BOOKS BY MARCIA MOORE AND MARK DOUGLAS
Diet, Sex, and Yoga
Yoga, Science of the Self
Reincarnation, Key to Immortality
Astrology in Action
Astrology, The Divine Science
Astrology and Time
The Astrological Tradition
BOOKS BY MARCIA MOORE
Astrology Today
Hypersentience
Astrology ,
The Divine Science
|
ARCANE PUBLICATIONS |
NHÀ XUẤT BẢN ARCANE |
|
York Harbor, Maine 03911 |
York Harbor, Maine 03911 |
|
This book is dedicated to |
Quyển sách này kính tặng |
|
Louisa, Christopher, and Jonathan |
Louisa, Christopher và Jonathan |
|
Copyright © Arcane Trust mcmlxxviii. |
Bản quyền © Arcane Trust mcmlxxviii. |
|
Copyright © Mark Douglas mcmlxxv. |
Bản quyền © Mark Douglas mcmlxxv. |
|
Copyright © Marcia Moore and Mark Douglas mcmlxxi. |
Bản quyền © Marcia Moore và Mark Douglas mcmlxxi. |
|
All rights reserved. No part of this book may be reproduced or utilized in any form or by any means, electronic or mechanical, including photocopying, recording, or by any information storage and retrieval system, except for the inclusion of brief quotations in a review, without first obtaining permission in writing from the publisher. |
Mọi quyền được bảo lưu. Không phần nào của quyển sách này được sao chép hoặc sử dụng dưới bất kỳ hình thức nào hay bằng bất kỳ phương tiện nào, điện tử hoặc cơ học, kể cả sao chụp, ghi âm, hoặc bằng bất kỳ hệ thống lưu trữ và truy xuất thông tin nào, ngoại trừ việc trích dẫn ngắn trong một bài điểm sách, nếu chưa có sự cho phép trước bằng văn bản của nhà xuất bản. |
|
THIRD EDITION |
ẤN BẢN THỨ BA |
|
Library of Congress Catalog Card Number: 77-82609 Manufactured in the United States of America. |
Số thẻ mục lục của Thư viện Quốc hội: 77-82609. In tại Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. |
|
Published simultaneously in the United States and Canada. |
Xuất bản đồng thời tại Hoa Kỳ và Canada. |
|
ISBN 0-912240-04-0 |
ISBN 0-912240-04-0 |
Acknowledgments — Lời cảm tạ
|
Since the Aquarian Age of group consciousness is now dawning, we feel it appropriate to extend our gratitude to the circle of friends who read, commented on, and helped to edit the manuscript for Astrology, The Divine Science during its five-year gestation period. Special appreciation is due to the following Aquarian agents and companions on the Path who generously assisted in bringing this book to birth. |
Vì Kỷ nguyên Bảo Bình của tâm thức nhóm nay đang ló dạng, chúng tôi cảm thấy thích hợp khi bày tỏ lòng biết ơn đến vòng thân hữu đã đọc, góp ý và giúp biên tập bản thảo của Chiêm tinh học, Khoa học Thiêng liêng trong thời kỳ thai nghén kéo dài năm năm của nó. Chúng tôi đặc biệt tri ân những tác nhân Bảo Bình sau đây và những bạn đồng hành trên Đường Đạo, những người đã rộng lòng trợ giúp để đưa quyển sách này ra đời. |
|
Sylvia Apelbaum |
Rosabel Ochlis |
|
William Archambault |
Robert Pelletier |
|
Anna Crebo |
Marc Penfield |
|
John Dalton |
William Reed |
|
Anne Fansler |
Virginia Riggs |
|
Magdelyn Hayes |
Evelyn Rowan |
|
R. Anthony Joseph |
William Rowan, Jr. |
|
Linda Larson |
Dane Rudhyar |
|
Jane Libby |
Merry Schuetz |
|
Jeff Mayo |
Linda Stead |
|
Kathy Medley |
Sharon Stevenson |
|
Margaret Millard, M.D. |
Kathleen Whayne |
|
In a book of this magnitude, there are bound to be misspellings, technical deficiencies, and omissions, despite exacting efforts to eliminate such occurrences. In the interest of making this volume as accurate as possible, we would be extremely grateful if sharp-eyed readers who find any errata, would notify Arcane Publications, Box 77, York Harbor, Maine 03911. |
Trong một quyển sách có tầm vóc như thế này, chắc chắn vẫn còn những lỗi chính tả, thiếu sót kỹ thuật và những phần bỏ lỡ, dù chúng tôi đã nỗ lực nghiêm ngặt để loại trừ các trường hợp ấy. Vì mong muốn làm cho tập sách này chính xác nhất có thể, chúng tôi sẽ vô cùng biết ơn nếu những độc giả tinh mắt phát hiện bất kỳ lỗi nào vui lòng thông báo cho Nhà xuất bản Arcane, Hộp thư 77, York Harbor, Maine 03911. |
|
Thank you, |
Xin cảm ơn, |
|
Marcia Moore |
Marcia Moore |
|
Mark Douglas |
Mark Douglas |
Foreword — Lời tựa
|
It was nearly twelve years ago—a complete Jupiter cycle—that I was surprised to receive a letter postmarked Darjeeling, India. It was written by Marcia Moore who was then being permeated with India’s lore and wisdom. During the intervening years, I visited several times at her former home in Concord, Massachusetts, and we had long talks on astrology and other topics of common interest. The precedent-making thesis on astrology she wrote for her degree at Radcliffe College showed already how lucidly she could present her subject in the context of psycho-sociological studies. |
Đó là gần mười hai năm trước—một chu kỳ Sao Mộc trọn vẹn—khi tôi ngạc nhiên nhận được một lá thư đóng dấu bưu điện Darjeeling, Ấn Độ. Lá thư do Marcia Moore viết, khi ấy bà đang thấm nhuần truyền thống tri thức và minh triết của Ấn Độ. Trong những năm sau đó, tôi đã nhiều lần đến thăm ngôi nhà cũ của bà tại Concord, Massachusetts, và chúng tôi có những cuộc trao đổi dài về chiêm tinh học cùng các đề tài khác mà đôi bên cùng quan tâm. Luận văn mở đường về chiêm tinh học mà bà viết để lấy bằng tại Radcliffe College đã cho thấy từ sớm bà có thể trình bày đề tài của mình sáng rõ đến mức nào trong bối cảnh các nghiên cứu tâm lý-xã hội. |
|
This present volume is one that every serious astrologer and student should warmly welcome, for it comes at a crucial time in the development of Western astrology. In this century of changes and upheavals, such a book fills a genuine need. |
Tập sách hiện nay là một tác phẩm mà mọi nhà chiêm tinh và học viên nghiêm túc đều nên nồng nhiệt đón nhận, vì nó xuất hiện vào một thời điểm then chốt trong sự phát triển của chiêm tinh học phương Tây. Trong thế kỷ đầy biến động và xáo trộn này, một quyển sách như vậy đáp ứng một nhu cầu thật sự. |
|
Today, astrology is claiming the attention of an increasing number of people. This expansion has largely been caused by the great interest which a growing number of young people are taking in the subject. More and more of these young men and women are college students or graduates, and even their professors are no longer as scornful of astrology as they used to be. However, the field of astrology is in a very confusing condition, for there are several distinct tendencies or schools of thought. Moreover, the manner in which astrology is presented to interested readers in the great majority of cases fails to satisfy not only the rational or fastidious thinker, but also a great many of the youth who hope rather confusedly to find “in the stars” a revelation of psychological, mystical, or “cosmic” truths, which they feel might give them a new and expanded sense of security and of attunement to the rhythms of the universe. |
Ngày nay, chiêm tinh học đang thu hút sự chú ý của ngày càng nhiều người. Sự mở rộng này phần lớn do mối quan tâm lớn lao mà số lượng ngày càng đông những người trẻ dành cho đề tài này. Ngày càng nhiều nam nữ thanh niên ấy là sinh viên đại học hoặc người đã tốt nghiệp, và ngay cả các giáo sư của họ cũng không còn khinh miệt chiêm tinh học như trước kia. Tuy nhiên, lĩnh vực chiêm tinh học đang ở trong một tình trạng rất rối rắm, vì có nhiều khuynh hướng hoặc trường phái tư tưởng khác biệt. Hơn nữa, cách chiêm tinh học được trình bày cho các độc giả quan tâm trong đại đa số trường hợp không thỏa mãn được không chỉ người suy tư duy lý hoặc khó tính, mà còn cả rất nhiều thanh niên đang hy vọng, dù khá mơ hồ, tìm thấy “trong các vì sao” một mặc khải về những chân lý tâm lý, huyền nhiệm hoặc “vũ trụ”, những điều mà họ cảm thấy có thể đem lại cho họ một cảm thức an toàn mới mẻ và rộng mở hơn, cũng như sự hòa nhịp với các tiết điệu của vũ trụ. |
|
At the beginning of the 1930’s, Paul Clancy decided that the popularization of astrology was to be his life task. When his magazine American Astrology became a huge success in 1934, a new epoch began in astrology. Although Evangeline Adams and a few other pioneer astrologers in the United States had earlier laid the foundations for what is now known as “sunsign astrology,” the interested public was very small. It was the success of Clancy’s venture that caused daily or weekly astrological columns, with readings for the twelve signs, to appear in the newspapers and periodicals of the United States and Europe. A number of astrological magazines were started, and though some went into eclipse, others have flourished ever since. |
Vào đầu thập niên 1930, Paul Clancy quyết định rằng việc phổ biến chiêm tinh học sẽ là nhiệm vụ đời mình. Khi tạp chí Chiêm tinh học Hoa Kỳ của ông đạt thành công vang dội vào năm 1934, một kỷ nguyên mới đã bắt đầu trong chiêm tinh học. Dù Evangeline Adams và một vài nhà chiêm tinh tiên phong khác tại Hoa Kỳ trước đó đã đặt nền móng cho điều nay được gọi là “chiêm tinh học dấu hiệu mặt trời”, công chúng quan tâm khi ấy vẫn còn rất ít. Chính thành công trong công cuộc của Clancy đã khiến các chuyên mục chiêm tinh hằng ngày hoặc hằng tuần, với phần luận giải cho mười hai dấu hiệu, xuất hiện trên các báo và tạp chí tại Hoa Kỳ và châu Âu. Một số tạp chí chiêm tinh đã được khởi lập, và dù một vài tạp chí đã đi vào lu mờ, những tạp chí khác vẫn hưng thịnh từ đó đến nay. |
|
I find myself in a peculiar situation with regard to this tidal sweep of modern astrology. Just at the time Paul Clancy started American Astrology, I became deeply interested in the psychology of Carl Jung. I had studied astrology in 1920 at Krotona, Hollywood, then the headquarters of the Theosophical Society, and in 1930 I met Marc Jones, who sent me some of his mimeographed material on astrology. During the summer of 1933, it occurred to me that a serious approach to astrology, such as he was beginning to present, could and should be correlated with depth psychology (especially of the Jungian type), for actually they complemented each other. |
Tôi thấy mình ở trong một hoàn cảnh đặc biệt đối với làn sóng dâng trào này của chiêm tinh học hiện đại. Đúng vào thời điểm Paul Clancy bắt đầu Chiêm Tinh Học Hoa Kỳ, tôi trở nên hết sức quan tâm đến tâm lý học của Carl Jung. Tôi đã học chiêm tinh học vào năm 1920 tại Krotona, Hollywood, khi ấy là trụ sở của Hội Thông Thiên Học, và vào năm 1930 tôi gặp Marc Jones, người đã gửi cho tôi một số tài liệu in rônêô của ông về chiêm tinh học. Trong mùa hè năm 1933, tôi chợt nhận ra rằng một lối tiếp cận nghiêm túc đối với chiêm tinh học, như điều ông đang bắt đầu trình bày, có thể và nên được liên hệ với tâm lý học chiều sâu, đặc biệt là loại hình Jung, vì thật ra chúng bổ sung cho nhau. |
|
Later that same year, I finally met Paul Clancy in New York. He had already printed some lectures I had given in Boston in 1930-31, and he gave me carte blanche to write anything along these lines for publication in his magazine. At that time, Clancy was eager to combine “popular astrology” with the type of “psychological astrology” I was beginning to expound. For several years, Grant Lewi wrote most of the “forecasts” and I many of the remaining pages of the magazine. |
Về sau, cũng trong năm ấy, cuối cùng tôi gặp Paul Clancy tại New York. Ông đã in một số bài giảng tôi từng trình bày ở Boston vào các năm 1930-31, và ông cho tôi toàn quyền viết bất cứ điều gì theo hướng này để đăng trong tạp chí của ông. Vào thời điểm đó, Clancy rất muốn kết hợp “chiêm tinh học đại chúng” với loại “chiêm tinh học tâm lý” mà tôi đang bắt đầu trình bày. Trong nhiều năm, Grant Lewi viết phần lớn các “dự báo”, còn tôi viết nhiều trang còn lại của tạp chí. |
|
In Europe, astrology had traditionally been a predictive art, used in the courts of kings and by statesmen and generals. The common people found astrology embedded in their calendars and in their customs concerning the growth of crops and the breeding of livestock. What is less well known is that great philosophermystics such as Paracelsus and Jakob Boehme wrote about planets, stars, astrological temperaments, etc., at a highly psychological and esoteric level. In this they were continuing the tradition carried on by the medieval alchemists and the occultists of many lands. |
Ở châu Âu, chiêm tinh học theo truyền thống từng là một nghệ thuật tiên đoán, được sử dụng trong triều đình của các vua chúa và bởi các chính khách cùng tướng lĩnh. Dân thường thấy chiêm tinh học được lồng vào lịch của họ và vào các phong tục liên quan đến việc trồng trọt và chăn nuôi gia súc. Điều ít được biết hơn là các triết gia thần bí vĩ đại như Paracelsus và Jakob Boehme đã viết về các hành tinh, các vì sao, các khí chất chiêm tinh, v.v., ở một mức độ rất tâm lý và nội môn. Trong điều này, họ đang tiếp nối truyền thống do các nhà giả kim thời trung cổ và các nhà huyền học ở nhiều xứ sở duy trì. |
|
There have always been two basic approaches to astrology, with many gradations of thinking in between. One, the predictive approach, concentrates on events and is most typically represented by Horary Astrology, which gives definite answers to equally definite and limited questions. The philosophical-psychological approach, on the other hand, concentrates on persons, with the understanding that the term “person” can be extended to social groups and collective entities displaying definite attributes of personality. For this second approach, especially when it deals with individuals, I have suggested the label of “Humanistic Astrology.” |
Luôn luôn có hai lối tiếp cận căn bản đối với chiêm tinh học, với nhiều cấp độ tư tưởng nằm giữa hai lối ấy. Một là lối tiếp cận tiên đoán, tập trung vào các biến cố và được đại diện điển hình nhất bởi Chiêm Tinh Học Giờ Hỏi, vốn đưa ra những câu trả lời xác định cho các câu hỏi cũng xác định và giới hạn như thế. Trái lại, lối tiếp cận triết học-tâm lý tập trung vào con người, với sự hiểu biết rằng thuật ngữ “con người” có thể được mở rộng đến các nhóm xã hội và các thực thể tập thể biểu lộ những thuộc tính rõ rệt của tính cách. Đối với lối tiếp cận thứ hai này, đặc biệt khi nó bàn đến các cá nhân, tôi đã đề nghị nhãn gọi “Chiêm Tinh Học Nhân Bản”. |
|
Humanistic Astrology is conceived essentially as a language using the cyclic motions of celestial bodies as symbols which can convey to human beings a direct and pragmatically applicable understanding of the basic patterns of the bio-psychic processes which are the foundation of individual and collective existence. Such an understanding can help individuals to evaluate the meaning of their experience in terms of the total pattern of their life, seen as a consistent whole, structured from birth to death by innate tendencies. Thanks to such an understanding, seemingly fortuitous events and crises can be seen as phases and perhaps turning-points in the continuous flow of experience. Thus, they acquire a new meaning, and the individual can feel himself more at peace with the universe as a participant in the vast evolution of humanity, of the Earth-as-a-whole, and ultimately of the cosmos. |
Chiêm Tinh Học Nhân Bản về căn bản được quan niệm như một ngôn ngữ sử dụng các chuyển động chu kỳ của những thiên thể làm biểu tượng, có thể truyền đạt cho con người một sự hiểu biết trực tiếp và có thể áp dụng một cách thực tiễn về các mô thức căn bản của những tiến trình sinh học-tâm lý, vốn là nền tảng của đời sống cá nhân và tập thể. Sự hiểu biết như thế có thể giúp các cá nhân đánh giá ý nghĩa kinh nghiệm của mình theo mô thức toàn thể của đời họ, được nhìn như một chỉnh thể nhất quán, được cấu trúc từ khi sinh ra đến lúc chết bởi những khuynh hướng bẩm sinh. Nhờ sự hiểu biết ấy, các biến cố và khủng hoảng tưởng chừng ngẫu nhiên có thể được nhìn như những giai đoạn và có lẽ là những bước ngoặt trong dòng chảy liên tục của kinh nghiệm. Do đó, chúng có được một ý nghĩa mới, và cá nhân có thể cảm thấy mình an hòa hơn với vũ trụ, như một người tham dự vào cuộc tiến hóa bao la của nhân loại, của Trái Đất như một toàn thể, và sau cùng là của vũ trụ. |
|
While the scope of Humanistic Astrology extends from the field of depthpsychology to that of “peak experiences” and mysticism, its essential purpose is to inspire a greater understanding of the many factors and processes in an individual life, and to provide guidance in times of crisis and decision making. Such an approach to astrology is “holistic” in that it deals with the whole person, and with the birthchart as a whole, rather than with isolated planets or aspects labeled “good” or “bad.” It refers any single happening, phase of growth, or period of |
Trong khi phạm vi của Chiêm Tinh Học Nhân Bản trải rộng từ lĩnh vực tâm lý học chiều sâu đến lĩnh vực “những kinh nghiệm đỉnh cao” và thần bí học, mục đích cốt yếu của nó là khơi dậy một sự hiểu biết lớn hơn về nhiều yếu tố và tiến trình trong đời sống cá nhân, đồng thời cung cấp sự hướng dẫn trong những thời điểm khủng hoảng và ra quyết định. Lối tiếp cận chiêm tinh học như thế là “toàn thể luận” ở chỗ nó bàn đến con người toàn diện, và đến lá số sinh như một toàn thể, hơn là đến các hành tinh hay góc hợp cô lập bị dán nhãn “tốt” hoặc “xấu”. Nó quy chiếu bất cứ một biến cố riêng lẻ, giai đoạn tăng trưởng, hay thời kỳ |
|
Today, a number of young people, influenced by their college education and the general scientific mentality of the times, feel a strong urge to “prove” the validity of astrology through the use of contemporary techniques, especially statistics. French and Swiss astrologers started this approach between the two World Wars; and in England and the United States such efforts have recently been mushrooming. Their hope is to see astrology taught in the universities. |
Ngày nay, một số người trẻ, chịu ảnh hưởng từ nền giáo dục đại học của họ và từ não trạng khoa học chung của thời đại, cảm thấy một thôi thúc mạnh mẽ muốn “chứng minh” tính xác thực của chiêm tinh học bằng việc sử dụng các kỹ thuật đương đại, đặc biệt là thống kê. Các nhà chiêm tinh Pháp và Thụy Sĩ đã khởi đầu lối tiếp cận này trong khoảng giữa hai cuộc Thế Chiến; và tại Anh cùng Hoa Kỳ, những nỗ lực như thế gần đây đã phát triển nhanh chóng. Hy vọng của họ là thấy chiêm tinh học được giảng dạy trong các trường đại học. |
|
This strictly scientific approach is perfectly legitimate. It satisfies the analytical mind and may lead to many valuable conclusions, provided it is intelligently applied and does not violate the inherent characteristics of astrology. There are, however, many pitfalls in such an approach. Since it is analytical rather than holistic, it deals with events rather than with whole persons. It singles out specific illnesses or specific careers as entities in themselves. This in turn implies a dualistic, either-or, yes-or-no approach which is the very opposite of the holistic viewpoint. |
Lối tiếp cận thuần túy khoa học này hoàn toàn chính đáng. Nó thỏa mãn thể trí phân tích và có thể dẫn đến nhiều kết luận giá trị, miễn là nó được áp dụng một cách thông minh và không vi phạm các đặc tính cố hữu của chiêm tinh học. Tuy nhiên, có nhiều cạm bẫy trong lối tiếp cận như thế. Vì nó có tính phân tích hơn là toàn thể luận, nó xử lý các biến cố hơn là những con người toàn diện. Nó tách riêng những bệnh tật cụ thể hoặc những nghề nghiệp cụ thể như các thực thể tự thân. Điều này đến lượt nó hàm ý một lối tiếp cận nhị nguyên, hoặc-cái-này-hoặc-cái-kia, có-hoặc-không, vốn là điều hoàn toàn trái ngược với quan điểm toàn thể luận. |
|
Then there are the many practitioners of astrology whose methods are quite close to fortune-telling. Some who are psychically gifted may prove accurate in their predictions, and in a period when people are beset with uncertainty and insecurity, the demand for this kind of service is great. Whether or not the results are constructive depends on both the astrologer and the client. |
Rồi còn có nhiều người hành nghề chiêm tinh học mà phương pháp của họ khá gần với bói toán. Một số người có năng khiếu tâm linh có thể tỏ ra chính xác trong các lời tiên đoán của mình, và trong một thời kỳ khi con người bị bủa vây bởi sự bất định và bất an, nhu cầu đối với loại dịch vụ này rất lớn. Kết quả có mang tính xây dựng hay không tùy thuộc vào cả nhà chiêm tinh lẫn thân chủ. |
|
If I have commented at such length about the astrological situation as a whole in modern society, it is because I wanted to clarify the position taken in this book by Marcia Moore and Mark Douglas. It is an eclectic, open, and sound position. By temperament and training they lean toward the humanistic point of view with its spiritual overtones. In an inclusive, lucid, and often original manner, this monumental book covers the entire field of astrology as it is generally presented in the West. The more complex and abstruse astrological systems and techniques which could have been discussed are generally omitted, for they would be significant only to the specialist. |
Nếu tôi đã bình luận dài như thế về tình hình chiêm tinh học nói chung trong xã hội hiện đại, đó là vì tôi muốn làm rõ lập trường được Marcia Moore và Mark Douglas giữ trong quyển sách này. Đó là một lập trường chiết trung, cởi mở và vững vàng. Theo khí chất và sự đào luyện, họ nghiêng về quan điểm nhân bản với những âm hưởng tinh thần của nó. Theo một cách bao quát, sáng rõ và thường khi độc đáo, quyển sách đồ sộ này bao trùm toàn bộ lĩnh vực chiêm tinh học như nó thường được trình bày ở phương Tây. Các hệ thống và kỹ thuật chiêm tinh phức tạp và khó hiểu hơn, vốn có thể đã được bàn đến, nhìn chung được lược bỏ, vì chúng chỉ có ý nghĩa đối với nhà chuyên môn. |
|
This book, like the others written by these two authors, is essentially for anyone who desires to be well-informed on the subject being treated. There is no necessity for the reader to have a background of technical knowledge. Astrology, The Divine Science gives an unbiased presentation which covers a vast amount of material in a wholesome, significant, and dignified manner. It should not antagonize anyone who is open-minded and aware of all the problems and confusing debates which characterize the field of astrology today. No fantastic claims are made. The discussions of the various positions of the planets, of interplanetary aspects, progressions, transits, and so on, are clear and definite. The book is not only inclusive in scope but is extremely well written. Beginners and established astrologers can both profit greatly from its discussion of the basic factors in astrology and from its many original and thought-provoking insights. |
Quyển sách này, cũng như những quyển khác do hai tác giả này viết, về căn bản dành cho bất cứ ai muốn được thông tin đầy đủ về chủ đề đang được bàn đến. Người đọc không cần phải có nền tảng kiến thức kỹ thuật. Chiêm tinh học, Khoa học Thiêng liêng trình bày một cách không thiên lệch, bao quát một khối lượng tài liệu rộng lớn theo lối lành mạnh, có ý nghĩa và trang nghiêm. Nó không nên gây đối kháng nơi bất cứ ai có tâm trí cởi mở và ý thức được mọi vấn đề cùng những cuộc tranh luận rối rắm đang đặc trưng cho lĩnh vực chiêm tinh học ngày nay. Không có những tuyên bố hoang đường nào được đưa ra. Các cuộc thảo luận về những vị trí khác nhau của các hành tinh, về các góc hợp liên hành tinh, các tiến trình, các quá cảnh, vân vân, đều rõ ràng và xác định. Quyển sách không chỉ bao quát về phạm vi mà còn được viết cực kỳ hay. Cả người mới bắt đầu lẫn các nhà chiêm tinh đã vững nghề đều có thể hưởng lợi lớn từ phần bàn luận của sách về các yếu tố căn bản trong chiêm tinh học, cũng như từ nhiều nhận định độc đáo và gợi nhiều suy ngẫm của nó. |
|
I recommend it wholeheartedly. |
Tôi hết lòng giới thiệu quyển sách này. |
|
Dane Rudhyar |
Dane Rudhyar |
PART ONE
The Language of Astrology
Ngôn ngữ của Chiêm tinh học
|
Now you, whoever you are, who try to read this book, since you have received the knowledge of this divine science and are now endowed with the secrets of the stars and have learned the first principles of the art, shape yourself in the image and likeness of divinity, so that you may always be a model of excellence. |
Giờ đây, bạn, dù bạn là ai, người đang cố đọc quyển sách này, vì bạn đã tiếp nhận tri thức về khoa học thiêng liêng này, nay được ban cho những bí mật của các vì sao và đã học được các nguyên lý đầu tiên của nghệ thuật này, hãy uốn nắn chính mình theo hình ảnh và sự tương đồng của thiên tính, để bạn luôn có thể là một mẫu mực của sự ưu tú. |
|
Study and pursue all the distinguishing marks of virtue and, when you have trained yourself in these, be easy of access, so that if anyone wishes to consult you about anything, he may approach you without fear. Be modest, upright, sober, eat little, be content with few goods, so that the shameful love of money may not defile the glory of this divine science. |
Hãy nghiên cứu và theo đuổi mọi dấu hiệu phân biệt của đức hạnh; và khi bạn đã rèn luyện mình trong những điều ấy, hãy dễ dàng cho người khác tiếp cận, để nếu có ai muốn hỏi ý kiến bạn về bất cứ điều gì, người ấy có thể đến với bạn mà không sợ hãi. Hãy khiêm tốn, chính trực, tiết độ, ăn ít, bằng lòng với ít của cải, để lòng tham tiền đáng hổ thẹn không làm ô uế vinh quang của khoa học thiêng liêng này. |
|
Try with your training and principles to outdo the training of worthy priests. For it is necessary that the acolyte of the Sun and Moon and the other gods, through whom all earthly things are governed, should so educate his mind that it be proved worthy of the attestation of all mankind. |
Hãy cố gắng, bằng sự rèn luyện và các nguyên tắc của mình, vượt hơn sự rèn luyện của những tư tế xứng đáng. Vì người phụng sự Mặt Trời, Mặt Trăng và các vị thần khác, những Đấng mà qua đó mọi sự việc trên trần gian được cai quản, cần giáo dục thể trí mình sao cho thể trí ấy được chứng tỏ là xứng đáng với sự xác nhận của toàn thể nhân loại. |
|
—Julius Firmicus Maternus, Mathesis (c. 335 a.d.) |
—Julius Firmicus Maternus, Mathesis khoảng năm 335 sau Công nguyên |
1. Star Talk — Ngôn ngữ của các vì sao
|
The key to astrology is found in the aphorism of the ancient alchemists who held that “God can say many things in one.” The word “astrology” derives from the Greek roots astron meaning star, and logos, meaning word or speech. As such, it is a system of universal logic which may be comprehended by people who feel that man’s mind may be illumined by powers higher than those acknowledged by the scientific materialists of the twentieth century. |
Chìa khóa của chiêm tinh học được tìm thấy trong câu cách ngôn của các nhà giả kim cổ đại, những người cho rằng “Thượng đế có thể nói nhiều điều trong một điều.” Từ “chiêm tinh học” bắt nguồn từ các gốc Hy Lạp chỉ vì sao và chỉ lời nói, nghĩa là lời hoặc ngôn từ. Như vậy, nó là một hệ thống logic phổ quát, có thể được thấu hiểu bởi những người cảm nhận rằng thể trí con người có thể được soi sáng bởi những quyền năng cao hơn những quyền năng mà các nhà duy vật khoa học của thế kỷ hai mươi thừa nhận. |
|
Astrology is a language which should be learned the way a child absorbs his native tongue. The infant passively registers the jargon of syllables which swirl and flow about him until sounds cohere into meaningful patterns. Trying to master astrology’ all at once is like gripping a handful of water. Although one may derive pleasure and profit from memorizing the basic vocabulary of the signs and planets, deeper subtleties can be grasped only through a patient willingness to wait and nurture the intuitive faculties of the mind. |
Chiêm tinh học là một ngôn ngữ cần được học theo cách một đứa trẻ hấp thụ tiếng mẹ đẻ của mình. Trẻ thơ thụ động ghi nhận chuỗi âm tiết hỗn tạp xoáy cuộn và trôi chảy quanh mình cho đến khi âm thanh kết tụ thành những mẫu hình có ý nghĩa. Cố gắng làm chủ toàn bộ chiêm tinh học cùng một lúc giống như nắm chặt một vốc nước. Dù người ta có thể tìm thấy niềm vui và lợi ích khi ghi nhớ vốn từ căn bản của các dấu hiệu và hành tinh, những nét tinh tế sâu hơn chỉ có thể được nắm bắt nhờ sự sẵn lòng kiên nhẫn chờ đợi và nuôi dưỡng các năng lực trực giác của thể trí. |
|
The understanding of astrological symbols requires prolonged meditation, since it takes time to saturate the rational intellect with a wisdom as boundless as the sky. Ideally, the student should endeavor to widen the apertures of the senses and permit his consciousness to expand until finally he realizes his kinship with the celestial spheres, not only in theory, but as a matter of personal experience. |
Việc thấu hiểu các biểu tượng chiêm tinh đòi hỏi sự tham thiền lâu dài, vì cần có thời gian để thấm nhuần trí năng lý trí bằng một minh triết bao la như bầu trời. Lý tưởng nhất, người học nên nỗ lực mở rộng các cửa ngõ của giác quan và cho phép tâm thức mình mở rộng cho đến khi cuối cùng y nhận ra mối thân thuộc của mình với các thiên cầu, không chỉ trên lý thuyết, mà như một vấn đề của kinh nghiệm cá nhân. |
|
In the meantime, the astrological inquirer is justified in maintaining a pragmatic attitude. Astrology is not only a language; it is also a science whose principles can be tested and verified. There is no need to accept its propositions until they have been incontrovertibly demonstrated; one need only remain open-minded. |
Trong khi đó, người tìm hiểu chiêm tinh học có lý do chính đáng để giữ một thái độ thực dụng. Chiêm tinh học không chỉ là một ngôn ngữ; nó cũng là một khoa học mà các nguyên lý có thể được kiểm nghiệm và xác minh. Không cần phải chấp nhận các mệnh đề của nó cho đến khi chúng được chứng minh không thể bác bỏ; người ta chỉ cần giữ tâm trí cởi mở. |
|
A young scientist was completing a tour of the laboratory of a famous physicist when he noticed a horseshoe hanging over the door. “Surely you don’t believe in that kind of superstition!” he protested. “Of course not,” the physicist reassured him genially. “But,” he continued, dropping his voice, “I’m told it helps you even if you don’t believe in it.” |
Một nhà khoa học trẻ đang hoàn tất chuyến tham quan phòng thí nghiệm của một nhà vật lý nổi tiếng thì ông nhận thấy một chiếc móng ngựa treo trên cửa. “Chắc chắn ông không tin vào loại mê tín ấy chứ!” ông phản đối. “Dĩ nhiên là không,” nhà vật lý vui vẻ trấn an ông. “Nhưng,” ông nói tiếp, hạ giọng xuống, “người ta bảo nó vẫn giúp ích cho ông dù ông không tin vào nó.” |
|
The fact that even “nonbelievers” hope that astrology may have a personal and relevant message accounts for much of the popularity of the subject today. Unfortunately, the luster of the ancient wisdom of the stars has been tarnished by the patently ridiculous forecasts printed in newspapers and magazines. Yet the way even these debased practices have flourished may be taken as an indication of the innate worth of the system. Despite the condemnation of scoffers, and behind its fortune-telling facade, serious astrology thrives through the efforts of a growing band of dedicated supporters. Those who have eyes to see can look behind its veil of fad and fancy and discern the truth within. |
Sự kiện ngay cả những “người không tin” cũng hy vọng rằng chiêm tinh học có thể có một thông điệp cá nhân và thích đáng, giải thích phần lớn tính phổ biến của chủ đề này ngày nay. Không may thay, ánh sáng rực rỡ của minh triết cổ xưa về các vì sao đã bị làm hoen ố bởi những dự báo hiển nhiên lố bịch in trên báo chí và tạp chí. Tuy nhiên, cách mà ngay cả những thực hành suy đồi này cũng phát triển mạnh có thể được xem là một dấu hiệu về giá trị bẩm sinh của hệ thống ấy. Bất chấp sự kết án của những kẻ chế giễu, và phía sau mặt tiền bói toán của nó, chiêm tinh học nghiêm túc vẫn phát triển nhờ nỗ lực của một nhóm người ủng hộ tận tụy ngày càng lớn mạnh. Những ai có mắt để thấy có thể nhìn ra phía sau bức màn của mốt thời thượng và tưởng tượng, để nhận ra chân lý bên trong. |
|
The study of astrology can be valuable even to skeptics insofar as it elucidates the significance of commonly used symbols and presents a remarkably inclusive system for classifying human types. Many investigators have had their interest aroused because they agreed with the psychologist C. G. Jung who stated, “Astrology is assured of recognition from psychology, without further restrictions, because astrology represents the summation of all the psychological knowledge of antiquity.” Once impressed with the profundity of the traditional cosmic lore, inquirers are often amazed to discover that relevant personal truths may be revealed through the application of astrological principles to individual horoscopes. |
Việc nghiên cứu chiêm tinh học có thể có giá trị ngay cả đối với những người hoài nghi, trong chừng mực nó làm sáng tỏ ý nghĩa của các biểu tượng thường dùng và trình bày một hệ thống bao quát đáng kể để phân loại các mẫu người. Nhiều nhà khảo cứu đã được khơi dậy sự quan tâm vì họ đồng ý với nhà tâm lý học C. G. Jung, người đã nói: “Chiêm tinh học chắc chắn sẽ được tâm lý học công nhận, không kèm thêm giới hạn nào, vì chiêm tinh học tiêu biểu cho sự tổng hợp toàn bộ tri thức tâm lý của thời cổ đại.” Một khi đã ấn tượng trước chiều sâu của truyền thống tri thức vũ trụ, những người tìm hiểu thường kinh ngạc khi khám phá rằng các chân lý cá nhân thích đáng có thể được hiển lộ qua việc áp dụng các nguyên lý chiêm tinh vào những lá số chiêm tinh cá nhân. |
|
A question that frequently arises is, “Do you really believe in astrology?” This is like being asked, “Do you really believe in geometry?” It can be depressingly difficult to explain to the uninformed critic that astrology is not a cult nor a religion, and that it requires neither faith nor belief. Astrology is a technique which may be used to obtain information. It is also a discipline of thought which develops the mind and provides insight into the mysteries of the universe. These same statements can be made about science in general. |
Một câu hỏi thường nảy sinh là: “Bạn có thật sự tin vào chiêm tinh học không?” Điều này giống như được hỏi: “Bạn có thật sự tin vào hình học không?” Có thể khó khăn đến nản lòng khi giải thích cho nhà phê bình thiếu hiểu biết rằng chiêm tinh học không phải là một giáo phái hay một tôn giáo, và rằng nó không đòi hỏi đức tin hay niềm tin. Chiêm tinh học là một kỹ thuật có thể được dùng để thu nhận thông tin. Nó cũng là một môn rèn luyện tư tưởng, phát triển thể trí và đem lại sự thấu triệt về các bí nhiệm của vũ trụ. Những phát biểu tương tự cũng có thể được nói về khoa học nói chung. |
|
Astrological and geometrical symbols are in many ways similar. Their combinations and permutations are based on self-evident principles and can be applied toward the solution of diverse practical problems. Astrology, like mathematics, is capable of proof, but not without some comprehension of its basic principles. If a person announces that he does not believe in geometry and therefore cannot be bothered to study its theorems, then it is impossible to convince him that this is indeed a useful technique. The astrologer asks only that the skeptic investigate the system in order to discover for himself whether or not it works. |
Các biểu tượng chiêm tinh và hình học, theo nhiều cách, rất tương tự nhau. Những tổ hợp và hoán vị của chúng dựa trên các nguyên lý tự hiển nhiên và có thể được áp dụng vào việc giải quyết nhiều vấn đề thực tiễn khác nhau. Chiêm tinh học, giống như toán học, có khả năng chứng minh, nhưng không thể thiếu một mức độ thấu hiểu nào đó về các nguyên lý căn bản của nó. Nếu một người tuyên bố rằng y không tin vào hình học và do đó không muốn bận tâm nghiên cứu các định lý của nó, thì không thể thuyết phục y rằng đây quả thật là một kỹ thuật hữu ích. Nhà chiêm tinh chỉ yêu cầu người hoài nghi khảo sát hệ thống ấy để tự mình khám phá xem nó có vận hành hay không. |
|
Since astrology is essentially a scientific discipline, rather than a matter of faith or opinion, it requires a definition of terms. The following chapter should clarify the basic factors involved by answering questions which often arise in the mind of the interested inquirer. |
Vì chiêm tinh học về căn bản là một môn học khoa học, hơn là vấn đề của đức tin hay ý kiến, nó đòi hỏi phải định nghĩa các thuật ngữ. Chương sau đây sẽ làm sáng tỏ các yếu tố căn bản liên quan bằng cách trả lời những câu hỏi thường nảy sinh trong thể trí của người tìm hiểu có quan tâm. |
2. Queries and Theories —Những câu hỏi và lý thuyết
|
What is astrology? |
Chiêm tinh học là gì? |
|
Astrology is the science of the relationships which bind the manifold parts of the universe into one organic Whole. It is also the art of interpreting the effects of these relationships upon the behavior of individuals and groups—or any entity whose origins can be traced to a point in time and space. |
Chiêm tinh học là khoa học về những mối quan hệ ràng buộc các phần đa dạng của vũ trụ thành một Toàn Thể hữu cơ duy nhất. Nó cũng là nghệ thuật diễn giải các ảnh hưởng của những mối quan hệ này lên hành vi của các cá nhân và nhóm—hoặc bất cứ thực thể nào có nguồn gốc có thể được truy về một điểm trong thời gian và không gian. |
|
Astrology is a system which endeavors to classify and correlate the activities of all things according to the purpose they serve within a general scheme. The astrologer is more concerned with dynamic energies than with phenomenal appearances. To him an object is what it does. Its meaning is determined by its operations. |
Chiêm tinh học là một hệ thống nỗ lực phân loại và liên hệ các hoạt động của mọi sự vật theo mục đích mà chúng phụng sự trong một sơ đồ tổng quát. Nhà chiêm tinh quan tâm đến các năng lượng năng động hơn là các vẻ ngoài hiện tượng. Đối với y, một vật là điều nó làm. Ý nghĩa của nó được xác định bởi các hoạt động của nó. |
|
Astrology is the study of cycles of growth whereby all sentient beings are born, develop, die, and are reborn. It analyzes patterns of unfoldment, thereby referring to living processes rather than to static structures. |
Chiêm tinh học là sự nghiên cứu các chu kỳ tăng trưởng, qua đó mọi sinh linh hữu cảm được sinh ra, phát triển, chết đi và tái sinh. Nó phân tích các mẫu hình khai mở, do đó quy chiếu đến các tiến trình sống hơn là các cấu trúc tĩnh tại. |
|
Astrology is a discipline of thought based on a philosophy of synthesis. It elucidates the manner in which a multitude of separate self-determining existences combine to manifest the essential unity of all being. Astrological principles can be applied to everything under the stars because even the smallest animalcule reflects the grand design of creation, as each individual unit follows its own evolutionary’ pathway toward perfection. |
Chiêm tinh học là một môn rèn luyện tư tưởng dựa trên một triết lý tổng hợp. Nó làm sáng tỏ cách thức mà vô số hiện tồn riêng biệt, tự quyết, kết hợp với nhau để biểu lộ sự hợp nhất cốt yếu của toàn thể Bản Thể. Các nguyên lý chiêm tinh có thể được áp dụng cho mọi sự dưới các vì sao, vì ngay cả sinh vật nhỏ bé nhất cũng phản chiếu thiết kế vĩ đại của cuộc sáng tạo, khi mỗi đơn vị cá biệt đi theo con đường tiến hóa riêng của mình hướng đến sự hoàn thiện. |
|
What is a horoscope? |
Lá số chiêm tinh là gì? |
|
A horoscope, or natal chart, is a map of the positions of the Sun, Moon, and planets with reference to a specific location on Earth at a specific moment of time. These heavenly bodies are charted against the background of the ecliptic, or zodiac, so that one might describe the Moon as being in Aries, Mars in Cancer, and so forth. Also important are the four points (angles) of the ecliptic defined by the degrees ascending over the horizon, culminating at the meridian, and their opposites, since these form the basis for the division of the chart into a subzodiac of twelve houses. |
Một lá số chiêm tinh, hay lá số chiêm tinh bản mệnh, là bản đồ các vị trí của Mặt Trời, Mặt Trăng và các hành tinh đối với một địa điểm cụ thể trên Trái Đất vào một thời điểm cụ thể. Các thiên thể này được vẽ trên nền của hoàng đạo biểu kiến, hay Hoàng đạo, để người ta có thể mô tả Mặt Trăng ở Bạch Dương, Sao Hỏa ở Cự Giải, vân vân. Bốn điểm (góc) của hoàng đạo biểu kiến được xác định bởi các độ đang mọc lên trên đường chân trời, đạt đỉnh tại kinh tuyến, và các điểm đối diện của chúng, cũng rất quan trọng, vì chúng tạo thành cơ sở cho việc phân chia lá số chiêm tinh thành một tiểu Hoàng đạo gồm mười hai nhà. |
|
Basically, the horoscope shows the way in which an entity coming to birth at a particular intersection of space and time is oriented to the universe. It is a picture of the solar system from the viewpoint of the individual and, as such, it depicts his unique outlook on life. One could say that the angular relationships between the Earth and planets represent his personal slant on things. |
Về căn bản, lá số chiêm tinh cho thấy cách mà một thực thể đi vào sự sinh ra tại một giao điểm đặc thù của không gian và thời gian được định hướng đối với vũ trụ. Nó là bức tranh của hệ mặt trời từ quan điểm của cá nhân, và như vậy, nó mô tả cái nhìn độc đáo của y về đời sống. Có thể nói rằng các mối quan hệ góc giữa Trái Đất và các hành tinh biểu thị độ nghiêng riêng của y trong cách nhìn sự vật. |
|
Does the horoscope indicate the effects of the stars? |
Lá số chiêm tinh có chỉ ra các ảnh hưởng của các vì sao không? |
|
The word “stars” is used almost as figuratively in astrology as in Hollywood. There is only one star in the horoscope and that is the Sun. Occasionally, astrologers take account of the position of certain fixed stars such as Regulus, Sirius, or Antares, especially if one of these coincides with a “vital point” in the natal chart. Ordinarily, however, the horoscope indicates only the relationships between the Sun, Moon, planets, and the tilt of the Earth. |
Từ “các vì sao” được dùng trong chiêm tinh học gần như theo nghĩa bóng chẳng khác gì trong Hollywood. Chỉ có một ngôi sao trong lá số chiêm tinh, và đó là Mặt Trời. Thỉnh thoảng, các nhà chiêm tinh xét đến vị trí của một số định tinh như Regulus, Sirius, hoặc Antares, đặc biệt nếu một trong số này trùng với một “điểm trọng yếu” trong lá số chiêm tinh bản mệnh. Tuy nhiên, thông thường, lá số chiêm tinh chỉ cho thấy các mối quan hệ giữa Mặt Trời, Mặt Trăng, các hành tinh và độ nghiêng của Trái Đất. |
|
What can a horoscope tell a person about himself? |
Một lá số chiêm tinh có thể cho một người biết điều gì về chính mình? |
|
A horoscope can serve as a road guide indicating the kind of journey an individual will take through life. It does not show the actual terrain as much as it indicates areas of tension, crisis, and decision. Intersections, alternate routes, scenic highways, and treacherous byways are all symbolically depicted. The natal chart suggests lessons to be learned, issues to be faced, challenges to be met, and problems to be solved. It is, however, only a map, and whether a person chooses to travel in good spirits, enjoying the adventure, or to mope along miserably, is essentially his own choice. |
Một lá số chiêm tinh có thể đóng vai trò như bản chỉ dẫn đường đi, cho thấy loại hành trình mà một cá nhân sẽ trải qua trong đời. Nó không cho thấy địa hình thực tế nhiều bằng việc chỉ ra các khu vực căng thẳng, khủng hoảng và quyết định. Các giao lộ, tuyến đường thay thế, đại lộ đẹp cảnh và lối phụ nguy hiểm đều được mô tả bằng biểu tượng. Lá số chiêm tinh bản mệnh gợi ra những bài học cần học, những vấn đề cần đối diện, những thử thách cần đáp ứng và những khó khăn cần giải quyết. Tuy nhiên, nó chỉ là một bản đồ; còn việc một người chọn đi trong tinh thần vui vẻ, tận hưởng cuộc phiêu lưu, hay lê bước buồn bã trong khổ sở, về căn bản vẫn là lựa chọn của chính y. |
|
Is expert mathematical ability required to erect a horoscope? |
Có cần khả năng toán học chuyên sâu để lập một lá số chiêm tinh không? |
|
The mathematical knowledge necessary to set up a horoscope is less than that required to graduate from elementary school. Some specialized systems of astrology require complex figuring but, for beginners, the ability to add, subtract, and follow directions will suffice. |
Kiến thức toán học cần thiết để dựng một lá số chiêm tinh còn ít hơn mức cần để tốt nghiệp tiểu học. Một số hệ thống chiêm tinh chuyên biệt đòi hỏi các phép tính phức tạp, nhưng đối với người mới bắt đầu, khả năng cộng, trừ và làm theo chỉ dẫn là đủ. |
|
How useful is the astrological advice in magazine and newspaper columns? |
Lời khuyên chiêm tinh trong các chuyên mục tạp chí và báo chí hữu ích đến mức nào? |
|
These daily and monthly guides serve mainly as games, entertainment, or conversation pieces. They are not horoscopes since they give only general advice and do not pertain to individuals. |
Những chỉ dẫn hằng ngày và hằng tháng này chủ yếu đóng vai trò như trò chơi, giải trí, hoặc đề tài trò chuyện. Chúng không phải là lá số chiêm tinh, vì chúng chỉ đưa ra lời khuyên chung và không liên quan đến các cá nhân. |
|
Character readings, based upon the zodiacal position of the Sun as shown by the month of birth, sometimes contain enough truth to be mildly enlightening. Nevertheless it is erroneous to say, “I am a Taurean,” or “I am a Libran.” The zodiacal position of the Sun as shown by the month of birth is only one of many significant influences. Predicting the future by “sunsign astrology,” without allowing for the positions of the planets and the exact time and place of birth, is an exercise in futility. |
Các luận giải tính cách, dựa trên vị trí hoàng đạo của Mặt Trời như được biểu thị qua tháng sinh, đôi khi chứa đủ sự thật để đem lại đôi chút khai sáng. Tuy nhiên, thật sai lầm khi nói: “Tôi là người Kim Ngưu,” hay “Tôi là người Thiên Bình.” Vị trí hoàng đạo của Mặt Trời như được biểu thị qua tháng sinh chỉ là một trong nhiều ảnh hưởng quan trọng. Việc dự đoán tương lai bằng “chiêm tinh học dấu hiệu mặt trời”, mà không xét đến vị trí của các hành tinh cùng thời gian và nơi sinh chính xác, là một việc làm vô ích. |
|
Is astrology fortune-telling? |
Chiêm tinh học có phải là bói toán không? |
|
The fundamental purpose of astrology is not to predict, but to reveal character. The horoscope is “the seed form” of a particular type of entity. Although it is the end product of an infinitely remote past and the progenitor of an awesomely distant future, its real value for the average individual lies in the insight it affords into the present. |
Mục đích căn bản của chiêm tinh học không phải là dự đoán, mà là hé lộ tính cách. Lá số chiêm tinh là “hình thức hạt giống” của một loại thực thể đặc thù. Dù nó là sản phẩm cuối cùng của một quá khứ xa xăm vô tận và là tiền thân của một tương lai xa vời đáng kinh ngạc, giá trị thật sự của nó đối với cá nhân trung bình nằm ở sự thấu hiểu mà nó đem lại về hiện tại. |
|
Astrology is fortune-telling in the same sense that the science of statistics is fortune-telling. Both deal with the laws of probability and may help to predict the outcome of a given situation. Their primary purpose, however, is to clarify the meaning of events and to show things in their proper perspective. |
Chiêm tinh học là bói toán theo cùng một nghĩa như khoa học thống kê là bói toán. Cả hai đều liên quan đến các định luật xác suất và có thể giúp dự đoán kết quả của một tình huống nhất định. Tuy nhiên, mục đích chính yếu của chúng là làm sáng tỏ ý nghĩa của các biến cố và trình bày sự vật trong đúng viễn cảnh của chúng. |
|
An astroanalysis, like a psychoanalysis, reveals the existence of innate tendencies and predispositions. Both postulate that a person’s character shapes his destiny. That is to say, the things that happen to you happen because of what is within you. To the extent that an astrologer can understand the true nature of an individual, he can anticipate certain types of behavior and even predict what experiences this individual is likely to encounter. By increasing a person’s comprehension of the laws of cause and effect, astrology enables him to speculate about the future. The same statement can be made of any scientific discipline. |
Một phân tích chiêm tinh, giống như một phân tâm học, hé lộ sự hiện hữu của những khuynh hướng và thiên hướng bẩm sinh. Cả hai đều giả định rằng tính cách của một người định hình số phận của y. Nói cách khác, những điều xảy ra với bạn xảy ra vì những gì ở bên trong bạn. Trong chừng mực một nhà chiêm tinh có thể hiểu bản chất thật sự của một cá nhân, y có thể dự liệu một số loại hành vi nhất định, và thậm chí dự đoán những kinh nghiệm mà cá nhân ấy có khả năng gặp phải. Bằng cách gia tăng sự thấu hiểu của một người về các định luật nhân quả, chiêm tinh học cho phép y suy xét về tương lai. Điều tương tự cũng có thể nói về bất kỳ ngành khoa học nào. |
|
Does the horoscope indicate the specific nature of the entity for which it is cast? |
Lá số chiêm tinh có cho biết bản chất cụ thể của thực thể mà nó được lập cho không? |
|
No. In and of itself the horoscope does not tell whether it applies to the birth of a person, ant, nation, event, or idea. Unlike palms or bumps on the head, a horoscope is not part of the person himself; rather, it is an abstract formula showing the nature of the energies with which he has been endowed. The use made of these energies depends upon the individual’s degree of advancement upon the evolutionary scale. A savage and a saint may be born with similar planetary configurations, yet they will lead entirely different lives. Mars, the principle of self-assertion, may impel the savage to chop his enemy to bits, and inspire the saint to conquer him through love. |
Không. Tự nó, lá số chiêm tinh không cho biết nó áp dụng cho sự ra đời của một con người, một con kiến, một quốc gia, một biến cố hay một ý tưởng. Khác với lòng bàn tay hay các ụ trên đầu, lá số chiêm tinh không phải là một phần của chính con người ấy; đúng hơn, nó là một công thức trừu tượng cho thấy bản chất của các năng lượng mà y đã được ban cho. Việc sử dụng các năng lượng này tùy thuộc vào mức độ tiến bộ của cá nhân trên thang tiến hoá. Một kẻ man rợ và một vị thánh có thể sinh ra với những cấu hình hành tinh tương tự, nhưng họ sẽ sống những cuộc đời hoàn toàn khác nhau. Sao Hỏa, nguyên lý của sự tự khẳng định, có thể thúc đẩy kẻ man rợ chặt kẻ thù thành từng mảnh, và truyền cảm hứng cho vị thánh chinh phục kẻ thù ấy bằng tình thương. |
|
The horoscope shows the life-pattern. Like the blueprint of a house, it outlines the plan of construction but does not tell what materials are available for use, how well the house will be built, or to what extent it will serve the purpose for which it was designed. |
Lá số chiêm tinh cho thấy mô thức đời sống. Giống như bản thiết kế của một ngôi nhà, nó phác họa kế hoạch xây dựng, nhưng không cho biết những vật liệu nào sẵn có để sử dụng, ngôi nhà sẽ được xây tốt đến đâu, hay nó sẽ phục vụ mục đích mà nó được thiết kế đến mức nào. |
|
No astrologer assumes that the chart reveals everything. Astrology is a useful guide, a mathematics of the soul, or as Dane Rudhyar has said, “the algebra of life.” The statement that two plus three equals five may refer to people, apples, or automobiles. Nevertheless, no one considers mathematics less worthwhile because it fails to indicate the concrete nature of the objects to which its formulas apply. |
Không nhà chiêm tinh nào giả định rằng lá số chiêm tinh hé lộ mọi điều. Chiêm tinh học là một chỉ dẫn hữu ích, một toán học của linh hồn, hay như Dane Rudhyar đã nói, “đại số của sự sống.” Mệnh đề rằng hai cộng ba bằng năm có thể nói đến con người, táo, hay xe hơi. Tuy nhiên, không ai xem toán học là kém giá trị chỉ vì nó không chỉ ra bản chất cụ thể của những đối tượng mà các công thức của nó áp dụng. |
|
Does astrology include the theory of reincarnation? |
Chiêm tinh học có bao gồm thuyết luân hồi không? |
|
Astrology strongly suggests, but does not insist, that reincarnation is a fact of life. In 1960, we conducted a survey of 250 astrologers, of whom seventy-four percent affirmed the statement, “Reincarnation is a factor that astrology must take into account.” Ten percent agreed with the alternative, “Every individual lives but one lifetime on Earth.” Sixteen percent were undecided or did not reply. Since that time, so much new evidence in support of the reincarnation hypothesis has been published that the percentage of believers has increased. |
Chiêm tinh học gợi ý mạnh mẽ, nhưng không khăng khăng, rằng luân hồi là một sự thật của đời sống. Năm 1960, chúng tôi đã thực hiện một khảo sát với 250 nhà chiêm tinh, trong đó bảy mươi bốn phần trăm xác nhận phát biểu: “Luân hồi là một yếu tố mà chiêm tinh học phải xét đến.” Mười phần trăm đồng ý với lựa chọn thay thế: “Mỗi cá nhân chỉ sống một đời trên Trái Đất.” Mười sáu phần trăm chưa quyết định hoặc không trả lời. Kể từ thời điểm đó, đã có rất nhiều bằng chứng mới ủng hộ giả thuyết luân hồi được công bố, nên tỷ lệ người tin vào điều này đã tăng lên. |
|
The concept that souls have a history which long antedates the present birth explains why dozens of people have similar horoscopes and are still so unlike one another. One can only surmise that a human being comes into incarnation via a particular time slot because it offers him the conditions most suitable for his evolutionary progress. |
Quan niệm rằng các linh hồn có một lịch sử lâu dài trước lần sinh hiện tại giải thích vì sao hàng chục người có các lá số chiêm tinh tương tự mà vẫn rất khác nhau. Người ta chỉ có thể phỏng đoán rằng một con người đi vào nhập thể qua một khung thời gian đặc thù vì nó đem lại cho y những điều kiện thích hợp nhất cho tiến bộ tiến hoá của y. |
|
Most astrologers believe that a person is born when he is because his soul already possesses certain potentialities which resonate to that specific moment. They agree with the statement of C. G. Jung that “Whatever is born, or done, in this moment of time, has the qualities of this moment of time.” |
Hầu hết các nhà chiêm tinh tin rằng một người sinh ra vào thời điểm ấy vì linh hồn của y đã sở hữu sẵn những tiềm năng nhất định cộng hưởng với khoảnh khắc cụ thể đó. Họ đồng ý với phát biểu của C. G. Jung rằng “Bất cứ điều gì được sinh ra, hay được thực hiện, trong khoảnh khắc thời gian này, đều mang các phẩm chất của khoảnh khắc thời gian này.” |
|
Is it better for an astrologer not to know anything about the person for whom he is giving a reading? |
Có phải tốt hơn nếu nhà chiêm tinh không biết gì về người mà y đang luận giải không? |
|
An astrologer should be acquainted with the basic facts about the person whose horoscope he casts in order to ascertain the manner in which the planetary influences are likely to affect his character and future prospects. The formula provided by the natal chart means little without some knowledge of the kind of material to which it applies. |
Nhà chiêm tinh nên biết các sự kiện căn bản về người mà y lập lá số chiêm tinh, nhằm xác định cách thức các ảnh hưởng hành tinh có khả năng tác động đến tính cách và triển vọng tương lai của người ấy. Công thức do lá số chiêm tinh bản mệnh cung cấp chẳng có mấy ý nghĩa nếu không có chút hiểu biết nào về loại chất liệu mà nó áp dụng. |
|
Information about an individual’s circumstances enables an astrologer to check the accuracy of the given time of birth. Most astrologers agree that the first intake of breath marks the exact moment for which the horoscope should be cast. This is the infant’s first independent act and is somewhat analogous to “taking possession.” Unfortunately, many birthtimes are recorded later by the doctor or someone in attendance for the time they remember as the moment of birth. Sometimes the astrologer can rectify the horoscope to a more suitable birthtime on the basis of what he already knows about the subject. Unless past events correlate with planetary influences showing the probability of such events, it is risky to speculate on what may occur in the future. |
Thông tin về hoàn cảnh của một cá nhân giúp nhà chiêm tinh kiểm tra độ chính xác của giờ sinh đã cho. Hầu hết các nhà chiêm tinh đồng ý rằng hơi thở đầu tiên đánh dấu khoảnh khắc chính xác mà lá số chiêm tinh nên được lập. Đây là hành động độc lập đầu tiên của hài nhi và phần nào tương tự với việc “tiếp nhận quyền sở hữu.” Đáng tiếc là nhiều giờ sinh được bác sĩ hoặc người có mặt ghi lại sau đó, theo thời điểm mà họ nhớ là lúc sinh. Đôi khi nhà chiêm tinh có thể hiệu chỉnh lá số chiêm tinh đến một giờ sinh thích hợp hơn, dựa trên những gì y đã biết về đối tượng. Nếu các biến cố quá khứ không tương ứng với các ảnh hưởng hành tinh cho thấy xác suất của những biến cố như vậy, thì việc suy đoán về những gì có thể xảy ra trong tương lai là điều rủi ro. |
|
The astrologer should also have enough knowledge to ascertain what it is that the client really wants of him. An astroanalysis is not a guessing game. It is a systematic endeavor to make sense of the baffling complexities of daily life. Many astrologers are contemptuous of what they call “astrology by post,” and insist on personal interviews before venturing comments. Even those who are willing to give “blind readings” prefer to have some question to answer or an indication of the line their analysis should follow. Otherwise, the report may be too abstract to be of value to the client who must decide how to handle specific problems. |
Nhà chiêm tinh cũng nên có đủ hiểu biết để xác định điều mà thân chủ thật sự muốn nơi y. Một phân tích chiêm tinh không phải là trò đoán mò. Nó là một nỗ lực có hệ thống nhằm làm cho những phức tạp khó hiểu của đời sống hằng ngày trở nên có ý nghĩa. Nhiều nhà chiêm tinh xem thường điều họ gọi là “chiêm tinh học qua thư” và nhấn mạnh việc gặp trực tiếp trước khi mạo hiểm đưa ra nhận xét. Ngay cả những người sẵn lòng đưa ra “luận giải mù” cũng thích có một câu hỏi nào đó để trả lời, hoặc một chỉ dấu về hướng mà phân tích của họ nên đi theo. Nếu không, bản báo cáo có thể quá trừu tượng đến mức không có giá trị đối với thân chủ, người phải quyết định cách xử lý các vấn đề cụ thể. |
|
Does interpreting a horoscope require intuition or psychic ability? |
Việc diễn giải lá số chiêm tinh có đòi hỏi trực giác hay năng lực thông linh không? |
|
Although astrological insight does not depend on psychic powers, some astrologers are clairvoyantly gifted. Using the horoscope as a psychometric tool, they may be spectacularly successful in describing the specific details of a person’s life. However, if their gifts desert them they go sadly astray. |
Dù sự thấu hiểu chiêm tinh không tùy thuộc vào các quyền năng thông linh, một số nhà chiêm tinh có thiên phú thấu thị. Khi dùng lá số chiêm tinh như một công cụ tâm trắc, họ có thể thành công ngoạn mục trong việc mô tả những chi tiết cụ thể của đời sống một người. Tuy nhiên, nếu các thiên phú ấy rời bỏ họ, họ sẽ lạc hướng một cách đáng tiếc. |
|
In most cases, it is preferable to interpret a natal chart in the light of objective indications. The astrologer who adheres to basic principles may not astonish his client with his omniscience, but neither can he go far wrong. |
Trong hầu hết các trường hợp, tốt hơn là diễn giải một lá số chiêm tinh bản mệnh dưới ánh sáng của các chỉ dấu khách quan. Nhà chiêm tinh bám sát các nguyên lý căn bản có thể không khiến thân chủ kinh ngạc vì sự toàn tri của mình, nhưng y cũng không thể sai lệch quá xa. |
|
The American Federation of Astrologers requires its members to sign a “Code of Ethics” which declares: |
Liên đoàn Chiêm tinh gia Hoa Kỳ yêu cầu các thành viên ký một “Quy tắc Đạo đức” tuyên bố rằng: |
|
I agree not to interpolate into any astrological deduction, verbally or otherwise, any interpretation which my conclusions appear to warrant, that are irrelevant to the Science of Astrology, without first stating definitely that such deductions are neither based upon the life chart nor identified with the science. |
Tôi đồng ý không xen vào bất kỳ suy luận chiêm tinh nào, bằng lời nói hay cách khác, bất kỳ diễn giải nào mà các kết luận của tôi dường như biện minh, nhưng lại không liên quan đến Khoa học Chiêm tinh, nếu trước hết không khẳng định rõ ràng rằng những suy luận ấy không dựa trên lá số đời sống và cũng không được đồng nhất với khoa học này. |
|
Most astrologers eventually develop an intuitive approach comparable to that used by doctors in diagnosing patients. They learn to synthesize many disparate observations, some of which apparently contradict others. Certain planetary aspects seem to retreat into the background while others stand out. A continued study of astrology refines this insight into human nature. A person cannot deal year after year with the intimate problems of men and women without becoming a discerning psychologist. A systematically cultivated intuitive approach does not bypass the facts of the horoscope but evolves out of the ability to synthesize a multitude of details. Astro-logic then becomes ordinary logic raised to a higher level. |
Hầu hết các nhà chiêm tinh cuối cùng phát triển một lối tiếp cận trực giác tương tự cách các bác sĩ dùng khi chẩn đoán bệnh nhân. Họ học cách tổng hợp nhiều quan sát khác nhau, trong đó có một số dường như mâu thuẫn với những quan sát khác. Một số góc hợp hành tinh dường như lùi vào hậu cảnh, trong khi những góc hợp khác nổi bật lên. Việc tiếp tục nghiên cứu chiêm tinh học tinh luyện sự thấu hiểu này về bản chất con người. Một người không thể năm này qua năm khác xử lý các vấn đề thân mật của nam giới và nữ giới mà không trở thành một nhà tâm lý học tinh tế. Một lối tiếp cận trực giác được vun bồi có hệ thống không bỏ qua các sự kiện của lá số chiêm tinh, mà phát triển từ khả năng tổng hợp vô số chi tiết. Khi ấy, lý luận chiêm tinh trở thành lý luận thông thường được nâng lên một cấp độ cao hơn. |
|
Why should one want to know what the future portends? |
Vì sao người ta lại muốn biết tương lai báo trước điều gì? |
|
To contradict a popular adage, it is not what a person knows that hurts him as much as what he does not know. For example, if a tax falls due on a certain date, it is better to prepare in advance for its payment than suddenly to be presented with an untimely bill. Sensible people plan for the future, and the more enlightened they are the farther they plan ahead. Astrology provides information on the basis of which plans may be more realistically formulated. |
Để phản bác một câu ngạn ngữ phổ biến, điều làm tổn hại một người không phải là những gì y biết, cho bằng những gì y không biết. Chẳng hạn, nếu một khoản thuế đến hạn vào một ngày nhất định, tốt hơn là chuẩn bị trước để thanh toán, thay vì đột ngột nhận một hóa đơn không đúng lúc. Người khôn ngoan lập kế hoạch cho tương lai, và họ càng khai sáng thì càng lập kế hoạch xa hơn. Chiêm tinh học cung cấp thông tin, trên cơ sở đó các kế hoạch có thể được xây dựng một cách thực tế hơn. |
|
Nature never permits its creatures, ignorant or not, to transgress its laws and go unpunished. Mistakes must be rectified regardless of whether they are accidental or deliberate. To the astrologer it is evident that man benefits not from ignorance but from knowledge, providing that this knowledge is accompanied by a sense of responsibility for its correct use. Therefore, the astrological student wants to know where he is going and is grateful to have a map which helps him to reach his goal without wandering off the path. |
Thiên nhiên không bao giờ cho phép các tạo vật của nó, dù vô minh hay không, vi phạm các định luật của nó mà không chịu hậu quả. Các sai lầm phải được sửa chữa, bất kể chúng là vô tình hay cố ý. Đối với nhà chiêm tinh, điều hiển nhiên là con người được lợi không phải nhờ vô minh mà nhờ tri thức, miễn là tri thức này đi kèm với ý thức trách nhiệm về việc sử dụng đúng đắn nó. Vì vậy, người học chiêm tinh muốn biết mình đang đi về đâu và biết ơn khi có một tấm bản đồ giúp y đạt đến mục tiêu mà không lang thang rời khỏi Đường Đạo. |
|
Is astrology fatalistic? |
Chiêm tinh học có mang tính định mệnh không? |
|
No. Astrology acknowledges the existence of free will, since it posits that by learning to understand himself, a man can become the arbiter of his destiny and improve the quality of his life. Yet he is free only within bounds. It is. no more fatalistic to assume that a human being is programmed for spiritual growth than to admit that the body is the result of a genetic heritage. The supposition that man is subject to incontrovertible laws is as much an expression of faith as of fatalism. |
Không. Chiêm tinh học thừa nhận sự hiện hữu của ý chí tự do, vì nó đặt ra rằng bằng cách học hiểu chính mình, con người có thể trở thành người định đoạt số phận của mình và cải thiện phẩm chất đời sống. Tuy vậy, y chỉ tự do trong những giới hạn. Việc giả định rằng một con người được lập trình cho sự tăng trưởng tinh thần không mang tính định mệnh hơn việc thừa nhận rằng thân thể là kết quả của di truyền. Giả thuyết rằng con người chịu sự chi phối của các định luật không thể bác bỏ vừa là một biểu hiện của đức tin, vừa là một biểu hiện của thuyết định mệnh. |
|
The illuminating idea behind astrology is that the universe is lawful on a mental and moral, as well as physical plane. Only by working with and within the plan of creation can one achieve any real measure of freedom. The astrologer endeavors to discover what nature wants him to do, and then cooperates in carrying out this purpose. |
Ý tưởng soi sáng đằng sau chiêm tinh học là vũ trụ có trật tự định luật trên cõi trí tuệ và đạo đức, cũng như trên cõi vật lý. Chỉ bằng cách làm việc cùng với và bên trong kế hoạch của cuộc sáng tạo, người ta mới có thể đạt được bất kỳ mức độ tự do thật sự nào. Nhà chiêm tinh cố gắng khám phá thiên nhiên muốn y làm gì, rồi hợp tác trong việc thực hiện mục đích này. |
|
Can astrological knowledge enable one to change coming events? |
Tri thức chiêm tinh có thể giúp người ta thay đổi các biến cố sắp đến không? |
|
Man’s power over external events is an exact corollary to his power over himself. All people have lessons to learn because destiny permits no one to skip through the school of life without mastering its curriculum. Individuals can progress the hard or the easy way, depending on their approach to the learning experience, but learn they must. Thus, they can modify the impact of circumstances, but they cannot change the basic pattern of their lives. |
Quyền năng của con người đối với các biến cố bên ngoài là hệ quả chính xác của quyền năng y có đối với chính mình. Mọi người đều có những bài học phải học, vì số phận không cho phép ai đi tắt qua trường học đời sống mà không làm chủ chương trình học của nó. Các cá nhân có thể tiến bộ theo cách khó khăn hay dễ dàng, tùy thuộc vào cách họ tiếp cận kinh nghiệm học hỏi, nhưng họ phải học. Do đó, họ có thể điều chỉnh tác động của hoàn cảnh, nhưng không thể thay đổi mô thức căn bản của đời mình. |
|
A Hindu parable tells of a superstitious soul who was warned by his astrologer that Saturn would be exerting a nefarious influence the following night. Hoping to insulate himself against the planet’s baleful effects, the man passed most of the night lying in the water of a stream and breathing through a straw. Unfortunately, his ingenuity proved no match for Saturn, since, as a result of his prolonged immersion, the fellow caught cold and died. |
Một dụ ngôn Ấn Độ kể về một linh hồn mê tín được nhà chiêm tinh của mình cảnh báo rằng Sao Thổ sẽ gây ra một ảnh hưởng độc hại vào đêm hôm sau. Hy vọng tự cách ly khỏi các tác động tai hại của hành tinh ấy, người đàn ông đã trải qua phần lớn đêm nằm trong nước của một dòng suối và thở qua một ống hút. Đáng tiếc là sự khéo léo của y không thể sánh với Sao Thổ, vì do ngâm mình quá lâu, người ấy bị cảm lạnh và chết. |
|
The restrictions symbolized by Saturn are as inexorable as gravity—and as necessary. Indeed, if the law of gravity were to be repealed, even for a moment, the Earth would fly apart. The way of wisdom is to work with, not against, the energies transmitted by the planets and signs of the zodiac. Just as engineers can harness the gravitational force of a waterfall and convert it into electricity, so can men use the pressures, which seem to beat them down, to create channels to a reservoir of infinite light and power. |
Những hạn chế do Sao Thổ tượng trưng cũng không thể cưỡng lại như trọng lực—và cũng cần thiết như thế. Thật vậy, nếu định luật trọng lực bị bãi bỏ, dù chỉ trong một khoảnh khắc, Trái Đất sẽ tan rã. Con đường của minh triết là làm việc cùng với, chứ không chống lại, các năng lượng do các hành tinh và dấu hiệu của Hoàng đạo truyền dẫn. Cũng như các kỹ sư có thể khai thác lực hấp dẫn của một thác nước và chuyển hóa nó thành điện năng, con người cũng có thể sử dụng những áp lực dường như đè bẹp họ để tạo ra các kênh dẫn đến một hồ chứa ánh sáng và quyền năng vô tận. |
|
Life presents various sets of problems to be solved. By understanding the astrological factors involved, people can cope with their difficulties more effectively. A person born with an afflicted Saturn in the seventh house of his horoscope (the area pertaining to partnerships) may find it impossible to avoid an unhappy marriage, this being the only way a necessary experience can become available to him. However, he still has the choice of learning or failing to learn by his mistakes. To the extent that confronting and resolving his difficulties makes him a finer, more tolerant person, his failure is transmuted into success. |
Đời sống đưa ra nhiều tập hợp vấn đề khác nhau cần được giải quyết. Bằng cách hiểu các yếu tố chiêm tinh liên quan, con người có thể đối phó với những khó khăn của mình hiệu quả hơn. Một người sinh ra với Sao Thổ bị tổn thương ở nhà bảy của lá số chiêm tinh của mình, tức vùng liên quan đến quan hệ hợp tác, có thể thấy không thể tránh khỏi một cuộc hôn nhân bất hạnh, vì đây là cách duy nhất để một kinh nghiệm cần thiết trở nên khả dụng cho y. Tuy nhiên, y vẫn có lựa chọn học hỏi hoặc không học hỏi từ những sai lầm của mình. Trong chừng mực việc đối diện và giải quyết các khó khăn khiến y trở thành một người tốt đẹp hơn, khoan dung hơn, thất bại của y được chuyển hóa thành thành công. |
|
Why does astrology work? |
Vì sao chiêm tinh học vận hành? |
|
Astrology “works” because the universe and its parts constitute a living whole endowed with intelligence, consciousness, and the creative will-to-good. The ancients called this cosmic entity “the Grand Man of the Heavens.” Although modern astrologers are less anthropomorphic in outlook, they too believe that space is an entity. Every cell in the body is imprinted with a genetic code which contains the plan of development for the total organism. Similarly, like cells in the body of humanity, men are guided by a formula encoded in their psyche. Every individual is a miniature replica of the entire universe, programmed to respond to cosmic plans and purposes. Man literally is made in the image of God. |
Chiêm tinh học “vận hành” vì vũ trụ và các phần của nó cấu thành một toàn thể sống động, được phú cho trí tuệ, tâm thức và ý chí sáng tạo hướng thiện. Người xưa gọi thực thể vũ trụ này là “Con Người Vĩ Đại của Các Cõi Trời.” Dù các nhà chiêm tinh hiện đại ít có quan điểm nhân hình hơn, họ cũng tin rằng không gian là một thực thể. Mỗi tế bào trong thân thể đều được in dấu bằng một mã di truyền chứa kế hoạch phát triển cho toàn bộ cơ thể. Tương tự, như các tế bào trong thân thể của nhân loại, con người được hướng dẫn bởi một công thức được mã hóa trong tâm thức sâu của họ. Mỗi cá nhân là một bản sao thu nhỏ của toàn thể vũ trụ, được lập trình để đáp ứng các kế hoạch và mục đích vũ trụ. Theo nghĩa đen, con người được tạo nên theo hình ảnh của Thượng đế. |
|
In what manner do planets influence human life? |
Các hành tinh ảnh hưởng đến đời sống con người theo cách nào? |
|
The planets can be compared to the hands of an enormous clock (the zodiac) in the heavens. Human beings are biologically and psychologically constructed to function like small clocks on Earth. One cannot say, however, that the hands of the big clock reach down and push the hands of the little ones around. Rather, all are synchronized to register the same time. Men and the solar system correspond to one another, not because of the domination exerted by the large upon the small, but by virtue of an innate affinity which makes them both part of the same creative Plan. |
Các hành tinh có thể được ví như những kim của một chiếc đồng hồ khổng lồ, tức Hoàng đạo, trên bầu trời. Con người được cấu tạo về mặt sinh học và tâm lý để vận hành như những chiếc đồng hồ nhỏ trên Trái Đất. Tuy nhiên, không thể nói rằng các kim của chiếc đồng hồ lớn vươn xuống và đẩy các kim của những chiếc đồng hồ nhỏ xoay quanh. Đúng hơn, tất cả được đồng bộ để ghi nhận cùng một thời điểm. Con người và hệ Mặt Trời tương ứng với nhau, không phải do cái lớn thống trị cái nhỏ, mà nhờ một mối tương hợp bẩm sinh khiến cả hai cùng là thành phần của cùng một Thiên Cơ sáng tạo. |
|
Conceivably, cosmic energies actually flow through the signs and planets, as though the solar system were one vast dynamo of interrelated streams of energy. However, while the theory of electromagnetic fields may account for some aspects of astrology, it does not go far enough in explaining the modus operandi of the system as currently practiced. Radiatory impulses passing through space cannot justify the theory of symbolic progressions, the meanings ascribed to planets and houses, or the way the birthchart stamps an entire life with specific characteristics. One might as easily comprehend the phenomenon of human intelligence through a study of brain waves. |
Có thể hình dung rằng các năng lượng vũ trụ thật sự tuôn chảy qua các dấu hiệu và hành tinh, như thể hệ Mặt Trời là một máy phát điện bao la gồm những dòng năng lượng tương liên. Tuy nhiên, dù lý thuyết về các trường điện từ có thể giải thích một vài phương diện của chiêm tinh học, nó vẫn chưa đủ xa để giải thích phương thức vận hành của hệ thống như hiện nay đang được thực hành. Những xung lực bức xạ đi qua không gian không thể biện minh cho lý thuyết về các tiến trình biểu tượng, các ý nghĩa được gán cho hành tinh và nhà, hay cách lá số sinh đóng dấu lên toàn bộ một đời sống bằng những đặc tính riêng biệt. Người ta cũng có thể dễ dàng lĩnh hội hiện tượng trí tuệ con người qua việc nghiên cứu sóng não như thế. |
|
Astrologers, like physicists, observe the effects of various influences without fully understanding the nature of the energies involved. They theorize “how” these energies operate, but the “why” remains mysterious. |
Các nhà chiêm tinh, cũng như các nhà vật lý, quan sát những hiệu quả của nhiều ảnh hưởng khác nhau mà không hoàn toàn hiểu bản chất của các năng lượng liên hệ. Họ đưa ra lý thuyết về “cách” các năng lượng này vận hành, nhưng “lý do” thì vẫn còn huyền bí. |
|
Unfortunately, it is traditional to use the word “influence” to describe the correlations between planetary and mundane affairs. The term has become a semantic necessity because of the lack of words to describe the subtle relationship between microcosm and macrocosm. Few astrologers really presume that the planets somehow push people about. Instead, they believe that there is a pattern in life which most observers are too shortsighted to discern. Like ants scurrying about on a richly emblazoned Oriental carpet, human beings are assailed by a jumble of changing sensations. However, by looking at the heavens where the same basic pattern is spread out in its entirety, man can better understand how his small segment of experience fits into the larger design. |
Đáng tiếc thay, theo truyền thống, người ta dùng từ “ảnh hưởng” để mô tả các tương quan giữa những sự vụ hành tinh và trần thế. Thuật ngữ này đã trở thành một nhu cầu ngữ nghĩa vì thiếu những từ ngữ để mô tả mối quan hệ vi tế giữa tiểu vũ trụ và đại vũ trụ. Ít nhà chiêm tinh nào thật sự giả định rằng các hành tinh bằng cách nào đó đẩy đưa con người. Thay vào đó, họ tin rằng có một khuôn mẫu trong đời sống mà phần lớn người quan sát quá thiển cận nên không nhận ra. Như những con kiến chạy vội trên một tấm thảm phương Đông thêu dệt rực rỡ, con người bị công kích bởi một mớ hỗn độn những cảm giác đổi thay. Tuy nhiên, bằng cách nhìn lên bầu trời, nơi cùng một khuôn mẫu căn bản được trải ra trọn vẹn, con người có thể hiểu rõ hơn phần kinh nghiệm nhỏ bé của mình ăn khớp với thiết kế rộng lớn như thế nào. |
|
How does astrology compare with astronomy? |
Chiêm tinh học so sánh với thiên văn học như thế nào? |
|
The relationship of astrology to astronomy is analogous to the relationship of psychology to physiology. Astrology concerns the mind and soul as well as the phenomenal appearance of the celestial spheres. Many astrologers believe that the heavenly “bodies” are just that—the physical vehicles of exalted beings, much as the human body is the outer garment of a higher consciousness. |
Mối quan hệ của chiêm tinh học với thiên văn học tương tự như mối quan hệ của tâm lý học với sinh lý học. Chiêm tinh học liên quan đến thể trí và linh hồn, cũng như vẻ ngoài hiện tượng của các thiên cầu. Nhiều nhà chiêm tinh tin rằng các “thiên thể” trên trời đúng là như vậy, tức các vận cụ vật lý của những Hữu Thể cao cả, cũng như thân thể con người là lớp áo bên ngoài của một tâm thức cao hơn. |
|
A person can say of a friend, “He is sixty-five percent oxygen, eighteen percent carbon, and ten percent hydrogen, with smaller quantities of calcium and phosphorus.” He can also specify his friend’s weight, height, heartbeat, and blood pressure, and describe the manner in which his vital organs generally function. In all, he would have an indisputably factual analysis, but it would reveal nothing of any real significance about this friend. |
Một người có thể nói về một người bạn rằng: “Y gồm sáu mươi lăm phần trăm oxy, mười tám phần trăm carbon và mười phần trăm hydro, cùng với những lượng nhỏ hơn của canxi và phospho.” Người ấy cũng có thể nêu rõ cân nặng, chiều cao, nhịp tim và huyết áp của bạn mình, đồng thời mô tả cách các cơ quan sinh tồn của y nói chung vận hành. Tựu trung, người ấy sẽ có một phân tích sự thật không thể tranh cãi, nhưng nó sẽ không tiết lộ điều gì thật sự có ý nghĩa về người bạn này. |
|
Yet many astronomers imply that the “bodies” orbiting through space exist only in terms of rays registered on telescopes or spectroscopes. They assume that the universe beyond the Earth is devoid of intelligence or beneficence, with the possible exception of a few isolated pockets of undiscovered life. |
Tuy vậy, nhiều nhà thiên văn lại ngụ ý rằng các “thiên thể” đang vận hành theo quỹ đạo trong không gian chỉ hiện hữu theo các tia được ghi nhận trên kính thiên văn hay kính quang phổ. Họ giả định rằng vũ trụ ngoài Trái Đất không có trí tuệ hay thiện ý, ngoại trừ khả năng có một vài ổ sự sống biệt lập chưa được khám phá. |
|
Astrologers see no reason to confine the potentialities of the universe to the material dimensions of space, any more than they would limit man to his cage of flesh. The belief that no life exists beyond the scattered particles of the physical universe is not only unjustified from the viewpoint of astrology, it has no scientific basis. |
Các nhà chiêm tinh không thấy có lý do gì để giới hạn những tiềm năng của vũ trụ vào các chiều kích vật chất của không gian, cũng như họ không giới hạn con người trong chiếc lồng xác thịt của y. Niềm tin rằng không có sự sống nào hiện hữu ngoài những hạt phân tán của vũ trụ vật lý không chỉ không chính đáng theo quan điểm của chiêm tinh học, mà còn không có cơ sở khoa học. |
|
Does astrology contradict the laws of physics? |
Chiêm tinh học có mâu thuẫn với các định luật vật lý không? |
|
No. Astrology corroborates the most recent findings of scientific investigators, but its conclusions are more far-reaching. The astrological hypothesis that different effects are produced by the varying relationships between the Sun, Moon, and planets is consistent with the findings of physicists that the properties of elements depend upon the organization of their atomic and subatomic particles. The defining characteristics of these molecular entities are not inherent in the matter of which they are composed, for essentially all matter reduces to energy. Rather, the qualities of an element are determined by the manner in which it is composed. Whether an object’s constituent parts combine to form an atom, a molecule, a man, or a solar system, its basic substance remains the same. Thus, all things vary only in terms of the ways they are organized internally and externally. |
Không. Chiêm tinh học xác nhận những phát hiện gần đây nhất của các nhà khảo cứu khoa học, nhưng các kết luận của nó vươn xa hơn. Giả thuyết chiêm tinh rằng các hiệu quả khác nhau được tạo ra bởi những mối quan hệ biến thiên giữa Mặt Trời, Mặt Trăng và các hành tinh phù hợp với phát hiện của các nhà vật lý rằng các tính chất của hành phụ thuộc vào cách tổ chức của những hạt nguyên tử và hạ nguyên tử. Các đặc tính xác định của những thực thể phân tử này không cố hữu trong vật chất cấu thành chúng, vì về bản chất mọi vật chất đều quy về năng lượng. Đúng hơn, các phẩm tính của một hành được xác định bởi cách thức nó được cấu thành. Dù các phần cấu tạo của một vật kết hợp để hình thành một nguyên tử, một phân tử, một con người hay một hệ Mặt Trời, chất liệu căn bản của nó vẫn như nhau. Vì vậy, mọi sự vật chỉ khác nhau theo những cách chúng được tổ chức ở bên trong và bên ngoài. |
|
Does the process of regarding all forms in terms of patterns of relationships deprecate the value of the individual? |
Việc xem mọi hình tướng theo các khuôn mẫu quan hệ có làm giảm giá trị của cá nhân không? |
|
The emphasis on interrelationships in astrology does not derogate the individuality of a particular entity, since nothing is unique in and by itself. A house, corporation, or personality bears the same defining characteristics as the rest of its kind. An object can be viewed as a special phenomenon, impossible to repeat or duplicate, only in terms of the way it is connected with everything else in the universe. Its true value lies not in the nature of its bodily substance but in its meaning with regard to its environment. |
Sự nhấn mạnh vào các mối tương quan trong chiêm tinh học không hạ thấp tính cá thể của một thực thể riêng biệt, vì không có gì là độc nhất ở trong và bởi chính nó. Một ngôi nhà, một công ty hay một tính cách đều mang những đặc tính xác định giống như phần còn lại của cùng loại. Một đối tượng chỉ có thể được nhìn như một hiện tượng đặc biệt, không thể lặp lại hay sao chép, theo cách nó liên hệ với mọi sự khác trong vũ trụ. Giá trị thật của nó không nằm trong bản chất chất liệu thân xác của nó, mà nằm trong ý nghĩa của nó đối với môi trường chung quanh. |
|
Does astrology differ in principle from the behavioral sciences? |
Về nguyên tắc, chiêm tinh học có khác với các khoa học hành vi không? |
|
The behavioral sciences (with the exception of depth psychology) deal mainly with statistical operations applying to groups, whereas astrology deals with individuals. Psychologists describe people in terms of the characteristics they hold in common with others of like nature while astrologers endeavor to show the ways in which each individual differs from all others. An investigator can, for example, measure a person’s smile and compare it on a graph with twenty other smiles of varying lengths and degrees of curvature. Nevertheless, it is only on a particular person’s face and in connection with his total personality that this smile has any real meaning. There can be none other quite like it, and this is the secret of its special value for the beholder. |
Các khoa học hành vi, ngoại trừ tâm lý học chiều sâu, chủ yếu xử lý những thao tác thống kê áp dụng cho các nhóm, trong khi chiêm tinh học xử lý các cá nhân. Các nhà tâm lý mô tả con người theo những đặc tính họ có chung với những người khác cùng bản chất, trong khi các nhà chiêm tinh nỗ lực chỉ ra những cách mỗi cá nhân khác với tất cả những người khác. Chẳng hạn, một nhà khảo cứu có thể đo nụ cười của một người và so sánh nó trên biểu đồ với hai mươi nụ cười khác có độ dài và mức cong khác nhau. Tuy nhiên, chỉ trên gương mặt của một người cụ thể và trong mối liên hệ với toàn bộ tính cách của y, nụ cười này mới có bất kỳ ý nghĩa thật sự nào. Không thể có nụ cười nào khác hoàn toàn giống nó, và đây là bí mật của giá trị đặc biệt của nó đối với người chiêm ngưỡng. |
|
Can astrology ever be computerized? |
Chiêm tinh học có thể được vi tính hóa không? |
|
Individuality is never repeated. Even the most sophisticated computer cannot give a completely adequate horoscope reading, though it can perform the mathematical operations required to set up a natal chart and grind out lists of probabilities. The machine can analyze but it cannot resynthesize the many separate factors in any meaningful way. It may give norms and averages for the various zodiacal types, but it does not account for the potentialities of human nature. It is these potentialities, rather than the actualities, which make man what he is. A horoscope is a grouping of potentials and no one can say exactly how they will manifest themselves. |
Tính cá thể không bao giờ lặp lại. Ngay cả chiếc máy tính tinh vi nhất cũng không thể đưa ra một luận giải lá số chiêm tinh hoàn toàn thích đáng, dù nó có thể thực hiện các thao tác toán học cần thiết để dựng một lá số chiêm tinh bản mệnh và tạo ra các danh sách xác suất. Máy móc có thể phân tích nhưng không thể tái tổng hợp nhiều yếu tố riêng rẽ theo bất kỳ cách nào có ý nghĩa. Nó có thể đưa ra các chuẩn mực và trung bình cho các loại hoàng đạo khác nhau, nhưng nó không giải thích được các tiềm năng của bản chất con người. Chính những tiềm năng này, chứ không phải những thực tại đã thành, khiến con người là điều y đang là. Một lá số chiêm tinh là một tập hợp các tiềm năng, và không ai có thể nói chính xác chúng sẽ biểu lộ như thế nào. |
|
It is doubtful if astrology can ever be entirely computerized because it is impossible for a mechanical device to calculate “the age of the soul.” Men do not respond identically to planetary influences any more than substances respond identically to heat. The same flame can melt lead, turn water to steam, and bum paper. |
Khó có thể tin rằng chiêm tinh học từng có thể được vi tính hóa hoàn toàn, vì một thiết bị cơ giới không thể tính toán “tuổi của linh hồn”. Con người không phản ứng giống hệt nhau trước các ảnh hưởng hành tinh, cũng như các chất liệu không phản ứng giống hệt nhau trước nhiệt. Cùng một ngọn lửa có thể làm chì tan chảy, biến nước thành hơi và đốt cháy giấy. |
|
It is often said that planets exert higher and lower effects. Probably it would be more correct to suggest that, while planets serve as transmitters for cosmic forces, human beings can react to these vibrations above or below the belt. According to the theory of Esoteric Astrology, man literally does possess psychic centers (chakras) in the upper and lower parts of his body, and these centers receive, assimilate, and transmit different types of energies. |
Người ta thường nói rằng các hành tinh tạo ra những hiệu quả cao và thấp. Có lẽ chính xác hơn nếu nói rằng, trong khi các hành tinh đóng vai trò những máy truyền dẫn cho các mãnh lực vũ trụ, con người có thể phản ứng với những rung động này ở phía trên hoặc phía dưới thắt lưng. Theo lý thuyết của Chiêm Tinh Học Nội Môn, con người thật sự sở hữu các trung tâm tâm thông, tức các luân xa, ở phần trên và phần dưới thân thể mình, và các trung tâm này tiếp nhận, đồng hóa và truyền dẫn những loại năng lượng khác nhau. |
|
Computers have already proven to be invaluable aids in astrological research. They can calculate charts and produce superficially applicable horoscope readings, but it still takes a living person to understand the problems and aspirations peculiar to the human soul. |
Máy tính đã chứng tỏ là những trợ cụ vô giá trong nghiên cứu chiêm tinh. Chúng có thể tính toán các lá số chiêm tinh và tạo ra những luận giải lá số chiêm tinh có thể áp dụng ở bề mặt, nhưng vẫn cần một con người sống động để hiểu những vấn đề và khát vọng đặc thù của linh hồn con người. |
|
Is it possible to call a system of unique interrelationships a real science? |
Có thể gọi một hệ thống gồm những mối tương quan độc nhất là một khoa học thật sự không? |
|
Traditionally, investigators have assumed that in the natural sciences the abstraction and analysis of diverse factors can result only in the formulation of uniform laws. This uniformity is the antithesis of the indefinable and idiosyncratic element of self-awareness which makes every human being a uniquely fashioned individual. Even in differential psychology, where deviations from the norm are systematically isolated and compared, there is no true study of selfhood. Rather, there tends to be a quest for averages amid a mass of traits which are sorted, weighed, and impaled on bell-shaped or skewed curves. Science must generalize. How, then, can it investigate the subtle, irreducible and irreproducible conglomerate of instincts and aspirations called a self or soul? |
Theo truyền thống, các nhà khảo cứu giả định rằng trong các khoa học tự nhiên, sự trừu xuất và phân tích các yếu tố đa dạng chỉ có thể dẫn đến việc hình thành các định luật đồng nhất. Tính đồng nhất này là đối cực của yếu tố tự nhận thức không thể định nghĩa và mang tính riêng biệt, vốn khiến mỗi con người là một cá nhân được tạo tác độc đáo. Ngay cả trong tâm lý học sai biệt, nơi những độ lệch khỏi chuẩn mực được cô lập và so sánh một cách có hệ thống, cũng không có nghiên cứu thật sự về bản ngã tính. Đúng hơn, thường có khuynh hướng tìm kiếm các mức trung bình giữa một khối những đặc tính được phân loại, cân đo và ghim lên các đường cong hình chuông hay lệch. Khoa học phải khái quát hóa. Vậy thì làm sao nó có thể khảo sát khối kết hợp vi tế, bất khả quy giảm và bất khả tái tạo gồm bản năng và khát vọng, được gọi là một bản ngã hay linh hồn? |
|
The answer is that it is possible to have a science of unique interrelationships simply because a general law may help to explain how uniqueness is achieved. Astrology postulates that an individual can be understood through a systematic study of the set of internal relationships of which he is the sum, and that this inner structure largely determines outer behavior. |
Câu trả lời là có thể có một khoa học về những mối tương quan độc nhất, đơn giản vì một định luật tổng quát có thể giúp giải thích tính độc nhất được thành tựu như thế nào. Chiêm tinh học giả định rằng có thể hiểu một cá nhân qua việc nghiên cứu có hệ thống tập hợp các mối quan hệ nội tại mà y là tổng thể của chúng, và cấu trúc bên trong này phần lớn quyết định hành vi bên ngoài. |
|
Time is an essential factor in astrology, for the horoscope reflects the laws of development as well as the laws of disintegration. In the process of growth, atoms form molecules; molecules form nerve cells; nerve cells form tissues; tissues form a brain, and the brain serves as a vehicle for thought. Evolution is a fact as evident as entropy, even though its teaching has been a matter for legal dispute. It is a creative whole-making process which must be explained by the laws of synthesis as well as by the laws of analysis with which orthodox science has been so unremittingly preoccupied. |
Thời gian là một yếu tố thiết yếu trong chiêm tinh học, vì lá số chiêm tinh phản ánh các định luật phát triển cũng như các định luật tan rã. Trong tiến trình tăng trưởng, các nguyên tử hình thành phân tử; các phân tử hình thành tế bào thần kinh; các tế bào thần kinh hình thành mô; các mô hình thành bộ não, và bộ não phụng sự như một vận cụ cho tư tưởng. Tiến hóa là một sự thật hiển nhiên như entropy, dù giáo huấn của nó từng là vấn đề tranh chấp pháp lý. Đó là một tiến trình sáng tạo làm nên toàn thể, cần được giải thích bằng các định luật tổng hợp cũng như bằng các định luật phân tích mà khoa học chính thống đã quá miệt mài bận tâm. |
|
Although astrology is concerned with the factors which result in uniqueness of being, it can be truly scientific. It is, however, a science of the spirit which enables man to investigate the higher laws of the universe and thereby bring order and meaning into his life. |
Dù chiêm tinh học quan tâm đến những yếu tố dẫn đến tính độc nhất của hiện tồn, nó vẫn có thể thật sự mang tính khoa học. Tuy nhiên, đó là một khoa học của tinh thần, giúp con người khảo sát các định luật cao hơn của vũ trụ và nhờ đó đem trật tự cùng ý nghĩa vào đời sống của mình. |
PART TWO
Heaven’s Golden Alphabet —
Bảng Chữ Cái Vàng của Bầu Trời
1. Symbols of the Zodiac — Các Biểu Tượng của Hoàng đạo
|
Every astrological symbol is a bridge to universal truth. The following tabulation and descriptions show how the zodiac derives from archetypal principles which spell out the drama of creation. The twelve glyphs with their corresponding human and animal forms are letters in the alphabet of the celestial spheres. The student who reads this “sign language” correctly can deepen his understanding of his own place and purpose within the cosmic scheme. |
Mỗi biểu tượng chiêm tinh là một cây cầu dẫn đến chân lý phổ quát. Bảng liệt kê và các mô tả sau đây cho thấy Hoàng đạo phát xuất từ những nguyên lý nguyên mẫu, vốn viết nên vở kịch của sáng tạo như thế nào. Mười hai ký hình, cùng với các hình tướng người và thú tương ứng, là những mẫu tự trong bảng chữ cái của các thiên cầu. Người học đạo đọc đúng “ngôn ngữ dấu hiệu” này có thể đào sâu hiểu biết của mình về vị trí và mục đích của chính mình trong thiên cơ vũ trụ. |
|
THE SIGNS |
CÁC DẤU HIỆU |
|
Symbol |
Sign |
Principle |
Quality |
Positive Expression |
Negative Expression |
|
Aries |
Action |
Initiative |
Vitality |
Impulsiveness |
|
|
Taurus |
Reaction |
Appreciation |
Stability |
Obstinacy |
|
|
Gemini |
Interaction |
Awareness |
Versatility |
Superficiality |
|
|
Cancer |
Containment |
Reserve |
Protection |
Covetousness |
|
|
Leo |
Individuation |
Centeredness |
Dominion |
Imperiousness |
|
|
Virgo |
Differentiation |
Analysis |
Discrimination |
Criticism |
|
|
Libra |
Equilibrium |
Harmony |
Diplomacy |
Opportunism |
|
|
Scorpio |
Regeneration |
Penetration |
Renewal |
Ruthlessness |
|
|
Sagittarius |
Direction |
Planning |
Wisdom |
Hypocrisy |
|
|
Capricorn |
Crystallization |
Responsibility |
Orderliness |
Rigidity |
|
|
Aquarius |
Distribution |
Universality |
Liberality |
Eccentricity |
|
|
Pisces |
Redemption |
Synthesis |
Compassion |
Confusion |
|
Biểu tượng |
Dấu hiệu |
Nguyên khí |
Phẩm tính |
Biểu hiện tích cực |
Biểu hiện tiêu cực |
|
Ü |
Bạch Dương |
Hành động |
Tính chủ động |
Sinh lực |
Bốc đồng |
|
Ý |
Kim Ngưu |
Phản ứng |
Sự trân trọng |
Tính ổn định |
Ngoan cố |
|
‚ |
Song Tử |
Tương tác |
Sự nhận biết |
Tính linh hoạt |
Hời hợt |
|
ƒ |
Cự Giải |
Bao chứa |
Sự kín đáo |
Sự bảo vệ |
Tính chiếm hữu |
|
„ |
Sư Tử |
Biệt ngã hóa |
Sự định tâm |
Quyền chi phối |
Tính độc đoán |
|
… |
Xử Nữ |
Biến phân |
Sự phân tích |
Sự phân biện |
Chỉ trích |
|
î |
Thiên Bình |
Cân bằng |
Sự hài hòa |
Tính ngoại giao |
Chủ nghĩa cơ hội |
|
‡ |
Hổ Cáp |
Tái sinh |
Sự xuyên thấu |
Sự đổi mới |
Tàn nhẫn |
|
ˆ |
Nhân Mã |
Định hướng |
Sự hoạch định |
Minh triết |
Đạo đức giả |
|
‰ |
Ma Kết |
Kết tinh |
Trách nhiệm |
Tính trật tự |
Cứng nhắc |
|
Š |
Bảo Bình |
Phân phối |
Tính phổ quát |
Sự khoáng đạt |
Lập dị |
|
‹ |
Song Ngư |
Cứu chuộc |
Sự tổng hợp |
Lòng từ bi |
Hoang mang |
ARIES, the RAM — BẠCH DƯƠNG, CON CỪU ĐỰC
|
Cardinal Fire |
Hỏa chính yếu |
|
March 21-April 20 |
21 tháng 3-20 tháng 4 |
|
Aries is the springtime sign of the zodiac. Its symbol suggests a seed shooting out of the ground. Since the sprout has no roots and is as yet untrammeled by the earth from which it emerges, the horizon is not visible—only the new plant rising like a living fountain. Aries evokes the will to begin and to take initiative in launching new endeavors. As the cosmic principle of action, Aries signifies the drive to externalize latent possibilities and to become in actuality that which, in essence, one already is. |
Bạch Dương là dấu hiệu mùa xuân của Hoàng đạo. Biểu tượng của nó gợi hình ảnh một hạt giống đang vọt lên khỏi mặt đất. Vì mầm non chưa có rễ và còn chưa bị mặt đất mà nó trồi lên từ đó ràng buộc, đường chân trời không hiện rõ, chỉ có cây non mới mọc vươn lên như một đài phun nước sống động. Bạch Dương gợi lên ý chí bắt đầu và chủ động trong việc khởi xướng những nỗ lực mới. Là nguyên lý vũ trụ của hành động, Bạch Dương biểu thị động lực ngoại hiện hóa những khả năng tiềm tàng và trở thành trong thực tại điều mà, về bản chất, người ta vốn đã là. |
|
The symbol for Aries also represents the horns of a ram. This can be a battering ram thrusting rambunctiously, or even rampageously, forward. Anatomically, Aries rules the head and its headstrong impulsiveness often impels its natives to plunge headlong into situations without taking account of the consequences of their behavior. Their self-assertiveness can prevent them from judging the reactions of other people. If, however, the Arian constantly butts up against opposition, his spirit may be broken. Then the sign denotes not the dashing ram but the driven sheep rambling from place to place with no purpose or destination. |
Biểu tượng của Bạch Dương cũng tượng trưng cho cặp sừng của con cừu đực. Đó có thể là một đầu húc lao tới một cách ồn ào, thậm chí hung hãn. Về mặt giải phẫu, Bạch Dương chủ quản đầu, và tính bốc đồng cứng đầu của nó thường thúc đẩy những người thuộc dấu hiệu này lao đầu vào các tình huống mà không xét đến hậu quả hành vi của mình. Tính tự khẳng định của họ có thể ngăn họ phán đoán phản ứng của người khác. Tuy nhiên, nếu người Bạch Dương cứ liên tục húc vào sự chống đối, tinh thần của y có thể bị bẻ gãy. Khi ấy dấu hiệu này không còn chỉ con cừu đực xông xáo, mà là con cừu bị thúc ép lang thang từ nơi này sang nơi khác, không mục đích hay đích đến. |
|
Metaphysically inclined astrologers see the glyph for Aries as a fork in the road, showing the opportunity to turn one way or the other. Although each sign is conditioned by and reacts against the sign which immediately precedes it, Aries, at the forefront of the parade, is endowed with the relative freedom to choose either the path to the left or the path to the right. Therefore, those who personify its pioneering traits are peculiarly insistent upon exercising their powers of decision, since they cherish the spark of independence which makes them separate, self-determining individuals. |
Các nhà chiêm tinh nghiêng về siêu hình học nhìn ký hình của Bạch Dương như một ngã rẽ trên đường, cho thấy cơ hội rẽ sang bên này hoặc bên kia. Dù mỗi dấu hiệu đều chịu tác động bởi dấu hiệu ngay trước nó và phản ứng lại dấu hiệu ấy, Bạch Dương, đứng ở hàng đầu của đoàn diễu hành, được ban cho sự tự do tương đối để chọn hoặc con đường bên trái hoặc con đường bên phải. Vì vậy, những người nhân cách hóa các đặc tính tiên phong của nó đặc biệt khăng khăng muốn vận dụng quyền năng quyết định của mình, vì họ trân quý tia lửa độc lập khiến họ trở thành những cá nhân riêng biệt, tự quyết định. |
|
Finally, this symbol can be interpreted as representing the line of the nose and eyebrows in the human face. The frontal area houses the forebrain which is an instrument of the higher mind and will. The spiritually evolved Arian realizes that his freedom of choice depends largely upon the range of his intellectual faculties. All things begin with ideas, and to the extent that he uses his head, he forges ahead. |
Sau cùng, biểu tượng này có thể được diễn giải như đường nét của mũi và lông mày trên gương mặt con người. Vùng trán chứa não trước, vốn là một khí cụ của thượng trí và ý chí. Người Bạch Dương đã tiến hóa về mặt tinh thần nhận ra rằng tự do lựa chọn của y phần lớn tùy thuộc vào phạm vi các quan năng trí tuệ của mình. Mọi sự bắt đầu bằng tư tưởng, và trong chừng mực y biết dùng cái đầu của mình, y tiến lên phía trước. |
TAURUS, the BULL — KIM NGƯU, CON BÒ ĐỰC
|
Fixed Earth |
Thổ cố định |
|
April 21-May 21 |
21 tháng 4-21 tháng 5 |
|
Taurus harnesses the vitality of Aries. As the glyph indicates, force ceases to shoot into the atmosphere like a geyser, but is bent into the shape of a wheel which restrains and contains the energy previously unleashed. This is also a wheel which can carry loads. The boundless exuberance of Aries encounters the material resistance of Taurus and is transformed into power which can be turned to practical uses. Nature’s dynamism is slowed down and channeled through biological drives. |
Kim Ngưu khai thác sinh lực của Bạch Dương. Như ký tự biểu thị, lực không còn phun vào khí quyển như mạch nước phun, mà được uốn thành hình bánh xe, kìm giữ và chứa đựng năng lượng trước đó đã được phóng thích. Đây cũng là bánh xe có thể chuyên chở gánh nặng. Sự phấn khích vô biên của Bạch Dương gặp sức kháng cự vật chất của Kim Ngưu và được chuyển hóa thành quyền năng có thể dùng vào những mục đích thực tiễn. Tính năng động của thiên nhiên chậm lại và được dẫn truyền qua các thôi thúc sinh học. |
|
Taurus is the sign of money and possessions, and of the values these represent. Through careful conservation of resources the Taurean takes time to appreciate the quality of things. The driving excitement of Aries becomes intensity of feeling in Taurus. The outrushing fires of passion are banked to produce the warming glow of steadier, more sustained satisfactions, as the desire for sensation is converted into the quiet capacity for love. |
Kim Ngưu là dấu hiệu của tiền bạc và của cải, cũng như của những giá trị mà chúng đại diện. Qua việc bảo tồn cẩn trọng các nguồn lực, người Kim Ngưu dành thời gian để cảm nhận phẩm chất của sự vật. Sự hưng phấn thúc đẩy của Bạch Dương trở thành cường độ cảm xúc trong Kim Ngưu. Những ngọn lửa đam mê bùng lao ra được ủ lại để tạo nên ánh ấm của những thỏa mãn vững bền, ổn định hơn, khi dục vọng cảm giác được chuyển thành năng lực yêu thương âm thầm. |
|
The pictograph for Taurus shows the horns of a bull, suggesting the immense fertility of this sign. In the course of the year, the Sun is in Taurus during the mating season. Bulky in build, the Taurean may also be “bullish” in his erotic instincts. He can, however, be domesticated into a bulwark of strength and security for his family. |
Hình biểu ý của Kim Ngưu cho thấy cặp sừng bò, gợi đến sức phì nhiêu mênh mông của dấu hiệu này. Trong chu kỳ năm, Mặt Trời ở Kim Ngưu vào mùa giao phối. Có vóc dáng chắc nịch, người Kim Ngưu cũng có thể rất “bò mộng” trong bản năng tình dục của mình. Tuy nhiên, y có thể được thuần hóa thành một thành trì của sức mạnh và sự an toàn cho gia đình mình. |
|
In the body, Taurus rules the neck which supports the weight of the head. Members of this sign are often characterized by an obstinacy which results in their being called “bullnecked,” but they can also be as gentle and persevering as the bullocks of the Orient who bend their necks willingly to the farmer’s yoke. |
Trong thân thể, Kim Ngưu chủ quản vùng cổ, nơi nâng đỡ sức nặng của đầu. Những người thuộc dấu hiệu này thường được đặc trưng bởi sự cố chấp khiến họ bị gọi là “cổ bò”, nhưng họ cũng có thể hiền lành và bền bỉ như những con bò kéo ở phương Đông, tự nguyện cúi cổ dưới ách của người nông dân. |
|
The unevolved Taurean can be an insensitive “bully,” insisting on his own way with “bulldog” stubbornness. His temper is aroused slowly, but when goaded past the point of endurance he will charge wildly at his opponent, or thrash about as clumsily as the proverbial “bull in a china shop.” |
Người Kim Ngưu chưa tiến hóa có thể là một kẻ “bắt nạt” vô cảm, khăng khăng theo ý mình với sự bướng bỉnh kiểu “chó bull”. Tính khí của y bùng lên chậm, nhưng khi bị kích động quá giới hạn chịu đựng, y sẽ lao điên cuồng vào đối thủ, hoặc vùng vẫy vụng về như câu ví “con bò trong cửa hàng đồ sứ”. |
|
The Taurean derives a profound satisfaction from increasing his assets. In the world of finance, a “bull market” reflects the tendency of the sign to promote growth and prosperity. Many Taureans have a knack for making money reproduce itself by leaving it alone and allowing it to breed naturally. Consequently, they often become wealthy simply by making the best use of that which has already been given. |
Người Kim Ngưu rút ra sự thỏa mãn sâu xa từ việc gia tăng tài sản của mình. Trong thế giới tài chính, “thị trường bò” phản ánh khuynh hướng của dấu hiệu này là thúc đẩy tăng trưởng và thịnh vượng. Nhiều người Kim Ngưu có khả năng tự nhiên khiến tiền sinh sôi bằng cách để yên nó và cho phép nó nảy nở một cách tự nhiên. Do đó, họ thường trở nên giàu có chỉ nhờ sử dụng tốt nhất những gì đã được trao sẵn. |
|
The symbol for Taurus shows the crescent Moon surmounting the circle of the Sun. The Moon is placed in the position of a chalice which contains the overflowing energy of the preceding sign, as the lunar principle of response supersedes the solar principle of self-expression. Aries expends its resources unstintingly but Taurus receives and conserves the bountiful supply. |
Biểu tượng của Kim Ngưu cho thấy lưỡi liềm Mặt Trăng vượt lên trên vòng tròn của Mặt Trời. Mặt Trăng được đặt ở vị trí của một chiếc chén chứa năng lượng tràn đầy của dấu hiệu trước, khi nguyên lý mặt trăng về sự đáp ứng thay thế nguyên lý mặt trời về sự tự biểu hiện. Bạch Dương tiêu dùng các nguồn lực của mình một cách không dè sẻn, còn Kim Ngưu tiếp nhận và bảo tồn nguồn cung dồi dào ấy. |
|
While Aries surges forward, Taurus stabilizes. In Aries, the sprout shoots toward the Sun; in Taurus, roots reach down through the soil in the endeavor to establish a durable organism. In the natural order of the zodiac, each sign represents the assets, resources, and values of the preceding sign, and this process begins with the emergence of selfhood in Aries and the accumulation of possessions in Taurus. |
Trong khi Bạch Dương trào dâng về phía trước, Kim Ngưu ổn định hóa. Trong Bạch Dương, mầm cây vươn lên về phía Mặt Trời; trong Kim Ngưu, rễ cắm xuống qua đất để cố gắng thiết lập một cơ thể bền vững. Trong trật tự tự nhiên của Hoàng đạo, mỗi dấu hiệu đại diện cho tài sản, nguồn lực và giá trị của dấu hiệu đi trước, và tiến trình này bắt đầu với sự xuất hiện của bản ngã nơi Bạch Dương và sự tích lũy của cải nơi Kim Ngưu. |
GEMINI, the TWINS — SONG TỬ, CẶP SONG SINH
|
Mutable Air |
Khí Biến Đổi |
|
May 22-June 21 |
22 tháng 5-21 tháng 6 |
|
In Gemini, the circle which in Taurus appeared as a wheel, becomes a circuit. Action and reaction give rise to interaction. Out of the archetypal opposition between subject and object, knower and known, represented by the first two signs, there emerges a third factor which is the relationship between these two, and this comprises the field of knowledge and communication. |
Trong Song Tử, vòng tròn vốn hiện ra như bánh xe trong Kim Ngưu trở thành một mạch nối. Hành động và phản ứng làm phát sinh tương tác. Từ sự đối vị nguyên mẫu giữa chủ thể và đối tượng, người biết và cái được biết, được đại diện bởi hai dấu hiệu đầu tiên, xuất hiện một yếu tố thứ ba, tức mối quan hệ giữa hai bên; và điều này cấu thành trường của tri thức và truyền thông. |
|
Gemini signifies not only the duality implicit in the upright lines of its symbol, but also their union. Parallel columns are connected top and bottom, suggesting a grill or web of interwoven strands. This network is indicative of the nervous system, and also of the fabric of cause and effect which underlies the phenomenal world. The Geminian capacity for awareness enables an individual to perceive meaningful designs in a previously incoherent jumble of sensations. Insofar as isolated objects are studied in terms of their relationships with one another, they become intelligible and therefore subject to analysis and discussion. |
Song Tử không chỉ biểu thị tính nhị nguyên hàm chứa trong các đường thẳng đứng của biểu tượng nó, mà còn biểu thị sự hợp nhất của chúng. Hai cột song song được nối ở trên và dưới, gợi đến một tấm lưới hay mạng các sợi đan xen. Mạng lưới này chỉ hệ thần kinh, cũng như kết cấu nhân quả nằm bên dưới thế giới hiện tượng. Năng lực nhận biết của Song Tử cho phép cá nhân tri nhận các mô thức có ý nghĩa trong một mớ cảm giác trước đó còn rời rạc và hỗn độn. Trong chừng mực các đối tượng riêng lẻ được nghiên cứu theo những mối quan hệ của chúng với nhau, chúng trở nên có thể hiểu được và do đó có thể được phân tích và thảo luận. |
|
If the vertical bars are slightly lengthened, the glyph becomes the symbol for numbers (#), indicating the propensity of people born under this sign to enumerate facts, list particulars, and reduce them to a system. The Geminian’s world is composed of numerous discrete parts which he feels compelled to arrange according to a rationally demonstrable order. His incessantly active mind brings things together for comparison, but it also holds them apart for contrast, as he classifies items into logical categories. The intellectuality of this sign is suggested by the glyph’s resemblance to two books on a shelf, a reminder that almost all Geminians love to read. |
Nếu các thanh dọc được kéo dài thêm chút ít, ký tự trở thành biểu tượng của số (#), chỉ khuynh hướng của những người sinh dưới dấu hiệu này là đếm sự kiện, liệt kê chi tiết và quy chúng về một hệ thống. Thế giới của người Song Tử gồm nhiều phần riêng rẽ mà y cảm thấy buộc phải sắp xếp theo một trật tự có thể chứng minh bằng lý trí. Thể trí hoạt động không ngừng của y đưa các sự vật lại gần nhau để so sánh, nhưng cũng giữ chúng tách biệt để đối chiếu, khi y phân loại các mục vào những phạm trù hợp lý. Tính trí tuệ của dấu hiệu này được gợi lên bởi sự giống nhau giữa ký tự ấy và hai quyển sách trên kệ, nhắc rằng hầu như mọi người Song Tử đều thích đọc. |
|
Anatomically, Gemini’s dualism is reflected in its rulership of the two arms and hands, and of the two lungs which, by alternately expanding and contracting, allow oxygen to pass through the membranes separating the interior of an organism from the outer atmosphere. Gemini also rules the nervous system which is subdivided into central and autonomic branches. The former relates man to the external world, the latter to the visceral realm of his own body. |
Về mặt giải phẫu, tính nhị nguyên của Song Tử phản ánh trong quyền chủ quản của nó đối với hai cánh tay và hai bàn tay, cũng như hai lá phổi, vốn bằng cách luân phiên giãn nở và co lại, cho phép oxy đi qua các màng ngăn cách bên trong của cơ thể với bầu khí quyển bên ngoài. Song Tử cũng chủ quản hệ thần kinh, vốn được chia thành hai nhánh trung ương và tự chủ. Nhánh trước liên hệ con người với thế giới bên ngoài, nhánh sau liên hệ y với cõi nội tạng của chính thân thể mình. |
|
The pictogram for Gemini depicts the door or portal leading from one state to another. Its twin pillars connect heaven and earth within the consciousness of man. This is the first sign to be associated with a human form (the twins) rather than with an animal form. It represents the peculiarly human quality of intelligence which links man’s baser instincts with his divine essence. Thus, reasonable people can work side by side, joining that which is above with that which is below, and bringing heaven and earth together through the ability to draw connecting lines between innately related factors. |
Hình biểu ý của Song Tử mô tả cánh cửa hay cổng dẫn từ một trạng thái này sang một trạng thái khác. Hai cột song sinh của nó nối trời và đất trong tâm thức con người. Đây là dấu hiệu đầu tiên được liên kết với hình dạng con người (cặp song sinh) hơn là với hình dạng thú vật. Nó đại diện cho phẩm chất trí tuệ đặc biệt của con người, nối kết những bản năng thấp kém hơn của con người với yếu tính thiêng liêng của y. Vì vậy, những người hữu lý có thể làm việc bên nhau, nối kết cái ở trên với cái ở dưới, và đưa trời cùng đất lại gần nhau nhờ khả năng vạch ra những đường liên hệ giữa các yếu tố vốn liên quan bẩm sinh. |
CANCER, the CRAB — CỰ GIẢI, CON CUA
|
|
|
|
Cardinal Water |
Thủy Chính Yếu |
|
June 22-July 23 |
22 tháng 6-23 tháng 7 |
|
In Cancer, the Sun reaches its highest point of northern declination and then retreats, crablike, backward toward the ecliptic. It has gone as far as it can go. Cancer connotes containment. The duality of Gemini lingers in the matching whirls of its symbol, but the reciprocal relationship of the two curves forms a more dynamically integrated unit. |
Trong Cự Giải, Mặt Trời đạt đến điểm cao nhất của xích vĩ bắc rồi rút lui, như loài cua, lùi về phía hoàng đạo. Nó đã đi xa hết mức có thể. Cự Giải hàm ý sự chứa đựng. Tính nhị nguyên của Song Tử còn lưu lại trong hai vòng xoáy tương ứng của biểu tượng nó, nhưng mối quan hệ qua lại của hai đường cong tạo thành một đơn vị được tích hợp năng động hơn. |
|
The bi-polar circular glyph suggests the breasts and stomach. These Cancer-ruled organs are concerned with the functions of nourishment and bodily sustenance. As the representative of the negative, responsive principle in nature, Cancer is associated with housing, motherhood, the masses, the unconscious, all life-giving fluids, and the sea. The inturning spirals show the Cancerian proclivity to return to the womb, revert to the past, and retire into the subjective spaces of the psyche. |
Ký tự tròn lưỡng cực gợi đến ngực và dạ dày. Các cơ quan do Cự Giải chủ quản này liên quan đến những chức năng nuôi dưỡng và duy trì thân thể. Là đại diện cho nguyên lý âm, đáp ứng trong thiên nhiên, Cự Giải gắn liền với nhà cửa, mẫu tính, quần chúng, vô thức, mọi chất lỏng ban sự sống, và biển cả. Các xoắn ốc hướng vào trong cho thấy khuynh hướng của người Cự Giải là trở về tử cung, quay lại quá khứ và rút vào những không gian chủ quan của tâm psyche. |
|
The two vortices of this pictograph also represent male and female parents complementing each other within the sanctuary of the home. The domestically inclined Cancerian is vitally interested in all that occurs within his family environment and in the sphere of his special sympathies, even while presenting a hard shell of indifference to whatever transpires outside that charmed circle. His motto is, “Charity begins at home.” He is aptly characterized by the crab which carries its “shell-ter” wherever it goes. Prone to anxiety because of his inner vulnerability, he compensates by withdrawing into himself and reinforcing his outer defenses. It can be said, therefore, that members of this sign have two seemingly contradictory sides to their personalities. They can be avidly acquisitive and simultaneously selfsacrificing for the sake of those they love. |
Hai xoáy của hình biểu ý này cũng đại diện cho cha và mẹ bổ sung cho nhau trong thánh điện của mái nhà. Người Cự Giải thiên về gia đình quan tâm sống còn đến mọi điều xảy ra trong môi trường gia đình y và trong phạm vi những thiện cảm đặc biệt của y, ngay cả khi y phô ra một lớp vỏ cứng của sự thờ ơ trước bất cứ điều gì diễn ra bên ngoài vòng tròn đầy mê lực ấy. Phương châm của y là: “Lòng bác ái bắt đầu từ gia đình.” Y được đặc trưng rất thích hợp bởi con cua, mang “nơi trú ẩn bằng vỏ” của nó đi bất cứ đâu. Dễ lo âu vì sự dễ tổn thương bên trong, y bù đắp bằng cách rút vào chính mình và củng cố các phòng tuyến bên ngoài. Do đó, có thể nói rằng những người thuộc dấu hiệu này có hai mặt tưởng như mâu thuẫn trong phàm nhân của họ. Họ có thể ham chiếm hữu mãnh liệt, đồng thời tự hy sinh vì những người họ yêu thương. |
|
The strength of the crab’s attachments is shown by the size of its claws in proportion to the rest of its body. The tenacity of this crustacean is so compulsive that it will suffer destruction rather than relinquish its grip. Such indomitability is a close cousin to the stolid stubbornness of Taurus, but is more passively resigned. The difference is that earth (Taurus) holds together through sheer bulk and by pressing toward a gravitational center, while water (Cancer) yields unresistingly to every blow, flows into any container, yet remains as it always was. |
Sức mạnh của những gắn bó nơi con cua được biểu thị bởi kích thước càng của nó so với phần còn lại của thân thể. Sự bám giữ của loài giáp xác này cưỡng bách đến mức nó sẽ chịu hủy diệt hơn là buông tay. Tính bất khuất như thế là bà con gần với sự bướng bỉnh trơ lì của Kim Ngưu, nhưng mang tính thụ động cam chịu hơn. Khác biệt là đất (Kim Ngưu) giữ mọi thứ kết lại bằng khối lượng thuần túy và bằng cách ép về một trung tâm hấp dẫn, trong khi nước (Cự Giải) nhường theo mọi cú đánh mà không kháng cự, chảy vào bất cứ vật chứa nào, nhưng vẫn còn y như nó vốn là. |
|
Cancer is a paradox of strength through surrender, and its persistence makes a fair substitute for bravery. Although women have been called the weaker sex, the influence of the female parent is remarkably enduring, and the fortitude of a mother protecting her child is well documented in nature’s annals. Cancer is not generally regarded as a sign of abundant vitality. However, its biologically based responses to the emotion-fraught situations of family living draw in and hold others in a firmer grip than could be attained by the exercise of physical force. The endeavor to resist its oceanic maternal instinct can be as futile as fighting the waves of the sea, and those who have mastered the art of floating gently upon the everchanging tides of time and circumstance are generally willing to allow Mother Nature to have her way. |
Cự Giải là một nghịch lý của sức mạnh thông qua quy thuận, và sự bền bỉ của nó có thể thay thế khá tốt cho lòng can đảm. Dù phụ nữ từng được gọi là phái yếu, ảnh hưởng của người mẹ bền lâu một cách đáng kể, và sự kiên cường của người mẹ bảo vệ con mình đã được ghi nhận rõ ràng trong biên niên của thiên nhiên. Cự Giải thường không được xem là một dấu hiệu có sinh lực dồi dào. Tuy nhiên, những đáp ứng dựa trên sinh học của nó trước các tình huống gia đình đầy cảm xúc có thể thu hút và giữ người khác trong một sự kìm giữ chắc hơn điều có thể đạt được bằng việc vận dụng sức mạnh thể chất. Nỗ lực chống lại bản năng mẫu tử mênh mông như đại dương của nó có thể vô ích như chống lại sóng biển, và những ai đã làm chủ nghệ thuật nhẹ nhàng nổi trên những thủy triều luôn biến đổi của thời gian và hoàn cảnh thường sẵn lòng để Mẹ Thiên Nhiên làm theo cách của bà. |
LEO, the LION — SƯ TỬ, CON SƯ TỬ
|
Fixed Fire |
Hỏa Cố Định |
|
July 24-August 23 |
24 tháng 7-23 tháng 8 |
|
The symbol for Leo, like that for Cancer, comprises a double curve. However, the figure is unitary and opens out instead of closing in. Leo is self-expressive; Cancer is self-repressive. The former is extroverted; the latter, introverted. |
Biểu tượng của Sư Tử, giống như của Cự Giải, gồm một đường cong kép. Tuy nhiên, hình này là đơn nhất và mở ra ngoài thay vì khép vào trong. Sư Tử tự biểu hiện; Cự Giải tự kìm nén. Dấu hiệu trước hướng ngoại; dấu hiệu sau hướng nội. |
|
Leo’s glyph is drawn with a single bold stroke. Similarly, his character is all of a piece. In the evolutionary process, Leo represents the stage of psychological integration called “individuation.” It confers the ability to assert one’s own will and to proclaim, “I want to be me!” The Leonian is determined to be his own master and does not take kindly to those who impinge on his prerogatives. Having established himself as a separate entity, he endeavors to relate all that he perceives back to himself and to the circle of his personal interests. |
Ký tự của Sư Tử được vẽ bằng một nét đậm duy nhất. Tương tự, tính cách của y liền một khối. Trong tiến trình tiến hóa, Sư Tử đại diện cho giai đoạn tích hợp tâm lý gọi là “cá thể hóa”. Nó ban năng lực khẳng định ý chí riêng và tuyên bố: “Tôi muốn là chính tôi!” Người Sư Tử quyết tâm làm chủ chính mình và không dễ chấp nhận những ai xâm phạm các đặc quyền của y. Sau khi tự thiết lập như một thực thể riêng biệt, y cố gắng liên hệ mọi điều y tri nhận trở lại với chính mình và với vòng tròn những lợi ích cá nhân của y. |
|
This circle is analogous to the nimbus of the Sun rather than to the shell of a crab. Leo’s power is that of the solar fire which streams out into space without reservation. Its symbol suggests an upturned cup pouring forth its contents. Seasonally, Leo rules during midsummer when the Sun’s rays are most intense. |
Vòng tròn này tương tự vầng hào quang của Mặt Trời hơn là chiếc vỏ của con cua. Quyền năng của Sư Tử là quyền năng của lửa mặt trời tuôn chảy vào không gian không dè dặt. Biểu tượng của nó gợi đến chiếc chén lật ngửa đang rót ra nội dung bên trong. Theo mùa, Sư Tử chủ quản giữa mùa hè, khi các tia Mặt Trời mãnh liệt nhất. |
|
Lordly Leo loves to exhibit his generosity with grandiose gestures. His sovereign spirit can be characterized by the words magnanimous, magnificent, and magniloquent. The Latin root magna is reminiscent of the magi who were kings bearing gifts for the Christ child. Financially, the Leonian likes to think in terms of large round sums, and he often becomes a magnate in business and industry. |
Sư Tử vương giả thích biểu lộ sự hào phóng của mình bằng những cử chỉ lớn lao. Tinh thần chủ quyền của y có thể được đặc trưng bằng các từ cao thượng, tráng lệ và hùng biện. Gốc La-tinh magna gợi nhớ đến các đạo sĩ, những vị vua mang quà đến cho Hài nhi Christ. Về tài chính, người Sư Tử thích suy nghĩ theo những khoản tiền tròn lớn, và y thường trở thành một ông trùm trong kinh doanh và công nghiệp. |
|
The pictogram for this sign has been compared to the proudly swishing tail of the lion, king of beasts. It also resembles the curve of his sweeping mane. (Leo people like to cultivate mane-like heads of hair.) A group of lions is called “a pride,” and pride is one of Leo’s outstanding traits. The Leonian often becomes “a social lion,” and is seldom averse to being lionized by his admirers. His regality may be displayed by the grand manner in which he wields his influence over the subjects he rules. His real mission, however, is to exercise the will to attain dominion over his own instincts and desires. |
Hình biểu ý của dấu hiệu này từng được so sánh với chiếc đuôi ve vẩy kiêu hãnh của sư tử, vua các loài thú. Nó cũng giống đường cong của bờm sư tử phất rộng. (Người Sư Tử thích nuôi mái tóc giống bờm.) Một nhóm sư tử được gọi là “bầy kiêu hãnh”, và kiêu hãnh là một trong những nét nổi bật của Sư Tử. Người Sư Tử thường trở thành “một sư tử xã hội”, và hiếm khi phản đối việc được những người ngưỡng mộ mình tôn sùng. Tính vương giả của y có thể được biểu lộ qua phong thái lớn lao mà y dùng để vận dụng ảnh hưởng của mình đối với những đối tượng y cai quản. Tuy nhiên, sứ mệnh thật sự của y là vận dụng ý chí để đạt quyền thống trị trên chính bản năng và dục vọng của mình. |
|
The Sun is the heart or core of the planetary scheme. Similarly, Leo, the sign of the Sun, is associated with the heart in the body, the nucleus of a cell, and the pivotal point in any system. The word “courageous,” which epitomizes the indomitability of Leo, derives from the Latin cor, meaning heart. Most Leonians like to behave in a hearty or heartfelt way. If not duly appreciated they will feel “heartbroken” or overcompensate by showing off. This glyph has been likened to a heart, but it also suggests the idea of centrality which makes these individuals the most intensely self-aware members of the zodiac. |
Mặt Trời là trái tim hay lõi của hệ thống hành tinh. Tương tự, Sư Tử, dấu hiệu của Mặt Trời, gắn liền với trái tim trong thân thể, nhân của tế bào, và điểm then chốt trong bất cứ hệ thống nào. Từ “can đảm”, tóm kết tính bất khuất của Sư Tử, bắt nguồn từ tiếng La-tinh cor, nghĩa là trái tim. Hầu hết người Sư Tử thích hành xử một cách nồng hậu hoặc chân thành. Nếu không được trân trọng đúng mức, họ sẽ cảm thấy “đau lòng” hoặc bù trừ quá mức bằng cách phô trương. Ký tự này từng được ví với trái tim, nhưng nó cũng gợi ý niệm về tính trung tâm, điều khiến những cá nhân này trở thành các thành viên tự nhận thức mãnh liệt nhất trong Hoàng đạo. |
|
|
|
VIRGO, the VIRGIN — XỬ NỮ, TRINH NỮ
|
Mutable Earth |
Thổ Biến Đổi |
|
August 24-September 23 |
24 tháng 8-23 tháng 9 |
|
Each sign contrasts with its predecessor. Where Leo is outgoing and demonstrative, Virgo is introspective and discreet. Its assets are modesty and chastity, its liabilities fussiness and prudishness. |
Mỗi dấu hiệu tương phản với dấu hiệu đi trước nó. Nơi Sư Tử hướng ra ngoài và biểu lộ, Xử Nữ hướng nội và kín đáo. Tài sản của nó là khiêm tốn và trinh khiết; khiếm khuyết của nó là cầu kỳ và đoan trang quá mức. |
|
The glyph for Virgo represents the female generative organs, closed as in the virgin state. It resembles the letter “M” which stands for Mary (the Virgin), maiden, medicine, measure, and meticulousness. “M” also stands for mind, showing that the major purpose of this sign is to submit all matters (and matter) to a scrupulous analysis, with refinement and purification as the goal. Hence “the virgin” is remarkable for her highly developed faculty of discrimination, which can manifest itself less agreeably as aloofness, squeamishness, and pettiness—all undesirable attributes of the proverbial old maid. Virgo aspires to a standard of purity and perfection which few mortals can hope to attain. |
Ký tự của Xử Nữ đại diện cho các cơ quan sinh dục nữ, khép kín như trong trạng thái trinh nữ. Nó giống chữ “M”, tượng trưng cho Mary (Đức Trinh Nữ), thiếu nữ, y học, đo lường và tính tỉ mỉ. “M” cũng tượng trưng cho thể trí, cho thấy mục đích chính của dấu hiệu này là đưa mọi vấn đề (và vật chất) vào một sự phân tích tỉ mỉ, với mục tiêu là tinh luyện và thanh lọc. Vì thế, “trinh nữ” nổi bật bởi năng lực phân biện phát triển cao, vốn có thể biểu lộ kém dễ chịu hơn thành sự xa cách, ghê sợ quá mức và nhỏ nhen—tất cả đều là những thuộc tính không đáng mong muốn của bà cô già trong tục ngữ. Xử Nữ hướng tới một chuẩn mực thanh khiết và hoàn hảo mà ít người phàm có thể hy vọng đạt tới. |
|
Virgo is symbolized by a maiden carrying a sheaf of wheat—a reminder that people of this temperament are adept at separating the wheat from the chaff. Wheat cannot be eaten in its natural form but must be threshed to detach the particles of grain which are then ground and cooked. Although wheat grows in all parts of the world, it has never been discovered in its wild state and has defied every attempt to trace its origin. Similarly, most Virgoans love nature, but only when cultivated and not in its primeval luxuriance. |
Xử Nữ được biểu tượng hóa bằng một thiếu nữ mang bó lúa mì—nhắc rằng những người thuộc khí chất này rất thành thạo trong việc tách lúa khỏi trấu. Lúa mì không thể ăn ở dạng tự nhiên của nó mà phải được đập để tách các hạt, rồi chúng được xay và nấu chín. Dù lúa mì mọc ở mọi nơi trên thế giới, người ta chưa bao giờ phát hiện nó trong trạng thái hoang dã và nó đã thách thức mọi nỗ lực truy nguyên nguồn gốc. Tương tự, hầu hết người Xử Nữ yêu thiên nhiên, nhưng chỉ khi thiên nhiên được canh tác, chứ không phải trong vẻ sum suê nguyên sơ của nó. |
|
The segregated compartments into which this pictograph is divided suggest the sign’s tendency to fractionalize every aspect of life, an inclination so pronounced that Virgo has been called “the filing clerk of the zodiac.” Anatomically, the principle of analysis describes the function of the pancreas, intestines, and digestive organs, which split up and reduce food to its elementary components in order that the body may select that which serves its requirements and reject whatever it deems unfit for consumption. These assimilative occupations may seem humble when compared to the central task of the pulsating heart, but they are essential in maintaining the general well-being of the organism. |
Các ngăn tách biệt mà hình biểu ý này được chia thành gợi đến khuynh hướng của dấu hiệu này là phân đoạn mọi phương diện của đời sống, một khuynh hướng rõ rệt đến mức Xử Nữ đã được gọi là “thư ký lưu hồ sơ của Hoàng đạo”. Về mặt giải phẫu, nguyên lý phân tích mô tả chức năng của tụy, ruột và các cơ quan tiêu hóa, vốn phân tách và giản lược thức ăn thành các thành phần cơ bản để thân thể có thể chọn cái phục vụ nhu cầu của nó và loại bỏ bất cứ điều gì nó cho là không thích hợp để tiêu thụ. Những hoạt động đồng hóa này có thể có vẻ khiêm nhường khi so với nhiệm vụ trung tâm của trái tim đang đập, nhưng chúng thiết yếu trong việc duy trì sự an lạc chung của cơ thể. |
|
The Sun is in Virgo during the growing season when the fruits of the earth are garnered, processed, and stored. This is the busy time of year, and no one toils more diligently than the Virgoan workers of the world. As the sign of employment, Virgo is associated with diet and health, serving as a reminder that most people must undertake some form of daily labor in order to feed themselves and survive. Virgoan jobs can be repetitive and dull, but the industrious attention to duty fostered by this sign anticipates the possible privations of the long winter ahead. Proletarian and utilitarian though it may be, it opens the way for a fresh cycle of experience in the second half of the zodiac. |
Mặt Trời ở Xử Nữ trong mùa sinh trưởng, khi hoa trái của đất được thu gom, chế biến và cất trữ. Đây là thời điểm bận rộn trong năm, và không ai lao động cần mẫn hơn những người thợ Xử Nữ của thế giới. Là dấu hiệu của việc làm, Xử Nữ gắn liền với chế độ ăn uống và sức khỏe, như một lời nhắc rằng phần lớn con người phải đảm nhận một hình thức lao động hằng ngày nào đó để nuôi sống bản thân và tồn tại. Công việc kiểu Xử Nữ có thể lặp đi lặp lại và buồn tẻ, nhưng sự chú tâm siêng năng vào bổn phận do dấu hiệu này nuôi dưỡng báo trước những thiếu thốn có thể xảy ra trong mùa đông dài phía trước. Dù có tính vô sản và thực dụng, nó vẫn mở đường cho một chu kỳ kinh nghiệm mới trong nửa sau của Hoàng đạo. |
LIBRA, the SCALES — THIÊN BÌNH, CÁI CÂN
|
Cardinal Air |
Khí chính yếu |
|
September 24-October 23 |
Ngày 24 tháng Chín đến ngày 23 tháng Mười |
|
Libra is the sunset sign. Its glyph represents the Sun sinking below the horizon, half seen and half unseen. As the Sun passes through this midway zone at the autumnal equinox, days and nights are of equal length. Literally, nature reaches a point of balance. Libra deals, therefore, with the complementary halves of life and their joining in partnership. |
Thiên Bình là dấu hiệu hoàng hôn. Ký hiệu của nó tượng trưng cho Mặt Trời đang chìm xuống dưới đường chân trời, nửa thấy được và nửa khuất đi. Khi Mặt Trời đi qua vùng trung điểm này vào điểm thu phân, ngày và đêm dài bằng nhau. Theo nghĩa đen, thiên nhiên đạt đến một điểm cân bằng. Do đó, Thiên Bình liên quan đến hai nửa bổ sung của đời sống và sự kết hợp của chúng trong quan hệ đối tác. |
|
Libra’s symbol is the scales—the balance of justice which weighs and considers the demands of opposing factions. Scales represent the laws of society which conciliate contending parties and effect compromises based on the principle of equal rights. Libra’s balance also refers to the laws of harmony and proportion which make this the sign of artistic sensitivity. Ideally, culture-conscious Libra reaps the benefits for which Virgo was willing to work and serve. When the Libran energies are misused, they show the disharmony which results when justice has not been done. Therefore, the sign rules war as well as peace, and enemies as well as friends. |
Biểu tượng của Thiên Bình là cái cân—cán cân công lý cân đo và xét đến những đòi hỏi của các phe đối lập. Cái cân tượng trưng cho các luật lệ của xã hội, vốn hòa giải những bên tranh chấp và tạo ra những thỏa hiệp dựa trên nguyên tắc quyền bình đẳng. Sự cân bằng của Thiên Bình cũng chỉ các luật hài hòa và tỷ lệ, khiến đây là dấu hiệu của sự nhạy cảm nghệ thuật. Lý tưởng mà nói, Thiên Bình có ý thức văn hóa gặt hái những lợi ích mà Xử Nữ đã sẵn lòng làm việc và phụng sự để có được. Khi các năng lượng Thiên Bình bị dùng sai, chúng biểu lộ sự bất hòa phát sinh khi công lý chưa được thực thi. Vì vậy, dấu hiệu này chủ quản chiến tranh cũng như hòa bình, kẻ thù cũng như bạn bè. |
|
In Latin, the word “liber” means book. This indicates the tendency of justice to operate “by the book.” The pictograph for the sign resembles an open book lying face down. At first, Libra seems contradictory since it refers to the regulation of conduct and also to the social graces. It denotes both law and love. Ultimately, however, it shows that the deeper purpose of all relationships is to demonstrate that love is the law of the universe. |
Trong tiếng La Tinh, từ “liber” có nghĩa là sách. Điều này cho thấy khuynh hướng của công lý vận hành “theo sách vở”. Hình họa của dấu hiệu này giống một quyển sách mở đang úp mặt xuống. Thoạt đầu, Thiên Bình dường như mâu thuẫn, vì nó vừa chỉ sự điều chỉnh hành vi vừa chỉ những nét duyên dáng xã hội. Nó biểu thị cả luật pháp lẫn tình yêu. Tuy nhiên, rốt cuộc, nó cho thấy mục đích sâu xa hơn của mọi mối quan hệ là chứng minh rằng tình yêu là luật của vũ trụ. |
|
Anatomically, Libra refers to the endocrine system which serves as lawgiver for the entire organism, holding all parts in balance and keeping them proportionate to one another. Libra also rules the kidneys which mediate between Virgo’s assimilative and Scorpio’s eliminative functions, while regulating the liquid content of the body. |
Về mặt giải phẫu, Thiên Bình chỉ hệ nội tiết, vốn đóng vai trò nhà lập pháp cho toàn bộ cơ thể, giữ mọi bộ phận trong cân bằng và khiến chúng tương xứng với nhau. Thiên Bình cũng chủ quản thận, cơ quan trung gian giữa chức năng đồng hóa của Xử Nữ và chức năng đào thải của Bọ Cạp, đồng thời điều hòa lượng chất lỏng trong thân thể. |
|
Libra’s symbol is shaped like a yoke, a reminder that this is the sign of marital and professional partners who must function as a team if they are to accomplish their purpose. Marriage is a union sanctified by formal decree. Leo would as soon have a love affair. Virgo knows better. But ceremonious Libra feels compelled to dignify its liaisons with legal contracts officially signed and sealed. |
Biểu tượng của Thiên Bình có hình dạng như một cái ách, nhắc rằng đây là dấu hiệu của các bạn đời và đối tác nghề nghiệp, những người phải vận hành như một đội nếu muốn hoàn thành mục đích của mình. Hôn nhân là một sự kết hợp được thánh hóa bằng sắc lệnh chính thức. Sư Tử thà có một cuộc tình. Xử Nữ thì biết rõ hơn. Nhưng Thiên Bình trọng nghi thức cảm thấy buộc phải làm cho các mối liên hệ của mình trở nên trang trọng bằng những hợp đồng pháp lý được ký tên và đóng dấu chính thức. |
|
While the first half of the zodiac deals primarily with individual unfoldment, the second half concerns the evolution of the collective consciousness and emphasizes the structuring of relationships. Libra introduces this social side of the zodiac with fitting decorum. Being new to the rites and rituals of the organized establishment, Libra can overdo its insistence upon the amenities of behavior. Yet this desire that convention be honored ensures the peace of mind and harmony of surroundings which the Libran holds so dear. |
Trong khi nửa đầu của Hoàng đạo chủ yếu liên quan đến sự khai mở cá nhân, nửa sau liên quan đến sự tiến hóa của tâm thức tập thể và nhấn mạnh việc cấu trúc các mối quan hệ. Thiên Bình mở đầu phương diện xã hội này của Hoàng đạo với sự trang nhã thích hợp. Vì còn mới đối với những nghi lễ và nghi thức của cơ chế tổ chức, Thiên Bình có thể nhấn mạnh quá mức vào phép lịch sự trong hành vi. Tuy vậy, mong muốn quy ước được tôn trọng này bảo đảm sự an tâm và hài hòa của môi trường xung quanh, những điều mà người Thiên Bình rất trân quý. |
|
When the Sun enters Libra, the year is half gone. Time is becoming more valuable. Therefore, the native of this sign takes special care not to waste his precious hours and days making mistakes which will ultimately have to be rectified. |
Khi Mặt Trời đi vào Thiên Bình, một nửa năm đã qua. Thời gian trở nên quý giá hơn. Vì vậy, người sinh dưới dấu hiệu này đặc biệt cẩn trọng để không lãng phí những giờ ngày quý báu của mình vào những sai lầm mà cuối cùng sẽ phải sửa chữa. |
SCORPIO, the SCORPION and the EAGLE — HỔ CÁP, CON BỌ CẠP và ĐẠI BÀNG
|
Fixed Water |
Thủy cố định |
|
October 24-November 22 |
Ngày 24 tháng Mười đến ngày 22 tháng Mười Một |
|
Scorpio’s symbol is unabashedly phallic. The generative organs represented by its pictograph are no longer closed off, as in Virgo, but are potent and active. In contrast with Virgo’s preoccupation with propriety, and Libra’s need for the niceties of life, Scorpio ruthlessly eliminates nonessentials and penetrates to the depths of things. Natives of this sign have a profound interest in the fundamentally mysterious issues of sex, death, and the afterlife. They harbor strong subterranean drives which set up powerful currents of attraction and repulsion, and this energy must find an outlet. The dual symbolism of the crawling scorpion and the soaring eagle suggests the different levels of expression of the Scorpio-ruled libidinal forces which underlie the sexual instinct. |
Biểu tượng của Bọ Cạp rõ ràng mang tính sinh thực khí nam. Các cơ quan sinh sản được hình họa của nó biểu thị không còn khép kín như trong Xử Nữ, mà mạnh mẽ và hoạt động. Trái với mối bận tâm của Xử Nữ về sự đúng mực, và nhu cầu của Thiên Bình đối với những nét tinh tế của đời sống, Bọ Cạp loại bỏ không khoan nhượng những gì không thiết yếu và thâm nhập vào chiều sâu của sự vật. Những người sinh dưới dấu hiệu này có mối quan tâm sâu sắc đến các vấn đề căn bản đầy bí ẩn của tính dục, cái chết và đời sống sau khi chết. Họ chứa đựng những động lực ngầm mạnh mẽ tạo nên các dòng hấp dẫn và đẩy lùi mãnh liệt, và năng lượng này phải tìm được lối thoát. Biểu tượng kép của con bọ cạp bò sát đất và đại bàng bay vút lên gợi ý các cấp độ biểu hiện khác nhau của những lực dục năng do Bọ Cạp chủ quản, nằm bên dưới bản năng tính dục. |
|
Scorpio resembles Virgo, not only in the way its glyph is drawn, but also in its predisposition to take things apart and extract the vital element. The signs diverge in that Scorpio is capable of relentlessly eliminating as waste whatever Libra has weighed in her scales, judged, and found superfluous. Virgo, on the other side of the scales, is consummately careful to avoid offense and often prefers to skirt issues that might prove controversial. As an autumnal sign, Scorpio is associated with the dying part of the year when the life-force of the plant retreats to its roots and into the seed. |
Bọ Cạp giống Xử Nữ, không chỉ ở cách ký hiệu của nó được vẽ, mà còn ở khuynh hướng tháo rời sự vật và rút ra yếu tố sống còn. Hai dấu hiệu khác nhau ở chỗ Bọ Cạp có khả năng không ngừng loại bỏ như chất thải bất cứ điều gì mà Thiên Bình đã cân trên cán cân của mình, phán xét và thấy là thừa thãi. Xử Nữ, ở phía bên kia của cán cân, hết sức cẩn trọng để tránh gây xúc phạm và thường thích né tránh những vấn đề có thể gây tranh cãi. Là một dấu hiệu mùa thu, Bọ Cạp gắn liền với phần đang tàn của năm, khi sinh lực của cây rút về rễ và vào hạt giống. |
|
Scorpio has a grim reputation because of the death-dealing sting in the scorpion’s tail, and also because it rules the organs of sex and elimination, at the tail end of the body. Excrement is the despised refuse of the body, while the seminal fluid is its most precious product. Similarly, there are two contrasting types of Scorpians. Those who respond to the coarser vibrations of the sign can be cruel, selfish, and sensual—“stung” by their own passions—while evolved types are represented by the eagle which soars higher than any earthly creature. Mythologically, this bird is portrayed by the phoenix which, after a period of self-immolation, rises reborn from its ashes. Scorpio denotes degeneration and regeneration, death and resurrection. |
Bọ Cạp có tiếng đáng sợ vì cái nọc gây chết chóc ở đuôi bọ cạp, và cũng vì nó chủ quản các cơ quan tính dục và đào thải, ở phần cuối của thân thể. Phân là chất thải bị khinh ghét của thân thể, trong khi tinh dịch là sản phẩm quý giá nhất của nó. Tương tự, có hai kiểu người Bọ Cạp tương phản. Những người đáp ứng với các rung động thô trược hơn của dấu hiệu này có thể tàn nhẫn, ích kỷ và nhục dục—bị “chích” bởi chính đam mê của mình—trong khi các kiểu đã tiến hóa được đại diện bởi đại bàng bay cao hơn bất cứ sinh vật trần thế nào. Về mặt thần thoại, loài chim này được mô tả bằng phượng hoàng, sau một thời kỳ tự thiêu, tái sinh vươn lên từ tro tàn của mình. Bọ Cạp biểu thị sự thoái hóa và tái sinh, cái chết và phục sinh. |
|
The glyph for Scorpio, like that for Virgo, resembles an “M.” This “M” stands for money. Scorpio, like its polar opposite Taurus, concerns basic resources, being representative of the finances of the partnership entered into in Libra. The Scorpian’s resourcefulness and reserve make him an excellent businessman. He is often an efficient manager of other people’s funds, for he respects money as one of the fundamental powers of the social organism. (Appropriately, groups which handle large sums of money are called foundations.) Therefore, the eagle of Scorpio is imprinted on every United States dollar, half-dollar, and quarter. |
Ký hiệu của Bọ Cạp, giống như của Xử Nữ, trông giống chữ “M”. Chữ “M” này tượng trưng cho tiền bạc. Bọ Cạp, giống như đối cực Kim Ngưu của nó, liên quan đến các nguồn lực căn bản, vì nó đại diện cho tài chính của quan hệ đối tác được thiết lập trong Thiên Bình. Tài xoay xở và sự kín đáo của người Bọ Cạp khiến y trở thành một doanh nhân xuất sắc. Y thường là người quản lý hiệu quả tiền bạc của người khác, vì y tôn trọng tiền bạc như một trong những quyền lực căn bản của cơ thể xã hội. Thích hợp thay, các nhóm xử lý những khoản tiền lớn được gọi là quỹ. Vì vậy, đại bàng của Bọ Cạp được in trên mỗi đồng đô la, nửa đô la và đồng hai mươi lăm xu của Hoa Kỳ. |
|
Libra, sign of war and peace, is symbolized by Justice holding a pair of scales in one hand and a sword in the other. The sword implies that even the conciliatory Libran will take aggressive action when affairs slip too far out of balance. Scorpio’s eagle also carries the symbols of war and peace in the form of a sheaf of barbed arrows and an olive branch, but the eagle looks away from the arrows and toward the branch. Thus, the transformed Scorpian will struggle to the death for the sake of the values he espouses, even while his eyes are fixed on the ideal of peace. |
Thiên Bình, dấu hiệu của chiến tranh và hòa bình, được tượng trưng bởi Công Lý cầm một đôi cân trong một tay và một thanh kiếm trong tay kia. Thanh kiếm hàm ý rằng ngay cả người Thiên Bình có xu hướng hòa giải cũng sẽ hành động quyết liệt khi sự việc trượt quá xa khỏi cân bằng. Đại bàng của Bọ Cạp cũng mang các biểu tượng của chiến tranh và hòa bình dưới hình thức một bó mũi tên có ngạnh và một cành ô liu, nhưng đại bàng nhìn tránh khỏi các mũi tên và hướng về cành cây. Như vậy, người Bọ Cạp đã được chuyển hóa sẽ chiến đấu đến chết vì các giá trị mà y tán thành, ngay cả khi mắt y vẫn hướng vào lý tưởng hòa bình. |
SAGITTARIUS, the ARCHER — NHÂN MÃ, CUNG THỦ
|
Mutable Fire |
Hỏa biến đổi |
|
November 23-December 21 |
Ngày 23 tháng Mười Một đến ngày 21 tháng Mười Hai |
|
In Sagittarius, life opens out in a new dimension. As winter closes in and nights outlast the days, a man must seek new vistas of the mind. He may turn to religious and philosophical pursuits in compensation for his less frequent contact with nature. If not intellectually inclined, he may engage in sports, games, and travel. These characteristically Sagittarian activities imply goal-directedness. Therefore, the symbol of this sign is the upward-pointing arrow of the archer with a piece of the bow included. This is the shaft of aspiration directed by understanding. |
Trong Nhân Mã, đời sống mở ra trong một chiều kích mới. Khi mùa đông khép lại và đêm dài hơn ngày, con người phải tìm kiếm những chân trời mới của thể trí. Y có thể hướng sang các theo đuổi tôn giáo và triết học để bù đắp cho việc tiếp xúc ít thường xuyên hơn với thiên nhiên. Nếu không thiên về trí tuệ, y có thể tham gia thể thao, trò chơi và du lịch. Những hoạt động đặc trưng của Nhân Mã này hàm ý sự hướng đến mục tiêu. Vì vậy, biểu tượng của dấu hiệu này là mũi tên hướng lên của cung thủ, kèm theo một phần của cây cung. Đây là mũi tên của khát vọng được định hướng bởi sự hiểu biết. |
|
Sagittarians have a reputation for being high-minded, just as Scorpians have a reputation for getting down to the gritty facts of life. Although no sign of the zodiac should be considered superior to any other, the Sagittarian virtues of devotion to truth, pursuit of knowledge, and the maintenance of elevated moral standards are popularly admired. The faults of the sign stem from an excess rather than a deficiency of exuberance and may include a tendency to proselytize. Over-optimism, especially with regard to enterprises of a speculative nature, such as horse racing or playing the stock market, can scatter the resources so jealously guarded in the previous sign. |
Người Nhân Mã nổi tiếng là có lý tưởng cao, cũng như người Bọ Cạp nổi tiếng là đi thẳng xuống những sự kiện gai góc của đời sống. Dù không dấu hiệu nào của Hoàng đạo nên được xem là cao hơn dấu hiệu nào khác, những đức tính Nhân Mã như tận hiến cho chân lý, theo đuổi tri thức và duy trì các tiêu chuẩn đạo đức cao vẫn thường được ngưỡng mộ. Các lỗi lầm của dấu hiệu này phát sinh từ sự dư thừa hơn là thiếu hụt của niềm hăng hái, và có thể bao gồm khuynh hướng cải đạo người khác. Lạc quan quá mức, đặc biệt đối với những công việc có tính đầu cơ như đua ngựa hoặc chơi thị trường chứng khoán, có thể làm phân tán các nguồn lực đã được dấu hiệu trước đó canh giữ rất ghen tuông. |
|
Sagittarius is both teacher and preacher. As a teacher, he tries to raise his students’ sights to higher verities; as a preacher he realizes that men must be motivated to follow the paths of righteousness. This underlying motive power is symbolized by the equine body of the horse. In mythology, the sign is represented by the wise centaur, Chiron, said to have been the teacher of Achilles, Asclepius, and other ancient heroes. The centaur has immense power in his loins, but he looks forward and aims his bow toward the heavens. The flight of the arrow is but the final outcome of a series of actions. The horse’s body, the man’s arm, and the bow are all engaged in releasing the shaft which flies out of sight. |
Nhân Mã vừa là thầy giáo vừa là nhà giảng đạo. Với tư cách thầy giáo, y cố nâng tầm nhìn của học trò lên những chân lý cao hơn; với tư cách nhà giảng đạo, y nhận ra rằng con người phải được thúc đẩy để đi theo các con đường chính trực. Động lực nền tảng này được tượng trưng bởi thân ngựa. Trong thần thoại, dấu hiệu này được đại diện bởi nhân mã hiền triết Chiron, được cho là thầy của Achilles, Asclepius và những anh hùng cổ đại khác. Nhân mã có sức mạnh lớn lao ở phần hông, nhưng y nhìn về phía trước và nhắm cung lên trời. Đường bay của mũi tên chỉ là kết quả cuối cùng của một chuỗi hành động. Thân ngựa, cánh tay người và cây cung đều cùng tham gia vào việc phóng mũi tên bay khuất tầm mắt. |
|
Like the arrow, Sagittarians want to ascend, and like the bow, they can be high- strung. As soon as they spy a new vision, they shoot forth a volley of enthusiastic words in order to attract attention to their discovery. Unlike Scorpians, who keep their ideas private until they have been thoroughly substantiated, Sagittarians make the transition from fact to theory with lightning speed and, once the lightning has struck, they listen eagerly for the thunder of applause. |
Giống mũi tên, người Nhân Mã muốn vươn lên; và giống cây cung, họ có thể căng thẳng cao độ. Ngay khi thoáng thấy một linh ảnh mới, họ bắn ra một loạt lời nói đầy nhiệt tình để thu hút sự chú ý đến khám phá của mình. Khác với người Bọ Cạp, vốn giữ kín ý tưởng cho đến khi chúng được chứng minh đầy đủ, người Nhân Mã chuyển từ sự kiện sang lý thuyết với tốc độ chớp nhoáng, và một khi tia chớp đã đánh xuống, họ háo hức lắng nghe tiếng sấm của tràng vỗ tay. |
|
Sagittarius rules the thighs which constitute man’s primary means of locomotion. Virtually all members of this sign love to walk, run, or travel. New scenery brings them new ideas. The centaur’s four legs enable him to move about freely, while his modern counterpart may be almost as attached to the four wheels of his automobile. Wherever he ranges he wants to journey with a destination in mind. First, he must gain mobility, but his ultimate purpose is to achieve the wisdom to understand whither he goes. |
Nhân Mã chủ quản đùi, bộ phận cấu thành phương tiện di chuyển chính yếu của con người. Hầu như mọi người thuộc dấu hiệu này đều thích đi bộ, chạy hoặc du lịch. Cảnh vật mới đem đến cho họ ý tưởng mới. Bốn chân của nhân mã giúp y đi lại tự do, trong khi đối ứng hiện đại của y có thể gần như gắn bó với bốn bánh xe ô tô của mình. Dù đi đến đâu, y vẫn muốn du hành với một đích đến trong trí. Trước hết, y phải đạt được sự cơ động, nhưng mục đích tối hậu của y là đạt được minh triết để hiểu mình đi về đâu. |
CAPRICORN, the GOAT — MA KẾT, CON DÊ
|
Cardinal Earth |
Thổ chính yếu |
|
December 22-January 20 |
Ngày 22 tháng Mười Hai đến ngày 20 tháng Một |
|
Ideally, Capricorn practices what Sagittarius preaches, for its purpose is to concretize abstract ideas and give tangible expression to the centaur’s vision. As the last of the trinity of earth signs, it signifies the completion of earthly experience. |
Lý tưởng mà nói, Ma Kết thực hành điều Nhân Mã giảng dạy, vì mục đích của nó là cụ thể hóa những ý tưởng trừu tượng và trao cho linh ảnh của nhân mã một biểu hiện hữu hình. Là dấu hiệu cuối cùng trong bộ ba dấu hiệu hành thổ, nó biểu thị sự hoàn tất của kinh nghiệm trần thế. |
|
Capricorn’s glyph is obscure, although some see in it a resemblance to the rounded kneecap, the part of the body this sign is said to rule. Despite his ambitious nature, the Capricornian cannot reach his goal until he learns to acknowledge something higher than self. He must bend his knees to a mightier power, even as he would have others kneel before him. Kneeling is the posture considered most suitable for prayer in many religions, while curtsying and other forms of genuflection are all manifestations of the principle of obeisance implicit in Capricorn. |
Ký hiệu của Ma Kết khá khó hiểu, dù một số người thấy trong đó nét giống xương bánh chè tròn, bộ phận của thân thể mà dấu hiệu này được cho là chủ quản. Bất chấp bản chất tham vọng của mình, người Ma Kết không thể đạt mục tiêu cho đến khi y học cách thừa nhận một điều gì cao hơn bản ngã. Y phải quỳ gối trước một quyền năng hùng mạnh hơn, ngay cả khi y muốn người khác quỳ trước mình. Quỳ là tư thế được xem là thích hợp nhất cho cầu nguyện trong nhiều tôn giáo, trong khi động tác nhún gối chào và các hình thức gập gối khác đều là các biểu hiện của nguyên lý tôn kính hàm chứa trong Ma Kết. |
|
In addition to the knees, Capricorn has general dominion over the skin, ligaments, joints, bones, nails, teeth and other ossified parts of the body. But the knees and backbone are particularly characteristic of this sign because they enable a man to raise and lower himself at will. |
Ngoài đầu gối, Ma Kết có quyền chủ quản tổng quát đối với da, dây chằng, khớp, xương, móng, răng và những phần hóa xương khác của thân thể. Nhưng đầu gối và xương sống đặc biệt tiêu biểu cho dấu hiệu này, vì chúng giúp con người nâng mình lên và hạ mình xuống theo ý muốn. |
|
Capricorn is the sign of the executive who is determined to rise to the peak of his profession. He will work unremittingly until he has reached the summit—or the end of his tether. The manner of a Capricornian who is not expressing the better side of his nature can be cold, superior, and patronizing toward those he considers beneath him, and overly solicitous and obsequious toward those he acknowledges as his “betters.” Even the more evolved types are notable for their cool and controlled self-containment. This is truly a Janus (January) sign, representing a summation of the achievements of the past, on one side, and serving as a point of departure for greater things to come, on the other. Chronologically, Capricorn links the old and new years. |
Ma Kết là dấu hiệu của nhà điều hành quyết tâm vươn lên đỉnh cao nghề nghiệp của mình. Y sẽ làm việc không ngừng cho đến khi đạt tới đỉnh—hoặc đến tận cùng sức chịu đựng. Phong thái của một người Ma Kết không biểu hiện phương diện tốt đẹp hơn trong bản chất của mình có thể lạnh lùng, tự cao và kẻ cả với những người y xem là thấp hơn mình, đồng thời quá sốt sắng và khúm núm với những người y thừa nhận là “bề trên” của mình. Ngay cả các kiểu đã tiến hóa hơn cũng nổi bật bởi sự tự chế lạnh tĩnh và có kiểm soát. Đây thật sự là một dấu hiệu Janus, tháng Một, đại diện một mặt cho sự tổng kết những thành tựu của quá khứ, và mặt khác làm điểm khởi đầu cho những điều lớn lao hơn sắp đến. Theo thời gian, Ma Kết nối liền năm cũ và năm mới. |
|
Both Christ and Caesar are said to have been born in Capricorn. The Caesar image signifies the triumph of the old order when the year is at its end. It represents the ultimate crystallization of the social system into rigidly structured institutions enforcing duty and discipline. The child in Mary’s arms holds the promise of the new year, a promise substantiated by the fact that after the winter solstice on December twenty-first, darkness is no longer victorious. The days have started to lengthen and will continue to increase until nature bursts forth once more in springtime splendor. Although Capricorn is reputed to be a wintry, pessimistic sign, its natives have an abiding faith in themselves and in the outcome of their endeavors. |
Cả Đức Christ và Caesar được cho là sinh trong Ma Kết. Hình ảnh Caesar biểu thị chiến thắng của trật tự cũ khi năm đi đến hồi kết. Nó đại diện cho sự kết tinh tối hậu của hệ thống xã hội thành những định chế có cấu trúc cứng nhắc, áp đặt bổn phận và kỷ luật. Hài nhi trong vòng tay Đức Mẹ Maria giữ lời hứa của năm mới, một lời hứa được chứng thực bởi sự kiện rằng sau đông chí ngày hai mươi mốt tháng Mười Hai, bóng tối không còn chiến thắng nữa. Ngày đã bắt đầu dài ra và sẽ tiếp tục tăng lên cho đến khi thiên nhiên lại bùng nở trong vẻ huy hoàng mùa xuân. Dù Ma Kết nổi tiếng là một dấu hiệu mùa đông, bi quan, những người sinh dưới dấu hiệu này có một niềm tin bền bỉ vào bản thân và vào kết quả của các nỗ lực của mình. |
|
Capricorn’s mascot is the mountain goat who sure-footedly ascends the crags where others dare not venture. He can also be the long-faced scapegoat tethered to a peg, patient and persevering, but bound by inexorable fate. This sign’s durability includes the ability to endure prolonged hard work. Eventually, however, persistence is rewarded and obstacles are overcome. The well-prepared Capricornian knows that his organizing talent is needed, that he can deliver the goods, and that in time he is bound to achieve the position he deserves. |
Linh vật của Ma Kết là dê núi, loài vững chân leo lên những vách đá nơi người khác không dám mạo hiểm. Nó cũng có thể là con dê tế thần mặt dài bị buộc vào cọc, kiên nhẫn và bền bỉ, nhưng bị ràng buộc bởi định mệnh không thể cưỡng. Sức bền của dấu hiệu này bao gồm khả năng chịu đựng lao động nặng nhọc kéo dài. Tuy nhiên, cuối cùng, sự kiên trì được tưởng thưởng và các chướng ngại được vượt qua. Người Ma Kết chuẩn bị kỹ biết rằng tài tổ chức của mình là cần thiết, rằng y có thể hoàn thành công việc, và rằng theo thời gian y chắc chắn đạt được vị trí mình xứng đáng. |
AQUARIUS, the WATERBEARER — BẢO BÌNH, NGƯỜI MANG NƯỚC
|
Fixed Air |
Khí cố định |
|
January 21-February 19 |
Ngày 21 tháng Một đến ngày 19 tháng Hai |
|
When a climber has scaled the heights, he is obliged to look around for a broader field of endeavor. A radically new program must be sought, preferably one which involves the opening up of more subtle dimensions of being. The “atom-splitting” potential of the Aquarian mind instigates the development of scientific techniques which release unsuspected radiations out of the heart of matter and enable man to transcend previous accomplishments. |
Khi một người leo núi đã vượt lên các đỉnh cao, y buộc phải nhìn quanh để tìm một lĩnh vực nỗ lực rộng lớn hơn. Cần tìm một chương trình hoàn toàn mới, tốt nhất là chương trình liên quan đến việc mở ra những chiều kích tinh tế hơn của hiện tồn. Tiềm năng “tách nguyên tử” của thể trí Bảo Bình khơi dậy sự phát triển các kỹ thuật khoa học, giải phóng những bức xạ chưa từng ngờ tới từ trái tim của vật chất và giúp con người vượt lên những thành tựu trước đây. |
|
The study of vibrations and electrical force fields has revealed the permeability of a world previously assumed to be solidly material. The parallel lines, symbolic of Aquarius, indicate its association with the dawning “new age” of scientific enlightenment in which people are becoming increasingly conscious of the invisible waves that pervade the body of space. |
Việc nghiên cứu các rung động và các trường lực điện đã hé lộ tính thẩm thấu của một thế giới trước đây từng được cho là hoàn toàn vật chất rắn chắc. Những đường song song, biểu tượng của Bảo Bình, cho thấy mối liên hệ của dấu hiệu này với “thời đại mới” đang ló rạng của sự khai sáng khoa học, trong đó con người ngày càng ý thức hơn về những làn sóng vô hình thấm nhuần khắp thân thể của không gian. |
|
Although Aquarius is an air sign, its true nature is sometimes misunderstood because it is depicted by a man carrying an urn of water which he offers to all who will receive it. In ancient times, when astrology was formulated, the concept of radiations and oscillatory impulses passing through the atmosphere and even through solid matter was impossible to convey graphically. The only way people could imagine the existence of such subtle vibratory energies was by thinking of waves on the surface of a lake or sea. Thus, the image of a man with a vessel of water was used to suggest the fluid quality of nature’s finer forces. |
Dù Bảo Bình là một dấu hiệu hành khí, bản chất thật của nó đôi khi bị hiểu lầm vì nó được mô tả bằng hình ảnh một người đàn ông mang một bình nước và dâng nước ấy cho tất cả những ai sẵn lòng tiếp nhận. Vào thời cổ đại, khi chiêm tinh học được định hình, khái niệm về các bức xạ và những xung lực dao động đi qua bầu khí quyển, thậm chí xuyên qua cả vật chất rắn, là điều không thể diễn tả bằng hình ảnh. Cách duy nhất để con người hình dung sự tồn tại của những năng lượng rung động tinh tế như thế là nghĩ đến các làn sóng trên mặt hồ hay mặt biển. Vì vậy, hình ảnh một người đàn ông với bình nước đã được dùng để gợi lên phẩm tính lưu động của các mãnh lực tinh vi hơn trong thiên nhiên. |
|
The generosity with which the waterbearer pours out the contents of his urn shows the liberality with which these vibratory energies are distributed throughout the cosmos. Having ascended the mountain peak of Capricorn (a stage of attainment depicted literally by the placement of Capricorn at the summit of the zodiacal wheel), the Aquarian is less concerned with climbing an executive pyramid than with bringing down and distributing the gains achieved. Thus, where Sagittarius aspires to reach a higher position, Aquarius inspires the multitude below. |
Sự hào phóng mà người mang nước trút nội dung trong bình của mình cho thấy tính rộng rãi theo đó những năng lượng rung động này được phân phối khắp vũ trụ. Sau khi đã leo lên đỉnh núi của Ma Kết, một giai đoạn thành tựu được mô tả theo nghĩa đen bằng vị trí của Ma Kết ở đỉnh cao của bánh xe hoàng đạo, người Bảo Bình ít quan tâm đến việc leo lên kim tự tháp quyền lực điều hành hơn là đem xuống và phân phối những thành quả đã đạt được. Vì vậy, nơi Nhân Mã khao khát vươn tới một vị trí cao hơn, Bảo Bình truyền cảm hứng cho đại chúng bên dưới. |
|
Knowledge of the truth is not enough to satisfy the spiritually awakened Aquarian. He wants to make his ideas available to all who strive to uplift mankind. He believes that people everywhere should benefit from the miracles of technology, not merely the privileged few who have achieved material success in the Capricornian phase of development. The true Aquarian is a universalist, as indifferent to social distinctions and prejudices as are radio waves to the walls of buildings. The danger is that he may overreact to the conservatism of the previous sign by becoming rebellious, eccentric, or perverse. On the other hand, if he has failed to develop a social conscience, he may be aimless and ineffectual—up in the air. |
Tri thức về chân lý không đủ để làm thỏa mãn người Bảo Bình đã thức tỉnh về tinh thần. Y muốn làm cho các ý tưởng của mình trở nên sẵn có cho tất cả những ai nỗ lực nâng cao nhân loại. Y tin rằng con người ở khắp nơi nên được hưởng lợi từ các phép màu của công nghệ, chứ không chỉ một số ít người đặc quyền đã đạt được thành công vật chất trong giai đoạn phát triển Ma Kết. Người Bảo Bình chân chính là một người theo tinh thần phổ quát, dửng dưng với các phân biệt xã hội và thành kiến như những làn sóng vô tuyến dửng dưng với các bức tường của những tòa nhà. Nguy cơ là y có thể phản ứng quá mức trước tính bảo thủ của dấu hiệu trước đó bằng cách trở nên nổi loạn, lập dị, hoặc trái khoáy. Mặt khác, nếu y không phát triển được lương tâm xã hội, y có thể không định hướng và thiếu hiệu quả—lơ lửng trên không. |
|
Aquarius represents the ankles, the circulatory system, and the aura. The aura is the matrix of electromagnetic emanations which envelops all living things and interfuses them with vitality. When, through the radiatory potency of his subtle psychic force field, an individual serves as a broadcasting center for the energies of will, love, and intelligence, he expresses the highest side of the Aquarian urge to transform the quality of life on this planet. |
Bảo Bình đại diện cho mắt cá chân, hệ tuần hoàn, và hào quang. Hào quang là khuôn mẫu của các phát xạ điện từ bao bọc mọi sinh thể và thấm nhuần chúng bằng sinh lực. Khi, thông qua uy lực bức xạ của trường lực tâm linh tinh tế của mình, một cá nhân phụng sự như một trung tâm phát sóng cho các năng lượng của ý chí, tình thương, và trí tuệ, y biểu hiện phương diện cao nhất của thôi thúc Bảo Bình nhằm chuyển hóa phẩm tính đời sống trên hành tinh này. |
PISCES, the FISHES — SONG NGƯ, CON CÁ
|
Mutable Water |
Nước – Biến Đổi |
|
February 20-March 20 |
20 Tháng 2 – 20 Tháng 3 |
|
The sign Pisces is frequently portrayed by two fishes tied together but swimming in opposite directions. This “fishes circle” describes the contradictory nature of the unevolved Piscean whose tendency to work against himself has sometimes caused him to be described as “a poor fish” or “a fish out of water.” He may be confused or deceptive, in which case people will suspect that there is something “fishy” about him. But the two fishes may also complement each other as in the Yin-Yang symbol of the ancient Chinese. The enlightened Piscean understands intuitively how to create a meaningful synthesis out of apparent contradictions. |
Dấu hiệu Song Ngư thường được mô tả bằng hai con cá buộc vào nhau nhưng bơi theo hai hướng đối nghịch. “Vòng cá” này diễn tả bản chất mâu thuẫn của người Song Ngư chưa tiến hóa, người có khuynh hướng chống lại chính mình, đôi khi khiến y bị mô tả như “một con cá tội nghiệp” hay “một con cá mắc cạn”. Y có thể bối rối hoặc lừa dối, trong trường hợp đó người ta sẽ nghi ngờ rằng có điều gì đó “mờ ám” nơi y. Nhưng hai con cá cũng có thể bổ túc cho nhau như trong biểu tượng âm dương của người Trung Hoa cổ đại. Người Song Ngư đã khai sáng hiểu bằng trực giác cách tạo nên một tổng hợp có ý nghĩa từ những mâu thuẫn bề ngoài. |
|
The fish is a symbol of Christ. Images of fishes were scratched in the sand by the early Christians as identifying marks because the Greek initials I. Ch. Th. U. S.— standing for Jesus Christ, Son of God, Savior—made an acronym that spelled “fish.” Scholars who are knowledgeable in the field of astrology believe that the symbol was adopted because the vernal equinox was moving into the sign of the fishes, ushering in the Piscean Age. |
Con cá là một biểu tượng của Đức Christ. Hình ảnh cá được những Kitô hữu đầu tiên vạch trên cát như những dấu hiệu nhận diện, vì các chữ cái đầu trong tiếng Hy Lạp—chỉ Jesus Christ, Son of God, Savior—tạo thành một từ viết tắt có nghĩa là “cá”. Các học giả am hiểu lĩnh vực chiêm tinh học tin rằng biểu tượng này được chọn vì điểm xuân phân đang di chuyển vào dấu hiệu của những con cá, mở đầu Kỷ Nguyên Song Ngư. |
|
Although some of his disciples were lowly fishermen, Jesus promised to make them “fishers of men” if they would renounce the world and follow him. He also fed the multitude with loaves and fishes, the loaves representing the opposite sign of the Virgin with her sheaf of wheat. Like the disciples, Pisceans are capable of renouncing their material goods for the sake of spiritual gain. They hold fast to the faith that they will be replenished by some mysterious act of grace—and surprisingly often they are. |
Dù một số đệ tử của Ngài là những người đánh cá thấp hèn, Đức Jesus đã hứa sẽ làm cho họ trở thành “những kẻ đánh lưới người” nếu họ từ bỏ thế gian và đi theo Ngài. Ngài cũng đã nuôi đại chúng bằng bánh và cá, trong đó bánh tượng trưng cho dấu hiệu đối diện của Đức Trinh Nữ với bó lúa mì của bà. Giống như các đệ tử, người Song Ngư có khả năng từ bỏ của cải vật chất vì lợi ích tinh thần. Họ giữ vững đức tin rằng họ sẽ được bồi hoàn bởi một hành động ân sủng huyền nhiệm nào đó—và thật đáng ngạc nhiên là điều này thường xảy ra. |
|
The two semicircles have also been likened to crescent Moons representing real and imaginary worlds, even as the Moon on the sea mirrors its counterpart in the sky. Pisceans are intrigued with illusions which may take the form of imaginative creations or escapist fantasies. The more dynamic exponents of this sign are drawn to the arts and enterprises connected with pleasure and entertainment. Their less- realistic brethren succumb to a variety of delusions, refusing to “face facts,” and withdrawing into a private world of fantasy, addiction, or obsession. |
Hai nửa vòng tròn cũng từng được ví như các Mặt Trăng lưỡi liềm đại diện cho những thế giới thực và tưởng tượng, cũng như Mặt Trăng trên biển phản chiếu đối ảnh của nó trên bầu trời. Người Song Ngư bị cuốn hút bởi những ảo ảnh, vốn có thể mang hình thức các sáng tạo tưởng tượng hoặc các huyễn tưởng thoát ly thực tại. Những đại biểu năng động hơn của dấu hiệu này bị hấp dẫn bởi nghệ thuật và các doanh nghiệp liên quan đến khoái lạc và giải trí. Những người anh em kém thực tế hơn của họ sa vào nhiều loại ảo tưởng, từ chối “đối diện sự thật”, và rút lui vào một thế giới riêng của huyễn tưởng, nghiện ngập, hoặc ám ảnh. |
|
A vivid sense of the dramatic lures many Pisceans into the theater and show business. Pisces rules the feet and, literally or figuratively, the dancing feet of the elusive Piscean scarcely touch the earth. This sign also rules the astral body whose existence has been denied by science, but which clairvoyants register in terms of shifting color tones surrounding the physical form. |
Một cảm thức sống động về kịch tính lôi cuốn nhiều người Song Ngư vào sân khấu và ngành biểu diễn. Song Ngư chủ quản bàn chân và, theo nghĩa đen hoặc nghĩa bóng, những bàn chân nhảy múa của người Song Ngư khó nắm bắt hầu như không chạm đất. Dấu hiệu này cũng chủ quản thể cảm dục, sự tồn tại của nó từng bị khoa học phủ nhận, nhưng các nhà thấu thị ghi nhận nó dưới dạng những sắc thái màu chuyển dịch bao quanh hình thể vật lý. |
|
Pisces completes the round of the zodiac. The two sides of its glyph can be recombined to form a circle as complementary halves of life are placed back to back and linked by the line of the horizon. In this manner, opposing aspects of the self pull away from each other, yet are deliberately conjoined. While Aquarius produces fission (which carries over into the duality of Pisces), members of this final sign yearn for fusion. Pisceans must realize, however, that this is a fusion which occurs in consciousness even while the external world remains divided as before. |
Song Ngư hoàn tất vòng Hoàng đạo. Hai phía của ký hiệu của nó có thể được tái hợp để tạo thành một vòng tròn khi hai nửa bổ túc của đời sống được đặt lưng vào nhau và nối kết bằng đường chân trời. Theo cách này, các góc hợp đối nghịch của bản ngã kéo xa nhau, nhưng vẫn được cố ý kết hợp. Trong khi Bảo Bình tạo ra sự phân hạch, điều này chuyển tiếp vào tính nhị nguyên của Song Ngư, những người thuộc dấu hiệu cuối cùng này khát khao sự hợp nhất. Tuy nhiên, người Song Ngư phải nhận ra rằng đây là một sự hợp nhất diễn ra trong tâm thức, ngay cả khi thế giới bên ngoài vẫn còn phân chia như trước. |
|
Every cycle of existence ends in a state of duality, showing both the positive and negative results of all that has gone before. In Pisces, sign of redemption or dissolution, the spiritualized personality draws apart from “the waste materials” left behind. Thus, the energies of the sign are polarized into a success-failure situation. |
Mọi chu kỳ tồn tại đều kết thúc trong một trạng thái nhị nguyên, cho thấy cả kết quả tích cực lẫn tiêu cực của tất cả những gì đã đi trước. Trong Song Ngư, dấu hiệu của sự cứu chuộc hoặc tan rã, tính cách đã được tinh thần hóa tách khỏi “các chất liệu phế thải” bị bỏ lại phía sau. Vì vậy, các năng lượng của dấu hiệu này phân cực thành một tình thế thành công—thất bại. |
|
Ultimately, however, the tie that binds the fishes together must resolve the dualism of counterpoised opposites. The final consummation of the work of the twelve signs does not necessitate the rejection of one or the other aspect of existence. Instead, it reintegrates them into a more meaningful unity. In the highest sense, this sign represents the sum of all previous relationships. It is the Whole which transcends its parts, having assimilated the essence of all the experiences undergone by the evolving soul through successive stages of the zodiacal round. |
Tuy nhiên, sau cùng, sợi dây buộc hai con cá với nhau phải hóa giải thuyết nhị nguyên của các đối cực cân bằng nhau. Sự viên mãn cuối cùng của công việc mười hai dấu hiệu không đòi hỏi phải bác bỏ phương diện này hay phương diện kia của sự tồn tại. Thay vào đó, nó tái hội nhập chúng vào một nhất tính có ý nghĩa hơn. Theo nghĩa cao nhất, dấu hiệu này đại diện cho tổng số của mọi mối quan hệ trước đó. Nó là Cái Toàn Thể vượt lên trên các phần của nó, vì đã đồng hóa tinh hoa của mọi kinh nghiệm mà linh hồn đang tiến hóa đã trải qua qua các giai đoạn kế tiếp của vòng Hoàng đạo. |
2. Symbols of the Planets — Các Biểu Tượng của các Hành Tinh
|
All creation follows a threefold scheme. First comes the concept of what is to be. Something is needed which does not exist. Second, a method must be formulated by means of which the concept can be expressed. Third, the raw material must be produced which will embody this concept. That is to say, there must be a purpose, a plan, and the substance required to materialize this plan. |
Mọi sáng tạo đều theo một sơ đồ tam phân. Trước hết là ý niệm về điều sẽ hiện hữu. Cần có một điều gì đó chưa tồn tại. Thứ hai, một phương pháp phải được định hình, nhờ đó ý niệm có thể được biểu hiện. Thứ ba, nguyên liệu thô phải được tạo ra để hiện thân cho ý niệm này. Nói cách khác, phải có một mục đích, một kế hoạch, và chất liệu cần thiết để vật chất hóa kế hoạch này. |
|
These three cosmic principles are called Spirit, Soul, and Matter. Their qualities are Will, Wisdom, and Activity. Together they constitute a trinity recognized in virtually every religious philosophy. |
Ba nguyên lý vũ trụ này được gọi là Tinh thần, Linh hồn, và Vật chất. Các phẩm tính của chúng là Ý chí, Minh triết, và Hoạt động. Cùng nhau, chúng cấu thành một tam vị được thừa nhận trong hầu như mọi triết lý tôn giáo. |
|
The symbol of Spirit is the circle. |
Biểu tượng của Tinh thần là vòng tròn. |
|
Since it has neither beginning nor end, the circle represents infinity. Pure and pristine in its simplicity, it needs no augmentation but can be divided. The complete round is the fundamental form of creation. In response to its originating impulse, nature everywhere coalesces into spheres, ranging from galaxies, suns, and planets to drops, cells, and atoms. |
Vì không có khởi đầu cũng không có kết thúc, vòng tròn đại diện cho vô hạn. Thuần khiết và nguyên sơ trong sự giản dị của nó, nó không cần được thêm gì, nhưng có thể được phân chia. Vòng tròn hoàn chỉnh là hình thức căn bản của sáng tạo. Đáp ứng với xung lực khởi nguyên của nó, thiên nhiên ở khắp nơi kết tụ thành các khối cầu, từ các thiên hà, mặt trời, và hành tinh cho đến giọt nước, tế bào, và nguyên tử. |
|
The symbol of Soul is the cross. |
Biểu tượng của Linh hồn là thập tự. |
|
The cross represents the downpouring power of Spirit passing through the horizontal plane of Matter. This interaction between spiritual and material realms locates an object or individual in time and space, as in the crossed hairs of a sighting mechanism or the intersecting X and Y axes of a graph. Hence, the cross is the symbol of man’s crucifixion, and of the Spirit suffering the limitations of confinement within a body of flesh. The ego, set apart from the continuity of Life, simultaneously glories in its uniqueness and suffers the anguish of being alone. The cross divides man within himself and separates him from the world. |
Thập tự đại diện cho quyền năng tuôn xuống của Tinh thần đi qua mặt phẳng ngang của Vật chất. Sự tương tác này giữa các cõi tinh thần và vật chất định vị một đối tượng hay cá nhân trong thời gian và không gian, như ở điểm giao của các sợi ngắm trong một cơ cấu nhắm mục tiêu, hoặc các trục X và Y giao nhau trên một đồ thị. Vì thế, thập tự là biểu tượng cho sự đóng đinh của con người, và cho Tinh thần chịu đựng những giới hạn của sự giam hãm trong một thân xác bằng thịt. Bản ngã, bị tách khỏi tính liên tục của Sự Sống, đồng thời vinh quang trong tính độc đáo của mình và chịu nỗi thống khổ của sự cô độc. Thập tự chia cắt con người trong chính y và tách y khỏi thế giới. |
|
As an entity increases the scope of its outgoing relationships with the universe beyond itself, the number of horizontal bars multiplies and the cross begins to rotate on its axis until the horizontal lines form the equator of a spinning orb. Thus, symbolically, the cross becomes the three-dimensional sphere. |
Khi một thực thể mở rộng phạm vi các mối quan hệ hướng ra ngoài của nó với vũ trụ vượt ngoài chính nó, số lượng các thanh ngang gia tăng và thập tự bắt đầu quay trên trục của nó cho đến khi các đường ngang tạo thành đường xích đạo của một quả cầu đang xoay. Vì vậy, về mặt biểu tượng, thập tự trở thành khối cầu ba chiều. |
|
The symbol of Matter is the lower half of the circle of Spirit. |
Biểu tượng của Vật chất là nửa dưới của vòng tròn Tinh thần. |
|
This bowl-shaped figure results from the division of the original sphere into higher and lower states, and shows that Matter is subordinate to Spirit and only half complete. It may be considered to be a chalice containing as much of the power of Spirit as any form can express. The vertical arc of the circle resembles a crescent Moon. The Moon and Matter are associated with the feminine pole of creation which results from the division of the perfect whole into opposing positive and negative forces. However, the symbol for Matter is an abstraction while the symbol for the Moon is filled out to suggest the actual shape of the lunar orb. The Soul is born of “the mating” or crossing of Spirit and Matter, and thereafter serves as a focusing agent or medium of transmission for spiritual impressions. |
Hình dạng như chiếc bát này phát sinh từ sự phân chia khối cầu nguyên thủy thành các trạng thái cao hơn và thấp hơn, và cho thấy Vật chất phụ thuộc vào Tinh thần và chỉ hoàn thành một nửa. Nó có thể được xem như một chiếc chén thánh chứa đựng nhiều quyền năng của Tinh thần đúng mức mà bất kỳ hình thể nào có thể biểu hiện. Cung dọc của vòng tròn giống một Mặt Trăng lưỡi liềm. Mặt Trăng và Vật chất gắn liền với cực nữ tính của sáng tạo, phát sinh từ sự phân chia cái toàn thể hoàn hảo thành các mãnh lực tích cực và tiêu cực đối nghịch. Tuy nhiên, biểu tượng của Vật chất là một sự trừu tượng, trong khi biểu tượng của Mặt Trăng được làm đầy để gợi hình dạng thực của thiên cầu mặt trăng. Linh hồn được sinh ra từ “sự phối hợp” hay giao cắt của Tinh thần và Vật chất, và từ đó về sau phụng sự như một tác nhân hội tụ hay một môi giới truyền dẫn cho các ấn tượng tinh thần. |
|
Some astrologers correlate the cross with Matter and the Moon with Soul, thereby reversing the order given above. According to this assignation, the lunar signs Taurus and Cancer would be associated with Soul and not with material growth. Taurus would cease to complement Aries, and Cancer would cease to complement Leo. |
Một số nhà chiêm tinh liên hệ thập tự với Vật chất và Mặt Trăng với Linh hồn, do đó đảo ngược trật tự đã nêu ở trên. Theo cách quy gán này, các dấu hiệu mặt trăng Kim Ngưu và Cự Giải sẽ liên hệ với Linh hồn chứ không phải với sự tăng trưởng vật chất. Kim Ngưu sẽ không còn bổ túc cho Bạch Dương, và Cự Giải sẽ không còn bổ túc cho Sư Tử. |
|
There should be no reason to debate this point because in every astrological system the Sun represents the positive and the Moon represents the negative pole of creation. Traditionally, and logically, these poles are associated with Spirit and Matter, God the Father and Mother Nature, male and female, active and passive principles. |
Không nên có lý do gì để tranh luận điểm này, vì trong mọi hệ thống chiêm tinh, Mặt Trời đại diện cho cực tích cực và Mặt Trăng đại diện cho cực tiêu cực của sáng tạo. Theo truyền thống và theo lý lẽ, các cực này liên hệ với Tinh thần và Vật chất, Thượng đế Cha và Mẹ Thiên Nhiên, nam và nữ, các nguyên lý chủ động và thụ động. |
|
The cross, composed of the vertical line of Spirit and the horizontal line of Matter, represents the interplay between these cosmic parents. Thus, the cross is the Soul in man and nature which comes into being as a result of the relationship between primal opposites. At the same time, it is the seat of consciousness which gives rise to any entity’s innate capacity for relationships. Spirit incarnates in Matter via the Soul, and Matter is respiritualized via the same mediating factor. Both processes involve a form of “crucifixion” as man is torn between contending dualities. |
Thập tự, gồm đường thẳng đứng của Tinh thần và đường ngang của Vật chất, đại diện cho sự tương tác giữa hai vị phụ mẫu vũ trụ này. Vì vậy, thập tự là Linh hồn trong con người và thiên nhiên, đi vào hiện hữu như kết quả của mối quan hệ giữa các đối cực nguyên thủy. Đồng thời, nó là nơi an vị của tâm thức, vốn làm phát sinh năng lực bẩm sinh của bất kỳ thực thể nào đối với các mối quan hệ. Tinh thần nhập thể trong Vật chất qua Linh hồn, và Vật chất được tinh thần hóa trở lại qua cùng yếu tố trung gian ấy. Cả hai tiến trình đều bao hàm một hình thức “đóng đinh”, khi con người bị giằng xé giữa các nhị nguyên đối chọi. |
|
The cross is also the symbol of Christ, often pictured as a child, or as the babe born in Bethlehem. Metaphysically, Christ is the redeeming principle described by St. Paul as “Christ in you, the hope of glory.” Similarly, Christ is reported to have said, “I am the Way, the Truth, and the Life; no man cometh unto the Father, but by Me.” |
Thập tự cũng là biểu tượng của Đức Christ, thường được mô tả như một đứa trẻ, hoặc như hài nhi sinh ra tại Bethlehem. Về mặt siêu hình, Đức Christ là nguyên lý cứu chuộc được Thánh Paul mô tả là “Đức Christ trong các bạn, niềm hy vọng của vinh quang”. Tương tự, người ta thuật lại rằng Đức Christ đã nói: “Ta là Đường Đạo, Chân Lý, và Sự Sống; không ai đến được với Cha, nếu không nhờ Ta.” |
|
This is an issue which the student need not decide on authority, but which can be resolved through study and reason. |
Đây là một vấn đề mà người học không cần quyết định dựa trên thẩm quyền, nhưng có thể giải quyết bằng học hỏi và lý trí. |
|
The glyphs for the planets are composed of various combinations of these three elements. In each case, the arrangement of the circle, semicircle, and cross suggests the way the planet operates. Signs of the zodiac express geometrically determined relationships within the cosmic hypersphere. Planets focus the effects of the multidimensional energies which flow through this zodiacal lens to produce terrestrial phenomena. |
Các ký hiệu của các hành tinh được cấu tạo từ những kết hợp khác nhau của ba yếu tố này. Trong mỗi trường hợp, cách sắp xếp vòng tròn, nửa vòng tròn, và thập tự gợi ý cách hành tinh vận hành. Các dấu hiệu Hoàng đạo biểu hiện những mối quan hệ được xác định về mặt hình học bên trong siêu cầu vũ trụ. Các hành tinh hội tụ các tác động của những năng lượng đa chiều tuôn chảy qua thấu kính hoàng đạo này để tạo ra các hiện tượng trên trái đất. |
|
The Solar System |
Hệ Mặt Trời |
|
THE PLANETS |
CÁC HÀNH TINH |
|
Symbol |
Name |
Principle |
Quality |
Positive Expression |
Negative Expression |
|
Sun |
Power |
Individuality |
Magnanimity |
Egotism |
|
|
Moon |
Response |
Sensitivity |
Sympathy |
Moodiness |
|
|
Mercury |
Communication |
Intelligence |
Discernment |
Variability |
|
|
Venus |
Attraction |
Beauty |
Grace |
Sensuality |
|
|
Earth |
Embodiment |
Practicality |
Common sense |
Materialism |
|
|
Mars |
Projection |
Forcefulness |
Vigor |
Aggression |
|
|
Jupiter |
Expansion |
Foresight |
Optimism |
Extravagance |
|
|
Saturn |
Limitation |
Restraint |
Discipline |
Repression |
|
|
Uranus |
Transformation |
Originality |
Inventiveness |
Deviance |
|
|
Neptune |
Transcendence |
Vision |
Idealism |
Escapism |
|
|
Pluto |
Resurrection |
Determination |
Resoluteness |
Coercion |
|
Ký hiệu |
Tên |
Nguyên lý |
Phẩm chất |
Biểu hiện tích cực |
Biểu hiện tiêu cực |
|
¸ |
Mặt Trời |
Quyền năng |
Tính cá nhân |
Sự cao thượng |
Chủ nghĩa vị ngã |
|
¶ |
Mặt Trăng |
Sự đáp ứng |
Tính nhạy cảm |
Sự cảm thông |
Tính khí thất thường |
|
º |
Sao Thủy |
Giao tiếp |
Trí thông minh |
Khả năng phân biện |
Tính biến đổi |
|
» |
Sao Kim |
Sự thu hút |
Vẻ đẹp |
Sự duyên dáng |
Sự đam mê nhục cảm |
|
· |
Trái Đất |
Sự hiện thân |
Tính thực tế |
Lương tri |
Chủ nghĩa duy vật |
|
¼ |
Sao Hỏa |
Sự phóng chiếu |
Tính mạnh mẽ |
Sinh lực |
Tính hung hăng |
|
½ |
Sao Mộc |
Sự mở rộng |
Tầm nhìn xa |
Tính lạc quan |
Sự thái quá |
|
¾ |
Sao Thổ |
Sự giới hạn |
Sự kiềm chế |
Kỷ luật |
Sự ức chế |
|
¿ |
Sao Thiên Vương |
Sự chuyển hóa |
Tính độc đáo |
Khả năng sáng tạo |
Sự lệch chuẩn |
|
À |
Sao Hải Vương |
Sự siêu việt |
Tầm nhìn |
Chủ nghĩa lý tưởng |
Sự trốn tránh thực tại |
|
Á |
Sao Diêm Vương |
Sự phục sinh |
Quyết tâm |
Tính kiên quyết |
Sự cưỡng ép |
The SUN — The Source of Life — MẶT TRỜI — Nguồn Sống
|
The symbol for the Sun represents the circle of Spirit with the addition of a dot at its center. This pivotal point makes the figure vital and dynamic. It shows that Spirit has manifested itself through a particular form, thereby incarnating in Matter. |
Biểu tượng của Mặt Trời đại diện cho vòng tròn của Tinh thần với việc thêm một chấm ở trung tâm. Điểm then chốt này làm cho hình vẽ trở nên sống động và năng động. Nó cho thấy Tinh thần đã biểu lộ chính mình qua một hình thể đặc thù, do đó nhập thể trong Vật chất. |
|
The Sun represents the individualizing principle in nature. It is the ego or nucleus of any being and the determinant of its identity. The inherent purpose of each separate entity is to radiate light and power just as the solar orb illumines the vault of the sky. It has been said that God is a circle whose center is everywhere and whose periphery is nowhere. Within this boundless sphere of potential existence every animate unit is a miniature Sun or center of creative self-expression. |
Mặt Trời đại diện cho nguyên lý cá thể hóa trong thiên nhiên. Nó là bản ngã hay hạt nhân của bất kỳ sinh linh nào và là yếu tố xác định căn tính của sinh linh ấy. Mục đích cố hữu của mỗi thực thể riêng biệt là tỏa chiếu ánh sáng và quyền năng, cũng như thiên cầu mặt trời soi sáng vòm trời. Người ta từng nói rằng Thượng đế là một vòng tròn có trung tâm ở khắp nơi và chu vi không ở nơi nào. Bên trong khối cầu vô biên của sự tồn tại tiềm tàng này, mỗi đơn vị sống động là một Mặt Trời thu nhỏ hay trung tâm của sự tự biểu hiện sáng tạo. |
|
An ancient aphorism states, “Man is the microcosm of the macrocosm.” This means that man, the dot within the center of the circle, reflects the entire round of the heavens. He is linked by a direct radius to every segment of surrounding sky. All the powers of the universe have their correspondence in his Soul, which is the focused image of Spirit projected into the heart of Matter. Eventually, he must consciously reaffirm his kinship with the starry spaces of his celestial environment which he finds to be not empty but throbbing with life and surging with a love that unifies every separate part within the larger Whole. |
Một cách ngôn cổ nói rằng: “Con người là tiểu vũ trụ của đại vũ trụ.” Điều này có nghĩa là con người, chấm điểm ở trung tâm vòng tròn, phản chiếu toàn bộ vòng trời. Y được nối kết bằng một bán kính trực tiếp với từng phần của bầu trời bao quanh. Mọi quyền năng của vũ trụ đều có sự tương ứng của chúng trong Linh hồn y, vốn là hình ảnh hội tụ của Tinh thần được phóng chiếu vào trung tâm của Vật chất. Cuối cùng, y phải tái khẳng định một cách hữu thức mối thân thuộc của mình với các khoảng không gian đầy sao thuộc môi trường thiên thể của y, nơi y nhận thấy không hề trống rỗng mà đang rung động với sự sống và dâng trào một tình thương hợp nhất từng phần riêng biệt trong Cái Toàn Thể lớn hơn. |
|
All existence involves an interplay between a central point containing an infinite number of dimensions, and an infinite number of points of no dimension. As long as man is preoccupied with superficial affairs he finds himself wandering far out on the edge of this hypersphere, but when he awakens to the radiance within himself, he is drawn back to its emanating center. From the periphery, the many small entities journey toward their mutual point of origin, each one following its own radius. Thus their paths converge to bring them closer to each other as well as to their common goal. |
Mọi tồn tại đều bao hàm một sự tương tác giữa một điểm trung tâm chứa vô số chiều kích và vô số điểm không có chiều kích nào. Chừng nào con người còn bận tâm với những sự việc hời hợt, y thấy mình lang thang xa tận rìa của siêu cầu này; nhưng khi y thức tỉnh trước ánh rạng rỡ bên trong chính mình, y được kéo trở lại trung tâm phát tỏa của nó. Từ chu vi, nhiều thực thể nhỏ bé hành trình về điểm khởi nguyên chung của chúng, mỗi thực thể đi theo bán kính riêng của mình. Vì vậy, các con đường của chúng hội tụ để đưa chúng đến gần nhau hơn cũng như đến gần mục tiêu chung của chúng hơn. |
|
Anatomically, the Sun represents the heart which impels the blood to circulate and vitalize the entire community of cells. It is the source of life at the core of any system. In an individual horoscope, the Sun stands for the native’s sense of identity, and also for any positive male figure of authority with whom one might identify, such as a father, husband, or sovereign. It represents the will of the true Self and indicates the lines along which this essential quality of being can most advantageously be expressed. Symbolically, every individual is a small Sun whose ultimate purpose is to realize his innate potential and become an enlightening influence in his own milieu. |
Về mặt giải phẫu, Mặt Trời tượng trưng cho trái tim, thúc đẩy máu tuần hoàn và làm sinh lực hóa toàn bộ cộng đồng tế bào. Nó là nguồn sự sống ở cốt lõi của mọi hệ thống. Trong một lá số chiêm tinh cá nhân, Mặt Trời biểu thị cảm thức về bản sắc của người bản mệnh, cũng như bất kỳ hình tượng nam giới tích cực nào có thẩm quyền mà người ta có thể đồng nhất mình với đó, như người cha, người chồng, hay vị quân vương. Nó tượng trưng cho ý chí của Chân ngã và chỉ ra những đường hướng mà phẩm tính bản thể cốt yếu này có thể được biểu đạt một cách thuận lợi nhất. Về mặt biểu tượng, mỗi cá nhân là một Mặt Trời nhỏ, có mục đích tối hậu là nhận biết tiềm năng bẩm sinh của mình và trở thành một ảnh hưởng khai sáng trong chính môi trường của mình. |
The MOON — The Mechanism of Response — MẶT TRĂNG — Cơ Chế Đáp Ứng
|
The Sun is that part of a system which is always the same. The Moon is that part which is always changing. Yet even in its change the lunar orb remains constant and predictable. As an externalized manifestation of the Sun’s sphere of glory, the Moon’s crescent comprises a peripheral sliver of the all-encompassing round. It catches, holds, and reflects from many angles, the light emanating from a central source. |
Mặt Trời là phần luôn bất biến của một hệ thống. Mặt Trăng là phần luôn biến đổi. Tuy nhiên, ngay cả trong sự biến đổi của nó, thiên thể Mặt Trăng vẫn ổn định và có thể dự đoán. Là một biểu hiện được ngoại hiện hóa của vùng vinh quang thuộc Mặt Trời, lưỡi liềm của Mặt Trăng bao gồm một mảnh rìa mỏng của vòng tròn bao trùm tất cả. Nó đón nhận, giữ lại và phản chiếu, từ nhiều góc độ, ánh sáng phát ra từ một nguồn trung tâm. |
|
The Sun is the conscious and the Moon the unconscious side of the personality. The Sun indicates where man is going and what he is trying to become; the Moon indicates where he has been and what he is trying to overcome. The Sun is the destiny an individual wills to create; the Moon is the fate he is obliged to accept because he is bound by his instinctive reactions. The lunar realm is a conglomerate of instincts, memories, and desires. It represents the ability to absorb the solar currents which pulse through every nerve and tissue of the human or cosmic organism. |
Mặt Trời là mặt hữu thức, còn Mặt Trăng là mặt vô thức của tính cách. Mặt Trời chỉ ra con người đang đi về đâu và đang cố trở thành điều gì; Mặt Trăng chỉ ra y đã từng ở đâu và đang cố vượt qua điều gì. Mặt Trời là định mệnh mà một cá nhân muốn tạo nên; Mặt Trăng là số phận mà y buộc phải chấp nhận vì y bị ràng buộc bởi các phản ứng bản năng của mình. Cõi Mặt Trăng là một khối tổng hợp gồm bản năng, ký ức và dục vọng. Nó tượng trưng cho khả năng hấp thu các dòng lực Mặt Trời đang rung nhịp qua từng dây thần kinh và mô của cơ thể người hay cơ thể vũ trụ. |
|
The Moon is passive, feminine, and receptive. Its symbol, an incomplete Sun, is reminiscent of the various myths which claim that woman was made from man, even as Eve was supposedly fashioned from Adam’s rib. Although secondary, the female is not inferior since the crescent extends from the top to the bottom of the circle. Even in legend, Eve sprang from the midpoint of Adam’s body near his heart, rather than from the lower parts, implying that woman was intended to be an equal helpmate of man. |
Mặt Trăng thụ động, nữ tính và tiếp nhận. Biểu tượng của nó, một Mặt Trời không trọn vẹn, gợi nhớ đến nhiều huyền thoại cho rằng người nữ được tạo ra từ người nam, cũng như Eva được cho là đã được nắn tạo từ xương sườn của Adam. Dù mang tính thứ yếu, nữ tính không hề thấp kém, bởi lưỡi liềm kéo dài từ đỉnh xuống đáy của vòng tròn. Ngay cả trong truyền thuyết, Eva cũng sinh ra từ điểm giữa thân thể Adam, gần trái tim ông, chứ không phải từ các phần thấp hơn, hàm ý rằng người nữ được định để làm người bạn đồng hành bình đẳng của người nam. |
|
The lunar capacity for containment prevents the Sun’s effulgence from streaming outward into an insensate waste of fire. As the archetype of all vessels which hold things in place, the Moon is called “the bowl of heaven.” It represents the fertile realm of matter which cherishes, nourishes, and sustains the solar seed of life. |
Khả năng chứa đựng của Mặt Trăng ngăn ánh rạng rỡ của Mặt Trời tuôn trào ra ngoài thành một sự phung phí lửa vô cảm. Là nguyên mẫu của mọi bình chứa giữ cho sự vật ở đúng vị trí, Mặt Trăng được gọi là “chiếc bát của trời”. Nó tượng trưng cho cõi vật chất màu mỡ, nơi gìn giữ, nuôi dưỡng và duy trì hạt giống Mặt Trời của sự sống. |
|
In contrast to the inherent unity of the Sun, the two horns of the Moon suggest a world of duality. On earth, the gravitational pull of the Moon produces two tides a day, while the water’s waves rise and fall. The lunar orb alternates between waxing and waning phases, symbolizing the dual processes of growth and decay. Similarly, man is swayed by his Moon-ruled feelings which ebb and flow like the sea, fluctuating with every change in circumstance and giving rise to pleasurable and painful sensations. |
Trái với tính thống nhất cố hữu của Mặt Trời, hai sừng của Mặt Trăng gợi lên một thế giới nhị nguyên. Trên trái đất, lực hấp dẫn của Mặt Trăng tạo ra hai đợt thủy triều mỗi ngày, trong khi các làn sóng nước dâng lên và hạ xuống. Thiên thể Mặt Trăng luân phiên giữa các pha tròn dần và khuyết dần, tượng trưng cho hai tiến trình tăng trưởng và suy tàn. Tương tự, con người bị dao động bởi những cảm xúc do Mặt Trăng chi phối, lên xuống như biển cả, biến đổi theo từng thay đổi của hoàn cảnh và làm phát sinh những cảm giác dễ chịu cũng như đau đớn. |
|
In the body, the Moon is associated with the lymph, the secretions of the glands, the digestive juices, and all fluids which round out its basic structure. It stands for undifferentiated protoplasm, amorphously responsive to the least quivering of desire. The lunar realm is not empty or dead, but is composed of sentient substance waiting to be impregnated and to give birth to nature’s strange and wonderful progeny. |
Trong cơ thể, Mặt Trăng liên hệ với bạch huyết, các chất tiết của tuyến, dịch tiêu hóa và mọi chất lỏng làm tròn đầy cấu trúc căn bản của cơ thể. Nó biểu thị chất nguyên sinh chưa phân hóa, đáp ứng một cách vô định hình với rung động nhỏ nhất của dục vọng. Cõi Mặt Trăng không trống rỗng hay chết, mà được cấu thành từ chất liệu hữu cảm, đang chờ được thụ tinh và sinh ra những hậu duệ kỳ lạ, kỳ diệu của thiên nhiên. |
|
The Moon rules the sea and every drop of water coalesces into the shape of a sphere, showing that the power of the Sun is latent in all forms of matter. |
Mặt Trăng cai quản biển cả, và từng giọt nước đều kết tụ thành hình cầu, cho thấy quyền năng của Mặt Trời tiềm tàng trong mọi hình tướng vật chất. |
|
Within the horoscope, the Moon discloses how a person’s inner feelings accord with his observable behavior and the objective facts of his situation. The Sun-Moon relationship is a particularly sensitive indicator of the extent to which an individual is in harmony with his environment. The Moon’s track around the Sun is shaped like a gear with thirteen cogs, representing the thirteen lunar months which mesh the Earth into the rest of the solar system. |
Trong lá số chiêm tinh, Mặt Trăng tiết lộ những cảm xúc bên trong của một người tương hợp ra sao với hành vi có thể quan sát và các sự kiện khách quan trong hoàn cảnh của y. Mối quan hệ Mặt Trời–Mặt Trăng là một chỉ báo đặc biệt nhạy bén về mức độ một cá nhân hài hòa với môi trường của mình. Đường đi của Mặt Trăng quanh Mặt Trời có hình dạng như một bánh răng với mười ba răng, tượng trưng cho mười ba tháng Mặt Trăng khớp Trái Đất vào phần còn lại của hệ Mặt Trời. |
|
As the cosmic mechanism of response, the Moon symbolizes the ability to adjust to the everchanging challenges, pressures, and opportunities of daily existence. It shows the capacity of the total organism to assure its welfare through the arousal of feelings and desires. Without these emotional reactions the body would be indifferent to its own survival. Consequently, the Moon represents the mother who assumes this protective function for the helpless infant. |
Là cơ chế đáp ứng của vũ trụ, Mặt Trăng tượng trưng cho khả năng điều chỉnh trước những thách thức, áp lực và cơ hội luôn biến đổi của đời sống hằng ngày. Nó cho thấy năng lực của toàn bộ cơ thể trong việc bảo đảm sự an lạc của mình thông qua sự khơi dậy cảm xúc và dục vọng. Không có những phản ứng cảm xúc này, cơ thể sẽ dửng dưng với chính sự sống còn của nó. Do đó, Mặt Trăng tượng trưng cho người mẹ, người đảm nhận chức năng bảo vệ này đối với đứa trẻ sơ sinh bất lực. |
|
Some esotcricists have called the Moon “the prison house of the soul,” because of the extent to which man is at the mercy of his moods. However, when the Moon has lost its power to delude, this shell of sentient matter becomes a lighted house in which the Soul gladly dwells, and which it illumines from within. |
Một số nhà nội môn học đã gọi Mặt Trăng là “nhà tù của linh hồn”, vì mức độ con người bị phó mặc cho các tâm trạng của mình. Tuy nhiên, khi Mặt Trăng đã mất quyền năng mê hoặc, lớp vỏ chất liệu hữu cảm này trở thành một ngôi nhà được thắp sáng, nơi Linh hồn hoan hỷ cư ngụ và chiếu sáng từ bên trong. |
MERCURY — The Messenger — SAO THỦY — Sứ Giả
|
Mercury serves as emissary for the Sun which it alternately precedes and follows. (In a horoscope, Mercury and the Sun are never more than twenty-eight degrees apart.) The task of this wing-footed messenger of the gods is to weave the shimmering strands of light which stream through space into a web of intricate design. Shuttling back and forth with wavelike motion, it draws parallel threads together and binds the frayed edges of the universe into a vibrant network of meaningful connections. |
Sao Thủy đóng vai trò sứ giả cho Mặt Trời, khi thì đi trước, khi thì theo sau nó. Trong lá số chiêm tinh, Sao Thủy và Mặt Trời không bao giờ cách nhau quá hai mươi tám độ. Nhiệm vụ của vị sứ giả có chân mang cánh này của các thần là dệt những sợi ánh sáng lấp lánh tuôn chảy qua không gian thành một mạng lưới có thiết kế tinh vi. Qua lại như con thoi với chuyển động dạng sóng, nó kéo các sợi song song lại với nhau và buộc những mép sờn của vũ trụ thành một mạng lưới sống động của những liên hệ đầy ý nghĩa. |
|
While the glyph for the Sun expresses primal unity, and the two horns of the Moon convey the concept of duality, the figure for Mercury is triple. The Moon surmounts the Sun, which is placed over the cross of the Soul. Mercury represents the practical mind. It is intelligence crowned with Matter. Hence, the quality of intellect is directly influenced by whatever the Moon is “reflecting”—whether this be the light of Spirit or the singeing flame of material desires. Even the word “mercurial” suggests the lunar quality of changeability. |
Trong khi ký hiệu của Mặt Trời diễn tả tính thống nhất nguyên sơ, và hai sừng của Mặt Trăng truyền đạt ý niệm nhị nguyên, hình tượng của Sao Thủy lại mang tính tam phân. Mặt Trăng ở trên Mặt Trời, còn Mặt Trời được đặt trên thập giá của Linh hồn. Sao Thủy tượng trưng cho trí thực tiễn. Đó là trí tuệ được Vật Chất đội vương miện. Vì vậy, phẩm tính của trí năng chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi bất cứ điều gì Mặt Trăng đang “phản chiếu” — dù đó là ánh sáng của Tinh thần hay ngọn lửa thiêu đốt của các dục vọng vật chất. Ngay cả từ “thủy tính” cũng gợi lên phẩm tính Mặt Trăng của sự hay thay đổi. |
|
Mercury mediates between the pairs of opposites. If the Sun is the cosmic father and the Moon is the cosmic mother, then Mercury is their child, neither positive nor negative but prepubescently neuter. Human progress begins with Mercury’s gift of analysis. Through the use of the discriminating mind, man can hasten and control his own evolution. He can formulate concepts, explain ideas, and manipulate matter. Mercury represents the gradually accruing knowledge which enables Homo sapiens, the thinking man, to study not only the external world of nature, but also to observe the nature of his inner world of thought and feeling. |
Sao Thủy làm trung gian giữa các cặp đối cực. Nếu Mặt Trời là người cha vũ trụ và Mặt Trăng là người mẹ vũ trụ, thì Sao Thủy là đứa con của các Ngài, không dương cũng không âm, mà trung tính như một đứa trẻ chưa dậy thì. Sự tiến bộ của nhân loại bắt đầu với món quà phân tích của Sao Thủy. Nhờ sử dụng thể trí phân biện, con người có thể thúc nhanh và kiểm soát sự tiến hóa của chính mình. Y có thể hình thành các khái niệm, giải thích các ý tưởng và thao tác với vật chất. Sao Thủy tượng trưng cho tri thức tích lũy dần dần, giúp con người biết suy tư nghiên cứu không chỉ thế giới bên ngoài của thiên nhiên, mà còn quan sát bản chất của thế giới nội tâm gồm tư tưởng và cảm xúc của mình. |
|
The astrologer who wishes to ascertain the manner in which a person’s mind works must look to the placement of Mercury in the natal chart. This planet provides a channel for the will to communicate and shows how an individual registers and classifies the phenomenal effects which impinge upon his senses. If its operations are restricted, then all other potentialities, no matter how impressive, may remain unexploited. The Sun is consciousness in the sense of essential being; but without Mercury’s talent for making connections, this central identity would constitute nothing more than a vast incomprehensible abstraction—a mind with no nerves. Anatomically, Mercury rules the nervous system whose impulses vivify every tissue and cell of the body, relating objective and subjective realms of experience. |
Nhà chiêm tinh muốn xác định cách thể trí của một người vận hành phải xem vị trí của Sao Thủy trong lá số chiêm tinh bản mệnh. Hành tinh này cung cấp một kênh để ý chí truyền đạt, và cho thấy một cá nhân ghi nhận, phân loại các hiệu ứng hiện tượng tác động lên giác quan của y như thế nào. Nếu các hoạt động của nó bị hạn chế, thì mọi tiềm năng khác, dù ấn tượng đến đâu, cũng có thể vẫn không được khai thác. Mặt Trời là tâm thức theo nghĩa bản thể cốt yếu; nhưng nếu không có tài năng tạo liên hệ của Sao Thủy, bản sắc trung tâm này sẽ chẳng hơn gì một trừu tượng mênh mông không thể thấu hiểu — một thể trí không có dây thần kinh. Về mặt giải phẫu, Sao Thủy cai quản hệ thần kinh, với các xung lực làm sinh động từng mô và tế bào của cơ thể, liên kết các cõi kinh nghiệm khách quan và chủ quan. |
|
Mercury is sometimes associated with mischievous, childlike, and amoral behavior. Yet without this agile offspring, the Sun and Moon would remain aloof and isolated from each other, accomplishing nothing. The Mercurial intellect partakes equally of the Sun’s ability to act and the Moon’s capacity to react. Deriving its qualities from both parents, the mind can operate in two directions simultaneously. Thought can be employed to analyze or to synthesize, to divide or to rejoin the multitude of separate perceptions by which man is attached to the various worlds with which he interacts. |
Sao Thủy đôi khi gắn với hành vi tinh nghịch, trẻ con và phi luân lý. Tuy nhiên, nếu không có hậu duệ linh hoạt này, Mặt Trời và Mặt Trăng sẽ vẫn xa cách và cô lập với nhau, chẳng thực hiện được điều gì. Trí năng Sao Thủy tham dự ngang nhau vào khả năng hành động của Mặt Trời và năng lực phản ứng của Mặt Trăng. Nhận phẩm tính từ cả hai cha mẹ, thể trí có thể vận hành theo hai hướng đồng thời. Tư tưởng có thể được dùng để phân tích hoặc tổng hợp, để chia tách hoặc nối lại vô số nhận thức riêng biệt qua đó con người gắn kết với các thế giới khác nhau mà y tương tác. |
VENUS — The Goddess of Love and Beauty — SAO KIM — Nữ Thần Tình Yêu và Sắc Đẹp
|
The symbol for Venus resembles the symbol of Mercury without ‘the Moon on top. The circle of Spirit is not held down by the weight of Matter but rises out of the corporeal world as though reascending to its own realm. This glyph can also be taken to depict the Sun energizing the field of relationships (the cross) and stimulating growth. |
Biểu tượng của Sao Kim giống biểu tượng của Sao Thủy nhưng không có Mặt Trăng ở phía trên. Vòng tròn của Tinh thần không bị sức nặng của Vật Chất ghì xuống, mà vươn lên khỏi thế giới hữu hình như thể đang trở về cõi riêng của nó. Ký hiệu này cũng có thể được xem là hình ảnh Mặt Trời tiếp năng lượng cho trường các mối quan hệ, tức thập giá, và kích thích sự tăng trưởng. |
|
Venus represents the cosmic principle of attraction which causes all things to cohere into orderly designs. It carries out nature’s beneficent decree that ever finer forms of esthetic expression be fashioned. Thus, the cross anchors the circle of the Sun to earth and makes its power demonstrably effective. |
Sao Kim tượng trưng cho nguyên lý hấp dẫn vũ trụ, khiến mọi sự vật kết dính thành những mẫu hình trật tự. Nó thi hành sắc lệnh từ ái của thiên nhiên rằng những hình thức biểu đạt thẩm mỹ ngày càng tinh tế hơn phải được tạo tác. Như vậy, thập giá neo vòng tròn của Mặt Trời vào trái đất và khiến quyền năng của nó trở nên hiệu quả rõ ràng. |
|
Mythologically, Venus is the Roman goddess of love and beauty. The Venusian desire for harmony sublimates the basic sexual urge into socially acceptable modes of behavior which promote cultural enterprises and ensure mutual cooperation. Venus sounds the mating call which draws the opposite sexes together, but at the same time insists upon the adornments and proprieties which hold male and female apart. In this way, the instinct for procreation is channeled into artistic creation. The romantic influence of this planet is seen in the colors of flowers, songs of birds, and all the amorous devices of nature which make the coming together of the sexes an ecstatic ritual of courtship and union. Mercury, the stellar master of ceremonies, has initiated the festivities by introducing the partners to each other. Now Venus plays the tune to which they enact their roles in the great dance of love. |
Về thần thoại, Sao Kim là nữ thần La Mã của tình yêu và sắc đẹp. Dục vọng Sao Kim hướng đến hài hòa thăng hoa xung lực tính dục căn bản thành những lối hành xử được xã hội chấp nhận, thúc đẩy các công cuộc văn hóa và bảo đảm sự hợp tác lẫn nhau. Sao Kim cất tiếng gọi giao phối kéo hai phái đối nghịch lại với nhau, nhưng đồng thời cũng đòi hỏi những trang sức và lễ nghi giữ cho nam và nữ tách biệt. Theo cách này, bản năng sinh sản được dẫn vào sáng tạo nghệ thuật. Ảnh hưởng lãng mạn của hành tinh này được thấy trong màu sắc của hoa, tiếng hót của chim và mọi phương tiện yêu đương của thiên nhiên khiến sự gặp gỡ của hai phái trở thành một nghi thức ngây ngất của tán tỉnh và hợp nhất. Sao Thủy, vị chủ lễ tinh tú, đã khai mở cuộc vui bằng cách giới thiệu hai người bạn đời với nhau. Giờ đây Sao Kim tấu lên giai điệu để họ diễn các vai của mình trong vũ điệu vĩ đại của tình yêu. |
|
The symbol for this planet may be imagined as a looking glass in which the goddess of beauty contemplates her captivating reflection. Venus is Nature, the coquette, courting admiration by showing off in a multitude of ingeniously contrived disguises. In its more elevated aspect, the Venusian spirit is displayed in every graceful form and act of devotion which mirrors the divine quality of love. |
Biểu tượng của hành tinh này có thể được hình dung như một chiếc gương soi, trong đó nữ thần sắc đẹp chiêm ngưỡng hình ảnh phản chiếu quyến rũ của mình. Sao Kim là Thiên nhiên, nàng duyên dáng làm dáng, tìm kiếm sự ngưỡng mộ bằng cách phô diễn trong vô số lớp ngụy trang được tạo tác khéo léo. Ở phương diện cao hơn, tinh thần Sao Kim được biểu lộ trong mọi hình thức duyên dáng và mọi hành vi hiến dâng phản chiếu phẩm tính thiêng liêng của tình yêu. |
|
In the body, Venus rules the venous circulation, the afferent nerves, and all inwardly directed impulses. It refers to the taking in and absorption of food, sensations, and affections, as well as to the feeling of gratification resulting from their assimilation. As the power to attract and to create an alluring appearance, this agreeable planet richly deserves its traditional title of the lesser benefic. |
Trong cơ thể, Sao Kim cai quản tuần hoàn tĩnh mạch, các dây thần kinh hướng tâm và mọi xung lực hướng vào trong. Nó liên quan đến việc tiếp nhận và hấp thu thức ăn, cảm giác và tình cảm, cũng như cảm giác thỏa mãn phát sinh từ sự đồng hóa chúng. Là quyền năng thu hút và tạo nên một vẻ ngoài hấp dẫn, hành tinh dễ chịu này rất xứng đáng với danh hiệu truyền thống là cát tinh nhỏ. |
MARS — The Warrior — SAO HỎA — Chiến Binh
|
The outgoing potency of Mars contrasts sharply with the ingathering feminine magnetism of Venus. Originally, the glyph for this planet of personal initiative was drawn with a cross instead of a barb on top, in the following manner: 5 |
Uy lực hướng ra ngoài của Sao Hỏa tương phản mạnh mẽ với từ lực nữ tính thu gom vào trong của Sao Kim. Ban đầu, ký hiệu của hành tinh đại diện cho sáng kiến cá nhân này được vẽ với một thập giá thay vì một mũi nhọn ở trên, theo cách sau: 5 |
|
The cross surmounting the circle shows that the Spirit in man and nature must submit to the necessity for struggle and pain. Venus glorifies matter, but Mars sets out to conquer and overcome the limitations of earthly experience. |
Thập giá ở trên vòng tròn cho thấy Tinh thần trong con người và thiên nhiên phải quy phục nhu cầu đấu tranh và đau khổ. Sao Kim tôn vinh vật chất, nhưng Sao Hỏa lên đường chinh phục và vượt qua các giới hạn của kinh nghiệm trần thế. |
|
The commonly used symbol for Mars has sexual overtones, as does the symbol for the sign Scorpio of which it is co-ruler. The uprising arrow represents the instinct of aggression, the passionate urge to pierce through resisting barriers and to fight for the objects desired. In Greek mythology, Mars was known as Ares, the god of battle, and to this day he maintains his reputation as the warrior of the zodiac. |
Biểu tượng thường dùng của Sao Hỏa có sắc thái tính dục, cũng như biểu tượng của dấu hiệu Hổ Cáp mà nó đồng chủ quản. Mũi tên vươn lên tượng trưng cho bản năng công kích, xung lực mãnh liệt muốn xuyên thủng các rào cản kháng cự và chiến đấu vì những đối tượng được khao khát. Trong thần thoại Hy Lạp, Sao Hỏa được biết đến là thần chiến trận, và cho đến ngày nay nó vẫn giữ danh tiếng là chiến binh của Hoàng đạo. |
|
Venus, which circles the Sun on the inner side of Earth’s orbit, draws all things inward toward the center. Mars, by contrast, travels on the outer side of Earth and pulls all things away from the center. The former is a centripetal force, the latter a centrifugal force. In the natal chart, their relationship to each other pertains to an individual’s social adjustment, just as the relationship between the Sun and the Moon describes basic character. |
Sao Kim, vốn quay quanh Mặt Trời ở phía trong quỹ đạo Trái Đất, kéo mọi sự vật vào trong, hướng về trung tâm. Trái lại, Sao Hỏa di chuyển ở phía ngoài Trái Đất và kéo mọi sự vật ra khỏi trung tâm. Cái trước là lực hướng tâm, cái sau là lực ly tâm. Trong lá số chiêm tinh bản mệnh, mối quan hệ giữa chúng liên quan đến sự thích nghi xã hội của một cá nhân, cũng như mối quan hệ giữa Mặt Trời và Mặt Trăng mô tả tính cách căn bản. |
|
Earth, which is located between Mars and Venus, is symbolized by a circle containing a cross—a figure resembling the framework of the horoscope. This cross suggests a man standing with outstretched arms. He represents neither Spirit nor Matter but the indissoluble union of the two. A person walks with his spine erect, yet nature requires him to spend a part of each day in a horizontal position. The cross within the circle also refers to the four directions, the four seasons, and the four elements. Since Earth is, symbolically, at cross-purposes with itself, occultists have labeled it “the star of suffering.” The three related arrangements of the same components are shown below: |
Trái Đất, nằm giữa Sao Hỏa và Sao Kim, được tượng trưng bằng một vòng tròn chứa thập giá — một hình tượng giống khung của lá số chiêm tinh. Thập giá này gợi hình một người đứng dang tay. Y không tượng trưng cho Tinh thần cũng không tượng trưng cho Vật Chất, mà cho sự hợp nhất bất khả phân ly của cả hai. Con người bước đi với cột sống thẳng đứng, tuy vậy thiên nhiên đòi hỏi y dành một phần mỗi ngày ở tư thế nằm ngang. Thập giá trong vòng tròn cũng liên quan đến bốn phương, bốn mùa và bốn hành. Vì Trái Đất, về mặt biểu tượng, tự mâu thuẫn với chính mình, nên các nhà huyền môn đã gọi nó là “ngôi sao của khổ đau”. Ba cách sắp xếp liên hệ của cùng các thành phần được trình bày dưới đây: |
|
Venus Earth Mars |
Sao Kim Trái Đất Sao Hỏa |
|
Venus shows the Spirit rising above material limitations and aspiring to return to its source. Mars shows the Spirit held down by the weight of the cross. Man on Earth is torn between these opposing drives. He craves the peace and harmony of the Venusian ideal, yet his Martian assertiveness makes him an instigator of war and strife. |
Sao Kim cho thấy Tinh thần vươn lên trên các giới hạn vật chất và khao khát trở về nguồn cội của mình. Sao Hỏa cho thấy Tinh thần bị sức nặng của thập giá ghì xuống. Con người trên Trái Đất bị giằng xé giữa những thôi thúc đối nghịch này. Y khao khát sự bình an và hài hòa của lý tưởng Sao Kim, nhưng tính quyết đoán Sao Hỏa của y lại khiến y trở thành kẻ khơi mào chiến tranh và xung đột. |
|
Mars rules the arterial circulation, efferent nerves, the elimination of waste products, and the body’s emission of heat. However, it can function effectively only in cooperation with Venus. If the Sun and Moon are the father and mother of creation, Mars and Venus are the heavenly lovers, magnetically drawn together, with each one needing what the other has to give in order to achieve completion. |
Sao Hỏa cai quản tuần hoàn động mạch, các dây thần kinh ly tâm, sự đào thải chất thải và sự phát nhiệt của cơ thể. Tuy nhiên, nó chỉ có thể vận hành hiệu quả trong sự hợp tác với Sao Kim. Nếu Mặt Trời và Mặt Trăng là cha và mẹ của sáng tạo, thì Sao Hỏa và Sao Kim là đôi tình nhân trên trời, bị hút vào nhau bằng từ lực, mỗi bên cần điều mà bên kia có thể trao để đạt đến sự hoàn mãn. |
JUPITER – The Prophet — SAO MỘC – Nhà Tiên Tri
|
The glyph for Jupiter shows the crescent Moon turned outward and surmounting an arm of the cross. It is reminiscent of Venus but with the Moon rather than the Sun raised aloft. This elevated Moon suggests the spiritualizing of Matter through the orderly process of evolution. Jupiter, the planet of wisdom and planned expansion, is related to the Moon and Venus because the unfoldment of man’s higher abstract mind is a natural outgrowth of his gradually developing psychic mechanism of personal feelings and social responses. |
Ký hiệu của Sao Mộc cho thấy lưỡi liềm Mặt Trăng quay ra ngoài và ở trên một nhánh của thập giá. Nó gợi nhớ đến Sao Kim, nhưng với Mặt Trăng chứ không phải Mặt Trời được nâng lên cao. Mặt Trăng được nâng cao này gợi ý sự tinh thần hóa Vật Chất qua tiến trình tiến hóa có trật tự. Sao Mộc, hành tinh của minh triết và sự mở rộng có kế hoạch, liên hệ với Mặt Trăng và Sao Kim vì sự khai mở thượng trí trừu tượng của con người là kết quả tự nhiên của cơ chế tâm linh đang phát triển dần dần nơi các cảm xúc cá nhân và đáp ứng xã hội của y. |
|
According to legend, the infant Jupiter, known as Zeus to the Greeks and as Jove to the Romans, was raised on the milk of a goat whose horns continually overflowed with food and drink. This was the origin of the horn of plenty, or cornucopia. Therefore, Jupiter’s symbol shows a horned Moon pouring out its gifts through the cross of experience. Mythologically, Jupiter was supreme among the gods. The name Jupiter derives from the words “Jovis Pater,” meaning Father Jupiter. |
Theo truyền thuyết, hài nhi Sao Mộc, được người Hy Lạp biết đến là Zeus và người La Mã gọi là Jove, được nuôi lớn bằng sữa của một con dê có cặp sừng liên tục tràn đầy thức ăn và thức uống. Đây là nguồn gốc của chiếc sừng sung túc, hay sừng phong nhiêu. Do đó, biểu tượng của Sao Mộc cho thấy một Mặt Trăng có sừng đang tuôn đổ các tặng phẩm của nó qua thập giá của kinh nghiệm. Về mặt thần thoại, Sao Mộc là vị tối cao trong các thần. Tên Jupiter bắt nguồn từ những từ “Jovis Pater”, nghĩa là Cha Jupiter. |
|
Although Jupiter is a planet of growth, its function extends far beyond the capacity to accumulate raw materials (in the manner of the Moon) and to arrange them into pleasing patterns (in the manner of Venus). Jupiter coordinates the assimilated personal and interpersonal experience of the Moon and Venus. The Moon represents the masses and Venus represents society, but Jupiter represents the collective order which determines the behavior of aggregates of individuals. The Moon signifies simple quantity. Venus adds quality, and Jupiter is mindful of the deeper implications of what has been wrought. Since this farseeing planet operates within the confines of Saturnian convention, its expansiveness is generally contained within the bounds of propriety. |
Mặc dù Sao Mộc là một hành tinh của sự tăng trưởng, chức năng của nó vượt xa khả năng tích lũy nguyên liệu thô theo cách của Mặt Trăng và sắp xếp chúng thành những mẫu hình đẹp mắt theo cách của Sao Kim. Sao Mộc phối hợp kinh nghiệm cá nhân và liên cá nhân đã được đồng hóa của Mặt Trăng và Sao Kim. Mặt Trăng biểu thị quần chúng và Sao Kim biểu thị xã hội, nhưng Sao Mộc biểu thị trật tự tập thể quyết định hành vi của các tập hợp cá nhân. Mặt Trăng biểu thị số lượng đơn thuần. Sao Kim thêm vào phẩm tính, và Sao Mộc lưu tâm đến những hàm ý sâu xa hơn của điều đã được tạo tác. Vì hành tinh có tầm nhìn xa này hoạt động trong giới hạn của quy ước mang tính Sao Thổ, tính mở rộng của nó thường được giữ trong phạm vi của sự thích đáng. |
|
Together, the Moon, Venus, and Jupiter represent successive stages in the evolution of consciousness through the creation of family, social, and civic relationships. Jupiter lives up to its name of the greater benefic by bestowing the abundance for which the Moon provides the raw materials and Venus the artistic inspiration. It stimulates the mind to look beyond the names and forms of things in order to encompass their deeper purposes and philosophical implications. |
Cùng nhau, Mặt Trăng, Sao Kim và Sao Mộc biểu thị các giai đoạn kế tiếp trong sự tiến hóa của tâm thức qua việc tạo lập các mối quan hệ gia đình, xã hội và công dân. Sao Mộc xứng đáng với danh xưng đại cát tinh của mình khi ban cho sự sung mãn mà Mặt Trăng cung cấp nguyên liệu thô và Sao Kim cung cấp cảm hứng nghệ thuật. Nó kích thích thể trí nhìn vượt quá tên gọi và hình tướng của sự vật để bao quát các mục đích sâu xa hơn và những hàm ý triết học của chúng. |
|
Physically, Jupiter is a large planet in keeping with the largesse it promises. It is also extremely light, being composed of rarefied gases, and conveys a corresponding psychological quality of buoyancy. However, the real magnitude of Jupiter lies in its power of vision. The spiritually evolved Jupiterian has the gift of prophecy and is imbued with an optimistic faith in nature’s abundance. As a result of this capacity for positive thinking, he is often favored with the personal prestige and general prosperity he assumes to be his due. |
Về mặt thể chất, Sao Mộc là một hành tinh lớn, phù hợp với sự hào phóng mà nó hứa hẹn. Nó cũng cực kỳ nhẹ, vì được cấu thành từ các khí loãng, và truyền đạt một phẩm tính tâm lý tương ứng là sự phấn chấn. Tuy nhiên, tầm vóc thật sự của Sao Mộc nằm trong quyền năng tầm nhìn của nó. Người mang tính Sao Mộc đã tiến hóa về tinh thần có thiên phú tiên tri và thấm nhuần một niềm tin lạc quan vào sự phong phú của thiên nhiên. Do khả năng tư duy tích cực này, y thường được ưu ái bằng uy tín cá nhân và sự thịnh vượng chung mà y cho là phần xứng đáng của mình. |
SATURN — The Lawgiver — SAO THỔ — Đấng Ban Luật
|
The glyph for Saturn is composed of the same cross and crescent as the glyph for Jupiter, but this time the cross is on top and the crescent turns inward. Unlike the Jupiterian, who derives satisfaction from ownership, the Saturnian person feels burdened with the weight of material responsibilities. The cross then becomes the symbol of crucifixion and, like the marker on a grave, it casts a gloomy shadow. |
Ký hiệu của Sao Thổ được cấu thành từ cùng một thập giá và lưỡi liềm như ký hiệu của Sao Mộc, nhưng lần này thập giá ở phía trên và lưỡi liềm quay vào trong. Khác với người mang tính Sao Mộc, người tìm thấy sự thỏa mãn trong quyền sở hữu, người mang tính Sao Thổ cảm thấy bị đè nặng bởi trọng lượng của các trách nhiệm vật chất. Khi ấy thập giá trở thành biểu tượng của sự đóng đinh, và giống như dấu mốc trên một nấm mộ, nó phủ xuống một bóng tối u ám. |
|
As the planet of limitation, Saturn demarcates not only the circle in space, but also the cycle in time. Being concerned with endings, Saturn stands for seniority, senility, and the termination of life. Anatomically, it rules the skin which confines, and the skeleton which defines, the structure of the body. It represents the contracting, crystallizing tendencies of the aging process whereby forms grow hard and rigid, finally becoming so brittle that they shatter and are pulverized into the dust from which new forms are shaped. The power of Saturn can be impersonally compressive or personally oppressive according to circumstance. |
Là hành tinh của giới hạn, Sao Thổ không chỉ phân định vòng tròn trong không gian, mà còn phân định chu kỳ trong thời gian. Vì liên quan đến những kết thúc, Sao Thổ tượng trưng cho thâm niên, sự suy lão và sự chấm dứt của đời sống. Về mặt giải phẫu, nó chủ quản làn da vốn giới hạn, và bộ xương vốn xác định cấu trúc của thân thể. Nó biểu thị các khuynh hướng co rút, kết tinh của tiến trình lão hóa, nhờ đó các hình tướng trở nên cứng và rắn, cuối cùng giòn đến mức vỡ vụn và bị nghiền thành bụi, từ đó các hình tướng mới được tạo hình. Quyền năng của Sao Thổ có thể mang tính nén ép vô ngã hoặc áp bức cá nhân, tùy hoàn cảnh. |
|
All lives are limited by time and death. Saturn’s symbol is the sickle with which Father Time, the grim reaper, cuts down the harvest of man’s years. Mythologically, Saturn is Cronus, the god who killed and ate his children—which, if not a pleasant image, is at least a graphic way of saying that whatever is born of time, dies in time. |
Mọi đời sống đều bị giới hạn bởi thời gian và cái chết. Biểu tượng của Sao Thổ là lưỡi liềm mà Cha Thời Gian, kẻ gặt hái nghiệt ngã, dùng để cắt xuống mùa gặt những năm tháng của con người. Về thần thoại, Sao Thổ là Cronus, vị thần đã giết và ăn thịt con mình—điều này, nếu không phải là một hình ảnh dễ chịu, thì ít nhất cũng là một cách diễn đạt sống động rằng bất cứ điều gì sinh ra từ thời gian, đều chết trong thời gian. |
|
Saturn solidifies structures. Although it can be a tough taskmaster, its walls are basically protective and its restrictions ensure growth and survival, as well as death. While occupying a place in space and time, all entities must bow to the Saturnian necessity to abide by the law, whether these laws be natural or man-made decrees. Should they refuse to cooperate, conflict ensues and forces the often painful process of discovery that freedom arises only out of self-control. Thus, laws can be external like the skin and shell, or internal like the backbone of an organism. |
Sao Thổ làm các cấu trúc trở nên rắn chắc. Dù có thể là một người giám sát khắc nghiệt, các bức tường của nó về căn bản mang tính bảo vệ, và các hạn chế của nó bảo đảm sự tăng trưởng và sinh tồn, cũng như cái chết. Khi chiếm một vị trí trong không gian và thời gian, mọi thực thể đều phải cúi đầu trước sự tất yếu mang tính Sao Thổ là tuân theo luật, dù các luật ấy là luật tự nhiên hay các sắc lệnh do con người đặt ra. Nếu họ từ chối hợp tác, xung đột sẽ phát sinh và buộc tiến trình khám phá thường đau đớn phải diễn ra: tự do chỉ nảy sinh từ sự tự chủ. Như vậy, các luật có thể ở bên ngoài như da và vỏ, hoặc ở bên trong như xương sống của một sinh vật. |
|
Saturn can denote a hard time—or hard work. It is often feared because it dictates that each individual shall receive precisely what he deserves, regardless of whether he thinks he deserves it or not. It is exact and exacting. Once its discipline has been accepted, however, Saturn turns and shows its true nature as the planet of perfect justice and highest achievement. Adherence to duty is rewarded in full measure. |
Sao Thổ có thể biểu thị một thời kỳ khó khăn—hoặc công việc khó nhọc. Nó thường bị sợ hãi vì nó quy định rằng mỗi cá nhân sẽ nhận đúng điều y xứng đáng, bất kể y nghĩ mình có xứng đáng hay không. Nó chính xác và nghiêm khắc. Tuy nhiên, một khi kỷ luật của nó đã được chấp nhận, Sao Thổ quay lại và bộc lộ bản chất thật của mình như hành tinh của công lý hoàn hảo và thành tựu cao nhất. Sự trung thành với bổn phận được đền đáp đầy đủ. |
|
In infancy, Saturn’s touch is gentle upon the malleable clay of sentient substance. As time presses on, however, the grinding edge is sharpened on the inexorably revolving wheels of fate which shape the hardening form. For some individuals this compulsory polishing of character entails resistance, friction, and pain. Then Saturn’s mill wheels are regarded as gears in a malevolent mechanism which relentlessly crushes and pulverizes whatever has become withered or encrusted with extraneous matter. Only those who submit willingly to this refining process can shed their dry husks and become like grain which, having been threshed, ground, and kneaded, is transformed into bread, the staff of life. |
Trong thời thơ ấu, sự chạm đến của Sao Thổ dịu nhẹ trên đất sét dễ uốn của chất liệu hữu cảm. Tuy nhiên, khi thời gian thúc ép tiến tới, lưỡi mài được mài sắc trên những bánh xe định mệnh xoay chuyển không thể cưỡng, vốn định hình hình tướng đang cứng lại. Đối với một số cá nhân, việc đánh bóng tính cách bắt buộc này kéo theo sự kháng cự, ma sát và đau đớn. Khi ấy, các bánh xe cối xay của Sao Thổ được xem như những bánh răng trong một cơ chế độc ác, không ngừng nghiền nát và tán vụn bất cứ điều gì đã héo úa hoặc bị đóng vảy bởi vật chất ngoại lai. Chỉ những ai tự nguyện thuận phục tiến trình tinh luyện này mới có thể rũ bỏ lớp vỏ khô của mình và trở nên như hạt lúa, sau khi đã được đập, xay và nhào, được biến thành bánh mì, nguồn nâng đỡ sự sống. |
|
It is possible to trace a line of development linking the Sun, Mars, and Saturn, which parallels the line linking the Moon, Venus, and Jupiter. Mars is called the lesser malefic and Saturn the greater malefic. Mars projects the Sun’s primal fire into the storm and heat of battle; Saturn shuts it out in the icy cold of death. Yet they work according to plan—for conflict and death release the Spirit imprisoned in Matter and permit its return to the solar reservoir of radiant energy from whence it originally came. |
Có thể truy nguyên một đường phát triển nối kết Mặt Trời, Sao Hỏa và Sao Thổ, song song với đường nối kết Mặt Trăng, Sao Kim và Sao Mộc. Sao Hỏa được gọi là tiểu hung tinh và Sao Thổ là đại hung tinh. Sao Hỏa phóng chiếu lửa nguyên sơ của Mặt Trời vào bão tố và sức nóng của chiến trận; Sao Thổ khóa nó lại trong cái lạnh băng giá của cái chết. Tuy vậy, chúng vận hành theo kế hoạch—vì xung đột và cái chết giải phóng Tinh Thần bị giam hãm trong Vật Chất và cho phép nó trở về kho chứa mặt trời của năng lượng rạng rỡ, nơi từ đó nó đã phát xuất ban đầu. |
URANUS — The Awakener — SAO THIÊN VƯƠNG — Đấng Đánh Thức
|
The symbol for Uranus is said to be a representation of the letter “H” in honor of its discoverer William Herschel. At this point, the tidy system of circle, cross, and crescent seems to break down. However, many astrologers consider the upright pillars of the “H” to be two crescent Moons placed back to back in the following manner: |
Biểu tượng của Sao Thiên Vương được cho là một cách biểu thị chữ “H” nhằm tôn vinh người khám phá ra nó, William Herschel. Ở điểm này, hệ thống gọn gàng gồm vòng tròn, thập giá và lưỡi liềm dường như tan rã. Tuy nhiên, nhiều nhà chiêm tinh xem hai trụ thẳng đứng của chữ “H” là hai Mặt Trăng lưỡi liềm đặt lưng vào nhau theo cách sau: |
|
The deviant construction of this glyph serves as a reminder that Uranus is the most eccentric of the planets. It even travels in a freakish way. Instead of spinning like a top, Uranus lies on its “side” and rolls about its orbit. This causes its five Moons to appear to revolve backward, even though they move in normal fashion with regard to the planet itself. Consequently, Uranus stands for all that is anomalous, original, and unconventional. |
Cấu trúc lệch chuẩn của ký hiệu này nhắc chúng ta rằng Sao Thiên Vương là hành tinh lập dị nhất trong các hành tinh. Nó thậm chí di chuyển theo một cách kỳ dị. Thay vì quay như con quay, Sao Thiên Vương nằm nghiêng trên “một bên” và lăn quanh quỹ đạo của nó. Điều này khiến năm Mặt Trăng của nó có vẻ quay ngược, mặc dù chúng chuyển động theo cách bình thường đối với chính hành tinh ấy. Do đó, Sao Thiên Vương tượng trưng cho mọi điều bất thường, nguyên bản và phi quy ước. |
|
Between the two outward-facing crescents, the cross surmounts the circle, showing the Mars-like power Uranus exerts to shatter and transform outmoded structures and strictures of the past. In its cool, impersonal way, Uranus unleashes a force more potent than any previously known to man. It stands for electricity and for atomic radiation (first released through the agency of the element Uranium). Novices can remember the symbol for the planet because it appears to be dropping a bomb. These explosive energies may at first seem destructive, but they are required to smash through Saturnian walls and liberate the spirit of man. |
Giữa hai lưỡi liềm hướng ra ngoài, thập giá ở trên vòng tròn, cho thấy quyền năng giống Sao Hỏa mà Sao Thiên Vương vận dụng để phá vỡ và chuyển hóa các cấu trúc và sự ràng buộc lỗi thời của quá khứ. Theo cách lạnh lùng, vô ngã của mình, Sao Thiên Vương phóng thích một mãnh lực mạnh hơn bất cứ điều gì con người từng biết trước đó. Nó tượng trưng cho điện lực và bức xạ nguyên tử, lần đầu tiên được giải phóng qua tác nhân là nguyên tố Uranium. Người mới học có thể nhớ biểu tượng của hành tinh này vì nó trông như đang thả một quả bom. Ban đầu, những năng lượng bùng nổ này có thể có vẻ phá hoại, nhưng chúng cần thiết để đập vỡ các bức tường mang tính Sao Thổ và giải phóng tinh thần của con người. |
|
Uranus is generally considered to be “a higher octave” of Mercury. Hence, its glyph includes the twin pillars of Mercury’s sign Gemini, which stands for the ability to relate the dualities of life. The cross depicts the forces circulating between these two poles. Mercury makes logical connections, but Uranus, having gone beyond the bounds of Saturn, overleaps the barriers of space and time. Mercury rules the telephone which is dependent on wires, while Uranus rules radio waves flashing through the ether. Mercury is the nervous system, but Uranus is the electrical force which flows freely through the subtle nerve channels and radiates into the atmosphere. |
Sao Thiên Vương thường được xem là “một bát độ cao hơn” của Sao Thủy. Vì thế, ký hiệu của nó bao gồm hai trụ song sinh của dấu hiệu Song Tử do Sao Thủy chủ quản, vốn tượng trưng cho khả năng liên hệ các nhị nguyên của đời sống. Thập giá mô tả các lực lưu chuyển giữa hai cực này. Sao Thủy tạo các mối liên hệ hợp lý, nhưng Sao Thiên Vương, sau khi vượt khỏi giới hạn của Sao Thổ, nhảy vượt qua các rào cản của không gian và thời gian. Sao Thủy chủ quản điện thoại vốn phụ thuộc vào dây dẫn, trong khi Sao Thiên Vương chủ quản sóng vô tuyến lóe qua không gian tinh tế. Sao Thủy là hệ thần kinh, nhưng Sao Thiên Vương là lực điện tuôn chảy tự do qua các kênh thần kinh vi tế và tỏa ra bầu khí quyển. |
|
The intuitive insight of Uranus is apt to come in flashes. It is original, scientific, and devoid of sentimentality. Uranus is neither benefic nor malefic but, like lightning, illumines or shatters with scant regard for the havoc left in its wake. As an electromagnetic dynamo with an alternating current, Uranus is not sexless like Mercury, but bisexual, being simultaneously masculine and feminine. It is revolutionary in its mission of overthrowing Saturn’s established order, as well as in the literal sense that electricity circulates around a central rod and causes wheels to revolve. Uranus sets out not merely to reform but to transform the world. To accomplish this stupendous task, it must draw upon sources of energy superior to those on which mankind has traditionally been dependent. |
Linh thị trực giác của Sao Thiên Vương thường đến trong những tia chớp. Nó nguyên bản, khoa học và không có tính ủy mị. Sao Thiên Vương không phải cát tinh cũng không phải hung tinh, nhưng giống như tia sét, nó soi sáng hoặc phá vỡ mà ít quan tâm đến sự tàn phá để lại phía sau. Là một máy phát điện từ với dòng điện xoay chiều, Sao Thiên Vương không vô tính như Sao Thủy, mà lưỡng tính, đồng thời là nam tính và nữ tính. Nó mang tính cách mạng trong sứ mệnh lật đổ trật tự đã được thiết lập của Sao Thổ, cũng như theo nghĩa đen rằng điện lực lưu chuyển quanh một thanh trung tâm và khiến các bánh xe quay. Sao Thiên Vương không chỉ bắt tay vào cải cách mà còn chuyển hóa thế giới. Để hoàn thành nhiệm vụ phi thường này, nó phải rút lấy từ những nguồn năng lượng cao hơn các nguồn mà nhân loại đã truyền thống dựa vào. |
NEPTUNE — The Lord of the Sea — SAO HẢI VƯƠNG — Chúa Tể của Biển Cả
|
Neptune’s symbol, the trident, signifies sovereignty over the sea. Metaphysically, this sea is the reservoir of primal substance from which all forms are fashioned and into which all are reabsorbed. It is the oceanic flux of ceaseless change as well as the waters which cover and permeate the earth. Neptune dissolves the scattered debris left over from Uranian upheavals so that the residue may recede into the whirling torrent of undifferentiated matter to be re-individualized in a new cycle. |
Biểu tượng của Sao Hải Vương, cây đinh ba, biểu thị chủ quyền trên biển cả. Về mặt siêu hình, biển này là kho chứa chất liệu nguyên sơ, từ đó mọi hình tướng được tạo nên và vào đó mọi hình tướng được tái hấp thu. Nó là dòng chảy đại dương của sự biến đổi không ngừng, cũng như là các vùng nước bao phủ và thấm nhuần trái đất. Sao Hải Vương hòa tan những mảnh vụn phân tán còn lại sau các biến động mang tính Sao Thiên Vương, để phần cặn có thể rút lui vào dòng xoáy của vật chất chưa phân hóa và được cá thể hóa trở lại trong một chu kỳ mới. |
|
The trident depicts the chalice of the Moon superimposed upon the cross of the Soul. Chalice and cross together represent the psychic effluvium known as the anima mundi, “the soul of all things,” and the sentient principle in nature. Neptune is the consort of the Moon with which it shares dominion over the waters of space. Therefore, Neptune’s trident is sometimes drawn as though composed of two crescent Moons, the one mirroring the other. |
Cây đinh ba mô tả chén thánh của Mặt Trăng đặt chồng lên thập giá của Linh Hồn. Chén thánh và thập giá cùng nhau biểu thị dòng phát tán tâm linh được gọi là “linh hồn của vạn vật”, và nguyên lý hữu cảm trong thiên nhiên. Sao Hải Vương là người phối ngẫu của Mặt Trăng, cùng chia sẻ quyền thống trị trên các vùng nước của không gian. Vì vậy, cây đinh ba của Sao Hải Vương đôi khi được vẽ như thể cấu thành từ hai Mặt Trăng lưỡi liềm, cái này phản chiếu cái kia. |
|
As a higher octave of Venus, Neptune tantalizes the senses with the ideal of a surpassing love and beauty beyond the capacity of the ego-encapsulated intellect to conceive. It terminates existence in the mundane world, not through the slow constriction of Saturn or the smashing impact of Uranus, but as a blessed release into a heaven of peace and bliss. Neptune carries the love of Venus and the foresight of Jupiter beyond Saturnian limitations and onto a higher plane of consciousness where it envisions the ultimate redemption of matter. |
Là một bát độ cao hơn của Sao Kim, Sao Hải Vương quyến rũ các giác quan bằng lý tưởng về một tình yêu và vẻ đẹp vượt trội, vượt quá khả năng quan niệm của trí năng bị bản ngã bao bọc. Nó chấm dứt sự hiện hữu trong thế giới phàm tục, không phải qua sự siết chặt chậm rãi của Sao Thổ hay tác động đập vỡ của Sao Thiên Vương, mà như một sự giải thoát đầy ân phúc vào một cõi trời của bình an và phúc lạc. Sao Hải Vương mang tình yêu của Sao Kim và tầm nhìn xa của Sao Mộc vượt khỏi các giới hạn mang tính Sao Thổ và lên một cõi tâm thức cao hơn, nơi nó hình dung sự cứu chuộc tối hậu của vật chất. |
|
Neptune completes the sequence of the Moon, Venus, and Jupiter, showing that the final outcome of growth is the crossing of the threshold of the physical realm into a subtler dimension of being. This planet transcends the separative personality and is primarily concerned with mass emotions and mass movements. If unsuccessful in its socializing action, Neptune may also stir up the mess into which foggy idealism can plunge a crowd of misguided people. Since so few human beings respond sensibly to its ethereal vibrations, Neptune’s influence is almost invariably diffused, like a ray of light passing through the surface of a pool. |
Sao Hải Vương hoàn tất chuỗi Mặt Trăng, Sao Kim và Sao Mộc, cho thấy rằng kết quả cuối cùng của tăng trưởng là việc băng qua ngưỡng của cõi vật lý để bước vào một chiều kích hiện tồn vi tế hơn. Hành tinh này vượt lên trên tính cách phân ly và chủ yếu liên quan đến cảm xúc tập thể và các phong trào quần chúng. Nếu không thành công trong tác động xã hội hóa của mình, Sao Hải Vương cũng có thể khuấy động mớ hỗn độn mà chủ nghĩa lý tưởng mờ sương có thể đẩy một đám đông lầm lạc rơi vào. Vì rất ít con người đáp ứng một cách sáng suốt với các rung động thanh nhẹ của nó, ảnh hưởng của Sao Hải Vương hầu như luôn khuếch tán, như một tia sáng đi qua mặt nước của một hồ. |
|
In the horoscope, Neptune can indicate compassion or confusion. It engenders saintliness and satanism, spiritual sensitivity and susceptibility to drugs, dreams, and delusions. The lightning flashes which Uranus evokes out of the atmosphere are brought down by Neptune and dispersed through every luminously responsive cell in the teeming world of nature. In the human kingdom, the Neptunian energies instill a deep yearning to renounce the pursuit of passing mirages in order to contemplate and reflect upon the numinous essence of all being. |
Trong lá số chiêm tinh, Sao Hải Vương có thể chỉ lòng bi mẫn hoặc sự hỗn loạn. Nó sinh ra tính thánh thiện và chủ nghĩa quỷ dữ, sự nhạy cảm tinh thần và khuynh hướng dễ bị ảnh hưởng bởi ma túy, giấc mơ và ảo tưởng. Những tia chớp mà Sao Thiên Vương gợi lên từ bầu khí quyển được Sao Hải Vương đưa xuống và phân tán qua từng tế bào đáp ứng sáng rực trong thế giới thiên nhiên đông đúc. Trong giới nhân loại, các năng lượng mang tính Sao Hải Vương gieo vào một nỗi khao khát sâu xa muốn từ bỏ việc đuổi theo những ảo ảnh thoáng qua để chiêm nghiệm và phản chiếu về tinh túy linh thiêng của mọi hiện tồn. |
|
Scientists now know that nothing is as solid as it seems. Yet orthodox investigators still presume that only the physical universe is genuinely real. Under the aegis of Neptune, the illusory quality of the world of phenomenal effects begins to impress the mind of the seeker who undertakes to navigate the surging sea of cosmic consciousness in which all creatures swim like fishes, unaware of the subtle currents in which they drift and from which they draw their sustenance. |
Các nhà khoa học nay biết rằng không có gì rắn chắc như vẻ ngoài của nó. Tuy vậy, các nhà nghiên cứu chính thống vẫn giả định rằng chỉ vũ trụ vật lý mới thật sự là thực tại. Dưới sự bảo hộ của Sao Hải Vương, phẩm tính ảo ảnh của thế giới các hiệu ứng hiện tượng bắt đầu gây ấn tượng lên thể trí của người tìm đạo, người bắt tay điều hướng biển cả dâng trào của tâm thức vũ trụ, trong đó mọi sinh vật bơi lội như cá, không hay biết các dòng chảy vi tế mà chúng trôi theo và từ đó chúng rút lấy dưỡng chất. |
|
PLUTO — The Lord of the Netherworld |
SAO DIÊM VƯƠNG — Chúa Tể của Cõi Âm |
|
The symbol for Pluto is sometimes written as an amalgam of the letters “P” and L’ (E) in honor of the astronomer Percival Lowell who calculated that a planet must exist beyond Neptune. The true discoverer of Pluto was Clyde Tombaugh. |
Biểu tượng của Sao Diêm Vương đôi khi được viết như một sự kết hợp của các chữ “P” và “L” để tôn vinh nhà thiên văn học Percival Lowell, người đã tính toán rằng phải có một hành tinh tồn tại bên ngoài Sao Hải Vương. Người thật sự khám phá ra Sao Diêm Vương là Clyde Tombaugh. |
|
No one seems to know how modern astronomers were inspired to assign Uranus, Neptune, and Pluto to their correct places within the pantheon of ancient gods and goddesses. The coincidence that Percival Lowell’s initials happened to form the first two letters of the name Pluto hardly accounts for the fact that this planet received its correct astrological name after being discovered February 18, 1930. |
Dường như không ai biết các nhà thiên văn học hiện đại đã được cảm hứng như thế nào để gán Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương và Sao Diêm Vương vào đúng vị trí của chúng trong điện thờ các vị thần và nữ thần cổ đại. Sự trùng hợp rằng các chữ cái đầu trong tên Percival Lowell tình cờ tạo thành hai chữ đầu của tên Pluto khó có thể giải thích được sự kiện hành tinh này đã nhận đúng tên chiêm tinh của nó sau khi được khám phá vào ngày 18 tháng 2 năm 1930. |
|
Since modern personalities are not congruent with the Olympian deities, most astrologers have discarded the alphabetically formed glyph in favor of Pluto’s proper symbol which is composed of the cross of the Soul and the chalice of the Moon, cradling the seed of the Sun or Spirit. This seed of new life, enfolded by the husk of the past, signifies the Plutonian potential for regeneration and renewal. The seed generally appears in the most remote part of the plant, and similarly, Pluto is the most remote planet in the solar system. Mythologically, Pluto is lord of the netherworld. Therefore, the seed must be buried in the earth before it can grow toward the light. |
Vì các tính cách hiện đại không tương hợp với các thần linh Olympus, hầu hết các nhà chiêm tinh đã loại bỏ ký hiệu hình thành theo mẫu tự để dùng biểu tượng đúng của Sao Diêm Vương, vốn được cấu thành từ thập giá của Linh Hồn và chén thánh của Mặt Trăng, nâng đỡ hạt giống của Mặt Trời hay Tinh Thần. Hạt giống của đời sống mới này, được bao bọc bởi lớp vỏ của quá khứ, biểu thị tiềm năng mang tính Sao Diêm Vương về tái sinh và đổi mới. Hạt giống thường xuất hiện ở phần xa nhất của cây, và tương tự, Sao Diêm Vương là hành tinh xa nhất trong hệ mặt trời. Về thần thoại, Sao Diêm Vương là chúa tể của cõi âm. Vì vậy, hạt giống phải được chôn trong đất trước khi nó có thể lớn lên hướng về ánh sáng. |
|
There has been surprisingly little controversy among astrologers with regard to the meanings of Uranus, Neptune, and Pluto, even though the nature of Pluto is inherently inscrutable. Despite the fact that these planets are billions of miles out in the solar system, their effects have proven so potent that virtually every astrologer now takes them into consideration. The influence of these planets is mainly on groups, although they also seem to affect the lives of individuals who are sufficiently evolved to tune in on their subtle vibrations, or in whose natal charts they are strongly placed. Uranus transforms, Neptune transcends, and Pluto makes the great transition into a new state of being. As the supremely potent seed which abstracts and concentrates the life of the plant, Pluto is not only an end product but the beginning of the reborn entity. |
Đã có ít tranh cãi một cách đáng ngạc nhiên giữa các nhà chiêm tinh về ý nghĩa của Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương và Sao Diêm Vương, dù bản chất của Sao Diêm Vương vốn khó dò. Mặc dù các hành tinh này ở xa hàng tỷ dặm trong hệ mặt trời, các hiệu ứng của chúng đã chứng tỏ mạnh mẽ đến mức hầu như mọi nhà chiêm tinh hiện nay đều xét đến chúng. Ảnh hưởng của các hành tinh này chủ yếu tác động lên các nhóm, dù chúng cũng dường như ảnh hưởng đến đời sống của những cá nhân đã tiến hóa đủ để bắt được các rung động vi tế của chúng, hoặc trong lá số chiêm tinh bản mệnh của họ, chúng được đặt ở vị trí mạnh. Sao Thiên Vương chuyển hóa, Sao Hải Vương siêu vượt, và Sao Diêm Vương tạo nên cuộc chuyển tiếp lớn vào một trạng thái hiện tồn mới. Là hạt giống cực kỳ mạnh mẽ, vốn trừu xuất và tập trung sự sống của cây, Sao Diêm Vương không chỉ là sản phẩm cuối cùng mà còn là khởi đầu của thực thể tái sinh. |
|
Pluto is considered to be a higher octave of Mars, with the difference that it does not project outward but retreats penetratively inward. Then when Pluto’s deep instinctual power finally bursts loose, it resembles a volcano erupting from the bowels of the earth rather than a bomb exploding. While Neptune is a downpouring avataric energy which falls like rain and spreads pervasively throughout the material world, Pluto extracts the essences of outworn forms and canalizes them in a sudden fiery upsurge. It is the stalk shooting skyward from the seed, the phoenix mounting up from its ashes, the soul ascending to heaven. Among yogis, Pluto is known as the root-force Kundalini, “the serpent power,” which after a disciplined life of prolonged meditation can be induced to rise up the spine and into the head of the illumined sage. |
Sao Diêm Vương được xem là một bát độ cao hơn của Sao Hỏa, với điểm khác biệt là nó không phóng chiếu ra ngoài mà rút lui một cách xuyên thấu vào bên trong. Rồi khi quyền năng bản năng sâu thẳm của Sao Diêm Vương cuối cùng bùng thoát, nó giống một núi lửa phun trào từ lòng đất hơn là một quả bom phát nổ. Trong khi Sao Hải Vương là một năng lượng hóa thân tuôn xuống, rơi như mưa và lan tỏa khắp thế giới vật chất, Sao Diêm Vương trích xuất các tinh chất của những hình tướng đã hao mòn và dẫn chúng thành một luồng bùng lên dữ dội và bất ngờ. Nó là thân cây vọt lên trời từ hạt giống, chim phượng hoàng bay lên từ tro tàn của mình, linh hồn thăng lên cõi trời. Trong giới hành giả du già, Sao Diêm Vương được biết như mãnh lực căn bản, “quyền năng rắn”, sau một đời sống kỷ luật với tham thiền kéo dài, có thể được khơi dậy để đi lên cột sống và vào đầu của bậc hiền triết đã được soi sáng. |
|
Pluto, like Mars, is associated with sex as a force which ensures the perpetuation of life. The only cells in the body which have the potential for immortality are the reproductive cells formed in the lower depths. In Pluto, the processes of sex and death merge. The seed dies that the plant may be renewed. Man, too, must die for the sake of resurrection into a higher form. |
Sao Diêm Vương, giống như Sao Hỏa, gắn liền với tính dục như một lực bảo đảm sự duy trì liên tục của sự sống. Những tế bào duy nhất trong cơ thể có tiềm năng bất tử là các tế bào sinh sản được hình thành nơi những tầng sâu thấp hơn. Trong Sao Diêm Vương, các tiến trình tính dục và sự chết hòa nhập. Hạt giống chết đi để cây có thể được tái sinh. Con người cũng vậy, phải chết vì sự phục sinh vào một hình thức cao hơn. |
3. The Ages of Man — Các Thời Kỳ của Con Người
|
Each planet, starting from the Sun and extending outward to Saturn, represents a stage of progressive solidification and individualization. This does not mean that the planets, as physical bodies, become more dense or less dependent upon the attraction of their parent Sun. It is the astrological qualities assigned to them which reflect the hardening or ossification of the aging process. |
Mỗi hành tinh, bắt đầu từ Mặt Trời và trải rộng ra ngoài đến Sao Thổ, tượng trưng cho một giai đoạn của sự cô đặc và cá thể hóa tuần tự. Điều này không có nghĩa là các hành tinh, với tư cách là những thiên thể vật chất, trở nên đậm đặc hơn hay ít lệ thuộc hơn vào sức hút của Mặt Trời mẹ của chúng. Chính các phẩm tính chiêm tinh được gán cho chúng phản ánh sự cứng lại hay hóa xương của tiến trình lão hóa. |
The MOON — The stage of response. — MẶT TRĂNG — Giai đoạn đáp ứng.
|
The first, most fluid phase of life is symbolized by the Moon. This lunar period describes the amorphous condition of infancy when the child is a fitful conglomeration of instincts and responses. The Moon makes him passively receptive to outside influences even though, with the Sun in the background, he is a distinct individual from the start and never a mere tabula rasa. |
Giai đoạn đầu tiên, linh động nhất của sự sống được Mặt Trăng biểu trưng. Thời kỳ mặt trăng này mô tả trạng thái vô định hình của tuổi thơ ấu, khi đứa trẻ là một tập hợp thất thường của bản năng và phản ứng. Mặt Trăng khiến y tiếp nhận một cách thụ động các ảnh hưởng bên ngoài, mặc dù, với Mặt Trời ở hậu cảnh, ngay từ đầu y đã là một cá nhân riêng biệt và không bao giờ chỉ là một tấm bảng trắng. |
|
The Moon signifies motherhood, and also all life-giving liquids which, like water, have no true shape of their own but can be poured into any available container. Thus, the infant is dependent upon the maternal parent to mold his rudimentary ego. His earliest sensation is that of being helpless and vulnerable, excruciatingly impressionable, yet unable to act in his own right. The influence of the Moon upon this susceptible creature is of primary importance up to the seventh year of life. |
Mặt Trăng biểu thị mẫu tính, và cũng biểu thị mọi chất lỏng ban sự sống, vốn như nước, không có hình dạng thật sự của riêng mình nhưng có thể được rót vào bất kỳ vật chứa sẵn có nào. Do đó, đứa trẻ sơ sinh lệ thuộc vào người mẹ để khuôn đúc chân ngã sơ khai của y. Cảm giác đầu tiên của y là trạng thái bất lực và dễ tổn thương, cực kỳ dễ bị in dấu, nhưng lại không thể hành động theo quyền riêng của mình. Ảnh hưởng của Mặt Trăng lên sinh linh nhạy cảm này có tầm quan trọng hàng đầu cho đến năm thứ bảy của đời sống. |
MERCURY — The stage of adjustment. — SAO THỦY — Giai đoạn thích nghi.
|
Volatile Mercury, the planet of speech and communication, is associated with the early school years when the youngster learns the ABC’s of relating to others through the medium of language, the double-edged tool of the objective intelligence. He finds that not only can he take orders but he can talk back to people, making his ideas understood and asserting himself as a mind rather than as a perambulating bundle of clamorous needs and desires. During this stage, he makes innumerable connections with the surrounding world, especially through his mastery of the arts |
Sao Thủy linh động, hành tinh của lời nói và truyền thông, gắn liền với những năm đầu đi học, khi đứa trẻ học những bước căn bản trong việc liên hệ với người khác qua trung gian ngôn ngữ, công cụ hai lưỡi của trí tuệ khách quan. Y nhận ra rằng không chỉ có thể nhận lệnh, mà còn có thể đáp lời người khác, khiến ý tưởng của mình được hiểu và khẳng định mình như một trí tuệ hơn là như một bó nhu cầu và dục vọng ồn ào biết đi. Trong giai đoạn này, y tạo vô số mối liên hệ với thế giới xung quanh, đặc biệt qua việc làm chủ các nghệ thuật |
|
of reading and writing. His sense of morality is as flexible as his body, and correspondingly small. Despite the fact that he is learning to think logically, to reason and be reasoned with, he is blithely irresponsible. His lightness of foot and capacity for perpetual motion suggest the quivering quality of quicksilver—a common name for the element mercury. The Mercurial period comprises the years between the ages of seven and fourteen when the child receives his basic education and begins to master the intricacies of his environment. |
đọc và viết. Cảm thức đạo đức của y mềm dẻo như thân thể y, và tương ứng cũng nhỏ bé. Mặc dù đang học suy nghĩ hợp lý, biết lý luận và có thể được thuyết phục bằng lý lẽ, y vẫn vô tư thiếu trách nhiệm. Sự nhẹ chân và khả năng chuyển động liên tục của y gợi đến phẩm tính rung động của thủy ngân—một tên gọi thông thường của hành thủy ngân. Thời kỳ Sao Thủy bao gồm những năm từ bảy đến mười bốn tuổi, khi đứa trẻ nhận nền giáo dục căn bản và bắt đầu làm chủ những phức tạp của môi trường chung quanh. |
VENUS — The stage of evaluation. — SAO KIM — Giai đoạn định giá.
|
The Venusian period corresponds to the years between fourteen and twenty-one when the emotional nature begins to ripen. The softness of childhood gives way to the poised assurance of the young adult as the malleability of the Moon and Mercury phases is superseded by a more discriminating appraisal of people and situations. The varied experiences of childhood are weighed, judged, and assimilated to provide a basis for enduring standards of taste and behavior. |
Thời kỳ Sao Kim tương ứng với những năm từ mười bốn đến hai mươi mốt tuổi, khi bản chất cảm xúc bắt đầu chín muồi. Sự mềm mại của tuổi thơ nhường chỗ cho vẻ tự tin điềm tĩnh của người trưởng thành trẻ tuổi, khi tính dễ uốn nắn của các giai đoạn Mặt Trăng và Sao Thủy được thay thế bằng sự thẩm định có phân biệt hơn về con người và hoàn cảnh. Những kinh nghiệm đa dạng của tuổi thơ được cân nhắc, phán đoán và đồng hóa để tạo nền tảng cho các chuẩn mực bền vững về thị hiếu và hành vi. |
|
This is an age for falling in love, not only with members of the opposite sex, but with art, culture, and esthetic ideals. The adolescent is swayed by crushes, fads, and crazes—all part of a process designed to impart a sense of balance, proportion, and moderation as he learns to regulate his conduct according to social norms. During this time of grace before shouldering the responsibilities of adulthood, the youth develops his capacity for social relationships, finds out where he “fits in,” learns to cooperate with others, and prepares for marriage and the partnerships of the mature years. |
Đây là tuổi để rơi vào tình yêu, không chỉ với người khác phái, mà còn với nghệ thuật, văn hóa và những lý tưởng thẩm mỹ. Thiếu niên bị chi phối bởi những say mê thoáng qua, các trào lưu nhất thời và những cơn cuồng nhiệt—tất cả đều là một phần của tiến trình nhằm truyền đạt cảm thức về quân bình, tỷ lệ và tiết độ khi y học cách điều chỉnh cách cư xử theo các chuẩn mực xã hội. Trong thời gian ân huệ này trước khi gánh lấy trách nhiệm của tuổi trưởng thành, người trẻ phát triển khả năng quan hệ xã hội, tìm ra nơi mình “hòa nhập”, học hợp tác với người khác, và chuẩn bị cho hôn nhân cùng các quan hệ hợp tác của những năm chín chắn. |
EARTH — The stage of self-confrontation. — TRÁI ĐẤT — Giai đoạn tự đối diện.
|
At twenty-one, an individual comes of age and can, if he wills, function as a full-fledged citizen of Earth. In the planetary scale, Earth stands midway between extremes of pliability and rigidity. During the Terrene period from twenty-one to twenty-eight, the young adult makes his basic adjustments to the material world. Normally, he becomes grounded in a particular occupation and sinks his roots into the soil of the place where he chooses to settle. This is the point at which he seriously endeavors to establish himself and justify his existence on this planet. |
Ở tuổi hai mươi mốt, một cá nhân đến tuổi trưởng thành và, nếu y muốn, có thể hoạt động như một công dân trọn vẹn của Trái Đất. Trong thang bậc hành tinh, Trái Đất đứng ở khoảng giữa hai cực dễ uốn và cứng nhắc. Trong thời kỳ Trái Đất từ hai mươi mốt đến hai mươi tám tuổi, người trưởng thành trẻ thực hiện những thích nghi căn bản của mình với thế giới vật chất. Thông thường, y bám rễ trong một nghề nghiệp nhất định và cắm rễ vào mảnh đất nơi y chọn định cư. Đây là điểm mà y nghiêm túc nỗ lực thiết lập bản thân và biện minh cho sự hiện hữu của mình trên hành tinh này. |
|
This phase frequently ends with a crisis of reorientation which occurs in the late twenties. After passing through four seven-year periods, an individual arrives at the first great crossroad of his life. He must decide what kind of person he is going to be, and how he will proceed to fulfill whatever promise he has thus far shown. The conclusion of this major life cycle may be painful and difficult. In the natal chart, it is marked by the return of transiting Saturn to its own place (the cycle of Saturn is about twenty-nine years), and also by the completion of the first full circuit of the progressed Moon through the signs. |
Giai đoạn này thường kết thúc bằng một khủng hoảng tái định hướng xảy ra vào cuối độ tuổi hai mươi. Sau khi trải qua bốn thời kỳ bảy năm, một cá nhân đến ngã rẽ lớn đầu tiên của đời mình. Y phải quyết định mình sẽ trở thành loại người nào, và sẽ tiến hành ra sao để hoàn thành bất kỳ hứa hẹn nào mà cho đến lúc ấy y đã biểu lộ. Sự kết thúc của chu kỳ đời sống lớn này có thể đau đớn và khó khăn. Trong lá số chiêm tinh bản mệnh, nó được đánh dấu bằng sự hồi vị của Sao Thổ quá cảnh về vị trí của chính nó (chu kỳ của Sao Thổ khoảng hai mươi chín năm), và cũng bằng sự hoàn tất vòng đi trọn vẹn đầu tiên của Mặt Trăng tiến trình qua các dấu hiệu. |
MARS — The stage of accomplishment. — SAO HỎA — Giai đoạn thành tựu.
|
When a young adult is about twenty-eight years old, Mars inaugurates a new departure based on the outcome of the previous four-part cycle of personal unfold- ment. As character becomes more stabilized, forces are set in motion which affect the remainder of the life span. The individual wields a more percussive influence, acts as a dynamic element in his community, and asserts his capacity for leadership. |
Khi một người trưởng thành trẻ khoảng hai mươi tám tuổi, Sao Hỏa mở đầu một khởi điểm mới dựa trên kết quả của chu kỳ bốn phần trước đó trong sự khai mở cá nhân. Khi tính cách trở nên ổn định hơn, các lực được đưa vào chuyển động và ảnh hưởng đến phần còn lại của đời sống. Cá nhân gây một ảnh hưởng mạnh mẽ hơn, hoạt động như một hành năng động trong cộng đồng của mình, và khẳng định năng lực lãnh đạo. |
|
The years of the Martian period between twenty-eight and thirty-five are physically strenuous. Since maximum effort is expended to initiate new projects and to overcome obstacles, ambition often exceeds financial resources. Although conflicts continue to arise, the stress created by the wear and tear of making a living has not yet eroded the aggressive determination to carve out a niche in life. The individual who has established a place for himself through the successful completion of the previous phases should by now have gained the momentum to push on boldly and to make the investments and commitments by which he will thereafter be obliged to stand. |
Những năm của thời kỳ Sao Hỏa từ hai mươi tám đến ba mươi lăm tuổi đòi hỏi nhiều sức lực thể chất. Vì nỗ lực tối đa được dốc ra để khởi xướng các dự án mới và vượt qua chướng ngại, tham vọng thường vượt quá nguồn lực tài chính. Mặc dù các xung đột tiếp tục nảy sinh, áp lực do hao mòn trong việc mưu sinh vẫn chưa bào mòn quyết tâm tấn công để tạo dựng một vị trí trong đời. Cá nhân đã thiết lập được chỗ đứng cho mình qua việc hoàn tất thành công các giai đoạn trước đó thì đến lúc này lẽ ra đã có đủ đà để mạnh dạn tiến tới, và thực hiện các đầu tư cùng cam kết mà về sau y sẽ buộc phải giữ vững. |
JUPITER — The stage of purposefulness. — SAO MỘC — Giai đoạn có mục đích.
|
If the Mars cycle has been successfully completed, the Jupiterian period lasting from the age of thirty-five to forty-two will see the solid citizen reaping some of the rewards of his efforts. This should be the prime of life, a time for travel, financial and administrative expansion and, sometimes, expansion of girth. A person is now old enough to have profited by experience, and at the same time young enough to enjoy his gains. He is guided by the ideals he has espoused and is apt to be in the process of reformulating his religious faith and of developing a viable philosophy of life. |
Nếu chu kỳ Sao Hỏa đã được hoàn tất thành công, thời kỳ Sao Mộc kéo dài từ ba mươi lăm đến bốn mươi hai tuổi sẽ chứng kiến người công dân vững vàng gặt hái một phần phần thưởng từ các nỗ lực của mình. Đây nên là thời kỳ sung mãn của đời sống, thời gian dành cho du lịch, mở rộng tài chính và quản trị, và đôi khi cả sự gia tăng vòng bụng. Một người nay đã đủ tuổi để thu lợi từ kinh nghiệm, đồng thời vẫn đủ trẻ để vui hưởng các thành quả của mình. Y được dẫn dắt bởi những lý tưởng mà y đã tán thành, và có khuynh hướng đang tái định hình đức tin tôn giáo của mình cũng như phát triển một triết lý sống khả dụng. |
|
Having shepherded the growth of his various enterprises, the mature adult should pause to assess their significance. As he views the results of his previous aims and aspirations, he can more meaningfully ask what kind of person he has made of himself and what his future portends. It is no longer easy for him to change the direction of his life, but by modifying his underlying attitudes and assumptions he can express his deeper beliefs concerning the purpose of his sojourn on Earth. |
Sau khi đã chăm lo sự tăng trưởng của các công cuộc khác nhau của mình, người trưởng thành chín chắn nên dừng lại để đánh giá ý nghĩa của chúng. Khi nhìn vào kết quả của những mục tiêu và khát vọng trước kia, y có thể hỏi một cách có ý nghĩa hơn rằng mình đã tạo nên loại người nào từ chính mình, và tương lai của mình báo hiệu điều gì. Không còn dễ dàng để y thay đổi hướng đi của đời mình, nhưng bằng cách điều chỉnh các thái độ và giả định nền tảng, y có thể biểu đạt những niềm tin sâu xa hơn về mục đích của cuộc lưu trú của mình trên Trái Đất. |
|
The Saturnian period lasts from man’s forty-second to his forty-ninth year and marks the end of his natural growth. By the time a person has completed his first half-century, he has thoroughly determined the type of human being he is going to be. His path has become either a rut leading toward the grave or a clearly defined track up the mountain of attainment. By now he should have achieved a measure of self-discipline and be of sound and mature judgment. However, if the previous stages have not been fulfilled, he will find himself verging on depression and decline. |
Thời kỳ Sao Thổ kéo dài từ năm bốn mươi hai đến năm bốn mươi chín của con người và đánh dấu sự kết thúc tăng trưởng tự nhiên của y. Đến khi một người hoàn tất nửa thế kỷ đầu tiên của mình, y đã xác định thấu đáo loại con người mà mình sẽ trở thành. Con đường của y hoặc đã trở thành một lối mòn dẫn về nấm mộ, hoặc là một đường đi được xác định rõ ràng lên ngọn núi thành tựu. Đến lúc này, y lẽ ra đã đạt được một mức độ tự kỷ luật và có phán đoán lành mạnh, chín chắn. Tuy nhiên, nếu các giai đoạn trước chưa được hoàn thành, y sẽ thấy mình ở ngưỡng của trầm cảm và suy tàn. |
|
An individual who has mastered the curriculum laid out by Saturn knows the difference between right and wrong. If he suffers, he should at least have some idea why and for what purpose he must endure the hardships which beset him. This moral and ethical seasoning confers the power to function as an authority in the social system. Presumably, he is fit to govern others because he has proven his ability to govern himself. |
Một cá nhân đã làm chủ chương trình học do Sao Thổ đặt ra biết sự khác biệt giữa đúng và sai. Nếu y đau khổ, ít nhất y cũng nên có phần nào ý niệm vì sao và vì mục đích gì y phải chịu đựng những gian khổ vây bủa mình. Sự chín muồi về luân lý và đạo đức này trao quyền năng để hoạt động như một thẩm quyền trong hệ thống xã hội. Có thể giả định rằng y đủ tư cách cai quản người khác vì y đã chứng minh khả năng cai quản chính mình. |
|
Saturn signifies the completion of the building of a distinctive ego structure. The individual now acts in his own right and imposes upon his surroundings the order he has labored to internalize. He is capable of shaping society as originally society shaped him. Through the upholding of accepted laws, he ensures the continuity of the community so that, although eventually he dies, civilization endures as a monument to his endeavors. |
Sao Thổ biểu thị sự hoàn tất việc xây dựng một cấu trúc chân ngã đặc thù. Cá nhân nay hành động theo quyền riêng của mình và áp đặt lên môi trường chung quanh trật tự mà y đã lao nhọc để nội tâm hóa. Y có khả năng định hình xã hội như ban đầu xã hội đã định hình y. Qua việc duy trì các luật lệ được chấp nhận, y bảo đảm tính liên tục của cộng đồng, để dù cuối cùng y chết đi, nền văn minh vẫn tồn tại như một tượng đài cho các nỗ lực của y. |
NEPTUNE — The stage of transcendence. — SAO HẢI VƯƠNG — Giai đoạn siêu vượt.
|
The Neptunian period, corresponding to the years from fifty-six to sixty-three, signals a detachment from worldly concupiscence and a deepening concern for spiritual values. This should be a mellowing process providing leisure for meditation upon the significance of work accomplished, and encouraging a mental attitude of letting go. The Neptunian longing for liberation is seldom solaced by the ceremony and dogma of orthodox religious creeds; it is a more mystical aspiration to empty oneself of egotistical cravings, like a river pouring into the sea. |
Thời kỳ Sao Hải Vương, tương ứng với những năm từ năm mươi sáu đến sáu mươi ba tuổi, báo hiệu sự tách rời khỏi dục vọng thế gian và mối quan tâm sâu hơn đến các giá trị tinh thần. Đây nên là một tiến trình dịu chín, đem lại thời gian nhàn rỗi để tham thiền về ý nghĩa của công việc đã hoàn thành, và khuyến khích một thái độ trí tuệ buông xả. Nỗi khao khát giải thoát của Sao Hải Vương hiếm khi được an ủi bởi nghi lễ và giáo điều của các tín điều tôn giáo chính thống; đó là một khát vọng huyền nhiệm hơn nhằm làm trống rỗng bản thân khỏi các thèm muốn vị kỷ, như một dòng sông đổ ra biển. |
|
Negatively, this period can mark a descent into slackness and vacuity with a corresponding physical softness and decay. However, the truly mature person will cultivate an attitude of unruffled dispassion, indifferent to the penury or prosperity that may be his lot. By serenely disdaining to be held by Saturn’s cramping clutch for security, and by persisting in his search for enlightenment, the nonattached individual may jump beyond his shadow. Then, when at last he arrives at the gates of death, he finds immortality waiting to greet him like a beloved friend. |
Theo mặt tiêu cực, thời kỳ này có thể đánh dấu sự sa xuống trạng thái lỏng lẻo và trống rỗng, cùng với sự mềm nhão và suy hoại tương ứng nơi thể chất. Tuy nhiên, người thật sự chín chắn sẽ nuôi dưỡng một thái độ bình thản không xao động, dửng dưng trước cảnh nghèo túng hay thịnh vượng có thể là phần số của mình. Bằng cách thanh thản khước từ việc bị nắm giữ bởi vòng kẹp co thắt của Sao Thổ vì an toàn, và bằng cách kiên trì trong cuộc tìm kiếm giác ngộ, cá nhân không quyến luyến có thể nhảy vượt khỏi cái bóng của mình. Rồi khi cuối cùng y đến trước cổng tử thần, y thấy sự bất tử đang chờ đón mình như một người bạn yêu dấu. |
PLUTO — The stage of recapitulation. — SAO DIÊM VƯƠNG — Giai đoạn tóm lược.
|
The Plutonian period, from sixty-three to seventy, completes the threescore and ten years of man’s traditionally allotted life span. It should represent a summing up, just as the seed absorbs the essence of the plant in preparation for its metamorphosis into a new state of being. As the ripening seed undergoes a natural separation from the fruit which bore it, similarly, man’s etheric body gradually loosens its connection with his dense physical body so that at the moment of transition it can be detached without undue pain. In this sense, the Neptunian waters serve as an amniotic fluid, easing the passageway of the soul preparing to be born on a subtler plane of existence. Pluto, the deliverer, draws it forth from the womb of earthly experience with the promise of eternal life. |
Thời kỳ Sao Diêm Vương, từ sáu mươi ba đến bảy mươi tuổi, hoàn tất bảy mươi năm của đời sống con người theo quan niệm truyền thống. Nó nên biểu thị một sự tổng kết, giống như hạt giống hấp thu tinh túy của cây để chuẩn bị cho sự biến thái của nó vào một trạng thái hiện tồn mới. Khi hạt giống chín trải qua một sự tách rời tự nhiên khỏi quả đã mang nó, tương tự như vậy, thể dĩ thái của con người dần nới lỏng mối liên hệ với thể xác đậm đặc của y, để vào khoảnh khắc chuyển tiếp nó có thể tách ra mà không gây đau đớn quá mức. Theo nghĩa này, các dòng nước Sao Hải Vương đóng vai trò như dịch ối, làm dịu lối đi của linh hồn đang chuẩn bị được sinh ra trên một cõi hiện hữu tinh tế hơn. Sao Diêm Vương, đấng giải thoát, kéo nó ra khỏi lòng kinh nghiệm trần gian với lời hứa về sự sống vĩnh cửu. |
|
Symbolically, the Sun is pure potency seeking expression through the multifarious manifestations of the material world. Pluto, at the far edge of the system, reduces the solar energy to its most condensed form—the seed. The Sun and Pluto are both impersonal; the alpha and omega of creation. The development, organization, and relinquishment of the individualized ego occur during the intermediary stages of systematic unfoldment. |
Về mặt biểu tượng, Mặt Trời là tiềm năng thuần khiết tìm cách biểu lộ qua những biểu hiện muôn hình vạn trạng của thế giới vật chất. Sao Diêm Vương, ở rìa xa của hệ thống, cô đọng năng lượng thái dương thành hình thức đậm đặc nhất của nó—hạt giống. Mặt Trời và Sao Diêm Vương đều phi cá nhân; là khởi đầu và kết thúc của sáng tạo. Sự phát triển, tổ chức và từ bỏ chân ngã đã được cá thể hóa diễn ra trong các giai đoạn trung gian của sự khai mở có hệ thống. |
|
Beyond the Plutonian period the full spectrum of planetary qualities becomes available. An individual need no longer think in terms of chronological stages. Rather, there should be a steadily growing wholeness of being which transcends the successive births and deaths of the limited personal self. |
Vượt ngoài thời kỳ Sao Diêm Vương, toàn bộ quang phổ các phẩm tính hành tinh trở nên sẵn có. Một cá nhân không còn cần suy nghĩ theo các giai đoạn niên đại. Đúng hơn, nên có một sự toàn vẹn hiện tồn ngày càng tăng trưởng đều đặn, siêu vượt những lần sinh và chết kế tiếp của cái tôi cá nhân hữu hạn. |
THE OUTER PLANETS — CÁC HÀNH TINH BÊN NGOÀI
|
Uranus, Neptune, and Pluto are not time-conditioned but operate as a trinity to transform, dissolve, and renew the form which Saturn so painstakingly defines. In ancient India, a man who had successfully reared his children and provided for the wants of his family would often renounce the world and take up the wandering existence of a seeker of God. This was called “the stage of the Sannyasin” and it covered the time of life associated with the three higher-octave planets. |
Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương và Sao Diêm Vương không bị thời gian quy định, mà hoạt động như một tam vị để biến đổi, hòa tan và đổi mới hình thức mà Sao Thổ đã định rõ một cách hết sức nhọc công. Ở Ấn Độ cổ đại, một người đàn ông đã nuôi dạy con cái thành công và chu cấp cho các nhu cầu của gia đình thường sẽ từ bỏ thế gian và bước vào đời sống lang thang của một người tìm kiếm Thượng đế. Điều này được gọi là “giai đoạn của người từ bỏ”, và nó bao trùm thời kỳ đời sống gắn liền với ba hành tinh thuộc quãng cao hơn. |
|
The outer planets represent energies which have always existed in the cosmos and in man. Yet, prior to their discovery, few human beings were capable of rising far enough above the self-centered ambitions of Saturn to resonate to their rarefied vibrations. As long as men could not respond to these influences, it was as though they did not exist. Since the recognition of these bodies, however, their qualities have become more evident, not only in the lives of individuals but in the changing order of society. |
Các hành tinh bên ngoài tượng trưng cho những năng lượng vốn luôn tồn tại trong vũ trụ và trong con người. Tuy vậy, trước khi chúng được phát hiện, ít con người có khả năng vươn lên đủ xa khỏi các tham vọng lấy mình làm trung tâm của Sao Thổ để cộng hưởng với những rung động tinh luyện của chúng. Bao lâu con người chưa thể đáp ứng với các ảnh hưởng này, thì dường như chúng không hiện hữu. Tuy nhiên, từ khi các thiên thể này được nhận biết, các phẩm tính của chúng trở nên rõ ràng hơn, không chỉ trong đời sống của các cá nhân mà còn trong trật tự đang biến đổi của xã hội. |
|
Uranus, discovered in 1781, is called “the awakener.” Its appearance coincided with the Industrial Revolution and also with the “revolution of rising expectations” of the last two centuries. As the planet of democracy, dissent, and freedom of thought and speech, Uranus has been credited by astrologers for the breakthroughs which have occurred in modern communications and for the increasingly widespread distribution of nature’s resources. Uranian inventions have stimulated the personal initiative and independence which make individuals today so different from their ancestors. |
Sao Thiên Vương, được phát hiện năm 1781, được gọi là “đấng đánh thức.” Sự xuất hiện của nó trùng hợp với Cách mạng Công nghiệp và cũng với “cuộc cách mạng của những kỳ vọng đang lên” trong hai thế kỷ qua. Là hành tinh của dân chủ, bất đồng chính kiến, và tự do tư tưởng cùng ngôn luận, Sao Thiên Vương đã được các nhà chiêm tinh ghi nhận là tác nhân của những đột phá xảy ra trong truyền thông hiện đại và của sự phân phối ngày càng rộng rãi các tài nguyên của thiên nhiên. Những phát minh thuộc Sao Thiên Vương đã kích thích sáng kiến cá nhân và tính độc lập, khiến các cá nhân ngày nay khác biệt đến thế so với tổ tiên của họ. |
|
Since Uranus is the planet of the unexpected, it seldom brings the type of growth one might predict on the basis of past accomplishment. If a woman at the turn of the century had been told of the economic development which would occur in the decades ahead, she might have anticipated hiring an extra maid or two. Instead, she was presented with a modern kitchen. Similarly, people today often assume that progress will give them more living space, when what may occur is an opportunity to visit the Moon. |
Vì Sao Thiên Vương là hành tinh của điều bất ngờ, nó hiếm khi mang lại loại tăng trưởng mà người ta có thể dự đoán dựa trên thành tựu quá khứ. Nếu một phụ nữ vào thời điểm chuyển sang thế kỷ mới được cho biết về sự phát triển kinh tế sẽ xảy ra trong những thập niên phía trước, bà có thể đã dự đoán việc thuê thêm một hoặc hai người hầu gái. Thay vào đó, bà được trao một căn bếp hiện đại. Tương tự, ngày nay người ta thường cho rằng tiến bộ sẽ đem lại cho họ nhiều không gian sống hơn, trong khi điều có thể xảy ra lại là một cơ hội viếng thăm Mặt Trăng. |
|
The discovery of Neptune in 1846 correlates with the advent of socialism, spiritualism, and theosophy. During this period, the concept that matter is clotted energy and that all animate forms exist within a subtle sea of radiating forces began to permeate the consciousness of the thinkers of the race. The Neptunian capacity to feel what is ineffably common to all things runs directly counter to the Uranian urge for independence, but does not negate it. |
Việc phát hiện Sao Hải Vương vào năm 1846 tương ứng với sự xuất hiện của chủ nghĩa xã hội, thuyết thông linh và thông thiên học. Trong giai đoạn này, quan niệm rằng vật chất là năng lượng đông kết, và mọi hình tướng có sự sống đều tồn tại trong một biển vi tế của các lực bức xạ, bắt đầu thấm vào tâm thức của những nhà tư tưởng trong nhân loại. Năng lực của Sao Hải Vương trong việc cảm nhận điều chung nhất, không thể diễn tả bằng lời, nơi mọi sự vật, trực tiếp đi ngược lại thôi thúc của Sao Thiên Vương về tính độc lập, nhưng không phủ nhận nó. |
|
The political influence of Neptune has given rise to the communistic ideology with its fanatical insistence upon the subordination of the individual to an omnipotent state. By and large, the Orient is sensitized to the vibrations of Neptune, while the Occident is more Uranian in its general approach to the problems of government. Presumably, the final showdown between Communism (Neptune) and Democracy (Uranus) will also involve a confrontation between East and West. It is, however, a misunderstanding of these planetary principles which causes people The Neptunian proclivity toward mediumship and mysticism can betray a longing to escape the onerous burden of functioning as a separate, self-determining entity. Yet Neptune can also stimulate the aspiration to rise above petty egotism and to sacrifice the self in service to others. Neptune is neither better nor worse than Uranus but acts as its complement, just as Jupiter complements Saturn, Venus complements Mars, and the Moon complements the Sun. |
Ảnh hưởng chính trị của Sao Hải Vương đã làm nảy sinh hệ tư tưởng cộng sản, với sự khăng khăng cuồng tín về việc đặt cá nhân dưới quyền một nhà nước toàn năng. Nhìn chung, phương Đông nhạy cảm với các rung động của Sao Hải Vương, trong khi phương Tây mang tính Sao Thiên Vương hơn trong cách tiếp cận tổng quát đối với các vấn đề chính quyền. Có lẽ, cuộc đối đầu cuối cùng giữa Chủ nghĩa Cộng sản (Sao Hải Vương) và Dân chủ (Sao Thiên Vương) cũng sẽ bao hàm một sự đối đầu giữa Đông và Tây. Tuy nhiên, chính sự hiểu sai các nguyên lý hành tinh này là điều khiến con người Khuynh hướng Sao Hải Vương đối với đồng cốt và thần bí có thể phản bội một nỗi khao khát muốn thoát khỏi gánh nặng nhọc nhằn của việc vận hành như một thực thể riêng biệt, tự quyết định. Tuy vậy, Sao Hải Vương cũng có thể kích thích khát vọng vươn lên trên tính vị kỷ nhỏ nhen và hy sinh bản ngã trong phụng sự người khác. Sao Hải Vương không tốt hơn cũng không xấu hơn Sao Thiên Vương, mà hoạt động như phần bổ sung của nó, cũng như Sao Mộc bổ sung cho Sao Thổ, Sao Kim bổ sung cho Sao Hỏa, và Mặt Trăng bổ sung cho Mặt Trời. |
|
Pluto, discovered in 1930, may eventually reconcile the rugged individualism of Uranus with the commonalty of Neptune. To date, however, its negative qualities have been paramount. Seemingly, this volcanic planet has ripped open a Pandora’s box of smoldering hostilities to plague mankind with war and violence. The rise of dictators such as Hitler, Stalin, and Mao Tse-tung and the holocaust of World War II demonstrated Pluto’s ability to probe the hidden recesses of human nature and dredge up long-repressed remnants of barbarism. Each planet is capable of greater extremes of good and evil than its predecessors, and Pluto usually goes to the limit in one direction or the other. |
Sao Diêm Vương, được phát hiện vào năm 1930, cuối cùng có thể dung hòa chủ nghĩa cá nhân cứng rắn của Sao Thiên Vương với tính cộng đồng của Sao Hải Vương. Tuy nhiên, cho đến nay, những phẩm chất tiêu cực của nó vẫn nổi trội. Dường như hành tinh núi lửa này đã xé toang chiếc hộp Pandora chứa đầy những thù hận âm ỉ, để gieo chiến tranh và bạo lực hành hạ nhân loại. Sự trỗi dậy của các nhà độc tài như Hitler, Stalin và Mao Trạch Đông, cùng thảm họa diệt chủng của Thế chiến thứ hai, đã chứng minh khả năng của Sao Diêm Vương trong việc thăm dò những ngóc ngách ẩn kín của bản chất con người và khuấy lên những tàn dư man rợ bị đè nén từ lâu. Mỗi hành tinh đều có khả năng biểu lộ những cực đoan lớn hơn về thiện và ác so với các hành tinh đi trước, và Sao Diêm Vương thường đi đến tận giới hạn theo hướng này hoặc hướng kia. |
|
Positively, Pluto stands for atomic research and psychoanalysis. These two movements, the one releasing physical forces and the other psychic forces, may yet purge humanity of much of its immaturity and greed. Atomic energy can provide the freedom from want which permits human beings to live at peace with one another, while the wisdom gained from the correct application of psychoanalytic principles may supply the insight to regenerate man from within. |
Về mặt tích cực, Sao Diêm Vương tượng trưng cho nghiên cứu nguyên tử và phân tâm học. Hai phong trào này, một bên giải phóng các lực vật lý và bên kia giải phóng các lực tâm linh, vẫn có thể thanh lọc nhân loại khỏi phần lớn sự non nớt và lòng tham của họ. Năng lượng nguyên tử có thể đem lại sự giải thoát khỏi thiếu thốn, nhờ đó con người có thể sống hòa bình với nhau, trong khi minh triết đạt được từ việc áp dụng đúng các nguyên lý phân tâm học có thể cung cấp tuệ giác để tái sinh con người từ bên trong. |
|
Although the Plutonian Age with its traumas and turbulence has precipitated the death of many cherished institutions, it has compensated by supplying clear proofs of human immortality. In knowing himself to be an undying soul, at one with all creation, man may finally mend the split between himself and the universe and thus eradicate the fundamental cause of his suffering. |
Mặc dù Kỷ nguyên Sao Diêm Vương, với những chấn thương và biến động của nó, đã thúc đẩy cái chết của nhiều định chế từng được trân quý, nó đã bù lại bằng cách cung cấp những bằng chứng rõ ràng về tính bất tử của con người. Khi biết mình là một linh hồn bất tử, hợp nhất với toàn thể tạo vật, con người cuối cùng có thể hàn gắn sự chia cắt giữa mình và vũ trụ, và nhờ đó xóa bỏ nguyên nhân căn bản của nỗi khổ đau của mình. |
|
The three outer planets refer more to groups than to individuals. They cannot be too closely associated with periods of life but instead reflect states of consciousness which may be achieved at any age. They are indicative of psychological qualities rather than actual events. Thus, it is hard to say what circumstances the position and aspects of Neptune in a horoscope will bring to pass. Yet one may receive an unmistakable impression of a Neptunian type of person, or of one who expresses these traits in a particular department of life. |
Ba hành tinh bên ngoài liên quan đến các nhóm nhiều hơn là đến cá nhân. Không thể gắn chúng quá chặt với các giai đoạn đời sống; thay vào đó, chúng phản ánh những trạng thái tâm thức có thể đạt được ở bất kỳ tuổi nào. Chúng chỉ ra các phẩm chất tâm lý hơn là những biến cố thực tế. Vì vậy, khó có thể nói vị trí và các góc hợp của Sao Hải Vương trong một lá số chiêm tinh sẽ đem lại những hoàn cảnh nào. Tuy vậy, người ta có thể nhận được một ấn tượng không thể nhầm lẫn về một kiểu người Sao Hải Vương, hoặc về một người biểu lộ các đặc tính này trong một lĩnh vực đặc biệt của đời sống. |
|
If a natal chart is dominated by one planet, the individual is likely to come into his own during the period of life to which that planet corresponds. Alternately, that phase will be especially important in his development. Lunar types are inclined to brood over their youth, while Saturnians prosper in later years and often enjoy a robust old age. Uranian, Neptunian, and Plutonian people can transcend temporal considerations and make their mark at any time. |
Nếu một lá số sinh bị một hành tinh chi phối, cá nhân ấy có khả năng đạt đến bản sắc riêng của mình trong giai đoạn đời sống tương ứng với hành tinh đó. Hoặc, giai đoạn ấy sẽ đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của y. Những kiểu người Mặt Trăng có khuynh hướng trầm tư về tuổi trẻ của mình, trong khi những người thuộc Sao Thổ thường thịnh đạt vào những năm về sau và thường hưởng một tuổi già mạnh khỏe. Những người thuộc Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương và Sao Diêm Vương có thể vượt lên trên các cân nhắc thời gian và để lại dấu ấn của mình vào bất kỳ lúc nào. |
|
The successive epochs of life marked by the widening circles of the planetary orbits are only approximations. Together they depict the process whereby the outward-streaming energies of the Sun crystallize into ever more complex forms. In contemplation of this comprehensive pattern of creation, the astrologer eventually realizes that his own soul reflects the solar system, and he begins to understand the meaning of the occult axiom, “As above, so below.” |
Các thời kỳ kế tiếp nhau của đời sống, được đánh dấu bằng những vòng tròn mở rộng của các quỹ đạo hành tinh, chỉ là những ước định gần đúng. Cùng nhau, chúng mô tả tiến trình qua đó các năng lượng tuôn ra từ Mặt Trời kết tinh thành những hình tướng ngày càng phức tạp hơn. Khi chiêm nghiệm mô thức sáng tạo bao quát này, nhà chiêm tinh cuối cùng nhận ra rằng linh hồn của chính mình phản ánh hệ mặt trời, và y bắt đầu hiểu ý nghĩa của châm ngôn huyền môn: “Trên sao, dưới vậy.” |