TLHNM – Chương 1 – Sự Tăng Trưởng Của Ảnh hưởng Linh hồn

📘 Sách: Tâm Lý Học Nội Môn II – Tác giả: Alice Bailey

CHAPTER I—The Egoic Ray—Cung Chân ngã

[3]

CHAPTER I

The Egoic Ray

Cung Chân Ngã

I. The Growth of Soul Influence

I. Sự Tăng Trưởng của Ảnh Hưởng Linh Hồn

II. The Seven Laws of Soul or Group Life

II. Bảy Định luật của Linh Hồn hay của Đời Sống Nhóm

III. The Five Groups of Souls

III. Năm Nhóm Linh Hồn

IV. Rules for Inducing Soul Control

IV. Các quy luật để tạo ra sự kiểm soát của linh hồn

I. The Growth of Soul Influence—Sự Tăng Trưởng của Ảnh hưởng Linh hồn

Before taking up our subject as outlined at the close of the previous volume, I would like to speak a word as to the symbolism we will employ in discussing egoic and personality control. All that is said in this connection is in an attempt to define and consider that which is really undefinable and which is so elusive and subtle that though we may call it energy or force, those words ill convey the true idea. We must, therefore, bear in mind that, as we read and consider this treatise on psychology, we are talking in symbols. This is necessarily so, for we are dealing with the expression of divinity in time and space, and until man is consciously aware of his divinity and demonstrating it, it is not possible to do more than speak in parable and metaphor with symbolic intent—to be ascertained through the medium of the mystical perception and the wisdom of the enlightened man. As is often glibly said with little real understanding of the significance of the words used, we are dealing with forces and energies. These, as they cyclically run their course and play upon and intermingle with other energies and potencies, produce those forms in matter and substance, which constitute the appearance and express the quality of the great all-enfolding [4] Lives and of the Life in which all “lives and moves and has its being.”

Trước khi tiếp tục chủ đề của chúng ta như đã phác thảo ở phần cuối của tập trước, tôi muốn đề cập đến biểu tượng mà chúng ta sẽ sử dụng khi thảo luận về sự kiểm soát của chân ngã và phàm ngã. Tất cả những gì được nói trong mối liên hệ này là một nỗ lực nhằm xác định và xem xét điều thực sự không thể định nghĩa, điều quá tinh tế và khó nắm bắt đến mức dù chúng ta có gọi nó là năng lượng hay mãnh lực thì những từ ngữ ấy vẫn không thể truyền tải trọn vẹn ý niệm thực sự. Do đó, chúng ta phải ghi nhớ rằng khi đọc và xem xét tác phẩm luận bàn về tâm lý học này, chúng ta đang nói bằng biểu tượng. Điều này là tất yếu, vì chúng ta đang xử lý sự biểu hiện của Thượng Đế trong thời gian và không gian, và cho đến khi con người có ý thức về thiên tính của mình và thể hiện nó, thì không thể làm gì hơn ngoài việc nói bằng dụ ngôn và ẩn dụ với ý định mang tính biểu tượng—được xác định thông qua nhận thức thần bí và minh triết của người đã giác ngộ. Như người ta thường nói một cách trôi chảy nhưng lại ít hiểu thấu ý nghĩa thực sự của những từ ngữ được sử dụng, chúng ta đang xử lý các mãnh lực và năng lượng. Những mãnh lực và năng lượng này, khi tuần hoàn theo chu kỳ của chúng và tác động cũng như hòa quyện với các năng lượng và quyền năng khác, tạo ra những hình tướng trong vật chất và chất thể, cấu thành sự xuất hiện và biểu hiện phẩm tính của các Đấng Sống vĩ đại bao trùm tất cả [4] và của Đấng mà trong Ngài, tất cả “sống, chuyển động và hiện hữu.”

The unfoldment of the human consciousness is signalised sequentially by the recognition of life after life, of being after being, and the realisation that these lives are in themselves the sum total of all the potencies and energies whose will is to create and to manifest. In dealing, however, with these energies and forces, it is impossible to express their appearance, quality and purpose except in symbolic form, and the following points should therefore be remembered:

Sự khai mở của tâm thức con người được đánh dấu tuần tự bằng sự nhận thức về sự sống này nối tiếp sự sống khác, về bản thể này nối tiếp bản thể khác, và sự nhận ra rằng những sự sống này tự chúng là tổng hợp của tất cả các quyền năng và năng lượng có ý chí sáng tạo và biểu hiện. Tuy nhiên, khi xử lý những năng lượng và mãnh lực này, không thể diễn đạt sự xuất hiện, phẩm tính và mục đích của chúng ngoài hình thức biểu tượng, do đó, cần ghi nhớ các điểm sau đây:

1. The personality consciousness is that of the third aspect of divinity, the creator aspect. This works in matter and substance in order to create forms through which the quality may express itself and so demonstrate the nature of divinity on the plane of appearances.

1. Tâm thức của phàm ngã là biểu hiện của khía cạnh thứ ba của thiên tính, khía cạnh sáng tạo. Điều này hoạt động trong vật chất và chất thể nhằm tạo ra các hình tướng mà qua đó phẩm tính có thể được biểu hiện, từ đó thể hiện bản chất của thiên tính trên cõi biểu hiện.

2. The egoic consciousness is that of the second aspect of divinity, that of the soul, expressing itself as quality and as the determining subjective “colour” of the appearances. This naturally varies, according to the ability of the soul in any form to master its vehicle, matter, and to express innate quality through the outer form.

2. Tâm thức của chân ngã là biểu hiện của khía cạnh thứ hai của thiên tính, tức là linh hồn, tự biểu hiện như phẩm tính và như “màu sắc” chủ quan quyết định của sự xuất hiện. Điều này thay đổi tự nhiên, tùy thuộc vào khả năng của linh hồn trong mỗi hình tướng để làm chủ thể xác của nó—tức vật chất—và biểu hiện phẩm tính bẩm sinh qua hình tướng bên ngoài.

3. The monadic consciousness is that of the first aspect of divinity, that which embodies divine life—purpose and intent, and which uses the soul in order to demonstrate through that soul the inherent purpose of God. It is this that determines the quality. The soul embodies that purpose and will of God as it expresses itself in seven aspects. The monad expresses the same purpose as it exists, unified in the Mind of God Himself. This is a form of words conveying practically nothing to the average thinker. [5]

3. Tâm thức của chân thần là biểu hiện của khía cạnh thứ nhất của thiên tính, khía cạnh thể hiện sự sống thiêng liêng—mục đích và ý định, sử dụng linh hồn để biểu lộ thông qua linh hồn ấy mục đích nội tại của Thượng Đế. Chính điều này quyết định phẩm tính. Linh hồn thể hiện mục đích và ý chí của Thượng Đế khi nó tự biểu hiện qua bảy khía cạnh. Chân thần thể hiện cùng một mục đích nhưng trong trạng thái hợp nhất trong Tâm Trí của Thượng Đế. Những từ ngữ này về cơ bản không truyền tải được điều gì đối với người suy nghĩ bình thường. [5]

As these three expressions of the One Great Life are realised by man on the physical plane, he begins to tune in consciously on the emerging Plan of Deity, and the whole story of the creative process becomes the story of God’s realised purpose.

Khi con người trên cõi trần dần dần nhận thức được ba biểu hiện này của Sự Sống Duy Nhất Vĩ Đại, y bắt đầu hòa hợp có ý thức với Thiên Cơ đang dần lộ diện, và toàn bộ câu chuyện về tiến trình sáng tạo trở thành câu chuyện về mục đích đã được nhận thức của Thượng Đế.

In the first place, as the third aspect is consciously developed, man arrives at a knowledge of matter, of substance and of outer creative activity. Then he passes on to a realisation of the underlying qualities which the form is intended to reveal, and identifies himself with the ego, the soul or solar angel. This he comes to know as his true self, the real spiritual man. Later, he arrives at the realisation of the purpose which is working out through the qualities, as they express themselves through the form. The above paragraphs are only a summation of what has been earlier said, but it is necessary that there should be real clarity of thought on these matters. It is apparent as we study, how this entire sequential process of realisation pivots around form manifestation, and has relation to the quality and purpose of the divine Mind. This will inevitably be clear to the man who has studied the theme of A Treatise on Cosmic Fire, which deals specifically with the creative process and with manifestation. It deals therefore with the outer personality expression of that great all-encompassing Life, which we call God, for lack of a better term. We need to bear in mind that our universe (as far as the highest human consciousness can as yet conceive of it) is to be found on the seven subplanes of the cosmic physical plane, and that our highest type of energy, embodying for us the purest expression of Spirit, is but the force manifestation of the first subplane of the cosmic physical plane. We are dealing, therefore, as far as consciousness is concerned, with what might be regarded symbolically as the brain reaction and response [6] to cosmic purpose,—the brain reaction of God Himself.

Trước tiên, khi khía cạnh thứ ba được phát triển có ý thức, con người đạt được hiểu biết về vật chất, về chất thể và về hoạt động sáng tạo bên ngoài. Sau đó, y tiến đến nhận thức về những phẩm tính tiềm ẩn mà hình tướng được tạo ra nhằm bộc lộ, và đồng nhất mình với chân ngã, tức linh hồn hay Thái Dương Thiên Thần. Y dần dần nhận biết đây chính là bản thể chân thực của mình, con người tinh thần thực sự. Sau đó, y đi đến nhận thức về mục đích đang dần thể hiện qua các phẩm tính, khi chúng biểu lộ qua hình tướng. Các đoạn trên chỉ là một sự tổng hợp lại những điều đã được đề cập trước đó, nhưng điều cần thiết là phải có sự minh bạch tư duy thực sự về những vấn đề này. Khi nghiên cứu, chúng ta có thể thấy rằng toàn bộ tiến trình nhận thức này xoay quanh sự biểu hiện của hình tướng, và có mối liên hệ với phẩm tính và mục đích của Tâm Trí thiêng liêng. Điều này sẽ rõ ràng đối với những ai đã nghiên cứu chủ đề trong Luận về Lửa Vũ Trụ, tác phẩm bàn riêng về tiến trình sáng tạo và sự biểu hiện. Do đó, tác phẩm này bàn về sự biểu lộ bên ngoài của phàm ngã, vốn là sự biểu hiện của Đấng Sống bao trùm tất cả mà chúng ta gọi là Thượng Đế, do thiếu một thuật ngữ tốt hơn. Chúng ta cần ghi nhớ rằng vũ trụ của chúng ta (xét theo giới hạn của tâm thức nhân loại cao nhất có thể nhận thức được) được tìm thấy trên bảy cõi phụ của cõi trần vũ trụ, và dạng năng lượng cao nhất của chúng ta, biểu hiện thuần khiết nhất của Tinh thần mà chúng ta có thể hình dung, chỉ là sự biểu lộ mãnh lực của cõi phụ thứ nhất của cõi trần vũ trụ. Do đó, xét về tâm thức, chúng ta đang xử lý điều có thể được xem xét một cách biểu tượng như phản ứng của bộ não trước Thiên Cơ—phản ứng của bộ não Thượng Đế. [6]

In man, the microcosm, the objective of the evolutionary purpose for the fourth kingdom in nature is to enable man to manifest as a soul in time and space and to tune in on the soul purpose and the plan of the Creator, as it is known and expressed by the seven Spirits before the Throne, the seven planetary Logoi. But at this point we can only hint at a great mystery, which is that all that the highest of the Sons of God on our manifested planetary world can grasp is a partial realisation of the purpose and plan of the Solar Logos, as it is grasped, apprehended and expressed by one of the planetary Logoi Who is (in His place and term of office) conditioned and limited by His own peculiar point in evolution. A seventh part of the unfolding Plan is being expressed by our particular planetary Life, and because this great Being is not one of the seven sacred Lives and is therefore not expressing Himself through one of the seven sacred planets, the Plan as unfolded upon the Earth is a part of a dual expression of purpose, and only as another non-sacred planet reaches its consummation can the whole plan for the Earth be realised. This may not be easily understood, for, it has been said, only those who are initiate can grasp some of the significance of the statement that “The twain shall be one and together shall express divinity.”

Trong con người, tiểu thiên địa, mục tiêu của Thiên Cơ tiến hóa đối với giới thứ tư trong thiên nhiên là làm cho con người biểu lộ như một linh hồn trong thời gian và không gian, và hòa hợp với mục đích của linh hồn và Thiên Cơ của Đấng Sáng Tạo, như được biết và thể hiện bởi bảy Đấng Linh Hồn trước Thánh Tòa, bảy Hành Tinh Thượng Đế. Tuy nhiên, tại thời điểm này, chúng ta chỉ có thể gợi ý về một huyền nhiệm vĩ đại, rằng tất cả những gì cao nhất mà các Con của Thượng Đế trên thế giới hành tinh của chúng ta có thể nhận thức chỉ là sự nhận thức một phần về mục đích và Thiên Cơ của Thái Dương Thượng Đế, như được nhận thức, lĩnh hội và thể hiện bởi một trong các Hành Tinh Thượng Đế, Đấng vốn bị giới hạn bởi điểm tiến hóa của Ngài trong nhiệm kỳ của mình. Một phần bảy của Thiên Cơ đang được thể hiện qua sự sống hành tinh đặc thù của chúng ta, và vì Đấng Vĩ Đại này không phải là một trong bảy Sự Sống Thiêng Liêng, do đó không tự biểu hiện qua một trong bảy hành tinh thiêng liêng, nên Thiên Cơ được thể hiện trên Trái Đất chỉ là một phần của một biểu hiện kép về mục đích, và chỉ khi một hành tinh không-thiêng liêng khác đạt đến sự viên mãn, thì toàn bộ Thiên Cơ đối với Trái Đất mới có thể được nhận thức. Điều này có thể khó hiểu, bởi lẽ, như đã được nói, chỉ những điểm đạo đồ mới có thể lĩnh hội phần nào ý nghĩa của câu phát biểu rằng: “Hai thực thể sẽ hợp nhất và cùng nhau biểu hiện thiên tính.”

All that concerns humanity at this time is the necessity for a revelation and a gradual apprehension of the Plan which will enable man to

Điều quan trọng đối với nhân loại lúc này là sự cần thiết của một sự mặc khải và một sự lĩnh hội dần về Thiên Cơ, điều này sẽ giúp con người:

a. Work consciously and intelligently,

a. Làm việc một cách có ý thức và thông tuệ,

b. Realise the relation of form and quality to life,

b. Nhận thức được mối quan hệ giữa hình tướng và phẩm tính với sự sống,

c. Produce that inner transmutation which will bring [7] into manifestation the fifth kingdom in nature, the Kingdom of Souls.

c. Tạo ra sự chuyển hóa nội tại, điều này sẽ đưa [7] vào biểu hiện giới thứ năm trong thiên nhiên—Vương Quốc của các Linh Hồn.

All this has to be accomplished in the realm of conscious awareness or response, through the medium of steadily improving vehicles or response mechanisms, and with the aid of spiritual understanding and interpretation.

Tất cả những điều này phải được hoàn thành trong lĩnh vực của nhận thức có ý thức hoặc sự đáp ứng, thông qua trung gian của các thể ngày càng được cải thiện—các cơ chế phản ứng—và với sự hỗ trợ của sự hiểu biết và diễn giải tâm linh.

With the bigger questions we will not deal. With the consciousness of the life of God as it expresses itself in the three subhuman kingdoms, we need not concern ourselves. We shall deal entirely with the following three points:

Chúng ta sẽ không bàn đến những vấn đề rộng lớn hơn. Về tâm thức của sự sống thiêng liêng khi nó tự biểu lộ trong ba giới dưới nhân loại, chúng ta không cần bận tâm. Chúng ta sẽ chỉ tập trung vào ba điểm sau đây:

1. With the strictly human consciousness as it begins with the process of individualisation and consummates in the dominant personality.

1. Về tâm thức thuần túy của con người, từ khi quá trình biệt ngã hóa bắt đầu cho đến khi nó đạt đến đỉnh cao trong phàm ngã thống lĩnh.

2. With the egoic consciousness, which is that of the solar angel as it begins with the preparation for initiation on the Path of Discipleship and consummates in the perfected Master.

2. Về tâm thức của chân ngã, tức là của Thái Dương Thiên Thần, từ khi chuẩn bị cho sự điểm đạo trên Con Đường Đệ Tử đến khi viên mãn trong Chân Sư hoàn thiện.

3. With the monadic realisation. This is a phrase that means absolutely nothing to us, for it concerns the consciousness of the planetary Logos. This begins to be realised at the third initiation, dominating the soul and working out through the personality.

3. Về sự nhận thức của chân thần. Đây là một cụm từ hoàn toàn không có ý nghĩa gì đối với chúng ta, vì nó liên quan đến tâm thức của Hành Tinh Thượng Đế. Điều này bắt đầu được nhận thức tại lần điểm đạo thứ ba, chi phối linh hồn và biểu hiện qua phàm ngã.

Man, the average human being, is a sum total of separative tendencies, of uncontrolled forces and of disunited energies, which slowly and gradually become coordinated, fused, and blended in the separative personality.

Con người, tức con người trung bình, là tổng hợp của các khuynh hướng chia rẽ, các mãnh lực không kiểm soát được và các năng lượng rời rạc, những yếu tố này từ từ và dần dần được điều phối, hợp nhất và dung hợp trong phàm ngã phân ly.

Man, the Solar Angel, is the sum total of those energies and forces which are unified, blended and controlled by that “tendency to harmony” which is the effect of love and the outstanding quality of divinity.

Con người, tức Thái Dương Thiên Thần, là tổng hợp của những năng lượng và mãnh lực đã được hợp nhất, dung hợp và kiểm soát bởi “khuynh hướng hướng tới sự hài hòa”—hiệu quả của tình thương và cũng là phẩm tính nổi bật của thiên tính.

Man, the living Monad, is the veiled reality, and that which [8] the Angel of the Presence hides. He is the synthetic expression of the purpose of God, symbolised through revealed, divine quality and manifested through the form. Appearance, quality, life—again this ancient triplicity confronts us. Symbolically speaking, this triplicity can be studied as:

Con người, tức Chân thần đang sống, là thực tại bị che giấu, và là điều mà Thiên Thần của Hiện Diện ẩn giấu. Y là sự biểu hiện tổng hợp của Thiên Ý, được tượng trưng qua phẩm tính thiêng liêng được mặc khải và biểu hiện qua hình tướng. Lại một lần nữa, bộ ba cổ xưa này xuất hiện trước chúng ta: sự xuất hiện, phẩm tính, sự sống. Nói một cách biểu tượng, bộ ba này có thể được nghiên cứu như sau:

1. Man … the Angel … The Presence.

1. Con người………….Thiên Thần………Hiện Diện.

2. The root … the lotus … the fragrance.

2. Rễ……………………..Hoa Sen………….Hương thơm.

3. The bush … the fire … the flame.

3. Bụi cây……………… Lửa…………Ngọn Lửa.

The work of evolution, being part of the determination of Deity to express divinity through form, is necessarily, therefore the task of revelation, and as far as man is concerned, this revelation works out as the growth of soul evolution and falls into three stages:

Công việc tiến hóa, vốn là một phần của ý định Thượng Đế nhằm biểu hiện thiên tính qua hình tướng, do đó tất yếu là công việc của sự mặc khải. Và xét từ góc độ con người, sự mặc khải này thể hiện như sự tiến hóa của linh hồn, và được chia thành ba giai đoạn:

1. Individualisation………………..Personality.

1. Biệt ngã hóa……………………Phàm ngã.

2. Initiation………………………….Ego.

2. Điểm đạo……………………….Chân ngã.

3. Identification…………………… Monad.

3. Đồng nhất hóa…………………Chân thần.

1. The Three Stages of Egoic Growth—Ba Giai đoạn của sự Tăng Trưởng Chân ngã

We must hold the following statements firmly in our minds. The personality is a triple combination of forces, impressing and absolutely controlling the fourth aspect of the personality which is the dense physical body. The three personality types of energy are the etheric body, which is the vehicle of vital energy, the astral body which is the vehicle of the feeling energy or sentient force, and the mental body which is the vehicle of the intelligent energy of will that is destined to be the dominant creative aspect. It is upon this truth that Christian Science has laid the emphasis. These forces constitute the lower man. The solar angel is a dual combination of energies—the energy of love, and the energy of will or purpose—and these are the qualities of the life thread. These two, when dominating the third energy of mind, produce the [9] perfect man. They explain the human problem; they indicate the objective before man; they account for and explain the energy of illusion; and they point out the way of psychological unfoldment, which leads man (from the triangle of triplicity and differentiation) through duality to unity.

Chúng ta phải ghi nhớ chắc chắn những tuyên bố sau đây. Phàm ngã là một sự kết hợp ba mãnh lực, tác động lên và kiểm soát hoàn toàn khía cạnh thứ tư của phàm ngã—thể xác đậm đặc. Ba loại năng lượng của phàm ngã bao gồm thể dĩ thái, là thể mang năng lượng sinh lực; thể cảm xúc, là thể mang năng lượng cảm giác hay mãnh lực tri giác; và thể trí, là thể mang năng lượng trí tuệ của ý chí, vốn được định sẵn để trở thành khía cạnh sáng tạo chi phối. Chính trên sự thật này mà Khoa học Cơ Đốc đã đặt trọng tâm. Những mãnh lực này cấu thành con người thấp. Thái Dương Thiên Thần là một sự kết hợp song đôi của năng lượng—năng lượng của tình thương và năng lượng của ý chí hay mục đích—và đây chính là những phẩm tính của sinh mệnh tuyến. Hai năng lượng này, khi chi phối năng lượng thứ ba là trí tuệ, sẽ tạo ra [9] con người hoàn thiện. Chúng giải thích vấn đề của nhân loại; chúng chỉ ra mục tiêu trước mắt của con người; chúng lý giải và giải thích năng lượng của ảo cảm; và chúng chỉ ra con đường khai mở tâm lý, dẫn con người (từ tam giác của sự phân hóa và phân biệt) qua nhị nguyên đến hợp nhất.

These truths are practical and hence we find today such dominant emphasis laid upon the understanding of the Plan amongst esotericists; hence likewise the work of the psychologists as they seek to interpret man and hence also their differentiations as to the human apparatus, so that man is seen—as it were—dissected into his component parts. The recognition is emerging that it is man’s quality which outwardly determines his place on the ladder of evolution, but modern psychology of the extreme materialistic school erroneously supposes that man’s quality is determined by his mechanism, whereas the reverse condition is the determining factor.

Những chân lý này có tính thực tiễn, và vì thế ngày nay chúng ta thấy có sự nhấn mạnh mạnh mẽ vào việc lĩnh hội Thiên Cơ giữa những nhà nội môn; do đó cũng có công việc của các nhà tâm lý học khi họ tìm cách giải thích con người, cũng như những phân biệt của họ về cơ cấu nhân loại, đến mức mà con người—nói một cách tượng trưng—bị phân tích thành các thành phần của mình. Sự công nhận đang dần xuất hiện rằng chính phẩm tính của con người quyết định vị trí bên ngoài của y trên nấc thang tiến hóa, nhưng tâm lý học hiện đại theo trường phái duy vật cực đoan đã sai lầm khi giả định rằng phẩm tính của con người bị quyết định bởi cơ chế của y, trong khi thực tế, điều ngược lại mới là yếu tố quyết định.

Disciples have the problem of expressing the duality of love and will through the personality. This statement is a true enunciation of the goal for the disciple. The initiate has the objective of expressing the Will of God through developed love and a wise use of the intelligence. The above preamble lays the ground for the definition of the three stages of egoic growth.

Đối với các đệ tử, vấn đề của họ là thể hiện nhị nguyên của tình thương và ý chí thông qua phàm ngã. Tuyên bố này là một phát biểu chân thực về mục tiêu dành cho đệ tử. Điểm đạo đồ có mục tiêu thể hiện Ý Chí của Thượng Đế thông qua tình thương đã được phát triển và việc sử dụng trí tuệ một cách khôn ngoan. Phần mở đầu trên đặt nền tảng cho việc định nghĩa ba giai đoạn phát triển của chân ngã.

What, therefore, is individualisation from the standpoint of the psychological unfoldment of man? It is the focussing of the lowest aspect of the soul, which is that of the creative intelligence, so that it can express itself through the form nature. It will eventually be the first aspect of divinity thus to express itself. It is the emergence into manifestation of the specific quality of the solar angel through the appropriation, by that angel, of a sheath or sheaths, which thus constitute its appearance. It is the initial imposition of an applied directed [10] energy upon that triple force aggregation which we call the form nature of man. The individual, on the way to full co-ordination and expression, appears upon the stage of life. The self-aware entity comes forth into physical incarnation. The actor appears in process of learning his part; he makes his debut and prepares for the day of full personality emphasis. The soul comes forth into dense form and on the lowest plane. The self begins the part of its career which is expressed through selfishness, leading finally to an ultimate unselfishness. The separative entity begins his preparation for group realisation. A God walks on earth, veiled by the fleshly form, the desire nature and the fluidic mind. He is a prey temporarily to the illusion of the senses, and dowered with a mentality which primarily hinders and imprisons but which finally releases and liberates.

Vậy, từ quan điểm khai mở tâm lý của con người, biệt ngã hóa là gì? Đó là sự tập trung của khía cạnh thấp nhất của linh hồn, tức trí tuệ sáng tạo, để nó có thể tự biểu hiện qua bản chất hình tướng. Đây sẽ là khía cạnh đầu tiên của thiên tính tự biểu hiện theo cách này. Đó là sự xuất hiện vào biểu hiện của phẩm tính đặc thù của Thái Dương Thiên Thần thông qua việc vị Thiên Thần này tiếp nhận một thể hoặc nhiều thể, từ đó tạo nên sự xuất hiện của nó. Đây là sự áp đặt lần đầu tiên của một năng lượng được hướng dẫn có chủ đích lên sự tập hợp ba mãnh lực mà chúng ta gọi là bản chất hình tướng của con người. Cá nhân, trên hành trình đến sự điều phối và biểu hiện đầy đủ, xuất hiện trên sân khấu cuộc sống. Thực thể có ý thức về bản thân đi vào sự nhập thể vật lý. Diễn viên bước lên sân khấu để học vai diễn của mình; y ra mắt và chuẩn bị cho ngày mà phàm ngã của y sẽ được nhấn mạnh hoàn toàn. Linh hồn bước vào hình tướng đậm đặc và trên cõi thấp nhất. Bản ngã bắt đầu phần hành trình của mình vốn được biểu hiện qua sự ích kỷ, cuối cùng dẫn đến sự vô ngã tuyệt đối. Thực thể phân ly bắt đầu sự chuẩn bị của mình cho nhận thức nhóm. Một vị Thần bước đi trên Trái Đất, bị che giấu bởi hình tướng xác thịt, bản chất dục vọng và trí tuệ linh động. Tạm thời, y là con mồi của ảo cảm giác quan, và được phú bẩm một trí tuệ mà thoạt đầu cản trở và giam hãm y, nhưng cuối cùng lại giải thoát và phóng thích y.

There has been much written in The Secret Doctrine and A Treatise on Cosmic Fire on the subject of individualisation. It can be simply defined as the process whereby forms of life in the fourth kingdom in nature arrive.

Đã có rất nhiều bài viết về chủ đề biệt ngã hóa trong Giáo Lý Bí NhiệmLuận về Lửa Vũ Trụ. Biệt ngã hóa có thể được định nghĩa đơn giản là quá trình nhờ đó mà các hình tướng sự sống trong giới thứ tư của thiên nhiên đạt đến:

1. Conscious individuality, through experiencing the life of the senses.

1. Cá tính có ý thức, thông qua việc trải nghiệm đời sống giác quan.

2. The assertion of individuality through the use of the discriminating mind.

2. Sự khẳng định cá tính thông qua việc sử dụng trí phân biện.

3. The ultimate sacrifice of that individuality to the group.

3. Sự hy sinh tối hậu của cá tính đó cho tập thể.

Today, the masses are occupied with the task of becoming conscious of themselves, and are developing that spirit or sense of personal integrity or wholeness which will eventuate in an increased self-assertiveness, that first gesture of divinity. This is well and good, in spite of the immediate complications and consequences in the world consciousness and state of being. Hence also the need for the immediate guidance of the disciples in every nation and their training in the life of [11] correct aspiration, with their subsequent preparation for initiation. The task of the intelligent parent today and of the wise teacher of the young should be that of turning out, into world activity, those conscious individuals who will undertake the work of self-assertion in the affairs of today. The mass psychology of accepting information indiscriminately, of giving prompt mass obedience to imposed limitations of personal liberty, without due understanding of the underlying reasons, and the consequent blind following of leaders, will only come to an end through the intelligent fostering of individual recognition of selfhood and the assertions of the individual as he seeks to express his own ideas. One of the basic ideas underlying all human and individual conduct, is the necessity for peace and harmony in order that man may specifically work out his destiny. This is the deep foundational belief of humanity. The first developed evidence of the emerging self-assertion of the massed individuals must therefore be turned in this direction, for it will constitute the line of least resistance. There will follow then the eradication of war and the establishing of those conditions of peace which will bring about the opportunity for trained and carefully cultured growth. The dictator is the individual who has, under the process, flowered forth into knowledge and power, and is an example of the effectiveness of the divine character, when permitted scope and as the product of the evolutionary process. He expresses many of the divine potentialities of man. But the dictator will some day be an anachronism, for when the many are at the stage of individual self-awareness and potency and seeking the full expression of their powers, he will be lost from sight in the assertion of the many. He, today, indicates the goal for the lower self, for the personality.

Ngày nay, quần chúng đang tập trung vào nhiệm vụ trở nên có ý thức về bản thân, và đang phát triển tinh thần hoặc cảm giác về sự toàn vẹn cá nhân, điều này sẽ dẫn đến sự tự khẳng định ngày càng gia tăng—cử chỉ đầu tiên của thiên tính. Điều này là tốt và đáng mong đợi, mặc dù những hậu quả và phức tạp tức thời trong tâm thức và trạng thái tồn tại của thế giới. Vì vậy, cũng có nhu cầu cấp thiết về sự hướng dẫn của các đệ tử ở mỗi quốc gia và sự huấn luyện của họ trong đời sống [11] hướng thượng chân chính, cùng với sự chuẩn bị tiếp theo của họ cho sự điểm đạo. Nhiệm vụ của những bậc cha mẹ thông tuệ ngày nay và của những giáo viên sáng suốt dành cho thanh niên là đưa ra thế giới những cá nhân có ý thức, những người sẽ đảm nhận công việc tự khẳng định trong các vấn đề hiện nay. Tâm lý học quần chúng về việc tiếp nhận thông tin một cách bừa bãi, về việc tuân theo ngay lập tức những giới hạn áp đặt lên tự do cá nhân mà không hiểu rõ lý do cơ bản, và việc mù quáng đi theo các nhà lãnh đạo, sẽ chỉ chấm dứt thông qua việc nuôi dưỡng một cách thông minh sự nhận thức cá nhân về bản thân và việc tự khẳng định của cá nhân khi y tìm cách thể hiện tư tưởng riêng của mình. Một trong những ý tưởng nền tảng chi phối toàn bộ hành vi cá nhân và nhân loại là sự cần thiết của hòa bình và hòa hợp để con người có thể cụ thể hóa số phận của mình. Đây là niềm tin căn bản sâu sắc của nhân loại. Dấu hiệu đầu tiên của sự tự khẳng định đang trỗi dậy trong quần chúng cá nhân phải được hướng vào mục tiêu này, vì đó sẽ là con đường ít trở ngại nhất. Sau đó sẽ là sự chấm dứt chiến tranh và việc thiết lập những điều kiện hòa bình, điều này sẽ tạo cơ hội cho sự trưởng thành được đào tạo và nuôi dưỡng cẩn thận. Nhà độc tài chính là cá nhân đã nở hoa dưới tiến trình này, đạt được tri thức và quyền năng, và là một ví dụ về hiệu quả của bản chất thiêng liêng khi được cho phép phát triển và là kết quả của tiến trình tiến hóa. Y thể hiện nhiều tiềm năng thiêng liêng của con người. Nhưng một ngày nào đó, nhà độc tài sẽ trở nên lỗi thời, vì khi nhiều người đạt đến giai đoạn tự nhận thức và quyền năng cá nhân, tìm kiếm sự biểu hiện đầy đủ của khả năng của mình, thì y sẽ bị lu mờ trước sự tự khẳng định của số đông. Ngày nay, y chỉ biểu hiện mục tiêu cho bản ngã thấp, cho phàm ngã.

Before, however, the many men can be safely self-assertive, there must be an increased appearance of those who have [12] passed beyond that stage, and of those who know, teach and demonstrate, so that the many constituting the intelligent group, composed of the self-aware individuals, can then identify themselves discriminatingly with group purpose, and submerge their separative identities in organised group activity and synthesis. This is the predominant task of the New Group of World Servers. It should be the aspiration of the world disciples today. This work of training the individuals in group purpose must be accomplished in three ways:—

Tuy nhiên, trước khi nhiều người có thể tự khẳng định mình một cách an toàn, cần có sự xuất hiện ngày càng nhiều của những người đã vượt qua giai đoạn đó, những người hiểu biết, giảng dạy và thể hiện, để quần chúng có ý thức về bản thân có thể nhận diện một cách phân biện với mục đích nhóm và hòa nhập bản sắc phân ly của mình vào hoạt động nhóm có tổ chức và tổng hợp. Đây là nhiệm vụ chủ đạo của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Đây cũng nên là khát vọng của các đệ tử thế gian ngày nay. Công việc huấn luyện các cá nhân trong mục đích nhóm phải được thực hiện theo ba cách:—

1. By personal, imposed identification with the group, through the experience of understanding, service and sacrifice. This can well constitute a useful self-imposed experiment.

1. Bằng sự đồng nhất cá nhân một cách có chủ đích với nhóm, thông qua kinh nghiệm của sự thấu hiểu, phụng sự và hy sinh. Điều này có thể tạo thành một thí nghiệm tự nguyện hữu ích.

2. By the education of the masses in the principles underlying group work, and the training of an enlightened public opinion in these concepts.

2. Bằng cách giáo dục quần chúng về những nguyên tắc nền tảng của công việc nhóm, và đào tạo một dư luận công chúng sáng suốt về những khái niệm này.

3. By the preparation of many in the New Group of World Servers for that great transition in consciousness which we call initiation.

3. Bằng sự chuẩn bị cho nhiều thành viên trong Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian để thực hiện sự chuyển hóa vĩ đại trong tâm thức, điều mà chúng ta gọi là điểm đạo.

What, therefore, is Initiation? Initiation might be defined in two ways. It is first of all the entering into a new and wider dimensional world by the expansion of a man’s consciousness so that he can include and encompass that which he now excludes, and from which he normally separates himself in his thinking and acts. It is, secondly, the entering into man of those energies which are distinctive of the soul and of the soul alone—the forces of intelligent love and of spiritual will. These are dynamic energies, and they actuate all who are liberated souls. This process of entering into and of being entered into should be a simultaneous and synthetic process, an event of the first importance. Where it is sequential or alternating, it indicates an uneven unfoldment and an unbalanced [13] condition. There is frequently the theory of unfoldment, and a mental grasp anent the facts of the initiatory process before they are practiced experimentally in the daily life and thus psychologically integrated into the practical expression of the living process on the physical plane. Herein lies much danger and difficulty, and also much loss of time. The mental grasp of the individual is ofttimes much greater than his power to express the knowledge, and we have consequently those outstanding failures and those difficult situations which have brought the whole question of initiation into disrepute. Many people are regarded as initiates who are only endeavoring to be initiate. They are not, however, real initiates. They are those well meaning people whose mental understanding outruns the power of their personalities to practice. They are those who are in touch with forces which they are not yet able to handle and control. They have done a great deal of the needed work of inner contact, but have not yet whipped the lower nature into shape. They are, therefore, unable to express that which they inwardly understand and somewhat realise. They are those disciples who talk too much and too soon and too self-centeredly, and who present to the world an ideal toward which they are indeed working, but which they are as yet unable to materialise, owing to the inadequacy of their equipment. They affirm their belief in terms of accomplished fact and cause much stumbling among the little ones. But at the same time, they are working towards the goal. They are mentally in touch with the ideal and with the Plan. They are aware of forces and energies utterly unknown to the majority. Their only mistake is in the realm of time, for they affirm prematurely that which some day they will be.

Vậy, điểm đạo là gì? Điểm đạo có thể được định nghĩa theo hai cách. Trước hết, đó là sự bước vào một thế giới rộng lớn hơn và có nhiều chiều kích hơn thông qua việc mở rộng tâm thức của con người, để y có thể bao gồm và dung nạp những gì mà trước đây y loại trừ và tự tách biệt trong tư tưởng và hành động của mình. Thứ hai, đó là sự bước vào trong con người của những năng lượng đặc trưng của linh hồn—những mãnh lực của tình thương thông tuệ và của ý chí tinh thần. Đây là những năng lượng có tính động, và chúng thúc đẩy tất cả những linh hồn đã được giải thoát. Quá trình này—bước vào thế giới mới và đồng thời tiếp nhận năng lượng mới—phải là một quá trình tổng hợp và đồng thời, một sự kiện có tầm quan trọng hàng đầu. Nếu nó xảy ra theo trình tự hoặc xen kẽ, điều đó chỉ ra một sự phát triển không đồng đều và một tình trạng mất cân bằng. [13] Thường thì có sự lĩnh hội lý thuyết về sự khai mở tâm thức và một sự nắm bắt trí tuệ đối với các sự kiện trong tiến trình điểm đạo trước khi chúng được thực hành một cách có chủ đích trong đời sống hàng ngày, và do đó được tích hợp tâm lý vào biểu hiện thực tiễn của quá trình sống trên cõi trần. Chính tại điểm này, tồn tại rất nhiều nguy hiểm, khó khăn và sự lãng phí thời gian. Trí tuệ của cá nhân thường phát triển nhanh hơn nhiều so với khả năng thể hiện hiểu biết của y, và hậu quả là chúng ta có những thất bại đáng chú ý cũng như những tình huống khó khăn khiến toàn bộ vấn đề điểm đạo bị mang tiếng xấu. Nhiều người được coi là điểm đạo đồ nhưng thực ra họ chỉ đang cố gắng trở thành điểm đạo đồ. Tuy nhiên, họ không phải là những điểm đạo đồ thực sự. Họ là những người có ý tốt nhưng sự hiểu biết trên bình diện trí tuệ vượt quá khả năng của phàm ngã họ để thực hành. Họ là những người tiếp xúc với những mãnh lực mà họ chưa thể kiểm soát và điều hướng. Họ đã thực hiện nhiều công việc cần thiết để tạo ra sự tiếp xúc nội tâm, nhưng họ chưa thể rèn luyện bản chất thấp của mình theo trật tự. Do đó, họ không thể biểu hiện những gì mà họ đã hiểu và phần nào nhận thức được bên trong. Họ là những đệ tử nói quá nhiều, nói quá sớm và quá tự quy chiếu vào bản thân, và họ trình bày trước thế giới một lý tưởng mà họ thực sự đang hướng tới, nhưng họ vẫn chưa thể hiện thực hóa được vì sự thiếu chuẩn bị của công cụ mà họ có. Họ khẳng định niềm tin của mình như thể đó là một thực tại đã hoàn tất, và điều này gây ra nhiều vấp ngã cho những người mới bước đi trên con đường. Tuy nhiên, đồng thời, họ vẫn đang tiến bước hướng về mục tiêu. Họ có sự liên hệ về mặt trí tuệ với lý tưởng và với Thiên Cơ. Họ nhận thức được những mãnh lực và năng lượng hoàn toàn xa lạ đối với đa số nhân loại. Sai lầm duy nhất của họ là ở yếu tố thời gian, vì họ tuyên bố quá sớm điều mà một ngày nào đó họ sẽ đạt được.

When initiation becomes possible, it indicates that two great groups of energies (those of the triple integrated personality [14] and those of the soul or solar angel) are beginning to fuse and blend. The energy of the soul is beginning to dominate and to control the lower types of force, and—according to the ray of the soul—so will be the body in which that control will begin to make its presence felt. This will be elaborated later in the section dealing with the rays as they govern the various bodies,—mental, emotional and physical. It should be remembered that very little egoic control need be evidenced when the first initiation is taken. That initiation indicates simply that the germ of soul life has vitalised and brought into functioning existence the inner spiritual body, the sheath of the inner spiritual man, which will eventually enable the man at the third initiation to manifest forth as “a full-grown man in Christ”, and present at that time the opportunity to the Monad for that full expression of life which can take place when the initiate is identified consciously with the One Life. Between the first and second initiations, as has been frequently stated, much time can elapse and much change must be wrought during the many stages of discipleship. Upon this we will later dwell as we study the seven laws of egoic unfoldment.

Khi điểm đạo trở nên khả thi, điều đó chỉ ra rằng hai nhóm năng lượng vĩ đại—năng lượng của phàm ngã tam phân được tích hợp [14] và năng lượng của linh hồn hay Thái Dương Thiên Thần—đang bắt đầu dung hợp và hòa nhập. Năng lượng của linh hồn bắt đầu chi phối và kiểm soát các loại mãnh lực thấp hơn, và—tùy thuộc vào cung của linh hồn—điều này sẽ được cảm nhận rõ ràng trước tiên qua thể nào trong ba thể: thể trí, thể cảm xúc hoặc thể xác. Điều này sẽ được trình bày chi tiết hơn trong phần bàn về các cung khi chúng chi phối các thể khác nhau. Cần ghi nhớ rằng khi con người bước vào lần điểm đạo đầu tiên, sự kiểm soát của chân ngã vẫn chưa cần phải quá rõ ràng. Điểm đạo này đơn giản chỉ ra rằng mầm sống của linh hồn đã tiếp thêm sinh lực và đưa vào trạng thái hoạt động thể tinh thần nội tại—chiếc vỏ của con người tinh thần bên trong—một thể mà đến lần điểm đạo thứ ba, nó sẽ giúp con người biểu hiện như “một người trưởng thành trong Đức Christ,” và vào thời điểm đó, nó mang lại cơ hội cho chân thần có thể biểu hiện trọn vẹn sự sống, điều này chỉ có thể xảy ra khi điểm đạo đồ đồng nhất một cách có ý thức với Đấng Duy Nhất. Giữa lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai, như đã được nói nhiều lần, có thể có một khoảng thời gian dài, và nhiều sự thay đổi cần phải được thực hiện qua nhiều giai đoạn của con đường đệ tử. Chúng ta sẽ bàn về điều này sau khi nghiên cứu bảy định luật khai mở của chân ngã.

Individualisation, carried to its full, consummates as the integrated personality, expressing itself as a unity through three aspects. This expression of personality involves:—

Biệt ngã hóa, khi được hoàn tất, đạt đến đỉnh điểm như một phàm ngã tích hợp, biểu hiện như một thực thể thống nhất thông qua ba khía cạnh của nó. Sự biểu hiện này của phàm ngã bao gồm:

1. The free use of the mind so that focussed attention can be paid to all that concerns the personal self and its aims. This spells personality success and prosperity.

1. Việc sử dụng tự do thể trí, để sự chú ý có thể tập trung vào tất cả những gì liên quan đến cái tôi cá nhân và các mục tiêu của nó. Điều này tạo ra thành công và thịnh vượng của phàm ngã.

2. The power to control the emotions and yet have the full use of the sensory apparatus to sense conditions, to feel reactions, and to bring about contact with the emotional aspects of other personalities.

2. Khả năng kiểm soát cảm xúc, đồng thời vẫn sử dụng đầy đủ các giác quan để cảm nhận điều kiện, phản ứng với các tác động và thiết lập sự tiếp xúc với khía cạnh cảm xúc của các phàm ngã khác.

3. The capacity to touch the plane of ideas and to bring [15] them through into consciousness. Even if these are later subordinated to selfish purpose and interpretation, the man can, however, be in touch with that which can be spiritually cognised. The free use of the mind presupposes its growing sensitivity to intuitional impression.

3. Khả năng tiếp xúc với cõi tư tưởng và mang những tư tưởng đó [15] vào tâm thức. Ngay cả khi chúng sau đó bị phục vụ cho mục đích ích kỷ và được diễn giải theo cách chủ quan, con người vẫn có thể tiếp xúc với những điều có thể được nhận thức trên bình diện tinh thần. Việc sử dụng tự do thể trí giả định rằng nó đang ngày càng nhạy bén với ấn tượng trực giác.

4. The demonstration of many talents, powers and the working out of genius, and the emphatic bending of the whole personality to the expression of some one of these powers. There is often an extreme versatility and an ability to do many outstanding things noticeably well.

4. Sự biểu hiện của nhiều tài năng, quyền năng và sự phát triển của thiên tài, cùng với sự tập trung mạnh mẽ của toàn bộ phàm ngã vào việc thể hiện một trong những quyền năng đó. Thường có sự linh hoạt cao và khả năng làm xuất sắc nhiều việc khác nhau.

5. The physical man is frequently a wonderfully sensitive instrument of the inner, emotional and mental selves, and gifted with great magnetic power; there is often resilient, though never robust, bodily health, and great charm and personal outer gifts.

5. Con người trên phương diện thể xác thường là một công cụ rất nhạy bén của các thể nội tại—thể cảm xúc và thể trí—và được phú bẩm một sức hút mạnh mẽ. Thể xác thường có sức sống dẻo dai, mặc dù không hẳn là tráng kiện, cùng với một sự quyến rũ và những khả năng bề ngoài nổi bật.

A study of the outstanding individuals in all fields of world expression today, when entirely divorced from the higher group concepts and the constant spiritual aspiration to serve humanity, will indicate the nature of the consummated individuality and the success of this part of the divine plan. It should be carefully noted that the successful demonstration of the dominant individual is just as much a divine success in its proper place and time as is the case with the great Sons of God. One success, however, is the expression of the third aspect of divinity as it veils and hides the soul, and the other is the expression of two aspects of divinity (the second and the third) as they veil and hide the life aspect of the Monad. When this is grasped, our evaluation of world achievement will undergo change, and we will see life more truly and divorced from the glamour which distorts our vision and the vision of the great Personalities as well. It should also be borne [16] in mind that individual separative success is in itself an evidence of soul activity, for every individual is a living soul, actuating the lower sheaths of bodies, and proceeding to

Một nghiên cứu về những cá nhân xuất chúng trong mọi lĩnh vực biểu hiện của thế giới ngày nay, khi hoàn toàn tách biệt khỏi các khái niệm nhóm cao hơn và sự khát khao tâm linh không ngừng để phụng sự nhân loại, sẽ cho thấy bản chất của một cá nhân đã hoàn thiện và sự thành công của phần này trong Thiên Cơ. Cần lưu ý cẩn thận rằng sự biểu hiện thành công của một cá nhân nổi bật cũng là một thành công thiêng liêng, ở vị trí và thời điểm thích hợp, cũng như đối với những Đại Con của Thượng Đế. Tuy nhiên, một sự thành công là biểu hiện của khía cạnh thứ ba của thiên tính khi nó che giấu và ẩn linh hồn, trong khi sự thành công kia là sự biểu hiện của hai khía cạnh thiên tính (thứ hai và thứ ba) khi chúng che giấu và ẩn đi khía cạnh sự sống của Chân thần. Khi điều này được hiểu, cách chúng ta đánh giá thành tựu của thế giới sẽ thay đổi, và chúng ta sẽ nhìn nhận cuộc sống một cách chân thực hơn, thoát khỏi ảo cảm vốn làm lệch lạc tầm nhìn của chúng ta cũng như tầm nhìn của những Nhân Cách vĩ đại. Cũng cần ghi nhớ rằng thành công cá nhân mang tính phân ly, tự nó cũng là một bằng chứng về hoạt động của linh hồn, bởi vì mỗi cá nhân là một linh hồn đang sống, đang kích hoạt các thể thấp hơn của mình và đang tiến hành:

1. Build sheath after sheath, life after life, that will be increasingly adequate to its own expression.

1. Xây dựng thể này sau thể khác, đời sống này sau đời sống khác, để ngày càng phù hợp với sự biểu hiện của nó.

2. Produce that sensitivity in the sheaths—sequentially and finally simultaneously—which will enable them to respond to an ever increasing sphere or measure of divine influence.

2. Tạo ra sự nhạy bén trong các thể—trước hết theo trình tự, và cuối cùng là đồng thời—để chúng có thể đáp ứng với một phạm vi hoặc mức độ ảnh hưởng thiêng liêng ngày càng gia tăng.

3. Integrate the three sheaths into a unity which for three and sometimes seven lives (occasionally eleven lives) will function as a dominant personality in some field of wide expression, using the energy of ambition to bring this about.

3. Hợp nhất ba thể thành một tổng thể, trong ba, đôi khi bảy và thỉnh thoảng mười một kiếp, sẽ hoạt động như một phàm ngã thống lĩnh trong một lĩnh vực biểu hiện rộng lớn, sử dụng năng lượng của tham vọng để đạt được điều này.

4. Re-orient the lower individual self so that the realm of its desires and the satisfaction of personality achievement will eventually be relegated to their rightful place.

4. Định hướng lại bản ngã cá nhân thấp, sao cho lĩnh vực mong muốn của nó và sự thỏa mãn thành tựu của phàm ngã cuối cùng được đặt vào đúng vị trí của chúng.

5. Galvanise the self-assertive man into that realisation of new achievements which will direct his steps on to the Path of Discipleship and eventually on to the Path of Initiation.

5. Thúc đẩy con người tự khẳng định bản thân tiến đến nhận thức về những thành tựu mới, điều này sẽ dẫn dắt bước chân của y trên Con Đường Đệ Tử và cuối cùng là Con Đường Điểm Đạo.

6. Substitute for past, necessarily self-interested and personal ambition, the needs of the group and the goal of world service.

6. Thay thế tham vọng cá nhân và vị kỷ trước đây bằng nhu cầu của tập thể và mục tiêu phụng sự thế gian.

Is not the above sufficiently practical?

Những điều trên có đủ tính thực tiễn không?

Initiation carried to its consummation, as far as humanity is concerned, produces the liberated Master of the Wisdom, free from the limitations of the individual, garnering the fruits of the individualisation process and functioning increasingly as the solar angel, because focussed primarily in the inner spiritual body. Awareness of the Presence is thus steadily developed. This fact merits the deep study and meditation [17] of all disciples. As the three rays which govern the lower triplicity blend and synthesise and produce the vital personality, and as they in their turn dominate the ray of the dense physical body, the lower man enters into a prolonged condition of conflict. Gradually and increasingly, the soul ray, “the ray of persistent and magnetic grasp”, as it is occultly called, begins to become more active; in the brain of the man who is a developed personality, an increased awareness of vibration is set up. There are many degrees and stages in this experience, and they cover many lives. The personality ray and the egoic ray at first seem to clash, and then later a steady warfare is set up with the disciple as the onlooker—and dramatic participator. Arjuna emerges into the arena of the battlefield. Midway between the two forces he stands, a conscious tiny point of sentient awareness and of light. Around him and in him and through him the energies of the two rays pour and conflict. Gradually, as the battle continues to rage, he becomes a more active factor, and drops the attitude of the detached and uninterested onlooker. When he is definitely aware of the issues involved, and definitely throws the weight of his influence, desires, and mind on to the side of the soul, he can take the first initiation. When the ray of the soul focusses itself fully through him, and all his centres are controlled by that focussed soul ray, then he becomes the transfigured Initiate, and takes the third initiation. The ray of the personality is occultly “extinguished” or absorbed by the ray of the soul, and all the potencies and attributes of the lower rays become subsidiary to and colored by the soul ray. The disciple becomes a “man of God”,—a person whose powers are controlled by the dominant vibration of the soul ray and whose inner, sensitive mechanism is vibrating to the measure of that soul ray which—in its turn—is being itself [18] reoriented to, and controlled by, the monadic ray. The process then repeats itself:—

Điểm đạo, khi được hoàn tất đối với nhân loại, tạo ra một Chân Sư Minh Triết đã được giải thoát, thoát khỏi những giới hạn của cá nhân, thu hoạch những thành quả của quá trình biệt ngã hóa và ngày càng hoạt động như một Thái Dương Thiên Thần, vì y đã tập trung chủ yếu vào thể tinh thần nội tại. Nhận thức về Hiện Diện do đó được phát triển một cách ổn định. Đây là một sự thật đáng để tất cả các đệ tử nghiên cứu và tham thiền sâu sắc. Khi ba cung chi phối tam phân thấp hòa hợp và tổng hợp để tạo ra một phàm ngã sống động, và khi chúng lần lượt chi phối cung của thể xác đậm đặc, con người thấp bước vào một trạng thái xung đột kéo dài. Dần dần và ngày càng mạnh mẽ hơn, cung của linh hồn, “cung của sự nắm bắt kiên trì và từ tính,” như cách gọi huyền môn, bắt đầu hoạt động mạnh mẽ hơn; trong bộ não của người đã phát triển thành một phàm ngã hoàn chỉnh, một nhận thức ngày càng tăng về rung động được thiết lập. Có nhiều cấp độ và giai đoạn trong trải nghiệm này, và chúng kéo dài qua nhiều kiếp sống. Ban đầu, cung của phàm ngã và cung của chân ngã dường như xung đột với nhau, sau đó một cuộc chiến tranh liên tục được thiết lập, với đệ tử là người quan sát—và đồng thời là người tham chiến đầy kịch tính. Arjuna bước vào đấu trường của chiến trường. Y đứng giữa hai lực lượng, một điểm nhỏ bé của nhận thức hữu cảm và ánh sáng có ý thức. Xung quanh y, trong y, và xuyên qua y, các năng lượng của hai cung tuôn trào và va chạm. Dần dần, khi trận chiến tiếp diễn, y trở thành một yếu tố tích cực hơn, và từ bỏ thái độ của một người quan sát tách biệt và thờ ơ. Khi y thực sự nhận thức được các vấn đề liên quan, và thực sự dồn toàn bộ ảnh hưởng, khát vọng và tư tưởng của mình vào phía linh hồn, y có thể bước vào lần điểm đạo đầu tiên. Khi cung của linh hồn tập trung hoàn toàn qua y, và tất cả các luân xa của y đều được kiểm soát bởi cung linh hồn ấy, y trở thành một điểm đạo đồ đã biến hình, và bước vào lần điểm đạo thứ ba. Cung của phàm ngã bị “dập tắt” một cách huyền môn hoặc được hấp thụ bởi cung của linh hồn, và tất cả các quyền năng cùng thuộc tính của các cung thấp hơn trở thành thứ yếu và được định hình bởi cung linh hồn. Đệ tử trở thành một “người của Thượng Đế” – một người có các quyền năng được kiểm soát bởi rung động chủ đạo của cung linh hồn, và có cơ chế nội tâm nhạy bén, rung động theo tần số của cung linh hồn ấy, vốn tự nó [18] đang được định hướng lại và kiểm soát bởi cung của chân thần. Quá trình này sau đó lại được lặp lại:

1. The many rays which constitute the lower separative man are fused and blended into the three personality rays.

1. Nhiều cung tạo thành con người thấp mang tính phân ly được dung hợp và hòa nhập thành ba cung của phàm ngã.

2. These are, in their turn, fused and blended into a synthetic expression of the dominant self-assertive man, the personal self.

2. Ba cung này lần lượt được tổng hợp và hòa nhập thành một biểu hiện tổng hợp của con người tự khẳng định bản thân, tức phàm ngã.

3. The personality rays then become one ray and in their turn become subservient to the dual ray of the soul. Again, therefore, three rays are blended and fused.

3. Các cung của phàm ngã sau đó trở thành một cung duy nhất, và chúng lần lượt trở nên phụ thuộc vào cung song đôi của linh hồn. Một lần nữa, ba cung được hòa nhập và hợp nhất.

4. The soul rays dominate the personality and the three become again the one, as the dual ray of the soul and the blended ray of the personality vibrate to the measure of the highest of the soul rays—the ray of the soul’s group, which is ever regarded as the true egoic ray.

4. Các cung của linh hồn chi phối phàm ngã, và ba lại trở thành một, khi cung song đôi của linh hồn và cung tổng hợp của phàm ngã rung động theo tần số của cung cao nhất của linh hồn—cung của nhóm linh hồn, vốn luôn được xem là cung chân ngã thực sự.

5. Then, in time, the soul ray begins (at the third initiation) to blend with the ray of the Monad, the life ray. The higher initiate is therefore a dual and not a triple expression.

5. Sau đó, theo thời gian, cung của linh hồn bắt đầu (ở lần điểm đạo thứ ba) hòa hợp với cung của chân thần—cung của sự sống. Do đó, điểm đạo đồ cao cấp hơn là một biểu hiện song đôi chứ không còn là tam phân.

6. In time, however, this realised duality gives place to the mysterious, indescribable process called identification which is the final stage of soul unfoldment. It is useless to say more for what might be said could only be comprehended by those preparing for the fourth initiation, and this treatise is written for disciples and initiates of the first degree.

6. Tuy nhiên, theo thời gian, sự nhị nguyên đã được nhận thức này nhường chỗ cho một quá trình huyền bí không thể diễn tả, được gọi là sự đồng nhất hóa, vốn là giai đoạn cuối cùng của sự khai mở linh hồn. Không thể nói thêm điều gì nữa, vì bất cứ điều gì có thể được nói ra cũng chỉ có thể được lĩnh hội bởi những ai đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ tư, và luận giải này được viết cho các đệ tử và điểm đạo đồ bậc đầu tiên.

In these successive stages we can glimpse the vision of what we are and may be. Steadily the unfolding purpose of our own souls (those “angels of persistent and undying love”) should gain fuller and deeper control over each of us, and this, at any personal cost and sacrifice, should be our steadfast aim. For this, in truth and sincerity, we should strive.

Trong những giai đoạn kế tiếp này, chúng ta có thể thoáng thấy viễn cảnh về bản chất của chính mình và những gì ta có thể trở thành. Một cách vững vàng, mục đích đang khai mở của linh hồn chúng ta (những “thiên thần của tình yêu kiên trì và bất diệt”) phải ngày càng giành được sự kiểm soát đầy đủ và sâu sắc hơn đối với mỗi người chúng ta, và điều này—bất kể phải trả giá cá nhân hay hy sinh nào—phải là mục tiêu kiên định của chúng ta. Vì điều này, trong sự chân thành và thành thực, chúng ta nên nỗ lực.

[19]

[19]

We have thus touched upon the three great divisions which mark the soul’s progress towards its goal. Through the process of Individualisation, the soul arrives at a true self-consciousness and awareness in the three worlds of its experience. The actor in the drama of life masters his part. Through the process of Initiation, the soul becomes aware of the essential nature of divinity. Participation in full consciousness with the group and the absorption of the personal and individual into the Whole, characterise this stage on the path of evolution. Finally comes that mysterious process wherein the soul becomes so absorbed into that supreme Reality and Synthesis through Identification that even the consciousness of the group fades out (except when deliberately recovered in the work of service). Naught is then known save Deity,—no separation of any part, no lesser syntheses, and no divisions or differentiations. During these processes it might be stated that three streams of energy play upon the consciousness of the awakening man:—

Chúng ta đã đề cập đến ba sự phân chia lớn đánh dấu sự tiến bộ của linh hồn trên con đường hướng đến mục tiêu của nó. Thông qua quá trình Biệt Ngã hóa, linh hồn đạt được ý thức chân thật về bản thân và nhận thức trong ba cõi của kinh nghiệm. Người diễn viên trong vở kịch cuộc đời làm chủ vai diễn của mình. Thông qua quá trình Điểm đạo, linh hồn trở nên nhận thức được bản chất cốt yếu của Thượng đế. Sự tham gia với đầy đủ tâm thức vào nhóm và sự hấp thụ của cái cá nhân vào Toàn Thể là đặc điểm của giai đoạn này trên con đường tiến hóa. Cuối cùng, đến một quá trình huyền bí, trong đó linh hồn hòa nhập hoàn toàn vào Thực Tại tối cao và Sự Đồng Nhất qua Đồng Nhận Dạng đến mức ngay cả ý thức về nhóm cũng mờ dần (trừ khi được phục hồi một cách có chủ đích trong công việc phụng sự). Khi đó, không có gì được biết đến ngoại trừ Thượng đế—không có sự phân ly của bất kỳ phần nào, không có những hợp nhất nhỏ hơn, không có sự chia cắt hay phân biệt. Trong suốt những quá trình này, có thể nói rằng ba dòng năng lượng tác động lên tâm thức của con người đang thức tỉnh:

a. The energy of matter itself, as it affects the consciousness of the inner spiritual man, who is using the form as a medium of expression.

a. Năng lượng của vật chất tự thân, khi nó ảnh hưởng đến tâm thức của con người tinh thần bên trong, kẻ đang sử dụng hình tướng như một phương tiện biểu hiện.

b. The energy of the soul itself, or of the solar angel, as that energy pours forth upon the vehicles and produces reciprocal energy in the solar form.

b. Năng lượng của chính linh hồn, hoặc của Thái dương Thiên Thần, khi năng lượng đó tuôn đổ lên các thể và tạo ra năng lượng tương ứng trong hình tướng thái dương.

c. The energy of life itself, a meaningless phrase, and one that only initiates of the third initiation can grasp, for even the discoveries of modern science give no real idea as to the true nature of life.

c. Năng lượng của chính sự sống, một cụm từ vô nghĩa, và chỉ những điểm đạo đồ của lần điểm đạo thứ ba mới có thể nắm bắt, vì ngay cả những khám phá của khoa học hiện đại cũng không cung cấp được ý niệm thực sự nào về bản chất của sự sống.

Life or essential energy is more than the activity of the atom, or of that living principle which produces self-perpetuation, reproduction, motion, growth, and that peculiar something which we call “livingness”. It may be possible to “create” or [20] produce the lowest or third aspect of life in the scientific laboratories so-called, but to reproduce or create the other and more essential aspects which work out as the conscious response, the intelligent embryonic purpose which seems to animate all substances, that is not possible. When the third initiation is reached, man will understand why this impossibility exists. More cannot be said, for until that initiation is experienced it would not be understood.

Sự sống hay năng lượng cốt yếu còn hơn cả hoạt động của nguyên tử, hoặc nguyên lý sinh tồn vốn tạo ra sự tự duy trì, sinh sản, chuyển động, tăng trưởng, và điều gì đó đặc biệt mà chúng ta gọi là “tính sống động”. Có thể có khả năng “tạo ra” hoặc [20] sản sinh khía cạnh thấp nhất hay thứ ba của sự sống trong các phòng thí nghiệm khoa học được gọi là như vậy, nhưng việc tái tạo hoặc tạo ra các khía cạnh khác và thiết yếu hơn, những thứ thể hiện thành phản ứng có ý thức, mục đích trí tuệ sơ khai dường như đang hoạt động trong mọi vật chất—điều này là không thể. Khi đạt đến lần điểm đạo thứ ba, con người sẽ hiểu tại sao điều này là bất khả. Không thể nói thêm nữa, vì cho đến khi điểm đạo này được trải nghiệm, thì điều đó cũng không thể được hiểu.

To bring more light upon this question of the triple expansion of consciousness (for all these crises are aspects of one great unfolding purpose or process) which we call individualisation, initiation, and identification, it should be borne in mind that these words connote something to us today—from the angle of our present point in evolution, from our inherited teaching and thought habits, and from the standpoint of modern knowledge and terminologies. Later they may appear in a totally different light when we know more and the race has advanced further into the light. But from the light which streams forth from that larger synthesis, and from the angle of vision of Those Whose consciousness is higher and greater and more inclusive than the human, the significance of these words may appear totally different. Definition is simply the expression of the immediate understanding of a human mind. But a definition may later be seen to be imperfect and even false, from the angle of a wider knowledge and a more inclusive grasp of wholes, (just as is the case with a so-called fact). Hence all definition, and eventually all facts, will be known to be temporary; all exegesis is but passing in its usefulness. The basic truths of today may be seen later as simply aspects of still greater truths, and when the greater truth is grasped, the significance and the interpretation of its formerly important part is seen to be widely different to what has supposed. This must never be forgotten by any who may [21] read this Treatise on the Seven Rays. An initiate, reading the three words we have been considering, has a very different idea about them than has a disciple or a person who has never thought or studied along these lines, and to whom our vocabulary is novel and strange, conveying little meaning, and that usually quite incorrect.

Để soi sáng thêm về vấn đề này liên quan đến sự mở rộng ba phần của tâm thức (vì tất cả những cuộc khủng hoảng này là các khía cạnh của một mục đích hay quá trình khai mở vĩ đại) mà chúng ta gọi là biệt ngã hóa, điểm đạo, và đồng nhận dạng, cần phải ghi nhớ rằng những từ này ngày nay có ý nghĩa nhất định đối với chúng ta—từ góc độ trình độ tiến hóa hiện tại của chúng ta, từ giáo lý kế thừa và thói quen tư duy của chúng ta, cũng như từ lập trường của kiến thức và thuật ngữ hiện đại. Sau này, khi chúng ta biết nhiều hơn và nhân loại tiến xa hơn vào ánh sáng, chúng có thể xuất hiện dưới một ánh sáng hoàn toàn khác. Nhưng từ ánh sáng phát ra từ sự hợp nhất rộng lớn hơn đó, và từ góc nhìn của Những Đấng có tâm thức cao hơn, rộng lớn hơn và bao trùm hơn tâm thức con người, thì ý nghĩa của những từ này có thể hoàn toàn khác. Định nghĩa chỉ đơn giản là sự biểu hiện của sự hiểu biết tức thời của một trí tuệ con người. Nhưng một định nghĩa sau này có thể bị coi là không hoàn hảo, thậm chí sai lầm, từ góc độ của một tri thức rộng lớn hơn và một sự nắm bắt bao quát hơn về tổng thể (giống như trường hợp của một cái gọi là sự thật). Do đó, mọi định nghĩa, và cuối cùng là mọi sự thật, sẽ được nhận biết là tạm thời; mọi sự giải thích cũng chỉ có giá trị nhất thời. Những chân lý căn bản của ngày hôm nay sau này có thể chỉ là những khía cạnh của những chân lý lớn hơn nữa, và khi chân lý lớn hơn được nắm bắt, ý nghĩa và sự diễn giải về phần trước đây quan trọng có thể sẽ khác hẳn với những gì từng được cho là đúng. Điều này không bao giờ được quên bởi bất kỳ ai [21] đọc bộ sách này về Bảy Cung. Một điểm đạo đồ, khi đọc ba từ mà chúng ta đang xem xét, sẽ có một ý niệm rất khác về chúng so với một đệ tử hay một người chưa từng suy nghĩ hoặc nghiên cứu theo hướng này, và với họ, từ vựng của chúng ta là mới lạ và xa lạ, mang lại rất ít ý nghĩa, và thường là không chính xác.

In individualisation, the life of God which has been subjected to the processes of growth, stimulation and development in the three lower kingdoms, becomes focussed in the fourth kingdom in nature, the human, through the agency of a “cycle of crisis”, and becomes subjected to the influence of soul energy in one of the seven ray aspects. The quality of the form aspect, as embodied in the personality and expressed by the phrase, “the ray of the personality”, becomes subject to the quality of the egoic ray. Those two great influences play upon and affect each other, interacting all the time, producing modifications and changes until, slowly and gradually, the ray of the personality becomes less dominant, and the ray of the soul steadily assumes prominence. Eventually it will be the soul ray that will be expressed, and not the form ray. This personality or form ray then becomes simply the medium of expression through which the quality of the soul can make its presence felt in full power. Something of this idea is conveyed in the ancient occult phrase “the lesser fire must be put out by the greater light”. A symbol of this can be seen in the power of the sun apparently to put out a little fire when it can pour its heat right into it.

Trong biệt ngã hóa, sự sống của Thượng đế—vốn đã trải qua các quá trình tăng trưởng, kích thích và phát triển trong ba giới thấp—được tập trung vào giới thứ tư trong tự nhiên, giới nhân loại, thông qua cơ quan của một “chu kỳ khủng hoảng”, và chịu ảnh hưởng của năng lượng linh hồn theo một trong bảy khía cạnh cung. Phẩm chất của khía cạnh hình tướng, vốn được thể hiện qua phàm ngã và được gọi là “cung của phàm ngã”, trở thành đối tượng của phẩm chất của cung chân ngã. Hai ảnh hưởng lớn này tác động lên nhau, tương tác liên tục, tạo ra những điều chỉnh và thay đổi cho đến khi, một cách chậm rãi và dần dần, cung của phàm ngã trở nên kém chi phối hơn, và cung của linh hồn ngày càng nổi bật. Cuối cùng, chính cung của linh hồn sẽ được biểu lộ, chứ không phải cung của hình tướng. Khi đó, cung của phàm ngã hay hình tướng chỉ đơn giản là phương tiện biểu hiện mà qua đó phẩm chất của linh hồn có thể được cảm nhận với đầy đủ sức mạnh. Ý niệm này được thể hiện qua cụm từ huyền bí cổ xưa: “ngọn lửa nhỏ hơn phải bị dập tắt bởi ánh sáng vĩ đại hơn”. Một biểu tượng của điều này có thể được thấy trong cách mặt trời có thể dập tắt một ngọn lửa nhỏ khi nó chiếu thẳng ánh sáng của nó vào đó.

It was earlier pointed out that we can profitably use the words,—Life, Quality, Appearance—in lieu of Spirit, Soul and Body, for they express the same truth. The quality of matter, built up into human form and indwelt by the soul or solar angel, is that which normally colours the appearance. Later, this inherent quality of the appearance changes, [22] and it is the quality nature of Deity (as expressed in the soul) which obliterates the quality of the forms. During the stage wherein it is the quality of matter which is the paramount influence, that material radiance makes itself felt in a triple form. These—from the angle of the entire sweep of the evolutionary process, and as far as the human personality is concerned—appear sequentially, and qualify the matter aspect with its three major presentations:

Trước đây đã đề cập rằng chúng ta có thể sử dụng những từ—Sự sống, Phẩm chất, Hình tướng—thay cho Tinh thần, Linh hồn và Thể xác, vì chúng thể hiện cùng một chân lý. Phẩm chất của vật chất, khi được kết hợp thành hình hài con người và có linh hồn hay Thái dương Thiên Thần cư ngụ trong đó, chính là yếu tố thường tô điểm cho hình tướng bên ngoài. Sau này, phẩm chất vốn có của hình tướng sẽ thay đổi, [22] và đó là phẩm chất của Thượng đế (như được thể hiện qua linh hồn) sẽ xóa nhòa phẩm chất của hình tướng. Trong giai đoạn mà phẩm chất của vật chất vẫn là ảnh hưởng chi phối, thì sự phát quang của vật chất này thể hiện theo ba dạng thức. Những điều này—từ góc độ của toàn bộ tiến trình tiến hóa, và xét riêng với phàm ngã con người—xuất hiện theo trình tự, và tạo điều kiện cho khía cạnh vật chất với ba biểu hiện chính của nó.

1. The quality of physical substance. During this stage of development, the man is almost entirely physical in his reactions and completely under the ray of his physical body. This is the correspondence in man to the Lemurian epoch and to the period of pure infancy.

1. Phẩm chất của vật chất thể xác. Trong giai đoạn phát triển này, con người gần như hoàn toàn mang tính vật chất trong các phản ứng của mình và chịu sự chi phối trọn vẹn của cung thể xác. Đây là sự tương ứng trong con người với thời kỳ Lemuria và với giai đoạn ấu thơ thuần túy.

2. The quality of the astral body. This governs the individual for a very long period, and still governs, more or less, the masses of men. It corresponds to the Atlantean period and to the stage of adolescence. The ray of the astral body is of very great power.

2. Phẩm chất của thể cảm dục. Điều này chi phối cá nhân trong một khoảng thời gian rất dài, và vẫn đang chi phối, ở mức độ nào đó, phần đông nhân loại. Nó tương ứng với thời kỳ Atlantis và với giai đoạn vị thành niên. Cung của thể cảm dục có một sức mạnh rất lớn.

3. The quality of the mental body. This, as far as the race is concerned, is just beginning to wax in power in this Aryan race to which this era belongs. It corresponds to the stage of maturity in the individual. The ray of the mind has a very close relation to the solar angel, and there is a peculiar affiliation between the Angel of the Presence and the mental man. It is this deep-seated, though oft unrecognised, interplay and cultivated intercourse, which produces the at-one-ment between the soul and its mechanism, man in the three worlds.

3. Phẩm chất của thể trí. Điều này, xét trên toàn thể nhân loại, mới chỉ bắt đầu gia tăng sức mạnh trong giống dân Arya, giống dân của thời đại này. Nó tương ứng với giai đoạn trưởng thành của cá nhân. Cung của thể trí có mối liên hệ rất mật thiết với Thái dương Thiên Thần, và có một sự liên kết đặc biệt giữa Thiên Thần của Hiện Diện và con người trí tuệ. Chính sự tương tác sâu sắc này, dù thường không được nhận biết, cùng với mối quan hệ được nuôi dưỡng, tạo ra sự hợp nhất giữa linh hồn và cơ chế của nó—con người trong ba cõi giới.

From the angle of these three ray influences, we have (in the life of the aspirant) a recapitulation of the triple process which we could call the “processes of unfoldment of the Lemurian, Atlantean, and Aryan consciousness.” On the Path [23] of Probation, the ray of the physical body must become subordinated to the potencies emanating from those soul rays which stream forth from the outer tier of petals in the egoic lotus. (See A Treatise on Cosmic Fire.) These are the knowledge petals. On the Path of Discipleship, the astral body is brought into subjection by the ray of the soul as it pours through the second tier of petals, the love petals. Upon the Path of Initiation, until the third initiation, the ray of the mental body is subdued by the force of the petals of sacrifice, found in the third tier of petals. Thus the three aspects of the personality are brought into subjection by the energy emanating from the nine petals of the egoic lotus. After the third initiation, the whole personality, composed of the three aspects, becomes sensitive to the energy of pure electric fire or life, as it pours through the “closed bud at the heart of the egoic lotus.”

Từ góc độ của ba ảnh hưởng cung này, trong cuộc đời của người chí nguyện, ta có một sự tái diễn của quá trình ba phần mà ta có thể gọi là “quá trình khai mở tâm thức Lemuria, Atlantis và Arya”. Trên Con Đường Dự Bị, cung của thể xác phải trở nên phụ thuộc vào các mãnh lực phát xuất từ những cung linh hồn tuôn đổ từ vòng cánh hoa ngoài cùng của Hoa Sen Chân Ngã. (Xem Luận về Lửa Vũ Trụ.) Đây là các cánh hoa tri thức. Trên Con Đường Đệ Tử, thể cảm dục được đưa vào sự chế ngự bởi cung của linh hồn khi nó tuôn đổ qua vòng cánh hoa thứ hai, các cánh hoa bác ái. Trên Con Đường Điểm Đạo, cho đến lần điểm đạo thứ ba, cung của thể trí bị khuất phục bởi mãnh lực của các cánh hoa hy sinh, nằm trong vòng cánh hoa thứ ba. Như vậy, ba khía cạnh của phàm ngã được đưa vào sự chế ngự bởi năng lượng phát xuất từ chín cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã. Sau lần điểm đạo thứ ba, toàn bộ phàm ngã, bao gồm ba khía cạnh, trở nên nhạy cảm với năng lượng của Lửa Điện thuần khiết hoặc sự sống, khi nó tuôn chảy qua “nụ khép kín ở trung tâm của Hoa Sen Chân Ngã”.

The value of the above information consists in the fact that it gives, symbolically, a synthetic picture of man’s unfoldment and higher relations. Its danger consists in the capacity of the human intellect to separate and divide, so that the process is regarded as proceeding in successive stages, whereas in reality there is often a paralleling activity going on, and much overlapping, fusing and interrelating of aspects, of rays and of processes, within the time cycle.

Giá trị của những thông tin trên nằm ở chỗ nó đưa ra, một cách biểu tượng, một bức tranh tổng hợp về sự khai mở của con người và mối quan hệ cao cả hơn của y. Nguy cơ của nó nằm ở khả năng của trí tuệ con người trong việc tách biệt và chia cắt, khiến quá trình này bị xem như diễn ra theo các giai đoạn liên tiếp, trong khi thực tế, có một hoạt động song song đang diễn ra, với nhiều sự chồng chéo, hòa hợp và tương tác giữa các khía cạnh, các cung và các quá trình trong chu kỳ thời gian.

Such is the program for humanity, as it concerns the unfoldment of the human consciousness. The whole emphasis of the entire evolutionary process is, in the last analysis, placed upon the development of conscious, intelligent awareness in the life animating the various forms. The exact state of awareness is contingent upon the age of the soul. Yet the soul has no age from the standpoint of time, as humanity understands it. It is timeless and eternal. Before the soul there passes the kaleidoscope of the senses, and the recurring [24] drama of outer phenomenal existence; but throughout all these occurrences in time and space, the soul ever preserves the attitude of the Onlooker and of the perceiving Observer. It beholds and interprets. In the early stages, when the “Lemurian consciousness” characterises the phenomenal man, that fragmentary aspect of the soul which indwells and informs the human form, and which gives to the man any real human consciousness which may be present, is inert, inchoate and unorganised; it is devoid of mind as we understand it, and is distinguished only by a complete identification with the physical form and its activities. This is the period of slow tamasic reactions to suffering, joy, pain, to the urge and satisfaction of desire, and to a heavy subconscious urge to betterment. Life after life passes, and slowly the capacity for conscious identification increases, with a growing desire for a larger range of satisfactions; the indwelling and animating soul becomes ever more deeply hidden, the prisoner of the form nature. The entire forces of the life are concentrated in the physical body, and the desires then expressed are physical desires; at the same time there is a growing tendency towards more subtle desires, such as the astral body evokes. Gradually, the identification of the soul with the form shifts from the physical to the astral form. There is nothing present at this time which could be called a personality. There is simply a living, active physical body, with its wants and desires, its needs and its appetites, accompanied by a very slow yet steadily increasing shift of the consciousness out of the physical into the astral vehicle.

Đây chính là chương trình dành cho nhân loại, xét trên sự khai mở của tâm thức con người. Xét đến cùng, toàn bộ quá trình tiến hóa đặt trọng tâm vào việc phát triển nhận thức có ý thức và thông minh trong sự sống vốn hoạt hóa các hình tướng khác nhau. Trạng thái nhận thức chính xác phụ thuộc vào “độ tuổi” của linh hồn. Tuy nhiên, từ góc độ thời gian như nhân loại hiểu, linh hồn không có tuổi. Nó là vô thời gian và vĩnh cửu. Trước linh hồn, vạn vật trôi qua như một kính vạn hoa của các giác quan, như vở kịch lặp đi lặp lại của sự tồn tại bên ngoài; nhưng trong suốt mọi diễn biến của thời gian và không gian, linh hồn luôn giữ thái độ của một Người Quan Sát và một Nhà Nhận Thức. Nó nhìn và giải thích. Trong các giai đoạn đầu tiên, khi “tâm thức Lemuria” đặc trưng cho con người hiện tượng, khía cạnh phân mảnh của linh hồn—kẻ cư ngụ và hoạt hóa hình tướng con người, kẻ ban cho con người bất kỳ ý thức nhân loại nào hiện hữu—vẫn còn trơ ì, chưa có hình dạng rõ ràng và chưa được tổ chức; nó không có trí tuệ theo cách chúng ta hiểu, và chỉ có thể được phân biệt bằng sự đồng nhất hoàn toàn với hình tướng vật chất và các hoạt động của nó. Đây là giai đoạn phản ứng chậm chạp của tamas, phản ứng với đau khổ, vui sướng, đau đớn, với sự thôi thúc và sự thỏa mãn của dục vọng, và với một sự thôi thúc tiềm ẩn nhưng mạnh mẽ hướng tới sự phát triển. Hết kiếp sống này đến kiếp sống khác trôi qua, và dần dần, khả năng nhận thức có ý thức gia tăng, cùng với sự khao khát lớn hơn về một phạm vi thỏa mãn rộng hơn; linh hồn cư ngụ và hoạt hóa càng trở nên ẩn giấu sâu hơn, bị giam cầm trong bản chất hình tướng. Toàn bộ mãnh lực của đời sống tập trung trong thể xác, và những dục vọng được biểu hiện lúc này chỉ là những dục vọng vật chất; đồng thời, có một khuynh hướng ngày càng gia tăng đối với những dục vọng tinh vi hơn, mà thể cảm dục khơi gợi. Dần dần, sự đồng nhất của linh hồn với hình tướng chuyển từ thể xác sang thể cảm dục. Tại thời điểm này, chưa có gì có thể được gọi là một phàm ngã. Chỉ đơn thuần có một thể xác sống động, hoạt động với những nhu cầu, dục vọng và bản năng của nó, đi kèm với một sự chuyển dịch chậm chạp nhưng ổn định của tâm thức từ thể xác sang thể cảm dục.

When this shift, in course of time, has been successfully achieved, then the consciousness is no longer entirely identified with the physical vehicle, but it becomes centred in the astral-emotional body. Then the focus of the soul’s attention, working through the slowly evolving man, is in the [25] world of desire, and the soul becomes identified with another response apparatus, the desire or astral body His consciousness then becomes the “Atlantean consciousness.” His desires are no longer so vague and inchoate; they have hitherto been concerned with the basic urges or appetites,—first, his urge to self-preservation; then to self-perpetuation through the urge to reproduce; and next, to economic satisfaction. At this stage we have the state of awareness of the infant and the raw savage. Gradually, however, we find a steadily growing inner realisation of desire itself, and less emphasis upon the physical satisfactions. The consciousness slowly begins to respond to the impact of the mind and to the power to discriminate and choose between various desires; the capacity to employ time somewhat intelligently, begins to make its presence felt. The more subtle pleasures begin to make their appeal; man’s desires become less crude and physical; the emerging desire for beauty begins to appear, and a dim sense of aesthetic values. His consciousness is becoming more astral-mental, or kama-manasic, and the whole trend of his daily attitudes, or his modes of living, and of his character begins to broaden, to unfold, and to improve. Though he is still ridden by unreasoning desire most of the time, yet the field of his satisfactions and of his sense-urges are less definitely animal and more definitely emotional. Moods and feelings come to be recognised, and a dim desire for peace and the urge to find that nebulous thing called “happiness” begin to play their part. This corresponds to the period of adolescence and to the state of consciousness called Atlantean. It is the condition of the masses at this present time. The bulk of human beings are still Atlantean, still purely emotional in their reactions and in their approach to life. They are still governed predominantly by selfish desires and by the calls of the instinctual life. Our earth humanity is still [26] in the Atlantean stage, whereas the intelligentsia of the world, and the disciples and aspirants, are passing rapidly out of this stage, for they reached individualisation on the moon chain, and were the Atlanteans of past history.

Khi sự chuyển dịch này, qua thời gian, được hoàn tất, thì tâm thức không còn hoàn toàn đồng nhất với thể xác nữa, mà trở nên tập trung vào thể cảm dục. Khi đó, trọng tâm của sự chú ý của linh hồn, làm việc qua con người đang tiến hóa, nằm trong [25] thế giới dục vọng, và linh hồn trở nên đồng nhất với một bộ máy phản ứng khác—thể cảm dục hay thể dục vọng. Tâm thức của y khi đó trở thành “tâm thức Atlantis”. Những dục vọng của y không còn mơ hồ và chưa có hình dạng như trước; trước đó, chúng chỉ liên quan đến những thôi thúc cơ bản hoặc bản năng—trước hết là bản năng tự bảo tồn, sau đó là bản năng duy trì nòi giống thông qua sự thôi thúc sinh sản, và kế tiếp là sự thỏa mãn về kinh tế. Ở giai đoạn này, đây là trạng thái nhận thức của trẻ sơ sinh và người bán khai. Tuy nhiên, dần dần, chúng ta thấy một sự nhận thức nội tại ngày càng gia tăng về chính dục vọng, và ít tập trung hơn vào các thỏa mãn vật chất. Tâm thức từ từ bắt đầu phản ứng với tác động của trí tuệ và với năng lực phân biện giữa các dục vọng khác nhau; khả năng sử dụng thời gian một cách có ý thức bắt đầu xuất hiện. Những niềm vui tinh tế hơn bắt đầu thu hút y; dục vọng của con người trở nên ít thô sơ và vật chất hơn; niềm khao khát vẻ đẹp bắt đầu ló dạng, cùng với một nhận thức mơ hồ về các giá trị thẩm mỹ. Tâm thức của y ngày càng mang tính cảm dục-trí tuệ, hay kama-manasic, và toàn bộ xu hướng của thái độ hàng ngày, cách sống và tính cách của y bắt đầu mở rộng, khai mở và cải thiện. Dù vẫn còn bị chi phối phần lớn bởi những dục vọng phi lý trí, nhưng phạm vi thỏa mãn và các xung động giác quan của y ít mang tính thú tính và ngày càng thiên về cảm xúc hơn. Những trạng thái tâm lý và cảm xúc bắt đầu được nhận thức, và một khao khát mơ hồ về hòa bình, một sự thôi thúc tìm kiếm thứ gọi là “hạnh phúc” bắt đầu xuất hiện. Đây là giai đoạn vị thành niên và là trạng thái tâm thức được gọi là Atlantis—tình trạng của phần đông nhân loại ngày nay. Phần lớn con người vẫn còn trong giai đoạn Atlantis, vẫn mang tính cảm xúc thuần túy trong các phản ứng và cách tiếp cận cuộc sống của họ. Họ vẫn chủ yếu bị chi phối bởi những dục vọng ích kỷ và những xung động của đời sống bản năng. Nhân loại trên Trái Đất của chúng ta vẫn đang trong giai đoạn Atlantis, trong khi giới trí thức của thế giới, cũng như các đệ tử và những người chí nguyện, đang nhanh chóng vượt ra khỏi giai đoạn này, bởi họ đã đạt được sự biệt ngã hóa trong dãy hành tinh mặt trăng và chính là những người Atlantis trong lịch sử quá khứ.

Workers in the world today should have these facts and sequences most carefully in mind, if they are rightly to appreciate the world problem, and correctly guide and teach the people. They should realise that, speaking generally, there is little true mentality with which to work when dealing with the submerged masses; that they need to be oriented towards the truly desirable, more than towards the truly reasonable, and the right direction of the energy of desire, as it expresses itself in the untutored, easily-swayed masses, should be the effort of all who teach.

Những người công tác trên thế giới ngày nay cần phải ghi nhớ cẩn thận những sự kiện và trình tự này nếu họ muốn đánh giá đúng vấn đề của thế giới và hướng dẫn, giảng dạy quần chúng một cách chính xác. Họ nên nhận ra rằng, nói chung, có rất ít tâm thức thực sự để làm việc khi tiếp cận với các tầng lớp bị nhấn chìm; rằng họ cần được định hướng đến những điều thực sự đáng mong muốn hơn là những điều thực sự hợp lý, và việc định hướng đúng mãnh lực của dục vọng, khi nó tự biểu hiện trong quần chúng chưa được giáo dục và dễ bị ảnh hưởng, phải là nỗ lực của tất cả những ai làm công tác giảng dạy.

In the more advanced people of the world today, we have the functioning of the mind-body; this is to be found in a large scale in our Western civilisation. The energy of the ray of the mental body begins to pour in, and slowly to assert itself. As this happens, the desire nature is brought under control, and consequently the physical nature can become more definitely the instrument of mental impulses. The brain consciousness begins to organise and the focus of energies begins to shift gradually out of the lower centres into the higher. Mankind is developing the “Aryan consciousness” and is reaching maturity. In the more advanced people of the world, we have also the integration of the personality and the emergence into definite control of the personality ray, with its synthetic, coherent grip of the three bodies and their fusing into one working unit. Later, the personality becomes the instrument of the indwelling soul.

Ở những con người tiến bộ hơn trên thế giới ngày nay, chúng ta có sự hoạt động của thể trí; điều này được tìm thấy ở quy mô lớn trong nền văn minh phương Tây của chúng ta. Năng lượng của cung của thể trí bắt đầu tuôn đổ vào và từ từ khẳng định chính nó. Khi điều này xảy ra, bản chất dục vọng được kiểm soát, và do đó, thể xác có thể trở thành công cụ rõ ràng hơn của các xung động trí tuệ. Ý thức não bộ bắt đầu được tổ chức và tiêu điểm của các năng lượng dần dần chuyển từ các trung tâm thấp lên các trung tâm cao hơn. Nhân loại đang phát triển “tâm thức Arya” và đang đạt đến sự trưởng thành. Ở những con người tiến bộ hơn trên thế giới, chúng ta cũng thấy sự hợp nhất của phàm ngã và sự xuất hiện của sự kiểm soát rõ ràng của cung phàm ngã, với sự hợp nhất tổng hợp và chặt chẽ của ba thể vào một đơn vị hoạt động. Sau đó, phàm ngã trở thành công cụ của linh hồn nội tại.

The above is a simple and direct statement of a long and difficult evolutionary unfoldment. Its very simplicity will indicate that we have only dealt with the broad outlines, and [27] have ignored the infinite detail of process. The work starts at Individualisation, and continues through the two final stages of Initiation and Identification. These three stages mark the progress of the soul consciousness from that of identification with the form to that of identification with the Self. These three words—individualization, initiation and identification,—cover the whole process of man’s career from the time he emerges into the human kingdom till he passes out of it at the third initiation, and functions freely in the fifth kingdom, the kingdom of God. By that time, he has learnt that consciousness is free and unlimited, and can function in form or out of form according to the behest of the soul, or as the Plan can best be served. The soul is then in no way conditioned by form. Just as man can express himself in what is called three-dimensional living, so, by the time he takes the third initiation, he can function actively and consciously in four dimensions, and in the final stages of the Path of Initiation he becomes active fifth-dimensionally.

Những điều trên là một tuyên bố đơn giản và trực tiếp về một quá trình khai mở tiến hóa lâu dài và khó khăn. Chính sự đơn giản của nó sẽ chỉ ra rằng chúng ta chỉ đang đề cập đến những nét đại cương, và [27] đã bỏ qua vô số chi tiết của tiến trình. Công việc này bắt đầu từ giai đoạn Biệt ngã hóa và tiếp tục qua hai giai đoạn cuối cùng là Điểm đạo và Đồng nhất. Ba giai đoạn này đánh dấu sự tiến triển của tâm thức linh hồn từ sự đồng nhất với hình tướng đến sự đồng nhất với Chân Ngã. Ba từ này—biệt ngã hóa, điểm đạo và đồng nhất—bao quát toàn bộ tiến trình của con người từ lúc y bước vào giới nhân loại cho đến khi y rời khỏi nó tại lần điểm đạo thứ ba, và hoạt động tự do trong giới thứ năm, Thiên Giới. Đến thời điểm đó, y đã học được rằng tâm thức là tự do và không bị giới hạn, có thể hoạt động trong hoặc ngoài hình tướng theo mệnh lệnh của linh hồn, hoặc theo cách mà Thiên Cơ có thể được phục vụ tốt nhất. Khi đó, linh hồn không còn bị hình tướng hạn chế. Cũng như con người có thể biểu lộ chính mình trong cái gọi là đời sống ba chiều, thì vào thời điểm y đạt đến lần điểm đạo thứ ba, y có thể hoạt động tích cực và có ý thức trong bốn chiều, và trong những giai đoạn cuối của Con Đường Điểm Đạo, y trở nên hoạt động ở chiều thứ năm.

As we consider these various degrees of expanding awareness, the significant fact to be borne in mind is that through it all there is one steady, sequential unfoldment taking place. The life of the soul, in this great life cycle which we call human incarnation, passes on the phenomenal plane through all the stages with the same direction, power, steadiness in growth and in the adaptability of form to circumstance and environment, as does the life of God as it flows through the various Kingdoms in nature from age to age. The thread of the unfolding consciousness can be traced with clarity in all. Forms are built, used and discarded. Cycles of lives bring the forms into certain phases of unfoldment needed by the progressively inclusive consciousness. Other and later cycles demonstrate the definite and specific effects of this developed consciousness, for some lives are predominantly fruitful in [28] producing causes (which is a paradoxical sentence with deep meaning) and others in working off the effects of the earlier initiated causes. This is a point not often emphasised. Still later cycles of lives bring these two aspects—consciousness and form—into a greater rapport, and thus produce an entirely different type of life. The correspondence to these cycles can be seen working out in the life and consciousness of the planetary Logos, as that great Life seeks expression through the medium of the four kingdoms in nature.

Khi chúng ta xem xét những cấp độ nhận thức mở rộng khác nhau này, điều quan trọng cần ghi nhớ là xuyên suốt tất cả đều có một sự khai mở tuần tự ổn định diễn ra. Đời sống của linh hồn, trong chu kỳ vĩ đại này mà chúng ta gọi là sự nhập thể của con người, đi qua các giai đoạn trên cõi hiện tượng với cùng một phương hướng, quyền năng, sự tăng trưởng ổn định và khả năng thích nghi của hình tướng với hoàn cảnh và môi trường, cũng như sự sống của Thượng Đế khi nó tuôn chảy qua các giới khác nhau trong thiên nhiên từ thời đại này sang thời đại khác. Sợi chỉ của tâm thức khai mở có thể được theo dõi một cách rõ ràng trong tất cả. Hình tướng được tạo dựng, sử dụng và loại bỏ. Các chu kỳ của kiếp sống đưa hình tướng vào những giai đoạn khai mở nhất định cần thiết cho tâm thức ngày càng bao trùm. Các chu kỳ khác và về sau thể hiện rõ ràng những tác động cụ thể của tâm thức đã phát triển này, vì một số kiếp sống chủ yếu tạo ra nguyên nhân (một câu có tính nghịch lý nhưng mang ý nghĩa sâu sắc) và những kiếp sống khác chủ yếu là để hóa giải các hậu quả của những nguyên nhân đã khởi tạo trước đó. Đây là một điểm ít khi được nhấn mạnh. Những chu kỳ kiếp sống về sau mang hai khía cạnh này—tâm thức và hình tướng—vào một mối liên hệ sâu sắc hơn, và từ đó tạo ra một loại đời sống hoàn toàn khác. Sự tương ứng của các chu kỳ này có thể được quan sát khi nó thể hiện trong đời sống và tâm thức của Hành Tinh Thượng Đế, khi Đại Sinh Mệnh đó tìm kiếm sự biểu lộ thông qua phương tiện của bốn giới trong thiên nhiên.

However, (and this is the fact of supreme importance), all this activity, all this directed unfoldment, all this evolving purpose and livingness, all the events in all the kingdoms of nature, and all the phases of life-conditioning in the human family, plus the kaleidoscope of events, the emergence of characteristics and tendencies, the appearance of forms with their unique colouring, qualities and activities, the syntheses and fusions, the urges, instincts and aspirations, the manifested loves and hates (as expressions of the great law of attraction and repulsion), the producing of civilisations, of the sciences and arts in all their wonder and beauty,—all this is but the expression of the will-to-be of certain Beings or Lives. Their consciousness so far transcends the human that only the initiate of high degree can enter into Their true Plan. What we see today is only the expression of Their energies in the processes of form-making and of the evolution of consciousness. The Plan, as it is sensed by the world disciples, in the attempt to work and cooperate with it, is only the sensing of that portion of it which concerns the human consciousness. We have not yet been able to catch even a glimmer of the vastness of the synthetic Plan for evolutions other than human, both superhuman and subhuman; nor can we grasp the fabric of God’s ideal as it underlies the sum total of the manifested processes, even upon our little planet. All we [29] really know is the fact of the Plan, and that it is very good; that we are enfolded within it and subject to it.

Tuy nhiên, (và đây là sự kiện có tầm quan trọng tối thượng), tất cả hoạt động này, tất cả sự khai mở có định hướng này, tất cả mục đích tiến hóa và sự sống động này, tất cả các sự kiện trong mọi giới trong thiên nhiên, và tất cả các giai đoạn định hình đời sống trong gia đình nhân loại, cùng với vô số sự kiện đan xen, sự xuất hiện của các đặc điểm và khuynh hướng, sự biểu lộ của các hình tướng với màu sắc, phẩm tính và hoạt động đặc thù của chúng, sự tổng hợp và dung hợp, những thúc đẩy, bản năng và khát vọng, những tình yêu và thù hận được biểu lộ (như những biểu hiện của đại định luật hấp dẫn và đẩy lùi), sự xuất hiện của các nền văn minh, của khoa học và nghệ thuật trong tất cả sự kỳ diệu và vẻ đẹp của chúng—tất cả những điều này chỉ đơn thuần là sự biểu hiện của ý chí hiện hữu của một số Đấng hoặc Sinh Mệnh nhất định. Tâm thức của Các Ngài vượt xa tâm thức con người đến mức chỉ có các điểm đạo đồ ở cấp độ cao mới có thể hiểu được Thiên Cơ đích thực của Các Ngài. Những gì chúng ta thấy ngày nay chỉ là sự biểu lộ năng lượng của Các Ngài trong các tiến trình tạo hình tướng và tiến hóa của tâm thức. Thiên Cơ, như được cảm nhận bởi các đệ tử trên thế giới khi họ cố gắng làm việc và hợp tác với nó, chỉ là sự nhận thức về phần nào của Thiên Cơ liên quan đến tâm thức nhân loại. Chúng ta vẫn chưa thể nắm bắt dù chỉ một tia sáng về tính vĩ đại của Thiên Cơ tổng hợp đối với các tiến hóa khác ngoài nhân loại, bao gồm cả các tiến hóa siêu nhân và hạ nhân; cũng như chúng ta không thể hiểu được cấu trúc của lý tưởng Thượng Đế khi nó tiềm ẩn trong tổng thể các tiến trình biểu lộ, ngay cả trên hành tinh nhỏ bé của chúng ta. Tất cả những gì chúng ta [29] thực sự biết là sự hiện hữu của Thiên Cơ, rằng nó rất tốt đẹp; rằng chúng ta được bao trùm trong đó và bị chi phối bởi nó.

Herein may be found a clue to the difficult problem of free will. It might be said that within the limits of the intelligent direction of the intelligent man there is free will, as far as activity in the human kingdom is concerned. Where no mind activity is present and where there is no power to discriminate, to analyse and to choose, there is no free will. Within the vaster processes of the Plan, however, as it includes the entire planetary evolution, there is, for the tiny unit, man, no free will. He is subject, for instance, to what we call “acts of God”, and before these he is helpless. He has no choice and no escape. Herein lies a hint upon the working of karma in the human kingdom; karma and intelligent responsibility are inextricably woven and interwoven.

Trong đây có một manh mối đối với vấn đề khó khăn về ý chí tự do. Có thể nói rằng trong giới hạn của sự chỉ đạo thông minh của con người thông minh, có ý chí tự do, ít nhất là trong hoạt động của giới nhân loại. Khi không có hoạt động của trí tuệ và khi không có năng lực phân biện, phân tích và lựa chọn, thì không có ý chí tự do. Tuy nhiên, trong các tiến trình rộng lớn hơn của Thiên Cơ, khi nó bao gồm toàn bộ sự tiến hóa hành tinh, thì đối với đơn vị nhỏ bé là con người, không có ý chí tự do. Y chịu sự chi phối, chẳng hạn như những gì chúng ta gọi là “hành động của Thượng Đế”, và trước những điều này, y hoàn toàn bất lực. Y không có lựa chọn và không có lối thoát. Trong đây cũng ẩn chứa một gợi ý về cách thức vận hành của nghiệp quả trong giới nhân loại; nghiệp quả và trách nhiệm trí tuệ được đan xen và kết nối chặt chẽ với nhau.

As we close our discussion of the three steps of Individualisation, Initiation, and Identification, which mark the progress of the soul from identification with form until it loses itself and its own identity in a higher identification with the Absolute One, let us carry our thoughts forward to that point in time and space wherein the spiritual consciousness releases itself from all the categories of awareness and all differentiations, and from the final sense of selfhood, and merges itself in that sublime condition in which self-centredness (as we understand it) disappears. We shall later consider the stages wherein the soul—impelled thereto by its peculiar ray qualities—appropriates to itself (for purposes of experience) those forms which can be expressive of, and responsive to, the many types of divine awareness.

Khi chúng ta kết thúc cuộc thảo luận về ba bước Biệt ngã hóa, Điểm đạo và Đồng nhất—những bước đánh dấu sự tiến triển của linh hồn từ sự đồng nhất với hình tướng cho đến khi nó đánh mất chính mình và bản sắc riêng trong sự đồng nhất cao hơn với Tuyệt Đối Nhất Thể—chúng ta hãy hướng tư tưởng của mình đến thời điểm trong không gian và thời gian khi tâm thức tinh thần tự giải thoát khỏi mọi phạm trù nhận thức và mọi sự phân biệt, và từ ý thức về bản thân cuối cùng, để hòa nhập vào trạng thái siêu việt nơi mà ý thức tập trung vào bản thân (như chúng ta hiểu) biến mất. Chúng ta sẽ xem xét sau về các giai đoạn mà linh hồn—được thúc đẩy bởi các phẩm tính đặc thù của cung của nó—tiếp nhận cho chính nó (vì mục đích kinh nghiệm) những hình tướng có thể biểu lộ và phản ứng với nhiều loại nhận thức thiêng liêng.

It should be noted here, therefore, that there are, literally, two points of identification in the long experience of the soul. One marks the stage wherein form, matter, substance, time and space are controlling factors, and imprison the soul [30] within their types of consciousness. This connotes identification with form life. The other connotes identification with all that lies outside of form expression and is released from it. What that may be lies beyond the grasp of our present advanced humanity, and is only known in its true significance by such great Existences as the Christ, the Buddha and Those of analogous rank in the Hierarchy of Lives. The qualities generated and developed through the first of these identifications persist and colour the conscious realisation, and it must be remembered that the final identification is the result of the experience gained through the medium of the first. These qualities will vary according to the dominance of one or other of the ray energies, but there will be—in the final stages—no consciousness of quality or ray type, but simply a state of Being or of livingness that realises identification with the Whole and which, at the same time, holds in solution (if one may use so unsatisfactory a term) all the results of the lesser identifications, the various differentiations and distinctions, and the many ray instincts, impulses, and intuitions. The garnered and expressed qualities, and the possible actions and reactions and awarenesses are equally eternally present and capable of re-acquisition at will, but they are all held below the threshold of consciousness. Livingness, Being, Wholeness and Unity are the distinctive characteristics of this highly evolved stage, which is, in its turn, the foundation for that higher evolutionary cycle of which we know nothing but which is hinted at in A Treatise on Cosmic Fire and in all references to the seven Paths which open up before the adept of the fifth initiation. Absorption into the One Life is the nature of this elevated state of consciousness. Freedom from all that is implied in the use of the words Form and Ego is the major characteristic, and, therefore, many ancient Scriptures, when attempting to deal with and explain this [31] supernormal and superlative condition, are forced back into the use of negatives, and the so-called “doctrine of negation”. Only by indicating what this state or condition of awareness is not, can any idea be conveyed of what it essentially is. The negations thus met with (and frequently misunderstood by the occidental reader) are, therefore, the result of the futility and inadequacy of language to express the Reality then known.

Do đó, cần lưu ý rằng thực sự có hai điểm đồng nhất trong trải nghiệm dài lâu của linh hồn. Một điểm đánh dấu giai đoạn trong đó hình tướng, vật chất, chất thể, thời gian và không gian là những yếu tố kiểm soát và giam hãm linh hồn [30] trong các kiểu tâm thức của chúng. Điều này hàm ý sự đồng nhất với đời sống hình tướng. Điểm kia hàm ý sự đồng nhất với tất cả những gì nằm bên ngoài sự biểu lộ hình tướng và được giải thoát khỏi nó. Điều đó là gì thì vượt ngoài sự hiểu biết của nhân loại tiên tiến hiện tại của chúng ta và chỉ được biết trong ý nghĩa chân thực của nó bởi những Đấng vĩ đại như Đức Christ, Đức Phật và Những Đấng có thứ bậc tương đương trong Thánh Đoàn của Các Sinh Mệnh. Những phẩm tính được hình thành và phát triển qua sự đồng nhất thứ nhất vẫn tồn tại và tô điểm nhận thức có ý thức, và cần nhớ rằng sự đồng nhất cuối cùng là kết quả của kinh nghiệm thu được thông qua phương tiện của sự đồng nhất thứ nhất. Những phẩm tính này sẽ khác nhau tùy theo sự chi phối của một hoặc nhiều năng lượng của các cung, nhưng trong giai đoạn cuối cùng sẽ không còn ý thức về phẩm tính hoặc loại cung, mà chỉ đơn giản là một trạng thái Hiện Hữu hoặc Sinh Động nhận thức sự đồng nhất với Tổng Thể, đồng thời giữ trong trạng thái tiềm tàng (nếu có thể sử dụng một thuật ngữ chưa thật sự thỏa đáng) tất cả các kết quả của những sự đồng nhất nhỏ hơn, các phân biệt và sai biệt khác nhau, cũng như các bản năng, xung động và trực giác của các cung. Những phẩm tính đã được thu thập và biểu lộ, cùng với các hành động và phản ứng có thể có, cũng như những nhận thức, đều tồn tại vĩnh viễn và có thể được tái tiếp nhận theo ý muốn, nhưng tất cả đều được giữ dưới ngưỡng của ý thức. Sinh Động, Hiện Hữu, Tổng Thể và Hợp Nhất là những đặc điểm đặc trưng của giai đoạn tiến hóa cao cấp này, và giai đoạn này lại là nền tảng cho chu kỳ tiến hóa cao hơn mà chúng ta chưa biết gì về nó, nhưng nó đã được ám chỉ trong Luận về Lửa Vũ Trụ và trong tất cả các tài liệu liên quan đến bảy Con Đường mở ra trước điểm đạo đồ ở lần điểm đạo thứ năm. Sự hòa nhập vào Đại Sinh Mệnh là bản chất của trạng thái tâm thức siêu việt này. Sự tự do khỏi tất cả những gì được hàm ý trong các từ “Hình Tướng” và “Chân Ngã” là đặc tính chính yếu của nó, và do đó, nhiều Kinh điển cổ xưa, khi cố gắng đề cập và giải thích [31] trạng thái siêu việt và tối thượng này, buộc phải quay về cách diễn đạt bằng phủ định, tức “học thuyết phủ định”. Chỉ bằng cách chỉ ra trạng thái nhận thức hoặc điều kiện này không phải là gì, người ta mới có thể truyền đạt được ý niệm về nó thực sự là gì. Những phủ định như vậy (và thường bị hiểu sai bởi độc giả phương Tây) là kết quả của sự bất lực và không đầy đủ của ngôn ngữ trong việc diễn đạt Chân Lý khi đó được nhận biết.

After the major initiations are undergone, the state of consciousness of the illumined and liberated adept is such that language serves only to blind and to hinder true understanding. The consciousness of the initiate is of so lofty a nature that it can only be described in terms of release, of negation, and through the emphasis of that which it is not. It is a state of No-thing and Non-ego, for all egoic awareness is superseded by a state of Being and of consciousness which is only capable of comprehension and expression when form life is of no further use to the perfected spiritual life. It is a state of non-individuality, yet with the subconscious knowledge and gains of the individual experience. The centre of consciousness is so far removed from any individual separate identity that that particular factor has faded entirely out, and only the macrocosmic life is sentiently realised. It is a state of nonactivity from our present angle of vision, because all individual reactions to the activity of matter or to that state of being which we call egoic, have dropped away, and Life and Mind can no longer be swept into motion by any of the factors which have hitherto produced what we have called soul activity and form existence.

Sau khi trải qua các lần điểm đạo chính yếu, trạng thái tâm thức của điểm đạo đồ giác ngộ và giải thoát đạt đến mức mà ngôn ngữ chỉ làm mờ đi và cản trở sự hiểu biết chân thực. Tâm thức của điểm đạo đồ ở một mức độ cao đến nỗi nó chỉ có thể được mô tả qua sự giải thoát, qua sự phủ định, và bằng cách nhấn mạnh vào những gì nó không phải. Đó là một trạng thái của Vô thểVô ngã, vì mọi nhận thức của phàm ngã đều bị thay thế bởi một trạng thái Hiện Hữu và tâm thức chỉ có thể được lĩnh hội và biểu đạt khi đời sống hình tướng không còn giá trị gì đối với đời sống tinh thần đã hoàn thiện. Đây là một trạng thái vô cá thể, nhưng vẫn giữ lại kiến thức tiềm thức và những thành tựu đạt được qua kinh nghiệm cá nhân. Trung tâm của tâm thức đã xa rời hoàn toàn bất kỳ một bản sắc cá nhân riêng lẻ nào, đến mức yếu tố đó đã hoàn toàn phai mờ, và chỉ có sự sống của Đại Thiên Địa là được nhận biết một cách hữu thức. Đây là một trạng thái vô hoạt động theo góc nhìn hiện tại của chúng ta, bởi vì mọi phản ứng cá nhân đối với hoạt động của vật chất hoặc đối với trạng thái hiện hữu mà chúng ta gọi là phàm ngã đều đã rơi rụng, và sự Sống và Trí Tuệ không còn bị cuốn vào chuyển động bởi bất kỳ yếu tố nào vốn trước đây đã sản sinh ra những gì chúng ta gọi là hoạt động của linh hồn và sự tồn tại của hình tướng.

Nevertheless, though the consciousness is other than all that has been hitherto known, and though it can only be expressed in terms of negation, the truth must be borne constantly in mind that the greater awareness must always include [32] the lesser awarenesses. Consequently all possible actions and reactions, identifications and focussings, awarenesses and contacts, ray impulses, approaches and withdrawals, and all possible expressions of the divine activity and qualities, phenomenal and non-phenomenal, are included in the state of Being which is now the natural state of the liberated and enlightened spiritual Existence. All are possible of recovery through the will or in response to a need, but the spiritual Being is no longer held by them or identified with them. Each of the stages on the great Path of Liberation or Enlightenment with which we have been concerned—Individualisation, Initiation and Identification—have led the Life or the spiritual, interior man, from point to point, from quality to quality, from realisation to realisation, from phenomenal appearance to spiritual living, from physical awareness to sentient, emotional awareness, and from that to mental differentiation and separateness. He has been carried from hell to heaven, from heaven to Nirvana, from the life-conditioning of the personal Ego to that of the group soul, and thence to that of the liberated state of pure intuitional life. He has passed from form experience as a whole to that complete freedom from all vibratory impressions which it is the nature of pure Being (divorced from phenomenal existence) to demonstrate. But at the same time, nothing is lost of capacity, or quality or of sentient awareness. This is beautifully expressed for us in the words of the Old Commentary, found in the archives of the Masters.

Tuy nhiên, dù tâm thức đó hoàn toàn khác với tất cả những gì đã từng được biết đến, và dù nó chỉ có thể được biểu đạt qua phủ định, thì một chân lý cần luôn được ghi nhớ rằng sự nhận thức cao hơn phải luôn bao hàm các nhận thức thấp hơn [32]. Do đó, mọi hành động và phản ứng khả dĩ, mọi sự đồng nhất và tập trung, mọi nhận thức và tiếp xúc, mọi xung động của các cung, mọi sự tiến gần và rút lui, và mọi biểu hiện có thể có của hoạt động và phẩm tính thiêng liêng—dù thuộc cõi hiện tượng hay siêu nhiên—đều được bao hàm trong trạng thái Hiện Hữu mà bây giờ đã trở thành trạng thái tự nhiên của Sự Hiện Hữu tinh thần giải thoát và giác ngộ. Tất cả có thể được phục hồi qua ý chí hoặc để đáp ứng một nhu cầu, nhưng Bản Thể tinh thần không còn bị ràng buộc bởi chúng hay đồng nhất với chúng. Mỗi giai đoạn trên Đại Đạo Giải Thoát hoặc Giác Ngộ mà chúng ta đã xem xét—Biệt ngã hóa, Điểm đạo và Đồng nhất—đã dẫn dắt sự Sống, hay con người tinh thần nội tại, từ điểm này đến điểm khác, từ phẩm tính này đến phẩm tính khác, từ nhận thức này đến nhận thức khác, từ sự xuất hiện trong thế giới hiện tượng đến đời sống tâm linh, từ ý thức vật lý đến ý thức cảm xúc hữu cảm, và từ đó đến sự phân biệt trí tuệ và sự tách biệt. Y đã được dẫn dắt từ địa ngục đến thiên đường, từ thiên đường đến Niết Bàn, từ những điều kiện sống của phàm ngã cá nhân đến trạng thái của hồn nhóm, và từ đó đến trạng thái giải thoát của đời sống trực giác thuần khiết. Y đã vượt qua kinh nghiệm hình tướng tổng thể để đạt đến sự tự do hoàn toàn khỏi mọi ấn tượng rung động, điều vốn là bản chất của Hiện Hữu thuần khiết (tách biệt khỏi sự tồn tại hiện tượng). Nhưng đồng thời, không có gì bị mất đi—không phải về năng lực, phẩm tính hay nhận thức hữu cảm. Điều này được diễn đạt một cách tuyệt mỹ trong những lời của Cổ Luận, được tìm thấy trong kho lưu trữ của các Chân sư:

“The quality of life fades out. It flickers and is gone. Yet the Blessed Ones reveal at will that quality. The colour pure remains.

“Phẩm tính của sự sống phai mờ. Nó lóe lên rồi biến mất. Tuy nhiên, Các Đấng Chân Phúc có thể bày tỏ phẩm tính ấy theo ý muốn. Màu sắc thuần khiết vẫn còn.

The nature of life in form fails to appear. It flashes forth a little while, then disappears. The Blessed Ones, at will, can take a form, yet are not then the form.

Bản chất của đời sống trong hình tướng không còn xuất hiện. Nó chợt lóe sáng một thoáng, rồi biến mất. Các Đấng Chân Phúc, theo ý muốn, có thể khoác lấy một hình tướng, nhưng không đồng nhất với hình tướng đó.

The seven great rays sweep into manifested life. They are, [33] and then are not. All is and all is not. But the Blessed Ones at any time can sweep forth into manifested light. They carry then the potencies of spirit to meet the need expressed. Light holds Them not; Their purpose is not imprisoned; Their will is not subdued. They appear and disappear at will.”

Bảy cung vĩ đại tuôn vào đời sống biểu lộ. Chúng hiện hữu, [33] rồi lại không. Mọi sự đều tồn tại, và cũng không tồn tại. Nhưng Các Đấng Chân Phúc bất cứ lúc nào cũng có thể chiếu sáng vào sự sống biểu lộ. Khi đó, Các Ngài mang theo năng lực của tinh thần để đáp ứng nhu cầu được thể hiện. Ánh sáng không thể ràng buộc Các Ngài; mục đích của Các Ngài không bị giam hãm; ý chí của Các Ngài không bị khuất phục.Các Ngài xuất hiện và biến mất theo ý muốn.”

(An expression of the truth of this can be seen demonstrating in the world each full moon of May, when the Buddha flashes forth into manifestation, for the fulfillment of the Plan and at the urgent behest of His own spiritual will.)

(Một sự thể hiện chân lý này có thể được quan sát trong thế gian vào mỗi kỳ trăng tròn tháng Năm, khi Đức Phật lóe sáng vào sự biểu lộ, để hoàn thành Thiên Cơ và theo lệnh khẩn thiết của ý chí tinh thần của Ngài.)

“Naught holds the Blessed Ones. Neither the deities nor form; neither desire nor mind; nor any quality of life. Pure life they are; pure being and pure will; pure love and pure intent; this is all that unenlightened man can grasp, and only that in part.

“Không gì có thể giữ chân Các Đấng Chân Phúc. Không phải các thần linh, cũng không phải hình tướng; Không phải dục vọng, cũng không phải trí tuệ; Cũng không phải bất kỳ phẩm tính nào của sự sống. Các Ngài là sự sống thuần khiết; Là hiện hữu thuần khiết và ý chí thuần khiết; Là tình thương thuần khiết và ý định thuần khiết; Đây là tất cả những gì con người chưa giác ngộ có thể nắm bắt, và chỉ có thể hiểu được một phần.

The Blessed Ones are not, and yet They are.

Các Đấng Chân Phúc không hiện hữu, nhưng lại chính là tất cả.

The Blessed Ones know naught, and yet know all.

Các Đấng Chân Phúc không biết gì, nhưng lại biết tất cả.

The Blessed Ones love not, yet offer love divine.

Các Đấng Chân Phúc không yêu, nhưng lại hiến dâng tình thương thiêng liêng.

The Blessed Ones remember not, yet all is recollection.

Các Đấng Chân Phúc không nhớ gì, nhưng tất cả đều là sự hồi tưởng.

The Blessed Ones remain in isolation pure; and yet at will can take a form.

Các Đấng Chân Phúc ngụ trong sự cô lập thuần khiết, nhưng theo ý muốn có thể khoác lấy hình tướng.

The Blessed Ones dwell ever in the high and lofty place, yet oft can walk on earth in light phenomenal.

Các Đấng Chân Phúc luôn ngự nơi cao vời vợi, nhưng thường xuyên có thể bước đi trên trần gian trong ánh sáng biểu lộ.

The Blessed Ones manifest not through form; yet are all forms and all intents.”

Các Đấng Chân Phúc không biểu lộ qua hình tướng; nhưng lại chính là tất cả hình tướng và mọi ý định.”

Then the Old Commentary runs through what would constitute many pages of writing, shewing that the Blessed Ones are naught and yet are all there is; that They possess nothing and yet are in Themselves the expression of all reality; that They dwell nowhere and yet are found everywhere; that They have faded out and yet are shining in full radiance and can be seen. Negation after negation is piled up, only promptly to be contradicted in an effort to shew how divorced from, and yet inclusive of, form is the life of the Blessed Ones. It ends with the wonderful injunction:—

Sau đó, Cổ Luận tiếp tục diễn đạt qua nhiều trang, cho thấy rằng Các Đấng Chân Phúc không tồn tại nhưng lại chính là tất cả những gì hiện hữu; rằng Các Ngài không sở hữu gì nhưng lại chính là sự biểu hiện của toàn bộ thực tại; rằng Các Ngài không ngụ ở đâu nhưng lại có mặt khắp nơi; rằng Các Ngài đã tan biến nhưng lại rực rỡ trong ánh sáng viên mãn và có thể được nhìn thấy. Hết phủ định này đến phủ định khác được xếp chồng lên nhau, chỉ để ngay sau đó bị bác bỏ, nhằm nỗ lực cho thấy rằng đời sống của Các Đấng Chân Phúc vừa tách biệt khỏi hình tướng, nhưng đồng thời lại bao hàm tất cả hình tướng. Cuối cùng, nó kết thúc bằng một huấn lệnh tuyệt vời:—

“Therefore be full of joy, O pilgrim on the Way towards [34] enlightened Being, for gain and loss are one; darkness and light eternally reveal the True; love and desire eternally invoke the Life.

“Vậy hãy tràn đầy hoan hỷ, hỡi lữ khách trên Đường Đạo hướng về [34] Hiện Hữu Giác Ngộ, vì được và mất là một; bóng tối và ánh sáng vĩnh viễn tiết lộ Chân Lý; tình thương và dục vọng vĩnh viễn kêu gọi Sự Sống.

Naught disappears but pain. Nothing remains but bliss,—the bliss of knowledge true, of contact real, of light divine, the Way to God.”

Không gì biến mất ngoài đau khổ. Không gì còn lại ngoài cực lạc—cực lạc của tri thức chân thật, của sự tiếp xúc chân thực, của ánh sáng thiêng liêng, Con Đường dẫn đến Thượng Đế.”

Such is the true goal, as yet unrealisable by us. What is it that we are endeavoring to do? We are treading the Way of Release, and on that way, all drops from our hands; everything is taken away, and detachment from the world of phenomenal life and of individuality is inevitably forced upon us. We are treading the Way of Loneliness, and must learn eventually that we are essentially neither ego nor non-ego. Complete detachment and discrimination must finally lead us to a condition of such complete aloneness that the horror of the great blackness will settle down upon us. But when that pall of blackness is lifted and the light again pours in, the disciple sees that all that was grasped and treasured, and then lost and removed, has been restored, but with this difference—that it no longer holds the life imprisoned by desire. We are treading the Way that leads to the Mountain Top of Isolation, and will find it full of terror. Upon that mountain top we must fight the final battle with the Dweller on the Threshold, only to find that that too is an illusion. That high point of isolation and the battle itself are only illusions and figments of unreality; they are the last stronghold of the ancient glamour, and of the great heresy of separateness. Then we, the Beatific Ones, will eventually find ourselves merged with all that is, in love and understanding. The isolation, a necessary stage, is itself but an illusion. We are treading the Way of Purification and step by step all that we cherish is removed,—lust for form life, desire for love, and the great glamour of hatred. These disappear and we stand purified and [35] empty. The distress of emptiness is the immediate result; it grips us and we feel that the price of holiness is too high. But, standing on the Way, suddenly the whole being is flooded with light and love, and the emptiness is seen as constituting that through which light and love may flow to a needy world. The purified One can dwell then in that place where dwell the Blessed Lords, and from that place go forth to “illumine the world of men and of the deities”.

Đó là mục tiêu chân thực, nhưng hiện tại vẫn chưa thể nhận thức được đối với chúng ta. Chúng ta đang nỗ lực làm gì? Chúng ta đang bước đi trên Con Đường Giải Thoát, và trên con đường đó, mọi thứ rơi khỏi tay chúng ta; mọi thứ đều bị lấy đi, và sự xả ly khỏi thế giới hiện tượng và khỏi bản ngã cá thể chắc chắn sẽ xảy ra. Chúng ta đang bước đi trên Con Đường Cô Đơn, và cuối cùng phải học rằng bản chất thực sự của chúng ta không phải là phàm ngã cũng không phải là vô ngã. Sự xả ly hoàn toàn và phân biện cuối cùng sẽ dẫn chúng ta đến một trạng thái cô lập đến mức nỗi kinh hoàng của bóng tối vô biên sẽ bao trùm chúng ta. Nhưng khi màn đêm đen đó được vén lên và ánh sáng lại tuôn đổ vào, đệ tử sẽ thấy rằng tất cả những gì đã được y nắm giữ và trân quý, rồi mất đi và bị loại bỏ, đã được phục hồi—nhưng với một sự khác biệt: nó không còn giữ sự sống bị giam cầm bởi dục vọng nữa. Chúng ta đang bước đi trên Con Đường dẫn đến Đỉnh Núi Cô Lập, và sẽ thấy nó đầy rẫy nỗi kinh hoàng. Trên đỉnh núi đó, chúng ta phải chiến đấu trận chiến cuối cùng với Kẻ Chận Ngõ, chỉ để nhận ra rằng đó cũng chỉ là một ảo tưởng. Điểm cô lập cao cả ấy và chính trận chiến đó chỉ là những ảo ảnh và ảo tưởng của sự không thực; chúng là thành trì cuối cùng của ảo cảm cổ xưa và của đại tà thuyết về sự phân ly. Khi đó, chúng ta—Những Đấng Chân Phúc—cuối cùng sẽ thấy mình hòa nhập với tất cả những gì hiện hữu, trong tình thương và sự thấu hiểu. Sự cô lập, một giai đoạn cần thiết, tự nó cũng chỉ là một ảo ảnh. Chúng ta đang bước đi trên Con Đường Thanh Lọc, và từng bước một, tất cả những gì chúng ta trân quý đều bị loại bỏ—sự ham muốn đời sống hình tướng, dục vọng đối với tình thương, và đại ảo tưởng của hận thù. Những điều này dần dần biến mất, và chúng ta đứng đó, thanh lọc và [35] trống rỗng. Nỗi thống khổ của sự trống rỗng là kết quả tức thời; nó siết chặt chúng ta, và chúng ta cảm thấy rằng cái giá của sự thánh thiện là quá lớn. Nhưng khi đứng trên Đường Đạo, đột nhiên toàn bộ bản thể chúng ta tràn ngập ánh sáng và tình thương, và chúng ta nhận ra rằng sự trống rỗng ấy chính là điều kiện cho phép ánh sáng và tình thương tuôn chảy đến một thế giới đang cần đến nó. Khi đó, Người Được Thanh Lọc có thể cư ngụ nơi Các Đấng Chân Phúc ngự trị, và từ nơi đó đi ra để “soi sáng thế giới của nhân loại và của các chư thiên.”

There are four ways which stretch before the disciples of the Lord of the World. They must all be trodden before the inner Being is released, and the liberated Son of God can enter, at will, what are symbolically called “the four gates into the City of Shamballa”,—that city of the Most High God, which is ever swept by the Life of Those who have achieved liberation through loneliness, detachment, isolated unity, and purification. A realisation of the goal and the way to that goal is of service at this time, and it is to this realisation that the teachers of humanity seek to stimulate the Sons of God.

Có bốn con đường mở ra trước các đệ tử của Đức Chúa Tể Thế Giới. Tất cả đều phải được kinh qua trước khi Bản Thể nội tại được giải thoát, và Người Con Giải Thoát của Thượng Đế có thể bước vào, theo ý muốn, những gì được biểu tượng là “bốn cổng dẫn vào Thành Shamballa”—thành phố của Đấng Tối Cao, nơi luôn được tuôn tràn bởi Sự Sống của Những Đấng đã đạt được giải thoát thông qua sự cô đơn, xả ly, hợp nhất cô lập và thanh lọc. Nhận thức về mục tiêu và con đường dẫn đến mục tiêu đó là điều có ích vào thời điểm này, và chính vào sự nhận thức này mà các bậc giáo huấn nhân loại đang cố gắng khơi dậy trong Những Người Con của Thượng Đế.

According to the ray type or quality, so will be the reaction of the life to the great stages of Individualisation, Initiation, and Identification. This is a major occult platitude, but it is one that is much in need of consideration and reflection. Let us bear in mind always that we are considering qualities which govern appearances and express the life. What is called in the Eastern literature “the Blessed One” refers to One who is perfectly expressing some ray quality through some chosen phenomenal appearance, which is assumed at will for purpose of service, but which in no way constitutes a limitation and in no way holds the Blessed One a prisoner, because His consciousness is in no way identified with the phenomenal appearance, nor with the quality it expresses.

Tùy theo loại cung hoặc phẩm tính, mà phản ứng của đời sống đối với ba giai đoạn lớn—Biệt ngã hóa, Điểm đạo, và Đồng nhất—sẽ khác nhau. Đây là một nguyên lý huyền môn quan trọng, nhưng nó vẫn cần được cân nhắc và suy ngẫm sâu sắc. Hãy luôn ghi nhớ rằng chúng ta đang xem xét các phẩm tính chi phối hình tướng và biểu lộ sự sống. Điều mà trong kinh điển phương Đông gọi là “Đấng Chân Phúc” đề cập đến Một Đấng hoàn hảo trong việc biểu lộ một phẩm tính của cung thông qua một hình tướng hiện tượng được chọn, hình tướng mà Ngài khoác lấy theo ý muốn nhằm phục vụ, nhưng không hề là một sự hạn chế và cũng không giam cầm Ngài, bởi vì tâm thức của Ngài không hề đồng nhất với hình tướng hiện tượng, cũng như với phẩm tính mà nó biểu lộ.

[36]

a. INDIVIDUALISATION AND THE SEVEN RAY TYPES—BIỆT NGÃ HÓA VÀ BẢY KIỂU CUNG

We will express the reaction of these seven ray types to the process of Individualisation (which is the process of identification with form) by seven occult statements which can, if properly understood, give the keynote of the new psychology. They state the major impulse, the native quality, and the technique of unfoldment.

Chúng ta sẽ trình bày phản ứng của bảy kiểu cung này đối với tiến trình biệt ngã hóa (là tiến trình đồng hoá với hình tướng) bằng bảy mệnh đề huyền bí; nếu được thấu hiểu đúng đắn, chúng có thể đưa ra chủ âm của nền tâm lý học mới. Chúng nêu rõ xung lực chủ yếu, phẩm tính bẩm sinh, và kỹ thuật khai mở.

Ray One

Cung một

“The Blessed One flies like an arrow into matter. He destroys (or ruptures) the way by which he might return. He grounds himself deeply in the depths of form.

“Đấng Chân Phúc lao vào vật chất như một mũi tên. Ngài phá hủy (hay chọc thủng) con đường mà qua đó Ngài có thể quay về. Ngài cắm mình sâu trong những tầng sâu của hình tướng.

He asserts: ‘I will return. My power is great. I will destroy all obstacles. Nothing can stop my progress to my goal. Around me lies that which I have destroyed. What must I do?’

Ngài khẳng định: ‘Ta sẽ trở về. Quyền năng của ta rất lớn. Ta sẽ phá tan mọi chướng ngại. Không gì có thể ngăn bước tiến của ta đến mục tiêu. Chung quanh ta là những gì ta đã phá hủy. Ta phải làm gì?’

The answer comes: ‘Order from chaos, O Pilgrim on the way of death, this is the way for you. Love you must learn. Dynamic will you have. The right use of destruction for the furtherance of the Plan, must be the way for you. Adherence to the rhythm of the planet will release the hidden Blessed One and order bring.'”

Câu trả lời đến: ‘Hỡi Kẻ Hành Hương trên con đường của cái chết, từ hỗn mang hãy tạo nên trật tự; đó là con đường dành cho ngươi. Ngươi phải học tình thương. Ngươi sẽ có ý chí năng động. Việc sử dụng đúng đắn sự hủy diệt để thúc đẩy Thiên Cơ phải là con đường dành cho ngươi. Sự tuân thủ nhịp điệu của hành tinh sẽ giải thoát Đấng Chân Phúc ẩn tàng và mang lại trật tự.’”

Ray Two

Cung hai

“The Blessed One built him an ark. Stage by stage he built it, and floated upon the bosom of the waters. Deeply he hid himself, and his light was no more seen,—only his floating ark.

“Đấng Chân Phúc đã xây cho mình một con thuyền. Từng giai đoạn một, Ngài xây nó, rồi trôi trên lòng nước. Ngài ẩn mình thật sâu, và ánh sáng của Ngài không còn được thấy nữa,—chỉ còn con thuyền đang trôi của Ngài.

His voice was heard: ‘l have built and strongly built, but am a prisoner within my building. My light is hidden. Only my word goes forth. Around me lie the waters. Can I return from whence I came? Is the word strong enough to open wide the door? What shall I do?’

Tiếng nói của Ngài được nghe thấy: ‘Ta đã xây dựng, và xây dựng vững chắc, nhưng ta là tù nhân trong chính công trình của mình. Ánh sáng của ta bị che khuất. Chỉ có linh từ của ta phát ra. Chung quanh ta là nước. Ta có thể trở về nơi ta đã đến từ đó chăng? Linh từ có đủ mạnh để mở rộng cánh cửa không? Ta phải làm gì?’

The answer came: ‘Build now an ark translucent, which can reveal the light, O Builder of the ark. And by that light you shall reveal the lighted way. The power to build anew, the right use of the Word, and the using of the light,—these will release the Blessed One, deep hidden in the ark.'”

Câu trả lời đến: ‘Giờ đây hãy xây một con thuyền trong suốt, có thể phô bày ánh sáng, hỡi Người Xây Thuyền. Và nhờ ánh sáng ấy ngươi sẽ phô bày Con Đường được Soi Sáng. Năng lực xây dựng lại, việc sử dụng đúng đắn Linh từ, và việc dùng ánh sáng,—những điều này sẽ giải thoát Đấng Chân Phúc đang ẩn sâu trong con thuyền.’”

[37]

[37]

Ray Three

Cung ba

“The Blessed One gathered force. He hid himself behind a veil. He rolled himself within that veil, and deeply hid his face. Naught could be seen but that which veiled, and active motion. Within the veil was latent thought.

“Đấng Chân Phúc tập hợp mãnh lực. Ngài ẩn mình sau một bức màn. Ngài cuộn mình trong bức màn ấy, và giấu sâu gương mặt mình. Không gì có thể được thấy ngoài điều đang che phủ, và sự chuyển động linh hoạt. Bên trong bức màn là tư tưởng tiềm tàng.

The thought reached forth: ‘Behind this veil of maya I stand, a Blessed One, but unrevealed. My energy is great, and through my mind I can display the glory of divinity. How can I, therefore, demonstrate this truth? What shall I do? I wander in illusion.’

Tư tưởng vươn ra: ‘Sau bức màn ảo lực này ta đứng đây, một Đấng Chân Phúc, nhưng chưa được hiển lộ. Năng lượng của ta rất lớn, và qua trí tuệ của mình ta có thể biểu lộ vinh quang của thiên tính. Vậy thì làm sao ta có thể chứng tỏ chân lý này? Ta phải làm gì? Ta lang thang trong ảo tưởng.’

The word went forth: ‘All is illusion, O Dweller in the shadows. Come forth into the light of day. Display the hidden glory of the Blessed One, the glory of the One and Only. The glory and the truth will rapidly destroy that which has veiled the truth. The prisoner can go free. The rending of the blinding veil, the clear pronouncing of the truth, and practice right will render to the Blessed One that golden thread which will provide release from all the maze of earth existence.'”

Linh từ phát ra: ‘Mọi sự đều là ảo tưởng, hỡi Kẻ Chận Ngõ trong bóng tối. Hãy bước ra ánh sáng ban ngày. Hãy phô bày vinh quang ẩn tàng của Đấng Chân Phúc, vinh quang của Đấng Duy Nhất. Vinh quang và chân lý sẽ nhanh chóng phá hủy điều đã che khuất chân lý. Tù nhân có thể được tự do. Việc xé toạc bức màn làm mù lòa, việc tuyên xướng rõ ràng chân lý, và thực hành đúng đắn sẽ trao lại cho Đấng Chân Phúc sợi chỉ vàng sẽ đem đến sự giải thoát khỏi mọi mê lộ của sự tồn tại trên địa cầu.’”

Ray Four

Cung bốn

“The Blessed One rushed forth to combat. He saw existence as two warring forces, and fought them both. Loaded with the panoply of war, he stood midway, looking two ways. The clash of battle, the many weapons he had learned to use, the longing not to fight, the thrill of finding those he fought were but brothers and himself, the anguish of defeat, the paean of his victory,—these held him down.

“Đấng Chân Phúc lao ra chiến đấu. Ngài thấy sự tồn tại như hai mãnh lực giao tranh, và chiến đấu với cả hai. Mang đầy đủ binh giáp chiến tranh, Ngài đứng ở giữa, nhìn về hai phía. Sự va chạm của trận chiến, nhiều vũ khí mà Ngài đã học cách sử dụng, nỗi khát khao không muốn chiến đấu, niềm rung động khi nhận ra những kẻ Ngài chiến đấu chống lại chỉ là huynh đệ và chính Ngài, nỗi đau của thất bại, bài ca khải hoàn của chiến thắng,—tất cả những điều ấy giữ Ngài lại.

The Blessed One paused and questioned: ‘Whence come the victory and whence defeat? Am I not the Blessed One Himself? I will invoke the angels to my aid.’

Đấng Chân Phúc dừng lại và hỏi: ‘Chiến thắng từ đâu đến và thất bại từ đâu đến? Chẳng phải chính ta là Đấng Chân Phúc đó sao? Ta sẽ khẩn cầu các thiên thần trợ giúp ta.’

The trumpet sound went forth: ‘Rise up and fight, and reconcile the armies of the Lord. There is no battle. Force the conflict to subside; send for the invocation for the peace of all; form out of two, one army of the Lord; let victory crown the efforts of the Blessed One by harmonising all. Peace lies behind the warring energies.'”

Tiếng kèn vang lên: ‘Hãy đứng dậy và chiến đấu, rồi hòa giải các đạo quân của Chúa Tể. Không có trận chiến nào cả. Hãy buộc xung đột lắng xuống; hãy phát ra lời khẩn cầu cho hòa bình của tất cả; từ hai đạo quân hãy tạo thành một đạo quân của Chúa Tể; hãy để chiến thắng đội mão lên nỗ lực của Đấng Chân Phúc bằng cách hài hòa hóa tất cả. Đằng sau các năng lượng giao tranh là hòa bình.’”

Ray Five

Cung năm

“The Blessed One came forth in ignorance. He wandered in a darkness deep of spirit. He saw no reason for this way of life. He sought among the many threads that weave the [38] outer garment of the Lord, and found the many ways there be, leading to the centre of the web eternal. The forms that weave that web hide the divine reality. He lost himself. Fear entered in.

“Đấng Chân Phúc xuất hiện trong vô minh. Ngài lang thang trong bóng tối sâu thẳm của tinh thần. Ngài không thấy lý do nào cho lối sống này. Ngài tìm kiếm giữa nhiều sợi chỉ dệt nên [38] áo ngoài của Chúa Tể, và thấy có nhiều con đường dẫn đến trung tâm của tấm lưới vĩnh cửu. Những hình tướng dệt nên tấm lưới ấy che giấu thực tại thiêng liêng. Ngài đánh mất chính mình. Sợ hãi xâm nhập.

He asked himself: ‘Another pattern must be woven; another garment formed. What shall I do? Shew me another way to weave.’

Ngài tự hỏi: ‘Phải dệt nên một mô hình khác; phải tạo thành một áo khác. Ta phải làm gì? Hãy chỉ cho ta một cách dệt khác.’

The Word for him came forth in triple form. His mind responded to the vision clear evoked:—’The truth lies hidden in the unknown Way. The Angel of the Presence guards that Way. The mind reveals the Angel and the door. Stand in that Presence. Lift up thine eyes. Enter through that golden door. Thus will the Angel, who is the shadow of the Blessed One, reveal the open door. That Angel too must disappear. The Blessed One remains and passes through that door into the light sublime.'”

Linh từ dành cho Ngài phát ra dưới hình thức tam phân. Trí tuệ của Ngài đáp ứng với linh ảnh rõ ràng được gợi lên:—‘Chân lý ẩn giấu trong Con Đường chưa biết. Thiên Thần của Hiện Diện canh giữ Con Đường ấy. Trí tuệ phô bày Thiên Thần và cánh cửa. Hãy đứng trong Hiện Diện đó. Hãy ngước mắt lên. Hãy bước qua cánh cửa vàng ấy. Như vậy Thiên Thần, là cái bóng của Đấng Chân Phúc, sẽ phô bày cánh cửa rộng mở. Thiên Thần ấy cũng phải biến mất. Đấng Chân Phúc còn lại và đi qua cánh cửa ấy vào ánh sáng siêu việt.’”

Ray Six

Cung sáu

“The Blessed One caught the vision of the Way, and followed the Way without discretion. Fury characterised his efforts. The way led down into the world of dual life. Between the pairs of opposites, he took his stand, and as he swung pendent between them, fleeting glimpses of the goal shone forth. He swung in mid-heaven. He sought to swing into that radiant place of light, where stood the door upon the higher Way. But ever he swung between the pairs of opposites.

“Đấng Chân Phúc nắm bắt linh ảnh về Con Đường, và đi theo Con Đường ấy mà không có sự phân biện. Sự cuồng nhiệt đặc trưng cho các nỗ lực của Ngài. Con đường dẫn xuống thế giới của đời sống nhị nguyên. Giữa các cặp đối đãi, Ngài đứng vững, và khi đong đưa giữa chúng, những thoáng thấy mục tiêu chợt lóe lên. Ngài đong đưa giữa trời. Ngài tìm cách đong đưa vào nơi chốn rực sáng ấy, nơi cánh cửa trên Con Đường cao hơn đang hiện diện. Nhưng mãi mãi Ngài vẫn đong đưa giữa các cặp đối đãi.

He spoke at last within himself: ‘I cannot seem to find the Way. I try this way, and tread with force that way, and always with the keenest wish. I try all ways. What shall I do to find The Way?

Cuối cùng Ngài tự nhủ: ‘Dường như ta không thể tìm ra Con Đường. Ta thử con đường này, và bước mạnh trên con đường kia, luôn luôn với ước muốn mãnh liệt nhất. Ta thử mọi con đường. Ta phải làm gì để tìm ra Con Đường?’

A cry went forth. It seemed to come from deep within his heart: ‘Tread thou, O Pilgrim on the Way of sensuous life, the middle, lighted way. It passes straight between the dual worlds. Find thou that narrow, middle way. It leads you to your goal. Seek that perceptive steadiness which leads to proved endurance. Adherence to the chosen Way, and ignoring of the pairs of opposites, will bring this Blessed One upon the lighted way into the joy of proved success.'”

Một tiếng kêu phát ra. Dường như nó đến từ sâu trong tim Ngài: ‘Hỡi Kẻ Hành Hương trên con đường của đời sống cảm giác, hãy bước đi trên con đường ở giữa, được soi sáng. Nó đi thẳng giữa hai thế giới nhị nguyên. Hãy tìm con đường hẹp ở giữa ấy. Nó dẫn ngươi đến mục tiêu. Hãy tìm sự vững vàng tri giác đưa đến sức chịu đựng đã được chứng minh. Sự kiên trì với con đường đã chọn, và sự phớt lờ các cặp đối đãi, sẽ đưa Đấng Chân Phúc này lên con đường được soi sáng vào niềm hoan hỉ của thành công đã được chứng minh.’”

Ray Seven

Cung bảy

“The Blessed One sought the pathway into forms but held [39] with firmness to the hand of the Magician. He sought to reconcile the Pilgrim, who was himself, to life in form. He sought to bring the world of disorder in which he found himself into some kind of order. He wandered far into the deepest depths and became immersed in chaos and disorder. He could not understand, yet still held to the hand of the Magician. He sought to bring about that order that his soul craved. He talked with all he met, but his bewilderment increased.

“Đấng Chân Phúc tìm con đường đi vào các hình tướng nhưng vẫn [39] nắm chặt tay nhà huyền thuật. Ngài tìm cách hòa giải Kẻ Hành Hương, vốn là chính Ngài, với đời sống trong hình tướng. Ngài tìm cách đưa thế giới hỗn loạn mà Ngài thấy mình đang ở trong đó vào một loại trật tự nào đó. Ngài đi sâu vào những tầng sâu nhất và bị chìm ngập trong hỗn mang và vô trật tự. Ngài không thể hiểu, nhưng vẫn nắm chặt tay nhà huyền thuật. Ngài tìm cách mang lại trật tự mà linh hồn Ngài khao khát. Ngài nói chuyện với tất cả những ai Ngài gặp, nhưng sự hoang mang của Ngài càng tăng.

To the Magician thus he spoke: ‘The ways of the Creator must be good. Behind all that which seems to be, must be a Plan. Teach me the purpose of it all. How can I work, immersed in deepest matter? Tell me the thing that I must do?’

Ngài nói với nhà huyền thuật như sau: ‘Những con đường của Đấng Sáng Tạo hẳn phải là tốt lành. Đằng sau mọi điều dường như hiện hữu, hẳn phải có một Thiên Cơ. Hãy dạy ta mục đích của tất cả điều này. Làm sao ta có thể hoạt động khi chìm ngập trong vật chất sâu đậm nhất? Hãy nói cho ta điều ta phải làm?’

The Magician said: ‘Listen, O Worker in the furthest world, to the rhythm of the times. Note the pulsation in the heart of that which is divine. Retire into the silence and attune yourself unto the whole. Then venture forth. Establish the right rhythm; bring order to the forms of life which must express the Plan of Deity.’

Nhà huyền thuật nói: ‘Hỡi người hoạt động trong thế giới xa nhất, hãy lắng nghe nhịp điệu của thời đại. Hãy ghi nhận sự đập nhịp trong trái tim của điều thiêng liêng. Hãy lui vào im lặng và chỉnh hợp mình với toàn thể. Rồi hãy mạo hiểm bước ra. Hãy thiết lập nhịp điệu đúng đắn; hãy mang trật tự đến cho các hình tướng của sự sống vốn phải biểu lộ Thiên Cơ của Thượng đế.’

For this Blessed One release is found in work. He must display his knowledge of the Plan by the sounding of those words which will evoke the Builders of the forms and thus create the new.”

Đối với Đấng Chân Phúc này, sự giải thoát được tìm thấy trong công việc. Ngài phải phô bày tri thức của mình về Thiên Cơ bằng cách xướng lên những lời sẽ gợi lên các đấng kiến tạo của các hình tướng và như thế sáng tạo cái mới.”

It might be of value, if here were summarized in more simple and less occult terms, the significance of the above esoteric stanzas, to express their true meaning in a few succinct and terse phrases. The stanzas are of no use unless they convey to the ray types among the students of this Treatise some useful meaning, whereby they can live more truly.

Sẽ có giá trị nếu ở đây tóm lược, bằng những từ ngữ đơn giản hơn và ít huyền bí hơn, ý nghĩa của các bài kệ bí truyền trên, để diễn đạt ý nghĩa chân thực của chúng trong vài cụm từ ngắn gọn và súc tích. Các bài kệ ấy sẽ vô ích nếu chúng không truyền đạt cho các kiểu cung nơi những đạo sinh của bộ Luận này một ý nghĩa hữu dụng nào đó, nhờ đó họ có thể sống chân thực hơn.

The individualised Spirit expresses itself through the various ray types in the following manner:—

Tinh thần đã biệt ngã hóa tự biểu lộ qua các kiểu cung khác nhau theo cách sau đây:—

Ray One

Cung một

Dynamic one-pointedness.

Tính nhất tâm năng động.

Destructive energy.

Năng lượng hủy diệt.

Power realised selfishly.

Quyền năng được chứng nghiệm một cách ích kỷ.

Lovelessness.

Không có tình thương.

Isolation,

Cô lập,

[40]

[40]

A longing for power and authority.

Khát vọng quyền lực và uy quyền.

Desire to dominate.

Ham muốn thống trị.

Expressed strength and self-will,

Sức mạnh biểu lộ và ý chí cá nhân,

leading to

dẫn đến

A dynamic use of energy for the furtherance of the Plan.

Việc sử dụng năng lượng một cách năng động để thúc đẩy Thiên Cơ.

The use of destructive forces in order to prepare the way for the Builders.

Việc sử dụng các mãnh lực hủy diệt nhằm chuẩn bị con đường cho các Đấng Kiến Tạo.

The will to power in order to cooperate.

Ý chí quyền lực để cộng tác.

Power realised as the major weapon of love.

Quyền năng được chứng nghiệm như vũ khí chủ yếu của tình thương.

Identification with the rhythm of the Whole.

Đồng hoá với nhịp điệu của Toàn Thể.

The cessation of isolation.

Sự chấm dứt cô lập.

Ray Two

Cung hai

The power to build for selfish ends.

Năng lực xây dựng vì những mục đích ích kỷ.

Capacity to sense the Whole and to remain apart.

Khả năng cảm nhận Toàn Thể mà vẫn đứng riêng biệt.

The cultivation of a separative spirit.

Sự nuôi dưỡng tinh thần phân ly.

The hidden light.

Ánh sáng ẩn giấu.

The realisation of selfish desire.

Sự chứng nghiệm ham muốn ích kỷ.

Longing for material well-being.

Khát vọng an lạc vật chất.

Selfishness, and subordination of all soul powers to this end,

Tính ích kỷ, và sự quy phục mọi quyền năng của linh hồn vào mục đích này,

leading to

dẫn đến

Building wisely, in relation to the Plan.

Xây dựng một cách minh triết, trong liên hệ với Thiên Cơ.

Inclusiveness.

Tính bao gồm.

A longing for wisdom and truth.

Khát vọng minh triết và chân lý.

Sensitivity to the Whole.

Tính nhạy cảm với Toàn Thể.

Renunciation of the great heresy of separativeness.

Từ bỏ Đại Tà thuyết về tính phân ly.

The revelation of the light.

Sự mặc khải của ánh sáng.

True illumination.

Sự soi sáng chân chính.

Right speech through generated wisdom.

Lời nói đúng đắn thông qua minh triết được tạo ra.

Ray Three

Cung ba

Force manipulation through selfish desire.

Sự vận dụng mãnh lực qua ham muốn ích kỷ.

Intelligent use of force with wrong motive.

Việc sử dụng năng lượng một cách thông minh với động cơ sai lầm.

Intense material and mental activity.

Hoạt động vật chất và trí tuệ mãnh liệt.

The realisation of energy as an end in itself.

Sự chứng nghiệm năng lượng như cứu cánh tự thân.

Longing for glory, beauty and for material objectives.

Khát vọng vinh quang, vẻ đẹp và các mục tiêu vật chất.

Submergence in illusion, glamour, and maya,

Sự chìm ngập trong ảo tưởng, ảo cảm và ảo lực,

[41]

[41]

leading to

dẫn đến

The manipulation of energy in order to reveal beauty and truth.

Sự vận dụng năng lượng để phô bày vẻ đẹp và chân lý.

The use of forces intelligently for the furtherance of the Plan.

Việc sử dụng các mãnh lực một cách thông minh để thúc đẩy Thiên Cơ.

Ordered rhythmic activity in cooperation with the Whole.

Hoạt động có trật tự và nhịp điệu trong sự cộng tác với Toàn Thể.

Desire for right revelation of divinity and light.

Khát vọng về sự mặc khải đúng đắn của thiên tính và ánh sáng.

Adherence to right action.

Sự kiên trì trong hành động đúng đắn.

The revelation of glory and good will.

Sự mặc khải của vinh quang và thiện chí.

Ray Four

Cung bốn

Confused combat.

Cuộc chiến hỗn loạn.

The realisation of that which is high and that which is low.

Sự chứng nghiệm điều cao và điều thấp.

The darkness which precedes form expression.

Bóng tối đi trước sự biểu lộ của hình tướng.

The veiling of the intuition.

Sự che khuất trực giác.

The sensing of inharmony, and cooperation with the part and not the whole.

Sự cảm nhận bất hòa, và cộng tác với phần chứ không với toàn thể.

Identification with humanity, the fourth Creative Hierarchy.

Đồng hoá với nhân loại, Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư.

Undue recognition of that which is produced by speech.

Sự công nhận quá mức điều được tạo ra bởi lời nói.

Abnormal sensitivity to that which is the Not Self.

Tính nhạy cảm bất thường với điều là Không-Phải-Bản-Ngã.

Constant points of crisis,

Những điểm khủng hoảng liên tục,

leading to

dẫn đến

Unity and harmony.

Hợp nhất và hài hòa.

The evocation of the intuition.

Sự gợi lên trực giác.

Right judgment and pure reason.

Phán đoán đúng đắn và lý trí thuần khiết.

The wisdom which works through the Angel of the Presence.

Minh triết hoạt động qua Thiên Thần của Hiện Diện.

I could here point out a constant misconception on the part of esotericists. This Fourth Ray of Harmony, Beauty and Art is not the ray, per se, of the creative artist. The creative artist is found equally on all rays, without exception. This ray is the ray of the intuition and of the harmonising of all that has been achieved through the activity of form life, as later synthesised and absorbed by the solar angel; it manifests [42] eventually as all that can be evoked and evolved through the power of the One Life (the Monad) working through form expression. It is the point of meeting for all the energies flowing through the higher spiritual triad and the lower triplicity.

Ở đây tôi có thể chỉ ra một sự ngộ nhận thường xuyên nơi các nhà bí truyền học. Cung bốn của Hài Hòa, Mỹ Lệ và Nghệ Thuật này không phải, chính nó, là cung của người nghệ sĩ sáng tạo. Người nghệ sĩ sáng tạo được tìm thấy đồng đều trên mọi cung, không ngoại lệ. Cung này là cung của trực giác và của sự hài hòa hóa tất cả những gì đã đạt được qua hoạt động của đời sống hình tướng, như về sau được thái dương Thiên Thần tổng hợp và hấp thu; cuối cùng nó biểu lộ [42] như tất cả những gì có thể được gợi lên và tiến hoá qua quyền năng của Sự sống Duy Nhất (chân thần) hoạt động qua sự biểu lộ hình tướng. Nó là điểm gặp gỡ của mọi năng lượng tuôn chảy qua Tam nguyên tinh thần cao hơn và bộ ba thấp hơn.

Ray Five

Cung năm

The energy of ignorance.

Năng lượng của vô minh.

Criticism.

Sự chỉ trích.

The power to rationalise and destroy.

Quyền năng lý giải và hủy diệt.

Mental separation.

Sự phân ly trí tuệ.

Desire for knowledge. This leads to material activity.

Khát vọng tri thức. Điều này dẫn đến hoạt động vật chất.

Detailed analysis.

Sự phân tích chi tiết.

Intense materialism and temporarily the negation of Deity.

Chủ nghĩa duy vật mãnh liệt và tạm thời phủ nhận Thượng đế.

Intensification of the power to isolate.

Sự tăng cường quyền năng cô lập.

The implications of wrong emphasis.

Những hàm ý của sự nhấn mạnh sai lầm.

Distorted views of truth.

Những quan điểm méo mó về chân lý.

Mental devotion to form and form activity.

Sự sùng tín trí tuệ đối với hình tướng và hoạt động của hình tướng.

Theology,

Thần học,

leading to

dẫn đến

A knowledge of reality.

Tri thức về thực tại.

The realisation of the soul and its potentialities.

Sự chứng nghiệm linh hồn và các tiềm năng của nó.

Power to recognize and contact the Angel of the Presence.

Quyền năng nhận biết và tiếp xúc với Thiên Thần của Hiện Diện.

Sensitivity to Deity, to light and to wisdom.

Tính nhạy cảm với Thượng đế, với ánh sáng và với minh triết.

Spiritual and mental devotion.

Sự sùng tín tinh thần và trí tuệ.

The power to take initiation. (This is a point of real importance.)

Quyền năng tiếp nhận điểm đạo. (Đây là một điểm thực sự quan trọng.)

Ray Six

Cung sáu

Violence. Fanaticism. Willful adherence to an ideal.

Bạo lực. Cuồng tín. Cố chấp bám chặt vào một lý tưởng.

Short sighted blindness.

Sự mù quáng thiển cận.

Militarism and a tendency to make trouble with others and with groups.

Chủ nghĩa quân phiệt và khuynh hướng gây rắc rối với người khác và với các nhóm.

The power to see no point except one’s own.

Quyền năng không thấy quan điểm nào ngoài quan điểm của riêng mình.

Suspicion of people’s motives.

Sự nghi ngờ động cơ của người khác.

Rapid reaction to glamour and illusion.

Phản ứng mau lẹ với ảo cảm và ảo tưởng.

Emotional devotion and bewildered idealism.

Sự sùng tín cảm xúc và chủ nghĩa lý tưởng hoang mang.

Vibratory activity between the pairs of opposites.

Hoạt động rung động giữa các cặp đối đãi.

[43]

[43]

Intense capacity to be personal and emphasise personalities,

Khả năng mãnh liệt để trở nên cá nhân và nhấn mạnh các phàm ngã,

leading to

dẫn đến

Directed, inclusive idealism.

Chủ nghĩa lý tưởng có định hướng và bao gồm.

Steadiness of perception through the expansion of consciousness.

Sự vững vàng của tri giác qua sự mở rộng tâm thức.

Reaction to, and sympathy with, the point of view of others.

Sự đáp ứng với, và cảm thông với, quan điểm của người khác.

Willingness to see the work of other people progress along their chosen lines.

Sự sẵn lòng thấy công việc của người khác tiến triển theo những đường lối họ đã chọn.

The choosing of the middle way.

Việc chọn con đường ở giữa.

Peace and not war. The good of the Whole and not the part.

Hòa bình chứ không phải chiến tranh. Điều thiện của Toàn Thể chứ không phải của phần.

Ray Seven

Cung bảy

Black magic, or the use of magical powers for selfish ends.

Hắc thuật, hay việc sử dụng các quyền năng huyền thuật cho những mục đích ích kỷ.

The power to “sit upon the fence” till the selfish values emerge.

Quyền năng “ngồi trên hàng rào” cho đến khi các giá trị ích kỷ xuất hiện.

Disorder and chaos, through misunderstanding of the Plan.

Vô trật tự và hỗn mang, do hiểu sai Thiên Cơ.

The wrong use of speech to bring about chosen objectives.

Việc sử dụng sai lời nói để đạt đến các mục tiêu đã chọn.

Untruth.

Sự không chân thật.

Sex magic. The selfish perversion of soul powers.

Huyền thuật tính dục. Sự xuyên tạc ích kỷ các quyền năng của linh hồn.

leading to

dẫn đến

White magic, the use of soul powers for spiritual ends.

Chánh Thuật, việc sử dụng các quyền năng của linh hồn cho những mục đích tinh thần.

The identification of oneself with reality.

Sự đồng hoá chính mình với thực tại.

Right order through right magic.

Trật tự đúng đắn qua huyền thuật đúng đắn.

Power to cooperate with the Whole.

Quyền năng cộng tác với Toàn Thể.

Understanding of the Plan.

Sự thấu hiểu Thiên Cơ.

The magical work of interpretation.

Công việc huyền thuật của sự diễn giải.

Manifestation of divinity.

Sự biểu lộ của thiên tính.

A close study of the above suggested phrases, showing as they do the wrong and the right major expressions of ray force, will aid the student correctly to comprehend his own ray nature, and also whereabouts he stands in his development. One of the major faults of disciples today is the paying [44] of too close attention to the faults, errors and activities of other disciples, and too little attention to their own fulfillment of the law of love, and to their own dharma and work. A second failing of disciples (and particularly of the working and accepted disciples in the world at this present time) is incorrect speech conveying ambiguous meanings and motivated by criticism, or by an individual desire to shine. In olden days, the neophyte was forced into a prolonged silence. Speech was not permitted. This was inculcated as a check upon physical utterance of wrong words and ideas, based on inadequate knowledge. Today, the neophyte must learn the same lesson of attention to personal perfection and to personal work through the means of that inner silence which broods over the disciple and forces him to attend to his own work and business, leaving others free to do the same, and so learn the lesson of experience. A great deal of present right activity is hindered by the speech interplay between disciples, and much time is lost through wordy discussion of the work and activities of other disciples. Humanity, as a whole, needs silence at this time as never before; it needs time in which to reflect, and the opportunity to sense the universal rhythm. Modern disciples, if they are to do their work as desired and to cooperate with the Plan correctly, need that inner reflective quiet which in no way negates intense outer activity but which does release them from wordy criticisms, feverish discussions, and constant preoccupation with the dharma, the motives and the methods of their fellow disciples.

Việc nghiên cứu kỹ lưỡng các cụm từ gợi ý trên, vì chúng cho thấy những biểu lộ chủ yếu sai và đúng của mãnh lực cung, sẽ giúp đạo sinh thấu hiểu đúng bản chất cung của chính mình, và cả vị trí của mình trong sự phát triển. Một trong những lỗi lớn của các đệ tử ngày nay là quá chú ý [44] đến các lỗi lầm, sai sót và hoạt động của các đệ tử khác, và quá ít chú ý đến việc chính mình hoàn thành định luật bác ái, cũng như đến dharma và công việc của chính mình. Một thiếu sót thứ hai của các đệ tử (đặc biệt là các đệ tử hoạt động và được chấp nhận trong thế giới vào lúc hiện nay) là lời nói không đúng đắn, chuyển tải những ý nghĩa mơ hồ và được thúc đẩy bởi sự chỉ trích, hay bởi ham muốn cá nhân muốn tỏa sáng. Trong thời xưa, người sơ cơ bị buộc phải giữ im lặng trong một thời gian dài. Không được phép nói. Điều này được truyền dạy như một sự ngăn chặn đối với việc phát ngôn trên cõi hồng trần những lời và ý tưởng sai lầm, dựa trên tri thức không đầy đủ. Ngày nay, người sơ cơ phải học cùng một bài học về sự chú tâm đến sự hoàn thiện cá nhân và công việc cá nhân bằng phương tiện của sự im lặng bên trong đang bao trùm đệ tử và buộc y phải chú tâm đến công việc và phận sự của chính mình, để người khác được tự do làm điều tương tự, và như thế học bài học của kinh nghiệm. Rất nhiều hoạt động đúng đắn hiện nay bị cản trở bởi sự tương tác bằng lời nói giữa các đệ tử, và nhiều thời gian bị mất đi vì những cuộc thảo luận dài dòng về công việc và hoạt động của các đệ tử khác. Toàn thể nhân loại hiện nay cần sự im lặng hơn bao giờ hết; cần thời gian để suy tư, và cơ hội để cảm nhận nhịp điệu phổ quát. Các đệ tử hiện đại, nếu muốn làm công việc của mình như mong muốn và cộng tác đúng đắn với Thiên Cơ, cần sự tĩnh lặng phản chiếu bên trong ấy, điều hoàn toàn không phủ nhận hoạt động mãnh liệt bên ngoài nhưng giải thoát họ khỏi những lời chỉ trích dài dòng, những cuộc bàn luận sốt sắng, và sự bận tâm liên tục với dharma, động cơ và phương pháp của các đệ tử đồng môn.

b. THE RAYS AND INITIATION—Các Cung và Điểm Đạo

It will not be possible for me to make clear the ray reactions to the final process which we have considered briefly, namely the stage in the liberation of the spirit which we call Identification. All that is possible, even in the case of Initiation, [45] is to give the elementary stanzas which convey to accepted disciples some of the significance of the first initiation. As regards identification, the reactions of the illumined initiate are made available to his intelligence in symbolic form, but if these forms were described, they would be completely misunderstood. When the third initiation takes place and the wider open door looms before the initiate, he will then discover the meaning of that type of realisation which is here called (for lack of a better name) Identification.

Sẽ không thể làm rõ các phản ứng của các cung đối với quá trình cuối cùng mà chúng ta đã xem xét một cách ngắn gọn, cụ thể là giai đoạn giải thoát tinh thần mà chúng ta gọi là Đồng Nhất Hóa. Tất cả những gì có thể làm được, ngay cả trong trường hợp của Điểm Đạo, [45] là cung cấp những bài kệ sơ khởi nhằm truyền đạt cho các đệ tử chính thức một phần ý nghĩa của lần điểm đạo thứ nhất. Đối với Đồng Nhất Hóa, những phản ứng của điểm đạo đồ giác ngộ được biểu hiện trong trí tuệ của y dưới dạng biểu tượng, nhưng nếu những biểu tượng này được mô tả, chúng sẽ bị hiểu sai hoàn toàn. Khi lần điểm đạo thứ ba diễn ra và cánh cửa rộng mở hơn hiện ra trước điểm đạo đồ, y sẽ khám phá ý nghĩa của loại nhận thức mà ở đây được gọi là Đồng Nhất Hóa (do thiếu một thuật ngữ thích hợp hơn).

Ray One

Cung Một

“The Angel of the Presence stands within the light divine—the centre and the meeting place of many forces.

“Thiên Thần của Hiện Diện đứng trong ánh sáng thiêng liêng—trung tâm và điểm hội tụ của nhiều mãnh lực.

These forces meet and blend. They focus in the head of him who stands before the Angel.

Những mãnh lực này gặp gỡ và hòa trộn. Chúng tập trung vào đầu của kẻ đang đứng trước Thiên Thần.

Eye to eye, and face to face, and hand to hand, they stand. Will reinforces will, and love meets love. The will-to-power merges with the will-to-love and strength with wisdom meets. These two are one. From that high spot of unity, the One who is released stands forth and says:—

Mắt đối mắt, mặt đối mặt, tay trong tay, họ đứng. Ý chí củng cố ý chí, và tình thương gặp gỡ tình thương. Ý chí quyền năng hòa nhập với ý chí bác ái và sức mạnh gặp gỡ minh triết. Hai điều này trở thành một. Từ điểm cao nhất của hợp nhất đó, Đấng được giải thoát tiến ra và nói:—

‘I return from whence I came; from the formless to the world of form I make my way. I will to be. I will to work. I will to serve and save. I will to lift the race. I serve the Plan with will, the Whole with power.'”

‘Ta trở về nơi mà ta đã đến; từ vô tướng đến thế giới của hình tướng, ta đi trên con đường của mình. Ta có ý chí để tồn tại. Ta có ý chí để làm việc. Ta có ý chí để phụng sự và cứu rỗi. Ta có ý chí để nâng đỡ nhân loại. Ta phụng sự Thiên Cơ bằng ý chí, phụng sự Toàn Thể bằng quyền năng.'”

Ray Two

Cung Hai

“The Angel of the Presence draws the wanderer to him. Love divine attracts the seeker on the Way. The point of merging is achieved.

“Thiên Thần của Hiện Diện thu hút kẻ lang thang về với mình. Tình thương thiêng liêng hấp dẫn người tìm đạo. Điểm hợp nhất được đạt đến.

Mouth to mouth, the breath is drawn forth, and the breath is drawn in. Heart to heart, the beating of these twain is merged in one. Foot to foot, the strength is passed from the greater to the less, and thus the Way is trodden.

Miệng đối miệng, hơi thở được rút ra, và hơi thở được hút vào. Tim đối tim, nhịp đập của hai thực thể này hòa thành một. Chân đối chân, sức mạnh truyền từ kẻ vĩ đại hơn đến kẻ nhỏ bé hơn, và do đó Con Đường được đi qua.

Force inspires the Word, the Breath. Love inspires the heart, the life. Activity controls the treading of the Way. These three produce the merging. All then is lost and gained.

Mãnh lực truyền cảm hứng cho Linh Từ, cho Hơi Thở. Tình thương truyền cảm hứng cho trái tim, cho sự sống. Hoạt động kiểm soát sự tiến bước trên Đạo Lộ. Ba điều này tạo nên sự hòa nhập. Khi ấy, tất cả đều mất đi và đồng thời đạt được.

The word goes forth: ‘I tread the Way of Love. I love the Plan. Unto that Plan, I surrender all I have. Unto the [46] Whole, I give my heart’s deep love. I serve the Plan; I serve the Whole with love and understanding.'”

Linh từ vang lên: ‘Ta bước đi trên Đường Đạo của Tình Thương. Ta yêu Thiên Cơ. Cho Thiên Cơ đó, ta hiến dâng tất cả những gì mình có. Cho Toàn Thể, ta trao gửi tình yêu sâu thẳm từ trái tim mình. Ta phụng sự Thiên Cơ; Ta phụng sự Toàn Thể bằng tình thương và sự thấu hiểu.'”

Ray Three

Cung Ba

“The Angel of the Presence stands within the centre of the whirling forces. For ages long, thus has he stood, the centre of all energies from above and from below.

“Thiên Thần của Hiện Diện đứng giữa trung tâm của những mãnh lực xoay vần. Suốt vô lượng kiếp, Ngài vẫn đứng đó, là trung tâm của mọi năng lượng từ trên cao và từ bên dưới.

With intelligence, the Angel works to make the One Who is above and the one who is below to blend and be as one. With twelve clear notes, the hour sounds forth, and then the two are one. The Angel stands entranced.

Với trí tuệ, Thiên Thần làm việc để hòa nhập Đấng Tối Cao và kẻ ở dưới thành một thể hợp nhất. Với mười hai nốt thanh khiết, thời khắc được xướng lên, và khi ấy hai thực thể trở thành một. Thiên Thần đứng đó, xuất thần.

Ear to ear, breast to breast, right hand to left, the two (who are the three) produce the merging of their lives. Glory shines forth. Truth is revealed. The work is done.

Tai đối tai, ngực đối ngực, tay phải với tay trái, hai thực thể (vốn là ba) tạo ra sự hòa nhập trong đời sống của họ. Vinh quang tỏa sáng. Chân lý được hiển lộ. Công việc được hoàn tất.

Then man, who is the soul, cries forth with power:—’I understand the Way—the inner Way, the silent Way, the manifested Way, for these three Ways are one. The Plan proceeds upon the outer Way; it shews itself. The Whole will stand revealed. That Plan I know. I will, with love and mind, to serve that Plan.'”

Và khi ấy, con người, tức linh hồn, thốt lên với quyền năng:—’Ta thấu hiểu Đường Đạo—Con Đường Nội Tại, Con Đường Tĩnh Lặng, Con Đường Hiển Lộ, vì ba Đường này là Một. Thiên Cơ tiến triển trên Con Đường Ngoại Tại; nó tự hiển lộ. Toàn Thể sẽ được hiển bày. Thiên Cơ đó ta biết. Với tình thương, ý chí, và trí tuệ, ta phụng sự Thiên Cơ ấy.'”

Ray Four

Cung Bốn

“The Angel of the Presence stands in his beauty rare upon the lighted Way. The glow of the Presence pours throughout the field of combat and ends, in peace, the strife.

“Thiên Thần của Hiện Diện đứng trong vẻ đẹp hiếm có của Ngài trên Con Đường sáng ngời. Hào quang của Hiện Diện lan tỏa khắp chiến trường và kết thúc cuộc chiến trong hòa bình.

The warrior stands revealed. His work is done. Back to back, the Angel and the Warrior stand, their auras meeting in a radiant sphere of light. The two are one.

Người chiến binh được hiển lộ. Công việc của y đã hoàn tất. Lưng tựa lưng, Thiên Thần và Chiến Binh đứng, hào quang của họ giao nhau trong một cầu vồng ánh sáng rực rỡ. Hai thực thể là một.

The Voice goes forth:—’Harmony is restored and the beauty of the Lord of Love shines forth. Such is the Plan. Thus is the Whole revealed. The higher and the lower meet; form and the formless merge and blend, and know themselves as one. In harmony with all united souls, I serve the Plan.'”

Giọng nói vang lên:—’Sự hòa hợp đã được lập lại, và vẻ đẹp của Đấng Tình Thương hiển lộ. Đó chính là Thiên Cơ. Nhờ đó, Toàn Thể được hiển lộ. Cái cao và cái thấp gặp nhau; hình tướng và vô tướng hòa quyện và nhận ra mình là một. Trong sự hòa hợp với tất cả các linh hồn hợp nhất, ta phụng sự Thiên Cơ.'”

Ray Five

Cung Năm

“The Angel of the Presence serves the three—the One above, the one below, and the One who ever is. [This refers to the fact that on the fifth plane the Angel is definitely met and known, and the three aspects of the higher triad, buddhi, the abstract mind and spirit, plus the ego in the causal body, and the lower mind are here blended and fused.]

Thiên Thần của Hiện Diện phụng sự ba đấng—Đấng ở trên, đấng ở dưới, và Đấng hằng hữu. [Điều này đề cập đến thực tế rằng trên cõi thứ năm, Thiên Thần chắc chắn được gặp gỡ và nhận biết, và ba khía cạnh của Tam nguyên thượng—Bồ đề, trí trừu tượng và tinh thần—cùng với Chân ngã trong thể nguyên nhân và hạ trí, tại đây được hòa trộn và dung hợp.]

[47]

[47]

The great Triangle begins its revolutions, and its rays reach out in all directions, and permeate the Whole.

Tam giác vĩ đại bắt đầu xoay chuyển, và các tia sáng của nó vươn ra theo mọi hướng, thấm nhuần toàn thể.

The man and Angel face each other, and know themselves to be the same. The light that radiates from the heart, the throat, and from the centre which stands midway meet and merge. The two are one.

Người và Thiên Thần đối diện nhau, và nhận biết rằng họ là một. Ánh sáng tỏa ra từ trái tim, từ cổ họng, và từ trung tâm đứng ở điểm giữa gặp gỡ và hòa nhập. Hai trở thành một.

The Voice that speaks within the silence can be heard: ‘The power that reaches from the highest point has reached the lowest. The Plan can now be known. The Whole can stand revealed. The love that stretches from the heart, the life that issues forth from God, have served the Plan. The mind that gathers all with wisdom into the boundaries of the Plan has reached the outer limits of the sphere of God’s activity. That power informs my life. That love inspires my heart. That mind enlightens all my world. I therefore serve the Plan.'”

Tiếng nói vang lên trong sự tĩnh lặng có thể nghe thấy: “Quyền năng từ điểm cao nhất đã chạm đến điểm thấp nhất. Thiên Cơ giờ đây có thể được nhận biết. Toàn thể có thể hiển lộ. Tình thương vươn ra từ trái tim, sự sống tuôn chảy từ Thượng Đế, đã phụng sự Thiên Cơ. Trí tuệ gom góp tất cả bằng minh triết trong ranh giới của Thiên Cơ đã đạt đến giới hạn ngoài cùng của phạm vi hoạt động của Thượng Đế. Quyền năng ấy thấm nhuần đời ta. Tình thương ấy truyền cảm hứng cho trái tim ta. Trí tuệ ấy soi sáng toàn thế giới của ta. Do đó, ta phụng sự Thiên Cơ.”

Ray Six

Cung Sáu

“The Angel of the Presence reaches down, and, at the midway point, pierces the fog of glamour. The Path stands clear.

“Thiên Thần của Hiện Diện vươn xuống, và tại điểm giữa đường, xuyên qua làn sương mù của ảo cảm. Thánh đạo hiện ra rõ ràng.

The One who treads the path and stops to fight, who wrestles blindly with the two who seek to hinder and to blind, sees the Way free. It stands revealed. He ceases from the clamour and the fight. He finds his way into the Presence.

Đấng đang dấn bước trên Đạo và dừng lại để chiến đấu, người vật lộn trong mù quáng với hai kẻ tìm cách cản trở và làm mờ mắt y, nay thấy Con Đường quang đãng. Nó hiện ra trước mắt y. Y chấm dứt tiếng ồn ào và cuộc chiến đấu. Y tìm được đường vào Hiện Diện.

Knee to knee, and foot to foot, they stand. Hand to hand, and breast to breast, forehead to forehead, see them stand. And thus they merge and blend.

Đầu gối chạm đầu gối, chân chạm chân, họ đứng. Tay nắm tay, ngực chạm ngực, trán kề trán, hãy nhìn họ đứng. Và như thế, họ hòa nhập và dung hợp.

The trumpet call goes forth: ‘The warfare is no more. The battle ends. The glamour and the clouds have disappeared. The light and glory of the Way is here. That light reveals the Plan. The Whole is with us now. The purpose is revealed. With all I have, I serve that Plan.'”

Tiếng kèn vang lên: ‘Chiến tranh không còn nữa. Trận chiến đã kết thúc. Ảo cảm và những đám mây đã biến mất. Ánh sáng và vinh quang của Đạo đang ở đây. Ánh sáng ấy hiển lộ Thiên Cơ. Toàn thể giờ đây đã cùng ta. Mục đích đã được hiển lộ. Với tất cả những gì ta có, ta phụng sự Thiên Cơ.'”

Ray Seven

Cung Bảy

“The Angel of the Presence lifts one hand into the blue of heaven. He plunges deep the other into the sea of forms. Thus he connects the world of form and formless life. Heaven to earth he brings; earth into heaven. This the man, who stands before the Angel, knows.

“Thiên Thần của Hiện Diện giơ một tay lên bầu trời xanh thẳm. Ngài nhúng sâu tay kia vào biển của các hình tướng. Như vậy, Ngài kết nối thế giới của hình tướng với sự sống vô hình tướng. Ngài mang thiên đàng xuống trần gian; Ngài nâng trần gian lên thiên đàng. Điều này, người đứng trước Thiên Thần, nhận biết.

He grasps the meaning of the painted sign which the Angel holds aloft. [Then follows a phrase which is incapable [48] of translation into modern language. It signifies that complete merging which the mystic endeavours to express in terms of the “marriage in the heavens”, and which has been wrongly twisted into the false teaching anent sex magic. This phrase, expressed by a painted symbol, symbolises complete unity between the outer and the inner, the objective and the subjective, between spirit and matter, and between the physical and the essential.]

Y nắm bắt ý nghĩa của dấu hiệu được vẽ mà Thiên Thần giơ cao. [Sau đó là một cụm từ không thể dịch ra ngôn ngữ hiện đại. Nó biểu thị sự dung hợp hoàn toàn mà các nhà thần bí cố gắng diễn đạt bằng thuật ngữ “hôn nhân trên thiên giới,” nhưng đã bị xuyên tạc thành những giáo lý sai lầm về ma thuật tình dục. Cụm từ này, được biểu đạt qua một biểu tượng vẽ, tượng trưng cho sự hợp nhất hoàn toàn giữa cái bên ngoài và bên trong, giữa khách quan và chủ quan, giữa tinh thần và vật chất, giữa thể xác và bản chất cốt yếu.]

The two are one. Naught more remains to grasp. The Word is manifest. The work is seen complete. The Whole is visioned. The magic work is wrought. Again the two are one. The Plan is served. No word need then be said.”

Hai trở thành một. Không còn gì cần nắm bắt thêm nữa. Linh từ đã hiển lộ. Công việc đã được thấy là trọn vẹn. Toàn thể được hiển thị. Công việc huyền thuật được hoàn tất. Một lần nữa, hai trở thành một. Thiên Cơ được phụng sự. Không cần phải nói thêm một lời nào.”

These phrases are an attempt to express some of the realisations of the true initiate when he stands—at the third initiation—before the Angel and sees that Angel also pass away, so that naught is left but conscious knowledge and realisation. Although this statement may signify but little to us at present, it will, nevertheless, serve to demonstrate the futility of dealing with the secrets of the mysteries and with initiation through the medium of words. When this is better realised, the true work of the Masonic dramas will begin to measure up to the need.

Những cụm từ này là một nỗ lực nhằm diễn đạt một số nhận thức của vị điểm đạo đồ chân chính khi y đứng—tại lần điểm đạo thứ ba—trước Thiên Thần và thấy rằng Thiên Thần cũng tan biến, đến nỗi không còn gì ngoài tri thức tự giác và sự nhận thức. Dù tuyên bố này có thể mang ít ý nghĩa đối với chúng ta vào thời điểm hiện tại, nhưng nó vẫn có thể minh chứng cho sự vô ích của việc cố gắng tiếp cận những bí mật của các huyền nhiệm và sự điểm đạo thông qua ngôn từ. Khi điều này được hiểu rõ hơn, công việc chân chính của các vở kịch Tam Điểm sẽ bắt đầu đáp ứng được nhu cầu thực sự.

This section expresses some of the basic emerging truths which will carry meaning to the senior disciples and the initiates of the world, who are battling, at this time, in the service of the Plan. They are present in the world at this time, and their work is bearing fruit, but they need at times the incentive of the future achievable glory to aid them to carry on.

Phần này diễn đạt một số chân lý cơ bản đang xuất hiện, những chân lý sẽ mang ý nghĩa đối với các đệ tử cao cấp và các điểm đạo đồ trên thế giới, những người đang chiến đấu vào lúc này trong sự phụng sự Thiên Cơ. Họ đang hiện diện trong thế gian vào thời điểm này, và công việc của họ đang đơm hoa kết trái, nhưng đôi khi họ vẫn cần có động lực từ vinh quang tương lai có thể đạt được để giúp họ tiếp tục con đường.

This treatise is, therefore, somewhat abstruse and quite symbolical. It may appear difficult to comprehend, and it may mean little to some and nothing at all to others. If the disciples of the world are truly struggling and if they are applying practically the teaching given, as far as in them lies, they will find as time elapses, and their reason and intuition awaken, [49] that such symbolic and abstruse statements become clearer and clearer, serving to convey the intended teaching. When this happens, the Angel of the Presence approaches ever closer, and lights the disciple on his way. The sense of separateness diminishes until, at last, light permeates the darkness, and the Angel dominates the life.

Do đó, luận thuyết này mang tính trừu tượng và rất biểu tượng. Nó có thể dường như khó hiểu, và có thể mang ít ý nghĩa với một số người, hoặc chẳng có nghĩa gì với những người khác. Nếu các đệ tử trên thế giới thực sự đang vật lộn và nếu họ đang ứng dụng thực tiễn giáo lý đã được truyền đạt, trong khả năng của họ, thì họ sẽ nhận thấy theo thời gian, khi lý trí và trực giác của họ được đánh thức, [49] rằng những tuyên bố mang tính biểu tượng và trừu tượng như vậy sẽ trở nên ngày càng rõ ràng, giúp truyền đạt giáo huấn đã định. Khi điều này xảy ra, Thiên Thần của Hiện Diện sẽ ngày càng đến gần hơn, và soi sáng con đường của đệ tử. Cảm giác chia cách dần dần giảm bớt cho đến khi, cuối cùng, ánh sáng thấm nhập vào bóng tối, và Thiên Thần trở thành yếu tố chi phối trong cuộc sống.

2. The Two Cycles of Egoic Appropriation—Hai Chu Kỳ Chiếm Hữu

We shall now enter upon a somewhat technical consideration of the relation of the Ego and its ray to the sheaths or vehicles through which it must express itself, and through which it must enter into contact with certain phases of divine experience. The foundation of what is here elaborated in relation to the cycles of appropriation, will be found briefly touched upon in A Treatise on Cosmic Fire (pages 787-790), and the following statements, gathered from those pages, will be elucidated in the succeeding pages.

Chúng ta sẽ bước vào một sự xem xét có phần kỹ thuật về mối quan hệ giữa Chân ngã và cung của nó đối với các thể hoặc các phương tiện qua đó nó phải tự biểu lộ và tiếp xúc với những giai đoạn nhất định của kinh nghiệm thiêng liêng. Nền tảng của những gì được triển khai ở đây liên quan đến các chu kỳ chiếm hữu sẽ được tìm thấy trong Luận về Lửa Vũ Trụ (trang 787-790), và những tuyên bố sau đây, được tập hợp từ các trang đó, sẽ được làm sáng tỏ trong những trang kế tiếp.

1. As the ego or soul appropriates to itself a sheath for expression and experience, points of crisis will inevitably occur:—

1. Khi chân ngã hay linh hồn tiếp nhận một thể để biểu lộ và trải nghiệm, các điểm khủng hoảng sẽ không thể tránh khỏi:—

a. The work of passing onto a particular plane for purposes of incarnation is one such point. This concerns the passing down to a lower plane, or from a lower plane onto a higher. Indications of the importance and the crucial nature of such transition can be seen in certain formulas which are used when passing from one degree in Masonry to another, as in raising a Lodge from a lower to a higher degree.

a. Công việc đi vào một cõi cụ thể nhằm mục đích nhập thể là một điểm như vậy. Điều này liên quan đến việc đi xuống một cõi thấp hơn hoặc đi lên từ một cõi thấp hơn đến một cõi cao hơn. Tầm quan trọng và bản chất then chốt của sự chuyển tiếp như vậy có thể được nhìn thấy qua một số công thức được sử dụng khi thăng tiến từ một cấp bậc này sang cấp bậc khác trong Hội Tam Điểm, cũng như khi nâng một Hội từ cấp độ thấp lên cấp độ cao hơn.

b. Another such point of crisis occurs when the mental body is swept into activity and the etheric body is similarly vitalised.

b. Một điểm khủng hoảng khác xảy ra khi thể trí được kích hoạt và thể dĩ thái cũng được tiếp sinh lực theo cách tương tự.

[50]

[50]

2. Relationship between the ego or soul and the dense physical body is established when

2. Mối quan hệ giữa chân ngã hay linh hồn với thể xác đậm đặc được thiết lập khi:

a. Matter of the three lowest subplanes of the physical plane is built into the etheric body, prior to physical incarnation, and the potential channels of communication and of exit are established. These are the main channel or line of communication found between the centre at the base of the spine and that in the head, via the spleen.

a. Chất liệu từ ba cõi phụ thấp nhất của cõi trần được xây dựng vào thể dĩ thái trước khi nhập thể vật lý, và các kênh tiềm tàng cho sự giao tiếp cũng như thoát ra được thiết lập. Những kênh chính yếu này bao gồm tuyến giao tiếp giữa luân xa ở đáy cột sống và luân xa ở đầu, thông qua lá lách.

b. A corresponding activity takes place in the process of liberation upon the Path of Return in which the bridge (or the antaskarana) is established between the lower mental body, the causal body, and the higher mental worlds.

b. Một hoạt động tương ứng diễn ra trong quá trình giải thoát trên Con Đường Trở Về, trong đó cây cầu (hoặc antahkarana) được thiết lập giữa thể trí hạ, thể nguyên nhân, và các cõi trí cao hơn.

When the work under the first category is accomplished upon the physical plane and its technique is understood, man can then achieve escape from the physical body in full, waking continuity of consciousness. When a similar work has taken place on the higher plane and the “bridge” is satisfactorily built, then the “initiate” can escape from the limitations of form life and enter into that state of consciousness called Nirvana, by the Buddhist. This high state of being has to be entered also in full continuity of consciousness. Both these major crises in the life of the soul,—one leading to physical incarnation and one producing the liberation of the soul from that condition,—are, and must always be, the result of group vibration, of group impulse, group incentive and group impetus. One impetus originates in the group of souls, of which an incarnating ego is an integral part; the other is the result of the activity of the groups of atoms which are vibrating in response to (but not in unison with) that egoic impulse. In this phrase is summed up the work and opportunity [51] of the soul, for it works towards the regeneration of matter and not towards the consummation of its own salvation. It might be stated that the liberation of the soul or ego comes about when its work of salvaging matter (through utilising it and building it into forms) has been carried forward to a desired point. It is not primarily due to the attainment of a certain spiritual stature by the man and the demonstration of certain spiritual qualities. This desired stature and these spiritual qualities are manifested when the vehicles have been “occultly saved”, and matter has thus been transformed, transmuted and symbolically “raised up into heaven”. When the vehicles vibrate in unison with the soul, then is liberation achieved.

Khi công việc thuộc loại thứ nhất được hoàn thành trên cõi trần và kỹ thuật của nó được lĩnh hội, con người có thể đạt được sự thoát ra khỏi thể xác với sự liên tục tỉnh thức trọn vẹn trong trạng thái tỉnh táo. Khi một công việc tương tự diễn ra trên cõi cao hơn và “cây cầu” được xây dựng thỏa đáng, thì “điểm đạo đồ” có thể giải thoát khỏi những giới hạn của sự sống trong hình tướng và bước vào trạng thái tâm thức mà người Phật tử gọi là Nirvana. Trạng thái tồn tại cao cả này cũng phải được đạt đến trong sự liên tục tỉnh thức trọn vẹn. Cả hai cuộc khủng hoảng lớn trong đời sống của linh hồn—một dẫn đến sự nhập thể vật lý và một dẫn đến sự giải thoát của linh hồn khỏi điều kiện đó—đều luôn là kết quả của rung động nhóm, xung lực nhóm, động cơ nhóm và đà tiến của nhóm. Một động lực phát xuất từ nhóm các linh hồn, trong đó một chân ngã nhập thể là một phần không thể tách rời; động lực còn lại là kết quả của hoạt động của các nhóm nguyên tử rung động để đáp ứng (nhưng không hòa nhịp) với xung lực chân ngã đó. Trong cụm từ này có thể tóm lược công việc và cơ hội [51] của linh hồn, vì linh hồn hoạt động hướng tới sự cải hoán của vật chất chứ không phải để hoàn tất sự cứu rỗi của chính nó. Có thể nói rằng sự giải thoát của linh hồn hay chân ngã xảy ra khi công việc cứu rỗi vật chất của nó (thông qua việc sử dụng vật chất và xây dựng nó thành các hình tướng) đã được tiến hành đến một điểm mong muốn. Điều này không chủ yếu là do con người đạt được một tầm vóc tâm linh nhất định và thể hiện những phẩm tính tâm linh nhất định. Tầm vóc mong muốn này và những phẩm tính tâm linh đó chỉ được thể hiện khi các thể đã được “bí truyền cứu rỗi” và vật chất nhờ vậy đã được chuyển hóa, biến đổi và biểu tượng hóa thành “được nâng lên thiên đàng”. Khi các thể rung động đồng điệu với linh hồn, khi đó sự giải thoát mới được thực hiện.

a. THE POINTS OF CRISIS—Các Điểm Khủng Hoảng

Just as there are five points of crisis in the life of a man as he achieves the goal of initiation (which we call the five Initiations), so there are five similar points of crisis in the process of taking form in the three worlds, with three of more importance,—the first, the third and the fifth. When (speaking again in symbols) a soul, functioning under divine impulse, comes into incarnation and undergoes racial experience in order to develop certain manifested qualities, there are five points of crisis. I am here speaking in terms of humanity as a whole, as mankind expresses what we call the “human state of consciousness”. I am not speaking in terms of an individual soul, if such a misnomer may be permitted. These five points of crisis mark the transfer of soul life from one race to another. Each time such an event happens, there is racial unfoldment, and the appropriation, more or less consciously, by the race of another vehicle of expression. The following tabulation shows the appropriations marking the five racial crises.

Cũng như có năm điểm khủng hoảng trong đời sống của một người khi y đạt đến mục tiêu điểm đạo (mà chúng ta gọi là năm lần điểm đạo), cũng có năm điểm khủng hoảng tương tự trong quá trình tiếp nhận hình tướng trong ba cõi, trong đó có ba điểm quan trọng hơn cả—điểm thứ nhất, thứ ba và thứ năm. Khi (nói một cách biểu tượng) một linh hồn, hoạt động dưới xung lực thiêng liêng, đi vào nhập thể và trải qua kinh nghiệm chủng tộc để phát triển những phẩm tính biểu hiện nhất định, có năm điểm khủng hoảng xảy ra. Ở đây, tôi đang nói theo quan điểm của nhân loại nói chung, vì nhân loại thể hiện điều mà chúng ta gọi là “trạng thái tâm thức con người”. Tôi không nói theo quan điểm của một linh hồn cá nhân, nếu có thể tạm chấp nhận cách diễn đạt chưa hoàn toàn chính xác này. Năm điểm khủng hoảng này đánh dấu sự chuyển giao sự sống linh hồn từ một chủng tộc này sang một chủng tộc khác. Mỗi khi một sự kiện như vậy xảy ra, có sự khai mở chủng tộc, và chủng tộc đó tiếp nhận một thể biểu lộ mới, ở mức độ ý thức nhiều hay ít. Bảng tổng hợp sau đây cho thấy các sự tiếp nhận này, đánh dấu năm cuộc khủng hoảng chủng tộc.

[52]

1.

In the Lemurian civilisation

the appropriation of the physical body, with its five senses.

Trong nền văn minh Lemuria

sự chiếm hữu thể xác, với năm giác quan của nó.

2.

In the Atlantean civilisation

the appropriation of the astral body.

Trong nền văn minh Atlantis

sự chiếm hữu thể cảm dục.

3.

In the present Aryan world

the appropriation of the mental body, with consequent intellectual unfoldment.

Trong thế giới Arya hiện tại

sự chiếm hữu thể trí, với sự khai mở trí tuệ kết quả.

4.

In the coming race

conscious appropriation and integration of the threefold personality.

Trong giống dân sắp tới

sự chiếm hữu có ý thức và tích hợp phàm ngã tam phân.

5.

In the final race

the expression, in fullest measure, of the soul and its vehicles, plus some measure of spiritual manifestation.

Trong giống dân cuối cùng

sự biểu lộ, ở mức độ đầy đủ nhất, của linh hồn và các vận cụ của nó, cộng thêm một chừng mực biểu lộ tinh thần.

Here, therefore, we have five points of crisis in the life of the individual, in conjunction with the whole, with the first stage (called individualisation) in Lemuria, the third stage in our race, and a final stage at the end of the age. These stages are carried forward over so long a period of time, and are so closely interrelated, that one stage and period makes possible that of another, and only the analytical mind sees or seeks differentiation. The reflection of this fivefold experience in any individual life takes place in the following order in the life of the average intelligent aspirant, who responds to, and takes advantage of the civilisation and education of the present time.

Ở đây, do đó, chúng ta có năm điểm khủng hoảng trong đời sống cá nhân, liên kết với tổng thể, với giai đoạn đầu tiên (được gọi là biệt ngã hóa) trong Lemuria, giai đoạn thứ ba trong giống dân của chúng ta, và một giai đoạn cuối cùng vào cuối chu kỳ. Những giai đoạn này diễn ra trong một khoảng thời gian dài đến mức và có mối liên hệ chặt chẽ đến mức một giai đoạn và thời kỳ làm cho giai đoạn tiếp theo trở nên khả thi, và chỉ có trí tuệ phân tích mới thấy hoặc tìm cách phân biệt chúng. Sự phản chiếu của trải nghiệm ngũ phân này trong đời sống của bất kỳ cá nhân nào diễn ra theo thứ tự sau trong đời sống của người chí nguyện trung bình có trí thông minh, người phản ứng và tận dụng nền văn minh cũng như giáo dục của thời đại hiện tại.

1. Appropriation of the physical sheath. This takes place between the fourth and seventh year, when the soul, hitherto overshadowing, takes possession of the physical vehicle.

1. Tiếp nhận thể xác. Điều này diễn ra trong khoảng từ năm thứ tư đến năm thứ bảy, khi linh hồn, vốn đang phủ bóng, tiếp nhận thể xác.

[53]

[53]

2. A crisis during adolescence, wherein the soul appropriates the astral vehicle. This crisis is not recognised by the general public and is only dimly sensed, from its evidenced temporary abnormalities, by the average psychologist. They do not recognise the cause but only the effects.

2. Một cuộc khủng hoảng trong thời kỳ niên thiếu, khi linh hồn tiếp nhận thể cảm xúc. Cuộc khủng hoảng này không được công chúng nói chung nhận ra và chỉ được các nhà tâm lý học trung bình cảm nhận một cách mơ hồ qua những bất thường tạm thời được biểu hiện. Họ không nhận ra nguyên nhân mà chỉ thấy hậu quả.

3. A similar crisis between the twenty-first and twenty-fifth years, wherein the mind vehicle is appropriated. The man should then begin to respond to egoic influences, and in the case of the advanced man, he frequently does.

3. Một cuộc khủng hoảng tương tự diễn ra trong khoảng từ năm hai mươi mốt đến hai mươi lăm, khi thể trí được tiếp nhận. Khi đó, con người nên bắt đầu phản ứng với ảnh hưởng của Chân Ngã, và trong trường hợp người tiên tiến, y thường làm như vậy.

4. A crisis between the thirty-fifth and forty-second years, wherein conscious contact with the soul is established; the threefold personality then begins to respond, as a unit, to soul impulse.

4. Một cuộc khủng hoảng diễn ra trong khoảng từ năm ba mươi lăm đến bốn mươi hai, khi sự tiếp xúc có ý thức với linh hồn được thiết lập; phàm ngã tam phân khi đó bắt đầu phản ứng như một đơn vị đối với xung lực của linh hồn.

5. For the remaining years of life, there should be an increasingly strong relationship between the soul and its vehicles, leading to another crisis between the fifty-sixth or the sixty-third years. According to that crisis will depend the future usefulness of the person and whether the ego continues to use the vehicles on into old age, or whether there is a gradual withdrawal of the indwelling entity.

5. Trong những năm còn lại của cuộc đời, mối quan hệ giữa linh hồn và các thể của nó phải ngày càng mạnh mẽ, dẫn đến một cuộc khủng hoảng khác trong khoảng từ năm mươi sáu đến sáu mươi ba. Kết quả của cuộc khủng hoảng đó sẽ quyết định sự hữu dụng trong tương lai của người đó và liệu Chân Ngã có tiếp tục sử dụng các thể trong suốt tuổi già hay không, hay sẽ có sự rút lui dần dần của thực thể nội tại.

There are many corresponding cycles of crisis in the life history of any soul down through the ages, but these major five crises can be traced with clarity from the standpoint of the higher vision.

Có nhiều chu kỳ khủng hoảng tương ứng trong lịch sử đời sống của bất kỳ linh hồn nào qua nhiều thời đại, nhưng năm cuộc khủng hoảng chính này có thể được truy nguyên một cách rõ ràng từ quan điểm của thị kiến cao siêu.

One of the ways in which the life story of a soul is charted in the archives of the Masters (under the present planetary experiment) is by means of graphs, which give these crises—racial and individual. Sometimes, with the more advanced aspirants, even the physiological crises of importance are charted. The entire story of the relationship of a soul with [54] its several vehicles of expression in the three worlds, is the story of the various types of energy which are being magnetically related to each other and which are temporarily subordinated to varying aspects of force, in order to produce those fields of magnetic activity wherein certain needed rates of vibration may be established. From the angle of the initiates of the Ageless Wisdom, the story of man, the aspirant, is the story of his response to, or repulse of, applied energies. The fact that the interplay between different types of energy results in the formation of those aggregations or condensations of force which we call bodies, sheaths or vehicles (material or immaterial) is incidental to the main issue, which is the development of a conscious response to the life of God.

Một trong những cách mà câu chuyện cuộc đời của một linh hồn được lập biểu đồ trong kho lưu trữ của các Chân Sư (theo thí nghiệm hành tinh hiện tại) là bằng cách sử dụng các biểu đồ đồ thị, thể hiện các cuộc khủng hoảng này—cả chủng tộc lẫn cá nhân. Đôi khi, đối với những người chí nguyện tiên tiến hơn, ngay cả những cuộc khủng hoảng sinh lý quan trọng cũng được lập biểu đồ. Toàn bộ câu chuyện về mối quan hệ của một linh hồn với [54] các thể biểu lộ của nó trong ba cõi, là câu chuyện về các loại năng lượng khác nhau được liên kết từ tính với nhau và tạm thời bị chi phối bởi các khía cạnh khác nhau của mãnh lực, nhằm tạo ra những trường hoạt động từ tính nhất định, trong đó các tần số rung động cần thiết có thể được thiết lập. Từ góc nhìn của các điểm đạo đồ Minh Triết Ngàn Đời, câu chuyện của con người, người chí nguyện, là câu chuyện về sự phản ứng hoặc kháng cự của y đối với các năng lượng được áp dụng. Việc sự tương tác giữa các loại năng lượng khác nhau dẫn đến sự hình thành những sự tụ hội hoặc ngưng tụ của mãnh lực mà chúng ta gọi là các thể, vỏ bọc hay các phương tiện biểu lộ (dù là vật chất hay phi vật chất) chỉ là thứ yếu so với vấn đề chính yếu, đó là sự phát triển khả năng phản ứng có ý thức với sự sống của Thượng Đế.

Small units of energy, relatively speaking, are swept into contact with great fields of force, which we call planes. According to the extent of the impact (and this is determined,—symbolically speaking,—by the power of the originating will, the so-called age of the soul, the potency of group activity, and planetary or group karma), so will be the response between the unit of energy and the field contacted, and so will be the quality and vibratory activity of the atoms of matter which are attracted and held together. They will thus constitute a temporary form from which can be seen as externalised and as relatively tangible, and which can function as a mode or medium whereby the soul can contact larger forms of divine life and expression. The more intricate the organisation of the form and the more complex and perfect the response apparatus, the more clearly will be indicated the age of the soul and the perfected intent or potency of its will, the freer it will be from the limiting karma of an unevolved conditioning vehicle.

Các đơn vị năng lượng nhỏ, tương đối mà nói, được cuốn vào sự tiếp xúc với các trường lực rộng lớn, mà chúng ta gọi là các cõi giới. Theo mức độ tác động (điều này được xác định—nói một cách tượng trưng—bởi sức mạnh của ý chí khởi nguồn, cái gọi là độ tuổi của linh hồn, sức mạnh của hoạt động nhóm, và nghiệp quả hành tinh hay nghiệp nhóm), thì sẽ có sự phản ứng giữa đơn vị năng lượng và trường lực được tiếp xúc, và chất lượng cũng như hoạt động rung động của các nguyên tử vật chất bị hút vào và được liên kết với nhau sẽ tương ứng. Chúng sẽ cấu thành một hình thể tạm thời có thể được nhìn thấy như là sự ngoại hiện và tương đối hữu hình, đồng thời có thể hoạt động như một phương tiện hoặc trung gian để linh hồn tiếp xúc với các hình thức sống và biểu lộ thiêng liêng rộng lớn hơn. Cấu trúc của hình thể càng phức tạp và hệ thống đáp ứng càng tinh vi, thì điều đó càng cho thấy rõ ràng độ tuổi của linh hồn cũng như ý định hoặc sức mạnh của ý chí đã được hoàn thiện của nó, và linh hồn sẽ càng tự do hơn khỏi nghiệp quả giới hạn của một phương tiện biểu lộ chưa tiến hóa.

A close study of this subject is not possible here. The appropriation by a soul of those energy units which will constitute [55] its body or sheath, as it passes from one plane to another and from one state of consciousness to another, is a study so abstruse and complicated that only those initiates whose development equips them and whose interest impels them to work with the application of the law of karma (which is identified in time and space with substance and force), can readily comprehend the complexities of the subject.

Việc nghiên cứu kỹ lưỡng về chủ đề này không thể thực hiện ở đây. Việc linh hồn tiếp nhận những đơn vị năng lượng sẽ tạo thành [55] thể hoặc vỏ bọc của nó khi nó di chuyển từ cõi này sang cõi khác và từ trạng thái tâm thức này sang trạng thái tâm thức khác là một nghiên cứu quá trừu tượng và phức tạp đến mức chỉ những điểm đạo đồ có sự phát triển phù hợp và có động lực làm việc với ứng dụng của định luật nghiệp quả (vốn được xác định trong thời gian và không gian bởi chất liệu và mãnh lực) mới có thể dễ dàng hiểu được sự phức tạp của chủ đề này.

Two words are emerging today in connection with modern psychology which have a close relation to this difficult law; they indicate two basic ideas with which these trained initiates work. The idea of patterns and the idea of conditioning hold definite occult implications. The workers in this department of esoteric work deal primarily with the world of patterns which underlie all the activities of the Oversoul and the individual souls. Forget not that this term “individual souls” is but a limiting phrase, used by the separative mind to indicate the aspects of one reality.

Hai thuật ngữ đang xuất hiện ngày nay trong mối liên hệ với tâm lý học hiện đại có liên quan mật thiết đến định luật khó hiểu này; chúng chỉ ra hai ý niệm cơ bản mà những điểm đạo đồ được huấn luyện này làm việc cùng. Ý niệm về mô hình và ý niệm về sự quy định mang ý nghĩa huyền môn rõ rệt. Những người làm việc trong lĩnh vực này của huyền học chủ yếu xử lý thế giới của các mô hình nằm bên dưới tất cả các hoạt động của Đại Linh Hồn và các linh hồn cá nhân. Đừng quên rằng thuật ngữ “các linh hồn cá nhân” chỉ là một cụm từ mang tính giới hạn, được sử dụng bởi tâm trí phân ly để chỉ các phương diện của một thực tại duy nhất.

Patterns are, in the last analysis, only those types of energy which are struggling to emerge into material expression and which eventually subordinate the more superficial and obvious energies (which have worked their way through to the surface in the process of manifesting) to their newer imposed rhythm. Thus they produce the changed types, new forms and different notes, tones and appearances. These patterns are literally the divine ideas, as they emerge from the subjective group consciousness and take those mental forms that can be appreciated and appropriated by the mind and brain of man during any particular epoch. It might, therefore, be thought that these patterns or fundamental ideas which take shape and appear to control the “way of a man on earth”, as it is esoterically called, produce the conditioning here discussed. Literally and curiously, this is not so. From the angle of esoteric thought, [56] conditioning (if rightly understood) concerns the response, innate and inherent, of matter or substance, to the pattern. It might be said that the pattern evokes and awakens response, but that the conditioning of the resultant activity is determined by the quality of the response apparatus. This quality is inherent in the substance itself, and the interplay between the pattern and the conditioned material produces the type of sheath which the soul appropriates in time and space, in order to experiment and gain experience. It will appear more clearly, therefore, as one studies this subject and ponders deeply upon its implications, that as a man advances on the path of evolution and nears the status of an initiate, the conditioning of the form, innate and inherent, will continuously approach nearer and nearer to the requirements of the pattern. It might also be stated that the pattern is relatively immutable and unchangeable in its own inherent nature, as it comes forth from the mind of either the macrocosmic Deity or the microcosmic thinker, but that the process of the inner conditioning of matter is mutable and in a state of continual flux. When, at the third initiation, union of the pattern and the conditioned form is achieved, the Transfiguration of the initiate takes place, leading to that final crisis wherein the two are known as one, and the form nature (including in this phase the causal body as well as the lower vehicles) then is dispersed and disappears.

Các mô hình, xét đến cùng, chỉ là những loại năng lượng đang cố gắng xuất hiện trong biểu lộ vật chất và cuối cùng chi phối những năng lượng bề mặt và rõ ràng hơn (những năng lượng đã làm việc để biểu hiện ra bên ngoài) bằng nhịp điệu mới mà chúng áp đặt. Theo đó, chúng tạo ra các kiểu mẫu biến đổi, các hình thức mới và các nốt, âm sắc, cũng như diện mạo khác biệt. Các mô hình này thực chất là những tư tưởng thiêng liêng, khi chúng xuất hiện từ tâm thức nhóm chủ quan và nhận những hình thức tư tưởng mà trí tuệ và bộ não của con người có thể đánh giá và tiếp thu trong bất kỳ thời đại nào. Do đó, người ta có thể nghĩ rằng những mô hình hoặc ý niệm nền tảng này, khi hình thành và dường như kiểm soát “con đường của một người trên trần thế”, như cách gọi huyền môn, tạo ra sự quy định đang được thảo luận ở đây. Một cách thực tế và thú vị, điều này không đúng. Từ góc nhìn của tư tưởng huyền môn, [56] sự quy định (nếu được hiểu đúng) liên quan đến sự phản ứng, vốn có và nội tại, của vật chất hoặc chất thể đối với mô hình. Có thể nói rằng mô hình khơi dậy và đánh thức sự phản ứng, nhưng sự quy định của hoạt động kết quả được xác định bởi phẩm chất của cơ quan phản ứng. Phẩm chất này vốn có trong bản chất của chất thể, và sự tương tác giữa mô hình và vật chất được quy định tạo ra loại thể mà linh hồn chiếm hữu trong thời gian và không gian để thử nghiệm và thu thập kinh nghiệm. Do đó, khi nghiên cứu chủ đề này và suy ngẫm sâu sắc về những hàm ý của nó, sẽ trở nên rõ ràng rằng khi một người tiến hóa trên con đường và tiến gần đến địa vị điểm đạo đồ, sự quy định của thể, vốn có và nội tại, sẽ ngày càng tiến gần hơn với yêu cầu của mô hình. Cũng có thể nói rằng mô hình tương đối bất biến và không thể thay đổi trong bản chất vốn có của nó, vì nó xuất phát từ tâm trí của Thượng Đế vĩ mô hoặc của người suy tư vi mô, nhưng quá trình quy định nội tại của chất thể lại biến đổi và luôn trong trạng thái biến động liên tục. Khi, tại lần điểm đạo thứ ba, sự hợp nhất giữa mô hình và thể đã được quy định được hoàn tất, thì sự Biến Hình của điểm đạo đồ diễn ra, dẫn đến cuộc khủng hoảng cuối cùng, trong đó hai yếu tố này được nhận biết như là một, và bản chất hình thể (bao gồm cả thể nguyên nhân cũng như các thể thấp hơn trong giai đoạn này) sau đó bị phân tán và biến mất.

The early stages of human development are—as in all else in nature,—apparently inchoate and formless, from the angle of the true pattern, existing eternal in the Heavens. There is a physical form, but the inner, fluid, subjective nature, emotional and mental, in no way conforms to the pattern, and, therefore, the outer form is also inadequate. But crisis after crisis occurs, and the inner form nature responds more definitely and precisely to the outer impact of the soul impetus [57] (note this paradoxical phrase), until the astral vehicle and the mental body are consciously appropriated, and as consciously used. It must never be forgotten that evolution (as we understand it and as it must be studied by the human intellect) is the story of the evolution of consciousness and not the story of the evolution of form. This latter evolution is implicit in the other and of secondary importance from the occult angle. Consciousness is literally the reaction of active intelligence to the pattern. Today, it is as if we were responding consciously and with an increasingly intelligent purpose to the design as laid down by the Master Builder upon the tracing board. As yet we do not and cannot enter into that Cosmic Mind and vibrate in conscious unison with the divine Idea nor grasp the Plan as it is sensed and seen by the cosmic Thinker. We have to work with the design, with the pattern, and with the Plan, for we are only as yet in process of being initiated into that Plan and we are not aware of the true significance of those great Identifications which enabled the Carpenter of Nazareth to say: “I and my Father are one.”

Các giai đoạn đầu của sự phát triển con người, cũng như tất cả các hiện tượng trong thiên nhiên, thoạt nhìn dường như hỗn độn và không có hình dạng, từ góc độ của mô hình chân thật, vốn hiện hữu vĩnh cửu trong các tầng trời. Có một thể xác, nhưng bản chất bên trong, linh hoạt, chủ quan—cảm xúc và trí tuệ—không cách nào tương ứng với mô hình, và do đó, thể xác bên ngoài cũng không thích hợp. Tuy nhiên, khủng hoảng này nối tiếp khủng hoảng khác xảy ra, và bản chất hình thể nội tại ngày càng phản ứng rõ ràng và chính xác hơn đối với tác động bên ngoài của xung lực linh hồn [57] (hãy lưu ý cụm từ mang tính nghịch lý này), cho đến khi thể cảm dục và thể trí được chiếm hữu một cách có ý thức và cũng được sử dụng có ý thức. Không bao giờ được quên rằng tiến hóa (như chúng ta hiểu và như nó phải được nghiên cứu bởi trí tuệ con người) là câu chuyện về sự tiến hóa của tâm thức, chứ không phải câu chuyện về sự tiến hóa của hình thể. Sự tiến hóa sau là điều hiển nhiên trong sự tiến hóa của tâm thức và chỉ có tầm quan trọng thứ yếu từ góc nhìn huyền môn. Tâm thức thực chất là sự phản ứng của trí thông minh đang hoạt động đối với mô hình. Ngày nay, chúng ta có thể nói rằng chúng ta đang phản ứng một cách có ý thức và với mục đích ngày càng thông minh hơn đối với thiết kế mà Đại Kiến Trúc Sư đã đặt ra trên bàn vẽ. Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa thể và chưa có khả năng nhập vào Tâm Thức Vũ Trụ và dao động trong sự hòa hợp có ý thức với Ý Tưởng Thiêng Liêng, cũng như chưa thể nắm bắt Thiên Cơ theo cách mà Người Suy Tư Vũ Trụ cảm nhận và nhìn thấy nó. Chúng ta phải làm việc với thiết kế, với mô hình, và với Thiên Cơ, vì chúng ta chỉ mới trong quá trình được điểm đạo vào Thiên Cơ và chưa nhận thức được ý nghĩa thực sự của những Sự Đồng Nhất vĩ đại đã cho phép Người Thợ Mộc ở Nazareth nói rằng: “Ta và Cha Ta là Một.”

But it must also be remembered (and herein lies the clue to world unfoldment and to the mystery of past, present and future) that we are dealing with matter-substance and with forms which are already conditioned, and which were conditioned when the creative process began. The material to be found in the quarries of manifested purpose is, symbolically speaking, Marble, and is thus conditioned. It is not clay or slate. It is from this marble, with all the inherent attributes of marble, that the Temple of the Lord must be built, in conformity to the design or pattern. This conditioned substance must be accepted as existing and must be dealt with as it is. Such is the parable of the ages. The design, the material, and the future temple are all subjectively related, and it is this [58] that the soul knows. For the soul is the One who appropriates the material (already conditioned and qualified), and for ages the soul wrestles with that material, building it into tentative forms, discarding it at will, gathering together again the material needed, and steadily making more adequate models as the pattern is visioned. Some day, the model will be discarded, the pattern will be seen as it really is, and the worker, the soul, will then begin to build consciously the Temple of the Lord, out of the conditioned and prepared material which, for long ages, it has been preparing in the quarry of the form life, the personal life.

Nhưng cũng cần phải nhớ rằng (và trong đây ẩn chứa manh mối về sự phát triển của thế giới cũng như bí ẩn của quá khứ, hiện tại và tương lai) chúng ta đang xử lý chất liệu vật chất và các hình thể đã được quy định sẵn, vốn đã mang tính quy định ngay từ khi tiến trình sáng tạo bắt đầu. Chất liệu có thể tìm thấy trong những mỏ đá của mục đích hiển lộ, nói theo biểu tượng, là đá cẩm thạch, và do đó mang đặc tính của nó. Nó không phải là đất sét hay đá phiến. Chính từ loại đá cẩm thạch này, với tất cả những thuộc tính vốn có của nó, mà Ngôi Đền của Thượng Đế phải được xây dựng, phù hợp với thiết kế hoặc mô hình định sẵn. Chất liệu đã được quy định này phải được chấp nhận như nó vốn có và phải được xử lý đúng theo bản chất của nó. Đó là dụ ngôn của muôn đời. Thiết kế, chất liệu, và ngôi đền tương lai tất cả đều có mối quan hệ chủ quan, và đó chính là điều mà linh hồn biết. Bởi vì linh hồn chính là Đấng chiếm hữu chất liệu (vốn đã được quy định và định tính từ trước), và trong suốt hàng thế kỷ, linh hồn vật lộn với chất liệu đó, xây dựng nó thành những hình thức thử nghiệm, loại bỏ chúng khi cần, gom tụ lại những chất liệu cần thiết, và dần dần tạo ra những mô hình ngày càng thích hợp hơn khi mô hình đó dần được hiển lộ trong tầm nhìn. Một ngày nào đó, mô hình thử nghiệm sẽ bị loại bỏ, mô hình thực sự sẽ được nhìn thấy như bản chất thật của nó, và người công nhân—chính là linh hồn—khi đó sẽ bắt đầu xây dựng một cách có ý thức Ngôi Đền của Thượng Đế, từ chính chất liệu đã được quy định và chuẩn bị trong suốt những thời đại dài, được tinh luyện qua những trải nghiệm trong thế giới hình tướng và đời sống cá nhân.

Here, therefore, are indicated two crises in the subjective life of the soul:—

Do đó, có hai cuộc khủng hoảng được biểu lộ trong đời sống chủ quan của linh hồn:

1. The crisis wherein the soul, blinded, limited and handicapped by form, begins to work in the quarry of experience, far from its own country, with inadequate tools, and in complete temporary self-imposed ignorance of the design, or pattern.

1. Cuộc khủng hoảng trong đó linh hồn, bị mù quáng, hạn chế và trói buộc bởi hình thể, bắt đầu làm việc trong “mỏ đá” của kinh nghiệm, xa cách khỏi quê hương của chính nó, với những công cụ không đầy đủ, và trong tình trạng tạm thời tự áp đặt sự vô minh hoàn toàn đối với thiết kế hay mô hình.

2. The crisis which comes very much later in the soul’s experience, wherein the soul knows more clearly the design, and in which much material has been prepared. The soul is no longer blind, and can now work in collaboration with other souls in the preparation of the material for the final Temple of the Lord. The soul, incarnate in human form, places in that Temple his particular contribution to the whole, which might be stated symbolically to be

2. Cuộc khủng hoảng xảy ra muộn hơn rất nhiều trong trải nghiệm của linh hồn, khi linh hồn bắt đầu nhận thức rõ ràng hơn về thiết kế, và khi một lượng lớn chất liệu đã được chuẩn bị. Lúc này, linh hồn không còn mù quáng nữa, và có thể làm việc trong sự hợp tác với các linh hồn khác để chuẩn bị chất liệu cho Ngôi Đền Cuối Cùng của Thượng Đế. Khi đó, linh hồn, đang nhập thể trong hình hài con người, đặt vào Ngôi Đền đó phần đóng góp đặc biệt của mình vào tổng thể, mà về mặt biểu tượng có thể được mô tả như sau:

a. A stone placed in the foundations, typical of the consecrated physical life.

a. Một viên đá được đặt trong nền móng, tượng trưng cho đời sống vật chất đã được hiến dâng.

b. A column in the Temple itself, typical of the desire or aspirational life.

b. Một cột trụ trong chính Ngôi Đền, tượng trưng cho đời sống khao khát hoặc chí nguyện.

c. A design upon the tracing board, which coincides with [59] the Great Pattern or Design, and which is that fragment of that design which the individual had to supply and in search of which he went forth.

c. Một bản thiết kế trên bàn vẽ, trùng khớp với [59] Mô Hình hoặc Thiết Kế Vĩ Đại, và chính là phần nhỏ trong mô hình mà cá nhân phải đóng góp và đã ra đi để tìm kiếm.

d. A radiance or light, which will augment the Shekinah, the light which “ever shineth in the East”.

d. Một ánh sáng hoặc sự rạng rỡ, giúp tăng cường Shekinah, ánh sáng “luôn chiếu sáng ở phương Đông.”

Three things emerge in connection with the task of the soul as it appropriates sheath after sheath for expression:—

Ba điều nổi bật liên quan đến nhiệm vụ của linh hồn khi nó lần lượt chiếm hữu các thể để biểu lộ:—

1. The condition of the substance of the sheaths which determines the equipment.

1. Tình trạng của chất liệu tạo thành các thể, điều này quyết định năng lực của con người.

2. Responsiveness to the pattern, which is dependent upon the stage of conscious development.

2. Mức độ phản ứng với mô hình, phụ thuộc vào giai đoạn phát triển tâm thức.

3. Ability to work in connection with the Plan, which is dependent upon the number and quality of the crises undergone.

3. Khả năng làm việc liên quan đến Thiên Cơ, phụ thuộc vào số lượng và chất lượng của những cuộc khủng hoảng đã trải qua.

All this takes place as the soul passes, time after time, through the experience of physical incarnation; later, progress is made consciously from plane to plane and this is undertaken with clear intent. The work is facilitated and progresses with increased rapidity as the soul, actively, intelligently and intuitively, begins to work with the pattern, transmitting from crisis to crisis (each marking an expansion of consciousness) a newer reach of development and a fresh grasp of the great Design, coupled with a better and more adequate equipment through which to carry on the work.

Tất cả những điều này diễn ra khi linh hồn trải qua hết lần này đến lần khác những kinh nghiệm trong sự nhập thể vật lý; sau đó, sự tiến hóa được thực hiện một cách có ý thức từ cõi này sang cõi khác, và điều này được tiến hành với một mục đích rõ ràng. Công việc này trở nên dễ dàng hơn và tiến triển nhanh chóng hơn khi linh hồn, một cách chủ động, thông minh và trực giác, bắt đầu làm việc với mô hình, truyền tải từ khủng hoảng này sang khủng hoảng khác (mỗi khủng hoảng đánh dấu một sự mở rộng tâm thức) một tầm phát triển mới và một sự lĩnh hội mới về Thiết Kế Vĩ Đại, kết hợp với một năng lực tốt hơn và đầy đủ hơn để tiếp tục công việc.

In our consideration of the second part of the statement in this treatise, which deals with the relationship of the soul to its instrument,—the mechanism whereby or wherewith it expresses quality, activity and eventually divinity (whatever that vague word may mean)—we have to approach the subject in two ways:

Khi chúng ta xem xét phần thứ hai của luận điểm trong trước tác này, phần liên quan đến mối quan hệ của linh hồn với công cụ của nó—cơ cấu mà qua đó nó biểu lộ phẩm tính, hoạt động, và cuối cùng là tính thiêng liêng (dù từ ngữ mơ hồ này có nghĩa gì đi nữa)—chúng ta cần tiếp cận chủ đề này theo hai cách:

[60]

[60]

First, we must consider the utilisation of the mechanism on the Path of Outgoing.

Thứ nhất, chúng ta phải xem xét việc sử dụng cơ cấu này trên Con Đường Xuất Hành.

Second, the utilisation of the mechanism upon the Path of Return.

Thứ hai, việc sử dụng cơ cấu này trên Con Đường Hồi Quy.

In the first case, we are dealing with what might be regarded as the physiological aspect, for it is in the physical nature that the consciousness is primarily focussed; in the second case, we are concerned with the purely mental apparatus, though the word “apparatus” is basically unsuitable.

Trong trường hợp thứ nhất, chúng ta đang đề cập đến khía cạnh sinh lý, vì tâm thức chủ yếu tập trung vào bản chất vật lý; trong trường hợp thứ hai, chúng ta quan tâm đến cơ cấu trí tuệ thuần túy, mặc dù từ “cơ cấu” về bản chất không phù hợp.

It might be well to interrupt here for a moment and deal with the idea of mechanism and divinity, for these are apt to be a materialising of the idea of divinity, particularly in the West. The divinity of Christ, for instance, is frequently illustrated by reference to His miracles, and to those supernormal powers which He so often evidenced. Supernormal powers are, of themselves, no evidence of divinity at all. Great exponents of evil can perform the same miracles and demonstrate the same capacity to create and to transcend the normal faculties of man. These powers are inherent in the creative aspect of Divinity, the third or matter aspect, and are linked to an intelligent understanding of matter and to the power of the mind to dominate substance. This power is, therefore, neither divine nor non-divine. It is a demonstration of the capacity of the mind, and can be used with equal facility by an incarnated Son of God, functioning as a World Saviour or Christ, and by those Beings who are on the path of destruction, and who are called (by those who know no better) Black Magicians, Evil Forces and Devils.

Có lẽ nên tạm dừng ở đây một chút để bàn về ý niệm cơ cấu và tính thiêng liêng, vì đây là hai khái niệm dễ bị vật chất hóa, đặc biệt là ở phương Tây. Chẳng hạn, tính thiêng liêng của Đức Christ thường được minh họa bằng những phép lạ của Ngài, cũng như những năng lực siêu nhiên mà Ngài thường thể hiện. Tuy nhiên, năng lực siêu nhiên tự thân nó không phải là bằng chứng của tính thiêng liêng. Những kẻ theo con đường hắc ám cũng có thể thực hiện những phép lạ tương tự và thể hiện cùng một khả năng vượt qua các giới hạn bình thường của con người. Những năng lực này vốn thuộc về khía cạnh sáng tạo của Thiêng Tính, tức là khía cạnh thứ ba hay khía cạnh vật chất, và liên kết với sự hiểu biết thông minh về vật chất cũng như năng lực của trí tuệ trong việc chi phối chất thể. Do đó, năng lực này không phải là thiêng liêng cũng không phải phi thiêng liêng. Nó chỉ là sự biểu lộ của trí tuệ, và có thể được sử dụng với hiệu quả tương tự bởi một Người Con của Thượng Đế nhập thể, hoạt động như một Đấng Cứu Thế hay một Đức Christ, hoặc bởi những thực thể trên con đường hủy diệt, những kẻ được gọi (bởi những người không hiểu rõ hơn) là các Pháp Sư Hắc Đạo, Lực Lượng Hắc Ám và Ma Quỷ.

Divinity (using the word in its separative sense) connotes the expression of the qualities of the second or building aspect of God,—magnetism, love, inclusiveness, non-separativeness, sacrifice for the good of the world, unselfishness, intuitive understanding, cooperation with the Plan of God, and many [61] other such qualitative phrases. Mechanism, after all, implies the creation of a form out of matter and the infusing of that form with a life principle which will show itself in the power to grow, to reproduce, to preserve identity of some kind, to flower forth into certain instinctual reactions, and to preserve its own specific qualitative nature. Life resembles the fuel which, in conjunction with the mechanism, provides the motivating principle and makes activity and the needed movement possible. But there is more to manifestation than forms which possess a life principle. There is a diversity running through nature and a qualifying principle which differentiates the mechanisms; there is a general synthesis and purpose, which defies the powers of man to emulate it creatively, and which is outstandingly the major characteristic of divinity. It expresses itself through colour and beauty, through reason and love, through idealism and wisdom, and through those many qualities and that purpose which, for instance, animate the aspirant. This is—briefly and inadequately expressed—Divinity. It is, however, a relative expression of Divinity. When each of us stands where stand the Masters and the Christ, we will regard this whole question from another point of view. The developing of virtues, the cultivation of understanding, the demonstration of good character and high aims, and the expression of an ethical and moral point of view are all necessary fundamentals, preceding certain definite experiences which usher the soul into worlds of realisation which are so far removed from our present point of view that any definition of them would be meaningless. What we are engaged in is the development of those qualities and virtues which will “clear our vision”, because they produce the purification of the vehicles so that the real significance of divinity can begin to emerge in our consciousness.

Tính thiêng liêng (nếu sử dụng từ này theo nghĩa phân biệt) gắn liền với sự biểu lộ của phẩm tính thuộc khía cạnh thứ hai của Thượng Đế—từ lực, tình thương, tính bao dung, tính vô phân biệt, sự hy sinh vì lợi ích của thế giới, tính vô kỷ, sự hiểu biết trực giác, sự hợp tác với Thiên Cơ, và nhiều [61] phẩm chất tương tự khác. Cơ cấu, sau tất cả, ngụ ý sự tạo ra một hình thể từ vật chất và sự truyền vào hình thể đó một nguyên lý sinh động, thứ sẽ biểu hiện qua khả năng tăng trưởng, tái tạo, duy trì một loại bản sắc nào đó, phát triển theo những phản ứng bản năng nhất định, và bảo tồn bản chất phẩm tính đặc trưng của nó. Sự sống giống như nhiên liệu, kết hợp với cơ cấu, tạo ra nguyên lý động lực và làm cho hoạt động cùng với sự vận động cần thiết trở nên khả thi. Nhưng biểu lộ không chỉ đơn thuần là những hình thể có nguyên lý sự sống. Nó còn có sự đa dạng xuyên suốt trong thiên nhiên và một nguyên lý định tính, thứ làm khác biệt các cơ cấu; có một sự tổng hợp chung và một mục đích, thứ vượt ngoài khả năng sáng tạo của con người và nổi bật như đặc tính chính yếu của tính thiêng liêng. Tính thiêng liêng biểu hiện qua màu sắc và vẻ đẹp, qua lý trí và tình thương, qua chủ nghĩa lý tưởng và minh triết, cũng như qua nhiều phẩm chất và mục đích vốn truyền cảm hứng cho người chí nguyện. Đây là một sự mô tả vắn tắt và chưa đầy đủ về Thiêng Tính. Tuy nhiên, đó chỉ là một biểu lộ tương đối của Thiêng Tính. Khi mỗi chúng ta đứng ở vị trí của các Chân Sư và Đức Christ, chúng ta sẽ nhìn nhận toàn bộ vấn đề này từ một góc độ khác. Việc phát triển các đức hạnh, nuôi dưỡng sự hiểu biết, thể hiện nhân cách cao đẹp và lý tưởng cao cả, cũng như việc thể hiện một quan điểm đạo đức và luân lý đều là những nền tảng cần thiết, dẫn đến những trải nghiệm nhất định giúp linh hồn bước vào những thế giới của nhận thức, vốn xa rời đến mức mọi định nghĩa về chúng hiện tại sẽ trở nên vô nghĩa. Điều mà chúng ta đang thực hiện là phát triển những phẩm chất và đức tính giúp “làm sáng tỏ tầm nhìn” của chúng ta, bởi vì chúng mang lại sự thanh lọc cho các thể, nhờ đó ý nghĩa thực sự của tính thiêng liêng mới bắt đầu xuất hiện trong tâm thức chúng ta.

[62]

[62]

b. CERTAIN BASIC PREMISES—Một Số Tiền Đề Cơ Bản

With this preamble, we will pass on to the consideration of the mechanism and of that which infuses it and motivates it with life and intelligence.

Với phần dẫn nhập này, chúng ta sẽ tiếp tục xem xét về cơ cấu và về điều truyền năng lượng và thúc đẩy nó bằng sự sống và trí tuệ.

Certain basic premises are recognised and can, therefore, be very briefly mentioned:—

Một số tiền đề cơ bản được thừa nhận và do đó có thể được đề cập một cách ngắn gọn:

1. The soul informs the mechanism in two ways and through two points of contact in the body:—

1. Linh hồn truyền năng lượng cho cơ cấu theo hai cách và thông qua hai điểm tiếp xúc trong cơ thể:

a. The “thread of life” is anchored in the heart. The life principle is there to be found, and from that station it pervades the entire physical body through the medium of the blood stream, for “the blood is the life”.

a. “Sợi chỉ sự sống” được neo giữ trong tim. Nguyên lý sự sống hiện diện ở đó và từ vị trí này, nó thấm nhuần toàn bộ thể xác thông qua dòng chảy của máu, vì “máu là sự sống.”

b. The “thread of consciousness” or of intelligence is anchored in the head, in the region of the pineal gland, and from that station of perception it orders or directs the physical plane activities, through the medium of the brain and the nervous system.

b. “Sợi chỉ tâm thức” hay trí tuệ được neo giữ trong đầu, ở vùng tuyến tùng, và từ trạm nhận thức này, nó ra lệnh hoặc hướng dẫn các hoạt động trên cõi trần thông qua bộ não và hệ thần kinh.

2. The directive activity of the soul, or its authoritative grasp upon the mechanism of the body, is dependent for its extent upon the point of development, or upon the so-called “age of the soul”. The soul is ageless from the human angle, and what is really meant is the length of time that a soul has employed the method of physical incarnation.

2. Hoạt động chỉ đạo của linh hồn, hoặc sự nắm giữ có thẩm quyền của nó đối với cơ cấu của thể xác, phụ thuộc vào mức độ phát triển, hay cái gọi là “độ tuổi của linh hồn”. Linh hồn vốn không có tuổi từ góc nhìn nhân loại, và điều thực sự được nói đến ở đây là khoảng thời gian mà một linh hồn đã sử dụng phương pháp nhập thể vật lý.

3. The result of this twofold hold upon the mechanism during the past ages has been the conditioning of the material, in conjunction with its own inherent conditioned nature. A form is produced which is adequate to the temporary need of the soul and which is a reflection, in time and space, of its “relative age” or point of development. [63] This, therefore, produces the type of brain, the conformation of the body, the condition of the endocrine system, and consequently the set of qualities, the type of mental reaction, and the character with which any given subject enters into life upon the physical plane. From that point, the work proceeds. This work might be regarded as an effort to intensify the hold which the divine Thinker has upon the mechanism. This will lead to a wiser, fuller direction, a deeper realisation of the purpose, and an effort to clear the way for the soul by the institution of those practices which tend towards right conduct, right speech, and good character. The thought underlying this paragraph links the conclusions of the materialistic school of psychologists with the introspectionist school and those schools which posit a self, a soul or a spiritual entity, and shows that both groups are dealing with facts, and that both must play their united parts in training the aspirant in the New Age.

3. Kết quả của sự nắm giữ hai mặt này đối với cơ cấu qua các thời đại đã dẫn đến sự quy định của vật chất, kết hợp với bản chất vốn có của nó. Một hình thể được tạo ra để đáp ứng nhu cầu tạm thời của linh hồn, và hình thể này phản ánh trong thời gian và không gian “độ tuổi tương đối” hoặc mức độ phát triển của nó. [63] Do đó, điều này quyết định loại bộ não, cấu trúc của thể xác, tình trạng của hệ nội tiết, và hệ quả là tập hợp các phẩm tính, kiểu phản ứng trí tuệ, và tính cách mà một cá nhân mang theo khi y nhập thế trên cõi trần. Từ đó, công việc phát triển tiếp tục. Công việc này có thể được xem như một nỗ lực để tăng cường sự kiểm soát của Đấng Suy Tư Thiêng Liêng đối với cơ cấu. Điều này sẽ dẫn đến một sự hướng dẫn sáng suốt và đầy đủ hơn, một sự nhận thức sâu sắc hơn về mục đích, và một nỗ lực để mở đường cho linh hồn thông qua việc thực hành những nguyên tắc hướng đến hành vi đúng đắn, lời nói đúng đắn và nhân cách cao đẹp. Ý tưởng cơ bản của đoạn này liên kết những kết luận của trường phái tâm lý học duy vật với trường phái hướng nội, cũng như những trường phái cho rằng có một cái ngã, một linh hồn hoặc một thực thể tinh thần, và điều này cho thấy rằng cả hai nhóm đều đang xử lý những sự thật, và cả hai nhóm đều phải đóng vai trò kết hợp trong việc đào luyện người chí nguyện trong Kỷ Nguyên Mới.

4. As the introspective method is pursued, and as we study the human subject, we discover that underlying the human body in all its parts, and constituting a definite part of the human apparatus, there is a vehicle which has been called the “etheric body”, composed entirely of threads of force which, in their turn, form the channels along which still more subtle and varying types of energy flow. These are, in their turn, “conditioned” during manifestations by the status of the soul. These threads underlie and interpenetrate the entire body and the nervous system and are in reality the actuating power of the nervous system. Their responsiveness to impacts, outer and inner, is unbelievably great. The nervous reactions of the disciple and highly developed person, [64] whose etheric body is in close rapport with his nervous system, is beyond the average comprehension.

4. Khi phương pháp hướng nội được theo đuổi, và khi chúng ta nghiên cứu con người, chúng ta phát hiện ra rằng bên dưới thể xác trong tất cả các phần của nó, và tạo thành một phần xác định của cơ cấu con người, có một thể được gọi là “thể dĩ thái”, hoàn toàn được tạo thành từ những sợi mãnh lực, vốn lại tạo thành các kênh mà qua đó các loại năng lượng tinh tế và đa dạng hơn nữa chảy qua. Những năng lượng này, khi biểu hiện, lại chịu sự quy định bởi trạng thái của linh hồn. Những sợi mãnh lực này thâm nhập và xuyên suốt toàn bộ cơ thể cũng như hệ thần kinh, và trên thực tế, chúng là nguồn năng lượng thúc đẩy hệ thần kinh. Mức độ phản ứng của chúng trước các tác động bên ngoài và bên trong là vô cùng to lớn. Các phản ứng thần kinh của một đệ tử và một người phát triển cao [64], người mà thể dĩ thái của y có sự liên kết mật thiết với hệ thần kinh của mình, vượt xa sự hiểu biết trung bình.

5. The sum-total of the nerves, with the millions of nadis or “thread counterparts” in the etheric body, form a unit, and this unit, according to the teaching of the Ageless Wisdom, has in it points of focus for different types of energy. These are called “force centres”, and upon these depend the life experience of the soul and its expression, and not upon the body. They are the factors which condition the glandular system of the body.

5. Tổng thể của các dây thần kinh, với hàng triệu nadi hoặc các “sợi tương ứng” trong thể dĩ thái, tạo thành một đơn vị, và đơn vị này, theo giáo huấn của Minh Triết Ngàn Đời, có trong nó các điểm tập trung cho các loại năng lượng khác nhau. Những điểm này được gọi là “luân xa”, và chính những luân xa này quyết định trải nghiệm đời sống của linh hồn cũng như sự biểu lộ của nó, chứ không phải thể xác. Chúng là những yếu tố quy định hệ thống tuyến nội tiết của cơ thể.

6. This subjective and objective system governs the manifestation of the soul on the physical plane. It indicates to those who can see in truth, the grasp or hold that the soul has upon its instrument; it can be seen whether that grasp is occasional and partial or whether it is entire and whole. This is most wonderfully indicated in a certain Masonic grip, which marks a climax in the experience of the candidate to the mysteries.

6. Hệ thống chủ quan và khách quan này chi phối sự biểu lộ của linh hồn trên cõi trần. Nó cho thấy, đối với những ai có thể nhìn nhận chân lý, mức độ kiểm soát mà linh hồn có đối với công cụ của nó; có thể thấy rõ liệu sự kiểm soát đó chỉ là thỉnh thoảng và một phần hay là toàn diện và đầy đủ. Điều này được thể hiện một cách tuyệt vời trong một dấu ấn Masonic nhất định, đánh dấu một đỉnh điểm trong trải nghiệm của ứng viên tham gia vào các huyền nhiệm.

I previously referred to the main channel of communication between the soul and its mechanism as being:—

Trước đây, tôi đã đề cập đến kênh giao tiếp chính giữa linh hồn và cơ cấu của nó như sau:—

a. The centre at the base of the spine.

a. Luân xa tại đáy cột sống.

b. The centre at the top of the head, where the most important centre in the body is situated, from the standpoint of the soul. There is its point of entry and exit; there is the great radio station of reception, and the distributing centre for direction.

b. Luân xa tại đỉnh đầu, nơi đặt trung tâm quan trọng nhất trong cơ thể từ quan điểm của linh hồn. Đây là điểm vào và ra của linh hồn; tại đây có trạm thu sóng vĩ đại, trung tâm tiếp nhận và phân phối để chỉ đạo.

c. The spleen. This is a subsidiary centre and organ in connection with the heart centre.

c. Luân xa lá lách. Đây là một trung tâm phụ và là cơ quan liên kết với luân xa tim.

It is through the spleen that a linking up takes place between the life principle (seated in the heart) and the consciousness system, interlinking all the material organs and the atomic [65] substance of the physical body. This statement indicates that, in the location in the human body where the spleen is found, along with its corresponding subjective force centre, two great currents of energy cross: these are the current of physical vitality or life and the current of the consciousness of the atoms which construct the form. It will be observed that we are here discussing the group subconscious life and not the conscious life and the self-consciousness. The spleen is the organ in which planetary prana or vitality is received and passed. This enters in through “the open gateway” of the splenic force centre, and passes to the heart. There it merges with the individual life principle. Through the splenic centre also passes the conscious life of the sum-total of the bodily cells, which are, in their turn, the recipients of the energy of the consciousness aspect or principles of all atoms and forms within the fourth kingdom of nature. This we cannot be expected to comprehend as yet, but the truth will be appreciated later on in the racial development. A hint can here be found as to the excessive sensitivity of the solar plexus centre to surrounding group impacts and impressions of an astral kind. There is a close rapport between the splenic centre and the solar plexus, as well as with the heart.

Thông qua luân xa lá lách, sự liên kết diễn ra giữa nguyên lý sự sống (tọa lạc ở tim) và hệ thống tâm thức, kết nối tất cả các cơ quan vật chất cũng như các nguyên tử của thể xác. Tuyên bố này cho thấy rằng, tại vị trí của lá lách trong cơ thể con người, cùng với trung tâm lực chủ quan tương ứng của nó, có hai dòng năng lượng lớn giao thoa nhau: một là dòng sinh khí vật lý hay dòng sự sống, và một là dòng năng lượng tâm thức của các nguyên tử tạo thành hình tướng. Có thể nhận thấy rằng ở đây chúng ta đang thảo luận về đời sống tiềm thức của nhóm, chứ không phải đời sống có ý thức và tự thức. Luân xa lá lách là cơ quan tiếp nhận và truyền dẫn prana hay sinh khí hành tinh. Sinh khí này đi vào qua “cánh cổng mở” của luân xa lá lách, rồi truyền đến tim, nơi nó hợp nhất với nguyên lý sự sống cá nhân. Đồng thời, thông qua luân xa lá lách, dòng sống có ý thức của tổng thể các tế bào trong cơ thể cũng lưu thông; những tế bào này là những thực thể tiếp nhận năng lượng của khía cạnh tâm thức, tức là nguyên lý của tất cả nguyên tử và hình tướng trong giới thứ tư của thiên nhiên. Đây là điều mà chúng ta chưa thể hiểu thấu đáo, nhưng sự thật này sẽ được nhận thức trong giai đoạn phát triển chủng tộc sau này. Một gợi ý có thể được tìm thấy ở đây về sự nhạy cảm quá mức của luân xa tùng thái dương trước các tác động và ấn tượng của nhóm, đặc biệt là những ảnh hưởng của cõi cảm dục. Có một mối liên kết mật thiết giữa luân xa lá lách, luân xa tùng thái dương và luân xa tim.

7. These two subjective and subconscious streams of energy cross each other in the region of the spleen and there form a cross in the human body, as they traverse each others lines of force. This is the correspondence in the human body to the cross of matter, spoken of in connection with Deity. Consciousness and life form a cross. The downpouring stream of life from the heart and the stream of life-giving energy from the spleen pass on (after crossing each other and producing a whirlpool of force) into the solar plexus region; from thence [66] they are very definitely drawn together as one stream at a certain stage in the life of the advanced aspirant. There they merge with the sum-total of energies, using the three points referred to—the head, the base of the spine and the spleen—as a definite mode of communication, of distribution and of control, and finally of ultimate withdrawal, consciously or unconsciously, at the moment of death or in the technique of inducing that stage of control known as Samadhi.

7. Hai dòng năng lượng tiềm thức và chủ quan này giao nhau trong vùng lá lách và tạo thành một hình thập giá trong cơ thể con người, khi chúng cắt ngang nhau trong những dòng mãnh lực. Đây chính là sự tương ứng trong cơ thể người với thập giá vật chất, vốn được đề cập trong mối liên hệ với Thượng Đế. Tâm thức và sự sống tạo thành một thập giá. Dòng năng lượng đổ xuống từ tim và dòng năng lượng sinh khí từ lá lách giao nhau (tạo ra một xoáy lực) và sau đó đi vào vùng tùng thái dương; từ đó [66] chúng được thu hút lại thành một dòng hợp nhất ở một giai đoạn nhất định trong đời sống của người chí nguyện tiến bộ. Tại đây, chúng hợp nhất với tổng thể các năng lượng, sử dụng ba điểm đã đề cập—đỉnh đầu, đáy cột sống và lá lách—như một phương thức xác định để giao tiếp, phân phối, kiểm soát, và cuối cùng là rút lui, dù là có ý thức hay vô thức, vào thời điểm chết hoặc trong kỹ thuật đạt đến trạng thái kiểm soát được gọi là Samadhi.

8. When the directing Agent in the head, deliberately and by an act of the will, raises the accumulated energies at the base of the spine, he draws them into the magnetic field of the centres up the spine and blends them with the dual energy emanating from the spleen. The spinal tract with its five centres then awakens into activity, and finally all the forces are gathered together into one fused and blended stream of energy. Three things then happen:

8. Khi Chủ Thể Điều Khiển trong đầu, một cách có chủ ý và bằng hành động của ý chí, nâng dòng năng lượng tích tụ tại đáy cột sống, y sẽ kéo dòng năng lượng này vào từ trường của các luân xa dọc theo cột sống và hòa hợp nó với nguồn năng lượng kép phát ra từ lá lách. Lúc này, tuyến năng lượng cột sống với năm luân xa sẽ thức tỉnh hoạt động, và cuối cùng tất cả các mãnh lực được tập hợp lại thành một dòng năng lượng hợp nhất và hòa quyện. Khi đó, ba điều xảy ra:

a. The kundalini fire is raised and immediately burns away all the etheric webs which are the protective barriers, separating the various centres.

a. Lửa kundalini được nâng lên và ngay lập tức đốt cháy tất cả các màng dĩ thái vốn là những hàng rào bảo vệ, ngăn cách các luân xa khác nhau.

b. The etheric body intensifies its vitality, and the physical body is consequently powerfully vitalised, galvanised, and energised.

b. Thể dĩ thái gia tăng sức sống, khiến thể xác mạnh mẽ hơn, trở nên sống động và tràn đầy năng lượng.

c. The entire aura is coordinated and illumined, and the soul can then, at will, withdraw from its physical vehicle in full waking consciousness, or stay in it as an incarnated Son of God, Whose consciousness is complete on the physical plane, the astral plane, and on the mental levels, as well as in the three aspects of lower mind, causal consciousness and nirvanic realisation. This process finds its consummation at the third initiation.

c. Toàn bộ hào quang được phối hợp và chiếu sáng, nhờ đó linh hồn có thể, theo ý muốn, rút lui khỏi thể xác trong trạng thái tỉnh thức hoàn toàn, hoặc tiếp tục tồn tại trong thân xác như một Người Con của Thượng Đế nhập thể, với tâm thức hoàn toàn đầy đủ trên cõi trần, cõi cảm dục và cõi trí, cũng như trong ba khía cạnh của hạ trí, tâm thức nguyên nhân và nhận thức niết bàn. Tiến trình này đạt đến đỉnh điểm ở lần điểm đạo thứ ba.

[67]

[67]

In the life of the aspirant, the power to cause this tremendous happening is dependent upon the carrying forward of the inner subjective and spiritual work previously described as the “building of the bridge on the mental plane” between the above mentioned three aspects. For the race of men as a whole, this work began in the middle of our Aryan race, and is today going forward very rapidly. For the individual aspirant, the work has always been possible right down the ages, and it is the major task undertaken by disciples at this time. It might be added here that the New Group of World Servers is composed of those who are engaged in this work for the race, and every person who builds his bridge joins this group of occult “bridge-builders”. There is, therefore, something symbolic about the work of our modern bridge builders who join the chasms and span the waters and thus give concrete evidence of the work being done today by advanced humanity.

Trong đời sống của người chí nguyện, khả năng kích hoạt hiện tượng trọng đại này phụ thuộc vào việc triển khai công việc nội tâm chủ quan và tâm linh, vốn đã được mô tả trước đây như là “việc xây dựng cây cầu trên cõi trí” giữa ba khía cạnh đã đề cập. Đối với nhân loại nói chung, công việc này đã bắt đầu từ giữa giống dân Arya của chúng ta và hiện nay đang tiến triển rất nhanh. Đối với người chí nguyện cá nhân, công việc này luôn có thể thực hiện xuyên suốt các thời đại, và đó là nhiệm vụ chính yếu mà các đệ tử đang đảm nhận trong thời điểm hiện tại. Có thể bổ sung rằng Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian bao gồm những người đang tham gia vào công việc này cho toàn nhân loại, và mỗi người tự xây dựng cây cầu của mình đều trở thành thành viên của nhóm huyền môn “những người xây cầu”. Do đó, công việc của các kỹ sư cầu hiện đại, những người nối liền những hẻm vực và bắc ngang các dòng nước, chính là một biểu hiện cụ thể của công việc đang được thực hiện ngày nay bởi nhân loại tiến bộ.

It now becomes possible to consider the process whereby a man bridges the gulf or gap (speaking symbolically) which exists between the personal lower self and the higher Self, as the latter functions in its own world. This has to be bridged before at-one-ment can be achieved and complete integration of the entire man can be brought about. To understand clearly what occurs, it will be wise to define more accurately what that higher nature is, and of what it consists.

Giờ đây, chúng ta có thể xem xét tiến trình mà qua đó một con người bắc cầu vượt qua vực thẳm hoặc khoảng cách (nói theo nghĩa tượng trưng) giữa phàm ngã và Chân Ngã cao hơn, khi Chân Ngã hoạt động trong thế giới của chính nó. Khoảng cách này phải được nối liền trước khi sự hợp nhất có thể được đạt đến, và trước khi sự tích hợp toàn diện của con người được hoàn tất. Để hiểu rõ những gì diễn ra, sẽ rất hữu ích khi xác định một cách chính xác hơn bản chất cao hơn đó là gì và bao gồm những yếu tố nào.

We have seen in our studies that the soul is a dual blend of energies—the energy of life and the energy of mind—as far as its relation to the mechanism is temporarily concerned. The merging of these two energies in the human mechanism produces what we call consciousness—at first self-consciousness and finally group-consciousness. The mechanism is, in its own nature, also a blend or fusion of energies—the energy of substance itself which takes the form of the atomic structure [68] of the physical body, plus the vitality which animates that body, and, secondly, the energy of that body which we call the astral body, distinguished by sensitivity, emotional activity, and that magnetic force which we call desire. There is, finally, the energy of mind itself. These four types of energy form what we call the lower personal self, but it is the higher mental aspect of the mind which links, subjectively, this personality and the soul. It is the lower consciousness which (when developed) enables a man eventually to make conscious contact with the higher. It is the lower concretising mind which must be awakened, understood and used with definiteness before the higher mind can become the medium through which knowledge can be gained of those realities which constitute the kingdom of God. Intellect must be unfolded before the intuition can be correctly evoked.

Chúng ta đã thấy trong các nghiên cứu của mình rằng linh hồn là một sự hòa hợp kép của các loại năng lượng—năng lượng sự sống và năng lượng trí tuệ—khi xét đến mối quan hệ tạm thời của nó với cơ cấu. Sự hòa nhập của hai năng lượng này trong cơ cấu con người tạo ra điều mà chúng ta gọi là tâm thức—ban đầu là tự thức và cuối cùng là tâm thức nhóm. Bản thân cơ cấu cũng là một sự kết hợp hoặc dung hợp của các năng lượng—trước tiên là năng lượng của chất thể, cấu thành nên cấu trúc nguyên tử [68] của thể xác, cùng với sinh khí làm cho thể xác hoạt động; thứ hai là năng lượng của thể xác mà chúng ta gọi là thể cảm dục, được đặc trưng bởi sự nhạy cảm, hoạt động cảm xúc và từ lực mà chúng ta gọi là dục vọng. Cuối cùng, có năng lượng của chính trí tuệ. Bốn loại năng lượng này tạo thành điều mà chúng ta gọi là phàm ngã thấp, nhưng chính khía cạnh trí tuệ cao hơn của trí tuệ mới liên kết chủ quan giữa phàm ngã và linh hồn. Chính tâm thức thấp hơn (khi được phát triển) giúp con người cuối cùng thiết lập được sự tiếp xúc có ý thức với tâm thức cao hơn. Chính hạ trí mang tính cụ thể phải được đánh thức, hiểu biết và sử dụng một cách có định hướng trước khi thượng trí có thể trở thành phương tiện để tiếp nhận tri thức về những thực tại tạo nên Thiên Giới. Trí tuệ phải được khai mở trước khi trực giác có thể được khơi dậy một cách chính xác.

We have, therefore, in the case of man, two groups of major energies dominating, as a result of a long experience of incarnation in form, the energy of the astral or desire nature and the energy of mind. When these are fused and blended, thoroughly organised and utilised, then we see a functioning and powerful Personality. Seeking to impose itself upon these energies and to subordinate them to higher and different aims is to be found that blended energy-unit which we call the soul. Its two energies (mind and love, the latter being also a dual form of energy) are anchored, if one may use this word in a symbolic and esoteric sense, in the human brain, whilst the life principle, as we have seen, is anchored in the human heart. The four energies of the lower self—atomic energy, vital energy, feeling energy and mental energy—plus the two energies of the soul, make the six energies used by man in his life experience; but the energy of the atom is usually not counted as a human energy, as it is uniform in its usage in all [69] forms of life in all kingdoms, and therefore man is regarded as a sum total of five energies, and not of six energies.

Do đó, trong trường hợp của con người, có hai nhóm năng lượng chính chi phối—kết quả của một quá trình dài nhập thể trong hình tướng—đó là năng lượng của bản chất cảm dục hoặc dục vọng và năng lượng của trí tuệ. Khi hai năng lượng này được dung hợp và hòa quyện, tổ chức hoàn chỉnh và được sử dụng một cách hiệu quả, thì chúng ta sẽ thấy một phàm ngã hoạt động mạnh mẽ. Nỗ lực áp đặt bản thân lên các năng lượng này và thuần hóa chúng để hướng đến những mục tiêu cao hơn là trách nhiệm của thực thể năng lượng tổng hợp mà chúng ta gọi là linh hồn. Hai năng lượng của nó (trí tuệ và tình thương, trong đó tình thương cũng là một dạng năng lượng kép) được “neo giữ”, nếu có thể dùng từ này theo nghĩa tượng trưng và huyền môn, trong bộ não con người, trong khi nguyên lý sự sống, như chúng ta đã thấy, được neo giữ trong tim. Bốn năng lượng của phàm ngã thấp—năng lượng nguyên tử, năng lượng sinh khí, năng lượng cảm giác và năng lượng trí tuệ—cộng với hai năng lượng của linh hồn, tạo thành sáu năng lượng được con người sử dụng trong trải nghiệm đời sống; nhưng năng lượng nguyên tử thường không được tính là một năng lượng của con người, vì nó có tính đồng nhất trong việc sử dụng ở tất cả [69] các hình tướng sống trong mọi giới, do đó con người được xem là tổng hòa của năm năng lượng, chứ không phải sáu.

The human soul (in contradistinction to the soul as it functions in its own kingdom, free from the limitations of human life) is imprisoned by and subject to the control of the lower energies for the major part of its experience. Then, upon the Path of Probation, the dual energy of the soul begins to be increasingly active, and the man seeks consciously to use his mind, and to express love-wisdom on the physical plane. This is a simple statement of the objective of all aspirants. When the five energies are beginning to be used consciously and wisely in service, a rhythm is then set up between the personality and the soul. It is as if a magnetic field were then established, and these two vibrating and magnetic units, or grouped energies, begin to swing into each others field of influence. In the early stages, this happens only occasionally and rarely. Later it occurs more constantly, and thus a path of contact is established which eventually becomes the line of least resistance, “the way of familiar approach”, as it is sometimes esoterically called. Thus the first half of the “bridge”, the antaskarana, is constructed. By the time the third initiation is undergone, this way is completed, and the initiate can “pass to higher worlds at will, leaving the lower worlds far behind; or he can come again and pass upon the way that leads from dark to light, from light to dark, and from the under, lower worlds into the realms of light”.

Linh hồn con người (trái ngược với linh hồn khi nó hoạt động trong vương quốc của chính nó, không bị giới hạn bởi đời sống con người) bị giam hãm và chịu sự kiểm soát của các năng lượng thấp hơn trong phần lớn kinh nghiệm của nó. Sau đó, trên Con Đường Dự Bị, năng lượng kép của linh hồn bắt đầu hoạt động ngày càng mạnh mẽ, và con người tìm cách sử dụng trí tuệ một cách có ý thức, đồng thời biểu lộ tình thương–minh triết trên cõi trần. Đây là một tuyên bố đơn giản về mục tiêu của tất cả những người chí nguyện. Khi năm năng lượng bắt đầu được sử dụng một cách có ý thức và khôn ngoan trong sự phụng sự, thì một nhịp điệu sẽ được thiết lập giữa phàm ngã và linh hồn. Khi đó, giống như một từ trường được tạo ra, và hai đơn vị rung động từ tính này, hoặc các nhóm năng lượng này, bắt đầu dao động trong trường ảnh hưởng của nhau. Ở giai đoạn đầu, điều này chỉ xảy ra thỉnh thoảng và hiếm hoi. Sau đó, nó diễn ra một cách thường xuyên hơn, và như vậy một con đường tiếp xúc được thiết lập, cuối cùng trở thành con đường có ít trở ngại nhất, hay còn gọi là “con đường tiếp cận quen thuộc”, như đôi khi được gọi theo huyền môn. Như vậy, nửa đầu của “cây cầu”, tức antahkarana, được xây dựng. Đến lần điểm đạo thứ ba, con đường này hoàn tất, và điểm đạo đồ có thể “bước vào các thế giới cao hơn theo ý muốn, bỏ xa các cõi thấp phía sau; hoặc y có thể quay trở lại và bước đi trên con đường dẫn từ bóng tối đến ánh sáng, từ ánh sáng đến bóng tối, và từ các thế giới thấp hơn vào các cõi ánh sáng”.

Thus the two are one, and the first great unison upon the path of return is complete. A second stage of the way has then to be trodden, leading to a second union of still greater importance in that it leads to complete liberation from the three worlds. It must be remembered that the soul, in its turn, is a union of two energies, plus the energy of spirit, of which the lower three are the reflection. It is a synthesis of the energy of Life itself (which demonstrates as the life-principle within the world of forms), of the energy of the intuition, or spiritual love-wisdom or understanding (which demonstrates as sensitivity and feeling in the astral body), and of spiritual mind, whose reflection in the lower nature is the mind or the principle of intelligence in the form world. In these three energies we have the atma-buddhi-manas of the theosophical literature. They are that higher triplicity which is reflected in the lower three, and which focusses through the soul body on the higher levels of the mental plane before being “precipitated into incarnation”, as it is esoterically called.

Như vậy, hai thực thể trở thành một, và sự hợp nhất vĩ đại đầu tiên trên Con Đường Hồi Quy được hoàn tất. Sau đó, một giai đoạn thứ hai phải được thực hiện, dẫn đến một sự hợp nhất thứ hai còn quan trọng hơn, vì nó dẫn đến sự giải thoát hoàn toàn khỏi ba cõi giới. Cần nhớ rằng linh hồn, đến lượt nó, là sự hợp nhất của hai năng lượng, cộng với năng lượng của tinh thần, mà ba năng lượng thấp hơn chỉ là phản chiếu của chúng. Nó là sự tổng hợp của năng lượng Sự Sống thuần túy (biểu hiện như nguyên lý sự sống trong thế giới hình tướng), của năng lượng trực giác, hay tình thương–minh triết tinh thần hay sự hiểu biết (biểu hiện như sự nhạy cảm và cảm giác trong thể cảm dục), và của trí tuệ tinh thần, mà phản chiếu của nó trong bản chất thấp hơn chính là trí tuệ hay nguyên lý thông tuệ trong thế giới hình tướng. Ba năng lượng này chính là atma-buddhi-manas trong tài liệu Thông Thiên Học. Chúng là tam nguyên cao hơn, phản chiếu xuống tam nguyên thấp hơn, và được hội tụ qua thể linh hồn trên các cõi cao của cõi trí trước khi được “ngưng tụ vào sự nhập thể”, như cách gọi theo huyền môn.

Modernising the concept, we might say that the energies which animate the physical body and the intelligent life of the atom, the sensitive emotional states, and the intelligent mind have eventually to be blended with, and transmuted into, the energies which animate the soul. These are the spiritual mind, conveying illumination; the intuitive nature, conferring spiritual perception; and divine livingness.

Hiện đại hóa khái niệm này, chúng ta có thể nói rằng các năng lượng làm sinh động thể xác và sự sống thông tuệ của nguyên tử, các trạng thái cảm xúc nhạy cảm, và trí tuệ thông minh cuối cùng phải được hòa trộn và chuyển hóa thành các năng lượng làm sinh động linh hồn. Đó là trí tuệ tinh thần, mang lại sự soi sáng; bản chất trực giác, ban tặng nhận thức tinh thần; và sự sống thiêng liêng.

After the third initiation the “Way” is carried forward with great rapidity, and the “bridge” is finished which links perfectly the higher spiritual Triad and the lower material reflection. The three worlds of the soul and the three worlds of the Personality become one world wherein the initiate works and functions, seeing no distinction, viewing one world as the world of inspiration and the other world as constituting the field of service, yet regarding both together as forming one world of activity. Of these two worlds, the subjective etheric body (or the body of vital inspiration) and the dense physical body are symbols on the external plane.

Sau lần điểm đạo thứ ba, “Con Đường” được tiến hành với tốc độ nhanh chóng, và “cây cầu” được hoàn thành, liên kết một cách hoàn hảo giữa Tam nguyên tinh thần cao hơn và phản chiếu vật chất thấp hơn. Ba cõi của linh hồn và ba cõi của phàm ngã trở thành một cõi duy nhất, trong đó điểm đạo đồ làm việc và hoạt động, không thấy có sự phân biệt, xem một cõi là cõi của nguồn cảm hứng và cõi kia là cánh đồng phụng sự, nhưng nhìn cả hai như hợp thành một thế giới hoạt động. Trong hai cõi này, thể dĩ thái chủ quan (hay thể cảm hứng sinh động) và thể xác đậm đặc là những biểu tượng trên cõi ngoại hiện.

How is this bridging antaskarana to be built? What are the steps which the disciple must follow? We are not here considering the Path of Probation whereon the major faults [71] should be eliminated and whereon the major virtues should be developed. Much of the spiritual instruction given in the past has laid down the rules for the cultivation of the virtues and qualifications for discipleship, and also the necessity for self-control, for tolerance and for unselfishness. But these are elementary stages and should be taken for granted by all students of this Treatise. Such students are presumably occupied not only with the establishment of the character aspect of discipleship, but with the more abstruse and difficult requirements for those whose goal is initiation.

Làm thế nào để xây dựng cây cầu antahkarana này? Những bước nào mà đệ tử phải tuân theo? Chúng ta không bàn đến Con Đường Dự Bị, nơi các lỗi lầm lớn phải được loại bỏ và các đức hạnh lớn phải được phát triển. Phần lớn các giáo huấn tâm linh trong quá khứ đã đặt ra các quy tắc để phát triển đức hạnh và phẩm chất của địa vị đệ tử, cũng như nhấn mạnh sự cần thiết của tự chủ, khoan dung và vô ngã. Nhưng đây chỉ là những giai đoạn sơ khởi và nên được mặc nhiên thừa nhận bởi tất cả những ai nghiên cứu luận thuyết này. Những người nghiên cứu như vậy được cho là không chỉ bận tâm với việc thiết lập khía cạnh tính cách của địa vị đệ tử, mà còn với những yêu cầu sâu xa hơn và khó khăn hơn dành cho những ai có mục tiêu là điểm đạo.

It is with the work of the “bridge-builders” that we are concerned. First, let it be stated that the real building of the antaskarana only takes place when the disciple is beginning to be definitely focussed upon mental levels, and when therefore his mind is intelligently and consciously functioning. He must begin at this stage to have some more exact idea than has hitherto been the case as to the distinctions existing between the Thinker, the apparatus of thought, and thought itself, beginning with its dual esoteric function which is:

Điều chúng ta quan tâm ở đây là công việc của những “người xây cầu”. Trước tiên, cần khẳng định rằng việc xây dựng thực sự cây cầu antahkarana chỉ diễn ra khi đệ tử bắt đầu tập trung một cách rõ ràng trên các cấp độ trí tuệ, và khi đó trí tuệ của y bắt đầu hoạt động một cách thông minh và có ý thức. Ở giai đoạn này, y phải có một nhận thức chính xác hơn so với trước đây về sự khác biệt giữa Người Suy Tư, cơ cấu tư duy và chính tư tưởng, bắt đầu từ hai chức năng nội môn kép của nó:

1. The recognition of, and receptivity to, Ideas.

1. Sự nhận biết và tiếp nhận các Ý Tưởng.

2. The creative faculty of conscious thought-form building.

2. Khả năng sáng tạo trong việc xây dựng hình tư tưởng có ý thức.

This necessarily involves a strong mental attitude and a reorientation of the mind to reality. As the disciple begins to focus himself on the mental plane (and this is the prime intent of the meditation work) he starts working in mental matter and trains himself in the powers and uses of thought. He achieves a measure of mind control; he can turn the searchlight of the mind in two directions—into the world of human endeavor, and into the world of soul activity. Just as the soul makes a way for itself by projecting itself in a thread or stream of energy into the three worlds, so the disciple begins [72] consciously to project himself into the higher worlds. His energy goes forth, through the medium of the controlled and directed mind, into the world of higher spiritual mind and into the realm of the intuition. A reciprocal activity is thus set up. This response between the higher and lower mind is symbolically spoken of in terms of light, and the “lighted way” (a term frequently employed) comes into being between the personality and the spiritual Triad, via the soul body, just as the soul came into definite contact with the brain via the mind. This “lighted way” is the illumined bridge. It is built through meditation; it is constructed through the constant effort to draw forth the intuition, through subservience and obedience to the Plan (which begins to be recognised as soon as the intuition and the mind are en rapport) and through a conscious incorporation into the group in service and for purposes of assimilation into the whole. All these qualities and activities are based upon the foundation of good character and the qualities developed upon the Probationary Path.

Điều này đòi hỏi một thái độ trí tuệ mạnh mẽ và một sự tái định hướng của tâm trí đối với thực tại. Khi đệ tử bắt đầu tập trung vào cõi trí (và đây là mục đích chính của công việc tham thiền), y khởi sự làm việc với chất trí và tự rèn luyện trong các quyền năng và cách sử dụng tư tưởng. Y đạt được một mức độ kiểm soát trí tuệ nhất định; y có thể hướng luồng sáng của trí tuệ theo hai hướng—vào thế giới nỗ lực của nhân loại, và vào thế giới hoạt động của linh hồn. Cũng như linh hồn tự mở đường bằng cách phóng chiếu chính nó qua một tuyến hoặc dòng năng lượng vào ba cõi, đệ tử cũng bắt đầu [72] có ý thức phóng chiếu chính mình vào các cõi cao hơn. Năng lượng của y đi ra ngoài thông qua trung gian là trí tuệ được kiểm soát và định hướng, vào thế giới trí tuệ tinh thần cao hơn và vào cõi trực giác. Một hoạt động đối ứng được thiết lập theo đó. Sự đáp ứng giữa trí tuệ cao hơn và trí tuệ thấp hơn được diễn đạt một cách biểu tượng dưới dạng ánh sáng, và “con đường sáng” (một thuật ngữ được sử dụng thường xuyên) được hình thành giữa phàm ngã và Tam nguyên tinh thần, thông qua thể linh hồn, cũng giống như linh hồn đã thiết lập liên hệ rõ ràng với bộ não thông qua trí tuệ. “Con đường sáng” này chính là cây cầu được soi sáng. Nó được xây dựng qua tham thiền; nó được hình thành thông qua nỗ lực không ngừng để khơi dậy trực giác, thông qua sự tuân phục và phục vụ Thiên Cơ (được nhận ra ngay khi trực giác và trí tuệ hòa hợp với nhau), và thông qua sự hòa nhập có ý thức vào nhóm trong phụng sự và để đồng hóa với tổng thể. Tất cả những phẩm chất và hoạt động này đều dựa trên nền tảng của tính cách tốt và những phẩm chất đã được phát triển trên Con Đường Dự Bị.

The effort to draw forth the intuition requires directed occult (but not aspirational) meditation. It requires a trained intelligence, so that the line of demarcation between intuitive realisation and the forms of the higher psychism may be clearly seen. It requires a constant disciplining of the mind, so that it can “hold itself steady in the light”, and the development of a cultured right interpretation so that the intuitive knowledge which has been achieved may then clothe itself in the right thought forms.

Nỗ lực khơi dậy trực giác đòi hỏi một sự tham thiền huyền môn có định hướng (nhưng không mang tính chí nguyện). Nó yêu cầu một trí tuệ được rèn luyện, để đường ranh giới giữa sự nhận thức trực giác và các hình thức thông linh cao cấp có thể được nhìn thấy một cách rõ ràng. Nó đòi hỏi một sự kỷ luật không ngừng của tâm trí, để nó có thể “giữ vững bản thân trong ánh sáng”, và sự phát triển của khả năng diễn giải đúng đắn, để tri thức trực giác đạt được có thể tự khoác lên mình những hình tư tưởng phù hợp.

Subservience or obedience to the Plan involves something else than a vague and misty realisation that God has a Plan and that we are included in it. It is more than a hiding of oneself in the shadow of the will of God. It necessitates a wise differentiation between:

Sự phục tùng hay tuân theo Thiên Cơ liên quan đến một điều gì đó hơn là chỉ một sự nhận thức mơ hồ rằng Thượng Đế có một Thiên Cơ và chúng ta là một phần trong đó. Nó không chỉ đơn thuần là việc ẩn mình dưới bóng Ý Chí của Thượng Đế. Nó đòi hỏi một sự phân biệt sáng suốt giữa:

[73]

[73]

1. The general perspective and the large world Plan for the planet, and

1. Tổng thể viễn cảnh và Thiên Cơ vĩ đại của hành tinh.

2. Those immediate stages of the Plan in which intelligent cooperation is, at this time, and in the immediate present, demanded.

2. Những giai đoạn tức thời của Thiên Cơ, nơi mà sự hợp tác thông minh là điều được yêu cầu trong thời điểm hiện tại và trước mắt.

A deep interest in the final root races and speculation as to the life going forward on other planets may be of interest, but it is relatively futile and useless; it fertilises unduly the imagination, causing love of uncheckable detail, loss of time in wild surmises, and the chimeras of an unenlightened intellect. That part of the Plan which relates to its immediate application is of interest and usefulness. Obedience to the immediate purpose and duty is distinctive of the trained disciple. Those who know far more of the Plan than we can, refuse to let Their minds dwell on the unprovable, yet possible, hypotheses for future racial development. They focus Their attention on that which must be attended to at this immediate time. I would urge all disciples to do the same, for in so doing it is possible to bridge the gap and link the two shores of the higher and the lower stages of consciousness, between the old age and the new, between the kingdom of God and the kingdom of men, and thus to take their place in the ranks of the New Group of World Servers, whose arduous task calls for our sacrificing effort. Conscious incorporation in the group necessitates the cessation of personality life, and brings out the subordination of the little self to the work of the whole. These words are easily written and read; they embody, however, the task of all disciples at this time. Where this incentive and realisation are lacking, the disciple is still a long way from his goal.

Sự quan tâm sâu sắc đến các giống dân gốc cuối cùng và những suy đoán về sự sống đang tiếp diễn trên các hành tinh khác có thể là điều thú vị, nhưng xét trên thực tế thì nó vô ích và không có giá trị. Nó kích thích quá mức trí tưởng tượng, dẫn đến sự yêu thích những chi tiết không thể kiểm chứng, lãng phí thời gian trong những suy đoán viển vông, và nuôi dưỡng những ảo vọng của một trí tuệ chưa được khai sáng. Phần của Thiên Cơ liên quan đến ứng dụng thực tiễn ngay lập tức mới là điều đáng quan tâm và hữu ích. Sự vâng phục mục đích và nhiệm vụ hiện tại là dấu hiệu đặc trưng của một đệ tử được đào luyện. Những Đấng hiểu biết về Thiên Cơ nhiều hơn chúng ta có thể biết đã từ chối để tâm trí của Các Ngài đắm chìm vào những giả thuyết chưa thể chứng minh nhưng có thể xảy ra liên quan đến sự phát triển của các giống dân tương lai. Các Ngài tập trung sự chú ý vào những điều cần được thực hiện ngay trong thời điểm hiện tại. Tôi muốn khuyến khích tất cả các đệ tử làm điều tương tự, bởi vì khi làm như vậy, họ có thể bắc cầu nối liền hai bờ giữa các giai đoạn tâm thức cao và thấp, giữa thời đại cũ và thời đại mới, giữa Thiên Giới và giới nhân loại, và do đó, họ có thể đảm nhận vị trí trong hàng ngũ của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, những người có nhiệm vụ gian khổ đòi hỏi nỗ lực hy sinh của chúng ta. Sự hòa nhập có ý thức vào nhóm đòi hỏi sự chấm dứt đời sống phàm ngã và mang lại sự quy phục của cái tôi nhỏ bé trước công việc của toàn thể. Những lời này có thể dễ dàng được viết ra và đọc, nhưng chúng bao hàm nhiệm vụ của tất cả các đệ tử trong thời điểm hiện tại. Nếu thiếu đi động lực và sự nhận thức này, đệ tử vẫn còn xa rời mục tiêu của mình.

It might also be stated here that the construction of the bridge whereby the consciousness can function with facility [74] both in the higher worlds and in the lower, is primarily brought about by a definitely directed life-tendency, which steadily drives the man in the direction of the world of spiritual realities, and certain dynamic movements of planned and carefully timed and directed orientation or focussing. In this last process, the gain of the past months or years is closely assessed; the effect of that gain upon the daily life and in the bodily mechanisms is as carefully studied; and the will-to-live as a spiritual being is wrought into the consciousness with a definiteness and a determination that make for immediate progress.

Cũng cần phải nói thêm rằng việc xây dựng cây cầu mà qua đó tâm thức có thể hoạt động một cách thuận lợi [74] trong cả các thế giới cao hơn và thấp hơn, chủ yếu được thúc đẩy bởi một khuynh hướng sống có định hướng rõ ràng, liên tục thúc đẩy con người hướng về thế giới của các thực tại tinh thần, cùng với những động thái năng động, được lên kế hoạch cẩn thận và có định hướng rõ ràng. Trong quá trình cuối cùng này, những thành quả của những tháng hoặc những năm trước được đánh giá một cách nghiêm túc; tác động của những thành quả đó lên đời sống hàng ngày và trên các cơ chế thể xác được nghiên cứu kỹ lưỡng; và ý chí sống như một thực thể tinh thần được khắc sâu vào tâm thức với một sự xác quyết và quyết tâm mang lại tiến bộ tức thì.

Disciples in the groups of some of the Masters (not of all) are encouraged, every seven years, to do this and to subject themselves to what is esoterically called a “crisis of polarisation”. This process is in the nature of a review, such as one imposes on the consciousness at night, only it is carried over a period of years instead of hours. This thought merits consideration.

Các đệ tử trong một số nhóm của các Chân sư (nhưng không phải tất cả) được khuyến khích, cứ mỗi bảy năm một lần, tự đặt mình vào một quá trình mà về mặt nội môn được gọi là “khủng hoảng phân cực”. Quá trình này có bản chất của một cuộc kiểm điểm, giống như một người tự quán xét tâm thức của mình vào ban đêm, nhưng thay vì diễn ra trong vài giờ, nó kéo dài suốt nhiều năm. Ý tưởng này đáng để cân nhắc.

This building of the antaskarana is most assuredly proceeding in the case of every dedicated aspirant. When the work is carried on intelligently and with full awareness of the desired purpose, and when the aspirant not only recognizes the process, but is alert and active in its fulfillment, then the work proceeds apace and the bridge is built.

Việc xây dựng antahkarana chắc chắn đang diễn ra trong trường hợp của mọi người chí nguyện tận tụy. Khi công việc này được thực hiện một cách thông minh và với sự nhận thức đầy đủ về mục đích mong muốn, và khi người chí nguyện không chỉ nhận ra quá trình này mà còn tỉnh thức và chủ động trong việc hoàn thành nó, thì công việc sẽ tiến triển nhanh chóng và cây cầu sẽ được xây dựng.

One thing only need be added in connection with this building of the antaskarana, and that is the statement of the significant fact that the more people can achieve this linking of the higher and lower aspects of the human nature, the more rapidly will the task of salvaging the world proceed. The more painstakingly and persistently this work is carried forward, the sooner will the Hierarchy of the planet resume Its ancient task and status in the world, and the sooner will [75] the Mysteries be restored and the world function, therefore, more consciously in line with the Plan. Every single unit of the human family who achieves success upon the Path of Discipleship may be, in himself, relatively of small importance. But the massed units are of tremendous potency. I tell you at this time for your cheering and encouragement that the numbers of the disciples in the world are greatly increasing. Suffering and trouble, apprehension and the processes whereby detachment and dispassion are enforced, are doing their needed work. Here and there throughout the world, in every nation and practically every week, men and women are stepping off the Path of Probation on to the Path of Discipleship. In this lies the hope of the world today. In this fact is to be found the greatly increased activity of the Masters.

Chỉ cần bổ sung một điều duy nhất liên quan đến việc xây dựng antahkarana, đó là một sự thật quan trọng rằng càng có nhiều người đạt được sự liên kết giữa các khía cạnh cao và thấp của bản chất con người, thì nhiệm vụ cứu độ thế giới sẽ càng tiến triển nhanh chóng hơn. Càng kiên trì và bền bỉ trong công việc này, thì Thánh đoàn trên hành tinh sẽ càng sớm tiếp tục nhiệm vụ và địa vị cổ xưa của Các Ngài trên thế gian, và cũng càng sớm hơn [75] khi các Huyền bí giáo được khôi phục, giúp thế giới hoạt động một cách có ý thức hơn theo đúng Thiên Cơ. Mỗi cá nhân trong gia đình nhân loại đạt được thành công trên Con Đường Đệ Tử có thể tự thân không quá quan trọng. Nhưng sự hội tụ của những cá nhân này lại tạo ra một sức mạnh vô cùng to lớn. Tôi nói điều này để khích lệ và cổ vũ các bạn rằng số lượng đệ tử trên thế giới đang gia tăng đáng kể. Sự đau khổ và khó khăn, những nỗi lo âu, cùng với những tiến trình buộc phải rời bỏ và xả ly, đang làm công việc cần thiết của chúng. Ở khắp nơi trên thế giới, trong mọi quốc gia và gần như mỗi tuần, những người nam và nữ đang bước ra khỏi Con Đường Dự Bị để tiến vào Con Đường Đệ Tử. Trong điều này nằm hy vọng của thế giới hôm nay. Chính thực tế này là nguyên nhân của sự gia tăng đáng kể hoạt động của các Chân sư.

This event, or this transition, never takes place before the first fine strand of energy (like the first steel cable on a physical bridge) has anchored itself on the further shore; thus a delicate and (at first) almost nebulous channel of communication is established between the higher nature and the lower, between the world of the soul and the worlds of human affairs. Each month, at the time of the full moon, the Masters are intensifying Their efforts, and men and women are being prepared for the process of Initiation with as much rapidity as is safely possible. Remember that understanding must always parallel the intellectual grasp of a subject, and it is this that holds back some disciples from this great step forward.

Sự kiện này, hay sự chuyển tiếp này, không bao giờ xảy ra trước khi sợi năng lượng tinh tế đầu tiên (giống như sợi cáp thép đầu tiên trên một cây cầu vật chất) đã tự neo đậu vào bờ xa hơn; theo đó, một kênh giao tiếp mong manh và (ban đầu) gần như mờ ảo được thiết lập giữa bản chất cao và bản chất thấp, giữa thế giới của linh hồn và các thế giới của những công việc nhân loại. Mỗi tháng, vào thời điểm trăng tròn, các Chân sư đang gia tăng nỗ lực của Các Ngài, và những người nam và nữ đang được chuẩn bị cho tiến trình Điểm đạo với tốc độ nhanh nhất có thể mà vẫn đảm bảo an toàn. Hãy nhớ rằng sự thấu hiểu luôn phải song hành với sự lĩnh hội trí tuệ của một chủ đề, và chính điều này đang cản trở một số đệ tử khỏi bước tiến vĩ đại này.

In the performance of the next duty, in the establishing of the dedicated life tendency towards reality, in the dispelling of illusion, and in the performance of service with love and understanding,—thus is the work carried forward. Is this [76] effort beyond the reach of any of us? Or are its implications beyond our comprehension? I do not think so.

Trong việc thực hiện nhiệm vụ kế tiếp, trong việc thiết lập khuynh hướng sống tận hiến hướng về thực tại, trong việc xua tan ảo tưởng, và trong việc thực hiện sự phụng sự với tình thương và sự thấu hiểu—chính như vậy mà công việc được tiếp tục. Liệu nỗ lực này [76] có vượt quá tầm với của bất kỳ ai trong chúng ta không? Hay những hàm ý của nó nằm ngoài khả năng hiểu biết của chúng ta? Tôi không nghĩ vậy.

c. SEVEN RAY METHODS OF APPROPRIATION—Bảy Phương pháp Chiếm Hữu

As we have seen, this process of appropriation is a dual matter, or rather, it involves a dual activity—that of taking and giving, of grasping and relinquishing, of establishing a hold upon that which is desired, and of detaching oneself from that which has been held. The various types of human beings who come forth along one or other of the seven rays, have each their specific way of doing this. These I shall indicate. At the same time, it must be borne in mind that the true significance of that which is portrayed and the meaning of what happens can only be understood by those who are in the process of this relinquishment. The stage of appropriation is undergone blindly and unconsciously. Man knows not what he does. It is only towards the end of his long pilgrimage and process of appropriation that he discovers how tired he actually is of grasping the non-essential and the material, and how ready he is for the work of detachment. In the life of every human being on the physical plane, who has lived fully and to the full term of years, this dual process can be symbolically seen. In youth the thoughtless (and all are thoughtless, for such is nature’s way) hold on to life and give no thought to the time when there must be a relinquishment of the hold on physical existence. The young forget, and rightly forget, the inevitability of that final symbolic detachment which we call Death. But when life has played its part and age has taken its toll of interests and strength, the tired and world-weary man has no fear of the detaching process and seeks not to hold on to that which earlier was desired. He welcomes death, and relinquishes willingly that which earlier engrossed his attention.

Như chúng ta đã thấy, tiến trình chiếm hữu này là một vấn đề kép, hay đúng hơn, nó bao gồm một hoạt động kép—đó là việc tiếp nhận và buông bỏ, nắm giữ và từ bỏ, thiết lập sự chiếm hữu đối với điều mong muốn, và tự tách rời khỏi những gì đã từng được nắm giữ. Những kiểu người khác nhau, xuất hiện theo một trong bảy cung, đều có cách riêng của họ để thực hiện điều này. Tôi sẽ chỉ ra những điều này. Đồng thời, cần nhớ rằng ý nghĩa thực sự của những gì được mô tả và diễn biến của những gì đang xảy ra chỉ có thể được hiểu bởi những ai đang trải qua quá trình từ bỏ này. Giai đoạn chiếm hữu diễn ra một cách mù quáng và vô thức. Con người không biết mình đang làm gì. Chỉ đến cuối cuộc hành trình dài của mình và sau quá trình chiếm hữu, y mới nhận ra mình đã mệt mỏi đến mức nào khi cứ mãi nắm giữ những thứ không thiết yếu và vật chất, và y đã sẵn sàng đến mức nào cho công việc từ bỏ. Trong cuộc đời của mỗi con người trên cõi trần, những ai đã sống trọn vẹn và đạt đến tuổi thọ viên mãn, tiến trình kép này có thể được quan sát một cách biểu tượng. Khi còn trẻ, con người thường thiếu suy nghĩ (và ai cũng vậy, vì đó là cách của thiên nhiên), họ bám víu vào sự sống mà không nghĩ đến thời điểm khi họ phải từ bỏ sự hiện hữu thể xác. Những người trẻ tuổi quên đi, và đúng ra họ nên quên đi, tính tất yếu của sự tách rời cuối cùng mà chúng ta gọi là cái chết. Nhưng khi cuộc đời đã đi đến hồi kết và tuổi tác đã tước đi sức mạnh cũng như những mối quan tâm, người đàn y mệt mỏi với thế gian không còn sợ hãi trước tiến trình buông bỏ nữa và cũng không còn muốn giữ lấy những gì mà trước đó y từng khao khát. Y đón nhận cái chết và sẵn sàng từ bỏ những gì trước đây đã chiếm trọn sự chú ý của y.

[77]

[77]

In considering the processes of appropriation, the following phrases should be studied, as they throw a light upon the various stages from different angles:—

Khi xem xét các tiến trình chiếm hữu, cần nghiên cứu các cụm từ sau đây, vì chúng soi sáng các giai đoạn khác nhau từ nhiều góc độ khác nhau:

1. The stage of concretisation and materialisation. The soul takes to itself what it needs and desires for form building.

1. Giai đoạn kết tinh và vật chất hóa. Linh hồn tiếp nhận những gì nó cần và mong muốn để xây dựng hình tướng.

2. The stage of incarnation, taken at this time blindly.

2. Giai đoạn nhập thể, diễn ra trong sự mù quáng vào thời điểm này.

3. The period wherein satisfaction of the desires is the major goal. These range all the way from physical desire and its satisfaction to a general and undefined desire for release.

3. Thời kỳ trong đó sự thỏa mãn các ham muốn là mục tiêu chính. Những ham muốn này trải dài từ ham muốn thể xác và sự thỏa mãn của nó cho đến một mong muốn chung chung và không xác định về sự giải thoát.

4. The processes, in detail, of appropriating

4. Quá trình chiếm hữu một cách chi tiết:

a. A body or bodies.

a. Một thể hoặc nhiều thể.

b. A sheath or sheaths.

b. Một vỏ bọc hoặc nhiều vỏ bọc.

c. A vehicle or vehicles.

c. Một phương tiện hoặc nhiều phương tiện.

d. A form or forms.

d. Một hình tướng hoặc nhiều hình tướng.

5. Immersion in darkness. This was the result of desire. The darkness of ignorance was chosen and man started, through desire, to work his way from darkness to light, from ignorance to knowledge, from the unreal to the Real. Such is the great symbolic work of Masonry. It is an elucidation of the Way of Relinquishment.

5. Sự chìm đắm trong bóng tối. Đây là kết quả của dục vọng. Con người đã chọn bóng tối của vô minh và bắt đầu, thông qua dục vọng, hành trình từ bóng tối đến ánh sáng, từ vô minh đến tri thức, từ điều không thực đến điều Thực Tại. Đây chính là công trình biểu tượng vĩ đại của Hội Tam Điểm. Nó là sự khai sáng về Con Đường Từ Bỏ.

6. The Path of outgoing in order to possess.

6. Con Đường đi ra ngoài để sở hữu.

7. Selfishness, the major characteristic of the self in relation to, and identified with, the not-self.

7. Sự ích kỷ, đặc điểm chính của cái tôi trong mối quan hệ với cái không-phải-là-tôi.

8. Love of possession, the prostitution of spiritual love.

8. Lòng ham muốn sở hữu, sự biến chất của tình yêu tinh thần.

9. Acquisitiveness, the illusion of material need.

9. Tính chiếm hữu, ảo tưởng về nhu cầu vật chất.

10. The period called in the Bible, that of “riotous living” on the part of the Prodigal Son.

10. Thời kỳ được gọi trong Kinh Thánh là “cuộc sống hoang đàng” của Người Con Hoang Đàng.

11. The application and use of energy for personal, selfish intent.

11. Việc áp dụng và sử dụng năng lượng cho mục đích cá nhân, ích kỷ.

[78]

[78]

12. Personality life, with all that is therein implied,—ambition, selfish purpose, etc.

12. Đời sống phàm ngã, với tất cả những gì nó bao hàm—tham vọng, mục đích ích kỷ, v.v.

13. Attachment to the seen, the known, and the familiar, external, objective forms.

13. Sự bám víu vào những gì đã thấy, đã biết và quen thuộc—các hình tướng bên ngoài, khách quan.

14. The stage wherein thought forms are built, at first ignorantly, and then with deliberate selfishness.

14. Giai đoạn trong đó các hình tư tưởng được xây dựng, ban đầu một cách vô thức, sau đó với chủ ý ích kỷ.

15. The period of engrossment in the things of the kingdom of earth.

15. Thời kỳ đắm chìm trong những sự việc của vương quốc trần thế.

16. The world, the flesh, and the devil.

16. Thế gian, nhục dục và tà đạo.

On the side of soul expression, which is governed by detachment, the following phrases and sentences will give an idea of the progress and intent:—

Trên phương diện biểu hiện của linh hồn, vốn được chi phối bởi sự xả ly, các cụm từ và câu sau đây sẽ cho thấy tiến trình và mục đích:

1. The stage of spiritualisation and of de-materialisation. The soul functions with the purpose of liberation before it, and not of further physical plane experience.

1. Giai đoạn tinh thần hóa và giải vật chất hóa. Linh hồn hoạt động với mục đích giải thoát, chứ không phải để có thêm trải nghiệm trên cõi trần.

2. The relinquishment of form life.

2. Sự từ bỏ đời sống hình tướng.

3. The period wherein satiety is experienced; the desires have been so dominant and so often satisfied that they no longer attract.

3. Thời kỳ trong đó sự chán ngán được trải nghiệm; những ham muốn đã quá mạnh mẽ và đã được thỏa mãn quá nhiều lần đến mức chúng không còn hấp dẫn nữa.

4. The process, in detail, of liberation from

4. Quá trình giải thoát một cách chi tiết khỏi:

a. A body or bodies.

a. Một thể hoặc nhiều thể.

b. A sheath or sheaths.

b. Một vỏ bọc hoặc nhiều vỏ bọc.

c. A vehicle or vehicles.

c. Một phương tiện hoặc nhiều phương tiện.

d. A form or forms.

d. Một hình tướng hoặc nhiều hình tướng.

5. Emergence into light, a symbolic way of expressing the reverse of immersion in darkness.

5. Sự xuất hiện trong ánh sáng, một cách diễn đạt mang tính biểu tượng của sự đảo ngược quá trình chìm đắm trong bóng tối.

6. The Path of Return, motivated by the wish to appropriate nothing for the separated self. The beginning of group consciousness and of group work.

6. Con Đường Trở Về, được thúc đẩy bởi mong muốn không chiếm hữu bất cứ thứ gì cho cái tôi tách biệt. Sự khởi đầu của ý thức nhóm và công việc nhóm.

7. Selflessness, the major characteristic of the Soul or Self.

7. Tính vô ngã, đặc điểm chính của Linh Hồn hay Chân Ngã.

8. Freedom from the desire to possess, freedom from acquisitiveness, and therefore the state of desirelessness.

8. Tự do khỏi dục vọng sở hữu, tự do khỏi tính chiếm hữu, và do đó đạt đến trạng thái vô dục.

[79]

[79]

9. The establishing of the sense of reality as the ruling principle of the life.

9. Việc thiết lập cảm nhận về Thực Tại như nguyên tắc chi phối đời sống.

10. The return of the Prodigal Son to the Fathers home.

10. Sự trở về của Người Con Hoang Đàng về nhà Cha.

11. The application and use of energy for group purpose and in cooperation with the Plan for the whole.

11. Việc áp dụng và sử dụng năng lượng cho mục đích nhóm và trong sự hợp tác với Thiên Cơ dành cho toàn thể.

12. The life of the soul with all that is implied in that phrase.

12. Đời sống của linh hồn với tất cả những gì câu nói đó hàm chứa.

13. Love of God in contradistinction to love of self.

13. Tình yêu Thượng Đế trái ngược với tình yêu bản ngã.

14. Attachment to the unseen, the true, the subjective and the Real, which is only possible when there has been detachment from the seen, the false, the objective and the unreal.

14. Sự gắn bó với cái vô hình, chân thật, chủ quan và Thực Tại—điều này chỉ có thể xảy ra khi đã có sự từ bỏ cái hữu hình, giả dối, khách quan và không thực.

15. Complete liberation from the control of the lower mind.

15. Giải thoát hoàn toàn khỏi sự kiểm soát của hạ trí.

16. The period wherein the centre of interest is the kingdom of God and of the soul.

16. Thời kỳ trong đó trung tâm quan tâm là Thiên Giới và linh hồn.

17. Reality. Formlessness. God.

17. Thực Tại. Phi hình tướng. Thượng Đế.

It should be remembered, when considering the seven ray methods of appropriation and the reverse stages, that we are dealing with energies. Occult students must increasingly think and work in terms of energy. These energies are spoken of esoterically as “having impulsive effects, magnetic appeals, and focussed activities.” The streams or emanations of energy exist, as is well known, in seven major aspects or qualities. They carry the sons of men into incarnation and withdraw them from incarnation. They have their own specific qualities and characteristics, and these determine the nature of the forms constructed, the quality of the life which is expressed at any particular time or in any particular incarnation, the length of the life cycle, and the appearance and disappearance of any of the three form aspects. Certain brief paragraphs will suffice to define each of the stages of appropriation. The paragraphs which detail the methods of detachment have been given earlier in A Treatise on White Magic.

Cần nhớ rằng, khi xem xét các phương pháp chiếm hữu và các giai đoạn đảo ngược của bảy cung, chúng ta đang xử lý các mãnh lực. Các sinh viên huyền môn phải ngày càng tư duy và làm việc theo thuật ngữ của năng lượng. Các năng lượng này được nói đến theo nội môn như “có hiệu ứng thúc đẩy, sức hút từ tính, và các hoạt động tập trung”. Các dòng chảy hay xuất lộ của năng lượng tồn tại, như đã được biết rõ, trong bảy khía cạnh hay phẩm tính chính. Chúng đưa những người con của nhân loại vào nhập thể và cũng rút họ ra khỏi nhập thể. Chúng có những phẩm tính và đặc điểm riêng, và chính chúng quyết định bản chất của các hình tướng được kiến tạo, phẩm chất của sự sống được biểu đạt trong bất kỳ thời điểm hay kiếp sống cụ thể nào, chu kỳ sống kéo dài bao lâu, cũng như sự xuất hiện và biến mất của bất kỳ trong ba phương diện hình tướng. Một số đoạn văn ngắn sẽ đủ để định nghĩa từng giai đoạn chiếm hữu. Các đoạn văn mô tả phương pháp xả ly đã được trình bày trước đó trong Luận về Chánh Thuật.

[80]

[80]

Ray One. The Energy of Will or Power. The Destroyer Aspect.

Cung Một: Mãnh Lực của Ý Chí hay Quyền Lực. Khía cạnh Hủy Diệt.

Souls on this ray are spoken of occultly as “crashing their way into incarnation”. They appropriate dynamically that which they require. They brook no hindrance in the satisfactions of their desires. They stand alone in a proud isolation, glorying in their strength, and their ruthlessness. These qualities have to be transmuted into that intelligent use of power which makes them powerful factors in the Plan, and magnetic centres of force, gathering workers and forces around them. An illustration of this can be seen in the work of the Master Morya, Who is the centre, the magnetic attractive centre of all esoteric groups, conferring on them, by His power, the capacity to destroy that which is undesirable in the life of the disciples. Forget not that the work of stimulating that which is needed is one of the major tasks of a Master, and the power of a disciple to destroy that which limits him is greatly needed. Souls of this ray, as they come into incarnation through desire, grasp. This expresses the nature of the force demonstration employed. There is a measure of violence in their technique. They eventually “take the kingdom of heaven by force.”

Những linh hồn thuộc cung này được nói đến theo nội môn như là những người “đột phá vào nhập thể”. Họ chiếm hữu một cách đầy năng động những gì họ cần. Họ không chấp nhận bất kỳ trở ngại nào trong việc thỏa mãn ham muốn của mình. Họ đứng một mình trong sự cô lập đầy kiêu hãnh, tự hào về sức mạnh và sự tàn nhẫn của họ. Những phẩm chất này cần phải được chuyển hóa thành cách sử dụng quyền lực một cách thông minh, giúp họ trở thành những nhân tố mạnh mẽ trong Thiên Cơ, và trở thành các trung tâm lực từ tính, thu hút những người làm việc và các mãnh lực xung quanh họ. Một minh họa về điều này có thể được thấy trong công việc của Chân sư Morya, Ngài là trung tâm từ tính hấp dẫn của tất cả các nhóm nội môn, và nhờ vào quyền lực của Ngài, các nhóm này có khả năng hủy diệt những gì không mong muốn trong đời sống của các đệ tử. Hãy nhớ rằng, một trong những nhiệm vụ chính của một Chân sư là kích thích những gì cần thiết, và năng lực của một đệ tử để phá hủy những gì giới hạn y là điều vô cùng quan trọng. Những linh hồn thuộc cung này, khi nhập thể thông qua dục vọng, có xu hướng nắm bắt. Điều này thể hiện cách thức biểu hiện lực lượng của họ. Trong kỹ thuật của họ có một mức độ bạo lực nhất định. Cuối cùng, họ “chiếm lấy Thiên Quốc bằng sức mạnh”.

Ray Two. The Energy of Love-Wisdom

Cung Hai: Mãnh Lực của Bác Ái – Minh Triết.

Souls on this ray use the method of “gathering in”, or “drawing into”. The soul sets up a vibration (little as we may yet grasp the real significance of that word) and that vibration affects its environment, and atoms of substance on all three planes are attracted to the central point of energy. The method is relatively gentle, when compared to the method of the first ray, and the process is somewhat longer whilst the overshadowing (carried forward prior to entering into [81] the three worlds for purposes of appearance) is very much longer. This refers to that overshadowing of the substance to be built into form, and not to the overshadowing of the completed form, i.e. the child in the mother’s womb. In the first case, it might be said that souls on the first ray are sudden and rapid in their desire to incarnate, and in the methods employed. Souls on the second ray are slower in coming to that “impulsive” action (in the sense of impulse to action and not impulse in time) which leads to the occult manufacture of an appearance with which to manifest.

Những linh hồn thuộc cung này sử dụng phương pháp “thu hút vào” hoặc “gom lại”. Linh hồn tạo ra một rung động (dù chúng ta vẫn chưa nắm bắt được đầy đủ ý nghĩa thực sự của từ này), và rung động đó ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, thu hút các nguyên tử vật chất từ ba cõi vào điểm trung tâm năng lượng. Phương pháp này tương đối nhẹ nhàng hơn khi so với phương pháp của cung một, và tiến trình này kéo dài hơn, trong khi sự phủ bóng (được thực hiện trước khi bước vào [81] ba cõi để xuất hiện) diễn ra lâu hơn rất nhiều. Điều này đề cập đến sự phủ bóng của vật chất sẽ được xây dựng thành hình tướng, chứ không phải sự phủ bóng của hình tướng đã hoàn chỉnh, tức là đứa trẻ trong bụng mẹ. Trong trường hợp đầu tiên, có thể nói rằng linh hồn thuộc cung một có xu hướng nhập thể một cách đột ngột và nhanh chóng, cả trong dục vọng lẫn phương pháp được sử dụng. Ngược lại, linh hồn thuộc cung hai chậm hơn trong việc đi đến hành động mang tính xung động (hiểu theo nghĩa là xung lực dẫn đến hành động, chứ không phải là xung động về thời gian), điều này dẫn đến việc tạo ra một hình tướng để biểu hiện một cách nội môn.

Souls on this ray, as they come into incarnation through desire, attract. They are magnetic more than they are dynamic; they are constructive, and they work along the line which is, for all lives and forms, the line of least resistance within our universe.

Những linh hồn thuộc cung này, khi nhập thể thông qua dục vọng, có xu hướng thu hút. Họ mang tính từ tính hơn là mang tính năng động; họ mang tính kiến tạo, và họ hoạt động theo con đường ít trở ngại nhất trong vũ trụ của chúng ta.

Ray Three. The Energy of Active Intelligence

Cung Ba: Mãnh Lực của Trí Tuệ Hoạt Động.

Just as the grasping and attracting are terms applicable to the methods of the two first rays, so a process of “selective manipulation” is characteristic of this third ray. This method is totally different in its technique to that of the two mentioned above. It might be said that the note which generates the activity set up by souls on this ray, is such that atoms of the different planes are moved as if consciously responding to a selective process. The vibratory activity of the soul makes itself felt, and atoms collect from widely different points in response to a certain quality in the vibration. It is far more selective than in the case of the second ray.

Cũng giống như “nắm bắt” và “thu hút” là những thuật ngữ mô tả phương pháp của hai cung đầu tiên, thì “thao tác có chọn lọc” là đặc điểm của cung ba. Phương pháp này hoàn toàn khác về mặt kỹ thuật so với hai cung đã đề cập trước đó. Có thể nói rằng âm điệu kích hoạt hoạt động của các linh hồn thuộc cung này có bản chất khiến cho các nguyên tử trên các cõi khác nhau di chuyển như thể chúng đang phản ứng có ý thức với một quá trình lựa chọn. Hoạt động rung động của linh hồn tự biểu hiện, và các nguyên tử tập hợp lại từ nhiều điểm khác nhau để phản hồi với một phẩm tính nhất định trong rung động đó. Quá trình này mang tính chọn lọc cao hơn nhiều so với trường hợp của cung hai.

Just as souls in the first case seem to grasp indiscriminately what they need, and force the substance thus grasped into the form or appearance required, enduing it with the quality needed in a dynamic and forceful way, and just as souls on the second ray set up a motion which gathers material out [82] of the immediately surrounding environment, and imposes on it, through magnetic attraction, the desired quality, so in the case of souls on the third ray the required material is chosen here and there, but that chosen already has the needed quality (note this difference) and nothing whatever is imposed. It will be apparent, therefore, that substance itself exists in three major categories, and that these three categories are the correspondences in substance to the three Persons of the Trinity or to the three bodies of incarnated man. They are also the analogy in the third aspect of divinity (the life of the third Person of the Trinity) to the quality of the three periodical vehicles through which manifestation takes place.

Giống như trong trường hợp của cung một, các linh hồn dường như nắm bắt bừa bãi những gì họ cần và ép buộc vật chất bị nắm bắt đó vào hình tướng hoặc diện mạo mong muốn, truyền cho nó phẩm chất cần thiết một cách năng động và mạnh mẽ, và giống như trong trường hợp của cung hai, các linh hồn thiết lập một chuyển động thu hút vật chất từ [82] môi trường xung quanh ngay lập tức và áp đặt lên nó phẩm chất mong muốn thông qua sức hút từ tính, thì trong trường hợp của cung ba, vật chất cần thiết được lựa chọn từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng những vật chất được chọn lựa đã có sẵn phẩm chất cần thiết (hãy lưu ý sự khác biệt này), và không có gì bị áp đặt lên chúng. Do đó, rõ ràng là bản thân vật chất tồn tại dưới ba loại chính, và ba loại này tương ứng với Ba Ngôi của Thượng Đế hoặc ba thể của con người nhập thể. Chúng cũng là sự tương đồng trong khía cạnh thứ ba của Thượng Đế (sự sống của Ngôi Ba trong Tam Vị Nhất Thể) đối với phẩm tính của ba thể tuần hoàn thông qua đó sự biểu hiện diễn ra.

One division or type of this substance is dynamically electrified and from this all first ray egos choose the material needed in the three worlds. Another type of substance is magnetically electrified, and from it all second ray egos select what they, in time and space, require in order to manifest. The third type of substance is diffusively electrified (I know of no better word to express the intent), and all third ray egos take from it their needed quota of substance from which to build the forms for manifestation.

Một loại vật chất mang tính điện động mạnh mẽ, và từ đó tất cả các chân ngã thuộc cung một chọn vật chất cần thiết trong ba cõi. Một loại vật chất khác mang tính điện từ tính, và từ đó tất cả các chân ngã thuộc cung hai chọn những gì họ cần để biểu hiện trong không gian và thời gian. Loại vật chất thứ ba mang tính điện khuếch tán (tôi không biết từ nào tốt hơn để diễn tả ý này), và tất cả các chân ngã thuộc cung ba lấy từ đó phần vật chất cần thiết để kiến tạo các hình tướng phục vụ cho sự biểu hiện.

As regards the methods, techniques and types of substance used by souls on the remaining four minor rays, they are necessarily qualified by the characteristics of the third major ray, which eventually synthesises them.

Về phương pháp, kỹ thuật và loại vật chất được sử dụng bởi các linh hồn thuộc bốn cung phụ còn lại, chúng tất nhiên được điều chỉnh bởi các đặc điểm của cung ba, vốn cuối cùng sẽ tổng hợp tất cả chúng.

The following tabulation is an attempt to define that which it is almost impossible to make intelligible in words. From the angle of the illumined occultist it is meaningless, even more than it is to the average student, because as yet the mystery of electricity and the true nature of electrical phenomena (than which there is naught else) is at this time an unrevealed secret, even to the most advanced of the modern scientists.

Bảng phân loại sau đây là một nỗ lực nhằm định nghĩa điều mà gần như không thể diễn đạt một cách rõ ràng bằng lời. Từ góc độ của nhà huyền môn đã được soi sáng, nó còn vô nghĩa hơn nữa so với sinh viên trung bình, bởi vì cho đến thời điểm này, bí ẩn về điện và bản chất thực sự của các hiện tượng điện (mà không có gì khác ngoài nó) vẫn là một bí ẩn chưa được tiết lộ, ngay cả đối với những nhà khoa học tiên tiến nhất của thời đại.

[83]

Ray

Energy

Technique

Quality

Source

Cung

Năng Lượng

Kỹ Thuật

Phẩm Tính

Nguồn Gốc

1.

Power or Will

Grasping

Dynamic Purpose

Dynamically electrified forms.

Quyền Năng hay Ý Chí

Nắm bắt

Mục Đích Năng Động

Các hình tướng được điện hóa một cách năng động.

2.

Love-Wisdom

Attracting

Love

Magnetically electrified forms.

Bác Ái-Minh Triết

Hấp dẫn

Tình Thương

Các hình tướng được điện hóa từ tính.

3.

Intelligent Activity

Selecting

Intellect

Diffusively electrified forms.

Hoạt Động Trí Năng

Chọn lựa

Trí Năng

Các hình tướng được điện hóa khuếch tán.

4.

Beauty or Art

At-one-ing

Unification

Harmonisingly electrified forms.

Cái Đẹp hay Nghệ Thuật

Hợp nhất

Thống Nhất

Các hình tướng được điện hóa hài hòa.

5.

Science

Differentiating

Discrimination

Crystallising electrified forms.

Khoa Học

Phân biệt

Phân Biện

Các hình tướng được điện hóa kết tinh.

6.

Idealism

Responding

Sensitivity

Fluidic electrified forms.

Chủ Nghĩa Lý Tưởng

Đáp ứng

Nhạy Cảm

Các hình tướng được điện hóa lưu động.

7.

Organisation

Coordinating

Appearance

Physical electrified forms.

Tổ Chức

Phối hợp

Sắc Tướng

Các hình tướng được điện hóa vật lý.

That there is such a thing as electricity, that it probably accounts for all that can be seen, sensed and known, and that the entire universe is a manifestation of electrical power,—all this may be stated and is, today, coming to be recognised. But when that has been said, the mystery remains, and will not be revealed, even in partial measure, until the middle of the next century. Then revelation may be possible, as there will be more initiates in the world, and inner vision and inner hearing will be more generally recognised and present. When man arrives at a better understanding of the etheric body and its seven force centres (which are all related to the seven rays, and in their expression show the seven characteristics and techniques which are here tabulated anent the rays) then some further light can intelligibly be thrown upon the nature of the seven types of electrical phenomena which we call the seven rays.

Rằng có một thứ gọi là điện, rằng có lẽ nó giải thích cho tất cả những gì có thể được nhìn thấy, cảm nhận và nhận thức, và rằng toàn bộ vũ trụ là sự biểu hiện của quyền lực điện năng—tất cả những điều này có thể được khẳng định, và ngày nay, chúng đang dần được công nhận. Nhưng khi đã nói đến điều đó, bí ẩn vẫn còn đó, và nó sẽ không được tiết lộ, dù chỉ một phần, cho đến giữa thế kỷ tới. Khi đó, sự mặc khải có thể trở nên khả thi, vì sẽ có nhiều điểm đạo đồ hơn trên thế giới, và thị giác nội tại cùng thính giác nội tại sẽ được công nhận và phổ biến hơn. Khi nhân loại đạt được sự hiểu biết sâu sắc hơn về thể dĩ thái và bảy trung tâm lực của nó (vốn đều có liên quan đến bảy cung, và trong biểu hiện của chúng thể hiện bảy đặc trưng và kỹ thuật đã được liệt kê ở đây liên quan đến các cung), thì lúc đó có thể soi sáng thêm một cách thông minh về bản chất của bảy loại hiện tượng điện mà chúng ta gọi là bảy cung.

On the Path of Return and in connection with the process of detachment, which marks the progress of the soul towards release and the ending of the period of appropriation, certain passages in A Treatise on White Magic give clearly the intended [84] technique. They are as follows, and are found on pages 288 and 289.

Trên Con Đường Trở Về và liên quan đến tiến trình xả ly, đánh dấu sự tiến bộ của linh hồn hướng đến sự giải thoát và sự kết thúc của giai đoạn chiếm hữu, một số đoạn trong Luận về Chánh Thuật đã trình bày rõ ràng kỹ thuật được đề xuất [84]. Những đoạn đó như sau, được tìm thấy trong các trang 288 và 289:

Ray One:—”Let the Forces come together. Let them mount to the High Place, and from that lofty eminence, let the soul look out upon a world destroyed. Then let the word go forth: ‘I still persist!'”

Cung Một: “Hãy để các mãnh lực hợp nhất. Hãy để chúng dâng lên đến Nơi Cao Cả, và từ đỉnh cao ấy, hãy để linh hồn nhìn ra một thế giới đã bị hủy diệt. Sau đó, hãy để lời phán được vang lên: ‘Ta vẫn tiếp tục tồn tại!'”

Ray Two:—”Let all the life be drawn to the Centre, and enter thus into the heart of Love Divine. Then from that point of sentient Life, let the soul realise the consciousness of God. Let the word go forth, reverberating through the silence: ‘Naught is but Me!'”

Cung Hai: “Hãy để mọi sự sống được quy tụ vào Trung Tâm, và nhờ đó bước vào trái tim của Tình Yêu Thiêng Liêng. Rồi từ điểm của Sự Sống Nhạy Cảm ấy, hãy để linh hồn nhận thức được tâm thức của Thượng Đế. Hãy để lời phán vang dội qua sự tĩnh lặng: ‘Không có gì ngoài Ta!'”

Ray Three:—”Let the army of the Lord, responsive to the word cease their activities. Let knowledge end in wisdom. Let the point vibrating become the point quiescent, and in all lines gather into One. Let the soul realise the One in Many, and let the word go forth in perfect understanding: ‘I am the Worker and the Work, the One that Is.'”

Cung Ba: “Hãy để đội quân của Thượng Đế, đáp ứng với lời hiệu triệu, chấm dứt hoạt động của họ. Hãy để tri thức kết thúc trong minh triết. Hãy để điểm rung động trở thành điểm tĩnh lặng, và trong mọi đường hướng hãy quy tụ vào Một. Hãy để linh hồn nhận thức được Sự Hợp Nhất trong Đa Dạng, và hãy để lời phán được vang lên trong sự thấu hiểu trọn vẹn: ‘Ta là Người Hành Động và là Công Việc, là Đấng Hiện Hữu.'”

Ray Four:—”Let the outer glory pass away and the beauty of the inner Light reveal the One. Let dissonance give place to harmony, and from the centre of the hidden Light, let the soul speak: Let the word roll forth: ‘Beauty and glory veil Me not. I stand revealed. I am.'”

Cung Bốn: “Hãy để ánh vinh quang bên ngoài tan biến và để vẻ đẹp của Ánh Sáng Nội Tại tiết lộ Chân Nhất. Hãy để sự bất hòa nhường chỗ cho hòa điệu, và từ trung tâm của Ánh Sáng Ẩn Giấu, hãy để linh hồn cất tiếng: Hãy để lời phán vang ra: ‘Vẻ đẹp và vinh quang không che phủ Ta. Ta hiển lộ. Ta Hiện Hữu.'”

Ray Five:—”Let the three forms of energy electric pass upward to the Place of Power. Let the forces of the head and heart and all the nether aspects blend. Then let the soul look out upon an inner world of light divine. Let the word triumphant go forth: ‘I mastered energy for I am energy Itself. The Master and the mastered are but One.'”

Cung Năm: “Hãy để ba dạng năng lượng điện đi lên đến Nơi Quyền Lực. Hãy để các mãnh lực của đầu và tim cùng tất cả các phương diện thấp hơn hòa nhập. Sau đó, hãy để linh hồn nhìn ra một thế giới nội tại tràn đầy ánh sáng thiêng liêng. Hãy để lời tuyên bố khải hoàn vang ra: ‘Ta đã chế ngự năng lượng, vì Ta chính là năng lượng. Đấng Chủ Tể và kẻ bị chủ tể hóa chỉ là Một.'”

Ray Six:—”Let all desire cease. Let aspiration end. The search is over. Let the soul realise that it has reached the goal, and from that gateway to eternal Life and cosmic Peace, let the word sound: ‘I am the seeker and the sought. I rest!'”

Cung Sáu: “Hãy để mọi dục vọng chấm dứt. Hãy để chí nguyện khép lại. Cuộc tìm kiếm đã hoàn tất. Hãy để linh hồn nhận thức rằng nó đã đạt được mục tiêu, và từ cổng vào của Sự Sống Vĩnh Cửu và Hòa Bình Vũ Trụ, hãy để lời phán vang lên: ‘Ta là người tìm kiếm và là điều được tìm kiếm. Ta an nghỉ!'”

Ray Seven:—”Let the builders cease their work. The Temple is completed. Let the soul enter into its heritage and from the Holy Place command all work to end. Then in the silence subsequent, let him chant forth the Word: .The creative [85] work is over. l, the Creator, Am. Naught else remains but Me.'”

Cung Bảy: “Hãy để những người kiến tạo ngừng công việc của họ. Ngôi Đền đã hoàn tất. Hãy để linh hồn bước vào gia tài của mình và từ Nơi Thánh Thiêng ban lệnh chấm dứt mọi công việc. Sau đó, trong sự tĩnh lặng tiếp theo, hãy để y xướng lên Lời Phán: ‘Công trình sáng tạo đã kết thúc. Ta, Đấng Sáng Tạo, Hiện Hữu. Không còn gì ngoài Ta.'”

Beginning of LOTSWC 1 EP II p. 85

[85]

Leave a Comment

Scroll to Top