Click vào số trang giữa ngoặc vuông [ ] để đến trang sách tương ứng trong TCF
TCF 567- 574: S6S1
|
27 September – 11 October 2007 |
27 Tháng Chín – 11 Tháng Mười 2007 |
|
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR) |
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi được chiếu trong các lớp học. Các cước chú và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ những trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận được trình bày bằng cỡ chữ 12. Phần gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện) |
|
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. |
Đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc cùng với quyển TCF ở bên cạnh, để bảo đảm tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiến hành, nhiều đoạn văn được chia nhỏ ra, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. |
|
2. The Laws of Thought. |
2. Các Định luật của Tư tưởng. |
|
There are three great laws, that we might term the fundamental laws of the cosmos, of that greater system (recognised by all astronomers), of which we form a part, and seven laws inherent in the solar system. |
Có ba định luật lớn, mà chúng ta có thể gọi là những định luật căn bản của vũ trụ, của hệ thống lớn hơn ấy (được mọi nhà thiên văn học công nhận), mà chúng ta tạo thành một phần trong đó, và bảy định luật cố hữu trong hệ mặt trời. |
|
1. It is always difficult to know exactly what Master DK means by “cosmos”. Sometimes it seems as if He is speaking of our relatively ‘local’ cosmic system. At other times, He seems to suggest “all stars and starry systems”. |
1. Luôn luôn khó biết chính xác Chân sư DK muốn nói gì qua từ “vũ trụ”. Đôi khi dường như Ngài đang nói về hệ thống vũ trụ tương đối ‘địa phương’ của chúng ta. Vào những lúc khác, dường như Ngài gợi ý “mọi ngôi sao và các hệ sao”. |
|
The wheel of the universe, or the sumtotal of all stars and starry systems. (TCF 1085) |
Bánh xe của vũ trụ, hay tổng thể của mọi ngôi sao và các hệ sao. (TCF 1085) |
|
2. In any case, the term “cosmos” always refers to that which lies beyond our solar system. |
2. Dù sao đi nữa, thuật ngữ “vũ trụ” luôn luôn chỉ về điều nằm vượt ra ngoài hệ mặt trời của chúng ta. |
|
3. In any case the three cosmic laws usually referenced are: |
3. Dù sao đi nữa, ba định luật vũ trụ thường được nhắc đến là: |
|
a. The Law of Synthesis |
a. Định luật Tổng Hợp |
|
b. The Law of Attraction |
b. Định luật Hấp Dẫn |
|
c. The Law of Economy |
c. Định luật Tiết Kiệm |
|
These seven we might consider secondary laws, though, from the standpoint of humanity, they appear as major ones. |
Bảy định luật này chúng ta có thể xem là những định luật thứ yếu, dù rằng, từ quan điểm của nhân loại, chúng xuất hiện như những định luật chính yếu. |
|
4. It is only natural that, from the human standpoint, these systemic laws be considered major laws. They are applicable to all planets in our solar system and, as human beings, we have not even attained planetary consciousness. |
4. Từ quan điểm con người, việc xem các định luật hệ thống này là những định luật chính yếu là điều hoàn toàn tự nhiên. Chúng áp dụng cho mọi hành tinh trong hệ mặt trời của chúng ta và, với tư cách là những con người, chúng ta thậm chí còn chưa đạt đến tâm thức hành tinh. |
|
a. Three Cosmic Laws. The first of the cosmic laws is the Law of Synthesis. It is almost impossible for those of us who have not the buddhic faculty in any way developed, to comprehend the scope of this law. |
a. Ba Định luật Vũ trụ. Định luật đầu tiên trong các định luật vũ trụ là Định luật Tổng Hợp. Đối với những người trong chúng ta chưa phát triển năng lực Bồ đề theo bất cứ cách nào, thì gần như không thể hiểu được phạm vi của định luật này. |
|
5. We are to understand that the buddhic plane is the first of the synthetic planes. The planet Neptune rules the buddhic plane and it is a planet of synthesis, eliminating boundaries and fusing all things together. |
5. Chúng ta phải hiểu rằng cõi Bồ đề là cõi đầu tiên trong các cõi tổng hợp. Hành tinh Sao Hải Vương cai quản cõi Bồ đề và đó là một hành tinh của tổng hợp, xóa bỏ các ranh giới và dung hợp mọi sự lại với nhau. |
|
6. Saturn, Neptune and Uranus are the “three synthesizing planets”, but the highest sub-plane of the mental plane (associated in part with Saturn) is not yet considered a plane of synthesis, though it is a plane of encompassing abstract comprehension. |
6. Sao Thổ, Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương là “ba hành tinh tổng hợp”, nhưng cõi phụ cao nhất của cõi trí (liên hệ phần nào với Sao Thổ) vẫn chưa được xem là một cõi tổng hợp, dù nó là một cõi của sự thấu hiểu trừu tượng bao quát. |
|
It is the law that demonstrates the fact that all things—abstract and concrete—exist as one; |
Đó là định luật chứng minh sự kiện rằng mọi sự—trừu tượng và cụ thể—đều hiện hữu như một; |
|
7. “Let the group know that life is one and naught can ever take or touch that life.” |
7. “Hãy để nhóm biết rằng sự sống là một và không gì có thể lấy đi hay chạm đến sự sống ấy.” |
|
8. “Let the group know there are no other selves.” |
8. “Hãy để nhóm biết rằng không có những bản ngã nào khác.” |
|
it is the law governing the thought form of that One of the cosmic Logoi [Page 568] in Whose consciousness both our system, and our greater centre, have a part. |
đó là định luật chi phối hình tư tưởng của Đấng ấy trong các Cosmic Logoi [Page 568] trong tâm thức của Ngài, cả hệ thống của chúng ta lẫn trung tâm lớn hơn của chúng ta đều có một phần. |
|
9. Our system is our own solar system. |
9. Hệ thống của chúng ta là chính hệ mặt trời của chúng ta. |
|
10. Our “greater centre” is the Cosmic Logos in Whom our Solar Logos is as a chakra. |
10. “Trung tâm lớn hơn” của chúng ta là Cosmic Logos mà trong Ngài, Thái dương Thượng đế của chúng ta giống như một luân xa. |
|
11. The Cosmic Logos here referred to is the One About Whom Naught May Be Said—a Deity for Whom constellations and their Logoi are as chakras. We may remember that on Chart Vehicle (TCF 344), the terms “Cosmic Logoi” and “Solar Logoi” are subject to a ‘magnitude blind’. These terms as used on that Chart designate Entities much larger than the terms usually designate. |
11. Cosmic Logos được nói đến ở đây là Đấng Bất Khả Tư Nghị—một Thượng đế mà đối với Ngài, các chòm sao và các Logoi của chúng giống như các luân xa. Chúng ta có thể nhớ rằng trên Biểu Đồ Vehicle (TCF 344), các thuật ngữ “Cosmic Logoi” và “Solar Logoi” chịu một sự ‘mù về cấp độ lớn’. Các thuật ngữ này như được dùng trên biểu đồ ấy chỉ định những Thực Thể lớn hơn rất nhiều so với điều mà các thuật ngữ ấy thường chỉ định. |
|
12. The only way that this hypothesis might not be true is if the phrase “our greater centre” refers to the star Sirius, but this seems less likely. |
12. Cách duy nhất mà giả thuyết này có thể không đúng là nếu cụm từ “trung tâm lớn hơn của chúng ta” ám chỉ ngôi sao Sirius, nhưng điều này dường như ít có khả năng hơn. |
|
13. If the Cosmic Logos here referenced is indeed our One About Whom Naught May Be Said, then it is a different kind of Cosmic Logos than is referenced on TCF 293; it is one order higher than the Cosmic Logos tabulated on that page. |
13. Nếu Cosmic Logos được nhắc đến ở đây quả thực là Đấng Bất Khả Tư Nghị của chúng ta, thì đó là một loại Cosmic Logos khác với loại được nhắc đến ở TCF 293; nó cao hơn một bậc so với Cosmic Logos được liệt kê trên trang đó. |
|
14. It may seem that we are giving excessive attention to terminology, but if we are not careful we will misinterpret greatly because we will have fallen into a ‘magnitude blind’ and not have realized it. |
14. Có thể dường như chúng ta đang dành quá nhiều chú ý cho thuật ngữ, nhưng nếu không cẩn thận, chúng ta sẽ diễn giải sai rất nhiều vì đã rơi vào một sự ‘mù về cấp độ lớn’ mà không nhận ra điều đó. |
|
It [the Law of Synthesis] is a unit of His thought, a thought form in its entirety, a concrete whole, and not the differentiated process that we feel our evolving system to be. |
Nó [Định luật Tổng Hợp] là một đơn vị trong tư tưởng của Ngài, một hình tư tưởng trong tính toàn vẹn của nó, một toàn thể cụ thể, chứ không phải tiến trình biến phân mà chúng ta cảm thấy hệ thống đang tiến hoá của mình là như vậy. |
|
15. DK still seems to be speaking of the Law of Synthesis, calling it, apparently a “unit” in the thought of the One About Whom Naught May Be Said (here deemed a “Cosmic Logos” even though it is really a ‘Super-Cosmic Logos’. |
15. DK dường như vẫn đang nói về Định luật Tổng Hợp, rõ ràng gọi nó là một “đơn vị” trong tư tưởng của Đấng Bất Khả Tư Nghị (ở đây được xem là một “Cosmic Logos” dù thật ra đó là một ‘Super-Cosmic Logos’. |
|
16. This law is a very subtle thoughtform; all laws are the expression of the will of some greater Entity, and that will is expressed in thought. That thought, however, is not at all concrete as are most thoughtforms we consider. |
16. Định luật này là một hình tư tưởng rất vi tế; mọi định luật đều là biểu hiện của ý chí của một Thực Thể lớn hơn nào đó, và ý chí ấy được biểu hiện trong tư tưởng. Tuy nhiên, tư tưởng ấy hoàn toàn không cụ thể như phần lớn các hình tư tưởng mà chúng ta thường xét đến. |
|
17. In fact, this “unit of His thought’ would, perhaps, be better designated as an idea which is a higher ‘Form’, in the sense that Plato designated the “Forms” (i.e., Archetypes). |
17. Thật ra, “đơn vị trong tư tưởng của Ngài” này có lẽ sẽ được gọi đúng hơn là một ý tưởng vốn là một ‘Hình tướng’ cao hơn, theo nghĩa mà Plato đã gọi các “Forms” (tức là các Nguyên mẫu). |
|
18. We note that this “whole” is not a conceptual whole but a “concrete” whole—its wholeness is utterly real and leaves no room for any real differentiation. Differentiation there appears to be, but it cannot violate the factual, concrete wholeness of the Great Whole. |
18. Chúng ta lưu ý rằng “toàn thể” này không phải là một toàn thể khái niệm mà là một toàn thể “cụ thể”—tính toàn vẹn của nó hoàn toàn thực hữu và không để chỗ cho bất kỳ sự biến phân thực sự nào. Dường như có biến phân, nhưng điều đó không thể vi phạm tính toàn vẹn thực tế, cụ thể của Đại Toàn Thể. |
|
It is the sumtotal, the centre and the periphery, and the circle of manifestation regarded as a unit. |
Nó là tổng thể, là trung tâm và chu vi, và là vòng tròn biểu hiện được nhìn như một đơn vị. |
|
19. The Law of Synthesis applies to the sumtotal, including the center and the periphery and the two, together, regarded as one. |
19. Định luật Tổng Hợp áp dụng cho tổng thể, bao gồm trung tâm và chu vi, và cả hai cùng nhau được nhìn như một. |
|
20. When a consciousness is under the impression of the Law of Synthesis, all difference is hidden, all form is blotted out. |
20. Khi một tâm thức ở dưới ấn tượng của Định luật Tổng Hợp, mọi khác biệt đều bị che khuất, mọi hình tướng đều bị xóa mờ. |
|
The second law is the Law of Attraction and Repulsion. |
Định luật thứ hai là Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi. |
|
21. The Law of Attraction is the second cosmic law. |
21. Định luật Hấp Dẫn là định luật vũ trụ thứ hai. |
|
22. This great law operates on many different levels, from macrocosmic to microcosmic to microscopic. |
22. Định luật lớn này vận hành trên nhiều cấp độ khác nhau, từ đại thiên địa đến tiểu thiên địa đến vi mô. |
|
Fundamentally, the law describes the compelling force of attraction that holds our solar system to the Sirian; |
Về căn bản, định luật này mô tả mãnh lực hấp dẫn có tính cưỡng bách giữ hệ mặt trời của chúng ta gắn với hệ Sirian; |
|
23. Just as there is a great attraction existing between our solar system and the Sirian solar system, so we may infer a similar attraction (though of far reduced intensity) between our planet the Earth and the planet Venus. |
23. Cũng như có một lực hấp dẫn lớn tồn tại giữa hệ mặt trời của chúng ta và hệ mặt trời Sirian, chúng ta có thể suy ra một lực hấp dẫn tương tự (dù cường độ giảm đi rất nhiều) giữa hành tinh Trái Đất của chúng ta và hành tinh Sao Kim. |
|
24. We have to remember that both Logoi, our Logos, Sol, and the Logos of the star Sirius are strongly conditioned by the second ray—our Logos in His soul and personality and the Sirian Logos (hypothetically) in His personality and major monadic Ray. |
24. Chúng ta phải nhớ rằng cả hai Logoi, Logos của chúng ta là Sol, và Logos của ngôi sao Sirius, đều bị tác động mạnh bởi cung hai—Logos của chúng ta trong linh hồn và phàm ngã của Ngài, còn Sirian Logos (theo giả thuyết) trong phàm ngã và cung chân thần chính yếu của Ngài. |
|
25. We notice the word “compelling”; it would seem that for the units engaged, the Law of Attraction is very hard to escape. |
25. Chúng ta lưu ý từ “cưỡng bách”; dường như đối với các đơn vị có liên hệ, Định luật Hấp Dẫn rất khó thoát khỏi. |
|
26. Some theorists have suggested that Sirius (A and B) should be considered a kind of ajna center in the Cosmic Logos Who contains both Sirius and Sol. Given the proposed fifth ray soul of Sirius and a monadic ray which renders fitting His appellation as “The Cosmic Christ”, there is reason for this suggestion. |
26. Một số nhà lý thuyết đã gợi ý rằng Sirius (A và B) nên được xem như một loại trung tâm ajna trong Cosmic Logos bao hàm cả Sirius lẫn Sol. Với cung linh hồn cung năm được giả định của Sirius và một cung chân thần khiến danh xưng “Đức Christ Vũ Trụ” của Ngài trở nên thích hợp, có lý do cho gợi ý này. |
|
27. But it is not the only suggestion and there is good reason also to consider Sirius as the head center of that particular Cosmic Logos. |
27. Nhưng đó không phải là gợi ý duy nhất và cũng có lý do chính đáng để xem Sirius là trung tâm đầu của Cosmic Logos đặc thù ấy. |
|
28. We note that the Law of Attraction does not hold our Sun as a body revolving around the Sirian system, but only holds our solar system to the Sirian. This is a distinction from the ‘orbital compulsions’ listed immediately below. |
28. Chúng ta lưu ý rằng Định luật Hấp Dẫn không giữ Mặt Trời của chúng ta như một thể quay quanh hệ Sirian, mà chỉ giữ hệ mặt trời của chúng ta gắn với hệ Sirian. Đây là một sự phân biệt với những ‘cưỡng bách quỹ đạo’ được liệt kê ngay bên dưới. |
|
that holds our planets revolving around our central unit, the sun; that holds the lesser systems of atomic and molecular matter circulating around a centre in the planet; and that holds the matter of all physical plane bodies, and that of the subtle bodies co-ordinated around their microcosmic centre. |
định luật ấy giữ cho các hành tinh của chúng ta quay quanh đơn vị trung tâm của chúng ta là mặt trời; định luật ấy giữ cho các hệ thống nhỏ hơn của vật chất nguyên tử và phân tử lưu chuyển quanh một trung tâm trong hành tinh; và giữ cho vật chất của mọi thể trên cõi hồng trần, cũng như của các thể vi tế, được phối hợp quanh trung tâm tiểu thiên địa của chúng. |
|
29. How are we told that Law of Attraction operates: |
29. Chúng ta được cho biết Định luật Hấp Dẫn vận hành như thế nào: |
|
a. It holds our system to the Sirian system |
a. Nó giữ hệ thống của chúng ta gắn với hệ Sirian |
|
b. It holds our planets revolving around the sun |
b. Nó giữ cho các hành tinh của chúng ta quay quanh mặt trời |
|
c. It holds lesser systems of atomic and molecular matter circulating around a center in the planet |
c. Nó giữ cho các hệ thống nhỏ hơn của vật chất nguyên tử và phân tử lưu chuyển quanh một trung tâm trong hành tinh |
|
d. It holds all matter of all physical plane bodies and subtle bodies “coordinated” around their microcosmic center. Note here, we are not speaking of revolution, but of ‘held coordination’ |
d. Nó giữ cho mọi vật chất của mọi thể trên cõi hồng trần và các thể vi tế được “phối hợp” quanh trung tâm tiểu thiên địa của chúng. Lưu ý ở đây, chúng ta không nói đến sự quay vòng, mà là ‘sự phối hợp được duy trì’ |
|
30. Careful reading reveals that the Law of Attraction operates in at least three ways: |
30. Đọc kỹ cho thấy Định luật Hấp Dẫn vận hành theo ít nhất ba cách: |
|
a. It holds to |
a. Nó giữ gắn với |
|
b. It promotes revolution |
b. Nó thúc đẩy sự quay vòng |
|
c. It holds in coordination |
c. Nó giữ trong sự phối hợp |
|
31. It is obvious how carefully the Tibetan is choosing His words. Casual reading will miss the subtle differences. |
31. Rõ ràng Chân sư Tây Tạng đã chọn từ ngữ của Ngài cẩn thận đến mức nào. Đọc qua loa sẽ bỏ lỡ những khác biệt vi tế. |
|
32. If the Law of Attraction were not operative, orbits could not be maintained. Were the law to cease, revolving bodies (apparently in orbit) would fly off at a tangent. |
32. Nếu Định luật Hấp Dẫn không vận hành, các quỹ đạo không thể được duy trì. Nếu định luật ấy ngừng hoạt động, các thể đang quay (dường như ở trong quỹ đạo) sẽ văng ra theo tiếp tuyến. |
|
33. There is the implication that within the planet a center exists around which all atomic and molecular matter circulates. We could consider this center the center of a spherical plane or sub-plane, however, if atomic and molecular matter is locked in a form (and is not free planar or sub-planar matter) would it still circulate around this center, or only when released into the “reservoir” through the death of the form? |
33. Có một hàm ý rằng bên trong hành tinh tồn tại một trung tâm mà quanh đó mọi vật chất nguyên tử và phân tử đều lưu chuyển. Chúng ta có thể xem trung tâm này là trung tâm của một cõi hay cõi phụ hình cầu; tuy nhiên, nếu vật chất nguyên tử và phân tử bị khóa trong một hình tướng (và không phải là vật chất tự do của cõi hay cõi phụ), thì nó vẫn sẽ lưu chuyển quanh trung tâm này, hay chỉ khi được giải phóng vào “hồ chứa” qua cái chết của hình tướng? |
|
34. When DK speaks of “physical plane bodies” does He speak of the many kinds of physical plane bodies on our planet (for each incarnated entity has a physical plane body), or does He suggest that within the same entity there are a number of physical plane bodies corresponding to the sub-planes of the physical-etheric plane? |
34. Khi DK nói về “các thể trên cõi hồng trần”, Ngài có nói về nhiều loại thể trên cõi hồng trần trên hành tinh chúng ta (vì mỗi thực thể đang lâm phàm đều có một thể trên cõi hồng trần), hay Ngài gợi ý rằng trong cùng một thực thể có một số thể trên cõi hồng trần tương ứng với các cõi phụ của cõi hồng trần-dĩ thái? |
|
35. Is the “microcosmic center” here referenced the permanent atom which is the controlling point within each of these physical and subtle bodies? |
35. “Trung tâm tiểu thiên địa” được nhắc đến ở đây có phải là nguyên tử trường tồn, vốn là điểm kiểm soát bên trong mỗi thể hồng trần và vi tế này không? |
|
The third law is the Law of Economy, and is the law which adjusts all that concerns the material and spiritual evolution of the cosmos to the best possible advantage and with the least expenditure of force. |
Định luật thứ ba là Định luật Tiết Kiệm, và là định luật điều chỉnh mọi điều liên quan đến sự tiến hoá vật chất và tinh thần của vũ trụ sao cho đạt lợi ích tốt nhất có thể và với sự tiêu hao mãnh lực ít nhất. |
|
36. We see and understand that the Law of Economy does not concern only the material evolution but is an intelligent law adjusting the two poles of divinity to each other. |
36. Chúng ta thấy và hiểu rằng Định luật Tiết Kiệm không chỉ liên quan đến sự tiến hoá vật chất mà còn là một định luật thông tuệ điều chỉnh hai cực của thiên tính với nhau. |
|
37. The Law of Economy works on behalf of the Divine Purpose; the forces adjusted are adjusted to best possible advantage with respect to the Divine Purpose. |
37. Định luật Tiết Kiệm hoạt động vì Thiên Ý; các mãnh lực được điều chỉnh sao cho đạt lợi ích tốt nhất có thể đối với Thiên Ý. |
|
38. Under the Law of Economy waste is eschewed so that there will be no dearth of energy with which to accomplish the objectives of the E/entity concerned. |
38. Dưới Định luật Tiết Kiệm, sự lãng phí bị tránh bỏ để không có sự thiếu hụt năng lượng dùng để hoàn thành các mục tiêu của Thực Thể/thực thể liên hệ. |
|
It makes perfect each atom of time, and each eternal period, and carries all onward, and upward, and through, with the least possible effort, with the proper adjustment of equilibrium, and with the necessary rate of rhythm. |
Nó làm hoàn hảo mỗi nguyên tử thời gian, và mỗi thời kỳ vĩnh cửu, và mang mọi sự tiến lên phía trước, đi lên cao, và xuyên qua, với nỗ lực ít nhất có thể, với sự điều chỉnh quân bình thích đáng, và với nhịp điệu cần thiết. |
|
39. Here, again, is a powerfully occult section of text. |
39. Ở đây, một lần nữa, là một đoạn văn có tính huyền bí học rất mạnh. |
|
40. We shall see that Master DK is speaking in the language of quantum mechanics, seeing time as ‘quantized’. The suggestion is that time (within the entirety of the Great Universe) is not infinitely divisible. |
40. Chúng ta sẽ thấy rằng Chân sư DK đang nói bằng ngôn ngữ của cơ học lượng tử, nhìn thời gian như được ‘lượng tử hóa’. Hàm ý là thời gian (trong toàn thể Đại Vũ Trụ) không thể phân chia vô hạn. |
|
41. Another name for an “atom of time” is an “ultimate particle-event” (cf. Infinitization of Selfhood). |
41. Một tên gọi khác của “nguyên tử thời gian” là một “biến cố-hạt tối hậu” (xem Infinitization of Selfhood). |
|
42. What does it mean that an “atom of time” or an “eternal period” will be made perfect? May it be that all relationships to be perfected within the unit of time are, in fact, perfected—i.e., brought into archetypal relationship? |
42. Việc một “nguyên tử thời gian” hay một “thời kỳ vĩnh cửu” sẽ được làm cho hoàn hảo có nghĩa là gì? Có thể chăng mọi tương quan cần được hoàn thiện trong đơn vị thời gian ấy thật sự được hoàn thiện—tức là được đưa vào tương quan nguyên mẫu? |
|
43. The three motions of which we are told are “onward”, “upward” and “through”. |
43. Ba chuyển động mà chúng ta được cho biết là “tiến lên phía trước”, “đi lên cao” và “xuyên qua”. |
|
a. “Onward” signifies progressive participation in progressive unfoldments of the Purpose-intended pattern. |
a. “Tiến lên phía trước” biểu thị sự tham dự ngày càng tăng vào những sự khai mở tiến bộ của mô hình do Mục Đích dự định. |
|
b. “Upward” signifies the increase of frequency which signals every evolutionary process. |
b. “Đi lên cao” biểu thị sự gia tăng tần số, điều báo hiệu mọi tiến trình thăng thượng tiến hoá. |
|
c. “Through” signifies the penetration of ring-pass-nots—a process admitting to ever higher dimensions in which expression becomes newly possible. |
c. “Xuyên qua” biểu thị sự xuyên thủng các vòng-giới-hạn—một tiến trình cho phép đi vào những chiều kích ngày càng cao hơn, trong đó sự biểu hiện trở nên mới mẻ khả hữu. |
|
44. The Law of Economy is closely related to the third ray sign, Libra. As all progresses “onward”, “upward” and “through”, no long-enduring violation of equilibrium is permitted; otherwise the correct manifestation of ‘Purpose-through-Plan’ is compromised. |
44. Định luật Tiết Kiệm liên hệ chặt chẽ với dấu hiệu cung ba là Thiên Bình. Khi mọi sự tiến “lên phía trước”, “đi lên cao” và “xuyên qua”, không một sự vi phạm quân bình kéo dài nào được cho phép; nếu không, sự biểu hiện đúng đắn của ‘Mục Đích-thông-qua-Thiên Cơ’ sẽ bị tổn hại. |
|
45. Right adjustment between all variables is achieved when they uphold the intended rhythm in relation to each other. When the proper cycles are ‘relationally sustained’ then equilibrium and harmony prevail. |
45. Sự điều chỉnh đúng đắn giữa mọi biến số đạt được khi chúng duy trì nhịp điệu dự định trong tương quan với nhau. Khi các chu kỳ thích hợp được ‘duy trì trong tương quan’ thì quân bình và hài hòa ngự trị. |
|
46. All frequencies are based on rhythmic action. Rhythm-as-frequency determines quality. Quality is born of rhythmic interplay. |
46. Mọi tần số đều dựa trên hoạt động có nhịp điệu. Nhịp điệu-như-tần số quyết định phẩm tính. Phẩm tính sinh ra từ sự tương tác có nhịp điệu. |
|
47. The Law of Economy, rightly executed, creates and upholds the intended ‘quality of the moment’. As moments change, quality changes as well. Quality arises through the nature of relationship, and thus the nature of relationship is dependent upon the rhythmic interplay of the ‘engaged constituents’. |
47. Định luật Tiết Kiệm, khi được thực thi đúng đắn, tạo ra và duy trì ‘phẩm tính của khoảnh khắc’ như đã được dự định. Khi các khoảnh khắc thay đổi, phẩm tính cũng thay đổi. Phẩm tính phát sinh qua bản chất của tương quan, và do đó bản chất của tương quan phụ thuộc vào sự tương tác có nhịp điệu của các ‘thành phần tham dự’. |
|
Unevenness of rhythm is really an illusion of time, and does not exist in the cosmic centre. We need to ponder on this, for it holds the secret of peace, and we need to grasp the significance of that word through, for it describes the next racial expansion of consciousness, and has an occult meaning. |
Sự không đều của nhịp điệu thật ra là một ảo tưởng của thời gian, và không tồn tại trong trung tâm vũ trụ. Chúng ta cần chiêm ngưỡng điều này, vì nó nắm giữ bí mật của hòa bình, và chúng ta cần nắm bắt thâm nghĩa của từ xuyên qua, vì nó mô tả sự mở rộng tâm thức tiếp theo của nhân loại, và có một ý nghĩa huyền bí. |
|
48. In the “cosmic center” all proceeds according to rhythms dictated by the Divine Will of the Entity Who works through that cosmic center. At that center all proceeds in concordance. |
48. Trong “trung tâm vũ trụ”, mọi sự diễn tiến theo những nhịp điệu do Ý Chí thiêng liêng của Thực Thể đang hoạt động qua trung tâm vũ trụ ấy quy định. Tại trung tâm đó, mọi sự diễn tiến trong sự hòa điệu. |
|
49. There are a number of ever-greater, ever-receding cosmic centers in each of which the “unevenness of rhythm” is more and more reduced. |
49. Có một số trung tâm vũ trụ ngày càng lớn hơn, ngày càng lùi xa hơn, trong mỗi trung tâm ấy “sự không đều của nhịp điệu” ngày càng được giảm bớt. |
|
50. For practical purposes and from a planetary perspective, Shamballa can be considered such a center; at least it is a center of “peace” and, so, some of the unevenness of rhythm must be reduced. |
50. Vì mục đích thực tiễn và từ góc nhìn hành tinh, Shamballa có thể được xem là một trung tâm như vậy; ít nhất đó là một trung tâm của “hòa bình”, và do đó một phần sự không đều của nhịp điệu hẳn phải được giảm bớt. |
|
51. Many diverse rhythms are noticed by consciousness. Is diversity what DK means by “unevenness”? Or does He mean fluctuations within a frequency which should be sustained according to the Plan? |
51. Tâm thức nhận thấy nhiều nhịp điệu đa dạng. Sự đa dạng có phải là điều DK muốn nói bằng “sự không đều” không? Hay Ngài muốn nói đến những dao động bên trong một tần số mà theo Thiên Cơ đáng lẽ phải được duy trì? |
|
52. Emanation proceeds through diversification of rhythm (all rhythms being divisions of the one Great Breath). |
52. Sự phát xạ tiến hành qua sự đa dạng hóa nhịp điệu (mọi nhịp điệu đều là những phân chia của một Hơi Thở Vĩ Đại duy nhất). |
|
53. Diversified though the rhythm of ‘descending entities’ may be, we can presume that the Plan (as conceived at the cosmic center) does not intend to produce aberrant fluctuations which are as disturbing to the Divine Harmony. Archetypal relationships do not fluctuate unpredictably. |
53. Dù nhịp điệu của các ‘thực thể giáng hạ’ có đa dạng đến đâu, chúng ta vẫn có thể giả định rằng Thiên Cơ (như được quan niệm tại trung tâm vũ trụ) không nhằm tạo ra những dao động lệch chuẩn gây xáo trộn cho Hài Hòa thiêng liêng. Các tương quan nguyên mẫu không dao động một cách bất định. |
|
54. The thought about “peace” is difficult to penetrate. May we say that “peace” is based upon the establishing of divinely intended rhythms? Rhythms are frequencies and frequencies brought into relationship produce either discord or harmony. |
54. Tư tưởng về “hòa bình” thật khó thâm nhập. Chúng ta có thể nói rằng “hòa bình” dựa trên việc thiết lập những nhịp điệu do thiêng liêng dự định không? Nhịp điệu là các tần số, và các tần số khi được đưa vào tương quan sẽ tạo ra hoặc bất hòa hoặc hài hòa. |
|
55. The rhythm which prevails at the cosmic center when achieved by units hitherto subjected to diversified ‘outer’ rhythms may indicate the ‘finding’ of peace. |
55. Nhịp điệu ngự trị tại trung tâm vũ trụ, khi được đạt đến bởi những đơn vị trước đây chịu những nhịp điệu ‘bên ngoài’ đa dạng, có thể biểu thị sự ‘tìm thấy’ hòa bình. |
|
56. With respect to the word “through”, it is as if the illusions of time and space will be penetrated. The Perceiver will use a new type of consciousness which will penetrate or negate the seemingly impenetrable barriers presented to the Perceiver by our presently limited state of consciousness. We know that forms as they seem are not really as they seem. The possibility exists to penetrate this ‘seeming’ and arrive at a truer understanding of that which substands the appearance of form. That which substands the ‘world of appearances’ will be presented to a more sensitive consciousness. |
56. Đối với từ “xuyên qua”, dường như các ảo tưởng của thời gian và không gian sẽ bị xuyên thủng. Đấng Tri Giác sẽ sử dụng một loại tâm thức mới, loại tâm thức sẽ xuyên thủng hoặc phủ nhận những rào cản dường như không thể xuyên thủng mà trạng thái tâm thức hiện nay còn giới hạn của chúng ta trình ra cho Đấng Tri Giác. Chúng ta biết rằng các hình tướng như chúng dường như không thật sự là như chúng dường như. Khả năng xuyên thủng cái ‘dường như’ này và đi đến một sự thấu hiểu chân thực hơn về điều nâng đỡ sắc tướng của hình tướng là có thật. Điều nâng đỡ ‘thế giới của các sắc tướng’ sẽ được trình bày cho một tâm thức nhạy bén hơn. |
|
57. DK seems to be suggesting that there is a form of consciousness developing which will negate the apparent solidity of matter. We will be able, by seeing through to see within. |
57. DK dường như đang gợi ý rằng có một hình thức tâm thức đang phát triển, hình thức này sẽ phủ nhận tính rắn chắc biểu kiến của vật chất. Chúng ta sẽ có thể, bằng cách nhìn xuyên qua, để nhìn vào bên trong. |
|
58. This type of possible penetration ‘through’ the illusion of matter is dealt with in the Secret Doctrine. |
58. Loại khả năng xuyên thấu ‘xuyên qua’ ảo tưởng của vật chất này được bàn đến trong Giáo Lý Bí Nhiệm. |
|
In the nomenclature of these laws much is lost, for it is well nigh impossible to resolve abstractions into the terms of speech, and not lose the inner sense in the process. |
Trong danh xưng của các định luật này, nhiều điều bị mất đi, vì gần như không thể chuyển các trừu tượng thành những thuật ngữ của ngôn ngữ, mà không làm mất ý nghĩa bên trong trong tiến trình ấy. |
|
59. This is a very important statement. We are likely to have much confidence in the value of such high sounding names as: the Law of Synthesis, the Law of Attraction; the Law of Economy. From the Tibetan’s perspective, however, these names are deficient. Abstractions have a perceivable reality all their own (perceivable, at last, to a high Initiate)—a reality which cannot be captured by combinations of lower sounds. |
59. Đây là một phát biểu rất quan trọng. Chúng ta có thể rất tin tưởng vào giá trị của những tên gọi nghe rất cao siêu như: Định luật Tổng Hợp, Định luật Hấp Dẫn, Định luật Tiết Kiệm. Tuy nhiên, từ góc nhìn của Chân sư Tây Tạng, những tên gọi này còn thiếu sót. Các trừu tượng có một thực tại khả tri riêng của chúng (rốt cuộc có thể được tri giác bởi một điểm đạo đồ cao cấp)—một thực tại không thể được nắm bắt bằng những tổ hợp của các âm thanh thấp hơn. |
|
60. What is necessary is to observe at first hand the internal processes indicated by these three laws. Only then will the speech indicating them become truly meaningful. |
60. Điều cần thiết là trước hết phải quan sát trực tiếp các tiến trình nội tại được ba định luật này chỉ ra. Chỉ khi đó ngôn ngữ biểu thị chúng mới trở nên thật sự có ý nghĩa. |
|
In these laws we again have the threefold idea demonstrated, and the correspondence, as might be expected, holds good. |
Trong các định luật này, một lần nữa chúng ta có ý tưởng tam phân được chứng minh, và sự tương ứng, như có thể chờ đợi, vẫn hoàn toàn đúng. |
|
[Page 569] |
|
|
The Law of SynthesisThe Will Aspect1st Aspect. |
Định luật Tổng HợpPhương diện Ý ChíPhương diện 1. |
|
The Law of AttractionThe Love Aspect2nd Aspect. |
Định luật Hấp DẫnPhương diện Bác áiPhương diện 2. |
|
The Law of EconomyThe Activity Aspect3rd Aspect. |
Định luật Tiết KiệmPhương diện Hoạt ĐộngPhương diện 3. |
|
61. These are the standard correspondences with which we are very familiar. |
61. Đây là những tương ứng tiêu chuẩn mà chúng ta rất quen thuộc. |
|
62. We might ask: “If synthesis is of the will aspect, can it be said that it pertains to Spirit—Spirit being the essence which is even greater than will?” |
62. Chúng ta có thể hỏi: “Nếu tổng hợp thuộc về phương diện ý chí, thì có thể nói rằng nó liên quan đến Tinh thần—Tinh thần là bản chất cốt yếu còn lớn hơn cả ý chí chăng?” |
|
63. We might return to the idea that laws express the will of great Entities, and that will is embodied in a thoughtform which, sustained, becomes the law. |
63. Chúng ta có thể trở lại với ý tưởng rằng các định luật biểu hiện ý chí của những Thực Thể vĩ đại, và ý chí ấy được thể hiện trong một hình tư tưởng mà khi được duy trì sẽ trở thành định luật. |
|
b. Seven Systemic Laws.—Subsidiary to the three major laws, we find the seven laws of our solar system. Again we find the law of analogy elucidating, and the three becoming the seven as elsewhere in the logoic scheme. |
b. Bảy Định luật Hệ thống.—Phụ thuộc vào ba định luật chính yếu, chúng ta tìm thấy bảy định luật của hệ mặt trời chúng ta. Một lần nữa, chúng ta thấy định luật tương đồng làm sáng tỏ, và bộ ba trở thành bộ bảy như ở những nơi khác trong hệ hành tinh logoic. |
|
64. We note in the enumeration of these laws (cosmic and systemic) that the three exist independently and ‘above’ the seven. It has been questioned by some theorists whether the greater three are somehow incorporated in the seven. |
64. Chúng ta lưu ý trong việc liệt kê các định luật này (vũ trụ và hệ thống) rằng bộ ba tồn tại độc lập và ‘ở trên’ bộ bảy. Một số nhà lý thuyết đã đặt câu hỏi liệu bộ ba lớn hơn có bằng cách nào đó được bao hàm trong bộ bảy hay không. |
|
65. It is quite clear, here, that the greater three are independent of the lesser seven; however, the first three of the lesser seven are, no doubt, allied to the great three. |
65. Ở đây khá rõ rằng bộ ba lớn hơn độc lập với bộ bảy nhỏ hơn; tuy nhiên, ba định luật đầu tiên của bộ bảy nhỏ hơn hẳn nhiên có liên hệ với bộ ba lớn. |
|
66. This would mean that: |
66. Điều này có nghĩa là: |
|
a. The Law of Synthesis would correlate with the Law of Vibration |
a. Định luật Tổng Hợp sẽ tương quan với Định luật Rung Động |
|
b. The Law of Attraction would correlate with the Law of Cohesion |
b. Định luật Hấp Dẫn sẽ tương quan với Định luật Cố Kết |
|
c. The Law of Economy would correlate with the Law of Disintegration |
c. Định luật Tiết Kiệm sẽ tương quan với Định luật Tan Rã |
|
67. Justifications can be offered for these correlations. The second correlation is easy to see, as the second ray is so obviously present in cohesion. With regard to the “Law of Vibration”, it is uniformity of vibration which determines synthesis. Complementarity of vibration determines unity. The term “unity” is sometimes meant to indicate “oneness” just as is the term “synthesis”. |
67. Có thể đưa ra những biện minh cho các tương quan này. Tương quan thứ hai dễ thấy, vì cung hai hiện diện quá rõ trong sự cố kết. Đối với “Định luật Rung Động”, chính tính đồng nhất của rung động quyết định sự tổng hợp. Tính bổ sung của rung động quyết định sự hợp nhất. Thuật ngữ “hợp nhất” đôi khi được dùng để chỉ “nhất thể tính” cũng như thuật ngữ “tổng hợp”. |
|
68. The original three become the seven in this way: |
68. Bộ ba nguyên thủy trở thành bộ bảy theo cách này: |
|
a. The first of the greater three reflects itself directly as the first of the lesser seven. |
a. Định luật thứ nhất của bộ ba lớn hơn phản chiếu trực tiếp thành định luật thứ nhất của bộ bảy nhỏ hơn. |
|
b. The second of the greater three reflects itself directly as the second of the lesser seven. |
b. Định luật thứ hai của bộ ba lớn hơn phản chiếu trực tiếp thành định luật thứ hai của bộ bảy nhỏ hơn. |
|
c. The third of the greater three reflects itself directly as the third of the lesser seven. |
c. Định luật thứ ba của bộ ba lớn hơn phản chiếu trực tiếp thành định luật thứ ba của bộ bảy nhỏ hơn. |
|
d. The first and second of the lesser seven combine to produce the fourth in the series of seven. |
d. Định luật thứ nhất và thứ hai của bộ bảy nhỏ hơn kết hợp để tạo ra định luật thứ tư trong chuỗi bảy. |
|
e. The first and third of the lesser seven combine to produce the fifth in the series of seven. |
e. Định luật thứ nhất và thứ ba của bộ bảy nhỏ hơn kết hợp để tạo ra định luật thứ năm trong chuỗi bảy. |
|
f. The second and third of the lesser seven combine to produce the sixth in the series of seven. (Some theorists might reverse the processes which produced the lesser fourth and sixth relating the fourth to the combination of the second and third, and the sixth to the combination of the first and second. |
f. Định luật thứ hai và thứ ba của bộ bảy nhỏ hơn kết hợp để tạo ra định luật thứ sáu trong chuỗi bảy. (Một số nhà lý thuyết có thể đảo ngược các tiến trình đã tạo ra định luật thứ tư và thứ sáu của bộ nhỏ hơn, liên hệ định luật thứ tư với sự kết hợp của định luật thứ hai và thứ ba, và định luật thứ sáu với sự kết hợp của định luật thứ nhất và thứ hai. |
|
g. The first, second and third of the lesser seven combine (is it in equal measure?) to produce the seventh in the series of seven. |
g. Định luật thứ nhất, thứ hai và thứ ba của bộ bảy nhỏ hơn kết hợp (có phải với tỷ lệ ngang nhau không?) để tạo ra định luật thứ bảy trong chuỗi bảy. |
|
In each of these seven laws we find an interesting correlation with the seven planes. They are: |
Trong mỗi một trong bảy định luật này, chúng ta tìm thấy một sự tương quan thú vị với bảy cõi. Chúng là: |
|
1. The Law of Vibration, the basis of manifestation, starting on the first plane. This is the atomic law of the system, in the same sense that on each of our planes the first subplane is the atomic plane. |
1. Định luật Rung Động, nền tảng của biểu hiện, bắt đầu trên cõi thứ nhất. Đây là định luật nguyên tử của hệ thống, theo cùng ý nghĩa mà trên mỗi cõi của chúng ta, cõi phụ thứ nhất là cõi nguyên tử. |
|
54. The Law of Vibration rules that sub-plane whereon the keynote or measure for any sevenfold system of planes is set. Of course, each sub-plane has its keynote as well, and in this way is responsive to the Law of Vibration |
54. Định luật Rung Động cai quản cõi phụ mà trên đó chủ âm hay thước đo cho bất kỳ hệ thống cõi thất phân nào được thiết lập. Dĩ nhiên, mỗi cõi phụ cũng có chủ âm của nó, và theo cách này đáp ứng với Định luật Rung Động |
|
55. The frequency of atomic sub-plane matter on each plane determines the frequencies of all molecular combinations of such matter—i.e., the matter or the lower six sub-planes. |
55. Tần số của vật chất cõi phụ nguyên tử trên mỗi cõi quyết định các tần số của mọi tổ hợp phân tử của loại vật chất ấy—tức là vật chất của sáu cõi phụ thấp hơn. |
|
56. We can correlate the Law of Vibration especially with the planet Vulcan which, through impact resulting in ‘displacement of center’, sets all matter vibrating. |
56. Chúng ta có thể tương quan Định luật Rung Động đặc biệt với hành tinh Vulcan, hành tinh mà qua tác động gây nên ‘sự dịch chuyển trung tâm’, làm cho mọi vật chất rung động. |
|
57. From another perspective, the planet Uranus can be correlated with this law. Let us remember that Aquarius, ruled exoterically by Uranus, is the sign in which the “significance of cycles is mastered and understood by the initiate” (EA 141). Cycles and vibrations are synonymous. |
57. Từ một góc nhìn khác, hành tinh Sao Thiên Vương có thể được tương quan với định luật này. Hãy nhớ rằng Bảo Bình, được Sao Thiên Vương cai quản theo ngoại môn, là dấu hiệu mà trong đó “thâm nghĩa của các chu kỳ được điểm đạo đồ làm chủ và thấu hiểu” (EA 141). Chu kỳ và rung động là đồng nghĩa. |
|
58. The Law of Vibration relates to the essential nature of any entity before it has entered into combination with other entities. |
58. Định luật Rung Động liên hệ với bản chất cốt yếu của bất kỳ thực thể nào trước khi nó đi vào sự kết hợp với các thực thể khác. |
|
2. The law of Cohesion. On the second plane cohesion is first apparent. |
2. Định luật Cố Kết. Trên cõi thứ hai, sự cố kết lần đầu tiên trở nên hiển nhiên. |
|
69. This means that on the first plane it is not apparent. This suggests to us that (from the perspective of the systemic planes) the Sea of Fire does not demonstrate cohesion—at least cohesion as we know it. And yet, three great Logoi find Their three principal spheres of manifestation there. |
69. Điều này có nghĩa là trên cõi thứ nhất nó không hiển nhiên. Điều này gợi cho chúng ta rằng (từ góc nhìn của các cõi hệ thống) Biển Lửa không biểu lộ sự cố kết—ít nhất là sự cố kết như chúng ta biết. Tuy nhiên, ba Logoi vĩ đại lại tìm thấy ba khối cầu biểu hiện chính yếu của Các Ngài ở đó. |
|
It is the first molecular plane of the system, and is the home of the Monad. Divine coherency is demonstrated. |
Đây là cõi phân tử thứ nhất của hệ, và là nơi cư ngụ của chân thần. Sự cố kết thiêng liêngđược biểu lộ. |
|
59. The Monad generically expresses a combination of the first and second rays. It is the first aspect of man but demonstrates on the second plane (which numerologically is conditioned by the second ray). (If the sixth ray were produced by a combination of the first and second rays, a significant relationship would be indicated—the first and second rays in relation to the sixth plane, counting from below. (Parenthetically, there are probably ways of deriving the fourth, fifth and sixth rays from unequal combinations of the first, second and third rays, with one of the major rays in the major position, a second of the major rays in the middle position and a third in the least position. The seventh ray would arise from a combination of all the Rays of Aspect taken in equal measure.) |
59. Chân thần, một cách tổng quát, biểu lộ một sự kết hợp của cung một và cung hai. Nó là phương diện thứ nhất của con người nhưng biểu lộ trên cõi thứ hai (vốn về mặt số học được tác động bởi cung hai). (Nếu cung sáu được tạo ra bởi một sự kết hợp của cung một và cung hai, thì một mối liên hệ có ý nghĩa sẽ được chỉ ra—cung một và cung hai trong liên hệ với cõi thứ sáu, tính từ dưới lên. (Nói ngoài lề, có lẽ có những cách để suy ra cung bốn, cung năm và cung sáu từ những sự kết hợp không đồng đều của cung một, cung hai và cung ba, với một trong các cung chính ở vị trí chính yếu, một cung chính thứ hai ở vị trí trung gian và cung thứ ba ở vị trí ít quan trọng nhất. Cung bảy sẽ phát sinh từ một sự kết hợp của tất cả Các Cung Trạng Thái được lấy theo tỷ lệ bằng nhau.) |
|
Rays of Attribute |
Derivation |
|
Ray Four |
Most: Ray Two Middle: Ray Three Least: Ray One |
|
Ray Five |
Most: Ray Three Middle: Ray One Least: Ray Two |
|
Ray Six |
Most: Ray One Middle: Ray Two Least: Ray Three |
|
Ray Seven |
All Three Rays Equal in Combination |
|
60. The Monad is that factor of coherency which sustains the integration of all vehicles through which the Divine Jiva manifests on its lengthy pilgrimage into the five lower worlds and back. |
60. Chân thần là nhân tố cố kết duy trì sự tích hợp của mọi vận cụ mà qua đó Divine Jiva biểu lộ trong cuộc hành hương dài lâu của nó vào năm cõi thấp và quay trở lại. |
|
61. The matter of the second plane (being molecular) is produced by aggregation from the matter of the first plane. |
61. Vật chất của cõi thứ hai (vì là phân tử) được tạo ra bằng sự kết tụ từ vật chất của cõi thứ nhất. |
|
62. Because the Monad is composed of molecular matter, the Monad (usually considered as essential Spirit plus the vehicle through which it manifests) is a ‘divisible’ entity. |
62. Bởi vì chân thần được cấu thành từ vật chất phân tử, nên chân thần (thường được xem là Tinh thần cốt tuỷ cộng với vận cụ mà qua đó nó biểu lộ) là một thực thể “có thể phân chia”. |
|
63. The Monad as Pure Spirit Essence is not divisible. |
63. Chân thần như Tinh Tuý Tinh Thần Thuần Khiết thì không thể phân chia. |
|
64. As far as the cosmic physical plane is concerned, the seven rays make their appearance on the monadic plane. We might say that only the three Rays of Aspect condition the plane of adi. |
64. Xét theo cõi hồng trần vũ trụ, bảy cung xuất hiện trên cõi chân thần. Chúng ta có thể nói rằng chỉ có ba Các Cung Trạng Thái tác động lên cõi adi. |
|
65. Seven Sounds appear on the monadic plane, and these sounds hold in coherency all which they condition. With the seven Sounds, seven fundamental qualities have appeared and seven “Forms” in the Platonic sense. |
65. Bảy Âm Thanh xuất hiện trên cõi chân thần, và những âm thanh này giữ cho mọi điều mà chúng tác động được cố kết. Cùng với bảy Âm Thanh, bảy phẩm tính căn bản đã xuất hiện và bảy “Hình Tướng” theo nghĩa Plato. |
|
66. With the appearance of the Monad we have the appearance of the ‘spherical life’ of the unit of life. Functioning under the Law of Attraction, the Monad sustains the coherency of the sphere through which it expresses. |
66. Với sự xuất hiện của chân thần, chúng ta có sự xuất hiện của “sự sống hình cầu” của đơn vị sự sống. Hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn, chân thần duy trì sự cố kết của khối cầu mà qua đó nó biểu lộ. |
|
67. It would seem that the Law of Synthesis applies to the Monad but, in a manner more fundamental, it is the Law of Attraction that most applies. |
67. Có vẻ như Định luật Tổng Hợp áp dụng cho chân thần nhưng, theo một cách căn bản hơn, chính Định luật Hấp Dẫn là định luật áp dụng nhiều nhất. |
|
68. It is clear that the planet Jupiter relates to the Law of Coherence as it manifests on the monadic plane. Of the synthesizing planets, Neptune must also be considered (especially since its Monad expresses on the second ray). The coherency of Venus expresses primarily on lower planes—the higher mental plane being its especial focus for man. |
68. Rõ ràng là hành tinh Sao Mộc liên hệ với Định luật Cố Kết khi nó biểu lộ trên cõi chân thần. Trong các hành tinh tổng hợp, Sao Hải Vương cũng phải được xét đến (đặc biệt vì chân thần của nó biểu lộ trên cung hai). Sự cố kết của Sao Kim biểu lộ chủ yếu trên các cõi thấp hơn—đặc biệt lấy Cõi thượng trí làm tiêu điểm đối với con người. |
|
3. The Law of Disintegration. On the third plane comes the final casting-off, the ultimate shedding of the sheaths, of the fivefold superman. |
3. Định luật Phân Rã. Trên cõi thứ ba diễn ra sự vứt bỏ sau cùng, sự lột bỏ tối hậu các lớp vỏ của siêu nhân ngũ phân. |
|
70. We are speaking of the ‘rising life’ and the manner in which it attains liberation. |
70. Chúng ta đang nói về “sự sống đi lên” và cách thức nó đạt đến giải thoát. |
|
71. Just as at the third initiation the initiate begins his liberation into the life of the spiritual triad, so at the sixth initiation, the initiate (focussed on the atmic plane) casts off all sheaths that pertain to all planes lower than the monadic, including the atmic plane. |
71. Cũng như ở lần điểm đạo thứ ba, điểm đạo đồ bắt đầu sự giải thoát của y vào sự sống của Tam nguyên tinh thần, thì ở lần điểm đạo thứ sáu, điểm đạo đồ (được tập trung trên cõi atma) vứt bỏ mọi lớp vỏ thuộc về tất cả các cõi thấp hơn cõi chân thần, kể cả cõi atma. |
|
72. The Master of the Wisdom is the “fivefold superman”. He is not yet the Chohan or unencumbered Monad. |
72. Chân sư Minh triết là “siêu nhân ngũ phân”. Ngài chưa phải là Chohan hay chân thần không còn vướng bận. |
|
73. We are gathering that, utilizing the Law of Disintegration, the Master applies the forces of disintegration to all His lower sheaths including, ultimately, the atmic sheath. |
73. Chúng ta hiểu rằng, khi sử dụng Định luật Phân Rã, Chân sư áp dụng các lực phân rã lên tất cả các lớp vỏ thấp của Ngài, kể cả cuối cùng là lớp vỏ atma. |
|
74. Whether there is a correspondence to the causal body to be found on the higher three levels of the atmic plane is seriously debated by some. |
74. Việc có hay không một tương ứng với thể nguyên nhân được tìm thấy trên ba cấp độ cao hơn của cõi atma là điều đang được một số người tranh luận nghiêm túc. |
|
75. Saturn, in its first ray aspect contributes to this disintegration. We know Saturn to be a planet impulsing the processes of separation and detachment. |
75. Sao Thổ, trong phương diện cung một của nó, góp phần vào sự phân rã này. Chúng ta biết Sao Thổ là một hành tinh thúc đẩy các tiến trình phân ly và tách rời. |
|
A Chohan of the sixth Initiation discards all the sheaths beneath the monadic vehicle, from the atmic to the physical. |
Một Chohan của lần điểm đạo thứ sáu loại bỏ mọi lớp vỏ bên dưới vận cụ chân thần, từ cõi atma xuống đến cõi hồng trần. |
|
69. Master DK says it directly. It would seem that Jupiter would attract the Jiva (still immersed in the lower five worlds) towards the world of the Monad and that Saturn would contribute to the necessary severing from the fivefold Brahmic Worlds.. |
69. Chân sư DK nói điều đó một cách trực tiếp. Có vẻ như Sao Mộc sẽ hút Jiva (vẫn còn chìm trong năm cõi thấp) về phía thế giới của chân thần và Sao Thổ sẽ góp phần vào sự cắt đứt cần thiết khỏi các Thế Giới Brahma ngũ phân. |
|
70. The planet Vulcan has its place in relation to the atmic plane, for Vulcan and the Sun are one (as is repeatedly shown in relation to the veiling process—cf. EA 50). The Sun of Brahma shines forth on the atmic plane, but this Sun too, must be destroyed in favor of the ‘Greater Sun’ which the Monad represents—the ‘Sun of Vishnu’. |
70. Hành tinh Vulcan có vị trí của nó trong liên hệ với cõi atma, vì Vulcan và Mặt Trời là một (như được chỉ ra nhiều lần liên quan đến tiến trình che phủ—xem EA 50). Mặt Trời của Brahma chiếu sáng trên cõi atma, nhưng Mặt Trời này cũng phải bị hủy diệt để nhường chỗ cho “Mặt Trời Vĩ Đại hơn” mà chân thần tượng trưng—“Mặt Trời của Vishnu”. |
|
4. The Law of Magnetic Control holds sway paramountly on the buddhic plane, and in the development of the control of this law lies hid the control of the personality by the Monad via the egoic body. |
4. Định luật Kiểm Soát Từ Tính ngự trị một cách tối thượng trên cõi Bồ đề, và trong sự phát triển của việc kiểm soát định luật này ẩn giấu sự kiểm soát phàm ngã bởi chân thần thông qua thể chân ngã. |
|
71. We see (as might be expected) that the Seven Systemic Laws are apportioned, one each, to the plane which corresponds to their number. Thus, the fourth systemic law accords with the fourth systemic plane—the buddhic. |
71. Chúng ta thấy (đúng như có thể dự đoán) rằng Bảy Định luật Hệ thống được phân chia, mỗi định luật một cõi, cho cõi tương ứng với số của nó. Vì vậy, định luật hệ thống thứ tư tương ứng với cõi hệ thống thứ tư—cõi Bồ đề. |
|
72. Ultimately, it is the Monad which must control the personality. We often think that it is the soul/Solar Angel which controls the personality (and this is initially true), but the soul consciousness (plus the presence of the Solar Angel) is the agent of the Monad. |
72. Cuối cùng, chính chân thần phải kiểm soát phàm ngã. Chúng ta thường nghĩ rằng linh hồn/Thái dương Thiên Thần kiểm soát phàm ngã (và điều này lúc đầu là đúng), nhưng tâm thức linh hồn (cộng với sự hiện diện của Thái dương Thiên Thần) là tác nhân của chân thần. |
|
73. We must not forget that, in terms of essence and fundamental consciousness—the soul is the Monad (in extension/attenuation) and the personality is the Monad (in even greater extension/attenuation). |
73. Chúng ta không được quên rằng, xét theo bản chất cốt tuỷ và tâm thức căn bản—linh hồn là chân thần (trong sự mở rộng/làm loãng) và phàm ngã là chân thần (trong sự mở rộng/làm loãng còn lớn hơn nữa). |
|
74. Neptune, Jupiter and Mercury—all rulers of the buddhic plane—are agents of this Law of Magnetic Control. |
74. Sao Hải Vương, Sao Mộc và Sao Thủy—tất cả đều là các chủ tinh của cõi Bồ đề—là những tác nhân của Định luật Kiểm Soát Từ Tính này. |
|
75. From another perspective, Venus must necessarily be involved. Venus, although the ruler of the higher mental plane, must necessarily be related to the buddhic plane because the Logos of Venus has accomplished much in relation to the development and expression of buddhi. Venus is working on the sixth sub-plane of the cosmic astral plane (sixth from below) and that sixth cosmic astral sub-plane is related to the sixth principal which is buddhi. |
75. Từ một góc nhìn khác, Sao Kim nhất thiết cũng phải được bao gồm. Sao Kim, dù là chủ tinh của Cõi thượng trí, nhất thiết phải liên hệ với cõi Bồ đề vì Thượng đế của Sao Kim đã thành tựu nhiều điều liên quan đến sự phát triển và biểu lộ của Bồ đề. Sao Kim đang hoạt động trên cõi phụ thứ sáu của cõi cảm dục vũ trụ (thứ sáu tính từ dưới lên) và cõi phụ cảm dục vũ trụ thứ sáu ấy liên hệ với nguyên khí thứ sáu là Bồ đề. |
|
76. Mercury contributes to magnetic control through transmission of higher substance/consciousness into lower. |
76. Sao Thủy góp phần vào sự kiểm soát từ tính thông qua việc truyền dẫn chất liệu/tâm thức cao hơn vào cái thấp hơn. |
|
77. Jupiter holds the human being’s solar consciousness coherent; Jupiter promotes the perception of unity. |
77. Sao Mộc giữ cho tâm thức thái dương của con người được cố kết; Sao Mộc thúc đẩy sự tri nhận về hợp nhất. |
|
78. Neptune invokes the conscious of the soul-infused personality towards transcendence. |
78. Sao Hải Vương khẩn cầu tâm thức của phàm ngã được linh hồn thấm nhuần hướng tới sự siêu việt. |
|
79. Venus is a true magnet and, once a degree of soul infusion is reached. always draws personality consciousness away from its material preoccupations. |
79. Sao Kim là một nam châm đích thực và, một khi đạt đến một mức độ được linh hồn thấm nhuần nào đó, luôn luôn kéo tâm thức phàm ngã ra khỏi những bận tâm vật chất của nó. |
|
80. The idea here is that the Monad would use the energy of these planets, via the buddhic plane and via the egoic lotus, to magnetically control the personality. |
80. Ý tưởng ở đây là chân thần sẽ sử dụng năng lượng của các hành tinh này, thông qua cõi Bồ đề và thông qua Hoa Sen Chân Ngã, để kiểm soát phàm ngã bằng từ tính. |
|
81. We would have the magnetism of the Monad and egoic lotus drawing the attention of the personality consciousness away from strictly personal concerns. |
81. Chúng ta sẽ có từ lực của chân thần và Hoa Sen Chân Ngã lôi kéo sự chú ý của tâm thức phàm ngã ra khỏi những mối quan tâm thuần túy cá nhân. |
|
82. The third aspect would be controlled by the second—all this reinforced by spiritual will supporting and substanding buddhi. The Monad we have often been told is atma-buddhi. |
82. Phương diện thứ ba sẽ được phương diện thứ hai kiểm soát—tất cả điều này được củng cố bởi ý chí tinh thần nâng đỡ và làm nền cho Bồ đề. Chúng ta thường được bảo rằng chân thần là atma-buddhi. |
|
5. The Law of Fixation demonstrates principally on the mental plane and has a close connection with manas, the fifth principle. The mind controls and stabilises, and coherency is the result. |
5. Định luật Cố Định biểu lộ chủ yếu trên cõi trí và có liên hệ mật thiết với manas, nguyên khí thứ năm. Trí tuệ kiểm soát và ổn định, và kết quả là sự cố kết. |
|
83. We cannot help but notice that the factor of coherency is related to both the Law of Cohesion and the Law of Fixation. |
83. Chúng ta không thể không nhận thấy rằng nhân tố cố kết có liên hệ với cả Định luật Cố Kết lẫn Định luật Cố Định. |
|
84. Solar fire (as an expression of the energy of the Solar Logos) does express both on the monadic plane and on the fifth, or mental plane. |
84. Lửa Thái dương (như một biểu hiện của năng lượng của Thái dương Thượng đế) quả thực biểu lộ cả trên cõi chân thần lẫn trên cõi thứ năm, hay cõi trí. |
|
He [Lord Agni] shows forth as solar fire on the second, third and fourth, and as ‘fire by friction’ on the fifth, sixth and seventh. (TCF 521) |
Ngài [Lord Agni] biểu lộ như lửa thái dương trên cõi thứ hai, thứ ba và thứ tư, và như ‘Lửa ma sát’ trên cõi thứ năm, thứ sáu và thứ bảy. (TCF 521) |
|
85. Through the Solar Angel, solar fire is expressed on the higher mental plane. |
85. Thông qua Thái dương Thiên Thần, lửa thái dương được biểu lộ trên Cõi thượng trí. |
|
86. Venus rules the higher mental plane and, through the expression of the highly focused fifth ray, contributes greatly to the fixation, control and stabilization that is to be achieved. |
86. Sao Kim cai quản Cõi thượng trí và, thông qua sự biểu lộ của cung năm được tập trung cao độ, góp phần rất lớn vào sự cố định, kiểm soát và ổn định cần phải đạt được. |
|
87. Saturn relates to the lower mental plane and is also involved in the steadying of thoughtforms, ensuring that they are created “according to plan”—for the spiritually-inclined person, the Divine Plan. |
87. Sao Thổ liên hệ với cõi hạ trí và cũng tham gia vào việc làm vững các hình tư tưởng, bảo đảm rằng chúng được tạo ra “theo đúng mô hình”—đối với người có khuynh hướng tinh thần, đó là Thiên Cơ thiêng liêng. |
|
88. The mind has holding power when used correctly, for it is an agent of the will, with its definite power to hold. Two planets of initiation (Venus and Saturn, the rulers of Capricorn, the paramount sign of initiation) contribute to this holding power—Venus inducing the holding of the center and Saturn defining boundaries within which the holding occurs. |
88. Trí tuệ có năng lực giữ vững khi được sử dụng đúng cách, vì nó là một tác nhân của ý chí, với năng lực giữ vững xác định của nó. Hai hành tinh của điểm đạo (Sao Kim và Sao Thổ, các chủ tinh của Ma Kết, dấu hiệu tối thượng của điểm đạo) góp phần vào năng lực giữ vững này—Sao Kim tạo ra việc giữ vững trung tâm và Sao Thổ xác định những ranh giới trong đó việc giữ vững diễn ra. |
|
6. The Law of Love is the law of the astral plane. It aims at the transmutation of the desire nature, and links it up with the greater magnetism of the love aspect on the buddhic plane. |
6. Định luật Tình thương là định luật của cõi cảm dục. Nó nhắm đến sự chuyển hoá bản chất dục vọng, và nối kết nó với từ lực lớn hơn của phương diện bác ái trên cõi Bồ đề. |
|
89. The Law of Love provides an astral-buddhic link—desire linked with buddhi. |
89. Định luật Tình thương cung cấp một liên kết cảm dục-Bồ đề—dục vọng được nối kết với Bồ đề. |
|
90. Both Venus and Neptune are involved with the transmutation of desire into love. The line might be as follows: from the refinement of desire under Neptune and its elevation into aspiration; to the magnetism of Venus on the higher mental plane; to the release of the divine love nature through buddhi, again ruled by Neptune. |
90. Cả Sao Kim lẫn Sao Hải Vương đều liên quan đến sự chuyển hoá dục vọng thành tình thương. Tuyến đường có thể như sau: từ sự tinh luyện dục vọng dưới Sao Hải Vương và sự nâng nó lên thành khát vọng; đến từ lực của Sao Kim trên Cõi thượng trí; đến sự giải phóng bản chất bác ái thiêng liêng thông qua Bồ đề, một lần nữa do Sao Hải Vương cai quản. |
|
91. We can gather from what is said that the buddhic plane is highly magnetic. The magnetism of desire is small compared to the magnetism of Divine Love. |
91. Từ những gì được nói ra, chúng ta có thể hiểu rằng cõi Bồ đề có từ lực rất mạnh. Từ lực của dục vọng là nhỏ bé so với từ lực của Tình thương thiêng liêng. |
|
92. The two primary rulers of the astral plane are Mars and Neptune. This law has little to do with the non-sacred planet, Mars. |
92. Hai chủ tinh chính của cõi cảm dục là Sao Hỏa và Sao Hải Vương. Định luật này ít liên quan đến hành tinh không thiêng liêng là Sao Hỏa. |
|
93. Both Venus and Neptune are considered planets of refinement and transmutation. |
93. Cả Sao Kim lẫn Sao Hải Vương đều được xem là những hành tinh của sự tinh luyện và chuyển hoá. |
|
94. The name of this law points to the desirable objective—that love should prevail on the astral plane, which now it does not. This will require that the link between the astral and buddhic planes be strengthened and consistently cultivated. |
94. Tên gọi của định luật này chỉ ra mục tiêu đáng mong muốn—rằng tình thương nên ngự trị trên cõi cảm dục, điều mà hiện nay chưa xảy ra. Điều này sẽ đòi hỏi mối liên kết giữa cõi cảm dục và cõi Bồ đề phải được tăng cường và được vun bồi một cách nhất quán. |
|
7. The Law of Sacrifice and Death is the controlling factor on the physical plane. The destruction of the form, in order that the evolving life may progress, is one of the fundamental methods in evolution. |
7. Định luật Hi sinh và Tử vong là nhân tố kiểm soát trên cõi hồng trần. Sự hủy diệt hình tướng, để sự sống đang tiến hoá có thể tiến bộ, là một trong những phương pháp căn bản của tiến hoá. |
|
95. This law, it seems, relates directly to the Manu’s Department on the first ray. It is He that sustains the physical forms which must be sustained and discards those that are obstructive to the Divine Plan. |
95. Có vẻ như định luật này liên hệ trực tiếp với Ban của Đức Manu trên cung một. Chính Ngài duy trì những hình tướng hồng trần phải được duy trì và loại bỏ những hình tướng cản trở Thiên Cơ. |
|
96. Uranus is correlated with the Creative Hierarchy which focuses on the seventh or lowest plane, but the influence of both Saturn and Vulcan are also to be felt. |
96. Sao Thiên Vương tương quan với Huyền Giai Sáng Tạo tập trung trên cõi thứ bảy hay thấp nhất, nhưng ảnh hưởng của cả Sao Thổ lẫn Vulcan cũng đều được cảm nhận. |
|
97. We are told of Saturn: “Saturn breaks up existing conditions by the force of its energy impact…” (EA 442). |
97. Chúng ta được nói về Sao Thổ: “Sao Thổ phá vỡ các điều kiện hiện có bằng lực của sự va chạm năng lượng của nó…” (EA 442). |
|
98. Although less of the “destroyer aspect” is expressed through Vulcan than through Pluto, yet there is the potential for destruction in the Vulcanian “hammer”. The shattering blow is certainly Vulcanian in nature. |
98. Mặc dù “phương diện hủy diệt” được biểu lộ qua Vulcan ít hơn qua Sao Diêm Vương, tuy vậy vẫn có tiềm năng hủy diệt trong “chiếc búa” của Vulcan. Đòn giáng tan vỡ chắc chắn mang bản chất Vulcan. |
|
The Intermediate Law of Karma.—There is also an intermediate law, which is the synthetic law of the system [Page 570] of Sirius. |
Định luật Trung Gian của Nghiệp Quả.—Cũng có một định luật trung gian, là định luật tổng hợp của hệ thống [Page 570] Sirius. |
|
99. Shall we consider this a “cosmic” law? The three cosmic laws hitherto discussed related either to the One About Whom Naught May Be Said or to the Cosmic Logos in Whom our solar system is a part, or perhaps to both. |
99. Chúng ta có nên xem đây là một định luật “vũ trụ” không? Ba định luật vũ trụ đã được bàn đến cho đến nay liên hệ hoặc với Đấng Bất Khả Tư Nghị hoặc với Cosmic Logos mà trong Ngài hệ mặt trời của chúng ta là một phần, hoặc có lẽ với cả hai. |
|
100. The system of Sirius (if here the star Sirius is meant) is a lesser system than either that of the One About Whom Naught May Be Said (really a Super-Cosmic Logos) or the system of the Cosmic Logos Who includes our solar system and solar system of which the star Sirius is the center. |
100. Hệ thống Sirius (nếu ở đây muốn nói đến ngôi sao Sirius) là một hệ thống nhỏ hơn hệ thống của Đấng Bất Khả Tư Nghị (thực ra là một Super-Cosmic Logos) hoặc hệ thống của Cosmic Logos Đấng bao gồm hệ mặt trời của chúng ta và hệ mặt trời mà ngôi sao Sirius là trung tâm. |
|
This law is called by the generic term, the Law of Karma, and really predicates the effect the Sirian system has on our solar system. |
Định luật này được gọi bằng thuật ngữ tổng quát là Định luật Nghiệp Quả, và thực sự xác định hiệu quả mà hệ thống Sirius có trên hệ mặt trời của chúng ta. |
|
101. There might be a more specific name for this law. |
101. Có thể có một tên gọi đặc thù hơn cho định luật này. |
|
102. We must pause to acknowledge that the system of our Cosmic Logos, sometimes called the Seven Solar Systems of Which Ours is One, is sometimes also called the “Sirian System”—really the ‘Greater Sirian System’. |
102. Chúng ta phải dừng lại để thừa nhận rằng hệ thống của Cosmic Logos của chúng ta, đôi khi được gọi là Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của Chúng Ta là Một, đôi khi cũng được gọi là “Hệ Sirius”—thực ra là “Hệ Sirius Vĩ Đại hơn”. |
|
103. The important thing to notice is that the Law of Karma, as we experience it in our solar system, due to the effect of the Sirian system upon our own. |
103. Điều quan trọng cần lưu ý là Định luật Nghiệp Quả, như chúng ta trải nghiệm nó trong hệ mặt trời của mình, là do hiệu quả của hệ thống Sirius tác động lên hệ của chúng ta. |
|
Each of the two systems, as regards its internal economy, is independent in time and space, or (in other words), in manifestation. |
Mỗi một trong hai hệ thống, xét về cơ cấu nội tại của nó, đều độc lập trong thời gian và không gian, hay nói cách khác, trong biểu hiện. |
|
104. This sentence makes it seem that we are indeed speaking of solar systems (systems in which one sun {or perhaps two} is the center of the system) and not of one solar system and one greater cosmic logoic system. |
104. Câu này khiến có vẻ như quả thực chúng ta đang nói về các hệ mặt trời (những hệ trong đó một mặt trời {hoặc có lẽ hai} là trung tâm của hệ) chứ không phải về một hệ mặt trời và một hệ thống logoi vũ trụ lớn hơn. |
|
105. The two systems, though interdependent, function in many respects independently of each other. DK is speaking of the third aspect under the Law of Economy as causing independence and suggesting the second aspect as the cause of interdependency. |
105. Hai hệ thống này, dù phụ thuộc lẫn nhau, vẫn hoạt động độc lập với nhau trên nhiều phương diện. Chân sư DK đang nói về phương diện thứ ba dưới Định luật Tiết Kiệm như nguyên nhân gây ra tính độc lập và gợi ý phương diện thứ hai như nguyên nhân của sự phụ thuộc lẫn nhau. |
|
We have practically no effect on our parent system, the reflex action is so slight as to be negligible, but very definite effects are felt in our system through causes arising in Sirius. |
Chúng ta hầu như không có tác động nào lên hệ thống mẹ của chúng ta, phản ứng ngược quá nhỏ đến mức có thể bỏ qua, nhưng những hiệu quả rất xác định lại được cảm nhận trong hệ của chúng ta thông qua những nguyên nhân phát sinh trong Sirius. |
|
106. Why is the system of the star Sirius called “our parent system”. Is the star Sirius in some astronomical way the “parent” of our solar system, or is the term “parent” used to indicate the relative seniority of the Logos of the star Sirius? Or is the ‘Greater Sirian System of Seven Suns’ indicated—the system of a Cosmic Logos Who, indeed, could be considered the “parent” of our system and the parent of the Sirian solar system as well. |
106. Tại sao hệ thống của ngôi sao Sirius lại được gọi là “hệ thống mẹ của chúng ta”? Có phải ngôi sao Sirius theo một cách thiên văn nào đó là “cha mẹ” của hệ mặt trời chúng ta, hay từ “mẹ” được dùng để chỉ tính cao niên tương đối của Logos của ngôi sao Sirius? Hay là “Hệ Sirius Vĩ Đại hơn gồm Bảy Mặt Trời” được hàm ý—hệ thống của một Cosmic Logos mà quả thực có thể được xem là “cha mẹ” của hệ chúng ta và cũng là cha mẹ của cả hệ mặt trời Sirius nữa. |
|
107. The parallel in which Sirius is to our Sun as Venus is to our Earth breaks down here, because whereas Earth has had a powerful effect upon Venus, our Sun (Sol) has only a very slight effect on Sirius. |
107. Sự song hành trong đó Sirius đối với Mặt Trời của chúng ta cũng như Sao Kim đối với Trái Đất bị phá vỡ ở đây, bởi vì trong khi Trái Đất đã có một tác động mạnh mẽ lên Sao Kim, thì Mặt Trời của chúng ta (Sol) chỉ có một tác động rất nhỏ lên Sirius. |
|
108. If by Sirius were meant the ‘Greater Sirian System of Seven Suns’, we could easily understand the negligible effect of our Sun upon Sirius. But it is more likely that we are talking of the Sirian solar system (not a constellation) and, even so, the effect of our solar system upon that greater solar system appears to be negligible. |
108. Nếu Sirius được hiểu là “Hệ Sirius Vĩ Đại hơn gồm Bảy Mặt Trời”, chúng ta có thể dễ dàng hiểu được tác động không đáng kể của Mặt Trời chúng ta lên Sirius. Nhưng có nhiều khả năng là chúng ta đang nói về hệ mặt trời Sirius (không phải một chòm sao) và, ngay cả như vậy, tác động của hệ mặt trời chúng ta lên hệ mặt trời lớn hơn ấy dường như vẫn không đáng kể. |
|
These causes, when experienced as effects, are called by us the Law of Karma, and at the beginning they started systemic Karma which, once in effect, constitutes that which is called Karma in our occult and oriental literature. |
Những nguyên nhân này, khi được trải nghiệm như các hiệu quả, được chúng ta gọi là Định luật Nghiệp Quả, và lúc khởi đầu chúng đã khởi động nghiệp quả hệ thống mà, một khi đã có hiệu lực, cấu thành điều được gọi là nghiệp quả trong văn liệu huyền bí và phương Đông của chúng ta. |
|
109. DK is attempting to sharpen our understanding of karma by establish its origin—at least as far as our solar system is concerned. |
109. Chân sư DK đang cố gắng làm sắc bén sự hiểu biết của chúng ta về nghiệp quả bằng cách xác lập nguồn gốc của nó—ít nhất là trong chừng mực liên quan đến hệ mặt trời của chúng ta. |
|
110. Sirian influences as experienced in our solar system are loosely called “karma”. From this we understand that the Sirian influence seeks to bring all forms of life into right and balanced relationship. |
110. Những ảnh hưởng Sirius như được trải nghiệm trong hệ mặt trời của chúng ta được gọi một cách lỏng là “nghiệp quả”. Từ đó chúng ta hiểu rằng ảnh hưởng Sirius tìm cách đưa mọi hình thức sự sống vào mối liên hệ đúng đắn và quân bình. |
|
111. The following triangle of energy transmission would seem necessary in light of the foregoing: Sirius—Libra—Sol. |
111. Tam giác truyền dẫn năng lượng sau đây dường như là cần thiết dưới ánh sáng của những điều vừa nói: Sirius—Thiên Bình—Sol. |
|
112. Libra is the sign of karma and equilibrium, closely related to the task of the Lords of Karma. |
112. Thiên Bình là dấu hiệu của nghiệp quả và quân bình, liên hệ mật thiết với công việc của các Đấng Nghiệp Quả. |
|
113. It may be that Libra is really a much greater center than Sirius. Probably the triangle should be expressed: Libra-Sirius-Sol. Libra, after all, is a constellation and so the Deity Who expresses through it is a ‘Lord of a Constellation’. The Deities expressing through Sirius or Sol are simply ‘Lords of Individual Stars’. Libra is also one of the twelve petals in the heart within the head center of the One About Whom Naught May Be Said. This give it and every zodiacal constellation a very high spiritual status. |
113. Có thể Thiên Bình thực sự là một trung tâm lớn hơn Sirius rất nhiều. Có lẽ tam giác nên được biểu đạt là: Thiên Bình-Sirius-Sol. Xét cho cùng, Thiên Bình là một chòm sao và vì thế Thượng đế biểu lộ qua nó là một ‘Chúa Tể của một Chòm Sao’. Các Thượng đế biểu lộ qua Sirius hay Sol chỉ đơn giản là ‘Chúa Tể của các Ngôi Sao Cá Biệt’. Thiên Bình cũng là một trong mười hai cánh hoa trong tim bên trong trung tâm đầu của Đấng Bất Khả Tư Nghị. Điều này mang lại cho nó và cho mọi chòm sao hoàng đạo một địa vị tinh thần rất cao. |
|
114. It becomes clear that everything we experience as planetary or individual karma begins under Sirian impulsion at the beginning of the solar system. From solar systemic karma all lesser forms of karma within the solar system derive. |
114. Rõ ràng là mọi điều chúng ta trải nghiệm như nghiệp quả hành tinh hay cá nhân đều bắt đầu dưới sự thúc đẩy của Sirius vào lúc khởi đầu của hệ mặt trời. Từ nghiệp quả hệ mặt trời, mọi hình thức nghiệp quả nhỏ hơn bên trong hệ mặt trời đều phát sinh. |
|
The Lipika Lords of our system, the systemic Lords of Karma, are under the rule of a greater corresponding Lord on Sirius. |
Các Lipika Lords của hệ chúng ta, các Đấng Nghiệp Quả của hệ thống, ở dưới sự cai quản của một Đấng tương ứng cao hơn trên Sirius. |
|
115. It has to be established whether the Lipika Lords of our system actually hail, originally, from Sirius. |
115. Cần phải xác lập xem các Lipika Lords của hệ chúng ta có thực sự nguyên thủy xuất thân từ Sirius hay không. |
|
116. In any case, if there are three such Lipika Lords assigned to our system, They are directed by a “greater corresponding Lord on Sirius”. |
116. Dù sao đi nữa, nếu có ba Lipika Lords như vậy được phân công cho hệ của chúng ta, thì Các Ngài được chỉ đạo bởi một “Đấng tương ứng cao hơn trên Sirius”. |
|
117. It is, however, clear that there is more than one Guiding Intelligence on Sirius responsible for the direction of the Lipika Lords: |
117. Tuy nhiên, rõ ràng là có nhiều hơn một Trí Tuệ Hướng Dẫn trên Sirius chịu trách nhiệm chỉ đạo các Lipika Lords: |
|
A hint may here be given to the earnest student; in the threefold Ego (the lives who form the central bud, the lives of the petals, and the triple group of lives who form the three permanent atoms) is seen a correspondence to the three groups of Lipika Lords who are the karmic cause of solar manifestation, and who control its periodic manifestation. These three groups are related to Their guiding Intelligences on Sirius. (TCF 1033) |
Một gợi ý có thể được đưa ra ở đây cho đạo sinh tha thiết; trong Chân ngã tam phân (các sự sống tạo thành nụ trung tâm, các sự sống của các cánh hoa, và nhóm tam phân các sự sống tạo thành ba Nguyên tử trường tồn) có thể thấy một sự tương ứng với ba nhóm Lipika Lords là nguyên nhân nghiệp quả của biểu hiện thái dương, và là những Đấng kiểm soát biểu hiện chu kỳ của nó. Ba nhóm này có liên hệ với các Trí Tuệ hướng dẫn của Các Ngài trên Sirius. (TCF 1033) |
|
118. Sirius, thus, through various categories of Lipika Lords (greater and lesser) directs the karmic process as it affects our solar system. |
118. Như vậy, Sirius, thông qua nhiều loại Lipika Lords khác nhau (lớn hơn và nhỏ hơn), chỉ đạo tiến trình nghiệp quả khi nó tác động đến hệ mặt trời của chúng ta. |
|
We have therefore: |
Vì vậy chúng ta có: |
|
1. The three cosmic laws of Synthesis, Attraction and Economy. |
1. Ba định luật vũ trụ là Tổng Hợp, Hấp Dẫn và Tiết Kiệm. |
|
2. The Sirian law of Karma. |
2. Định luật Nghiệp Quả của Sirius. |
|
3. The seven laws of the solar system. |
3. Bảy định luật của hệ mặt trời. |
|
119. The Tibetan has given us a ranking of these various laws—cosmic and systemic. |
119. Chân sư Tây Tạng đã cho chúng ta một sự xếp hạng các định luật khác nhau này—vũ trụ và hệ thống. |
|
120. The Sirian Law of Karma is neither entirely cosmic nor is it systemic. It is an extra-systemic law, because it originates outsider our solar system altogether, but does not originate in a Lord of a Constellation whereas the three cosmic laws do—either in a Cosmic Logos or a ‘Super-Cosmic Logos”—with the latter possibility being more reasonable, in my opinion. |
120. Định luật Nghiệp Quả của Sirius không hoàn toàn là vũ trụ cũng không phải là hệ thống. Nó là một định luật ngoài-hệ-thống, vì nó phát sinh hoàn toàn từ bên ngoài hệ mặt trời của chúng ta, nhưng không phát sinh trong một Chúa Tể của một Chòm Sao như ba định luật vũ trụ—mà phát sinh hoặc trong một Cosmic Logos hoặc một “Super-Cosmic Logos”—trong đó khả năng sau, theo ý kiến của tôi, là hợp lý hơn. |
|
121. The number of laws discussed is, therefore, eleven. Eleven, we have been told, is the “number of the initiate”. |
121. Vì vậy, số lượng các định luật được bàn đến là mười một. Chúng ta đã được bảo rằng mười một là “con số của điểm đạo đồ”. |
|
As we have been told, our seven major vibrations are the vibrations of the lowest cosmic plane; there is our habitat. |
Như chúng ta đã được bảo, bảy rung động chính yếu của chúng ta là những rung động của cõi vũ trụ thấp nhất; đó là nơi cư ngụ của chúng ta. |
|
122. This is the cosmic physical plane. |
122. Đây là cõi hồng trần vũ trụ. |
|
123. Our seven major vibrations are the vibration of the seven solar planes. |
123. Bảy rung động chính yếu của chúng ta là rung động của bảy cõi thái dương. |
|
124. These vibrations or planes are major to us because they are the only one accessible to us, even though accessibility demands of us every spiritual effort of which we are presently capable. |
124. Những rung động hay cõi này là chính yếu đối với chúng ta vì chúng là những cõi duy nhất có thể tiếp cận được đối với chúng ta, dù sự tiếp cận ấy đòi hỏi nơi chúng ta mọi nỗ lực tinh thần mà hiện nay chúng ta có khả năng thực hiện. |
|
125. These planes are as spirillae of the cosmic physical permanent atom. |
125. Những cõi này giống như các loa tuyến của nguyên tử trường tồn hồng trần vũ trụ. |
|
Our Logos Himself, the heart of His system, is on the cosmic astral plane; he is polarised there. |
Chính Thượng đế của chúng ta, trái tim của hệ của Ngài, ở trên cõi cảm dục vũ trụ; Ngài phân cực ở đó. |
|
126. It may be that our Solar Logos is primarily focussed on the astral plane but He is beginning to coordinate His buddhic vehicle, which means that He will be able to demonstrate through an astral-buddhic connection. |
126. Có thể Thái dương Thượng đế của chúng ta chủ yếu được tập trung trên cõi cảm dục nhưng Ngài đang bắt đầu phối hợp vận cụ Bồ đề của Ngài, điều đó có nghĩa là Ngài sẽ có thể biểu lộ thông qua một liên kết cảm dục-Bồ đề. |
|
127. Our Solar Logos is presently the “heart of His system” because He expresses paramountly the second ray and is focussed astrally. |
127. Hiện nay Thái dương Thượng đế của chúng ta là “trái tim của hệ của Ngài” vì Ngài biểu lộ tối thượng cung hai và được tập trung trên cõi cảm dục. |
|
128. But, of course, He more than the heart: He is the point within the triangle, the Being Who uses head, heart and throat. |
128. Nhưng dĩ nhiên, Ngài còn hơn cả trái tim: Ngài là điểm bên trong tam giác, Đấng sử dụng đầu, tim và cổ họng. |
|
Our solar Logos, being a Logos of the fourth order, will begin to co-ordinate His cosmic buddhic body, and as He develops cosmic mind He will gradually achieve, by the aid of that mind, the ability to touch the cosmic buddhic plane. (TCF 115) |
Thái dương Thượng đế của chúng ta, là một Thượng đế thuộc đẳng cấp thứ tư, sẽ bắt đầu phối hợp thể Bồ đề vũ trụ của Ngài, và khi Ngài phát triển trí tuệ vũ trụ, Ngài sẽ dần dần đạt được, nhờ sự trợ giúp của trí tuệ ấy, khả năng chạm đến cõi Bồ đề vũ trụ. (TCF 115) |
|
129. We note how the Solar Logos is to touch the buddhic plane. In His method is suggested a method for us as well. |
129. Chúng ta lưu ý cách Thái dương Thượng đế sẽ chạm đến cõi Bồ đề. Trong phương pháp của Ngài cũng gợi ra một phương pháp cho chúng ta. |
|
130. Here are a few references which substantiate the astral-buddhic nature of our Solar Logos: |
130. Dưới đây là một vài trích dẫn xác nhận bản chất cảm dục-Bồ đề của Thái dương Thượng đế của chúng ta: |
|
we need to remember that, in this astral-buddhic solar system, wherein love and wisdom are being brought into objectivity, the bulk of the monads are on the love-wisdom ray. (TCF 176) |
chúng ta cần nhớ rằng, trong hệ mặt trời cảm dục-Bồ đề này, nơi bác ái và minh triết đang được đưa vào tính khách quan, phần lớn các chân thần thuộc về cung Bác Ái – Minh Triết. (TCF 176) |
|
Touch. In taking up the subject of the second sense, that of touch, we must note that this sense is preeminently the sense of very great importance in this, the second, solar system—a system of astral-buddhic consciousness. (TCF 193) |
Xúc giác. Khi đề cập đến chủ đề giác quan thứ hai, tức xúc giác, chúng ta phải lưu ý rằng giác quan này nổi bật là giác quan có tầm quan trọng rất lớn trong hệ mặt trời thứ hai này—một hệ của tâm thức cảm dục-Bồ đề. (TCF 193) |
|
This being the solar system of love-wisdom, or of astral buddhic development, the fourth Path includes the larger number of the sons of men. (TCF 1243) |
Vì đây là hệ mặt trời của bác ái-minh triết, hay của sự phát triển cảm dục-Bồ đề, nên Con Đường thứ tư bao gồm số lượng lớn hơn các người con của nhân loại. (TCF 1243) |
|
Just as the units of the fourth Creative Hierarchy, the human, are evolving through the use of physical bodies, but are polarised at this time in their astral vehicles, so we have seen that the objective solar system forms the physical body of the Logos, though His polarity is in His astral body. It is significant that in this greater manvantara, the Logos is to take the fourth cosmic Initiation. |
Cũng như các đơn vị của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, tức nhân loại, đang tiến hoá thông qua việc sử dụng các thể xác, nhưng hiện nay lại phân cực trong các vận cụ cảm dục của họ, thì chúng ta đã thấy rằng hệ mặt trời khách quan tạo thành thể xác của Thượng đế, mặc dù sự phân cực của Ngài ở trong thể cảm dục của Ngài. Điều có ý nghĩa là trong đại giai kỳ sinh hóa này, Thượng đế sẽ nhận cuộc Điểm Đạo vũ trụ thứ tư. |
|
131. The parallel between the human unit and the Solar Logos is close. Because man, in general, is focussed in his astral body, he experiences much difficulty and stress. From a systemic perspective, the same may be said of our Solar Logos, though it is difficult for us to perceived the nature of such difficulty and stress. Probably much of it is focussed in relation to our Earth-scheme. |
131. Sự song hành giữa đơn vị nhân loại và Thái dương Thượng đế là rất gần gũi. Bởi vì con người, nói chung, được tập trung trong thể cảm dục của mình, y trải nghiệm nhiều khó khăn và căng thẳng. Từ góc độ hệ thống, điều tương tự có thể được nói về Thái dương Thượng đế của chúng ta, dù đối với chúng ta thật khó tri nhận bản chất của những khó khăn và căng thẳng ấy. Có lẽ phần lớn điều đó được tập trung trong liên hệ với hệ hành tinh Trái Đất của chúng ta. |
|
132. Here we are told that in the “greater manvantara”, the mahamanvantara, the Solar Logos is to take the “fourth cosmic Initiation”. This is not simply the fourth initiation in the series of nine initiations in which He is presently engaged (cf. TCF 384). Rather, it is the fourth in a series of greater initiations which have a systemic significance rather than a scheme significance. |
132. Ở đây chúng ta được bảo rằng trong “đại giai kỳ sinh hóa”, tức mahamanvantara, Thái dương Thượng đế sẽ nhận “cuộc Điểm Đạo vũ trụ thứ tư”. Đây không chỉ đơn giản là lần điểm đạo thứ tư trong chuỗi chín lần điểm đạo mà hiện nay Ngài đang tham dự (xem TCF 384). Đúng hơn, đó là lần thứ tư trong một chuỗi các cuộc điểm đạo lớn hơn có ý nghĩa hệ thống hơn là ý nghĩa hệ hành tinh. |
|
133. We must note that there are references which suggest that the Solar Logos may take the fifth cosmic initiation. |
133. Chúng ta phải lưu ý rằng có những tham chiếu gợi ý rằng Thái dương Thượng đế có thể nhận cuộc điểm đạo vũ trụ thứ năm. |
|
The 5th Mahamanvantara (or solar system)The solar Logos achieves His fifth major Initiation. (TCF 605) |
Đại giai kỳ sinh hóa thứ 5 (hay hệ mặt trời)Thái dương Thượng đế đạt đến cuộc Điểm Đạo lớn thứ năm của Ngài. (TCF 605) |
|
134. Obviously, there is no way we human beings can decide which it will be. |
134. Hiển nhiên, không có cách nào để chúng ta là những con người có thể quyết định điều đó sẽ là gì. |
|
This achieved, our Logos has triumphed, and measured up to the sixth cosmic Initiation [in the next solar system], just as He should measure up in this system to the fourth. (TCF 590) |
Khi điều này đạt được, Thượng đế của chúng ta đã chiến thắng, và đã vươn tới cuộc điểm đạo vũ trụ thứ sáu [in the next solar system], cũng như Ngài phải vươn tới cuộc điểm đạo thứ tư trong hệ này. (TCF 590) |
|
135. The implications for our Earth are considerable as Earth is, from certain respects, a base of the spine center in the solar system. |
135. Những hàm ý đối với Trái Đất của chúng ta là rất lớn vì Trái Đất, xét trên một số phương diện, là một trung tâm đáy cột sống trong hệ mặt trời. |
|
136. We note that the Tibetan does not use the word “mahamanvantara”. Instead, He uses “greater manvantara” to mean an occult century. In general, the word “manvantara” can be used generically, and so we must be watchful regarding the use of this word. It seems to be rather ‘elastic’ and can be used to indicate widely different time periods. |
136. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư Tây Tạng không dùng từ “mahamanvantara”. Thay vào đó, Ngài dùng “đại giai kỳ sinh hóa” để chỉ một thế kỷ huyền bí. Nói chung, từ “manvantara” có thể được dùng theo nghĩa tổng quát, và vì vậy chúng ta phải thận trọng đối với cách dùng từ này. Nó dường như khá “co giãn” và có thể được dùng để chỉ những khoảng thời gian rất khác nhau. |
|
A hint which may enlighten lies in the correspondence which exists between this statement and the [Page 571] fourth root-race development, and this, the fourth or astral round.81 |
Một gợi ý có thể soi sáng nằm trong sự tương ứng tồn tại giữa phát biểu này và sự phát triển của giống dân gốc thứ tư, và cuộc tuần hoàn này, tức [Page 571] cuộc tuần hoàn thứ tư hay cảm dục.81 |
|
FOOTNOTE: |
CHÚ THÍCH: |
|
81: The present Round, which is the fourth, is the one in which desire, or response to contact and sensation is being brought to its fullest expression. In the next round, the fifth, the fifth principle of mind, or manas, will reach fruition. |
81: Cuộc tuần hoàn hiện nay, là cuộc tuần hoàn thứ tư, là cuộc tuần hoàn trong đó dục vọng, hay sự đáp ứng với tiếp xúc và cảm giác, đang được đưa đến chỗ biểu lộ đầy đủ nhất. Trong cuộc tuần hoàn kế tiếp, cuộc tuần hoàn thứ năm, nguyên khí thứ năm của trí tuệ, hay manas, sẽ đạt đến sự viên mãn. |
|
137. It is significant that the number four is associated with the astral plane and astral development. This being the case, we could consider the first and second rounds pre-physical. |
137. Điều có ý nghĩa là con số bốn gắn liền với cõi cảm dục và sự phát triển cảm dục. Nếu đúng như vậy, chúng ta có thể xem cuộc tuần hoàn thứ nhất và thứ hai là tiền-hồng-trần. |
|
138. The astral plane is the plane of interplay between dual forces. In Rule VII from TWM, below, the “plane whereon the vital power must be sought” is the astral plane and it has “dual forces”—representing the interplay between the pairs of opposites. |
138. Cõi cảm dục là cõi của sự tương tác giữa các mãnh lực kép. Trong Quy luật VII từ Luận về Chánh Thuật dưới đây, “cõi nơi quyền năng thiết yếu phải được tìm kiếm” là cõi cảm dục và nó có “các mãnh lực kép”—biểu thị sự tương tác giữa các cặp đối cực. |
|
RULE VII. The dual forces on the plane whereon the vital power must be sought, are seen; the two paths face the Solar Angel; the poles vibrate. A choice confronts the one who meditates. (TCF 1013) |
QUY LUẬT VII. Các mãnh lực kép trên cõi nơi quyền năng thiết yếu phải được tìm kiếm được nhìn thấy; hai con đường đối diện với Thái dương Thiên Thần; các cực rung động. Một sự lựa chọn đối diện người hành thiền. (TCF 1013) |
|
The system of the Sirian Logos is on the cosmic mental plane, and in a subtle way, incomprehensible to us, our Logos, with His system, forms a part of a still greater Logos. |
Hệ thống của Thượng đế Sirius ở trên cõi trí tuệ vũ trụ, và theo một cách vi tế, không thể hiểu được đối với chúng ta, Thượng đế của chúng ta, cùng với hệ thống của Ngài, tạo thành một phần của một Thượng đế còn vĩ đại hơn nữa. |
|
139. This is a critically important statement for the understanding of ‘local’ cosmology. |
139. Đây là một phát biểu cực kỳ quan trọng để thấu hiểu vũ trụ học “địa phương”. |
|
140. The statement immediately above probably means the following: that our Solar Logos, along with the Logos Who expresses through the star Sirius, are both members of the same Cosmic Logos—a Logos in which They are as chakras. |
140. Phát biểu ngay bên trên có lẽ có nghĩa như sau: rằng Thái dương Thượng đế của chúng ta, cùng với Thượng đế biểu lộ qua ngôi sao Sirius, đều là thành viên của cùng một Thượng đế Vũ Trụ—một Thượng đế trong đó Các Ngài như những luân xa. |
|
141. Another meaning is possible but it is more remote. |
141. Một ý nghĩa khác cũng có thể có, nhưng xa hơn. |
|
142. The wording above is perhaps ambiguous. The interpretation which seems to make the most sense is to regard “with His system” as referring to the Sirian Logos. This would mean that our Logos along with the system of the Sirian Logos are part of a still greater system. |
142. Cách diễn đạt bên trên có lẽ mơ hồ. Cách giải thích dường như hợp lý nhất là xem “cùng với hệ thống của Ngài” là chỉ đến Thượng đế Sirius. Điều này có nghĩa là Thượng đế của chúng ta, cùng với hệ thống của Thượng đế Sirius, là một phần của một hệ thống còn lớn hơn nữa. |
|
143. If the meaning of the sentence is as suggested, the Tibetan is a master of revelatory ambiguity. |
143. Nếu ý nghĩa của câu là như được gợi ý, thì Chân sư Tây Tạng là một bậc thầy của sự mơ hồ mặc khải. |
|
144. There is reason to suspect that Cosmic Logoi are focussed on the cosmic buddhic plane. |
144. Có lý do để nghi ngờ rằng các Thượng đế Vũ Trụ được tập trung trên cõi Bồ đề vũ trụ. |
|
145. The fact that the Sirian Logos (meaning the Logos Who expresses principally through the star Sirius) is on the cosmic mental plane distinguishes Him from our Solar Logos Who is focussed on the cosmic astral plane. |
145. Sự kiện rằng Thượng đế Sirius (nghĩa là Thượng đế biểu lộ chủ yếu qua ngôi sao Sirius) ở trên cõi trí tuệ vũ trụ phân biệt Ngài với Thái dương Thượng đế của chúng ta, Đấng được tập trung trên cõi cảm dục vũ trụ. |
|
146. This means that the Sirian Logos in relation to our Logos is relatively higher than Venus is in relation to Earth, because both Venus and the Earth are focussed on the cosmic astral plane—though Venus is focussed one sub-plane higher. |
146. Điều này có nghĩa là Thượng đế Sirius, trong tương quan với Thượng đế của chúng ta, tương đối cao hơn Sao Kim trong tương quan với Trái Đất, bởi vì cả hai Sao Kim và Trái Đất đều được tập trung trên cõi cảm dục vũ trụ—dù Sao Kim được tập trung cao hơn một cõi phụ. |
|
This does not involve loss of identity, though the matter is too abstruse to express more adequately. |
Điều này không bao hàm sự mất bản sắc, dù vấn đề này quá thâm áo để có thể diễn đạt đầy đủ hơn. |
|
147. Participation in the energy system of a greater Entity does not involve a loss of identity on the part of the lesser entities who, thus, participate. |
147. Sự tham dự vào hệ thống năng lượng của một Thực Thể lớn hơn không bao hàm sự mất bản sắc nơi các thực thể nhỏ hơn, những thực thể nhờ đó mà tham dự. |
|
148. Our Logos and the Logos of Sirius may serve as chakras within a Cosmic Logos, but do not, thereby, lose their identity. |
148. Thượng đế của chúng ta và Thượng đế của Sirius có thể phụng sự như những luân xa bên trong một Thượng đế Vũ Trụ, nhưng vì thế mà không mất bản sắc của Các Ngài. |
|
149. The basic principle is this: absorption does not indicate loss of differentiation. |
149. Nguyên lý căn bản là thế này: sự hấp thu không chỉ ra sự mất biến phân. |
|
It is in this analogy that the basic idea can be found of all teaching given out about the Grand Heavenly Man. |
Chính trong phép loại suy này có thể tìm thấy ý tưởng căn bản của mọi giáo huấn được truyền ra về Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại. |
|
150. The Grand Heavenly Man, we remember, is a Solar Logos. |
150. Chúng ta nhớ rằng Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại là một Thái dương Thượng đế. |
|
151. We also remember from an earlier Tabulation (TCF 565), that the Grand Heavenly Man is called the “Personality” of the Solar Logos. |
151. Chúng ta cũng nhớ từ một Bảng Liệt Kê trước đó (TCF 565), rằng Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại được gọi là “Phàm ngã” của Thái dương Thượng đế. |
|
The whole conception of these laws is bound up in this idea. We have the three laws of the cosmic higher planes, holding in a synthesis of beauty the greater and the lesser system. |
Toàn bộ quan niệm về các định luật này gắn liền với ý tưởng này. Chúng ta có ba định luật của các cõi cao vũ trụ, giữ trong một tổng hợp mỹ lệ hệ thống lớn hơn và hệ thống nhỏ hơn. |
|
152. This is a vitally important statement as it moves in the direction of indicating the origin of the three cosmic laws—the Law of Synthesis, the Law of Attraction and the Law of Economy. |
152. Đây là một phát biểu cực kỳ quan trọng vì nó tiến theo hướng chỉ ra nguồn gốc của ba định luật vũ trụ—Định luật Tổng Hợp, Định luật Hấp Dẫn và Định luật Tiết Kiệm. |
|
153. Does the phrase “the cosmic higher planes” mean the three highest cosmic planes, or the cosmic monadic plane, the cosmic atmic plane and the cosmic buddhic plane? If so there would be some correspondential problems, as, while the cosmic monadic plane could be associated with the cosmic Law of Synthesis, the cosmic atmic plane is not easily associated with the cosmic Law of Attraction and the cosmic buddhic plane with the Law of Economy. |
153. Cụm từ “các cõi cao vũ trụ” có nghĩa là ba cõi vũ trụ cao nhất, hay là cõi chân thần vũ trụ, cõi atma vũ trụ và cõi Bồ đề vũ trụ? Nếu vậy sẽ có một số vấn đề tương ứng, vì trong khi cõi chân thần vũ trụ có thể được liên kết với Định luật Tổng Hợp vũ trụ, thì cõi atma vũ trụ không dễ liên kết với Định luật Hấp Dẫn vũ trụ và cõi Bồ đề vũ trụ với Định luật Tiết Kiệm. |
|
154. If the three higher cosmic planes are meant (cosmic logoic, cosmic monadic and cosmic atmic) what about the cosmic buddhic? What law pertains to it? Certainly an aspect of the cosmic Law of Attraction would seem to fit. |
154. Nếu ba cõi vũ trụ cao hơn được ngụ ý (cõi logoic vũ trụ, cõi chân thần vũ trụ và cõi atma vũ trụ) thì còn cõi Bồ đề vũ trụ thì sao? Định luật nào thuộc về nó? Chắc chắn một phương diện của Định luật Hấp Dẫn vũ trụ dường như thích hợp. |
|
155. One could think that the intermediate Law of Karma would be an appropriate fit for the cosmic buddhic plane, but in the section of text immediately below, it is assigned to the higher sub-planes of the cosmic mental plane. |
155. Người ta có thể nghĩ rằng Định luật Nghiệp Quả trung gian sẽ là một sự phù hợp thích đáng cho cõi Bồ đề vũ trụ, nhưng trong đoạn văn ngay bên dưới, nó được gán cho các cõi phụ cao hơn của cõi trí tuệ vũ trụ. |
|
156. Yet if the cosmic Law of Karma is really “intermediate”, it cannot be denied that the cosmic buddhic plane is the intermediate cosmic plane. Further if Venus has a strong buddhic expression, the analogy would suggest that Sirius (its higher cosmic correspondence) also has a strong buddhic expression. |
156. Tuy nhiên nếu Định luật Nghiệp Quả vũ trụ thật sự là “trung gian”, thì không thể phủ nhận rằng cõi Bồ đề vũ trụ là cõi vũ trụ trung gian. Hơn nữa nếu Sao Kim có một biểu hiện Bồ đề mạnh, thì phép loại suy sẽ gợi ý rằng Sirius (tương ứng vũ trụ cao hơn của nó) cũng có một biểu hiện Bồ đề mạnh. |
|
157. The destination of our Solar Logos is the cosmic buddhic plane; to what extent is the Logos of Sirius en rapport with that plane? |
157. Đích đến của Thái dương Thượng đế của chúng ta là cõi Bồ đề vũ trụ; Thượng đế của Sirius có mức độ tương thông nào với cõi đó? |
|
158. Further, the Solar Angels though focally active on the higher mental plane (systemically considered) are bearers of buddhic energy. We can apply this analogy to the higher Solar Angels on cosmic planes—those engaged with our Solar Logos and perhaps with the Logos of Sirius. |
158. Hơn nữa, các Thái dương Thiên Thần tuy hoạt động tiêu điểm trên cõi thượng trí (xét theo hệ thống) nhưng là những vị mang năng lượng Bồ đề. Chúng ta có thể áp dụng phép loại suy này cho các Thái dương Thiên Thần cao hơn trên các cõi vũ trụ—những vị đang tham dự với Thái dương Thượng đế của chúng ta và có lẽ với Thượng đế của Sirius. |
|
Next we have the great law of Sirius, the Law of Karma, on the third subplane of the cosmic mental plane, which law really controls our Logos, and His actions, in the same way as the ego—in due course of evolution—controls the human personality. |
Tiếp theo chúng ta có định luật vĩ đại của Sirius, Định luật Nghiệp Quả, trên cõi phụ thứ ba của cõi trí tuệ vũ trụ, định luật thật sự kiểm soát Thượng đế của chúng ta, và các hành động của Ngài, theo cùng cách như chân ngã—đến đúng tiến trình tiến hoá—kiểm soát phàm ngã con người. |
|
159. We note that the great Law of Karma which emanates from Sirius is focussed on the third sub-plane of the cosmic mental plane. This is significant as the causal body of our Planetary Logos is focussed there. The causal body of the Solar Logos (the Logos which is controlled by the Sirian Law of Karma) is not on the third sub-planes of the cosmic higher mental plane—it is on the first sub-plane. |
159. Chúng ta lưu ý rằng Định luật Nghiệp Quả vĩ đại phát xuất từ Sirius được tập trung trên cõi phụ thứ ba của cõi trí tuệ vũ trụ. Điều này có ý nghĩa vì thể nguyên nhân của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta được tập trung ở đó. Thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế (Thượng đế bị kiểm soát bởi Định luật Nghiệp Quả Sirius) không ở trên các cõi phụ thứ ba của cõi thượng trí vũ trụ—nó ở trên cõi phụ thứ nhất. |
|
160. It can be concluded, therefore, that our planetary scheme is especially subject to this Sirian law, and, thus, the conditions of suffering to be found here—and also, the great promise for the future. |
160. Vì vậy có thể kết luận rằng hệ hành tinh của chúng ta đặc biệt chịu sự chi phối của định luật Sirius này, và do đó, những điều kiện đau khổ được tìm thấy ở đây—và cả lời hứa lớn lao cho tương lai. |
|
161. In the section of text above, the Sirian Logos working through the Law of Karma is likened to the human ego on the higher mental plane (controlling the human personality). The solar system of our Solar Logos thus becomes, analogically, as kind of ‘personality’ in relation to the Sirian Logos Who serves, analogically, as the soul. |
161. Trong đoạn văn bên trên, Thượng đế Sirius hoạt động qua Định luật Nghiệp Quả được ví với chân ngã con người trên cõi thượng trí (kiểm soát phàm ngã con người). Do đó, hệ mặt trời của Thái dương Thượng đế của chúng ta trở thành, theo phép loại suy, như một loại “phàm ngã” trong tương quan với Thượng đế Sirius, Đấng phụng sự, theo phép loại suy, như linh hồn. |
|
162. Of course we will not fall into the trap of saying that the Sirian Logos is the soul of our Solar Logos. Each E/entity has its own soul—even though all souls are One Soul! |
162. Dĩ nhiên chúng ta sẽ không rơi vào cái bẫy nói rằng Thượng đế Sirius là linh hồn của Thái dương Thượng đế của chúng ta. Mỗi Thực thể/thực thể đều có linh hồn riêng của mình—dù mọi linh hồn đều là Một Linh Hồn! |
|
We need to remember that, under the Law of Correspondences, we shall have a relationship in the Cosmos, similar to that existing in the microcosm between the ego and the personality. The suggestion holds much that we might consider with benefit. |
Chúng ta cần nhớ rằng, dưới định luật tương ứng, chúng ta sẽ có một mối liên hệ trong Vũ trụ, tương tự như mối liên hệ tồn tại trong tiểu thiên địa giữa chân ngã và phàm ngã. Gợi ý này chứa đựng nhiều điều mà chúng ta có thể suy xét một cách hữu ích. |
|
163. Just as the ego on the higher mental plane trains its personality, so does the Sirian Logos train our Solar Logos (who is still very much working through His personality). |
163. Cũng như chân ngã trên cõi thượng trí huấn luyện phàm ngã của nó, thì Thượng đế Sirius cũng huấn luyện Thái dương Thượng đế của chúng ta (Đấng vẫn còn đang hoạt động rất nhiều qua phàm ngã của Ngài). |
|
164. Of the Sirian Logos we could say—He is more soul-infused (in the cosmic sense) than in our Logos. |
164. Về Thượng đế Sirius, chúng ta có thể nói—Ngài được linh hồn thấm nhuần nhiều hơn (theo nghĩa vũ trụ) so với Thượng đế của chúng ta. |
|
We must not, however, carry the analogy too far; as we have not yet evolved to where we have planetary consciousness, still less systemic, how can we really expect even to conceive of the A B C of cosmic truth? |
Tuy nhiên, chúng ta không được đẩy phép loại suy đi quá xa; vì chúng ta chưa tiến hoá đến mức có tâm thức hành tinh, càng chưa nói đến tâm thức hệ thống, thì làm sao chúng ta có thể thực sự mong đợi ngay cả việc quan niệm được ABC của chân lý vũ trụ? |
|
165. There are three categories of knowledge: |
165. Có ba loại tri thức: |
|
a. Planetary |
a. Hành tinh |
|
b. Systemic |
b. Hệ thống |
|
c. Cosmic |
c. Vũ trụ |
|
166. The Logos expressing through the star Sirius both is and is not a Cosmic Logos. A true Cosmic Logos expresses through a sevenfold constellation of seven Solar Logoi. The Logos of the star Sirius does not. Yet it is relatively “cosmic” when compared to our Solar Logos, and perhaps mediates much cosmic influence to our solar system. |
166. Thượng đế biểu lộ qua ngôi sao Sirius vừa là vừa không là một Thượng đế Vũ Trụ. Một Thượng đế Vũ Trụ đích thực biểu lộ qua một chòm sao thất phân gồm bảy Thái dương Thượng đế. Thượng đế của ngôi sao Sirius thì không. Tuy nhiên, Ngài tương đối “vũ trụ” khi so với Thái dương Thượng đế của chúng ta, và có lẽ trung gian nhiều ảnh hưởng vũ trụ đến hệ mặt trời của chúng ta. |
|
167. For all its relative grandeur, the star Sirius is still a dwarf star. |
167. Dù có sự vĩ đại tương đối của nó, ngôi sao Sirius vẫn là một ngôi sao lùn. |
|
168. DK is telling us that, in studying these matters, we are working with the inconceivable—i.e., with that which human beings cannot conceive. |
168. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng, khi nghiên cứu những vấn đề này, chúng ta đang làm việc với điều không thể quan niệm được—tức là với điều mà con người không thể quan niệm. |
|
Just broad hints, wide conceptions, and generalities, are as yet possible. Of one thing we can be sure, and that is that identity ever remains. |
Hiện nay chỉ có thể có những gợi ý rộng, những quan niệm bao quát, và những khái quát. Có một điều chúng ta có thể chắc chắn, và đó là bản sắc luôn luôn còn mãi. |
|
169. This is a profoundly important statement. The question is: “Is there really more than One Identity in this entire Universe?” |
169. Đây là một phát biểu cực kỳ sâu sắc và quan trọng. Câu hỏi là: “Thật sự có hơn Một Bản Sắc trong toàn thể Vũ trụ này chăng?” |
|
170. If the answer to this question is “No”, then we can be sure that the Identity of the ‘Recurrent One’ ever remains, but that the identity of the lesser emanated E/entities (which may remain more or less throughout the duration of a given cosmos) do not remain from cosmos to cosmos (i.e., from Universe to Universe). |
170. Nếu câu trả lời cho câu hỏi này là “Không”, thì chúng ta có thể chắc chắn rằng Bản Sắc của ‘Đấng Duy Nhất Tái Diễn’ luôn còn mãi, nhưng bản sắc của các Thực thể/thực thể được phát xạ nhỏ hơn (có thể tồn tại ít nhiều trong suốt thời gian của một vũ trụ nhất định) thì không còn mãi từ vũ trụ này sang vũ trụ khác (tức là từ Vũ trụ này sang Vũ trụ khác). |
|
171. For practical purposes, it would seem that within a cosmos, the identity of emanated E/entities ever remains, but since such identities are none other than the One Identity, there is a point of identity-dissolution at which point only the One Identity remains—the sum of its many emanated identities and yet, always more. |
171. Vì những mục đích thực tiễn, dường như trong một vũ trụ, bản sắc của các Thực thể/thực thể được phát xạ luôn còn mãi, nhưng vì những bản sắc như thế không gì khác hơn là Một Bản Sắc, nên có một điểm tan biến bản sắc mà tại điểm đó chỉ còn Một Bản Sắc—tổng số của nhiều bản sắc được phát xạ của nó và tuy vậy, luôn luôn còn hơn thế nữa. |
|
Let me explain by illustration: |
Hãy để tôi giải thích bằng minh họa: |
|
Each one of us, in due process of evolution, forms part of one of the Heavenly Men, Who Themselves form the [Page 572] seven centres in that greater Heavenly Man, the Logos. Yet, though we are merged with the whole, we do not lose our identity, but forever remain separated units of consciousness, though one with all that lives or is. |
Mỗi người trong chúng ta, theo đúng tiến trình tiến hoá, tạo thành một phần của một trong các Đấng Thiên Nhân, mà chính Các Ngài tạo thành [Page 572] bảy trung tâm trong Đấng Thiên Nhân lớn hơn ấy, tức Thượng đế. Tuy nhiên, dù chúng ta được hòa nhập vào toàn thể, chúng ta không mất bản sắc của mình, mà mãi mãi vẫn là những đơn vị tâm thức tách biệt, dù là một với tất cả những gì sống hay hiện hữu. |
|
172. This is the great paradox. We are “one with all that lives or is” and yet “forever remain separated units of consciousness”. |
172. Đây là nghịch lý lớn lao. Chúng ta “là một với tất cả những gì sống hay hiện hữu” và tuy vậy “mãi mãi vẫn là những đơn vị tâm thức tách biệt”. |
|
173. We must be careful about the interpretation of the word “forever”; I assume it to mean—‘throughout the duration of a single cosmos’. |
173. Chúng ta phải cẩn trọng về cách giải thích từ “mãi mãi”; tôi giả định nó có nghĩa là—‘trong suốt thời gian tồn tại của một vũ trụ đơn nhất’. |
|
174. It seems clear that behind and within all these “separated units of consciousness” is but One Consciousness. |
174. Dường như rõ ràng rằng đằng sau và bên trong tất cả những “đơn vị tâm thức tách biệt” này chỉ có Một Tâm Thức. |
|
In like manner our Logos loses not His identity, even though He forms part of the Consciousness of the Logos of Sirius. In His turn, the Sirian Logos forms one of the seven Grand Heavenly Men, who are the centres in the body of ONE OF WHOM NOUGHT MAY BE SAID. |
Tương tự như vậy, Thượng đế của chúng ta không mất bản sắc của Ngài, dù Ngài tạo thành một phần của Tâm Thức của Thượng đế của Sirius. Đến lượt mình, Thượng đế Sirius tạo thành một trong bảy Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại, là những trung tâm trong thể của ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ. |
|
175. The utmost caution is needed here. We can understand the general principle brought forward—the amalgamation of a unit in a greater whole does not result in the loss of identity of the unit amalgamated. |
175. Ở đây cần sự thận trọng tối đa. Chúng ta có thể hiểu nguyên lý tổng quát được nêu ra—sự hòa nhập của một đơn vị vào một toàn thể lớn hơn không dẫn đến sự mất bản sắc của đơn vị được hòa nhập. |
|
176. What do we mean by the “Sirian Logos”? If we mean the Logos that expresses through the star Sirius, then that Being called here, “ONE OF WHOM NAUGHT MAY BE SAID” is a Cosmic Logos whose major centers are seven Grand Heavenly Men. |
176. Chúng ta muốn nói gì bởi “Thượng đế Sirius”? Nếu chúng ta muốn nói Thượng đế biểu lộ qua ngôi sao Sirius, thì Đấng ở đây được gọi là “ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ” là một Thượng đế Vũ Trụ mà các trung tâm chính của Ngài là bảy Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại. |
|
177. However, our Solar Logos, too, is a Grand Heavenly Man, and so the Sirian Logos and our Logos are both centres is the Being Who in this reference is called ONE OF WHOM NAUGHT MAY BE SAID. |
177. Tuy nhiên, Thái dương Thượng đế của chúng ta cũng là một Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại, và vì vậy Thượng đế Sirius và Thượng đế của chúng ta đều là những trung tâm trong Đấng mà trong chỗ dẫn chiếu này được gọi là ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ. |
|
178. There is also the possibility, however, that by the term “Sirian Logos” (as distinct from the “Logos of Sirius”) is meant that Cosmic Logos in Whom the Logos of the star Sirius forms a part. In this case the ONE OF WHOM NAUGHT MAY BE SAID would be a Super-Cosmic Logos Who would have Cosmic Logoi for His chakras. |
178. Tuy nhiên, cũng có khả năng rằng bởi thuật ngữ “Thượng đế Sirius” (phân biệt với “Thượng đế của Sirius”) người ta muốn nói đến Thượng đế Vũ Trụ mà trong Ngài, Thượng đế của ngôi sao Sirius tạo thành một phần. Trong trường hợp này, ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ sẽ là một Thượng đế Siêu-Vũ-Trụ mà các Thượng đế Vũ Trụ sẽ là những luân xa của Ngài. |
|
179. The major problems rests with the name to be attached to the Lord of the Seven Solar Systems of Which Ours is One. Are we to call this Lord the “Sirian Logos”, since Sirius may well be the most prominent star within this constellation? If we do call the Lord of the seven systems the “Sirian Logos” we must differentiate Him from the Logos of the star Sirius (Who would be only one chakra within the “Sirian Logos”). |
179. Vấn đề chính nằm ở tên gọi được gắn cho Chúa Tể của Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của Chúng Ta là Một. Chúng ta có nên gọi Chúa Tể này là “Thượng đế Sirius”, vì Sirius rất có thể là ngôi sao nổi bật nhất trong chòm sao này chăng? Nếu chúng ta gọi Chúa Tể của bảy hệ là “Thượng đế Sirius” thì chúng ta phải phân biệt Ngài với Thượng đế của ngôi sao Sirius (Đấng sẽ chỉ là một luân xa bên trong “Thượng đế Sirius”). |
|
The Laws and the Planes.—We might, while studying the seven laws of the solar system, take them plane by plane, showing certain things—three in all: |
Các Định luật và Các Cõi.—Trong khi nghiên cứu bảy định luật của hệ mặt trời, chúng ta có thể xét chúng theo từng cõi, chỉ ra một số điều—tổng cộng là ba: |
|
1. We might study their effect as they demonstrate on the path of involution. |
1. Chúng ta có thể nghiên cứu tác động của chúng khi chúng biểu lộ trên con đường giáng hạ tiến hoá. |
|
180. The “path of involution” is the first part of the cycle of the Second Logos. |
180. “Con đường giáng hạ tiến hoá” là phần đầu của chu kỳ của Thượng đế thứ hai. |
|
2. As they manifest on the path of evolution, or return. |
2. Khi chúng biểu hiện trên con đường tiến hoá, hay Con Đường Trở Về. |
|
181. This is the second part of the cycle of the Second Logos. The First Logos also becomes involved upon the path of evolution when the point of the individualization of animal man is reached. |
181. Đây là phần thứ hai của chu kỳ của Thượng đế thứ hai. Thượng đế thứ nhất cũng trở nên liên hệ trên con đường tiến hoá khi đạt đến điểm biệt ngã hóa của người thú. |
|
3. We might also touch on the laws as they affect the human and deva organisms that evolve by means of them. |
3. Chúng ta cũng có thể đề cập đến các định luật khi chúng ảnh hưởng đến các cơ thể người và thiên thần tiến hoá bằng phương tiện của chúng. |
|
182. We are told that the evolution of the human and deva organisms depends upon the seven systemic laws. |
182. Chúng ta được cho biết rằng sự tiến hoá của các cơ thể người và thiên thần tùy thuộc vào bảy định luật hệ thống. |
|
183. The key thing to understand is that law is a great protective mechanism, promoting and guarding the evolutionary process. |
183. Điều then chốt cần thấu hiểu là định luật là một bộ máy bảo vệ vĩ đại, thúc đẩy và gìn giữ tiến trình tiến hoá. |
|
As we do this, we shall gradually get a broad general idea of how this system of ours (the thought-form of the Logos), was gradually built up, how it is controlled and held together, and how numerous and intricate are the interrelations. |
Khi làm điều này, chúng ta sẽ dần dần có được một ý niệm tổng quát rộng lớn về cách hệ thống của chúng ta (hình tư tưởng của Thượng đế) đã được xây dựng dần dần như thế nào, nó được kiểm soát và giữ lại với nhau ra sao, và các mối tương quan nhiều vô số và phức tạp đến mức nào. |
|
184. We should pause to note how DK views our solar system: it is “the thought-form of the Logos”. |
184. Chúng ta nên dừng lại để lưu ý Chân sư DK nhìn hệ mặt trời của chúng ta như thế nào: nó là “hình tư tưởng của Thượng đế”. |
|
185. Usually when the solar system if referenced we are speaking of the etheric-physical nature of the Solar Logos, which can easily be understood as a logoic thought-form. It would seem, as well, that the astral and mental natures of the Logos should also be considered aspects of the logoic thought-form even though not included in the logoic solar system as usually considered. |
185. Thông thường khi hệ mặt trời được nhắc đến, chúng ta đang nói về bản chất dĩ thái-hồng trần của Thái dương Thượng đế, điều có thể dễ dàng được hiểu như một hình tư tưởng logoic. Dường như, bản chất cảm dục và trí tuệ của Thượng đế cũng nên được xem là các phương diện của hình tư tưởng logoic dù không được bao gồm trong hệ mặt trời logoic như thường được hiểu. |
|
186. With respect to the solar system we are going to study: |
186. Đối với hệ mặt trời mà chúng ta sẽ nghiên cứu: |
|
a. How it was built up |
a. Nó đã được xây dựng như thế nào |
|
b. How it is controlled and held together |
b. Nó được kiểm soát và giữ lại với nhau như thế nào |
|
c. The numerous and intricate relations within it |
c. Những mối liên hệ nhiều vô số và phức tạp bên trong nó |
|
Certain fundamental hypotheses are assumed, which must form the background for all we would say. We must assume first that a Builder, or some Creative Mind, is working to bring about an ordered production, and is seeking to manifest through a demonstrable objective. The objective universe is but the product of some subjective mind. |
Một số giả thuyết nền tảng được giả định, và chúng phải tạo thành bối cảnh cho mọi điều chúng ta muốn nói. Trước hết chúng ta phải giả định rằng một đấng kiến tạo, hay một Trí Tuệ Sáng Tạo nào đó, đang hoạt động để tạo ra một sản phẩm có trật tự, và đang tìm cách biểu lộ qua một mục tiêu khách quan có thể chứng minh được. Vũ trụ khách quan chỉ là sản phẩm của một trí tuệ chủ quan nào đó. |
|
187. From our studies we have determined that this “Creative Mind” or “subjective mind” is defined as “Manas”. An I/intelligence is behind and within every objective creation. |
187. Từ các nghiên cứu của mình, chúng ta đã xác định rằng “Trí Tuệ Sáng Tạo” hay “trí tuệ chủ quan” này được định nghĩa là “Manas”. Một trí năng đứng đằng sau và bên trong mọi sáng tạo khách quan. |
|
Next we must posit that the material for the building of this universe lay ready to the hand of the Builder, and that this material itself is the fruit of some previous system, all that is left of some past consummated product. |
Tiếp theo chúng ta phải đặt định rằng chất liệu để xây dựng vũ trụ này đã sẵn trong tay đấng kiến tạo, và rằng chính chất liệu này là thành quả của một hệ thống trước đó, tất cả những gì còn lại của một sản phẩm quá khứ đã hoàn tất. |
|
188. DK is telling us that the structures of our present solar system were built upon ‘materials’ inherited from the earlier solar system. |
188. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng các cấu trúc của hệ mặt trời hiện tại của chúng ta được xây dựng trên những “chất liệu” thừa hưởng từ hệ mặt trời trước. |
|
189. He seems to call our present solar system a “universe”. We can see that if the “universe” as here mentioned were the Grand Totality, the statement would not make sense because the entire Grand Totality (the Universe) would be built up of material from some previous solar system! So, obviously, the term “universe” means something far more circumscribed—in fact, a solar system. |
189. Dường như Ngài gọi hệ mặt trời hiện tại của chúng ta là một “vũ trụ”. Chúng ta có thể thấy rằng nếu “vũ trụ” như được nhắc đến ở đây là Tổng Thể Vĩ Đại, thì phát biểu ấy sẽ không có nghĩa, bởi vì toàn bộ Tổng Thể Vĩ Đại (Vũ trụ) sẽ được xây dựng bằng chất liệu từ một hệ mặt trời trước nào đó! Vì vậy, hiển nhiên thuật ngữ “vũ trụ” có nghĩa gì đó bị giới hạn hơn nhiều—thật ra là một hệ mặt trời. |
|
190. The “Builder” is that great manasic ‘Intelligence’ Who builds the system through the powers of manas. |
190. “Đấng kiến tạo” là ‘Trí Tuệ’ manas vĩ đại xây dựng hệ thống qua các quyền năng của manas. |
|
Given, therefore, the Builder and the material, we must next accede [Page 573] to the proposition that this Builder proceeds with His building under some definite laws that guide His choice of material, that control the form that He erects, and that indicate to Him the process to be followed in the consummating of His idea. |
Vì vậy, khi đã có đấng kiến tạo và chất liệu, tiếp theo chúng ta phải chấp nhận [Page 573] mệnh đề rằng đấng kiến tạo này tiến hành việc xây dựng của Ngài dưới những định luật xác định nào đó, những định luật hướng dẫn sự lựa chọn chất liệu của Ngài, kiểm soát hình tướng mà Ngài dựng nên, và chỉ cho Ngài tiến trình phải theo để hoàn tất ý tưởng của Ngài. |
|
191. Let us tabulate how the Builder (in this case the Solar Logos) proceeds. He proceeds under definite laws and these laws do the following: |
191. Chúng ta hãy lập bảng cách đấng kiến tạo (trong trường hợp này là Thái dương Thượng đế) tiến hành. Ngài tiến hành dưới những định luật xác định và những định luật này làm những điều sau: |
|
a. They guide His choice of material |
a. Chúng hướng dẫn sự lựa chọn chất liệu của Ngài |
|
b. They control the form He erects |
b. Chúng kiểm soát hình tướng Ngài dựng nên |
|
c. They indicate the process to be followed in consummating His idea. |
c. Chúng chỉ ra tiến trình phải theo để hoàn tất ý tưởng của Ngài. |
|
192. We gather the important point that systemic law determines the workings of ‘Universal Process’ |
192. Chúng ta rút ra điểm quan trọng rằng định luật hệ thống quyết định sự vận hành của ‘Tiến Trình Vũ Trụ’ |
|
We must not forget that three great symbols stand, in the mind of the Logos, for each of His three systems, that the whole exists for Him as a concrete thought-form, for He is learning to manipulate the matter of the cosmic mental plane on concrete levels, in the same way that man is working on the laws of thought, and on the building of thought-forms. |
Chúng ta không được quên rằng ba biểu tượng vĩ đại đứng, trong trí tuệ của Thượng đế, cho mỗi một trong ba hệ thống của Ngài, rằng toàn thể tồn tại đối với Ngài như một hình tư tưởng cụ thể, vì Ngài đang học cách thao tác vật chất của cõi trí tuệ vũ trụ trên các cấp độ cụ thể, theo cùng cách con người đang làm việc trên các định luật của tư tưởng, và trên việc xây dựng các hình tư tưởng. |
|
193. We recall that our Solar Logos is not yet mentally polarized, but He is working in cosmic mental substance. |
193. Chúng ta nhớ rằng Thái dương Thượng đế của chúng ta chưa phân cực trí tuệ, nhưng Ngài đang hoạt động trong chất liệu trí tuệ vũ trụ. |
|
194. The symbol for each solar system must be of the utmost importance as it indicates, overall, the Archetype and quality of that system. All the Planetary Logoi must align with this symbol in the administration of their planetary systems. |
194. Biểu tượng cho mỗi hệ mặt trời hẳn phải có tầm quan trọng tối đa vì nó chỉ ra, trên tổng thể, Nguyên mẫu và phẩm tính của hệ thống ấy. Tất cả các Hành Tinh Thượng đế phải chỉnh hợp với biểu tượng này trong việc quản trị các hệ hành tinh của Các Ngài. |
|
195. Each solar system is a ‘universal conception’ (using the word “universe” here as it applies to a solar system). |
195. Mỗi hệ mặt trời là một ‘quan niệm vũ trụ’ (dùng từ “vũ trụ” ở đây theo nghĩa áp dụng cho một hệ mặt trời). |
|
196. The solar system(s) in their three major aspects are literally the Creation of ‘God-the-Solar Logos’. |
196. Hệ mặt trời trong ba phương diện chính của nó theo nghĩa đen là Sáng Tạo của ‘Thượng đế-Thái dương Thượng đế’. |
|
It is impossible to do more than sense the symbols of the systems past and present. Perhaps if we could visualise a swastika of ten arms revolving at right angles, of a radiant green colour, all the ten arms emanating from a central blazing sun, we might have some idea of the thought-form that formed the basis of System I, the activity system. |
Không thể làm gì hơn ngoài việc cảm nhận các biểu tượng của những hệ thống quá khứ và hiện tại. Có lẽ nếu chúng ta có thể hình dung một chữ vạn mười cánh quay vuông góc, có màu xanh lục rực sáng, cả mười cánh phát ra từ một mặt trời rực cháy ở trung tâm, chúng ta có thể có một ý niệm nào đó về hình tư tưởng đã tạo thành nền tảng của Hệ I, hệ thống hoạt động. |
|
197. This is an amazingly evocative idea. Let us detail the proposed symbol for System I (or at least for the first major solar system in a series, probably, of six). |
197. Đây là một ý tưởng gợi lên đáng kinh ngạc. Chúng ta hãy trình bày chi tiết biểu tượng được đề nghị cho Hệ I (hay ít nhất cho hệ mặt trời chính đầu tiên trong một chuỗi, có lẽ, gồm sáu hệ). |
|
a. The swastika has ten arms. Five is a number of Brahma and ten is double this amount. The number ten relates this symbol to Capricorn, a Brahmic sign ruled by Saturn, the planet of Brahma. |
a. Chữ vạn có mười cánh. Năm là một con số của Brahma và mười là gấp đôi số đó. Số mười liên hệ biểu tượng này với Ma Kết, một dấu hiệu Brahma do Thổ Tinh cai quản, hành tinh của Brahma. |
|
b. The arms of the swastika revolve at right angles. The right angle or square (in astrology) signifies constructiveness in mater and suggests the lower quaternary which was brought to a high point in the previous solar system. |
b. Các cánh của chữ vạn quay vuông góc. Góc vuông hay hình vuông (trong chiêm tinh học) biểu thị tính kiến tạo trong vật chất và gợi ý bộ tứ thấp đã được đưa đến một điểm cao trong hệ mặt trời trước. |
|
c. The arms are of a radiant green color |
c. Các cánh có màu xanh lục rực sáng |
|
d. All ten arms radiate from a central blazing sun |
d. Cả mười cánh đều phát xạ từ một mặt trời rực cháy ở trung tâm |
|
e. We are not told the color of this sun. |
e. Chúng ta không được cho biết màu của mặt trời này. |
|
198. It seems clear that there are ten potencies which are to be associated with System I. |
198. Dường như rõ ràng rằng có mười tiềm lực được liên kết với Hệ I. |
|
199. It is also interesting that there were 100 billion units in the one dominant evolution of that system. |
199. Cũng thật thú vị khi có 100 tỷ đơn vị trong sự tiến hoá thống trị duy nhất của hệ thống ấy. |
|
1. In the first solar system there was one dominant evolution, and it consisted of one hundred thousand million monads. |
1. Trong hệ mặt trời thứ nhất có một sự tiến hoá thống trị, và nó gồm một trăm ngàn triệu chân thần. |
|
2. In the present system, the second, there are two dominant evolutions, the human and the deva; there are—as earlier stated—sixty thousand million human monads. Add to this the feminine evolution of the devas, consisting of 140 thousand million, and you have the necessary two hundred thousand million. This elucidates my statement anent this being a feminine system. |
2. Trong hệ thống hiện tại, hệ thứ hai, có hai sự tiến hoá thống trị, nhân loại và thiên thần; có—như đã nói trước đó—sáu mươi ngàn triệu chân thần nhân loại. Cộng thêm vào đó sự tiến hoá nữ tính của các thiên thần, gồm 140 ngàn triệu, và bạn có đủ hai trăm ngàn triệu cần thiết. Điều này làm sáng tỏ phát biểu của tôi liên quan đến việc đây là một hệ thống nữ tính. |
|
3. In the third solar system, the total number in evolution will be the needed three hundred thousand million that perfection requires of the threefold Logos. (EH 109-110) |
3. Trong hệ mặt trời thứ ba, tổng số đang tiến hoá sẽ là ba trăm ngàn triệu cần thiết mà Thượng đế tam phân đòi hỏi nơi sự hoàn hảo. (EH 109-110) |
|
The basic thought-form for the second system embodies the green swastika of the first manifestation, and adds to it concentric and interlaced circles in blue, in groups of three, linked by one large circle. Both symbols are, of course, in the higher dimensions. The symbol for the next system is unknown. |
Hình tư tưởng căn bản cho hệ thống thứ hai bao hàm chữ vạn xanh lục của biểu hiện thứ nhất, và thêm vào đó những vòng tròn đồng tâm và đan xen màu xanh lam, theo từng nhóm ba, được nối kết bởi một vòng tròn lớn. Dĩ nhiên, cả hai biểu tượng đều ở trong các chiều cao hơn. Biểu tượng cho hệ thống kế tiếp thì chưa được biết. |
|
200. We note that there is continuity between the first and second solar system—the color green is preserved. |
200. Chúng ta lưu ý rằng có sự liên tục giữa hệ mặt trời thứ nhất và thứ hai—màu xanh lục được giữ lại. |
|
201. However, the colour, blue, characterizing the second solar system emerges. |
201. Tuy nhiên, màu xanh lam, đặc trưng cho hệ mặt trời thứ hai, xuất hiện. |
|
202. The blue-green planet, the Earth, suggests the transition from major System I to major System II. |
202. Hành tinh xanh lam-xanh lục, Trái Đất, gợi ý sự chuyển tiếp từ Hệ I chính sang Hệ II chính. |
|
203. One wonders how circles can be both “concentric” and “interlaced”. Also we are not told how many groups of three circles there are. Are there perhaps three groups or three, indicating the nine initiations which are to be taken in this solar system? The Solar Logos seems to take at least six cosmic initiations (but, this, over a span of more than one solar system), and nine lesser initiations, perhaps within this solar system. |
203. Người ta tự hỏi làm sao các vòng tròn có thể vừa “đồng tâm” vừa “đan xen”. Ngoài ra chúng ta cũng không được cho biết có bao nhiêu nhóm ba vòng tròn. Có lẽ có ba nhóm ba chăng, chỉ ra chín lần điểm đạo sẽ được tiếp nhận trong hệ mặt trời này? Thái dương Thượng đế dường như tiếp nhận ít nhất sáu điểm đạo vũ trụ (nhưng điều này trải qua hơn một hệ mặt trời), và chín điểm đạo nhỏ hơn, có lẽ trong hệ mặt trời này. |
|
204. From the perspective of the cosmic planes, the circle is an important symbol of the second ray in all its fulness. Circles first appear on the monadic plane which is ruled in large part by the number, two. |
204. Từ quan điểm của các cõi vũ trụ, vòng tròn là một biểu tượng quan trọng của cung hai trong toàn bộ sự viên mãn của nó. Các vòng tròn lần đầu xuất hiện trên cõi chân thần, cõi được cai quản phần lớn bởi số hai. |
|
205. It is interesting that our solar system (the second major system) is, in a way, a blue-green solar system just as our planet, Earth, is a blue-green planet. There is a hint here concerning the karma of our planet and its relation to the karma of our solar system. |
205. Thật thú vị khi hệ mặt trời của chúng ta (hệ thống chính thứ hai) theo một cách nào đó là một hệ mặt trời xanh lam-xanh lục, cũng như hành tinh của chúng ta, Trái Đất, là một hành tinh xanh lam-xanh lục. Ở đây có một gợi ý liên quan đến nghiệp quả của hành tinh chúng ta và mối liên hệ của nó với nghiệp quả của hệ mặt trời chúng ta. |
|
After grasping and conceding these three basic ideas, we can now proceed to the working out of the laws of the system on the seven planes, remembering always that these seven laws hold good on the numerically corresponding subplane on each plane. |
Sau khi nắm bắt và chấp nhận ba ý tưởng căn bản này, giờ đây chúng ta có thể tiến tới việc triển khai các định luật của hệ thống trên bảy cõi, luôn luôn nhớ rằng bảy định luật này có hiệu lực trên cõi phụ tương ứng về số trên mỗi cõi. |
|
206. Always the three must be established before attempting to interpret the seven (which are derivative of the three). |
206. Luôn luôn phải xác lập ba trước khi cố gắng giải thích bảy (vốn phát sinh từ ba). |
|
207. We are informed that the seven systemic laws apply not only to the seven sub-planes of the cosmic physical plane, but to the seven sub-planes of any of the systemic planes. Realizing this allows us to understand and to work on a scale closer to the scope of our normal lives. |
207. Chúng ta được cho biết rằng bảy định luật hệ thống không chỉ áp dụng cho bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ, mà còn cho bảy cõi phụ của bất kỳ cõi nào trong các cõi hệ thống. Nhận ra điều này cho phép chúng ta thấu hiểu và làm việc trên một quy mô gần hơn với phạm vi đời sống bình thường của chúng ta. |
|
208. The adaptation of the laws to sub-planes will be more concrete and of smaller scope than the application of the laws to entire, systemic planes. |
208. Sự thích ứng của các định luật với các cõi phụ sẽ cụ thể hơn và có phạm vi nhỏ hơn việc áp dụng các định luật cho toàn bộ các cõi hệ thống. |
|
Let me briefly illustrate: |
Hãy để tôi minh họa ngắn gọn: |
|
The fourth law, Magnetic Control, for instance, holds sway on the fourth subplane of each plane, in the fourth round, and in the fourth root-race specially. We shall then have the correspondence as follows: |
Chẳng hạn, định luật thứ tư, Kiểm Soát Từ Tính, ngự trị trên cõi phụ thứ tư của mỗi cõi, trong cuộc tuần hoàn thứ tư, và đặc biệt trong giống dân gốc thứ tư. Khi đó chúng ta sẽ có sự tương ứng như sau: |
|
[Page 574] |
|
|
4th LawMagnetic Control. |
Định luật thứ 4Kiểm Soát Từ Tính. |
|
4th RayHarmony or beauty. |
Cung thứ 4Hài hòa hay mỹ lệ. |
|
4th PlaneThe buddhic. |
Cõi thứ 4Cõi Bồ đề. |
|
4th SubplaneBuddhic Magnetic Control. [Page 574] |
Cõi phụ thứ 4Kiểm Soát Từ Tính Bồ đề. [Page 574] |
|
4th RoundDense Physical Magnetism, controlling sex manifestation on the physical plane, and inspired by astral desire, the reflection of the buddhic. |
Cuộc tuần hoàn thứ 4Từ tính hồng trần đậm đặc, kiểm soát biểu hiện tính dục trên cõi hồng trần, và được cảm hứng bởi dục vọng cảm dục, sự phản chiếu của cõi Bồ đề. |
|
4th Root-RaceThe Atlantean, in which the above qualities specially demonstrated. |
Giống dân gốc thứ tưGiống dân Atlantis, trong đó các phẩm tính trên được biểu lộ đặc biệt. |
|
209. The “Law of Magnetic Control” is wielded from the buddhi plane. |
209. “Định luật Kiểm Soát Từ Tính” được vận dụng từ cõi Bồ đề. |
|
210. The fourth sub-plane of the mental plane is not mentioned, but will be important. The integrated personality focused on this fourth sub-plane and responsive to the soul (and through the soul, to buddhi) is the plane from which the fourfold personality is deliberately and mentally controlled. |
210. Cõi phụ thứ tư của cõi trí không được đề cập đến, nhưng sẽ là điều quan trọng. Phàm ngã tích hợp, tập trung trên cõi phụ thứ tư này và đáp ứng với linh hồn (và qua linh hồn, với Bồ đề), là cõi từ đó phàm ngã tứ phân được kiểm soát một cách có chủ ý và bằng trí tuệ. |
|
211. If this control is to eventuate, the personality must be responsive to the soul on the higher mental plane as it expresses buddhi. |
211. Nếu sự kiểm soát này muốn thành tựu, phàm ngã phải đáp ứng với linh hồn trên Cõi thượng trí khi nó biểu lộ Bồ đề. |
|
212. We note that the fourth sub-plane of the fourth plane is especially responsive to the Law of Magnetic Control. What will happen if we factor in the subtle ‘sense’ of “intuition” as it relates especially to the fourth sub-plane of the buddhic plane? When the fourfold personality is responding to the fourth law, the Law of Magnetic Control, may it be that the intuition is released into the personality consciousness via the mental unit on the fourth sub-plane of the mental plane? |
212. Chúng ta lưu ý rằng cõi phụ thứ tư của cõi thứ tư đặc biệt đáp ứng với Định luật Kiểm Soát Từ Tính. Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta đưa vào yếu tố “cảm thức” vi tế của “trực giác” khi nó liên hệ đặc biệt đến cõi phụ thứ tư của cõi Bồ đề? Khi phàm ngã tứ phân đáp ứng với định luật thứ tư, Định luật Kiểm Soát Từ Tính, có thể nào trực giác được giải phóng vào tâm thức phàm ngã qua đơn vị hạ trí trên cõi phụ thứ tư của cõi trí chăng? |
|
213. We gather than “Dense Physical Magnetism” is the physical correspondence of buddhic magnetism. Desire is a lower form of love, and physical man responds to desire through sexual attraction. |
213. Chúng ta hiểu rằng “Từ tính Hồng trần Đậm đặc” là sự tương ứng hồng trần của từ tính Bồ đề. Dục vọng là một hình thức thấp của bác ái, và con người hồng trần đáp ứng với dục vọng qua sức hấp dẫn tính dục. |
|
214. We gather that by building the antahkarana under fourth ray Mercury, a link can be established between the mental unit on the fourth sub-plane of the mental plane and the power of intuition as it is focussed on the fourth sub-plane of the buddhic plane. |
214. Chúng ta hiểu rằng bằng cách xây dựng antahkarana dưới Sao Thủy cung bốn, có thể thiết lập một liên kết giữa đơn vị hạ trí trên cõi phụ thứ tư của cõi trí và quyền năng của trực giác khi nó được tập trung trên cõi phụ thứ tư của cõi Bồ đề. |