài chính. Họ cấu thành một phần của nhóm người hoạt động bên trong cho nhân loại, và của các nhà thần bí thế giới, dù họ biết điều đó hay không. Họ sẽ được các thành viên đồng nhóm nhận ra khi tiếp xúc trong những cách thức giao lưu thông thường của thế gian.
|
|
This group gives to the word “spiritual” a wide significance; they believe it to mean an inclusive endeavour towards human betterment, uplift and understanding; they give it the connotation of tolerance, international synthetic communion, religious inclusiveness, and all trends of thought which concern the esoteric development of the human being.
|
Nhóm này gán cho từ “tinh thần” một thâm nghĩa rộng; họ tin rằng nó hàm ý một nỗ lực bao gồm hướng tới sự cải thiện, nâng cao và thấu hiểu con người; họ gán cho nó sắc thái của lòng khoan dung, sự hiệp thông tổng hợp quốc tế, tính bao gồm tôn giáo, và mọi khuynh hướng tư tưởng liên quan đến sự phát triển huyền bí của con người.
|
|
It is a group therefore without a terminology or Bible of any kind; it has no creed nor any dogmatic formulations of truth. The motivating impulse of each and all is love of God as it works out in love for one’s fellow man. They know the true meaning of brotherhood, without distinction of race. Their lives are lives of willing service, rendered with utter selflessness and without any reservations.
|
Do đó, đó là một nhóm không có thuật ngữ hay kinh điển thuộc bất kỳ loại nào; nhóm không có tín điều cũng không có bất cứ công thức giáo điều nào về chân lý. Xung lực thúc đẩy từng người và tất cả là tình thương đối với Thượng đế khi nó biểu lộ thành tình thương đối với đồng loại. Họ biết ý nghĩa đích thực của tình huynh đệ, không phân biệt nhân loại. Đời sống của họ là đời sống phụng sự tự nguyện, được thực hiện với sự vô ngã hoàn toàn và không chút dè giữ.
|
|
The personnel of the group is known only to the Elder Brothers of the race, and no register of names is kept, and there are only three main requirements:
|
Nhân sự của nhóm chỉ được các Huynh Trưởng của nhân loại biết đến; không có sổ ghi danh, và chỉ có ba yêu cầu chính:
|
|
1. A certain amount of at-one-ment between the soul and its mechanism is essential, and that inner triplicity, [415] usually dormant in the majority, of soul-mind-brain must be in alignment and active.
|
1. Một mức độ nhất thể hóa nào đó giữa linh hồn và bộ máy của nó là thiết yếu, và bộ ba bên trong, [415] thường còn ngủ yên nơi đa số, gồm linh hồn-thể trí-bộ não, phải được chỉnh hợp và hoạt động.
|
|
2. The brain has to be telepathically sensitive in two directions and at will. It must be aware of the world of souls and also of the world of men.
|
2. Bộ não phải nhạy cảm viễn cảm theo hai hướng và theo ý chí. Nó phải nhận biết thế giới của các linh hồn và cả thế giới của con người.
|
|
3. There must also exist a capacity for abstract or synthetic thought. This will enable a man to leap over racial and religious barriers. When this is present also there is an assured belief in the continuity of life and its correlation to the life after death.
|
3. Cũng phải có năng lực tư duy trừu tượng hay tổng hợp. Điều này sẽ giúp con người vượt qua các rào cản nhân loại và tôn giáo. Khi năng lực này hiện diện, cũng có một niềm tin chắc chắn vào tính liên tục của sự sống và mối tương quan của nó với đời sống sau khi chết.
|
|
To sum up the situation, it must be noted that the groups in the past have stood for certain aspects of truth and have demonstrated certain ray characteristics. The new group will express all the aspects and have in it members on all the rays. The majority of the workers in the many groups have carried forward certain details of the plan, and added their quota of energy to the forward urge of humanity, but they have for the most part done this without any true understanding of what they were accomplishing, and without any real comprehension of that body-soul relationship which leads to really intelligent work, unless we except a few prominent mystics such as Meister Eckhart. They have been primarily groups of personalities, with that added touch of genius which indicates a certain contact with the soul. The group that is now in process of formation is composed of those who are aware of the fact of the soul, and have established a soul intercourse that is real and lasting; they look upon the mind, emotions and body nature as simply an equipment whereby human contacts can be established, and their work, as they see it, is to be carried forward through the medium of this equipment, acting under the direction of the soul. They are therefore living souls, working through personalities, and not personalities actuated by occasional soul impulses. The members of the many groups were all somewhat one-sided [416] and their talents ran along some specific line. They demonstrated a capacity to write as Shakespeare, to paint like a da Vinci, to produce musical masterpieces like a Beethoven, or to bring about world changes like a Napoleon. But the new type of group worker is a rounded out individual, with a capacity to do almost anything to which he sets his hand, but with a basic impulse to work on thought levels more than on the physical plane. He is therefore of use to the Hierarchy as he can be used in a variety of ways, for his flexibility and experience, and his stability of contact can be all subordinated to the group requirements.
|
Tóm lại tình thế, cần lưu ý rằng các nhóm trong quá khứ đã đại diện cho một số phương diện của chân lý và đã biểu hiện một số đặc tính cung. Nhóm mới sẽ biểu lộ mọi phương diện và có trong đó các thành viên thuộc mọi cung. Phần lớn những người hoạt động trong nhiều nhóm đã đưa tới trước một số chi tiết của Thiên Cơ, và đã thêm phần năng lượng của họ vào xung lực tiến tới của nhân loại; nhưng phần lớn họ đã làm điều này mà không có sự thấu hiểu chân chính về điều họ đang hoàn thành, và không có sự lĩnh hội thật sự về mối quan hệ giữa thể và linh hồn vốn dẫn đến công việc thật sự sáng suốt, trừ khi chúng ta loại ra một vài nhà thần bí nổi bật như Meister Eckhart. Về căn bản, họ là những nhóm phàm ngã, với thêm nét chạm của thiên tài cho thấy một tiếp xúc nào đó với linh hồn. Nhóm hiện đang trong tiến trình hình thành được cấu thành bởi những người nhận biết sự kiện về linh hồn, và đã thiết lập một sự giao lưu linh hồn có thật và bền vững; họ xem thể trí, cảm xúc và bản chất thể xác chỉ như một trang bị nhờ đó có thể thiết lập các tiếp xúc nhân loại, và công việc của họ, như họ nhìn thấy, phải được đưa tới trước thông qua phương tiện của trang bị này, hoạt động dưới sự chỉ đạo của linh hồn. Do đó, họ là những linh hồn sống, làm việc thông qua các phàm ngã, chứ không phải những phàm ngã được thúc đẩy bởi những xung lực linh hồn thỉnh thoảng xuất hiện. Các thành viên của nhiều nhóm trước kia đều có phần phiến diện [416] và tài năng của họ chạy theo một đường lối đặc thù nào đó. Họ biểu hiện năng lực viết như Shakespeare, vẽ như da Vinci, tạo ra những kiệt tác âm nhạc như Beethoven, hoặc đem lại những biến đổi thế giới như Napoleon. Nhưng kiểu người hoạt động nhóm mới là một cá nhân toàn diện, có năng lực làm hầu như bất cứ việc gì mà y bắt tay vào, nhưng với xung lực căn bản là làm việc trên các cấp độ tư tưởng hơn là trên cõi hồng trần. Do đó, y hữu dụng đối với Thánh Đoàn vì y có thể được sử dụng theo nhiều cách khác nhau; tính linh hoạt, kinh nghiệm và sự ổn định trong tiếp xúc của y đều có thể được đặt dưới các yêu cầu của nhóm.
|
|
The true exponent of this new group type will of course not appear for many decades. He will be a true Aquarian with a universal touch, an intense sensitivity, a highly organised mental apparatus, an astral equipment which is primarily responsive to the higher spiritual vibrations, a powerful and controlled energy body, and a sound physical body, though not robust in the ordinary use of the term.
|
Dĩ nhiên, người biểu đạt chân chính của kiểu nhóm mới này sẽ chưa xuất hiện trong nhiều thập kỷ. Y sẽ là một người Bảo Bình đích thực với một nét phổ quát, một sự nhạy bén mãnh liệt, một bộ máy trí tuệ được tổ chức cao, một trang bị cảm dục chủ yếu đáp ứng với các rung động tinh thần cao hơn, một thể năng lượng mạnh mẽ và được kiểm soát, cùng một thể xác lành mạnh, dù không cường tráng theo nghĩa thông thường của từ này.
|
|
What then is the present situation in connection with the integrating group of mystics? Let me be somewhat explicit.
|
Vậy tình thế hiện nay liên quan đến nhóm các nhà thần bí đang tích hợp là gì? Hãy để Tôi trình bày khá rõ ràng.
|
|
In every European country, in the United States of America, and in parts of Asia and South Africa are to be found certain disciples, usually unrecognised in the world at large, who are thinking truth. Let me call your attention to that phrase. The most important workers in this new group and those who are closest to the Great Ones are those whose daily thought life is oriented by the new ideal. That this thought life of theirs may work out in definite esoteric activities may be true, but they are first of all and always those who live in and work from the “high and secret place”. Their influence is wielded silently and quietly and they lay no emphasis upon their personalities, upon their own views and ideas, [417] or upon their methods of carrying forward the work. These possess a full realisation of their own limitations, but are not handicapped thereby, but proceed to think through into objective manifestation that aspect of the vision which it is their mission to vivify into form. They are necessarily cultured and widely read, for in these difficult transitional times they have to cultivate a world grasp of conditions and possess a general idea of what is going on in the different countries. They possess in truth no nationality in the sense that they regard their country and their political affiliations as of paramount importance. They are equipped to organise, slowly and steadily, that public opinion which will eventually divorce man from religious sectarianism, national exclusiveness, and racial biases.
|
Ở mỗi quốc gia châu Âu, tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, và tại một số vùng của châu Á và Nam Phi, có thể tìm thấy một số đệ tử, thường không được thế giới rộng lớn công nhận, đang suy tư chân lý. Hãy để Tôi lưu ý các bạn đến cụm từ ấy. Những người hoạt động quan trọng nhất trong nhóm mới này, và những người gần gũi nhất với các Đấng Cao Cả, là những người mà đời sống tư tưởng hằng ngày được định hướng bởi lý tưởng mới. Đời sống tư tưởng ấy của họ có thể biểu lộ thành những hoạt động huyền bí rõ rệt; điều đó có thể đúng, nhưng trước hết và luôn luôn, họ là những người sống trong và làm việc từ “nơi cao cả và kín nhiệm”. Ảnh hưởng của họ được vận dụng âm thầm và lặng lẽ, và họ không nhấn mạnh vào phàm ngã của mình, vào quan điểm và ý tưởng riêng của mình, [417] hay vào các phương pháp đưa công việc tiến tới. Những người này có sự nhận biết đầy đủ về các giới hạn của chính mình, nhưng không bị chúng làm trở ngại; họ tiếp tục suy tư để đưa vào biểu hiện khách quan phương diện của tầm nhìn mà sứ mệnh của họ là tiếp sinh lực cho nó thành hình tướng. Tất yếu họ phải có văn hóa và đọc rộng, vì trong những thời kỳ chuyển tiếp khó khăn này, họ phải vun bồi một sự nắm bắt toàn cầu về các tình trạng và có một ý niệm tổng quát về những gì đang diễn ra trong các quốc gia khác nhau. Thật ra, họ không có quốc tịch theo nghĩa xem đất nước và các liên kết chính trị của mình là điều quan trọng bậc nhất. Họ được trang bị để tổ chức, chậm rãi và vững chắc, dư luận công chúng vốn cuối cùng sẽ tách con người khỏi óc giáo phái tôn giáo, tính biệt lập quốc gia và các thiên kiến nhân loại.
|
|
One by one, here and there they are being gathered out and are gathering to them those who are free from the limitations of past political, religious and cultural theories. They, the members of the one group, are organising these forward looking souls into groups which are destined to bring in the new era of peace and of good will. These latter who are being influenced by the group members are as yet only a few thousands among the millions of men, and out of the four hundred accepted disciples working in the world at this time, only about 156 are equipped by their thought activity to form part of this slowly forming group. These constitute the nucleus of what will be some day a dominant force. During the next twenty-five years their influence will become potent enough to attract political attention, provided those of you who have seen the vision of a powerful subjective body of thinking Souls can speak the needed words, and outline those concepts which will hasten the work of integration, and put the units in this group in touch with one another. Do your utmost to see that this is done and [418] make this the message and keynote of the work you all do wherever you are.
|
Từng người một, ở đây và ở đó, họ đang được rút ra và đang thu hút về mình những người thoát khỏi các giới hạn của những lý thuyết chính trị, tôn giáo và văn hóa trong quá khứ. Họ, các thành viên của nhóm duy nhất, đang tổ chức những linh hồn hướng về tương lai này thành các nhóm được định sẵn để đưa vào kỷ nguyên mới của hòa bình và thiện chí. Những người sau này, đang chịu ảnh hưởng của các thành viên nhóm, hiện vẫn chỉ là vài nghìn người giữa hàng triệu người; và trong số bốn trăm đệ tử được chấp nhận đang làm việc trong thế giới vào lúc này, chỉ khoảng một trăm năm mươi sáu người được trang bị bằng hoạt động tư tưởng của họ để trở thành một phần của nhóm đang hình thành chậm rãi này. Họ cấu thành hạt nhân của điều một ngày kia sẽ là một mãnh lực chi phối. Trong hai mươi lăm năm tới, ảnh hưởng của họ sẽ trở nên đủ mạnh để thu hút sự chú ý chính trị, với điều kiện những ai trong các bạn đã thấy tầm nhìn về một đoàn thể chủ quan mạnh mẽ gồm các Linh hồn biết suy tư có thể nói ra những lời cần thiết, và phác họa những khái niệm sẽ thúc đẩy công việc tích hợp, đồng thời đặt các đơn vị trong nhóm này tiếp xúc với nhau. Hãy làm hết sức mình để thấy rằng điều này được thực hiện, và [418] hãy biến điều này thành thông điệp và chủ âm của công việc mà tất cả các bạn thực hiện, bất cứ ở đâu.
|
|
What should therefore be the work of the immediate present? Let me outline the programme as far as I can.
|
Vậy công việc của hiện tại trước mắt phải là gì? Hãy để Tôi phác thảo chương trình trong mức độ Tôi có thể.
|
|
The first thing to be done is to strengthen the ties and establish firmly the link between yourselves and all those whom you recognise as possible working disciples in the new group. To do this, acquaint yourselves with the work of the leaders of groups in the various countries of the world—such as Switzerland, the United States, Holland, Germany and Great Britain. From their reaction to the vision of this new age type of work you can then make a temporary decision. Watch them at their work. Note the emphasis laid by them upon personalities. If personal ambition seems to govern their activities, if their position is one of a determination to work in the group of mystics because of its novelty or because it gives them a certain standing or because it intrigues their imagination or gives them scope for gathering people around them, then proceed no further, but—preserving silence—leave time and the law to correct their attitude.
|
Điều đầu tiên cần làm là củng cố các mối dây và thiết lập vững chắc liên kết giữa chính các bạn với tất cả những người mà các bạn nhận ra là những đệ tử hoạt động khả hữu trong nhóm mới. Để làm điều này, hãy làm quen với công việc của các nhà lãnh đạo nhóm tại các quốc gia khác nhau trên thế giới—như Thụy Sĩ, Hoa Kỳ, Hà Lan, Đức và Anh. Từ phản ứng của họ đối với tầm nhìn về kiểu công việc của kỷ nguyên mới này, các bạn có thể đưa ra một quyết định tạm thời. Hãy quan sát họ trong công việc. Hãy ghi nhận sự nhấn mạnh mà họ đặt lên phàm ngã. Nếu tham vọng cá nhân dường như chi phối các hoạt động của họ, nếu lập trường của họ là quyết tâm làm việc trong nhóm các nhà thần bí vì tính mới lạ của nó, hoặc vì nó đem lại cho họ một địa vị nào đó, hoặc vì nó kích thích sự tưởng tượng của họ, hoặc cho họ phạm vi để quy tụ người khác quanh mình, thì đừng tiến xa hơn; nhưng—giữ im lặng—hãy để thời gian và định luật sửa chữa thái độ của họ.
|
|
Secondly, be receptive towards those who seek you out and seem to vibrate to the same note. When I say you, I mean the group to which you all subjectively belong. They will come if you work with decision and sound out the note of unity so clearly that they are in no doubt as to your motives and your disinterested activity. Some of the 156 who form the present nucleus will be known to you and will work in unison with you, though maybe not in your peculiar field of action.
|
Thứ hai, hãy tiếp nhận những người tìm đến các bạn và dường như rung động cùng một âm điệu. Khi Tôi nói “các bạn”, Tôi muốn nói đến nhóm mà tất cả các bạn thuộc về một cách chủ quan. Họ sẽ đến nếu các bạn làm việc với sự quyết đoán và xướng lên âm điệu hiệp nhất rõ ràng đến mức họ không còn nghi ngờ gì về động cơ và hoạt động vô tư của các bạn. Một số trong một trăm năm mươi sáu người cấu thành hạt nhân hiện tại sẽ được các bạn biết đến và sẽ làm việc hòa hợp với các bạn, dù có thể không trong lĩnh vực hoạt động đặc thù của các bạn.
|
|
The picture to be held before your eyes is that of a vast network of groups, working along the many possible lines, but having at their heart or behind them—working silently and persistently influencing through soul contact—one or more members of the new slowly emerging [419] group. These focal points through which the Hierarchy is now seeking to work stand together telepathically and exoterically they must work in the completest understanding, preserving always an attitude of non-interference, and leaving each worker free to teach his own group as he sees fit. The terms used, the methods employed, the types reached, the truths taught, the discipline of life demonstrated concern no one but the working disciple.
|
Hình ảnh cần được giữ trước mắt các bạn là hình ảnh một mạng lưới rộng lớn gồm các nhóm, hoạt động theo nhiều đường lối khả hữu, nhưng nơi trung tâm hoặc phía sau họ—làm việc âm thầm và bền bỉ gây ảnh hưởng thông qua tiếp xúc linh hồn—có một hoặc nhiều thành viên của nhóm mới đang chậm rãi xuất hiện [419]. Những tiêu điểm này, qua đó Thánh Đoàn hiện đang tìm cách làm việc, đứng cùng nhau bằng viễn cảm; và trên bình diện ngoại môn, họ phải làm việc trong sự thấu hiểu trọn vẹn nhất, luôn giữ thái độ không can thiệp, và để mỗi người hoạt động được tự do dạy nhóm riêng của mình theo cách y thấy thích hợp. Các thuật ngữ được dùng, các phương pháp được áp dụng, các kiểu người được tiếp cận, các chân lý được dạy, kỷ luật đời sống được biểu hiện—tất cả những điều này không liên quan đến ai ngoài người đệ tử đang hoạt động.
|
|
The members of this group of new age workers will, however, possess certain general characteristics. They will impose no enforced dogmas of any kind, and will lay no emphasis upon any doctrine or authorities. They are not interested in having any personal authority nor do they rest back upon traditional authority, whether religious, scientific, cultural or any other form of imposed truth. Modes of approach to reality will be recognised and each will be free to choose his own. No discipline will be imposed by these workers upon those who seek to cooperate with them. The ideas of any one person or leader as to how the units in his particular sphere of activity should live and work, should meditate and eat, will be regarded as of no special value. The members of this new group work esoterically with souls, and deal not with the details of the personality lives of the aspirants they seek to inspire.
|
Tuy nhiên, các thành viên của nhóm những người hoạt động kỷ nguyên mới này sẽ sở hữu một số đặc tính chung. Họ sẽ không áp đặt bất kỳ giáo điều cưỡng bức nào, và sẽ không nhấn mạnh vào bất kỳ học thuyết hay thẩm quyền nào. Họ không quan tâm đến việc có bất kỳ thẩm quyền cá nhân nào, cũng không dựa vào thẩm quyền truyền thống, dù là tôn giáo, khoa học, văn hóa hay bất kỳ hình thức chân lý áp đặt nào khác. Các phương thức tiếp cận thực tại sẽ được công nhận, và mỗi người sẽ tự do chọn phương thức của riêng mình. Những người hoạt động này sẽ không áp đặt kỷ luật nào lên những người tìm cách cộng tác với họ. Các ý tưởng của bất kỳ cá nhân hay nhà lãnh đạo nào về việc các đơn vị trong lĩnh vực hoạt động riêng của y nên sống và làm việc, nên tham thiền và ăn uống như thế nào, sẽ được xem là không có giá trị đặc biệt. Các thành viên của nhóm mới này làm việc một cách huyền bí với các linh hồn, và không đề cập đến các chi tiết trong đời sống phàm ngã của những người chí nguyện mà họ tìm cách truyền cảm hứng.
|
|
This is a basic rule and will serve to eliminate many worthy aspirants from this group of world servers now in process of forming. The tendency to impose one’s own point of view indicates a lack of understanding and it will rule many out.
|
Đây là một quy luật căn bản và sẽ giúp loại khỏi nhóm những Người Phụng Sự Thế Gian hiện đang hình thành này nhiều người chí nguyện xứng đáng. Khuynh hướng áp đặt quan điểm riêng của mình cho thấy sự thiếu thấu hiểu, và điều đó sẽ loại nhiều người ra ngoài.
|
|
Again, the young and promising aspirants must be sought out and carefully inculcated with the trend of the new ideals. They must be taught to look for the divine and the good in all—both people and circumstances. Breadth of vision must be developed and that [420] wide horizon pointed out which will enable the aspirants to live through this transitional period which is now with us, so that when they reach middle life they will stand as pillars of strength in the new world. Do not narrow them down to the ancient disciplines and teach them not to lay emphasis upon diet, celibacy, times and seasons, and so distract their attention away from the newer and sacred art of being and the wonder of living as a soul.
|
Một lần nữa, cần tìm ra những người chí nguyện trẻ tuổi và đầy hứa hẹn, rồi cẩn thận truyền vào họ khuynh hướng của những lý tưởng mới. Họ phải được dạy tìm kiếm điều thiêng liêng và điều thiện trong tất cả—cả con người lẫn hoàn cảnh. Tầm nhìn rộng phải được phát triển và chân trời [420] rộng lớn ấy phải được chỉ ra, nhờ đó những người chí nguyện có thể sống xuyên qua giai đoạn chuyển tiếp hiện đang ở cùng chúng ta, để khi đến tuổi trung niên, họ sẽ đứng như những trụ cột sức mạnh trong thế giới mới. Đừng thu hẹp họ vào những kỷ luật cổ xưa và đừng dạy họ nhấn mạnh vào chế độ ăn uống, đời sống độc thân, thời điểm và mùa tiết, để rồi làm phân tán sự chú ý của họ khỏi nghệ thuật mới mẻ và thiêng liêng của sự hiện tồn, cũng như khỏi điều kỳ diệu của việc sống như một linh hồn.
|
|
Forget not that when a man is living as a soul and his entire personality is therefore subordinated to that soul, unselfish purpose, purity of life, conformity to law and the setting of a true example of spiritual living will normally and automatically follow. Food, for instance, is frequently a matter of climatic expediency and of taste, and that food is desirable which keeps the physical body in condition to serve the race. Again, a divine son of God can surely function as freely and as effectively when in the married state as in the celibate; he will however brook no prostitution of the powers of the body to the grosser satisfactions, nor will he offend against established custom, nor lower the standard which the world has set for its highest and best. The issues have been confused and the emphasis has been too often laid upon the physical acts and not upon the life of the actor. When the attention is fixed upon the soul, the physical plane life will be rightly handled. It will be realised that there is greater hindrance to the growth of the man in spiritual being through a critical attitude or a state of self satisfaction than by the eating of meat.
|
Đừng quên rằng khi một người đang sống như một linh hồn và toàn thể phàm ngã của y do đó được đặt dưới linh hồn ấy, thì mục đích vô kỷ, sự thanh khiết của đời sống, sự tuân hợp định luật và việc nêu một gương mẫu chân thật về đời sống tinh thần sẽ diễn ra một cách bình thường và tự động. Chẳng hạn, thực phẩm thường là vấn đề thích nghi với khí hậu và khẩu vị, và loại thực phẩm đáng dùng là loại giữ cho thể xác ở trong tình trạng có thể phụng sự nhân loại. Lại nữa, một Con của Thượng đế thiêng liêng chắc chắn có thể hoạt động tự do và hiệu quả trong tình trạng hôn nhân cũng như trong đời sống độc thân; tuy nhiên, y sẽ không dung thứ việc lạm dụng các quyền năng của thể xác vào những thỏa mãn thô trược hơn, cũng sẽ không xúc phạm phong tục đã được thiết lập, hay hạ thấp tiêu chuẩn mà thế giới đã đặt ra cho những gì cao nhất và tốt đẹp nhất. Các vấn đề đã bị lẫn lộn, và sự nhấn mạnh thường quá được đặt lên các hành vi hồng trần chứ không phải lên đời sống của người hành động. Khi sự chú ý được cố định vào linh hồn, đời sống cõi hồng trần sẽ được xử lý đúng đắn. Người ta sẽ nhận ra rằng thái độ phê phán hay trạng thái tự mãn gây trở ngại lớn hơn cho sự tăng trưởng của con người trong hiện tồn tinh thần so với việc ăn thịt.
|
|
Two rules of life activity must be taught the young aspirant:
|
Hai quy luật của hoạt động đời sống phải được dạy cho người chí nguyện trẻ tuổi:
|
|
He must be taught to focus on constructive activity and to refrain from pulling down the old order of living. He must be set to building for the future, and to thinking along the new lines. He must be warned not to waste time in attacking that which is undesirable, but must instead [421] bend all his energies to creating the new temple of the Lord through which the glory may be manifested. In this way public attention will gradually be focussed upon the new and beautiful, and the old established creations will fall into decay for lack of attention and so disappear.
|
Y phải được dạy tập trung vào hoạt động xây dựng và tránh phá đổ trật tự sống cũ. Y phải được đặt vào việc xây dựng cho tương lai và suy tư theo những đường lối mới. Y phải được cảnh báo đừng lãng phí thời gian tấn công những gì không đáng mong muốn, mà thay vào đó phải [421] dồn toàn bộ năng lượng của mình vào việc tạo dựng đền thờ mới của Chúa Tể, qua đó vinh quang có thể được biểu hiện. Bằng cách này, sự chú ý của công chúng sẽ dần dần được tập trung vào cái mới và đẹp đẽ, còn các sáng tạo cũ đã được thiết lập sẽ suy tàn vì thiếu sự chú ý và do đó biến mất.
|
|
He must be taught also that partisanship is in no way a sign of spiritual development. He will not therefore use the words anti this or pro that. Such terms automatically breed hatred and attack, and effort to resist change. They put the user on the defensive. Every class of human beings is a group of brothers. Catholics, Jews, Gentiles, occidentals and orientals are all the sons of God.
|
Y cũng phải được dạy rằng tinh thần phe phái không hề là dấu hiệu của sự phát triển tinh thần. Do đó, y sẽ không dùng các từ chống điều này hay ủng hộ điều kia. Những thuật ngữ như thế tự động sinh ra hận thù và tấn công, cũng như nỗ lực chống lại sự thay đổi. Chúng đặt người sử dụng vào thế phòng thủ. Mọi lớp người đều là một nhóm huynh đệ. Người Công giáo, người Do Thái, người ngoại giáo, người phương Tây và người phương Đông đều là các Con của Thượng đế.
|
|
As regards the future of this world group of which we have been speaking much depends upon two things.
|
Về tương lai của nhóm thế giới này mà chúng ta đã nói nhiều, rất nhiều điều tùy thuộc vào hai điều.
|
|
First, it is necessary for all those isolated disciples working in every country in the world, to become aware of one another and then to enter into telepathic rapport. This may seem to you to be a wonderful but impractical vision. I assure you that this is not so. The work of establishing this rapport may indeed be slow, but it is an inevitable effect of the growing sensitivity of all the souls who are working in the field of the world. The first indication of it is that instinctive recognition of those who constitute part of this group when they meet and contact each other in the ways of world intercourse. There comes to them an immediate flashing forth of the light, an instantaneous electrical interplay, a sudden sensing of a similarity of vision and of objective, or a vital opportunity to aid in and to cooperate with each other in the work in which it is realized that all are interested.
|
Thứ nhất, tất cả những đệ tử cô lập đang làm việc trong mọi quốc gia trên thế giới cần nhận biết lẫn nhau, rồi bước vào mối hòa điệu viễn cảm. Điều này có thể dường như là một tầm nhìn kỳ diệu nhưng không thực tiễn đối với các bạn. Tôi bảo đảm với các bạn rằng không phải vậy. Công việc thiết lập mối hòa điệu này quả thật có thể chậm, nhưng đó là một hiệu quả tất yếu của sự nhạy bén ngày càng tăng nơi tất cả các linh hồn đang làm việc trong lĩnh vực của thế giới. Dấu hiệu đầu tiên của nó là sự nhận biết theo bản năng đối với những người cấu thành một phần của nhóm này khi họ gặp gỡ và tiếp xúc với nhau trong các cách thức giao lưu của thế gian. Nơi họ xuất hiện một sự lóe sáng tức thời, một tương tác điện lực tức khắc, một cảm nhận đột ngột về sự tương đồng trong tầm nhìn và mục tiêu, hoặc một cơ hội sống động để trợ giúp và cộng tác với nhau trong công việc mà họ nhận ra rằng tất cả đều quan tâm.
|
|
Working disciples everywhere when they meet each other will know at once that their work is identical, and will advise with each other as to where cooperation and [422] supplementary endeavour may be possible. In about thirty years the interrelation between the units in this group (scattered as they may be all over the world) will be so close that daily they will meet each other at a set time and in the secret place. This only becomes possible when the triplicity of soul-mind-brain are all aligned in the individual and when each aspect of it can be simultaneously in touch with members of the group. At present all the souls of the group of mystics do work in unison; a number have succeeded in bringing the soul and the mind also into a close and established relation, but as yet the lowest aspect of this aligned and linking triangle, the physical brain, remains totally unresponsive to the waves of force emanating from the higher aspects of the disciples engaged thus in laying the foundations of the new age civilisation.
|
Các đệ tử hoạt động ở khắp nơi, khi gặp nhau, sẽ biết ngay rằng công việc của họ là đồng nhất, và sẽ bàn bạc với nhau xem nơi nào có thể có sự cộng tác và [422] nỗ lực bổ trợ. Trong khoảng ba mươi năm nữa, mối tương quan giữa các đơn vị trong nhóm này, dù họ có thể rải rác khắp thế giới, sẽ gần gũi đến mức hằng ngày họ sẽ gặp nhau vào một thời điểm ấn định và tại nơi kín nhiệm. Điều này chỉ trở nên khả hữu khi bộ ba linh hồn-thể trí-bộ não đều được chỉnh hợp trong cá nhân, và khi mỗi phương diện của bộ ba ấy có thể đồng thời tiếp xúc với các thành viên của nhóm. Hiện nay, tất cả các linh hồn của nhóm các nhà thần bí đều làm việc hòa hợp; một số đã thành công trong việc đưa linh hồn và thể trí vào một mối liên hệ gần gũi và được thiết lập; nhưng cho đến nay, phương diện thấp nhất của tam giác đã chỉnh hợp và liên kết này, tức bộ não hồng trần, vẫn hoàn toàn không đáp ứng với các làn sóng mãnh lực xuất lộ từ các phương diện cao hơn của những đệ tử đang tham gia như vậy vào việc đặt nền móng cho nền văn minh kỷ nguyên mới.
|
|
It is therefore largely a matter of perfecting the mechanism of the brain so that it can rightly register and correctly transmit the soul impressions and the group purposes and recognitions. This involves:
|
Do đó, phần lớn vấn đề là hoàn thiện bộ máy của bộ não để nó có thể ghi nhận đúng đắn và truyền đạt chính xác các ấn tượng của linh hồn, các mục đích và nhận biết của nhóm. Điều này bao gồm:
|
|
1. The awakening into conscious activity of the centre between the eyebrows, called by the oriental student, the ajna centre.
|
1. Đánh thức trung tâm giữa hai chân mày, được đạo sinh phương Đông gọi là trung tâm ajna, vào hoạt động có ý thức.
|
|
2. The subordinating then of the activity of this centre to that of the head centre, so that the two vibrate in unison. This produces the establishment of three things:
|
2. Sau đó, đặt hoạt động của trung tâm này dưới hoạt động của trung tâm đầu, để hai trung tâm rung động hòa hợp. Điều này tạo ra sự thiết lập ba điều:
|
|
a. Direct conscious alignment between soul-mind-brain.
|
a. Sự chỉnh hợp trực tiếp có ý thức giữa linh hồn-thể trí-bộ não.
|
|
b. The appearance of a magnetic field which embraces both the head centres and so definitely affects the pineal gland and the pituitary body.
|
b. Sự xuất hiện của một trường từ tính bao gồm cả hai trung tâm đầu, và do đó tác động rõ rệt lên tuyến tùng và thể tuyến yên.
|
|
c. The recognition of this field of dual activity in two ways: as of a light in the head, an interior radiant sun, or as a dynamic centre of energy [423] through which the will or purpose aspect of the soul can make itself felt.
|
c. Sự nhận biết trường hoạt động kép này theo hai cách: như một ánh sáng trong đầu, một mặt trời rạng rỡ bên trong, hoặc như một trung tâm năng lượng năng động [423] qua đó phương diện ý chí hay mục đích của linh hồn có thể khiến chính nó được cảm nhận.
|
|
3. The development of a facility which will enable a man to:
|
3. Sự phát triển một khả năng sẽ cho phép con người:
|
|
a. Use the mind in any direction he chooses, turning it externally towards the world of phenomena, or internally towards the world of spiritual being.
|
a. Sử dụng thể trí theo bất kỳ hướng nào y chọn, xoay nó ra bên ngoài về phía thế giới hiện tượng, hoặc vào bên trong về phía thế giới hiện tồn tinh thần.
|
|
b. Produce consciously and at will a corresponding responsiveness in the physical brain, so that it can register accurately any information coming from the physical world, and the emotional or astral world.
|
b. Tạo ra một cách có ý thức và theo ý chí một sự đáp ứng tương ứng trong bộ não hồng trần, để nó có thể ghi nhận chính xác bất kỳ thông tin nào đến từ thế giới hồng trần, và từ thế giới cảm xúc hay cõi cảm dục.
|
|
c. Discriminate intelligently between all these spheres of sentient activity.
|
c. Phân biện một cách sáng suốt giữa tất cả các lĩnh vực hoạt động cảm tri này.
|
|
This will all be eventually covered by a new psychological approach which will emerge out of the old and be a blend of the mechanical schools, the introspective and the more purely oriental position, plus the conclusions of two new schools which will shortly arise but which are as yet too small to warrant a name. They are in the embryo stage. One school will deal with the energy aspects of the individual and his responsiveness to the energy of the universe in which he is immersed; the other will consider man as a unit of electricity. Both will be quite one-sided but the contributions of the various schools will some day be unified into one synthetic presentation.
|
Tất cả điều này cuối cùng sẽ được bao quát bởi một cách tiếp cận tâm lý học mới, vốn sẽ xuất hiện từ cái cũ và là một sự hòa hợp giữa các trường phái cơ giới, trường phái nội quan và lập trường thuần phương Đông hơn, cộng thêm các kết luận của hai trường phái mới sẽ sớm phát sinh nhưng hiện vẫn còn quá nhỏ để đáng được đặt tên. Chúng đang ở giai đoạn phôi thai. Một trường phái sẽ đề cập đến các phương diện năng lượng của cá nhân và sự đáp ứng của y với năng lượng của vũ trụ trong đó y đang được bao bọc; trường phái kia sẽ xem con người như một đơn vị điện lực. Cả hai sẽ khá phiến diện, nhưng những đóng góp của các trường phái khác nhau một ngày kia sẽ được thống nhất thành một trình bày tổng hợp duy nhất.
|
|
The second requirement which will establish relation between the working disciples in this group is the capacity to preserve a constant and sequential recollection of both the inner and the outer life. We call it continuity of consciousness, and by this we mean the power to be fully aware of all happenings in all spheres and departments of man’s being during the entire twenty-four hours of the day. As yet this is far from being the [424] case. There is no real awareness of existence during the hours of sleep. The dream life as related is as full of illusion as any of the more definitely lower psychic experiences. The slowly growing interest in dreams from the standpoint of psychology and the investigation of their probable source are the first weak attempts towards establishing the awareness on a really scientific basis. There is as yet no conscious registering of mental activity during such times, for instance, as when the emotional body holds the centre of the stage. With what is the mind occupied during a long period of emotional upset? It has, we know, its own life and its laws. Again, what are the activities of the soul when the personality is occupied exclusively with its own affairs? Is it impossible for you to vision a time when the development of consciousness will have reached the stage where there will be a sentient reaction in all the departments of man’s nature and all of it recorded by the brain? Already men are aware both of physical plane activity and emotional aliveness simultaneously. That is for the majority a common and ordinary condition. Where two activities can be registered at once, why not three or even four? Such is the future ahead for the race, and the disciples, actively employed, will be the first to express and demonstrate this extended consciousness.
|
Yêu cầu thứ hai sẽ thiết lập mối liên hệ giữa các đệ tử hoạt động trong nhóm này là năng lực duy trì một sự hồi tưởng liên tục và tuần tự về cả đời sống bên trong lẫn bên ngoài. Chúng ta gọi đó là sự liên tục của tâm thức, và bằng điều này chúng ta muốn nói đến quyền năng nhận biết đầy đủ mọi sự kiện trong mọi lĩnh vực và bộ phận của bản thể con người suốt toàn bộ hai mươi bốn giờ trong ngày. Hiện nay điều này vẫn còn xa mới là [424] trường hợp thực tế. Không có nhận biết thật sự về sự tồn tại trong những giờ ngủ. Đời sống mộng, như được thuật lại, đầy ảo tưởng chẳng kém bất kỳ trải nghiệm thông linh thấp hơn rõ rệt nào. Sự quan tâm đang tăng chậm đối với giấc mộng từ quan điểm tâm lý học, và việc khảo sát nguồn gốc khả hữu của chúng, là những nỗ lực yếu ớt đầu tiên hướng tới việc thiết lập sự nhận biết trên một nền tảng thật sự khoa học. Cho đến nay vẫn chưa có sự ghi nhận có ý thức về hoạt động trí tuệ trong những thời điểm như khi thể cảm dục chiếm vị trí trung tâm. Thể trí bận rộn với điều gì trong một giai đoạn dài xáo trộn cảm xúc? Chúng ta biết rằng nó có đời sống riêng và các định luật riêng. Lại nữa, các hoạt động của linh hồn là gì khi phàm ngã chỉ bận rộn với những việc riêng của nó? Các bạn có thấy không thể hình dung một thời điểm khi sự phát triển tâm thức đã đạt đến giai đoạn mà sẽ có một phản ứng cảm tri trong mọi bộ phận của bản chất con người, và tất cả đều được bộ não ghi nhận? Con người đã nhận biết đồng thời cả hoạt động cõi hồng trần lẫn sức sống cảm xúc. Đối với đa số, đó là một tình trạng thông thường và bình thường. Khi hai hoạt động có thể được ghi nhận cùng lúc, tại sao không phải là ba hoặc thậm chí bốn? Đó là tương lai phía trước của nhân loại, và các đệ tử đang hoạt động tích cực sẽ là những người đầu tiên biểu lộ và chứng minh tâm thức mở rộng này.
|
|
Thus telepathic interplay and extended sentiency must be developed and are closely interlinked with each other.
|
Do đó, tương tác viễn cảm và năng lực cảm tri mở rộng phải được phát triển, và chúng liên kết chặt chẽ với nhau.
|
|
I have therefore pointed out the immediate future development of the individual disciple. What lies ahead in the immediate future for the group?
|
Vì vậy, Tôi đã chỉ ra sự phát triển tương lai trước mắt của từng đệ tử cá nhân. Điều gì nằm phía trước trong tương lai gần đối với nhóm?
|
|
First of all, a preliminary period of emergence into the public consciousness, and thus of making its presence felt. This will be done through the steady communication of the new ideals and the constant emphasis laid upon the essential oneness of all humanity. It will [425] be the result of the uniformity and inclusiveness of the note sounded by one here and another there. During this stage there must be no hurried work and no precipitate action of any kind. The growth of the group and of its ideas will be slow and sure. The group exists already. It has not to be formed and organised, and there is therefore for none of you the assuming of any sense of responsibility nor the organising of any activity desired to lure these disciples, who have chosen thus to work subjectively, into publicity. Such are not the methods approved by the Elder Brothers of the race, nor is it the way that They Themselves work.
|
Trước hết là một giai đoạn sơ khởi của việc xuất hiện trong tâm thức công chúng, và do đó làm cho sự hiện diện của nhóm được cảm nhận. Điều này sẽ được thực hiện qua sự truyền đạt đều đặn các lý tưởng mới và sự nhấn mạnh liên tục vào tính nhất thể thiết yếu của toàn thể nhân loại. Nó sẽ [425] là kết quả của sự đồng nhất và tính bao gồm trong âm điệu được xướng lên bởi người này ở đây và người kia ở đó. Trong giai đoạn này, không được có công việc vội vã và không được có hành động hấp tấp thuộc bất kỳ loại nào. Sự tăng trưởng của nhóm và các ý tưởng của nhóm sẽ chậm rãi và chắc chắn. Nhóm đã tồn tại rồi. Nó không cần được thành lập và tổ chức; do đó không ai trong các bạn phải gánh lấy bất kỳ cảm thức trách nhiệm nào, cũng không phải tổ chức bất kỳ hoạt động nào nhằm lôi kéo những đệ tử đã chọn làm việc một cách chủ quan như vậy ra trước công chúng. Đó không phải là những phương pháp được các Huynh Trưởng của nhân loại chấp thuận, cũng không phải là cách mà chính Các Ngài làm việc.
|
|
Know each of you for yourselves whether you stand for the new position, the new attitude towards work, and for the subjective method. Decide once and for all whether you prefer to work in the old exoteric ambitious manner, building and vitalising an organisation, and so producing all the mechanism which goes with such a method of work. Remember that such groups are still greatly needed and are useful. It is not yet the new age and the little ones must not be left exposed to the new forces, nor turned out bereft of the nursery to which they naturally belong.
|
Mỗi người trong các bạn hãy tự biết liệu mình có đại diện cho lập trường mới, thái độ mới đối với công việc, và phương pháp chủ quan hay không. Hãy quyết định dứt khoát một lần cho tất cả liệu các bạn thích làm việc theo cách ngoại môn cũ đầy tham vọng, xây dựng và tiếp sinh lực cho một tổ chức, và như vậy tạo ra toàn bộ bộ máy đi kèm với phương pháp làm việc ấy. Hãy nhớ rằng những nhóm như thế vẫn còn rất cần thiết và hữu dụng. Kỷ nguyên mới chưa đến, và những người bé nhỏ không được để trơ trọi trước các mãnh lực mới, cũng không được đưa ra ngoài trong tình trạng bị tước mất vườn ươm mà họ tự nhiên thuộc về.
|
|
Should the new mode of work appeal to you, see to it that the personality is subordinated, that the life of meditation is kept paramount in importance, that sensitivity to the subjective realm is cultivated, and any necessary outer activities are handled from within outwards. Avoid a purely mystical introspection or its opposite extreme, an over-emphasised organising spirit, remembering that a life of truly occult meditation must inevitably produce outer happenings, but that these objective results are produced by an inner growth and not by an outer activity. An ancient Scripture teaches this truth in the following terms: [426]
|
Nếu phương thức làm việc mới hấp dẫn các bạn, hãy thấy rằng phàm ngã được đặt dưới, đời sống tham thiền được giữ ở vị trí quan trọng tối thượng, sự nhạy bén với cõi giới chủ quan được vun bồi, và mọi hoạt động bên ngoài cần thiết được xử lý từ bên trong ra bên ngoài. Hãy tránh một sự nội quan thuần thần bí, hoặc cực đoan đối nghịch của nó là một tinh thần tổ chức bị nhấn mạnh quá mức; hãy nhớ rằng một đời sống tham thiền huyền bí chân chính tất yếu phải tạo ra những sự kiện bên ngoài, nhưng những kết quả khách quan này được tạo ra bởi một sự tăng trưởng bên trong chứ không phải bởi một hoạt động bên ngoài. Một Kinh văn cổ dạy chân lý này bằng những lời sau: [426]
|
|
“When the sun progresses into the mansion of the serving man, the way of life takes the place of the way of work. Then the tree of life grows until its branches shelter all the sons of men. The building of the Temple and the carrying of the stones cease. The growing trees are seen; the buildings disappear. Let the sun pass into its appointed place, and in this day and generation attend ye to the roots of growth.”
|
“Khi mặt trời tiến vào cung nhà của người phụng sự, con đường của đời sống thay thế con đường của công việc. Khi ấy cây sự sống lớn lên cho đến khi các cành của nó che chở tất cả những người con của nhân loại. Việc xây dựng Đền Thờ và việc khuân đá chấm dứt. Những cây đang lớn được nhìn thấy; các tòa nhà biến mất. Hãy để mặt trời đi vào nơi đã định của nó, và trong ngày cùng thế hệ này, các ngươi hãy chăm lo cho các rễ của sự tăng trưởng.”
|
|
Little groups will spring up here and there whose members respond to the new note and whose growth into the world group will be watched over by one or more working disciples. But these latter do not organise the groups; they grow as a man in this place and another in that place awakens to the new vision or comes into incarnation in order to take his place in the work and bring in the new era. These groups will demonstrate no sense of separateness; they will be unaware of personal or of group ambition; they will recognise their unity with all that exists, and will stand before the world as examples of pure living, constructive building, creative activity subordinated to the general purpose, beauty and inclusiveness. Perhaps in the early stages of integration, the words friendliness and cooperativeness best describe them. They are not interested in dogmas or doctrines and have no shibboleths. Their outstanding characteristic will be an individual and group freedom from a critical spirit. This non-criticism will not grow out of an inability to see error, or failure to measure up to an idea; falsity, impurity and weakness will be recognised for what they are, but when noted will only serve to evoke a loving helpfulness.
|
Các nhóm nhỏ sẽ nảy sinh ở đây và ở đó, với các thành viên đáp ứng với âm điệu mới, và sự tăng trưởng của họ vào nhóm thế giới sẽ được một hoặc nhiều đệ tử hoạt động trông nom. Nhưng những đệ tử sau này không tổ chức các nhóm; các nhóm ấy tăng trưởng khi một người ở nơi này và một người khác ở nơi kia thức tỉnh trước tầm nhìn mới, hoặc lâm phàm để đảm nhận vị trí của mình trong công việc và đưa vào kỷ nguyên mới. Các nhóm này sẽ không biểu hiện cảm thức chia rẽ; họ sẽ không nhận biết tham vọng cá nhân hay tham vọng nhóm; họ sẽ công nhận sự hợp nhất của mình với tất cả những gì hiện hữu, và sẽ đứng trước thế giới như những tấm gương của đời sống thanh khiết, xây dựng kiến tạo, hoạt động sáng tạo được đặt dưới mục đích chung, vẻ đẹp và tính bao gồm. Có lẽ trong những giai đoạn đầu của sự tích hợp, các từ thân thiện và hợp tác mô tả họ đúng nhất. Họ không quan tâm đến giáo điều hay học thuyết và không có những khẩu hiệu phân biệt. Đặc tính nổi bật của họ sẽ là sự tự do cá nhân và nhóm khỏi tinh thần phê phán. Sự không phê phán này sẽ không phát sinh từ việc không có khả năng thấy sai lầm, hay không nhận ra sự không đạt tới một lý tưởng; giả dối, bất tịnh và yếu đuối sẽ được nhận biết đúng như chúng là, nhưng khi được ghi nhận, chúng chỉ nhằm gợi lên một sự trợ giúp đầy tình thương.
|
|
Little by little these groups will come to know each other and to meet with one another at set times and places. They will come to these mutual conferences with no desire to impress one another and with no thought of relative numerical strength; they will demonstrate no ambition to increase their ranks. How should they when [427] they know themselves all to be members of the one world Group? They have no teaching to give of a doctrinal nature and will not seek to demonstrate learning. They will meet solely to discuss modes of world helpfulness, the formation of a platform so universal and composed of such basic truths that it can be presented under all the varying methods and utilise the many terminologies. They will endeavour to employ each other’s terms, and to familiarise themselves with each other’s approach to reality and symbology.
|
Dần dần, các nhóm này sẽ biết nhau và gặp gỡ nhau vào những thời điểm và địa điểm ấn định. Họ sẽ đến các hội nghị hỗ tương này mà không có mong muốn gây ấn tượng với nhau và không có ý nghĩ về sức mạnh tương đối theo số lượng; họ sẽ không biểu hiện tham vọng gia tăng hàng ngũ của mình. Làm sao họ có thể như thế khi [427] họ biết tất cả chính mình đều là thành viên của một Nhóm thế giới duy nhất? Họ không có giáo huấn mang tính giáo điều để trao truyền và sẽ không tìm cách phô bày học thức. Họ sẽ gặp nhau chỉ để thảo luận các phương thức trợ giúp thế giới, việc hình thành một nền tảng phổ quát đến mức và được cấu thành bởi những chân lý căn bản đến mức nó có thể được trình bày dưới mọi phương pháp khác nhau và sử dụng nhiều hệ thuật ngữ. Họ sẽ cố gắng dùng thuật ngữ của nhau, và làm cho mình quen thuộc với cách tiếp cận thực tại và biểu tượng học của nhau.
|
|
Little by little also the special contribution and note of each group will be recognised and where a need exists for just that special approach and the particular note or method of interpretation in any part of the world, there will be an immediate and united impulse to facilitate the work that that special group could do in that place.
|
Dần dần, đóng góp và âm điệu đặc thù của mỗi nhóm cũng sẽ được công nhận; và nơi nào trên thế giới có nhu cầu đối với chính cách tiếp cận đặc thù ấy cùng âm điệu hay phương pháp diễn giải riêng ấy, thì sẽ có một xung lực tức thời và hợp nhất nhằm tạo thuận lợi cho công việc mà nhóm đặc thù ấy có thể làm tại nơi đó.
|
|
These groups, with the one subjective group of conscious living souls behind them, will be too busy with world service and interests to waste time on trifling non-essentials. They will not have the time to play around with group names and insignia and badges and the technicalities of fraternities when they meet together. World needs, world opportunities, and the rapid development of the consciousness of mankind and the initiation of humanity into the spiritual realities will so engross their attention that they will have no interest in purely physical plane arrangements, nor in laying the emphasis upon their own personal growth. They will be well aware that response to world need in service and the life of focussed meditation will promote their growth. Their eyes are not upon themselves, upon their own good characters, or upon their individual accomplishments.
|
Các nhóm này, với một nhóm chủ quan duy nhất gồm các linh hồn sống có ý thức đứng phía sau, sẽ quá bận rộn với phụng sự thế giới và các mối quan tâm thế giới đến nỗi không lãng phí thời gian vào những điều không thiết yếu tầm thường. Họ sẽ không có thời gian để đùa chơi với tên nhóm, huy hiệu, phù hiệu và các chi tiết kỹ thuật của những hội huynh đệ khi họ gặp nhau. Nhu cầu thế giới, cơ hội thế giới, sự phát triển nhanh chóng của tâm thức nhân loại và sự điểm đạo nhân loại vào các thực tại tinh thần sẽ thu hút sự chú ý của họ đến mức họ sẽ không quan tâm đến các sắp đặt thuần túy thuộc cõi hồng trần, cũng không nhấn mạnh vào sự tăng trưởng cá nhân của chính mình. Họ sẽ ý thức rõ rằng sự đáp ứng nhu cầu thế giới trong phụng sự và đời sống tham thiền tập trung sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng của họ. Mắt họ không hướng vào chính họ, vào tính cách tốt đẹp của riêng họ, hay vào các thành tựu cá nhân của họ.
|
|
Later as a result of their telepathic relationship and their united conferences, there may emerge certain esoteric groups and schools for development in order more rapidly to equip them for world service. In these schools [428] modes of meditation, the intensification of vibration and the laws of the universe will be taught, and the right use of colour and of sound. But all will be subordinated to the idea of service and the uplift of humanity. Also the schools referred to in Letters on Occult Meditation will gradually come into being.
|
Về sau, như kết quả của mối liên hệ viễn cảm và các hội nghị hợp nhất của họ, có thể xuất hiện một số nhóm và trường phái huyền bí nhằm phát triển, để trang bị cho họ nhanh hơn cho sự phụng sự thế giới. Trong các trường phái này [428] sẽ được dạy các phương thức tham thiền, sự tăng cường rung động và các định luật của vũ trụ, cùng việc sử dụng đúng đắn màu sắc và âm thanh. Nhưng tất cả sẽ được đặt dưới ý tưởng phụng sự và nâng cao nhân loại. Các trường phái được nói đến trong Thư về Tham Thiền Huyền Bí cũng sẽ dần dần đi vào hiện hữu.
|
|
But what use is it for me to forecast the future in more explicit terms and hold out a picture of an intriguing quality when at the present time the integration of the group of world mystics and its close welding is not an accomplished fact?
|
Nhưng Tôi có ích gì khi tiên báo tương lai bằng những lời rõ ràng hơn và đưa ra một bức tranh có tính hấp dẫn, trong khi vào lúc hiện tại, sự tích hợp của nhóm các nhà thần bí thế giới và sự hàn gắn chặt chẽ của nhóm ấy vẫn chưa phải là một sự kiện đã hoàn thành?
|
|
World unity, brotherhood in its true sense, the growth of telepathic interplay, the elimination of the non-essentials which serve to separate the thoughts of men and bring about separateness on the physical plane, and the laying of a true emphasis upon the fundamentals of the Ageless Wisdom, the manifestation of a true understanding, the bringing about of at-one-ment with the soul, the recognition of those who belong to the group of world Saviours—this is the immediate work to be done and this must engross your attention.
|
Sự thống nhất thế giới, tình huynh đệ theo ý nghĩa chân thật của nó, sự tăng trưởng của tương tác viễn cảm, sự loại bỏ những điều không thiết yếu vốn khiến tư tưởng của con người bị chia rẽ và tạo ra sự chia rẽ trên cõi hồng trần, và việc đặt một sự nhấn mạnh chân thật lên các nền tảng của Minh Triết Ngàn Đời, sự biểu hiện của một sự thấu hiểu chân thật, việc đem lại sự nhất thể hóa với linh hồn, sự công nhận những người thuộc về nhóm các Đấng Cứu Thế của thế giới—đây là công việc trước mắt phải được thực hiện, và điều này phải thu hút trọn sự chú ý của các bạn.
|
|
This and this alone warrants the expenditure of all that any of you have to give—love and life, time and money.
|
Điều này, và chỉ điều này, xứng đáng với sự dâng hiến tất cả những gì bất kỳ ai trong các bạn có thể trao—tình thương và sự sống, thời gian và tiền bạc.
|
|
This and this alone justifies your existence and calls forth from all of you who respond to the vision that utter self-sacrifice which is so rare and so far-reaching in its effects. The casting of all that one has at the feet of the Lord of Life in order that the work of world salvage may go forward, the elimination out of one’s life of all that can possibly hinder, the giving of all that one has until it hurts to give, the ruling of one’s life on the basis of surrender, asking oneself all the time: What can I relinquish in order that I may help more adequately?—that and more than that lies ahead of all of you who hear the call and respond to the need and opportunity. [429]
|
Điều này, và chỉ điều này, biện minh cho sự hiện hữu của các bạn và kêu gọi từ tất cả các bạn, những người đáp ứng với tầm nhìn, sự hi sinh bản thân hoàn toàn vốn hiếm hoi và có hiệu quả sâu rộng đến thế. Việc đặt tất cả những gì mình có dưới chân Chúa Tể Sự Sống để công việc cứu vớt thế giới có thể tiến tới, việc loại bỏ khỏi đời mình tất cả những gì có thể cản trở, việc cho đi tất cả những gì mình có cho đến khi sự cho đi gây đau đớn, việc điều hành đời sống mình trên nền tảng của sự phó thác, luôn tự hỏi: Tôi có thể từ bỏ điều gì để có thể giúp đỡ đầy đủ hơn?—điều đó, và còn hơn thế nữa, nằm phía trước tất cả các bạn là những người nghe tiếng gọi và đáp ứng nhu cầu cùng cơ hội. [429]
|
|
Let me tell you this—this group now in process of forming, will in time develop its own “yoga” and school of training which will gradually supersede that of the raja yoga and bhakti yoga schools. The method of training will only be given to those who have trained the mind and learnt to control the emotions. Hence the key to what is now going on. The mode of training will be no easy short cut to the goal. Only the intelligent can attain it and only coordinated personalities will be eligible to the teaching. The keynote of the new yoga will be synthesis; its objective will be conscious development of the intuitive faculty. This development will fall into two categories: first, the development of the intuition and of true spiritual perception, and secondly, the trained utilisation of the mind as an interpreting agent.
|
Hãy để Tôi nói với các bạn điều này—nhóm hiện đang trong tiến trình hình thành này, theo thời gian, sẽ phát triển “yoga” riêng và trường huấn luyện riêng của mình, vốn sẽ dần dần thay thế các trường phái Raja Yoga và Bhakti Yoga. Phương pháp huấn luyện sẽ chỉ được trao cho những người đã huấn luyện thể trí và học cách kiểm soát các cảm xúc. Do đó có chìa khóa cho những gì hiện đang diễn ra. Phương thức huấn luyện sẽ không phải là con đường tắt dễ dàng đến mục tiêu. Chỉ những người sáng suốt mới có thể đạt được nó, và chỉ những phàm ngã đã phối hợp mới đủ điều kiện nhận giáo huấn. Chủ âm của yoga mới sẽ là sự tổng hợp; mục tiêu của nó sẽ là sự phát triển có ý thức của năng lực trực giác. Sự phát triển này sẽ rơi vào hai loại: thứ nhất, sự phát triển của trực giác và nhận thức tinh thần chân thật; và thứ hai, việc sử dụng thể trí đã được huấn luyện như một tác nhân diễn giải.
|
|
In the book Agni Yoga, some of the teaching to be given has filtered through but only from the angle of the will aspect. No book has as yet made its appearance which gives in any form whatsoever the “yoga of synthesis”. We have had “bhakti yoga” or union through devotion. Raja Yoga is now receiving emphasis, which is union through the mind. It sounds like a redundancy to speak of union through synthesis, but it is not so. It is union through identification with the whole—not union through realisation or through vision. Mark well this distinction, for it holds the secret of the next step for the personalities of the race. The Bhagavad Gita gives us primarily the key to the yoga of devotion. Patanjali teaches us the yoga of the mind. In the Gospel story we have the portrayal of realisation, but the key or the secret of identification is still withheld. It lies in the custody of a few in this integrating group of mystics and knowers and will be wrought out into manifestation in the furnace of their individual experience and thus given to the world. But the time is not yet. The group must grow in strength and knowledge and in intuitive perception. [430]
|
Trong sách Agni Yoga, một phần giáo huấn sắp được trao truyền đã thấm lọc qua, nhưng chỉ từ góc độ phương diện ý chí. Chưa có quyển sách nào xuất hiện để trình bày, dưới bất cứ hình thức nào, “yoga của sự tổng hợp”. Chúng ta đã có “Bhakti Yoga”, hay sự hợp nhất qua sùng tín. Raja Yoga hiện đang được nhấn mạnh, tức là sự hợp nhất qua thể trí. Nói đến sự hợp nhất qua tổng hợp nghe có vẻ như lặp thừa, nhưng không phải vậy. Đó là sự hợp nhất qua việc đồng hoá với toàn thể — chứ không phải sự hợp nhất qua chứng nghiệm hay qua tầm nhìn. Hãy ghi nhớ rõ sự phân biệt này, vì trong đó ẩn chứa bí mật của bước kế tiếp dành cho các phàm ngã của nhân loại. Chí Tôn Ca chủ yếu trao cho chúng ta chìa khóa của yoga sùng tín. Patanjali dạy chúng ta yoga của thể trí. Trong câu chuyện Phúc Âm, chúng ta có sự mô tả về chứng nghiệm, nhưng chìa khóa hay bí mật của sự đồng hoá vẫn còn được giữ kín. Nó nằm trong sự gìn giữ của một số ít người trong nhóm tích hợp này gồm các nhà thần bí và các thức giả, và sẽ được tôi luyện thành sự biểu hiện trong lò lửa kinh nghiệm cá nhân của họ, rồi nhờ đó được trao cho thế gian. Nhưng thời điểm ấy chưa đến. Nhóm phải tăng trưởng về sức mạnh, tri thức và tri giác trực giác. [430]
|
|
You ask me: What keeps a man from becoming a member of such a group? I tell you with emphasis that four things only keep a man from affiliation.
|
Bạn hỏi tôi: Điều gì ngăn một người trở thành thành viên của một nhóm như thế? Tôi nói với bạn một cách nhấn mạnh rằng chỉ có bốn điều ngăn một người khỏi sự liên kết ấy.
|
|
First: an uncoordinated personality. This involves necessarily an untrained mind and a feeble intellect.
|
Thứ nhất: một phàm ngã thiếu phối hợp. Điều này tất yếu bao hàm một thể trí chưa được rèn luyện và một trí năng yếu ớt.
|
|
Second: a sense of separateness, of distinction, and of being set apart or different from one’s fellow men.
|
Thứ hai: cảm thức về sự tách biệt, về sự khác biệt, và về việc mình bị đặt riêng ra hay khác với đồng loại.
|
|
Third: the possession of a creed. No matter how good a formula of beliefs it may be, it inevitably produces exclusiveness. It bars some out.
|
Thứ ba: việc sở hữu một tín điều. Dù công thức niềm tin ấy tốt đẹp đến đâu, nó cũng không tránh khỏi tạo ra tính độc hữu. Nó ngăn một số người ở bên ngoài.
|
|
Fourth: pride and ambition.
|
Thứ tư: kiêu hãnh và tham vọng.
|
|
You ask again: How shall one qualify? The rules are simple, and are three in number. First, learn to practice harmlessness; then desire nothing for the separated self, and thirdly look for the sign of divinity in all. Three simple rules, but very hard to accomplish.
|
Bạn lại hỏi: Làm thế nào để đủ điều kiện? Các quy luật rất đơn giản, và gồm ba điều. Thứ nhất, học thực hành tính vô tổn hại; rồi không ham muốn điều gì cho bản ngã tách biệt; và thứ ba, tìm dấu hiệu của thiên tính trong tất cả. Ba quy luật đơn giản, nhưng rất khó thực hiện.
|
|
Behind this group of mystics, which includes thinkers in every department of human thought (let me reiterate the word thinkers) and of human knowledge stands the Hierarchy of Masters and in between these two groups stand also a band of teachers, of whom I am one. These act as intermediaries and as transmitters of energy. May I repeat and beg you to attend, that this group which is slowly forming is gathered out of every imaginable group of thinking and intelligent men. As yet, and this may surprise a few, there are not very many occultists (so-called) among them. This is due to the fact that the occultists are numerically few in relation to the masses of humanity, and also to their tendency to be sectarian, exclusive and self-righteous. Selfless humanitarian workers are there; political leaders and economists and scientific workers in the world’s laboratories are also there; churchmen and religious adherents from all the [431] world religions are there and the practical mystics and a few occultists. The true occultist is rare.
|
Đằng sau nhóm các nhà thần bí này, vốn bao gồm những nhà tư tưởng trong mọi lĩnh vực tư tưởng nhân loại — xin để tôi nhắc lại chữ những nhà tư tưởng — và trong mọi lĩnh vực tri thức nhân loại, là Thánh đoàn các Chân sư; và giữa hai nhóm này cũng có một đoàn các huấn sư, trong đó tôi là một. Những vị này hoạt động như các trung gian và các tác nhân truyền dẫn năng lượng. Tôi xin lặp lại và khẩn thiết yêu cầu bạn lưu tâm rằng nhóm đang chậm rãi hình thành này được quy tụ từ mọi nhóm có thể hình dung được gồm những người biết suy nghĩ và có trí tuệ. Cho đến nay, và điều này có thể làm một số người ngạc nhiên, không có nhiều nhà huyền bí học — gọi là như thế — ở trong nhóm ấy. Điều này là vì các nhà huyền bí học về số lượng thì ít so với đại khối nhân loại, và cũng vì khuynh hướng của họ thường có tính bè phái, độc hữu và tự cho mình là đúng. Trong nhóm có những người hoạt động nhân đạo vô ngã; cũng có các nhà lãnh đạo chính trị, các nhà kinh tế và các nhà khoa học làm việc trong các phòng thí nghiệm của thế giới; có các giáo sĩ và tín đồ tôn giáo thuộc tất cả các tôn giáo [431] thế giới, cùng các nhà thần bí thực tiễn và một vài nhà huyền bí học. Nhà huyền bí học chân chính rất hiếm.
|
|
The group is and will be kept entirely subjective. Its members are linked telepathically, or they recognise each other through the quality of the work they are doing in the outer world and the inclusiveness of the note they sound. It is inspired from above by the souls of its members and the Great Ones, and is energised into activity by the need of humanity itself. It is composed of living conscious souls, working through coordinated personalities. Its symbol is a golden triangle enclosing an even-armed cross with one diamond at the apex of the triangle. This symbol is never reproduced in form at all. It shines above the heads of all who are in the group and cannot be seen by anyone (not even a clairvoyant) except a group member, and then only if—for purposes of work—his recognition needs stimulation. The motto of the group is The Glory Of The One.
|
Nhóm này đang và sẽ được giữ hoàn toàn ở bình diện chủ quan. Các thành viên của nhóm được liên kết bằng viễn cảm, hoặc họ nhận ra nhau qua phẩm tính của công việc họ đang làm trong thế giới bên ngoài và tính bao gồm của âm điệu mà họ xướng lên. Nhóm được cảm hứng từ trên cao bởi linh hồn của các thành viên và bởi Các Đấng Cao Cả, và được tiếp năng lượng để hoạt động bởi chính nhu cầu của nhân loại. Nhóm gồm những linh hồn sống động và có ý thức, hoạt động qua các phàm ngã đã phối hợp. Biểu tượng của nhóm là một tam giác vàng bao quanh một thập giá đều tay, với một viên kim cương ở đỉnh tam giác. Biểu tượng này tuyệt đối không bao giờ được tái tạo thành hình tướng. Nó tỏa sáng phía trên đầu của tất cả những ai ở trong nhóm, và không ai có thể thấy được — ngay cả một người thông nhãn — ngoại trừ một thành viên của nhóm, và khi ấy chỉ khi, vì mục đích công việc, sự nhận biết của y cần được kích thích. Khẩu hiệu của nhóm là Vinh Quang của Đấng Duy Nhất.
|
|
More I may not tell you now, but this will give you some idea of the reality of the work that is going on. It may serve as an incentive to fresh effort on the part of all working to equip themselves for selfless service.
|
Hiện nay tôi không thể nói thêm với bạn, nhưng điều này sẽ cho bạn một ý niệm nào đó về thực tại của công việc đang diễn ra. Nó có thể dùng như một động lực thúc đẩy nỗ lực mới nơi tất cả những ai đang cố gắng tự trang bị cho mình để phụng sự vô ngã.
|
|
We are to take up now a very brief consideration of two types of energy of a major kind, which are, in themselves, composed and blended of coordinating energies. The subject matter is therefore of so advanced a nature that it is useless for the aspirant to give much time to its study. Volumes would be necessitated likewise if all that could be said were written, and it will only be possible in this book to outline some broad generalisations, and to indicate certain facts of interest. The main reason that it profits us not to study these energies too closely is because the planetary Spirit or Logos and the planetary Entity are the two forms in active manifestation which respond most forcibly to the impact of these energies. The human being responds, and that only subconsciously, [432] because (in his form nature) he constitutes a part of the planetary expression.
|
Giờ đây chúng ta sẽ bàn đến một cách rất ngắn gọn hai loại năng lượng thuộc loại chủ yếu, vốn tự chúng được cấu thành và hòa trộn bởi các năng lượng phối hợp. Vì vậy, đề tài này có bản chất quá cao siêu đến nỗi người chí nguyện dành nhiều thời gian nghiên cứu nó cũng không ích lợi gì. Tương tự, nếu viết ra tất cả những gì có thể nói, sẽ cần đến nhiều bộ sách; và trong quyển sách này chỉ có thể phác họa một vài khái quát rộng lớn và chỉ ra một số sự kiện đáng quan tâm. Lý do chính khiến việc nghiên cứu các năng lượng này quá sát sao không đem lại lợi ích cho chúng ta là vì Chân Linh Hành Tinh hay Thượng đế hành tinh và Thực Thể Hành Tinh là hai hình tướng trong biểu hiện hoạt động đáp ứng mạnh mẽ nhất với tác động của các năng lượng này. Con người cũng đáp ứng, và chỉ đáp ứng một cách tiềm thức, [432] bởi vì, trong bản chất hình tướng của mình, y cấu thành một phần của sự biểu lộ hành tinh.
|
|
The planetary Spirit is a Being Who, ages ago, passed through the state of consciousness which we call the human state and has left it far behind. He (using the personal pronoun simple for the sake of terminological clarity) has an origin which lies outside the solar system altogether; his life is focussed in the planet; his consciousness lies in realms beyond the concept of the highest adept in our planetary Hierarchy. The planetary Entity is the sum total of the forms which constitute the form through which the planetary Spirit is manifesting, and therefore is the synthesis of the planetary physical, astral and mental elementals. For the purposes of our consideration, this Entity is the sum total of all physical, mental, astral and mental forms, which, blended and fused, constitute our planet. Each is the embodiment of energy, and these two major streams which produce the form and the consciousness aspects of our planetary existence make their impact on the human being. The life of the planetary Spirit makes its impact via the soul; and the life of the planetary Entity is registered through the medium of the personality mechanism.
|
Chân Linh Hành Tinh là một Đấng mà từ nhiều thời đại trước đã đi qua trạng thái tâm thức mà chúng ta gọi là trạng thái nhân loại, và đã bỏ nó lại rất xa phía sau. Ngài — dùng đại từ nhân xưng đơn giản vì sự rõ ràng trong thuật ngữ — có nguồn gốc nằm hoàn toàn bên ngoài hệ mặt trời; sự sống của Ngài tập trung trong hành tinh; tâm thức của Ngài nằm trong những cõi giới vượt ngoài quan niệm của vị chân sư cao nhất trong Thánh đoàn hành tinh của chúng ta. Thực Thể Hành Tinh là tổng thể các hình tướng cấu thành hình tướng mà qua đó Chân Linh Hành Tinh đang biểu hiện, và vì thế là sự tổng hợp của các hành khí hồng trần, cảm dục và trí tuệ của hành tinh. Vì mục đích xem xét của chúng ta, Thực Thể này là tổng thể của tất cả các hình tướng hồng trần, trí tuệ, cảm dục và trí tuệ, vốn khi được hòa trộn và dung hợp sẽ cấu thành hành tinh của chúng ta. Mỗi hình tướng là hiện thân của năng lượng, và hai dòng chảy chủ yếu này, vốn tạo ra các phương diện hình tướng và tâm thức của sự tồn tại hành tinh chúng ta, tác động lên con người. Sự sống của Chân Linh Hành Tinh tác động qua linh hồn; còn sự sống của Thực Thể Hành Tinh được ghi nhận qua trung gian bộ máy phàm ngã.
|
|
The duality of these energies is primarily astral-buddhic, and the bias of the life forces and the general trend of the impulses influencing humanity in this great cycle are the attractive energy of the intuitional nature of the planetary Logos, and the potent force of the astral (desire) body. In other words, the astral elemental, which embodies the desire nature of the planetary Logos is exceedingly potent, particularly in this present cycle, but the strength of the spiritual and intuitional nature of the One in Whom we live and move and have our being is steadily increasing. On the one hand, you have the devastating expression of the wild hunt for pleasure, of sex and of the crime incident to the satisfying of desire. [433] This characterises our present civilisation and is now at its height; it may be said that it is even on the decline, little as you may sense it. At the same time, there is found the open door of initiation. Both these opportunities (if I might so term them) are found simultaneously present, but the strength of the one is weakening, and the trend towards the other is growing. Thus the way out can be seen.
|
Nhị nguyên của các năng lượng này chủ yếu là cảm dục–Bồ đề, và khuynh hướng của các mãnh lực sự sống cùng chiều hướng chung của các xung lực ảnh hưởng đến nhân loại trong chu kỳ lớn này là năng lượng hấp dẫn của bản chất trực giác nơi Hành Tinh Thượng đế, và mãnh lực hùng mạnh của thể cảm dục, tức thể ham muốn. Nói cách khác, hành khí cảm dục, vốn hiện thân bản chất ham muốn của Hành Tinh Thượng đế, vô cùng mạnh mẽ, đặc biệt trong chu kỳ hiện nay; nhưng sức mạnh của bản chất tinh thần và trực giác nơi Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện tồn đang gia tăng đều đặn. Một mặt, bạn có sự biểu lộ tàn phá của cuộc săn đuổi khoái lạc cuồng loạn, của tính dục và của tội ác phát sinh từ việc thỏa mãn ham muốn. [433] Điều này đặc trưng cho nền văn minh hiện tại của chúng ta và hiện đang ở đỉnh điểm; có thể nói rằng nó thậm chí đang suy giảm, dù bạn có thể ít cảm nhận được điều ấy. Đồng thời, cánh cửa điểm đạo đang rộng mở. Cả hai cơ hội này — nếu tôi có thể gọi như vậy — đều hiện diện đồng thời, nhưng sức mạnh của cái này đang suy yếu, còn khuynh hướng hướng về cái kia đang tăng trưởng. Như thế, lối thoát có thể được nhìn thấy.
|
|
In the above paragraph, the dominant planetary urges present in evolution are summed up and man’s reaction to them noted.
|
Trong đoạn trên, các thôi thúc hành tinh chi phối đang hiện diện trong tiến hoá đã được tóm lược, và phản ứng của con người đối với chúng đã được ghi nhận.
|
|
Solar energies have also a dual effect. First, there is what we might call the pranic effect, which is the result of the impact of solar force, emanating from the physical sun. This produces definite results upon the objective forms, and these are termed physical or vital. These enter the human body via the spleen and also via a centre found between the shoulder blades; this centre is between the throat centre and the heart centre in the spinal column, but nearer the heart than the throat. Secondly, there are energies which emanate from what is esoterically called “the heart of the sun”; these sweep through one or other of the planets in seven great streams and pour into the soul of man and produce that sensitivity which we call awareness. These seven types of energy produce the seven types of souls or rays, and in this thought you find the secret of soul unity. During manifestation, owing to the seven types of energy impacts, playing upon the matter of space, one finds the seven types of soul, the seven fields of expression, and the seven grades of consciousness and of ray characteristics. These differentiations as you well know are like the colouring that the prism takes when subjected to the rays of the sun, or to the tracery of pattern found in reflection upon a limpid pool. [434]
|
Các năng lượng thái dương cũng có một tác động nhị phân. Thứ nhất, có điều chúng ta có thể gọi là tác động prana, vốn là kết quả của sự va chạm của mãnh lực thái dương phát xuất từ mặt trời hồng trần. Điều này tạo ra những kết quả xác định trên các hình tướng khách quan, và chúng được gọi là hồng trần hay sinh lực. Chúng đi vào thể người qua lá lách và cũng qua một trung tâm nằm giữa hai xương bả vai; trung tâm này nằm giữa trung tâm cổ họng và trung tâm tim trong cột sống, nhưng gần tim hơn cổ họng. Thứ hai, có những năng lượng phát xuất từ điều được gọi một cách huyền bí là “trái tim của mặt trời”; các năng lượng này quét qua một trong các hành tinh thành bảy dòng chảy lớn, tuôn vào linh hồn con người và tạo ra sự nhạy cảm mà chúng ta gọi là sự nhận biết. Bảy loại năng lượng này tạo ra bảy loại linh hồn hay bảy cung, và trong ý tưởng này bạn tìm thấy bí mật của sự hợp nhất linh hồn. Trong thời kỳ biểu hiện, do bảy loại tác động năng lượng tác động lên vật chất của không gian, người ta thấy có bảy loại linh hồn, bảy trường biểu lộ, và bảy cấp độ tâm thức cùng các đặc tính cung. Như bạn biết rõ, các biến phân này giống như màu sắc mà lăng kính nhận lấy khi chịu tác động của các tia mặt trời, hoặc giống như những đường nét mô hình được thấy trong phản chiếu trên một hồ nước trong veo. [434]
|
|
To these two energies, a third group of energies must be added, and these are the basis of much of our astrological research. They emanate from the twelve constellations which form our solar zodiac. Their effect is infinite and the permutations of these three groups of energies lead to the infinite complication which we find in nature. The claims of the astrologers as to the reality of the energies playing upon the human organism can be seen to be true; their claims as to their capacity to interpret are for the most part unfounded. So little is really known by the highest intelligence on the planet; for, forget not, that the adepts utilise primarily the intuition. These energies leave their mark upon every form in every kingdom in nature, acting as a retrograding or a stimulating force. They carry one type of energy on to a fuller expression of the quality of any form, or hold another back from a developed manifestation.
|
Vào hai năng lượng này, phải thêm một nhóm năng lượng thứ ba, và chúng là nền tảng của phần lớn công trình nghiên cứu chiêm tinh của chúng ta. Chúng phát xuất từ mười hai chòm sao tạo thành hoàng đạo thái dương của chúng ta. Tác động của chúng là vô tận, và các hoán vị của ba nhóm năng lượng này dẫn đến sự phức tạp vô hạn mà chúng ta thấy trong thiên nhiên. Những khẳng định của các nhà chiêm tinh về thực tại của các năng lượng tác động lên cơ thể con người có thể được thấy là đúng; nhưng những khẳng định của họ về khả năng diễn giải thì phần lớn là không có cơ sở. Ngay cả trí tuệ cao nhất trên hành tinh cũng thật sự biết rất ít; vì đừng quên rằng các chân sư chủ yếu sử dụng trực giác. Các năng lượng này để lại dấu ấn trên mọi hình tướng trong mọi giới của thiên nhiên, hoạt động như một mãnh lực làm thụt lùi hoặc kích thích. Chúng đưa một loại năng lượng đến sự biểu lộ đầy đủ hơn phẩm tính của một hình tướng nào đó, hoặc giữ một loại khác lại khỏi sự biểu hiện đã phát triển.
|
|
It is not opportune here to outline the nature of true astrology. That astrology is a science, and a coming science, is true. That astrology in its highest aspect and its true interpretation will enable man eventually to focus his understanding and to function rightly is equally true. That in the revelations that astrology will make in time to come will be found the secret of the true coordination between soul and form is also correct. But that astrology is not yet to be found. Too much is overlooked and too little known to make astrology the exact science that many claim it is. The claim will be fulfilled at some future date, but the time is not yet.
|
Ở đây chưa phải lúc để phác họa bản chất của chiêm tinh học chân chính. Chiêm tinh học là một khoa học, và là một khoa học sắp đến, điều đó đúng. Chiêm tinh học trong phương diện cao nhất và trong sự diễn giải chân thực của nó rốt cuộc sẽ giúp con người tập trung sự thấu hiểu và hoạt động đúng đắn, điều đó cũng đúng. Trong những mặc khải mà chiêm tinh học sẽ đem lại trong thời gian tới, người ta cũng sẽ tìm thấy bí mật của sự phối hợp chân chính giữa linh hồn và hình tướng, điều đó cũng chính xác. Nhưng chiêm tinh học đó hiện vẫn chưa có. Quá nhiều điều bị bỏ qua và quá ít điều được biết đến để khiến chiêm tinh học trở thành khoa học chính xác như nhiều người tuyên bố. Tuyên bố ấy sẽ được thành tựu vào một ngày tương lai, nhưng thời điểm ấy chưa đến.
|
|
Certain factors which astrologers should bear in mind, and certain conditions they are only too apt to forget, may however be briefly noted. For the sake of clear understanding we will simply tabulate a number of statements which should be studied with care by the [435] average investigator in this field. I cannot here write a treatise on the energies with which astrology should deal, sorely as such a treatise is needed.
|
Tuy nhiên, có thể ghi nhận vắn tắt một số yếu tố mà các nhà chiêm tinh nên ghi nhớ, và một số điều kiện mà họ rất dễ quên. Để thấu hiểu rõ ràng, chúng ta sẽ chỉ liệt kê một số phát biểu mà nhà nghiên cứu trung bình trong lĩnh vực này cần học hỏi cẩn trọng. [435] Ở đây tôi không thể viết một khảo luận về các năng lượng mà chiêm tinh học nên bàn đến, dù một khảo luận như thế đang rất cần thiết.
|
|
Astrologers concern themselves primarily with three types of energy:
|
Các nhà chiêm tinh chủ yếu quan tâm đến ba loại năng lượng:
|
|
a. The energy of the constellation in which the Sun is posited at the time of birth.
|
a. Năng lượng của chòm sao trong đó Mặt Trời an vị vào thời điểm sinh.
|
|
b. The rising sign to which the man should respond.
|
b. Dấu hiệu mọc mà con người nên đáp ứng.
|
|
c. The moon which governs his form aspect, and particularly the physical form.
|
c. Mặt Trăng, vốn cai quản phương diện hình tướng của y, và đặc biệt là hình tướng hồng trần.
|
|
The energy of the particular constellation or sign in which a man is born is more deeply significant than has ever yet been suggested. It embodies or indicates his present problem, sets the pace or tempo of his life, and is related to the quality of his personality. It governs, if I may so express it, the rajasic or activity aspect of his life during incarnation.
|
Năng lượng của chòm sao hay dấu hiệu đặc thù trong đó một người được sinh ra có thâm nghĩa sâu xa hơn nhiều so với những gì từng được gợi ý. Nó hiện thân hay chỉ ra vấn đề hiện tại của y, đặt nhịp độ hay tiết tấu cho đời sống của y, và liên hệ với phẩm tính của phàm ngã y. Nếu tôi có thể diễn đạt như vậy, nó cai quản phương diện rajas hay phương diện hoạt động của đời sống y trong khi nhập thể.
|
|
The ascendant or rising sign indicates the line along which his energy as a whole can flow if he is to fulfill the purpose of any incarnation. This, of course, if rightly handled. It holds the secret of his future, and in its symbolism and understanding he can find the clue to his life problem and an indication of what he can be and achieve. It presents to him the type of force which will enable him to succeed. This, when duly consummated, might be regarded as producing the sattvic, or harmony aspect of his life, for when it plays its part and is utilised, it produces harmony with the will of the soul during any particular incarnation.
|
Dấu hiệu mọc chỉ ra đường lối mà toàn bộ năng lượng của y có thể tuôn chảy nếu y muốn hoàn thành mục đích của bất cứ lần nhập thể nào. Dĩ nhiên, điều này chỉ đúng nếu được xử lý đúng đắn. Nó nắm giữ bí mật tương lai của y, và trong biểu tượng cùng sự thấu hiểu về nó, y có thể tìm thấy manh mối cho vấn đề đời sống của mình và một chỉ dẫn về điều y có thể trở thành và đạt được. Nó trình bày cho y loại mãnh lực sẽ giúp y thành công. Khi được hoàn tất đúng mức, điều này có thể được xem là tạo ra phương diện sattva, hay phương diện hài hòa của đời sống y, vì khi nó đóng vai trò của mình và được vận dụng, nó tạo ra sự hài hòa với ý chí của linh hồn trong bất cứ lần nhập thể đặc thù nào.
|
|
In the moon influence, we have indicated the native’s past. It summarises the limitations and handicaps under which he must work, and therefore might be regarded as embodying the tamasic aspect of matter, or that which “holds back” and which—if permitted to influence unduly—will produce inertia. In the body with which man [436] is equipped lies hid the secret of past experience, and every lunar form through which we have to arrive at due expression is in itself the product or synthesis of all the past. Let me see if I can put the present truth about astrology in such simple guise that they who know naught of this intricate science may understand.
|
Trong ảnh hưởng của Mặt Trăng, chúng ta có chỉ dấu về quá khứ của người bản mệnh. Nó tóm lược những giới hạn và trở ngại mà y phải làm việc dưới chúng, và vì vậy có thể được xem là hiện thân phương diện tamas của vật chất, hay điều “giữ lại”, và nếu được phép ảnh hưởng quá mức, sẽ tạo ra Quán tính. Trong thể mà con người [436] được trang bị có ẩn giấu bí mật của kinh nghiệm quá khứ, và mọi hình tướng nguyệt tính mà qua đó chúng ta phải đạt đến sự biểu lộ đúng mức tự nó là sản phẩm hay sự tổng hợp của toàn bộ quá khứ. Hãy để tôi xem liệu tôi có thể trình bày chân lý hiện tại về chiêm tinh học dưới hình thức đơn giản đến mức những ai không biết gì về khoa học phức tạp này cũng có thể thấu hiểu.
|
|
The birth month indicates the day of opportunity. The door stands open. The particular month in which a soul comes into incarnation is indicated to that soul by the month in which it passed out of incarnation in a previous life cycle. If it, for instance, died in the month governed by the sign Leo, it will return into incarnation in the same sign, picking up the thread of experience where it left it, and starting with the same type of energy and the peculiar equipment with which it passed away from earth life, plus the gain of thought and conscious onlooking. The quality of the energy and the nature of the forces to be manipulated during life are indicated to the soul in this way.
|
Tháng sinh chỉ ra ngày của cơ hội. Cánh cửa đứng mở. Tháng đặc thù mà một linh hồn đi vào nhập thể được chỉ ra cho linh hồn ấy bởi tháng mà nó đã đi ra khỏi nhập thể trong một chu kỳ đời sống trước. Chẳng hạn, nếu nó chết trong tháng do dấu hiệu Sư Tử cai quản, nó sẽ trở lại nhập thể trong cùng dấu hiệu ấy, tiếp nối sợi dây kinh nghiệm nơi nó đã bỏ lại, và bắt đầu với cùng loại năng lượng cùng trang bị đặc thù mà nó đã mang theo khi rời đời sống trần gian, cộng thêm phần thu hoạch của tư tưởng và sự quan sát có ý thức. Bằng cách này, phẩm tính của năng lượng và bản chất của các mãnh lực cần được vận dụng trong đời sống được chỉ ra cho linh hồn.
|
|
The rising sign, embodying another type of energy, should wax in strength during the incarnation, for it indicates the nature of the soul force that the incarnated son of God is seeking to wield through the medium of a particular personality, possessing certain characteristics.
|
Dấu hiệu mọc, vốn hiện thân một loại năng lượng khác, nên tăng trưởng về sức mạnh trong suốt lần nhập thể, vì nó chỉ ra bản chất của mãnh lực linh hồn mà người Con của Thượng đế đang nhập thể tìm cách sử dụng qua trung gian một phàm ngã đặc thù, có những đặc tính nhất định.
|
|
The influence of the moon is primarily physical. The prison of the soul is thus indicated. The handicaps to be met are thus secured; the type of body or of bodies through which the force of the native’s sign and the quality of the energy which will bring him to his goal are thus defined. Through the medium of the lunar lords and what they have given him as the result of past experience down the ages must he express himself upon the physical plane.
|
Ảnh hưởng của Mặt Trăng chủ yếu là hồng trần. Nhà tù của linh hồn do đó được chỉ ra. Những trở ngại cần đối diện do đó được xác định; loại thể, hay các thể, mà qua đó mãnh lực của dấu hiệu bản mệnh và phẩm tính của năng lượng sẽ đưa y đến mục tiêu được định rõ. Qua trung gian các nguyệt tinh quân và những gì các vị ấy đã trao cho y như kết quả của kinh nghiệm quá khứ qua các thời đại, y phải biểu lộ chính mình trên cõi hồng trần.
|
|
Owing to the precession of the equinoxes, a situation is brought about in which a fourth type of force makes itself felt. The sun is, in reality, many degrees [437] away in the great round of the heavens from where it is stated to be, as far as the greater zodiac is concerned. This is, of course, from the standpoint of time. As the sweep of the sun through a constellation covers a period of approximately two thousand two hundred years, the shift in the course of the centuries is very slight, so slight that little difference would be noted in the casting of the planetary horoscope. In the casting of the horoscope of a solar system it would be of vital importance, but this is so far beyond the capacity of the wisest astrologer on our planet that discussion is immaterial.
|
Do sự tuế sai của các điểm phân, một tình trạng được tạo ra trong đó loại mãnh lực thứ tư tự khiến mình được cảm nhận. Trong thực tế, Mặt Trời cách nhiều độ [437] trên vòng lớn của bầu trời so với vị trí mà người ta nói nó đang ở, xét theo hoàng đạo lớn. Dĩ nhiên, điều này là từ lập trường thời gian. Vì vòng quét của Mặt Trời qua một chòm sao bao phủ một chu kỳ khoảng hai nghìn hai trăm năm, sự dịch chuyển trong dòng các thế kỷ rất nhỏ, nhỏ đến mức ít có khác biệt nào được ghi nhận khi lập lá số chiêm tinh hành tinh. Trong việc lập lá số của một hệ mặt trời, điều ấy có tầm quan trọng thiết yếu, nhưng điều này vượt quá xa khả năng của nhà chiêm tinh khôn ngoan nhất trên hành tinh chúng ta đến nỗi việc bàn luận là không cần thiết.
|
|
In casting the horoscope of a human being who is born in a particular month, however, it should be borne in mind (which it seldom is) that now the month and the sign do not coincide at all. The sun is really not in Leo, for instance, during the month of August. The correct interpretation therefore of a chart is largely psychometrical and dependent upon the thought-form of the constellation which has been built up for ages by the astrologers. Energy follows thought. For thousands of years certain types of energy and their consequent qualifying effects on substance and form have been considered to be thus and so. Therefore, thus they are, except in the case of the highly evolved, of the true aspirant who has oriented himself, and is thus escaping from the wheel of existence and beginning to govern his stars, and so is no longer under their rule and domination.
|
Tuy nhiên, khi lập lá số của một con người sinh ra trong một tháng đặc thù, cần ghi nhớ — điều này hiếm khi được thực hiện — rằng hiện nay tháng và dấu hiệu hoàn toàn không trùng khớp. Chẳng hạn, Mặt Trời thật ra không ở trong Sư Tử trong tháng Tám. Vì vậy, sự diễn giải đúng đắn một bản đồ sao phần lớn mang tính trắc tâm và tùy thuộc vào hình tư tưởng của chòm sao đã được các nhà chiêm tinh xây dựng qua nhiều thời đại. Năng lượng đi theo tư tưởng. Trong hàng nghìn năm, một số loại năng lượng và các tác động định phẩm theo sau của chúng trên chất liệu và hình tướng đã được xem là thế này hay thế nọ. Vì vậy, chúng là như vậy, ngoại trừ trong trường hợp người tiến hoá cao, người chí nguyện chân chính đã tự định hướng, và do đó đang thoát khỏi bánh xe hiện tồn, bắt đầu cai quản các vì sao của mình, và vì thế không còn ở dưới sự cai trị và thống trị của chúng nữa.
|
|
Astrology now deals primarily with the personality for whom the horoscope may be cast and with the events of the personality life. When, through meditation and service, plus the discipline of the lunar bodies, a man comes consciously and definitely under his soul ray, then he comes as definitely under the influence of one or other of the seven solar systems, as they focus their energy through one or other of the constellations and [438] subsequently one or other of the seven sacred planets. Eventually, there will be twelve sacred planets, corresponding to the twelve constellations, but the time is not yet. Our solar system, as you know, is one of seven. When a man has arrived at this point in evolution, birth months, mundane astrology, and the influences which play upon the form aspect become of less and less importance. This circle of solar systems affects paramountly the soul and it becomes the focal point of spiritual energies. This is the problem of the soul on its own plane, —responsiveness to these types of energy, and, of them, the personality is totally unaware.
|
Hiện nay, chiêm tinh học chủ yếu đề cập đến phàm ngã mà lá số có thể được lập cho y, và đến các biến cố trong đời sống phàm ngã. Khi, nhờ tham thiền và phụng sự, cộng với kỷ luật các thể nguyệt tính, một người đi vào một cách có ý thức và xác định dưới cung linh hồn của mình, thì y cũng đi vào một cách xác định dưới ảnh hưởng của một trong bảy hệ mặt trời, khi chúng tập trung năng lượng qua một trong các chòm sao và [438] sau đó qua một trong bảy hành tinh thiêng liêng. Rốt cuộc, sẽ có mười hai hành tinh thiêng liêng, tương ứng với mười hai chòm sao, nhưng thời điểm ấy chưa đến. Như bạn biết, hệ mặt trời của chúng ta là một trong bảy hệ. Khi một người đã đạt đến điểm tiến hoá này, các tháng sinh, chiêm tinh học trần tục, và những ảnh hưởng tác động lên phương diện hình tướng trở nên ngày càng ít quan trọng. Vòng tròn các hệ mặt trời này tác động tối thượng lên linh hồn, và linh hồn trở thành điểm tập trung của các năng lượng tinh thần. Đây là vấn đề của linh hồn trên cõi riêng của nó — sự đáp ứng với các loại năng lượng này — và về chúng, phàm ngã hoàn toàn không hay biết.
|
|
The signs which fall therefore into the four categories of earth, water, fire and air, concern primarily the man who lives below the diaphragm, and who utilises the lower four centres: —the centre at the base of the spine, the sacral centre, the solar plexus and the spleen. The inner group of seven major or systemic energies produce their effect upon the man who is living above the diaphragm, and work through the seven representative centres in the head. Four of them focus through the throat centre, the heart centre, the ajna and head centres. Three are held latent in the region of the head centres (the thousand petalled lotus) and only enter into functioning activity after the third initiation. It will be evident therefore how complicated from the standpoint of the horoscope (as well as of the individual problem) is this meeting of the energies of two types of constellations in the case of the man who is neither purely human nor purely spiritual. The ordinary horoscope is negated. The horoscope is not possible as yet of delineation. The only horoscope, which is basically and almost infallibly correct is that of the entirely low grade human being who lives entirely below the diaphragm and is governed by his animal nature alone.
|
Vì vậy, các dấu hiệu rơi vào bốn phạm trù đất, nước, lửa và khí chủ yếu liên quan đến người sống dưới hoành cách mô và sử dụng bốn trung tâm thấp: trung tâm ở đáy cột sống, trung tâm xương cùng, tùng thái dương và lá lách. Nhóm bên trong gồm bảy năng lượng chính hay thuộc hệ thống tạo tác động của chúng trên người sống phía trên hoành cách mô, và hoạt động qua bảy trung tâm đại diện trong đầu. Bốn trong số đó tập trung qua trung tâm cổ họng, trung tâm tim, ajna và các trung tâm đầu. Ba năng lượng còn lại được giữ tiềm tàng trong vùng các trung tâm đầu — Hoa sen ngàn cánh — và chỉ đi vào hoạt động chức năng sau lần điểm đạo thứ ba. Vì vậy, từ lập trường lá số chiêm tinh — cũng như từ lập trường vấn đề cá nhân — rõ ràng là sự gặp gỡ của các năng lượng thuộc hai loại chòm sao trong trường hợp người không thuần là nhân loại cũng không thuần là tinh thần phức tạp đến mức nào. Lá số thông thường bị vô hiệu hóa. Lá số ấy hiện vẫn chưa thể được mô tả. Lá số duy nhất về căn bản và gần như không sai lầm là đúng là lá số của con người hoàn toàn ở cấp thấp, sống trọn vẹn dưới hoành cách mô và chỉ bị bản chất thú tính của mình cai quản.
|
|
Astrologers must remember also that there are several [439] undiscovered planets which are producing pulls and shifts and focussing streams of energy upon our earth which tend to complicate the problem still further. Pluto is one of them, and having now emerged into manifestation (or rather into recognition) to it will be assigned all the unexplained conditions. Pluto will be made the scapegoat for faulty astrology for a long time to come. This chart failed to work and be true because Pluto must be influential in it and we know little about Pluto. So the story will run. Yet Pluto has always been revolving around our sun and producing its effects. It governs however the death or cessation of old ideas and emotions, and its influence is therefore largely cerebral and in that you have the clue to its late discovery. Mankind is only on the verge of becoming mental. Its effects are felt first in the mental body. The names of the planets are not the result of arbitrary choice but the planets name themselves.
|
Các nhà chiêm tinh cũng phải nhớ rằng có một số [439] hành tinh chưa được khám phá đang tạo ra những lực kéo, những chuyển dịch, và đang tập trung các dòng năng lượng lên Trái Đất chúng ta, có khuynh hướng làm vấn đề thêm phức tạp. Sao Diêm Vương là một trong số đó, và vì nay đã xuất hiện vào biểu hiện — hay đúng hơn, vào sự nhận biết — nên mọi tình trạng chưa giải thích được sẽ được gán cho nó. Sao Diêm Vương sẽ bị biến thành vật tế thần cho chiêm tinh học sai lầm trong một thời gian dài sắp tới. Lá số này không vận hành và không đúng vì Sao Diêm Vương hẳn phải có ảnh hưởng trong đó, mà chúng ta biết rất ít về Sao Diêm Vương. Câu chuyện sẽ diễn ra như thế. Tuy nhiên, Sao Diêm Vương luôn quay quanh mặt trời của chúng ta và tạo ra các tác động của nó. Dù vậy, nó cai quản cái chết hay sự chấm dứt của các ý tưởng và cảm xúc cũ, và vì thế ảnh hưởng của nó phần lớn thuộc về não bộ; trong điều đó bạn có chìa khóa cho sự phát hiện muộn của nó. Nhân loại chỉ mới ở ngưỡng trở nên trí tuệ. Các tác động của nó trước hết được cảm nhận trong thể trí. Tên gọi của các hành tinh không phải là kết quả của lựa chọn tùy tiện; chính các hành tinh tự đặt tên cho mình.
|
|
Astrologers will eventually find it necessary to cast three horoscopes or three charts: —one purely physical dealing with the body of nature; one primarily emotional, and dealing with the quality of the personality and with its sensitivity, or state of awareness; the third will be the chart of the mental impulses and conditions. It will be found that these three charts will take certain geometrical lines, the lines of energies will form patterns. These three charts, superimposed one upon the other, will give the personality diagram, the individual life pattern. Amazing symbolic charts and lineal forms will be found to emerge when this is done, and the “geometry of the individual” will grow out of this, for it will be found that each line will function in relation to another line, and the trends of the life energies will become apparent. Eventually, even in this department of knowledge, “the star will shine forth” This will constitute a new branch of psychology and its true exponent for [440] our age will duly be found. I but indicate the lines of the future astrology in order to safeguard the present.
|
Cuối cùng, các nhà chiêm tinh sẽ thấy cần thiết phải lập ba lá số hay ba bản đồ: một lá số thuần hồng trần, đề cập đến thể của thiên nhiên; một lá số chủ yếu thuộc cảm xúc, đề cập đến phẩm tính của phàm ngã và sự nhạy cảm của nó, hay trạng thái nhận biết; lá số thứ ba sẽ là bản đồ của các xung lực và điều kiện trí tuệ. Người ta sẽ thấy rằng ba bản đồ này sẽ đi theo những đường hình học nhất định; các đường năng lượng sẽ tạo thành những mô hình. Ba bản đồ này, khi chồng lên nhau, sẽ đem lại biểu đồ phàm ngã, mô hình đời sống cá nhân. Khi điều này được thực hiện, những bản đồ biểu tượng kỳ diệu và các hình thức tuyến tính sẽ được thấy xuất hiện, và “hình học của cá nhân” sẽ nảy sinh từ đó, vì người ta sẽ thấy rằng mỗi đường sẽ vận hành trong tương quan với một đường khác, và các khuynh hướng của những năng lượng đời sống sẽ trở nên hiển nhiên. Rốt cuộc, ngay cả trong ngành tri thức này, “ngôi sao sẽ tỏa sáng”. Điều này sẽ cấu thành một nhánh mới của tâm lý học, và người trình bày chân chính của nó cho [440] thời đại chúng ta sẽ được tìm thấy đúng lúc. Tôi chỉ chỉ ra những đường nét của chiêm tinh học tương lai nhằm bảo vệ hiện tại.
|
|
One thing astrologers need at this time to do and that is to make due allowance for this transition period out of Pisces into Aquarius. This is seldom done, but it is evident that the tremendous turmoil incident to these transitions affects the individual chart, and frequently offsets individual destiny or karma. People are submerged in planetary and racial destinies, and their own tiny affairs are offset almost entirely and sometimes completely negated. It is not possible to cast the horoscope of the planet, and those who propose to do so are deceiving themselves and others. The horoscope of the fourth kingdom in nature, of humanity, will eventually be cast, but it will be done by initiates, and there are no initiate astrologers working on the physical plane at this time. One hint here I give.
|
Một điều mà các nhà chiêm tinh cần làm vào lúc này là xét đến đúng mức thời kỳ chuyển tiếp này từ Song Ngư sang Bảo Bình. Điều này hiếm khi được thực hiện, nhưng rõ ràng sự xáo trộn ghê gớm đi kèm các chuyển tiếp này ảnh hưởng đến lá số cá nhân, và thường hóa giải vận mệnh hay nghiệp quả cá nhân. Con người bị chìm ngập trong các vận mệnh hành tinh và nhân loại, và những việc nhỏ bé riêng của họ hầu như bị hóa giải hoàn toàn, đôi khi bị phủ định trọn vẹn. Không thể lập lá số của hành tinh, và những ai đề nghị làm như vậy đang tự lừa dối mình và lừa dối người khác. Lá số của giới thứ tư trong thiên nhiên, tức nhân loại, rốt cuộc sẽ được lập, nhưng điều đó sẽ do các điểm đạo đồ thực hiện, và hiện nay không có nhà chiêm tinh điểm đạo đồ nào đang làm việc trên cõi hồng trần. Ở đây tôi trao một gợi ý.
|
|
The Sun was in Sagittarius when the first human tendencies struggled to the fore. The stage of animal man was completed and when Sagittarius was dominant (from our planetary standpoint—I am using words with care) the great event of individualisation took place. But the brain of the then human being failed to register what had happened. In the words of the Old Commentary:
|
Mặt Trời ở trong Nhân Mã khi những khuynh hướng nhân loại đầu tiên vùng lên phía trước. Giai đoạn người thú đã hoàn tất, và khi Nhân Mã chi phối — từ lập trường hành tinh của chúng ta; tôi dùng từ rất cẩn trọng — biến cố lớn của sự biệt ngã hóa đã diễn ra. Nhưng bộ não của con người lúc bấy giờ không ghi nhận được điều đã xảy ra. Theo lời của Cổ Luận:
|
|
“The sons of God shot forth like arrows from the bow. The forms received the impulse and lo! a God was born. The tiny babe knew not the great event.”
|
“Các Con của Thượng đế phóng ra như những mũi tên từ cây cung. Các hình tướng nhận xung lực, và kìa, một Thượng đế được sinh ra. Đứa trẻ bé nhỏ không biết biến cố lớn lao ấy.”
|
|
This took place twenty-one million years ago. Cycles passed and when at a later date the sun was in Leo (approximately eighteen million years ago) the first instances of coordination between brain and mind took place and the human being was definitely self-conscious. He registered his individuality. The figures for the first [441] date (though exactness is not possible in a system of mutation such as ours) are 21,688,345 years ago. These figures are useless at this time for they can neither be proved correct nor incorrect. Later investigation will prove their usefulness, when the nature of time is better understood. Sagittarius governs human evolution, for it symbolises progress towards a conscious goal. Leo governs the human consciousness in the human kingdom for the energy pouring through it enables man to say “I am”.
|
Điều này xảy ra hai mươi mốt triệu năm trước. Các chu kỳ trôi qua, và vào một thời điểm sau đó, khi Mặt Trời ở trong Sư Tử — khoảng mười tám triệu năm trước — những trường hợp đầu tiên của sự phối hợp giữa bộ não và thể trí đã diễn ra, và con người trở nên xác định là có ngã thức. Y ghi nhận cá tính của mình. Các con số cho niên đại thứ nhất [441] — dù sự chính xác là không thể có trong một hệ thống biến đổi như hệ của chúng ta — là 21.688.345 năm trước. Những con số này hiện nay vô dụng, vì chúng không thể được chứng minh là đúng hay sai. Nghiên cứu về sau sẽ chứng minh tính hữu dụng của chúng, khi bản chất của thời gian được thấu hiểu hơn. Nhân Mã cai quản tiến hoá nhân loại, vì nó tượng trưng cho sự tiến tới một mục tiêu có ý thức. Sư Tử cai quản tâm thức nhân loại trong giới nhân loại, vì năng lượng tuôn qua nó giúp con người nói: “Tôi hiện hữu”.
|
|
It might be of value if I here attempted a translation necessarily inadequate, of the key word of each sign. These fall into two categories as far as humanity is concerned. There is the key word for the form aspect and the keyword for the soul aspect. In the first case, the word is expressed; in the second it is consciously spoken by the soul. Translated into modern terms much is lost, but the underlying thought which directs the work of the emanating energies is of value. For our world period they are as follows:
|
Có thể sẽ hữu ích nếu ở đây tôi cố gắng đưa ra một bản dịch tất yếu không đầy đủ của chủ âm của mỗi dấu hiệu. Các chủ âm này rơi vào hai phạm trù xét theo nhân loại. Có chủ âm dành cho phương diện hình tướng, và có chủ âm dành cho phương diện linh hồn. Trong trường hợp thứ nhất, linh từ được biểu lộ; trong trường hợp thứ hai, nó được linh hồn xướng lên một cách có ý thức. Khi dịch sang các thuật ngữ hiện đại, nhiều điều bị mất đi, nhưng tư tưởng nền tảng điều khiển công việc của các năng lượng phát xuất thì có giá trị. Đối với chu kỳ thế giới của chúng ta, chúng như sau:
|
|
For the aspirant who progresses from Aries to Pisces and has therefore re-oriented himself we have:
|
Đối với người chí nguyện tiến từ Bạch Dương đến Song Ngư và do đó đã tự tái định hướng, chúng ta có:
|
|
Aries……I come forth, and from the plane of mind I rule.
|
Bạch Dương……Tôi xuất hiện, và từ cõi trí tôi cai quản.
|
|
Taurus……I see, and when the eye is opened, all is illumined.
|
Kim Ngưu……Tôi thấy, và khi con mắt được mở ra, tất cả đều được soi sáng.
|
|
Gemini……I recognise my other self and in the waning of that self I grow and glow.
|
Song Tử……Tôi nhận ra bản ngã kia của mình, và trong sự suy tàn của bản ngã ấy, tôi lớn lên và bừng sáng.
|
|
Cancer……I build a lighted house and therein dwell.
|
Cự Giải……Tôi xây một ngôi nhà được soi sáng và cư ngụ trong đó.
|
|
Leo……I am That and That am I.
|
Sư Tử……Tôi là Cái Đó và Cái Đó là tôi.
|
|
Virgo…….I am the Mother and the Child, I God, I matter am.
|
Xử Nữ…….Tôi là Mẹ và là Con, tôi là Thượng đế, tôi là vật chất.
|
|
Libra……I choose the Way that leads between the two great lines of force. [442]
|
Thiên Bình……Tôi chọn Con Đường dẫn giữa hai đường mãnh lực lớn. [442]
|
|
Scorpio…….Warrior I am, and from the battle I emerge triumphant.
|
Hổ Cáp…….Tôi là chiến sĩ, và từ trận chiến tôi bước ra khải hoàn.
|
|
Sagittarius……I see the goal. I reach the goal and see another.
|
Nhân Mã……Tôi thấy mục tiêu. Tôi đạt đến mục tiêu và thấy một mục tiêu khác.
|
|
Capricorn……Lost am I in light supernal and on that light I turn my back.
|
Ma Kết……Tôi mất hút trong ánh sáng thiên thượng, và với ánh sáng ấy, tôi quay lưng lại.
|
|
Aquarius……Water of life am I, poured forth for thirsty men.
|
Bảo Bình……Tôi là nước của sự sống, tuôn đổ cho những người khát.
|
|
Pisces……I leave the Father’s home and turning back, I save.
|
Song Ngư……Tôi rời nhà Cha, và khi quay trở lại, tôi cứu độ.
|
|
From the standpoint of the form, the life proceeds in a reverse direction, and the work of nature is seen under the following words:
|
Từ lập trường của hình tướng, sự sống tiến hành theo chiều ngược lại, và công việc của thiên nhiên được thấy dưới những lời sau:
|
|
Pisces…….And the Word said: Go forth into matter.
|
Song Ngư…….Và Linh từ phán: Hãy đi vào vật chất.
|
|
Aquarius……And the Word said: Let desire in form be ruler.
|
Bảo Bình……Và Linh từ phán: Hãy để ham muốn trong hình tướng làm kẻ cai trị.
|
|
Capricorn……And the Word said: Let ambition rule and the door stand wide.
|
Ma Kết……Và Linh từ phán: Hãy để tham vọng cai quản và cánh cửa rộng mở.
|
|
Sagittarius……And the Word said: Let food be sought.
|
Nhân Mã……Và Linh từ phán: Hãy để thức ăn được tìm kiếm.
|
|
Scorpio……And the Word said: Let Maya flourish and deception rule.
|
Hổ Cáp……Và Linh từ phán: Hãy để ảo lực hưng thịnh và lừa dối cai quản.
|
|
Libra……And the Word said: Let choice be made.
|
Thiên Bình……Và Linh từ phán: Hãy để sự lựa chọn được thực hiện.
|
|
Virgo……And the Word said: Let matter reign.
|
Xử Nữ……Và Linh từ phán: Hãy để vật chất trị vì.
|
|
Leo……And the Word said: Let other forms exist, I rule.
|
Sư Tử……Và Linh từ phán: Hãy để các hình tướng khác hiện hữu, ta cai quản.
|
|
Cancer……And the Word said: Let isolation be the rule and yet the crowd exists.
|
Cự Giải……Và Linh từ phán: Hãy để sự cô lập là quy luật, nhưng đám đông vẫn hiện hữu.
|
|
Gemini……And the Word said: Let instability do its work.
|
Song Tử……Và Linh từ phán: Hãy để sự bất ổn làm công việc của nó.
|
|
Taurus……And the Word said: Let struggle be undismayed. [443]
|
Kim Ngưu……Và Linh từ phán: Hãy để cuộc đấu tranh không nản chí. [443]
|
|
Aries……And the Word said: Let form again be sought.
|
Bạch Dương……Và Linh từ phán: Hãy để hình tướng lại được tìm kiếm.
|
|
It will be noted that all these ideas concern the work of energy in some form or another and in the last grouping with the work of the so-called unregenerate selfish individual, full of desire for satisfaction. The group of mantric words used by the aspirant in the power of his own soul, are positive.
|
Cần lưu ý rằng tất cả những ý tưởng này đều liên quan đến công việc của năng lượng dưới hình thức này hay hình thức khác, và trong nhóm cuối cùng là công việc của cá nhân ích kỷ, được gọi là chưa tái sinh, đầy ham muốn được thỏa mãn. Nhóm các linh từ mantram mà người chí nguyện sử dụng trong quyền năng của chính linh hồn mình thì mang tính tích cực.
|
|
It seems needless to deal further with the various types of force and we shall now turn our attention to Rule XI.
|
Dường như không cần thiết phải bàn thêm về các loại mãnh lực khác nhau, và giờ đây chúng ta sẽ chuyển sự chú ý sang Quy luật XI.
|