Dấu Hiệu Thiên Bình (Douglas Baker)

📘 Sách: 12 Dấu Hiệu Hoàng Đạo (Douglas Baker) – Tác giả: Douglas Baker

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF
Cover
00001.jpeg

All things, by immortal power

“Mọi sự vật, bằng quyền năng bất tử,

Near or far—

Dù gần hay xa—

Hiddenly,

Ẩn kín thay—

To each other linked are,

Đều được liên kết với nhau;

That thou can’st not stir a flower,

Đến nỗi bạn không thể lay động một đóa hoa

without troubling of a star . . .’

Mà không làm xao động một vì sao …”

—Francis Thompson

— Francis Thompson

PERSONALITY and PSYCHOLOGY—PHÀM NGÃ và TÂM LÝ HỌC

A man with wings large enough and duly attached might learn to overcome the resistance of the air, and conquering it succeed in subjugating it and raise himself upon it. —Leonardo da Vinci, Flight of Birds.

Người nào có đôi cánh đủ lớn và gắn cho đúng chỗ có thể học cách vượt qua sức cản của không khí, và khi chinh phục được nó thì sẽ điều phục được nó và nâng mình bay trên đó.—Leonardo da Vinci, Flight of Birds.

The Sun passes through the sign of Libra during the period of September 24th to October 23rd. It is important for newcomers to astrology to realise that the Sun placed in Libra is only one of many ways that this sign can make its mark on us. All of us come under the influence of Libra in varying degree, especially if there is a grouping of planets in this sign, or if it is placed on the ascendant. The following remarks are intended to describe the Libra type in general, including observations which I have gleaned from my own experience of the sign, which, incidentally, is rising in my own chart.

Mặt Trời đi qua dấu hiệu Thiên Bình trong khoảng từ 24 tháng Chín đến 23 tháng Mười. Điều quan trọng đối với người mới học chiêm tinh là nhận ra rằng Mặt Trời ở Thiên Bình chỉ là một trong nhiều cách mà dấu hiệu này có thể in dấu vào chúng ta. Tất cả chúng ta đều chịu ảnh hưởng của Thiên Bình ở mức độ khác nhau, đặc biệt nếu có một cụm hành tinh ở dấu hiệu này, hoặc nếu nó nằm trên điểm mọc. Những nhận xét sau đây nhằm phác hoạ kiểu hình Thiên Bình nói chung, bao gồm những quan sát mà tôi suy lượm từ chính trải nghiệm của mình về dấu hiệu này, vốn, tình cờ, đang mọc trong lá số chiêm tinh của tôi.

If the ancients had not chosen the scales as the symbol of Libra and I had been asked to chose my own animate one, I would have chosen a bird with a large wing-span as my symbol for this sign. A bird has, above all, to know the art of balance. It is communicative, very active, often capricious and sensitive to change, and able to blend in easily with the environment.

Nếu người xưa không chọn cán cân làm biểu tượng của Thiên Bình và tôi được yêu cầu chọn một biểu tượng sinh động cho riêng mình, tôi sẽ chọn một loài chim có sải cánh lớn làm biểu tượng cho dấu hiệu này. Trên hết, chim phải biết nghệ thuật giữ thăng bằng. Nó giao tiếp, rất năng động, thường thất thường và nhạy với thay đổi, và có thể dễ dàng hoà vào môi trường.

Librans glide with ease from one interest to another. Their activities are often so numerous and varied that they never really master anything. Their libraries may be full of books that they have not read and they are always in danger of becoming dilettantes. Their sensitivity to beauty is of a degree unsurpassed in the zodiac but often the beauty they are attracted to is superficial, and that which is deeper escapes them. They are, in fact, usually extrovert—a characteristic that is very compatible with their varied interests.

Người Thiên Bình lướt nhẹ từ mối quan tâm này sang mối quan tâm khác. Hoạt động của họ thường nhiều và đa dạng đến mức họ không thực sự tinh thông được điều gì. Thư viện của họ có thể đầy những cuốn sách chưa đọc và họ luôn có nguy cơ trở thành kẻ tài tử nửa mùa. Mẫn cảm với cái đẹp của họ cao bậc nhất trong hoàng đạo, nhưng thường cái đẹp họ bị hút vào lại là bề mặt, còn chiều sâu thì vuột khỏi họ. Thực ra, họ thường hướng ngoại—một phẩm tính rất hợp với sở thích phong phú của họ.

Their personalities can vary tremendously, but generally they prefer to take a mental approach to life, true to the airy qualities of their sign. Easy to live with, they make charming companions so long as they do not have to take any decisions. They may think they know what they want, but if someone offers them an alternative, it can easily throw them off balance.

Phàm ngã của họ có thể rất khác nhau, nhưng nhìn chung họ thích tiếp cận cuộc đời bằng trí, đúng với phẩm chất thuộc khí của dấu hiệu mình. Dễ chung sống, họ là bạn đồng hành duyên dáng miễn là không phải đưa ra quyết định nào. Họ có thể nghĩ rằng mình biết mình muốn gì, nhưng nếu ai đó đưa ra một phương án khác, họ dễ bị chao đảo.

Renowned for weighing up every aspect of a subject or problem, they can take this to the point of extreme vacillation when they just can’t make up their minds. Their indecisiveness is notorious: ‘Who am I to say?’ is often heard from them at the most irritating times. As a fellow director or colleague in business, such indecision can drive one to distraction.

Nổi tiếng vì biết cân đong đo đếm mọi khía cạnh của một đề tài hay vấn đề, họ có thể đi đến mức do dự cực độ khi không sao quyết được. Sự thiếu quyết đoán của họ có tiếng: ‘Tôi là ai mà dám nói?’ thường được nghe từ họ vào những lúc bực mình nhất. Với vai trò đồng giám đốc hay đồng nghiệp trong kinh doanh, kiểu do dự như vậy có thể khiến người ta phát điên.

Some Librans will prefer others to make decisions for them and then have the nerve to pout when things go wrong. Hence they sometimes combine with the weak to pull down the strong. Generally, however, they are not selfish in nature and when they want to make a sacrifice they will do it without complaint and to perfection.

Một số người Thiên Bình sẽ thích để người khác quyết định giùm rồi lại trề môi khi mọi chuyện hỏng bét. Bởi thế đôi khi họ liên minh với kẻ yếu để kéo người mạnh xuống. Tuy nhiên, nhìn chung, họ không ích kỷ và khi muốn hy sinh, họ sẽ làm không một lời than và làm đến mức hoàn hảo.

In a well aspected chart they are capable of the type of good judgement that the English poet Alexander Pope describes in his Dunciad:

Trong một lá số chiêm tinh có các góc hợp hài hoà, họ có khả năng đưa ra những phán đoán xác đáng theo kiểu nhà thơ Anh Alexander Pope mô tả trong Dunciad:

Poetic Justice, with her lifted scale,

Công lý Thi ca, tay nâng cán cân,

Where, in nice balance, truth with gold she weighs,

Khi cân chuẩn xác, sự thật sánh cùng vàng,

And solid pudding against empty praise.

Và chiếc bánh đặc sánh đặt bên lời khen rỗng.

Margaret Thatcher was born with Sun in Libra and is well-known for her powers of discrimination and her ability to make deals, especially over Britain’s relationship with the European community. Determined and decisive, she always sought to negotiate from a position of strength. Avoiding the Libran vice of trying to please everyone, she was famous for her uncompromising approach. As she once remarked: “If your main objective was ‘please, I just want to be liked and have no criticism’, you would end up doing nothing in this world.”

Margaret Thatcher sinh khi Mặt Trời ở Thiên Bình và nổi tiếng với năng lực phân biệt tinh tế cùng khả năng thoả thuận, nhất là về mối quan hệ của Anh với cộng đồng châu Âu. Quyết đoán, dứt khoát, bà luôn tìm cách đàm phán từ vị thế sức mạnh. Tránh được tật xấu Thiên Bình là cố làm vừa lòng tất cả, bà nổi danh vì cách tiếp cận không khoan nhượng. Như bà từng nói: “Nếu mục tiêu chính của các bạn là ‘làm ơn, tôi chỉ muốn được yêu mến và đừng ai chỉ trích’, thì các bạn sẽ chẳng làm được gì trên đời này.”

It is ironic that in their attempts to maintain a calm serenity, Librans can easily make mountains out of molehills or find themselves unable to see the wood for the trees. It is possible that their reputation for indecision is based on such delusions. In a well-aspected chart, however, they can keep everything in proportion and exercise good judgement. They make good buyers and show their great powers of discrimina-tion in this art. On the other hand, in charts that are badly aspected you can find the worst squanderers in the zodiac! My own experience is that these people do not make good business partners, certainly not the type that can make quick decisions. In their anxiety to tread the middle path, they waver when pressed to take sides. When placed under intolerable stress in this respect, they make sudden U-turns, even if it means betraying someone.

Trớ trêu thay, trong nỗ lực duy trì sự êm đềm, người Thiên Bình rất dễ chuyện bé xé ra to hoặc chỉ thấy cây mà không thấy rừng. Có thể tiếng xấu thiếu quyết đoán của họ bắt nguồn từ những ảo tưởng như vậy. Tuy nhiên, trong một lá số hài hoà, họ có thể giữ mọi thứ cân xứng và biết xử lý đúng mực. Họ là những người mua sắm giỏi, tỏ ra có con mắt tinh đời trong lĩnh vực này. Ngược lại, trong những lá số có các góc hợp xấu, các bạn có thể gặp những kẻ hoang phí tệ hại nhất hoàng đạo! Kinh nghiệm của tôi là những người này không phải bạn làm ăn tốt, chắc chắn không phải kiểu người có thể quyết nhanh. Trong nỗi lo âu muốn đi con đường trung dung, họ chao đảo khi bị thúc phải chọn phe. Khi bị dồn vào căng thẳng không chịu nổi theo cách này, họ có thể quay ngoắt 180 độ, dù điều đó có nghĩa là phản bội ai đó.

Opinions vary as to Libra’s worst traits but I find this streak of treachery in them frequent and exasperating. This contrasts with the unswerving loyalty of Aries, their complementary sign. Such treachery comes out of the blue; it may be out of some long-smouldering resentment but is usually triggered off by the slightest incident. Previous rapport, service, friendship . . . all may count for nothing, and you can be sure that they will find all sorts of excuses to justify their behaviour.

Có những ý kiến khác nhau về tật xấu nhất của Thiên Bình, nhưng tôi thấy máu phản trắc nơi họ khá thường và cực kỳ bực bội. Điều này đối lập với lòng trung thành không lay chuyển của Bạch Dương, dấu hiệu bổ sung cho họ. Kiểu phản trắc như vậy xuất hiện như sét đánh ngang tai; có thể do một oán giận âm ỉ lâu ngày, nhưng thường bùng lên bởi một va chạm nhỏ nhoi. Tương giao trước đó, phục vụ, tình bạn . . . tất cả có thể chẳng còn nghĩa lý gì, và các bạn có thể chắc rằng họ sẽ tìm đủ mọi cớ để biện minh cho hành vi của mình.

Their other bad trait, one more easily coped with when understood, is that of sulking. Because the Libran cannot bear to resort to physical or mental violence if he can’t get what he wants, he retaliates more insidiously with sullen silence. His passivity in this condition is often completely unnerving to those confronted with it. The harshest and most effective treatment of such a display is to leave him in his own company or ask him to go away and sulk it out on his own.

Một tật xấu khác, dễ đối phó hơn khi đã hiểu, là hờn dỗi. Bởi người Thiên Bình không thể chịu đựng việc phải dùng đến bạo lực thân xác hay trí óc nếu không đạt điều mình muốn, nên họ phản kích tinh vi hơn bằng im lặng bướng bỉnh. Tính bị động trong trạng thái này thường làm những ai đối diện họ hoàn toàn mất phương hướng. Cách xử nghiêm khắc và hiệu quả nhất với màn trình diễn ấy là để họ ở một mình hoặc bảo họ đi nơi khác mà dỗi cho đã.

On a more positive note, the one fundamental, unalterable characteristic of Libra is gentleness. This can be so disarming that they often get what they want without struggle. Librans are kindly souls, if only for the reason that to be kind is usually less trouble than to be otherwise! This gentleness, however, is a thing apart; none of the other eleven signs have anything like it. There is nothing quite so soothing, so reassuring, as the gentle touch and calm voice of Libra. Whenever possible, Librans prefer to be euphemistic, choosing to use a gentler term in the place of a harsh one, even if the latter would be far more appropriate. Things like cruelty or injustice upset them greatly. Naturally artistic, an absence of beauty and concord in their lives will depress them. Indeed, without a suitable partner who can compensate for their deficiencies, some are just not strong enough to cope with the harsh realities of everyday life.

Ở mặt tích cực hơn, một đặc tính nền tảng, bất biến của Thiên Bình là sự dịu hoà. Điều này có sức làm người khác buông vũ khí đến mức họ thường đạt điều mình muốn mà không phải tranh đấu. Thiên Bình là những tâm hồn hiền hoà, nếu chỉ vì lý do: tử tế thường ít rắc rối hơn là không tử tế! Tuy vậy, sự dịu hoà này là một điều riêng biệt; mười một dấu hiệu còn lại không có gì giống như thế. Không có gì êm dịu, trấn an bằng cái chạm nhẹ và giọng nói bình thản của Thiên Bình. Bất cứ khi nào có thể, họ thích nói tránh, chọn từ êm dịu hơn thay cho từ gay gắt, dù từ gay gắt đôi khi thích đáng hơn nhiều. Những thứ như tàn nhẫn hay bất công khiến họ bối rối sâu sắc. Bẩm sinh có khiếu nghệ thuật, thiếu vắng vẻ đẹp và hoà điệu trong đời sẽ làm họ buồn nản. Quả thật, nếu không có một bạn đời thích hợp có thể bù đắp những khiếm khuyết của họ, một số người không đủ mạnh để đối mặt với thực tại khắc nghiệt của đời thường.

Their reaction to sudden tragedy, trauma or bad news is strange. Shock is often delayed and when it comes eventually it may be severe and prostrating. Physiologists would be interested to note here the fact that Libra rules the kidneys and one of the severest and most delayed results of post-traumatic shock involves the kidneys, usually after something like a car accident.

Phản ứng của họ trước bi kịch đột ngột, chấn thương hay tin dữ thật lạ. Sốc thường bị trì hoãn và khi cuối cùng nó đến, có thể dữ dội và quật ngã. Các nhà sinh lý học hẳn sẽ thấy thú vị khi lưu ý rằng Thiên Bình chi phối thận và một trong những hậu quả nặng nề và chậm trễ nhất của sốc hậu chấn thương liên quan đến thận, thường sau những tai nạn như xe hơi.

The motorcar is naturally associated with Libra, not just through its shape, which reflects its glyph, but also because it has taken the role of an indispensable partner to most of us, providing mobility and aiding our communication in so many ways—all Libran features. Not surprisingly, most Librans love driving and the freedom and movement that it gives them.

Xe hơi tự nhiên gắn với Thiên Bình, không chỉ bởi hình dáng phản chiếu phù hiệu của nó, mà còn bởi nó đã đóng vai trò bạn đồng hành không thể thiếu với hầu hết chúng ta, mang lại tính cơ động và hỗ trợ giao tiếp theo vô vàn cách—tất cả đều là phẩm tính Thiên Bình. Không ngạc nhiên khi đa số người Thiên Bình thích lái xe và ưa tự do cùng chuyển động mà xe mang lại.

The term ‘man and machine in perfect harmony’ applies very well to the Libran and his car. He feels at home in his automobile, which is like an extension of himself and transports him efficiently on his varied activities. Libra normally has an innate respect for the road, and will rarely be found breaking the speed limit or jumping a red light. He likes to keep a cool head, which enables him to think properly in all circumstances. Such qualities make him by far the safest and most competent driver on the road, although his indecision can catch him out at times.

Cụm từ ‘con người và cỗ máy trong hoà điệu hoàn hảo’ rất đúng với người Thiên Bình và chiếc xe của họ. Họ thấy như ở nhà khi trong ô tô, như một phần kéo dài của chính mình, đưa họ đi một cách hiệu quả trên những hoạt động đa đoan. Thiên Bình thường có sự tôn trọng tự nhiên với đường sá, hiếm khi vượt tốc độ hoặc vượt đèn đỏ. Họ thích giữ cái đầu mát, cho phép suy nghĩ cho đúng trong mọi tình huống. Những phẩm chất như thế khiến họ là những tài xế an toàn và thành thạo bậc nhất trên đường, dù đôi khi sự thiếu quyết đoán cũng làm họ hớ.

In any difficulty or confrontation, Librans always seek the middle path. Sun in Libra literally means the ‘golden mean’. Weighing the objective with the subjective, the mental with the emotional, these people forever seek poise and harmony in their lives. Naturally even-tempered, they thrive when things are level and calm and there is an absence of hostility. Moderate, reasonable and diplomatic, they will go to great lengths to avoid scenes, quarrels and disputes. Wherever they are, they are happy in supplying a point of stability in any scenario. They are born peacemakers and should be valued as such.

Trong mọi khó khăn hay đối đầu, người Thiên Bình luôn tìm con đường ở giữa. Mặt Trời ở Thiên Bình theo nghĩa đen là ‘trung dung vàng’. Cân xứng cái khách quan với cái chủ quan, trí với cảm, những người này không ngừng kiếm tìm đà thăng bằng và hoà điệu trong đời. Vốn dĩ điềm đạm, họ hưng thịnh khi mọi sự phẳng lặng, êm ả và vắng bóng thù nghịch. Chừng mực, phải lẽ và ngoại giao, họ sẽ làm rất nhiều để tránh cảnh tượng, cãi vã và tranh chấp. Ở bất kỳ đâu, họ hạnh phúc khi đóng vai điểm tựa ổn định trong bất kỳ bối cảnh nào. Họ sinh ra là người kiến tạo hoà bình và nên được trân trọng như thế.

The issue of world peace became a great concern of Libran John Lennon, echoed in his song Give Peace a Chance. His partnership with Yoko Ono encouraged his concern and they even staged an eccentric press conference from a double bed (Libra), to promote world peace. Libra works best in co-operation with others, and Lennon wrote many of his most successful songs in partnership with Paul McCartney.

Vấn đề hoà bình thế giới trở thành mối quan tâm lớn của John Lennon thuộc Thiên Bình, vang vọng trong ca khúc Give Peace a Chance. Sự kết đôi của ông với Yoko Ono đã khích lệ mối quan tâm ấy và họ thậm chí còn tổ chức một cuộc họp báo lập dị trên một chiếc giường đôi (Thiên Bình), nhằm cổ vũ hoà bình thế giới. Thiên Bình làm việc tốt nhất trong hợp tác với người khác, và Lennon viết nhiều ca khúc thành công nhất khi cộng tác với Paul McCartney.

Librans are naturally laid back people, and often accused of being lazy, but their antipathy to cruelty and injustice can be powerful motivating forces, and they can excel at bringing others together to fight for a cause. This is a cardinal sign, after all, and given the right motives, its natives can initiate great things. Bob Geldof, born in Libra, is now famous for organising the supergroup Band Aid to benefit African famine victims. To fulfil his promise that all of the funds raised would go directly to famine relief, Geldof travelled to Ethiopia and the Sudan, using his diplomatic and negotiating skills to liaise with local government and relief agencies. He later organised Live Aid, an internationally televised concert and telethon viewed by an estimated 1.5 billion people in 147 countries raising about £100 million.

Người Thiên Bình vốn thong dong, thường bị chê lười biếng, nhưng ác cảm với tàn nhẫn và bất công có thể là lực thúc đẩy mạnh mẽ, và họ có thể xuất sắc trong việc kết nối người khác để cùng đấu tranh cho một lý tưởng. Rốt cuộc, đây là một dấu hiệu chính yếu, và khi động cơ đúng, người sinh dưới dấu hiệu này có thể khởi xướng những điều lớn lao. Bob Geldof, sinh ở Thiên Bình, nay nổi tiếng vì tổ chức siêu nhóm Band Aid để giúp nạn đói ở châu Phi. Để giữ lời hứa rằng toàn bộ quỹ quyên góp sẽ đi thẳng vào cứu đói, Geldof đã đến Ethiopia và Sudan, dùng kỹ năng ngoại giao và đàm phán để phối hợp với chính quyền địa phương và các tổ chức cứu trợ. Sau đó ông tổ chức Live Aid, một hoà nhạc và truyền hình vận động quốc tế, ước tính có 1,5 tỷ người ở 147 quốc gia theo dõi, gây quỹ khoảng 100 triệu bảng.

A solitary life spent under this sign is an unusual and often futile one. The most co-operative sign of all the zodiac, Libra loves to reciprocate and will always return a compliment. These people are typical ‘log-rollers’; ‘You scratch my back, and I’ll scratch yours’ is an attitude that comes easily to them. They love to co-operate and form alliances. If Libra is placed in the twelfth house of Pisces (which rules crime), then such practices go too far and break the law, in the form of corruption. Libra rules the law, and when afflicted this sign can produce misalliances as well as a great risk of the law being broken in some way. Generally speaking, however, Librans far prefer to obey the law rather than break it.

Một đời sống độc cư dưới dấu hiệu này là điều bất thường và thường vô ích. Dấu hiệu hợp tác nhất trong toàn hoàng đạo, Thiên Bình thích có qua có lại và sẽ luôn đáp lại một lời khen. Những người này là mẫu ‘lăn khúc gỗ’ điển hình; ‘Bạn gãi lưng tôi, tôi gãi lưng bạn’ là thái độ đến với họ rất tự nhiên. Họ thích hợp tác và lập liên minh. Nếu Thiên Bình nằm ở nhà thứ mười hai của Song Ngư (chủ về tội phạm), thì những thực hành như thế đi quá xa và phá vỡ pháp luật, dưới dạng tham nhũng. Thiên Bình chi phối luật pháp, và khi bị xung khắc dấu hiệu này có thể sinh ra những liên minh lệch lạc cũng như nguy cơ lớn vi phạm pháp luật theo cách nào đó. Tuy nhiên, nói chung, người Thiên Bình thích tuân luật hơn là phá luật.

Some Librans would like to run their lives like law practices, keeping everything and everyone under the same kind of automation, much as a driver expects of his automobile. You sometimes get the impression that your activities are guided by them (always unobtrusively, of course) and that they have arranged your exits and entrances onto the stage of their consciousness in such a way that you are co-operating with them as a secondary partner.

Một số người Thiên Bình muốn điều hành đời mình như các hãng luật, giữ mọi thứ và mọi người dưới cùng một kiểu tự động hoá, giống như một tài xế kỳ vọng ở chiếc xe của mình. Đôi khi các bạn có cảm giác hoạt động của mình được họ hướng dẫn (dĩ nhiên luôn kín đáo), và rằng họ đã sắp xếp lối ra lối vào của các bạn trên sân khấu tâm thức họ theo cách khiến các bạn hợp tác với họ như một đối tác thứ yếu.

Level and equable, these are honest people who contain few hidden surprises and often can be read like an open book. Their humour is often dry and at its best is always nicely timed. At its worst, it becomes idle chatter without depth or topicality, sometimes accompanied by a birdlike, tuneless whistling. If Saturn is prominently placed in Libra (as in my own chart) the native will have an unparalleled capacity for throwing a damper on company. There is no real accompanying depression of spirit, just the ability to be an utter killjoy; uncooperative, passive and dampening. But oh, when Saturn is pleased, how he can give a lesson in wit and sparkling oratory!

Điềm đạm và cân bằng, họ là những người trung thực, ít điều bất ngờ ẩn giấu và thường có thể đọc như một cuốn sách mở. Khiếu hài hước của họ thường khô và khi hay nhất thì luôn đúng lúc. Khi dở nhất, nó thành chuyện tán nhảm vô bổ, không chiều sâu, không thời sự, đôi khi kèm tiếng huýt sáo líu lo vô điệu bậc như chim. Nếu Sao Thổ nổi bật ở Thiên Bình (như trong lá số của chính tôi) đương số sẽ có năng lực vô song trong việc đổ nước lạnh lên bầu không khí chung. Không hẳn là trầm uất, chỉ là khả năng làm mất vui triệt để; bất hợp tác, thụ động và làm nguội. Nhưng ôi, khi Sao Thổ hài lòng, ông có thể cho một bài học về dí dỏm và hùng biện loé sáng biết bao!

Oscar Wilde, the Irish writer was born under Libra. Aesthetic, eccentric, amoral and gifted, his wit, brilliance and flair won him many devotees. Indeed, Librans often have a pronounced artistic side to their nature and a great ability in such areas. They also love fine clothes and must be ‘in the tone’; they will have none of the ‘living on the smell of an oil rag’ of Capricorn. Their elegance is often expressed in footwear and their approach to self-adornment is nicely expressed in the old nursery rhyme:

Oscar Wilde, nhà văn Ireland, sinh dưới Thiên Bình. Thẩm mỹ, lập dị, phi đạo đức và tài năng, trí tuệ, sự loé sáng và phong cách của ông đã chinh phục rất nhiều người ngưỡng mộ. Quả thực, người Thiên Bình thường có một mặt nghệ thuật nổi trội trong bản tính và khả năng lớn ở những lĩnh vực này. Họ cũng yêu trang phục đẹp và phải ‘đúng điệu’; họ không chấp nhận kiểu ‘sống bằng mùi giẻ dầu’ kham khổ của Ma Kết. Vẻ tao nhã của họ thường được biểu đạt ở giày dép và cách tự trang sức được diễn đạt khéo trong bài đồng dao xưa:

Rings on her fingers and bells on her toes,

Nhẫn trên tay và chuông nơi chân,

And she shall have music wherever she goes.

Ở đâu nàng đến cũng đầy âm thanh.

Their hands and feet are usually well-shaped but it is the fingers which are their most striking physical attribute. I have never seen finer fingers than those of some Librans. They taper and end in beautifully constructed nails giving the ‘fingers of an artist’ when frequently they are without any art at all. Not many Librans cope easily with the loss of youth and beauty that old age brings. The famous beauty and film star Brigitte Bardot was born in this sign and when her film career came to an end she took up a campaign against cruelty to animals.

Tay và chân họ thường cân đối, nhưng ấn tượng nhất là những ngón tay. Tôi chưa từng thấy ngón tay nào đẹp hơn ở một số người Thiên Bình. Chúng thon, đầu ngón là những móng được tạo tác tuyệt đẹp, cho thấy ‘ngón tay nghệ sĩ’ dù không phải lúc nào họ có nghệ thuật gì. Không nhiều người Thiên Bình dễ dàng chịu đựng sự mất mát tuổi xuân và nhan sắc do tuổi già mang đến. Brigitte Bardot, minh tinh nổi tiếng sinh ở dấu hiệu này, khi sự nghiệp điện ảnh kết thúc đã dấn thân vào vận động chống tàn ác với thú vật.

Their taste in food is capricious. They will have nothing to do with leftovers and can be as finicky as a pregnant woman on occasions. Their appetites are birdlike, picking a little here and there and very often rejecting for the most irrational reasons. They can cook well and be very interested in housework but it is in the preparation of breakfast that they excel. It is often better to let them prepare their own because their taste at breakfast time is at its most fickle. Faced with something unpalatable they will prefer to do without the meal. Cornflakes are very appropriate to Sun in Libra, whereas the continental breakfast is an insult to the British Libran!

Khẩu vị của họ thất thường. Họ không đụng đến đồ ăn thừa và đôi khi kén chọn như đàn bà mang thai. Họ ăn kiểu chim sẻ, nhặt chút ở đây chút ở kia và rất thường từ chối vì những lý do chẳng mấy hợp lý. Họ có thể nấu ăn giỏi và rất quan tâm đến việc nhà, nhưng họ xuất sắc nhất ở khâu chuẩn bị bữa sáng. Thường tốt hơn là để họ tự chuẩn bị, vì khẩu vị lúc ăn sáng của họ là thất thường nhất. Gặp món không ưa, họ thà nhịn bữa. Ngũ cốc cornflakes rất hợp với Mặt Trời ở Thiên Bình, còn bữa sáng kiểu lục địa là một sự xúc phạm đối với người Thiên Bình xứ Anh!

They tend to be equally fickle in affairs of the heart and if they marry, they do so early in life and frequently divorce later on, when a fairer companion takes their fancy. Considering the nature of this sign, it is not surprising that bisexuality is common amongst them. They remain, despite their shortcomings, the most agreeable companions in the zodiac.

Họ cũng hay thất thường trong chuyện tình ái và nếu kết hôn, họ thường cưới sớm rồi sau lại ly dị, khi một bạn đồng hành ‘cân đối’ hơn lọt vào mắt xanh. Xét bản chất của dấu hiệu này, không ngạc nhiên khi tính song tính là thường gặp ở họ. Dẫu có những thiếu sót, họ vẫn là bạn đồng hành dễ chịu nhất trong hoàng đạo.

Suitable Professions for Libra—Những nghề phù hợp với Thiên Bình

Judge, barrister, lawyer, solicitor, diplomat, arbiter, ombudsman, public relations, librarian, accountant, announcer, commentator, broadcaster, high financier, stockbroker, buyer, computer operator/programmer, painter/decorator, plater, enameller, locksmith, chauffeur, taxi driver, aeroplane pilot, car manufacturer, clock-maker, railway engineer, telephonist, packer, airport baggage handler, security guard, policeman. The more artistically inclined can happily make a successful career in many areas of the arts, especially writing, painting, or playing the piano, harp, violin or guitar.

Thẩm phán, luật sư biện hộ, luật sư, luật sư tư vấn, nhà ngoại giao, trọng tài, thanh tra viên công quyền, quan hệ công chúng, thủ thư, kế toán, phát thanh viên, bình luận viên, người dẫn chương trình phát sóng, nhà tài phiệt tài chính, môi giới chứng khoán, chuyên gia thu mua, người vận hành/mật trình viên máy tính, thợ sơn/trang trí, thợ mạ, thợ tráng men, thợ khoá, tài xế riêng, tài xế taxi, phi công máy bay, nhà sản xuất ô tô, thợ làm đồng hồ, kỹ sư đường sắt, điện thoại viên, công nhân đóng gói, nhân viên bốc xếp hành lý sân bay, nhân viên an ninh, cảnh sát. Những người thiên về nghệ thuật có thể vui vẻ theo đuổi sự nghiệp thành công ở nhiều lĩnh vực nghệ thuật, đặc biệt là viết, hội hoạ, hoặc chơi piano, hạc, vĩ cầm hay guitar.

The Libran Child—Đứa trẻ Thiên Bình

Blessed are the peacemakers:

Phước cho những người kiến tạo hoà bình:

for they shall be called the children of God.

vì họ sẽ được gọi là con cái của Thiên Chúa.

— Matthew 5:9

— Matthew 5:9

The children of Libra take well to discipline, not in the sense that they are minor disciplinarians themselves but rather that they respond well to instructions, especially in their manner and behaviour. Normally, just a quiet word is needed to set them on course for whatever task or playtime activity is required of them. They rarely fight back and very quickly learn that co-operation is the key to their happiness. They accept and appreciate rules as long as they are fair, just and not harsh. Any sort of injustice, however, will rouse even the laziest Libran children; they have extraordinary empathy not only for other children of their own age, but also for the lower kingdoms of nature.

Những đứa trẻ Thiên Bình hợp với kỷ luật, không theo nghĩa bản thân chúng là những tiểu kỷ luật gia, mà vì chúng đáp ứng tốt với chỉ dẫn, nhất là trong cung cách và ứng xử. Thông thường, chỉ cần một lời nhẹ là đủ để đưa chúng vào lộ trình cho bất cứ nhiệm vụ hay hoạt động giờ chơi nào được giao. Chúng hiếm khi phản kháng và nhanh chóng học rằng hợp tác là chìa khoá cho hạnh phúc của mình. Chúng chấp nhận và trân trọng các quy luật miễn là chúng công bằng, chính trực và không hà khắc. Mọi kiểu bất công, tuy vậy, sẽ đánh thức ngay cả những em Thiên Bình lười nhất; chúng có khả năng đồng cảm lạ thường không chỉ với bạn đồng lứa, mà cả với các giới thấp hơn trong thiên nhiên.

These children are the great bridge-builders among their companions and will go out of their way to settle squabbles. They are not cowards, however, and will help to break up fights, doing their best to take the sting out of threatening situations. In any dispute, they prefer to take a diplomatic or even legal attitude, insisting that each side is given a fair hearing, and that all factors are taken into account before the final decision.

Những đứa trẻ này là nhà bắc cầu tuyệt vời giữa bạn bè và sẽ chủ động dàn hoà những cãi vã. Tuy nhiên, chúng không hèn nhát và sẽ giúp can ngăn ẩu đả, cố hết sức rút nọc những tình huống đe doạ. Trong bất kỳ tranh chấp nào, chúng thích có thái độ ngoại giao thậm chí pháp lý, nhấn mạnh rằng mỗi bên phải được lắng nghe công bằng và mọi yếu tố phải được xét đến trước khi quyết định sau cùng.

They make friends easily, quickly bridging the gaps in a new relationship. Their close friendships can develop into partnerships that will endure for years. They bridge generation gaps easily and are happy to make friends with the aged. Parents who are incompatible or have split up will often find them a great help in establishing bridgeheads which would normally have been swept away without such children. Their love of uniformity enables them to thrive within a group of their peers.

Chúng kết bạn dễ dàng, nhanh chóng bắc cầu những khoảng cách trong một mối quan hệ mới. Tình bạn thân thiết của chúng có thể phát triển thành những cặp đôi bền bỉ suốt nhiều năm. Chúng bắc cầu khoảng cách thế hệ dễ dàng và vui vẻ kết thân với người cao tuổi. Cha mẹ bất hoà hoặc chia tay thường sẽ thấy chúng là trợ lực lớn trong việc thiết lập những đầu cầu vốn dễ bị cuốn phăng nếu không có những đứa trẻ như vậy. Tình yêu tính đồng dạng giúp chúng phát triển tốt trong một nhóm bạn cùng trang lứa.

They do not object if their daily activities have little variety, for they like their lives to be ordered and find it uncomfortable to have their routine rudely altered. Preferring simple clothing, they tend to avoid gaudy colours, as do the children of Pisces and Scorpio. They like their clothes to fit well but not too tightly, and are happiest in clothing that is smock-like and not tight around the waist. Hence they feel comfortable in dressing-gowns and coats, especially if they slip on and off easily. The boys like to wear their shirts outside their trousers, and both sexes tend to want short-sleeved garments, but there must be a sleeve of some description. They take to unisex clothing and also like to wear the same sort of clothes that their younger or elder brothers and sisters wear. Unlike the Virgo child they prefer their hairstyle straight and even, with very little fuss, frills or ruffles.

Chúng không phản đối nếu sinh hoạt thường ngày ít biến hoá, vì chúng thích đời sống có trật tự và thấy khó chịu khi nếp thường bị đổi khác thô bạo. Thích trang phục giản dị, chúng có khuynh hướng tránh màu loè loẹt, cũng như trẻ Song Ngư và Bọ Cạp. Chúng thích quần áo vừa vặn nhưng không quá bó, và hạnh phúc với quần áo dáng áo khoác suông, không bó ở eo. Bởi thế chúng thấy dễ chịu trong áo choàng và áo khoác, nhất là loại mặc cởi dễ dàng. Con trai thích thả áo ngoài quần, và cả hai giới đều có khuynh hướng chuộng đồ tay ngắn, nhưng nhất định phải có tay áo. Chúng ưa đồ phi giới tính và cũng thích mặc cùng kiểu quần áo với anh chị em lớn tuổi hoặc nhỏ tuổi của mình. Không như trẻ Xử Nữ, chúng thích kiểu tóc thẳng và đều, với rất ít sự cầu kỳ, diềm dúa hay xoăn lượn.

They are happiest at sunset and dawn, when the sun is on the horizon.

Chúng hạnh phúc nhất vào lúc hoàng hôn và bình minh, khi mặt trời ở đường chân trời.

00002.jpeg
00002.jpeg

Never too early or too late in rising or going to bed, they are also moderate in appetite and prefer the plainer foods, especially those that are flat, like slices of bread, pancakes, pizzas, scones and shortbread.

Không quá sớm cũng không quá muộn khi thức dậy hay đi ngủ, chúng cũng điều độ trong ăn uống và thích các món giản dị, nhất là những món phẳng, như lát bánh mì, bánh kếp, pizza, bánh nướng scones và bánh quy bơ shortbread.

They will play happily on flat playgrounds or terrain where there are no nasty, challenging or upsetting hillocks and gullies, and they always appreciate serene landscapes, especially when there are sailing boats on a lake or hot air balloons low in the sky. The colour green is most soothing to them and the nursery should have this colour as its central theme.

Chúng sẽ chơi vui vẻ trên những sân chơi phẳng hoặc địa hình không có mô gồ ghề khó chịu và luôn trân trọng phong cảnh thanh bình, đặc biệt khi có thuyền buồm trên hồ hoặc khinh khí cầu bay thấp trên trời. Màu xanh lục là màu làm dịu chúng nhất và phòng trẻ nên lấy màu này làm chủ đề trung tâm.

Such a nursery should also be well furnished with suitable reading material, for the Libran love of books benefits from being cultivated from an early age. These children love to be surrounded by books, which will prove to be a constant source of inspiration, delight and solace to them, as well as being indispensable to their education. If you are ever at a loss when choosing a present for a Libran child, give him a book!

Phòng trẻ như thế cũng nên được trang bị tốt tài liệu đọc, vì tình yêu sách của Thiên Bình nên được bồi dưỡng từ sớm. Những đứa trẻ này thích được vây quanh bởi sách, thứ sẽ là nguồn cảm hứng, niềm vui và an ủi thường xuyên cho chúng, đồng thời không thể thiếu cho việc học. Nếu các bạn từng bối rối khi chọn quà cho một đứa trẻ Thiên Bình, hãy tặng em một cuốn sách!

The book is a laminated object, and anything of this nature comes under Libra. Hence the children of this sign like to play with things that are flat or layered, and enjoy collecting cards or any souvenirs that are flat, and can be stacked one on top of another. Librans can make excellent card players, especially in the game of bridge, and would do well to learn this game at an early age, for it will greatly lessen the boredom of rainy days and also be a great consolation to them in their adult life. They most likely will show particular aptitude in contract bridge, but of course this game only really comes into fruition during later years.

Cuốn sách là một vật được cán lớp, và bất cứ vật gì có tính chất này đều thuộc Thiên Bình. Bởi vậy, trẻ thuộc dấu hiệu này thích chơi với những thứ phẳng hoặc có nhiều lớp, thích sưu tập thẻ bài hay bất kỳ món kỷ niệm nào phẳng và có thể xếp chồng lên nhau. Người Thiên Bình có thể trở thành tay chơi bài xuất sắc, đặc biệt là môn bridge, và nên học trò chơi này từ sớm, vì nó sẽ làm vơi đi sự buồn chán những ngày mưa và cũng là niềm an ủi lớn cho chúng khi trưởng thành. Nhiều khả năng chúng sẽ tỏ ra có năng khiếu đặc biệt với contract bridge, nhưng dĩ nhiên trò này chỉ nở rộ vào những năm sau.

They take well to living in apartment blocks, high-rise flats, and any sort of dwelling in tier formation. Exploring staircases appeals to them, and the upstairs landing, where they will spend hours at play, has particular fascination for them. They enjoy toys that stack on top of each other, like an alphabetical set of bricks or a series of cubes that pack into each other. When receiving a present, they appreciate it all the more if it is well wrapped; the more packing around it, the better. Unlike their hasty friends who tear away the wrappings, throwing them everywhere in order to get to the contents more quickly, the Libran child, even at an early age, will take the wrappings off with pleasure, often preserving them for future use.

Chúng hợp với cuộc sống trong các khối chung cư, nhà cao tầng, và bất kỳ kiểu cư trú nào theo cấu trúc tầng lớp. Khám phá các cầu thang cuốn hút chúng, và chiếu nghỉ tầng trên—nơi chúng có thể nô đùa hàng giờ—có sức hấp dẫn đặc biệt. Chúng thích những món đồ chơi có thể xếp chồng, như bộ gạch chữ cái hay bộ khối lập phương có thể lồng vào nhau. Khi nhận quà, chúng càng trân quý nếu quà được gói đẹp; càng nhiều lớp bọc càng tốt. Không như bạn bè hấp tấp, xé tung giấy bọc văng tứ phía để chạm nhanh vào phần ruột, đứa trẻ Thiên Bình, ngay từ nhỏ, sẽ tháo lớp bọc một cách thích thú và thường giữ lại để dùng lần sau.

Later on in life, Librans may take to activities like ballroom dancing, and girls should be encouraged to take dancing lessons. Not innately competitive, these children may show little interest in athletics, but sports like hurdles will appeal to the more active amongst them.

Sau này, người Thiên Bình có thể thích những hoạt động như khiêu vũ phòng trà, và các bé gái nên được khuyến khích học nhảy. Không có tính tranh đua bẩm sinh, những đứa trẻ này có thể ít hứng thú với điền kinh, nhưng các môn như chạy vượt rào sẽ hấp dẫn những em năng động hơn.

When travelling, they prefer smooth and quiet journeys such as those found on motorways; they take to motorcars as though they were part of the household furniture and sit in them happily, very rarely suffering from car sickness. They are fascinated by aeroplanes, which encapsulate many Libran qualities, such as poise, balance, free and smooth movement, and are a natural symbol of the communicative qualities of the element of air. These children will spend hours drawing aeroplanes or patiently building them from kits bought in the toy shop, with the ultimate satisfaction of flying the completed aeroplane on a calm day, on some level green space.

Khi đi lại, chúng thích những hành trình êm và yên như trên đường cao tốc; chúng thấy xe hơi như đồ đạc trong nhà và ngồi trong đó vui vẻ, hiếm khi say xe. Chúng bị mê hoặc bởi máy bay, phương tiện kết tinh nhiều phẩm tính Thiên Bình như thư thái, cân bằng, chuyển động tự do và mượt mà, và là biểu tượng tự nhiên cho phẩm chất giao tiếp của yếu tố khí. Những đứa trẻ này có thể dành hàng giờ vẽ máy bay hoặc kiên nhẫn lắp mô hình mua ở cửa hàng đồ chơi, để rồi thỏa mãn tột cùng khi cho chiếc máy bay hoàn thiện bay vào một ngày lặng gió, trên một bãi cỏ phẳng.

These children appreciate the use of gadgets more than anyone else in the family. There will be a fascination for switching things on, pressing buttons, pulling handles and twisting knobs. Obviously, the controls of televisions, videos, motorcars, kitchen stoves and washing machines will exert an endless fascination for them. They are also intrigued with things like air canisters and anything that squirts air. The computer exerts perhaps the most attraction for them, and these children will quickly come to terms with the laws that these machines operate under. As well as enjoying the entertainment value of computers, they like the possibilities that they provide for communication, and will prefer a machine that is linked to others.

Những đứa trẻ này trân trọng việc dùng các thiết bị tiện ích hơn bất kỳ ai khác trong gia đình. Chúng sẽ bị cuốn hút bởi việc bật công tắc, bấm nút, kéo tay cầm và vặn núm. Rõ ràng, các nút điều khiển tivi, đầu thu, xe hơi, bếp và máy giặt sẽ khiến chúng say mê bất tận. Chúng cũng thích những thứ như bình khí nén và bất cứ cái gì phun khí được. Máy tính có lẽ là thứ hấp dẫn nhất, và những đứa trẻ này sẽ nhanh chóng làm quen với các quy luật vận hành của những cỗ máy ấy. Ngoài việc tận hưởng giá trị giải trí, chúng còn thích những khả năng mà máy tính mang lại cho giao tiếp, và sẽ thích một cỗ máy có kết nối với những chiếc khác.

Often showing artistic talent, they are great lovers of perspective, and will brush aside any picture that has the slightest suggestion of impropriety in terms of perspective. They prefer straight lines to wavy or erratic ones, the exception being, of course, the rounded arch, a perfect symbol of this sign. Their cultural affinity is for Renaissance art, Roman history, Romanesque buildings, and anything with arches.

Thường bộc lộ năng khiếu nghệ thuật, chúng rất yêu phối cảnh, và sẽ gạt phăng bất kỳ bức tranh nào có chút sai sót về phối cảnh. Chúng thích đường thẳng hơn đường uốn lượn hay thất thường, ngoại trừ, dĩ nhiên, vòm cong—biểu tượng hoàn hảo của dấu hiệu này. Duyên văn hoá của chúng là nghệ thuật Phục Hưng, lịch sử La Mã, kiến trúc kiểu Romanesque, và bất cứ thứ gì có vòm.

They love to lie flat and tend to avoid pillows; when they read they prefer to take up a recumbent posture and they will often be found lying flat on a grassy verge in the open air, staring up at the clouds, which often reflect their own natures. Like the clouds, they tend to sail gently along, often preferring to be uninterrupted, and quite alone.

Chúng thích nằm phẳng và hay tránh gối; khi đọc chúng thích tư thế nằm dài, và các bạn sẽ thường thấy chúng nằm bệt trên bờ cỏ ngoài trời, ngước nhìn mây trời, thứ hay phản chiếu chính bản tính của chúng. Như mây, chúng thường lững lờ trôi, thích được không bị quấy rầy và khá đơn độc.

The epithet of ‘lazy Libran’ is a true one in many instances but their laziness is more a quality of languor than of actual avoidance. With their leisurely attitude to life, they tend to turn up when any work has already been completed. They do need to be urged along sometimes, but their education should never be hurried, for they like to be able to even up their standard of learning before making modest advances in it.

Biệt danh ‘Thiên Bình lười’ là đúng trong nhiều trường hợp, nhưng sự lười của chúng thiên về phẩm tính uể oải hơn là né tránh thực sự. Với thái độ thong thả trước đời, chúng thường xuất hiện khi công việc đã xong. Đôi lúc cần thúc giục, nhưng việc giáo dục chúng không nên vội, vì chúng thích cân bằng mặt bằng học tập trước khi tiến những bước thăng tiến khiêm tốn.

These children can be ‘head and shoulders’ above others at quite an early age, either in some mental or emotional quality, or even physically, and at this stage they need very special care and attention. They don’t make decisions easily, often feeling overwhelmed by all the choices and possibilities that they can see in a situation, hence they often end up having others making decisions for them. Parents should always ensure that these children get proper guidance, especially when it comes to important choices in their lives.

Những đứa trẻ này có thể ‘trên đầu trên cổ’ người khác từ khá sớm, hoặc ở một phẩm chất trí hay cảm nào đó, thậm chí về mặt thể chất, và ở giai đoạn này chúng cần sự chăm sóc và chú ý đặc biệt. Chúng không quyết định dễ dàng, thường thấy choáng ngợp bởi muôn lựa chọn và khả thể thấy ra trong một tình huống, thành thử chúng thường để người khác quyết hộ. Cha mẹ nên luôn đảm bảo những đứa trẻ này nhận được định hướng đúng, nhất là khi phải đưa ra những lựa chọn quan trọng trong đời.

HEALTH HINTS for LIBRA—GỢI Ý SỨC KHỎE cho THIÊN BÌNH

The whole imposing edifice of modern medicine is like the celebrated tower of Pisa—slightly off balance. —Charles, Prince of Wales.

Toàn bộ công trình đồ sộ của y học hiện đại giống như tháp nghiêng Pisa nổi tiếng—hơi lệch cân bằng.—Charles, Thân vương xứ Wales.

Although the Libran may appear outwardly calm and peaceful, there is often a continuous struggle of opposites within. In the spiritually aspiring Libran, this takes place between things like desire and conscience, materialism and aspiration, personality and Soul. This endless struggle to maintain balance outwardly and inwardly is symbolised in that most important organ, the human kidney.

Dù bề ngoài người Thiên Bình có vẻ bình thản và hoà ái, bên trong thường có cuộc giao tranh bất tận giữa những đối cực. Ở người Thiên Bình có khát vọng tinh thần, điều này diễn ra giữa những cặp như dục vọng và lương tâm, duy vật và khát vọng, phàm ngã và linh hồn. Cuộc vật lộn bất tận để giữ cân bằng bên ngoài và bên trong được biểu tượng hoá ở cơ quan trọng yếu bậc nhất: quả thận của con người.

We cannot live without at least one kidney. The kidneys help maintain the balance between the internal environment of the body, through blood sugar, acidity etc., with the external environment and its variables of heat, altitude etc. Whilst the kidneys maintain a balance in the liquid or fluid systems of the body, the airy nature of Libra is well demonstrated in another important function of the kidneys: the elimination of hydrogen ions and of the gas, carbon dioxide. The amount of activity which we can maintain will depend to a large extent on the functioning of the kidneys in their ability to eliminate harmful toxins. The intake of at least a pint of pure water a day will help to keep the kidneys in a healthy condition.

Chúng ta không thể sống nếu thiếu ít nhất một quả thận. Thận giúp duy trì thăng bằng giữa môi trường nội tại của cơ thể—thông qua đường huyết, độ axit v.v.—với môi trường bên ngoài và những biến thiên của nó như nhiệt độ, độ cao v.v. Trong khi thận duy trì cân bằng ở các hệ dịch lỏng của cơ thể, bản chất thuộc khí của Thiên Bình còn được minh hoạ rõ trong một chức năng quan trọng khác của thận: thải các ion hydro và khí carbon dioxide. Mức độ hoạt động mà chúng ta duy trì được sẽ lệ thuộc rất nhiều vào chức năng thận trong khả năng loại bỏ độc tố. Uống ít nhất khoảng nửa lít nước tinh khiết mỗi ngày sẽ giúp giữ cho thận ở tình trạng khoẻ mạnh.

Diseases ruled by Libra are nephritis, suppression of urine, neuralgia of the kidneys and weakness in the lower back. Counteraction of any bodily tendencies towards imbalance in the Libran, or those with planets afflicted in Libra, is found in a diet well-balanced between starchy and acid foods, plenty of fresh air, harmonious surroundings and mild exercise. Special attention should be paid to liquid foods. There emerge, therefore, two salient aspects of Libra in relation to bodily function. These are balance and activity, or more correctly, the achievement of balance in the face of great activity.

Những bệnh do Thiên Bình chi phối là viêm thận, bí tiểu, đau dây thần kinh ở thận và yếu vùng thắt lưng. Hoá giải những xu hướng mất cân bằng thân thể nơi người Thiên Bình, hoặc nơi những người có hành tinh bị tổn hại ở Thiên Bình, nằm ở một chế độ ăn cân bằng giữa bột đường và axit, nhiều không khí trong lành, môi trường hài hoà và vận động nhẹ. Cần chú ý đặc biệt đến các loại thực phẩm lỏng. Bởi vậy, nổi lên hai diện đặc sắc của Thiên Bình trong tương quan với chức năng thân thể. Đó là cân bằng và hoạt động, hay đúng hơn, đạt đến cân bằng trước cường độ hoạt động lớn.

The Tissue Salts—Các muối mô

The Lord hath created medicines out of the earth; and he that is wise shall not abhor them .—Apocrypha, Sirach 38:4

Chúa đã tạo ra dược phẩm từ đất; và ai khôn ngoan sẽ không khinh bỏ chúng.— Ngụy kinh, Huấn ca 38:4

Esoteric research has shown that there are twelve basic ‘tissue salts’ which need to be replaced when the body is subject to stress. Normally the body cells can cope with the exigencies of everyday life, but energy expenditure at harsher and more sustained levels require cell salt replacement above that which can be normally provided from the body’s stores, and such replacement must be in a refined, ‘etheric’ state in order to move rapidly out of tissue fluids, through cell walls, to the sites of energy expenditure. In fact it would be more correct to relate them to the quantum state where particles (of salt) are able to act as waves.

Nghiên cứu huyền môn cho thấy có mười hai ‘muối mô’ căn bản cần được bù đắp khi cơ thể chịu căng thẳng. Bình thường tế bào có thể đối phó với những đòi hỏi của đời sống thường nhật, nhưng tiêu hao năng lượng ở mức khắc nghiệt và kéo dài đòi hỏi phải bù muối tế bào vượt quá mức dự trữ cơ thể có thể cung cấp, và sự bù đắp ấy phải ở trạng thái tinh vi ‘dĩ thái’ để có thể di chuyển nhanh khỏi dịch mô, xuyên qua màng tế bào đến những vị trí tiêu hao năng lượng. Thực ra liên hệ đúng hơn là với trạng thái lượng tử, nơi các hạt (muối) có thể hành xử như sóng.

The twelve tissue salts as elaborated by Dr. W. H. Schuessler, not only supply the immediate deficiencies of a cell under stress, but arouse and stimulate the natural recuperative forces of the body as a whole. In no way do they interfere with the therapy of the orthodox physician, which should be continued where prescribed. In 1832, a medical paper announced that “All the essential components of the human body are great remedies.” The mineral tissue salts are all body components and are, therefore, natural remedies.

Mười hai muối mô như được triển khai bởi Bác sĩ W. H. Schuessler không chỉ cung cấp phần thiếu hụt tức thời của tế bào chịu căng thẳng, mà còn khơi dậy và kích hoạt lực phục hồi tự nhiên của toàn thân. Chúng tuyệt nhiên không can thiệp vào liệu pháp của thầy thuốc chính thống, vốn nên tiếp tục khi được kê. Năm 1832, một bài báo y học tuyên bố rằng “Tất cả thành phần thiết yếu của cơ thể con người đều là những phương dược vĩ đại.” Các muối khoáng mô đều là các thành phần của cơ thể và vì thế, là những phương dược tự nhiên.

The twelve salts have been related to the signs of the zodiac, so that the efficient astrologer can detect any latent weakness in body constitution in terms of the salts and assess and forecast the cyclical periods when these weaknesses are most likely to manifest. The required tissue salt is frequently indicated by the Sun Sign or the Rising Sign.

Mười hai muối được liên hệ với các dấu hiệu hoàng đạo, để nhà chiêm tinh thành thạo có thể phát hiện mọi yếu điểm tiềm ẩn trong thể chất xét theo muối mô và đánh giá, dự báo những chu kỳ khi những yếu điểm đó nhiều khả năng biểu hiện nhất. Muối mô cần thiết thường được chỉ thị bởi Dấu hiệu Mặt Trời hoặc Dấu hiệu mọc.

The Twelve Salts and the Zodiacal Signs:—Mười hai muối và các dấu hiệu hoàng đạo:

• Aries: Potassium Phosphate

• Bạch Dương: Kali Phosphat

• Taurus: Sodium Sulphate

• Kim Ngưu: Natri Sunphat

• Gemini: Potassium Sulphate

• Song Tử: Kali Sunphat

• Cancer: Calcium Sulphate

• Cự Giải: Canxi Sunphat

• Leo: Silica

• Sư Tử: Silic

• Virgo: Sodium Phosphate

• Xử Nữ: Natri Phosphat

• Libra: Calcium Fluoride

• Thiên Bình: Canxi Florua

• Scorpio: Potassium Chloride

• Bọ Cạp: Kali Clorua

• Sagittarius: Magnesium Phosphate

• Nhân Mã: Magie Phosphat

• Capricorn: Calcium Phosphate

• Ma Kết: Canxi Phosphat

• Aquarius: Sodium Chloride

• Bảo Bình: Natri Clorua

• Pisces: Iron Phosphate

• Song Ngư: Sắt Phosphat

The above correlations apply to man on the spiritual path, and differ somewhat from orthodox interpretations, but may equally be given to anyone anxious to fulfil a sensitive and spiritually responsible role in life.

Những tương quan trên áp dụng cho con người trên con đường tinh thần, và có phần khác với cách giải thích chính thống, nhưng vẫn có thể dùng cho bất kỳ ai khao khát hoàn thành một vai trò nhạy cảm và có trách nhiệm tinh thần trong đời.

Traditionally, calcium fluoride, commonly known to biochemists as Calc. Fluor., is allocated to Cancer, which like Libra, is a cardinal sign. But human consciousness changes as do the incoming forces of the zodiac, the sun and the earth itself. At this time, from careful research, the facts show a better correlation of calcium fluoride to Libra.

Theo truyền thống, canxi florua, thường được các nhà sinh hoá gọi là Calc. Fluor., được phân cho Cự Giải, cũng như Thiên Bình, là một dấu hiệu chính yếu. Nhưng tâm thức con người thay đổi như các lực đến từ hoàng đạo, mặt trời và chính trái đất cũng thay đổi. Lúc này, qua nghiên cứu cẩn trọng, các dữ kiện cho thấy sự tương quan tốt hơn của canxi florua với Thiên Bình.

Any standard work of homeopathy or guide to biochemic treatment will provide an extensive and comprehensive list of the calcium symptoms and treatment. Deficiency of this salt can lead to upset of the bones, the teeth, the walls of blood vessels and all connective ‘holding’ tissues. These, of course, can lead in turn to other upsets if neglected.

Bất kỳ tác phẩm chuẩn nào về đồng căn học hoặc chỉ dẫn trị liệu sinh hoá cũng sẽ cung cấp danh mục phong phú và toàn diện về triệu chứng và trị liệu liên quan canxi. Thiếu muối này có thể dẫn đến rối loạn xương, răng, thành mạch máu và mọi mô liên kết ‘giữ đỡ’. Những điều này, dĩ nhiên, nếu bị bỏ mặc có thể kéo theo những trục trặc khác.

Those lacking in calcium should make sure they include the following foods in their diet, especially when they are fresh and in season: milk, cottage cheese, cabbage, watercress, kale, parsley, chives, onions, prunes, oranges, lemons, raisins, rye bread.

Những ai thiếu canxi nên chắc chắn bổ sung các thực phẩm sau vào khẩu phần, nhất là khi tươi và đúng mùa: sữa, phô mai làm sữa đông, bắp cải, cải xoong, cải kale, mùi tây, hẹ, hành, mận khô, cam, chanh, nho khô, bánh mì lúa mạch đen.

Libra and the Flower Remedies—Thiên Bình và các phương dược hoa

The flower remedies, as devised by Dr. Edward Bach, have long been known and valued by esoteric healers for their efficacy in treating the underlying causes of disease, rather than the mere symptoms. They are perfectly safe to use and make an ideal complement to orthodox treatments. It is an index of their increasing popularity that they are now readily available in many health food stores and healing centres. I can recom-mend six of the remedies in particular for the Libra type: Aspen, Scleranthus, White Chestnut, Chestnut Bud, Impatiens and Star of Bethlehem:

Các phương dược hoa, do Bác sĩ Edward Bach xây dựng, từ lâu đã được các nhà chữa lành huyền môn biết đến và trân trọng vì hiệu lực trong việc trị căn nguyên bệnh tật, hơn là chỉ triệu chứng. Chúng hoàn toàn an toàn khi dùng và là bổ trợ lý tưởng cho các trị liệu chính thống. Dấu hiệu cho thấy mức độ phổ biến ngày càng tăng là nay chúng có sẵn ở nhiều cửa hàng thực phẩm sức khoẻ và trung tâm chữa lành. Tôi có thể khuyến nghị đặc biệt sáu phương dược cho kiểu người Thiên Bình: Aspen, Scleranthus, White Chestnut, Chestnut Bud, Impatiens và Star of Bethlehem:

Star of Bethlehem—Star of Bethlehem

Our life’s star,

Ngôi sao đời ta,

Hath had elsewhere its setting,

Đã lặn khuất nơi nao,

And cometh from afar

Và đến từ xa lạ

—William Wordsworth, Intimations of Immortality

—William Wordsworth, Intimations of Immortality

The kidneys restore balance to the body under stress. It is through these organs that water is regulated and acid/base mechanisms are adjusted. They remove toxic materials from the blood, especially the waste products of nitrogen metabolism and of stress. Orthodox medicine always watches the kidneys very closely where shock is concerned. Victims of air raids during the two World Wars frequently survived the most frightful injuries and heroic surgery only to succumb, post-operatively, from shock through complications arising from the kidneys.

Thận khôi phục cân bằng cho cơ thể khi chịu căng thẳng. Chính qua cơ quan này mà nước được điều hoà và cơ chế axit/kiềm được hiệu chỉnh. Chúng loại bỏ độc chất khỏi máu, nhất là sản phẩm thải của chuyển hoá nitơ và của căng thẳng. Y học chính thống luôn theo dõi rất sát thận trong mọi trường hợp sốc. Nạn nhân các cuộc không kích trong hai cuộc Thế chiến thường sống sót qua những thương tích khủng khiếp nhất và những ca phẫu thuật anh hùng chỉ để rồi gục ngã, sau mổ, vì sốc do biến chứng phát sinh từ thận.

Star of Bethlehem brings synthesis to the bodily systems shocked out of alignment by traumatic events. The type of shock that calls for the remedy Rock Rose is usually of short duration and the causative factor is quickly removed. But when Star of Bethlehem is indicated, the cause of the shock may remain unrevealed, even unremembered by the patient. The results of the shock may persist for a very long time so that cause and effect are not apparently connected. The shock may even be precipitated by the faintest or indirect reminder of the actual event.

Star of Bethlehem mang lại tổng hợp hoá cho các hệ thống cơ thể bị các biến cố chấn thương làm lệch hàng. Dạng sốc cần đến Rock Rose thường ngắn và yếu tố gây sốc nhanh chóng bị loại bỏ. Nhưng khi Star of Bethlehem được chỉ định, căn nguyên sốc có thể vẫn không lộ, thậm chí chính bệnh nhân cũng không nhớ. Hệ quả của sốc có thể kéo dài rất lâu đến mức nhân quả không còn hiển nhiên liên kết. Sốc thậm chí có thể bị kích hoạt bởi một gợi nhắc mơ hồ hoặc gián tiếp nhất về biến cố thực tế.

Shock symptoms are related to the activities of the parasympathetic nervous system. We have all experienced ‘stage fright’ when we have suddenly been exposed to an audience or when we are awaiting the glare of the public eye and have known that awful sinking feeling or the sudden urge of a bowel movement. These parasympathetic expressions amount to minor shock and a nervous lecturer would do well to carry Star of Bethlehem with him for such eventualities.

Các triệu chứng sốc liên quan đến hoạt tính của hệ thần kinh đối giao cảm. Ai trong chúng ta cũng từng trải ‘run sân khấu’ khi bất chợt đối diện khán giả hoặc chờ khoảnh khắc dưới ánh nhìn công chúng và biết cảm giác hụt hẫng kinh khủng hoặc thôi thúc đi tiêu bất chợt. Những biểu hiện đối giao cảm này là dạng sốc nhẹ và một diễn giả thần kinh yếu nên mang theo Star of Bethlehem cho những tình huống như vậy.

It is not surprising, therefore, that Libra is the sign of the zodiac most closely related to the Star of Bethlehem. Libra always seeks balance in place of shocked disturbance, the restoration of the tumultuous sea to its natural smooth level. The human aura is an ovoid that spins rapidly in good health and at very high speed in the spiritually developed, producing a radiatory aura. Control and balance accompany the phenomenon but in shock, however, radiation stops and, under Libran influence especially, the aura laminates, making for depression and extreme introversion.

Không ngạc nhiên khi Thiên Bình là dấu hiệu hoàng đạo liên hệ mật thiết nhất với Star of Bethlehem. Thiên Bình luôn kiếm tìm cân bằng thay cho rối loạn bị sốc, khôi phục mặt biển gào thét về mức êm phẳng tự nhiên. Hào quang con người là một hình bầu dục, xoay nhanh khi khoẻ mạnh và với tốc độ rất cao nơi người phát triển tinh thần, tạo nên một hào quang phát xạ. Kiểm soát và cân bằng đi kèm hiện tượng, nhưng khi sốc, sự phát xạ ngừng, và đặc biệt dưới ảnh hưởng Thiên Bình, hào quang phân lớp, gây ra u uất và hướng nội cực độ.

Aspen

Aspen

Willows whiten, aspens quiver,

Liễu bạc trắng, dương rung,

Little breezes dusk and shiver.

Làn gió nhỏ sẫm dần và rùng mình.

—Tennyson, The Lady of Shalott.

—Tennyson, The Lady of Shalott.

The very nature of the Aspen plant implies a tremulousness, and the fears of Aspen have no true anchorage. They are the fears of the mind that come ‘out of the dark’ for reasons we know not and from whence we know not. The linkage between the astral body and the physical body is not always very close in some individuals. The physical body, in close apposition to the astral body acts as a buffer to frightening thoughts. When, however, the links are tenuous between the astral body and the physico-etheric body, a person virtually ‘jumps out of his skin’ when some threat is posed. Frequently, when the person is spiritually evolved, he has many out-of-body experiences and remembers them.

Bản tính của cây dương (Aspen) đã hàm ý sự rung rinh, và những sợ hãi của Aspen không có mối neo thật sự. Đó là những nỗi sợ của thể trí đến ‘từ bóng tối’ vì những nguyên do ta không biết và từ nơi ta cũng không hay. Mối nối giữa thể cảm dục và thể xác không phải lúc nào cũng sát khít ở một số cá nhân. Thể xác, khi áp gần thể cảm dục, đóng vai đệm đỡ cho những ý tưởng đáng sợ. Tuy nhiên, khi mối nối giữa thể cảm dục và thể xác-dĩ thái mong manh, người ta gần như ‘nhảy dựng ra khỏi da’ khi có mối đe doạ nào đó xuất hiện. Thường, khi người ấy phát triển tinh thần, họ có nhiều trải nghiệm xuất hồn và ghi nhớ chúng.

Aspen types have a low threshold to pain stimuli. Their susceptibility to pain makes visits to the dentist or driving in cars with inexperienced drivers bad enough, but these are only physical fears of known cause, and they are nothing compared to the mental terror that can arise in the Aspen individual from causes unknown. They can walk into a room and register immediately perfect harmony and even love in the atmosphere in that room. Similarly, they can detect animosity and other vibration-jarring effects of crowds without knowing what is responsible for them.

Kiểu người Aspen có ngưỡng chịu đau thấp. Tính dễ bị đau khiến các việc như đi nha sĩ hay ngồi xe với tài xế non tay đã đủ tệ, nhưng đó chỉ là những sợ hãi thân xác có nguyên do rõ, và chẳng là gì so với khủng bố tinh thần có thể trỗi dậy nơi người Aspen từ những nguyên do vô danh. Họ có thể bước vào một căn phòng và lập tức ghi nhận sự hoà điệu hoàn hảo, thậm chí tình thương, trong bầu khí nơi đó. Tương tự, họ có thể nhận ra ác cảm và những rung động làm chói tai khác của đám đông mà không biết do đâu.

They are a naturally gentle and timorous people who are like bubbles that reflect in themselves all the world’s suffering, even though they are not in the slightest degree aware of it. We are all linked to each other by a continuum so that the fears of one are reflected onto another. One has only to see this at work in a herd of gazelle to know it to be true—the slightest stimulus to the galloping herd, and they will dart off in another direction as one animal. Aspen types are wide open to the suffering which the masses of mankind radiate, and they register this in their feelings as fear. And, like bubbles, their confidence is easily pricked or their equanimity undermined. It is very rare to find an Aspen type distinct from an association with Scleranthus (uncertainty and indecision), which is also a Libran Flower Remedy.

Họ vốn hiền và rụt rè, như những bọt bóng phản chiếu trong mình mọi nỗi khổ của thế gian, dù họ chẳng hề hay biết. Tất cả chúng ta đều nối kết với nhau bằng một trường liên tục, đến nỗi nỗi sợ của người này phản chiếu lên người kia. Chỉ cần thấy điều này nơi một đàn linh dương là đủ biết—một kích thích nhẹ với đàn đang phi nước đại, cả bầy sẽ quay ngoắt đồng loạt. Kiểu người Aspen mở toang với khổ đau mà quần chúng nhân loại phát xạ, và họ ghi nhận nó trong cảm thức như sợ hãi. Và, như bọt bóng, tự tin của họ dễ bị chọc thủng, sự bình ổn dễ bị xói mòn. Rất hiếm khi thấy một kiểu Aspen tách rời khỏi liên hệ với Scleranthus (bất định và do dự), vốn cũng là một Phương dược Hoa thuộc Thiên Bình.

These types of people are often car-sick or squeamish about matters for which they have no explanation. They often have a nameless fear in the dark. Children of this type will shake their head emphatically at some food offered to them, even though they have not even tasted it. The constant and unnamed fear keeps them busy with such things as extremes in maintaining security. They will often walk around the house before going to bed, locking everything up tightly, and then have to check it all again twenty minutes later.

Những người kiểu này thường say xe hoặc thấy ghê sợ trước những chuyện mà họ không có lời giải thích nào. Họ thường có nỗi sợ vô danh trong bóng tối. Trẻ em kiểu này sẽ lắc đầu quầy quậy trước món ăn được đưa cho, dù chúng chưa hề nếm thử. Nỗi sợ không tên liên tục khiến họ bận tâm với những việc như đẩy đến cực đoan việc duy trì an ninh. Họ thường đi một vòng quanh nhà trước khi đi ngủ, khoá mọi thứ thật chặt, rồi hai mươi phút sau lại phải kiểm tra một lần nữa.

It may seem a contradiction to talk of nameless fears and then give examples which are ‘named’ but the contradiction is more apparent than real. There is a great difference between the nameable fear one has of an alcoholic father compared to that of a fear of cats that may be expressed even when you know the cat cannot hurt you and may not even be present. The cat is but a symbol in the consciousness for something that must remain nameless in order to protect the fragile personality from an even greater terror.

Có vẻ mâu thuẫn khi nói về nỗi sợ vô danh rồi đưa ra những ví dụ ‘có tên’, nhưng mâu thuẫn ấy chỉ là bề ngoài. Có sự khác biệt lớn giữa nỗi sợ gọi tên được đối với một người cha nghiện rượu so với nỗi sợ mèo được bộc lộ ngay cả khi các bạn biết con mèo không thể gây hại và thậm chí không hiện diện. Con mèo chỉ là một biểu tượng trong tâm thức cho một điều buộc phải vô danh để bảo vệ phàm ngã mong manh khỏi một kinh hoàng còn lớn hơn.

The nameless fear of Aspen comes from nothing tangible. A perfectly ordinary set of circumstances like a traffic jam can develop and the Aspen type may suddenly pick up the mass aura of the irritated and stranded motorists and register it as fear.

Nỗi sợ vô danh của Aspen không đến từ điều gì hữu hình. Một bối cảnh hoàn toàn bình thường như kẹt xe có thể phát sinh, và kiểu người Aspen bỗng nhặt lấy hào quang tập thể của những tài xế bực bội và mắc kẹt và ghi nhận nó như sợ hãi.

White Chestnut

White Chestnut

When showers betumble the chestnut spikes, And nestlings fly . . . — Thomas Hardy, Weathers.

Khi mưa làm chùm dẻ rơi rụng, Và chim non bay . . .— Thomas Hardy, Weathers.

A mind that is highly active and constantly splitting itself or going off into tangents is ruled by the Third Ray of Active Intelligence, and such a mind can be so powerful in its diverseness as to infiltrate the personality to the extent of making it also Third Ray. Such a mind which is powerful in diversity has also the ability to be powerful in its capacity to act negatively so that the consciousness is unable to screen out unwelcome thoughts.

Một thể trí rất năng hoạt và liên tục tự phân rẽ hoặc tạt sang các ngả rẽ được chi phối bởi Cung Ba của Thông tuệ Linh hoạt, và một thể trí như vậy có thể mạnh đến mức trong tính đa dạng của mình mà thẩm thấu phàm ngã khiến nó cũng nhuốm Cung Ba. Một thể trí mạnh trong tính đa dạng cũng có khả năng mạnh trong năng lực hành xử tiêu cực, đến mức tâm thức không thể sàng lọc những ý nghĩ không mời mà tới.

The brain constructs itself in response to what is fed into it. If there is never any attempt to select what is important and relevant from what is not needed, the brain will not build its screening mechanisms adequately. Weakened by the constant drain of etheric energy needed to elaborate trivia, the screening devices are without reserves and may not be able to shut out a powerfully activated thought which then occupies the whole stage of the inner theatre (which we call consciousness), and the thought goes on repeating its performance endlessly. Some call this phenomenon ‘gramophone thoughts’ which recur like sounds produced when a gramophone needle gets stuck. Libra often sets the stage for such a performance because it is strongly associated with the Third Ray of Active Intelligence (see the author’s work The Seven Rays ).

Não bộ tự kiến tạo để đáp ứng với những gì được đưa vào nó. Nếu không bao giờ có nỗ lực chọn lọc điều quan trọng và liên quan khỏi những thứ không cần thiết, não sẽ không xây dựng được cơ chế lọc thích đáng. Bị làm suy yếu bởi sự tiêu hao liên tục năng lượng dĩ thái cần để triển khai chuyện vặt vãnh, các cơ chế lọc cạn dự trữ và có thể không đủ sức khép cửa trước một ý tưởng được kích hoạt mạnh, vốn sẽ chiếm trọn sân khấu của nhà hát nội tâm (mà ta gọi là tâm thức), và ý tưởng ấy cứ lặp lại màn trình diễn bất tận. Có người gọi hiện tượng này là ‘tư tưởng kiểu đĩa hát bị kẹt rãnh’, lặp đi lặp lại như âm thanh khi kim máy hát mắc rãnh. Thiên Bình thường bày sẵn sân khấu cho một màn diễn như vậy vì nó liên hệ mạnh với Cung Ba của Thông tuệ Linh hoạt (xem trước tác của tác giả ).

White Chestnut helps to give the brain back its screening qualities so that it can deal with matters arising in their sequence of importance. The positive qualities of this remedy are typified in the person who never ‘flaps’, demonstrating the poise of a mind under the sovereign control of indwelling consciousness.

White Chestnut giúp trả lại cho não năng lực sàng lọc, nhờ đó nó có thể xử lý các vấn đề theo đúng trật tự ưu tiên. Những phẩm chất tích cực của phương dược này được điển hình hóa nơi người “không bao giờ cuống quýt”, biểu lộ sự ung dung của một thể trí ở dưới quyền chủ tể của tâm thức nội tại.

Impatiens—Impatiens

Rome was not built in a day.

Thành La Mã không xây trong một ngày.

The Impatiens type is normally a very pleasant person who becomes suddenly effervescent in his emotional expression and extremely tense mentally. It is as if on occasions the mechanism that steers a personality through the challenges, setbacks, arguments and conflicts of everyday life is incapable of holding its vehicle to the road or is oversensitive to the rough road of life being traversed. The vehicle is not geared to sudden halts, changes in direction, bumps and potholes. When such upsets appear, the emotional body becomes chaotic and the realm of the personality becomes an anarchy.

Kiểu người Impatiens thường là người rất dễ mến, nhưng bỗng dưng sủi bọt trong biểu lộ cảm xúc và trở nên căng thẳng cực độ về mặt thể trí. Đôi khi cứ như thể cơ cấu điều hướng một phàm ngã vượt qua thách thức, trở ngại, tranh cãi và xung đột của đời thường bỗng không còn giữ nổi “chiếc xe” bám đường, hoặc trở nên quá mẫn cảm trước con đường gập ghềnh của cuộc sống đang đi qua. Chiếc xe không được “gài số” để chịu những cú dừng đột ngột, đổi hướng bất chợt, ổ gà và ổ voi. Khi những cơn chấn động như thế xuất hiện, thể cảm dục trở nên hỗn loạn và cõi vực của phàm ngã hóa thành vô chính phủ.

Impatiens personalities love to make instantaneous decisions without recourse to previous experience or advice or to circumstances. They show contempt for anybody else who has not got a Mercurial grasp of the circumstances that present at every moment of the day. They come to conclusions long before you have finished your sentence. They cannot bear to stand around recuperating their minds as normal people do and must ever be ‘going places’. They are not always sure where they are going, but they just keep going. Everything is accomplished at high speed. So rapidly do they use up energy that blood sugar might be depleted (hypo-glycaemia) and pranic reserves annihilated (sudden and short-lived bouts of exhaustion).

Những phàm ngã Impatiens ưa ra quyết định chớp nhoáng mà không cần viện dẫn kinh nghiệm trước đó, lời khuyên hay hoàn cảnh. Họ tỏ vẻ khinh mạn với bất kỳ ai không nắm bắt hoàn cảnh một cách nhanh nhạy kiểu Sao Thủy ở mọi khoảnh khắc trong ngày. Họ đi đến kết luận rất lâu trước khi các bạn nói xong câu. Họ không chịu nổi việc đứng yên để “hồi sức” cho thể trí như người bình thường vẫn làm và lúc nào cũng phải “đang tiến về đâu đó”. Họ không phải lúc nào cũng chắc mình đang đi đâu, nhưng cứ đi. Mọi việc đều được làm ở tốc độ cao. Họ tiêu hao năng lượng nhanh đến độ đường huyết có thể cạn kiệt (hạ đường huyết) và dự trữ sinh khí bị vắt kiệt (những cơn kiệt sức đột ngột và ngắn ngủi).

This kind of makeup does not permit them to take criticism of any kind, direct or implied, without flaring up and wanting to rush off on some wild-goose chase, as if the resulting release of adrenaline is the only thing that will calm them. They do not mean to be callous, indifferent and harmful, but their clumsy antics sometimes lead them to cause havoc. If ever the old piece of advice about ‘counting up to ten’ when confronted with an exasperating situation were ever valid, it would be with Impatiens. It is no wonder that they are frequently dyspeptic, emaciated and capable of turning from paleness of feature to such a flushing seen nowhere else outside of female menopause.

Cái “cơ địa” như thế không cho phép họ chịu đựng được bất kỳ lời phê bình nào, trực tiếp hay ám chỉ, mà không bùng phát và muốn lao đi theo một cuộc truy đuổi viển vông, như thể chính sự phóng thích adrenaline là thứ duy nhất có thể làm họ dịu lại. Họ không có ý vô tâm, lạnh lùng hay gây hại, nhưng những trò vụng về đôi khi khiến họ gieo rối loạn. Nếu lời khuyên cũ về việc “đếm đến mười” khi đối diện một tình huống bực mình còn giá trị ở đâu, thì là với Impatiens. Không lạ gì khi họ thường hay đầy bụng, gầy mòn và có thể chuyển từ tái nhợt sang bừng đỏ một cách dữ dội hiếm thấy ngoài thời kỳ mãn kinh ở nữ.

At their worst, their ‘spot decisions’, impromptu expeditions, blundering and clumsiness sorely try those who love them most. They will attempt tasks on their own, hoping to complete the job unaided while the temper wears itself out. At their best, they are incredibly considerate, gentle and humble.

Tệ nhất là những “quyết định tại chỗ”, những chuyến xuất hành bộc phát, những vụng dại và lóng ngóng của họ làm khổ những người thương họ nhất. Họ sẽ tự mình nhận việc, hy vọng hoàn thành cho xong mà không cần ai giúp trong khi cơn nóng giận tự nó nguội đi. Ở mặt tốt nhất, họ vô cùng biết điều, nhu hòa và khiêm nhường.

Chestnut Bud

Chestnut Bud

Yet all experience is an arch wherethrough

Tuy vậy, mọi kinh nghiệm đều là một vòm cửa

Gleams that untravelled world, whose margin fades. . .

Nơi lấp ló thế giới chưa từng bước tới, bờ mép của nó nhạt dần. . .

— Tennyson, Ulysses.

— Tennyson, Ulysses.

The keywords for Chestnut Bud are lack of observation and, therefore, the need for repeated experiences. Chestnut Bud types tend to make the same mistakes again and again, not only through lack of observation, but also indifference or hurry and inattention to the lessons being presented. Therefore, they fall into the same errors or experience the same difficulties repeatedly until they gain in wisdom and know-how to deal successfully with future recurring circumstances.

Từ khóa cho Chestnut Bud là thiếu quan sát và vì thế, cần lặp lại trải nghiệm. Kiểu người Chestnut Bud có xu hướng lặp đi lặp lại cùng một lầm lỗi, không chỉ vì thiếu quan sát, mà còn vì dửng dưng, vội vã và không chú tâm tới các bài học đang được trao. Do đó, họ rơi vào cùng những sai lầm hoặc nếm trải cùng khó khăn hết lần này đến lần khác cho đến khi khôn ngoan hơn và biết cách xử lý thành công những hoàn cảnh tái diễn trong tương lai.

Libra is the sign of balancing, of careful weighing of values, and of achieving the right equilibrium between the pairs of opposites. The Libran feels the pull of opposites only too keenly—the call of both outer and inner worlds bewilder him. In Libra the disciple struggles to achieve a balanced life. This necessitates experiment, and a see-sawing of the scales from the contradictory forces of desire and aspiration. It is, in this sense, a place of judgement where the disciple can decide whether he is to become a goat, climbing a solitary path towards initiation, or a sheep, who takes comfort in the security of the masses.

Thiên Bình là dấu hiệu của sự cân bằng, của việc cân nhắc kỹ các giá trị, và đạt đến điểm quân bình đúng giữa các cặp đối nghịch. Người Thiên Bình cảm nhận sức kéo của các đối cực một cách quá mãnh liệt—lời gọi của cả thế giới bên ngoài lẫn bên trong đều làm ông bối rối. Trong Thiên Bình, người đệ tử phấn đấu đạt một đời sống thăng bằng. Điều này đòi hỏi thử nghiệm, và chiếc cân lắc lư giữa các lực đối nghịch của dục vọng và hoài nguyện. Theo nghĩa đó, đây là nơi phán xét, nơi người đệ tử có thể quyết định liệu ông sẽ thành một con dê, leo đường mòn cô độc hướng tới điểm điểm đạo, hay một con cừu, tìm an ủi trong sự an toàn của đám đông.

In failing to observe the salient point or lesson of a given experience, the see-sawing effect of the scales will present repeat performances until a balance of the opposites is achieved and the lesson is learned. Justice and judgement must replace bias and prejudice; straightforward conduct replace intrigue; correct expression replace the untrue, showy outer form of life, etc. The Chestnut Bud type must learn to control (not suppress or neutralise) the opposing forces, with wise regulation and channel them for constructive purposes.

Khi không quan sát được điểm cốt yếu hay bài học của một trải nghiệm nhất định, hiệu ứng “bập bênh” của cán cân sẽ tạo ra các màn lặp lại cho tới khi đạt cân bằng giữa các đối cực và bài học được lĩnh hội. Công chính và phán xét phải thay cho thiên kiến và định kiến; ứng xử ngay thẳng thay cho mưu mẹo; biểu đạt đúng đắn thay cho hình thức bề ngoài phô trương, giả tạo của đời sống, v.v. Kiểu người Chestnut Bud phải học cách chế ngự (không phải đàn áp hay vô hiệu hóa) các lực đối nghịch bằng sự điều hòa khôn ngoan và dẫn dòng chúng cho mục đích kiến tạo.

Unlike the Honeysuckle type who holds on to past memories, the Chestnut Bud type tends to forget them. In some ways, this is a good thing, but they must learn to grasp the lesson of their mistakes, or they will have no guide to help them in the present. The positive aspect of this remedy is shown by those who are keenly observant of all happenings, who keep their attention in the present and gain knowledge and wisdom from each experience and by watching and learning from the actions of others.

Khác với kiểu Honeysuckle bấu víu ký ức quá khứ, kiểu Chestnut Bud lại có xu hướng quên chúng. Ở vài phương diện, đó là điều tốt, nhưng họ phải học rút lấy bài học từ lỗi lầm, nếu không họ sẽ không có kim chỉ nam để giúp mình trong hiện tại. Mặt tích cực của phương dược này được thể hiện bởi những ai hết sức tinh sát mọi sự kiện, giữ chú tâm trong hiện tại và gặt hái tri thức cùng minh triết từ mỗi kinh nghiệm, cũng như bằng việc quan sát và học hỏi từ hành động của người khác.

Scleranthus

Scleranthus

Apart from the shock symptoms that manifest so dramatically through Star of Bethlehem types, the most negative qualities of Libra are to be seen in the Scleranthus individuals, who are capable of complete paralysis of personality when faced with very difficult decisions. Sometimes they will abandon all sense of responsibility and duty in order to avoid taking a positive line of action or making a decision. It is as if shock has been spread out so quietly and evenly that it is not apparent, but, instead, there is an annulment of initiative.

Ngoại trừ các triệu chứng sốc biểu hiện kịch liệt ở kiểu Star of Bethlehem, những phẩm chất tiêu cực rõ nhất của Thiên Bình thấy ở các cá nhân Scleranthus, những người có thể hoàn toàn tê liệt phàm ngã khi đối mặt với các quyết định rất khó khăn. Đôi khi họ sẽ vứt bỏ hết cảm thức trách nhiệm và bổn phận để tránh phải chọn một đường lối hành động dứt khoát hay đưa ra quyết định. Cứ như thể cơn sốc được trải đều thật lặng lẽ, bình phẳng tới mức không nhận thấy, nhưng thay vào đó là sự triệt tiêu tính chủ động.

Librans can be such nice people, but their incapacity to come to the aid even of their most loyal friends sometimes makes one suspect them of treachery. They will oscillate and dither between two careers until the opportunity for both is lost. The same could be said of them in making purchases, in business deals, in family matters and elsewhere. Part of the difficulty is in the dispersal of their interests over too wide a field, making them dilettantes, jacks-of-all-trades and masters of none.

Người Thiên Bình có thể là những người rất dễ mến, nhưng việc họ không thể tới trợ giúp ngay cả những thân hữu trung thành nhất đôi khi khiến người ta ngờ vực họ phản trắc. Họ sẽ lắc lư do dự giữa hai nghề nghiệp cho đến khi cơ hội của cả hai cùng vuột mất. Điều tương tự có thể nói về họ trong mua sắm, giao dịch làm ăn, chuyện gia đình và nơi khác. Một phần khó khăn nằm ở chỗ họ phân tán mối quan tâm ra quá rộng, biến họ thành tay tài tử—cái gì cũng biết sơ sơ mà chẳng tinh thông điều nào.

It is often said that energy follows thought, and in this respect, dispersal of energies from the mind can make decision-making a very difficult matter. I have hardly ever known Scleranthus types to ask for advice. They do apologise when they make mistakes but, even then, may not ask for advice. When Scleranthus is confronted with having to make a decision suddenly and cannot extract himself from the confrontation, he may manifest a sickness of some sort. Certainly, he is always prone to illness from any motion, like sea-sickness or car-sickness.

Người ta thường nói năng lượng đi theo tư tưởng, và ở phương diện này, sự tản mác năng lượng từ thể trí có thể khiến việc ra quyết định trở nên cực khó. Tôi hầu như chưa từng thấy kiểu Scleranthus đi hỏi xin lời khuyên. Họ có xin lỗi khi phạm lỗi, nhưng ngay cả khi đó, cũng có thể không hỏi xin lời khuyên. Khi Scleranthus bị dồn tới chỗ phải quyết định đột ngột và không thể lảng tránh, ông có thể phát sinh một thứ bệnh nào đó. Chắc chắn, ông luôn dễ ốm khi gặp chuyển động, như say sóng hay say xe.

The positive aspect of Scleranthus produces the beautifully balanced, calm, patient, confident and assuring person who would be ideal for tending to the needs of those mentally deranged or those alarmed or in pain. If you have ever taken your animal into a vet for attention, you will have marvelled at the way some veterinarian doctors, who have the capacity to understand and to give confidence and calmness, immediately establish a rapport with an animal in pain. Such ability is Scleranthus at its best.

Mặt tích cực của Scleranthus tạo ra người cân bằng tuyệt đẹp, bình thản, nhẫn nại, tự tin và gây an tâm—lý tưởng để chăm sóc những người rối loạn tâm thần hay đang hoảng sợ, đau đớn. Nếu các bạn từng đưa thú cưng đến bác sĩ thú y, hẳn đã ngạc nhiên trước cách một số bác sĩ có năng lực thấu hiểu và trao truyền tự tin, bình tĩnh, lập tức thiết lập được sự đồng cảm với con vật đang đau. Tài năng như thế là Scleranthus ở đỉnh cao.

THE EVOLVED LIBRAN—THIÊN BÌNH ĐÃ TIẾN HÓA

Nowhere can man find a quieter or more untroubled retreat than in his own soul. —Marcus Aurelius, Roman emperor and Stoic philosopher, Meditations , 4.

Không đâu con người tìm được chốn tĩnh lặng và bình an hơn là trong chính linh hồn mình.—Marcus Aurelius, hoàng đế La Mã và triết gia Khắc kỷ, Suy niệm, 4.

A life in Libra can be said to represent a pause and a point of contemplation (in preparation, perhaps, for the conflict that awaits in Scorpio). When the Sun enters Libra, its course through the zodiac passes from the southern to the northern hemisphere: there is a crossing over of the equator. At this equinoctial point, midway between the Tropic of Cancer and the Tropic of Capricorn, day and night are equal in length and both light and darkness are balanced.

Một kiếp sống trong Thiên Bình có thể được xem như một quãng dừng và điểm chiêm niệm (có lẽ để chuẩn bị cho cuộc xung đột đang chờ ở Bọ Cạp). Khi Mặt Trời đi vào Thiên Bình, hành trình của nó qua hoàng đạo đi từ bán cầu Nam sang bán cầu Bắc: có một cuộc vượt qua xích đạo. Tại điểm phân này, ở giữa Chí tuyến Cự Giải và Chí tuyến Ma Kết, ngày và đêm dài ngang nhau, cả ánh sáng lẫn bóng tối đều được cân bằng.

The evolved Libran strives to maintain this quality of balance both in himself and in his circumstances. Always avoiding extremes, he constantly searches for the middle path or some golden mean. Not only does he feel the demands of the material world but he is also increasingly aware of the presence of the soul and though he may waver back and forth between the two, he will eventually establish a point of balance and a bridgehead between them. The path of discipleship is not an easy one, particularly for the westerner, who must balance a busy outer life with an inner one. I have often said that we should not live in this world less, but in both worlds more.

Người Thiên Bình đã tiến hóa nỗ lực duy trì phẩm chất cân bằng này cả trong bản thân lẫn trong hoàn cảnh của mình. Luôn tránh các cực đoan, ông không ngừng tìm con đường giữa hay một “trung đạo” vàng. Không chỉ cảm thấy những đòi hỏi của thế giới vật chất, ông còn ngày càng nhận biết sự hiện diện của linh hồn và, dù có chao đi chao lại giữa đôi bên, rốt cuộc ông sẽ thiết lập một điểm thăng bằng và một đầu cầu giữa chúng. Con đường đệ tử không dễ, nhất là với người phương Tây, người phải cân bằng một đời sống bên ngoài bận rộn với đời sống bên trong. Tôi thường nói rằng chúng ta không nên sống ít hơn trong thế giới này, mà nên sống nhiều hơn trong cả hai thế giới.

A cardinal air sign, Libra expresses itself best when initiating contact with others and encouraging the exchange of ideas, and will always look for the common ground in any meeting or discussion. He may be an entrepreneur but it is with moderate intentions and he works best with a partner or colleague. The Libran is always at his best when associated with others, whether in friendship, marriage, or a business partnership. To the disciple in Libra, no associate is more valued than his own partner, the soul or Master.

Là một dấu hiệu khí chính yếu, Thiên Bình biểu hiện tốt nhất khi khởi xướng tiếp xúc với người khác và khuyến khích trao đổi ý tưởng, và sẽ luôn tìm mẫu số chung trong bất kỳ cuộc gặp gỡ hay thảo luận nào. Ông có thể là một doanh nhân, nhưng với dụng ý điều độ, và làm việc tốt nhất với một đối tác hoặc cộng sự. Người Thiên Bình luôn ở phong độ cao nhất khi gắn với người khác, dù là trong bạn hữu, hôn nhân hay liên danh kinh doanh. Với người đệ tử ở Thiên Bình, chẳng đối tác nào quý hơn bạn đồng hành đích thực của ông: linh hồn hay Chân sư.

His temper is even and equable, subsiding quickly when ruffled. He never bears malice and will forgive and forget easily. The evolved Libran, with his natural talent for impartiality and moderation, becomes an invaluable go-between and emissary of peace. Wherever there is conflict and division, he will pour oil on troubled waters, bringing calm, concord and the establishment of harmonious relationships.

Tính khí ông đều đặn và nhu hòa, nổi sóng rồi lắng rất nhanh. Ông không ôm hận và dễ tha thứ, dễ quên. Người Thiên Bình đã tiến hóa, với tài năng thiên bẩm về vô tư và điều độ, trở thành trung gian vô giá và sứ giả hòa bình. Ở đâu có xung đột và chia rẽ, ông sẽ rưới dầu lên những làn nước đang dậy sóng, đem lại bình ổn, hòa thuận và thiết lập những mối tương giao điều hòa.

Human relationships can be brought to the point of a fine art in Libra. When well-aspected, Libra can balance and harmonise the more forceful and divisive aspects in a person’s chart. If afflicted, however, this sign can act separatively rather than bringing people together. When Libra, or its ruler, Uranus, is badly aspected, there can be a tendency to isolation and separativeness. This nullifies opportunities for expanded life and growth, causing all kinds of division and separation, from broken marriages and partnerships to international misunderstanding and conflict. The Libran who holds himself apart from others denies himself his best evolutionary development and negates the very purpose of his sign.

Các quan hệ nhân sinh có thể được đưa tới mức tinh xảo như một mỹ nghệ trong Thiên Bình. Khi được các góc hợp thuận lợi nâng đỡ, Thiên Bình có thể cân bằng và điều hòa những phương diện mạnh bạo và dễ chia rẽ hơn trong lá số chiêm tinh của một người. Tuy nhiên, nếu bị bất lợi, dấu hiệu này có thể hành động theo hướng phân ly thay vì kết nối con người lại với nhau. Khi Thiên Bình, hoặc chủ tinh của nó là Sao Thiên Vương, gặp các góc hợp xấu, có thể có xu hướng cô lập và chia rẽ. Điều này vô hiệu hóa cơ hội mở rộng đời sống và trưởng thành, gây đủ mọi chia rẽ và phân tán, từ hôn nhân và đối tác tan vỡ đến hiểu lầm và xung đột quốc tế. Người Thiên Bình tách mình khỏi người khác là tự khước từ phát triển tiến hóa tốt nhất của chính mình và phủ nhận mục đích cốt yếu của dấu hiệu này.

It is appropriate that Saturn, the planet of synthesis and the Lord of Karma, is exalted in Libra, and it is in the Sign of the Scales that he acts at his most just. When the laws of life are transgressed, Saturn will be severe, but when such laws are respected, the harvest will be great. The evolved Libran instinctively under-stands and obeys these laws:

Thật hợp lẽ khi Sao Thổ, hành tinh của tổng hợp và Chúa tể Nghiệp quả, được vượng tại Thiên Bình, và chính trong Cung Thiên Bình mà Ngài hành xử công minh nhất. Khi các quy luật của sự sống bị vi phạm, Sao Thổ sẽ nghiêm khắc, nhưng khi các quy luật ấy được tôn trọng, mùa gặt sẽ dồi dào. Người Thiên Bình đã tiến hóa theo bản năng hiểu và tuân theo các quy luật này:

There is but one law for all, namely, that law which governs all law—the law of our Creator, the law of humanity, justice, equity, the law of nature and of nations .— Edmund Burke, Speech, 28 May 1794.

Chỉ có một quy luật cho hết thảy, ấy là quy luật chi phối mọi quy luật—quy luật của Đấng Tạo Hóa, quy luật của nhân loại, công lý, công bình, quy luật của tự nhiên và của chư quốc gia.— Edmund Burke, Diễn văn, 28 tháng Năm 1794.

Young souls born in Libra will happily idle their lives away in self-indulgence and empty pleasure, frittering time and money without concern for the needs of others. Wasting and scattering their energy, superficial and inconsistent in their ideas and relations, they delay unpleasant duties and lose precious opportunities. Perseverance, a trait of Libra’s opposite sign of Aries, pays true dividends here, just as the habit of postponement bankrupts the personality and wastes valuable earthly time. The apparent laziness of many Librans, however, is really an inability to act on their own and take decisive action. The path for these types consists in avoiding extremes, maintaining the golden mean, using their gifts and talents wisely, and above all, in attaining self-mastery. The Libran who becomes master of his own life takes perhaps the greatest step towards becoming an integrated individual.

Những linh hồn non trẻ sinh vào Thiên Bình sẽ hoan hỷ phung phí đời mình trong tự nuông chiều và khoái lạc rỗng tuếch, tiêu tán thời giờ và tiền bạc mà chẳng bận tâm đến nhu cầu của người khác. Phung phí và tán tán năng lượng, nông cạn và bất nhất trong tư tưởng và quan hệ, họ trì hoãn những bổn phận khó chịu và đánh mất các cơ hội quý báu. Đức kiên trì—một phẩm chất của dấu hiệu đối cực Bạch Dương—trả lại cổ tức chân thật ở đây, cũng như thói quen trì hoãn khiến phàm ngã “phá sản” và lãng phí thời gian trần thế quý giá. Sự lười nhác bề ngoài của nhiều người Thiên Bình, tuy nhiên, thực ra là sự bất lực tự thân trong hành động và quyết đoán. Con đường dành cho các kiểu này là tránh cực đoan, duy trì trung đạo, dùng khôn ngoan các năng khiếu và tài năng của mình, và trên hết là đạt tự chủ. Người Thiên Bình làm chủ đời mình có lẽ thực hiện bước tiến lớn nhất hướng tới trở thành một cá thể hợp nhất.

Librans can possess considerable elegance and charm, along with a refinement of taste and high moral principles. Disliking rough, ugly or dirty conditions, many avoid exposing themselves to the more sordid aspects of life, especially to any work that involves distasteful conditions. They find the unpleasantness and hardship of life difficult to cope with, and will not tolerate disturbed or quarrelsome atmospheres easily, usually giving way or compromising too soon. Hence they are often accused of being shallow and insincere. Evolved Librans, however, learn to know and accept themselves and others for what they really are, warts and all. They learn not to be too idealistic and to accept much that they find distasteful and mundane.

Người Thiên Bình có thể sở hữu sự tao nhã và quyến rũ, cùng với tinh luyện thị hiếu và nguyên tắc đạo đức cao. Không ưa điều kiện thô ráp, xấu xí hay dơ bẩn, nhiều người tránh phơi mình trước những khía cạnh bẩn thỉu hơn của đời sống, nhất là bất kỳ công việc nào liên quan tới những điều kiện khó chịu. Họ thấy sự khó chịu và khắc nghiệt của đời sống khó đối phó, và không dễ dung nạp bầu không khí xáo động hay cãi vã, thường là nhượng bộ hay thỏa hiệp quá sớm. Do đó họ thường bị cáo buộc là nông cạn và giả dối. Tuy nhiên, người Thiên Bình đã tiến hóa học biết và chấp nhận bản thân và người khác đúng như cái họ là, cả với những tì vết. Họ học để không quá duy ý chí và biết chấp nhận nhiều điều họ thấy khó ưa và tầm thường.

One of Libra’s greatest handicaps, shared by all the air signs, is the tendency to idealise other people, and impose high ideals and standards on any partnership. The scales can lean too far to one side, and when disillusionment sets in, as it inevitably does in such circumstances, they eventually swing to the other side. Like fair weather friends or partners, they will disappear when the going gets rough.

Một trong những chướng ngại lớn nhất của Thiên Bình, chung cho mọi dấu hiệu khí, là khuynh hướng lý tưởng hóa người khác, và áp đặt những lý tưởng và tiêu chuẩn cao vào bất kỳ mối lứa đôi nào. Cán cân có thể nghiêng quá xa về một phía, và khi vỡ mộng—điều tất yếu trong những hoàn cảnh như vậy—rốt cuộc nó sẽ lắc sang phía bên kia. Tựa những bạn hữu hay bạn đời lúc gió êm sóng lặng, họ sẽ biến mất khi tình thế trở nên gay go.

Weak Librans tend to be over-susceptible to the influence and wishes of others. They are often talked into doing what they don’t want to; a Libran child, for instance, is easily pushed into the wrong career by over-zealous parents. Too irresolute and compliant, they find it hard to say no or take a firm attitude in the face of hostility and will avoid unpleasantness at all costs. Faced with a difficult decision, they will sit on the fence, and waver from one view to another without giving a decisive reply.

Những người Thiên Bình yếu ớt có xu hướng quá dễ bị ảnh hưởng bởi ý muốn của người khác. Họ thường bị thuyết phục làm điều mình không muốn; chẳng hạn, một đứa trẻ Thiên Bình dễ bị cha mẹ quá nhiệt tình đẩy vào một nghề sai. Quá do dự và chiều ý, họ khó nói “không” hay giữ thái độ kiên quyết trước thù nghịch, và sẽ tránh những điều không dễ chịu bằng mọi giá. Khi bị buộc phải quyết định khó khăn, họ sẽ ngồi “trên hàng rào”, lắc lư từ quan điểm này sang quan điểm khác mà chẳng đưa ra đáp lời dứt khoát.

Evolved Librans are shrewd, perceptive and cool-headed, and can make decisions that others find impossible. Rather than being non-committal, they are impartial and can detach themselves from any given situation in order to properly evaluate and judge it. Indeed, the process of spiritual unfoldment certainly necessitates a person developing the ability to perceive right values and perfect judgement, unburdened by emotional considerations, especially when dealing with others.

Người Thiên Bình đã tiến hóa thì tinh tế, sáng suốt và điềm tĩnh, và có thể đưa ra những quyết định mà người khác thấy bất khả. Thay vì không cam kết, họ vô tư và có thể tách mình khỏi bất kỳ tình huống nào để đánh giá và phán xét cho đúng. Quả thật, tiến trình khai mở tinh thần chắc chắn đòi hỏi một người phát triển khả năng nhận ra các giá trị đúng và phán đoán hoàn hảo, không bị gánh nặng bởi các ràng buộc cảm xúc, đặc biệt khi xử sự với người khác.

The positive Libran unifies and makes whole. To the strengths of his own sign he adds the decisiveness, wilfulness and doggedness of his complementary sign, Aries. He learns to be loyal to his partners or associates, whatever their failings and whatever difficulties have to be surmounted. Add to this the resources of his partnerships and associations and you have a formidable combination to put at the service of humanity.

Người Thiên Bình tích cực hợp nhất và làm thành toàn. Vào sức mạnh của chính dấu hiệu mình, ông cộng thêm tính quyết đoán, ý chí và bền bỉ của dấu hiệu bổ túc là Bạch Dương. Ông học cách trung tín với bạn đời hay cộng sự, bất kể họ khiếm khuyết ra sao và bất kể khó khăn nào phải vượt qua. Cộng với nguồn lực của các mối lứa đôi và liên kết, các bạn có trong tay một tổ hợp đáng gờm để đặt vào phục vụ nhân loại.

Through the Third Ray, Libra’s natural capacity is for intelligent activity. He likes to be highly active and the spheres in which he chooses to express himself are many and diverse. Using the energies of his planetary ruler, Uranus (planet of the Seventh Ray of Ritual, Ceremonial Order and Magic), he can bring great control and organisation to all his activities, often with startling creativity and originality but always with poise and love of harmony.

Thông qua Cung Thứ Ba, năng lực tự nhiên của Thiên Bình là cho hoạt động thông minh. Ông thích hoạt động cao độ, và những lĩnh vực ông chọn để biểu đạt rất nhiều và đa dạng. Dùng các năng lượng của chủ tinh nội môn Sao Thiên Vương (hành tinh của Cung Thứ Bảy về Nghi lễ, Trật tự Nghi điển và Huyền thuật), ông có thể đem lại sự kiểm soát và tổ chức lớn lao cho mọi hoạt động của mình, thường với sự sáng tạo và độc đáo gây kinh ngạc, nhưng luôn với sự ung dung và tình yêu hòa điệu.

He possesses a fine power of diplomacy and a natural faculty to assess and appraise, to weigh and to arbitrate. His innate gift for balance and harmony aids him greatly with selection and he can be superb at settling disputes in the fairest possible way. Imbalance of any kind offends him deeply and he will work towards resolving it in a way unequalled by other signs. Few Librans remain unmoved by inequity or unfairness, and they can be resolute in defence of those subject to discrimination. Injustice, especially where it concerns the young, rouses Libra’s full involvement and they will work unceasingly to restore balance.

Ông có năng lực ngoại giao tinh tế và thiên khiếu tự nhiên để thẩm định và đánh giá, cân nhắc và phân xử. Tài bẩm sinh về cân bằng và hòa điệu hỗ trợ lớn cho ông trong việc tuyển chọn, và ông có thể tuyệt vời trong việc dàn xếp tranh chấp theo cách công bằng nhất có thể. Bất cân bằng dưới bất kỳ hình thức nào cũng xúc phạm sâu sắc ông, và ông sẽ làm việc để giải quyết nó theo cách khó dấu hiệu nào sánh kịp. Ít người Thiên Bình dửng dưng trước bất công hay bất bình đẳng, và họ có thể kiên quyết trong việc bảo vệ những ai bị kỳ thị. Bất công, đặc biệt khi liên quan tới người trẻ, khơi dậy trọn vẹn sự nhập cuộc của Thiên Bình và họ sẽ làm việc không ngơi nghỉ để phục hồi cân bằng.

Genius in Libra—Thiên tài dưới Thiên Bình

Winston Churchill, soldier, writer, painter, politician, statesman and war-time leader of Britain, had this sign on the ascendant. In accord with the persistence of the ascendant, which rules politics, he held most of the high offices of state in Great Britain and was a member of Parliament for more than 60 years, serving twice as prime minister. As Britain’s leader through most of WW2, he was faced with decisions of vast proportions, but his resolute qualities led him to become a figurehead for the unity of the British people against the tyranny of the Nazi regime. His powers of oratory and war-time speeches inspired his country during its darkest hours. Like many Librans, he was fond of doing much of his paperwork in bed. His cultivation of the partnership between Britain and the USA, as well as that of himself and Roosevelt was crucial in swinging the balance of the war in favour of the allies. Soldier that he was, he never neglected the importance of diplomacy. As he once remarked: “To jaw-jaw is better than to war-war.”

Winston Churchill, binh sĩ, nhà văn, họa sĩ, chính khách, quốc gia và nhà lãnh đạo thời chiến của Anh, có dấu hiệu này ở dấu hiệu mọc. Phù hợp với tánh kiên định của dấu hiệu mọc, vốn chi phối chính trị, ông giữ hầu hết các chức vụ cao của nhà nước ở Vương quốc Anh và là nghị sĩ suốt hơn 60 năm, hai lần làm thủ tướng. Là nhà lãnh đạo của Anh trong phần lớn Thế chiến thứ Hai, ông đối mặt với những quyết định có quy mô khổng lồ, nhưng các phẩm chất kiên quyết giúp ông trở thành biểu tượng cho sự thống nhất của người dân Anh chống lại bạo quyền phát xít. Tài hùng biện và các bài diễn văn thời chiến của ông truyền cảm hứng cho đất nước mình trong những giờ khắc tăm tối nhất. Như nhiều người Thiên Bình, ông ưa làm việc sổ sách ngay trên giường. Việc ông vun bồi đối tác giữa Anh và Hoa Kỳ, cũng như giữa chính ông và Roosevelt, có ý nghĩa then chốt trong việc làm cán cân của cuộc chiến nghiêng về phía đồng minh. Là người lính, ông chưa bao giờ xem nhẹ tầm quan trọng của ngoại giao. Như ông từng nói: “Đàm thoại còn hơn chiến tranh.”

Another great man born under this sign who also led a campaign of resistance, but a very different one, was the pacifist Mohandas Gandhi, whose byname was Mahatma, meaning Great Soul. He studied law (Libra) in England before challenging the race laws in South Africa and went on to become the leader of the Indian nationalist movement against British rule by advocating passive resistance. His efforts to achieve co-operation between the Hindus and the Muslims unfortunately led to his assassination. Internationally famous and esteemed for his doctrine of non-violence to achieve political and social progress, his ideal was one of peaceful coexistence for the disparate peoples of India. As he once remarked in a speech: “I wanted to avoid violence. Non-violence is the first article of my faith. It is also the last article of my creed.”

Một vĩ nhân khác sinh dưới dấu hiệu này, cũng lãnh đạo một cuộc kháng cự nhưng rất khác, là nhà chủ hòa Mohandas Gandhi, người có biệt hiệu Mahatma, nghĩa là Linh hồn Vĩ đại. Ông học luật (Thiên Bình) tại Anh trước khi thách thức các luật chủng tộc ở Nam Phi, rồi trở thành nhà lãnh đạo phong trào dân tộc Ấn chống lại sự cai trị của Anh bằng cách chủ trương bất bạo động. Nỗ lực của ông nhằm đạt hợp tác giữa người Hindu và Hồi giáo đáng tiếc đã dẫn đến việc ông bị ám sát. Nổi tiếng và được kính trọng trên trường quốc tế với học thuyết bất bạo động để đạt tiến bộ chính trị và xã hội, lý tưởng của ông là sự chung sống hòa bình cho các dân tộc khác biệt của Ấn Độ. Như ông từng nói trong một bài diễn thuyết: “Tôi muốn tránh bạo lực. Bất bạo động là điều khoản thứ nhất trong đức tin của tôi. Nó cũng là điều khoản cuối cùng trong tín điều của tôi.”

Annie Besant, Libran and venerable theosophist, was also deeply concerned with the cause of Indian independence. Her political activism reflected the love of justice that typifies her birth sign. In her early life she was interested in socialist and free-thought movements, and wrote pamphlets defending them. She became associated with British social reform and advocated birth control, which brought her to trial on a charge of obscenity. Siding with the oppressed and poorly paid in Victorian England, she organised the famous match strike of the match girls in 1888.

Annie Besant, người Thiên Bình và nhà Thông Thiên Học đáng kính, cũng quan tâm sâu xa đến sự nghiệp độc lập của Ấn Độ. Hoạt động chính trị của bà phản chiếu tình yêu công lý đặc trưng cho dấu hiệu bà sinh. Buổi đầu đời, bà quan tâm tới các phong trào xã hội chủ nghĩa và tự do tư tưởng, và viết truyền đơn bảo vệ chúng. Bà gắn bó với cải cách xã hội ở Anh và cổ xúy kiểm soát sinh sản, điều đưa bà ra tòa với cáo buộc tục tĩu. Đứng về phía những người bị áp bức và lương thấp ở nước Anh thời Victoria, bà tổ chức cuộc đình công nổi tiếng của các cô gái làm diêm năm 1888.

Shortly after joining the theosophists, Besant went to India, where she later became closely involved with the independence movement, at one point being imprisoned for her part in the campaign for Indian home rule. She became president of the Theosophical Society, lecturing frequently on theosophical matters and travelling widely with her Indian protégé Jiddu Krishnamurti. Her many esoteric books are still highly regarded.

Không lâu sau khi gia nhập các nhà Thông Thiên học, Besant sang Ấn Độ, nơi bà về sau gắn bó chặt chẽ với phong trào độc lập, có lúc bị tống giam vì vai trò của mình trong chiến dịch đòi quyền tự trị cho Ấn. Bà trở thành chủ tịch Hội Thông Thiên Học, thường xuyên diễn thuyết về các vấn đề nội môn và đi nhiều nơi cùng người học trò Ấn Độ Jiddu Krishnamurti. Nhiều trước tác huyền môn của bà đến nay vẫn được đánh giá cao.

Another Libran and esotericist was Cyril Scott, author of The Initiate, the first of several highly regarded esoteric works. Libra rules the piano (see chapter four), and Scott was a successful pianist and musician. Best known for his piano pieces and songs, he also composed three symphonies, piano, violin, and cello concertos, numerous choral and orchestral works, as well as an opera, The Alchemist.

Một người Thiên Bình và cũng là nhà nội môn khác là Cyril Scott, tác giả The Initiate (Vị Chân sư), cuốn đầu tiên trong một loạt tác phẩm nội môn được đánh giá cao. Thiên Bình chi phối đàn dương cầm (xem chương bốn), và Scott là một nghệ sĩ piano kiêm nhạc sĩ thành công. Nổi tiếng nhất với các tiểu phẩm piano và ca khúc, ông cũng viết ba bản giao hưởng, concerto cho piano, violin, cello, nhiều tác phẩm hợp xướng và giao hưởng, cũng như một vở opera, The Alchemist (Nhà Giả kim).

Franz Liszt, the renowned pianist and composer was also born under this sign. His innovations in harmony, musical form, and writing for the piano make him one of the most important and influential composers of the 19th century. Beethoven, hearing him play as an eleven-year old, told him: “Off with you! You’re a happy fellow, for you’ll give happiness and joy to many other people. There is nothing better or greater than that!” (Letters, Journals and Conversations). The outstanding virtuoso Vladimir Horowitz was another remarkable pianist born under this sign. A leading interpreter of Liszt, Schumann, and Rachmaninov, his rare concert appearances displayed undiminished brilliance.

Franz Liszt, nghệ sĩ piano và nhà soạn nhạc lừng danh, cũng sinh dưới dấu hiệu này. Những cách tân của ông trong hòa âm, hình thức âm nhạc và bút pháp cho đàn piano khiến ông trở thành một trong những nhà soạn nhạc quan trọng và có ảnh hưởng nhất thế kỷ 19. Beethoven, khi nghe ông chơi lúc mới mười một tuổi, đã nói với ông: “Đi đi! Cậu là kẻ hạnh phúc, vì cậu sẽ đem hạnh phúc và niềm vui cho biết bao người. Không có gì tốt hơn hay lớn hơn thế!” (Thư từ, Nhật ký và Những cuộc Đàm thoại). Nghệ sĩ bậc thầy Vladimir Horowitz cũng là một nghệ sĩ piano phi thường sinh dưới dấu hiệu này. Là người diễn giải hàng đầu Liszt, Schumann và Rachmaninov, những lần trình diễn hiếm hoi của ông phô bày kỹ nghệ bất giảm.

In the world of philosophy we find the Libran Friedrich Nietzsche, the German philosopher and precursor of existentialism, who rejected the accepted absolute moral values of his time and the ‘slave morality’ of Christianity. He argued that ‘God is dead’ and that people were free, therefore, to create their own values. His ideal was the Uranian figure of the ‘Superman’, who would impose his will on the weak and worthless.

Trong thế giới triết học, ta gặp người Thiên Bình Friedrich Nietzsche, triết gia Đức và là tiền phong của hiện sinh, người bác bỏ các giá trị luân lý tuyệt đối được chấp nhận trong thời của ông và “đạo đức nô lệ” của Ki-tô giáo. Ông lập luận rằng “Thượng Đế đã chết” và do đó con người được tự do tạo ra giá trị cho chính mình. Lý tưởng của ông là hình tượng Sao Thiên Vương “Siêu nhân”, người sẽ áp đặt ý chí mình lên kẻ yếu và vô dụng.

In his first book, The Birth of Tragedy, Nietzsche introduced his famous distinction between the Apollonian, or rational, element in human nature and the Dionysian, or passionate, element, as exemplified in the Greek gods Apollo and Dionysus. He postulates that when the two principles are blended, either in art or in life, humanity achieves a momentary harmony with the Primordial Mystery. He believed that, like Goethe’s Faust, humans must incorporate their devil and evolve “beyond good and evil”.

Trong tác phẩm đầu tay, Sự ra đời của Bi kịch, Nietzsche nêu ra phân biệt nổi tiếng giữa yếu tố Apollon, hay lý tính, trong bản tính con người và yếu tố Dionysus, hay đam mê, như được biểu trưng ở các thần Hy Lạp Apollo và Dionysus. Ông cho rằng khi hai nguyên lý này hòa trộn, dù trong nghệ thuật hay trong đời, nhân loại đạt một hòa điệu chốc lát với Huyền nhiệm Nguyên sơ. Ông tin rằng, như Faust của Goethe, con người phải dung nạp “ác quỷ” của mình và tiến hóa “vượt lên thiện và ác”.

Martin Heidegger, another German philosopher born in Libra, is himself often classed as an existentialist. His most important work, Being and Time, united two philosophical approaches—the existentialism of Nietzsche and Soren Kierkegaard and the phenomen-ology of Husserl—in an inquiry into being.

Martin Heidegger, một triết gia Đức khác sinh ở Thiên Bình, thường được xếp vào hàng hiện sinh. Tác phẩm quan trọng nhất của ông, Hữu thể và Thời gian, kết hợp hai tiếp cận triết học—chủ nghĩa hiện sinh của Nietzsche và Soren Kierkegaard và hiện tượng học của Husserl—trong một cuộc truy vấn về hữu thể.

In the sphere of literature we find the Libran Samuel Taylor Coleridge, generally recognised today as a lyrical poet and literary critic of the first rank. The Lyrical Ballads, the first important expression of romanticism in English literature, were written in partnership with that other literary giant, William Wordsworth. His most famous poem is perhaps The Rime of the Ancient Mariner, in which the albatross, with its broad wing-span, is a central figure. Coleridge’s treatises, lectures, and compelling conversational powers made him perhaps the most influential English literary critic and philosopher of the 19th century.

Trong lĩnh vực văn học, ta gặp người Thiên Bình Samuel Taylor Coleridge, ngày nay được nhìn nhận như một thi sĩ trữ tình và nhà phê bình văn học hạng nhất. Những Khúc Ballad Trữ Tình, biểu hiện quan trọng đầu tiên của chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Anh, được viết chung với người khổng lồ văn chương kia, William Wordsworth. Bài thơ nổi tiếng nhất của ông có lẽ là Bài Ca của Thuỷ thủ Già, trong đó con hải âu, với sải cánh rộng, là một nhân vật trung tâm. Các luận văn, bài giảng và năng lực đàm thoại cuốn hút khiến ông có lẽ là nhà phê bình văn học và triết gia có ảnh hưởng nhất của Anh trong thế kỷ 19.

Virgil, the eminent Roman poet, orator, philosopher, prophet, and theologian was also born under this sign. His Eclogues can be read as a visionary prophecy of local tranquillity and world peace. In his Georgics he points towards a Golden Age in the form of immediate practical goals. His Aeneid celebrates the creation of Rome and its empire and became the national epic, establishing him, with Homer, as one of the great epic poets. To Dante, the Italian poet, and one of the supreme figures of world literature, Virgil was the symbol of human reason. He made Virgil his guide in the Divine Comedy:

Virgil, thi hào La Mã lỗi lạc, nhà hùng biện, triết gia, nhà tiên tri và thần học gia, cũng sinh dưới dấu hiệu này. Tập Eclogues của ông có thể được đọc như một lời tiên tri thị kiến về an bình địa phương và hòa bình thế giới. Trong Georgics, ông hướng tới một Thời Đại Hoàng Kim qua những mục tiêu thực tiễn trước mắt. Trường ca Aeneid của ông ca tụng sự kiến tạo La Mã và đế quốc của nó, trở thành thiên anh hùng ca dân tộc, đặt ông sánh vai với Homer như một trong các đại thi sĩ sử thi. Với Dante, nhà thơ Ý và là một trong những nhân vật tối cao của văn học thế giới, Virgil là biểu tượng của lý trí con người. Ông đặt Virgil làm người dẫn đường trong Thần khúc:

Thou are my master and my author, thou art he from whom alone I took the style whose beauty has done me honour. Divine Comedy , ‘Inferno’.

Ngài là bậc thầy và tác giả của con, chỉ từ nơi ngài con lĩnh lấy văn phong, mà vẻ đẹp của nó đã cho con vinh dự.—Thần khúc, “Địa ngục”.

THE ESSENTIAL LIBRA: NATURE and MORPHOLOGY—THIÊN BÌNH CỐT YẾU: BẢN TÍNH và HÌNH THÁI HỌC

. . . Now dreadful deeds

. . . Khiếp đảm thay

Might have ensued, nor only Paradise

Những sự dữ sẽ nối nhau tiếp diễn,

In this commotion, but the starry cope

Không chỉ Địa Đàng này đâu,

Of Heaven perhaps, or all the elements

Mà cả vòm trời sao

Và có lẽ mọi nguyên tố

At least had gone to wrack, disturbed and torn

Đều sẽ tan tác, rối loạn và xâu xé

With violence of this conflict, had not soon

Bởi bạo liệt của cuộc giao tranh, nếu không sớm

The Eternal, to prevent such horrid fray,

Đấng Vĩnh Cửu, để ngăn trận thư hùng kinh khiếp đó,

Hung forth in Heaven his golden scales, yet seen

Treo trên Trời cán cân vàng của Ngài, vẫn còn thấy

Betwixt Astrea and the Scorpion sign,

Giữa chòm Astrea và Bọ Cạp,

Wherein all things created first he weighed,

Trong đó Ngài cân đo trước nhất mọi vật được tạo,

The pendulous round earth with balanced air

Quả đất treo lơ lửng cân với không khí thăng bằng

In counterpoise . . .

Ở thế đối trọng . . .

—John Milton, Paradise Lost

—John Milton, Thiên đường Đã mất

Morphology is the study of form. It is the science that relates the shape of a thing to its function. An instance from plant biology shows that the flatness of a leaf is the optimum form for contact with sunlight and air, the absorption of these being functions of the leaf. It is axiomatic that the forces of astrology are a major contributing factor to the structuring of forms on the Earth. The Sun provides the basic life-force but its differentiated functions find expression in the planets and are conditioned by the signs. Their ever-changing permutations precipitate the rich diversity of forms that the One life takes in the world of nature. Accordingly, astrology is the most comprehensive system for categorising them. In the example above, the flatness of the leaf would be classified under the morphology of the sign of Libra.

Hình thái học là khoa học về hình thể. Ấy là môn khoa học liên hệ hình dạng của một sự vật với chức năng của nó. Một ví dụ từ thực vật học cho thấy độ phẳng của chiếc lá là hình dạng tối ưu để tiếp xúc với ánh dương và không khí, việc hấp thụ hai thứ này là chức năng của lá. Đương nhiên rằng các lực chiêm tinh là yếu tố góp phần chủ đạo vào việc cấu trúc các hình thể trên Trái Đất. Mặt Trời cung cấp sinh lực căn bản nhưng các chức năng được phân sai của nó biểu lộ qua các hành tinh và được điều kiện hóa bởi các dấu hiệu. Những hoán vị đổi thay không ngừng của chúng kết tủa sự đa tạp phong phú của các hình thể mà Một sự sống khoác lấy trong thế giới thiên nhiên. Bởi vậy, chiêm tinh học là hệ thống toàn diện nhất để phân loại chúng. Trong ví dụ ở trên, độ phẳng của chiếc lá sẽ được xếp dưới hình thái học của dấu hiệu Thiên Bình.

An examination of the glyphs of astrology will always reveal morphological indicators that tell us much about the nature of the signs and planets. They have not been chosen arbitrarily but are shaped to symbolise the cosmic principles they stand for. It is a consequence of the Law of Correspondences, expressed in the phrase As Above, So Below, that these abstract principles manifest in the world of forms, and very often in the characteristic shapes of the glyphs. To return to our example, the archetype of Libra expresses through things that are flat, and flatness is implied by the Libran glyph . It resembles the cross-section of the leaf, with the crimp suggesting the vein through the middle.

Khảo sát các phù hiệu chiêm tinh sẽ luôn hé lộ những chỉ dấu hình thái học nói với ta rất nhiều về bản chất các dấu hiệu và hành tinh. Chúng không được chọn một cách tùy tiện mà được tạo hình để biểu trưng các nguyên lý vũ trụ mà chúng đại diện. Hệ quả của Quy luật Tương ứng, được diễn tả trong mệnh đề “Như Trên, Như Dưới”, là các nguyên lý trừu xuất này hiển lộ trong thế giới các hình thể, và rất thường là trong những đường nét đặc trưng của các phù hiệu. Trở lại ví dụ của chúng ta, nguyên mẫu Thiên Bình biểu lộ qua những sự vật phẳng, và tính phẳng được ngụ ý bởi phù hiệu Thiên Bình. Nó giống như mặt cắt ngang của chiếc lá, với nếp gấp gợi ra gân lá ở giữa.

00003.jpeg
00003.jpeg

With Libra, therefore, we should think of a flat, level, horizontal surface, like that of a billiard table, an airfield or an even landscape, with the sky ‘layered’ above it, suggesting the calm and smooth nature of this sign. The top half of the Libran glyph has a bump or crimp in it, so when flat surfaces have bulges in them, like a knoll sticking up in the middle of some flat land, a stony wall in the middle of a meadow, or a carpet rippled on the floor, the archetype of Libra is even more pronounced. The domes of cathedrals, the rounded outline of a tree on a flat horizon, a billowing cloud gliding smoothly across the sky, also evoke the qualities of this serene sign. Undoubtedly the most potent image for Libra is the sun setting on the horizon, which suggests both the glyph of this sign and its calm and peaceful nature:

Với Thiên Bình, vậy hãy nghĩ về một bề mặt phẳng, ngang, cân bằng, như mặt bàn bi-da, sân bay hay một phong cảnh bằng phẳng, với bầu trời “xếp lớp” bên trên, gợi ý bản tính bình hòa, êm ả của dấu hiệu này. Nửa trên của phù hiệu Thiên Bình có một gợn lồi hay nếp uốn, vì thế khi các bề mặt phẳng có chỗ phồng lên—như một mô đất nhô giữa cánh đồng phẳng, một bức tường đá giữa bãi cỏ, hay tấm thảm dợn sóng trên sàn—nguyên mẫu Thiên Bình càng rõ nét. Các mái vòm nhà thờ, đường viền tròn của tán cây trên đường chân trời phẳng, đám mây phồng trôi êm trên trời, cũng gợi lên những phẩm tính của dấu hiệu thanh thản này. Hẳn nhiên hình ảnh mạnh mẽ nhất về Thiên Bình là mặt trời lặn trên đường chân trời, vừa gợi phù hiệu dấu hiệu này vừa gợi bản tính êm đềm, bình hòa của nó:

So when the sun in bed,

Và khi mặt trời lên giường,

Curtained with cloudy red,

Che màn mây đỏ,

Pillows his chin upon an orient wave.

Tựa cằm lên con sóng phương đông.

—John Milton, On the Morning of Christ’s Nativity

—John Milton, Vào Sáng Chúa Giáng Sinh

The sun sets, of course, in the western horizon, which in the astrological chart is represented by the cusp of the seventh house, the natural home of Libra. The setting sun is the point of balance between night and day, light and dark. It heralds the time for pause and relaxation, and activities at sunset tend to be Libran in nature. An army will go to stand-to. Esoteric people feel the urge to turn their thoughts from the objective to the subjective world and to meditate. It is the only time when it is safe to gaze at the sun as a preliminary to meditation. It is a time of day pregnant with spiritual potential. The rising sun can also be placed under Libra, but the setting sun is much more expressive of the essential nature of this sign.

Mặt trời, dĩ nhiên, lặn ở đường chân trời phía tây, điều này trong lá số chiêm tinh được biểu tượng bởi đỉnh nhà bảy, ngôi nhà tự nhiên của Thiên Bình. Mặt trời lặn là điểm cân bằng giữa đêm và ngày, sáng và tối. Nó báo hiệu thời khắc dừng và thư giãn, và các sinh hoạt lúc hoàng hôn thường mang tính Thiên Bình. Quân đội sẽ vào tư thế sẵn sàng. Người nội môn cảm thấy thúc giục quay tư tưởng từ thế giới khách quan về thế giới chủ quan và thiền định. Đó là thời khắc duy nhất an toàn để hướng nhãn về mặt trời như một bước dạo đầu cho thiền. Đó là thời khắc trong ngày mang thai tiềm năng tinh thần. Mặt trời mọc cũng có thể đặt dưới Thiên Bình, nhưng mặt trời lặn diễn đạt bản chất cốt yếu của dấu hiệu này nhiều hơn.

The country of Holland is very Libran in nature. Typically flat, it possesses many bays that make Libran formations along its coastline, which is lined with dikes (where the earth is dug up to form a mound) that keep the sea at bay. In England we have the Fens, a very flat area of reclaimed land, formerly a bay of the North Sea. Holland is also famous for its windmills, which reminds us that Libra is an air sign.

Xứ Hà Lan rất Thiên Bình về bản chất. Điển hình là phẳng, nó có nhiều vịnh tạo thành các cấu trúc kiểu Thiên Bình dọc đường bờ biển, nơi được gia cố bằng các con đê (đất được đắp thành gò) để giữ biển ở ngoài. Ở Anh có vùng Fen, một khu cực phẳng của đất khai khẩn, xưa vốn là một vịnh của Biển Bắc. Hà Lan cũng nổi tiếng với các cối xay gió, nhắc ta rằng Thiên Bình là dấu hiệu khí.

When both structure and function are brought together, the morphology of a sign is beautifully illustrated. A bridge, for instance, is Libran in both shape and function. A flat surface that joins together two separate areas, it allows the free and smooth passage of people and vehicles over an obstacle. The morphology of Libra, therefore, often suggests a ‘bridging over’ of some kind. This sign rules bridges of all kinds—physical bridges over yawning gulfs, railway bridges, bridges on or over motorways; emotional bridges that span some sort of isolation, indifference or even hostility; mental bridges that cross yawning gaps of loneliness, despair, anger or depression; even spiritual bridges like that of the antakarana, the bridge that is established between the lower and the Higher Self, between the personality and the Master. This is a very important consideration and is, essentially, the basis of Esoteric Astrology—the existence of a personality, its Higher Self and the link of the antakarana between them (see my work The Jewel in the Lotus, page 96).

Khi cả cấu trúc lẫn chức năng được đặt cạnh nhau, hình thái một dấu hiệu hiện ra đẹp đẽ. Một cây cầu, chẳng hạn, mang tính Thiên Bình cả ở hình lẫn dụng. Một bề mặt phẳng nối liền hai khu vực tách biệt, nó cho phép người và xe cộ đi qua chướng ngại một cách trôi chảy, êm thuận. Vì thế, hình thái Thiên Bình thường gợi ý một sự “bắt cầu” nào đó. Dấu hiệu này cai quản mọi loại cầu—cầu vật chất bắc qua những vực sâu, cầu đường sắt, cầu trên hay vượt qua xa lộ; cầu cảm xúc bắc qua cô cách, hờ hững hay thậm chí thù nghịch; cầu trí năng bắc qua hố thẳm cô độc, tuyệt vọng, giận dữ hay trầm uất; thậm chí cầu tinh thần như antakarana, chiếc cầu được thiết lập giữa Tự Ngã thấp và Tự Ngã Cao, giữa phàm ngã và Chân sư. Đây là một điểm hết sức quan trọng và, về thực chất, là nền tảng của Chiêm tinh học Nội môn—sự hiện hữu của một phàm ngã, Tự Ngã Cao của nó và mối nối antakarana giữa đôi bên (xem tác phẩm của tôi trang 96).

The wise Libran will always look for a bridge of some kind if he finds himself in difficult circumstances. Conversely, he often acts as one for someone else. Singer and songwriter Paul Simon, born in Libra, describes this beautifully in Bridge Over Troubled Water, one of his most famous songs:

Người Thiên Bình khôn ngoan sẽ luôn tìm một nhịp cầu nào đó nếu thấy mình ở vào hoàn cảnh khó. Ngược lại, ông thường chính là chiếc cầu cho ai đó khác. Ca sĩ kiêm nhạc sĩ Paul Simon, sinh ở Thiên Bình, diễn tả điều này thật đẹp trong Bridge Over Troubled Water, một trong những ca khúc nổi tiếng nhất của ông:

Like a bridge over troubled water,

Như cây cầu bắc qua dòng nước cuộn,

I will lay me down . . .

Tôi sẽ nằm xuống . . .

Like a bridge over troubled water,

Như cây cầu bắc qua dòng nước cuộn,

I will ease your mind . . .

Tôi sẽ làm lòng bạn dịu lại . . .

Librans especially like to have a level surface to operate on—the bodily position of lying absolutely flat and relaxed is one in which some of the best decisions and judgements can be made. People born in Libra do well to remember their affinity with the structures and activities that reflect their sign.

Người Thiên Bình đặc biệt thích có một bề mặt phẳng để vận hành—tư thế thân thể nằm tuyệt đối phẳng và thư thái là tư thế mà nhiều quyết định và phán đoán tốt nhất có thể được đưa ra. Người sinh Thiên Bình nên ghi nhớ sự tương ưng của mình với những cấu trúc và sinh hoạt phản chiếu dấu hiệu của mình.

Another such morphological feature of Libra is the cul-de-sac, a quiet and peaceful street that comes off a main road, and finishes in a dead end. Sometimes the Libran finds himself in a blind alley or one of those psychological dead-ends that mean he is unable to make a decision or chose a new direction. A book will often provide the inspiration to find his way out of such a point of stasis.

Một đặc trưng hình thái khác của Thiên Bình là đường cụt, một con phố yên tĩnh và bình hòa tách khỏi đường chính và kết thúc ở ngõ cụt. Đôi khi người Thiên Bình thấy mình ở trong một ngõ câm hay một ngõ cụt tâm lý—nghĩa là ông không thể quyết định hay chọn hướng mới. Một cuốn sách thường sẽ đem lại cảm hứng giúp ông tìm lối ra khỏi điểm trơ ì như thế.

All Air signs have an affinity with books, but the morphology of Libra gives it a particular rulership of all books and libraries. Lying flat and open, with cover uppermost, the book is a model of the Libran glyph , with its laminated pages and crimped spine.

Mọi dấu hiệu Khí đều có đồng cảm với sách, nhưng hình thái của Thiên Bình cho nó quyền chủ quản đặc thù với toàn cõi sách và thư viện. Nằm phẳng và mở, với bìa ở phía trên, cuốn sách là một mô hình của phù hiệu Thiên Bình, với những trang giấy cán lớp và gáy sách có nếp gấp.

00004.jpeg
00004.jpeg

Like a good companion a book refreshes when you are weary and stimulates when you are bored. It is a partner taken up and put down uncomplainingly and is always there to refer to, on the shelf in its respected place. It is a constant, just and peaceful mentor, growing old with you in meaning but remaining the same in content. A book helps you to tread the middle path, maintains your even keel, weights in storms and lifts in calms. The poet George Crabbe, in The Library, describes this compensating influence of books:

Như một bạn đồng hành tốt, cuốn sách làm tươi tỉnh các bạn khi mệt mỏi và kích hoạt khi các bạn buồn chán. Nó là người bạn đồng hành được cầm lên đặt xuống mà không kêu ca và luôn ở đó để tra cứu, nằm trên kệ ở chỗ trang trọng. Nó là một người thầy kiên định, công bằng và bình hòa, già đi với các bạn về ý nghĩa nhưng không đổi thay về nội dung. Một cuốn sách giúp các bạn bước theo trung đạo, giữ ổn định con thuyền, nặng khi bão tố và nhẹ khi bình yên. Thi sĩ George Crabbe, trong Thư viện, mô tả ảnh hưởng bù đắp của sách:

. . . they give

. . . chúng ban cho

New views to life, and teach us how to live;

Những phối cảnh mới cho đời, và dạy ta cách sống;

They soothe the grieved, the stubborn they chastise;

Chúng an ủi kẻ sầu thương, răn dạy kẻ cứng đầu;

Fools they admonish, and confirm the wise,

Khuyên răn kẻ ngu, và xác quyết người khôn,

Their aid they yield to all: they never shun

Chúng trợ giúp hết thảy: chẳng bao giờ lẩn tránh

The man of sorrow, nor the wretch undone;

Kẻ sầu khổ, cũng chẳng rời kẻ lụn bại;

Unlike the hard, the selfish, and the proud,

Không như kẻ cứng cỏi, ích kỷ và kiêu căng,

They fly not from the suppliant crowd;

Chúng không bay khỏi đám đông khẩn cầu;

Nor tell to various people various things,

Cũng chẳng nói với người này điều khác người kia,

But show to subjects, what they show to kings.

Mà cho bề tôi thấy điều chúng cho bậc vương giả.

To the esotericist, the occult classics are an indispensable part of life. There is hardly a person treading the Path who does not possess his own library. In fact, a characteristic of the serious disciple is that he cannot bear to waste time during his day, and is ill-at-ease without a book as a companion in moments of leisure or quietude. As Martin Farquhar Tupper remarked in his Proverbial Philosophy: “A good book is the best of friends, the same to-day and for ever.”

Với nhà nội môn, các kinh điển huyền học là phần không thể thiếu của đời sống. Hầu như chẳng có ai bước trên Đạo mà không sở hữu thư viện riêng. Thực ra, một đặc điểm của người đệ tử nghiêm cẩn là không chịu để phí thời gian trong ngày, và cảm thấy không yên nếu thiếu một cuốn sách làm bạn trong những lúc nhàn rỗi hay tĩnh lặng. Như Martin Farquhar Tupper nói trong Triết học Cách ngôn: “Một cuốn sách hay là người bạn tốt nhất, hôm nay cũng như muôn đời.”

With the help of this particular partnership (as with others), the most abstruse problems can be solved. The money that a nation spends on its libraries is never wasted. Through the wisdom of their contents, associations with our most revered ancestors are maintained in perpetuity and, with their help, the implantation of the Laws of Being (another seventh house, higher and more esoteric faculty) is established. Through the reading of books and the exploitation of literary partnerships, human problems resulting from ignorance can be resolved.

Với sự hỗ trợ của mối lứa đôi đặc biệt này (cũng như những mối khác), những vấn đề trừu áo nhất có thể được giải. Tiền một quốc gia chi cho thư viện chưa bao giờ là tiền phí. Thông qua minh triết chứa đựng trong đó, mối tương liên với tổ tiên đáng kính nhất của ta được duy trì mãi mãi, và với sự giúp đỡ của chúng, sự cấy trồng các Quy luật của Hữu thể (một năng lực thuộc nhà bảy, cao hơn và nội môn hơn) được thiết lập. Thông qua việc đọc sách và tận dụng các mối lứa đôi văn chương, những vấn đề của con người phát sinh từ vô minh có thể được giải quyết.

Anyone concerned with the publishing trade knows only too well that there has been an explosion in human consciousness with regard to dependency upon books. More books are being published each year than ever before. Books of every description and subject are now available freely, translated into many languages and bound in a wide variety of covers. This reflects the immense diversity of the Third Ray of diversification and Active Intelligence, which is more powerfully expressed in Libra than in any other sign of the zodiac.

Ai quan tâm đến ngành xuất bản đều quá rõ đã có một sự bùng nổ trong tâm thức con người liên quan đến sự nương tựa vào sách. Mỗi năm có nhiều sách được xuất bản hơn bao giờ hết. Sách thuộc mọi loại và chủ đề nay được cung cấp rộng rãi, dịch ra nhiều ngôn ngữ và đóng bìa với muôn kiểu. Điều này phản chiếu sự đa dạng mênh mông của Cung Thứ Ba về đa dạng hóa và Hoạt động Thông tuệ, vốn được biểu đạt mạnh mẽ hơn trong Thiên Bình so với bất kỳ dấu hiệu nào khác của hoàng đạo.

Closed, the flat pages of a book stack like a pack of cards or the floors of an office block or apartment building. Libra rules anything where the same level is repeated many times. The bookcase, for instance, is typically Libran, with its layers of shelves. Another feature would be paper that is packed in reams for printing or stacked and baled for storage on the factory floor, so that it can easily be transported. Horizontal surfaces that stack on top of each other lead us to the concept of lamination. Decorating, therefore, and the use of layers of paint or paper to coat objects, walls, houses, or create works of art also come under Libra.

Khi khép lại, các trang phẳng của một cuốn sách xếp chồng như một bộ bài hay như các tầng của một tòa văn phòng hoặc chung cư. Thiên Bình chi phối bất cứ thứ gì mà cùng một mặt phẳng được lặp lại nhiều lần. Kệ sách, chẳng hạn, điển hình Thiên Bình, với các tầng ngăn kệ chồng lớp. Một đặc trưng khác sẽ là giấy được đóng ram cho in ấn hoặc xếp chồng và bó lại để cất trên nền nhà xưởng, cho tiện vận chuyển. Các bề mặt ngang xếp chồng lên nhau dẫn ta tới khái niệm cán lớp. Trang trí, vì vậy, và việc dùng các lớp sơn hay giấy để phủ vật dụng, tường, nhà cửa, hoặc tạo nên tác phẩm nghệ thuật, cũng thuộc Thiên Bình.

The theme of lamination can be extended to that of packing and packaging, including anything that requires wrapping or enclosing within a box or a corrugated container, the many little ‘arches’ of the latter repeating the morphology of this sign. A suitcase packed for car or air travel is also very suggestive of Libra, with the arch of its handle sticking out of the top. Bringing an outer wrapping material into contact with the surface of a package is a form of loose lamination. Hence Libra rules all packaging services and facilities, as well as things like ‘package deals’, especially where an air flight or transport on a motorway is concerned. Packaging can come in many forms, such as envelopes, which are an aspect of communication, or even a bride at her wedding: both would be placed under Venus in Libra or in the seventh house. This aspect would also suggest a book with an attractive, even gorgeous cover, laminated with acetate; shiny, radiant and glistening in flashes of light.

Chủ đề cán lớp có thể được mở rộng sang đóng gói và bao gói, gồm bất cứ thứ gì cần bọc lại hoặc đặt vào hộp hay thùng carton, trong đó vô số “vòm nhỏ” của lớp sóng lặp lại hình thái của dấu hiệu này. Một chiếc va-li được đóng gói cho chuyến xe hay đường không cũng rất gợi Thiên Bình, với chiếc quai cong arch nhô lên ở đỉnh. Đưa một lớp bọc bên ngoài tiếp xúc với bề mặt của gói hàng là một dạng cán lớp lỏng. Bởi vậy, Thiên Bình chi phối mọi dịch vụ và phương tiện đóng gói, cũng như các “gói ưu đãi”, đặc biệt khi liên quan đến chuyến bay hay vận chuyển trên xa lộ. Bao gói có thể có nhiều hình: như phong bì, vốn là một phương diện của truyền thông, hay thậm chí một cô dâu trong ngày cưới: cả hai đều có thể đặt dưới Sao Kim ở Thiên Bình hoặc ở nhà bảy. Khía cạnh này cũng gợi một cuốn sách có bìa hấp dẫn, thậm chí lộng lẫy, được cán acetate; bóng loáng, rực rỡ và lấp lánh trong tia sáng.

Flatness and evenness afford optimum contact between adjacent surfaces, helping to create a strong union. In many ways lamination is a physical symbol of close partnerships. The laminating effect of such an association can establish a powerful equilibrating tension. Some partnerships are never perfect, whether between two pieces of glued paper or two surfaces of living tissue, but it should not be forgotten that out of the imperfection or negativity of one partner, often there emerges the resilience of the other.

Sự phẳng và đều cho phép tiếp xúc tối ưu giữa các bề mặt kề cận, giúp tạo nên một liên kết bền chặt. Ở nhiều phương diện, cán lớp là biểu tượng vật chất của những mối lứa đôi thân mật. Hiệu ứng cán lớp của một liên kết như thế có thể thiết lập một sức căng quân bình mạnh mẽ. Không có mối lứa đôi nào hoàn hảo, dù giữa hai tờ giấy dán keo hay giữa hai bề mặt mô sống, nhưng đừng quên rằng từ sự bất toàn hay tiêu cực của một bên, thường bộc lộ nghị lực của bên kia.

The double bed, with its large flat surface, and the master bedroom of the home, where partners sleep, both come under this sign. Libra is associated, perhaps more than anything else, with the idea of partnership. None of us can go very far in daily life without calling upon the various partnerships that we maintain in life. The marital relationship is the primary example of this for most of us. The process of developing and establishing this alliance, from courting and pre-marital petting to marriage itself, may be spread over three houses of the chart: the seventh house, which is Libra’s natural home and the sixth and eighth houses, both adjacent to the seventh.

Chiếc giường đôi, với bề mặt phẳng lớn, và phòng ngủ chính của căn nhà, nơi đôi bạn ngủ, đều thuộc dấu hiệu này. Thiên Bình gắn với, có lẽ hơn bất kỳ điều gì khác, ý niệm lứa đôi. Không ai trong chúng ta có thể đi xa trong đời sống hàng ngày mà không mượn cậy các mối lứa đôi khác nhau ta duy trì trong đời. Hôn phối là ví dụ chủ đạo cho đa số chúng ta. Tiến trình phát triển và thiết lập mối liên kết này, từ tán tỉnh và âu yếm tiền hôn nhân đến hôn nhân tự thân, có thể trải ra qua ba nhà của lá số: nhà bảy, ngôi nhà tự nhiên của Thiên Bình, và nhà sáu cùng nhà tám, kề hai bên nhà bảy.

In the sixth house, proximal to the seventh, the couple are unmarried and enter the engagement period. This is the house of the virgin, who likes a white wedding to prove it. Before marriage, however, it is now common practice for the couple to have intercourse in case they are not sexually compatible. This brings in the influence of the eighth house, the natural home of Scorpio, the sign of physical testing, sexuality and climax.

Trong nhà sáu, ở ngay trước nhà bảy, đôi lứa chưa kết hôn và bước vào thời kỳ đính hôn. Đây là nhà của trinh nữ, người ưa một “đám cưới trắng” để làm bằng. Trước hôn nhân, tuy nhiên, nay việc đôi bên giao hợp để thử xem có tương hợp tính dục hay không là điều thường làm. Điều này đưa vào ảnh hưởng của nhà tám, ngôi nhà tự nhiên của Bọ Cạp, dấu hiệu của thử thách thể xác, tình dục và cao trào.

The marriage itself makes the relationship legal and binding, with all kinds of implications. There may also be prenuptial contracts which guard the individual wealth of each partner. Libra is also involved if divorce proceedings should subsequently arise and alimony must be paid. After divorce or separation the guardian-ship of any children, the ramifications of custody, and the division of property must also be established in the courts. The decree nisi and all the legalese and paraphernalia of divorce action come under the hegemony of Libra.

Hôn nhân tự thân làm cho mối liên kết trở thành hợp pháp và ràng buộc, với đủ mọi hệ lụy. Cũng có thể có các hợp đồng tiền hôn nhân để bảo vệ tài sản riêng của mỗi bên. Thiên Bình cũng dự phần nếu thủ tục ly hôn về sau phát sinh và cần phải có tiền cấp dưỡng. Sau ly dị hay phân ly, quyền giám hộ con cái, những hệ lụy của việc nuôi dưỡng và phân chia tài sản cũng phải được thiết lập tại tòa. Phán quyết tạm thời và toàn bộ văn ngôn pháp lý cùng mọi thứ lặt vặt của vụ ly hôn đều thuộc quyền chi phối của Thiên Bình.

Libra and the law, of course, are also concerned when entering into business partnerships or creating limited liability companies. Public company share-holding and, in fact, the holding of any type of share is also related to Libra, its ruler Uranus, or their house, the seventh.

Thiên Bình và luật pháp, dĩ nhiên, cũng liên quan khi bước vào các liên danh kinh doanh hoặc lập công ty trách nhiệm hữu hạn. Nắm giữ cổ phần công ty đại chúng và, thực tế, nắm giữ bất kỳ loại cổ phần nào cũng liên quan đến Thiên Bình, chủ tinh Sao Thiên Vương của nó, hoặc ngôi nhà của họ, nhà bảy.

Libra has a strong affinity for things that are in the middle—represented morphologically by the crimp in the middle of the glyph. Things that are medium, moderate or ‘mediterranean’ come under this sign. Sun in Libra in the third house would suggest the ‘golden mean’ or the ‘middle path’, which man must tread as a perfect balance between the poles of spirit and matter, not veering to either extreme. Such an approach has the stabilising effect so characteristic of Libra.

Thiên Bình có mối đồng cảm mạnh với những gì ở giữa—được biểu tượng về mặt hình thái bởi nếp gấp ở giữa phù hiệu. Những gì thuộc “trung”, điều độ hay “địa trung hải” nằm dưới dấu hiệu này. Mặt Trời ở Thiên Bình trong nhà ba sẽ gợi “trung đạo” hay “đường giữa”, mà con người phải bước theo như một điểm cân bằng hoàn hảo giữa hai cực tinh thần và vật chất, không nghiêng về bất kỳ cực nào. Cách tiếp cận như vậy tạo nên hiệu ứng ổn định rất đặc trưng của Thiên Bình.

This affinity for peace and tranquillity is seen often in what can be the most poised and balanced of animals, the cat. She will sit for hours in complete harmony with her domestic ecosystem, settling herself into a little ‘hump’ on some flat surface like a windowsill. No wonder the cat was regarded as indispensable equipment to every Egyptian temple. Only the esotericist can ever know the degree of companionship that can be offered by the partnership and the flow of laminated energies that come from this animal, or should we call it the ‘anima’ and thus give a clue to its extraordinary numinosum.

Sự đồng cảm này với an bình và thanh thản thường thấy nơi loài vật có thể là ung dung và cân bằng bậc nhất: con mèo. Nó có thể ngồi hàng giờ trong hòa điệu trọn vẹn với hệ sinh thái gia cư của mình, thu mình thành một “gò” nhỏ trên một bề mặt phẳng như bậu cửa sổ. Không lạ khi con mèo được xem là trang bị không thể thiếu của mọi đền thờ Ai Cập. Chỉ nhà nội môn mới có thể biết mức độ bạn đồng hành mà lứa đôi và dòng năng lượng “cán lớp” đến từ con vật này—hay ta nên gọi nó là “anima” để gợi ý về tính linh mầu phi phàm của nó—có thể trao tặng.

Libra can produce static conditions which do not change. It gives patience, the ability to remain calm and accept conditions as they are, which can be invaluable at times but a hindrance if circumstances call for change. Many Librans hate to unbalance the status quo. They remain non-committal, sitting on the fence when confronted with a need for decision or action, hugging the point of balance between opposites.

Thiên Bình có thể tạo ra các điều kiện tĩnh, không đổi. Nó ban sự nhẫn nại, khả năng giữ bình thản và chấp nhận các điều kiện như chúng là, điều đôi khi vô giá, nhưng lại là chướng ngại nếu hoàn cảnh đòi thay đổi. Nhiều người Thiên Bình ghét làm xô lệch nguyên trạng. Họ vẫn không cam kết, “ngồi trên hàng rào” khi cần quyết định hay hành động, ôm chặt điểm thăng bằng giữa các đối cực.

Librans like everything to be even, especially in something like the construction of a poem, with metre and words that rhyme. They like to use words and phrases that even up a situation, that smooth any rough edges of their speech, and modify erratic action or false judgement. Extreme observations and conclusions upset them, and they always prefer to have the average or mean of opinion. The results of opinion polls, for instance, would be Libra associated with Aries, which rules national matters.

Người Thiên Bình thích mọi thứ phải cân xứng, nhất là trong việc kiến tạo một bài thơ, với nhịp điệu và vần điệu hài hoà. Họ ưa dùng những từ ngữ và mệnh đề làm cho tình thế “đều” lại, làm mượt mọi chỗ gồ ghề trong lời nói, và điều chỉnh hành động thất thường hay phán đoán sai lạc. Những nhận định và kết luận cực đoan làm họ xáo trộn, và họ luôn thiên về cái chung cuộc hay mức trung bình của ý kiến. Chẳng hạn, kết quả của các cuộc thăm dò dư luận sẽ thuộc về Thiên Bình đi đôi với Bạch Dương, dấu hiệu cai quản các vấn đề quốc gia.

Architecturally, Libra is associated with domes. The dome of the Pantheon of Rome, one of the most significant buildings in architectural history, is very suggestive of Libran architecture and possibly inspired the construction of the immense dome of Saint Peter’s Church in the Vatican, which took several hundred years to complete. Libra in the sixth house, alternatively, would be a Protestant domed church, like that of Saint Paul’s Cathedral in London. The arch, however, is the most Libran of structures. The Romans were the first to develop the use of the arch on a massive scale, making it the basis of their architecture, not only because it was aesthetically pleasing, but because it formed a stable structure that resisted earthquakes. The arch enabled the construction of viaducts, which made for the easy passage of traffic, and aqueducts, which allowed the city access to fresh water. Triumphal arches also feature prominently, like the Arch of Constantine in Rome.

Về kiến trúc, Thiên Bình liên hệ với mái vòm. Mái vòm của đền Pantheon ở La Mã, một trong những công trình quan trọng bậc nhất trong lịch sử kiến trúc, gợi lên rất nhiều về kiến trúc Thiên Bình và có lẽ đã truyền cảm hứng cho việc xây dựng mái vòm đồ sộ của Đền thờ Thánh Phêrô ở Vatican, vốn mất nhiều thế kỷ mới hoàn tất. Thiên Bình ở nhà thứ sáu, theo một cách khác, sẽ là một nhà thờ Kháng Cách có mái vòm, như Nhà thờ Thánh Phao-lô ở London. Tuy nhiên, vòm cuốn mới là cấu trúc Thiên Bình điển hình nhất. Người La Mã là những người đầu tiên phát triển việc sử dụng vòm cuốn ở quy mô lớn, biến nó thành nền tảng cho kiến trúc của họ, không chỉ vì nó đẹp mắt, mà còn bởi vì nó tạo thành một kết cấu ổn định chống chịu được động đất. Vòm cuốn giúp xây nên các cầu cạn, vốn tạo thuận lợi cho giao thông, và các cầu dẫn nước, cho phép thành phố tiếp cận nguồn nước ngọt. Những Khải hoàn môn cũng nổi bật, như Khải hoàn môn Constantine ở La Mã.

Libra rules the straight line and, therefore, the shortest distance between two points. Roman roads are famous for being built in this fashion, enabling one to travel in a very Libran fashion, or ‘as the crow flies’. The long straight roads of Libra also suggest parallel lines—two lines that are the same distance apart, especially when Libra is in the third house of Gemini, whose glyph also suggests two corresponding lines.

Thiên Bình cai quản đường thẳng và, do đó, khoảng cách ngắn nhất giữa hai điểm. Đường La Mã nổi tiếng vì được xây theo kiểu ấy, cho phép người ta đi lại theo một cách rất “Thiên Bình”, hay “đường chim bay”. Những con đường dài và thẳng của Thiên Bình cũng gợi ra các đường song song—hai đường cách đều nhau, nhất là khi Thiên Bình ở nhà thứ ba của Song Tử, có phù hiệu cũng gợi hai đường tương ứng.

00005.jpeg

The city of ancient Rome itself, which gave us so much of our culture, comes under this sign, as does Classicism—anything characteristic of or relating to ancient Greece or Rome. The ancient Roman civilisation was a previous incarnation of Great Britain, and that part of Rome that was based in the Byzantine Empire was a previous incarnation of the United States. Rome still remains a source of fascination and inspiration, as it was to the poet Byron, writing in Childe Harold’s Pilgrimage: “Oh Rome! my country! city of the soul!”

Chính thành phố La Mã cổ đại, nơi ban tặng cho chúng ta thật nhiều giá trị văn hoá, nằm dưới dấu hiệu này, cũng như Chủ nghĩa Cổ điển—bất cứ điều gì có đặc điểm hay liên quan đến Hy Lạp hoặc La Mã cổ đại. Nền văn minh La Mã cổ là một hiện kiếp trước của Vương quốc Anh, và phần La Mã đặt nền tảng ở Đế quốc Byzantine là một hiện kiếp trước của Hoa Kỳ. La Mã đến nay vẫn là nguồn mê hoặc và khơi gợi cảm hứng, như đối với nhà thơ Byron, khi ông viết trong Chuyến Hành Hương của Childe Harold: “Ôi La Mã! quê hương ta! thành phố của linh hồn!”

Libra in the second house of money suggests the pound sterling, an agreed measure of currency, whose symbol £ suggests the L of Libra. The libra was the basic Roman unit of weight—the abbreviation lb. for pound weight is derived from libra. One twelfth of the libra, the Roman uncia, is the ancestor of the English ounce.

Thiên Bình ở nhà thứ hai của tiền bạc gợi đồng bảng Anh, một đơn vị tiền tệ thỏa thuận, có biểu tượng £ gợi chữ L của Libra. Libra là đơn vị cân nặng cơ bản của La Mã—chữ viết tắt lb. cho đơn vị pound bắt nguồn từ libra. Một phần mười hai của libra, uncia La Mã, là tổ tiên của đơn vị ounce tiếng Anh.

The Romans were great law makers, and their laws produced a stability (another good Libran word) in the western world that made possible the development of civilisation at such a rapid rate. They identified the idea of justice with prosperity and expressed this principle on their coinage, showing the figure of Aequitas or Moneta, representing justice, holding in one hand a balance and in the other a cornucopia or horn of plenty.

Người La Mã là bậc thầy lập pháp, và các bộ luật của họ tạo ra một sự ổn định (lại một từ rất “Thiên Bình”) trong thế giới phương Tây, nhờ đó nền văn minh có thể phát triển với tốc độ nhanh như vậy. Họ đồng nhất ý niệm về công lý với thịnh vượng và thể hiện nguyên tắc này trên tiền đúc, khắc hình Aequitas hoặc Moneta, biểu trưng cho công lý, tay này cầm cán cân, tay kia cầm sừng phong nhiêu.

The law, all legal matters and the legal profession come under Libra, and we should not forget that Roman-Dutch law lies behind most of our western legal system. The scales as a symbol of law are also seen in the statue that stands above the Old Bailey law courts in London.

Luật pháp, mọi vấn đề pháp lý và giới luật sư nằm dưới Thiên Bình, và ta chớ quên rằng luật La Mã-Hà Lan nằm sau phần lớn hệ thống pháp luật phương Tây của chúng ta. Cán cân như một biểu tượng của luật pháp cũng được thấy nơi bức tượng đứng trên Toà án Old Bailey ở London.

One of the great universal laws is that of karma, which comes under the rulership of Capricorn and Saturn. Libra, however, has an influence to bear on this subject, because karma is a law that balances or compensates the good or ill that has been expressed in previous lives (see my work Karma Laws ). Libra, therefore, is especially associated with Roman karma, and Saturn placed in this sign, as in my own chart, indicates heavy Roman karma of long standing.

Một trong những quy luật phổ quát vĩ đại là nghiệp, nằm dưới quyền chi phối của Ma Kết và Sao Thổ. Tuy vậy, Thiên Bình có ảnh hưởng trong chủ đề này, vì nghiệp là một luật cân bằng hay đền bù điều thiện hay ác đã biểu lộ trong các đời trước (xem tác phẩm của tôi). Do đó, Thiên Bình đặc biệt liên hệ với nghiệp La Mã, và Sao Thổ đặt trong dấu hiệu này, như trong lá số của tôi, chỉ ra nghiệp La Mã nặng nề và lâu đời.

Libra is associated with all agreements, regulations and laws, with contracts binding in law, and all rules and regulations of our society. Negotiations, armistices, and industrial conciliation, come under the rulership of this sign.The Libran likes to justify his actions even if he has to take the matter to court. In the USA, the law has become almost more powerful than money, and lawsuits are taken up over the most trivial incidents.

Thiên Bình liên hệ với mọi hiệp ước, quy định và luật lệ, với các hợp đồng có hiệu lực pháp lý, và mọi quy tắc, quy định của xã hội. Đàm phán, hưu chiến, hoà giải công nghiệp, đều nằm dưới quyền chi phối của dấu hiệu này. Người Thiên Bình thích biện minh cho hành động của mình, ngay cả khi phải đưa việc ra toà. Ở Hoa Kỳ, luật pháp đã gần như trở nên quyền lực hơn cả tiền bạc, và kiện tụng diễn ra vì những việc vặt vãnh nhất.

Many laws and regulations are issued at a national level, and we should not forget that national matters come under the first house and Aries, the complementary sign to Libra, and which rules the head of state. The president of the USA, Bill Clinton and his wife Hillary are both lawyers. Coincidentally, or perhaps synchronistically, Tony Blair, the Prime Minister of Britain trained as a lawyer, and his wife, Cherie, is a practising barrister. The politics of both parties are of the centre, typical of Libra, whilst their legal background reflects the increasing significance of the law in both countries.

Nhiều luật lệ, quy định được ban hành ở cấp quốc gia, và chớ quên rằng các vấn đề quốc gia thuộc nhà thứ nhất và Bạch Dương, dấu hiệu bổ sung cho Thiên Bình, và cai quản nguyên thủ quốc gia. Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton và phu nhân Hillary đều là luật sư. Tình cờ, hay có lẽ là đồng bộ, Thủ tướng Anh Tony Blair được đào tạo luật sư, và vợ ông, Cherie, là một luật sư biện hộ hành nghề. Đường lối chính trị của cả hai đảng đều thuộc trung dung, rất đặc trưng Thiên Bình, trong khi nền tảng pháp lý của họ phản chiếu tầm quan trọng ngày càng tăng của luật pháp ở cả hai nước.

Libra rules the police, who enforce the law of the land, an activity which they undertake more often than not in that most Libran of vehicles, the police car. The shape of the motorcar is Libran and its association here with the law reinforces its morphology. This is the law in a highly mobile form, most often seen cruising the roads and motorways.

Thiên Bình cai quản lực lượng cảnh sát, những người thi hành luật pháp quốc gia, một hoạt động mà họ đảm trách phần nhiều bằng phương tiện rất “Thiên Bình”, chiếc xe cảnh sát. Hình dáng xe hơi là Thiên Bình, và sự liên hệ với luật pháp ở đây càng củng cố hình thái ấy. Đây là pháp luật trong một dạng thức cơ động cao, thường được thấy tuần tra trên các tuyến đường và xa lộ.

The Romans are famed for the straight roads that they built throughout their empire and which enabled traffic to pass easily from one area to another. These were the forerunners of the autobahns of Germany and our modern motorways or freeways, so essential to the free movement and communication of our current society. Libra rules all these, along with the bridges over them, the hedges that skirt them, the motorcars that run on them, the ramps that pass on to and off them and the viaducts that support them (especially those that are arched). The proliferation of the automobile and its ramifications, like motorways, petrol stations, lay-bys, shopping malls, cul-de-sacs, etc., are accelerated by the intrinsic action of the Third Ray.

Người La Mã nổi danh với các con đường thẳng họ xây suốt đế quốc của mình và nhờ thế giao thông có thể đi lại dễ dàng từ vùng này sang vùng khác. Đó là tiền thân của các autobahn ở Đức và những xa lộ hay freeway hiện đại của chúng ta, vốn tối cần cho tự do lưu thông và truyền thông của xã hội hiện nay. Thiên Bình cai quản tất cả những điều này, cùng với các cây cầu bắc qua chúng, hàng rào dọc theo chúng, những xe hơi chạy trên đó, các dốc lên xuống chúng và các cầu cạn đỡ chúng (đặc biệt là kiểu có vòm). Sự bùng nổ của ô tô và những hệ lụy của nó, như xa lộ, trạm xăng, điểm dừng ven đường, trung tâm mua sắm, đường cụt, v.v., đều được gia tốc bởi tác động nội tại của Cung Ba.

The motorcar has become an indispensable partner in our modern lives. The concept of partnership is one of the most important features of Libra. Most astrologers think of this in terms of marriage, a formal partnership in the eyes of the law, but we must also be able to think in more general terms. The USA, for example, has built its social and business life around a partnership that everyone must possess, if they are to function with any degree of efficiency in that society. This is the partnership that exists between a person and his automobile, which has become a constant feature of our lives in the West. In cities like Los Angeles or New York, many-laned freeways transport people quickly and cheaply from the far-flung suburbs to their places of business, sometimes a journey of an hour or more. Indeed, many individuals have to spend more time in association with their cars than with their spouse or business partner. USA cities tend to be hundreds of miles apart and travel by car between them is eased by comforts like in-car air-conditioning (a Libran feature) or cruise controls that automatically maintain the correct speed on the freeway. We have come to depend heavily on our automobiles and soon feel the discomfort of being without them. As Marshall McLuhan once remarked: “The car has become an article of dress without which we feel uncertain, unclad and incomplete in the urban compound.” Add to this the increasing use of the aeroplane (the author has crossed the Atlantic more than sixty times) and the point should be clear.

Xe hơi đã trở thành một đối tác không thể thiếu trong đời sống hiện đại của chúng ta. Khái niệm “đối tác” là một trong những nét quan trọng nhất của Thiên Bình. Đa số các nhà chiêm tinh nghĩ điều này theo nghĩa hôn nhân, một mối lương duyên chính thức dưới con mắt luật pháp, nhưng ta cũng phải nghĩ theo nghĩa rộng hơn. Thí dụ, Hoa Kỳ đã xây dựng đời sống xã hội và kinh doanh quanh một “đối tác” mà ai cũng phải có, nếu họ muốn vận hành với mức độ hiệu quả nào đó trong xã hội ấy. Đó là mối “đối tác” giữa một người và chiếc xe của người đó, vốn đã trở thành một nét thường trực trong đời sống chúng ta ở phương Tây. Ở những thành phố như Los Angeles hay New York, các xa lộ nhiều làn chở người ta nhanh chóng và rẻ tiền từ những vùng ngoại ô xa xôi vào chỗ làm, đôi khi là quãng đường một giờ trở lên. Thật vậy, nhiều người phải dành nhiều thời gian gắn với xe hơn là với người bạn đời hay bạn làm ăn. Các thành phố Hoa Kỳ thường cách nhau hàng trăm dặm và việc đi lại bằng xe giữa chúng được làm nhẹ bởi những tiện nghi như điều hoà trong xe (một đặc trưng Thiên Bình) hay kiểm soát hành trình tự động duy trì tốc độ phù hợp trên xa lộ. Chúng ta đã phụ thuộc nặng nề vào ô tô và lập tức cảm thấy bất tiện khi thiếu nó. Như Marshall McLuhan từng nhận xét: “Chiếc xe đã trở thành một món y phục mà thiếu nó ta thấy bất an, trơ trọi và chưa trọn vẹn trong khu đô thị.” Cộng thêm việc ngày càng dùng máy bay (tác giả đã vượt Đại Tây Dương hơn sáu mươi lần) thì ý rõ.

No-one would deny that without these utilitarian partnerships our lives would be greatly disorganised. The modern reliable automobile helps the busy person schedule his or her day, often based on strict timing, which is another Libran matter. One has only to experience the inconvenience of a power cut, or having to be without a car or washing machine to have this brought home. This dependency on inanimate partner-ships may not be a very palatable matter to accept, but it exists nonetheless.

Không ai phủ nhận rằng nếu thiếu những mối “đối tác” công dụng ấy, đời sống chúng ta sẽ rối loạn nhiều. Chiếc xe đáng tin cậy hiện đại giúp người bận rộn sắp lịch trong ngày, thường dựa trên thời gian biểu nghiêm ngặt, cũng là một vấn đề Thiên Bình khác. Chỉ cần trải nghiệm sự bất tiện của một lần cúp điện, hay phải thiếu xe hay máy giặt là đủ hiểu. Sự lệ thuộc vào các “đối tác” vô tri như vậy có thể không dễ chấp nhận, nhưng nó vẫn là một thực tại.

The car has also become a powerful and prevalent symbol for the personality. The nature of the vehicle, how expensive it is, how powerful, how glamorous, is seen to reflect, favourably or otherwise, on the personality of the driver. In the subjective life of the disciple, however, the car is a useful and recurrent symbol that can help him to monitor, regulate and balance the soul/personality partnership. The car or vehicle is presented as the symbol of the personality, not in terms of the values of the outer world, but of the inner one. The personality is to the soul what the motorcar is to the driver, merely a vehicle for moving through the physical world. The affect of the two together suggests all sorts of permutations. When such images from the Higher Self arise in meditation or dreams, the condition of the car, the driver, the road, etc., tell much about how the dreamer is moving along the path of life. The driver, or the soul, may be struggling to control its vehicle, suggesting that the personality is not yet properly aligned to the Higher Self. Other factors must be taken into account. Is the car in good repair, making progress, and are the rules of the road being correctly observed, or is the car an old banger, out of control, and are the laws being flouted? If, for instance, you dream that the car is going too fast and keeps going, even when you slam on the brakes, this suggests that your personality is running rampant, beyond the steadying influence of the Higher Self. If you have a car that wavers and goes in all directions when you try to steer it, then you have a personality that the soul cannot direct. The establishment of a bridgehead, at inner levels, between the neophyte and his inner Self, will soon bring such a wayward personality into line.

Chiếc xe cũng đã trở thành một biểu tượng mạnh mẽ và phổ biến cho phàm ngã. Bản chất của chiếc xe, nó đắt đến đâu, mạnh đến đâu, hào nhoáng ra sao, được xem là phản chiếu—tốt hay xấu—phàm ngã của người lái. Tuy nhiên, trong đời sống chủ quan của đệ tử, chiếc xe là một biểu tượng hữu ích và lặp lại, có thể giúp người ấy theo dõi, điều tiết và cân chỉnh mối “đối tác” linh hồn/phàm ngã. Chiếc xe hay phương tiện được trình hiện như biểu tượng của phàm ngã, không theo các giá trị của ngoại giới, mà của nội giới. Phàm ngã đối với linh hồn cũng như chiếc xe đối với người lái, chỉ là một phương tiện để đi qua thế giới vật chất. Ảnh hưởng của hai cái cùng nhau gợi đủ kiểu biến hoá. Khi những hình ảnh như vậy từ Cao Ngã khởi lên trong thiền định hay giấc mơ, tình trạng của xe, người lái, con đường, v.v., nói lên rất nhiều về việc người mộng đang di chuyển trên con đường đời như thế nào. Người lái, tức linh hồn, có thể đang vật lộn để kiểm soát phương tiện của mình, ngụ ý phàm ngã chưa được chỉnh hợp đúng với Cao Ngã. Cần xét các yếu tố khác: xe có trong tình trạng tốt, đang tiến triển, và luật lệ giao thông có được tuân thủ đúng không; hay xe là một “cục sắt vụn”, mất kiểm soát, và luật lệ đang bị coi thường? Nếu, chẳng hạn, các bạn mơ thấy xe chạy quá nhanh và cứ lao đi, ngay cả khi các bạn đạp phanh dập mạnh, điều đó ngụ ý phàm ngã đang phóng túng, vượt khỏi ảnh hưởng điều hoà của Cao Ngã. Nếu các bạn có chiếc xe lạng lách và chạy tứ tung khi các bạn cố lái nó, thì các bạn có một phàm ngã linh hồn chưa thể dẫn dắt. Việc thiết lập một đầu cầu, ở các cấp nội giới, giữa tân đệ tử và Cao Ngã nội tâm của mình, sẽ sớm đưa phàm ngã lạc lối như vậy vào khuôn phép.

Libra is one of the three air signs that are concerned with communication, the other two being Aquarius and Gemini. The element of air reinforces the association of this sign with the subject of flight, from birds to aeroplanes, airports, and air travel. Its morphology also reinforces the connection of this sign with the aeroplane, or the bird with outstretched wings, symbols that can occur frequently in the inner life of the Libran.

Thiên Bình là một trong ba dấu hiệu thuộc nguyên tố khí liên quan đến truyền thông, hai dấu hiệu kia là Bảo Bình và Song Tử. Nguyên tố khí củng cố liên hệ của dấu hiệu này với chủ đề bay lượn, từ chim chóc đến máy bay, sân bay và du hành hàng không. Hình thái của nó cũng củng cố mối liên kết của dấu hiệu này với máy bay, hay cánh chim dang rộng, những biểu tượng có thể thường xuất hiện trong đời sống nội tâm của người Thiên Bình.

As symbols, birds usually indicate spiritual qualities or people in your life. They are the symbols of the supergifted (in the spiritual sense) or highly gifted (because of their capacity for flight). Socrates tells how in his waking dream a swan flew into his lap and uttered beautiful musical notes, the night before Plato came to him as a pupil. The swan is properly placed under the rulership of Jupiter, but being a bird, it has a Libran affinity.

Như những biểu tượng, chim thường chỉ những phẩm tính tinh thần hay những người trong đời sống các bạn. Chúng là biểu tượng của những người siêu thiên phú (theo nghĩa tinh thần) hay rất mực tài hoa (vì khả năng bay lượn). Socrates kể rằng trong giấc mơ tỉnh thức, một con thiên nga bay đến đậu vào lòng ông và cất lên những âm thanh tuyệt mỹ, đêm trước khi Plato đến với ông làm môn sinh. Thiên nga đúng ra thuộc quyền chi phối của Sao Mộc, nhưng vì là loài chim, nó có mối thân cận Thiên Bình.

The dove is one of the most Libran of birds, having become an international symbol of peace: “And the dove came in to him in the evening; and, lo, in her mouth was an olive leaf plucked off.” (Genesis 8:11). Librans are great peacemakers but if they have to go to war, they will quickly form alliances, which can enable them to defeat an enemy they could not stand against alone. The Grand Alliance of Britain and Russia against Napoleon is one example, as is the victory of the allies against Germany in World War 2. The latter gave rise to the formation of the United Nations alliance in an attempt to maintain world peace and stability.

Chim bồ câu là một trong những loài chim Thiên Bình nhất, đã trở thành biểu tượng quốc tế của hoà bình: “Đến chiều, chim bồ câu trở về với nó, này, trong miệng nó ngậm một lá ô-liu mới bứt.” (Sáng Thế Ký 8:11). Người Thiên Bình là những người kiến tạo hoà bình vĩ đại, nhưng nếu buộc phải tham chiến, họ sẽ nhanh chóng lập đồng minh, điều này có thể giúp họ đánh bại kẻ thù mà một mình họ không thể đương cự. Liên minh Lớn của Anh và Nga chống Napoleon là một ví dụ, cũng như thắng lợi của phe đồng minh chống Đức trong Thế chiến II. Sự kiện sau dẫn đến việc thành lập Liên Hiệp Quốc nhằm duy trì hoà bình và ổn định thế giới.

The homing pigeon is another bird that is relevant here. It is an example of the many forms of partnership that mankind has formed with the animal kingdom, and has provided a simple means of communication, particularly during wartime, when other methods were unavailable.

Chim bồ câu đưa thư là một loài khác có liên hệ ở đây. Nó là ví dụ về nhiều dạng đối tác mà nhân loại đã thiết lập với giới động vật, và đã cung cấp một phương tiện truyền tin đơn giản, đặc biệt trong thời chiến, khi các phương pháp khác không khả dụng.

Whereas Aquarius rules communication through electromagnetic means, Libra, through its morphology, is more applicable to telephones, especially the older- styled ones that nicely portray the Libran glyph . The car phone and the mobile phone are further examples of the Libran love of mobility and communication.

Trong khi Bảo Bình cai quản truyền thông qua các phương tiện điện từ, thì Thiên Bình, qua hình thái của mình, phù hợp hơn với điện thoại, đặc biệt là các kiểu điện thoại cổ hơn khắc hoạ đẹp phù hiệu Thiên Bình. Điện thoại trên xe và điện thoại di động là những ví dụ nữa cho tình yêu di động và truyền thông của Thiên Bình.

The bell is another means of communication that reflects the morphology of Libra and is also a lovely symbol for this sign—it summons us all to an immense variety of partnerships. The ring at the front door returns a loved one or produces a short and passing partnership. Wedding bells signal a special and close relationship of two lovers. The church bell can summon us to communion with the highest of all partners. The school bell brings children into a partnership that can be casual or intimate, platonic or pedagogic.

Chuông là một phương tiện truyền thông khác phản chiếu hình thái Thiên Bình và cũng là một biểu tượng tuyệt đẹp cho dấu hiệu này—nó triệu tập tất cả chúng ta vào muôn vàn mối “đối tác”. Tiếng chuông cửa đưa người thân trở về hoặc tạo nên một mối “đối tác” chớp nhoáng. Chuông cưới báo hiệu một mối lương duyên đặc biệt và khắng khít của đôi lứa. Chuông nhà thờ có thể gọi ta vào hiệp thông với Đối Tác cao cả nhất. Chuông trường tập hợp trẻ em vào một mối liên kết có thể thoáng qua hoặc thân tình, thuần khiết hoặc sư phạm.

Locks and their keys also reflect the morphology of this sign, both having a part that protrudes from a flat or straight base (locking itself comes under the sign of Scorpio, which blocks or halts). They form another kind of partnership that has many Libran associations with law, regulation, precision and automation. Libra, therefore, also rules security where it involves the use of a lock and key, or the guarding of something by policemen or security officers.

Ổ khoá và chìa khoá cũng phản chiếu hình thái của dấu hiệu này, cả hai đều có một phần nhô ra từ một nền phẳng hay thẳng (việc khoá lại thuộc về Bò Cạp, dấu hiệu chặn lại hay ngăn dừng). Chúng tạo thành một dạng “đối tác” khác với nhiều liên hệ Thiên Bình đến luật pháp, quy định, sự chính xác và tự động hoá. Do vậy, Thiên Bình cũng cai quản an ninh khi nó liên quan đến việc dùng ổ khoá và chìa khoá, hay việc canh gác bởi cảnh sát hoặc nhân viên an ninh.

Libra is of course a cardinal sign, and in its Latin original the word cardinal means ‘relating to a hinge’. Morphologically, Libra suggests the hinge, especially when the Sun is related. If we include the tenth house in this aspect, there is added the idea of responsibility, and we have the type of person who becomes central to any activity, whom things ‘hinge around’.

Dĩ nhiên Thiên Bình là một dấu hiệu chính yếu, và theo nguyên ngữ Latinh, từ cardinal nghĩa là “liên hệ đến bản lề”. Về hình thái, Thiên Bình gợi cái bản lề, nhất là khi có liên hệ đến Mặt Trời. Nếu đưa cả nhà thứ mười vào khía cạnh này, ta có thêm ý niệm trách nhiệm, và ta có kiểu người trở thành trung tâm của mọi hoạt động, quanh người ấy mà mọi việc “xoay bản lề”.

00006.jpeg

Leo rules the hat, but special hats like the police-man’s, the soldier’s helmet, or the protective headgear of builders, all tend to be Libran in shape. Other items that suggest the morphology of this sign are the piano, especially the grand piano and other instruments that are Libran in shape, such as the harp. Musical instruments like violins and guitars can be placed under Libra in a general sense because of the partnership that must exist between musician and instrument.

Sư Tử cai quản mũ nón, nhưng những chiếc mũ đặc thù như mũ cảnh sát, mũ sắt của người lính, hay mũ bảo hộ của thợ xây, đều có xu hướng mang dáng Thiên Bình. Những vật dụng khác gợi hình thái dấu hiệu này là đàn piano, đặc biệt là đại dương cầm, và những nhạc cụ có dáng Thiên Bình như cây hạc cầm. Những nhạc cụ như vĩ cầm và ghita có thể đặt dưới Thiên Bình theo nghĩa rộng vì mối “đối tác” tất yếu giữa nhạc công và nhạc cụ.

Time is an important feature of Libra, which rules an event, or measured part of time (Saturn, however, rules protracted time), as in the phrase alpha and omega, from the first and last letters of the Greek alphabet, suggests both the beginning and ending, or the sum total of something. The symbol Omega, that the watchmakers use, is similar to the Libran glyph, and echoes the watch’s Libran shape. The face of the clock comes under the Sun or Leo, and the Sun in Libra, therefore, is the clock face.

Thời gian là một đặc trưng quan trọng của Thiên Bình, vốn cai quản một biến cố, hay một khoảng thời gian đo lường (Sao Thổ, tuy vậy, cai quản thời gian kéo dài), như trong cụm từ alpha và omega, từ chữ cái đầu và cuối của bảng chữ cái Hy Lạp, gợi cả khởi đầu lẫn kết thúc, hay tổng hoà của một điều gì đó. Biểu tượng Omega mà các hãng đồng hồ dùng tương tự với phù hiệu Thiên Bình, và vọng lại hình dáng Thiên Bình của chiếc đồng hồ. Mặt đồng hồ thuộc về Mặt Trời hay Sư Tử, và Mặt Trời ở Thiên Bình, do đó, là mặt đồng hồ.

00007.jpeg

Clocks and watches all come under this sign because they automatically (Uranus) measure periods of time. Many old-fashioned clocks are very Libran in shape, especially when they sit on a flat mantelpiece. Some contain bells that chime automatically, measuring out the hours. Things that are synchronised, finely balanced or co-ordinated, in tune with each other, or made with precision, come under Libra. When we say something goes like clockwork we mean that it runs smoothly and efficiently—Libra suggests all things that help life to run easily.

Đồng hồ treo tường và đồng hồ đeo tay đều nằm dưới dấu hiệu này vì chúng tự động (Sao Thiên Vương) đo lường các khoảng thời gian. Nhiều chiếc đồng hồ kiểu cổ rất “Thiên Bình” về hình dáng, nhất là khi chúng đặt trên một bệ lò sưởi phẳng. Một số chứa chuông tự động ngân vang, đo đếm từng giờ. Những điều được đồng bộ, cân bằng tinh tế hay phối hợp, hoà điệu với nhau, hay được chế tác chính xác, đều thuộc Thiên Bình. Khi ta nói thứ gì “chạy như đồng hồ”, ta muốn nói nó vận hành trơn tru và hiệu quả—Thiên Bình gợi tất cả những gì giúp đời sống vận hành dễ dàng.

The parallel lines of a bar code, used in so many automated retail transactions today, suggest both Libra and its ruler, Uranus. The use of bar codes enable a smoother and more efficient passage past the cashier for the customer, and an automated stock control system for the shop. Things that work automatically and automation itself all come under Libra. Through its Uranian rulership, Libra is associated with systems that store information, especially computers. The latter organise information, making it easier to use and enabling all sorts of automated activities. Computer technology in particular comes under Uranus in the ninth house. Gadgets are especially Uranian in nature, performing, as they do, seemingly magical operations that make our lives easier and more efficient. Librans will happily make lists of chores, shopping, expenses, creditors and debtors, family birthdays, and numerous other items, and use these very effectively, especially when they can put them on to a computer.

Những đường song song của mã vạch, được dùng trong rất nhiều giao dịch bán lẻ tự động ngày nay, gợi cả Thiên Bình lẫn chủ tinh của nó, Sao Thiên Vương. Việc dùng mã vạch tạo nên lối qua quầy thu ngân trơn tru và hiệu quả hơn cho khách, và một hệ thống kiểm soát tồn kho tự động cho cửa hàng. Những thứ vận hành tự động và chính tự động hoá đều thuộc về Thiên Bình. Qua quyền chi phối của Sao Thiên Vương, Thiên Bình liên hệ với các hệ thống lưu trữ thông tin, đặc biệt là máy tính. Máy tính tổ chức thông tin, khiến nó dễ dùng hơn và cho phép đủ loại hoạt động tự động hoá. Công nghệ máy tính nói riêng thuộc về Sao Thiên Vương ở nhà thứ chín. Các món “đồ chơi công nghệ” đặc biệt mang bản chất Sao Thiên Vương, thực hiện những thao tác có vẻ “phép màu” khiến đời sống chúng ta dễ dàng và hiệu quả hơn. Người Thiên Bình sẽ vui lòng lập các danh sách công việc, mua sắm, chi tiêu, chủ nợ và con nợ, ngày sinh của gia đình, và vô số hạng mục khác, và sử dụng chúng rất hiệu quả, nhất là khi có thể đưa chúng vào máy tính.

Things that are similar, the same or common to each other, along with the interaction between such things, come under this sign. Homosexuality and bisexuality are therefore placed under Libra, as well as things that are homogenous by nature. We must also include under this rulership the complementary (another Libran word) medicine of homeopathy, a therapy whose principle is to use ‘like for like’ in the treatment of disease.

Những gì tương tự, giống nhau hay chung nhau, cùng với sự tương tác giữa các thứ như vậy, nằm dưới dấu hiệu này. Bởi vậy đồng tính và lưỡng tính được đặt dưới Thiên Bình, cũng như những thứ đồng tính chất. Ta cũng phải đưa vào dưới quyền chi phối này nền y học bổ sung (một từ Thiên Bình khác) là vi lượng đồng căn, một liệu pháp có nguyên lý “lấy tương đồng trị tương đồng” trong điều trị bệnh tật.

Libra also suggests homeostasis (from the Greek stasis, meaning a standing still), which is the ability of the body to maintain a stable internal environment in spite of varying external conditions such as heat or cold or increased salt or acid intake. This involves the balancing of the red blood and the blue blood, the action of the sympathetic nervous system and the para-sympathetic nervous system and so on.

Thiên Bình cũng gợi cân bằng nội môi (từ gốc Hy Lạp stasis, nghĩa là đứng yên), tức khả năng của cơ thể duy trì một môi trường nội tại ổn định bất chấp các điều kiện ngoại giới thay đổi như nóng hay lạnh hay tăng lượng muối hoặc axit đưa vào. Điều này bao gồm sự cân bằng giữa máu đỏ và máu xanh, hoạt động của hệ thần kinh giao cảm và đối giao cảm, v.v.

We know that Libra rules the kidneys and these organs help keep the bodily systems in balance and thus maintain that sameness of physiological function of systems. The kidneys balance acid and alkali, help maintain a constant level of sugar in the blood, retain or excrete salt, and maintain water balance, all important factors in the balancing act of homeostasis.

Chúng ta biết Thiên Bình cai quản thận và các cơ quan này giúp giữ cho các hệ thống cơ thể cân bằng, nhờ đó duy trì sự đồng nhất của chức năng sinh lý. Thận cân bằng axit và kiềm, giúp duy trì mức đường trong máu ổn định, giữ lại hay thải muối, và duy trì cân bằng nước, tất cả đều là những yếu tố quan trọng trong màn “giữ thăng bằng” của cân bằng nội môi.

In orthodox astrology, Saturn is exalted in Libra and the influence of this planet is certainly prominent in old age. The elderly respond to Libran conditions best of all. They like a constant, even temperature in their homes, a regular routine, and thrive on plain, simple food that is not spicy or insipid, that is neither too hot nor too cold, too excessive or too small in quantity.

Trong chiêm tinh học truyền thống, Sao Thổ vượng ở Thiên Bình và ảnh hưởng của hành tinh này chắc chắn nổi bật ở tuổi già. Người cao tuổi đáp ứng tốt nhất với các điều kiện Thiên Bình. Họ thích nhiệt độ đều đặn, ổn định trong nhà, một nếp sinh hoạt đều đặn, và sống khoẻ với thức ăn đơn giản, bình dị, không cay gắt hay lạt lẽo, không quá nóng hay quá lạnh, không quá nhiều hay quá ít.

The state of full-term pregnancy, where the foetus has formed a dome on the surface of the abdomen and may at any time begin its descent of the birth canal, comes under this sign. At this time the child has formed its own being but is still in close partnership with its mother, and when the mother’s body has to struggle to balance out the various factors at play. She must watch her diet and her posture, and must balance herself psychologically with an event which is to alter her life.

Tình trạng thai kỳ đủ tháng, khi bào thai đã tạo một mái vòm trên bề mặt bụng và có thể bất cứ lúc nào bắt đầu hành trình qua ống sinh, nằm dưới dấu hiệu này. Lúc này đứa trẻ đã hình thành hữu thể riêng của mình nhưng vẫn còn trong mối đối tác mật thiết với mẹ, và khi thân thể người mẹ phải nỗ lực cân bằng các yếu tố đang tác động. Bà phải để ý chế độ ăn và tư thế, và phải tự cân chỉnh tâm lý trước một biến cố sẽ đổi thay đời mình.

Other structures that form Libran protrusions on the body, like the outer ear, also come under this sign. The joints also come under Libra (but not the bones, which come under the rulership of Capricorn), especially the ‘hinged’ ones like those of the elbow, the knee, the wrist, and the ankle—all form the bump on a straight line that suggests the Libran glyph. Ball and socket joints in themselves are more applicable to the sign of Leo.

Những cấu trúc khác tạo thành “chỗ lồi Thiên Bình” trên thân thể, như vành tai ngoài, cũng thuộc dấu hiệu này. Các khớp cũng thuộc Thiên Bình (nhưng không phải xương, vốn thuộc quyền chi phối của Ma Kết), đặc biệt là những khớp “bản lề” như khuỷu tay, gối, cổ tay và cổ chân—tất cả đều tạo thành “chỗ gồ trên đường thẳng” gợi phù hiệu Thiên Bình. Các khớp cầu-chảo tự thân lại phù hợp hơn với dấu hiệu Sư Tử.

The head comes under Aries, but the head and outstretched arms are placed under Libra, as are as the bridge of the nose and the two eyebrows. This sign rules the cerebellum, the lower posterior part of the brain, whose function is to co-ordinate voluntary movements and maintain balance. It also rules the urethra, the lumbar vertebrae and some of the back muscles. It suggests the ‘cul-de-sac’ of the great abdominal aorta, which branches into the kidneys, forming a diverticulum (another good word for Libra, meaning a sac or pouch formed by herniation of a tubular organ).

Đầu thuộc Bạch Dương, nhưng đầu và hai cánh tay dang rộng thuộc Thiên Bình, cũng như sống mũi và đôi lông mày. Dấu hiệu này cai quản tiểu não, phần sau thấp của não bộ, có chức năng phối hợp vận động chủ ý và duy trì thăng bằng. Nó cũng cai quản niệu đạo, các đốt sống thắt lưng và một số cơ lưng. Nó gợi “ngách cụt” của động mạch chủ bụng lớn, nơi phân nhánh vào thận, tạo thành một diverticulum (một từ rất “Thiên Bình” khác, nghĩa là một túi hay bọc hình thành do phình ra từ một cơ quan dạng ống).

Returning to the theme of lamination, we must also include the skin, the largest organ of the body, whose flat surface of two to three square metres and laminated structure place it under Libra. The skin contains many organelles, especially the sweat glands, which, through the action of sweating, maintain the body at an even temperature. If Virgo or the Moon, which rule health matters, are badly aspected to Libra, this can lead to such problems as skin diseases and muscular disorders extending from the shoulders through the neck into the head; kidney disease; disorders of excretion (sweating); problems of the urinary tract and arthritis of the elbow, ankle, knee or wrist.

Trở lại chủ đề nhiều lớp, ta cũng phải kể đến da, cơ quan lớn nhất của cơ thể, với bề mặt phẳng từ hai đến ba mét vuông và cấu trúc phân lớp đặt nó dưới Thiên Bình. Da chứa nhiều tiểu thể, đặc biệt là tuyến mồ hôi, qua hoạt động thoát mồ hôi duy trì thân nhiệt đều đặn. Nếu Xử Nữ hay Mặt Trăng, vốn cai quản sức khoẻ, tạo góc xấu với Thiên Bình, điều này có thể dẫn đến các vấn đề như bệnh da và rối loạn cơ bắp lan từ vai qua cổ lên đầu; bệnh thận; rối loạn bài tiết (mồ hôi); các vấn đề đường tiết niệu và viêm khớp ở khuỷu tay, cổ chân, đầu gối hay cổ tay.

Finally, I might add here that Libra rules the colour green, but this is a bottle green rather than the sea green of Cancer, or the ‘cut grass’ green of Capricorn.

Cuối cùng, tôi xin thêm rằng Thiên Bình cai quản màu xanh lục, nhưng là sắc xanh lục màu chai chứ không phải xanh lục biển của Cự Giải, hay xanh “cỏ mới cắt” của Ma Kết.

Keywords for Libra, Uranus and the Seventh House:—Từ khóa cho Thiên Bình, Sao Thiên Vương và Nhà thứ bảy:

Partner; marriage; union; law; fair; police; weigh; judge; balance; comparative; peace; silence; soothe; conciliate; reconcile; alliance; liaise; associate; connect; agree; concord; resemble; parallel; the same; uniform; equal; parity; temperate; moderate; average; normal; co-ordinate; vehicle; car; motorway; lay-by; bridge; arch; smooth; straight; layer; book; leaf; laminate; shelf; packaging; luggage; clothing; wings; flight; clock; lock; key; telephone; head & shoulders; kidney; pregnant; Roman; Italian; official; automatic; pilot; synchronous; punctual; precise; exact; unambiguous.

Đối tác; hôn nhân; kết hợp; luật pháp; công bằng; cảnh sát; cân; phán xét; cân bằng; so sánh; hoà bình; tĩnh lặng; làm dịu; hoà giải; hoà hợp; liên minh; liên lạc; liên kết; kết nối; đồng thuận; hoà hiệp; tương tự; song song; giống nhau; đồng nhất; bình đẳng; tương xứng; ôn hoà; vừa phải; trung bình; bình thường; phối hợp; phương tiện; xe hơi; đường cao tốc; điểm dừng xe; cầu; vòm cuốn; trơn tru; thẳng; lớp; sách; lá (trang); cán nhiều lớp; kệ; bao gói; hành lý; quần áo; đôi cánh; bay; đồng hồ; ổ khoá; chìa khoá; điện thoại; đầu & vai; thận; mang thai; La Mã; Ý; chính thức; tự động; phi công; đồng bộ; đúng giờ; chính xác; chuẩn xác; rõ ràng, không nhập nhằng.

THE PATH OF LIBRA—CON ĐƯỜNG CỦA THIÊN BÌNH

From harmony, from heavenly harmony

Từ hoà điệu, từ hoà điệu thiên không

This universal frame began:

Khuôn vũ hoàn này khởi sinh:

From harmony to harmony

Từ hoà điệu đến hoà điệu

Through all the compass of the notes it ran,

Qua mọi cung bậc âm thanh nó vận hành,

The diapason closing full in Man.

Bát âm khép tròn viên mãn nơi Con Người.

—John Dryden, A Song for St Cecilia’s Day

—John Dryden, A Song for St Cecilia’s Day

Libra, as we have seen, channels the energy of the Third Ray of Active Intelligence, the same Ray that rules the Earth and her inhabitants. This Ray helps to integrate and balance the diverse and often conflicting elements of personality and soul and bring them into harmonious relationship. It is also suggestive of the Third Postulate of Ancient Wisdom, “All things are made in the image of God.” (See my work The Jewel in the Lotus , pp. 25-29)

Thiên Bình, như ta đã thấy, kênh dẫn năng lượng của Cung Thứ Ba của Trí tuệ Hoạt động, cùng Cung ấy cai quản Trái Đất và cư dân của Ngài. Cung này giúp tích hợp và cân bằng những yếu tố đa dạng và thường xung đột của phàm ngã và linh hồn, đem chúng vào mối tương quan hoà hợp. Nó cũng gợi Tiền đề Thứ Ba của Minh triết Cổ xưa, “Mọi sự được làm theo Hình Ảnh của Thượng Đế.” (Xem tác phẩm của tôi, tr. 25–29)

00008.jpeg

A factor arising from this postulate is the part played by man in the Divine Plan. Man stands as a sort of intermediary between the various kingdoms of life. Below him, and often within him or part of him, there are the mineral, plant and animal kingdoms. Along with those visible to us, there are also kingdoms of unseen hierarchies of life using this planet. To these, man owes a responsibility, not only for their own protection, but also for their evolution, and he cannot turn his back on them. He is a channel for higher forces which are directed through him to his microcosm.

Một yếu tố nảy sinh từ tiền đề này là vai trò do con người đảm nhận trong Đại Kế hoạch Thiêng Liêng. Con người đứng như một kiểu trung gian giữa các giới sống khác nhau. Dưới con người, và thường ở trong con người hay là một phần của con người, có các giới khoáng vật, thực vật và động vật. Cùng với những giới hữu hình với ta, còn có các giới của những huyền giai sự sống vô hình đang sử dụng hành tinh này. Với những giới ấy, con người mang một trách nhiệm, không chỉ vì sự bảo vệ của riêng chúng, mà còn vì sự tiến hoá của chúng, và con người không thể quay lưng với chúng. Con người là một kênh dẫn cho các lực cao hơn được hướng qua con người đến tiểu vũ trụ của mình.

So essential is man’s presence in a planetary system that it can be said that life cannot evolve, to any great measure, within such a system, without man being present in his mental, emotional or etherico-physical vestments. The unfoldment of life in the lower kingdoms of the Earth Scheme, for instance, necessitated the presence of human monads (See The Jewel in the Lotus , pp. 90-94) as a prerequisite, even though man was not to materialise his physical body on the planet until millions of years later. Man supplies the impetus and the energies for invisible hierarchies to build lesser forms. When he does this consciously and purposefully he is the occultist and the magician, expressions of the planet Uranus.

Sự hiện diện của con người trong một hệ hành tinh quan yếu đến nỗi có thể nói rằng sự sống không thể tiến hoá, ở mức độ đáng kể, trong một hệ như vậy nếu thiếu vắng con người trong các “y phục” trí tuệ, cảm dục hay dĩ thái-vật lý của mình. Sự khai mở của sự sống trong các giới thấp của Hệ Trái Đất, chẳng hạn, đòi hỏi sự hiện diện như điều kiện tiên quyết của các chân thần nhân loại (Xem, tr. 90–94), cho dù con người chưa vật chất hoá thân thể vật lý của mình trên hành tinh này cho đến hàng triệu năm sau. Con người cung ứng xung lực và các năng lượng để những huyền giai vô hình xây nên các hình thể thấp hơn. Khi làm điều đó một cách có ý thức và có mục đích, con người là nhà huyền môn và là nhà huyền thuật, những biểu lộ của Sao Thiên Vương.

Mankind, therefore, plays a special role as an intermediate kingdom between the highest and the lowest. He communicates manas or active intelligence and transmits to the animal, plant and mineral kingdoms part of that force and intelligence which urges all kingdoms towards the increasing diversity, complexity and perfection which we loosely put under the name of evolution.

Như vậy, nhân loại đảm nhận một vai trò đặc thù như một giới trung gian giữa cao nhất và thấp nhất. Con người truyền đạt manas hay trí tuệ hoạt động và truyền xuống cho các giới động vật, thực vật và khoáng vật một phần lực và trí năng thôi thúc mọi giới hướng đến sự đa dạng, phức tạp và hoàn thiện ngày càng tăng, điều mà ta khái quát dưới tên gọi “tiến hoá”.

In this context, the practice of meditation is an interaction between man and the kingdoms that are higher to him. Higher kingdoms communicate with and pass energy to mankind, a lower kingdom in the order of hierarchies. The degree to which man is aware of his relationships with higher orders of life gives him an eligibility to receive the energies and awareness of higher beings than himself. Such eligibility enables direct contact with spiritual beings, whose nucleus (of inner bodies) is receptive to the stimulation of higher energies and the impress of higher consciousness.

Trong bối cảnh này, thực hành thiền định là một sự tương tác giữa con người và các giới ở trên mình. Những giới cao hơn truyền thông và truyền năng lượng cho nhân loại, một giới thấp hơn trong trật tự huyền giai. Mức độ mà con người nhận biết các mối tương quan của mình với các trật tự sống cao hơn trao cho con người một “tư cách” để tiếp nhận những năng lượng và nhận thức của các bậc tồn sinh cao hơn mình. Tư cách như vậy cho phép tiếp xúc trực tiếp với các đấng tinh thần, có hạch nhân (của các thể nội giới) nhạy tiếp với sự kích thích của các năng lượng cao hơn và ấn tượng của tâm thức cao hơn.

The Path of Discipleship, therefore, is very much concerned with relationships. These are not just the ones which every personality establishes, good or bad, with others. They are also those which reach to humans wherever they be on the planet, met or unmet, humble or powerful, rich or poor. Discipleship establishes relationships with the invisible hosts who conduct the affairs of the lower kingdoms of nature, as well as the inner government of the world. These latter are reached through the mediumship of the disciple’s own soul and, therefore, the relationship of the man on the path with his own soul becomes of prime importance. Few people—even doctors of divinity—have the faintest conception of the real nature of the human soul, much less the way in which it operates and the laws by which it unfolds. Establishing a relationship with the soul can, at first, seem an impossible task, as Wordsworth writes in The Excursion:

Đạo lộ của Đệ tử, do đó, hết sức liên hệ đến các mối tương quan. Không chỉ là những mối mà mỗi phàm ngã thiết lập, tốt hay xấu, với người khác. Đó còn là những mối vươn đến mọi người ở bất cứ đâu trên hành tinh, đã gặp hay chưa gặp, khiêm hạ hay quyền uy, giàu sang hay bần cùng. Đệ tử thiết lập các mối tương quan với các đoàn thể vô hình đang điều hành công việc của những giới thấp của tự nhiên, cũng như với cơ cấu quản trị nội giới của thế giới. Những mối sau được tiếp cận qua sự môi giới của chính linh hồn của đệ tử, do đó, mối tương quan của người đang đi trên đạo lộ với chính linh hồn mình trở thành tối hệ trọng. Ít ai—ngay cả các tiến sĩ thần học—có một khái niệm mờ nhạt nhất về bản chất thật sự của linh hồn con người, huống hồ cách nó vận hành và các quy luật theo đó nó khai mở. Thiết lập mối tương quan với linh hồn thoạt tiên có thể dường như là một việc bất khả, như Wordsworth viết trong The Excursion:

’Tis a thing impossible, to frame

Đó là điều bất khả, để phác dựng

Conceptions equal to the soul’s desires;

Những khái niệm xứng với khát vọng linh hồn;

And the most difficult of tasks to keep

Và là điều khó nhất, để giữ được

Heights which the soul is competent to gain.

Những đỉnh cao linh hồn đủ sức vươn lên.

In oriental philosophy the development of the relationship with the soul is described as the science of the antakarana, which is depicted as a bridge between the personality and the Higher Self, along which the higher energies of the latter can flow, with ever-increasing force, into the aura and its energy vortices or chakras. All of us, to varying degrees, possess this ‘rainbow bridge’, as it is often referred to, but very few of us have any awareness of it.

Trong triết học phương Đông, việc phát triển mối tương quan với linh hồn được mô tả như khoa học về antakarana, vốn được hình dung như một cây cầu giữa phàm ngã và Cao Ngã, dọc theo đó những năng lượng cao hơn của Cao Ngã có thể chảy, ngày một mạnh hơn, vào hào quang và các luân xa của nó. Tất cả chúng ta, với mức độ khác nhau, đều sở hữu “cây cầu cầu vồng” này, như nó thường được gọi, nhưng rất ít ai có bất kỳ nhận biết nào về nó.

Average man can access, normally, only about five percent of the soul’s energies, but the practice of meditation enables him to develop the antakarana or ‘Jacob’s Ladder’ and increase the flow of energy through it. The establishing and strengthening of this bridgehead, which links man with higher orders of life, increases communication between the soul and its personality and is, therefore, the essence of spiritual development. It is a form of yoga, or the yoking of the lower man with the infinite which lies in inner space.

Người trung bình chỉ có thể tiếp cận khoảng năm phần trăm năng lượng của linh hồn, nhưng thực hành thiền định giúp con người phát triển antakarana hay “Thang Jacob” và gia tăng dòng năng lượng tuôn qua nó. Việc thiết lập và củng cố “đầu cầu” này, vốn nối con người với các trật tự sống cao hơn, làm tăng truyền thông giữa linh hồn và phàm ngã của nó và do đó là tinh yếu của phát triển tinh thần. Đó là một dạng yoga, tức sự “nối ách” của con người thấp với Vô Cùng nằm trong không gian nội tâm.

The Delphic injunction of “Know thyself” is too frequently confined to the knowledge of the physical body only and not of those planes and mechanisms on which and by which the antakarana is established. Many westerners, for instance, perceive the practice of yoga merely as a series of physical exercises undertaken at evening classes, but it is far more profound than that. The aim of the series of disciplines that make up the practice of yoga is a union, or marriage between the personality and the Higher Self.

Lời huấn thị của Đền Delphi “Hãy tự biết mình” quá thường bị giới hạn vào tri thức về thân xác vật lý mà không về những cõi và cơ chế nhờ đó antakarana được thiết lập. Chẳng hạn, nhiều người phương Tây nhìn nhận thực hành yoga đơn thuần như một chuỗi bài tập thể xác được thực hành ở các lớp buổi tối, nhưng yoga còn thâm diệu hơn nhiều. Mục đích của chuỗi kỷ luật hợp thành thực hành yoga là một sự hợp nhất, hay lễ cưới giữa phàm ngã và Cao Ngã.

For man in the West constantly subjected to stress, the way is not so clearly defined as it is for the Eastern yogi. We have to develop our own yoga, or science of union, creating one of synthesis, adapting what methods exist to our own environment, taking what is useful and applicable from earlier yogas. The yoga that is to bring us inner radiance is not to be for the purpose of sitting in some quiet retreat, like a recluse or hermit. It must be one that will help develop an integrated personality that can cope with the problems of living in this world as well as the next. Very few yogis, real yogis, who come to the West can cope with our way of life.

Đối với con người phương Tây thường trực chịu căng thẳng, con đường không rõ ràng như với vị du-già phương Đông. Chúng ta phải phát triển môn yoga của riêng mình, hay khoa học hợp nhất, tạo nên một yoga tổng hợp, thích nghi những phương pháp hiện có với môi trường riêng của mình, tiếp thu những gì hữu ích và khả dụng từ các yoga trước. Yoga sẽ mang đến cho ta nội quang không phải để ngồi trong một ẩn viện tĩnh mịch, như một ẩn sĩ hay tu sĩ. Nó phải là một yoga giúp phát triển một phàm ngã tích hợp có thể ứng phó với những vấn đề của việc sống trong thế giới này cũng như thế giới bên trong. Rất ít du-già, những du-già đích thực, khi đến phương Tây có thể thích nghi lối sống của chúng ta.

Maintaining a spiritual poise and equilibrium in the face of constant stress is far from easy, but it brings great rewards at an inner level. In his poem The Windhover, Gerard Manly Hopkins uses the falcon (Libra in the eighth house) as a wonderful symbol of mastery and poise in the face of adversity:

Duy trì một thế quân bình và thăng bằng tinh thần trước áp lực thường trực là điều không hề dễ, nhưng nó đem lại những phần thưởng lớn lao ở bình diện nội giới. Trong bài thơ The Windhover, Gerard Manley Hopkins dùng hình tượng chim cắt (Thiên Bình ở nhà thứ tám) như một biểu tượng tuyệt vời của sự làm chủ và thế quân bình trước nghịch cảnh:

I caught this morning morning’s minion, kingdom of daylight’s dauphin, dapple-dawn-drawn Falcon, in his riding

Tôi bắt gặp sáng nay kẻ hầu của buổi sáng, vương— tử của cõi quang minh, chim Cắt sắc khoang màu ráng, trong cuộc cưỡi của nó

Of the rolling level underneath him steady air, and striding

Trên lớp không bằng phẳng lăn đi dưới chân nó mà vẫn vững, và sải bước

High there, how he rung upon the rein of a wimpling wing

Cao kia, nó rung lên trên dây cương của cánh áo lượn

In his ecstasy! then off, off forth on swing,

Trong hoan lạc! rồi lao đi, lao đi, tung cánh,

As a skate’s heel sweeps smooth on a bow-bend: the hurl and gliding

Như gót giày trượt băng lướt êm trên vòng cung: cuộn xoáy và lướt

Rebuffed the big wind. My heart in hiding

Đẩy lùi cơn gió lớn. Tim tôi, đang ẩn mình,

Stirred for a bird,—the achieve of, the mastery of the thing.

Rung động vì một cánh chim,—vì thành tựu, vì sự làm chủ của điều ấy.

Brute beauty and valour and act, oh, air, pride, plume, here

Vẻ đẹp thô và dũng khí và hành động, ôi, khí trời, kiêu hãnh, chùm lông, ở đây

Buckle! AND the fire that breaks from thee then, a billion

Khoá lại! VÀ ngọn lửa bừng vỡ tự ngươi khi ấy, một tỉ lần

Times told lovelier, more dangerous, O my chevalier!

Rực rỡ hơn, nguy hiểm hơn, hỡi dũng sĩ của ta!

No wonder of it: shéer plód makes plough down sillion

Không có gì lạ đâu: chỉ cày bừa nhọc nhằn mới khiến luống cày

Shine, and blue-bleak embers, ah my dear,

Bóng lên, và than hồng xám xanh, ôi bạn thân,

Fall, gall themselves, and gash gold-vermilion.

Rụng, vỡ ra, và tóe vàng đỏ son.

The practice of meditation is a major factor in the ability to deal with stress. Some born in the sign of Libra find it an exercise that comes relatively easily, but even so the clamour of the objective world usually has a stronger attraction compared to that of the subjective. The inner urge of The Voice of the Silence, the soul, is at first very weak, and must be balanced against the strong objective calls and urges that are part of material life. Many disciples see-saw between the two, unable to integrate both at once. The Libran, more than any other, senses such a pull of opposites, and struggles to harmonise them. The art of meditation, practised regularly and patiently, provides a point of stability from which the call of both the outer and inner worlds can be truly balanced. Meditation is a great leveller; it will calm the personality that is running rampant, at the same time creating a poise that will sustain the individual in times of crisis. Shelley describes such equilibrium in ‘Stanzas Written in Dejection, near Naples’:

Thực hành thiền định là một yếu tố chủ chốt trong khả năng xử lý căng thẳng. Một số người sinh trong dấu Thiên Bình thấy đây là một luyện tập tương đối dễ, nhưng ngay cả vậy, tiếng ồn ào của ngoại giới thường có sức hấp dẫn mạnh hơn so với tiếng gọi nội giới. Tiếng gọi nội tâm của Tiếng Nói của Im Lặng, linh hồn, lúc đầu rất yếu, và phải được cân bằng với những tiếng gọi và dục xung mạnh mẽ của đời sống vật chất. Nhiều đệ tử bập bênh giữa hai bờ, không thể đồng thời tích hợp cả hai. Người Thiên Bình, hơn ai hết, cảm nhận sự kéo căng của các cặp đối đãi như vậy, và vật lộn để hoà điệu chúng. Nghệ thuật thiền định, thực hành đều đặn và kiên nhẫn, cung cấp một điểm ổn định từ đó tiếng gọi của cả ngoại giới lẫn nội giới có thể được cân bằng thực sự. Thiền định là một chất bình ổn vĩ đại; nó sẽ làm dịu phàm ngã đang phóng túng, đồng thời tạo nên một thế quân bình đủ sức nâng đỡ cá nhân trong những thời khắc khủng hoảng. Shelley mô tả thế quân bình như vậy trong ‘Những Khổ Thơ Viết Trong U Hoài, bên Naples’:

. . . that content surpassing wealth

…cái mãn nguyện vượt của cải

The sage in meditation found,

Mà nhà hiền triết tìm thấy trong thiền định,

And walked with inward glory crowned.

Và bước đi với vầng vinh quang nội tại đội trên đầu.

Many in the West do so badly with meditation because they do not know the real purpose of this practice. It is not to gain fame, fortune, power or psychic abilities, as many false claims and tawdry advertisements purport; neither is the purpose of meditation to solve one’s personal problems. In meditation, the goal is to know our true nature, which is pure consciousness. When we have contacted the totality of our being, we are in a better position to solve problems, to relate to others, and to perform our duties. It must be remembered that the purpose of meditation is threefold:

Nhiều người phương Tây làm thiền rất tệ vì họ không biết mục đích thật sự của thực hành này. Nó không phải để đạt danh, lợi, quyền lực hay các năng lực tâm linh, như nhiều lời rao hợm hĩnh và quảng cáo lèo lá cam kết; cũng không phải mục đích của thiền định là để giải quyết các vấn đề cá nhân. Trong thiền định, đích nhắm là biết bản tính chân thực của ta, vốn là tâm thức thuần khiết. Khi chạm đến toàn thể hữu thể của mình, ta ở vị thế tốt hơn để giải quyết vấn đề, để tương quan với người khác, và để hoàn thành bổn phận. Cần ghi nhớ rằng mục đích của thiền định là tam phân:

1. To produce perfect alignment of the physico-etheric body, the emotions (astral body) and the mind (mental body).

1. Tạo nên sự chỉnh hợp hoàn hảo của thể vật lý-dĩ thái, cảm xúc (thể cảm dục) và trí (thể trí).

2. To contact a Higher Self or consciousness which transcends the ordinary personality.

2. Tiếp xúc một Cao Ngã hay một tâm thức vượt lên trên phàm ngã thông thường.

3. To express in our daily lives the higher energies and archetypal patterns that have been experienced on the inner planes.

3. Biểu hiện trong đời sống hàng ngày các năng lượng cao hơn và những mẫu thức nguyên hình đã được kinh nghiệm trên các cõi nội giới.

The true aim of meditation is to unite our consciousness with that of a colossal Being, a great entity, a Logos, or God. When we yoke, as the yogis call it, or unite our consciousness to that of a greater being, our mind merges into him; we become a part of him and we have his energies available to us.

Mục tiêu đích thực của thiền định là hợp nhất tâm thức của chúng ta với tâm thức của một Đấng đồ sộ, một thực thể vĩ đại, một Logos, hay Thượng Đế. Khi ta “nối ách”, như các du-già gọi, hay hợp nhất tâm thức ta với tâm thức của một Đấng lớn hơn, trí của ta hoà nhập vào Ngài; ta trở thành một phần của Ngài và ta có các năng lượng của Ngài sẵn dùng cho ta.

The caduceus is the symbol of balance that must exist within the human (and animal) form, the necessary balancing of sympathetic and parasympathetic nervous systems, arterial and venous blood, heat and cold, acid and alkali, etc:

Trượng Caduceus là biểu tượng của thế quân bình phải hiện hữu trong hình hài con người (và động vật), sự cân bằng tất yếu giữa hệ thần kinh giao cảm và đối giao cảm, máu động mạch và máu tĩnh mạch, nóng và lạnh, axit và kiềm, v.v.:

The real world consists of a balanced adjustment of opposing tendencies. Behind the strife between opposites there lies a hidden harmony of attunement which is the world .—Heraclitus

Thế giới thực gồm một sự điều chỉnh cân xứng giữa những khuynh hướng đối nghịch. Ẩn sau cuộc xung đột giữa các đối đãi là một hoà điệu tiềm ẩn của sự hoà âm, đó chính là thế giới.—Heraclitus

00009.jpeg

I have always emphasised that all esoteric practices must be approached in a balanced manner. Anyone suffering from an imbalance, such as mental illness, should never undertake such disciplines. In any case, the three major disciplines must be practised simultaneously and progressively: Study of the classical teachings of Ancient Wisdom; Service to mankind; and Meditation.

Tôi luôn nhấn mạnh rằng mọi thực hành huyền môn phải được tiếp cận một cách quân bình. Bất kỳ ai đang chịu một mất quân bình, như bệnh tâm thần, không bao giờ nên khởi sự những kỷ luật như vậy. Dù sao đi nữa, ba kỷ luật chủ đạo phải được thực hành đồng thời và tiến triển: Nghiên cứu các giáo lý kinh điển của Minh triết Cổ xưa; Phụng sự nhân loại; và Thiền định.

Patanjali, in his second sutra, defines yoga as the inhibition of the modifications of the mind. In other words, Yoga (union) is possible when we have succeeded in stilling the thought waves of the mind. Students most successful in meditation know that this practice begins in the space between thoughts. This region is that delicate point of balance, the knife-edge that lies between kingdoms, between the ordinary processes of thought and the language of symbolism which speaks for Higher Manas, or the highest reaches of abstract thought.

Patanjali, trong kinh thứ hai, định nghĩa yoga là sự ngăn chặn những biến động của tâm. Nói cách khác, Yoga (hợp nhất) khả hữu khi ta thành công trong việc tịnh chỉ các làn sóng ý nghĩ của trí. Những học viên thành công nhất trong thiền định biết rằng thực hành này khởi đầu ở khoảng trống giữa các ý nghĩ. Miền này là điểm quân bình tinh tế, lưỡi dao nằm giữa các giới, giữa những quá trình tư tưởng thông thường và ngôn ngữ biểu tượng vốn là tiếng nói của Thượng trí, hay những vươn tới cao nhất của trí trừu tượng.

The four stages, or levels of meditation are:

Bốn giai đoạn hay tầng bậc của thiền định là:

• Seating oneself

• Tự an toạ

• Withdrawal of the senses

• Thu hồi các giác quan

• Concentration

• Tập trung

• Meditation

• Thiền định

These activities I have discussed elsewhere (see my work Meditation, The theory and Practice ). Under the heading of ‘seating oneself’ there must be included the keeping of a spiritual diary, the book which acts as a mediator between the aspirant and his or her daemon. Here the dream life should be recorded, along with any meditative and subjective experiences, and efforts to help mankind. Passages from the occult classics, pieces of poetry or anything that gives inspiration or enlightenment should be copied out here. Questions and astrological aspects can be entered or posited in the diary to elicit a response from within.

Những hoạt động này tôi đã bàn ở nơi khác (xem tác phẩm của tôi). Dưới đề mục “tự an toạ” cần kể đến việc giữ một nhật ký tinh thần, quyển sách đóng vai trò trung giới giữa người chí nguyện và vị thần hướng đạo của anh/chị ấy. Ở đây nên ghi chép đời sống mộng, cùng với mọi trải nghiệm thiền định và chủ quan, và các nỗ lực trợ giúp nhân loại. Những đoạn trích từ các kinh điển huyền môn, những đoạn thơ hay bất cứ điều gì đem đến cảm hứng hay khai thị đều nên chép vào đây. Các câu hỏi và các góc hợp chiêm tinh có thể được ghi lại hay nêu lên trong nhật ký để gợi mở một đáp ứng từ nội tâm.

The diary should be always left open, on some flat surface, in its Libran state, as a symbol of the receptive intuition of the owner, which is often at its best when he or she also is also laid out flat:

Nhật ký nên luôn để mở, trên một bề mặt phẳng nào đó, trong trạng thái “Thiên Bình” của nó, như một biểu tượng của trực giác tiếp nhận của chủ nhân, vốn thường phát huy tốt nhất khi chính người ấy cũng đang “nằm phẳng”:

For oft, when on my couch I lie

Nhiều khi, khi tôi nằm trên ghế

In vacant or in pensive mood,

Trong cõi không hay trong tâm tư trĩu nặng,

They flash upon that inward eye

Chúng bừng lên trong con mắt nội tâm

Which is the bliss of solitude;

Vốn là phúc lạc của cô tịch;

And then my heart with pleasure fills,

Và rồi tim tôi đầy hoan hỷ,

And dances with the daffodils.

Và nhảy múa cùng những đoá thủy tiên.

—William Wordsworth, I Wandered Lonely As a Cloud

—William Wordsworth, Tôi Dạo Bước Cô Đơn Như Một Đám Mây

Meditation need not be undertaken in the seated position; the subjective focusing is more important than the posture. The padmasana, or ‘Lotus Posture’, beloved of the eastern yogi, is not necessary for those westerners who do not have the time in their busy lifestyles to develop such physical elasticity. In fact, many spiritually aspiring Westerners having been attempting meditation for some time before the question of posture arises. For most of us in the West, our beds, where we lie stretched out for so much of our life, offer us a partnership which provides a ready platform for inner experience: “By night on my bed I sought him whom my soul loveth.” (Song of Solomon 3:1).

Thiền định không nhất thiết phải thực hiện trong tư thế ngồi; sự quy tâm chủ quan quan trọng hơn tư thế. Padmasana, hay “Thế Hoa Sen”, được vị du-già phương Đông ưa chuộng, không cần thiết cho những người phương Tây không có thời gian trong nhịp sống bận rộn để phát triển sự dẻo dai thể chất như thế. Thực ra, nhiều người Tây phương có khao khát tinh thần đã thử thiền một thời gian trước khi câu hỏi về tư thế được nêu ra. Với đa số chúng ta ở phương Tây, chiếc giường—nơi ta nằm duỗi phần lớn đời mình—ban cho ta một “đối tác” cung cấp một bệ phóng sẵn sàng cho kinh nghiệm nội tâm: “Đêm đêm, trên giường tôi tìm kiếm người mà linh hồn tôi yêu dấu.” (Diễm Ca 3:1).

LIBRA RISING: LIBRA on the ASCENDANT —THIÊN BÌNH MỌC: THIÊN BÌNH ở DẤU HIỆU MỌC

The life of every man is a diary in which he means to write one story, and writes another; and his humblest hour is when he compares the volume as it is with what he vowed to make it. —Sir J. M. Barrie, The Little Minister.

Đời người là một quyển nhật ký trong đó anh ta định viết một câu chuyện, nhưng lại viết một chuyện khác; và giờ khắc khiêm nhường nhất của anh là khi anh đối chiếu cuốn sách như nó đang là với điều anh đã thệ nguyện làm nên.—Sir J. M. Barrie, The Little Minister.

The Sun and its position in the horoscope indicates the nature of the personality and affects its behaviour. But in esoteric astrology the preponderance of the personality is reduced and the soul (or Higher Self) is considered much more important. The Higher Self is represented in the horoscope by the ‘rising sign.’

Mặt Trời và vị trí của nó trong lá số chiêm tinh chỉ ra bản chất của phàm ngã và ảnh hưởng đến hành vi của nó. Nhưng trong chiêm tinh học nội môn, “sự trội ngôi” của phàm ngã được giảm bớt và linh hồn (hay Cao Ngã) được xem là quan trọng hơn nhiều. Cao Ngã được biểu trưng trong lá số bởi “dấu hiệu mọc”.

The rising sign, also called the ascendant, refers to the sign of the zodiac which is on the eastern horizon at the moment of birth. The horoscope shows it at the ‘nine o’clock’ position. You don’t have to be born in Libra to have this sign rising; in fact, you have one chance in twelve. Because the sign on the ascendant changes every two hours as the earth rotates, Libra is rising for approximately two hours of every day. Hence it is important to know your time of birth before you can find out what rising sign you have.

Dấu hiệu mọc, còn gọi là ascendant, chỉ dấu hiệu Hoàng đạo đang ở chân trời phía đông vào khoảnh khắc sinh. Trong lá số, nó ở vị trí “chín giờ”. Các bạn không cần sinh trong Thiên Bình mới có dấu hiệu này mọc; thực ra, xác suất là một phần mười hai. Vì dấu hiệu trên điểm mọc thay đổi mỗi hai giờ theo vòng quay của Trái Đất, Thiên Bình mọc khoảng hai giờ mỗi ngày. Do vậy, điều quan trọng là biết giờ sinh trước khi các bạn có thể tìm ra mình có dấu hiệu mọc nào.

In the new astrology the rising sign is of prime importance and is held to be of much greater significance than that of the Sun sign. Indeed, the whole science of astrology is moving towards emphasising the ascendant, in the light of recent scientific research indicating that rising signs, more than anything, give a degree of scientific corroboration to astrology.

Trong nền chiêm tinh mới, dấu hiệu mọc giữ vị trí tối quan trọng và được coi là có ý nghĩa vượt trội so với dấu hiệu Mặt Trời. Quả vậy, toàn bộ khoa chiêm tinh đang chuyển hướng nhấn mạnh điểm mọc, dưới ánh sáng của các nghiên cứu khoa học gần đây cho thấy các dấu hiệu mọc, hơn bất cứ thứ gì, đem lại mức độ kiểm chứng khoa học cho chiêm tinh.

The Sun sign and rising sign are usually different, although they can be the same if the individual is born near the time of dawn. It may happen that those who are born with Libra as their Sun sign will also have Libra rising. This means that both the Sun and Libra were on the horizon at the time of birth. This is a very powerful configuration, and it will influence the whole chart. It will re-emphasise all the Libran qualities in your life and will also give strong direction to those aspects of your existence which are spiritual.

Dấu hiệu Mặt Trời và dấu hiệu mọc thường khác nhau, dù chúng có thể trùng nếu cá nhân sinh gần rạng đông. Có thể xảy ra trường hợp những người sinh có Mặt Trời ở Thiên Bình cũng có Thiên Bình mọc. Điều đó có nghĩa là cả Mặt Trời lẫn Thiên Bình đều ở đường chân trời vào thời điểm sinh. Đây là một cấu hình rất mạnh, và nó sẽ ảnh hưởng toàn bộ lá số. Nó sẽ tái nhấn mạnh mọi phẩm chất Thiên Bình trong đời các bạn và cũng sẽ đem định hướng mạnh mẽ cho những phương diện trong sự hiện hữu của các bạn mang tính tinh thần.

The rising sign drives the personality towards its spiritual goal and it moderates the efforts of the personality when the goal is other than spiritual. It also indicates one’s deepest potential which normally may never surface unless this sign is activated or powerful. In advanced astrology, it is possible to ascertain the soul’s purpose in incarnation, through an examination of the rising sign and the aspects which are formed to it. Indeed, when a person is treading the Path of spiritual unfoldment, it is more correct to take his rising sign, the place of the soul or Higher Self, as representing him, rather than his Sun sign.

Dấu hiệu mọc thôi thúc phàm ngã hướng đến mục tiêu tinh thần của nó và điều hoà nỗ lực của phàm ngã khi mục tiêu là phi tinh thần. Nó cũng chỉ lộ tiềm năng sâu nhất của một người, vốn bình thường có thể không bao giờ trồi lên, trừ khi dấu hiệu này được kích hoạt hay trở nên mạnh. Trong chiêm tinh học cao cấp, có thể xác minh mục đích của linh hồn trong lần hoá thân, qua việc khảo sát dấu hiệu mọc và các góc hợp được tạo với nó. Thật vậy, khi một người đang bước trên Đạo lộ khai mở tinh thần, thì đúng đắn hơn là lấy dấu hiệu mọc của người ấy, nơi chốn của linh hồn hay Cao Ngã, làm đại diện cho người ấy, hơn là dấu hiệu Mặt Trời.

Libra can achieve much by trying to emulate or become the same as others who are better or wiser than him. Theophrastus von Hohenheim, the fifteenth century Swiss alchemist, astrologer and medical genius, did exactly that when he named himself Paracelsus, a marriage of two words; the Greek ‘para’, suggesting parallel to, or above, and Celsus, the eminent Roman physician and writer who had such an enormous influence on the development of medical thought.

Thiên Bình có thể đạt được nhiều điều bằng cách cố gắng mô phỏng hay trở nên “tương tự” với những người tốt hơn hay khôn ngoan hơn mình. Theophrastus von Hohenheim, nhà giả kim, nhà chiêm tinh và thiên tài y học người Thuỵ Sĩ thế kỷ mười lăm, đã làm đúng như vậy khi ông tự đặt tên là Paracelsus, một cuộc “hôn phối” của hai từ; tiếng Hy Lạp ‘para’, gợi ý song song hoặc vượt trên, và Celsus, vị thầy thuốc và văn sĩ La Mã lỗi lạc, người có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của tư tưởng y học.

Indeed, the Libran ascendant frequently indicates that there is a first-class talent of some sort present. Often these people can stand ‘head and shoulders’ above others in some respect. The talent is always rare and existential, and somehow or the other brings into the light of day some inner ability or quality, whether it be an idea, ideal or process. In this sense, magic is performed, because magic is, by definition, the exteriorisation of inner qualities.

Quả thật, dấu hiệu mọc Thiên Bình thường cho thấy có một tài năng hạng nhất thuộc một dạng nào đó hiện diện. Thường thì những người này có thể ‘cao hơn hẳn’ người khác ở một phương diện nào đó. Tài năng ấy luôn hiếm và hiện sinh, và bằng cách này hay cách khác đem ra ánh sáng ban ngày một khả năng hay phẩm tính bên trong, dù đó là một ý tưởng, một lý tưởng hay một tiến trình. Theo nghĩa này, phép thuật được thực hiện, vì phép thuật, theo định nghĩa, là sự ngoại hiện của các phẩm tính nội tại.

As I have already mentioned, Libra often will form partnerships with those who can compensate for any deficiencies that he might have. For all of us, the soul should be such a partner, but this is especially so in the case of Libra rising. The spiritual diary—the book that we associate most with this ascendant—provides both a means of access to this higher partner, as well as that point of personal stability so important in the life of every Libran. The diary mediates between the disciple and his higher partner, the soul. It provides a measure of his progress, or lack of it, on the Path.

Như tôi đã nói, Thiên Bình thường sẽ lập quan hệ đối tác với những ai có thể bù đắp các chỗ khiếm khuyết mà ông ấy có thể có. Với tất cả chúng ta, linh hồn nên là người bạn đồng hành như thế, nhưng điều này đặc biệt đúng trong trường hợp Thiên Bình mọc. Nhật ký tinh thần—cuốn sách mà chúng ta liên kết nhiều nhất với dấu hiệu mọc này—vừa cung cấp phương tiện tiếp cận người bạn đồng hành cao hơn ấy, vừa là điểm vững chắc cá nhân vô cùng quan trọng trong đời của mỗi người Thiên Bình. Nhật ký làm trung gian giữa người đệ tử và người bạn nội tâm cao hơn của ông ấy, tức linh hồn. Nó cung cấp thước đo về sự tiến bộ của ông ấy, hoặc sự thiếu vắng của nó, trên Con Đường.

Even at the mundane level, a diary is maintained in order to record the accuracy and pertinence of facts emerging in the life of the diarist. An appropriate symbol for this would be the policeman (Libra) who records, automatically, appropriate events and observations during his day for later recall and use. Similarly, the spiritual diary must be carefully and conscientiously maintained, not casually taken out of a drawer every now and again. It must be used regularly and harmoniously and the qualities of order and careful presentation should always be practised.

Ngay ở bình diện thế tục, người ta giữ nhật ký để ghi chép tính chính xác và sự thích đáng của các sự kiện nổi lên trong đời người viết nhật ký. Một biểu tượng phù hợp cho điều này là viên cảnh sát (Thiên Bình) người tự động ghi lại các sự kiện và quan sát thích hợp trong ngày để sau này hồi tưởng và sử dụng. Tương tự, nhật ký tinh thần phải được giữ gìn cẩn trọng và tận tâm, không phải thỉnh thoảng tùy hứng lôi ra khỏi ngăn kéo. Nó phải được dùng đều đặn và hài hòa, và các phẩm tính về trật tự và cách trình bày kỹ lưỡng luôn nên được thực hành.

The disciple learns never to place offerings or questions in his diary to the Higher Self for consideration or action unless they are in immaculate order. Whether he is submitting a mathematical formula, an anthology of poetry, an article for a magazine, a proposal for spreading the teachings, etc., they should all be precisely and immaculately laid out, such as one would expect on the tray of a trained butler. The Higher Self should not be expected to sort out the disorders arising from personality discrepancies.

Người đệ tử học cách không bao giờ đặt lễ vật hay câu hỏi trong nhật ký gửi tới Chân Ngã để xem xét hoặc hành động trừ khi chúng ở trong tình trạng ngăn nắp hoàn hảo. Dù ông ấy nộp một công thức toán học, một tuyển tập thơ, một bài cho tạp chí, một đề xuất truyền bá giáo lý, v.v., tất cả phải được trình bày chính xác và tinh tươm, như người ta mong đợi trên khay của một quản gia được huấn luyện. Không nên mong Chân Ngã phải sắp xếp những rối ren nảy sinh từ các sai biệt của phàm ngã.

Libra, as we have seen, rules keys and locks. One is not surprised, therefore, to find that Libra rising suggests enduring security or being eternally concerned about security matters. If this ascendant is afflicted, there may exist an habitual practise of locking the door to the bedroom, the study, the library, etc. Certainly, the awakened Libran ascendant tolerates no such practise and characteristically leaves doors open behind him and expects them to be left open in front of him. The following keywords are suggestive of this ascendant:

Như chúng ta đã thấy, Thiên Bình cai quản chìa khóa và ổ khóa. Vì thế, không ngạc nhiên khi thấy Thiên Bình mọc gợi ý về sự an ninh bền vững hoặc mãi mãi bận tâm về các vấn đề an ninh. Nếu dấu hiệu mọc này bị tổn hại, có thể tồn tại thói quen khóa cửa phòng ngủ, phòng làm việc, thư viện, v.v. Chắc chắn, người có dấu hiệu mọc Thiên Bình đã thức tỉnh không dung thứ thực hành như vậy và tiêu biểu là để cửa mở sau lưng ông ấy, và trông đợi chúng cũng được để mở phía trước ông ấy. Các từ khóa sau đây gợi ý về dấu hiệu mọc này:

• Freedom of movement

• Tự do di chuyển

• Accessibility

• Khả năng tiếp cận

• Ready egress

• Lối thoát sẵn sàng

• Admittance

• Sự cho vào

• Right-of-way

• Quyền ưu tiên đi trước

Most of us can remember the day when we were regarded as mature and responsible enough to be given a key to the front door: ‘I’ve got the key of the door!’ This phrase suggests the achievement of majority and the freedom of access that comes with it.

Đa số chúng ta có thể nhớ ngày mình được coi là đủ trưởng thành và có trách nhiệm để được trao chiếc chìa khóa cửa trước: ‘Tôi đã có chìa khóa của cánh cửa!’ Cụm từ này gợi ý sự đạt đến tuổi trưởng thành và tự do tiếp cận đi kèm theo nó.

With Libra rising, spiritual instructions are important. If, for instance, one bought a computer, it would be next to useless if the instructions were missing. The human brain itself is the finest computer of all, but it does not come with a manual. Such books, in fact do exist, but they are well guarded. It is the task of Libra rising to search for such keys and learn how to use them, opening the doorway to further knowledge.

Với Thiên Bình mọc, các chỉ dẫn tinh thần là quan trọng. Nếu, chẳng hạn, người ta mua một máy tính, nó sẽ gần như vô dụng nếu thiếu sách hướng dẫn. Chính bộ não con người là chiếc máy tính tinh vi nhất, nhưng nó không đi kèm cẩm nang. Kỳ thực, những cuốn sách như vậy có tồn tại, nhưng chúng được canh giữ kỹ. Nhiệm vụ của Thiên Bình mọc là tìm kiếm những chìa khóa như thế và học cách sử dụng chúng, mở cánh cửa hướng đến tri thức sâu hơn.

Libra in combination with the ascendant suggests a key of great length, suggesting that the lock of the ‘inner door’, or the doorway to the soul, is very deeply placed and requires a key of commensurate proportions to reach it, i.e., keys in depth. A key is a very specialised structure that can open one particular door and no other. There are many keys to the Ancient Wisdom: psychological, physiological, astrological, numero-logical, alchemical, etc., but these are not fully accessible by the inexperienced or the irresponsible. With this ascendant therefore, there should always be sought the attainment of spiritual maturity, at which stage you are given keys that can open important doors for you. Such keys are not earned lightly.

Thiên Bình khi kết hợp với dấu hiệu mọc gợi một chiếc chìa khóa rất dài, hàm ý rằng ổ khóa của ‘cánh cửa nội tâm’, hay cửa dẫn đến linh hồn, nằm rất sâu và đòi hỏi một chìa khóa có kích cỡ tương xứng để vươn tới, tức là chìa khóa theo chiều sâu. Một chiếc chìa là một cấu trúc rất chuyên biệt có thể mở một cánh cửa đặc thù và không mở cửa nào khác. Có nhiều chìa khóa dẫn vào Minh triết Cổ: về tâm lý, sinh lý, chiêm tinh học, số học, luyện kim thuật, v.v., nhưng những chìa này không hoàn toàn khả dụng cho người thiếu kinh nghiệm hay vô trách nhiệm. Do đó, với dấu hiệu mọc này, phải luôn tìm kiếm sự đạt đến độ chín tinh thần, ở giai đoạn đó các bạn được trao những chìa khóa có thể mở các cánh cửa quan trọng cho mình. Những chìa như vậy không dễ mà có được.

I have already described how suggestive the symbol of the car and its driver are for the personality and the soul. The first house, site of the ascendant, rules documentation, so with Libra rising we should also think of the driving license, and its relevance as a symbol. The question here is: ‘Am I properly equipped to drive the vehicle of the personality?’ This ‘vehicle of consciousness’ takes you along the path of the soul’s purpose, and the laws of that way must be adhered to. You will not be granted a licence to take on spiritual responsibilities until it is recognised that you have the ability to handle the personality and can be trusted with it under all conditions. Disciples should also ask themselves if they know how to ‘sit at table’ with their spiritual seniors, in particular at the Master’s table. Do they know the manners and the etiquette appropriate to that table?

Tôi đã mô tả việc biểu tượng chiếc xe và người lái gợi ý thế nào cho phàm ngã và linh hồn. Nhà 1, nơi đặt dấu hiệu mọc, cai quản giấy tờ, vì vậy với Thiên Bình mọc, chúng ta cũng nên nghĩ đến giấy phép lái xe, và ý nghĩa của nó như một biểu tượng. Câu hỏi ở đây là: ‘Tôi có được trang bị đúng đắn để lái chiếc xe của phàm ngã không?’ ‘Cỗ xe của tâm thức’ này đưa các bạn dọc theo con đường của mục đích linh hồn, và các luật của nẻo ấy phải được tuân thủ. Các bạn sẽ không được cấp giấy phép đảm đương các trách nhiệm tinh thần cho đến khi người ta công nhận rằng các bạn có khả năng xử lý phàm ngã và có thể được tin cậy trong mọi hoàn cảnh. Các đệ tử cũng nên tự hỏi mình có biết cách ‘ngồi vào bàn’ cùng các bậc đàn anh tinh thần, đặc biệt là tại bàn của Chân sư, hay không. Họ có biết những phép tắc và nghi lễ phù hợp với chiếc bàn ấy không?

The ascendant rules the spiritual growth of the individual, and Libra rising always indicates that it is the Soul’s intention to maintain the action of the personality ‘within the framework of the law’; not necessarily mundane laws, but in particular spiritual laws. Here we have a judicial mind that learns to obey not so much the letter of the law but the spirit of the law. Our jails in Britain are at bursting point; we have the highest jail population of any country in Europe, and this is because the letter of the law is pursued instead of its spirit. Libra rising emphasises the latter—why the law was created, its original purpose. The true intention behind the nation’s laws is that all people should be able to relate and live harmoniously with each other, and that society and commerce should be able to function smoothly. It was not intended that such laws would enable people to be thrown into jail merely from a need for revenge or because they are different from the majority.

Dấu hiệu mọc cai quản sự trưởng thành tinh thần của cá nhân, và Thiên Bình mọc luôn chỉ ra rằng ý định của Linh hồn là duy trì hành vi của phàm ngã ‘trong khuôn khổ luật pháp’; không nhất thiết là các luật thế tục, mà đặc biệt là các luật tinh thần. Ở đây, chúng ta có một trí óc tư pháp học cách vâng theo không phải là văn tự của luật mà là tinh thần của luật. Các nhà tù ở Anh của chúng tôi chật cứng; chúng tôi có dân số tù nhân cao nhất trong bất kỳ nước nào ở châu Âu, và đó là vì người ta theo đuổi chữ nghĩa của luật thay vì tinh thần của luật. Thiên Bình mọc nhấn mạnh điều sau—vì sao luật được tạo ra, mục đích ban đầu của nó. Ý định chân thật đằng sau các luật của quốc gia là để mọi người có thể liên hệ và sống hòa hợp với nhau, và để xã hội cùng thương mại vận hành trơn tru. Không phải nhằm cho phép ném người ta vào tù chỉ vì nhu cầu trả thù hay vì họ khác với đa số.

Libra Rising spells out the word: “In the beginning was the Word, and the Word was with God, and the Word was God.” (St John 1:1). Books of an epic nature, like the Bible, are very reflective of this ascendant, which brings to mind eternal laws. Each one of us should learn to breathe the spirit of that law, especially when we sound a sacred word like the Aum, during meditation, a practice designed to brings us in harmony with the divine.

Thiên Bình mọc đánh vần nên Lời: “Ban đầu là Lời, và Lời ở cùng Thiên Chúa, và Lời là Thiên Chúa.” (Thánh Gioan 1:1). Những cuốn sách mang tính sử thi, như Kinh Thánh, phản chiếu rất mạnh dấu hiệu mọc này, vốn gợi lên các luật vĩnh hằng. Mỗi người chúng ta nên học cách hít thở tinh thần của luật ấy, đặc biệt khi chúng ta xướng một âm linh thiêng như Aum trong khi thiền định, một thực hành nhằm đưa chúng ta hòa điệu với thiêng liêng.

This ascendant represents spirit and form in the balance. Soul and personality meet here in equilibrium, as partners. The inner partner, the Higher Self must always have his say. Where there is a marriage of two minds that persists for all time, the Libran ascendant is surely present. Shakespeare’s beautiful sonnet is particularly appropriate here:

Dấu hiệu mọc này biểu trưng cho tinh thần và hình tướng trong thế cân bằng. Linh hồn và phàm ngã gặp nhau ở đây trong trạng thái quân bình, như các đối tác. Người bạn nội tâm, Chân Ngã, luôn phải được lên tiếng. Nơi nào có một cuộc hôn phối của hai trí mà bền bỉ qua mọi thời, dấu hiệu mọc Thiên Bình chắc chắn hiện diện. Bài sonnet tuyệt đẹp của Shakespeare ở đây đặc biệt thích đáng:

Let me not to the marriage of true minds

Xin đừng cho cản ngăn hôn phối của những trí chân thành;

Admit impediments. Love is not love

Tình yêu không phải tình yêu

Which alters when it alteration finds,

Nếu đổi thay khi gặp đổi thay,

Or bends with the remover to remove.

Hay ngả theo người muốn dứt bỏ.

O, no! it is an ever-fixed mark,

Không, tình yêu là dấu mốc không đổi,

That looks on tempests and is never shaken.

Nhìn bão tố mà chẳng bao giờ lay chuyển.

Sonnet 116

—Sonnet 116

With Libra rising the life should be, at some level, one of equilibrium and poise. I have this ascendant myself, and I have always tried to provide a point of stability for those who come to me for help or support. The spiritually inexperienced need help from their older brothers, and the ability to provide such stability for others in the midst of our chaotic world is a very important one for Libra rising. The life of this ascendant should be like an open book for others, where they can read and learn.

Với Thiên Bình mọc, đời sống ở một mức nào đó nên là đời sống của quân bình và phong thái. Tôi có chính dấu hiệu mọc này, và tôi luôn cố gắng cung cấp một điểm vững chắc cho những ai đến với tôi để xin trợ giúp hay nâng đỡ. Những người chưa già dặn về tinh thần cần sự giúp đỡ từ các anh em lớn, và khả năng đem đến điểm tựa cho người khác giữa thế giới hỗn loạn của chúng ta là một điều rất quan trọng đối với Thiên Bình mọc. Đời sống của dấu hiệu mọc này nên như một cuốn sách mở cho người khác, nơi họ có thể đọc và học.

This ascendant can be the great peacemaker. Not that he is passive or feeble, but that he will, if necessary, fight for harmony:

Dấu hiệu mọc này có thể là người kiến tạo hòa bình vĩ đại. Không phải vì ông ấy thụ động hay yếu đuối, mà vì nếu cần, ông ấy sẽ chiến đấu cho hòa điệu:

He maketh wars to cease in all the world: he breaketh the bow, and knappeth the spear in

Ngài khiến chiến tranh dứt khắp cõi đất: Ngài bẻ cung, chặt gãy giáo,

sunder, and burneth the chariots in the fire. Be still then, and know that I am God . . .

đốt phá xe chiến nơi lửa. Hãy yên lặng, và biết rằng Ta là Thiên Chúa . . .

The Book of Common Prayer , Psalm 46, v. 9

—Sách Kinh Nguyện Chung, Thánh vịnh 46, câu 9

All Librans, especially those with this ascendant, should ensure that they meditate regularly, or at least find periods of peace and quiet in their lives, when the influence of the soul can make itself felt. This may come at unexpected times; driving a car on a long quiet motorway, for instance, can enable the lower mind to go into ‘automatic pilot’ (Uranus), enabling the Self to make its voice heard. Periods of calm in our busy western life-styles are vital to the spiritually oriented person:

Tất cả người Thiên Bình, đặc biệt là những ai có dấu hiệu mọc này, nên đảm bảo rằng họ thiền định đều đặn, hoặc ít nhất tìm những khoảng thời gian bình an và tĩnh lặng trong đời, khi ảnh hưởng của linh hồn có thể tự mình vang lên. Điều này có thể đến vào lúc không ngờ; lái xe hơi trên một xa lộ dài và vắng, chẳng hạn, có thể khiến hạ trí chuyển sang ‘chế độ lái tự động’ (Sao Thiên Vương), cho phép Chân Ngã cất tiếng. Những thời đoạn tĩnh lặng trong lối sống bận rộn của phương Tây là tối sống còn cho người có định hướng tinh thần:

Hence in a season of calm weather

Bởi vậy trong mùa tiết lặng gió,

Though inland far we be,

Dù ở thật xa nội địa,

Our souls have sight of that immortal sea

Linh hồn ta vẫn nhìn thấy biển bất tử

Which brought us hither . . .

Đã đưa ta đến đây . . .

—William Wordsworth, Intimations of Immortality

—William Wordsworth, Những linh cảm về Bất tử

Many years ago I was fascinated by the matter of what part of consciousness decides what is to dominate the mind. In meditation we learn to empty our minds of the chatter and clamour of everyday thought. What is it, I was curious to know, decides the first thought or image that comes into consciousness afterwards? In answer to this, at an inner level, I was shown a large royal hall of the fourteenth century, where a king was sitting on his throne amidst a multitude of courtiers, who were dressed in every conceivable garment. There was a great clamour or hubbub going on, in the midst of which a knight was trying to make himself heard; suddenly he banged his long staff loudly on the ground—bang, bang, bang! The king sat up and said, “Yes, sir knight!” Everyone went quiet and the king could finally hear the knight speak. When, through meditation, you learn to enthrone the king, or Higher Self, and allow him to decide who speaks first, rather than all your thoughts clamouring at will, then you are on the road to soul development.

Nhiều năm trước, tôi bị cuốn hút bởi vấn đề phần nào của tâm thức quyết định điều gì sẽ chiếm ưu thế trong thể trí. Trong thiền định, chúng ta học cách làm rỗng tâm khỏi chuyện trò và ồn ào của tư tưởng thường nhật. Tôi tò mò muốn biết: cái gì quyết định ý nghĩ hay hình ảnh đầu tiên đi vào tâm thức sau đó? Để trả lời điều này, ở một mức nội tâm, tôi được cho thấy một đại sảnh hoàng gia thế kỷ mười bốn, nơi một vị vua ngồi trên ngai giữa một đoàn triều thần, ăn vận đủ mọi kiểu tưởng tượng được. Có một tiếng ồn ào huyên náo lớn, giữa đó một hiệp sĩ đang cố làm cho mình được nghe; bỗng nhiên ông ta đập mạnh cây quyền trượng dài xuống sàn—cộc, cộc, cộc! Vua bật dậy và nói, “Vâng, ngài hiệp sĩ!” Mọi người im lặng và nhà vua cuối cùng có thể nghe hiệp sĩ nói. Khi, qua thiền định, các bạn học cách đặt vua, tức Chân Ngã, lên ngai, và cho Ngài quyết định ai nói trước, thay vì để mọi ý nghĩ của các bạn ồn ào đòi nói theo ý mình, bấy giờ các bạn đang trên con đường phát triển linh hồn.

Whilst Scorpio rules the injunction ‘stop!’ and Capricorn rules the quality of cautiousness, the Libran ascendant implies ‘caution’; that is, you are cautioned with a faintly legal or police-like tone in it. Those with this ascendant in difficult aspect to Uranus may find themselves prone to having their vehicle pulled up by the police, even to the point of being arrested and taken into custody.

Trong khi Bọ Cạp cai quản mệnh lệnh ‘dừng lại!’ và Ma Kết cai quản phẩm chất thận trọng, dấu hiệu mọc Thiên Bình hàm ý ‘lời cảnh báo’; tức là các bạn được cảnh báo với một âm sắc hơi hướng luật pháp hay cảnh sát. Những ai có dấu hiệu mọc này ở góc hợp khó với Sao Thiên Vương có thể thấy mình dễ bị cảnh sát chặn xe, thậm chí đến mức bị bắt và tạm giữ.

The effect of the planet Uranus acting through a Libran ascendant, is to convey authority ‘spelt out’. Hence the expression ‘standing instructions’ suggests the persistence of the ascendant in the term ‘standing’ and the authoritative orders conveyed by ‘instructions’ reflected from Uranus. Such Uranian influences can convey dictatorial language and suggestions of an ascendancy of fascism. The first house, site of the ascendant, is ruled by Mercury, which suggests the colour silver-grey; grey shirts were the garment emblems of the fascist movement in central Europe and still remain a symbol of fascism. In this respect we should remember that Libra rules clothing in general and shirts and smocks in particular.

Tác động của hành tinh Sao Thiên Vương khi hành qua dấu hiệu mọc Thiên Bình là truyền đạt quyền uy ‘được đánh vần thành chữ’. Do đó, cụm ‘chỉ thị thường trực’ gợi ra tính kiên định của dấu hiệu mọc trong từ ‘thường trực’ và những mệnh lệnh mang tính quyền uy của ‘chỉ thị’ phản ảnh từ Sao Thiên Vương. Những ảnh hưởng thuộc Sao Thiên Vương như vậy có thể truyền đạt ngôn ngữ độc đoán và gợi ý sự lấn át của chủ nghĩa phát xít. Nhà 1, nơi đặt dấu hiệu mọc, do Sao Thủy cai quản, gợi màu xám bạc; áo sơ mi xám là biểu trưng trang phục của phong trào phát xít ở Trung Âu và vẫn còn là biểu tượng của chủ nghĩa phát xít. Ở khía cạnh này, chúng ta nên nhớ rằng Thiên Bình cai quản quần áo nói chung và áo sơ mi, áo chít (smock) nói riêng.

People with Libra rising, including the author, like to wear freshly laundered pull-over shirts that cover the top of the trousers. Such persons will frequently use short dressing-gowns of the accommodating type which can be adapted and used by a person of any size; these are worn continuously until the final act of dressing takes place. For some, this can be an all-day matter.

Những người có Thiên Bình mọc, kể cả tác giả, thích mặc các loại áo chui đầu mới giặt, phủ kín phần cạp quần. Những người như vậy thường hay dùng áo choàng mặc nhà ngắn loại tiện dụng có thể điều chỉnh cho bất kỳ cỡ người nào; các áo này được mặc liên tục cho đến khi bước cuối cùng của việc ăn mặc diễn ra. Với một số người, điều này có thể kéo dài cả ngày.

Librans, in general, are good communicators, and when this sign is on the ascendant, oratory may be one of the outstanding manifestations. Methods of communication have altered greatly with the passage of time, and today we must place under Libra any information that is passed by cable or cords that are laminated, and run beneath the sea or over land. Libra also rules microphones and the paraphernalia that renders more audible the human voice, such as modulators, amplifiers, etc. The co-ordinator attending to these various devices prior to the opening of a speech, is suggestive of the Libran ascendant. We are not surprised, therefore, that an afflicted Libran ascendant suggests impediments of speech, such as lisping, stuttering, etc.

Những người Thiên Bình, nói chung, là các nhà giao tiếp giỏi, và khi cung này ở dấu hiệu mọc, tài hùng biện có thể là một biểu hiện nổi trội. Các phương pháp truyền thông đã thay đổi rất nhiều theo thời gian, và ngày nay chúng ta phải đặt dưới Thiên Bình mọi thông tin truyền qua cáp hay các dây được cán nhiều lớp, chạy dưới biển hay trên đất liền. Thiên Bình cũng cai quản micro và các thiết bị giúp làm giọng nói con người to rõ hơn, như bộ điều biến, bộ khuếch đại, v.v. Người điều hợp chăm lo các thiết bị khác nhau này trước khi một bài diễn văn bắt đầu gợi ra hình ảnh của dấu hiệu mọc Thiên Bình. Vì thế, chúng ta không ngạc nhiên khi một dấu hiệu mọc Thiên Bình bị tổn hại gợi các trở ngại về nói năng, như nói ngọng, nói lắp, v.v.

In some nations of the world there is a mixed population with various languages, and in such circumstances there frequently arises an admixture of languages to form a balanced share of words from each language, brought together in a kind of ‘lingua franca’. The term lingua franca refers to a mixture of Italian (Libra) with French, Greek, Arabic, and others, used in the Levant, or any analogous mixture used between peoples, that is, at the national (ascendant) level. The ascendant suggests the national use of the resulting language and Libra the spelling out of it.

Ở một số quốc gia trên thế giới có dân cư pha trộn với nhiều ngôn ngữ, và trong hoàn cảnh như vậy thường nảy sinh sự pha trộn ngôn ngữ để tạo nên một phần từ vựng cân bằng từ mỗi tiếng, hòa vào một dạng ‘lingua franca’. Thuật ngữ lingua franca chỉ một hỗn hợp tiếng Ý (Thiên Bình) với tiếng Pháp, Hy Lạp, Ả Rập, và các tiếng khác, dùng ở Levant, hoặc bất kỳ sự pha trộn tương tự nào dùng giữa các dân tộc, tức là ở bình diện quốc gia (dấu hiệu mọc). Dấu hiệu mọc gợi việc dùng ngôn ngữ thành quả ở cấp quốc gia và Thiên Bình là sự đánh vần của nó.

For many years the electoral district of Billericay in England had a strange Libran quality. The votes cast there for a parliamentary candidate always indicated which way the election in the nation as a whole would swing. If a Conservative member is returned to parliament and the result is usually given before midnight on the day of the election, then, in the past, it has been shown that a Conservative government would be returned. This statistical pointer to the national swing of votes is a Libran (the balance) characteristic.

Trong nhiều năm, khu bầu cử Billericay ở Anh mang một phẩm chất Thiên Bình lạ lùng. Số phiếu bầu ở đó cho một ứng viên quốc hội luôn chỉ ra chiều xoay của cuộc bầu cử trong toàn quốc. Nếu một nghị viên Bảo thủ được bầu vào quốc hội và kết quả thường được công bố trước nửa đêm ngày bầu cử, thì trong quá khứ, điều đó cho thấy một chính phủ Bảo thủ sẽ trở lại cầm quyền. Chỉ dấu thống kê về độ nghiêng phiếu bầu toàn quốc này là đặc trưng Thiên Bình (cái cân).

Libra rising rules national negotiations where important package deals are concluded. Matters are ‘wrapped up’ or concluded with the help of a Libran ascendant. It also suggests the chains of garages that are spread out all over the nation, such as BP, Shell and Texaco. We also think of some popular and proper names; for instance, David West; David is associated with the ascendant (which rules the Old Testament), whilst Libra is associated with the site of the western horizon in the horoscope.

Thiên Bình mọc cai quản những thương thuyết cấp quốc gia nơi các thỏa thuận gói quan trọng được hoàn tất. Mọi việc được ‘gói lại’ hay kết thúc với sự trợ giúp của dấu hiệu mọc Thiên Bình. Nó cũng gợi các chuỗi gara trải rộng khắp cả nước, như BP, Shell và Texaco. Chúng ta cũng nghĩ đến vài tên riêng phổ biến và chuẩn mực; chẳng hạn, David West; David gắn với dấu hiệu mọc (dấu hiệu mọc cai quản Cựu Ước), trong khi Thiên Bình gắn với vị trí đường chân trời phía tây trong lá số chiêm tinh.

Thoughts for Libra Rising—Những suy niệm cho Thiên Bình mọc

• Always try and seek the middle way whenever possible.

• Luôn cố tìm và đi con đường trung đạo khi có thể.

• Live according to spiritual and eternal laws instead of man-made laws.

• Sống theo các luật tinh thần và vĩnh cửu thay vì luật do người làm ra.

• Make of your life a long, open road or motorway for the soul, which is the driver in the motor car of your personality.

• Biến đời sống của các bạn thành một con đường dài, một xa lộ mở cho linh hồn—người tài xế của chiếc xe hơi mang tên phàm ngã.

• Establish a bridgehead or antakarana to the spiritual worlds.

• Thiết lập một đầu cầu hay antakarana đến các cõi tinh thần.

• A perpetually tolling bell summons you to the Higher Self.

• Một tiếng chuông ngân miên viễn luôn triệu gọi các bạn về với Chân Ngã.

• Always with your head in a book.

• Lúc nào cũng cắm đầu trong sách.

In the volume of the book it is written of me, that I should fulfil thy will, O my God .— Psalm 40, v. 8

• Trong cuộn sách có chép về tôi rằng tôi phải thi hành ý muốn của Ngài, lạy Thiên Chúa của con.—Thánh vịnh 40, câu 8

URANUS: ESOTERIC RULER OF URANUS—SAO THIÊN VƯƠNG: CHỦ TINH NỘI MÔN CỦA SAO THIÊN VƯƠNG

No law can be sacred to me but that of my nature. Good and bad are but names very readily transferable to that or this; the only right is what is after my own constitution, the only wrong what is against it .—Ralph Waldo Emerson, Essays .

Không luật nào thiêng đối với tôi ngoài luật của bản tánh tôi. Tốt và xấu chỉ là những tên gọi rất dễ chuyển từ cái này sang cái khác; điều duy nhất đúng là điều hợp với cấu trúc của chính tôi, điều duy nhất sai là điều nghịch lại nó.—Ralph Waldo Emerson, Tiểu luận.

Uranus was the first of the three planets that lie beyond the orbit of Saturn to be discovered. For centuries the ancients had considered the latter as the seventh and outermost planet of the solar system. The seven planets of their astrological system had neatly fitted into the septenary principle which held such significance for them. The traditional cosmological scheme, therefore, had to be revised. The discovery of Uranus, which orbits twice as far from the Sun as Saturn, vastly increased the known size of the solar system and the age-old rule of Saturn as ‘keeper of the boundaries of the universe’ was overthrown.

Sao Thiên Vương là hành tinh đầu tiên trong ba hành tinh nằm ngoài quỹ đạo Sao Thổ được phát hiện. Trong nhiều thế kỷ, người xưa coi Sao Thổ là hành tinh thứ bảy và ngoài cùng của Thái dương hệ. Bảy hành tinh trong hệ chiêm tinh của họ gắn gọn với nguyên lý thất phân vốn rất quan trọng đối với họ. Vì thế, sơ đồ vũ trụ học truyền thống phải được duyệt lại. Việc phát hiện Sao Thiên Vương, với quỹ đạo nằm cách Mặt Trời xa gấp đôi Sao Thổ, đã mở rộng rất lớn kích cỡ Thái dương hệ được biết đến và lật đổ vai trò lâu đời của Sao Thổ như ‘người giữ ranh giới của vũ trụ’.

This broached a revolution in astrological thinking that still has its repercussions to the present day. Astrologers were placed in a difficult position as to how they were to accommodate this intruder. Some refused to allow it any rein whilst others believed that the established system of planetary correspondences to the twelve zodiacal signs could change and evolve and that a place could be found for Uranus. A few astrologers, even prior to its discovery, had suspected its presence, and were already using the Greek name Ouranos. The ‘H’ of the Uranus glyph, coincidentally, is also the initial of Herschel, who discovered the planet on March 13, 1781.

Điều này mở màn một cuộc cách mạng trong tư duy chiêm tinh mà hệ lụy vẫn còn kéo dài đến ngày nay. Các nhà chiêm tinh bị đặt vào tình thế khó xử về cách thức dung nạp kẻ xâm nhập này. Một số từ chối cho nó bất kỳ quyền hạn nào trong khi những người khác tin rằng hệ thống tương ứng hành tinh với mười hai dấu hiệu hoàng đạo có thể thay đổi và tiến hóa, và rằng có thể tìm ra chỗ cho Sao Thiên Vương. Một vài nhà chiêm tinh, thậm chí trước khi nó được phát hiện, đã nghi ngờ sự hiện diện của nó, và đã dùng tên Hy Lạp Ouranos. Chữ ‘H’ trong phù hiệu của Thiên Vương tình cờ cũng là chữ cái đầu của Herschel, người đã phát hiện hành tinh này vào ngày 13 tháng 3 năm 1781.

00010.jpeg

Many astrologers looked to the exciting political and intellectual conditions of the time to understand the astrological nature of this remarkable planetary newcomer. The eighteenth century was a period of social unrest and upheaval, seeing significant changes in the world, including the French and American revolutions, the advancement of the concept of democracy, and the harnessing of electricity. It was a period of heightened awareness and expression in art, music and literature that heralded the climax of the Age of Enlightenment, with an emphasis on reason and the challenging of old and established thinking.

Nhiều nhà chiêm tinh đã nhìn vào những điều kiện chính trị và trí thức sôi động của thời đại để hiểu bản chất chiêm tinh của tân binh hành tinh đáng chú ý này. Thế kỷ mười tám là một thời kỳ bất ổn và chuyển biến xã hội, chứng kiến những thay đổi quan trọng trên thế giới, gồm các cuộc cách mạng Pháp và Mỹ, sự thăng tiến của khái niệm dân chủ, và việc chế ngự điện lực. Đó là giai đoạn nhận thức và biểu đạt được nâng cao trong nghệ thuật, âm nhạc và văn chương, báo hiệu đỉnh cao của Thời Khai minh, với nhấn mạnh vào lý trí và sự thách thức tư duy cũ kỹ, đã định hình.

Because it is the first of the ‘outer planets’—those beyond the orbit of Saturn and the ‘personal planets’—many astrologers have seen its influence as working through the collective, transpersonal and even the spiritual, rather than at the personal and individual levels. This is compounded by the fact that Uranus moves around the horoscope only once in every eighty-four years, spending about seven years in each sign of the zodiac and spreading its influence over a much longer period of time than the faster-moving planets.

Bởi nó là hành tinh đầu tiên trong các ‘hành tinh ngoại vi’—những hành tinh ngoài quỹ đạo Sao Thổ và ngoài các ‘hành tinh cá nhân’—nhiều nhà chiêm tinh đã thấy ảnh hưởng của nó hoạt động qua tập thể, xuyên-ngã và thậm chí là bình diện tinh thần, hơn là ở cấp độ cá nhân và tiểu ngã. Điều này càng rõ bởi thực tế Sao Thiên Vương đi một vòng quanh lá số chiêm tinh chỉ mỗi 84 năm, ở trong mỗi dấu hiệu hoàng đạo khoảng bảy năm và lan tỏa ảnh hưởng của nó trên một khoảng thời gian dài hơn nhiều so với các hành tinh di chuyển nhanh hơn.

In orthodox astrology, Uranus came to displace Saturn from its rulership of Aquarius. In the 1940s, however, in her work Esoteric Astrology, Alice Bailey was the first to adopt Uranus as the ruler of Libra, but only for the spiritually advanced. She also held that its energies were highly specialised and, in most instances, would only be felt by the spiritually sensitive. In 21st century astrology, however, Uranus is the ruler of Libra for the whole of Western man. This is not mere speculation but is based on the significant changes that have occurred in Western civilisation over the past fifty years.

Trong chiêm tinh chính thống, Sao Thiên Vương đã thay thế Sao Thổ làm chủ tinh của Bảo Bình. Tuy nhiên, vào những năm 1940, trong tác phẩm Chiêm tinh Nội môn, Alice Bailey là người đầu tiên nhận Sao Thiên Vương làm chủ tinh của Thiên Bình, nhưng chỉ dành cho những người đã tiến bộ về tinh thần. Bà cũng cho rằng năng lượng của nó rất chuyên biệt và trong phần lớn trường hợp chỉ được cảm nhận bởi những người nhạy cảm về tinh thần. Tuy nhiên, trong chiêm tinh thế kỷ 21, Sao Thiên Vương là chủ tinh của Thiên Bình cho toàn bộ nhân loại phương Tây. Điều này không phải suy đoán suông mà dựa trên những thay đổi đáng kể đã xảy ra trong văn minh phương Tây trong năm mươi năm qua.

Many new features have emerged in our environ-mental pattern with such clarity that their morphology now aligns them indisputably with Uranus as the ruler of Libra. In chapter four we saw that Libra rules transportation and especially cars and motorways, both of which were revolutionary in their impact. The first motorways were pioneered by the Germans, who bore in mind the necessity to transport military equipment very rapidly over hundreds of miles, knowing full well that such a device would be the ‘open sesame!’ to attacks made on the variety of frontiers presented to the German Reich in those days when Nazism was astir. These motorways were not confined to Nazi Germany, but could also be seen in operation in the new colonial territories annexed by the Italian (Libra) dictator, Mussolini, in Northeast Africa and Libya.

Nhiều đặc trưng mới đã xuất hiện trong mẫu hình môi trường của chúng ta rõ ràng đến mức hình tướng của chúng nay khớp không thể chối cãi với Sao Thiên Vương như chủ tinh của Thiên Bình. Ở chương bốn, chúng ta đã thấy Thiên Bình cai quản vận tải và đặc biệt là xe hơi và xa lộ, cả hai đều mang tính cách mạng trong tác động của chúng. Những xa lộ đầu tiên được người Đức tiên phong, họ đã lưu tâm đến nhu cầu vận chuyển trang thiết bị quân sự rất nhanh trên hàng trăm dặm, hiểu rất rõ rằng một cơ chế như vậy sẽ là ‘vừng ơi mở ra!’ cho các cuộc tấn công nhắm vào muôn vàn mặt trận mà Đế chế Đức phải đối diện trong những ngày chủ nghĩa Quốc xã đang trỗi dậy. Những xa lộ này không chỉ giới hạn ở Đức Quốc xã, mà còn được thấy hoạt động trong các lãnh thổ thuộc địa mới sát nhập bởi nhà độc tài Ý (Thiên Bình), Mussolini, ở Đông Bắc Phi và Libya.

The origins of the great motorways can be traced back yet further to the city of Rome (also ruled by Libra), the previous incarnation of Great Britain and its younger brother, the United States of America. The Romans built long straight (Libra) roads, the remnants of which still survive in Britain to this day. At the height of its power, the Roman Empire had a road system of about 50,000 miles, consisting of 29 highways radiating from the city of Rome, and a network of roads covering every important conquered province, meticulously and efficiently built using several layers (Libra) of material. Roman law allowed public use of these roads, ensuring an efficient communication and transportation network, whilst the existence of a strong central authority ensured their maintenance.

Nguồn gốc của các đại xa lộ còn có thể truy xa hơn về thành Roma (cũng do Thiên Bình cai quản), tiền kiếp của Vương quốc Anh và người em trẻ là Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ. Người La Mã đã xây những con đường dài và thẳng (Thiên Bình), tàn tích của chúng còn tồn tại ở Anh cho đến ngày nay. Ở đỉnh cao quyền lực, Đế quốc La Mã có một hệ thống đường sá dài khoảng 50.000 dặm, gồm 29 trục lộ tỏa ra từ thành Roma, và một mạng lưới đường bao trùm mọi tỉnh quan trọng đã chinh phục, được xây dựng tường tận và hiệu quả bằng nhiều lớp (Thiên Bình) vật liệu. Luật La Mã cho phép công chúng sử dụng các con đường này, bảo đảm một mạng lưới truyền thông và vận tải hữu hiệu, trong khi sự hiện diện của một quyền lực trung ương mạnh mẽ bảo đảm việc bảo trì chúng.

Julius Caesar was such an authority. Some regard him as an ruthless tyrant, with an insatiable lust for power, summarised by his immortal phrase: I came, I saw, I conquered (from one of his letters, announcing the victory of Zela). Others maintain that to save the Roman world from chaos a new type of government had to be created. In fact, Caesar’s reforms did stabilise the Mediterranean world. The title of Caesar and its associations are still preserved in medieval and modern derivations, such as the Russian ‘tsar’ and the German ‘kaiser’.

Julius Caesar là một quyền lực như thế. Có người xem ông là bạo chúa tàn nhẫn với khát vọng quyền lực không đáy, tóm lược bằng câu nói bất hủ: Tôi đến, tôi thấy, tôi chinh phục (từ một bức thư của ông, báo tin chiến thắng ở Zela). Kẻ khác lại cho rằng để cứu thế giới La Mã khỏi hỗn loạn, cần phải tạo ra một kiểu chính quyền mới. Thực tế, các cải cách của Caesar đã ổn định thế giới Địa Trung Hải. Danh hiệu Caesar và các liên hệ của nó vẫn được lưu giữ trong các dẫn xuất thời trung cổ và hiện đại, như ‘tsar’ của Nga và ‘kaiser’ của Đức.

The emergence of properly surfaced and maintained main roads in our present culture mostly coincided with the development of travel by motor car. With certain modifications, they became the motorways of Britain and the freeways of North America. Hence the development of the motorway can be associated with both dictatorships and the general growth of efficient transportation.

Sự xuất hiện của các con đường chính có mặt đường tốt và được bảo trì trong nền văn hóa hiện tại của chúng ta phần lớn trùng với sự phát triển của du hành bằng xe hơi. Với một vài biến cải, chúng trở thành xa lộ của Anh và freeway của Bắc Mỹ. Do đó, sự phát triển của xa lộ có thể được liên đới với cả các chế độ độc tài lẫn sự tăng trưởng chung của giao thông hiệu quả.

We know that Libra is the sign of law and order, and it is not surprising, therefore, that Uranus, as its ruler, suggests qualities which are both dictatorial and efficient: Uranus declares and enforces Libran law. At the political level the influence of this planet is expressed as straightforward dictatorship. As Harry S. Truman once remarked, “Wherever you have an efficient government you have a dictatorship.” (Truman Speaks). At the social level this is felt as bureaucracy; at the commercial level as the astute and one-pointed businessman and at the personal level as the ruling partner of any marriage or in any group of friends or colleagues. Indeed, without the mitigating influence of other planets, Uranus tends to reciprocate in any partnership as a harsh, austere and efficient autocrat.

Chúng ta biết Thiên Bình là dấu hiệu của luật và trật tự, vì vậy không ngạc nhiên khi Sao Thiên Vương, với tư cách chủ tinh của nó, gợi những phẩm chất vừa độc đoán vừa hiệu quả: Sao Thiên Vương công bố và cưỡng thi hành luật Thiên Bình. Ở bình diện chính trị, ảnh hưởng của hành tinh này biểu hiện như chế độ độc tài thẳng thừng. Như Harry S. Truman từng nói, “Ở đâu có chính phủ hiệu quả, ở đó có độc tài.” (Truman Speaks). Ở bình diện xã hội, điều này được cảm nhận như quan liêu; ở bình diện thương mại như người doanh nhân sắc sảo và nhất điểm; và ở bình diện cá nhân như đối tác chi phối trong bất kỳ hôn nhân nào hay trong bất kỳ nhóm bạn bè hoặc đồng nghiệp nào. Thật vậy, nếu không có ảnh hưởng giảm nhẹ của các hành tinh khác, Sao Thiên Vương có xu hướng đáp lại trong bất kỳ quan hệ đối tác nào như một nhà độc tài khắc nghiệt, khổ hạnh và hiệu quả.

There is not much humour around Uranus—about as much as one would find in the hands of a clock-face! Its strong connection with the First Ray of Will and Power brings it little joy except, perhaps, where synthesis is achieved. The harshness of this Ray points towards judgement without mercy, decision without second opinion, action as reflex rather than planned, breakdown from technical failure rather than through lack of hope, exhaustion through wear and tear rather than through energy deprivation.

Không có nhiều khiếu hài hước quanh Sao Thiên Vương—chừng như số hài hước mà người ta thấy trên mặt đồng hồ kim vậy! Sự liên hệ mạnh của nó với Cung Thứ Nhất của Ý chí và Quyền lực đem lại cho nó ít niềm vui, trừ phi, có lẽ, nơi tổng hợp được thành tựu. Cái khắc nghiệt của Cung này hướng tới phán quyết không cần xót thương, quyết định không đòi ý kiến thứ hai, hành động như phản xạ hơn là có kế hoạch, hư hỏng vì thất bại kỹ thuật hơn là vì cạn hy vọng, kiệt sức vì hao mòn hơn là vì thiếu năng lượng.

Uranus also suggests the abilities of the occultist and the magician. As well as its First Ray qualities, it also has strong connections with the Seventh Ray of Ritual, Ceremonial Order and Magic. With great control, power and precision, and in strict accordance with law, Uranus organises, synthesises and co-ordinates the various parts of any system, bringing it into a state of Libran balance. Sometimes harsh, ruthless and disturbing if necessary, Uranus carries out orders automatically and to the letter, but its ultimate purpose is to create greater harmony.

Sao Thiên Vương cũng gợi khả năng của nhà huyền môn và người thực hành huyền thuật. Bên cạnh các phẩm tính Cung Thứ Nhất, nó cũng có liên hệ mạnh với Cung Thứ Bảy của Nghi lễ, Trật tự Nghi thức và Huyền thuật. Với sự kiểm soát, quyền năng và độ chuẩn xác lớn, và trong khuôn khổ luật pháp nghiêm ngặt, Sao Thiên Vương tổ chức, tổng hợp và điều hợp các bộ phận của bất kỳ hệ thống nào, đưa chúng vào một trạng thái cân bằng Thiên Bình. Đôi khi khắc nghiệt, tàn nhẫn và gây xáo trộn nếu cần, Sao Thiên Vương thi hành mệnh lệnh một cách tự động và theo đúng văn tự, nhưng mục đích tối hậu của nó là tạo nên hòa điệu lớn hơn.

It is true to say that the sign through which Uranus most easily expresses itself is on the Third Ray of Active Intelligence and it does this to produce the great diversity found in the seventh house, the home of Libra. But this is not enough, and Active Intelligence is often too superficial and transient for the work in hand. The intelligence needs to be applied and this is what the other two Rays given above are used for. The ray of Ceremonial, the Seventh, organises the project chosen and refines the processes by which it will express itself; the First Ray adds to it power and the will to start, maintain and terminate the project. Coincidentally, so often a project employs the basic laws of physics, and the Fifth Ray of Science supplies this additional factor.

Đúng khi nói rằng dấu hiệu qua đó Sao Thiên Vương dễ biểu hiện nhất là trên Cung Thứ Ba của Hoạt dụng Trí tuệ, và nó làm vậy để tạo ra sự đa dạng phong phú thấy được ở nhà 7, ngôi nhà của Thiên Bình. Nhưng như thế là chưa đủ, và Hoạt dụng Trí tuệ thường quá nông và chóng qua so với công việc trong tay. Trí năng cần được áp dụng, và đó là điều hai Cung kia được dùng tới. Cung của Nghi lễ, Cung Thứ Bảy, tổ chức dự án đã chọn và tinh luyện các tiến trình để nó biểu lộ; Cung Thứ Nhất thêm vào đó quyền lực và ý chí để khởi động, duy trì và kết thúc dự án. Trùng hợp là, rất thường một dự án vận dụng các định luật cơ bản của vật lý, và Cung Thứ Năm của Khoa học cung cấp nhân tố bổ sung này.

The example par excellence of Uranus in action is that of the automobile which it rules with consummate success, as our crowded roads suggest. The function of Uranus as ruler of Libra may be likened to the partnership between a driver and his car. I have used this analogy elsewhere, but would adapt it slightly here. The driver directs and co-ordinates the smooth running of the car’s components (much of which are automatic) and mediates between the vehicle, the road and other road users according to the highway code, often having to make split-second judgements and decisions.

Thí dụ tiêu biểu nhất về Sao Thiên Vương hành động là chiếc ô tô mà nó cai quản với thành công trọn vẹn, như những con đường chật ních của chúng ta cho thấy. Chức năng của Sao Thiên Vương như chủ tinh của Thiên Bình có thể ví như quan hệ đối tác giữa người lái và chiếc xe của ông ấy. Tôi đã dùng phép so sánh này ở nơi khác, nhưng sẽ điều chỉnh đôi chút ở đây. Người lái điều khiển và điều hợp sự vận hành trơn tru của các bộ phận xe (nhiều phần là tự động) và làm trung gian giữa cỗ xe, con đường và những người cùng tham gia giao thông theo Luật giao thông, thường phải thực hiện những phán đoán và quyết định trong khoảnh khắc.

Uranus spells out the letter of the law and expects implicit obedience. The sort of injunction implied here is typical of the motorway signs that keep the traffic flowing smoothly and efficiently: Keep in lane; No exit; No U-turns; Speed limit 70 mph; No overtaking; and so forth.

Sao Thiên Vương đánh vần văn tự của luật và đòi hỏi sự tuân phục tuyệt đối. Dạng mệnh lệnh được hàm ý ở đây tiêu biểu như những biển báo trên xa lộ giúp dòng xe lưu thông trơn tru và hiệu quả: Giữ làn; Không lối ra; Cấm quay đầu; Giới hạn tốc độ 70 dặm/giờ; Cấm vượt; v.v.

The legal qualities of Libra remain prominent with this planet, and our policing forces are now more dependant on Libran features like rapid vehicle transportation and computers than any other section of our community. Uranus rules computers, programming, calculators and anything highly precisioned. The computer itself personifies the humourless precision and time-dependency of this planet. The use of computers is another revolutionary development that is also a new form of partnership; their usefulness in areas like word-processing, all kinds of data processing, communications, etc., is making them indispensable in the modern world. The computer revolution is currently only in its infancy, and the effects it will have on our lives and especially those of future generations will be wide-ranging.

Các phẩm chất pháp lý của Thiên Bình vẫn nổi trội với hành tinh này, và các lực lượng cảnh sát của chúng ta giờ đây phụ thuộc vào những đặc trưng Thiên Bình như vận tải cơ giới nhanh và máy tính hơn bất kỳ bộ phận nào khác trong cộng đồng. Sao Thiên Vương cai quản máy tính, lập trình, máy tính tay và mọi thứ có độ chuẩn xác cao. Bản thân máy tính nhân cách hóa sự chuẩn xác không hài hước và tính lệ thuộc thời gian của hành tinh này. Việc sử dụng máy tính là một phát triển mang tính cách mạng khác, đồng thời là một dạng mới của quan hệ đối tác; tính hữu dụng của chúng trong các lĩnh vực như xử lý văn bản, mọi dạng xử lý dữ liệu, truyền thông, v.v., đang khiến chúng trở nên không thể thiếu trong thế giới hiện đại. Cuộc cách mạng máy tính hiện vẫn chỉ ở thời kỳ phôi thai, và những tác động nó sẽ có lên đời sống chúng ta, đặc biệt là những thế hệ tương lai, sẽ rất rộng khắp.

The modern-day use of a card (Libra) to store encoded information, which like a key, can unlock a hotel room or permit access to cash from a wall safe is yet another manifestation of this planet. Uranus is therefore concerned with any coded information or code numbers, telephone directories, stored memory, etc., and also with memory aids like mnemonics.

Việc sử dụng hiện đại một chiếc thẻ (Thiên Bình) để lưu trữ thông tin mã hóa, giống như một chìa khóa, có thể mở khóa phòng khách sạn hoặc cho phép rút tiền mặt từ két tường là một biểu hiện khác của hành tinh này. Vì thế, Sao Thiên Vương quan hệ với bất kỳ thông tin mã hóa hay số mã, danh bạ điện thoại, trí nhớ lưu trữ, v.v., và cả với các trợ cụ nhớ như thuật ghi nhớ.

Another form of revolution that we can associate with Uranus is one that has taken place in the media. Not so long ago, books were scarce and very expensive items that were difficult to come by and hardly any authors copyrighted their work. Now, however, books are readily available to all and are extensively copyrighted. Many books, especially reference works and directories, are also stored on computer discs, where they are more easily accessed.

Một dạng cách mạng khác mà chúng ta có thể gắn với Sao Thiên Vương là cuộc cách mạng đã diễn ra trong truyền thông. Không lâu trước đây, sách là vật phẩm khan hiếm và rất đắt, khó mà có được, và hầu như chẳng tác giả nào đăng ký bản quyền tác phẩm của mình. Nay thì, sách sẵn có cho mọi người và được bảo vệ bản quyền rộng rãi. Nhiều cuốn, nhất là sách tham khảo và niên giám, cũng được lưu trên đĩa máy tính, nơi chúng dễ dàng được truy cập hơn.

When Uranus entered Cancer (the sign of the home) in the 1950’s, television aerials, uncannily suggestive of the Uranian glyph, began to appear above almost every rooftop. Television revolutionised modern life and began to change the consciousness of the masses (also ruled by Cancer). All these features of Uranus help us to fit it into the environmental pattern of our modern society.

Khi Sao Thiên Vương nhập Cự Giải (dấu hiệu của gia đình) vào thập niên 1950, ăng-ten truyền hình, giống lạ thường với phù hiệu Sao Thiên Vương, bắt đầu xuất hiện trên hầu như mọi mái nhà. Truyền hình đã cách mạng hóa đời sống hiện đại và bắt đầu thay đổi tâm thức của quần chúng (cũng do Cự Giải cai quản). Tất cả các đặc trưng của Sao Thiên Vương này giúp chúng ta đặt nó vào mẫu hình môi trường của xã hội hiện đại.

A symbol which emerges as meaningful from the morphology of Uranus is that of a man on stilts . In personality expression, this means someone who needs to resort to props taken from the environment to support his position of authority (height). The esoteric suggestion emerges of the ‘props of power’ becoming those props required to support a spiritual life. For some, these are books (Libra), especially the occult classics. Others might seek a prop like the support of the marriage partner who is esoterically orientated.

Một biểu tượng nổi lên như có ý nghĩa từ hình tướng của Sao Thiên Vương là hình ảnh một người đi cà kheo. Ở biểu lộ phàm ngã, điều này nghĩa là ai đó cần dùng các chống đỡ lấy từ môi trường để nâng đỡ vị thế quyền uy (độ cao) của mình. Gợi ý nội môn bật ra là ‘chống đỡ quyền lực’ trở thành các chống đỡ cần thiết để nâng đỡ đời sống tinh thần. Với vài người, đó là sách (Thiên Bình), nhất là các cổ điển huyền môn. Kẻ khác có thể tìm một chống đỡ như sự nâng đỡ của người bạn đời có định hướng nội môn.

Uranus also suggests the consort, which in terms of a royal family can mean either the wife of the king or the husband of the queen, according to which holds power. Thus, the queen consort would fall under Uranus in Leo. There is no question about the function of the consort, which is to provide for the continuation of the species and, in this case, the royal lineage. This matter is always settled on that important symbol of Libra and Uranus, which is the marriage bed. The double bed is the symbol of where much power is finally exerted; there may be arguments and separations but it is on this soft platform of Libra that such alienation is resolved. Uranus also suggests the stiffening phallus, the rod of power that brings consummation on the double bed.

Sao Thiên Vương cũng gợi ý người phối ngẫu, mà trong ngữ cảnh hoàng gia có thể là vợ của vua hoặc chồng của hoàng hậu, tùy người nào nắm quyền. Như vậy, hoàng hậu phối ngẫu sẽ thuộc Sao Thiên Vương trong Sư Tử. Không có gì phải bàn về chức năng của người phối ngẫu, đó là đảm bảo sự tiếp nối của giống nòi và, trong trường hợp này, dòng dõi hoàng gia. Vấn đề này luôn được định đoạt trên biểu tượng quan trọng của Thiên Bình và Sao Thiên Vương, tức giường cưới. Chiếc giường đôi là biểu tượng nơi rất nhiều quyền lực cuối cùng được thi thố; có thể có tranh cãi và rạn nứt nhưng chính trên bệ mềm của Thiên Bình này mà sự chia rẽ được hóa giải. Sao Thiên Vương cũng gợi dương vật cương lên, cây trượng quyền lực mang lại sự viên mãn trên chiếc giường đôi.

The glyph of Uranus indicates things that are pendulous. We have seen that the bell comes under the rulership of Libra, and also it can easily be seen that the pendulous bell in its frame suggests the glyph of Uranus. The church bell, propped up at a height, rings out the authority of the church. The morphology of the grandfather clock, with its long pendulum and precision mechanism, and its height, giving it an impression of authority over other clocks, also brings Uranus to mind.

Phù hiệu của Sao Thiên Vương gợi những vật treo lủng lẳng. Chúng ta đã thấy chiếc chuông thuộc quyền cai quản của Thiên Bình, và cũng dễ thấy chiếc chuông đong đưa trong khung treo gợi phù hiệu Sao Thiên Vương. Chuông nhà thờ, được chống đỡ ở độ cao, ngân vang thẩm quyền của giáo hội. Hình tướng của chiếc đồng hồ quả lắc, với quả lắc dài và cơ chế chuẩn xác, và chiều cao của nó, khiến nó như thể hiện quyền uy so với các đồng hồ khác, cũng khiến ta nhớ đến Sao Thiên Vương.

A package (Libra), neatly wrapped and sealed also points to the morphology of Uranus—the disc part of the glyph giving the impression of a circular seal of wax, and the remainder, the precise folds of the wrapping. Here we have the suggestion of something that is presented with precision and the authority of stamps or seals, like those that are still used today on important legal packets and documents.

Một gói (Thiên Bình), được gói ghém và niêm phong gọn ghẽ, cũng chỉ về hình tướng Sao Thiên Vương—phần đĩa trong phù hiệu gợi ấn sáp tròn, và phần còn lại là những nếp gấp chính xác của lớp bọc. Ở đây, chúng ta có gợi ý về điều gì đó được trình bày chuẩn xác cùng thẩm quyền của các con dấu, như những dấu vẫn còn dùng ngày nay trên các gói, văn kiện pháp lý quan trọng.

When attempting to identify the influence of Uranus, always look for some sort of authority . . . either an authoritative person, or an autocratic officer wielding very strong authority, or a potential for wielding authority. Then look to the house and sign in which Uranus is placed, which will indicate the kind of official. For instance, when Uranus is placed in Pisces (a sign associated with crime), there is implied a police officer or a high, autocratic official of the church, especially when Pisces is placed in the sixth house of Virgo, which re-emphasises the Christian, devotional religion.

Khi nỗ lực nhận diện ảnh hưởng của Sao Thiên Vương, hãy luôn tìm một dạng quyền uy nào đó… hoặc một con người có thẩm quyền, hoặc một viên chức độc đoán vung quyền rất mạnh, hoặc một tiềm năng để vung quyền. Rồi hãy nhìn đến nhà và dấu hiệu nơi Sao Thiên Vương được đặt, điều sẽ chỉ ra loại viên chức nào. Chẳng hạn, khi Sao Thiên Vương ở Song Ngư (một dấu hiệu gắn với tội phạm), điều này hàm ý một sĩ quan cảnh sát hoặc một viên chức cao cấp, độc đoán của giáo hội, đặc biệt khi Song Ngư nằm trong nhà 6 của Xử Nữ, điều nhấn mạnh hơn tôn giáo sùng tín Cơ Đốc.

Uranus is very autocratic and will not be gainsaid. Of all the planets, it expresses most readily the qualities of Atma, or divine persistent will, which implies occult obedience. The neophyte joining the ashram of Pythagoras never saw the Master for five years and certainly did not even speak for three years. Occult obedience is very important for many reasons, and Uranus demands implicit obedience. This does not necessarily imply that the Master is a dictator, but helps us appreciate the qualities of Uranus.

Sao Thiên Vương rất độc đoán và không chịu bị cãi. Trong tất cả các hành tinh, nó là hành tinh biểu đạt dễ dàng nhất các phẩm tính của Atma, hay ý chí thiêng liêng bền bỉ, điều hàm ý sự vâng phục nội môn. Người tân học gia nhập đạo viện của Pythagoras đã không gặp Chân sư suốt năm năm và chắc chắn thậm chí không cất lời trong ba năm. Vâng phục nội môn rất quan trọng vì nhiều lý do, và Sao Thiên Vương đòi hỏi sự tuân phục tuyệt đối. Điều này không nhất thiết hàm ý Chân sư là nhà độc tài, mà giúp chúng ta thấu hiểu các phẩm chất của Sao Thiên Vương.

Uranus benignly aspected to the Sun, which rules magnetism and magnetic centres, gives a dominant and magnetic nature. For many years there appeared in the North American press an advertisement, unaccompanied by any sponsor’s name, which read: “He who understands magnetism will rule the world.” We never did find out who was behind the advertisement, but there is no doubt about the truth of that statement.

Sao Thiên Vương ở góc hợp thuận với Mặt Trời, vốn cai quản từ lực và các trung tâm từ, cho một bản tánh lấn át và có từ tính. Trong nhiều năm, báo chí Bắc Mỹ xuất hiện một quảng cáo không kèm tên nhà tài trợ, ghi rằng: “Ai hiểu được từ tính sẽ cai trị thế giới.” Chúng tôi không bao giờ tìm ra người đứng sau quảng cáo ấy, nhưng không nghi ngờ gì về tính chân thật của mệnh đề đó.

The house in which Uranus is placed and the aspects it makes to other planets in your chart are important in its interpretation, especially for those with Libra rising, to whom such aspects reveal the soul’s purpose. The role of Libra and the seventh house in the chart will always help to illustrate how the qualities of this planet will manifest for each individual. If Libra is on the cusp of the seventh house and Uranus is afflicted, chaos will be present in all partnerships, not the least of which would be in those listed above.

Nhà nơi Sao Thiên Vương đóng và các góc hợp nó tạo với những hành tinh khác trong lá số của các bạn là quan trọng trong việc giải đoán, đặc biệt cho ai có Thiên Bình mọc, đối với họ các góc hợp như vậy tiết lộ mục đích của linh hồn. Vai trò của Thiên Bình và nhà 7 trong lá số sẽ luôn giúp minh họa cách các phẩm chất của hành tinh này sẽ biểu hiện cho từng cá nhân. Nếu Thiên Bình nằm trên đỉnh nhà 7 và Sao Thiên Vương bị tổn hại, hỗn loạn sẽ hiện diện trong mọi mối quan hệ đối tác, không ít trong số đó là những loại đã liệt kê ở trên.

An extreme example of an afflicted Uranus was Adolf Hitler, who had Libra rising, and whose life could be termed a study in imbalance. His retrograde Uranus in Libra in the twelfth house, opposing Mercury, ruler of the cerebral cortex, in Aries in the sixth house could be appropriately described as demoniacal authoritarianism. Milton described such a complex in Book I of his Paradise Lost:

Một thí dụ cực đoan về Sao Thiên Vương bị tổn hại là Adolf Hitler, người có Thiên Bình mọc, và đời ông có thể gọi là một nghiên cứu về sự bất cân bằng. Sao Thiên Vương nghịch hành ở Thiên Bình trong nhà 12 của ông, đối vị với Sao Thủy, chủ quản vỏ não, ở Bạch Dương trong nhà 6, có thể được mô tả thích đáng là chủ nghĩa độc đoán quỷ quái. Milton đã mô tả một phức hợp như vậy trong Quyển I của Thiên Đường Mất:

Here we may reign secure, and in my choice

Nơi đây ta có thể trị vì an ổn, và theo chọn lựa của ta,

To reign is worth ambition though in hell:

Trị vì đáng giá cho hoài bão, dẫu ở địa ngục:

Better to reign in hell, than serve in heaven.

Thà trị vì nơi địa ngục, còn hơn phụng sự trên thiên đường.

The energies of this planet are not easily directed into the right channels unless it is well placed. When afflicted, there can be a tyrannical and self-destructive effect that is reflective of its mythological namesake.

Năng lượng của hành tinh này không dễ được hướng dẫn vào các kênh đúng đắn trừ phi nó được đặt thuận lợi. Khi bị tổn hại, có thể có hiệu ứng độc tài và tự hủy, phản ảnh người đồng danh huyền thoại của nó.

In difficult aspects to Mars, Uranus becomes dangerous and accident prone, with sudden and unexpected mishaps like car accidents and air disasters. Mars can have the harshest effect of all on Uranus, with things like overloading of circuits and sudden, violent crashes. Even where there are benign influences, there may emerge a relentless precision that goes from success to success with such monotony and irrevocable finality as to present no joy, surprise or wonder of the type that can characterise success with other planetary combinations.

Ở các góc khó với Sao Hỏa, Sao Thiên Vương trở nên nguy hiểm và dễ tai nạn, với các sự cố bất ngờ như tai nạn ôtô và thảm họa hàng không. Sao Hỏa có thể có tác động khắc nghiệt nhất lên Sao Thiên Vương, với những thứ như quá tải mạch điện và va chạm bạo liệt, đột ngột. Thậm chí khi có ảnh hưởng thuận, có thể xuất hiện một sự chuẩn xác không khoan nhượng đi từ thành công đến thành công với nỗi đơn điệu và tính tất định không thể đảo ngược đến mức không đem lại niềm vui, sự bất ngờ hay kinh ngạc kiểu thường thấy nơi các phối hợp hành tinh khác.

When Uranus is in the second house of personal money, even the joy of drawing money and handling it is lost. The salary earner never sees his cash, which goes by giro or computer payment straight into his account and is there swallowed up by things like automated direct debits, in the inexorable process of maintaining his standard of living.

Khi Sao Thiên Vương ở nhà 2 của tiền bạc cá nhân, ngay cả niềm vui rút tiền và chạm vào nó cũng bị đánh mất. Người lĩnh lương chẳng bao giờ thấy tiền mặt của mình, nó đi bằng lệnh chuyển khoản giro hay thanh toán qua máy tính thẳng vào tài khoản và ở đó bị nuốt chửng bởi những khoản như ghi nợ tự động, trong tiến trình không cưỡng được của việc duy trì mức sống.

Whilst Mercury is the ruler of the brain and nervous system, Uranus gives synthesis, co-ordination and balance. An afflicted Uranus can present lack of precision, unco-ordination and matters which might relate to cerebellar dysfunction. A tremor in movement suggests Neptune, but where parts lack synchrony, look for Uranus. For example, a test of brain injury (Mars square to Uranus in the first house) is to bring the fingertip to touch the nose. Where there is difficulty in doing this, we have ‘dysdiadokynesis’.

Trong khi Sao Thủy là chủ quản não và hệ thần kinh, Sao Thiên Vương đem đến tổng hợp, điều hợp và cân bằng. Một Sao Thiên Vương bị tổn hại có thể biểu hiện thiếu chuẩn xác, thiếu phối hợp và các vấn đề có thể liên hệ đến rối loạn chức năng tiểu não. Run rẩy trong cử động gợi Sao Hải Vương, nhưng nơi các bộ phận thiếu đồng bộ, hãy tìm Sao Thiên Vương. Thí dụ, một phép thử thương tổn não (Sao Hỏa vuông góc với Sao Thiên Vương ở nhà 1) là đưa đầu ngón tay chạm mũi. Nơi có khó khăn khi làm điều này, chúng ta có ‘dysdiadokynesis’.

In primitive consciousness the adverse effects of Uranus are limited to such matters as unco-ordination of parts and faults in layered structures like the scalp. In more sophisticated and spiritual beings, bizarre features emerge, in quite unexpected ways. For instance, a highly spiritual person may write books which are lacking in refinement, inconclusive, lacking in finesse or polish, cranky and even criminal in import. Or there may be refined cruelty in the conduct of a marriage or partnership.

Trong tâm thức sơ khai, các tác động bất lợi của Sao Thiên Vương giới hạn ở những vấn đề như thiếu phối hợp giữa các phần và các khiếm khuyết trong cấu trúc phân lớp như da đầu. Ở những hữu ngã tinh luyện và có đời sống tinh thần, các nét kỳ dị nảy sinh theo những cách khá bất ngờ. Chẳng hạn, một người rất tinh thần có thể viết những cuốn sách thiếu tinh luyện, không kết luận, thiếu sự tinh tế hay trau chuốt, lập dị thậm chí mang ngụ ý phạm pháp. Hoặc có thể có sự tàn nhẫn tinh vi trong cách ứng xử của một hôn nhân hay quan hệ đối tác.

Uranus also suggests ‘flat on his back’ (expressed morphologically by the outstretched legs and arms), and when afflicted, this planet can place the native in this position, metaphorically or literally. He is not ‘winded’, where there is a crouching or clutching of the abdomen with the breath lost temporarily, but ‘out cold’ with no sign of breathing evident; activity at all levels is nil and the state is death-like. Libran Christopher Reeve, the Hollywood film star, recently suffered a riding accident which left him quadriplegic and effectively ‘laid out flat’.

Sao Thiên Vương cũng gợi ý ‘nằm bẹp lưng’ (được biểu hiện theo hình tướng bằng đôi chân và cánh tay dang thẳng), và khi bị tổn hại, hành tinh này có thể đặt đương số vào tư thế ấy, theo nghĩa bóng hoặc nghĩa đen. Ông ấy không phải bị ‘đứt hơi’, nơi thấy tư thế khom người hoặc ôm bụng với hơi thở tạm mất, mà là ‘ngất lịm’ không dấu hiệu thở; hoạt động ở mọi mức là số không và trạng thái như tử vong. Christopher Reeve, người Thiên Bình, ngôi sao điện ảnh Hollywood, gần đây gặp tai nạn cưỡi ngựa khiến ông bị liệt tứ chi và thực sự ‘nằm bẹp’.

In Greek mythology, Ouranos (Uranus) is the personification of the sky and the son and mate of Gaia, the goddess of the Earth. Their children are the Centimani, the Cyclopes and the Titans. Uranus was jealous of the future power of his children and fearing he would lose his rulership to them, he threw them into the underworld. At the instigation of Gaia, her son Chronos castrated his father and dethroned him. When Uranus’ blood fell upon the Earth (Gaia), the Erinyes (the Furies or goddesses of fate) and the Gigantes (giants) sprang forth.

Trong thần thoại Hy Lạp, Ouranos (Sao Thiên Vương) là nhân cách hóa của bầu trời và là con trai đồng thời là bạn đôi của Gaia, nữ thần Trái Đất. Con cái họ là Centimani, Cyclops và Titans. Sao Thiên Vương ghen với quyền lực tương lai của các con và sợ rằng mình sẽ mất ngôi báu vào tay chúng, ông đã ném chúng xuống âm phủ. Theo xúi giục của Gaia, con bà là Chronos đã thiến cha mình và lật đổ ông. Khi máu của Sao Thiên Vương rơi xuống Đất (Gaia), các Erinyes (Furies hay nữ thần số mệnh) và các Gigantes (khổng lồ) đã sinh ra.

Like the mythological Uranus, some of us can bury our potential—our ‘children’—in fear that their expression will upset the status quo of the personality. Even the spiritually orientated have to struggle to accept the changes that the soul wishes to impose. The cold, concretising, conservatism of Saturn, when it is in bad aspect to Uranus, can also destroy its potential, cutting off or crushing its creative potency. A positive interpretation of Chronos (Saturn) emasculating Uranus in so perfunctory a manner as to show no sympathy (typical of Saturn), however, refers to the necessary sexual restraint that every disciple must eventually demonstrate.

Giống như Sao Thiên Vương huyền thoại, một số chúng ta có thể chôn vùi tiềm năng của mình—‘những đứa con’—vì sợ rằng việc biểu lộ chúng sẽ làm xáo trộn hiện trạng của phàm ngã. Ngay cả những người có định hướng tinh thần cũng phải vật lộn để chấp nhận những thay đổi mà linh hồn muốn áp đặt. Tính lạnh lẽo, làm đặc cứng, bảo thủ của Sao Thổ, khi ở góc khó với Sao Thiên Vương, cũng có thể hủy hoại tiềm năng của nó, cắt đứt hoặc nghiền nát năng lực sáng tạo của nó. Một diễn giải tích cực về việc Chronos (Sao Thổ) thiến Sao Thiên Vương một cách hết sức máy móc đến nỗi không bộc lộ chút đồng cảm (điển hình Sao Thổ), tuy vậy, quy về sự tiết dục cần thiết mà mọi đệ tử cuối cùng đều phải biểu lộ.

Saturn is responsible for the hardest times experienced by the monad, where isolation for many eons in pralaya comes almost as a welcome relief; but this prepares the outwardly journeying monad for its lives of sexual restraint, which in fact means abstinence from procreation. It frequently takes the form of asexuality but usually that of homosexuality, which is under the rulership of Uranus and the sign of Libra.

Sao Thổ chịu trách nhiệm cho những thời kỳ khắc nghiệt nhất mà chân thần trải nghiệm, nơi cô tịch suốt nhiều đại kiếp trong pralaya đến như một sự khuây khỏa được chào đón; nhưng điều này chuẩn bị cho chân thần khi xuất ngoại hành trình cho những đời của tiết dục, thực tế nghĩa là kiêng sinh sản. Nó thường mang dạng vô tính nhưng thường hơn là đồng tính luyến ái, vốn thuộc quyền cai quản của Sao Thiên Vương và dấu hiệu Thiên Bình.

In the glyph of Uranus there is the single pendulous structure of the phallus minus the testes, and this makes the glyph so very appropriate. It is not generally realised that the period of immense sexual creativity of mankind presently being demonstrated on the Earth, with its massive increase of population evidencing remarkable fertility, is not always present in mankind. Periods of sexual inertia, symbolised by the loss of testes in the Uranus glyph, are part of the tortuous expression of man, in which the sexuality is suppressed for scores of lives in order to build up the potential for spurts of creativeness. The key to Uranian influences as they apply to the disciple may be better understood if the glyph is inverted so that the ‘loop of magic’, now the head and neck, is pointed to heaven, where the powers of Uranus are again expressed, but in their highest application.

Trong phù hiệu Sao Thiên Vương có cấu trúc đơn lẻ treo lủng lẳng của dương vật không có tinh hoàn, và điều này làm cho phù hiệu trở nên vô cùng thích đáng. Người ta không mấy biết rằng thời kỳ sáng tạo tình dục dữ dội của nhân loại hiện đang biểu thị trên Địa cầu, với sự gia tăng khổng lồ của dân số chứng thực mức độ mắn đẻ đáng kinh ngạc, không phải lúc nào cũng hiện diện nơi loài người. Các thời kỳ trơ ì tình dục, biểu tượng bởi sự mất tinh hoàn trong phù hiệu Sao Thiên Vương, là một phần của biểu lộ quanh co của loài người, trong đó tính dục bị đè nén qua hàng chục đời để tích lũy tiềm năng cho những đợt bùng phát sáng tạo. Chìa khóa cho ảnh hưởng Thiên Vương như chúng áp dụng nơi người đệ tử có thể được hiểu tốt hơn nếu phù hiệu được đảo ngược để ‘vòng phép thuật’, giờ là đầu và cổ, chỉ lên trời, nơi các quyền năng của Sao Thiên Vương một lần nữa được biểu lộ, nhưng trong ứng dụng cao nhất của chúng.

Uranus seldom acts on his own. He needs alliances with other energising planets, otherwise he is just a ‘flash in the pan’. This is why he becomes increasingly effective with spiritual unfoldment as more and more esoteric rulers feed him with their qualities, for he is, above all, the ultimate deterrent.

Sao Thiên Vương hiếm khi hành động một mình. Nó cần liên minh với các hành tinh cấp năng khác, nếu không nó chỉ là một ‘tia lóe trong chảo mỡ’. Đây là lý do nó trở nên ngày càng hiệu quả cùng với sự khai mở tinh thần khi càng có nhiều chủ tinh nội môn nuôi nó bằng các phẩm tính của họ, vì trên hết, nó là lực răn đe tối hậu.

In the highly developed, Uranus can express the energy of Mars, the courage of Earth, the perception of Neptune, the exhilaration of Vulcan retrograde, the cyclicity of the Moon, etc., all at once. Hence its ‘magical’ properties. Equally so, the propensity for misuse of these qualities can occur when there is slackness in the native. Uranus likes a taut, disciplined, undeviating and, above all, integrated personality through which to work but rarely obtains it because of the immense diffusiveness of the Third Ray that dominates Libra.

Nơi những người phát triển cao, Sao Thiên Vương có thể biểu lộ năng lượng của Sao Hỏa, lòng can đảm của Trái Đất, trực kiến của Sao Hải Vương, hứng khởi của Vulcan nghịch hành, tính chu kỳ của Mặt Trăng, v.v., cùng một lúc. Do đó các thuộc tính ‘huyền thuật’ của nó. Tương tự, khuynh hướng lạm dụng các phẩm tính này có thể xảy ra khi có sự lơi lỏng nơi đương số. Sao Thiên Vương ưa một phàm ngã căng cứng, kỷ luật, không chệch hướng và trên hết là tích hợp để hoạt động qua đó, nhưng hiếm khi đạt được điều này vì sự tản mạn khổng lồ của Cung Thứ Ba vốn chi phối Thiên Bình.

The difficulty with expression of Uranian energies at the present is not that there are too few individuals who can respond to him, but rather that these individuals contain the seed of genius (and there are millions of them), yet lack the ‘phallus’ or psycho-spiritual qualities to implant and cultivate that seed. Genius is there, but in far too many, the personality is bankrupt and destitute of the potent energies of this planet and its expression through the other planets in the horoscope.

Khó khăn với sự biểu lộ các năng lượng Thiên Vương hiện thời không phải vì quá ít cá nhân có thể đáp ứng với nó, mà đúng hơn vì những cá nhân này chứa hạt giống thiên tài (và có hàng triệu người như thế), nhưng lại thiếu ‘dương căn’ hay các phẩm tính tâm-lý-tinh thần để gieo và vun bồi hạt giống ấy. Thiên tài có đó, nhưng ở quá nhiều người, phàm ngã lại phá sản và kiệt quệ những năng lượng hùng hậu của hành tinh này cùng sự biểu lộ của nó qua các hành tinh khác trong lá số.

Uranus Retrograde—Sao Thiên Vương nghịch hành

Instead of spinning like a top, the planet Uranus lies on its side and rolls about in its orbit. Its five moons appear to move backward, even though they move in a normal fashion with regard to the planet itself. It is hardly surprising, therefore, that to the eighteenth century astrologers who welcomed it into their perspective, Uranus came to stand for all that is original and unconventional.

Thay vì quay như con vụ, hành tinh Sao Thiên Vương nằm nghiêng và lăn tròn trên quỹ đạo của mình. Năm vệ tinh của nó dường như chuyển động ngược, dù chúng chuyển động bình thường xét theo hành tinh. Vì vậy, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi đối với các nhà chiêm tinh thế kỷ mười tám, những người đã đón nhận nó vào viễn cảnh của mình, Sao Thiên Vương trở thành biểu tượng cho tất cả những gì nguyên thủy và phi quy ước.

In the astrological thinking of the time, it became the planet of change and disruption, associated with individuality, humanitarianism, revolution, freedom, sudden upheavals, chaos, the unexpected, instanta-neous insights, and anything that was radical, different or unusual. Its influence was contrasted to the rigidity and conservatism of Saturn. The iconoclastic effect of Uranus was seen to provide a fresh momentum that could break down attitudes or situations which had become concretised under the harsh Saturnian principles of order and control. It was associated with progressive collective trends which challenge the status quo, stimulating fresh and original thought and action, and a reluctance to conform to traditional and conventional patterns of behaviour. Hence its association with reform, democracy, civil liberties and even anarchy. 21st century astrology, however, takes the majority of these qualities and places them under the retrograde motion of Uranus.

Trong tư duy chiêm tinh học của thời ấy, nó trở thành hành tinh của biến đổi và đột biến, gắn với tính cá biệt, nhân bản chủ nghĩa, cách mạng, tự do, biến động bất ngờ, hỗn loạn, điều không thể đoán trước, trực giác tức khắc, và bất cứ gì có tính cấp tiến, khác lạ hay dị thường. Ảnh hưởng của nó được đặt trong thế đối chiếu với sự cứng nhắc và bảo thủ của Sao Thổ. Hiệu ứng phá tượng của Sao Thiên Vương được xem như đem lại một xung lực tươi mới có thể phá vỡ những thái độ hay tình thế đã bị kết khối dưới các nguyên tắc khắc nghiệt của trật tự và kiểm soát kiểu Thổ tinh. Nó được gắn với các xu thế tập thể tiến bộ thách thức hiện trạng, kích thích tư duy và hành động tươi mới, nguyên sơ, và sự miễn cưỡng tuân theo các khuôn mẫu hành vi truyền thống, quy ước. Do đó mới có sự liên hệ của nó với cải cách, dân chủ, tự do dân sự và thậm chí vô chính phủ. Tuy nhiên, chiêm tinh học thế kỷ 21 lại gom đa phần những phẩm tính này và quy chúng về chuyển động nghịch hành của Sao Thiên Vương.

Whenever we consider the qualities of a planet, we should always take into account its relative motion, which can be direct, stationary, or retrograde. This is the phenomenon in which a planet, from the viewpoint of a person on the Earth, appears to slow down, become stationary, and then go backwards, in what astrologers call retrograde motion, before again going direct. The process is an optical illusion, comparable to that of being in a train overtaken by another slightly faster one, giving the false sensation of moving backwards.

Bất cứ khi nào xét đến các phẩm tính của một hành tinh, chúng ta luôn cần lưu tâm đến chuyển động tương đối của nó: có thể thuận hành, đứng yên, hoặc nghịch hành. Đây là hiện tượng trong đó, từ quan điểm của người quan sát trên Trái Đất, một hành tinh dường như chậm lại, đứng yên rồi đi lùi trong cái mà các nhà chiêm tinh gọi là chuyển động nghịch hành, trước khi trở lại thuận hành. Quá trình này là một ảo giác quang học, tương tự như khi ta đang ở trên một đoàn tàu bị một đoàn tàu khác nhanh hơn chút đỉnh vượt qua, khiến ta có cảm giác sai lầm là mình đang lùi lại.

The retrograde effect is important and is one which we which must always bear in mind, because it can dramatically ‘reverse’ the expression of a planet. It suggests, fittingly, something that is indirectly rather than directly expressed, or implied rather than real. It often stimulates a figurative expression of a planets influence. For instance, we know that Uranus, through Libra, rules the head and shoulders. When Uranus is retrograde, this is expressed figuratively, suggesting that the individual can stand ‘head and shoulders’ above everyone else, not so much through physical stature, but through some unique quality or ability.

Hiệu ứng nghịch hành là quan trọng và là điều chúng ta phải luôn ghi nhớ, vì nó có thể ‘đảo chiều’ một cách mạnh mẽ sự biểu lộ của một hành tinh. Nó gợi ý, rất thích đáng, điều gì đó được biểu đạt gián tiếp hơn là trực tiếp, hàm ý hơn là thực hữu. Nó thường kích thích một cách biểu đạt ẩn dụ ảnh hưởng của hành tinh. Chẳng hạn, chúng ta biết Sao Thiên Vương, qua Thiên Bình, cai quản phần đầu và vai. Khi Sao Thiên Vương nghịch hành, điều này được diễn đạt theo nghĩa ẩn dụ, gợi rằng cá nhân có thể đứng ‘cao hơn đầu và vai’ so với mọi người khác, không phải nhờ vóc dáng thể chất, mà nhờ một phẩm chất hay năng lực độc đáo nào đó.

00011.jpeg

We know that Uranus, as the ruler of Libra, is concerned with those things which are the same; flat, indistinguishable, similar, horizontal, or not diverging. We can also think of the prefix ‘homo’, from the Greek, meaning ‘the same’, which gives us words like homogenous, homosexual, homochromous, homo-thermal, homeostasis, etc. In its retrograde state, however, Uranus rules things which are similar but somehow different enough to be noteworthy.

Chúng ta biết Sao Thiên Vương, với tư cách là chủ tinh của Thiên Bình, liên quan đến những gì đồng nhất: phẳng, không phân biệt, tương tự, nằm ngang, hoặc không phân kỳ. Ta cũng có thể nghĩ đến tiền tố ‘homo’ từ tiếng Hy Lạp, nghĩa là ‘giống nhau’, cho ra các từ như đồng nhất, đồng tính, đồng sắc, đồng nhiệt, cân bằng nội môi, v.v. Tuy nhiên, ở trạng thái nghịch hành, Sao Thiên Vương lại cai quản những gì tương tự nhưng khác biệt vừa đủ để đáng lưu ý.

This is the dissimilarity that invokes comments like ‘eccentric’, ‘extraordinary’ or ‘bizarre’. In direct motion, Uranus suggests rows and rows of machines, houses or fields which are all the same; mediocre, neither good nor bad. The same planet, retrograde, invites one homeowner to re-roof his house in a different way or paint it a different colour; it is the same type of house but it differs, like a field of bright rape amongst wheatfields.

Đó là sự bất đồng dạng khơi dậy những nhận xét như ‘lập dị’, ‘phi thường’ hay ‘kỳ quái’. Khi thuận hành, Sao Thiên Vương gợi nên những dãy dài máy móc, nhà cửa hoặc cánh đồng đều giống nhau; tầm thường, chẳng tốt cũng chẳng xấu. Cùng hành tinh ấy, khi nghịch hành, sẽ mời gọi một chủ nhà lợp lại mái theo cách khác hoặc sơn nó màu khác; vẫn là cùng một kiểu nhà nhưng có chỗ khác, như một thửa cải vàng rực giữa các cánh đồng lúa mì.

It is probably because the unusual and disruptive qualities of Uranus retrograde stand out so much that orthodox astrologers have associated them with the planet’s direct action, per se. But Uranus tends towards a sameness, a uniformity, whereas Uranus retrograde expresses its uniqueness, its individuality within that sameness.

Có lẽ vì những phẩm chất dị thường và gây xáo trộn của Sao Thiên Vương nghịch hành nổi bật đến mức các nhà chiêm tinh chính thống đã gán chúng cho hành động thuận hành của hành tinh này như thể bản chất. Nhưng Sao Thiên Vương thiên về sự đồng nhất, một tính nhất dạng, trong khi Sao Thiên Vương nghịch hành lại biểu lộ tính độc nhất, tính cá biệt của nó ngay trong sự đồng nhất ấy.

William Herschel, who discovered Uranus, was a musician by profession, and practised astronomy only as a hobby. He managed, however, to become one of England’s most renowned astronomers. His ingenuity in the invention and manufacture of telescopes was unparalleled and he first saw Uranus through a seven-foot telescope which he had designed and made himself. The astrologer John Varley, noted eccentric and friend of William Blake, was the first to observe the effects of the transits of Uranus, and was another inventive and peculiar individual suggestive of the qualities of Uranus in retrograde motion. The eccentric inventor and his love of gadgets is typical of this planet in retrograde motion. Many of the devices that he produces appear bizarre or weird and find no apparent use, but a few will unexpectedly fill some need and revolutionise the lives of their users.

William Herschel, người khám phá Sao Thiên Vương, vốn là một nhạc sĩ chuyên nghiệp và chỉ thực hành thiên văn như một sở thích. Tuy vậy, ông đã trở thành một trong những nhà thiên văn lừng danh nhất nước Anh. Tài khéo léo của ông trong sáng chế và chế tạo kính thiên văn là vô song, và ông lần đầu nhìn thấy Sao Thiên Vương qua một kính thiên văn dài bảy feet do chính ông thiết kế và chế tạo. Nhà chiêm tinh John Varley, một người lập dị có tiếng và là bạn của William Blake, là người đầu tiên quan sát các hiệu ứng của những lần quá cảnh của Sao Thiên Vương, và ông cũng là một cá nhân phát minh, khác thường, gợi nên những phẩm chất của Sao Thiên Vương trong chuyển động nghịch hành. Nhà phát minh lập dị và niềm yêu thích các dụng cụ cơ khí là điển hình của hành tinh này khi nghịch hành. Nhiều thiết bị do ông tạo ra trông kỳ quặc, quái gở và không thấy tác dụng rõ ràng, nhưng vài cái sẽ bất ngờ đáp ứng một nhu cầu nào đó và làm cách mạng hoá cuộc sống của người dùng.

Without an easy means of expression the ingenuity and originality of Uranus retrograde can manifest as idiosyncratic, quirky or capricious behaviour. The desire to be different and unconventional, taken to the extreme, will border on the bizarre and weird. We are all existential in our attitudes, beliefs and notions and these relate to the experiences that we individually have had in our lives. Because some of us have lived only part of our lives our experiences are limited; our attitudes have not yet been fully tested, are not sufficiently ‘weathered’, matured or integrated into the personality. With ordinary experience our outlooks are mundane; with extra-ordinary experience of life, they become extraordinary, even eccentric; and with increasing spiritual awareness added to the personality equation, we are all naturally inclined to become very eccentric indeed.

Khi không có phương tiện biểu đạt thuận lợi, óc sáng chế và tính nguyên thủy của Sao Thiên Vương nghịch hành có thể biểu lộ thành hành vi lập dị, quái chiêu hay thất thường. Khát vọng khác biệt và phi quy ước, nếu đi đến cực đoan, sẽ giáp ranh với kỳ quái và quái lạ. Tất cả chúng ta đều mang thái độ, niềm tin và quan niệm mang tính hiện sinh, và chúng liên hệ với các kinh nghiệm mà mỗi người đã có trong đời. Vì có người mới chỉ sống một phần đời, nên kinh nghiệm còn hạn chế; các thái độ chưa được thử thách đầy đủ, chưa đủ ‘sương gió’, chín muồi hay được tích hợp vào phàm ngã. Với kinh nghiệm thông thường, cái nhìn của ta là trần tục; với kinh nghiệm phi thường của đời sống, nó trở nên phi thường, thậm chí lập dị; và với nhận biết tinh thần gia tăng được đưa vào phương trình phàm ngã, tự nhiên tất cả chúng ta sẽ trở nên rất lập dị.

When afflicted, Uranus retrograde can produce the impatient eccentric, always at loggerheads with custom and fighting unnecessary battles with tradition and authority. His demand for freedom may lead him into anarchy and revolution. Uranus wants things smooth running and peaceful, but Uranus retrograde is disruptive and creates sudden upheaval and chaos. In the unintegrated, self-motivated individual this mani-fests as law-breaking and rebellion without due cause, which is an afflicted and perverted use of Uranian force.

Khi bị kích nghịch, Sao Thiên Vương nghịch hành có thể tạo ra kẻ lập dị nóng nảy, luôn xung đột với tập tục và đánh những trận chiến không cần thiết với truyền thống và thẩm quyền. Đòi hỏi tự do của ông có thể dẫn tới vô chính phủ và cách mạng. Sao Thiên Vương muốn mọi thứ vận hành trơn tru và yên ổn, nhưng Sao Thiên Vương nghịch hành thì gây xáo trộn, tạo nên biến động bất ngờ và hỗn loạn. Ở một cá nhân chưa được tích hợp, bị phàm ngã tự thúc đẩy, điều này biểu lộ thành phá luật và nổi loạn vô cớ, tức là một việc sử dụng năng lực Thiên Vương bị kích nghịch và xuyên tạc.

Uranus retrograde, therefore, produces qualities which are complimentary and even opposite to its usual influence. We have seen that Uranus governs the automatic, co-ordinated, smooth running of machinery, whether mechanical, electrical or social. This is achieved typically through routine organisation and co-ordination, such as that of operators and their machines within production lines. Our whole society now greatly depends on the setting in motion of the vast array of automatic machines which are incorporated into the western way of life and which make it smooth-running and peaceable. Uranus certainly gave man the potential to invent, to automate, to transport rapidly, and to deal with immensely complex problems without taxing his brain, but it is Uranus retrograde that turns on these processes for as long as we need them—we say that it ‘gets things going’. This role may be performed by a political activist, a machine operator, or an automatic device. From the sounding of the alarm clock in the morning, that starts the daily routine, to the automatic switching on of the electric blanket in the evening, the efficient running of our daily lives has become increasingly interspersed with a multitude of devices that express Uranus retrograde.

Vậy nên, Sao Thiên Vương nghịch hành tạo ra những phẩm tính bổ sung, thậm chí đối nghịch với ảnh hưởng thông thường của nó. Chúng ta đã thấy Sao Thiên Vương cai quản sự vận hành tự động, phối hợp, trơn tru của máy móc, dù cơ khí, điện lực hay xã hội. Điều này thường đạt được qua tổ chức và phối hợp theo nếp, như sự phối hợp giữa công nhân vận hành và máy móc trong các dây chuyền sản xuất. Toàn xã hội chúng ta giờ đây phụ thuộc rất nhiều vào việc vận hành cả một dàn máy tự động mênh mông đã được tích hợp vào lối sống phương Tây và khiến nó vận hành trơn tru, yên ổn. Chắc chắn Sao Thiên Vương đã trao cho con người tiềm năng phát minh, tự động hoá, vận chuyển nhanh, và xử lý những vấn đề cực kỳ phức tạp mà không làm quá tải não bộ, nhưng chính Sao Thiên Vương nghịch hành bật lên những quy trình ấy chừng nào ta còn cần — chúng ta nói rằng nó ‘làm cho mọi thứ chạy’. Vai trò này có thể được đảm nhiệm bởi một nhà hoạt động chính trị, một người vận hành máy, hoặc một thiết bị tự động. Từ tiếng chuông báo thức buổi sáng khởi động nhịp sinh hoạt hằng ngày, đến việc tự động bật chăn điện buổi tối, sự vận hành hiệu quả đời sống thường nhật của chúng ta ngày càng đan xen với vô số thiết bị biểu lộ Sao Thiên Vương nghịch hành.

These are very simple processes which already have sunk to almost the level of the subconscious in our everyday lives. They make us totally different from mankind two hundred years ago in creative capacity, and represent a significant part of the immense spectrum of the emerging consciousness of man. To the ancients they would certainly have seemed wondrous, magical and even sacred.

Đó là những quy trình rất đơn giản đã gần như lắng xuống tới tầng tiềm thức trong đời sống hằng ngày. Chúng khiến chúng ta hoàn toàn khác với nhân loại cách đây hai trăm năm về năng lực sáng tạo, và đại diện một phần đáng kể của quang phổ mênh mông thuộc tâm thức đang trỗi dậy của con người. Đối với người xưa, chắc chắn chúng sẽ có vẻ kỳ diệu, thần kỳ và thậm chí thiêng liêng.

We have seen that Libra is suggestive morphologically of a sun on the horizon and of the extraordinary peace and calmness which settles on the land as the sun sets. Uranus retrograde is indicative of changes that occur during this sensitive time, especially through things like meditation, stand-to, changes of shift, the switching on of electric lights to replace nature’s light, etc. These represent subtle changes in what is basically the same environment.

Chúng ta đã thấy Thiên Bình gợi hình, về mặt hình thể, một mặt trời trên đường chân trời cùng sự bình an tĩnh lặng khác thường trùm xuống mặt đất khi mặt trời lặn. Sao Thiên Vương nghịch hành chỉ thị những biến chuyển xảy ra trong thời khắc nhạy cảm này, đặc biệt qua những điều như thiền định, báo động sẵn sàng, đổi ca, bật đèn điện để thay cho ánh sáng tự nhiên, v.v. Đây là những biến đổi tinh tế trong một môi trường cơ bản vẫn như nhau.

Uranus’s relationship to the law, through Libra, is the most common feature of this planet. Uranus direct is law-abiding and likes to do things ‘by the book’, an attitude which promotes efficiency but at times can produce some absurd judgements that are not at all in line with the original intention of the law. As Dickens wrote in Oliver Twist: “‘If the law supposes that,’ said Mr Bumble . . . ‘the law is a ass—a idiot.’ ”

Mối liên hệ của Sao Thiên Vương với luật, qua Thiên Bình, là nét phổ biến nhất của hành tinh này. Sao Thiên Vương thuận hành là tuân luật và thích làm mọi thứ ‘đúng sách vở’, một thái độ thúc đẩy hiệu quả nhưng đôi lúc có thể tạo ra những phán quyết lố bịch, hoàn toàn không ăn khớp với ý định ban đầu của luật. Như Dickens viết trong Oliver Twist: “‘Nếu luật pháp giả định như vậy,’ ông Bumble nói . . . ‘luật pháp là một con lừa — một thằng ngốc.’”

Uranus likes to ‘lay down the law’ and will enforce it to the letter. It suggests Atma, supreme will or Divine Will exercised to the fullest, where authority is undoubted, with an element of harshness. It is at its worst when it is conjunct a planet like Mars, making it ‘hasty to judge’, but Uranus retrograde with Mars ‘reserves judgement’ (blocks or halts it temporarily; is not quick to judge). In this regard, an excellent example of Uranus retrograde is expressed in Shakespeare’s Sonnet 94:

Sao Thiên Vương thích ‘đặt luật’ và sẽ cưỡng hành đến từng chữ. Nó gợi Atma, ý chí tối thượng hay Thiêng Ý được thi triển trọn vẹn, nơi thẩm quyền là bất khả nghi, kèm một yếu tố khắc nghiệt. Nó tệ nhất khi đồng vị với một hành tinh như Sao Hỏa, khiến nó ‘vội vã phán xét’, nhưng Sao Thiên Vương nghịch hành đi với Sao Hỏa thì ‘giữ lại phán quyết’ (chặn hoặc tạm dừng; không vội phán xét). Về điểm này, một ví dụ tuyệt hảo về Sao Thiên Vương nghịch hành được thể hiện trong Sonnet 94 của Shakespeare:

They that have the power to hurt and will do none,That do not do the thing they most do show . . .

Những kẻ có quyền năng gây hại mà chẳng hại ai, Những kẻ không làm điều họ phô bày nhiều nhất . . .

The retrograde, therefore, suggests the spirit of the law, as well as laws that have spiritual meaning or implications, although they may have nothing to do with the law of the land. All of us tend to evolve our own set of standards but when we tread the Path, we evolve spiritual values which change from time to time with spiritual growth and increased awareness, and such values set us apart or cause us to differ from others especially the materialists of this world. Spiritual man has guidelines of his own as regards his conduct and disciplines:

Bởi vậy, nghịch hành gợi tinh thần của luật, cũng như những luật có ý nghĩa hay hàm ý tinh thần, dẫu có thể chẳng liên can gì đến luật pháp quốc gia. Tất cả chúng ta đều có xu hướng phát triển bộ chuẩn mực riêng, nhưng khi bước đi trên Con Đường, chúng ta phát triển các giá trị tinh thần, thay đổi theo thời gian song hành với tăng trưởng tinh thần và nhận biết sâu hơn, và những giá trị như thế khiến ta tách biệt hay khác với người khác, nhất là những người duy vật của thế gian này. Con người tinh thần có các chỉ dẫn riêng về hạnh kiểm và kỷ luật của mình:

Who to himself is law, no law doth need,Offends no law, and is a king indeed .—George Chapman, Bussy D’Ambois.

Ai tự mình là luật, chẳng cần luật nào, Không xúc phạm luật nào, và quả là một vị vua. —George Chapman, Bussy D’Ambois.

The laws of the inner world, therefore, come under Uranus retrograde. When we tread the Path, for instance, we have to embrace the law of occult obedience—adherence to the injunctions of those who are our Elder Brothers. We soon learn to impose a law of silence on ourselves as regards some of our inner experiences or the spiritual confidences of others, which to the non-esoteric may seem cranky, weird or even indicative of psychosis.

Vậy nên, các luật của nội giới thuộc về Sao Thiên Vương nghịch hành. Chẳng hạn, khi chúng ta bước đi trên Con Đường, ta phải chấp nhận luật tuân phục huyền môn — tuân theo các huấn lệnh của các Huynh Trưởng của chúng ta. Chúng ta sớm học cách tự áp đặt luật im lặng đối với chính mình về một số kinh nghiệm nội tâm hay những điều tâm sự tinh thần của người khác, điều đối với người không huyền môn có thể có vẻ gàn dở, kỳ quặc hay thậm chí hàm ý loạn thần.

Those who have Uranus direct in their horoscope should remember that there will be many occasions when transiting Uranus will turn retrograde and this will give them an opportunity to experience some of its qualities. An ephemeris, which gives the daily positions of the planets in the signs of the zodiac, is useful in this respect. If you know in advance that Uranus is going to go retrograde then you can prepare and make plans to take full advantage of this period. If you have, for instance, Uranus afflicted in your horoscope, and you are struggling to get something going in your life, a period when Uranus is retrograde and well-aspected would be a good time to attempt this.

Những ai có Sao Thiên Vương thuận hành trong lá số chiêm tinh của mình nên nhớ rằng sẽ có nhiều dịp Sao Thiên Vương quá cảnh chuyển sang nghịch hành, và điều này cho họ cơ hội trải nghiệm một số phẩm tính của nó. Một niên lịch thiên văn, vốn cung cấp vị trí hằng ngày của các hành tinh trong các dấu hiệu hoàng đạo, sẽ hữu ích ở khía cạnh này. Nếu các bạn biết trước Sao Thiên Vương sắp nghịch hành, các bạn có thể chuẩn bị và lập kế hoạch để tận dụng trọn vẹn giai đoạn này. Chẳng hạn, nếu các bạn có Sao Thiên Vương bị kích nghịch trong lá số chiêm tinh, và các bạn đang chật vật để ‘làm cho việc gì đó chạy’ trong đời sống, một thời kỳ Sao Thiên Vương nghịch hành và được tạo góc hợp thuận lợi sẽ là lúc tốt để thử.

Keywords for Uranus Retrograde—Từ khóa cho Sao Thiên Vương nghịch hành

Unofficial; informal; unpunctual; aberrant; wayward; irregular; imprecise; uneven; unbalanced; unusual; idiosyncratic; unconventional; eccentric; cranky; bizarre; weird; abnormal; queer; does not fit into; different; unequal; refusal to conform; rebellious; challenges the status quo; changes social structures; revolutionary; destroyer of old concepts and structures; set in motion; gets things going; unmarried; common law wife or husband.

Không chính thức; không hình thức; không đúng giờ; lệch lạc; ngang ngạnh; bất quy tắc; không chính xác; không đều; mất cân bằng; bất thường; độc dị; phi quy ước; kỳ dị; gàn dở; quái lạ; kỳ quái; bất thường; dị biệt; không khớp với; khác biệt; không ngang bằng; từ chối tuân thủ; nổi loạn; thách thức hiện trạng; thay đổi các cấu trúc xã hội; cách mạng; phá bỏ những quan niệm và cấu trúc cũ; khởi động; làm cho mọi việc vận hành; chưa kết hôn; vợ hoặc chồng sống chung không hôn thú.

LIBRA: by ROBERTO ASSAGIOLI—THIÊN BÌNH: do ROBERTO ASSAGIOLI VIẾT

Roberto Assagioli, MD, of Florence, Italy, was the world authority on psychosynthesis and made many valuable contributions to the field of existential psychology during the past half-century (Dr. Assagioli died in August 1974). His was one of the keenest minds ever to probe the depths of esoteric astrology and psychology. Preferring to keep his orthodox teachings quite distinct from his work in the esoteric sciences, Dr. Assagioli published his observations on the Ancient Wisdom under the pen name of Considerator in my journal ‘Aquarius Rising’. So valuable are these fragments of his work that I am including the one on Libra herein and must reaffirm the valuable contribution of Alice Bailey to esoteric astrology:

Roberto Assagioli, bác sĩ y khoa, ở Florence, Ý, là nhà thẩm quyền hàng đầu thế giới về tổng hợp tâm lý và đã có nhiều đóng góp quý giá cho lĩnh vực tâm lý học hiện sinh trong nửa thế kỷ qua (Tiến sĩ Assagioli qua đời vào tháng Tám năm 1974). Ông là một trong những trí tuệ sắc bén nhất từng thâm nhập chiều sâu của chiêm tinh học nội môn và tâm lý học nội môn. Thích giữ cho các giáo huấn chính thống tách biệt hẳn với công trình trong các khoa học huyền môn, Tiến sĩ Assagioli đã công bố những quan sát của ông về Minh triết Cổ dưới bút danh Considerator trên tạp chí ‘Aquarius Rising’ của tôi. Những mảnh bài viết của ông quý giá đến mức tôi đưa vào đây phần viết về Thiên Bình, và tôi phải tái khẳng định đóng góp giá trị của Alice Bailey cho chiêm tinh học nội môn:

The sign of Libra is peculiar and different from the others because, in reference to man, it does not represent primarily a specific quality, but rather a condition and a stage. Therefore, in order to understand the nature and function of Libra and to co-operate wisely with it, we must first understand what equilibrium really is. A close consideration of its meaning will make us realise that there are two kinds of equilibrium: one lower and static, another high and dynamic. The lack of this distinction is the cause of some of the frequent glamours and illusions which unnecessarily complicate individual and collective life and hamper its evolutionary progress:

Dấu hiệu Thiên Bình là đặc dị và khác với các dấu hiệu khác vì, xét về con người, nó không chủ yếu đại diện cho một phẩm chất riêng, mà là một trạng thái và một giai đoạn. Do đó, để hiểu bản tính và chức năng của Thiên Bình và để hợp tác một cách khôn ngoan với nó, trước hết chúng ta phải hiểu cân bằng thật sự là gì. Suy xét kỹ ý nghĩa của nó sẽ khiến chúng ta nhận ra có hai loại cân bằng: một thấp và tĩnh, một cao và động. Sự thiếu vắng phân biệt này là nguyên nhân của một số huyễn tưởng và ảo ảnh thường gặp, vốn không cần thiết làm phức tạp đời sống cá nhân và tập thể và cản trở tiến trình tiến hóa của nó:

It is a sign of balancing, of careful weighing of values and of achieving the right equilibrium between the pairs of opposites.

Đây là dấu hiệu của cân xứng, của sự cân nhắc thận trọng các giá trị và của việc đạt được cân bằng đúng đắn giữa các cặp đối cực.

The lower equilibrium can be characterised by the word compromise. This is often a relatively better position and attitude than that of the extremes, or than a condition of constant oscillation but it is apt to induce a state of negativity, of inertia, and, in any case, it gives no incentive to progress. It may result in a life spent in a condition of static unresponsiveness.

Cân bằng thấp có thể đặc trưng bằng từ thỏa hiệp. Điều này thường là vị thế và thái độ tương đối tốt hơn so với các cực đoan, hoặc so với một tình trạng dao động liên tục, nhưng nó dễ cảm hóa một trạng thái tiêu cực, trì trệ, và dù sao đi nữa, nó không cho động lực để tiến bộ. Nó có thể dẫn đến một đời sống trôi qua trong tình trạng dửng dưng tĩnh tại.

The higher equilibrium often brings about a living, dynamic synthesis. This is clearly demonstrated in the admirable equilibrium of a healthy human body. In it a series of antagonistic functions, such as those of the various endocrine glands and, in general, the opposing processes of anabolism (rebuilding of the tissues) and catabolism (the use of their substance in external activities), are finely regulated and aptly utilised by the higher nervous centres.

Cân bằng cao thường đem lại một tổng hợp sống động, động. Điều này được biểu hiện rõ trong sự cân bằng tuyệt hảo của một thân thể người khỏe mạnh. Ở đó, một loạt các chức năng đối kháng, như chức năng của các tuyến nội tiết khác nhau và, nhìn chung, các quá trình đối nghịch của đồng hóa (tái tạo mô) và dị hóa (sử dụng chất của chúng trong các hoạt động bên ngoài), được điều chỉnh tinh tế và được các trung tâm thần kinh cao vận dụng khéo léo.

The higher equilibrium consists in the control (not suppression, nor neutralisation) of the opposing forces, in their wise regulation and use for constructive purposes. In this case the controlling and regulating principle dwells on and operates from a higher level than that on which the two opposites are found. This is symbolised in the scales used by the Greeks and Romans and incorporated into their astrological symbology centuries ago.

Cân bằng cao là việc kiểm soát (không phải đàn áp, cũng không phải làm trung tính) các lực đối nghịch, điều chỉnh khôn ngoan chúng và sử dụng cho mục đích xây dựng. Trong trường hợp này, nguyên lý kiểm soát và điều hợp cư ngụ và vận hành từ một mức cao hơn mức nơi hai đối cực hiện hữu. Điều này được biểu trưng trong cán cân dùng bởi người Hy Lạp và La Mã và đã được đưa vào biểu tượng học chiêm tinh của họ từ nhiều thế kỷ trước.

The lower equilibrium of compromise or neutralisation can be represented by a point in the middle of a line:

Cân bằng thấp của thỏa hiệp hay làm trung tính có thể được biểu diễn bởi một điểm ở giữa một đường thẳng:

00012.jpeg

The higher equilibrium corresponds instead to a triangular relationship shown below:

Còn cân bằng cao tương ứng với một quan hệ tam giác như hình dưới:

00013.jpeg

The triangle always represents stability as well as the concept of synthesis of its three points. Thus:

Hình tam giác luôn đại diện cho sự ổn định cũng như khái niệm tổng hợp của ba đỉnh. Như:

God as Father, Son and Holy Ghost.

Thượng Đế như Cha, Con và Thánh Linh.

Life as Spirit, Mind and Matter, etc.

Sự sống như Tinh thần, Thể trí và Vật chất, v.v.

Some further examples:

Một vài ví dụ bổ sung:

00014.jpeg

Humanity as a whole is at present grappling in a dramatic way with the problem of equilibrium in its political and social structures. The two extremes are represented on one side by rugged individualism (or by separative selfish groups), and by totalitarianism (enforced conformity) on the other. Various attempts to compromise in the form of intermediate solutions are being made by the presence of democratic governments. The higher solution will be represented by new kinds of co-operative organisations of free individuals forming human groups of various grades and sizes, culminating in a world federation or government—the psychosynthesis of humanity.

Nhân loại như một toàn thể hiện đang vật lộn theo cách kịch tính với vấn đề cân bằng trong các cấu trúc chính trị và xã hội của mình. Hai cực đoan được biểu hiện một phía bởi chủ nghĩa cá nhân cứng rắn (hoặc bởi các nhóm ích kỷ phân ly), và phía kia bởi chủ nghĩa toàn trị (sự đồng dạng bị cưỡng bức). Nhiều nỗ lực thỏa hiệp dưới dạng các giải pháp trung gian đang được thực hiện nhờ sự hiện diện của các chính phủ dân chủ. Giải pháp cao sẽ được biểu hiện bằng các hình thái mới của tổ chức hợp tác của những cá nhân tự do tạo thành các nhóm người ở nhiều cấp bậc và quy mô, lên tới một liên bang hay chính phủ thế giới — tức là tổng hợp tâm lý của nhân loại.

The importance of understanding ‘the secret of polarity’ and of balancing the opposite forces of all kinds and on all levels is due to the fact that our solar system is one of intrinsic duality. The theme of duality, therefore, runs through the whole story of man’s development. The major task of man is the regulation of the pairs of opposites.

Tầm quan trọng của việc hiểu ‘bí quyết của tính cực’ và của việc cân bằng các lực đối nghịch thuộc mọi loại và trên mọi tầng là do thực tế hệ Mặt Trời của chúng ta là một hệ vốn có nhị nguyên tính. Vì thế, chủ đề nhị nguyên xuyên suốt toàn bộ câu chuyện phát triển của con người. Nhiệm vụ lớn của con người là điều hợp các cặp đối cực.

The higher equilibrium can be conceived of in a still more dynamic manner. From the evolutionary angle, it is not a ‘point’ but a path, an upward path, the narrow razor-edged path which runs between the pair of opposites and which—if it is to be safely trodden—requires the development of a sense of values and the power to utilise rightly the balancing, analytical faculty of mind. This brings us to consider an important characteristic of the Libra experience. At that point man is confronted by a decision, a choice. These decisions can be of a different nature and level, but they represent specifically the ‘Arjuna experience’. A study of the Bhagavad­-Gìtâ and of Arjuna’s problem when he sat down in despair between the two opposing armies will be illuminating in connection with Libra.

Cân bằng cao còn có thể được hình dung theo cách còn động hơn nữa. Từ góc nhìn tiến hóa, nó không phải là một ‘điểm’ mà là một lộ trình, một lộ trình đi lên, con đường hẹp như lưỡi dao cạo chạy giữa cặp đối cực và — nếu muốn bước đi an toàn — đòi hỏi phát triển cảm thức về giá trị và quyền năng vận dụng đúng đắn năng lực cân bằng, phân tích của thể trí. Điều này đưa chúng ta đến việc xét một đặc tính quan trọng của kinh nghiệm Thiên Bình. Ở điểm đó, con người đối diện với một quyết định, một chọn lựa. Những quyết định này có thể thuộc các loại và tầng khác nhau, nhưng chúng đặc thù biểu thị ‘trải nghiệm Arjuna’. Việc nghiên cứu Bhagavad-Gītā và vấn đề của Arjuna khi chàng ngồi sụp xuống trong tuyệt vọng giữa hai đạo quân đối nghịch sẽ đem lại ánh sáng liên quan đến Thiên Bình.

In this condition, the scales tip back and forth in either direction. Hence the importance of this sign in the life expression of the man and hence also its peculiar difficulty: it provides the curious, see-saw experience which proves so distressingly bewildering; first to the man that seeks to be entirely human, but finds within himself impediments and urges which drive him on to something which is higher than the human; and secondly, to the aspirant or the disciple. His focus of interest and his aim is soul life, yet he finds within himself that which ever seeks to draw him back to the old ways, the old habits and the old desires.

Trong tình thế này, cán cân nghiêng qua lại theo cả hai phía. Do đó tầm quan trọng của dấu hiệu này trong biểu lộ đời sống của con người, và cũng bởi thế mà có cái khó riêng của nó: nó đem lại trải nghiệm bập bênh lạ lùng khiến ta hoang mang đến khổ sở; trước hết là với người muốn hoàn toàn là con người, nhưng phát hiện trong chính mình các cản trở và xung lực đẩy mình hướng đến cái gì đó cao hơn nhân loại; và thứ đến là với người nguyện cầu hay đệ tử. Tâm điểm quan tâm và mục đích của y là đời sống linh hồn, vậy mà y lại thấy trong chính mình cái luôn lôi kéo y quay về những lối cũ, thói quen cũ và ham muốn cũ.

In this respect, Libra governs the probationary path, on which the most important choice and decision confronting man in the course of his strictly human evolution has to be made; between following the ordinary course of slow and, in a certain sense, passive development (brought about by the varied life experiences) and that of deliberately treading the upward path of active, conscious, self-induced spiritual development, the ‘travelling back to his source’.

Xét trên phương diện này, Thiên Bình cai quản con đường dự bị, nơi chọn lựa và quyết định quan trọng nhất đối diện con người trong tiến trình tiến hóa thuần túy nhân loại của y phải được thực hiện; giữa việc theo dòng tiến triển chậm rãi và, theo nghĩa nào đó, thụ động (được tạo bởi những trải nghiệm sống đa tạp) và việc cố ý bước đi trên con đường đi lên của phát triển tinh thần chủ động, có ý thức, tự phát khởi, tức là ‘lội ngược dòng về nguồn’.

From the astrological standpoint, man firstly proceeds around the zodiacal wheel of life, from sign to sign, in an anti-clockwise direction, i.e., from Aries to Pisces via Taurus, and then later, as a disciple, clockwise from Pisces to Aries via Aquarius (it should be understood, however, that this does not mean that he reincarnates regularly in each sign successively; it indicates only a general direction or way of progression). A soul might spend several lives in one sign learning a much needed lesson before passing onto the next. The zodiacal wheel provides the mechanism whereby the soul may evolve in the fashion dictated by the individual karma.

Về mặt chiêm tinh học, trước hết con người tiến quanh bánh xe hoàng đạo của đời sống, từ dấu hiệu sang dấu hiệu, theo chiều ngược kim đồng hồ, tức là từ Bạch Dương đến Song Ngư qua Kim Ngưu, rồi sau đó, như một đệ tử, theo chiều thuận kim đồng hồ từ Song Ngư đến Bạch Dương qua Bảo Bình (tuy nhiên cần hiểu rằng điều này không có nghĩa y tái sinh đều đặn ở từng dấu hiệu lần lượt; nó chỉ biểu thị một hướng hay đường tiến nói chung). Một linh hồn có thể dành nhiều kiếp trong một dấu hiệu để học một bài học rất cần thiết trước khi chuyển sang dấu hiệu kế tiếp. Bánh xe hoàng đạo cung cấp cơ chế để linh hồn có thể tiến hóa theo cách được nghiệp riêng của từng cá thể quy định.

In this respect Libra occupies a unique place in the Great Wheel, for it is the energy coming from this sign which controls the ‘hub of the wheel’. This is that point where the twelve zodiacal energies meet and cross. Libra, therefore, controls the moment of the reversal of the wheel in the life of every aspirant. In this reversal, the influence of Saturn plays an important role. Saturn is exalted in Libra because at the point of balance, opportunity comes and a situation is staged which makes a choice and a determination inevitable. It is a choice which has to be made intelligently and upon the physical plane, in the waking brain consciousness.

Về phương diện này, Thiên Bình giữ một vị trí độc nhất trên Đại Luân, vì năng lượng đến từ dấu hiệu này điều khiển ‘trục bánh xe’. Đây là điểm nơi mười hai năng lượng hoàng đạo gặp nhau và giao cắt. Do đó, Thiên Bình điều khiển thời khắc đảo chiều bánh xe trong đời sống của mỗi người nguyện cầu. Trong sự đảo chiều này, ảnh hưởng của Sao Thổ giữ vai trò quan trọng. Sao Thổ vượng tại Thiên Bình vì ở điểm cân bằng, cơ hội đến và một tình huống được dàn dựng khiến một chọn lựa và một quyết đoán trở nên không thể tránh. Đó là một chọn lựa phải được thực hiện một cách thông tuệ và trên cõi hồng trần, trong tâm thức não bộ lúc thức.

Every intelligent choice must be based upon the recognition of some basic principles and general laws and upon their right application to the case in question. This brings us to consider another specific quality and function of Libra; that of law as representing and enforcing justice. Libra exerts this influence both on a wide, solar scale and upon humanity. It regulates the working out of the plan under spiritual and natural law, which is evolutionary in expression. This is the goal of evolution and is steadily revealing the nature of God, for the laws under which this solar system of ours is governed are expressions of God’s quality and character. This is legislation or Libra in activity. There is an individual application for the Initiate. He becomes his own legislator, ruling his conduct wisely, controlling his impulses intellectually and then Libra enables him to balance the material and the spiritual.

Mọi chọn lựa thông tuệ đều phải dựa trên nhận thức về một số nguyên lý căn bản và các luật tổng quát, cùng việc áp dụng đúng đắn chúng vào trường hợp được xét. Điều này đưa chúng ta đến xem xét một phẩm tính và chức năng đặc thù khác của Thiên Bình; đó là luật như đại diện và thực thi công chính. Thiên Bình tác động ảnh hưởng này cả trên quy mô rộng liên hệ thái dương hệ lẫn đối với nhân loại. Nó điều hợp sự triển khai của Thiên Cơ dưới các luật tự nhiên và tinh thần, vốn biểu lộ theo đường tiến hóa. Đây là cứu cánh của tiến hóa và đang dần dần hiển lộ bản tính của Thượng Đế, vì những luật cai quản hệ Mặt Trời của chúng ta là các biểu lộ phẩm chất và đặc tính của Thượng Đế. Đây là lập pháp, hay Thiên Bình trong hoạt động. Có một ứng dụng mang tính cá nhân cho vị đã Điểm đạo. Vị ấy trở thành nhà lập pháp của chính mình, cai trị hạnh kiểm của mình một cách khôn ngoan, kiểm soát các xung động của mình bằng trí năng, và rồi Thiên Bình giúp vị ấy cân bằng vật chất và tinh thần.

Because of the fact that Libra is connected with polarity and has a balancing quality, this sign can be associated more specifically with the problem of sex than can any of the others. This, too, has to be considered esoterically and with a large outlook, aiming at the establishing of a point of equilibrium between the male and the female principles. Another influence exerted by Libra, which is not generally recognised, is that connected with money. It is due to the fact that this sign is closely connected with the Third Ray. It demonstrates as concretised energy and this we call money.

Vì Thiên Bình liên hệ với tính cực và có phẩm chất cân bằng, dấu hiệu này có thể gắn đặc thù với vấn đề tính dục hơn bất kỳ dấu hiệu nào khác. Điều này cũng phải được xét theo nhãn quan nội môn và với cái nhìn rộng, nhắm tới việc thiết lập điểm cân bằng giữa nguyên lý nam và nữ. Một ảnh hưởng khác do Thiên Bình tác động, vốn ít được nhìn nhận, là ảnh hưởng liên quan đến tiền bạc. Điều này do dấu hiệu này liên hệ mật thiết với Cung Ba. Nó được biểu lộ như năng lượng được kết khối, và chúng ta gọi đó là tiền.

The Great Invocation

From the point of Light within the Mind of God

Let light stream forth into the minds of men.

Let Light descend on Earth.

From the point of Love within the Heart of God

Let love stream forth into the hearts of men.

May Christ return to Earth.

From the centre where the Will of God is known

Let purpose guide the little wills of men —

The purpose which the Masters know and serve.

From the centre which we call the race of men

Let the Plan of Love and Light work out.

And may it seal the door where evil dwells.

Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth.

Scroll to Top