
PERSONALITY and PSYCHOLOGY—PHÀM NGÃ và TÂM LÝ HỌC
|
The Sun whose rays are all ablaze with every-living glory |
Mặt Trời, mà các tia của nó đều rực cháy với vinh quang hằng sống |
|
Does not deny his majesty. He scorns to tell a story. |
Không hề phủ nhận uy nghi của mình. Nó khinh việc kể lể một câu chuyện. |
|
He don’t exclaim, ‘I blush for shame, so kindly be indulgent,’ |
Nó chẳng kêu lên: ‘Ta đỏ mặt vì hổ thẹn, xin hãy rộng lòng dung thứ,’ |
|
But fierce and bold in fiery gold he glories all effulgent. |
Mà dữ dội và táo bạo trong vàng lửa, nó rạng ngời trong huy hoàng chói lọi. |
|
I mean to rule the earth as he the sky. |
Ta muốn cai quản Trái Đất như nó cai quản bầu trời. |
|
We really know our worth, the Sun and I. |
Chúng ta thực sự biết giá trị của mình, Mặt Trời và ta. |
|
— Gilbert and Sullivan, The Mikado. |
— Gilbert và Sullivan, Chàng Mikado. |
|
The Sun passes through the sign of Leo during the period July 24th to August 23rd. It is important for newcomers to astrology to realise that the Sun placed in Leo is only one of many ways that this sign can make its mark on us. All of us come under the influence of Leo in varying degree, especially if there is a grouping of planets in this sign, or if it is placed on the ascendant. The following remarks are intended to describe the Leo type in general. |
Mặt Trời đi qua dấu hiệu Sư Tử trong giai đoạn từ ngày 24 tháng Bảy đến ngày 23 tháng Tám. Điều quan trọng đối với những người mới đến với chiêm tinh là nhận ra rằng Mặt Trời ở trong Sư Tử chỉ là một trong nhiều cách mà dấu hiệu này có thể để lại dấu ấn trên chúng ta. Tất cả chúng ta đều chịu ảnh hưởng của Sư Tử ở những mức độ khác nhau, đặc biệt nếu có một nhóm hành tinh trong dấu hiệu này, hoặc nếu nó nằm trên Dấu hiệu mọc. Những nhận xét sau đây nhằm mô tả kiểu người Sư Tử nói chung. |
|
As lord of the heavens, the Sun, ruler of Leo, sheds its life-giving rays on all who move within its orb of influence. People born in this solar sign love to be in command, to be at the centre of things and to be the cynosure of all eyes. They are, after all, the royalty of the zodiac. Regal and imperial, Leos feel they can do no wrong, for they are born to rule, and who are we to doubt them? |
Với tư cách là chúa tể của các tầng trời, Mặt Trời, chủ tinh của Sư Tử, rải những tia ban sự sống của nó lên tất cả những ai chuyển động trong vòng ảnh hưởng của nó. Những người sinh dưới dấu hiệu mặt trời này thích nắm quyền chỉ huy, thích ở trung tâm của mọi việc và thích trở thành tiêu điểm của mọi ánh nhìn. Suy cho cùng, họ là hoàng tộc của Hoàng đạo. Đường bệ và đế vương, người Sư Tử cảm thấy mình không thể sai, vì họ sinh ra để cai trị, và chúng ta là ai mà dám nghi ngờ họ? |
|
Leo is most often remembered as the lion, the king of beasts, a timeless symbol of courage, pride, splendour and dignity. Often accused of being lazy, it is true that Leos love to laze around and bask in the Sun and let others do their work for them – they expect others to do the menial tasks but will keep the important work for themselves. Leos will happily lord it over others if allowed to, but they get good results because they like to set regal standards. Their methods are autocratic and, unlike Aquarius, their complementary sign, they do not believe that all men are created equal. |
Sư Tử thường được nhớ đến như con sư tử, vua của muôn thú, một biểu tượng vượt thời gian của lòng can đảm, niềm kiêu hãnh, sự huy hoàng và phẩm giá. Thường bị buộc tội là lười biếng, quả thật người Sư Tử thích nằm dài và tắm nắng, để người khác làm việc thay họ – họ mong người khác làm những việc lặt vặt nhưng sẽ giữ những việc quan trọng cho riêng mình. Người Sư Tử sẽ vui vẻ ngự trị trên người khác nếu được phép, nhưng họ đạt kết quả tốt vì họ thích đặt ra các chuẩn mực vương giả. Phương pháp của họ mang tính độc đoán và, khác với Bảo Bình, dấu hiệu bổ sung của họ, họ không tin rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng. |
|
Whatever part Leos play in life, it must not go unnoticed. They are natural extroverts, with a strong presence and a vital magnetism. With their innate showmanship and natural charisma, they will arrange things so they are at the centre of whatever is happening, making sure that they are the focus of attention and the source of creative ideas for others. They don’t like to be one of the crowd, but far prefer the limelight, playing the leading lady or the main man. They hate to feel ignored, forgotten or left out. You will seldom find Leos occupying an obscure position, for, in their mind, the most important gift they have to give to the world is themselves. |
Dù người Sư Tử đóng vai trò gì trong đời, điều đó cũng không được phép bị bỏ qua. Họ là những người hướng ngoại bẩm sinh, với sự hiện diện mạnh mẽ và một sức hút sinh lực. Với tài trình diễn bẩm sinh và sức lôi cuốn tự nhiên, họ sẽ sắp đặt mọi thứ để mình ở trung tâm của bất cứ điều gì đang diễn ra, bảo đảm rằng họ là trọng tâm chú ý và là nguồn ý tưởng sáng tạo cho người khác. Họ không thích là một người trong đám đông, mà thích ánh đèn sân khấu hơn, đóng vai nữ chính hay nam chính. Họ ghét cảm giác bị phớt lờ, bị quên lãng hoặc bị gạt ra ngoài. Bạn hiếm khi thấy người Sư Tử ở một vị trí mờ nhạt, vì trong thể trí của họ, món quà quan trọng nhất họ có thể trao cho thế gian chính là bản thân họ. |
|
If Leos can’t be the boss, then they must have positions where they can display their talents and abilities to the world in some way. A Leo Sun does not like to be eclipsed. Naturally confident, they know what they can do and that they are the best people to do it. Some need to learn to take a back seat now and again, as the Sun must do each night. |
Nếu người Sư Tử không thể làm sếp, thì họ phải có những vị trí nơi họ có thể phô bày tài năng và năng lực của mình với thế gian theo một cách nào đó. Mặt Trời ở Sư Tử không thích bị che khuất. Tự tin một cách tự nhiên, họ biết mình có thể làm gì và rằng họ là người thích hợp nhất để làm điều đó. Một số người cần học cách lùi lại đôi chút thỉnh thoảng, như Mặt Trời phải làm mỗi đêm. |
|
Leo Jacqueline Kennedy did much to enhance her husband’s image and popularity. As first lady, she was a patron of the arts and an international fashion trendsetter. Under her supervision the White House was restored and redecorated and declared a national museum. After John Kennedy’s death, she maintained her position when she married a shipping tycoon and became Jacqueline Kennedy Onassis. Not surprisingly, many members of the British royal family have their Sun, Moon, or ascendant in Leo. The Queen Mother, Princess Anne and Princess Margaret are all Leos, whilst Prince Charles has Leo Rising. |
Người Sư Tử Jacqueline Kennedy đã làm nhiều điều để nâng cao hình ảnh và sự nổi tiếng của chồng bà. Với tư cách đệ nhất phu nhân, bà là người bảo trợ nghệ thuật và là người tạo xu hướng thời trang quốc tế. Dưới sự giám sát của bà, Nhà Trắng được trùng tu và trang hoàng lại và được tuyên bố là một bảo tàng quốc gia. Sau khi John Kennedy qua đời, bà vẫn duy trì vị thế của mình khi kết hôn với một ông trùm vận tải biển và trở thành Jacqueline Kennedy Onassis. Không có gì ngạc nhiên, nhiều thành viên của hoàng gia Anh có Mặt Trời, Mặt Trăng, hoặc Dấu hiệu mọc ở Sư Tử. Thái Hậu, Công chúa Anne và Công chúa Margaret đều là người Sư Tử, trong khi Hoàng tử Charles có Dấu hiệu mọc Sư Tử. |
|
This is one of the fixed signs of the zodiac, and Leos like to stay put on their thrones. Once they find their true seat in life they are hard to budge. The Cuban leader Fidel Castro was born under this sign. He has held on to his seat of power for years and stubbornly refused to allow any change in Cuba. The inherent stability of Leo can make its natives very resolute. People often go so far as to divide their lives up according to those who reigned over them. |
Đây là một trong các dấu hiệu cố định của Hoàng đạo, và người Sư Tử thích ở yên trên ngai của mình. Một khi họ tìm được chỗ ngồi đích thực trong đời, họ rất khó bị lay chuyển. Lãnh tụ Cuba Fidel Castro sinh dưới dấu hiệu này. Ông đã giữ chặt ghế quyền lực của mình nhiều năm và bướng bỉnh từ chối cho phép bất kỳ thay đổi nào ở Cuba. Tính ổn định cố hữu của Sư Tử có thể khiến người sinh dưới dấu hiệu này rất kiên quyết. Người ta thường đi xa đến mức phân chia đời mình theo những người đã trị vì họ. |
|
Humility is not one of their strong points and they can assume airs of importance and lord it over juniors and inferiors. Some find them patronising. At their worst they can be little despots and dictators; after all, this is the sign that the dictator Mussolini, the founder of Italian fascism was born in. Dictatorship and fascism, however, are more vices of the First Ray of Will and Power than of any particular sign. |
Khiêm nhường không phải là điểm mạnh của họ và họ có thể làm ra vẻ quan trọng và ngự trị trên những người trẻ hơn và cấp dưới. Một số người thấy họ kẻ cả. Ở mức tệ nhất họ có thể là những bạo chúa nhỏ và những kẻ độc tài; suy cho cùng, đây là dấu hiệu mà nhà độc tài Mussolini, người sáng lập chủ nghĩa phát xít Ý, đã sinh ra. Tuy nhiên, độc tài và phát xít là những tật xấu của Cung một về Ý Chí và Quyền Năng hơn là của bất kỳ dấu hiệu cụ thể nào. |
|
A strong Leo influence with an ungifted person can lead to the most absurd airs and pretensions. Leo will behave regally, whatever gifts he possesses, and if he possesses no gifts, he will occasionally appear pretentious. At his worst he is vain, self-indulgent, easily flattered, and surrounds himself with favourites and sycophants, impressed by show rather than merit, snobbish and mean: a veritable prima donna. |
Một ảnh hưởng Sư Tử mạnh ở một người không có tài năng có thể dẫn đến những dáng vẻ và sự tự phụ lố bịch nhất. Sư Tử sẽ cư xử vương giả, bất kể y sở hữu những tài năng gì, và nếu y không có tài năng, đôi khi y sẽ tỏ ra kiểu cách. Ở mức tệ nhất y phù phiếm, tự nuông chiều, dễ bị tâng bốc, và vây quanh mình bằng những kẻ được sủng ái và bọn nịnh thần, bị ấn tượng bởi phô trương hơn là công trạng, hợm hĩnh và cay nghiệt: đúng là một nữ danh ca. |
|
As with all the fire signs, there is a strong element of selfishness, and these types are often found taking the lion’s share. In one of Aesop’s Fables, several beasts joined the lion in a hunt but when the spoil was divided, the lion claimed one quarter in right of his prerogative, one for his superior courage, one for his dam and cubs, “and as for the fourth, let who will dispute it with me.” Awed by his frown, the other beasts silently withdrew. |
Cũng như mọi dấu hiệu hành hỏa, có một yếu tố ích kỷ mạnh, và những kiểu người này thường được thấy giành phần sư tử. Trong một truyện ngụ ngôn của Aesop, vài con thú cùng sư tử đi săn nhưng khi chia chiến lợi phẩm, sư tử đòi một phần tư theo quyền đặc ân của mình, một phần vì lòng can đảm vượt trội, một phần cho sư tử cái và đàn con, “còn phần tư thứ tư, ai muốn thì cứ tranh với ta.” Khiếp sợ trước cái cau mày của nó, các con thú khác lặng lẽ rút lui. |
|
Once Leo has satisfied his own needs, he is not insensitive to the needs of others. He loves to please those around him and make them feel happy. We can overlook his arrogance, his sometimes insufferable ego, his occasional periods of vanity and laziness, because his heart is pure gold. The Lion’s heart is as big as his ego. In fact, Leo rules the heart, the centre from which the blood, laden with vitality, is pumped around the body. At his best, Leo will radiate creativity, joy, happiness and warmth. An unafflicted Leo radiates the joy of life itself and distributes it as largess. |
Một khi Sư Tử đã thỏa mãn nhu cầu của mình, y không vô cảm trước nhu cầu của người khác. Y thích làm vui lòng những người quanh mình và khiến họ cảm thấy hạnh phúc. Chúng ta có thể bỏ qua sự kiêu ngạo của y, cái chân ngã đôi khi khó chịu, những giai đoạn phù phiếm và lười biếng thỉnh thoảng, bởi vì trái tim y là vàng ròng. Trái tim của Sư Tử lớn như chân ngã của y. Thực ra, Sư Tử cai quản trái tim, trung tâm từ đó máu, mang đầy sinh lực, được bơm khắp cơ thể. Ở mức tốt nhất, Sư Tử sẽ toả ra tính sáng tạo, niềm vui, hạnh phúc và sự ấm áp. Một Sư Tử không bị tổn hại sẽ toả ra niềm vui của chính sự sống và phân phát nó như sự ban phát rộng rãi. |
|
The word ‘courageous,’ which epitomises the indomitability of Leo, derives from the Latin cor, meaning heart. Richard I, king of England, earned the nickname Coeur de Lion (Lion’s Heart) because of his bravery during the crusades. Most Leos like to behave in a hearty or heartfelt way. They do best when they act from the heart. |
Từ “can đảm,” vốn khái quát tính bất khuất của Sư Tử, bắt nguồn từ tiếng La-tinh cor, nghĩa là trái tim. Richard I, vua nước Anh, có biệt danh Coeur de Lion (Trái Tim Sư Tử) vì lòng dũng cảm của ông trong các cuộc thập tự chinh. Hầu hết người Sư Tử thích cư xử một cách nồng hậu hay xuất phát từ trái tim. Họ làm tốt nhất khi hành động từ trái tim. |
|
Leo loves to exhibit his generosity with grandiose gestures. His sovereign spirit can be characterised by the words magnanimous, magnificent, and magniloquent. The Latin root magna is reminiscent of the magi who were kings bearing gifts for the Christ child. Financially, Leo likes to think in terms of splendid round sums, and he often becomes a magnate in business and industry. |
Sư Tử thích phô bày sự hào phóng của mình bằng những cử chỉ khoa trương. Tinh thần quân vương của y có thể được đặc trưng bởi các từ: rộng lượng, huy hoàng, và hùng biện khoa trương. Gốc La-tinh magna gợi nhớ đến các đạo sĩ vốn là những vị vua mang lễ vật cho Hài Nhi Christ. Về tài chính, Sư Tử thích nghĩ theo những khoản tròn trịa lộng lẫy, và y thường trở thành một ông trùm trong kinh doanh và công nghiệp. |
|
Leos like to live life to the full. When they work, they work well, especially in a team. When they play, they play. When they rest, they rest. The domestic cat, calm, regal and self-assured, shows many of the qualities of this feline sign: He likes to come and go when he pleases, will rule the whole household if allowed to, pleases himself before he considers anyone else and shows affection when and only when he wants to. |
Người Sư Tử thích sống hết mình. Khi họ làm việc, họ làm tốt, đặc biệt trong một đội nhóm. Khi họ chơi, họ chơi. Khi họ nghỉ, họ nghỉ. Con mèo nhà, điềm tĩnh, vương giả và tự tin, thể hiện nhiều phẩm chất của dấu hiệu loài mèo này: Nó thích đến và đi khi nó muốn, sẽ cai quản cả gia đình nếu được phép, làm vừa lòng chính mình trước khi nghĩ đến bất kỳ ai khác và biểu lộ tình cảm khi và chỉ khi nó muốn. |
|
Leo may often have idiosyncrasies, typical of the fire signs, from a fascination with things like hair dryers right up to the most grandiose ideas. They frequently become involved in the aiding, abetting, and building up of someone, like a boxer and the boxer’s image, or a movie star, etc., and, of course, they love to bathe in the resulting limelight. “That’s my boy,” is then an oft repeated leonine catchword for Leo rules showbiz and boys! In fact, Leo not only loves a place in the Sun, but he likes the emotional tone of his surroundings to be sunny. |
Sư Tử thường có những nét lập dị, điển hình của các dấu hiệu hành hỏa, từ sự mê thích những thứ như máy sấy tóc cho đến những ý tưởng khoa trương nhất. Họ thường dính líu vào việc giúp đỡ, tiếp tay và xây dựng hình ảnh cho ai đó, như một võ sĩ và hình ảnh của võ sĩ, hoặc một ngôi sao điện ảnh, v.v., và dĩ nhiên, họ thích tắm mình trong ánh đèn sân khấu do đó tạo ra. “Đó là thằng bé của tôi,” khi ấy là một câu cửa miệng mang màu Sư Tử thường được lặp lại, vì Sư Tử cai quản giới giải trí và các chàng trai! Thực ra, Sư Tử không chỉ yêu một chỗ dưới ánh Mặt Trời, mà còn thích bầu khí cảm xúc quanh mình phải tươi sáng. |
|
Leo is a fiercely loyal friend and a just but powerful enemy. He tends to make friends for life and will bend over backwards to save a friend in need. Anyone who happens to be standing in Leos’ bright sunlight will feel revitalised. Creative and original, strong and vital, he radiates a love that surrounds others and makes them feel alive and renewed. Affectionate, enthusiastic, cheerful and optimistic, he can dispel doubt, fear and gloom just as the Sun banishes darkness and cold. |
Sư Tử là một người bạn trung thành mãnh liệt và là một kẻ thù công bằng nhưng đầy quyền lực. Y có xu hướng kết bạn trọn đời và sẽ làm mọi cách để cứu một người bạn đang cần. Bất kỳ ai tình cờ đứng trong ánh nắng rực rỡ của Sư Tử sẽ cảm thấy được tiếp sinh lực. Sáng tạo và độc đáo, mạnh mẽ và tràn sinh lực, y toả ra một tình thương bao bọc người khác và khiến họ cảm thấy sống động và được làm mới. Âu yếm, nhiệt thành, vui vẻ và lạc quan, y có thể xua tan nghi ngờ, sợ hãi và u ám như Mặt Trời xua bóng tối và giá lạnh. |
|
Noble, generous and high-minded, Leos quickly weary of small details and petty problems. Their feelings and desires tend to be ardent, over-generous and widespread. They have a strong sense of the dramatic, and a love of beauty and luxury. Often successful through their own personal magnetism and desire for recognition, they like to be surrounded by a loyal entourage. Natural leaders, they make good team captains. |
Cao quý, hào phóng và có lý tưởng cao, người Sư Tử nhanh chóng mệt mỏi với những chi tiết nhỏ và các vấn đề vụn vặt. Cảm xúc và ham muốn của họ có xu hướng nồng nhiệt, quá hào phóng và lan rộng. Họ có ý thức mạnh về tính kịch tính, và yêu cái đẹp cùng sự xa hoa. Thường thành công nhờ sức hút cá nhân và khát vọng được công nhận, họ thích được bao quanh bởi một đoàn tùy tùng trung thành. Là những nhà lãnh đạo bẩm sinh, họ làm đội trưởng rất tốt. |
|
They are the ideal head of any large enterprise, institution or undertaking, (although they actually function as the ‘heart’ of an organisation). Henry Ford, the well-known car industry magnate, was born under this sign. At their best Leos make superb organisers and wise delegaters of duties. They will, however, tend to disregard that which they feel to be beneath their dignity; at their worst they have a marvellous skill for delegating disagreeable and unpleasant duties. Generally speaking, however, they tend not to lean on others, but prefer to be leaned on, as long as it does not put them in a subservient position. Many of the natives of this proud sign find it hard to take criticism and will easily take things to heart. Although Leos tend to dislike mediocre work or tasks, without glamour or exposure, they will happily put their backs into their work and will see projects through to their end if they are important enough. |
Họ là người đứng đầu lý tưởng của bất kỳ doanh nghiệp, định chế hay công cuộc lớn nào, (mặc dù thực ra họ vận hành như “trái tim” của một tổ chức). Henry Ford, ông trùm công nghiệp xe hơi nổi tiếng, sinh dưới dấu hiệu này. Ở mức tốt nhất, người Sư Tử là những nhà tổ chức tuyệt vời và những người phân công nhiệm vụ khôn ngoan. Tuy nhiên, họ có xu hướng bỏ qua điều mà họ cảm thấy thấp kém dưới phẩm giá của mình; ở mức tệ nhất họ có một kỹ năng tuyệt vời trong việc giao phó những nhiệm vụ khó chịu và không dễ chịu. Tuy vậy, nói chung, họ có xu hướng không dựa vào người khác, mà thích được người khác dựa vào, miễn là điều đó không đặt họ vào vị thế phục tùng. Nhiều người sinh dưới dấu hiệu kiêu hãnh này thấy khó tiếp nhận phê bình và dễ “để bụng.” Mặc dù người Sư Tử có xu hướng không thích công việc hay nhiệm vụ tầm thường, không có hào quang hay sự phô bày, họ vẫn vui vẻ dốc sức vào công việc và sẽ theo dự án đến cùng nếu nó đủ quan trọng. |
|
They possess a natural breadth of vision, and will quickly go straight to the heart of a problem, but sometimes they lack an eye for detail. Seldom mean or petty, they like large-scale ideas and enterprises. Not inclined to worry about the future or to brood over the past, they prefer to live to their fullest extent, tending to ignore the need to insure themselves. Their outlook is exuberant, warm and creative. They will express their approval generously and openly and can give almost embarrassingly extravagant compliments. They are, however, equally honest about their displeasure. People in whom Leo is strong make good father-figures, regardless of their sex, or whether they themselves have children. Young people magnetised by Leo’s aura will instinctively turn to them for counsel, friendship and encouragement. |
Họ sở hữu một bề rộng tầm nhìn tự nhiên, và sẽ nhanh chóng đi thẳng vào cốt lõi của vấn đề, nhưng đôi khi họ thiếu con mắt cho chi tiết. Hiếm khi nhỏ nhen hay ti tiện, họ thích những ý tưởng và công cuộc quy mô lớn. Không склон lo lắng về tương lai hay nghiền ngẫm quá khứ, họ thích sống hết mức, có xu hướng phớt lờ nhu cầu tự bảo hiểm cho mình. Cái nhìn của họ tràn trề, ấm áp và sáng tạo. Họ sẽ bày tỏ sự tán thành một cách hào phóng và công khai và có thể đưa ra những lời khen gần như quá mức đến mức làm người ta ngượng. Tuy nhiên, họ cũng thẳng thắn như vậy về sự không hài lòng. Những người có Sư Tử mạnh làm hình tượng người cha rất tốt, bất kể giới tính của họ, hay việc chính họ có con hay không. Người trẻ bị từ trường bởi hào quang của Sư Tử sẽ theo bản năng tìm đến họ để xin lời khuyên, tình bạn và sự khích lệ. |
|
For Leo, life without love is unthinkable. Confident of their abilities and their sex appeal, they are happiest when in love or, failing that, when involved with a creative concept or hobby. They are strongly sexed but they are choosy about who they are with and where. If their marriage fails at the sexual level, they can maintain the relationship if they can maintain an affair elsewhere. Like all fire signs, and the cat that they are, they need freedom. The fiery pride and roving eye of Leo causes plenty of shattered love affairs and marriages. |
Với Sư Tử, đời sống không có tình yêu là điều không thể tưởng tượng. Tự tin vào năng lực và sức hấp dẫn giới tính của mình, họ hạnh phúc nhất khi đang yêu hoặc, nếu không được như vậy, khi gắn với một ý tưởng sáng tạo hay một thú vui. Họ có tính dục mạnh nhưng kén chọn về người họ ở cùng và nơi chốn. Nếu hôn nhân của họ thất bại ở bình diện tình dục, họ có thể duy trì mối quan hệ nếu họ có thể duy trì một cuộc tình ở nơi khác. Như mọi dấu hiệu hành hỏa, và như con mèo mà họ là, họ cần tự do. Niềm kiêu hãnh bốc lửa và ánh mắt hay liếc ngang của Sư Tử gây ra không ít những cuộc tình và hôn nhân tan vỡ. |
|
Not all lions, however, are flamboyant, successful extroverts. Many lead quiet, introverted lives: |
Tuy nhiên, không phải mọi con sư tử đều là những người hướng ngoại phô trương, thành công. Nhiều người sống đời yên lặng, hướng nội: |
|
Full many a gem of purest ray serene, |
Biết bao viên ngọc, tia sáng tinh khiết nhất, vẫn lặng yên, |
|
The dark unfathom’d caves of ocean bear: |
Trong những hang tối khôn dò của đại dương cất giữ: |
|
Full many a flower is born to blush unseen, |
Biết bao đóa hoa sinh ra để đỏ thẹn mà không ai thấy, |
|
And waste its sweetness on the desert air. |
Và phí hoài hương ngọt của mình trong gió sa mạc. |
|
— Thomas Gray, Elegy in a Country Churchyard. |
— Thomas Gray, Khúc Ai Ca nơi Nghĩa Trang Thôn Quê. |
|
However quiet a life Leo leads, you can be sure that he will be king of his tiny domain in some way or another, even if it is only a matter of who’s in charge of the TV remote control! As the family man he is strong, dignified and quietly determined. He makes a generous, magnanimous husband, who loves and values his children; but he must have his dues, and be the centre of the family. The Lion can be domestic and even remain in the same house, the same job, and the same relationship for years, just so long as he can turn his home into a centre where friends and acquaintances can surround him. This is where he can satisfy his love of pleasure, games and amusement and give full rein to his creativity. The Leo lair can be like a palace, where he entertains lavishly. Leo loves company and makes a wonderful host. His hospitality is regal and he is the life and soul of the party. Leo is the sign of entertainment, leisure and play; in many countries the peak holiday period occurs when the Sun is in Leo. |
Dù Sư Tử sống một đời yên tĩnh đến đâu, bạn có thể chắc rằng y sẽ là vua của lãnh địa nhỏ bé của mình theo cách này hay cách khác, dù chỉ là chuyện ai nắm quyền điều khiển chiếc điều khiển TV! Với tư cách người đàn ông của gia đình, y mạnh mẽ, đường bệ và âm thầm kiên định. Y là một người chồng hào phóng, rộng lượng, yêu và trân trọng con cái; nhưng y phải có phần “cống nạp” của mình, và phải là trung tâm của gia đình. Sư Tử có thể sống gia đình và thậm chí ở cùng một ngôi nhà, cùng một công việc, và cùng một mối quan hệ trong nhiều năm, miễn là y có thể biến ngôi nhà thành một trung tâm nơi bạn bè và người quen có thể vây quanh y. Đây là nơi y có thể thỏa mãn tình yêu đối với khoái lạc, trò chơi và giải trí và thả lỏng hoàn toàn tính sáng tạo của mình. Hang ổ của Sư Tử có thể như một cung điện, nơi y tiếp đãi xa hoa. Sư Tử yêu thích bạn bè và là một chủ nhà tuyệt vời. Lòng hiếu khách của y mang phong thái vương giả và y là linh hồn của bữa tiệc. Sư Tử là dấu hiệu của giải trí, nhàn rỗi và vui chơi; ở nhiều quốc gia, thời kỳ nghỉ lễ cao điểm diễn ra khi Mặt Trời ở Sư Tử. |
|
These Sun-ruled people are fond of jewellery, colourful clothing, eye-catching decorations, flashy cars and large displays. Like the peacock, they love to display what they have, although there can be a tendency towards vanity. Many become involved in the world of fashion, which displays the cyclical nature of Leo; old designs become renewed and come round again. Fashion designers Coco Chanel and Yves Saint Laurent were both born in Leo. The pop star Madonna was also born under Leo; an internationally acclaimed superstar, singer, dancer and film star, she is well known for her overtly sexual image and her love of the limelight. |
Những người do Mặt Trời cai quản này thích trang sức, quần áo sặc sỡ, đồ trang trí bắt mắt, xe cộ hào nhoáng và những màn phô bày lớn. Như con công, họ thích khoe những gì mình có, dù có thể có xu hướng phù phiếm. Nhiều người dính líu vào thế giới thời trang, vốn phô bày tính chu kỳ của Sư Tử; các thiết kế cũ được làm mới và quay trở lại. Các nhà thiết kế thời trang Coco Chanel và Yves Saint Laurent đều sinh ở Sư Tử. Ngôi sao nhạc pop Madonna cũng sinh dưới Sư Tử; một siêu sao được ca ngợi quốc tế, ca sĩ, vũ công và ngôi sao điện ảnh, cô nổi tiếng với hình ảnh gợi dục lộ liễu và tình yêu ánh đèn sân khấu. |
|
Leos like to show off their possessions. It is not that Leos are particularly materialistic; unlike Taurus, they don’t like to possess for the sake of it; but rather that they must have the means to enjoy life. As long as they can have good music, a fine home and a good life, they are happy. Unlike Capricorn, who can ‘live on the smell of an oil rag,’ poverty and deprivation depresses them. They like the best of everything and are happy to lick the cream off the top, leaving the dross for lesser mortals. Nothing depresses them more than having to work with shabby, obsolete equipment, or pessimistic, unimaginative people. |
Người Sư Tử thích khoe của cải. Không phải họ đặc biệt duy vật; khác với Kim Ngưu, họ không thích sở hữu chỉ vì sở hữu; mà đúng hơn là họ phải có phương tiện để tận hưởng cuộc sống. Miễn là họ có âm nhạc hay, một ngôi nhà đẹp và một đời sống tốt, họ hạnh phúc. Khác với Ma Kết, người có thể “sống bằng mùi giẻ dầu,” nghèo đói và thiếu thốn làm họ chán nản. Họ thích thứ tốt nhất của mọi thứ và vui vẻ liếm lớp kem trên cùng, để lại bã cho những kẻ phàm tục kém hơn. Không gì làm họ chán nản hơn việc phải làm việc với thiết bị tồi tàn, lỗi thời, hoặc với những người bi quan, thiếu tưởng tượng. |
|
In the professional world, Leo often seems to reach positions by some innate power of his own rather than by sheer hard work. He can inspire and revitalise others, like the astrologer W.F. Allen, who took his birth sign as his pseudonym, and became Alan Leo; he revitalised astrology at the turn of the century. With only an elementary education, he managed to produce a series of books that were translated into several languages, and are still popular today. |
Trong thế giới nghề nghiệp, Sư Tử thường có vẻ đạt đến vị trí nhờ một quyền năng bẩm sinh của chính mình hơn là do lao động cực nhọc thuần túy. Y có thể truyền cảm hứng và tiếp sinh lực cho người khác, như nhà chiêm tinh W.F. Allen, người lấy dấu hiệu sinh của mình làm bút danh, và trở thành Alan Leo; ông đã làm sống lại chiêm tinh vào thời điểm chuyển giao thế kỷ. Chỉ với một nền giáo dục sơ đẳng, ông vẫn xoay xở để viết một loạt sách được dịch ra nhiều ngôn ngữ, và đến nay vẫn còn phổ biến. |
|
Leos do well in any occupation that enables them to dominate others or be the centre of attention; they choose glamorous and upmarket industries which give them status. Eminently suitable as directors, chairmen or the like, they enjoy any occupation bringing the social recognition that confirms their sense of personal worth. |
Người Sư Tử làm tốt trong bất kỳ nghề nào cho phép họ thống lĩnh người khác hoặc là trung tâm chú ý; họ chọn những ngành hào nhoáng và cao cấp đem lại địa vị. Rất phù hợp làm giám đốc, chủ tịch hay tương tự, họ thích bất kỳ nghề nào mang lại sự công nhận xã hội xác nhận cảm giác giá trị cá nhân của họ. |
|
Naturally drawn to the world of entertainment, they happily use their talents on the stage or in films; anywhere that requires plenty of show. They excel in creative careers and can be found as actors, theatrical agents, exhibition organisers, costume designers, hairdressers, jewellers, painters, or film and television directors. The Hollywood film director and magnate Cecil B. De Mille was born under Leo. Best known for his spectacular and lavish productions during the 1920’s and ’30s, the flamboyant, imperious De Mille typified the popular image of the Hollywood director. |
Bị hấp dẫn tự nhiên bởi thế giới giải trí, họ vui vẻ dùng tài năng của mình trên sân khấu hoặc trong phim ảnh; bất cứ nơi nào đòi hỏi nhiều trình diễn. Họ xuất sắc trong các nghề sáng tạo và có thể được thấy là diễn viên, đại diện sân khấu, người tổ chức triển lãm, nhà thiết kế trang phục, thợ làm tóc, thợ kim hoàn, họa sĩ, hoặc đạo diễn điện ảnh và truyền hình. Đạo diễn và ông trùm điện ảnh Hollywood Cecil B. De Mille sinh dưới Sư Tử. Nổi tiếng nhất với những tác phẩm hoành tráng và xa hoa trong thập niên 1920 và 1930, De Mille phô trương và đế vương đã tiêu biểu cho hình ảnh phổ biến của đạo diễn Hollywood. |
|
At his finest, Leo’s cheerful nature and sunny disposition encourages us all. His heart radiates a benign love for all those around him. His courage and daring are second to none. He dispels fear and gloom amongst the timid and the depressed. In times of difficulty he provides a focal point for others to rally around and restores their stability and will to continue. Whatever faults and vices he has, the world would be a far poorer place without him. Bringing a Leo friend into the home can create the same effect as a nation that restores its king after a dreary republican spell. |
Ở mức cao nhất, bản tính vui vẻ và khí chất tươi sáng của Sư Tử khích lệ tất cả chúng ta. Trái tim y toả ra một tình thương hiền hòa đối với mọi người quanh y. Lòng can đảm và sự táo bạo của y không ai sánh kịp. Y xua tan sợ hãi và u ám nơi những người nhút nhát và chán nản. Trong thời khắc khó khăn y cung cấp một điểm hội tụ để người khác tụ lại quanh và khôi phục sự ổn định cùng ý chí tiếp tục. Dù y có những lỗi lầm và tật xấu nào, thế giới sẽ nghèo nàn hơn rất nhiều nếu thiếu y. Đưa một người bạn Sư Tử vào nhà có thể tạo ra hiệu ứng giống như một quốc gia khôi phục lại nhà vua sau một giai đoạn cộng hòa ảm đạm. |
The Leo Child—Đứa Trẻ Sư Tử
|
These children of the Sun are usually lively and vivacious creatures with a strong sense of their own value and importance. Warm hearted, generous and sympathetic, they can also be dominating and boastful; their natural sense of pride extends to their family, friends and even their possessions. They need to be taught to achieve something worthy to boast about and to use their sense of justice and dignity to temper their certainty that all they own and do is by royal right, and that mercy, when shown, is mightiest in the mighty. They should be encouraged also to lose once in a while. Defeat has its own lessons. |
Những đứa trẻ của Mặt Trời này thường là những sinh linh lanh lợi và hoạt bát, với ý thức mạnh về giá trị và tầm quan trọng của chính mình. Trái tim ấm áp, hào phóng và cảm thông, chúng cũng có thể thích thống trị và khoe khoang; ý thức tự hào tự nhiên của chúng lan sang gia đình, bạn bè và thậm chí cả tài sản của chúng. Chúng cần được dạy để đạt được điều gì đó xứng đáng để khoe, và dùng ý thức công bằng cùng phẩm giá để điều hòa sự chắc chắn rằng mọi thứ chúng sở hữu và làm đều là quyền vương giả, và rằng lòng thương xót, khi được biểu lộ, là mạnh mẽ nhất nơi kẻ mạnh. Chúng cũng nên được khuyến khích thua một lần đôi khi. Thất bại có những bài học riêng. |
|
Any tendency to dominate should be channelled into a sense of responsibility, evoking the natural compassion of this sign. When Leo is taught properly how to lead, no other child can help and elevate the standard of his group better than the young Sun king. His friends will then admire and serve him, basking in his capacity to bestow a firm and loving rule in their games and various pursuits. |
Bất kỳ xu hướng thống trị nào cũng nên được dẫn vào ý thức trách nhiệm, khơi dậy lòng trắc ẩn tự nhiên của dấu hiệu này. Khi Sư Tử được dạy đúng cách để lãnh đạo, không đứa trẻ nào có thể giúp đỡ và nâng cao tiêu chuẩn của nhóm mình tốt hơn vị vua Mặt Trời trẻ tuổi. Khi đó bạn bè sẽ ngưỡng mộ và phục vụ nó, tắm mình trong khả năng ban bố một sự cai trị vững vàng và đầy yêu thương của nó trong các trò chơi và những theo đuổi khác nhau. |
|
Usually an extrovert, this child is a natural entertainer; given an audience, he will always rise to the occasion, and often does well on the stage, or in any situation where he can be the centre of attention and has an excuse to show off. Given sufficient freedom and scope to express himself, he will thrive, but sensible guidance is needed here. If his affection is repressed or rejected, he can easily become despondent or ill, and his normally robust nature can wilt. To give him ample expression, even if he has an already affectionate family, he needs pets to care for and to flood with loving attention. A devoted and responsive dog would perhaps be more suitable than the haughty and independent cat, or the indifferent rabbit. However, all animals will attract the interest of the Leo child, for he has an innate awareness of the universality of life, and its interrelation with all forms. Faced with his own pet cat you will often hear him ascribing to the animal his own lordly opinions of himself. |
Thường là hướng ngoại, đứa trẻ này là một người giải trí bẩm sinh; được cho một khán giả, nó luôn luôn vươn lên đúng lúc, và thường làm tốt trên sân khấu, hoặc trong bất kỳ tình huống nào nơi nó có thể là trung tâm chú ý và có cớ để khoe. Được cho đủ tự do và phạm vi để tự biểu đạt, nó sẽ phát triển mạnh, nhưng ở đây cần sự hướng dẫn hợp lý. Nếu tình cảm của nó bị kìm nén hoặc bị từ chối, nó có thể dễ dàng trở nên u sầu hoặc ốm yếu, và bản tính vốn cường tráng của nó có thể héo rũ. Để cho nó có sự biểu đạt dồi dào, ngay cả khi nó đã có một gia đình âu yếm, nó cần thú cưng để chăm sóc và để trút ngập sự chú ý yêu thương. Một con chó tận tụy và biết đáp ứng có lẽ phù hợp hơn con mèo kiêu kỳ và độc lập, hoặc con thỏ thờ ơ. Tuy nhiên, mọi loài vật đều sẽ thu hút sự quan tâm của đứa trẻ Sư Tử, vì nó có một nhận biết bẩm sinh về tính phổ quát của sự sống, và sự liên hệ qua lại của sự sống với mọi hình tướng. Đối diện con mèo cưng của mình, bạn thường nghe nó gán cho con vật những quan điểm vương giả về chính nó. |
|
Even if this child is secure within a loving family, he can still react to admonishments and correction with instant rebellion and defiance, unless he is shown the reasoning behind them. The law of cause and effect will be easy to instil in the minds of Leo children, if it is given with a loving understanding of their regal nature. |
Ngay cả khi đứa trẻ này được bảo đảm trong một gia đình yêu thương, nó vẫn có thể phản ứng với lời khiển trách và sửa dạy bằng sự nổi loạn và chống đối tức thì, trừ khi nó được cho thấy lý lẽ đằng sau. Định luật nhân quả sẽ dễ được gieo vào thể trí của trẻ Sư Tử, nếu nó được trao với sự thấu hiểu đầy yêu thương đối với bản tính vương giả của chúng. |
|
Whatever talents he has should be encouraged with praise and appreciation, helping to bring out the best in him. He can accept encouragement and strive to do more and better, for he tends to outstrip his contemporaries and get to the top, not with any sense of one-upmanship, as does the Scorpio child, but simply because he feels that this is the natural thing to do, and the natural place to be. |
Bất cứ tài năng nào nó có cũng nên được khuyến khích bằng lời khen và sự trân trọng, giúp đưa ra điều tốt nhất trong nó. Nó có thể chấp nhận sự khích lệ và cố gắng làm nhiều hơn và tốt hơn, vì nó có xu hướng vượt trội bạn đồng trang lứa và lên đến đỉnh, không phải với ý thức hơn thua như đứa trẻ Hổ Cáp, mà đơn giản vì nó cảm thấy đó là điều tự nhiên phải làm, và là nơi tự nhiên để ở. |
|
In school, honest and just treatment is essential to gain the trust of the Leo child. He has an innate wisdom that measures the deeds of adults against their words and promises. Keenly observant and anxious to grow up, he will imitate his seniors at school, often feeling more at home with them than his own age group, especially if he is of an advanced soul state. Hence care should be taken that he is directed to follow the best examples. However, he will soon learn to take his own stance and with his natural magnetism will quickly create his own small circle of devoted followers. |
Ở trường, sự đối xử trung thực và công bằng là thiết yếu để giành được niềm tin của đứa trẻ Sư Tử. Nó có một minh triết bẩm sinh đo lường hành động của người lớn so với lời nói và lời hứa của họ. Quan sát sắc bén và nóng lòng trưởng thành, nó sẽ bắt chước những người lớn hơn ở trường, thường cảm thấy hợp với họ hơn nhóm tuổi của mình, đặc biệt nếu nó ở một trạng thái linh hồn tiến bộ. Vì vậy cần cẩn trọng để nó được hướng dẫn noi theo những tấm gương tốt nhất. Tuy nhiên, nó sẽ sớm học cách đứng trên lập trường của mình và với sức hút tự nhiên sẽ nhanh chóng tạo ra vòng tròn nhỏ những người theo mình tận tụy. |
|
He needs plenty of opportunities to work off his great surplus vitality, and with his natural powers of endurance he will be happy in activities like climbing and similar pursuits. He likes sports and hobbies which have a grand scope and do not involve too much meticulous and detailed training. Anything that will allow him to get on with the job at an early stage will appeal to him. With all his enthusiasm, the Leo child does nothing half-heartedly, and he is dissatisfied if he does not place himself better than average. |
Nó cần nhiều cơ hội để tiêu hao lượng sinh lực dư thừa rất lớn, và với năng lực chịu đựng tự nhiên, nó sẽ vui vẻ trong các hoạt động như leo núi và những theo đuổi tương tự. Nó thích thể thao và sở thích có phạm vi lớn và không đòi hỏi quá nhiều huấn luyện tỉ mỉ và chi tiết. Bất cứ điều gì cho phép nó bắt tay vào việc ở giai đoạn sớm đều hấp dẫn nó. Với toàn bộ nhiệt tình của mình, đứa trẻ Sư Tử không làm gì nửa vời, và nó không hài lòng nếu nó không đặt mình ở mức tốt hơn trung bình. |
|
He has a good memory and can sort and assimilate facts with ease. He puts this to good use, and his aspiring nature and desire to achieve the highest standard will spur him on to fine scholastic achievements, assuming that his tenacity is encouraged to develop. One must beware of the poorly motivated Leo, who is inclined to laziness and lack of self-discipline. For this type, the spur of competition and challenge, not too insistent, but present all the same, can rouse him to better efforts. |
Nó có trí nhớ tốt và có thể phân loại và đồng hóa các dữ kiện một cách dễ dàng. Nó tận dụng điều này tốt, và bản tính chí hướng cùng khát vọng đạt tiêu chuẩn cao nhất sẽ thúc đẩy nó đến những thành tích học tập tốt, với điều kiện tính bền bỉ của nó được khuyến khích phát triển. Cần cảnh giác với Sư Tử thiếu động lực, vốn склон lười biếng và thiếu tự kỷ luật. Với kiểu này, sự thúc đẩy của cạnh tranh và thách thức, không quá ép buộc, nhưng vẫn hiện diện, có thể đánh thức nó nỗ lực tốt hơn. |
|
Young or old, Leo is a fighter for the right; not caring for the cunning intricacies of commerce or politics, he encourages others to follow him into outright battle and victory against evil and wrong doing. The young Leo must gain and rule a kingdom of some sort but he prefers others to attend to the detailed manoeuvring involved in this, for he is often too forthright to attain such objectives on his own. If necessary, he should be taught how to rule his thoughts and speech so that this great virtue does not become a failing. Truth and open speaking have to be expressed in a manner appropriate to the person involved, and the timing and consequences of the chosen word must be assessed carefully, in order to achieve the required result. |
Trẻ hay già, Sư Tử là một chiến sĩ vì lẽ phải; không ưa những mưu mẹo tinh vi của thương mại hay chính trị, nó khuyến khích người khác theo mình vào cuộc chiến công khai và chiến thắng chống lại cái ác và hành vi sai trái. Sư Tử trẻ phải giành được và cai quản một vương quốc nào đó nhưng nó thích để người khác lo việc điều động chi tiết liên quan, vì nó thường quá thẳng thắn để tự mình đạt các mục tiêu như vậy. Nếu cần, nó nên được dạy cách cai quản tư tưởng và lời nói của mình để đức hạnh lớn này không trở thành một khiếm khuyết. Sự thật và lời nói thẳng phải được biểu đạt theo cách phù hợp với người liên quan, và thời điểm cùng hậu quả của lời được chọn phải được cân nhắc cẩn thận, nhằm đạt kết quả cần thiết. |
|
The child of Leo makes a loyal and true friend who will not tolerate anything mean or underhand, nor will he ever, even to forward his own ambitions, take any deceitful path to this end. He will take his friends to the top with him, if they prove worthy, and even if these friends do not really fit the post, Leo will try to impose his ideas and ways on them, simply because he feels that this will help them become as he is. |
Đứa trẻ Sư Tử là một người bạn trung thành và chân thật, không dung thứ bất cứ điều gì hèn hạ hay mờ ám, và nó sẽ không bao giờ, dù để thúc đẩy tham vọng của mình, đi theo con đường dối trá nào để đạt mục đích. Nó sẽ đưa bạn bè lên đỉnh cùng nó, nếu họ tỏ ra xứng đáng, và ngay cả khi những người bạn này thực sự không phù hợp với vị trí, Sư Tử vẫn sẽ cố áp đặt ý tưởng và cách làm của mình lên họ, đơn giản vì nó cảm thấy điều đó sẽ giúp họ trở nên như nó. |
|
It would be wise to teach the child of this kingly sign the snares of flattery, for his natural charm and charisma will often attract those who try and gain his favour with praise that is often exaggerated or far from the truth. Leo himself is utterly truthful and this faculty must also be directed towards himself and his own self-knowledge, for his safeguard in later life, as well as that of a growing young man coming out into the world. Leo needs to tell the truth to himself above all others, and should instil a habit of self-honesty. He can then mitigate for himself the deep hurts that may come his way when friends do not follow quite the pattern his benign concern has mapped out for them. When this occurs, an honest understanding and compassion will restore his crestfallen nature and engender his natural willingness to forgive. The comprehension achieved through his own suffering will encourage his inherent urge to restore and regenerate others. This too needs careful watching, so that it does not become a domination of the fallen one, but a true uplifting. |
Sẽ khôn ngoan nếu dạy đứa trẻ của dấu hiệu vương giả này những cái bẫy của sự tâng bốc, vì sự duyên dáng và sức lôi cuốn tự nhiên của nó thường thu hút những kẻ cố giành ân sủng của nó bằng lời khen vốn thường phóng đại hoặc xa sự thật. Bản thân Sư Tử hoàn toàn chân thật và năng lực này cũng phải được hướng về chính nó và sự tự tri của nó, như một sự bảo vệ cho đời sau của nó, cũng như cho một chàng trai trẻ đang lớn bước ra đời. Trên hết mọi người, Sư Tử cần nói sự thật với chính mình, và nên gieo một thói quen trung thực với bản thân. Khi đó nó có thể tự làm nhẹ đi những tổn thương sâu sắc có thể đến với nó khi bạn bè không đi theo đúng khuôn mẫu mà sự quan tâm hiền hòa của nó đã vạch ra cho họ. Khi điều này xảy ra, một sự thấu hiểu chân thật và lòng trắc ẩn sẽ phục hồi bản tính chán nản của nó và khơi dậy sự sẵn lòng tha thứ tự nhiên. Sự thấu hiểu đạt được qua chính đau khổ của nó sẽ khuyến khích thôi thúc bẩm sinh muốn hoàn nguyên và tái sinh người khác. Điều này cũng cần được theo dõi cẩn thận, để nó không trở thành sự thống trị kẻ sa ngã, mà là một sự nâng đỡ đích thực. |
|
The hardest lesson that the young Leo has to learn is to overcome his pride and arrogance, and to conquer by outright battle within himself such faults as lack of restraint, impatience and self-indulgence. When victory is achieved in this field he can go out into the world his own master, and transformed in this way, he can give generously of his own vitality, put wrongs to right, regenerate the forgotten and fallen, and resurrect the failing and forlorn cause. He will radiate his sense of beauty and harmony, and, aware of the passage of the Sun in its rising and setting, he will order his own cycles to the advantage of himself and all who come within his sphere of influence. |
Bài học khó nhất mà Sư Tử trẻ phải học là vượt qua niềm kiêu hãnh và sự ngạo mạn của mình, và chinh phục bằng cuộc chiến công khai bên trong chính mình những tật xấu như thiếu tự chế, nóng nảy và tự nuông chiều. Khi chiến thắng đạt được trong lĩnh vực này, nó có thể bước ra thế gian làm chủ chính mình, và được chuyển hoá theo cách ấy, nó có thể hào phóng hiến tặng sinh lực của mình, sửa sai cho điều sai trái, tái sinh kẻ bị quên lãng và sa ngã, và phục sinh cho chính nghĩa đang suy tàn và bị bỏ rơi. Nó sẽ toả ra ý thức về cái đẹp và sự hài hòa, và, ý thức về sự đi qua của Mặt Trời trong mọc và lặn, nó sẽ sắp đặt các chu kỳ của chính mình vì lợi ích của bản thân và của tất cả những ai đi vào trong phạm vi ảnh hưởng của nó. |
HEALTH HINTS for LEO—GỢI Ý SỨC KHỎE cho SƯ TỬ
|
The Lord hath created medicines out of the Earth; and he that is wise will not abhor them.—Sirach Apocrypha 38: 4 |
Chúa đã tạo ra thuốc men từ Trái Đất; và người khôn ngoan sẽ không ghê tởm chúng.—Sirach Ngụy Kinh 38: 4 |
The Tissue Salts—Các Muối Mô
|
Esoteric research has shown that there are twelve basic ‘tissue salts’ which need to be replaced when the body is subject to stress. Normally the body cells can cope with the exigencies of everyday life, but energy expenditure at harsher and more sustained levels requires cell salt replacement above that which can be normally provided from the body’s stores, and such replacement must be in a refined, ‘etheric’ state in order to move rapidly out of tissue fluids, through cell walls, to the sites of energy expenditure. The twelve tissue salts as elaborated by Dr. W. H. Schuessler, not only supply the immediate deficiencies of a cell under stress, but arouse and stimulate the natural recuperative forces of the body as a whole. In no way do they interfere with the therapy of the orthodox physician, which should be continued where prescribed. In 1832, a medical paper announced that: |
Nghiên cứu huyền môn đã cho thấy có mười hai “muối mô” căn bản cần được bù lại khi cơ thể chịu căng thẳng. Bình thường các tế bào cơ thể có thể đối phó với những đòi hỏi của đời sống hằng ngày, nhưng sự tiêu hao năng lượng ở mức khắc nghiệt hơn và kéo dài hơn đòi hỏi phải bù muối tế bào vượt quá mức có thể được cung cấp bình thường từ các dự trữ của cơ thể, và sự bù này phải ở trạng thái tinh luyện, “dĩ thái” để có thể nhanh chóng đi ra khỏi dịch mô, xuyên qua vách tế bào, đến các vị trí tiêu hao năng lượng. Mười hai muối mô như được Bác sĩ W. H. Schuessler triển khai, không chỉ bù đắp những thiếu hụt tức thời của một tế bào đang chịu căng thẳng, mà còn đánh thức và kích thích các mãnh lực hồi phục tự nhiên của toàn bộ cơ thể. Chúng không hề can thiệp vào liệu pháp của y học chính thống, vốn nên được tiếp tục khi được kê đơn. Năm 1832, một bài báo y học đã công bố rằng: |
|
“All the essential components of the human body are great remedies.” |
“Tất cả các thành phần thiết yếu của cơ thể con người đều là những phương thuốc lớn.” |
|
The tissue salts are all body components and are, therefore, natural remedies. The twelve tissue salts have been related to the signs of the zodiac, so that the efficient astrologer can detect any latent weakness in body constitution in terms of the salts and assess and forecast the cyclical periods when these weaknesses are most likely to manifest. The required tissue salt is frequently indicated by the placement of the Sun in the corresponding sign or the sign rising. |
Các muối mô đều là các thành phần của cơ thể và vì vậy là các phương thuốc tự nhiên. Mười hai muối mô đã được liên hệ với các dấu hiệu của Hoàng đạo, để nhà chiêm tinh hiệu quả có thể phát hiện bất kỳ điểm yếu tiềm ẩn nào trong thể chất theo các muối và đánh giá cũng như dự báo các giai đoạn chu kỳ khi những điểm yếu này có khả năng biểu lộ nhất. Muối mô cần thiết thường được chỉ ra bởi vị trí của Mặt Trời trong dấu hiệu tương ứng hoặc dấu hiệu mọc. |
|
The Twelve Salts and the Zodiacal Signs: |
Mười Hai Muối và các Dấu hiệu Hoàng đạo: |
|
• Aries: Potassium Phosphate |
• Bạch Dương: Phốt phát Kali |
|
• Taurus: Sodium Sulphate |
• Kim Ngưu: Sunfat Natri |
|
• Gemini: Potassium Sulphate |
• Song Tử: Sunfat Kali |
|
• Cancer: Calcium Sulphate |
• Cự Giải: Sunfat Canxi |
|
• Leo: Silica |
• Sư Tử: Silica |
|
• Virgo: Sodium Phosphate |
• Xử Nữ: Phốt phát Natri |
|
• Libra: Calcium Fluoride |
• Thiên Bình: Florua Canxi |
|
• Scorpio: Potassium Chloride |
• Hổ Cáp: Clorua Kali |
|
• Sagittarius: Magnesium Phosphate |
• Nhân Mã: Phốt phát Magiê |
|
• Capricorn: Calcium Phosphate |
• Ma Kết: Phốt phát Canxi |
|
• Aquarius: Sodium Chloride |
• Bảo Bình: Clorua Natri |
|
• Pisces: Iron Phosphate |
• Song Ngư: Phốt phát Sắt |
|
The above correlations apply to man on the spiritual path. They were assessed by the Master Robert Browning for the assistance of disciples and for diseases of discipleship and they differ somewhat from orthodox interpretations. Traditionally, silica is allocated to Sagittarius, which like Leo, is a fire sign. But human consciousness changes as do the incoming forces of the zodiac, the Sun and the planet itself. At this time, from careful research, the facts show a better correlation of silica to Leo. |
Những tương quan trên áp dụng cho con người trên con đường tinh thần. Chúng được Chân sư Robert Browning đánh giá nhằm trợ giúp các đệ tử và cho các bệnh của địa vị đệ tử, và chúng khác đôi chút so với các diễn giải chính thống. Theo truyền thống, silica được phân cho Nhân Mã, vốn, như Sư Tử, là một dấu hiệu hành hỏa. Nhưng tâm thức con người thay đổi cũng như các mãnh lực đang đi vào của Hoàng đạo, Mặt Trời và chính hành tinh. Vào thời điểm này, qua nghiên cứu cẩn trọng, các dữ kiện cho thấy một tương quan tốt hơn của silica với Sư Tử. |
|
Silica |
Silica |
|
It is the strong First Ray of Will and Power, flowing through Leo, that brings to the sign the strong characteristic of synthesis. Whilst Aquarius produces dictatorship with extreme facility, Leo, the sign that complements Aquarius, would, in this instance, help synthesise the national drives, urges, culture and economy, binding them together for the use of the dictator. In the esoteric approach to politics, the First Ray rules fascism. |
Chính Cung một mạnh mẽ về Ý Chí và Quyền Năng, tuôn chảy qua Sư Tử, đem đến cho dấu hiệu đặc tính mạnh mẽ của sự tổng hợp. Trong khi Bảo Bình tạo ra độc tài với sự dễ dàng cực độ, Sư Tử, dấu hiệu bổ sung của Bảo Bình, trong trường hợp này, sẽ giúp tổng hợp các động lực, thôi thúc, văn hóa và kinh tế quốc gia, kết chúng lại với nhau để phục vụ nhà độc tài. Trong cách tiếp cận huyền môn đối với chính trị, Cung một cai quản chủ nghĩa phát xít. |
|
Through the mechanism of sodium chloride, the salt of Aquarius, transmission of nervous impulses in the cords is permitted, and it can be seen how the mind rules the cells, dictates their action, binds them into a unity and rules them. Regal Leo is essentially a ruler; he often resorts to his complementary side of dictatorship to obtain his ends. |
Thông qua cơ chế của clorua natri, muối của Bảo Bình, sự truyền dẫn các xung động thần kinh trong các dây được cho phép, và có thể thấy thể trí cai quản các tế bào, chỉ định hành động của chúng, kết chúng thành một hợp nhất và cai quản chúng. Sư Tử vương giả về bản chất là một kẻ cai quản; y thường viện đến mặt bổ sung của mình là độc tài để đạt mục đích. |
|
The salt silica contains the binding and synthetic power of Leo. It occurs in nature as quartz and flint (from which glass is made). With a specific gravity of 2.42 and the formula Si O2, silica gives the weakest of the inorganic acids. It is found amorphously as graphite or crystalline. It is the oxide of the element silicon and is never found in the free state. |
Muối silica chứa quyền năng kết dính và tổng hợp của Sư Tử. Nó xuất hiện trong tự nhiên như thạch anh và đá lửa (từ đó làm ra thủy tinh). Với tỷ trọng riêng 2,42 và công thức Si O2, silica cho ra loại axit vô cơ yếu nhất. Nó được tìm thấy ở dạng vô định hình như than chì hoặc dạng tinh thể. Nó là oxit của nguyên tố silic và không bao giờ được tìm thấy ở trạng thái tự do. |
|
It is due to the hardness of silica that straw, bamboo and certain grasses posses their stiffness. Silica is also found in the connective tissue which binds cells together and into organs. It is found in the connective tissue of the delicate structures investing the brain, including those which absorb and secrete the cerebrospinal fluid. |
Chính do độ cứng của silica mà rơm, tre và một số loại cỏ có độ cứng cáp. Silica cũng được tìm thấy trong mô liên kết vốn kết các tế bào lại với nhau và thành các cơ quan. Nó được tìm thấy trong mô liên kết của các cấu trúc tinh tế bao bọc bộ não, bao gồm những cấu trúc hấp thu và tiết dịch não tủy. |
|
The only other element which seems to have the integrating power of Leonine silicon is carbon. It is said that if there are any stellar structures which are evolving living forms, basically different in structure to our own, they could only be using silicon as the integrating element, in the same way as carbon has become the organic cornerstone of our plant, animal and human tissue. |
Nguyên tố duy nhất khác dường như có quyền năng tích hợp như silic của Sư Tử là carbon. Người ta nói rằng nếu có bất kỳ cấu trúc tinh tú nào đang tiến hoá các hình tướng sống, về cơ bản khác với cấu trúc của chúng ta, thì chúng chỉ có thể dùng silic làm nguyên tố tích hợp, theo cùng cách carbon đã trở thành nền tảng hữu cơ của mô thực vật, động vật và nhân loại của chúng ta. |
|
Both silica and carbon are strong in First Ray qualities. The diamond, the highest morphological structure of carbon, is a First Ray jewel. The rock crystal is a product of silicon. So are many other gems. All crystals and gems are examples of synthesis. The initiating fires of the Sun (Leo) acting in concert with the opposing fires of the centre of the Earth, produce gems from the most eligible atoms of the planet—those two which respond best to the Sun’s fiery rays, viz., carbon and silicon. Other elements, acting as salts etc., give colour, lustre and quality to gems. In this respect we have an interesting correlation: |
Cả silica lẫn carbon đều mạnh về các phẩm tính Cung một. Kim cương, cấu trúc hình thái học cao nhất của carbon, là một bảo thạch Cung một. Pha lê đá là sản phẩm của silic. Nhiều loại đá quý khác cũng vậy. Mọi tinh thể và đá quý đều là những ví dụ của sự tổng hợp. Các ngọn lửa điểm đạo của Mặt Trời (Sư Tử) phối hợp với các ngọn lửa đối nghịch của trung tâm Trái Đất, tạo ra đá quý từ những nguyên tử ưu tuyển nhất của hành tinh—hai nguyên tử đáp ứng tốt nhất với các tia lửa của Mặt Trời, tức là carbon và silic. Các nguyên tố khác, hoạt động như các muối v.v., đem lại màu sắc, độ bóng và phẩm chất cho đá quý. Ở khía cạnh này, chúng ta có một tương quan thú vị: |
|
The Sun (fire), silicon and carbon and their responsiveness to each other in co-operation (attraction) and repulsion are well known: |
Mặt Trời (lửa), silic và carbon và sự đáp ứng lẫn nhau của chúng trong hợp tác (hấp dẫn) và đẩy lùi là điều đã được biết rõ: |
|
Si 02 + 2C = Si + 2 C0 |
Si 02 + 2C = Si + 2 C0 |
|
Carbon reduces silica at 1450° centigrade and yet the diamond (carbon) and mica (silica) are greatly resistant to fire and changes of temperature. The fiery sign, Aries, is also strongly First Ray and it would be better to allocate the diamond to Aries and the rock crystal to Leo. |
Carbon khử silica ở 1450° bách phân và tuy vậy kim cương (carbon) và mica (silica) lại rất kháng lửa và sự thay đổi nhiệt độ. Dấu hiệu hành hỏa, Bạch Dương, cũng mạnh về Cung một và sẽ tốt hơn nếu phân kim cương cho Bạch Dương và pha lê đá cho Sư Tử. |
|
Some of the complementing aspects of Leo and Aquarius may be worth considering here. Where Leo is the will and fire of mind, Aquarius is the mentality. Where Aquarius is the conductor, Leo is the insulator, originator and terminator of the conducted impulse (from the brain). |
Một số góc bổ sung của Sư Tử và Bảo Bình có thể đáng để cân nhắc ở đây. Nơi Sư Tử là ý chí và lửa của thể trí, Bảo Bình là tính trí tuệ. Nơi Bảo Bình là chất dẫn, Sư Tử là chất cách điện, kẻ khởi phát và kẻ kết thúc của xung động được dẫn truyền (từ bộ não). |
|
The silica of mica is resistant to great heat but the silica of glass is a great absorber of heat. At red heat, silica (Leo) reacts magnificently with sodium chloride (Aquarius) and the process is used in stone-glazing (with Hydrogen Chloride as a by-product). The pigments related to silica are the ochres, the umbers and burnt sienna, often linked with iron. |
Silic của mica chịu được nhiệt độ rất cao, nhưng silic của thủy tinh lại là một chất hấp thụ nhiệt rất mạnh. Ở nhiệt đỏ, silic (Sư Tử) phản ứng một cách tuyệt vời với natri clorua (Bảo Bình) và tiến trình này được dùng trong việc tráng men đá (với axit clohydric là một sản phẩm phụ). Các sắc tố liên hệ với silic là các loại hoàng thổ, umber và sienna nung, thường gắn với sắt. |
|
Some light may be thrown here on the extreme sensitivity of many Leo and Aries people to the Sun’s direct rays. There is a risk of excessive sodium chloride loss through the effects of heat and sweating and of sunstroke, violent headaches and spinal upsets. People with the signs of Aquarius and Leo strongly afflicted in their natal charts, should guard against these dangers and others which may tend to deplete their bodies of sodium chloride and silica. |
Ở đây có thể soi sáng phần nào tính nhạy cảm cực độ của nhiều người Sư Tử và Bạch Dương đối với các tia trực tiếp của Mặt Trời. Có nguy cơ mất natri clorua quá mức do tác động của nhiệt và mồ hôi, cùng nguy cơ say nắng, nhức đầu dữ dội và rối loạn cột sống. Những người có các dấu hiệu Bảo Bình và Sư Tử bị tác động mạnh trong lá số sinh của họ, nên đề phòng các nguy hiểm này và những nguy hiểm khác vốn có thể làm cơ thể họ bị suy kiệt natri clorua và silic. |
|
Those with physical bodies ruled by the First Ray—the very fair type, with eyelids that easily redden—are the most likely to suffer from exposure to heat and Sun. They are often tall and slender and very ectodermal in structure and ectomorphic in habit. They have sensitive skins which often freckle or peel quickly and with difficulty. They are often blue-eyed. |
Những người có thể xác do Cung một cai quản—kiểu người rất trắng, với mí mắt dễ đỏ—là những người dễ bị tổn hại nhất khi phơi nhiễm với nhiệt và Mặt Trời. Họ thường cao và mảnh, và rất thuộc loại ngoại bì về cấu trúc và thuộc kiểu ngoại hình về thói quen. Họ có làn da nhạy cảm, thường dễ tàn nhang hoặc bong tróc nhanh và khó lành. Họ thường có mắt xanh. |
|
This sensitivity of ectomorphic bodily aspects to Leonine influences of the Sun indicates other structures which lie deeper than the surface of the body and are well-known to any embryologist. The cortex of the adrenal gland, the hair, nails, lens of the eye, enamel etc., are but a few organs which would be responsive to imbalance in silica and sodium chloride. |
Tính nhạy cảm của các phương diện thể chất kiểu ngoại hình đối với các ảnh hưởng Sư Tử của Mặt Trời cho thấy những cấu trúc khác nằm sâu hơn bề mặt cơ thể và vốn được bất kỳ nhà phôi học nào biết rõ. Vỏ của tuyến thượng thận, tóc, móng, thủy tinh thể của mắt, men răng, v.v., chỉ là vài cơ quan sẽ đáp ứng với sự mất cân bằng của silic và natri clorua. |
|
Silica seems to provide the basis for adequate outer protection, for integration of the surface skeleton. The outer edge of leaves, the walls of plant xylem, the stiffness of straw, bamboo and certain grasses point to the influence of silica. |
Silic dường như cung cấp nền tảng cho sự bảo vệ bên ngoài đầy đủ, cho sự tích hợp của bộ xương bề mặt. Mép ngoài của lá, thành mạch gỗ của thực vật, độ cứng của rơm, tre và một số loài cỏ cho thấy ảnh hưởng của silic. |
|
Prana is of the Sun and its sign Leo. The symbol of the Sun is the point within the circle. But this is also the symbol of the vitality globule, the bearer of prana. It is through the surface skeleton, influenced as it is by silica and the Sun itself, that a great percentage of our bodily requirements of prana (vitality) is absorbed. Defection of silica will affect this absorption. |
Prana thuộc về Mặt Trời và dấu hiệu của nó là Sư Tử. Biểu tượng của Mặt Trời là điểm ở trong vòng tròn. Nhưng đó cũng là biểu tượng của Sinh khí cầu, vật mang prana. Chính qua bộ xương bề mặt, vốn chịu ảnh hưởng của silic và của chính Mặt Trời, mà một tỷ lệ lớn các nhu cầu prana (sinh lực) của cơ thể chúng ta được hấp thụ. Sự thiếu hụt silic sẽ ảnh hưởng đến sự hấp thụ này. |
|
Accent has been placed on the cerebral and ectomorphic aspects of Leo and the First Ray. But the Second Ray also plays a large part in the make-up of Leo and indeed Leo rules the heart. The heart is that organ which functions as a receiving and circulating organ for prana, brought into the body through the lungs from the atmosphere. The heart is a sort of outpost of the Sun and if seen by etheric vision, channels of subtle matter are traced to solar streams. The heart has one function that is independent of the body and another which is strongly influenced by nervous and chemical factors. It is the former which comes under the Leo influence, whilst the latter lies in the province of the sign Gemini. |
Sự nhấn mạnh đã được đặt vào các phương diện đại não và kiểu ngoại hình của Sư Tử và Cung một. Tuy nhiên, Cung hai cũng đóng một phần lớn trong cấu tạo của Sư Tử và thực ra Sư Tử cai quản tim. Tim là cơ quan hoạt động như một cơ quan tiếp nhận và lưu chuyển prana, được đưa vào cơ thể qua phổi từ khí quyển. Tim là một loại tiền đồn của Mặt Trời và nếu được thấy bằng linh thị dĩ thái, các kênh của vật chất vi tế được lần theo đến các dòng chảy thái dương. Tim có một chức năng độc lập với cơ thể và một chức năng khác chịu ảnh hưởng mạnh bởi các yếu tố thần kinh và hoá học. Chức năng thứ nhất thuộc dưới ảnh hưởng của Sư Tử, trong khi chức năng thứ hai nằm trong phạm vi của dấu hiệu Song Tử. |
|
Silica ripens abscesses and promotes suppuration. Here are some pointers to particular indications for silica: want of ‘grit’; tires easily, being stronger mentally than physically (an ectomorphic aspect); over-sensitive to noises; intense internal chilliness; absent-minded; disgust for meat and warm food; foetid foot-sweat, also of armpits; violent sneezing; headaches from hunger, overstudy, indigestion, and nervous exhaustion; styes; eyestrain; deafness. |
Silic làm chín mủ áp-xe và thúc đẩy sự hoá mủ. Dưới đây là một số chỉ dấu về các chỉ định đặc thù cho silic: thiếu “độ lì”; dễ mệt, mạnh về trí tuệ hơn là thể lực (một phương diện kiểu ngoại hình); quá nhạy với tiếng ồn; cảm giác lạnh buốt nội tại dữ dội; đãng trí; ghê thịt và thức ăn nóng; mồ hôi chân hôi thối, cả ở nách; hắt hơi dữ dội; nhức đầu do đói, học quá sức, khó tiêu và kiệt quệ thần kinh; lẹo; mỏi mắt; điếc. |
|
Silica is found in wholewheat bread and in the white of eggs. Those lacking in silica should pay heed to such diet. Any standard work of homeopathy or guide to biochemic treatment, will provide an extensive and comprehensive list of the silica symptoms and treatment. |
Silic có trong bánh mì lúa mì nguyên cám và trong lòng trắng trứng. Những người thiếu silic nên lưu tâm đến chế độ ăn như vậy. Bất kỳ tác phẩm tiêu chuẩn nào về vi lượng đồng căn hoặc cẩm nang về điều trị sinh hoá, đều sẽ cung cấp một danh sách rộng và đầy đủ về các triệu chứng silic và cách điều trị. |
Leo and the Flower Remedies—Sư Tử và các Liệu Pháp Hoa
|
The flower remedies, as devised by Dr. Edward Bach, have long been known and valued by esoteric healers for their efficacy in treating the underlying causes of disease, rather than the mere symptoms. They are perfectly safe to use and make an ideal complement to orthodox treatments. It is an index of their increasing popularity that they are now readily available in many health food stores and healing centres. I can recommend four of the remedies in particular for the Leo type: Oak, Chicory, Rock Rose and Cherry Plum. |
Các liệu pháp hoa, do Bác sĩ Edward Bach đề xướng, từ lâu đã được các nhà trị liệu huyền môn biết đến và trân trọng vì hiệu lực của chúng trong việc chữa trị các nguyên nhân nền tảng của bệnh tật, hơn là chỉ các triệu chứng. Chúng hoàn toàn an toàn khi sử dụng và là một bổ trợ lý tưởng cho các phương pháp điều trị chính thống. Sự phổ biến ngày càng tăng của chúng được phản ánh ở chỗ nay chúng đã dễ dàng có mặt tại nhiều cửa hàng thực phẩm sức khỏe và các trung tâm trị liệu. Tôi có thể đặc biệt khuyến nghị bốn liệu pháp cho kiểu Sư Tử: Sồi, Cúc vu, Hồng đá và Mận anh đào. |
|
The Leo group of remedies is one of the most crucial: they are used for important occasions or for ‘cliffhanger’ situations. This is an important point to remember. Often the remedies enable the patient to make a last-ditch stand. In doing the occult side of the research into this group, the Master gave me the following powerful, never-to-be-forgotten experience, which applies very specifically to Cherry Plum and to all four of this group in general: |
Nhóm liệu pháp của Sư Tử là một trong những nhóm then chốt nhất: chúng được dùng cho những dịp quan trọng hoặc cho các tình huống “treo trên bờ vực”. Đây là một điểm quan trọng cần ghi nhớ. Thường thì các liệu pháp giúp bệnh nhân có thể đứng vững trong nỗ lực cuối cùng. Khi thực hiện mặt huyền môn của việc nghiên cứu nhóm này, Chân sư đã cho tôi trải nghiệm mạnh mẽ sau đây, không thể nào quên, vốn áp dụng rất cụ thể cho Mận anh đào và nói chung cho cả bốn liệu pháp của nhóm này: |
|
“In despair, I lower myself over the edge of a great cliff. Far below me (it takes about ten seconds for a body to reach it) is the abyss, a nether region of jutting rocks and water. Every now and again someone leaps. I begin to note, as I cling there, that some don’t fall on rocks but into water—surely some of them will survive. Maybe if I jump far out, I can miss the rocks. I hold on and struggle with my mind. Then I decide, though I am weary of it all, I will climb back. I call to those on the edge above me to help pull me back. No one hears, or if they do, they heed not. At first I think I can’t manage, but with my last and now (I note) gaining strength, I draw myself up and climb back to safety.” |
“Trong tuyệt vọng, tôi hạ mình xuống qua mép của một vách đá lớn. Rất xa bên dưới tôi (mất khoảng mười giây để một thân thể rơi tới đó) là vực thẳm, một vùng tối thấp với đá nhọn chĩa ra và nước. Thỉnh thoảng lại có người nhảy. Tôi bắt đầu nhận thấy, khi bám ở đó, rằng có người không rơi lên đá mà rơi xuống nước—chắc hẳn một số sẽ sống sót. Có lẽ nếu tôi nhảy thật xa ra ngoài, tôi có thể tránh đá. Tôi bám chặt và vật lộn với thể trí của mình. Rồi tôi quyết định, dù đã mệt mỏi vì tất cả, tôi sẽ leo trở lại. Tôi gọi những người ở mép phía trên giúp kéo tôi lên. Không ai nghe, hoặc nếu có nghe thì họ cũng không để ý. Lúc đầu tôi nghĩ mình không thể làm nổi, nhưng với sức lực cuối cùng và giờ đây (tôi nhận ra) đang tăng lên, tôi tự kéo mình lên và leo trở lại nơi an toàn.” |
|
— Dream vision during research into Cherry Plum, from the author’s spiritual diary 1977, pages 276-7. |
— Linh ảnh trong mơ khi nghiên cứu Mận anh đào, trích nhật ký tinh thần của tác giả năm 1977, trang 276-7. |
|
I include here some examples of ‘cliffhanger’ situations, when the Leo group of remedies can be called into play: |
Tôi nêu ở đây một số ví dụ về các tình huống “treo trên bờ vực”, khi nhóm liệu pháp của Sư Tử có thể được vận dụng: |
|
• Where a person has finally lost faith, even, for instance, in his religion. |
• Khi một người cuối cùng đã mất niềm tin, thậm chí, chẳng hạn, vào tôn giáo của y. |
|
• For those who are brainwashed by despair, to the exclusion of all reason. |
• Cho những người bị tuyệt vọng “tẩy não”, loại trừ mọi lý trí. |
|
• For those ready to clutch at any straw. |
• Cho những người sẵn sàng bấu víu vào bất cứ cọng rơm nào. |
|
• For those who won’t fight back even when their dearest possessions are being misused. |
• Cho những người không phản kháng ngay cả khi những tài sản quý nhất của họ đang bị lạm dụng. |
|
• For a family that is united by the pain and suffering of someone dying in its midst. |
• Cho một gia đình được gắn kết bởi nỗi đau và sự chịu đựng của một người đang hấp hối ngay trong nhà. |
|
• For someone who has committed some unutterable indiscretion or faux-pas, who doesn’t know how to reverse or correct the train of events thus unleashed. |
• Cho một người đã phạm một sự bất cẩn hoặc một lỗi xã giao không thể nói ra, người không biết làm sao đảo ngược hay sửa chữa chuỗi sự kiện đã được giải phóng như vậy. |
|
• In that desperate pause when, figuratively if not literally, the heart pauses and girds its strength to beat again. That is the time to think of the remedies of the Lion. Lion-hearted action is needed. |
• Trong khoảnh khắc tuyệt vọng khi, theo nghĩa bóng nếu không theo nghĩa đen, trái tim ngừng lại và dồn sức để đập trở lại. Đó là lúc nghĩ đến các liệu pháp của Sư Tử. Cần hành động quả cảm của trái tim sư tử. |
|
Now a word of warning and a reminder. Do not just prescribe a flower remedy when someone in a desperate situation needs help. Obviously you should call in whatever aid is needed under the normal course of such events. All your patients should have seen their medical practitioners if anything serious is involved. They take care of the physical vehicle, and rightly so. Your concern is for causes of the condition lying in the psyche, in the realm of emotion and mind and spirit. But whilst that physical help is coming in the emergency, when you dare not leave the patient’s side, then the emergency remedies can be used. The difficulty is often to judge when, for instance, someone really is contemplating suicide, has reached the end of his tether and is making a last-ditch stand. |
Giờ đây là một lời cảnh báo và nhắc nhở. Đừng chỉ kê một liệu pháp hoa khi ai đó trong tình huống tuyệt vọng cần được giúp đỡ. Rõ ràng các bạn nên gọi bất cứ sự trợ giúp nào cần thiết theo diễn tiến bình thường của những sự việc như vậy. Tất cả bệnh nhân của các bạn nên đã gặp các bác sĩ của họ nếu có điều gì nghiêm trọng liên quan. Họ chăm sóc vận cụ hồng trần, và đúng như vậy. Mối quan tâm của các bạn là các nguyên nhân của tình trạng nằm trong tâm lý, trong lĩnh vực cảm xúc và thể trí và tinh thần. Nhưng trong khi sự trợ giúp hồng trần ấy đang đến trong tình huống khẩn cấp, khi các bạn không dám rời bệnh nhân, thì các liệu pháp khẩn cấp có thể được dùng. Khó khăn thường là ở chỗ phán đoán khi nào, chẳng hạn, một người thật sự đang nghĩ đến tự sát, đã đến giới hạn chịu đựng và đang đứng vững trong nỗ lực cuối cùng. |
|
Generally, if the patient is under medical care of any sort, he needs supportive treatment by flower remedies. On the other hand, the vast majority of human suffering never reaches the orthodox medical consultant, and never should. Common sense, careful case-history taking, much experience and access to the advice of colleagues can overcome the problem of when the remedies are not sufficient, and a more orthodox approach with all the attendant discomforts of its side-effects is needed. |
Nói chung, nếu bệnh nhân đang được chăm sóc y khoa theo bất kỳ hình thức nào, y cần điều trị hỗ trợ bằng các liệu pháp hoa. Mặt khác, đại đa số khổ đau của nhân loại không bao giờ đến với bác sĩ tư vấn chính thống, và cũng không nên. Lẽ thường, việc ghi nhận bệnh sử cẩn thận, nhiều kinh nghiệm và khả năng tiếp cận lời khuyên của đồng nghiệp có thể giải quyết vấn đề khi các liệu pháp không đủ, và cần một cách tiếp cận chính thống hơn với mọi khó chịu đi kèm do tác dụng phụ của nó. |
|
As already discussed, the biochemical salt for Leo is silica or, if you wish, just plain grit—for those who need to grit their teeth and hold on till the forces of natural healing and redemption (from karma) arrive. Silica has a wonderful cementing, uniting quality about it, so expressive of the two Rays that flood through, or should flood through, the sign of Leo: |
Như đã bàn, muối sinh hoá cho Sư Tử là silic hoặc, nếu các bạn muốn, chỉ đơn giản là “độ lì”—cho những người cần nghiến răng và bám trụ cho đến khi các lực chữa lành tự nhiên và sự cứu chuộc (khỏi nghiệp quả) đến. Silic có một phẩm tính kết dính, hợp nhất tuyệt vời, biểu đạt rất rõ hai Cung tuôn tràn qua, hoặc đáng lẽ phải tuôn tràn qua, dấu hiệu Sư Tử: |
|
• The First Ray of Will and Power. |
• Cung một của Ý Chí và Quyền Năng. |
|
• The Second Ray of Love-Wisdom. |
• Cung hai của Bác Ái – Minh Triết. |
|
Very frequently, the problem of the Leo type (and those subtypes which come under its four flower remedies) is not that they lack will or that they lack love, but rather that each of these Leonine qualities has become isolated and non-interactive. The one supports and enhances the other. Silica and the Leo flower remedies perform this uniting at subtlest levels which permeate finally into the mental, emotional and etheric vehicles to bring healing. Strength is gained rapidly with the renewed co-ordination of love and will, and rehabilitation follows. |
Rất thường xuyên, vấn đề của kiểu Sư Tử (và những kiểu phụ thuộc dưới bốn liệu pháp hoa của nó) không phải là họ thiếu ý chí hay thiếu tình thương, mà đúng hơn là mỗi phẩm tính Sư Tử này đã trở nên cô lập và không tương tác. Cái này nâng đỡ và tăng cường cái kia. Silic và các liệu pháp hoa của Sư Tử thực hiện sự hợp nhất này ở những tầng vi tế nhất, cuối cùng thấm vào các vận cụ trí tuệ, cảm dục và dĩ thái để đem lại chữa lành. Sức mạnh được phục hồi nhanh chóng cùng với sự phối hợp mới giữa tình thương và ý chí, và sự hồi phục theo sau. |
|
Oak |
Sồi |
|
Dr. Bach described the Oak type as “Brave people, fighting against great difficulties without loss of hope or slackening of effort.” On the positive side, the author wishes to emblazon on the minds of healers the two royal (Leo) qualities of the Oak type: |
Bác sĩ Bach mô tả kiểu Sồi là “Những người dũng cảm, chiến đấu chống lại những khó khăn lớn mà không mất hy vọng hay giảm nỗ lực.” Về mặt tích cực, tác giả muốn khắc sâu vào tâm trí các nhà trị liệu hai phẩm tính vương giả (Sư Tử) của kiểu Sồi: |
|
1 Quiet courage (a matter of the heart, and the Second Ray of Love-Wisdom). |
1 Dũng khí thầm lặng (một vấn đề của tim, và Cung hai của Bác Ái – Minh Triết). |
|
2 The unceasing effort that only a powerful will can manifest (the First Ray of Will and Power). |
2 Nỗ lực không ngừng nghỉ mà chỉ một ý chí mạnh mẽ mới có thể biểu lộ (Cung một của Ý Chí và Quyền Năng). |
|
The Oak type somehow remains inwardly aware of the eternal nature of his inner Self, the spiritual heart of man, despite the appalling difficulties he is encountering in this particular incarnation. Without the arrogance of the worst of Leo, he can quietly assert in the troughs of his pain: |
Kiểu Sồi bằng cách nào đó vẫn giữ được sự nhận biết nội tâm về bản chất vĩnh cửu của Chân Ngã nội tại của y, trái tim tinh thần của con người, bất chấp những khó khăn khủng khiếp mà y đang gặp trong lần lâm phàm đặc thù này. Không có sự kiêu ngạo của phần tệ nhất của Sư Tử, y có thể lặng lẽ khẳng định trong những đáy sâu của đau đớn: |
|
It matters not how strait the gate |
Dẫu cửa hẹp đến đâu cũng chẳng hề chi |
|
How charged with punishment the scroll. |
Dẫu bản án ghi trên cuộn giấy nặng nề. |
|
I am the master of my fate; |
Tôi là chủ nhân của số phận mình; |
|
I am the captain of my soul. |
Tôi là thuyền trưởng của linh hồn tôi. |
|
— W.E. Henley |
— W.E. Henley |
|
The scroll of karma is usually a long one for these lovely people because they are always old souls. Their plight is related to the fixedness of the Leo sign, and for many lives their rigidity of outlook, both at emotional and mental levels has become so entrenched that the Soul, in despair of a change of personality towards that malleable nature it so needs in order to unfold its petals, chooses a life in which a chronic illness acting on the crystallised personality produces the necessary change. |
Cuộn giấy nghiệp quả thường rất dài đối với những người đáng mến này vì họ luôn là những linh hồn già. Cảnh ngộ của họ liên hệ với tính cố định của dấu hiệu Sư Tử, và qua nhiều kiếp sống, sự cứng nhắc trong quan điểm của họ, cả ở tầng cảm xúc lẫn trí tuệ, đã trở nên ăn sâu đến mức linh hồn, trong tuyệt vọng trước một sự thay đổi của phàm ngã hướng đến bản tính mềm dẻo mà nó rất cần để khai mở các cánh hoa của mình, chọn một đời sống trong đó một bệnh mạn tính tác động lên phàm ngã đã kết tinh tạo ra sự thay đổi cần thiết. |
|
So little do they show their despair and disappointment with their limited capacities that others seek to use them as a dumping ground for their emotional garbage and their responsibilities. Their concrete attitudes enable them to endure the most awful stress but, like any crystallised structure, the time comes when the strain can shatter the rigid structure very suddenly and catastrophically. |
Họ ít bộc lộ tuyệt vọng và thất vọng về những năng lực hạn chế của mình đến nỗi người khác tìm cách dùng họ như một bãi đổ rác cho rác cảm xúc và trách nhiệm của họ. Thái độ cụ thể của họ giúp họ chịu đựng áp lực khủng khiếp nhất nhưng, như bất kỳ cấu trúc kết tinh nào, sẽ đến lúc sức căng có thể làm vỡ cấu trúc cứng nhắc ấy rất đột ngột và thảm khốc. |
|
Their weakness is rigidity of attitude, and it may show in ways disguised to the healer, though more apparent to the astrologer. They get into orbit around a set or nucleus of circumstances that they can’t break away from. The covering of the personality may be as bright as a travel brochure advertising a journey to sunny shores when, at the same time, their ‘inner sun’ is being masked and racked with pain. Thus, if we could but witness it all, we would sometimes be in need of adding Cherry Plum (for suicidal thoughts) to Oak. Hornbeam gives resuscitation to the fatigued vehicles of the personality and Agrimony relief from the veiled mental torture. |
Điểm yếu của họ là sự cứng nhắc trong thái độ, và điều này có thể biểu lộ theo những cách được che giấu đối với nhà trị liệu, dù rõ hơn đối với nhà chiêm tinh. Họ đi vào quỹ đạo quanh một tập hợp hay hạt nhân hoàn cảnh mà họ không thể thoát ra. Lớp vỏ phàm ngã có thể rực rỡ như một tờ quảng cáo du lịch mời gọi đến những bờ biển nắng ấm, trong khi đồng thời “mặt trời nội tâm” của họ đang bị che phủ và bị giày vò bởi đau đớn. Vì vậy, nếu chúng ta có thể chứng kiến tất cả, đôi khi chúng ta sẽ cần thêm Mận anh đào (cho ý nghĩ tự sát) vào Sồi. Hornbeam đem lại sự hồi sức cho các vận cụ mệt mỏi của phàm ngã và Agrimony đem lại sự nhẹ nhõm khỏi sự tra tấn trí tuệ bị che giấu. |
|
Oak types often see life as a spiritual journey (around a Central Sun) and their condition as a temporary ‘fall from grace’. They feel possessed of an inner fire, which, if it cannot be expressed, must be reflected onto those about them. They don’t like to have pity reflected back in turn and writhe at having to accept help. Speaking from experience, I would always include several Leos in a healing group, to foster and radiate, through the group, its healing forces. |
Kiểu Sồi thường nhìn đời như một cuộc hành trình tinh thần (quanh một Mặt trời Tinh thần Trung Ương) và tình trạng của họ như một “sa ngã khỏi ân sủng” tạm thời. Họ cảm thấy mình có một ngọn lửa nội tâm, nếu không thể biểu đạt, thì phải phản chiếu lên những người xung quanh. Họ không thích sự thương hại được phản chiếu trở lại và quằn quại khi phải chấp nhận giúp đỡ. Nói từ kinh nghiệm, tôi luôn đưa vài người Sư Tử vào một nhóm trị liệu, để nuôi dưỡng và toả chiếu, qua nhóm, các mãnh lực chữa lành của nó. |
|
Chicory |
Cúc vu |
|
Neither the First Ray of Will and Power nor the Second Ray of Love-Wisdom are the easiest of Rays to work with when they are isolated from each other. Together they can move mountains and form natural combinations of creativeness and examples in character that become the cynosure of all eyes. This is why the remedies of Leo, representing their most positive aspect, are so frequently used. |
Cả Cung một của Ý Chí và Quyền Năng lẫn Cung hai của Bác Ái – Minh Triết đều không phải là những Cung dễ làm việc nhất khi chúng bị tách rời khỏi nhau. Khi ở cùng nhau, chúng có thể dời non lấp bể và tạo nên những kết hợp tự nhiên của tính sáng tạo và những tấm gương về tính cách khiến mọi ánh mắt đều hướng về. Đây là lý do vì sao các liệu pháp của Sư Tử, đại diện cho phương diện tích cực nhất của chúng, lại thường xuyên được dùng. |
|
When, however, the person arrogates the love entirely to himself and uses the will and power for his own ends, this is a manifestation of the Chicory type. This usually emerges in individuals who are more on the Sixth Ray of Devotion and Idealism than on the Second Ray, and who have only the weakest strain of the First Ray. If there is power, it can surge into megalomania, and what little will there is is used to secure self-interests. Mental congestion, possessiveness, intolerance and egotism all become striking features: |
Tuy nhiên, khi một người chiếm đoạt tình thương hoàn toàn cho bản thân và dùng ý chí cùng quyền năng cho mục đích riêng, đó là biểu hiện của kiểu Cúc vu. Điều này thường xuất hiện ở những cá nhân thuộc Cung sáu của Sùng Tín và Lý Tưởng nhiều hơn là thuộc Cung hai, và chỉ có một mạch Cung một yếu ớt nhất. Nếu có quyền lực, nó có thể dâng lên thành chứng hoang tưởng quyền lực, và chút ý chí ít ỏi được dùng để bảo đảm lợi ích bản thân. Sự tắc nghẽn trí tuệ, tính chiếm hữu, bất dung và tính vị kỷ đều trở thành những nét nổi bật: |
|
• I will love you, but only if you will love me back. |
• Tôi sẽ yêu bạn, nhưng chỉ nếu bạn yêu lại tôi. |
|
• I criticise you and help you for your own good. You have no right to criticise me. |
• Tôi phê bình bạn và giúp bạn vì lợi ích của bạn. Bạn không có quyền phê bình tôi. |
|
These seem to be the two main attitudes between which they oscillate and which warp their judgement and make them unbearable companions. When you serve them, their memories are short. When they serve you, their memories are interminable. They must have all the attention, though they give the sense of fairness and equal partnership lip service. The strange thing is that with such self-aggrandisement (the worst of Leo), they still never seem to achieve the great gifts that can be jewels set in the crown of Leo, like justice, mercy and compassion. At intellectual levels, they tend to be shabby and lacking in any sort of cultural depth, apart from their ostentation. |
Đó dường như là hai thái độ chính mà họ dao động giữa chúng, và chúng làm méo mó phán đoán của họ và khiến họ trở thành bạn đồng hành không thể chịu nổi. Khi bạn phục vụ họ, trí nhớ họ rất ngắn. Khi họ phục vụ bạn, trí nhớ họ kéo dài vô tận. Họ phải có mọi sự chú ý, dù họ vẫn nói suông về công bằng và quan hệ đối tác bình đẳng. Điều lạ là với sự tự tôn phóng đại như vậy (phần tệ nhất của Sư Tử), họ vẫn dường như không bao giờ đạt được những ân tặng lớn có thể là châu báu gắn trên vương miện của Sư Tử, như công lý, lòng khoan dung và lòng trắc ẩn. Ở các tầng trí tuệ, họ có xu hướng tồi tàn và thiếu bất kỳ chiều sâu văn hoá nào, ngoài sự phô trương. |
|
It is not surprising that the Chicory type manifests hysteria in the truest sense of the word. The hysterical illness is one in which the signs and symptoms merely mask the patient’s attempt to get his own way in some matter. He may not even know what it is he is trying to get or that these symptoms are related to it. He sees everything as being in orbit about him which is so very different from the Oak type, even though both have the ‘orbiting’ nature of Leo. |
Không có gì ngạc nhiên khi kiểu Cúc vu biểu lộ chứng cuồng loạn theo đúng nghĩa chân thực nhất của từ này. Bệnh cuồng loạn là bệnh trong đó các dấu hiệu và triệu chứng chỉ che đậy nỗ lực của bệnh nhân nhằm đạt được ý mình trong một việc nào đó. Y thậm chí có thể không biết mình đang cố đạt điều gì hoặc rằng các triệu chứng này có liên hệ với điều đó. Y thấy mọi thứ đều ở trong quỹ đạo quanh y, điều rất khác với kiểu Sồi, dù cả hai đều có bản tính “quay quanh quỹ đạo” của Sư Tử. |
|
The positive side of Chicory emerges when, at long last, the individual finally realises that the only true growth and happiness for him lies in serving his fellow men selflessly. In the psychology of the Seven Rays, this represents the converting of Sixth Ray features to the Second Ray. It is often not realised how frequently this is the Soul’s purpose. So many have lived lives in the monasteries of the Piscean Age under the whip of Mother Church, who demanded so assiduously that devotion to the Church and dependence on Her to the exclusion of all other maturing qualities of Her devotees. The Chicory type comes mainly from such past-life situations. |
Mặt tích cực của Cúc vu xuất hiện khi, cuối cùng, cá nhân rốt cuộc nhận ra rằng sự tăng trưởng và hạnh phúc chân thật duy nhất của y nằm ở việc phụng sự đồng loại một cách vô ngã. Trong tâm lý học về bảy Cung, điều này biểu thị việc chuyển hoá các đặc điểm Cung sáu sang Cung hai. Người ta thường không nhận ra mục đích của linh hồn thường xuyên là như thế nào. Rất nhiều người đã sống đời trong các tu viện của Thời đại Song Ngư dưới roi vọt của Mẹ Giáo Hội, Đấng đã đòi hỏi một cách cần mẫn rằng sự sùng tín đối với Giáo Hội và sự lệ thuộc vào Mẹ phải loại trừ mọi phẩm tính trưởng thành khác của các tín đồ của Mẹ. Kiểu Cúc vu chủ yếu đến từ những tình huống tiền kiếp như vậy. |
|
Rock Rose |
Hồng đá |
|
But, as he walk’d King Arthur panted hard, |
Nhưng, khi y bước Vua Arthur thở dốc nặng nề, |
|
Like one who feels a nightmare on his bed |
Như kẻ cảm thấy ác mộng trên giường |
|
When all the house is mute. |
Khi cả ngôi nhà lặng câm. |
|
— Alfred Lord Tennyson, Morte d’ Arthur |
— Alfred Lord Tennyson, Cái chết của Arthur |
|
It is common language usage to apply the expression ‘the animal could smell the fear of his victim.’ There is no doubt that in a state of terror, panic or plain shock, emotional energy is haemorrhaged into the aura, and those who are in any way psychically or instinctually (as in animals) sensitive can register the outpouring quite significantly. |
Trong cách nói thông thường, người ta dùng câu “con vật có thể ngửi thấy nỗi sợ của nạn nhân.” Không nghi ngờ gì rằng trong trạng thái kinh hoàng, hoảng loạn hay đơn thuần là sốc, năng lượng cảm xúc bị xuất huyết vào hào quang, và những ai nhạy cảm theo bất kỳ cách nào về mặt thông linh hay bản năng (như ở loài vật) có thể ghi nhận sự tuôn đổ ấy một cách đáng kể. |
|
Rock Rose should be given to all who are suffering from shock—both the receiver of the bad news and those who must witness it and share his effusions. For instance, if there has been a car accident, this remedy should be given to all concerned – rescuers confronted with dead victims and the injured victims themselves. Even where there is no actual tissue damage but just a ‘frozen’ attitude of horror, Rock Rose is effective. |
Hồng đá nên được dùng cho tất cả những ai đang chịu sốc—cả người nhận tin xấu lẫn những người phải chứng kiến và chia sẻ sự trào dâng cảm xúc của y. Chẳng hạn, nếu có tai nạn xe hơi, liệu pháp này nên được dùng cho tất cả những người liên quan – những người cứu hộ đối diện với nạn nhân tử vong và chính các nạn nhân bị thương. Ngay cả khi không có tổn thương mô thực sự mà chỉ là một thái độ “đông cứng” vì kinh hoàng, Hồng đá vẫn hiệu quả. |
|
The shock of Rock Rose is acute. It is a sudden matter which must be dealt with on the spot, usually soon passing. Where shock is delayed, or evidence of it is subclinical or converted into other signs and symptoms like hysteria, then Star of Bethlehem is more appropriate. |
Cú sốc của Hồng đá là cấp tính. Đó là một việc đột ngột phải được xử lý ngay tại chỗ, thường nhanh chóng qua đi. Khi cú sốc bị trì hoãn, hoặc bằng chứng của nó ở mức dưới lâm sàng hoặc được chuyển hoá thành các dấu hiệu và triệu chứng khác như cuồng loạn, thì Sao Bethlehem thích hợp hơn. |
|
Rock Rose should also be used for the child that has had a nightmare, where he actually remembers the events of his dream, as well as in night terrors (where no memory of the trigger event exists at all). The two conditions are thus subtly demarcated and a remedy for each of these should therefore be added: |
Hồng đá cũng nên được dùng cho đứa trẻ gặp ác mộng, khi nó thực sự nhớ các sự kiện trong giấc mơ, cũng như trong chứng kinh hoàng ban đêm (khi hoàn toàn không có ký ức về sự kiện kích phát). Vì vậy hai tình trạng được phân định tinh tế và do đó nên thêm một liệu pháp cho mỗi tình trạng: |
|
Nightmare (fear of known cause): |
Ác mộng (sợ do nguyên nhân đã biết): |
|
• Rock Rose for the shock; |
• Hồng đá cho cú sốc; |
|
• Mimulus for the fear from a known cause. Night Terror (where cause is unknown): |
• Mimulus cho nỗi sợ do nguyên nhân đã biết. Kinh hoàng ban đêm (khi nguyên nhân không biết): |
|
• Rock Rose for the physical signs and symptoms; |
• Hồng đá cho các dấu hiệu và triệu chứng hồng trần; |
|
• Aspen for vague fears of unknown origin. |
• Aspen cho những nỗi sợ mơ hồ có nguồn gốc không rõ. |
|
In all instances given above, there may be no physical damage at all. The main impact is at an astromental level. The astral body may even be temporarily forced out of alignment by a traumatic accident, like slipping on a pavement. In my book The Techniques of Astral Projection, I have described this as type two of astral projection: |
Trong tất cả các trường hợp nêu trên, có thể hoàn toàn không có tổn thương hồng trần. Tác động chính nằm ở tầng trí-cảm. Thể cảm dục thậm chí có thể tạm thời bị ép lệch khỏi sự chỉnh hợp bởi một tai nạn chấn thương, như trượt ngã trên vỉa hè. Trong sách của tôi, tôi đã mô tả điều này như kiểu thứ hai của sự phóng chiếu cảm dục: |
|
“Even with the help of a Master, one is not always quite so successful in acts of service in the astral world. Helping aged people to leave their disease-wracked bodies by coaxing them upwards and out of them during their sleep state, or death coma, is another service that is in constant demand of one roaming the inner worlds in full consciousness.” |
“Ngay cả với sự trợ giúp của một Chân sư, người ta cũng không phải lúc nào cũng thành công trọn vẹn trong các hành vi phụng sự ở cõi cảm dục. Giúp người già rời khỏi những thể xác bị bệnh tật giày vò bằng cách dỗ dành họ đi lên và ra khỏi chúng trong trạng thái ngủ, hoặc trong hôn mê tử vong, là một phụng sự khác luôn được đòi hỏi đối với người lang thang trong các cõi nội tại với tâm thức trọn vẹn.” |
|
A heavily afflicted planet in Leo would explain susceptibility to states of shock, especially with Neptune in Leo where night terrors could result. Leo rules the heart and therefore, to some extent, the circulation. Through the action or non-action of the heart, Leo rules the blood pressure. A drop in blood pressure may accompany an experience of terror and, almost as frequently, there may be a mounting of the pulse rate with raised blood pressure, especially where the stimulus acts as a stressor. The blood drains from the face when there is acute shock, and fainting may occur. |
Một hành tinh bị tác động nặng trong Sư Tử sẽ giải thích tính dễ bị các trạng thái sốc, đặc biệt với Sao Hải Vương trong Sư Tử nơi có thể dẫn đến kinh hoàng ban đêm. Sư Tử cai quản tim và vì vậy, ở một mức độ nào đó, cai quản tuần hoàn. Qua hoạt động hay không hoạt động của tim, Sư Tử cai quản huyết áp. Huyết áp tụt có thể đi kèm một trải nghiệm kinh hoàng và, gần như thường xuyên, có thể có sự tăng nhịp mạch kèm huyết áp tăng, đặc biệt khi kích thích đóng vai trò như một tác nhân gây căng thẳng. Máu rút khỏi mặt khi có sốc cấp tính, và có thể ngất xỉu. |
|
The positive qualities of Rock Rose are leonine. There is great courage—the sort of courage that embraces the best features of the First Ray of Will and Power and the Second Ray of Love-Wisdom. This is the type of courage that produces the leader of a bomb-disposal unit who unites courage and daring with compassion for those threatened by the bomb. |
Các phẩm tính tích cực của Hồng đá mang tính Sư Tử. Có một dũng khí lớn—loại dũng khí ôm trọn những đặc điểm tốt nhất của Cung một của Ý Chí và Quyền Năng và Cung hai của Bác Ái – Minh Triết. Đây là loại dũng khí tạo ra người lãnh đạo một đơn vị tháo gỡ bom mìn, người hợp nhất can đảm và táo bạo với lòng trắc ẩn đối với những người bị quả bom đe doạ. |
|
Through Leo, Rock Rose is allied to the salt silica. Rock Rose and silica bring rapid return of courage—they give the patient grit. Silica is given for organs that falter or succumb to infection (that suppurate). It even ripens abscesses and promotes their discharge. No less does its correspondent, the flower remedy Rock Rose, mature the infantile attitudes of those who, like children, are so prone to shock, to terror. |
Qua Sư Tử, Hồng đá được liên kết với muối silic. Hồng đá và silic đem lại sự trở lại nhanh chóng của dũng khí—chúng cho bệnh nhân “độ lì”. Silic được dùng cho các cơ quan suy yếu hoặc khuất phục trước nhiễm trùng (bị hoá mủ). Nó thậm chí làm chín áp-xe và thúc đẩy sự thoát mủ. Tương tự như vậy, đối ứng của nó, liệu pháp hoa Hồng đá, làm trưởng thành các thái độ ấu trĩ của những người, như trẻ con, rất dễ bị sốc, bị kinh hoàng. |
|
Correlation |
Tương quan |
|
• Silica – Leo – Ray I – Courage (active) – the Sun (in its first aspect) – Will – Central Nervous System – Rock Rose. |
• Silic – Sư Tử – Cung I – Dũng khí (chủ động) – Mặt Trời (trong phương diện thứ nhất) – Ý Chí – Hệ Thần Kinh Trung Ương – Hồng đá. |
|
• Silica – Leo – Ray II – The Heart – (the Heart of) the Sun – Love-Wisdom – Maturation – Courage (inner) – Mercy – Rock Rose. |
• Silic – Sư Tử – Cung II – Tim – (Trái tim của) Mặt Trời – Bác Ái – Minh Triết – Sự trưởng thành – Dũng khí (nội tâm) – Lòng khoan dung – Hồng đá. |
|
It becomes clear that Rock Rose is the ideal remedy for sunstroke and heat stroke (see Esoteric Healing Part II, by the author), both of which are features of a damaged central nervous system through excessive exposure to the Sun. The condition is relatively rare and is aggravated by lack of salt in the diet, or failure to supplement salt lost through sweating. Unlike most other Rock Rose conditions, these are extremely dangerous and require the immediate attention of an orthodox physician. The remedy can be given before and during his attendance. It may also be given where sudden loss of energy is felt or demonstrated as lassitude by someone who has been lying in the Sun, or working hard in it and even sleeping in it! |
Trở nên rõ ràng rằng Hồng đá là liệu pháp lý tưởng cho say nắng và sốc nhiệt (xem, của tác giả), cả hai đều là những đặc điểm của một hệ thần kinh trung ương bị tổn hại do phơi nhiễm Mặt Trời quá mức. Tình trạng này tương đối hiếm và bị làm trầm trọng bởi thiếu muối trong chế độ ăn, hoặc không bổ sung muối bị mất do đổ mồ hôi. Không giống hầu hết các tình trạng khác của Hồng đá, những tình trạng này cực kỳ nguy hiểm và đòi hỏi sự chú ý ngay lập tức của một bác sĩ chính thống. Liệu pháp có thể được dùng trước và trong khi bác sĩ đến. Nó cũng có thể được dùng khi cảm thấy hoặc biểu hiện sự mất năng lượng đột ngột như uể oải ở người đã nằm dưới nắng, hoặc làm việc nặng dưới nắng và thậm chí ngủ dưới nắng! |
|
Cherry Plum |
Mận anh đào |
|
The mind is its own place |
Thể trí là một nơi chốn của chính nó |
|
And in itself |
Và tự trong nó |
|
Can make a heaven of hell |
Có thể biến địa ngục thành thiên đường |
|
A hell of heaven. |
Biến thiên đường thành địa ngục. |
|
—John Milton, Samson Agonistes |
—John Milton, Samson Agonistes |
|
Every healer has his own memories of confrontation with desperate patients, where there is the fear of losing control of the mind, irresistible impulses to flee from the difficult situation, even to undertake an act of self-destruction because of religious and esoteric motives, etc. Perhaps the most dramatic and progressive evidence of a move towards self-destruction is seen in cases of war neurosis and shell shock. The author would place Cherry Plum in the survival kit of all infantrymen and especially in those where men are confronted with what must be the worst form of living death, i.e., subjection to an interminable artillery barrage. |
Mỗi nhà trị liệu đều có những ký ức riêng về việc đối diện với những bệnh nhân tuyệt vọng, nơi có nỗi sợ mất kiểm soát thể trí, những xung lực không cưỡng nổi muốn chạy trốn khỏi tình huống khó khăn, thậm chí thực hiện một hành vi tự huỷ vì các động cơ tôn giáo và huyền môn, v.v. Có lẽ bằng chứng kịch tính và tiến triển nhất của một bước chuyển hướng đến tự huỷ được thấy trong các trường hợp loạn thần kinh chiến tranh và sốc bom đạn. Tác giả sẽ đặt Mận anh đào vào bộ dụng cụ sinh tồn của mọi lính bộ binh và đặc biệt ở những nơi con người phải đối diện với điều hẳn là hình thức tệ nhất của cái chết khi còn sống, tức là bị đặt dưới một trận pháo kích kéo dài vô tận. |
|
Today we have to substitute more current sources of conflict than war, e.g., a failing business for a falling shell, a creaking marriage, wife-bashing, child-battery, terminal cancer, financial harassment, etc. These have the same pattern of the effects and ravages of fear showing everywhere today. |
Ngày nay chúng ta phải thay thế chiến tranh bằng những nguồn xung đột thời sự hơn, ví dụ, một doanh nghiệp đang sụp đổ thay cho một quả đạn đang rơi, một cuộc hôn nhân rạn nứt, bạo hành vợ, bạo hành trẻ em, ung thư giai đoạn cuối, quấy nhiễu tài chính, v.v. Chúng có cùng một mô thức của các tác động và tàn phá của nỗi sợ đang hiện diện khắp nơi ngày nay. |
|
Cherry Plum is the remedy to use where the patient has intentions of committing suicide. It is rare for a flower remedy to have such a clear indication for its use. Even so, many esoteric healers lack experience to know what signs and symptoms to look for when suicide is staring them in the face or, to put it more astrologically, staring at them out of somebody’s eyes. In astrology, Scorpio rules all conditions that ‘come out of the dark,’ come out of nowhere, come from the inexplicable and the indefinable. Suicide predominates between the ages of 30 and 39 in both sexes and is highest in single and divorced people. Loneliness is a major cause. The healer should always remember that loneliness is a characteristic which inevitably is experienced by all who tread the spiritual path. Alcoholism is another major cause. And then there is, of course, endogenous depression, which is the commonest of all causes—that depression which wells up out of nowhere (scorpion-like), is there from the moment of waking and eases towards the end of the day. Other contributory causes lie in a history of psychiatric illness, previous suicide attempts and criminality. |
Mận anh đào là liệu pháp dùng khi bệnh nhân có ý định tự sát. Hiếm khi một liệu pháp hoa có một chỉ định sử dụng rõ ràng đến như vậy. Dẫu vậy, nhiều nhà trị liệu huyền môn thiếu kinh nghiệm để biết phải tìm những dấu hiệu và triệu chứng nào khi tự sát đang nhìn thẳng vào mặt họ hoặc, nói theo chiêm tinh hơn, đang nhìn họ từ đôi mắt của ai đó. Trong chiêm tinh, Hổ Cáp cai quản mọi tình trạng “đi ra từ bóng tối,” xuất hiện từ hư không, đến từ điều không thể giải thích và không thể định nghĩa. Tự sát chiếm ưu thế trong độ tuổi 30 đến 39 ở cả hai giới và cao nhất ở người độc thân và ly hôn. Cô đơn là một nguyên nhân chính. Nhà trị liệu luôn nên nhớ rằng cô đơn là một đặc tính tất yếu được trải nghiệm bởi tất cả những ai bước trên Thánh Đạo tinh thần. Nghiện rượu là một nguyên nhân chính khác. Và rồi dĩ nhiên là trầm cảm nội sinh, nguyên nhân phổ biến nhất trong mọi nguyên nhân—thứ trầm cảm trào lên từ hư không (theo kiểu Hổ Cáp), có mặt ngay từ lúc thức dậy và dịu đi về cuối ngày. Các nguyên nhân góp phần khác nằm ở tiền sử bệnh tâm thần, các lần tự sát trước đó và tính phạm pháp. |
|
There is definitely a ‘death wish’ and the strong desire to end it all. Always refer anyone hinting at suicide to an orthodox medical practitioner. There is a karmic background to the condition, and suicides return into incarnation very rapidly with only a brief period in the astral world of not more than ten years. Irrespective of the orthodox treatment given, supportive therapy with flower remedies is vital. You should also win a rapport with the patient to the extent of gaining a promise from him not to do anything destructive, at least whilst you are treating him, pointing out the intense embarrassment it would bring to you if he did take his life. |
Chắc chắn có một “ước muốn chết” và khát vọng mạnh mẽ muốn kết thúc tất cả. Luôn luôn giới thiệu bất kỳ ai ám chỉ tự sát đến một bác sĩ chính thống. Có một nền tảng nghiệp quả cho tình trạng này, và những người tự sát trở lại lâm phàm rất nhanh chỉ sau một thời gian ngắn ở cõi cảm dục không quá mười năm. Bất kể điều trị chính thống được áp dụng ra sao, trị liệu hỗ trợ bằng các liệu pháp hoa là thiết yếu. Các bạn cũng nên xây dựng sự hoà hợp với bệnh nhân đến mức nhận được một lời hứa từ y rằng y sẽ không làm điều gì huỷ hoại, ít nhất trong khi các bạn đang điều trị cho y, và chỉ ra sự bối rối dữ dội mà điều đó sẽ đem lại cho các bạn nếu y thật sự tự kết liễu đời mình. |
|
For the positive aspect of Cherry Plum we only have to search for examples of quiet heroism in which courage and endurance prevail over chronic situations of torture . . . where the individual’s inner resources enable him to endure. |
Về phương diện tích cực của Mận anh đào, chúng ta chỉ cần tìm những ví dụ về chủ nghĩa anh hùng thầm lặng, trong đó dũng khí và sức chịu đựng thắng thế trước những tình huống tra tấn mạn tính… nơi nguồn lực nội tâm của cá nhân giúp y chịu đựng. |
THE EVOLVED LEO—SƯ TỬ ĐÃ TIẾN HOÁ
|
Leos like to be their own masters and do not bend willingly to those who impinge on their prerogatives. They seldom bow gracefully to any discipline which is not self-imposed. They act rather than react; their behaviour is voluntary and is not forced upon them by circumstances. In assuming their right to determine the course of their destiny, they conduct themselves with deliberate regality, radiating a power which is centred within the heart. |
Người Sư Tử thích làm chủ chính mình và không dễ dàng uốn mình trước những ai xâm phạm đặc quyền của họ. Họ hiếm khi cúi mình một cách duyên dáng trước bất kỳ kỷ luật nào không do chính họ tự đặt ra. Họ hành động hơn là phản ứng; hành vi của họ là tự nguyện và không bị hoàn cảnh ép buộc. Khi đảm nhận quyền quyết định hướng đi của định mệnh mình, họ cư xử với vẻ vương giả có chủ ý, toả ra một quyền lực được đặt trung tâm trong tim. |
|
Leo confers the ability to assert one’s own will and to proclaim “I want to be me!” Having established themselves as separate entities, Leos endeavour to relate all that they perceive back to themselves and the circle of their personal interests. If they observe someone on TV doing something interesting, important, majestic or impressive, they put themselves into the same role immediately. Being himself a mirror (Leo rules mirrors) he loves to reflect in himself the best or most attractive features of others too. |
Sư Tử ban cho khả năng khẳng định ý chí của chính mình và tuyên bố: “Tôi muốn là chính tôi!” Sau khi đã thiết lập mình như một thực thể tách biệt, người Sư Tử cố gắng liên hệ mọi điều họ tri nhận trở lại với chính họ và vòng tròn các lợi ích cá nhân. Nếu họ quan sát ai đó trên TV làm điều gì thú vị, quan trọng, uy nghi hay ấn tượng, họ lập tức đặt mình vào cùng vai trò ấy. Vì bản thân là một tấm gương (Sư Tử cai quản gương), họ cũng thích phản chiếu trong chính mình những đặc điểm tốt nhất hay hấp dẫn nhất của người khác. |
|
The threefold property possessed by every consciousness: |
Tính chất tam phân mà mọi tâm thức đều sở hữu: |
|
1. Of centreing everything partially upon itself; |
1. Tập trung mọi thứ một phần vào chính nó; |
|
2. Of being able to centre itself upon itself constantly; |
2. Có khả năng liên tục tập trung vào chính nó; |
|
3. Of being brought more by this very super-centration into association with all the other centres surrounding it. |
3. Được đưa, nhờ chính sự siêu tập trung này, vào sự liên hệ với tất cả các trung tâm khác bao quanh nó. |
|
—Teilhard de Chardin, The Phenomena of Man. |
—Teilhard de Chardin, Hiện tượng Con Người. |
|
We must first ‘find ourselves’ in Leo, before, in Aquarius, we can truly relate to others. Evolved Leos retain their own individualised centre of consciousness but their will to rule becomes the willingness to act as transmitters of vitalising energies for the good of others—for the good of the group. |
Trước hết chúng ta phải “tìm thấy chính mình” trong Sư Tử, trước khi, trong Bảo Bình, chúng ta có thể thật sự liên hệ với người khác. Người Sư Tử đã tiến hoá vẫn giữ trung tâm tâm thức đã được biệt ngã hoá của riêng mình nhưng ý chí cai quản của họ trở thành sự sẵn lòng hành động như những kẻ truyền dẫn các năng lượng tiếp sinh lực vì lợi ích của người khác—vì lợi ích của nhóm. |
|
Exoterically, the Sun brings Leo to the stage where he wants to let his light shine. Esoterically, it enables him to realise that this radiation can occur only to the extent that he releases the potential which lies at the living centre of his being. The true self-expression of Leo is in love, not the passionate, sentimental kind, but pure goodness of heart towards all. We call it ‘goodwill’. |
Về ngoại môn, Mặt Trời đưa Sư Tử đến giai đoạn y muốn để ánh sáng của mình toả chiếu. Về nội môn, nó giúp y nhận ra rằng sự toả chiếu này chỉ có thể xảy ra trong chừng mực y giải phóng tiềm năng nằm ở trung tâm sống động của bản thể mình. Sự tự biểu đạt chân thật của Sư Tử nằm trong tình thương, không phải loại đam mê, uỷ mị, mà là lòng tốt thuần khiết của trái tim đối với tất cả. Chúng ta gọi đó là “thiện chí”. |
|
The evolved Leo learns to curb the excesses of his powerful ego and look to the greater light of his true, inner Self. By expressing this greater Self, he is also expressing the will of his Creator. Then the flickering rays of his separative personality are far outshone by the brilliance of the spirit within, just like the candle flame, which appearing to burn so brightly at night, disappears in the blaze of the noonday Sun. |
Người Sư Tử đã tiến hoá học cách kiềm chế những thái quá của cái ngã mạnh mẽ của mình và hướng đến ánh sáng lớn hơn của Chân Ngã nội tại chân thật. Bằng cách biểu đạt Chân Ngã lớn hơn này, y cũng đang biểu đạt ý chí của Đấng Tạo Hoá của y. Khi ấy, những tia lập loè của phàm ngã phân ly của y bị lu mờ xa bởi sự rực rỡ của tinh thần bên trong, giống như ngọn lửa cây nến, tưởng như cháy sáng rực trong đêm, lại biến mất trong ánh chói của Mặt Trời giữa trưa. |
|
A touch of Leo has gilded many a creative genius, giving a fire of heart and mind and the lion-strength needed to manifest the gift within. This is always accompanied by the strong sense of self that is so necessary for genius to become known to the world, rather than to languish in some anonymous garret – not at all the type of fate a Leo would consider for one moment. |
Một chút Sư Tử đã dát vàng cho biết bao thiên tài sáng tạo, ban cho ngọn lửa của tim và trí cùng sức mạnh sư tử cần thiết để biểu hiện ân tặng bên trong. Điều này luôn đi kèm với ý thức mạnh mẽ về bản thân vốn rất cần để thiên tài được thế giới biết đến, thay vì héo tàn trong một căn gác vô danh – hoàn toàn không phải kiểu số phận mà một người Sư Tử sẽ cân nhắc dù chỉ một khoảnh khắc. |
|
The well known sensual snares of Leo are often the downfall of the artist, especially when encouraged by a bad choice of friends, for Leo will give of his all for his friends, good or bad. One of the symbols of Scorpio which is also associated with Leo is the Phoenix, the mythological bird, which periodically destroys itself through fire, only to return to renewed life. Leo, as the creative artist, can fathom the depths and aspire to the heights, his fiery ardour burning away the dross and regenerating into inspired works the good that is left behind. |
Những cạm bẫy khoái lạc nổi tiếng của Sư Tử thường là sự sa ngã của nghệ sĩ, đặc biệt khi được khuyến khích bởi một lựa chọn bạn bè tệ hại, vì Sư Tử sẽ cho đi tất cả vì bạn bè, tốt hay xấu. Một trong những biểu tượng của Hổ Cáp cũng liên hệ với Sư Tử là Phượng Hoàng, loài chim thần thoại, định kỳ tự huỷ qua lửa, chỉ để trở lại với sự sống được đổi mới. Sư Tử, như nghệ sĩ sáng tạo, có thể thấu đến chiều sâu và vươn tới đỉnh cao, nhiệt tâm rực lửa của y thiêu rụi cặn bã và tái sinh thành những tác phẩm được cảm hứng từ điều thiện còn lại. |
Genius in Leo—Thiên tài trong Sư Tử
|
The pre-eminent English poet of his time, Lord Tennyson, was born with the Sun in Leo. His works show a fine command of words and an almost unrestrained flow of inspired ideas and language. One of his most successful works was the immensely popular national epic Idylls of the King, a retelling of Arthurian legends. Tennyson’s warmth of heart and his nobility won him many admiring friends: |
Nhà thơ Anh kiệt xuất nhất thời đại của mình, Lord Tennyson, sinh ra với Mặt Trời ở Sư Tử. Tác phẩm của ông cho thấy khả năng điều khiển ngôn từ tinh tế và một dòng chảy gần như không kìm hãm của ý tưởng và ngôn ngữ được cảm hứng. Một trong những tác phẩm thành công nhất của ông là thiên sử thi dân tộc cực kỳ phổ biến Những Khúc Đồng Quê của Nhà Vua, một sự kể lại các truyền thuyết Arthur. Sự ấm áp của trái tim và phẩm cách cao quý của Tennyson đã đem lại cho ông nhiều người bạn ngưỡng mộ: |
|
Howe’er it be, it seems to me, |
Dẫu thế nào đi nữa, với tôi dường như, |
|
’Tis only noble to be good. |
Chỉ có cao quý khi ta là người tốt. |
|
Kind hearts are more than coronets, |
Trái tim nhân hậu hơn cả vương miện, |
|
And simple faith than Norman blood. |
Và niềm tin giản dị hơn cả dòng máu Norman. |
|
— Lady Clara Vere de Vere |
— Lady Clara Vere de Vere |
|
Robert Graves, the novelist, poet and scholar, widely held to be the greatest love poet of our century, was also born under Leo. He wrote love poems to his mistress well into old age. Percy Bysshe Shelley, another Leo, was one of the greatest English romantic poets. His belief in reason, the perfectibility of man, and his hatred of tyranny and injustice shone through his work. |
Robert Graves, tiểu thuyết gia, nhà thơ và học giả, được nhiều người xem là nhà thơ tình vĩ đại nhất của thế kỷ chúng ta, cũng sinh dưới Sư Tử. Ông viết thơ tình cho người tình của mình cho đến tận tuổi già. Percy Bysshe Shelley, một người Sư Tử khác, là một trong những nhà thơ lãng mạn Anh vĩ đại nhất. Niềm tin của ông vào lý trí, vào khả năng hoàn thiện của con người, và sự căm ghét bạo quyền cùng bất công toả sáng xuyên suốt tác phẩm của ông. |
|
Sir Walter Scott, one of the foremost literary figures of the romantic period, is another famous literary Leo. He achieved unprecedented popularity during his lifetime with his narrative poems and historical romances. Part of his success was due to his skill in recreating periods of history. Leo native and writer of romantic fiction, Alexander Dumas, the French novelist, was highly influenced by the works of Scott. By human, if not artistic, criteria, his prodigious output, the sheer energy of his writing, and the hyperbolic force of his personality were enormous. Dumas’ extravagant tastes forced him to maintain a hectic writing pace. |
Sir Walter Scott, một trong những nhân vật văn chương hàng đầu của thời kỳ lãng mạn, là một người Sư Tử văn chương nổi tiếng khác. Ông đạt được sự nổi tiếng chưa từng có khi còn sống với các trường ca tự sự và các chuyện tình lịch sử. Một phần thành công của ông là nhờ kỹ năng tái tạo các thời kỳ lịch sử. Nhà văn tiểu thuyết lãng mạn người Sư Tử, Alexandre Dumas, tiểu thuyết gia Pháp, chịu ảnh hưởng mạnh bởi các tác phẩm của Scott. Theo tiêu chuẩn nhân bản, nếu không phải nghệ thuật, sản lượng khổng lồ của ông, năng lượng thuần tuý trong việc viết, và sức mạnh phóng đại của phàm ngã ông là rất lớn. Thị hiếu xa hoa của Dumas buộc ông phải duy trì một nhịp độ viết hối hả. |
|
The Irish dramatist and literary critic, George Bernard Shaw was also born under this sign. Socialist, vegetarian, spellbinding orator and polemicist, he is well remembered not only for the originality of his thinking, but also for the boldness and self-confidence with which he expressed himself, in comments like: “My speciality is being right when other people are wrong,” and “I often quote myself; it adds spice to my conversation.” Intellectually active and productive throughout his long life of over ninety years, he always made his presence felt and even left behind an adjective, ‘Shavian,’ used to describe anything resembling the distinctive ideas or personality of Bernard Shaw. |
Nhà viết kịch và nhà phê bình văn học người Ireland, George Bernard Shaw, cũng sinh dưới dấu hiệu này. Là người theo chủ nghĩa xã hội, ăn chay, diễn giả và nhà bút chiến đầy mê hoặc, ông được nhớ đến không chỉ vì tính độc đáo trong tư duy, mà còn vì sự táo bạo và tự tin khi tự biểu đạt, qua những nhận xét như: “Chuyên môn của tôi là đúng khi người khác sai,” và “Tôi thường trích dẫn chính mình; điều đó làm cho cuộc trò chuyện của tôi thêm phần thú vị.” Hoạt động trí tuệ mạnh mẽ và sáng tác dồi dào suốt cuộc đời dài hơn chín mươi năm, ông luôn khiến sự hiện diện của mình được cảm nhận rõ rệt, và thậm chí còn để lại một tính từ, “Shavian”, dùng để mô tả bất cứ điều gì giống với những ý tưởng hay cá tính đặc thù của Bernard Shaw. |
|
Music is a great love of the creative Leo; the French composer Claude Debussy was the creator and leading exponent of French musical impressionism. As a student he refused to submit to the rules of traditional musical theory. Later he stated “There is no theory. You have only to listen. Pleasure is the law.” He expressed in his music a new form and a recreative aspect which surprised and shocked his generation and yet refreshed the art by the new life and vitality it gave to the world of young musicians who followed him. |
Âm nhạc là một tình yêu lớn của Sư Tử sáng tạo; nhà soạn nhạc Pháp Claude Debussy là người sáng tạo và là đại biểu hàng đầu của trường phái ấn tượng trong âm nhạc Pháp. Khi còn là sinh viên, ông từ chối phục tùng các quy tắc của lý thuyết âm nhạc truyền thống. Về sau ông tuyên bố: “Không có lý thuyết nào cả. Bạn chỉ cần lắng nghe. Khoái lạc là định luật.” Ông đã biểu đạt trong âm nhạc của mình một hình thức mới và một phương diện tái sáng tạo khiến thế hệ của ông kinh ngạc và bị sốc, nhưng đồng thời làm tươi mới nghệ thuật bằng sức sống và sinh lực mới mà nó đem lại cho thế giới các nhạc sĩ trẻ đi theo ông. |
|
Henri Matisse, born with Leo Rising, ranks among the greatest painters of the 20th century. Matisse’s supreme accomplishment, which may be seen in all his work, was to liberate colour from its traditionally realistic function and to make it the foundation of a decorative art of the highest order. Edouard Manet also had Leo Rising. He is acknowledged widely as a pioneer of the modern movement in painting. The recognition of these two artists was assured by their innovative and bold use of light and colour. The Sun, it could be said, shines through their work and titillates the retina of the eye. |
Henri Matisse, sinh với Dấu hiệu mọc Sư Tử, được xếp vào hàng những họa sĩ vĩ đại nhất của thế kỷ 20. Thành tựu tối thượng của Matisse, có thể thấy trong toàn bộ tác phẩm của ông, là giải phóng màu sắc khỏi chức năng hiện thực chủ nghĩa theo truyền thống và biến nó thành nền tảng của một nghệ thuật trang trí ở đẳng cấp cao nhất. Edouard Manet cũng có Dấu hiệu mọc Sư Tử. Ông được thừa nhận rộng rãi như một người tiên phong của phong trào hội họa hiện đại. Sự công nhận dành cho hai nghệ sĩ này được bảo đảm bởi việc họ sử dụng ánh sáng và màu sắc một cách đổi mới và táo bạo. Có thể nói, Mặt Trời tỏa sáng xuyên qua tác phẩm của họ và làm rung rinh võng mạc của mắt. |
|
In the sphere of the esoteric we find the Leo Madame Blavatsky, founder of the Theosophical Society in 1875, and the most influential single figure of the 19th century occult revival. She exhibited extraordinary mediumistic powers and later came to be in touch with those elevated spiritual beings, the Masters, advanced adepts concerned with guiding the progress of humanity. Her masterpiece was The Secret Doctrine, 1888, in which she reconciles and unites the Eastern and Western occult traditions and bridges the gap which had opened between religion and science in the West. The scope and depth of her knowledge of matters esoteric and her strength of personality brought her a huge circle of admiring followers. |
Trong lĩnh vực huyền bí, chúng ta gặp Bà Blavatsky thuộc Sư Tử, người sáng lập Hội Thông Thiên Học năm 1875, và là nhân vật đơn lẻ có ảnh hưởng nhất của phong trào phục hưng huyền thuật thế kỷ 19. Bà biểu lộ những năng lực đồng tử phi thường và về sau đã tiếp xúc được với những hữu thể tinh thần cao cả ấy, các Chân sư, những chân sư cao cấp quan tâm đến việc hướng dẫn tiến bộ của nhân loại. Kiệt tác của Bà là Giáo Lý Bí Nhiệm, 1888, trong đó Bà hòa giải và hợp nhất các truyền thống huyền thuật Đông và Tây, đồng thời bắc cầu qua khoảng cách đã mở ra giữa tôn giáo và khoa học ở phương Tây. Tầm vóc và chiều sâu trong tri thức của Bà về các vấn đề huyền bí, cùng sức mạnh phàm ngã của Bà, đã đem lại cho Bà một vòng người theo ngưỡng mộ vô cùng rộng lớn. |
|
Carl Gustav Jung, the famous Swiss psychologist and founder of analytical psychology was also born under Leo. His psychology was marked by its sense of the creative potential in man: |
Carl Gustav Jung, nhà tâm lý học Thụy Sĩ nổi tiếng và là người sáng lập tâm lý học phân tích, cũng sinh dưới Sư Tử. Tâm lý học của ông được đánh dấu bởi ý thức về tiềm năng sáng tạo trong con người: |
|
“My life has been permeated and held together by one idea and one goal: namely, to penetrate into the secret of personality. Everything can be explained from this central point, and all my works relate to this one theme.” |
“Đời tôi đã thấm đẫm và được kết nối bởi một ý niệm và một mục tiêu: tức là, thâm nhập vào bí mật của phàm ngã. Mọi sự đều có thể được giải thích từ điểm trung tâm này, và tất cả các công trình của tôi đều liên hệ đến chủ đề duy nhất ấy.” |
|
From this strong sense of the individual self, he brought a profound understanding of collective man, reflecting his complementary sign, Aquarius. He was fascinated by the integration of the many parts of the self into the whole, a process he called individuation. He saw the individuation process as a lengthy series of psychological transformations culminating in the integration of opposite tendencies and functions and the achievement of personal wholeness. |
Từ ý thức mạnh mẽ về cái ngã cá nhân này, ông đem đến một sự thấu hiểu sâu sắc về con người tập thể, phản ánh dấu hiệu bổ sung của ông, Bảo Bình. Ông bị cuốn hút bởi sự tích hợp nhiều phần của cái ngã vào toàn thể, một tiến trình ông gọi là biệt ngã hóa. Ông nhìn tiến trình biệt ngã hóa như một chuỗi dài những chuyển đổi tâm lý, đạt đến đỉnh điểm ở sự tích hợp các khuynh hướng và chức năng đối nghịch, và sự thành tựu tính toàn vẹn cá nhân. |
|
He is also remembered for his work on the mandala (Sanskrit for ‘circle’), a symbolic diagram of the universe used for ritual purposes in tantric Buddhism. He saw the mandala as an archetype, a universally occurring pattern associated with the mythological representation of the Self, in which the many parts of the whole are enclosed within the circle. |
Ông cũng được nhớ đến vì công trình của mình về mandala (tiếng Phạn nghĩa là “vòng tròn”), một đồ hình biểu tượng của vũ trụ được dùng cho các mục đích nghi lễ trong Phật giáo Mật tông. Ông xem mandala như một nguyên mẫu, một mô hình phổ quát xuất hiện khắp nơi gắn với sự biểu trưng thần thoại của Chân Ngã, trong đó nhiều phần của toàn thể được bao bọc trong vòng tròn. |
|
Finally, in the military world there is no better example of Leo than Napoleon Bonaparte, probably the most brilliant military figure in history. One of the greatest emperors of all time, he promoted the growth of liberalism and nationalism through his lasting administrative and legal reforms. His empire even gave its name to a style of art, furniture and clothes. His nephew, profiting from the Napoleonic legend, later proclaimed a second empire. |
Cuối cùng, trong thế giới quân sự, không có ví dụ nào về Sư Tử tốt hơn Napoleon Bonaparte, có lẽ là nhân vật quân sự xuất sắc nhất trong lịch sử. Là một trong những hoàng đế vĩ đại nhất mọi thời, ông thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa dân tộc thông qua các cải cách hành chính và pháp lý bền vững của mình. Đế chế của ông thậm chí còn đặt tên cho một phong cách nghệ thuật, đồ nội thất và y phục. Người cháu của ông, hưởng lợi từ huyền thoại Napoléon, về sau đã tuyên bố một đế chế thứ hai. |
THE ESSENTIAL LEO: NATURE and MORPHOLOGY —SƯ TỬ CỐT YẾU: BẢN TÍNH và HÌNH THÁI HỌC
|
Morphology is the study of form. It is the science that relates the shape of a thing to its function. An instance from plant biology shows that the flatness of a leaf is the optimum form for contact with sunlight and air – their absorption being functions of the leaf. It is axiomatic that the forces of astrology are a major contributing factor to the structuring of forms on the Earth. The Sun provides the basic life-force but its differentiated functions find expression in the planets and are conditioned by the signs. Their ever-changing permutations precipitate the rich diversity of forms that the One Life takes in the world of Nature. Accordingly, astrology is the most comprehensive system for categorising form. In the above example, the flatness of the leaf would be classified under the morphology of the sign of Libra. |
Hình thái học là nghiên cứu về hình tướng. Đó là khoa học liên hệ hình dạng của một vật với chức năng của nó. Một ví dụ từ sinh học thực vật cho thấy độ phẳng của chiếc lá là hình thức tối ưu để tiếp xúc với ánh sáng mặt trời và không khí – sự hấp thụ của chúng là các chức năng của chiếc lá. Điều hiển nhiên như một tiên đề là các mãnh lực của chiêm tinh học là một yếu tố đóng góp chủ yếu vào việc cấu trúc các hình tướng trên Trái Đất. Mặt Trời cung cấp sinh lực căn bản, nhưng các chức năng phân hóa của nó tìm thấy sự biểu đạt trong các hành tinh và được điều kiện hóa bởi các dấu hiệu. Những hoán vị luôn biến đổi của chúng làm ngưng tụ nên sự đa dạng phong phú của các hình tướng mà Sự sống Duy Nhất khoác lấy trong thế giới Tự Nhiên. Vì vậy, chiêm tinh học là hệ thống toàn diện nhất để phân loại hình tướng. Trong ví dụ trên, độ phẳng của chiếc lá sẽ được xếp vào hình thái học của dấu hiệu Thiên Bình. |
|
An examination of the glyphs of astrology will always reveal morphological indicators that tell us much about the nature of the signs and planets. They have not been chosen arbitrarily but are shaped to symbolise the cosmic principles they stand for. It is a consequence of the Law of Correspondences, expressed in the phrase ‘as above, so below,’ that these abstract principles manifest in the world of forms, and very often in the characteristic shapes of the glyphs. To return to our example, the archetype of Libra expresses through things that are flat, and flatness is implied by the Libra glyph . It resembles the layered cross-section of the leaf, even down to the vein through the middle. |
Việc khảo sát các ký hiệu chiêm tinh sẽ luôn bộc lộ những chỉ dấu hình thái học cho chúng ta biết nhiều điều về bản tính của các dấu hiệu và hành tinh. Chúng không được chọn một cách tùy tiện mà được tạo hình để tượng trưng cho các nguyên lý vũ trụ mà chúng đại diện. Hệ quả của định luật tương ứng, được diễn đạt trong cụm từ “trên sao, dưới vậy,” là các nguyên lý trừu tượng ấy biểu lộ trong thế giới các hình tướng, và rất thường xuyên trong chính những hình dạng đặc trưng của các ký hiệu. Trở lại ví dụ của chúng ta, nguyên mẫu của Thiên Bình biểu đạt qua những vật phẳng, và độ phẳng được hàm ý bởi ký hiệu Thiên Bình. Nó giống như lát cắt phân tầng của chiếc lá, thậm chí đến cả gân chạy dọc ở giữa. |

|
The converse also applies and is an important feature of interpretation in the new astrology, i.e., any object that has the morphology of a sign is a symbol of that sign. It can be used as an object for meditation to trace the meaning of the sign back to its archetype in the spiritual realms. Indeed, the more adept one becomes at understanding and using morphology, the more rewarding is the new astrology. The glyph of Leo, is like the lion’s tail—a shape with many associations that help us to understand this sign, which, with the fifth house and the Sun, are perhaps the easiest influences of the zodiac to understand. |
Điều ngược lại cũng đúng và là một đặc điểm quan trọng của diễn giải trong chiêm tinh học mới, tức là bất kỳ vật thể nào có hình thái học của một dấu hiệu đều là một biểu tượng của dấu hiệu đó. Nó có thể được dùng như một đối tượng cho tham thiền để lần theo ý nghĩa của dấu hiệu trở về nguyên mẫu của nó trong các cõi tinh thần. Thực ra, người ta càng trở nên thành thạo trong việc thấu hiểu và sử dụng hình thái học, thì chiêm tinh học mới càng đem lại nhiều phần thưởng. Ký hiệu của Sư Tử giống như đuôi sư tử—một hình dạng với nhiều liên tưởng giúp chúng ta thấu hiểu dấu hiệu này, vốn cùng với nhà thứ năm và Mặt Trời, có lẽ là những ảnh hưởng dễ hiểu nhất của Hoàng đạo. |

|
The first morphological feature that must be considered is that of the Sun, ruler of Leo, whose astrological glyph is a circle with a dot in the centre. |
Đặc điểm hình thái học đầu tiên cần được xét đến là Mặt Trời, chủ tinh của Sư Tử, với ký hiệu chiêm tinh là một vòng tròn có một chấm ở trung tâm. |

|
The circle is the perfect shape, representing wholeness. It has no beginning and no end, symbolising eternity, immortality and the never-ending cycle of life. This is illustrated by the emblem of the ouroboros – a snake biting its own tail. Circles, rings, wheels, merry-go-rounds, chakras, discs, and round objects in general, find themselves under the hegemony of the Sun and Leo. This includes the letter O and any number ending in a nought 0. The circular shape is related to its function—in this case the number 10 represents completion of a cycle of numbers in the decimal system. The number 5 also comes under the Sun and Leo. |
Vòng tròn là hình dạng hoàn hảo, biểu thị tính toàn vẹn. Nó không có khởi đầu và không có kết thúc, tượng trưng cho tính vĩnh cửu, bất tử và chu kỳ bất tận của sự sống. Điều này được minh họa bởi biểu tượng ouroboros – một con rắn cắn đuôi chính mình. Các vòng tròn, nhẫn, bánh xe, vòng quay ngựa gỗ, luân xa, đĩa tròn, và các vật tròn nói chung, đều nằm dưới quyền thống trị của Mặt Trời và Sư Tử. Điều này bao gồm chữ O và bất kỳ con số nào kết thúc bằng số không 0. Hình dạng tròn liên hệ với chức năng của nó—trong trường hợp này, số 10 biểu thị sự hoàn tất một chu kỳ các con số trong hệ thập phân. Số 5 cũng thuộc về Mặt Trời và Sư Tử. |
|
From the Sun’s glyph we can see that it also rules centres and points, especially the centre of the circle. The ancient symbol for God, and still the most sacred of all symbols in classical occult traditions, is the point within the circle. It represents the highest outpouring of the Solar Logos and is the symbol of the First Ray aspect of the Sun, the Grand Man of the Heavens, the creator, maintainer and destroyer. It is the spiritual centre of the solar system and brings into it Will and Power. It is the mediator of life-force from the cosmos to nature on Earth and elsewhere in the solar system. It represents the point at which the unlimited potential of life, symbolised by the circle, becomes manifest, the uncreate becomes created. If the point is the source from which life emanates then the circle is the evolution of that life in all directions. |
Từ ký hiệu của Mặt Trời, chúng ta có thể thấy rằng nó cũng cai quản các trung tâm và các điểm, đặc biệt là tâm của vòng tròn. Biểu tượng cổ xưa cho Thượng đế, và vẫn là biểu tượng thiêng liêng nhất trong mọi biểu tượng của các truyền thống huyền bí cổ điển, là chấm nằm trong vòng tròn. Nó biểu thị lần tuôn đổ cao nhất của Thái dương Thượng đế và là biểu tượng của phương diện Cung một của Mặt Trời, Đấng Thiên Nhân, đấng sáng tạo, duy trì và hủy diệt. Nó là trung tâm tinh thần của hệ mặt trời và đem vào đó Ý Chí và Quyền Năng. Nó là trung gian của sinh lực từ vũ trụ đến tự nhiên trên Trái Đất và những nơi khác trong hệ mặt trời. Nó biểu thị điểm mà tiềm năng vô hạn của sự sống, được tượng trưng bởi vòng tròn, trở nên biểu hiện; cái chưa được tạo thành trở thành cái được tạo thành. Nếu chấm là nguồn từ đó sự sống xuất lộ, thì vòng tròn là sự tiến hoá của sự sống ấy theo mọi hướng. |
|
The Wisdom of the Ages also indicates that the point within the circle has its own plan and structure. It is a vortex recipient of energy from other dimensions. It is a symbol of the nucleus within the atom, the Central Spiritual Sun, light within darkness, the hub within the wheel, and so on. Even the person who becomes, figuratively, the hub of a social wheel, group or business, is an expression of the solar archetype. It is the inner Self at the centre of the human psyche or the Master at the heart of an ashram. The Sun in Sagittarius, the sign of the archer, would suggest the point in the circular target that the archer aims his arrow towards, which has obvious esoteric implication. |
Minh Triết Ngàn Đời cũng chỉ ra rằng chấm nằm trong vòng tròn có kế hoạch và cấu trúc riêng của nó. Nó là một xoáy nhận năng lượng từ các chiều kích khác. Nó là biểu tượng của hạt nhân trong nguyên tử, Mặt trời Tinh thần Trung Ương, ánh sáng trong bóng tối, cái trục trong bánh xe, v.v. Ngay cả người trở thành, theo nghĩa bóng, cái trục của một bánh xe xã hội, một nhóm hay một doanh nghiệp, cũng là một biểu đạt của nguyên mẫu mặt trời. Đó là Chân Ngã nội tại ở trung tâm của tâm lý con người, hoặc Chân sư ở trái tim của một ashram. Mặt Trời trong Nhân Mã, dấu hiệu của cung thủ, sẽ gợi ý điểm ở tâm của bia tròn mà cung thủ nhắm mũi tên vào, điều này có hàm ý huyền bí hiển nhiên. |
|
Cycles and cyclic events, the constant return of time, the seasons, annual and diurnal recurrence, the year and the day are all governed by the Sun. The glyph implies perpetual circular motion and the cycle of time—the planets’ journey around the Sun at the centre of the solar system, and the circle of the Zodiac. In The Mammoth Dictionary of Symbols, Nadia Julien says: |
Các chu kỳ và các biến cố theo chu kỳ, sự hồi quy không ngừng của thời gian, các mùa, sự lặp lại hằng năm và hằng ngày, năm và ngày, tất cả đều do Mặt Trời chi phối. Ký hiệu hàm ý chuyển động tròn vĩnh cửu và chu kỳ thời gian—hành trình của các hành tinh quanh Mặt Trời ở trung tâm hệ mặt trời, và vòng tròn của Hoàng đạo. Trong Từ Điển Biểu Tượng Đồ Sộ, Nadia Julien nói: |
|
“It can be seen in circular walks and marches, ritual worship and assistance for the sun god, who needs to be sustained in the difficult moments of his annual cycle, such as the solstices, equinoxes and eclipses . . . it can be seen in circular temples, arenas, circuses, the dances of the whirling dervishes, the circumambulation of Arab pilgrims around the Ka’ba, of Buddhists around stupas, of the priest around the altar with the censer—symbols of their participation in the great rhythm of the universe.” |
“Có thể thấy điều đó trong các cuộc đi bộ và diễu hành theo vòng tròn, sự thờ phụng nghi lễ và việc trợ lực cho thần mặt trời, vị cần được nâng đỡ trong những thời khắc khó khăn của chu kỳ hằng năm của mình, như các điểm chí, điểm phân và nhật thực… có thể thấy trong các đền thờ hình tròn, đấu trường, rạp xiếc, các điệu vũ của những tu sĩ khổ hạnh xoay tròn, việc đi nhiễu quanh Ka’ba của những người hành hương Ả Rập, của Phật tử quanh các bảo tháp, của vị tư tế quanh bàn thờ với lư hương—những biểu tượng cho sự tham dự của họ vào nhịp điệu vĩ đại của vũ trụ.” |
|
That which circles, orbits, rotates or goes around a central point comes under the Sun and Leo, along with words like ‘around,’ ‘among’ and ‘about’. This would include anything that winds or rolls up, like a reel or a scroll. Libra rules paper in sheets, so a scroll of paper would be the Sun in Libra. |
Những gì quay vòng, đi theo quỹ đạo, xoay chuyển hay đi quanh một điểm trung tâm đều thuộc về Mặt Trời và Sư Tử, cùng với các từ như “quanh,” “giữa,” và “về.” Điều này bao gồm bất cứ thứ gì cuộn hay quấn lại, như một cuộn phim hay một cuộn giấy. Thiên Bình cai quản giấy dạng tờ, vì vậy một cuộn giấy sẽ là Mặt Trời trong Thiên Bình. |
|
Leo rules the cell, with its nucleus. The Sun in Aquarius would be a group of cells, which could form an organ, which is also Leo—relating it to the chakra that supplies energy to that organ. The heart, of course, is in this category, and this applies not only to the physical heart but to any figurative heart, like the ‘heart of the matter.’ The heart chakra, with its two Leonine factors, would be Sun in Leo. The glyph of Leo displays its rulership of the coronary arteries of the heart, which effectively form the circle of a crown. Mars in bad aspect to the Sun in the horoscope, could indicate a sudden blockage of the coronary arteries, or a heart attack. |
Sư Tử cai quản tế bào, với hạt nhân của nó. Mặt Trời trong Bảo Bình sẽ là một nhóm tế bào, có thể tạo thành một cơ quan, mà cơ quan cũng là Sư Tử—liên hệ nó với luân xa cung cấp năng lượng cho cơ quan đó. Trái tim, dĩ nhiên, thuộc phạm trù này, và điều này không chỉ áp dụng cho trái tim thể xác mà còn cho bất kỳ “trái tim” theo nghĩa bóng nào, như “trái tim của vấn đề.” Luân xa tim, với hai yếu tố Sư Tử của nó, sẽ là Mặt Trời trong Sư Tử. Ký hiệu của Sư Tử biểu lộ quyền cai quản của nó đối với các động mạch vành của tim, vốn thực sự tạo thành vòng tròn của một vương miện. Sao Hỏa tạo góc hợp xấu với Mặt Trời trong lá số chiêm tinh có thể chỉ ra sự tắc nghẽn đột ngột của động mạch vành, hoặc một cơn đau tim. |
|
The back comes under this sign; its shape, through the curvature of the spine, is suggested in the glyph. This applies also to anything that is at your back or behind you, along with matters that come back to you. Leo turns and returns things, like a U-bend in the road, which again depicts the lion’s tail. It can also be said that Leo types frequently ‘turn their backs’ or ‘make a turn around’. Leo is associated with any word that begins with the prefix ‘re’, like reassemble, revolve, recreate or revoke, which all suggest a return to a previous state. A glance at any English dictionary will soon reveal the large number of these Leonine words. |
Lưng thuộc về dấu hiệu này; hình dạng của nó, qua độ cong của cột sống, được gợi ý trong ký hiệu. Điều này cũng áp dụng cho bất cứ thứ gì ở sau lưng bạn hoặc phía sau bạn, cùng với những việc quay trở lại với bạn. Sư Tử xoay và hoàn hồi mọi thứ, như một khúc cua chữ U trên đường, điều này lại mô tả đuôi sư tử. Cũng có thể nói rằng kiểu người Sư Tử thường “quay lưng” hoặc “quay vòng lại”. Sư Tử liên hệ với bất kỳ từ nào bắt đầu bằng tiền tố “re”, như lắp ráp lại, quay vòng, tái tạo hay thu hồi, tất cả đều gợi ý sự trở về một trạng thái trước đó. Chỉ cần liếc qua bất kỳ từ điển tiếng Anh nào cũng sẽ sớm thấy số lượng lớn những từ Sư Tử như vậy. |
|
The glyph of the Lion’s tail symbolises hanging—not the throttling or strangling that comes under Taurus, but the hanging up of clothes, etc., or more figuratively expressed, a matter hanging in the balance. Morphologically, a picture hanging on the wall would be Sun in Gemini or Venus in Leo. |
Ký hiệu đuôi Sư Tử tượng trưng cho sự treo—không phải sự siết cổ hay bóp cổ thuộc về Kim Ngưu, mà là việc treo quần áo, v.v., hoặc theo nghĩa bóng, một việc đang treo lơ lửng chưa ngã ngũ. Về hình thái học, một bức tranh treo trên tường sẽ là Mặt Trời trong Song Tử hoặc Sao Kim trong Sư Tử. |
|
Leo rules walls because they are built to surround or encircle something. A brick wall would be the Sun in the second house, or Sun in Taurus, because Taurus and the second house rule bricks. The screen has become associated with Leo because in days gone by, royalty very often had to give birth with many witnesses present, so that it would be known publicly that the baby was theirs and a true heir to the throne. A screen around the royal bed gave a modicum of privacy during the birth. It was also used for very private moments—if the monarch wanted to relieve his bowels, a screen would be erected and the commode was brought in. |
Sư Tử cai quản tường vì tường được xây để bao quanh hay vây tròn một thứ gì đó. Một bức tường gạch sẽ là Mặt Trời ở nhà thứ hai, hoặc Mặt Trời trong Kim Ngưu, vì Kim Ngưu và nhà thứ hai cai quản gạch. Bình phong đã trở nên gắn với Sư Tử vì ngày xưa hoàng gia rất thường phải sinh con với nhiều nhân chứng hiện diện, để công khai biết rằng đứa bé là con của họ và là người thừa kế chân chính ngai vàng. Một tấm bình phong quanh giường hoàng gia đem lại một mức độ riêng tư nhất định trong lúc sinh nở. Nó cũng được dùng cho những khoảnh khắc cực kỳ riêng tư—nếu quân vương muốn đi đại tiện, một tấm bình phong sẽ được dựng lên và bô vệ sinh được mang vào. |
|
Leo rules the hair, especially when it is curly and circles the face, and with Sun in Aquarius, the hair has many waves, like the Aquarius glyph. |
Sư Tử cai quản tóc, đặc biệt khi tóc quăn và tạo vòng quanh khuôn mặt, và với Mặt Trời trong Bảo Bình, tóc có nhiều gợn sóng, như ký hiệu Bảo Bình. |

|
The hair, of course, is often used for the purposes of display, another Leo trait. Any sort of headdress, whether it is the monarch’s crown, a cardinal’s biretta or a workman’s cap, is an expression of this sign. Hats, of course, are frequently used by people to attract, to show off, or to display their status. |
Tóc, dĩ nhiên, thường được dùng cho mục đích phô bày, một đặc tính khác của Sư Tử. Bất kỳ loại mũ đội đầu nào, dù là vương miện của quân vương, mũ biretta của hồng y hay mũ của người thợ, đều là một biểu đạt của dấu hiệu này. Mũ, dĩ nhiên, thường được người ta dùng để thu hút, để khoe khoang, hoặc để phô bày địa vị của mình. |
|
Although we refer to the Sun as a planet in astrology, it is of course a star, so it comes as no surprise that not only the stars in the sky but also the stars of show business come within the Lion’s domain. Anything on show, exhibited or displayed applies here, especially when it is in a glass case. The ancients knew very well that the moment you put an object under glass, it gave it glamour. This has spiritual relevance because it implies that a person is so taken up with the image of himself that he is englamoured and incapable of seeing the truth—all too often a vice of Leo. Words like exposure, exposed, and revealing all come under Leo. |
Mặc dù trong chiêm tinh học chúng ta gọi Mặt Trời là một hành tinh, nhưng dĩ nhiên nó là một ngôi sao, nên không có gì ngạc nhiên khi không chỉ các vì sao trên bầu trời mà cả các “ngôi sao” của giới biểu diễn cũng nằm trong lãnh địa của Sư Tử. Bất cứ thứ gì được trưng bày, triển lãm hay phô diễn đều thuộc về nơi này, đặc biệt khi nó ở trong tủ kính. Người xưa hiểu rất rõ rằng khoảnh khắc bạn đặt một vật dưới kính, bạn đã trao cho nó ảo cảm. Điều này có liên hệ tinh thần vì nó hàm ý rằng một người bị cuốn vào hình ảnh của chính mình đến mức bị ảo cảm bao phủ và không còn khả năng thấy sự thật—quá thường xuyên là một tật xấu của Sư Tử. Những từ như phơi bày, bị phơi bày, và bộc lộ đều thuộc về Sư Tử. |
|
Leo is also capable of great pride; the lion is a very proud animal and the word for a group of lions is a ‘pride’, which would be Sun in Aquarius in the fifth house, Aquarius giving the factor of a group. Leo rules not just the lion but all cats, and these animals display so many Leo qualities: self-confident, dignified, inscrutable, and independent. They love you when it suits them and not necessarily when you want them to, unlike the enthusiastic devotion of the dog, who is more expressive of the sign of Pisces. The many pictures of cats depicted on the walls of tombs and temples show just how much the ancient Egyptians, ruled by Leo, were fascinated by these regal creatures. |
Sư Tử cũng có thể rất kiêu hãnh; sư tử là một loài vật rất kiêu hãnh và từ chỉ một bầy sư tử là “pride”, điều này sẽ là Mặt Trời trong Bảo Bình ở nhà thứ năm, Bảo Bình đem lại yếu tố nhóm. Sư Tử cai quản không chỉ sư tử mà tất cả loài mèo, và các con vật này biểu lộ rất nhiều phẩm tính Sư Tử: tự tin, đường bệ, khó dò, và độc lập. Chúng yêu bạn khi chúng thấy hợp và không nhất thiết khi bạn muốn chúng yêu, khác với sự tận tụy nhiệt thành của loài chó, vốn biểu đạt nhiều hơn dấu hiệu Song Ngư. Nhiều bức tranh về mèo được vẽ trên tường các lăng mộ và đền thờ cho thấy người Ai Cập cổ đại, vốn được Sư Tử cai quản, đã bị cuốn hút bởi những sinh vật vương giả này đến mức nào. |
|
This is, of course, the sign of royalty, and a lovely symbol of Leo is the crown seated (another Leo factor) on the head of royalty. There are now comparatively few kings and queens left, but Leo can still be seen at work as the ruler of the aristocracy, the nobility, the upper classes, the gentleman, the toff, and even the snob. The first house of the zodiac rules names, and Leo placed here would bring to mind titles like Sir or Lord. |
Dĩ nhiên, đây là dấu hiệu của hoàng gia, và một biểu tượng đáng yêu của Sư Tử là vương miện đặt (một yếu tố Sư Tử khác) trên đầu của bậc vương giả. Nay còn tương đối ít vua và nữ hoàng, nhưng Sư Tử vẫn có thể được thấy đang hoạt động như kẻ cai quản giới quý tộc, tầng lớp thượng lưu, người quý phái, kẻ trưởng giả, và thậm chí cả kẻ trọc phú. Nhà thứ nhất của Hoàng đạo cai quản tên gọi, và Sư Tử đặt ở đây sẽ gợi nhớ những tước hiệu như Ngài hay Lãnh chúa. |
|
Gold is the precious metal of Leo, as you would expect from a sign that seats kings, for Leo rules the king’s throne. At the mundane level, we have the chair or seating of any kind. To the alchemists, gold symbolised the treasured completion of the alchemical process, whereby the base metal of personality, purified and transmuted, united with its spiritual essence, and shone with the radiance of the splendour within. This is the goal of the disciple, who endeavours to seat the inner King, his Higher Self, on the throne of his consciousness. Royalty symbolises the higher nature of man. In discipleship, the focus of attention is raised to this level. The task, especially for Leo, is to become Soul-centred—to identify with the core and not the periphery, to live in orbit of his true centre, so that his activities proceed directly from the source of all creative self-expression. |
Vàng là kim loại quý của Sư Tử, như bạn mong đợi từ một dấu hiệu đặt vua lên ngai, vì Sư Tử cai quản ngai vàng của nhà vua. Ở mức độ đời thường, chúng ta có ghế hay chỗ ngồi dưới mọi hình thức. Đối với các nhà giả kim, vàng tượng trưng cho sự hoàn tất quý giá của tiến trình giả kim, theo đó kim loại thô của phàm ngã, được thanh lọc và chuyển hoá, hợp nhất với tinh chất tinh thần của nó, và tỏa sáng bằng quang huy của vẻ huy hoàng nội tại. Đây là mục tiêu của đệ tử, người nỗ lực đặt vị Vua nội tại, chân ngã của mình, lên ngai của tâm thức. Hoàng gia tượng trưng cho bản tính cao hơn của con người. Trong địa vị đệ tử, trọng tâm chú ý được nâng lên đến cấp độ này. Nhiệm vụ, đặc biệt đối với Sư Tử, là trở nên lấy linh hồn làm trung tâm—đồng hoá với lõi chứ không với chu vi, sống trong quỹ đạo của trung tâm chân thực của mình, để các hoạt động của y tuôn chảy trực tiếp từ nguồn của mọi sự tự biểu đạt sáng tạo. |
|
It is easy to see why the Sun rules the face, per se, but each sign of the zodiac has a physiognomy, and Leo would typically give a person very round features, and a countenance displaying some of the Sun’s qualities – happy, smiling, beaming health and vitality. The Sun in the seventh house or Libra, which rules clocks, brings to mind the clock’s round face. Leo is also the sign of flowers, especially when it is associated with the sign of Gemini, or with Venus. The organs of regeneration in the flower (the stamen etc.), however, come under the sign of Scorpio. Leo is especially the sign of the sunflower, which looks like, or tries to mirror its solar lord; so much so that the ancients were amazed at the likeness. They were fascinated by the heliotrope, the plant that, like the sunflower, turns its flowers towards the sun. Proclus, the fifth century Neoplatonist once wrote: |
Thật dễ thấy vì sao Mặt Trời cai quản khuôn mặt, tự thân, nhưng mỗi dấu hiệu hoàng đạo đều có một diện tướng học, và Sư Tử thường sẽ cho một người những nét rất tròn, và một dung mạo biểu lộ vài phẩm tính của Mặt Trời – vui vẻ, mỉm cười, rạng rỡ sức khỏe và sinh lực. Mặt Trời ở nhà thứ bảy hoặc Thiên Bình, vốn cai quản đồng hồ, gợi nhớ mặt đồng hồ tròn. Sư Tử cũng là dấu hiệu của hoa, đặc biệt khi nó liên hệ với dấu hiệu Song Tử, hoặc với Sao Kim. Tuy nhiên, các cơ quan tái sinh trong hoa (nhị hoa, v.v.) thuộc về dấu hiệu Hổ Cáp. Sư Tử đặc biệt là dấu hiệu của hoa hướng dương, loài trông giống, hoặc cố phản chiếu vị chúa tể mặt trời của nó; đến mức người xưa kinh ngạc trước sự tương tự. Họ bị cuốn hút bởi cây heliotrope, loài thực vật mà, như hoa hướng dương, xoay hoa của mình về phía mặt trời. Proclus, nhà Tân-Platon thế kỷ thứ năm, từng viết: |
|
“Thus the heliotrope moves itself in so far as it is easy for it to move, and if one could only hear how it beats the air as it turns on its stalk, one would understand from this sound that it is offering up a sort of hymn to its King, of such kind of singing as a plant can manage.” |
“Vì vậy, cây heliotrope tự chuyển động trong chừng mực nó có thể dễ dàng chuyển động, và nếu người ta chỉ có thể nghe được cách nó đập vào không khí khi nó xoay trên cuống của mình, người ta sẽ hiểu từ âm thanh ấy rằng nó đang dâng lên một loại thánh ca cho Vua của nó, theo kiểu ca hát mà một loài cây có thể thực hiện.” |
|
Such flowers are a potent symbol for the disciple, who turns his attention towards the glory of his Higher Self. |
Những loài hoa như vậy là một biểu tượng mạnh mẽ cho đệ tử, người xoay sự chú ý của mình về phía vinh quang của chân ngã. |
|
Seasonally, Leo rules midsummer, when the sun’s rays are most intense, when the corn turns a lovely golden colour, and when most people take their annual holiday. Sunday, the day of the sun, is traditionally a day of rest, leisure and recreation. Leo is the sign of leisure and of holidays, especially when they are in the sun. Leo is a sign which, as you would expect from its ruler, normally bestows a sunny disposition. Everyone feels happier on a sunny day: certainly people in Britain do! The Sun in the seventh house (which rules books) is a travel brochure, with a bright cover that shows off a sunny holiday. With Venus, which loves the Sun, we think of games of leisure. Venus in Leo is light comedy and entertainment, especially with Jupiter which brings in an element of fun. Venus and the Sun or the Sun in Gemini are also gymnastics, where health and vigour are combined with agility. Leo rules, not surprisingly, the daytime and daylight, and it is strongest in the midheaven of the chart, which is the natural position of the Sun at noon. |
Theo mùa, Sư Tử cai quản giữa mùa hè, khi tia nắng mặt trời mạnh nhất, khi bắp lúa chuyển sang màu vàng đẹp, và khi đa số người ta đi nghỉ hằng năm. Chủ nhật, ngày của mặt trời, theo truyền thống là ngày nghỉ ngơi, nhàn rỗi và tiêu khiển. Sư Tử là dấu hiệu của sự nhàn rỗi và của kỳ nghỉ, đặc biệt khi chúng ở dưới nắng. Sư Tử là một dấu hiệu mà, như bạn mong đợi từ chủ tinh của nó, thường ban cho một tính khí tươi sáng. Ai cũng cảm thấy vui hơn vào một ngày nắng: chắc chắn người ở Anh là vậy! Mặt Trời ở nhà thứ bảy (vốn cai quản sách) là một cuốn brochure du lịch, với bìa rực rỡ khoe một kỳ nghỉ đầy nắng. Với Sao Kim, vốn yêu Mặt Trời, chúng ta nghĩ đến các trò tiêu khiển. Sao Kim trong Sư Tử là hài nhẹ và giải trí, đặc biệt với Sao Mộc vốn đem vào yếu tố vui nhộn. Sao Kim và Mặt Trời hoặc Mặt Trời trong Song Tử cũng là thể dục dụng cụ, nơi sức khỏe và cường tráng kết hợp với sự nhanh nhẹn. Sư Tử cai quản, không có gì ngạc nhiên, ban ngày và ánh sáng ban ngày, và nó mạnh nhất ở Thiên Đỉnh của lá số, vốn là vị trí tự nhiên của Mặt Trời vào buổi trưa. |
|
The colours of Leo are various. At midday, when the Sun is at its zenith, it is bright and yellow, like the sunflower, whereas the rising or setting Sun is often golden red; as the proverb puts it: “Red sky at night is the shepherd’s delight, red sky in the morning is the shepherd’s warning;” this is when it is associated with Libra, whose glyph reflects the sun on the horizon when it often turns a reddish colour. |
Màu sắc của Sư Tử rất đa dạng. Vào giữa trưa, khi Mặt Trời ở đỉnh thiên, nó sáng và vàng, như hoa hướng dương, trong khi Mặt Trời mọc hay lặn thường đỏ vàng; như tục ngữ nói: “Trời đỏ ban đêm, người chăn cừu mừng; trời đỏ ban sáng, người chăn cừu lo;” đây là khi nó liên hệ với Thiên Bình, ký hiệu của dấu hiệu này phản chiếu mặt trời trên đường chân trời khi nó thường chuyển sang màu đỏ. |
|
Leo is the sign associated with magnetism, for the sun is the centre of the electromagnetic forces in our solar system. The proper aspect for magnetism would be Sun in Aquarius. Leo rules radiation of all types, whether of heat, light, or magnetism and Aquarius rules the waves through which radiation is propagated. Rodney Collin’s description of a dynamic universe sustained by light and magnetism is replete with Leo and solar morphology: |
Sư Tử là dấu hiệu gắn với từ tính, vì mặt trời là trung tâm của các mãnh lực điện từ trong hệ mặt trời của chúng ta. Góc hợp thích hợp cho từ tính sẽ là Mặt Trời trong Bảo Bình. Sư Tử cai quản mọi loại bức xạ, dù là nhiệt, ánh sáng hay từ tính, và Bảo Bình cai quản các làn sóng qua đó bức xạ được truyền đi. Mô tả của Rodney Collin về một vũ trụ năng động được duy trì bởi ánh sáng và từ tính tràn ngập hình thái học Sư Tử và mặt trời: |
|
“The picture of the universe which gradually emerges . . . is thus one of coils within coils, each transforming energy from a higher source to its own needs and capacity. The vast coil of the Sun must transform its white-hot energy from the still more primary source of power at the core of the Milky Way. By induction, the Milky Way must produce current in the Sun, the Sun in the planets, Earth in the encircling moon, and the sage wisdom in the pupil who faithfully revolves about him . . . That about which other creatures revolve imparts light and life. That which revolves is in turn endowed with magnetism and form. By this magnetism it both participates in the giving of form to others, and is in turn endowed with form by them. All magnetism affects all other magnetism. All forms create all other forms. From first cosmos to last electron, the whole universe is a complex of coils within coils, spirals within spirals, magnetic fields within magnetic fields . . .” |
“Bức tranh về vũ trụ dần dần hiện ra… vì vậy là một bức tranh của những cuộn xoắn trong những cuộn xoắn, mỗi cuộn biến đổi năng lượng từ một nguồn cao hơn theo nhu cầu và năng lực của chính nó. Cuộn xoắn khổng lồ của Mặt Trời phải biến đổi năng lượng trắng-nóng của nó từ nguồn quyền năng còn nguyên sơ hơn ở lõi của Dải Ngân Hà. Bằng cảm ứng, Dải Ngân Hà phải tạo dòng điện trong Mặt Trời, Mặt Trời trong các hành tinh, Trái Đất trong mặt trăng bao quanh, và minh triết của bậc hiền triết trong người học trò trung thành quay quanh Ngài… Cái mà các sinh vật khác quay quanh thì ban phát ánh sáng và sự sống. Cái quay quanh thì đến lượt được ban cho từ tính và hình tướng. Nhờ từ tính này, nó vừa tham dự vào việc ban hình tướng cho kẻ khác, vừa đến lượt được ban hình tướng bởi họ. Mọi từ tính tác động lên mọi từ tính khác. Mọi hình tướng tạo ra mọi hình tướng khác. Từ vũ trụ đầu tiên đến electron cuối cùng, toàn thể vũ trụ là một phức hợp của những cuộn xoắn trong những cuộn xoắn, những xoắn ốc trong những xoắn ốc, những trường từ trong những trường từ…” |
|
— Rodney Collin, The Theory of Celestial Influence, page 45. |
— Rodney Collin, Lý Thuyết về Ảnh Hưởng Thiên Thể, trang 45. |
|
The radiation of Leo is not the strong punching effect of will and power as found in the sign of Aries. It is an all-engulfing, radiating love, and its qualities emanate outwards from a central source, just like the heart. It is the energy we invoke when we repeat the words of the Great Invocation: From the point of Love within the Heart of God let love stream forth into the hearts of men. May Christ remain on Earth. The heart has an electrical function, and electromagnetic waves pulse outwards from it into the body and the surrounding aura (which is also ruled by Leo). The heart is a pump and the circulation of blood around the body is a Leo feature. The circulatory system, however, is ruled by the complementary sign of Aquarius. When our circulation is working well, we have a bonhomie, a feeling of health and vigour, a strong and radiating aura, which is always associated with Leo. |
Bức xạ của Sư Tử không phải là hiệu ứng đấm mạnh của ý chí và quyền năng như thấy trong dấu hiệu Bạch Dương. Nó là một bác ái bao trùm và tỏa chiếu, và các phẩm tính của nó phát xạ ra ngoài từ một nguồn trung tâm, giống như trái tim. Đó là năng lượng chúng ta khẩn cầu khi lặp lại lời của Đại Khấn Nguyện: Từ điểm Bác Ái trong Trái Tim của Thượng Đế, xin cho bác ái tuôn tràn vào trái tim của những người con của nhân loại. Nguyện Đức Christ lưu lại trên Trái Đất. Trái tim có một chức năng điện, và các làn sóng điện từ đập nhịp phát ra từ nó vào cơ thể và hào quang bao quanh (cũng do Sư Tử cai quản). Trái tim là một cái bơm và sự tuần hoàn của máu quanh cơ thể là một đặc tính Sư Tử. Tuy nhiên, hệ tuần hoàn do dấu hiệu bổ sung là Bảo Bình cai quản. Khi tuần hoàn của chúng ta hoạt động tốt, chúng ta có một sự vui vẻ thân tình, một cảm giác khỏe mạnh và cường tráng, một hào quang mạnh và tỏa rạng, vốn luôn gắn với Sư Tử. |
|
This is the sign of vitality, of prana. The Sun pours its life-sustaining prana into our planetary atmosphere, and if this atmosphere is not obscured, we can utilise it. The prana is held in structures called vitality globules, which are also ruled by the Sun. Vitality globules attach themselves to oxygen molecules and enter the body through the breath, or by way of fresh food such as fruit and vegetables, or directly through the skin. This vitality is stored in the chakras, which are whirling vortices of pranic energy, which distribute, through their nadis, the prana to the nervous system. (For a complete explanation of this process, see Meditation, the Theory and Practice, by the author, pages 209 to 216). |
Đây là dấu hiệu của sinh lực, của prana. Mặt Trời tuôn prana duy trì sự sống vào khí quyển hành tinh của chúng ta, và nếu khí quyển này không bị che khuất, chúng ta có thể sử dụng nó. Prana được giữ trong các cấu trúc gọi là Sinh khí cầu, vốn cũng do Mặt Trời cai quản. Sinh khí cầu bám vào các phân tử oxy và đi vào cơ thể qua hơi thở, hoặc qua thực phẩm tươi như trái cây và rau củ, hoặc trực tiếp qua da. Sinh lực này được dự trữ trong các luân xa, vốn là những xoáy quay của năng lượng prana, phân phối, qua các nadis của chúng, prana đến hệ thần kinh. (Để có một giải thích đầy đủ về tiến trình này, xem của tác giả, trang 209 đến 216). |
|
Leo should always bring to mind vitality, health, happiness, life and the life force, and someone with a well-aspected Sun would expect to have a good share of these qualities. The Sun placed in the sixth house of a horoscope, if it is nicely aspected, gives good health, especially with the use of natural remedies, which are associated with this house, the home of medicine and purification. |
Sư Tử luôn nên gợi nhớ sinh lực, sức khỏe, hạnh phúc, sự sống và sinh lực, và người có Mặt Trời tạo góc hợp tốt sẽ mong có một phần tốt những phẩm tính này. Mặt Trời đặt ở nhà thứ sáu của một lá số chiêm tinh, nếu tạo góc hợp đẹp, đem lại sức khỏe tốt, đặc biệt với việc dùng các phương thuốc tự nhiên, vốn gắn với nhà này, nơi của y học và thanh lọc. |
|
Leo saves: “God save the King!” It saves your vitality, and even saves your life; it saves you if you are sick, especially when there are trines or sextiles to the Sun, which indicate recovery. Leo restores: “Restore the king! Return the king to his throne!” It restores vitality and health. It also rules help. When you help somebody, you are expressing the Leo in you. When you call for help, it is Leo afflicted: you need help. Leo redeems, rescues and restores; it puts the person back on his ‘throne’ or back in his proper place. The Bach Flower Remedies come under Virgo and the sixth house, so the Rescue Remedy would be Sun in the sixth house. |
Sư Tử cứu: “Thượng đế phù hộ Nhà Vua!” Nó cứu sinh lực của bạn, và thậm chí cứu mạng bạn; nó cứu bạn khi bạn bệnh, đặc biệt khi có các tam hợp hay lục hợp với Mặt Trời, vốn chỉ ra sự hồi phục. Sư Tử hoàn nguyên: “Hoàn nguyên nhà vua! Trả nhà vua về ngai của ngài!” Nó hoàn nguyên sinh lực và sức khỏe. Nó cũng cai quản sự giúp đỡ. Khi bạn giúp ai đó, bạn đang biểu đạt Sư Tử trong bạn. Khi bạn kêu cứu, đó là Sư Tử bị tổn thương: bạn cần giúp đỡ. Sư Tử chuộc lại, giải cứu và hoàn nguyên; nó đặt người ấy trở lại “ngai” của y hoặc trở lại đúng vị trí của y. Các liệu pháp hoa Bach thuộc về Xử Nữ và nhà thứ sáu, vì vậy “Rescue Remedy” sẽ là Mặt Trời ở nhà thứ sáu. |
|
The Sun rules sweets and sweet things, which includes honey and the bees that make honey. An enchanting symbol for Leo is that of the dead lion in whom bees build a hive, and out of the hive there pours honey: all Leonine features. There is a British company that makes golden syrup, and they use this image of the lion and the bees on their tins, with the quotation: “Out of the strong came forth sweetness”. (Bible, Judges, 14:14). Leo can give people not only great courage and pride but also lovely sweet dispositions. |
Mặt Trời cai quản đồ ngọt và những thứ ngọt, bao gồm mật ong và những con ong làm ra mật. Một biểu tượng quyến rũ cho Sư Tử là con sư tử chết mà trong đó ong xây tổ, và từ tổ tuôn ra mật: tất cả đều là đặc tính Sư Tử. Có một công ty Anh sản xuất siro vàng, và họ dùng hình ảnh sư tử và ong này trên các lon, kèm câu trích: “Từ kẻ mạnh tuôn ra sự ngọt ngào”. (Kinh Thánh, Các Thủ Lãnh, 14:14). Sư Tử có thể ban cho con người không chỉ lòng can đảm và niềm kiêu hãnh lớn lao mà còn cả những tính khí dịu ngọt đáng yêu. |
|
The different ages of man are found in the zodiac: Cancer is the sign of infancy and old age, when there is dependency, fragility and weakness. But from four or five onwards the child is forming an ego, a sense of his separate selfhood; he is putting together a personality by relating to everything around him and as far as he is concerned, he is the centre of his universe. Creative self-expression through play and hobbies is crucial to the formative process, and so too is the stimulation provided by the parents, who often make their children the focus of their attention. All this is Leo, which rules sons and daughters. |
Các lứa tuổi khác nhau của con người được tìm thấy trong Hoàng đạo: Cự Giải là dấu hiệu của thời thơ ấu và tuổi già, khi có sự lệ thuộc, mong manh và yếu đuối. Nhưng từ bốn hay năm tuổi trở đi, đứa trẻ đang hình thành một cái ngã, một ý thức về bản ngã tách biệt của nó; nó đang ghép lại một phàm ngã bằng cách liên hệ với mọi thứ quanh nó và, theo cách nhìn của nó, nó là trung tâm của vũ trụ của mình. Sự tự biểu đạt sáng tạo qua trò chơi và sở thích là then chốt đối với tiến trình hình thành, và sự kích thích do cha mẹ cung cấp cũng vậy, những người thường biến con cái thành trọng tâm chú ý của mình. Tất cả điều này là Sư Tử, vốn cai quản con trai và con gái. |
|
Virgo is the sign of virginal youth, but where there is a sweetheart, a girlfriend or boyfriend, it comes under Leo. Should this lead to marriage then Libra rules, as the sign of the husband or wife. Leo, however, is the mistress or gigolo—the lover where there is no legal relationship involved. |
Xử Nữ là dấu hiệu của tuổi trẻ trinh nguyên, nhưng nơi có người yêu, bạn gái hay bạn trai, thì thuộc về Sư Tử. Nếu điều này dẫn đến hôn nhân thì Thiên Bình cai quản, như dấu hiệu của chồng hay vợ. Tuy nhiên, Sư Tử là tình nhân hoặc trai bao—người tình khi không có quan hệ pháp lý liên quan. |
|
The mistress or gigolo can be expensive items and Leo often implies tremendous expense. For a country to keep a monarchy it requires a lot of gold. The king has a position to keep up; he is a star, the cynosure of all eyes, and therefore he must maintain his position, and he is lavish. In the old days royal extravagance would be regarded as largess; ‘scattering largess to the multitude’ or ‘throwing coins to the poor’: all this is typical of Leo, which rules hand-outs. The Sun is constantly showering its munificence upon all that comes within its orb. It is naturally lavish: “Oh, don’t worry about the cost!” In this respect it is very similar to the Earth, which always opposes or complements it in the horoscope. The Earth squanders resources and incurs unnecessary expenditure, like buying four cars when you can make do with one. Such wastefulness, however, owes more to the immaturity of a delinquent planet than the open-handed magnanimity of its solar lord. |
Tình nhân hoặc trai bao có thể là những món tốn kém và Sư Tử thường hàm ý sự chi tiêu khổng lồ. Để một quốc gia duy trì chế độ quân chủ, cần rất nhiều vàng. Nhà vua phải giữ vững vị thế; ông là một ngôi sao, tâm điểm của mọi ánh nhìn, và vì vậy ông phải duy trì vị thế của mình, và ông hào phóng xa xỉ. Ngày xưa sự xa hoa hoàng gia sẽ được xem là sự ban phát; “rải ban phát cho đám đông” hoặc “ném tiền cho người nghèo”: tất cả điều này là điển hình của Sư Tử, vốn cai quản sự bố thí. Mặt Trời không ngừng tuôn rải sự hào phóng của nó lên mọi thứ nằm trong quỹ đạo của nó. Nó tự nhiên hào phóng: “Ồ, đừng lo về chi phí!” Ở phương diện này nó rất giống Trái Đất, vốn luôn đối vị hay bổ sung cho nó trong lá số chiêm tinh. Trái Đất phung phí tài nguyên và phát sinh chi tiêu không cần thiết, như mua bốn chiếc xe khi bạn có thể dùng một chiếc là đủ. Tuy nhiên, sự lãng phí như vậy thuộc về sự non nớt của một hành tinh lầm lạc hơn là sự rộng tay cao thượng của vị chúa tể mặt trời của nó. |
|
At its worst Leo can be arrogant, unsophisticated, and very tedious, sometimes a bully, or like the single child who will not share his toys. At its best it is a fine and noble sign that can love without losing its qualities of will, perhaps its most important feature, and one which should never be forgotten. As I have described elsewhere (see my book The Jewel in the Lotus), our solar system is one that expresses the Second Ray of Love-Wisdom. We would expect that quality to be associated with the Sun and Leo, and the factor of the heart to be impressed upon mankind very powerfully. |
Ở mức tệ nhất, Sư Tử có thể kiêu ngạo, thô vụng, và rất nhàm chán, đôi khi là kẻ bắt nạt, hoặc như đứa con một không chịu chia đồ chơi. Ở mức tốt nhất, đó là một dấu hiệu đẹp và cao quý có thể yêu mà không đánh mất phẩm tính ý chí của mình, có lẽ là đặc điểm quan trọng nhất của nó, và là điều không bao giờ nên bị quên. Như tôi đã mô tả ở nơi khác (xem sách của tôi), hệ mặt trời của chúng ta là một hệ biểu đạt Cung hai của Bác Ái – Minh Triết. Chúng ta sẽ mong phẩm tính ấy gắn với Mặt Trời và Sư Tử, và yếu tố trái tim được in dấu lên nhân loại một cách rất mạnh mẽ. |
|
Leo is also, therefore, a sign with strong intuitive ability, which is another heart chakra quality. When we feel something profoundly and deeply, we experience this at a different level from our ordinary emotional experience, at a more subtle or buddhic level. We feel it in the heart centre, and at such times we may place our hand (with its chakra) on our heart, unconsciously, to register that we feel something very profoundly. The heart plays a dual role in this respect; it represents romantic love associated with the sweetheart, but also love at a higher level. Leo has the ability to transmute love into something that is unconditional and platonic, not the selfish love that we associate with the solar plexus chakra: “I will love you if you will love me back!” This is emotional love that always desires a response from the beloved. At its finest, Leo radiates a much deeper, more powerful love that is wisely applied in the best interests of its object. This is when selfish love is abandoned and self-less love is practised, where affairs of the heart become affairs of the heart chakra. |
Vì vậy, Sư Tử cũng là một dấu hiệu có năng lực trực giác mạnh, vốn là một phẩm tính khác của luân xa tim. Khi chúng ta cảm nhận điều gì đó một cách sâu sắc và thẳm sâu, chúng ta trải nghiệm điều này ở một cấp độ khác với trải nghiệm cảm xúc thông thường của mình, ở một cấp độ tinh tế hơn hay Bồ đề hơn. Chúng ta cảm nhận nó ở trung tâm tim, và vào những lúc như vậy chúng ta có thể đặt tay (với luân xa của nó) lên tim mình, một cách vô thức, để ghi nhận rằng mình đang cảm nhận điều gì đó rất sâu sắc. Trái tim đóng một vai trò kép trong phương diện này; nó biểu thị tình yêu lãng mạn gắn với người yêu, nhưng cũng là tình yêu ở một cấp độ cao hơn. Sư Tử có khả năng chuyển hoá tình yêu thành điều gì đó vô điều kiện và thuần khiết, không phải thứ tình yêu ích kỷ mà chúng ta gắn với luân xa tùng thái dương: “Tôi sẽ yêu bạn nếu bạn yêu lại tôi!” Đây là tình yêu cảm xúc luôn khao khát một đáp ứng từ người được yêu. Ở mức tinh tế nhất, Sư Tử tỏa chiếu một tình yêu sâu hơn, mạnh hơn nhiều, được áp dụng một cách minh triết vì lợi ích tốt nhất của đối tượng. Đây là khi tình yêu ích kỷ bị từ bỏ và tình yêu vị tha được thực hành, khi các chuyện của trái tim trở thành các chuyện của luân xa tim. |
Keywords for Leo, the Sun, and the Fifth House—Các từ khóa cho Sư Tử, Mặt Trời, và Nhà Thứ Năm
|
Royal; aristocrat; noble; sir; sons & daughters; child; youngster; face; flowers; hats; crowns; vitality; vitality globule; prana; life; lively; spirited; sound health; healthy; wholesome; wholeness; wellbeing; well; refresh; happiness; natural; sugar; sweet; candy; honey; magnetism; radiating; centre; spot; point; among; anything which goes around a central point; about; around; merry-go-round; hub; rotate; roll; scroll; turn; return; u-shapes; wheels; discs; chakras; round; surround; cycles; circles; encircle; rings; circuit; the number 10 and numbers ending in 0; five; day; daylight; year; gold; seats; chairs; walls; screens; cell; nucleus; seed; egg; organ; heart; back; turn back; behind your back; rear; self-exposure; exposed; star; pop star; on show; behind glass; display; glamorous; pride; ego; mistress; lover; gigolo; sexual (not married) partners; girlfriend; boyfriend; sweetheart; darling; dear; love; celebrations; party; leisure; holidays; summer; games; play; toy; lavish; grand; lazy; help; safe; save; rescue; re- (prefix); redeem; restore; recovery; preserve; hair; lion; cat; tail; hang; courageous; daring; personality (+ birth sign); fire; orange; red; yellow. |
Hoàng gia; quý tộc; cao quý; ngài; con trai & con gái; trẻ em; thanh thiếu niên; khuôn mặt; hoa; mũ; vương miện; sinh lực; Sinh khí cầu; prana; sự sống; sinh động; đầy sinh khí; sức khỏe tốt; khỏe mạnh; lành mạnh; tính toàn vẹn; an lạc; vâng; làm tươi mới; hạnh phúc; tự nhiên; đường; ngọt; kẹo; mật ong; từ tính; tỏa chiếu; trung tâm; điểm; chấm; giữa; bất cứ thứ gì đi quanh một điểm trung tâm; về; quanh; vòng quay ngựa gỗ; trục; xoay; cuộn; cuộn giấy; quay; trở lại; hình chữ u; bánh xe; đĩa; luân xa; tròn; bao quanh; chu kỳ; vòng tròn; vây tròn; nhẫn; mạch vòng; số 10 và các số kết thúc bằng 0; số năm; ngày; ánh sáng ban ngày; năm; vàng; chỗ ngồi; ghế; tường; bình phong; tế bào; hạt nhân; hạt giống; trứng; cơ quan; tim; lưng; quay lại; sau lưng bạn; phía sau; tự phơi bày; bị phơi bày; ngôi sao; ngôi sao nhạc pop; phô diễn; sau kính; trưng bày; ảo cảm; kiêu hãnh; cái ngã; tình nhân; người tình; trai bao; bạn tình (không kết hôn); bạn gái; bạn trai; người yêu; cưng; yêu; lễ mừng; tiệc tùng; nhàn rỗi; kỳ nghỉ; mùa hè; trò chơi; chơi; đồ chơi; xa xỉ; hoành tráng; lười; giúp đỡ; an toàn; cứu; giải cứu; re- (tiền tố); chuộc lại; hoàn nguyên; hồi phục; bảo tồn; tóc; sư tử; mèo; đuôi; treo; can đảm; táo bạo; phàm ngã (+ dấu hiệu sinh); lửa; cam; đỏ; vàng. |
|
’Tis love—’tis love that makes the world go round! |
Chính bác ái—chính bác ái làm cho thế giới quay tròn! |
THE AGE of LEO: —THỜI ĐẠI của SƯ TỬ:
|
From Towards Aquarius by Vera. W. Reid. |
Trích từ Hướng Về Bảo Bình của Vera. W. Reid. |
|
Homage to thee, O thou who art Ra when thou riseth and Temu when thou settest. Thou riseth, thou shinest, thou art crowned king of the year. Thou art the Lord of heaven, the Lord of earth, the Creator of the starry gods in heaven above. Thou art the Lord who came into being in the beginning of time. Thou didst create the earth, thou didst fashion man, thou didst make the watery abyss of the sky . . . and give all that therein is.—‘Hymn to Ra When He Riseth’, Egyptian Book of the Dead. |
Kính dâng Ngài, hỡi Đấng là Ra khi Ngài mọc và là Temu khi Ngài lặn. Ngài mọc, Ngài chiếu sáng, Ngài được đội vương miện làm vua của năm. Ngài là Chúa Tể của trời, Chúa Tể của đất, Đấng Sáng Tạo các thần linh tinh tú trên trời cao. Ngài là Chúa Tể đã đi vào hiện hữu vào thuở khởi đầu của thời gian. Ngài đã tạo ra đất, Ngài đã nắn tạo con người, Ngài đã làm nên vực thẳm nước của bầu trời… và ban cho mọi thứ ở trong đó.—‘Thánh Ca dâng Ra Khi Ngài Mọc’, Sách Người Chết Ai Cập. |
The Celestial Zodiac —Hoàng Đạo Thiên Thể
|
Radiation of light and heat flows from the Sun in a relatively constant stream throughout the solar system. Yet (from the terrestrial point of view) because of the axial, orbital and precessional movements of the Earth its power increases and decreases in daily, yearly and Great Yearly cycles. |
Bức xạ ánh sáng và nhiệt tuôn chảy từ Mặt Trời trong một dòng tương đối ổn định khắp hệ mặt trời. Tuy vậy (từ quan điểm trên Trái Đất), do các chuyển động trục, quỹ đạo và tuế sai của Trái Đất, quyền năng của nó tăng giảm theo các chu kỳ hằng ngày, hằng năm và Đại Chu Kỳ Năm. |
|
Each of these solar life cycles, consisting of the birth, life, death and resurrection of the Sun, is described against a background of the celestial zodiac. Thus, to the initiates of the Ancient Wisdom, the zodiac was the formula of a sequential life-process applicable to every manifestation of life. |
Mỗi chu kỳ sự sống mặt trời này, gồm sự sinh, sự sống, sự chết và sự phục sinh của Mặt Trời, được mô tả trên nền của hoàng đạo thiên thể. Vì vậy, đối với các điểm đạo đồ của Minh Triết Cổ Xưa, hoàng đạo là công thức của một tiến trình sự sống tuần tự, có thể áp dụng cho mọi biểu hiện của sự sống. |
|
The signs of the zodiac are, therefore, the glyphs of a universal language, common to seekers of truth irrespective of creed, time or race. It is for this reason that astrology was known as the sacred or the divine science and its symbolism that of the mystery or wisdom teachings upon which the orthodox faiths of the world are founded. |
Các dấu hiệu hoàng đạo, vì vậy, là các ký hiệu của một ngôn ngữ phổ quát, chung cho những người tìm kiếm chân lý, bất kể tín điều, thời đại hay chủng tộc. Chính vì lý do này mà chiêm tinh học được biết đến như khoa học thiêng liêng hay khoa học thần thánh, và biểu tượng của nó là biểu tượng của các giáo huấn huyền nhiệm hay minh triết, trên đó các đức tin chính thống của thế giới được xây dựng. |
|
Composed of vital, potent ideas, it speaks to, and is heard within, the heart. It is the book of life wherein he who runs may read and understand according to the measure of his intuitive capacity and spiritual maturity. |
Được cấu thành bởi những ý niệm sống động, mạnh mẽ, nó nói với, và được lắng nghe trong, trái tim. Nó là quyển sách của sự sống, trong đó người đang chạy cũng có thể đọc và thấu hiểu tùy theo mức độ năng lực trực giác và sự trưởng thành tinh thần của y. |
|
It is difficult for us to realise the potency and psychic content of such a language. When we see an ancient glyph or symbol, we ask what it means and thereby reveal our spiritual sterility. To the great initiates of all ages, whose minds were illumined by wisdom, the twelve signs of the zodiac were the twelve gates of another world whose beauty and dazzling splendour caused the physical realm to appear as a candle in the sunlight. |
Chúng ta khó mà chứng nghiệm được sức mạnh và nội dung thông linh của một ngôn ngữ như thế. Khi thấy một ký hiệu hay biểu tượng cổ xưa, chúng ta hỏi nó có nghĩa gì, và qua đó bộc lộ sự vô sinh tinh thần của mình. Đối với các điểm đạo đồ vĩ đại của mọi thời đại, những người có thể trí được minh triết soi sáng, mười hai dấu hiệu hoàng đạo là mười hai cánh cổng của một thế giới khác, mà vẻ đẹp và sự huy hoàng chói lọi của nó khiến cõi hồng trần trông như một ngọn nến dưới ánh mặt trời. |
|
At the present time, the Sun, by precession of the equinoxes, is entering the sign of Aquarius, the Man, whose characteristics will be those of the coming two thousand year period. The qualities of each sign of the zodiac are complementary to those of its polar opposite. Between the two is a constant flow and interchange of energy comparable to the negative and positive electric currents which, though dual, are yet one. In order, therefore, to understand more fully the meaning that Aquarius has for us today we will pick up the threads of the evolutionary process some twelve thousand years ago when the Sun was entering the opposite sign of Leo, the Lion. |
Trong thời điểm hiện tại, Mặt trời, do sự tiến động của các điểm phân, đang đi vào dấu hiệu Bảo Bình, Người, mà các đặc tính của nó sẽ là đặc tính của giai đoạn hai nghìn năm sắp tới. Các phẩm tính của mỗi dấu hiệu hoàng đạo bổ sung cho các phẩm tính của dấu hiệu đối cực của nó. Giữa hai dấu hiệu ấy là một dòng chảy và sự trao đổi năng lượng liên tục, tương tự như các dòng điện âm và dương, tuy là nhị nguyên nhưng vẫn là một. Vì vậy, để thấu hiểu đầy đủ hơn ý nghĩa mà Bảo Bình có đối với chúng ta ngày nay, chúng ta sẽ lần theo các mối dây của tiến trình tiến hoá cách đây khoảng mười hai nghìn năm, khi Mặt trời đang đi vào dấu hiệu đối nghịch là Sư Tử, Sư Tử. |
Symbolism of Leo—Biểu tượng của Sư Tử
|
Leo and Aquarius are both fixed signs—one of the fire, the other of the air element—which represent spiritual and mental energies respectively. These signs are of great import in the life of the race, for Aquarius is the sign of the Man, and Leo of the spiritual aspiration which has ever been a guiding principle in human evolution. In the Age of Leo the human mind was stimulated by the upward surge of spiritual force. In the coming Age of Aquarius this position will be reversed—spiritual awareness will arise through mental enlightenment. |
Sư Tử và Bảo Bình đều là các dấu hiệu cố định—một thuộc nguyên tố lửa, một thuộc nguyên tố khí—lần lượt biểu trưng cho các năng lượng tinh thần và trí tuệ. Các dấu hiệu này có tầm quan trọng lớn trong đời sống của nhân loại, vì Bảo Bình là dấu hiệu của Người, còn Sư Tử là dấu hiệu của khát vọng tinh thần vốn luôn là một nguyên khí dẫn dắt trong tiến hoá nhân loại. Trong Thời đại Sư Tử, thể trí con người được kích thích bởi làn sóng dâng lên của mãnh lực tinh thần. Trong Thời đại Bảo Bình sắp tới, vị thế này sẽ đảo ngược—nhận thức tinh thần sẽ khởi sinh qua sự soi sáng trí tuệ. |
|
Astrologically, wisdom is associated with the heart, knowledge with the head. Since the Sun is the heart and generator of the solar system, so Leo, the sign ruled by the Sun, symbolises the divine fire which, hidden in the heart, controls the spiritual and physical life of man and illuminates the human mind. In this sense Leo is the royal sign signifying the Divine Father, the King, the Master Initiate, as its polar opposite, Aquarius, signifies the Man, or mankind in general. |
Về mặt chiêm tinh, minh triết gắn với trái tim, tri thức gắn với cái đầu. Vì Mặt trời là trái tim và là nguồn phát sinh của hệ mặt trời, nên Sư Tử, dấu hiệu do Mặt trời cai quản, biểu trưng cho lửa thiêng liêng vốn ẩn trong trái tim, điều khiển đời sống tinh thần và hồng trần của con người và soi sáng thể trí nhân loại. Theo nghĩa này, Sư Tử là dấu hiệu vương giả, biểu thị Thánh Phụ, Nhà Vua, Chân sư điểm đạo, cũng như dấu hiệu đối cực của nó, Bảo Bình, biểu thị Người, hay nhân loại nói chung. |
|
The sign of Leo is also associated with children, pleasure, recreation and dramatic art. Its characteristics are authority, generosity, warmth of heart and radiation of love-qualities, which reflect the wisdom and highest form of truth inherent in its ruler, the Sun. Among its symbols are the Lion, gold and fire, representing the divinity of kingship, wisdom and spiritual aspiration respectively. |
Dấu hiệu Sư Tử cũng gắn với trẻ em, khoái lạc, giải trí và nghệ thuật kịch. Các đặc tính của nó là uy quyền, hào phóng, sự ấm áp của trái tim và sự toả chiếu các phẩm tính bác ái, phản ánh minh triết và hình thức chân lý cao nhất vốn nội tại trong chủ tinh của nó là Mặt trời. Trong các biểu tượng của nó có Sư Tử, vàng và lửa, lần lượt biểu thị tính thần thánh của vương quyền, minh triết và khát vọng tinh thần. |
|
Historical data of this period of Leo is non-existent. For the purpose of analysis we are obliged to draw on traditional evidence in legend and myth. By comparing source with astrological symbolism we can, to some extent, reconstruct the general trend of the era and form some idea of its significance. |
Dữ liệu lịch sử của thời kỳ Sư Tử này không tồn tại. Vì mục đích phân tích, chúng ta buộc phải dựa vào chứng cứ truyền thống trong truyền thuyết và thần thoại. Bằng cách so sánh các nguồn với biểu tượng chiêm tinh, chúng ta có thể, ở một mức độ nào đó, tái dựng xu hướng chung của thời đại và hình thành một ý niệm về thâm nghĩa của nó. |
|
Recreation |
Giải trí |
|
The Sun is the giver of life and the creative principle of the solar system. In the rhythmic cycles of the day, year and Great Year, life is recreated from the one source of life and light. The word recreation means refreshment after toil. Sunday—the day dedicated to the Sun—and the Age of Leo are alike, recurrent periods of rest and refreshment in daily and racial life. |
Mặt trời là đấng ban sự sống và là nguyên khí sáng tạo của hệ mặt trời. Trong các chu kỳ nhịp nhàng của ngày, năm và Đại Niên, sự sống được tái tạo từ một nguồn duy nhất của sự sống và ánh sáng. Từ “giải trí” có nghĩa là sự thư thái sau lao nhọc. Chủ nhật—ngày dành cho Mặt trời—và Thời đại Sư Tử giống nhau ở chỗ đều là những giai đoạn nghỉ ngơi và hồi phục lặp lại trong đời sống hằng ngày và đời sống chủng tộc. |
|
This period of Leo may seem to us remote and unreal. Yet it is separated from the present day by no more than six ‘months’ of one Great Year. Many such cycles have come and gone in the course of the evolutionary process. Many great races and civilisations have preceded those of which we have knowledge. The course of each follows an undeviating pattern. From obscurity it comes to birth, rises for a span of life and then in the natural course of events declines and makes way for another. |
Thời kỳ Sư Tử này có thể có vẻ xa xôi và không thực đối với chúng ta. Tuy vậy, nó chỉ cách hiện tại không hơn sáu “tháng” của một Đại Niên. Nhiều chu kỳ như thế đã đến rồi đi trong tiến trình tiến hoá. Nhiều chủng tộc và nền văn minh vĩ đại đã đi trước những điều mà chúng ta biết. Tiến trình của mỗi chu kỳ đều theo một mô hình không sai lệch. Từ mờ tối nó đi đến sinh thành, vươn lên trong một khoảng đời sống, rồi theo diễn tiến tự nhiên suy tàn và nhường chỗ cho một chu kỳ khác. |
|
But amid this welter of change and progress the wisdom of the ‘true religion’ remains constant. It is the Light of the World which from time immemorial has been handed on from race to race in a long and royal line of initiate succession. In each month of the Great Year it is held aloft by members of this royal line who, like Christ and Buddha, within historical times, are universally recognised as sons of God. They live on earth for but a few years yet their wisdom illuminates the age and inspires contemporary orthodox faith. But in the Age of Leo, the royal sign, there is evidence which suggests that they not only lived on Earth but reigned as kings among men and founded divine dynasties. |
Nhưng giữa cơn xoáy của biến đổi và tiến bộ ấy, minh triết của “tôn giáo chân chính” vẫn không đổi. Đó là Ánh Sáng của Thế Gian, từ thời vô thủy đã được truyền từ chủng tộc này sang chủng tộc khác trong một dòng kế thừa điểm đạo dài và vương giả. Trong mỗi tháng của Đại Niên, nó được giương cao bởi các thành viên của dòng vương giả này, những vị mà, như Đức Christ và Đức Phật trong thời lịch sử, được phổ quát công nhận là các Con của Thượng đế. Các Ngài sống trên đất chỉ vài năm, nhưng minh triết của Các Ngài soi sáng thời đại và truyền cảm hứng cho đức tin chính thống đương thời. Nhưng trong Thời đại Sư Tử, dấu hiệu vương giả, có những bằng chứng gợi ý rằng Các Ngài không chỉ sống trên Trái Đất mà còn trị vì như các vị vua giữa loài người và lập nên các vương triều thần thánh. |
|
As representatives of older, and perhaps dying races, to others yet in their infancy they carried the light of truth and knowledge. From the depths of eternal wisdom they recreated the spring of spiritual life and in the human heart planted the seed of wisdom that germinated in secret during later ages. |
Là các đại diện của những chủng tộc cổ xưa hơn, và có lẽ đang tàn lụi, đối với những chủng tộc khác còn ở thời thơ ấu, Các Ngài mang ánh sáng chân lý và tri thức. Từ chiều sâu của minh triết vĩnh cửu, Các Ngài tái tạo mạch nguồn của đời sống tinh thần và gieo trong trái tim con người hạt giống minh triết, hạt giống ấy nảy mầm trong bí mật qua các thời đại về sau. |
|
Initiate Kings of the Age of Leo |
Các Vua Điểm Đạo của Thời đại Sư Tử |
|
To our primitive ancestors these master initiates appeared as beings of a divine and superhuman race. They were believed to be the progeny of the Sun who, as king of the solar system, endowed his children with royal life-giving powers. With their insight into the human heart, their knowledge of natural law, their radiation of love, wisdom and truth, they were hailed as king and father in whose person spiritual and temporal power were vested. |
Đối với tổ tiên nguyên sơ của chúng ta, các Chân sư điểm đạo ấy hiện ra như những hữu thể thuộc một chủng tộc thần thánh và siêu nhân. Người ta tin rằng Các Ngài là hậu duệ của Mặt trời, vị vua của hệ mặt trời, Đấng ban cho con cái mình các quyền năng vương giả ban sự sống. Với sự thấu suốt trái tim con người, tri thức về định luật tự nhiên, sự toả chiếu bác ái, minh triết và chân lý, Các Ngài được tôn xưng là vua và là cha, nơi thân vị của Các Ngài quyền lực tinh thần và quyền lực thế tục được kết tụ. |
|
Age-old tradition confirms this view. Many peoples affirm that their history as a race or nation dates from the appearance of a divine being, who, endowed with miraculous powers, was descended from the Sun and reigned on earth as regent for his father in heaven. Osiris, Hermes, Apollo, Dionysus, Abraham and Orpheus are among these divine and semi-divine personages. They are described as learned in celestial and natural sciences and as the instructors of their people in the arts of husbandry, agriculture, craftsmanship and the domestication of animals. In every case they are said to have founded a royal line whose members were the guardians of a secret wisdom whence they derived super-human powers. |
Truyền thống lâu đời xác nhận quan điểm này. Nhiều dân tộc khẳng định rằng lịch sử của họ với tư cách một chủng tộc hay quốc gia bắt đầu từ sự xuất hiện của một hữu thể thần thánh, được ban các quyền năng kỳ diệu, là hậu duệ của Mặt trời và trị vì trên đất như nhiếp chính cho người cha trên trời. Osiris, Hermes, Apollo, Dionysus, Abraham và Orpheus nằm trong số các nhân vật thần thánh và bán thần thánh ấy. Họ được mô tả là uyên thâm các khoa học thiên văn và tự nhiên, và là những người dạy dân mình các nghệ thuật chăn nuôi, nông nghiệp, thủ công và thuần hoá động vật. Trong mọi trường hợp, người ta nói rằng họ đã lập nên một dòng vương giả mà các thành viên là những người gìn giữ một minh triết bí mật, từ đó họ có được các quyền năng siêu nhân. |
|
Similar traditions are preserved in the scriptures of the world. They linger too, in those which surround the divine dynasties of historical times and in the privileges still accorded to the office of temporal kingship. The idea of divine rulership, in all probability, arose from the spiritual sovereignty exercised by the great initiates of the true religion, whose principles, handed down in the direct line of initiate succession, formed a basis for subsequent esoteric knowledge. The divine dynasties, therefore, must have been originally founded on the spiritual kingship of initiation. Later, although the sacred office of kingship became hereditary, many millennia passed before it ceased to be conditional upon initiatory rites which ensured possession of the highest moral and spiritual qualities. |
Những truyền thống tương tự được lưu giữ trong kinh điển của thế giới. Chúng cũng còn vương lại trong những truyền thuyết bao quanh các vương triều thần thánh của thời lịch sử và trong những đặc quyền vẫn còn được dành cho chức vị vương quyền thế tục. Ý niệm về quyền cai trị thần thánh, rất có thể, đã phát sinh từ chủ quyền tinh thần do các điểm đạo đồ vĩ đại của tôn giáo chân chính thực thi; các nguyên lý của tôn giáo ấy, được truyền trong dòng kế thừa điểm đạo trực tiếp, đã tạo nền tảng cho tri thức nội môn về sau. Vì vậy, các vương triều thần thánh hẳn ban đầu được thiết lập trên vương quyền tinh thần của điểm đạo. Về sau, mặc dù chức vị thiêng liêng của vương quyền trở thành cha truyền con nối, vẫn phải qua nhiều thiên niên kỷ trước khi nó thôi không còn tùy thuộc vào các nghi lễ điểm đạo vốn bảo đảm sự sở hữu các phẩm tính đạo đức và tinh thần cao nhất. |
|
Their Historical Successors |
Những Người Kế Thừa Lịch Sử của Các Ngài |
|
The qualities of the initiate kings who reigned on earth in the Age of Leo may best be judged by those commonly attributed to their historical successors. Krishna, Buddha, Christ, Zoroaster all spoke from the depth of a vital spiritual experience and, therefore, with authority. They all healed the sick, raised the dead, inspired the multitude, and were acclaimed kings by their followers. It is noteworthy that they were pronounced of royal origin by virtue of their power to reflect in their life and works the creative qualities of their heavenly Father. |
Các phẩm tính của những vua điểm đạo đã trị vì trên đất trong Thời đại Sư Tử có thể được đánh giá tốt nhất qua những phẩm tính thường được gán cho các người kế thừa lịch sử của họ. Krishna, Đức Phật, Đức Christ, Zoroaster đều nói từ chiều sâu của một kinh nghiệm tinh thần sống động và, vì vậy, với thẩm quyền. Tất cả đều chữa lành bệnh tật, làm người chết sống lại, truyền cảm hứng cho quần chúng, và được những người theo mình tôn xưng là vua. Đáng chú ý là họ được tuyên nhận có nguồn gốc vương giả nhờ năng lực phản chiếu trong đời sống và công trình của họ các phẩm tính sáng tạo của Thánh Phụ trên trời. |
|
Their spiritual powers transcended those of the race as the light of the Sun transcends that of the planets it endows with light and life. They were kings by right of the divine wisdom which flowered in their hearts, and whose divinity was apparent for all to see in the glory of light which surrounded their outward form. |
Các quyền năng tinh thần của họ vượt xa quyền năng của chủng tộc, như ánh sáng của Mặt trời vượt xa ánh sáng của các hành tinh mà nó ban cho ánh sáng và sự sống. Họ là vua bởi quyền của minh triết thiêng liêng nở hoa trong trái tim họ, và tính thần thánh của minh triết ấy hiển nhiên cho mọi người thấy trong vinh quang ánh sáng bao quanh hình tướng bên ngoài của họ. |
|
Illumination in one form or another has, from the earliest times, been universally recognised as a sign of kingship, i.e. kingship with the source of light and life. Thus, the halo or spiritual crown, accredited to the master initiates of the Age of Leo, remains the indelible heritage of the only true royal line—that of spiritual power and divine wisdom. |
Sự soi sáng, dưới hình thức này hay hình thức khác, từ thời rất sớm đã được phổ quát công nhận như một dấu hiệu của vương quyền, tức là vương quyền gắn với nguồn ánh sáng và sự sống. Vì vậy, hào quang hay vương miện tinh thần, được gán cho các Chân sư điểm đạo của Thời đại Sư Tử, vẫn là di sản không thể xoá của dòng vương giả chân chính duy nhất—dòng của quyền năng tinh thần và minh triết thiêng liêng. |
|
Sun Worship |
Thờ Mặt trời |
|
The principles of the true religion which recreated spiritual life in the Age of Leo are those of natural law. They are, therefore, rooted in the Sun as the generator of energies within the solar system. They teach that the spirit of man comes from, and returns to, the creative all-father principle. |
Các nguyên lý của tôn giáo chân chính đã tái tạo đời sống tinh thần trong Thời đại Sư Tử là các nguyên lý của định luật tự nhiên. Vì vậy, chúng cắm rễ trong Mặt trời như nguồn phát sinh các năng lượng trong hệ mặt trời. Chúng dạy rằng tinh thần của con người đến từ, và trở về với, nguyên khí sáng tạo của Thánh Phụ toàn thể. |
|
This story of human evolution has been taught by the master initiates of all ages. It is told, for instance, in the parable of the Prodigal Son. While man lives in a far country and wastes his substance on riotous living, he lives in a world of illusion and is deceived by the evidence of his sense perceptions. Figuratively, he believes that the ‘Sun moves around the Earth because each day he sees it rise and set’. Thus, until he awakens to the reality of his divine nature and of the world in which he lives, a wide gulf separates the true religion from orthodox faith. |
Câu chuyện tiến hoá nhân loại này đã được các Chân sư điểm đạo của mọi thời đại giảng dạy. Chẳng hạn, nó được kể trong dụ ngôn Người Con Hoang Đàng. Khi con người sống ở xứ xa và phung phí gia tài trong lối sống phóng đãng, y sống trong một thế giới ảo tưởng và bị đánh lừa bởi bằng chứng của các tri giác giác quan. Nói theo hình tượng, y tin rằng “Mặt trời chuyển động quanh Trái Đất vì mỗi ngày y thấy nó mọc và lặn”. Vì vậy, cho đến khi y thức tỉnh trước thực tại của bản tính thần thánh của mình và của thế giới mà y đang sống, một vực thẳm rộng lớn vẫn ngăn cách tôn giáo chân chính với đức tin chính thống. |
|
The initiate presents the light of truth in terms of the fixed position of the Sun in the centre of the solar system. Man understands his words in terms of its apparent movement through the signs of the celestial zodiac. To man, therefore, the true religion remains a mystery and forms the basis for his progressive perception of truth. |
Điểm đạo đồ trình bày ánh sáng chân lý theo các thuật ngữ về vị trí cố định của Mặt trời ở trung tâm hệ mặt trời. Con người hiểu lời của vị ấy theo các thuật ngữ về sự chuyển động biểu kiến của Mặt trời qua các dấu hiệu của Hoàng đạo thiên giới. Vì vậy, đối với con người, tôn giáo chân chính vẫn là một huyền nhiệm và tạo nền tảng cho sự tri nhận chân lý ngày càng tiến triển của y. |
|
In the course of the Great Year, as the poles of the Earth shift and the Sun appears to move from one constellation to another, so man clothes the truth in different form. When, for instance, the Sun was in the sign of Gemini, the Twins, allegiance was given to the dual deities. Two thousand years later, when it moved into Taurus, the Sacred Bull became the object of prayer and devotion. But in the Age of Leo man worshipped the Sun, and the ritual of Sun worship reflected, without intermediary, the principles of the true religion. Hence, in the religious observances of this age the basic pattern underlying all subsequent religious evolution is clearly defined. |
Trong tiến trình của Đại Niên, khi các cực của Trái Đất dịch chuyển và Mặt trời dường như chuyển từ chòm sao này sang chòm sao khác, thì con người cũng khoác cho chân lý những hình thức khác nhau. Chẳng hạn, khi Mặt trời ở trong dấu hiệu Song Tử, Cặp Song Sinh, lòng trung thành được dâng cho các thần linh nhị nguyên. Hai nghìn năm sau, khi nó chuyển vào Kim Ngưu, Con Bò Thiêng trở thành đối tượng cầu nguyện và sùng kính. Nhưng trong Thời đại Sư Tử, con người thờ Mặt trời, và nghi lễ thờ Mặt trời phản ánh, không qua trung gian, các nguyên lý của tôn giáo chân chính. Do đó, trong các nghi thức tôn giáo của thời đại này, mô hình nền tảng nằm dưới mọi tiến hoá tôn giáo về sau được xác định rõ ràng. |
|
Traces of Sun worship are to be found in all religions whose festivals are those of the Sun and whose sacraments those of the ancient initiatory rites. In most cases their original significance is obscured and the psychic content lost. Nevertheless the ritual of Sun worship remains the scaffolding upon which man builds, step by step, the stairway of orthodox faith which leads from the darkness of ignorance to the light of truth. |
Dấu vết của việc thờ Mặt trời có thể tìm thấy trong mọi tôn giáo mà các lễ hội là các lễ hội của Mặt trời và các bí tích là các nghi lễ điểm đạo cổ xưa. Trong đa số trường hợp, thâm nghĩa nguyên thủy của chúng bị che khuất và nội dung thông linh bị mất. Tuy nhiên, nghi lễ thờ Mặt trời vẫn là giàn giáo mà trên đó con người xây dựng, từng bước một, chiếc thang của đức tin chính thống dẫn từ bóng tối vô minh đến ánh sáng chân lý. |
|
Through worship of the physical Sun man becomes attuned to the rhythm of nature. Through atonement with nature he learns that obedience to natural law brings harmony, peace, gain – deviation from it discord, pain, loss. At last he perceives the eternal quality of truth beneath its changing manifestations. Then, reborn into the greater life where the Sun of truth never sets, he exchanges knowledge for wisdom, darkness for light, the world of man for the world of the initiate, the Kingdom of Earth for the Kingdom of Heaven. |
Qua việc thờ Mặt trời hồng trần, con người trở nên hoà điệu với nhịp điệu của thiên nhiên. Qua sự hoà giải với thiên nhiên, y học rằng vâng phục định luật tự nhiên đem lại hoà hợp, bình an, lợi ích—lệch khỏi nó đem lại bất hoà, đau khổ, mất mát. Cuối cùng, y tri nhận phẩm tính vĩnh cửu của chân lý bên dưới các biểu hiện biến đổi của nó. Rồi, được tái sinh vào sự sống vĩ đại hơn, nơi Mặt trời chân lý không bao giờ lặn, y đổi tri thức lấy minh triết, bóng tối lấy ánh sáng, thế giới của con người lấy thế giới của điểm đạo đồ, Vương quốc Trái Đất lấy Thiên Giới. |
|
The Sacred Fire |
Lửa Thiêng |
|
Sun worship is the purest form of monotheism. From this Age of Leo there are no remains of images, however crude, such as we find in succeeding periods. Then, the visible symbol of orthodox faith was the Sun. To him alone men prayed, and of him the Father and Creator of all, there could be no substitute but that of the living flame. |
Thờ Mặt trời là hình thức thuần khiết nhất của độc thần giáo. Từ Thời đại Sư Tử này không còn lại dấu tích nào của các tượng ảnh, dù thô sơ, như ta thấy ở các thời kỳ tiếp theo. Khi ấy, biểu tượng hữu hình của đức tin chính thống là Mặt trời. Chỉ với Mặt trời mà con người cầu nguyện, và đối với Mặt trời, Thánh Phụ và Đấng Sáng Tạo của muôn loài, không thể có sự thay thế nào ngoài ngọn lửa sống. |
|
The sacred fire tended day and night throughout the year was extinguished and rekindled at the winter solstice. This ceremony symbolised the rebirth of the Sun and his return to power after a period of death or decrease. From this one fire all others were lit, and in the divine flame burning in the temple, or on the humble hearth, man saw the ever-living symbol of his Father, the Sun. |
Ngọn lửa thiêng được chăm sóc ngày đêm suốt cả năm được dập tắt và nhóm lại vào ngày đông chí. Nghi lễ này biểu trưng sự tái sinh của Mặt trời và sự trở lại quyền năng của Ngài sau một giai đoạn chết hay suy giảm. Từ ngọn lửa này, mọi ngọn lửa khác được thắp lên, và trong ngọn lửa thiêng cháy trong đền thờ, hay trên bếp lửa khiêm nhường, con người thấy biểu tượng hằng sống của Thánh Phụ mình là Mặt trời. |
|
The Drama of Nature |
Vở Kịch của Thiên Nhiên |
|
Confirmation of the idea that in the Age of Leo men worshipped the Sun and were stimulated by the teaching of the true religion is to be found in a later age of which we have historical evidence. In the Age of Aries, c. 2160 BC – AD 13, the Sun was again a determining factor in spiritual life. Contemporary cults forbade the setting up of altars or the worship of graven images, stressed the sanctity of fire and the worship of monotheistic solar deities. |
Sự xác nhận cho ý niệm rằng trong Thời đại Sư Tử con người thờ Mặt trời và được kích thích bởi giáo huấn của tôn giáo chân chính có thể tìm thấy trong một thời đại muộn hơn mà chúng ta có chứng cứ lịch sử. Trong Thời đại Bạch Dương, khoảng 2160 TCN – 13 SCN, Mặt trời lại là một yếu tố quyết định trong đời sống tinh thần. Các giáo phái đương thời cấm dựng bàn thờ hay thờ các tượng chạm khắc, nhấn mạnh tính thiêng liêng của lửa và việc thờ các thần mặt trời độc thần. |
|
Then, too, men in large numbers turned from the deaf forms of orthodox faith to seek a deeper truth from those who preserved the secrets of the true religion. The light of wisdom shed on contemporary thought from this source is reflected in the creative activity and intellectual genius of the centuries immediately preceding the birth of Christ. |
Khi ấy cũng vậy, đông đảo người ta quay lưng với các hình thức câm lặng của đức tin chính thống để tìm kiếm một chân lý sâu hơn từ những người gìn giữ các bí mật của tôn giáo chân chính. Ánh sáng minh triết được rọi vào tư tưởng đương thời từ nguồn này được phản ánh trong hoạt động sáng tạo và thiên tài trí tuệ của các thế kỷ ngay trước khi Đức Christ giáng sinh. |
|
At this time these centres of archaic wisdom were known as Mystery Schools. References to them are frequent among the writers of classical antiquity. From this source we know that dramatic presentation was employed to instruct those who sought initiation. But the drama which was enacted in the secrecy and silence of the mystery schools was not the drama as we know it today. It was the great drama of nature from which all others are derived and within which all others are included. The world was its stage, the sky its decor, its theme all mysteries of life and death, heaven and earth. In terms of the birth, life, sacrificial death and resurrection of the Sun, it demonstrated the deepest truths of nature. |
Vào thời điểm này, các trung tâm minh triết cổ xưa ấy được gọi là các Trường Huyền Nhiệm. Các tác giả thời cổ điển thường xuyên nhắc đến chúng. Từ nguồn này, chúng ta biết rằng việc trình diễn kịch được dùng để giáo hoá những người tìm kiếm điểm đạo. Nhưng vở kịch được diễn trong bí mật và tĩnh lặng của các trường huyền nhiệm không phải là kịch như chúng ta biết ngày nay. Đó là vở kịch vĩ đại của thiên nhiên, từ đó mọi vở kịch khác được phát sinh và trong đó mọi vở kịch khác đều được bao hàm. Thế giới là sân khấu của nó, bầu trời là phông cảnh của nó, chủ đề của nó là mọi huyền nhiệm của sinh và tử, trời và đất. Thông qua sự giáng sinh, đời sống, cái chết hi sinh và sự phục sinh của Mặt trời, nó minh hoạ những chân lý sâu xa nhất của thiên nhiên. |
|
This drama of the ancient mysteries is the drama of nature, gods and men. It is enacted in an endless procession of daily, yearly, and many still greater cycles. Either consciously or unconsciously all play their part in it. Children are naturally imitative; they copy the gestures of their parents and act before they can speak. So, in the Age of Leo, man, racially a child, identified his life with that of his heavenly Father. In the rhythmic sequence of annual festivals he celebrated the birth, life, death and resurrection of the Sun. In the set patterns of the sacred dance he described the majestic movements of the Sun, moon and planets against the background of the celestial zodiac in the heaven world. |
Vở kịch của các huyền nhiệm cổ xưa này là vở kịch của thiên nhiên, các thần linh và loài người. Nó được diễn trong một cuộc rước vô tận của các chu kỳ hằng ngày, hằng năm, và nhiều chu kỳ còn lớn hơn nữa. Dù có ý thức hay vô thức, tất cả đều đóng vai trong đó. Trẻ em vốn hay bắt chước; chúng mô phỏng cử chỉ của cha mẹ và diễn trước khi biết nói. Vì vậy, trong Thời đại Sư Tử, con người, xét theo chủng tộc, như một đứa trẻ, đồng hoá đời sống mình với đời sống của Thánh Phụ trên trời. Trong trình tự nhịp nhàng của các lễ hội hằng năm, y cử hành sự giáng sinh, đời sống, cái chết và sự phục sinh của Mặt trời. Trong các mô thức cố định của vũ điệu thiêng, y mô tả các chuyển động uy nghi của Mặt trời, mặt trăng và các hành tinh trên nền của Hoàng đạo thiên giới trong cõi thiên giới. |
|
The Lion |
Sư Tử |
|
The lion—symbol of Leo, the Royal sign—is the signature of spiritual dominion. Ideas linking it with the divinity of kingship are deeply embedded in racial consciousness. The lion, for instance, is recognised as the king of beasts and included in the royal arms of many countries. More illuminating is the fact that, as an emblem of spiritual power and divine wisdom, the lion is the acknowledged symbol of Buddhism. A similar idea is reflected in the Old Testament, where the twelve sons of Jacob symbolise the twelve zodiacal signs: “Judah is a lion’s whelp . . . The sceptre shall not pass from Judah, nor a law giver from between his feet.” (Genesis 49,9). From the royal, or initiate, line of Judah was born David, the King Solomon, renowned for his wisdom, and Jesus, King of the Jews. Lion of Judah, King of Kings, remains to this day among the titles of the Emperor of Abyssinia whose people believe that their monarchs are descended from the union of King Solomon with the Queen of Sheeba who, as daughter of the Sun, was the Empress of Ethiopia in her own right. |
Sư tử—biểu tượng của Sư Tử, dấu hiệu Vương giả—là dấu ấn của quyền thống trị tinh thần. Những ý niệm liên kết nó với tính thần thánh của vương quyền ăn sâu trong tâm thức chủng tộc. Chẳng hạn, sư tử được công nhận là chúa tể muông thú và được đưa vào huy hiệu hoàng gia của nhiều quốc gia. Sáng tỏ hơn là sự kiện rằng, như một biểu trưng của quyền năng tinh thần và minh triết thiêng liêng, sư tử là biểu tượng được thừa nhận của Phật giáo. Một ý niệm tương tự được phản ánh trong Cựu Ước, nơi mười hai người con của Jacob biểu trưng mười hai dấu hiệu hoàng đạo: “Giu-đa là sư tử con… Quyền trượng sẽ chẳng lìa khỏi Giu-đa, cũng chẳng thiếu người lập luật giữa chân nó.” (Sáng Thế 49,9). Từ dòng vương giả, hay dòng điểm đạo, của Giu-đa đã sinh ra David, vua Solomon nổi tiếng vì minh triết, và Đức Jesus, Vua của người Do Thái. Sư Tử của Giu-đa, Vua của các Vua, cho đến ngày nay vẫn nằm trong các tước hiệu của Hoàng đế Abyssinia, mà dân của ông tin rằng các quân vương của họ là hậu duệ của sự kết hợp giữa vua Solomon và Nữ hoàng Sheeba, người, với tư cách con gái của Mặt trời, là Nữ hoàng Ethiopia theo quyền của chính bà. |
|
Gold |
Vàng |
|
Gold, because of its peculiar properties and colour, has from the very earliest times been associated with the Sun. In the ancient literature of every people, whose writings are known, there is ample evidence of peculiar, magical properties attributed to gold. Thus, for example, in the ancient Indian Satapatha-brahmana, gold is said to be immortal, born of fire, the rejuvenator of mankind, conferring long life and numerous off-spring to its possessors. |
Vàng, vì các tính chất đặc thù và màu sắc của nó, từ thời rất sớm đã được gắn với Mặt trời. Trong văn chương cổ của mọi dân tộc mà chúng ta biết tác phẩm, có rất nhiều bằng chứng về những tính chất kỳ lạ, mang tính huyền thuật, được gán cho vàng. Chẳng hạn, trong Satapatha-brahmana cổ của Ấn Độ, vàng được nói là bất tử, sinh từ lửa, là đấng làm trẻ lại nhân loại, ban tuổi thọ dài lâu và nhiều con cháu cho người sở hữu. |
|
It is said to be the seed of the god Agni, even a form of the gods themselves. Not only is it regarded as immortal and imperishable but it is also identified with fire, light and immortality. Gold was endowed by the Sun with its beautiful colour and lustre and shone with the brilliancy of the Sun god. Hence it was regarded as a source of life as well as of light and of fire. Gold is the symbol of the hidden wisdom, which is understood in the silence of the heart – an idea which has come down to us in the saying ‘Silence is golden.’ |
Người ta nói nó là hạt giống của thần Agni, thậm chí là một dạng của chính các thần. Nó không chỉ được xem là bất tử và không thể huỷ hoại mà còn được đồng nhất với lửa, ánh sáng và sự bất tử. Vàng được Mặt trời ban cho màu sắc và ánh rực đẹp đẽ, và toả sáng với sự rực rỡ của thần Mặt trời. Do đó, nó được xem là một nguồn của sự sống cũng như của ánh sáng và của lửa. Vàng là biểu tượng của minh triết ẩn kín, được thấu hiểu trong sự im lặng của trái tim—một ý niệm đã truyền đến chúng ta trong câu nói “Im lặng là vàng.” |
|
The myths of a Golden Age, though capable of other interpretation, may well refer to this Age of Leo when the orthodox religion reflected, without intermediary, the wisdom of the true religion and when, under the beneficent rule of the divine or initiate dynasties, the world knew an era of peace and goodwill. |
Những thần thoại về Thời đại Hoàng Kim, dù có thể được diễn giải theo cách khác, rất có thể ám chỉ chính Thời đại Sư Tử này, khi tôn giáo chính thống phản ánh, không qua trung gian, minh triết của tôn giáo chân chính, và khi, dưới sự cai trị nhân từ của các vương triều thần thánh hay điểm đạo, thế giới biết đến một kỷ nguyên hoà bình và thiện chí. |
|
Heliolithic Cultures |
Các Nền Văn Hoá Heliolithic |
|
Evidence of contemporary Sun worship exists in remains of archaic cultures which are scattered far and wide throughout the world. Twelve or fifteen thousand years ago, in all the warm and fairly well watered parts of the old world, these Heliolithic communities, with their class and traditions of priests and priestesses, and their cultivated fields, and their development of villages and little walled cities, were spreading. Age by age, a drift and exchange of ideas went on between these communities. The term ‘Heliolithic Cultures’ has been used for the culture of these first agricultural peoples. Heliolithic (Sun and Stone) is perhaps not the best possible word for this, but, until scientific men give us a better one, we shall have to use it. |
Bằng chứng về việc thờ Mặt trời đương thời tồn tại trong các di tích của những nền văn hoá cổ xưa rải rác khắp thế giới. Mười hai hay mười lăm nghìn năm trước, ở tất cả những vùng ấm áp và tương đối đủ nước của thế giới cũ, các cộng đồng Heliolithic này, với giai tầng và truyền thống các thầy tế và nữ tế, với những cánh đồng canh tác, và với sự phát triển của các làng mạc và những thành nhỏ có tường bao, đang lan rộng. Qua từng thời đại, đã diễn ra một sự trôi dạt và trao đổi ý niệm giữa các cộng đồng này. Thuật ngữ “Các Nền Văn Hoá Heliolithic” đã được dùng cho văn hoá của những dân tộc nông nghiệp đầu tiên này. Heliolithic (Mặt trời và Đá) có lẽ không phải là từ tốt nhất có thể dùng, nhưng, cho đến khi các nhà khoa học cho chúng ta một từ tốt hơn, chúng ta sẽ phải dùng nó. |
|
The peoples of these Heliolithic cultures built great circles of stone orientated to the rising and setting of the Sun at the winter and summer solstices. They made no images but they used the swastika, one of the most ancient and sacred Sun symbols. They built great pyramid-shaped mounds and practised the ‘Couvade’, in which the newly-born child is put to bed with the father – a custom originating in the idea of the earthly father as proxy for the Sun. Although these people were in a primitive state of development there is evidence to show that in other parts of the world man had reached, and perhaps passed, a highly civilised state. |
Các dân tộc của những nền văn hoá Heliolithic này đã xây các vòng tròn đá lớn được định hướng theo điểm mọc và lặn của Mặt trời vào các ngày đông chí và hạ chí. Họ không làm tượng ảnh nhưng họ dùng chữ vạn, một trong những biểu tượng Mặt trời cổ xưa và thiêng liêng nhất. Họ xây những gò lớn hình kim tự tháp và thực hành “Couvade”, trong đó đứa trẻ mới sinh được đặt lên giường cùng người cha—một tập tục bắt nguồn từ ý niệm người cha trần thế là đại diện cho Mặt trời. Mặc dù những dân tộc này ở trong trạng thái phát triển nguyên sơ, vẫn có bằng chứng cho thấy rằng ở những nơi khác trên thế giới, con người đã đạt đến, và có lẽ đã vượt qua, một trạng thái văn minh rất cao. |
|
The Temple of the Sun at Tiahuanaco |
Đền Mặt trời tại Tiahuanaco |
|
One of the most interesting examples of prehistoric, but advanced, cultures is to be found at Tiahuanaco, on the shores of Lake Titicaca, high up in the Andes Mountains in South America. Here stand the majestic remains of several monolithic buildings, the largest and most important being the great temple dedicated to the Sun. |
Một trong những ví dụ thú vị nhất về các nền văn hoá tiền sử nhưng phát triển cao có thể tìm thấy tại Tiahuanaco, trên bờ hồ Titicaca, cao trên dãy Andes ở Nam Mỹ. Tại đây còn đứng những tàn tích uy nghi của vài công trình đá nguyên khối, trong đó lớn nhất và quan trọng nhất là ngôi đền lớn dâng hiến cho Mặt trời. |
|
A bas relief over the main entrance and eastern gateway depicts a square-shaped lion, or puma, face. This head, executed with great artistry and craftsmanship, is surrounded by a conventionalised mane, whose strands terminate in tiny lion profiles. This symbol is an example of the wealth of meaning compressed into the ‘sacred pictures’ of zodiacal symbolism. It is the Sun and the twelve signs of the zodiac—the Sun as the father of his twelve children—as a particular Sun-god with his traditional twelve disciples—illustrating the principles of Leo and Aquarius: man built in the image of his creator. |
Một phù điêu nổi phía trên lối vào chính và cổng phía đông khắc hoạ một khuôn mặt sư tử, hay báo sư tử, dạng hình vuông. Cái đầu này, được thực hiện với nghệ thuật và tay nghề tuyệt vời, được bao quanh bởi một bờm cách điệu, mà các sợi bờm kết thúc bằng những hình nghiêng sư tử tí hon. Biểu tượng này là một ví dụ về sự phong phú ý nghĩa được nén lại trong các “bức tranh thiêng” của biểu tượng hoàng đạo. Đó là Mặt trời và mười hai dấu hiệu hoàng đạo—Mặt trời như người cha của mười hai người con—như một thần Mặt trời cụ thể với mười hai đệ tử truyền thống của Ngài—minh hoạ các nguyên lý của Sư Tử và Bảo Bình: con người được tạo theo hình ảnh của Đấng Sáng Tạo của mình. |
|
These buildings present an archaeological and geological problem of deep interest. Their construction exhibits a knowledge of mathematical and architectural principles comparable to that shown in the Great Pyramid. Moreover, they appear to have been designed as part of a sea port, yet they stand some twelve thousand feet above the present sea level. It seems probable, therefore, either that a cataclysm great enough to change the face of the Earth must have occurred comparatively recently, or that these buildings, with their wealth of zodiacal symbolism, are of far greater antiquity than is at present assigned to them. |
Những công trình này đặt ra một vấn đề khảo cổ và địa chất có sức hấp dẫn sâu sắc. Cách xây dựng của chúng cho thấy một tri thức về các nguyên lý toán học và kiến trúc tương đương với tri thức thể hiện trong Đại Kim Tự Tháp. Hơn nữa, chúng dường như được thiết kế như một phần của một hải cảng, vậy mà chúng đứng ở độ cao khoảng mười hai nghìn bộ so với mực nước biển hiện tại. Vì vậy, có vẻ khả dĩ rằng hoặc một thảm hoạ đủ lớn để thay đổi diện mạo Trái Đất đã xảy ra tương đối gần đây, hoặc những công trình này, với sự phong phú biểu tượng hoàng đạo của chúng, có niên đại xa xưa hơn nhiều so với điều hiện nay người ta gán cho chúng. |
|
Calculations based on the vernal equinoctial point indicated in the Great Temple of the Sun suggest a period ranging from 11600 BC to 9500 BC. In considering such vast periods of time it is only possible to arrive at approximate dates. Yet, even if it should be proved that theses buildings at Titicaca were built earlier than the period we have taken here for the Age of Leo, it is still significant. Their presence indicates that, in remote ages, there were living on both sides of the Atlantic men whose response to similar ideas was expressed through the medium of zodiacal symbolism—the universal language of the true religion. |
Các phép tính dựa trên điểm phân xuân được chỉ ra trong Đại Đền Mặt trời gợi ý một giai đoạn từ 11600 TCN đến 9500 TCN. Khi xét những khoảng thời gian mênh mông như vậy, chỉ có thể đi đến các niên đại xấp xỉ. Tuy nhiên, ngay cả nếu người ta chứng minh rằng các công trình ở Titicaca được xây sớm hơn thời kỳ mà chúng ta lấy ở đây cho Thời đại Sư Tử, điều đó vẫn có ý nghĩa. Sự hiện diện của chúng cho thấy rằng, trong những thời đại xa xôi, đã có những người sống ở cả hai bờ Đại Tây Dương, mà sự đáp ứng của họ trước những ý niệm tương tự đã được biểu đạt qua phương tiện của biểu tượng hoàng đạo—ngôn ngữ phổ quát của tôn giáo chân chính. |
LEO RISING: LEO on the ASCENDANT—SƯ TỬ MỌC: SƯ TỬ Ở DẤU HIỆU MỌC
|
Lift up your heads, O ye gates, and be ye lift up, ye everlasting doors: And the King of glory shall come in.— Prayer Book, 7. |
Hỡi các cổng, hãy ngẩng đầu lên; hỡi các cửa đời đời, hãy mở lên: Và Vua vinh quang sẽ đi vào.— Sách Cầu Nguyện, 7. |
|
The rising sign, also called the ascendant, refers to the sign of the zodiac which is on the eastern horizon at the moment of birth. A horoscope reveals it immediately at ‘nine o’clock’ on the chart. You don’t have to be born in Leo to have this sign rising; in fact, you have one chance in twelve. Because the sign on the ascendant changes every two hours as the earth rotates, Leo is rising for approximately two hours of every day. Hence it is important to know your time of birth before you can find out what rising sign you have. |
Dấu hiệu mọc, còn gọi là Dấu hiệu mọc, chỉ dấu hiệu hoàng đạo nằm trên đường chân trời phía đông vào khoảnh khắc sinh ra. Một lá số chiêm tinh cho thấy điều đó ngay lập tức ở vị trí “chín giờ” trên lá số. Bạn không nhất thiết phải sinh trong Sư Tử mới có dấu hiệu này mọc; thực ra, bạn có một cơ hội trong mười hai. Vì dấu hiệu ở Dấu hiệu mọc thay đổi mỗi hai giờ khi Trái Đất quay, Sư Tử mọc trong khoảng hai giờ của mỗi ngày. Do đó, điều quan trọng là bạn phải biết giờ sinh trước khi có thể tìm ra bạn có dấu hiệu mọc nào. |
|
In the new astrology the rising sign is of prime importance and is held to be of much greater significance than that of the Sun sign. Indeed, the whole science of astrology is moving towards emphasising the ascendant, in the light of recent scientific research indicating that rising signs, more than anything, give a degree of scientific corroboration to astrology. |
Trong chiêm tinh học mới, dấu hiệu mọc có tầm quan trọng hàng đầu và được xem là có ý nghĩa lớn hơn nhiều so với Dấu hiệu mặt trời. Thực ra, toàn bộ khoa học chiêm tinh đang tiến tới việc nhấn mạnh Dấu hiệu mọc, dưới ánh sáng của các nghiên cứu khoa học gần đây cho thấy rằng các dấu hiệu mọc, hơn bất cứ điều gì, đem lại một mức độ xác chứng khoa học cho chiêm tinh học. |
|
The Sun sign and rising sign are usually different, although they can be the same if the individual is born near the time of dawn. It may happen that those who are born with Leo as their Sun sign will also have Leo Rising. This means that both the Sun and Leo were on the horizon at the time of birth. This is a very powerful configuration, and it will influence the whole chart. It will re-emphasise all the Leonine qualities in your life and will also give strong direction to those aspects of your existence which are spiritual. |
Dấu hiệu mặt trời và dấu hiệu mọc thường khác nhau, mặc dù chúng có thể giống nhau nếu cá nhân sinh gần lúc bình minh. Có thể xảy ra rằng những người sinh với Sư Tử là Dấu hiệu mặt trời của họ cũng sẽ có Sư Tử Mọc. Điều này có nghĩa là cả Mặt trời lẫn Sư Tử đều ở trên đường chân trời vào lúc sinh. Đây là một cấu hình rất mạnh, và nó sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ lá số. Nó sẽ nhấn mạnh lại mọi phẩm tính kiểu Sư Tử trong đời bạn và cũng sẽ đem lại định hướng mạnh mẽ cho những phương diện của sự hiện hữu của bạn vốn thuộc về tinh thần. |
|
The rising sign drives the personality towards its spiritual goal and it moderates the efforts of the personality when the goal is other than spiritual. It also indicates one’s deepest potential which normally may never surface unless this sign is activated or powerful. In advanced astrology, it is possible to ascertain the Soul’s Purpose in incarnation, through an examination of the rising sign and the aspects which are formed to it. Indeed, when a person is treading the Path of spiritual unfoldment, one is more inclined to take his rising sign, the place of the soul or Higher Self, as representing him, rather than his Sun sign. |
Dấu hiệu mọc thúc đẩy phàm ngã hướng tới mục tiêu tinh thần của nó và điều hoà các nỗ lực của phàm ngã khi mục tiêu không phải là tinh thần. Nó cũng chỉ ra tiềm năng sâu nhất của một người, vốn bình thường có thể không bao giờ trồi lên trừ khi dấu hiệu này được kích hoạt hoặc trở nên mạnh. Trong chiêm tinh học cao cấp, có thể xác định Thiên Ý của linh hồn khi đang lâm phàm, thông qua việc khảo sát dấu hiệu mọc và các góc hợp được tạo với nó. Thật vậy, khi một người đang bước trên Con Đường khai mở tinh thần, người ta có khuynh hướng lấy dấu hiệu mọc của y, vị trí của linh hồn hay chân ngã, làm đại diện cho y, hơn là Dấu hiệu mặt trời của y. |
|
For Thine is the kingdom, the power and the glory.—The Lord’s Prayer. |
Vì vương quốc, quyền năng và vinh quang là của Ngài.— Kinh Lạy Cha. |
|
Leo Rising has a majestic task, as one would expect. Like the Sun-god Apollo, his soul’s purpose is to radiate solar qualities ino everything around him. It is a very worthwhile exercise for those with this ascendant to practice identification with the rising Sun, for there exists within their nature that which reflects the inner part of the Sun. They have a natural affinity with the two great forces at play there, love and power. Their main task is to implement within the world the expression of these two forces. This should manifest as mercy expressing love and justice expressing power. The myth of Androcles and the Lion and the symbols that it presents provide an insight into this regal blend. |
Sư Tử Mọc có một nhiệm vụ uy nghi, như người ta vẫn mong đợi. Giống như thần Mặt trời Apollo, Thiên Ý của linh hồn y là toả chiếu các phẩm tính thái dương vào mọi thứ xung quanh y. Đối với những người có Dấu hiệu mọc này, thực hành đồng hoá với Mặt trời mọc là một bài tập rất đáng giá, vì trong bản tính của họ có điều gì đó phản chiếu phần nội tại của Mặt trời. Họ có một sự tương hợp tự nhiên với hai mãnh lực lớn đang vận hành ở đó: bác ái và quyền năng. Nhiệm vụ chính của họ là thực thi trong thế giới sự biểu đạt của hai mãnh lực này. Điều này nên biểu hiện như lòng thương xót biểu đạt bác ái và công lý biểu đạt quyền năng. Huyền thoại về Androcles và Sư Tử cùng các biểu tượng mà nó trình bày đem lại một sự thấu suốt về sự pha trộn vương giả này. |
|
Androcles was a Roman slave in the 1st century A.D. Taking refuge from the cruelties of his master, Androcles hides in a cave in Africa. A lion enters and shows him his swollen paw, and after examining it, Androcles extracts a large thorn. Later, when he is captured and thrown to the wild beasts in the circus, the grateful animal recognises him and rather than attacking, begins to caress him. Androcles was then set free, a hero. |
Androcles là một nô lệ La Mã vào thế kỷ thứ nhất SCN. Trốn chạy sự tàn ác của chủ mình, Androcles ẩn trong một hang động ở châu Phi. Một con sư tử bước vào và cho y thấy bàn chân sưng phồng của nó, và sau khi xem xét, Androcles rút ra một chiếc gai lớn. Về sau, khi y bị bắt và bị ném cho thú dữ trong rạp xiếc, con vật biết ơn nhận ra y và thay vì tấn công, bắt đầu vuốt ve y. Rồi Androcles được trả tự do, như một người hùng. |
|
At the level of a nation (which is a symbol of the ascendant or first house of the horoscope), the lion itself symbolises integration, dominance, hegemony, aggressiveness and autocracy. The lion is a pragmatic animal, oriented to the requirements of jungle life which, in symbol language, could be interpreted as the competitive world. Britain herself, the integrated personality among the community of nations, is symbolised by the lion. Yet, that dominance has given way to the admission of compassion and the dwelling upon matters that are subjective (home affairs, human and animal rights, and the establishment of a commonwealth within the borders of the kingdom, which furnishes social institutes like free medicine, education, legal aid, etc.). |
Ở cấp độ một quốc gia (vốn là biểu tượng của Dấu hiệu mọc hay nhà thứ nhất của lá số chiêm tinh), bản thân sư tử biểu trưng cho sự tích hợp, sự thống trị, quyền bá chủ, tính hiếu chiến và chế độ chuyên quyền. Sư tử là một loài thực dụng, định hướng theo các đòi hỏi của đời sống rừng rậm, điều mà trong ngôn ngữ biểu tượng có thể được diễn giải là thế giới cạnh tranh. Chính nước Anh, phàm ngã tích hợp trong cộng đồng các quốc gia, được biểu trưng bởi sư tử. Tuy nhiên, sự thống trị ấy đã nhường chỗ cho việc thừa nhận lòng trắc ẩn và sự lưu tâm đến những vấn đề mang tính chủ quan (nội vụ, quyền con người và quyền động vật, và việc thiết lập một khối thịnh vượng chung trong biên giới vương quốc, cung cấp các thiết chế xã hội như y tế miễn phí, giáo dục, trợ giúp pháp lý, v.v.). |
|
The tempering of Britain began in the immediate post-war years, where a lead towards the compassionate and meditative way was provided by a socialist government comprising many idealists. Androcles represents the subjective influences that temper the lion of personality—he is the Soul or Master, whose advice can be heard only when compassion rules. The taming of the lion of personality through pain is a spiritual device by which the Soul or the unconscious obtains dominance. In the national crest of Great Britain, the place of Androcles is taken by the unicorn, itself a symbol of the Soul, with the white horse of purity and the median horn representing the act of focus (ruled by the first house). |
Sự điều hoà của nước Anh bắt đầu trong những năm ngay sau chiến tranh, khi một khuynh hướng hướng về con đường trắc ẩn và tham thiền được một chính phủ xã hội chủ nghĩa gồm nhiều người lý tưởng dẫn dắt. Androcles đại diện cho các ảnh hưởng chủ quan làm dịu con sư tử của phàm ngã—y là linh hồn hay Chân sư, mà lời khuyên chỉ có thể được nghe khi lòng trắc ẩn cai quản. Việc thuần hoá con sư tử của phàm ngã qua đau đớn là một phương tiện tinh thần, nhờ đó linh hồn hay phần vô thức giành được sự thống trị. Trong quốc huy của Vương quốc Anh, vị trí của Androcles được thay bằng kỳ lân, bản thân nó là một biểu tượng của linh hồn, với bạch mã của sự thanh khiết và chiếc sừng giữa trán biểu thị hành vi tập trung (do nhà thứ nhất cai quản). |
|
If we take Leo as representing the lion of personality, we begin to understand that in the energies channelled by the archetype of Leo, there are synthesising forces which help to integrate a personality as a preliminary to concentrated spiritual unfoldment. Thus the sign of Leo channels the energies of two major Rays: that of Love-Wisdom, which is the Second Ray, and that of Will and Power, which is the First Ray. Traditionally, these are said to rule the heart centre and the head centre, respectively. Only when these two are functioning adequately, interacting with each other and creating an interplay with other centres above the diaphragm, is it possible to take the Fourth Initiation. |
Nếu chúng ta lấy Sư Tử làm đại diện cho con sư tử của phàm ngã, chúng ta bắt đầu thấu hiểu rằng trong các năng lượng được dẫn truyền bởi nguyên mẫu Sư Tử, có những mãnh lực tổng hợp giúp tích hợp một phàm ngã như một bước chuẩn bị cho sự khai mở tinh thần nhất tâm. Vì vậy, dấu hiệu Sư Tử dẫn truyền năng lượng của hai Cung chính: Cung Bác Ái – Minh Triết, vốn là cung hai, và Cung của Ý Chí và Quyền Năng, vốn là Cung một. Theo truyền thống, người ta nói rằng chúng lần lượt cai quản luân xa tim và luân xa đầu. Chỉ khi hai luân xa này vận hành đầy đủ, tương tác với nhau và tạo ra một sự tương tác với các luân xa khác phía trên cơ hoành, thì mới có thể thực hiện lần điểm đạo thứ tư. |
|
The blending of the First and Second Rays also suggests the two intertwining serpents of the caduceus—the ancient Greek or Roman herald’s wand, symbolising the growth of consciousness which comes from the interplay of opposite forces. The First Ray is the Will of God, the Father in Heaven, to manifest, whereas the Second Ray is the Love of God which holds everything together as a unified whole. Leo Rising demands the creative expression of Love and Will. “I must be about my father’s business,” is the cry of the initiate in whom these two are combined, and who is eager to complete his task and make whole some aspect of the Plan. Plato said the search for wholeness manifests as love. The dominating Soul’s purpose of Leo Rising is the search for wholeness in his life, first through integrating his personality and then through offering up his precious possession for the use of his Higher Self. |
Sự hoà trộn của Cung một và Cung hai cũng gợi ý hai con rắn quấn vào nhau của cây trượng caduceus—cây gậy của sứ giả Hy Lạp hay La Mã cổ, biểu trưng cho sự tăng trưởng tâm thức phát sinh từ sự tương tác của các mãnh lực đối nghịch. Cung một là Ý Chí của Thượng Đế, Thánh Phụ trên trời, để biểu hiện, trong khi Cung hai là Tình thương của Thượng Đế giữ mọi thứ lại với nhau như một toàn thể hợp nhất. Sư Tử Mọc đòi hỏi sự biểu đạt sáng tạo của Bác ái và Ý Chí. “Ta phải lo việc của Cha ta,” là tiếng kêu của điểm đạo đồ, nơi hai điều này được kết hợp, và người ấy khao khát hoàn tất nhiệm vụ của mình và làm cho trọn vẹn một phương diện nào đó của Thiên Cơ. Plato nói rằng sự tìm kiếm tính trọn vẹn biểu hiện như bác ái. Thiên Ý chi phối của linh hồn nơi Sư Tử Mọc là sự tìm kiếm tính trọn vẹn trong đời y, trước hết qua việc tích hợp phàm ngã, rồi qua việc dâng hiến sở hữu quý giá của y cho việc sử dụng của chân ngã. |
|
Integration of personality implies the ability to focus forces into that unifying centre which is orientated to the Soul itself. All the minor personalities, symbolised here by the feathers of the peacock, or little ‘I’s’ of consciousness must bow to the royal lion of the spiritualised personality if the Soul is going to be able to use it as an instrument for the expression of its intent, or what we call the Soul’s purpose in Esoteric Astrology. The old myth of the lion and unicorn fighting for the crown is nothing more than the story of the battle which is waged between the ego and the Higher Self—between the lion of personality and the emergent Soul, a unicorn or white horse with an aroused centre between the brows depicted by the spiralling horn. |
Sự tích hợp phàm ngã hàm ý khả năng tập trung các mãnh lực vào trung tâm hợp nhất ấy, vốn định hướng về chính linh hồn. Tất cả các phàm ngã nhỏ, được biểu trưng ở đây bởi những chiếc lông của con công, hay những “cái tôi” nhỏ của tâm thức, phải cúi mình trước con sư tử vương giả của phàm ngã đã được tinh thần hoá, nếu linh hồn muốn có thể sử dụng nó như một công cụ để biểu đạt ý hướng của mình, hay điều mà chúng ta gọi là Thiên Ý của linh hồn trong Chiêm Tinh Học Nội Môn. Huyền thoại cổ về sư tử và kỳ lân tranh giành vương miện chẳng là gì khác ngoài câu chuyện về trận chiến diễn ra giữa chân ngã và chân ngã—giữa con sư tử của phàm ngã và linh hồn đang trỗi dậy, một kỳ lân hay bạch mã với trung tâm giữa hai chân mày được đánh thức, được mô tả bởi chiếc sừng xoắn ốc. |
|
The incorporation of these two images in the crest of the Royal House of Great Britain serves to underline the fact that this nation alone has secured integration of its personality under the Ray of Will and Power, whilst possessing the tempering effect of a Second Ray Soul. This Ray combination gives “the clenched fist with a soft palm.” |
Việc kết hợp hai hình ảnh này trong quốc huy của Hoàng gia Anh nhằm nhấn mạnh sự kiện rằng chỉ riêng quốc gia này đã đạt được sự tích hợp phàm ngã của mình dưới Cung của Ý Chí và Quyền Năng, đồng thời sở hữu tác dụng điều hoà của một linh hồn cung hai. Sự kết hợp Cung này tạo ra “nắm đấm siết chặt với lòng bàn tay mềm.” |
|
In human terms, and especially where the person concerned is leading the meditative way of life, the use of feline symbols is very valuable. Cats in the home furnish opportunities for mental relaxation in the observing of them at play, but they also provide a valuable set of symbols and have done so traditionally through the ages. In ancient Egypt, cats were part and parcel of the temple precincts because of this factor. In the dream life of those who keep cats, the animal soon becomes the symbol of the personality. If there are several cats, then they are each of them symbols of the personality in its various modes of expression. The aged and hardened tomcat can represent the personality whose habits are entrenched and difficult to change. The cat that is cruel with its prey can represent the symbol of a personality which is in need of love and compassion, and so on. |
Trong các thuật ngữ nhân loại, và đặc biệt khi người liên quan đang sống theo con đường tham thiền, việc sử dụng các biểu tượng loài mèo rất có giá trị. Mèo trong nhà tạo cơ hội thư giãn trí tuệ khi quan sát chúng vui đùa, nhưng chúng cũng cung cấp một tập hợp biểu tượng quý giá và theo truyền thống đã như vậy qua các thời đại. Ở Ai Cập cổ, mèo là một phần không thể tách rời của khu vực đền thờ vì yếu tố này. Trong đời sống mộng của những người nuôi mèo, con vật sớm trở thành biểu tượng của phàm ngã. Nếu có nhiều con mèo, thì mỗi con là một biểu tượng của phàm ngã trong các phương thức biểu đạt khác nhau. Con mèo đực già và chai sạn có thể đại diện cho phàm ngã có thói quen đã ăn sâu và khó đổi. Con mèo tàn nhẫn với con mồi có thể đại diện cho biểu tượng của một phàm ngã đang cần bác ái và lòng trắc ẩn, v.v. |
|
Furnished with this background of enriching material, the myth of Androcles and the lion becomes extremely meaningful to Leo and to Leo Rising. In the dream life of the neophyte, who has already taken great strides towards reorientating himself to the soul, the person, i.e., the pet owner, becomes the symbol of the Soul and the cat becomes the symbol of his personality. This is not idle conjecture. Where cats play a part in the domestic life of the home (the home frequently represents the ashram), they become quickly incorporated into the symbols of the dream life and need to be interpreted in the way that has been suggested here to bring out the meaning of dreams that incorporate felines, ranging from the sweetest little kitten right up to the fierce lion itself, the latter representing integration of personality. |
Với bối cảnh chất liệu phong phú này, huyền thoại về Androcles và sư tử trở nên cực kỳ có ý nghĩa đối với Sư Tử và đối với Sư Tử Mọc. Trong đời sống mộng của người sơ cơ, người đã tiến những bước lớn hướng tới việc tái định hướng bản thân về linh hồn, con người, tức là chủ nuôi, trở thành biểu tượng của linh hồn và con mèo trở thành biểu tượng của phàm ngã của y. Đây không phải là suy đoán vô căn cứ. Khi mèo đóng vai trò trong đời sống gia đình của ngôi nhà (ngôi nhà thường đại diện cho ashram), chúng nhanh chóng được đưa vào các biểu tượng của đời sống mộng và cần được diễn giải theo cách đã được gợi ý ở đây để làm nổi bật ý nghĩa của những giấc mơ có loài mèo, từ chú mèo con ngọt ngào nhất cho đến chính con sư tử dữ dằn, trong đó con sau biểu thị sự tích hợp phàm ngã. |
|
In the myth of Androcles and the lion, the lion, through pain and suffering, shares this experience with Androcles who has suffered pain himself. The common bond between the two brings the rapport, and this is the symbol of the antakarana that exists between personality and the fast-overshadowing Soul. |
Trong huyền thoại về Androcles và sư tử, sư tử, qua đau đớn và khổ đau, chia sẻ kinh nghiệm này với Androcles, người cũng đã chịu đau đớn. Mối dây chung giữa hai bên tạo nên sự cảm thông, và đó là biểu tượng của antahkarana tồn tại giữa phàm ngã và linh hồn đang nhanh chóng phủ bóng. |
|
Leo Rising indicates opportunities lost and won, reminiscent of the puppet kings of Europe of our last generation, being deposed and restored to their monarchies wherever the opportunity presented. The Leo ascendant frequently indicates that the individual promotes himself, even imposes himself in his occupation. If he is a farmer, it is because he has bought land and wants to farm, rather than his having inherited a farm. Leo seeks out positions carrying status and the visible symbols of status. Everybody loves a nice, big, shiny automobile, but a Leo ascendant has a particular affinity for the Rolls Royce and especially any cars which have an abnormal amount of window space. |
Dấu hiệu mọc Sư Tử cho thấy những cơ hội bị mất rồi lại giành được, gợi nhớ đến các vị vua bù nhìn của châu Âu trong thế hệ vừa qua của chúng ta, bị phế truất rồi lại được phục hồi ngai vàng ở bất cứ nơi nào cơ hội xuất hiện. Dấu hiệu mọc Sư Tử thường cho thấy cá nhân ấy tự quảng bá mình, thậm chí áp đặt mình trong nghề nghiệp. Nếu y là một nông dân, thì đó là vì y đã mua đất và muốn làm nông, hơn là vì y thừa kế một nông trại. Sư Tử tìm kiếm những vị trí mang địa vị và các biểu tượng hữu hình của địa vị. Ai cũng yêu một chiếc xe hơi đẹp, to, bóng loáng, nhưng dấu hiệu mọc Sư Tử có một sự đồng cảm đặc biệt với Rolls Royce, và nhất là bất kỳ chiếc xe nào có diện tích cửa sổ nhiều một cách bất thường. |
|
This ascendant often provides great contrasts, so that if there is poverty, it stands out, like a ‘king in rags’. A Leo ascendant often likes to dress in white, an attribute of the First Ray of Will and Power, which represents 50% of the Ray energies of Leo. He may conduct his business, or whatever he does, as if it were a safari, which underlines the love of dressing in white, and it is implied that there are many servants and baggage retainers. |
Dấu hiệu mọc này thường tạo ra những tương phản lớn, đến nỗi nếu có nghèo túng thì nó nổi bật lên, như một “vị vua trong áo rách”. Dấu hiệu mọc Sư Tử thường thích mặc đồ trắng, một thuộc tính của Cung một của Ý Chí và Quyền Năng, vốn chiếm 50% các năng lượng Cung của Sư Tử. Y có thể tiến hành việc kinh doanh của mình, hay bất cứ điều gì y làm, như thể đó là một chuyến săn safari, điều này nhấn mạnh tình yêu mặc đồ trắng, và hàm ý rằng có nhiều người hầu và người khuân vác hành lý. |
|
Where Leo is strong, you will frequently find an individual supporting many others; not only his own establishment, but his servants’ families and sometimes even hangers-on. They like to spend grandly and seldom question where the money goes. If they had their way and times were different, these types would enjoy a vast retinue of servants. |
Nơi nào Sư Tử mạnh, các bạn thường sẽ thấy một cá nhân nâng đỡ nhiều người khác; không chỉ cơ sở của chính y, mà cả gia đình của những người hầu của y và đôi khi cả những kẻ ăn theo. Họ thích tiêu xài hoành tráng và hiếm khi hỏi tiền đi đâu. Nếu được theo ý họ và nếu thời thế khác đi, những kiểu người này sẽ thích có một đoàn tùy tùng người hầu đông đảo. |
|
John Donne, the metaphysical poet, once wrote “No Man is an Island, entire of it self . . . ” (Meditation XVII). But, with the Leo ascendant, the man is an island unto himself, and no matter how small, he wants sovereignty over it. Leo doesn’t like a co-driver nor anyone else in the driver’s seat – that’s his place, and he likes it to be known. One cannot help thinking of the Leo ascendant when one hears the song My Way. |
John Donne, nhà thơ siêu hình, từng viết: “Không ai là một hòn đảo, trọn vẹn tự thân… ” (Tham thiền XVII). Nhưng, với dấu hiệu mọc Sư Tử, người đàn ông là một hòn đảo cho chính mình, và dù nhỏ đến đâu, y cũng muốn có chủ quyền trên đó. Sư Tử không thích có người lái phụ hay bất kỳ ai khác ngồi ghế lái – đó là chỗ của y, và y thích điều đó được biết đến. Người ta không thể không nghĩ đến dấu hiệu mọc Sư Tử khi nghe bài hát Con Đường Của Tôi. |
|
There is often a charm about Leo which seems to indicate that the ‘state of grace’ is a gift of the gods, and one calls to mind the Stuart affirmation of the ‘divine right of kings.’ The first house, site of the ascendant, rules the head. King James VI of Scotland became the first king of Great Britain. A believer in his divine right to rule, at the beginning of his reign he said: “I am the head and the whole island is my body.” |
Thường có một nét quyến rũ nơi Sư Tử dường như cho thấy “trạng thái ân sủng” là một món quà của các vị thần, và người ta nhớ đến lời khẳng định của nhà Stuart về “quyền thiêng liêng của các vị vua”. Nhà thứ nhất, vị trí của dấu hiệu mọc, cai quản cái đầu. Vua James VI của Scotland trở thành vị vua đầu tiên của Vương quốc Anh. Tin vào quyền thiêng liêng của mình để cai quản, vào đầu triều đại Ngài nói: “Ta là cái đầu và toàn bộ hòn đảo là thân thể của ta.” |
|
There is no need for proud Leo to make the point or state the fact; it is implied, as monarchs imply precedence over others. The Taurus ascendant states the fact, i.e., “The fact is . . .”; “The fact of the matter . . .”; “The point is . . .”; but Leo implies the fact. Leo can also be capable of maintaining a ‘golden silence’ but never could be considered devious or clandestine in his activities. |
Không cần Sư Tử kiêu hãnh phải nhấn mạnh hay tuyên bố sự thật; điều đó được hàm ý, như các quân vương hàm ý sự ưu tiên hơn người khác. Dấu hiệu mọc Kim Ngưu tuyên bố sự thật, tức là: “Sự thật là…”; “Sự thật của vấn đề là…”; “Vấn đề là…”; nhưng Sư Tử hàm ý sự thật. Sư Tử cũng có thể có khả năng giữ một “im lặng vàng”, nhưng không bao giờ có thể bị xem là quanh co hay bí mật trong các hoạt động của y. |
|
Some of the qualities which portray Leo are best seen in the child, for Leo rules children. Individuals with the Sun in Leo rarely have children, and if they do, the child is likely to be an only one. “An only child is a lonely child,” and this is typical of Leo. Such children are always yearning for something, and though we would like to think that it might be a younger brother, the sad truth is that it is usually something more material, and they generally get it. Thus Leo Rising often gives a yearning for something which is usually given. |
Một số phẩm chất phác họa Sư Tử được thấy rõ nhất nơi đứa trẻ, vì Sư Tử cai quản trẻ em. Những người có Mặt trời trong Sư Tử hiếm khi có con, và nếu có, đứa trẻ có khả năng là con một. “Con một là đứa trẻ cô đơn,” và điều này điển hình cho Sư Tử. Những đứa trẻ như vậy luôn khao khát một điều gì đó, và dù chúng ta muốn nghĩ rằng đó có thể là một em trai, sự thật buồn là thường đó là một thứ vật chất hơn, và chúng thường có được nó. Vì vậy dấu hiệu mọc Sư Tử thường tạo ra một nỗi khao khát một điều gì đó vốn thường được ban cho. |
|
Even in the happiest of Leo marriages, there may be a tendency of the husband to want to live in some degree of isolation from the spouse. We have already noted that the marriages are rarely fruitful, and this may be one reason why. Another reason could be the Leo’s desire to remain the centre of the spouse’s attention, like ‘an only child’. |
Ngay cả trong những cuộc hôn nhân Sư Tử hạnh phúc nhất, vẫn có thể có khuynh hướng người chồng muốn sống ở một mức độ nào đó tách biệt khỏi người phối ngẫu. Chúng ta đã lưu ý rằng các cuộc hôn nhân hiếm khi sinh sôi, và đây có thể là một lý do. Một lý do khác có thể là mong muốn của Sư Tử được vẫn là trung tâm chú ý của người phối ngẫu, như “một đứa con một”. |
|
Leo also rules the Plough (the Dipper) which lies in the northern hemisphere. Sequence photographs reveal that, in one night, these stars create a circular orbit in the heaven around the North Star. We have already seen that Leo rules anything that lies about or around a focal point, like the soft tissue of a potato that lies around the eye, or concrete mixers, steering wheels, etc. Just as Leo is related to ‘around,’ ‘round,’ ‘about,’ ‘in all directions,’ etc., it is also related to ‘after.’ To illustrate this, we have the lines of a well-known song “After the ball is over, After the . . . After the . . .” (The ascendant repeated again and again). |
Sư Tử cũng cai quản Cái Cày (Cái Gàu) nằm ở bán cầu bắc. Các ảnh chụp theo chuỗi cho thấy rằng, trong một đêm, các sao này tạo nên một quỹ đạo tròn trên trời quanh Sao Bắc Cực. Chúng ta đã thấy rằng Sư Tử cai quản bất cứ điều gì nằm quanh hay xung quanh một điểm tiêu, như mô mềm của củ khoai tây nằm quanh mắt khoai, hay máy trộn bê tông, vô lăng, v.v. Cũng như Sư Tử liên hệ với “quanh”, “tròn”, “xung quanh”, “mọi hướng”, v.v., nó cũng liên hệ với “sau”. Để minh họa điều này, ta có những câu trong một bài hát nổi tiếng: “Sau khi vũ hội kết thúc, Sau khi… Sau khi…” (Dấu hiệu mọc được lặp đi lặp lại). |
|
Leo Rising can bow the head. We are inclined to overlook that situations can involve the bowing of the heads of organisms other than man, like the bowing of a flower’s head before the spray of a hose. |
Dấu hiệu mọc Sư Tử có thể cúi đầu. Chúng ta có xu hướng bỏ qua rằng các tình huống có thể liên quan đến việc cúi đầu của những sinh thể khác ngoài con người, như việc bông hoa cúi đầu trước tia nước từ vòi. |

|
Leo also rules the bending of the knee when the bending is related to curtseying, a sign of deference (but not the knee that is bent in prayer). |
Sư Tử cũng cai quản việc gập gối khi sự gập gối liên quan đến động tác cúi chào kiểu nữ, một dấu hiệu của sự kính nhường (nhưng không phải cái gối gập trong cầu nguyện). |
|
Leo blends with other signs and planets with great accommodation. Whilst the green fern comes under the rulership of the Earth (as do all green plants), the morphology of this plant with its erect plumes is more Leonine in nature, as is the tail plumage of the peacock. |
Sư Tử hòa trộn với các dấu hiệu và hành tinh khác với sự thích nghi lớn. Trong khi dương xỉ xanh thuộc sự cai quản của Trái Đất (cũng như mọi cây xanh), hình thái của loài cây này với những chùm lá dựng thẳng lại mang tính Sư Tử hơn, cũng như bộ lông đuôi của con công. |
|
In problems affecting the health of the individual, Leo Rising or its ruler, the Sun, in almost any position of poor aspect, will indicate depletion of the constitution. In terms of energy this means curtailment of vital forces, such as prana and the flow of combinations of Anu in what science calls the subatomic particles. |
Trong các vấn đề ảnh hưởng đến sức khỏe của cá nhân, dấu hiệu mọc Sư Tử hoặc chủ tinh của nó, Mặt trời, ở hầu như bất kỳ vị trí nào có góc hợp xấu, sẽ chỉ ra sự suy kiệt của thể chất nền tảng. Về mặt năng lượng, điều này có nghĩa là sự cắt giảm các mãnh lực sinh lực, như prana và dòng chảy của các tổ hợp Anu trong cái mà khoa học gọi là các hạt hạ nguyên tử. |
|
When Leo Rising is related to another fire sign, such as Sagittarius, this can indicate ‘playing with fire’, and in the case of Sagittarius it will involve an element of danger. Hazardous and precarious enterprises, which are a direct threat to the health of the individual rather than through damage to specific organs, come under this aspect. |
Khi dấu hiệu mọc Sư Tử liên hệ với một dấu hiệu hành hỏa khác, như Nhân Mã, điều này có thể chỉ ra việc “đùa với lửa”, và trong trường hợp Nhân Mã nó sẽ bao hàm một yếu tố nguy hiểm. Những doanh nghiệp nguy hại và bấp bênh, vốn là mối đe dọa trực tiếp đến sức khỏe của cá nhân hơn là thông qua tổn thương các cơ quan cụ thể, thuộc về góc hợp này. |
|
I can cite some typical phrases here: hanging by a thread; going to sea in a sieve; carrying too much sail; sailing too close too the wind; getting out of your depth; to be caught short; wherever circumstances are formidable; His Majesty’s Ship Formidable; laying oneself open to health risks; at one’s own peril; defies danger (the danger of nervous depletion, or becoming run down, neurasthenic, depleted of prana, exhausted, sunstroke, heat-stroke, etc.); lives in a glass house, i.e., in public view and under threat of the glass splintering. |
Tôi có thể nêu một số cụm từ điển hình ở đây: treo bằng một sợi chỉ; ra biển bằng một cái rây; căng quá nhiều buồm; đi thuyền quá sát gió; rơi vào chỗ quá sâu; bị bắt hụt; bất cứ nơi nào hoàn cảnh đáng gờm; Tàu Hoàng Gia Đáng Gờm; tự phơi mình trước các rủi ro sức khỏe; tự chịu hiểm nguy; thách thức nguy hiểm (nguy hiểm của sự suy kiệt thần kinh, hay trở nên sa sút, suy nhược thần kinh, cạn kiệt prana, kiệt sức, say nắng, sốc nhiệt, v.v.); sống trong nhà kính, tức là trong tầm nhìn công khai và dưới mối đe dọa kính vỡ vụn. |
|
It should be reiterated here that I am not emphasising danger from accidents (Sagittarius) or threats (Scorpio), but rather where survival of one’s own physical body or its supplies of vitality (and not that of others) is actually in question. When these can be assured it is Leo that has saved us. |
Cần nhắc lại ở đây rằng tôi không nhấn mạnh nguy hiểm do tai nạn (Nhân Mã) hay các mối đe dọa (Hổ Cáp), mà đúng hơn là nơi sự sống còn của chính thể xác của mình hay nguồn dự trữ sinh lực của nó (và không phải của người khác) thực sự bị đặt thành vấn đề. Khi những điều này có thể được bảo đảm thì chính Sư Tử đã cứu chúng ta. |
Imagery for Leo Rising—Hình tượng cho dấu hiệu mọc Sư Tử
|
• Puss-in-Boots. There are many implications here, but one worth considering is the lovely combination of the boot (First Ray) and the pussycat (Second Ray). |
• Chú Mèo Đi Hia. Ở đây có nhiều hàm ý, nhưng một điều đáng cân nhắc là sự kết hợp đáng yêu giữa chiếc ủng (Cung một) và chú mèo con (Cung hai). |
|
• Tarzan and the Jewels of Ophir. Tarzan is the symbol of the completely vitalised, back-to-nature hero that exemplifies the qualities of the Sun. |
• Tarzan và những viên ngọc của Ophir. Tarzan là biểu tượng của người anh hùng hoàn toàn được tiếp sinh lực, trở về với thiên nhiên, tiêu biểu cho các phẩm chất của Mặt trời. |
|
• The Pantheon in Rome. There is a famous hole in the roof which allows no rain to pass through. The Pantheon is a Leo structure with a dome-shaped roof built around this water-proof opening. |
• Đền Pantheon ở Rome. Có một lỗ nổi tiếng trên mái cho phép không một giọt mưa nào lọt qua. Pantheon là một cấu trúc Sư Tử với mái vòm được xây quanh lỗ mở chống nước này. |
|
• White Rolls Royce. |
• Rolls Royce màu trắng. |
|
• Claim-making. |
• Đòi hỏi quyền lợi. |
|
• Airs and graces assumed. |
• Làm bộ làm tịch. |
|
• Bullying of people. |
• Bắt nạt người khác. |
|
• Fists that bang in frustration against a screen. |
• Nắm đấm đập vì bực bội vào một tấm màn. |
|
• Very assertive statements are made which are so brash as to put people off. |
• Những lời khẳng định rất quyết liệt được đưa ra, trơ trẽn đến mức làm người ta khó chịu. |
Thoughts for Leo Rising—Suy tưởng cho dấu hiệu mọc Sư Tử
|
• Be like the Sun—illuminate all those around you. |
• Hãy như Mặt trời—soi sáng tất cả những ai quanh bạn. |
|
• Radiate spiritual will. |
• Tỏa ra ý chí tinh thần. |
|
• Express not selfish love but the unconditional love of the heart. |
• Hãy biểu lộ không phải tình yêu ích kỷ mà là tình yêu vô điều kiện của trái tim. |
|
• Love where you are, who you are with, and what you are doing. |
• Hãy yêu nơi bạn đang ở, người bạn đang ở cùng, và điều bạn đang làm. |
|
• Give sovereignty of your life to the Soul. |
• Hãy trao chủ quyền đời sống của bạn cho linh hồn. |
|
• Let the Higher Self possess the crown of consciousness: The lion and the unicorn were fighting for the crown. The lion beat the unicorn all round the town . . . (Later, the unicorn finally beats the lion). |
• Hãy để chân ngã sở hữu vương miện của tâm thức: Sư tử và kỳ lân đã đánh nhau vì vương miện. Sư tử đánh kỳ lân vòng quanh thị trấn… (Về sau, kỳ lân cuối cùng đánh bại sư tử). |
Phrases for Leo Rising—Cụm từ cho dấu hiệu mọc Sư Tử
|
Sunrise; endless sunshine; all day long; head chakras; around his head; round and round in circles; keeps the wheel turning, the fire burning; sovereignty; “And He shall reign for ever and ever”; the kingdom of souls; Royal David’s City; “All things live within the body of a greater being”; wholeness; holism; well-preserved; Coeur de Lion in full control; with great control; spiritual hand-outs; “From the point of light within the mind of God”; guiding star; constant cynosure; the president’s son; Peter Pan—immortal boy. |
Bình minh; nắng vô tận; suốt cả ngày; các luân xa đầu; quanh đầu y; quay vòng vòng theo vòng tròn; giữ cho bánh xe quay, ngọn lửa cháy; chủ quyền; “Và Ngài sẽ trị vì đời đời vô tận”; vương quốc của các linh hồn; Thành Phố Hoàng Gia của David; “Muôn vật sống trong thân thể của một hữu thể lớn hơn”; tính toàn vẹn; tính toàn thể; được bảo tồn tốt; Sư Tử Tâm trong sự kiểm soát hoàn toàn; với sự kiểm soát lớn; các sự ban phát tinh thần; “Từ điểm ánh sáng trong thể trí của Thượng đế”; sao dẫn đường; điểm quy tụ ánh nhìn thường trực; con trai của tổng thống; Peter Pan—cậu bé bất tử. |
|
Your heart shall live forever.—The Psalmist. |
Trái tim ngươi sẽ sống mãi.—Người viết Thánh Vịnh. |
THE SUN: ESOTERIC RULER of LEO—MẶT TRỜI: CHỦ TINH NỘI MÔN của SƯ TỬ
|
O thou that rollest above, round as the shield of my fathers! Whence are thy beams, O Sun, thou everlasting light? Thou comest forth in thy awful beauty; the stars hide themselves in the sky; the Moon, cold and pale, sinks in the western wave; but thou thyself movest alone. The oaks of the mountains fall, the mountains decay themselves with years . . . but thou art forever the same, rejoicing in the brightness of thy course. When the world is dark with tempests, when thunder rolls and lightening flies, thou lookest in thy beauty from the clouds, and laughest at the storm . . . Exult then O Sun! in the strength of thy youth!—James Macpherson, Ossian. |
Hỡi ngươi là kẻ lăn phía trên, tròn như tấm khiên của tổ phụ ta! Tia sáng của ngươi từ đâu đến, hỡi Mặt trời, ánh sáng vĩnh cửu? Ngươi xuất hiện trong vẻ đẹp uy nghi của ngươi; các vì sao ẩn mình trên trời; Mặt trăng, lạnh lẽo và nhợt nhạt, chìm xuống trong làn sóng phía tây; nhưng chính ngươi chuyển động một mình. Những cây sồi trên núi ngã xuống, núi tự mục nát theo năm tháng… nhưng ngươi mãi mãi vẫn như vậy, hân hoan trong sự rực rỡ của lộ trình ngươi. Khi thế gian tối sầm vì bão tố, khi sấm cuộn và chớp bay, ngươi nhìn trong vẻ đẹp của ngươi từ mây, và cười trước cơn bão… Vậy hãy hân hoan, hỡi Mặt trời! trong sức mạnh tuổi trẻ của ngươi!—James Macpherson, Ossian. |
|
The Sun is the master ‘planet’ of the solar system (in astrology, the Sun is referred to as a planet rather than a star, for convenience), and like the eleven other planetary rulers of the zodiac, it has its own unique qualities, being regarded essentially as a benign influence: |
Mặt trời là “hành tinh” chủ đạo của hệ mặt trời (trong chiêm tinh học, vì tiện lợi, Mặt trời được gọi là một hành tinh hơn là một ngôi sao), và giống như mười một chủ tinh hoàng đạo khác, nó có những phẩm chất độc đáo riêng, về bản chất được xem là một ảnh hưởng lành: |
|
And therefore is the glorious planet Sol |
Vì vậy hành tinh vinh quang Sol |
|
In noble eminence enthron’d and spher’d |
Ngự ở tôn quý trên ngai và trong cầu |
|
Amidst the other, whose med’cinable eye |
Giữa những kẻ khác, với con mắt chữa lành ấy |
|
Corrects the ill aspects of planets evil, |
Sửa các góc hợp xấu của những hành tinh ác, |
|
And posts, like the commandment of a king, |
Và truyền đi, như mệnh lệnh của một vị vua, |
|
Sans check, to good and bad . . . |
Không ngăn trở, đến tốt và xấu… |
|
—William Shakespeare, Troilus and Cressida |
—William Shakespeare, Troilus và Cressida |
Mythology—Thần thoại
|
Of all the heavenly bodies that have been deified, the Sun is the most eminent. As we have seen earlier, Sun worship and the exaltation of the Sun into the supreme deity has been common throughout history. The ancients were only too aware that without the Sun, life as we know it could not exist. Its vivifying power, glorious, benign and divine radiance warms and enlivens us all. The Sun, as the source of universal vitality, the maintainer of life itself, was worshipped and regarded as a deity by all primitive peoples, and held a leading place in their mythologies. Shamash was the principal Sun-god of the Assyrians and Babylonians, Mithras of the Persians, Ra of the Egyptians, Tescatlioca of the Aztecs. Helios was the Greek Sun-god, who climbed the vault of heaven in a chariot drawn by snow-white horses to give light, and in the evening descended into the ocean: |
Trong tất cả các thiên thể từng được thần thánh hóa, Mặt trời là nổi bật nhất. Như chúng ta đã thấy trước đó, việc thờ Mặt trời và tôn Mặt trời lên thành vị thần tối cao đã phổ biến xuyên suốt lịch sử. Người xưa quá đỗi ý thức rằng nếu không có Mặt trời, sự sống như chúng ta biết sẽ không thể tồn tại. Quyền năng tiếp sinh lực của nó, sự rực rỡ vinh quang, lành và thiêng liêng, sưởi ấm và làm sinh động tất cả chúng ta. Mặt trời, như nguồn sinh lực phổ quát, kẻ duy trì chính sự sống, đã được mọi dân tộc nguyên thủy thờ phụng và xem như một vị thần, và giữ vị trí dẫn đầu trong các thần thoại của họ. Shamash là thần Mặt trời chính của người Assyria và Babylon, Mithras của người Ba Tư, Ra của người Ai Cập, Tescatlioca của người Aztec. Helios là thần Mặt trời Hy Lạp, người leo lên vòm trời trong một cỗ xe do những con ngựa trắng như tuyết kéo để ban ánh sáng, và buổi tối đi xuống đại dương: |
|
“Drawn in his swift chariot, he sheds light on gods and men alike; the formidable flash of his eyes pierces his golden helmet; sparkling rays glint from his breast; his brilliant helmet gives forth a dazzling splendour; his body is draped in shining gauze whipped by the wind.” |
“Được kéo bởi cỗ xe nhanh của mình, Ngài rải ánh sáng lên cả thần lẫn người; tia chớp đáng gờm từ đôi mắt Ngài xuyên qua chiếc mũ vàng; những tia lấp lánh lóe lên từ ngực Ngài; chiếc mũ rực rỡ của Ngài phát ra một vẻ chói lòa; thân Ngài phủ lớp sa mỏng sáng loáng bị gió quất.” |
|
In Roman mythology, Helios was known as Sol. Homer called him Hyperion, and he later became identified with or known as Apollo, the god of music, poetry, archery, prophecy and the healing art. Apollo, also known as Pheobus, was represented as the perfection of youthful manhood. |
Trong thần thoại La Mã, Helios được biết đến như Sol. Homer gọi Ngài là Hyperion, và về sau Ngài được đồng nhất với hoặc được biết đến như Apollo, thần âm nhạc, thi ca, cung thuật, tiên tri và nghệ thuật chữa lành. Apollo, cũng được biết đến như Pheobus, được mô tả như sự hoàn hảo của tuổi thanh xuân nam tính. |
|
“. . . the fire rob’d god, Golden Apollo.”—William Shakespeare, A Winter’s Tale. |
“… vị thần bị lửa cướp đi, Apollo Vàng.”—William Shakespeare, Chuyện Mùa Đông. |
|
Clytie, an ocean nymph, fell in love with Apollo. Jealous of his attention, she betrayed him. Abandoned by him, her grief was so intense she turned into the heliotrope or sunflower, which keeps its face turned towards the Sun, following him through his daily course. |
Clytie, một nữ thần biển, đem lòng yêu Apollo. Ghen tuông vì sự chú ý của Ngài, nàng phản bội Ngài. Bị Ngài bỏ rơi, nỗi đau của nàng mãnh liệt đến mức nàng hóa thành cây heliotrope hay hoa hướng dương, luôn quay mặt về phía Mặt trời, theo Ngài suốt hành trình hằng ngày. |
The Sun as Indicator of Identity and Personality—Mặt trời như chỉ báo về bản sắc và phàm ngã
|
One would expect the Sun to be a prominent feature in astrology, and it could indeed be said that it is the most powerful and important of all the ‘planets’. Apart from the factor of the rising sign, the Sun is one of the most significant influences at work in the horoscope, often dominating the chart. |
Người ta sẽ mong Mặt trời là một đặc điểm nổi bật trong chiêm tinh học, và quả thật có thể nói rằng nó là mạnh mẽ và quan trọng nhất trong mọi “hành tinh”. Ngoài yếu tố của dấu hiệu mọc, Mặt trời là một trong những ảnh hưởng quan trọng nhất đang hoạt động trong lá số chiêm tinh, thường chi phối toàn lá số. |
|
The Sun is the male, activating, creative factor in the horoscope. It signifies life force, warmth, vitality, dynamism, creativity and vigour. It gives will, courage, purpose and a sense of uniqueness. It highlights the sense of individuality and the creative drive to grow and develop. Characteristics associated with the Sun include self-confidence, will-power, purposefulness, independence, generosity, loyalty, dignity, and charismatic leadership. It also represents authority, whether in the form of the father, or the ruler in general. |
Mặt trời là yếu tố nam tính, kích hoạt, sáng tạo trong lá số. Nó biểu thị mãnh lực sự sống, hơi ấm, sinh lực, tính năng động, sức sáng tạo và sự cường tráng. Nó ban ý chí, can đảm, mục đích và cảm thức độc đáo. Nó làm nổi bật cảm thức cá thể tính và động lực sáng tạo để lớn lên và phát triển. Các đặc tính gắn với Mặt trời gồm tự tin, ý chí, tính mục đích, độc lập, hào phóng, trung thành, phẩm giá, và năng lực lãnh đạo lôi cuốn. Nó cũng đại diện cho quyền uy, dù dưới hình thức người cha, hay người cai trị nói chung. |
|
The king was the figurehead under which the disparate social groups of a nation were united. Similarly, the Sun symbolises the drive towards the self-integration process by which other planetary energies in the birthchart are integrated. All of us are made up of different and conflicting ‘selves’ or sub-personalities. The Sun gives the will to reconcile these selves, as the king does his subjects; it represents, therefore, the potentially (if not actually) integrated personality—a synthesis of selves and sovereign of all. |
Nhà vua là biểu tượng dưới đó các nhóm xã hội rời rạc của một quốc gia được thống nhất. Tương tự, Mặt trời tượng trưng cho động lực hướng đến tiến trình tự tích hợp, nhờ đó các năng lượng hành tinh khác trong lá số sinh được tích hợp. Tất cả chúng ta được cấu thành bởi những “cái tôi” khác nhau và xung đột, hay các tiểu phàm ngã. Mặt trời ban ý chí để hòa giải các cái tôi ấy, như nhà vua đối với thần dân; vì vậy, nó đại diện cho phàm ngã tích hợp một cách tiềm tàng (nếu chưa phải thực sự)—một sự tổng hợp các cái tôi và là chủ quyền của tất cả. |
|
The sense of identity, ego, or the centre of the conscious part of the psyche is represented by the Sun. It stands for the personal self (rather than the soul, or inner/Higher Self, which is represented by the rising sign) and indicates the lines along which this can best be expressed. Symbolically speaking, every individual is a ‘miniature Sun,’ a nucleus or centre of creative self-expression, whose drive is to actualise his innate potential and become an enlightening influence to those around him. |
Cảm thức về bản sắc, chân ngã, hay trung tâm của phần ý thức trong tâm lý được Mặt trời biểu thị. Nó đại diện cho cái tôi cá nhân (hơn là linh hồn, hay chân ngã nội tại/thượng, vốn được dấu hiệu mọc biểu thị) và chỉ ra những đường hướng mà qua đó điều này có thể được biểu đạt tốt nhất. Nói theo biểu tượng, mỗi cá nhân là một “Mặt trời thu nhỏ,” một hạt nhân hay trung tâm của sự tự biểu đạt sáng tạo, với động lực hiện thực hóa tiềm năng bẩm sinh và trở thành một ảnh hưởng soi sáng cho những người quanh mình. |
|
The position of the Sun in the horoscope will show the area of this self-expression and indicate the type of personality required to achieve this. Most people will show some, if not all of the characteristics of their birth sign. Although each individual is cast in a unique mould, there are twelve basic patterns discernible, symbolised by the placing of the Sun in each of the twelve signs of the zodiac. This placement shows how he will attempt to express himself, to realise his aims and ideals, how his ego will respond to situations and events and how he will focus his complex whole to deal with the possibilities of life. Through developing the qualities of the Sun-sign, and through encountering the sphere of life indicated by the house it occupies, we gain a greater sense of our individual identity and power in life. |
Vị trí của Mặt trời trong lá số chiêm tinh sẽ cho thấy lĩnh vực của sự tự biểu đạt này và chỉ ra kiểu phàm ngã cần có để đạt được điều đó. Hầu hết mọi người sẽ biểu lộ một vài, nếu không phải tất cả, các đặc tính của dấu hiệu sinh của mình. Dù mỗi cá nhân được đúc trong một khuôn độc nhất, vẫn có mười hai mô hình cơ bản có thể phân biện được, được biểu tượng hóa bởi vị trí của Mặt trời trong mỗi một trong mười hai dấu hiệu Hoàng đạo. Vị trí này cho thấy y sẽ cố gắng tự biểu đạt như thế nào, chứng nghiệm các mục tiêu và lý tưởng của mình ra sao, chân ngã của y sẽ đáp ứng các tình huống và biến cố thế nào, và y sẽ tập trung toàn thể phức hợp của mình để xử lý các khả thể của đời sống ra sao. Thông qua việc phát triển các phẩm chất của Dấu hiệu mặt trời, và thông qua việc gặp gỡ lĩnh vực đời sống được nhà mà nó cư ngụ chỉ ra, chúng ta đạt được một cảm thức lớn hơn về bản sắc cá nhân và quyền năng trong đời sống. |
|
When well-placed in the horoscope, the Sun is indicative of emotional warmth, affection, love, large-heartedness, magnanimity, open and generous feelings and powerful, creative and artistic abilities. It is as though someone with a benignly aspected Sun can absorb its physical and spiritual energies and radiate them for the benefit of those around him. Fortifying and vitalising, it will bestow good health, self-reliance, strength of character, and a strong sense of self-worth, along with natural powers of control and command. These types can be proud and dignified, strong and dominant, seeking positions with power, dignity and responsibility. In fact, few born leaders are without a strong solar influence. |
Khi được đặt tốt trong lá số chiêm tinh, Mặt trời là dấu hiệu của sự ấm áp cảm xúc, âu yếm, tình thương, tấm lòng rộng mở, sự hào hiệp, cảm xúc cởi mở và rộng lượng, cùng các năng lực mạnh mẽ, sáng tạo và nghệ thuật. Dường như người có Mặt trời tạo góc hợp lành có thể hấp thụ các năng lượng hồng trần và tinh thần của nó và tỏa ra vì lợi ích của những người quanh mình. Củng cố và tiếp sinh lực, nó sẽ ban sức khỏe tốt, tự lực, sức mạnh tính cách, và một cảm thức mạnh mẽ về giá trị bản thân, cùng với các quyền năng tự nhiên của sự kiểm soát và chỉ huy. Những kiểu người này có thể kiêu hãnh và trang nghiêm, mạnh mẽ và trội vượt, tìm kiếm các vị trí có quyền lực, phẩm giá và trách nhiệm. Thực ra, hiếm có nhà lãnh đạo bẩm sinh nào lại không có một ảnh hưởng Mặt trời mạnh. |
|
A prominent but afflicted Sun will give all the negative qualities of a monarch—ostentation, the putting on of airs and graces, a love of flattery, selfishness, indulgence and sexual rampatiousness. This type will be prone to behave in ways that are excessive, showy, over-confident, egotistical and dictatorial. The drive towards self-realisation can also express itself in an overbearing ambition and desire for self-aggrandisement, manifesting in such destructive forms as ruthless power complexes, egocentricity, boasting, and despotic behaviour. |
Một Mặt trời nổi bật nhưng bị tổn hại sẽ cho mọi phẩm chất tiêu cực của một quân vương—phô trương, làm bộ làm tịch, yêu nịnh bợ, ích kỷ, buông thả và phóng túng tình dục. Kiểu người này sẽ dễ cư xử theo những cách thái quá, phô diễn, quá tự tin, tự cao và độc đoán. Động lực hướng đến tự chứng nghiệm cũng có thể biểu lộ như một tham vọng lấn át và ham muốn tự tôn phóng đại, biểu hiện trong những hình thức hủy hoại như các phức hợp quyền lực tàn nhẫn, tính quy ngã, khoe khoang, và hành vi chuyên chế. |
|
Alternatively, a poorly placed and afflicted Sun can lead to timidity, incompetence, and a lack of self-confidence, self-reliance and ambition. This type will shun the lime-light and encounter difficulty in self-expression and physical well-being. He needs to develop the ability to be self-generating and causal rather than merely reactive. |
Ngược lại, một Mặt trời đặt kém và bị tổn hại có thể dẫn đến nhút nhát, bất tài, và thiếu tự tin, tự lực và tham vọng. Kiểu người này sẽ tránh ánh đèn sân khấu và gặp khó khăn trong tự biểu đạt và sự an hòa hồng trần. Y cần phát triển khả năng tự phát sinh và mang tính nguyên nhân, thay vì chỉ đơn thuần phản ứng. |
|
There very frequently is an agglomeration of planets around the Sun in the horoscope, especially Mercury, Vulcan and Venus. When these are conjunct or very close to the Sun, the radiatory power of the Sun should always be kept in mind, along with the way in which this will manifest. It will, for instance, radiate its will and power through Mercury, its gentlest love qualities, like poise, harmony and sophistication, through the planet Venus, and its concretised prana (money) through Vulcan. |
Rất thường xuyên có một sự tụ tập các hành tinh quanh Mặt trời trong lá số chiêm tinh, đặc biệt là Sao Thủy, Vulcan và Sao Kim. Khi chúng đồng vị hay rất gần Mặt trời, luôn cần ghi nhớ quyền năng bức xạ của Mặt trời, cùng với cách điều này sẽ biểu lộ. Chẳng hạn, nó sẽ bức xạ ý chí và quyền năng của nó qua Sao Thủy, các phẩm chất bác ái dịu nhất của nó, như sự điềm tĩnh, hòa điệu và tinh tế, qua hành tinh Sao Kim, và prana được cụ thể hóa của nó (tiền bạc) qua Vulcan. |
|
The Sun has a ‘Vulcanising’ effect. Vulcan rules Taurus, and it is the lord of the second house of money. Money can do many things, especially where ‘money talks.’ It can set a project going, maintain it or destroy it. Money gives the ability to set inanimate, material things moving and developing. Without it there are very few things that can be done on a planetary scale. In the hands of the powerful it is indeed a very, very useful weapon. In the hands of the spiritual it is also important, because there may be the necessity in a life to live without money (life and living come under the Sun and the sign of Leo): “Where do you live?” “Oh, I live in a back street.” The astrological aspect for “a back street” is the Sun afflicted in Capricorn, and would suggest a quiet life in poor circumstances. |
Mặt trời có một hiệu ứng “Vulcan hóa”. Vulcan cai quản Kim Ngưu, và là chúa tể của nhà thứ hai về tiền bạc. Tiền có thể làm nhiều việc, nhất là nơi “tiền lên tiếng”. Nó có thể khởi động một dự án, duy trì nó hoặc phá hủy nó. Tiền ban khả năng làm cho những vật vô tri, vật chất chuyển động và phát triển. Không có nó thì rất ít điều có thể được làm ở quy mô hành tinh. Trong tay người quyền lực, nó quả thật là một vũ khí rất, rất hữu dụng. Trong tay người tinh thần, nó cũng quan trọng, vì có thể có sự cần thiết trong một đời sống phải sống không có tiền (sự sống và đời sống thuộc về Mặt trời và dấu hiệu Sư Tử): “Bạn sống ở đâu?” “Ồ, tôi sống trong một con hẻm.” Góc hợp chiêm tinh cho “một con hẻm” là Mặt trời bị tổn hại trong Ma Kết, và sẽ gợi ý một đời sống yên lặng trong hoàn cảnh nghèo. |
The Inner Nature of the Sun—Bản chất nội tại của Mặt trời
|
We have all evolved within the energy of this magnificent star; it has had a profound effect on us and will continue to do so for a long very long time indeed, unlike the Moon, whose astrological influence is slowly waning. The assessment of the personality in terms of the position of the Sun has long been a feature of traditional astrology. However, the view of esoteric astrology concerning this matter is a more profound one. Just as man consists of a soul and a spirit residing within a personality, so too is the Solar Logos a triune being with inner structures. Each of His three ‘bodies’ radiates a different quality. When the astrologer considers the Sun in the horoscope of people who want to know the spiritual import of their charts, these qualities should be remembered. |
Tất cả chúng ta đã tiến hoá trong năng lượng của ngôi sao tráng lệ này; nó đã có một tác động sâu sắc lên chúng ta và sẽ tiếp tục như vậy trong một thời gian rất, rất dài, không giống như Mặt trăng, vốn ảnh hưởng chiêm tinh đang dần suy giảm. Việc đánh giá phàm ngã theo vị trí của Mặt trời từ lâu đã là một đặc điểm của chiêm tinh học truyền thống. Tuy nhiên, quan điểm của Chiêm Tinh Học Nội Môn về vấn đề này sâu sắc hơn. Cũng như con người gồm một linh hồn và một tinh thần cư ngụ trong một phàm ngã, Thái dương Thượng đế cũng là một hữu thể tam phân với các cấu trúc nội tại. Mỗi một trong ba “thể” của Ngài bức xạ một phẩm tính khác nhau. Khi nhà chiêm tinh xem xét Mặt trời trong lá số chiêm tinh của những người muốn biết ý nghĩa tinh thần của lá số, các phẩm tính này cần được ghi nhớ. |
The Physical Sun—Mặt trời hồng trần
|
This is the body of manifestation of a great cosmic being. It is the Holy Ghost aspect of the trinity of his consciousness, as surely as the human body is the housing for that lesser being, a human monad. We call it the Disc of the Sun, and it radiates those energies which sustain the physical forms of all lesser beings in the solar ring-pass-not. The study of any food-chain would soon confirm this observation. The Sun is the creator, maintainer and destroyer of all life. It controls, it radiates. It identifies itself with itself in all forms. And, in controlling itself, it controls all with which it becomes identified. This capacity for fusion shows not only in the helium atoms that make up the outer mass of the Sun, but in all organisms as the capacity to amalgamate, to blend, to synthesise. |
Đây là thể biểu hiện của một hữu thể vũ trụ vĩ đại. Nó là phương diện Chúa Thánh Thần của Ba Ngôi trong tâm thức của Ngài, cũng chắc chắn như thể xác con người là nơi cư trú của hữu thể nhỏ hơn ấy, một chân thần nhân loại. Chúng ta gọi nó là Đĩa Mặt trời, và nó bức xạ những năng lượng duy trì các hình tướng hồng trần của mọi hữu thể nhỏ hơn trong vòng-giới-hạn mặt trời. Việc nghiên cứu bất kỳ chuỗi thức ăn nào cũng sẽ sớm xác nhận quan sát này. Mặt trời là đấng sáng tạo, duy trì và hủy diệt mọi sự sống. Nó cai quản, nó bức xạ. Nó đồng hoá với chính nó trong mọi hình tướng. Và, trong việc tự cai quản chính nó, nó cai quản tất cả những gì nó đồng hoá với. Năng lực dung hợp này không chỉ thể hiện trong các nguyên tử helium tạo nên khối lượng bên ngoài của Mặt trời, mà trong mọi sinh thể như năng lực hòa nhập, hòa trộn, tổng hợp. |
|
These are not just conundrums. They are laws which govern the universe. The oriental philosophers expressed it anthropomorphically thus: |
Đây không chỉ là những câu đố. Chúng là các định luật chi phối vũ trụ. Các triết gia phương Đông đã diễn đạt điều đó theo lối nhân hình như sau: |
|
Having pervaded the entire universe with a fragment of myself, I remain.—Krishna: Bhagavad Gita. |
Vì đã thấm khắp toàn vũ trụ bằng một mảnh của chính Ta, Ta vẫn còn.—Krishna: Bhagavad Gita. |
|
In a sense, the Sun is a prisoner of his satellites, the planets. The planets are fragments of his glory but fragments which have not kept up with the spiritual transformation of their parent, the Sun. In orbiting Him, they constantly disfigure His radiance. |
Theo một nghĩa nào đó, Mặt trời là tù nhân của các vệ tinh của nó, các hành tinh. Các hành tinh là những mảnh của vinh quang của nó nhưng là những mảnh đã không theo kịp sự chuyển hoá tinh thần của đấng sinh thành của chúng, Mặt trời. Khi quay quanh Ngài, chúng liên tục làm biến dạng sự rực rỡ của Ngài. |
The Heart of the Sun—Trái tim của Mặt trời
|
Behind the Disc of the Sun lies the Heart of the Sun, the glorious source of great splendour from which stem those forces which not only support the surrounding disc, but penetrate to all planets. These emanations include the Seven Rays, which guide all evolutionary forces urging all kingdoms and hierarchies of life constantly towards their goal in Truth, Beauty and Goodness. The Rays stem from the seven stars of the Great Bear and are transmitted by the Heart of the Sun, where reside the spiritual (buddhic) principles of all those beings who have taken the fifth initiation on any planet of the solar system during this Mahamanvantara (the period of the lifetime of a planet during its seven Rounds. It is also called a Day of Brahma, and its length is 4,320,000,000 years.) |
Đằng sau Đĩa Mặt trời là Trái tim của Mặt trời, nguồn vinh quang rực rỡ từ đó phát sinh những mãnh lực không chỉ nâng đỡ đĩa bao quanh, mà còn xuyên thấu đến mọi hành tinh. Những phát xạ này bao gồm bảy Cung, vốn hướng dẫn mọi mãnh lực tiến hoá, thôi thúc mọi giới và mọi huyền giai sự sống không ngừng hướng về mục tiêu của chúng trong Chân, Thiện, Mỹ. Các Cung phát sinh từ bảy sao của Đại Hùng Tinh và được truyền bởi Trái tim của Mặt trời, nơi cư ngụ các nguyên khí tinh thần (Bồ đề) của mọi hữu thể đã nhận lần điểm đạo thứ năm trên bất kỳ hành tinh nào của hệ mặt trời trong Đại giai kỳ sinh hóa này (thời kỳ của vòng đời một hành tinh trong bảy cuộc tuần hoàn của nó. Nó cũng được gọi là một Ngày của Brahma, và độ dài của nó là 4.320.000.000 năm.) |
|
Here, in the Heart of the Sun, reside the energies of Love-Wisdom, for the Sun is the Heart Chakra of that great entity we call ‘The One About Whom Naught May Be Said.’ If the Disc of the Sun represents form, or the Holy Ghost of our Logos, then the Heart of the Sun represents the Soul of that Divine Being, and the planets lie within His aura. Through its correspondences with man, the Heart of the Sun stimulates the heart chakra of the disciple and encourages soul awareness in mankind. |
Tại đây, trong Trái tim của Mặt trời, cư ngụ các năng lượng của Bác Ái – Minh Triết, vì Mặt trời là Luân xa tim của hữu thể vĩ đại mà chúng ta gọi là “Đấng Bất Khả Tư Nghị.” Nếu Đĩa Mặt trời đại diện cho hình tướng, hay Chúa Thánh Thần của Thượng đế của chúng ta, thì Trái tim của Mặt trời đại diện cho Linh hồn của Hữu thể Thiêng liêng ấy, và các hành tinh nằm trong noãn hào quang của Ngài. Thông qua các tương ứng của nó với con người, Trái tim của Mặt trời kích thích luân xa tim của đệ tử và khuyến khích sự nhận biết linh hồn trong nhân loại. |
The Central Spiritual Sun—Mặt trời Tinh thần Trung Ương
|
At the hub of this solar system, within even the Heart of the Sun, lies the Central Spiritual Sun – the ‘Place Where the Will of God is Known.’ The energies found here, which include the First Ray of Will and Power, have come from higher dimensions – the electric fire of extrasystemic force flowing in from Sirius, itself the Ajna Chakra of ‘The One About Whom Naught May Be Said.’ |
Tại trung tâm của hệ mặt trời này, bên trong cả Trái tim của Mặt trời, là Mặt trời Tinh thần Trung Ương – “Nơi Ý Chí của Thượng Đế được biết.” Các năng lượng được tìm thấy ở đây, bao gồm Cung một của Ý Chí và Quyền Năng, đến từ các chiều kích cao hơn – lửa điện của mãnh lực ngoại hệ tuôn vào từ Sirius, vốn là Luân xa ajna của “Đấng Bất Khả Tư Nghị.” |
|
It is from this hub, which is the solar counterpart of the human monad, that the life energy of pure spirit emerges. We call it prana. |
Chính từ trung tâm này, vốn là đối phần mặt trời của chân thần nhân loại, năng lượng sự sống của tinh thần thuần khiết xuất lộ. Chúng ta gọi nó là prana. |
The Sun as the Vitaliser, the Lord and Giver of Life—Mặt trời như Đấng Tiếp Sinh Lực, Chúa Tể và Đấng Ban Sự Sống
|
In esoteric astrology the Sun acting geocentrically as a ‘planet’ is the conveyor of health and vitality and through this medium rules prana, oxygen and vitalising factors such as the vitamins. |
Trong Chiêm Tinh Học Nội Môn, Mặt trời hoạt động theo địa tâm như một “hành tinh” là kẻ chuyên chở sức khỏe và sinh lực, và qua môi trường này cai quản prana, oxy và các yếu tố tiếp sinh lực như vitamin. |
|
The source of this helpful spur to mankind’s evolution is the heliocentric role of the Sun as the receiver of cosmic prana, from which our own planetary prana derives. Cosmic prana is drawn into the central region of the Sun through its poles. Here it is concentrated and further charged. Through the action of the planet behind the disc of the Sun, the converted prana has its velocity boosted as it is emitted from the visible disc of the Sun with great force. |
Nguồn của sự thúc đẩy hữu ích này đối với tiến hoá của nhân loại là vai trò nhật tâm của Mặt trời như kẻ tiếp nhận prana vũ trụ, từ đó prana hành tinh của chúng ta phát sinh. Prana vũ trụ được hút vào vùng trung tâm của Mặt trời qua các cực của nó. Tại đây nó được cô đặc và được nạp thêm. Thông qua tác động của hành tinh phía sau đĩa Mặt trời, prana đã chuyển hoá được tăng tốc khi nó được phát ra từ đĩa Mặt trời hữu hình với mãnh lực lớn. |
|
The solar prana accompanies the quanta of pure light projected towards the eleven remaining planets. It enters the Earth’s atmosphere via the poles and maintains the ozone layer.* The prana is now essentially planetary and its quality bears the stamp of Earth conditions, making it unique from the prana of other planets and this uniqueness is reflected in the totality of the Earth acting as a Chakra within the Solar ring-pass-not. |
Prana mặt trời đi cùng các lượng tử ánh sáng thuần khiết được phóng chiếu về phía mười một hành tinh còn lại. Nó đi vào khí quyển Trái Đất qua các cực và duy trì tầng ozone.* Prana lúc này về bản chất là hành tinh và phẩm tính của nó mang dấu ấn các điều kiện Trái Đất, khiến nó khác biệt với prana của các hành tinh khác, và sự độc đáo này được phản ánh trong tính toàn thể của Trái Đất như một Luân xa trong vòng-giới-hạn mặt trời. |
|
In the Earth’s atmosphere the prana may exist singly and as such, be absorbed into the health aura of people. Or the prana may clump together to form vitality globules, shining pin-points of light dancing around in the sunlit atmosphere and clearly visible. They become attached to the twin helix of the oxygen molecule (O2) and are drawn in when we breathe. Once inside the physical body the globules break up and their humanised prana circulates in the etheric body lighting up the various chakras. Excessive breathing (yoga) shunts the prana into the chakras but the oxygen is exhaled. This is the reason for the Sun being regarded astrologically as a vitality factor. |
Trong khí quyển Trái Đất, prana có thể tồn tại đơn lẻ và như vậy, được hấp thụ vào hào quang sức khỏe của con người. Hoặc prana có thể tụ lại để tạo thành Sinh khí cầu, những điểm sáng li ti lấp lánh nhảy múa trong bầu khí quyển có ánh nắng và thấy rõ. Chúng bám vào chuỗi xoắn kép của phân tử oxy (O2) và được hút vào khi chúng ta thở. Một khi vào trong thể xác, các sinh khí cầu vỡ ra và prana đã được nhân tính hóa của chúng lưu chuyển trong thể dĩ thái, thắp sáng các luân xa khác nhau. Thở quá mức (yoga) chuyển prana vào các luân xa nhưng oxy bị thở ra. Đây là lý do Mặt trời được xem chiêm tinh như một yếu tố sinh lực. |
|
Thus, the Sun as a total being, the Solar Logos, has the following anthropomorphic correspondences: |
Vì vậy, Mặt trời như một hữu thể toàn diện, Thái dương Thượng đế, có các tương ứng nhân hình sau: |
|
• Disc of the Sun and the Planets = Personality vehicles of the Logos |
• Đĩa Mặt trời và các Hành tinh = các vận cụ phàm ngã của Thượng đế |
|
• Heart of the Sun = His Soul |
• Trái tim của Mặt trời = Linh hồn của Ngài |
|
• Central Spiritual Sun = His Monad |
• Mặt trời Tinh thần Trung Ương = Chân Thần của Ngài |
Incarnation in Leo—Đang lâm phàm trong Sư Tử
|
There can be no clear conception of the qualities and tasks of the soul incarnating in Leo without understanding something of the nature of the Sun. The latter is both the esoteric and the orthodox ruler of Leo. The Sun must express itself. Out of the mass consciousness of Cancer, there emerge continuously in Leo those who must express their individuality as distinct from the masses. Leo is the sign of self-conscious expression. Leo must express himself and the divinity within him. To those who do not understand, this may appear as selfishness, pride and arrogance but to Leo it means none of this. Leo must radiate and seek out conditions wherein he can shine. Hence the Leo urge to illuminate. |
Không thể có một quan niệm rõ ràng về các phẩm chất và nhiệm vụ của linh hồn đang lâm phàm trong Sư Tử nếu không hiểu đôi điều về bản chất của Mặt trời. Mặt trời vừa là Chủ tinh nội môn vừa là chủ tinh chính thống của Sư Tử. Mặt trời phải tự biểu đạt. Từ tâm thức quần chúng của Cự Giải, liên tục xuất hiện trong Sư Tử những người phải biểu đạt cá thể tính của mình như khác biệt với quần chúng. Sư Tử là dấu hiệu của sự tự biểu đạt có tự ý thức. Sư Tử phải tự biểu đạt và biểu đạt thiên tính bên trong y. Với những người không hiểu, điều này có thể trông như ích kỷ, kiêu hãnh và ngạo mạn, nhưng với Sư Tử nó không có nghĩa như vậy. Sư Tử phải tỏa chiếu và tìm kiếm những điều kiện nơi y có thể tỏa sáng. Do đó là thôi thúc Sư Tử muốn soi sáng. |
|
We can trace the growth of consciousness of the individual who finds himself incarnated in Leo or with Leo Rising. Depending upon his place on the Path, Leo presents progressively with: |
Chúng ta có thể truy nguyên sự tăng trưởng tâm thức của cá nhân thấy mình đang lâm phàm trong Sư Tử hoặc có dấu hiệu mọc Sư Tử. Tùy theo vị trí của y trên Thánh Đạo, Sư Tử lần lượt biểu hiện tiến triển với: |
|
• The will to be distinct (from the masses). |
• Ý chí muốn khác biệt (với quần chúng). |
|
• The will to control his individuality. |
• Ý chí muốn kiểm soát cá thể tính của mình. |
|
• The will to control others singly. |
• Ý chí muốn kiểm soát người khác từng người một. |
|
• The will to control the group. |
• Ý chí muốn kiểm soát nhóm. |
|
• The will to illuminate it. |
• Ý chí muốn soi sáng nhóm. |
|
• The love to unify by understanding the group. |
• Tình thương muốn hợp nhất bằng cách thấu hiểu nhóm. |
|
• The love to synthesise the group’s efforts in service to mankind. |
• Bác ái muốn tổng hợp nỗ lực của nhóm trong phụng sự nhân loại. |
|
• The wisdom to direct its efforts in study (of the occult classics). |
• Minh triết muốn định hướng nỗ lực của nhóm trong nghiên cứu (các kinh điển huyền bí). |
|
• The wisdom to prepare the group for initiation through leading it in meditation. |
• Minh triết muốn chuẩn bị nhóm cho điểm đạo bằng cách dẫn dắt nhóm trong tham thiền. |
|
• The love-wisdom to receive, as the heart chakra of the group, the downpouring of solar fire in group initiation. |
• Bác Ái – Minh Triết muốn tiếp nhận, như luân xa tim của nhóm, lần tuôn đổ lửa thái dương trong điểm đạo nhóm. |
|
• The English Master gave his visual image of the sign of Leo as follows: Birds fly out in their myriads and wing their way around in great circles changing position from time to time. One returns and settles on the wrist of the right hand. |
• Chân sư Anh quốc đã đưa ra linh ảnh của Ngài về dấu hiệu Sư Tử như sau: Chim bay ra thành muôn ngàn và sải cánh quanh theo những vòng tròn lớn, thỉnh thoảng đổi vị trí. Một con quay về và đậu trên cổ tay của bàn tay phải. |
|
Our monads at the core of the Sun send forth their images as the higher and lower triads. These merge into the evolutionary streams of the far-flung planets moving around the Sun. Each divine falconer awaits the return of his instrument who will bring back to his solar lord what he had garnered from his experience in form. Leo feels within him the perfection from which he derives and tends to act out that feeling in creative self-expression. Leo gives to his kind the knowledge, to the point of certainty, of his ultimate destiny as a Son of God, as an instrument of the Divine, as an executive of the power from which he stems. |
Các chân thần của chúng ta ở cốt lõi của Mặt trời phóng ra các hình ảnh của chúng như các tam nguyên tinh thần cao và thấp. Những điều này hòa vào các dòng tiến hoá của các hành tinh xa xôi đang chuyển động quanh Mặt trời. Mỗi vị thần ưng đều chờ đợi sự trở về của công cụ của mình, kẻ sẽ mang về cho nhât tinh quân của mình điều y đã thu lượm từ kinh nghiệm trong hình tướng. Sư Tử cảm thấy trong mình sự hoàn hảo mà từ đó y phát sinh và có xu hướng diễn tả cảm giác ấy trong sự tự biểu đạt sáng tạo. Sư Tử ban cho đồng loại của mình tri thức, đến mức chắc chắn, về định mệnh tối hậu của y như một Con của Thượng đế, như một công cụ của Thiêng liêng, như một kẻ thi hành quyền năng mà từ đó y phát sinh. |
|
It is truly said that somewhere in the charts of all great men leonine aspects can be found in strength and in such subjects it is always wise, in esoteric astrology, to examine closely that which is concerned with Leo. |
Quả thật người ta nói rằng đâu đó trong lá số của mọi vĩ nhân đều có thể tìm thấy các góc hợp mang tính Sư Tử một cách mạnh mẽ, và với những đối tượng như vậy, trong Chiêm Tinh Học Nội Môn, luôn khôn ngoan khi khảo sát kỹ điều liên quan đến Sư Tử. |
|
O Thou who givest sustenance to the universe |
Hỡi Đấng ban nuôi dưỡng cho vũ trụ |
|
From whom all things proceed |
Từ Ngài muôn vật phát sinh |
|
To whom all things return, |
Và về Ngài muôn vật trở về, |
|
Unveil to us the face of the true Spiritual Sun |
Xin vén mở cho chúng con dung nhan của Mặt trời Tinh thần chân thực |
|
Hidden by a disc of golden light |
Bị che khuất bởi một đĩa ánh sáng vàng |
|
That we may know the Truth |
Nguyện cho chúng con có thể biết được Chân Lý |
|
And do our whole duty |
Và làm trọn toàn bộ bổn phận của mình |
|
As we journey to Thy Sacred Feet. |
Khi chúng con hành trình đến Thánh Túc của Ngài. |
Object for Meditation—Đề mục cho Tham Thiền
|
The Sun is a fitting object for meditation, which can be incorporated into a regime for the daily life of the disciple, for it is a synthesis of all four astrological elements. The Sun is the symbol of growth of which the sunflower is a reflection for, surely, no flower can demonstrate growth like the sunflower. The Sun is the symbol of sacrifice and sacrifice is the keynote of the disciple’s way of life. The rising Sun is rebirth; the Sun crossing the heavens shedding her energies to sustain her little ones, the planets, is sacrifice; the Sun setting is death leading to regeneration. The Sun, therefore, is the symbol of the Creator, Maintainer and Destroyer and shows this in its outer form, for even the shape of the sphere is ruled by the First Ray of Will and Power. The perfect orb of the Sun reflects the First Ray qualities, for it is lens-shaped and the lens concentrates light and heat energy. |
Mặt Trời là một đề mục thích hợp cho tham thiền, vốn có thể được đưa vào một chế độ cho đời sống hằng ngày của người đệ tử, vì nó là một sự tổng hợp của cả bốn nguyên tố chiêm tinh. Mặt Trời là biểu tượng của sự tăng trưởng, mà hoa hướng dương là một phản ảnh của nó; quả thật, không loài hoa nào có thể biểu lộ sự tăng trưởng như hoa hướng dương. Mặt Trời là biểu tượng của sự hi sinh, và sự hi sinh là chủ âm của nếp sống người đệ tử. Mặt Trời mọc là tái sinh; Mặt Trời băng qua bầu trời, tuôn rải các năng lượng của nó để duy trì những đứa con bé nhỏ của nó—các hành tinh—là sự hi sinh; Mặt Trời lặn là cái chết dẫn đến sự tái sinh. Vì vậy, Mặt Trời là biểu tượng của Đấng Sáng Tạo, Đấng Duy Trì và Đấng Hủy Diệt, và biểu lộ điều này trong hình tướng bên ngoài của nó, vì ngay cả hình dạng của khối cầu cũng được cai quản bởi Cung một của Ý Chí và Quyền Năng. Quả cầu hoàn hảo của Mặt Trời phản ảnh các phẩm tính của Cung một, vì nó có dạng thấu kính, và thấu kính tập trung ánh sáng và năng lượng nhiệt. |
|
When the Sun is visualised inwardly between the eyebrows as a flame-like ball on a background of indigo, we introduce into the inner structures of the head centres a shape which accumulates the energies of the First Ray and these have qualities conducive to meditation. The flaming orb, when created visually beneath the eyelids, coincides with that sacred place where the three integrated head chakras will ultimately coincide, rotating at right angles to each other (see Meditation, The Theory and Practice, by the author). |
Khi Mặt Trời được hình dung nội tại giữa hai chân mày như một quả cầu tựa ngọn lửa trên nền chàm, chúng ta đưa vào các cấu trúc nội tại của các trung tâm ở đầu một hình dạng vốn tích tụ các năng lượng của Cung một, và những năng lượng này có các phẩm tính thuận lợi cho tham thiền. Quả cầu rực lửa, khi được tạo ra bằng thị giác dưới mí mắt, trùng khớp với nơi chốn thiêng liêng ấy, nơi ba luân xa đầu đã được tích hợp rốt cuộc sẽ trùng khớp, xoay ở các góc vuông với nhau (xem, của tác giả). |
|
At dawn and dusk the Sun is level with the horizon, huge and colourful. It is safe, then and only then, to stare into its depths as you often are induced, by magnetic attraction, to stare into the flaming coals of your hearth fire on a winter’s night. Now, as you study the Sun, you should go into reverie. You should be able to see its shape, in complementary colour, when you shut your eyelids. Use this to learn how to visualise the same scene when you are in the quiet of your own room. Contemplation of the rising Sun stimulates your capacity to focus (via the Ajna centre), to draw on its energy (via the Alta Major centre) and to evolve spiritually (via the Sahasrara centre). Section III of The Jewel in the Lotus, by the author, describes the Ray implications that lie in the shape of a sphere. |
Vào lúc bình minh và hoàng hôn, Mặt Trời ngang với đường chân trời, to lớn và rực rỡ sắc màu. Khi ấy, và chỉ khi ấy, mới an toàn để nhìn chăm chú vào chiều sâu của nó, như các bạn thường bị thúc đẩy, bởi sự hấp dẫn từ tính, nhìn chăm chú vào những hòn than hồng rực lửa của bếp lửa nhà mình trong một đêm mùa đông. Nay, khi các bạn nghiên cứu Mặt Trời, các bạn nên đi vào trạng thái mơ màng chiêm nghiệm. Các bạn nên có thể thấy hình dạng của nó, trong màu bổ túc, khi các bạn khép mí mắt. Hãy dùng điều này để học cách hình dung cùng một cảnh ấy khi các bạn ở trong sự tĩnh lặng của chính căn phòng mình. Sự chiêm ngưỡng Mặt Trời mọc kích thích năng lực tập trung của các bạn (qua trung tâm ajna), rút lấy năng lượng của nó (qua trung tâm alta major) và tiến hoá tinh thần (qua trung tâm sahasrara). Phần III của quyển Viên Ngọc trong Hoa Sen, của tác giả, mô tả các hàm ý về Cung vốn nằm trong hình dạng của một khối cầu. |
|
But more than anything, the Sun should stimulate within you a spirit of sacrifice, the desire to shed your radiance and beneficial qualities, tangible or spiritual, on those about you. It should encourage you to face up to all that life as a disciple implies. I have already mentioned that Leo rules the heart, and that this is the centre of courage. Contemplation of the Sun opens up the Petals of Sacrifice in the Egoic Lotus (see The Jewel in the Lotus, by the author). |
Nhưng hơn hết mọi điều, Mặt Trời nên khơi dậy trong các bạn một tinh thần hi sinh, ước muốn tuôn rải ánh huy hoàng và các phẩm tính lợi ích của các bạn—hữu hình hay tinh thần—lên những người quanh các bạn. Nó nên khuyến khích các bạn đối diện với tất cả những gì đời sống như một đệ tử hàm ý. Tôi đã đề cập rằng Sư Tử cai quản tim, và rằng đây là trung tâm của dũng khí. Sự chiêm ngưỡng Mặt Trời mở ra các Cánh Hoa Hi Sinh trong Hoa Sen Chân Ngã (xem, của tác giả). |
LEO: by ROBERTO ASSAGIOLI —SƯ TỬ: của ROBERTO ASSAGIOLI
|
Roberto Assagioli, M.D., of Florence, Italy, was a world authority on psychosynthesis and made many valuable contributions to the field of existential psychology during the past half-century (Dr. Assagioli died in August 1974). His was one of the keenest minds ever to probe the depths of esoteric astrology and psychology. Preferring to keep his orthodox teachings quite distinct from his work in the esoteric sciences, Dr. Assagioli published his observations on the Ancient Wisdom under the pen-name of Considerator in my journal Aquarius Rising. So valuable are these fragments of his work that I am including the one on Leo herein and must also reaffirm the valuable contribution of Alice Bailey to esoteric astrology. |
Roberto Assagioli, bác sĩ y khoa, ở Florence, Ý, là một thẩm quyền thế giới về tâm tổng hợp và đã có nhiều đóng góp giá trị cho lĩnh vực tâm lý học hiện sinh trong nửa thế kỷ vừa qua (Bác sĩ Assagioli qua đời vào tháng Tám năm 1974). Ông là một trong những trí tuệ sắc bén nhất từng thăm dò các chiều sâu của Chiêm Tinh Học Nội Môn và tâm lý học. Ưa giữ các giáo huấn chính thống của mình hoàn toàn tách biệt khỏi công trình của mình trong các khoa học huyền môn, Bác sĩ Assagioli đã công bố các quan sát của ông về Minh Triết Ngàn Đời dưới bút danh Considerator trong tạp chí Bảo Bình Trỗi Dậy của tôi. Những mảnh đoạn trong công trình của ông quý giá đến mức tôi đưa mảnh đoạn về Sư Tử vào đây, và cũng phải tái khẳng định đóng góp giá trị của Bà Alice Bailey cho Chiêm Tinh Học Nội Môn. |
|
The constellation of Leo, the fifth of the zodiac, is composed of about twenty five stars. The brightest is Regulus, called also the Heart of Leo, which shines with a blue light. The chief keynotes of Leo are: |
Chòm sao Sư Tử, dấu hiệu thứ năm của Hoàng đạo, gồm khoảng hai mươi lăm ngôi sao. Sáng nhất là Regulus, còn được gọi là Trái Tim của Sư Tử, tỏa sáng với ánh sáng xanh lam. Các chủ âm chính của Sư Tử là: |
|
• Individuality and true Self-consciousness. |
• Tính cá biệt và tâm thức chân thực về bản ngã. |
|
• The Will-to-Illumine. |
• Ý Chí-hướng Soi Sáng. |
|
• The Will-to-Rule and to Dominate. |
• Ý Chí-cai quản và thống trị. |
|
• Sensitivity. |
• Tính nhạy cảm. |
Individuality and True Self-consciousness—Tính Cá Biệt và Tâm Thức Chân Thực về Bản Ngã
|
In Leo, we have ‘the crisis of individualisation’. Self-consciousness, the mark of individualisation, is at first diffused and inchoate, and only slowly, very slowly, through repeated incarnations does it develop into true self-consciousness. |
Trong Sư Tử, chúng ta có “cuộc khủng hoảng của sự biệt ngã hóa”. Tự ý thức, dấu ấn của sự biệt ngã hóa, lúc đầu thì lan tỏa và chưa thành hình, và chỉ chậm rãi, rất chậm rãi, qua những lần lâm phàm lặp đi lặp lại, nó mới phát triển thành tự ý thức chân thực. |
|
Many people are convinced that they are self-conscious when they are only swayed by desire and are oriented towards the satisfaction of desire, or when they recognise themselves as the dramatic centre of their universe. Yet, the only truly self-conscious person is the man who is aware of purpose, of self-directed life and of a developed and definite life plan and programme . . . (But there is in him) also a consciousness of the active agent of the plan and action. |
Nhiều người tin chắc rằng họ có tự ý thức, trong khi họ chỉ bị dục vọng chi phối và được định hướng về sự thỏa mãn dục vọng, hoặc khi họ nhận ra mình như trung tâm kịch tính của vũ trụ của họ. Tuy vậy, người duy nhất thật sự có tự ý thức là người nam nhận biết được mục đích, đời sống tự định hướng, và một kế hoạch cùng chương trình sống đã phát triển và rõ ràng… (Nhưng trong y) cũng có một tâm thức về tác nhân chủ động của kế hoạch và hành động. |
|
This corresponds to the stage of complete personality integration, or personal psychosynthesis. It is a dangerous stage, because the personality can easily become separative and self-assertive. Yet it is a necessary one, because only when the centre of self-consciousness is firmly established, can it persist throughout the successive expansion of consciousness attained through the various initiations. |
Điều này tương ứng với giai đoạn tích hợp phàm ngã hoàn toàn, hay tâm tổng hợp cá nhân. Đây là một giai đoạn nguy hiểm, vì phàm ngã có thể dễ dàng trở nên phân cách và tự khẳng định. Tuy vậy, đó là một giai đoạn cần thiết, vì chỉ khi trung tâm tự ý thức được thiết lập vững chắc, nó mới có thể tồn tại xuyên suốt sự mở rộng tâm thức liên tiếp đạt được qua các lần điểm đạo khác nhau. |
|
Let us remember that the goal of spiritual evolution is not the complete dissolution of selfless-consciousness, as some mystical expressions may appear to indicate. The spark of self-identity, this precious and hard worn gift of human evolution, eternally remains, even in the most exulted cosmic entities, but it can and does co-exist with a growing sense of inclusiveness, universality and identification. This is a paradox and a mystery which can be revealed only by direct spiritual realisation. |
Chúng ta hãy nhớ rằng mục tiêu của tiến hoá tinh thần không phải là sự tan rã hoàn toàn của tự ý thức, như một số cách diễn đạt thần bí có vẻ ngụ ý. Tia lửa của tự đồng nhất, món quà quý giá và khó nhọc của tiến hoá nhân loại này, vĩnh viễn còn lại, ngay cả trong những thực thể vũ trụ cao cả nhất, nhưng nó có thể và thực sự đồng tồn tại với một ý thức bao gồm, phổ quát và đồng hoá với ngày càng tăng. Đây là một nghịch lý và một huyền nhiệm chỉ có thể được vén lộ bởi (sự)chứng nghiệm tinh thần trực tiếp. |
|
The Will-to-Illumine |
Ý Chí-hướng Soi Sáng |
|
This constitutes the driving urge towards self-knowledge, self-perception and intellectual positivity, that drives all Leo people to experiment in order to gain knowledge. |
Điều này cấu thành xung lực thúc đẩy hướng đến tự tri, tự nhận thức và tính khẳng định trí tuệ, vốn thúc đẩy tất cả những người Sư Tử thử nghiệm để đạt được tri thức. |
|
The Will-to-Rule and to Dominate |
Ý Chí-cai quản và thống trị |
|
This leads the Leo person to achieve both self-mastery and the control of his own personality and to control other people and groups by his personality (for either a good motive or a selfish one). It is typically the state of dictators. |
Điều này dẫn người Sư Tử đạt được cả tự chủ lẫn sự kiểm soát phàm ngã của chính mình, và kiểm soát những người khác cùng các nhóm bằng phàm ngã của mình (vì một động cơ tốt hoặc một động cơ ích kỷ). Đây là trạng thái điển hình của các nhà độc tài. |
|
Sensitivity |
Tính nhạy cảm |
|
The whole story and function of Leo and its influences can be summed up in the word ‘sensitivity’. Its four stages are: |
Toàn bộ câu chuyện và chức năng của Sư Tử cùng các ảnh hưởng của nó có thể được tóm lược trong từ “tính nhạy cảm”. Bốn giai đoạn của nó là: |
|
• Sensitivity to conditioning impacts from the environment . . . the world of human evolution. |
• Tính nhạy cảm đối với các tác động điều kiện hóa từ môi trường… thế giới tiến hoá nhân loại. |
|
• Sensitivity to the will, wishes and desires of the personality, the integrated self-conscious man, the lower self. |
• Tính nhạy cảm đối với ý chí, ước muốn và dục vọng của phàm ngã, người tự ý thức đã tích hợp, phàm ngã. |
|
• Sensitivity to the soul as the conditioning factor. |
• Tính nhạy cảm đối với linh hồn như yếu tố điều kiện hóa. |
|
• The spiritual sensitivity of the God-man (the soul and personality fused) . . . to the higher impacts of those soul worlds which lead to the final goal. |
• Tính nhạy cảm tinh thần của người-Thượng đế (linh hồn và phàm ngã dung hợp)… đối với các tác động cao hơn từ những thế giới linh hồn vốn dẫn đến mục tiêu tối hậu. |
Leo Attributes—Các Thuộc Tính của Sư Tử
|
Element: Fire |
Nguyên tố: Lửa |
|
This sign is a Fire sign, and it is the pre-eminent Fire of this time. The Sons of Mind, the self-conscious sons of God, are, above everything else, the sons of Fire, for our ‘God is an all consuming Fire’. . .There is in them the peculiar quality which can burn and destroy and so eradicate all that hinders their essentially divine expression. |
Dấu hiệu này là một dấu hiệu hành hỏa, và là Lửa nổi trội của thời kỳ này. Các Con của Trí Tuệ, những người con tự ý thức của Thượng đế, trên hết mọi điều, là những người con của Lửa, vì “Thượng đế của chúng ta là một Lửa thiêu đốt mọi sự”… Trong họ có phẩm tính đặc thù có thể đốt cháy và hủy diệt, và do đó nhổ tận gốc mọi điều cản trở sự biểu lộ thiêng liêng vốn là bản chất của họ. |
|
There are two elements and their corresponding six signs which have a purificatory function . . . Water and Fire. Fire carries forward esoterically that which water has begun: |
Có hai nguyên tố và sáu dấu hiệu tương ứng của chúng có chức năng thanh lọc… Nước và Lửa. Lửa, theo nội môn, tiếp tục điều mà nước đã khởi sự: |
|
“From Aries comes cosmic fire, from Sagittarius comes planetary fire, and from Leo comes solar fire; and each of these fires ‘clears the way by burning’ for the expression of the three divine aspects . . . spirit (Aries), soul (Leo) and body (Sagittarius). Such is the scientific basis for the yoga of fire, applied by a fully self-conscious man. |
“Từ Bạch Dương đến lửa vũ trụ, từ Nhân Mã đến lửa hành tinh, và từ Sư Tử đến lửa thái dương; và mỗi một trong các ngọn lửa này ‘dọn đường bằng cách thiêu đốt’ cho sự biểu lộ của ba phương diện thiêng liêng… tinh thần (Bạch Dương), linh hồn (Sư Tử) và thể xác (Nhân Mã). Đó là nền tảng khoa học cho yoga lửa, được áp dụng bởi một người hoàn toàn tự ý thức. |
|
Such is the significance of the fact that . . . before the door of initiation lies the burning ground which all disciples and initiates must tread. The Leo subject treads this burning ground with will and self-effacement.” |
Đó là thâm nghĩa của sự kiện rằng… trước cánh cửa điểm đạo là vùng đất cháy mà mọi đệ tử và điểm đạo đồ phải bước qua. Người Sư Tử bước qua vùng đất cháy này với ý chí và sự tự xóa mình.” |
|
Cross: Fixed |
Thập giá: Cố Định |
|
“It is the Cross of Discipleship and of transmutation on which desire becomes aspiration and selfishness is transformed into selflessness. The Fixed Cross is the Cross of Light. And, playing through this Cross all the time and emanating from Leo are ‘the Fires of God’. . . cosmic, solar and planetary . . . producing purification, the intensification of the light and eventual revelation to the purified man who stands in the light.” |
“Đó là Thập Giá của địa vị đệ tử và của sự chuyển hoá, nơi dục vọng trở thành chí nguyện và tính ích kỷ được chuyển đổi thành vô ngã. Thập Giá Cố Định là Thập Giá của Ánh sáng. Và, luôn luôn vận hành xuyên qua Thập Giá này và phát xuất từ Sư Tử là ‘các Ngọn Lửa của Thượng đế’… vũ trụ, thái dương và hành tinh… tạo ra sự thanh lọc, sự tăng cường ánh sáng và sự mặc khải rốt cuộc cho người đã được thanh lọc, người đứng trong ánh sáng.” |
|
Leo – Aquarius Polarity |
Cực tính Sư Tử – Bảo Bình |
|
As we are at present passing into the Aquarian Age, the interplay of energies between these two signs is far more potent than in any previous time. It gives a clear illustration of the conflict going on at first between the energies of the two opposite signs; of the various results of their blended influence; of their eventual synthesis. |
Vì hiện nay chúng ta đang bước vào Kỷ Nguyên Bảo Bình, sự tương tác năng lượng giữa hai dấu hiệu này mạnh mẽ hơn rất nhiều so với bất kỳ thời kỳ nào trước đây. Nó minh họa rõ ràng cuộc xung đột ban đầu đang diễn ra giữa các năng lượng của hai dấu hiệu đối nghịch; các kết quả khác nhau của ảnh hưởng pha trộn của chúng; và sự tổng hợp rốt cuộc của chúng. |
|
Thus we have witnessed in the last few decades, the appearance in various countries of dictators displaying the personal characteristics of Leo, but who brought about a certain measure of fusion and synthesis in their respective nations which are Aquarian in nature, although generally in its lowest and most material aspects. Some examples are as follows: |
Vì vậy, trong vài thập kỷ gần đây, chúng ta đã chứng kiến, ở nhiều quốc gia, sự xuất hiện của các nhà độc tài biểu lộ các đặc tính cá nhân của Sư Tử, nhưng họ đã tạo ra một mức độ dung hợp và tổng hợp nhất định trong các quốc gia của họ—vốn có bản chất Bảo Bình—mặc dù nhìn chung là ở các phương diện thấp nhất và vật chất nhất. Một vài ví dụ như sau: |
|
Mussolini and Kamil Ataturk had the Sun in Leo. We find the Leo influence outstanding in many other rulers of the past and men who had prominent directive positions; for instance, Lorenzo de Medici, ruler of Florence, called the Magnificent (a typical Leo appellative!) who had the Sun in conjunction with the ascendant and Venus in conjunction with Saturn, all in Leo; Napoleon, the Emperor Franz Joseph of Austria (Sun conjunction with Saturn and the Moon in Leo); Emperor Wilhelm I; Bismarck; President Poincare; President Hoover; H.P. Blavatsky; Col. Olcott; Alan Leo and Henry Ford. |
Mussolini và Kamil Ataturk có Mặt Trời trong Sư Tử. Chúng ta thấy ảnh hưởng Sư Tử nổi bật ở nhiều nhà cai trị khác trong quá khứ và những người nắm các vị trí chỉ đạo nổi trội; chẳng hạn, Lorenzo de Medici, người cai trị Florence, được gọi là Đấng Vĩ Đại (một danh xưng Sư Tử điển hình!) có Mặt Trời đồng vị với Dấu hiệu mọc và Sao Kim đồng vị với Sao Thổ, tất cả đều ở Sư Tử; Napoleon; Hoàng đế Franz Joseph của Áo (Mặt Trời đồng vị với Sao Thổ và Mặt trăng ở Sư Tử); Hoàng đế Wilhelm I; Bismarck; Tổng thống Poincare; Tổng thống Hoover; Bà H.P. Blavatsky; Ông Đại tá Olcott; Alan Leo và Henry Ford. |
|
The different effects of the interplay between the influences of these signs are clearly indicated in the tabulation on the various pairs of opposite signs given in Alice Bailey’s Esoteric Astrology pages 337 to 339: |
Những tác động khác nhau của sự tương tác giữa các ảnh hưởng của các dấu hiệu này được chỉ ra rõ ràng trong bảng liệt kê về các cặp dấu hiệu đối nghịch được nêu trong Chiêm Tinh Học Nội Môn của Bà Alice Bailey, trang 337 đến 339: |
|
“For Ordinary Humanity (Leo-Aquarius): The individual seeks full expression and arrives finally at the point where he uses his environment for purely individual ends. He dominates his fellow men for entirely personality objectives. The isolated individual becomes the group ruler or dictator. |
“Đối với Nhân Loại Thông Thường (Sư Tử–Bảo Bình): cá nhân tìm kiếm sự biểu lộ đầy đủ và rốt cuộc đi đến điểm mà y sử dụng môi trường của mình cho các mục đích thuần cá nhân. Y thống trị đồng loại vì các mục tiêu hoàn toàn của phàm ngã. Cá nhân cô lập trở thành người cai trị nhóm hay nhà độc tài. |
|
For Disciples and Initiates (Aquarius-Leo): Personality interests as an expression of the individual are submerged in the good of the whole. Selfish individual man becomes the world-server. Heights of noted service are then reached in both signs. |
Đối với các Đệ Tử và các Điểm Đạo Đồ (Bảo Bình–Sư Tử): các lợi ích phàm ngã như một sự biểu lộ của cá nhân bị dìm xuống trong lợi ích của toàn thể. Người cá nhân ích kỷ trở thành Người Phụng Sự Thế Gian. Khi ấy, những đỉnh cao phụng sự đáng ghi nhận được đạt tới trong cả hai dấu hiệu. |
|
Thus: The Leo subject who has an initiated consciousness, preserves the individuality developed in Leo, as well as the universality of Aquarius; he can function, if he so chooses, as a full-self-identified individual, yet possesses simultaneously a fully awakened universal awareness.” |
Vì vậy: người Sư Tử có tâm thức đã được điểm đạo bảo tồn tính cá biệt đã phát triển trong Sư Tử, cũng như tính phổ quát của Bảo Bình; y có thể hoạt động, nếu y chọn, như một cá nhân hoàn toàn tự đồng nhất, nhưng đồng thời sở hữu một nhận biết phổ quát hoàn toàn thức tỉnh.” |
|
The forces related to Leo and Aquarius are focused in one potent stream through an undiscovered planet beyond Neptune. These forces pour into our planetary life during the month of August and distribute themselves via Uranus and Neptune. This line of directed forces is of major importance to humanity. |
Các mãnh lực liên hệ đến Sư Tử và Bảo Bình được hội tụ thành một dòng mạnh mẽ qua một hành tinh chưa được khám phá nằm ngoài Sao Hải Vương. Các mãnh lực này tuôn vào đời sống hành tinh của chúng ta trong tháng Tám và phân phối chúng qua Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương. Tuyến mãnh lực được chỉ đạo này có tầm quan trọng lớn đối với nhân loại. |
Cosmic Relationships—Các Liên Hệ Vũ Trụ
|
1. With Polaris, the Pole Star |
1. Với Polaris, Sao Bắc Cực |
|
Leo is also peculiarly susceptible to the influence of that pointer in the Great Bear (one of the two rear wheels of the Great Cart, as this constellation is also called) which is nearest to the Pole Star. |
Sư Tử cũng đặc biệt dễ tiếp nhận ảnh hưởng của ngôi sao chỉ hướng trong Đại Hùng (một trong hai bánh xe sau của Đại Xa, như chòm sao này cũng được gọi) vốn gần Sao Bắc Cực nhất. |
|
2. With Sirius |
2. Với Sirius |
|
We all know that August is the month of the Dog-Star, or Sirius, which extra-systemically rules Leo. Sirius has a special connection with our planet and particularly with the spiritual Hierarchy, and this connection is becoming particularly effectual. As astronomers discovered not so long ago, Sirius is a double star. This is symbolical of the double nature and function of Sirius. Sirius forms, with the Great Bear and the Pleiades, a fundamental cosmic triangle, in which it represents the Second Aspect, Love Wisdom. Its gifts are consciousness and sensitivity and it affects the planetary Heart Centre, the Hierarchy, and through it the Heart Centre and Solar Plexus Centre of disciples. |
Tất cả chúng ta đều biết rằng tháng Tám là tháng của Sao Thiên Lang, hay Sirius, vốn theo ngoại hệ cai quản Sư Tử. Sirius có một mối liên hệ đặc biệt với hành tinh của chúng ta và đặc biệt với Thánh Đoàn tinh thần, và mối liên hệ này đang trở nên đặc biệt hữu hiệu. Như các nhà thiên văn học đã phát hiện không lâu trước đây, Sirius là một sao đôi. Điều này tượng trưng cho bản chất và chức năng kép của Sirius. Sirius, cùng với Đại Hùng và Thất Nữ, tạo thành một tam giác vũ trụ nền tảng, trong đó nó biểu trưng cho Phương diện thứ hai, Bác Ái – Minh Triết. Các tặng phẩm của nó là tâm thức và tính nhạy cảm, và nó tác động đến Trung tâm Tim hành tinh, Thánh Đoàn, và qua đó tác động đến Trung tâm Tim và trung tâm tùng thái dương của các đệ tử. |
|
In the Old Commentary, Sirius is called “a bright sun where shines the light of love” and which also radiates the light of wisdom. But Sirius has also a potent manasic nature and influence. Cosmically it is the source (or one of the sources) of higher manas, particularly in relation to our Solar Logos. |
Trong Cổ Luận, Sirius được gọi là “một mặt trời rực rỡ nơi ánh sáng bác ái chiếu soi”, và cũng phát xạ ánh sáng minh triết. Nhưng Sirius cũng có một bản chất và ảnh hưởng manas mạnh mẽ. Ở bình diện vũ trụ, nó là nguồn (hoặc một trong các nguồn) của manas cao, đặc biệt trong liên hệ với Thái dương Thượng đế của chúng ta. |
|
“The Sun Sirius is the source of logoic manas in the same sense as the Pleiades are connected with the evolution of manas in the seven Heavenly Men, and Venus was responsible for the coming of mind in the Earth Chain.” |
“Mặt Trời Sirius là nguồn của manas logoic theo cùng một ý nghĩa như Thất Nữ có liên hệ với sự tiến hoá của manas trong bảy Đấng Thiên Nhân, và Sao Kim chịu trách nhiệm cho sự xuất hiện của trí tuệ trong Dãy Địa Cầu.” |
|
This manasic aspect of Sirius links this great sun in a special way with the Pleiades: |
Phương diện manas này của Sirius liên kết mặt trời vĩ đại này theo một cách đặc biệt với Thất Nữ: |
|
“. . .in a peculiar and esoteric sense, the Sun Sirius and the Pleiades hold a close relation to each other. It is a relation analogous to that which lower mind holds to higher mind. The lower is receptive to, or negatively polarised to the higher. Sirius is the seat of higher mind and mahat (as it is called, or universal mind) sweeps into manifestation in our solar system through the channel of the Pleiades. It is almost as if a great triangle of energy, mahatic energy was thus formed.” |
“… theo một ý nghĩa đặc thù và nội môn, Mặt Trời Sirius và Thất Nữ có một mối liên hệ mật thiết với nhau. Đó là một mối liên hệ tương tự như mối liên hệ mà hạ trí giữ đối với thượng trí. Cái thấp tiếp nhận cái cao, hay phân cực âm đối với cái cao. Sirius là trụ sở của thượng trí và mahat (như nó được gọi, hay Vũ Trụ Trí) tràn vào biểu hiện trong hệ mặt trời của chúng ta qua kênh Thất Nữ. Gần như thể một tam giác năng lượng vĩ đại—năng lượng mahatic—đã được hình thành như vậy.” |
|
The unique connection between Sirius and the human kingdom is demonstrated by the Fourth Cosmic Path, which is the path to Sirius. |
Mối liên hệ độc đáo giữa Sirius và giới nhân loại được chứng minh bởi Con Đường Vũ Trụ Thứ Tư, vốn là con đường đến Sirius. |
|
At the sixth initiation, called the initiation of decision, the Master must choose which of the seven cosmic paths, which open before him, he wills to tread. While this choice is free, within certain limits, there is a strong urge towards the Fourth Cosmic Path. This path corresponds to the human antakarana, which links higher mind with lower mind. |
Ở lần điểm đạo thứ sáu, được gọi là điểm đạo của quyết định, Chân sư phải chọn Ngài muốn bước theo con đường vũ trụ nào trong bảy con đường vũ trụ mở ra trước Ngài. Dù sự chọn lựa này là tự do trong một số giới hạn nhất định, vẫn có một xung lực mạnh hướng về Con Đường Vũ Trụ Thứ Tư. Con đường này tương ứng với antahkarana của con người, vốn liên kết thượng trí với hạ trí. |
|
There is, in connection with our Planetary Logos just such an antakarana, and as He builds and constructs it, it forms part of the Fourth Path, and permits the passage of the bulk of our humanity to this distant objective. The reason also why the majority of the sons of men follow this path lies in the fact of its numerical position. These units of the Fourth Kingdom, the bulk of the Fourth Creative Hierarchy on this fourth globe of the fourth scheme in our solar system of the fourth order are innately compelled to seek this fourth way in order to perfect themselves. |
Liên hệ với Hành Tinh Thượng đế của chúng ta cũng có một antahkarana như thế, và khi Ngài xây dựng và kiến tạo nó, nó tạo thành một phần của Con Đường Thứ Tư, và cho phép phần lớn nhân loại của chúng ta đi qua đến mục tiêu xa xôi này. Lý do vì sao đa số những người con của nhân loại đi theo con đường này cũng nằm ở sự kiện về vị trí số học của nó. Những đơn vị của giới thứ tư—phần lớn của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư—trên bầu hành tinh thứ tư của hệ hành tinh thứ tư trong hệ mặt trời của chúng ta thuộc trật tự thứ tư, bẩm sinh bị thúc đẩy tìm kiếm con đường thứ tư này để hoàn thiện chính mình. |
Tasks and Achievements—Các Nhiệm Vụ và Thành Tựu
|
The tasks and achievements with which Leo confronts humanity, and for which it gives the necessary energies, can be considered to be mainly three in number, closely connected with, and sequential to, each other: |
Các nhiệm vụ và thành tựu mà Sư Tử đặt trước nhân loại, và vì đó nó ban các năng lượng cần thiết, có thể được xem là chủ yếu gồm ba điều, gắn bó chặt chẽ với nhau và nối tiếp nhau: |
|
1. From collective to individual consciousness. |
1. Từ tâm thức tập thể đến tâm thức cá nhân. |
|
2. From the ‘I’ to the Self. |
2. Từ “tôi” đến Bản Ngã. |
|
3. From the individual to the group. |
3. Từ cá nhân đến nhóm. |
|
Let us briefly consider these three: |
Chúng ta hãy xét ngắn gọn ba điều này: |
|
From Collective to Individual Consciousness |
Từ Tâm Thức Tập Thể đến Tâm Thức Cá Nhân |
|
One of the most important and significant steps forward in the evolutionary development of humanity is the present growing realisation of the extent to which man is dominated by collective influences; of the necessity to release himself from them and of the means to achieve this release. This revelation, due in great part to modern psychology in its best aspects, is at first disturbing and crisis-producing, but it is an inevitable experience and it proves eventually to be a real means of salvation. |
Một trong những bước tiến quan trọng và đầy thâm nghĩa nhất trong sự phát triển tiến hoá của nhân loại là sự chứng nghiệm ngày càng tăng hiện nay về mức độ mà con người bị các ảnh hưởng tập thể thống trị; về sự cần thiết phải giải phóng mình khỏi chúng; và về các phương tiện để đạt được sự giải phóng này. Sự vén lộ này, phần lớn nhờ tâm lý học hiện đại trong các phương diện tốt nhất của nó, lúc đầu gây xáo trộn và tạo khủng hoảng, nhưng đó là một kinh nghiệm không thể tránh, và rốt cuộc chứng tỏ là một phương tiện cứu rỗi thực sự. |
|
In order to achieve true self-consciousness the individual has to discriminate definitely between various elements or constituents of his personality (both conscious and unconscious) and the centre of consciousness, the ‘I’, the spectator, who observes both the ever-flowing ‘mind-stream’ within and the ever-changing panorama of the outer life. It is important to realise that this self-conscious observer is not necessarily ‘spiritual’, on the contrary it is generally at first purely mental. As previously mentioned, this stage is a necessary one, both for the personal integration or psychosynthesis of the individual and as a basis for his further stages of spiritual development. |
Để đạt được tự ý thức chân thực, cá nhân phải phân biện dứt khoát giữa các yếu tố hay thành phần khác nhau của phàm ngã của y (cả hữu thức lẫn vô thức) và trung tâm tâm thức, “tôi”, người quan sát, vốn quan sát cả “dòng thể trí” luôn trôi chảy bên trong lẫn toàn cảnh luôn đổi thay của đời sống bên ngoài. Điều quan trọng là chứng nghiệm rằng người quan sát có tự ý thức này không nhất thiết là “tinh thần”; trái lại, nhìn chung lúc đầu nó thuần túy là trí tuệ. Như đã đề cập trước đó, giai đoạn này là cần thiết, vừa cho sự tích hợp cá nhân hay tâm tổng hợp của cá nhân, vừa như một nền tảng cho các giai đoạn phát triển tinh thần tiếp theo của y. |
|
However, this separation of the ‘I’ from its ‘normal’ attachments to and dependence on collective life in its various manifestations (family, clan, nation, church, etc.) has two different effects, which are both extremely critical and often devastating. For the majority of individuals who have not previously produced a strong personality it produces a sense of inner solitude and insecurity, which creates a state of anxiety, and anguish, even desperation. It is this ‘existentialistic’ state of consciousness which is so widespread at the present. |
Tuy nhiên, sự tách rời “tôi” khỏi các gắn kết “bình thường” của nó với đời sống tập thể và sự lệ thuộc vào đời sống tập thể trong các biểu hiện khác nhau (gia đình, thị tộc, quốc gia, giáo hội, v.v.) có hai tác động khác nhau, cả hai đều cực kỳ then chốt và thường tàn phá. Đối với đa số cá nhân trước đó chưa tạo dựng một phàm ngã mạnh, nó tạo ra một cảm giác cô độc nội tâm và bất an, vốn tạo ra một trạng thái lo âu và thống khổ, thậm chí tuyệt vọng. Chính trạng thái tâm thức “hiện sinh” này đang lan rộng đến thế trong hiện tại. |
|
In the individual who has reached a certain degree of self-reliance and in whom the positive First and Third Rays pre-dominate, this realisation produces an ‘inflation of the personal ego.’ The self-conscious and self-centred individual develops pride, ambition, the will to achieve success, to rule or exploit his fellow men; he becomes the ‘dictator’, either in the family, in an organisation or in a nation. He adopts the first motto of Leo: ‘I rule because I am.’ |
Trong cá nhân đã đạt đến một mức độ tự lực nhất định và trong người mà Cung một và Cung ba tích cực chiếm ưu thế, sự chứng nghiệm này tạo ra một “sự phồng lên của phàm ngã cá nhân”. Cá nhân có tự ý thức và tự quy tâm phát triển kiêu hãnh, tham vọng, ý chí đạt thành công, cai quản hay khai thác đồng loại; y trở thành “nhà độc tài”, hoặc trong gia đình, trong một tổ chức, hoặc trong một quốc gia. Y chấp nhận khẩu hiệu thứ nhất của Sư Tử: “Tôi cai quản vì tôi là.” |
|
From the ‘I’ to the Self |
Từ “tôi” đến Bản Ngã |
|
The preceding state of consciousness can last for a certain period, but it cannot be permanent. Those who experience the inner solitude and the resulting anxiety, generally try various kinds of ‘evasion’, but these can give only a partial and temporary relief. These individuals sooner or later are bound to recognise that the ‘only way out is the way up.’ |
Trạng thái tâm thức vừa nêu có thể kéo dài trong một thời gian nhất định, nhưng không thể thường hằng. Những người trải nghiệm sự cô độc nội tâm và nỗi lo âu phát sinh từ đó thường thử nhiều kiểu “lẩn tránh” khác nhau, nhưng những điều này chỉ có thể đem lại sự nhẹ nhõm một phần và tạm thời. Sớm hay muộn, những cá nhân này buộc phải nhận ra rằng “lối thoát duy nhất là con đường đi lên.” |
|
On the other hand, the self-assertive personality in Leo learns the lessons and uses of selfishness (for this is one of the best ways to learn and to discover that it is contrary to the laws of the soul) and is eventually so concerned by the life processes that he becomes aware of the futility of self-interest. |
Mặt khác, phàm ngã tự khẳng định trong Sư Tử học các bài học và cách sử dụng tính ích kỷ (vì đây là một trong những cách tốt nhất để học và để khám phá rằng nó trái với các định luật của linh hồn), và rốt cuộc y bị các tiến trình của đời sống làm cho bận tâm đến mức y nhận biết được tính vô ích của tư lợi. |
|
Thus in one way or another, the individual arrives at a point of crisis, the crisis of re-orientation or ‘conversion’. The prodigal son turns and retraces his steps towards his Father’s house. He has a glimpse of the soul, of the radiant Solar Angel, recognises it as his true Self, and decides to become, to realise, that Self. |
Vì vậy, bằng cách này hay cách khác, cá nhân đi đến một điểm khủng hoảng—khủng hoảng tái định hướng hay “hoán cải”. Đứa con hoang đàng quay lại và lần theo bước chân mình về nhà Cha. Y thoáng thấy linh hồn, Thái dương Thiên Thần rực rỡ, nhận ra đó là Bản Ngã chân thực của mình, và quyết định trở thành, chứng nghiệm, Bản Ngã ấy. |
|
But the personality, when it is strong, does not yield easily; on the contrary, it resists and rebels, and thus a bitter fight ensues, which has various alternations and vicissitudes. The strong Leo individual, once he is spiritually awakened, becomes aware of his motivating impulses, and this leads him to an imposed self-discipline . . . that which the Leo subject sorely needs and which always must be self-imposed and self-applied for he brooks no disciplinary measures which others may seek to impose. |
Nhưng phàm ngã, khi mạnh, không dễ nhượng bộ; trái lại, nó kháng cự và nổi loạn, và vì vậy một cuộc chiến cay đắng diễn ra, với nhiều đợt thay đổi và thăng trầm khác nhau. Cá nhân Sư Tử mạnh mẽ, một khi đã được đánh thức về tinh thần, trở nên nhận biết các xung lực thúc đẩy của mình, và điều này dẫn y đến một kỷ luật tự thân được áp đặt… điều mà người Sư Tử vô cùng cần và điều luôn phải do chính y tự áp đặt và tự thực hành, vì y không chịu bất kỳ biện pháp kỷ luật nào mà người khác có thể tìm cách áp đặt. |
|
It is well to observe that, while this applies particularly to the Leo subject, it is true for all, on whatever sign, who are passing through this ‘Leo’ stage of development. The best system of discipline and the best methods through which to achieve realisation of the Self are those offered by Raja-Yoga. Although ancient, this yoga, which emphasises mental control and spiritual realisation through self-exertion and individual effort, is particularly suited to modern man. It constitutes also the necessary preparation for the Agni-Yoga, the ‘Yoga of Fire’, which will be used increasingly by advanced aspirants and disciples in the New Era. |
Thật tốt khi quan sát rằng, dù điều này áp dụng đặc biệt cho người Sư Tử, nó đúng cho tất cả mọi người—dù thuộc dấu hiệu nào—đang đi qua giai đoạn phát triển “Sư Tử” này. Hệ thống kỷ luật tốt nhất và các phương pháp tốt nhất để đạt (sự)chứng nghiệm Bản Ngã là những điều được Raja-Yoga cống hiến. Dù cổ xưa, yoga này—nhấn mạnh sự kiểm soát trí tuệ và (sự)chứng nghiệm tinh thần qua nỗ lực tự thân và cố gắng cá nhân—đặc biệt thích hợp với con người hiện đại. Nó cũng cấu thành sự chuẩn bị cần thiết cho Agni-Yoga, “Yoga của Lửa”, vốn sẽ ngày càng được các người chí nguyện và đệ tử tiến bộ sử dụng trong Kỷ Nguyên Mới. |
|
As the personality becomes controlled and then increasingly infused with soul, it acquires and demonstrates certain soul qualities that are characteristic of Leo, such as spiritual dignity, inner nobility, generosity, and joy, the latter being a specific solar quality. It also takes “the affirmative position which the blended soul and personality always necessarily assumes.” |
Khi phàm ngã được kiểm soát và rồi ngày càng được linh hồn thấm nhuần, nó đạt được và biểu lộ một số phẩm tính linh hồn đặc trưng của Sư Tử, như phẩm giá tinh thần, sự cao quý nội tâm, lòng quảng đại, và niềm vui—điều sau là một phẩm tính thái dương đặc thù. Nó cũng đảm nhận “lập trường khẳng định mà linh hồn và phàm ngã pha trộn luôn luôn tất yếu đảm nhận.” |
|
The realisation of identity between the personal ‘I’ and the Self is proclaimed in the higher motto of Leo: ‘I am That and That am I.’ Thus, man achieves his true spiritual psychosynthesis, becomes a member of the Fifth Kingdom, “ . . . a beauty and a power, an active liberating force, a wisdom and a love . . . a Son of God.” |
Sự chứng nghiệm về đồng nhất tính giữa “tôi” cá nhân và Bản Ngã được tuyên bố trong khẩu hiệu cao hơn của Sư Tử: “Tôi là Cái Đó và Cái Đó là tôi.” Vì vậy, con người đạt được tâm tổng hợp tinh thần chân thực của mình, trở thành một thành viên của giới thứ năm, “… một vẻ đẹp và một quyền năng, một mãnh lực giải phóng chủ động, một minh triết và một bác ái… một Con của Thượng đế.” |
|
From the Individual to the Group |
Từ Cá Nhân đến Nhóm |
|
Group consciousness is attained at the same time and parallel to the realisation of the Self, because the soul, is by its very nature, group conscious. This achievement is a goal for all men, under whatever sign they may be, but for the Leo subjects it is a specific problem and it has special tasks. In one sense it is more difficult for them due to their strong individual self-consciousness; but they have a special opportunity offered. It is that of availing themselves of the interplay of energies going on between Leo and Aquarius. The same opportunity exists for all of us during the astrological month of Leo when it is possible through the Hierarchy of Masters to make contact with Sirian force at the time of the full moon. |
Tâm thức nhóm được đạt tới đồng thời và song song với (sự)chứng nghiệm Bản Ngã, vì linh hồn, do chính bản chất của nó, có tâm thức nhóm. Thành tựu này là một mục tiêu cho mọi người—dù thuộc dấu hiệu nào—nhưng đối với người Sư Tử, đó là một vấn đề đặc thù và có các nhiệm vụ đặc biệt. Theo một nghĩa, điều này khó hơn đối với họ do tự ý thức cá nhân mạnh mẽ; nhưng họ có một cơ hội đặc biệt được trao. Đó là cơ hội tận dụng sự tương tác năng lượng đang diễn ra giữa Sư Tử và Bảo Bình. Cùng cơ hội ấy tồn tại cho tất cả chúng ta trong tháng chiêm tinh của Sư Tử, khi có thể, qua Thánh Đoàn các Chân sư, tiếp xúc với mãnh lực Sirian vào thời điểm trăng tròn. |
|
The Great Invocation |
Đại Khấn Nguyện |
|
From the point of Light within the Mind of God |
Từ điểm Ánh sáng trong Trí Thượng Đế |
|
Let light stream forth into the minds of men. |
Cầu xin Ánh sáng tràn vào Trí Con người |
|
Let Light descend on Earth. |
Cầu xin Ánh sáng giáng xuống trần gian |
|
From the point of Love within the Heart of God |
Từ điểm Tình thương trong Tâm Thượng đế |
|
Let love stream forth into the hearts of men. |
Cầu xin Tình thương tràn vào Tâm Con người |
|
May Christ return to Earth. |
Cầu xin Đức Christ trở lại trần gian |
|
From the centre where the Will of God is known |
Từ Trung tâm biết được Ý chí của Thượng đế |
|
Let purpose guide the little wills of men — |
Cầu xin Thiên Ý dẫn dắt ý chí nhỏ bé của Con người |
|
The purpose which the Masters know and serve. |
Thiên Ý mà các Chân sư đều biết và phụng sự |
|
From the centre which we call the race of men |
Từ trung tâm mà chúng ta gọi là Loài người |
|
Let the Plan of Love and Light work out. |
Cầu xin Thiên Cơ, Tình thương và Ánh sáng được thực thi |
|
And may it seal the door where evil dwells. |
Cầu xin Thiên cơ đóng kín cửa vào nẻo ác |
|
Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth. |
Cầu xin Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng phục hồi Thiên cơ trên Trần gian |