IV. Rules for Inducing Soul Control
|
In considering the rules which can induce soul control, it is not my intention to recapitulate the many rules which the aspirant must follow as he perseveres in his endeavor to tread the path to the source—that path to what the Buddhists call Nirvana. This Path is, in fact, but the beginning of that higher Way which leads to a life incomprehensible, even to the most developed of the Beings in our planetary Hierarchy. Nor is it essential that we emphasize the details of living which must control the man who is seeking to function as a soul in command of the personality. These have oft been adequately outlined by disciples down the ages, and reduced to many words. They have also been dealt with in my earlier book A Treatise on White Magic and other books. Our immediate problem is the application of these rules for discipleship and a steady [215] progress in their practical technique. My present purpose is a far more difficult one, for this Treatise is written for the future more than for present students. I seek to indicate the basic rules determining the hierarchical government, and conditioning, therefore, world affairs. We are here concerned therefore with the subtle activities of energies which, on the inner side, actuate the outer activities and bring about those events in the world of men which later form history. |
Khi xem xét các quy luật có thể gây ra sự kiểm soát của linh hồn, tôi không có ý định nhắc lại nhiều quy luật mà người chí nguyện phải tuân theo khi y kiên trì trong nỗ lực bước đi trên con đường đến nguồn cội—con đường dẫn đến điều mà Phật tử gọi là Niết Bàn. Thật ra, Con Đường này chỉ mới là sự khởi đầu của Con đường cao hơn dẫn đến một sự sống không thể hiểu nổi, ngay cả đối với những Đấng phát triển nhất trong Thánh Đoàn hành tinh của chúng ta. Cũng không thiết yếu phải nhấn mạnh các chi tiết của đời sống vốn phải kiểm soát con người đang tìm cách hoạt động như một linh hồn chỉ huy phàm ngã. Những điều này đã thường được các đệ tử qua các thời đại phác họa đầy đủ và diễn đạt thành nhiều lời. Chúng cũng đã được bàn đến trong cuốn sách trước đây của tôi là Luận về Chánh Thuật và các sách khác. Vấn đề trước mắt của chúng ta là việc áp dụng các quy luật này cho địa vị đệ tử và sự [215] tiến bộ vững chắc trong kỹ thuật thực hành của chúng. Mục đích hiện nay của tôi còn khó hơn nhiều, vì bộ Luận này được viết cho tương lai hơn là cho các đạo sinh hiện tại. Tôi tìm cách chỉ ra các quy luật căn bản quyết định sự cai quản của Thánh đoàn, và do đó tác động lên các công việc thế giới. Vì vậy, ở đây chúng ta quan tâm đến các hoạt động vi tế của những năng lượng mà ở mặt nội tại, thúc đẩy các hoạt động bên ngoài và đem lại những biến cố trong thế giới loài người, về sau hình thành nên lịch sử. |
|
The problem before the Hierarchy is twofold and can be expressed in two questions:— |
Vấn đề trước Thánh Đoàn có hai mặt và có thể được diễn đạt bằng hai câu hỏi:— |
|
1. How can the consciousness of humanity be expanded so that it can be developed from the germ of self-consciousness (such as it was at individualisation) and be brought up to that of complete group consciousness and identification as occurs when the final initiation is undergone? |
1. Làm thế nào tâm thức của nhân loại có thể được mở rộng để nó có thể được phát triển từ mầm mống của ngã thức (như đã có vào lúc biệt ngã hóa) và được nâng lên đến tâm thức nhóm hoàn toàn và sự đồng hoá như xảy ra khi lần điểm đạo cuối cùng được trải qua? |
|
2. How can the ascending energy of the fourth kingdom in nature be brought into such close rapport with the descending energy of spirit that another great expression—a group expression—of Deity may emerge through man into manifestation? |
2. Làm thế nào năng lượng đi lên của giới thứ tư trong thiên nhiên có thể được đưa vào sự liên hệ mật thiết đến thế với năng lượng đi xuống của tinh thần để một biểu lộ lớn lao khác—một biểu lộ nhóm—của Thượng đế có thể xuất hiện qua con người vào biểu hiện? |
|
Two points should therefore here be noted:—First, that the attention of the members of the Hierarchy who work at this time with mankind is not centred upon the individual aspirant in any manner which could be interpreted as personal interest. Interest in him is evoked just in so far as he is occupied with matters which concern group good. The second point is one well known and often stressed of late. At this time we are passing through a period of unprecedented opportunity and crisis, and the attention of the Hierarchy is consequently focussed upon men in an exceedingly one-pointed manner as They attempt to capitalise, for the benefit [216] of man, upon this opportunity. Herein lie both responsibility and the ground for hope. |
Do đó, ở đây cần lưu ý hai điểm:—Thứ nhất, sự chú ý của các thành viên Thánh Đoàn hiện đang làm việc với nhân loại không tập trung vào người chí nguyện cá nhân theo bất kỳ cách nào có thể được diễn giải là sự quan tâm cá nhân. Sự quan tâm đến y chỉ được gợi lên trong chừng mực y bận tâm đến những vấn đề liên quan đến lợi ích của nhóm. Điểm thứ hai là điều đã được biết rõ và thường được nhấn mạnh gần đây. Vào lúc này, chúng ta đang đi qua một thời kỳ cơ hội và khủng hoảng chưa từng có, và vì thế sự chú ý của Thánh Đoàn được tập trung vào con người một cách hết sức nhất tâm khi Các Ngài cố gắng tận dụng, vì lợi ích [216] của con người, cơ hội này. Chính trong điều này có cả trách nhiệm lẫn nền tảng của hy vọng. |
|
The rules, therefore, which we are to consider are not the laws of the soul or the laws controlling the stages of human development upon the Path. They have a much wider scope, and pertain to the broad sweep of the evolutionary cycle as it concerns the human family as a whole, particularly in relation to its contribution to the entire evolutionary scheme. However—owing to the lack of trained understanding—we shall have to confine ourselves to the consideration of these rules solely as they govern human unfoldment. |
Vì vậy, các quy luật mà chúng ta sẽ xem xét không phải là các định luật của linh hồn hay các định luật kiểm soát các giai đoạn phát triển của con người trên Con Đường. Chúng có phạm vi rộng lớn hơn nhiều, và liên quan đến toàn bộ tiến trình rộng lớn của chu kỳ tiến hoá khi nó liên hệ đến toàn thể gia đình nhân loại, đặc biệt trong mối liên hệ với sự đóng góp của nó vào toàn bộ hệ thống tiến hoá. Tuy nhiên—do thiếu sự thấu hiểu đã được huấn luyện—chúng ta sẽ phải giới hạn mình trong việc xem xét các quy luật này chỉ trong chừng mực chúng chi phối sự khai mở của con người. |
|
What we are seeking to reveal (if possible) is some of the factors which govern the effort which the Hierarchy of Control and the Custodians of the Plan utilise, as They proceed to work with the factors already present in man, and the energies already in objective use on this planet. What we shall say will not be of great simplicity, for it is hard, even for the advanced disciple, to see the purpose of certain of these factors. That which is here set forth on these matters must await later developments during the coming century, and certain lines of scientific and spiritual unfoldment must eventuate before the hidden implications can be adequately comprehended. If it seems simple and clear it might be wise to distrust the obvious interpretation. The matter is abstruse. It is well to ponder on the thought here presented, but not to be quick to assume understanding. There are many ways in which the work of the Hierarchy can be expressed, and according to the type of mind will be the interpretation. |
Điều chúng ta đang tìm cách mặc khải (nếu có thể) là một số yếu tố chi phối nỗ lực mà Thánh Đoàn Kiểm Soát và các Đấng Gìn Giữ Thiên Cơ sử dụng khi Các Ngài tiến hành làm việc với những yếu tố đã hiện diện trong con người, và những năng lượng đã được sử dụng một cách khách quan trên hành tinh này. Điều chúng ta sẽ nói sẽ không thật đơn giản, vì ngay cả đối với đệ tử tiến bộ, cũng khó thấy được mục đích của một số yếu tố này. Điều được trình bày ở đây về các vấn đề này phải chờ những phát triển sau này trong thế kỷ tới, và một số đường hướng khai mở khoa học và tinh thần nhất định phải xuất hiện trước khi các hàm ý ẩn kín có thể được thấu hiểu một cách đầy đủ. Nếu điều đó có vẻ đơn giản và rõ ràng thì có lẽ nên dè dặt với cách diễn giải hiển nhiên. Vấn đề này rất thâm áo. Nên suy ngẫm về tư tưởng được trình bày ở đây, nhưng đừng vội cho rằng mình đã thấu hiểu. Có nhiều cách để công việc của Thánh Đoàn được biểu lộ, và sự diễn giải sẽ tùy theo loại trí tuệ. |
1. The Aim of These Rules—1. Mục Tiêu của Các Quy Luật Này
|
The objectives can (for our purposes) be stated as four in number, but each of these is capable of re-expression in a [217] number of ways. They simply indicate the four major goals which the Workers with the Plan have set Themselves. Let us state them succinctly, and later we can somewhat elaborate them:— |
Các mục tiêu có thể (vì mục đích của chúng ta) được nêu là bốn, nhưng mỗi mục tiêu trong số này đều có thể được diễn đạt lại theo [217] nhiều cách. Chúng chỉ đơn giản chỉ ra bốn cứu cánh chính mà những Người Hoạt Động với Thiên Cơ đã tự đặt ra cho mình. Hãy nêu chúng một cách ngắn gọn, rồi sau đó chúng ta có thể khai triển phần nào:— |
|
1. The first aim and the primary aim is to establish, through the medium of humanity, an outpost of the Consciousness of God in the solar system. This is a correspondence, macrocosmically understood, of the relationship existing between a Master and His group of disciples. This, if pondered on, may serve as a clue to the significance of our planetary work. |
1. Mục tiêu thứ nhất và cũng là mục tiêu chính yếu là thiết lập, thông qua trung gian của nhân loại, một tiền đồn của Tâm thức Thượng đế trong hệ mặt trời. Đây là một sự tương ứng, được hiểu theo đại thiên địa, với mối liên hệ hiện hữu giữa một Chân sư và nhóm đệ tử của Ngài. Nếu được suy ngẫm, điều này có thể đóng vai trò như một đầu mối cho thâm nghĩa của công việc hành tinh của chúng ta. |
|
2. To found upon earth (as has already been indicated) a powerhouse of such potency and a focal point of such energy that humanity—as a whole—can be a factor in the solar system, bringing about changes and events of a unique nature in the planetary life and lives (and therefore in the system itself) and inducing an interstellar activity. |
2. Thiết lập trên Trái Đất (như đã được chỉ ra) một trung tâm quyền năng có mãnh lực đến mức và một tiêu điểm năng lượng có cường độ đến mức mà nhân loại—như một toàn thể—có thể trở thành một yếu tố trong hệ mặt trời, đem lại những thay đổi và biến cố có tính chất độc đáo trong sự sống và các sự sống hành tinh (và do đó trong chính hệ thống) và tạo ra một hoạt động liên sao. |
|
3. To develop a station of light, through the medium of the fourth kingdom in nature, which will serve not only the planet, and not only our particular solar system, but the seven systems of which ours is one. This question of light, bound up as it is with the colours of the seven rays, is as yet an embryo science, and it would be useless for us to enlarge upon it here. |
3. Phát triển một trạm ánh sáng, thông qua trung gian của giới thứ tư trong thiên nhiên, trạm này sẽ không chỉ phụng sự hành tinh, và không chỉ phụng sự hệ mặt trời đặc thù của chúng ta, mà còn phụng sự bảy hệ thống mà hệ của chúng ta là một trong số đó. Vấn đề ánh sáng này, gắn liền như nó vốn có với các màu sắc của bảy cung, hiện vẫn là một khoa học phôi thai, và sẽ vô ích nếu chúng ta khai triển thêm ở đây. |
|
4. To set up a magnetic centre in the universe, in which the human kingdom and the kingdom of souls will, united or at-oned, be the point of most intense power, and which will serve the developed Lives within the radius of the radiance of the One About Whom Naught May Be Said. |
4. Thiết lập một trung tâm từ tính trong vũ trụ, trong đó giới nhân loại và giới các linh hồn sẽ, khi hợp nhất hay nên một, là điểm quyền năng mãnh liệt nhất, và sẽ phụng sự các Sự Sống đã phát triển trong bán kính bức xạ của Đấng Bất Khả Tư Nghị. |
|
In these four statements we have sought to express the wider [218] possibility or occasion as the Hierarchy sees it today. Their plans and purposes are destined and oriented to a larger accomplishment than it is as yet possible for normal man to vision. If it were not so, the unfoldment of the soul in man would be a prime objective in the planet. But this is not the case. It may be so from the point of view of man himself, considering him as an essentially separable and identifiable unity in the great cosmic scheme. But it is not so for that greater whole of which humanity is only a part. Those great Sons of God, Who have passed beyond the point of development of those Masters Who work entirely with the human kingdom, have plans of a still vaster and broader sweep, and Their objectives involve humanity only as an item in the Plan of the great Life “in whom we live and move and have our being.” |
Trong bốn phát biểu này, chúng ta đã tìm cách diễn đạt khả năng hay cơ hội rộng lớn hơn [218] như Thánh Đoàn nhìn thấy ngày nay. Các kế hoạch và mục đích của Các Ngài được định sẵn và định hướng đến một thành tựu lớn lao hơn điều mà con người bình thường hiện nay có thể hình dung. Nếu không phải như vậy, thì sự khai mở của linh hồn trong con người sẽ là một mục tiêu chính yếu trên hành tinh. Nhưng không phải thế. Điều đó có thể đúng từ quan điểm của chính con người, khi xem con người như một đơn vị về bản chất có thể tách biệt và nhận diện được trong hệ thống vũ trụ vĩ đại. Nhưng điều đó không đúng đối với toàn thể lớn lao hơn mà nhân loại chỉ là một phần. Những Con của Thượng đế vĩ đại ấy, những Đấng đã vượt quá điểm phát triển của các Chân sư chỉ làm việc hoàn toàn với giới nhân loại, có những kế hoạch còn bao quát và rộng lớn hơn nữa, và các mục tiêu của Các Ngài chỉ bao hàm nhân loại như một yếu tố trong Thiên Cơ của Sự Sống vĩ đại “trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu.” |
|
One may ask (and rightly ask) wherein all this information can be of use to us in the midst of a troubled and bewildered world. For obvious reasons, a vision of the Plan, nebulous as it must necessarily be, confers a sense of proportion and also of stability. It leads to a much-needed re-adjustment of values, indicating as it does, that there is purpose and objective behind all the difficult happenings of daily life. It broadens and widens and expands the consciousness, as we study the great volume of the planetary life, embracing as it does the detail and the finished structure, the item man, and the entire life of the planet, with their relation to the greater Whole. This is of far more importance than the minute detail of the human being’s individual capacity to grasp his own immediate place within the larger picture. It is easy and natural for man to emphasise those aspects of the hierarchical work which concern himself. The Masters of the Wisdom Who are advanced enough to work upon the larger areas of [219] the spiritual plan are oft amused at the importance which the disciples and aspirants of the world attach to Them, and at the manner in which They are overestimated. Can we not realise that there are members of the Hierarchy Whose grasp of truth and Whose knowledge of the divine Plan is as much in advance of the Masters known to us as They are in advance of the savage and of the undeveloped man? We do well to ponder on this fact. |
Người ta có thể hỏi (và hỏi một cách chính đáng) rằng tất cả thông tin này có thể hữu ích gì cho chúng ta giữa một thế giới rối ren và hoang mang. Vì những lý do hiển nhiên, một linh ảnh về Thiên Cơ, dù tất yếu phải còn mơ hồ, vẫn ban cho một ý thức về tỉ lệ và cả sự ổn định. Nó dẫn đến một sự điều chỉnh lại các giá trị rất cần thiết, vì nó chỉ ra rằng đằng sau mọi biến cố khó khăn của đời sống hằng ngày đều có mục đích và mục tiêu. Nó mở rộng, nới rộng và khai triển tâm thức khi chúng ta nghiên cứu khối lượng lớn lao của sự sống hành tinh, bao gồm cả chi tiết lẫn cấu trúc hoàn chỉnh, con người như một đơn vị, và toàn bộ sự sống của hành tinh, cùng với mối liên hệ của chúng với Toàn Thể lớn hơn. Điều này quan trọng hơn nhiều so với chi tiết nhỏ nhặt về năng lực cá nhân của con người trong việc nắm bắt vị trí tức thời của mình trong bức tranh lớn hơn. Con người dễ dàng và tự nhiên nhấn mạnh những phương diện của công việc của Thánh đoàn có liên quan đến chính mình. Các Chân sư Minh Triết, những Đấng đủ tiến bộ để hoạt động trên những lĩnh vực rộng lớn hơn của [219] Thiên Cơ tinh thần, thường lấy làm thích thú trước tầm quan trọng mà các đệ tử và người chí nguyện trên thế giới gán cho Các Ngài, và trước cách thức mà Các Ngài bị đánh giá quá cao. Chẳng lẽ chúng ta không thể nhận ra rằng có những thành viên của Thánh Đoàn mà sự nắm bắt chân lý và tri thức của Các Ngài về Thiên Cơ thiêng liêng vượt xa các Chân sư mà chúng ta biết đến cũng như các Ngài vượt xa người man dã và con người chưa phát triển hay sao? Chúng ta nên suy ngẫm về sự kiện này. |
|
It is not, however, a profitless task for the disciples and aspirants to catch the dim outline of that structure, that purpose and that destiny which will result from the consummation and fruition of the Plan on earth. It need evoke no sense of futility or of endless striving or of an almost permanent struggle. Given the fact of the finiteness of man and of his life, given the tremendous periphery of the cosmos and the minute nature of our planet, given the vastness of the universe and the realisation that it is but one of countless (literally countless) greater and smaller universes, yet there is present in men and upon our planet a factor and a quality which can enable all these facts to be seen and realised as parts in a whole, and which permits man (escaping, as he can, from his human self-consciousness) to expand his sense of awareness and identity so that the form aspects of life offer no barrier to his all-embracing spirit. It is of use also to write these words and to deal with these ideas, for there are those now coming into incarnation who can and will understand, when present readers are dead and gone. I and you will pass on to other work, but there will be those on earth who can vision the Plan with clarity, and whose vision will be far more inclusive and comprehending than ours. Vision is of the nature of divinity. Expansion is a vital power and prerogative of Deity. Therefore let us struggle to grasp what is possible [220] at our particular stage of development, and leave eternity to reveal its hidden secrets. |
Tuy nhiên, đối với các đệ tử và người chí nguyện, việc nắm bắt đường nét mờ nhạt của cấu trúc, mục đích và định mệnh sẽ phát sinh từ sự hoàn tất và kết quả viên mãn của Thiên Cơ trên Trái Đất không phải là một công việc vô ích. Điều đó không cần gợi lên cảm giác vô dụng hay nỗ lực vô tận hoặc một cuộc đấu tranh gần như thường trực. Với sự kiện về tính hữu hạn của con người và đời sống của con người, với chu vi bao la của vũ trụ và bản chất nhỏ bé của hành tinh chúng ta, với sự rộng lớn của vũ trụ và sự chứng nghiệm rằng nó chỉ là một trong vô số (thật sự là vô số) vũ trụ lớn hơn và nhỏ hơn, tuy nhiên nơi con người và trên hành tinh chúng ta vẫn hiện diện một yếu tố và một phẩm tính có thể khiến tất cả những sự kiện này được nhìn thấy và chứng nghiệm như những phần trong một toàn thể, và cho phép con người (thoát ra, như y có thể, khỏi ngã thức nhân loại của mình) mở rộng cảm nhận về sự nhận biết và bản sắc của mình đến mức các phương diện hình tướng của sự sống không còn tạo thành rào cản đối với tinh thần bao trùm tất cả của y. Việc viết ra những lời này và bàn đến những ý tưởng này cũng hữu ích, vì hiện nay đang có những người đi vào lâm phàm có thể và sẽ thấu hiểu, khi những độc giả hiện tại đã chết và qua đi. Tôi và các bạn sẽ chuyển sang công việc khác, nhưng sẽ có những người trên Trái Đất có thể hình dung Thiên Cơ một cách rõ ràng, và tầm nhìn của họ sẽ bao gồm và thấu hiểu hơn nhiều so với chúng ta. Tầm nhìn thuộc về bản chất của thiên tính. Sự mở rộng là một quyền năng thiết yếu và đặc quyền của Thượng đế. Vì vậy, hãy cố gắng nắm bắt điều gì là khả hữu [220] ở giai đoạn phát triển đặc thù của chúng ta, và để cho vĩnh cửu mặc khải những bí mật ẩn giấu của nó. |
|
The factors which determine this peculiar process of hierarchical work, and which therefore constitute the major rules of the evolving life of God in the human family, are seven in number. These—if we may so express it—determine hierarchical activity, leaving wide scope for individual effort, but providing the vital active trends beyond which no worker with the Plan will dare to go. We should be aware that there are forces and energies which are kept in abeyance as the result of the interposition, consciously effected, by the Hierarchy. It is possible for us to grasp the fact that there are lives and types of activity which have been unable to manifest (fortunately for the planet) since the Hierarchy was founded upon the earth. There has not always been a Hierarchy of perfected souls, and this concept opens up vistas in the realms of immature expression (from the angle of human vision) as difficult to comprehend as those opened up when we pass, in dim and nebulous imaginative consciousness, beyond the department of the Hierarchy which deals with human affairs, and catch faint glimpses of the other departments which work on broader and more inclusive lines. |
Các yếu tố quyết định tiến trình đặc thù này của công việc phân cấp, và vì vậy cấu thành những quy luật chủ yếu của sự sống đang tiến hoá của Thượng đế trong gia đình nhân loại, có số lượng là bảy. Những yếu tố này—nếu chúng ta có thể diễn đạt như thế—quy định hoạt động của Thánh Đoàn, chừa lại phạm vi rộng lớn cho nỗ lực cá nhân, nhưng đồng thời cung cấp những khuynh hướng hoạt động thiết yếu mà vượt quá đó thì không người hoạt động nào với Thiên Cơ dám đi xa hơn. Chúng ta nên ý thức rằng có những mãnh lực và năng lượng bị giữ trong trạng thái đình chỉ do sự can thiệp được Thánh Đoàn thực hiện một cách hữu thức. Chúng ta có thể nắm được sự kiện rằng có những sự sống và những loại hoạt động đã không thể biểu hiện (thật may cho hành tinh) kể từ khi Thánh Đoàn được thiết lập trên địa cầu. Không phải lúc nào cũng có một Thánh Đoàn gồm những linh hồn toàn thiện, và khái niệm này mở ra những viễn tượng trong các lĩnh vực biểu hiện chưa trưởng thành (xét từ góc độ tầm nhìn của con người) khó hiểu không kém những gì mở ra khi chúng ta vượt ra ngoài, trong tâm thức tưởng tượng mờ nhạt và mơ hồ, khỏi bộ phận của Thánh Đoàn chuyên xử lý các công việc nhân loại, và thoáng thấy lờ mờ những bộ phận khác hoạt động theo những đường lối rộng lớn hơn và bao gồm hơn. |
2. The Seven Rules—2. Bảy Quy Luật
|
The seven factors or “Rules for Inducing Soul Control” are:— |
Bảy yếu tố hay “Những quy luật để tạo ra sự kiểm soát của linh hồn” là:— |
|
1. The tendency, innate and ineradicable, to blend and synthesise. This is a law or rule of life itself. |
1. Khuynh hướng bẩm sinh và không thể xóa bỏ là hòa trộn và tổng hợp. Đây là một định luật hay quy luật của chính sự sống. |
|
a. This tendency results, on the form side, in destruction and wreckage, with its accompaniments of pain and sorrow. On the life side, it results in release, liberation and subsequent expansion. |
a. Khuynh hướng này, về phía hình tướng, đưa đến sự hủy diệt và đổ nát, cùng với những hệ quả là đau đớn và buồn khổ. Về phía sự sống, nó đưa đến sự giải thoát, giải phóng và sự mở rộng tiếp theo. |
|
[221] |
[221] |
|
b. This tendency is the basic cause of all initiation—individual, racial, planetary and systemic. |
b. Khuynh hướng này là nguyên nhân căn bản của mọi điểm đạo—cá nhân, chủng tộc, hành tinh và hệ thống. |
|
c. It is the result of an act of the will, and is caused by the impulsion of the sensed and innate purpose of God. However (and this is a point oft forgotten) this tendency is motivated by the recognition of the planetary Logos, that His plan is conditioned in its turn, and is an integral part of a still larger plan—that of the solar Deity. God, the solar Logos, is likewise conditioned by a still higher life purpose. |
c. Nó là kết quả của một hành vi của ý chí, và do xung lực của mục đích được cảm nhận và bẩm sinh của Thượng đế gây ra. Tuy nhiên (và đây là một điểm thường bị quên lãng), khuynh hướng này được thúc đẩy bởi sự nhận biết của Hành Tinh Thượng đế rằng kế hoạch của Ngài đến lượt nó cũng bị tác động, và là một phần toàn vẹn của một kế hoạch còn lớn lao hơn nữa—kế hoạch của Thượng đế thái dương. Thượng đế, Thái dương Thượng đế, cũng bị tác động bởi một mục đích sự sống còn cao hơn nữa. |
|
2. The quality of the hidden vision. |
2. Phẩm tính của tầm nhìn ẩn kín. |
|
a. This quality, on the form side, produces physical sight, astral illusion and concrete knowledge. On the life side it produces illumination. This includes the widespread illumination reflected by our planet in the heavens, as well as that which makes an individual man a light-bearer, and which will eventually enable humanity, (as a whole) to constitute a station of light upon earth. |
a. Phẩm tính này, về phía hình tướng, tạo ra thị giác hồng trần, ảo tưởng cảm dục và tri thức cụ thể. Về phía sự sống, nó tạo ra sự soi sáng. Điều này bao gồm cả sự soi sáng lan rộng mà hành tinh chúng ta phản chiếu trong các cõi trời, cũng như sự soi sáng khiến một cá nhân trở thành người mang ánh sáng, và cuối cùng sẽ giúp nhân loại, như một toàn thể, cấu thành một trạm ánh sáng trên địa cầu. |
|
b. This quality is the basic cause of all sensory perception and is the instinctive urge to consciousness itself, in all its many phases. With this quality the Hierarchy has to work, intensifying it and giving it magnetic power. |
b. Phẩm tính này là nguyên nhân căn bản của mọi tri giác giác quan và là sự thúc đẩy bản năng hướng đến chính tâm thức, trong mọi giai đoạn đa dạng của nó. Với phẩm tính này, Thánh Đoàn phải làm việc, tăng cường nó và ban cho nó quyền năng từ tính. |
|
c It is the high result of desire, which is itself intrinsically founded on the will to form a plan and a purpose. |
c. Nó là kết quả cao của dục vọng, mà bản thân dục vọng vốn được đặt nền tảng nội tại trên ý chí hình thành một kế hoạch và một mục đích. |
|
3. The instinct to formulate a plan. This instinct governs all activity which, in process of evolution, divides itself into instinctual activity, intelligent activity, intuitional or purposive activity, and illumined activity, as far as mankind is concerned. This includes that department of the [222] Hierarchy which works with humanity. The higher phases of planned activity are many and diverse, and are all synthesised under the third ray activity, at present focussed in the seventh ray. |
3. Bản năng hình thành một kế hoạch. Bản năng này chi phối mọi hoạt động mà trong tiến trình tiến hoá, tự phân chia thành hoạt động bản năng, hoạt động thông minh, hoạt động trực giác hay có mục đích, và hoạt động được soi sáng, ít nhất là đối với nhân loại. Điều này bao gồm bộ phận của [222] Thánh Đoàn làm việc với nhân loại. Những giai đoạn cao hơn của hoạt động có kế hoạch thì nhiều và đa dạng, và tất cả đều được tổng hợp dưới hoạt động của cung ba, hiện nay tập trung trong cung bảy. |
|
a. Viewed from the form side, this faculty of planning leads to separative and selfish activity. Viewed from the life side, it leads to a blended cooperation which swings each unit of energy in every form, in all its subjective and unified aspects, into the task of unification. This is potently taking place in the world today. It is the tendency to at-one-ment which leads the human being, first of all, to the development of an integrated personality, and then to the submergence of that personality in the good of the greater whole. |
a. Xét từ phía hình tướng, năng lực hoạch định này dẫn đến hoạt động phân ly và ích kỷ. Xét từ phía sự sống, nó dẫn đến một sự hợp tác dung hợp, đưa mỗi đơn vị năng lượng trong mọi hình tướng, trong mọi phương diện chủ quan và hợp nhất của nó, vào nhiệm vụ hợp nhất. Điều này hiện đang diễn ra một cách mạnh mẽ trong thế giới ngày nay. Chính khuynh hướng hướng đến hợp nhất dẫn con người trước hết đến sự phát triển của một Phàm ngã tích hợp, rồi sau đó đến sự dìm phàm ngã ấy vào thiện ích của toàn thể lớn hơn. |
|
b. This constitutes the basic cause of evolution itself—individual, planetary and systemic. |
b. Điều này cấu thành nguyên nhân căn bản của chính sự tiến hoá—cá nhân, hành tinh và hệ thống. |
|
c. This instinct is the result of the development of manas, or mind, and the emergence of the intelligence. It is the peculiar quality or instinctual nature through the means of which humanity empresses the first Ray of Willed Intent, fostered by desire, and transmuted into intelligent activity. |
c. Bản năng này là kết quả của sự phát triển của manas, hay trí tuệ, và sự xuất hiện của thông minh. Đó là phẩm tính đặc thù hay bản chất bản năng mà qua đó nhân loại biểu lộ Cung một của Ý Định do Ý Chí, được dục vọng nuôi dưỡng, và được chuyển hoá thành hoạt động thông minh. |
|
4. The urge to creative life, through the divine faculty of imagination. This urge is, as can easily be seen, closely connected with the fourth Ray of Harmony, producing unity and beauty, won through conflict. |
4. Sự thôi thúc hướng đến sự sống sáng tạo, qua năng lực thiêng liêng của sự tưởng tượng. Như có thể dễ dàng thấy, sự thôi thúc này liên hệ mật thiết với cung bốn của Hài Hòa, tạo ra sự hợp nhất và vẻ đẹp, đạt được qua xung đột. |
|
a. This, on the form side, leads to warfare, struggle and the building of forms which must later be destroyed. On the life side, it leads to quality, vibratory radiance and the revelation upon earth of the world of meaning. |
a. Điều này, về phía hình tướng, dẫn đến chiến tranh, đấu tranh và việc xây dựng những hình tướng mà về sau phải bị hủy diệt. Về phía sự sống, nó dẫn đến phẩm tính, sự rạng ngời rung động và sự mặc khải trên địa cầu của Thế giới của ý nghĩa. |
|
b. It is therefore the basic cause of that subtle essence or [223] revelation which is seeking expression through every form in each kingdom in nature. There seems to be no better term by which to express this hidden wonder which must be revealed than the revelation of meaning. This is beginning to happen today. |
b. Vì vậy, nó là nguyên nhân căn bản của tinh chất vi tế hay sự [223] mặc khải đang tìm cách biểu hiện qua mọi hình tướng trong mỗi giới trong thiên nhiên. Dường như không có thuật ngữ nào tốt hơn để diễn đạt điều kỳ diệu ẩn kín này, điều phải được mặc khải, ngoài sự mặc khải của ý nghĩa. Điều này đang bắt đầu xảy ra ngày nay. |
|
c. It is the result of the ability—sometimes adequate and sometimes inadequate—of the inner consciousness to reveal its measure of control by the Plan, and its response to the larger intent. It is upon this response that the Members of the Hierarchy are today counting, as They endeavor to bring the hidden meaning to the fore in the consciousness of man. |
c. Nó là kết quả của khả năng—đôi khi đầy đủ và đôi khi không đầy đủ—của tâm thức bên trong trong việc bộc lộ mức độ kiểm soát của nó bởi Thiên Cơ, và sự đáp ứng của nó đối với ý định lớn hơn. Chính vào sự đáp ứng này mà các Thành Viên của Thánh Đoàn ngày nay đang trông cậy, khi Các Ngài nỗ lực đưa ý nghĩa ẩn kín ra tiền cảnh trong tâm thức con người. |
|
5. The factor of analysis. This factor may surprise those who suffer from the misuse of the power to discriminate, to analyse and to criticise. It is, however, a basic, divine quality, producing wise participation in the Plan and skill in action. |
5. Yếu tố phân tích. Yếu tố này có thể làm ngạc nhiên những ai đang chịu khổ vì sự lạm dụng năng lực phân biện, phân tích và phê phán. Tuy nhiên, đó là một phẩm tính thiêng liêng căn bản, tạo ra sự tham dự khôn ngoan vào Thiên Cơ và kỹ năng trong hành động. |
|
a. On the form side, it manifests as the tendency to separate, divide and to place in contradictory positions. On the life side, it leads to that understanding which tends to identification, through the wider choice and comprehension. |
a. Về phía hình tướng, nó biểu hiện như khuynh hướng tách rời, phân chia và đặt vào những vị trí đối nghịch. Về phía sự sống, nó dẫn đến sự thấu hiểu có khuynh hướng đồng hoá với, thông qua sự lựa chọn rộng lớn hơn và sự lĩnh hội. |
|
b. It is the basic cause and impulse which will lead to the eventual appearance of the kingdom in nature, higher than the human, which is strictly that of the soul, and will produce the manifestation upon earth of the fifth kingdom in nature, that of the kingdom of gods. This phrase should be noted. |
b. Nó là nguyên nhân và xung lực căn bản sẽ dẫn đến sự xuất hiện cuối cùng của một giới trong thiên nhiên cao hơn giới nhân loại, vốn thực sự là giới của linh hồn, và sẽ tạo ra sự biểu hiện trên địa cầu của giới thứ năm trong thiên nhiên, tức là giới của các vị thần. Cần lưu ý cụm từ này. |
|
c. It is the result of the active work of the sons of God, the sons of mind, and is the part which they are contributing to the total planetary contribution, as part of the great systemic Plan. The Hierarchy itself is [224] the outer and inner manifestation of the sacrifice of the divine Manasaputras (as They are called in The Secret Doctrine), and its members respond to Their sensed vision of the Plan for the whole. The Hierarchy is essentially the germ or nucleus of the fifth kingdom in nature. |
c. Nó là kết quả của công việc tích cực của những người con của Thượng đế, những Con của Trí Tuệ, và là phần đóng góp mà họ đang đem lại cho tổng thể đóng góp của hành tinh, như một phần của Thiên Cơ hệ thống vĩ đại. Chính Thánh Đoàn là [224] biểu hiện bên ngoài và bên trong của sự hy sinh của các Manasaputra thiêng liêng (như Các Ngài được gọi trong Giáo Lý Bí Nhiệm), và các thành viên của Thánh Đoàn đáp ứng với linh ảnh được cảm nhận của Các Ngài về Thiên Cơ cho toàn thể. Về bản chất, Thánh Đoàn là mầm sống hay hạt nhân của giới thứ năm trong thiên nhiên. |
|
6. The quality, innate in man, to idealise. This is founded upon the success of the Plan itself. This Plan sought originally to awaken in man the following responses:—right desire, right vision and right creative activity, based upon right interpretation of ideals. This triplicity of purpose merits thoughtful consideration. |
6. Phẩm tính bẩm sinh nơi con người là lý tưởng hóa. Điều này được đặt nền trên sự thành công của chính Thiên Cơ. Thiên Cơ này nguyên thủy tìm cách đánh thức nơi con người những đáp ứng sau đây:—dục vọng đúng đắn, tầm nhìn đúng đắn và hoạt động sáng tạo đúng đắn, dựa trên sự giải thích đúng đắn các lý tưởng. Bộ ba mục đích này đáng được suy xét cẩn trọng. |
|
a. On the form side, this has worked out as material desire, leading eventually to cruelty and frequently to an extreme sadistic expression. On the life side, it has led to sacrifice, one pointed purpose, progress on the path, and devotion. |
a. Về phía hình tướng, điều này đã biểu hiện thành dục vọng vật chất, cuối cùng dẫn đến sự tàn nhẫn và thường xuyên dẫn đến một biểu hiện cực độ của tính bạo dâm. Về phía sự sống, nó đã dẫn đến sự hy sinh, mục đích nhất tâm, sự tiến bộ trên đường đạo, và lòng sùng tín. |
|
b. It is the basic cause of all organisation and of cooperation. The ideal before the Hierarchy is the realised Plan. This is brought to humanity in the form of ideas, which become, in time, ideals—to be desired and fought for. In order to materialise these ideals, the trend to organise comes into being. |
b. Nó là nguyên nhân căn bản của mọi tổ chức và của sự hợp tác. Lý tưởng trước mắt Thánh Đoàn là Thiên Cơ đã được chứng nghiệm. Thiên Cơ này được mang đến cho nhân loại dưới hình thức các ý tưởng, rồi theo thời gian trở thành các lý tưởng—để được khao khát và đấu tranh cho. Để hiện hình những lý tưởng này, khuynh hướng tổ chức xuất hiện. |
|
c. It is the result—curiously enough—of the work of a peculiar group of world workers, who are recognised by humanity under the name of World Saviours. These are the Founders of those forms through which the divine ideas become the ideals of the masses, in all realms of human thought. Every great world leader is necessarily a “suffering Saviour.” |
c. Điều này là kết quả—thật kỳ lạ thay—của công việc của một nhóm đặc biệt gồm những người hoạt động thế giới, được nhân loại biết đến dưới danh xưng các Đấng Cứu Thế của Thế Gian. Các Ngài là những Đấng Sáng Lập của những hình tướng qua đó các ý tưởng thiêng liêng trở thành những lý tưởng của quần chúng, trong mọi lĩnh vực tư tưởng của con người. Mọi vị lãnh đạo thế giới vĩ đại tất yếu đều là một “Đấng Cứu Thế đau khổ”. |
|
7. The seventh rule or controlling force with which the [225] Hierarchy works is the interplay of the great dualities. Through the activity engendered by this interplay, and through the results achieved (producing always a third factor), the whole manifested world is swept into line with the divine Purpose. This does not become apparent to the man who is immersed in the detail of life, but could we see the planetary life as it can be seen by the Masters Themselves, we would note the pattern emerging in all its beauty, and the structure of God’s thought for the universe appearing today in clearer outline and greater synthesis and beauty of detail than ever before. |
7. Quy luật thứ bảy hay mãnh lực kiểm soát mà [225] Thánh Đoàn làm việc cùng là sự tương tác của những nhị nguyên tính lớn lao. Qua hoạt động được tạo ra bởi sự tương tác này, và qua những kết quả đạt được (luôn luôn tạo ra một yếu tố thứ ba), toàn bộ thế giới biểu hiện được cuốn vào sự chỉnh hợp với Thiên Ý. Điều này không trở nên hiển nhiên đối với con người đang chìm đắm trong chi tiết của đời sống, nhưng nếu chúng ta có thể thấy sự sống hành tinh như chính các Chân sư thấy, chúng ta sẽ nhận ra mô hình đang xuất hiện trong toàn bộ vẻ đẹp của nó, và cấu trúc của tư tưởng Thượng đế dành cho vũ trụ ngày nay hiện ra với đường nét rõ ràng hơn, với sự tổng hợp lớn hơn và vẻ đẹp chi tiết lớn hơn bao giờ hết. |
|
a. On the form side, this produces the sense of being imprisoned by the time factor, the victim of speed, and the implacable forces of all life activity, as they play upon the imprisoned human being. On the life side, it results in rhythmic living and conscious adaptation of energy to the immediate purpose and goal. |
a. Về phía hình tướng, điều này tạo ra cảm giác bị giam cầm bởi yếu tố thời gian, là nạn nhân của tốc độ, và của những mãnh lực không khoan nhượng của mọi hoạt động sự sống khi chúng tác động lên con người bị giam hãm. Về phía sự sống, nó đưa đến đời sống có nhịp điệu và sự thích ứng hữu thức của năng lượng với mục đích và mục tiêu trước mắt. |
|
b. It is necessarily the basic cause of the appearance and the disappearance of forms, human and humanly constructed. |
b. Tất yếu, nó là nguyên nhân căn bản của sự xuất hiện và biến mất của các hình tướng, con người và những gì do con người kiến tạo. |
|
c. It is the result of at-one-ments wrought out on the physical plane, thus producing the lower unifications, just as the at-one-ments wrought out hitherto in the human consciousness, have produced unification with the soul. The higher at-one-ments, hitherto effected on the plane of mind, have to be expressed eventually on the plane of physical life. |
c. Nó là kết quả của những sự hợp nhất được thực hiện trên cõi hồng trần, do đó tạo ra những sự hợp nhất thấp, cũng như những sự hợp nhất cho đến nay được thực hiện trong tâm thức con người đã tạo ra sự hợp nhất với linh hồn. Những sự hợp nhất cao hơn, cho đến nay được thực hiện trên cõi trí, cuối cùng phải được biểu lộ trên bình diện của đời sống hồng trần. |
|
In the preceding introductory outline, we have considered very briefly the rules which can induce on earth that soul control which is the immediate goal of the evolutionary process. We have seen that we are considering no simple exercises or discipline, nor are we dealing with the development [226] of those required characteristics which precede the stage of technical Initiation. We are, in reality, concerned with those basic trends and those innate tendencies in the divine expression which will ultimately bring about the manifestation of the Oversoul upon our planet. We have seen also that these governing tendencies are already beginning to be expressed and realised, and that the fourth kingdom in nature, the human, occupies a unique position in this development. In the downward and the upward flow of the divine life, as it expresses itself through the involutionary and evolutionary urges, humanity constitutes one of the fundamental “original centres of force” which can and will form an outpost of the divine Consciousness, an expression of the divine Psyche, manifesting eventually those three outstanding psychological characteristics of divinity: Light, Energy, and Magnetism. In the human being, the microcosmic reflection of the Macrocosm, these qualities are expressed by the words: Illumination or Wisdom, Intelligent Activity, and Attractiveness or Love. It is well to ponder on this attempt to simplify the divine potencies into words, and thus to indicate how they may express themselves in and through a human vehicle. |
Trong phần phác thảo nhập đề ở trên, chúng ta đã xem xét rất vắn tắt những quy luật có thể tạo ra trên địa cầu sự kiểm soát của linh hồn, vốn là mục tiêu trước mắt của tiến trình tiến hoá. Chúng ta đã thấy rằng mình không xét đến những bài tập đơn giản hay kỷ luật, cũng không đề cập đến sự phát triển [226] của những đặc tính cần thiết vốn đi trước giai đoạn Điểm đạo kỹ thuật. Thực ra, chúng ta đang quan tâm đến những khuynh hướng căn bản và những xu hướng bẩm sinh trong biểu hiện thiêng liêng mà cuối cùng sẽ mang lại sự biểu hiện của đại hồn trên hành tinh chúng ta. Chúng ta cũng đã thấy rằng những xu hướng chi phối này đã bắt đầu được biểu lộ và được chứng nghiệm, và rằng giới thứ tư trong thiên nhiên, tức giới nhân loại, chiếm một vị trí độc đáo trong sự phát triển này. Trong dòng chảy đi xuống và đi lên của sự sống thiêng liêng, khi nó biểu hiện qua những thôi thúc giáng hạ tiến hoá và thăng thượng tiến hoá, nhân loại cấu thành một trong những “trung tâm mãnh lực nguyên thủy” căn bản có thể và sẽ hình thành một tiền đồn của Tâm thức thiêng liêng, một biểu hiện của Tâm Hồn thiêng liêng, cuối cùng biểu lộ ba đặc tính tâm lý nổi bật ấy của thiên tính: Ánh sáng, Năng lượng, và Từ điện. Trong con người, sự phản chiếu vi mô của Đại thiên địa, những phẩm tính này được diễn đạt bằng các từ: Soi sáng hay Minh triết, Hoạt động Thông minh, và Tính Hấp dẫn hay Bác ái. Nên suy ngẫm về nỗ lực đơn giản hóa các tiềm năng thiêng liêng này thành lời, và nhờ đó chỉ ra cách chúng có thể biểu lộ trong và qua một vận cụ con người. |
|
We can now enlarge somewhat upon the previous statements, so as to give a clearer idea upon two matters:— |
Giờ đây chúng ta có thể khai triển thêm đôi chút những phát biểu trước đó, để đưa ra một ý niệm rõ ràng hơn về hai vấn đề:— |
|
1. The relationship of these divine qualities as they can be apprehended and developed in man. |
1. Mối liên hệ của những phẩm tính thiêng liêng này như chúng có thể được con người lĩnh hội và phát triển. |
|
2. The future responsibility of an enlightened humanity, as it passes on into the New Age. We shall thus lay the foundation for the teaching to be given later in this treatise. |
2. Trách nhiệm tương lai của một nhân loại được soi sáng, khi nhân loại bước vào Kỷ Nguyên Mới. Như vậy chúng ta sẽ đặt nền tảng cho giáo huấn sẽ được trình bày sau này trong bộ luận này. |
|
One of the points which I have sought to bring out in all the previous writings already published, is that the Laws of the Universe, the Laws of Nature and those basic controlling [227] factors which determine all life and circumstance, remaining for us fixed and unalterable, are the expression—as far as man can understand them—of the Will of God. The rules or living factors which we are now considering and which (when understood and obeyed) will induce soul control in the individual and in the universe, are the expression of the Quality or Nature of God. They will ultimately lead to the full expression of the divine Psyche. They will bring into evidence the instinctual, emotional nature of Deity, if such human words can in any way express the divine qualitative potencies. |
Một trong những điểm mà tôi đã tìm cách làm nổi bật trong tất cả các trước tác đã được xuất bản trước đây là: các Định luật của Vũ trụ, các Định luật của Thiên nhiên và những yếu tố kiểm soát căn bản [227] quy định mọi sự sống và hoàn cảnh, đối với chúng ta vẫn cố định và bất biến, là biểu hiện—trong chừng mực con người có thể hiểu được—của Ý Chí của Thượng đế. Những quy luật hay yếu tố sống động mà hiện nay chúng ta đang xem xét và những yếu tố này (khi được hiểu và tuân theo) sẽ tạo ra sự kiểm soát của linh hồn nơi cá nhân và trong vũ trụ, là biểu hiện của Phẩm tính hay Bản chất của Thượng đế. Cuối cùng chúng sẽ dẫn đến sự biểu lộ trọn vẹn của Tâm Hồn thiêng liêng. Chúng sẽ làm hiển lộ bản chất bản năng, cảm xúc của Thượng đế, nếu những từ ngữ nhân loại như thế có thể phần nào diễn đạt được các tiềm năng phẩm tính thiêng liêng. |
|
The Laws of the Universe express the divine Will, and lead to the manifestation of divine Purpose. This is wisdom. They ordain and nurture the Plan. |
Các Định luật của Vũ trụ biểu lộ Ý Chí thiêng liêng, và dẫn đến sự biểu hiện của Thiên Ý. Đây là minh triết. Chúng truyền lệnh và nuôi dưỡng Thiên Cơ. |
|
The Rules for Inducing Soul Control express the divine quality and lead to the revelation of God’s Nature, which is love. |
Những Quy Luật để Tạo Ra Sự Kiểm Soát của Linh Hồn biểu lộ phẩm tính thiêng liêng và dẫn đến sự mặc khải Bản chất của Thượng đế, vốn là bác ái. |
|
The Laws of Nature, or the so-called physical laws, express the stage of manifestation or the point reached in the divine expression. They concern multiplicity, or the quality aspect. They govern or express that which the divine Spirit (which is will, functioning in love) has been able to effect in conjunction with matter for the production of form. This emerging revelation will produce the recognition of beauty. |
Các Định luật của Thiên nhiên, hay những cái gọi là định luật hồng trần, biểu lộ giai đoạn biểu hiện hay điểm đã đạt được trong biểu hiện thiêng liêng. Chúng liên quan đến tính đa tạp, hay phương diện phẩm tính. Chúng chi phối hay biểu lộ điều mà Tinh thần thiêng liêng (vốn là ý chí, vận hành trong bác ái) đã có thể thực hiện khi kết hợp với vật chất để tạo ra hình tướng. Sự mặc khải đang xuất hiện này sẽ đưa đến sự nhận biết vẻ đẹp. |
|
The first category, the Laws of the Universe, are touched upon in A Treatise on Cosmic Fire and occasionally mentioned in the other writings. Modern science has done much to bring about an understanding of the Laws of Nature, and can be trusted to do so, for the soul drives all things on to knowledge. In what is here presented I seek to lay the basis for the new science of psychology which must be founded upon a broad and general understanding of the divine Psyche as it seeks expression through the manifested Whole, the [228] solar system, and, for our purposes, the planet and all that is upon it. |
Loại thứ nhất, các Định luật của Vũ trụ, được đề cập trong Luận về Lửa Vũ Trụ và đôi khi được nhắc đến trong các trước tác khác. Khoa học hiện đại đã làm nhiều để mang lại sự thấu hiểu về các Định luật của Thiên nhiên, và có thể tin cậy rằng khoa học sẽ tiếp tục làm như vậy, vì linh hồn thúc đẩy mọi sự tiến đến tri thức. Trong những gì được trình bày ở đây, tôi tìm cách đặt nền móng cho khoa học mới về tâm lý học, khoa học này phải được xây dựng trên một sự thấu hiểu rộng lớn và tổng quát về Tâm Hồn thiêng liêng khi nó tìm cách biểu hiện qua Toàn Thể biểu hiện, tức [228] hệ mặt trời, và đối với mục đích của chúng ta, là hành tinh cùng mọi sự trên đó. |
|
When the potency of the divine psychology and its major trends and characteristics are recognised, and when modern psychology shifts its attention away from the minute study of the psyche of the individual man (and usually an abnormal individual) to a concentrated consideration of the psychological attributes of the greater Whole of which we are but a part, we shall arrive at a new comprehension of Deity and of the relation of the microcosm to the Macrocosm. This has been left too much to the department of philosophy in the past, but must now engross the attention of the psychologist. This desirable event will be brought about when the true meaning of history is grasped, when the wide sweep of human unfoldment down the ages is understood, and when the soul is seen to be functioning through all parts of all forms. At present, man alone is really credited with a soul, and the soul of all things is overlooked. Yet man is but the macrocosm of the other kingdoms in nature. |
Khi quyền năng của tâm lý học thiêng liêng cùng những khuynh hướng và đặc tính chủ yếu của nó được nhận biết, và khi tâm lý học hiện đại chuyển sự chú ý của mình ra khỏi việc nghiên cứu tỉ mỉ tâm hồn của cá nhân con người (và thường là một cá nhân bất thường) để tập trung xem xét những thuộc tính tâm lý của Toàn Thể lớn hơn mà chúng ta chỉ là một phần, chúng ta sẽ đạt đến một sự lĩnh hội mới về Thượng đế và về mối liên hệ của tiểu thiên địa với Đại thiên địa. Trong quá khứ, điều này đã bị để mặc quá nhiều cho lĩnh vực triết học, nhưng giờ đây phải thu hút sự chú ý của nhà tâm lý học. Biến cố đáng mong muốn này sẽ được mang lại khi ý nghĩa đích thực của lịch sử được nắm bắt, khi tầm bao quát rộng lớn của sự khai mở nhân loại qua các thời đại được thấu hiểu, và khi linh hồn được thấy là đang vận hành qua mọi phần của mọi hình tướng. Hiện nay, chỉ riêng con người mới thực sự được thừa nhận là có linh hồn, còn linh hồn của mọi sự vật thì bị bỏ qua. Tuy nhiên, con người chỉ là đại thiên địa của các giới khác trong thiên nhiên. |
|
The seven rules which we are now studying are, therefore, of supreme importance, for they embody the key ideas which will reveal Deity in operation as the Soul of all things; They will reveal the nature and method of activity of the Cosmic Christ, and will indicate the governing qualitative tendencies which determine the psychical life of all forms—from a universe to an atom—in the body of any so-called material revelation of life. Let us bear these thoughts in mind as we read and study. |
Vì vậy, bảy quy luật mà hiện nay chúng ta đang nghiên cứu có tầm quan trọng tối thượng, vì chúng hàm chứa những ý tưởng chủ chốt sẽ mặc khải Thượng đế đang hoạt động như Linh Hồn của muôn vật; chúng sẽ mặc khải bản chất và phương pháp hoạt động của Đức Christ Vũ Trụ, và sẽ chỉ ra những khuynh hướng phẩm tính chi phối quyết định đời sống tâm linh của mọi hình tướng—từ một vũ trụ đến một nguyên tử—trong thể của bất kỳ sự mặc khải sự sống nào được gọi là vật chất. Chúng ta hãy ghi nhớ những tư tưởng này khi đọc và nghiên cứu. |
|
These rules express themselves with equal potency on all the seven rays, and they produce the manifestation of consciousness on earth in any and every form. We shall first deal mainly with the greater Whole, without emphasising the differentiation into rays. The seven rays, as has often been stated, [229] colour or qualify the divine instincts and potencies, but that is not all. They are themselves determined and controlled by these potencies. It must never be forgotten that the rays are the seven major expressions of the divine quality as it limits (and it does so limit) the purposes of Deity. God Himself hews to a pattern, set for Him in a still more distant vision. This purpose or defined will is conditioned by His instinctual quality or psyche, in just the same way as the life purpose of a human being is both limited and conditioned by the psychological equipment with which he enters into manifestation. I have earlier stated that we were dealing with abstruse and difficult matters, and that much presented might lie beyond our immediate concrete understanding. The above statement is, however, relatively simple, if interpreted in terms of one’s own life purpose, and quality. |
Những quy luật này biểu lộ với quyền năng ngang nhau trên cả bảy cung, và chúng tạo ra sự biểu hiện của tâm thức trên địa cầu trong bất kỳ và mọi hình tướng nào. Trước hết, chúng ta sẽ chủ yếu bàn đến Toàn Thể lớn hơn, mà không nhấn mạnh sự biến phân thành các cung. Bảy cung, như thường được nói, [229] tô màu hay định tính các bản năng và tiềm năng thiêng liêng, nhưng không chỉ có thế. Chính chúng cũng được quy định và kiểm soát bởi những tiềm năng này. Không bao giờ được quên rằng các cung là bảy biểu hiện chủ yếu của phẩm tính thiêng liêng khi nó giới hạn (và quả thực nó có giới hạn như vậy) các mục đích của Thượng đế. Chính Thượng đế cũng theo một mô hình, được đặt ra cho Ngài trong một linh ảnh còn xa xôi hơn nữa. Mục đích hay ý chí được xác định này bị tác động bởi phẩm tính bản năng hay tâm hồn của Ngài, cũng giống như mục đích sống của một con người vừa bị giới hạn vừa bị tác động bởi bộ máy tâm lý mà y mang theo khi bước vào biểu hiện. Trước đây tôi đã nói rằng chúng ta đang xử lý những vấn đề sâu kín và khó khăn, và rằng nhiều điều được trình bày có thể vượt quá sự thấu hiểu cụ thể trực tiếp của chúng ta. Tuy nhiên, phát biểu trên tương đối đơn giản nếu được diễn giải theo mục đích sống và phẩm tính của chính mỗi người. |
|
One point might here be touched upon before we proceed with our study of the seven psychological tendencies of Deity. |
Có một điểm có thể được chạm đến ở đây trước khi chúng ta tiếp tục nghiên cứu bảy khuynh hướng tâm lý của Thượng đế. |
|
We have spoken here of God in terms of Person, and we have used therefore the pronouns, He and His. Must it therefore be inferred that we are dealing with a stupendous Personality which we call God, and do we therefore belong to that school of thought which we call the anthropomorphic? The Buddhist teaching recognises no God or Person. Is it, therefore, wrong from our point of view and approach, or is it right? Only an understanding of man as a divine expression in time and space can reveal this mystery. |
Ở đây chúng ta đã nói về Thượng đế theo nghĩa Ngôi Vị, và vì vậy đã dùng các đại từ Ngài và của Ngài. Vậy có phải suy ra rằng chúng ta đang bàn đến một Phàm ngã vĩ đại mà chúng ta gọi là Thượng đế, và do đó chúng ta thuộc về trường phái tư tưởng mà ta gọi là nhân hình luận chăng? Giáo huấn Phật giáo không thừa nhận một Thượng đế hay một Ngôi Vị nào. Vậy, theo quan điểm và cách tiếp cận của chúng ta, điều đó là sai hay là đúng? Chỉ có sự thấu hiểu về con người như một biểu hiện thiêng liêng trong thời gian và không gian mới có thể mặc khải huyền nhiệm này. |
|
Both schools of thought are right and in no way contradict each other. In their synthesis and in their blending the truth as it really is can begin—aye, dimly—to appear. There is a God Transcendent Who “having pervaded the whole universe with a fragment of Himself” can still say: “I remain.” There is a God Immanent Whose life is the source of the [230] activity, intelligence, growth and attractiveness of every form in all the kingdoms in nature. There is likewise in every human being a transcendent soul which, when the life cycle on earth has come and gone and when the period of manifestation is over, becomes again the unmanifest and the formless, and which can also say: “I remain.” In form and when in manifestation, the only way in which the human mind and brain can express its recognition of the conditioning divine life is to speak in terms of Person, of Individuality. Hence we speak of God as a Person, of His will, His nature and His form. |
Cả hai trường phái tư tưởng đều đúng và không hề mâu thuẫn nhau. Trong sự tổng hợp và dung hợp của chúng, chân lý như nó thực sự là có thể bắt đầu—vâng, một cách mờ nhạt—xuất hiện. Có một Thượng đế Siêu Việt, Đấng “sau khi đã thấm nhuần toàn thể vũ trụ bằng một mảnh của Chính Mình” vẫn có thể nói: “Ta vẫn còn.” Có một Thượng đế Nội Tại mà sự sống của Ngài là nguồn gốc của [230] hoạt động, thông minh, tăng trưởng và tính hấp dẫn của mọi hình tướng trong mọi giới của thiên nhiên. Cũng vậy, trong mỗi con người có một linh hồn siêu việt, linh hồn ấy, khi chu kỳ sống trên địa cầu đã đến rồi qua đi và khi thời kỳ biểu hiện chấm dứt, lại trở thành cái không biểu hiện và vô tướng, và cũng có thể nói: “Ta vẫn còn.” Trong hình tướng và khi đang biểu hiện, cách duy nhất mà trí tuệ và bộ não con người có thể diễn đạt sự nhận biết của mình về sự sống thiêng liêng đang tác động là nói theo nghĩa Ngôi Vị, theo nghĩa Cá thể tính. Vì thế chúng ta nói về Thượng đế như một Ngôi Vị, về ý chí của Ngài, bản chất của Ngài và hình tướng của Ngài. |
|
Behind the manifested universe, however, stands the formless One, That which is not an individual, being free from the limitations of individualised existence. Therefore the Buddhist is right when he emphasises the non-individualised nature of Deity and refuses to personalise Divinity. The Father, Son and Holy Spirit of the Christian theology, embodying as they do the triplicities of all theologies, disappear also into the One when the period of manifestation is over. They remain as One, with quality and life untouched and undifferentiated, as they are when in manifestation. |
Tuy nhiên, đằng sau vũ trụ biểu hiện là Đấng Duy Nhất vô tướng, Cái Đó không phải là một cá thể, vì tự do khỏi những giới hạn của sự tồn tại đã được biệt ngã hóa. Vì vậy, Phật tử đúng khi nhấn mạnh bản chất phi cá thể của Thượng đế và từ chối nhân cách hóa thiên tính. Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Chúa Thánh Thần của thần học Cơ Đốc, vì chúng hiện thân cho các bộ ba của mọi thần học, cũng tan biến vào Đấng Duy Nhất khi thời kỳ biểu hiện chấm dứt. Các Ngài vẫn là Một, với phẩm tính và sự sống không bị đụng chạm và không phân biệt, cũng như khi đang biểu hiện. |
|
An analogy to this appears when a man dies. Then his three aspects—mind or will, emotion or love, and physical appearance—vanish. There is then no person. Yet, if one accepts the fact of immortality, the conscious being remains; his quality and purpose and life are united with his undying soul. The outer form with its differentiations into a manifested trinity, has gone—never again to return in exactly the same form or expression in time and space. |
Một sự tương đồng với điều này xuất hiện khi một người chết. Khi ấy ba phương diện của y—trí tuệ hay ý chí, cảm xúc hay bác ái, và sắc tướng hồng trần—biến mất. Khi đó không còn ngôi vị nữa. Tuy nhiên, nếu người ta chấp nhận sự kiện bất tử, hữu thể có tâm thức vẫn còn; phẩm tính, mục đích và sự sống của y được hợp nhất với linh hồn bất diệt của y. Hình tướng bên ngoài với những biến phân của nó thành một tam vị biểu hiện đã ra đi—không bao giờ trở lại nữa trong đúng cùng một hình thức hay biểu hiện trong thời gian và không gian. |
|
The interplay of soul and mind produces the manifested universe, with all that is therein. When that interplay is persisting, either in God or in man, we use (for how else can we speak with clarity?) terms of human origin and therefore [231] limiting, such is our present stage of enlightenment—or should we say, unenlightenment? Thus the idea of individuality, of personality, and of form is built up. When the interplay ceases and manifestation ends, such terms are no longer suitable; they have no meaning. Yet the undying one, whether God or man, persists. |
Sự tương tác của linh hồn và trí tuệ tạo ra vũ trụ biểu hiện, cùng với mọi sự trong đó. Khi sự tương tác ấy còn tiếp diễn, dù trong Thượng đế hay trong con người, chúng ta dùng (vì còn có thể nói cách nào khác cho rõ ràng?) những thuật ngữ có nguồn gốc nhân loại và do đó [231] mang tính giới hạn; đó là giai đoạn giác ngộ hiện nay của chúng ta—hay nên nói là chưa giác ngộ? Vì thế ý niệm về cá thể tính, về phàm ngã, và về hình tướng được xây dựng nên. Khi sự tương tác chấm dứt và biểu hiện kết thúc, những thuật ngữ như vậy không còn thích hợp nữa; chúng không còn ý nghĩa. Tuy nhiên, đấng bất diệt, dù là Thượng đế hay con người, vẫn tồn tại. |
|
Thus in human thought, preserved for us by the great Teacher of the East, the Buddha, we have the concept of the transcendent Deity, divorced from the triplicities, the dualities and the multiplicity of manifestation. There is but life, formless, freed from the individuality, unknown. In the teaching of the West, preserved for us and formulated for us by the Christ, the concept of God immanent is preserved,—God in us and in all forms. In the synthesis of the Eastern and the Western teachings, and in the merging of these two great schools of thought, something of the superlative Whole can be sensed—sensed merely—not known. |
Như vậy, trong tư tưởng nhân loại được vị Huấn sư vĩ đại của phương Đông, Đức Phật, gìn giữ cho chúng ta, chúng ta có khái niệm về Thượng đế siêu việt, tách khỏi các bộ ba, các nhị nguyên tính và tính đa tạp của biểu hiện. Chỉ có sự sống, vô tướng, được giải thoát khỏi cá thể tính, không thể biết. Trong giáo huấn phương Tây, được gìn giữ cho chúng ta và được định thức cho chúng ta bởi Đức Christ, khái niệm về Thượng đế nội tại được bảo tồn,—Thượng đế trong chúng ta và trong mọi hình tướng. Trong sự tổng hợp của giáo huấn Đông phương và Tây phương, và trong sự hòa nhập của hai trường phái tư tưởng lớn này, một điều gì đó của Toàn Thể siêu tuyệt có thể được cảm nhận—chỉ được cảm nhận thôi—chứ không thể biết. |
a. THE TENDENCY TO SYNTHESIS—KHUYNH HƯỚNG HƯỚNG ĐẾN TỔNG HỢP
|
The first of the factors revealing the divine nature and the |
Yếu tố đầu tiên trong các yếu tố mặc khải bản chất thiêng liêng và là |
|
first of the great psychological aspects of God is the tendency to synthesis. This tendency runs through all nature, all consciousness, and is life itself. The motivating urge of God, His outstanding desire, is towards union and at-one-ment. It was this tendency or quality which Christ sought both to reveal and to dramatise for humanity. As far as the fourth kingdom in nature is concerned, His tremendous utterances, expressed for us in St. John XVII, are the call to synthesis, and urge us towards our goal. |
phương diện tâm lý lớn đầu tiên của Thượng đế là khuynh hướng hướng đến tổng hợp. Khuynh hướng này xuyên suốt toàn thể thiên nhiên, toàn thể tâm thức, và chính là sự sống. Sự thôi thúc thúc đẩy của Thượng đế, dục vọng nổi bật của Ngài, là hướng đến sự hợp nhất và nhất thể hóa. Chính khuynh hướng hay phẩm tính này mà Đức Christ đã tìm cách vừa mặc khải vừa kịch hóa cho nhân loại. Xét về giới thứ tư trong thiên nhiên, những lời tuyên bố hùng mạnh của Ngài, được diễn đạt cho chúng ta trong Thánh John XVII, là lời kêu gọi hướng đến tổng hợp, và thúc đẩy chúng ta tiến về mục tiêu của mình. |
|
“And now I am no more in the world, but these are in the world, and I come to thee. Holy Father, keep through thine own name those whom thou has given me, that they may be one, as we are…. |
“Và giờ đây Ta không còn ở trong thế gian nữa, nhưng họ vẫn ở trong thế gian, và Ta đến cùng Cha. Lạy Cha Thánh, xin gìn giữ họ qua danh Cha, những kẻ Cha đã ban cho Ta, để họ được nên một, như chúng ta là một…. |
|
I have given them thy word; and the world hath hated [232] them because they are not of the world, even as I am not of the world. |
Con đã ban cho họ linh từ của Cha; và thế gian đã ghét [232] họ vì họ không thuộc về thế gian, cũng như Ta không thuộc về thế gian. |
|
I pray not that thou shouldest take them out of the world, but that thou shouldest keep them from the evil. |
Con không cầu xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi điều ác. |
|
They are not of the world, even as I am not of the world. |
Họ không thuộc về thế gian, cũng như Ta không thuộc về thế gian. |
|
Neither pray I for these alone, but for them also which shall believe on me through their word; |
Con không chỉ cầu xin cho những người này thôi, mà còn cho cả những ai sẽ tin nơi Con qua lời của họ; |
|
That they all may be one; as thou, Father, art in me, and I in thee, that they also may be one in us; that the world may believe that thou hast sent me. |
Để tất cả họ được nên một; như Cha ở trong Con, và Con ở trong Cha, để họ cũng được nên một trong chúng ta; hầu cho thế gian tin rằng Cha đã sai Con. |
|
And the glory which thou gavest me I have given them; that they may be one, even as we are one; |
Và vinh quang mà Cha đã ban cho Con, Con đã ban cho họ; để họ được nên một, cũng như chúng ta là một; |
|
Father, I will that they also, whom thou has given me, be with me where I am; that they may behold my glory, which thou hast given me; for thou lovedst me before the foundation of the world.” |
Lạy Cha, Con muốn rằng những kẻ Cha đã ban cho Con cũng ở với Con nơi Con ở; để họ được chiêm ngưỡng vinh quang của Con, là vinh quang Cha đã ban cho Con; vì Cha đã yêu Con từ trước khi sáng lập thế gian.” |
|
Here we have the synthesis of soul with spirit pointed out to us, and the synthesis of soul with matter also emphasised, thus completing the unification and the desired at-one-ment. |
Ở đây chúng ta được chỉ ra sự tổng hợp của linh hồn với tinh thần, và sự tổng hợp của linh hồn với vật chất cũng được nhấn mạnh, nhờ đó hoàn tất sự hợp nhất và sự nhất thể hóa mong muốn. |
|
But the synthesis of Deity, His tendency to blend and fuse, is far more inclusive and universal than any possible expression in the human kingdom, which is, after all, but a small part of the greater whole. Man is not all that is possible, nor the consummation of God’s thought. The sweep of this instinct to synthesis underlies all universes, constellations, solar systems, planets, and kingdoms in nature, as well as the activity aspect and achievement of man, the individual. This instinct is the governing principle of consciousness itself, and consciousness is the psyche or soul, producing psychical life; it is awareness—sub-human, human and divine. |
Nhưng sự tổng hợp của Thượng đế, khuynh hướng hòa trộn và dung hợp của Ngài, bao gồm rộng lớn và phổ quát hơn nhiều so với bất kỳ biểu hiện khả hữu nào trong giới nhân loại, vốn rốt cuộc chỉ là một phần nhỏ của toàn thể lớn hơn. Con người không phải là tất cả những gì có thể có, cũng không phải là sự hoàn tất của tư tưởng Thượng đế. Tầm bao quát của bản năng hướng đến tổng hợp này nằm dưới mọi vũ trụ, chòm sao, hệ mặt trời, hành tinh và các giới trong thiên nhiên, cũng như dưới phương diện hoạt động và thành tựu của con người, cá nhân. Bản năng này là nguyên lý chi phối của chính tâm thức, và tâm thức là tâm hồn hay linh hồn, tạo ra đời sống tâm linh; nó là sự nhận biết—dưới nhân loại, nhân loại và thiêng liêng. |
|
In connection with man, we have the following psychological expressions postulated: |
Liên quan đến con người, chúng ta có những biểu hiện tâm lý sau đây được nêu ra: |
|
1. Instinct, lying below the level of consciousness, but protecting and governing most of the habits and life of the organism. Much of the emotional life is thus governed. [233] Instinct controls, via the solar plexus and the lower centres. |
1. Bản năng, nằm dưới mức tâm thức, nhưng bảo vệ và chi phối phần lớn các thói quen và đời sống của cơ thể. Phần lớn đời sống cảm xúc được chi phối như vậy. [233] Bản năng kiểm soát, qua tùng thái dương và các trung tâm thấp. |
|
2. Intellect, which is intelligent self-consciousness, guiding and directing the activity of the integrated personality, via the mind and brain, and working through the throat and ajna centres. |
2. Trí năng, tức ngã thức thông minh, hướng dẫn và điều khiển hoạt động của phàm ngã tích hợp, qua trí tuệ và bộ não, và hoạt động qua trung tâm cổ họng và ajna. |
|
3. Intuition. This is predominantly concerned with group consciousness and will eventually control all our relations with each other, as we function in group units. It works through the heart and the heart centre, and is that higher instinct which enables a man to recognise and submit to his soul and to its control and life impression. |
3. Trực giác. Điều này chủ yếu liên quan đến tâm thức nhóm và cuối cùng sẽ kiểm soát mọi mối liên hệ của chúng ta với nhau, khi chúng ta hoạt động trong các đơn vị nhóm. Nó hoạt động qua tim và trung tâm tim, và là bản năng cao hơn giúp con người nhận ra và quy phục linh hồn của mình cùng sự kiểm soát và ấn tượng sự sống của linh hồn. |
|
4. Illumination. This is a word which should really be applied to the designation of the super-human consciousness. This divine instinct enables a man to recognize the whole of which he is a part. It functions via a man’s soul, utilising the head centre, and eventually flooding with light or energy all the centres, thus linking a man in consciousness with all the corresponding parts of the divine Whole. |
4. Sự soi sáng. Đây là một từ thực ra nên được dùng để chỉ định tâm thức siêu nhân. Bản năng thiêng liêng này giúp con người nhận ra toàn thể mà y là một phần trong đó. Nó hoạt động qua linh hồn của con người, sử dụng trung tâm đầu, và cuối cùng tràn ngập mọi trung tâm bằng ánh sáng hay năng lượng, nhờ đó nối kết con người trong tâm thức với mọi phần tương ứng của Toàn Thể thiêng liêng. |
|
Thus the trend to synthesis is an instinct inherent in the entire universe, and man is today only awakening to its immediacy and potency. |
Như vậy, khuynh hướng hướng đến tổng hợp là một bản năng vốn có trong toàn thể vũ trụ, và ngày nay con người mới chỉ bắt đầu thức tỉnh trước tính trực tiếp và quyền năng của nó. |
|
It is this divine attribute in man which makes his physical body an integral part of the physical world; which makes him psychically gregarious and willing to herd (of choice or perforce) with his fellow man. It is this principle, working or functioning through the human consciousness, which has led to the formation of our huge modern cities—symbols of a coming higher civilisation which we call the kingdom of God, wherein the relationship between men will be exceedingly [234] close psychically. It is this instinct to unify which underlies all mysticism and all religions, for man seeks ever a closer union with God and naught can arrest his at-onement (in consciousness) with Deity. It is this instinct which is the basis of his sense of immortality, and which is his guarantee of union with the opposite pole to the personality—the Soul. |
Chính thuộc tính thiêng liêng này trong con người khiến thể xác của y là một phần toàn vẹn của thế giới hồng trần; khiến y có tính bầy đàn về mặt thông linh và sẵn lòng tụ họp thành đàn (do lựa chọn hay do bắt buộc) với đồng loại của mình. Chính nguyên khí này, khi hoạt động hay vận hành qua tâm thức con người, đã dẫn đến sự hình thành các đô thị hiện đại khổng lồ của chúng ta—những biểu tượng của một nền văn minh cao hơn đang đến mà chúng ta gọi là Thiên Giới, trong đó mối liên hệ giữa con người sẽ [234] gần gũi một cách thông linh đến mức phi thường. Chính bản năng hợp nhất này là nền tảng của mọi thần bí học và mọi tôn giáo, vì con người luôn tìm kiếm một sự hợp nhất ngày càng mật thiết hơn với Thượng đế và không gì có thể ngăn cản sự hợp nhất của y (trong tâm thức) với Thượng đế. Chính bản năng này là nền tảng cho cảm nhận bất tử của y, và là sự bảo đảm cho sự hợp nhất của y với cực đối nghịch với phàm ngã—linh hồn. |
|
Being an attribute of Deity, and being a divine instinct and, therefore, part of the subconscious life of God Himself, it will be obvious that, given the original premise that there is a God, transcendent and immanent, we have, therefore, no cause for real fear or foreboding. God’s instincts are stronger and more vital and pure than are those of humanity, and must eventually triumph, coming forth into full flower and expression. All the lower instincts with which man battles are but the distortions (in time and space) of reality, and hence the value of the occult teaching that by pondering upon the good, the beautiful and the true, we transmute our lower instincts into higher divine qualities. The attractive power of God’s instinctual nature, with its capacity to synthesise, to attract and to blend, cooperates with the unrealised potencies of man’s own nature, and makes his eventual at-one-ment with God, in life and purpose, an inevitable, irresistible occurrence. |
Vì là một thuộc tính của Thượng đế, và là một bản năng thiêng liêng, do đó là một phần của đời sống tiềm thức của chính Thượng đế, nên hiển nhiên là, nếu chấp nhận tiền đề ban đầu rằng có một Thượng đế, siêu việt mà cũng nội tại, thì vì vậy chúng ta không có lý do gì để thực sự sợ hãi hay lo âu. Các bản năng của Thượng đế mạnh mẽ hơn, thiết yếu hơn và thanh khiết hơn những bản năng của nhân loại, và rốt cuộc nhất định sẽ chiến thắng, nở rộ và biểu lộ trọn vẹn. Tất cả những bản năng thấp mà con người phải chiến đấu chỉ là những sự bóp méo (trong thời gian và không gian) của thực tại, và do đó đây là giá trị của giáo huấn huyền bí học rằng bằng cách suy tư về điều thiện, điều đẹp và điều chân thật, chúng ta chuyển hoá các bản năng thấp của mình thành những phẩm tính thiêng liêng cao hơn. Quyền năng hấp dẫn của bản chất bản năng nơi Thượng đế, với năng lực tổng hợp, thu hút và hòa trộn, hợp tác với những tiềm năng chưa được chứng nghiệm của chính bản chất con người, và khiến sự hợp nhất cuối cùng của y với Thượng đế, trong sự sống và mục đích, trở thành một biến cố tất yếu, không thể cưỡng lại. |
|
This instinct or trend towards synthesis and unification can be linked up by students with the laws of the universe and of nature. It is closely related to the Law of Attraction and to the Principle of Coherence. Later, we shall see much study done along these relations. This series of text books of occultism and of the occult forces which I have written are intended to act as sign posts, and as beacon lights upon the way to knowledge. They contain hints and suggestions, but must be interpreted by each student according to the measure [235] of light which is in him. Let him study what is going on around him in the light of the Plan and of the knowledge here imparted, and let him seek to trace for himself the emergence of the instinctual psychical nature of Deity in world affairs and in his own life, for it is happening all the time. He must ever remember that he himself possesses a psychical nature which is a part of a greater whole, and, therefore, subject to impression from divine sources. Let him cultivate in himself the trend to synthesis; let him make the words, “I will not be separative in my consciousness,” one of the key thoughts of his daily life. |
Bản năng hay khuynh hướng hướng tới tổng hợp và hợp nhất này có thể được các đạo sinh liên kết với các định luật của vũ trụ và của bản chất. Nó liên hệ mật thiết với Định luật Hấp Dẫn và với Nguyên khí Cố Kết. Về sau, chúng ta sẽ thấy có nhiều nghiên cứu được thực hiện theo các mối liên hệ này. Loạt giáo trình về huyền bí học và về các mãnh lực huyền bí mà tôi đã viết này nhằm đóng vai trò như những cột chỉ đường và những ngọn đèn hiệu trên con đường đi đến tri thức. Chúng chứa đựng những gợi ý và đề nghị, nhưng mỗi đạo sinh phải tự diễn giải chúng tùy theo mức độ [235] ánh sáng ở trong y. Hãy để y nghiên cứu những gì đang diễn ra quanh mình dưới ánh sáng của Thiên Cơ và của tri thức được truyền đạt ở đây, và hãy để y tự mình tìm cách lần theo sự xuất hiện của bản chất thông linh bản năng của Thượng đế trong các biến cố thế giới và trong chính đời sống của mình, vì điều đó đang diễn ra không ngừng. Y phải luôn nhớ rằng chính y cũng sở hữu một bản chất thông linh là một phần của một toàn thể lớn hơn, và do đó chịu sự cảm ứng từ các nguồn thiêng liêng. Hãy để y vun bồi trong chính mình khuynh hướng hướng tới tổng hợp; hãy để y biến những lời này, “Tôi sẽ không phân ly trong tâm thức của mình,” thành một trong những tư tưởng chủ đạo của đời sống hằng ngày của y. |
|
One point here should be noted. This instinct to synthesis (concerning as it does the psychical nature of Deity) has nothing to do with the physical expression of sex. This is governed by other laws and is under the control of the physical nature. Let us not forget that H.P.B. has said (and truly) that the physical body is not a principle. These seven basic trends which we are considering are purely psychical or psychological in nature. |
Có một điểm ở đây cần được lưu ý. Bản năng hướng tới tổng hợp này (vì liên quan đến bản chất thông linh của Thượng đế) không liên quan gì đến sự biểu lộ hồng trần của tính dục. Điều này được chi phối bởi những định luật khác và nằm dưới sự kiểm soát của bản chất hồng trần. Chúng ta đừng quên rằng H.P.B. đã nói (và nói đúng) rằng thể xác không phải là một nguyên khí. Bảy khuynh hướng căn bản mà chúng ta đang xét đến này thuần túy có bản chất thông linh hay tâm lý học. |
|
The comprehension of the nature of these compelling psychical attributes of God should enable a man to throw the weight of his psychical aspiration on the side of these emerging qualities. He will, for instance, in his daily life, work toward at-one-ment with all beings, seeking to penetrate to the heart of his brother; endeavoring to be at one with the life in all forms; rejecting every tendency to separative reactions, because he knows that they concern the innate, inherited psyche of the atoms of matter and substance which constitute his form nature. These have been brought over and reassembled and rebuilt into the forms found in the present manifestation of God. They carry with them the seeds of psychical material life from an earlier universe. There is no other evil. |
Sự thấu hiểu bản chất của những thuộc tính thông linh đầy sức thúc đẩy này của Thượng đế phải giúp con người đặt trọng lượng của khát vọng thông linh của mình về phía những phẩm tính đang xuất hiện này. Chẳng hạn, trong đời sống hằng ngày, y sẽ làm việc hướng tới sự hợp nhất với mọi chúng sinh, tìm cách thâm nhập vào trái tim của huynh đệ mình; cố gắng nên một với sự sống trong mọi hình tướng; khước từ mọi khuynh hướng phản ứng phân ly, vì y biết rằng chúng liên quan đến psyche bẩm sinh, di truyền của các nguyên tử vật chất và chất liệu cấu thành bản chất hình tướng của y. Những điều này đã được mang qua, tái tập hợp và tái kiến tạo thành những hình tướng được tìm thấy trong sự biểu hiện hiện tại của Thượng đế. Chúng mang theo các hạt giống của đời sống vật chất thông linh từ một vũ trụ trước kia. Không có điều ác nào khác. |
|
[236] |
[236] |
|
We have been taught much anent the great heresy of separativeness; it is this that is offset when a man permits the “trend towards synthesis” to pour through him as a divine potency, and thus to condition his conduct. These divine trends have constituted the basic, subconscious urges since the dawn of evolution. Today humanity can consciously adjust itself to them, and thus hasten the time wherein truth, beauty and goodness will reign. |
Chúng ta đã được dạy nhiều về Đại Tà thuyết của tính phân ly; chính điều này được hóa giải khi con người cho phép “khuynh hướng hướng tới tổng hợp” tuôn chảy qua mình như một tiềm lực thiêng liêng, và nhờ đó tác động lên hạnh kiểm của mình. Những khuynh hướng thiêng liêng này đã cấu thành các thôi thúc tiềm thức căn bản từ buổi bình minh của tiến hoá. Ngày nay nhân loại có thể tự điều chỉnh mình một cách hữu thức theo chúng, và nhờ đó rút ngắn thời gian để chân, thiện và mỹ ngự trị. |
|
The disciples of the world and the New Group of World Servers, as well as all intelligent and active aspirants, have today the responsibility of recognising these trends, and particularly this trend to unification. The work of the Hierarchy at this time is peculiarly connected with this, and They, and all of us, must foster and nurture this tendency, wherever found. The standardisation and regimentation of nations is but an aspect of this move towards synthesis, but one that is being misapplied and prematurely enforced. All moves towards national and world synthesis are good and right, but they must be consciously and willingly undertaken by intelligent men and women, and the methods employed to bring about this fusion must not infringe the law of love. The swing at this time towards religious unity is also a part of the emerging beauty, and though forms must disappear (because they are a source of separation) the inner, spiritual synthesis must be developed. These two outstanding instances of this divine trend, as they emerge in the human consciousness, are here mentioned because they must be recognised, and all awakening souls must work for these ends. The moment there is knowledge and a flash of understanding, that moment a man’s responsibility begins. |
Các đệ tử của thế giới và Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, cũng như mọi người chí nguyện thông minh và năng động, ngày nay có trách nhiệm nhận biết những khuynh hướng này, và đặc biệt là khuynh hướng hướng tới hợp nhất. Công việc của Thánh đoàn vào lúc này đặc biệt gắn liền với điều đó, và Các Ngài, cùng tất cả chúng ta, phải nuôi dưỡng và chăm bón khuynh hướng này ở bất cứ nơi nào tìm thấy nó. Việc tiêu chuẩn hóa và quân sự hóa các quốc gia chỉ là một phương diện của sự vận động hướng tới tổng hợp này, nhưng là một phương diện đang bị áp dụng sai lầm và cưỡng bách quá sớm. Mọi vận động hướng tới tổng hợp quốc gia và thế giới đều là tốt và đúng, nhưng chúng phải được những người nam và nữ thông minh thực hiện một cách hữu thức và tự nguyện, và các phương pháp được dùng để mang lại sự dung hợp này không được vi phạm định luật bác ái. Sự chuyển động hiện nay hướng tới hợp nhất tôn giáo cũng là một phần của vẻ đẹp đang xuất hiện, và tuy các hình tướng phải biến mất (vì chúng là nguồn gốc của sự phân ly), sự tổng hợp tinh thần bên trong phải được phát triển. Hai trường hợp nổi bật này của khuynh hướng thiêng liêng, khi chúng xuất hiện trong tâm thức con người, được nêu ra ở đây vì chúng phải được nhận biết, và mọi linh hồn đang thức tỉnh phải làm việc cho những mục tiêu này. Ngay khoảnh khắc có tri thức và một tia lóe của thấu hiểu, ngay khoảnh khắc ấy trách nhiệm của con người bắt đầu. |
|
Let us study, therefore, the tendencies in the world today, which indicate the active presence of this trend, and foster it where we can. It will be discovered to be a practical and [237] hard task. The imposition of a sensed, divine, psychical attribute upon the form life (with its own psychical habits) will test the powers of any disciple. To this we are called, for the sake of the greater Whole. |
Vì vậy, chúng ta hãy nghiên cứu những khuynh hướng trong thế giới ngày nay, những khuynh hướng cho thấy sự hiện diện tích cực của xu hướng này, và hãy nuôi dưỡng nó ở nơi nào chúng ta có thể. Người ta sẽ thấy đây là một nhiệm vụ thực tiễn và [237] khó khăn. Việc áp đặt một thuộc tính thông linh thiêng liêng đã được cảm nhận lên đời sống hình tướng (với những tập quán thông linh riêng của nó) sẽ thử thách năng lực của bất kỳ đệ tử nào. Chúng ta được kêu gọi làm điều này vì lợi ích của Toàn Thể lớn lao hơn. |
b. THE QUALITY OF THE HIDDEN VISION—PHẨM TÍNH CỦA TẦM NHÌN ẨN KÍN
|
The next emerging trend is one most difficult to express. It is not easy to discover the right words to define its meaning. It is the quality of the inner vision. This cannot readily be expressed in words that man can comprehend, for we refer not to man’s vision of God but to God’s own vision of His purpose. Down the ages, men have sensed a vision; they have seen it, and have merged themselves with it after much struggle and effort; they have then passed out of human life into he silence of the unknown. The mystic and the occultist have both testified to this vision, and to it all that is beautiful and colourful in the world of nature and of thought also bears silent witness. But what is it? How define it? Men are no longer satisfied to call it God, and they are right, for it is, in the last analysis, that to which God bends every effort. |
Khuynh hướng đang xuất hiện kế tiếp là một điều rất khó diễn đạt. Không dễ tìm ra những từ ngữ thích hợp để xác định ý nghĩa của nó. Đó là phẩm tính của tầm nhìn nội tại. Điều này không thể dễ dàng được diễn đạt bằng những lời mà con người có thể hiểu, vì chúng ta không nói đến tầm nhìn của con người về Thượng đế mà nói đến chính tầm nhìn của Thượng đế về mục đích của Ngài. Suốt các thời đại, con người đã cảm nhận một linh ảnh; họ đã thấy nó, và đã hòa nhập chính mình vào đó sau nhiều đấu tranh và nỗ lực; rồi họ đã rời khỏi đời sống con người để đi vào sự im lặng của điều chưa biết. Nhà thần bí và nhà huyền bí học đều đã làm chứng cho linh ảnh này, và mọi điều đẹp đẽ và rực rỡ trong thế giới bản chất và tư tưởng cũng âm thầm làm chứng cho nó. Nhưng nó là gì? Làm sao định nghĩa nó? Con người không còn thỏa mãn khi gọi nó là Thượng đế nữa, và họ đúng, vì rốt cuộc nó là điều mà Thượng đế dồn mọi nỗ lực hướng tới. |
||||||||
|
Yet the quality and the nature of the vision which is God’s own vision, dream and thought, have held His purpose steady throughout the aeons and have motivated His creative processes. Great Sons of God have come and gone and challenged us to follow the light, to seek the vision of reality, to open our eyes and see truth as it is. Down the ages, men have sought to do this and have called the method of their search by many names—life experience, scientific research, philosophic questionings, history, adventure, religion, mysticism, occultism and many other terms applied to the adventurous excursions of the human mind in search of knowledge, of reality, of God. Some have ended up in a maze of astral phenomena, and must continue their search later when they [238] emerge, chastened, from the depths of the Great Illusion. Others have wandered back into the dark cave of a pronounced materialism, of phenomenalism, and must likewise return and reorient themselves, or rather perhaps, complete the circle, for who shall say that God is here or there, or from what point His vision can be seen? Some lose themselves in thought processes and self-induced imaginings, and the vision gets hidden behind a multitude of words, both spoken and written. Still others find themselves lost in the clouds of their own devotion and self-awareness, and in the misty speculations of their own minds and desires. They are at a standstill, lost in the fog of their own dreams of what the vision should be and thus it eludes them. |
Tuy nhiên, phẩm tính và bản chất của linh ảnh vốn là chính tầm nhìn, giấc mộng và tư tưởng của Thượng đế đã giữ cho mục đích của Ngài vững bền suốt các đại kiếp và đã thúc đẩy các tiến trình sáng tạo của Ngài. Những Con của Thượng đế vĩ đại đã đến rồi đi, và đã thách thức chúng ta hãy theo ánh sáng, hãy tìm kiếm linh ảnh của thực tại, hãy mở mắt ra và thấy chân lý như nó vốn là. Suốt các thời đại, con người đã tìm cách làm điều này và đã gọi phương pháp tìm kiếm của mình bằng nhiều tên gọi—kinh nghiệm sống, nghiên cứu khoa học, truy vấn triết học, lịch sử, phiêu lưu, tôn giáo, thần bí học, huyền bí học và nhiều thuật ngữ khác được áp dụng cho những cuộc thám hiểm đầy mạo hiểm của trí tuệ con người trong việc tìm kiếm tri thức, thực tại, Thượng đế. Một số đã kết thúc trong mê cung của các hiện tượng cảm dục, và phải tiếp tục cuộc tìm kiếm của mình về sau khi họ [238] trồi lên, đã được tôi luyện, từ những vực sâu của Đại Ảo Tưởng. Những người khác đã lang thang trở lại hang tối của một chủ nghĩa duy vật rõ rệt, của thuyết hiện tượng, và cũng phải quay lại và tự định hướng lại, hay có lẽ đúng hơn là hoàn tất vòng tròn, vì ai có thể nói rằng Thượng đế ở đây hay ở kia, hay từ điểm nào tầm nhìn của Ngài có thể được thấy? Một số đánh mất chính mình trong các tiến trình tư tưởng và những sự tưởng tượng do tự mình tạo ra, và linh ảnh bị che khuất sau vô số lời nói, cả nói ra lẫn viết xuống. Những người khác nữa thấy mình lạc trong những đám mây của lòng sùng tín và ngã thức của chính mình, và trong những suy đoán mơ hồ của trí tuệ và dục vọng riêng. Họ đứng khựng lại, lạc trong màn sương của những giấc mơ riêng về điều mà linh ảnh phải là, và vì thế nó lẩn tránh họ. |
||||||||
|
Others—the theologians of any school of thought—have sought to define the vision, and have endeavored to reduce God’s hidden goal and intent to forms and rituals and to say, with emphasis: “We know.” Yet they have never touched the reality, and the truth is as yet unknown to them. The possibility of the Vision which lies beyond, or behind the vision of the mystic is forgotten in the forms built up in time; and the symbols of the teachings of those Sons of God Who have seen the reality is lost to sight in rituals and ceremonies, which (though they have their place and teaching value) must be used to reveal and not to obscure. |
Những người khác—các nhà thần học thuộc bất kỳ trường phái tư tưởng nào—đã tìm cách định nghĩa linh ảnh, và đã cố gắng giản lược mục tiêu và ý định ẩn kín của Thượng đế thành các hình thức và nghi lễ, rồi quả quyết mạnh mẽ: “Chúng tôi biết.” Tuy nhiên họ chưa bao giờ chạm đến thực tại, và chân lý vẫn còn chưa được họ biết đến. Khả năng của Linh Ảnh nằm vượt lên trên, hay ở phía sau linh ảnh của nhà thần bí bị lãng quên trong những hình thức được dựng lên theo thời gian; và các biểu tượng của giáo huấn của những Con của Thượng đế, Đấng đã thấy thực tại, bị khuất khỏi tầm mắt trong các nghi lễ và lễ thức, những thứ (dù có chỗ đứng và giá trị giáo huấn của chúng) phải được dùng để mặc khải chứ không phải để che mờ. |
||||||||
|
The vision is ever on ahead; it eludes our grasp; it haunts our dreams and our high moments of aspiration. Only when a man can function as a soul, and can turn the developed inner eye outward into the world of phenomena and inward into the world of reality, can he begin to sense God’s true objective and purpose, to catch a brief glimpse of God’s Own pattern and the Plan to which he so willingly conditions His own Life, and for which the Eternal Sacrifice of the Cosmic Christ is essential. |
Linh ảnh luôn ở phía trước; nó lẩn tránh sự nắm bắt của chúng ta; nó ám ảnh những giấc mơ và những khoảnh khắc khát vọng cao cả của chúng ta. Chỉ khi nào con người có thể hoạt động như một linh hồn, và có thể quay con mắt nội tại đã phát triển ra bên ngoài vào thế giới hiện tượng và vào bên trong thế giới thực tại, thì y mới có thể bắt đầu cảm nhận mục tiêu và mục đích chân thực của Thượng đế, thoáng thấy mô hình của chính Thượng đế và Thiên Cơ mà Ngài sẵn lòng tác động lên chính Sự Sống của Ngài, và vì đó mà Sự Hi Sinh Vĩnh Cửu của Đức Christ Vũ Trụ là điều thiết yếu. |
||||||||
|
[239] |
[239] |
||||||||
|
With these two divine trends (towards synthesis and towards the vision) the Hierarchy is at this time primarily occupied. Their watchwords are unification and sight. For humanity, these developments will produce the integration of the soul and the personality, and the awakening of that inner vision which will permit a flash of the Reality to enter into man’s consciousness. This is not a flash of his own divinity, or a sensing of God as Creator. It is a flash of the divinity inherent in the Whole, as it works out a vaster scheme of evolutionary process than any hitherto grasped or sensed by the keenest minds on earth. It concerns the vision granted when a man achieves Nirvana, and enters upon the first stage of that endless Path which leads towards a beauty, comprehension and unfoldment, untouched as yet by the highest type of human insight. |
Với hai khuynh hướng thiêng liêng này (hướng tới tổng hợp và hướng tới linh ảnh), Thánh đoàn hiện nay chủ yếu bận tâm. Khẩu hiệu của Các Ngài là hợp nhất và thị kiến. Đối với nhân loại, những phát triển này sẽ tạo ra sự tích hợp của linh hồn và phàm ngã, và sự thức tỉnh của tầm nhìn nội tại sẽ cho phép một tia chớp của Thực Tại đi vào tâm thức con người. Đây không phải là một tia chớp về thiên tính riêng của y, hay một sự cảm nhận Thượng đế như Đấng Sáng Tạo. Đó là một tia chớp về thiên tính vốn có trong Toàn Thể, khi nó triển khai một hệ thống tiến trình tiến hoá rộng lớn hơn bất kỳ điều gì mà những trí tuệ sắc bén nhất trên trái đất từng nắm bắt hay cảm nhận. Điều này liên quan đến linh ảnh được ban cho khi con người đạt đến Niết Bàn, và bước vào giai đoạn đầu tiên của Con Đường vô tận dẫn tới một vẻ đẹp, một sự thấu hiểu và một sự khai mở mà loại linh thị cao nhất của con người vẫn chưa chạm tới. |
||||||||
|
It would be well to point out here that beyond the stage of illumination, as it can be achieved by man, lies that which we might call the unfoldment of divine Insight. We have, therefore, the following unfoldments and possible developments, each of which constitutes an expansion in consciousness, and each of which admits man more closely and more definitely into the heart and mind of God. |
Ở đây nên chỉ ra rằng vượt lên trên giai đoạn soi sáng, như con người có thể đạt được, là điều mà chúng ta có thể gọi là sự khai mở của Thấu Thị thiêng liêng. Do đó, chúng ta có những sự khai mở và những phát triển khả hữu sau đây, mỗi điều trong số đó cấu thành một sự mở rộng trong tâm thức, và mỗi điều trong số đó đưa con người vào gần hơn và rõ rệt hơn trong trái tim và trí tuệ của Thượng đế. |
||||||||
|
[Table 26 ] |
||||||||
|
In these words, sequentially presented, there is perhaps made clearer to us the fact of God’s own vision. More is not possible until each of those words signifies something practical in our own inner experience. |
Trong những từ ngữ này, được trình bày tuần tự, có lẽ sự kiện về chính tầm nhìn của Thượng đế được làm sáng tỏ hơn đối với chúng ta. Không thể nói thêm cho đến khi mỗi từ trong số đó mang một ý nghĩa thực tiễn nào đó trong kinh nghiệm nội tại của chính chúng ta. |
||||||||
|
This quality of the inner vision with which the Hierarchy are seeking to work and to develop in the souls of men (it [240] would be of use to ponder on this last phrase, as it presents an aspect of hierarchical endeavor not hitherto considered in occult books) is an expression of the Principle of Continuance, which finds its distorted reflection in the word so often used by disciples:—Endurance. This principle of continuance constitutes the capacity of God to persist and “to remain.” It is an attribute of the cosmic Ray of Love as are all the principles which we are now considering in connection with these soul rules or factors—these trends of divinity and these tendencies of the divine life. Let us not forget that all the seven rays are subrays of the cosmic Ray of Love. We shall, therefore, see why these principles are determining soul activities, and can only come into play when the kingdom of God, or of souls, begins to materialise on earth. |
Phẩm tính của tầm nhìn nội tại này mà Thánh đoàn đang tìm cách vận dụng và phát triển trong linh hồn con người (sẽ hữu ích nếu suy ngẫm về cụm từ cuối này, vì nó trình bày một phương diện của nỗ lực của Thánh đoàn mà trước đây chưa được xét đến trong các sách huyền bí học) là một biểu hiện của Nguyên khí Tiếp Nối, nguyên khí này tìm thấy sự phản chiếu méo mó của nó trong từ mà các đệ tử thường dùng:—Sức chịu đựng. Nguyên khí tiếp nối này cấu thành năng lực của Thượng đế để kiên trì và “ở lại.” Nó là một thuộc tính của cung Bác Ái vũ trụ, cũng như mọi nguyên khí mà hiện nay chúng ta đang xét đến liên hệ với các quy luật hay yếu tố của linh hồn này—những khuynh hướng của thiên tính và những xu hướng của sự sống thiêng liêng. Chúng ta đừng quên rằng cả bảy cung đều là các cung phụ của cung Bác Ái vũ trụ. Do đó, chúng ta sẽ thấy vì sao những nguyên khí này quyết định các hoạt động của linh hồn, và chỉ có thể đi vào hoạt động khi Thiên Giới, hay giới các linh hồn, bắt đầu hiện hình trên trái đất. |
||||||||
|
This principle of continuance is based upon the clearer vision of Deity and upon the consequent continuity of God’s plan and purpose which results when the objective is clearly seen by Him and developed in plain and formulated outline. It is the macrocosmic correspondence to the continuance and the continuity found in man when—after a night of sleep and of unconsciousness—he proceeds with his daily avocation and consciously resumes his planned activities. |
Nguyên khí tiếp nối này dựa trên tầm nhìn sáng tỏ hơn của Thượng đế và trên sự liên tục tiếp theo đó của Thiên Cơ và mục đích của Thượng đế, vốn phát sinh khi mục tiêu được Ngài thấy rõ và được phát triển thành đường nét minh bạch và được định hình. Nó là sự tương ứng trong đại thiên địa với sự tiếp nối và tính liên tục được tìm thấy nơi con người khi—sau một đêm ngủ và vô thức—y tiếp tục công việc hằng ngày của mình và một cách hữu thức nối lại các hoạt động đã hoạch định. |
||||||||
|
From the hints given above it will be seen how the work of the Hierarchy in connection with mankind falls into two parts:—the work with individual human beings, in order to awaken them to soul consciousness, and then the work with them, as souls, so that (functioning then on soul levels and as conscious units in the kingdom of God) they can begin to vision the objective of God Himself. This second division of Their effort is only now becoming possible on a wide scale, as men begin to respond to the trend towards synthesis, and to react to the divine principle of coherence, so that (stimulated by their group relation) they can unitedly sense the [241] vision and react to the principle of continuance. A hint is here given as to the true and future purpose of group meditation. More on this subject is not possible. |
Từ những gợi ý nêu trên, sẽ thấy rằng công việc của Thánh đoàn liên hệ với nhân loại chia thành hai phần:—công việc với từng con người riêng lẻ, nhằm đánh thức họ đến tâm thức linh hồn, và rồi công việc với họ, như những linh hồn, để (khi ấy hoạt động trên các cấp độ linh hồn và như những đơn vị hữu thức trong Thiên Giới) họ có thể bắt đầu hình dung mục tiêu của chính Thượng đế. Phân bộ thứ hai trong nỗ lực của Các Ngài chỉ nay mới trở nên khả hữu trên quy mô rộng lớn, khi con người bắt đầu đáp ứng với khuynh hướng hướng tới tổng hợp, và phản ứng với nguyên khí thiêng liêng của sự cố kết, để rồi (được kích thích bởi mối liên hệ nhóm của họ) họ có thể cùng nhau cảm nhận [241] linh ảnh và phản ứng với nguyên khí tiếp nối. Ở đây có một gợi ý về mục đích chân thực và tương lai của tham thiền nhóm. Không thể nói thêm về đề tài này. |
c. THE URGE TO FORMULATE A PLAN—THÔI THÚC HOẠCH ĐỊNH MỘT THIÊN CƠ
|
The third divine instinct or hidden inner trend is the urge to formulate a plan. It will be apparent that this urge grows out of, or is dependent upon, the previous two trends considered. It finds its microcosmic reflection in the many plans and projects of finite man as he lives his little life or runs busily about the planet in connection with his tiny personal affairs. It is this universal capacity to work and plan which is the guarantee that there exists in man the capacity to respond eventually and in group formation to God’s plan, based on God’s vision. All these basic, developing, divine instincts and expressions of God’s consciousness and awareness find their embryonic reflections in our modern humanity. It is no part of my purpose to indicate my understanding of God’s Plan. This is limited naturally by my capacity. Only dimly do I sense it, and only occasionally and faintly does the outline of God’s stupendous objective dawn on my mind. This Plan can only be sensed visioned and known in truth by the Hierarchy, and then only in group formation and by those Masters Who can function in full monadic consciousness. They alone are beginning to comprehend what it is. Suffice it for the rest of those in the Hierarchy—the initiates and disciples in their ordered ranks and various gradings—to cooperate with that immediate aspect of the Plan which they can grasp and which comes down to them through the inspired minds of their Directors at certain stated times, and in certain specific years. Such a year was 1933. Such another will be the year 1942. At those times, when the Hierarchy meets in silent conclave, a part of God’s vision, and His formulation [242] of that vision for the immediate present, is revealed for the next nine year cycle. They then, in perfect freedom and with full mutual cooperation lay Their plans to bring about the desired objectives of the Heads of the Hierarchy, as They in Their turn cooperate with still higher Forces and Knowers. |
Bản năng thiêng liêng thứ ba hay khuynh hướng nội tại ẩn kín là thôi thúc hoạch định một thiên cơ. Hiển nhiên là thôi thúc này phát sinh từ, hay phụ thuộc vào, hai khuynh hướng trước đã được xét đến. Nó tìm thấy sự phản chiếu trong tiểu thiên địa nơi vô số kế hoạch và dự án của con người hữu hạn khi y sống cuộc đời nhỏ bé của mình hay tất bật chạy quanh hành tinh vì những công việc cá nhân vụn vặt. Chính năng lực phổ quát để làm việc và hoạch định này là sự bảo đảm rằng trong con người có tồn tại năng lực cuối cùng sẽ đáp ứng, và đáp ứng trong hình thành nhóm, với Thiên Cơ của Thượng đế, dựa trên tầm nhìn của Thượng đế. Tất cả những bản năng thiêng liêng căn bản, đang phát triển này và những biểu hiện của tâm thức và sự nhận biết của Thượng đế đều tìm thấy những phản chiếu phôi thai của chúng trong nhân loại hiện đại của chúng ta. Không thuộc mục đích của tôi khi chỉ ra sự thấu hiểu của tôi về Thiên Cơ của Thượng đế. Điều đó dĩ nhiên bị giới hạn bởi năng lực của tôi. Tôi chỉ cảm nhận nó một cách mờ nhạt, và chỉ đôi khi, rất yếu ớt, đường nét của mục tiêu kỳ vĩ của Thượng đế mới lóe lên trong trí tôi. Thiên Cơ này chỉ có thể được cảm nhận, được hình dung và được biết chân thực bởi Thánh đoàn, và ngay cả khi ấy cũng chỉ trong hình thành nhóm và bởi những Chân sư có thể hoạt động trong tâm thức chân thần trọn vẹn. Chỉ riêng Các Ngài mới bắt đầu thấu hiểu nó là gì. Đối với phần còn lại của những vị trong Thánh đoàn—các điểm đạo đồ và đệ tử trong hàng ngũ có trật tự và các cấp bậc khác nhau—chỉ cần hợp tác với phương diện trực tiếp của Thiên Cơ mà họ có thể nắm bắt và được truyền xuống cho họ qua các trí tuệ được cảm hứng của các Đấng Chỉ Đạo của họ vào những thời điểm nhất định, và trong những năm cụ thể. Một năm như thế là năm 1933. Một năm khác như thế sẽ là năm 1942. Vào những thời điểm ấy, khi Thánh đoàn họp trong mật nghị im lặng, một phần tầm nhìn của Thượng đế, và sự hoạch định [242] tầm nhìn ấy của Ngài cho hiện tại trước mắt, được mặc khải cho chu kỳ chín năm kế tiếp. Khi đó, trong tự do hoàn toàn và với sự hợp tác hỗ tương trọn vẹn, Các Ngài đặt ra các kế hoạch của mình để mang lại những mục tiêu mong muốn của các Đấng Đầu của Thánh đoàn, khi Các Ngài đến lượt mình hợp tác với những Mãnh Lực và những thức giả còn cao hơn nữa. |
|
The above information will probably evoke much interest from those students who are not as yet attuned to the higher values. For all who read this, could they but grasp it, this is the least important part of the chapter and carries for them the minimum of usefulness. It has for us, you will note, no practical application. Some might enquire then and rightly: why then give out this information? Because this Treatise is written for the future disciples and initiates, and all that is here set forth is part of a revelation of truth which it is desired should be given out. It comes today through many channels and from many sources—such is the wonder of the power behind the present world adjustments! |
Thông tin trên có lẽ sẽ gợi lên nhiều quan tâm nơi những đạo sinh chưa chỉnh hợp với các giá trị cao hơn. Đối với tất cả những ai đọc điều này, nếu họ có thể nắm bắt được nó, thì đây là phần ít quan trọng nhất của chương và mang lại cho họ ít hữu ích nhất. Như các bạn sẽ lưu ý, đối với chúng ta nó không có ứng dụng thực tiễn nào. Khi ấy, một số người có thể hỏi, và hỏi đúng: vậy tại sao lại công bố thông tin này? Bởi vì bộ Luận này được viết cho các đệ tử và điểm đạo đồ tương lai, và tất cả những gì được trình bày ở đây là một phần của sự mặc khải chân lý mà người ta mong muốn được công bố. Ngày nay nó đến qua nhiều kênh và từ nhiều nguồn—đó là điều kỳ diệu của quyền năng đứng sau những sự điều chỉnh thế giới hiện nay! |
|
This instinct of Deity is closely connected with the Law of Economy and is an expression of the Principle of Materialisation. For man, it has to be studied, grasped, and wrought out through the right use of the mental body, working under the influence of Atma or Spirit. The principle of Continuance has to be wrought out into conscious knowledge by the right use of the astral or desire nature, working under the influence of Buddhi. The Trend to Synthesis has finally to be wrought out in the brain consciousness upon the physical plane, under the influence of the Monad, but its real expression and man’s true response to this urge only become possible after the third initiation. So it is easily to be seen that this Treatise is indeed written for the future. |
Bản năng này của Thượng đế liên hệ mật thiết với Định luật Tiết Kiệm và là một biểu hiện của Nguyên khí Hiện Hình. Đối với con người, nó phải được nghiên cứu, nắm bắt và triển khai qua việc sử dụng đúng đắn thể trí, hoạt động dưới ảnh hưởng của Atma hay tinh thần. Nguyên khí Tiếp Nối phải được triển khai thành tri thức hữu thức qua việc sử dụng đúng đắn bản chất cảm dục hay dục vọng, hoạt động dưới ảnh hưởng của Bồ đề. Khuynh hướng hướng tới tổng hợp cuối cùng phải được triển khai trong tâm thức não bộ trên cõi hồng trần, dưới ảnh hưởng của chân thần, nhưng biểu hiện thực sự của nó và sự đáp ứng chân thực của con người với thôi thúc này chỉ trở nên khả hữu sau lần điểm đạo thứ ba. Vì vậy, dễ thấy rằng bộ Luận này quả thật được viết cho tương lai. |
|
We have here received much upon which to ponder, to [243] think and to meditate. Let us search for the thread of gold which will lead us, in waking consciousness, into the treasure house of our own souls, and there let us learn to be at-one with all that breathes, to sense the vision for the whole, as far as we can, and to work in unison with God’s plan as far as it has been revealed to us by Those Who know. |
Ở đây chúng ta đã nhận được nhiều điều để suy ngẫm, để [243] suy tư và để tham thiền. Chúng ta hãy tìm kiếm sợi chỉ vàng sẽ dẫn chúng ta, trong tâm thức thức tỉnh, vào kho tàng của chính linh hồn mình, và ở đó hãy học cách hợp nhất với mọi sự đang thở, cảm nhận linh ảnh cho toàn thể trong mức có thể, và làm việc đồng điệu với Thiên Cơ của Thượng đế trong chừng mực nó đã được mặc khải cho chúng ta bởi Những Đấng biết. |
|
These ancient rules, or determining factors—the essential conditioning laws in the life of the Soul—are in their nature basically psychological. For that reason, they warrant our study. On its own plane, the soul knows no separation, and the factor of synthesis governs all soul relations. The soul is occupied not only with the form that the vision of its objective may take, but with the quality or the meaning which that vision veils or hides. The soul knows the Plan; its form, outline, methods and objective are known. Through the use of the creative imagination, the soul creates; it builds thoughtforms on the mental plane and objectifies desire on the astral plane. It proceeds then to externalise its thought and its desire upon the physical plane through applied force, creatively actuated by the imagination of the etheric or vital vehicle. Yet because the soul is intelligence, motivated by love, it can (within the realised synthesis which governs its activities) analyse, discriminate and divide. The soul likewise aspires to that which is greater than itself, and reaches out to the world of divine ideas, and thus itself occupies a midway position between the world of ideation and the world of forms. This is its difficulty and its opportunity. |
Những quy luật cổ xưa này, hay những yếu tố quyết định này—những định luật tác động cốt yếu trong đời sống của linh hồn—về bản chất là tâm lý học một cách căn bản. Vì lý do đó, chúng đáng để chúng ta nghiên cứu. Trên cõi riêng của mình, linh hồn không biết đến sự phân ly, và yếu tố tổng hợp chi phối mọi mối liên hệ của linh hồn. Linh hồn không chỉ bận tâm với hình tướng mà linh ảnh về mục tiêu của nó có thể mang lấy, mà còn với phẩm tính hay ý nghĩa mà linh ảnh ấy che phủ hay ẩn giấu. Linh hồn biết Thiên Cơ; hình thức, đường nét, phương pháp và mục tiêu của nó đều được biết. Qua việc sử dụng Sự tưởng tượng sáng tạo, linh hồn sáng tạo; nó xây dựng các hình tư tưởng trên cõi trí và khách quan hóa dục vọng trên cõi cảm dục. Sau đó nó tiến hành ngoại hiện tư tưởng và dục vọng của mình trên cõi hồng trần qua mãnh lực được áp dụng, được thúc đẩy một cách sáng tạo bởi sự tưởng tượng của vận cụ dĩ thái hay sinh lực. Tuy nhiên, vì linh hồn là trí tuệ, được thúc đẩy bởi bác ái, nên nó có thể (trong sự tổng hợp đã được chứng nghiệm chi phối các hoạt động của nó) phân tích, phân biện và phân chia. Linh hồn cũng khát vọng hướng tới điều gì đó lớn hơn chính nó, và vươn tới thế giới của các ý tưởng thiêng liêng, và do đó tự nó chiếm một vị trí ở giữa giữa thế giới ý niệm và thế giới các hình tướng. Đó là khó khăn của nó và cũng là cơ hội của nó. |
|
In this way the life of the soul is affirmed in terms of its conditioning factors. The value of this lies in the fact that, upon the Path of Discipleship, these factors must begin to play their part in the life of the personality. They must begin to condition the lower man so that his life, his habits, his [244] desires and his thoughts are brought into line with the higher impulses initiated by the soul. This is only another way of dealing with those expressions of the spiritual life which every initiate must demonstrate. |
Theo cách này, đời sống của linh hồn được khẳng định theo các yếu tố tác động của nó. Giá trị của điều này nằm ở chỗ, trên Con Đường Đệ Tử, những yếu tố này phải bắt đầu đóng vai trò của chúng trong đời sống của phàm ngã. Chúng phải bắt đầu tác động lên phàm nhân để đời sống, tập quán, [244] dục vọng và tư tưởng của y được đưa vào đường hướng phù hợp với những xung lực cao hơn do linh hồn khởi xướng. Đây chỉ là một cách khác để bàn đến những biểu hiện của đời sống tinh thần mà mọi điểm đạo đồ phải chứng tỏ. |
|
Every aspirant must, as time elapses, develop the power to see the whole and not only the part, and to view his life and sphere of influence in terms of its corporate relationships and not in terms of the separated self. He must not only see the vision (for that the mystic has always done) but he must penetrate behind it to those essential qualities which give meaning to the vision. The instinct to formulate plans, inherent in all and so dominant in the highly evolved, must give way to the tendency to make plans in tune with the Plan of God, as expressed through the planetary Hierarchy. This in time will produce the urge to create those forms, conveying meaning, which will transmute evil into good and produce the transfiguration of life. |
Mọi người chí nguyện, theo thời gian trôi qua, phải phát triển năng lực thấy được toàn thể chứ không chỉ bộ phận, và nhìn đời sống cùng phạm vi ảnh hưởng của mình theo các mối liên hệ tập thể của nó chứ không theo bản ngã phân ly. Y không chỉ phải thấy linh ảnh (vì điều đó nhà thần bí luôn luôn đã làm) mà còn phải xuyên qua phía sau nó để đến với những phẩm tính cốt yếu mang lại ý nghĩa cho linh ảnh. Bản năng hoạch định, vốn có trong mọi người và rất chi phối nơi những người tiến hóa cao, phải nhường chỗ cho khuynh hướng lập kế hoạch hòa điệu với Thiên Cơ của Thượng đế, như được biểu lộ qua Thánh đoàn hành tinh. Điều này theo thời gian sẽ tạo ra thôi thúc sáng tạo những hình tướng mang ý nghĩa, những hình tướng sẽ chuyển hoá điều ác thành điều thiện và tạo ra sự Biến hình của sự sống. |
|
But to do this within the Plan and at the same time to recognise the basic synthesis in which we live and move, the disciple must learn to analyse, discriminate and discern those aspects, qualities and forces which must be creatively used in the materialisation of the intuited Plan, based on the sensed vision. We might well ponder on this rapport between the man, and the Hierarchy, via a man’s own soul. The Hierarchy exists in order to render possible in form that sensed Plan and divine Vision. To produce this emergence of truth, the man stands also at the midway point, and in handling the great dualities of life, must produce the new world. |
Nhưng để làm điều này trong Thiên Cơ và đồng thời nhận biết sự tổng hợp căn bản trong đó chúng ta sống và vận động, đệ tử phải học cách phân tích, phân biện và phân biện tinh thần những phương diện, phẩm tính và mãnh lực phải được sử dụng một cách sáng tạo trong việc hiện hình Thiên Cơ đã được trực giác nhận biết, dựa trên linh ảnh đã được cảm nhận. Chúng ta nên suy ngẫm về mối tương giao này giữa con người và Thánh đoàn, qua chính linh hồn của con người. Thánh đoàn tồn tại để làm cho Thiên Cơ đã được cảm nhận và Linh Ảnh thiêng liêng ấy trở nên khả hữu trong hình tướng. Để tạo ra sự xuất hiện này của chân lý, con người cũng đứng tại điểm ở giữa, và trong việc xử lý những nhị nguyên tính lớn của đời sống, phải tạo ra thế giới mới. |
|
As we study these rules of soul control, it should not be necessary constantly to affirm the three basic relationships of the soul: |
Khi chúng ta nghiên cứu những quy luật của sự kiểm soát của linh hồn này, không cần thiết phải liên tục khẳng định ba mối liên hệ căn bản của linh hồn: |
|
1. The relationship to other souls within the enveloping life [245] of the Oversoul. Only through an understanding of this relation do we arrive at a practical knowledge that all souls are one Soul. |
1. Mối liên hệ với các linh hồn khác trong sự sống bao bọc của đại hồn. Chỉ qua sự thấu hiểu mối liên hệ này chúng ta mới đi đến tri thức thực tiễn rằng mọi linh hồn là một Linh Hồn. |
|
2. The relationship to the Hierarchy of governing souls. Though this Hierarchy has in it all the seven elements which constitute the primary differentiation to which the One Life, as consciousness, submits itself, yet it must be borne in mind that this Hierarchy is essentially an embodiment of the will aspect of the Logos—the will to good, the will to love, the will to know, the will to create. This will is served by the Universal Mind of Deity, but it is the expression of a still higher consciousness in which that Deity shares. This concept is necessarily beyond our comprehension, but we must bear in mind that this section of the book is for use in days to come and not merely for today’s understanding. |
2. Mối liên hệ với Thánh đoàn của các linh hồn cai quản. Dù Thánh đoàn này chứa trong nó tất cả bảy yếu tố cấu thành sự biến phân sơ khởi mà Sự Sống Duy Nhất, như tâm thức, tự đặt mình vào, tuy nhiên cần ghi nhớ rằng Thánh đoàn này về bản chất là một hiện thân của phương diện ý chí của Thượng đế—ý chí hướng thiện, ý chí yêu thương, ý chí hiểu biết, ý chí sáng tạo. Ý chí này được Trí Tuệ Vũ Trụ của Thượng đế phụng sự, nhưng nó là biểu hiện của một tâm thức còn cao hơn nữa mà Thượng đế ấy cùng chia sẻ. Khái niệm này tất yếu vượt ngoài sự thấu hiểu của chúng ta, nhưng chúng ta phải ghi nhớ rằng phần này của cuốn sách là để dùng cho những ngày sắp tới chứ không chỉ cho sự thấu hiểu của hôm nay. |
|
3. The relationship to the Plan of God as it is working out at the present time. |
3. Mối liên hệ với Thiên Cơ của Thượng đế như nó đang được triển khai vào lúc hiện nay. |
|
These thoughts will serve to set the stage for what should now be made clear. It is of use at times to swing the consciousness back to the centre, when the orbit the mind travels is of vast extent. The synthesis of the divine concept, the vision of its structural outline and the plan for its materialisation—these are the factors which govern souls on their plane, condition their activity, and, within the limits wherein they work, are the factors which (in time and space) condition and limit Deity, for such is His divine Will. Looking at the whole subject from another angle, it is these rules of soul contact which set the rhythm and determine the pulsation of the life of God as it steadily beats upon the lower rhythms and will finally obliterate them. This happens in the case of individual human beings; it will happen in the case of humanity, [246] as a whole, some day; it will determine finally the life, purpose and activity of all forms in and upon our planet. |
Những tư tưởng này sẽ giúp dọn sân khấu cho điều giờ đây cần được làm sáng tỏ. Đôi khi việc đưa tâm thức trở lại trung tâm là hữu ích, khi quỹ đạo mà trí tuệ du hành có phạm vi rất rộng lớn. Sự tổng hợp của khái niệm thiêng liêng, linh ảnh về đường nét cấu trúc của nó, và thiên cơ cho sự hiện hình của nó—đó là những yếu tố chi phối các linh hồn trên cõi của chúng, tác động lên hoạt động của chúng, và trong những giới hạn mà chúng làm việc, là những yếu tố mà (trong thời gian và không gian) tác động lên và giới hạn Thượng đế, vì đó là Ý Chí thiêng liêng của Ngài. Nhìn toàn bộ chủ đề từ một góc độ khác, chính những quy luật của sự tiếp xúc linh hồn này đặt ra nhịp điệu và quyết định sự rung nhịp của sự sống Thượng đế khi nó đều đặn đập vào những nhịp điệu thấp hơn và cuối cùng sẽ xóa bỏ chúng. Điều này xảy ra trong trường hợp của từng con người riêng lẻ; một ngày nào đó nó sẽ xảy ra trong trường hợp của nhân loại, [246] như một toàn thể; cuối cùng nó sẽ quyết định đời sống, mục đích và hoạt động của mọi hình tướng trong và trên hành tinh của chúng ta. |
d. THE URGE TO CREATIVE LIFE—THÔI THÚC HƯỚNG TỚI ĐỜI SỐNG SÁNG TẠO
|
This realisation brings us to the consideration in a little more detail of our fourth point, which is the urge to creative life through the divine use of the imagination. As we have seen, it is necessary for humanity to recognise that there is a world of meaning behind the world of appearances, of form—behind what has been called the “world of seeming.” It is the revelation of this world of inner meaning that lies immediately ahead of the race. Hitherto we have—as a race—been occupied with the symbol and not with that for which it stands, and of which it is the outer appearance. But we have today largely exhausted our interest in the tangible symbol, and are searching—again as a race—for that which the outer world of appearance is intended to express. |
Sự chứng nghiệm này đưa chúng ta đến việc xem xét chi tiết hơn một chút điểm thứ tư của chúng ta, đó là thôi thúc hướng tới đời sống sáng tạo qua việc sử dụng thiêng liêng sự tưởng tượng. Như chúng ta đã thấy, nhân loại cần phải nhận ra rằng có một thế giới của ý nghĩa ở phía sau thế giới của sắc tướng, của hình tướng—phía sau điều đã được gọi là “thế giới của vẻ bề ngoài.” Sự mặc khải của thế giới ý nghĩa nội tại này là điều đang ở ngay phía trước nhân loại. Cho đến nay chúng ta—với tư cách một nhân loại—đã bận tâm với biểu tượng chứ không phải với điều mà nó tượng trưng, và điều mà nó là sắc tướng bên ngoài. Nhưng ngày nay chúng ta phần lớn đã cạn kiệt sự quan tâm đối với biểu tượng hữu hình, và đang tìm kiếm—một lần nữa với tư cách một nhân loại—điều mà thế giới bên ngoài của sắc tướng được dự định để biểu lộ. |
|
Much is heard today of the New Age, of the coming revelation, of the imminent leap forward into an intuitive recognition of that which has hitherto been only dimly sensed by the mystics, the seer, the inspired poet, the intuitive scientist and the occult investigator who is not too preoccupied with the technicalities and the academic activities of the lower mind. But one thing is oft forgotten in the great expectancy. There is no need for too great an upward straining or too intense an outward looking, to use terms which the usual limited point of view can grasp. That which is to be revealed lies all around us, and within us. It is the significance of all that is embodied in form, the meaning behind the appearance, the reality veiled by the symbol, the truth expressed in substance. |
Ngày nay người ta nghe nhiều về Kỷ Nguyên Mới, về sự mặc khải sắp đến, về bước nhảy vọt cận kề vào một sự nhận biết trực giác về điều mà cho đến nay chỉ mới được các nhà thần bí, nhà thông nhãn, thi sĩ được cảm hứng, nhà khoa học trực giác và nhà khảo cứu huyền bí không quá bận tâm với các chi tiết kỹ thuật và các hoạt động hàn lâm của hạ trí cảm nhận một cách mờ nhạt. Nhưng có một điều thường bị quên lãng trong niềm mong đợi lớn lao ấy. Không cần phải gắng sức hướng thượng quá mức hay nhìn ra ngoài quá căng thẳng, dùng những thuật ngữ mà quan điểm hạn hẹp thông thường có thể hiểu được. Điều sẽ được mặc khải nằm ở khắp quanh chúng ta, và ở trong chúng ta. Đó là thâm nghĩa của mọi điều được thể hiện trong hình tướng, là ý nghĩa phía sau sắc tướng, là thực tại được biểu tượng che phủ, là chân lý được biểu lộ trong chất liệu. |
|
Only two things will enable man to penetrate into this inner realm of causes and of revelation. These are: |
Chỉ có hai điều sẽ giúp con người thâm nhập vào cõi giới nội tại của các nguyên nhân và của sự mặc khải này. Đó là: |
|
[247] |
[247] |
|
First, the constant effort, based on a subjective impulse, to create those forms which will express some sensed truth; for thereby and through this effort, the emphasis is constantly shifted from the outer world of seeming to the inner side of phenomena. By this means, a focussing of consciousness is produced which eventually becomes stable and withdrawn from its present intense exteriorisation. An initiate is essentially one whose sense of awareness is occupied with subjective contacts and impacts and is not predominantly preoccupied with the world of outer sense perceptions. This cultivated interest in the inner world of meaning will produce not only a pronounced effect upon the spiritual seeker himself but will eventually bring about the emphasis, recognised in the brain consciousness of the race, that the world of meaning is the sole world of reality for humanity. This realisation will, in its turn, bring about two subsequent effects: |
Thứ nhất, nỗ lực không ngừng, dựa trên một xung lực chủ quan, nhằm sáng tạo những hình tướng sẽ biểu lộ một chân lý nào đó đã được cảm nhận; vì nhờ đó và qua nỗ lực này, trọng tâm liên tục được chuyển từ thế giới bên ngoài của vẻ bề ngoài sang mặt nội tại của các hiện tượng. Bằng phương tiện này, một sự tập trung của tâm thức được tạo ra, cuối cùng trở nên ổn định và rút khỏi tình trạng ngoại hiện mãnh liệt hiện nay của nó. Một điểm đạo đồ về bản chất là người mà cảm nhận nhận biết bận tâm với những tiếp xúc và tác động chủ quan và không chủ yếu bị chi phối bởi thế giới của những tri giác giác quan bên ngoài. Mối quan tâm được vun bồi này đối với thế giới nội tại của ý nghĩa sẽ không chỉ tạo ra một hiệu quả rõ rệt nơi chính người tìm đạo tinh thần mà cuối cùng còn mang lại sự nhấn mạnh, được nhận biết trong tâm thức não bộ của nhân loại, rằng thế giới của ý nghĩa là thế giới thực tại duy nhất đối với nhân loại. Sự chứng nghiệm này đến lượt nó sẽ mang lại hai hiệu quả tiếp theo: |
|
1. A close adaptation of the form to the significant factors which have brought it into being on the outer plane. |
1. Sự thích ứng chặt chẽ của hình tướng với những yếu tố có ý nghĩa đã đưa nó vào hiện hữu trên cõi bên ngoài. |
|
2. The production of a truer beauty in the world and, therefore, a closer approximation in the world of created forms to the inner emerging truth. It might be said that divinity is veiled and hidden in the multiplicity of forms with their infinite detail, and that in the simplicity of forms which eventually will be seen, we shall arrive at a newer beauty, a greater sense of truth and at the revelation of God’s meaning and purpose in all that He has accomplished from age to age. |
2. Việc tạo ra một vẻ đẹp chân thực hơn trong thế giới và, do đó, một sự xấp xỉ gần hơn trong thế giới các hình tướng được sáng tạo với chân lý nội tại đang xuất hiện. Có thể nói rằng thiên tính được che phủ và ẩn giấu trong tính đa tạp của các hình tướng với vô số chi tiết của chúng, và rằng trong sự đơn giản của các hình tướng mà cuối cùng sẽ được thấy, chúng ta sẽ đạt đến một vẻ đẹp mới hơn, một cảm nhận chân lý lớn hơn và sự mặc khải về ý nghĩa và mục đích của Thượng đế trong tất cả những gì Ngài đã hoàn thành từ thời đại này sang thời đại khác. |
|
Secondly, the constant effort to render oneself sensitive to the world of significant realities and to produce, therefore, those forms on the outer plane which will run true to the hidden impulse. This is brought about by the cultivation of the creative imagination. As yet, humanity knows little about [248] this faculty, latent in all men. A flash of light breaks through to the aspiring mind; a sense of unveiled splendour for a moment sweeps through the aspirant, tensed for revelation; a sudden realisation of a colour, a beauty, a wisdom and a glory beyond words breaks out before the attuned consciousness of the artist, in a high moment of applied attention, and life is then seen for a second as it essentially is. But the vision is gone and the fervour departs and the beauty fades out. The man is left with a sense of bereavement, of loss, and yet with a certainty of knowledge and a desire to express that which he has contacted, such as he has never experienced before. He must recover that which he has seen; he must discover it to those who have not had his secret moment of revelation; he must express it in some form, and reveal to others the realised significance behind the phenomenal appearance. How can he do this? How can he recover that which he has once had and which seems to have disappeared, and to have retired out of his field of consciousness? He must realise that that which he has seen and touched is still there and embodies reality; that it is he who has withdrawn and not the vision. The pain in all moments of intensity must be undergone and lived again and again until the mechanism of contact is accustomed to the heightened vibration and can not only sense and touch, but can hold and contact at will this hidden world of beauty. The cultivation of this power to enter, hold and transmit is dependent upon three things: |
Thứ hai, là nỗ lực không ngừng để làm cho bản thân trở nên nhạy cảm với thế giới của những thực tại đầy thâm nghĩa và do đó tạo ra những hình tướng trên cõi bên ngoài, những hình tướng sẽ trung thực với xung lực ẩn kín. Điều này được mang lại nhờ sự vun bồi Sự tưởng tượng sáng tạo. Cho đến nay, nhân loại còn biết rất ít về [248] năng lực này, vốn tiềm ẩn trong mọi người nam và nữ. Một tia sáng xuyên thấu vào trí tuệ đang khát vọng; một cảm nhận về vẻ huy hoàng được vén mở trong chốc lát tràn qua người chí nguyện đang căng mình chờ đợi sự mặc khải; một sự chứng nghiệm đột ngột về một màu sắc, một vẻ đẹp, một minh triết và một vinh quang vượt ngoài ngôn từ bừng hiện trước tâm thức đã được chỉnh hợp của người nghệ sĩ, trong một khoảnh khắc cao độ của sự chú tâm được vận dụng, và khi ấy sự sống được thấy trong một giây như nó vốn là trong bản chất thiết yếu của nó. Nhưng linh ảnh đã tan biến và nhiệt tâm cũng rời đi, còn vẻ đẹp thì phai mờ. Con người bị bỏ lại với một cảm giác mất mát, bị tước đoạt, nhưng đồng thời lại có một sự chắc chắn của tri thức và một khát vọng muốn biểu đạt điều mà y đã tiếp xúc, theo cách mà trước đây y chưa từng kinh nghiệm. Y phải phục hồi điều mình đã thấy; y phải khám phá nó cho những ai chưa có khoảnh khắc mặc khải bí mật của y; y phải biểu đạt nó dưới một hình thức nào đó, và vén lộ cho người khác thâm nghĩa đã được chứng nghiệm đằng sau sắc tướng hiện tượng. Y có thể làm điều này bằng cách nào? Y có thể phục hồi điều mà một lần y đã có và dường như nay đã biến mất, đã rút ra khỏi trường tâm thức của y bằng cách nào? Y phải chứng nghiệm rằng điều y đã thấy và chạm đến vẫn còn đó và hàm chứa thực tại; rằng chính y đã rút lui chứ không phải linh ảnh. Nỗi đau trong mọi khoảnh khắc mãnh liệt phải được chịu đựng và sống lại hết lần này đến lần khác cho đến khi bộ máy tiếp xúc quen thuộc với rung động được nâng cao và không những có thể cảm nhận và chạm đến, mà còn có thể nắm giữ và tiếp xúc theo ý muốn với thế giới ẩn kín của vẻ đẹp này. Việc vun bồi năng lực đi vào, nắm giữ và truyền đạt này tùy thuộc vào ba điều: |
|
1. A willingness to bear the pain of revelation. |
1. Sự sẵn lòng chịu đựng nỗi đau của sự mặc khải. |
|
2. The power to hold on to the high point of consciousness |
2. Năng lực giữ vững điểm cao của tâm thức |
|
at which the revelation comes. |
mà tại đó sự mặc khải đến. |
|
3. The focussing of the faculty of the imagination upon the revelation, or upon as much of it as the brain consciousness can bring through into the lighted area of external [249] knowledge. It is the imagination or the picture-making faculty which links the mind and brain together and thus produces the exteriorisation of the veiled splendour. |
3. Sự tập trung năng lực tưởng tượng vào sự mặc khải, hoặc vào phần nào của nó mà tâm thức não bộ có thể mang vào vùng được soi sáng của tri thức bên ngoài [249] . Chính sự tưởng tượng, hay năng lực tạo ảnh, là điều nối kết trí tuệ và bộ não lại với nhau và nhờ đó tạo ra sự ngoại hiện của vẻ huy hoàng được che giấu. |
|
If the creative artist will ponder upon these three requirements—endurance, meditation, and imagination—he will develop in himself the power to respond to this fourth rule of soul control, and will know the soul eventually as the secret of persistence, the revealer of the rewards of contemplation and the creator of all forms upon the physical plane. |
Nếu người nghệ sĩ sáng tạo suy ngẫm về ba đòi hỏi này—sự chịu đựng, tham thiền, và sự tưởng tượng—thì y sẽ phát triển trong chính mình năng lực đáp ứng với quy luật thứ tư này của sự kiểm soát của linh hồn, và cuối cùng sẽ biết linh hồn như bí mật của sự bền chí, là đấng vén lộ những phần thưởng của sự chiêm ngưỡng và là đấng sáng tạo mọi hình tướng trên cõi hồng trần. |
|
This use of the creative imagination and the fruits of its endeavor will work out into the many fields of human art according to the ray of the creative artist. We must not forget that the artist is found on all rays; there is no particular ray which produces more artists than another. The form will apparently take spontaneous expression when the inner life of the artist is regulated, producing the outer organisation of his life forms. True creative art is a soul function; the primary task, therefore, of the artist is alignment, meditation and the focussing of his attention upon the world of meaning. This is followed by the attempt to express divine ideas in adequate forms, according to the innate capacity and the ray tendencies of the artist in any field which he may choose and which is for him the best medium for his endeavor. It is paralleled by the effort, constantly made upon the physical plane, to equip, instruct, and train the mechanism of brain and hand and voice through which the inspiration must flow, so that there may be right expression and a correct externalisation of the inner reality. |
Việc sử dụng Sự tưởng tượng sáng tạo này và những thành quả của nỗ lực ấy sẽ được triển khai vào nhiều lĩnh vực nghệ thuật của nhân loại tùy theo cung của người nghệ sĩ sáng tạo. Chúng ta không được quên rằng người nghệ sĩ hiện diện trên mọi cung; không có cung đặc biệt nào tạo ra nhiều nghệ sĩ hơn cung khác. Hình thức dường như sẽ tự phát biểu lộ khi đời sống bên trong của người nghệ sĩ được điều hòa, tạo ra sự tổ chức bên ngoài của các hình tướng đời sống của y. Nghệ thuật sáng tạo chân chính là một chức năng của linh hồn; vì vậy, nhiệm vụ chủ yếu của người nghệ sĩ là chỉnh hợp, tham thiền và tập trung sự chú ý của y vào Thế giới của ý nghĩa. Tiếp theo đó là nỗ lực biểu đạt các ý tưởng thiêng liêng trong những hình thức thích đáng, tùy theo năng lực bẩm sinh và các khuynh hướng cung của người nghệ sĩ trong bất kỳ lĩnh vực nào mà y có thể chọn và đối với y là phương tiện tốt nhất cho nỗ lực của mình. Điều này song hành với nỗ lực, được thực hiện liên tục trên cõi hồng trần, nhằm trang bị, chỉ dạy và huấn luyện bộ máy của não bộ, bàn tay và tiếng nói, qua đó cảm hứng phải tuôn chảy, để có thể có sự biểu đạt đúng đắn và một sự ngoại hiện chính xác của thực tại bên trong. |
|
The discipline involved is great and it is here that many artists fail. Their failure is based on various things—on a fear that the use of the mind will cripple endeavor, and that spontaneous creative art is, and must be primarily emotional [250] and intuitive, and must not be crippled and handicapped by too great an attention to mental training. It is based on inertia which finds creative work the line of least resistance and which seeks not to understand the way in which the inspiration comes, or how the externalisation of the vision becomes possible, or the technique of the inner activities, but simply follows an impulse. Again it indicates an uneven, unbalanced development which results from the fact that, through specialisation or focussed intense interest over a period of lives, there comes a capacity to make a soul contact along one line of endeavor, but not the capacity to be in contact with the soul. This is facilitated by the fact that the artist for many lives comes under the influence of one particular personality ray. Hence the occult paradox stated above, which warrants the attention of artists. Another factor upon which failure is often based is the supreme conceit and ambition of many artists. There is the ability to excel in some field and, in that one particular, to evidence greater capacity than the average man. But there is not the ability to live as a soul and the vaunted excellence is only in one direction. There is frequently no life discipline or self-control but instead there are flights of genius, stupendous achievement in the chosen line of art, and a life lived in contradiction to the divinity expressed through the artistic achievement. The understanding of the significance and technique of genius is one of the tasks of the new psychology. Genius is ever the expression of the soul in some creative activity, thus revealing the world of meaning, of divinity, and hidden beauty which the phenomenal world usually veils but will some day indicate in truth. |
Kỷ luật liên hệ đến điều này là rất lớn, và chính ở đây mà nhiều nghệ sĩ thất bại. Sự thất bại của họ dựa trên nhiều điều khác nhau—trên nỗi sợ rằng việc sử dụng trí tuệ sẽ làm tê liệt nỗ lực, và rằng nghệ thuật sáng tạo tự phát là, và trước hết phải là, cảm xúc [250] và trực giác, và không được làm cho tê liệt hay cản trở bởi sự chú ý quá nhiều đến việc huấn luyện trí tuệ. Nó dựa trên tính trì trệ, vốn thấy công việc sáng tạo là con đường ít trở ngại nhất và không tìm cách thấu hiểu phương thức mà cảm hứng đến, hay cách sự ngoại hiện của linh ảnh trở nên khả hữu, hay kỹ thuật của các hoạt động bên trong, mà chỉ đơn giản đi theo một xung lực. Một lần nữa, nó cho thấy một sự phát triển không đồng đều, mất quân bình, phát sinh từ sự kiện rằng, do chuyên môn hóa hoặc do sự quan tâm mãnh liệt được tập trung trong một thời kỳ nhiều kiếp sống, nên xuất hiện một năng lực tạo ra sự tiếp xúc với linh hồn theo một đường nỗ lực, nhưng không có năng lực ở trong sự tiếp xúc với linh hồn. Điều này được tạo thuận lợi bởi sự kiện rằng người nghệ sĩ trong nhiều kiếp sống chịu dưới ảnh hưởng của một cung phàm ngã đặc biệt. Do đó mới có nghịch lý huyền bí đã nêu ở trên, điều đáng để các nghệ sĩ lưu tâm. Một yếu tố khác mà sự thất bại thường dựa vào là tính tự phụ và tham vọng tột độ của nhiều nghệ sĩ. Có năng lực vượt trội trong một lĩnh vực nào đó và, trong riêng phương diện ấy, biểu lộ khả năng lớn hơn người bình thường. Nhưng lại không có năng lực sống như một linh hồn, và sự xuất sắc được khoa trương ấy chỉ ở một hướng mà thôi. Thường không có kỷ luật đời sống hay sự tự chủ, mà thay vào đó là những cơn bộc phát thiên tài, những thành tựu phi thường trong đường nghệ thuật đã chọn, và một đời sống được sống trái ngược với thiên tính được biểu lộ qua thành tựu nghệ thuật. Sự thấu hiểu thâm nghĩa và kỹ thuật của thiên tài là một trong những nhiệm vụ của nền Tâm Lý Học Nội Môn mới. Thiên tài luôn luôn là sự biểu đạt của linh hồn trong một hoạt động sáng tạo nào đó, nhờ đó vén lộ thế giới của ý nghĩa, của thiên tính, và của vẻ đẹp ẩn kín mà thế giới hiện tượng thường che phủ nhưng một ngày kia sẽ biểu thị một cách chân thực. |
e. THE FACTOR OF ANALYSIS—YẾU TỐ PHÂN TÍCH
|
The fifth conditioning quality or activity of the soul is the factor of analysis. It constitutes a law, governing humanity. [251] This must ever be remembered. Analysis, discrimination, differentiation, and the power to distinguish are divine attributes. When they produce a sense of separateness and of difference, they are then stimulating personality reactions and are consequently personally misused and misapplied. When, however, they are preserved within the sense of synthesis and used in the application of the Plan for the whole, they are soul qualities and laws and are essential to the right unfolding of divine purpose. The Plan of God comes into being through the right use of emphasis, and when we emphasise one aspect or quality, temporarily we exclude or relegate into brief abeyance another aspect or aspects. This is a major part of the activity of the law of cycles with which the Masters work. It involves, on Their part, the constant use of the faculty to analyse, and the power to discriminate. |
Phẩm tính hay hoạt động tác động thứ năm của linh hồn là yếu tố phân tích. Nó cấu thành một định luật, chi phối nhân loại. [251] Điều này phải luôn luôn được ghi nhớ. Phân tích, phân biện, biến phân, và năng lực phân biệt là những thuộc tính thiêng liêng. Khi chúng tạo ra cảm giác tách biệt và khác biệt, thì khi ấy chúng đang kích thích các phản ứng của phàm ngã và do đó bị lạm dụng và áp dụng sai trên phương diện cá nhân. Tuy nhiên, khi chúng được duy trì trong cảm nhận tổng hợp và được dùng trong việc áp dụng Thiên Cơ cho toàn thể, thì chúng là những phẩm tính và định luật của linh hồn và là điều thiết yếu cho sự khai mở đúng đắn của Thiên Ý. Thiên Cơ của Thượng đế đi vào biểu hiện qua việc sử dụng đúng sự nhấn mạnh, và khi chúng ta nhấn mạnh một phương diện hay phẩm tính nào đó, thì tạm thời chúng ta loại trừ hoặc đặt sang một bên trong một thời gian ngắn một phương diện hay các phương diện khác. Đây là một phần chủ yếu trong hoạt động của định luật chu kỳ mà các Chân sư làm việc cùng. Về phần Các Ngài, điều này bao hàm việc sử dụng liên tục năng lực phân tích và quyền năng phân biện. |
|
The fact that in time and space the pairs of opposites hold sway and that they are used by the Masters to weave the web of life is indicative of this primary differentiation of the One into the two, and the two into three, the three into the basic seven and these seven into the many. From unity to diversity the work proceeds and all of it emerges under the soul law which is the law of analysis within the field of synthesis. |
Sự kiện rằng trong thời gian và không gian, các cặp đối đãi ngự trị và được các Chân sư dùng để dệt nên mạng lưới của sự sống là dấu hiệu của sự biến phân nguyên thủy này của Đấng Duy Nhất thành hai, và hai thành ba, ba thành bảy căn bản, và bảy này thành số nhiều. Từ nhất thể đến đa tạp, công việc cứ thế tiến hành, và tất cả đều xuất hiện dưới định luật của linh hồn, vốn là định luật phân tích trong trường tổng hợp. |
|
The “seeds of difference”, as they are called, are major factors used in producing the phenomenal world. The Hierarchy works with the seeds, as a gardener works with the seeds of flowers, and from these seeds the needed differentiated forms appear, producing still further distinctions. The sowing of these seeds, their care and nurturing is part of the phenomenal task of the Hierarchy, particularly at the inauguration of a New Age, as is the case today. The Masters have to understand, first of all, what is the meaning which the will of God is seeking to express in any particular world cycle. They must comprehend the significance of the impulses [252] emanating from sources higher than Their own field of expression and of dharma, and They must see to it that the seeds of the new forms are adequate to the desired intent. They must appreciate the nature of the reality which any age must reveal in the progressive unfoldment of divine purpose; and then They have the responsibility of so working that the outer reality approximates (in appearance and in quality) the inner truth. All this is made possible through an understanding of the factor or rule of analysis, regarding it as a law governing or producing soul control, both on soul levels and on the level of appearances. This is one of the major tasks of the Hierarchy, and involves the keenest type of mind control, of intuitive apprehension and of analytical desire. We would do well to ponder upon these terms. |
“Những hạt giống của sự khác biệt”, như chúng được gọi, là những yếu tố chủ yếu được dùng để tạo ra thế giới hiện tượng. Thánh Đoàn làm việc với các hạt giống ấy như người làm vườn làm việc với hạt giống của hoa, và từ những hạt giống này các hình tướng biến phân cần thiết xuất hiện, tạo ra những phân biệt hơn nữa. Việc gieo những hạt giống này, chăm sóc và nuôi dưỡng chúng là một phần trong nhiệm vụ hiện tượng của Thánh Đoàn, đặc biệt vào lúc khai mở một Kỷ Nguyên Mới, như trường hợp ngày nay. Trước hết, các Chân sư phải thấu hiểu ý nghĩa mà Ý Chí của Thượng Đế đang tìm cách biểu đạt trong bất kỳ chu kỳ thế giới đặc biệt nào. Các Ngài phải lĩnh hội thâm nghĩa của những xung lực [252] phát ra từ những nguồn cao hơn lĩnh vực biểu đạt và dharma của chính Các Ngài, và Các Ngài phải bảo đảm rằng những hạt giống của các hình tướng mới là thích đáng với ý định mong muốn. Các Ngài phải đánh giá đúng bản chất của thực tại mà bất kỳ thời đại nào cũng phải vén lộ trong sự khai mở tiến bộ của Thiên Ý; và rồi Các Ngài có trách nhiệm làm việc sao cho thực tại bên ngoài xấp xỉ với chân lý bên trong (về sắc tướng và về phẩm tính). Tất cả điều này trở nên khả hữu nhờ sự thấu hiểu yếu tố hay quy luật phân tích, xem nó như một định luật chi phối hay tạo ra sự kiểm soát của linh hồn, cả trên các cấp độ linh hồn lẫn trên cấp độ của các sắc tướng. Đây là một trong những nhiệm vụ lớn của Thánh Đoàn, và bao hàm loại kiểm soát trí tuệ sắc bén nhất, sự lĩnh hội trực giác và khát vọng phân tích. Chúng ta nên suy ngẫm về những thuật ngữ này. |
|
It should be remembered that analysis governs the emergence of the fifth kingdom in nature, the Kingdom of God, upon the phenomenal plane. This appearing presupposes a distinction between the fifth kingdom and the other four kingdoms. It is, however, a distinction in one direction only and that is in the direction of consciousness. Herein lies its major interest, for in this respect the fifth kingdom differs from the other kingdoms. The other four kingdoms have separate phenomenal types and differentiated groups of forms. The phenomena of the vegetable kingdom, for instance, and that of the animal kingdom are vastly unlike each other. In the fifth kingdom, however, a new condition or state of affairs will be found. The outer phenomenal appearance will be retained as far as the form is concerned, though refinement and quality will be intensified. The kingdom of God materialises in and through humanity. But in the realm of consciousness a very different state of affairs will be found. |
Cần nhớ rằng sự phân tích chi phối sự xuất hiện của giới thứ năm trong thiên nhiên, Thiên Giới, trên cõi hiện tượng. Sự xuất hiện này giả định có một sự phân biệt giữa giới thứ năm và bốn giới kia. Tuy nhiên, đó chỉ là một sự phân biệt theo một hướng duy nhất, và đó là hướng của tâm thức. Chính trong điều này có mối quan tâm chủ yếu của nó, vì về phương diện này giới thứ năm khác với các giới khác. Bốn giới kia có những loại hiện tượng riêng biệt và những nhóm hình tướng được biến phân. Chẳng hạn, các hiện tượng của giới thực vật và của giới động vật rất khác nhau. Tuy nhiên, trong giới thứ năm, một điều kiện hay trạng thái sự việc mới sẽ được thấy. Sắc tướng hiện tượng bên ngoài sẽ được giữ lại xét về phương diện hình tướng, dù sự tinh luyện và phẩm tính sẽ được tăng cường. Thiên Giới hiện hình trong và qua nhân loại. Nhưng trong lĩnh vực tâm thức, một trạng thái sự việc rất khác sẽ được thấy. |
|
A Master of the Wisdom appears phenomenally to be a human being. He has the physical attributes, functions, habits and mechanism of the fourth kingdom in nature, but within the form, the consciousness is entirely changed. The analysis, therefore, referred to in these pages relates to a distinction in consciousness and not to a distinction in form. The symbol persists unchanged though perfected upon the outer plane, but its quality and state of awareness is as much changed as is that existing between a human being and a vegetable. This is somewhat a new thought and its implications are stupendous. It is the secret of the entire shift at this time into the world of meaning and involves a new awareness and a fresh appreciation by humanity of a greater world of values. But—and here is a point of interest—it is an awareness carried forward into a new kingdom in nature whilst remaining a part of the old. It is here that the new synthesis and fusion takes place. |
Một Chân sư Minh triết, về mặt hiện tượng, dường như là một con người. Ngài có những thuộc tính, chức năng, tập quán và bộ máy hồng trần của giới thứ tư trong thiên nhiên, nhưng bên trong hình tướng ấy, tâm thức đã hoàn toàn thay đổi. Vì vậy, sự phân tích được nói đến trong những trang này liên hệ đến một sự phân biệt trong tâm thức chứ không phải một sự phân biệt trong hình tướng. Biểu tượng vẫn tồn tại không thay đổi dù đã được hoàn thiện trên cõi bên ngoài, nhưng phẩm tính và trạng thái nhận biết của nó đã thay đổi nhiều như sự khác biệt hiện hữu giữa một con người và một cây cỏ. Đây phần nào là một tư tưởng mới, và những hàm ý của nó thật phi thường. Đó là bí mật của toàn bộ sự chuyển dịch vào lúc này sang thế giới của ý nghĩa và bao hàm một sự nhận biết mới cùng một sự đánh giá mới mẻ của nhân loại về một thế giới giá trị lớn lao hơn. Nhưng—và đây là một điểm đáng chú ý—đó là một sự nhận biết được mang tiến vào một giới mới trong thiên nhiên trong khi vẫn còn là một phần của giới cũ. Chính ở đây mà sự tổng hợp và dung hợp mới diễn ra. |
|
It is not a part of the plan of God for a constant cyclic appearance of new and unpredictable forms to continue indefinitely. Humanity will go on perfecting the human mechanism so as to keep pace with the growth of the divine consciousness in man, but because in man the three lines of divinity meet and blend, there is no need for further drastic distinctions to continue to appear in the outer world of phenomena as further states of consciousness are attained. In the past each great unfoldment of consciousness has precipitated new forms. This will no longer occur. The consciousness of God working in and upon substance in the mineral kingdom produced totally different forms to those which the same consciousness, working upon higher substance, employed in the animal and human kingdoms. Under the divine plan for this solar system, this form-differentiation has its limitations and cannot proceed beyond a certain point. This point was reached in the human kingdom for this world cycle. Now, in the future, the consciousness aspect of Deity will continue to perfect the forms in the fourth kingdom in nature through the instrumentality [254] of those whose consciousness is that of the fifth kingdom. This is the task of the Hierarchy of Masters. This is the delegated task of the New Group of World Servers who, upon the physical plane, can become the instrument of Their will. Through this group, the inner divine qualities of good will, peace and love can increase and express themselves through human beings, functioning in the forms of the fourth kingdom. |
Không phải là một phần trong Thiên Cơ của Thượng đế để sự xuất hiện theo chu kỳ liên tục của những hình tướng mới và không thể tiên liệu cứ tiếp diễn vô hạn định. Nhân loại sẽ tiếp tục hoàn thiện bộ máy con người để theo kịp sự tăng trưởng của tâm thức thiêng liêng trong con người, nhưng bởi vì trong con người ba đường của thiên tính gặp nhau và hòa nhập, nên không cần những sự phân biệt mạnh mẽ hơn nữa tiếp tục xuất hiện trong thế giới hiện tượng bên ngoài khi các trạng thái tâm thức cao hơn được đạt đến. Trong quá khứ, mỗi sự khai mở lớn của tâm thức đều đã ngưng tụ ra những hình tướng mới. Điều này sẽ không còn xảy ra nữa. Tâm thức của Thượng đế hoạt động trong và trên chất liệu trong giới kim thạch đã tạo ra những hình tướng hoàn toàn khác với những hình tướng mà cùng tâm thức ấy, hoạt động trên chất liệu cao hơn, đã sử dụng trong giới động vật và giới nhân loại. Dưới Thiên Cơ thiêng liêng dành cho hệ mặt trời này, sự biến phân hình tướng này có những giới hạn của nó và không thể tiến xa hơn một điểm nào đó. Điểm này đã được đạt đến trong giới nhân loại đối với chu kỳ thế giới này. Giờ đây, trong tương lai, phương diện tâm thức của Thượng đế sẽ tiếp tục hoàn thiện các hình tướng trong giới thứ tư của thiên nhiên qua công cụ [254] của những người có tâm thức là tâm thức của giới thứ năm. Đây là nhiệm vụ của Thánh Đoàn các Chân sư. Đây là nhiệm vụ được ủy thác cho Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, những người mà trên cõi hồng trần có thể trở thành công cụ của ý chí Các Ngài. Qua nhóm này, những phẩm tính thiêng liêng bên trong của thiện chí, hòa bình và tình thương có thể gia tăng và biểu đạt chính chúng qua những con người đang hoạt động trong các hình tướng của giới thứ tư. |
|
These points of interest have been discussed as it is essential that some understanding of the factor of analysis within the field of synthesis should be grasped. Analysis is too often confused with separativeness. The problem is complex and difficult, but an understanding of the underlying implications will emerge as the race grows in wisdom and in knowledge. We are here concerned with the concept of the Plan as initiates have grasped it. |
Những điểm đáng chú ý này đã được bàn đến vì điều thiết yếu là phải nắm được một vài thấu hiểu về yếu tố phân tích trong trường tổng hợp. Quá thường xuyên, sự phân tích bị lẫn lộn với tính tách biệt. Vấn đề này phức tạp và khó khăn, nhưng sự thấu hiểu những hàm ý nền tảng sẽ xuất hiện khi nhân loại tăng trưởng trong minh triết và tri thức. Ở đây chúng ta quan tâm đến khái niệm về Thiên Cơ như các điểm đạo đồ đã nắm bắt nó. |
f. THE QUALITY, INNATE IN MAN, TO IDEALISE—PHẨM TÍNH LÝ TƯỞNG HÓA, BẨM SINH TRONG CON NGƯỜI
|
It is interesting to note how automatically and naturally the factors inducing soul control, as outlined up to this point, have brought us to the sixth law or rule, the power—innate, inherent, and spiritually instinctual—to idealise. Instinct, intellect, intuition, ideation, and illumination—these are but differentiations and distinctive aspects of one great inherent capacity in man, and are found in all forms in all kingdoms in varying degree. Whether it is the power of the tiny seed, deeply hidden in the dark earth, to penetrate through its surrounding barriers and to emerge into the light, or whether it is the power of a human being to rise from death in matter to life in God, and to penetrate into the world of the Real from the realm of the unreal, it is all the one basic factor of idealism. Anthropology and history give us an account of the evolution of individual man and of nations and their [255] activities upon the plane of appearances. But there is a history which today is slowly being formulated which is the history of the seed of consciousness in nature and the growth of the power to recognise ideas and to push forward towards their fulfillment. This is the new history which—as might be expected—is carrying us steadily into the world of meaning and revealing to us gradually the nature of those impulses and tendencies which have led the race steadily forward from the densest point of concrete, primitive life into the world of sensitive perception. |
Thật thú vị khi lưu ý rằng một cách tự động và tự nhiên, những yếu tố tạo ra sự kiểm soát của linh hồn, như đã được phác họa cho đến điểm này, đã đưa chúng ta đến định luật hay quy luật thứ sáu, quyền năng—bẩm sinh, cố hữu, và có tính bản năng tinh thần—để lý tưởng hóa. Bản năng, trí tuệ, trực giác, ý niệm hóa, và soi sáng—đó chỉ là những biến phân và những phương diện đặc thù của một năng lực cố hữu vĩ đại trong con người, và được tìm thấy trong mọi hình tướng thuộc mọi giới ở những mức độ khác nhau. Dù đó là năng lực của hạt giống nhỏ bé, ẩn sâu trong lòng đất tối tăm, xuyên qua những rào cản bao quanh nó để vươn ra ánh sáng, hay là năng lực của một con người vươn lên từ cái chết trong vật chất đến sự sống trong Thượng đế, và xuyên vào thế giới của Thực Tại từ cõi của cái không thực, thì tất cả đều là một yếu tố căn bản duy nhất của chủ nghĩa lý tưởng. Nhân học và lịch sử cho chúng ta một tường thuật về sự tiến hoá của cá nhân con người và của các quốc gia cùng những [255] hoạt động của họ trên cõi sắc tướng. Nhưng có một lịch sử mà ngày nay đang dần dần được hình thành, đó là lịch sử của hạt giống tâm thức trong thiên nhiên và sự tăng trưởng của năng lực nhận biết các ý tưởng và thúc đẩy tiến tới sự hoàn thành của chúng. Đây là lịch sử mới, lịch sử mà—như có thể chờ đợi—đang đưa chúng ta một cách vững chắc vào thế giới của ý nghĩa và dần dần vén lộ cho chúng ta bản chất của những xung lực và khuynh hướng đã dẫn dắt nhân loại tiến lên đều đặn từ điểm đậm đặc nhất của đời sống cụ thể, nguyên thủy vào thế giới của sự tri giác nhạy bén. |
|
It is in this field that the Masters work and in which They call Their disciples to be active. The power of ideas is only today beginning to be understood. The potency of ideation, the forms which ideas must take, and the promotion of the cult of right ideas is one of the major problems to be tackled in the New Age. |
Chính trong lĩnh vực này mà các Chân sư làm việc và trong đó Các Ngài kêu gọi các đệ tử của mình hoạt động. Quyền năng của các ý tưởng chỉ ngày nay mới bắt đầu được thấu hiểu. Hiệu lực của sự ý niệm hóa, những hình thức mà các ý tưởng phải mang lấy, và việc thúc đẩy sự tôn sùng các ý tưởng đúng đắn là một trong những vấn đề lớn cần được giải quyết trong Kỷ Nguyên Mới. |
g. THE INTERPLAY OF THE GREAT DUALITIES—SỰ TƯƠNG TÁC CỦA NHỮNG NHỊ NGUYÊN TÍNH VĨ ĐẠI
|
The seventh of these Rules—that of the interplay of the great dualities—is one of the basic rules of soul control and it is by no means an easy one for the student to grasp. It is a fundamental law of soul life. The reason why it is so hard to understand the paradox of soul unity through duality is that in speaking of the pairs of opposites, emphasis has for ages been laid upon the astral dualities and the need for humanity to choose the narrow path which runs between them. Upon the battlefield of the dualities he stands and must find the razor-edged path which opens up before him and lands him before the portal of initiation. But, essentially, these pairs of opposites are only reflections of a higher and divine correspondence. The law here considered is that which governs the relations between life and forms, between spirit and matter. Upon this we cannot here enlarge for only those initiates [256] who have, in their own lives, transcended the lower reflection of the dualities can even begin to grasp the true spiritual significance of this rule for soul control in its wider and more essential meaning. There is, therefore, no need for us to enter upon that abstruse question in this Treatise. |
Quy luật thứ bảy trong các Quy Luật này—quy luật về sự tương tác của những nhị nguyên tính vĩ đại—là một trong những quy luật căn bản của sự kiểm soát của linh hồn và tuyệt nhiên không phải là điều dễ nắm bắt đối với đạo sinh. Đó là một định luật nền tảng của đời sống linh hồn. Lý do khiến thật khó thấu hiểu nghịch lý của sự hợp nhất của linh hồn qua nhị nguyên tính là vì khi nói về các cặp đối đãi, trong nhiều thời đại sự nhấn mạnh đã được đặt trên các nhị nguyên tính cảm dục và trên nhu cầu để nhân loại chọn con đường hẹp chạy giữa chúng. Trên chiến trường của các nhị nguyên tính, y đứng đó và phải tìm ra con đường sắc như lưỡi dao mở ra trước mặt y và đưa y đến trước cổng điểm đạo. Nhưng về bản chất, những cặp đối đãi này chỉ là những phản chiếu của một định luật tương ứng cao hơn và thiêng liêng hơn. Định luật được xét ở đây là định luật chi phối các mối liên hệ giữa sự sống và các hình tướng, giữa tinh thần và vật chất. Ở đây chúng ta không thể khai triển thêm về điều này, vì chỉ những điểm đạo đồ [256] đã vượt qua, trong chính đời sống của mình, sự phản chiếu thấp của các nhị nguyên tính mới có thể bắt đầu nắm được thâm nghĩa tinh thần chân thực của quy luật này đối với sự kiểm soát của linh hồn trong ý nghĩa rộng lớn hơn và cốt yếu hơn của nó. Vì vậy, chúng ta không cần đi vào vấn đề thâm áo đó trong bộ Luận này. |
|
Ours is rather the task to gain a wise understanding of the vision, as far as the capacity of each of us will permit. Only in this way will there come to us not only eventual release, but also the strength to live in this world and to be of service to our fellow men. |
Nhiệm vụ của chúng ta đúng hơn là đạt được một sự thấu hiểu minh triết về tầm nhìn, trong chừng mực mà năng lực của mỗi người chúng ta cho phép. Chỉ bằng cách này, không những sự giải thoát cuối cùng mới đến với chúng ta, mà còn cả sức mạnh để sống trong thế giới này và phụng sự những người đồng loại của mình. |