2. The Coordination of the Personality— Sự Phối Hợp của Phàm ngã
a. SEVEN TECHNIQUES OF INTEGRATION— BẢY KỸ THUẬT TÍCH HỢP
|
Let us now proceed to a consideration of the seven techniques of integration, bearing in mind that we shall here be dealing with the integration of the threefold lower nature into an active, conscious personality, prior to its fusion into a unity with the soul. We must remember that we are here [346] dealing with the consciousness aspect of manifestation and its apprehension and appreciation of purpose and of truth. We are so apt always to think in terms of form and form activity, that it seems necessary again and again to reiterate the necessity for thinking in terms of consciousness and awareness, leading to an eventual realisation. This purpose and truth, when grasped, brings into direct conflict the will of the personality (the separative individual, governed by the concrete, analytical mind) and the will of the soul, which is the will of the Hierarchy of Souls, or of the Kingdom of God. In the fourth kingdom, the human, the controlling factor is that of desire, ending in aspiration. In the fifth kingdom, the spiritual, the controlling factor is that of divine purpose or the will of God. Then we find this purpose, though free from what we call desire, is actuated by love, expressed through devotion and service, wrought out into full expression upon the physical plane. |
Giờ đây chúng ta hãy tiến tới việc xem xét bảy Kỹ Thuật Tích Hợp, ghi nhớ rằng ở đây chúng ta sẽ bàn đến sự tích hợp của bản chất thấp tam phân thành một phàm ngã hoạt động, có ý thức, trước khi nó được dung hợp thành một hợp nhất với linh hồn. Chúng ta phải nhớ rằng ở đây chúng ta đang [346] bàn đến phương diện tâm thức của sự biểu lộ và sự nắm bắt cũng như đánh giá của nó về mục đích và chân lý. Chúng ta luôn quá dễ suy nghĩ theo hình tướng và hoạt động của hình tướng, đến nỗi dường như cần phải nhắc đi nhắc lại sự cần thiết phải suy nghĩ theo tâm thức và sự nhận biết, dẫn đến một sự chứng nghiệm cuối cùng. Mục đích và chân lý này, khi được nắm bắt, đưa vào xung đột trực tiếp ý chí của phàm ngã (cá nhân phân ly, bị cai quản bởi trí cụ thể, phân tích) và ý chí của linh hồn, vốn là ý chí của Thánh đoàn các linh hồn, hay của Thiên Giới. Trong giới thứ tư, giới nhân loại, yếu tố kiểm soát là dục vọng, kết thúc trong khát vọng. Trong giới thứ năm, giới tinh thần, yếu tố kiểm soát là mục đích thiêng liêng hay Ý Chí của Thượng Đế. Khi ấy chúng ta thấy mục đích này, tuy thoát khỏi điều chúng ta gọi là dục vọng, lại được thúc đẩy bởi bác ái, được biểu lộ qua sùng tín và phụng sự, và được triển khai đến biểu hiện trọn vẹn trên cõi hồng trần. |
|
As may be naturally surmised, there is a technique for each of the seven rays. It is the ray of the ego or soul, slumbering in the early stages within the form, which occultly applies these modes of integration. The soul is essentially the integrative factor, and this shows in the early and unconscious stages as the coherent power of the life principle to hold the forms together in incarnation. In the later and conscious stages, it shows its power by applying these methods of control and unification to the personality. They are not applied, nor can the man avail himself of them, until such time as he is an integrated personality. This has often been forgotten, and men have claimed the rights of discipleship and the powers of initiation before they have even become integrated persons. This has led to disaster, and the falling into disrepute of the whole problem of discipleship and initiation. |
Như có thể được suy ra một cách tự nhiên, có một kỹ thuật cho mỗi một trong bảy cung. Chính cung của chân ngã hay linh hồn, đang ngủ yên trong các giai đoạn đầu bên trong hình tướng, là cái áp dụng một cách huyền bí các phương thức tích hợp này. Linh hồn về bản chất là yếu tố tích hợp, và điều này biểu lộ trong các giai đoạn đầu vô thức như quyền năng cố kết của nguyên khí sự sống để giữ các hình tướng lại với nhau trong lúc lâm phàm. Trong các giai đoạn sau có ý thức, nó biểu lộ quyền năng của mình bằng cách áp dụng các phương pháp kiểm soát và hợp nhất này lên phàm ngã. Chúng không được áp dụng, và con người cũng không thể sử dụng chúng, cho đến khi y là một phàm ngã tích hợp. Điều này thường đã bị quên lãng, và con người đã đòi hỏi các quyền của địa vị đệ tử và các quyền năng của điểm đạo trước khi họ thậm chí trở thành những con người tích hợp. Điều này đã dẫn đến tai họa, và làm cho toàn bộ vấn đề địa vị đệ tử và điểm đạo bị mất uy tín. |
|
It is difficult to make easily comprehensible the nature and [347] purpose of these techniques. All that it is possible to do is to indicate the seven ray techniques as they are applied to the rapidly aligning bodies of the lower man. We will divide our theme, for the sake of clarity and for an understanding of the significance, into two parts. The first one is that in which the first ray aspect of the technique is applied to the form nature, producing destruction through crystallisation. This brings about the “death of the form” in order that it may “again arise and live”. The other is the second ray aspect of the technique, wherein the rebuilding, reabsorption, and recognition of the form takes place in the light which is thrown around, over and upon the personality. In that light, the man sees Light, and thus becomes eventually a light-bearer. |
Thật khó làm cho bản chất và [347] mục đích của các kỹ thuật này trở nên dễ hiểu. Tất cả những gì có thể làm là chỉ ra bảy kỹ thuật cung khi chúng được áp dụng lên các thể của phàm nhân đang nhanh chóng chỉnh hợp. Chúng ta sẽ chia chủ đề của mình, vì mục đích sáng tỏ và để thấu hiểu thâm nghĩa, thành hai phần. Phần thứ nhất là phần trong đó phương diện cung một của kỹ thuật được áp dụng lên bản chất hình tướng, tạo ra sự hủy diệt thông qua sự kết tinh. Điều này đem lại “cái chết của hình tướng” để nó có thể “lại trỗi dậy và sống”. Phần kia là phương diện cung hai của kỹ thuật, trong đó diễn ra sự tái kiến tạo, tái hấp thu, và nhận biết hình tướng trong ánh sáng được chiếu quanh, lên trên và vào phàm ngã. Trong ánh sáng đó, con người thấy Ánh sáng, và do đó cuối cùng trở thành một người mang ánh sáng. |
|
What I have to say concerning each ray and its work with the individuals upon it in integrating the personalities, will be conveyed by means of a formula of integration. This will itself be divided into two parts, dealing with those processes in time and space which bring about the integration of the personality. |
Điều tôi phải nói liên quan đến mỗi cung và công việc của nó với những cá nhân thuộc cung ấy trong việc tích hợp các phàm ngã, sẽ được truyền đạt bằng một công thức tích hợp. Bản thân công thức này sẽ được chia thành hai phần, bàn đến những tiến trình trong thời gian và không gian tạo ra sự tích hợp của phàm ngã. |
|
The words, covering the process in every case, are Alignment, Crisis, Light, Revelation, Integration. Under the heading of each ray we shall have therefore: |
Những từ bao quát tiến trình trong mọi trường hợp là Chỉnh hợp, Khủng hoảng, Ánh sáng, Mặc khải, Tích hợp. Do đó, dưới tiêu đề của mỗi cung, chúng ta sẽ có: |
|
1. The formula of integration. |
1. Công thức tích hợp. |
|
2. Its dual application of destruction and rebuilding, with a brief indication of the process and the result. |
2. Sự áp dụng nhị phân của nó về hủy diệt và tái kiến tạo, với một chỉ dẫn ngắn gọn về tiến trình và kết quả. |
|
3. The final stage of the process wherein the man |
3. Giai đoạn cuối cùng của tiến trình trong đó con người |
|
a. Brings the three bodies into alignment. |
a. Đưa ba thể vào chỉnh hợp. |
|
b. Passes through a crisis of evocation, thus, as the Bhagavad Gita says, becoming “manifest through the magical power of the soul”. |
b. Đi qua một cuộc khủng hoảng gợi lên, và như thế, như Bhagavad Gita nói, trở nên “biểu lộ qua quyền năng huyền thuật của linh hồn”. |
|
[348] |
[348] |
|
c. Enters into a phase of light, wherein the man sees clearly the next step to be taken. |
c. Đi vào một giai đoạn ánh sáng, trong đó con người thấy rõ bước kế tiếp phải được thực hiện. |
|
d. Receives the revelation of the Plan and of what he has to do in connection with it. |
d. Nhận được sự mặc khải về Thiên Cơ và về điều y phải làm liên quan đến nó. |
|
e. Integrates the three bodies into one synthetic whole, and is therefore ready for the Technique of Fusion, which is suited to his ray type. |
e. Tích hợp ba thể thành một toàn thể tổng hợp, và do đó sẵn sàng cho Kỹ Thuật Dung Hợp, vốn thích hợp với loại cung của y. |
|
This will bring us to our second point which concerns the Technique of Fusion and the emergence into activity of the personality ray. |
Điều này sẽ đưa chúng ta đến điểm thứ hai của mình, liên quan đến Kỹ Thuật Dung Hợp và sự xuất hiện vào hoạt động của cung phàm ngã. |
|
Just what do we mean by Integration? We are apt to bandy words about with unthinking lightness and inexactitude, but, dealing as we are with a development which is becoming increasingly prevalent in the human field, it might profit us for a moment to define it and seek to understand one or two of its major implications. It has to be regarded as an essential step, prior to passing (in full and waking consciousness) into the fifth, or spiritual kingdom. We regard the physical body as a functioning aggregate of physical organs, each with its own duties and purposes. These, when combined and acting in unison, we regard as constituting a living organism. The many parts form one whole, working under the direction of the intelligent, conscious Thinker, the soul, as far as man is concerned. At the same time, this conscious form is slowly arriving at a point where integration into the larger whole becomes desirable and is finally achieved—again in the waking consciousness. This process of conscious assimilation is carried forward progressively by the gradual integration of the part into the family unit, the nation, the social order, the current civilisation, the world of nations, and finally into humanity itself. This integration is, therefore, both physical in nature, and an attitude of mind. The consciousness of the [349] man is gradually aroused so that it recognises this relation of the part to the whole, with the implied inter-relation of all parts within the whole. |
Chính xác thì chúng ta muốn nói gì bởi Tích hợp? Chúng ta thường tung hứng từ ngữ với sự nhẹ dạ không suy nghĩ và thiếu chính xác, nhưng vì chúng ta đang bàn đến một sự phát triển ngày càng trở nên phổ biến trong lĩnh vực nhân loại, có lẽ sẽ hữu ích nếu trong chốc lát định nghĩa nó và tìm cách thấu hiểu một hay hai hàm ý chính của nó. Nó phải được xem như một bước thiết yếu, trước khi đi vào (trong tâm thức trọn vẹn và tỉnh thức) giới thứ năm, hay giới tinh thần. Chúng ta xem thể xác như một tập hợp đang hoạt động của các cơ quan hồng trần, mỗi cơ quan có những nhiệm vụ và mục đích riêng. Khi được kết hợp và hoạt động đồng nhất, chúng ta xem chúng như cấu thành một cơ thể sống. Nhiều phần tạo thành một toàn thể, hoạt động dưới sự chỉ đạo của Đấng Tư Tưởng thông minh, có ý thức, tức linh hồn, xét theo con người. Đồng thời, hình tướng có ý thức này đang chậm rãi đi đến một điểm mà sự tích hợp vào toàn thể lớn hơn trở nên đáng mong muốn và cuối cùng được thành tựu—một lần nữa trong tâm thức tỉnh thức. Tiến trình đồng hóa có ý thức này được xúc tiến dần dần bằng sự tích hợp từ từ của bộ phận vào đơn vị gia đình, quốc gia, trật tự xã hội, nền văn minh hiện hành, thế giới các quốc gia, và cuối cùng vào chính nhân loại. Vì vậy, sự tích hợp này vừa có bản chất hồng trần, vừa là một thái độ của trí tuệ. Tâm thức của [349] con người dần dần được khơi dậy để nhận ra mối liên hệ này của bộ phận với toàn thể, cùng với mối tương quan hàm ẩn của mọi bộ phận bên trong toàn thể. |
|
The man who has awakened to full consciousness in the various aspects of his nature—emotional, mental and egoic—realises himself first of all as a personality. He integrates his various bodies with their different states of consciousness into one active reality. He is then definitely a personality and has passed a major milestone on the Path of Return. This is the first great step. Inevitably, the evolutionary process must bring to pass this phenomenal occurrence in the case of every human being, but it can be produced (and is increasingly so produced today) by a planned mental application to the task, and an intelligent consideration of the relation of the part to the whole. It will be found that the purely selfish, material personality will eventually arrive at the condition, wherein the man will be conscious of integrated activity and power, because he |
Con người đã thức tỉnh đến tâm thức trọn vẹn trong các phương diện khác nhau của bản chất mình—cảm xúc, trí tuệ và chân ngã—trước hết nhận ra mình như một phàm ngã. Y tích hợp các thể khác nhau của mình cùng những trạng thái tâm thức khác nhau của chúng thành một thực tại hoạt động. Khi ấy y rõ ràng là một phàm ngã và đã vượt qua một cột mốc lớn trên Con Đường Trở Về. Đây là bước lớn đầu tiên. Tất yếu, tiến trình tiến hoá phải làm cho hiện tượng này xảy ra trong trường hợp của mọi con người, nhưng nó có thể được tạo ra (và ngày nay ngày càng được tạo ra như thế) bằng một sự vận dụng trí tuệ có kế hoạch vào nhiệm vụ, và bằng một sự suy xét thông minh về mối liên hệ của bộ phận với toàn thể. Sẽ thấy rằng phàm ngã thuần túy ích kỷ, vật chất cuối cùng cũng sẽ đạt đến tình trạng trong đó con người sẽ có ý thức về hoạt động và quyền năng tích hợp, bởi vì y |
|
1. Has developed and integrated his own separative “parts” into one whole. |
1. Đã phát triển và tích hợp các “phần” phân ly của riêng mình thành một toàn thể. |
|
2. Has studied and used his environment, or the whole of which his personality is but a part, in such a way that it contributes to his desire, his success, and his emergence into prominence. In doing this, he necessarily has had to make some living contribution to the whole, in order to evoke its integrating power. His motive, however, being purely selfish and material in objective, can only carry him a certain distance along the path of the higher integration. |
2. Đã nghiên cứu và sử dụng môi trường của mình, hay toàn thể mà phàm ngã của y chỉ là một phần, theo cách sao cho nó góp phần vào dục vọng, thành công, và sự nổi bật của y. Khi làm điều này, tất yếu y đã phải có một đóng góp sống động nào đó cho toàn thể, để gợi lên quyền năng tích hợp của nó. Tuy nhiên, động cơ của y hoàn toàn ích kỷ và có mục tiêu vật chất, nên chỉ có thể đưa y đi một quãng đường nhất định trên con đường của sự tích hợp cao hơn. |
|
The unselfish, spiritually oriented man also integrates the various aspects of himself into one functioning whole, but the focus of his activity is contribution, not acquisition, and, by [350] the working of the higher law, the Law of Service, he becomes integrated, not only as a human being within the radius of the prevalent civilisation, but also into that wider and more inclusive world of conscious activity which we call the Kingdom of God. |
Con người vô ngã, được định hướng tinh thần cũng tích hợp các phương diện khác nhau của mình thành một toàn thể đang hoạt động, nhưng trọng điểm hoạt động của y là sự đóng góp, chứ không phải sự thu đạt, và, nhờ tác động của định luật cao hơn, Định luật Phụng sự, y trở nên được tích hợp không chỉ như một con người bên trong bán kính của nền văn minh đang thịnh hành, mà còn vào thế giới rộng lớn hơn và bao gồm hơn của hoạt động có ý thức mà chúng ta gọi là Thiên Giới. |
|
The progress of humanity is from one realised integration to another; man’s basic integrity is, however, in the realm of consciousness. This is a statement of importance. It might be remarked—speaking loosely and generally—that |
Sự tiến bộ của nhân loại là từ một sự tích hợp đã được chứng nghiệm đến một sự tích hợp khác; tuy nhiên, tính toàn vẹn căn bản của con người nằm trong lĩnh vực tâm thức. Đây là một phát biểu quan trọng. Có thể nhận xét—nói một cách lỏng và tổng quát—rằng |
|
1. In Lemurian times, humanity achieved the integration of the vital or etheric body with the physical body. |
1. Trong thời Lemuria, nhân loại đã đạt được sự tích hợp của thể sinh lực/thể dĩ thái với thể xác. |
|
2. In Atlantean times, humanity added to the already achieved synthesis still another part, that of the astral nature, and psychic man came definitely into being. He was alive and at the same time sensitive and responsive to his environment in a wider and more specialised sense. |
2. Trong thời Atlantis, nhân loại đã thêm vào sự tổng hợp đã đạt được một phần khác nữa, đó là bản chất cảm dục, và con người thông linh đã rõ ràng xuất hiện. Y sống động và đồng thời nhạy cảm, đáp ứng với môi trường của mình theo một ý nghĩa rộng hơn và chuyên biệt hơn. |
|
3. Today, in our Aryan race, humanity is occupied with the task of adding still another aspect, that of the mind. To the achieved facts of livingness and sensitivity, he is rapidly adding reason, mental perception and other qualities of mind and thought life. |
3. Ngày nay, trong nhân loại Arya của chúng ta, nhân loại đang bận rộn với nhiệm vụ thêm vào một phương diện khác nữa, đó là trí tuệ. Vào những sự kiện đã đạt được của sự sống động và tính nhạy cảm, y đang nhanh chóng thêm vào lý trí, tri giác trí tuệ và những phẩm tính khác của đời sống trí tuệ và tư tưởng. |
|
4. Advanced humanity upon the Probationary Path is fusing these three divine aspects into one whole, which we call the personality. Many hundreds of thousands stand at this time upon that Path, and are acting, feeling and thinking simultaneously, making of these functions one activity. This personality synthesis comes upon the Path of Discipleship, under the direction of the indwelling entity, the spiritual man. |
4. Nhân loại tiến bộ trên Con Đường Dự Bị đang dung hợp ba phương diện thiêng liêng này thành một toàn thể, mà chúng ta gọi là phàm ngã. Hiện nay có nhiều trăm ngàn người đang đứng trên Con Đường ấy, và đang hành động, cảm nhận và suy nghĩ đồng thời, biến các chức năng này thành một hoạt động. Sự tổng hợp phàm ngã này xuất hiện trên Con Đường Đệ Tử, dưới sự chỉ đạo của thực thể nội tại, con người tinh thần. |
|
This integration constitutes alignment and—when a man has achieved this—he passes eventually through a process of reorientation. This reveals to him, as he slowly [351] changes his direction, the still greater Whole of humanity. Later, upon the Path of Initiation, there will dawn upon his vision, the Whole of which humanity itself is only an expression. This is the subjective world of reality, into which we begin definitely to enter as we become members of the Kingdom of God. |
Sự tích hợp này cấu thành sự chỉnh hợp và—khi một người đã đạt được điều này—cuối cùng y đi qua một tiến trình tái định hướng. Điều này tiết lộ cho y, khi y chậm rãi [351] thay đổi phương hướng của mình, Toàn Thể còn lớn hơn của nhân loại. Về sau, trên Con Đường Điểm Đạo, Toàn Thể mà chính nhân loại chỉ là một biểu hiện của nó sẽ ló rạng trước tầm nhìn của y. Đây là thế giới chủ quan của thực tại, mà chúng ta bắt đầu đi vào một cách rõ rệt khi trở thành các thành viên của Thiên Giới. |
|
5. Upon the Probationary Path, though only during its later stages, he begins to serve humanity consciously through the medium of his integrated personality, and thus the consciousness of the larger and wider whole gradually supersedes his individual and separative consciousness. He knows himself to be but a part. |
5. Trên Con Đường Dự Bị, dù chỉ trong các giai đoạn sau của nó, y bắt đầu phụng sự nhân loại một cách có ý thức thông qua phàm ngã tích hợp của mình, và do đó tâm thức về toàn thể lớn hơn và rộng hơn dần dần thay thế tâm thức cá nhân và phân ly của y. Y biết mình chỉ là một phần. |
|
6. Upon the Path of Discipleship, the process of integration into the Kingdom of God, the Kingdom of Souls, proceeds until the third initiation is undergone. |
6. Trên Con Đường Đệ Tử, tiến trình tích hợp vào Thiên Giới, Thiên Giới của các linh hồn, tiếp diễn cho đến khi trải qua lần điểm đạo thứ ba. |
|
All these various integrations work out into some definite form of activity. First, there is the service of the personality, selfish and separative, wherein man sacrifices much in the interests of his own desire. Then comes the stage of service of humanity, and, finally, the service of the Plan. However, the integration with which we shall primarily deal as we study the seven Techniques of Integration is that of the personality as it integrates into the whole of which it is a part, through service to the race and to the Plan. Bear in mind that these ray techniques are imposed by the soul upon the personality after it has been somewhat integrated into a functioning entity and is, therefore, becoming slightly responsive to the soul, the directing Intelligence. |
Tất cả những sự tích hợp khác nhau này đều được triển khai thành một hình thức hoạt động xác định nào đó. Trước hết là sự phụng sự của phàm ngã, ích kỷ và phân ly, trong đó con người hy sinh nhiều thứ vì lợi ích của dục vọng riêng mình. Sau đó đến giai đoạn phụng sự nhân loại, và cuối cùng là phụng sự Thiên Cơ. Tuy nhiên, sự tích hợp mà chúng ta chủ yếu sẽ bàn đến khi nghiên cứu bảy Kỹ Thuật Tích Hợp là sự tích hợp của phàm ngã khi nó tích hợp vào toàn thể mà nó là một phần của toàn thể ấy, thông qua phụng sự nhân loại và Thiên Cơ. Hãy ghi nhớ rằng các kỹ thuật cung này được linh hồn áp đặt lên phàm ngã sau khi nó đã phần nào được tích hợp thành một thực thể đang hoạt động và do đó đang trở nên hơi đáp ứng với linh hồn, Trí Tuệ chỉ đạo. |
|
Ray One |
Cung một |
|
“The love of power must dominate. There must also be repudiation of those forms which wield no power. |
“Tình yêu quyền lực phải chi phối. Cũng phải có sự khước từ những hình tướng không nắm giữ quyền lực. |
|
The word goes forth from soul to form; ‘Stand up. Press [352] outward into life. Achieve a goal. For you, there must be not a circle, but a line. |
Linh từ phát ra từ linh hồn đến hình tướng; ‘Hãy đứng lên. Hãy tiến [352] ra ngoài vào đời sống. Hãy đạt một mục tiêu. Đối với ngươi, không phải là một vòng tròn, mà là một đường thẳng. |
|
Prepare the form. Let the eyes look forward, not on either side. Let the ears be closed to all the outer voices, and the hands clenched, the body braced, and mind alert. Emotion is not used in furthering of the Plan. Love takes its place.’ |
Hãy chuẩn bị hình tướng. Hãy để đôi mắt nhìn về phía trước, không nhìn sang hai bên. Hãy để đôi tai khép lại trước mọi tiếng nói bên ngoài, và hai bàn tay nắm chặt, thể xác vững chắc, và trí tuệ tỉnh táo. Cảm xúc không được dùng để thúc đẩy Thiên Cơ. Bác ái thay thế vị trí của nó.’ |
|
The symbol of a moving point of light appears above the brow. The keynote of the life though uttered not, yet still is clearly heard: ‘I move to power. I am the One. We are a Unity in power. And all is for the power and glory of the One.'” |
Biểu tượng của một điểm sáng chuyển động xuất hiện phía trên trán. Chủ âm của sự sống, tuy không được thốt ra, nhưng vẫn được nghe rõ ràng: “Tôi tiến đến quyền năng. Tôi là Đấng Duy Nhất. Chúng ta là một Hợp Nhất trong quyền năng. Và tất cả là vì quyền năng và vinh quang của Đấng Duy Nhất.” |
|
Such is the pattern of the thought and the process of the life of the man upon the first ray who is seeking first of all to control his personality, and then to dominate his environment. His progress is that of “achieved control; that of being controlled, and then again controlling.” At first, his motive is that of selfish, separative achievement, and then comes failure to be satisfied. A higher achievement then takes place as a result of the service of the Plan, until the time eventually comes when the first ray man can be trusted to be God’s Destroying Angel—the Angel who brings life through the destruction of the form. Such integrated personalities are frequently ruthless at first, selfish, ambitious, self-centered, cruel, one-pointed, implacable, undeviating, aware of implications, of significances, and of the results of action but, at the same time, unalterable and undeviating, moving forward to their purposes. They destroy and tear down in order to rise to greater heights upon the ruin they have wrought. They do thus rise. They trample on other men and upon the destinies of the little person. They integrate their surroundings into an instrument for their will and move relentlessly forward upon their own occasions. This type of man will be found expressing these qualities in all walks of life and spheres of action, and is a destroying force in his home, business or in the nation. |
Đó là mô hình của tư tưởng và tiến trình sự sống của con người thuộc cung một, kẻ trước hết tìm cách kiểm soát phàm ngã của mình, rồi sau đó chi phối môi trường của mình. Sự tiến bộ của y là sự tiến bộ của “quyền kiểm soát đã đạt được; của việc bị kiểm soát, rồi lại kiểm soát.” Lúc đầu, động cơ của y là thành tựu ích kỷ, phân ly, rồi sau đó đến sự thất bại trong việc được thỏa mãn. Kế đó, một thành tựu cao hơn diễn ra như kết quả của việc phụng sự Thiên Cơ, cho đến khi cuối cùng con người cung một có thể được tin cậy để trở thành Thiên Thần Hủy Diệt của Thượng đế—Thiên Thần mang sự sống đến qua sự hủy diệt hình tướng. Những phàm ngã tích hợp như thế lúc đầu thường tàn nhẫn, ích kỷ, đầy tham vọng, tập trung vào bản thân, độc ác, nhất tâm, không khoan nhượng, không chệch hướng, ý thức được các hàm ý, các thâm nghĩa và các kết quả của hành động nhưng đồng thời lại bất biến và không chệch hướng, tiến lên phía trước hướng đến các mục đích của mình. Họ hủy diệt và phá đổ để vươn lên những đỉnh cao lớn hơn trên đống tàn tích do chính họ tạo ra. Họ quả thật vươn lên như thế. Họ chà đạp lên những người khác và lên số phận của con người nhỏ bé. Họ tích hợp môi trường chung quanh thành một công cụ cho ý chí của mình và tiến lên không ngừng nghỉ theo những cơ hội riêng của mình. Loại người này có thể được thấy biểu lộ các phẩm tính ấy trong mọi nẻo đời và mọi lĩnh vực hoạt động, và là một mãnh lực hủy diệt trong gia đình, trong công việc kinh doanh hay trong quốc gia. |
|
All this is made possible because the first ray has at this [353] stage integrated the personality vehicles and has achieved their simultaneous control. The man functions as a whole. |
Tất cả điều này trở nên khả hữu vì cung một ở [353] giai đoạn này đã tích hợp các vận cụ phàm ngã và đã đạt được sự kiểm soát đồng thời đối với chúng. Con người hoạt động như một toàn thể. |
|
This process and method of work brings him eventually to a point of crisis,—a crisis based upon the unalterable fact of his essentially divine nature or being, which cannot remain satisfied with the gaining of power in a personality sense and in a material world. Power selfishly used exhausts its user and evokes a display of power antagonistic to him; he is thereby destroyed, because he has destroyed. He is separated off from his fellow men because he has been isolated and separative in his nature. He walks alone because he has cried forth to the world: “I will brook no companion; I am the one alone.” |
Tiến trình và phương pháp làm việc này cuối cùng đưa y đến một điểm khủng hoảng—một khủng hoảng dựa trên sự kiện bất biến rằng bản chất hay hữu thể cốt yếu của y là thiêng liêng, và không thể mãi thỏa mãn với việc đạt được quyền năng theo nghĩa phàm ngã và trong một thế giới vật chất. Quyền năng được sử dụng một cách ích kỷ sẽ làm cạn kiệt chính người sử dụng nó và gợi lên một sự biểu lộ quyền năng đối kháng với y; do đó y bị hủy diệt, vì y đã hủy diệt. Y bị tách rời khỏi đồng loại của mình vì bản chất của y vốn cô lập và phân ly. Y bước đi một mình vì y đã kêu lên với thế gian: “Tôi không chấp nhận bạn đồng hành nào; tôi là kẻ đơn độc duy nhất.” |
|
This crisis of evocation brings him to an inner point of change which involves an alteration in his direction, a change of method, and a different attitude. These three changes are described in the Old Commentary (in which these techniques are to be found) in the following terms: |
Khủng hoảng gợi lên này đưa y đến một điểm chuyển đổi bên trong, bao hàm một sự thay đổi phương hướng, một sự thay đổi phương pháp, và một thái độ khác đi. Ba thay đổi này được mô tả trong Cổ Luận (nơi có thể tìm thấy các kỹ thuật này) bằng những lời sau đây: |
|
“The one who travels on a line returns upon his way. Back to the centre of his life he goes, and there he waits. He reaches out his arms and cries: I cannot stand and walk alone. And standing thus, a cross is formed and on that cross he takes his place—with others.” |
“Kẻ lữ hành trên một đường thẳng quay trở lại con đường của mình. Y trở về trung tâm của đời mình, và ở đó y chờ đợi. Y dang tay ra và kêu lên: Tôi không thể đứng và bước đi một mình. Và khi đứng như thế, một thập giá được hình thành và trên thập giá ấy y nhận lấy vị trí của mình—cùng với những người khác.” |
|
The change of direction takes him back to the centre of his being, the heart; a change of method takes place, for, instead of moving straight forward, he waits in patience and seeks to feel. A change of attitude can be noted, for he reaches out his arms to his fellow men—to the greater whole—and thus becomes inclusive. |
Sự thay đổi phương hướng đưa y trở về trung tâm của hữu thể mình, tức trái tim; một sự thay đổi phương pháp diễn ra, vì thay vì tiến thẳng tới trước, y kiên nhẫn chờ đợi và tìm cách cảm nhận. Có thể nhận thấy một sự thay đổi thái độ, vì y dang tay ra với đồng loại của mình—với toàn thể lớn hơn—và như thế trở nên bao gồm. |
|
Standing thus in quietness at the centre, and searching within himself for responsiveness to his environment, he thus loses sight of self and the light breaks in. It is as if a curtain were raised. In that light, the first thing which is revealed to him is the devastating sight of that which he has destroyed. [354] He is subjected to what has esoterically been called “the light which shocks.” Slowly and laboriously, using every power of his aligned personality and, in his realised desperation, calling in the power of his soul, he proceeds one-pointedly to rebuild that which he has destroyed. In rebuilding, he lifts the entire structure on to a higher level than any he has hitherto touched. This is the task of the destroyers and of those who work with civilisations and who can be trusted to act as agents of destruction under the Plan. |
Khi đứng như thế trong tĩnh lặng tại trung tâm, và tìm kiếm bên trong chính mình khả năng đáp ứng với môi trường của mình, y nhờ đó đánh mất cái thấy về bản ngã và ánh sáng bừng chiếu vào. Tựa như một bức màn được vén lên. Trong ánh sáng đó, điều đầu tiên được mặc khải cho y là cảnh tượng tàn phá của những gì y đã hủy diệt. [354] Y chịu tác động của điều mà về mặt huyền bí đã được gọi là “ánh sáng gây chấn động.” Chậm chạp và nhọc nhằn, sử dụng mọi quyền năng của phàm ngã đã chỉnh hợp của mình và, trong nỗi tuyệt vọng đã được chứng nghiệm, kêu gọi quyền năng của linh hồn mình, y tiến hành một cách nhất tâm để tái thiết điều mà y đã hủy diệt. Trong khi tái thiết, y nâng toàn bộ cấu trúc lên một cấp độ cao hơn bất kỳ cấp độ nào mà trước đây y từng chạm tới. Đây là nhiệm vụ của những kẻ hủy diệt và của những người làm việc với các nền văn minh và có thể được tin cậy để hành động như những tác nhân hủy diệt dưới Thiên Cơ. |
|
It is interesting to note that when this stage is reached (the stage of rebuilding as the first ray man understands it), he will usually pass through four incarnations in which he is first of all “the man at the centre,” a focal point of immobile power. He is conscious of his power, gained whilst functioning as a selfish destroyer, but he is also conscious of frustration and futility. Next he passes through a life in which he begins to reorganise himself for a different type of activity, and it will be found that in these cases he will have a third or a seventh ray personality. In the third incarnation he definitely begins rebuilding and works through a second ray personality until, in the fourth life, he can function safely through a first ray personality without losing his spiritual balance, if we might use such a phrase. Through this type of personality, his first ray soul can demonstrate, because the disciple has “recovered feeling, gained divine emotion, and filled his waiting heart with love.” In such cases as this, the astral body is usually on the second ray, the mental body upon the fourth ray, and the physical body upon the sixth ray. This naturally tends to balance or upset the intensity of the first ray vibrations of the personality and soul. It is in the third life of reorientation that he gains the reward for the arresting of his selfish efforts, and aspects of the Plan are then revealed to him. |
Điều đáng chú ý là khi giai đoạn này đạt tới (giai đoạn tái thiết như con người cung một hiểu nó), y thường sẽ trải qua bốn kiếp sống, trong đó trước hết y là “con người ở trung tâm,” một tiêu điểm của quyền năng bất động. Y ý thức được quyền năng của mình, đạt được trong khi hoạt động như một kẻ hủy diệt ích kỷ, nhưng y cũng ý thức được sự thất vọng và tính vô ích. Kế đó y trải qua một kiếp sống trong đó y bắt đầu tự tái tổ chức cho một loại hoạt động khác, và người ta sẽ thấy rằng trong những trường hợp này y sẽ có một phàm ngã cung ba hoặc cung bảy. Trong kiếp thứ ba, y dứt khoát bắt đầu tái thiết và hoạt động qua một phàm ngã cung hai cho đến khi, trong kiếp thứ tư, y có thể hoạt động một cách an toàn qua một phàm ngã cung một mà không đánh mất sự quân bình tinh thần của mình, nếu chúng ta có thể dùng một cụm từ như thế. Qua loại phàm ngã này, linh hồn cung một của y có thể biểu lộ, bởi vì đệ tử đã “phục hồi cảm nhận, đạt được cảm xúc thiêng liêng, và làm đầy trái tim đang chờ đợi của mình bằng tình thương.” Trong những trường hợp như thế này, thể cảm dục thường ở cung hai, thể trí ở cung bốn, và thể xác ở cung sáu. Điều này tự nhiên có khuynh hướng quân bình hay làm dịu bớt cường độ của các rung động cung một của phàm ngã và linh hồn. Chính trong kiếp thứ ba của sự tái định hướng mà y đạt được phần thưởng cho việc ngăn chặn các nỗ lực ích kỷ của mình, và các phương diện của Thiên Cơ khi ấy được mặc khải cho y. |
|
[355] |
[355] |
|
Ray Two |
Cung Hai |
|
“‘Again I stand; a point within a circle and yet myself.’ |
“‘Tôi lại đứng; một điểm bên trong một vòng tròn mà vẫn là chính mình.’ |
|
The love of love must dominate, not love of being loved. The power to draw unto oneself must dominate, but into the worlds of form that power must some day fail to penetrate. This is the first step towards a deeper search. |
Tình yêu của tình thương phải chi phối, chứ không phải tình yêu được yêu thương. Quyền năng thu hút về phía mình phải chi phối, nhưng vào các thế giới hình tướng thì quyền năng ấy một ngày kia phải không còn xuyên thấu được nữa. Đây là bước đầu tiên hướng tới một cuộc tìm kiếm sâu xa hơn. |
|
The word goes forth from soul to form: ‘Release thyself from all that stands around, for it has naught for thee, so look to me. I am the One who builds, sustains and draws thee on and up. Look unto me with eyes of love, and seek the path which leads from the outer circle to the point. |
Linh từ phát ra từ linh hồn đến hình tướng: ‘Hãy giải thoát ngươi khỏi tất cả những gì đứng quanh ngươi, vì chúng chẳng có gì cho ngươi, vậy hãy hướng về ta. Ta là Đấng kiến tạo, duy trì và kéo ngươi tiến lên và đi lên. Hãy nhìn về ta bằng đôi mắt của tình thương, và tìm con đường dẫn từ vòng tròn bên ngoài đến điểm. |
|
I, at the point, sustain. I, at the point, attract. I, at the point, direct and choose and dominate. I, at the point, love all, drawing them to the centre and moving forward with the travelling points towards that great Centre where the One Point stands. What mean you by that Word?” |
Ta, tại điểm, duy trì. Ta, tại điểm, thu hút. Ta, tại điểm, chỉ đạo và chọn lựa và chi phối. Ta, tại điểm, yêu thương tất cả, kéo họ vào trung tâm và cùng các điểm lữ hành tiến về Trung Tâm vĩ đại nơi Điểm Duy Nhất đứng đó. Ngươi muốn nói gì bởi Linh từ ấy?’” |
|
In reference to this second ray, it is advisable to recollect that all the rays are but the subrays of the second Ray of Love-Wisdom. The One in the centre, Who is the “point within the circle” of manifestation, has three major qualities: life or activity in form, love and the power of abstraction. It is these last two qualities of Deity with which we are concerned in these formulas and (in connection with the second ray) the dualities of attraction and abstraction emerge, both latent and both capable of perfected activity in their own field. |
Liên quan đến cung hai này, nên nhớ rằng tất cả các cung chỉ là các cung phụ của cung hai Bác Ái – Minh Triết. Đấng ở trung tâm, Đấng là “điểm bên trong vòng tròn” của biểu hiện, có ba phẩm tính chính: sự sống hay hoạt động trong hình tướng, tình thương, và quyền năng trừu xuất. Chính hai phẩm tính sau cùng này của Thượng đế là điều chúng ta quan tâm trong các công thức này và (liên hệ với cung hai) các nhị nguyên của thu hút và trừu xuất xuất hiện, cả hai đều tiềm ẩn và cả hai đều có khả năng hoạt động hoàn hảo trong lĩnh vực riêng của mình. |
|
There comes ever the moment in the life of the aspirant when he begins to consider with wonder the significance of that familiar reaction of finding no satisfaction in the familiar things; the old life of desire for well known forms of existence and expression ceases to attract his interest. The pull or attractive power of the One at the centre (Who is his true self) also fails. It is not yet a familiar “call.” The aspirant is left, unsatisfied and with a deepening sense of futility and emptiness, “pendent upon the periphery” of the divine “ring-pass-not” [356] which he has himself established. It is at this point and in this situation that he must reflect upon and use this formula. |
Luôn luôn có một thời điểm trong đời sống của người chí nguyện khi y bắt đầu ngạc nhiên suy xét về thâm nghĩa của phản ứng quen thuộc là không tìm thấy sự thỏa mãn trong những điều quen thuộc; đời sống cũ của ham muốn đối với những hình thức hiện hữu và biểu lộ quen biết không còn hấp dẫn sự quan tâm của y nữa. Sức kéo hay quyền năng thu hút của Đấng Duy Nhất ở trung tâm (Đấng là chân ngã đích thực của y) cũng thất bại. Nó chưa phải là một “tiếng gọi” quen thuộc. Người chí nguyện bị bỏ lại, không được thỏa mãn và với một cảm nhận ngày càng sâu về tính vô ích và trống rỗng, “treo lơ lửng nơi chu vi” của “vòng-giới-hạn” thiêng liêng [356] mà chính y đã thiết lập. Chính tại điểm này và trong tình huống này mà y phải suy ngẫm về và sử dụng công thức này. |
|
The question might here be interjected: What should now be the procedure and right use? Upon this it is not possible here to enlarge, beyond pointing out that all the meditation processes connected with the Raja-Yoga system are intended to bring the aspirant to a point of such intense inner focussing and alert mental detachment that he will be in a position to use these formulas with understanding, according to his ray type, and to use them with efficacy and power. His meditation has produced the needed alignment. There is therefore a direct way or line (speaking symbolically) between the thinking, meditative, reflective man upon the periphery of the soul’s influence and the soul itself, the One Who is at the centre. The crisis of evocation succeeds, once this line of contact, this antaskarana, has been established and recognised, and a crisis of intense activity ensues, wherein the man occultly “detaches himself from the furthest point upon the outer rim of life, and sweeps with purpose towards the central Point.” Thus speaks the Old Commentary, which is so oft quoted in these pages. |
Ở đây có thể xen vào câu hỏi: Vậy giờ đây thủ tục và cách sử dụng đúng đắn phải là gì? Về điều này, ở đây không thể nói rộng hơn ngoài việc chỉ ra rằng mọi tiến trình tham thiền liên hệ với hệ thống Raja-Yoga đều nhằm đưa người chí nguyện đến một điểm tập trung bên trong mãnh liệt đến mức và một sự tách rời trí tuệ tỉnh táo đến mức y sẽ ở vào vị thế có thể sử dụng các công thức này với sự thấu hiểu, tùy theo loại cung của mình, và sử dụng chúng với hiệu quả và quyền năng. Sự tham thiền của y đã tạo ra sự chỉnh hợp cần thiết. Vì vậy, có một con đường hay một đường thẳng trực tiếp (nói theo biểu tượng) giữa con người đang suy tư, tham thiền, phản tỉnh ở nơi chu vi ảnh hưởng của linh hồn và chính linh hồn, Đấng ở trung tâm. Khủng hoảng gợi lên tiếp theo sau, một khi đường tiếp xúc này, antaskarana này, đã được thiết lập và nhận biết, và một khủng hoảng hoạt động mãnh liệt xảy ra, trong đó con người một cách huyền bí “tách mình khỏi điểm xa nhất trên vành ngoài của sự sống, và quét đi với mục đích hướng về Điểm trung tâm.” Cổ Luận nói như vậy, bộ sách thường được trích dẫn trong những trang này. |
|
It is not possible to do more than put these ideas into symbolic form, leaving these mysteries of the soul to be grasped by those whose soul’s influence reaches to that periphery and is there recognised for what it is. This crisis usually persists for a long time, a far longer one than is the case with the aspirant upon the first ray line of activity. However, when the second ray aspirant has understood and has availed himself of the opportunity and can see ahead the line between himself and the centre, then the “light breaks in.” |
Không thể làm gì hơn ngoài việc đặt những ý tưởng này vào hình thức biểu tượng, để lại những huyền nhiệm này của linh hồn cho những ai mà ảnh hưởng của linh hồn vươn tới chu vi ấy và ở đó được nhận biết đúng như nó là. Khủng hoảng này thường kéo dài rất lâu, lâu hơn nhiều so với trường hợp người chí nguyện trên đường hoạt động cung một. Tuy nhiên, khi người chí nguyện cung hai đã thấu hiểu và đã tận dụng cơ hội, và có thể thấy trước mặt đường nối giữa mình và trung tâm, thì “ánh sáng bừng chiếu vào.” |
|
It is this period of crisis which presents the major problem to the advanced aspirants of today and evokes consequently [357] the concern of the psychiatrist and psychologist. Instead of treating the difficulty as a sign of progress and as indicating a relatively high point in the evolutionary scale and therefore a reason for a sense of encouragement, it is treated as a disease of the mind and of the personality. Instead of regarding the condition as one warranting explanation and understanding but no real concern, the attempt is made to arrest the difficulty by elimination and not by solution, and though the personality may be temporarily relieved, the work of the soul is for that particular life cycle arrested, and delay ensues. With this problem we will later deal. |
Chính giai đoạn khủng hoảng này tạo nên vấn đề lớn cho những người chí nguyện tiến bộ ngày nay và do đó gợi lên [357] sự quan tâm của nhà tâm thần học và nhà tâm lý học. Thay vì xem khó khăn này như một dấu hiệu của tiến bộ và như chỉ ra một điểm tương đối cao trên thang tiến hoá và vì thế là một lý do để có cảm nhận khích lệ, nó lại bị xem như một bệnh của trí tuệ và của phàm ngã. Thay vì coi tình trạng ấy là điều cần được giải thích và thấu hiểu nhưng không đáng lo ngại thực sự, người ta lại cố ngăn chặn khó khăn bằng sự loại bỏ chứ không phải bằng giải pháp, và dù phàm ngã có thể được tạm thời giải tỏa, công việc của linh hồn đối với chu kỳ sống đặc biệt ấy bị đình lại, và sự trì hoãn xảy ra. Chúng ta sẽ bàn đến vấn đề này sau. |
|
Light reveals, and the stage of revelation now follows. This light upon the way produces vision and the vision shows itself as: |
Ánh sáng mặc khải, và giai đoạn mặc khải nay tiếp theo. Ánh sáng này trên đường đạo tạo ra linh thị và linh thị biểu lộ như sau: |
|
1. A vision, first of all, of defects. The light reveals the man to himself, as he is, or as the soul sees the personality. |
1. Trước hết là một linh ảnh về các khiếm khuyết. Ánh sáng mặc khải con người cho chính y, đúng như y là, hay như linh hồn nhìn thấy phàm ngã. |
|
2. A vision of the next step ahead, which, when taken, indicates the procedure next to be followed. |
2. Một linh ảnh về bước kế tiếp ở phía trước, mà khi được thực hiện, sẽ chỉ ra thủ tục tiếp theo cần được theo đuổi. |
|
3. A vision of those who are travelling the same way. |
3. Một linh ảnh về những người đang đi cùng một con đường. |
|
4. A glimpse of the “Guardian Angel,” who is the dim reflection of the Angel of the Presence, the Solar Angel, which walks with each human being from the moment of birth until death, embodying as much of the available light as the man—at any given moment upon the path of evolution—can use and express. |
4. Một thoáng thấy “Thiên Thần Hộ Vệ,” là phản ảnh mờ nhạt của Thiên Thần của Hiện Diện, Thái dương Thiên Thần, Đấng đồng hành với mỗi con người từ lúc sinh ra cho đến khi chết, hiện thân cho chừng nào ánh sáng khả dụng mà con người—ở bất kỳ thời điểm nào trên con đường tiến hoá—có thể sử dụng và biểu lộ. |
|
5. A fleeting glimpse (at high and rare moments) of the Angel of the Presence itself. |
5. Một thoáng thấy chớp nhoáng (vào những lúc cao cả và hiếm hoi) về chính Thiên Thần của Hiện Diện. |
|
6. At certain times and when deemed necessary, a glimpse of the Master of a man’s ray group. This falls usually into two categories of experience and causes: |
6. Vào những lúc nhất định và khi được xem là cần thiết, một thoáng thấy Chân sư của nhóm cung của một người. Điều này thường rơi vào hai loại kinh nghiệm và nguyên nhân: |
|
a. In the early stages and whilst under illusion and glamour, that which is contacted is a vision of the astral, illusory form upon the planes of glamour and illusion. This is not, therefore, a glimpse of the Master Himself, but of His astral symbol, or of the form built by His devoted disciples and followers. |
a. Trong các giai đoạn đầu và khi còn ở dưới ảo tưởng và ảo cảm, điều được tiếp xúc là một linh ảnh về hình tướng cảm dục, ảo huyễn trên các cõi của ảo cảm và ảo tưởng. Vì vậy, đây không phải là một thoáng thấy chính Chân sư, mà là biểu tượng cảm dục của Ngài, hay hình tướng do các đệ tử và môn đồ tận tụy của Ngài tạo dựng. |
|
b. The Master Himself is contacted. This can take place when the disciple has effected the needed integrations of the threefold lower nature. |
b. Chính Chân sư được tiếp xúc. Điều này có thể xảy ra khi đệ tử đã thực hiện được các sự tích hợp cần thiết của bản chất thấp tam phân. |
|
It is at this moment of “integration as the result of revelation” that there comes the fusion of the personality ray with the egoic ray. This we will consider later, but at this point a fact should be mentioned which has not hitherto been emphasised or elucidated. This point is that the personality ray is always a subray of the egoic ray, in the same sense that the seven major rays of our solar system are the seven subrays of the Cosmic Ray of Love-Wisdom, or the seven planes of our system are the seven subplanes of the cosmic physical plane. We will suppose, for instance, that a man’s egoic ray is the third ray of active intelligence or adaptability, and his personality ray is the second ray of love-wisdom. This personality ray is the second subray of the third ray of active intelligence. Then, in addition, there might be the following rays governing the three personality vehicles: |
Chính vào lúc “tích hợp như là kết quả của mặc khải” này mà sự dung hợp của cung phàm ngã với cung chân ngã diễn ra. Chúng ta sẽ xét điều này sau, nhưng tại điểm này cần nêu ra một sự kiện mà từ trước đến nay chưa được nhấn mạnh hay làm sáng tỏ. Điểm này là cung phàm ngã luôn luôn là một cung phụ của cung chân ngã, theo cùng ý nghĩa mà bảy cung chính của hệ mặt trời chúng ta là bảy cung phụ của Cung Vũ Trụ Bác Ái – Minh Triết, hay bảy cõi của hệ chúng ta là bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ. Chẳng hạn, giả sử cung chân ngã của một người là cung ba của trí tuệ linh hoạt hay thích ứng, và cung phàm ngã của y là cung hai của bác ái-minh triết. Cung phàm ngã này là cung phụ thứ hai của cung ba trí tuệ linh hoạt. Rồi thêm vào đó, có thể có các cung sau đây chi phối ba vận cụ phàm ngã: |
|
Egoic Ray—3rd Ray of Active Intelligence |
Cung Chân Ngã—Cung 3 của Trí Tuệ Linh Hoạt |
|
| |
| |
||||||
|
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
|
|
| |
. |
. |
. |
||||
|
Personality |
. |
. |
. |
||||
|
. |
. |
. |
|||||
|
. |
. |
||||||
|
Mental Body |
. |
. |
|||||
|
Astral body |
|||||||
|
. |
. |
||||||
|
Physical body |
|
[359] |
[359] |
|
This is a valuable point for all who are real students to remember and to grasp. Ponder upon it, for it is self-explanatory and an understanding of it will make it possible to solve the problems of: |
Đây là một điểm có giá trị để tất cả những ai là đạo sinh chân chính ghi nhớ và nắm vững. Hãy suy ngẫm về nó, vì nó tự giải thích và sự thấu hiểu nó sẽ làm cho việc giải quyết các vấn đề sau trở nên khả hữu: |
|
1. Alignment |
1. Chỉnh hợp |
|
2. The lines of least resistance. |
2. Các con đường ít trở ngại nhất. |
|
3. The processes of substitution. |
3. Các tiến trình thay thế. |
|
4. The alchemy of transmutation. |
4. Thuật luyện kim của sự chuyển hoá. |
|
5. The fields of |
5. Các lĩnh vực của |
|
a. Service |
a. Phụng sự |
|
b. Avocation |
b. Nghề tay trái |
|
c. Vocation. |
c. Nghề nghiệp. |
|
The lack of balance will also emerge if the chart is studied and man can then arrive at an understanding of what he has to do. A study of the two formulas of the first and second rays will make it clear why in humanity (and in the solar system also) these two major rays are always so closely associated, and why all esoteric schools throughout the world are predominantly expressions of these two rays. At a certain stage upon the Path all the rays governing the mental body shift their focus onto rays one and two, doing this via the third ray. This ray holds the same position to the other rays that the solar plexus centre does to the other six centres, for it constitutes a great clearing house. The first ray penetrates, pierces and produces the line along which Light comes; the second ray is the “light-carrier,” and supplements the work of the first ray. A study of the activities and the cooperative endeavours of the Master M. and the Master K.H. may serve to make this clearer. Their work is indispensable to each other, just as life and consciousness are mutually indispensable, and without them form is rendered valueless. |
Sự thiếu quân bình cũng sẽ lộ ra nếu biểu đồ được nghiên cứu và khi ấy con người có thể đi đến chỗ thấu hiểu điều mình phải làm. Việc nghiên cứu hai công thức của cung một và cung hai sẽ làm sáng tỏ tại sao trong nhân loại (và trong hệ mặt trời nữa) hai cung chính này luôn luôn liên kết chặt chẽ với nhau như thế, và tại sao mọi trường phái huyền bí trên khắp thế giới lại chủ yếu là những biểu lộ của hai cung này. Ở một giai đoạn nhất định trên Con Đường, tất cả các cung chi phối thể trí đều chuyển tiêu điểm của chúng sang cung một và cung hai, thực hiện điều này qua cung ba. Cung này giữ cùng vị trí đối với các cung khác như trung tâm tùng thái dương đối với sáu trung tâm kia, vì nó tạo thành một trạm chuyển lớn. Cung một xuyên thấu, đâm thủng và tạo ra đường theo đó Ánh sáng đi vào; cung hai là “kẻ mang ánh sáng,” và bổ sung công việc của cung một. Việc nghiên cứu các hoạt động và những nỗ lực hợp tác của Chân sư M. và Chân sư K.H. có thể giúp làm điều này rõ ràng hơn. Công việc của Các Ngài là không thể thiếu đối với nhau, cũng như sự sống và tâm thức là không thể thiếu lẫn nhau, và không có chúng thì hình tướng trở nên vô giá trị. |
|
[360] |
[360] |
|
Ray Three |
Cung Ba |
|
“‘Pulling the threads of Life, I stand, enmeshed within my self-created glamour. Surrounded am I by the fabric I have woven. I see naught else. |
“‘Kéo những Sợi dây Sự Sống, tôi đứng, mắc kẹt trong ảo cảm do chính mình tạo ra. Tôi bị bao quanh bởi tấm vải mà tôi đã dệt. Tôi không thấy gì khác. |
|
The love of truth must dominate, not love of my own thoughts, or love of my ideas or forms; love of the ordered process must control, not love of my own wild activity.’ |
Tình yêu chân lý phải chi phối, chứ không phải tình yêu đối với những tư tưởng riêng của tôi, hay tình yêu đối với các ý tưởng hay hình tướng của tôi; tình yêu đối với tiến trình có trật tự phải kiểm soát, chứ không phải tình yêu đối với hoạt động cuồng nhiệt của riêng tôi.’ |
|
The word goes forth from soul to form: ‘Be still. Learn to stand silent, quiet and unafraid. I, at the centre, Am. Look up along the line and not along the many lines which, in the space of aeons, you have woven. These hold thee prisoner. Be still. Rush not from point to point, nor be deluded by the outer forms and that which disappears. Behind the forms, the Weaver stands and silently he weaves.'” |
Linh từ phát ra từ linh hồn đến hình tướng: ‘Hãy tĩnh lặng. Hãy học đứng im lặng, yên tĩnh và không sợ hãi. Ta, tại trung tâm, Là. Hãy nhìn lên theo đường thẳng chứ không theo nhiều đường mà, trong không gian của các đại kiếp, ngươi đã dệt nên. Chúng giam giữ ngươi. Hãy tĩnh lặng. Đừng lao từ điểm này sang điểm khác, cũng đừng bị mê hoặc bởi các hình tướng bên ngoài và điều biến mất. Đằng sau các hình tướng, Người Dệt đứng đó và âm thầm dệt.’” |
|
It is this enforced quiet which brings about the true alignment. This is the quiet not of meditation but of living. The aspirant upon the third ray is apt to waste much energy in perpetuating the glamourous forms with which he persistently surrounds himself. How can he achieve his goal when he is ceaselessly running hither and thither—weaving, manipulating, planning and arranging? He manages to get nowhere. Ever he is occupied with the distant objective, with that which may materialise in some dim and distant future, and he fails ever to achieve the immediate objective. He is often the expression and example of waste energy. He weaves for the future, forgetting that his tiny bit of weaving is an intrinsic part of a great Whole and that time may enter in and frustrate—by change of circumstance—his carefully laid plans, and the dreams of earlier years. Therefore futility is the result. |
Chính sự tĩnh lặng bị cưỡng bách này mang lại sự chỉnh hợp chân chính. Đây là sự tĩnh lặng không phải của tham thiền mà của đời sống. Người chí nguyện trên cung ba có khuynh hướng lãng phí nhiều năng lượng trong việc duy trì những hình tướng ảo cảm mà y kiên trì tự bao quanh mình. Làm sao y có thể đạt mục tiêu khi y không ngừng chạy ngược chạy xuôi—dệt, thao túng, hoạch định và sắp đặt? Y xoay xở mà chẳng đi đến đâu. Y luôn bận tâm với mục tiêu xa xôi, với điều có thể hiện hình trong một tương lai mờ mịt và xa vời nào đó, và y luôn không đạt được mục tiêu trước mắt. Y thường là biểu hiện và ví dụ của năng lượng bị lãng phí. Y dệt cho tương lai, quên rằng phần dệt nhỏ bé của mình là một phần nội tại của một Toàn Thể vĩ đại và rằng thời gian có thể xen vào và làm hỏng—do hoàn cảnh thay đổi—những kế hoạch được sắp đặt cẩn thận của y, và những giấc mơ của những năm trước. Vì vậy, kết quả là tính vô ích. |
|
To offset this, he must stand quiet at the centre and (for a time at any rate) cease from weaving; he must no longer make opportunities for himself but—meeting the opportunities which come his way (a very different thing)—apply himself to the need to be met. This is a very different matter and [361] swings into activity a very different psychology. When he can do this and be willing to achieve divine idleness (from the angle of a glamoured third ray attitude), he will discover that he has suddenly achieved alignment. This alignment naturally produces a crisis which is characterised by two qualities: |
Để hóa giải điều này, y phải đứng yên tại trung tâm và (ít nhất là trong một thời gian) ngừng dệt; y không còn phải tự tạo cơ hội cho mình nữa mà—đón nhận những cơ hội đến với mình (một điều rất khác)—chuyên tâm vào nhu cầu cần được đáp ứng. Đây là một vấn đề rất khác và [361] đưa vào hoạt động một tâm lý học rất khác. Khi y có thể làm điều này và sẵn lòng đạt được sự nhàn tản thiêng liêng (xét từ góc độ của một thái độ cung ba bị ảo cảm che phủ), y sẽ khám phá rằng mình đột nhiên đã đạt được sự chỉnh hợp. Sự chỉnh hợp này tự nhiên tạo ra một khủng hoảng được đặc trưng bởi hai phẩm tính: |
|
a. The quality of deep distress. This is a period of difficulty and of real concern because it dawns upon his consciousness how useless, relatively, are his weaving and his manipulations, and how much of a problem he presents to the other Weavers. |
a. Phẩm tính của nỗi đau khổ sâu xa. Đây là một giai đoạn khó khăn và đáng quan tâm thực sự vì trong tâm thức y lóe lên rằng việc dệt và các thao tác của mình tương đối vô dụng biết bao, và y gây ra biết bao vấn đề cho những Người Dệt khác. |
|
b. The quality which might be expressed as the determination to stand in spiritual being and to comprehend the significance of the ancient aphorism, given frequently to third ray aspirants: |
b. Phẩm tính có thể được diễn tả như là quyết tâm đứng vững trong hữu thể tinh thần và thấu hiểu thâm nghĩa của cách ngôn cổ xưa, thường được trao cho những người chí nguyện cung ba: |
|
“Cease from thy doing. Walk not on the Path until thou hast learnt the art of standing still. |
“Hãy ngừng việc làm của ngươi. Đừng bước trên Con Đường cho đến khi ngươi đã học được nghệ thuật đứng yên. |
|
Study the spider, brother, entangled not in its own web, as thou art today entangled in thine own.” |
Hãy nghiên cứu con nhện, huynh đệ, không bị mắc trong chính mạng lưới của nó, như hôm nay ngươi đang mắc trong mạng lưới của chính mình.” |
|
This crisis evokes understanding, which is, as many will recognise, an aspect of light. The aspirant slowly begins to work with the Plan as it is, and not as he thinks it is. As he works, revelation comes, and he sees clearly what he has to do. Usually this entails first of all a disentangling and a release from his own ideas. This process takes much time, being commensurate with the time wasted in building up the agelong glamour. The third ray aspirant is always slower to learn than the second ray, just as the first ray aspirant learns more rapidly than the second ray. When, however, he has learnt to be quiet and still, he can achieve his goal with greater rapidity. The second ray aspirant has to achieve the quiet which is ever [362] present at the heart of a storm or the centre of a whirlpool. The third ray aspirant has to achieve the quiet which is like to that of a quiet mill pond, which he much dislikes to do. |
Khủng hoảng này gợi lên sự thấu hiểu, mà như nhiều người sẽ nhận ra, là một phương diện của ánh sáng. Người chí nguyện chậm rãi bắt đầu làm việc với Thiên Cơ như nó vốn là, chứ không như y nghĩ nó là. Khi y làm việc, sự mặc khải đến, và y thấy rõ điều mình phải làm. Thông thường điều này trước hết đòi hỏi một sự gỡ rối và giải thoát khỏi các ý tưởng riêng của mình. Tiến trình này mất nhiều thời gian, tương xứng với thời gian đã bị lãng phí trong việc xây dựng ảo cảm lâu đời. Người chí nguyện cung ba luôn chậm học hơn cung hai, cũng như người chí nguyện cung một học nhanh hơn cung hai. Tuy nhiên, khi y đã học được cách yên lặng và tĩnh tại, y có thể đạt mục tiêu của mình với tốc độ lớn hơn. Người chí nguyện cung hai phải đạt được sự tĩnh lặng vốn luôn luôn [362] hiện diện tại tâm bão hay trung tâm của một xoáy nước. Người chí nguyện cung ba phải đạt được sự tĩnh lặng giống như mặt ao cối xay phẳng lặng, điều mà y rất không thích làm. |
|
Having, however, learned to do it, integration then takes place. The man stands ready to play his part. |
Tuy nhiên, một khi đã học được cách làm điều đó, sự tích hợp khi ấy diễn ra. Con người đứng sẵn sàng để đóng vai trò của mình. |
|
It is interesting to note that the first result of the use of these three formulas can each be summed up in one word, for the sake of clarity. These words embody the first and simplest steps upon the way of at-one-ment. They embody the simplest aspects of the necessary technique. |
Điều đáng chú ý là kết quả đầu tiên của việc sử dụng mỗi một trong ba công thức này có thể được tóm lại trong một từ, để cho rõ ràng. Những từ này thể hiện những bước đầu tiên và đơn giản nhất trên con đường hợp nhất. Chúng thể hiện những phương diện đơn giản nhất của kỹ thuật cần thiết. |
|
Ray One………………..Inclusion. |
Cung Một………………..Tính bao gồm. |
|
Ray Two…………………Centralisation. |
Cung Hai…………………Tập trung vào trung tâm. |
|
Ray Three……………….Stillness. |
Cung Ba……………….Tĩnh lặng. |
|
The above will suffice for the techniques of integration of these three major rays. We will now take the formulas which will embody the techniques of integration for the four minor rays, and glimpse the possibilities which they may unfold. We will emphasize in connection with each of them the same five stages of the technique we are studying: |
Như trên là đủ cho các kỹ thuật tích hợp của ba cung chính này. Giờ đây chúng ta sẽ xét đến các công thức sẽ thể hiện các kỹ thuật tích hợp cho bốn cung phụ, và thoáng thấy những khả năng mà chúng có thể khai mở. Liên hệ với mỗi cung, chúng ta sẽ nhấn mạnh cùng năm giai đoạn của kỹ thuật mà chúng ta đang nghiên cứu: |
|
1. Alignment. |
1. Chỉnh hợp. |
|
2. A crisis of evocation. |
2. Một khủng hoảng gợi lên. |
|
3. Light. |
3. Ánh sáng. |
|
4. Revelation. |
4. Mặc khải. |
|
5. Integration. |
5. Tích hợp. |
|
At the same time, we will bear in mind that the alignment with which we have hitherto been occupying ourselves is that of a form of expression and that this is achieved through discipline, meditation, and service. These techniques of integration, however, refer to the establishing of a continuity of consciousness, within the aligned forms. Therefore we begin with alignment in these cases and do not end with it. |
Đồng thời, chúng ta sẽ ghi nhớ rằng sự chỉnh hợp mà từ trước đến nay chúng ta bận tâm là sự chỉnh hợp của một hình thức biểu lộ và rằng điều này đạt được qua kỷ luật, tham thiền, và phụng sự. Tuy nhiên, các kỹ thuật tích hợp này đề cập đến việc thiết lập một sự liên tục của tâm thức bên trong các hình tướng đã chỉnh hợp. Vì vậy trong những trường hợp này chúng ta bắt đầu bằng chỉnh hợp chứ không kết thúc với nó. |
|
[363] |
[363] |
|
Ray Four |
Cung Bốn |
|
“‘Midway I stand between the forces which oppose each other. Longing am I for harmony and peace, and for the beauty which results from unity. I see the two. I see naught else but forces ranged opposing, and I, the one, who stands within the circle at the centre. Peace I demand. My mind is bent upon it. Oneness with all I seek, yet form divides. War upon every side I find, and separation. Alone I stand and am. I know too much.’ |
“‘Tôi đứng ở giữa các mãnh lực đối nghịch nhau. Tôi khát khao hòa điệu và bình an, và vẻ đẹp phát sinh từ hợp nhất. Tôi thấy hai bên. Tôi không thấy gì khác ngoài những mãnh lực xếp hàng đối kháng, và tôi, kẻ đứng trong vòng tròn tại trung tâm. Tôi đòi hỏi bình an. Trí tuệ tôi hướng vào đó. Tôi tìm kiếm nhất thể với tất cả, nhưng hình tướng lại phân chia. Tôi thấy chiến tranh ở mọi phía, và sự phân ly. Tôi đứng một mình và hiện hữu. Tôi biết quá nhiều.’ |
|
The love of unity must dominate, and love of peace and harmony. Yet not that love, based on a longing for relief, for peace to self, for unity because it carries with it that which is pleasantness. |
Tình yêu hợp nhất phải chi phối, và tình yêu đối với bình an và hòa điệu. Tuy nhiên không phải thứ tình yêu dựa trên sự khao khát được giải thoát, được bình an cho bản thân, được hợp nhất vì nó mang theo điều dễ chịu. |
|
The word goes forth from soul to form. ‘Both sides are one. There is no war, no difference and no isolation. The warring forces seem to war from the point at which you stand. Move on a pace. See truly with the opened eye of inner vision and you will find, not two but one; not war but peace; not isolation but a heart which rests upon the centre. Thus shall the beauty of the Lord shine forth. The hour is now.'” |
Linh từ phát ra từ linh hồn đến hình tướng. ‘Cả hai phía là một. Không có chiến tranh, không có khác biệt và không có cô lập. Các mãnh lực giao chiến dường như giao chiến từ điểm mà ngươi đang đứng. Hãy tiến lên một bước. Hãy thấy chân thực bằng con mắt đã mở của linh thị bên trong và ngươi sẽ thấy không phải hai mà là một; không phải chiến tranh mà là bình an; không phải cô lập mà là một trái tim an nghỉ nơi trung tâm. Như thế vẻ đẹp của Chúa Tể sẽ tỏa chiếu. Giờ đã đến.’” |
|
Nên nhớ rằng cung bốn này nổi bật là cung của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, giới nhân loại, và vì vậy có một liên hệ đặc biệt với các chức năng, các tương quan và sự phụng sự của con người, như một nhóm trung gian, một nhóm bắt cầu, trên hành tinh chúng ta. Chức năng của nhóm trung gian này là hiện thân cho một loại năng lượng, đó là năng lượng của sự hợp nhất. Về bản chất, đây là một mãnh lực chữa lành, đưa mọi hình tướng đến sự hoàn hảo tối hậu qua quyền năng của sự sống nội tại, mà với nó hình tướng trở nên hoàn toàn hòa hợp. Điều này được thực hiện bởi phương diện linh hồn hay tâm thức, được phẩm định bởi cung đang xét. Tương quan của gia đình nhân loại với hệ thống thiêng liêng, như nó hiện hữu, là đưa ba giới cao hơn trên hành tinh chúng ta vào sự tương giao mật thiết với ba giới thấp của thiên nhiên, nhờ đó hoạt động như một trạm chuyển cho năng lượng thiêng liêng. Sự phụng sự mà nhân loại [364] phải thực hiện là tạo ra hợp nhất, hòa điệu và vẻ đẹp trong thiên nhiên, bằng cách hòa trộn linh hồn trong mọi hình tướng thành một hợp nhất có liên hệ và đang hoạt động. Điều này trước hết được thực hiện ở cấp cá nhân, rồi diễn ra trong sự hình thành nhóm, và cuối cùng biểu lộ qua toàn bộ một giới trong thiên nhiên. Khi điều này xảy ra, Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư sẽ được kiểm soát chủ yếu bởi cung bốn (ý tôi là đa số các chân ngã của nó sẽ có các phàm ngã cung bốn, nhờ đó làm dễ dàng nhiệm vụ dung hợp), và tâm thức của các đơn vị tiến bộ của nó sẽ hoạt động bình thường trên cõi thứ tư của năng lượng Bồ đề hay nhận biết trực giác. |
|
|
It is this realisation which will provide adequate incentive for alignment. This alignment or sense of oneness is not in any way a mystical realisation, or that of the mystic who puts himself en rapport with divinity. The mystic still has a sense of duality. Nor is it the sense of identification which can characterise the occultist; with that there is still an awareness of individuality, though it is that of an individual who can merge at will with the whole. It is an almost undefinable consciousness of group fusion with a greater whole, and not so much individual fusion with the whole. Until this is experienced, it is well nigh impossible to comprehend, through the medium of words, its significance and meaning. It is the reflection, if I might so express it, of the Nirvanic consciousness; the reflection I would point out, but not that consciousness itself. |
Chính sự chứng nghiệm này sẽ cung cấp động lực đầy đủ cho sự chỉnh hợp. Sự chỉnh hợp này hay cảm nhận nhất thể ấy hoàn toàn không phải là một chứng nghiệm thần bí, hay của nhà thần bí đặt mình en rapport với thiên tính. Nhà thần bí vẫn còn một cảm nhận nhị nguyên tính. Nó cũng không phải là cảm nhận đồng hoá với có thể đặc trưng cho nhà huyền bí học; với điều đó vẫn còn một nhận biết về cá thể tính, dù đó là của một cá nhân có thể hòa nhập theo ý muốn với toàn thể. Đó là một tâm thức gần như không thể định nghĩa được về sự dung hợp nhóm với một toàn thể lớn hơn, chứ không hẳn là sự dung hợp cá nhân với toàn thể. Cho đến khi điều này được kinh nghiệm, gần như không thể nào thấu hiểu được thâm nghĩa và ý nghĩa của nó qua phương tiện ngôn từ. Đó là phản ảnh, nếu tôi có thể diễn tả như vậy, của tâm thức Niết Bàn; tôi xin chỉ ra là phản ảnh, chứ không phải chính tâm thức ấy. |
|
When this fourth ray alignment is produced and the disciple becomes aware of it, a crisis is evoked. The phrase “the disciple becomes aware of it,” is significant, for it indicates that states of consciousness can exist and the disciple remain unaware of them. However, until they are brought down into the area of the brain and are recognised by the [365] disciple in waking, physical consciousness, they remain subjective and are not usable. They are of no practical benefit to the man upon the physical plane. The crisis thus precipitated leads to fresh illumination when it is properly handled. These crises are produced by the bringing together (oft the clashing together) of the higher forces of the personality and soul energy. They cannot therefore be produced at a low stage of evolutionary development, in which low grade energies are active and the personality is neither integrated nor of a high grade and character. (Is such a phrase as “low grade energies” permissible? When all are divine? It conveys the idea, and that is what is desired.) The forces which are involved in such a crisis are the forces of integration at work in a personality of a very high order, and they are themselves necessarily of a relatively high potency. It is the integrated personality force, brought into relation with soul energy, which ever produces the type of crisis which is here discussed. These constitute, consequently, a very difficult moment or moments in the life of the disciple. |
Khi sự chỉnh hợp cung bốn này được tạo ra và đệ tử trở nên ý thức về nó, một khủng hoảng được gợi lên. Cụm từ “đệ tử trở nên ý thức về nó” rất có ý nghĩa, vì nó chỉ ra rằng các trạng thái tâm thức có thể tồn tại mà đệ tử vẫn không nhận biết chúng. Tuy nhiên, cho đến khi chúng được đưa xuống khu vực của bộ não và được [365] đệ tử nhận biết trong tâm thức hồng trần lúc thức, chúng vẫn còn chủ quan và không thể sử dụng được. Chúng không mang lại lợi ích thực tiễn nào cho con người trên cõi hồng trần. Khủng hoảng do đó được kết tủa dẫn đến sự soi sáng mới khi nó được xử lý đúng đắn. Những khủng hoảng này được tạo ra bởi việc đưa lại gần nhau (thường là va chạm nhau) các mãnh lực cao hơn của phàm ngã và năng lượng linh hồn. Vì vậy, chúng không thể được tạo ra ở một giai đoạn phát triển tiến hoá thấp, nơi các năng lượng cấp thấp đang hoạt động và phàm ngã không được tích hợp cũng không có phẩm chất và tính cách cao. (Một cụm từ như “năng lượng cấp thấp” có được phép không? Khi tất cả đều thiêng liêng? Nó chuyển tải ý tưởng, và đó là điều mong muốn.) Các mãnh lực liên quan trong một khủng hoảng như thế là các mãnh lực tích hợp đang hoạt động trong một phàm ngã thuộc trật tự rất cao, và bản thân chúng tất yếu có tiềm lực tương đối cao. Chính mãnh lực phàm ngã tích hợp, được đặt vào tương quan với năng lượng linh hồn, luôn luôn tạo ra loại khủng hoảng đang được bàn đến ở đây. Do đó, những điều này tạo thành một thời điểm hay những thời điểm rất khó khăn trong đời sống của đệ tử. |
|
This fourth ray crisis, evoked by a right understanding and a right use of the fourth ray formula, produces the following sequential results: |
Khủng hoảng cung bốn này, được gợi lên bởi sự thấu hiểu đúng đắn và cách sử dụng đúng đắn công thức cung bốn, tạo ra các kết quả tuần tự sau đây: |
|
1. A sense of isolation. Putting this into more modern language, a complex is produced of the same nature as that which temporarily overcame Elijah. He was overwhelmed with a sense of his clarity of vision in relation to the problem with which he was faced, of his unique response to it, and also with a sense of aloneness which devastated him. |
1. Một cảm nhận cô lập. Nói theo ngôn ngữ hiện đại hơn, một phức cảm được tạo ra có cùng bản chất với điều đã tạm thời chế ngự Elijah. Y bị tràn ngập bởi cảm nhận về sự sáng tỏ trong tầm nhìn của mình liên hệ với vấn đề mà y đang đối diện, về sự đáp ứng độc đáo của mình đối với nó, và cả bởi một cảm nhận cô độc đã tàn phá y. |
|
2. A sense of despairing futility. The forces arraigned against the disciple seem so great and his equipment so inadequate and feeble! [366] |
2. Một cảm nhận vô ích tuyệt vọng. Các mãnh lực xếp hàng chống lại đệ tử dường như quá lớn lao và trang bị của y thì quá bất toàn và yếu ớt! [366] |
|
3. A determination to stand in the midst and, if not victorious, at least to refuse to admit defeat, taking with determination the position which St. Paul expressed in the words: “Having done all, to stand.” |
3. Một quyết tâm đứng vững ở giữa và, nếu không chiến thắng, thì ít nhất cũng từ chối thừa nhận thất bại, với quyết tâm giữ lấy lập trường mà Thánh Paul đã diễn tả bằng những lời: “Sau khi đã làm tất cả, hãy đứng vững.” |
|
4. A sudden recognition of the Warrior within, Who is invisible and omnipotent but Who can only now begin His real work when the personality is aligned, the crisis recognised, and the will-to-victory is present. We would do well to ponder on this. |
4. Một sự nhận biết đột ngột về Chiến Binh bên trong, Đấng vô hình và toàn năng nhưng chỉ giờ đây mới có thể bắt đầu công việc thực sự của Ngài khi phàm ngã đã chỉnh hợp, khủng hoảng đã được nhận biết, và ý chí chiến thắng hiện diện. Chúng ta nên suy ngẫm về điều này. |
|
When, therefore, this state of mind is achieved, and the disciple and inner Master, the soldier and the Warrior are known to be at-one, then there takes place what has been called in some of the ancient books “the breaking forth of the light of victory”—a victory which does not inflict defeat upon those who are at war, but which results in that triple victory of the two sides and of the One Who is at the centre. All three more forward to perfection. This is typical of a fourth ray consummation, and if this thought is applied with due reflection to the problem of the fourth kingdom in nature, the fourth Creative Hierarchy, humanity itself, the beauty of the phrasing and the truth of the statement must inevitably appear. |
Vì vậy, khi trạng thái trí tuệ này đạt được, và đệ tử cùng Chân sư bên trong, người lính và Chiến Sĩ được biết là hợp nhất, thì xảy ra điều đã được gọi trong một số sách cổ là “sự bừng phát của ánh sáng chiến thắng”—một chiến thắng không gây ra thất bại cho những kẻ đang giao chiến, mà đưa đến chiến thắng tam phân của hai phía và của Đấng ở trung tâm. Cả ba cùng tiến tới sự toàn thiện. Đây là điển hình của một sự viên mãn cung bốn, và nếu tư tưởng này được áp dụng với sự suy tư thích đáng vào vấn đề của giới thứ tư trong thiên nhiên, Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, tức chính nhân loại, thì vẻ đẹp của cách diễn đạt và chân lý của lời phát biểu ấy tất yếu sẽ hiển lộ. |
|
With this blazing forth of light comes the revelation expressed for us so adequately in the closing words of the fourth ray formula. Man sees and grasps the final purpose for the race and the objective ahead of this fourth kingdom in the great sweep of the divine manifestation. It is valuable also to remember that this revelation comes to the race in three stages: |
Cùng với sự bừng cháy của ánh sáng này đến sự mặc khải được diễn tả cho chúng ta thật đầy đủ trong những lời kết của công thức cung bốn. Con người thấy và nắm bắt mục đích tối hậu cho nhân loại và mục tiêu ở phía trước của giới thứ tư này trong dòng quét rộng lớn của sự biểu hiện thiêng liêng. Cũng cần nhớ rằng sự mặc khải này đến với nhân loại qua ba giai đoạn: |
|
1. Individually, when the disciple “relinquishes the fight in order to stand, thereby discovering victory ahead, [367] achieving oneness with the enemy, the Warrior and the One.” |
1. Về mặt cá nhân, khi đệ tử “từ bỏ cuộc chiến để đứng vững, nhờ đó khám phá ra chiến thắng ở phía trước, [367] đạt được sự hợp nhất với kẻ thù, với Chiến Sĩ và với Đấng.” |
|
2. In group formation. This approach to the revelation is today going on in the world, and is producing a moment of extreme crisis in connection with the work of the New Group of World Servers. Their moment of crisis lies immediately ahead. |
2. Trong sự hình thành nhóm. Cách tiếp cận này đối với sự mặc khải hiện nay đang diễn ra trên thế giới, và đang tạo ra một thời điểm khủng hoảng cực độ liên quan đến công việc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Thời điểm khủng hoảng của họ ở ngay phía trước. |
|
3. In the human family as a whole. This revelation will come to the race at the end of the age and with it we need not for the moment, therefore, concern ourselves. It is essentially the revelation of the Plan as a whole, embodying the various aspects of the Plan as—from cycle to cycle—the race has grasped the smaller aspects and revelations and succeeded eventually in bringing them into concrete manifestation. It is a revelation of the purposes of Deity—past, present and future purposes—as grasped by those who have developed the divine aspects and are, consequently, in a position to understand. |
3. Trong toàn thể gia đình nhân loại. Sự mặc khải này sẽ đến với nhân loại vào cuối thời đại, và vì vậy hiện giờ chúng ta chưa cần quan tâm đến nó. Về bản chất, đó là sự mặc khải của Thiên Cơ như một toàn thể, bao hàm các phương diện khác nhau của Thiên Cơ khi—từ chu kỳ này sang chu kỳ khác—nhân loại đã nắm bắt các phương diện nhỏ hơn và các mặc khải nhỏ hơn, và cuối cùng đã thành công trong việc đưa chúng vào biểu hiện cụ thể. Đó là sự mặc khải về các mục đích của Thượng đế—các mục đích quá khứ, hiện tại và tương lai—như được nắm bắt bởi những ai đã phát triển các phương diện thiêng liêng và do đó ở vào vị thế có thể thấu hiểu. |
|
This series of spiritual happenings or unfoldments of consciousness in the life of the individual and the group produces a definite integration upon the three levels of personality work (mental, emotional and physical). It also lays the ground for those processes of fusion which will blend the rays of the personality and of the soul. If you will carry this concept of integration (achieved upon the three levels of the three worlds of human endeavour) into the activities and relationships of groups, you will find much of interest and of informative value anent the work of the New Group of World Servers. This group is, if I might so express it, an effort at an externalisation of the group personality of the disciples, connected with the Hierarchy. If we ponder on this, the function and relation will be apparent. |
Chuỗi các biến cố tinh thần hay các sự khai mở tâm thức này trong đời sống của cá nhân và của nhóm tạo ra một sự tích hợp xác định trên ba cấp độ công việc của phàm ngã (trí tuệ, cảm xúc và thể xác). Nó cũng đặt nền cho những tiến trình dung hợp sẽ hòa trộn các cung của phàm ngã và của linh hồn. Nếu các bạn mang khái niệm tích hợp này (đạt được trên ba cấp độ của ba cõi thấp của nỗ lực nhân loại) vào các hoạt động và các mối liên hệ của các nhóm, các bạn sẽ thấy nhiều điều lý thú và có giá trị soi sáng liên quan đến công việc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Nhóm này, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy, là một nỗ lực nhằm ngoại hiện phàm ngã nhóm của các đệ tử có liên hệ với Thánh Đoàn. Nếu chúng ta suy ngẫm về điều này, chức năng và mối liên hệ ấy sẽ trở nên hiển nhiên. |
|
[368] |
[368] |
|
Let us now add to the three words expressing the three ray formulas already given, the word for this ray: Steadfastness. Therefore we have: |
Giờ đây, chúng ta hãy thêm vào ba từ diễn tả ba công thức cung đã nêu, từ dành cho cung này: Sự kiên định. Vì vậy chúng ta có: |
|
Ray One…………………Inclusion. |
Cung một…………………Tính bao gồm. |
|
Ray Two…………………Centralisation. |
Cung hai…………………Sự tập trung. |
|
Ray Three……………….Stillness. |
Cung ba………………….Sự tĩnh lặng. |
|
Ray Four………………..Steadfastness. |
Cung bốn…………………Sự kiên định. |
|
As we brood on these words and on the remaining three which are indicated hereafter, we shall bring clearly into our consciousness the keynote for the disciples of the world at this time, who are in a position to discover that their personalities or their souls are on some one or other of these rays. The use of these words by those who are not pledged disciples in connection with their personality rays and personality expression might be definitely undesirable. The third ray personality, emphasising stillness, for instance, might find himself descending into the sloughs of lethargy; the first ray personality, seeking to develop inclusiveness might go to extremes, deeming himself a centre of inclusiveness. These are Words of Power, when used by a disciple, and must be employed in the light of the soul or may have a striking harmful effect. |
Khi chúng ta chiêm ngưỡng các từ này và ba từ còn lại sẽ được nêu sau đây, chúng ta sẽ đưa một cách rõ ràng vào tâm thức mình chủ âm dành cho các đệ tử của thế giới vào lúc này, những người ở vào vị thế khám phá rằng phàm ngã hay linh hồn của họ thuộc cung này hay cung khác trong số các cung ấy. Việc dùng các từ này bởi những người không phải là đệ tử đã tuyên thệ, liên hệ với các cung phàm ngã và sự biểu lộ phàm ngã của họ, có thể rõ ràng là không đáng mong muốn. Chẳng hạn, phàm ngã cung ba, nhấn mạnh sự tĩnh lặng, có thể thấy mình sa xuống những vũng lầy của sự trì trệ; phàm ngã cung một, tìm cách phát triển tính bao gồm, có thể đi đến cực đoan, tự xem mình là một trung tâm của tính bao gồm. Đây là những Quyền năng từ khi được một đệ tử sử dụng, và phải được dùng trong ánh sáng của linh hồn, nếu không có thể gây ra một tác động tai hại đáng kể. |
|
Ray Five. |
Cung năm. |
|
“‘Towards me I draw the garment of my God. I see and know His form. I take that garment, piece by piece. I know its shape and colour, its form and type, its parts component and its purposes and use. I stand amazed, I see naught else. I penetrate the mysteries of form, but not the Mystery. I see the garment of my God. I see naught else.’ |
“‘Về phía tôi, tôi kéo lấy y phục của Thượng đế tôi. Tôi thấy và biết hình tướng của Ngài. Tôi lấy y phục ấy, từng mảnh một. Tôi biết hình dạng và màu sắc của nó, hình thể và loại của nó, các phần cấu thành của nó, các mục đích và công dụng của nó. Tôi đứng kinh ngạc, tôi không thấy gì khác. Tôi xuyên thấu các huyền nhiệm của hình tướng, nhưng không phải Huyền Nhiệm. Tôi thấy y phục của Thượng đế tôi. Tôi không thấy gì khác.’ |
|
Love of the form is good but only as the form is known for what it is—the veiling vase of life. Love of the form must never hide the Life which has its place behind, the One who brought the form into the light of day, and preserves [369] it for His use,—The One Who lives, and loves and serves the form, the One Who Is. |
Tình yêu đối với hình tướng là tốt, nhưng chỉ khi hình tướng được biết đúng như nó là gì—chiếc bình che phủ của sự sống. Tình yêu đối với hình tướng không bao giờ được che khuất Sự Sống vốn có chỗ của nó ở phía sau, Đấng đã đưa hình tướng ra ánh sáng ban ngày, và gìn giữ [369] nó cho việc sử dụng của Ngài,—Đấng đang sống, đang yêu thương và đang phụng sự hình tướng, Đấng Là. |
|
The Word goes forth from soul to form: ‘Behind that form, I am. Know Me. Cherish and know and understand the nature of the veils of life, but know as well the One Who lives. Know Me. Let not the forms of nature, their processes and powers prevent thy searching for the Mystery which brought the mysteries to thee. Know well the form, but leave it joyously and search for Me. |
Linh từ phát ra từ linh hồn đến hình tướng: ‘Đằng sau hình tướng ấy, ta hiện hữu. Hãy biết Ta. Hãy trân quý, biết và thấu hiểu bản chất của các màn che của sự sống, nhưng cũng hãy biết Đấng đang sống. Hãy biết Ta. Đừng để các hình tướng của thiên nhiên, các tiến trình và các quyền năng của chúng ngăn trở việc ngươi tìm kiếm Huyền Nhiệm đã mang các huyền nhiệm đến cho ngươi. Hãy biết rõ hình tướng, nhưng hãy vui vẻ rời bỏ nó và tìm kiếm Ta. |
|
‘Detach thy thought from form and find Me waiting underneath the veils, the many-sided shapes, the glamours and the thoughtforms which hide my real Self. Be not deceived. Find Me. Know Me. Then use the forms which then will neither veil nor hide the Self, but will permit the nature of that Self to penetrate the veils of life, revealing all the radiance of God, His power and magnetism; revealing all there is of form, of life, of beauty and usefulness. The mind reveals the One. The mind can blend and fuse the form and life. Thou art the One. Thou art the form. Thou art the mind. Know this.'” |
‘Hãy tách tư tưởng của ngươi khỏi hình tướng và tìm thấy Ta đang chờ đợi bên dưới các màn che, các hình dạng đa diện, các ảo cảm và các hình tư tưởng che giấu Chân Ngã thực sự của ta. Đừng bị lừa dối. Hãy tìm Ta. Hãy biết Ta. Rồi hãy sử dụng các hình tướng, khi ấy chúng sẽ không còn che phủ hay che giấu Chân Ngã nữa, mà sẽ cho phép bản chất của Chân Ngã ấy xuyên thấu các màn che của sự sống, bộc lộ toàn bộ sự rạng ngời của Thượng đế, quyền năng và từ điện của Ngài; bộc lộ tất cả những gì thuộc về hình tướng, sự sống, vẻ đẹp và tính hữu dụng. Trí tuệ bộc lộ Đấng. Trí tuệ có thể hòa trộn và dung hợp hình tướng với sự sống. Ngươi là Đấng ấy. Ngươi là hình tướng. Ngươi là trí tuệ. Hãy biết điều này.’” |
|
This fifth ray formula is of exceeding potency at this time and should be used often, but with care, by those upon this line of divine energy. It has most powerful integrating properties, but the person who employs it must be mindful to visualise and hold in his mind’s eye the even, balanced, equilibrised distribution of the divine energy set in motion by the use of this fifth ray formula so that the three aspects of the spiritual entity concerned—the mind, the One Who uses it (the Self) and the form nature—may be equally stimulated. This statement means, for instance, that if all the emphasis of the soul energy available is poured into the lower nature, the natural man, it might result in the shattering of the form and the consequent uselessness of the man in service. If all of it, on the other hand, is poured into the receiving chalice of the astral nature, it might only serve to intensify the glamour and to produce fanaticism. |
Công thức cung năm này có năng lực cực kỳ mạnh mẽ vào lúc này và nên được những ai thuộc đường năng lượng thiêng liêng này sử dụng thường xuyên, nhưng phải cẩn trọng. Nó có những đặc tính tích hợp rất mạnh, nhưng người sử dụng nó phải lưu tâm hình dung và giữ trong con mắt trí tuệ của mình sự phân phối đều đặn, quân bình, cân xứng của năng lượng thiêng liêng được khởi động bởi việc sử dụng công thức cung năm này, để ba phương diện của thực thể tinh thần liên hệ—trí tuệ, Đấng sử dụng nó (Chân Ngã) và bản chất hình tướng—đều có thể được kích thích ngang nhau. Chẳng hạn, lời phát biểu này có nghĩa là nếu toàn bộ sự nhấn mạnh của năng lượng linh hồn sẵn có được đổ vào bản chất thấp, con người tự nhiên, thì có thể dẫn đến sự tan vỡ của hình tướng và hậu quả là con người ấy trở nên vô dụng trong phụng sự. Mặt khác, nếu toàn bộ năng lượng ấy được đổ vào chiếc chén tiếp nhận của bản chất cảm dục, thì nó có thể chỉ làm tăng cường ảo cảm và tạo ra sự cuồng tín. |
|
[370] |
[370] |
|
1. The lower psychic man—physical and astral—must receive a balanced quota of force. |
1. Con người thông linh thấp—hồng trần và cảm dục—phải nhận một phần mãnh lực quân bình. |
|
2. The mind must receive its share of illuminating energy. |
2. Trí tuệ phải nhận phần năng lượng soi sáng của nó. |
|
3. A third part of that energy must be retained within the periphery of the soul nature to balance thus the other two. |
3. Phần thứ ba của năng lượng ấy phải được giữ lại trong chu vi của bản chất linh hồn để nhờ đó quân bình hai phần kia. |
|
This is a replica of the experience of the Monad when coming into manifestation, for the monad retains a measure of energy within itself, it sends energy forth which is anchored in that centre of energy which we call a soul. Still more energy pours forth also, via the soul, for the production of a human being—an expression of the soul upon the physical plane, just as the soul is an expression of the monad upon the mental plane, and both are expressions also of that one monad. |
Đây là một bản sao của kinh nghiệm của chân thần khi đi vào biểu hiện, vì chân thần giữ lại một phần năng lượng trong chính nó, nó phóng ra năng lượng được neo vào trung tâm năng lượng mà chúng ta gọi là một linh hồn. Nhiều năng lượng hơn nữa cũng tuôn ra, qua linh hồn, để tạo ra một con người—một biểu hiện của linh hồn trên cõi hồng trần, cũng như linh hồn là một biểu hiện của chân thần trên cõi trí, và cả hai cũng đều là những biểu hiện của chính chân thần duy nhất ấy. |
|
The use of this formula, which produces eventually a definite relation between the soul and the various aspects of the form, brings about a needed alignment, and again (as in the other cases considered previously) produces also, and evokes, a crisis. This crisis must be regarded as producing two lesser crises in the consciousness of the personality: |
Việc sử dụng công thức này, vốn cuối cùng tạo ra một mối liên hệ xác định giữa linh hồn và các phương diện khác nhau của hình tướng, đem lại một sự chỉnh hợp cần thiết, và một lần nữa (như trong các trường hợp khác đã xét trước đây) cũng tạo ra và gợi lên một khủng hoảng. Khủng hoảng này phải được xem là tạo ra hai khủng hoảng nhỏ hơn trong tâm thức của phàm ngã: |
|
1. That in which there comes the achieving of equilibrium and what might be called a “balanced point of view.” This balanced vision causes much difficulty and leads to what might be called the “ending of the joy-life and of desire.” This is not a pleasant experience to the disciple; it leads to much aridness in the life-experience and to a sense of loss; it often takes much wise handling, and frequently time elapses before the disciple emerges on the other side of the experience. |
1. Khủng hoảng trong đó đạt được sự quân bình và điều có thể gọi là một “quan điểm cân bằng.” Linh thị cân bằng này gây ra nhiều khó khăn và dẫn đến điều có thể gọi là “sự chấm dứt đời sống hoan hỉ và của dục vọng.” Đây không phải là một kinh nghiệm dễ chịu đối với đệ tử; nó dẫn đến nhiều khô cằn trong kinh nghiệm sống và đến một cảm giác mất mát; nó thường đòi hỏi sự xử lý rất khôn ngoan, và thường phải mất thời gian trước khi đệ tử xuất hiện ở phía bên kia của kinh nghiệm ấy. |
|
2. This balanced condition in which the not-Self and the Self, the life-aspect and the form-aspect, are seen as they [371] essentially are (through the aid and the use of the discriminating faculty of the mind), leads eventually to a crisis of choice, and to the major task of the disciple’s life. This is the detaching of himself from the grip of form experience, and consciously, rapidly, definitely and with intention preparing himself for the great expansions of initiation. |
2. Trạng thái quân bình này, trong đó không-phải-Ngã và Chân Ngã, phương diện sự sống và phương diện hình tướng, được thấy đúng như chúng [371] thực sự là (nhờ sự trợ giúp và việc sử dụng năng lực phân biện của trí tuệ), cuối cùng dẫn đến một khủng hoảng chọn lựa, và đến nhiệm vụ lớn lao của đời sống đệ tử. Đó là việc tách mình ra khỏi sự kềm giữ của kinh nghiệm hình tướng, và một cách hữu thức, nhanh chóng, dứt khoát và có chủ ý chuẩn bị cho mình cho những sự mở rộng lớn lao của điểm đạo. |
|
When this dual crisis is over and that which it has evoked has been rightly handled, then the light streams forth, leading to the revelation of the relationships of form to soul. These two are then seen as one in a sense never before realised and are then regarded as possessing a relation quite different to the theoretical relationships posited in ordinary occult and religious work. It will be apparent, therefore, how a new relationship and a new type of integration then becomes possible and how the mind quality of the fifth ray (critical, analytical, separative and over-discriminating) can become, what in the middle ages it used to be called, the “common sense.” |
Khi cuộc khủng hoảng kép này chấm dứt và điều mà nó gợi lên đã được xử lý đúng đắn, thì ánh sáng tuôn ra, dẫn đến sự mặc khải về các mối liên hệ của hình tướng với linh hồn. Khi ấy hai điều này được thấy là một theo một ý nghĩa chưa từng được chứng nghiệm trước đây và rồi được xem là có một mối liên hệ hoàn toàn khác với những mối liên hệ lý thuyết được giả định trong công việc huyền bí học và tôn giáo thông thường. Vì vậy, sẽ hiển nhiên rằng một mối liên hệ mới và một loại tích hợp mới khi ấy trở nên khả hữu, và phẩm tính trí tuệ của cung năm (phê phán, phân tích, phân ly và quá phân biện) có thể trở thành điều mà vào thời trung cổ người ta từng gọi là “thường thức.” |
|
When this takes place, form and life are indeed one unity and the disciple uses the form at will as the instrument of the soul for the working out of the plans of God. These plans are at-one with the intention of the Hierarchy. We now have five words for disciples upon the five rays to study: |
Khi điều này xảy ra, hình tướng và sự sống quả thật là một hợp nhất, và đệ tử sử dụng hình tướng theo ý muốn như công cụ của linh hồn để thực hiện các kế hoạch của Thượng đế. Các kế hoạch này hợp nhất với ý định của Thánh Đoàn. Giờ đây chúng ta có năm từ để các đệ tử trên năm cung nghiên cứu: |
|
Ray One………………….Inclusion. |
Cung một………………….Tính bao gồm. |
|
Ray Two…………………Centralisation. |
Cung hai…………………Sự tập trung. |
|
Ray Three………………..Stillness. |
Cung ba………………….Sự tĩnh lặng. |
|
Ray Four…………………Steadfastness. |
Cung bốn…………………Sự kiên định. |
|
Ray Five………………….Detachment. |
Cung năm…………………Sự tách rời. |
|
Ray Six. |
Cung sáu. |
|
“‘I see a vision. It satisfies desire; it feeds and stimulates its growth. I lay my life upon the altar of desire—the seen, the sensed, that which appeals to me, the satisfaction of my [372] need—a need for that which is material, for that which feeds emotion, that satisfies the mind, that answers my demand for truth, for service, and my vision of the goal. It is the vision which I see, the dream I dream, the truth I hold, the active form which meets my need, that which I grasp and understand. My truth, my peace, my satisfied desire, my dream, my vision of reality, my limited ideal, my finite thought of God;—for these I struggle, fight and die.’ |
“‘Tôi thấy một linh ảnh. Nó làm thỏa mãn dục vọng; nó nuôi dưỡng và kích thích sự tăng trưởng của dục vọng. Tôi đặt đời mình lên bàn thờ của dục vọng—điều được thấy, được cảm nhận, điều hấp dẫn tôi, sự thỏa mãn [372] nhu cầu của tôi—một nhu cầu đối với điều gì vật chất, đối với điều nuôi dưỡng cảm xúc, điều làm thỏa mãn trí tuệ, điều đáp ứng đòi hỏi của tôi về chân lý, về phụng sự, và về linh ảnh của tôi về mục tiêu. Chính linh ảnh mà tôi thấy, giấc mơ mà tôi mơ, chân lý mà tôi nắm giữ, hình thức hoạt động đáp ứng nhu cầu của tôi, điều mà tôi nắm bắt và thấu hiểu. Chân lý của tôi, sự bình an của tôi, dục vọng được thỏa mãn của tôi, giấc mơ của tôi, linh ảnh của tôi về thực tại, lý tưởng giới hạn của tôi, ý nghĩ hữu hạn của tôi về Thượng đế;—vì những điều này mà tôi tranh đấu, chiến đấu và chết.’ |
|
Love of the truth must always be. Desire and aspiration, reaching out for that which is material or soaring upward towards the vision of reality must ever find their satisfaction. For this men work, driving themselves and irking others. They love the truth as they interpret it; they love the vision and the dream, forgetting that the truth is limited by mind—narrow and set, one-pointed, not inclusive; forgetting that the vision touches but the outer fringe of mystery, and veils and hides reality. |
Tình yêu đối với chân lý luôn luôn phải có. Dục vọng và khát vọng, vươn tới điều vật chất hay bay lên hướng về linh ảnh của thực tại, phải luôn tìm được sự thỏa mãn của chúng. Vì điều này mà con người làm việc, tự thúc ép mình và làm phiền người khác. Họ yêu chân lý theo cách họ diễn giải nó; họ yêu linh ảnh và giấc mơ, quên rằng chân lý bị giới hạn bởi trí tuệ—hẹp hòi và cố định, nhất tâm, không bao gồm; quên rằng linh ảnh chỉ chạm đến rìa ngoài của huyền nhiệm, và che phủ, che giấu thực tại. |
|
The word goes out from soul to form: ‘Run not so straight. The path that you are on leads to the outer circle of the life of God; the line goes forward to the outer rim. Stand at the centre. Look on every side. Die not for outer forms. Forget not God, Who dwells behind the vision. Love more your fellow men.'” |
Linh từ phát ra từ linh hồn đến hình tướng: ‘Đừng chạy quá thẳng như vậy. Con đường mà ngươi đang đi dẫn đến vòng ngoài của sự sống của Thượng đế; đường ấy tiến tới vành ngoài. Hãy đứng ở trung tâm. Hãy nhìn về mọi phía. Đừng chết vì các hình tướng bên ngoài. Đừng quên Thượng đế, Đấng ngự phía sau linh ảnh. Hãy yêu thương đồng loại của ngươi nhiều hơn.’” |
|
It will be apparent, therefore, that the sixth ray disciple has first of all to achieve the arduous task of dissociating himself from his vision, from his adored truth, from his loved ideals, from his painted picture of himself as the devoted follower and disciple, following his Master unto death, if need be; forcing himself (from very love of form) and forcing all his fellowmen to dedicate themselves to that which he sees. |
Vì vậy, hiển nhiên là đệ tử cung sáu trước hết phải hoàn thành nhiệm vụ gian khổ là tách mình ra khỏi linh ảnh của mình, khỏi chân lý mà mình tôn thờ, khỏi các lý tưởng mà mình yêu quý, khỏi bức tranh do mình tô vẽ về chính mình như người theo sau tận tụy và đệ tử, theo Chân sư của mình cho đến chết nếu cần; ép buộc chính mình (do chính tình yêu đối với hình tướng) và ép buộc tất cả đồng loại của mình hiến mình cho điều mà y thấy. |
|
It must be recognised that he lacks the wide love of the second ray disciple which is a reflection of the love of God. He is all the time occupied with himself, with his work, his sacrifice, his task, his ideas, and his activities. He, the devotee, is lost in his devotion. He, the idealist, is driven by his idea. He, the follower, runs blindly after his Master, his chosen ideal and loses himself in the chaos of his uncontrolled aspirations [373] and the glamour of his own thoughts. Curiously enough, there is a close relation between the third and the sixth rays, just as there is between the first and the second rays, and the second and the fourth. The fourth, fifth, sixth and seventh rays have no such paralleling relations. 1 added to 1 equals 2, 2 added to 2 equals 4, 3 added to 3 equals 6. Between these pairs of rays there is a line of special energy flowing which warrants the attention of disciples who are becoming conscious of their relationships. This relation and interplay only becomes active at a relatively high stage of evolution. |
Phải nhận ra rằng y thiếu tình thương rộng lớn của đệ tử cung hai, vốn là phản ánh của tình thương của Thượng đế. Suốt mọi lúc y bận tâm với chính mình, với công việc của y, sự hi sinh của y, nhiệm vụ của y, các ý tưởng của y, và các hoạt động của y. Y, người sùng tín, bị lạc mất trong sự sùng tín của mình. Y, người duy tâm, bị ý tưởng của mình thúc đẩy. Y, người theo sau, mù quáng chạy theo Chân sư của mình, lý tưởng được chọn của mình, và đánh mất chính mình trong sự hỗn loạn của các khát vọng không được kiểm soát [373] và trong ảo cảm của chính các tư tưởng của mình. Điều khá lạ là có một mối liên hệ chặt chẽ giữa cung ba và cung sáu, cũng như có giữa cung một và cung hai, và cung hai với cung bốn. Các cung bốn, năm, sáu và bảy không có những mối liên hệ song hành như vậy. 1 cộng 1 bằng 2, 2 cộng 2 bằng 4, 3 cộng 3 bằng 6. Giữa các cặp cung này có một đường năng lượng đặc biệt đang tuôn chảy, điều này đáng được các đệ tử đang trở nên có ý thức về các mối liên hệ của mình lưu tâm. Mối liên hệ và sự tương tác này chỉ trở nên hoạt động ở một giai đoạn tiến hoá tương đối cao. |
|
The problem, therefore, of the sixth ray aspirant is to divorce himself from the thralldom of form (though not from form) and to stand quietly at the centre, just as the third ray disciple has to learn to do. There he learns breadth of vision and a right sense of proportion. These two qualities he always lacks until the time comes when he can take his stand and there align himself with all visions, all forms of truth, all dreams of reality, and find behind them all—God and his fellow men. Then and only then can he be trusted to work with the Plan. |
Vì vậy, vấn đề của người chí nguyện cung sáu là ly dị mình khỏi ách nô lệ của hình tướng (dù không phải khỏi hình tướng) và đứng yên lặng ở trung tâm, cũng như đệ tử cung ba phải học làm như vậy. Ở đó y học được bề rộng của tầm nhìn và ý thức đúng đắn về tỉ lệ. Hai phẩm tính này y luôn thiếu cho đến khi thời điểm đến mà y có thể đứng vững và ở đó chỉnh hợp mình với mọi linh ảnh, mọi hình thức chân lý, mọi giấc mơ về thực tại, và tìm thấy đằng sau tất cả những điều ấy—Thượng đế và đồng loại của mình. Khi ấy và chỉ khi ấy y mới có thể được tin cậy để làm việc với Thiên Cơ. |
|
The alignment evoked by this “peaceful standing still” naturally produces a crisis and it is, as usual, a most difficult one for the aspirant to handle. It is a crisis which seems to leave him destitute of incentive, of motive, of sensation, of appreciation by others and of life purpose. The idea of “my truth, my master, my idea, my way” leaves him and as yet he has nothing to take its place. Being sixth ray, and therefore linked with the world of astral psychic life, the sixth plane, he is peculiarly sensitive to his own reactions and to the ideas of others where he and his truths are concerned. He feels a fool and considers that others are thinking him so. The crisis therefore is severe, for it has to produce a complete readjustment of the Self to the self. His fanaticism, his devotion, his [374] furious driving of himself and others, his wasted efforts, and his lack of understanding of the point of view of others have all gone, but as yet nothing has taken their place. He is swept by futility and his world rocks under him. Let him stand still at the centre, fixing his eyes on the soul and ceasing activity for a brief period of time until the light breaks in. |
Sự chỉnh hợp được gợi lên bởi “sự đứng yên bình an” này tự nhiên tạo ra một khủng hoảng và như thường lệ, đó là một khủng hoảng rất khó cho người chí nguyện xử lý. Đó là một khủng hoảng dường như để lại cho y tình trạng không còn động lực, không còn động cơ, không còn cảm giác, không còn được người khác đánh giá cao và không còn mục đích sống. Ý tưởng về “chân lý của tôi, chân sư của tôi, ý tưởng của tôi, con đường của tôi” rời bỏ y, và y vẫn chưa có gì để thay thế nó. Là người cung sáu, và do đó liên kết với thế giới của đời sống thông linh cảm dục, cõi thứ sáu, y đặc biệt nhạy cảm với các phản ứng của chính mình và với các ý tưởng của người khác khi liên quan đến y và các chân lý của y. Y cảm thấy mình là một kẻ ngốc và cho rằng người khác cũng nghĩ như vậy về y. Vì thế khủng hoảng này rất nghiêm trọng, vì nó phải tạo ra một sự điều chỉnh hoàn toàn của Chân Ngã đối với phàm ngã. Sự cuồng tín, sự sùng tín, sự [374] thúc ép dữ dội đối với chính mình và người khác, những nỗ lực bị lãng phí, và sự thiếu thấu hiểu quan điểm của người khác của y đều đã biến mất, nhưng vẫn chưa có gì thay thế chúng. Y bị cuốn trôi bởi sự vô ích và thế giới của y rung chuyển dưới chân y. Hãy để y đứng yên ở trung tâm, chăm chú nhìn vào linh hồn và ngừng hoạt động trong một thời gian ngắn cho đến khi ánh sáng bừng vào. |
|
It is interesting here to note that the Master Jesus, as He hung upon the Cross, experienced (on a much higher turn of the spiral than is possible to the disciple) the acme and the height of this crisis, though in His case—being attuned to God and to all God’s children—there swept over Him the sum total of the dilemma of the world disciples and all the agony of the astral awareness of this dilemma, voicing itself in the agonising words: “My God, My God, why hast Thou forsaken Me.” |
Ở đây thật thú vị khi lưu ý rằng Đức Jesus, khi Ngài treo trên Thập Giá, đã kinh nghiệm (ở một vòng xoắn cao hơn rất nhiều so với điều có thể có nơi đệ tử) đỉnh điểm và tột độ của cuộc khủng hoảng này, dù trong trường hợp của Ngài—vì được chỉnh hợp với Thượng đế và với tất cả con cái của Thượng đế—đã tràn qua Ngài tổng số nan đề của các đệ tử thế gian và toàn bộ nỗi thống khổ của nhận biết cảm dục về nan đề này, tự phát biểu bằng những lời đau đớn: “Lạy Thượng đế của con, lạy Thượng đế của con, sao Ngài đã lìa bỏ con.” |
|
But by facing futility and himself and by surrendering himself to the life at the centre and there holding himself poised and still, yet alert, the light will break in and reveal to the disciple that which he needs to know. He learns to express that inclusive love which is his major requirement and to let go the narrow, one-pointed attitude which he has hitherto regarded as love. He welcomes then all visions, if they serve to lift and comfort his brothers; he welcomes all truths, if they are the agents of revelation to other minds; he welcomes all dreams if they can act as incentives to his fellow men. He shares in them all, yet retains his poised position at the centre. |
Nhưng bằng cách đối diện với sự vô ích và với chính mình, và bằng cách phó mình cho sự sống ở trung tâm, rồi ở đó giữ mình quân bình và tĩnh tại, nhưng vẫn tỉnh thức, ánh sáng sẽ bừng vào và mặc khải cho đệ tử điều y cần biết. Y học cách biểu lộ tình thương bao gồm vốn là nhu cầu chính yếu của mình và buông bỏ thái độ hẹp hòi, nhất tâm mà từ trước đến nay y vẫn xem là tình thương. Khi ấy y hoan nghênh mọi linh ảnh, nếu chúng giúp nâng đỡ và an ủi các huynh đệ của y; y hoan nghênh mọi chân lý, nếu chúng là những tác nhân của sự mặc khải đối với các trí tuệ khác; y hoan nghênh mọi giấc mơ nếu chúng có thể hoạt động như những động lực đối với đồng loại của y. Y chia sẻ trong tất cả những điều ấy, nhưng vẫn giữ vị thế quân bình của mình ở trung tâm. |
|
Thus we can see that the essential integration of this unit into his group can now take place. |
Như vậy chúng ta có thể thấy rằng sự tích hợp cốt yếu của đơn vị này vào nhóm của y giờ đây có thể diễn ra. |
|
The problem of the disciple upon this ray is greatly increased by the fact that the sixth ray has been the dominant ray for so many centuries and is only now passing out. Therefore the idealistic, fanatical thought-forms, built up by [375] the devotees upon this ray, are powerful and persistent. The world today is fanatically idealistic, and this is one of the causes of the present world situation. It is hard for the man who is the one-pointed devotee to free himself from the prevailing influence, for the energy thus generated feeds that which he seeks to leave behind. If he can, however, grasp the fact that devotion, expressing itself through a personality, engenders fanaticism and that fanaticism is separative, frequently cruel, often motivated by good ideals, but that it usually overlooks the immediate reality by rushing off after a self-engendered vision of truth, he will go far along the way to solving his problem. If he can then realise that devotion, expressing itself through the soul, is love and inclusiveness plus understanding, then he will learn eventually to free himself from the idealism of others and of himself and will identify himself with that of the Hierarchy, which is the loving working out of God’s Plan. It is free from hatred, from intense emphasis upon an aspect or a part, and is not limited by the sense of time. |
Vấn đề của đệ tử trên cung này tăng lên rất nhiều bởi sự kiện rằng cung sáu đã là cung chi phối trong quá nhiều thế kỷ và chỉ hiện nay mới đang rút đi. Vì vậy, các hình tư tưởng duy tâm, cuồng tín, được xây dựng bởi [375] những người sùng tín trên cung này, rất mạnh mẽ và dai dẳng. Thế giới ngày nay cuồng tín một cách duy tâm, và đây là một trong những nguyên nhân của tình hình thế giới hiện nay. Thật khó cho người sùng tín nhất tâm tự giải thoát khỏi ảnh hưởng đang thịnh hành, vì năng lượng được tạo ra như thế nuôi dưỡng chính điều mà y tìm cách bỏ lại phía sau. Tuy nhiên, nếu y có thể nắm bắt sự kiện rằng sự sùng tín, biểu lộ qua một phàm ngã, sinh ra cuồng tín và rằng cuồng tín là phân ly, thường tàn nhẫn, thường được thúc đẩy bởi những lý tưởng tốt đẹp, nhưng thường bỏ qua thực tại trước mắt vì lao theo một linh ảnh chân lý do chính mình tạo ra, thì y sẽ tiến xa trên con đường giải quyết vấn đề của mình. Nếu khi ấy y có thể nhận ra rằng sự sùng tín, biểu lộ qua linh hồn, là tình thương và tính bao gồm cộng với sự thấu hiểu, thì cuối cùng y sẽ học được cách giải thoát mình khỏi chủ nghĩa duy tâm của người khác và của chính mình, và sẽ đồng hoá với chủ nghĩa duy tâm của Thánh Đoàn, vốn là sự thực hiện đầy yêu thương của Thiên Cơ của Thượng đế. Nó không có hận thù, không nhấn mạnh mãnh liệt vào một phương diện hay một phần, và không bị giới hạn bởi ý thức về thời gian. |
|
Ray Seven. |
Cung bảy. |
|
“‘I seek to bring the two together. The plan is in my hands. How shall I work? Where lay the emphasis? In the far distance stands the One Who Is. Here at my hand is form, activity, substance, and desire. Can I relate these and fashion thus a form for God? Where shall I send my thought, my power the word that I can speak? |
“‘Tôi tìm cách đưa hai điều ấy lại với nhau. Kế hoạch ở trong tay tôi. Tôi sẽ làm việc như thế nào? Tôi sẽ đặt sự nhấn mạnh ở đâu? Ở khoảng cách xa xăm đứng Đấng Là. Ở ngay bên tay tôi là hình tướng, hoạt động, chất liệu và dục vọng. Tôi có thể liên hệ những điều này và nhờ đó tạo nên một hình tướng cho Thượng đế chăng? Tôi sẽ gửi tư tưởng của mình, quyền năng của mình, linh từ mà tôi có thể nói đến đâu? |
|
‘I, at the centre, stand, the worker in the field of magic. I know some rules, some magical controls, some Words of Power, some forces which I can direct. What shall I do? Danger there is. The task that I have undertaken is not easy of accomplishment, yet I love power. I love to see the forms emerge, created by my mind, and do their work, fulfill the plan and disappear. I can create. The rituals of the Temple of the Lord are known to me. How shall I work? |
‘Tôi, ở trung tâm, đứng đó, người hoạt động trong cánh đồng huyền thuật. Tôi biết một số quy luật, một số kiểm soát huyền thuật, một số Quyền năng từ, một số mãnh lực mà tôi có thể điều khiển. Tôi sẽ làm gì? Có nguy hiểm ở đó. Nhiệm vụ mà tôi đã đảm nhận không dễ hoàn thành, tuy nhiên tôi yêu quyền năng. Tôi yêu nhìn thấy các hình tướng xuất hiện, do trí tuệ tôi tạo ra, rồi làm công việc của chúng, hoàn thành kế hoạch và biến mất. Tôi có thể sáng tạo. Các nghi lễ của Đền Thờ của Chúa được tôi biết rõ. Tôi sẽ làm việc như thế nào? |
|
‘Love not the work. Let love of God’s eternal Plan control [376] your life, your mind, your hand, your eye. Work towards the unity of plan and purpose which must find its lasting place on earth. Work with the Plan; focus upon your share in that great work.’ |
‘Đừng yêu công việc. Hãy để tình yêu đối với Thiên Cơ vĩnh cửu của Thượng đế kiểm soát [376] đời sống, trí tuệ, bàn tay và mắt của ngươi. Hãy làm việc hướng tới sự hợp nhất của kế hoạch và mục đích, điều phải tìm được chỗ đứng bền vững của nó trên trái đất. Hãy làm việc với Thiên Cơ; hãy tập trung vào phần việc của ngươi trong công việc vĩ đại ấy.’ |
|
The Word goes forth from soul to form: ‘Stand in the centre of the pentagram, drawn upon that high place in the East within the light which ever shines. From that illumined centre work. Leave not the pentagram. Stand steady in the midst. Then draw a line from that which is without to that which is within and see the Plan take form.'” |
Linh từ phát ra từ linh hồn đến hình tướng: ‘Hãy đứng ở trung tâm của ngôi sao năm cánh, được vẽ trên nơi cao ấy ở phương Đông trong ánh sáng luôn luôn chiếu soi. Từ trung tâm được soi sáng ấy mà làm việc. Đừng rời khỏi ngôi sao năm cánh. Hãy đứng vững ở giữa. Rồi hãy vẽ một đường từ điều ở bên ngoài đến điều ở bên trong và thấy Thiên Cơ mang lấy hình tướng.’” |
|
It is not possible to be more explicit than this. This great and powerful ray is now coming into manifestation and it brings new energies to man of so potent a nature that the disciples of today must move and work with care. They are literally handling fire. It is the children who are now coming into incarnation who will eventually work more safely and more correctly with these new potencies. There is much, however, to be done in the meantime, and the disciples upon this seventh ray can ponder on this formula and seek their own interpretation of it, endeavouring first of all to stand in the East, within the protection of the pentagram. As he realises the task to be carried out and the nature of the work to be done by the seventh ray worker, and appreciates the fact that it is the magical work of producing those forms on earth which will embody the spirit of God (and in our particular time, this necessitates the building of new forms), each seventh ray disciple will see himself as a relating agent, as the one who stands in the midst of the building processes, attending to his portion of the task. This, if really grasped and deeply considered will have the effect of producing alignment. The moment that this alignment is achieved, then let the disciple remember that it will mean a tremendous inflow of power, of energy from both the aligned points, from both directions, converging upon him, as he stands in the [377] midway place. Ponder deeply upon this truth, for it is this fact which always evokes a seventh ray crisis. It will be obvious what this crisis is. If the man concerned is materially minded, selfishly ambitious and unloving, the inpouring energy will stimulate the personality nature and he will immediately be warring furiously with all that we mean by the instinctual, psychic, intellectual nature. When all these three are stimulated, the disciple is often for a time swung off the centre into a maelstrom of magical work of the lower kind—sex magic and many forms of black magic. He is glamoured by the beauty of his motive, and deceived by the acquired potency of his personality. |
Không thể nói rõ ràng hơn thế này. Cung vĩ đại và mạnh mẽ này hiện đang đi vào biểu hiện và nó mang đến cho con người những năng lượng mới có bản chất mạnh đến mức các đệ tử ngày nay phải vận động và làm việc một cách cẩn trọng. Theo nghĩa đen, họ đang xử lý lửa. Chính những đứa trẻ hiện đang lâm phàm rồi cuối cùng sẽ làm việc an toàn hơn và đúng đắn hơn với các tiềm lực mới này. Tuy nhiên, trong lúc này còn có nhiều việc phải làm, và các đệ tử trên cung bảy này có thể suy ngẫm về công thức này và tìm kiếm cách diễn giải riêng của mình về nó, trước hết cố gắng đứng ở phương Đông, trong sự bảo vệ của ngôi sao năm cánh. Khi y nhận ra nhiệm vụ phải thực hiện và bản chất của công việc phải được người hoạt động cung bảy thực hiện, và đánh giá đúng sự kiện rằng đó là công việc huyền thuật nhằm tạo ra những hình tướng trên trái đất sẽ thể hiện tinh thần của Thượng đế (và trong thời đại đặc biệt của chúng ta, điều này đòi hỏi việc xây dựng những hình tướng mới), mỗi đệ tử cung bảy sẽ thấy mình như một tác nhân liên hệ, như người đứng giữa các tiến trình kiến tạo, chăm lo phần việc của mình trong nhiệm vụ. Điều này, nếu thực sự được nắm bắt và suy xét sâu xa, sẽ có tác dụng tạo ra sự chỉnh hợp. Ngay khi sự chỉnh hợp này đạt được, thì đệ tử hãy nhớ rằng điều đó sẽ có nghĩa là một dòng quyền năng, năng lượng khổng lồ tuôn vào từ cả hai điểm đã chỉnh hợp, từ cả hai hướng, hội tụ vào y khi y đứng ở [377] nơi ở giữa. Hãy suy ngẫm sâu xa về chân lý này, vì chính sự kiện này luôn gợi lên một khủng hoảng cung bảy. Khủng hoảng này là gì thì sẽ hiển nhiên. Nếu người liên hệ có đầu óc vật chất, tham vọng ích kỷ và không yêu thương, thì năng lượng tuôn vào sẽ kích thích bản chất phàm ngã và y sẽ lập tức chiến đấu dữ dội với tất cả những gì chúng ta muốn nói bởi bản chất bản năng, thông linh và trí tuệ. Khi cả ba điều này được kích thích, đệ tử thường trong một thời gian bị lệch khỏi trung tâm vào một cơn lốc của công việc huyền thuật loại thấp—huyền thuật tính dục và nhiều hình thức hắc thuật. Y bị ảo cảm bởi vẻ đẹp của động cơ của mình, và bị lừa dối bởi năng lực đã đạt được của phàm ngã mình. |
|
If, however, he is warned of the danger and aware of the possibility, he will stand steady at the centre within the mystical pentagram, and there suffer until the light in the East rises upon his darkness, discovering him still at the midway point. Then comes the revelation of the Plan, for this has ever to be the motivating power of the seventh ray disciple. He works on earth, upon the outer plane of manifestation, with the construction of those forms through which the divine will can express itself. In the field of religion, he works in collaboration with the second and sixth ray disciples. In the field of government he labours, building those forms which will enable the first ray activity to be expressed. In the field of business, he cooperates with third ray energies and the executives of the Plan. In the field of science, he aids and assists the fifth ray workers. He is the expression of the builder, and the creator, bringing into outer manifestation God’s Plan. He begins, however, with himself, and seeks to bring into expression the plan of his soul in his own setting and worldly situation. Until he can do this, he is unable to stand in the East within the pentagram. |
Tuy nhiên, nếu y được cảnh báo về nguy hiểm và ý thức được khả năng ấy, y sẽ đứng vững ở trung tâm trong ngôi sao năm cánh thần bí, và ở đó chịu đựng cho đến khi ánh sáng ở phương Đông mọc lên trên bóng tối của y, phát hiện ra y vẫn còn ở điểm ở giữa. Khi ấy đến sự mặc khải của Thiên Cơ, vì đây luôn luôn phải là quyền năng thúc đẩy của đệ tử cung bảy. Y làm việc trên trái đất, trên cõi bên ngoài của biểu hiện, với việc kiến tạo những hình tướng qua đó ý chí thiêng liêng có thể biểu lộ. Trong lĩnh vực tôn giáo, y làm việc cộng tác với các đệ tử cung hai và cung sáu. Trong lĩnh vực chính quyền, y lao động, xây dựng những hình tướng sẽ cho phép hoạt động cung một được biểu lộ. Trong lĩnh vực kinh doanh, y hợp tác với các năng lượng cung ba và các nhà điều hành của Thiên Cơ. Trong lĩnh vực khoa học, y trợ giúp và hỗ trợ các người hoạt động cung năm. Y là biểu hiện của đấng kiến tạo và của đấng sáng tạo, đưa Thiên Cơ của Thượng đế vào biểu hiện bên ngoài. Tuy nhiên, y bắt đầu với chính mình, và tìm cách đưa kế hoạch của linh hồn mình vào biểu lộ trong hoàn cảnh riêng và tình huống thế gian của mình. Chừng nào y chưa thể làm được điều này, y chưa thể đứng ở phương Đông trong ngôi sao năm cánh. |
|
It is occultly said that “the pentagram is open and a place [378] of danger when the disciple knows not order within his own life, and when the ritual of the soul is not imposed and its rhythm not obeyed. The pentagram is closed when order is restored and the ritual of the Master is imposed.” The writing goes on to say that “if the disciple enters through the open pentagram, he dies. If he passes over into the closed pentagram, he lives. If he transmutes the pentagram into a ring of fire, he serves the Plan.” |
Người ta nói một cách huyền bí rằng “ngôi sao năm cánh mở ra và là một nơi [378] nguy hiểm khi đệ tử không biết trật tự trong chính đời sống mình, và khi nghi lễ của linh hồn không được áp đặt và nhịp điệu của nó không được tuân theo. Ngôi sao năm cánh khép lại khi trật tự được phục hồi và nghi lễ của Chân sư được áp đặt.” Bản văn tiếp tục nói rằng “nếu đệ tử đi vào qua ngôi sao năm cánh mở, y chết. Nếu y đi qua vào ngôi sao năm cánh khép, y sống. Nếu y chuyển hoá ngôi sao năm cánh thành một vòng lửa, y phụng sự Thiên Cơ.” |
b. THE TECHNIQUES OF FUSION AND DUALITY— CÁC KỸ THUẬT DUNG HỢP VÀ NHỊ NGUYÊN
|
We come now to the consideration of a very practical matter where the world disciples are concerned, and one with which I intend to deal very simply. The point which we are to study is the Technique of Fusion, leading, as it inevitably does, to the emergence (into controlling prominence) of the Ray of the Personality. After a brief study of this we will refer briefly to the Technique of Duality. The brevity is necessary because only disciples of some experience and initiates will really comprehend the things whereof I speak. A study of the Technique of Duality would serve to elucidate the relationship which should exist between the two rays of manifesting energy, which constitute that phenomenal being we call man. Therefore, it will be apparent to you from the start, how necessary it will be to deal with these abstruse subjects in the simplest way. Our study of the Techniques of Integration was definitely abstruse and couched in language quite symbolic. We were there dealing with the relationship of five rays: Those of the personality, of the ego or soul, and of the rays of the three personality vehicles, prior to their integration into a functioning whole. |
Giờ đây chúng ta đi đến việc xem xét một vấn đề rất thực tiễn liên quan đến các đệ tử thế gian, và là điều mà tôi dự định đề cập đến thật đơn giản. Điểm mà chúng ta sẽ nghiên cứu là Kỹ Thuật Dung Hợp, dẫn đến, như điều tất yếu, sự xuất hiện (vào vị trí nổi trội kiểm soát) của cung phàm ngã. Sau khi nghiên cứu ngắn gọn điều này, chúng ta sẽ đề cập ngắn gọn đến Kỹ Thuật Nhị Nguyên. Sự ngắn gọn là cần thiết vì chỉ những đệ tử có ít nhiều kinh nghiệm và các điểm đạo đồ mới thực sự hiểu được những điều tôi nói đến. Một nghiên cứu về Kỹ Thuật Nhị Nguyên sẽ giúp làm sáng tỏ mối liên hệ nên tồn tại giữa hai cung của năng lượng biểu hiện, vốn cấu thành hữu thể hiện tượng mà chúng ta gọi là con người. Vì vậy, ngay từ đầu các bạn sẽ thấy hiển nhiên rằng cần phải xử lý các chủ đề thâm áo này theo cách đơn giản nhất. Việc nghiên cứu của chúng ta về các Kỹ Thuật Tích Hợp rõ ràng là thâm áo và được diễn đạt bằng ngôn ngữ khá biểu tượng. Ở đó chúng ta đang xử lý mối liên hệ của năm cung: cung của phàm ngã, của chân ngã hay linh hồn, và các cung của ba vận cụ phàm ngã, trước khi chúng được tích hợp thành một toàn thể hoạt động. |
|
It might be of value here if I pointed out to you that the three words: Integration, Fusion and Duality when dealt [379] with, as they are, in connection with the final stages of the Path of Evolution, are significantly different. For one thing it might be said that |
Ở đây có lẽ sẽ có giá trị nếu tôi chỉ ra cho các bạn rằng ba từ: Tích hợp, Dung hợp và Nhị nguyên, khi được [379] đề cập đến, như đang được đề cập, liên hệ với các giai đoạn cuối cùng của Con Đường Tiến Hoá, thì khác nhau một cách có ý nghĩa. Có thể nói một điều là: |
|
1. The Technique of Integration, a sevenfold technique, is applied upon the Path of Probation. |
1. Kỹ Thuật Tích Hợp, một kỹ thuật thất phân, được áp dụng trên Con Đường Dự Bị. |
|
2. The Technique of Fusion is applied upon the Path of Discipleship. |
2. Kỹ Thuật Dung Hợp được áp dụng trên Con Đường Đệ Tử. |
|
3. The Technique of Duality is applied upon the Path of Initiation. |
3. Kỹ Thuật Nhị Nguyên được áp dụng trên Con Đường Điểm Đạo. |
|
I am here using these three terms only in relation to what we call the Aryan Race, or to what might be more adequately called the Aryan consciousness, for that consciousness demonstrates in a two-fold manner as mental power and personality force. It is found at a certain stage in every human being and in every race; it must therefore be remembered that I am not using the word Aryan as synonymous with Nordic but as descriptive of the intellectual goal of humanity, of which our Occidental civilisation is in the early stages, but which men of all time and all races have individually demonstrated. The Aryan state of consciousness is one into which all men eventually pass. |
Ở đây tôi chỉ dùng ba thuật ngữ này trong liên hệ với điều chúng ta gọi là Nhân Loại Arya, hay điều có thể được gọi thích đáng hơn là tâm thức Arya, vì tâm thức ấy biểu lộ theo cách nhị phân như quyền năng trí tuệ và mãnh lực phàm ngã. Nó được tìm thấy ở một giai đoạn nhất định trong mỗi con người và trong mỗi nhân loại; do đó phải nhớ rằng tôi không dùng từ Arya như đồng nghĩa với Bắc Âu mà như một từ mô tả mục tiêu trí tuệ của nhân loại, mà nền văn minh phương Tây của chúng ta đang ở trong các giai đoạn đầu, nhưng những người nam và nữ thuộc mọi thời đại và mọi nhân loại đã biểu lộ một cách cá nhân. Trạng thái tâm thức Arya là trạng thái mà mọi người cuối cùng đều đi vào. |
|
Integration here refers to the bringing into one field of resultant magnetic activity of five differing types of energy: |
Ở đây, tích hợp nói đến việc đưa vào một trường hoạt động từ tính kết quả duy nhất năm loại năng lượng khác nhau: |
|
1. Physical and emotional sentient energy (2 energies therefore) are brought together and eventually form one expressive force. |
1. Năng lượng cảm nhận hồng trần và cảm xúc (do đó là 2 năng lượng) được đưa lại với nhau và cuối cùng tạo thành một mãnh lực biểu lộ duy nhất. |
|
2. Physical, emotional-sentient and mental energy (3) are also brought into relationship; one potent vortex of force is then set up which eventually becomes so systematised and integrated that we call its aggregated expression Personality, (4) and in time this aggregate [380] becomes a realised potency and thus completes the fourfold lower man. |
2. Năng lượng hồng trần, cảm xúc-cảm nhận và trí tuệ (3) cũng được đưa vào mối liên hệ; khi ấy một xoáy lực mạnh mẽ được thiết lập, cuối cùng trở nên được hệ thống hóa và tích hợp đến mức chúng ta gọi biểu hiện tổng hợp của nó là Phàm ngã, (4) và theo thời gian tổng thể này trở thành một năng lực được chứng nghiệm và nhờ đó hoàn tất phàm nhân tứ phân. |
|
3. These four types of energy are then brought into relationship with the ego or soul. This brings then into play another and higher type of energy expression, and thus the five energies integrate, blend and fuse. |
3. Bốn loại năng lượng này sau đó được đưa vào mối liên hệ với chân ngã hay linh hồn. Khi ấy điều này đưa vào hoạt động một loại biểu hiện năng lượng khác và cao hơn, và như vậy năm năng lượng tích hợp, hòa trộn và dung hợp. |
|
These five energies, when rightly related to each other, produce one active force centre, through which the Monad can work, using the word Monad to express the first differentiation of the One Life, if such a paradoxical phrase can be employed. Its use is only permissible from the standpoint of the personal self, still limited and imprisoned in the “I” consciousness. |
Năm năng lượng này, khi được liên hệ đúng đắn với nhau, tạo ra một trung tâm mãnh lực hoạt động duy nhất, qua đó chân thần có thể hoạt động, dùng từ chân thần để diễn tả sự biến phân đầu tiên của Sự Sống Duy Nhất, nếu có thể dùng một cụm từ nghịch lý như thế. Việc dùng từ ấy chỉ được phép từ quan điểm của phàm ngã, vẫn còn bị giới hạn và giam hãm trong tâm thức “Tôi”. |
|
The Technique of Fusion deals with the production of a close interplay of the five above enumerated aspects of energy which have been, in due time, integrated into a unity. It is really a fusion of the four forces and the one energy. This fusion produces: |
Kỹ Thuật Dung Hợp đề cập đến việc tạo ra một sự tương tác mật thiết giữa năm phương diện năng lượng đã được liệt kê ở trên, những phương diện mà đến đúng thời điểm đã được tích hợp thành một hợp nhất. Thực ra đó là sự dung hợp của bốn mãnh lực và một năng lượng. Sự dung hợp này tạo ra: |
|
1. A demonstration of personality activity when, in response to the Technique of Integration, there is |
1. Một biểu hiện của hoạt động phàm ngã khi, để đáp ứng với Kỹ Thuật Tích Hợp, có |
|
a. Response and interplay between the threefold lower man. |
a. Sự đáp ứng và tương tác giữa phàm nhân tam phân. |
|
b. A gradual emergence of the dominant note of the lower man which will, in time, indicate the nature of the personality ray. |
b. Sự xuất hiện dần dần của âm điệu trội của phàm nhân, điều mà theo thời gian sẽ chỉ ra bản chất của cung phàm ngã. |
|
c. The quality of the personality ray, in its higher aspects, emerges into living expression. Great beauty of character or great forcefulness will then appear. |
c. Phẩm tính của cung phàm ngã, trong các phương diện cao hơn của nó, xuất hiện thành biểu hiện sống động. Khi ấy sẽ xuất hiện vẻ đẹp lớn lao của tính cách hoặc sức mạnh lớn lao. |
|
2. Gradually, the qualities of the personality energy are transmuted into those of the ego or soul and the fusion of the two energies—soul and body—is then complete. [381] This Technique of Fusion might be better understood by all of you if it were called the Technique of Transmutation, but it must be remembered that the transmutation referred to is not that of bad qualities into good or of bad characteristics into good ones (for this should take place quite definitely upon the Path of Probation) but the transmutation of the higher aspects of the personality ray into those of the soul. When this has been to a great extent carried forward satisfactorily, then the Technique of Duality comes into play—a duality differing greatly from that to which we refer when we speak of the higher and lower selves. It is a duality which is utilised upon the Path of initiation by Those Who Know no sense of separativeness, and signifies one wherein the transmuted and purified personality qualities and characteristics are used by the initiate in the three worlds for service and the furthering of the Plan. The egoic energies are only brought into play when needed for group benefit and within the confines (again a paradoxical term and only of significance in consciousness from the standpoint of the lesser minds) of the Kingdom of God. |
2. Dần dần, các phẩm tính của năng lượng phàm ngã được chuyển hoá thành các phẩm tính của chân ngã hay linh hồn, và sự dung hợp của hai năng lượng—linh hồn và thể xác—khi ấy hoàn tất. [381] Kỹ Thuật Dung Hợp này có lẽ sẽ được tất cả các bạn hiểu rõ hơn nếu nó được gọi là Kỹ Thuật Chuyển Hoá, nhưng cần nhớ rằng sự chuyển hoá được nói đến ở đây không phải là chuyển các phẩm tính xấu thành tốt hay các đặc tính xấu thành tốt (vì điều này phải diễn ra khá rõ rệt trên Con Đường Dự Bị), mà là sự chuyển hoá các phương diện cao hơn của cung phàm ngã thành các phương diện của linh hồn. Khi điều này đã được thực hiện đến một mức độ lớn một cách thỏa đáng, thì Kỹ Thuật Nhị Nguyên bắt đầu phát huy tác dụng—một nhị nguyên tính rất khác với điều chúng ta muốn nói khi nói về chân ngã và phàm ngã. Đó là một nhị nguyên tính được sử dụng trên Con Đường Điểm Đạo bởi Những Đấng không biết đến bất kỳ cảm nhận phân ly nào, và biểu thị một trạng thái trong đó các phẩm tính và đặc tính phàm ngã đã được chuyển hoá và thanh luyện được điểm đạo đồ sử dụng trong ba cõi thấp để phụng sự và thúc đẩy Thiên Cơ. Các năng lượng chân ngã chỉ được đưa vào hoạt động khi cần cho lợi ích nhóm và trong giới hạn (lại là một từ nghịch lý nữa và chỉ có ý nghĩa trong tâm thức từ quan điểm của các hạ trí) của Thiên Giới. |
|
It will be seen, therefore, that we are dealing here with relatively advanced stages of human development. What I have now to say will veil, under extremely simplified phrases, truths which will be apparent to two groups of aspirants: |
Do đó, có thể thấy rằng ở đây chúng ta đang đề cập đến các giai đoạn tương đối tiến bộ của sự phát triển nhân loại. Điều mà tôi hiện phải nói sẽ che phủ, dưới những cụm từ cực kỳ đơn giản hóa, các chân lý sẽ hiển nhiên đối với hai nhóm người chí nguyện: |
|
1. Accepted disciples, who will comprehend the significances of the Technique of Fusion. |
1. Các đệ tử được chấp nhận, những người sẽ hiểu các thâm nghĩa của Kỹ Thuật Dung Hợp. |
|
2. Initiates, who will work with the Technique of Duality. |
2. Các điểm đạo đồ, những người sẽ làm việc với Kỹ Thuật Nhị Nguyên. |
|
It should be remembered also that we are here dealing with the primordial duality of spirit and matter and not with the secondary duality of soul and body. This point is of deep importance and will bear most careful consideration. |
Cũng cần nhớ rằng ở đây chúng ta đang đề cập đến nhị nguyên tính nguyên sơ của tinh thần và vật chất chứ không phải nhị nguyên tính thứ yếu của linh hồn và thể xác. Điểm này có tầm quan trọng sâu xa và cần được suy xét hết sức cẩn trọng. |
|
The man who will seek to use the Technique of Fusion is [382] the disciple who is conscious of personality power, owing to the fact that his mind is beginning to dominate his sentient emotional nature, much in the same way as his emotional-sentient nature has, for ages, controlled his physical body. The use of the mind is becoming “second nature” to certain advanced types of men, and it is called into play, when they reach this stage, almost automatically. The result is that the integration of the three energies is proceeding fast. At the same time, the man is definitely oriented to soul contact and knowledge, and frequently the mind (when it is the controlling personality factor) is itself brought suddenly and dynamically under the control of the soul. |
Người sẽ tìm cách sử dụng Kỹ Thuật Dung Hợp là [382] đệ tử có ý thức về quyền năng phàm ngã, do sự kiện là thể trí của y đang bắt đầu thống trị bản chất cảm xúc cảm giác của y, gần giống như cách mà bản chất cảm xúc-cảm giác của y đã kiểm soát thể xác của y suốt bao thời đại. Việc sử dụng thể trí đang trở thành “bản chất thứ hai” đối với một số loại người tiến bộ, và khi họ đạt đến giai đoạn này, nó được đưa vào hoạt động gần như tự động. Kết quả là sự tích hợp của ba năng lượng đang tiến triển nhanh chóng. Đồng thời, con người ấy rõ ràng được định hướng về sự tiếp xúc và tri thức của linh hồn, và thường thì thể trí (khi nó là yếu tố kiểm soát của phàm ngã) tự nó đột nhiên và mạnh mẽ được đặt dưới sự kiểm soát của linh hồn. |
|
This accounts for the intense difficulty of the life of every disciple at this stage. Several processes are simultaneously going on: |
Điều này giải thích cho sự khó khăn mãnh liệt trong đời sống của mọi đệ tử ở giai đoạn này. Một số tiến trình đang đồng thời diễn ra: |
|
1. The mind factor is steadily becoming more dominant, increasingly clarified and usable. |
1. Yếu tố thể trí đang đều đặn trở nên chi phối hơn, ngày càng được làm sáng tỏ và có thể sử dụng hơn. |
|
2. The three aspects of the lower nature are working in closer unity all the time, each growing at the same time in individual potency. |
2. Ba phương diện của bản chất thấp đang hoạt động trong sự hợp nhất chặt chẽ hơn mọi lúc, đồng thời mỗi phương diện cũng tăng trưởng về hiệu lực cá biệt. |
|
3. The personality ray is making its presence felt, and the expressed power of the man (within his environment) is equally increasing. |
3. Cung phàm ngã đang làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận, và quyền năng biểu lộ của con người ấy (trong môi trường của mình) cũng gia tăng tương ứng. |
|
4. The soul ray is, at times, projecting itself and this produces in the early stages those difficult upsets and turmoils which are usually of a distressing kind. |
4. Cung linh hồn đôi khi đang phóng chiếu chính nó, và điều này trong các giai đoạn đầu tạo ra những xáo trộn và biến động khó khăn vốn thường có tính chất đau đớn. |
|
It is at this stage therefore that the Technique of Fusion can profitably be used, preserving at the same time the realised integrity of the motive which, if correctly apprehended, should be |
Vì vậy, chính ở giai đoạn này mà Kỹ Thuật Dung Hợp có thể được sử dụng một cách hữu ích, đồng thời vẫn giữ nguyên tính toàn vẹn đã được chứng nghiệm của động cơ, mà nếu được lĩnh hội đúng đắn, phải là |
|
1. The motive of a realised objective of soul control in response to a living reaction to its sensed pull or call. |
1. Động cơ của một mục tiêu đã được chứng nghiệm là sự kiểm soát của linh hồn, để đáp ứng với một phản ứng sống động trước sức hút hay tiếng gọi được cảm nhận của nó. |
|
[383] |
[383] |
|
2. The motive of service, in response to a sentient realisation of humanity’s need. |
2. Động cơ phụng sự, để đáp ứng với sự chứng nghiệm cảm giác về nhu cầu của nhân loại. |
|
3. The motive of cooperation with the Plan, in response to an intelligent appreciation of its nature and existence. |
3. Động cơ hợp tác với Thiên Cơ, để đáp ứng với sự đánh giá trí tuệ về bản chất và sự hiện hữu của nó. |
|
Again you will note that we have swung back to our three major themes: Soul control, Service, and the Plan. |
Một lần nữa các bạn sẽ lưu ý rằng chúng ta đã quay trở lại ba chủ đề chính của mình: sự kiểm soát của linh hồn, phụng sự, và Thiên Cơ. |
|
It might, therefore, seem that this particular technique will be a sevenfold one like the Technique of Integration, but in this you would be mistaken. It is a threefold technique based upon the fact that all souls are eventually divided (again a paradoxical phrase when dealing with souls, but what can be done when modern language proves inadequate to the demands of soul knowledge) into three major groups, or rather distinguished by three major qualities, those of the first, second and third rays. Life, the One Life, manifests through these three major qualities, which condition its sevenfold appearance, and which are essentially Will, Love and Intelligence. |
Do đó, có vẻ như kỹ thuật đặc biệt này sẽ là một kỹ thuật thất phân giống như Kỹ Thuật Tích Hợp, nhưng trong điều này các bạn sẽ lầm. Đây là một kỹ thuật tam phân dựa trên sự kiện rằng mọi linh hồn cuối cùng được phân chia (lại là một cụm từ nghịch lý khi đề cập đến các linh hồn, nhưng có thể làm gì khi ngôn ngữ hiện đại tỏ ra không đầy đủ trước các đòi hỏi của tri thức linh hồn) thành ba nhóm chính, hay đúng hơn được phân biệt bởi ba phẩm tính chính, là các phẩm tính của cung một, cung hai và cung ba. Sự sống, Sự Sống Duy Nhất, biểu lộ qua ba phẩm tính chính này, những phẩm tính tác động lên sắc tướng thất phân của nó, và về bản chất là Ý Chí, Tình thương/Bác ái và Trí Tuệ. |
|
This Technique of Fusion evokes these three qualities in relation to the soul, to service and to the Plan. At the same time, it brings illumination to the mind (thus revealing the soul and the kingdom of God); it brings increased imagination (creative and dynamic) to the emotional sentient nature, the astral body (thus revealing relationship and responsibility); it brings likewise inspiration to the physical life, to the physical body, via the brain (revealing actual capacity to cooperate intelligently with the Plan). Therefore, we shall have to consider a technique which will do three things: |
Kỹ Thuật Dung Hợp này gợi lên ba phẩm tính ấy trong liên hệ với linh hồn, với phụng sự và với Thiên Cơ. Đồng thời, nó mang lại sự soi sáng cho thể trí (nhờ đó mặc khải linh hồn và Thiên Giới); nó mang lại sự tưởng tượng gia tăng (sáng tạo và năng động) cho bản chất cảm giác cảm xúc, thể cảm dục (nhờ đó mặc khải mối liên hệ và trách nhiệm); nó cũng mang lại cảm hứng cho đời sống hồng trần, cho thể xác, qua bộ não (mặc khải năng lực thực sự để hợp tác một cách trí tuệ với Thiên Cơ). Vì vậy, chúng ta sẽ phải xem xét một kỹ thuật sẽ làm ba điều: |
|
1. Bring Illumination, through the evocation of the Will or first aspect of divinity. |
1. Mang lại Sự Soi Sáng, qua việc gợi lên Ý Chí hay phương diện thứ nhất của thiên tính. |
|
2. Bring Imagination, through the evocation of Love, the [384] second aspect or of sentient response to the world soul in all forms. |
2. Mang lại Sự Tưởng Tượng, qua việc gợi lên Bác ái, [384] phương diện thứ hai hay sự đáp ứng cảm giác đối với đại hồn trong mọi hình tướng. |
|
3. Bring Inspiration, through the evocation of the Intelligence, the third aspect. |
3. Mang lại Cảm Hứng, qua việc gợi lên Trí Tuệ, phương diện thứ ba. |
|
If we study this triplicity with care, we shall see that the process outlined brings the higher aspect of the personal self, the mind, to the lowest point of contact and into control of the physical body; we shall see that it brings the soul into conscious control of the astral, desire-sentient body, and that it also brings the will aspect (the highest aspect of divinity) into control of mind. |
Nếu chúng ta nghiên cứu bộ ba này một cách cẩn trọng, chúng ta sẽ thấy rằng tiến trình được phác họa đưa phương diện cao hơn của phàm ngã, tức thể trí, đến điểm tiếp xúc thấp nhất và vào sự kiểm soát thể xác; chúng ta sẽ thấy rằng nó đưa linh hồn vào sự kiểm soát hữu thức đối với thể cảm dục, thể dục vọng-cảm giác, và nó cũng đưa phương diện ý chí (phương diện cao nhất của thiên tính) vào sự kiểm soát thể trí. |
|
There are, therefore, two thoughts which we will have in our minds as we study this Technique of Fusion. First, that it is a threefold technique and is coloured by and conditioned by the qualities of the first, second and third major rays. Secondly, that this technique of whichever of these three natures it may be, will be of such a kind that it will produce illumination through the evocation of the will. It is right here that esotericists will recognise the importance of the teaching in connection with the centre at the base of the spine. It is awakened by an act of the will, which really means by the mind, functioning forcefully, under the influence of the spiritual man, through the medium of the brain. |
Do đó, có hai tư tưởng mà chúng ta sẽ giữ trong tâm trí khi nghiên cứu Kỹ Thuật Dung Hợp này. Thứ nhất, đó là một kỹ thuật tam phân và được tô màu cũng như được tác động bởi các phẩm tính của ba cung chính thứ nhất, thứ hai và thứ ba. Thứ hai, kỹ thuật này, dù thuộc bản chất nào trong ba bản chất ấy, sẽ có tính chất sao cho nó tạo ra sự soi sáng qua việc gợi lên ý chí. Chính tại đây các nhà bí truyền học sẽ nhận ra tầm quan trọng của giáo huấn liên quan đến trung tâm ở đáy cột sống. Nó được đánh thức bởi một hành vi của ý chí, mà thực sự có nghĩa là bởi thể trí, hoạt động mạnh mẽ dưới ảnh hưởng của con người tinh thần, qua trung gian của bộ não. |
|
It infers also that this technique will so stimulate the faculty of the imagination that an ever expanding or an all inclusive love will increasingly be expressed, and therefore that the heart centre will be forcefully affected and awakened into full activity. It infers also that the spiritual plane life of the disciple, as it expresses itself in his environment will become inspired and creative through the full and conscious use of the intelligence. This, in its turn, brings about the rounded out activity of the throat centre, and thus the [385] three major centres, which are aroused into activity upon the Path of Discipleship, are brought to full and measured and controlled activity. Upon the Path of Initiation, the awakening and full-conditioned functioning of the two head centres is completed. This is the result of the use of the Technique of Duality by the initiate. One head centre, the thousand-petalled lotus, represents the spirit or life aspect; the other, the ajna centre, represents matter or the form aspect. Thus the work carried forward upon the paths of evolution, of probation, and of discipleship is completed upon the path of initiation, and thus, when the rays are understood, you have the possibility of a new system of awakening the centres, or chakras. But this system concerns only the awakening of the central part of the centre or lotus of force. The teaching given in the oriental and theosophical books refers primarily to the awakening and right relation of the centres when the aspirant is upon the probationary path. The teaching which I have here given has not before been so explicitly made public and has hitherto only been communicated orally. One half of the centre, the outer half (therefore one half of the lotus petals) is brought into increased activity upon the probationary path; the other half begins its intensified vibratory activity upon the path of discipleship, but the intensification of the centre of the lotus (though the One Life controls both soul and body) only takes place when the two later techniques of fusion and of duality are carried successfully forward. |
Điều đó cũng hàm ý rằng kỹ thuật này sẽ kích thích năng lực tưởng tượng đến mức một tình thương ngày càng mở rộng hay bao gồm tất cả sẽ ngày càng được biểu lộ, và do đó trung tâm tim sẽ bị tác động mạnh mẽ và được đánh thức vào hoạt động trọn vẹn. Điều đó cũng hàm ý rằng đời sống cõi tinh thần của đệ tử, khi biểu lộ trong môi trường của y, sẽ trở nên đầy cảm hứng và sáng tạo qua việc sử dụng trọn vẹn và hữu thức trí tuệ. Điều này, đến lượt nó, mang lại hoạt động viên mãn của trung tâm cổ họng, và như thế [385] ba trung tâm chính, vốn được khơi dậy vào hoạt động trên Con Đường Đệ Tử, được đưa đến hoạt động đầy đủ, điều độ và được kiểm soát. Trên Con Đường Điểm Đạo, sự thức tỉnh và hoạt động trọn vẹn có điều kiện của hai trung tâm đầu được hoàn tất. Đây là kết quả của việc điểm đạo đồ sử dụng Kỹ Thuật Nhị Nguyên. Một trung tâm đầu, hoa sen ngàn cánh, tượng trưng cho phương diện tinh thần hay sự sống; trung tâm kia, trung tâm ajna, tượng trưng cho vật chất hay phương diện hình tướng. Như vậy công việc được tiến hành trên các con đường tiến hoá, dự bị và địa vị đệ tử được hoàn tất trên con đường điểm đạo, và như vậy, khi các cung được hiểu rõ, các bạn có khả năng có được một hệ thống mới để đánh thức các trung tâm, hay các luân xa. Nhưng hệ thống này chỉ liên quan đến việc đánh thức phần trung tâm của trung tâm hay hoa sen mãnh lực. Giáo huấn được đưa ra trong các sách phương Đông và Thông Thiên Học chủ yếu đề cập đến việc đánh thức và liên hệ đúng đắn các trung tâm khi người chí nguyện ở trên con đường dự bị. Giáo huấn mà tôi đã đưa ra ở đây trước nay chưa từng được công bố minh bạch đến thế và cho đến nay chỉ được truyền đạt bằng lời nói. Một nửa của trung tâm, nửa bên ngoài (do đó là một nửa các cánh hoa sen), được đưa vào hoạt động gia tăng trên con đường dự bị; nửa kia bắt đầu hoạt động rung động mãnh liệt của nó trên con đường đệ tử, nhưng sự tăng cường của trung tâm hoa sen (dù Sự Sống Duy Nhất kiểm soát cả linh hồn lẫn thể xác) chỉ diễn ra khi hai kỹ thuật sau là dung hợp và nhị nguyên được thực hiện thành công. |
|
Certain questions therefore arise: |
Do đó nảy sinh một số câu hỏi: |
|
1. What are the techniques, producing fusion upon the three major rays. |
1. Những kỹ thuật nào tạo ra sự dung hợp trên ba cung chính. |
|
2. How do these techniques bring about |
2. Những kỹ thuật này mang lại như thế nào |
|
a. Illumination of the mind. |
a. Sự soi sáng của thể trí. |
|
[386] |
[386] |
|
b. Imaginative capacity of the sentient body. |
b. Năng lực tưởng tượng của thể cảm giác. |
|
c. An inspired life. |
c. Một đời sống đầy cảm hứng. |
|
Another point should here be made; Disciples upon the minor rays likewise employ one or other of these three major techniques. Fourth ray disciples employ the second ray technique, as do sixth ray disciples; disciples upon the fifth ray employ the first ray technique. It is interesting to note that (prior to the first initiation) the personalities of all aspirants to this great expansion of consciousness will be found upon the third ray which is—like the solar plexus centre—a great clearing house for energies, and a great transmuting station, if I may use this term. |
Một điểm khác cũng nên được nêu ra ở đây; các đệ tử trên các cung phụ cũng sử dụng một trong ba kỹ thuật chính này. Các đệ tử cung bốn sử dụng kỹ thuật cung hai, cũng như các đệ tử cung sáu; các đệ tử trên cung năm sử dụng kỹ thuật cung một. Thật thú vị khi lưu ý rằng (trước lần điểm đạo thứ nhất) phàm ngã của mọi người chí nguyện hướng đến sự mở rộng tâm thức lớn lao này sẽ được thấy ở trên cung ba, cung này—giống như trung tâm tùng thái dương—là một trạm thanh lọc lớn cho các năng lượng, và là một trạm chuyển hoá lớn, nếu tôi có thể dùng từ này. |
|
The first ray technique must, therefore, do the following things and produce the following results: |
Do đó, kỹ thuật cung một phải làm những điều sau đây và tạo ra những kết quả sau đây: |
|
1. The divine will must be evoked, of which the mind aspect is the reflection, and the brain (or the phenomenal appearance) the shadow. This brings into functional activity upon the physical plane what is called in theosophical books, Atma, or the first qualified differentiation of the monadic Life. The quality is often called the spiritual will. |
1. Ý Chí thiêng liêng phải được gợi lên, mà phương diện thể trí là sự phản chiếu của nó, còn bộ não (hay sắc tướng hiện tượng) là cái bóng của nó. Điều này đưa vào hoạt động chức năng trên cõi hồng trần cái mà trong các sách Thông Thiên Học được gọi là Atma, hay sự biến phân có phẩm tính đầu tiên của Sự Sống chân thần. Phẩm tính này thường được gọi là ý chí tinh thần. |
|
2. The evocation of this will produces an illumination of the mind, differing from the illumination achieved through ordinary meditation and about which much has been written in the mystical books. This latter illumination is essentially the evocation of the intuition, which brings the illumination of direct knowledge to the mind. The one to which I here refer is, symbolically speaking, related to the state of consciousness of the Creator when He sent forth the phenomena-producing fiat: “Let there be Light.” |
2. Việc gợi lên ý chí này tạo ra một sự soi sáng của thể trí, khác với sự soi sáng đạt được qua tham thiền thông thường và điều mà nhiều sách thần bí đã viết đến. Sự soi sáng sau này về bản chất là việc gợi lên trực giác, vốn mang đến cho thể trí sự soi sáng của tri thức trực tiếp. Điều mà tôi đề cập ở đây, nói theo biểu tượng, có liên hệ với trạng thái tâm thức của Đấng Sáng Tạo khi Ngài phát ra mệnh lệnh tạo hiện tượng: “Hãy có Ánh sáng.” |
|
3. This illumination, coming from the highest aspect which [387] man can conceive follows a direct line of approach, or pours down through a direct channel from |
3. Sự soi sáng này, đến từ phương diện cao nhất mà [387] con người có thể quan niệm, đi theo một đường tiếp cận trực tiếp, hay tuôn xuống qua một kênh trực tiếp từ |
|
a. The level of Atma, or that centre of spiritual will which is dynamic and effective but seldom called into play, to the will petals of the egoic lotus, upon which I touched in A Treatise on Cosmic Fire. These petals are the reflection in the soul of this particular aspect of energy. |
a. Cấp độ của Atma, hay trung tâm ý chí tinh thần vốn năng động và hữu hiệu nhưng hiếm khi được đưa vào hoạt động, đến các cánh hoa ý chí của Hoa Sen Chân Ngã, điều mà tôi đã đề cập trong Luận về Lửa Vũ Trụ. Các cánh hoa này là sự phản chiếu trong linh hồn của phương diện năng lượng đặc biệt này. |
|
b. From this layer of petals to the mind body. |
b. Từ tầng cánh hoa này đến thể trí. |
|
c. From the mind body to the brain. |
c. Từ thể trí đến bộ não. |
|
d. From the brain, in due and set time, to the centre at the base of the spine, thus arousing the kundalini fire. |
d. Từ bộ não, vào đúng thời điểm và thời gian đã định, đến trung tâm ở đáy cột sống, nhờ đó khơi dậy lửa kundalini. |
|
It will interest students to note how the first ray disciple, when employing this first ray technique of fusion, ends by producing second ray characteristics of which illumination, producing understanding love and sympathetic cooperation, is the predominant note. The second ray disciple, through rightly applied technique, produces curiously enough, third ray results, of which the use of the creative imagination is the outstanding characteristic. The third ray disciple through the development of the “power to inspire” adds to his innate qualities certain definitely first ray potencies. All are, however, subordinated to the second ray nature of the divine expression in this solar system. |
Điều sẽ làm các đạo sinh quan tâm là lưu ý cách đệ tử cung một, khi sử dụng kỹ thuật dung hợp cung một này, cuối cùng tạo ra các đặc tính cung hai mà trong đó sự soi sáng, tạo ra tình thương thấu hiểu và sự hợp tác cảm thông, là âm điệu trội. Đệ tử cung hai, qua kỹ thuật được áp dụng đúng đắn, lại tạo ra một cách kỳ lạ các kết quả cung ba, mà đặc tính nổi bật là việc sử dụng sự tưởng tượng sáng tạo. Đệ tử cung ba, qua sự phát triển “quyền năng truyền cảm hứng”, bổ sung vào các phẩm tính bẩm sinh của mình một số tiềm lực cung một rõ rệt. Tuy nhiên, tất cả đều lệ thuộc vào bản chất cung hai của biểu hiện thiêng liêng trong hệ mặt trời này. |
|
The technique of Fusion, employed by the second ray disciple, will produce the following results: |
Kỹ thuật Dung Hợp, được đệ tử cung hai sử dụng, sẽ tạo ra các kết quả sau: |
|
1. Increased sentient response to the world soul and to the environment in which the disciple finds himself will increasingly be achieved. |
1. Sự đáp ứng cảm giác gia tăng đối với đại hồn và đối với môi trường mà đệ tử thấy mình đang ở trong đó sẽ ngày càng đạt được. |
|
2. This is largely done through the cultivation of the creative imagination. This is one of the great building attributes [388] of deity. It is brought about by the evocation of the love nature and, as earlier noted, brings in soul power in full tide. In the world of phenomenal appearance, the soul is the creating agent, the major building factor, the constructor of forms, and, through the Technique of Fusion, the power to imagine or to use imaginative thought power (in conjunction with the faculty to visualise, to wish, to dream into being) is definitely and scientifically developed. |
2. Điều này phần lớn được thực hiện qua việc vun bồi Sự tưởng tượng sáng tạo. Đây là một trong những thuộc tính kiến tạo lớn lao [388] của Thượng đế. Nó được mang lại qua việc gợi lên bản chất bác ái và, như đã lưu ý trước đó, đưa quyền năng linh hồn vào trong triều dâng trọn vẹn. Trong thế giới sắc tướng hiện tượng, linh hồn là tác nhân sáng tạo, yếu tố kiến tạo chính, đấng kiến tạo các hình tướng, và qua Kỹ Thuật Dung Hợp, quyền năng tưởng tượng hay sử dụng quyền năng tư tưởng tưởng tượng (kết hợp với năng lực hình dung, ước muốn, mơ thành hiện hữu) được phát triển một cách rõ rệt và khoa học. |
|
3. This creative tension or one-pointed focus of imaginative dreaming swings the astral body into complete subordination to the soul. This fact is hinted at in The Bhagavad Gita where, upon the battle field of Kurukshetra, Arjuna suddenly sees the form of God wherein all forms constitute the One Form. The battle is then over. The soul is in complete control; no sense of separativeness is again possible. |
3. Sự căng thẳng sáng tạo này hay sự tập trung nhất tâm của giấc mơ tưởng tượng đưa thể cảm dục vào sự lệ thuộc hoàn toàn đối với linh hồn. Sự kiện này được ám chỉ trong The Bhagavad Gita khi, trên chiến trường Kurukshetra, Arjuna đột nhiên thấy hình tướng của Thượng đế trong đó mọi hình tướng cấu thành Hình Tướng Duy Nhất. Khi ấy trận chiến chấm dứt. Linh hồn ở trong sự kiểm soát hoàn toàn; không còn khả năng có bất kỳ cảm nhận phân ly nào nữa. |
|
4. The channel through which this synthesising and creative energy pours down is as follows: |
4. Kênh mà qua đó năng lượng tổng hợp và sáng tạo này tuôn xuống như sau: |
|
a. From the Monad to the love petals of the egoic lotus. |
a. Từ chân thần đến các cánh hoa bác ái của Hoa Sen Chân Ngã. |
|
b. From these love petals to the astral vehicle, energising all astral matter found in the equipment of the phenomenal man. “The spirit of God moves upon the face of the waters “ |
b. Từ các cánh hoa bác ái này đến vận cụ cảm dục, tiếp năng lượng cho toàn bộ vật chất cảm dục có trong bộ máy của con người hiện tượng. “Tinh thần của Thượng đế vận hành trên mặt nước” |
|
c. From thence to the solar plexus centre. |
c. Từ đó đến trung tâm tùng thái dương. |
|
d. From that centre to the heart centre. The needed duality connected with the astral body thus appears. We have here also a correspondence to the descent of the fire of the will to the base of the spine with its subsequent raising, along the spinal column, to the head. |
d. Từ trung tâm đó đến trung tâm tim. Nhị nguyên tính cần thiết liên quan đến thể cảm dục nhờ đó xuất hiện. Ở đây chúng ta cũng có một sự tương ứng với sự giáng xuống của lửa ý chí đến đáy cột sống cùng với sự nâng lên tiếp theo của nó, dọc theo cột sống, đến đầu. |
|
The third ray disciple, employing the Technique of Fusion, finds that: |
Đệ tử cung ba, sử dụng Kỹ Thuật Dung Hợp, nhận thấy rằng: |
|
[389] |
[389] |
|
1. It evokes a full functioning of the divine creative faculty. It will be apparent at this point how important is motive, for it determines the line of activity and differentiates man’s activity into what is called (by esotericists) black and white magic. It is interesting also to note that it is the very rare man indeed who swings into the field of so-called black magic. This indicates, does it not, my brother, the extraordinarily triumphant work of the Great White Lodge. |
1. Nó gợi lên sự vận hành trọn vẹn của năng lực sáng tạo thiêng liêng. Tại điểm này sẽ hiển nhiên rằng động cơ quan trọng đến mức nào, vì nó quyết định đường hoạt động và phân biệt hoạt động của con người thành điều mà (theo các nhà bí truyền học) được gọi là hắc thuật và Chánh Thuật. Cũng thật thú vị khi lưu ý rằng quả thực rất hiếm có người bước vào lĩnh vực của cái gọi là hắc thuật. Điều này chẳng phải cho thấy, huynh đệ của Tôi, công trình chiến thắng phi thường của Thánh đoàn đó sao. |
|
2. The fiat which initiated this creative activity, as far as it relates to man, has been inadequately couched in the words: “Let the earth bring forth abundantly”, thus inaugurating the age of creativity. This creative fecundity has steadily shifted during the past few thousand years into the creation of those effects of which ideas are the cause, producing within the creative range of man’s mind: |
2. Mệnh lệnh đã khởi xướng hoạt động sáng tạo này, xét theo mức độ nó liên hệ đến con người, đã được diễn đạt chưa đầy đủ trong những lời: “Hãy để đất sinh ra dồi dào”, nhờ đó khai mở thời đại sáng tạo. Sự phong nhiêu sáng tạo này đã đều đặn chuyển dịch trong vài nghìn năm qua sang việc sáng tạo những hiệu quả mà ý tưởng là nguyên nhân, tạo ra trong phạm vi sáng tạo của thể trí con người: |
|
a. That which is useful and so contributing to man’s present civilisation. |
a. Điều hữu ích và do đó góp phần vào nền văn minh hiện tại của con người. |
|
b. That which is beautiful, thus gradually developing the aesthetic consciousness, the sense of colour, and the recognition of the use of symbolic forms in order to express quality and meaning. |
b. Điều đẹp đẽ, nhờ đó dần dần phát triển tâm thức thẩm mỹ, cảm quan về màu sắc, và sự nhận biết việc sử dụng các hình thức biểu tượng để diễn đạt phẩm tính và ý nghĩa. |
|
3. As a result of the disciple’s use of this technique, there is brought about an increased vital livingness, and a dynamic inflow of spiritual life into the physical plane experience. The disciple becomes “inspired” by the fire of love, and this evokes the “service of creation” as an expression of that love. |
3. Kết quả của việc đệ tử sử dụng kỹ thuật này là một sức sống gia tăng được mang lại, và một dòng chảy năng động của đời sống tinh thần vào kinh nghiệm cõi hồng trần. Đệ tử trở nên “được cảm hứng” bởi lửa bác ái, và điều này gợi lên “sự phụng sự của sáng tạo” như một biểu hiện của bác ái ấy. |
|
4. The power which inspires him and which makes him dynamic and creative in his environment comes likewise from the will aspect of the Monad, sweeping the higher [390] mind into activity upon the higher mental level which is that on which the creative ideas of God emerge in form to be recognised by the human consciousness. |
4. Quyền năng truyền cảm hứng cho y và làm cho y trở nên năng động và sáng tạo trong môi trường của mình cũng đến từ phương diện ý chí của chân thần, cuốn thượng trí [390] vào hoạt động trên cõi thượng trí, là cõi mà trên đó các ý tưởng sáng tạo của Thượng đế xuất hiện trong hình tướng để được tâm thức con người nhận biết. |
|
5. The channel of approach or of downflow is as follows: |
5. Kênh tiếp cận hay tuôn xuống như sau: |
|
a. From the will aspect of the monadic life to that level of consciousness and of energy which we call that of the higher mind. |
a. Từ phương diện ý chí của sự sống chân thần đến cấp độ tâm thức và năng lượng mà chúng ta gọi là thượng trí. |
|
b. From the higher mind to the knowledge petals of the egoic lotus. |
b. Từ thượng trí đến các cánh hoa tri thức của Hoa Sen Chân Ngã. |
|
c. From these vortexes of force to the lower or concrete mind—that in which the average intelligent man familiarly works—to the throat centre and from thence immediately to the sacral centre (the centre of physical plane creation or reproduction). From there it is raised again to the throat centre where the creative physical urge is transmuted into artistic or literary creation in some form or another, and later still into the power to create groups or organisations which will express some idea or some thought which emanates from the Mind of God, and which demands immediate precipitation upon earth. |
c. Từ các xoáy mãnh lực này đến hạ trí hay trí cụ thể—nơi mà con người thông minh trung bình quen thuộc hoạt động—đến trung tâm cổ họng và từ đó ngay lập tức đến trung tâm xương cùng (trung tâm của sự sáng tạo hay sinh sản trên cõi hồng trần). Từ đó nó lại được nâng lên trung tâm cổ họng, nơi xung lực sáng tạo hồng trần được chuyển hoá thành sáng tạo nghệ thuật hay văn chương dưới hình thức này hay hình thức khác, và về sau nữa thành quyền năng sáng tạo các nhóm hay tổ chức sẽ biểu lộ một ý tưởng hay một tư tưởng nào đó phát xuất từ Trí của Thượng đế, và đòi hỏi phải được ngưng tụ ngay trên trần gian. |
|
The result of this inflow of supremely high energies is that the processes set in motion by the Technique of Integration are completed and the rays of the lower man are welded or fused into the Personality Ray. This itself is later blended with the egoic ray, enabling that spiritual Identity which we recognise as standing behind phenomenal man to work through both these rays, thus bringing about a correspondence to that grouping within the divine expression which we call the major and minor rays. The rays of the triple lower nature then form one single avenue through which the soul, and later the energy of spirit can contact the larger Whole [391] in manifestation upon the physical, astral and mental planes. When the Techniques of Integration and Fusion have done their intended work, this spiritual Identity can work in service to humanity and in cooperation with the Plan in the three worlds of human endeavour and in the five states of consciousness, human and superhuman. This brings the disciple to the period wherein the third initiation can be taken; then still higher forces can be brought into play and the Technique of Duality can be considered, mastered and used. It will be obvious to you that I cannot give you the rules of this technique, as they constitute part of the veiled secrets of initiation. Though duality is emphasised, it is a duality which produces simplification, merging and synthesis. Man is then viewed as a duality of spirit and matter and not as the well known triplicity of spirit, soul and body. |
Kết quả của dòng chảy vào của các năng lượng tối cao này là các tiến trình được khởi động bởi Kỹ Thuật Tích Hợp được hoàn tất và các cung của phàm nhân được hàn gắn hay dung hợp vào cung phàm ngã. Bản thân cung này về sau lại được hòa nhập với cung chân ngã, giúp cho Bản Sắc tinh thần mà chúng ta nhận ra là đứng sau con người hiện tượng có thể hoạt động qua cả hai cung này, nhờ đó tạo ra một sự tương ứng với sự phân nhóm trong biểu hiện thiêng liêng mà chúng ta gọi là các cung chính và cung phụ. Các cung của bản chất thấp tam phân khi ấy tạo thành một con đường duy nhất qua đó linh hồn, và về sau là năng lượng của tinh thần, có thể tiếp xúc với Tổng Thể lớn lao hơn [391] đang biểu hiện trên các cõi hồng trần, cảm dục và trí tuệ. Khi các Kỹ Thuật Tích Hợp và Dung Hợp đã hoàn thành công việc dự định của chúng, Bản Sắc tinh thần này có thể hoạt động trong phụng sự nhân loại và trong hợp tác với Thiên Cơ trong ba cõi nỗ lực của con người và trong năm trạng thái tâm thức, nhân loại và siêu nhân loại. Điều này đưa đệ tử đến giai đoạn mà lần điểm đạo thứ ba có thể được tiếp nhận; khi ấy các mãnh lực còn cao hơn nữa có thể được đưa vào hoạt động và Kỹ Thuật Nhị Nguyên có thể được xem xét, làm chủ và sử dụng. Các bạn sẽ thấy rõ rằng tôi không thể trao cho các bạn các quy luật của kỹ thuật này, vì chúng cấu thành một phần của các bí mật được che phủ của điểm đạo. Dù nhị nguyên tính được nhấn mạnh, đó là một nhị nguyên tính tạo ra sự đơn giản hóa, hòa nhập và tổng hợp. Khi ấy con người được nhìn như một nhị nguyên tính của tinh thần và vật chất chứ không phải như bộ ba quen thuộc là tinh thần, linh hồn và thể xác. |
|
Now let us for a moment consider the Technique of Fusion. The keynotes of the three techniques are as follows: |
Bây giờ chúng ta hãy trong chốc lát xem xét Kỹ Thuật Dung Hợp. Các chủ âm của ba kỹ thuật như sau: |
|
First Ray…………………….Isolated Unity. |
Cung một…………………….Hợp Nhất Cô Lập. |
|
Second Ray…………………Inclusive Reason. |
Cung hai…………………lý trí bao gồm. |
|
Third Ray……………………Presented Attributes. |
Cung ba……………………Các Thuộc Tính Được Trình Bày. |
|
The first thing the disciple who seeks to use these techniques undertakes is to arrive at an understanding (practical, experimental and subjective) of the appropriate phrase for his ray. Let me paraphrase or elucidate each of them, inadequately perforce owing to the lack of comprehension and the limited evolution of the average disciple, but in any case in order to bring suggestion to your minds. |
Điều đầu tiên mà đệ tử tìm cách sử dụng các kỹ thuật này đảm nhận là đi đến một sự thấu hiểu (thực tiễn, thực nghiệm và chủ quan) về cụm từ thích hợp cho cung của mình. Hãy để tôi diễn giải hay làm sáng tỏ từng cụm từ ấy, dĩ nhiên là không đầy đủ do sự thiếu thấu hiểu và sự tiến hoá còn giới hạn của đệ tử trung bình, nhưng trong mọi trường hợp là để gợi ý cho tâm trí các bạn. |
|
Isolated Unity is that stage of consciousness which sees the whole as one and regards itself, not theoretically but as a realised fact, as identified with that whole. It is a whole which is “isolated” in the consciousness of the man, and not the man himself who regards himself as isolated. The word “isolated” [392] refers to that complete organised organism of which the man can feel and know himself to be a part. The word “unity” expresses his relationship to the whole. It will be apparent therefore that this whole is something progressively realised. For the bringing about of this progressed realisation the great expansions of consciousness, called initiations, have been temporarily arranged as a hastening or forcing process. This progression of realised “isolations in unity” may begin with the disciple’s group, environment or nation and, through right use of the understanding, will end by enabling him to isolate the whole divine scheme or living structure, and to identify himself with it in an active capable manner. |
Hợp Nhất Cô Lập là giai đoạn tâm thức nhìn thấy toàn thể là một và xem chính mình, không phải trên lý thuyết mà như một sự kiện đã được chứng nghiệm, là đồng hoá với toàn thể ấy. Đó là một toàn thể được “cô lập” trong tâm thức của con người, chứ không phải chính con người xem mình là cô lập. Từ “cô lập” [392] chỉ đến cơ thể có tổ chức hoàn chỉnh ấy mà con người có thể cảm thấy và biết mình là một phần của nó. Từ “hợp nhất” diễn tả mối liên hệ của y với toàn thể. Do đó sẽ hiển nhiên rằng toàn thể này là một điều được chứng nghiệm dần dần. Để mang lại sự chứng nghiệm tiến triển này, các sự mở rộng lớn lao của tâm thức, được gọi là các cuộc điểm đạo, đã được tạm thời sắp đặt như một tiến trình thúc đẩy hay cưỡng bức. Sự tiến triển của những “cô lập trong hợp nhất” đã được chứng nghiệm này có thể bắt đầu với nhóm, môi trường hay quốc gia của đệ tử và, qua việc sử dụng đúng đắn sự thấu hiểu, sẽ kết thúc bằng cách giúp y cô lập được toàn bộ hệ thiêng liêng hay cấu trúc sống động, và đồng hoá mình với nó một cách tích cực và hữu hiệu. |
|
The result of meditation upon this theme will be: |
Kết quả của việc tham thiền về chủ đề này sẽ là: |
|
1. A definite illumination of the mind, for it will then be at-one with the Universal Mind and all the ways of God and the plans of God will stand revealed to him. |
1. Một sự soi sáng rõ rệt của thể trí, vì khi ấy nó sẽ hiệp nhất với Trí Tuệ Vũ Trụ và mọi đường lối của Thượng đế cùng các kế hoạch của Thượng đế sẽ được mặc khải cho y. |
|
2. The creative imagination will be powerfully evoked in response to this revelation, and modes and methods of cooperation will be sentiently developed and the disciple will become a creative cooperator and not just an obedient servant of the Plan. |
2. Sự tưởng tượng sáng tạo sẽ được gợi lên mạnh mẽ để đáp ứng với sự mặc khải này, và các phương thức cùng phương pháp hợp tác sẽ được phát triển một cách cảm giác, và đệ tử sẽ trở thành một người hợp tác sáng tạo chứ không chỉ là một người phụng sự vâng phục của Thiên Cơ. |
|
3. His life will be then inspired by the desire to serve humanity and to cooperate with the Custodians of the Plan. This will bring in the full tide of soul life, producing temporarily a violent conflict between the personality ray and the soul ray, but also producing a steady subordination of the lower to the higher, of the minor to the major. |
3. Khi ấy đời sống của y sẽ được truyền cảm hứng bởi ước muốn phụng sự nhân loại và hợp tác với các Đấng Gìn Giữ Thiên Cơ. Điều này sẽ đưa triều dâng trọn vẹn của đời sống linh hồn vào, tạm thời tạo ra một xung đột dữ dội giữa cung phàm ngã và cung linh hồn, nhưng cũng tạo ra sự lệ thuộc đều đặn của cái thấp vào cái cao, của cái phụ vào cái chính. |
|
I cannot too strongly call to your attention that I am not here dealing with the normal service and the self-enforced cooperation of the aspirant—a cooperation based upon theory and a determination to prove theory and plan and service to [393] be evolutionary facts—but with that spontaneous illumination, creativity and inspiration which is the result of the use of the Technique of Fusion by the soul—by the soul, and not by the aspiring struggling disciple. Here lies the clue to meaning. We are dealing consequently with that stage of development wherein, in deep contemplation, the man is consciously merged with the soul and that soul, in meditation, decides, plans and works. He functions as the soul and has achieved a definite measure of success in living as a soul, consciously upon the physical plane. |
Tôi không thể nhấn mạnh quá mức để thu hút sự chú ý của các bạn rằng ở đây tôi không đề cập đến sự phụng sự bình thường và sự hợp tác do người chí nguyện tự cưỡng ép—một sự hợp tác dựa trên lý thuyết và trên quyết tâm chứng minh lý thuyết, kế hoạch và phụng sự là [393] những sự kiện tiến hoá—mà là sự soi sáng, sáng tạo và cảm hứng tự phát vốn là kết quả của việc sử dụng Kỹ Thuật Dung Hợp bởi linh hồn—bởi linh hồn, chứ không phải bởi đệ tử chí nguyện đang đấu tranh. Chính trong đó có đầu mối của ý nghĩa. Do đó, chúng ta đang đề cập đến giai đoạn phát triển trong đó, trong sự chiêm ngưỡng sâu xa, con người được hòa nhập một cách hữu thức với linh hồn và linh hồn ấy, trong tham thiền, quyết định, hoạch định và hoạt động. Y hoạt động như linh hồn và đã đạt được một mức thành công rõ rệt trong việc sống như một linh hồn, một cách hữu thức trên cõi hồng trần. |
|
This particular technique of meditation involves the use of the head centre, demands the ability to focus the consciousness in the soul form, the spiritual body, and, at the same time, to preserve soul consciousness, mind consciousness and brain consciousness—no easy task for the neophyte and something which lies far ahead for the majority of students who read these words. This condition has been described as “the intensest reflection of the man, isolated in God Who is the negation of isolation and is nevertheless the Whole which is set apart from other Wholes.” When this state of awareness has been achieved (and Patanjali hints at it in the last book of the Sutras) the disciple becomes invincible upon the physical plane, for he is completely unified and linked up with all aspects of himself in the greater Whole of which he is a part, is fusing all attributes and is at-one with the Whole, not simply subjectively and unconsciously (as are all human beings) but in full, waking, understanding awareness. |
Kỹ thuật tham thiền đặc biệt này bao hàm việc sử dụng trung tâm đầu, đòi hỏi khả năng tập trung tâm thức trong hình tướng linh hồn, thể tinh thần, đồng thời vẫn duy trì tâm thức linh hồn, tâm thức thể trí và tâm thức bộ não—không phải là một nhiệm vụ dễ dàng đối với người sơ cơ và là điều còn ở rất xa phía trước đối với đa số đạo sinh đọc những lời này. Trạng thái này đã được mô tả là “sự phản chiếu mãnh liệt nhất của con người, cô lập trong Thượng đế, Đấng là sự phủ định của cô lập và tuy nhiên lại là Tổng Thể được tách riêng khỏi các tổng thể khác.” Khi trạng thái nhận biết này đã đạt được (và Patanjali có ám chỉ đến nó trong quyển cuối của các Kinh), đệ tử trở nên bất khả chiến bại trên cõi hồng trần, vì y hoàn toàn được hợp nhất và nối kết với mọi phương diện của chính mình trong Tổng Thể lớn lao hơn mà y là một phần của nó, đang dung hợp mọi thuộc tính và hiệp nhất với Tổng Thể, không chỉ một cách chủ quan và vô thức (như mọi con người đều vậy) mà trong sự nhận biết trọn vẹn, tỉnh thức và thấu hiểu. |
|
Inclusive Reason, which is the theme for the initiatory meditation of the second ray disciple, produces that inherent divine capacity which enables the detail of the sensed Whole to be grasped in meticulous entirety. This wide, yet detailed, scope or universal recognition is extremely difficult for me to explain or for you to understand. The second ray has been [394] called the Ray of Detailed Knowledge and where this term has been employed, the beginner has necessarily laid the emphasis upon the word “detail”. It might rather be called the Ray of Detailed Unity or the Ray of the Divine Pattern, or of beauty in relationship. It involves on the part of the disciple a very high point of synthetic comprehension. |
lý trí bao gồm, là chủ đề cho bài thiền điểm đạo của đệ tử cung hai, tạo ra năng lực thiêng liêng cố hữu ấy, năng lực giúp cho chi tiết của Tổng Thể được cảm nhận có thể được nắm bắt trong tính toàn vẹn tỉ mỉ. Tầm bao quát rộng lớn nhưng chi tiết này hay sự nhận biết phổ quát này cực kỳ khó để tôi giải thích hay để các bạn thấu hiểu. Cung hai đã được [394] gọi là Cung của Tri Thức Chi Tiết, và ở đâu thuật ngữ này được dùng, người mới bắt đầu tất yếu đã đặt trọng tâm vào từ “chi tiết”. Đúng hơn, nó có thể được gọi là Cung của Hợp Nhất Chi Tiết hay Cung của Mô Hình Thiêng Liêng, hay của vẻ đẹp trong mối liên hệ. Nó bao hàm nơi đệ tử một điểm rất cao của sự thấu hiểu tổng hợp. |
|
You will note how, in all these three keynotes for advanced meditation, there is the calling of the disciples attention to those related arrangements which constitute the whole when brought into relation with each other. The word “isolated”, the words “detail” and “presented” would seem to indicate separative recognition, but this is emphatically not so. They simply indicate and refer to the intricate internal life of the organised creation of God wherein the consciousness (released from all material pettiness and self-centredness) sees not only the periphery of the Whole but the beauty and purpose of every aspect of the inner structure. Just as the average, yet unthinking human being knows that he is a person of intricate design, of multiple interior organisms which produce an aggregate of living forms, co-related and functioning as a unity, but of which he in fact knows nothing except their general nature, so the aspirant upon the probationary path may see the whole of which he is similarly a part. Just as the intelligent student of humanity and the highly educated thinker knows in greater detail and fuller comprehension the general equipment and more detailed purpose of the organised whole which we call a man, so the disciple, in the early stages of his career upon the path of discipleship, comes to see and grasp wider aspects of the inner relationships of the organised organism through which Deity is working out His Plans and Purposes. Just as the trained physician, who is also a trained psychologist (a rare thing to find) views the human body and its energies, so the disciple upon the later [395] stages of the Path also grasps the plans, purposes and materialised ideas of God. This is but a feeble effort in my attempt to show the vastness of the knowledge required when a man begins to use these three seed thoughts in meditation. The living structure as it expresses ideas, the intricate beauty of the inner relationships within the expressing Whole, the circulation of the energy which is working out the divine Idea, the points of force and local points of energy which act as power and light stations within that Whole—all these stand revealed to the man who is permitted, as a soul, to meditate upon such a phrase as inclusive reason. |
Các bạn sẽ lưu ý rằng, trong cả ba chủ âm này dành cho tham thiền cao cấp, có sự kêu gọi sự chú ý của đệ tử đến những sắp xếp có liên hệ cấu thành toàn thể khi được đặt trong mối liên hệ với nhau. Từ “cô lập”, các từ “chi tiết” và “được trình bày” dường như chỉ ra sự nhận biết phân ly, nhưng điều này dứt khoát không phải vậy. Chúng chỉ đơn giản chỉ ra và quy chiếu đến đời sống nội tại phức tạp của sáng tạo có tổ chức của Thượng đế, trong đó tâm thức (được giải thoát khỏi mọi nhỏ nhen vật chất và sự tập trung vào bản thân) không chỉ thấy chu vi của Tổng Thể mà còn thấy vẻ đẹp và mục đích của mọi phương diện trong cấu trúc bên trong. Cũng như con người trung bình nhưng không suy nghĩ biết rằng mình là một con người có cấu trúc phức tạp, gồm nhiều cơ quan nội tại tạo ra một tổng thể các hình tướng sống động, có liên hệ với nhau và hoạt động như một hợp nhất, nhưng thực ra y không biết gì về chúng ngoài bản chất chung của chúng, thì người chí nguyện trên con đường dự bị cũng có thể thấy toàn thể mà tương tự như vậy y là một phần của nó. Cũng như đạo sinh thông minh của nhân loại và nhà tư tưởng có học thức cao biết chi tiết hơn và thấu hiểu đầy đủ hơn về bộ máy chung và mục đích chi tiết hơn của toàn thể có tổ chức mà chúng ta gọi là một con người, thì đệ tử, trong các giai đoạn đầu của sự nghiệp mình trên con đường đệ tử, đi đến chỗ thấy và nắm bắt các phương diện rộng lớn hơn của những mối liên hệ nội tại của cơ thể có tổ chức mà qua đó Thượng đế đang triển khai các Kế Hoạch và Mục Đích của Ngài. Cũng như vị y sĩ được đào luyện, đồng thời cũng là một nhà tâm lý học được đào luyện (một điều hiếm thấy), nhìn thể xác con người và các năng lượng của nó như thế nào, thì đệ tử trên các giai đoạn sau [395] của Con Đường cũng nắm bắt được các kế hoạch, mục đích và các ý tưởng đã hiện hình của Thượng đế như vậy. Đây chỉ là một nỗ lực yếu ớt trong cố gắng của tôi nhằm cho thấy sự bao la của tri thức cần có khi một người bắt đầu sử dụng ba tư tưởng hạt giống này trong tham thiền. Cấu trúc sống động khi nó biểu lộ các ý tưởng, vẻ đẹp phức tạp của các mối liên hệ nội tại trong Tổng Thể đang biểu lộ, sự lưu chuyển của năng lượng đang triển khai Ý Tưởng thiêng liêng, các điểm mãnh lực và các điểm năng lượng cục bộ hoạt động như những trạm năng lượng và ánh sáng trong Tổng Thể ấy—tất cả những điều này được mặc khải cho con người được phép, như một linh hồn, tham thiền trên một cụm từ như lý trí bao gồm. |
|
The reason here referred to is that pure intuitional infallible comprehension which grasps cause and effect simultaneously, and sees why and whence and to what end all things are moving. It is not possible for the aspirant to take these words into his meditation and profit greatly thereby, for he will be meditating as an aspiring mind, and not as a soul. No matter, therefore, how great his effort, it will be the material more than the consciousness aspect and pattern which will engross his attention. When he has reached the point where he can meditate both as a soul and as a mind, involving also the brain reaction, then he will understand the purpose of these words and will view both the symbol, the inner living structure and the emerging conscious ideas with a synthetic comprehension and a simultaneity of reception which it is impossible for me to put into words. |
Lý trí được nói đến ở đây là sự thấu hiểu thuần trực giác, không sai lầm, nắm bắt đồng thời nguyên nhân và kết quả, và thấy được vì sao, từ đâu, và nhằm mục đích gì mà mọi sự đang vận động. Người chí nguyện không thể đưa những lời này vào tham thiền của mình mà thu được nhiều lợi ích, vì y sẽ tham thiền như một trí tuệ đang khát vọng, chứ không phải như một linh hồn. Vì vậy, dù nỗ lực của y có lớn đến đâu, thì chất liệu hơn là phương diện tâm thức và mô hình sẽ chiếm trọn sự chú ý của y. Khi y đã đạt đến điểm có thể tham thiền vừa như một linh hồn vừa như một trí tuệ, đồng thời bao gồm cả phản ứng của bộ não, thì y sẽ hiểu mục đích của những lời này và sẽ nhìn cả biểu tượng, cấu trúc sống bên trong và các ý tưởng hữu thức đang xuất hiện bằng một sự thấu hiểu tổng hợp và một tính đồng thời trong tiếp nhận mà tôi không thể diễn tả thành lời. |
|
You might well ask me here of what profit is it then for me to write these things at all, and to say much that I have said in this Treatise. I would reply: There are a few today, and there will be an increasing number in the next two decades, who—grasping the beauty of the presented idea—will be urged by their souls to work towards these ends. By so doing, [396] they will succeed in raising the consciousness of the entire human family. |
Các bạn hẳn có thể hỏi tôi ở đây rằng vậy thì việc tôi viết ra những điều này, và nói nhiều điều tôi đã nói trong bộ Luận này, có ích lợi gì. Tôi xin đáp: Ngày nay có một số ít người, và trong hai thập niên tới sẽ có số lượng ngày càng tăng, những người—nắm bắt được vẻ đẹp của ý tưởng được trình bày—sẽ được linh hồn mình thôi thúc làm việc hướng tới các mục tiêu này. Khi làm như thế, [396] họ sẽ thành công trong việc nâng cao tâm thức của toàn thể gia đình nhân loại. |
|
The results of using this meditation on the synthetic detail of the manifested Life will be |
Kết quả của việc sử dụng bài thiền này về chi tiết tổng hợp của Sự sống biểu hiện sẽ là |
|
1. The realisation of the true significance of Light and the revelation of the meaning of what has been called in esoteric books, “the heart of the Sun”, which is the inner point of life in all manifested forms. Illumination of the mind will be seen to be direct and infallible and will usurp the place of the present theoretical knowledge and belief. |
1. Sự chứng nghiệm về thâm nghĩa đích thực của Ánh sáng và sự mặc khải về ý nghĩa của điều đã được gọi trong các sách huyền bí là “trái tim của Mặt Trời”, tức điểm sống nội tại trong mọi hình tướng biểu hiện. Sự soi sáng của trí tuệ sẽ được thấy là trực tiếp và không sai lầm, và sẽ thay thế vị trí của tri thức và niềm tin lý thuyết hiện nay. |
|
2. The creative imagination will be occupied with those measures which will “throw the light” into the dark and unrelieved places in the (as yet) incomplete creative process. The man then works consciously in the light, as a Light bearer. Perhaps my meaning will emerge more clearly to some of you when I point out to you that the disciple usually sees himself as a point of intensified light within the light of the world and then seeks to use that light (which is in him atomic, etheric and that acquired as a soul) for the furtherance of the Plan. |
2. Sự tưởng tượng sáng tạo sẽ bận tâm đến những biện pháp sẽ “rọi ánh sáng” vào những nơi tối tăm và không được soi chiếu trong tiến trình sáng tạo còn chưa hoàn tất này. Khi đó con người làm việc một cách hữu thức trong ánh sáng, như một người mang ánh sáng. Có lẽ ý tôi sẽ hiện ra rõ hơn với một số bạn khi tôi chỉ ra rằng đệ tử thường thấy mình như một điểm ánh sáng được tăng cường trong ánh sáng của thế giới, rồi tìm cách dùng ánh sáng đó (vốn ở trong y dưới dạng nguyên tử, dĩ thái và được thu nhận như một linh hồn) để thúc đẩy Thiên Cơ. |
|
3. This necessarily produces an intensified service to “those in dark places”. The disciple will seek to bring the light of knowledge to them first of all, and then the light of Life. Ponder deeply on this distinction. |
3. Điều này tất yếu tạo ra một sự phụng sự được tăng cường đối với “những người ở nơi tối tăm”. Trước hết, đệ tử sẽ tìm cách mang ánh sáng của tri thức đến cho họ, rồi sau đó là ánh sáng của Sự sống. Hãy suy ngẫm sâu xa về sự phân biệt này. |
|
Presented Attributes may appear to you a more simple phrase upon which to meditate and easier for the average aspirant to contemplate and understand. Perhaps this apparent simplicity may be due to your failure to comprehend the significance and meaning of the word “attribute”. |
Các Thuộc Tính Được Trình Bày có thể hiện ra với các bạn như một cụm từ đơn giản hơn để tham thiền, và dễ cho người chí nguyện trung bình chiêm ngưỡng và thấu hiểu hơn. Có lẽ sự đơn giản bề ngoài này là do các bạn không hiểu được thâm nghĩa và ý nghĩa của từ “thuộc tính”. |
|
This third ray meditation concerns itself essentially with inherent forces, and students would do well to recognise the [397] fact that there are inherent or innate qualities and attributes in the divine Whole which remain as yet unrevealed, and are as much unexpressed as are the divine tendencies in the majority of human beings. It is with these mysterious and slowly emerging energies that the man, ready for initiation, will have to deal, and of them he will become increasingly aware. He has to learn to occupy himself with the task of cooperating with those great Lives Who, working on formless levels, are busy with the development of an inner and as yet unrealised development within the Whole, and which can only be contacted and sensed by those on, or nearing, the Path of Initiation. There is a mystery within the mystery. The four minor rays, or rays of attribute, are concerned with the attributes which are definitely and slowly coming into expression and to fruition—knowledge, synthesis, beauty, science, idealism and order. But there are others, further back behind the scenes, held in latency for the proper period and time (if I may speak of these things in terms of modern usage), and these are the theme of this higher meditation. Only those who have freed themselves from the thralldom of the senses can truly thus meditate. The attributes of Deity might be divided into three main groups: |
Bài thiền cung ba này chủ yếu liên quan đến các mãnh lực nội tại, và các đạo sinh nên nhận ra [397] sự kiện rằng có những phẩm tính và thuộc tính cố hữu hay bẩm sinh trong Toàn Thể thiêng liêng mà cho đến nay vẫn chưa được mặc khải, và cũng chưa được biểu lộ chẳng khác nào các khuynh hướng thiêng liêng nơi đa số con người. Chính với những năng lượng huyền nhiệm và chậm chạp xuất hiện này mà con người, khi đã sẵn sàng cho điểm đạo, sẽ phải đề cập đến, và về chúng y sẽ ngày càng trở nên nhận biết hơn. Y phải học cách chuyên chú vào nhiệm vụ hợp tác với những Sự sống vĩ đại đang hoạt động trên các cấp độ vô tướng, bận rộn với sự phát triển của một sự phát triển nội tại và cho đến nay chưa được chứng nghiệm trong Toàn Thể, và điều này chỉ có thể được tiếp xúc và cảm nhận bởi những ai đang ở trên, hoặc đang tiến gần, Con Đường Điểm Đạo. Có một huyền nhiệm bên trong huyền nhiệm. Bốn cung phụ, hay các cung thuộc tính, liên quan đến những thuộc tính đang chắc chắn và chậm chạp đi vào biểu hiện và kết quả viên mãn—tri thức, tổng hợp, mỹ lệ, khoa học, lý tưởng và trật tự. Nhưng còn có những thuộc tính khác, ở sâu hơn phía sau hậu trường, được giữ trong trạng thái tiềm ẩn cho đúng chu kỳ và thời điểm (nếu tôi có thể nói về những điều này theo cách dùng hiện đại), và đó là chủ đề của bài thiền cao hơn này. Chỉ những ai đã giải thoát mình khỏi ách nô lệ của các giác quan mới thực sự có thể tham thiền như thế. Các thuộc tính của Thượng đế có thể được chia thành ba nhóm chính: |
|
1. Expressing Attributes—those which are steadily emerging,—of which we are becoming conscious, and which will constitute the major qualities and attributes of the fourth kingdom in nature, when the evolutionary cycle has done its work. |
1. Các Thuộc Tính Đang Biểu Lộ—những thuộc tính đang đều đặn xuất hiện,—mà chúng ta đang trở nên hữu thức về chúng, và sẽ cấu thành các phẩm tính và thuộc tính chủ yếu của giới thứ tư trong thiên nhiên, khi chu kỳ tiến hoá đã hoàn tất công việc của nó. |
|
2. Presented attributes—those which (again using human phraseology) have presented themselves to the consciousness of the advanced disciple, which are as yet not capable of interpretation nor can they be comprehended by average human beings, but which are attributes of the Kingdom of Souls, and which will distinguish that kingdom in its final stages. These latent attributes can be gradually comprehended and brought into activity by those who can function as souls. |
2. Các thuộc tính được trình bày—những thuộc tính mà (lại dùng thuật ngữ của con người) đã tự trình hiện trước tâm thức của đệ tử tiến bộ, nhưng hiện chưa thể được diễn giải và cũng không thể được con người trung bình thấu hiểu, song lại là các thuộc tính của Thiên Giới, và sẽ phân biệt giới đó trong các giai đoạn cuối cùng của nó. Những thuộc tính tiềm ẩn này có thể dần dần được thấu hiểu và đưa vào hoạt động bởi những ai có thể hoạt động như các linh hồn. |
|
3. Undefined Attributes are those of which the Christ, the planetary Logos and Those great Lives of Whose consciousness we can have no conception are becoming aware (note that phrase). For these attributes we have no words, and it is needless for us even to guess at their nature or to ponder upon their significance. They are as remote from our understanding as the aesthetic sense, group philanthropy and world states are from the consciousness of the aboriginal savage. |
3. Các Thuộc Tính Chưa Xác Định là những thuộc tính mà Đức Christ, Hành Tinh Thượng đế và những Sự sống vĩ đại ấy—mà tâm thức của Các Ngài chúng ta không thể có bất kỳ khái niệm nào—đang trở nên nhận biết (hãy lưu ý cụm từ đó). Đối với những thuộc tính này, chúng ta không có từ ngữ nào, và chúng ta cũng không cần đoán về bản chất của chúng hay suy ngẫm về thâm nghĩa của chúng. Chúng xa vời đối với sự thấu hiểu của chúng ta cũng như cảm quan thẩm mỹ, lòng bác ái nhóm và các trạng thái thế giới xa vời đối với tâm thức của người man dã bản địa. |
|
In connection with the problem of “presented attributes”, it might be stated that those which characterise the soul and which cannot express themselves until the soul is consciously known and steadily achieving control, could be illustrated through attention to the word Love. Love is such a presented attribute, and it took a great Avatar, such as the Christ, to grasp for humanity and present to humanity its significance. It has taken two thousand years for this presented attribute to take even the form it has in the consciousness of the human family, and those of us who are students of world affairs well know how unknown real love is. Even today, in relation to the entire planetary population, there is only a very small group (a few million would be an optimistic speculation) who have even a beginner’s grasp of what the love of God really is. |
Liên quan đến vấn đề “các thuộc tính được trình bày”, có thể nói rằng những thuộc tính đặc trưng cho linh hồn và không thể biểu lộ cho đến khi linh hồn được biết đến một cách hữu thức và đều đặn đạt được sự kiểm soát, có thể được minh hoạ qua việc chú ý đến từ Bác ái. Bác ái là một thuộc tính được trình bày như thế, và cần đến một Đấng Hoá Thân vĩ đại như Đức Christ mới có thể nắm bắt được thâm nghĩa của nó cho nhân loại và trình bày nó cho nhân loại. Đã mất hai ngàn năm để thuộc tính được trình bày này có được ngay cả hình thức mà nó hiện có trong tâm thức của gia đình nhân loại, và những ai trong chúng ta là đạo sinh của các vấn đề thế giới đều biết rõ tình thương đích thực còn xa lạ biết bao. Ngay cả ngày nay, xét trong tương quan với toàn thể dân số hành tinh, chỉ có một nhóm rất nhỏ (vài triệu người là một ước đoán lạc quan) thậm chí mới chỉ có được sự nắm bắt sơ khởi về tình thương của Thượng đế thực sự là gì. |
|
Love is the presented attribute which is at this time working into manifestation. Wisdom began to emerge in the time of the Buddha, and was the specified forerunner of love. Synthesis is another of the presented attributes and is only now making its appeal for recognition—an appeal which can only [399] evoke response from the higher types of men, even though centuries have elapsed since Plato endeavoured to picture forth the completeness of the Whole and the intricacy of the ideas which have come forth as an expression of that Whole. Such great Revealers of emerging divine attributes as are Plato, the Buddha or Christ differ radically from other Avatars in that They are so constituted that They are focal points through which a new presented attribute can emerge as a thought form, and, therefore, impinge definitely upon the minds of the racial thinkers. These Avatars are possessed by the attribute; They intelligently comprehend it and are used to “anchor” the attribute in human consciousness. There then ensues a long period of adjustment, development and emergence before the presented attribute becomes the expressed attribute. The above few comments may serve to simplify your thought on these abstruse matters, and give you a better idea of the true scope of these advanced meditations. |
Bác ái là thuộc tính được trình bày hiện đang đi vào biểu hiện. Minh triết bắt đầu xuất hiện vào thời Đức Phật, và là tiền thân được xác định của bác ái. Tổng hợp là một thuộc tính được trình bày khác và chỉ đến nay mới đưa ra lời kêu gọi được công nhận—một lời kêu gọi mà chỉ có thể [399] gợi lên đáp ứng từ những kiểu người cao hơn, mặc dù đã nhiều thế kỷ trôi qua kể từ khi Plato cố gắng phác hoạ tính toàn vẹn của Toàn Thể và sự phức tạp của các ý tưởng đã xuất hiện như một biểu hiện của Toàn Thể đó. Những Đấng Mặc Khải vĩ đại của các thuộc tính thiêng liêng đang xuất hiện như Plato, Đức Phật hay Đức Christ khác biệt căn bản với các Đấng Hoá Thân khác ở chỗ Các Ngài được cấu tạo sao cho trở thành những tiêu điểm qua đó một thuộc tính được trình bày mới có thể xuất hiện như một hình tư tưởng, và do đó tác động rõ rệt lên trí tuệ của các nhà tư tưởng của nhân loại. Những Đấng Hoá Thân này được thuộc tính ấy chiếm hữu; Các Ngài hiểu nó một cách thông tuệ và được dùng để “neo giữ” thuộc tính ấy trong tâm thức nhân loại. Sau đó là một thời kỳ dài điều chỉnh, phát triển và xuất hiện trước khi thuộc tính được trình bày trở thành thuộc tính được biểu lộ. Vài nhận xét trên đây có thể giúp đơn giản hoá tư tưởng của các bạn về những vấn đề thâm áo này, và cho các bạn một ý niệm tốt hơn về phạm vi đích thực của những bài thiền cao cấp này. |
|
The result of using this meditation on the presented attributes will be: |
Kết quả của việc sử dụng bài thiền này về các thuộc tính được trình bày sẽ là: |
|
1. The attributes already expressing themselves somewhat will achieve an intensified livingness in the daily life expression of the disciple, and consequently in the lives of all whom he may touch. They will form the stepping stones across the river of life down which the new attributes may come, presenting themselves in the Persons of Those Who are destined to reveal them eventually to man. Just as, symbolically speaking, the meditation on Inclusive Reason opens the way to the “heart of the Sun”, so this meditation brings in certain agencies and forces from the “central spiritual Sun”, and these energies find their focal point through the medium of some revealing [400] agent. Thus the problem of Avatars or of the Messengers from the Most High, the Embodied Principles, and the Revealers of Divine Attribute will gradually come to be understood in a new light, and grasped and understood as a possible goal for certain types of men. |
1. Những thuộc tính đã phần nào tự biểu lộ sẽ đạt được một sức sống mãnh liệt hơn trong biểu hiện đời sống hằng ngày của đệ tử, và do đó trong đời sống của tất cả những ai y có thể chạm đến. Chúng sẽ tạo thành những phiến đá bắc qua dòng sông sự sống, theo đó các thuộc tính mới có thể đi xuống, tự trình hiện trong các Đấng được định sẵn cuối cùng sẽ mặc khải chúng cho con người. Cũng như, nói theo biểu tượng, bài thiền về lý trí bao gồm mở đường đến “trái tim của Mặt Trời”, thì bài thiền này mang vào một số tác nhân và mãnh lực từ “Mặt trời Tinh thần Trung Ương”, và những năng lượng này tìm thấy tiêu điểm của chúng qua trung gian của một tác nhân mặc khải nào đó. Như vậy, vấn đề về các Đấng Hoá Thân hay các Sứ Giả từ Đấng Tối Cao, các Nguyên Khí Nhập Thể, và các Đấng Mặc Khải Thuộc Tính Thiêng Liêng sẽ dần dần được hiểu trong một ánh sáng mới, và được nắm bắt, thấu hiểu như một mục tiêu khả hữu đối với một số kiểu người nhất định. |
|
2. This theme opens up a wide range wherein the creative imagination can roam, and provides a fertile source of specialised divine expression. The purer the agent, the better should be the functioning of the imagination, which is essentially the planned activity of the image making faculty. By its means, subtle divine attributes and purposes can be presented in some form to the minds of men, and can thus in time achieve material expression. This involves the higher sensitivity, power to respond intuitionally, intellectual ability to interpret that which is sensed, focussed attention in order to “bring down” into manifestation the new potentiality and possibility of the divine nature, and an organised stability and purity of life. Ponder on this. |
2. Chủ đề này mở ra một phạm vi rộng lớn trong đó sự tưởng tượng sáng tạo có thể rong ruổi, và cung cấp một nguồn phong phú cho biểu hiện thiêng liêng chuyên biệt. Tác nhân càng thanh khiết, thì sự hoạt động của sự tưởng tượng càng tốt, vốn về bản chất là hoạt động có kế hoạch của năng lực tạo ảnh tượng. Nhờ đó, các thuộc tính và mục đích thiêng liêng vi tế có thể được trình bày dưới một hình thức nào đó cho trí tuệ con người, và như thế theo thời gian có thể đạt được biểu hiện vật chất. Điều này bao hàm sự nhạy cảm cao hơn, năng lực đáp ứng bằng trực giác, khả năng trí tuệ để diễn giải điều được cảm nhận, sự chú ý tập trung để “mang xuống” vào biểu hiện tiềm năng và khả thể mới của bản chất thiêng liêng, cùng một đời sống ổn định có tổ chức và thanh khiết. Hãy suy ngẫm về điều này. |
|
3. This use of the creative imagination will appear to you immediately as constituting, in itself, a definite field of service. Of this service, the highest of which you can know anything is that of the Group of Contemplatives, connected with the inner planetary Hierarchy, Who are called Nirmanakayas in the ancient books. They are entirely occupied with the task of sensing and with the endeavour to express the presented attributes which must some day be as familiar to men (theoretically, at least) as are the gradually expressing attributes of Love, Beauty or Synthesis today. On a much lower plane, those of you who are occupied with the effort to make soul quality expressed factors in your lives are beginning [401] to perform, on your level of consciousness, a task somewhat similar to that of the Divine Contemplatives. It is good training for the work you may have to do as you prepare for initiation. The small lesson mastered (and many of you are finding it a hard lesson) leads inevitably to wider opportunity in Service. |
Việc sử dụng sự tưởng tượng sáng tạo này sẽ lập tức hiện ra với các bạn như tự nó cấu thành một lĩnh vực phụng sự xác định. Trong sự phụng sự này, hình thức cao nhất mà các bạn có thể biết điều gì đó là của Nhóm Chiêm Ngưỡng, liên kết với Thánh đoàn hành tinh nội tại, những Đấng được gọi là Nirmanakayas trong các sách cổ. Các Ngài hoàn toàn chuyên chú vào nhiệm vụ cảm nhận và nỗ lực biểu lộ các thuộc tính được trình bày mà một ngày nào đó sẽ quen thuộc với con người (ít nhất là về mặt lý thuyết) như các thuộc tính đang dần biểu lộ của Bác ái, Mỹ lệ hay Tổng hợp ngày nay. Trên một cõi thấp hơn nhiều, những ai trong các bạn đang nỗ lực làm cho phẩm tính linh hồn trở thành những yếu tố được biểu lộ trong đời sống của mình đang bắt đầu [401] thực hiện, trên cấp độ tâm thức của mình, một nhiệm vụ phần nào tương tự với nhiệm vụ của các Đấng Chiêm Ngưỡng Thiêng Liêng. Đó là sự huấn luyện tốt cho công việc mà các bạn có thể phải làm khi chuẩn bị cho điểm đạo. Bài học nhỏ được làm chủ (và nhiều bạn đang thấy đó là một bài học khó) tất yếu dẫn đến cơ hội rộng lớn hơn trong Phụng sự. |
|
I have given enough information on which deeply to think and reflect. I have pointed out a goal which is impossible of achievement as yet, but one which leads eventually to that assured faith which is based upon direct knowledge and vision. I have briefly indicated the triple techniques of Integration, Fusion and Duality, and have shown you how, by means of them, the three rays of the Personality, the Ego and the Monad can be fused and blended until Deity, the essential divine Life, is revealed and from a materialised Triplicity only an eventual Unity can be seen. We will next take up some of the problems of Psychology, studying them from the angle of the soul. |
Tôi đã cung cấp đủ thông tin để suy nghĩ và phản tỉnh sâu xa. Tôi đã chỉ ra một mục tiêu hiện chưa thể đạt được, nhưng là mục tiêu cuối cùng dẫn đến đức tin vững chắc được đặt nền trên tri thức trực tiếp và linh thị. Tôi đã ngắn gọn nêu ra ba kỹ thuật: Kỹ Thuật Tích Hợp, Kỹ Thuật Dung Hợp và Kỹ Thuật Nhị Nguyên, và đã chỉ cho các bạn thấy cách mà, nhờ chúng, ba cung của phàm ngã, chân ngã và chân thần có thể được dung hợp và hoà trộn cho đến khi Thượng đế, Sự sống thiêng liêng cốt yếu, được mặc khải, và từ một Bộ ba đã hiện hình chỉ còn có thể thấy một Hợp Nhất cuối cùng. Tiếp theo, chúng ta sẽ bàn đến một số vấn đề của Tâm Lý Học Nội Môn, nghiên cứu chúng từ góc độ của linh hồn. |