Luận Về Chánh Thuật – Các Quy Luật Cõi Cảm dục (Rule 7-8-9)

📘 Sách: Luận Về Chánh Thuật – Tác giả: Alice Bailey

RULE SEVEN

Webinar Program 1 – Rule 7.1

The dual forces on the plane (whereon the vital power must be sought) are seen; the two paths face the solar Angel; the poles vibrate. A choice confronts the one who meditates.

Các mãnh lực kép trên cõi giới nơi phải tìm kiếm quyền năng thiết yếu được thấy; hai con đường đối diện với Thái dương Thiên Thần; các cực rung động. Một lựa chọn đối diện với người hành thiền.

The Battleground of the Astral Plane

[219]

[219]

We must start our study and consideration of the seventh Rule for Magic. We have completed the first six Rules which deal specifically with work on the mental plane, and hence have a practical value only for those who are beginning to utilize the power of the mind in the magical work of creation.

Chúng ta phải bắt đầu nghiên cứu và suy xét Quy Luật thứ bảy về Huyền Thuật. Chúng ta đã hoàn tất sáu Quy Luật đầu, vốn đề cập chuyên biệt đến công việc trên cõi trí, và vì thế chỉ có giá trị thực tiễn đối với những ai đang bắt đầu sử dụng quyền năng của trí trong công việc huyền thuật của sự sáng tạo.

It is interesting to note in this connection that, as humanity enters into its heritage of mind, there appears simultaneously a growing tendency towards magical work. Schools of affirmation are cropping up on all sides, whose announced intent is to create those natural conditions wherein a man may have what he deems to be admirable and advisable. Books on the subject of the creative mind are flooding the markets, and discussions on the force back of the creative arts are deemed of vital interest. Psychologists are giving the entire matter much consideration, and though at present the ideal is viewed almost entirely in terms of the physical plane, yet the sum total indicates a vibratory activity in the world soul, as it expresses itself through humanity, and issues forth from the mental realm. The pioneers of the race, and the foremost thinkers and creative workers of humanity are but the sensitives who respond most readily to the mental impulses. They are in the minority as yet, and most people respond to the forces and vibrations emanating from the plane of the emotions and of desire. More and more however are awakening, and the significance of the six first Rules of Magic will become increasingly apparent.

Trong mối liên hệ này, thật thú vị khi lưu ý rằng, khi nhân loại bước vào di sản trí tuệ của mình, đồng thời xuất hiện một khuynh hướng ngày càng tăng hướng về công việc huyền thuật. Các trường phái khẳng định đang mọc lên khắp nơi, với ý định được tuyên bố là tạo ra những điều kiện tự nhiên trong đó con người có thể có được điều y cho là đáng ngưỡng mộ và đáng khuyên dùng. Sách vở về đề tài trí sáng tạo đang tràn ngập thị trường, và các cuộc thảo luận về mãnh lực đứng sau các nghệ thuật sáng tạo được xem là có tầm quan trọng thiết yếu. Các nhà tâm lý học đang xem xét toàn bộ vấn đề này rất nhiều, và tuy hiện nay lý tưởng hầu như được nhìn hoàn toàn theo thuật ngữ của cõi hồng trần, song tổng thể vẫn cho thấy một hoạt động rung động trong linh hồn thế giới, khi nó biểu hiện qua nhân loại và tuôn ra từ cõi trí. Những người tiên phong của nhân loại, cùng các nhà tư tưởng và những người hoạt động sáng tạo hàng đầu của nhân loại, chỉ là những người nhạy cảm đáp ứng dễ dàng nhất với các xung lực trí tuệ. Hiện nay họ vẫn là thiểu số, và đa số con người đáp ứng với các mãnh lực và rung động xuất phát từ cõi của cảm xúc và ham muốn. Tuy nhiên, ngày càng nhiều người đang thức tỉnh, và thâm nghĩa của sáu Quy Luật Huyền Thuật đầu tiên sẽ ngày càng trở nên rõ ràng.

[220]

[220]

These fifteen rules are divided into:

Mười lăm quy luật này được chia thành:

Six rules on the mental plane.

Sáu quy luật trên cõi trí.

Five rules on the desire or astral plane.

Năm quy luật trên cõi ham muốn hay cõi cảm dục.

Four rules on the physical plane.

Bốn quy luật trên cõi hồng trần.

The main thought to be held clearly in the mind is that they confine themselves to the use of energy in the three worlds, and that this energy is either consciously manipulated by the governing soul or is swept into activity by the force inherent in the matter of the three worlds, independently of the soul. When this is the case, the man is a victim of his own form energies and the matter aspect of all manifestation. In the other case, he is the intelligent ruler, controller of his own destinies, and swings the lower energies into forms and activities through the power of his mind impulses, and the focussed attention of his own soul. In the six rules already considered one or two thoughts most clearly emerge and might be summed up in the following terms:

Tư tưởng chính cần được giữ rõ ràng trong thể trí là: các quy luật này tự giới hạn vào việc sử dụng năng lượng trong ba cõi thấp, và năng lượng này hoặc được linh hồn chủ quản thao tác một cách có ý thức, hoặc bị cuốn vào hoạt động bởi mãnh lực cố hữu trong vật chất của ba cõi thấp, độc lập với linh hồn. Khi trường hợp sau xảy ra, con người là nạn nhân của các năng lượng hình tướng của chính mình và của phương diện vật chất trong mọi biểu hiện. Trong trường hợp kia, y là người cai quản thông minh, người kiểm soát các định mệnh của chính mình, và đưa các năng lượng thấp vào các hình tướng và hoạt động nhờ quyền năng của các xung lực trí tuệ cùng sự chú tâm tập trung của chính linh hồn y. Trong sáu quy luật đã được xem xét, một hoặc hai tư tưởng nổi bật rõ ràng nhất và có thể được tóm lược như sau:

Rule 1—Recollection, resulting in concentration.

Quy Luật 1—Hồi tưởng, đưa đến tập trung.

Rule 2—Response, resulting in an interaction between higher and lower.

Quy Luật 2—Đáp ứng, đưa đến sự tương tác giữa cao và thấp.

Rule 3—Radiation, resulting in a sounding forth.

Quy Luật 3—Phóng xạ, đưa đến sự xướng vang.

Rule 4—Respiration, resulting in creative work.

Quy Luật 4—Hô hấp, đưa đến công việc sáng tạo.

Rule 5—Re-union, resulting in the at-one-ment.

Quy Luật 5—Tái hợp, đưa đến sự hợp nhất.

Rule 6—Re-orientation, resulting in a clear vision of the Plan.

Quy Luật 6—Tái định hướng, đưa đến một tầm nhìn rõ ràng về Thiên Cơ.

Students would do well to consider these relationships, and to work out the underlying synthesis.

Các đạo sinh nên suy xét những mối liên hệ này và tự tìm ra tổng hợp ẩn bên dưới.

In the words of this rule the astral plane, with its function and problem, is ably synthesized. Note the terms used in the description given in a few short phrases:

Trong lời của quy luật này, cõi cảm dục, với chức năng và vấn đề của nó, được tổng hợp một cách tài tình. Hãy lưu ý các thuật ngữ được dùng trong phần mô tả được đưa ra bằng vài cụm ngắn:

1. The plane of dual forces.

1. Cõi của các mãnh lực kép.

2. The plane of the two paths.

2. Cõi của hai con đường.

3. The plane whereon the vital power is sought. [221]

3. Cõi nơi quyền năng thiết yếu được tìm kiếm. [221]

4. The plane of the vibrating poles.

4. Cõi của các cực rung động.

5. The plane whereon a choice is made.

5. Cõi nơi một lựa chọn được thực hiện.

One of the most vital things every aspirant has to do is to learn to understand the astral plane, to comprehend its nature and to learn both to stand free from it and then to work on it. In this instruction, I seek to give some clear teaching on this plane, for the moment a man can “see” on the astral plane, and can achieve equilibrium and hold steady in the midst of its vibrating forces, that moment he is ready for initiation.

Một trong những điều thiết yếu nhất mà mỗi người chí nguyện phải làm là học cách thấu hiểu cõi cảm dục, lĩnh hội bản chất của nó, và học cả cách đứng tự do khỏi nó rồi sau đó làm việc trên đó. Trong huấn thị này, tôi tìm cách đưa ra một giáo huấn rõ ràng về cõi này, vì khoảnh khắc một người có thể “thấy” trên cõi cảm dục, có thể đạt được quân bình và đứng vững giữa các mãnh lực rung động của nó, chính khoảnh khắc ấy y đã sẵn sàng cho điểm đạo.

Webinar Program 2 – Rule 7.2

First, let us gather together some of the terms which are used to describe this sphere of divine Being wherewith a man has first to identify himself, penetrate to the centre, pierce through its veiled illusion, and eventually stand poised, untouched, detached, uninfluenced and free.

Trước hết, chúng ta hãy tập hợp một số thuật ngữ được dùng để mô tả khối cầu Bản Thể thiêng liêng này, nơi con người trước hết phải đồng hoá với nó, thâm nhập đến trung tâm, xuyên qua ảo tưởng che phủ của nó, và cuối cùng đứng quân bình, không bị chạm đến, tách rời, không bị ảnh hưởng và tự do.

The term “astral” so often used is in reality a misnomer. H. P. B. was basically right when she used the term in connection with the etheric or vital planes of the physical plane. When contact is made with the etheric world, the first impression given is always of a starry light, of brilliance, of scintillation. Gradually, however, the word became identified with Kama or desire, and so was used for the plane of emotional reaction.

Thuật ngữ “cảm dục” thường được dùng thật ra là một cách gọi sai. H. P. B. về căn bản đã đúng khi bà dùng thuật ngữ ấy liên hệ với các cõi dĩ thái hay sinh lực của cõi hồng trần. Khi tiếp xúc với thế giới dĩ thái, ấn tượng đầu tiên được trao truyền luôn là một ánh sáng đầy sao, rực rỡ, lấp lánh. Tuy nhiên, dần dần, từ này trở nên đồng nhất với Kama hay ham muốn, và vì thế được dùng cho cõi của phản ứng cảm xúc.

It is interesting to note this for it is in itself an instance of the effect of the astral plane upon the human brain, which in its uninformed condition reverses the reality and sees things in an upside down state. The appearance of the astral plane when first definitely seen by the “opened eye” of the aspirant is one of dense fog, confusion, changing forms, interpenetrating and intermingling colours, and is of such a kaleidoscopic appearance that the hopelessness of the enterprise seems overwhelming. It is not light, or starry or clear. It is apparently impenetrable disorder, for it is the meeting ground of forces. Because the forces in the aspirant’s [222] own body are equally in disorder, he blends in with the surrounding chaos to such an extent that it is at first almost impossible for the onlooking soul to dissociate its own astral mechanism from the astral mechanism of humanity as a whole, and from the astral mechanism of the world.

Điều này thật thú vị để lưu ý, vì tự nó là một trường hợp về tác động của cõi cảm dục lên bộ não con người, vốn trong tình trạng chưa được thông hiểu của nó đã đảo ngược thực tại và thấy sự vật trong trạng thái lộn ngược. Vẻ ngoài của cõi cảm dục khi lần đầu được “con mắt mở” của người chí nguyện thấy một cách xác định là một màn sương dày đặc, hỗn loạn, các hình tướng biến đổi, các màu sắc xuyên nhập và hòa lẫn vào nhau, và có vẻ ngoài như kính vạn hoa đến mức sự vô vọng của công việc dường như áp đảo. Nó không phải là ánh sáng, hay đầy sao, hay trong trẻo. Bề ngoài nó là sự rối loạn không thể xuyên thấu, vì nó là nơi gặp gỡ của các mãnh lực. Bởi các mãnh lực trong chính thể của người chí nguyện [222] cũng ở trong tình trạng rối loạn như thế, y hòa lẫn với sự hỗn mang chung quanh đến mức ban đầu linh hồn quan sát hầu như không thể tách biệt bộ máy cảm dục của chính mình khỏi bộ máy cảm dục của toàn thể nhân loại và khỏi bộ máy cảm dục của thế giới.

One of the first things then that the aspirant has to learn is to dissociate his own aura in the emotional sense from that of his surroundings and much time is expended in learning to do this. It is for this reason that one of the first qualifications of discipleship is discrimination, for it is through the use of the mind, as analyzer and separator, that the astral body is brought under control.

Vậy một trong những điều đầu tiên người chí nguyện phải học là tách rời hào quang của chính mình, theo nghĩa cảm xúc, khỏi hào quang của môi trường chung quanh, và nhiều thời gian được dùng để học làm điều này. Chính vì lý do này mà một trong những phẩm chất đầu tiên của địa vị đệ tử là phân biện, vì chính nhờ sử dụng thể trí như công cụ phân tích và tách biệt mà thể cảm dục được đưa vào sự kiểm soát.

Secondly, the astral plane is the plane of illusion, of glamour, and of a distorted presentation of reality. The reason for this is that every individual in the world is busy working in astral matter, and the potency of human desire and of world desire produces that constant “out-picturing” and form building which leads to the most concrete effects of astral matter. Individual desire, national desire, racial desire, the desire of humanity as a whole, plus the instinctual desire of all subhuman lives causes a constant changing and shifting of the substance of the plane; there is a building of the temporary forms, some of rare beauty, some of no beauty, and a vitalising by the astral energy of its creator. Add to these forms that persistent and steadily growing scenario we call the “akashic records” which concern the emotional history of the past, add the activities of the discarnate lives which are passing through the astral plane, either out of or towards incarnation, add the potent desire, purified and intelligent, of all superhuman Lives, including those of the occult planetary Hierarchy, and the sum total of forces present is stupendous. All play upon, around and through every human being, and according to the calibre of his physical body, and the condition of his centres [223] will be his response. Through this illusory panorama, the aspirant has to make his way, finding the clue or thread which will lead him out of the maze, and holding fast to each tiny fragment of reality as it presents itself to him, learning to distinguish truth from glamour, the permanent from the impermanent and the certainty from the unreal. As the Old Commentary puts it:

Thứ hai, cõi cảm dục là cõi của ảo tưởng, của ảo cảm, và của sự trình hiện thực tại một cách méo mó. Lý do là vì mỗi cá nhân trong thế giới đều đang bận rộn làm việc trong vật chất cảm dục, và quyền năng của ham muốn con người cùng ham muốn thế giới tạo ra sự “phóng ảnh ra ngoài” và kiến tạo hình tướng liên tục, dẫn đến các hiệu quả cụ thể nhất của vật chất cảm dục. Ham muốn cá nhân, ham muốn quốc gia, ham muốn chủng tộc, ham muốn của toàn thể nhân loại, cộng với ham muốn bản năng của mọi sự sống dưới nhân loại, gây ra sự biến đổi và dịch chuyển không ngừng của chất liệu cõi này; có sự kiến tạo các hình tướng tạm thời, một số có vẻ đẹp hiếm có, một số không có vẻ đẹp, và có sự tiếp sinh lực bởi năng lượng cảm dục của kẻ sáng tạo ra chúng. Hãy thêm vào các hình tướng này kịch bản dai dẳng và ngày càng tăng trưởng mà chúng ta gọi là “các ký ảnh tiên thiên”, liên quan đến lịch sử cảm xúc của quá khứ; thêm vào các hoạt động của những sự sống đã rời xác đang đi qua cõi cảm dục, hoặc ra khỏi hoặc hướng về sự lâm phàm; thêm vào ham muốn mạnh mẽ, đã được thanh luyện và thông minh, của mọi Sự Sống siêu nhân, kể cả các Sự Sống của Thánh Đoàn hành tinh huyền bí, thì tổng số các mãnh lực hiện diện là khổng lồ. Tất cả đều tác động lên, quanh và xuyên qua mỗi con người, và tùy theo phẩm chất của thể xác y cùng tình trạng các trung tâm của y [223] mà y sẽ đáp ứng. Xuyên qua toàn cảnh ảo tưởng này, người chí nguyện phải tìm đường đi, tìm chìa khóa hay sợi dây sẽ dẫn y ra khỏi mê cung, và bám chặt vào từng mảnh thực tại nhỏ bé khi nó hiện ra với y, học cách phân biệt chân lý với ảo cảm, cái thường tồn với cái vô thường, và điều chắc thật với điều không thực. Như Cổ Luận diễn tả:

“Let the disciple seize hold of the tail of the serpent of wisdom, and having with firmness grasped it, let him follow it into the deepest centre of the Hall of Wisdom. Let him not be betrayed into the trap set for him by the serpent of illusion, but let him shut his eyes to the colourful tracery upon its back, and his ears to the melody of its voice. Let him discern the jewel, set in the forehead of the serpent whose tail he holds, and by its radiance traverse the miry halls of maya.

“Hãy để đệ tử nắm lấy đuôi con rắn minh triết, và khi đã nắm vững chắc, hãy để y theo nó vào trung tâm sâu nhất của Phòng Minh triết. Đừng để y bị phản bội vào cái bẫy được con rắn ảo tưởng đặt ra cho y, mà hãy để y nhắm mắt trước đường nét đầy màu sắc trên lưng nó, và bịt tai trước giai điệu của tiếng nó. Hãy để y phân biện viên ngọc, được đặt nơi trán của con rắn mà y đang nắm đuôi, và nhờ hào quang của nó băng qua các phòng lầy lội của ảo lực.”

No glamour, no illusion can long hold the man who has set himself the task of treading the razor-edged Path which leads through the wilderness, through the thick-set forest, through the deep waters of sorrow and distress, through the valley of sacrifice and over the mountains of vision to the gate of Deliverance. He may travel sometimes in the dark (and the illusion of darkness is very real); he may travel sometimes in a light so dazzling and bewildering that he can scarcely see the way ahead; he may know what it is to falter on the Path, and to drop under the fatigue of service and of strife; he may be temporarily sidetracked and wander down the by-paths of ambition, of self-interest and of material enchantment, but the lapse will be but brief. Nothing in heaven or hell, on earth or elsewhere can prevent the progress of the man who has awakened to the illusion, who has glimpsed the reality beyond the glamour of the astral plane, and who has heard, even if only once, the clarion call of his own soul.

Không ảo cảm nào, không ảo tưởng nào có thể giữ lâu người đã tự đặt cho mình nhiệm vụ bước trên Đường Đạo sắc như lưỡi dao cạo, dẫn qua hoang địa, qua khu rừng rậm rạp, qua những dòng nước sâu của sầu khổ và thống khổ, qua thung lũng hi sinh và vượt qua các ngọn núi của tầm nhìn đến cổng Giải Thoát. Y đôi khi có thể đi trong bóng tối, và ảo tưởng của bóng tối rất thực; y đôi khi có thể đi trong một ánh sáng chói lòa và gây bối rối đến mức hầu như không thấy con đường phía trước; y có thể biết thế nào là chao đảo trên Đường Đạo, và gục xuống dưới sự mệt mỏi của phụng sự và tranh đấu; y có thể tạm thời bị đưa lệch đường và lang thang xuống các lối phụ của tham vọng, tư lợi và sự mê hoặc vật chất, nhưng sự sa sút ấy chỉ ngắn ngủi. Không điều gì trên thiên đường hay địa ngục, trên Trái Đất hay nơi nào khác có thể ngăn cản bước tiến của người đã thức tỉnh trước ảo tưởng, đã thoáng thấy thực tại vượt ngoài ảo cảm của cõi cảm dục, và đã nghe, dù chỉ một lần, tiếng kèn vang dội của chính linh hồn mình.

Webinar Program 3 – Rule 7.3

The astral plane is also the Kurukshetra, both of humanity [224] as a whole and of the individual human unit. It is the battle-ground whereon must be found the Waterloo of every aspirant. In some one life, there comes an emotional crisis in which decisive action is taken, and the disciple proves his control of his emotional nature. This may take the form of some great and vital test, covering a brief time but calling forth every resource of wisdom and of purity that the disciple possesses, or it may be a long and protracted emotional strain, carried over many years of living. But in the attaining of success and in the achievement of clear vision and right discernment (through right discrimination) the disciple testifies to his fitness for the second initiation.

Cõi cảm dục cũng là Kurukshetra, cả của toàn thể nhân loại [224] lẫn của đơn vị con người cá biệt. Đó là chiến trường nơi phải tìm thấy Waterloo của mỗi người chí nguyện. Trong một kiếp sống nào đó, có một khủng hoảng cảm xúc trong đó hành động quyết định được thực hiện, và đệ tử chứng tỏ quyền kiểm soát của mình đối với bản chất cảm xúc. Điều này có thể mang hình thức của một thử thách lớn lao và thiết yếu nào đó, diễn ra trong thời gian ngắn nhưng kêu gọi mọi nguồn minh triết và thanh khiết mà đệ tử có, hoặc có thể là một sức căng cảm xúc kéo dài và dai dẳng, trải qua nhiều năm sống. Nhưng trong việc đạt được thành công, và trong việc đạt được tầm nhìn rõ ràng cùng phân biện tinh thần đúng đắn qua sự phân biện đúng, đệ tử chứng tỏ y xứng đáng với lần điểm đạo thứ hai.

I would like to point out that it is this test and crisis through which humanity is now passing, and which began in those conditions which culminated in the world war and the present world strain. The first initiation of humanity, as an entity, took place when individualization became possible, and the soul was born in the body of humanity. This was preceded by a period of fearful stress and strain, dimly sensed by the pioneers into the human kingdom from the ranks of the animal-men. Should this crisis be successfully passed, the second initiation of humanity will be the result—the passing through the baptism and the entering of the stream. So the world war and its resulting effects constitute the Kurukshetra of the world Arjuna, and the outcome is still in the balance. Let this not be forgotten. There is however no cause for pessimism. The outcome of good is inevitable. It is however a question of a slow or a rapid realization and liberation from the great world illusion, and to this end every aspirant is begged to work strenuously and to lend his aid. Every man who liberates himself, who sees clearly, and who releases himself from the glamour of illusion aids in the Great Work. [225]

Tôi muốn chỉ ra rằng chính thử thách và khủng hoảng này là điều nhân loại hiện đang trải qua, và nó đã bắt đầu trong những điều kiện đạt cao điểm nơi cuộc chiến tranh thế giới và sự căng thẳng thế giới hiện nay. Lần điểm đạo thứ nhất của nhân loại, với tư cách một thực thể, đã diễn ra khi sự biệt ngã hóa trở nên khả hữu, và linh hồn được sinh ra trong thể của nhân loại. Điều này được đi trước bởi một thời kỳ căng thẳng và áp lực đáng sợ, được những người tiên phong tiến vào giới nhân loại từ hàng ngũ người thú cảm nhận mơ hồ. Nếu khủng hoảng này được vượt qua thành công, lần điểm đạo thứ hai của nhân loại sẽ là kết quả—sự đi qua phép rửa và bước vào dòng nước. Vì thế, cuộc chiến tranh thế giới và các hệ quả của nó tạo thành Kurukshetra của Arjuna thế giới, và kết quả vẫn còn ở thế cân bằng. Đừng quên điều này. Tuy nhiên, không có lý do gì để bi quan. Kết quả tốt là tất yếu. Tuy vậy, vấn đề là sự nhận biết và giải thoát khỏi đại ảo tưởng thế giới sẽ chậm hay nhanh, và vì mục đích này, mỗi người chí nguyện được khẩn thiết yêu cầu làm việc mạnh mẽ và góp phần trợ giúp. Mỗi người tự giải thoát mình, thấy rõ ràng, và giải phóng mình khỏi ảo cảm của ảo tưởng đều trợ giúp Đại Công Việc. [225]

Again, the astral plane is that whereon the pairs of opposites act and interact, and whereon the pull of the great dualities is most potently felt. Primarily, the interaction is between the soul and its vehicle, matter, but there are many lesser dualities which play their part and are more easily recognized by the average man.

Một lần nữa, cõi cảm dục là nơi các cặp đối lập tác động và tương tác, và là nơi sức kéo của các nhị nguyên lớn được cảm nhận mạnh mẽ nhất. Trước hết, sự tương tác là giữa linh hồn và vận cụ của nó, tức vật chất, nhưng có nhiều nhị nguyên nhỏ hơn cùng đóng vai trò của chúng và dễ được người trung bình nhận ra hơn.

Light and darkness interact, as do pleasure and pain; good and evil meet and form the playground of the Gods, and poverty and riches are offset one against the other. The entire modern economic situation is of an astral nature; it is the outcome of desire and the result of a certain selfish use of the forces of matter. Heat and cold, as we understand the term, in a most peculiar manner are the result of the interplay of the pairs of opposites, and an interesting line of occult study concerns itself with the effects of racial emotions on climatic conditions. We most truly make our climate in one significant sense. When desire has burnt itself out, planetary life comes to an end, as climatic conditions will negate form-life as we understand it.

Ánh sáng và bóng tối tương tác, cũng như khoái lạc và đau khổ; thiện và ác gặp nhau và tạo thành sân chơi của các Thượng đế, và nghèo khó cùng giàu sang hóa giải lẫn nhau. Toàn bộ tình trạng kinh tế hiện đại có bản chất cảm dục; nó là kết quả của ham muốn và là hệ quả của một cách sử dụng ích kỷ nào đó đối với các mãnh lực của vật chất. Nóng và lạnh, như chúng ta hiểu thuật ngữ này, theo một cách rất đặc biệt, là kết quả của sự tương tác giữa các cặp đối lập, và một hướng nghiên cứu huyền bí thú vị liên quan đến các tác động của cảm xúc chủng tộc lên điều kiện khí hậu. Theo một ý nghĩa quan trọng, chính chúng ta thật sự tạo nên khí hậu của mình. Khi ham muốn đã tự thiêu rụi, sự sống hành tinh đi đến kết thúc, vì các điều kiện khí hậu sẽ phủ định sự sống hình tướng như chúng ta hiểu.

In relation to the human unit, the secret of liberation lies in the balancing of the forces and the equilibrising of the pairs of opposites. The Path is the narrow line between these pairs which the aspirant finds and treads, turning neither to the right nor to the left.

Liên quan đến đơn vị con người, bí quyết giải thoát nằm trong việc quân bình các mãnh lực và làm cân bằng các cặp đối lập. Đường Đạo là đường hẹp giữa các cặp này, mà người chí nguyện tìm thấy và bước đi, không rẽ sang phải cũng không rẽ sang trái.

It must be remembered always that when the pairs of opposites are discerned, when a man balances the forces of his own nature, when he has found the Path and become the Path, then he can work with the world forces, can preserve the balance and the equilibrium of the energies of the three worlds and so become a co-worker with the Masters of the Wisdom. Let us pray and hope that this may be the practical outcome of our understanding of the nature of the battleground of the astral plane.

Cần luôn nhớ rằng khi các cặp đối lập được phân biện, khi con người quân bình các mãnh lực của bản chất chính mình, khi y đã tìm thấy Đường Đạo và trở thành Đường Đạo, khi ấy y có thể làm việc với các mãnh lực thế giới, có thể gìn giữ sự cân bằng và quân bình của các năng lượng trong ba cõi thấp, và do đó trở thành cộng sự viên với các Chân sư Minh Triết. Chúng ta hãy cầu nguyện và hy vọng rằng đây có thể là kết quả thực tiễn từ sự thấu hiểu của chúng ta về bản chất chiến trường của cõi cảm dục.

Webinar Program 4 – Rule 7.4

The Two Paths

[226]

[226]

Passing from our consideration of the nature of the astral plane we will deal with its functions and the relation of the disciple to its activities. Let us remember certain things about it. First, it is pre-eminently the battle-ground, and on it is fought the warfare which eventuates in the final release of the imprisoned soul. It is useful to have in mind the outstanding characteristics of the three planes and the three bodies which function on them.

Rời khỏi sự suy xét của chúng ta về bản chất của cõi cảm dục, chúng ta sẽ đề cập đến các chức năng của nó và mối liên hệ của đệ tử với các hoạt động của nó. Chúng ta hãy nhớ một số điều về nó. Trước hết, nó nổi bật là chiến trường, và trên đó diễn ra cuộc chiến đưa đến sự giải thoát cuối cùng của linh hồn bị giam cầm. Thật hữu ích khi ghi nhớ các đặc điểm nổi bật của ba cõi và ba thể hoạt động trên đó.

The physical plane is the plane of active experience in and through matter. It is the plane of externalisation and, according to the condition and point of development of the inner man, so will be the outer form and its activities.

Cõi hồng trần là cõi của kinh nghiệm linh hoạt trong và qua vật chất. Đó là cõi của sự ngoại hiện, và tùy theo tình trạng cùng điểm phát triển của con người bên trong, hình tướng bên ngoài và các hoạt động của nó cũng sẽ như vậy.

The astral plane is the plane whereon the man passes through three stages of consciousness:

Cõi cảm dục là cõi nơi con người đi qua ba giai đoạn tâm thức:

a. He gains, through his sensory apparatus, consciousness in the world of forms, and develops ability to re-act to those forms with wisdom and intelligence. This consciousness he shares with the animal world, though he goes far beyond them in some respects, owing to his possession of a correlating and co-ordinating mind.

a. Nhờ bộ máy giác quan của mình, y đạt được tâm thức trong thế giới hình tướng, và phát triển khả năng phản ứng với các hình tướng ấy bằng minh triết và trí thông minh. Tâm thức này y chia sẻ với thế giới động vật, dù y vượt xa chúng ở một số phương diện, nhờ sở hữu một thể trí có khả năng tương liên và phối hợp.

b. Sensitivity, or awareness of moods, emotions and feelings, desires and aspirations which have their roots within him in the principle of self-consciousness, or in the ahamkara principle, as the occultist (who loves difficult phrases) is apt to call it. This he shares in common with his fellow-men.

b. Sự nhạy cảm, hay nhận biết về các tâm trạng, cảm xúc và tình cảm, ham muốn và khát vọng vốn có gốc rễ trong y nơi nguyên khí ngã thức, hay nơi nguyên khí tạo-ngã, như nhà huyền bí học, vốn ưa các cụm từ khó, thường gọi. Điều này y có chung với các đồng loại của mình.

c. Spiritual awareness or sensitiveness to the spiritual world, and the feeling aspect of the higher consciousness. This has its roots in the soul, presupposes the dominance of the mental nature, and is that faculty [227] which constitutes him a mystic. This awareness he shares in common with all disciples and it is the reward of the gained victories of his astral plane experience.

c. Sự nhận biết tinh thần hay tính nhạy cảm đối với thế giới tinh thần, và phương diện cảm nhận của tâm thức cao hơn. Điều này có gốc rễ trong linh hồn, giả định sự chi phối của bản chất trí tuệ, và là năng lực [227] khiến y trở thành một nhà thần bí. Sự nhận biết này y có chung với mọi đệ tử, và đó là phần thưởng của những chiến thắng đã đạt được qua kinh nghiệm cõi cảm dục của y.

The mental plane comes next. In it the right use of the intellect is the outstanding achievement. This is also characterised by three stages:

Cõi trí kế tiếp. Trong đó, việc sử dụng đúng trí năng là thành tựu nổi bật. Điều này cũng được đặc trưng bởi ba giai đoạn:

a. The stage wherein the mind is the receiver of impressions from the outer world, via the five senses and the brain. This is a negative condition, and, in it, the “modifications of the thinking principle” are brought about through the impacts of the external world, and the re-actions of the astral world.

a. Giai đoạn trong đó thể trí là nơi tiếp nhận các ấn tượng từ thế giới bên ngoài, qua năm giác quan và bộ não. Đây là một tình trạng âm tính, và trong đó, “những biến thái của nguyên khí tư tưởng” được tạo ra do các va chạm của thế giới bên ngoài và các phản ứng của thế giới cảm dục.

b. The stage wherein the mind initiates its own activities, and wherein the intellect is a dominating factor. Though thrown into activity by the factors enumerated above, it is responsive also to the thought currents of the mental plane as well, and becomes exceedingly active as the result of these two contacts. Out of these a third activity supervenes wherein the reasoning principle acts upon the information gained in these two ways, sets its own streams of thoughts, and formulates its own thought forms, as well as registering those of others.

b. Giai đoạn trong đó thể trí khởi phát các hoạt động riêng của nó, và trong đó trí năng là một yếu tố chi phối. Dù được đưa vào hoạt động bởi các yếu tố đã liệt kê ở trên, nó cũng đáp ứng với các dòng tư tưởng của cõi trí, và trở nên cực kỳ linh hoạt do hai tiếp xúc này. Từ đó phát sinh một hoạt động thứ ba, trong đó nguyên khí lý luận tác động lên thông tin thu được theo hai cách này, thiết lập các dòng tư tưởng của riêng nó, và tạo lập các hình tư tưởng của riêng nó, đồng thời ghi nhận các hình tư tưởng của người khác.

c. The stage wherein the soul, through concentration and meditation succeeds in imposing its ideas and impressions upon the mind held “steady in the light” and so enables the mental body to respond to impressions and contacts emanating from the subjective and spiritual worlds.

c. Giai đoạn trong đó linh hồn, nhờ tập trung và tham thiền, thành công trong việc in các ý tưởng và ấn tượng của mình lên thể trí được giữ “vững vàng trong ánh sáng”, và nhờ vậy khiến thể trí có thể đáp ứng với các ấn tượng và tiếp xúc phát ra từ các thế giới nội tâm và tinh thần.

Yet the battle, par excellence, is fought out in the astral body, and only reaches its most intense point and its potent fierceness when there is a good physical instrument and a well-equipped mentality. The greater the sensitivity of the astral body, the greater its reactions to [228] the physical world and to the mental condition and hence the fact emerges that disciples and the more highly evolved people in the world have a more potent astral body and work under greater emotional strain than the less highly evolved and the liberated sons of God.

Tuy nhiên, trận chiến đúng nghĩa nhất được chiến đấu trong thể cảm dục, và chỉ đạt đến điểm mãnh liệt nhất cùng sự dữ dội mạnh mẽ của nó khi có một công cụ hồng trần tốt và một trí tuệ được trang bị đầy đủ. Thể cảm dục càng nhạy cảm bao nhiêu, các phản ứng của nó đối với [228] thế giới hồng trần và tình trạng trí tuệ càng lớn bấy nhiêu, và từ đó nảy sinh sự kiện rằng các đệ tử và những người tiến hoá cao hơn trong thế giới có một thể cảm dục mạnh mẽ hơn và làm việc dưới sức căng cảm xúc lớn hơn so với những người kém tiến hoá hơn và các Con của Thượng đế đã được giải thoát.

Students are therefore begged to deal drastically and potently with their emotional natures, remembering that victory descends from above and cannot be worked up to from below. The soul must govern and its instrument in the warfare is the consecrated mind.

Do đó, các đạo sinh được khẩn thiết yêu cầu xử lý bản chất cảm xúc của mình một cách quyết liệt và mạnh mẽ, nhớ rằng chiến thắng đi xuống từ trên cao và không thể được xây dựng từ dưới lên. Linh hồn phải cai quản và công cụ của nó trong cuộc chiến là thể trí đã được thánh hiến.

It is interesting to note the occult sequence in the description given of this plane in the rule under consideration.

Thật thú vị khi lưu ý trình tự huyền bí trong phần mô tả về cõi này trong quy luật đang được xem xét.

It is first of all the plane of dual forces. The first thing the aspirant becomes aware of is duality. The little evolved man is aware of synthesis, but it is the synthesis of his material nature. The highly spiritual man is aware also of synthesis but it is that in his soul, whose consciousness is that of unity. But in between is the wretched aspirant, conscious of duality above all else and pulled hither and thither between the two. His first step has, for its objective, to make him aware of the pairs of opposites and of the necessity to choose between them. Through the light, which he has discovered in himself, he becomes aware of the dark. Through the good which attracts him, he sees the evil which is for him the line of least resistance. Through the activity of pain, he can visualize and become aware of pleasure, and heaven and hell become to him realities. Through the activity of the attractive life of his soul, he realizes the attraction of matter and of form, and is forced to recognize the urge and pull of both of them. He learns to feel himself as “pendant ‘twixt the two great forces”, and, once the dualities are grasped, it dawns on him slowly and surely that the deciding factor in the struggle is his divine will, in contradistinction to his selfish will. [229] Thus the dual forces play their part until they are seen as two great streams of divine energy, pulling in opposite directions, and he becomes then aware of the two paths, mentioned in our rule. One path leads back into the dreary land of rebirth, and the other leads through the golden gate to the city of free souls. One is therefore involutionary and involves him in deepest matter; the other leads him out of the body nature, and makes him eventually aware of his spiritual body, through which he can function in the kingdom of the soul. One path, later on (when he is a true and pledged chela) is known to him as the left hand path and the other the path of right activity.

Trước hết, đó là cõi của các mãnh lực kép. Điều đầu tiên người chí nguyện trở nên nhận biết là nhị nguyên. Người kém tiến hoá nhận biết tổng hợp, nhưng đó là tổng hợp của bản chất vật chất của y. Người có tinh thần cao cũng nhận biết tổng hợp, nhưng đó là tổng hợp trong linh hồn y, mà tâm thức của linh hồn là tâm thức của hợp nhất. Nhưng ở giữa là người chí nguyện khốn khổ, ý thức về nhị nguyên hơn bất cứ điều gì khác và bị kéo qua kéo lại giữa hai bên. Bước đầu tiên của y có mục tiêu là khiến y nhận biết các cặp đối lập và sự cần thiết phải chọn lựa giữa chúng. Nhờ ánh sáng mà y đã khám phá trong chính mình, y trở nên nhận biết bóng tối. Nhờ cái thiện thu hút y, y thấy cái ác, vốn đối với y là con đường ít trở ngại nhất. Nhờ hoạt động của đau khổ, y có thể hình dung và nhận biết khoái lạc, và thiên đường cùng địa ngục trở thành các thực tại đối với y. Nhờ hoạt động của sự sống hấp dẫn của linh hồn mình, y nhận ra sức hấp dẫn của vật chất và hình tướng, và buộc phải nhận biết sự thôi thúc cùng sức kéo của cả hai. Y học cảm thấy chính mình như “treo lơ lửng giữa hai mãnh lực lớn”, và một khi các nhị nguyên được nắm bắt, dần dần và chắc chắn y sáng tỏ rằng yếu tố quyết định trong cuộc đấu tranh là ý chí thiêng liêng của y, đối lập với ý chí ích kỷ của y. [229] Như vậy, các mãnh lực kép đóng vai trò của chúng cho đến khi chúng được thấy như hai dòng năng lượng thiêng liêng lớn, kéo theo hai hướng ngược nhau, và khi ấy y trở nên nhận biết hai con đường được nhắc đến trong quy luật của chúng ta. Một con đường dẫn trở lại vùng đất tái sinh ảm đạm, và con đường kia dẫn qua cổng vàng vào thành phố của các linh hồn tự do. Do đó, một con đường là giáng hạ tiến hoá và lôi kéo y vào vật chất sâu nhất; con đường kia dẫn y ra khỏi bản chất thể xác, và cuối cùng khiến y nhận biết thể tinh thần của mình, nhờ đó y có thể hoạt động trong giới của linh hồn. Một con đường, về sau, khi y là một đệ tử chân chính và đã cam kết, được y biết đến như tả đạo, và con đường kia là con đường của hoạt động đúng đắn.

Webinar Program 5- Rule 7.5

On one path, he becomes proficient in black magic, which is only the developed powers of the personality, subordinated to the selfish purposes of a man whose motives are those of self interest and worldly ambition. These confine him to the three worlds and shut the door which opens on to life. On the other path, he subordinates his personality and exercises the magic of the White Brotherhood, working always in the light of the soul with the soul in all forms, and laying no emphasis upon the ambitions of the personal self. Clear discrimination of these two paths reveals what is called in some occult books that “narrow razor-edged Path” which lies between the two. This is the “noble middle Path” of the Buddha and marks the fine line of demarcation between the pairs of opposites, and between the two streams which he has learnt to recognize—one going up unto the gates of heaven, and the other passing down into the nethermost hell.

Trên một con đường, y trở nên thành thạo trong Hắc thuật, vốn chỉ là các quyền năng đã phát triển của phàm ngã, bị đặt dưới các mục đích ích kỷ của một người mà động cơ là tư lợi và tham vọng thế gian. Những điều này giam giữ y trong ba cõi thấp và đóng cánh cửa mở vào sự sống. Trên con đường kia, y đặt phàm ngã của mình dưới quyền và thực hành huyền thuật của Huynh đệ Đoàn Chánh đạo, luôn làm việc trong ánh sáng của linh hồn cùng với linh hồn trong mọi hình tướng, và không nhấn mạnh vào các tham vọng của bản ngã cá nhân. Sự phân biện rõ ràng giữa hai con đường này mặc khải điều được gọi trong một số sách huyền bí là “Đường Đạo hẹp sắc như lưỡi dao cạo” nằm giữa hai con đường ấy. Đây là “Trung Đạo cao quý” của Đức Phật và đánh dấu ranh giới tinh tế giữa các cặp đối lập, cũng như giữa hai dòng mà y đã học nhận biết—một dòng đi lên đến các cổng thiên đường, và dòng kia đi xuống địa ngục thấp nhất.

By the exercise of the two main weapons of the aspirant, discrimination and dispassion, he gains that quality which is called in this rule “the vital power”. Just as the eye is the instrument of choice in choosing the way of travel on the physical plane and has besides a potency all its own whereby it attracts and develops its [230] own sign language, so a vital power is felt in the aspirant. This eventually brings the third eye into activity, and so there is gained a potency and a clear vision which make right choice and quick progress upon the way a steady progression. We are told that power is grown or developed in silence, and only he who can find a centre of peace within his head, where the paths of the bodily forces and the spiritual inflowing tides meet, can rightly practice true discrimination and that dispassion which bring the controlled astral and mental bodies under the guidance of the soul.

Bằng việc vận dụng hai khí cụ chính của người chí nguyện, phân biện và vô dục, y đạt được phẩm tính được gọi trong quy luật này là “quyền năng thiết yếu”. Giống như con mắt là công cụ lựa chọn trong việc chọn đường đi trên cõi hồng trần, và ngoài ra còn có một quyền năng riêng nhờ đó nó thu hút và phát triển [230] ngôn ngữ dấu hiệu riêng của mình, cũng vậy, một quyền năng thiết yếu được cảm nhận trong người chí nguyện. Điều này cuối cùng đưa con mắt thứ ba vào hoạt động, và nhờ đó đạt được một quyền năng cùng một tầm nhìn rõ ràng, khiến sự lựa chọn đúng đắn và sự tiến nhanh trên con đường trở thành một tiến trình vững chắc. Chúng ta được dạy rằng quyền năng lớn lên hay phát triển trong im lặng, và chỉ người nào có thể tìm thấy một trung tâm bình an trong đầu mình, nơi các con đường của những mãnh lực thuộc thể xác và các dòng tuôn nhập tinh thần gặp nhau, mới có thể thực hành đúng sự phân biện chân chính và vô dục vốn đưa các thể cảm dục và trí tuệ đã được kiểm soát vào dưới sự hướng dẫn của linh hồn.

Then he can understand the significance of “the vibrating poles”, and achieve that point of equilibrium which is the result of their interaction and vibration.

Khi ấy, y có thể thấu hiểu thâm nghĩa của “các cực rung động”, và đạt được điểm quân bình vốn là kết quả của sự tương tác và rung động của chúng.

The sensing of the dual forces and the clear discrimination of the two paths leads to the development of the vital power. This vital power demonstrates its first activity in enabling the aspirant to achieve a point of balance and so stand on that pinnacle of achievement whereon “a choice is made”.

Việc cảm nhận các mãnh lực kép và sự phân biện rõ ràng hai con đường dẫn đến sự phát triển của quyền năng thiết yếu. Quyền năng thiết yếu này biểu lộ hoạt động đầu tiên của nó qua việc giúp người chí nguyện đạt được một điểm cân bằng, và do đó đứng trên đỉnh cao thành tựu nơi “một lựa chọn được thực hiện”.

What is that choice? For the aspirant, it is that between rapid and slow progress. For the disciple, accepted and loyal, it is the choice between methods of service. For the initiate it oft lies betwixt spiritual advancement and the arduous work of staying with the group and working out the plan. For the Master it is the choice between the seven Paths, and it will therefore be apparent how much more strenuous and difficult is his problem.

Lựa chọn ấy là gì? Đối với người chí nguyện, đó là lựa chọn giữa tiến bộ nhanh và chậm. Đối với đệ tử đã được chấp nhận và trung thành, đó là lựa chọn giữa các phương pháp phụng sự. Đối với điểm đạo đồ, nó thường nằm giữa sự tiến bộ tinh thần và công việc gian khổ của việc ở lại với nhóm và thực hiện Thiên Cơ. Đối với Chân sư, đó là lựa chọn giữa bảy Con Đường, và do đó sẽ thấy rõ vấn đề của Ngài cam go và khó khăn hơn biết bao.

All however prepares the aspirant for right choice through right discrimination leading to right action, and made possible through practiced dispassion. In this sentence is summed up the technique of the warrior upon the battle-field of the desire plane.

Tuy nhiên, tất cả đều chuẩn bị người chí nguyện cho sự lựa chọn đúng đắn qua phân biện đúng, dẫn đến hành động đúng, và được làm cho khả hữu nhờ vô dục đã được thực hành. Trong câu này được tóm lược kỹ thuật của chiến sĩ trên chiến trường của cõi ham muốn.

It should here be noted that in the steadily developing power of choice, and the loyally fought battle of the astral [231] plane, the consciousness in the man shifts stage by stage. First, it is the battered earth-weary aspirant who has to struggle with desire, with glamour, with ambition and with his sensitive emotional body. He thinks the battle is stupendous but from the wider angle it is relatively small—yet all that he can stand.

Ở đây cần lưu ý rằng trong quyền năng lựa chọn đang phát triển đều đặn, và trong trận chiến được chiến đấu trung thành trên cõi cảm dục [231], tâm thức trong con người chuyển dịch từng giai đoạn. Trước hết, đó là người chí nguyện bị vùi dập và mệt mỏi vì Trái Đất, phải vật lộn với ham muốn, với ảo cảm, với tham vọng và với thể cảm xúc nhạy cảm của mình. Y nghĩ trận chiến là khổng lồ, nhưng từ góc nhìn rộng hơn, nó tương đối nhỏ—tuy vậy đó là tất cả những gì y có thể chịu đựng.

Later, it is the experienced probationary disciple who wrestles in the vale of illusion, and deals not alone with his own nature but with the forces of that vale also, recognising its dual nature. Then, the disciple comes forth to battle and faces with courage (and often with clear vision) the forces arrayed against him. They involve not only those in his own nature and in those aspects of the astral plane to which he naturally re-acts, but also involve the forces of illusion arrayed against the group of disciples to which he belongs. Let all disciples take note of this and have it in mind in these difficult and strenuous days. Such disciples are in conscious contact at times with their soul forces and for them there is no defeat nor turning back. They are the tried warriors, scarred and tired, yet knowing that triumphant victory lies ahead, for the soul is omnipotent. Accepted disciples, who battle all the above enumerated factors, plus the black forces arrayed against the Elder Brothers, can call upon the spiritual energies of their group and at rare and indicated moments upon the Master under whom they work. Thus the work and labour expands; thus the responsibility and struggle steadily increases; yet at the same time there is also a steadily growing reception of potencies which can be contacted and utilized and which when correctly contacted insure victory at the end.

Về sau, đó là đệ tử dự bị có kinh nghiệm, vật lộn trong thung lũng ảo tưởng, và không chỉ xử lý bản chất riêng của mình mà còn cả các mãnh lực của thung lũng ấy, nhận biết bản chất nhị nguyên của nó. Rồi đệ tử bước ra chiến đấu và đối diện với lòng can đảm, và thường với tầm nhìn rõ ràng, các mãnh lực được dàn ra chống lại y. Chúng không chỉ bao gồm những mãnh lực trong bản chất riêng của y và trong các phương diện của cõi cảm dục mà y tự nhiên phản ứng, mà còn bao gồm các mãnh lực ảo tưởng được dàn ra chống lại nhóm đệ tử mà y thuộc về. Tất cả các đệ tử hãy lưu ý điều này và ghi nhớ trong những ngày khó khăn và căng thẳng này. Những đệ tử như thế đôi khi tiếp xúc có ý thức với các mãnh lực linh hồn của họ, và đối với họ không có thất bại cũng không có quay lui. Họ là những chiến sĩ đã được thử thách, đầy sẹo và mệt mỏi, nhưng biết rằng chiến thắng khải hoàn đang ở phía trước, vì linh hồn là toàn năng. Các đệ tử được chấp nhận, những người chiến đấu với tất cả các yếu tố đã liệt kê ở trên, cộng với các mãnh lực đen tối dàn ra chống lại các Huynh Trưởng, có thể kêu gọi các năng lượng tinh thần của nhóm họ, và vào những thời điểm hiếm hoi, được chỉ định, kêu gọi Chân sư mà dưới quyền Ngài họ làm việc. Như thế, công việc và lao động mở rộng; như thế, trách nhiệm và cuộc đấu tranh tăng lên đều đặn; tuy nhiên, đồng thời cũng có sự tiếp nhận ngày càng tăng đều đặn các quyền năng có thể được tiếp xúc và sử dụng, và khi được tiếp xúc đúng đắn, chúng bảo đảm chiến thắng sau cùng.

Webinar Program 6 – Rule 7.6

The phrase “the one who meditates” relates to the soul. Arjuna, the aspiring disciple, resigns the struggle and hands the weapons and the reins of government to Krishna, the soul, and is rewarded at last by understanding [232] and by a vision of the divine form which veils the Son of God Who is Himself.

Cụm từ “người hành thiền” liên hệ đến linh hồn. Arjuna, đệ tử chí nguyện, từ bỏ cuộc đấu tranh và trao vũ khí cùng dây cương cai quản cho Krishna, linh hồn, và cuối cùng được tưởng thưởng bằng sự thấu hiểu [232] cùng một linh ảnh về hình tướng thiêng liêng che phủ Con của Thượng đế, chính là Ngài.

When this battle has been fought and won the disciple steps into the ranks of the white magicians of our planet and can wield forces, cooperate with the plan, command the elementals, and bring order out of chaos. He is no longer immersed in the world illusion but has risen above it. He can no longer be held down by the chains of his own past habits and his karma. He has gained the vital power and stands forth an Elder Brother.

Khi trận chiến này đã được chiến đấu và chiến thắng, đệ tử bước vào hàng ngũ các nhà huyền thuật chánh đạo của hành tinh chúng ta và có thể vận dụng các mãnh lực, hợp tác với Thiên Cơ, chỉ huy các hành khí, và đem trật tự ra khỏi hỗn mang. Y không còn chìm đắm trong ảo tưởng thế giới mà đã vượt lên trên nó. Y không còn có thể bị trói buộc bởi xiềng xích của các thói quen quá khứ và nghiệp quả của chính mình. Y đã đạt được quyền năng thiết yếu và đứng ra như một Huynh Trưởng.

Such is the path ahead of each and all who dare to tread it. Such is the opportunity offered to all students who have made their choice with dispassion and are prompted by love and the desire to serve.

Đó là con đường phía trước của mỗi người và tất cả những ai dám bước đi trên đó. Đó là cơ hội được trao cho mọi đạo sinh đã thực hiện lựa chọn của mình với vô dục và được thúc đẩy bởi tình thương cùng ham muốn phụng sự.

RULE EIGHT

Webinar Program 7- Rule 8.1

The Agnisuryans respond to the sound. The waters ebb and flow. Let the magician guard himself from drowning, at the point where land and water meet. The midway spot, which is neither dry nor wet, must provide the standing place whereon his feet are set. When water, land and air meet there is the place for magic to be wrought.

Các thiên thần lửa-thái dương đáp ứng với âm thanh. Nước rút xuống rồi dâng lên. Hãy để nhà huyền thuật tự giữ mình khỏi chết đuối, tại điểm nơi đất và nước gặp nhau. Nơi ở giữa, không khô cũng không ướt, phải cung cấp chỗ đứng nơi chân y được đặt. Khi nước, đất và khí gặp nhau, nơi đó là chỗ để huyền thuật được thực hiện.

Types of Astral Force

[235]

[235]

It would be advisable for the student to read with care the commentary on this rule as given in the Treatise on Cosmic Fire. It will be noted how extremely abstruse it is and how full of almost blind occult information. This should however be studied. The word “astral plane” should also be looked up and a general idea gained as to its nature and its function as the battle-ground of the senses, and as the place from which magic is wrought. The intelligent and constructive desire of the white magician, acting under the instruction of his own soul and therefore occupied with group work, is the motivating power back of all magical phenomena. This magical work is begun in the magician’s own life, extends to the world of the astral plane and from thence (when potent there) can begin to demonstrate on the physical plane and on the higher planes eventually.

Sẽ là điều đáng khuyên cho đạo sinh khi đọc kỹ phần bình giải về quy luật này như được đưa ra trong Luận về Lửa Vũ Trụ. Cần lưu ý rằng nó cực kỳ khó hiểu và đầy những thông tin huyền bí gần như mù mờ. Tuy nhiên, điều này cần được nghiên cứu. Từ “cõi cảm dục” cũng cần được tra cứu, và cần đạt được một ý niệm tổng quát về bản chất và chức năng của nó như chiến trường của các giác quan, và như nơi từ đó huyền thuật được thực hiện. Ham muốn thông minh và xây dựng của nhà huyền thuật chánh đạo, hành động dưới huấn thị của chính linh hồn mình và do đó bận tâm với công việc nhóm, là quyền năng thúc đẩy đứng sau mọi hiện tượng huyền thuật. Công việc huyền thuật này được bắt đầu trong đời sống riêng của nhà huyền thuật, mở rộng đến thế giới của cõi cảm dục và từ đó, khi đã mạnh mẽ tại đó, có thể bắt đầu biểu lộ trên cõi hồng trần và cuối cùng trên các cõi cao hơn.

We shall, therefore, take a good deal of time over this rule for it covers the immediate work and activity of the intelligent aspirant. It is the most important in the book from the standpoint of the average student. It cannot be understood where there is no soul contact, nor can the magical force of the soul work out in manifestation upon the physical plane until the meaning of its esoteric phrases has been somewhat wrought out in the inner experience of the magician.

Vì vậy, chúng ta sẽ dành khá nhiều thời gian cho quy luật này, vì nó bao quát công việc và hoạt động tức thời của người chí nguyện thông minh. Nó là quy luật quan trọng nhất trong sách xét từ quan điểm của đạo sinh trung bình. Nó không thể được thấu hiểu nơi không có tiếp xúc linh hồn, và mãnh lực huyền thuật của linh hồn cũng không thể vận hành ra biểu hiện trên cõi hồng trần cho đến khi ý nghĩa của các cụm từ huyền bí của nó đã phần nào được thực hiện trong kinh nghiệm nội tâm của nhà huyền thuật.

Most true aspirants are now at the midway spot, and can either drown (and so make no further progress this life), stand and so hold the ground gained, or become true practicing magicians, efficient in white magic, which is [236] based on love, animated by wisdom and intelligently applied to forms.

Hầu hết những người chí nguyện chân chính hiện nay đang ở Nơi ở giữa, và có thể hoặc chết đuối, do đó không tiến thêm được nữa trong kiếp sống này, hoặc đứng vững và nhờ vậy giữ được vùng đất đã đạt, hoặc trở thành những nhà huyền thuật thực hành chân chính, hữu hiệu trong Chánh Thuật, vốn [236] dựa trên tình thương, được làm sinh động bởi minh triết và được áp dụng một cách thông minh vào các hình tướng.

We will, therefore, divide this rule into several parts, the more easily to study it and take them up step by step, so as to grasp their application to the average life of the probationary disciple, and to gain a wise understanding of their wide implications.

Vì vậy, chúng ta sẽ chia quy luật này thành nhiều phần để dễ nghiên cứu hơn, và sẽ lần lượt bàn đến từng phần, nhằm nắm được cách áp dụng của chúng vào đời sống trung bình của đệ tử dự bị, và đạt được một sự thấu hiểu minh triết về các hàm ý rộng lớn của chúng.

These three divisions are:

Ba phần này là:

1. The response of the astral elementals and the consequent ebb and flow of the waters.

1. Sự đáp ứng của các hành khí cảm dục và hệ quả là sự rút xuống và dâng lên của nước.

2. The dangers of the midway spot, its nature and the opportunity it affords.

2. Các nguy hiểm của Nơi ở giữa, bản chất của nó và cơ hội mà nó đem lại.

3. The place where magic is wrought.

3. Nơi huyền thuật được thực hiện.

We will study now the first point which is summed up for us in the words:

Bây giờ chúng ta sẽ nghiên cứu điểm thứ nhất, được tóm lược cho chúng ta trong những lời:

“The Agnisuryans respond to the sound.

“Các thiên thần lửa-thái dương đáp ứng với âm thanh.

The waters ebb and flow.”

Nước rút xuống rồi dâng lên.”

The situation might be stated in the following terse statements. The rules already studied convey the truth anent the magician.

Tình huống có thể được trình bày trong các phát biểu ngắn gọn sau đây. Các quy luật đã được nghiên cứu truyền đạt chân lý liên quan đến nhà huyền thuật.

1. The soul has communicated with his instrument in the three worlds.

1. Linh hồn đã giao tiếp với công cụ của mình trong ba cõi thấp.

2. The man on the physical plane recognises the contact, and the light in the head shines forth, sometimes recognised and sometimes unrecognised by the aspirant.

2. Con người trên cõi hồng trần nhận ra sự tiếp xúc, và ánh sáng trong đầu tỏa rạng, đôi khi được người chí nguyện nhận ra và đôi khi không được nhận ra.

3. The soul sounds forth its note. A thought-form is created in consonance with the united meditation of the soul and the man, his instrument.

3. Linh hồn xướng lên chủ âm của nó. Một hình tư tưởng được tạo ra phù hợp với sự tham thiền hợp nhất của linh hồn và con người, là khí cụ của nó.

4. This thought-form, embodying the will of the ego or soul, cooperating with the personality, takes to itself a triple form, constituted of the matter of all three planes, and vitalized through the activity and by the emanations from the heart, throat and [237] ajna centres of the white magician—the soul in conjunction with its instrument.

4. Hình tư tưởng này, hiện thân cho ý chí của chân ngã hay linh hồn, hợp tác với phàm ngã, khoác lấy một hình tướng tam phân, được cấu thành bằng vật chất của cả ba cõi, và được tiếp sinh lực nhờ hoạt động cùng các phát xạ từ những trung tâm tim, cổ họng và [237] ajna của nhà huyền thuật chánh đạo — tức linh hồn liên kết với khí cụ của nó.

5. The personality sheaths, each with its own individual life, feel they are losing their power and the battle between the forces of matter and the force of the soul is violently renewed.

5. Các lớp vỏ của phàm ngã, mỗi lớp có sự sống cá biệt riêng, cảm thấy chúng đang mất quyền lực, và cuộc chiến giữa các mãnh lực của vật chất với mãnh lực của linh hồn lại bùng lên dữ dội.

6. This battle must be fought out on the astral plane and will decide three things:

6. Cuộc chiến này phải được quyết định trên cõi cảm dục và sẽ định đoạt ba điều:

a. Whether the soul will, in any one life (for some life holds the critical stage), be the dominant factor and the personality from henceforth be the servant of the soul.

a. Liệu linh hồn, trong bất cứ một kiếp sống nào đó, có trở thành yếu tố chủ đạo hay không, và từ đó trở đi phàm ngã có trở thành kẻ phụng sự linh hồn hay không.

b. Whether the astral plane is no longer the plane of illusion, but can become the field of service.

b. Liệu cõi cảm dục không còn là cõi của ảo tưởng nữa, mà có thể trở thành lĩnh vực phụng sự hay không.

c. Whether the man can become an active co-operator with the Hierarchy, able to create and to wield mental matter, and so work out the purposes of the Universal Mind, which are prompted by boundless and infinite love, and are the expression of the One Life.

c. Liệu con người có thể trở thành một cộng sự viên tích cực của Thánh đoàn, có khả năng tạo ra và vận dụng chất liệu trí tuệ, và nhờ đó thực hiện các mục đích của Vũ Trụ Trí, vốn được thúc đẩy bởi tình thương vô biên vô hạn, và là biểu hiện của Sự Sống Duy Nhất hay không.

This is the crux of the entire situation, and when the man has mastered the forces opposed to him, he is ready for the second initiation which marks the release of the soul from the prison of the astral body. Henceforth the soul will use the astral body, and mould desire into line with divine purpose.

Đây là điểm then chốt của toàn bộ tình thế, và khi con người đã làm chủ các mãnh lực chống đối mình, y sẵn sàng cho lần điểm đạo thứ hai, đánh dấu sự giải thoát của linh hồn khỏi nhà tù của thể cảm dục. Từ đó về sau, linh hồn sẽ sử dụng thể cảm dục và uốn nắn dục vọng cho phù hợp với Thiên Ý.

It is of value for the student to know where he stands and what his particular problem is. The average man is learning the control of the physical body and the organizing of his physical plane life. The student on the probationary path is learning a similar lesson in relation to his astral body, its focus, its desires and its work. The student on the path of accepted discipleship has to demonstrate this control and begin to discipline the mind nature and so function consciously in the mental body. [238] The work of the initiate and the adept grows out of these achievements and they need not be dealt with here.

Đối với đạo sinh, biết mình đang đứng ở đâu và vấn đề riêng của mình là gì là điều có giá trị. Người bình thường đang học cách kiểm soát thể xác và tổ chức đời sống của mình trên cõi hồng trần. Đạo sinh trên Con Đường Dự Bị đang học một bài học tương tự liên quan đến thể cảm dục, điểm tập trung, các dục vọng và công việc của nó. Đạo sinh trên con đường địa vị đệ tử được chấp nhận phải chứng minh sự kiểm soát này và bắt đầu kỷ luật bản chất thể trí, nhờ đó hoạt động một cách có ý thức trong thể trí. [238] Công việc của điểm đạo đồ và chân sư phát sinh từ những thành tựu này, và không cần được bàn đến ở đây.

The battle is spread over quite a series of lives, but in some one life it becomes critical; the final stand is made and Arjuna triumphs in the fight, but only by letting Krishna assume the reins of control, by learning mind control and by the revelation of the form of God. By distinguishing between the soul and the form, and by a vision of the perfection of the glory which can radiate from the forms “indwelt by God”, he learns to choose the way of light and to see his form and all forms as custodians of the light. So he buckles down to the work of making the astral body simply a reflector of that light and by the quelling of desire, through the subjugation of the “Agnisuryans” who constitute his astral body and are the living substance of the astral plane, he learns to function as an adept on that plane, to pierce through its illusion and to see life true.

Cuộc chiến trải dài qua cả một chuỗi kiếp sống, nhưng trong một kiếp sống nào đó nó trở nên quyết định; cuộc kháng cự cuối cùng diễn ra và Arjuna chiến thắng trong cuộc chiến, nhưng chỉ bằng cách để Krishna nắm lấy dây cương điều khiển, bằng cách học kiểm soát thể trí và nhờ sự mặc khải về hình tướng của Thượng đế. Bằng cách phân biệt giữa linh hồn và hình tướng, và nhờ tầm nhìn về sự toàn thiện của vinh quang có thể tỏa ra từ những hình tướng “được Thượng đế nội tại”, y học cách chọn con đường ánh sáng và nhìn thấy hình tướng của mình cùng mọi hình tướng như những nơi gìn giữ ánh sáng. Vì vậy, y chuyên tâm vào công việc làm cho thể cảm dục chỉ đơn thuần là một tấm gương phản chiếu ánh sáng ấy; và bằng cách dập tắt dục vọng, qua việc chế phục các “Agnisuryan” cấu thành thể cảm dục của y và là chất liệu sống của cõi cảm dục, y học cách hoạt động như một chân sư trên cõi ấy, xuyên thấu ảo tưởng của nó và thấy sự sống đúng như thật.

Webinar Program 8 – Rule 8.2

Speaking symbolically the substance of the astral plane is animated by three types of divine force, which, when brought together, produce the great Illusion. These are:

Nói theo biểu tượng, chất liệu của cõi cảm dục được linh hoạt hóa bởi ba loại mãnh lực thiêng liêng; khi được đưa lại cùng nhau, chúng tạo ra Đại Ảo Tưởng. Đó là:

First, the force of selfish desire. This involutionary energy plays a big part in bringing about evolution, for selfishness is the nursery of infant souls. Hence the aspirant refuses to be held by it.

Thứ nhất, mãnh lực của dục vọng ích kỷ. Năng lượng giáng hạ tiến hoá này giữ một vai trò lớn trong việc đưa đến tiến hoá, vì tính ích kỷ là vườn ươm của các linh hồn ấu thơ. Vì thế, người chí nguyện từ chối để nó nắm giữ mình.

Second, the force of fear. This is the product of ignorance, and in its initial stages it is not the product of wrong thinking. It is basically instinctual and is found dominating in the non-mental animal kingdom as well as in the human kingdom. But in the human, its power is increased potently through the powers of the mind, and through memory of past pain and grievance and through anticipation of those we foresee, the power of fear is enormously aggravated by the thought-form we ourselves have built of our own individual fears and [239] phobias. This thought form grows in power as we pay attention to it, for “energy follows thought” till we become dominated by it. Second ray people are peculiarly a prey to this. For the majority of them it constitutes the “dweller on the threshold”, just as ambition and love of power, backed by frantic desire and unscrupulousness form the “Dweller” for the first ray types. The crystallized thought form of intellectual achievement for selfish ends, and the use of knowledge for personality objectives stand before the portal of the path in the case of the third ray person, and unless broken up and destroyed will dominate him and turn him into a black magician.

Thứ hai, mãnh lực của sợ hãi. Đây là sản phẩm của vô minh, và trong những giai đoạn ban đầu, nó không phải là sản phẩm của tư duy sai lầm. Về căn bản, nó thuộc bản năng và được thấy đang thống trị trong giới động vật chưa có trí tuệ cũng như trong giới nhân loại. Nhưng nơi con người, quyền lực của nó được gia tăng mạnh mẽ nhờ các quyền năng của thể trí, và nhờ ký ức về đau đớn cùng bất bình trong quá khứ, cũng như nhờ sự dự đoán những điều ta thấy trước, quyền lực của sợ hãi bị làm trầm trọng thêm rất nhiều bởi hình tư tưởng mà chính chúng ta đã xây dựng từ những nỗi sợ và [239] ám ảnh cá biệt của mình. Hình tư tưởng này tăng thêm quyền lực khi chúng ta chú ý đến nó, vì “năng lượng đi theo tư tưởng”, cho đến khi chúng ta bị nó thống trị. Những người cung hai đặc biệt dễ trở thành nạn nhân của điều này. Đối với phần đông trong số họ, nó tạo thành “Kẻ Chận Ngõ”, cũng như tham vọng và lòng yêu quyền lực, được hậu thuẫn bởi dục vọng cuồng loạn và sự vô lương tâm, tạo thành “Kẻ Chận Ngõ” đối với những người cung một. Hình tư tưởng kết tinh của thành tựu trí tuệ vì những mục đích ích kỷ, và việc sử dụng tri thức cho các mục tiêu của phàm ngã, đứng trước cổng của Đường Đạo trong trường hợp người cung ba; nếu không bị phá vỡ và tiêu hủy, nó sẽ thống trị y và biến y thành một nhà hắc thuật.

You oft have been told that fear is an illusion. Yet this statement does not help. It is a generalisation that one can admit, yet which remains profoundly difficult to apply individually. The fears to which aspirants are subject (note the mode of wording this) are seldom of a selfish nature except insofar as suffering has caused them to recoil from a further continuation of untoward happenings. Their fears are wrapt in seeming love around their loved ones. Yet should each disciple ask himself a most practical question: How many of the torturing hours have been expended on realities and on tangible happenings, and how many on illusory premonitions and on doubts and questionings, based on that which has never happened? I would like to point out to my brothers that they need to do two things: To meditate on truth in daily life, using the concept of truth practised and lived by as their seed thought in meditation; to this end I would suggest that they memorise and use at all times when swept by illusory fears and needless foreboding the following formula or prayer:

Các bạn thường được bảo rằng sợ hãi là một ảo tưởng. Tuy vậy, lời khẳng định này không giúp được gì nhiều. Đó là một sự khái quát hóa mà người ta có thể thừa nhận, nhưng vẫn vô cùng khó áp dụng cho từng cá nhân. Những nỗi sợ mà người chí nguyện phải chịu, hãy lưu ý cách diễn đạt này, hiếm khi có bản chất ích kỷ, ngoại trừ trong chừng mực đau khổ đã khiến họ co rút trước khả năng tiếp diễn thêm của các biến cố bất lợi. Những nỗi sợ của họ được bọc trong tình thương có vẻ như dành cho những người thân yêu. Tuy vậy, mỗi đệ tử nên tự hỏi mình một câu hỏi hết sức thực tiễn: Bao nhiêu giờ phút dằn vặt đã được tiêu phí cho những thực tại và các biến cố hữu hình, và bao nhiêu cho những linh cảm hư ảo, những nghi ngờ và chất vấn dựa trên điều chưa từng xảy ra? Tôi muốn chỉ cho các huynh đệ của tôi rằng họ cần làm hai điều: tham thiền về chân lý trong đời sống hằng ngày, dùng quan niệm về chân lý được thực hành và sống theo làm tư tưởng hạt giống trong tham thiền; nhằm mục đích này, tôi đề nghị họ ghi nhớ và sử dụng mọi lúc, khi bị cuốn đi bởi những sợ hãi hư ảo và những linh cảm không cần thiết, công thức hay lời cầu nguyện sau đây:

“Let reality govern my every thought, and truth be the master of my life.”

“Nguyện thực tại cai quản mọi tư tưởng của tôi, và chân lý là chủ nhân đời tôi.”

Let each say this to himself as constantly as need requires, [240] forcing his mind to focus attention upon the significance of these spoken words.

Mỗi người hãy tự nói điều này với chính mình thường xuyên như nhu cầu đòi hỏi, [240] buộc thể trí tập trung chú ý vào thâm nghĩa của những lời được nói ra này.

I would suggest also sound common sense and the cultivation of an attitude of mind which refuses to permit time for illusory fears to grow.

Tôi cũng đề nghị lẽ thường lành mạnh và việc vun bồi một thái độ trí tuệ từ chối cho các sợ hãi hư ảo có thời gian để lớn lên.

Fear is the main obstacle frequently to a very vital step forward which could be taken in this life, but may have to be delayed to another if due opportunity is not taken and the will nature powerfully excited.

Sợ hãi thường là chướng ngại chính đối với một bước tiến rất thiết yếu có thể được thực hiện trong kiếp sống này, nhưng có thể phải trì hoãn sang một kiếp khác nếu cơ hội đúng lúc không được nắm lấy và bản chất ý chí không được khơi dậy mạnh mẽ.

The first ray aspirant who fails to overcome his Dweller may become a “destroyer of souls”, as it is called, and be condemned (until he learns his lesson) to work in the forces of matter, and with the forms which hold all souls in prison. This is the occult significance of the misunderstood words, death and destruction. Of this type, the Devil is the great prototype.

Người chí nguyện cung một không vượt qua được Kẻ Chận Ngõ của mình có thể trở thành một “kẻ hủy diệt linh hồn”, như cách gọi, và bị kết án, cho đến khi y học được bài học của mình, phải làm việc trong các mãnh lực của vật chất và với các hình tướng đang giam giữ mọi linh hồn trong tù ngục. Đây là ý nghĩa huyền bí của những từ bị hiểu sai là chết và hủy diệt. Kiểu mẫu vĩ đại của loại này là Quỷ Vương.

The second ray aspirant who builds his Dweller and permits its steady and increasing control becomes a “deluder of souls”. He is the true Anti-Christ, and through false teaching and the working of so-called miracles, through hypnotism and mass suggestion he draws a veil over the world and forces men to walk in the great illusion. It is interesting to note that the work of the Devil, the imprisoner of souls, is beginning to lose its power, for the race is on the verge of understanding that true death is immersion in form, and that matter is but a part of the divine whole. The thought form of this “Dweller on the Threshold” which humanity has built for millions of years is on the verge of destruction. But the work of Anti-Christ is only rising now to its height, and the delusion of riches, of possession, of false teaching will increasingly hold sway but the term of the delusion will be shorter than the term of destruction, for all these factors function under their own cycles and have their own ebb and flow.

Người chí nguyện cung hai xây dựng Kẻ Chận Ngõ của mình và cho phép nó kiểm soát ngày càng vững chắc và gia tăng thì trở thành một “kẻ mê hoặc linh hồn”. Y là Kẻ Phản Đức Christ đích thực, và qua giáo huấn sai lạc, qua việc thực hiện những điều gọi là phép lạ, qua thôi miên và ám thị quần chúng, y kéo một bức màn phủ lên thế giới và buộc con người bước đi trong Đại Ảo Tưởng. Điều thú vị cần lưu ý là công việc của Quỷ Vương, kẻ giam giữ các linh hồn, đang bắt đầu mất quyền lực, vì nhân loại đang ở ngưỡng thấu hiểu rằng cái chết đích thực là sự chìm đắm trong hình tướng, và vật chất chỉ là một phần của toàn thể thiêng liêng. Hình tư tưởng của “Kẻ Chận Ngõ” này mà nhân loại đã xây dựng trong hàng triệu năm đang ở ngưỡng bị hủy diệt. Nhưng công việc của Kẻ Phản Đức Christ hiện nay mới đang vươn tới đỉnh cao, và sự mê hoặc của của cải, của sự chiếm hữu, của giáo huấn sai lạc sẽ ngày càng chiếm ưu thế; tuy nhiên thời hạn của sự mê hoặc sẽ ngắn hơn thời hạn của sự hủy diệt, vì tất cả các yếu tố này hoạt động theo các chu kỳ riêng của chúng và có sự triều lên, triều xuống riêng.

The third ray person who also fails to shatter his [241] “Dweller” becomes what is called a “manipulator of souls” and uses the mind to destroy the real and to put a veil between the man and reality. It must be remembered that none of these names and these activities refer to the soul on its own plane but only to human souls in incarnation on the physical plane. This must be stressed, for on its own plane the souls of all men stand free from illusion, and neither can be destroyed, deluded nor manipulated. It is only “the souls in prison” who are subject to the activities of the forces of evil and only for a term. The first group works through governments, through politics, and the interplay between nations and is relatively small in number. The second ray group who delude and deceive, work through religious agencies, through mass psychology, and the misuse and misapplication of devotion and of the arts. They are largest in number. The third group work primarily through commercial relations in the business world, and through the use of money, the concretisation of prana or universal energy, and the outer symbol of the universal flux and flow. These thoughts are suggestive but not vital, dealing as they do with the cosmic tendencies.

Người cung ba cũng không phá vỡ được [241] “Kẻ Chận Ngõ” của mình sẽ trở thành điều được gọi là một “kẻ thao túng linh hồn”, và sử dụng thể trí để hủy hoại cái chân thật, đặt một bức màn giữa con người và thực tại. Cần nhớ rằng không một danh xưng hay hoạt động nào trong số này liên quan đến linh hồn trên cõi riêng của nó, mà chỉ liên quan đến các linh hồn con người đang nhập thể trên cõi hồng trần. Điều này phải được nhấn mạnh, vì trên cõi riêng của mình, linh hồn của mọi người đều đứng tự do khỏi ảo tưởng, và không thể bị hủy diệt, bị mê hoặc hay bị thao túng. Chỉ có “các linh hồn trong tù ngục” mới chịu sự chi phối của các hoạt động thuộc những mãnh lực của điều ác, và chỉ trong một thời hạn. Nhóm thứ nhất hoạt động qua các chính phủ, qua chính trị và sự tương tác giữa các quốc gia, và tương đối ít về số lượng. Nhóm cung hai, những kẻ mê hoặc và lừa dối, hoạt động qua các cơ quan tôn giáo, qua tâm lý quần chúng, và qua việc lạm dụng, áp dụng sai lòng sùng tín cùng các nghệ thuật. Họ đông đảo nhất. Nhóm thứ ba hoạt động chủ yếu qua các quan hệ thương mại trong thế giới kinh doanh, và qua việc sử dụng tiền bạc, tức sự cụ thể hóa của prana hay năng lượng vũ trụ, và là biểu tượng bên ngoài của dòng lưu chuyển và tuôn chảy vũ trụ. Những tư tưởng này có tính gợi ý nhưng không thiết yếu, vì chúng bàn đến các khuynh hướng vũ trụ.

Webinar Program 9 – Rule 8.3

Thirdly, the force of sex attraction. This is a pull from the physical plane and the swinging back of a type of involutionary energy on to the path of return. Cosmically speaking, it manifests as the attractive force between spirit and matter; spiritually speaking, it is demonstrated as the activity of the soul, as it seeks to draw the lower self into full realisation. Physically speaking, it is the urge which tends to unite male and female for the purpose of procreation. When man was purely animal, no sin was involved. When to this urge was added emotional desire, then sin crept in, and the purpose for which the urge manifested was perverted into the satisfaction of desire. Now that the race is more mental, and the force of mind is making itself felt in [242] the human body, an even more serious situation is apparent, which can only be safely worked out when the soul assumes control of its triple instrument.

Thứ ba, mãnh lực của sức hút tính dục. Đây là một lực kéo từ cõi hồng trần và là sự quay ngược của một loại năng lượng giáng hạ tiến hoá vào Con Đường Trở Về. Nói theo vũ trụ, nó biểu hiện như mãnh lực hấp dẫn giữa tinh thần và vật chất; nói theo tinh thần, nó được chứng minh như hoạt động của linh hồn khi linh hồn tìm cách lôi kéo phàm ngã vào sự chứng nghiệm trọn vẹn. Nói theo hồng trần, nó là thôi thúc có khuynh hướng hợp nhất nam và nữ nhằm mục đích sinh sản. Khi con người còn thuần túy là động vật, không có tội lỗi liên quan. Khi dục vọng cảm xúc được thêm vào thôi thúc này, lúc đó tội lỗi len vào, và mục đích mà thôi thúc biểu hiện bị xuyên tạc thành sự thỏa mãn dục vọng. Nay khi nhân loại đã trí tuệ hơn, và mãnh lực của thể trí đang khiến chính nó được cảm nhận trong [242] thể xác con người, một tình thế còn nghiêm trọng hơn lộ rõ, chỉ có thể được giải quyết an toàn khi linh hồn nắm quyền kiểm soát khí cụ tam phân của mình.

Humanity is now at the midway point as this rule shows. Man is swept by selfish desire and by ambition, for all of us have first ray qualities. He is racked by fear—his own, family fears, national fears and racial, for all of us swing to the rhythm of the second ray. He is dominated by sex and by money which is another manifestation of the energy of matter and hence has a triple problem with which he is well equipped to deal through the medium of his triple vehicle and the triple potencies of his divine soul. Let us close the instruction on that note—well equipped to deal. We can overcome mental inertia and begin to function as souls in command of our environment. The soul is omniscient and omnipotent.

Nhân loại hiện nay đang ở Điểm ở giữa, như quy luật này cho thấy. Con người bị cuốn đi bởi dục vọng ích kỷ và tham vọng, vì tất cả chúng ta đều có các phẩm tính cung một. Y bị dày vò bởi sợ hãi — sợ hãi của chính mình, sợ hãi của gia đình, của quốc gia và của nhân loại, vì tất cả chúng ta đều dao động theo nhịp điệu của cung hai. Y bị thống trị bởi tính dục và tiền bạc, vốn là một biểu hiện khác của năng lượng vật chất; do đó y có một vấn đề tam phân mà y được trang bị đầy đủ để xử lý qua trung gian của vận cụ tam phân và các quyền năng tam phân của linh hồn thiêng liêng mình. Chúng ta hãy khép lại huấn thị này trên chủ âm ấy — được trang bị đầy đủ để xử lý. Chúng ta có thể vượt qua Quán tính trí tuệ và bắt đầu hoạt động như những linh hồn làm chủ môi trường của mình. Linh hồn toàn tri và toàn năng.

Cyclic Ebb and Flow

Let us consider now the words “the ebb and flow of the waters.”

Bây giờ chúng ta hãy xem xét những lời “sự triều xuống và triều lên của các dòng nước.”

In the understanding of the law of cycles, we gain knowledge of the underlying laws of evolution and come to a realization of the rhythmic work of creation. Incidentally also we gain poise as we study our own life impulses, for they also have their ebb and flow, and alternate between periods of light and periods of darkness.

Trong sự thấu hiểu định luật về các chu kỳ, chúng ta đạt được tri thức về những định luật nền tảng của tiến hoá và đi đến sự nhận biết về công việc sáng tạo có nhịp điệu. Đồng thời, chúng ta cũng đạt được sự quân bình khi nghiên cứu các xung lực sống của chính mình, vì chúng cũng có sự triều xuống và triều lên, và luân phiên giữa các thời kỳ ánh sáng và các thời kỳ bóng tối.

We have with us always that symbolic daily occurrence wherein the part of the world in which we live swings out into the clear light of the sun, and later returns into the healing dark of the night. Our very familiarity with the phenomenon causes us to lose sight of its symbolic significance and to forget that under the great law, periods of light and dark, of good and evil, of submergence and emergence, of progress into illumination [243] and apparent betrayal into darkness, characterize the growth of all forms, distinguish the development of races and nations, and constitute the problem of the aspirant who has built for himself a picture of walking in a constant illumined condition and of leaving all dark places behind.

Chúng ta luôn có bên mình biến cố hằng ngày đầy biểu tượng, trong đó phần thế giới nơi chúng ta sống xoay ra vào ánh sáng trong trẻo của mặt trời, rồi sau đó trở về trong bóng tối chữa lành của đêm. Chính sự quen thuộc của chúng ta với hiện tượng này khiến chúng ta không còn thấy thâm nghĩa biểu tượng của nó, và quên rằng dưới định luật vĩ đại, các thời kỳ sáng và tối, thiện và ác, chìm xuống và nổi lên, tiến vào sự soi sáng [243] và dường như phản bội để rơi vào bóng tối, đều đặc trưng cho sự tăng trưởng của mọi hình tướng, phân biệt sự phát triển của các giống dân và quốc gia, và tạo thành vấn đề của người chí nguyện đã tự dựng cho mình một hình ảnh về việc bước đi trong một tình trạng được soi sáng liên tục và bỏ lại mọi nơi tối tăm phía sau.

In these Instructions, it is not possible for me to deal with the ebb and flow of the divine life as it manifests in the various kingdoms in nature and through the evolutionary growth of humanity, through experience in races, nations and families. I seek, however, to elaborate somewhat the cyclic experience of a soul in incarnation, indicating the apparent ebb and flow of its unfoldment.

Trong các Huấn Thị này, tôi không thể bàn đến sự triều xuống và triều lên của sự sống thiêng liêng khi nó biểu hiện trong các giới khác nhau của thiên nhiên và qua sự tăng trưởng tiến hoá của nhân loại, qua kinh nghiệm trong các giống dân, quốc gia và gia đình. Tuy nhiên, tôi tìm cách khai triển phần nào kinh nghiệm chu kỳ của một linh hồn đang nhập thể, chỉ ra sự triều xuống và triều lên bề ngoài của sự khai mở của nó.

The outstanding cycle for every soul is that of its forthgoing into incarnation and its return or flowing back into the centre from whence it came. According to the point of view will be the understanding of this ebb and flow. Souls might esoterically be regarded as those “seeking the light of experience” and therefore turned towards physical expression, and those “seeking the light of understanding”, and therefore retreating from the realm of human undertaking to forge their way inward into the soul consciousness, and so become “dwellers in the light eternal”. Without appreciating the significance of the terms, the psychologists have sensed these cycles and call certain types, extraverts, and others, introverts. These mark an ebb and flow in individual experience and are the tiny life correspondences to the great soul cycles. This passing into, and passing out of, the web of incarnated existence are the major cycles of any individual soul, and a study of the types of pralaya dealt with in The Secret Doctrine and A Treatise on Cosmic Fire would be found of real value by the student.

Chu kỳ nổi bật đối với mỗi linh hồn là chu kỳ đi ra nhập thể và trở về, hay chảy ngược lại vào trung tâm từ đó nó đã đến. Tùy theo quan điểm mà sự thấu hiểu về sự triều xuống và triều lên này sẽ khác nhau. Một cách huyền bí, các linh hồn có thể được xem như những kẻ “tìm kiếm ánh sáng của kinh nghiệm” và vì vậy quay về phía biểu hiện hồng trần, và những kẻ “tìm kiếm ánh sáng của sự thấu hiểu” và vì vậy rút lui khỏi lĩnh vực của nỗ lực nhân loại để mở đường đi vào bên trong, vào tâm thức linh hồn, và nhờ đó trở thành “những cư dân trong ánh sáng vĩnh cửu”. Dù không đánh giá đầy đủ thâm nghĩa của các thuật ngữ, các nhà tâm lý học đã cảm nhận được những chu kỳ này và gọi một số loại người là hướng ngoại, còn những loại khác là hướng nội. Chúng đánh dấu một sự triều xuống và triều lên trong kinh nghiệm cá nhân, và là những tương ứng nhỏ bé trong đời sống đối với các chu kỳ lớn của linh hồn. Sự đi vào và đi ra khỏi mạng lưới của hiện hữu nhập thể này là những chu kỳ lớn của bất cứ linh hồn cá biệt nào, và việc nghiên cứu các loại Giai kỳ qui nguyên được bàn đến trong Giáo Lý Bí NhiệmLuận về Lửa Vũ Trụ sẽ được đạo sinh thấy là thật sự có giá trị.

Webinar Program 10 – Rule 8.4

There is also an ebb and flow in soul experience on any one plane and this, in the early stages of development, will cover many lives. They are usually quite extreme in [244] their expression. A study of the racial ebb and flow will make this clearer. In Lemurian days the “flow”, or the outward going cycle, spent itself on the physical plane and the ebb carried the life aspect right back to the soul itself, and there was no secondary ebb and flow on the astral or mental planes.

Cũng có một sự triều xuống và triều lên trong kinh nghiệm của linh hồn trên bất cứ cõi nào, và trong các giai đoạn phát triển ban đầu, điều này sẽ bao trùm nhiều kiếp sống. Chúng thường khá cực đoan trong [244] biểu hiện. Việc nghiên cứu sự triều xuống và triều lên của các giống dân sẽ làm điều này rõ hơn. Trong những ngày Lemuria, “dòng triều lên”, hay chu kỳ đi ra ngoài, tự tiêu hao trên cõi hồng trần, còn dòng triều xuống mang phương diện sự sống trở thẳng về chính linh hồn, và không có sự triều xuống, triều lên thứ yếu nào trên các cõi cảm dục hay trí tuệ.

Later, the tide broke on the shores of the astral plane, though including the physical in less degree. The flow directed its attention to the emotional life, and the drift back to the centre took no account of the mental life at all. This was at its height for humanity in Atlantean days and is true also of many today. Now the ebb and flow is increasingly inclusive, and the mental experience has its place so that all three aspects are swept by the life of the soul; all are included in the outgoing energy of the incarnating soul, and for many lives and series of lives this cyclic force spends itself. Within the aspirant there arises an understanding of what is going on and he awakens to the desire to control consciously this ebb and flow or (to put it in simple words) to turn the forces of the outgoing energy in any direction he chooses, or to withdraw to his centre at will. He seeks to arrest this process of being swept out into incarnation without having any conscious purpose, and refuses to see the tide of his life beat out on emotional or mental spheres of existence, and then again see that life withdrawn without his conscious volition. He stands at the midway point and wants to control his own cycles, the “ebb and flow” as he himself may determine it. With conscious purpose he longs to walk in the dark places of incarnated existence and with equally conscious purpose he seeks to withdraw into his own centre. Hence he becomes an aspirant.

Về sau, thủy triều vỗ vào bờ của cõi cảm dục, dù vẫn bao gồm cõi hồng trần ở mức độ ít hơn. Dòng triều lên hướng sự chú ý của nó vào đời sống cảm xúc, và dòng trôi trở về trung tâm hoàn toàn không kể đến đời sống trí tuệ. Điều này đạt đến đỉnh cao đối với nhân loại trong những ngày Atlantis, và ngày nay cũng đúng với nhiều người. Giờ đây, sự triều xuống và triều lên ngày càng bao gồm hơn, và kinh nghiệm trí tuệ có vị trí của nó, đến mức cả ba phương diện đều được sự sống của linh hồn cuốn vào; tất cả đều được bao gồm trong năng lượng đi ra của linh hồn đang nhập thể, và trong nhiều kiếp sống cũng như nhiều chuỗi kiếp sống, mãnh lực chu kỳ này tự tiêu hao. Trong người chí nguyện nảy sinh sự thấu hiểu về điều đang diễn ra, và y thức tỉnh trước mong muốn kiểm soát một cách có ý thức sự triều xuống và triều lên này, hay nói đơn giản, hướng các mãnh lực của năng lượng đi ra theo bất cứ hướng nào y chọn, hoặc rút về trung tâm của mình theo ý muốn. Y tìm cách chặn đứng tiến trình bị cuốn ra nhập thể mà không có bất cứ mục đích có ý thức nào, và từ chối nhìn thấy thủy triều của đời sống mình tràn ra trên các lĩnh vực hiện hữu cảm xúc hay trí tuệ, rồi lại thấy sự sống ấy bị rút đi mà không có ý chí hữu thức của mình. Y đứng tại Điểm ở giữa và muốn kiểm soát các chu kỳ của chính mình, “sự triều xuống và triều lên” như chính y có thể quyết định. Với mục đích có ý thức, y khao khát bước đi trong những nơi tối tăm của hiện hữu nhập thể, và với mục đích có ý thức tương tự, y tìm cách rút về trung tâm riêng của mình. Vì thế y trở thành một người chí nguyện.

The life of the aspirant begins to repeat earlier cycles. He is assailed by a sudden stimulation of the physical nature and violently swept by ancient desires and lusts. [245] This may be succeeded by a cycle wherein the physical body is conscious of the flowing away from it of vital energy and is devitalised, because not the subject of attention. This accounts for much of the sickness and lack of vitality of many of our most cherished servers. The same process can affect the emotional body, and periods of exaltation and of highest aspiration alternate with periods of the deepest depression and lack of interest. The flow may pass on to the mental body and produce a cycle of intense mental activity. Constant study, much thought, keen investigation and a steady intellectual urge will characterize the mind of the aspirant. To this may succeed a cycle wherein all study is distasteful, and the mind seems to lie entirely fallow and inert. It is an effort to think, and the futility of phases of thought assail the mind. The aspirant decides that to be is better far than to do. “Can these dry bones live?” he asks, and has no desire to see them revitalised.

Đời sống của người chí nguyện bắt đầu lặp lại các chu kỳ trước kia. Y bị tấn công bởi một sự kích thích đột ngột của bản chất hồng trần và bị cuốn đi dữ dội bởi những dục vọng và ham muốn cổ xưa. [245] Điều này có thể được tiếp nối bởi một chu kỳ trong đó thể xác ý thức được rằng năng lượng sinh lực đang chảy ra khỏi nó và trở nên mất sinh lực, vì nó không còn là đối tượng của sự chú ý. Điều này giải thích phần lớn bệnh tật và sự thiếu sinh lực của nhiều người phụng sự đáng quý nhất của chúng ta. Cùng tiến trình ấy có thể ảnh hưởng đến thể cảm xúc, và các thời kỳ hưng phấn cùng khát vọng cao nhất luân phiên với những thời kỳ trầm cảm sâu nhất và thiếu hứng thú. Dòng triều có thể chuyển sang thể trí và tạo ra một chu kỳ hoạt động trí tuệ mãnh liệt. Sự học hỏi liên tục, nhiều suy tư, tìm tòi sắc bén và một thôi thúc trí tuệ đều đặn sẽ đặc trưng cho thể trí của người chí nguyện. Điều này có thể được tiếp nối bởi một chu kỳ trong đó mọi học hỏi đều trở nên chán ngán, và thể trí dường như hoàn toàn bỏ hoang và trì trệ. Suy nghĩ trở thành một nỗ lực, và sự vô ích của các giai đoạn tư tưởng tấn công thể trí. Người chí nguyện quyết định rằng hiện tồn tốt hơn nhiều so với hành động. Y hỏi: “Những xương khô này có thể sống lại chăng?” và không có chút ham muốn nào thấy chúng được tiếp sinh lực.

All true seekers after truth are conscious of this unstable experience and frequently regard it as a sin or as a condition to be strenuously fought. Then is the time to appreciate that “the midway spot which is neither dry nor wet must provide the standing place whereon his feet are set.”

Mọi người tìm kiếm chân lý chân thật đều ý thức về kinh nghiệm bất ổn này và thường xem nó như một tội lỗi hay như một tình trạng phải kiên quyết chiến đấu. Khi ấy là lúc cần nhận ra rằng “Nơi ở giữa, không khô cũng không ướt, phải cung cấp chỗ đứng để đôi chân y đặt lên.”

This is a symbolic way of saying that he needs to realize two things:

Đây là cách nói biểu tượng rằng y cần nhận ra hai điều:

1. That states of feeling are quite immaterial and are no indication of the state of the soul. The aspirant must centre himself in the soul consciousness, refuse to be influenced by the alternating conditions to which he seems subjected, and simply “stand in spiritual being” and then “having done all, stand.”

1. Rằng các trạng thái cảm xúc hoàn toàn không quan trọng và không phải là chỉ dấu về trạng thái của linh hồn. Người chí nguyện phải đặt mình vào tâm thức linh hồn, từ chối bị ảnh hưởng bởi những tình trạng luân phiên mà y dường như phải chịu, và chỉ đơn giản “đứng trong bản thể tinh thần”, rồi “sau khi đã làm tất cả, hãy đứng vững.”

2. That the achievement of equilibrium is only possible where alternation has been the rule, and that the cyclic ebb and flow will continue just as long as the soul’s [246] attention fluctuates between one or other aspect of the form and the true spiritual man.

2. Rằng việc đạt được quân bình chỉ có thể xảy ra nơi sự luân phiên từng là quy luật, và sự triều xuống, triều lên theo chu kỳ sẽ tiếp tục chừng nào sự chú ý của linh hồn [246] còn dao động giữa một phương diện nào đó của hình tướng và con người tinh thần chân thật.

The ideal is to achieve such a condition of conscious control that at will a man may be focussed in his soul consciousness or focussed in his form aspect, —each act of focussed attention being brought about through a realised and specific objective, necessitating such a focussing.

Lý tưởng là đạt đến một tình trạng kiểm soát hữu thức đến mức con người có thể tùy ý tập trung trong tâm thức linh hồn hoặc tập trung trong phương diện hình tướng của mình — mỗi hành vi tập trung chú ý đều được tạo ra nhờ một mục tiêu đã được nhận biết và xác định, đòi hỏi sự tập trung như thế.

Later when the words of the great Christian teacher have significance, he will be able to say “whether in the body or out of the body” is a matter of no moment. The act of service to be rendered will determine the point where the self is concentrated, but it will be the same self, whether freed temporarily from the form consciousness or immersed in the form in order to function in different aspects of the divine whole. The spiritual man seeks for the furthering of the plan and to identify himself with the divine mind in nature. Withdrawing to the midway spot, he endeavours to realize his divinity and then, having done so, he focusses himself in his mental form which puts him en rapport with the Universal Mind. He endures limitation so that thereby he may know and serve. He seeks to reach the hearts of men and to carry to them “inspiration” from the depths of the heart of spiritual being. Again he asserts the fact of his divinity and then, through a temporary identification with his body of sensory perception, of feeling, and of emotion, he finds himself at-one with the sensitive apparatus of divine manifestation which carries the love of God to all forms on the physical plane.

Về sau, khi lời của vị huấn sư Ki-tô giáo vĩ đại có thâm nghĩa, y sẽ có thể nói rằng “ở trong thể hay ngoài thể” đều không quan trọng. Hành động phụng sự cần được thực hiện sẽ quyết định điểm nơi bản ngã được tập trung, nhưng đó vẫn là cùng một bản ngã, dù tạm thời được giải phóng khỏi tâm thức hình tướng hay chìm trong hình tướng để hoạt động trong các phương diện khác nhau của toàn thể thiêng liêng. Con người tinh thần tìm cách thúc đẩy Thiên Cơ và đồng hoá với trí tuệ thiêng liêng trong thiên nhiên. Khi rút về Nơi ở giữa, y nỗ lực chứng nghiệm thiên tính của mình, rồi sau khi đã làm như vậy, y tập trung mình trong hình tướng trí tuệ, điều đặt y vào tương quan với Vũ Trụ Trí. Y chịu đựng giới hạn để nhờ đó có thể biết và phụng sự. Y tìm cách chạm đến trái tim con người và mang đến cho họ “cảm hứng” từ chiều sâu của trái tim bản thể tinh thần. Một lần nữa, y khẳng định sự thật về thiên tính của mình, rồi qua sự đồng hoá tạm thời với thể tri giác giác quan, cảm thọ và cảm xúc của mình, y thấy mình hợp nhất với bộ máy nhạy cảm của biểu hiện thiêng liêng, bộ máy mang tình thương của Thượng đế đến mọi hình tướng trên cõi hồng trần.

Again he seeks to aid in the materialising of the divine plan on the physical plane. He knows that all forms are the product of energy rightly used and directed. With full knowledge of his divine Sonship and a potent mind realisation of all that that term conveys, he focusses his forces in the vital body and becomes a focal point for the transmission of divine energy and hence a builder in [247] union with the building energies of the Cosmos. He carries the energy of illumined thought and sanctified desire down into the body of ether, and so works with intelligent devotion.

Một lần nữa, y tìm cách hỗ trợ việc hiện hình Thiên Cơ trên cõi hồng trần. Y biết rằng mọi hình tướng đều là sản phẩm của năng lượng được sử dụng và định hướng đúng đắn. Với tri thức đầy đủ về địa vị Con của Thượng đế nơi mình, và với sự nhận biết mạnh mẽ bằng trí tuệ về tất cả những gì thuật ngữ ấy truyền đạt, y tập trung các mãnh lực của mình trong thể sinh lực và trở thành một điểm tập trung để truyền dẫn năng lượng thiêng liêng, và do đó là một đấng kiến tạo trong [247] sự hợp nhất với các năng lượng kiến tạo của Vũ Trụ. Y đưa năng lượng của tư tưởng được soi sáng và dục vọng được thánh hóa xuống thể dĩ thái, và như vậy làm việc với lòng sùng tín thông tuệ.

You ask for a clearer definition of the “midway” spot.

Các bạn hỏi về một định nghĩa rõ hơn của “Nơi ở giữa”.

For the probationer it is the emotional plane, the Kurukshetra, or the plane of illusion, where land (physical nature) and water (emotional nature) meet.

Đối với người dự bị, đó là cõi cảm xúc, chiến trường Kurukshetra, hay cõi ảo tưởng, nơi đất, tức bản chất hồng trần, và nước, tức bản chất cảm xúc, gặp nhau.

For the disciple it is the mental plane where form and soul make contact and the great transition becomes possible. For the advanced disciple and the initiate, the midway spot is the causal body, the karana sarira, the spiritual body of the soul, standing as the intermediary between Spirit and matter, Life and form, the monad and the personality.

Đối với đệ tử, đó là cõi trí, nơi hình tướng và linh hồn tiếp xúc và cuộc chuyển tiếp lớn trở nên khả hữu. Đối với đệ tử tiến bộ và điểm đạo đồ, Nơi ở giữa là thể nguyên nhân, thể tinh thần của linh hồn, đứng như trung gian giữa Tinh thần và vật chất, Sự Sống và hình tướng, chân thần và phàm ngã.

This can also be discussed and understood in terms of the centres.

Điều này cũng có thể được bàn luận và thấu hiểu theo các trung tâm.

As every student knows, there are two centres in the head. One centre is between the eyebrows and has the pituitary body as its objective manifestation. The other is in the region at the top of the head and has the pineal gland as its concrete aspect. The pure mystic has his consciousness centred in the top of the head, almost entirely in the etheric body.

Như mọi đạo sinh đều biết, có hai trung tâm trong đầu. Một trung tâm nằm giữa hai lông mày và có tuyến yên làm biểu hiện khách quan. Trung tâm kia nằm ở vùng đỉnh đầu và có tuyến tùng làm phương diện cụ thể. Nhà thần bí thuần túy có tâm thức tập trung ở đỉnh đầu, hầu như hoàn toàn trong thể dĩ thái.

Webinar Program 11 – Rule 8.5

The advanced worldly man is centred in the pituitary region. When, through occult unfoldment and esoteric knowledge, the relation between the personality and the soul is established there is a midway spot in the centre of the head in the magnetic field which is called the “light in the head”, and it is here that the aspirant takes his stand. This is the spot of vital import. It is neither land or physical, nor water or emotional. It might be regarded as the vital or etheric body which has become the field of conscious service, of directed control, and of force utilisation towards specific ends.

Con người thế tục tiến bộ tập trung ở vùng tuyến yên. Khi, nhờ sự khai mở huyền bí và tri thức nội môn, mối quan hệ giữa phàm ngã và linh hồn được thiết lập, có một Nơi ở giữa tại trung tâm đầu trong trường từ tính được gọi là “ánh sáng trong đầu”, và chính tại đây người chí nguyện đứng vững. Đây là điểm có tầm quan trọng sinh tử. Nó không phải là đất hay hồng trần, cũng không phải là nước hay cảm xúc. Nó có thể được xem như thể sinh lực hay thể dĩ thái đã trở thành lĩnh vực phụng sự hữu thức, kiểm soát có định hướng và sử dụng mãnh lực hướng đến những mục đích xác định.

Here the magician takes his stand and through the [248] medium of his force or energy body performs the magical creative work.

Tại đây nhà huyền thuật đứng vững, và qua [248] trung gian của thể mãnh lực hay thể năng lượng của mình, y thực hiện công việc sáng tạo huyền thuật.

One point is rather abstrusely dealt with in this rule, but it clarifies, if the words are studied with care. At the close of the rule we are told that when “water, land and air meet” there is the place for the working of magic. Curiously in these phrases the idea of location is omitted and only the time equation considered.

Một điểm được bàn đến khá thâm áo trong quy luật này, nhưng sẽ sáng tỏ nếu những lời ấy được nghiên cứu cẩn thận. Ở cuối quy luật, chúng ta được bảo rằng khi “nước, đất và khí gặp nhau”, đó là nơi cho công việc huyền thuật. Điều kỳ lạ là trong các cụm từ này, ý tưởng về vị trí bị bỏ qua và chỉ yếu tố thời gian được xem xét.

Air is the symbol of the buddhic vehicle, of the plane of spiritual love, and when the three above enumerated (in their energy aspects) meet, it is indicative of a focussing in the soul consciousness and a centralisation of the man in the spiritual body. From that point of power, outside of form, from the central sphere of unification and from the focussed point within that circle of consciousness, the spiritual man projects his consciousness into the midway spot within the brain cavity where the magical work must, in relation to the physical plane, be carried out. This ability to project the consciousness from the plane of soul realisation into that of creative magical work on the etheric subplanes is gradually made possible as the student in his meditation work develops facility in focussing his attention in one or other of the centres in the body. This is accomplished through the medium of the force centres in the etheric body. He gradually gains that plasticity and that fluidity of the self-directed consciousness which will enable him to play on the centres, as a musician utilises the seven notes of music. When this has been achieved he can begin to train himself in wider and more extended focussings and must learn to withdraw his consciousness, not only to the brain, but to the soul on its own plane and thence re-direct his energies in the performance of the magical work of the soul.

Khí là biểu tượng của vận cụ Bồ đề, của cõi tình thương tinh thần; và khi ba yếu tố được liệt kê ở trên, trong các phương diện năng lượng của chúng, gặp nhau, điều đó chỉ ra sự tập trung trong tâm thức linh hồn và sự quy tụ của con người trong thể tinh thần. Từ điểm quyền năng ấy, bên ngoài hình tướng, từ khối cầu trung tâm của sự hợp nhất và từ điểm tập trung trong vòng tròn tâm thức ấy, con người tinh thần phóng chiếu tâm thức của mình vào Nơi ở giữa trong khoang não, nơi công việc huyền thuật, liên quan đến cõi hồng trần, phải được thực hiện. Khả năng phóng chiếu tâm thức từ cõi chứng nghiệm linh hồn vào cõi của công việc huyền thuật sáng tạo trên các cõi phụ dĩ thái dần dần trở nên khả hữu khi đạo sinh, trong công việc tham thiền của mình, phát triển sự thuần thục trong việc tập trung chú ý vào một hay một trung tâm khác trong thể. Điều này được hoàn thành qua trung gian của các trung tâm mãnh lực trong thể dĩ thái. Y dần dần đạt được tính mềm dẻo và tính linh động của tâm thức tự định hướng, nhờ đó y có thể tác động lên các trung tâm như một nhạc sĩ sử dụng bảy nốt nhạc. Khi điều này đã đạt được, y có thể bắt đầu tự rèn luyện trong những sự tập trung rộng hơn và mở rộng hơn, và phải học cách rút tâm thức của mình, không chỉ về bộ não, mà về linh hồn trên cõi riêng của nó, rồi từ đó tái định hướng các năng lượng của mình trong việc thực hiện công việc huyền thuật của linh hồn.

The fundamental secret of the cycles lies in this withdrawal and the subsequent re-focussing of attention and [249] it must be remembered in this connection that the basic law underlying all magical work is that “energy follows thought”. If aspirants would remember this they would live through their periods of aridity with greater ease and would be conscious of the underlying purpose.

Bí nhiệm căn bản của các chu kỳ nằm trong sự rút lui này và sự tái tập trung chú ý tiếp theo, và [249] trong mối liên hệ này cần nhớ rằng định luật căn bản nằm dưới mọi công việc huyền thuật là “năng lượng đi theo tư tưởng”. Nếu những người chí nguyện nhớ điều này, họ sẽ đi qua các thời kỳ khô cằn của mình dễ dàng hơn và sẽ ý thức được mục đích nền tảng.

It might here be asked what are the dangers of this midway spot?

Ở đây có thể hỏi: những nguy hiểm của Nơi ở giữa này là gì?

The dangers of too violent fluctuation between land and water, or between the emotional response to life and truth or life on the physical plane. Some aspirants are too emotional in their reactions; others too materialistic. The effect of this is felt in the midway spot and produces a violent instability. This instability has a direct effect on the solar plexus centre which was the “midway spot” in early Atlantean times, and is still the midway point in the transmutation processes of the aspiring personality. It transmutes and transmits the energies of the sacral centre and of the centre at the base of the spine, and is the clearing house for all energies focussed in the centres below the diaphragm.

Đó là những nguy hiểm của sự dao động quá dữ dội giữa đất và nước, hay giữa sự đáp ứng cảm xúc đối với đời sống và chân lý, hoặc đời sống trên cõi hồng trần. Một số người chí nguyện phản ứng quá cảm xúc; những người khác quá duy vật. Tác động của điều này được cảm nhận tại Nơi ở giữa và tạo ra một sự bất ổn dữ dội. Sự bất ổn này có tác động trực tiếp lên trung tâm tùng thái dương, vốn là “Nơi ở giữa” trong thời Atlantis sơ khai, và vẫn là Điểm ở giữa trong các tiến trình chuyển hoá của phàm ngã đang khát vọng. Nó chuyển hoá và truyền dẫn các năng lượng của trung tâm xương cùng và trung tâm ở đáy cột sống, đồng thời là nơi thanh lọc mọi năng lượng tập trung trong các trung tâm bên dưới cơ hoành.

Webinar Program 12 – Rule 8.6

The dangers incident to a premature and uncontrolled pouring in of pure spiritual energy to the mechanism of the personality. That vital spiritual force enters through the cranial aperture, and pours into the head centres. From them will follow the line of least resistance which is determined by the daily trend of the aspirant’s thought life.

Đó là những nguy hiểm phát sinh từ việc năng lượng tinh thần thuần khiết tràn vào quá sớm và không được kiểm soát trong bộ máy của phàm ngã. Mãnh lực tinh thần thiết yếu ấy đi vào qua lỗ sọ và tuôn vào các trung tâm trong đầu. Từ đó, nó sẽ đi theo con đường ít trở ngại nhất, vốn được quyết định bởi khuynh hướng hằng ngày của đời sống tư tưởng nơi người chí nguyện.

Another and rather potent danger is the result, literally, of the bringing together of the land and water. It demonstrates as the pouring into the brain consciousness (the land aspect) of the knowledges of the astral plane. One of the first things an aspirant becomes aware of is a tendency to the lower psychism. It is a reaction from the solar plexus centre. But this midway point can be utilised as a “jumping off place” into the world of astral phenomena. This will produce “death by drowning”, [250] for the aspirant’s spiritual life can be swamped and entirely submerged in the interests of the lower psychical experiences. It is here that many worthy aspirants go astray—temporarily it may be, but the times are so critical that it is a matter to be deplored if any time is lost in futile experimentation and the retracing of any path chosen.

Một nguy hiểm khác và khá mạnh mẽ là kết quả, theo nghĩa đen, của việc đưa đất và nước lại với nhau. Nó biểu hiện như sự tuôn vào tâm thức bộ não, tức phương diện đất, của các tri thức thuộc cõi cảm dục. Một trong những điều đầu tiên mà người chí nguyện nhận biết là khuynh hướng hướng về năng lực thông linh thấp. Đó là một phản ứng từ trung tâm tùng thái dương. Nhưng Điểm ở giữa này có thể được sử dụng như một “điểm phóng” vào thế giới của các hiện tượng cảm dục. Điều này sẽ tạo ra “cái chết do chết đuối”, [250] vì đời sống tinh thần của người chí nguyện có thể bị ngập chìm và hoàn toàn chìm xuống trong các mối quan tâm đến những kinh nghiệm thông linh thấp. Chính tại đây mà nhiều người chí nguyện xứng đáng đi lạc — có thể chỉ tạm thời, nhưng thời đại quá hệ trọng đến mức thật đáng tiếc nếu bất cứ thời gian nào bị mất trong những thử nghiệm vô ích và trong việc phải đi lại một con đường đã chọn.

A clue to the significance of these words is to be found in the recognition of the following occult fact. The place where water and land meet is the solar plexus centre. The place where water, land and air meet is in the head. Land is the symbol of the physical plane life, and of the exoteric form. Water is the symbol of the emotional nature. It is from the great centre of the personality life, the solar plexus, that the life is usually ruled and government administered. When the centre of direction lies below the diaphragm there is no magic possible. The animal soul controls and the spiritual soul is perforce quiescent. Air is the symbol of the higher life in which the Christ principle dominates, in which freedom is experienced and the soul comes to full expression. It is the symbol of the buddhic plane, as water is of the emotional. When the life of the personality is carried up into Heaven, and the life of the soul comes down on to earth, there is the place of meeting, and there the work of transcendental magic becomes possible.

Một manh mối về thâm nghĩa của những lời này được tìm thấy trong sự nhận biết sự kiện huyền bí sau đây. Nơi nước và đất gặp nhau là trung tâm tùng thái dương. Nơi nước, đất và khí gặp nhau là trong đầu. Đất là biểu tượng của đời sống cõi hồng trần và của hình tướng ngoại môn. Nước là biểu tượng của bản chất cảm xúc. Chính từ trung tâm lớn của đời sống phàm ngã, tức tùng thái dương, mà đời sống thường được cai quản và sự điều hành được thực hiện. Khi trung tâm điều hướng nằm dưới cơ hoành, không có huyền thuật nào khả hữu. Linh hồn động vật kiểm soát và linh hồn tinh thần bắt buộc phải yên lặng. Khí là biểu tượng của đời sống cao siêu, trong đó nguyên khí Đức Christ thống trị, tự do được kinh nghiệm và linh hồn đi đến biểu hiện trọn vẹn. Nó là biểu tượng của cõi Bồ đề, cũng như nước là biểu tượng của cõi cảm xúc. Khi đời sống của phàm ngã được nâng lên Thiên giới, và đời sống của linh hồn đi xuống trần gian, nơi đó là nơi gặp gỡ, và tại đó công việc huyền thuật siêu việt trở nên khả hữu.

This meeting place is the place of fire, the plane of mind. Fire is the symbol of the intellect and all magical work is an intelligent process, carried out in the strength of the soul, and by the use of the mind. To make itself felt on the physical plane, a brain is required which is receptive to higher impulses and which can be impressed by the soul utilizing the “chitta” or mental substance in order to create the needed thought forms, and so express the ideas and purposes of the intelligent loving soul. These are recognized by the brain and are [251] photographed upon the “vital airs” found in the brain cavity. When these vital airs can be sensed by the magician in meditation, and the thought-forms imprinted on this miniature reflection of the astral light, then the real potency in magic can begin to make itself felt. The brain has “heard” occultly the injunctions and instructions of the mind as it relays the behests of the soul. The vital airs are swept into form-making activity just as their higher correspondence, the “modifications of the thinking principle, the mind stuff” (as Patanjali calls it), are thrown into an analogous form-making activity. These can then be seen interiorly by the man who is seeking to perform the magical work and much of his success is dependent upon his ability to register impressions exactly, and to see with clarity the forms of the process in magic which he is seeking to demonstrate as magical work in the outer world.

Nơi gặp gỡ này là nơi của lửa, cõi trí. Lửa là biểu tượng của trí năng, và mọi công việc huyền thuật là một tiến trình thông tuệ, được thực hiện trong sức mạnh của linh hồn và bằng việc sử dụng thể trí. Để tự khiến mình được cảm nhận trên cõi hồng trần, cần có một bộ não tiếp nhận được các xung lực cao hơn và có thể được linh hồn in ấn, khi linh hồn sử dụng “tâm chất” hay chất liệu trí tuệ để tạo ra các hình tư tưởng cần thiết, và như vậy biểu hiện các ý tưởng cùng mục đích của linh hồn thông tuệ và đầy tình thương. Những điều này được bộ não nhận biết và được [251] ghi lại trên các “sinh khí” có trong khoang não. Khi những sinh khí này có thể được nhà huyền thuật cảm nhận trong tham thiền, và các hình tư tưởng được in lên phản ảnh thu nhỏ này của ánh sáng cảm dục, lúc ấy quyền năng thật sự trong huyền thuật có thể bắt đầu khiến chính nó được cảm nhận. Bộ não, theo nghĩa huyền bí, đã “nghe” các mệnh lệnh và huấn thị của thể trí khi thể trí chuyển tiếp các chỉ thị của linh hồn. Các sinh khí được cuốn vào hoạt động tạo hình, cũng như đối ứng cao hơn của chúng, tức “các biến thái của nguyên khí tư duy, chất liệu trí tuệ”, như Patanjali gọi, được đẩy vào một hoạt động tạo hình tương tự. Khi ấy, những điều này có thể được nhìn thấy bên trong bởi con người đang tìm cách thực hiện công việc huyền thuật, và phần lớn thành công của y tùy thuộc vào khả năng ghi nhận các ấn tượng một cách chính xác, và nhìn rõ các hình tướng của tiến trình trong huyền thuật mà y tìm cách chứng minh như công việc huyền thuật trong thế giới bên ngoài.

It might therefore be said that there are three stages in the form-making process. First, the soul or spiritual man, centered in the soul consciousness and functioning in “the secret place of the Most High”, visualizes the work to be done. This is not a sequential act, but the finished completed work of magic is visioned by a process that does not involve the time element or spatial concepts at all. Secondly, the mind responds to the soul (calling attention to the work to be performed), and is swept into thought-form making activity by this impression. According to the lucidity and illumination of the mind-stuff so will be the response to the impression. If the mind is a true reflector and receiver of soul impress, the corresponding thought-form will be true to its prototype. If it is not true (as is usually the case in the early stages of the work) then the thought-form created will be distorted and incorrect, unbalanced and “out of drawing”.

Vì vậy, có thể nói rằng có ba giai đoạn trong tiến trình tạo hình tướng. Trước hết, linh hồn hay con người tinh thần, tập trung trong tâm thức linh hồn và hoạt động trong “nơi bí mật của Đấng Tối Cao”, hình dung công việc cần làm. Đây không phải là một hành động theo trình tự, mà công việc huyền thuật đã hoàn tất trọn vẹn được thấy bằng tầm nhìn qua một tiến trình hoàn toàn không liên quan đến yếu tố thời gian hay các khái niệm không gian. Thứ hai, thể trí đáp ứng với linh hồn, vốn kêu gọi sự chú ý đến công việc phải được thực hiện, và nhờ ấn tượng này mà thể trí được cuốn vào hoạt động tạo hình tư tưởng. Tùy theo độ sáng rõ và sự soi sáng của chất liệu trí tuệ mà sẽ có sự đáp ứng với ấn tượng. Nếu thể trí là tấm gương phản chiếu và bộ tiếp nhận chân thật của ấn tượng linh hồn, hình tư tưởng tương ứng sẽ đúng với nguyên mẫu của nó. Nếu nó không đúng, như thường xảy ra trong các giai đoạn đầu của công việc, thì hình tư tưởng được tạo ra sẽ bị méo mó và sai lệch, mất cân đối và “không đúng bản vẽ”.

It is in meditation that this work of accurate reception [252] and correct building is learnt and hence the emphasis laid in all true schools of esoteric training upon a focussed mind, a capacity to visualize, an ability to build thought-forms, and an accurate grasp of egoic intent. Hence also the need of the magician beginning the practical work of magic with himself as the subject of the magical experiment. He begins to grasp the vision of the spiritual man, as he is in essence. He realizes the virtues and reactions which that spiritual man would evidence in physical plane life. He builds a thought-form of himself as the ideal man, the true server, the perfect master. He gradually coordinates his forces so that power to be these things in external reality begins to take shape so that all men can see. He creates a pattern in his mind which hews as true as he can make it to the prototype, and which serves to model the lower man and force conformity to the ideal. As he perfects his technique he finds a transmuting, transforming power at work upon the energies which constitute his lower nature, until all is subordinated and he becomes in practical manifestation what he is esoterically and essentially. As this takes place, he begins to be interested in the magical work in which it is the function of all true souls to participate.

Chính trong tham thiền mà công việc tiếp nhận chính xác [252] và xây dựng đúng đắn này được học, và vì thế trong mọi trường đào luyện nội môn chân chính, người ta nhấn mạnh đến một thể trí tập trung, khả năng hình dung, năng lực xây dựng các hình tư tưởng, và sự nắm bắt chính xác ý định của chân ngã. Vì thế cũng có nhu cầu để nhà huyền thuật bắt đầu công việc thực tiễn của huyền thuật với chính mình làm đối tượng của thí nghiệm huyền thuật. Y bắt đầu nắm bắt tầm nhìn về con người tinh thần, như y vốn là trong yếu tính. Y nhận ra các đức hạnh và phản ứng mà con người tinh thần ấy sẽ biểu lộ trong đời sống cõi hồng trần. Y xây dựng một hình tư tưởng về chính mình như con người lý tưởng, người phụng sự chân thật, vị chân sư toàn thiện. Y dần dần phối hợp các mãnh lực của mình để quyền năng trở thành những điều ấy trong thực tại bên ngoài bắt đầu thành hình, đến mức mọi người có thể thấy. Y tạo ra một mô hình trong thể trí mình, cắt gọt nó sao cho trung thành nhất có thể với nguyên mẫu, và mô hình ấy dùng để khuôn đúc phàm nhân cũng như buộc y phải phù hợp với lý tưởng. Khi y hoàn thiện kỹ thuật của mình, y thấy một quyền năng chuyển hoá, chuyển đổi đang tác động lên các năng lượng cấu thành bản chất thấp của mình, cho đến khi tất cả đều được đặt dưới quyền, và y trở thành trong biểu hiện thực tiễn điều mà y vốn là một cách huyền bí và trong yếu tính. Khi điều này diễn ra, y bắt đầu quan tâm đến công việc huyền thuật mà mọi linh hồn chân thật đều có chức năng tham gia.

Then the third aspect of the form-making process can manifest. The brain is synchronized with the mind, and the mind with the soul, and the plan is sensed. The vital airs in the head can be modified and respond to the force of the building magical work. A thought-form exists then as the result of the previous two activities, but it exists in the place of the brain activity and becomes a focussing centre for the soul, and a point through which energy can flow for the performance of the magical work.

Khi ấy, phương diện thứ ba của tiến trình tạo hình tướng có thể biểu hiện. Bộ não được đồng bộ với thể trí, và thể trí với linh hồn, và Thiên Cơ được cảm nhận. Các sinh khí trong đầu có thể được biến đổi và đáp ứng với mãnh lực của công việc huyền thuật kiến tạo. Khi ấy, một hình tư tưởng hiện hữu như kết quả của hai hoạt động trước đó, nhưng nó hiện hữu trong nơi hoạt động của bộ não và trở thành một trung tâm tập trung cho linh hồn, cũng như một điểm qua đó năng lượng có thể tuôn chảy để thực hiện công việc huyền thuật.

This magical work, carried out under the direction of the soul (inspiring the mind which in its turn impresses the brain), leads then (as the result of this triple coordinated activity) to the creation of a focussing centre, [253] or form, within the head of the magician. The energy which flows through this focal point acts through three distributing agents, and hence all three are involved in all magical work.

Công việc huyền thuật này, được thực hiện dưới sự điều hướng của linh hồn, linh hồn truyền cảm hứng cho thể trí, còn thể trí đến lượt nó in ấn bộ não, khi ấy dẫn đến, như kết quả của hoạt động phối hợp tam phân này, việc tạo ra một trung tâm tập trung, [253] hay hình tướng, trong đầu của nhà huyền thuật. Năng lượng tuôn qua điểm tập trung này tác động qua ba tác nhân phân phối, và do đó cả ba đều liên hệ trong mọi công việc huyền thuật.

1. The right eye, through which the vital energy of the spirit can express itself.

1. Mắt phải, qua đó năng lượng sinh lực của tinh thần có thể biểu hiện chính nó.

2. The throat centre, through which the Word, the second aspect or the soul expresses itself.

2. Trung tâm cổ họng, qua đó Linh từ, phương diện thứ hai hay linh hồn, biểu hiện chính nó.

3. The hands, through which the creative energy of the third aspect works.

3. Đôi tay, qua đó năng lượng sáng tạo của phương diện thứ ba hoạt động.

“The White Magician” works “with the eyes open, the voice proclaiming and the hands conferring.”

“Nhà Huyền Thuật Chánh Đạo” làm việc “với đôi mắt mở, giọng nói tuyên xưng và đôi tay ban truyền.”

These points are or technical interest to the experienced worker in magic, but of symbolic interest only to the aspirants for whom these letters are intended.

Những điểm này có tính kỹ thuật đối với người hoạt động kinh nghiệm trong huyền thuật, nhưng chỉ có ý nghĩa biểu tượng đối với những người chí nguyện mà các bức thư này được dành cho.

That the inner vision may be ours, the eye see clearly the glory of the Lord, and the voice speak only in benediction, and the hands be used only in helpfulness, may well be the prayer of each of us.

Nguyện linh thị bên trong thuộc về chúng ta, con mắt thấy rõ vinh quang của Chúa, tiếng nói chỉ thốt ra lời ban phúc, và đôi tay chỉ được dùng trong sự trợ giúp — đó rất có thể là lời cầu nguyện của mỗi người chúng ta.

RULE NINE

Webinar Program 13 – Rule 9.1

Condensation next ensues. The fire and waters meet, the form swells and grows. Let the magician get his form upon the proper path.

Sự cô đọng kế đó xảy ra. Lửa và nước gặp nhau, hình tướng trương nở và lớn lên. Hãy để nhà huyền thuật đưa hình tướng của mình vào đúng con đường.

The Necessity for Purity

[257]

[257]

Rule number nine is found on page 1017 in A Treatise on Cosmic Fire, and the comment given in the Treatise is noticeably brief:

Quy luật số chín được thấy ở trang 1017 trong Luận về Lửa Vũ Trụ, và lời bình được đưa ra trong Luận ấy ngắn gọn một cách đáng chú ý:

“This rule is very briefly summed up in the injunction: Let desire and mind be so pure and so equally apportioned and the created form so justly balanced that it cannot be attracted towards the destructive or ‘left-hand’ path.”

“Quy luật này được tóm lược rất ngắn gọn trong huấn lệnh: Hãy để dục vọng và thể trí được thanh khiết đến mức, được phân phối quân bình đến mức, và hình tướng được tạo ra được cân bằng đúng đắn đến mức, nó không thể bị hút về phía con đường hủy diệt hay ‘tả đạo’.”

The reasons for this brevity may be stated to be due to the extreme simplicity of this rule in the consciousness of the man who knows, and its extreme complexity from the standpoint of the casual reader. Only the simplest and most practical of its significances is there given but perhaps a few of the deeper meanings can be imparted.

Có thể nói rằng lý do của sự ngắn gọn này là do tính cực kỳ đơn giản của quy luật này trong tâm thức của người biết, và tính cực kỳ phức tạp của nó theo quan điểm của độc giả thông thường. Ở đó chỉ đưa ra thâm nghĩa đơn giản nhất và thực tiễn nhất của nó, nhưng có lẽ một vài ý nghĩa sâu hơn có thể được truyền đạt.

It is interesting to note that as progress is made upon the path, the forms in which truth can be given become more and more simple, whilst the meaning grasped becomes more and more wide and inclusive, and hence involves (on analysis) more and more complexity. Finally, resort is had to symbols and the cosmic plan is grasped through the presentation of geometrical forms to the inner eye of the aspirant.

Điều đáng chú ý là khi tiến bộ được thực hiện trên Đường Đạo, những hình tướng qua đó chân lý có thể được trao truyền ngày càng trở nên đơn giản hơn, trong khi ý nghĩa được nắm bắt ngày càng rộng lớn và bao gồm hơn, và vì thế, khi phân tích, hàm chứa ngày càng nhiều phức tạp hơn. Sau cùng, người ta phải viện đến các biểu tượng, và Thiên Cơ vũ trụ được nắm bắt qua sự trình hiện các hình thể hình học trước nội nhãn của người chí nguyện.

The cardinal point emphasized in this rule is purity and, in the last analysis, purity is largely a question of motive. If the incentive to action of any kind in the three worlds is based on personality desire and brought about by the applied use of the mind, then impurity characterizes that action. If the impulse emanates from the [258] Dweller in the form, it is then subordinated and controlled by the Dweller to the desired end. Then the characteristic is purity within the group limitations, for absolute purity only exists when entire freedom from control has been brought about. The soul is group conscious and group controlled, and (until the causal body has been overcome and liberation from its control achieved) the real significance of purity will not be comprehended. Suffice it to say that there is a close connotation between impurity and limitation of any kind, physical, emotional and mental.

Điểm chủ yếu được nhấn mạnh trong quy luật này là sự thanh khiết, và xét đến cùng, thanh khiết phần lớn là vấn đề động cơ. Nếu động lực thúc đẩy mọi loại hành động trong ba cõi thấp đặt nền trên dục vọng phàm ngã và được tạo ra bằng việc sử dụng thể trí, thì hành động ấy mang đặc tính bất tịnh. Nếu xung lực phát xuất từ [258] Kẻ Cư Ngụ trong hình tướng, thì nó được Kẻ Cư Ngụ đặt dưới quyền và kiểm soát để hướng đến mục tiêu mong muốn. Khi ấy đặc tính là thanh khiết trong các giới hạn của nhóm, vì sự thanh khiết tuyệt đối chỉ hiện hữu khi đã đạt được sự tự do hoàn toàn khỏi mọi kiểm soát. Linh hồn có ý thức nhóm và chịu sự kiểm soát của nhóm, và cho đến khi thể nguyên nhân đã được vượt qua và sự giải thoát khỏi quyền kiểm soát của nó đã đạt được, thâm nghĩa thật sự của thanh khiết sẽ không được thấu hiểu. Chỉ cần nói rằng có một mối liên hệ chặt chẽ giữa bất tịnh và mọi loại giới hạn, dù là hồng trần, cảm xúc hay trí tuệ.

But absolute purity need not here be considered by the aspirant. No one in the esoteric groups of the world has yet achieved the fifth initiation, wherein the meaning will enter the consciousness in a blaze of intensest realisation. For the majority, physical and emotional purity are the objectives, and primarily therefore liberation from emotional control and desire. Hence the constant, e’en though badly worded injunction in many of the esoteric books “Kill out desire”. Perhaps a more just rendering for the immediate present would be “re-orient desire” or “re-direct desire”, for a constant process of re-orientation of the entire desire nature so that it eventually becomes a habitual state of mind is the clue to all the transmutation processes, and to effective magical work.

Nhưng người chí nguyện không cần xét đến sự thanh khiết tuyệt đối ở đây. Chưa một ai trong các nhóm huyền bí của thế giới đạt đến lần điểm đạo thứ năm, nơi ý nghĩa ấy sẽ đi vào tâm thức trong một bừng sáng của sự chứng nghiệm mãnh liệt nhất. Đối với đa số, thanh khiết hồng trần và cảm xúc là các mục tiêu, và do đó trước hết là sự giải thoát khỏi sự kiểm soát và dục vọng cảm xúc. Vì thế có huấn lệnh thường xuyên, dù diễn đạt chưa tốt, trong nhiều sách huyền bí: “Hãy diệt trừ dục vọng.” Có lẽ một cách diễn đạt đúng hơn cho hiện tại trước mắt sẽ là “tái định hướng dục vọng” hoặc “chuyển hướng dục vọng”, vì tiến trình tái định hướng liên tục toàn bộ bản chất dục vọng, để cuối cùng nó trở thành một trạng thái quen thuộc của thể trí, chính là chìa khóa cho mọi tiến trình chuyển hoá và cho công việc huyền thuật hữu hiệu.

As progress on the Path is made the thought processes of the aspirant become more potent, and the thought-forms—created with definite purpose and in the meditation work—become more effective in the bringing about of results. It will be apparent therefore that in magical work (which has ever to be wrought out on the physical plane) there will always exist the tendency towards the “left-hand path” until soul consciousness is permanently established, and purity of motive has become a habit of the mind.

Khi tiến bộ được thực hiện trên Đường Đạo, các tiến trình tư tưởng của người chí nguyện trở nên mạnh mẽ hơn, và các hình tư tưởng—được tạo ra với mục đích xác định và trong công việc tham thiền—trở nên hữu hiệu hơn trong việc tạo ra các kết quả. Vì vậy, điều hiển nhiên là trong công việc huyền thuật, vốn luôn phải được thực hiện trên cõi hồng trần, khuynh hướng hướng về “tả đạo” sẽ luôn tồn tại cho đến khi tâm thức linh hồn được thiết lập thường hằng, và sự thanh khiết của động cơ đã trở thành một thói quen của thể trí.

[259]

[259]

May I remind all who read that the establishing and stabilizing of right habits is, for the aspirant to discipleship, a prime requisite. Those who are working in the field of planetary evolution are looking for dependable instruments, and this cannot be too emphatically impressed upon all of you. People whose emotional moods and feelings run riot or who lack physical control cannot be counted upon in an emergency by Those who are seeking helpers. People whose minds are clouded or whose inability to hold the mind “steady in the light” is inherent, are unsuitable workers in the high places of world endeavour. This remark need deter no one in these groups from pushing forward, for the recognition of a defect is a preliminary step towards its overcoming. These groups are in training and this must be borne in mind or else discouragement is apt to ensue when the ideal is enunciated. World need and opportunity go hand in hand at this time. The Great Ones, Who stand as a wall between humanity and planetary Karma are, we are told, hard pressed at this time, and I assure you that this is but an inadequate statement of the case.

Xin tôi nhắc tất cả những ai đọc rằng việc thiết lập và ổn định các thói quen đúng đắn là một điều kiện tiên quyết hàng đầu đối với người chí nguyện hướng tới địa vị đệ tử. Những Đấng đang hoạt động trong lĩnh vực tiến hoá hành tinh đang tìm kiếm những khí cụ đáng tin cậy, và điều này không thể được nhấn mạnh quá mức với tất cả các bạn. Những người có các tâm trạng và cảm xúc buông thả, hoặc thiếu sự kiểm soát hồng trần, không thể được Các Ngài, những Đấng đang tìm kiếm người trợ giúp, trông cậy trong trường hợp khẩn cấp. Những người có thể trí mờ đục, hoặc vốn không có khả năng giữ thể trí “vững vàng trong ánh sáng”, không thích hợp làm người hoạt động ở những vị trí cao trong nỗ lực thế giới. Nhận xét này không nên làm bất cứ ai trong các nhóm này nản lòng mà không tiến tới, vì sự nhận biết một khiếm khuyết là bước sơ khởi để vượt qua nó. Các nhóm này đang được huấn luyện, và điều này phải được ghi nhớ, nếu không sự nản lòng dễ xảy ra khi lý tưởng được nêu lên. Nhu cầu thế giới và cơ hội đang đi đôi với nhau vào lúc này. Các Đấng Cao Cả, những Đấng đứng như một bức tường giữa nhân loại và nghiệp quả hành tinh, như chúng ta được cho biết, đang chịu sức ép nặng nề vào lúc này; và tôi bảo đảm với các bạn rằng đây chỉ là một cách nói chưa đủ về tình trạng ấy.

The thoughts of men since the middle of the Atlantean period have steadily been attracted toward the destructive or left-hand path, because selfishness has been the motive, and self-interest the dominant factor. Part of the work of the Christ when He came 2000 years ago was to offset this tendency by the inculcation, through example and precept, of sacrifice and unselfishness, and the martyr spirit (tinctured as it oft was by hysteria and a heavenly self-interest) was one of the results of this endeavour. Seen from the standpoint of the Hierarchy, the effort has been successful, for the Christian spirit stands for re-orientation to heavenly things. Hence purity of motive and the instinct for service, which latter keynote is new from the standpoint of the past eternities.

Từ giữa thời kỳ Atlantis, tư tưởng của con người đã đều đặn bị hút về con đường hủy diệt hay tả đạo, vì ích kỷ là động cơ, và tư lợi là yếu tố chi phối. Một phần công việc của Đức Christ khi Ngài đến cách đây 2000 năm là hóa giải khuynh hướng này bằng cách truyền dạy, qua gương mẫu và giáo huấn, tinh thần hi sinh và vị tha; và tinh thần tử đạo, dù thường nhuốm màu cuồng loạn và một thứ tư lợi hướng thiên, là một trong những kết quả của nỗ lực này. Nhìn từ quan điểm của Thánh Đoàn, nỗ lực ấy đã thành công, vì tinh thần Kitô giáo tượng trưng cho sự tái định hướng về những điều thuộc thiên giới. Do đó có sự thanh khiết của động cơ và bản năng phụng sự, mà chủ âm sau này là điều mới mẻ theo quan điểm của các vĩnh cửu đã qua.

[260]

[260]

In spite of this, however, the tendency to selfish interest is the most potent factor in the world at this time, and hence the critical situation existing between the Hierarchy of Light and the hierarchy controlling the left-hand path, or the path of control by form and desire.

Tuy nhiên, bất chấp điều này, khuynh hướng tư lợi ích kỷ là yếu tố mạnh mẽ nhất trong thế giới vào lúc này, và vì thế có tình thế nguy kịch đang tồn tại giữa Thánh Đoàn Ánh sáng và huyền giai đang kiểm soát tả đạo, hay con đường kiểm soát bằng hình tướng và dục vọng.

Let there be no discouragement, however, for the spiritual thought, resulting in magical work, of one brother of pure intent is of far greater potency than that of many brothers who follow the tendencies of the personality. Though every true aspirant as he grasps the magnitude of the Plan and surveys the forces arrayed against him may be overcome by the apparent futility of his effort and the seeming smallness of the part he plays, let him remember that there is a steadily growing group of those similar to him and that this is a group effort. Under the Law the Great Ones work through Their disciples in all countries and never before have there been so many endeavouring to fit themselves for this function of being “Transmitters of the Purpose,” and never before has there existed such a strong inner integrity and subjective relation between workers in all fields in all parts of the world. For the first time in history is there a coherent group for the Masters to use. Heretofore, there have been lonely isolated workers or tiny detached groups, and this has greatly hampered the work. Now this is changed.

Tuy nhiên, đừng nản lòng, vì tư tưởng tinh thần đưa đến công việc huyền thuật của một huynh đệ có ý định thanh khiết thì có uy lực lớn hơn rất nhiều so với tư tưởng của nhiều huynh đệ đi theo các khuynh hướng của phàm ngã. Dù mọi người chí nguyện chân chính, khi y nắm bắt tầm vóc của Thiên Cơ và quan sát các mãnh lực dàn trận chống lại y, có thể bị lấn át bởi vẻ vô ích của nỗ lực mình và sự nhỏ bé dường như của vai trò mình, y hãy nhớ rằng có một nhóm những người giống như y đang đều đặn lớn mạnh, và đây là một nỗ lực nhóm. Theo Định luật, các Đấng Cao Cả làm việc qua các đệ tử của Các Ngài trong mọi quốc gia; và chưa bao giờ có nhiều người đến thế đang nỗ lực làm cho mình thích hợp với chức năng làm “Những Người Truyền Dẫn Thiên Ý” này, và chưa bao giờ có một sự toàn vẹn nội tại cùng mối liên hệ chủ quan mạnh mẽ đến thế giữa những người hoạt động trong mọi lĩnh vực ở khắp nơi trên thế giới. Lần đầu tiên trong lịch sử có một nhóm cố kết để các Chân sư sử dụng. Trước đây, chỉ có những người hoạt động cô độc, biệt lập, hoặc những nhóm nhỏ bé tách rời, và điều này đã cản trở công việc rất nhiều. Nay điều này đã thay đổi.

I want to charge you all to realize this and to work to substantiate this group integrity and to develop the power to recognize all such workers everywhere under any name or organization and to cooperate with them when so recognized. This is no easy thing to do. It presupposes the following:

Tôi muốn giao phó cho tất cả các bạn nhận ra điều này, và làm việc để làm vững chắc sự toàn vẹn nhóm này, cũng như phát triển năng lực nhận ra tất cả những người hoạt động như thế ở khắp mọi nơi, dưới bất cứ danh xưng hay tổ chức nào, và hợp tác với họ khi đã nhận ra. Đây không phải là điều dễ làm. Nó giả định những điều sau:

Webinar Program 14 – Rule 9.2

1. An inner sensitiveness to the Plan.

1. Một sự nhạy bén nội tâm đối với Thiên Cơ.

2. An ability to recognize principles, governing conduct and administration. [261]

2. Một khả năng nhận ra các nguyên tắc chi phối hành vi và quản trị. [261]

3. A capacity to overlook the non-essentials and to emphasize the essentials.

3. Một năng lực bỏ qua những điều không thiết yếu và nhấn mạnh những điều thiết yếu.

4. A submergence of personal ambition and interest in the furthering of the group ideals and

4. Sự chìm lắng của tham vọng và lợi ích cá nhân trong việc thúc đẩy các lý tưởng của nhóm, và

5. A steady preservation of the inner contact through meditation and the overlooking and non-emphasis of personality reactions.

5. Sự duy trì vững vàng tiếp xúc nội tâm qua tham thiền, cùng việc bỏ qua và không nhấn mạnh các phản ứng của phàm ngã.

These are basic pre-requisites and should receive the attention of workers and students in all groups.

Đây là những điều kiện tiên quyết căn bản và cần nhận được sự chú tâm của những người hoạt động và đạo sinh trong mọi nhóm.

It would be of value if each student would link up every day at five o’clock by an act of the will with this rapidly integrating group of servers, mystics and brothers. To this end it might be wise to commit to memory the following brief dedication to be said silently at that hour with the attention focussed in the head:

Sẽ có giá trị nếu mỗi đạo sinh, mỗi ngày vào lúc năm giờ, bằng một hành động của ý chí, liên kết với nhóm những người phụng sự, các nhà thần bí và các huynh đệ đang nhanh chóng tích hợp này. Vì mục đích ấy, có lẽ nên học thuộc lời thánh hiến ngắn sau đây, để đọc thầm vào giờ ấy với sự chú tâm tập trung trong đầu:

“May the Power of the one Life pour through the group of all true servers.

“Cầu xin Quyền năng của Sự sống duy nhất tuôn chảy qua nhóm của tất cả những người phụng sự chân chính.

“May the Love of the One Soul characterize the lives of all who seek to aid the Great Ones.

“Cầu xin Tình thương của Linh hồn Duy Nhất đặc trưng cho đời sống của tất cả những ai tìm cách trợ giúp các Đấng Cao Cả.

“May I fulfil my part in the One work through self-forgetfulness, harmlessness and right speech.”

“Cầu xin tôi hoàn thành phần việc của mình trong Công việc Duy Nhất qua sự quên mình, tính vô tổn hại và lời nói đúng đắn.”

Then carry the thought forward from the rapidly forming group of world-servers to the Great Ones who stand back of our world evolution.

Rồi hãy đưa tư tưởng tiến xa hơn, từ nhóm những người phụng sự thế giới đang nhanh chóng thành hình đến các Đấng Cao Cả đứng phía sau tiến hoá thế giới của chúng ta.

This can be done in a few seconds of time wherever one may be and in whatever company, and will not only aid in the magical work of the forces of light, but will serve to stabilize the individual, to increase his group consciousness, and to teach him the process of carrying forward interior subjective activities in the face of and in spite of outer exoteric functioning.

Điều này có thể được thực hiện trong vài giây, ở bất cứ nơi nào người ta có mặt và trong bất cứ nhóm người nào; và nó sẽ không chỉ trợ giúp công việc huyền thuật của các mãnh lực ánh sáng, mà còn phụng sự cho việc ổn định cá nhân, gia tăng tâm thức nhóm của y, và dạy y tiến trình đưa các hoạt động chủ quan nội tâm tiến tới, đối diện với và bất chấp chức năng ngoại môn bên ngoài.

Fundamental forms

The simplicity of this Rule nine is such that in a few words the entire process of creative evolution is summarized. On the mental plane an idea takes form. On [262] the desire plane sentient energy pervades that form. Under the evolutionary process the form “swells and grows”. Through the right direction of the form and its orientation in the needed direction, the purpose of the thinker is fulfilled.

Tính đơn giản của Quy luật chín này đến mức chỉ trong vài lời, toàn bộ tiến trình tiến hoá sáng tạo đã được tóm lược. Trên cõi trí, một ý tưởng mang lấy hình tướng. Trên [262] cõi dục vọng, năng lượng cảm thụ thấm nhuần hình tướng ấy. Dưới tiến trình thăng thượng tiến hoá, hình tướng “trương nở và lớn lên”. Qua sự điều hướng đúng đắn của hình tướng và sự định hướng của nó theo chiều hướng cần thiết, mục đích của người tư tưởng được hoàn thành.

All life is vibration and the result of vibration is form, dense or subtle, and ever subtler as ascension takes place. As the pulsating life progresses its rate of vibration changes, and in this changing of vibration lies hid the secret of form-shattering and form-building. Forms are of four kinds in this era of the fourth round:

Mọi sự sống đều là rung động, và kết quả của rung động là hình tướng, đậm đặc hay tinh tế, và ngày càng tinh tế hơn khi sự thăng lên diễn ra. Khi sự sống đang rung nhịp tiến bước, tốc độ rung động của nó thay đổi, và trong sự thay đổi rung động này ẩn giấu bí mật của việc phá vỡ hình tướng và xây dựng hình tướng. Các hình tướng có bốn loại trong kỷ nguyên này của cuộc tuần hoàn thứ tư:

1. The Form of the Personality, that vehicle of physical, astral and mental matter that provides the means of contact in the three worlds. It is built in each life, the key of the vibration being set up in the life preceding the present. That form proves adequate for the average man and serves him till death. The man who is entering on the occult path starts with the vehicle provided, but during incarnation builds for himself ever a newer and better vehicle, and the more progressed he is the more consciously he works. Hence eventuates that constant turmoil and frequent ill-health of the beginner in the occult life. He senses the law, he realises the need of raising his key, and frequently he begins with mistakes. He starts to build anew his physical body by diet and discipline, instead of working from the inner outward. In the careful discipline of the mind and the manipulation of thought-matter and in transmutation of emotion comes the working out on the physical plane. Add to the two above, physical plane purity as to food and manner of life, and in seven years time the man has built for himself three new bodies around the permanent atoms.

1. Hình Tướng của Phàm Ngã, vận cụ bằng vật chất hồng trần, cảm dục và trí tuệ, cung cấp phương tiện tiếp xúc trong ba cõi thấp. Nó được xây dựng trong mỗi đời sống, chủ âm của rung động được thiết lập trong đời sống trước đời hiện tại. Hình tướng ấy tỏ ra thích hợp cho người trung bình và phụng sự y cho đến khi chết. Người đang bước vào con đường huyền bí bắt đầu với vận cụ đã được cung cấp, nhưng trong khi lâm phàm, y luôn xây dựng cho mình một vận cụ mới hơn và tốt hơn; và y càng tiến bộ, y càng làm việc một cách có ý thức hơn. Vì thế phát sinh sự xáo trộn liên tục và tình trạng sức khỏe thường xuyên kém của người mới bắt đầu trong đời sống huyền bí. Y cảm nhận định luật, y nhận ra nhu cầu nâng cao chủ âm của mình, và thường y bắt đầu bằng những sai lầm. Y khởi sự xây dựng lại thể xác của mình bằng chế độ ăn uống và kỷ luật, thay vì làm việc từ bên trong ra bên ngoài. Trong sự kỷ luật cẩn thận thể trí, sự vận dụng chất liệu tư tưởng và sự chuyển hoá cảm xúc, công việc được thực hiện ra trên cõi hồng trần. Thêm vào hai điều trên sự thanh khiết trên cõi hồng trần về thức ăn và lối sống, thì trong bảy năm, con người đã xây dựng cho mình ba thể mới quanh các nguyên tử trường tồn.

Webinar Program 15 – Rule 9.3

2. The Form of the Environment. This is really the evolutionary working out of the involutionary group soul. It relates to our contacts, not just exterior, but on the inner planes as well. In similarity of vibration [263] comes coherency. When therefore a man raises his vibration and builds anew from the beginning, and alters consequently his key, it results in dissonance in his surroundings and subsequent discord. Therefore—under the law—there comes always to the striver after the Mysteries and the manipulator of the law, a period of aloneness and of sorrow when no man stands by and isolation is his lot. In lesser degree this comes to all, and to the arhat (or initiate of the fourth degree) this complete isolation is a characteristic feature. He stands midway between life in the three worlds and that in the world of adepts. His vibration does not synchronise, prior to initiation with the vibrations of either group. Under the law he is alone. But this is only temporary. When the environment satisfies then is the moment of anxiety; it indicates stagnation. The application of the law causes primary disruption.

2. Hình Tướng của Môi Trường. Đây thật ra là sự thực hiện tiến hoá của hồn nhóm giáng hạ tiến hoá. Nó liên quan đến các tiếp xúc của chúng ta, không chỉ bên ngoài mà cả trên các cõi bên trong. Trong sự tương đồng rung động [263] có sự cố kết. Vì vậy, khi một người nâng cao rung động của mình, xây dựng lại từ đầu, và do đó thay đổi chủ âm của mình, kết quả là sự bất hòa trong môi trường chung quanh và sau đó là xung đột. Vì thế, theo định luật, đối với người nỗ lực hướng tới các Bí Nhiệm và người vận dụng định luật, luôn luôn có một thời kỳ đơn độc và đau buồn, khi không ai đứng bên cạnh và sự cô lập là số phận của y. Ở mức độ thấp hơn điều này đến với tất cả, và đối với vị arhat, hay điểm đạo đồ bậc bốn, sự cô lập hoàn toàn này là một đặc điểm nổi bật. Ngài đứng ở điểm giữa giữa đời sống trong ba cõi thấp và đời sống trong thế giới của các chân sư. Rung động của Ngài, trước điểm đạo, không đồng bộ với rung động của nhóm nào cả. Theo định luật, Ngài đơn độc. Nhưng điều này chỉ tạm thời. Khi môi trường làm thỏa mãn, đó là lúc đáng lo ngại; nó chỉ ra sự trì trệ. Việc áp dụng định luật gây ra sự tan vỡ ban đầu.

3. The Form of the Devotee. Yes, I mean just that word, for it expresses an abstract idea. Each person of every degree has his devotion, that for which he lives, that for which—in ignorance, in knowledge or in wisdom—he wields as much of the law as he can grasp. Purely physical may that devotion be, centred in flesh, in lust for gold, in possessions concrete. He bends all his energies to the search for the satisfaction of that concrete form and therein learns. Purely astral may be the aim of the devotee—love of wife or child, or family, pride of race, love of popularity, or lust of some kind—to them he devotes the whole of his energy, using the physical body to fulfil the desire of the astral.

3. Hình Tướng của Người Sùng Tín. Vâng, tôi muốn nói đúng từ đó, vì nó diễn tả một ý tưởng trừu tượng. Mỗi người ở mọi cấp độ đều có sự sùng tín của mình, điều mà y sống vì nó, điều mà—trong vô minh, trong tri thức hay trong minh triết—y vận dụng bao nhiêu định luật tùy mức y có thể nắm bắt. Sự sùng tín ấy có thể thuần túy hồng trần, tập trung nơi xác thịt, nơi lòng ham muốn vàng bạc, nơi các sở hữu cụ thể. Y dồn mọi năng lượng của mình vào việc tìm kiếm sự thỏa mãn cho hình tướng cụ thể ấy, và trong đó y học hỏi. Mục tiêu của người sùng tín có thể thuần túy cảm dục—tình yêu đối với vợ hay con, hoặc gia đình, niềm tự hào về chủng tộc, lòng yêu thích sự nổi tiếng, hoặc một dục vọng nào đó—đối với những điều ấy y hiến dâng toàn bộ năng lượng của mình, sử dụng thể xác để hoàn thành dục vọng của cõi cảm dục.

Higher still may be the form of his devotion, —love of art, or science or philosophy, the life religious, scientific, or artistic—to them he consecrates his energies, physical, astral and mental, and always the form is that of devotion. Always the vibration measures up to the goal, finds that goal, passes it and disintegrates. Pain enters [264] into all shattering of the form, and changing of the key. Many lives, for millennia of years, are spent under the lower vibrations. As evolution progresses, more rapid is the development, and the key changes from life to life, whereas in the earlier stages one key or tone might be sounded for several lives in their entirety. As a man nears the Path, the Probationary Path becomes strewn with many shattered forms, and from lesser cycle to lesser cycle he changes the key, often in one life heightening his vibration several times. See therefore how the life of all aspirants, if progressing with the desired rapidity, is one of constant movement, constant changes and differentiations, and continuous building and breaking, planning and seeing those plans disrupted. It is a life of ceaseless suffering, of frequent clashing with the environing circumstances, of numerous friendships made and transferred, of mutation ceaseless and consequent agony. Ideals are transcended only to be found to be stations on the road to higher; visions are seen, only to be replaced by others; dreams are dreamt only to be realized and discarded; friends are made, to be loved and left behind, and to follow later and more slowly the footsteps of the striving aspirant; and all the time the fourth form is being built.

Cao hơn nữa có thể là hình tướng của sự sùng tín của y—tình yêu nghệ thuật, hoặc khoa học hay triết học, đời sống tôn giáo, khoa học hay nghệ thuật—đối với những điều ấy y thánh hiến các năng lượng của mình, hồng trần, cảm dục và trí tuệ; và hình tướng luôn luôn là hình tướng của sự sùng tín. Rung động luôn đo lường tương ứng với mục tiêu, tìm thấy mục tiêu ấy, vượt qua nó và tan rã. Đau khổ đi vào [264] mọi sự phá vỡ hình tướng và mọi sự thay đổi chủ âm. Nhiều đời sống, trong hàng thiên niên kỷ, được trải qua dưới các rung động thấp. Khi tiến hoá tiến triển, sự phát triển trở nên nhanh hơn, và chủ âm thay đổi từ đời này sang đời khác, trong khi ở các giai đoạn trước, một chủ âm hay âm điệu có thể được xướng lên trọn vẹn trong nhiều đời. Khi một người đến gần Đường Đạo, Con Đường Dự Bị trở nên rải đầy nhiều hình tướng đã bị phá vỡ; và từ chu kỳ nhỏ này sang chu kỳ nhỏ khác, y thay đổi chủ âm, thường trong một đời nâng cao rung động của mình nhiều lần. Vì vậy, hãy thấy rằng đời sống của tất cả những người chí nguyện, nếu tiến triển với tốc độ mong muốn, là đời sống của chuyển động liên tục, những thay đổi và biến phân liên tục, cùng sự xây dựng và phá vỡ không ngừng, lập kế hoạch và nhìn thấy các kế hoạch ấy bị phá tan. Đó là một đời sống đau khổ không ngừng, thường xuyên va chạm với các hoàn cảnh chung quanh, nhiều tình bạn được thiết lập rồi chuyển dịch, sự biến đổi không dứt và nỗi thống khổ theo sau. Các lý tưởng được vượt qua chỉ để nhận ra rằng chúng là những trạm trên con đường hướng tới điều cao hơn; các linh ảnh được thấy, chỉ để được thay thế bằng những linh ảnh khác; các giấc mơ được mơ, chỉ để được chứng nghiệm rồi bị gạt bỏ; các bạn hữu được kết giao, để được yêu thương rồi để lại phía sau, và về sau theo chậm hơn các bước chân của người chí nguyện đang nỗ lực; và trong suốt thời gian ấy, hình tướng thứ tư đang được xây dựng.

4. The Form of the Causal Body. This is the vehicle of the higher consciousness, the temple of the indwelling God, which seems of a beauty so rare and of a stability of so sure a nature that, when the final shattering comes of even that masterpiece of many lives, bitter indeed is the cup to drink, and unutterably bereft seems the unit of consciousness. Conscious then only of the innate Divine Spirit, conscious only of the Truth of the Godhead, realizing profoundly and to the depths of his being the ephemeral nature of the form and of all forms, standing alone in the vortex of initiatory rites, bereft of all on which he may have leant (be it friend, Master, doctrine [265] or environment), well may the Initiate cry out: “I am that I am, and there is naught else.” Well may he then figuratively place his hand in that of his Father in Heaven, and hold the other out in blessing on the world of men, for only the hands that have let slip all within the three worlds are free to carry the ultimate blessing to struggling humanity. Then he builds for himself a form such as he desires, —a new form that is no longer subject to shattering, but suffices for his need, to be discarded or used as occasion warrants.

4. Hình Tướng của Thể Nguyên Nhân. Đây là vận cụ của tâm thức cao siêu, ngôi đền của Thượng đế nội tại, dường như có một vẻ đẹp hiếm có và một sự ổn định chắc chắn đến mức, khi sự phá vỡ cuối cùng xảy đến ngay cả với kiệt tác của nhiều đời sống ấy, chén phải uống quả thật đắng cay, và đơn vị tâm thức dường như bị tước đoạt không lời nào tả xiết. Khi ấy chỉ còn ý thức về Tinh Thần Thiêng Liêng bẩm sinh, chỉ còn ý thức về Chân Lý của Thần Tính, nhận ra sâu xa đến tận đáy bản thể mình bản chất phù du của hình tướng và của mọi hình tướng, đứng một mình trong xoáy lốc của các nghi thức điểm đạo, bị tước khỏi tất cả những gì y có thể đã tựa vào, dù là bạn hữu, Chân sư, giáo lý [265] hay môi trường, thì điểm đạo đồ rất có thể thốt lên: “Tôi là cái Tôi là, và không có gì khác.” Khi ấy, một cách biểu tượng, y rất có thể đặt tay mình vào tay của Cha mình trên Trời, và đưa tay kia ra ban phúc cho thế giới loài người; vì chỉ những bàn tay đã buông bỏ tất cả trong ba cõi thấp mới tự do mang phúc lành tối hậu đến cho nhân loại đang phấn đấu. Khi ấy y xây dựng cho mình một hình tướng như y mong muốn—một hình tướng mới không còn chịu sự phá vỡ nữa, nhưng đủ cho nhu cầu của y, để được gạt bỏ hay sử dụng tùy hoàn cảnh đòi hỏi.

Webinar Program 16 – Rule 9.4

In these days you will need to ponder on this matter of the form, for with the entering in of a new ray, and the commencement of a new era comes ever a period of much disruption until the forms that be have adapted themselves to the newer vibration. In that adaptation those who have cultivated pliability and adaptability, or who have that for their personality ray, progress with less disruption than those more crystallized and fixed.

Trong những ngày này, các bạn sẽ cần suy ngẫm về vấn đề hình tướng này, vì với sự nhập cuộc của một cung mới và sự khởi đầu của một kỷ nguyên mới, luôn luôn có một thời kỳ nhiều tan vỡ cho đến khi các hình tướng hiện hữu tự thích nghi với rung động mới hơn. Trong sự thích nghi ấy, những ai đã vun bồi tính mềm dẻo và khả năng thích ứng, hoặc có điều đó như cung phàm ngã của mình, sẽ tiến bộ với ít tan vỡ hơn so với những người kết tinh và cố định hơn.

Particularly now should pliability and responsiveness of form be aimed at, for when He Whom we all adore comes, think you His vibration will not cause disruption if crystallization is present? It was so before; it will be so again.

Đặc biệt lúc này, nên nhắm tới tính mềm dẻo và sự đáp ứng của hình tướng, vì khi Đấng mà tất cả chúng ta tôn kính đến, các bạn có nghĩ rằng rung động của Ngài sẽ không gây tan vỡ nếu có sự kết tinh hiện diện chăng? Trước kia đã như vậy; rồi sẽ lại như vậy.

Cultivate responsiveness to the Great Ones, aim at mental expansion and keep learning. Think whenever possible in terms abstract or numerical, and by loving all, work at the plasticity of the astral body. In love of all that breathes comes capacity to vibrate universally, and in that astral pliability will come responsiveness to the vibration of the Great Lord.

Hãy vun bồi sự đáp ứng đối với các Đấng Cao Cả, nhắm đến sự mở rộng trí tuệ và tiếp tục học hỏi. Khi có thể, hãy tư duy bằng các thuật ngữ trừu tượng hoặc số học, và bằng tình thương đối với tất cả, hãy làm việc để tạo tính uyển chuyển cho thể cảm dục. Trong tình thương đối với tất cả những gì đang thở, năng lực rung động một cách phổ quát sẽ đến; và trong tính mềm dẻo cảm dục ấy sẽ đến sự đáp ứng với rung động của Đấng Chúa Tể Vĩ Đại.

This summation of process and of the forms is equally true of God and His cosmic creative work; of the soul, as it builds its instrument for expression, either unconsciously in the early stages or consciously in the later; of the disciple, as he seeks to express his realization of the work through group work and the organization of his [266] life; and of perfected man, as he learns, through experience, to centre his forces on the mental plane and from there accomplish his purpose in generating and producing those thought-forms which mould the minds of men, and embody in themselves that aspect of the Universal Mind which is needed for the right production of that immediate fraction of the Plan which his age and generation require.

Sự tổng kết này về tiến trình và các hình tướng cũng đúng như nhau đối với Thượng đế và công việc sáng tạo vũ trụ của Ngài; đối với linh hồn, khi nó xây dựng khí cụ của mình để biểu hiện, hoặc vô ý thức trong các giai đoạn đầu, hoặc hữu thức trong các giai đoạn sau; đối với đệ tử, khi y tìm cách biểu hiện sự chứng nghiệm của mình về công việc qua công việc nhóm và sự tổ chức đời sống [266] của y; và đối với con người hoàn thiện, khi y học, qua kinh nghiệm, cách tập trung các mãnh lực của mình trên cõi trí và từ đó hoàn thành mục đích của mình trong việc tạo sinh và sản xuất những hình tư tưởng uốn nắn thể trí của con người, và tự chúng hiện thân cho phương diện ấy của Vũ Trụ Trí cần thiết cho việc tạo ra đúng đắn phần nhỏ tức thời của Thiên Cơ mà thời đại và thế hệ của y đòi hỏi.

All these various applications of the rule could be elucidated and enlarged upon. Our problem, however, must be kept clearly in mind. We are conscious souls, or in process of becoming conscious. We are beginning, through our meditation work and our application to study, to work on mental levels. We are creating forms continuously, pervading them with energy and sending them out to fulfill their function in line with our realized subjective purpose.

Tất cả những ứng dụng khác nhau này của quy luật có thể được làm sáng tỏ và mở rộng. Tuy nhiên, vấn đề của chúng ta phải được giữ rõ ràng trong trí. Chúng ta là các linh hồn có ý thức, hoặc đang trong tiến trình trở nên có ý thức. Chúng ta đang bắt đầu, qua công việc tham thiền và sự chuyên cần học tập, làm việc trên các cấp độ trí tuệ. Chúng ta liên tục tạo ra các hình tướng, thấm nhuần chúng bằng năng lượng và gửi chúng ra để hoàn thành chức năng của chúng phù hợp với mục đích chủ quan mà chúng ta đã nhận biết.

The emphasis should be laid upon the word realized in the above paragraph. According to the clarity of vision and the depth of the inner realization so will be the adequacy of the created form, and so will be the strength of the life which will enable it to perform its intended function.

Trong đoạn trên, cần đặt trọng tâm vào từ đã nhận biết. Tùy theo độ rõ ràng của tầm nhìn và độ sâu của sự chứng nghiệm nội tâm, hình tướng được tạo ra sẽ thích đáng đến mức ấy, và sức mạnh của sự sống sẽ có thể làm cho nó thực hiện chức năng dự định đến mức ấy.

Up to the present time the majority of aspirants in the world express the results of little and weak thought, but rapid action. The goal for students should at this time be rapid concentrated thought and slow action. That slow action however will be potent in result; there will be no lost motion, no delayed reactions, and no tendency towards hesitation. The attention of the thinker being focussed on the mental plane, the progress of his manifested thought will be sure and inevitable. When the idea is clearly grasped, the attention closely focussed, and the energy or life aspect steadily applied, the result will be irresistible appearance and potent action on the physical plane.

Cho đến hiện nay, đa số người chí nguyện trên thế giới biểu hiện các kết quả của tư tưởng nhỏ bé và yếu ớt, nhưng hành động nhanh chóng. Mục tiêu cho các đạo sinh vào lúc này nên là tư tưởng tập trung nhanh chóng và hành động chậm rãi. Tuy nhiên, hành động chậm rãi ấy sẽ mạnh mẽ trong kết quả; sẽ không có chuyển động lãng phí, không có phản ứng trì hoãn, và không có khuynh hướng do dự. Khi sự chú tâm của người tư tưởng được tập trung trên cõi trí, sự tiến triển của tư tưởng đã biểu hiện của y sẽ chắc chắn và tất yếu. Khi ý tưởng được nắm bắt rõ ràng, sự chú tâm được tập trung chặt chẽ, và năng lượng hay phương diện sự sống được áp dụng vững vàng, kết quả sẽ là sự xuất hiện không thể cưỡng lại và hành động mạnh mẽ trên cõi hồng trần.

[267]

[267]

This thought must be borne in mind if the dangers of the left hand path are to be avoided. Let me here make some statements in brief tabulated form, which will produce a truer understanding of the words “left hand path”. We are dealing here primarily with those thought-forms which man creates:

Tư tưởng này phải được ghi nhớ nếu các nguy hiểm của tả đạo cần được tránh. Ở đây, hãy để tôi đưa ra một vài phát biểu ngắn gọn dưới dạng liệt kê, điều sẽ tạo ra một sự thấu hiểu đúng hơn về các từ “tả đạo”. Ở đây chúng ta chủ yếu đang đề cập đến những hình tư tưởng mà con người tạo ra:

1. The left hand path concerns the matter aspect and the life poured into the form serves only to vitalize the atoms in substance. The potency of the love aspect—as wielded by the soul—is lacking.

1. Tả đạo liên quan đến phương diện vật chất, và sự sống được đổ vào hình tướng chỉ phụng sự để tiếp sinh lực cho các nguyên tử trong chất liệu. Uy lực của phương diện bác ái, như được linh hồn vận dụng, thì thiếu vắng.

2. The form created is constituted of mental matter, of astral matter and of physical substance. It lacks the soul contribution. Its purpose is in line with the development of form, but not in line with soul expression.

2. Hình tướng được tạo ra được cấu thành từ chất liệu trí tuệ, chất liệu cảm dục và chất liệu hồng trần. Nó thiếu sự đóng góp của linh hồn. Mục đích của nó phù hợp với sự phát triển của hình tướng, nhưng không phù hợp với sự biểu hiện của linh hồn.

3. The left hand path, therefore, is the path of progress for substance or matter. It is not the path of progress for the soul aspect. It is the “way of the Holy Ghost” but not the way of the Son of God. I express this truth in these words as it serves peculiarly to make the distinction clear and yet preserves the integrity of substance-matter and their Unity within the One Life.

3. Vì vậy, tả đạo là con đường tiến bộ cho chất liệu hay vật chất. Nó không phải là con đường tiến bộ cho phương diện linh hồn. Nó là “con đường của Chúa Thánh Thần” nhưng không phải là con đường của Con của Thượng đế. Tôi diễn đạt chân lý này bằng những lời này vì nó đặc biệt giúp làm rõ sự phân biệt, đồng thời vẫn giữ nguyên tính toàn vẹn của chất liệu-vật chất và sự Hợp Nhất của chúng trong Sự Sống Duy Nhất.

4. All forms created at every stage are either confined to the left hand path or embrace it and yet go beyond it, and follow the right hand way. This sentence provides food for thought and its meaning is difficult to gather. It should be borne in mind that all forms, whether they follow the right or left hand way are alike up to a certain point; they travel the same progressive stages and at one time in their career they appear uniform and alike. Only when their purpose appears does the distinction become apparent, and hence the training of the aspirant in right motive as a preparatory step to true occult work.

4. Mọi hình tướng được tạo ra ở mọi giai đoạn hoặc bị giới hạn trong tả đạo, hoặc bao hàm nó nhưng vượt qua nó, và đi theo chánh đạo. Câu này cung cấp nhiều điều đáng suy ngẫm, và ý nghĩa của nó khó nắm bắt. Cần ghi nhớ rằng mọi hình tướng, dù chúng đi theo chánh đạo hay tả đạo, đều giống nhau cho đến một điểm nào đó; chúng đi qua cùng các giai đoạn tiến bộ, và vào một thời điểm trong hành trình của mình, chúng có vẻ đồng dạng và giống nhau. Chỉ khi mục đích của chúng xuất hiện thì sự phân biệt mới trở nên rõ ràng; vì thế người chí nguyện được huấn luyện về động cơ đúng đắn như một bước chuẩn bị cho công việc huyền bí chân chính.

[268]

[268]

The question might be asked: What is meant by occult work?

Câu hỏi có thể được đặt ra: Công việc huyền bí nghĩa là gì?

True occult work involves:

Công việc huyền bí chân chính bao hàm:

1. The contacting of the Plan.

1. Sự tiếp xúc với Thiên Cơ.

2. Right desire to co-operate with the Plan.

2. Dục vọng đúng đắn muốn hợp tác với Thiên Cơ.

3. The work of thought-form building and the confining of the attention of the creator of these thought-forms to the mental plane. This is of so potent a nature that the thought-forms created have a life cycle of their own and never fail to manifest and perform their work.

3. Công việc xây dựng hình tư tưởng và sự giữ sự chú tâm của người sáng tạo các hình tư tưởng ấy trên cõi trí. Điều này có bản chất mạnh mẽ đến mức các hình tư tưởng được tạo ra có một chu kỳ sống riêng của chúng và không bao giờ không biểu hiện và thực hiện công việc của chúng.

4. The direction of the thought-form from the mental plane and the confining of the attention to that specific enterprise, knowing that right thought and right orientation lead to correct functioning and the sure avoidance of the left hand path.

4. Sự điều hướng hình tư tưởng từ cõi trí và sự giữ sự chú tâm vào công việc đặc thù ấy, biết rằng tư tưởng đúng đắn và định hướng đúng đắn đưa đến sự vận hành chính xác và chắc chắn tránh được tả đạo.

This is a lesson little appreciated by aspirants. They engage in emotional desire for the appearance of their thought-form and the manifestation of the idea. They spend much time following the orthodox methods of work and in physical plane activities. They wear themselves out by identifying themselves with the form they have created instead of remaining detached from it, and acting solely as the directing agents. Learn to work on the plane of mind. Build there your form, remembering that if you submerge yourself in the form for which you are responsible it may obsess and dominate you and then the form will be the dominant factor and not the purpose of its existence. When the form controls then comes the danger that it may be turned in the wrong direction and find its way on to the left hand path and so increase the power of matter and its hold over sentient souls.

Đây là một bài học ít được người chí nguyện đánh giá đúng. Họ dấn vào dục vọng cảm xúc về sự xuất hiện của hình tư tưởng của mình và sự biểu hiện của ý tưởng. Họ dành nhiều thời gian theo các phương pháp làm việc chính thống và trong các hoạt động trên cõi hồng trần. Họ làm mình kiệt sức bằng cách đồng hoá với hình tướng mà họ đã tạo ra, thay vì vẫn tách rời khỏi nó và chỉ hành động như các tác nhân điều hướng. Hãy học làm việc trên cõi trí. Hãy xây dựng hình tướng của các bạn ở đó, nhớ rằng nếu các bạn nhấn chìm mình trong hình tướng mà các bạn chịu trách nhiệm, nó có thể ám ảnh và thống trị các bạn; khi ấy hình tướng sẽ là yếu tố chi phối chứ không phải mục đích hiện hữu của nó. Khi hình tướng kiểm soát, khi ấy nảy sinh nguy hiểm rằng nó có thể bị chuyển theo hướng sai lầm và tìm đường đi vào tả đạo, do đó gia tăng quyền năng của vật chất và sự nắm giữ của nó trên các linh hồn cảm thụ.

It might be briefly added that anything that tends to increase the power of matter and add to the potent energy of form-substance produces a tendency to the left [269] hand path and a gradual attraction away from the Plan and the Purpose which it veils and hides.

Có thể thêm ngắn gọn rằng bất cứ điều gì có khuynh hướng gia tăng quyền năng của vật chất và thêm vào năng lượng mạnh mẽ của chất liệu-hình tướng đều tạo ra khuynh hướng hướng về [269] tả đạo và một sức hút dần dần rời xa Thiên Cơ và Thiên Ý mà nó che phủ và ẩn giấu.

All work and all created thought-forms (whether they materialize as an organization, a religion, a school of thought, a book or a life work of any kind) which express spiritual ideals and lay the emphasis upon the life-aspect come under the category of white magic. They then form part of the stream of life which we call the right hand Path, because it leads humanity out of form into life, and away from matter into consciousness.

Mọi công việc và mọi hình tư tưởng được tạo ra, dù chúng hiện hình thành một tổ chức, một tôn giáo, một trường phái tư tưởng, một quyển sách hay bất cứ công trình đời sống nào, nếu biểu hiện các lý tưởng tinh thần và đặt trọng tâm vào phương diện sự sống, đều thuộc phạm trù chánh thuật. Khi ấy chúng trở thành một phần của dòng sự sống mà chúng ta gọi là chánh đạo, vì nó dẫn nhân loại ra khỏi hình tướng vào sự sống, và rời khỏi vật chất vào tâm thức.

In an ashram of one of the Great Ones not long ago, a disciple asked his master to express this truth to him in such a way that though the words might be few yet the import would be worthy of continuous consideration. His master made this reply:

Cách đây không lâu, trong một ashram của một trong các Đấng Cao Cả, một đệ tử xin Chân sư của mình diễn đạt chân lý này cho y theo cách mà tuy lời ít nhưng ý nghĩa đáng được suy ngẫm liên tục. Chân sư của y đáp:

“Only the Sons of Men know the distinction between the magic of the right and left hand ways and when they have achieved, these two ways will disappear. When the Sons of Men know the distinction which exists between matter and substance, the lesson of this epoch will be grasped. Other lessons will be left but this one passes. Matter and substance together work out the way of darkness. Substance and purpose blended indicate the way of light.”

“Chỉ các Con của Nhân Loại mới biết sự phân biệt giữa huyền thuật của chánh đạo và tả đạo; và khi họ đã thành tựu, hai con đường này sẽ biến mất. Khi các Con của Nhân Loại biết sự phân biệt hiện hữu giữa vật chất và chất liệu, bài học của kỷ nguyên này sẽ được nắm bắt. Những bài học khác sẽ còn lại, nhưng bài học này qua đi. Vật chất và chất liệu cùng nhau thực hiện con đường của bóng tối. Chất liệu và mục đích được hòa trộn chỉ ra con đường của ánh sáng.”

Leave a Comment

Scroll to Top