Tâm Lý Học Nội Môn I – Phần II – Chương III

📘 Sách: Tâm Lý Học Nội Môn I – Tác giả: Alice Bailey

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF

SECTION 2 – CHAPTER III … The Rays and Man—Các Cung và Con người

Introductory Remarks—Lời Nói Đầu

[311]

[311]

I HAVE now dealt with one of the basic problems confronting the race at this time. I interpolated my comments on the subject of sex at that particular point because it made a fitting conclusion to our study of the rays in connection with the animal kingdom.

Giờ đây tôi đã giải quyết xong một trong những vấn đề cơ bản đang đối mặt với nhân loại vào lúc này. Tôi đã thêm các bình luận của mình về chủ đề tính dục tại điểm cụ thể đó vì nó tạo nên một kết luận phù hợp cho nghiên cứu của chúng ta về các cung liên quan đến giới động vật.

Man is a living entity, a conscious son of God (a soul) occupying an animal body. Here lies the point. He is therefore in the nature of a link, and a far from missing link. He unifies in himself the results of the evolutionary process as it has been carried on during the past ages, and he brings into contact with that evolutionary result a new factor, that of an individual self-sustaining, self-knowing aspect. It is the presence of this factor and of this aspect which differentiates man from the animal. It is this aspect which produces in humanity a consciousness of immortality, a self-awareness and a self-centredness which make man truly to appear in the image of God. It is this innate and hidden power which gives man the capacity to suffer which no animal possesses, but which also confers on him the ability to reap the benefits of this experience in the realm of the intellect. This same capacity, in embryo, works out in the animal kingdom in the realm of the instincts. It is this peculiar property of humanity [312] which confers upon it the power to sense ideals, to register beauty, to react sensuously to music, and to enjoy colour and harmony. It is this divine something which makes of mankind the prodigal son, torn between desire for the worldly life, for possessions and experience, and the attractive power of that centre, or home, from which he has come.

Con người là một thực thể sống, một người con có ý thức của Thượng đế (một linh hồn) chiếm giữ một cơ thể động vật. Điểm mấu chốt nằm ở đây. Do đó, y có bản chất của một mắt xích, và hoàn toàn không phải một mắt xích bị thiếu. Y thống nhất trong chính mình các kết quả của quá trình tiến hóa như nó đã được thực hiện trong các thời đại quá khứ, và y mang vào kết quả tiến hóa đó một yếu tố mới, yếu tố của một phương diện cá nhân tự duy trì, tự biết. Chính sự hiện diện của yếu tố này và của phương diện này phân biệt con người với con vật. Chính phương diện này tạo ra trong nhân loại một ý thức về sự bất tử, một sự tự nhận thức và một sự tập trung vào bản thân khiến con người thực sự xuất hiện trong hình ảnh của Thượng đế. Chính quyền năng bẩm sinh và ẩn giấu này mang lại cho con người khả năng đau khổ mà không con vật nào sở hữu, nhưng cũng trao cho y khả năng gặt hái những lợi ích của trải nghiệm này trong lĩnh vực của trí năng. Cùng khả năng này, ở dạng phôi thai, hoạt động trong giới động vật trong lĩnh vực của các bản năng. Chính đặc tính kỳ lạ này của nhân loại [312] trao cho nó quyền năng cảm nhận các lý tưởng, ghi nhận vẻ đẹp, phản ứng bằng giác quan với âm nhạc, và thưởng thức màu sắc và sự hài hòa. Chính cái gì đó thiêng liêng này biến con người thành đứa con hoang đàng, bị giằng xé giữa ham muốn đời sống thế tục, tài sản và trải nghiệm, và sức mạnh hấp dẫn của trung tâm đó, hay ngôi nhà đó, từ nơi y đã đến.

Man stands midway between heaven and earth, with his feet deep in the mud of material life and his head in heaven. In the majority of cases his eyes are closed, and he sees not the beauty of the heavenly vision, or they are open but fixed upon the mud and slime with which his feet are covered. But when his open eyes are lifted for a brief moment, and see the world of reality and of spiritual values, then the torn and distracted life of the aspirant begins.

Con người đứng giữa trời và đất, với đôi chân ngập sâu trong bùn của đời sống vật chất và đầu ở trên trời. Trong đa số các trường hợp, mắt y nhắm lại, và y không nhìn thấy vẻ đẹp của linh ảnh thiên thượng, hoặc chúng mở ra nhưng dán chặt vào bùn và nhớt mà chân y bị bao phủ. Nhưng khi đôi mắt mở của y ngước lên trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, và nhìn thấy thế giới của thực tại và của các giá trị tinh thần, thì cuộc đời bị giằng xé và sự phân tâm của người chí nguyện bắt đầu.

Humanity is the custodian of the hidden mystery, and the difficulty consists in the fact that that which man conceals from the world is also hidden from himself. He knows not the wonder of that which he preserves and nourishes. Humanity is the treasure-house of God (this is the great Masonic secret), for only in the human kingdom, as esotericists have long pointed out, are the three divine qualities found in their full flower and together. In man, God the Father has hidden the secret of life; in man, God the Son has secreted the treasures of wisdom and of love; in man, God the Holy Spirit has implanted the mystery of manifestation. Humanity, and humanity alone, can reveal the nature of the Godhead and of eternal life. To man is given the privilege of revealing the nature of the divine consciousness, and of portraying before the eyes of the assembled sons of God (at the final conclave before the dissolution) what has lain hidden in the Mind of God. Hence the injunction before us today (in the words of the great Christian teacher) to possess in ourselves “the mind of Christ.” This mind must dwell in us and reveal itself [313] in the human race in ever greater fullness. To man is given the task of raising matter up into heaven, and of glorifying rightly the form side of life through his conscious manifestation of divine powers.

Nhân loại là người gìn giữ bí nhiệm ẩn giấu, và khó khăn nằm ở chỗ cái mà con người che giấu khỏi thế giới cũng bị ẩn giấu khỏi chính y. Y không biết sự kỳ diệu của cái mà y gìn giữ và nuôi dưỡng. Nhân loại là kho báu của Thượng đế (đây là bí mật lớn của Hội Tam Điểm), vì chỉ trong giới nhân loại, như các nhà huyền bí học đã chỉ ra từ lâu, ba phẩm tính thiêng liêng mới được tìm thấy trong sự nở rộ đầy đủ của chúng và cùng nhau. Trong con người, Thượng đế Cha đã giấu bí mật của sự sống; trong con người, Thượng đế Con đã cất giấu các kho báu của minh triết và của tình thương; trong con người, Thượng đế Chúa Thánh Thần đã gieo trồng bí nhiệm của sự biểu hiện. Nhân loại, và chỉ nhân loại, mới có thể tiết lộ bản chất của Thiên Tính và của sự sống vĩnh cửu. Con người được trao đặc quyền tiết lộ bản chất của tâm thức thiêng liêng, và khắc họa trước mắt các con của Thượng đế đang tập hợp (tại đại mật nghị cuối cùng trước khi giải thể) những gì đã nằm ẩn giấu trong Trí của Thượng đế. Do đó, lệnh truyền trước mắt chúng ta ngày nay (trong lời của Huấn Sư Kitô giáo vĩ đại) là sở hữu trong chính chúng ta “trí của Đấng Christ.” Trí này phải cư ngụ trong chúng ta và tự tiết lộ [313] trong con người ngày càng trọn vẹn hơn. Con người được trao nhiệm vụ nâng vật chất lên trời, và tôn vinh đúng đắn phương diện hình tướng của sự sống thông qua sự biểu hiện có ý thức của y về các quyền năng thiêng liêng.

To portray adequately the wonder and the destiny of the human kingdom lies beyond my powers or the power of any human pen, no matter how great a man’s realisation may be, or his response to the beauty of God’s world. Divinity must be lived, expressed and manifested, to be understood. God must be loved, known and revealed within the human heart and brain, in order to be intellectually grasped.

Việc khắc họa đầy đủ sự kỳ diệu và định mệnh của giới nhân loại nằm ngoài khả năng của tôi hoặc khả năng của bất kỳ ngòi bút con người nào, bất kể sự chứng nghiệm của một người có thể lớn đến đâu, hoặc sự đáp ứng của y đối với vẻ đẹp của thế giới của Thượng đế. Thiên tính phải được sống, được thể hiện và được biểu lộ, để được thấu hiểu. Thượng đế phải được yêu mến, được biết và được tiết lộ bên trong trái tim và bộ não con người, để được nắm bắt về mặt trí tuệ.

The hierarchy of mystics, knowers and lovers of God, are manifesting this revealed truth in the world of the mental plane and of the emotional plane today. But the hour has now come when the manifestation of this reality can, for the first time and in truth, manifest itself on the physical plane in an organised group form, instead of through the instrumentality of the few inspired sons of God who have, in past ages, incarnated as the guarantee of the future possibilities. The Hierarchy of Angels and of Saints, of Masters, Rishis and Initiates, can now begin to organise itself in material form on earth, because today the group idea is rapidly gaining ground, and the nature of humanity is being better understood. The Church of Christ, hitherto invisible and militant, can now be seen slowly materialising and becoming the Church visible and triumphant.

Huyền Giai các nhà thần bí, những thức giả và những người yêu mến Thượng đế, đang biểu hiện chân lý được tiết lộ này trong thế giới của cõi trí và cõi cảm dục ngày nay. Nhưng giờ đây đã đến lúc sự biểu hiện của thực tại này có thể, lần đầu tiên và trong sự thật, tự biểu hiện trên cõi hồng trần trong một hình thức nhóm có tổ chức, thay vì thông qua phương tiện của một vài người con được truyền cảm hứng của Thượng đế, những người đã, trong các thời đại quá khứ, lâm phàm như sự bảo đảm cho các khả năng tương lai. Thánh đoàn của các Thiên Thần và các Vị Thánh, của các Chân sư, các Rishi và các Điểm đạo đồ, giờ đây có thể bắt đầu tự tổ chức trong hình tướng vật chất trên trái đất, bởi vì ngày nay ý tưởng nhóm đang nhanh chóng giành được chỗ đứng, và bản chất của nhân loại đang được hiểu rõ hơn. Giáo hội của Đấng Christ, cho đến nay là vô hình và chiến đấu, giờ đây có thể được nhìn thấy đang từ từ hiện hình và trở thành Giáo hội hữu hình và khải hoàn.

This is the coming glory of the Aquarian Age; this is the next revelation of the evolutionary cycle, and such is the task of the immediate future. The true drama of this triple relationship (of which physical sex, as we have seen, is but the symbol) will be enacted on a large scale in the life of the modern aspirant during the next fifty years. We shall see what is called symbolically “the birth of the Christ,” or the [314] second birth, taking place in many lives, producing on earth a large group of the spiritually new-born. They will be those who have brought together, consciously and within themselves, the two aspects of soul and body, and thus have consummated the “mystical marriage”. The aggregate of these individual happenings will produce a group activity of an analogous kind, and we shall see the emergence on the physical plane of “the body of the Christ,” and the appearance of the manifested Hierarchy. This is what is happening today, and all that we see going on around us in the world is but the pangs and the travail which precede this glorious birthing.

Đây là vinh quang sắp tới của Kỷ nguyên Bảo Bình; đây là sự mặc khải tiếp theo của chu kỳ tiến hóa, và đó là nhiệm vụ của tương lai trước mắt. Kịch bản thực sự của mối quan hệ tam phân này (mà tính dục cõi hồng trần, như chúng ta đã thấy, chỉ là biểu tượng) sẽ được diễn ra trên quy mô lớn trong cuộc đời của người chí nguyện hiện đại trong năm mươi năm tới. Chúng ta sẽ thấy cái được gọi một cách tượng trưng là “sự ra đời của Đấng Christ,” hay [314] lần sinh thứ hai, diễn ra trong nhiều cuộc đời, tạo ra trên trái đất một nhóm lớn những người mới sinh về mặt tinh thần. Họ sẽ là những người đã mang lại với nhau, một cách có ý thức và bên trong chính họ, hai phương diện của linh hồn và thể xác, và do đó đã hoàn tất “cuộc hôn nhân huyền bí”. Tổng hợp của những sự kiện cá nhân này sẽ tạo ra một hoạt động nhóm thuộc loại tương tự, và chúng ta sẽ thấy sự xuất hiện trên cõi hồng trần “cơ thể của Đấng Christ,” và sự xuất hiện của Thánh đoàn đã biểu lộ. Đây là những gì đang xảy ra ngày nay, và tất cả những gì chúng ta thấy đang diễn ra xung quanh chúng ta trên thế giới chỉ là những cơn đau và sự chuyển dạ đi trước sự sinh nở vinh quang này.

Chúng ta hiện đang trong quá trình hoàn tất này. Do đó sự khó khăn và nỗi thống khổ được chứng kiến trong cuộc đời của mọi đệ tử chân chính, người—hiện thân trong chính mình một cách tượng trưng hai phương diện cha-mẹ, tinh thần-vật chất, và đã nuôi dưỡng hài nhi Christ qua một giai đoạn thai nghén—giờ đây đang sinh ra Đấng Christ, bên trong chuồng gia súc và trong máng cỏ của thế giới. Trong tổng thể của thành tựu chung, toàn bộ nhóm sẽ đạt được và Đấng Christ lại xuất hiện trên trái đất, lần này lâm phàm trong nhiều người chứ không phải trong một phàm ngã. Tuy nhiên, mỗi thành viên của nhóm là một Christ trong biểu hiện, và tất cả cùng nhau trình diện Đấng Christ cho thế giới, và tạo thành một kênh dẫn cho mãnh lực và sự sống của Đấng Christ.

It is indeed and in truth from glory to glory that we go. The past glory of individualisation must fade away in that of initiation. The glory of the slowly emerging self-consciousness must be lost to sight in the wonder of the group consciousness of the race, and this the foremost thinkers and workers today most ardently desire. The glory that can be seen faintly shining in humanity, and the dim light which flickers within the human form, must give place to the radiance which is the glory of the developed son of God. Only [315] a little effort is needed, and the demonstration of a steady staying power, to enable those who are now on the physical plane of experience to evidence the radiant light, and to establish upon the earth a great station of light which will illumine the whole of human thought. Always there have been isolated light bearers, down the ages. Now the group light bearer will shortly be seen. Then shall we see the rest of the human family (who respond not yet to the Christ impulse) having their progress facilitated towards the path of probation. The work will still be slow, and much yet remains to be done; but if all the aspirants of the world and all the disciples at work in the world today will submerge their personal interests in the task immediately ahead, we shall have what I might pictorially call the opening of a great station of light on earth, and the founding of a power house which will greatly hasten the evolution and elevation of humanity, and the unfoldment of the human consciousness.

Quả thực và trong sự thật, chúng ta đi từ vinh quang này đến vinh quang khác. Vinh quang quá khứ của sự biệt ngã hóa phải phai nhạt đi trong vinh quang của sự điểm đạo. Vinh quang của sự tự ý thức đang từ từ xuất hiện phải bị mất hút trong sự kỳ diệu của tâm thức nhóm của nhân loại, và điều này là điều mà những nhà tư tưởng và người hoạt động hàng đầu ngày nay khao khát nhất. Vinh quang có thể được nhìn thấy tỏa sáng mờ nhạt trong nhân loại, và ánh sáng lờ mờ nhấp nháy bên trong hình tướng con người, phải nhường chỗ cho sự rạng rỡ vốn là vinh quang của người con đã phát triển của Thượng đế. Chỉ [315] cần một chút nỗ lực và sự thể hiện của một sức chịu đựng bền bỉ, để người hiện đang ở trên cõi hồng trần của trải nghiệm chứng tỏ ánh sáng rạng rỡ, và thiết lập trên trái đất một trạm ánh sáng lớn vốn sẽ soi sáng toàn bộ tư tưởng con người. Trong suốt các thời đại, luôn luôn có những người mang ánh sáng đơn lẻ. Bây giờ người mang ánh sáng nhóm sẽ sớm được nhìn thấy. Khi đó chúng ta sẽ thấy phần còn lại của gia đình nhân loại (những người chưa đáp ứng với xung lực Christ) được tạo điều kiện thuận lợi cho sự tiến bộ của họ hướng tới con đường dự bị. Công việc vẫn sẽ chậm, và nhiều việc vẫn còn phải làm; nhưng nếu tất cả những người chí nguyện của thế giới và tất cả các đệ tử đang làm việc trên thế giới ngày nay nhấn chìm lợi ích cá nhân của họ trong nhiệm vụ ngay phía trước, chúng ta sẽ có cái mà tôi có thể gọi một cách hình ảnh là việc mở một trạm ánh sáng lớn trên trái đất, và việc thành lập một trạm năng lượng vốn sẽ đẩy nhanh đáng kể sự tiến hóa và nâng cao nhân loại, và sự khai mở của tâm thức con người.

There has been for long in esoteric circles much idle and oft foolish talk anent the ray upon which a man may be found. People are as ignorantly excited over being told which is their ray as they are over the portrayal of their past incarnations. The “new teaching on the rays” vies with astrology in its interest. Like the Athenians, men are always searching for the novel and the unusual, forgetting that every new truth and every new presentation of an old truth carries with it the onus of increased responsibility.

Từ lâu trong các giới huyền bí đã có nhiều cuộc nói chuyện phiếm và thường là ngây ngô về cung mà một người có thể được tìm thấy trên đó. Mọi người hào hứng một cách thiếu hiểu biết về việc được bảo cho biết cung của họ là gì, cũng giống như họ hào hứng về việc mô tả các kiếp sống trước đây của họ. “Giáo lý mới về các cung” cạnh tranh với chiêm tinh học về sự thú vị của nó. Giống như người Athens, con người luôn tìm kiếm cái mới lạ và bất thường, quên rằng mọi chân lý mới và mọi sự trình bày mới về một chân lý cũ đều mang theo nó gánh nặng của trách nhiệm gia tăng.

However, it is interesting to trace parallels, and it is becoming obvious to the careful student that the emergence of the teaching on the rays has happened at a time when the scientist is announcing the fact that there is naught to be seen and known save energy, and that all forms are composed of energy units and are in themselves expressions of force. [316] A ray is but a name for a particular force or type of energy, with the emphasis upon the quality which that force exhibits and not upon the form aspect which it creates. This is a true definition of a ray.

Tuy nhiên, việc lần theo các điểm tương đồng là điều thú vị, và đối với người đạo sinh cẩn trọng, ngày càng hiển nhiên rằng sự xuất hiện của giáo huấn về các cung đã diễn ra vào đúng thời điểm khi giới khoa học đang công bố sự thật rằng không có gì để thấy và để biết ngoài năng lượng, và rằng mọi hình tướng đều được cấu thành từ các đơn vị năng lượng, và bản thân chúng là những biểu hiện của mãnh lực. [316] Một cung chỉ đơn thuần là tên gọi của một mãnh lực hay một loại năng lượng nhất định, trong đó sự nhấn mạnh được đặt vào phẩm tính mà mãnh lực ấy biểu lộ, chứ không phải vào khía cạnh hình tướng mà nó tạo ra. Đây là một định nghĩa đúng đắn về một cung.

THE RAYS AND THE RACES—CÁC CUNG VÀ CÁC GIỐNG DÂN

We have been told in the past teaching of the Ageless Wisdom that a human being is a triple aspect of energy, and that he is essentially a trinity, as is the Deity. We speak of him technically as Monad-ego-personality. We define him as spirit-soul-body. I should like to point out here that in studying the human family as a unit and as a whole, it also will be discovered to be essentially a Monad, with seven egoic groups, within which all souls (in incarnation and out of incarnation) find their place, and with forty-nine corresponding racial forms through which the seven groups of souls cyclically express themselves. All souls work out their destiny in all races, but certain types predominate in certain racial forms. Where, then, is to be found any reason for racial predilections or antipathies? In the realisation of the truth that we all, at some time, experience incarnation in all racial forms will come the knowledge that there is only unity. The subject may be clarified if we tabulate the teaching and the ray relationship to the races as follows:

Chúng ta đã được bảo trong giáo lý quá khứ của Minh Triết Ngàn Đời rằng một con người là một phương diện tam phân của năng lượng, và rằng y về cơ bản là một bộ ba, cũng như Thượng đế. Chúng ta nói về y một cách kỹ thuật là Chân thần-chân ngã-phàm ngã. Chúng ta định nghĩa y là tinh thần-linh hồn-cơ thể. Tôi muốn chỉ ra ở đây rằng khi nghiên cứu gia đình nhân loại như một đơn vị và như một tổng thể, nó cũng sẽ được phát hiện về cơ bản là một Chân thần, với bảy nhóm chân ngã, bên trong đó tất cả các linh hồn (đang lâm phàm và không lâm phàm) tìm thấy vị trí của mình, và với bốn mươi chín hình tướng chủng tộc tương ứng qua đó bảy nhóm linh hồn biểu đạt chính mình theo chu kỳ. Tất cả các linh hồn thực hiện vận mệnh của mình trong tất cả các giống dân, nhưng một số loại nhất định chiếm ưu thế trong một số hình tướng chủng tộc nhất định. Vậy thì, đâu là lý do cho những sở thích hoặc ác cảm chủng tộc? Trong sự chứng nghiệm chân lý rằng tất cả chúng ta, vào một lúc nào đó, trải nghiệm sự lâm phàm trong tất cả các hình tướng chủng tộc, sẽ xuất hiện hiểu biết rằng chỉ có sự thống nhất. Chủ đề có thể được làm rõ nếu chúng ta lập bảng giáo lý và mối quan hệ cung với các chủng tộc như sau:

1.

The Lemurian Race

fifth ray

The coming of the Sons of Fire.

Giống dân Lemuria

cung năm

Sự xuất hiện của Các Con của Lửa.

2.

The Atlantean Race

sixth ray

The devotion of the Lords of Love.

Giống dân Atlantis

cung sáu

Lòng sùng kính của Các Chúa Tể của Tình thương/Bác ái.

3.

The Aryan Race

third ray

The activity of the Men of Mind.

Giống dân Arya

cung ba

Hoạt động của Những Người của Trí Tuệ.

4.

The Coming Race

fourth ray

The vision of the Units of Light.

Giống dân Đang Đến

cung bốn

Tầm nhìn của Các Đơn vị Ánh sáng.

5.

The Final Race

first ray

The will of the Lords of Sacrifice.

Giống dân Cuối cùng

cung một

Ý chí của Các Chúa Tể của Hi sinh.

[317]

[317]

Remember that this tabulation refers to the major ray cycles, and remember further that in every rootrace you have a continuous mingling and intermingling of the rays with what might be called the “constant” or dominating ray, which appears and re-appears with greater frequency and potency than do the other rays. There is therefore a close correspondence between certain rays and certain races, with their subraces, and these are coloured by these predominant ray influences. It is interesting also to interpret these ray influences (as I have expressed them) in terms of their quality leading to their objective, as follows:

Hãy nhớ rằng bảng này đề cập đến các chu kỳ cung chủ yếu, và hãy nhớ thêm rằng trong mỗi giống dân gốc, các bạn có sự pha trộn và hòa lẫn liên tục của các cung với cái có thể được gọi là cung “cố định” hoặc cung thống trị, vốn xuất hiện và tái xuất hiện với tần suất và quyền năng lớn hơn so với các cung khác. Do đó, có một sự tương ứng chặt chẽ giữa các cung nhất định và các chủng tộc nhất định, với các giống dân phụ của chúng, và những điều này được tô màu bởi những ảnh hưởng cung chiếm ưu thế này. Cũng rất thú vị khi giải thích những ảnh hưởng cung này (như tôi đã diễn đạt chúng) theo nghĩa phẩm tính của chúng dẫn đến mục tiêu của chúng, như sau:

The first Ray of Will leads from latent purpose in the first race to the fulfilled evolutionary Plan in the seventh race.

Cung một của Ý Chí dẫn từ mục đích tiềm tàng trong giống dân thứ nhất đến Thiên Cơ tiến hóa đã hoàn thành trong giống dân thứ bảy.

The second Ray of Love-Wisdom leads from love or divine desire in the second race to full intuitional understanding in the sixth race.

Cung hai của Bác Ái-Minh Triết dẫn từ tình thương hay ham muốn thiêng liêng trong giống dân thứ hai đến sự thấu hiểu trực giác trọn vẹn trong giống dân thứ sáu.

The third Ray of Active-Intelligence leads from the latent mental awareness of Lemurian man in the third race to the intellectual achievement of the Aryan race, the fifth race.

Cung ba của Trí Tuệ Linh Hoạt dẫn từ nhận thức trí tuệ tiềm tàng của người Lemuria trong giống dân thứ ba đến thành tựu trí thức của giống dân Arya, giống dân thứ năm.

The fourth Ray of Harmony through Conflict leads from the period of that terrific balancing of forces in Atlantis (the [318] fourth race) to the sanctified and free devotion of one-pointedness in the next or sixth race, with two lines of energy consummating in it. It marks the point of achievement of the Monads of Love, Who arrive at the expression of Love-Wisdom. The final race marks the point of achievement for the Monads of Will, just as the present Aryan race marks, and will mark, the achievement of the Monads of Intelligence. This warrants thought. It is a relative achievement, for this is the fourth round, but there is necessarily a “high-water mark,” if I might so call it, for each round.

Cung bốn của Hài hòa qua Xung đột dẫn từ thời kỳ cân bằng các lực khủng khiếp đó ở Atlantis (giống dân [318] thứ tư) đến sự tận tụy thánh thiện và tự do của sự nhất tâm trong giống dân tiếp theo hoặc thứ sáu, với hai dòng năng lượng hoàn tất trong nó. Nó đánh dấu điểm thành tựu của các Chân thần Tình thương, Những Đấng đạt đến sự biểu hiện của Bác Ái-Minh Triết. Giống dân cuối cùng đánh dấu điểm thành tựu cho các Chân thần Ý Chí, cũng như giống dân Arya hiện tại đánh dấu, và sẽ đánh dấu, thành tựu của các Chân thần Trí Tuệ. Điều này đáng để suy nghĩ. Đó là một thành tựu tương đối, vì đây là cuộc tuần hoàn thứ tư, nhưng nhất thiết có một “mức nước cao,” nếu tôi có thể gọi như vậy, cho mỗi cuộc tuần hoàn.

In the above four races you have the great period of the balancing of the forces for our humanity. The effect of the other three rays upon the Lemurian race and the two earlier and formless races need not here be considered by us. The nature of the consciousness of the forms found in those races, and the pressure exerted in them by the Entity Who informs the human family as a whole, are too abstruse for the average reader. He is mainly concerned with the races here enumerated, which summarise for him past and future achievement.

Trong bốn giống dân trên, các bạn có giai đoạn vĩ đại của sự cân bằng các mãnh lực cho nhân loại của chúng ta. Tác dụng của ba cung kia lên giống dân Lemuria và hai giống dân vô sắc tướng trước đó không cần chúng ta xem xét ở đây. Bản chất của tâm thức của các hình tướng được tìm thấy trong các giống dân đó, và áp lực được tạo ra trong chúng bởi Thực Thể Đấng thấm nhuần gia đình nhân loại như một tổng thể, quá trừu tượng đối với người đọc trung bình. Y chủ yếu quan tâm đến các giống dân được liệt kê ở đây, vốn tóm tắt cho y thành tựu trong quá khứ và tương lai.

Consequently, in dealing with the human family, we must endeavour to think in larger terms than those of the individual man as we know him. We must look upon humanity itself as an integrated entity, as a being, as a Life in a form. In this unified form Life every human being is a cell, and the seven races constitute the seven major centres, with the polarisation shifting ever into the higher centres, and the lower centres fading away into quiescence, until the time comes when all of the seven will be coordinated and energised, at the end of the age. We might here make the following suggestions (note this word) as to the relation between the races and the centres in the body of humanity: [319]

Do đó, khi làm việc với gia đình nhân loại, chúng ta phải cố gắng suy nghĩ theo các thuật ngữ lớn hơn so với con người cá nhân như chúng ta biết. Chúng ta phải nhìn vào chính nhân loại như một thực thể tích hợp, như một sinh mệnh, như Sự Sống Duy Nhất trong một hình tướng. Trong Sự sống hình tướng thống nhất này, mỗi con người là một tế bào, và bảy giống dân cấu thành bảy trung tâm chính, với sự phân cực chuyển dịch mãi vào các trung tâm cao hơn, và các trung tâm thấp hơn phai nhạt dần vào sự yên lặng, cho đến khi thời điểm đến khi tất cả bảy trung tâm sẽ được phối hợp và tiếp sinh lực, vào cuối thời đại. Chúng ta có thể đưa ra những gợi ý sau đây ở đây (lưu ý từ này) về mối quan hệ giữa các giống dân và các trung tâm trong cơ thể của nhân loại: [319]

Races

Centre

Expression

Giống dân

Luân xa

Sự Biểu hiện

7th and final rootrace

The head centre

Will. Plan.

Giống dân gốc thứ 7 và cuối cùng

Luân xa Đầu

Ý Chí. Thiên Cơ.

6th rootrace. The next

The centre between the eyebrows

Intuitive integration.

Giống dân gốc thứ 6. Giống dân tiếp theo

Luân xa giữa hai lông mày

Sự tích hợp Trực giác.

5th rootrace. The present

The throat centre

Creative power. Occult.

Giống dân gốc thứ 5. Giống dân hiện tại

Luân xa Cổ họng

Quyền năng Sáng tạo. Huyền bí.

4th and past rootrace

The solar plexus centre

Psychic sensitivity. Mystic.

Giống dân gốc thứ 4 đã qua

Tùng thái dương

Tính nhạy cảm Thông linh. Thần bí.

3rd and first human race

The sacral centre

Physical appearance. Generation.

Giống dân thứ 3 và giống dân nhân loại đầu tiên

Luân xa Xương cùng

Sự Xuất hiện thể xác. Sự Sinh sản.

2nd and etheric race

The heart or vital centre

Life forces coordinated.

Giống dân thứ 2 và giống dân dĩ thái

Luân xa Tim hoặc luân xa sinh lực

Các mãnh lực sự sống được điều phối.

1st race

The base of spine

The Will to be, to exist.

Giống dân thứ 1

Luân xa Đáy cột sống

Ý Chí để trở thành, để tồn tại.

It is with only the last four evolving races that we shall concern ourselves (the first four dealt with in the above tabulation), for the first three races are too far off for any one under the degree of initiate to grasp their mode of development, their type of consciousness, and their procedure towards their goal. The point I seek to emphasize is the necessity of seeing the picture whole, and not in terms of individual man.

Chúng ta sẽ chỉ quan tâm với bốn giống dân đang tiến hóa cuối mà (bốn giống dân đầu tiên được đề cập trong bảng trên), vì ba giống dân đầu tiên quá xa vời đối với bất kỳ ai dưới cấp độ điểm đạo đồ để nắm bắt phương thức phát triển, loại tâm thức, và tiến trình của chúng hướng tới mục tiêu của chúng. Điểm mà tôi muốn nhấn mạnh là sự cần thiết phải nhìn bức tranh toàn cảnh, chứ không phải theo thuật ngữ của con người cá nhân.

It may here be helpful if we note down our tabulation of certain points anent the human kingdom, as we did in connection with the three subhuman kingdoms.

Sẽ hữu ích ở đây nếu chúng ta ghi lại bảng liệt kê của mình về các điểm nhất định liên quan đến giới nhân loại, như chúng ta đã làm liên quan đến ba giới dưới nhân loại.

THE HUMAN KINGDOM

GIỚI NHÂN LOẠI

Influences:

Các ảnh hưởng:

Two rays of divine energy are peculiarly active in bringing this kingdom into manifestation. These are: [320]

Hai cung năng lượng thiêng liêng đặc biệt hoạt động trong việc đưa giới này vào biểu hiện. Đó là: [320]

1. Cung bốn của sự Hài hòa, vẻ đẹp và sự thống nhất, đạt được qua xung đột.

2. The fifth Ray of Concrete Knowledge, or the power to know.

2. Cung năm của Kiến thức Cụ thể, hay quyền năng để biết.

The fourth ray is the ray par excellence which governs humanity. There is a numerical relation to be noted here, for the fourth creative Hierarchy of human monads, the fourth ray, in this fourth round, on the fourth globe, the Earth, are extremely active. It is their close interrelation and interplay which is responsible for the emergence into prominence of humanity. In other rounds, humanity has not been the dominant evolution or the most important. In this round it is. In the next round, the dominant evolution will be that of souls on the astral level, and the deva kingdom. Humanity now walks in the light of day, symbolically speaking, on Earth, and these two rays were responsible for the process of initiating the human evolution in this major cycle. Our objective is the harmonising of the higher and the lower aspects, or principles, both in the individual and in the whole. This involves conflict and struggle, but produces eventually beauty, creative power in art, and synthesis. This result would not have been possible had it not been for the potent work of the fifth Ray of Concrete Knowledge which—in conjunction with the fourth ray—produced that reflection of divinity we call a man.

Cung bốn là cung đặc biệt cai quản nhân loại. Có một mối quan hệ số học cần lưu ý ở đây, vì Huyền Giai sáng tạo thứ tư của các chân thần con người, cung bốn, trong cuộc tuần hoàn thứ tư này, trên bầu hành tinh thứ tư, Trái Đất, cực kỳ hoạt động. Chính mối tương quan và tương tác chặt chẽ của chúng chịu trách nhiệm cho sự xuất hiện nổi bật của nhân loại. Trong các cuộc tuần hoàn khác, nhân loại đã không phải là sự tiến hóa thống trị hay quan trọng nhất. Trong cuộc tuần hoàn này, nó là như vậy. Trong cuộc tuần hoàn tiếp theo, sự tiến hóa thống trị sẽ là của các linh hồn trên cấp độ cảm dục, và giới thiên thần. Nói một cách biểu tượng, nhân loại giờ đây đi trên Trái Đất trong ánh sáng ban ngày, và hai cung này chịu trách nhiệm cho quá trình khởi đầu sự tiến hóa của con người trong chu kỳ lớn này. Mục tiêu của chúng ta là sự hài hòa các phương diện, hay nguyên khí, cao và thấp, cả trong cá nhân và trong tổng thể. Điều này bao gồm xung đột và đấu tranh, nhưng cuối cùng tạo ra vẻ đẹp, sức mạnh sáng tạo trong nghệ thuật, và sự tổng hợp. Kết quả này sẽ không thể có được nếu không có công việc mạnh mẽ của Cung năm của Kiến thức Cụ thể vốn—kết hợp với cung bốn—đã tạo ra phản chiếu của thiên tính mà chúng ta gọi là một con người.

The human entity is a curious synthesis, on the subjective side of his nature, producing a fusion of life, of power, of harmonious intent and of mental activity. The following should be noted, for it is of profound psychological interest and import:

Thực thể con người là một sự tổng hợp kỳ lạ, về phía chủ quan của bản chất y, tạo ra một sự dung hợp của sự sống, của quyền năng, của ý định hài hòa và của hoạt động trí tuệ. Những điều sau đây cần được lưu ý, vì nó có lợi ích và ý nghĩa tâm lý sâu sắc:

Rays I, IV and V

predominate in the life of humanity and govern with increasing power man’s mental life and determine his mental body.

Cung I, IV và V

chiếm ưu thế trong đời sống nhân loại và cai quản với quyền năng ngày càng tăng đối với đời sống trí tuệ của con người và quyết định thể trí của y.

Rays II and VI

govern potently his emotional life and determine the type of his astral body.

Cung II và VI

cai quản mạnh mẽ đời sống cảm xúc của y và quyết định loại thể cảm dục của y.

Rays III and VII

govern the vital physical life and the physical body.

Cung III và VII

cai quản đời sống sinh lực vật lý và thể xác.

[321]

Here you have, if you note carefully, a summation of the rays which govern and differentiate the life of the personality forms, and therefore bring in other factors which psychologists will have to consider as time goes on. You will see therefore that:

Ở đây, nếu các bạn lưu ý kỹ, các bạn có một sự tóm tắt các cung cai quản và phân biệt đời sống của các hình tướng phàm ngã, và do đó mang vào các yếu tố khác mà các nhà tâm lý học sẽ phải xem xét khi thời gian trôi qua. Do đó, các bạn sẽ thấy rằng:

1. The human soul or ego is found on one or other of the seven rays, in one or other of the seven ray groups.

1. Linh hồn con người hay chân ngã được tìm thấy trên một trong bảy cung, trong một trong bảy nhóm cung.

2. The mind nature and mental body are governed by the Rays of Purpose, of Harmony or Synthesis, and of Knowledge.

2. Bản chất tâm trí và thể trí được cai quản bởi các Cung của Mục đích, của Hài hòa hay Tổng hợp, và của Kiến thức.

3. The emotional nature and form are governed by the Rays of Love, Wisdom and of idealistic Devotion.

3. Bản chất cảm xúc và hình tướng được cai quản bởi các Cung của Tình thương, Minh triết và của sự Tận tụy lý tưởng hóa.

4. The vital life and physical body are governed by the Rays of Intelligence in matter and of Organising Power.

4. Sự sống sinh lực và thể xác được cai quản bởi các Cung của Trí tuệ trong vật chất và của Quyền năng Tổ chức.

But in the midst of this complexity of rays and forces, the third and fifth rays hold paramount place, and govern the major cycles of the individual. He is controlled not only by his own ray cycles (determined by his egoic ray) and by the lesser cycles of the personality, but he comes also under the influence of the major and minor cycles in the ray life of humanity as a whole.

Nhưng ở giữa sự phức tạp này của các cung và các lực, cung ba và cung năm giữ vị trí tối cao, và cai quản các chu kỳ chính của cá nhân. Y được kiểm soát không chỉ bởi các chu kỳ cung của chính mình (được xác định bởi cung chân ngã của y) và bởi các chu kỳ nhỏ hơn của phàm ngã, mà y còn chịu ảnh hưởng của các chu kỳ chính và phụ trong đời sống cung của nhân loại như một tổng thể.

Results:

Kết quả:

Through the active work of the two rays above discussed, we find the fourth ray producing eventually in man the appearance of the intuition. The fifth ray is responsible for the development in him of the intellect. Here again we find appearing in man his great gift of synthesis and his prerogative [322] of unification, for—as earlier said—he blends in himself the qualities of three kingdoms in nature, including the one before and the one after his own.

Thông qua công việc tích cực của hai cung được thảo luận ở trên, chúng ta thấy cung bốn cuối cùng tạo ra trong con người sự xuất hiện của trực giác. Cung năm chịu trách nhiệm cho sự phát triển trong y của trí năng. Một lần nữa ở đây chúng ta thấy xuất hiện trong con người món quà tuyệt vời của sự tổng hợp và đặc quyền [322] thống nhất của y, vì—như đã nói trước đó—y hòa trộn trong chính mình các phẩm tính của ba giới trong tự nhiên, bao gồm giới trước và giới sau giới của chính y.

1. The kingdom of souls

Intuition.

Giới linh hồn

Trực giác.

2. The human kingdom

Intellect.

Giới nhân loại

Trí tuệ.

3. The animal kingdom

Instinct.

Giới động vật

Bản năng.

Hence his problem, and hence his glory. We might also say that through the union of the positive intuition and the negative instinct the intellect is born, for man repeats in himself the great creative process as enacted in the universe. This is the inner creative side of consciousness, just as we have the outer creative side in the creation of forms.

Do đó, đó là vấn đề của y và vinh quang của y. Chúng ta cũng có thể nói rằng thông qua sự kết hợp của trực giác tích cực (dương) và bản năng tiêu cực (âm), trí năng được sinh ra, vì con người lặp lại trong chính mình quá trình sáng tạo vĩ đại như được diễn ra trong vũ trụ. Đây là mặt sáng tạo bên trong của tâm thức, cũng như chúng ta có mặt sáng tạo bên ngoài trong việc tạo ra các hình tướng.

Process:

Tiến trình:

In the human family, owing to the presence within the human physical form of a thinking entity, called by us the Soul, the procedure followed in order to produce conscious control is that of adaptation. All forms in the three lower subhuman kingdoms are also subjected to the process of adaptation, but that is a group adaptation to environment, whereas in humanity we have the adaptation of the individual to his environment. The person who works consciously and intelligently at adapting himself to that situation and those conditions in which he finds himself is relatively rare. Conscious adapting of oneself to circumstances is the result of evolutionary development. The stages by which man arrives at this capacity may be enumerated as follows:

Trong gia đình nhân loại, do sự hiện diện bên trong hình tướng vật chất con người của một thực thể tư duy, được chúng ta gọi là Linh hồn, tiến trình được tuân theo để tạo ra sự kiểm soát có ý thức là sự thích nghi. Tất cả các hình tướng trong ba giới thấp hơn con người cũng chịu tác động của quá trình thích nghi, nhưng đó là sự thích nghi của nhóm với môi trường, trong khi ở nhân loại, chúng ta có sự thích nghi của cá nhân với môi trường của y. Những người làm việc một cách tỉnh thức và thông minh để thích nghi bản thân mình với hoàn cảnh và những điều kiện mà y thấy mình đang ở trong đó tương đối hiếm. Sự thích nghi một cách tỉnh thức của bản thân với các hoàn cảnh là kết quả của sự phát triển tiến hóa. Các giai đoạn mà qua đó con người đạt được năng lực này có thể được liệt kê như sau:

1. That unconscious adaptation to his environment of the man who is primarily an unintelligent animal. Low grade savages are in this class, and many purely agricultural peasants who have not been subjected to modern education. The man at this stage is little better than an animal and is governed entirely by instinct. [323]

1. Sự thích nghi vô thức với môi trường của một người chủ yếu là một con vật không thông minh. Những người man dã cấp thấp thuộc lớp này, và nhiều nông dân thuần túy làm nông nghiệp chưa được tiếp xúc với giáo dục hiện đại. Con người ở giai đoạn này không hơn con vật là mấy và được cai quản hoàn toàn bởi bản năng. [323]

2. An unconscious adaptation to environment carried on by the man who is beginning to evidence some faint flickers of mental perception. This is partly instinctual and is based on a growing self-love. There is more of the “I” consciousness in him, and rather less of group instinctual awareness. You find this growing self-realisation in the low grade slum dwellers, for instance, and in the petty criminal who is instinctual enough and bright enough to live by his wits and to show quickness in reactions and deftness manually. It is the stage of animal cunning.

2. Một sự thích nghi vô thức với môi trường được thực hiện bởi người đang bắt đầu thể hiện một vài tia sáng mờ nhạt của nhận thức trí tuệ. Điều này một phần là bản năng và dựa trên một sự tự yêu bản thân đang phát triển. Có nhiều ý thức về cái “Tôi” trong y hơn, và ít nhận thức bản năng nhóm hơn một chút. Các bạn tìm thấy sự tự nhận thức đang phát triển này chẳng hạn ở những cư dân khu ổ chuột cấp thấp, và ở tên tội phạm vặt đủ bản năng và đủ sáng dạ để sống bằng trí khôn của mình và thể hiện sự nhanh nhạy trong phản ứng và sự khéo léo chân tay. Đó là giai đoạn của sự ma mãnh của loài vật.

3. A conscious and purely selfish adapting of oneself to the environment. In these cases, the man is definitely aware of his motives; they are consciously thought out and recognised, and the man makes “the best of his circumstances”. He forces himself to live as far as possible harmoniously in his surroundings. In this there is really good motive, but principally the man is governed by a desire for comfort—physical, emotional and mental—to such a degree that he will discipline himself into such a condition that he fits wherever he may be and can get on with anyone.

3. Một sự thích nghi bản thân một cách có ý thức và hoàn toàn ích kỷ với môi trường. Trong những trường hợp này, con người nhận thức rõ ràng về động cơ của mình; chúng được suy nghĩ và nhận ra một cách có ý thức, và con người tận dụng “tốt nhất hoàn cảnh của mình”. Y buộc mình phải sống càng hài hòa càng tốt trong môi trường xung quanh. Trong điều này thực sự có động cơ tốt, nhưng chủ yếu con người được cai quản bởi một mong muốn thoải mái—về thể chất, cảm xúc và tinh thần—đến mức y sẽ kỷ luật bản thân vào một điều kiện như vậy để y phù hợp bất cứ nơi nào y có thể ở và có thể hòa hợp với bất kỳ ai.

4. From this stage on the differentiations become so numerous that they are difficult to follow, being mixtures of pure selfishness (developed often to the nth degree), of a growing recognition of the group, of an awakening realisation of the right of other people to a similar degree of comfort and harmony, and of a steady effort to adapt conditions of character and personality life, so that the purely selfish interests do no real damage to others, until we arrive at…

4. Từ giai đoạn này trở đi, các biến phân trở nên nhiều đến mức chúng khó theo dõi, là những hỗn hợp của sự ích kỷ thuần túy (thường phát triển đến cấp độ n), của một sự nhận biết ngày càng tăng về nhóm, của một sự nhận thức đang thức tỉnh về quyền của người khác đối với một mức độ thoải mái và hài hòa tương tự, và của một nỗ lực đều đặn để thích nghi các điều kiện của tính cách và đời sống phàm ngã, sao cho các lợi ích thuần túy ích kỷ không gây ra thiệt hại thực sự nào cho người khác, cho đến khi chúng ta đến…

5. The average really good man who is struggling to adapt himself to his surroundings, to his group relations and responsibilities in such a way that some measure of love [324] can be seen. I refer not here to that instinctual love for family and children and herd which men share in common with the animals and which often breaks down when the loved individuals assert themselves. The tie is not strong enough to hold, and the motive is too selfish to resist the pull. I refer to that motivated love which recognises the rights of others and consciously strives to adapt itself to those recognised rights whilst tenaciously holding on to the rights of the personality.

5. Người thực sự tốt trung bình đang đấu tranh để thích nghi bản thân với môi trường xung quanh, với các quan hệ và trách nhiệm nhóm của mình theo cách mà một mức độ tình thương nào đó [324] có thể được nhìn thấy. Tôi không đề cập ở đây đến tình yêu bản năng đối với gia đình và con cái và bầy đàn mà con người chia sẻ chung với các loài vật, và thường tan vỡ khi các cá nhân được yêu thương khẳng định chính họ. Mối ràng buộc không đủ mạnh để giữ, và động cơ quá ích kỷ để chống lại sức kéo. Tôi đề cập đến tình thương có động cơ vốn công nhận quyền của người khác và cố gắng một cách có ý thức để thích nghi bản thân với những quyền được công nhận đó trong khi vẫn kiên quyết giữ lấy quyền của phàm ngã.

6. Then we have the work of adaptation as carried on by the aspirants of the world who are theoretically convinced of their group relation, of its paramount importance, and of the need of every personality to develop its powers to the fullest capacity in order to bring real value to the group and to serve adequately the group need. In true esotericism, there is no such motive as “killing the personality”, or of disciplining it to such an extent that it becomes a dead poor thing. The true motive is to train the threefold lower nature, the integrated personality, to the highest demonstration of its powers, latent or developing, in order that those powers may be brought to the helping of the group need, and the personality of the aspirant may be integrated into the group. Thereby the group life is enriched, the group potency is increased, and the group consciousness is enhanced.

6. Tiếp đến, chúng ta có công việc thích nghi được thực hiện bởi những người chí nguyện của thế giới, những người về mặt lý thuyết đã tin chắc vào mối quan hệ nhóm của họ, vào tầm quan trọng tối thượng của nó, và vào nhu cầu của mỗi phàm ngã phải phát triển các quyền năng của mình đến mức tối đa để mang lại giá trị thực sự cho nhóm và để phụng sự thỏa đáng nhu cầu của nhóm. Trong huyền bí học chân chính, không có động cơ nào gọi là “giết chết phàm ngã”, hoặc kỷ luật nó đến mức nó trở thành một thứ nghèo nàn chết chóc. Động cơ thực sự là rèn luyện bản chất thấp tam phân, tức phàm ngã tích hợp, đến mức biểu lộ cao nhất các quyền năng của nó, dù tiềm tàng hay đang phát triển, để những quyền năng đó có thể được đưa vào việc giúp đỡ nhu cầu của nhóm, và phàm ngã của người chí nguyện có thể được tích hợp vào nhóm. Nhờ đó, đời sống nhóm được làm giàu thêm, tiềm lực nhóm được gia tăng, và tâm thức nhóm được nâng cao.

What is therefore to be seen going on in the life of the true aspirant today (his developing recognition of group responsibility) can also be seen going on in groups, in organisations and nations. Hence the many experiments. A process is going forward whereby these groups, large or small, are being subjected to a housecleaning, to a discarding of the rubbish of old and worn-out ideas, and to a period of disciplining and training [325] which must precede all real group life. When this process is over, we shall have these groups approaching each other in a new and real spirit of cooperation, of religious fusion, and in an international attitude which will be new indeed. Then they will have something of a surer and greater value to offer to the whole. Within all these groups which are struggling towards this newer realisation and integration, and which express what we might call “the sixth stage of adaptation,”, are those who are already at the seventh stage.

Do đó, những gì được thấy đang diễn ra trong cuộc đời của người chí nguyện chân chính ngày nay (sự nhận biết ngày càng tăng của y về trách nhiệm nhóm) cũng có thể được thấy đang diễn ra trong các nhóm, trong các tổ chức và các quốc gia. Vì thế mà có nhiều cuộc thử nghiệm. Một tiến trình đang diễn ra nhờ đó các nhóm này, lớn hay nhỏ, đang phải chịu một cuộc dọn dẹp nhà cửa, loại bỏ những rác rưởi của các ý tưởng cũ kỹ và lỗi thời, và trải qua một thời kỳ kỷ luật và rèn luyện [325] vốn phải đi trước mọi đời sống nhóm thực sự. Khi tiến trình này kết thúc, chúng ta sẽ có các nhóm đến gần với nhau trong một tinh thần hợp tác mới mẻ và thực sự, của sự dung hợp tôn giáo, và trong một thái độ quốc tế thực sự mới. Khi đó, họ sẽ có một cái gì đó có giá trị chắc chắn hơn và lớn lao hơn để hiến dâng cho cái toàn thể. Bên trong tất cả các nhóm này đang đấu tranh hướng tới sự chứng nghiệm và tích hợp mới hơn này, và biểu lộ những gì chúng ta có thể gọi là “giai đoạn thích nghi thứ sáu”, là những người đã ở vào giai đoạn thứ bảy.

7. Here we have complete unselfish adaptation to the group need and purpose. Those who have reached this point in their evolution are decentralised as regards their own personality life. The focus of their mental attention is in the soul and in the world of souls. Their attention is not directed towards the personality at all, except in so far as is needed to force it to adhere to group or soul purpose. These servers who are expressions of soul radiance and attractive power are knowers of the Plan, and in every organisation they constitute the new and slowly growing group of World Servers. In their hands lies the salvation of the world.

7. Ở đây chúng ta có sự thích nghi hoàn toàn vô vị kỷ đối với nhu cầu và mục đích của nhóm. Những người đã đạt đến điểm này trong quá trình tiến hóa của họ thì phi tập trung vào bản thân đối với đời sống phàm ngã của riêng họ. Trọng tâm sự chú ý trí tuệ của họ nằm ở linh hồn và trong thế giới của các linh hồn. Sự chú ý của họ hoàn toàn không hướng về phàm ngã, ngoại trừ trong chừng mực cần thiết để buộc nó tuân thủ mục đích của nhóm hoặc linh hồn. Những người phụng sự này, vốn là những biểu hiện của sự tỏa sáng linh hồn và quyền năng thu hút, là những thức giả của Thiên Cơ, và trong mọi tổ chức, họ cấu thành nhóm mới, đang phát triển chậm chạp, gồm Những Người Phụng Sự Thế Gian. Sự cứu rỗi của thế giới nằm trong tay họ.

8. The final group in this scale of adaptation is that of the higher initiates, the perfected Elder Brethren and Great Companions. They are perfectly adapted to Their personalities, to each other and to world conditions; but as a group They are learning how to adapt the forces of nature, the energies of the rays and the potencies of the zodiacal signs to the world need and the world demand in a practical manner and at any particular time. It is here that the work of the disciples of the world, and of the higher types of aspirants, proves helpful [326] as a field of experiment, and it is in the new group of World Servers that the process of adaptation goes on.

8. Nhóm cuối cùng trong thang bậc thích nghi này là nhóm của các điểm đạo đồ cao cấp, các Huynh Trưởng và Các Bạn Đồng Hành Vĩ Đại đã hoàn thiện. Các Ngài thích nghi hoàn hảo với phàm ngã của Các Ngài, với nhau và với các điều kiện thế giới; nhưng với tư cách là một nhóm, Các Ngài đang học cách thích nghi các mãnh lực của thiên nhiên, các năng lượng của các cung và các tiềm lực của các dấu hiệu hoàng đạo với nhu cầu thế giới và đòi hỏi của thế giới theo một cách thức thực tế và vào bất kỳ thời điểm cụ thể nào. Chính tại đây, công việc của các đệ tử của thế giới, và của các loại hình người chí nguyện cao cấp, tỏ ra hữu ích [326] như một trường thử nghiệm, và chính trong nhóm mới của Những Người Phụng Sự Thế Gian mà tiến trình thích nghi đang diễn ra.

I have endeavoured to outline these stages of the process of adaptation in terms of consciousness, viewing the subject therefore philosophically and psychologically. It should be remembered that this process, as it goes on in consciousness, produces (surely and inevitably) corresponding changes in mechanism and structure, and in sense perception through the apparatus of the body. On these changes I lay no emphasis in this treatise, for they are beautifully dealt with by modern science, which is steadily forging ahead in the right direction. I lay the emphasis upon consciousness as the pre-disposing factor, and on the developed sense of awareness which produces an inner demand for improved equipment. The improving of equipment as a result of the demand of consciousness is the secret of the evolutionary impulse, down the ages. This inner demand in man awakens the centres, and the awakening of the centres determines the response of the endocrine system, governs the nervous system in its threefold capacity, and also the blood stream. Thus the outer form or mechanism is ever an indication of the point of evolution of the inner subjective and spiritual man.

Tôi đã nỗ lực phác thảo các giai đoạn này của tiến trình thích nghi theo khía cạnh tâm thức, do đó xem xét chủ đề này về mặt triết học và tâm lý học. Cần nhớ rằng tiến trình này, khi nó diễn ra trong tâm thức, tạo ra (chắc chắn và không thể tránh khỏi) những thay đổi tương ứng trong cơ chế và cấu trúc, và trong nhận thức giác quan thông qua bộ máy của cơ thể. Tôi không nhấn mạnh vào những thay đổi này trong luận thuyết này, vì chúng đã được khoa học hiện đại đề cập một cách tuyệt vời, một nền khoa học đang vững bước tiến lên theo đúng hướng. Tôi đặt trọng tâm vào tâm thức như là yếu tố tiền định, và vào ý thức đã phát triển vốn tạo ra một nhu cầu bên trong về sự cải thiện thiết bị. Việc cải thiện thiết bị như là kết quả của nhu cầu của tâm thức là bí quyết của xung lực tiến hóa, trải qua các thời đại. Nhu cầu bên trong này ở con người đánh thức các luân xa, và sự thức tỉnh của các luân xa quyết định sự đáp ứng của hệ thống nội tiết, chi phối hệ thống thần kinh trong khả năng tam phân của nó, và cả dòng máu nữa. Vì vậy, hình tướng bên ngoài hay cơ chế luôn là một chỉ báo về điểm tiến hóa của con người chủ quan và tinh thần bên trong.

The Secret:

Bí Mật:

This is called, in esotericism, “the secret of translation”. I might bring the general concept underlying those words down to the intelligence of the average student by telling him that when a man really understands the elevating power of the aspiration, he can begin to work with the secret of translation. Students must lose sight of the foolish and erroneous idea that aspiration is really an emotional attitude. It is not. It is a scientific process, governing evolution itself. [327] When given free scope and duly followed, it is the mode par excellence whereby the matter aspect, or the whole personality, is “raised up into heaven”. The effect of continued aspiration, when followed by right action, is to bring about three things:

Trong huyền bí học, điều này được gọi là “bí mật chuyển dịch”. Tôi có thể đưa khái niệm tổng quát nằm dưới những từ ngữ đó xuống tầm hiểu biết của người đạo sinh trung bình bằng cách nói với y rằng khi một người thực sự thấu hiểu quyền năng nâng cao của khát vọng, y có thể bắt đầu làm việc với bí mật chuyển dịch. Các đạo sinh phải loại bỏ ý tưởng ngây ngô và sai lầm cho rằng khát vọng thực sự là một thái độ cảm xúc. Nó không phải vậy. Nó là một tiến trình khoa học, chi phối chính sự tiến hóa. [327] Khi được trao cho không gian tự do và được tuân theo đúng cách, nó là phương thức tuyệt vời nhờ đó phương diện vật chất, hay toàn bộ phàm ngã, được “nâng lên thiên đàng”. Tác dụng của khát vọng liên tục, khi được theo sau bởi hành động đúng đắn, mang lại ba điều:

1. A stimulation of the higher atoms of the three bodies.

1. Một sự kích thích các nguyên tử cao hơn của ba thể.

2. The discarding, as a result of this stimulation, of those atomic substances which (when present) occultly hold the aspirant down to earth.

2. Sự loại bỏ, như là kết quả của sự kích thích này, những chất liệu nguyên tử (khi hiện diện) vốn giữ người chí nguyện bám chặt xuống trần gian theo cách huyền bí.

3. The increasing of the magnetic attractive power of the higher atoms, which draw to themselves atoms of high vibration to take the place of those of low vibration. One point I should like to make here, in order to correct an almost universal wrong mental attitude. Right atoms of high vibration are attracted into a man’s body or bodies by the power of the united attraction of the atoms already present, and not primarily by the will of the soul, except in so far as that will acts upon the high grade atoms already present and responsive.

3. Sự gia tăng quyền năng thu hút từ tính của các nguyên tử cao hơn, vốn thu hút về phía chúng những nguyên tử có rung động cao để thế chỗ cho những nguyên tử có rung động thấp. Có một điểm tôi muốn nêu ra ở đây, để sửa chữa một thái độ trí tuệ sai lầm gần như phổ biến. Các nguyên tử đúng đắn có rung động cao được thu hút vào cơ thể hay các thể của một người bởi quyền năng của sự thu hút hợp nhất của các nguyên tử đã hiện diện, chứ không phải chủ yếu bởi ý chí của linh hồn, ngoại trừ trong chừng mực ý chí đó tác động lên các nguyên tử cấp cao đã hiện diện và có sự đáp ứng.

Aspiration is an activity of an occult and scientific nature, and is instinctual in substance itself. This point needs emphasis when instructing groups.

Khát vọng là một hoạt động có bản chất huyền bí và khoa học, và có tính bản năng trong chính chất liệu. Điểm này cần được nhấn mạnh khi hướng dẫn các nhóm.

It is an interesting side-light thrown upon the phenomena of aspiration that the power to levitate the body, which is so oft today the subject of psychic interest and research, is dependent upon having produced a peculiar alignment of the personality through aspiration and an act of the will. It presupposes in the three bodies a certain percentage of atoms of the adequate vibrations and lightness.

Có một khía cạnh phụ thú vị soi sáng các hiện tượng của khát vọng, là năng lực làm cho cơ thể bay lên (khinh thân)—mà ngày nay thường là chủ đề để quan tâm và nghiên cứu thông linh—phụ thuộc vào việc đã tạo ra một sự chỉnh hợp đặc biệt của phàm ngã thông qua khát vọng và một hành động của ý chí. Nó giả định trong ba thể có một tỷ lệ nhất định các nguyên tử có rung động và độ nhẹ thích hợp.

This secret of translation is the underlying cause of the caste system, and caste is a symbol of translation. In the last analysis, souls pass from caste to caste as they “translate” [328] their bodies. The clue to the translation is to be found in the fact that no act of translation ever involves one body alone, and no “passing on and up” into another dimension, into another state of consciousness and another “caste,” ever takes place unless an alignment has been produced between (for instance):

Bí mật chuyển dịch này là nguyên nhân cơ bản của hệ thống đẳng cấp, và đẳng cấp là một biểu tượng của sự chuyển dịch. Trong phân tích cuối cùng, các linh hồn chuyển từ đẳng cấp này sang đẳng cấp khác khi họ “chuyển dịch” [328] các thể của họ. Manh mối cho sự chuyển dịch được tìm thấy trong thực tế là không có hành động chuyển dịch nào liên quan đến một thể duy nhất, và không có sự “chuyển tiếp và đi lên” vào một chiều đo khác, vào một trạng thái tâm thức khác và một “đẳng cấp” khác, lại diễn ra trừ khi một sự chỉnh hợp đã được tạo ra giữa (chẳng hạn):

a. The physical body and the emotional body.

a. Thể xác và thể cảm dục.

b. These two and the mental body.

b. Hai thể này và thể trí.

c. These three and the soul.

c. Ba thể này và linh hồn.

d. These four and the group of World Servers.

d. Bốn yếu tố này và nhóm Những Người Phụng Sự Thế Gian.

In these four alignments we have the esoteric parallels of which the outer caste system is the prostituted symbol. Ponder on this, for the caste system is universal in the world. It is when the third alignment has been truly accomplished and when the light of the fourth constituent to the relationship dominates the inherent light of the other three, that the objective of man’s evolution is reached. This brings us to the point next to be considered.

Trong bốn sự chỉnh hợp này, chúng ta có những sự tương đương nội môn mà hệ thống đẳng cấp bên ngoài là biểu tượng bị lạm dụng. Hãy suy ngẫm về điều này, vì hệ thống đẳng cấp là phổ quát trên thế giới. Chính khi sự chỉnh hợp thứ ba đã thực sự hoàn thành và khi ánh sáng của thành phần thứ tư trong mối quan hệ chi phối ánh sáng vốn có của ba thành phần kia, thì mục tiêu tiến hóa của con người mới đạt được. Điều này đưa chúng ta đến điểm tiếp theo cần xem xét.

Purpose:

Mục Đích:

This purpose is the Transfiguration. This is the esoteric goal set before humanity. This was the tremendous event which was enacted before humanity by the greatest of all the sons of God in His Own Body, Whom I and all true disciples regard as the Master of all the Masters, the Christ. What shall I say about this culminating event for which the entire personality of man waits? This third great initiation marks a crisis in the initiatory work, and produces a further synthesis experienced in the life of the spiritual man. Up to the third initiation, man has been occupied with the process of fusing soul and body into one unity. After the third initiation (and owing to an event which takes place) man is [329] oriented towards, and becomes occupied with, a further fusion in consciousness, that of spirit-soul-body. I speak of a fusion in consciousness. The unity is ever there, and man in evolution is really becoming aware of that which already exists.

Mục đích này là Sự Biến Hình. Đây là mục tiêu nội môn được đặt ra trước nhân loại. Đây là sự kiện to lớn đã được diễn ra trước nhân loại bởi người con vĩ đại nhất trong tất cả các con của Thượng đế trong Chính Cơ Thể Ngài, Đấng mà tôi và tất cả các đệ tử chân chính đều coi là Chân sư của tất cả các Chân sư, Đức Christ. Tôi sẽ nói gì về sự kiện tột đỉnh này mà toàn bộ phàm ngã của con người đang chờ đợi? Cuộc đại điểm đạo thứ ba này đánh dấu một cuộc khủng hoảng trong công việc điểm đạo, và tạo ra một sự tổng hợp sâu xa hơn được trải nghiệm trong đời sống của con người tinh thần. Cho đến lần điểm đạo thứ ba, con người đã bận rộn với tiến trình dung hợp linh hồn và cơ thể thành một thể thống nhất. Sau lần điểm đạo thứ ba (và do một sự kiện diễn ra) con người [329] được định hướng về, và trở nên bận rộn với, một sự dung hợp xa hơn trong tâm thức, đó là sự dung hợp tinh thần-linh hồn-thể xác. Tôi nói về một sự dung hợp trong tâm thức. Sự thống nhất luôn ở đó, và con người trong quá trình tiến hóa thực sự đang trở nên nhận biết về cái vốn đã tồn tại.

Divisions:

Các Phân Chia:

These are five in number from the standpoint of this treatise on esotericism. They can here be only briefly indicated, as elucidation of them would involve too much.

Có năm phân chia từ quan điểm của luận thuyết này về huyền bí học. Ở đây chúng chỉ có thể được chỉ ra một cách vắn tắt, vì việc làm sáng tỏ chúng sẽ liên quan đến quá nhiều vấn đề.

1. The racial divisions. These can be considered in two ways:

1. Các phân chia chủng tộc. Những phân chia này có thể được xem xét theo hai cách:

a. From the standpoint of modern esoteric science.

a. Từ quan điểm của khoa học nội môn hiện đại.

b. From the standpoint of The Secret Doctrine, with its septenary divisions of mankind and its forty-nine subdivisions.

b. Từ quan điểm của Giáo Lý Bí Nhiệm, với các phân chia thất phân của nhân loại và bốn mươi chín phân chia phụ của nó.

2. The division of humanity into seven main ray types, which might be enumerated as follows:

2. Sự phân chia nhân loại thành bảy loại hình cung chính, có thể được liệt kê như sau:

full of will and governing capacity.

Loại quyền năng

đầy ý chí và khả năng cai quản.

b. The love type

full of love and fusing power.

Loại tình thương/bác ái

đầy tình thương/bác ái và quyền năng dung hợp.

c. The active type

full of action, and manipulating energy.

Loại hoạt động

đầy hoạt động, và năng lượng thao túng.

d. The artistic type

full of the sense of beauty and creative aspiration.

Loại nghệ thuật

đầy cảm nhận về vẻ đẹp và khát vọng sáng tạo.

e. The scientific type

full of the idea of cause and results. The mathematical type.

Loại khoa học

đầy ý tưởng về nguyên nhân và kết quả. Loại toán học.

f. The devotee type

full of idealism.

Loại sùng kính

đầy chủ nghĩa lý tưởng.

g. The business type

full of organising power. Given to ritualistic ceremony.

Loại kinh doanh

đầy quyền năng tổ chức. Thích các nghi lễ.

3. The twelve astrological groups. These we shall consider in dealing with The Rays and the Zodiac, and so shall not touch upon them here.

3. Mười hai nhóm chiêm tinh. Những nhóm này chúng ta sẽ xem xét khi đề cập đến Các Cung và Hoàng Đạo, và vì vậy sẽ không đả động đến chúng ở đây.

4. The division of human beings into three esoteric groups:

4. Sự phân chia con người thành ba nhóm nội môn:

a. Those unawakened to the “I” consciousness.

a. Những người chưa thức tỉnh đối với “Ngã” thức.

These are called esotericaliy “the darkened sparks.” [330]

Những người này được gọi trong nội môn là “những tia lửa tối tăm.” [330]

b. Those awakened to the condition of individuality.

b. Những người đã thức tỉnh đối với tình trạng của cá tính.

These are called “the flickering lights.”

Những người này được gọi là “những ngọn đèn chập chờn.”

c. Those awakened to the knowledge of the soul.

c. Những người đã thức tỉnh đối với tri thức về linh hồn.

These are called “the radiant sons of light.”

Những người này được gọi là “những người con rạng ngời của ánh sáng.”

5. The division of humanity into three types of aspirants:

5. Sự phân chia nhân loại thành ba loại hình người chí nguyện:

a. Those watched from a distance by the guiding Hierarchy.

a. Những người được Thánh Đoàn hướng dẫn theo dõi từ xa.

b. Those awakened by and attracted to the Hierarchy.

b. Những người được đánh thức bởi và bị thu hút về phía Thánh Đoàn.

c. Those who, from the angle of the personality, belong to the world of forces, but are awakened souls whose consciousness is being integrated into, that of the Hierarchy. These are the new group of World Servers.

c. Những người mà từ góc độ của phàm ngã thuộc về thế giới của các mãnh lực, nhưng là những linh hồn đã thức tỉnh mà tâm thức của họ đang được tích hợp vào tâm thức của Thánh Đoàn. Đây là nhóm Những Người Phụng Sự Thế Gian mới.

To these three last groups the Hierarchy Itself may well be added.

Bản thân Thánh Đoàn cũng có thể được thêm vào ba nhóm cuối cùng này.

The table as a whole shows the main divisions into which esoteric psychology divides humanity, and if you study it with care you will note how all-inclusive it is. I commend it to modern psychologists for study.

Bảng này về tổng thể cho thấy những phân chia chính mà tâm lý học nội môn phân chia nhân loại, và nếu các bạn nghiên cứu nó cẩn thận, các bạn sẽ nhận thấy nó bao hàm toàn diện như thế nào. Tôi giới thiệu nó cho các nhà tâm lý học hiện đại để nghiên cứu.

Objective Agency:

Tác Nhân Khách Quan:

In the case of the human being, in whom the senses (slowly developed in the lower kingdoms) are already functioning, the outer agency whereby he grows is the world of experience, the tangible physical plane world. There he dwells in the flesh, and it is for him an adequate field of unfoldment; in the process of developing group consciousness he finds that multiplicity of contacts which is needed to awaken his response to his environment. This environment itself is part of the life and expression of Deity, and through its means he arrives at a knowledge of some aspects of God’s manifestation. Using the five senses, and working with earth, air, fire [331] and water, he thereby gathers to himself all that is available for his use, and works in, and with, and through the outer world of daily living.

Trong trường hợp của con người, nơi mà các giác quan (được phát triển chậm chạp trong các giới thấp hơn) đã hoạt động, tác nhân bên ngoài mà nhờ đó y phát triển là thế giới của kinh nghiệm, thế giới cõi hồng trần hữu hình. Ở đó y cư trú trong xác thịt, và đối với y đó là một trường mở mang thỏa đáng; trong quá trình phát triển tâm thức nhóm, y tìm thấy sự đa dạng của các tiếp xúc vốn cần thiết để đánh thức sự đáp ứng của y đối với môi trường của mình. Bản thân môi trường này là một phần của sự sống và biểu hiện của Thượng đế, và thông qua các phương tiện của nó, y đạt tới kiến thức về một số phương diện trong sự biểu lộ của Thượng đế. Sử dụng năm giác quan, và làm việc với đất, khí, lửa [331] và nước, y nhờ đó thu thập cho mình tất cả những gì có sẵn để sử dụng, và làm việc trong, với, và thông qua thế giới bên ngoài của cuộc sống hàng ngày.

Subjective Agency:

Tác Nhân Chủ Quan:

Here we find the mind being employed as an organ of sense, as a synthetic or common sense, and as an instrument of discovery by means of which a man unfolds the truly human consciousness. Through the use of the mind, he learns to protect himself, to guard his interests, and to preserve his identity. Through the use of the mind, he begins to discriminate and to cultivate slowly a sense of values which enables him eventually to lay the emphasis upon the ideal and the spiritual, and not upon the material and the physical.

Ở đây chúng ta thấy trí tuệ được sử dụng như một cơ quan của giác quan, như một giác quan tổng hợp hay thông thường, và như một công cụ khám phá nhờ đó con người mở mang tâm thức thực sự của con người. Thông qua việc sử dụng trí tuệ, y học cách bảo vệ bản thân, bảo vệ lợi ích của mình, và giữ gìn bản sắc của mình. Thông qua việc sử dụng trí tuệ, y bắt đầu phân biện và vun bồi chậm chạp một ý thức về các giá trị, điều cho phép y cuối cùng đặt trọng tâm vào cái lý tưởng và cái tinh thần, chứ không phải vào cái vật chất và cái hồng trần.

Quality:

Phẩm Tính:

This quality is the development of sattva or rhythm within the human kingdom. This is really harmonious response to vibration, and leads to the integration of the unit in the whole and to the production of that “understanding” which will enable the man to eliminate all barriers in his consciousness, and to render (simply and naturally) a rhythmic and complete response to all conditions and states of awareness. Let it ever be remembered that the secret of the quality of humanity (if I may use so cumbrous a phrase) is the power to identify the human consciousness with all other forms of consciousness and of awareness, with all forms of unconscious and instinctual response, and with all forms of the superconscious or divine sense of being. This can ultimately be done at will.

Phẩm tính này là sự phát triển của sattva hay nhịp điệu bên trong giới nhân loại. Đây thực sự là sự đáp ứng hài hòa với rung động, và dẫn đến sự tích hợp của đơn vị vào cái toàn thể và đến việc tạo ra sự “thấu hiểu” vốn sẽ cho phép con người loại bỏ mọi rào cản trong tâm thức của mình, và đưa ra (một cách đơn giản và tự nhiên) một sự đáp ứng nhịp nhàng và trọn vẹn đối với mọi điều kiện và trạng thái ý thức. Cần luôn nhớ rằng bí quyết về phẩm tính của nhân loại (nếu tôi có thể sử dụng một cụm từ cồng kềnh như vậy) là năng lực đồng nhất tâm thức con người với tất cả các hình thức tâm thức và ý thức khác, với tất cả các hình thức đáp ứng vô thức và bản năng, và với tất cả các hình thức của ý thức siêu thức hay thiêng liêng về sự hiện tồn. Điều này cuối cùng có thể được thực hiện theo ý muốn.

We must now begin what really constitutes an outline of the new psychology This will work out to its fulfillment [332] and true usefulness in the Aquarian age. It will then become the basic and fundamental science of that age, just as electrical science (the electricity of matter) is the basic achievement of the Piscean age. What we are really going to consider are the influences which make a man what he is, and which determine the quality of his appearance. This appearance must be studied in terms of the entire integrated personality, and not just from the outer and objective physical condition. The influences which determine him are his own personal and soul rays which play upon him and affect his consciousness, finding entrance into his form equipment through the energy units of which that form is made. Other determining influences are also the solar, cosmic and environing factors which likewise play upon him.

Bây giờ chúng ta phải bắt đầu cái thực sự cấu thành nên một phác thảo của nền tâm lý học mới. Điều này sẽ diễn ra để đạt tới sự hoàn thành [332] và sự hữu ích thực sự của nó trong kỷ nguyên Bảo Bình. Khi đó, nó sẽ trở thành khoa học cơ bản và nền tảng của kỷ nguyên đó, cũng giống như khoa học điện (điện của vật chất) là thành tựu cơ bản của kỷ nguyên Song Ngư. Những gì chúng ta thực sự sắp xem xét là các ảnh hưởng tạo nên con người như y là, và xác định phẩm tính biểu hiện của y. Biểu hiện này phải được nghiên cứu theo khía cạnh của toàn bộ phàm ngã tích hợp, chứ không chỉ từ điều kiện hồng trần bên ngoài và khách quan. Các ảnh hưởng xác định y là các cung của phàm ngã và linh hồn của chính y, vốn tác động lên y và ảnh hưởng đến tâm thức của y, tìm đường xâm nhập vào trang thiết bị hình tướng của y thông qua các đơn vị năng lượng cấu tạo nên hình tướng đó. Các ảnh hưởng xác định khác cũng là các yếu tố thái dương, vũ trụ và môi trường vốn cũng tác động lên y tương tự.

It might here be asked: What are the differences between the influences which are ray influences and those which are of an astrological nature, such as the rising sign, or the governing planets?

Ở đây có thể đặt câu hỏi: Đâu là sự khác biệt giữa các ảnh hưởng là ảnh hưởng cung và những ảnh hưởng có bản chất chiêm tinh, chẳng hạn như dấu hiệu mọc, hoặc các chủ tinh?

The energies which astrologically affect a human being are those which play upon him as a result of the apparent progress of the sun through the heavens, either once every twenty-five thousand years or once every twelve months. Those that constitute the ray forces do not come from the twelve constellations of the zodiac, but emanate primarily from a world of being and of consciousness which lies behind our solar system, and which themselves come from the seven constellations which form the body of manifestation of the One About Whom Naught May Be Said. Our solar system is one of these seven constellations. This is the world of Deity Itself, and of it a man can know nothing until he has passed through the major initiations. When we come later to study the zodiac and its relation to the rays we shall work this out more [333] carefully and so make the idea clearer. It is with the ray influences that we are dealing here, and not with the zodiacal.

Các năng lượng ảnh hưởng đến con người về mặt chiêm tinh là những năng lượng tác động lên y như là kết quả của sự di chuyển rõ ràng của mặt trời qua các tầng trời, hoặc cứ mỗi hai mươi lăm nghìn năm một lần hoặc cứ mười hai tháng một lần. Những năng lượng cấu thành nên các lực của cung không đến từ mười hai chòm sao của hoàng đạo, mà xuất phát chủ yếu từ một thế giới bản thể và tâm thức nằm phía sau hệ mặt trời của chúng ta, và chính chúng đến từ bảy chòm sao tạo thành cơ thể biểu lộ của Đấng Bất Khả Tư Nghị. Hệ mặt trời của chúng ta là một trong bảy chòm sao này. Đây là thế giới của Chính Thượng đế, và về nó con người không thể biết gì cho đến khi y đã trải qua các cuộc điểm đạo chính. Khi chúng ta nghiên cứu về hoàng đạo và mối quan hệ của nó với các cung sau này, chúng ta sẽ giải quyết điều này cẩn thận hơn [333] và làm cho ý tưởng trở nên rõ ràng hơn. Chính các ảnh hưởng cung là điều chúng ta đang đề cập ở đây, chứ không phải các ảnh hưởng hoàng đạo.

One of the first things we need to grasp, as we study man and the rays, is the large number of these ray influences which play upon him, and which form him, and “enliven” him, and make him the complexity he is. It would be wise for us to enumerate them one by one and consider them for a while. There is no real reason for bewilderment in this connection. As time progresses and the rays are more widely studied, man’s relation to them will be subjected to careful analysis, and there will then be possible a wide checking up of information and of facts. There will later come a tabulation and an understanding of the ray forces. This will lead to a science of psychology of a more sure and accurate nature, instead of the speculative science it now is. At present modern psychology concerns itself with the more apparent aspects of incarnated man and with a discussion of certain speculative subjective possibilities.

Một trong những điều đầu tiên chúng ta cần nắm bắt, khi nghiên cứu con người và các cung, là số lượng lớn các ảnh hưởng cung này tác động lên y, và hình thành nên y, và “làm sống động” y, và biến y thành một sự phức tạp như y vốn là. Sẽ là khôn ngoan nếu chúng ta liệt kê chúng từng cái một và xem xét chúng trong một lúc. Không có lý do thực sự nào để hoang mang trong mối liên hệ này. Khi thời gian trôi qua và các cung được nghiên cứu rộng rãi hơn, mối quan hệ của con người với chúng sẽ được phân tích cẩn thận, và khi đó sẽ có thể có một sự kiểm chứng rộng rãi về thông tin và sự kiện. Sau này sẽ có một sự lập bảng và một sự thấu hiểu về các lực của cung. Điều này sẽ dẫn đến một khoa học tâm lý có bản chất chắc chắn và chính xác hơn, thay vì là một khoa học suy đoán như hiện nay. Hiện tại, tâm lý học hiện đại quan tâm đến các khía cạnh rõ ràng hơn của con người lâm phàm và với việc thảo luận về một số khả năng chủ quan mang tính suy đoán.

It might therefore be noted that the following rays and influences must be considered in the case of every individual man, for they make him what he is and determine his problem:

Do đó, cần lưu ý rằng các cung và ảnh hưởng sau đây phải được xem xét trong trường hợp của mỗi cá nhân, vì chúng tạo nên y như y là và xác định vấn đề của y:

1. Cung của chính hệ mặt trời.

2. The ray of the planetary Logos of our planet.

2. Cung của Hành Tinh Thượng đế của hành tinh chúng ta.

3. The ray of the human kingdom itself.

3. Cung của chính giới nhân loại.

4. Our particular racial ray, the ray that determines the Aryan race.

4. Cung chủng tộc cụ thể của chúng ta, cung xác định giống dân Arya.

5. The rays that govern any particular cycle.

5. Các cung chi phối bất kỳ chu kỳ cụ thể nào.

6. The national ray, or that ray influence which is peculiarly influencing a particular nation.

6. Cung quốc gia, hay ảnh hưởng cung đang ảnh hưởng đặc biệt đến một quốc gia cụ thể.

7. The ray of the soul, or ego.

7. Cung của linh hồn, hay chân ngã.

8. The ray of the personality.

8. Cung của phàm ngã.

9. The rays governing: [334]

9. Các cung chi phối: [334]

a. The mental body.

a. Thể trí.

b. The emotional or astral body.

b. Thể cảm xúc hay thể cảm dục.

c. The physical body.

c. Cơ thể xác.

There are other rays, but the above are the most powerful and have the greater conditioning power. Let us briefly consider them:

Có các cung khác, nhưng những cung trên là mạnh mẽ nhất và có quyền năng quy định lớn hơn. Chúng ta hãy xem xét vắn tắt chúng:

1. The Ray of the Solar System—Cung của Hệ Mặt Trời

It must be remembered that the dominating ray, the outstanding influence in our solar system, is the great cosmic second Ray of Love-Wisdom, a dual ray,—that is, a ray combining two great cosmic principles and energies. It is the ray which governs the “personality” of our solar Logos, if such an expression may be used, and (because it is dual) it indicates both His personality and soul rays, which in Him are now so balanced and blended that, from the angle of humanity, they constitute the major ray, the one ray. This major ray determines both His quality and His purpose.

Cần phải nhớ rằng cung thống trị, ảnh hưởng nổi bật trong hệ mặt trời của chúng ta, là Cung hai Vũ trụ vĩ đại về Bác Ái – Minh Triết , một cung kép,—nghĩa là, một cung kết hợp hai nguyên khí và năng lượng vũ trụ vĩ đại. Đó là cung chi phối “phàm ngã” của Thái dương Thượng đế của chúng ta, nếu có thể sử dụng một cách diễn đạt như vậy, và (bởi vì nó là kép) nó chỉ ra cả cung phàm ngã và cung linh hồn của Ngài, vốn trong Ngài giờ đây đã được cân bằng và hòa quyện đến mức, từ góc độ của nhân loại, chúng cấu thành nên cung chính, cung duy nhất. Cung chính này xác định cả phẩm tính và mục đích của Ngài.

Every unit of life and every form in manifestation is governed by this second ray. Basically speaking, the energy of love, expressed with wisdom, is the line of least resistance for the manifested lives in our solar system. This ray qualifies the life of all the planets, and the attractive magnetic love of God pours through His created universe; it emerges in the consciousness and determines the objective of all evolving forms. Each human being, as a whole, therefore, lives in a universe and on a planet which is constantly the objective of God’s love and desire, and which constantly (as a result of this love) is itself attracted and attractive. For this we do not make adequate allowance. Teachers, parents and educators would do well to recognise the potency of this ray force, and trust to the Law to make all things good. [335]

Mỗi đơn vị sự sống và mỗi hình tướng trong biểu hiện đều được chi phối bởi cung hai này. Về cơ bản, năng lượng của tình thương, được biểu lộ với minh triết, là con đường ít trở ngại nhất cho các sự sống đã biểu lộ trong hệ mặt trời của chúng ta. Cung này phẩm định tính chất cho sự sống của tất cả các hành tinh, và tình thương từ tính đầy thu hút của Thượng đế tuôn đổ qua vũ trụ được tạo ra của Ngài; nó xuất hiện trong tâm thức và xác định mục tiêu của tất cả các hình tướng đang tiến hóa. Do đó, mỗi con người, xét về tổng thể, sống trong một vũ trụ và trên một hành tinh vốn liên tục là mục tiêu của tình thương và ham muốn của Thượng đế, và bản thân nó (như là kết quả của tình thương này) liên tục bị thu hút và có tính thu hút. Chúng ta không đáng giá điều này một cách thỏa đáng. Các giáo viên, cha mẹ và nhà giáo dục nên nhận ra tiềm lực của lực cung này, và tin tưởng vào Định luật để làm cho mọi thứ trở nên tốt đẹp. [335]

2. The Ray of the Planet–Earth.—Cung của Hành Tinh–Trái Đất.

Each of the seven sacred planets (of which our Earth is not one) is an expression of one of the seven ray influences. These seven planets might be enumerated as follows, and the rays working through them are accurately given. The student however must remember three things:

Mỗi một trong bảy hành tinh thiêng liêng (mà Trái Đất của chúng ta không phải là một) là một biểu hiện của một trong bảy ảnh hưởng cung. Bảy hành tinh này có thể được liệt kê như sau, và các cung hoạt động thông qua chúng được đưa ra một cách chính xác. Tuy nhiên, người đạo sinh phải nhớ ba điều:

1. That every planet is the incarnation of a Life, of an Entity or Being.

1. Rằng mỗi hành tinh là sự hóa thân của một Sự Sống, của một Thực Thể hay Đấng Vĩ đại.

2. That every planet, like a human being, is the expression of two ray forces,—the personality and the egoic.

2. Rằng mỗi hành tinh, giống như một con người, là biểu hiện của hai mãnh lực cung,—của phàm ngã và của chân ngã.

3. That two rays are therefore in esoteric conflict in each planet.

3. Rằng do đó, hai cung đang ở trong xung đột nội môn trong mỗi hành tinh.

I but indicate one of the rays, and I do not tell you whether it is the egoic or personality ray of the particular planetary Logos. Too much accuracy and too detailed information is not at this time good for humanity, which is yet too selfish to be entrusted with it.

Tôi chỉ chỉ ra một trong các cung, và tôi không cho các bạn biết liệu đó là cung chân ngã hay cung phàm ngã của Hành Tinh Thượng đế cụ thể đó. Quá nhiều sự chính xác và thông tin quá chi tiết vào lúc này không tốt cho nhân loại, vốn hãy còn quá ích kỷ để được giao phó nó.

THE PLANETS AND RAYS

CÁC HÀNH TINH VÀ CÁC CUNG

Sacred

Ray

Non-Sacred

Ray

1. Vulcan

1st ray.

1. Mars

6th ray.

2. Mercury

4th ray.

2. Earth

3rd ray.

3. Venus

5th ray.

3. Pluto

1st ray.

4. Jupiter

2nd ray.

4. The Moon veiling a hidden planet.

4th ray.

5. Saturn

3rd ray.

5. The Sun veiling a hidden planet.

2nd ray.

6. Neptune

6th ray.

7. Uranus

7th ray.

I deal here with the major ray cycles and not with the minor cycles. Two rays, you will note, are apparently not expressing themselves through the non-sacred planets; the seventh and the fifth. There are only five non-sacred planets. But the reason which makes a planet sacred or not is one of the secrets of a certain major initiation, and I may not further [336] elucidate here. Suffice it to say that the sacred planets are seven in number, making a totality of twelve planetary manifestations. It will be obvious to the observant reader also that certain sacred planets and certain non-sacred planets have a close relation with each other through the rays which influence them. These are:

Ở đây Tôi đề cập đến các chu kỳ cung chính chứ không phải các chu kỳ phụ. Các bạn sẽ nhận thấy, hai cung dường như không tự biểu hiện thông qua các hành tinh không thiêng liêng; cung bảy và cung năm. Chỉ có năm hành tinh không thiêng liêng. Nhưng lý do làm cho một hành tinh là thiêng liêng hay không là một trong những bí mật của một cuộc đại điểm đạo nào đó, và tôi không thể [336] làm sáng tỏ thêm ở đây. Chỉ cần nói rằng các hành tinh thiêng liêng có bảy hành tinh, tạo thành tổng cộng mười hai biểu lộ hành tinh. Đối với người đọc tinh ý, cũng sẽ thấy rõ ràng rằng một số hành tinh thiêng liêng và một số hành tinh không thiêng liêng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau thông qua các cung ảnh hưởng đến chúng. Đó là:

Ray I

Vulcan

Pluto.

Ray II

Jupiter

The Sun.

Ray III

Saturn

The Earth.

Ray IV

Mercury

The Moon.

Ray VI

Neptune

Mars.

These relationships will provide a somewhat new field of investigation for astrologers.

Những mối quan hệ này sẽ cung cấp một lĩnh vực nghiên cứu hơi mới mẻ cho các nhà chiêm tinh.

You will note therefore how peculiarly this Earth on which we live is suited to the development of the incarnating sons of God. Man comes forth, as do all lives within the radius of influence of a solar system, upon the inspiration of love, expressed in wisdom. Love is not a sentiment. Love is the great principle of attraction, of desire, of magnetic pull, and (within our solar system) that principle demonstrates as the attraction and the interplay between the pairs of opposites. This interplay provides every needed grade or type of unfoldment for consciousness. Conscious response is first made to the most potent and to the densest kind of attraction in matter, that of the mineral kingdom. Dense as it is, and heavy as is that type of vibration, it is nevertheless an expression of embryonic love. Response again comes, with greater facility and more true awareness and sensitivity, in the next kingdom, and the consciousness of the vegetable world emerges. But this too is love. It responds more freely and reacts to a far wider range of contacts in the animal kingdom, and the basic instinctual desires emerge and can be recognised. They, in due time, become the motivation of the [337] life, yet still it is only the love of God which is manifested. It is love between conscious life and conscious form; it is love between the pairs of opposites, leading to an eventual synthesis or marriage; it is relationship between the basic dualities; it is not sentiment but a fact in a great natural process. Always there is the emerging glory and radiance of a growing love, until we come to the human kingdom wherein love enters another plane. Then responsiveness and sensitivity and human sentimental reaction develop into a rudimentary mind. The consciousness of loving and being loved, of attracting and of being attracted, enters through the door of the intelligence and expands into the human state of awareness. Pleasure and pain become definite factors in unfoldment, and the long agony of humanity commences. Love then is seen in its naked selfishness, but also its potential glory can be sensed. Love or attractive desire then attracts to itself that which it feels it needs, but later, that is changed into what it thinks it should have, and this, in time, is transmuted into that which it knows is the divine non-material heritage of a son of God. Ponder on these last few words, for in the true understanding of love as feeling, love as thinking, and love as aspiration will come a clarification of man’s problem and his liberation from the thralldom of the lower loves into the liberty of love itself, and into the freedom of the one who possesses all things, and yet desires nothing for the separated self.

Do đó, các bạn sẽ nhận thấy Trái Đất nơi chúng ta đang sống phù hợp một cách đặc biệt như thế nào cho sự phát triển của các con của Thượng đế đang lâm phàm. Con người xuất hiện, cũng như tất cả các sự sống trong phạm vi ảnh hưởng của một hệ mặt trời, dựa trên cảm hứng của tình thương, được biểu lộ trong minh triết. Tình thương không phải là một tình cảm ủy mị. Tình thương là nguyên khí vĩ đại của sự thu hút, của ham muốn, của lực hút từ tính, và (trong hệ mặt trời của chúng ta) nguyên khí đó thể hiện như sự thu hút và sự tác động qua lại giữa các cặp đối lập. Sự tác động qua lại này cung cấp mọi cấp độ hoặc loại khai mở cần thiết cho tâm thức. Sự đáp ứng có ý thức đầu tiên được thực hiện đối với loại thu hút mạnh mẽ nhất và đậm đặc nhất trong vật chất, đó là của giới kim thạch. Mặc dù loại rung động đó đậm đặc và nặng nề, nó vẫn là một biểu hiện của tình thương phôi thai. Sự đáp ứng lại xuất hiện, với sự dễ dàng hơn cùng với mức độ nhận biết và tính nhạy cảm chân thực hơn, trong giới kế tiếp, và tâm thức của giới thực vật dần dần lộ diện. Nhưng điều này cũng vẫn là tình thương. Sang đến giới động vật, nó đáp ứng tự do hơn và phản ứng trước một phạm vi tiếp xúc rộng lớn hơn rất nhiều, và những ham muốn bản năng nền tảng bắt đầu xuất hiện và có thể được nhận ra. Theo thời gian, chúng trở thành động lực của [337] sự sống, nhưng đó vẫn chỉ là tình thương của Thượng đế được biểu lộ. Đó là tình thương giữa sự sống có ý thức và hình tướng có ý thức; đó là tình thương giữa các cặp đối lập, dẫn đến một sự tổng hợp hoặc hôn phối cuối cùng; đó là mối quan hệ giữa các nhị nguyên cơ bản; đó không phải là tình cảm ủy mị mà là một thực tế trong một tiến trình tự nhiên vĩ đại. Luôn luôn có vinh quang và sự chói rạng xuất hiện của một tình thương đang phát triển, cho đến khi chúng ta đến với giới nhân loại, nơi tình thương bước vào một bình diện khác. Khi đó, sự đáp ứng và sự nhạy cảm và phản ứng tình cảm của con người phát triển thành một trí tuệ sơ khai. Ý thức về việc yêu thương và được yêu thương, về việc thu hút và bị thu hút, bước qua cánh cửa của trí năng và mở rộng vào trạng thái ý thức của con người. Khoái lạc và đau khổ trở thành những yếu tố xác định trong sự khai mở, và cơn đau đớn dài dằng dặc của nhân loại bắt đầu. Khi đó, tình thương được nhìn thấy trong sự ích kỷ trần trụi của nó, nhưng vinh quang tiềm tàng của nó cũng có thể được cảm nhận. Khu đó tình thương hay ham muốn thu hút thu hút về phía mình cái mà nó cảm thấy nó cần, nhưng sau này, điều đó được thay đổi thành cái mà nó nghĩ nó nên có, và điều này, theo thời gian, được chuyển hóa thành cái mà nó biết là di sản phi vật chất thiêng liêng của một người con của Thượng đế. Hãy suy ngẫm về vài lời cuối cùng này, bởi vì khi thực sự hiểu được tình thương như là cảm xúc, tình thương như là tư duy và tình thương như là khát vọng, con người sẽ làm sáng tỏ được vấn đề của chính mình và được giải phóng khỏi ách ràng buộc của những tình thương thấp kém, để bước vào tự do của chính tình thương, và vào sự tự tại của người tuy sở hữu tất cả, nhưng lại không ham muốn điều gì cho phàm ngã tách biệt.

The magnetic pull of that which is desired is modified on our planet by the personality ray of our particular planetary Logos. This is the Ray of Active Intelligence, and of selective Adaptability. Just as every cell and atom in the human body is modified and conditioned by the egoic ray and the ray of each of the inner bodies, so every cell and atom in the body of the planetary Logos is conditioned and modified [338] by His outstanding ray influence, in this case, His personality ray. In this conditioning influence is found a clue to the distress and agony and pain in the world today. The planetary Logos of our Earth is primarily conditioned by a cosmic ray, to be sure, but not by His egoic ray. Perhaps in this condition may be found the reason (or one of the reasons) why our Earth is not one of the seven sacred planets. On this I need not enlarge, but it was necessary to call attention to this great determining factor, the third ray, which is the personality ray of our planetary Logos.

Lực hút từ tính của cái được ham muốn bị điều chỉnh trên hành tinh của chúng ta bởi cung phàm ngã của Hành Tinh Thượng đế cụ thể của chúng ta. Đây là Cung của Trí Tuệ Hoạt Động, và của sự Thích Nghi có chọn lọc. Cũng giống như mọi tế bào và nguyên tử trong cơ thể con người bị điều chỉnh và chi phối bởi cung chân ngã và cung của mỗi thể bên trong, thì mọi tế bào và nguyên tử trong cơ thể của Hành Tinh Thượng đế cũng bị chi phối và điều chỉnh [338] bởi ảnh hưởng cung nổi bật của Ngài, trong trường hợp này, là cung phàm ngã của Ngài. Chính trong ảnh hưởng chi phối này, người ta tìm thấy một manh mối cho nỗi thống khổ và đau đớn và đau thương trên thế giới ngày nay. Chắc chắn là Hành Tinh Thượng đế của Trái Đất chúng ta chủ yếu được chi phối bởi một cung vũ trụ, nhưng không phải bởi cung chân ngã của Ngài. Có lẽ trong điều kiện này có thể tìm thấy lý do (hoặc một trong những lý do) tại sao Trái Đất của chúng ta không phải là một trong bảy hành tinh thiêng liêng. Về điều này tôi không cần mở rộng, nhưng cần phải kêu gọi sự chú ý đến yếu tố xác định lớn lao này, cung ba, vốn là cung phàm ngã của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta.

This ray brings in the factor of discrimination through mental activity, and this, in its turn, balances the so-called love nature, and it is in truth the cause of our evolutionary growth. The life in forms passes through discriminative and selective activity from one experience to another in an ever widening scale of contacts. It is this Ray of Intelligent Activity which dominates man at this time. Human beings are largely centred in their personalities; they are “egocentric,” in the terminology of the psychologist, which recognises the integrating principle of the ego (in many cases) but does not yet recognise the overshadowing ego or soul, except under such a vague term as “the superconscious”. We have therefore a humanity engrossed by a tremendous activity and demonstrating everywhere a vital discriminating and intellectual interest in all types of phenomena. This tendency to be active will go on increasing and intensifying until the Aryan race will merge into the coming major root-race, for which we have as yet no name, though we recognise that in that race the intellect will serve the intuition. Human activity is now regarded as having reached an incredible speed and intensity of vibration, yet from the angle of the world Knowers it is only just beginning to express itself, and is relatively feeble as yet. The growth of the tendency to vital speed can [339] be noted if history is studied, and the pace at which man now lives, and the complexity and the many dynamic interests of his life, may be compared with those of the average man two hundred years ago. The last twenty-five years of man’s history have shown a tremendous speeding up as compared with conditions fifty years ago.

Cung này mang lại yếu tố phân biện thông qua hoạt động trí tuệ, và đến lượt nó, điều này cân bằng cái gọi là bản chất tình thương, và thực sự nó là nguyên nhân cho sự tăng trưởng tiến hóa của chúng ta. Sự sống trong các hình tướng trải qua hoạt động phân biện và chọn lọc từ kinh nghiệm này sang kinh nghiệm khác trong một thang bậc tiếp xúc ngày càng mở rộng. Chính Cung Trí Tuệ Hoạt Động này đang thống trị con người vào lúc này. Con người phần lớn tập trung vào phàm ngã của mình; họ là những người “tập trung vào bản thân”, theo thuật ngữ của nhà tâm lý học, vốn công nhận nguyên khí tích hợp của cái tôi (trong nhiều trường hợp) nhưng chưa công nhận chân ngã hay linh hồn đang phủ bóng, ngoại trừ dưới một thuật ngữ mơ hồ như “siêu thức”. Do đó, chúng ta có một nhân loại bị cuốn hút bởi một hoạt động to lớn và thể hiện ở khắp mọi nơi một mối quan tâm trí tuệ và phân biện đầy sinh lực đối với mọi loại hình hiện tượng. Xu hướng hoạt động này sẽ tiếp tục gia tăng và mạnh mẽ hơn cho đến khi giống dân Arya hợp nhất vào giống dân gốc chính sắp tới, mà chúng ta vẫn chưa có tên gọi, mặc dù chúng ta nhận ra rằng trong giống dân đó, trí năng sẽ phục vụ trực giác. Hoạt động của con người hiện được coi là đã đạt đến một tốc độ và cường độ rung động đáng kinh ngạc, nhưng từ góc độ của các Thức Giả thế giới, nó chỉ mới bắt đầu biểu hiện, và vẫn còn tương đối yếu ớt. Sự gia tăng khuynh hướng hướng tới tốc độ sinh động có thể được nhận thấy [339] nếu người ta khảo sát lịch sử, và nhịp sống mà con người hiện nay đang trải qua, cùng với tính phức tạp và vô số mối quan tâm mang tính động lực trong đời sống của y, có thể được đem so sánh với đời sống của con người trung bình cách đây hai trăm năm. Riêng hai mươi lăm năm cuối trong lịch sử nhân loại đã cho thấy một sự tăng tốc hết sức mạnh mẽ khi so với các điều kiện của năm mươi năm trước đó.

The reason for this increase of intelligent activity and rapidity of response and contact is to be found in the subjective fact that humanity is with great speed integrating the three aspects of human nature into a unity, called personality. Men are steadily becoming personalities, and unifying into one expression their physical, emotional and mental aspects; hence they are more able to respond to the ray of the integrated personality of the One in Whom they live, and move, and have their being.

Lý do cho sự gia tăng của hoạt động thông minh và sự nhanh chóng trong đáp ứng và tiếp xúc này được tìm thấy trong thực tế chủ quan là nhân loại đang tích hợp ba phương diện của bản chất con người thành một thể thống nhất được gọi là phàm ngã với tốc độ nhanh chóng. Con người đang dần trở thành những phàm ngã, và thống nhất các phương diện thể xác, cảm xúc và trí tuệ của họ thành một biểu hiện; do đó, họ có khả năng đáp ứng tốt hơn với cung của phàm ngã tích hợp của Đấng mà trong Ngài họ sống, hoạt động, và hiện tồn.

Speaking therefore in terms of man’s life problem, we might state that it is affected potently by the two major influences which beat upon the human kingdom, the cosmic ray of the solar system, the Ray of Love-Wisdom, and the cosmic ray of the planet, which is the personality ray of the planetary Logos, the Ray of Active Intelligence or Adaptability. Man might be defined as a unit of conscious life, swept into tangible expression through the discriminating love of God. Through his life experiences he is presented with innumerable choices which gradually shift from the realm of the tangible into that of the intangible. As he attracts, or is attracted by, the life of his environment, he becomes increasingly conscious of a series of shifting values, until he reaches that point in his development when the pull or the magnetic attraction of the subjective world and the intangible mental and spiritual realities are more potent than the factors which have hitherto enticed him on. His sense of values is no longer determined by: [340]

Do đó, khi nói về vấn đề cuộc sống của con người, chúng ta có thể nói rằng nó bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi hai ảnh hưởng chính đập vào giới nhân loại, cung vũ trụ của hệ mặt trời, Cung Bác Ái – Minh Triết , và cung vũ trụ của hành tinh, vốn là cung phàm ngã của Hành Tinh Thượng đế, Cung Trí Tuệ Hoạt Động hay Thích Nghi. Con người có thể được định nghĩa là một đơn vị của sự sống có ý thức, bị cuốn vào biểu hiện hữu hình thông qua tình thương phân biện của Thượng đế. Thông qua những trải nghiệm cuộc sống của mình, y được trình bày với vô số lựa chọn dần dần chuyển từ lĩnh vực của cái hữu hình sang lĩnh vực của cái vô hình. Khi y thu hút, hoặc bị thu hút bởi, sự sống của môi trường xung quanh, y ngày càng trở nên ý thức về một loạt các giá trị thay đổi, cho đến khi y đạt đến điểm đó trong sự phát triển của mình khi sức hút hoặc sự thu hút từ tính của thế giới chủ quan và những thực tại trí tuệ và tinh thần vô hình mạnh hơn những yếu tố đã dụ dỗ y trước đó. Ý thức về giá trị của y không còn được xác định bởi: [340]

1. The satisfaction of his instinctual animal nature.

1. Sự thỏa mãn bản chất thú tính bản năng của y.

2. The desires of a more emotional and sentimental kind

2. Những ham muốn thuộc loại cảm xúc và tình cảm hơn

which his astral body demands.

vốn được đòi hỏi bởi thể cảm dục của y.

3. The pull and pleasures of the mind nature, and of intellectual appetites.

3. Sức hút và khoái lạc của bản chất trí tuệ, và những thèm khát trí năng.

He becomes potently attracted by his soul, and this produces a tremendous revolution in his entire life, regarding the word “revolution” in its true sense, as a complete turning around. This revolution is happening now, on such a universal scale in the lives of individuals in the world, that it is one of the main factors producing the present potency of experimental ideas in the world of modern times. The attractive power of the soul grows steadily, and the pull of the personality weakens as steadily. All this has been brought about by the process of experiment, leading to experience; by experience, leading to a wiser use of the powers of the personality; by a growing appreciation of a truer world of values and of reality, and by an effort on man’s part to identify himself with the world of spiritual values and not with a world of material values. The world of meaning and of causes becomes gradually the world in which he finds happiness, and his selection of his major interests and the use to which he decides to put his time and powers are finally conditioned by the truer spiritual values. He then is on the path of illumination. I have sought to express the effects of these two major ray influences in terms of mysticism and of philosophy, but in very truth all that I have here said could be expressed scientifically and in terms of scientific formulas, if man were mentally equipped to appreciate them. But this is not yet possible. All these ray vibrations, no matter which they may be, can eventually be reduced to formulas and to symbols.

Y trở nên bị thu hút mạnh mẽ bởi linh hồn của mình, và điều này tạo ra một cuộc cách mạng to lớn trong toàn bộ cuộc đời y, dùng từ ngữ “cách mạng” theo đúng nghĩa của nó, như một sự quay đầu hoàn toàn. Cuộc cách mạng này đang diễn ra ngay bây giờ, trên một quy mô phổ quát như vậy trong cuộc đời của các cá nhân trên thế giới, đến nỗi nó là một trong những yếu tố chính tạo ra tiềm lực hiện tại của các ý tưởng thử nghiệm trong thế giới thời hiện đại. Quyền năng thu hút của linh hồn tăng lên đều đặn, và sức hút của phàm ngã yếu đi cũng đều đặn như vậy. Tất cả điều này đã được tạo nên thông qua tiến trình thử nghiệm, dẫn đến kinh nghiệm; qua kinh nghiệm, dẫn đến việc sử dụng khôn ngoan hơn các quyền năng của phàm ngã; qua một sự đánh giá ngày càng tăng về một thế giới giá trị và thực tại chân thực hơn, và qua một nỗ lực từ phía con người để đồng nhất mình với thế giới của các giá trị tinh thần chứ không phải với một thế giới của các giá trị vật chất. Thế giới của ý nghĩa và của các nguyên nhân dần dần trở thành thế giới mà trong đó y tìm thấy hạnh phúc, và sự lựa chọn những mối quan tâm chủ yếu của y, cũng như cách y quyết định sử dụng thời gian và các quyền năng của mình, cuối cùng đều được điều kiện hoá bởi những giá trị tinh thần chân thực hơn. Khi ấy, y đang bước trên con đường soi sáng. Tôi đã cố gắng diễn đạt những tác động của hai ảnh hưởng cung chủ yếu này bằng ngôn ngữ của thần bí học và của triết học, nhưng thực ra, tất cả những gì tôi đã nói ở đây hoàn toàn có thể được diễn đạt một cách khoa học và dưới dạng các công thức khoa học, nếu con người được trang bị đầy đủ về mặt trí tuệ để có thể lĩnh hội chúng. Tuy nhiên, điều đó hiện nay vẫn chưa thể thực hiện được. Tất cả những rung động của các cung này, bất kể chúng là gì, cuối cùng đều có thể được quy giản thành các công thức và các biểu tượng.

[341]

[341]

Reaction to environment, sensitive response to the ray influences which govern and express themselves through the forms which compose man’s environment, a growing power to discriminate between energies and forces, a slowly developing sense of values (which sense is the one which eventually dispels illusion and glamour and reveals reality), and a shift of the discriminating interest away from the worlds of tangible experience, of emotional life and of mental interest,— all this expresses the effect of the interplay between the two rays of the solar system and of the planet. These, intermingling, pour through and affect mankind.

Phản ứng với môi trường, đáp ứng nhạy cảm với các ảnh hưởng cung vốn chi phối và tự biểu hiện thông qua các hình tướng cấu thành nên môi trường của con người, một quyền năng ngày càng tăng để phân biện giữa các năng lượng và mãnh lực, một ý thức về các giá trị đang phát triển chậm chạp (ý thức vốn là cái cuối cùng xua tan ảo tưởng và ảo cảm và tiết lộ thực tại), và một sự chuyển dịch mối quan tâm phân biện ra khỏi các thế giới của kinh nghiệm hữu hình, của đời sống cảm xúc và mối quan tâm trí tuệ,— tất cả những điều này thể hiện tác dụng của sự tác động qua lại giữa hai cung của hệ mặt trời và của hành tinh. Những cung này, hòa quyện vào nhau, tuôn đổ qua và ảnh hưởng đến nhân loại.

One of the most difficult things with which the Masters are today confronted is to prove to man that the old and recognised values and the tangible world of phenomena (emotional and physical) must be relegated to their right place in the background of man’s consciousness, and that the intangible realities, and the world of ideas and causes must be, for him, in the immediate future, the main centre of attention. When man grasps this and lives by this knowledge, then the glamour which now holds the world will disappear. If you ponder on this you will recognise how the great crisis of 1914-1918 did much useful work in smashing the glamourous material security in which men were living, and in destroying much of their instinctual and sensuous selfishness. The group is beginning to be recognised as of major importance, and the welfare of the individual is important just in so far as the unit is an integral part of the group. This will not eventually destroy initiative and individuality. It is only in our initial experiments, and through our inexpertness in the use of the discriminating faculty, that we are, as yet, making such sad mistakes. This process of destroying the world illusion has been going on on a large scale ever since; in every country, through the various experiments which are going forward [342], the glamour is breaking down and the truer values of group welfare, of group integration, and of group progress are emerging. The sense of insecurity which is such a distressing aspect of the present upheaval is due simply to this destruction of the old sense of values, to that dispelling of glamour which reveals at present an unfamiliar landscape, and to the fear and instability which man feels when he comes up against the world “Dweller on the Threshold.” This has to be broken up and destroyed, for it blocks the way to the new world of values. The great thought form which man’s greed and materiality have built, down the ages, is being steadily demolished, and mankind is on the verge of a liberation which will take him on to the Path of Discipleship. I refer not here to the final liberation, but to that liberation which comes from a free choice, wisely used and applied to the good of the whole, and conditioned by love. Note that I say, “wisely used.” Wisdom, actuated and motivated by love, and intelligently applied to world problems, is much needed today and is not yet to be found, except among the few illumined souls in every nation,—in every nation, I say, without exception. Many more must love with wisdom and appreciate the group aspiration before we shall see the next reality to be known and to emerge out of the darkness which we are now in the process of dispelling.

Một trong những điều khó khăn nhất mà các Chân sư ngày nay phải đối mặt là chứng minh cho con người thấy rằng các giá trị cũ và được công nhận cũng như thế giới hữu hình của các hiện tượng (cảm xúc và vật chất) phải được đưa về đúng vị trí của chúng ở hậu cảnh của tâm thức con người, và rằng những thực tại vô hình, và thế giới của các ý tưởng và nguyên nhân phải là, đối với y, trong tương lai gần, trung tâm chú ý chính. Khi con người nắm bắt được điều này và sống theo kiến thức này, thì ảo cảm đang nắm giữ thế giới sẽ biến mất. Nếu các bạn suy ngẫm về điều này, các bạn sẽ nhận ra rằng cuộc khủng hoảng lớn trong giai đoạn 1914–1918 đã thực hiện được nhiều công việc hữu ích trong việc phá tan sự an toàn vật chất đầy ảo cảm mà con người đang sống trong đó, đồng thời tiêu hủy phần lớn tính ích kỷ mang tính bản năng và cảm dục của họ. Nhóm đang dần dần được nhìn nhận là có tầm quan trọng hàng đầu, và phúc lợi của cá nhân chỉ thực sự quan trọng trong chừng mực mà đơn vị ấy là một bộ phận hữu cơ của nhóm. Điều này rốt cuộc sẽ không hủy hoại tinh thần chủ động và tính cá thể. Chỉ trong những thử nghiệm ban đầu của chúng ta, và do sự non nớt trong việc sử dụng năng lực phân biện, mà cho đến nay chúng ta vẫn còn đang phạm phải những sai lầm đáng buồn như vậy. Quá trình phá hủy ảo tưởng thế giới này đã diễn ra trên quy mô lớn kể từ đó; ở mọi quốc gia, thông qua các cuộc thử nghiệm khác nhau đang diễn ra [342], ảo cảm đang tan vỡ và các giá trị chân thực hơn về phúc lợi nhóm, tích hợp nhóm, và tiến bộ nhóm đang xuất hiện. Cảm giác bất an vốn là một khía cạnh đau khổ của sự biến động hiện tại chỉ đơn giản là do sự phá hủy cảm giác cũ về các giá trị, do sự xua tan ảo cảm vốn hiện đang tiết lộ một cảnh quan xa lạ, và do nỗi sợ hãi và sự bất ổn mà con người cảm thấy khi y đối mặt với “Kẻ Chận Ngõ” của thế giới. Điều này phải bị phá vỡ và tiêu diệt, vì nó chặn đường đến thế giới mới của các giá trị. Hình tư tưởng vĩ đại mà lòng tham và tính vật chất của con người đã xây dựng, trải qua các thời đại, đang dần bị phá hủy, và nhân loại đang đứng trên bờ vực của một sự giải thoát sẽ đưa y lên Đường Đạo. Ở đây tôi không đề cập đến sự giải thoát cuối cùng, mà là sự giải thoát đến từ một sự lựa chọn tự do, được sử dụng và áp dụng một cách khôn ngoan cho lợi ích của cái toàn thể, và được chi phối bởi tình thương. Lưu ý rằng tôi nói, “được sử dụng một cách khôn ngoan”. Minh triết, được thúc đẩy và động viên bởi tình thương, và được áp dụng một cách thông minh vào các vấn đề thế giới, là rất cần thiết ngày nay và vẫn chưa được tìm thấy, ngoại trừ ở một số ít linh hồn đã được soi sáng trong mọi quốc gia,— tôi nói, trong mọi quốc gia, không có ngoại lệ. Nhiều người nữa phải yêu thương với minh triết và đánh giá cao khát vọng nhóm trước khi chúng ta sẽ thấy thực tại tiếp theo phải được biết đến và xuất hiện từ bóng tối mà chúng ta hiện đang trong quá trình xua tan.

3. The Ray of the Fourth Kingdom—Cung của Giới Thứ Tư

We now touch briefly upon an obscure and difficult subject, and one that will appeal primarily to those types who work with the Law of Correspondences. Esotericists must remember that every kingdom in nature constitutes a totality of lives. Every atom in every form in nature is a life, and these lives form the cells of a Being’s body or vehicle of manifestation. There is a Being embodied in every kingdom [343] in nature. Just as the myriads of atomic lives in the human body constitute a man’s body of expression and form his appearance, so it is with the greater Life informing the fourth kingdom in nature. This appearance—as are all appearances—is qualified by some particular ray type, and is determined also by the vital principle or spirit aspect. Thus every form is composed of innumerable lives, which have in them a preponderance of some ray quality. This is an occult platitude. These qualified lives produce a phenomenal appearance, and thus constitute a unity, through the influence of the integrating principle, which is never absent.

Bây giờ chúng ta bàn một cách ngắn gọn về một chủ đề tối nghĩa và khó khăn, và là một chủ đề sẽ hấp dẫn chủ yếu những người làm việc với Định luật Tương ứng. Các nhà bí truyền học phải nhớ rằng mọi giới trong tự nhiên đều cấu thành một tổng thể các sự sống. Mọi nguyên tử trong mọi hình tướng trong tự nhiên là một sự sống, và những sự sống này tạo thành các tế bào trong cơ thể hay hiện thể biểu lộ của một Thực Thể. Có một Thực Thể hiện thân trong mọi giới [343] trong tự nhiên. Cũng giống như vô số sự sống nguyên tử trong cơ thể con người cấu thành nên thể biểu hiện của một người và tạo nên hình tướng của y, thì Sự Sống lớn hơn vốn thấm nhuần giới thứ tư trong tự nhiên cũng vậy. Hình tướng này—cũng như mọi hình tướng—được định tính bởi một loại cung cụ thể nào đó, và cũng được xác định bởi nguyên khí sự sống hay phương diện tinh thần. Vì vậy, mọi hình tướng đều bao gồm vô số sự sống, vốn có trong chúng một sự vượt trội về phẩm tính cung nào đó. Đây là một chân lý huyền bí hiển nhiên. Những sự sống được định tính này tạo ra một dáng vẻ hiện tượng, và do đó cấu thành một thể thống nhất, thông qua ảnh hưởng của nguyên khí tích hợp, vốn không bao giờ vắng mặt.

The ray which governs the sum total of the human kingdom is the fourth Ray of Harmony through Conflict. It might be symbolically stated that the egoic ray of the Life which informs the human family is this fourth ray, and that the personality ray is the fifth ray of knowledge through discrimination,—the Ray, as it is called, of Concrete Knowledge or Science. Harmony through conflict, and the power to achieve knowledge through discriminating choice—these are the two rays or major influences which sweep through humanity as a whole, and drive it forward towards its divine destiny. They are the predisposing factors upon which a man may count and infallibly depend. They are the guarantee of attainment, but also of turmoil and temporary duality. Harmony, expressing itself in beauty and creative power, is gained through battle, through stress and strain. Knowledge, expressing itself eventually through wisdom, is attained only through the agony of successively presented choices. These, submitted to the discriminating intelligence during the process of the life experience, produce at last the sense of true values, the vision of the ideal, and the capacity to distinguish reality behind the intervening glamour.

Cung chi phối tổng thể giới nhân loại là Cung bốn của Sự Hài Hòa qua Xung Đột. Có thể nói một cách tượng trưng rằng cung chân ngã của Sự Sống vốn thấm nhuần gia đình nhân loại là cung bốn này, và cung phàm ngã là cung năm của tri thức qua phân biện, là Cung, như nó được gọi, của Kiến Thức Cụ Thể hay Khoa Học. Sự hài hòa qua xung đột, và quyền năng đạt được kiến thức thông qua sự lựa chọn phân biện—đây là hai cung hay hai ảnh hưởng chính quét qua toàn thể nhân loại, và thúc đẩy nó tiến về phía định mệnh thiêng liêng của nó. Chúng là những yếu tố tiền định mà con người có thể trông cậy và hoàn toàn dựa vào. Chúng bảo đảm cho sự đạt thành, nhưng đồng thời cũng bảo đảm cho sự xáo trộn và tính nhị nguyên tạm thời. Sự hài hòa — biểu lộ qua vẻ đẹp và quyền năng sáng tạo — chỉ đạt được thông qua chiến đấu, qua căng thẳng và thử thách. Tri thức — để cuối cùng biểu lộ thành minh triết — chỉ có thể đạt được qua nỗi thống khổ của những chọn lựa liên tiếp được đặt ra. Chính những điều này, khi được đưa ra trước trí tuệ phân biện trong suốt tiến trình của kinh nghiệm sống, rốt cuộc tạo nên ý thức về các giá trị chân thực, tầm nhìn về lý tưởng, và năng lực phân biệt thực tại ẩn sau lớp ảo cảm chen giữa.

Students of esotericism will, of course, bear in mind that [344] the fourth ray has a natural relation to the fourth kingdom in nature, which is in turn the lowest manifestation of the fourth creative Hierarchy. This unification of the three major results of the activity of a great Life might be enumerated thus:

Dĩ nhiên, các đạo sinh huyền bí học sẽ ghi nhớ rằng [344] cung bốn có một mối quan hệ tự nhiên với giới thứ tư trong tự nhiên, mà đến lượt nó là sự biểu lộ thấp nhất của Huyền Giai sáng tạo thứ tư. Sự thống nhất này của ba kết quả chính từ hoạt động của Sự Sống vĩ đại có thể được liệt kê như sau:

1. The ray power or life which tends ever towards harmony and an eventual beauty, the fourth ray.

1. Quyền năng hay sự sống cung luôn hướng tới sự hài hòa và một vẻ đẹp cuối cùng, cung bốn.

2. The creative hierarchy of human monads, who (little as they may realise it) have already attained wisdom and are veritably at this time the divine sons of God.

2. Huyền giai sáng tạo của các chân thần nhân loại, những người (dù họ có thể ít nhận ra điều đó) thực sự đã đạt được minh triết và thực sự vào lúc này là những người con thiêng liêng của Thượng đế.

3. The fourth kingdom in nature which is the result of the evolutionary activity of the above, who are in their turn impelled to this activity by the fourth ray.

3. Giới thứ tư trong tự nhiên vốn là kết quả của hoạt động tiến hóa của huyền giai trên, đến lượt họ lại được thúc đẩy đến hoạt động này bởi cung bốn.

This is essentially the true apostolic succession, for it provides a triple line of directed energy. This produces the human manifestation on the fourth globe of our Earth chain, and in this fourth round is responsible for the tremendous crisis with which our present humanity is confronted. The conflict aspect of the process is at its height, nay, has passed its height, from the angle of physical plane expression. This situation and this triple influence, producing the manifestation of the sons of God, is summed up for us in the terse words of the Old Commentary—terse, when we remember that they express the long agony of humanity’s test, and the opening to man of the door into the fifth kingdom of spiritual being. They include therefore, in their meaning, his goal and objective and the process whereby he attains:

Đây cơ bản là sự kế thừa tông đồ thực sự, vì nó cung cấp một dòng năng lượng tam phân được định hướng. Điều này tạo ra sự biểu lộ của con người trên bầu hành tinh thứ tư của dãy Địa Cầu chúng ta, và trong cuộc tuần hoàn thứ tư này chịu trách nhiệm cho cuộc khủng hoảng to lớn mà nhân loại hiện nay của chúng ta đang phải đối mặt. Khía cạnh xung đột của tiến trình đang ở đỉnh điểm, không, đã qua đỉnh điểm, từ góc độ của biểu hiện cõi hồng trần. Tình huống này và ảnh hưởng tam phân này, tạo ra sự biểu lộ của các con của Thượng đế, được tóm tắt cho chúng ta trong những lời ngắn gọn của Cổ Luận—ngắn gọn, khi chúng ta nhớ rằng chúng diễn tả cơn đau đớn dài dằng dặc của sự thử thách nhân loại, và sự khai mở cho con người cánh cửa vào giới thứ năm của bản thể tinh thần. Do đó, chúng bao gồm, trong ý nghĩa của chúng, mục tiêu và mục đích của y và tiến trình nhờ đó y đạt được:

The Holy Four descend from out the heavenly places and venture forth towards the sphere of Earth. From the fourth great plane they thus control the battle.

Bốn Thánh Linh giáng xuống từ các cõi trời và mạo hiểm đi về phía quả cầu Trái Đất. Từ cõi lớn thứ tư, họ kiểm soát trận chiến.

“The Lord of Harmony, Who sits on high, pours all His life and force throughout the field of conflict. He sees the end from the beginning nor stays His hand though deep [345] and full the pain and agony. Peace must be the goal. Beauty must be achieved. He cannot then arrest the life and stop its flow.

“Đức Chúa Tể của Sự Hài Hòa, Đấng ngự trên cao, tuôn đổ toàn bộ sự sống và mãnh lực của Ngài khắp chiến trường. Ngài nhìn thấy kết thúc ngay từ khi bắt đầu và không dừng tay dù nỗi đau và sự thống khổ sâu [345] và đầy. Hòa bình phải là mục tiêu. Cái đẹp phải đạt được. Khi đó Ngài không thể bắt giữ sự sống và ngăn dòng chảy của nó.

The Middle Four, rested now from the earlier campaign, gird on their armour and hide themselves behind the outer form. They leave the fourth great sphere of harmony and pass on to the plane of mind. There they fortify the temple of the Lord, illumine it with light and glory, and then they turn their eyes towards the Earth.

Bốn Ở Giữa, giờ đây đã nghỉ ngơi sau chiến dịch trước, nai nịt áo giáp và ẩn mình đằng sau hình tướng bên ngoài. Họ rời khỏi cõi lớn thứ tư của sự hài hòa và đi vào cõi trí. Ở đó họ củng cố ngôi đền của Đấng Chúa Tể, soi sáng nó bằng ánh sáng và vinh quang, và rồi họ hướng mắt về phía Trái Đất.

The Lower Four take form between the lives that are not human and the three groups of lives which dwell beneath the threshold. They seek to link and blend, to bridge and fuse. Mankind now lives. The higher and the middle four meet in the lower four upon the fourth great globe.

Bốn Thấp lấy hình tướng giữa những sự sống không phải là con người và ba nhóm sự sống cư ngụ bên dưới ngưỡng cửa. Họ tìm cách liên kết và hòa quyện, bắt cầu và dung hợp. Nhân loại giờ đây đang sống. Bốn cao và bốn giữa gặp nhau trong bốn thấp trên bầu hành tinh lớn thứ tư.

“The battle now proceeds. When the three groups of manifested fours can see each other in the light, and later blend their forces, the goal will be achieved.

“Trận chiến bây giờ tiếp diễn. Khi ba nhóm của những bộ bốn đã biểu lộ có thể nhìn thấy nhau trong ánh sáng, và sau đó hòa quyện các mãnh lực của họ, mục tiêu sẽ đạt được.

“In the fourth globe of action and in the major cycle of the fourth expression will this fusion be completed. The lower four, merged in the middle four, will leave the triple world of conflict, and find their dwelling place, whilst in the form, within the fourth sphere whence came forth the higher governing four. Thus will the government be established; the glory seen; the rule of the hierarchy demonstrated.

“Trong bầu hành tinh hành động thứ tư và trong chu kỳ chính của biểu hiện thứ tư, sự dung hợp này sẽ hoàn tất. Bốn thấp, hợp nhất trong bốn giữa, sẽ rời khỏi thế giới xung đột tam phân, và tìm thấy nơi cư ngụ của họ, trong khi vẫn ở trong hình tướng, bên trong cõi thứ tư nơi bốn cao quản trị đã xuất hiện. Như vậy chính quyền sẽ được thiết lập; vinh quang được nhìn thấy; sự cai quản của thánh đoàn được thể hiện.

“In the fourth race (the Atlantean—A.A.B.) the conflict was begun, and consciousness was born. In the fifth race (the Aryan—A.A.B.) the crisis of the battle will be seen, and then the lower four and the middle four will begin to unite their forces. In the sixth race, the dust of battle dies away. The lower four, the middle four and the higher four will chant in unison the glory of their Lord, the beauty of the love of God, the wonder of the brotherhood of man. This is their paean”.

“Trong giống dân thứ tư (Atlantis—A.A.B.) cuộc xung đột đã bắt đầu, và tâm thức đã được sinh ra. Trong giống dân thứ năm (Arya—A.A.B.) cuộc khủng hoảng của trận chiến sẽ được nhìn thấy, và sau đó bốn thấp và bốn giữa sẽ bắt đầu hợp nhất các mãnh lực của họ. Trong giống dân thứ sáu, bụi chiến trường lắng xuống. Bốn thấp, bốn giữa và bốn cao sẽ cùng nhau hát vang vinh quang của Chúa Tể họ, vẻ đẹp của tình thương của Thượng đế, sự kỳ diệu của tình huynh đệ con người. Đây là bài ca chiến thắng của họ”.

Esoterically speaking (and not speaking symbolically, for there is a distinction between these two forms which students would do well to note), when the lines of forces are adjusted and there is free interplay of energies and a straight aligned channel between the various aspects of divinity, then there is achievement and beauty. This is the theme of the [346] above symbolical and ancient formulation of truth, which is in the nature of a symbolical prophecy. The same idea has been expressed in a still more ancient and terse statement which has to be understood and reduced to a mantric formula when the fourth initiation is taken:

Nói một cách huyền bí (và không nói một cách biểu tượng, vì có một sự phân biệt giữa hai hình thức này mà các đạo sinh nên lưu ý kỹ), khi các dòng mãnh lực được điều chỉnh và có sự tác động qua lại tự do của các năng lượng và một kênh thẳng hàng giữa các phương diện khác nhau của thiên tính, thì sẽ có thành tựu và vẻ đẹp. Đây là chủ đề của [346] sự trình bày sự thật mang tính biểu tượng và cổ xưa ở trên, vốn có bản chất của một lời tiên tri mang tính biểu tượng. Cùng một ý tưởng đã được diễn đạt trong một tuyên bố thậm chí còn cổ xưa và ngắn gọn hơn, vốn phải được thấu hiểu và quy về một công thức mật chú khi cuộc điểm đạo thứ tư được thực hiện:

“When the forces of the four, three times repeated, become the four, then the Life of . . . . . . reveals Itself in beauty”.

“Khi các lực của bốn, được lặp lại ba lần, trở thành bốn, thì Sự Sống của . . . . . . tự tiết lộ trong vẻ đẹp”.

It is interesting to note that the numerical value of the word “four” is the same in detail as that of the word “force”, if you eliminate the number five. For humanity, it is the fifth energy which leads to the battlefield, the energy of the discriminating mind, and when that has been in due time used, controlled and transmuted, “only the four remains and force has gone”. Note the detail of the numbering:

Thật thú vị khi lưu ý rằng giá trị số học của từ “bốn” (four) cũng giống hệt như từ “lực” (force), nếu các bạn loại bỏ số năm. Đối với nhân loại, chính năng lượng thứ năm dẫn đến chiến trường, năng lượng của trí tuệ phân biện, và khi năng lượng đó đã được sử dụng, kiểm soát và chuyển hóa đúng lúc, “chỉ còn lại bốn và mãnh lực đã ra đi”. Hãy lưu ý chi tiết về cách đánh số:

F

O

R

C

E

6

6

9

3

5

29

11.

Number of adept, using energy.

F

O

U

R

6

6

3

9

24

6.

The creator, unifying the subjective and the objective.

It is apparent that force in the first group ends in separativeness, for five is the number of the mind and of man. Number nine, the number of initiation, is hidden midway in force, but the climaxing figures indicate activity and separation. In the second group of figures, activity precedes the nine of initiation, and that nine is the culmination. But five is left out. Man is no longer really human or separative. He is the perfected four of the lower three and the soul. Putting the truth quite simply, let it be borne in mind that mankind, the fourth kingdom, which is an expression of the fourth creative hierarchy of human monads, is swept by the instinct or impulse towards harmony, and is thus primarily under the influence of the fourth ray. This harmony is achieved [347] through the use of the energy of the fifth ray of knowledge. Then through gained and applied knowledge, the result is beauty and the power to create. Then the ray of the fifth Lord will be withdrawn from the major cycle governing humanity, and wisdom and intuitional buddhic response will characterise humanity. There is a close interplay in this major cycle, as far as mankind is concerned, between the two ray Lords of Harmony and of Knowledge. It is again in this numerical relation of four and five that the number nine emerges, which is the number of initiation. An adept of the fifth initiation is one who has achieved complete harmony through right knowledge. This takes place at the fourth initiation and is demonstrated or proven at the fifth.

Rõ ràng là mãnh lực trong nhóm đầu tiên kết thúc bằng sự chia rẽ, vì năm là con số của trí tuệ và của con người. Số chín, con số của điểm đạo, được giấu ở giữa lực, nhưng các con số cực điểm chỉ ra hoạt động và sự chia rẽ. Trong nhóm số thứ hai, hoạt động đi trước số chín của điểm đạo, và số chín đó là đỉnh điểm. Nhưng số năm bị bỏ ra ngoài. Con người không còn thực sự là con người phàm tục hay có tính chia rẽ nữa. Y là con số bốn hoàn thiện của ba thể thấp và linh hồn. Nói sự thật một cách khá đơn giản, hãy ghi nhớ rằng nhân loại, giới thứ tư, vốn là một biểu hiện của huyền giai sáng tạo thứ tư của các chân thần nhân loại, bị quét bởi bản năng hay xung lực hướng tới sự hài hòa, và do đó chủ yếu nằm dưới ảnh hưởng của cung bốn. Sự hài hòa này đạt được [347] thông qua việc sử dụng năng lượng của cung năm về kiến thức. Sau đó, thông qua kiến thức đã đạt được và áp dụng, kết quả là vẻ đẹp và quyền năng sáng tạo. Khi đó cung của Chúa Tể thứ năm sẽ được rút khỏi chu kỳ chính chi phối nhân loại, và minh triết cùng sự đáp ứng bồ đề trực giác sẽ đặc trưng cho nhân loại. Có một sự tác động qua lại chặt chẽ trong chu kỳ chính này, xét về phía nhân loại, giữa hai Chúa Tể cung của Sự Hài Hòa và của Kiến Thức. Một lần nữa, chính trong mối quan hệ số học của bốn và năm này mà số chín xuất hiện, đó là con số của điểm đạo. Một chân sư của lần điểm đạo thứ năm là người đã đạt được sự hài hòa hoàn toàn thông qua kiến thức đúng đắn. Điều này diễn ra ở lần điểm đạo thứ tư và được chứng minh hay xác nhận ở lần điểm đạo thứ năm.

A close study of the tabulations of the rays affecting humanity will have made it clear that they are so many and so diverse that the complexity of the subject is very great. There are numerous influences which tend to make man what he is, and of many of them little is as yet known. In the early stages of his development, it is well-nigh impossible for any one (except an initiate) to deal with the various phases or even to recognise the indications of humanity’s reactions to these rays. But as mankind evolves, and as the form aspect becomes increasingly a better and finer response apparatus and a more plastic sensitive reflector of the inner man, definition and analysis become easier. Types emerge with greater clarity in their delineations, and the ray qualities begin to dominate. The impress of the controlling rays can be more clearly noted and the point in evolution can be more accurately realised.

Một nghiên cứu kỹ lưỡng về các bảng liệt kê các cung ảnh hưởng đến nhân loại sẽ làm rõ rằng chúng quá nhiều và quá đa dạng đến nỗi sự phức tạp của chủ đề là rất lớn. Có vô số ảnh hưởng có xu hướng tạo nên con người như y là, và người ta vẫn chưa biết nhiều về nhiều điều trong số đó. Trong các giai đoạn đầu phát triển của y, gần như không thể đối với bất kỳ ai (trừ một điểm đạo đồ) để giải quyết các giai đoạn khác nhau hoặc thậm chí nhận ra các dấu hiệu về phản ứng của nhân loại đối với các cung này. Nhưng khi nhân loại tiến hóa, và khi phương diện hình tướng ngày càng trở thành một bộ máy đáp ứng tốt hơn và tinh vi hơn và một tấm phản chiếu nhạy cảm dẻo dai hơn của con người bên trong, thì việc định nghĩa và phân tích trở nên dễ dàng hơn. Các loại hình xuất hiện với sự rõ ràng hơn trong các phác họa của chúng, và các phẩm tính cung bắt đầu thống trị. Dấu ấn của các cung kiểm soát có thể được ghi nhận rõ ràng hơn và điểm tiến hóa có thể được nhận ra chính xác hơn.

We have now to consider the rays which dominate the races of mankind. The average reader would be wise to take the position that for him, at least, the information hitherto [348] given, and that which concerns the racial, national and cyclic rays, provide an interesting hypothesis which can be intelligently accepted until disproven. This knowledge must necessarily remain hypothetical for several life periods, where the average student is concerned. When, however, we come to the consideration of the final three points of this section of our treatise, it may be possible to check the information, to correlate the ray types, and to discover (by a study of the potencies involved) their emerging characteristics and ray forces.

Bây giờ chúng ta phải xem xét các cung chi phối các chủng tộc của nhân loại. Người đọc trung bình sẽ khôn ngoan nếu giữ lập trường rằng đối với y, ít nhất, thông tin cho đến nay [348] được đưa ra, và thông tin liên quan đến các cung chủng tộc, quốc gia và chu kỳ, cung cấp một giả thuyết thú vị có thể được chấp nhận một cách thông minh cho đến khi bị bác bỏ. Kiến thức này nhất thiết phải vẫn là giả thuyết trong một vài giai đoạn sống, xét về phía người đạo sinh trung bình. Tuy nhiên, khi chúng ta đi đến việc xem xét ba điểm cuối cùng của phần này của luận thuyết, có thể sẽ khả thi để kiểm tra thông tin, tương quan các loại hình cung, và khám phá (bằng cách nghiên cứu các tiềm lực liên quan) các đặc điểm và lực cung đang xuất hiện của chúng.

By the proving therefore of the human detail, we lay the ground for the acceptance of the cosmic, solar and planetary knowledge. What is proven true on the small scale opens the door for the understanding of that which exists on a larger scale. “Man, know thyself” is a potent key to the knowledge of Deity and to the workings of divinity

Do đó, bằng cách chứng minh chi tiết về con người, chúng ta đặt nền tảng cho việc chấp nhận kiến thức vũ trụ, thái dương và hành tinh. Những gì được chứng minh là đúng trên quy mô nhỏ khai mở cánh cửa cho sự thấu hiểu những gì tồn tại trên quy mô lớn hơn. “Con người, hãy tự biết mình” là một chìa khóa đầy quyền năng dẫn đến kiến thức về Thượng đế và sự vận hành của thiên tính.

4. The Racial Rays—Các Cung Chủng Tộc

Người đọc cần ghi nhớ rằng ba cung đang ở trạng thái yên lặng về mặt huyền linh, và bốn cung đang hoạt động ở những mức độ khác nhau. Chúng ta hãy dành một chút để nhắc lại, hầu cho ý tưởng này được neo giữ rõ ràng trong thể trí của chúng ta:

Rays one, four and six are at this time out of manifestation, though ray six began to decline in influence only three hundred years ago, and its potency, though greatly weakened, can still be felt.

Các cung một, bốn và sáu hiện nay đang ngoài biểu lộ, mặc dù cung sáu chỉ mới bắt đầu suy giảm ảnh hưởng cách đây ba trăm năm, và quyền năng của nó, dù đã suy yếu rất nhiều, vẫn còn có thể được cảm nhận.

Rays two, three, five and seven are still potent. The following statement may give some idea of the relative “values” of these ray influences.

Các cung hai, ba, năm và bảy vẫn đang mạnh mẽ. Phát biểu sau đây có thể giúp hình dung phần nào những “giá trị” tương đối của các ảnh hưởng cung này.

Ray three has been the longest in incarnation, but in 1875 it occultly “completed its outgoing, and began to curve upon itself, and thus return”. It is therefore just beginning to wane. When this event occurs in connection with any type [349] of energy, the effect produced is always of a crystallising nature and is apt to produce “set forms which warrant prompt destruction”. This causes mental conditions of a set and static nature. The inference is therefore clear that in the later stages of this ray’s activity we have the demonstration of those dogmatic, sectarian and theological attitudes, for instance, which mark the decline and consequent uselessness of the various schools of thought which have in their time embodied man’s ideas and sufficed for his helping during the period of their growth.

Cung ba đã ở trong trạng thái nhập thế lâu nhất, nhưng vào năm 1875, nó đã hoàn tất một cách huyền linh tiến trình “đi ra” của mình và bắt đầu uốn cong trở lại chính nó, để rồi quay về. Do đó, hiện nay nó chỉ mới bắt đầu suy giảm. Khi biến cố này xảy ra liên quan đến bất kỳ loại năng lượng nào [349], hiệu quả tạo ra luôn mang tính kết tinh và thường dẫn đến việc hình thành những “hình tướng cố định cần được phá huỷ kịp thời”. Điều này gây nên các trạng thái thể trí mang tính cố kết và bất động. Vì thế, có thể suy ra một cách rõ ràng rằng trong các giai đoạn cuối của hoạt động cung này, chúng ta thấy sự biểu hiện chẳng hạn của những thái độ giáo điều, bè phái và thần học, vốn là những đặc điểm đánh dấu sự suy tàn và hệ quả là sự vô dụng của các trường phái tư tưởng khác nhau, vốn trong thời kỳ của mình đã từng thể hiện các ý tưởng của nhân loại và đã từng đủ sức trợ giúp con người trong suốt giai đoạn tăng trưởng của chúng.

Ray two has a rapidly recurring cycle. This is due to its excessive potency. Being the major ray of our solar system (of which all the other rays are but aspects), it might be said that this ray is really never out of incarnation. There are nevertheless constant cycles of waxing and waning potency, produced by the interplay of the rays which produce what is called in the ancient archives “the intrusion of one or another of the seven Brothers Who block the door from whence the force emerges”, and “the disappearance of that radiant Brother Who passes on His way and leaves behind an open door through which another Brother can pass upon His mission preordained.” The symbolism is clear. The cycles of the second ray are dynamic and recur in a regular rhythm at this time and during the twenty-five thousand years of a zodiacal cycle in sequences of five hundred years. Therefore in 1825 the potency of this ray began to decline as the peak of its two hundred fifty years emergence was reached. It was the gradual withdrawal of this ray which led to that growth of separativeness in the world which produced the European wars and the great World War. This ray will continue declining for another one hundred forty years. This does not necessarily mean the growth of physical violence and the prevalence of war. Humanity is now so much more responsive [350] to ray influences that the watching Hierarchy (through egoic stimulation and the sensitivity of certain nations to the inner guidance) can offset the more obvious major effects. This will give an interesting side light upon the vast importance of these cyclic happenings.

Cung hai có một chu kỳ lặp lại nhanh chóng. Điều này là do tiềm lực quá mức của nó. Là cung chính của hệ mặt trời chúng ta (trong đó tất cả các cung khác chỉ là các khía cạnh), có thể nói rằng cung này thực sự không bao giờ không lâm phàm. Tuy nhiên, vẫn có những chu kỳ liên tục của tiềm lực mạnh dần và yếu dần, được tạo ra bởi sự tác động qua lại của các cung vốn tạo ra cái được gọi trong các văn khố cổ xưa là “sự xâm nhập của một hay một người khác trong bảy Anh Em, Những Người chặn cánh cửa từ đó mãnh lực xuất hiện”, và “sự biến mất của người Anh Em rạng ngời Đó, Người tiếp tục con đường của Mình và để lại phía sau một cánh cửa mở qua đó một người Anh Em khác có thể đi qua trong sứ mệnh đã được định trước của Mình.” Biểu tượng này rất rõ ràng. Các chu kỳ của cung hai rất năng động và lặp lại theo một nhịp điệu đều đặn vào thời điểm này và trong suốt hai mươi lăm nghìn năm của một chu kỳ hoàng đạo theo các trình tự năm trăm năm. Do đó vào năm 1825, tiềm lực của cung này bắt đầu suy giảm khi đỉnh điểm của sự xuất hiện hai trăm năm mươi năm của nó đã đạt được. Chính sự rút lui dần dần của cung này đã dẫn đến sự phát triển của tính chia rẽ trên thế giới vốn tạo ra các cuộc chiến tranh châu Âu và cuộc Chiến tranh Thế giới vĩ đại. Cung này sẽ tiếp tục suy giảm trong một trăm bốn mươi năm nữa. Điều này không nhất thiết có nghĩa là sự phát triển của bạo lực vật chất và sự phổ biến của chiến tranh. Nhân loại giờ đây đáp ứng nhiều hơn [350] với các ảnh hưởng cung đến nỗi Thánh Đoàn đang theo dõi (thông qua sự kích thích của chân ngã và sự nhạy cảm của một số quốc gia đối với sự hướng dẫn bên trong) có thể hóa giải các hiệu ứng chính rõ ràng hơn. Điều này sẽ đưa ra một khía cạnh thú vị về tầm quan trọng to lớn của những sự kiện chu kỳ này.

Ray five is the latest of the rays to come into activity and is only in process of “coming forth to power.” It is steadily increasing in potency, and the result of its influence will be to guide humanity into increasing knowledge. Its energy beats upon the minds of men at this time and produces that stimulation which lies behind all the scientific approach to truth in all departments of human thought. Being also the ray which governs the personality aspect of the fourth kingdom in nature, and being one of the rays determining or conditioning our Aryan race, its present potency is excessive. This is a point to be remembered with care, for it accounts for much that we can see happening in the world of thought.

Cung năm là cung mới nhất đi vào hoạt động và chỉ đang trong quá trình “tiến tới quyền lực.” Nó đang đều đặn gia tăng quyền năng, và kết quả ảnh hưởng của nó sẽ là hướng dẫn nhân loại vào kiến thức ngày càng tăng. Năng lượng của nó vội vào tâm trí của con người vào lúc này và tạo ra sự kích thích nằm đằng sau tất cả các tiếp cận khoa học đối với chân lý trong mọi lĩnh vực tư tưởng của con người. Vì nó cũng là cung chi phối phương diện phàm ngã của giới thứ tư trong tự nhiên, và là một trong những cung xác định hay quy định giống dân Arya của chúng ta, tiềm lực hiện tại của nó là quá mức. Đây là một điểm cần được ghi nhớ cẩn thận, vì nó giải thích cho nhiều điều mà chúng ta có thể thấy đang xảy ra trong thế giới tư tưởng.

Ray seven is also in manifestation, and has been since the year 1675. This we shall consider in more detail when we take up our fifth point: The Rays in Cyclic Manifestation.

Cung bảy cũng đang biểu hiện, và đã biểu hiện từ năm 1675. Điều này chúng ta sẽ xem xét chi tiết hơn khi chúng ta đề cập đến điểm thứ năm của chúng ta: Các Cung trong Biểu Hiện Chu Kỳ.

The interplay, therefore, and the beauty of the blended energies are at this time great, for so many rays are either manifesting simultaneously or are just passing out and are therefore not entirely negligible; or are hovering near at hand ready to pass into the stage of revelation and so continue their cyclic work. Only one ray is today really out of manifestation altogether and functioning entirely behind the scenes, and that is the first ray. Where humanity is concerned, the first ray makes its presence felt, and its potency dominates, when the stage of accepted discipleship is reached. It increases in power as progress on the Path is gained. Thus there is beginning to be gathered on the subjective side of life a steadily growing group of those who can function under [351] the influence of this first ray. When enough of the sons of men can thus function, their united responsiveness will constitute a channel through which this first ray can come into manifestation. This is one of the main activities and objectives of the Hierarchy, and in the right understanding of the result of the responsiveness of humanity to the ray influences shall we arrive at the recognition of a law in nature hitherto undiscovered. This particular law is connected with the department of the Governor of the world, the Manu.

Do đó, sự tác động qua lại, và vẻ đẹp của các năng lượng được hòa quyện vào lúc này là rất lớn, vì quá nhiều cung hoặc đang biểu hiện đồng thời hoặc vừa mới đi ra và do đó không hoàn toàn không đáng kể; hoặc đang lơ lửng gần đó sẵn sàng đi vào giai đoạn mặc khải và tiếp tục công việc chu kỳ của chúng. Chỉ có một cung ngày nay thực sự hoàn toàn không biểu hiện và hoạt động hoàn toàn ở hậu trường, và đó là cung một. Đối với nhân loại, cung một làm cho sự hiện diện của nó được cảm thấy, và tiềm lực của nó thống trị, khi giai đoạn đệ tử được chấp nhận đã đạt tới. Nó gia tăng quyền năng khi sự tiến bộ trên Đường Đạo đạt được. Vì vậy, đang bắt đầu tập hợp ở phía bên trong của cuộc sống một nhóm ngày càng tăng đều đặn những người có thể hoạt động dưới [351] ảnh hưởng của cung một này. Khi đủ số lượng các con của nhân loại có thể hoạt động như vậy, sự đáp ứng hợp nhất của họ sẽ cấu thành một kênh qua đó cung một này có thể đi vào biểu hiện. Đây là một trong những hoạt động và mục tiêu chính của Thánh Đoàn, và trong sự thấu hiểu đúng đắn về kết quả của sự đáp ứng của nhân loại đối với các ảnh hưởng cung, chúng ta sẽ đi đến việc nhận ra một định luật trong tự nhiên cho đến nay chưa được khám phá. Định luật cụ thể này có liên quan đến bộ phận của Đấng Cai Quản thế giới, Đức Manu.

It might be of interest here to note that ray six governs the Path of Probation and nourishes the fires of idealism in the aspirant.

Có lẽ sẽ thú vị khi lưu ý ở đây rằng cung sáu chi phối Con Đường Dự Bị và nuôi dưỡng ngọn lửa lý tưởng trong người chí nguyện.

Ray two governs the Path of Discipleship and transmutes knowledge into wisdom, feeding likewise the Christ life in each disciple.

Cung hai chi phối Con Đường Đệ Tử và chuyển hóa kiến thức thành minh triết, đồng thời nuôi dưỡng sự sống Christ trong mỗi đệ tử.

Ray one governs the Path of Initiation, producing detachment from form, the destruction of all that hinders, and fostering that dynamic will in the initiate which will enable him to take the needed steps towards the Initiator.

Cung một chi phối Con Đường Điểm Đạo, tạo ra sự tách rời khỏi hình tướng, sự phá hủy tất cả những gì cản trở, và nuôi dưỡng ý chí năng động đó trong điểm đạo đồ vốn sẽ cho phép y thực hiện các bước cần thiết về phía Đấng Điểm Đạo.

It should here be noted that the rays divide themselves into two groups, i.e.:

Cần lưu ý ở đây rằng các cung tự chia thành hai nhóm, tức là:

1.

The Rays of Aspect

Rays 1. 2. 3. The major rays.

2.

The Rays of Attribute

Rays 4. 5. 6. 7. The minor rays.

The distinction between these two groups has been well summed up in some sentences from the Old Commentary:

Sự phân biệt giữa hai nhóm này đã được tóm tắt rất hay trong một số câu từ Cổ Luận:

“The seven brothers are all the children of the same Father, but the elder three partake of the Father’s nature. The younger four resemble the Mother. The three elder sons go forth into the universe of stars, and there they represent the Father. The younger four go forth into the universe of stars and show the nature of the one the Father loved.”

“Bảy anh em đều là con của cùng một Cha, nhưng ba người anh cả mang bản chất của Cha. Bốn người em trẻ hơn giống Mẹ. Ba người con cả đi vào vũ trụ của các vì sao, và ở đó họ đại diện cho Cha. Bốn người em trẻ hơn đi vào vũ trụ của các vì sao và thể hiện bản chất của người mà Cha yêu thương.”

The rays of aspect have longer cycles than the rays of attribute, and their measure is occultly slow, cumulative in [352] effect, and—as the ages pass away—their momentum steadily increases. The rays of attribute have briefer cycles, and produce a steady heart-beat and a regular rhythm in the solar system. The three rays of aspect might be regarded as embodying the will and purpose of the incarnating Logos. The rays of attribute can equally be regarded as embodying the quality and character of the incarnating Logos. Symbolically speaking, the three major rays are the expression (during manifestation) of the egoic aspect of the solar Logos, whilst the four rays of attribute embody His personality aspect. Nevertheless it must be remembered that the seven together are the manifestation in form of what God is, and the measure of the divine intention. Students should bear these points in mind as they study the rays and their cyclic influence on mankind. If they will remember that when a major ray is in manifestation, then the divine intent, the universal purpose and Plan will be seen emerging with greater clarity, they will expect and look for great happenings in the racial development. If a minor ray is demonstrating, we shall have the growth of psychic sensitivity, and the emergence of a form life which will express the divine nature more potently than the divine Plan.

Các cung trạng thái có chu kỳ dài hơn các cung thuộc tính, và nhịp điệu của chúng về mặt huyền bí là chậm, có tính tích lũy trong [352] tác dụng, và—khi các thời đại trôi qua—đà động lực của chúng đều đặn gia tăng. Các cung thuộc tính có chu kỳ ngắn hơn, và tạo ra một nhịp tim đều đặn và một nhịp điệu thường xuyên trong hệ mặt trời. Ba cung trạng thái có thể được coi là hiện thân của ý chí và mục đích của Thượng đế đang lâm phàm. Các cung thuộc tính cũng có thể được coi là hiện thân của phẩm tính và tính cách của Thượng đế đang lâm phàm. Nói một cách tượng trưng, ba cung chính là biểu hiện (trong quá trình biểu hiện) của phương diện chân ngã của Thái dương Thượng đế, trong khi bốn cung thuộc tính hiện thân cho phương diện phàm ngã của Ngài. Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng bảy cung cùng nhau là sự biểu lộ trong hình tướng của những gì Thượng đế là, và thước đo của ý định thiêng liêng. Các đạo sinh nên ghi nhớ những điểm này khi họ nghiên cứu các cung và ảnh hưởng chu kỳ của chúng lên nhân loại. Nếu họ nhớ rằng khi một cung chính đang biểu hiện, thì ý định thiêng liêng, mục đích phổ quát và Thiên Cơ sẽ được thấy xuất hiện với sự rõ ràng hơn, họ sẽ mong đợi và tìm kiếm những sự kiện lớn lao trong sự phát triển chủng tộc. Nếu một cung phụ đang thể hiện, chúng ta sẽ có sự phát triển của sự nhạy cảm thông linh, và sự xuất hiện của một đời sống hình tướng vốn sẽ biểu lộ bản chất thiêng liêng mạnh mẽ hơn Thiên Cơ.

This truth can be applied also to the development of the individual, and will govern and determine his evolutionary growth either from the angle of purpose or from the angle of quality. Lives that are given to the unfolding of purpose will be of a different timbre and nature than those which are given to the development of character and quality. This is a psychological point of real moment.

Sự thật này cũng có thể được áp dụng cho sự phát triển của cá nhân, và sẽ chi phối cũng như xác định sự tăng trưởng tiến hóa của y hoặc từ góc độ mục đích hoặc từ góc độ phẩm tính. Những kiếp sống được dành cho việc mở mang mục đích sẽ có âm sắc và bản chất khác với những kiếp sống được dành cho việc phát triển tính cách và phẩm tính. Đây là một điểm tâm lý học thực sự quan trọng.

The statement made above is one of the most significant and important yet communicated in this treatise, and well merits careful consideration. The true import is of course most difficult to grasp, but the general meaning can be recognized [353] and appreciated by the searching student. The rays of aspect produce primarily the unfolding of the Plan. The rays of attribute produce the unfolding of the qualities of Deity. This is true of the solar Logos and of a human being, of the planetary Deity and of humanity as a whole.

Tuyên bố được đưa ra ở trên là một trong những tuyên bố có ý nghĩa và quan trọng nhất được truyền đạt trong luận thuyết này, và rất đáng được xem xét cẩn thận. Ý nghĩa thực sự dĩ nhiên là khó nắm bắt nhất, nhưng ý nghĩa chung có thể được nhận ra [353] và đánh giá cao bởi người đạo sinh biết tìm tòi. Các cung trạng thái chủ yếu tạo ra sự mở mang của Thiên Cơ. Các cung thuộc tính tạo ra sự mở mang của các phẩm tính của Thượng đế. Điều này đúng với Thái dương Thượng đế và với một con người, với Thượng đế hành tinh và với toàn thể nhân loại.

The application of this truth can be clearly seen in connection with the Aryan race and the two rays which govern and control its destiny. The third Ray of Intelligent Activity or Adaptability governs the entire career of the race, and through this dominance we can see working out the plan of God, which is the definite fusion of spirit and matter, through the evolution of the soul of man. The result of this fusion may be briefly summed up in the following three statements:

Việc áp dụng sự thật này có thể được thấy rõ ràng liên quan đến giống dân Arya và hai cung chi phối và kiểm soát định mệnh của nó. Cung ba về Trí Tuệ Hoạt Động hay Thích Nghi chi phối toàn bộ sự nghiệp của giống dân này, và thông qua sự thống trị này, chúng ta có thể thấy thiên cơ của Thượng đế đang diễn ra, đó là sự dung hợp xác định của tinh thần và vật chất, thông qua sự tiến hóa của linh hồn con người. Kết quả của sự dung hợp này có thể được tóm tắt ngắn gọn trong ba tuyên bố sau:

1. A widespread interest in, leading finally to a recognition of, the soul as a result of this fusion and blending.

1. Một mối quan tâm rộng rãi đối với, dẫn đến cuối cùng là một sự công nhận, linh hồn như là kết quả của sự dung hợp và hòa quyện này.

2. The appreciation of the divinity of substance, and the recognition of the fact that matter is the outer garment of God. This will characterise the intellectual achievement of the Aryan race.

2. Sự đánh giá cao thiên tính của chất liệu, và sự công nhận thực tế rằng vật chất là lớp áo bên ngoài của Thượng đế. Điều này sẽ đặc trưng cho thành tựu trí tuệ của giống dân Arya.

3. The plan of God that humanity should control matter on the physical plane reaches a high point of perfection in the Aryan race. Of this, man’s control of the electrical forces of the physical plane is an outstanding instance.

3. Thiên cơ của Thượng đế rằng nhân loại nên kiểm soát vật chất trên cõi hồng trần đạt đến một điểm hoàn thiện cao trong giống dân Arya. Về điều này, việc con người kiểm soát các lực điện của cõi hồng trần là một ví dụ nổi bật.

These three important developments indicate the activity of the third ray during the period of time wherein the Aryan race emerges from the general racial background, develops itself as the generations pass away, and then fades out again as do all the races. By this process the souls which have profited by the experience during racial manifestation pass on into another and higher race, the sixth root race, in this case. These are the major results. There are many minor ones which tend to perfect the divine purpose for the race. That [354] purpose aims only at a relative perfection and not at the ultimate consummation. The racial perfection which will be reached as a result of the activity of the third and fifth rays will be seen as only partial from the angle of vision of the seventh root race, for instance, but it will be far ahead of that achieved during the Atlantean or fourth root race, which was under the dominant influence of the second and sixth rays. The flower of any race, and those who guarantee its achievement, are to be seen in the Masters, Initiates and Disciples Who, during any race, reach the goal which Their souls have set. The reader must remember that the goal of adeptship is a steadily shifting one, and that the adepts of the Aryan race will be higher in development, and of a more intellectual order, than those who reached that stage during the Atlantean race. Therefore the requirements for treading the path of discipleship in the present race are steadily increasing in difficulty as the centuries slip away. At the same time, the assets brought by the aspirant to the task of achieving discipleship likewise steadily evolve, and the equipment is as steadily arriving at a greater adequacy, thus measuring up to the opportunity offered. Such books, therefore, as The Outer Court and The Path of Discipleship by Annie Besant state the requirements for the path of probation, and not for the path of discipleship. A Treatise on White Magic gives the needed data for those who tread, at this time, the path of discipleship. In these three books are to be found the requirements for the two stages of the path of conscious unfoldment.

Ba sự phát triển quan trọng này chỉ ra hoạt động của cung ba trong khoảng thời gian mà giống dân Arya xuất hiện từ nền tảng chủng tộc chung, tự phát triển khi các thế hệ trôi qua, và sau đó mờ dần đi như tất cả các giống dân khác. Bằng quá trình này, các linh hồn đã hưởng lợi từ kinh nghiệm trong quá trình biểu hiện chủng tộc chuyển sang một giống dân khác và cao hơn, trong trường hợp này là giống dân gốc thứ sáu. Đây là những kết quả chính. Có nhiều kết quả phụ có xu hướng hoàn thiện mục đích thiêng liêng cho giống dân. Mục đích đó [354] chỉ nhắm đến một sự hoàn thiện tương đối chứ không phải là sự hoàn thành tối thượng. Sự hoàn thiện chủng tộc sẽ đạt được như là kết quả của hoạt động của cung ba và cung năm sẽ được thấy chỉ là một phần từ góc độ tầm nhìn của giống dân gốc thứ bảy, chẳng hạn, nhưng nó sẽ đi trước rất xa so với những gì đạt được trong thời kỳ Atlantis hay giống dân gốc thứ tư, vốn nằm dưới ảnh hưởng thống trị của cung hai và cung sáu. Tinh hoa của bất kỳ giống dân nào, và những người đảm bảo cho thành tựu của nó, được nhìn thấy nơi các Chân sư, các Điểm đạo đồ và các Đệ tử, những người, trong bất kỳ giống dân nào, đạt được mục tiêu mà linh hồn Họ đã đặt ra. Người đọc phải nhớ rằng mục tiêu của bậc chân sư là một mục tiêu liên tục thay đổi, và các chân sư của giống dân Arya sẽ cao hơn về sự phát triển, và thuộc một trật tự trí tuệ hơn, so với những người đã đạt đến giai đoạn đó trong giống dân Atlantis. Do đó, các yêu cầu để bước đi trên con đường đệ tử trong giống dân hiện tại đang đều đặn gia tăng về độ khó khi các thế kỷ trôi qua. Đồng thời, các tài sản mà người chí nguyện mang đến cho nhiệm vụ đạt được quả vị đệ tử cũng đều đặn đến ở một mức độ thỏa đáng hơn, do đó đáp ứng được cơ hội được đưa ra. Vì vậy, các quyển sách như Ngoài Thềm Thánh ĐiệnCon Đường Đệ Tử của Annie Besant nêu ra các yêu cầu cho đường dự bị, chứ không phải cho con đường đệ tử. Luận về Chánh Thuật cung cấp dữ liệu cần thiết cho những người bước đi, vào lúc này, trên con đường đệ tử. Trong ba quyển sách này có thể tìm thấy các yêu cầu cho hai giai đoạn của con đường mở mang tâm thức.

Curiously enough, in Lemurian days the first ray was active. This was because of a special dispensation or effort on the part of the planetary Hierarchy. With the aid of the seventh ray the needed work went forward. At the time of the individualisation of humanity, a third ray, the fifth, was called into operation, and thus with the united effort of the [355] first, the seventh and the fifth rays, the great fusion between the higher and the lower aspects of mankind was made. It is interesting to note that the secondary ray influence in the Aryan race at this time is the fifth, thus linking up the Aryan and the Lemurian civilisations. Both were and are intensely material civilisations, but the Lemurian was material because the whole attention of the Hierarchy was turned to the development of physical man, whilst today the attention is not turned to the physical unfoldment of man, but to an effort to enable man to control the physical forces of the planet. One rather striking instance of the similarity of the ray forces should be here noted. In Lemurian times, the yoga of the age which produced the required at-one-ing or unification (preceding the taking of the initiation of the time) was hatha yoga, the yoga of the physical body. This gave to the initiate the needed physical control—a control which has today been so perfected in the race that it is now automatic and has slipped below the threshold of consciousness. In the great cyclic recapitulations which go on ceaselessly we see today in our Aryan race a tremendous emphasis being given to physical perfection, to sport, to athletics, to dancing and to physical culture. It is the cyclic effect of the same ray forces, playing upon humanity again. The initiatory goal is today a mental at-one-ing. Nevertheless, the physical reaction to the ray forces produces a higher form of hatha yoga or physical coordination. These points will be further elucidated.

Thật kỳ lạ, trong những ngày Lemuria, cung một đã hoạt động. Điều này là do một sự miễn trừ hay nỗ lực đặc biệt từ phía Thánh Đoàn hành tinh. Với sự trợ giúp của cung bảy, công việc cần thiết đã tiến triển. Vào thời điểm biệt ngã hóa của nhân loại, một cung thứ ba, cung năm, đã được kêu gọi vào hoạt động, và như vậy với nỗ lực thống nhất của [355] cung một, cung bảy và cung năm, sự dung hợp vĩ đại giữa các khía cạnh cao hơn và thấp hơn của nhân loại đã được thực hiện. Thật thú vị khi lưu ý rằng ảnh hưởng cung thứ cấp trong giống dân Arya vào lúc này là cung năm, do đó liên kết các nền văn minh Arya và Lemuria. Cả hai đều đã và đang là những nền văn minh vật chất dữ dội, nhưng Lemuria là vật chất vì toàn bộ sự chú ý của Thánh Đoàn đã hướng đến sự phát triển của con người hồng trần, trong khi ngày nay sự chú ý không hướng đến sự mở mang hồng trần của con người, mà đến một nỗ lực để cho phép con người kiểm soát các mãnh lực hồng trần của hành tinh. Một ví dụ khá nổi bật về sự tương đồng của các mãnhlực cung nên được lưu ý ở đây. Trong thời đại Lemuria, yoga của thời đại vốn tạo ra sự hợp nhất hay thống nhất cần thiết (đi trước việc thực hiện điểm đạo của thời đại đó) là hatha yoga, yoga của cơ thể xác. Điều này mang lại cho người được điểm đạo sự kiểm soát hồng trần cần thiết—một sự kiểm soát mà ngày nay đã được hoàn thiện trong giống dân đến mức nó hiện là tự động và đã trượt xuống dưới ngưỡng cửa của tâm thức. Trong những sự tóm tắt lại chu kỳ vĩ đại diễn ra không ngừng nghỉ, chúng ta thấy ngày nay trong giống dân Arya của chúng ta một sự nhấn mạnh to lớn đang được dành cho sự hoàn thiện thể chất, cho thể thao, cho điền kinh, cho khiêu vũ và cho văn hóa thể chất. Đó là hiệu ứng chu kỳ của cùng các lực cung, tác động lên nhân loại một lần nữa. Mục tiêu điểm đạo ngày nay là sự hợp nhất về mặt trí tuệ. Tuy nhiên, phản ứng vật chất đối với các lực cung tạo ra một hình thức cao hơn của hatha yoga hay sự phối hợp thể chất. Những điểm này sẽ được làm sáng tỏ thêm.

The secondary influence which is leading the Aryan race forward is that of the fifth Ray of Concrete Knowledge or Science. This ray, as we have seen, was one of the rays which brought about individualisation millions of years ago, and so launched mankind upon the path of return. Again it comes into power, and though it has had many cycles of activity since Lemurian days, none of them have been of such unobstructed [356] dominance as the present. Hence the tremendous potency of individuals at this time; hence the difficulty, but also the opportunity. This is a ray of quality, and its effect is to stimulate the acquisition of knowledge and the growth of the human intellect, which is an instrument of exceeding sensitivity, producing increased awareness of God.

Ảnh hưởng thứ cấp đang dẫn dắt giống dân Arya tiến lên là ảnh hưởng của Cung năm về Kiến Thức Cụ Thể hay Khoa Học. Cung này, như chúng ta đã thấy, là một trong những cung đã mang lại sự biệt ngã hóa hàng triệu năm trước, và do đó đã đưa nhân loại vào con đường trở về. Một lần nữa nó đi vào quyền lực, và mặc dù nó đã có nhiều chu kỳ hoạt động kể từ những ngày Lemuria, không chu kỳ nào có [356] sự thống trị không bị cản trở như hiện tại. Do đó có tiềm lực to lớn của các cá nhân vào lúc này; do đó có sự khó khăn, nhưng cũng có cơ hội. Đây là một cung về phẩm tính, và tác dụng của nó là kích thích việc thu nhận kiến thức và sự phát triển của trí năng con người, vốn là một công cụ có độ nhạy cảm vượt trội, tạo ra sự nhận biết gia tăng về Thượng đế.

It might be said that in Lemurian times the effect of this ray was to stimulate the instinctual nature. This gave awareness of the form nature of Deity. During Atlantean days, through the influence of the second ray, the instinct began to merge into the intellect, and that aspect of man’s nature was developed which is called (in theosophical books) kama-manas. This phrase simply means a blend of desire-feeling-lower-mind,—a curious synthesis which characterises average man today, and leads to his complicated problem. This development gave man another type of awareness. He became conscious of the sentient universe; he became sensitive to the love of God, and registered an innate reaction to the heart of God. Today, under the fifth ray influence, the intellect is rapidly awakening; instinct is falling below the threshold of consciousness; kama-manas is no longer the outstanding characteristic of the disciples of the world. The intellect (concrete and abstract, lower and higher) is steadily unfolding, and as it unfolds, the will, purpose and plan of the Deity begin to take shape in men’s minds. The secondary effects of this development are the power to organise, and to work individually with definite purpose. This is demonstrated today by individuals in all departments of human activity. They evince capacity to sense the Plan of God and to cooperate; they see the broad general outlines of the divine purpose, and comprehend as never before the great evolutionary plan. Men are building now towards the future because they have glimpsed the past and touched the vision.

Có thể nói rằng trong thời đại Lemuria, tác dụng của cung này là kích thích bản chất bản năng. Điều này mang lại sự nhận biết về bản chất hình tướng của Thượng đế. Trong những ngày Atlantis, thông qua ảnh hưởng của cung hai, bản năng bắt đầu hòa nhập vào trí năng, và khía cạnh của bản chất con người đã được phát triển mà (trong các sách thông thiên học) được gọi là kama-manas (trí-cảm). Cụm từ này chỉ đơn giản có nghĩa là một sự pha trộn của dục vọng-cảm giác-hạ trí,—một sự tổng hợp kỳ lạ đặc trưng cho con người trung bình ngày nay, và dẫn đến vấn đề phức tạp của y. Sự phát triển này mang lại cho con người một loại nhận biết khác. Y trở nên ý thức về vũ trụ hữu tình; y trở nên nhạy cảm với tình thương của Thượng đế, và ghi nhận một phản ứng bẩm sinh đối với trái tim của Thượng đế. Ngày nay, dưới ảnh hưởng của cung năm, trí năng đang thức tỉnh nhanh chóng; bản năng đang rơi xuống dưới ngưỡng cửa của tâm thức; kama-manas không còn là đặc điểm nổi bật của các đệ tử của thế giới. Trí năng (cụ thể và trừu tượng, hạ trí và thượng trí) đang đều đặn mở mang, và khi nó mở mang, ý chí, mục đích và thiên cơ của Thượng đế bắt đầu hình thành trong tâm trí con người. Các tác dụng thứ cấp của sự phát triển này là quyền năng tổ chức, và làm việc một cách cá nhân với mục đích xác định. Điều này được chứng minh ngày nay bởi các cá nhân trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người. Họ chứng tỏ khả năng cảm nhận Thiên Cơ của Thượng đế và hợp tác; họ nhìn thấy những phác thảo chung rộng lớn của mục đích thiêng liêng, và thấu hiểu hơn bao giờ hết kế hoạch tiến hóa vĩ đại. Con người hiện đang xây dựng hướng tới tương lai bởi vì họ đã thoáng thấy quá khứ và chạm vào linh ảnh.

[357]

[357]

Later, we shall have a transition period again, analogous to that period wherein kama-manas was developed, and we shall then have the entire race expressing a developed synthesis of intellect-intuition, preparatory to that advanced stage which will come at the close of the next root race, the sixth. This takes us to a period ten million years hence, when the intellect will have in its turn slipped below the threshold of consciousness, as did the instinct. It will then work automatically as does man’s instinctual nature, and the race will be intuitive. This will really mean that the fifth kingdom in nature will be manifesting on earth, and that the kingdom of God (as the Christian calls it) will have arrived. This will constitute an event of an importance equal to that of the advent of the fourth kingdom, when men made their appearance on earth. This next great race will be governed by the second and fourth rays, thus demonstrating a relation between the fourth root race, the Atlantean, and the sixth root race. In terms of consciousness, this can be expressed as a relation between an astral-emotional development and an intuitional-buddhic development. The final race will be governed by the first, the seventh and the second rays.

Sau này, chúng ta sẽ lại có một giai đoạn chuyển tiếp, tương tự như giai đoạn mà kama-manas được phát triển, và khi đó chúng ta sẽ có toàn bộ nhân loại thể hiện một sự tổng hợp phát triển của trí năng-trực giác, chuẩn bị cho giai đoạn tiến bộ đó sẽ đến vào cuối giống dân gốc tiếp theo, giống dân thứ sáu. Điều này đưa chúng ta đến một thời kỳ mười triệu năm nữa, khi trí năng sẽ đến lượt nó trượt xuống dưới ngưỡng cửa của tâm thức, giống như bản năng đã làm. Khi đó nó sẽ hoạt động tự động như bản chất bản năng của con người, và nhân loại sẽ có tính trực giác. Điều này thực sự có nghĩa là giới thứ năm trong tự nhiên sẽ biểu hiện trên trái đất, và thiên giới (như người Cơ đốc giáo gọi) sẽ đến. Điều này sẽ cấu thành một sự kiện có tầm quan trọng tương đương với sự ra đời của giới thứ tư, khi con người xuất hiện trên trái đất. Giống dân vĩ đại tiếp theo này sẽ được chi phối bởi cung hai và cung bốn, do đó chứng minh một mối quan hệ giữa giống dân gốc thứ tư, Atlantis, và giống dân gốc thứ sáu. Theo khía cạnh tâm thức, điều này có thể được diễn đạt như một mối quan hệ giữa một sự phát triển cảm dục-cảm xúc và một sự phát triển bồ đề-trực giác. Giống dân cuối cùng sẽ được chi phối bởi các cung một, bảy và hai.

I think I have given you as much on this abstruse subject as can be grasped. The tabulation of the rays governing the races might be stated, therefore, as follows:

Tôi nghĩ tôi đã cung cấp cho các bạn nhiều điều về chủ đề trừu tượng này đến mức có thể nắm bắt được. Do đó, bảng liệt kê các cung chi phối các giống dân có thể được nêu như sau:

Lemurian Race

Rays 1. 7. 5.

Atlantean Race

Rays 2. 6.

Aryan Race

Rays 3. 5.

Sixth Race

Rays 2. 4.

Seventh Race

Rays 1. 7. 2.

5. The Rays in Cyclic Manifestation—Các Cung trong Biểu Hiện Chu Kỳ

We come now to a consideration of the forces which are prevailing at the present time and hence have a supreme interest in connection with what I now have to say. It might [358] first be stated that the main problem of today is brought about by the fact that two rays of great potency are functioning simultaneously. As yet their effects are so equally balanced that a situation is brought about which is described in the ancient archives in the following terms: “A time of rending, when the mountains, which have sheltered, fall from their high places, and the voices of men are lost in the crash and thunder of the fall”. Such periods come only at rare and long intervals, and each time they come a peculiarly significant period of divine activity is ushered in; old things pass entirely away, yet the ancient landmarks are restored. The seventh Ray of Ceremonial Order or Ritual is coming into manifestation. The sixth Ray of Idealism or of Abstract Visioning is slowly passing out. The seventh ray will bring into expression that which was visioned and that which constituted the ideals of the preceding cycle of sixth ray activity. One ray prepares the way for another ray, and the reason for the manifestation of one ray or another is dependent upon the Plan and divine Purpose. It is not often that two rays follow each other in a regular numerical sequence, such as is now happening. When this does happen, there eventuates a rapid following of effect upon cause, and this today can provide the basis for an assured hope.

Giờ đây, chúng ta chuyển sang việc xem xét các mãnh lực đang chi phối vào thời điểm hiện nay và vì thế có một mối quan tâm tối thượng liên quan đến những gì tôi sắp trình bày. Trước hết, có thể nói rằng vấn đề chính của thời đại ngày nay phát sinh từ thực tế là hai cung có quyền năng rất lớn đang đồng thời hoạt động. Cho đến nay, các tác động của chúng cân bằng nhau đến mức tạo nên một tình thế được mô tả trong các cổ thư bằng những lời sau đây: “Một thời kỳ xé rách, khi những ngọn núi từng che chở sụp đổ khỏi những vị trí cao của chúng, và tiếng nói của con người bị lạc mất trong tiếng va chạm và sấm nổ của sự sụp đổ ấy.” Những giai đoạn như vậy chỉ xuất hiện vào những khoảng thời gian hiếm hoi và rất dài, và mỗi khi chúng xảy ra, một thời kỳ hoạt động thiêng liêng mang ý nghĩa đặc biệt lại được khai mở; những điều cũ kỹ hoàn toàn qua đi, tuy nhiên các mốc giới cổ xưa được phục hồi. Cung bảy của Trật Tự Nghi Lễ hay Nghi Thức đang đi vào biểu hiện. Cung sáu của Chủ Nghĩa Lý Tưởng hay của Tầm Nhìn Trừu Tượng đang dần dần thoái lui. Cung bảy sẽ đưa vào biểu hiện những gì đã được nhìn thấy và những gì đã cấu thành các lý tưởng của chu kỳ hoạt động cung sáu trước đó. Một cung dọn đường cho một cung khác, và lý do cho sự biểu hiện của cung này hay cung kia tùy thuộc vào Thiên Cơ và Thiên Ý. Không thường xảy ra việc hai cung kế tiếp nhau theo một trình tự số học đều đặn, như điều hiện đang diễn ra. Khi điều này xảy ra, sẽ dẫn đến sự tiếp nối nhanh chóng của hệ quả theo sau nguyên nhân, và điều đó ngày nay có thể cung cấp nền tảng cho một niềm hy vọng vững chắc.

a. THE OUTGOING SIXTH RAY

a. CUNG SÁU ĐANG ĐI RA

The sixth ray influence served to attract men’s minds towards an ideal, such as that of individual sacrifice or service, and the mystical vision was the high water mark of the period; the numerous guiding mystics of the Occident and the Orient have appeared. The seventh ray influence will in time produce the magician, but in this age the magician will be predominantly in the class of white magic (not as in Atlantean days, when the predominance was on the side of selfish [359] or black magic). The white magician works with the forces of nature and swings them back into control of advanced humanity. This can already be seen working out through the activity of the scientists which the latter end of the last century and this twentieth century have produced. That much of their magical work has been turned into selfish channels by the tendency of this materialistic age, and that many of their wise and true discoveries in the realm of energy are today adapted to ends which serve man’s hatred or love of self, is equally true. But this in no way militates against the wonder of their achievements. When the motive is transmuted from pure scientific interest to love of the divine revelation, and when service to the race is the determining force, then we shall see the true white magic. Hence therefore the need to turn the mystic into the occultist, and to train the modern aspirant in right motive, mind control and brotherly love, all of which must and will express themselves through harmlessness. The most potent force in the world today is harmlessness. I speak not of non-resistance, but of that positive attitude of mind which thinks no evil. He who thinks no evil and harms naught is a citizen of God’s world.

Ảnh hưởng cung sáu đã phục vụ để thu hút tâm trí con người về phía một lý tưởng, chẳng hạn như sự hy sinh cá nhân hay phụng sự, và linh ảnh thần bí là dấu ấn đỉnh cao của thời kỳ này; vô số nhà thần bí hướng dẫn của Phương Tây và Phương Đông đã xuất hiện. Ảnh hưởng cung bảy theo thời gian sẽ tạo ra nhà huyền thuật, nhưng trong thời đại này, nhà huyền thuật sẽ chủ yếu thuộc tầng lớp chánh thuật (không giống như những ngày Atlantis, khi sự vượt trội nghiêng về phía [359] hắc thuật hay sự ích kỷ). Nhà chánh thuật làm việc với các mãnh lực của tự nhiên và mang chúng trở lại dưới sự kiểm soát của nhân loại tiên tiến. Điều này đã có thể được thấy đang diễn ra thông qua hoạt động của các nhà khoa học mà phần cuối của thế kỷ trước và thế kỷ hai mươi này đã sản sinh ra. Việc phần lớn công việc huyền thuật của họ đã bị chuyển sang các kênh ích kỷ bởi khuynh hướng của thời đại vật chất này, và việc nhiều khám phá khôn ngoan và chân thực của họ trong lĩnh vực năng lượng ngày nay được điều chỉnh cho những mục đích phục vụ sự thù hận hoặc lòng yêu bản thân của con người, cũng đúng như vậy. Nhưng điều này không hề làm giảm đi sự kỳ diệu trong các thành tựu của họ. Khi động cơ được chuyển hóa từ mối quan tâm khoa học thuần túy sang tình yêu đối với sự mặc khải thiêng liêng, và khi sự phụng sự cho nhân loại là mãnh lực xác định, thì chúng ta sẽ thấy chánh thuật thực sự. Do đó, sự cần thiết phải biến nhà thần bí thành nhà huyền bí học, và rèn luyện người chí nguyện hiện đại về động cơ đúng đắn, kiểm soát tâm trí và tình huynh đệ, tất cả những điều đó phải và sẽ tự biểu hiện thông qua tính vô tổn hại. Mãnh lực mạnh mẽ nhất trên thế giới ngày nay là tính vô tổn hại. Tôi không nói về sự không kháng cự, mà về thái độ tích cực của tâm trí vốn không nghĩ điều ác. Kẻ không nghĩ điều ác và không làm hại gì là một công dân của thế giới của Thượng đế.

The following relations between the sixth and seventh rays should be held clearly in mind, and students should grasp the relation of the immediate past to the immediate future, and see in this relation the working out of God’s Plan and the coming salvation of the race:

Các đạo sinh nên giữ những mối quan hệ sau đây giữa cung sáu và cung bảy rõ ràng trong trí, và nên nắm bắt mối quan hệ của quá khứ ngay trước mắt với tương lai ngay trước mắt, và nhìn thấy trong mối quan hệ này sự diễn ra của Thiên Cơ của Thượng đế và sự cứu rỗi sắp tới của nhân loại:

a. The sixth ray fostered the vision.

a. Cung sáu nuôi dưỡng tầm nhìn.

The seventh ray will materialise that which was visioned.

Cung bảy sẽ hiện thực hóa cái đã được nhìn thấy.

b. The sixth ray produced the mystic as its culminating type of aspirant.

b. Cung sáu đã tạo ra nhà thần bí như là loại hình người chí nguyện tột đỉnh của nó.

The seventh ray will develop the magician who works in the field of white magic. [360]

Cung bảy sẽ phát triển nhà huyền thuật làm việc trong lĩnh vực chánh thuật. [360]

c. The sixth ray, as part of the evolutionary plan, led to separations, to nationalism, and to sectarianism, due to the selective nature of the mind and its tendency to divide and separate.

c. Cung sáu, như một phần của kế hoạch tiến hóa, đã dẫn đến những sự chia rẽ, đến chủ nghĩa dân tộc, và chủ nghĩa bè phái, do bản chất chọn lọc của tâm trí và xu hướng chia rẽ và tách biệt của nó.

The seventh ray will lead to fusion and synthesis, for its energy is of the type which blends spirit and matter.

Cung bảy sẽ dẫn đến sự dung hợp và tổng hợp, vì năng lượng của nó thuộc loại hình hòa quyện tinh thần và vật chất.

d. The sixth ray activity led to the formation of bands of disciples, working in groups but not in close relation, and subject to internal dissension, based on personality reactions.

d. Hoạt động cung sáu đã dẫn đến sự hình thành các nhóm đệ tử, làm việc trong các nhóm nhưng không có mối quan hệ chặt chẽ, và chịu sự bất hòa nội bộ, dựa trên các phản ứng phàm ngã.

The seventh ray will train and send forth groups of initiates, working in close unison with the Plan and with each other.

Cung bảy sẽ rèn luyện và gửi đi các nhóm điểm đạo đồ, làm việc trong sự thống nhất chặt chẽ với Thiên Cơ và với nhau.

e. The sixth ray brought the sense of duality to a humanity which regarded itself as a physical unity. Of this attitude the academic materialistic psychologists are the exponents.

e. Cung sáu đã mang lại ý thức về tính nhị nguyên cho một nhân loại vốn coi mình là một sự thống nhất vật chất. Về thái độ này, các nhà tâm lý học duy vật hàn lâm là những người tiêu biểu cho thái độ này.

The seventh ray will inaugurate the sense of a higher unity; first, that of the integrated personality for the masses, and secondly, that of the fusion of soul and body for the world aspirants.

Cung bảy sẽ khai mạc ý thức về một sự thống nhất cao hơn; thứ nhất, đó là của phàm ngã tích hợp cho quần chúng, và thứ hai, đó là của sự dung hợp linh hồn và cơ thể cho các người chí nguyện thế giới.

f. The sixth ray differentiates that aspect of the universal electrical energy which we know as modern electricity, produced to serve man’s material needs.

f. Cung sáu phân biệt khía cạnh của năng lượng điện phổ quát mà chúng ta biết là điện hiện đại, được sản xuất để phục vụ các nhu cầu vật chất của con người.

Thời kỳ cung bảy sẽ làm cho con người quen thuộc với loại hình hiện tượng điện tạo ra sự phối hợp của tất cả các hình tướng.

g. The sixth ray influence produced the emergence in men’s minds of the following knowledges:

g. Ảnh hưởng cung sáu đã tạo ra sự xuất hiện trong tâm trí con người những kiến thức sau:

1. Knowledge of physical plane light and electricity. [361]

1. Kiến thức về ánh sáng và điện cõi hồng trần. [361]

2. Among the esotericists and spiritualists of the world, knowledge of the existence of the astral light.

2. Trong số các nhà huyền bí học và các nhà thần linh học của thế giới, kiến thức về sự tồn tại của ánh sáng cảm dục.

3. An interest in illumination, both physical and mental.

3. Một sự quan tâm đến sự soi sáng, cả về thể chất lẫn trí tuệ.

4. Astro-physics and the newer astronomical discoveries.

4. Vật lý thiên văn và các khám phá thiên văn mới hơn.

The seventh ray will change the theories of the advanced thinkers of the race into the facts of the future educational systems. Education and the growth of the understanding of illumination in all fields will eventually be regarded as synonymous ideals.

Cung bảy sẽ thay đổi các lý thuyết của những nhà tư tưởng tiên tiến của nhân loại thành các sự thật của các hệ thống giáo dục tương lai. Giáo dục và sự phát triển thấu hiểu về sự soi sáng trong mọi lĩnh vực cuối cùng sẽ được coi là những lý tưởng đồng nghĩa.

h. The sixth ray taught the meaning of sacrifice, and of this teaching the crucifixion was the outstanding emblem, to the initiates. Philanthropy was the expression of the same teaching, to advanced humanity. The nebulous ideal of simply “being kind” is the same motivation, applied to the unthinking masses.

h. Cung sáu đã dạy về ý nghĩa của sự hy sinh, và về giáo huấn này, sự đóng đinh là biểu tượng nổi bật đối với các điểm đạo đồ. Lòng từ thiện là biểu hiện của cùng một giáo huấn, đối với nhân loại tiên tiến. Lý tưởng mơ hồ về việc đơn giản là “tử tế” là cùng một động lực, được áp dụng cho quần chúng không suy nghĩ.

The seventh ray will bring to the consciousness of the coming initiates the concept of group service and sacrifice. This will inaugurate the age of the “divine service”. The vision of the giving of the individual in sacrifice and service, within the group and to the group ideal, will be the goal of the masses of advanced thinkers in the New Age, whilst for the rest of humanity, brotherhood will be the keynote of their endeavour. These words have a wider connotation and significance than the thinkers of today can know and understand.

Cung bảy sẽ mang đến cho tâm thức của các điểm đạo đồ sắp tới khái niệm về phụng sự và hy sinh nhóm. Điều này sẽ khai mạc thời đại của “phụng sự thiêng liêng”. Linh ảnh về sự hiến dâng của cá nhân trong hy sinh và phụng sự, bên trong nhóm và cho lý tưởng nhóm, sẽ là mục tiêu của đám đông các nhà tư tưởng tiên tiến trong Kỷ Nguyên Mới, trong khi đối với phần còn lại của nhân loại, tình huynh đệ sẽ là chủ âm cho nỗ lực của họ. Những từ ngữ này có một nội hàm và ý nghĩa rộng lớn hơn những gì các nhà tư tưởng ngày nay có thể biết và hiểu.

i. The sixth ray promoted the growth of the spirit of individualism. Groups exist, but they are groups of individuals gathered around an individual.

i. Cung sáu đã thúc đẩy sự phát triển của tinh thần chủ nghĩa cá nhân. Các nhóm tồn tại, nhưng chúng là các nhóm cá nhân tập hợp xung quanh một cá nhân.

The seventh ray will foster the group spirit, and the rhythm of the group, the objectives of the group, and the ritual-working of the group will be the basic phenomena. [362]

Cung bảy sẽ nuôi dưỡng tinh thần nhóm, nhịp điệu của nhóm, các mục tiêu của nhóm, và hoạt động nghi thức của nhóm sẽ là những hiện tượng cơ bản. [362]

j. The sixth ray influence conveyed to men the ability to recognise the historical Christ, and to evolve the structure of the Christian faith, coloured by a vision of a great Son of Love, but qualified by an excessive militancy and separativeness, based on a narrow idealism.

j. Ảnh hưởng cung sáu đã truyền đạt cho con người khả năng nhận ra Đức Christ lịch sử, và phát triển cấu trúc của đức tin Cơ đốc, được tô màu bởi linh ảnh về một Người Con vĩ đại của Tình Thương, nhưng bị định tính bởi sự hiếu chiến và tính chia rẽ quá mức, dựa trên một chủ nghĩa lý tưởng hạn hẹp.

The seventh ray will convey to man the power to recognise the cosmic Christ, and to produce that future scientific religion of Light which will enable man to fulfill the command of the historical Christ to permit his light to shine forth.

Cung bảy sẽ truyền đạt cho con người quyền năng nhận ra Đức Christ vũ trụ, và tạo ra tôn giáo khoa học tương lai về Ánh sáng vốn sẽ cho phép con người hoàn thành mệnh lệnh của Đức Christ lịch sử là hãy để ánh sáng của mình chiếu sáng.

k. The sixth ray produced the great idealistic religions with their vision and their necessary narrowness,—a narrowness that is needed to safeguard infant souls.

k. Cung sáu đã tạo ra các tôn giáo lý tưởng vĩ đại với tầm nhìn và sự hẹp hòi cần thiết của chúng,—một sự hẹp hòi cần thiết để bảo vệ các linh hồn non nớt.

The seventh ray will release the developed souls from the nursery stage and inaugurate that scientific understanding of the divine purpose which will foster the coming religious synthesis.

Cung bảy sẽ giải phóng các linh hồn đã phát triển khỏi giai đoạn nhà trẻ và khai mạc sự thấu hiểu khoa học về mục đích thiêng liêng vốn sẽ nuôi dưỡng sự tổng hợp tôn giáo sắp tới.

l. The effect of the sixth ray influence has been to foster the separative instincts,—dogmatic religion, scientific factual accuracy, schools of thought with their doctrinal barriers and exclusiveness, and the cult of patriotism.

l. Tác dụng của ảnh hưởng cung sáu là nuôi dưỡng các bản năng chia rẽ,—tôn giáo giáo điều, sự chính xác thực tế khoa học, các trường phái tư tưởng với các rào cản học thuyết và sự độc quyền của chúng, và sự sùng bái lòng yêu nước.

The seventh ray will prepare the way for the recognition of the wider issues which will materialise as the new world religion which will emphasise unity but bar out uniformity; it will prepare for that scientific technique which will demonstrate the universal light that every form veils and hides, and for that internationalism which will express itself as practical brotherhood and as peace and goodwill between the peoples.

Cung bảy sẽ dọn đường cho sự công nhận các vấn đề rộng lớn hơn vốn sẽ hiện thực hóa thành tôn giáo thế giới mới, tôn giáo sẽ nhấn mạnh sự thống nhất nhưng loại trừ sự đồng nhất rập khuôn; nó sẽ chuẩn bị cho kỹ thuật khoa học vốn sẽ chứng minh ánh sáng phổ quát mà mọi hình tướng đều che phủ và giấu kín, và cho chủ nghĩa quốc tế vốn sẽ tự biểu hiện như tình huynh đệ thực tế và như hòa bình và thiện chí giữa các dân tộc.

I could continue emphasizing these relations, but I have enumerated enough to show the beauty of the preparation [363] made by the sixth great Lord of Idealism for the work of the seventh Lord of Ceremonial.

Tôi có thể tiếp tục nhấn mạnh những mối quan hệ này, nhưng tôi đã liệt kê đủ để cho thấy vẻ đẹp của sự chuẩn bị [363] được thực hiện bởi Chúa Tể vĩ đại thứ sáu của Chủ Nghĩa Lý Tưởng cho công việc của Chúa Tể thứ bảy của Nghi Lễ.

b. THE INCOMING SEVENTH RAY

b. CUNG BẢY ĐANG ĐI VÀO

It might be wise here to elucidate somewhat the idea underlying ceremonial and ritual. There is so much revolt at this time against ceremonial, and so many good and well-meaning people regard themselves as having outgrown and transcended ritual. They pride themselves on having attained that so-called “liberation”, forgetting that it is only the sense of individuality that permit this attitude, and that no group work is ever possible without some form of ritual. The refusal therefore to participate in uniformity of action is no sign of a liberated soul.

Có lẽ sẽ khôn ngoan nếu ở đây chúng ta làm sáng tỏ đôi chút ý tưởng nằm dưới nghi lễ và nghi thức. Có quá nhiều sự phản kháng vào lúc này chống lại nghi lễ, và rất nhiều người tốt và có thiện chí coi mình là đã vượt qua và siêu việt nghi thức. Họ tự hào vì đã đạt được cái gọi là “sự giải thoát”, quên rằng chỉ có ý thức về cá tính mới cho phép thái độ này, và rằng không có công việc nhóm nào là khả dĩ nếu không có một hình thức nghi thức nào đó. Do đó, việc từ chối tham gia vào sự thống nhất hành động không phải là dấu hiệu của một linh hồn đã giải thoát.

The Great White Brotherhood has its rituals, but they are rituals which have for their objective the inauguration and the assistance of various aspects of the Plan, and of the varying cyclic activities of that Plan. Where these rituals exist, but where the meaning (inherently present) remains hidden and unrealised, there must as a consequence be demonstrated a spirit of deadness, of uselessness, and of weariness of interest over forms and ceremonies. But where it is demonstrated that ritual and organised ceremonies are but the evidence of a custody of forces and energies, then the idea is constructive in its working out, cooperation with the Plan becomes possible, and the aim of all the divine service begins to demonstrate. All service is governed by ritual.

Thánh đoàn có các nghi lễ của mình, nhưng đó là những nghi lễ nhằm mục tiêu khai mạc và hỗ trợ các phương diện khác nhau của Thiên Cơ, cũng như các hoạt động chu kỳ đa dạng của Thiên Cơ ấy. Ở đâu các nghi lễ này tồn tại nhưng ý nghĩa của chúng (vốn nội tại sẵn có) vẫn bị che giấu và không được nhận thức, thì hệ quả tất yếu là sẽ biểu lộ một tinh thần chết cứng, vô dụng, và sự mệt mỏi, chán nản đối với các hình thức và nghi thức. Nhưng ở đâu người ta chứng minh được rằng nghi lễ và các nghi thức được tổ chức chỉ là bằng chứng cho việc gìn giữ các mãnh lực và năng lượng, thì ý tưởng ấy trở nên mang tính xây dựng trong sự triển khai của nó, sự hợp tác với Thiên Cơ trở nên khả dĩ, và mục tiêu của toàn bộ công cuộc phụng sự thiêng liêng bắt đầu được biểu lộ. Mọi sự phụng sự đều được chi phối bởi nghi lễ.

The coming in of the seventh ray will lead to this desired consummation, and the mystics who are training themselves in the technique of occult motive and in the methods of the trained magician will increasingly find themselves cooperating intelligently with the Plan, and participating in those basic rituals which are distinguished by their power to: [364]

Sự đi vào của cung bảy sẽ dẫn đến sự hoàn thành mong muốn này, và các nhà thần bí đang rèn luyện bản thân trong kỹ thuật của động cơ huyền bí và trong các phương pháp của nhà huyền thuật được huấn luyện sẽ ngày càng thấy mình đang hợp tác một cách thông minh với Thiên Cơ, và tham gia vào những nghi thức cơ bản vốn được phân biệt bởi quyền năng của chúng để: [364]

a. Harness the forces of the planet to the service of the race.

a. Khai thác các mãnh lực của hành tinh để phụng sự nhân loại.

b. Send forth those energies which will produce in some one or other of the kingdoms of nature effects of a desirable and beneficent aspect.

b. Gửi đi những năng lượng sẽ tạo ra trong một giới này hay giới khác của tự nhiên các tác dụng có khía cạnh mong muốn và tốt lành.

c. Call in and re-distribute the energies which are present in all the forms in the various subhuman kingdoms.

c. Gọi vào và tái phân phối các năng lượng hiện diện trong tất cả các hình tướng trong các giới dưới nhân loại khác nhau.

d. Heal through a scientific method of bringing together soul and body.

d. Chữa lành thông qua một phương pháp khoa học mang linh hồn và cơ thể lại với nhau.

e. Produce illumination through right understanding of the energy of Light.

e. Tạo ra sự soi sáng thông qua sự thấu hiểu đúng đắn về năng lượng của Ánh sáng.

f. Evolve that coming ritual which will eventually reveal the true significance of water, which will revolutionise its uses and open to man the free passage to the astral plane. This plane is that of the emotional-desire nature, and its symbol is water. The coming Aquarian Age will reveal to man (and hence also facilitate the work of the seventh ray) that that plane is his natural home at this state of development. The masses today are entirely, but unconsciously, polarised on that plane. They must become consciously aware of their activity. Man is on the verge of becoming normally awake on the astral plane, and it will be through scientific rituals that this new development will be brought about.

f. Phát triển nghi thức sắp tới vốn cuối cùng sẽ tiết lộ ý nghĩa thực sự của nước, sẽ cách mạng hóa việc sử dụng nó và khai mở cho con người lối đi tự do đến cõi cảm dục. Cõi này là cõi của bản chất cảm xúc-dục vọng, và biểu tượng của nó là nước. Kỷ nguyên Bảo Bình sắp tới sẽ tiết lộ cho con người (và do đó cũng tạo thuận lợi cho công việc của cung bảy) rằng cõi đó là ngôi nhà tự nhiên của y ở giai đoạn phát triển này. Quần chúng ngày nay hoàn toàn—nhưng một cách vô thức—bị phân cực trên cõi đó. Họ phải trở nên nhận biết một cách có ý thức về hoạt động của họ. Con người đang trên bờ vực trở nên tỉnh thức bình thường trên cõi cảm dục, và chính thông qua các nghi thức khoa học mà sự phát triển mới này sẽ được mang lại.

The sixth ray influence produced the appearance of the modern science of psychology, and that science has been its consummating glory. The seventh ray influence will carry forward that infant science to maturity. Belief in the soul has become widespread during the sixth ray period. Knowledge of the soul will be the result of the incoming ray activity, plus the aid contributed by the energies released during the incoming Aquarian Age.

Ảnh hưởng cung sáu đã tạo ra sự xuất hiện của khoa học tâm lý hiện đại, và khoa học đó đã là vinh quang tột đỉnh của nó. Ảnh hưởng cung bảy sẽ đưa khoa học non trẻ đó đến sự trưởng thành. Niềm tin vào linh hồn đã trở nên phổ biến trong thời kỳ cung sáu. Kiến thức về linh hồn sẽ là kết quả của hoạt động cung đang đi vào, cộng với sự trợ giúp được đóng góp bởi các năng lượng được giải phóng trong Kỷ nguyên Bảo Bình đang đến.

The new and esoteric psychology will be steadily developed. It will be apparent therefore that A Treatise on White Magic [365] has a definitely seventh ray import, and this Treatise on the Seven Rays has also been sent forth in an effort to clarify the incoming spiritual influences. One of the first lessons that humanity will learn under the potent influence of the seventh ray is that the soul controls its instrument, the personality, through ritual, or through the imposition of a regular rhythm, for rhythm is what really designates a ritual. When aspirants to discipleship impose a rhythm on their lives they call it a discipline, and they feel happy about it. What groups do who are gathered together for the performance of any ritual or ceremony whatsoever (Church ritual, the Masonic work, the drill of the army or navy, business organisations, the proper functioning of a home, of a hospital, or of an entertainment, etc.) is of an analogous nature, for it imposes on the participants a simultaneous performance, an identical undertaking, or a ritual. No one on this earth can evade ritual or ceremonial, for the rising and the setting of the sun imposes a ritual, the cyclic passing of the years, the potent movements of the great centres of population, the coming and the going of trains, of ocean liners and of mails, and the regular broadcasting of the radio organisations,—all of these impose a rhythm upon humanity, whether this is recognised or not. Of these rhythms the present great experiments in national standardisation and regimentation are also an expression, as they demonstrate through the masses in any nation.

Nền tâm lý học mới và nội môn sẽ được phát triển đều đặn. Do đó sẽ thấy rõ rằng Luận về Chánh Thuật [365] có một ý nghĩa cung bảy rõ rệt, và Luận về Bảy Cung này cũng đã được gửi đi trong một nỗ lực để làm sáng tỏ các ảnh hưởng tinh thần đang đi vào. Một trong những bài học đầu tiên mà nhân loại sẽ học được dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của cung bảy là linh hồn kiểm soát công cụ của nó, phàm ngã, thông qua nghi thức, hoặc thông qua việc áp đặt một nhịp điệu đều đặn, vì nhịp điệu là cái thực sự xác định một nghi thức. Khi những người chí nguyện bước vào con đường đệ tử áp đặt một nhịp điệu lên cuộc sống của họ, họ gọi đó là một kỷ luật, và họ cảm thấy hạnh phúc về điều đó. Những gì các nhóm làm khi tập hợp lại với nhau để thực hiện bất kỳ nghi thức hoặc lễ nghi nào (nghi thức Nhà thờ, công việc Hội Tam Điểm, sự tập luyện của quân đội hoặc hải quân, các tổ chức kinh doanh, sự vận hành thích hợp của một ngôi nhà, của một bệnh viện, hoặc của một buổi giải trí, v.v.) đều có bản chất tương tự, vì nó áp đặt lên những người tham gia một sự thực hiện đồng thời, một công việc giống hệt nhau, hoặc một nghi thức. Không ai trên trái đất này có thể trốn tránh nghi thức hay lễ nghi, vì sự mọc và lặn của mặt trời áp đặt một nghi thức, sự trôi qua theo chu kỳ của các năm, những sự di chuyển mạnh mẽ của các trung tâm dân cư lớn, sự đến và đi của các chuyến tàu hỏa, của các tàu biển và của thư tín, và sự phát sóng đều đặn của các tổ chức phát thanh,—tất cả những điều này áp đặt một nhịp điệu lên nhân loại, cho dù điều này có được nhận ra hay không. Trong những nhịp điệu này, các cuộc thử nghiệm lớn hiện tại về tiêu chuẩn hóa và tổ chức hóa trên quy mô quốc gia cũng là một biểu hiện, khi chúng biểu lộ thông qua quần chúng trong bất kỳ quốc gia nào.

There is no evading the process of ceremonial living. It is unconsciously recognised, blindly followed, and constitutes the great discipline of the rhythmic breathing of life itself. The Deity works with ritual and is subjected to the ceremonials of the universe. The seven rays come into activity and pass out again under the rhythmic and ritualistic impulse of the divine Life. Thus is the temple of the Lord built by the [366] ceremonial of the Builders. Every kingdom in nature is subjected to ritualistic experience and to the ceremonials of cyclic expression. These only the initiate can comprehend. Every ant hill and every beehive is equally impelled by instinctive rituals and by rhythmic impulses. The new science of psychology could well be described as the science of the rituals and rhythms of the body, of the emotional nature and of the mental processes, or of those ceremonials (inherent, innate, or imposed by the self, by circumstances and by environment) which affect the mechanism through which the soul functions.

Không có sự trốn tránh quá trình sống theo nghi lễ. Nó được nhận ra một cách vô thức, được tuân theo một cách mù quáng, và cấu thành kỷ luật vĩ đại của hơi thở nhịp nhàng của chính sự sống. Thượng đế làm việc với nghi thức và chịu sự chi phối của các lễ nghi của vũ trụ. Bảy cung đi vào hoạt động và đi ra một lần nữa dưới xung lực nhịp nhàng và mang tính nghi thức của Sự Sống thiêng liêng. Như vậy ngôi đền của Đấng Chúa được xây dựng bởi [366] nghi lễ của các Đấng Kiến Tạo. Mọi giới trong tự nhiên đều chịu sự chi phối của trải nghiệm mang tính nghi thức và các lễ nghi của biểu hiện chu kỳ. Những điều này chỉ có điểm đạo đồ mới có thể thấu hiểu. Mỗi tổ kiến và mỗi tổ ong đều chịu sự thúc đẩy tương tự bởi các nghi lễ mang tính bản năng và bởi những xung lực nhịp điệu. Khoa học tâm lý học mới có thể được mô tả một cách thích đáng như là khoa học về các nghi lễ và nhịp điệu của thể xác, của bản chất cảm xúc và của các tiến trình trí tuệ, hay về những nghi thức (vốn nội tại, bẩm sinh, hoặc do tự ngã áp đặt, do hoàn cảnh và do môi trường áp đặt) tác động lên bộ máy mà qua đó linh hồn vận hành.

It is interesting to note how the sixth ray, which produced in human beings the sense of separativeness and of pronounced individualism, has prepared the way for the organising power of the seventh ray. It is almost as if (to speak symbolically) the executives who were to undertake the reorganising of the world in preparation for the New Age were trained and prepared for their task by the influence now going out. Today a process of house-cleaning is going forward in practically every great nation, preparatory to the coming revelation, and the executives and dictators who are sponsoring this realignment and readjustment are the experts whom the genius of each nation has brought forth to deal with the unique problems with which it is beset. They are predominantly seventh ray executives, whose task it is to reorganise the world as a whole upon the newer lines. They are in the nature of material efficiency experts who have been sent in to deal with internal affairs and to institute that activity which will eliminate those factors which prevent the nation concerned from functioning as a whole, as a unit, integrated and coherent. It is from the lack of internal harmony and synthesis that those internal difficulties and disorders emerge which (if of long continuance) prevent a nation having [367] aught to contribute to the world of nations and lead to that nation’s being so intensely disordered that the wrong people come into power and the wrong aspects of truth become emphasized. A disordered inharmonious national unit is a menace to the comity of nations, and therefore the separative house-cleanings and rearrangements must go forward before the Federation of Nations can be an accomplished fact.

Thật đáng chú ý khi thấy cách mà cung sáu, vốn đã tạo ra nơi con người ý thức về sự phân ly và chủ nghĩa cá nhân rõ rệt, lại chuẩn bị con đường cho quyền năng tổ chức của cung bảy. Gần như thể (nói theo biểu tượng) những nhà điều hành được giao nhiệm vụ tái tổ chức thế giới để chuẩn bị cho Thời đại Mới đã được huấn luyện và chuẩn bị cho công việc của mình dưới ảnh hưởng hiện nay đang dần rút lui. Ngày nay, một tiến trình “tổng vệ sinh” đang diễn ra ở hầu như mọi quốc gia lớn, như một sự chuẩn bị cho mặc khải sắp đến, và những nhà điều hành cũng như các nhà độc tài đang bảo trợ cho sự điều chỉnh và sắp xếp lại này chính là những chuyên gia mà thiên tài của mỗi quốc gia đã đưa ra để đối phó với những vấn đề đặc thù đang vây bủa quốc gia ấy. Họ phần lớn là những nhà điều hành thuộc cung bảy, những người có nhiệm vụ tái tổ chức toàn thể thế giới theo những đường hướng mới mẻ hơn. Họ mang bản chất của các chuyên gia hiệu quả vật chất, được phái đến để giải quyết các công việc nội bộ và thiết lập những hoạt động nhằm loại bỏ các yếu tố ngăn cản quốc gia liên quan vận hành như một toàn thể, như một đơn vị được tích hợp và mạch lạc. Chính từ sự thiếu hòa hợp và tổng hợp nội tại mà những khó khăn và rối loạn bên trong nảy sinh; nếu kéo dài, chúng sẽ ngăn cản một quốc gia có [367] bất cứ điều gì để đóng góp cho thế giới các quốc gia, và dẫn đến việc quốc gia ấy trở nên rối loạn trầm trọng đến mức những con người không thích đáng nắm quyền và những khía cạnh sai lạc của chân lý được nhấn mạnh. Một đơn vị quốc gia rối loạn và bất hòa là một mối đe dọa đối với sự hòa hiệp giữa các quốc gia; vì vậy, những cuộc “tổng vệ sinh” và sắp xếp lại mang tính phân ly phải được tiến hành trước khi Liên hiệp các Quốc gia có thể trở thành một thực tế hoàn tất.

Tuy nhiên, kỷ nguyên mới đang trên đường đến, và không gì có thể ngăn cản điều mà các vì sao đã định và do đó Thánh Đoàn của các Trí Tuệ hướng dẫn đã thấy trước. Các nhà điều hành mới sẽ kế nhiệm các nhà độc tài và các thế lực hiện tại sẽ tiếp quản quyền kiểm soát vào khoảng năm 1955, và họ sẽ là những người chí nguyện và đệ tử cung bảy trong đa số trường hợp; năng lực của họ hướng tới sự tích hợp và hướng tới sự dung hợp theo các đường lối đúng đắn sau đó sẽ nhanh chóng mang lại sự thấu hiểu quốc tế cần thiết.

The question emerges in your mind as to whether such a prophecy will indeed be fulfilled; and if unfulfilled, will not that fact militate against much that I have said and prove me unreliable? Let me answer this question by pointing out that those of us who foresee that which may and ought to be are nevertheless well aware that though the fulfillment of the prophecy is inevitable, yet the time factor may not work out as indicated. This will be because the distressed human mechanisms of those to whom the work is given will fail to react either correctly or at the right time. These incoming seventh ray aspirants and disciples may make mistakes and may perform their undertakings in such a manner that delay may eventuate. They are permitted to have the general outline of their task committed to them by their own souls, working under the inspiration of those great and liberated souls we call the Masters of the Wisdom, but there is no coercion under the Plan and no forced and dictated service. [368] Much of the success in the coming momentous years is dependent upon the work done by all who may be affiliated (even slightly) with the New Group of World Servers. If public opinion is educated in the new ideals, the momentum of that growing tide will greatly facilitate the work of these seventh ray executives, and in some cases will constitute for them the line of least resistance. Failure, therefore, will rest upon the shoulders of the world aspirants and disciples, and will not indicate inaccurate prophecy or misinterpreted astrological conditions. In any case, the prophesied end is inevitable, but the time of that end rests in the hands of awakened humanity. The margin of difference will also be only between one hundred and three hundred years. The impulse towards synthesis is now too strong to be long delayed.

Trong tâm trí các bạn nảy sinh câu hỏi liệu một lời tiên tri như vậy có thực sự được ứng nghiệm hay không; và nếu không được ứng nghiệm, thì chẳng phải điều đó sẽ làm suy yếu nhiều điều tôi đã nói và chứng tỏ tôi là người không đáng tin cậy sao? Tôi xin trả lời câu hỏi này bằng cách chỉ ra rằng những ai trong chúng tôi có thể thấy trước những điều có thểnên xảy ra vẫn hoàn toàn ý thức rằng, mặc dù sự ứng nghiệm của lời tiên tri là điều không thể tránh khỏi, nhưng yếu tố thời gian có thể không diễn tiến đúng như đã được nêu ra. Điều này là vì các bộ máy nhân loại đang khốn khó của những người được giao phó công việc ấy sẽ không phản ứng đúng đắn hoặc không phản ứng đúng thời điểm. Những người chí nguyện và đệ tử cung bảy đang đi vào này có thể phạm sai lầm và có thể thực hiện các công việc được giao theo cách khiến sự trì hoãn xảy ra. Họ được phép tiếp nhận phác thảo tổng quát về nhiệm vụ của mình, được giao phó cho họ bởi chính linh hồn của họ, đang làm việc dưới nguồn cảm hứng của những linh hồn vĩ đại và đã được giải thoát mà chúng ta gọi là các Chân sư Minh Triết; nhưng trong Thiên Cơ không có sự cưỡng ép nào và cũng không có sự phụng sự bị ép buộc hay bị chỉ định. [368] Phần lớn thành công trong những năm trọng đại sắp tới tùy thuộc vào công việc được thực hiện bởi tất cả những ai có thể được liên kết (dù chỉ là đôi chút) với Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Nếu dư luận được giáo dục theo những lý tưởng mới, động lực của làn sóng đang lớn mạnh ấy sẽ tạo điều kiện rất lớn cho công việc của những nhà điều hành cung bảy này, và trong một số trường hợp sẽ tạo thành cho họ con đường ít trở ngại nhất. Vì vậy, sự thất bại—nếu có—sẽ đặt lên vai những người chí nguyện và các đệ tử của thế gian, chứ không phải là bằng chứng cho một lời tiên tri sai lạc hay cho những điều kiện chiêm tinh bị diễn giải sai. Trong bất kỳ trường hợp nào, kết cục đã được tiên tri là điều không thể tránh khỏi, nhưng thời điểm của kết cục ấy lại nằm trong tay của nhân loại đã thức tỉnh. Biên độ sai khác về thời gian cũng sẽ chỉ nằm trong khoảng từ một trăm đến ba trăm năm. Xung lực hướng đến sự tổng hợp hiện nay đã quá mạnh để có thể bị trì hoãn lâu dài.

Under this seventh ray influence the Masonic Fraternity will come into a new and pronounced spiritual activity and begin to approximate its true function and to fulfill its long-seen destiny. One point it might be of interest here to note. During the period of the activity of the sixth ray the Fraternity fell into a crystallised and sectarian attitude, along with the many other grouped circles. It fell also into the snare of materialism, and the outer form has for centuries been of more importance in the eyes of Masons than the inner spiritual meaning. The symbols and the system of allegories have been emphasized, whilst that which they were intended to convey and to reveal to the initiated has been quite forgotten. Also, the trend of the attention of a lodge of Masons, and the main emphasis, has been potently placed on the function and place of the W.M., and not upon the inner significance of the work upon the floor of the Temple. The lodge has not been regarded as an integrated functioning entity. This must and will be changed, and the potency and the effectiveness of the lodge work and ceremonial will be demonstrated. [369] It will be seen that in the regularity of the rituals and the sanctified formality of the ordained ceremonials lies the true meaning of the work and the use of the Word. The coming era of group work and power and of organised synthetic ritualistic activity will profoundly affect Masonry, as the importance of a central dominating figure passes out with the sixth ray influence and the true spiritual work and function of the lodge itself is understood.

Dưới ảnh hưởng cung bảy này, Huynh đệ đoàn Tam Điểm sẽ bước vào một hoạt động tinh thần mới và rõ rệt, bắt đầu tiếp cận chức năng thực sự của mình và hoàn thành định mệnh đã được nhìn thấy từ lâu của mình. Có một điểm có thể thú vị khi lưu ý ở đây. Trong thời kỳ hoạt động của cung sáu, Huynh đệ đoàn đã rơi vào một thái độ kết tinh và bè phái, cùng với nhiều nhóm khác. Nó cũng rơi vào cái bẫy của chủ nghĩa duy vật, và hình thức bên ngoài, trong con mắt của các thành viên Tam Điểm trong nhiều thế kỷ, đã quan trọng hơn so với ý nghĩa tinh thần bên trong. Các biểu tượng và hệ thống ngụ ngôn đã được nhấn mạnh, trong khi cái mà chúng dự định truyền đạt và tiết lộ cho người được điểm đạo đã bị lãng quên hoàn toàn. Ngoài ra, xu hướng chú ý của một chi hội Tam Điểm, và trọng tâm chính, đã được đặt mạnh mẽ vào chức năng và vị trí của Vị Tôn Sư, chứ không phải vào ý nghĩa bên trong của công việc trên sàn của Thánh Điện. Chi hội đã không được coi là một thực thể hoạt động tích hợp. Điều này phải và sẽ được thay đổi, và tiềm lực cũng như hiệu quả của công việc chi hội và nghi lễ sẽ được chứng minh. [369] Người ta sẽ thấy rằng trong sự đều đặn của các nghi thức và tính hình thức được thánh hóa của các lễ nghi được quy định, có ý nghĩa thực sự của công việc và việc sử dụng Linh từ. Kỷ nguyên sắp tới của công việc nhóm và quyền năng nhóm và của hoạt động nghi thức tổng hợp có tổ chức sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến Hội Tam Điểm, khi tầm quan trọng của một nhân vật thống trị trung tâm qua đi cùng với ảnh hưởng cung sáu và công việc cũng như chức năng tinh thần thực sự của chính chi hội được thấu hiểu.

The prime cosmic function of the seventh ray is to perform the magical work of blending spirit and matter in order to produce the manifested form through which the life will reveal the glory of God. Students would be well advised to pause here and re-read the section of this treatise in which I dealt with the seventh ray Lord, with His names, and with His purpose. When this has been done, it will be apparent that one of the results of the intensified new influence will be the recognition, by science, of certain effects and characteristics of the work being accomplished. This can already be seen in the work done by scientists in connection with the mineral world. As we have seen in an earlier part of this book the mineral kingdom is governed by the seventh ray, and to the potency of this incoming ray can be attributed the discovery of the radio-activity of matter. The seventh ray expresses itself in the mineral kingdom through the production of radiation, and we shall find that increasingly these radiations (many of which still remain to be discovered) will be noted, their effects understood and their potencies grasped. One point remains as yet unrealised by science, and that is that these radiations are cyclic in their appearance; under the influence of the seventh ray it has been possible for man to discover and work with radium. Radium has always been present, but not always active in such a manner that we were able to detect it. It is under the influence of the incoming [370] seventh ray that its appearance has been made possible, and it is through this same influence that we shall discover new cosmic rays. They too are always present in our universe, but they use the substance of the incoming ray energy as the path along which they can travel to our planet and thus be revealed. It is many thousands of years since what are now studied as the Cosmic Rays (discovered by Millikan) played definitely upon our planet, and at that time the fifth ray was not active as it now is. Therefore scientific knowledge of their activity was not possible.

Chức năng vũ trụ chính của cung bảy là thực hiện công việc huyền thuật hòa quyện tinh thần và vật chất để tạo ra hình tướng đã biểu lộ qua đó sự sống sẽ tiết lộ vinh quang của Thượng đế. Các đạo sinh sẽ được khuyên nên dừng lại ở đây và đọc lại phần của luận thuyết này trong đó tôi đã đề cập đến Chúa Tể cung bảy, với các tên gọi của Ngài, và với mục đích của Ngài. Khi điều này đã được thực hiện, họ sẽ thấy rõ rằng một trong những kết quả của ảnh hưởng mới được tăng cường sẽ là sự công nhận, bởi khoa học, về một số tác dụng và đặc điểm của công việc đang được hoàn thành. Điều này đã có thể được nhìn thấy trong công việc được thực hiện bởi các nhà khoa học liên quan đến thế giới khoáng vật. Như chúng ta đã thấy trong một phần trước của quyển sách này, giới kim thạch được chi phối bởi cung bảy, và đối với tiềm lực của cung đang đi vào này, có thể quy cho việc khám phá ra tính phóng xạ của vật chất. Cung bảy tự biểu hiện trong giới kim thạch thông qua việc tạo ra bức xạ, và chúng ta sẽ thấy rằng ngày càng nhiều các bức xạ này (nhiều trong số đó vẫn còn chờ được khám phá) sẽ được ghi nhận, các tác dụng của chúng được thấu hiểu và các tiềm lực của chúng được nắm bắt. Một điểm vẫn chưa được khoa học nhận ra, đó là những bức xạ này có tính chu kỳ trong sự xuất hiện của chúng; dưới ảnh hưởng của cung bảy, con người đã có thể khám phá và làm việc với radium. Radium luôn hiện diện, nhưng không phải lúc nào cũng hoạt động theo cách mà chúng ta có thể phát hiện ra nó. Chính dưới ảnh hưởng của cung bảy đang đi vào [370] mà sự xuất hiện của nó đã trở nên khả thi, và cũng thông qua ảnh hưởng này mà chúng ta sẽ khám phá ra các tia vũ trụ mới. Chúng cũng luôn hiện diện trong vũ trụ của chúng ta, nhưng chúng sử dụng chất liệu của năng lượng cung đang đi vào như con đường dọc theo đó chúng có thể đi đến hành tinh của chúng ta và do đó được tiết lộ. Đã nhiều ngàn năm kể từ khi những gì hiện được nghiên cứu là các Tia Vũ Trụ (được khám phá bởi Millikan) tác động một cách dứt khoát lên hành tinh của chúng ta, và vào thời điểm đó cung năm không hoạt động như hiện nay. Do đó kiến thức khoa học về hoạt động của chúng là không thể.

Other cosmic rays will play upon our earth as this seventh ray activity becomes increasingly active, and the result of their influence will be to facilitate the emergence of the new racial types, and above all else, to destroy the veil or web which separates the world of the seen and tangible from the world of the unseen and the intangible, the astral world. Just as there is a veil called “the etheric web” dividing off the various force centres in the human body, and protecting the head centres from the astral world, so there is a separating web between the world of physical life and the astral world. This will be destroyed, slowly and certainly, by the play of the cosmic rays upon our planet. The etheric web which is found between the centres in the spine, and which is found at the top of the head (protecting the head centre) is destroyed in man’s mechanism by the activity of certain forces found in that mysterious fire which we call the kundalini fire. The cosmic rays of which the modern scientist is aware constitute aspects of the planetary kundalini, and their effect will be the same in the body of the planetary Logos, the Earth, as it is in the human body; the etheric web between the physical and astral planes is in process of destruction, and it is of this event which the sensitives of the world and the spiritualists prophesy as an imminent happening.

Các tia vũ trụ khác sẽ tác động lên trái đất của chúng ta khi hoạt động của cung bảy này ngày càng trở nên tích cực, và kết quả ảnh hưởng của chúng sẽ là tạo thuận lợi cho sự xuất hiện của các loại hình chủng tộc mới, và trên hết thảy, là phá hủy bức màn hay tấm mạng ngăn cách thế giới của cái hữu hình và sờ mó được với thế giới của cái vô hình và không sờ mó được, tức thế giới cảm dục. Cũng giống như có một bức màn gọi là “tấm mạng dĩ thái” phân chia các trung tâm lực khác nhau trong cơ thể con người, và bảo vệ các trung tâm ở đầu khỏi thế giới cảm dục, thì cũng có một tấm mạng ngăn cách giữa thế giới của sự sống hồng trần và thế giới cảm dục. Tấm mạng này sẽ bị phá hủy, một cách chậm chạp và chắc chắn, bởi sự tác động của các tia vũ trụ lên hành tinh chúng ta. Tấm mạng dĩ thái được tìm thấy giữa các trung tâm trong cột sống, và được tìm thấy ở đỉnh đầu (bảo vệ trung tâm đầu) bị phá hủy trong bộ máy của con người do hoạt động của một số mãnh lực nhất định được tìm thấy trong ngọn lửa huyền bí mà chúng ta gọi là lửa kundalini. Các tia vũ trụ mà nhà khoa học hiện đại nhận biết vốn cấu thành các phương diện của kundalini hành tinh, và tác dụng của chúng trong cơ thể của Hành Tinh Thượng đế, Trái Đất, cũng sẽ giống như trong cơ thể con người; tấm mạng dĩ thái giữa các cõi hồng trần và cảm dục đang trong quá trình bị phá hủy, và chính về sự kiện này mà những người nhạy cảm của thế giới và các nhà thần linh học tiên tri như một sự việc sắp xảy ra.

[371]

[371]

Much of profound interest is on its way as a result of this seventh ray activity. For one thing, though the animal kingdom reacts but little to this type of influence, yet there are going to be very definite results within the soul of the animal form. The door of individualisation or of entrance into the human kingdom has been closed since Atlantean times, but under the new influence it will be partially opened; it will be set ajar, so that a few animals will respond to soul stimulation and discover that their rightful place is on the human side of the dividing door. Part of the reorganisation which will go on as a result of the seventh ray activity will concern the relation of humanity to the animal kingdom and the establishing of better and of closer relations. This will lead men to take advantage of another effect of the seventh ray, which is its power to refine the matter out of which the forms are built. The animal body of man has received much scientific attention during the past one hundred years, and medicine and surgery have reached great heights of achievement. The framework of man, his body, and its internal systems (with their diverse rituals) are now understood as never before, and this has been the result of the incoming ray force with its power to apply knowledge to the magical work. When this knowledge is applied intensively to the animal world much new and interesting data will be discovered; when the differences between the physical bodies of the animals and those of humanity have been more closely investigated there will appear a new and very fruitful field of study. These differences are largely in the realm of the nervous systems; not enough attention has been paid for instance to the fact that the brain of the animal is really in the region of the solar plexus, whilst the human brain, the controlling agent, is in the head, and works through the medium of the spinal column. When scientists know exactly why the animal [372] does not use the brain in the head as does man, they will arrive at a fuller knowledge of the law governing cycles.

Nhiều điều thú vị sâu sắc đang trên đường đến như một kết quả của hoạt động cung bảy này. Một là, tuy giới động vật phản ứng rất ít với loại ảnh hưởng này, nhưng sẽ có những kết quả rất xác định bên trong linh hồn của hình tướng động vật. Cánh cửa biệt ngã hóa hay sự gia nhập vào giới nhân loại đã bị đóng lại kể từ thời Atlantis, nhưng dưới ảnh hưởng mới, nó sẽ được khai mở một phần; nó sẽ được khép hờ, để một vài con thú sẽ đáp ứng với sự kích thích của linh hồn và khám phá ra rằng vị trí đúng đắn của chúng là ở phía bên con người của cánh cửa ngăn cách. Một phần của sự tái tổ chức sẽ diễn ra như một kết quả của hoạt động cung bảy sẽ liên quan đến mối quan hệ của nhân loại với giới động vật và việc thiết lập các mối quan hệ tốt đẹp hơn và gần gũi hơn. Điều này sẽ dẫn dắt con người tận dụng một tác dụng khác của cung bảy, đó là quyền năng của nó để tinh luyện vật chất mà từ đó các hình tướng được xây dựng. Cơ thể động vật của con người đã nhận được nhiều sự chú ý của khoa học trong suốt một trăm năm qua, và y học cùng phẫu thuật đã đạt đến những đỉnh cao thành tựu to lớn. Cấu trúc của con người, cơ thể của y, và các hệ thống bên trong nó (với các nghi thức đa dạng của chúng) giờ đây được thấu hiểu hơn bao giờ hết, và điều này là kết quả của mãnh lực cung đang đi vào với quyền năng áp dụng tri thức vào công việc huyền thuật. Khi tri thức này được áp dụng sâu rộng vào thế giới động vật, nhiều dữ kiện mới và thú vị sẽ được khám phá; khi những sự khác biệt giữa các thể xác của loài vật và của nhân loại được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn, sẽ xuất hiện một lĩnh vực nghiên cứu mới và rất hiệu quả. Những sự khác biệt này phần lớn nằm trong lãnh vực của các hệ thần kinh; chẳng hạn như chưa có đủ sự chú ý dành cho sự kiện rằng bộ não của loài vật thực sự nằm trong vùng của tùng thái dương, trong khi bộ não con người, tác nhân kiểm soát, nằm ở trong đầu, và làm việc thông qua trung gian của cột sống. Khi các nhà khoa học biết chính xác tại sao con vật [372] không sử dụng bộ não trong đầu giống như con người, họ sẽ đạt tới một tri thức đầy đủ hơn về định luật chi phối các chu kỳ.

There is much that could be said, but little of it would, as yet, be comprehended. Until the incoming ray force and all that attends its entry has produced the adequate changes in the nervous system, it will not be possible for more to be made clear. Brain cells, hitherto dormant in even the most advanced thinkers, must be brought into functioning activity and with this consummated, then more teaching and further elucidation will be possible,—but not till then. Some time must yet elapse before the present human mechanisms are adapted to the registration of that which is new and as yet unknown.

Có nhiều điều có thể được nói ra, nhưng cho đến nay, rất ít trong số đó sẽ được lãnh hội. Cho đến khi mãnh lực cung đang đi vào và tất cả những gì đi kèm sự đi vào đó tạo ra những thay đổi thích đáng trong hệ thần kinh, thì sẽ không thể làm rõ thêm được điều gì. Các tế bào não, cho đến nay vẫn ngủ yên ngay cả trong những nhà tư tưởng tiến bộ nhất, phải được đưa vào hoạt động, và khi điều này hoàn tất, thì việc giảng dạy nhiều hơn và sự giải thích sâu hơn sẽ khả thi,—nhưng chưa phải lúc này. Một khoảng thời gian nữa vẫn phải trôi qua trước khi các bộ máy con người hiện tại thích nghi với việc ghi nhận cái vốn mới mẻ và cho đến nay vẫn chưa được biết đến.

Three final points I wish to touch upon. As you may have noted from some of our earlier tabulations, there is a definite relation between the first kingdom in nature, the mineral kingdom, and the final kingdom, the solar kingdom, the seventh and last to appear in manifestation upon our planet. There is a mysterious unity of response existing between the lowest kingdom in the scale of nature and the highest, between that which expresses the densest manifestation of the divine life and that which embodies its final and glorious consummation. This response is fostered by the play of the seventh ray, which produces those initial reactions to organised movement and ritual which, at the close of our great world period, will demonstrate the response of our entire solar system to the same basic seventh ray influence. What can now be seen in the organisation of a crystal, a jewel and a diamond, with their beauty of form and line and colour, their radiance and geometrical perfection, will appear likewise through the medium of the universe as a whole. The Grand Geometrician of the universe works through this [373] seventh ray, and thus sets His seal upon all form life, particularly in the mineral world. This the Masonic Fraternity has always known, and this concept it has perpetuated symbolically in the great world cathedrals, which embody the glory of the mineral world and are the sign of the work of the Master Builder of the universe.

Tôi muốn đề cập đến ba điểm cuối cùng. Như các bạn có thể đã lưu ý từ một số bảng liệt kê trước đây của chúng tôi, có một mối quan hệ xác định giữa giới thứ nhất trong tự nhiên, giới kim thạch, và giới cuối cùng, giới thái dương, giới thứ bảy và là giới cuối cùng xuất hiện trong sự biểu hiện trên hành tinh chúng ta. Có một sự thống nhất huyền bí trong đáp ứng hiện tồn giữa giới thấp nhất trong thang bậc tự nhiên và giới cao nhất, giữa cái thể hiện sự biểu lộ đậm đặc nhất của sự sống thiêng liêng và cái thể hiện sự hoàn tất vinh quang và tối hậu của nó. Sự đáp ứng này được nuôi dưỡng bởi sự tác động của cung bảy, vốn tạo ra những phản ứng ban đầu đối với chuyển động có tổ chức và nghi thức, mà vào lúc kết thúc của chu kỳ thế giới vĩ đại của chúng ta, sẽ chứng minh sự đáp ứng của toàn bộ hệ mặt trời của chúng ta đối với cùng một ảnh hưởng cung bảy cơ bản này. Những gì giờ đây có thể được nhìn thấy trong sự tổ chức của một tinh thể, một viên ngọc và một viên kim cương, với vẻ đẹp về hình dáng, đường nét và màu sắc, sự rạng rỡ và sự hoàn hảo hình học của chúng, cũng sẽ xuất hiện tương tự thông qua trung gian của vũ trụ như một tổng thể. Đấng Hình Học Vĩ Đại của vũ trụ làm việc thông qua [373] cung bảy này, và do đó đặt ấn dấu của Ngài lên mọi sự sống hình tướng, đặc biệt là trong thế giới kim thạch. Về điều này, Hội Tam Điểm vẫn luôn biết, và khái niệm này đã được duy trì một cách tượng trưng trong các thánh đường vĩ đại của thế giới, vốn thể hiện sự vinh quang của thế giới kim thạch và là dấu hiệu cho công việc của Đấng Kiến Tạo Chủ Đạo của vũ trụ.

When the great work is consummated we shall see the Temple of God, the solar system, organised objectively and subjectively; its courts and holy places will then be accessible to the sons of men, who will work then without limitation, and will have free access to all parts of the building. Through the magic of the Word which will then have been recovered, all doors will fly open, and the consciousness of man will respond to every divine manifestation. More of this I may not here say, but the work of the Craft is symbolic of the ritualistic organisation of the universe. Of this the mineral kingdom (with which the work is done, and through which the geometrical plan expresses itself) is at the same time the symbol and the undertaking, the beginning and also the concrete expression of divine purpose.

Khi công việc vĩ đại được hoàn tất, chúng ta sẽ thấy Thánh Điện của Thượng Đế, hệ mặt trời, được tổ chức một cách khách quan và chủ quan; các tiền đình và những nơi linh thánh của nó khi đó sẽ có thể tiếp cận được đối với các người con của nhân loại, những người khi đó sẽ làm việc không còn giới hạn nào, và sẽ có quyền tự do tiếp cận mọi phần của tòa nhà. Thông qua huyền thuật của Linh từ—khi đó sẽ được phục hồi—mọi cánh cửa sẽ mở toang, và tâm thức của con người sẽ đáp ứng với mọi biểu hiện thiêng liêng. Tôi không thể nói thêm về điều này ở đây, nhưng công việc của Craft là biểu tượng cho sự tổ chức mang tính nghi thức của vũ trụ. Về điều này, giới khoáng vật (giới mà công việc được thực hiện với nó và thông qua đó kế hoạch hình học được biểu lộ) đồng thời vừa là biểu tượng vừa là sự đảm nhận, vừa là khởi điểm vừa là sự biểu hiện cụ thể của Thiên Ý.

Secondly, I referred earlier to the work of the seventh ray in connection with the phenomena of electricity, through which the solar system is coordinated and vitalised. There is an aspect of electrical phenomena which produces cohesion, just as there is an aspect which produces light. This has not yet been recognised. It is stated in The Secret Doctrine of H.P.B., and in A Treatise on Cosmic Fire, that the electricity of the solar system is threefold: there is fire by friction, solar fire, and electric fire—the fire of body, of soul and of spirit. Fire by friction is coming to be somewhat understood by the scientists of the world, and we are harnessing to our needs the fire which heats, which gives light, and which produces motion. This is in the physical sense of the words. One of [374] the imminent discoveries will be the integrating power of electricity as it produces the cohesion within all forms and sustains all form life during the cycle of manifested existence. It produces also the coming together of atoms and of the organisms within forms, so constructing that which is needed to express the life principle. Men today are investigating such matters as electro-therapeutics and studying the theory of the electrical nature of the human being. They are working rapidly towards this coming discovery, and much will be revealed along these lines during the next fifty years. The principle of coordination about which men talk has reference, in the last analysis, to this concept, and the scientific basis of all meditation work is really to be found in this basic truth. The bringing in of force and the offering of a channel are all mystical ways of expressing a natural phenomenon as yet little understood, but which will eventually give the clue to the second aspect of electricity. This will be released in fuller measure during the Aquarian age, through the agency of the seventh ray. One of its earliest effects will be the increase of the understanding of brotherhood and its really scientific basis.

Thứ hai, tôi đã đề cập trước đó đến công việc của cung bảy liên quan đến các hiện tượng điện, mà qua đó hệ mặt trời được phối kết và tiếp sinh lực. Có một phương diện của các hiện tượng điện tạo ra sự liên kết, cũng giống như có một phương diện tạo ra ánh sáng. Điều này vẫn chưa được công nhận. Trong cuốn Giáo Lý Bí Nhiệm của H.P.B., và trong Luận về Lửa Vũ Trụ, có nói rằng điện của hệ mặt trời là tam phân: có lửa do ma sát, lửa thái dương, và lửa điện—lửa của thể xác, của linh hồn và của tinh thần. Lửa do ma sát đang bắt đầu được các nhà khoa học trên thế giới thấu hiểu đôi chút, và chúng ta đang khai thác cho các nhu cầu của mình ngọn lửa vốn làm nóng, vốn ban ánh sáng, và vốn tạo ra chuyển động. Điều này theo nghĩa vật lý của từ ngữ. Một trong [374] những khám phá sắp xảy ra sẽ là quyền năng tích hợp của điện khi nó tạo ra sự liên kết bên trong mọi hình tướng và duy trì mọi sự sống hình tướng trong suốt chu kỳ của sự tồn tại đã biểu hiện. Nó cũng tạo ra sự kết hợp của các nguyên tử và của các cơ quan bên trong các hình tướng, qua đó xây dựng cái cần thiết để thể hiện nguyên khí sự sống. Con người ngày nay đang nghiên cứu những vấn đề như điện trị liệu và nghiên cứu lý thuyết về bản chất điện của con người. Họ đang làm việc nhanh chóng hướng tới khám phá sắp tới này, và nhiều điều sẽ được tiết lộ theo các đường hướng này trong năm mươi năm tới. Nguyên lý phối kết mà con người nói đến, trong sự phân tích cuối cùng, có liên quan đến khái niệm này, và cơ sở khoa học của mọi công việc tham thiền thực sự được tìm thấy trong chân lý cơ bản này. Việc mang vào mãnh lực và việc cung hiến một kênh dẫn đều là những cách thức thần bí để diễn đạt một hiện tượng tự nhiên vẫn chưa được hiểu rõ, nhưng rốt cuộc sẽ đưa ra manh mối cho phương diện thứ hai của điện. Điều này sẽ được giải phóng ở mức độ đầy đủ hơn trong kỷ nguyên Bảo Bình, thông qua tác nhân của cung bảy. Một trong những tác dụng sớm nhất của nó sẽ là sự gia tăng sự thấu hiểu về tình huynh đệ và cơ sở thực sự khoa học của nó.

I referred to the fact that man must before long function as freely on the astral plane and through the astral consciousness as he now does on the physical plane. We are today laying the emphasis upon the vital aspect of man; the nature of the life principle is under discussion, and the need for “vital” action everywhere emphasized. We talk of the necessity of increasing human vitality and the vitality of animals and plants; the quality of the vitality-producing factors—food, sun and the coloured rays so widely used now—is creeping slowly into all medical thought, whilst even the advertisers of the tinned goods of our modern civilisation lay the emphasis upon the quota of vitamins. This, esoterically [375] speaking, is due to the shift of human consciousness on to etheric levels. Paralleling the growth of modern knowledge as to the “soul as intellect”, we find a growth of understanding as to “the soul as life”, though it remains as yet the great and apparently insoluble mystery.

Tôi đã đề cập đến sự kiện rằng chẳng bao lâu nữa con người phải hoạt động chức năng trên cõi cảm dục và thông qua tâm thức cảm dục một cách tự do như y hiện đang làm trên cõi hồng trần. Ngày nay chúng ta đang đặt trọng tâm lên phương diện sinh lực của con người; bản chất của nguyên khí sự sống đang được thảo luận, và nhu cầu cho hành động “thiết yếu” (vital) được nhấn mạnh khắp nơi. Chúng ta nói về sự cần thiết phải gia tăng sinh lực con người và sinh lực của động vật và thực vật; chất lượng của các yếu tố tạo sinh lực—thực phẩm, mặt trời và các tia màu được sử dụng rộng rãi hiện nay—đang len lỏi chậm chạp vào mọi tư tưởng y khoa, trong khi ngay cả những nhà quảng cáo đồ hộp của nền văn minh hiện đại của chúng ta cũng đặt trọng tâm lên định mức vitamin. Điều này, nói một cách huyền bí [375], là do sự chuyển dịch của tâm thức con người lên các cấp độ dĩ thái. Song song với sự phát triển của tri thức hiện đại về “linh hồn như là trí năng”, chúng ta thấy sự phát triển của sự thấu hiểu về “linh hồn như là sự sống”, mặc dù nó vẫn còn là một bí ẩn to lớn và dường như không thể giải quyết được.

There are two happenings of close and imminent occurrence. Today the bulk of human beings are polarised on the lower levels of the astral plane, but are conscious in the physical body. This distinction must be studied. Soon, many will be conscious in the vital body and beginning to be conscious on the higher levels of the astral plane, and some few upon the mental plane. But large numbers of people today are ready to be fully conscious in the astral body and polarised either on the mental plane entirely or centred in the soul. This produces the wonder and the difficulty of the present time.

Có hai sự việc gần gũi và sắp tới. Ngày nay, phần lớn nhân loại được phân cực trên các cấp độ thấp của cõi cảm dục, nhưng lại có ý thức trong thể xác. Sự phân biệt này cần phải được nghiên cứu. Chẳng bao lâu nữa, nhiều người sẽ có ý thức trong thể sinh lực và bắt đầu có ý thức trên các cấp độ cao hơn của cõi cảm dục, và một số ít trên cõi trí. Nhưng số lượng lớn người ngày nay đã sẵn sàng để hoàn toàn có ý thức trong thể cảm dục và phân cực hoặc hoàn toàn trên cõi trí hoặc tập trung nơi linh hồn. Điều này tạo ra sự kỳ diệu và khó khăn của thời điểm hiện tại.

Through the scientific ritual of meditation (for that is what it really is) this refocussing can be brought more rapidly about. Through the scientific culture of the ritual of service it can be still further developed. The ritual of the solar system is the result of the meditation of God and the act of divine service, carried on throughout the entire period of manifestation. The subordination of the lower life to the ritual of service is literally the tuning-in of the individual to the rhythm of the life, heart and mind of God Himself. From that tuning-in, automatically a spiritual development follows.

Thông qua nghi thức khoa học của tham thiền (vì đó thực sự là bản chất của nó), việc tái tập trung này có thể xảy ra nhanh chóng hơn. Thông qua sự nuôi dưỡng khoa học nghi thức phụng sự, nó có thể được phát triển xa hơn nữa. Nghi thức của hệ mặt trời là kết quả của sự tham thiền của Thượng Đế và hành động phụng sự thiêng liêng, được thực hiện trong suốt toàn bộ giai kỳ biểu hiện. Việc đặt đời sống thấp kém phục tùng nghi thức phụng sự theo nghĩa đen là sự điều chỉnh cá nhân theo nhịp điệu của sự sống, trái tim và trí tuệ của Chính Thượng Đế. Từ sự điều chỉnh đó, một sự phát triển tinh thần tự động diễn ra.

c. THE FUNCTIONING RAY LAWS

c. CÁC ĐỊNH LUẬT CUNG ĐANG HOẠT ĐỘNG

There are certain great laws, connected with the seven rays, that are effective in determining the lines of demarcation, the cleavages which produce separation and the differentiations of the manifested life of God into… [376]

Có một số định luật vĩ đại, liên quan đến bảy cung, có hiệu lực trong việc xác định các đường ranh giới, các sự phân chia tạo ra sự tách biệt và các sự biến phân của sự sống biểu hiện của Thượng Đế thành… [376]

1. The septenary constitution of the solar system.

1. Cấu tạo thất phân của hệ mặt trời.

2. The ten schemes which indicate solar achievement.

2. Mười hệ hành tinh biểu thị thành tựu thái dương.

3. The inner constitution, or so-called “chains”, which distinguish each planetary existence.

3. Cấu tạo nội tại, hay cái gọi là các “dãy”, vốn phân biệt mỗi sự tồn tại hành tinh.

4. The planetary constitution of our Earth into the various kingdoms of nature.

4. Cấu tạo hành tinh của Trái Đất chúng ta thành các giới khác nhau trong tự nhiên.

5. The basic distinctions between the kingdoms; these produce the types, groupings, families, branches, empires and nations.

5. Các sự phân biệt cơ bản giữa các giới; những điều này tạo ra các loại hình, nhóm, gia đình, chi nhánh, đế chế và quốc gia.

These Laws of Cleavage are too difficult for general comprehension. They govern form life, and are the result of the united working, or rather the simultaneous manifestation, of the three laws dealt with in A Treatise on Cosmic Fire. These are:

Những Định luật Phân Chia này quá khó để hiểu biết một cách tổng quát. Chúng chi phối đời sống hình tướng, và là kết quả của sự làm việc thống nhất, hay đúng hơn là sự biểu hiện đồng thời, của ba định luật được đề cập trong Luận về Lửa Vũ Trụ. Đó là:

1. The Law of Synthesis, determining the future, certifying the goal, and concerned with the life or spirit aspect.

1. Định luật Tổng Hợp, xác định tương lai, chứng thực mục tiêu, và liên quan đến phương diện sự sống hay tinh thần.

2. The Law of Attraction, determining the present, and governing the immediate condition of the planetary types. It is concerned with the consciousness or the soul aspect.

2. Định luật Hấp Dẫn, xác định hiện tại, và chi phối điều kiện trước mắt của các loại hình hành tinh. Nó liên quan đến phương diện tâm thức hay linh hồn.

3. The Law of Economy. This law determines the past, conditions the planetary consciousness, and concerns itself with the form or matter aspect.

3. Định luật Tiết Kiệm. Định luật này xác định quá khứ, chi phối tâm thức hành tinh, và liên quan đến phương diện hình tướng hay vật chất.

When these three function together, during this particular cycle and in our particular race, they produce a fusion of forces which imposes a certain rhythm, a definite materialisation of energies, and a specific type of civilisation which functions under what we (esoterically) call the Laws of Cleavage. It is the mind which separates and divides; it is mental activity (divine and superhuman, as well as human) which produces the many differentiations. This process of divisioning comes to its climax during this world period in the Aryan [377] race, the fifth race. We are today governed by the Law of Cleavages,—a divine law and one of fruitful objective. This must not be forgotten.

Khi ba định luật này hoạt động cùng nhau, trong chu kỳ đặc biệt này và trong chủng tộc đặc biệt của chúng ta, chúng tạo ra một sự dung hợp các mãnh lực vốn áp đặt một nhịp điệu nhất định, một sự vật chất hóa xác định của các năng lượng, và một loại hình văn minh cụ thể hoạt động dưới cái mà chúng ta (về mặt huyền bí) gọi là các Định luật Phân Chia. Chính thể trí chia tách và phân chia; chính hoạt động trí tuệ (thiêng liêng và siêu nhân loại, cũng như nhân loại) tạo ra nhiều sự biến phân. Tiến trình phân chia này đi đến đỉnh điểm trong giai kỳ thế giới này trong chủng tộc Arya [377], chủng tộc thứ năm. Chúng ta ngày nay được chi phối bởi Định luật Phân Chia,—một định luật thiêng liêng và là một định luật có mục tiêu hiệu quả. Điều này không được quên.

Hoạt động của ba phương diện thiêng liêng, trong mối quan hệ với gia đình nhân loại ở chủng tộc sơ khai đầu tiên (mà khoa học không biết gì về nó), đã tạo ra cái mà chúng ta gọi là Định luật Chìm Đắm (Law of Immersion). Nó gây ra sự đa dạng hóa ngày càng tăng của vật chất, bao bọc sự sống, mà cuối cùng đã tạo ra sự biểu hiện ban đầu của các con của Thượng Đế đang lâm phàm. Đó không phải là một sự lâm phàm hồng trần theo nghĩa mà chúng ta hiểu về thuật ngữ đó.

In the next race, of which again man knows little, the fusion of the three divine energies produced a second law. It should be remembered that a law is but the effect of the continued intelligent activity of the Life aspect as it works in conjunction with matter. This second law is called (by those of us who deal with law and energy) the Law of Capitulation, because the momentum set up by the desire of the sons of God to incarnate proved too strong for the opposing forces of matter. Nothing then could stop the coming into tangible existence of the incarnating spirits. Matter capitulated to spirit, the divine desire and the divine will set their signature upon the rapidly assembling forms. It must be borne in mind that these laws are called by names which indicate their relation to humanity. When active in the other kingdoms of nature their influence is different, and they are called by other nomenclatures.

Trong chủng tộc tiếp theo, mà con người lại biết rất ít về nó, sự dung hợp của ba năng lượng thiêng liêng đã tạo ra một định luật thứ hai. Cần nhớ rằng một định luật chỉ là hiệu quả của hoạt động thông minh liên tục của phương diện Sự Sống khi nó làm việc kết hợp với vật chất. Định luật thứ hai này được gọi (bởi những người trong chúng tôi, những người làm việc với định luật và năng lượng) là Định luật Đầu Hàng (Law of Capitulation), bởi vì đà xung lực được thiết lập bởi dục vọng của các con của Thượng Đế muốn lâm phàm đã tỏ ra quá mạnh đối với các mãnh lực đối kháng của vật chất. Khi đó không gì có thể ngăn cản sự đi vào tồn tại hữu hình của các tinh thần đang lâm phàm. Vật chất đầu hàng trước tinh thần, dục vọng thiêng liêng và ý chí thiêng liêng đặt chữ ký của chúng lên các hình tướng đang tập hợp nhanh chóng. Phải ghi nhớ rằng các định luật này được gọi bằng những cái tên biểu thị mối quan hệ của chúng với nhân loại. Khi hoạt động trong các giới khác của tự nhiên, ảnh hưởng của chúng là khác biệt, và chúng được gọi bằng các thuật ngữ khác.

In the next race, the Lemurian, the triple activity of the divine essential attributes demonstrated as the Law of Materialisation, or (as it is sometimes called) the Law of Hidden Radiance. This law concerns the Light which is in man, and the covering of that Light, in time and space, in order to produce its intensification and its consequent and subsequent [378] radiation, so that, through humanity, light may eventually reach all forms of divine expression. Through man’s achievement, and through the conquest of darkness by light, the light of consciousness in all forms must be brought to a condition of a “shining glory which will irradiate the planet, and shine forth into the world of planets as a testimony to the glory of…”

Trong chủng tộc tiếp theo, chủng tộc Lemuria, hoạt động tam phân của các thuộc tính thiết yếu thiêng liêng đã thể hiện như là Định luật Vật Chất Hóa, hay (như đôi khi nó được gọi) là Định luật Tỏa Rạng Ẩn Giấu. Định luật này liên quan đến Ánh sáng vốn ở trong con người, và sự bao phủ Ánh sáng đó, trong không gian và thời gian, để tạo ra sự tăng cường của nó và sự bức xạ tất yếu và tiếp theo của nó [378], để thông qua nhân loại, ánh sáng cuối cùng có thể chạm tới mọi hình thức biểu hiện thiêng liêng. Thông qua thành tựu của con người, và thông qua sự chinh phục bóng tối bởi ánh sáng, ánh sáng tâm thức trong mọi hình tướng phải được đưa đến một điều kiện của một “vinh quang rực rỡ sẽ chiếu soi hành tinh, và tỏa sáng vào thế giới của các hành tinh như một minh chứng cho vinh quang của…”

The fourth law controlling human destiny is known by the curious name of the Law of the Tides. It concerns the life of desire and of sensory perception and of feeling. It is closely concerned with the development of awareness, and is an aspect of the Law of Cycles which controls solar evolution. It is a basic human law, protective and developing. It controls the cyclic or “tidal” life of all souls who are carried by the great river of life—on the crest of desire—into incarnation, and is one of the laws with which the aspirant must work, early in his training. Until he can function as a soul, independent of the cyclic turmoil of terrestrial life, and free from the control of the tides of his emotional existence, he cannot take initiation. It was the inability to do this which brought on Earth the great Atlantean floods which brought that ancient civilisation to an end.

Định luật thứ tư kiểm soát định mệnh con người được biết đến với cái tên kỳ lạ là Định luật Thủy Triều. Nó liên quan đến đời sống của dục vọng và của nhận thức giác quan và của cảm giác. Nó liên quan chặt chẽ với sự phát triển của nhận thức, và là một phương diện của Định luật Chu Kỳ vốn kiểm soát sự tiến hóa thái dương. Nó là một định luật cơ bản của con người, mang tính bảo vệ và phát triển. Nó kiểm soát đời sống chu kỳ hay “thủy triều” của tất cả các linh hồn bị cuốn theo dòng sông lớn của sự sống—trên ngọn sóng dục vọng—vào sự lâm phàm, và là một trong những định luật mà người chí nguyện phải làm việc với nó, ngay từ đầu trong quá trình huấn luyện của y. Cho đến khi y có thể hoạt động như một linh hồn, độc lập với sự hỗn loạn chu kỳ của đời sống trần thế, và thoát khỏi sự kiểm soát của thủy triều đời sống cảm xúc của y, y không thể nhận điểm đạo. Chính sự bất lực để làm điều này đã mang lại cho Trái Đất những trận lụt lớn Atlantis vốn đã đưa nền văn minh cổ đại đó đến chỗ kết thúc.

We come now to a consideration of the Law of Cleavages, for our race is controlled by the great heresy of separativeness. Through these cleavages (symbolically speaking) the fires of destruction may emerge and end our civilisation, as the Atlantean civilisation was ended, unless the conscious sons of God can build those bridges and develop that understanding which will offset this law, thus bringing into functioning activity the law which governs the coming race. The work that the disciples of the world must seek to do is analogous to that which they as individuals have to do in their [379] own private development: build the antahkarana, which will bridge the gap between the human consciousness and the spiritual, and make the race eventually as intuitional as it is, today, intellectual.

Bây giờ chúng ta đi đến việc xem xét Định luật Phân Chia, vì chủng tộc của chúng ta bị kiểm soát bởi đại tà thuyết về tính chia rẽ. Thông qua những sự phân chia này (nói một cách tượng trưng), ngọn lửa hủy diệt có thể xuất hiện và kết thúc nền văn minh của chúng ta, như nền văn minh Atlantis đã bị kết thúc, trừ khi các người con có ý thức của Thượng Đế có thể xây dựng những cây cầu và phát triển sự thấu hiểu vốn sẽ hóa giải định luật này, do đó đưa vào hoạt động chức năng định luật vốn chi phối chủng tộc sắp tới. Công việc mà các đệ tử của thế giới phải tìm cách thực hiện tương tự như công việc mà họ với tư cách cá nhân phải làm trong [379] sự phát triển riêng tư của chính họ: xây dựng antahkarana, vốn sẽ bắc cầu qua khoảng cách giữa tâm thức con người và tâm thức tinh thần, và cuối cùng làm cho chủng tộc trở nên trực giác cũng như ngày nay nó đang là trí tuệ.

The law of the coming race is most difficult to express in understandable terms. I can find no better name for it—so as to express adequately its functional effect—than the words, the Law of Loving Understanding. This is a quite inadequate and sentimental phrase for a scientific expression of a great coming evolutionary development in the human consciousness. But until that development is an accomplished fact, we have no means whereby to express the true significance of the underlying idea. The above must suffice.

Định luật của chủng tộc sắp tới khó diễn đạt nhất bằng các thuật ngữ dễ hiểu. Tôi không thể tìm thấy cái tên nào tốt hơn cho nó—để diễn đạt thỏa đáng hiệu quả chức năng của nó—ngoài các từ, Định luật Thấu Hiểu Yêu Thương. Đây là một cụm từ khá không thỏa đáng và ủy mị cho một biểu hiện khoa học của một sự phát triển tiến hóa vĩ đại sắp tới trong tâm thức con người. Nhưng cho đến khi sự phát triển đó là một sự kiện đã hoàn thành, chúng ta không có phương tiện nào để diễn đạt ý nghĩa thực sự của tư tưởng cơ bản đó. Điều trên phải là đủ.

Let us now enumerate these laws in sequence, so as to gain a better idea of their relation and interrelationship:

Bây giờ chúng ta hãy liệt kê các định luật này theo trình tự, để có được một ý tưởng tốt hơn về mối quan hệ và sự tương quan của chúng:

1.

The Law of Immersion

first race.

Định luật Chìm Đắm

giống dân thứ nhất.

2.

The Law of Capitulation

second race.

Định luật Đầu hàng

giống dân thứ hai.

3.

The Law of Materialisation

Lemurian race.

Định luật Vật chất hóa

giống dân Lemuria.

4.

The Law of Hidden Radiance.

Định luật Bức xạ Ẩn giấu.

5.

The Law of the Tides

Atlantean race.

Định luật Thủy triều

giống dân Atlantis.

6.

The Law of Cleavages

Aryan race.

Định luật Phân tách

giống dân Arya.

7.

The Law of Loving Understanding

next race.

Định luật Thấu hiểu Đầy Tình thương/Bác ái

giống dân tiếp theo.

By a right understanding of these laws we can gain an insight into the present world situation as far as the nations are concerned, and can grasp more intelligently the ray influence which, in conjunction with these laws, has brought about the various typical national units.

Bằng một sự thấu hiểu đúng đắn về các định luật này, chúng ta có thể đạt được một cái nhìn sâu sắc về tình hình thế giới hiện tại liên quan đến các quốc gia, và có thể nắm bắt một cách thông minh hơn ảnh hưởng cung mà, kết hợp với các định luật này, đã mang lại các đơn vị quốc gia điển hình khác nhau.

6. The Nations and the Rays—Các Quốc Gia và các Cung

In connection, therefore, with our discussion of the rays which govern and influence the leading nations of the world, the student should bear in mind the fact that all are today governed primarily by the Law of Cleavages, but that advanced [380] groups in each nation are beginning to respond to the Law of Understanding,—a law which will eventually emphasize the eternal brotherhood of man and the identity of all souls with the Oversoul, in the racial consciousness, as well as the oneness of the Life which pours through, permeates, animates and integrates the entire solar system. This Life functions therefore in and through all the planetary schemes, with their kingdoms of forms, and with all that can be included (throughout our solar universe) under the phrase “form life”. That phrase itself contains three great and basic ideas: the ideas of life, of matter and of evolution.

Do đó, liên quan đến cuộc thảo luận của chúng ta về các cung chi phối và ảnh hưởng đến các quốc gia hàng đầu trên thế giới, người môn sinh nên ghi nhớ sự kiện rằng ngày nay tất cả chủ yếu được chi phối bởi Định luật Phân Chia, nhưng các nhóm tiên tiến [380] trong mỗi quốc gia đang bắt đầu đáp ứng với Định luật Thấu Hiểu,—một định luật cuối cùng sẽ nhấn mạnh tình huynh đệ vĩnh cửu của con người và sự đồng nhất của tất cả các linh hồn với Đại Hồn, trong tâm thức chủng tộc, cũng như tính nhất thể của Sự Sống tuôn đổ qua, thấm nhuần, làm sinh động và tích hợp toàn bộ hệ mặt trời. Do đó, Sự Sống này hoạt động trong và thông qua tất cả các hệ hành tinh, với các giới hình tướng của chúng, và với tất cả những gì có thể được bao gồm (khắp vũ trụ thái dương của chúng ta) dưới cụm từ “sự sống hình tướng”. Bản thân cụm từ đó chứa đựng ba ý tưởng vĩ đại và cơ bản: ý tưởng về sự sống, về vật chất và về tiến hóa.

The functioning of the Law of Loving Understanding will be much facilitated and speeded up during the Aquarian age, and it will eventuate later in the development of the international spirit, in the recognition of one world faith in God and in humanity as the major expression of divinity in this world period, and in the transfer of the human consciousness from the world of material things to that of the more purely psychic, leading in time to the spiritual. It should be remembered that (for advanced humanity) time sequence of the recognition of these expansions of consciousness is as follows:

Việc hoạt động của Định luật Thấu Hiểu Yêu Thương sẽ được tạo điều kiện thuận lợi và tăng tốc nhiều trong kỷ nguyên Bảo Bình, và sau này nó sẽ dẫn đến sự phát triển của tinh thần quốc tế, trong sự công nhận một đức tin thế giới duy nhất vào Thượng Đế và vào nhân loại như là biểu hiện chính yếu của thiên tính trong giai kỳ thế giới này, và trong sự chuyển dịch tâm thức con người từ thế giới của những sự vật vật chất sang thế giới của những gì thuần túy tâm linh hơn, theo thời gian dẫn dắt đến những gì tinh thần. Cần nhớ rằng (đối với nhân loại tiên tiến) trình tự thời gian của sự nhận biết các sự mở rộng tâm thức này như sau:

1. The world of psychical living. This requires the recognition, by the brain consciousness of the aspirant, of the need for mental and spiritual control as a first step.

1. Thế giới của đời sống tâm linh. Điều này đòi hỏi sự nhận biết, bởi tâm thức não bộ của người chí nguyện, về nhu cầu kiểm soát trí tuệ và tinh thần như một bước đầu tiên.

2. The world of mental unfoldment and control.

2. Thế giới của sự khai mở và kiểm soát trí tuệ.

3. The world of the soul or ego.

3. Thế giới của linh hồn hay chân ngã.

When these three recognitions are stabilised in the aspirant, then there comes the recognition by the disciple of…

Khi ba sự nhận biết này ổn định nơi người chí nguyện, thì người đệ tử sẽ có sự nhận biết về…

4. The control of the physical plane life by the soul.

4. Sự kiểm soát đời sống cõi trần bởi linh hồn.

5. The interpretative faculty of the illumined mind. [381]

5. Khả năng diễn giải của tâm trí được soi sáng. [381]

6. The functioning and utilisation of the psychic powers, and their place and part in the field of intelligent service.

6. Sự hoạt động và sử dụng các quyền năng thông linh, và vị trí cùng vai trò của chúng trong lĩnh vực phụng sự thông minh.

7. An inspired creative life on the physical plane.

7. Một đời sống sáng tạo đầy cảm hứng trên cõi hồng trần.

But in the development of the racial consciousness, the process does not follow the above stages and sequence. This is owing to the stimulation and consequent sensitising of the form aspect through the increased radiation and potency of the dynamic New Group of World Servers, whose ranks are filled by those who have passed, or are passing, through the stages of aspirant and disciple, thus learning to serve. Psychic unfoldment in the masses parallels the spiritual unfoldment of advanced humanity. This can be seen going on today on a large scale everywhere, and it accounts for the tremendous growth of the spiritualistic movement, and for the enormous increase in the lower psychic powers. Old Atlantean magic and the lower psychism are upon us again in the great turning of the wheel of life, but this time good may eventuate, if the world disciples and spiritually focussed people measure up to their opportunity.

Nhưng trong sự phát triển của tâm thức nhân loại, tiến trình không tuân theo các giai đoạn và trình tự trên. Điều này là do sự kích thích và hậu quả là việc nhạy cảm hóa tất yếu phương diện hình tướng thông qua sự bức xạ và quyền năng ngày càng gia tăng của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đầy năng động, hàng ngũ của họ được lấp đầy bởi những người đã trải qua, hoặc đang trải qua, các giai đoạn người chí nguyện và đệ tử, do đó đang học cách phụng sự. Sự khai mở thông linh trong quần chúng song hành với sự khai mở tinh thần của nhân loại tiên tiến. Điều này có thể được nhìn thấy đang diễn ra ngày nay trên quy mô lớn ở khắp mọi nơi, và nó giải thích cho sự phát triển to lớn của phong trào thần linh học, và cho sự gia tăng khổng lồ các quyền năng thông linh thấp. Huyền thuật Atlantis cũ và chủ nghĩa thông linh thấp lại đang ập đến chúng ta trong vòng quay vĩ đại của bánh xe sự sống, nhưng lần này điều tốt đẹp có thể xảy ra, nếu các đệ tử thế giới và những người tập trung vào tinh thần tận dụng được cơ hội của họ.

Today there are many hundreds (and in America, many thousands) coming under the influence of this Law of Loving Understanding. Many in every nation are responding to the broader synthetic brotherly note, but the masses as yet understand nothing of this. They must be led in right ways gradually, by the steady development in right understanding by their own nationals. Bear this in mind, all of you who work for world peace and right relations, for harmony and for synthesis.

Ngày nay có hàng trăm (và ở Mỹ, hàng ngàn) người đang chịu ảnh hưởng của Định luật Thấu Hiểu Yêu Thương này. Nhiều người ở mỗi quốc gia đang đáp ứng với âm điệu huynh đệ tổng hợp rộng lớn hơn, nhưng quần chúng vẫn chưa hiểu gì về điều này. Họ phải được dẫn dắt theo những con đường đúng đắn một cách từ từ, bằng sự phát triển vững chắc trong sự thấu hiểu đúng đắn bởi chính đồng bào của họ. Tất cả các bạn, những người làm việc vì hòa bình thế giới và các mối quan hệ đúng đắn, vì sự hài hòa và vì sự tổng hợp, hãy ghi nhớ điều này.

a. THE MAJOR NATIONS AND THEIR RAYS—CÁC QUỐC GIA CHÍNH VÀ CÁC CUNG CỦA HỌ

All of the great nations are controlled by two rays, just as is the human being. With the smaller nations we shall not [382] concern ourselves. All nations are controlled by a personality ray (if so we can call it), which is dominant and potent and the main controlling factor at this time, and by a soul ray which is sensed only by the disciples and aspirants of any nation. This soul ray must be evoked into an increased functioning activity by the New Group of World Servers, for this is one of their main objectives and tasks. This must never be lost to sight. Much could be written about the historical influence of the rays during the past two thousand years, and of the way in which great events have been influenced or brought about by the periodic ray influence. But for this I have neither the time nor the inclination. Interesting as it is, and indicative of the present national trends and problems, all that I can now do is to point out the rays governing each nation, and leave you to study and note their effect at your leisure, and to comprehend their relation to the present condition of the world. One thing I would point out, and that is that those rays which govern a particular nation, and which are at this time in incarnation, are very potent, either materially or egoically, whilst some of the problems may be due to the fact that certain rays, governing certain nations, are at this time out of incarnation.

Tất cả các quốc gia lớn đều bị kiểm soát bởi hai cung, cũng giống như con người. Với các quốc gia nhỏ hơn, chúng ta sẽ không [382] bận tâm. Tất cả các quốc gia đều bị kiểm soát bởi một cung phàm ngã (nếu chúng ta có thể gọi như vậy), vốn chi phối, mạnh mẽ, và là yếu tố kiểm soát chính yếu vào lúc này, và bởi một cung linh hồn vốn chỉ được cảm nhận bởi các đệ tử và người chí nguyện của bất kỳ quốc gia nào. Cung linh hồn này phải được gợi lên thành một hoạt động chức năng gia tăng bởi Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, vì đây là một trong những mục tiêu và nhiệm vụ chính của họ. Không bao giờ được phép quên điều này. Có thể viết nhiều về ảnh hưởng lịch sử của các cung trong hai ngàn năm qua, và về cách mà các sự kiện vĩ đại đã bị ảnh hưởng hoặc xảy ra bởi ảnh hưởng cung theo chu kỳ. Nhưng tôi không có thời gian cũng như sự quan tâm về điều này. Dù điều đó thú vị và biểu thị cho các xu hướng cũng như vấn đề quốc gia hiện tại, tất cả những gì tôi có thể làm lúc này là chỉ ra các cung chi phối mỗi quốc gia, để các bạn tự nghiên cứu và ghi nhận tác dụng của chúng vào lúc rảnh rỗi, và để lãnh hội mối quan hệ của chúng với tình trạng hiện tại của thế giới. Một điều tôi muốn chỉ ra, đó là những cung chi phối một quốc gia cụ thể và hiện đang lâm phàm vào lúc này, sẽ rất mạnh mẽ—hoặc về mặt vật chất hoặc về mặt chân ngã—trong khi một số vấn đề có thể là do sự kiện rằng một số cung, chi phối một số quốc gia, vào lúc này đang không lâm phàm.

Nation

Personality Ray

Egoic Ray

Motto

Quốc gia

Cung Phàm ngã

Cung Chân ngã

Khẩu hiệu

India

4th ray of art

1st ray of government.

“I hide the Light.”

Ấn Độ

Cung bốn về nghệ thuật

Cung một về cai quản.

“Tôi che giấu Ánh sáng.”

China

3rd ray of intellect

1st ray of government.

“I indicate the Way.”

Trung Quốc

Cung ba về trí tuệ

Cung một về cai quản.

“Tôi chỉ ra Con Đường.”

Germany

1st ray of power

4th ray of art..

“I preserve.”

Đức

Cung một về quyền năng

Cung bốn về nghệ thuật.

“Tôi bảo tồn.”

France

3rd ray of intellect

5th ray of knowledge.

“I release the Light.”

Pháp

Cung ba về trí tuệ

Cung năm về tri thức.

“Tôi phóng thích Ánh sáng.”

Great Britain

1st ray of power or government

2nd ray of love.

“I serve.”

Anh Quốc

Cung một về quyền năng hoặc cai quản

Cung hai về tình thương/bác ái.

“Tôi phụng sự.”

Italy

4th ray of art

6th ray of idealism.

“I carve the Paths.”

Ý

Cung bốn về nghệ thuật

Cung sáu về chủ nghĩa duy tâm.

“Tôi khắc tạc các Con Đường.”

U.S.A

6th ray of idealism

2nd ray of love.

“I light the Way.”

H.K.H

Cung sáu về chủ nghĩa duy tâm

Cung hai về tình thương/bác ái.

“Tôi thắp sáng Con Đường.”

Russia

6th ray of idealism

7th ray of magic and order

“I link two Ways.”

Nga

Cung sáu về chủ nghĩa duy tâm

Cung bảy về huyền thuật và trật tự

“Tôi nối kết hai Con Đường.”

Austria

5th ray of knowledge

4th ray of art

“I serve the Lighted Way.”

Áo

Cung năm về tri thức

Cung bốn về nghệ thuật

“Tôi phụng sự Con Đường được Soi Sáng.”

Spain

7th ray of order

6th ray of idealism

“I disperse the clouds.”

Tây Ban Nha

Cung bảy về trật tự

Cung sáu về chủ nghĩa duy tâm

“Tôi phân tán các đám mây.”

Brazil

2nd ray of love

4th ray of art.

“I hide the seed.”

Brazil

Cung hai về tình thương/bác ái

Cung bốn về nghệ thuật.

“Tôi che giấu hạt giống.”

[383]

[383]

A close analysis of the above will indicate certain lines of racial understanding. There is a natural rapport indicated between the modern and present personality rays of Germany and Great Britain, and yet a relationship can be seen between France and Great Britain through their esoteric national mottoes and also between the two symbols which are esoterically theirs. The symbol for France is the fleur de lys, which she adopted centuries ago under divine guidance, which symbol stands for the three divine aspects in manifestation. The emphasis is upon the third aspect, producing intelligent manifestation. The symbol of Great Britain, under the same divine apportioning, is the three feathers, carried as the arms of the Prince of Wales. The scintillating and brilliant French intellect, with its scientific bent, is accounted for by the interplay of the third Ray of Active Intelligence with the fifth Ray of Scientific Understanding. Hence their amazing contribution to the knowledge and thought of the world, and their brilliant and colourful history. Be it remembered also that the glory of the empire which was France is but the guarantee of a glory of divine revelation which lies ahead in the future, but which will never be theirs till they cease living in the wonder of their past and go forth into the [384] future to demonstrate the fact of illumination, which is the goal of all mental effort. When the intellect of the French is turned towards the discovery and the elucidation of the things of the spirit, then they will carry revelation to the world. When their egoic ray dominates the third ray, and when the separative action of the fifth ray is transmuted into the revealing function of this ray, then France will enter into a period of new glory. Her empire will then be of the mind, and her glory of the soul.

Một phân tích kỹ lưỡng về bảng trên sẽ chỉ ra một số đường hướng của sự thấu hiểu chủng tộc. Có một mối quan hệ tự nhiên được chỉ ra giữa các cung phàm ngã hiện đại và hiện tại của Đức và Vương quốc Anh, tuy nhiên một mối quan hệ có thể được nhìn thấy giữa Pháp và Vương quốc Anh thông qua các khẩu hiệu quốc gia nội môn của họ và cũng giữa hai biểu tượng vốn thuộc về họ về mặt huyền bí. Biểu tượng cho nước Pháp là hoa bách hợp (fleur de lys), mà nước này đã chấp nhận từ nhiều thế kỷ trước dưới sự dẫn dắt thiêng liêng, biểu tượng này đại diện cho ba phương diện thiêng liêng trong biểu hiện. Trọng tâm được đặt vào phương diện thứ ba, tạo ra biểu hiện thông minh. Biểu tượng của Vương quốc Anh, dưới cùng sự phân bổ thiêng liêng, là ba chiếc lông vũ, được mang như huy hiệu của Thân vương xứ Wales. Trí năng Pháp lấp lánh và rực rỡ, với thiên hướng khoa học của nó, được giải thích bởi sự tương tác của Cung ba của Trí Tuệ Hoạt Động với Cung năm của Sự Thấu Hiểu Khoa Học. Do đó có sự đóng góp đáng kinh ngạc của họ cho tri thức và tư tưởng của thế giới, và lịch sử rực rỡ và đầy màu sắc của họ. Cũng hãy nhớ rằng vinh quang của đế chế từng là nước Pháp chỉ là sự đảm bảo cho một vinh quang của sự mặc khải thiêng liêng nằm ở phía trước trong tương lai, nhưng sẽ không bao giờ là của họ cho đến khi họ ngừng sống trong sự kỳ diệu của quá khứ và tiến về [384] tương lai để chứng minh sự kiện của sự soi sáng, vốn là mục tiêu của mọi nỗ lực trí tuệ. Khi trí năng của người Pháp hướng về việc khám phá và làm sáng tỏ những điều thuộc về tinh thần, thì họ sẽ mang sự mặc khải đến cho thế giới. Khi cung chân ngã của họ chi phối cung ba, và khi hành động chia rẽ của cung năm được chuyển hóa thành chức năng mặc khải của cung này, thì nước Pháp sẽ bước vào một thời kỳ vinh quang mới. Đế chế của nó khi đó sẽ thuộc về tâm trí, và vinh quang của nó thuộc về linh hồn.

It is obvious that the governing faculty is strongly the outstanding characteristic of Great Britain. England is an exponent of the art of control, and her function has been, as you may realise, to produce the first tentative grouping of federated nations, and to demonstrate the possibility of such grouping. The United States of America are doing a somewhat similar thing, and are fusing the nationals of many nations into one federated state with many subsidiary states, instead of subsidiary nations. These two powers function in this way and with this wide objective in order to give to the planet, eventually, a system of groupings within one national border or one empire, and yet with an international boundary which will be symbolic of the coming new age technique in government. The second Ray of Love or Attraction governs, egoically, the British Empire, and there is a relation between this fact and the fact that the sign Gemini governs both the United States and London. The fluid, mercurial, intuitional mind is closely allied with the divine aspect of love and understanding, producing attraction and interpretation.

Rõ ràng là năng lực cai trị là đặc điểm nổi bật mạnh mẽ của Vương quốc Anh. Nước Anh là một đại diện của nghệ thuật kiểm soát, và chức năng của nó, như các bạn có thể nhận ra, là tạo ra sự tập hợp thăm dò đầu tiên của các quốc gia liên bang, và chứng minh khả năng của sự tập hợp như vậy. Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đang làm một điều gì đó tương tự, và đang dung hợp công dân của nhiều quốc gia thành một nhà nước liên bang với nhiều tiểu bang phụ thuộc, thay vì các quốc gia phụ thuộc. Hai cường quốc này hoạt động theo cách này và với mục tiêu rộng lớn này để cuối cùng mang lại cho hành tinh một hệ thống các nhóm bên trong một biên giới quốc gia hoặc một đế chế, nhưng lại với một ranh giới quốc tế vốn sẽ là biểu tượng cho kỹ thuật cai trị của kỷ nguyên mới sắp tới. Cung hai của Tình Thương hay Hấp Dẫn chi phối, về mặt chân ngã, Đế quốc Anh, và có một mối quan hệ giữa sự kiện này và sự kiện rằng dấu hiệu Song Tử chi phối cả Hoa Kỳ và London. Trí tuệ linh hoạt, mang tính chất sao Thủy, trực giác, liên minh chặt chẽ với phương diện thiêng liêng của tình thương và sự thấu hiểu, tạo ra sự hấp dẫn và sự diễn giải.

It is interesting to note that the fourth Ray of Harmony or Art, which will begin before long to come into power again in its major aspect, is to be found prominent in the destinies of India, Germany, Italy, Austria and Brazil, and it is for this that there is so much preparatory turmoil in the [385] three European countries. The sixth ray is potent in Russia, the United States, Italy and Spain. It is the fanatical adherence to an ideal which is responsible also for the potent changes in these four countries; in Germany and Italy, as we have seen, the harmonising power of the fourth ray is also seen. Hence we have in all these countries a process of breaking down, and of destruction of old forms, prior to an adequate responsiveness to the influence of the incoming ray. It should be remembered that as with individuals, so with nations,—the reaction to an increasing influence of the egoic ray is ever accompanied by a breaking down period, but this demonstration of destruction is but temporary and preparatory.

Thật thú vị khi lưu ý rằng Cung bốn của Sự Hài Hòa hay Nghệ Thuật, vốn sẽ bắt đầu nắm quyền trở lại trong phương diện chính của nó chẳng bao lâu nữa, được tìm thấy nổi bật trong vận mệnh của Ấn Độ, Đức, Ý, Áo và Brazil, và chính vì điều này mà có rất nhiều sự hỗn loạn chuẩn bị ở [385] ba quốc gia châu Âu. Cung sáu mạnh mẽ ở Nga, Hoa Kỳ, Ý và Tây Ban Nha. Chính sự tuân thủ cuồng tín đối với một lý tưởng cũng chịu trách nhiệm cho những thay đổi mạnh mẽ ở bốn quốc gia này; ở Đức và Ý, như chúng ta đã thấy, quyền năng hài hòa hóa của cung bốn cũng được nhìn thấy. Do đó, chúng ta có trong tất cả các quốc gia này một quá trình phá vỡ, và hủy diệt các hình tướng cũ, trước một sự đáp ứng thích đáng đối với ảnh hưởng của cung đang đi vào. Cần nhớ rằng cũng như với các cá nhân, với các quốc gia cũng vậy,—phản ứng đối với ảnh hưởng ngày càng tăng của cung chân ngã luôn đi kèm với một thời kỳ phá vỡ, nhưng sự biểu hiện của sự hủy diệt này chỉ là tạm thời và có tính chuẩn bị.

India hides the light, and that light, when released upon the world and revealed to humanity, will bring about harmony in the form aspect, for things will be clearly seen as they are and freed from glamour and illusion; this harmonising light is sorely needed in India itself, and when it has been manifested it will bring about the right functioning of the first Ray of Power or Government. The will of the people will be seen in the light. It is in this connection that Great Britain emerges into renewed activity, for her personality ray and India’s egoic ray are the same. Many British people are subjectively linked with India, by past incarnations and association, and the quarrel between Great Britain and India is largely a family affair in the deeper sense of the term, and hence its bitterness—the bitterness of an elder brother who sees the younger usurping his prerogatives. Today many British administrators are finding their way back to their own home land, little as they may realise it, there to work out that which they initiated in other lives and bodies. As you may know, there is a close link between the fourth and the second rays, and this again emerges in the relationship between [386] England and India, and a destiny is there which must be jointly worked out.

Ấn Độ che giấu ánh sáng, và ánh sáng đó, khi được giải phóng ra thế giới và tiết lộ cho nhân loại, sẽ mang lại sự hài hòa trong phương diện hình tướng, vì mọi vật sẽ được nhìn thấy rõ ràng như chúng vốn là và thoát khỏi ảo cảm và ảo tưởng; ánh sáng hài hòa hóa này vô cùng cần thiết ở chính Ấn Độ, và khi nó được biểu hiện, nó sẽ mang lại sự hoạt động đúng đắn của Cung một của Quyền Năng hay Cai Trị. Ý chí của người dân sẽ được nhìn thấy trong ánh sáng. Chính trong mối liên hệ này mà Vương quốc Anh nổi lên hoạt động trở lại, vì cung phàm ngã của nó và cung chân ngã của Ấn Độ là giống nhau. Nhiều người Anh được liên kết một cách chủ quan với Ấn Độ, bởi các kiếp sống và sự liên kết quá khứ, và cuộc tranh cãi giữa Vương quốc Anh và Ấn Độ phần lớn là một chuyện gia đình theo nghĩa sâu sắc hơn của thuật ngữ này, và do đó có sự cay đắng của nó—sự cay đắng của một người anh cả khi thấy người em chiếm đoạt các đặc quyền của mình. Ngày nay, nhiều nhà quản trị người Anh đang tìm đường trở về quê hương của chính họ, dù họ có thể ít nhận ra điều đó, để ở đó giải quyết những gì họ đã khởi xướng trong các kiếp sống và thể xác khác. Như các bạn có thể biết, có một mối liên kết chặt chẽ giữa cung bốn và cung hai, và điều này một lần nữa xuất hiện trong mối quan hệ giữa [386] nước Anh và Ấn Độ, và có một định mệnh ở đó phải được cùng nhau giải quyết.

The static stabilising tendency of Germany showing, for instance, in her futile effort to preserve a purity of race now impossible, is due to her first ray personality, whilst her fourth ray egoic force is responsible for her effort to standardise and harmonise all the elements within her borders, to the exclusion, however, of the Hebrew race. With the problem of the Jew I will deal later. Germany cannot help herself, for though the first ray is not in manifestation as we understand the term, yet the bulk of the egos now in power in Germany are on the first subray of the seven different rays, and hence they are from one dominant angle the transmitters of first ray force. A hint is here given. It is for this reason therefore that Great Britain can contact the German race and handle the German psychology more understandingly than can Russia, Italy or France. They share similar qualities, and one of the services therefore that England can render at this time is to come to the aid of world peace, and so live up to the motto, “I serve,” by acting as a mediator.

Xu hướng ổn định tĩnh tại của nước Đức thể hiện chẳng hạn trong nỗ lực vô ích của nó nhằm bảo tồn một sự thuần chủng nòi giống giờ đây là không thể, là do phàm ngã cung một của nó, trong khi mãnh lực chân ngã cung bốn của cô chịu trách nhiệm cho nỗ lực của nó nhằm tiêu chuẩn hóa và hài hòa hóa tất cả các yếu tố trong biên giới của mình, tuy nhiên lại loại trừ chủng tộc Do Thái. Với vấn đề của người Do Thái tôi sẽ đề cập sau. Nước Đức không thể tự giúp mình, vì mặc dù cung một không đang trong sự biểu hiện như chúng ta hiểu về thuật ngữ này, nhưng phần lớn các chân ngã đang nắm quyền ở Đức hiện nay đều thuộc cung phụ thứ nhất của bảy cung khác nhau, và do đó từ một góc độ vượt trội họ là những người truyền dẫn mãnh lực cung một. Một gợi ý được đưa ra ở đây. Do đó, chính vì lý do này mà Vương quốc Anh có thể tiếp xúc với chủng tộc Đức và xử lý tâm lý Đức một cách thấu hiểu hơn là Nga, Ý hay Pháp. Họ chia sẻ những phẩm chất tương tự, và do đó một trong những sự phụng sự mà nước Anh có thể thực hiện vào lúc này là trợ giúp cho hòa bình thế giới, và sống đúng với phương châm, “Tôi phụng sự,” bằng cách hành động như một người hòa giải.

A careful analysis of the idealism of Russia and of the United States may reveal no resemblances in the goal of their idealism, for the Russian is driven by his seventh ray soul towards the imposition of an enforced ceremonial of ordered rhythms, leading to an idealised order and community of interests. Because of this, and because of the enforced magical work, some forces are present and active in Russia which need most careful handling by the Brotherhood of Light; they are not exactly on the white side, as it is called, but are concerned with the magic of form, whereas pure white magic concerns only the soul or subjective aspect. The black forces, so called, are nowhere rampant in Russia any more than elsewhere in the world, but the Russian reaction and attitude to [387] enforced rule and order has in it more of the magical seventh ray influence than is the case in other countries, such as Germany, which also enforces a standardised order and rule of life.

Một phân tích cẩn thận về chủ nghĩa lý tưởng của Nga và của Hoa Kỳ có thể không tiết lộ sự tương đồng nào trong mục tiêu lý tưởng của họ, vì người Nga bị thúc đẩy bởi linh hồn cung bảy của y hướng tới việc áp đặt một nghi thức cưỡng bức của các nhịp điệu trật tự, dẫn đến một trật tự lý tưởng hóa và cộng đồng các lợi ích. Vì điều này, và vì công việc huyền thuật bị cưỡng bức, một số mãnh lực đang hiện diện và hoạt động ở Nga cần được xử lý cẩn thận nhất bởi Huynh đệ đoàn Ánh sáng; chúng không hẳn thuộc về phe trắng, như nó được gọi, nhưng liên quan đến huyền thuật của hình tướng, trong khi chánh thuật thuần túy chỉ liên quan đến linh hồn hay phương diện chủ quan. Các mãnh lực đen tối, như được gọi như vậy, không hoành hành ở Nga nhiều hơn bất kỳ nơi nào khác trên thế giới, nhưng phản ứng và thái độ của người Nga đối với [387] sự cai trị và trật tự cưỡng bức có trong đó nhiều ảnh hưởng huyền thuật cung bảy hơn trường hợp ở các quốc gia khác, chẳng hạn như Đức, nơi cũng thực thi một trật tự và quy tắc sống được tiêu chuẩn hóa.

You will note that of the major nations only Brazil, Great Britain and the United States of America are definitely under the influence of the second ray. An interesting fact emerges as we consider this grouping. Great Britain is the custodian of the wisdom aspect of the second ray force for the Aryan race, so called. The United States fulfills the same office for the sixth or coming subrace, which is the germ race for the future sixth great race, whilst Brazil will function as the leading division of the great sixth race. These three races embody the attractive cohesive aspect of the second ray, and will demonstrate it through wisdom and wise government, based on idealism and love. The United States will therefore represent a fusion of races, with the Anglo-Saxon element dominating. Brazil will later represent the best of that which the Latin races have eventually to give. This presented fusion will be considered from the angle of the ray types and the basic unfolding principles, and not from the angle of culture and civilisation.

Các bạn sẽ lưu ý rằng trong số các quốc gia lớn chỉ có Brazil, Vương quốc Anh và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ là chắc chắn chịu ảnh hưởng của cung hai. Một thực tế thú vị nổi lên khi chúng ta xem xét sự phân nhóm này. Vương quốc Anh là người trông coi phương diện minh triết của mãnh lực cung hai cho giống dân được gọi là Arya. Hoa Kỳ hoàn thành chức năng tương tự cho giống dân phụ thứ sáu hay giống dân phụ sắp tới, vốn là giống dân hạt giống cho giống dân chánh thứ sáu trong tương lai, trong khi Brazil sẽ hoạt động như bộ phận dẫn đầu của chủng tộc lớn thứ sáu. Ba chủng tộc này thể hiện phương diện liên kết hấp dẫn của cung hai, và sẽ chứng minh điều đó thông qua sự khôn ngoan và sự cai trị khôn ngoan, dựa trên chủ nghĩa lý tưởng và tình thương. Do đó, Hoa Kỳ sẽ đại diện cho sự dung hợp của các chủng tộc, với yếu tố Anglo-Saxon chiếm ưu thế. Brazil sau này sẽ đại diện cho những gì tốt nhất mà các chủng tộc Latinh cuối cùng phải hiến tặng. Sự dung hợp được trình bày này sẽ được xem xét từ góc độ của các loại hình cung và các nguyên lý khai mở cơ bản, chứ không phải từ góc độ văn hóa và văn minh.

Vì vậy, Vương quốc Anh đại diện cho phương diện của trí tự biểu hiện trong sự cai quản thông minh, rốt cuộc dựa trên sự thấu hiểu đầy tình thương và công bằng. Tôi nói rằng, đây là lý tưởng trước mắt quốc gia này, chứ chưa phải là thành tựu đã hoàn tất. Hoa Kỳ đại diện cho năng lực trực giác, tự biểu hiện như là sự soi sáng và quyền năng dung hợp và hòa quyện. Brazil (hay đúng hơn là tên gọi của quốc gia đó vào lúc bấy giờ, vì thời điểm của sự biểu hiện này còn nằm ở hàng ngàn năm phía trước) sẽ đại diện cho một nền văn minh diễn giải mang tính liên kết, dựa trên sự khai mở của tâm thức trừu tượng, vốn là sự hòa quyện giữa trí năng và trực giác, và bộc lộ phương diện minh triết của tình thương trong vẻ đẹp của nó [388]. Nhưng giai đoạn phát triển của nền văn minh vĩ đại này còn ở quá xa phía trước để có thể đưa ra suy đoán nào.

It is too dangerous for me, in these days of upset and of difficulty, to express myself more definitely as to the future lines of unfoldment. The destiny and future functioning of the nations lie hid in the present activity. The readers of this treatise are, in the majority of cases, far too nationalistic in their viewpoint, and too deeply engrossed with the prime importance of their own nation and of its supreme significance, for me to be able to do more than generalise and to indicate the major lines of progress. The role of the prophet is too dangerous, for destiny lies in the hands of the peoples, and no one knows exactly what way they will take to reach their goal. The inevitability of that goal is assured, as is the ultimate achieving of it, but the incidents of travel cannot be revealed, but lie hid in the racial karma. The time has not yet come when the majority of the people of any race can see the picture as a whole and be permitted to know the part their particular nation must play in the history of nations. Every nation, without exception (and this is a platitude which it is seldom fruitful to repeat), has its peculiar virtues and vices. These are dependent upon:

Trong những ngày hỗn loạn và khó khăn này, thật quá nguy hiểm cho tôi khi diễn đạt một cách dứt khoát hơn về những đường hướng khai mở trong tương lai. Vận mệnh và sự vận hành tương lai của các quốc gia nằm ẩn trong hoạt động hiện tại. Độc giả của bộ luận này, trong đa số trường hợp, mang quan điểm quá nặng tinh thần quốc gia, và quá chìm đắm vào tầm quan trọng hàng đầu của quốc gia riêng mình cùng ý nghĩa tối cao của nó, để tôi có thể làm gì hơn ngoài việc khái quát hóa và chỉ ra những đường hướng tiến bộ chính yếu. Vai trò của nhà tiên tri là quá nguy hiểm, vì vận mệnh nằm trong tay các dân tộc, và không ai biết chính xác họ sẽ chọn con đường nào để đạt đến mục tiêu của mình. Tính tất yếu của mục tiêu đó được bảo đảm, cũng như việc rốt cuộc sẽ đạt được nó, nhưng những biến cố của cuộc hành trình không thể được tiết lộ, mà nằm ẩn trong nghiệp quả của giống dân. Thời điểm vẫn chưa đến khi đa số người dân thuộc bất kỳ giống dân nào có thể nhìn thấy bức tranh toàn cảnh và được phép biết vai trò mà quốc gia cụ thể của họ phải đóng trong lịch sử các quốc gia. Mọi quốc gia, không có ngoại lệ (và đây là một lẽ thường tình hiếm khi hữu ích để nhắc lại), đều có những đức tính và thói xấu riêng biệt. Những điều này phụ thuộc vào:

1. The point in evolution.

1. Điểm tiến hóa.

2. The measure of the control of the personality ray.

2. Mức độ kiểm soát của cung phàm ngã.

3. The emerging control of the egoic ray.

3. Sự kiểm soát đang nổi lên của cung chân ngã.

4. The polarisation of the nation.

4. Sự phân cực của quốc gia.

It is useful to bear in mind, when considering the nations that some are negative and feminine and some positive and masculine. India, France, the United States of America, Russia and Brazil are all feminine, and constitute the nurturing mother aspect. They are feminine in their psychology,—intuitive, mystical, sensitive, alluring, beautiful, fond of display [389] and colour, and with the faults of the feminine aspect, such as the laying of too much emphasis upon the material aspect of life, upon pageantry, upon possessions, and upon money as a symbol of that which connotes the form side. They mother and nurture civilisation and ideas.

Khi xem xét các quốc gia, thật hữu ích khi ghi nhớ rằng một số mang tính âm và nữ tính, còn một số thì dương tính và nam tính. Ấn Độ, Pháp, Hoa Kỳ, Nga và Brazil đều mang tính nữ, và cấu thành phương diện người mẹ nuôi dưỡng. Về mặt tâm lý, các quốc gia này mang tính nữ,—có trực giác, thần bí, nhạy cảm, quyến rũ, xinh đẹp, thích sự phô trương [389] và màu sắc, cùng với những khuyết điểm của phương diện nữ tính, chẳng hạn như quá chú trọng vào phương diện vật chất của đời sống, vào sự hào nhoáng, vào của cải, và vào tiền bạc như một biểu tượng của những gì biểu thị cho phương diện hình tướng. Chúng làm mẹ và nuôi dưỡng nền văn minh cùng các ý tưởng.

China, Germany, Great Britain and Italy are masculine and positive; they are mental, political, governing, standardising, group-conscious, occult, aggressive, full of grandeur, interested in law and in laying the emphasis upon race and empire. But they are more inclusive and think in wider terms than the feminine aspects of divine manifestation. The reader would find it useful to consult an earlier tabulation which I gave (see Pages 382-383), and consider the higher and lower expressions of the rays, noting how they work out in relation to the rays personal and egoic of the different nations. Take for instance the emergence into manifestation of the egoic ray of the German nation. Its lower expression is that of architectural construction, and can be seen at this time making its presence felt in the new and modern style in building. Its higher expression is not yet to be noted, but Germany some day will give out to the world a sound form of hierarchical government. It is interesting to note that the higher expression of the egoic ray of France (the fifth) is already being evidenced. The scientific interest shown in psychism and psychology is a reaction to that ray of influence, and though it is as yet only indicated, the guarantee of the future is contained therein. The sixth ray influence governing the personality or form aspect of the United States of America is abundantly evidenced in its diversified religions and in the national aptitude for idealistic organisation; the second ray, the egoic ray, is also making its presence felt, and we have the consequent interest shown in the phenomena and truth of the reality of initiation.

Trung Quốc, Đức, Anh Quốc và Ý mang tính nam và dương tính; các quốc gia này mang tính trí tuệ, chính trị, cai quản, chuẩn hóa, có ý thức nhóm, huyền bí, hiếu chiến, đầy vẻ hùng vĩ, quan tâm đến luật pháp và chú trọng vào giống dân và đế chế. Tuy nhiên, họ bao hàm hơn và suy nghĩ theo những phạm trù rộng lớn hơn so với các phương diện nữ tính của biểu hiện thiêng liêng. Độc giả sẽ thấy hữu ích khi tham khảo bảng phân loại trước đây mà tôi đã đưa ra (xem các trang 382-383), và xem xét các biểu hiện cao và thấp của các cung, lưu ý cách chúng tác động trong mối tương quan với các cung phàm ngã và cung chân ngã của các quốc gia khác nhau. Hãy lấy ví dụ về sự nổi lên đi vào biểu hiện của cung chân ngã của nước Đức. Biểu hiện thấp của nó là kiến trúc xây dựng, và có thể được nhìn thấy vào lúc này đang làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận trong phong cách xây dựng mới và hiện đại. Biểu hiện cao của nó vẫn chưa được ghi nhận, nhưng một ngày nào đó nước Đức sẽ hiến tặng cho thế giới một hình thức chính quyền vững chắc theo thể chế Thánh đoàn. Thật thú vị khi lưu ý rằng biểu hiện cao của cung chân ngã của nước Pháp (cung năm) đã và đang được minh chứng. Sự quan tâm mang tính khoa học đối với thông linh học và tâm lý học là một phản ứng đối với ảnh hưởng của cung đó, và mặc dù nó mới chỉ được biểu thị, nhưng sự bảo đảm cho tương lai được chứa đựng trong đó. Ảnh hưởng của cung sáu chi phối phàm ngã hay phương diện hình tướng của Hoa Kỳ được minh chứng dồi dào trong các tôn giáo đa dạng của nó và trong năng khiếu quốc gia về tổ chức mang tính lý tưởng; cung hai, cung chân ngã, cũng đang làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận, và do đó chúng ta thấy sự quan tâm được thể hiện đối với các hiện tượng và chân lý về thực tại của sự điểm đạo.

[390]

[390]

The analysis of the ray characteristics given earlier can be applied to the nations and countries of the world also, and it will therefore be seen how the many septenates of nature, having their roots in the primary septenate of rays, can be dealt with under the Law of Correspondences with amazingly interesting results.

Việc phân tích các đặc tính của cung được đưa ra trước đây cũng có thể áp dụng cho các quốc gia và đất nước trên thế giới, và do đó sẽ thấy được làm thế nào mà nhiều bộ bảy của tự nhiên, vốn có gốc rễ nơi bộ bảy nguyên thủy của các cung, có thể được xét đến theo Định luật Tương ứng với những kết quả thú vị đáng kinh ngạc.

Intuitional relations and the major intellectual cleavages are based on the governing ray influences. Spain, Austria and France, being governed by the seventh, fifth and third rays, have a close interrelation, and this worked out most interestingly in the Middle Ages when the destinies of these three nations seemed closely to interlink. The newly forming country of the United States is likewise esoterically and intimately associated, in its form aspect, with Brazil, Russia and Italy, and hence the early influx of Russians and Italians into America, and hence also the pull of the South American countries upon the American consciousness and the growth of the ideal of Pan-America.

Các mối quan hệ trực giác và những sự phân cách lớn về trí tuệ đều dựa trên các ảnh hưởng của cung cai quản. Tây Ban Nha, Áo và Pháp, do được cai quản bởi cung bảy, cung năm và cung ba, có một mối tương quan chặt chẽ, và điều này đã diễn ra thú vị nhất vào thời Trung Cổ khi vận mệnh của ba quốc gia này dường như liên kết chặt chẽ với nhau. Quốc gia Hoa Kỳ mới hình thành cũng tương tự được liên kết mật thiết và về mặt huyền bí, trong phương diện hình tướng của nó, với Brazil, Nga và Ý, và do đó có dòng người Nga và Ý đổ vào Mỹ từ sớm, và cũng do đó có sức hút của các nước Nam Mỹ đối với tâm thức người Mỹ và sự phát triển của lý tưởng Toàn Mỹ.

These relations are all on the form side and emerge out of the personality rays. Many such relations will appear if the countries and their rays are subjected to a careful scrutiny. The ray of attraction or inclusiveness (Ray II), the ray of electrical phenomena (Ray III), and the fifth ray of intellect are potentially very active at this time, as they are all in incarnation, and the incoming seventh ray is slowly and surely—in spite of appearances—imposing order and hierarchical control upon the planet. It must be remembered that all natural processes are rightly slow in their tempo, or the effects would be too destructive. The effect of these influences is felt in the following sequential order:

Những mối quan hệ này đều ở trên phương diện hình tướng và xuất lộ từ các cung phàm ngã. Nhiều mối quan hệ như vậy sẽ xuất hiện nếu các quốc gia và các cung của chúng được xem xét kỹ lưỡng. Cung của sự thu hút hay tính bao gồm (Cung II), cung của các hiện tượng điện (Cung III), và cung năm của trí năng có tiềm năng rất hoạt động vào lúc này, vì tất cả chúng đều đang lâm phàm, và cung bảy đang đi vào thì chậm rãi và chắc chắn—bất chấp những vẻ bề ngoài—đang áp đặt trật tự và sự kiểm soát của Thánh đoàn lên hành tinh. Cần phải nhớ rằng mọi tiến trình tự nhiên đều chậm rãi theo nhịp độ của chúng một cách đúng đắn, nếu không thì các tác động sẽ mang tính hủy hoại quá lớn. Tác động của những ảnh hưởng này được cảm nhận theo trình tự sau:

1. The sensing of an ideal.

1. Cảm nhận về một lý tưởng.

2. The formulation of a theory. [391]

2. Sự hình thành một lý thuyết. [391]

3. The growth of public opinion.

3. Sự phát triển của dư luận công chúng.

4. The imposition of a growing “pattern” upon the evolving life.

4. Sự áp đặt một “mô hình” đang phát triển lên sự sống đang tiến hóa.

5. The production of a form based upon that pattern.

5. Việc tạo ra một hình tướng dựa trên mô hình đó.

6. The stabilised functioning of the life within the form.

6. Hoạt động chức năng ổn định của sự sống bên trong hình tướng.

It must be remembered that each ray embodies an idea which can be sensed as an ideal. The rays in time produce the world patterns which mould the planetary forms, and thus produce the inner potency of the evolutionary processes. This pattern-forming tendency is being recognised today by modern psychology in connection with the individual human being, and his emotional and thought patterns are being delineated and charted. As with the microcosm, so with the macrocosm. Every ray produces three major patterns which are imposed upon the matter aspect, whether it be that of a man, a nation or a planet. These three patterns are:

Cần nhớ rằng mỗi cung thể hiện một ý tưởng có thể được cảm nhận như một lý tưởng. Các cung theo thời gian tạo ra các mô hình thế giới vốn đúc kết các hình tướng hành tinh, và do đó tạo ra tiềm năng bên trong của các quá trình tiến hóa. Xu hướng hình thành mô hình này đang được công nhận ngày nay bởi tâm lý học hiện đại liên quan đến cá nhân con người, và các mô hình cảm xúc và tư tưởng của y đang được phác họa và lập biểu đồ. Như với tiểu thiên địa, đại thiên địa cũng vậy. Mọi cung tạo ra ba mô hình chính được áp đặt lên phương diện vật chất, cho dù đó là của một người, một quốc gia hay một hành tinh. Ba mô hình này là:

1. The emotional pattern. This embodies the aspiration of the man, the nation or the planetary life, and is the sum total of the desire tendency.

1. Mô hình cảm xúc. Điều này thể hiện khát vọng của con người, quốc gia hay sự sống hành tinh, và là tổng thể của xu hướng dục vọng.

2. The mental pattern. This emerges later in time and governs the thought processes of the man, the nation and the planet. It eventually becomes the controlling factor of the personality or form life. The emotional and mental patterns are the negative and positive aspect of the personality ray.

2. Mô hình trí tuệ. Điều này xuất hiện muộn hơn theo thời gian và chi phối các quá trình tư tưởng của con người, quốc gia và hành tinh. Cuối cùng nó trở thành yếu tố kiểm soát của phàm ngã hay đời sống hình tướng. Các mô hình cảm xúc và trí tuệ là phương diện âm và dương của cung phàm ngã.

3. The soul pattern. This is the predisposing goal, the ring-pass-not or destiny which the immortal principle, the solar angel, succeeds eventually and much later in time in imposing upon the form life. This soul pattern finally supersedes and obliterates the two earlier pattern-producing processes.

3. Mô hình linh hồn. Đây là mục tiêu dẫn dắt trước, vòng-giới-hạn hay định mệnh mà nguyên khí bất tử, thái dương thiên thần, cuối cùng thành công và muộn hơn nhiều theo thời gian trong việc áp đặt lên đời sống hình tướng. Mô hình linh hồn này cuối cùng thay thế và xóa bỏ hai quá trình tạo mô hình trước đó.

I have here again indicated fruitful lines of study through [392] which the reader may arrive at some intelligent comprehension of what is transpiring in the life of the nations in the world today.

Ở đây tôi lại chỉ ra những đường lối nghiên cứu hiệu quả qua [392] đó người đọc có thể đạt tới một sự lãnh hội thông minh nào đó về những gì đang diễn ra trong đời sống của các quốc gia trên thế giới ngày nay.

If, for instance, the fifth ray of the solar angels, the ray of mind, which is the egoic ray of the French nation, can make its potency felt through the stress and toil of the present world condition, then to France may be given the ultimate glory of proving to the world the fact of the soul and the demonstration of the technique of egoic control. The soul pattern may be translated by the genius of the French intellect into terms which humanity can understand and the true soul psychology may come into being. Again, the genius of Germany has often in the past manifested along the line of its fourth ray soul, and through that soul pattern has been given to the world much of the outstanding music and philosophies. When this is again manifested, and the soul pattern is more strongly impressed upon the German consciousness, we shall begin to comprehend the significance of the superman. Germany has caught a vision of this ideal. It is as yet misinterpreting it, but Germany can give us the pattern of the superman, and this is its ultimate destiny.

Ví dụ, nếu cung năm của các Thái dương Thiên Thần, cung của trí tuệ, vốn là cung chân ngã của nước Pháp, có thể làm cho quyền năng của nó được cảm nhận qua những căng thẳng và cực nhọc của tình hình thế giới hiện tại, thì nước Pháp có thể được trao cho vinh quang tột bậc là chứng minh cho thế giới thấy sự thực về linh hồn và sự minh chứng kỹ thuật kiểm soát của chân ngã. Mô hình linh hồn có thể được chuyển dịch bởi thiên tài của trí năng Pháp thành những thuật ngữ mà nhân loại có thể thấu hiểu và tâm lý học linh hồn chân chính có thể ra đời. Một lần nữa, thiên tài của nước Đức trong quá khứ thường đã biểu hiện theo đường lối của linh hồn cung bốn của nó, và thông qua mô hình linh hồn đó đã hiến tặng cho thế giới nhiều nền âm nhạc và triết lý xuất chúng. Khi điều này lại được biểu hiện, và mô hình linh hồn được ấn tượng mạnh mẽ hơn lên tâm thức Đức, chúng ta sẽ bắt đầu thấu hiểu thâm nghĩa của siêu nhân. Nước Đức đã bắt gặp được tầm nhìn về lý tưởng này. Hiện tại nước này vẫn đang diễn giải sai về nó, nhưng nước Đức có thể mang lại cho chúng ta mô hình của siêu nhân, và đây là vận mệnh tối hậu của nó.

If England’s ideal of justice (which is the pattern of its personality ray) can be transformed and transmuted by her egoic ray of love into just and intelligent world service, she may give to the world the pattern of that true government which is the genius or the latent soul quality of the British. If the idealism of the United States of America, which is today its personality expression and evidenced by the loudly enunciated idea of the biggest and the best, can be illumined by the law of love, then the pattern which underlies the structure of the States may be seen in lines of light, and we shall have the pattern for future racial light in contradistinction to the many separative national lines. Thus the underlying [393] patterns for all the nations can be seen and worked out by the intelligent reader. It could be noted also that the emotional pattern of the United States at this time is expressed in terms of sentiment and of personal desire. It is capable of being translated in terms of true benevolence. The mental pattern for the States is to be seen as mass information through the schools, the radio and the newspapers. Later this can be transmuted into intuitive perception. The soul pattern in the States today works out through the acquisitiveness of the nation and its love of possessions which it attracts to itself through the misuse of the law of love. The eventual expression of this will be the changing of the attitude which loves the material into that which loves the real, and the acquisition of the things of the spirit instead of those of the form.

Nếu lý tưởng công lý của nước Anh (vốn là mô hình của cung phàm ngã của nước này) có thể được chuyển đổi và chuyển hóa bởi cung tình thương của chân ngã của nó thành sự phụng sự thế gian công bằng và thông minh, nước này có thể hiến tặng cho thế giới mô hình của chính quyền chân chính đó, vốn là thiên tài hay phẩm tính linh hồn tiềm tàng của người Anh. Nếu chủ nghĩa lý tưởng của Hoa Kỳ, vốn ngày nay là biểu hiện phàm ngã của nó và được minh chứng bởi ý tưởng được tuyên bố ầm ĩ về cái lớn nhất và tốt nhất, có thể được soi sáng bởi định luật tình thương, thì mô hình nằm bên dưới cấu trúc của Hoa Kỳ có thể được nhìn thấy trong những đường nét của ánh sáng, và chúng ta sẽ có mô hình cho ánh sáng của giống dân tương lai trong sự tương phản với nhiều đường lối quốc gia chia rẽ. Do đó, các mô hình cơ bản [393] cho tất cả các quốc gia có thể được nhìn thấy và xác định bởi độc giả thông minh. Cũng có thể lưu ý rằng mô hình cảm xúc của Hoa Kỳ vào lúc này được biểu hiện qua tình cảm và dục vọng cá nhân. Nó có khả năng được chuyển dịch thành lòng nhân ái chân chính. Mô hình trí tuệ của Hoa Kỳ được nhìn thấy như là thông tin đại chúng thông qua trường học, đài phát thanh và báo chí. Sau này, điều này có thể được chuyển hóa thành nhận thức trực giác. Mô hình linh hồn ở Hoa Kỳ ngày nay biểu hiện qua tính ham chiếm hữu của quốc gia và tình yêu đối với của cải mà nó thu hút về mình thông qua việc sử dụng sai định luật tình thương. Biểu hiện rốt cuộc của điều này sẽ là sự thay đổi thái độ từ yêu cái vật chất sang yêu cái thực tại, và sự thu nhận những điều thuộc về tinh thần thay vì những điều thuộc về hình tướng.

b. THE JEWISH PROBLEM—VẤN ĐỀ DO THÁI

In connection with the nations and the rays I want now to indicate to you certain fundamental conditions which partially account for the (so-called) Jewish problem,—a problem which has existed for centuries, and which is, at this time, causing the deepest possible concern to many, including members of the planetary Hierarchy. If this problem can be solved, it will be one of the potent factors in the restoration of world understanding and harmony. It cannot be solved without the cooperation of the men of good will throughout the world. There is little that I can say anent this matter that can be checked and proved, for the clue to the problem is to be found back in the very night of time and, literally, when the sun was in the constellation Gemini. At that time the two pillars were set up which, as all Masons know, are two great landmarks in Masonry. Hence the Jewish colouring of all the Masonic work, though it is not Jewish [394] in the sense that that word conveys today. Who, therefore, if the facts are of such ancient import, shall say that I speak with accuracy, or establish the right or wrong nature of my conclusions? I but present the facts as I know them from my access to records more ancient than any known to man.

Liên quan đến các quốc gia và các cung, bây giờ tôi muốn chỉ ra cho các bạn một số điều kiện cơ bản vốn giải thích một phần cho (cái gọi là) vấn đề Do Thái,—một vấn đề đã tồn tại hàng thế kỷ, và vào lúc này, đang gây ra mối quan ngại sâu sắc nhất cho nhiều người, bao gồm cả các thành viên của Thánh đoàn hành tinh. Nếu vấn đề này có thể được giải quyết, đó sẽ là một trong những yếu tố mạnh mẽ trong sự phục hồi sự thấu hiểu và hòa hợp của thế giới. Nó không thể được giải quyết nếu thiếu sự hợp tác của những người thiện chí trên khắp thế giới. Rất ít những gì Tôi có thể nói về vấn đề này mà có thể được kiểm chứng và chứng minh, vì manh mối của vấn đề này phải được tìm thấy trở lại trong chính bóng đêm của thời gian, và, theo nghĩa đen, khi mặt trời ở trong chòm sao Song Tử. Vào thời điểm đó, hai trụ cột đã được dựng lên, mà như tất cả các thợ nề (Masons) đều biết, là hai cột mốc vĩ đại trong Hội Tam Điểm. Do đó có màu sắc Do Thái trong tất cả công việc của Hội Tam Điểm, mặc dù nó không phải là Do Thái [394] theo nghĩa mà từ đó truyền tải ngày nay. Vì vậy, ai sẽ nói rằng tôi nói chính xác, hoặc xác lập bản chất đúng hay sai trong các kết luận của tôi, nếu các sự kiện mang tầm quan trọng cổ xưa như vậy? Tôi chỉ trình bày các sự kiện như tôi biết được từ việc tiếp cận các ghi chép cổ xưa hơn bất kỳ ghi chép nào mà con người biết đến.

The personality ray, the material form ray of the Jewish people, is the third ray. Their egoic ray is the first. Their astrological sign is Capricorn, with Virgo rising. Mercury and Virgo play a prominent part in their destiny. These clues should suffice to give to the advanced student and astrologer those salient points which will give him light upon their strange history. Because of this third ray influence, you have the tendency of the Jew to manipulate forces and energies, and to “pull strings” in order to bring about desired ends. As a race, they are natural law makers, and hence their tendency to dominate and govern, because their egoic ray is the first. Hence also the constant appearance of the goat in their history, and their teaching about the virgin mother who should give birth to the Messiah.

Cung phàm ngã, cung hình tướng vật chất của người Do Thái, là cung ba. Cung chân ngã của họ là cung một. Dấu hiệu chiêm tinh của họ là Ma Kết, với Xử Nữ mọc. Sao Thủy và Xử Nữ đóng một vai trò nổi bật trong vận mệnh của họ. Những manh mối này hẳn là đủ để cung cấp cho người học viên cao cấp và nhà chiêm tinh những điểm nổi bật sẽ mang lại cho y ánh sáng về lịch sử kỳ lạ của họ. Do ảnh hưởng của cung ba này, các bạn có khuynh hướng của người Do Thái là vận dụng các mãnh lực và năng lượng, và “giật dây” để mang lại những mục đích mong muốn. Là một giống dân, họ là những nhà làm luật bẩm sinh, và do đó có khuynh hướng thống trị và cai quản, bởi vì cung chân ngã của họ là cung một. Do đó cũng có sự xuất hiện liên tục của con dê trong lịch sử của họ, và giáo lý của họ về người mẹ đồng trinh sẽ sinh ra Đấng Messiah.

In every grouping,—whether in heaven or on earth—there is always evidenced a tendency by some units in the group to revolt, to rebel and to show some form of initiative different to that of the other units in the same grouping. When our solar universe came into being, we are told in the allegorical language of the ancient scriptures, there “was war in Heaven”; “the sun and his seven brothers” did not function with true unanimity; hence (and herein lies a hint) our Earth is not one of the seven sacred planets. There is, as we know, the ancient legend of the lost Pleiade, and there are many such stories. Again, in the council chamber of the Most High, there has not always been peace and understanding, but at times, war and disruption; this is made abundantly clear by several of the stories in the Old Testament. Symbolically [395] speaking, some of the sons of God fell from their high estate, led, at one time, by “Lucifer, Son of the Morning”. This “fall of the angels” was a tremendous event in the history of our planet, but was nevertheless only a passing and interesting phenomenon in the history of the solar system, and a trifling incident in the affairs of the seven constellations, of which our solar system is but one. Pause and consider this statement for a moment, and so readjust your sense of values. The standard of happenings varies in importance according to the angle of vision, and what (from the angle of our Earth’s unfoldment in consciousness) may be a factor of prime importance and of determining value may (from the angle of the universe) be of trifling moment. The affairs of an individual are, to him, of momentous import; to humanity, as a whole, they are of small concern. It all depends upon which unit holds the centre of the stage in the drama of life, and around which central factor the happenings, trivial or important, pursue their cyclic way.

Trong mọi sự tập hợp nhóm,—dù ở trên trời hay dưới đất—luôn luôn có một khuynh hướng nơi một số đơn vị trong nhóm là nổi dậy, phản kháng và thể hiện một hình thức sáng kiến nào đó khác với các đơn vị khác trong cùng nhóm. Khi vũ trụ thái dương của chúng ta hình thành, chúng ta được kể lại bằng ngôn ngữ ngụ ngôn của các thánh thư cổ xưa rằng “đã có chiến tranh trên Trời”; “mặt trời và bảy người anh em của nó” đã không vận hành với sự đồng thuận thực sự; do đó (và ở đây có một gợi ý) Trái Đất của chúng ta không phải là một trong bảy hành tinh thiêng liêng. Như chúng ta biết, có truyền thuyết cổ xưa về chòm sao Pleiade bị mất tích, và có nhiều câu chuyện như vậy. Một lần nữa, trong phòng hội đồng của Đấng Tối Cao, không phải lúc nào cũng có hòa bình và thấu hiểu, mà đôi khi, có chiến tranh và sự phá vỡ; điều này được làm rõ ràng một cách phong phú bởi một số câu chuyện trong Cựu Ước. Nói một cách tượng trưng [395], một số người con của Thượng đế đã sa ngã khỏi địa vị cao quý của họ, được dẫn dắt, vào một thời điểm, bởi “Lucifer, Con của Buổi Sáng”. Sự “sa ngã của các thiên thần” này là một sự kiện to lớn trong lịch sử hành tinh chúng ta, nhưng tuy nhiên chỉ là một hiện tượng thoáng qua và thú vị trong lịch sử của hệ mặt trời, và là một biến cố nhỏ nhặt trong công việc của bảy chòm sao, mà hệ mặt trời của chúng ta chỉ là một trong số đó. Hãy tạm dừng và xem xét tuyên bố này một chút, và do đó điều chỉnh lại ý thức về các giá trị của bạn. Tiêu chuẩn của các sự kiện thay đổi về tầm quan trọng tùy theo góc nhìn, và điều gì (từ góc độ khai mở tâm thức của Trái Đất chúng ta) có thể là một yếu tố quan trọng hàng đầu và có giá trị quyết định thì (từ góc độ của vũ trụ) có thể chỉ là một khoảnh khắc nhỏ nhặt. Công việc của một cá nhân, đối với y, có tầm quan trọng to lớn; đối với nhân loại, nói chung, chúng là mối quan tâm nhỏ. Tất cả phụ thuộc vào đơn vị nào giữ vai trò trung tâm trên sân khấu trong vở kịch của sự sống, và xung quanh yếu tố trung tâm nào mà các sự kiện, dù tầm thường hay quan trọng, theo đuổi con đường chu kỳ của chúng.

Within the radius of power and life which is the expression of the fourth kingdom in nature, the human, there was to be found a correspondence to that “assumption of independence” and to that “breaking away” which characterised the major grouping. Back in later Lemurian times, a group of men of high development, from the point of view of that time, and numbered among the then disciples of the world, took issue with the planetary Hierarchy, and broke away from the “law of the initiates”. It was a time wherein the emphasis of the teaching was upon the material side of life, and where the focus of attention was upon the physical nature and its control. The Old Commentary expresses what happened in the following terms, and as you read the measured cadences of that ancient script, it would be wise to try and realise that the phrases are referring to that group of [396] disciples who were the early founders of the present Jewish race:

Trong phạm vi quyền năng và sự sống vốn là biểu hiện của giới thứ tư trong tự nhiên, giới nhân loại, người ta tìm thấy một sự tương ứng với “sự giả định độc lập” đó và với “sự tách rời” đó vốn đặc trưng cho sự tập hợp nhóm chính yếu. Trở lại thời Lemuria sau này, một nhóm người có trình độ phát triển cao, theo quan điểm của thời đó, và được tính vào số các đệ tử của thế gian lúc bấy giờ, đã tranh cãi với Thánh đoàn hành tinh, và tách rời khỏi “định luật của các điểm đạo đồ”. Đó là thời kỳ mà sự nhấn mạnh của giáo huấn nằm ở phương diện vật chất của đời sống, và nơi sự tập trung chú ý nằm ở bản chất thể xác và sự kiểm soát của nó. Cổ Luận diễn tả những gì đã xảy ra bằng những lời sau đây, và khi các bạn đọc nhịp điệu trang nghiêm của bản văn cổ xưa ấy, sẽ là khôn ngoan nếu cố gắng nhận ra rằng các câu chữ đang nói đến nhóm [396] đệ tử là những người sáng lập ban đầu của giống dân Do Thái hiện nay:

“The law went forth from the inner group which guided the destinies of men: Detach yourselves. Withdraw within yourselves the power to hold and gain and get. The sons of God, who train themselves to leave the world of men and enter into light, they ever travel free. They hold not what they have. Release yourselves, and enter through the gates of peace.

“Luật đã phát ra từ nhóm bên trong vốn dẫn dắt vận mệnh của con người: Hãy tách rời các ngươi ra. Hãy thu hồi vào bên trong các ngươi quyền năng nắm giữ, đạt được và sở hữu. Những người con của Thượng đế, những người tự rèn luyện mình để rời bỏ thế giới của loài người và đi vào ánh sáng, họ luôn du hành tự do. Họ không nắm giữ những gì họ có. Hãy giải thoát chính các ngươi, và đi vào qua các cánh cổng của bình an.

“Some of the sons of God, waiting outside those gates, ready to enter when the Word went forth to roll the gates aside, were laden with the treasure of the earth. They brought their gifts as offerings to the Lord of life, who needed not their gifts. They sought to enter through those gates, not with a selfish end in view, but to present the garnered treasures of the world, and thus shew their love.

“Một số người con của Thượng đế, đang chờ bên ngoài những cánh cổng đó, sẵn sàng đi vào khi Linh từ phát ra để mở các cánh cổng sang một bên, đang trĩu nặng với kho báu của trần gian. Họ mang lễ vật của họ như những đồ cúng dường lên Chúa Tể của sự sống, người không cần lễ vật của họ. Họ tìm cách đi vào qua những cánh cổng đó, không phải với một mục đích ích kỷ, mà để dâng lên những kho báu đã thu lượm của thế gian, và do đó thể hiện tình yêu của họ.

“Again the Word went forth: Leave all behind and pass beyond the portal, laden with naught of earth. They waited and discussed. The rest of those who were prepared entered into light and passed between the pillars of the gate; they left behind the loads they brought and entered free, and were accepted, carrying naught.

“Một lần nữa Linh từ phát ra: Hãy để lại tất cả lại phía sau và đi qua bên kia cổng, không mang theo bất cứ thứ gì của trần gian. Họ đã chờ đợi và thảo luận. Số còn lại của những người đã chuẩn bị đi vào ánh sáng và đi qua giữa các trụ cột của cánh cổng; họ để lại phía sau những gánh nặng họ mang theo và đi vào tự do, và được chấp nhận, không mang theo gì cả.

“Because they travelled as a group, and as a group progressed and grasped, the group responded to the divine command and halted. There they waited, standing before the portal of the Path, grasping the garnered treasures of a thousand cycles. Naught did they wish to leave behind. They had laboured for the riches which they held. They loved their God, and Him they sought to dower with the fullest measure of the riches they had gained. They loved not discipline.

“Bởi vì họ du hành như một nhóm, và như một nhóm đã tiến bộ và nắm giữ, nhóm đã đáp ứng với mệnh lệnh thiêng liêng và dừng lại. Ở đó họ chờ đợi, đứng trước cổng của Thánh Đạo, nắm chặt những kho báu đã thu lượm của một ngàn chu kỳ. Họ không muốn để lại bất cứ thứ gì phía sau. Họ đã lao động vì những sự giàu có mà họ nắm giữ. Họ yêu Thượng đế của họ, và họ tìm cách ban tặng cho Ngài mức độ đầy đủ nhất của những sự giàu có mà họ đã đạt được. Họ không yêu kỷ luật.

“Again the Word went forth: Drop on the ground all that you hold, and enter free.

“Một lần nữa Linh từ phát ra: Hãy buông xuống đất tất cả những gì các ngươi nắm giữ, và đi vào tự do.

“But three revolted from that stern command. The rest obeyed. They passed within the gates, leaving the three outside. Many were raised unto the heights of joy. The three remained without the gates, holding their treasure firm.”

“Nhưng ba người đã nổi dậy chống lại mệnh lệnh nghiêm khắc đó. Số còn lại tuân theo. Họ đi vào bên trong các cánh cổng, để lại ba người bên ngoài. Nhiều người được nâng lên tới những đỉnh cao của niềm vui. Ba người vẫn ở bên ngoài các cánh cổng, nắm giữ kho báu của họ thật chặt.”

In this ancient writing, older than any of the written scriptures of the world, is to be found the secret of the Masonic story and of the slaying of the Master by the three most [397] closely associated with Him in His death and burial. Masons will all recognise the three to whom I here refer. These three were the founders of the modern Jewish race. They were three advanced disciples who resented the command to enter, free and untrammelled, the place where light is to be found. They sought to hold that which they had gathered and to dedicate it to the service of God. Their unrecognised motive was love of riches and a desire to hold safe their gains. Ancient tradition, as taught by the teachers of the past, tells us that…

Trong bài viết cổ xưa này, cổ hơn bất kỳ thánh thư nào được viết của thế giới, người ta tìm thấy bí mật của câu chuyện Hội Tam Điểm và việc giết chết Chân sư bởi ba người [397] liên kết chặt chẽ nhất với Ngài trong cái chết và sự chôn cất của Ngài. Tất cả các thợ nề sẽ nhận ra ba người mà tôi đề cập ở đây. Ba người này là những người sáng lập giống dân Do Thái hiện đại. Họ là ba đệ tử tiến bộ đã phản kháng trước mệnh lệnh đi vào, tự do và không bị ràng buộc, nơi mà ánh sáng được tìm thấy. Họ tìm cách nắm giữ những gì họ đã thu thập và dâng hiến nó cho sự phụng sự Thượng đế. Động cơ không được nhận ra của họ là tình yêu đối với sự giàu có và mong muốn giữ an toàn cho những thành quả của họ. Truyền thống cổ xưa, như được các vị huấn sư của quá khứ giảng dạy, cho chúng ta biết rằng…

“They turned their faces towards the gates of earth. Their friends went on….. They stayed behind….. The Masters met in conclave and decided what should be the fate of those who, having reached the Gates of Light, loved the possessions of the world more than they loved the service of the light. Again the Word went forth to the revolting three, who waited still without the gates:

“Họ quay mặt về phía các cánh cổng của trần gian. Bạn bè của họ tiếp tục đi….. Họ ở lại phía sau….. Các Chân sư đã gặp nhau trong mật nghị và quyết định số phận của những người, sau khi đã đến được Cổng Ánh Sáng, lại yêu những vật sở hữu của thế gian hơn là yêu sự phụng sự ánh sáng. Một lần nữa Linh từ phát ra cho ba người nổi dậy, những người vẫn chờ đợi bên ngoài các cánh cổng:

“‘Hold what you have and gather more, but know no peace. Garner the fruits of mind, and seek your power in wide possessions, but have no sure abiding place.

“‘Hãy nắm giữ những gì các ngươi có và thu thập thêm nữa, nhưng không biết đến bình an. Hãy thu lượm những hoa trái của trí tuệ, và tìm kiếm quyền năng của các ngươi trong những vật sở hữu rộng lớn, nhưng không có nơi cư ngụ chắc chắn.

“‘Within yourselves, because you are disciples of the Lord, you shall have no share in peace, no sure and certain knowledge of success, nor power to hold your gains.

“‘Trong chính các ngươi, bởi vì các ngươi là đệ tử của Đức Chúa, các ngươi sẽ không có phần trong sự bình an, không có sự hiểu biết chắc chắn và nhất định về thành công, cũng không có quyền năng nắm giữ những thành quả của các ngươi.

“‘Always shall there be the knowledge dim of Him Who watches over all. Always the urge to gather and amass. Never the time to hold and to enjoy. Pass on therefore until the time shall come, and again you stand before the Gates of Light, this time with empty hands. Then enter, free, accepted by the Servants of the Lord, and know, forever, peace.’”

“‘Luôn luôn sẽ có sự hiểu biết lờ mờ về Đấng trông coi tất cả. Luôn luôn có sự thúc giục thu thập và tích lũy. Không bao giờ có thời gian để nắm giữ và tận hưởng. Vì vậy hãy tiếp tục đi cho đến khi thời gian sẽ đến, và một lần nữa các ngươi đứng trước Cổng Ánh Sáng, lần này với đôi bàn tay trắng. Khi đó hãy đi vào, tự do, được chấp nhận bởi những Người Phụng Sự của Chúa, và biết được sự bình an mãi mãi.’”

The ancient legend tells us that the three went forth in sorrow and revolt, laden with their treasures, and thus the history of the wandering Jew began. It is significant to remember that one of the greatest sons of God Who has worked on earth, and Who epitomised in Himself the way and the achievement, Jesus of Nazareth, was a Jew. He reversed all the earlier conditions. He possessed nothing at [398] all. He was the first of our humanity to achieve, and was a direct descendant of the eldest of the original three disciples who revolted from the drama of detachment. The Jew embodies in himself the world prodigal son. He is the symbol of the disciple who has not yet learned the lesson of a just sense of values. He has been the victim of the Law of Light and of his inability to comply with that Law. He sinned wilfully and with his eyes wide open to results. Hence he knows the law as no other race knows it, for he is eternally its victim. He has enunciated the law from its negative angle; the Law of Moses today rules most of the world, and yet fails to bring into life justice and true legality.

Truyền thuyết cổ xưa cho chúng ta biết rằng ba người đã ra đi trong đau khổ và nổi dậy, mang nặng những kho báu của họ, và do đó lịch sử của người Do Thái lang thang bắt đầu. Điều quan trọng cần nhớ là một trong những người con vĩ đại nhất của Thượng đế Đã làm việc trên trần gian, và đã tóm tắt trong Chính Ngài con đường và thành tựu, Đức Jesus xứ Nazareth, là một người Do Thái. Ngài đã đảo ngược tất cả các điều kiện trước đó. Ngài không sở hữu gì cả [398]. Ngài là người đầu tiên của nhân loại chúng ta đạt được thành tựu, và là hậu duệ trực tiếp của người lớn tuổi nhất trong ba đệ tử ban đầu đã nổi dậy khỏi vở kịch của sự tách rời. Người Do Thái thể hiện trong chính mình đứa con hoang đàng của thế giới. Y là biểu tượng của người đệ tử chưa học được bài học về ý thức công bằng về các giá trị. Y là nạn nhân của Định luật Ánh sáng và của sự bất lực của y trong việc tuân thủ Định luật đó. Y đã phạm tội một cách cố ý và với đôi mắt mở to trước các kết quả. Do đó y biết định luật như không một giống dân nào khác biết nó, vì y vĩnh viễn là nạn nhân của nó. Y đã tuyên bố định luật từ góc độ tiêu cực của nó; Luật Moses ngày nay cai trị hầu hết thế giới, nhưng lại thất bại trong việc mang lại công lý và tính hợp pháp thực sự vào đời sống.

The other group of disciples, the representatives (in their day and age) of the race, passed through the ancient portals of initiation and took the first great step. They came back with a latent and dim recollection of the episode which separated them from three of their co-disciples. On their return to life on earth, they spoke of this event. This was their error; the long antagonism started, which persists until today. Those particular disciples have themselves passed through their long pilgrimage and have entered into eternal peace, but the results of their early betrayal of the hidden events of initiation still persist.

Nhóm đệ tử khác, những đại diện (trong thời đại của họ) của giống dân, đã đi qua các cổng cổ xưa của điểm đạo và thực hiện bước tiến vĩ đại đầu tiên. Họ trở lại với một ký ức tiềm tàng và lờ mờ về tình tiết đã tách họ khỏi ba người đồng môn đệ. Khi trở lại cuộc sống trên trần gian, họ đã nói về sự kiện này. Đây là lỗi lầm của họ; sự đối kháng lâu dài đã bắt đầu, và kéo dài cho đến tận ngày nay. Những đệ tử cụ thể đó đã tự mình đi qua cuộc hành hương dài của họ và đã đi vào sự bình an vĩnh cửu, nhưng kết quả của sự phản bội ban đầu của họ đối với các sự kiện ẩn giấu của điểm đạo vẫn còn tồn tại.

Curiously enough, this ancient race, founded by the three who loved that which they had to offer more than that which they longed to take, were the originators of the Masonic tradition. Their history (and incidentally the history of humanity) is embodied in that dramatic ritual. The reward for their sincerity,—for they revolted in utter sincerity, believing they knew best—was the permission to enact each year, on the return of the day when they might have entered into light, the story of the search for light. Because they had been so [399] nearly resurrected from the death of earth into the life of light, the great tradition of the mysteries was started by them. They chose death and slew that which “had lived and which could have claimed reward”, and which could have spoken the word of power which would have caused the gates of resurrection to open wide.

Thật kỳ lạ, giống dân cổ xưa này, được thành lập bởi ba người đã yêu những gì họ có để dâng hiến hơn là những gì họ khao khát nhận lấy, lại là những người khởi xướng truyền thống Hội Tam Điểm. Lịch sử của họ (và ngẫu nhiên là lịch sử của nhân loại) được thể hiện trong nghi thức đầy kịch tính đó. Phần thưởng cho sự chân thành của họ,—vì họ đã nổi dậy trong sự chân thành hoàn toàn, tin rằng họ biết điều tốt nhất—là sự cho phép diễn lại mỗi năm, vào ngày trở lại khi họ lẽ ra đã có thể đi vào ánh sáng, câu chuyện về cuộc tìm kiếm ánh sáng. Bởi vì họ đã [399] gần như được phục sinh từ cái chết của trần gian vào cuộc sống của ánh sáng, truyền thống vĩ đại của các huyền nhiệm đã được bắt đầu bởi họ. Họ chọn cái chết và giết chết cái “đã sống và có thể đã đòi hỏi phần thưởng”, và cái có thể đã nói lên quyền năng từ vốn sẽ làm cho các cánh cổng phục sinh mở rộng.

We are told that these three swore an everlasting vow to stand together and never to desert each other. This vow down the ages they have kept; it has consequently produced that racial separativeness and community of interests which arouses the antagonism of other races.

Chúng ta được kể rằng ba người này đã thề một lời thề vĩnh cửu là sẽ sát cánh cùng nhau và không bao giờ bỏ rơi nhau. Lời thề này qua các thời đại họ đã giữ; do đó nó đã tạo ra sự chia rẽ chủng tộc và cộng đồng lợi ích vốn khơi dậy sự đối kháng của các giống dân khác.

Down the ages, the Jew has been wandering, producing much of beauty in the world, and giving to humanity many of its greatest men, but he has (at the same time) been hated and persecuted, betrayed and hounded. He embodies, in himself, symbolically, the history of humanity. The ancient tendency of the Jews to grasp and hold, and also to preserve their racial and national integrity, are their outstanding characteristics. They cannot be absorbed, and yet so ancient is the race that nevertheless today no nation in the world but has its roots in that group which—in old Lemuria—had advanced so far that all its foremost people stood upon the path of discipleship. There are no racial strains in the Western world which are not offshoots of this oldest select people, with the exception of the Finns, Lapps and those nations which show definite mongoloid strains. But the admixture of what is now called Jewish blood is not found to the same extent, and the modern Jew is as much a by-product as is the Anglo-Saxon race, only, through an imposed selective tendency and racial segregation, he has preserved intact more of the original characteristics.

Qua các thời đại, người Do Thái đã lang thang, tạo ra nhiều vẻ đẹp trong thế giới, và hiến tặng cho nhân loại nhiều vĩ nhân vĩ đại nhất của nó, nhưng họ (đồng thời) đã bị ghét bỏ và bắt bớ, bị phản bội và săn đuổi. Họ thể hiện, trong chính mình, một cách tượng trưng, lịch sử của nhân loại. Khuynh hướng cổ xưa của người Do Thái là nắm bắt và giữ gìn, và cũng bảo tồn sự toàn vẹn giống dân và quốc gia của họ, là những đặc điểm nổi bật của họ. Họ không thể bị đồng hóa, nhưng giống dân này cổ xưa đến nỗi ngày nay không một quốc gia nào trên thế giới mà không có gốc rễ trong nhóm đó, vốn—ở Lemuria xưa—đã tiến bộ xa đến mức tất cả những người đi đầu của nó đều đứng trên con đường đệ tử. Không có dòng giống dân nào trong thế giới phương Tây không phải là nhánh của dân tộc được chọn lọc lâu đời nhất này, ngoại trừ người Phần Lan, người Lapps và những quốc gia thể hiện rõ ràng các dòng giống Mông Cổ. Nhưng sự pha trộn của cái gọi là máu Do Thái ngày nay không được tìm thấy ở cùng mức độ, và người Do Thái hiện đại cũng là một sản phẩm phụ giống như giống dân Anglo-Saxon, chỉ có điều, thông qua một khuynh hướng chọn lọc được áp đặt và sự tách biệt chủng tộc, họ đã bảo tồn nguyên vẹn hơn các đặc điểm ban đầu.

It is the realisation of this common origin which has led [400] the British-Israelites into their travesty of the truth, and caused them to trace our modern Western history to the Jews of the Dispersion. It is a far more ancient relation than that, and dates back into a period that antedates the history of the Jews as it is related for us in the Old Testament. The original three disciples and their family groups were the ancestors of three major racial groupings, which can be generalised as follows:

Chính sự nhận thức về nguồn gốc chung này đã dẫn [400] những người British-Israelites vào sự xuyên tạc sự thật của họ, và khiến họ truy nguyên lịch sử phương Tây hiện đại của chúng ta về người Do Thái của Sự Phân tán. Đó là một mối quan hệ cổ xưa hơn thế nhiều, và có niên đại trở lại một thời kỳ trước lịch sử của người Do Thái như được kể lại cho chúng ta trong Cựu Ước. Ba đệ tử ban đầu và các nhóm gia đình của họ là tổ tiên của ba nhóm giống dân chính, có thể được khái quát hóa như sau:

1. The Semitic race or races of Biblical and modern times; the Arabs, the Afghans, the Moors and the offshoots and affiliations of those peoples, including the modern Egyptians. These are all descended from the eldest of the three disciples.

1. Giống dân hoặc các giống dân Semitic trong Kinh Thánh và thời hiện đại; người Ả Rập, người Afghanistan, người Moors và các nhánh và chi phái của những dân tộc đó, bao gồm cả người Ai Cập hiện đại. Tất cả những người này đều là hậu duệ của người lớn tuổi nhất trong ba đệ tử.

2. The Latin peoples and their various branches throughout the world, and also the Celtic races wherever found. These are descended from the second of the three disciples.

2. Các dân tộc Latin và các nhánh khác nhau của họ trên khắp thế giới, và cả các giống dân Celtic bất cứ nơi nào được tìm thấy. Những người này là hậu duệ của người thứ hai trong ba đệ tử.

3. The Teutons, the Scandinavians, and the Anglo-Saxons, who are the descendants of the third of the three disciples.

3. Người Teutons, người Scandinavians, và người Anglo-Saxons, là hậu duệ của người thứ ba trong ba đệ tử.

The above is a broad generalisation. The period covered is so vast, and the ramifications down the ages are so numerous, that it is not possible for me to do more than give a general idea. Gradually the descendants of two of these three disciples have accepted the legends which were promulgated in Atlantean times, and have ranged themselves on the side of those who are antagonistic to the Jew, as he is today; they have lost all sense of their common origin. There is no pure race in the world today, for intermarriage, illicit relations and promiscuity during the past few million years have been so numerous that there exists no pure strain. Climate and environment [401] are fundamentally greater determining factors than any forced segregation, except that which comes through a constant racial intermarriage. Of this latter factor, only the Hebrew today has preserved any measure of racial integrity.

Trên đây là một sự khái quát hóa rộng. Thời kỳ được bao quát là quá rộng lớn, và các nhánh rẽ qua các thời đại là quá nhiều, đến nỗi tôi không thể làm gì hơn ngoài việc đưa ra một ý tưởng chung. Dần dần hậu duệ của hai trong số ba đệ tử này đã chấp nhận các truyền thuyết được ban hành vào thời Atlantis, và đã tự xếp mình vào phía của những người đối kháng với người Do Thái, như y hiện nay; họ đã mất tất cả ý thức về nguồn gốc chung của họ. Không có giống dân thuần chủng nào trên thế giới ngày nay, vì hôn nhân dị chủng, các quan hệ bất chính và sự bừa bãi trong vài triệu năm qua đã quá nhiều đến nỗi không tồn tại dòng giống thuần chủng nào. Khí hậu và môi trường [401] về cơ bản là những yếu tố quyết định lớn hơn bất kỳ sự tách biệt cưỡng bức nào, ngoại trừ sự tách biệt đến từ việc kết hôn liên tục trong nội bộ giống dân. Về yếu tố sau này, chỉ có người Do Thái ngày nay đã bảo tồn được bất kỳ thước đo nào về sự toàn vẹn giống dân.

When humanity awakens to the fact of its common origin, and when the three great major strains in our modern civilisation are recognised, then we shall see the old hatred of the Jew die out, and he will fuse and blend with the rest of mankind. Even the oriental races, who are the remnants of the great Atlantean civilisation, have in them traces of intermarriage with the ancestors of the modern Jews and other racial types, but they have not mixed well, and have therefore preserved their characteristics more successfully than have the groups of our Western men.

Khi nhân loại thức tỉnh trước sự thực về nguồn gốc chung của mình, và khi ba dòng giống chính lớn trong nền văn minh hiện đại của chúng ta được công nhận, thì chúng ta sẽ thấy sự thù hận cũ đối với người Do Thái chết dần, và y sẽ dung hợp và hòa quyện với phần còn lại của nhân loại. Ngay cả các giống dân phương Đông, vốn là tàn dư của nền văn minh Atlantis vĩ đại, cũng có trong họ những dấu vết của sự kết hôn dị chủng với tổ tiên của người Do Thái hiện đại và các loại hình giống dân khác, nhưng họ đã không hòa trộn tốt, và do đó đã bảo tồn các đặc điểm của họ thành công hơn so với các nhóm người phương Tây của chúng ta.

If you ponder upon the above, and if you study the Masonic tradition with care, much will become clarified in your mind. Ethnologists may disagree, but they cannot disprove what I have said, for the origins of the present racial world situation lie so far back in the history of mankind that they cannot even prove their own contentions. All they are capable of considering is the history of the past one hundred thousand years, and their work lies with effects of that past and not with originating causes.

Nếu bạn suy ngẫm về những điều trên, và nếu bạn nghiên cứu truyền thống Hội Tam Điểm một cách cẩn thận, nhiều điều sẽ trở nên rõ ràng trong tâm trí bạn. Các nhà dân tộc học có thể không đồng ý, nhưng họ không thể bác bỏ những gì tôi đã nói, vì nguồn gốc của tình hình giống dân thế giới hiện tại nằm quá xa về phía sau trong lịch sử của loài người đến nỗi họ thậm chí không thể chứng minh được những luận điểm của chính họ. Tất cả những gì họ có khả năng xem xét là lịch sử của một trăm ngàn năm qua, và công việc của họ nằm ở các kết quả của quá khứ đó chứ không phải ở các nguyên nhân khởi phát.

7. The Ray of the Ego—Cung của Chân Ngã

Khi bắt đầu nghiên cứu về cung của Chân Ngã hay Linh hồn, một số tiền đề chính có thể được nêu ngắn gọn và kết hợp thành một loạt các mệnh đề, có mười bốn mệnh đề tất cả. Chúng như sau:

1. The egos of all human beings are to be found upon one or another of the seven rays. [402]

1. Chân ngã của tất cả con người được tìm thấy trên cung này hoặc cung khác trong bảy cung. [402]

2. All egos found upon the fourth, the fifth, the sixth and the seventh rays must eventually, after the third initiation, blend with the three major rays, or monadic rays.

2. Tất cả chân ngã được tìm thấy trên các cung bốn, năm, sáu và bảy cuối cùng, sau lần điểm đạo thứ ba, phải hòa quyện với ba cung chính, hay các cung chân thần.

3. The monadic ray of every ego is one of the three rays of aspect, and the sons of men are either monads of power, monads of love, or monads of intelligence.

3. Cung chân thần của mỗi chân ngã là một trong ba cung trạng thái, và các con của nhân loại hoặc là các chân thần quyền năng, các chân thần bác ái, hoặc các chân thần trí tuệ.

4. For our specific purposes, we shall confine our attention to the seven groups of souls found upon one or other of the seven rays or streams of divine energy.

4. Vì những mục đích cụ thể của chúng ta, chúng ta sẽ giới hạn sự chú ý của mình vào bảy nhóm linh hồn được tìm thấy trên một hoặc một cung khác trong bảy cung hay dòng năng lượng thiêng liêng.

5. For the major part of our racial and life experience we are governed sequentially, and later simultaneously by:

5. Trong phần lớn trải nghiệm chủng tộc và cuộc sống của chúng ta, chúng ta bị chi phối tuần tự và sau đó đồng thời bởi:

a. The physical body, which is dominated by the ray governing the sum total of the atoms of that body.

a. Thể xác, vốn bị chi phối bởi cung chi phối tổng số các nguyên tử của cơ thể đó.

b. The emotional desire nature, which is to be found influenced and controlled by the ray which colours the totality of astral atoms.

b. Bản chất dục vọng cảm xúc, vốn được tìm thấy bị ảnh hưởng và kiểm soát bởi cung tô màu cho tổng thể các nguyên tử cảm dục.

c. The mind body or mental nature, and the calibre and quality of the ray determining its atomic value.

c. Thể trí hay bản chất trí tuệ, tầm cỡ cùng tính chất của cung xác định giá trị nguyên tử của nó.

d. Later, on the physical plane, the soul ray begins to work in and with the sum total of the three bodies, which constitute—when aligned and functioning in unison—the personality. The effect of that general integration is actively to produce an incarnation and incarnations wherein the personality ray emerges clearly, and the three bodies or selves constitute the three aspects or rays of the lower personal self.

d. Sau đó, trên cõi hồng trần, cung linh hồn bắt đầu hoạt động trong và với tổng thể của ba thể, vốn cấu thành—khi được chỉnh hợp và hoạt động chức năng thống nhất—phàm ngã. Hiệu quả của sự tích hợp chung đó là tích cực tạo ra một kiếp sống và những kiếp sống trong đó cung phàm ngã nổi lên rõ ràng, và ba thể hay bản ngã cấu thành ba phương diện hay cung của phàm ngã.

6. When the personality ray becomes pronounced and dominant, and the three body rays are subordinated to it, then the great fight takes place between the egoic ray or soul and the personality ray. The differentiation becomes clearly marked, and the sense of duality becomes more definitely established. The experiences detailed in the Bhagavad Gita become the experiences [403] of the path of discipleship; Arjuna stands “at the midway point” on the field of Kurukshetra, between the two opposing forces, and, owing to the smoke of the battle, finds himself unable to see clearly.

6. Khi cung phàm ngã trở nên rõ rệt và thống trị, và ba cung của ba thể phục tùng nó, thì cuộc chiến vĩ đại diễn ra giữa cung chân ngã hay linh hồn và cung phàm ngã. Sự phân biệt trở nên được ghi nhận rõ ràng, và cảm giác nhị nguyên trở nên được thiết lập chắc chắn hơn. Các trải nghiệm được chi tiết hóa trong Chí Tôn Ca (Bhagavad Gita) trở thành những trải nghiệm [403] của Con Đường Đệ Tử; Arjuna đứng “tại điểm ở giữa” trên chiến trường Kurukshetra, giữa hai lực lượng đối lập, và, do khói của trận chiến, thấy mình không thể nhìn rõ.

7. Eventually, the soul ray or influence becomes the dominating factor, and the rays of the lower bodies become the sub-rays of this controlling ray. This last sentence is of basic importance, for it indicates the true relation of the personality to the ego or soul. The disciple who understands this relation and conforms to it is ready to tread the path of initiation.

7. Cuối cùng, cung hay ảnh hưởng linh hồn trở thành yếu tố thống trị, và các cung của các thể thấp trở thành các cung phụ của cung kiểm soát này. Câu cuối cùng này có tầm quan trọng cơ bản, vì nó chỉ ra mối quan hệ thực sự của phàm ngã với chân ngã hay linh hồn. Người đệ tử hiểu mối quan hệ này và tuân thủ nó đã sẵn sàng bước đi trên con đường điểm đạo.

8. Each of the seven groups of souls is responsive to one of the seven types of force, and all of them are responsive to the ray of the planetary Logos of our planet, which is the third Ray of Active Intelligence. All are therefore upon a sub-ray of this ray, but it must never be forgotten that the planetary Logos is also upon a ray, which is a sub-ray of the second Ray of Love-Wisdom. Therefore we have: [404]

8. Mỗi nhóm trong bảy nhóm linh hồn đều đáp ứng với một trong bảy loại mãnh lực, và tất cả chúng đều đáp ứng với cung của Hành Tinh Thượng Đế của hành tinh chúng ta, vốn là Cung ba, cung Trí Tuệ Hoạt Động. Do đó, tất cả đều ở trên một cung phụ của cung này, nhưng không bao giờ được quên rằng Hành Tinh Thượng Đế cũng ở trên một cung, vốn là một cung phụ của Cung hai của Bác Ái-Minh Triết. Do đó chúng ta có: [404]

A diagram of the solar ray of the planetary logos



AI-generated content may be incorrect.

It should be remembered that our planetary Logos functioning through the planet Earth is not considered as producing one of the seven sacred planets.

Cần nhớ rằng Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta hoạt động thông qua hành tinh Trái Đất không được coi là tạo ra một trong bảy hành tinh thiêng liêng.

9. The work of each individual aspirant is therefore to arrive at an understanding of:

9. Do đó, công việc của mỗi người chí nguyện cá nhân là đạt tới một sự thấu hiểu về:

a. His egoic ray.

a. Cung chân ngã của y.

b. His personality ray.

b. Cung phàm ngã của y.

c. The ray governing his mind.

c. Cung chi phối thể trí của y.

d. That governing his astral body.

d. Cung chi phối thể cảm dục của y.

e. Cung ảnh hưởng đến thể xác của y.

When he has achieved this fivefold knowledge, he has fulfilled the Delphic injunction: “Know thyself.” and can consequently take Initiation.

Khi y đạt được kiến thức ngũ phân này, y đã hoàn thành lời răn Delphic: “Hãy biết mình.” và do đó có thể nhận Điểm đạo.

10. Every human being is also governed by certain group rays: [405]

10. Mỗi con người cũng bị chi phối bởi một số cung nhóm: [405]

a. Those of the fourth kingdom in nature. This will have different effects, according to the ray of the personality or soul. The fourth kingdom has:

a. Các cung của giới thứ tư trong tự nhiên. Điều này sẽ có những hiệu quả khác nhau, tùy thuộc vào cung của phàm ngã hay linh hồn. Giới thứ tư có:

1). The fourth ray as its egoic ray.

1). Cung bốn là cung chân ngã của nó.

2). The fifth ray as its personality ray.

2). Cung năm là cung phàm ngã của nó.

b. The racial rays, at this time, are the third and fifth, for our Aryan race, and this powerfully affects every human being.

b. Các cung chủng tộc, vào lúc này, là cung ba và cung năm, cho chủng tộc Arya của chúng ta, và điều này ảnh hưởng mạnh mẽ đến mỗi con người.

c. The cyclic ray.

c. Cung chu kỳ.

d. The national ray.

d. Cung quốc gia.

All of these control the personality life of each man. The egoic ray of the individual, plus the egoic ray of the fourth kingdom, gradually negate the rays governing the personality as the man nears the path of probation and discipleship.

Tất cả những cung này kiểm soát đời sống phàm ngã của mỗi người. Cung chân ngã của cá nhân, cộng với cung chân ngã của giới thứ tư, dần dần phủ nhận các cung chi phối phàm ngã khi con người đến gần con đường dự bị và đệ tử.

11. Man therefore is an aggregate of forces which dominate him serially and together; these colour his nature, produce his quality, and determine his “appearance”, using this word in its occult sense of exteriorisation. For ages he is wielded by one or other of these forces, and is simply what they make him. As he arrives at a clearer understanding, and can begin to discriminate, he definitely chooses which of them shall dominate, until he eventually becomes controlled by the Soul ray, with all the other rays subordinated to that ray and used by him at will.

11. Do đó, con người là một tập hợp các mãnh lực thống trị y một cách nối tiếp và cùng nhau; những lực này tô màu bản chất của y, tạo ra phẩm chất của y, và xác định “diện mạo” của y, sử dụng từ này theo nghĩa huyền bí của nó là ngoại hiện hóa. Trong nhiều thời đại, y bị điều khiển bởi một hoặc một lực khác trong các lực này, và đơn giản là những gì chúng tạo ra y. Khi y đạt tới một sự thấu hiểu rõ ràng hơn, và có thể bắt đầu phân biện, y dứt khoát chọn lực nào trong số đó sẽ thống trị, cho đến khi cuối cùng y trở nên bị kiểm soát bởi cung Linh hồn, với tất cả các cung khác phục tùng cung đó và được y sử dụng theo ý muốn.

12. In studying the egoic ray of man we have to grasp:

12. Khi nghiên cứu cung chân ngã của con người, chúng ta phải nắm bắt:

a. The process followed. …………….. externalisation.

a. Quá trình được tuân theo. …………….. ngoại hiện hóa.

b. The secret to be found. …………… manifestation.

b. Bí mật cần được tìm thấy. …………… biểu hiện.

c. The purpose to be known. ……….. realisation.

c. Mục đích cần được biết. ……….. chứng nghiệm.

We have also to understand the dominant ray influences of the kingdom of souls, the fifth kingdom. These are:

Chúng ta cũng phải hiểu những ảnh hưởng cung thống trị của giới linh hồn, giới thứ năm. Đó là:

1). Ray five……..working through the personality. [406]

1). Cung năm……..hoạt động thông qua phàm ngã. [406]

2). Ray two……..working through the intuition.

2). Cung hai……..hoạt động thông qua trực giác.

13. The Personality ray finds its major field of activity and expression in the physical body. It determines its life trend and purpose, its appearance and occupation. It is selective of quality, when influenced by the egoic ray.

13. Cung Phàm ngã tìm thấy lĩnh vực hoạt động và biểu hiện chính của nó trong thể xác. Nó xác định xu hướng sống và mục đích sống, diện mạo và nghề nghiệp của nó. Nó có tính chọn lọc về phẩm chất, khi bị ảnh hưởng bởi cung chân ngã.

Cung Chân ngã có hành động trực tiếp và cụ thể lên thể cảm dục. Do đó chiến trường của cuộc đời luôn ở trên cõi của những ảo tưởng khi linh hồn tìm cách xua tan ảo cảm cổ xưa, người chí nguyện được cho phép bước đi trong ánh sáng.

The Monadic Ray influences the mental body, after integration of the personality has been brought about. It causes the mind nature to achieve that clear vision which finds its consummation at the fourth initiation, and releases the man from the limitations of form. There is an analogy to this triplicity and an interesting symbolic relation in the three Initiators.

Cung Chân thần ảnh hưởng đến thể trí, sau khi sự tích hợp của phàm ngã đã được mang lại. Nó khiến bản chất tâm trí đạt được linh ảnh rõ ràng vốn tìm thấy sự hoàn tất của nó ở lần điểm đạo thứ tư, và giải phóng con người khỏi những giới hạn của hình tướng. Có một sự tương đồng với tính tam phân này và một mối quan hệ biểu tượng thú vị trong ba Đấng Điểm đạo.

a. The first Initiator……………………the soul of man.

a. Đấng Điểm đạo thứ nhất……………………linh hồn con người.

This controls gradually the personality.

Điều này dần dần kiểm soát phàm ngã.

b. The second Initiator……………….the Christ.

b. Đấng Điểm đạo thứ hai……………….Đức Christ.

Releasing the love nature.

Giải phóng bản chất tình thương.

c. The final Initiator…………………..the Planetary Logos.

c. Đấng Điểm đạo cuối cùng…………………..Hành Tinh Thượng Đế.

Illumining the mind.

Soi sáng tâm trí.

14. The egoic or soul ray begins to make its presence actively felt, via the astral body, as soon as alignment has been achieved. The process is as follows:

14. Cung chân ngã hay linh hồn bắt đầu làm cho sự hiện diện của nó được cảm thấy tích cực, thông qua thể cảm dục, ngay sau khi sự chỉnh hợp đã đạt được. Quá trình như sau:

a. It plays on the astral body externally.

a. Nó tác động lên thể cảm dục từ bên ngoài.

b. It stimulates it internally to greater size, colour and quality.

b. Nó kích thích thể đó từ bên trong để có kích thước, màu sắc và phẩm chất lớn hơn.

c. It brings it and all parts of the physical life into activity and under control.

c. Nó đưa thể đó và tất cả các phần của đời sống vật chất vào hoạt động và dưới sự kiểm soát.

All the above propositions could be summed up in the statement that the personality ray induces a separative attitude and causes a detachment from the group of souls of [407] which the personality is an externalisation, and a constituent attachment to the form side of manifestation. The egoic ray induces group consciousness and detachment from external forms, causing attachment to the life side of manifestation and to the subjective whole. The monadic ray has an effect which can be understood only after man has taken the third initiation.

Tất cả các mệnh đề trên có thể được tóm tắt trong tuyên bố rằng cung phàm ngã gây ra một thái độ chia rẽ và gây ra sự tách rời khỏi nhóm linh hồn [407] mà phàm ngã là một sự ngoại hiện hóa của nó, và một sự gắn bó cấu thành với phía hình tướng của biểu hiện. Cung chân ngã gây ra tâm thức nhóm và sự tách rời khỏi các hình tướng bên ngoài, gây ra sự gắn bó với phía sự sống của biểu hiện và với toàn thể chủ quan. Cung chân thần có một hiệu quả chỉ có thể hiểu được sau khi con người đã nhận lần điểm đạo thứ ba.

We might divide what we have to say in the next section of our treatise, which deals with the egoic ray, into the four following parts:

Chúng ta có thể chia những gì chúng ta phải nói trong phần tiếp theo của luận thuyết, vốn đề cập đến cung chân ngã, thành bốn phần sau:

I. THE GROWTH OF SOUL INFLUENCE

I. SỰ TĂNG TRƯỞNG CỦA ẢNH HƯỞNG LINH HỒN

II. THE SEVEN LAWS OF EGOIC LIFE

II. BẢY ĐỊNH LUẬT CỦA ĐỜI SỐNG CHÂN NGÃ

III. THE FIVE GROUPS OF SOULS

III. NĂM NHÓM LINH HỒN

IV. RULES FOR INDUCING SOUL CONTROL

IV. CÁC QUY LUẬT ĐỂ GỢI LÊN SỰ KIỂM SOÁT CỦA LINH HỒN

Scroll to Top