3. The Great Approaches (The Coming New Religion)— Những Tiếp Cận Vĩ Đại (Tôn Giáo Mới Sắp Đến)
a. THE SOUL OF HUMANITY—LINH HỒN CỦA NHÂN LOẠI
|
It can be seen, therefore, that a very difficult interlude is now taking place in the world today. It is one wherein a process is being undergone by humanity which is similar to that which takes place so frequently in the life of an individual. The soul of the world is taking cognizance of outer affairs, preparatory to taking hold of the world situation. In the life of an aspirant, such interludes frequently occur. The personality is aware of conditions of difficulty and of turmoil. It has, however, had in the past moments of high spiritual revelation and of divine impulsation. It has been sure of its goal temporarily and it has known that the soul is the directing factor; some dim idea of the goal and of the purposes underlying those impulses which have been granted to it by the soul have been vouchsafed. But, for the moment, all that lies in the past. It seems as if the soul has retreated; that the period of contact and of surety has ended; and that nothing remains except difficulty, a sense of futility, and an urge to be freed from conditions. This is frequently of such intensity that all other interests seem dwarfed. |
Vì vậy, có thể thấy rằng hiện nay một giai đoạn xen kẽ rất khó khăn đang diễn ra trong thế giới ngày nay. Đó là một giai đoạn trong đó nhân loại đang trải qua một tiến trình tương tự với điều thường xuyên xảy ra trong đời sống của một cá nhân. Linh hồn của thế giới đang chú ý đến các công việc bên ngoài, để chuẩn bị nắm lấy tình hình thế giới. Trong đời sống của một người chí nguyện, những giai đoạn xen kẽ như thế thường xảy ra. Phàm ngã nhận biết các điều kiện khó khăn và xáo trộn. Tuy nhiên, trong quá khứ nó đã có những khoảnh khắc mặc khải tinh thần cao cả và xung lực thiêng liêng. Nó đã tạm thời chắc chắn về mục tiêu của mình và đã biết rằng linh hồn là yếu tố chỉ đạo; một ý niệm mơ hồ nào đó về mục tiêu và về các mục đích nằm dưới những xung lực mà linh hồn đã ban cho nó đã được cho phép. Nhưng hiện giờ, tất cả điều đó thuộc về quá khứ. Dường như linh hồn đã rút lui; rằng thời kỳ tiếp xúc và chắc chắn đã chấm dứt; và rằng không còn gì ngoài khó khăn, cảm giác vô ích, và một thôi thúc muốn được giải thoát khỏi các điều kiện. Điều này thường mãnh liệt đến mức mọi mối quan tâm khác dường như trở nên nhỏ bé. |
|
But the soul has not retreated and the inner spiritual conditions remain essentially unchanged. The divine impulses are still there and the soul is but gathering itself for a fresh effort and for a stronger and more determined preoccupation with the affairs of its shadow, its dim reaction, the personality. |
Nhưng linh hồn không rút lui và các điều kiện tinh thần bên trong về cơ bản vẫn không thay đổi. Các xung lực thiêng liêng vẫn còn đó và linh hồn chỉ đang tự thu mình lại để có một nỗ lực mới và một sự bận tâm mạnh mẽ hơn, kiên quyết hơn đối với các công việc của cái bóng của nó, phản ứng mờ nhạt của nó, tức phàm ngã. |
|
What is true of the individual aspirant is equally true of [702] humanity, the world aspirant. In May, 1936, a great forward moving effort of the world soul took place and definite and unchangeable progress was made. This had a threefold effect: |
Điều đúng với người chí nguyện cá nhân cũng đúng như vậy đối với [702] nhân loại, người chí nguyện thế giới. Vào tháng Năm năm 1936, một nỗ lực tiến lên lớn lao của linh hồn thế giới đã diễn ra và một sự tiến bộ rõ rệt, không thể thay đổi đã được thực hiện. Điều này có tác động tam phân: |
|
1. The lives of all true aspirants and disciples were subjected to a stimulating process, with definite and specific results of the desired nature. |
1. Đời sống của tất cả những người chí nguyện và các đệ tử chân chính đã chịu một tiến trình kích thích, với những kết quả rõ rệt và cụ thể thuộc bản chất mong muốn. |
|
2. The stimulation of the masses of men also took place; so that they could be enabled to respond more easily and truly to the impact of ideas. This also was uniquely successful. |
2. Sự kích thích quần chúng nhân loại cũng đã diễn ra; nhờ đó họ có thể được làm cho có khả năng đáp ứng dễ dàng và chân thực hơn với sự tác động của các ý tưởng. Điều này cũng thành công một cách độc đáo. |
|
3. The Hierarchy of souls who have achieved freedom and whom you call the planetary Hierarchy were able to approach closer to humanity and to establish a more definite relationship and a closer contact than had been possible at any time since mid-Atlantean times. This result was more universal than had been anticipated. This was the third of the “Great Approaches” made by the Hierarchy towards humanity. The success of these approaches is largely based on the intensity of the desire found in the world aspirants and among those who have, on their side, established also a “way of approach” through meditation and service. Their numbers being phenomenally greater than at any previous time, the year 1936 saw the Hierarchy make a step forward that was unprecedented (I had almost said, unexpected) in its experience. This was due to the world-wide activity of the New Group of World Servers. |
3. Thánh Đoàn của các linh hồn đã đạt được tự do và những vị mà các bạn gọi là Thánh Đoàn hành tinh đã có thể tiến gần hơn đến nhân loại và thiết lập một mối liên hệ rõ rệt hơn cùng một tiếp xúc gần gũi hơn so với bất kỳ thời điểm nào kể từ giữa thời Atlantis. Kết quả này có tính phổ quát hơn điều đã được dự đoán. Đây là lần thứ ba trong những “Tiếp Cận Vĩ Đại” do Thánh Đoàn thực hiện đối với nhân loại. Thành công của những tiếp cận này phần lớn dựa trên cường độ của khát vọng nơi những người chí nguyện thế giới và nơi những người mà về phần mình cũng đã thiết lập một “con đường tiếp cận” qua tham thiền và phụng sự. Vì số lượng của họ lớn hơn một cách phi thường so với bất kỳ thời điểm nào trước đó, nên năm 1936 đã chứng kiến Thánh Đoàn tiến một bước chưa từng có (tôi suýt nói là không ngờ tới) trong kinh nghiệm của mình. Điều này là do hoạt động trên toàn thế giới của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. |
|
I would like here to call your attention to the phrase I used above: “the Hierarchy of souls who have achieved freedom.” I am not using that phrase in the ordinary sense. The aspirants and the disciples of the world employ it to signify the achieving of that liberty and that freedom which will [703] release them from the three worlds of human endeavour and make them free citizens of the Kingdom of God. With that point of view you are quite familiar, and you will recognise that in it there lies a large measure of selfish purpose—inevitable and some day to be eliminated, but at this stage definitely present and perhaps desirable because it provides the adequate incentive towards the needed effort. The freedom, however, to which I refer, is the achieved success of the soul to move and act and manifest with freedom in the three worlds, as well as on its own high plane. This is a point seldom if ever emphasised. The soul itself, the Ego, has its own task to do, which might be expressed as being the reverse of that with which the personality is familiar. It has to learn to be at home and to function effectively in the world of human living and there to carry forward the plan. Such is the task of the Hierarchy and I felt that a statement of their peculiar problem and the difficulty of free activity which it necessarily involves, would prove both of interest and of enlightenment to those who read these papers. |
Ở đây tôi muốn lưu ý các bạn đến cụm từ tôi đã dùng ở trên: “Thánh Đoàn của các linh hồn đã đạt được tự do.” Tôi không dùng cụm từ ấy theo nghĩa thông thường. Những người chí nguyện và các đệ tử trên thế giới dùng nó để chỉ việc đạt được sự giải thoát và tự do sẽ [703] giải phóng họ khỏi ba cõi giới của nỗ lực nhân loại và làm cho họ trở thành những công dân tự do của Thiên Giới. Với quan điểm đó các bạn khá quen thuộc, và các bạn sẽ nhận ra rằng trong đó có một mức độ lớn mục đích ích kỷ—không thể tránh khỏi và một ngày nào đó sẽ bị loại bỏ, nhưng ở giai đoạn này rõ rệt là hiện diện và có lẽ đáng mong muốn vì nó cung cấp động lực thích đáng cho nỗ lực cần thiết. Tuy nhiên, sự tự do mà tôi nói đến là thành công đã đạt được của linh hồn trong việc di chuyển, hành động và biểu lộ một cách tự do trong ba cõi giới, cũng như trên cõi cao của chính nó. Đây là một điểm hiếm khi, nếu từng, được nhấn mạnh. Bản thân linh hồn, chân ngã, có nhiệm vụ riêng của nó phải làm, có thể được diễn tả như là điều ngược lại với điều mà phàm ngã quen thuộc. Nó phải học cách ở nhà và hoạt động hữu hiệu trong thế giới của đời sống nhân loại và tại đó xúc tiến Thiên Cơ. Đó là nhiệm vụ của Thánh Đoàn và tôi cảm thấy rằng một phát biểu về vấn đề đặc thù của họ và khó khăn của hoạt động tự do mà điều đó tất yếu bao hàm, sẽ vừa gây hứng thú vừa soi sáng cho những ai đọc các tài liệu này. |
|
From this highest standpoint, the Hierarchy was enabled to make a definite step forward in 1936 as the result of the work done in the last fifty years; having made it, it became necessary to stabilise the position and from the point then reached to lay plans for the next move to be taken on behalf of humanity. |
Từ quan điểm cao nhất này, Thánh Đoàn đã có thể tiến một bước rõ rệt vào năm 1936 như là kết quả của công việc đã được thực hiện trong năm mươi năm qua; sau khi đã tiến bước ấy, việc ổn định vị trí trở nên cần thiết và từ điểm đã đạt được lúc đó lập kế hoạch cho bước đi kế tiếp sẽ được thực hiện thay mặt cho nhân loại. |
|
Thus we find the interlude with which we have been almost distressingly familiar. You may have been led to expect some great onward sweep, some clear time of reaping, or some spectacular climax of happenings. When all that occurred was an interim of relative silence and a period wherein nothing seemed to occur, it was natural for the majority to experience a sense of disappointment, a reaction which was almost equivalent, in some cases, to loss of faith, and a feeling [704] of emotional fatigue and mental futility which tried many to the utmost. It is wise to remember that these reactions do not affect the issue and in no way retard the event, though they may make the task of the approaching helpers more difficult and draw almost unnecessarily upon their spiritual resources. |
Như vậy chúng ta thấy giai đoạn xen kẽ mà chúng ta đã gần như quen thuộc đến mức đau đớn. Có thể các bạn đã được dẫn đến chỗ mong đợi một sự tiến lên lớn lao nào đó, một thời kỳ gặt hái rõ rệt nào đó, hay một cao trào ngoạn mục nào đó của các biến cố. Khi tất cả những gì xảy ra chỉ là một khoảng tạm ngưng tương đối yên lặng và một thời kỳ trong đó dường như không có gì xảy ra, thì việc đa số trải qua cảm giác thất vọng là điều tự nhiên, một phản ứng mà trong vài trường hợp gần như tương đương với sự mất đức tin, và một cảm giác [704] mệt mỏi cảm xúc cùng sự vô ích về trí tuệ đã thử thách nhiều người đến mức tối đa. Thật khôn ngoan khi nhớ rằng những phản ứng này không ảnh hưởng đến kết quả và không hề làm chậm biến cố, dù chúng có thể làm cho nhiệm vụ của những người trợ giúp đang tiếp cận trở nên khó khăn hơn và gần như không cần thiết rút cạn các nguồn lực tinh thần của họ. |
|
These interludes of apparent silence, of inertia and of inactivity are part of the great preservative and constructive activity of the Hierarchy; they are both individual, group and planetary in nature. Aspirants must learn to work intelligently and understandingly with the law of cycles. They must not forget that they live in a world of seeming and have no real freedom in the world of reality. |
Những giai đoạn xen kẽ của sự im lặng bề ngoài, của tính trì trệ và của sự bất động này là một phần của hoạt động bảo tồn và kiến tạo vĩ đại của Thánh Đoàn; chúng vừa có tính cá nhân, nhóm, vừa có tính hành tinh. Những người chí nguyện phải học cách làm việc một cách thông minh và thấu hiểu với định luật chu kỳ. Họ không được quên rằng họ sống trong một thế giới của vẻ ngoài và không có tự do thực sự trong thế giới của thực tại. |
|
In May, 1938, at the time of the full moon, the Council of the Hierarchy to which I have several times referred in the past, convened and the plans for the immediate future were laid down. I would remind you of something we are very apt to forget. The plans for humanity are not laid down, for humanity determines its own destiny. The plans to meet the immediate human emergency and the plans to make possible a closer relationship between humanity and the Hierarchy were established. The problem before the Hierarchy of Masters (speaking in a large and general sense) is to intensify the activity and the consequent potency of that hidden power. By thus bringing it to the fore in human lives, the needed changes in our civilisation can be produced. The average man works from the organisation angle and having visioned some illuminating idea, he begins to build the outer physical form which will house and express it. The planetary Hierarchy, working under the inspiration of the Divine Vision as it is embodied in the Plan, seeks to evoke a response to that Plan in every human heart, and by fostering and fanning that response, to evoke not only a mental understanding but also an [705] aspirational desire. These together will produce finally the emergence of the Plan upon the earth and thus express a conditioning factor in human affairs. |
Vào tháng Năm năm 1938, vào thời điểm trăng tròn, Hội Đồng của Thánh Đoàn mà tôi đã nhiều lần nhắc đến trong quá khứ đã nhóm họp và các kế hoạch cho tương lai gần đã được vạch ra. Tôi muốn nhắc các bạn về một điều mà chúng ta rất dễ quên. Các kế hoạch cho nhân loại không được vạch ra, vì nhân loại tự quyết định định mệnh của mình. Các kế hoạch để đáp ứng tình trạng khẩn cấp tức thời của nhân loại và các kế hoạch để làm cho một mối liên hệ gần gũi hơn giữa nhân loại và Thánh Đoàn trở nên khả hữu đã được thiết lập. Vấn đề trước Thánh Đoàn các Chân sư (nói theo nghĩa rộng và tổng quát) là tăng cường hoạt động và do đó tăng cường mãnh lực của quyền năng ẩn giấu ấy. Bằng cách đưa nó ra tiền cảnh trong đời sống con người, những thay đổi cần thiết trong nền văn minh của chúng ta có thể được tạo ra. Con người trung bình làm việc từ góc độ tổ chức và sau khi đã hình dung một ý tưởng soi sáng nào đó, y bắt đầu xây dựng hình tướng hồng trần bên ngoài sẽ chứa đựng và biểu lộ nó. Thánh Đoàn hành tinh, hoạt động dưới cảm hứng của Thiêng Liêng Linh Ảnh như nó được nhập thể trong Thiên Cơ, tìm cách gợi lên một đáp ứng với Thiên Cơ ấy trong mỗi trái tim con người, và bằng cách nuôi dưỡng và khơi bùng đáp ứng ấy, gợi lên không chỉ một sự thấu hiểu bằng trí tuệ mà còn cả một [705] khát vọng chí nguyện. Hai điều này cùng nhau cuối cùng sẽ tạo ra sự xuất hiện của Thiên Cơ trên trái đất và như thế biểu lộ một yếu tố tác động trong các công việc nhân loại. |
|
When there are a sufficient number of people who are in conscious touch with their souls, then the sheer weight of their numbers, plus the clarity of their intentions and their widespread distribution over the face of the earth, must necessarily become effective. These people will then bring about changes of such far-reaching importance that the culture of the future will be as far removed from ours today, as ours in its turn is removed from that of the red Indians who roamed for centuries over the American continent and of whose possessions the white race took charge. |
Khi có đủ số người đang tiếp xúc có ý thức với linh hồn của mình, thì chính sức nặng của số lượng họ, cộng với sự minh bạch của ý định họ và sự phân bố rộng khắp của họ trên mặt đất, tất yếu phải trở nên hữu hiệu. Khi đó những người này sẽ mang lại những thay đổi có tầm quan trọng sâu rộng đến mức nền văn hóa tương lai sẽ cách xa nền văn hóa của chúng ta ngày nay cũng như nền văn hóa của chúng ta cách xa nền văn hóa của những người da đỏ từng lang thang hàng thế kỷ trên lục địa Mỹ và những tài sản của họ đã bị chủng tộc da trắng tiếp quản. |
|
This then is the task of the Workers in the field of human affairs: to awaken the soul ray to potency in the life of each human being, beginning with those whose mental equipment and achieved integration would warrant the belief that—once awakened—they would use the new forces at their disposal with a measure of wisdom and planned constructive intention. |
Vậy đây là nhiệm vụ của những Người hoạt động trong lĩnh vực các công việc nhân loại: đánh thức cung linh hồn đến mãnh lực trong đời sống của mỗi con người, bắt đầu với những người mà bộ máy trí tuệ và sự tích hợp đã đạt được của họ cho phép tin rằng—một khi được đánh thức—họ sẽ sử dụng các mãnh lực mới theo ý mình với một mức độ minh triết và ý định kiến tạo có kế hoạch. |
|
The questions we shall first discuss are as follows:—What are the psychological advantages of somewhat understanding the nature of the egoic ray? What intelligent use can be made by psychologists of the fact, if the soul ray is determined and recognised? |
Những câu hỏi trước hết chúng ta sẽ bàn đến như sau:—Những lợi ích tâm lý học của việc phần nào thấu hiểu bản chất của cung chân ngã là gì? Các nhà tâm lý học có thể sử dụng một cách thông minh sự kiện này như thế nào, nếu cung linh hồn được xác định và nhận ra? |
|
Early in this treatise we dealt with the general proposition of the value to psychology of a knowledge of the rays. We have considered the possibility of there being a scientific acceptance of the hypothesis of their existence, even if this recognition is only tendered provisionally. We must not forget that aspirants are increasing all over the world. Perhaps the simplest way to proceed is to state some of the developments which will manifest when the ray of the soul is admitted and recognised and developed. These will be: |
Ở phần đầu của bộ luận này, chúng ta đã bàn đến mệnh đề tổng quát về giá trị đối với tâm lý học của tri thức về các cung. Chúng ta đã xem xét khả năng có một sự chấp nhận khoa học đối với giả thuyết về sự hiện hữu của chúng, ngay cả nếu sự công nhận này chỉ được đưa ra một cách tạm thời. Chúng ta không được quên rằng những người chí nguyện đang gia tăng trên khắp thế giới. Có lẽ cách đơn giản nhất để tiến hành là nêu ra một số phát triển sẽ biểu lộ khi cung của linh hồn được thừa nhận, nhận ra và phát triển. Những điều này sẽ là: |
|
1. The solution of the present world conflict. This conflict now amounts in the material sense almost to an impasse. The results of soul contacts on human beings and the effect to be seen in the personality life might be stated to be as follows: |
1. Giải pháp cho cuộc xung đột thế giới hiện nay. Cuộc xung đột này hiện nay, theo nghĩa vật chất, gần như đã thành một bế tắc. Các kết quả của những tiếp xúc linh hồn trên con người và hiệu quả được thấy trong đời sống phàm ngã có thể được nêu như sau: |
|
a. Conflict, turmoil, opposed loyalties, inner warfare and a collision of divergent views. |
a. Xung đột, xáo trộn, những trung thành đối nghịch, chiến tranh nội tâm và sự va chạm của các quan điểm phân kỳ. |
|
b. A sensitivity to ideas. This amounts in the earlier stages to a flexibility of response, amounting almost to instability, and producing constant change of viewpoint. This leads eventually to a sensitivity to the intuition which will enable an individual to distinguish promptly between the unreal and the real. |
b. Một sự nhạy cảm đối với các ý tưởng. Trong các giai đoạn đầu, điều này tương đương với một sự linh hoạt trong đáp ứng, gần như thành bất ổn, và tạo ra sự thay đổi quan điểm liên tục. Cuối cùng điều này dẫn đến một sự nhạy cảm đối với trực giác, điều sẽ giúp một cá nhân phân biệt nhanh chóng giữa cái không thực và cái thực. |
|
c. A process of detachment. This is the difficult and painful process of laying down the lines of demarcation between the soul and the personality. This inevitably produces at first separation and divided interests, leading later to a submergence of personality interests in those of the Plan, and the absorption of personal desire in the aspects of the soul. |
c. Một tiến trình tách rời. Đây là tiến trình khó khăn và đau đớn của việc vạch ra những đường phân giới giữa linh hồn và phàm ngã. Điều này tất yếu lúc đầu tạo ra sự phân ly và những mối quan tâm chia rẽ, về sau dẫn đến sự dìm các mối quan tâm của phàm ngã vào trong những mối quan tâm của Thiên Cơ, và sự hấp thụ ham muốn cá nhân vào các phương diện của linh hồn. |
|
d. A period of creativity, due to the third aspect of the soul which is the creator aspect. This development will produce definite habit changes in the physical plane life of the aspirant. It will lead to the consecration of the disciple to certain types of endeavour summed up in the words “artistic career”. |
d. Một giai đoạn sáng tạo, do phương diện thứ ba của linh hồn, tức phương diện sáng tạo. Sự phát triển này sẽ tạo ra những thay đổi rõ rệt về thói quen trong đời sống cõi hồng trần của người chí nguyện. Nó sẽ dẫn đến sự thánh hiến của đệ tử đối với một số loại nỗ lực nhất định, được tóm lại trong các từ “sự nghiệp nghệ thuật”. |
|
These four effects of soul activity, which are in reality only the pouring in of soul force, through the channel of contact which the man has opened, will give to psychology the four [707] major causes of the present world difficulty. Each of these causes holds latent within itself its own solution. The present conflict, the widespread response to widely different ideologies, the economic pressure leading to material depredation, a most certain creativity of all the arts in the world today, and a new standard of values, are all problems confronting the trained thinker and psychologist. These conditioning effects are all of them to be seen among men today. |
Bốn hiệu quả này của hoạt động linh hồn, mà thực ra chỉ là sự tuôn đổ của mãnh lực linh hồn qua kênh tiếp xúc mà con người đã mở ra, sẽ đem lại cho tâm lý học bốn [707] nguyên nhân chính của khó khăn hiện nay của thế giới. Mỗi nguyên nhân này đều hàm chứa tiềm tàng trong chính nó giải pháp riêng của nó. Cuộc xung đột hiện nay, sự đáp ứng rộng khắp đối với những ý hệ rất khác nhau, áp lực kinh tế dẫn đến sự cướp đoạt vật chất, một tính sáng tạo hết sức rõ rệt trong mọi ngành nghệ thuật trên thế giới ngày nay, và một tiêu chuẩn giá trị mới, tất cả đều là những vấn đề đang đối diện với nhà tư tưởng lão luyện và nhà tâm lý học. Tất cả những hiệu quả tác động này đều có thể thấy nơi con người ngày nay. |
|
2. The emergence of world government. This emergence will be the result of these “five areas of difficulty”, and the consequence of a more general understanding of: |
2. Sự xuất hiện của chính quyền thế giới. Sự xuất hiện này sẽ là kết quả của “năm lĩnh vực khó khăn” này, và là hệ quả của một sự thấu hiểu tổng quát hơn về: |
|
a. The causes of unrest. |
a. Những nguyên nhân của tình trạng bất an. |
|
b. The point in evolution reached by humanity. |
b. Điểm tiến hoá mà nhân loại đã đạt tới. |
|
c. The crises which must inevitably occur when man, the integrated human being, meets man, the spiritual reality. |
c. Những cuộc khủng hoảng tất yếu phải xảy ra khi con người, tức con người tích hợp, gặp con người, tức thực tại tinh thần. |
|
d. The moment of opportunity which is upon us. This is the result of certain astronomical happenings, such as the pouring in of energy from a new sign in the Zodiac, and the shift of the earth’s pole. |
d. Thời cơ đang ở trước mắt chúng ta. Đây là kết quả của một số biến cố thiên văn, như sự tuôn đổ năng lượng từ một dấu hiệu hoàng đạo mới, và sự dịch chuyển của cực Trái Đất. |
|
3. The development of the new art. This will be expressive of a sensitive response to ideas. The art of the past expressed largely man’s understanding of the beauty of God’s created world, whether it was the phenomenal wonder of nature or the beauty of the human form. The art of today is as yet almost a childish attempt to express the world of feeling and of inner moods and those emotionally psychological reactions which govern the bulk of the race. They are, however, to the world of feeling-expression what the drawings of the cave man are to the art of Leonardo da Vinci. It is in the realm of words [708] today that this new art is most adequately expressing itself. The art of music will be the next approach nearer to the truth, and to the revelation of the emerging beauty; the art of the painter and of the sculptor will follow later. None of this is the art of expressing ideas creatively, which will be the glory of the Aquarian Age. |
3. Sự phát triển của nghệ thuật mới. Nghệ thuật này sẽ biểu lộ một sự đáp ứng nhạy bén đối với các ý tưởng. Nghệ thuật của quá khứ phần lớn biểu lộ sự thấu hiểu của con người về vẻ đẹp của thế giới do Thượng đế sáng tạo, dù đó là kỳ quan hiện tượng của thiên nhiên hay vẻ đẹp của hình thể con người. Nghệ thuật ngày nay cho đến nay hầu như vẫn chỉ là một nỗ lực gần như trẻ con nhằm biểu lộ thế giới của cảm xúc và những tâm trạng bên trong cùng những phản ứng tâm lý cảm xúc chi phối phần lớn nhân loại. Tuy nhiên, chúng đối với thế giới biểu lộ cảm xúc cũng giống như những bức vẽ của người hang động đối với nghệ thuật của Leonardo da Vinci. Chính trong lĩnh vực ngôn từ [708] ngày nay mà nghệ thuật mới này đang tự biểu lộ một cách thích đáng nhất. Nghệ thuật âm nhạc sẽ là bước tiếp cận kế tiếp gần hơn với chân lý và với sự mặc khải của vẻ đẹp đang xuất hiện; nghệ thuật hội họa và điêu khắc sẽ theo sau về sau. Không điều nào trong số này là nghệ thuật biểu lộ các ý tưởng một cách sáng tạo, điều sẽ là vinh quang của Kỷ Nguyên Bảo Bình. |
|
3. The understanding of diseases of mystics, or the physical ills of the highly developed people of the world. These are predominantly psychological in character and may remain submerged in the realm of the mind and of sensitivity or they may work out as physiological effect with a definite psychological basis. These forms of physical disease are the most difficult to handle and are at present little understood. What do modern scientific investigators know of the distinction between those neurotic and psychological troubles which are based on personality integration, or on excessive soul stimulation, and those which are the result of wrong polarisation? On these matters we may not here enlarge as the theme is too vast. It can, however, be noted that a recognition of the soul ray (as it makes its presence felt in the personality), will very frequently lead to definite psychological trouble. It might be well to add here a word of warning. We must be careful not to let our desire for soul contact fool us at this time into believing that our present physical difficulties (if there are any) are the result of this soul contact. It would be quite surprising if this were so. They are far more apt to be the result of astral polarisation, of physical unwisdom and experimentation, and perhaps of the too rapid integration of the three aspects of the personality. |
3. Sự thấu hiểu các bệnh tật của các nhà thần bí, hay những bệnh tật thể xác của những người phát triển cao trên thế giới. Chúng chủ yếu mang tính tâm lý và có thể vẫn chìm dưới trong lĩnh vực của trí tuệ và của tính nhạy cảm, hoặc có thể biểu hiện thành hiệu quả sinh lý với một nền tảng tâm lý rõ rệt. Những dạng bệnh thể xác này là khó xử lý nhất và hiện nay ít được thấu hiểu. Các nhà nghiên cứu khoa học hiện đại biết gì về sự phân biệt giữa những rối loạn thần kinh và tâm lý dựa trên sự tích hợp phàm ngã, hoặc trên sự kích thích linh hồn quá mức, với những rối loạn là kết quả của sự phân cực sai lầm? Về những vấn đề này, ở đây chúng ta không thể bàn rộng vì đề tài quá bao la. Tuy nhiên, có thể lưu ý rằng việc nhận biết cung linh hồn (khi nó làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận trong phàm ngã) rất thường sẽ dẫn đến những rối loạn tâm lý rõ rệt. Có lẽ nên thêm vào đây một lời cảnh báo. Chúng ta phải cẩn thận đừng để ước muốn tiếp xúc linh hồn của mình đánh lừa mình vào lúc này mà tin rằng những khó khăn thể xác hiện nay của mình (nếu có) là kết quả của sự tiếp xúc linh hồn này. Nếu quả thật như vậy thì sẽ khá đáng ngạc nhiên. Chúng rất có thể là kết quả của sự phân cực cảm dục, của sự thiếu minh triết hồng trần và thử nghiệm, và có lẽ của sự tích hợp quá nhanh của ba phương diện của phàm ngã. |
|
In these four points there is probably indicated enough to [709] make clear, or at least to suggest two important things. First, that much, if not all that can be seen going on in the world today, is caused by a greatly increased soul stimulation, to which the entire human family is reacting, even though, as individuals, they have not made a soul contact. This increased stimulation is due to two things— |
Trong bốn điểm này có lẽ đã nêu ra đủ để [709] làm sáng tỏ, hoặc ít nhất gợi ý, hai điều quan trọng. Thứ nhất, phần lớn, nếu không phải là tất cả, những gì có thể thấy đang diễn ra trên thế giới ngày nay đều do một sự kích thích linh hồn gia tăng mạnh mẽ gây ra, mà toàn thể gia đình nhân loại đang đáp ứng, dù với tư cách cá nhân họ chưa tạo được tiếp xúc linh hồn. Sự kích thích gia tăng này là do hai điều— |
|
1. A great many men, and the number is rapidly increasing, are making contact with their souls through an intense aspiration and—in many cases—very real desperation. |
1. Rất nhiều người nam và nữ, và con số này đang tăng nhanh, đang tiếp xúc với linh hồn của họ qua một khát vọng mãnh liệt và—trong nhiều trường hợp—một sự tuyệt vọng rất thực. |
|
2. The Hierarchy of Masters is exceedingly active today, and this is due to two things:— |
2. Thánh đoàn các Chân sư hiện nay hoạt động vô cùng mạnh mẽ, và điều này là do hai nguyên nhân:— |
|
a. The demand on the part of humanity which has reached Their attention continuously for the past few decades, and which is calling out an inevitable response. |
a. Nhu cầu từ phía nhân loại, trong vài thập niên qua đã liên tục đạt tới sự chú ý của Các Ngài, và đang kêu gọi một sự đáp ứng tất yếu. |
|
b. A stimulation of the planetary Hierarchy itself. This leads many in the ranks of the Hierarchy to pass through one of the higher initiations. They therefore become much more potent and their influence is much more magnetic and radiating. |
b. Một sự kích thích của chính Thánh đoàn hành tinh. Điều này khiến nhiều vị trong hàng ngũ Thánh đoàn đi qua một trong những lần điểm đạo cao hơn. Vì thế các vị trở nên mạnh mẽ hơn nhiều và ảnh hưởng của các vị có từ tính và bức xạ mạnh hơn nhiều. |
|
If we take the four points above enumerated and apply them both to the individual and to the race, we will find the answers to many questions, and the potency of the effects can be noted. |
Nếu chúng ta lấy bốn điểm đã liệt kê ở trên và áp dụng chúng cho cả cá nhân lẫn nhân loại, chúng ta sẽ tìm thấy câu trả lời cho nhiều câu hỏi, và có thể nhận thấy sức mạnh của các hiệu quả. |
|
A study of the egoic ray, when rightly understood, will give the clue to all that is happening today. It might be stated that, in the initial stage of this study, the theme should be approached as follows: A close analysis of the life, quality and characteristics of the aspirants in the world should be made from the standpoint of modern, academic, psychological research, but the fact of the soul should be accepted as a hypothetical possibility. From that premise, the investigator [710] can seek to understand the complexity of the nature of the men and the women under observation. |
Một nghiên cứu về cung chân ngã, khi được thấu hiểu đúng đắn, sẽ cho chìa khóa đối với mọi điều đang xảy ra ngày nay. Có thể nói rằng, trong giai đoạn đầu của nghiên cứu này, đề tài nên được tiếp cận như sau: Cần thực hiện một sự phân tích chặt chẽ về đời sống, phẩm tính và đặc điểm của những người chí nguyện trên thế giới từ quan điểm của nghiên cứu tâm lý học hiện đại, hàn lâm, nhưng sự kiện về linh hồn nên được chấp nhận như một khả năng giả định. Từ tiền đề đó, nhà nghiên cứu [710] có thể tìm cách thấu hiểu tính phức tạp trong bản chất của những người nam và nữ đang được quan sát. |
|
Some study of the psychology of the mystics (mostly those of the Middle Ages and therefore of the past), and some understanding of the phenomena which they experienced, has been carried forward. Little, however, has been done in connection with the mystics of modern times, with their higher mental equipment and their wider knowledge of the world. Nothing has been done really as yet in relation to the psychology of the occultist, who is only the mystic functioning on a higher plane—that of the mind. These are the brilliant people, normal in most of their expressions of life but possessing that something plus which differentiates them from the rank and file of their fellow men. They rise to the top of their profession, whatever it may be; they have outstanding creative ability in some department of the creative arts; they are phenomenally magnetic and influential in their effect on others; they unify and blend and gather around them groups of people. |
Một số nghiên cứu về tâm lý học của các nhà thần bí (phần lớn là những người thuộc thời Trung Cổ và vì thế thuộc về quá khứ), và một số thấu hiểu về các hiện tượng mà họ đã trải nghiệm, đã được tiến hành. Tuy nhiên, rất ít điều đã được thực hiện liên quan đến các nhà thần bí thời hiện đại, với trang bị thượng trí cao hơn và kiến thức rộng hơn về thế giới của họ. Thực sự cho đến nay chưa có gì được làm liên quan đến tâm lý học của nhà huyền bí học, vốn chỉ là nhà thần bí hoạt động trên một cõi cao hơn—đó là cõi trí. Đây là những người xuất chúng, bình thường trong phần lớn các biểu hiện đời sống của họ nhưng sở hữu một điều gì đó thêm vào khiến họ khác biệt với hàng ngũ đông đảo đồng loại của họ. Họ vươn lên hàng đầu trong nghề nghiệp của mình, bất kể đó là nghề gì; họ có năng lực sáng tạo nổi bật trong một lĩnh vực nào đó của nghệ thuật sáng tạo; họ có từ tính và ảnh hưởng phi thường trong tác động của họ lên người khác; họ hợp nhất, dung hợp và quy tụ quanh mình những nhóm người. |
|
This group of advanced people is coming increasingly under the influence of, and responding to, the energy of their souls. They do this either consciously through aspiration, meditation and service, or unconsciously, simply expressing their point in evolution and demonstrating the work done in other lives. This group might be regarded in many ways as supernormal. Its members are frequently misunderstood and it is difficult to account for all that they are and do. They dominate in world affairs, in the realm of art or in the world of business and are the guiding group in the world today. They are found active in government and in churches. They express predominantly a sense of responsibility, or a sense of synthesis, or a sense of God, or a sense of beauty, and modern psychology must answer the question: What is it that differentiates [711] these people from their fellowmen? Heredity, opportunity, environment and the state of the glandular equipment, are some of the reasons brought forth today, but the question really remains unanswered, and will so remain until some understanding is gained of egoic unfoldment, and of soul contact, with its consequences:—stimulation, integration, the inflow of energy, and the use of that energy, according to the predisposition of the man and his group response. |
Nhóm người tiến bộ này ngày càng chịu ảnh hưởng của năng lượng linh hồn họ và đang đáp ứng với nó. Họ làm điều này либо một cách hữu thức qua khát vọng, tham thiền và phụng sự, hoặc một cách vô thức, chỉ đơn giản biểu lộ điểm tiến hoá của mình và chứng tỏ công việc đã làm trong những kiếp sống khác. Nhóm này có thể được xem theo nhiều cách như là siêu thường. Các thành viên của nó thường bị hiểu lầm và khó giải thích được tất cả những gì họ là và làm. Họ chi phối trong các công việc thế giới, trong lĩnh vực nghệ thuật hay trong thế giới kinh doanh và là nhóm dẫn đạo trên thế giới ngày nay. Họ được thấy hoạt động trong chính quyền và trong các giáo hội. Họ biểu lộ chủ yếu một ý thức trách nhiệm, hoặc một ý thức tổng hợp, hoặc một ý thức về Thượng đế, hoặc một ý thức về cái đẹp, và tâm lý học hiện đại phải trả lời câu hỏi: Điều gì phân biệt [711] những người này với đồng loại của họ? Di truyền, cơ hội, môi trường và tình trạng của bộ máy tuyến nội tiết là một số lý do được đưa ra ngày nay, nhưng câu hỏi thực sự vẫn chưa được giải đáp, và sẽ còn như vậy cho đến khi đạt được một số thấu hiểu về sự khai mở chân ngã, và về tiếp xúc linh hồn, cùng các hệ quả của nó:—sự kích thích, sự tích hợp, dòng năng lượng tuôn vào, và việc sử dụng năng lượng đó, tùy theo khuynh hướng sẵn có của con người và sự đáp ứng nhóm của y. |
|
Much has been given in this Treatise on the Seven Rays which should serve to clarify the problem. The soul ray of an individual, the soul ray of a nation, the potency in time and space of an incoming or an outgoing ray—all these give hints and clues to the understanding of the problem and should eventually lead to a better handling of the human being and his equipment, both by himself and by those who are endeavouring to handle him. |
Nhiều điều đã được trình bày trong Luận về Bảy Cung này, điều lẽ ra phải giúp làm sáng tỏ vấn đề. Cung linh hồn của một cá nhân, cung linh hồn của một quốc gia, sức mạnh trong thời gian và không gian của một cung đang đi vào hay đang rút ra—tất cả những điều này đều đưa ra những gợi ý và đầu mối để thấu hiểu vấn đề và cuối cùng sẽ dẫn đến việc xử lý con người và bộ máy của y tốt hơn, cả bởi chính y lẫn bởi những ai đang nỗ lực xử lý y. |
|
Sometimes I ask myself what real use can be made of this teaching and whether the wealth of information is of real service. Knowledge when given must be used; it must be made of practical application in the daily life. Upon all of you who read these words, as they come fresh from my heart, my mind and lips, rests a duty of doing three things, which I give to you in the order of their importance: |
Đôi khi tôi tự hỏi có thể sử dụng giáo huấn này một cách thực sự như thế nào và liệu sự phong phú của thông tin này có thực sự hữu ích hay không. Tri thức khi được ban ra phải được sử dụng; nó phải được áp dụng thực tiễn trong đời sống hằng ngày. Trên tất cả các bạn là những người đọc những lời này, khi chúng tuôn ra tươi mới từ trái tim, trí tuệ và môi miệng tôi, đặt lên một bổn phận phải làm ba điều, mà tôi trao cho các bạn theo thứ tự quan trọng của chúng: |
|
1. The moulding of your daily lives upon the basis of the imparted truth, if it is to you indeed a truth. It is perhaps to you simply interesting, a fascinating side line of study; perhaps it is something which it pleases you to get because of its novelty and because it is a little different from the general run of teaching; perhaps it pleases you to get these instructions a little ahead of the rest of humanity. All these reactions are of small importance, [712] being those of the personality. They are perhaps the most probable reactions for the majority. If there is nothing deeper in your reaction than those I have mentioned, then these teachings are not for you, for the responsibility upon your shoulders is thereby very great; but if you are attempting, no matter in how small a way, to apply the truth as you see it to your own life, then they are for you. |
1. Uốn nắn đời sống hằng ngày của các bạn trên cơ sở chân lý đã được truyền đạt, nếu quả thật đối với các bạn nó là chân lý. Có lẽ đối với các bạn nó chỉ đơn giản là điều thú vị, một ngành nghiên cứu bên lề hấp dẫn; có lẽ đó là điều làm các bạn thích thú khi tiếp nhận vì tính mới lạ của nó và vì nó hơi khác với dòng giáo huấn thông thường; có lẽ các bạn thích thú khi nhận được những huấn thị này sớm hơn phần còn lại của nhân loại một chút. Tất cả những phản ứng này đều ít quan trọng, [712] vì đó là những phản ứng của phàm ngã. Có lẽ đó là những phản ứng có khả năng xảy ra nhất đối với đa số. Nếu trong phản ứng của các bạn không có gì sâu xa hơn những điều tôi đã nêu, thì những giáo huấn này không dành cho các bạn, vì trách nhiệm đặt trên vai các bạn do đó là rất lớn; nhưng nếu các bạn đang cố gắng, dù chỉ theo cách nhỏ bé đến đâu, áp dụng chân lý như các bạn thấy nó vào đời sống riêng của mình, thì chúng là dành cho các bạn. |
|
2. The building of that structure of thought which will embody this newer teaching. You can—if you so desire—help construct the thought form of the New Age teaching. You do this, above all, by your thought; by your practical application of any truth, which you may have understood, to your personal life at any cost; by your sacrifice and your service to your fellow men and by the constant dissemination of any knowledge which you may possess. |
2. Xây dựng cấu trúc tư tưởng sẽ thể hiện giáo huấn mới hơn này. Các bạn có thể—nếu các bạn muốn—giúp kiến tạo Hình tư tưởng của giáo huấn Kỷ Nguyên Mới. Trên hết, các bạn làm điều này bằng tư tưởng của mình; bằng việc áp dụng thực tiễn bất kỳ chân lý nào mà các bạn có thể đã thấu hiểu vào đời sống cá nhân của mình bằng bất cứ giá nào; bằng sự hi sinh và sự phụng sự của các bạn đối với đồng loại; và bằng việc không ngừng phổ biến bất kỳ tri thức nào mà các bạn có thể sở hữu. |
|
3. Distribution of the teaching over a long period of time. Have you done anything along this line, thus shouldering your responsibility? |
3. Phân phối giáo huấn trong một thời gian dài. Các bạn đã làm gì theo đường hướng này chưa, và như thế gánh lấy trách nhiệm của mình chưa? |
b. THE PRECIPITATION OF THE CRISIS—SỰ NGƯNG TỤ CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG
|
The plans as established by the Hierarchy concern primarily two things: first, the plans for bringing about world stabilisation. This is essential if the human being is to find adequate time for the unfoldment of his consciousness, and for the recognition of his soul. In these two latter requirements all successful hierarchical work is covered, as far as humanity is concerned. Secondly, the programme for the immediate future, with its definite physical plane adjustments and its tentative suggestion for world cooperation. Why do we use the word “tentative”? We use it because (as has oft been stated) even the advanced members of the Hierarchy [713] do not know finally the manner in which humanity will react, or the quality or the capacity of its ultimate achievement. |
Các kế hoạch như được Thánh đoàn thiết lập chủ yếu liên quan đến hai điều: thứ nhất, các kế hoạch nhằm đem lại sự ổn định thế giới. Điều này là thiết yếu nếu con người muốn tìm được thời gian thích đáng cho sự khai mở tâm thức của mình, và cho sự nhận biết linh hồn của mình. Trong hai đòi hỏi sau này, toàn bộ công việc thành công của Thánh đoàn, xét theo phương diện nhân loại, đều được bao hàm. Thứ hai, chương trình cho tương lai gần, với những điều chỉnh rõ rệt trên cõi hồng trần và gợi ý tạm thời của nó về sự hợp tác thế giới. Tại sao chúng ta dùng từ “tạm thời”? Chúng ta dùng nó vì (như đã thường được nói) ngay cả những thành viên tiến bộ của Thánh đoàn [713] cũng không biết rốt cuộc nhân loại sẽ đáp ứng theo cách nào, hay phẩm tính hoặc năng lực của thành tựu tối hậu của nó. |
|
I have endeavoured above, carefully and simply, to express the immediate purpose of the hierarchical effort, as the Council met to prepare for the future. Is it possible for us to conceive the import of that phrase “for the future”? The past is gone, beyond recall; that fleeting moment which we call the present time is determined by that past of which it becomes a part in the flash of a second. It was the preparation for the future and the laying of those plans which will cover the coming destiny of humanity during the immediate decade which was of significant and engrossing importance to the assembled Masters, and also of basic interest to any student of the Ageless Wisdom and to the disciples of the Great Ones. |
Ở trên, tôi đã cố gắng, một cách cẩn trọng và đơn giản, trình bày mục đích trước mắt của nỗ lực của Thánh đoàn, khi Hội Đồng họp để chuẩn bị cho tương lai. Chúng ta có thể nào quan niệm được ý nghĩa của cụm từ “cho tương lai” ấy không? Quá khứ đã qua, không thể gọi lại; khoảnh khắc thoáng qua mà chúng ta gọi là hiện tại được quyết định bởi quá khứ ấy, mà nó trở thành một phần của quá khứ đó trong chớp mắt một giây. Chính sự chuẩn bị cho tương lai và việc đặt ra những kế hoạch sẽ bao trùm vận mệnh sắp đến của nhân loại trong thập niên trước mắt là điều có tầm quan trọng sâu sắc và cuốn hút đối với các Chân sư tụ hội, và cũng là mối quan tâm căn bản đối với bất kỳ đạo sinh nào của Minh Triết Ngàn Đời và đối với các đệ tử của Các Đấng Cao Cả. |
|
Only that is of importance to us which provides a needed momentum for action, and which will also give to the working disciple of the world a vision of sufficient clarity and an adequate incentive to enable him to work with sincerity and understanding. This is often forgotten. So much is said and written these days which purports to come from the Great Ones and which is stated to embody Their will and Their intention. It is based on astral sensitivity and astral reaction to the many thought forms found upon the astral plane; these include among their number many thought forms of the Great Ones. These thought forms necessarily exist, and are built by the devotion of the aspirants of the world, and by the selfish spiritual ambition of those aspirants. They are not constructed by the disciples of the world, for no man is admitted to the status of accepted discipleship until he has at least overcome the worst aspects of personal ambition. This freedom from ambition is proved or expressed by personal reticence and by freedom from the publicity-making activities of the aspirants of the world, and also by freedom from the [714] making of statements as to relationship or status. It might be well for us to ponder on these words. |
Đối với chúng ta, chỉ điều gì cung cấp một động lực cần thiết cho hành động, và cũng đem lại cho đệ tử hoạt động của thế giới một tầm nhìn đủ rõ ràng cùng một động cơ thích đáng để giúp y làm việc với sự chân thành và thấu hiểu, mới là điều quan trọng. Điều này thường bị quên lãng. Ngày nay có quá nhiều điều được nói và viết mà được cho là đến từ Các Đấng Cao Cả và được tuyên bố là thể hiện ý chí và ý định của Các Ngài. Nó dựa trên tính nhạy cảm cảm dục và phản ứng cảm dục đối với nhiều Hình tư tưởng được tìm thấy trên cõi cảm dục; trong số đó có nhiều Hình tư tưởng của Các Đấng Cao Cả. Những Hình tư tưởng này tất yếu tồn tại, và được xây dựng bởi lòng sùng tín của những người chí nguyện trên thế giới, và bởi tham vọng tinh thần ích kỷ của những người chí nguyện ấy. Chúng không được kiến tạo bởi các đệ tử của thế giới, vì không ai được thừa nhận vào địa vị đệ tử được chấp nhận cho đến khi y ít nhất đã vượt qua những phương diện tệ hại nhất của tham vọng cá nhân. Sự giải thoát khỏi tham vọng này được chứng minh hay biểu lộ bằng sự kín đáo cá nhân và bằng sự tự do khỏi các hoạt động tạo tiếng tăm của những người chí nguyện trên thế giới, và cũng bằng sự tự do khỏi việc [714] đưa ra những tuyên bố về mối liên hệ hay địa vị. Có lẽ chúng ta nên suy ngẫm về những lời này. |
|
The preliminary plans which the members of the hierarchical Council considered might be stated to be as follows, regarding those plans as spheres of cooperation for the Masters implicated and for those among men who are minded to serve in cooperative activity: |
Những kế hoạch sơ bộ mà các thành viên của Hội Đồng Thánh đoàn đã xem xét có thể được nêu như sau, nếu coi những kế hoạch ấy là những phạm vi hợp tác dành cho các Chân sư liên hệ và cho những ai trong nhân loại có tâm phụng sự trong hoạt động hợp tác: |
|
1. The reduction of the pressure upon humanity by the means of a steady stabilising of world thought. Today it is the fears of man—expressed in thought, and therefore frequently backed by action—which lead them into the impasse of war and into any form of destructive activity. The pressure is created by man’s desire for betterment as well as by the spiritual downpouring of the soul. It is this dual activity of the higher and of the lower which produces the crisis. When these two meet there is, of course, no conflict; but there is, however, a sense of strain, a pressure which seems past endurance, and an impasse from which there appears no exit. This may be a difficult truth to grasp, but the present world crisis is largely brought about by the bringing together of these two types of energy. It is with this problem that the Masters are today grappling. A human aspiration and a condition of struggle towards improvement brings about a period in which the spiritual urge on the part of masses of men shows itself in three ways: |
1. Giảm bớt áp lực đè lên nhân loại bằng phương tiện ổn định đều đặn tư tưởng thế giới. Ngày nay chính những nỗi sợ của con người—được biểu lộ trong tư tưởng, và vì thế thường được hậu thuẫn bằng hành động—dẫn họ vào ngõ cụt của chiến tranh và vào bất kỳ hình thức hoạt động hủy diệt nào. Áp lực được tạo ra bởi khát vọng cải thiện của con người cũng như bởi sự tuôn đổ tinh thần của linh hồn. Chính hoạt động nhị nguyên này của cái cao và cái thấp tạo ra cuộc khủng hoảng. Khi hai điều này gặp nhau thì dĩ nhiên không có xung đột; tuy nhiên, lại có một cảm giác căng thẳng, một áp lực dường như vượt quá sức chịu đựng, và một ngõ cụt dường như không có lối ra. Đây có thể là một chân lý khó nắm bắt, nhưng cuộc khủng hoảng thế giới hiện nay phần lớn được gây ra bởi sự đưa hai loại năng lượng này lại với nhau. Chính với vấn đề này mà các Chân sư ngày nay đang vật lộn. Một khát vọng nhân loại và một tình trạng đấu tranh hướng tới cải thiện đem lại một giai đoạn trong đó sự thúc đẩy tinh thần nơi quần chúng biểu lộ theo ba cách: |
|
a. The urge to betterment already noted. |
a. Sự thôi thúc hướng tới cải thiện đã được ghi nhận. |
|
b. The organisation of the minds of men, so that new ideas can be gripped and understood. |
b. Sự tổ chức trí tuệ của con người, để các ý tưởng mới có thể được nắm bắt và thấu hiểu. |
|
c. The recognition by the spiritually minded that today is the day of opportunity. |
c. Sự nhận biết của những người có tâm trí tinh thần rằng ngày nay là ngày cơ hội. |
|
[715] |
[715] |
|
Will it be of any assistance and any incentive towards renewed effort if we observe the words “the day”, and not “a day?” This is a period of immense cyclic importance. |
Liệu có giúp ích gì và có tạo động lực cho nỗ lực được đổi mới nếu chúng ta lưu ý đến các từ “ngày”, chứ không phải “một ngày” không? Đây là một giai đoạn có tầm quan trọng chu kỳ vô cùng lớn lao. |
|
2. The renewed organisation of the New Group of World Servers. How far have we really yet grasped the task of this group, or the significance of its membership? It is a group of men and women who are upon the Path of Discipleship or upon the Path of Probation, and it is divided into two major divisions: |
2. Tái tổ chức Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Chúng ta thực sự đã nắm được đến đâu nhiệm vụ của nhóm này, hay ý nghĩa của tư cách thành viên của nó? Đây là một nhóm những người nam và nữ đang ở trên Con Đường Đệ Tử hoặc trên Con Đường Dự Bị, và nó được chia thành hai phân bộ chính: |
|
a. A group composed of disciples who are consciously working with the Plan and of those who, instructed by them, are consciously and voluntarily cooperating. In this latter category we can find ourselves if we so desire and if we are willing to make the necessary sacrifices. |
a. Một nhóm gồm các đệ tử đang làm việc một cách hữu thức với Thiên Cơ và những người, được họ chỉ dạy, đang hợp tác một cách hữu thức và tự nguyện. Trong loại sau này, chúng ta có thể tìm thấy chính mình nếu muốn và nếu sẵn lòng thực hiện những hi sinh cần thiết. |
|
b. A group composed of aspirants and world-conscious men and women, who are working unconsciously under the guidance of the planetary Hierarchy. There are many such, particularly in high places today, who are fulfilling the part of destroyers of the old form or of builders of the new. They are not conscious of any inner synthetic plan, but are selflessly occupied in meeting world need as best they can, with playing parts in the national dramas, or with persistently working in the field of education. The first group is in touch with the planetary Hierarchy and it works, if we might so express it, under hierarchical inspiration. The second is in closer touch with the masses of men and works more definitely under the inspiration of ideas. |
b. Một nhóm gồm những người chí nguyện và những người nam và nữ có tâm thức thế giới, đang làm việc một cách vô thức dưới sự hướng dẫn của Thánh đoàn hành tinh. Có nhiều người như vậy, đặc biệt ở những địa vị cao ngày nay, đang hoàn thành vai trò của những kẻ phá hủy hình tướng cũ hoặc những người kiến tạo hình tướng mới. Họ không ý thức về bất kỳ kế hoạch tổng hợp nội tại nào, nhưng đang vô ngã bận rộn đáp ứng nhu cầu thế giới hết sức mình, đóng vai trong các vở kịch quốc gia, hoặc kiên trì làm việc trong lĩnh vực giáo dục. Nhóm thứ nhất tiếp xúc với Thánh đoàn hành tinh và làm việc, nếu có thể nói như vậy, dưới cảm hứng của Thánh đoàn. Nhóm thứ hai tiếp xúc gần gũi hơn với quần chúng và làm việc rõ rệt hơn dưới cảm hứng của các ý tưởng. |
|
The first group is occupied with the Plan as its [716] members can vision and grasp its essentiality, whilst the second works more definitely with the ideas which are today slowly emerging in the consciousness of the more sensitive members of the human family. These ideas are gradually instilled into humanity by the Hierarchy and by the senior workers in the first group. This first group is relatively small, and when first the information was communicated about the New Group of World Servers, (which was later embodied in the pamphlet, “The Next Three Years”), the number of conscious disciples was given as being under two hundred. Since then this number has materially increased owing to two causes: First: certain men and women are arriving at maturity. This has developed in them a recognition of their hierarchical status as disciples. Secondly: the unfolding of other human beings and their spiritual development as a result of the stimulation and the relatively successful work of the previous three years. The number of conscious disciples in the world today (1939), is nearly one thousand. We are here considering those disciples who are definitely working in the groups of those Masters Who are pledged to the present experiment. |
Nhóm thứ nhất bận tâm với Thiên Cơ theo mức độ mà các thành viên của nó có thể có linh thị và nắm bắt tính thiết yếu của nó, trong khi nhóm thứ hai làm việc rõ rệt hơn với các ý tưởng đang từ từ xuất hiện ngày nay trong tâm thức của những thành viên nhạy bén hơn của gia đình nhân loại. Những ý tưởng này dần dần được Thánh đoàn và các người hoạt động cao cấp trong nhóm thứ nhất truyền vào nhân loại. Nhóm thứ nhất này tương đối nhỏ, và khi thông tin về Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian lần đầu được truyền đạt, (sau đó được đưa vào tập sách nhỏ, “Ba Năm Kế Tiếp”), số đệ tử hữu thức được cho là dưới hai trăm. Kể từ đó con số này đã tăng lên đáng kể do hai nguyên nhân: Thứ nhất: một số người nam và nữ đang đạt đến độ chín muồi. Điều này đã phát triển nơi họ một sự nhận biết về địa vị đệ tử của họ trong Thánh đoàn. Thứ hai: sự khai mở của những con người khác và sự phát triển tinh thần của họ do kết quả của sự kích thích và công việc tương đối thành công của ba năm trước. Số đệ tử hữu thức trên thế giới ngày nay (1939) gần một ngàn. Ở đây chúng ta đang xét đến những đệ tử đang làm việc rõ rệt trong các nhóm của những Chân sư đã cam kết với cuộc thử nghiệm hiện nay. |
|
It should perhaps be pointed out here that the entire planetary Hierarchy, though cognisant of the present endeavour and therefore participating in the plans of the Council, are not all occupied with the problem of humanity in this present moment of crisis. There are many other lines of activity and of evolutionary expediency and undertaking which must parallel the present endeavour. Work in relation to other kingdoms in nature (both subhuman and superhuman), and work in preparation for the period [717] which must succeed this present time of crisis must be continued as usual. In the higher levels of the New Group of World Servers, the many divisions of hierarchical effort are represented, but there are, nevertheless, a large number of disciples in the world today who are in no way associated with the present plans. This is a point to be remembered. |
Có lẽ nên chỉ ra ở đây rằng toàn thể Thánh đoàn hành tinh, tuy nhận biết nỗ lực hiện nay và vì thế tham dự vào các kế hoạch của Hội Đồng, nhưng không phải tất cả đều bận tâm với vấn đề của nhân loại trong thời điểm khủng hoảng hiện nay. Có nhiều đường hoạt động và những công việc thích đáng cho tiến hoá khác phải song hành với nỗ lực hiện nay. Công việc liên quan đến các giới khác trong thiên nhiên (cả dưới nhân loại lẫn trên nhân loại), và công việc chuẩn bị cho giai đoạn [717] phải tiếp nối thời kỳ khủng hoảng hiện nay này, phải được tiếp tục như thường lệ. Trong các cấp cao hơn của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, nhiều phân bộ của nỗ lực Thánh đoàn đều được đại diện, nhưng tuy vậy, hiện nay vẫn có một số lượng lớn đệ tử trên thế giới không hề liên kết với các kế hoạch hiện nay. Đây là một điểm cần ghi nhớ. |
|
3. The awakening of the intelligentsia in all countries to the recognition of humanity as a prelude to the establishment of brotherhood. The unity of the human family is recognised by many, but before that unity can take form in constructive measures, it is essential that more and more of the thinking men and women throughout the world should break down the mental barriers existing between races, nations and types, and that the New Group of World Servers should itself repeat in the outer world that type of activity which the Hierarchy expressed when it developed and materialised the Group. Through the expression and impression of certain great ideas, men everywhere must be brought to the understanding of the fundamental ideals which will govern the New Age. This is the major task of the New Group of World Servers. |
3. Đánh thức giới trí thức ở mọi quốc gia để nhận biết nhân loại như một bước mở đầu cho việc thiết lập tình huynh đệ. Sự hợp nhất của gia đình nhân loại được nhiều người công nhận, nhưng trước khi sự hợp nhất đó có thể thành hình trong các biện pháp xây dựng, điều thiết yếu là ngày càng nhiều những người nam và nữ biết suy nghĩ trên khắp thế giới phải phá bỏ các rào cản trí tuệ đang tồn tại giữa các nhân loại, các quốc gia và các loại người, và bản thân Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian phải lặp lại trong thế giới bên ngoài loại hoạt động mà Thánh đoàn đã biểu lộ khi phát triển và hiện hình Nhóm này. Qua sự biểu lộ và sự gây ấn tượng của một số ý tưởng lớn, con người ở khắp nơi phải được đưa đến chỗ thấu hiểu những lý tưởng căn bản sẽ chi phối Kỷ Nguyên Mới. Đây là nhiệm vụ chính của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. |
|
One of the objectives considered by the Council in May, 1937, was the method of deepening the hold these new ideas must have on members of the New Group of World Servers. Thus the stimulation of the spiritual life of the group members, and consequently their sensitivity to the Plan will be carried forward. They will then be not only consciously in touch with the plans, but they will be occultly imbued by them, and in this way the radiating influence of the Group will be greatly enhanced. This will bring about an outer expression of real [718] group importance and of such vital necessity that, during the next few years, the new ideas must become the ideals of the thinking level of the race. If this does not take place, the immediate salvaging of humanity will have to be postponed and a further period of distress and of widespread disciplining must then inevitably result. It is this urgency that is discussed in these pages, and it is this immediate need, and this momentous crisis with which the Hierarchy had to deal in its May Council of 1937. |
Một trong những mục tiêu được Hội Đồng xem xét vào tháng Năm năm 1937 là phương pháp làm sâu sắc thêm sự nắm giữ mà những ý tưởng mới này phải có trên các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Nhờ đó, sự kích thích đời sống tinh thần của các thành viên trong nhóm, và do đó tính nhạy cảm của họ đối với Thiên Cơ, sẽ được xúc tiến. Khi ấy họ sẽ không chỉ tiếp xúc hữu thức với các kế hoạch, mà còn được chúng thấm nhuần một cách huyền bí, và theo cách này ảnh hưởng bức xạ của Nhóm sẽ được tăng cường rất nhiều. Điều này sẽ đem lại một biểu hiện bên ngoài của tầm quan trọng nhóm thực sự [718] và của một nhu cầu sống còn đến mức, trong vài năm tới, những ý tưởng mới phải trở thành những lý tưởng của cấp độ tư duy của nhân loại. Nếu điều này không xảy ra, việc cứu vãn tức thời nhân loại sẽ phải bị trì hoãn và khi đó tất yếu sẽ dẫn đến một giai đoạn đau khổ hơn nữa và sự rèn luyện rộng khắp hơn nữa. Chính tính cấp bách này được bàn đến trong những trang này, và chính nhu cầu trước mắt này cùng cuộc khủng hoảng trọng đại này mà Thánh đoàn đã phải xử lý trong Hội Đồng tháng Năm năm 1937 của mình. |
|
4. The final aspect of the situation with which the Masters concerned dealt, is in fact, the precipitation of an imminent crisis. This precipitation is inevitable and its effects must be foreseen and dealt with in such a manner that its catastrophic results will be offset, and its subjective significances utilised to the full. |
4. Phương diện cuối cùng của tình hình mà các Chân sư liên hệ đã xử lý, thực ra là sự ngưng tụ của một cuộc khủng hoảng sắp xảy ra. Sự ngưng tụ này là điều không thể tránh khỏi và các hiệu quả của nó phải được thấy trước và được xử lý theo cách sao cho các kết quả thảm khốc của nó sẽ được hóa giải, và các thâm nghĩa chủ quan của nó được sử dụng đến mức tối đa. |
|
Having stated the four major points of consideration (which came before the Council in May, 1937, and which are all related to the impending world crisis), it is needful that we should point out two things:— |
Sau khi đã nêu bốn điểm xem xét chính (đã được đưa ra trước Hội Đồng vào tháng Năm năm 1937, và tất cả đều liên hệ đến cuộc khủng hoảng thế giới đang đến gần), cần phải chỉ ra hai điều:— |
|
1. That this crisis is imminent and of epoch-making effects for two reasons. |
1. Cuộc khủng hoảng này đang cận kề và có những hiệu quả mang tính thời đại vì hai lý do. |
|
a. The work carried forward during the previous five years along spiritual lines had been definitely successful. This has caused a vital spiritual awakening in every land, and was the result of the activity and work of the first division of the New Group of World Servers. |
a. Công việc được tiến hành trong năm năm trước đó theo các đường hướng tinh thần đã thành công rõ rệt. Điều này đã gây ra một sự thức tỉnh tinh thần sống động ở mọi xứ sở, và là kết quả của hoạt động và công việc của phân bộ thứ nhất của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. |
|
b. The strenuous efforts of the second division in the New Group of World Servers have also been successful. These people are far more the instruments of divine activity rather than conscious cooperators with the Plan. |
b. Những nỗ lực mạnh mẽ của phân bộ thứ hai trong Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian cũng đã thành công. Những người này là công cụ của hoạt động thiêng liêng nhiều hơn là những người hợp tác hữu thức với Thiên Cơ. |
|
[719] |
[719] |
|
2. That the Masters are not primarily concerned with the prevention of disaster to the form aspect of humanity, desirable as human beings might consider that objective. The salvaging of the form is but incidental to the Plan. The work of the Hierarchy is concerned with the expansion and awakening of the human consciousness, and that, in its turn, has an effect upon the form. It is possible (and so the Masters regard it) to lay such an emotional strain and mental stress upon the mechanism of human expression on the physical plane that the lessons cannot be adequately learned because the immediate physical stress is too great to permit the recognition and the assimilation of the significance of the event. Therefore the Masters, when meeting at the Council of May, 1937, had to consider the offsetting of the strain. Humanity can get too tired to react, and this fact constituted a definite problem with which the Hierarchy had to deal. |
2. Các Chân sư không chủ yếu quan tâm đến việc ngăn ngừa tai họa cho phương diện hình tướng của nhân loại, dù con người có thể xem mục tiêu đó là đáng mong muốn đến đâu. Việc cứu vãn hình tướng chỉ là điều phụ thuộc đối với Thiên Cơ. Công việc của Thánh đoàn liên quan đến sự mở rộng và thức tỉnh tâm thức nhân loại, và điều đó đến lượt nó có ảnh hưởng lên hình tướng. Có thể (và các Chân sư nhìn nhận như vậy) đặt một sự căng thẳng cảm xúc và áp lực trí tuệ lên bộ máy biểu lộ của con người trên cõi hồng trần đến mức các bài học không thể được học một cách thích đáng vì áp lực thể xác trước mắt quá lớn, không cho phép nhận biết và đồng hoá thâm nghĩa của biến cố. Vì vậy, khi họp tại Hội Đồng tháng Năm năm 1937, các Chân sư đã phải xem xét việc hóa giải sự căng thẳng đó. Nhân loại có thể trở nên quá mệt mỏi đến mức không còn đáp ứng, và sự kiện này tạo thành một vấn đề rõ rệt mà Thánh đoàn phải xử lý. |
|
It will be apparent, therefore, if we have read the above intelligently and have endeavoured to synthesise it with the state of world affairs as far as we know it, that the problems before the assembled Council were three in number. More than these three, humanity cannot grasp nor do the facts concern them. There were necessarily many other problems, but they are of such a nature that we could not comprehend them, and it would not be possible to express these problems in words which would convey intelligible meaning to us. The three problems which came under consideration were: |
Do đó, nếu chúng ta đã đọc điều trên một cách thông minh và đã cố gắng tổng hợp nó với tình trạng công việc thế giới theo mức độ chúng ta biết, thì sẽ rõ rằng các vấn đề trước Hội Đồng tụ hội có ba điều. Nhân loại không thể nắm bắt nhiều hơn ba điều này, và các sự kiện khác cũng không liên quan đến họ. Tất nhiên còn có nhiều vấn đề khác, nhưng chúng có bản chất đến mức chúng ta không thể hiểu được, và cũng không thể diễn đạt những vấn đề ấy bằng những từ ngữ có thể chuyển tải ý nghĩa dễ hiểu cho chúng ta. Ba vấn đề được đem ra xem xét là: |
|
1. The right resolution of the present crisis, so that equilibrium could be restored. |
1. Sự giải quyết đúng đắn cuộc khủng hoảng hiện nay, để sự quân bình có thể được phục hồi. |
|
2. The stimulation of the New Group of World Servers so that they could— |
2. Kích thích Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian để họ có thể— |
|
a. Recognise the emergency, |
a. Nhận biết tình trạng khẩn cấp, |
|
[720] |
[720] |
|
b. Define the plan more clearly, |
b. Xác định kế hoạch rõ ràng hơn, |
|
c. Become more sensitive to inner, subjective, spiritual impression, |
c. Trở nên nhạy bén hơn đối với sự gây ấn tượng bên trong, chủ quan, tinh thần, |
|
d. Make the necessary sacrifices demanded for the success of the plan, |
d. Thực hiện những hi sinh cần thiết mà sự thành công của kế hoạch đòi hỏi, |
|
e. Radiate more effectively out into the world of humanity. |
e. Bức xạ hữu hiệu hơn vào thế giới nhân loại. |
|
3. How to keep the forces which had been set in motion since 1914 within certain definite limits. |
3. Làm thế nào để giữ những mãnh lực đã được khởi động từ năm 1914 trong những giới hạn rõ rệt nhất định. |
|
These forces are many in number and it is possible to indicate the nature of some of them. This is done, however, more for the sake of future understanding and future rational comprehension than because we can specifically do anything in particular in relation to them. Let me simply list them, and if we read with the eye of the inner vision open, and with our intuition alert and awake, perhaps some apprehension of the problems before the Council may dawn upon our minds. It is not possible to enlarge upon these forces, nor may we interpret them. We can simply state what are facts to the Hierarchy but which may only be an interesting supposition, hypothesis or chimera to us: |
Những mãnh lực này rất nhiều, và có thể chỉ ra bản chất của một số trong chúng. Tuy nhiên, điều này được làm nhiều hơn vì lợi ích của sự thấu hiểu trong tương lai và sự lĩnh hội hợp lý trong tương lai hơn là vì hiện nay chúng ta có thể đặc biệt làm được điều gì liên quan đến chúng. Hãy để tôi chỉ đơn giản liệt kê chúng, và nếu chúng ta đọc với con mắt linh thị mở ra, và với trực giác tỉnh táo và thức dậy, có lẽ một phần nào đó sự lĩnh hội về những vấn đề trước Hội Đồng có thể lóe lên trong trí tuệ chúng ta. Không thể bàn rộng về những mãnh lực này, cũng không được phép diễn giải chúng. Chúng ta chỉ có thể nêu ra những gì là sự kiện đối với Thánh đoàn nhưng đối với chúng ta có thể chỉ là một giả định, giả thuyết hay ảo tưởng thú vị: |
|
1. The cumulative forces of the great Piscean Age—powerful, fundamental and, at this time, destructive. To these forces the unenlightened masses react; for them they are the line of least resistance. When we say masses, we refer to all who do not truly think, but who believe and who accept on the lower or ordinary levels of consciousness. |
1. Những mãnh lực tích lũy của Kỷ Nguyên Song Ngư vĩ đại—mạnh mẽ, căn bản và, vào lúc này, có tính hủy diệt. Quần chúng chưa giác ngộ đáp ứng với những mãnh lực này; đối với họ, đó là con đường ít trở ngại nhất. Khi chúng tôi nói quần chúng, chúng tôi muốn nói đến tất cả những ai không thực sự suy nghĩ, mà chỉ tin và chấp nhận ở những cấp độ thấp hơn hay thông thường của tâm thức. |
|
2. The incoming forces of the Aquarian Age. These are having a wide and general effect upon the ethers around the earth, upon the vegetation everywhere, upon the waters of the planet, and upon all human beings in the world today who are learning to think. The Aquarian inspiration is being registered by all who come under the [721] influence of the new “schools of thought”, so-called. The interpretation of the sensed ideals may be in error, but the power to respond to the new forces is there, and the effect upon the mind and brain is real and lasting. One of the first effects is the stabilising of emotional reaction. |
2. Những mãnh lực đang đi vào của Kỷ Nguyên Bảo Bình. Chúng đang có một hiệu quả rộng lớn và tổng quát lên các dĩ thái quanh Trái Đất, lên thực vật ở khắp nơi, lên các vùng nước của hành tinh, và lên tất cả mọi người trên thế giới ngày nay đang học cách suy nghĩ. Cảm hứng Bảo Bình đang được ghi nhận bởi tất cả những ai chịu [721] ảnh hưởng của những “trường phái tư tưởng” mới, như người ta gọi vậy. Sự diễn giải các lý tưởng được cảm nhận có thể sai lầm, nhưng năng lực đáp ứng với các mãnh lực mới là có đó, và hiệu quả lên trí tuệ và bộ não là thực và lâu bền. Một trong những hiệu quả đầu tiên là sự ổn định của phản ứng cảm xúc. |
|
3. Influential and potent forces pouring in at this time from the great stars Betelgeuse and Sirius. To these two influences, the disciples of the world in the senior ranks of the New Group of World Servers definitely react, and they produce a stimulation of the heart centre (Betelgeuse) and the head centre (Sirius). The secondary effect of these energies is upon the mineral kingdom, particularly upon that peculiar product, gold, and that enigma, money. |
3. Những mãnh lực có ảnh hưởng và mạnh mẽ đang tuôn vào lúc này từ các đại tinh tú Betelgeuse và Sirius. Đối với hai ảnh hưởng này, các đệ tử của thế giới trong những hàng ngũ cao cấp của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đáp ứng một cách rõ rệt, và chúng tạo ra một sự kích thích trung tâm tim (Betelgeuse) và trung tâm đầu (Sirius). Hiệu quả thứ yếu của các năng lượng này là lên giới kim thạch, đặc biệt lên sản phẩm đặc biệt ấy là vàng, và câu đố ấy là tiền bạc. |
|
4. Venusian forces of great potency are also playing upon our planet. In this connection, I would suggest that astrologers would be well advised to pay more attention to the activity and the influence of Venus. Much emphasis has been laid upon Saturn and Mars in the charts now considered. In the future, equal emphasis will have to be paid to the planet Venus, which in the Aquarian age will supersede Mars as a basic influence. |
4. Các mãnh lực Kim Tinh có sức mạnh lớn cũng đang tác động lên hành tinh chúng ta. Về điểm này, tôi muốn gợi ý rằng các nhà chiêm tinh học nên chú ý nhiều hơn đến hoạt động và ảnh hưởng của Sao Kim. Hiện nay trong các lá số đang được xem xét, quá nhiều nhấn mạnh đã được đặt lên Sao Thổ và Sao Hỏa. Trong tương lai, sự nhấn mạnh ngang bằng sẽ phải được đặt lên hành tinh Sao Kim, hành tinh mà trong kỷ nguyên Bảo Bình sẽ thay thế Sao Hỏa như một ảnh hưởng căn bản. |
|
5. The forces of the planetary entity who is beginning to stir in his long sleep, and is therefore causing much of the physical, cataclysmic phenomena of the present time. With this we have naught to do except to register the fact. |
5. Các mãnh lực của Thực Thể Hành Tinh đang bắt đầu cựa mình trong giấc ngủ dài của y, và vì thế đang gây ra phần lớn các hiện tượng hồng trần, biến động dữ dội của thời hiện tại. Với điều này chúng ta không có gì để làm ngoài việc ghi nhận sự kiện ấy. |
|
6. The energy of the united Hierarchy of the planet which has lately made one of its “Great Approaches” to the physical plane. This necessarily entails a more potent and significant and rapid pouring forth of the force of the Hierarchy with the subsequent stimulation of the higher centres in those sons of men who have reached the [722] point of their evolution where they are close enough to their own souls to be affected. They are then mentally polarised, and consequently react potently to this influence. |
6. Năng lượng của Thánh đoàn hợp nhất của hành tinh, gần đây đã thực hiện một trong những “Đại Tiếp Cận” của mình đến cõi hồng trần. Điều này tất yếu kéo theo một sự tuôn đổ mạnh mẽ hơn, có ý nghĩa hơn và nhanh hơn của mãnh lực Thánh đoàn, với sự kích thích tiếp theo của các trung tâm cao hơn nơi những người con của nhân loại đã đạt đến [722] điểm tiến hoá mà tại đó họ đủ gần với linh hồn riêng của mình để bị ảnh hưởng. Khi ấy họ phân cực trí tuệ, và do đó đáp ứng mạnh mẽ với ảnh hưởng này. |
|
7. The energy of the New Group of World Servers, which (up to ten years ago) was a relatively negligible factor even though present, but which is now increasingly a force with which to reckon. From certain angles, the energy of this group constitutes the hope of the world, and the task of increasing that potency is the task which is being laid before us today. |
7. Năng lượng của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, mà (cho đến mười năm trước) là một yếu tố tương đối không đáng kể dù vẫn hiện diện, nhưng hiện nay ngày càng là một mãnh lực phải được tính đến. Từ một số góc độ, năng lượng của nhóm này cấu thành niềm hy vọng của thế giới, và nhiệm vụ gia tăng sức mạnh đó là nhiệm vụ đang được đặt ra trước chúng ta ngày nay. |
|
8. There is also the powerful vibratory influence of those men and women in the world who are today active in world affairs. From the side of the Hierarchy and the use of spiritual energy, these men and women are regarded as doors into human life, because through them the energy of certain great world souls, world potencies and Masters can be expressed. There are many such, and one of the tasks before the Council is to balance these forces in such a manner that they do not upset world equilibrium beyond the point of the reestablishment of balance. Students need to remember that a Master inevitably takes certain risks and chances when He “occultly inspires” a soul and drives a man to unconscious cooperation with the Plan. We must remember, however, that there is no infringing of human freedom, even by a Master. Sometimes a disciple or a member of the New Group of World Servers will (metaphorically speaking) take the bit between his teeth, and this will produce disaster and frequently a temporary destruction of that part of the Plan with which he has been entrusted. |
8. Cũng còn có ảnh hưởng rung động mạnh mẽ của những người nam và nữ ấy trong thế giới, những người ngày nay đang hoạt động trong các công việc thế giới. Từ phía Thánh đoàn và việc sử dụng năng lượng tinh thần, những người nam và nữ này được xem như những cánh cửa đi vào đời sống nhân loại, bởi vì qua họ, năng lượng của một số đại linh hồn thế giới, các mãnh lực thế giới và các Chân sư có thể được biểu lộ. Có nhiều người như thế, và một trong những nhiệm vụ đặt ra trước Hội Đồng là quân bình các lực này theo cách sao cho chúng không làm đảo lộn thế quân bình thế giới vượt quá điểm tái lập quân bình. Các đạo sinh cần nhớ rằng một Chân sư tất yếu phải chấp nhận một số rủi ro và khả năng khi Ngài “truyền cảm hứng huyền bí” cho một linh hồn và thúc đẩy một người đến chỗ hợp tác vô thức với Thiên Cơ. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng không hề có sự xâm phạm tự do của con người, ngay cả bởi một Chân sư. Đôi khi một đệ tử hay một thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian sẽ (nói theo ẩn dụ) cắn chặt hàm thiếc trong miệng mình, và điều này sẽ gây ra tai họa và thường là sự phá hủy tạm thời phần Thiên Cơ mà y đã được giao phó. |
|
[723] |
[723] |
|
9. Certain forces which we (in our ignorance and lack of perspective), may call evil or black forces. In worldly parlance, these forces are connected with what is regarded as the black side of nature and of energy. They are wielded by great and powerful human beings, the majority of whom are out of physical incarnation. They work from the astral plane and primarily through the agency of groups. These groups—being composed of ignorant, unstable, selfish and ambitious men—provide an easy field for their efforts. For this so-called evil work, the average individual in the group is not responsible, though there is usually to be found in the group those who are willfully ambitious and selfish. Though the individual penalty is light, and the individual responsibility is small, yet the effectiveness of this method is very great. The result is in the nature of group obsession, which is a relatively new thing, but also is today becoming increasingly frequent. |
9. Một số lực mà chúng ta (trong sự vô minh và thiếu tầm nhìn của mình) có thể gọi là các lực xấu xa hay lực đen tối. Trong ngôn ngữ thế tục, các lực này gắn liền với điều được xem là mặt tối của bản chất và của năng lượng. Chúng được vận dụng bởi những con người vĩ đại và đầy quyền lực, mà đa số hiện không còn đang lâm phàm trên cõi hồng trần. Chúng hoạt động từ cõi cảm dục và chủ yếu thông qua các nhóm. Những nhóm này—vì được cấu thành bởi những người vô minh, bất ổn, ích kỷ và đầy tham vọng—cung cấp một môi trường dễ dàng cho các nỗ lực của chúng. Đối với công việc được gọi là xấu xa này, cá nhân trung bình trong nhóm không phải chịu trách nhiệm, dù trong nhóm thường vẫn có những kẻ cố ý tham vọng và ích kỷ. Tuy hình phạt cá nhân là nhẹ, và trách nhiệm cá nhân là nhỏ, nhưng hiệu quả của phương pháp này lại rất lớn. Kết quả mang tính chất ám ảnh tập thể, một điều tương đối mới, nhưng ngày nay cũng đang trở nên ngày càng thường xuyên hơn. |
|
These are some of the forces which are bringing about and constituting the world problem, and with these the Council has had to deal. All these forces are today playing upon humanity, and this whirlpool of energies is sweeping humanity into a period of definitely chaotic destruction, unless the Masters of the Wisdom, working through the New Group of World Servers in both its dimensions, can arrest the process and bring order into a distressed and agonising world. |
Đó là một số lực đang gây ra và cấu thành vấn đề thế giới, và Hội Đồng đã phải đề cập đến chúng. Ngày nay tất cả các lực này đang tác động lên nhân loại, và cơn lốc xoáy năng lượng này đang cuốn nhân loại vào một thời kỳ hủy diệt hỗn loạn rõ rệt, trừ phi các Chân sư của minh triết, hoạt động qua Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian trong cả hai chiều kích của nó, có thể chặn đứng tiến trình ấy và đem trật tự vào một thế giới đau khổ và quằn quại. |
|
Therefore, the May full moon Council of 1937 was one of real import and of vital significance. Just as the full moon of May, 1936, saw an effort of the Masters and of the world of disciples to approach nearer to each other and thus establish a closer rapport, so the full moon of May, 1937, witnessed the laying down of certain lines of activity which, if rightly apprehended, [724] and worked out into physical manifestation, could definitely change the present exoteric world situation. It also saw the re-stimulation of the New Group of World Servers, so that their group integration might constantly become more effective, and the personal lives of the group members become definitely more consecrated, more dedicated to humanity, and more influential in service. At the full moon of May, 1936, there was in evidence an inner, subjective, spiritual effort. This was definitely successful. The full moon of May, 1937, saw the establishing and the stabilising of the exoteric outer effect, of which the earlier effort was naturally and automatically the cause. Yet the problem remains ever the same;—can the inner condition, spiritual, potential, idealistic, subjective and sensed be so clearly formulated and considered that nothing whatever can stop its materialising through the medium of some constructive and living form upon the physical plane? Can the inner integration of the New Group of World Servers find exoteric expression? |
Vì vậy, Hội Đồng kỳ trăng tròn tháng Năm năm 1937 là một sự kiện thực sự quan trọng và có thâm nghĩa thiết yếu. Cũng như kỳ trăng tròn tháng Năm năm 1936 đã chứng kiến một nỗ lực của các Chân sư và của thế giới đệ tử nhằm đến gần nhau hơn và như thế thiết lập một mối tương giao chặt chẽ hơn, thì kỳ trăng tròn tháng Năm năm 1937 đã chứng kiến việc đặt ra một số đường lối hoạt động mà, nếu được lĩnh hội đúng đắn, [724] và được triển khai thành biểu hiện trên cõi hồng trần, có thể dứt khoát thay đổi tình hình ngoại môn hiện nay của thế giới. Nó cũng chứng kiến sự kích thích trở lại Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, để sự tích hợp nhóm của họ có thể liên tục trở nên hữu hiệu hơn, và đời sống cá nhân của các thành viên trong nhóm trở nên rõ rệt hơn trong sự thánh hiến, tận tụy hơn với nhân loại, và có ảnh hưởng hơn trong phụng sự. Vào kỳ trăng tròn tháng Năm năm 1936, đã có biểu hiện của một nỗ lực bên trong, chủ quan, tinh thần. Điều này đã thành công rõ rệt. Kỳ trăng tròn tháng Năm năm 1937 đã chứng kiến việc thiết lập và ổn định hiệu quả ngoại môn bên ngoài, mà nỗ lực trước đó dĩ nhiên và tự động là nguyên nhân. Tuy nhiên, vấn đề vẫn luôn như cũ;—liệu điều kiện bên trong, tinh thần, tiềm tàng, lý tưởng, chủ quan và được cảm nhận có thể được hình thành và xem xét rõ ràng đến mức không điều gì có thể ngăn cản nó hiện hình qua trung gian của một hình tướng sống động và có tính xây dựng nào đó trên cõi hồng trần hay không? Liệu sự tích hợp bên trong của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian có thể tìm được biểu hiện ngoại môn hay không? |
|
A prolonged period of such moments and points of danger can, nevertheless, in itself constitute a momentous crisis. The fanning of the hot embers (if persisted in long enough) must eventually bring about a conflagration. What then can be done to institute those arrangements and outer understandings (based on the inner inspiration) which will end this cycle of danger points, and permit the racial consciousness to subside into a period of quiet and of freedom? |
Tuy nhiên, một thời kỳ kéo dài của những khoảnh khắc và điểm nguy hiểm như thế tự nó có thể cấu thành một cuộc khủng hoảng trọng đại. Việc quạt bùng những than hồng nóng bỏng (nếu kéo dài đủ lâu) rốt cuộc ắt phải gây nên một trận hỏa hoạn lớn. Vậy thì có thể làm gì để thiết lập những sắp xếp và những sự thấu hiểu bên ngoài ấy (dựa trên cảm hứng bên trong) nhằm chấm dứt chu kỳ các điểm nguy hiểm này, và cho phép tâm thức nhân loại lắng xuống trong một thời kỳ yên tĩnh và tự do? |
|
The Hierarchy is doing all that is possible, but under the plan of unfoldment for the Aryan Race, the activity needed for the creative work must be inaugurated and carried forward by disciples, working in the outer world and by aspirants to the path of discipleship, who register the world need and earnestly seek to cooperate. This is, therefore, a matter [725] for our consideration and for clear and skillful action in the immediate future. |
Thánh đoàn đang làm tất cả những gì có thể, nhưng theo kế hoạch khai mở dành cho nhân loại Arya, hoạt động cần thiết cho công việc sáng tạo phải được khởi xướng và xúc tiến bởi các đệ tử đang làm việc trong thế giới bên ngoài và bởi những người chí nguyện bước vào con đường địa vị đệ tử, những người ghi nhận nhu cầu của thế giới và tha thiết tìm cách hợp tác. Vì vậy, đây là một vấn đề [725] để chúng ta suy xét và để có hành động rõ ràng, khéo léo trong tương lai gần. |
|
As one contemplates the New Group of World Servers in its many departments—scattered all over the world and embracing the true and earnest seekers in every nation—there can be seen a body of men and women whose numbers and spheres of influence are entirely adequate to bring about the desired changes, if they care enough, are ready enough to make the needed sacrifices, and are willing to sink their organisation differences in the needed activity which would salvage the world, educate the race in a few simple and basic essentials, and so cooperate with each other that there would emerge a united inner movement—working out through the separated outer groups. |
Khi người ta chiêm ngưỡng Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian trong nhiều bộ phận của nó—rải khắp thế giới và bao gồm những người tìm đạo chân thành và tha thiết trong mọi quốc gia—người ta có thể thấy một tập thể những người nam và nữ mà số lượng và phạm vi ảnh hưởng hoàn toàn đủ để mang lại những thay đổi mong muốn, nếu họ đủ quan tâm, đủ sẵn sàng thực hiện những hy sinh cần thiết, và sẵn lòng gác lại những khác biệt tổ chức của mình trong hoạt động cần thiết để cứu vãn thế giới, giáo dục nhân loại về một vài điều cốt yếu đơn giản và căn bản, và hợp tác với nhau đến mức từ đó sẽ xuất hiện một vận động nội tâm hợp nhất—được triển khai qua các nhóm bên ngoài vốn tách biệt. |
|
The Hierarchy held its Council during the week of the full moon of May, 1937. It could and did lay its plans for the helping of humanity. It could, and did mobilise and bring together every possible subjective agency and form of available energy for the stimulating of the human consciousness along right lines. It could, and did impress upon the disciples and aspirants everywhere the necessity of renewed and fresh efforts. But the development and actual functioning of the plans laid down and the actual working out into detailed expression of the intended ameliorative measures must be carried out by the New Group of World Servers, and by the men of good will throughout the world. Only by the united effort of the people of peaceful intention and of innate freedom from hatred can the forces of destruction be offset. These forces have been needed and useful, but the task they were intended to carry out has been accomplished, and that which is no longer required becomes, in its turn, a menace and a source of trouble. |
Thánh đoàn đã họp Hội Đồng trong tuần lễ trăng tròn tháng Năm năm 1937. Thánh đoàn có thể và đã vạch ra các kế hoạch để trợ giúp nhân loại. Thánh đoàn có thể, và đã, huy động và tập hợp mọi tác nhân chủ quan và mọi hình thức năng lượng khả dụng để kích thích tâm thức nhân loại theo những đường hướng đúng đắn. Thánh đoàn có thể, và đã, gây ấn tượng lên các đệ tử và người chí nguyện ở khắp nơi về sự cần thiết của những nỗ lực mới mẻ và được đổi mới. Nhưng sự phát triển và vận hành thực tế của các kế hoạch đã được vạch ra, cũng như việc triển khai thực sự thành biểu hiện chi tiết của những biện pháp cải thiện đã được dự định, phải do Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và những người thiện chí trên khắp thế giới thực hiện. Chỉ bằng nỗ lực hợp nhất của những người có ý hướng hòa bình và bẩm sinh không thù hận, các lực hủy diệt mới có thể được hóa giải. Những lực này đã từng cần thiết và hữu ích, nhưng nhiệm vụ mà chúng được dự định thực hiện nay đã hoàn tất, và điều gì không còn cần thiết nữa thì đến lượt nó trở thành một mối đe dọa và một nguồn rắc rối. |
|
[726] |
[726] |
c. STEPPING DOWN OF HIERARCHICAL METHODS—SỰ GIẢM XUỐNG CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP THÁNH ĐOÀN
|
One of the first things which should be accomplished is the working out upon the physical plane of some of the achievements of the Hierarchy upon the inner side of life. For instance, each department and section of the Hierarchy is working together today as one unit. Though not all of the Masters and Their groups are occupied—as was earlier said—with the immediate problem of the human crisis, yet subjectively, all are engaged with the task of bringing order out of chaos and are working together (each in His own sphere and in the closest mental understanding), so that there are really no divided interests, no separate groups and no difference of opinion—no matter what Their diverse activities may be or Their specific undertakings. This condition must be duplicated, if possible, on the outer plane of physical life also. |
Một trong những điều đầu tiên cần được hoàn thành là triển khai trên cõi hồng trần một số thành tựu của Thánh đoàn ở mặt bên trong của đời sống. Chẳng hạn, mỗi bộ phận và phân khu của Thánh đoàn ngày nay đang làm việc cùng nhau như một đơn vị. Tuy không phải tất cả các Chân sư và các nhóm của Các Ngài đều bận tâm—như đã nói trước đây—với vấn đề cấp bách của cuộc khủng hoảng nhân loại, nhưng về mặt chủ quan, tất cả đều dấn thân vào nhiệm vụ đem trật tự ra từ hỗn loạn và đang làm việc cùng nhau (mỗi Ngài trong lĩnh vực riêng của mình và trong sự thấu hiểu trí tuệ chặt chẽ nhất), đến nỗi thực sự không có lợi ích chia rẽ, không có nhóm riêng biệt và không có khác biệt quan điểm—bất kể các hoạt động đa dạng của Các Ngài là gì hay các công việc chuyên biệt của Các Ngài ra sao. Nếu có thể, tình trạng này phải được sao lại trên cõi bên ngoài của đời sống hồng trần. |
|
Complete unanimity cannot be possible; complete subordination of individual and group interest to the general movement towards world understanding and stabilisation cannot as yet be achieved, owing to the selfish ambitions of group leaders, and the separative instincts of the senior workers in any group, who unduly influence the rank and the file of the membership. Yet a definitely closer rapprochement is far more possible today than at any previous time, and some real progress could be made towards mutual understanding if a sufficiently large number of the world aspirants and disciples desired it, if they were willing to participate in such an effort, and made the attempt to organise such a closer coming together and movement towards spiritual understanding. This would entail a restatement of the ideal on the part of each individual aspirant and disciple. It would involve a re-dedication of each of them to the immediate urgency of the Plan and to the demand coming to their ears of the world distress. [727] It would require the individual formulation of the ideals—sensed dimly or clearly—in terms of sacrifice and the resultant activity. These last few words indicate the attitude requisite and its needed consequences. |
Sự nhất trí hoàn toàn không thể có được; sự phục tùng hoàn toàn lợi ích cá nhân và lợi ích nhóm đối với vận động chung hướng tới sự thấu hiểu và ổn định thế giới hiện vẫn chưa thể đạt được, do những tham vọng ích kỷ của các lãnh đạo nhóm, và những bản năng chia rẽ của các nhân sự cao cấp trong bất kỳ nhóm nào, những người gây ảnh hưởng quá mức lên hàng ngũ thành viên. Tuy nhiên, một sự xích lại gần nhau rõ rệt hơn hiện nay khả dĩ hơn nhiều so với bất kỳ thời điểm nào trước đây, và một số tiến bộ thực sự có thể đạt được hướng tới sự thấu hiểu lẫn nhau nếu một số lượng đủ lớn những người chí nguyện và đệ tử trên thế giới mong muốn điều đó, nếu họ sẵn lòng tham gia vào một nỗ lực như thế, và cố gắng tổ chức một sự đến gần nhau hơn và một vận động hướng tới sự thấu hiểu tinh thần như vậy. Điều này sẽ đòi hỏi mỗi người chí nguyện và đệ tử phải tái phát biểu lý tưởng của mình. Nó sẽ bao hàm việc mỗi người trong họ tái hiến dâng mình cho tính cấp bách trước mắt của Thiên Cơ và cho tiếng kêu của nỗi khổ đau thế giới đang vọng đến tai họ. [727] Nó sẽ đòi hỏi mỗi cá nhân phải hình thành các lý tưởng—được cảm nhận mơ hồ hay rõ ràng—dưới dạng hy sinh và hoạt động phát sinh từ đó. Những lời cuối cùng này chỉ ra thái độ cần thiết và các hệ quả tất yếu của nó. |
|
Therefore, one of the first things which would be of the next immediate assistance to be rendered to the Hierarchy of Masters (and this is only another way of saying, to humanity), is a widespread effort to get in touch with every group leader in the various towns, cities, and countries and continents. This refers to all those group leaders who are sensitive to what we might call the “doctrine of good will”, and who can vision an ideal of group unity, carried forward without any attempt to disturb the normal outer group activity. This will entail the recognition of a common ideal; and the willingness to submerge (even if only temporarily) the points of difference and to emphasise the points of contact. Many might be willing to do this for the period of the emergency and as an interesting experiment, and thus endeavour to carry forward over a limited and stated time a united endeavour to spread good will and understanding in an effort to bring the hatreds of the world to an end. This will also entail the willingness to cooperate with all groups within a given radius of contact and the temporary relinquishing of personal ambitions and methods in order to meet the serious emergency by which humanity is faced. The basis of the possible success of such an effort consists in the fact that within each group are always to be found members of the New Group of World Servers. Upon this fact we can count, and we can depend upon the strength of the inner integration, produced by these synthesising “points of contact”. |
Vì vậy, một trong những điều đầu tiên có thể là sự trợ giúp trực tiếp kế tiếp dành cho Thánh đoàn các Chân sư (và đây chỉ là một cách khác để nói là dành cho nhân loại), là một nỗ lực rộng khắp nhằm tiếp xúc với mọi lãnh đạo nhóm trong các thị trấn, thành phố, quốc gia và châu lục khác nhau. Điều này nói đến tất cả những lãnh đạo nhóm nhạy cảm với điều mà chúng ta có thể gọi là “tâm pháp của thiện chí”, và những người có thể hình dung một lý tưởng về sự hợp nhất nhóm, được xúc tiến mà không có bất kỳ nỗ lực nào nhằm làm xáo trộn hoạt động nhóm bình thường bên ngoài. Điều này sẽ đòi hỏi sự công nhận một lý tưởng chung; và sự sẵn lòng làm chìm xuống (dù chỉ tạm thời) những điểm khác biệt và nhấn mạnh những điểm tiếp xúc. Nhiều người có thể sẵn lòng làm điều này trong thời kỳ khẩn cấp và như một thử nghiệm thú vị, và như thế cố gắng xúc tiến trong một thời gian giới hạn và xác định một nỗ lực hợp nhất nhằm lan truyền thiện chí và sự thấu hiểu trong một cố gắng chấm dứt những hận thù của thế giới. Điều này cũng sẽ đòi hỏi sự sẵn lòng hợp tác với mọi nhóm trong một bán kính tiếp xúc nhất định và tạm thời từ bỏ những tham vọng và phương pháp cá nhân để đối diện với tình trạng khẩn cấp nghiêm trọng mà nhân loại đang phải đương đầu. Nền tảng của thành công khả dĩ của một nỗ lực như thế nằm ở sự kiện rằng trong mỗi nhóm luôn luôn có thể tìm thấy những thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Chúng ta có thể trông cậy vào sự kiện này, và có thể dựa vào sức mạnh của sự tích hợp bên trong, được tạo ra bởi những “điểm tiếp xúc” tổng hợp này. |
|
Another reason for the presumption of success lies in the fact that such an effort will only be the normal working out into physical expression of that which the Masters of the [729] Wisdom—distinctive as to Their fields of service, specific as to Their methods, and widely different as to Their ray and background of evolutionary development—have already established. This attempt on the part of all of us will, therefore, be a duplicating or a paralleling expression of an inner subjective fact. One of the facts upon the agenda of the Council was as to how They could more effectively stimulate the New Group of World Servers so that they could in turn see this vision with clarity, work with renewed optimism, and thus produce on earth the counterpart of the inner spiritual organisation. |
Một lý do khác cho giả định thành công nằm ở sự kiện rằng một nỗ lực như thế sẽ chỉ là sự triển khai bình thường thành biểu hiện hồng trần của điều mà các Chân sư của [729] minh triết—khác biệt về lĩnh vực phụng sự của Các Ngài, chuyên biệt về phương pháp của Các Ngài, và rất khác nhau về cung cũng như bối cảnh phát triển tiến hoá của Các Ngài—đã thiết lập rồi. Vì vậy, nỗ lực này từ phía tất cả chúng ta sẽ là một biểu hiện sao lại hay song hành của một sự kiện chủ quan bên trong. Một trong những sự kiện nằm trong chương trình nghị sự của Hội Đồng là làm thế nào Các Ngài có thể kích thích Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian hữu hiệu hơn để đến lượt họ có thể thấy linh ảnh này một cách rõ ràng, làm việc với sự lạc quan được đổi mới, và như thế tạo ra trên Trái Đất đối phần của tổ chức tinh thần bên trong. |
|
The problem to be met by the disciples and aspirants in the world today is the possibility and right procedure, by means of a more specific and definite “push” or organised activity, to reach the leaders of groups everywhere. It would be well to discuss the ways and means to swing these leaders into a joint activity without interfering with their individual group purposes, loyalties and obligations. |
Vấn đề mà các đệ tử và người chí nguyện trong thế giới ngày nay phải đối diện là khả năng và thủ tục đúng đắn, bằng một “sự thúc đẩy” hay hoạt động có tổ chức cụ thể và rõ rệt hơn, để tiếp cận các lãnh đạo nhóm ở khắp nơi. Sẽ là điều tốt nếu thảo luận các phương cách và phương tiện để đưa những lãnh đạo này vào một hoạt động chung mà không can thiệp vào các mục đích, lòng trung thành và nghĩa vụ nhóm riêng của họ. |
|
Careful work must be put behind this effort. By this is meant considered mental work, subjective reflection, organised visioning and significant sacrifice. A start in this direction has already been made and the same general idea can be extended elsewhere and carefully developed. Group integrity, loyalties and purpose must be preserved, but the cooperation of the groups must be invoked in the task of spreading the healing energy of good will, which, as has been well and truly remarked, is the active principle of peace. And peace—not inert pacifism—is what is needed today. |
Phải có công việc cẩn trọng đứng đằng sau nỗ lực này. Điều đó có nghĩa là công việc trí tuệ được cân nhắc, sự suy tư chủ quan, sự hình dung có tổ chức và sự hy sinh có thâm nghĩa. Một khởi đầu theo hướng này đã được thực hiện rồi và cùng ý tưởng tổng quát ấy có thể được mở rộng ở nơi khác và phát triển một cách cẩn trọng. Sự toàn vẹn, lòng trung thành và mục đích của nhóm phải được bảo tồn, nhưng sự hợp tác của các nhóm phải được khẩn cầu trong nhiệm vụ lan truyền năng lượng chữa lành của thiện chí, mà như đã được nhận xét đúng đắn và chân thực, là nguyên khí hoạt động của hòa bình. Và hòa bình—không phải chủ nghĩa hòa bình thụ động—là điều ngày nay cần đến. |
|
Secondly, a plan should also be drawn up of such a nature that the various peace societies could at least temporarily be swung into an allied and paralleling activity. The leaders of the peace organisations could be approached with a definite and temporary programme, and their cooperation asked. |
Thứ hai, cũng nên vạch ra một kế hoạch có tính chất sao cho các hội đoàn hòa bình khác nhau ít nhất cũng có thể tạm thời được đưa vào một hoạt động liên minh và song hành. Có thể tiếp cận các lãnh đạo của những tổ chức hòa bình với một chương trình xác định và tạm thời, và yêu cầu sự hợp tác của họ. |
|
[729] |
[729] |
|
This programme of unification of the efforts of the more advanced groups in the world will demand sacrifice and satisfactory compromise on both sides, ours and the leaders of such groups, but where there is sincerity of purpose (and there is much) where there is a willingness to recognise the need for change in technique and terminology, then some definite progress can be made and the ranks of the men of good will, as organised under hierarchical impulse, can be greatly increased. It is not necessary for us to discuss in detail the methods which will be needed. Those who respond to this appeal will know the methods they should pursue. It is for those of us who do recognise the validity of this appeal to cooperate and aid, or to know clearly why we will not. |
Chương trình hợp nhất các nỗ lực của những nhóm tiến bộ hơn trên thế giới này sẽ đòi hỏi sự hy sinh và thỏa hiệp thỏa đáng từ cả hai phía, phía chúng ta và phía các lãnh đạo của những nhóm ấy, nhưng nơi nào có sự chân thành về mục đích (và có rất nhiều), nơi nào có sự sẵn lòng nhìn nhận nhu cầu thay đổi trong kỹ thuật và thuật ngữ, thì một số tiến bộ rõ rệt có thể đạt được và hàng ngũ những người thiện chí, được tổ chức dưới xung động của Thánh đoàn, có thể được gia tăng rất nhiều. Chúng ta không cần phải thảo luận chi tiết các phương pháp sẽ cần đến. Những ai đáp ứng lời kêu gọi này sẽ biết các phương pháp mà họ nên theo đuổi. Phần việc của những người chúng ta nhận ra tính xác thực của lời kêu gọi này là hợp tác và trợ giúp, hoặc biết rõ vì sao chúng ta sẽ không làm như vậy. |
|
The Hierarchy is working primarily during the next few years through three groups of Masters who are on the first, second and third rays. Those on the first ray are dealing with the important figures today in world government, for all of them are subject to impression from their souls and all are fulfilling their individual destiny, and influencing their respective nations along the lines of national destiny. The period of intensive and seemingly destructive readjustment has been drastic and needed. This must not be forgotten. Mistakes in techniques have necessarily been made, and oft the law of love has been infringed. Sometimes, however, the love of the form aspect of consciousness has been interpreted as synchronous and similar to the law of love by critics of the methods employed. This is understandable. But the time of the great national readjustments must soon end, and the necessary processes of realignment be completed. This should then inaugurate a period of renewed relationships on a wide scale throughout the world; it should see the beginning of the establishment of friendships and the commencement of a new era of right and constructive world contacts. Hitherto this has never been [730] possible on a large scale, owing to the fact that humanity had not suffered enough and therefore was not adequately sensitive to others. It had no inner integration such as is now possible through our developed means of communication, and the growth of telepathic sensitivity. The abuses of the law of living had not been generally recognised and known for what they are by a sufficient number of people. The work of the great first ray influences is rapidly and materially changing all this, and out of the lessons learnt, the structure of the new civilisation can become possible. |
Thánh đoàn hiện đang làm việc chủ yếu trong vài năm tới qua ba nhóm Chân sư thuộc cung một, cung hai và cung ba. Những vị thuộc cung một đang đề cập đến các nhân vật quan trọng hiện nay trong chính quyền thế giới, vì tất cả họ đều chịu sự gây ấn tượng từ linh hồn mình và tất cả đều đang hoàn thành định mệnh cá nhân của mình, đồng thời ảnh hưởng đến các quốc gia tương ứng của họ theo những đường hướng của định mệnh quốc gia. Thời kỳ tái điều chỉnh mãnh liệt và có vẻ hủy diệt này đã rất quyết liệt và cần thiết. Điều này không được quên. Những sai lầm trong kỹ thuật tất yếu đã xảy ra, và định luật bác ái thường đã bị vi phạm. Tuy nhiên, đôi khi tình thương đối với phương diện hình tướng của tâm thức đã bị những người phê phán các phương pháp được sử dụng diễn giải như đồng thời và tương tự với định luật bác ái. Điều này có thể hiểu được. Nhưng thời kỳ của những tái điều chỉnh quốc gia lớn lao phải sớm chấm dứt, và các tiến trình chỉnh hợp cần thiết phải được hoàn tất. Khi đó, điều này sẽ mở đầu một thời kỳ của những tương quan được đổi mới trên quy mô rộng khắp thế giới; nó sẽ chứng kiến sự khởi đầu của việc thiết lập các tình bằng hữu và sự bắt đầu của một kỷ nguyên mới của những tiếp xúc thế giới đúng đắn và có tính xây dựng. Cho đến nay điều này chưa bao giờ [730] có thể thực hiện trên quy mô lớn, do sự kiện rằng nhân loại chưa chịu khổ đủ và vì thế chưa đủ nhạy cảm với người khác. Nhân loại không có sự tích hợp bên trong như hiện nay có thể có được nhờ các phương tiện truyền thông đã phát triển của chúng ta, và sự tăng trưởng của tính nhạy cảm viễn cảm. Những lạm dụng định luật của sự sống chưa được một số lượng đủ lớn người nhìn nhận và biết đến một cách phổ biến đúng như bản chất của chúng. Công việc của những ảnh hưởng lớn thuộc cung một đang nhanh chóng và thực chất thay đổi tất cả điều này, và từ những bài học đã học được, cấu trúc của nền văn minh mới có thể trở thành khả hữu. |
|
The work of the second ray Masters is now intensifying, and the builders of the new civilisation—working, through the religious organisations, the educational systems of every country and the great army of thinking men and women everywhere—can definitely begin to make their presence felt. It is in this department primarily that the work of the New Group of World Servers can be noted and can be developed. |
Công việc của các Chân sư cung hai hiện đang được tăng cường, và những đấng kiến tạo của nền văn minh mới—làm việc qua các tổ chức tôn giáo, các hệ thống giáo dục của mọi quốc gia và đạo quân đông đảo những người nam và nữ biết suy nghĩ ở khắp nơi—có thể dứt khoát bắt đầu làm cho sự hiện diện của họ được cảm nhận. Chính trong bộ phận này mà công việc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian có thể được ghi nhận và có thể được phát triển. |
|
The question may be raised whether we are omitting to recognise the presence of the vast millions of the unenlightened masses who hang like a heavy millstone around the neck of the leaders of the race, and who are kept down either through fear, through applied poverty (yes, that is the proper term) or through regimentation. These constitute (as may be easily recognised) a harnessed menace, but that harness is rapidly becoming worn, and when the leash slips or breaks, it is difficult to forecast what the dire results may be. The caged wild beast of the unenlightened—and therefore innocent human beings—who work without the means for pleasure or leisure, who are underfed and exploited, cannot indefinitely be held back. The one hope of the world is that the enlightened and responsible people will readjust world relations, world conditions and the world economic situation, so that contentment through the removal of abuses may succeed, [731] and there will be no necessity for the prevailing and seething misery, which is rapidly reaching boiling point. Let us not forget, if this seems to be unduly optimistic, that one light, even if small, can light up a whole area. |
Có thể nêu lên câu hỏi rằng liệu chúng ta có đang bỏ sót việc nhìn nhận sự hiện diện của hàng triệu quần chúng chưa giác ngộ, những người treo như một cối đá nặng quanh cổ các lãnh đạo của nhân loại, và bị đè nén hoặc bởi sợ hãi, hoặc bởi sự nghèo đói bị áp đặt (đúng vậy, đó là thuật ngữ thích hợp) hoặc bởi sự quản thúc tập thể hay không. Những người này cấu thành (như có thể dễ dàng nhận ra) một mối đe dọa bị cương tỏa, nhưng dây cương ấy đang nhanh chóng mòn đi, và khi dây buộc trượt ra hay đứt gãy, thật khó dự báo những hậu quả khủng khiếp có thể là gì. Con thú hoang bị nhốt của những con người chưa giác ngộ—và vì thế vô tội—những người làm việc mà không có phương tiện để hưởng niềm vui hay nhàn rỗi, những người bị thiếu ăn và bị bóc lột, không thể bị kìm giữ mãi mãi. Niềm hy vọng duy nhất của thế giới là những người sáng suốt và có trách nhiệm sẽ tái điều chỉnh các tương quan thế giới, các điều kiện thế giới và tình hình kinh tế thế giới, để sự mãn nguyện nhờ loại bỏ các lạm dụng có thể tiếp nối, [731] và sẽ không còn cần đến tình trạng khốn khổ phổ biến và sôi sục hiện đang nhanh chóng đạt đến điểm bùng nổ. Chúng ta đừng quên, nếu điều này có vẻ quá lạc quan, rằng một ánh sáng, dù nhỏ, cũng có thể soi sáng cả một vùng. |
|
The second ray influences are therefore being poured through the agency of the educational institutions and groups, through the religious bodies and through all men and women who can vision the higher possibilities and the world of spiritual values and of meaning. This is being done in the hope that a united stand will be possible and will produce a synthesis of effort; that this will be productive, in its turn, of a real world stabilisation. |
Vì vậy, các ảnh hưởng cung hai đang được tuôn đổ qua trung gian của các định chế và nhóm giáo dục, qua các tổ chức tôn giáo và qua tất cả những người nam và nữ có thể hình dung những khả năng cao hơn và thế giới của các giá trị tinh thần và của ý nghĩa. Điều này đang được thực hiện với hy vọng rằng một lập trường hợp nhất sẽ trở nên khả hữu và sẽ tạo ra một sự tổng hợp nỗ lực; và đến lượt nó, điều này sẽ sinh ra một sự ổn định thế giới thực sự. |
|
The third ray Masters are working strenuously in the world of business and of finance through the agency of those who are animated by a spirit of selfless service—and there are many such. It is a new field for spiritual endeavour. It is not possible to enlarge within a brief space upon the methods and the plans of the Hierarchy at this time of crisis and emergency in connection with the field of money and its significance and right use. The general method employed is one of inspiration and of the presentation of moments of crisis. These moments offer opportunity for the activity of some disciple, and thus the learning of a needed lesson by the groups or nations implicated becomes possible. The technique employed by these third ray Masters is to develop the minds of aspirants and thinkers in the specific field of business so that they can think in larger terms than those of their own selfish business interests. Moments of contact are also arranged between members of the New Group of World Servers and these prominent people, working in the field of economic enterprise, and thus opportunities are provided for certain recognitions and certain definite cooperation. These are the methods which concern us. There are other subjective and spiritual [732] methods employed which concern us not. If they were outlined in detail to us, they would only serve to bewilder. |
Các Chân sư cung ba đang làm việc hết sức trong thế giới kinh doanh và tài chính qua trung gian của những người được linh hoạt bởi tinh thần phụng sự vô ngã—và có nhiều người như thế. Đây là một lĩnh vực mới cho nỗ lực tinh thần. Trong một khoảng ngắn, không thể trình bày rộng hơn về các phương pháp và kế hoạch của Thánh đoàn vào thời kỳ khủng hoảng và khẩn cấp này liên quan đến lĩnh vực tiền bạc cùng thâm nghĩa và cách sử dụng đúng đắn của nó. Phương pháp tổng quát được sử dụng là một phương pháp cảm hứng và sự trình bày những thời điểm khủng hoảng. Những thời điểm này đem lại cơ hội cho hoạt động của một đệ tử nào đó, và như thế việc học một bài học cần thiết của các nhóm hay quốc gia liên hệ trở nên khả hữu. Kỹ thuật được các Chân sư cung ba này sử dụng là phát triển trí tuệ của những người chí nguyện và những người tư tưởng trong lĩnh vực kinh doanh chuyên biệt để họ có thể suy nghĩ theo những thuật ngữ rộng lớn hơn là những lợi ích kinh doanh ích kỷ của riêng mình. Những thời điểm tiếp xúc cũng được sắp xếp giữa các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và những nhân vật nổi bật này, đang làm việc trong lĩnh vực doanh nghiệp kinh tế, và như thế các cơ hội được cung cấp cho một số sự nhận biết và một số hợp tác rõ rệt. Đó là những phương pháp liên quan đến chúng ta. Còn có những phương pháp chủ quan và tinh thần khác [732] được sử dụng mà không liên quan đến chúng ta. Nếu chúng được phác thảo chi tiết cho chúng ta, chúng chỉ làm tăng thêm sự bối rối. |
|
Let it be emphatically stated here that the major method with which we can concern ourselves, and the most potent instrument in the hands of the spiritual Hierarchy, is the spreading of good will and its fusion into a united and working potency. That expression is to be preferred to the words “the organization of good will”. Good will is today a dream, a theory, a negative force. It should be developed into a fact, a functioning ideal, and a positive energy. That is our work and we are definitely called to cooperate in bringing it about. |
Ở đây cần nhấn mạnh rõ ràng rằng phương pháp chủ yếu mà chúng ta có thể quan tâm đến, và công cụ mạnh mẽ nhất trong tay Thánh đoàn tinh thần, là việc lan truyền thiện chí và dung hợp nó thành một mãnh lực hợp nhất và hoạt động. Cách diễn đạt đó nên được ưa dùng hơn những từ “sự tổ chức thiện chí”. Ngày nay thiện chí là một giấc mơ, một lý thuyết, một lực tiêu cực. Nó nên được phát triển thành một sự kiện, một lý tưởng đang hoạt động, và một năng lượng tích cực. Đó là công việc của chúng ta và chúng ta rõ ràng được kêu gọi hợp tác để làm cho điều đó thành hiện thực. |
|
The task before the New Group of World Servers is great but it is not an impossible task. It is engrossing but as it constitutes an imposed life pattern, it can be worked out in every aspect of a man or woman’s daily life. We are now called to serve intensively for a period of years, to abnormal living, and to the shouldering of a responsibility about which we have known for several years, but which we have not shouldered. Our interest has been powerfully evoked, but not demonstrated as it might have been. The demand for cooperation has been clearly sounded from the inner side, and by the leaders and workers in the New Group of World Servers. We have responded with some aid but not with sacrifice; we have given some assistance but it has been the minimum and not the possible maximum (except in a few cases, whose assistance has been whole hearted and recognised). We have been told that the members of the New Group of World Servers are working in every land to spread good will, world understanding and religious unity. The idea has been reassuring and we have rested back upon their efforts—the efforts of a hard pressed few. |
Nhiệm vụ đặt ra trước Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian là lớn lao nhưng không phải là một nhiệm vụ bất khả. Nó chiếm trọn tâm trí, nhưng vì nó cấu thành một mô hình sống được áp đặt, nên nó có thể được triển khai trong mọi phương diện của đời sống hằng ngày của một người nam hay một người nữ. Giờ đây chúng ta được kêu gọi phụng sự mãnh liệt trong một thời kỳ nhiều năm, sống một đời sống bất thường, và gánh lấy một trách nhiệm mà chúng ta đã biết đến từ nhiều năm nay, nhưng chưa gánh lấy. Mối quan tâm của chúng ta đã được gợi lên mạnh mẽ, nhưng chưa được chứng tỏ như lẽ ra có thể. Nhu cầu hợp tác đã được vang lên rõ ràng từ phía bên trong, và bởi các lãnh đạo cùng những người hoạt động trong Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Chúng ta đã đáp ứng bằng một ít trợ giúp nhưng không bằng hy sinh; chúng ta đã đưa ra một ít hỗ trợ nhưng đó là mức tối thiểu chứ không phải mức tối đa có thể có (ngoại trừ trong một vài trường hợp, nơi sự trợ giúp là toàn tâm toàn ý và đã được nhìn nhận). Chúng ta đã được bảo rằng các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đang làm việc ở mọi quốc gia để lan truyền thiện chí, sự thấu hiểu thế giới và sự hợp nhất tôn giáo. Ý tưởng ấy đã làm chúng ta yên tâm và chúng ta đã dựa lưng vào những nỗ lực của họ—những nỗ lực của một số ít người đang bị dồn ép nặng nề. |
|
[733] |
[733] |
d. URGENCY OF THE NEED AND HOW TO MEET IT—TÍNH CẤP BÁCH CỦA NHU CẦU VÀ CÁCH ĐÁP ỨNG
|
Again let us recognise it—the urgency is great. The emergency is upon us and a united spiritual effort, prayerfully carried forward, wisely adjusted to environing need, widely blended with all the similar efforts which may be working cooperatively in every land with the forces of construction—national, religious and economic—can change the aspect of world affairs in the space of a few years. If there is not an appreciable change in human relations, then there will be little immediate hope of bringing about that united effort which will lead to world stabilisation, interracial and international understanding, economic interdependence and universal good will. For it is the good will of the powerful groups for humanity and therefore for the masses, and the good will of the intelligentsia and of the influential middle classes which will bring about the needed intelligent changes, which can affect every human being. The hope of the world today lies in the development of good will—not peace as the word is usually interpreted, to mean merely an enforced freedom from war, and an expediently enforced pacifism, but the cultivation of a spirit of good will, intelligently applied, and worked out with purpose into the fabric of the individual and national life. |
Một lần nữa, chúng ta hãy nhìn nhận điều đó—tính cấp bách là rất lớn. Tình trạng khẩn cấp đang ở trên chúng ta, và một nỗ lực tinh thần hợp nhất, được xúc tiến trong cầu nguyện, được điều chỉnh một cách khôn ngoan theo nhu cầu chung quanh, được hòa trộn rộng rãi với mọi nỗ lực tương tự có thể đang hoạt động hợp tác ở mọi quốc gia với các lực xây dựng—quốc gia, tôn giáo và kinh tế—có thể thay đổi phương diện của các công việc thế giới chỉ trong vài năm. Nếu không có một thay đổi đáng kể trong các tương quan nhân loại, thì sẽ có rất ít hy vọng trước mắt để mang lại nỗ lực hợp nhất ấy, nỗ lực sẽ dẫn đến sự ổn định thế giới, sự thấu hiểu giữa các nhân loại và giữa các quốc gia, sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế và thiện chí phổ quát. Vì chính thiện chí của các nhóm quyền lực đối với nhân loại và do đó đối với quần chúng, cùng thiện chí của giới trí thức và các tầng lớp trung lưu có ảnh hưởng, sẽ mang lại những thay đổi thông minh cần thiết, những thay đổi có thể tác động đến mọi con người. Niềm hy vọng của thế giới ngày nay nằm trong sự phát triển thiện chí—không phải hòa bình như từ này thường được diễn giải, chỉ có nghĩa là một sự không có chiến tranh bị áp đặt, và một chủ nghĩa hòa bình bị cưỡng bách vì tiện lợi, mà là sự vun bồi một tinh thần thiện chí, được áp dụng một cách thông minh, và được triển khai có mục đích vào trong kết cấu của đời sống cá nhân và quốc gia. |
|
We have here presented to us two modes of approaching the problem. To the consideration of this all of us are called who now are present workers or leaders in the New Group of World Servers, or who desire to enlist ourselves among them. The next consideration is how can these ideas be intelligently understood? How can they evoke the cooperation of aspirants and disciples over the world? |
Ở đây chúng ta được trình bày hai phương thức tiếp cận vấn đề. Tất cả chúng ta đều được kêu gọi xem xét điều này, những người hiện là người hoạt động hay lãnh đạo trong Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, hoặc mong muốn ghi danh mình vào hàng ngũ họ. Điều cần xem xét tiếp theo là làm thế nào những ý tưởng này có thể được thấu hiểu một cách thông minh? Làm thế nào chúng có thể gợi lên sự hợp tác của những người chí nguyện và đệ tử trên khắp thế giới? |
|
Let us state what I see to be possible, and what can be done. [734] if we—each and all—face the issue, deal with the opportunity presented on the basis of responsibility, and come to regard our world service in this crisis as a necessary part of our spiritual life, demanding from us, nevertheless, all that we have to give, plus that supreme extra effort which spells success in every case. This extra effort and this response to the demand for full cooperation, very few of us have yet given. If what is here set forth is true, and if what we know of world affairs gives in any way a true picture of the present world condition (and it is understated, if anything) then any intelligent man or woman can surely see that it is going to take the united sacrificing effort of every unit in the whole body corporate to promote good will as a healing factor (perhaps the only healing factor) in humanity. |
Chúng ta hãy nói rõ điều mà tôi thấy là khả hữu, và điều có thể được thực hiện. [734] nếu chúng ta—mỗi người và tất cả—đối diện với vấn đề, xử lý cơ hội được trình bày trên nền tảng trách nhiệm, và đi đến chỗ xem công việc phụng sự thế giới của mình trong cơn khủng hoảng này như một phần cần thiết của đời sống tinh thần, tuy nhiên vẫn đòi hỏi nơi chúng ta tất cả những gì chúng ta có thể cho, cộng thêm nỗ lực tối thượng phụ trội vốn mang lại thành công trong mọi trường hợp. Nỗ lực phụ trội này và sự đáp ứng đối với đòi hỏi hợp tác trọn vẹn, rất ít người trong chúng ta cho đến nay đã thực hiện. Nếu điều được trình bày ở đây là đúng, và nếu điều chúng ta biết về các công việc thế giới bằng bất kỳ cách nào cho một bức tranh chân thực về tình trạng hiện nay của thế giới (và nếu có gì thì nó còn được nói giảm đi), thì bất kỳ người nam hay người nữ thông minh nào hẳn cũng có thể thấy rằng sẽ cần đến nỗ lực hy sinh hợp nhất của mọi đơn vị trong toàn thể tập thể để thúc đẩy thiện chí như một yếu tố chữa lành (có lẽ là yếu tố chữa lành duy nhất) trong nhân loại. |
|
The following suggestions are offered to those who seek to join in this service: |
Những gợi ý sau đây được đưa ra cho những ai tìm cách tham gia vào sự phụng sự này: |
|
Meditation groups could carry forward their meditations in such a manner that an inner fusion can take place, producing the awakening of the heart centres of the members, and the consequent urge to go forth into the world of daily living to love, to give and to stimulate. |
Các nhóm tham thiền có thể tiến hành các buổi tham thiền của mình theo cách sao cho một sự dung hợp bên trong có thể diễn ra, tạo ra sự thức tỉnh các trung tâm tim của các thành viên, và xung lực tiếp theo là đi ra thế giới của đời sống hằng ngày để yêu thương, cho đi và kích thích. |
|
Privately, and in group gatherings the Great Invocation could be said, including the final words: |
Riêng tư, và trong các buổi họp nhóm, Đại Khấn Nguyện có thể được đọc lên, bao gồm những lời cuối cùng: |
|
“So let it be and help us do our part“. |
“Xin cho điều ấy thành tựu và giúp chúng con làm phần việc của mình”. |
|
There are those who have learned to say these words with intensity of feeling, raising the clasped hands above the head, and then—at the last word—bringing them down to the forehead and then to the heart. The raising of the hands above the head and their return in touching the forehead and the heart are simply symbolic of the lifting of heart and life and consciousness to divinity, and the subsequent and consequent downflow of spiritual life [735] into the personality—the instrument through which the loving soul must work out the expression of good will. |
Có những người đã học cách nói những lời này với cường độ cảm xúc, nâng hai bàn tay chắp lại lên trên đầu, rồi—ở lời cuối cùng—hạ chúng xuống trán rồi xuống tim. Việc nâng hai tay lên trên đầu và đưa chúng trở lại chạm vào trán và tim chỉ đơn giản là biểu tượng của việc nâng tim, đời sống và tâm thức lên với thiên tính, và dòng chảy xuống tiếp theo và hệ quả của sự sống tinh thần [735] vào trong phàm ngã—công cụ qua đó linh hồn bác ái phải triển khai biểu hiện của thiện chí. |
|
The emphasis is laid upon the heart centre and upon the necessity to hold the forces there (symbolised by the clasped hands resting upon the heart) because the heart is the centre of loving, giving energy, and the distributor of life. |
Sự nhấn mạnh được đặt trên trung tâm tim và trên sự cần thiết phải giữ các lực ở đó (được biểu tượng bằng hai bàn tay chắp lại đặt trên tim) bởi vì tim là trung tâm của năng lượng yêu thương và cho đi, và là nơi phân phối sự sống. |
|
It should not be necessary to restate any further what should be done, how anyone should give of himself, or in what way he could contribute for the aiding of humanity. The case has been presented clearly and most definitely. The responsibility now rests upon those who have received the message. One can only observe that until those who know and who have the way out presented to them, consecrate themselves and all that they have without reservation to the helping of the world in its hour of need, the work will not be done and the plans of the Hierarchy cannot then materialise. Should that not eventuate within the near future, then new and perhaps more drastic ways will have to be found. |
Không cần phải nhắc lại thêm nữa điều gì nên được làm, bất kỳ ai nên hiến dâng chính mình như thế nào, hay bằng cách nào y có thể đóng góp để trợ giúp nhân loại. Vấn đề đã được trình bày rõ ràng và hết sức xác định. Trách nhiệm giờ đây đặt trên những ai đã nhận được thông điệp. Người ta chỉ có thể nhận xét rằng cho đến khi những ai biết và những ai được trình bày con đường thoát ra, thánh hiến chính mình và tất cả những gì họ có mà không giữ lại điều gì cho việc trợ giúp thế giới trong giờ phút cần thiết của nó, thì công việc sẽ không được hoàn thành và các kế hoạch của Thánh đoàn khi ấy không thể hiện hình. Nếu điều đó không xảy ra trong tương lai gần, thì những cách thức mới và có lẽ quyết liệt hơn sẽ phải được tìm ra. |
|
At a gathering of the Great Ones not so long ago, the question was asked: “What can we do? for this emergency must be met.” A silence fell upon the assembled group. This lasted quite a long time and then they, one and all, simultaneously voiced the reply, speaking as if they were one person, such was the unanimity: “Let us touch the hearts of men anew with love, so that those who know will love and give. Let us give love ourselves.” The above may be a statement of fact, or it may be simply a symbolic and allegorical way of helping us to grasp our need. That is for us to decide. However, there may be those who will wish to say each morning in their morning meditation or at the noon day recollection the following words: |
Tại một cuộc họp của Các Đấng Cao Cả cách đây không lâu, câu hỏi đã được nêu ra: “Chúng ta có thể làm gì? vì tình trạng khẩn cấp này phải được đáp ứng.” Một sự im lặng bao trùm nhóm đang hội họp. Điều này kéo dài khá lâu và rồi tất cả các Ngài, đồng thời cùng lên tiếng đáp lại, nói như thể các Ngài là một người duy nhất, sự nhất trí lớn đến thế: “Hãy để chúng ta chạm lại vào tim của con người bằng tình thương, để những ai biết sẽ yêu thương và cho đi. Hãy để chính chúng ta ban phát tình thương.” Điều trên có thể là một phát biểu sự kiện, hoặc có thể chỉ đơn giản là một cách biểu tượng và ngụ ngôn để giúp chúng ta nắm bắt nhu cầu của mình. Điều đó là để chúng ta quyết định. Tuy nhiên, có thể có những người sẽ muốn nói mỗi sáng trong buổi tham thiền buổi sáng của mình hoặc vào lúc hồi tưởng giữa trưa những lời sau đây: |
|
[736] |
[736] |
|
“I know, Oh Lord of Life and Love, about the need. Touch my heart anew with love that I too may love and give.” |
“Tôi biết, ôi Chúa Tể của Sự sống và Tình thương, về nhu cầu ấy. Xin chạm lại vào tim con bằng tình thương để con cũng có thể yêu thương và cho đi.” |
|
Let us in full surrender of our personal desires and wishes join in the common task of leading humanity into the fields of peace! |
Chúng ta hãy trong sự quy phục trọn vẹn những ham muốn và ước vọng cá nhân của mình cùng tham gia vào nhiệm vụ chung là dẫn dắt nhân loại vào những cánh đồng hòa bình! |
|
I approach you therefore, the conscious aspirants to whom I can speak with freedom and with no attempt to choose my words with care, to ask you, first of all two questions: |
Vì vậy, tôi hướng đến các bạn, những người chí nguyện hữu thức mà tôi có thể nói chuyện một cách tự do và không cần cố gắng chọn lựa lời lẽ cẩn trọng, để trước hết hỏi các bạn hai câu hỏi: |
|
1. Do you, in truth, accept the situation as I have outlined it? |
1. Các bạn có thực sự chấp nhận tình hình như tôi đã phác họa hay không? |
|
2. Where, at this time, do you place your life emphasis? |
2. Vào lúc này, các bạn đặt trọng tâm đời sống của mình ở đâu? |
|
The answering of these two questions in the light of your soul and your personal earnestness will greatly clarify your minds and your way of living and working. It will also indicate to Those who are serving the Plan of God upon the subjective side of life, or along the lines of spiritual understanding and meaning, who are the servers, the aspirants and disciples upon whom it is possible to count at this moment of world crisis, for a world crisis is upon us. If the urgency of the hour is as indicated, and if the next few years are decisive years which will determine and condition the world situation till 1975, then it is necessary for everybody to take stock of himself and turn his spiritual theories and his humanitarian longings into Facts demonstrated in the life of everyday. |
Việc trả lời hai câu hỏi này dưới ánh sáng của linh hồn các bạn và sự tha thiết cá nhân của các bạn sẽ làm sáng tỏ rất nhiều trí tuệ của các bạn cũng như cách sống và làm việc của các bạn. Nó cũng sẽ chỉ ra cho Những Đấng đang phụng sự Thiên Cơ của Thượng đế ở mặt chủ quan của đời sống, hay theo những đường hướng của sự thấu hiểu và ý nghĩa tinh thần, biết ai là những người phụng sự, những người chí nguyện và những đệ tử mà vào lúc khủng hoảng thế giới này có thể trông cậy được, vì một cuộc khủng hoảng thế giới đang ở trên chúng ta. Nếu tính cấp bách của giờ phút là như đã chỉ ra, và nếu vài năm tới là những năm quyết định sẽ xác định và tác động lên tình hình thế giới cho đến năm 1975, thì mọi người cần phải tự kiểm điểm mình và biến các lý thuyết tinh thần cùng những khát vọng nhân đạo của mình thành những Sự kiện được chứng minh trong đời sống hằng ngày. |
|
The lines of world cleavage are becoming more clearly defined and humanity is slowly forming itself into three camps or groups, as seen from the subjective side of life. These are: |
Những đường phân rẽ của thế giới đang trở nên được xác định rõ ràng hơn và nhân loại đang chậm rãi tự hình thành thành ba phe hay ba nhóm, khi được nhìn từ mặt chủ quan của đời sống. Đó là: |
|
1. The group of those who violently and actively and sincerely are partisans of certain basic and well-known ideologies which we can roughly divide into the fascist-nazi group, the democratic group and the communistic group. Such are the major ideas to which the leading nations of the world are pledged and for which they are ready to fight if need arises. |
1. Nhóm những người một cách mãnh liệt, tích cực và chân thành là những người theo đảng phái của một số hệ tư tưởng căn bản và quen thuộc mà chúng ta có thể chia đại khái thành nhóm phát xít-quốc xã, nhóm dân chủ và nhóm cộng sản. Đó là những ý tưởng chủ yếu mà các quốc gia lãnh đạo thế giới đã cam kết và vì đó họ sẵn sàng chiến đấu nếu nhu cầu phát sinh. |
|
2. The relatively acquiescent masses who, under the regimes endorsing the three above ideologies, live, love and seek to understand a little of what is happening to them and who accept the familiar or the newly imposed rule with acquiescence and oft quite unintelligently, provided they can eat and sleep and reproduce and the ordinary affairs of life can proceed along the usual lines. |
2. Quần chúng tương đối thuận theo, những người dưới các chế độ tán thành ba hệ tư tưởng trên, sống, yêu thương và tìm cách hiểu đôi chút về điều đang xảy ra với họ, và chấp nhận quy luật quen thuộc hay mới bị áp đặt với sự thuận theo và thường khá thiếu thông minh, miễn là họ có thể ăn, ngủ, sinh sản và các công việc thông thường của đời sống có thể tiếp diễn theo những đường lối quen thuộc. |
|
3. A rapidly growing group of those who are aware of the other groups, who appreciate the idealism and effort of the first group and also recognise the helplessness of the masses. They stand ready to do what is possible to help restore world equilibrium and so bring understanding and cooperation and unity into play on a world wide scale. These are the men and women of good will throughout the world about whom I have so often written. |
3. Một nhóm đang tăng trưởng nhanh chóng gồm những người ý thức được các nhóm kia, trân trọng tính lý tưởng và nỗ lực của nhóm thứ nhất, đồng thời cũng nhận ra sự bất lực của quần chúng. Họ sẵn sàng làm điều có thể để giúp khôi phục thế quân bình thế giới và như thế đưa sự thấu hiểu, hợp tác và hợp nhất vào hoạt động trên quy mô toàn thế giới. Đó là những người nam và nữ thiện chí trên khắp thế giới mà tôi đã thường xuyên viết đến. |
|
Behind these three groups, equally interested in them all, stands another group. It is numerically smaller but spiritually potent and is composed of those whose work it is to further God’s plans consciously on earth; they work in touch with the Plan and have a deep knowledge of the general trend of the evolutionary urge; they are directing world force into the desired channels and are assisted in their efforts by the New Group of World Servers. They are all pledged to establish the kingdom of God on earth, for which the world is ripe and whose coming was foretold by all the great world religions. Nothing can stop the emergence of that kingdom. |
Đằng sau ba nhóm này, quan tâm ngang nhau đến tất cả họ, còn có một nhóm khác. Nhóm này ít hơn về số lượng nhưng mạnh mẽ về tinh thần và gồm những người có công việc là thúc đẩy các kế hoạch của Thượng đế một cách hữu thức trên Trái Đất; họ làm việc trong tiếp xúc với Thiên Cơ và có tri thức sâu sắc về xu hướng chung của xung lực tiến hoá; họ đang hướng dẫn mãnh lực thế giới vào những kênh mong muốn và được trợ giúp trong các nỗ lực của mình bởi Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Tất cả họ đều đã cam kết thiết lập Thiên Giới trên Trái Đất, mà thế giới đã chín muồi cho nó và sự xuất hiện của nó đã được tiên báo bởi mọi tôn giáo lớn của thế giới. Không gì có thể ngăn cản sự xuất hiện của Thiên Giới ấy. |
|
I have briefly re-stated this line.up of the forces, prevalent in humanity today. A little thought will show how practically [738] every human being can be placed under one or other of these groupings or categories. |
Tôi đã vắn tắt trình bày lại sự sắp xếp này của các mãnh lực đang thịnh hành trong nhân loại ngày nay. Chỉ cần suy nghĩ đôi chút sẽ thấy rằng trên thực tế [738] mọi con người đều có thể được xếp vào nhóm hay loại này hoặc loại khác trong các nhóm phân loại ấy. |
|
It might be of value here if we endeavoured for a few minutes to get the point of view of the spiritual leaders of the race, of the planetary Hierarchy, of Christ and His Church. |
Ở đây, sẽ có giá trị nếu trong vài phút chúng ta cố gắng nắm lấy quan điểm của các vị lãnh đạo tinh thần của nhân loại, của Thánh đoàn hành tinh, của Đức Christ và Giáo hội của Ngài. |
|
These Workers look out upon a world distressed and full of pain. The economic problem looms large and is a determining factor in many cases. In a world of plenty, men are starving on every hand, or subsisting on a deplorable insufficiency whilst others of their fellowmen, in the same country, have too much and hold on to it, and frequently commit crimes to keep it. In a world full of activity, men are forced into a hated inertia through unemployment, and millions of men and women have nothing to do, but exist upon relief, through the charity of the well-intentioned, or upon crime, yet eating their hearts out (consciously or unconsciously) because the right of every human being to live and work and be self-supporting is denied them. In a world where all men desire peace and the opportunity to live in happiness at home or abroad, the nations everywhere are arming or are fortifying their frontiers in an effort to achieve that security which will enable them to live safely within their borders, free from attack, or to impose their ideas upon their fellowmen or nations. In a world of organised religions, the same condition of chaos is to be seen. The Churches in all lands are endeavouring frantically to keep their hold—spiritual, mental or financial—over the people and are playing a losing game, because the days of control by the priestly caste is in reality over, just as is the control of an autocratic dynasty. The work of the great world religions has been eminently successful and has been carried through to the desired consummation and now the new world religion, which is that of the kingdom of God, is definitely upon the way. |
Các Đấng Hoạt Động này nhìn ra một thế giới đau khổ và đầy thống khổ. Vấn đề kinh tế hiện lên rất lớn và trong nhiều trường hợp là một yếu tố quyết định. Trong một thế giới dư thừa, con người đang chết đói khắp nơi, hoặc sống lay lắt trong cảnh thiếu thốn đáng thương, trong khi những người đồng loại khác của họ, ngay trong cùng một quốc gia, lại có quá nhiều và bám giữ lấy nó, thậm chí thường phạm tội để giữ nó. Trong một thế giới đầy hoạt động, con người bị buộc vào một Quán tính đáng ghét vì nạn thất nghiệp, và hàng triệu những người nam và nữ không có gì để làm ngoài việc tồn tại nhờ cứu trợ, nhờ lòng từ thiện của những người có thiện chí, hoặc nhờ tội phạm, nhưng lòng họ héo mòn đi (một cách có ý thức hay vô thức) vì quyền được sống, được làm việc và được tự nuôi sống mình của mọi con người đã bị khước từ. Trong một thế giới mà mọi người đều mong muốn hòa bình và cơ hội được sống hạnh phúc ở trong nước hay ngoài nước, các quốc gia ở khắp nơi đang vũ trang hoặc củng cố biên giới của mình trong nỗ lực đạt được sự an ninh sẽ cho phép họ sống an toàn trong ranh giới của mình, không bị tấn công, hoặc áp đặt các ý tưởng của họ lên đồng loại hay lên các quốc gia khác. Trong một thế giới của các tôn giáo có tổ chức, cũng có thể thấy cùng một tình trạng hỗn loạn ấy. Các Giáo hội ở mọi xứ sở đang cuống cuồng cố giữ ảnh hưởng của mình—về tinh thần, trí tuệ hay tài chính—đối với dân chúng và đang chơi một ván cờ thất bại, vì thời kỳ kiểm soát của giai cấp giáo sĩ thực sự đã qua rồi, cũng như sự kiểm soát của một triều đại chuyên chế đã qua. Công việc của các tôn giáo lớn trên thế giới đã thành công một cách nổi bật và đã được đưa đến chỗ hoàn tất mong muốn, và giờ đây tôn giáo thế giới mới, tức tôn giáo của Thiên Giới, rõ ràng đang trên đường xuất hiện. |
|
[739] |
[739] |
|
Such is the dark side of the picture and it is dark indeed and men are troubled and feel that there is no sure ground to be found anywhere. The present world situation has in it the seeds of dire trouble and catastrophe faces the people, as it has three times before, though on a much lesser scale. This can all be averted, however, if those who know the goal and see the vision and the emerging possibilities rally their force and—by the strength of love and sacrifice—offset the forces of fate and of death. As those who guide and teach upon the inner side of life look out upon the world they see in every country, in every race and in every religious body, thus coloring every ideology or school of thought (economic, political and religious) those who are moved by love of their fellowmen and are actuated by an earnest desire for their true welfare. I would like at this time to emphasise the following point: |
Đó là mặt tối của bức tranh, và quả thật nó rất tối, khiến con người lo âu và cảm thấy không có nền tảng chắc chắn nào có thể tìm thấy ở bất cứ đâu. Tình hình thế giới hiện nay chứa trong nó những hạt giống của tai họa nghiêm trọng, và thảm họa đang đối diện nhân loại, như đã từng xảy ra ba lần trước đây, tuy ở quy mô nhỏ hơn nhiều. Tuy nhiên, tất cả điều này có thể được ngăn chặn nếu những ai biết mục tiêu, thấy được tầm nhìn và các khả năng đang nổi lên tập hợp lực lượng của mình lại và—bằng sức mạnh của tình thương và hi sinh—hóa giải các mãnh lực của số mệnh và của sự chết. Khi những người hướng dẫn và giảng dạy ở mặt bên trong của sự sống nhìn ra thế giới, họ thấy trong mọi quốc gia, mọi nhân loại và mọi tổ chức tôn giáo, và do đó nhuộm màu mọi hệ tư tưởng hay trường phái tư tưởng (kinh tế, chính trị và tôn giáo), những người được thúc đẩy bởi tình thương đối với đồng loại và được thôi thúc bởi ước muốn chân thành về phúc lợi đích thực của họ. Lúc này tôi muốn nhấn mạnh điểm sau đây: |
|
A man’s political and religious affiliations can be strongly held and inspire his true loyalty, and yet need in no way prevent his being an active part of the New Group of World Servers. They need not deter him from being actively on the side of world good will or provide a barrier to that spiritual sensitivity which makes him susceptible to the higher inner spiritual impression. |
Sự liên hệ chính trị và tôn giáo của một người có thể được nắm giữ rất mạnh mẽ và khơi dậy lòng trung thành chân thật của y, nhưng điều đó hoàn toàn không cần phải ngăn cản y trở thành một phần tích cực của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Chúng không cần phải cản trở y đứng tích cực về phía thiện chí thế giới hay tạo nên một rào cản đối với sự nhạy cảm tinh thần khiến y dễ tiếp nhận ấn tượng tinh thần nội tại cao hơn. |
|
The servants of the spiritual Hierarchy and the world disciples are found in every nation; they are loyal to that nation’s ideology or political trend of thought or government; the members of the New Group of World Servers embrace every political creed and recognise the authority of every imaginable religion. Men and women of good will can be discovered functioning in every group, no matter what its ideology or creed or belief. The Hierarchy does not look for cooperators in any one school of thought, political creed, or national government. It finds them in all and cooperates with [740] all. This I have frequently said, yet you find it difficult to believe, so convinced are many of you that your peculiar belief and your particular acceptance of truth is the best undoubtedly and the most true. It may be for you, but not for your brother of another persuasion, nation or religion. |
Các phụng sự viên của Huyền Giai Tinh Thần và các đệ tử thế giới được tìm thấy trong mọi quốc gia; họ trung thành với hệ tư tưởng, khuynh hướng tư tưởng chính trị hay chính phủ của quốc gia ấy; các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian bao gồm mọi tín điều chính trị và công nhận thẩm quyền của mọi tôn giáo có thể tưởng tượng được. Những người nam và nữ có thiện chí có thể được tìm thấy đang hoạt động trong mọi nhóm, bất kể hệ tư tưởng, tín điều hay niềm tin của nhóm ấy là gì. Thánh đoàn không tìm kiếm những người cộng tác trong bất kỳ một trường phái tư tưởng, tín điều chính trị hay chính phủ quốc gia nào. Thánh đoàn tìm thấy họ trong tất cả và cộng tác với [740] tất cả. Tôi đã thường nói điều này, vậy mà các bạn vẫn thấy khó tin, vì nhiều bạn quá xác tín rằng niềm tin riêng của mình và sự chấp nhận chân lý riêng của mình chắc chắn là tốt nhất và chân thật nhất. Điều đó có thể đúng với các bạn, nhưng không đúng với huynh đệ của các bạn thuộc một thuyết phục, quốc gia hay tôn giáo khác. |
|
Thus we find, as well you know, members of the New Group of World Servers scattered everywhere. They are the only agents which the Hierarchy chooses to employ at this time and to them is committed the task of doing the following things: |
Vì vậy, như các bạn đã biết rõ, chúng ta thấy các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian rải rác khắp nơi. Họ là những tác nhân duy nhất mà Thánh đoàn chọn sử dụng vào lúc này, và cho họ được giao phó nhiệm vụ làm những điều sau đây: |
|
1. Restoring the world balance through understanding and good will. |
1. Khôi phục sự quân bình của thế giới qua sự thấu hiểu và thiện chí. |
|
2. Bringing harmony and unity among men and nations by the revelation of the widespread good will everywhere existent. |
2. Mang lại hòa hợp và hợp nhất giữa con người và các quốc gia bằng sự mặc khải về thiện chí rộng khắp đang hiện hữu ở mọi nơi. |
|
3. Precipitating, through spiritual perception and correct interpretation, the kingdom of God on earth. |
3. Làm ngưng tụ, qua tri giác tinh thần và sự diễn giải đúng đắn, Thiên Giới trên trần gian. |
|
This is a gigantic task but not an impossible one, provided that there is united aspiration, united sacrifice and the interrelating of the three groups: |
Đây là một nhiệm vụ khổng lồ nhưng không phải là bất khả, miễn là có khát vọng hợp nhất, hi sinh hợp nhất và sự liên hệ qua lại của ba nhóm: |
|
1. The planetary Hierarchy, which is the spiritual Hierarchy, called in the West, the kingdom of God. |
1. Thánh đoàn hành tinh, tức Huyền Giai Tinh Thần, được gọi ở phương Tây là Thiên Giới. |
|
2. The New Group of World Servers or the disciples and aspirants and the spiritual intelligentsia of the world. |
2. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian hay các đệ tử, người chí nguyện và giới trí thức tinh thần của thế giới. |
|
3. The men and women of good will found everywhere. |
3. Những người nam và nữ có thiện chí hiện diện ở khắp nơi. |
|
The task, therefore, in the coming year of climax for which preparation must be made is, first of all, to bring about this inter-relation on a large scale through discovering those who respond to this message and idea; secondly, to educate such people in the laws of love and of right understanding, which are in truth the laws of the kingdom of God which Christ [741] came to initiate; thirdly, to reach and awaken the men and women of good will through the wide use of the radio, using it with wisdom and discretion, and the use of correct words and phrases; next, to discover men of like ideas and so organise their minds that each will approach the problem in his own way but with the same world wide objective of spreading understanding and bringing about harmonious adjustments. This will be done through the agency of the awakened world aspirants, the intelligent statesmen who love humanity and work self-sacrificingly for the general good, the men and women of good will (working each in his own place, city and nation) and the quiet work of the Units of Service cooperating with all the above. |
Vì vậy, nhiệm vụ trong năm sắp tới của cao điểm mà cần phải chuẩn bị là, trước hết, tạo ra mối liên hệ qua lại này trên quy mô lớn bằng cách tìm ra những ai đáp ứng với thông điệp và ý tưởng này; thứ hai, giáo dục những người ấy về các định luật của tình thương và của sự thấu hiểu đúng đắn, vốn thực sự là các định luật của Thiên Giới mà Đức Christ [741] đã đến để khởi xướng; thứ ba, tiếp cận và đánh thức những người nam và nữ có thiện chí qua việc sử dụng rộng rãi radio, dùng nó với minh triết và phân biện, cùng với việc dùng những từ ngữ và cụm từ đúng đắn; kế đó, tìm ra những người có cùng ý tưởng và tổ chức trí tuệ của họ sao cho mỗi người sẽ tiếp cận vấn đề theo cách riêng của mình nhưng với cùng một mục tiêu toàn cầu là lan truyền sự thấu hiểu và mang lại những điều chỉnh hài hòa. Điều này sẽ được thực hiện qua trung gian của những người chí nguyện thế giới đã thức tỉnh, những chính khách thông minh yêu thương nhân loại và làm việc một cách hi sinh cho lợi ích chung, những người nam và nữ có thiện chí (mỗi người làm việc tại nơi mình sống, thành phố và quốc gia của mình), và công việc âm thầm của các Đơn vị Phụng sự đang cộng tác với tất cả những thành phần trên. |
|
This is a simple programme but of such a practical potency that, if you once worked it out and made the needed sustained effort, in 1942 there would be no question but that success had crowned your efforts. The coming of God is the coming or emerging fifth kingdom in nature whose citizens always bring beauty into the world, thus glorifying that Intelligence to Whom we give the name of “God” for want of a better term; whose citizens are distinguished by the quality of good will which must, in the long run, bring the right kind of peace, but not pacifism, on earth. It is a programme of such simplicity that the over-active minds of many will reject it on the ground that it is too simple, and yet the great and controlling factors in the world are always simple. Simple ideas work out when complex and complicated ones fail in their objective. The Hierarchy of Masters is governed by simplicity and this, which is one of Their plans, must be distinguished by it also. What are the plans today, and in what manner can you aid in the task of saving the world? |
Đây là một chương trình đơn giản nhưng có một hiệu lực thực tiễn mạnh mẽ đến mức, nếu các bạn một khi triển khai nó và thực hiện nỗ lực bền bỉ cần thiết, thì vào năm 1942 sẽ không còn nghi ngờ gì nữa rằng thành công đã đội triều thiên lên các nỗ lực của các bạn. Sự đến của Thượng đế là sự đến hay sự xuất hiện của giới thứ năm trong thiên nhiên, mà các công dân của giới ấy luôn mang vẻ đẹp vào thế giới, nhờ đó tôn vinh Trí Tuệ mà vì thiếu một thuật ngữ tốt hơn chúng ta gọi là “Thượng đế”; các công dân ấy được phân biệt bởi phẩm tính thiện chí, phẩm tính mà về lâu dài nhất định sẽ mang lại loại hòa bình đúng đắn, chứ không phải chủ nghĩa hòa bình, trên trái đất. Đây là một chương trình đơn giản đến mức những trí tuệ quá hoạt động của nhiều người sẽ bác bỏ nó với lý do rằng nó quá đơn giản, vậy mà những yếu tố lớn lao và chi phối trong thế giới luôn luôn là đơn giản. Những ý tưởng đơn giản thành công khi những ý tưởng phức tạp và rắc rối thất bại trong mục tiêu của chúng. Thánh đoàn các Chân sư được điều hành bởi tính đơn giản, và điều này, vốn là một trong những kế hoạch của Các Ngài, cũng phải được phân biệt bởi tính đơn giản ấy. Vậy các kế hoạch ngày nay là gì, và các bạn có thể trợ giúp trong nhiệm vụ cứu thế giới bằng cách nào? |
|
It can be greatly helped by the discovery, registering and education of the men and women of good will in the world. [742] This is the major line of activity. Their united good will (at present latent, unused and unorganised) can become a world force and through sheer weight of numbers, these people can make their presence effectively felt. It will be a force which can mould public opinion through the expression of intelligent love (with the emphasis upon the word intelligent) but which will employ no separative devices, no armed force, no coercion and no political scheming and manipulation. Is it not possible so to evoke the spirit of good will, present but oft inactive in the hearts of all men, that there will be such a vast number of men and women of good will in the world—consciously in touch with each other throughout the planet—that their voice will not be negligible, nor their expressed desires impotent? It is this particular method of straightening out the world which the spiritual hierarchy has, at this time, determined to use. It is a somewhat slower method from your point of view, but the effects will be more lasting and it has in it dynamic possibilities. This method is based upon two premises: First, the proven fact of the success of the work which Christ instituted. He came to demonstrate in His Own Person the love of God. Prior to His time, there was little expression of that love objective in the world and little philanthropy or sense of responsibility for one’s brother extant. Secondly: it is a method which has in it a long range success, and yet which can have, at the same time, an immediate reaction. This success and this reaction are dependent upon all of you who are aware of these facts and set in to do the desired work. |
Điều đó có thể được trợ giúp rất nhiều bằng việc tìm ra, ghi nhận và giáo dục những người nam và nữ có thiện chí trên thế giới. [742] Đây là đường lối hoạt động chủ yếu. Thiện chí hợp nhất của họ (hiện nay còn tiềm ẩn, chưa được sử dụng và chưa được tổ chức) có thể trở thành một mãnh lực thế giới, và nhờ chính sức nặng của số lượng, những người này có thể làm cho sự hiện diện của mình được cảm nhận một cách hữu hiệu. Đó sẽ là một mãnh lực có thể uốn nắn dư luận qua sự biểu lộ tình thương thông minh (nhấn mạnh vào từ thông minh) nhưng sẽ không dùng bất kỳ phương tiện chia rẽ nào, không dùng vũ lực, không cưỡng ép và không mưu đồ hay thao túng chính trị. Chẳng lẽ không thể gợi lên tinh thần thiện chí, hiện diện nhưng thường bất hoạt trong lòng mọi người, đến mức sẽ có một số lượng rất lớn những người nam và nữ có thiện chí trên thế giới—có ý thức liên lạc với nhau trên khắp hành tinh—đến nỗi tiếng nói của họ sẽ không thể bị xem nhẹ, và những nguyện vọng được biểu lộ của họ sẽ không bất lực sao? Chính phương pháp đặc biệt này để chấn chỉnh thế giới mà Huyền Giai Tinh Thần đã quyết định sử dụng vào lúc này. Theo quan điểm của các bạn, đây là một phương pháp chậm hơn đôi chút, nhưng các hiệu quả sẽ bền vững hơn và trong nó có những khả năng năng động. Phương pháp này dựa trên hai tiền đề: Thứ nhất, sự kiện đã được chứng minh về thành công của công việc mà Đức Christ đã thiết lập. Ngài đến để biểu lộ trong chính con người của Ngài tình thương của Thượng đế. Trước thời của Ngài, rất ít có sự biểu lộ khách quan của tình thương ấy trong thế giới và rất ít lòng bác ái hay ý thức trách nhiệm đối với huynh đệ mình còn tồn tại. Thứ hai: đây là một phương pháp chứa đựng thành công lâu dài, nhưng đồng thời cũng có thể có một phản ứng tức thời. Thành công này và phản ứng này tùy thuộc vào tất cả các bạn, những người nhận biết các sự kiện này và bắt tay vào làm công việc mong muốn. |
|
The New Group of World Servers provides a channel through which the power of God, focussed in the Planetary Brotherhood, can flow and that power is not intended (as is sometimes necessary under the evolutionary plan) to be destructive. The destructive forces of the planet are doing [743] their directed and needed work, but the effects must be balanced and offset by the work of the World Servers. The power to be released can and will heal humanity’s wounds and will bind all men together in a planned synthesis. |
Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian cung cấp một kênh dẫn qua đó quyền năng của Thượng đế, được tập trung trong Huynh đệ Đoàn Hành Tinh, có thể tuôn chảy, và quyền năng ấy không nhằm mục đích (như đôi khi cần thiết theo kế hoạch tiến hoá) hủy diệt. Các mãnh lực hủy diệt của hành tinh đang làm [743] công việc được định hướng và cần thiết của chúng, nhưng các hiệu quả ấy phải được quân bình và hóa giải bởi công việc của những Người Phụng Sự Thế Gian. Quyền năng sẽ được giải phóng có thể và sẽ chữa lành các vết thương của nhân loại và sẽ gắn kết mọi người lại với nhau trong một tổng hợp có kế hoạch. |
|
As you know, the New Group of World Servers has its members in every land. A vast number are known. They are practical intelligent people, not visionary idealistic mystics, working towards an object which may appear inaccessible, but towards one which is capable of immediate and practical application. They are talking of understanding and cooperation in all fields of human thought and life, and are emphasising the future and unavoidable expression of such love—unavoidable under the evolutionary law. It is the next great human development. |
Như các bạn biết, Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian có các thành viên ở mọi xứ sở. Rất nhiều người đã được biết đến. Họ là những người thực tiễn và thông minh, không phải những nhà thần bí duy tâm mơ mộng, đang làm việc hướng tới một mục tiêu có thể dường như không thể đạt tới, nhưng lại là một mục tiêu có thể được áp dụng ngay lập tức và một cách thực tiễn. Họ đang nói về sự thấu hiểu và hợp tác trong mọi lĩnh vực của tư tưởng và đời sống con người, và đang nhấn mạnh sự biểu lộ tương lai và không thể tránh khỏi của tình thương ấy—không thể tránh khỏi theo định luật tiến hoá. Đó là bước phát triển lớn tiếp theo của nhân loại. |
|
Behind, in the distant past of the race, humanity faced such a crisis as is now upon us. The race was then fecundated with intellect, if I may use such a phrase, and the human or fourth kingdom came into being. The great latent power of self-consciousness was born, and men became individuals. Now the race faces another fecundation, this time with Love and the fifth kingdom in nature, the kingdom of God can be born and can function upon the outer world of manifestation. Group consciousness will be seen and the power to identify oneself with the group and not with one’s own selfish interests. The New Group of World Servers, standing at a midway point between the spiritual Hierarchy and the world of men, are the agents of this process and can lead men out of the crisis which it has brought about. They are expressions of the intended good will and a leavening force in their environment. They do and say nothing which could increase the existing cleavages among people, races and religions. Let us leave it at that, for it is a simple statement of a simple way to lay the ground for needed changes. |
Phía sau, trong quá khứ xa xôi của nhân loại, loài người đã đối diện một cuộc khủng hoảng như cuộc khủng hoảng hiện đang ở trước chúng ta. Khi ấy nhân loại đã được thụ tinh bằng trí tuệ, nếu tôi có thể dùng một cụm từ như vậy, và giới nhân loại hay giới thứ tư đã xuất hiện. Quyền năng tiềm ẩn lớn lao của ngã thức đã được sinh ra, và con người trở thành các cá thể. Giờ đây nhân loại đang đối diện một sự thụ tinh khác, lần này bằng Tình thương, và giới thứ năm trong thiên nhiên, Thiên Giới, có thể được sinh ra và có thể hoạt động trên thế giới biểu hiện bên ngoài. Tâm thức nhóm sẽ được thấy, cùng với năng lực đồng hoá với nhóm chứ không phải với những lợi ích ích kỷ riêng của mình. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, đứng tại Điểm ở giữa giữa Thánh đoàn tinh thần và thế giới loài người, là các tác nhân của tiến trình này và có thể dẫn dắt con người ra khỏi cuộc khủng hoảng mà nó đã gây ra. Họ là những biểu hiện của thiện chí được dự định và là một mãnh lực làm dậy men trong môi trường của họ. Họ không làm và không nói điều gì có thể làm gia tăng những chia rẽ hiện có giữa con người, các nhân loại và các tôn giáo. Chúng ta hãy dừng ở đó, vì đó là một phát biểu đơn giản về một cách thức đơn giản để đặt nền móng cho những thay đổi cần thiết. |
|
[744] |
[744] |
e. IMMEDIATE PLAN OF THE HIERARCHY—KẾ HOẠCH TRƯỚC MẮT CỦA THÁNH ĐOÀN
|
What, therefore, is the Hierarchy seeking to do today? Let me briefly state the immediate plan. |
Vậy thì, ngày nay Thánh đoàn đang tìm cách làm gì? Hãy để tôi vắn tắt trình bày kế hoạch trước mắt. |
|
1. To make the lines of cleavage, already existing, so apparent that the issue is clear. This you can see happening every day if you read the world news intelligently and separate the spectacular and untrue details from the broad and true issues. These lines of cleavage fall into three general lines. |
1. Làm cho các đường phân rẽ vốn đã tồn tại trở nên hiển nhiên đến mức vấn đề trở nên rõ ràng. Các bạn có thể thấy điều này đang diễn ra mỗi ngày nếu các bạn đọc tin tức thế giới một cách thông minh và tách những chi tiết giật gân, không chân thật ra khỏi những vấn đề rộng lớn và chân thật. Những đường phân rẽ này rơi vào ba tuyến tổng quát. |
|
a. Between the three major ideologies: the Fascists, the Communistic and the Democratic. |
a. Giữa ba hệ tư tưởng lớn: Phát xít, Cộng sản và Dân chủ. |
|
b. Between the reactionary and fundamentalist groups and the liberal minded people who react to the newer spiritual impression and the emerging ways of approach to God. |
b. Giữa các nhóm phản động và bảo thủ giáo điều với những người có đầu óc tự do, những người đáp ứng với ấn tượng tinh thần mới hơn và với những phương cách mới đang xuất hiện để tiếp cận Thượng đế. |
|
c. Between the old cultures and civilisations and the new incoming ways of living and thinking; between the Piscean way of life and the Aquarian attitude of thought and life; between the laws of the kingdom of God, the fifth kingdom and those of humanity, the fourth; between the self-conscious individualistic way of life and the way of brotherhood, of love and of group consciousness. |
c. Giữa các nền văn hóa và văn minh cũ với những cách sống và suy nghĩ mới đang đi vào; giữa lối sống Song Ngư và thái độ tư tưởng và đời sống của Bảo Bình; giữa các định luật của Thiên Giới, giới thứ năm, và các định luật của nhân loại, giới thứ tư; giữa lối sống cá nhân chủ nghĩa có ngã thức và con đường huynh đệ, tình thương và tâm thức nhóm. |
|
2. To heal those divisions and bridge these cleavages through the agency of the world group, which we call the New Group of World Servers, and the men of good will. These Servers and men of good will belong to all the nations, groups, ideologies and religions on both sides of the different cleavages, and yet hold firmly to the principles of good will and understanding. They are, therefore, non-partisan and inactive in the present process [745] of differentiation and separative trends. They hold out the hands of love and understanding to each other across the gulf of differences. They meet in thought upon the subjective level of the true realities—which are synthetic and eternal—and ignore all outer barriers, and separative differences in mental ideas and material ways of living. |
2. Chữa lành những chia rẽ ấy và bắt cầu qua những phân rẽ này qua trung gian của nhóm thế giới mà chúng ta gọi là Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và những người có thiện chí. Những Người Phụng Sự này và những người có thiện chí thuộc về mọi quốc gia, nhóm, hệ tư tưởng và tôn giáo ở cả hai phía của các phân rẽ khác nhau, nhưng vẫn giữ vững các nguyên tắc thiện chí và thấu hiểu. Vì vậy, họ không thiên vị và không hoạt động trong tiến trình hiện nay [745] của sự biến phân và các khuynh hướng chia rẽ. Họ đưa bàn tay tình thương và thấu hiểu cho nhau qua vực sâu của những khác biệt. Họ gặp nhau trong tư tưởng trên cấp độ chủ quan của các thực tại chân chính—vốn có tính tổng hợp và vĩnh cửu—và bỏ qua mọi rào cản bên ngoài cùng những khác biệt chia rẽ trong các ý tưởng trí tuệ và các cách sống vật chất. |
|
3. To approach nearer to humanity and become a known and forceful fact in the consciousness of Their disciples, of the world aspirants and the New Group of World Servers. Then these can work with greater confidence, knowing for themselves, past all controversy, that the kingdom of God is emerging upon earth, that the inner world of light, love and meaning is fusing in a realisable sense with the objective world, and that the world of spiritual realities is now recognised on such a large scale that the precipitation of that which is spiritual is discovered to be present in everything that can be known. This realization and this approach to life through God is the herald of the new world religion. I have already given you much concerning it in these instructions and if you will reread it you will be preparing yourself for right participation in the coming Wesak Festival. |
3. Tiến gần hơn đến nhân loại và trở thành một sự kiện được biết đến và đầy mãnh lực trong tâm thức của các đệ tử của Các Ngài, của những người chí nguyện thế giới và của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Khi đó, những người này có thể làm việc với sự tin tưởng lớn hơn, tự mình biết rõ, vượt ngoài mọi tranh cãi, rằng Thiên Giới đang xuất hiện trên trái đất, rằng thế giới nội tại của ánh sáng, tình thương và ý nghĩa đang dung hợp theo một nghĩa có thể chứng nghiệm được với thế giới khách quan, và rằng thế giới của các thực tại tinh thần hiện nay được công nhận trên một quy mô lớn đến mức sự ngưng tụ của cái tinh thần được phát hiện là hiện diện trong mọi điều có thể được biết đến. Sự chứng nghiệm này và sự tiếp cận đời sống qua Thượng đế này là dấu hiệu báo trước của tôn giáo thế giới mới. Tôi đã trao cho các bạn nhiều điều về nó trong những huấn thị này, và nếu các bạn đọc lại, các bạn sẽ tự chuẩn bị cho sự tham dự đúng đắn vào Lễ Hội Wesak sắp tới. |
|
4. To bring about the “Day of Crisis” to which I have referred before. Through this crisis, in which the aspiration of humanity for peace, understanding, good will and truth can be raised to its highest possible expression, there will be brought about, at a given moment of fusion, the downpouring desire of the spiritual forces of the Hierarchy of the Christ and of all associated with Him (call Them by what name you please) and thus there will be precipitated upon earth that spiritual stimulation [746] and that healing force which will end the present period of strife and misery. |
4. Mang lại “Ngày Khủng Hoảng” mà tôi đã đề cập trước đây. Qua cuộc khủng hoảng này, trong đó khát vọng của nhân loại đối với hòa bình, thấu hiểu, thiện chí và chân lý có thể được nâng lên đến mức biểu lộ cao nhất có thể, sẽ diễn ra, vào một thời điểm dung hợp nhất định, sự tuôn đổ của khát vọng từ các mãnh lực tinh thần của Thánh đoàn của Đức Christ và của tất cả những ai liên kết với Ngài (các bạn muốn gọi Các Ngài bằng tên gì cũng được), và như thế sẽ được làm ngưng tụ trên trái đất sự kích thích tinh thần [746] và mãnh lực chữa lành sẽ chấm dứt thời kỳ hiện nay của xung đột và khốn khổ. |
|
It is for this “Day of Crisis” that we are called to work. It can be brought about in 1942; if all of us put ourselves and all our resources—spiritual, mental and material—into the meeting of the present opportunity and emergency. It can be brought about if the New Group of World Servers and the massed men and women of good will in every land use intelligence, plus good business technique and methods (which are spiritual faculties, not dedicated, as yet, on a large scale to the things of the kingdom of God.) Practical utilisation of very possible agency—the press, correspondence, personal contacts and above all the radio—the avoidance of all the old methods such as attack on persons, peoples, nations and ideologies of force and coercion and of separative techniques must be strenuously inculcated. The forces existent today, directed by the spiritual agencies of the incoming New Age, have made the field of service clear. It is the bridging of the separative cleavages, and the harmonising of the warring schools of thought. |
Chính vì “Ngày Khủng Hoảng” này mà chúng ta được kêu gọi làm việc. Nó có thể được mang lại vào năm 1942, nếu tất cả chúng ta đặt chính mình và mọi nguồn lực của mình—tinh thần, trí tuệ và vật chất—vào việc đáp ứng cơ hội và tình trạng khẩn cấp hiện nay. Nó có thể được mang lại nếu Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và quần chúng những người nam và nữ có thiện chí ở mọi xứ sở sử dụng trí tuệ, cộng với kỹ thuật và phương pháp kinh doanh tốt (vốn là những năng lực tinh thần, nhưng cho đến nay chưa được hiến dâng trên quy mô lớn cho các sự việc của Thiên Giới). Việc sử dụng thực tiễn những phương tiện hoàn toàn khả thi—báo chí, thư từ, tiếp xúc cá nhân và trên hết là radio—sự tránh né mọi phương pháp cũ như công kích cá nhân, dân tộc, quốc gia và các hệ tư tưởng của vũ lực và cưỡng ép cùng các kỹ thuật chia rẽ phải được nhấn mạnh mạnh mẽ. Các mãnh lực hiện hữu ngày nay, được định hướng bởi các tác nhân tinh thần của Kỷ Nguyên Mới đang đi vào, đã làm rõ cánh đồng phụng sự. Đó là việc bắt cầu qua các phân rẽ chia cách và điều hòa các trường phái tư tưởng đang xung đột. |
|
The workers on the inner side and the disciples who are responsible for the working out of the Plan have made great efforts to reach and stimulate the New Group of World Servers. They have been successful. Such success is in no way dependent upon any recognition of the Hierarchy on the part of the Servers. Where that exists it is a help, but it is dependent upon receptivity to spiritual impression, which means responsiveness to the new ideas which are expressive of the spirit of fusion, of synthesis, of understanding, and of cooperative good will. Look out for such people and work with them. Do not hold the prevalent attitude that they must work with you. It is for us, who perhaps know a little bit [747] more about the Plan than they do, to do the moving forward. It is for us to evidence intelligent understanding and to set the needed example by submerging our own ideas and personal desires in the good of the whole. |
Những người hoạt động ở mặt bên trong và các đệ tử chịu trách nhiệm cho việc triển khai Thiên Cơ đã nỗ lực lớn để tiếp cận và kích thích Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Họ đã thành công. Thành công ấy hoàn toàn không phụ thuộc vào việc những Người Phụng Sự có công nhận Thánh đoàn hay không. Nơi nào điều đó có, nó là một trợ giúp, nhưng thành công ấy tùy thuộc vào tính tiếp nhận đối với ấn tượng tinh thần, nghĩa là sự đáp ứng với những ý tưởng mới biểu lộ tinh thần dung hợp, tổng hợp, thấu hiểu và thiện chí hợp tác. Hãy tìm những người như thế và làm việc với họ. Đừng giữ thái độ phổ biến rằng họ phải làm việc với các bạn. Chính chúng ta, những người có lẽ biết nhiều hơn họ một chút [747] về Thiên Cơ, phải tiến lên phía trước. Chính chúng ta phải biểu lộ sự thấu hiểu thông minh và nêu gương cần thiết bằng cách dìm xuống những ý tưởng riêng và những ham muốn cá nhân của mình trong lợi ích của toàn thể. |
|
There must be on our part, if we react to all this, the re-orientation of our entire lives for the next few years, to the urgency of the things to be done. This will necessarily involve the readjustment of our lives to the new impulses; it will entail the elimination of the nonessentials so that we can find time for the task; it will mean the cultivation of that spiritual sensitivity which will render us aware of the impressions and impulses coming from the inner side of life, and will make us quick also to recognise our brothers who are pledged to the same life of good will and who are awake—as we are—to the urgency of human need, and the immediacy of the day of opportunity; it will require the development in all of the spirit of silence, for silence is the best method whereby spiritual force is both generated and stored for us; and it will bring about the training of ourselves to see clearly the issues involved in any situation (personal, national or international) and then enable us to bring to bear upon it the interpretative light of expressed good will. |
Về phần chúng ta, nếu chúng ta đáp ứng với tất cả điều này, phải có sự tái định hướng toàn bộ đời sống của mình trong vài năm tới theo tính cấp bách của những việc cần làm. Điều này tất yếu sẽ bao hàm việc điều chỉnh lại đời sống của chúng ta theo những xung lực mới; sẽ đòi hỏi loại bỏ những điều không thiết yếu để chúng ta có thể tìm được thời gian cho nhiệm vụ; sẽ có nghĩa là vun bồi sự nhạy cảm tinh thần khiến chúng ta nhận biết được những ấn tượng và xung lực đến từ mặt bên trong của sự sống, và cũng khiến chúng ta mau chóng nhận ra các huynh đệ của mình, những người đã cam kết với cùng đời sống thiện chí và đang thức tỉnh—như chúng ta—trước tính cấp bách của nhu cầu nhân loại và tính tức thời của ngày cơ hội; sẽ đòi hỏi sự phát triển nơi tất cả chúng ta tinh thần im lặng, vì im lặng là phương pháp tốt nhất nhờ đó mãnh lực tinh thần vừa được tạo ra vừa được tích trữ cho chúng ta; và sẽ mang lại việc tự huấn luyện để thấy rõ những vấn đề liên hệ trong bất kỳ tình huống nào (cá nhân, quốc gia hay quốc tế), rồi khiến chúng ta có thể đem ánh sáng diễn giải của thiện chí được biểu lộ tác động lên đó. |
|
For the members of the New Group of World Servers and for the men and Women of good will, the Hierarchy of spiritual Leaders have laid down the following rules: |
Đối với các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và đối với những người nam và nữ có thiện chí, Thánh đoàn các vị Lãnh đạo tinh thần đã đặt ra những quy luật sau đây: |
|
1. That they must aim at achieving peaceful relationships with, and harmonious acquiescence in, as well as cooperation with the government or state to which they owe allegiance or loyalty. This does not mean endorsing all policies and lines of activity undertaken by such governments but it does mean the refraining from all that could cause difficulty. There is always scope for much constructive [748] activity within any governmental policy or regime and it is to these constructive and peaceful enterprises that the servers of the Great Ones and of humanity will direct their attention. |
1. Họ phải nhắm đến việc đạt được những quan hệ hòa bình với, và sự chấp thuận hài hòa đối với, cũng như sự hợp tác với chính phủ hay nhà nước mà họ mắc nợ sự trung thành hay lòng trung thành. Điều này không có nghĩa là tán thành mọi chính sách và đường lối hoạt động do các chính phủ ấy thực hiện, nhưng có nghĩa là kiềm chế mọi điều có thể gây khó khăn. Luôn luôn có chỗ cho nhiều hoạt động [748] xây dựng trong bất kỳ chính sách hay chế độ chính phủ nào, và chính vào những công cuộc xây dựng và hòa bình ấy mà các phụng sự viên của Các Đấng Cao Cả và của nhân loại sẽ hướng sự chú ý của mình. |
|
2. They must refrain from all interference in the affairs of any political or religious group. |
2. Họ phải kiềm chế mọi sự can thiệp vào công việc của bất kỳ nhóm chính trị hay tôn giáo nào. |
|
3. They must endeavour to express practical good will in the environment where their lot may be cast. |
3. Họ phải cố gắng biểu lộ thiện chí thực tiễn trong môi trường mà số phận đã đặt họ vào. |
|
4. They must strive after harmlessness in speech and in life in relation to their family, community, nation or group of nations. This means a consistent policy of non-attack. No leader or nation or race must be attacked or defamed. |
4. Họ phải phấn đấu đạt đến tính vô tổn hại trong lời nói và trong đời sống liên hệ với gia đình, cộng đồng, quốc gia hay nhóm quốc gia của mình. Điều này có nghĩa là một chính sách nhất quán không công kích. Không một lãnh tụ, quốc gia hay nhân loại nào được bị công kích hay phỉ báng. |
|
This is a matter of practical import and is not at all an easy thing to attain. It lays the foundation for the rapid formation and definite emergences of the New Group of World Servers, and for the discovery and organising of the men of good will throughout the world, wherever they may be found. The spiritual Hierarchy cannot work through people whose tongues are critical, whose ideas and attitudes are separative and who are violently partisan in their beliefs and comments. This is a statement of fact. I seek to have you train yourselves in such right activity, beginning with your own lives and your personal expression in the world. |
Đây là một vấn đề có tầm quan trọng thực tiễn và hoàn toàn không phải là điều dễ đạt được. Nó đặt nền móng cho sự hình thành nhanh chóng và sự xuất hiện rõ rệt của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, cũng như cho việc tìm ra và tổ chức những người có thiện chí trên khắp thế giới, ở bất cứ nơi nào họ có thể được tìm thấy. Huyền Giai Tinh Thần không thể làm việc qua những người có cái lưỡi chỉ trích, có ý tưởng và thái độ chia rẽ, và cực kỳ thiên vị trong niềm tin và lời bình luận của mình. Đây là một phát biểu sự kiện. Tôi tìm cách khiến các bạn tự huấn luyện mình trong hoạt động đúng đắn như thế, bắt đầu từ chính đời sống của các bạn và sự biểu lộ cá nhân của các bạn trong thế giới. |
|
As regards the required united work, I can but indicate the following lines of activity, and it is for you to follow them, if you will, or make it possible for others to do so: |
Về công việc hợp nhất được đòi hỏi, tôi chỉ có thể chỉ ra những đường lối hoạt động sau đây, và việc theo chúng hay làm cho người khác có thể làm như vậy là tùy nơi các bạn: |
|
1. Discover the men and women of good will. These you will not recognise if you are full of racial, national or religious prejudice. |
1. Tìm ra những người nam và nữ có thiện chí. Các bạn sẽ không nhận ra họ nếu các bạn đầy thành kiến chủng tộc, quốc gia hay tôn giáo. |
|
2. Put these people in touch with the Units of Service in the countries where they live. |
2. Đưa những người này vào liên lạc với các Đơn vị Phụng sự tại các quốc gia nơi họ sinh sống. |
|
[749] |
[749] |
|
3. Educate them in the following ideas: |
3. Giáo dục họ về những ý tưởng sau đây: |
|
a. The principles of good will and the medium and methods of their true expression in the daily life. |
a. Các nguyên tắc của thiện chí và phương tiện cùng phương pháp biểu lộ chân chính của chúng trong đời sống hằng ngày. |
|
b. The necessity of their being active and practical and consistent workers in the spread of good will in the world. |
b. Sự cần thiết để họ trở thành những người hoạt động tích cực, thực tiễn và nhất quán trong việc lan truyền thiện chí trên thế giới. |
|
c. The usefulness of building up live mailing lists (I think you call it) of those who see life from the angle of the spiritual values and who seek to build for the future. |
c. Tính hữu ích của việc xây dựng những danh sách gửi thư sinh động (tôi nghĩ các bạn gọi như vậy) gồm những người nhìn đời sống từ góc độ các giá trị tinh thần và tìm cách xây dựng cho tương lai. |
|
4. The authorities of any and every nation should be kept in touch with your activities, so that they are aware of all that you are seeking to do and can, therefore, realise that there is nothing subversive in the planned activities, and nothing that has in it the seeds of trouble for any ruler or national government. |
4. Giới chức của bất kỳ và mọi quốc gia nào cũng nên được giữ liên lạc với các hoạt động của các bạn, để họ biết tất cả những gì các bạn đang tìm cách làm và do đó có thể nhận ra rằng không có gì mang tính lật đổ trong các hoạt động đã được hoạch định, và không có gì chứa trong nó những hạt giống của rắc rối cho bất kỳ nhà cai trị hay chính phủ quốc gia nào. |
|
5. Keep constantly in touch with the Units of Service and use care in choosing those who represent the work you have all undertaken. |
5. Hãy luôn giữ liên lạc với các Đơn vị Phụng sự và cẩn trọng trong việc chọn những người đại diện cho công việc mà tất cả các bạn đã đảm nhận. |
|
6. Let the meditation groups be carefully handled and have about them nothing that could be regarded as secret or might bring them under suspicion of being secret organisations. This they are not. This non-secrecy must be emphasised in connection with all the work. |
6. Hãy xử lý các nhóm tham thiền một cách cẩn trọng và đừng để nơi họ có bất cứ điều gì có thể bị xem là bí mật hay có thể khiến họ bị nghi ngờ là những tổ chức bí mật. Họ không phải như vậy. Tính không bí mật này phải được nhấn mạnh trong liên hệ với toàn bộ công việc. |
|
7. As far as the use of the press and the radio is concerned, go forward as actively and earnestly as possible in preparation for the work planned in 1942 and its great united effort. Upon these two lay the emphasis, for by them the majority of human beings are reached. |
7. Về việc sử dụng báo chí và radio, hãy tiến lên một cách tích cực và tha thiết hết mức có thể để chuẩn bị cho công việc được hoạch định trong năm 1942 và cho nỗ lực hợp nhất lớn lao của nó. Hãy đặt trọng tâm vào hai phương tiện này, vì nhờ chúng mà đa số nhân loại được tiếp cận. |
|
8. Let each Wesak Full Moon be a period of intensive effort preceded by personal preparation and purification and lay the force of the emphasis upon: |
8. Hãy để mỗi kỳ Trăng Tròn Wesak là một giai đoạn nỗ lực mãnh liệt, được đi trước bởi sự chuẩn bị và thanh lọc cá nhân, và hãy đặt sức mạnh của sự nhấn mạnh vào: |
|
[750] |
[750] |
|
a. The producing of sensitivity to the inner spiritual impression, emanating from the Hierarchy and the Group. |
a. Việc tạo ra sự nhạy cảm đối với ấn tượng tinh thần nội tại, phát xạ từ Thánh đoàn và Nhóm. |
|
b. The achieving of an intelligent appreciation of the steps to he taken during the coming twelve months, and the laying of careful plans so that they may indeed materialise. |
b. Việc đạt được một sự đánh giá thông minh về các bước phải được thực hiện trong mười hai tháng sắp tới, và việc đặt ra những kế hoạch cẩn thận để chúng thực sự có thể hiện hình. |
|
c. The correct distribution of your time and resources so that you do become an active worker in the cause of good will. |
c. Sự phân phối đúng đắn thời gian và nguồn lực của các bạn để các bạn thực sự trở thành một người hoạt động tích cực cho chính nghĩa thiện chí. |
|
d. The effort to cooperate with all that is being done along these lines, which entails the discovery of all groups and persons working with similar objectives. |
d. Nỗ lực hợp tác với mọi điều đang được thực hiện theo các đường lối này, điều này đòi hỏi phải tìm ra mọi nhóm và cá nhân đang làm việc với những mục tiêu tương tự. |
|
e. The submergence of your temporary interests in the good of the whole and through love of humanity. |
e. Dìm xuống những lợi ích tạm thời của các bạn trong lợi ích của toàn thể và qua tình thương đối với nhân loại. |
|
I will say no more at this time. I have sought to indicate that which should be possible. If my suggestions are followed, and if the work is carried forward diligently, there is every indication that the work of the Hierarchy and of the Christ will be tremendously expedited. The need and the opportunity call for right understanding, and they demand also a joyful cooperation and the sacrifice of yourselves and of your time and money, in the attempt to make our work possible. |
Lúc này tôi sẽ không nói thêm nữa. Tôi đã tìm cách chỉ ra điều đáng lẽ phải là khả thi. Nếu các gợi ý của tôi được làm theo, và nếu công việc được tiếp tục một cách chuyên cần, thì có mọi dấu hiệu cho thấy công việc của Thánh đoàn và của Đức Christ sẽ được xúc tiến mạnh mẽ. Nhu cầu và cơ hội đòi hỏi sự thấu hiểu đúng đắn, và chúng cũng đòi hỏi sự hợp tác hoan hỉ cùng sự hi sinh của chính các bạn, của thời gian và tiền bạc của các bạn, trong nỗ lực làm cho công việc của chúng tôi trở nên khả thi. |
|
I make no further appeal for your help. I have been endeavoring to educate you in the new ideals and in the work of the New Group of World Servers. The responsibility for right action and for the effort to reach the public rests upon the aspirants and disciples of the world who read my words. There is nothing that I, personally can do. It is your time (and all of you, without exception, can give some) for which Christ and humanity are today calling. It is your activity and skill in reaching those you can reach for which we make [751] demand. It is your money that is needed to enable us to reach the interested public. It is your meditation and intense inner cooperation which will construct that channel through which the spirit of peace can work and the forces of Light enter. The Hierarchy waits. It has done all that is possible from the angle of Its opportunity. The Christ stands in patient silence, attentive to the effort that will make His work materialise on earth and enable Him to consummate the effort He made 2000 years ago in Palestine. The Buddha hovers over the planet, ready to play His part if the opportunity is offered to Him by mankind. I beg you to note what I here have said. Everything now depends upon the right action of the men of good will. |
Tôi không đưa ra thêm lời kêu gọi nào nữa cho sự trợ giúp của các bạn. Tôi đã cố gắng giáo dục các bạn về những lý tưởng mới và về công việc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Trách nhiệm đối với hành động đúng đắn và đối với nỗ lực tiếp cận công chúng nằm nơi những người chí nguyện và các đệ tử của thế giới đang đọc lời tôi. Không có gì mà cá nhân tôi có thể làm. Chính thời gian của các bạn (và tất cả các bạn, không ngoại lệ, đều có thể cho một phần) mà Đức Christ và nhân loại ngày nay đang kêu gọi. Chính hoạt động và kỹ năng của các bạn trong việc tiếp cận những người mà các bạn có thể tiếp cận là điều chúng tôi đòi hỏi. Chính tiền bạc của các bạn là điều cần thiết để giúp chúng tôi tiếp cận công chúng quan tâm. Chính sự tham thiền và sự hợp tác nội tại mãnh liệt của các bạn sẽ xây dựng nên kênh dẫn qua đó tinh thần hòa bình có thể hoạt động và các mãnh lực của Ánh sáng có thể đi vào. Thánh đoàn đang chờ đợi. Thánh đoàn đã làm tất cả những gì có thể từ góc độ cơ hội của mình. Đức Christ đứng trong im lặng kiên nhẫn, chú tâm vào nỗ lực sẽ làm cho công việc của Ngài hiện hình trên trái đất và giúp Ngài hoàn tất nỗ lực mà Ngài đã thực hiện cách đây 2000 năm tại Palestine. Đức Phật đang bao phủ trên hành tinh, sẵn sàng đóng vai trò của Ngài nếu cơ hội được nhân loại trao cho Ngài. Tôi khẩn thiết xin các bạn lưu ý điều tôi đã nói ở đây. Mọi sự giờ đây tùy thuộc vào hành động đúng đắn của những người có thiện chí. |
|
[i] The material for this chapter was written prior to the declaration of war in 1939. |
[i] Tài liệu cho chương này đã được viết trước khi chiến tranh được tuyên bố vào năm 1939. |