|
We have spoken often of the integrating group of knowers who are beginning to function upon the earth, gathered together in loose formation and held by the inner spiritual tie and not by any outer organisation. The planetary Hierarchy has always existed and from time immemorial and right down the ages those sons of men who have fitted themselves for work and who have measured up to the requirements, have found their way into the ranks of those who stand behind the world evolution and guide the destinies of the little ones.
|
Chúng ta đã thường nói về nhóm các thức giả đang tích hợp và bắt đầu hoạt động trên Trái Đất, được quy tụ trong một hình thức lỏng lẻo và được giữ lại với nhau bởi mối liên hệ tinh thần bên trong chứ không bởi bất cứ tổ chức bên ngoài nào. Thánh Đoàn hành tinh luôn luôn hiện hữu, và từ thời xa xưa cho đến suốt các thời đại, những người con của nhân loại nào đã tự làm cho mình thích hợp với công việc và đáp ứng các yêu cầu, đều đã tìm được đường vào hàng ngũ của những Đấng đứng sau sự tiến hoá thế giới và hướng dẫn vận mệnh của những kẻ bé nhỏ.
|
|
Their grades and works are theoretically known, and names of some have been given out to the masses, —at what cost and personal sacrifice those masses will never know. With the Hierarchy of adepts I do not propose to deal. The books upon the subject are easily available and should be read with the needed reservations as to symbolical interpretations and the limiting effects of words.
|
Các cấp bậc và công việc của Các Ngài được biết đến về mặt lý thuyết, và tên của một số vị đã được công bố cho quần chúng—với cái giá và sự hi sinh cá nhân nào thì quần chúng ấy sẽ không bao giờ biết. Tôi không có ý định bàn đến Thánh Đoàn các chân sư. Những sách viết về đề tài này rất dễ tìm và nên được đọc với sự dè dặt cần thiết về các diễn giải biểu tượng và những giới hạn do ngôn từ gây ra.
|
|
An event is however transpiring upon earth which is, in its way, as momentous and as important as that crisis in Atlantean times when the physical, vital and astral bodies were coordinated and formed a functioning unit. Then the ‘yoga of devotion’ or bhakti yoga was initiated for the training of the aspirants at that time. A physical plane replica (as far as such a replica was then possible) was organised of those who could work devotedly and who could learn, through the use of ceremonial and pictures, some mode of activity which would carry on the hierarchical work on earth and thus constitute a training [399] school for those who later would be admitted into the ranks of the Hierarchy. The remnants of this Atlantean group remain with us in the modern Masonic movements, and the work of the Hierarchy was thus perpetuated in sign and symbol. There has thus been preserved in the consciousness of the race a pictorial representation of a momentous planetary condition which worked out in the human family in this threefold coordination. But it was primarily objective. Form and symbol, tool and furniture, temple and tone, office and externalities were the prominent factors; they veiled the truth and therefore preserved the ‘outer and visible form of an inner and spiritual’ reality. Only those were, in those days, allowed to participate in these mysteries and work who felt within themselves the longing and desire for the mystical vision, and who loved deeply and were devoted to the spiritual ideal. They were not required to possess active mentalities, and their intellectual powers were practically nil. They liked and needed authority: they learnt through ceremonial; they were devoted to the Great Ones Whose names and forms stood behind the office holders in the esoteric lodges. Mind entered not in. This must be remembered. There were no personalities.
|
Tuy nhiên, một biến cố đang diễn ra trên Trái Đất, theo cách riêng của nó, trọng đại và quan trọng như cuộc khủng hoảng trong thời Atlantis, khi các thể xác, thể sinh lực và thể cảm dục được phối hợp và tạo thành một đơn vị hoạt động. Khi ấy, “yoga của sùng tín” hay Bhakti Yoga được khởi xướng để huấn luyện những người chí nguyện thời đó. Một bản sao trên cõi hồng trần, trong chừng mực một bản sao như thế khi ấy có thể có, được tổ chức gồm những người có thể làm việc với lòng sùng tín và có thể học, qua việc sử dụng nghi lễ và hình ảnh, một phương thức hoạt động nào đó nhằm tiếp tục công việc của Thánh Đoàn trên Trái Đất, và như vậy tạo thành một trường huấn luyện [399] cho những người về sau sẽ được nhận vào hàng ngũ của Thánh Đoàn. Những tàn dư của nhóm Atlantis này còn lại với chúng ta trong các phong trào Tam Điểm hiện đại, và công việc của Thánh Đoàn do đó được duy trì qua dấu hiệu và biểu tượng. Nhờ vậy, trong tâm thức của nhân loại, một sự trình bày bằng hình ảnh về một tình trạng hành tinh trọng đại đã được bảo tồn; tình trạng ấy đã được thể hiện trong gia đình nhân loại qua sự phối hợp tam phân này. Nhưng nó chủ yếu mang tính khách quan. Hình tướng và biểu tượng, công cụ và vật dụng, đền thờ và âm điệu, chức vụ và các yếu tố bên ngoài là những nhân tố nổi bật; chúng che phủ chân lý và do đó bảo tồn “hình tướng bên ngoài và hữu hình của một thực tại bên trong và tinh thần”. Vào những ngày ấy, chỉ những ai cảm thấy trong chính mình niềm khao khát và dục vọng hướng tới linh ảnh thần bí, và những ai yêu thương sâu sắc cũng như sùng tín lý tưởng tinh thần, mới được phép tham dự vào các bí nhiệm và công việc này. Họ không bị đòi hỏi phải có trí tuệ hoạt động, và quyền năng trí tuệ của họ hầu như bằng không. Họ thích và cần uy quyền; họ học qua nghi lễ; họ sùng tín Các Đấng Cao Cả mà danh xưng và hình tướng đứng sau những người giữ chức vụ trong các hội quán nội môn. Trí tuệ không tham dự. Điều này phải được ghi nhớ. Khi ấy chưa có các phàm ngã.
|
|
Today, in the world, another great moment of crisis has arrived. I refer not to the present world condition, but to the state of the human consciousness. Mind has arrived at a functioning power, personalities are coordinated. The three aspects of man are being blended; another formation or precipitation from the Hierarchy of adepts has become possible. On the physical plane, without any exoteric organisation, ceremonials, or outer form, there is integrating—silently, steadily and powerfully—a group of men and women who will supersede eventually the previous hierarchical effort. They will supersede all churches, all groups, and all organisations and will [400] eventually constitute that oligarchy of elect souls who will govern and guide the world.
|
Ngày nay, trong thế giới, một thời điểm khủng hoảng vĩ đại khác đã đến. Tôi không nói đến tình trạng thế giới hiện nay, mà nói đến trạng thái của tâm thức nhân loại. Trí tuệ đã đạt đến một quyền năng hoạt động, các phàm ngã đã được phối hợp. Ba phương diện của con người đang được hòa trộn; một sự hình thành hay ngưng tụ khác từ Thánh Đoàn các chân sư đã trở nên khả hữu. Trên cõi hồng trần, không có bất cứ tổ chức ngoại môn, nghi lễ hay hình tướng bên ngoài nào, đang tích hợp—âm thầm, đều đặn và mạnh mẽ—một nhóm những người nam và nữ cuối cùng sẽ thay thế nỗ lực trước đây của Thánh Đoàn. Họ sẽ thay thế tất cả các giáo hội, mọi nhóm và mọi tổ chức, và [400] cuối cùng sẽ tạo thành tầng lớp ưu tuyển gồm các linh hồn được chọn, những người sẽ cai quản và hướng dẫn thế giới.
|
|
They are being gathered out of every nation, but are gathered and chosen, not by the watching Hierarchy or by any Master, but by the power of their response to the spiritual opportunity, tide and note. They are emerging out of every group and church and party, and will therefore be truly representative. This they do, not from the pull of their own ambition and prideful schemes, but through the very selflessness of their service. They are finding their way to the top in every department of human knowledge, not because of the clamour they make about their own ideas, discoveries and theories, but because they are so inclusive in their outlook and so wide in their interpretation of truth that they see the hand of God in all happenings, His imprint upon all forms and His note sounding forth through every channel of communication between the subjective reality and the objective outer form. They are of all races; they speak all languages; they embrace all religions, all sciences and all philosophies. Their characteristics are synthesis, inclusiveness, intellectuality and fine mental development. They own to no creed, save the creed of Brotherhood, based on the one Life. They recognise no authority, save that of their own souls, and no Master save the group they seek to serve, and humanity whom they deeply love. They have no barriers set up around themselves, but are governed by a wide tolerance, and a sane mentality and sense of proportion. They look with open eyes upon the world of men and recognise those whom they can lift and to whom they can stand as the Great Ones stand, —lifting, teaching and helping. They recognize their peers and equals, and know each other when they meet and stand shoulder to shoulder with their fellow workers in the work of salvaging humanity. It does not matter if their terminologies differ, their interpretations of symbols [401] and scriptures vary, or their words are few or many. They see their group members in all fields—political, scientific, religious, and economic—and give to them the sign of recognition and the hand of a brother. They recognise likewise Those who have passed ahead of them upon the ladder of evolution and hail Them Teacher, and seek to learn from Them that which They are so eager to impart.
|
Họ đang được quy tụ từ mọi quốc gia, nhưng được quy tụ và tuyển chọn không bởi Thánh Đoàn đang quan sát hay bởi bất cứ Chân sư nào, mà bởi quyền năng đáp ứng của họ trước cơ hội, dòng triều và âm điệu tinh thần. Họ đang xuất hiện từ mọi nhóm, mọi giáo hội và mọi đảng phái, và vì thế sẽ thật sự có tính đại diện. Họ làm điều này không do sức lôi kéo của tham vọng và những mưu đồ kiêu hãnh của chính họ, mà nhờ chính sự vô ngã trong phụng sự của họ. Họ đang tìm đường lên vị trí hàng đầu trong mọi ngành tri thức của nhân loại, không phải vì tiếng ồn ào họ tạo ra quanh các ý tưởng, khám phá và lý thuyết của riêng mình, mà vì họ có cái nhìn bao gồm đến thế và có sự diễn giải chân lý rộng lớn đến thế, nên họ thấy bàn tay của Thượng đế trong mọi sự kiện, dấu ấn của Ngài trên mọi hình tướng và âm điệu của Ngài vang lên qua mọi kênh giao tiếp giữa thực tại nội tại và hình tướng bên ngoài khách quan. Họ thuộc mọi nhân loại; họ nói mọi ngôn ngữ; họ ôm trọn mọi tôn giáo, mọi khoa học và mọi triết học. Các đặc tính của họ là tổng hợp, tính bao gồm, trí năng và sự phát triển trí tuệ tinh tế. Họ không thừa nhận tín điều nào, ngoại trừ tín điều về tình huynh đệ, đặt nền trên Sự sống duy nhất. Họ không công nhận uy quyền nào, ngoại trừ uy quyền của chính linh hồn họ, và không có Chân sư nào ngoài nhóm mà họ tìm cách phụng sự, cùng nhân loại mà họ yêu thương sâu sắc. Họ không dựng lên rào chắn quanh mình, mà được cai quản bởi một sự khoan dung rộng lớn, một trí tuệ lành mạnh và Ý thức về tỉ lệ. Họ nhìn thế giới con người bằng đôi mắt mở rộng và nhận ra những người mà họ có thể nâng đỡ, và đối với những người ấy họ có thể đứng như Các Đấng Cao Cả đang đứng—nâng đỡ, giảng dạy và trợ giúp. Họ nhận ra những người ngang hàng và tương đương với mình, biết nhau khi gặp gỡ, và kề vai sát cánh với các bạn đồng sự trong công việc cứu vớt nhân loại. Việc thuật ngữ của họ khác nhau, cách diễn giải biểu tượng [401] và thánh kinh của họ khác nhau, hay lời nói của họ ít hoặc nhiều, đều không quan trọng. Họ thấy các thành viên trong nhóm mình ở mọi lĩnh vực—chính trị, khoa học, tôn giáo và kinh tế—và trao cho họ dấu hiệu nhận biết cùng bàn tay của một huynh đệ. Họ cũng nhận ra Những Đấng đã đi trước họ trên thang tiến hoá, tôn Các Ngài là Huấn sư, và tìm cách học từ Các Ngài điều mà Các Ngài rất thiết tha truyền đạt.
|
|
This group is a product of the past and upon that past I will touch; I will also indicate the present situation and forecast somewhat the general lines along which their association and future work will run. That such a group is forming is true and holds a good augury for the coming decades. In quiet and subtle ways they are already making their presence felt but theirs is as yet primarily a subjective influence.
|
Nhóm này là sản phẩm của quá khứ, và tôi sẽ chạm đến quá khứ ấy; tôi cũng sẽ chỉ ra tình hình hiện tại và phác họa đôi chút những đường nét tổng quát theo đó sự liên kết và công việc tương lai của họ sẽ diễn tiến. Việc một nhóm như thế đang hình thành là điều chân thật và là một điềm lành cho các thập niên sắp tới. Bằng những cách âm thầm và tinh tế, họ đã bắt đầu làm cho sự hiện diện của mình được cảm nhận, nhưng ảnh hưởng của họ hiện vẫn chủ yếu là ảnh hưởng nội tại.
|
|
Let us begin with the past. About the year 1400, the Hierarchy of Masters was faced with a difficult situation. As far as the work of the second ray was concerned (which had to do with the impartation of spiritual truth) there had come to be what I might call a complete exteriorisation of that truth. The activity of the first ray had also brought about an intense differentiation and crystallisation among the nations and governments of the world. These two conditions of concrete orthodoxy and political differences persisted for many generations and are still manifesting. Today we have a similar condition both in the world of religion and in that of politics. This is true whether one is considering India or America, China or Germany, or whether one is studying the history of Buddhism with its many sects, Protestantism with its myriads of warring groups, or the many schools of philosophy in the orient or the occident. The condition is widespread, and the public consciousness tremendously diversified, but this state of affairs marks the summation [402] of the period of separativeness and the end, before so many centuries, of this intense distinctiveness of thought.
|
Chúng ta hãy bắt đầu với quá khứ. Vào khoảng năm 1400, Thánh Đoàn các Chân sư đối diện với một tình huống khó khăn. Đối với công việc của cung hai, vốn liên quan đến việc truyền đạt chân lý tinh thần, đã xuất hiện điều mà tôi có thể gọi là sự ngoại hiện hoàn toàn của chân lý ấy. Hoạt động của cung một cũng đã đem lại một sự biến phân và kết tinh mạnh mẽ giữa các quốc gia và chính phủ trên thế giới. Hai tình trạng chính thống cứng nhắc và khác biệt chính trị này đã kéo dài qua nhiều thế hệ và vẫn còn đang biểu lộ. Ngày nay chúng ta có một tình trạng tương tự cả trong thế giới tôn giáo lẫn trong thế giới chính trị. Điều này đúng dù người ta đang xét Ấn Độ hay Hoa Kỳ, Trung Quốc hay Đức, hoặc đang nghiên cứu lịch sử Phật giáo với nhiều tông phái, đạo Tin Lành với vô số nhóm xung đột, hay nhiều trường phái triết học ở phương Đông hoặc phương Tây. Tình trạng này lan rộng, và tâm thức công chúng vô cùng đa dạng, nhưng trạng thái sự việc này đánh dấu sự tổng kết [402] của thời kỳ chia rẽ, và trong không quá nhiều thế kỷ nữa, sẽ là sự kết thúc của tính dị biệt mãnh liệt này trong tư tưởng.
|
|
After noting and watching this trend of affairs for another one hundred years, the Elder Brothers of the race called a conclave of all departments about the year 1500 A.D. Their object was to determine how the urge to integration, which is essentially the keynote of our universal order, could be hastened, and what steps could be taken to produce that synthesis and unification in the world of thought which would make possible the manifestation of the purpose of the divine Life which had brought all into being. When the world of thought is unified, then the outer world will fall into a synthetic order. It should be remembered here that the Masters think in large terms and work in the wider cycles of evolutionary endeavour. The tiny and temporary cycles, the small ebb and flow of the cosmic processes do not engage Their attention in the first instance.
|
Sau khi ghi nhận và quan sát xu hướng sự việc này thêm một trăm năm nữa, các Huynh Trưởng của nhân loại đã triệu tập một mật nghị gồm mọi ngành vào khoảng năm 1500 sau Công nguyên. Mục tiêu của Các Ngài là xác định làm thế nào xung lực hướng tới sự tích hợp, vốn về bản chất là chủ âm của trật tự vũ trụ chúng ta, có thể được đẩy nhanh, và những bước nào có thể được thực hiện để tạo ra sự tổng hợp và hợp nhất trong thế giới tư tưởng, nhờ đó làm cho mục đích của Sự sống thiêng liêng, Đấng đã đưa tất cả vào hiện hữu, có thể biểu lộ. Khi thế giới tư tưởng được hợp nhất, thế giới bên ngoài sẽ đi vào một trật tự tổng hợp. Ở đây cần nhớ rằng các Chân sư tư duy trong những tầm mức rộng lớn và làm việc trong các chu kỳ rộng hơn của nỗ lực thăng thượng tiến hoá. Các chu kỳ nhỏ bé và tạm thời, những đợt lên xuống nhỏ của các tiến trình vũ trụ không phải là điều trước hết thu hút sự chú ý của Các Ngài.
|
|
At this conclave They had three things to do:
|
Tại mật nghị này, Các Ngài phải làm ba việc:
|
|
1. To view the divine plan on as large a scale as possible, and refresh Their minds with the vision.
|
1. Nhìn Thiên Cơ thiêng liêng trên quy mô rộng nhất có thể, và làm mới lại tâm trí Các Ngài bằng tầm nhìn ấy.
|
|
2. To note what influences or energies were available for use in the large endeavour to which They were pledged.
|
2. Ghi nhận những ảnh hưởng hay năng lượng nào sẵn có để sử dụng trong nỗ lực lớn lao mà Các Ngài đã cam kết.
|
|
3. To train the men and women who were then probationers, chelas and initiates so that in due time They could have a satisfactory band of assistants on whom They could in future centuries rely.
|
3. Huấn luyện những người nam và nữ khi ấy là người dự bị, đệ tử và điểm đạo đồ, để đúng thời, Các Ngài có thể có một đội ngũ phụ tá thỏa đáng mà Các Ngài có thể dựa vào trong các thế kỷ tương lai.
|
|
They had, in connection with these aspirants, two problems:
|
Liên quan đến những người chí nguyện này, Các Ngài có hai vấn đề:
|
|
1. They had to deal with the failure on the part of even the most advanced disciples to preserve continuity of consciousness, a failure even now manifested by even initiates. [403]
|
1. Các Ngài phải xử lý sự thất bại ngay cả nơi các đệ tử tiến bộ nhất trong việc duy trì tính liên tục của tâm thức, một thất bại hiện nay vẫn còn biểu lộ ngay cả nơi các điểm đạo đồ. [403]
|
|
2. The Masters found the minds and brains of chelas curiously insensitive to the higher contacts, and this again is a condition which still prevails. The chelas, then as now, possessed aspiration, a desire to serve humanity, devotion and occasionally a fair mental equipment, but that telepathic sensitivity, that instinctive response to hierarchical vibration, and that freedom from the lower psychism which are the needed prerequisites to intensive intelligent work were singularly lacking. For that matter, they are still distressingly so. Telepathic sensitivity is decidedly on the increase as a result of world conditions and the evolutionary trend, and this is (for the workers on the inner plane) a most encouraging sign, but love of psychic phenomena and failure to differentiate between the vibrations of the various grades of hierarchical workers still greatly hinder the work.
|
2. Các Chân sư nhận thấy thể trí và bộ não của các đệ tử lạ lùng thay lại thiếu nhạy cảm với các tiếp xúc cao hơn, và đây cũng là một tình trạng vẫn còn phổ biến. Các đệ tử, khi ấy cũng như bây giờ, có khát vọng, có dục vọng phụng sự nhân loại, có lòng sùng tín và đôi khi có một trang bị trí tuệ khá tốt, nhưng sự nhạy cảm viễn cảm, sự đáp ứng bản năng với rung động của Thánh Đoàn, và sự tự do khỏi thông linh thấp—những điều kiện tiên quyết cần thiết cho công việc trí tuệ chuyên sâu—lại thiếu vắng một cách đặc biệt. Về mặt này, chúng vẫn còn thiếu hụt một cách đáng buồn. Sự nhạy cảm viễn cảm chắc chắn đang gia tăng do kết quả của các tình trạng thế giới và xu hướng thăng thượng tiến hoá, và đây là một dấu hiệu rất đáng khích lệ đối với những người hoạt động trên cõi nội giới; nhưng lòng yêu thích các hiện tượng thông linh và sự thất bại trong việc phân biệt giữa các rung động của nhiều cấp bậc người hoạt động trong Thánh Đoàn vẫn còn cản trở công việc rất nhiều.
|
|
You might here ask and rightly so: What is this plan? When I speak of the plan I do not mean such a general one as the plan of evolution or the plan for humanity which we call by the somewhat unmeaning term of soul unfoldment. These two aspects of the scheme for our planet are taken for granted, and are but modes, processes and means to a specific end. The plan as at present sensed, and for which the Masters are steadily working, might be defined as follows: —It is the production of a subjective synthesis in humanity and of a telepathic interplay which will eventually annihilate time. It will make available to every man all past achievements and knowledges, it will reveal to man the true significance of his mind and brain and make him the master of that equipment and will make him therefore omnipresent and eventually open the door to omniscience. This next development of the plan will produce in man an understanding [404] —intelligent and cooperative—of the divine purpose for which the One in Whom we live and move and have our being has deemed it wise to submit to incarnation. Think not that I can tell of the plan as it truly is. It is not possible for any man, below the grade of initiate of the third degree, to glimpse it and far less understand it. The development of the mechanism whereby a disciple may be en rapport with Those responsible for the working out of the plans, and the capacity to know (and not just dimly sense) that tiny aspect of the whole which is the immediate step ahead and with which cooperation is possible, that can be achieved by all disciples and should be held as the goal before all aspirants. With the exception of probationary disciples who are not as yet sufficiently stable in their endeavour, all can therefore strive towards achieving continuity of consciousness and at awakening that inner light which, when seen and intelligently used, will serve to reveal other aspects of the Plan and specially that one to which the illumined knower can respond and usefully serve.
|
Ở đây các bạn có thể hỏi, và hỏi như vậy là đúng: Thiên Cơ này là gì? Khi tôi nói đến Thiên Cơ, tôi không muốn nói đến một điều tổng quát như kế hoạch tiến hoá hay kế hoạch dành cho nhân loại, điều mà chúng ta gọi bằng thuật ngữ hơi thiếu ý nghĩa là sự khai mở linh hồn. Hai phương diện này của cơ đồ dành cho hành tinh chúng ta được xem như điều hiển nhiên, và chỉ là các phương thức, tiến trình và phương tiện hướng tới một mục tiêu cụ thể. Thiên Cơ như hiện nay được cảm nhận, và vì đó các Chân sư đang làm việc đều đặn, có thể được định nghĩa như sau: đó là việc tạo ra một sự tổng hợp nội tại trong nhân loại và một sự giao lưu viễn cảm cuối cùng sẽ tiêu hủy thời gian. Nó sẽ làm cho mọi thành tựu và tri thức quá khứ trở nên sẵn có đối với mỗi người; nó sẽ mặc khải cho con người thâm nghĩa chân thật của thể trí và bộ não của y, làm cho y trở thành chủ nhân của trang bị ấy, và do đó làm cho y trở nên hiện diện khắp nơi, cuối cùng mở cửa đi vào toàn tri. Sự phát triển kế tiếp này của Thiên Cơ sẽ tạo ra nơi con người một sự thấu hiểu [404]—thông minh và hợp tác—về Thiên Ý mà vì đó Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu đã xem việc chịu lâm phàm là điều minh triết. Đừng nghĩ rằng tôi có thể nói về Thiên Cơ như nó thật sự là. Không người nào dưới cấp điểm đạo đồ lần thứ ba có thể thoáng thấy nó, càng ít có thể thấu hiểu nó. Sự phát triển bộ máy nhờ đó một đệ tử có thể liên thông hòa hợp với Những Đấng chịu trách nhiệm thực hiện các kế hoạch, và năng lực biết, chứ không chỉ cảm nhận mơ hồ, phương diện nhỏ bé của toàn thể vốn là bước kế tiếp trước mắt và có thể hợp tác với nó—điều ấy có thể được mọi đệ tử thành tựu và nên được giữ làm mục tiêu trước mọi người chí nguyện. Ngoại trừ các đệ tử dự bị chưa đủ ổn định trong nỗ lực của họ, tất cả do đó có thể phấn đấu để đạt được tính liên tục của tâm thức và để đánh thức ánh sáng bên trong; ánh sáng ấy, khi được thấy và được sử dụng một cách thông minh, sẽ phụng sự việc mặc khải các phương diện khác của Thiên Cơ, đặc biệt là phương diện mà thức giả được soi sáng có thể đáp ứng và phụng sự hữu ích.
|
|
To bring this about has been the objective of all training given during the past 400 years, and from this fact you can vision the utter patience of the Knowers of the race. They work slowly and with deliberation, free from any sense of speed, towards Their objective, but—and herein lies the immediate interest of what I have to communicate—They do have a time limit. This is based upon the Law of Cycles. It concerns the operation of certain periods of opportunity which necessarily have their term. During these times of opportunity, forces, influences, and energies are temporarily at work, and of these the Masters seek to make use.
|
Đem lại điều này đã là mục tiêu của mọi huấn luyện được trao trong 400 năm qua, và từ sự kiện này các bạn có thể hình dung sự kiên nhẫn tuyệt đối của các Thức giả của nhân loại. Các Ngài làm việc chậm rãi và có chủ ý, không bị bất cứ cảm thức vội vã nào chi phối, hướng tới mục tiêu của Các Ngài; nhưng—và chính trong đây có mối quan tâm trước mắt của điều tôi phải truyền đạt—Các Ngài quả có một giới hạn thời gian. Điều này đặt nền trên Định luật Chu Kỳ. Nó liên quan đến sự vận hành của một số thời kỳ cơ hội nhất định, vốn tất yếu có kỳ hạn của chúng. Trong các thời kỳ cơ hội này, các mãnh lực, ảnh hưởng và năng lượng tạm thời hoạt động, và các Chân sư tìm cách sử dụng chúng.
|
|
Looking ahead, during the conclave to which I have made reference, the assembled Servers of the race noted the future coming in of the Aquarian age, with its distinctive energies and its amazing opportunities. These [405] They noted and They sought to prepare man for that period which would approximate 2500 years, and which could if duly utilised, bring about the unification, consciously and intelligently, of mankind, and so produce the manifestation of what I prefer to call “scientific brotherhood” in contradistinction to the sentimental connotation of the term now so prevalent.
|
Nhìn về phía trước, trong mật nghị mà tôi đã nhắc đến, các Người Phụng Sự nhân loại quy tụ đã ghi nhận sự xuất hiện tương lai của Kỷ nguyên Bảo Bình, với những năng lượng đặc thù và những cơ hội kỳ diệu của nó. Những điều này [405] Các Ngài đã ghi nhận, và Các Ngài tìm cách chuẩn bị con người cho thời kỳ ấy, vốn sẽ kéo dài khoảng 2500 năm, và nếu được sử dụng đúng mức, có thể đem lại sự hợp nhất của nhân loại một cách có ý thức và thông minh, nhờ đó tạo ra sự biểu lộ của điều tôi thích gọi là “tình huynh đệ khoa học”, để phân biệt với sắc thái tình cảm của thuật ngữ này hiện nay quá phổ biến.
|
|
It appeared to Them at that time that it would be necessary to do two things before the coming potencies of the Aquarian age could profitably be employed. First of all, humanity must have its consciousness elevated to the mental plane; it must be expanded so that it included not only the world of emotion and of feeling but also that of the intellect. The minds of men must be made widely and generally active, and the entire level of human intelligence must be raised. It was necessary, secondly, that something should be done to break down the barriers of separateness, of isolation and of prejudice which were keeping men apart from each other and which They foresaw would increasingly do so. Cycle by cycle, men were becoming more and more wrapped up in their own selves—satisfaction and exclusiveness, and racial pride. The result of this would lead inevitably to wide cleavages and the erection of world barriers between nation and nation, and between race and race.
|
Vào thời điểm đó, đối với Các Ngài, dường như cần phải làm hai điều trước khi các quyền năng sắp đến của Kỷ nguyên Bảo Bình có thể được sử dụng một cách hữu ích. Trước hết, tâm thức của nhân loại phải được nâng lên cõi trí; nó phải được mở rộng để bao gồm không chỉ thế giới của xúc cảm và cảm giác, mà cả thế giới của trí năng. Thể trí của con người phải được làm cho hoạt động rộng rãi và phổ quát, và toàn bộ cấp độ trí thông minh của nhân loại phải được nâng cao. Thứ hai, cần phải làm một điều gì đó để phá vỡ các rào chắn của sự chia rẽ, cô lập và định kiến vốn đang giữ con người tách rời nhau, và Các Ngài thấy trước rằng những rào chắn ấy sẽ ngày càng làm như vậy. Chu kỳ này qua chu kỳ khác, con người ngày càng bị cuốn chặt hơn vào chính bản thân mình—sự tự mãn, tính biệt lập và niềm kiêu hãnh chủng tộc. Kết quả của điều này tất yếu sẽ dẫn đến những chia rẽ rộng lớn và việc dựng lên các rào chắn thế giới giữa quốc gia với quốc gia, và giữa nhân loại với nhân loại.
|
|
This determination of the members of the Hierarchy to train the minds of men more rapidly and to build towards a more synthetic unity brought them to a decision which involved the formation of group units, and brought about the emergence of those groups of workers and thinkers who, through their activities, have so largely governed and moulded our world for the past three or four centuries. We have therefore, dating from this conclave, the inauguration of definite and specific group work along clearly defined lines, with each group standing [406] for some peculiar presentation of truth and for some aspect of the knowledge of reality.
|
Quyết tâm này của các thành viên Thánh Đoàn nhằm huấn luyện thể trí của con người nhanh chóng hơn và xây dựng hướng tới một sự hợp nhất tổng hợp hơn đã đưa Các Ngài đến một quyết định bao hàm việc hình thành các đơn vị nhóm, và đem lại sự xuất hiện của những nhóm người hoạt động và tư tưởng gia mà qua các hoạt động của họ, đã phần lớn chi phối và định hình thế giới chúng ta trong ba hoặc bốn thế kỷ qua. Vì vậy, kể từ mật nghị này, chúng ta có sự khởi đầu của công việc nhóm xác định và chuyên biệt theo những đường lối được định rõ, mỗi nhóm đứng [406] cho một cách trình bày chân lý đặc thù nào đó và cho một phương diện nào đó của tri thức về thực tại.
|
|
These groups fall generally into four major divisions; cultural, political, religious, and scientific. In more modern times three other groups have definitely emerged; they are the philosophical, the psychological, and the financial groups. Philosophers have, of course, always been with us, but they have been for the most part isolated units who have founded schools characterised by partisanship and separativeness. Now there are no outstanding figures as in the past, but groups who represent certain ideas. It is of profound importance that the work of these seven groups of thinkers be recognised as part of the hierarchical programme, designed to produce a certain situation, to bring about certain preparatory conditions, and as playing a definite part in the work of world evolution as far as humanity is concerned.
|
Các nhóm này nói chung rơi vào bốn phân ngành chính: văn hóa, chính trị, tôn giáo và khoa học. Trong thời hiện đại hơn, ba nhóm khác đã xuất hiện một cách rõ rệt; đó là các nhóm triết học, tâm lý học và tài chính. Dĩ nhiên, các triết gia luôn luôn hiện diện với chúng ta, nhưng phần lớn họ là những đơn vị cô lập, sáng lập các trường phái mang đặc tính phe phái và chia rẽ. Ngày nay không còn những nhân vật nổi bật như trong quá khứ, mà là các nhóm đại diện cho những ý tưởng nhất định. Việc công nhận công việc của bảy nhóm tư tưởng gia này như một phần của chương trình Thánh Đoàn là điều có tầm quan trọng sâu xa; chương trình ấy được hoạch định nhằm tạo ra một tình huống nhất định, đem lại những điều kiện chuẩn bị nhất định, và đóng một vai trò xác định trong công việc tiến hoá thế giới xét trong phạm vi nhân loại.
|
|
Under the influence of the different rays as they cycled in and out of activity, little groups of men emerged, played their part in group formation, and disappeared, often unaware of their inherent synthesis and of their co-workers. As can be seen in any intelligent historical retrospect, the work that they did for the race and their contribution to the pageant of the progress of mankind stands out with clarity. I have not the time to take this procession of groups, each custodian of a special contribution, and trace for you the work they did or the subjective impulses under which they worked. I can but indicate the trend of their endeavour, and leave to some illumined student of history the delineation of the golden thread of their spiritual work as they raised the mental standard of the race and put man en rapport with the world in which he lived, opening his eyes not only to the nature of matter and of form but also to the hidden depths of his own being. Through their activities we [407] now have a humanity in close relation, though not at-one, and a humanity characterised by three things:
|
Dưới ảnh hưởng của các cung khác nhau khi chúng luân phiên đi vào và ra khỏi hoạt động, những nhóm nhỏ con người đã xuất hiện, đóng vai trò của họ trong sự hình thành nhóm, rồi biến mất, thường không nhận biết sự tổng hợp vốn có của họ và những người đồng sự của họ. Như có thể thấy trong bất cứ cuộc hồi cố lịch sử thông minh nào, công việc họ đã làm cho nhân loại và đóng góp của họ vào đoàn rước tiến bộ của nhân loại nổi bật một cách rõ ràng. Tôi không có thời gian để đi theo đoàn nối tiếp các nhóm này, mỗi nhóm là người gìn giữ một đóng góp đặc biệt, và truy nguyên cho các bạn công việc họ đã làm hay các xung lực nội tại dưới đó họ đã hoạt động. Tôi chỉ có thể chỉ ra xu hướng nỗ lực của họ, và để cho một đạo sinh lịch sử được soi sáng nào đó phác họa sợi chỉ vàng của công việc tinh thần của họ khi họ nâng chuẩn mực trí tuệ của nhân loại và đặt con người vào sự liên thông hòa hợp với thế giới mà y sống trong đó, mở mắt y không chỉ đối với bản chất của vật chất và hình tướng, mà còn đối với những chiều sâu ẩn kín của chính bản thể y. Qua các hoạt động của họ, [407] giờ đây chúng ta có một nhân loại ở trong mối liên hệ gần gũi, dù chưa hợp nhất, và một nhân loại được đặc trưng bởi ba điều:
|
|
1. An amazing interrelation and intercommunication, of which the radio, the press, modern transportation, and the telephone and telegraph are the servants.
|
1. Một sự tương quan và truyền thông lẫn nhau đáng kinh ngạc, mà truyền thanh, báo chí, vận tải hiện đại, điện thoại và điện báo là những người phục vụ.
|
|
2. A wide-spread philanthropic enterprise, and the growth of the sense of responsibility for one’s brother, which was totally unknown in the year 1500. Movements such as the Red Cross, educational foundations, hospitals, and the present economic relief measures to be found in every country are its exoteric manifestations.
|
2. Một công cuộc bác ái rộng khắp, và sự tăng trưởng của ý thức trách nhiệm đối với huynh đệ của mình, điều hoàn toàn chưa được biết đến vào năm 1500. Những phong trào như Hội Chữ thập đỏ, các quỹ giáo dục, bệnh viện và các biện pháp cứu trợ kinh tế hiện nay có mặt ở mọi quốc gia là những biểu lộ ngoại môn của nó.
|
|
3. A division of the entire human family, consciously or unconsciously, into two basic groups: first, those who stand for the old order of things, who are reactionary, and separative. They represent separative nationalism, boundaries, servitude, and servile obedience; they exemplify religious sectarianism and dependence upon authority. They are against all modern innovations and progress. Secondly, those who vision a unified world wherein love of God means love of one’s neighbour, and where the motives underlying all religious, political and educational activities are characterised by a world consciousness and the welfare of the entire body and not of the part.
|
3. Sự phân chia toàn bộ gia đình nhân loại, một cách có ý thức hoặc vô ý thức, thành hai nhóm căn bản: trước hết, những người đứng về trật tự cũ của sự vật, những người phản động và chia rẽ. Họ đại diện cho chủ nghĩa quốc gia chia rẽ, các biên giới, sự nô dịch và sự vâng phục nô lệ; họ tiêu biểu cho tinh thần giáo phái tôn giáo và sự lệ thuộc vào uy quyền. Họ chống lại mọi đổi mới và tiến bộ hiện đại. Thứ hai, những người hình dung một thế giới hợp nhất, trong đó tình thương đối với Thượng đế có nghĩa là tình thương đối với người lân cận, và nơi các động cơ nằm dưới mọi hoạt động tôn giáo, chính trị và giáo dục được đặc trưng bởi tâm thức thế giới và phúc lợi của toàn thể cơ thể, chứ không phải của một phần.
|
|
The unification to which the forward looking people aspire does not involve the neglect of any part, but it does involve the care and nurture of each part in order that it may contribute to the well being of the entire organism. It involves, for instance, the right government and proper development of every national unit so that it can adequately perform its international duties, and thus form part of a world brotherhood of nations. [408] This concept does not even involve the formation of a world state, but it does involve the development of a universal public consciousness which realises the unity of the whole, and thus produces the determination that each must be for all and all for each as it has been said. Only in this way can there be brought about an international synthesis which will be characterised by political and national unselfishness. This universal state of mind will not again inevitably involve the founding of a world or universal religion. It requires simply the recognition that all formulations of truth and of relief are only partial in time and space, and are temporarily suited to the temperaments and conditions of the age and race. Those who favour some particular approach to the truth will nevertheless achieve the realisation that other approaches and other modes of expression and terminologies, and other ways of defining deity can be equally correct and in themselves constitute aspects of a truth which is greater and vaster than man’s present equipment can grasp and express. Even the Great Ones Themselves but dimly sense reality and though They are aware of deeper underlying purposes than are Their chelas, yet even They see not the ultimate goal. They too are forced to use such unmeaning terms in Their teaching as Absolute Reality, and Ultimate Realisation.
|
Sự hợp nhất mà những người hướng về tương lai khát vọng không bao hàm việc bỏ bê bất cứ phần nào, nhưng bao hàm sự chăm sóc và nuôi dưỡng từng phần để nó có thể đóng góp cho phúc lợi của toàn bộ cơ cấu. Chẳng hạn, nó bao hàm sự cai quản đúng đắn và phát triển thích hợp của mỗi đơn vị quốc gia, để đơn vị ấy có thể thực hiện đầy đủ các bổn phận quốc tế của mình, và như vậy tạo thành một phần của tình huynh đệ thế giới giữa các quốc gia. [408] Khái niệm này thậm chí không bao hàm việc hình thành một nhà nước thế giới, nhưng nó bao hàm sự phát triển của một tâm thức công chúng phổ quát, nhận ra sự hợp nhất của toàn thể, và do đó tạo ra quyết tâm rằng mỗi người phải vì tất cả và tất cả vì mỗi người, như đã nói. Chỉ bằng cách này mới có thể đem lại một sự tổng hợp quốc tế được đặc trưng bởi tinh thần vị tha chính trị và quốc gia. Trạng thái tâm trí phổ quát này cũng không tất yếu bao hàm việc sáng lập một tôn giáo thế giới hay phổ quát. Nó chỉ đòi hỏi sự công nhận rằng mọi công thức về chân lý và niềm tin đều chỉ là một phần trong thời gian và không gian, và tạm thời thích hợp với khí chất cùng điều kiện của thời đại và nhân loại. Những người ủng hộ một cách tiếp cận đặc thù nào đó đối với chân lý tuy vậy sẽ đạt đến nhận thức rằng những cách tiếp cận khác, những phương thức biểu hiện và thuật ngữ khác, cũng như những cách định nghĩa Thượng đế khác, đều có thể đúng như nhau và tự chúng cấu thành các phương diện của một chân lý lớn lao và bao la hơn trang bị hiện tại của con người có thể nắm bắt và biểu đạt. Ngay cả Chính Các Đấng Cao Cả cũng chỉ cảm nhận thực tại một cách mờ nhạt, và dù Các Ngài nhận thức được những mục đích sâu xa hơn nằm bên dưới so với các đệ tử của Các Ngài, tuy vậy ngay cả Các Ngài cũng chưa thấy mục tiêu tối hậu. Các Ngài cũng buộc phải dùng trong giáo huấn của mình những thuật ngữ thiếu ý nghĩa như Thực Tại Tuyệt Đối và Chứng Nghiệm Tối Hậu.
|
|
Hence, during the past three centuries, group after group has appeared and played its part, and we today reap the benefit of their accomplishment. Under the cultural group for instance we find emerging the poets of the Elizabethan age, and the musicians of Germany and of the Victorian era. Groups of artists are likewise to be found, giving us the famous schools which are the glory of Europe. Two famous groups, one cultural and the other political, also played their parts, the one producing the Renaissance and the other bringing about the French Revolution. The effects of their work are still [409] to be felt, for the modern humanistic movement with its emphasis upon the past which is completed in the present, and its search for the roots of man’s equipment in the earlier trends, harks back to the Renaissance. Revolution and the determination to fight for the divine rights of man find their prime inaugurating influence and impetus in the revolution in France. Revolt, the formation of political parties, the class warfare which is so rampant today and the splitting of every country into warring political groups, though sporadic always, have become universal during the past two hundred years, and are all the results of the group activity started by the Masters. Men have grown thereby and have learnt how to think, and even though they may think wrongly and may initiate disastrous experiments, the ultimate good is inevitable and unavoidable. Temporary discomforts, passing depressions, war and bloodshed, penury and vice may lead the unthinking into the depths of pessimism. But those who know and who sense the inner guiding hand of the Hierarchy are aware that the heart of humanity is sound and that out of the present chaos and perhaps largely because of it, there will emerge those competent to deal with the situation and adequate to the task of unification and synthesis. This period has been occultly called the “age of restoration of what has been broken by the fall”. The time has come when the separate parts can be reunited and the whole stand together again in its earlier perfection.
|
Do đó, trong ba thế kỷ vừa qua, nhóm này sau nhóm khác đã xuất hiện và đóng vai trò của mình, và ngày nay chúng ta gặt hái lợi ích từ thành tựu của họ. Chẳng hạn, dưới nhóm văn hóa, chúng ta thấy xuất hiện các nhà thơ thời Elizabeth, và các nhạc sĩ của Đức cũng như thời Victoria. Các nhóm nghệ sĩ cũng được tìm thấy, đem lại cho chúng ta những trường phái nổi tiếng vốn là vinh quang của châu Âu. Hai nhóm nổi tiếng, một thuộc văn hóa và một thuộc chính trị, cũng đã đóng vai trò của họ; nhóm này tạo ra thời Phục hưng, nhóm kia đem lại Cách mạng Pháp. Các hiệu quả của công việc họ vẫn còn [409] được cảm nhận, vì phong trào nhân văn hiện đại, với sự nhấn mạnh vào quá khứ được hoàn tất trong hiện tại, và cuộc tìm kiếm các gốc rễ trang bị của con người trong những xu hướng trước kia, đều quay về thời Phục hưng. Cách mạng và quyết tâm đấu tranh cho các quyền thiêng liêng của con người tìm thấy ảnh hưởng và xung lực khởi đầu chính yếu của chúng trong cuộc cách mạng ở Pháp. Sự nổi dậy, sự hình thành các đảng phái chính trị, cuộc đấu tranh giai cấp hiện nay đang lan tràn mạnh mẽ, và việc chia rẽ mỗi quốc gia thành các nhóm chính trị xung đột—dù luôn luôn rời rạc—đã trở nên phổ quát trong hai trăm năm qua, và tất cả đều là kết quả của hoạt động nhóm do các Chân sư khởi xướng. Nhờ đó con người đã lớn lên và đã học cách tư duy; và dù họ có thể tư duy sai lầm và khởi xướng những thử nghiệm tai hại, điều thiện tối hậu vẫn là điều tất yếu và không thể tránh khỏi. Những khó chịu tạm thời, những suy thoái thoáng qua, chiến tranh và đổ máu, bần cùng và tội lỗi có thể dẫn những người không suy nghĩ vào vực sâu của bi quan. Nhưng những ai biết và cảm nhận bàn tay hướng dẫn bên trong của Thánh Đoàn đều nhận thức rằng trái tim của nhân loại là lành mạnh, và từ hỗn độn hiện tại, có lẽ phần lớn nhờ chính nó, sẽ xuất hiện những người có năng lực xử lý tình hình và đủ sức đảm đương nhiệm vụ hợp nhất và tổng hợp. Thời kỳ này đã được gọi một cách huyền bí là “thời đại phục hồi những gì đã bị phá vỡ bởi sự sa ngã”. Thời điểm đã đến khi các phần riêng rẽ có thể được tái hợp nhất, và toàn thể lại đứng cùng nhau trong sự hoàn thiện ban đầu của nó.
|
|
The religious groups have likewise been many, —so many that their enumeration is hopeless. We have the groups of Catholic mystics who are the glory of the occident, there are also the protesting Lutherans, Calvinists and Methodists, the Pilgrim Fathers—those sour and earnest men—the Huguenot and Moravian martyrs, and the thousands of modern sects in every group. These have all served their purpose and have led man to the [410] point of revolt and away from acquiescence in authority. They have driven man to the stage of thinking for himself by the force of their unique example. They stood for freedom and the personal right to know.
|
Các nhóm tôn giáo cũng nhiều như vậy—nhiều đến mức không thể liệt kê. Chúng ta có các nhóm nhà thần bí Công giáo, vốn là vinh quang của phương Tây; cũng có các tín đồ Tin Lành Luther, Calvin và Methodist, các Giáo phụ Hành hương—những con người khắc khổ và nghiêm nghị ấy—các tử đạo Huguenot và Moravia, cùng hàng ngàn giáo phái hiện đại trong mỗi nhóm. Tất cả những nhóm này đã phụng sự mục đích của mình và đã dẫn con người đến [410] điểm nổi dậy, rời khỏi sự phục tùng uy quyền. Họ đã đẩy con người đến giai đoạn tự suy nghĩ bằng sức mạnh của tấm gương độc đáo của họ. Họ đứng về tự do và quyền cá nhân được biết.
|
|
These latter groups have acted largely under the influence of the sixth and second rays. The cultural emerged under that of the fourth ray, whilst the first ray has impelled the political activities which have brought such changes in the nations. Under the fifth and third ray impulses, groups of scientific investigators have arisen, working with the forces and energies that constitute the divine Life, dealing with the outer garment of God, searching from without towards the within, and demonstrating to man his essential unity with all creation and his relationship, intrinsic and vital, with all forms of life. The names of the individuals in any group are legion and of relatively no importance. It is the group and its interrelated work that counts. It is interesting to note that in the scientific group the underlying unity is particularly noticeable, for its members are singularly free from sectarianism and selfish competition. This cannot be said of the religious and political groups.
|
Các nhóm sau này phần lớn đã hoạt động dưới ảnh hưởng của cung sáu và cung hai. Nhóm văn hóa xuất hiện dưới ảnh hưởng của cung bốn, trong khi cung một đã thúc đẩy các hoạt động chính trị đem lại những thay đổi như thế trong các quốc gia. Dưới các xung lực cung năm và cung ba, các nhóm nhà nghiên cứu khoa học đã trỗi dậy, làm việc với các mãnh lực và năng lượng cấu thành Sự sống thiêng liêng, bàn đến lớp áo bên ngoài của Thượng đế, tìm kiếm từ bên ngoài hướng vào bên trong, và chứng minh cho con người sự hợp nhất thiết yếu của y với toàn thể sáng tạo, cũng như mối liên hệ nội tại và thiết yếu của y với mọi hình tướng sự sống. Tên tuổi của các cá nhân trong bất cứ nhóm nào cũng vô số và tương đối không quan trọng. Chính nhóm và công việc liên hệ lẫn nhau của nó mới là điều đáng kể. Thật thú vị khi lưu ý rằng trong nhóm khoa học, sự hợp nhất nền tảng đặc biệt rõ rệt, vì các thành viên của nó đặc biệt tự do khỏi tinh thần giáo phái và cạnh tranh ích kỷ. Điều này không thể nói về các nhóm tôn giáo và chính trị.
|
|
In relation to the many nations and the myriads of men on earth, these moulding groups under the various divisions are few in number. Their personnel, their contribution to the growth of human expression, and their place in the plan can quite easily be traced. The point to be emphasised is that these have all been motivated from the inner subjective side of life; they have come forth under a divine urge and with a specific work to accomplish; they have all been composed in the primary stage of disciples and initiates of the lesser degrees; they have all been subjectively guided step by step by their own souls, which have, in their turn, been cooperating consciously with the Hierarchy of Knowers. This has [411] been the case even when the individual man has been totally unaware himself or his place in the group and that group’s divine mission. Let it be remembered also that there has not been a single failure, though again and again the individual has not been cognisant of success. The mark of these workers is that they build for posterity. That those who have followed them have failed, and that those who have responded to this work have not been true to the ideal is disastrously true, but the initial group has uniformly achieved. This surely negates pessimism and demonstrates the exceeding potency of the subjective activity.
|
Liên quan đến nhiều quốc gia và vô số con người trên Trái Đất, các nhóm định hình này dưới nhiều phân ngành khác nhau là ít về số lượng. Nhân sự của họ, đóng góp của họ cho sự tăng trưởng của biểu hiện nhân loại, và vị trí của họ trong Thiên Cơ đều có thể được truy nguyên khá dễ dàng. Điểm cần được nhấn mạnh là tất cả các nhóm này đều đã được thúc đẩy từ phương diện nội tại chủ quan của sự sống; họ đã xuất hiện dưới một xung lực thiêng liêng và với một công việc chuyên biệt phải hoàn thành; trong giai đoạn đầu, tất cả họ đều gồm các đệ tử và điểm đạo đồ thuộc các cấp thấp hơn; tất cả họ đều được hướng dẫn một cách nội tại, từng bước một, bởi chính linh hồn của họ, những linh hồn ấy đến lượt mình đã hợp tác có ý thức với Thánh Đoàn các Thức giả. Điều này [411] vẫn đúng ngay cả khi cá nhân con người hoàn toàn không tự biết về chính mình, về vị trí của mình trong nhóm, hay về sứ mệnh thiêng liêng của nhóm ấy. Cũng cần nhớ rằng không hề có một thất bại nào, dù hết lần này đến lần khác cá nhân không nhận biết thành công. Dấu hiệu của những người hoạt động này là họ xây dựng cho hậu thế. Việc những người đi theo họ đã thất bại, và những người đáp ứng công việc này đã không trung thành với lý tưởng, là điều tai hại nhưng đúng; tuy nhiên nhóm ban đầu thì luôn luôn thành tựu. Chắc chắn điều này phủ nhận chủ nghĩa bi quan và chứng minh quyền năng vượt trội của hoạt động nội tại.
|
|
The three groups to which I earlier referred require a word of comment. Their work is curiously different to that of the other groups and their ranks are recruited from all the ray groups, though the members of the third group (that of the financiers) are found primarily upon the seventh ray, that of ceremonial organisation. In the order of their emergence, they are the groups of philosophers, psychologists and business men.
|
Ba nhóm mà tôi đã nhắc đến trước đó cần một lời nhận xét. Công việc của họ khác biệt một cách lạ lùng với công việc của các nhóm khác, và hàng ngũ của họ được tuyển mộ từ mọi nhóm cung, dù các thành viên của nhóm thứ ba, tức nhóm các nhà tài chính, chủ yếu được tìm thấy trên cung bảy, cung của tổ chức nghi lễ. Theo thứ tự xuất hiện của họ, đó là các nhóm triết gia, nhà tâm lý học và doanh nhân.
|
|
The group of philosophers of more modern date are already powerfully moulding thought, whilst the ancient schools of Asiatic philosophers are just beginning to influence western ideas. Through analysis, correlation and synthesis, the thought power of man is developed and the abstract mind can be unified with the concrete. Through their work therefore that interesting sensitivity of man, with its three outstanding characteristics of instinct, intellect and intuition is brought to a condition of intelligent coordination. Instinct relates man to the animal world, intellect unites him to his fellow men, whilst the intuition reveals to him the life of divinity. All these three are the subject matter of philosophical investigation, for the theme of the philosophers is the nature of reality and the means of knowledge.
|
Nhóm các triết gia thuộc thời hiện đại hơn đã và đang định hình tư tưởng một cách mạnh mẽ, trong khi các trường phái cổ xưa của các triết gia Á châu chỉ mới bắt đầu ảnh hưởng đến tư tưởng phương Tây. Qua phân tích, tương quan và tổng hợp, quyền năng tư tưởng của con người được phát triển, và trí trừu tượng có thể được hợp nhất với trí cụ thể. Do đó, qua công việc của họ, sự nhạy cảm thú vị ấy của con người, với ba đặc tính nổi bật là bản năng, trí năng và trực giác, được đưa vào một trạng thái phối hợp thông minh. Bản năng liên hệ con người với giới động vật, trí năng hợp nhất y với đồng loại, trong khi trực giác mặc khải cho y sự sống của thiên tính. Cả ba điều này đều là đối tượng của nghiên cứu triết học, vì chủ đề của các triết gia là bản chất của thực tại và các phương tiện của tri thức.
|
|
The two most modern groups are the psychologists [412] who work under the Delphic injunction “Man, know thyself”, and the financiers who are the custodians of the means whereby man can live upon the physical plane. These two groups necessarily, and in spite of apparent divergences and differences are more synthetic in their foundational aspects, than any of the others. One group concerns itself with mankind, with the varying types of humanity the mechanism employed, and man’s urges, characteristics, and with the purpose—apparent or hidden—of his being. The other group controls and orders the means whereby he exists, controlling all that can be converted into energy and constituting a dictatorship over all modes of intercourse, commerce and exchange. They control the multiplicity of form-objects which modern man regards as essential to his mode of life. Money, as I have before said, is only crystallised energy or vitality, —what the oriental student calls pranic energy. It is a concretisation of etheric force. It is therefore vital energy externalised, and this form of energy is under the direction of the financial group. They are the latest group in point of date, and their work (it should be borne in mind) is most definitely planned by the Hierarchy. They are bringing about effects upon the earth which are most far reaching.
|
Hai nhóm hiện đại nhất là các nhà tâm lý học [412], những người làm việc dưới huấn lệnh Delphi: “Hỡi con người, hãy tự biết mình”, và các nhà tài chính, những người giữ gìn các phương tiện nhờ đó con người có thể sống trên cõi hồng trần. Hai nhóm này tất yếu, và bất chấp những dị biệt cùng khác biệt bề ngoài, có tính tổng hợp trong các phương diện nền tảng hơn bất cứ nhóm nào khác. Một nhóm quan tâm đến nhân loại, đến các kiểu loại khác nhau của con người, đến bộ máy được sử dụng, đến các thôi thúc, đặc tính của con người, và đến mục đích—hiển lộ hay ẩn tàng—của sự hiện hữu của y. Nhóm kia kiểm soát và sắp đặt các phương tiện nhờ đó y tồn tại, kiểm soát tất cả những gì có thể chuyển thành năng lượng và thiết lập một nền độc tài trên mọi phương thức giao tiếp, thương mại và trao đổi. Họ kiểm soát vô số đối tượng hình tướng mà con người hiện đại xem là thiết yếu đối với lối sống của mình. Như Tôi đã nói trước đây, tiền chỉ là năng lượng hay sinh lực đã kết tinh—điều mà đạo sinh phương Đông gọi là năng lượng prana. Nó là sự cụ thể hóa của mãnh lực dĩ thái. Do đó, nó là năng lượng sống đã ngoại hiện, và hình thức năng lượng này nằm dưới sự chỉ đạo của nhóm tài chính. Họ là nhóm mới nhất xét theo thời điểm xuất hiện, và công việc của họ, cần ghi nhớ điều này, được Thánh Đoàn hoạch định một cách hết sức rõ ràng. Họ đang tạo ra trên Trái Đất những hiệu quả có tầm ảnh hưởng sâu rộng nhất.
|
|
Now that centuries have elapsed since the conclave in the sixteenth century, these external groups have played their part and performed most notable service. The results achieved have reached a stage where they are internationally effective, and their influence is not confined to one nation or race. The Hierarchy is now faced with another situation which requires careful handling. They must gather up and weld together the various threads of influencing energy and the differing trends of thought power which the work of the groups since the year 1500 has produced. They have also now to offset some of the effects which are tending towards a further differentiation. [413] This must inevitably be so when force is brought into contact with the material world. Initial impulses have in them potency both for good and for evil. As long as the form remains of secondary importance and relatively negligible, we call it good. Then the idea and not its expression controls. As time elapses and the energy of the thought makes its impact upon matter and lesser minds seize upon the particular type of energy or are vitalised by it, then evil begins to make its presence felt. This finally demonstrates as selfishness, separateness, pride and those characteristics which have produced so much harm in the world.
|
Nay, khi nhiều thế kỷ đã trôi qua kể từ mật nghị vào thế kỷ mười sáu, các nhóm bên ngoài này đã đóng vai trò của mình và đã thực hiện sự phụng sự hết sức đáng kể. Những kết quả đạt được đã đến một giai đoạn mà chúng có hiệu lực quốc tế, và ảnh hưởng của chúng không còn giới hạn trong một quốc gia hay một nhân loại nào. Thánh Đoàn giờ đây đối diện với một tình thế khác đòi hỏi phải xử lý cẩn trọng. Các Ngài phải gom lại và hàn gắn với nhau những sợi dây khác nhau của năng lượng ảnh hưởng, cùng những khuynh hướng khác nhau của quyền năng tư tưởng mà công việc của các nhóm từ năm 1500 đã tạo ra. Các Ngài cũng phải hóa giải một số hiệu quả hiện đang có khuynh hướng dẫn đến sự biến phân xa hơn. [413] Điều này tất yếu phải như vậy khi mãnh lực được đưa vào tiếp xúc với thế giới vật chất. Những xung lực ban đầu chứa trong chúng quyền năng vừa hướng thiện vừa hướng ác. Chừng nào hình tướng vẫn còn giữ vị trí thứ yếu và tương đối không đáng kể, chúng ta gọi điều đó là thiện. Khi ấy ý tưởng, chứ không phải biểu hiện của nó, nắm quyền kiểm soát. Khi thời gian trôi qua và năng lượng của tư tưởng tác động lên vật chất, và những thể trí thấp hơn nắm lấy loại năng lượng đặc thù ấy hoặc được nó tiếp sinh lực, thì sự ác bắt đầu khiến sự hiện diện của nó được cảm nhận. Cuối cùng điều này biểu hiện thành tính ích kỷ, sự chia rẽ, kiêu hãnh và những đặc tính đã gây quá nhiều tai hại trong thế giới.
|
|
About seventeen years ago the Masters met and came to a momentous decision. Just as it had been decided at the earlier conclave to gather out of the inchoate masses of men, groups of workers along various lines, and set them the task of elevating humanity and expanding the human consciousness, so now it was felt wise to gather out of the many groups, a group which should contain (as does the Hierarchy itself) men of all races, of all types and tendencies. This group has a specific mission, and some of the facts about it might be stated as follows:
|
Khoảng mười bảy năm trước, các Chân sư đã nhóm họp và đi đến một quyết định trọng đại. Cũng như trong mật nghị trước kia đã quyết định rút ra từ những khối quần chúng còn hỗn độn của nhân loại các nhóm người hoạt động theo nhiều đường lối khác nhau, và giao cho họ nhiệm vụ nâng cao nhân loại cũng như mở rộng tâm thức con người, thì nay các Ngài thấy rằng nên rút ra từ nhiều nhóm một nhóm có thể bao gồm, như chính Thánh Đoàn, những người thuộc mọi nhân loại, mọi kiểu loại và khuynh hướng. Nhóm này có một sứ mệnh đặc thù, và một số sự kiện về nhóm ấy có thể được nêu như sau:
|
|
It is first of all an attempt at an externalisation of the Hierarchy upon the physical plane, or a small working replica of this essentially subjective body. Its members are all in physical bodies but must work entirely subjectively, thus utilising the inner subjective apparatus and the intuition. It is to be composed of men and women of all nations and ages, but each one must be spiritually oriented, all must be conscious servers, all must be mentally polarised and alert, and all must be inclusive.
|
Trước hết, đó là một nỗ lực nhằm ngoại hiện Thánh Đoàn trên cõi hồng trần, hay là một bản sao nhỏ đang hoạt động của đoàn thể vốn thiết yếu mang tính chủ quan này. Các thành viên của nhóm đều ở trong thể xác nhưng phải làm việc hoàn toàn trên bình diện chủ quan, do đó sử dụng bộ máy chủ quan bên trong và trực giác. Nhóm này phải được cấu thành bởi những người nam và nữ thuộc mọi quốc gia và mọi lứa tuổi, nhưng mỗi người phải có định hướng tinh thần; tất cả phải là những người phụng sự có ý thức, tất cả phải phân cực trí tuệ và tỉnh thức, và tất cả phải bao gồm.
|
|
One of the essential conditions imposed upon the personnel of the group is that they must be willing to work without recognition, on the subjective levels. They must work behind the scenes as do the Great Ones. Its members [414] therefore must be free from all taint of ambition, and from all pride of race and of accomplishment. They must be also sensitively aware of their fellowmen and of their thoughts and conditioning environment.
|
Một trong những điều kiện thiết yếu được đặt ra cho nhân sự của nhóm là họ phải sẵn lòng làm việc mà không cần được công nhận, trên các cấp độ chủ quan. Họ phải làm việc phía sau hậu trường như các Đấng Cao Cả vẫn làm. Do đó, các thành viên của nhóm [414] phải thoát khỏi mọi vết nhơ của tham vọng, cũng như mọi kiêu hãnh về nhân loại và thành tựu. Họ cũng phải nhạy bén nhận biết đồng loại, tư tưởng của đồng loại và môi trường tác động lên họ.
|
|
It is a group that has no exoteric organisation of any kind, no headquarters, no publicity, no group name. It is a band of obedient workers and servers of the WORD—obedient to their own souls and to group need. All true servers everywhere therefore belong to this group, whether their line of service is cultural, political, scientific, religious, philosophical, psychological or financial. They constitute part of the inner group of workers for humanity, and of the world mystics, whether they know it or not. They will be thus recognised by their fellow group members when contacted in the casual ways of world intercourse.
|
Đó là một nhóm không có bất kỳ tổ chức ngoại môn nào, không có trụ sở, không có quảng bá, không có tên nhóm. Đó là một đoàn thể gồm những người hoạt động và phụng sự vâng phục LINH TỪ—vâng phục linh hồn của chính họ và nhu cầu của nhóm. Vì vậy, mọi người phụng sự chân chính ở khắp nơi đều thuộc về nhóm này, dù đường lối phụng sự của họ là văn hóa, chính trị, khoa học, tôn giáo, triết học, tâm lý hay tài chính. Họ cấu thành một phần của nhóm người hoạt động bên trong cho nhân loại, và của các nhà thần bí thế giới, dù họ biết điều đó hay không. Họ sẽ được các thành viên đồng nhóm nhận ra khi tiếp xúc trong những cách thức giao lưu thông thường của thế gian.
|
|
This group gives to the word “spiritual” a wide significance; they believe it to mean an inclusive endeavour towards human betterment, uplift and understanding; they give it the connotation of tolerance, international synthetic communion, religious inclusiveness, and all trends of thought which concern the esoteric development of the human being.
|
Nhóm này gán cho từ “tinh thần” một thâm nghĩa rộng; họ tin rằng nó hàm ý một nỗ lực bao gồm hướng tới sự cải thiện, nâng cao và thấu hiểu con người; họ gán cho nó sắc thái của lòng khoan dung, sự hiệp thông tổng hợp quốc tế, tính bao gồm tôn giáo, và mọi khuynh hướng tư tưởng liên quan đến sự phát triển huyền bí của con người.
|
|
It is a group therefore without a terminology or Bible of any kind; it has no creed nor any dogmatic formulations of truth. The motivating impulse of each and all is love of God as it works out in love for one’s fellow man. They know the true meaning of brotherhood, without distinction of race. Their lives are lives of willing service, rendered with utter selflessness and without any reservations.
|
Do đó, đó là một nhóm không có thuật ngữ hay kinh điển thuộc bất kỳ loại nào; nhóm không có tín điều cũng không có bất cứ công thức giáo điều nào về chân lý. Xung lực thúc đẩy từng người và tất cả là tình thương đối với Thượng đế khi nó biểu lộ thành tình thương đối với đồng loại. Họ biết ý nghĩa đích thực của tình huynh đệ, không phân biệt nhân loại. Đời sống của họ là đời sống phụng sự tự nguyện, được thực hiện với sự vô ngã hoàn toàn và không chút dè giữ.
|
|
The personnel of the group is known only to the Elder Brothers of the race, and no register of names is kept, and there are only three main requirements:
|
Nhân sự của nhóm chỉ được các Huynh Trưởng của nhân loại biết đến; không có sổ ghi danh, và chỉ có ba yêu cầu chính:
|
|
1. A certain amount of at-one-ment between the soul and its mechanism is essential, and that inner triplicity, [415] usually dormant in the majority, of soul-mind-brain must be in alignment and active.
|
1. Một mức độ nhất thể hóa nào đó giữa linh hồn và bộ máy của nó là thiết yếu, và bộ ba bên trong, [415] thường còn ngủ yên nơi đa số, gồm linh hồn-thể trí-bộ não, phải được chỉnh hợp và hoạt động.
|
|
2. The brain has to be telepathically sensitive in two directions and at will. It must be aware of the world of souls and also of the world of men.
|
2. Bộ não phải nhạy cảm viễn cảm theo hai hướng và theo ý chí. Nó phải nhận biết thế giới của các linh hồn và cả thế giới của con người.
|
|
3. There must also exist a capacity for abstract or synthetic thought. This will enable a man to leap over racial and religious barriers. When this is present also there is an assured belief in the continuity of life and its correlation to the life after death.
|
3. Cũng phải có năng lực tư duy trừu tượng hay tổng hợp. Điều này sẽ giúp con người vượt qua các rào cản nhân loại và tôn giáo. Khi năng lực này hiện diện, cũng có một niềm tin chắc chắn vào tính liên tục của sự sống và mối tương quan của nó với đời sống sau khi chết.
|
|
To sum up the situation, it must be noted that the groups in the past have stood for certain aspects of truth and have demonstrated certain ray characteristics. The new group will express all the aspects and have in it members on all the rays. The majority of the workers in the many groups have carried forward certain details of the plan, and added their quota of energy to the forward urge of humanity, but they have for the most part done this without any true understanding of what they were accomplishing, and without any real comprehension of that body-soul relationship which leads to really intelligent work, unless we except a few prominent mystics such as Meister Eckhart. They have been primarily groups of personalities, with that added touch of genius which indicates a certain contact with the soul. The group that is now in process of formation is composed of those who are aware of the fact of the soul, and have established a soul intercourse that is real and lasting; they look upon the mind, emotions and body nature as simply an equipment whereby human contacts can be established, and their work, as they see it, is to be carried forward through the medium of this equipment, acting under the direction of the soul. They are therefore living souls, working through personalities, and not personalities actuated by occasional soul impulses. The members of the many groups were all somewhat one-sided [416] and their talents ran along some specific line. They demonstrated a capacity to write as Shakespeare, to paint like a da Vinci, to produce musical masterpieces like a Beethoven, or to bring about world changes like a Napoleon. But the new type of group worker is a rounded out individual, with a capacity to do almost anything to which he sets his hand, but with a basic impulse to work on thought levels more than on the physical plane. He is therefore of use to the Hierarchy as he can be used in a variety of ways, for his flexibility and experience, and his stability of contact can be all subordinated to the group requirements.
|
Tóm lại tình thế, cần lưu ý rằng các nhóm trong quá khứ đã đại diện cho một số phương diện của chân lý và đã biểu hiện một số đặc tính cung. Nhóm mới sẽ biểu lộ mọi phương diện và có trong đó các thành viên thuộc mọi cung. Phần lớn những người hoạt động trong nhiều nhóm đã đưa tới trước một số chi tiết của Thiên Cơ, và đã thêm phần năng lượng của họ vào xung lực tiến tới của nhân loại; nhưng phần lớn họ đã làm điều này mà không có sự thấu hiểu chân chính về điều họ đang hoàn thành, và không có sự lĩnh hội thật sự về mối quan hệ giữa thể và linh hồn vốn dẫn đến công việc thật sự sáng suốt, trừ khi chúng ta loại ra một vài nhà thần bí nổi bật như Meister Eckhart. Về căn bản, họ là những nhóm phàm ngã, với thêm nét chạm của thiên tài cho thấy một tiếp xúc nào đó với linh hồn. Nhóm hiện đang trong tiến trình hình thành được cấu thành bởi những người nhận biết sự kiện về linh hồn, và đã thiết lập một sự giao lưu linh hồn có thật và bền vững; họ xem thể trí, cảm xúc và bản chất thể xác chỉ như một trang bị nhờ đó có thể thiết lập các tiếp xúc nhân loại, và công việc của họ, như họ nhìn thấy, phải được đưa tới trước thông qua phương tiện của trang bị này, hoạt động dưới sự chỉ đạo của linh hồn. Do đó, họ là những linh hồn sống, làm việc thông qua các phàm ngã, chứ không phải những phàm ngã được thúc đẩy bởi những xung lực linh hồn thỉnh thoảng xuất hiện. Các thành viên của nhiều nhóm trước kia đều có phần phiến diện [416] và tài năng của họ chạy theo một đường lối đặc thù nào đó. Họ biểu hiện năng lực viết như Shakespeare, vẽ như da Vinci, tạo ra những kiệt tác âm nhạc như Beethoven, hoặc đem lại những biến đổi thế giới như Napoleon. Nhưng kiểu người hoạt động nhóm mới là một cá nhân toàn diện, có năng lực làm hầu như bất cứ việc gì mà y bắt tay vào, nhưng với xung lực căn bản là làm việc trên các cấp độ tư tưởng hơn là trên cõi hồng trần. Do đó, y hữu dụng đối với Thánh Đoàn vì y có thể được sử dụng theo nhiều cách khác nhau; tính linh hoạt, kinh nghiệm và sự ổn định trong tiếp xúc của y đều có thể được đặt dưới các yêu cầu của nhóm.
|
|
The true exponent of this new group type will of course not appear for many decades. He will be a true Aquarian with a universal touch, an intense sensitivity, a highly organised mental apparatus, an astral equipment which is primarily responsive to the higher spiritual vibrations, a powerful and controlled energy body, and a sound physical body, though not robust in the ordinary use of the term.
|
Dĩ nhiên, người biểu đạt chân chính của kiểu nhóm mới này sẽ chưa xuất hiện trong nhiều thập kỷ. Y sẽ là một người Bảo Bình đích thực với một nét phổ quát, một sự nhạy bén mãnh liệt, một bộ máy trí tuệ được tổ chức cao, một trang bị cảm dục chủ yếu đáp ứng với các rung động tinh thần cao hơn, một thể năng lượng mạnh mẽ và được kiểm soát, cùng một thể xác lành mạnh, dù không cường tráng theo nghĩa thông thường của từ này.
|
|
What then is the present situation in connection with the integrating group of mystics? Let me be somewhat explicit.
|
Vậy tình thế hiện nay liên quan đến nhóm các nhà thần bí đang tích hợp là gì? Hãy để Tôi trình bày khá rõ ràng.
|
|
In every European country, in the United States of America, and in parts of Asia and South Africa are to be found certain disciples, usually unrecognised in the world at large, who are thinking truth. Let me call your attention to that phrase. The most important workers in this new group and those who are closest to the Great Ones are those whose daily thought life is oriented by the new ideal. That this thought life of theirs may work out in definite esoteric activities may be true, but they are first of all and always those who live in and work from the “high and secret place”. Their influence is wielded silently and quietly and they lay no emphasis upon their personalities, upon their own views and ideas, [417] or upon their methods of carrying forward the work. These possess a full realisation of their own limitations, but are not handicapped thereby, but proceed to think through into objective manifestation that aspect of the vision which it is their mission to vivify into form. They are necessarily cultured and widely read, for in these difficult transitional times they have to cultivate a world grasp of conditions and possess a general idea of what is going on in the different countries. They possess in truth no nationality in the sense that they regard their country and their political affiliations as of paramount importance. They are equipped to organise, slowly and steadily, that public opinion which will eventually divorce man from religious sectarianism, national exclusiveness, and racial biases.
|
Ở mỗi quốc gia châu Âu, tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, và tại một số vùng của châu Á và Nam Phi, có thể tìm thấy một số đệ tử, thường không được thế giới rộng lớn công nhận, đang suy tư chân lý. Hãy để Tôi lưu ý các bạn đến cụm từ ấy. Những người hoạt động quan trọng nhất trong nhóm mới này, và những người gần gũi nhất với các Đấng Cao Cả, là những người mà đời sống tư tưởng hằng ngày được định hướng bởi lý tưởng mới. Đời sống tư tưởng ấy của họ có thể biểu lộ thành những hoạt động huyền bí rõ rệt; điều đó có thể đúng, nhưng trước hết và luôn luôn, họ là những người sống trong và làm việc từ “nơi cao cả và kín nhiệm”. Ảnh hưởng của họ được vận dụng âm thầm và lặng lẽ, và họ không nhấn mạnh vào phàm ngã của mình, vào quan điểm và ý tưởng riêng của mình, [417] hay vào các phương pháp đưa công việc tiến tới. Những người này có sự nhận biết đầy đủ về các giới hạn của chính mình, nhưng không bị chúng làm trở ngại; họ tiếp tục suy tư để đưa vào biểu hiện khách quan phương diện của tầm nhìn mà sứ mệnh của họ là tiếp sinh lực cho nó thành hình tướng. Tất yếu họ phải có văn hóa và đọc rộng, vì trong những thời kỳ chuyển tiếp khó khăn này, họ phải vun bồi một sự nắm bắt toàn cầu về các tình trạng và có một ý niệm tổng quát về những gì đang diễn ra trong các quốc gia khác nhau. Thật ra, họ không có quốc tịch theo nghĩa xem đất nước và các liên kết chính trị của mình là điều quan trọng bậc nhất. Họ được trang bị để tổ chức, chậm rãi và vững chắc, dư luận công chúng vốn cuối cùng sẽ tách con người khỏi óc giáo phái tôn giáo, tính biệt lập quốc gia và các thiên kiến nhân loại.
|
|
One by one, here and there they are being gathered out and are gathering to them those who are free from the limitations of past political, religious and cultural theories. They, the members of the one group, are organising these forward looking souls into groups which are destined to bring in the new era of peace and of good will. These latter who are being influenced by the group members are as yet only a few thousands among the millions of men, and out of the four hundred accepted disciples working in the world at this time, only about 156 are equipped by their thought activity to form part of this slowly forming group. These constitute the nucleus of what will be some day a dominant force. During the next twenty-five years their influence will become potent enough to attract political attention, provided those of you who have seen the vision of a powerful subjective body of thinking Souls can speak the needed words, and outline those concepts which will hasten the work of integration, and put the units in this group in touch with one another. Do your utmost to see that this is done and [418] make this the message and keynote of the work you all do wherever you are.
|
Từng người một, ở đây và ở đó, họ đang được rút ra và đang thu hút về mình những người thoát khỏi các giới hạn của những lý thuyết chính trị, tôn giáo và văn hóa trong quá khứ. Họ, các thành viên của nhóm duy nhất, đang tổ chức những linh hồn hướng về tương lai này thành các nhóm được định sẵn để đưa vào kỷ nguyên mới của hòa bình và thiện chí. Những người sau này, đang chịu ảnh hưởng của các thành viên nhóm, hiện vẫn chỉ là vài nghìn người giữa hàng triệu người; và trong số bốn trăm đệ tử được chấp nhận đang làm việc trong thế giới vào lúc này, chỉ khoảng một trăm năm mươi sáu người được trang bị bằng hoạt động tư tưởng của họ để trở thành một phần của nhóm đang hình thành chậm rãi này. Họ cấu thành hạt nhân của điều một ngày kia sẽ là một mãnh lực chi phối. Trong hai mươi lăm năm tới, ảnh hưởng của họ sẽ trở nên đủ mạnh để thu hút sự chú ý chính trị, với điều kiện những ai trong các bạn đã thấy tầm nhìn về một đoàn thể chủ quan mạnh mẽ gồm các Linh hồn biết suy tư có thể nói ra những lời cần thiết, và phác họa những khái niệm sẽ thúc đẩy công việc tích hợp, đồng thời đặt các đơn vị trong nhóm này tiếp xúc với nhau. Hãy làm hết sức mình để thấy rằng điều này được thực hiện, và [418] hãy biến điều này thành thông điệp và chủ âm của công việc mà tất cả các bạn thực hiện, bất cứ ở đâu.
|
|
What should therefore be the work of the immediate present? Let me outline the programme as far as I can.
|
Vậy công việc của hiện tại trước mắt phải là gì? Hãy để Tôi phác thảo chương trình trong mức độ Tôi có thể.
|
|
The first thing to be done is to strengthen the ties and establish firmly the link between yourselves and all those whom you recognise as possible working disciples in the new group. To do this, acquaint yourselves with the work of the leaders of groups in the various countries of the world—such as Switzerland, the United States, Holland, Germany and Great Britain. From their reaction to the vision of this new age type of work you can then make a temporary decision. Watch them at their work. Note the emphasis laid by them upon personalities. If personal ambition seems to govern their activities, if their position is one of a determination to work in the group of mystics because of its novelty or because it gives them a certain standing or because it intrigues their imagination or gives them scope for gathering people around them, then proceed no further, but—preserving silence—leave time and the law to correct their attitude.
|
Điều đầu tiên cần làm là củng cố các mối dây và thiết lập vững chắc liên kết giữa chính các bạn với tất cả những người mà các bạn nhận ra là những đệ tử hoạt động khả hữu trong nhóm mới. Để làm điều này, hãy làm quen với công việc của các nhà lãnh đạo nhóm tại các quốc gia khác nhau trên thế giới—như Thụy Sĩ, Hoa Kỳ, Hà Lan, Đức và Anh. Từ phản ứng của họ đối với tầm nhìn về kiểu công việc của kỷ nguyên mới này, các bạn có thể đưa ra một quyết định tạm thời. Hãy quan sát họ trong công việc. Hãy ghi nhận sự nhấn mạnh mà họ đặt lên phàm ngã. Nếu tham vọng cá nhân dường như chi phối các hoạt động của họ, nếu lập trường của họ là quyết tâm làm việc trong nhóm các nhà thần bí vì tính mới lạ của nó, hoặc vì nó đem lại cho họ một địa vị nào đó, hoặc vì nó kích thích sự tưởng tượng của họ, hoặc cho họ phạm vi để quy tụ người khác quanh mình, thì đừng tiến xa hơn; nhưng—giữ im lặng—hãy để thời gian và định luật sửa chữa thái độ của họ.
|
|
Secondly, be receptive towards those who seek you out and seem to vibrate to the same note. When I say you, I mean the group to which you all subjectively belong. They will come if you work with decision and sound out the note of unity so clearly that they are in no doubt as to your motives and your disinterested activity. Some of the 156 who form the present nucleus will be known to you and will work in unison with you, though maybe not in your peculiar field of action.
|
Thứ hai, hãy tiếp nhận những người tìm đến các bạn và dường như rung động cùng một âm điệu. Khi Tôi nói “các bạn”, Tôi muốn nói đến nhóm mà tất cả các bạn thuộc về một cách chủ quan. Họ sẽ đến nếu các bạn làm việc với sự quyết đoán và xướng lên âm điệu hiệp nhất rõ ràng đến mức họ không còn nghi ngờ gì về động cơ và hoạt động vô tư của các bạn. Một số trong một trăm năm mươi sáu người cấu thành hạt nhân hiện tại sẽ được các bạn biết đến và sẽ làm việc hòa hợp với các bạn, dù có thể không trong lĩnh vực hoạt động đặc thù của các bạn.
|
|
The picture to be held before your eyes is that of a vast network of groups, working along the many possible lines, but having at their heart or behind them—working silently and persistently influencing through soul contact—one or more members of the new slowly emerging [419] group. These focal points through which the Hierarchy is now seeking to work stand together telepathically and exoterically they must work in the completest understanding, preserving always an attitude of non-interference, and leaving each worker free to teach his own group as he sees fit. The terms used, the methods employed, the types reached, the truths taught, the discipline of life demonstrated concern no one but the working disciple.
|
Hình ảnh cần được giữ trước mắt các bạn là hình ảnh một mạng lưới rộng lớn gồm các nhóm, hoạt động theo nhiều đường lối khả hữu, nhưng nơi trung tâm hoặc phía sau họ—làm việc âm thầm và bền bỉ gây ảnh hưởng thông qua tiếp xúc linh hồn—có một hoặc nhiều thành viên của nhóm mới đang chậm rãi xuất hiện [419]. Những tiêu điểm này, qua đó Thánh Đoàn hiện đang tìm cách làm việc, đứng cùng nhau bằng viễn cảm; và trên bình diện ngoại môn, họ phải làm việc trong sự thấu hiểu trọn vẹn nhất, luôn giữ thái độ không can thiệp, và để mỗi người hoạt động được tự do dạy nhóm riêng của mình theo cách y thấy thích hợp. Các thuật ngữ được dùng, các phương pháp được áp dụng, các kiểu người được tiếp cận, các chân lý được dạy, kỷ luật đời sống được biểu hiện—tất cả những điều này không liên quan đến ai ngoài người đệ tử đang hoạt động.
|
|
The members of this group of new age workers will, however, possess certain general characteristics. They will impose no enforced dogmas of any kind, and will lay no emphasis upon any doctrine or authorities. They are not interested in having any personal authority nor do they rest back upon traditional authority, whether religious, scientific, cultural or any other form of imposed truth. Modes of approach to reality will be recognised and each will be free to choose his own. No discipline will be imposed by these workers upon those who seek to cooperate with them. The ideas of any one person or leader as to how the units in his particular sphere of activity should live and work, should meditate and eat, will be regarded as of no special value. The members of this new group work esoterically with souls, and deal not with the details of the personality lives of the aspirants they seek to inspire.
|
Tuy nhiên, các thành viên của nhóm những người hoạt động kỷ nguyên mới này sẽ sở hữu một số đặc tính chung. Họ sẽ không áp đặt bất kỳ giáo điều cưỡng bức nào, và sẽ không nhấn mạnh vào bất kỳ học thuyết hay thẩm quyền nào. Họ không quan tâm đến việc có bất kỳ thẩm quyền cá nhân nào, cũng không dựa vào thẩm quyền truyền thống, dù là tôn giáo, khoa học, văn hóa hay bất kỳ hình thức chân lý áp đặt nào khác. Các phương thức tiếp cận thực tại sẽ được công nhận, và mỗi người sẽ tự do chọn phương thức của riêng mình. Những người hoạt động này sẽ không áp đặt kỷ luật nào lên những người tìm cách cộng tác với họ. Các ý tưởng của bất kỳ cá nhân hay nhà lãnh đạo nào về việc các đơn vị trong lĩnh vực hoạt động riêng của y nên sống và làm việc, nên tham thiền và ăn uống như thế nào, sẽ được xem là không có giá trị đặc biệt. Các thành viên của nhóm mới này làm việc một cách huyền bí với các linh hồn, và không đề cập đến các chi tiết trong đời sống phàm ngã của những người chí nguyện mà họ tìm cách truyền cảm hứng.
|
|
This is a basic rule and will serve to eliminate many worthy aspirants from this group of world servers now in process of forming. The tendency to impose one’s own point of view indicates a lack of understanding and it will rule many out.
|
Đây là một quy luật căn bản và sẽ giúp loại khỏi nhóm những Người Phụng Sự Thế Gian hiện đang hình thành này nhiều người chí nguyện xứng đáng. Khuynh hướng áp đặt quan điểm riêng của mình cho thấy sự thiếu thấu hiểu, và điều đó sẽ loại nhiều người ra ngoài.
|
|
Again, the young and promising aspirants must be sought out and carefully inculcated with the trend of the new ideals. They must be taught to look for the divine and the good in all—both people and circumstances. Breadth of vision must be developed and that [420] wide horizon pointed out which will enable the aspirants to live through this transitional period which is now with us, so that when they reach middle life they will stand as pillars of strength in the new world. Do not narrow them down to the ancient disciplines and teach them not to lay emphasis upon diet, celibacy, times and seasons, and so distract their attention away from the newer and sacred art of being and the wonder of living as a soul.
|
Một lần nữa, cần tìm ra những người chí nguyện trẻ tuổi và đầy hứa hẹn, rồi cẩn thận truyền vào họ khuynh hướng của những lý tưởng mới. Họ phải được dạy tìm kiếm điều thiêng liêng và điều thiện trong tất cả—cả con người lẫn hoàn cảnh. Tầm nhìn rộng phải được phát triển và chân trời [420] rộng lớn ấy phải được chỉ ra, nhờ đó những người chí nguyện có thể sống xuyên qua giai đoạn chuyển tiếp hiện đang ở cùng chúng ta, để khi đến tuổi trung niên, họ sẽ đứng như những trụ cột sức mạnh trong thế giới mới. Đừng thu hẹp họ vào những kỷ luật cổ xưa và đừng dạy họ nhấn mạnh vào chế độ ăn uống, đời sống độc thân, thời điểm và mùa tiết, để rồi làm phân tán sự chú ý của họ khỏi nghệ thuật mới mẻ và thiêng liêng của sự hiện tồn, cũng như khỏi điều kỳ diệu của việc sống như một linh hồn.
|
|
Forget not that when a man is living as a soul and his entire personality is therefore subordinated to that soul, unselfish purpose, purity of life, conformity to law and the setting of a true example of spiritual living will normally and automatically follow. Food, for instance, is frequently a matter of climatic expediency and of taste, and that food is desirable which keeps the physical body in condition to serve the race. Again, a divine son of God can surely function as freely and as effectively when in the married state as in the celibate; he will however brook no prostitution of the powers of the body to the grosser satisfactions, nor will he offend against established custom, nor lower the standard which the world has set for its highest and best. The issues have been confused and the emphasis has been too often laid upon the physical acts and not upon the life of the actor. When the attention is fixed upon the soul, the physical plane life will be rightly handled. It will be realised that there is greater hindrance to the growth of the man in spiritual being through a critical attitude or a state of self satisfaction than by the eating of meat.
|
Đừng quên rằng khi một người đang sống như một linh hồn và toàn thể phàm ngã của y do đó được đặt dưới linh hồn ấy, thì mục đích vô kỷ, sự thanh khiết của đời sống, sự tuân hợp định luật và việc nêu một gương mẫu chân thật về đời sống tinh thần sẽ diễn ra một cách bình thường và tự động. Chẳng hạn, thực phẩm thường là vấn đề thích nghi với khí hậu và khẩu vị, và loại thực phẩm đáng dùng là loại giữ cho thể xác ở trong tình trạng có thể phụng sự nhân loại. Lại nữa, một Con của Thượng đế thiêng liêng chắc chắn có thể hoạt động tự do và hiệu quả trong tình trạng hôn nhân cũng như trong đời sống độc thân; tuy nhiên, y sẽ không dung thứ việc lạm dụng các quyền năng của thể xác vào những thỏa mãn thô trược hơn, cũng sẽ không xúc phạm phong tục đã được thiết lập, hay hạ thấp tiêu chuẩn mà thế giới đã đặt ra cho những gì cao nhất và tốt đẹp nhất. Các vấn đề đã bị lẫn lộn, và sự nhấn mạnh thường quá được đặt lên các hành vi hồng trần chứ không phải lên đời sống của người hành động. Khi sự chú ý được cố định vào linh hồn, đời sống cõi hồng trần sẽ được xử lý đúng đắn. Người ta sẽ nhận ra rằng thái độ phê phán hay trạng thái tự mãn gây trở ngại lớn hơn cho sự tăng trưởng của con người trong hiện tồn tinh thần so với việc ăn thịt.
|
|
Two rules of life activity must be taught the young aspirant:
|
Hai quy luật của hoạt động đời sống phải được dạy cho người chí nguyện trẻ tuổi:
|
|
He must be taught to focus on constructive activity and to refrain from pulling down the old order of living. He must be set to building for the future, and to thinking along the new lines. He must be warned not to waste time in attacking that which is undesirable, but must instead [421] bend all his energies to creating the new temple of the Lord through which the glory may be manifested. In this way public attention will gradually be focussed upon the new and beautiful, and the old established creations will fall into decay for lack of attention and so disappear.
|
Y phải được dạy tập trung vào hoạt động xây dựng và tránh phá đổ trật tự sống cũ. Y phải được đặt vào việc xây dựng cho tương lai và suy tư theo những đường lối mới. Y phải được cảnh báo đừng lãng phí thời gian tấn công những gì không đáng mong muốn, mà thay vào đó phải [421] dồn toàn bộ năng lượng của mình vào việc tạo dựng đền thờ mới của Chúa Tể, qua đó vinh quang có thể được biểu hiện. Bằng cách này, sự chú ý của công chúng sẽ dần dần được tập trung vào cái mới và đẹp đẽ, còn các sáng tạo cũ đã được thiết lập sẽ suy tàn vì thiếu sự chú ý và do đó biến mất.
|
|
He must be taught also that partisanship is in no way a sign of spiritual development. He will not therefore use the words anti this or pro that. Such terms automatically breed hatred and attack, and effort to resist change. They put the user on the defensive. Every class of human beings is a group of brothers. Catholics, Jews, Gentiles, occidentals and orientals are all the sons of God.
|
Y cũng phải được dạy rằng tinh thần phe phái không hề là dấu hiệu của sự phát triển tinh thần. Do đó, y sẽ không dùng các từ chống điều này hay ủng hộ điều kia. Những thuật ngữ như thế tự động sinh ra hận thù và tấn công, cũng như nỗ lực chống lại sự thay đổi. Chúng đặt người sử dụng vào thế phòng thủ. Mọi lớp người đều là một nhóm huynh đệ. Người Công giáo, người Do Thái, người ngoại giáo, người phương Tây và người phương Đông đều là các Con của Thượng đế.
|
|
As regards the future of this world group of which we have been speaking much depends upon two things.
|
Về tương lai của nhóm thế giới này mà chúng ta đã nói nhiều, rất nhiều điều tùy thuộc vào hai điều.
|
|
First, it is necessary for all those isolated disciples working in every country in the world, to become aware of one another and then to enter into telepathic rapport. This may seem to you to be a wonderful but impractical vision. I assure you that this is not so. The work of establishing this rapport may indeed be slow, but it is an inevitable effect of the growing sensitivity of all the souls who are working in the field of the world. The first indication of it is that instinctive recognition of those who constitute part of this group when they meet and contact each other in the ways of world intercourse. There comes to them an immediate flashing forth of the light, an instantaneous electrical interplay, a sudden sensing of a similarity of vision and of objective, or a vital opportunity to aid in and to cooperate with each other in the work in which it is realized that all are interested.
|
Thứ nhất, tất cả những đệ tử cô lập đang làm việc trong mọi quốc gia trên thế giới cần nhận biết lẫn nhau, rồi bước vào mối hòa điệu viễn cảm. Điều này có thể dường như là một tầm nhìn kỳ diệu nhưng không thực tiễn đối với các bạn. Tôi bảo đảm với các bạn rằng không phải vậy. Công việc thiết lập mối hòa điệu này quả thật có thể chậm, nhưng đó là một hiệu quả tất yếu của sự nhạy bén ngày càng tăng nơi tất cả các linh hồn đang làm việc trong lĩnh vực của thế giới. Dấu hiệu đầu tiên của nó là sự nhận biết theo bản năng đối với những người cấu thành một phần của nhóm này khi họ gặp gỡ và tiếp xúc với nhau trong các cách thức giao lưu của thế gian. Nơi họ xuất hiện một sự lóe sáng tức thời, một tương tác điện lực tức khắc, một cảm nhận đột ngột về sự tương đồng trong tầm nhìn và mục tiêu, hoặc một cơ hội sống động để trợ giúp và cộng tác với nhau trong công việc mà họ nhận ra rằng tất cả đều quan tâm.
|
|
Working disciples everywhere when they meet each other will know at once that their work is identical, and will advise with each other as to where cooperation and [422] supplementary endeavour may be possible. In about thirty years the interrelation between the units in this group (scattered as they may be all over the world) will be so close that daily they will meet each other at a set time and in the secret place. This only becomes possible when the triplicity of soul-mind-brain are all aligned in the individual and when each aspect of it can be simultaneously in touch with members of the group. At present all the souls of the group of mystics do work in unison; a number have succeeded in bringing the soul and the mind also into a close and established relation, but as yet the lowest aspect of this aligned and linking triangle, the physical brain, remains totally unresponsive to the waves of force emanating from the higher aspects of the disciples engaged thus in laying the foundations of the new age civilisation.
|
Các đệ tử hoạt động ở khắp nơi, khi gặp nhau, sẽ biết ngay rằng công việc của họ là đồng nhất, và sẽ bàn bạc với nhau xem nơi nào có thể có sự cộng tác và [422] nỗ lực bổ trợ. Trong khoảng ba mươi năm nữa, mối tương quan giữa các đơn vị trong nhóm này, dù họ có thể rải rác khắp thế giới, sẽ gần gũi đến mức hằng ngày họ sẽ gặp nhau vào một thời điểm ấn định và tại nơi kín nhiệm. Điều này chỉ trở nên khả hữu khi bộ ba linh hồn-thể trí-bộ não đều được chỉnh hợp trong cá nhân, và khi mỗi phương diện của bộ ba ấy có thể đồng thời tiếp xúc với các thành viên của nhóm. Hiện nay, tất cả các linh hồn của nhóm các nhà thần bí đều làm việc hòa hợp; một số đã thành công trong việc đưa linh hồn và thể trí vào một mối liên hệ gần gũi và được thiết lập; nhưng cho đến nay, phương diện thấp nhất của tam giác đã chỉnh hợp và liên kết này, tức bộ não hồng trần, vẫn hoàn toàn không đáp ứng với các làn sóng mãnh lực xuất lộ từ các phương diện cao hơn của những đệ tử đang tham gia như vậy vào việc đặt nền móng cho nền văn minh kỷ nguyên mới.
|
|
It is therefore largely a matter of perfecting the mechanism of the brain so that it can rightly register and correctly transmit the soul impressions and the group purposes and recognitions. This involves:
|
Do đó, phần lớn vấn đề là hoàn thiện bộ máy của bộ não để nó có thể ghi nhận đúng đắn và truyền đạt chính xác các ấn tượng của linh hồn, các mục đích và nhận biết của nhóm. Điều này bao gồm:
|
|
1. The awakening into conscious activity of the centre between the eyebrows, called by the oriental student, the ajna centre.
|
1. Đánh thức trung tâm giữa hai chân mày, được đạo sinh phương Đông gọi là trung tâm ajna, vào hoạt động có ý thức.
|
|
2. The subordinating then of the activity of this centre to that of the head centre, so that the two vibrate in unison. This produces the establishment of three things:
|
2. Sau đó, đặt hoạt động của trung tâm này dưới hoạt động của trung tâm đầu, để hai trung tâm rung động hòa hợp. Điều này tạo ra sự thiết lập ba điều:
|
|
a. Direct conscious alignment between soul-mind-brain.
|
a. Sự chỉnh hợp trực tiếp có ý thức giữa linh hồn-thể trí-bộ não.
|
|
b. The appearance of a magnetic field which embraces both the head centres and so definitely affects the pineal gland and the pituitary body.
|
b. Sự xuất hiện của một trường từ tính bao gồm cả hai trung tâm đầu, và do đó tác động rõ rệt lên tuyến tùng và thể tuyến yên.
|
|
c. The recognition of this field of dual activity in two ways: as of a light in the head, an interior radiant sun, or as a dynamic centre of energy [423] through which the will or purpose aspect of the soul can make itself felt.
|
c. Sự nhận biết trường hoạt động kép này theo hai cách: như một ánh sáng trong đầu, một mặt trời rạng rỡ bên trong, hoặc như một trung tâm năng lượng năng động [423] qua đó phương diện ý chí hay mục đích của linh hồn có thể khiến chính nó được cảm nhận.
|
|
3. The development of a facility which will enable a man to:
|
3. Sự phát triển một khả năng sẽ cho phép con người:
|
|
a. Use the mind in any direction he chooses, turning it externally towards the world of phenomena, or internally towards the world of spiritual being.
|
a. Sử dụng thể trí theo bất kỳ hướng nào y chọn, xoay nó ra bên ngoài về phía thế giới hiện tượng, hoặc vào bên trong về phía thế giới hiện tồn tinh thần.
|
|
b. Produce consciously and at will a corresponding responsiveness in the physical brain, so that it can register accurately any information coming from the physical world, and the emotional or astral world.
|
b. Tạo ra một cách có ý thức và theo ý chí một sự đáp ứng tương ứng trong bộ não hồng trần, để nó có thể ghi nhận chính xác bất kỳ thông tin nào đến từ thế giới hồng trần, và từ thế giới cảm xúc hay cõi cảm dục.
|
|
c. Discriminate intelligently between all these spheres of sentient activity.
|
c. Phân biện một cách sáng suốt giữa tất cả các lĩnh vực hoạt động cảm tri này.
|
|
This will all be eventually covered by a new psychological approach which will emerge out of the old and be a blend of the mechanical schools, the introspective and the more purely oriental position, plus the conclusions of two new schools which will shortly arise but which are as yet too small to warrant a name. They are in the embryo stage. One school will deal with the energy aspects of the individual and his responsiveness to the energy of the universe in which he is immersed; the other will consider man as a unit of electricity. Both will be quite one-sided but the contributions of the various schools will some day be unified into one synthetic presentation.
|
Tất cả điều này cuối cùng sẽ được bao quát bởi một cách tiếp cận tâm lý học mới, vốn sẽ xuất hiện từ cái cũ và là một sự hòa hợp giữa các trường phái cơ giới, trường phái nội quan và lập trường thuần phương Đông hơn, cộng thêm các kết luận của hai trường phái mới sẽ sớm phát sinh nhưng hiện vẫn còn quá nhỏ để đáng được đặt tên. Chúng đang ở giai đoạn phôi thai. Một trường phái sẽ đề cập đến các phương diện năng lượng của cá nhân và sự đáp ứng của y với năng lượng của vũ trụ trong đó y đang được bao bọc; trường phái kia sẽ xem con người như một đơn vị điện lực. Cả hai sẽ khá phiến diện, nhưng những đóng góp của các trường phái khác nhau một ngày kia sẽ được thống nhất thành một trình bày tổng hợp duy nhất.
|
|
The second requirement which will establish relation between the working disciples in this group is the capacity to preserve a constant and sequential recollection of both the inner and the outer life. We call it continuity of consciousness, and by this we mean the power to be fully aware of all happenings in all spheres and departments of man’s being during the entire twenty-four hours of the day. As yet this is far from being the [424] case. There is no real awareness of existence during the hours of sleep. The dream life as related is as full of illusion as any of the more definitely lower psychic experiences. The slowly growing interest in dreams from the standpoint of psychology and the investigation of their probable source are the first weak attempts towards establishing the awareness on a really scientific basis. There is as yet no conscious registering of mental activity during such times, for instance, as when the emotional body holds the centre of the stage. With what is the mind occupied during a long period of emotional upset? It has, we know, its own life and its laws. Again, what are the activities of the soul when the personality is occupied exclusively with its own affairs? Is it impossible for you to vision a time when the development of consciousness will have reached the stage where there will be a sentient reaction in all the departments of man’s nature and all of it recorded by the brain? Already men are aware both of physical plane activity and emotional aliveness simultaneously. That is for the majority a common and ordinary condition. Where two activities can be registered at once, why not three or even four? Such is the future ahead for the race, and the disciples, actively employed, will be the first to express and demonstrate this extended consciousness.
|
Yêu cầu thứ hai sẽ thiết lập mối liên hệ giữa các đệ tử hoạt động trong nhóm này là năng lực duy trì một sự hồi tưởng liên tục và tuần tự về cả đời sống bên trong lẫn bên ngoài. Chúng ta gọi đó là sự liên tục của tâm thức, và bằng điều này chúng ta muốn nói đến quyền năng nhận biết đầy đủ mọi sự kiện trong mọi lĩnh vực và bộ phận của bản thể con người suốt toàn bộ hai mươi bốn giờ trong ngày. Hiện nay điều này vẫn còn xa mới là [424] trường hợp thực tế. Không có nhận biết thật sự về sự tồn tại trong những giờ ngủ. Đời sống mộng, như được thuật lại, đầy ảo tưởng chẳng kém bất kỳ trải nghiệm thông linh thấp hơn rõ rệt nào. Sự quan tâm đang tăng chậm đối với giấc mộng từ quan điểm tâm lý học, và việc khảo sát nguồn gốc khả hữu của chúng, là những nỗ lực yếu ớt đầu tiên hướng tới việc thiết lập sự nhận biết trên một nền tảng thật sự khoa học. Cho đến nay vẫn chưa có sự ghi nhận có ý thức về hoạt động trí tuệ trong những thời điểm như khi thể cảm dục chiếm vị trí trung tâm. Thể trí bận rộn với điều gì trong một giai đoạn dài xáo trộn cảm xúc? Chúng ta biết rằng nó có đời sống riêng và các định luật riêng. Lại nữa, các hoạt động của linh hồn là gì khi phàm ngã chỉ bận rộn với những việc riêng của nó? Các bạn có thấy không thể hình dung một thời điểm khi sự phát triển tâm thức đã đạt đến giai đoạn mà sẽ có một phản ứng cảm tri trong mọi bộ phận của bản chất con người, và tất cả đều được bộ não ghi nhận? Con người đã nhận biết đồng thời cả hoạt động cõi hồng trần lẫn sức sống cảm xúc. Đối với đa số, đó là một tình trạng thông thường và bình thường. Khi hai hoạt động có thể được ghi nhận cùng lúc, tại sao không phải là ba hoặc thậm chí bốn? Đó là tương lai phía trước của nhân loại, và các đệ tử đang hoạt động tích cực sẽ là những người đầu tiên biểu lộ và chứng minh tâm thức mở rộng này.
|
|
Thus telepathic interplay and extended sentiency must be developed and are closely interlinked with each other.
|
Do đó, tương tác viễn cảm và năng lực cảm tri mở rộng phải được phát triển, và chúng liên kết chặt chẽ với nhau.
|
|
I have therefore pointed out the immediate future development of the individual disciple. What lies ahead in the immediate future for the group?
|
Vì vậy, Tôi đã chỉ ra sự phát triển tương lai trước mắt của từng đệ tử cá nhân. Điều gì nằm phía trước trong tương lai gần đối với nhóm?
|
|
First of all, a preliminary period of emergence into the public consciousness, and thus of making its presence felt. This will be done through the steady communication of the new ideals and the constant emphasis laid upon the essential oneness of all humanity. It will [425] be the result of the uniformity and inclusiveness of the note sounded by one here and another there. During this stage there must be no hurried work and no precipitate action of any kind. The growth of the group and of its ideas will be slow and sure. The group exists already. It has not to be formed and organised, and there is therefore for none of you the assuming of any sense of responsibility nor the organising of any activity desired to lure these disciples, who have chosen thus to work subjectively, into publicity. Such are not the methods approved by the Elder Brothers of the race, nor is it the way that They Themselves work.
|
Trước hết là một giai đoạn sơ khởi của việc xuất hiện trong tâm thức công chúng, và do đó làm cho sự hiện diện của nhóm được cảm nhận. Điều này sẽ được thực hiện qua sự truyền đạt đều đặn các lý tưởng mới và sự nhấn mạnh liên tục vào tính nhất thể thiết yếu của toàn thể nhân loại. Nó sẽ [425] là kết quả của sự đồng nhất và tính bao gồm trong âm điệu được xướng lên bởi người này ở đây và người kia ở đó. Trong giai đoạn này, không được có công việc vội vã và không được có hành động hấp tấp thuộc bất kỳ loại nào. Sự tăng trưởng của nhóm và các ý tưởng của nhóm sẽ chậm rãi và chắc chắn. Nhóm đã tồn tại rồi. Nó không cần được thành lập và tổ chức; do đó không ai trong các bạn phải gánh lấy bất kỳ cảm thức trách nhiệm nào, cũng không phải tổ chức bất kỳ hoạt động nào nhằm lôi kéo những đệ tử đã chọn làm việc một cách chủ quan như vậy ra trước công chúng. Đó không phải là những phương pháp được các Huynh Trưởng của nhân loại chấp thuận, cũng không phải là cách mà chính Các Ngài làm việc.
|
|
Know each of you for yourselves whether you stand for the new position, the new attitude towards work, and for the subjective method. Decide once and for all whether you prefer to work in the old exoteric ambitious manner, building and vitalising an organisation, and so producing all the mechanism which goes with such a method of work. Remember that such groups are still greatly needed and are useful. It is not yet the new age and the little ones must not be left exposed to the new forces, nor turned out bereft of the nursery to which they naturally belong.
|
Mỗi người trong các bạn hãy tự biết liệu mình có đại diện cho lập trường mới, thái độ mới đối với công việc, và phương pháp chủ quan hay không. Hãy quyết định dứt khoát một lần cho tất cả liệu các bạn thích làm việc theo cách ngoại môn cũ đầy tham vọng, xây dựng và tiếp sinh lực cho một tổ chức, và như vậy tạo ra toàn bộ bộ máy đi kèm với phương pháp làm việc ấy. Hãy nhớ rằng những nhóm như thế vẫn còn rất cần thiết và hữu dụng. Kỷ nguyên mới chưa đến, và những người bé nhỏ không được để trơ trọi trước các mãnh lực mới, cũng không được đưa ra ngoài trong tình trạng bị tước mất vườn ươm mà họ tự nhiên thuộc về.
|
|
Should the new mode of work appeal to you, see to it that the personality is subordinated, that the life of meditation is kept paramount in importance, that sensitivity to the subjective realm is cultivated, and any necessary outer activities are handled from within outwards. Avoid a purely mystical introspection or its opposite extreme, an over-emphasised organising spirit, remembering that a life of truly occult meditation must inevitably produce outer happenings, but that these objective results are produced by an inner growth and not by an outer activity. An ancient Scripture teaches this truth in the following terms: [426]
|
Nếu phương thức làm việc mới hấp dẫn các bạn, hãy thấy rằng phàm ngã được đặt dưới, đời sống tham thiền được giữ ở vị trí quan trọng tối thượng, sự nhạy bén với cõi giới chủ quan được vun bồi, và mọi hoạt động bên ngoài cần thiết được xử lý từ bên trong ra bên ngoài. Hãy tránh một sự nội quan thuần thần bí, hoặc cực đoan đối nghịch của nó là một tinh thần tổ chức bị nhấn mạnh quá mức; hãy nhớ rằng một đời sống tham thiền huyền bí chân chính tất yếu phải tạo ra những sự kiện bên ngoài, nhưng những kết quả khách quan này được tạo ra bởi một sự tăng trưởng bên trong chứ không phải bởi một hoạt động bên ngoài. Một Kinh văn cổ dạy chân lý này bằng những lời sau: [426]
|
|
“When the sun progresses into the mansion of the serving man, the way of life takes the place of the way of work. Then the tree of life grows until its branches shelter all the sons of men. The building of the Temple and the carrying of the stones cease. The growing trees are seen; the buildings disappear. Let the sun pass into its appointed place, and in this day and generation attend ye to the roots of growth.”
|
“Khi mặt trời tiến vào cung nhà của người phụng sự, con đường của đời sống thay thế con đường của công việc. Khi ấy cây sự sống lớn lên cho đến khi các cành của nó che chở tất cả những người con của nhân loại. Việc xây dựng Đền Thờ và việc khuân đá chấm dứt. Những cây đang lớn được nhìn thấy; các tòa nhà biến mất. Hãy để mặt trời đi vào nơi đã định của nó, và trong ngày cùng thế hệ này, các ngươi hãy chăm lo cho các rễ của sự tăng trưởng.”
|
|
Little groups will spring up here and there whose members respond to the new note and whose growth into the world group will be watched over by one or more working disciples. But these latter do not organise the groups; they grow as a man in this place and another in that place awakens to the new vision or comes into incarnation in order to take his place in the work and bring in the new era. These groups will demonstrate no sense of separateness; they will be unaware of personal or of group ambition; they will recognise their unity with all that exists, and will stand before the world as examples of pure living, constructive building, creative activity subordinated to the general purpose, beauty and inclusiveness. Perhaps in the early stages of integration, the words friendliness and cooperativeness best describe them. They are not interested in dogmas or doctrines and have no shibboleths. Their outstanding characteristic will be an individual and group freedom from a critical spirit. This non-criticism will not grow out of an inability to see error, or failure to measure up to an idea; falsity, impurity and weakness will be recognised for what they are, but when noted will only serve to evoke a loving helpfulness.
|
Các nhóm nhỏ sẽ nảy sinh ở đây và ở đó, với các thành viên đáp ứng với âm điệu mới, và sự tăng trưởng của họ vào nhóm thế giới sẽ được một hoặc nhiều đệ tử hoạt động trông nom. Nhưng những đệ tử sau này không tổ chức các nhóm; các nhóm ấy tăng trưởng khi một người ở nơi này và một người khác ở nơi kia thức tỉnh trước tầm nhìn mới, hoặc lâm phàm để đảm nhận vị trí của mình trong công việc và đưa vào kỷ nguyên mới. Các nhóm này sẽ không biểu hiện cảm thức chia rẽ; họ sẽ không nhận biết tham vọng cá nhân hay tham vọng nhóm; họ sẽ công nhận sự hợp nhất của mình với tất cả những gì hiện hữu, và sẽ đứng trước thế giới như những tấm gương của đời sống thanh khiết, xây dựng kiến tạo, hoạt động sáng tạo được đặt dưới mục đích chung, vẻ đẹp và tính bao gồm. Có lẽ trong những giai đoạn đầu của sự tích hợp, các từ thân thiện và hợp tác mô tả họ đúng nhất. Họ không quan tâm đến giáo điều hay học thuyết và không có những khẩu hiệu phân biệt. Đặc tính nổi bật của họ sẽ là sự tự do cá nhân và nhóm khỏi tinh thần phê phán. Sự không phê phán này sẽ không phát sinh từ việc không có khả năng thấy sai lầm, hay không nhận ra sự không đạt tới một lý tưởng; giả dối, bất tịnh và yếu đuối sẽ được nhận biết đúng như chúng là, nhưng khi được ghi nhận, chúng chỉ nhằm gợi lên một sự trợ giúp đầy tình thương.
|
|
Little by little these groups will come to know each other and to meet with one another at set times and places. They will come to these mutual conferences with no desire to impress one another and with no thought of relative numerical strength; they will demonstrate no ambition to increase their ranks. How should they when [427] they know themselves all to be members of the one world Group? They have no teaching to give of a doctrinal nature and will not seek to demonstrate learning. They will meet solely to discuss modes of world helpfulness, the formation of a platform so universal and composed of such basic truths that it can be presented under all the varying methods and utilise the many terminologies. They will endeavour to employ each other’s terms, and to familiarise themselves with each other’s approach to reality and symbology.
|
Dần dần, các nhóm này sẽ biết nhau và gặp gỡ nhau vào những thời điểm và địa điểm ấn định. Họ sẽ đến các hội nghị hỗ tương này mà không có mong muốn gây ấn tượng với nhau và không có ý nghĩ về sức mạnh tương đối theo số lượng; họ sẽ không biểu hiện tham vọng gia tăng hàng ngũ của mình. Làm sao họ có thể như thế khi [427] họ biết tất cả chính mình đều là thành viên của một Nhóm thế giới duy nhất? Họ không có giáo huấn mang tính giáo điều để trao truyền và sẽ không tìm cách phô bày học thức. Họ sẽ gặp nhau chỉ để thảo luận các phương thức trợ giúp thế giới, việc hình thành một nền tảng phổ quát đến mức và được cấu thành bởi những chân lý căn bản đến mức nó có thể được trình bày dưới mọi phương pháp khác nhau và sử dụng nhiều hệ thuật ngữ. Họ sẽ cố gắng dùng thuật ngữ của nhau, và làm cho mình quen thuộc với cách tiếp cận thực tại và biểu tượng học của nhau.
|
|
Little by little also the special contribution and note of each group will be recognised and where a need exists for just that special approach and the particular note or method of interpretation in any part of the world, there will be an immediate and united impulse to facilitate the work that that special group could do in that place.
|
Dần dần, đóng góp và âm điệu đặc thù của mỗi nhóm cũng sẽ được công nhận; và nơi nào trên thế giới có nhu cầu đối với chính cách tiếp cận đặc thù ấy cùng âm điệu hay phương pháp diễn giải riêng ấy, thì sẽ có một xung lực tức thời và hợp nhất nhằm tạo thuận lợi cho công việc mà nhóm đặc thù ấy có thể làm tại nơi đó.
|
|
These groups, with the one subjective group of conscious living souls behind them, will be too busy with world service and interests to waste time on trifling non-essentials. They will not have the time to play around with group names and insignia and badges and the technicalities of fraternities when they meet together. World needs, world opportunities, and the rapid development of the consciousness of mankind and the initiation of humanity into the spiritual realities will so engross their attention that they will have no interest in purely physical plane arrangements, nor in laying the emphasis upon their own personal growth. They will be well aware that response to world need in service and the life of focussed meditation will promote their growth. Their eyes are not upon themselves, upon their own good characters, or upon their individual accomplishments.
|
Các nhóm này, với một nhóm chủ quan duy nhất gồm các linh hồn sống có ý thức đứng phía sau, sẽ quá bận rộn với phụng sự thế giới và các mối quan tâm thế giới đến nỗi không lãng phí thời gian vào những điều không thiết yếu tầm thường. Họ sẽ không có thời gian để đùa chơi với tên nhóm, huy hiệu, phù hiệu và các chi tiết kỹ thuật của những hội huynh đệ khi họ gặp nhau. Nhu cầu thế giới, cơ hội thế giới, sự phát triển nhanh chóng của tâm thức nhân loại và sự điểm đạo nhân loại vào các thực tại tinh thần sẽ thu hút sự chú ý của họ đến mức họ sẽ không quan tâm đến các sắp đặt thuần túy thuộc cõi hồng trần, cũng không nhấn mạnh vào sự tăng trưởng cá nhân của chính mình. Họ sẽ ý thức rõ rằng sự đáp ứng nhu cầu thế giới trong phụng sự và đời sống tham thiền tập trung sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng của họ. Mắt họ không hướng vào chính họ, vào tính cách tốt đẹp của riêng họ, hay vào các thành tựu cá nhân của họ.
|
|
Later as a result of their telepathic relationship and their united conferences, there may emerge certain esoteric groups and schools for development in order more rapidly to equip them for world service. In these schools [428] modes of meditation, the intensification of vibration and the laws of the universe will be taught, and the right use of colour and of sound. But all will be subordinated to the idea of service and the uplift of humanity. Also the schools referred to in Letters on Occult Meditation will gradually come into being.
|
Về sau, như kết quả của mối liên hệ viễn cảm và các hội nghị hợp nhất của họ, có thể xuất hiện một số nhóm và trường phái huyền bí nhằm phát triển, để trang bị cho họ nhanh hơn cho sự phụng sự thế giới. Trong các trường phái này [428] sẽ được dạy các phương thức tham thiền, sự tăng cường rung động và các định luật của vũ trụ, cùng việc sử dụng đúng đắn màu sắc và âm thanh. Nhưng tất cả sẽ được đặt dưới ý tưởng phụng sự và nâng cao nhân loại. Các trường phái được nói đến trong Thư về Tham Thiền Huyền Bí cũng sẽ dần dần đi vào hiện hữu.
|
|
But what use is it for me to forecast the future in more explicit terms and hold out a picture of an intriguing quality when at the present time the integration of the group of world mystics and its close welding is not an accomplished fact?
|
Nhưng Tôi có ích gì khi tiên báo tương lai bằng những lời rõ ràng hơn và đưa ra một bức tranh có tính hấp dẫn, trong khi vào lúc hiện tại, sự tích hợp của nhóm các nhà thần bí thế giới và sự hàn gắn chặt chẽ của nhóm ấy vẫn chưa phải là một sự kiện đã hoàn thành?
|
|
World unity, brotherhood in its true sense, the growth of telepathic interplay, the elimination of the non-essentials which serve to separate the thoughts of men and bring about separateness on the physical plane, and the laying of a true emphasis upon the fundamentals of the Ageless Wisdom, the manifestation of a true understanding, the bringing about of at-one-ment with the soul, the recognition of those who belong to the group of world Saviours—this is the immediate work to be done and this must engross your attention.
|
Sự thống nhất thế giới, tình huynh đệ theo ý nghĩa chân thật của nó, sự tăng trưởng của tương tác viễn cảm, sự loại bỏ những điều không thiết yếu vốn khiến tư tưởng của con người bị chia rẽ và tạo ra sự chia rẽ trên cõi hồng trần, và việc đặt một sự nhấn mạnh chân thật lên các nền tảng của Minh Triết Ngàn Đời, sự biểu hiện của một sự thấu hiểu chân thật, việc đem lại sự nhất thể hóa với linh hồn, sự công nhận những người thuộc về nhóm các Đấng Cứu Thế của thế giới—đây là công việc trước mắt phải được thực hiện, và điều này phải thu hút trọn sự chú ý của các bạn.
|
|
This and this alone warrants the expenditure of all that any of you have to give—love and life, time and money.
|
Điều này, và chỉ điều này, xứng đáng với sự dâng hiến tất cả những gì bất kỳ ai trong các bạn có thể trao—tình thương và sự sống, thời gian và tiền bạc.
|
|
This and this alone justifies your existence and calls forth from all of you who respond to the vision that utter self-sacrifice which is so rare and so far-reaching in its effects. The casting of all that one has at the feet of the Lord of Life in order that the work of world salvage may go forward, the elimination out of one’s life of all that can possibly hinder, the giving of all that one has until it hurts to give, the ruling of one’s life on the basis of surrender, asking oneself all the time: What can I relinquish in order that I may help more adequately?—that and more than that lies ahead of all of you who hear the call and respond to the need and opportunity. [429]
|
Điều này, và chỉ điều này, biện minh cho sự hiện hữu của các bạn và kêu gọi từ tất cả các bạn, những người đáp ứng với tầm nhìn, sự hi sinh bản thân hoàn toàn vốn hiếm hoi và có hiệu quả sâu rộng đến thế. Việc đặt tất cả những gì mình có dưới chân Chúa Tể Sự Sống để công việc cứu vớt thế giới có thể tiến tới, việc loại bỏ khỏi đời mình tất cả những gì có thể cản trở, việc cho đi tất cả những gì mình có cho đến khi sự cho đi gây đau đớn, việc điều hành đời sống mình trên nền tảng của sự phó thác, luôn tự hỏi: Tôi có thể từ bỏ điều gì để có thể giúp đỡ đầy đủ hơn?—điều đó, và còn hơn thế nữa, nằm phía trước tất cả các bạn là những người nghe tiếng gọi và đáp ứng nhu cầu cùng cơ hội. [429]
|
|
Let me tell you this—this group now in process of forming, will in time develop its own “yoga” and school of training which will gradually supersede that of the raja yoga and bhakti yoga schools. The method of training will only be given to those who have trained the mind and learnt to control the emotions. Hence the key to what is now going on. The mode of training will be no easy short cut to the goal. Only the intelligent can attain it and only coordinated personalities will be eligible to the teaching. The keynote of the new yoga will be synthesis; its objective will be conscious development of the intuitive faculty. This development will fall into two categories: first, the development of the intuition and of true spiritual perception, and secondly, the trained utilisation of the mind as an interpreting agent.
|
Hãy để Tôi nói với các bạn điều này—nhóm hiện đang trong tiến trình hình thành này, theo thời gian, sẽ phát triển “yoga” riêng và trường huấn luyện riêng của mình, vốn sẽ dần dần thay thế các trường phái Raja Yoga và Bhakti Yoga. Phương pháp huấn luyện sẽ chỉ được trao cho những người đã huấn luyện thể trí và học cách kiểm soát các cảm xúc. Do đó có chìa khóa cho những gì hiện đang diễn ra. Phương thức huấn luyện sẽ không phải là con đường tắt dễ dàng đến mục tiêu. Chỉ những người sáng suốt mới có thể đạt được nó, và chỉ những phàm ngã đã phối hợp mới đủ điều kiện nhận giáo huấn. Chủ âm của yoga mới sẽ là sự tổng hợp; mục tiêu của nó sẽ là sự phát triển có ý thức của năng lực trực giác. Sự phát triển này sẽ rơi vào hai loại: thứ nhất, sự phát triển của trực giác và nhận thức tinh thần chân thật; và thứ hai, việc sử dụng thể trí đã được huấn luyện như một tác nhân diễn giải.
|
|
In the book Agni Yoga, some of the teaching to be given has filtered through but only from the angle of the will aspect. No book has as yet made its appearance which gives in any form whatsoever the “yoga of synthesis”. We have had “bhakti yoga” or union through devotion. Raja Yoga is now receiving emphasis, which is union through the mind. It sounds like a redundancy to speak of union through synthesis, but it is not so. It is union through identification with the whole—not union through realisation or through vision. Mark well this distinction, for it holds the secret of the next step for the personalities of the race. The Bhagavad Gita gives us primarily the key to the yoga of devotion. Patanjali teaches us the yoga of the mind. In the Gospel story we have the portrayal of realisation, but the key or the secret of identification is still withheld. It lies in the custody of a few in this integrating group of mystics and knowers and will be wrought out into manifestation in the furnace of their individual experience and thus given to the world. But the time is not yet. The group must grow in strength and knowledge and in intuitive perception. [430]
|
Trong sách Agni Yoga, một phần giáo huấn sắp được trao truyền đã thấm lọc qua, nhưng chỉ từ góc độ phương diện ý chí. Chưa có quyển sách nào xuất hiện để trình bày, dưới bất cứ hình thức nào, “yoga của sự tổng hợp”. Chúng ta đã có “Bhakti Yoga”, hay sự hợp nhất qua sùng tín. Raja Yoga hiện đang được nhấn mạnh, tức là sự hợp nhất qua thể trí. Nói đến sự hợp nhất qua tổng hợp nghe có vẻ như lặp thừa, nhưng không phải vậy. Đó là sự hợp nhất qua việc đồng hoá với toàn thể — chứ không phải sự hợp nhất qua chứng nghiệm hay qua tầm nhìn. Hãy ghi nhớ rõ sự phân biệt này, vì trong đó ẩn chứa bí mật của bước kế tiếp dành cho các phàm ngã của nhân loại. Chí Tôn Ca chủ yếu trao cho chúng ta chìa khóa của yoga sùng tín. Patanjali dạy chúng ta yoga của thể trí. Trong câu chuyện Phúc Âm, chúng ta có sự mô tả về chứng nghiệm, nhưng chìa khóa hay bí mật của sự đồng hoá vẫn còn được giữ kín. Nó nằm trong sự gìn giữ của một số ít người trong nhóm tích hợp này gồm các nhà thần bí và các thức giả, và sẽ được tôi luyện thành sự biểu hiện trong lò lửa kinh nghiệm cá nhân của họ, rồi nhờ đó được trao cho thế gian. Nhưng thời điểm ấy chưa đến. Nhóm phải tăng trưởng về sức mạnh, tri thức và tri giác trực giác. [430]
|
|
You ask me: What keeps a man from becoming a member of such a group? I tell you with emphasis that four things only keep a man from affiliation.
|
Bạn hỏi tôi: Điều gì ngăn một người trở thành thành viên của một nhóm như thế? Tôi nói với bạn một cách nhấn mạnh rằng chỉ có bốn điều ngăn một người khỏi sự liên kết ấy.
|
|
First: an uncoordinated personality. This involves necessarily an untrained mind and a feeble intellect.
|
Thứ nhất: một phàm ngã thiếu phối hợp. Điều này tất yếu bao hàm một thể trí chưa được rèn luyện và một trí năng yếu ớt.
|
|
Second: a sense of separateness, of distinction, and of being set apart or different from one’s fellow men.
|
Thứ hai: cảm thức về sự tách biệt, về sự khác biệt, và về việc mình bị đặt riêng ra hay khác với đồng loại.
|
|
Third: the possession of a creed. No matter how good a formula of beliefs it may be, it inevitably produces exclusiveness. It bars some out.
|
Thứ ba: việc sở hữu một tín điều. Dù công thức niềm tin ấy tốt đẹp đến đâu, nó cũng không tránh khỏi tạo ra tính độc hữu. Nó ngăn một số người ở bên ngoài.
|
|
Fourth: pride and ambition.
|
Thứ tư: kiêu hãnh và tham vọng.
|
|
You ask again: How shall one qualify? The rules are simple, and are three in number. First, learn to practice harmlessness; then desire nothing for the separated self, and thirdly look for the sign of divinity in all. Three simple rules, but very hard to accomplish.
|
Bạn lại hỏi: Làm thế nào để đủ điều kiện? Các quy luật rất đơn giản, và gồm ba điều. Thứ nhất, học thực hành tính vô tổn hại; rồi không ham muốn điều gì cho bản ngã tách biệt; và thứ ba, tìm dấu hiệu của thiên tính trong tất cả. Ba quy luật đơn giản, nhưng rất khó thực hiện.
|
|
Behind this group of mystics, which includes thinkers in every department of human thought (let me reiterate the word thinkers) and of human knowledge stands the Hierarchy of Masters and in between these two groups stand also a band of teachers, of whom I am one. These act as intermediaries and as transmitters of energy. May I repeat and beg you to attend, that this group which is slowly forming is gathered out of every imaginable group of thinking and intelligent men. As yet, and this may surprise a few, there are not very many occultists (so-called) among them. This is due to the fact that the occultists are numerically few in relation to the masses of humanity, and also to their tendency to be sectarian, exclusive and self-righteous. Selfless humanitarian workers are there; political leaders and economists and scientific workers in the world’s laboratories are also there; churchmen and religious adherents from all the [431] world religions are there and the practical mystics and a few occultists. The true occultist is rare.
|
Đằng sau nhóm các nhà thần bí này, vốn bao gồm những nhà tư tưởng trong mọi lĩnh vực tư tưởng nhân loại — xin để tôi nhắc lại chữ những nhà tư tưởng — và trong mọi lĩnh vực tri thức nhân loại, là Thánh đoàn các Chân sư; và giữa hai nhóm này cũng có một đoàn các huấn sư, trong đó tôi là một. Những vị này hoạt động như các trung gian và các tác nhân truyền dẫn năng lượng. Tôi xin lặp lại và khẩn thiết yêu cầu bạn lưu tâm rằng nhóm đang chậm rãi hình thành này được quy tụ từ mọi nhóm có thể hình dung được gồm những người biết suy nghĩ và có trí tuệ. Cho đến nay, và điều này có thể làm một số người ngạc nhiên, không có nhiều nhà huyền bí học — gọi là như thế — ở trong nhóm ấy. Điều này là vì các nhà huyền bí học về số lượng thì ít so với đại khối nhân loại, và cũng vì khuynh hướng của họ thường có tính bè phái, độc hữu và tự cho mình là đúng. Trong nhóm có những người hoạt động nhân đạo vô ngã; cũng có các nhà lãnh đạo chính trị, các nhà kinh tế và các nhà khoa học làm việc trong các phòng thí nghiệm của thế giới; có các giáo sĩ và tín đồ tôn giáo thuộc tất cả các tôn giáo [431] thế giới, cùng các nhà thần bí thực tiễn và một vài nhà huyền bí học. Nhà huyền bí học chân chính rất hiếm.
|
|
The group is and will be kept entirely subjective. Its members are linked telepathically, or they recognise each other through the quality of the work they are doing in the outer world and the inclusiveness of the note they sound. It is inspired from above by the souls of its members and the Great Ones, and is energised into activity by the need of humanity itself. It is composed of living conscious souls, working through coordinated personalities. Its symbol is a golden triangle enclosing an even-armed cross with one diamond at the apex of the triangle. This symbol is never reproduced in form at all. It shines above the heads of all who are in the group and cannot be seen by anyone (not even a clairvoyant) except a group member, and then only if—for purposes of work—his recognition needs stimulation. The motto of the group is The Glory Of The One.
|
Nhóm này đang và sẽ được giữ hoàn toàn ở bình diện chủ quan. Các thành viên của nhóm được liên kết bằng viễn cảm, hoặc họ nhận ra nhau qua phẩm tính của công việc họ đang làm trong thế giới bên ngoài và tính bao gồm của âm điệu mà họ xướng lên. Nhóm được cảm hứng từ trên cao bởi linh hồn của các thành viên và bởi Các Đấng Cao Cả, và được tiếp năng lượng để hoạt động bởi chính nhu cầu của nhân loại. Nhóm gồm những linh hồn sống động và có ý thức, hoạt động qua các phàm ngã đã phối hợp. Biểu tượng của nhóm là một tam giác vàng bao quanh một thập giá đều tay, với một viên kim cương ở đỉnh tam giác. Biểu tượng này tuyệt đối không bao giờ được tái tạo thành hình tướng. Nó tỏa sáng phía trên đầu của tất cả những ai ở trong nhóm, và không ai có thể thấy được — ngay cả một người thông nhãn — ngoại trừ một thành viên của nhóm, và khi ấy chỉ khi, vì mục đích công việc, sự nhận biết của y cần được kích thích. Khẩu hiệu của nhóm là Vinh Quang của Đấng Duy Nhất.
|
|
More I may not tell you now, but this will give you some idea of the reality of the work that is going on. It may serve as an incentive to fresh effort on the part of all working to equip themselves for selfless service.
|
Hiện nay tôi không thể nói thêm với bạn, nhưng điều này sẽ cho bạn một ý niệm nào đó về thực tại của công việc đang diễn ra. Nó có thể dùng như một động lực thúc đẩy nỗ lực mới nơi tất cả những ai đang cố gắng tự trang bị cho mình để phụng sự vô ngã.
|
|
We are to take up now a very brief consideration of two types of energy of a major kind, which are, in themselves, composed and blended of coordinating energies. The subject matter is therefore of so advanced a nature that it is useless for the aspirant to give much time to its study. Volumes would be necessitated likewise if all that could be said were written, and it will only be possible in this book to outline some broad generalisations, and to indicate certain facts of interest. The main reason that it profits us not to study these energies too closely is because the planetary Spirit or Logos and the planetary Entity are the two forms in active manifestation which respond most forcibly to the impact of these energies. The human being responds, and that only subconsciously, [432] because (in his form nature) he constitutes a part of the planetary expression.
|
Giờ đây chúng ta sẽ bàn đến một cách rất ngắn gọn hai loại năng lượng thuộc loại chủ yếu, vốn tự chúng được cấu thành và hòa trộn bởi các năng lượng phối hợp. Vì vậy, đề tài này có bản chất quá cao siêu đến nỗi người chí nguyện dành nhiều thời gian nghiên cứu nó cũng không ích lợi gì. Tương tự, nếu viết ra tất cả những gì có thể nói, sẽ cần đến nhiều bộ sách; và trong quyển sách này chỉ có thể phác họa một vài khái quát rộng lớn và chỉ ra một số sự kiện đáng quan tâm. Lý do chính khiến việc nghiên cứu các năng lượng này quá sát sao không đem lại lợi ích cho chúng ta là vì Chân Linh Hành Tinh hay Thượng đế hành tinh và Thực Thể Hành Tinh là hai hình tướng trong biểu hiện hoạt động đáp ứng mạnh mẽ nhất với tác động của các năng lượng này. Con người cũng đáp ứng, và chỉ đáp ứng một cách tiềm thức, [432] bởi vì, trong bản chất hình tướng của mình, y cấu thành một phần của sự biểu lộ hành tinh.
|
|
The planetary Spirit is a Being Who, ages ago, passed through the state of consciousness which we call the human state and has left it far behind. He (using the personal pronoun simple for the sake of terminological clarity) has an origin which lies outside the solar system altogether; his life is focussed in the planet; his consciousness lies in realms beyond the concept of the highest adept in our planetary Hierarchy. The planetary Entity is the sum total of the forms which constitute the form through which the planetary Spirit is manifesting, and therefore is the synthesis of the planetary physical, astral and mental elementals. For the purposes of our consideration, this Entity is the sum total of all physical, mental, astral and mental forms, which, blended and fused, constitute our planet. Each is the embodiment of energy, and these two major streams which produce the form and the consciousness aspects of our planetary existence make their impact on the human being. The life of the planetary Spirit makes its impact via the soul; and the life of the planetary Entity is registered through the medium of the personality mechanism.
|
Chân Linh Hành Tinh là một Đấng mà từ nhiều thời đại trước đã đi qua trạng thái tâm thức mà chúng ta gọi là trạng thái nhân loại, và đã bỏ nó lại rất xa phía sau. Ngài — dùng đại từ nhân xưng đơn giản vì sự rõ ràng trong thuật ngữ — có nguồn gốc nằm hoàn toàn bên ngoài hệ mặt trời; sự sống của Ngài tập trung trong hành tinh; tâm thức của Ngài nằm trong những cõi giới vượt ngoài quan niệm của vị chân sư cao nhất trong Thánh đoàn hành tinh của chúng ta. Thực Thể Hành Tinh là tổng thể các hình tướng cấu thành hình tướng mà qua đó Chân Linh Hành Tinh đang biểu hiện, và vì thế là sự tổng hợp của các hành khí hồng trần, cảm dục và trí tuệ của hành tinh. Vì mục đích xem xét của chúng ta, Thực Thể này là tổng thể của tất cả các hình tướng hồng trần, trí tuệ, cảm dục và trí tuệ, vốn khi được hòa trộn và dung hợp sẽ cấu thành hành tinh của chúng ta. Mỗi hình tướng là hiện thân của năng lượng, và hai dòng chảy chủ yếu này, vốn tạo ra các phương diện hình tướng và tâm thức của sự tồn tại hành tinh chúng ta, tác động lên con người. Sự sống của Chân Linh Hành Tinh tác động qua linh hồn; còn sự sống của Thực Thể Hành Tinh được ghi nhận qua trung gian bộ máy phàm ngã.
|
|
The duality of these energies is primarily astral-buddhic, and the bias of the life forces and the general trend of the impulses influencing humanity in this great cycle are the attractive energy of the intuitional nature of the planetary Logos, and the potent force of the astral (desire) body. In other words, the astral elemental, which embodies the desire nature of the planetary Logos is exceedingly potent, particularly in this present cycle, but the strength of the spiritual and intuitional nature of the One in Whom we live and move and have our being is steadily increasing. On the one hand, you have the devastating expression of the wild hunt for pleasure, of sex and of the crime incident to the satisfying of desire. [433] This characterises our present civilisation and is now at its height; it may be said that it is even on the decline, little as you may sense it. At the same time, there is found the open door of initiation. Both these opportunities (if I might so term them) are found simultaneously present, but the strength of the one is weakening, and the trend towards the other is growing. Thus the way out can be seen.
|
Nhị nguyên của các năng lượng này chủ yếu là cảm dục–Bồ đề, và khuynh hướng của các mãnh lực sự sống cùng chiều hướng chung của các xung lực ảnh hưởng đến nhân loại trong chu kỳ lớn này là năng lượng hấp dẫn của bản chất trực giác nơi Hành Tinh Thượng đế, và mãnh lực hùng mạnh của thể cảm dục, tức thể ham muốn. Nói cách khác, hành khí cảm dục, vốn hiện thân bản chất ham muốn của Hành Tinh Thượng đế, vô cùng mạnh mẽ, đặc biệt trong chu kỳ hiện nay; nhưng sức mạnh của bản chất tinh thần và trực giác nơi Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện tồn đang gia tăng đều đặn. Một mặt, bạn có sự biểu lộ tàn phá của cuộc săn đuổi khoái lạc cuồng loạn, của tính dục và của tội ác phát sinh từ việc thỏa mãn ham muốn. [433] Điều này đặc trưng cho nền văn minh hiện tại của chúng ta và hiện đang ở đỉnh điểm; có thể nói rằng nó thậm chí đang suy giảm, dù bạn có thể ít cảm nhận được điều ấy. Đồng thời, cánh cửa điểm đạo đang rộng mở. Cả hai cơ hội này — nếu tôi có thể gọi như vậy — đều hiện diện đồng thời, nhưng sức mạnh của cái này đang suy yếu, còn khuynh hướng hướng về cái kia đang tăng trưởng. Như thế, lối thoát có thể được nhìn thấy.
|
|
In the above paragraph, the dominant planetary urges present in evolution are summed up and man’s reaction to them noted.
|
Trong đoạn trên, các thôi thúc hành tinh chi phối đang hiện diện trong tiến hoá đã được tóm lược, và phản ứng của con người đối với chúng đã được ghi nhận.
|
|
Solar energies have also a dual effect. First, there is what we might call the pranic effect, which is the result of the impact of solar force, emanating from the physical sun. This produces definite results upon the objective forms, and these are termed physical or vital. These enter the human body via the spleen and also via a centre found between the shoulder blades; this centre is between the throat centre and the heart centre in the spinal column, but nearer the heart than the throat. Secondly, there are energies which emanate from what is esoterically called “the heart of the sun”; these sweep through one or other of the planets in seven great streams and pour into the soul of man and produce that sensitivity which we call awareness. These seven types of energy produce the seven types of souls or rays, and in this thought you find the secret of soul unity. During manifestation, owing to the seven types of energy impacts, playing upon the matter of space, one finds the seven types of soul, the seven fields of expression, and the seven grades of consciousness and of ray characteristics. These differentiations as you well know are like the colouring that the prism takes when subjected to the rays of the sun, or to the tracery of pattern found in reflection upon a limpid pool. [434]
|
Các năng lượng thái dương cũng có một tác động nhị phân. Thứ nhất, có điều chúng ta có thể gọi là tác động prana, vốn là kết quả của sự va chạm của mãnh lực thái dương phát xuất từ mặt trời hồng trần. Điều này tạo ra những kết quả xác định trên các hình tướng khách quan, và chúng được gọi là hồng trần hay sinh lực. Chúng đi vào thể người qua lá lách và cũng qua một trung tâm nằm giữa hai xương bả vai; trung tâm này nằm giữa trung tâm cổ họng và trung tâm tim trong cột sống, nhưng gần tim hơn cổ họng. Thứ hai, có những năng lượng phát xuất từ điều được gọi một cách huyền bí là “trái tim của mặt trời”; các năng lượng này quét qua một trong các hành tinh thành bảy dòng chảy lớn, tuôn vào linh hồn con người và tạo ra sự nhạy cảm mà chúng ta gọi là sự nhận biết. Bảy loại năng lượng này tạo ra bảy loại linh hồn hay bảy cung, và trong ý tưởng này bạn tìm thấy bí mật của sự hợp nhất linh hồn. Trong thời kỳ biểu hiện, do bảy loại tác động năng lượng tác động lên vật chất của không gian, người ta thấy có bảy loại linh hồn, bảy trường biểu lộ, và bảy cấp độ tâm thức cùng các đặc tính cung. Như bạn biết rõ, các biến phân này giống như màu sắc mà lăng kính nhận lấy khi chịu tác động của các tia mặt trời, hoặc giống như những đường nét mô hình được thấy trong phản chiếu trên một hồ nước trong veo. [434]
|