Ảo Cảm Một Vấn đề Thế Giới – Phần III – IV

📘 Sách: Ảo cảm, Một Vấn đề Thế Giới – Tác giả: Alice Bailey

SECTION THREE: THE ENDING OF GLAMOUR— SỰ KẾT THÚC CỦA ẢO CẢM

[Webinar 157]

[161]

[161]

We come now to the consideration of the third section relating to world glamour. It is difficult to write clearly about this matter because we are in the midst of its most concentrated expression—the worst the world has ever seen because glamour, incident to centuries of greed and selfishness, of aggression and materialism, has been focussed in a triplicity of nations. It is, therefore, easily to be seen and most effective in manifestation. Three nations express the three aspects of world glamour (illusion, glamour and maya) in an amazing manner, and their powerful assault upon the consciousness of humanity is dependent not only upon the response of Germany, Japan and Italy to this ancient miasma but also upon the fact that every nation—United Nations as well as Totalitarian Nations—are tainted with this universal condition. The freedom of the world is consequently largely dependent upon those people in every nation who (within themselves) have moved forward out of one or other of these “glamorous illusions and mayavic impressions” of the human soul into a state of awareness wherein they can see the conflict in its wider terms, i.e., as that existing for them between the Dweller on the Threshold and the Angel of the PRESENCE.

Giờ đây chúng ta đi vào việc xem xét phần thứ ba liên quan đến ảo cảm thế giới. Thật khó viết rõ ràng về vấn đề này, vì chúng ta đang ở giữa biểu hiện tập trung nhất của nó—tồi tệ nhất mà thế giới từng chứng kiến, bởi ảo cảm, phát sinh từ nhiều thế kỷ tham lam và ích kỷ, xâm lược và duy vật, đã được tập trung trong một bộ ba quốc gia. Vì vậy, nó dễ dàng được nhận thấy và hết sức hữu hiệu trong sự biểu hiện. Ba quốc gia biểu lộ ba phương diện của ảo cảm thế giới, tức ảo tưởng, ảo cảm và ảo lực, theo một cách đáng kinh ngạc; và cuộc tấn công mãnh liệt của họ vào tâm thức nhân loại không chỉ tùy thuộc vào sự đáp ứng của Đức, Nhật và Ý đối với thứ khí độc cổ xưa này, mà còn tùy thuộc vào sự kiện rằng mọi quốc gia—các quốc gia Liên Hiệp cũng như các quốc gia Toàn Trị—đều bị nhuốm bởi tình trạng phổ quát này. Do đó, tự do của thế giới phần lớn tùy thuộc vào những người trong mọi quốc gia, những người mà trong chính họ đã tiến ra khỏi một trong các “ảo tưởng đầy ảo cảm và các ấn tượng ảo lực” này của linh hồn nhân loại, để đi vào một trạng thái tỉnh thức trong đó họ có thể thấy cuộc xung đột theo những điều kiện rộng lớn hơn, nghĩa là như cuộc xung đột đang hiện hữu đối với họ giữa Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần của HIỆN DIỆN.

These people are the aspirants, disciples and initiates of the world. They are aware of the dualism, the essential dualism, of the conflict and are not so pre-eminently conscious of the threefold nature and the differentiated condition of the situation which underlies the realised dualism. [162] Their approach to the problem is therefore simpler and, because of this, world direction lies largely in their hands at this time.

Những người này là các người chí nguyện, các đệ tử và các điểm đạo đồ của thế giới. Họ nhận biết tính nhị nguyên, tính nhị nguyên căn bản, của cuộc xung đột, và không quá nổi bật ý thức về bản chất tam phân cùng tình trạng biến phân của hoàn cảnh vốn nằm bên dưới tính nhị nguyên đã được chứng nghiệm ấy. [162] Vì vậy, cách họ tiếp cận vấn đề đơn giản hơn, và do đó, vào lúc này, phương hướng của thế giới phần lớn nằm trong tay họ.

It is right here that religion has, as a whole, gone astray. I refer to orthodox religion. It has been preoccupied with the Dweller on the Threshold and the eyes of the theologian have been held upon the material, phenomenal aspect of life through fear and its immediacy, and the fact of the Angel has been a theory and a point of wishful thinking. The balance is being adjusted by the humanitarian attitudes which are so largely coming into control, irrespective of any theological trend. These attitudes take their stand upon the belief of the innate rightness of the human spirit, in the divinity of man, and upon the indestructible nature of the soul of mankind. This inevitably brings in the concept of the PRESENCE, or of God Immanent and is the result of the needed revolt against the belief in God Transcendent. This spiritual revolution was entirely a balancing process and need cause no basic concern, for God Transcendent eternally exists but can only be seen and known and correctly approached by God Immanent—immanent in individual man, in groups and nations, in organised forms and in religion, in humanity as a whole and in the planetary Life Itself. Humanity is today (and has been for ages) battling illusion, glamour and maya. Advanced thinkers, those upon the Probationary Path, upon the Path of Discipleship, and the Path of Initiation have reached a point where materialism and spirituality, the Dweller on the Threshold and the Angel of the PRESENCE, and the basic dualism of manifestation can be seen clearly defined. Because of this clarity of demarcation, the issues underlying the present world events, the objectives of the present world-wide struggle, the modes and methods of re-establishing the spiritual contact so prevalent in Atlantean [163] days and so long lost, and the recognition of the techniques which can bring in the new world era and its cultural order can be clearly noted and appraised.

Chính ở đây mà tôn giáo, xét như một toàn thể, đã đi lạc hướng. Tôi muốn nói đến tôn giáo chính thống. Nó đã bận tâm với Kẻ Chận Ngõ, và đôi mắt của nhà thần học đã bị giữ chặt vào phương diện vật chất, hiện tượng của đời sống qua nỗi sợ hãi và tính cấp bách của nó; còn sự kiện về Thiên Thần chỉ là một lý thuyết và một điểm của ước vọng. Sự quân bình đang được điều chỉnh bởi các thái độ nhân đạo vốn đang ngày càng nắm quyền chi phối, bất kể mọi khuynh hướng thần học. Những thái độ này đặt nền trên niềm tin vào tính đúng đắn bẩm sinh của tinh thần con người, vào thiên tính của con người, và vào bản chất bất hoại của linh hồn nhân loại. Điều này tất yếu đưa vào quan niệm về HIỆN DIỆN, hay về Thượng đế Nội Tại, và là kết quả của cuộc nổi dậy cần thiết chống lại niềm tin vào Thượng đế Siêu Việt. Cuộc cách mạng tinh thần này hoàn toàn là một tiến trình quân bình hóa và không cần gây nên mối bận tâm căn bản nào, vì Thượng đế Siêu Việt vĩnh viễn hiện hữu, nhưng chỉ có thể được thấy, được biết và được tiếp cận đúng đắn bởi Thượng đế Nội Tại—nội tại trong từng con người cá biệt, trong các nhóm và các quốc gia, trong các hình tướng có tổ chức và trong tôn giáo, trong nhân loại như một toàn thể và trong chính Sự Sống Hành Tinh. Ngày nay nhân loại đang và từ nhiều thời đại đã đấu tranh với ảo tưởng, ảo cảm và ảo lực. Các nhà tư tưởng tiến bộ, những người trên Con Đường Dự Bị, trên Con Đường Đệ Tử và trên Con Đường Điểm Đạo, đã đạt đến một điểm nơi chủ nghĩa duy vật và tính tinh thần, Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần của HIỆN DIỆN, cùng tính nhị nguyên căn bản của sự biểu hiện, có thể được thấy rõ ràng và xác định. Nhờ sự phân định rõ ràng này, những vấn đề nằm bên dưới các biến cố thế giới hiện nay, các mục tiêu của cuộc đấu tranh toàn cầu hiện nay, các phương thức và phương pháp nhằm tái lập sự tiếp xúc tinh thần vốn rất phổ biến trong thời Atlantis [163] và đã bị mất từ lâu, cũng như sự nhận biết các kỹ thuật có thể đưa vào kỷ nguyên thế giới mới và trật tự văn hóa của nó, đều có thể được ghi nhận và thẩm định rõ ràng.

[Webinar 158]

All generalisations admit of error. It might, however, be said that Germany has focussed in herself world glamour—the most potent and expressive of the three aspects of glamour. Japan is manifesting the force of maya—the crudest form of material force. Italy, individualistic and mentally polarised, is the expression of world illusion. The United Nations, with all their faults, limitations, weaknesses and nationalisms, are focussing the conflict between the Dweller and the Angel, and thus the three forms of glamour and the final form of the conflict between the spiritual ideal and its material opponent are appearing simultaneously. The United Nations are, however, gradually and most decisively throwing the weight of their effort and aspiration on to the side of the Angel, thus restoring the lost balance and slowly producing on a planetary scale those attributes and conditions which will eventually dispel illusion, dissipate glamour and devitalise the prevalent maya. This they are doing by the increased clear thinking of the general public of all the nations, bound together to conquer the three Axis Powers, by their growing ability to conceive ideas in terms of the whole, in terms of a desirable world order or federation, and their capacity to discriminate between the Forces of Light and the potency of evil or materialism.

Mọi khái quát hóa đều có thể sai lầm. Tuy nhiên, có thể nói rằng nước Đức đã tập trung trong chính mình ảo cảm thế giới—phương diện mạnh mẽ và biểu cảm nhất trong ba phương diện của ảo cảm. Nhật Bản đang biểu hiện mãnh lực của ảo lực—hình thức thô sơ nhất của mãnh lực vật chất. Ý, mang tính cá nhân chủ nghĩa và phân cực trí tuệ, là biểu hiện của ảo tưởng thế giới. Các quốc gia Liên Hiệp, với mọi lỗi lầm, giới hạn, yếu kém và chủ nghĩa dân tộc của họ, đang tập trung cuộc xung đột giữa Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần; vì thế, ba hình thức của ảo cảm và hình thức cuối cùng của cuộc xung đột giữa lý tưởng tinh thần và đối thủ vật chất của nó đang xuất hiện đồng thời. Tuy nhiên, các quốc gia Liên Hiệp đang dần dần và hết sức quyết định đặt sức nặng của nỗ lực và khát vọng của họ về phía Thiên Thần, nhờ đó khôi phục sự quân bình đã mất và từ từ tạo ra trên quy mô hành tinh những thuộc tính và điều kiện cuối cùng sẽ xua tan ảo tưởng, làm tiêu tan ảo cảm và làm suy kiệt sinh lực của ảo lực đang thịnh hành. Họ đang làm điều này bằng sự tư duy sáng rõ ngày càng tăng của công chúng nói chung trong tất cả các quốc gia liên kết để chinh phục ba Cường Quốc Trục, bằng khả năng ngày càng lớn của họ trong việc hình dung các ý tưởng theo toàn thể, theo một trật tự hay liên bang thế giới đáng mong muốn, và bằng năng lực phân biện giữa các Mãnh Lực Ánh Sáng và quyền năng của sự ác hay chủ nghĩa duy vật.

The work being done by those who see the world stage as the arena for the conflict between the Dweller on the Threshold and the Angel of the PRESENCE might be itemised as:

Công việc đang được thực hiện bởi những người thấy sân khấu thế giới như đấu trường của cuộc xung đột giữa Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần của HIỆN DIỆN có thể được liệt kê như sau:

1. The producing of those world conditions in which the Forces of Light can overcome the Forces of Evil. This they do by the weight of their armed forces, plus their clear insight. [164]

1. Tạo ra những điều kiện thế giới trong đó các Mãnh Lực Ánh Sáng có thể chiến thắng các Mãnh Lực Sự Ác. Họ làm điều này bằng sức nặng của lực lượng vũ trang của họ, cộng với cái nhìn sáng rõ của họ. [164]

2. The educating of humanity in the distinction between:

2. Giáo dục nhân loại về sự phân biệt giữa:

a. Spirituality and materialism, pointing to the differing goals of the combatant forces.

a. Tính tinh thần và chủ nghĩa duy vật, chỉ ra các mục tiêu khác nhau của những lực lượng giao chiến.

b. Sharing and greed, outlining a future world wherein the Four Freedoms will be dominant and all will have that which is needed for right living-processes.

b. Sự chia sẻ và lòng tham, phác họa một thế giới tương lai trong đó Bốn Quyền Tự Do sẽ chiếm ưu thế và mọi người sẽ có những gì cần thiết cho các tiến trình sống đúng đắn.

c. Light and dark, demonstrating the difference between an illumined future of liberty and opportunity, and the dark future of slavery.

c. Ánh sáng và bóng tối, chứng minh sự khác biệt giữa một tương lai được soi sáng của tự do và cơ hội, với tương lai tối tăm của nô lệ.

d. Fellowship and separation, indicating a world order where racial hatreds, caste distinctions and religious differences will form no barrier to international understanding, and the Axis order of master races, determined religious attitudes, and enslaved peoples.

d. Tình huynh đệ và sự chia rẽ, chỉ ra một trật tự thế giới trong đó những thù hận chủng tộc, phân biệt đẳng cấp và khác biệt tôn giáo sẽ không tạo thành rào cản đối với sự thấu hiểu quốc tế, đối lập với trật tự Trục của các chủng tộc thống trị, các thái độ tôn giáo bị áp đặt, và các dân tộc bị nô dịch.

e. The whole and the part, pointing to the time which is approaching (under the evolutionary urge of spirit) wherein the part or the point of life assumes its responsibility for the whole, and the whole exists for the good of the part.

e. Toàn thể và bộ phận, chỉ ra thời kỳ đang đến gần, dưới sự thúc đẩy thăng thượng tiến hóa của tinh thần, trong đó bộ phận hay điểm của sự sống đảm nhận trách nhiệm của mình đối với toàn thể, và toàn thể hiện hữu vì lợi ích của bộ phận.

The dark aspect has been brought about by ages of glamour. The light is being emphasised and made clear by the world aspirants and disciples who by their attitudes, their actions, their writings and their utterances are bringing the light into dark places.

Phương diện tối tăm đã được tạo ra bởi nhiều thời đại ảo cảm. Ánh sáng đang được nhấn mạnh và làm cho sáng rõ bởi các người chí nguyện và đệ tử thế giới, những người qua thái độ, hành động, trước tác và lời nói của mình đang đem ánh sáng vào những nơi tối tăm.

[Webinar 159]

3. Preparing the way for the three spiritual energies which will sweep humanity into an era of comprehension, leading to a focussed mental clarification of men’s minds throughout the world. These three imminent energies are: [165]

3. Chuẩn bị con đường cho ba năng lượng tinh thần sẽ cuốn nhân loại vào một kỷ nguyên thấu hiểu, dẫn đến sự minh định trí tuệ tập trung của trí tuệ con người khắp thế giới. Ba năng lượng sắp đến này là: [165]

a. The energy of the intuition which will gradually dispel world illusion, and produce automatically a great augmentation of the ranks of the initiates.

a. Năng lượng của trực giác, năng lượng này sẽ dần dần xua tan ảo tưởng thế giới và tự động tạo ra sự gia tăng lớn lao trong hàng ngũ các điểm đạo đồ.

b. The activity of light which will dissipate, by the energy of illumination, the world glamour and bring many thousands on to the Path of Discipleship.

b. Hoạt động của ánh sáng, hoạt động này sẽ làm tiêu tan, bằng năng lượng của sự soi sáng, ảo cảm thế giới và đưa nhiều nghìn người lên Con Đường Đệ Tử.

c. The energy of inspiration which will bring about, through the medium of its sweeping potency, the devitalisation or the removal, as by a wind, of the attractive power of maya or substance. This will release untold thousands on to the Path of Probation.

c. Năng lượng của cảm hứng, năng lượng này sẽ đem lại, qua trung gian quyền năng quét sạch của nó, sự làm suy kiệt sinh lực hay sự loại bỏ, như bởi một cơn gió, quyền năng hấp dẫn của ảo lực hay chất liệu. Điều này sẽ giải phóng vô số nghìn người lên Con Đường Dự Bị.

4. Releasing new life into the planet through the medium of every possible agency. The first step towards this release is the proving that the power of materialism is broken by the complete defeat of the Axis Powers and, secondly, by the ability of the United Nations to demonstrate (when this has been done) the potency of the spiritual values by their constructive undertakings to restore world order and to lay those foundations which will guarantee a better and more spiritual way of life. These constructive attitudes and undertakings must be assumed individually by every person, and by nations as collective wholes. The first is being undertaken at this time. The second remains as yet to be done.

4. Giải phóng sự sống mới vào hành tinh qua trung gian của mọi tác nhân có thể. Bước đầu tiên hướng tới sự giải phóng này là chứng minh rằng quyền lực của chủ nghĩa duy vật đã bị bẻ gãy bởi sự thất bại hoàn toàn của các Cường Quốc Trục; và thứ hai, bởi khả năng của các quốc gia Liên Hiệp trong việc chứng minh, khi điều này đã được thực hiện, quyền năng của các giá trị tinh thần bằng những công cuộc xây dựng của họ nhằm khôi phục trật tự thế giới và đặt những nền tảng bảo đảm một lối sống tốt đẹp hơn và tinh thần hơn. Những thái độ và công cuộc xây dựng này phải được từng cá nhân và các quốc gia như những toàn thể tập thể đảm nhận. Điều thứ nhất đang được thực hiện vào lúc này. Điều thứ hai vẫn còn phải làm.

5. Bringing home to the nations of the world the truths taught by the Buddha, the Lord of Light, and the Christ, the Lord of Love. In this connection it might be pointed out that basically:

5. Đưa về tận tâm thức các quốc gia trên thế giới những chân lý do Đức Phật, Chúa Tể Ánh Sáng, và Đức Christ, Chúa Tể của Tình Thương, giảng dạy. Trong mối liên hệ này, có thể chỉ ra rằng về căn bản:

a. The Axis nations need to grasp the teaching of the Buddha as He enunciated it in the Four Noble [166] Truths; they need to realise that the cause of all sorrow and woe is desire—desire for that which is material.

a. Các quốc gia Trục cần nắm bắt giáo huấn của Đức Phật như Ngài đã tuyên thuyết trong Tứ Diệu [166] Đế; họ cần nhận ra rằng nguyên nhân của mọi đau khổ và thống khổ là dục vọng—dục vọng đối với những gì thuộc vật chất.

b. The United Nations need to learn to apply the Law of Love as enunciated in the life of Christ and to express the truth that “no man liveth unto himself” and no nation either, and that the goal of all human effort is loving understanding, prompted by a programme of love for the whole.

b. Các quốc gia Liên Hiệp cần học cách áp dụng Định luật Bác Ái như đã được tuyên thuyết trong đời sống của Đức Christ, và biểu lộ chân lý rằng “không ai sống cho riêng mình” và cũng không quốc gia nào như vậy; mục tiêu của mọi nỗ lực nhân loại là sự thấu hiểu đầy tình thương, được thúc đẩy bởi một chương trình tình thương dành cho toàn thể.

If the lives and teachings of these two great Avatars can be comprehended and wrought out anew in the lives of men today, in the world of human affairs, in the realm of human thinking and in the arena of daily living, the present world order (which is today largely disorder) can be so modified and changed that a new world and a new race of men can gradually come into being. Renunciation and the use of the sacrificial will should be the keynote for the interim period after the war, prior to the inauguration of the New Age.

Nếu đời sống và giáo huấn của hai Đấng Hoá Thân vĩ đại này có thể được thấu hiểu và được thực hiện lại trong đời sống con người ngày nay, trong thế giới các sự vụ nhân loại, trong lĩnh vực tư tưởng con người và trong đấu trường của đời sống hằng ngày, thì trật tự thế giới hiện nay, vốn ngày nay phần lớn là hỗn loạn, có thể được điều chỉnh và thay đổi đến mức một thế giới mới và một giống người mới có thể dần dần xuất hiện. Sự từ bỏ và việc sử dụng ý chí hi sinh phải là chủ âm cho thời kỳ chuyển tiếp sau chiến tranh, trước khi Kỷ Nguyên Mới được khai mở.

[Webinar 160]

Students need to remember that all manifestations and every point of crisis are symbolised by the ancient symbol of a point within the circle, the focus of power within a sphere of influence or aura. So it is today with the entire problem of ending the world glamour and illusion which fundamentally lie behind the present acute situation and world catastrophe. The possibility of such a dispelling and dissipation is definitely centred in the two Avatars, the Buddha and the Christ.

Các đạo sinh cần nhớ rằng mọi biểu hiện và mọi điểm khủng hoảng đều được biểu tượng hóa bằng biểu tượng cổ xưa của một điểm trong vòng tròn, tiêu điểm quyền năng trong một khối cầu ảnh hưởng hay hào quang. Ngày nay cũng vậy đối với toàn bộ vấn đề kết thúc ảo cảm và ảo tưởng thế giới, vốn về căn bản nằm sau tình thế gay gắt hiện tại và thảm họa thế giới. Khả năng của sự xua tan và làm tiêu tan ấy chắc chắn được tập trung nơi hai Đấng Hoá Thân, Đức Phật và Đức Christ.

Within the world of glamour—the world of the astral plane and of the emotions—appeared a point of light. The Lord of Light, the Buddha, undertook to focus in Himself the illumination which would eventually make possible the dissipation of glamour. Within the world of illusion—the world of the mental plane—appeared the Christ, the Lord [167] of Love Himself, Who embodied in Himself the power of the attractive will of God. He undertook to dispel illusion by drawing to Himself (by the potency of love) the hearts of all men, and stated this determination in the words, “I, if I be lifted up, will draw all men unto Me.” (John 12:32) From the point they then will have reached, the world of spiritual perception, of truth and of divine ideas will stand revealed. The result will be the disappearing of illusion.

Trong thế giới của ảo cảm—thế giới của cõi cảm dục và của các xúc cảm—đã xuất hiện một điểm sáng. Chúa Tể Ánh Sáng, Đức Phật, đã đảm nhận việc tập trung nơi chính Ngài sự soi sáng mà cuối cùng sẽ làm cho việc làm tiêu tan ảo cảm trở nên khả hữu. Trong thế giới của ảo tưởng—thế giới của cõi trí—đã xuất hiện Đức Christ, chính Chúa Tể [167] của Tình Thương, Đấng thể hiện nơi chính Ngài quyền năng của Ý Chí hấp dẫn của Thượng đế. Ngài đảm nhận việc xua tan ảo tưởng bằng cách lôi cuốn về chính Ngài, nhờ quyền năng của tình thương, trái tim của mọi người, và đã phát biểu quyết tâm này bằng những lời: “Còn Ta, khi Ta được nâng lên khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người đến với Ta.” (Gioan 12:32) Từ điểm mà bấy giờ họ đã đạt tới, thế giới của tri giác tinh thần, của chân lý và của các ý tưởng thiêng liêng sẽ hiện ra. Kết quả sẽ là sự biến mất của ảo tưởng.

The combined work of these two great Sons of God, concentrated through the world disciples and through Their initiates must and will inevitably shatter illusion and dispel glamour—the one by the intuitive recognition of reality by minds attuned to it, and the other by the pouring in of the light of reason. The Buddha made the first planetary effort to dissipate world glamour; the Christ made the first planetary effort towards the dispelling of illusion. Their work must now be intelligently carried forward by a humanity wise enough to recognise its dharma. Men are being rapidly disillusioned and will consequently see more clearly. The world glamour is being steadily removed from the ways of men.

Công việc kết hợp của hai Người Con vĩ đại này của Thượng đế, được tập trung qua các đệ tử thế giới và qua các điểm đạo đồ của Các Ngài, nhất định và tất yếu sẽ phá vỡ ảo tưởng và xua tan ảo cảm—một bên nhờ sự nhận biết trực giác về thực tại bởi những thể trí đã hòa hợp với thực tại ấy, và bên kia nhờ sự tuôn đổ của ánh sáng lý trí. Đức Phật đã thực hiện nỗ lực hành tinh đầu tiên nhằm làm tiêu tan ảo cảm thế giới; Đức Christ đã thực hiện nỗ lực hành tinh đầu tiên hướng tới việc xua tan ảo tưởng. Công việc của Các Ngài giờ đây phải được nhân loại đủ minh triết để nhận biết thiên chức của mình tiếp tục một cách thông minh. Con người đang nhanh chóng vỡ mộng và do đó sẽ thấy rõ ràng hơn. Ảo cảm thế giới đang đều đặn được loại khỏi những nẻo đường của con người.

[Webinar 161]

These two developments have been brought about by the incoming new ideas, focussed through the world intuitives and released to the general public by the world thinkers. It has been also largely aided by the well-nigh unconscious, but none the less real, recognition of the true meaning of these Four Noble Truths by the masses. Disillusioned and de-glamoured (if I may use such a term), humanity awaits the coming revelation. This revelation will be brought about by the combined efforts of the Buddha and the Christ. All that we can foresee or foretell anent that revelation is that some potent and far-reaching results will be achieved by the merging of light and love, and by the reaction of “lighted substance to the attractive power of love.” In this sentence I have given those who can understand [168] a profound and useful hint as to the method and purpose of the undertaking which was staged for the June Full Moon, 1942. I have also given a clue to the true understanding of the work of these Avatars—a thing hitherto quite unrealised. It might be added that when an appreciation of the meaning of the words “transfiguration of a human being” is gained, the realisation will come that when “the body is full of light” then “in that light shall we see LIGHT.” This means that when the personality has reached a point of purification, of dedication and of illumination, then the attractive power of the soul (whose nature is love and understanding) can function, and fusion of these two will take place. This is what the Christ proved and demonstrated.

Hai diễn tiến này đã được tạo ra bởi các ý tưởng mới đang đi vào, được tập trung qua những người trực giác của thế giới và được các nhà tư tưởng thế giới giải phóng cho công chúng nói chung. Điều này cũng đã được trợ giúp rất nhiều bởi sự nhận biết gần như vô thức nhưng vẫn thực sự có thật của quần chúng về ý nghĩa chân chính của Tứ Diệu Đế này. Đã vỡ mộng và thoát khỏi ảo cảm, nếu tôi có thể dùng một thuật ngữ như vậy, nhân loại đang chờ đợi sự mặc khải sắp đến. Sự mặc khải này sẽ được tạo ra bởi các nỗ lực kết hợp của Đức Phật và Đức Christ. Tất cả những gì chúng ta có thể thấy trước hay tiên báo liên quan đến sự mặc khải ấy là một số kết quả mạnh mẽ và sâu rộng sẽ đạt được bởi sự hòa nhập của ánh sáng và tình thương, và bởi phản ứng của “chất liệu được soi sáng trước quyền năng hấp dẫn của tình thương.” Trong câu này, tôi đã trao cho những ai có thể thấu hiểu [168] một gợi ý sâu xa và hữu ích về phương pháp và mục đích của công việc đã được dàn dựng cho kỳ Trăng Tròn tháng Sáu năm 1942. Tôi cũng đã trao một manh mối cho sự thấu hiểu chân chính về công việc của các Đấng Hoá Thân này—một điều cho đến nay vẫn hoàn toàn chưa được nhận ra. Có thể nói thêm rằng khi đạt được sự cảm nhận ý nghĩa của những lời “sự biến hình của một con người”, thì nhận thức sẽ đến rằng khi “thể đầy ánh sáng”, bấy giờ “trong ánh sáng ấy chúng ta sẽ thấy ÁNH SÁNG.” Điều này có nghĩa là khi phàm ngã đã đạt tới một điểm thanh luyện, thánh hiến và soi sáng, thì quyền năng hấp dẫn của linh hồn, vốn có bản chất là tình thương và sự thấu hiểu, có thể vận hành, và sự dung hợp của hai điều này sẽ diễn ra. Đây là điều Đức Christ đã chứng minh và biểu lộ.

When the work of the Buddha (or the embodied buddhic principle) is consummated in the aspiring disciple and in his integrated personality, then the full expression of the work of the Christ (the embodied principle of love) can also be consummated and both these potencies—light and love—will find radiant expression in the transfigured disciple. What is true, therefore, of the individual is true also of humanity as a whole, and today humanity (having reached maturity) can “enter into realisation” and consciously take part in the work of enlightenment and of spiritual, loving activity. The practical effects of this process will be the dissipation of glamour and the release of the human spirit from the thraldom of matter; it will produce, also, the dispelling of illusion and the recognition of truth as it exists in the consciousness of those who are polarised in the “awareness of the Christ.”

Khi công việc của Đức Phật, hay nguyên khí Bồ đề được thể hiện, được hoàn tất trong người đệ tử đang khát vọng và trong phàm ngã tích hợp của y, thì sự biểu lộ trọn vẹn công việc của Đức Christ, nguyên khí tình thương được thể hiện, cũng có thể được hoàn tất; và cả hai quyền năng này—ánh sáng và tình thương—sẽ tìm thấy sự biểu lộ rạng rỡ trong người đệ tử đã được biến hình. Vì vậy, điều đúng đối với cá nhân cũng đúng đối với nhân loại như một toàn thể; và ngày nay nhân loại, vì đã đạt tới sự trưởng thành, có thể “đi vào sự chứng nghiệm” và tham dự một cách hữu thức vào công việc giác ngộ và hoạt động tinh thần đầy tình thương. Các hiệu quả thực tiễn của tiến trình này sẽ là sự làm tiêu tan ảo cảm và giải phóng tinh thần con người khỏi ách nô lệ của vật chất; nó cũng sẽ tạo ra sự xua tan ảo tưởng và sự nhận biết chân lý như chân lý hiện hữu trong tâm thức của những người phân cực trong “sự tỉnh thức của Đức Christ.”

[Webinar 162]

This is necessarily no rapid process but is an ordered and regulated procedure, sure in its eventual success but relatively slow also in its establishment and sequential process. This process was initiated upon the astral plane [169] by the Buddha, and on the mental plane when Christ manifested on Earth. It indicated the approaching maturity of humanity. The process has been slowly gathering momentum as these two great Beings have gathered around Them Their disciples and initiates during the past two thousand years. It has reached a point of intensive usefulness as the channel of communication between Shamballa and the Hierarchy has been opened and enlarged, and as the contact between these two great Centres and Humanity has been more firmly established.

Điều này tất nhiên không phải là một tiến trình nhanh chóng, mà là một thủ tục có trật tự và được điều hòa, chắc chắn trong thành công sau cùng nhưng cũng tương đối chậm trong việc thiết lập và trong tiến trình tuần tự của nó. Tiến trình này được Đức Phật khởi xướng trên cõi cảm dục [169], và trên cõi trí khi Đức Christ biểu hiện trên Trái Đất. Nó chỉ ra sự trưởng thành đang đến gần của nhân loại. Tiến trình này đã chậm rãi tích lũy đà tiến khi hai Đấng Vĩ Đại này quy tụ quanh Các Ngài các đệ tử và điểm đạo đồ của Các Ngài trong hai nghìn năm qua. Nó đã đạt đến một điểm hữu dụng mãnh liệt khi kênh giao tiếp giữa Shamballa và Thánh Đoàn được mở ra và mở rộng, và khi sự tiếp xúc giữa hai Trung Tâm vĩ đại này với Nhân Loại được thiết lập vững chắc hơn.

At the June Full Moon, 1942, the first test as to the directness of the communication between the Centre where the Will of God holds sway, the Centre where the Love of God rules, and the Centre where there is intelligent expectancy was made. The medium of the test was the united effort of the Christ, of the Buddha, and of those who responded to Their blended influence. This test had to be carried out in the midst of the terrific onslaught of the powers of evil and was extended over the two weeks beginning on the day of the Full Moon (May 30th 1942) and ending on June 15th 1942. There was a great concentration of the Spiritual Forces at that time, and the use of a special Invocation (one which humanity itself may not use), but the success or failure of the test was, in the last analysis, determined by mankind itself.

Vào kỳ Trăng Tròn tháng Sáu năm 1942, cuộc thử nghiệm đầu tiên về tính trực tiếp của sự giao tiếp giữa Trung Tâm nơi Ý Chí của Thượng Đế nắm quyền, Trung Tâm nơi Tình Thương của Thượng đế cai quản, và Trung Tâm nơi có sự mong đợi thông minh đã được thực hiện. Phương tiện của cuộc thử nghiệm là nỗ lực hợp nhất của Đức Christ, của Đức Phật, và của những người đáp ứng với ảnh hưởng hòa quyện của Các Ngài. Cuộc thử nghiệm này phải được tiến hành giữa cuộc tấn công khủng khiếp của các quyền lực sự ác, và kéo dài trong hai tuần bắt đầu vào ngày Trăng Tròn, ngày 30 tháng Năm năm 1942, và kết thúc vào ngày 15 tháng Sáu năm 1942. Vào thời điểm ấy có sự tập trung lớn lao của các Mãnh Lực Tinh Thần, và việc sử dụng một Khẩn Cầu đặc biệt, một khẩn cầu mà chính nhân loại không được dùng; nhưng thành công hay thất bại của cuộc thử nghiệm, xét đến cùng, do chính nhân loại quyết định.

You may feel, though wrongly, that not enough people know about or understand the nature of the opportunity or what is transpiring. But the success of such a test is not dependent upon the esoteric knowledge of the few, the relatively few, to whom the facts and the information have been partially imparted. It is dependent also upon the tendency of the many who unconsciously aspire towards the spiritual realities, who seek for a new and better way of life for all, who desire the good of the whole and whose [170] longing and desire is for a true experience of goodness, of right human relations and of spiritual enterprise among men. Their name is Legion and they are to be found in every nation.

Bạn có thể cảm thấy, dù sai lầm, rằng không đủ người biết hoặc thấu hiểu bản chất của cơ hội hay điều đang diễn ra. Nhưng thành công của một cuộc thử nghiệm như vậy không tùy thuộc vào tri thức huyền bí của số ít, tương đối ít, những người đã được truyền đạt một phần các sự kiện và thông tin. Nó cũng tùy thuộc vào khuynh hướng của số đông, những người vô thức khát vọng hướng tới các thực tại tinh thần, những người tìm kiếm một lối sống mới và tốt đẹp hơn cho tất cả, những người mong muốn điều thiện của toàn thể và có [170] niềm khát khao cùng ước muốn một kinh nghiệm chân thật về sự thiện, về các mối quan hệ nhân loại đúng đắn và về sự nghiệp tinh thần giữa con người. Danh của họ là Đạo Binh, và họ được tìm thấy trong mọi quốc gia.

When the Will of God, expressed in Shamballa and focussed in the Buddha, the Love of God, expressed in the Hierarchy and focussed through the Christ, and the intelligent desire of humanity, focussed through the world disciples, the world aspirants and the men of goodwill are all brought into line—either consciously or unconsciously—then a great re-orientation can and will take place. This event is something that can happen.

Khi Ý Chí của Thượng Đế, được biểu lộ trong Shamballa và được tập trung nơi Đức Phật, Tình Thương của Thượng đế, được biểu lộ trong Thánh Đoàn và được tập trung qua Đức Christ, cùng khát vọng thông minh của nhân loại, được tập trung qua các đệ tử thế giới, các người chí nguyện thế giới và những người thiện chí, tất cả được đưa vào hàng ngũ chỉnh hợp—dù một cách hữu thức hay vô thức—thì một cuộc tái định hướng lớn lao có thể và sẽ diễn ra. Biến cố này là điều có thể xảy ra.

[Webinar 166]

The first result will be the illumination of the astral plane and the beginning of the process which will dissipate glamour; the second result will be the irradiation of the mental plane and the dispelling of all past illusions and the gradual revelation of the new truths of which all past ideals and so-called formulations of truth have only been the signposts. Ponder on that statement. The signpost indicates the way to go; it does not reveal the goal. It is indicative but not conclusive. So with all truth up to the present time.

Kết quả đầu tiên sẽ là sự soi sáng cõi cảm dục và sự khởi đầu của tiến trình sẽ làm tiêu tan ảo cảm; kết quả thứ hai sẽ là sự chiếu rạng của cõi trí và sự xua tan mọi ảo tưởng quá khứ, cùng sự mặc khải dần dần các chân lý mới mà mọi lý tưởng quá khứ và những công thức được gọi là chân lý chỉ từng là các biển chỉ đường. Hãy suy ngẫm về phát biểu ấy. Biển chỉ đường chỉ ra con đường phải đi; nó không mặc khải mục tiêu. Nó có tính chỉ dẫn nhưng không kết luận. Tất cả chân lý cho đến thời điểm hiện tại cũng như vậy.

The demand is, therefore, for knowers and for those whose minds and hearts are open; who are free from preconceived ideas fanatically held, and from ancient idealisms which must be recognised as only partial indications of great unrealised truths—truths which can be realised in great measure and for the first time IF the lessons of the present world situation and the catastrophe of the war are duly learned and the sacrificial will is called into play.

Vì vậy, nhu cầu là cần có các thức giả và những người có trí tuệ cùng trái tim mở rộng; những người thoát khỏi các định kiến được giữ một cách cuồng tín, và khỏi những chủ nghĩa lý tưởng cổ xưa phải được nhận biết chỉ như những chỉ dấu từng phần của các chân lý vĩ đại chưa được nhận ra—những chân lý có thể được chứng nghiệm ở mức độ lớn lao và lần đầu tiên NẾU các bài học của tình thế thế giới hiện nay và thảm họa chiến tranh được học đúng mức, và ý chí hi sinh được đưa vào vận dụng.

I have made this practical application and the immediate illustration of the teaching anent glamour, illusion and maya because the whole world problem has reached a crisis today and because its clarification will be the outstanding theme [171] of all progress—educational, religious and economic—until 2025 A.D.

Tôi đã thực hiện sự áp dụng thực tiễn này và minh họa tức thời cho giáo huấn liên quan đến ảo cảm, ảo tưởng và ảo lực, bởi toàn bộ vấn đề thế giới ngày nay đã đạt đến một cuộc khủng hoảng, và bởi sự minh định nó sẽ là chủ đề nổi bật [171] của mọi tiến bộ—giáo dục, tôn giáo và kinh tế—cho đến năm 2025 sau Công nguyên.

[Webinar 167]

In the section with which we are now concerned we shall consider the practical ways in which illusion, glamour and the power of maya can be brought to an end in the life of the individual, and eventually in the life of nations and finally in the world. Always we must begin with the unity of life, the Microcosm; then, having grasped process and progress in connection with the individual, the idea can then be extended to the group, the organisation, the nation, and to humanity as a whole. Thus gradually we shall approach the great Idea to which we give the name of God, the Macrocosm.

Trong phần mà giờ đây chúng ta đang quan tâm, chúng ta sẽ xem xét các phương cách thực tiễn nhờ đó ảo tưởng, ảo cảm và quyền năng của ảo lực có thể được kết thúc trong đời sống của cá nhân, và cuối cùng trong đời sống của các quốc gia, rồi sau rốt trong thế giới. Chúng ta luôn phải bắt đầu với đơn vị của sự sống, Tiểu thiên địa; rồi, sau khi đã nắm bắt tiến trình và sự tiến bộ liên quan đến cá nhân, ý tưởng ấy có thể được mở rộng đến nhóm, tổ chức, quốc gia, và đến nhân loại như một toàn thể. Như vậy, dần dần chúng ta sẽ tiếp cận Ý Tưởng vĩ đại mà chúng ta gọi là Thượng đế, Đại thiên địa.

We shall in this section deal with techniques, and these might be summarised as follows:

Trong phần này, chúng ta sẽ đề cập đến các kỹ thuật, và các kỹ thuật này có thể được tóm lược như sau:

1. The Technique of the Presence. By means of this technique, the soul assumes control of the integrated personality and of its relations, horizontal and vertical. This technique involves the unfolding of the flower of the intuition, dispelling illusion, revealing the Angel, indicating the Presence, and opening up to the disciple the world of ideas and the door of the higher initiations. Through the disciple’s grasp and application of these divine ideas or seed thoughts, he becomes initiate and the third initiation becomes possible as an immediate goal. The intuition is the applied power of transfiguration. This technique is related to the little known yoga called Agni Yoga or the yoga of fire.

1. Kỹ Thuật của Hiện Diện. Nhờ kỹ thuật này, linh hồn nắm quyền kiểm soát phàm ngã tích hợp và các mối quan hệ của nó, theo chiều ngang và chiều dọc. Kỹ thuật này bao hàm sự khai mở của đóa hoa trực giác, xua tan ảo tưởng, mặc khải Thiên Thần, chỉ ra Hiện Diện, và mở ra cho đệ tử thế giới của các ý tưởng cùng cánh cửa của các cuộc điểm đạo cao hơn. Qua sự nắm bắt và áp dụng của đệ tử đối với các ý tưởng thiêng liêng hay tư tưởng hạt giống này, y trở thành điểm đạo đồ và lần điểm đạo thứ ba trở nên khả hữu như một mục tiêu tức thời. Trực giác là quyền năng được áp dụng của sự biến hình. Kỹ thuật này liên hệ với phép du-già ít được biết đến gọi là du-già lửa.

2. The Technique of Light. By means of this technique, the illumined mind assumes control over the astral or emotional body and dissipates glamour. When light pours in, glamour fades out. Illumination dominates and the vision [172] of reality can be seen. This technique is related to Raja Yoga and its goal is the second initiation; it produces ability to tread the Path of Discipleship, and enables the man to “live a life, enlightened by divinity.” Illumination is the applied power of transformation.

2. Kỹ Thuật Ánh sáng. Nhờ kỹ thuật này, thể trí được soi sáng nắm quyền kiểm soát thể cảm dục hay thể xúc cảm và làm tiêu tan ảo cảm. Khi ánh sáng tuôn vào, ảo cảm phai tàn. Sự soi sáng chiếm ưu thế và tầm nhìn [172] về thực tại có thể được thấy. Kỹ thuật này liên hệ với du-già vương giả, và mục tiêu của nó là lần điểm đạo thứ hai; nó tạo ra khả năng bước trên Con Đường Đệ Tử, và giúp con người “sống một đời sống được thiên tính soi sáng.” Sự soi sáng là quyền năng được áp dụng của sự chuyển đổi.

3. The Technique of Indifference. By means of this technique, maya is ended; for the control of the purified astral vehicle is consciously and technically brought into activity, producing the freeing of the energies of the etheric body from the control of matter or force-substance, and bringing men in large numbers on to the Probationary Path. Where there is “divine indifference” to the call or pull of matter, then inspiration becomes possible. This technique is related to Karma Yoga in its most practical form and the use of matter with complete impersonality. The goal of this technique is the first initiation, which enables man to “live a life, inspired by God.” Inspiration is the applied power of transmission.

3. Kỹ Thuật Điềm Nhiên. Nhờ kỹ thuật này, ảo lực được kết thúc; bởi quyền kiểm soát hiện thể cảm dục đã thanh luyện được đưa vào hoạt động một cách hữu thức và kỹ thuật, tạo ra sự giải phóng các năng lượng của thể dĩ thái khỏi sự kiểm soát của vật chất hay chất liệu-mãnh lực, và đưa số đông con người lên Con Đường Dự Bị. Nơi nào có “Điềm nhiên thiêng liêng” trước tiếng gọi hay sức kéo của vật chất, bấy giờ cảm hứng trở nên khả hữu. Kỹ thuật này liên hệ với du-già hành động trong hình thức thực tiễn nhất của nó, và với việc sử dụng vật chất bằng sự vô ngã hoàn toàn. Mục tiêu của kỹ thuật này là lần điểm đạo thứ nhất, giúp con người “sống một đời sống được Thượng đế truyền cảm hứng.” Cảm hứng là quyền năng được áp dụng của sự truyền dẫn.

1. The Technique of the Presence.—1. Kỹ Thuật của Hiện Diện.

As we enter upon our consideration of this subject, the student has three things to bear in mind: the existence of the Intuition, the fact of Illusion, and the overshadowing Presence. This Presence is revealed by the intuition through the medium of the Angel and, when revealed and recognised, brings illusion to an end.

Khi chúng ta bước vào việc xem xét chủ đề này, đạo sinh cần ghi nhớ ba điều: sự hiện hữu của Trực Giác, sự kiện về Ảo Tưởng, và Hiện Diện đang phủ bóng. Hiện Diện này được trực giác mặc khải qua trung gian của Thiên Thần, và khi được mặc khải cùng nhận biết, nó đưa ảo tưởng đến chỗ kết thúc.

The story of illusion is one which must not be confounded with glamour; illusion is related to the whole process of revelation. Glamour can be and often is related to the distortion of that which has been revealed, but it must be borne in mind that illusion is primarily concerned with the reaction of the mind to the unfolding revelation, [173] as the soul registers it and seeks to impress it on the highest aspect of the personal lower self. Illusion is, therefore, the failure of the mind correctly to register, to interpret or translate that which has been transmitted and it is consequently a sin (if you care for that word) of the intelligent and highly developed people, of those who stand on the Path and who are in process of becoming rightly oriented; it is also a sin of accepted disciples as they seek to expand their consciousness in response to soul contact. When they have “seen through illusion” (and I use this phrase in its esoteric sense) then they are ready for the third initiation.

Câu chuyện về ảo tưởng là điều không được lẫn lộn với ảo cảm; ảo tưởng liên hệ với toàn bộ tiến trình mặc khải. Ảo cảm có thể, và thường khi, liên hệ với sự bóp méo điều đã được mặc khải; nhưng cần ghi nhớ rằng ảo tưởng chủ yếu liên quan đến phản ứng của thể trí trước sự mặc khải đang khai mở, [173] khi linh hồn ghi nhận nó và tìm cách in nó lên phương diện cao nhất của phàm ngã cá nhân thấp. Vì vậy, ảo tưởng là sự thất bại của thể trí trong việc ghi nhận, diễn giải hay chuyển dịch đúng đắn điều đã được truyền đạt; do đó, nó là một tội, nếu các bạn thích dùng từ ấy, của những người thông minh và phát triển cao, của những người đứng trên Đường Đạo và đang trong tiến trình trở nên được định hướng đúng đắn; nó cũng là một tội của các đệ tử được chấp nhận khi họ tìm cách mở rộng tâm thức để đáp ứng với sự tiếp xúc linh hồn. Khi họ đã “nhìn xuyên qua ảo tưởng”, và tôi dùng cụm từ này theo ý nghĩa huyền bí của nó, bấy giờ họ sẵn sàng cho lần điểm đạo thứ ba.

Our theme is, therefore, the theme of revelation and I would like to make some general remarks upon the subject, because thereby the problem of world illusion can be clarified and incidentally individual illusion also.

Vì vậy, chủ đề của chúng ta là chủ đề về sự mặc khải, và tôi muốn đưa ra một vài nhận xét tổng quát về đề tài này, bởi nhờ đó vấn đề ảo tưởng thế giới, và nhân tiện cả ảo tưởng cá nhân, có thể được làm sáng tỏ.

The unfoldment of human awareness has been progressive down the ages, and has been dependent upon two major and related factors:

Sự khai mở của tỉnh thức nhân loại đã tiến triển qua các thời đại, và đã tùy thuộc vào hai yếu tố chính yếu có liên hệ với nhau:

1. The factor of the gradual development of the human mind through the processes of evolution itself. This might be regarded as the innate capacity of that which we call the mind, the chitta, or mind stuff, to become more and more sensitive to the impact of the phenomenal world, and to the impression from the higher worlds of being. The mind is the instrument which registers the process of “becoming” but it is also—during the later stages of human unfoldment—capable of registering the nature or function of being. Becoming is revealed through the medium of the intellect; Being, through the medium of the intuition. In all study of illusion, the instrumental nature of the mind must be remembered and its power to register accurately, to interpret [174] and transmit knowledge coming from the world of phenomena and wisdom from the realm of the soul.

1. Yếu tố về sự phát triển dần dần của thể trí con người qua chính các tiến trình tiến hoá. Điều này có thể được xem như năng lực bẩm sinh của điều chúng ta gọi là thể trí, tức chất liệu trí, trở nên ngày càng nhạy cảm hơn với tác động của thế giới hiện tượng, và với ấn tượng từ các thế giới bản thể cao hơn. Thể trí là khí cụ ghi nhận tiến trình “trở thành”, nhưng trong các giai đoạn về sau của sự khai mở nhân loại, nó cũng có khả năng ghi nhận bản chất hay chức năng của bản thể. Sự trở thành được mặc khải qua trung gian của trí năng; Bản Thể, qua trung gian của trực giác. Trong mọi nghiên cứu về ảo tưởng, cần nhớ bản chất khí cụ của thể trí và quyền năng của nó trong việc ghi nhận chính xác, diễn giải [174] và truyền đạt tri thức đến từ thế giới hiện tượng và minh triết đến từ lĩnh vực của linh hồn.

[Webinar 169]

2. The factor of the method whereby humanity is made aware of that which is not immediately apparent. This is the method or process of what has been called “imposed revelation” or the impression conveyed to minds capable of reception of those ideas, beings, plans and purposes which exist behind the scenes, so to speak, and which are (in the last analysis) the factors which determine and condition the world process. These revelations or subjective, vital impressions are revealed by the intuition and have nothing to do with the knowledges, impressions and impacts which are related to the three worlds of human evolution, except in so far that (when grasped and apprehended) they have steadily transformed man’s way of living, revealed to him his goals, and indicated his true nature. The revelations given throughout the ages and impressed on the minds of those trained to receive them deal with the great universals, are concerned with the whole, and lead to a developed appreciation of the oneness of life and with hylozoistic expression.

2. Yếu tố về phương pháp nhờ đó nhân loại được làm cho ý thức về điều không hiển nhiên ngay trước mắt. Đây là phương pháp hay tiến trình của điều đã được gọi là “mặc khải được áp đặt”, hay ấn tượng được truyền đến những thể trí có khả năng tiếp nhận các ý tưởng, các thực thể, các kế hoạch và các mục đích hiện hữu, nói như vậy, đằng sau hậu trường, và xét đến cùng là những yếu tố quyết định và tác động lên tiến trình thế giới. Những mặc khải hay các ấn tượng chủ quan, sống động này được trực giác mặc khải và không liên quan gì đến các tri thức, ấn tượng và tác động liên hệ với ba cõi của sự tiến hoá nhân loại, ngoại trừ ở mức độ rằng, khi được nắm bắt và lĩnh hội, chúng đã đều đặn chuyển đổi lối sống của con người, mặc khải cho y các mục tiêu của y, và chỉ ra bản chất chân thật của y. Các mặc khải được ban qua các thời đại và được in vào trí tuệ của những người được huấn luyện để tiếp nhận chúng đều đề cập đến những điều phổ quát vĩ đại, liên quan đến toàn thể, và dẫn đến một sự cảm nhận phát triển về tính duy nhất của sự sống và về biểu hiện vật hoạt luận.

Two paralleling processes have produced humanity and its civilisation: One is the evolutionary process itself whereby the mind of the individual has been gradually unfolded until it becomes the dominant aspect in the personality; and at the same time a graded, wisely imparted series of revelations which have led humanity as a whole nearer to the inevitable apprehension of being; they have led him steadily away from identification with form and into those states of consciousness which are super-normal from the ordinary human angle but entirely normal from the spiritual.

Hai tiến trình song hành đã tạo ra nhân loại và nền văn minh của nó: một là chính tiến trình tiến hoá, nhờ đó thể trí của cá nhân đã dần dần khai mở cho đến khi nó trở thành phương diện chi phối trong phàm ngã; đồng thời là một chuỗi mặc khải được truyền đạt theo cấp bậc và một cách minh triết, đã dẫn nhân loại như một toàn thể đến gần hơn với sự lĩnh hội tất yếu về bản thể; chúng đã đều đặn dẫn y rời khỏi sự đồng hoá với hình tướng và đi vào những trạng thái tâm thức siêu bình thường theo góc nhìn nhân loại thông thường, nhưng hoàn toàn bình thường theo góc nhìn tinh thần.

[175]

[175]

Putting this concept specifically into occult terminology: Individuality has led to the steady perfecting of the mind with its perception, apprehension, analysis and interpretation whilst initiation, through the growth of the intuition, brings about (when the mental perfecting process has reached a relatively high degree of development) the apprehension of the world of spiritual values, of unified being and of intuitive understanding. This involves a consequent moving of the point of individual focus out of the world of phenomena into the world of reality. The lower use of the mind and its processes of unfoldment have produced illusion whilst the unfoldment of the higher mind and, later, its use as the transmitter of the intuition and of the higher revelation, will produce the transfiguration of the three worlds of phenomena in terms of the world of being.

Đặt khái niệm này một cách chuyên biệt vào thuật ngữ huyền bí: Tính cá thể đã dẫn đến sự hoàn thiện đều đặn của thể trí với năng lực tri giác, lĩnh hội, phân tích và diễn giải của nó, trong khi điểm đạo, qua sự tăng trưởng của trực giác, đem lại, khi tiến trình hoàn thiện trí tuệ đã đạt đến một mức phát triển tương đối cao, sự lĩnh hội thế giới của các giá trị tinh thần, của bản thể hợp nhất và của sự thấu hiểu trực giác. Điều này kéo theo sự chuyển dịch điểm tập trung cá nhân ra khỏi thế giới hiện tượng để vào thế giới thực tại. Việc sử dụng thấp của thể trí và các tiến trình khai mở của nó đã tạo ra ảo tưởng, trong khi sự khai mở của thượng trí và về sau việc sử dụng nó như khí cụ truyền đạt trực giác và mặc khải cao hơn sẽ tạo ra sự biến hình của ba cõi hiện tượng theo các điều kiện của thế giới bản thể.

[Webinar 170]

Illusion is frequently misinterpreted and misapplied mental perception of truth. It has naught to do with the mental phase of glamour, though illusion can be carried down into the world of feeling and become glamour. When this happens, its potency is exceedingly great because a thoughtform has become an entity, with vital power, and the magnetic power of feeling is added to the cold form of thought. Ponder on this. But at the stage with which we are now dealing, which is that of pure illusion, a revelation has precipitated upon the mental plane and—owing to failure rightly to apprehend and interpret it or to apply it usefully—it has developed into an illusion and enters upon a career of deception, of crystallisation and of misinformation.

Ảo tưởng thường là sự tri giác trí tuệ về chân lý bị hiểu sai và áp dụng sai. Nó không liên quan gì đến giai đoạn trí tuệ của ảo cảm, dù ảo tưởng có thể được kéo xuống thế giới cảm xúc và trở thành ảo cảm. Khi điều này xảy ra, quyền năng của nó cực kỳ lớn, bởi một hình tư tưởng đã trở thành một thực thể, với quyền năng thiết yếu, và quyền năng từ tính của cảm xúc được thêm vào hình tướng lạnh lùng của tư tưởng. Hãy suy ngẫm về điều này. Nhưng ở giai đoạn mà chúng ta hiện đang bàn đến, tức giai đoạn của ảo tưởng thuần túy, một mặc khải đã ngưng tụ trên cõi trí và—do thất bại trong việc lĩnh hội và diễn giải đúng đắn nó, hoặc áp dụng nó một cách hữu ích—nó đã phát triển thành một ảo tưởng và bước vào một hành trình lừa dối, kết tinh và thông tin sai lệch.

The theme of this technique is, therefore, concerned primarily with:

Vì vậy, chủ đề của kỹ thuật này chủ yếu liên quan đến:

1. The process of revelation. This process has been and today is the main testimony and guarantee of the existence, [176] behind the scenes of the phenomenal life, of a revealing Group or Agency whose task is of a triple nature:

1. Tiến trình mặc khải. Tiến trình này đã và ngày nay vẫn là chứng tích chính yếu cùng sự bảo đảm cho sự hiện hữu, [176] đằng sau hậu trường của đời sống hiện tượng, của một Nhóm hay Cơ Quan Mặc Khải, có nhiệm vụ mang bản chất tam phân:

a. To gauge the unfoldment of the human consciousness and to meet its constant appeal and demand for further light and knowledge.

a. Đánh giá sự khai mở của tâm thức nhân loại và đáp ứng lời kêu gọi cùng nhu cầu thường xuyên của nó về thêm ánh sáng và tri thức.

b. To judge what is the next needed revelation and what form it should take, through what medium it should emerge, and where and when it should appear.

b. Phán đoán đâu là mặc khải kế tiếp cần thiết và nó nên mang hình thức nào, qua trung gian nào nó nên xuất hiện, và ở đâu cùng khi nào nó nên hiện ra.

c. To ascertain with what obstructions, hindrances, and preconceived ideas the new incoming revelation will have to contend.

c. Xác định mặc khải mới đang đi vào sẽ phải đối diện với những chướng ngại, trở ngại và định kiến nào.

2. The fact of the Presence. This Presence is the impelling force behind all revelation and is in reality God Immanent, striving ever for recognition and Itself impelled thereto by the fact of God Transcendent.

2. Sự kiện về Hiện Diện. Hiện Diện này là mãnh lực thúc đẩy đằng sau mọi mặc khải, và trong thực tại là Thượng đế Nội Tại, luôn nỗ lực để được nhận biết và chính Nó được thúc đẩy đến đó bởi sự kiện về Thượng đế Siêu Việt.

3. The influence of the Angel, who is the individualised seed of consciousness through whom, after due growth and response of the personal lower self, will come the revelation of the Presence. All true revelation is concerned with the unfolding glory of divinity in some field of expression, thereby testifying to the latent hidden Presence.

3. Ảnh hưởng của Thiên Thần, Đấng là hạt giống tâm thức đã được biệt ngã hóa, qua Ngài, sau sự tăng trưởng thích đáng và sự đáp ứng của phàm ngã cá nhân thấp, sẽ đến sự mặc khải về Hiện Diện. Mọi mặc khải chân thật đều liên quan đến vinh quang đang khai mở của thiên tính trong một lĩnh vực biểu hiện nào đó, nhờ vậy làm chứng cho Hiện Diện ẩn tàng đang tiềm phục.

4. The reaction of the intuitives throughout the world to that revelation and the form in which they present it to the world thinkers. These latter are ever the first to appreciate and appropriate the new truth. The intuitives present the next phase of truth in a relatively pure form even though at the time of presentation it may be symbolically veiled. [177]

4. Phản ứng của những người trực giác trên khắp thế giới trước mặc khải ấy và hình thức mà họ trình bày nó cho các nhà tư tưởng thế giới. Những người sau này luôn là những người đầu tiên cảm nhận và tiếp nhận chân lý mới. Những người trực giác trình bày giai đoạn kế tiếp của chân lý trong một hình thức tương đối tinh khiết, dù vào lúc trình bày nó có thể được che phủ bằng biểu tượng. [177]

5. The response of the thinking world to the presented truth. It is at this point that illusion appears and misinterpretation and misrepresentation take place. These untrue interpretations of revealed truth, when they have lasted long enough and have acquired momentum, add to the general illusion and become part of it and thus feed and are fed by the world illusion. This is the built-up illusory form of thought, developed down the ages, which controls so much of the mass belief. When the revelation reaches this stage, the mass of men become involved; they recognise the illusion as the truth; they regard this illusion as reality; they fail to grasp the significance of the veiled, symbolically presented revelation but confuse it with the illusory presentation, and thus the intuitively perceived revelation becomes a distorted, twisted doctrine.

5. Sự đáp ứng của thế giới tư tưởng trước chân lý được trình bày. Chính tại điểm này ảo tưởng xuất hiện, và sự hiểu sai cùng trình bày sai diễn ra. Những diễn giải không đúng này về chân lý được mặc khải, khi đã kéo dài đủ lâu và đã tích lũy đà tiến, sẽ thêm vào ảo tưởng chung và trở thành một phần của nó; như vậy chúng nuôi dưỡng và được nuôi dưỡng bởi ảo tưởng thế giới. Đây là hình tư tưởng ảo tưởng đã được xây dựng, phát triển qua các thời đại, vốn kiểm soát rất nhiều niềm tin của quần chúng. Khi mặc khải đạt đến giai đoạn này, khối đông con người bị lôi cuốn vào; họ nhận biết ảo tưởng như chân lý; họ xem ảo tưởng này là thực tại; họ không nắm bắt được thâm nghĩa của mặc khải được che phủ và trình bày bằng biểu tượng, mà lẫn lộn nó với sự trình bày ảo tưởng; và như vậy, mặc khải được trực giác tri nhận trở thành một giáo thuyết bị bóp méo, vặn vẹo.

Theological interpretations and dogmas fall into this category and there ensues a re-enactment of the ancient drama of the blind leading the blind, to which Christ referred as He faced the theologians of His time.

Các diễn giải thần học và giáo điều thuộc vào loại này, và sau đó diễn ra sự tái diễn vở kịch cổ xưa của người mù dẫn người mù, điều mà Đức Christ đã nhắc đến khi Ngài đối diện với các nhà thần học thời của Ngài.

The above statements are true of all revelation as it comes forth from the emanating centre of light, whether they concern so-called religious truth or scientific discoveries or the great standard of spiritual values whereby advanced humanity of both hemispheres seek to live and which, from time to time, move on a step in significance and in importance.

Những phát biểu trên đúng với mọi sự mặc khải khi nó phát xuất từ trung tâm ánh sáng đang phát xạ, dù chúng liên quan đến chân lý tôn giáo được gọi là như thế, hay các khám phá khoa học, hay chuẩn mực lớn lao của các giá trị tinh thần mà nhờ đó nhân loại tiến bộ ở cả hai bán cầu tìm cách sống theo và theo thời gian, tiến thêm một bước về thâm nghĩa và tầm quan trọng.

[Webinar 171]

a. Intuition dispels Individual Illusion—a. Trực giác xua tan Ảo tưởng Cá nhân

Today we have reached a crisis in the field of human apprehension and can now enter into a new era wherein illusion can be dispelled and thinkers can begin to register accurately and without misapprehension that which the intuitives convey to them. This statement does not as yet apply to the [178] general public. It will be a long time before they will respond without illusion, because illusion is based upon the thoughtform-building activity of the lower mind. The masses are just beginning to use that lower mind and illusion is, therefore, for them a necessary stage of testing and training and one through which they must pass or they will lose much valuable experience, leaving undeveloped their powers of discrimination. This is a point which all teachers of occultism should have in mind. It is essential consequently that the masses are taught the significance of illusion and be trained to see and choose the kernel of pure truth in any presentation of truth with which they may be confronted. It is essential likewise that the world intuitives learn to use and control and understand the faculty of spiritual perception, of divine isolation and appropriate response which characterises the intuition. This they can do through the practice of the Technique of the Presence, but not as it is usually taught and presented.

Ngày nay, chúng ta đã đi đến một cuộc khủng hoảng trong lĩnh vực tri nhận của nhân loại và hiện có thể bước vào một kỷ nguyên mới, trong đó ảo tưởng có thể được xua tan và các nhà tư tưởng có thể bắt đầu ghi nhận một cách chính xác, không hiểu lầm, điều mà những người trực giác truyền đạt cho họ. Phát biểu này hiện chưa áp dụng cho [178] công chúng nói chung. Sẽ còn lâu họ mới đáp ứng mà không có ảo tưởng, vì ảo tưởng đặt nền trên hoạt động kiến tạo hình tư tưởng của hạ trí. Quần chúng chỉ mới bắt đầu sử dụng hạ trí ấy, và do đó, đối với họ, ảo tưởng là một giai đoạn thử thách và huấn luyện cần thiết, một giai đoạn họ phải đi qua; nếu không, họ sẽ mất nhiều kinh nghiệm quý báu, để cho các năng lực phân biện của mình không được phát triển. Đây là một điểm mà mọi huấn sư huyền bí học cần ghi nhớ. Vì vậy, điều thiết yếu là quần chúng phải được dạy về thâm nghĩa của ảo tưởng và được huấn luyện để thấy và chọn lấy hạt nhân chân lý thuần khiết trong bất cứ trình bày nào về chân lý mà họ có thể đối diện. Cũng thiết yếu như thế là những người trực giác của thế giới phải học cách sử dụng, kiểm soát và thấu hiểu năng lực tri nhận tinh thần, sự cô lập thiêng liêng và sự đáp ứng thích đáng vốn đặc trưng cho trực giác. Họ có thể làm điều này qua việc thực hành Kỹ Thuật của Hiện Diện, nhưng không phải như cách nó thường được giảng dạy và trình bày.

Perhaps I shall make my meaning clearer if I state that this technique falls into certain scientific lines or modes of work, for which much of the training given in schools of true meditation and in the Raja Yoga systems have prepared the aspirant. These stages begin where the usual formulas leave off, and pre-suppose facility in approach to the Angel or the soul, and an ability to raise the consciousness to a point of soul fusion. I will list the processes or stages as follows:

Có lẽ Tôi sẽ làm rõ hơn ý của mình nếu Tôi nói rằng kỹ thuật này đi theo một số đường lối hay phương thức làm việc khoa học nhất định, mà phần lớn sự huấn luyện được truyền dạy trong các trường tham thiền chân chính và trong các hệ thống Du-già Vương giả đã chuẩn bị cho người chí nguyện. Những giai đoạn này bắt đầu tại nơi các công thức thông thường chấm dứt, và giả định sẵn sự thành thạo trong việc tiếp cận Thiên Thần hay linh hồn, cùng khả năng nâng tâm thức đến một điểm dung hợp với linh hồn. Tôi sẽ liệt kê các tiến trình hay giai đoạn như sau:

1. The evocation of the stage of tension. This is basic and essential. It is a tension brought about by complete control of the personal self so that it is “fitted for contact with the real.”

1. Sự gợi lên giai đoạn căng thẳng nhất tâm. Điều này là nền tảng và thiết yếu. Đó là một sự căng thẳng nhất tâm do việc kiểm soát hoàn toàn phàm ngã tạo nên, khiến nó “thích hợp để tiếp xúc với thực tại.”

2. The achieving of a state of fusion with the soul or with the Angel which guards the approach to the Path of the Higher Evolution. [179]

2. Việc đạt được trạng thái dung hợp với linh hồn hay với Thiên Thần, Đấng canh giữ lối vào Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. [179]

3. The holding of the mind steady in the light of the soul, which remains the attitude of the lower self for the entire remaining period of work, held at the point of tension by the soul and not by an effort of the personality. The soul undertakes this holding when the personal self has done its utmost to achieve the desired tension.

3. Việc giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng của linh hồn; điều này vẫn là thái độ của phàm ngã trong toàn bộ thời gian làm việc còn lại, được linh hồn giữ tại điểm căng thẳng nhất tâm, chứ không phải do nỗ lực của phàm ngã. Linh hồn đảm nhận việc giữ vững này khi phàm ngã đã làm hết sức để đạt được sự căng thẳng nhất tâm mong muốn.

These are the three preliminary steps for which the practice of alignment should have prepared the student of the higher mysteries. These steps must precede all effort to develop the intuition, and this may take several months (or even years) of careful preparation. Fire is the symbol of the mind and these are the first three stages of the Agni Yoga discipline or of the yoga of fire for which Raja Yoga has prepared the student.

Đây là ba bước sơ bộ mà việc thực hành chỉnh hợp lẽ ra đã chuẩn bị cho đạo sinh của các huyền nhiệm cao siêu. Những bước này phải đi trước mọi nỗ lực phát triển trực giác, và điều này có thể cần nhiều tháng, thậm chí nhiều năm, chuẩn bị cẩn trọng. Lửa là biểu tượng của thể trí, và đây là ba giai đoạn đầu của kỷ luật Du-già Lửa, hay du-già của lửa, mà Du-già Vương giả đã chuẩn bị cho đạo sinh.

[Webinar 172]

Next come six more stages in the Technique, and these must be thoroughly understood and form the basis of prolonged brooding and intelligent reflection, carried on whilst the daily avocations and duties are being performed and not carried out at certain set times. The trained intuitive or disciple lives ever the dual life of mundane activity and of intense and simultaneous spiritual reflection. This will be the outstanding characteristic of the Western disciple in contradistinction to the Eastern disciple who escapes from life into the silent places and away from the pressures of daily living and constant contact with others. The task of the Western disciple is much harder, but that which he will prove to himself and to the world as a whole will be still higher. This is to be expected if the evolutionary process means anything. The Western races must move forward into spiritual supremacy, without obliterating the Eastern contribution, and the functioning of the Law of Rebirth holds the clue to this and demonstrates this necessity. The [180] tide of life moves from East to West as moves the sun, and those who in past centuries struck the note of Eastern mysticism must strike and are now striking the note of Western occultism. Therefore, the following stages must follow upon the three earlier. We will continue with the numbering as given, for what I here suggest is a formula for a more advanced meditation attitude. I said not form.

Kế đó là sáu giai đoạn nữa trong Kỹ Thuật này, và chúng phải được thấu hiểu triệt để, đồng thời trở thành nền tảng của sự suy tưởng kéo dài và sự phản tỉnh thông minh, được thực hiện trong khi các công việc và bổn phận hằng ngày đang diễn ra, chứ không chỉ vào những thời điểm cố định nào đó. Người trực giác hay đệ tử đã được huấn luyện luôn sống đời sống kép: hoạt động trần thế và đồng thời phản tỉnh tinh thần sâu sắc. Đây sẽ là đặc điểm nổi bật của đệ tử phương Tây, khác với đệ tử phương Đông, là người rút khỏi đời sống vào những nơi yên lặng, xa khỏi áp lực của sinh hoạt hằng ngày và sự tiếp xúc thường xuyên với người khác. Nhiệm vụ của đệ tử phương Tây khó khăn hơn nhiều, nhưng điều y sẽ chứng minh cho chính mình và cho toàn thể thế giới sẽ còn cao hơn nữa. Điều này là điều phải được mong đợi nếu tiến trình tiến hóa có ý nghĩa gì. Các giống dân phương Tây phải tiến tới ưu thế tinh thần mà không xóa bỏ đóng góp của phương Đông, và sự vận hành của Định luật Tái sinh giữ chìa khóa cho điều này, đồng thời chứng minh tính tất yếu ấy. [180] Dòng triều sự sống chuyển từ Đông sang Tây như mặt trời chuyển động, và những ai trong các thế kỷ trước đã xướng lên âm điệu của Thần bí học phương Đông thì nay phải xướng lên, và đang xướng lên, âm điệu của huyền bí học phương Tây. Vì vậy, các giai đoạn sau đây phải tiếp nối ba giai đoạn trước. Chúng ta sẽ tiếp tục cách đánh số như đã cho, vì điều Tôi gợi ý ở đây là một công thức cho một thái độ tham thiền tiến bộ hơn. Tôi không nói là một hình thức.

4. Definite and sustained effort to sense the Presence throughout the Universe in all forms and in all presentations of truth. This could be expressed in the words: “the effort to isolate the germ or seed of divinity which has brought all forms into being.” I would point out that this is not the attainment of a loving attitude and a sentimental approach to all people and circumstances. That is the mystical way and though not intended to be negated in the disciple’s life, is not used at this time in the process of effective approach. It is the effort primarily to see in the light which the Angel radiates the point of light behind all phenomenal appearances. This is, therefore, the transference of the mystical vision to the higher levels of awareness. It is not the vision of the soul but the vision or the spiritual sensing of that which the light of the soul can aid in revealing. The flickering soul light in the personal self has enabled the disciple to see the vision of the soul and in that light to reach union with the soul, even if only temporarily. Now the greater light of the soul becomes focussed like a radiant sun and it reveals in its turn a still more stupendous vision—that of the Presence, of which the Angel is the guarantee and promise. As the light of the Moon is the guarantee that the light of the Sun exists, so the light of the Sun is the guarantee, did you but know it, of a still greater light. [181]

4. Nỗ lực rõ ràng và bền bỉ để cảm nhận Hiện Diện trong toàn Vũ trụ, trong mọi hình tướng và trong mọi trình bày của chân lý. Điều này có thể được diễn đạt bằng những lời sau: “nỗ lực cô lập mầm hay hạt giống của thiên tính đã đưa mọi hình tướng vào hiện hữu.” Tôi muốn chỉ ra rằng đây không phải là việc đạt được một thái độ yêu thương và một cách tiếp cận đa cảm đối với mọi người và mọi hoàn cảnh. Đó là con đường thần bí, và tuy không nhằm bị phủ nhận trong đời sống của đệ tử, nó không được dùng vào lúc này trong tiến trình tiếp cận hiệu quả. Chủ yếu đó là nỗ lực nhìn thấy trong ánh sáng mà Thiên Thần tỏa chiếu điểm sáng đằng sau mọi sắc tướng hiện tượng. Vì vậy, đây là sự chuyển dịch tầm nhìn thần bí lên các cấp độ nhận thức cao hơn. Đó không phải là tầm nhìn của linh hồn, mà là tầm nhìn hay sự cảm nhận tinh thần về điều mà ánh sáng của linh hồn có thể trợ giúp để mặc khải. Ánh sáng linh hồn chập chờn trong phàm ngã đã giúp đệ tử thấy được tầm nhìn của linh hồn, và trong ánh sáng ấy đạt đến sự hợp nhất với linh hồn, dù chỉ tạm thời. Giờ đây, ánh sáng lớn hơn của linh hồn được tập trung như một mặt trời rực rỡ, và đến lượt nó mặc khải một tầm nhìn còn kỳ vĩ hơn—tầm nhìn về Hiện Diện, mà Thiên Thần là bảo chứng và lời hứa. Như ánh sáng của Mặt Trăng là bảo chứng rằng ánh sáng của Mặt Trời hiện hữu, thì ánh sáng của Mặt Trời, nếu các bạn chỉ biết, cũng là bảo chứng của một ánh sáng còn lớn hơn nữa. [181]

[Webinar 173]

5. Then, having sensed the Presence—not theoretically but in vibrating response to its Existence—there next comes the stage of the ascertaining of the Purpose. Hope of identification with the purpose lies too far ahead even for the average initiate, under the status of Master. With that unattainable stage (for us) we are not concerned. But we are concerned with the effort to achieve an understanding of that which through the medium of form is seeking to embody the high purpose at any particular point in the evolutionary cycle. This is possible and has been achieved down the ages by those who have rightly approached and duly reflected upon the Way of the Higher Evolution. This Way is revealed to the disciple, e’en though it may not concern the intuitive message which he may bring back from his high adventure.

5. Khi đã cảm nhận được Hiện Diện—không phải về mặt lý thuyết, mà trong đáp ứng rung động đối với Sự Hiện Hữu của Hiện Diện—thì kế đó đến giai đoạn xác định Thiên Ý. Hy vọng đồng hoá với Thiên Ý còn ở quá xa, ngay cả đối với điểm đạo đồ trung bình dưới cấp bậc Chân sư. Với giai đoạn không thể đạt tới ấy đối với chúng ta, chúng ta không bàn đến. Nhưng chúng ta quan tâm đến nỗ lực đạt được sự thấu hiểu về điều, qua trung gian hình tướng, đang tìm cách thể hiện Thiên Ý cao cả tại bất kỳ điểm nào trong chu kỳ tiến hóa. Điều này là khả hữu và đã được những người qua các thời đại đạt được, khi họ tiếp cận đúng đắn và suy ngẫm thích đáng về Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Con đường này được mặc khải cho đệ tử, dù nó có thể không liên quan đến thông điệp trực giác mà y có thể mang về từ cuộc phiêu lưu cao siêu của mình.

6. He then carries some world problem, some design which his mind has evolved or his heart desired for the helping of humanity into what is esoterically called “the triple light of the intuition.” This light is formed by the blending of the light of the personal self, focussed in the mind, the light of the soul, focussed in the Angel, and the universal light which the Presence emits; this, when done with facility through concentration and long practice, will produce two results:

6. Kế đó, y đem một vấn đề thế giới nào đó, một thiết kế nào đó mà thể trí của y đã phát triển hoặc trái tim y đã ao ước nhằm trợ giúp nhân loại, vào điều được gọi một cách huyền bí là “ánh sáng tam phân của trực giác.” Ánh sáng này được tạo thành do sự hòa trộn ánh sáng của phàm ngã, tập trung trong thể trí, ánh sáng của linh hồn, tập trung trong Thiên Thần, và ánh sáng phổ quát mà Hiện Diện phát ra; khi việc này được thực hiện thành thạo qua tập trung và thực hành lâu dài, nó sẽ tạo ra hai kết quả:

a. There will suddenly dawn upon the disciple’s waiting mind (which still remains the agent of reception) the answer to his problem, the clue to what is needed to bring relief to humanity, the information desired which, when applied, will unlock some door in the realm of science, psychology or religion. This door, when opened, will bring relief or release to many. As before I have told you, the intuition is never concerned [182] with individual problems or enquiries, as so many self-centred aspirants think. It is purely impersonal and only applicable to humanity in a synthetic sense.

a. Đáp án cho vấn đề của y, chìa khóa cho điều cần thiết để đem lại sự cứu trợ cho nhân loại, thông tin được mong muốn mà khi áp dụng sẽ mở một cánh cửa nào đó trong lĩnh vực khoa học, tâm lý học hay tôn giáo, sẽ đột nhiên ló dạng trong thể trí đang chờ đợi của đệ tử, thể trí vẫn là tác nhân tiếp nhận. Cánh cửa này, khi mở ra, sẽ đem lại sự cứu trợ hay giải thoát cho nhiều người. Như trước đây Tôi đã nói với các bạn, trực giác không bao giờ liên quan [182] đến các vấn đề hay thắc mắc cá nhân, như rất nhiều người chí nguyện tập trung vào bản thân vẫn nghĩ. Nó hoàn toàn phi cá nhân và chỉ áp dụng cho nhân loại theo nghĩa tổng hợp.

b. The “intruding agent of light” (as the Old Commentary calls these adventuring intuitives) is recognised as one to whom can be entrusted some revelation, some new impartation of truth, some significant expansion from a seed of truth already given to the race. He then sees a vision, hears a voice, registers a message, or—highest form of all—he becomes a channel of power and light to the world, a conscious Embodiment of divinity, or a Custodian of a divine principle. These forms constitute true revelation, imparted or embodied; they are still rare but will increasingly be developed in humanity.

b. “Tác nhân ánh sáng xâm nhập”, như Cổ Luận gọi những người trực giác phiêu lưu này, được nhận biết là người có thể được trao phó một mặc khải nào đó, một truyền đạt mới nào đó của chân lý, một sự mở rộng có thâm nghĩa nào đó từ một hạt giống chân lý đã được trao cho nhân loại. Khi ấy y thấy một tầm nhìn, nghe một tiếng nói, ghi nhận một thông điệp, hoặc—hình thức cao nhất trong tất cả—y trở thành một kênh dẫn quyền năng và ánh sáng cho thế giới, một Hiện Thân có ý thức của thiên tính, hay một Người Giữ gìn một nguyên khí thiêng liêng. Những hình thức này cấu thành sự mặc khải chân chính, được truyền đạt hay được thể hiện; chúng vẫn còn hiếm, nhưng sẽ ngày càng được phát triển trong nhân loại.

7. The next few stages are called, in preparation for the revelation:

7. Vài giai đoạn kế tiếp được gọi, trong việc chuẩn bị cho sự mặc khải, là:

a. The relinquishing of the Higher Way.

a. Sự từ bỏ Con Đường Cao Siêu.

b. The return to the Angel, or a refocussing in the soul.

b. Sự trở về với Thiên Thần, hay một sự tái tập trung trong linh hồn.

c. A pause or interlude for constructive thinking, under the influence of the Angel.

c. Một khoảng dừng hay quãng nghỉ để tư duy xây dựng, dưới ảnh hưởng của Thiên Thần.

d. The turning of the mind to the formulation of those forms of thought which must embody the revelation.

d. Sự xoay thể trí về việc định hình những hình tư tưởng phải thể hiện sự mặc khải.

e. Then again a pause which is called “the pause preceding presentation.”

e. Rồi lại một khoảng dừng nữa, được gọi là “khoảng dừng trước khi trình bày.”

8. The presentation of the revelation or of the imparted truth and its precipitation into the world of illusion comes next. In that world of illusion, it undergoes the “fiery ordeal” wherein “some of the fire within that which is revealed wings its way back to the source from whence it came; some of it serves to destroy the revealer, [183] and some to burn those who recognise the revelation.” This is a phase of Agni Yoga which, as you can see, is only for those who can penetrate beyond the Angel into the place “where fire dwelleth,” and where God, the Presence, functions as a consuming fire and waits for the hour of total revelation. This is a symbolic rendering of a great truth. In the case of the individual initiate, the third initiation, the Transfiguration, marks the consummation of the process. Only glory then is seen: only the voice of the Presence is heard and union with the past, the present and the future is reached.

8. Kế đến là sự trình bày mặc khải hay chân lý được truyền đạt, và sự ngưng tụ của nó vào thế giới ảo tưởng. Trong thế giới ảo tưởng ấy, nó trải qua “cuộc thử thách bằng lửa”, trong đó “một phần lửa bên trong điều được mặc khải vỗ cánh quay về nguồn cội từ nơi nó đã đến; một phần lửa ấy dùng để hủy diệt người mặc khải, [183] và một phần để đốt cháy những người nhận biết sự mặc khải.” Đây là một giai đoạn của Du-già Lửa mà, như các bạn có thể thấy, chỉ dành cho những ai có thể xuyên vượt qua Thiên Thần vào nơi “lửa cư ngụ”, và nơi Thượng đế, Hiện Diện, vận hành như một ngọn lửa thiêu đốt và chờ đợi giờ phút mặc khải toàn vẹn. Đây là cách diễn đạt biểu tượng của một chân lý lớn lao. Trong trường hợp điểm đạo đồ cá nhân, lần điểm đạo thứ ba, Biến hình, đánh dấu sự viên mãn của tiến trình. Khi ấy chỉ còn vinh quang được thấy; chỉ tiếng nói của Hiện Diện được nghe, và sự hợp nhất với quá khứ, hiện tại và tương lai được đạt tới.

9. The succumbing of the revelation to the prevailing illusion, its descent into the world of glamour, and its subsequent disappearance as a revelation and its emergence as a doctrine. But, in the meantime, humanity has been helped and led forward; the intuitives continue to work and the inflow of that which is to be revealed never ceases.

9. Sự mặc khải khuất phục trước ảo tưởng đang thịnh hành, sự giáng xuống của nó vào thế giới ảo cảm, và sự biến mất sau đó của nó với tư cách là một mặc khải, để rồi xuất hiện như một giáo lý. Tuy nhiên, trong lúc ấy, nhân loại đã được trợ giúp và dẫn dắt tiến lên; những người trực giác tiếp tục làm việc và dòng tuôn vào của điều cần được mặc khải không bao giờ ngừng.

[Webinar 175]

This basic technique underlies both primary and secondary revelations. In the case of the first, the time cycle is long; in the second, the time cycle is short. A very good instance of this process is demonstrated by one of the secondary points of revelation in connection with the teaching which emanated from the Hierarchy (the Custodian of secondary revelations, as Shamballa is of primary) fifty years ago and which took the form of The Secret Doctrine. H.P.B. was the “penetrating, sensing, appropriating intuitive.” The revelation she conveyed followed the accustomed routine of all secondary revelation from the Source to the outer plane. There the minds of men, veiled by illusion and clouded by glamour, formulated it into an inelastic doctrine, recognising no further revelation and holding steadily—many of the theosophical groups—that The Secret Doctrine was a final [184] revelation and that naught must be recognised but that book and naught deemed correct but their interpretations of that book. If they are correct, then evolutionary revelation is ended and the plight of humanity is hard indeed.

Kỹ thuật căn bản này nằm dưới cả các mặc khải chính yếu lẫn thứ yếu. Trong trường hợp thứ nhất, chu kỳ thời gian dài; trong trường hợp thứ hai, chu kỳ thời gian ngắn. Một ví dụ rất hay về tiến trình này được chứng minh bởi một trong các điểm mặc khải thứ yếu liên quan đến giáo huấn phát xuất từ Thánh đoàn, Đấng Giữ gìn các mặc khải thứ yếu cũng như Shamballa là Đấng Giữ gìn các mặc khải chính yếu, cách đây năm mươi năm và đã mang hình thức của Giáo Lý Bí Nhiệm. Bà Blavatsky là “người trực giác xuyên nhập, cảm nhận và chiếm hữu.” Sự mặc khải bà truyền đạt đã theo lộ trình quen thuộc của mọi mặc khải thứ yếu từ Nguồn đến cõi bên ngoài. Ở đó, trí tuệ của con người, bị che phủ bởi ảo tưởng và bị mây mù bởi ảo cảm, đã định hình nó thành một giáo lý cứng nhắc, không nhận biết thêm mặc khải nào nữa và nhiều nhóm Thông Thiên Học vẫn giữ vững rằng Giáo Lý Bí Nhiệm là một mặc khải cuối cùng [184] và rằng không điều gì phải được nhận biết ngoài cuốn sách ấy, cũng không điều gì được xem là đúng ngoài những diễn giải của họ về cuốn sách ấy. Nếu họ đúng, thì sự mặc khải tiến hóa đã chấm dứt và cảnh ngộ của nhân loại quả thật khốn khó.

Even the neophyte upon the way of the intuition can begin to develop in himself the power to recognise that which the lower mind cannot give him. Some thought of revealing potency, to be used for the helping of the many, may drop into his mind; some new light upon an old, old truth may penetrate, releasing the truth from the trammels of orthodoxy, thus illumining his consciousness. This he must use for all and not for himself alone. Little by little, he learns the way into the world of the intuition; day by day, and year by year, he becomes more sensitive to divine Ideas and more apt in appropriating them wisely for the use of his fellowmen.

Ngay cả người sơ cơ trên con đường trực giác cũng có thể bắt đầu phát triển trong chính mình quyền năng nhận biết điều mà hạ trí không thể trao cho y. Một tư tưởng nào đó có năng lực mặc khải, được dùng để trợ giúp nhiều người, có thể rơi vào thể trí của y; một ánh sáng mới nào đó soi trên một chân lý rất xưa có thể xuyên nhập, giải phóng chân lý khỏi xiềng xích của chính thống giáo, nhờ đó soi sáng tâm thức của y. Điều này y phải dùng cho tất cả, chứ không chỉ cho riêng mình. Từng chút một, y học con đường đi vào thế giới của trực giác; ngày qua ngày, năm qua năm, y trở nên nhạy bén hơn với các Ý Tưởng thiêng liêng và khéo léo hơn trong việc chiếm hữu chúng một cách minh triết để sử dụng cho đồng loại.

The hope of the world and the dispelling of illusion lies in the development of intuitives and their conscious training. There are many natural intuitives whose work is a blend of the higher psychism with flashes of true intuition. There must be the training of the exact intuitive. Paralleling their intuitive response and their effort to precipitate their intuition into the world of human thought, there must also be the steady development of the human mind so that it can grasp and apprehend what is projected, and in this too lies the hope of the race.

Hy vọng của thế giới và việc xua tan ảo tưởng nằm trong sự phát triển những người trực giác và sự huấn luyện có ý thức dành cho họ. Có nhiều người trực giác tự nhiên mà công việc của họ là sự pha trộn giữa thông linh cao cấp với những tia lóe của trực giác chân chính. Cần phải có sự huấn luyện người trực giác chính xác. Song song với đáp ứng trực giác của họ và nỗ lực của họ nhằm ngưng tụ trực giác vào thế giới tư tưởng nhân loại, cũng phải có sự phát triển bền bỉ của thể trí con người để nó có thể nắm bắt và tri nhận điều được phóng chiếu; và chính trong điều này cũng nằm hy vọng của nhân loại.

[Webinar 176]

b. Group Intuition dispels World Illusion—b. Trực giác Nhóm xua tan Ảo tưởng Thế giới

Today the world is full of illusions, many of them veiled under the form of idealisms; it is full of wishful thinking and planning, and even though much of this is rightly oriented and expresses the fixed determination of the intelligentsia to create better living conditions for the entire population [185] of the world, the question arises: Is there in the sum total of this wishful thinking enough of the essential dynamic livingness which will carry it down into physical demonstration and factual expression and thus truly meet human need? I would point out that the two greatest revealing Agents Who have ever come to Earth within the range of modern history made the following simple revelations to humanity:

Ngày nay, thế giới đầy những ảo tưởng, nhiều ảo tưởng trong số đó được che phủ dưới hình thức các chủ nghĩa lý tưởng; nó đầy những mơ ước và hoạch định theo ý muốn, và dù phần lớn điều này được định hướng đúng đắn và biểu lộ quyết tâm cố định của giới trí thức nhằm tạo ra những điều kiện sống tốt đẹp hơn cho toàn thể dân chúng [185] trên thế giới, câu hỏi nảy sinh là: Trong tổng thể những mơ ước theo ý muốn này, có đủ sức sống năng động thiết yếu để đưa nó xuống biểu hiện hồng trần và thể hiện thành sự kiện, nhờ đó thật sự đáp ứng nhu cầu của con người hay không? Tôi muốn chỉ ra rằng hai Tác Nhân mặc khải vĩ đại nhất từng đến Trái Đất trong phạm vi lịch sử hiện đại đã đem đến cho nhân loại các mặc khải đơn giản sau đây:

1. The cause of all human suffering is desire and personal selfishness. Give up desire and you will be free.

1. Nguyên nhân của mọi đau khổ nhân loại là dục vọng và sự ích kỷ cá nhân. Hãy từ bỏ dục vọng và các bạn sẽ được tự do.

2. There is a way of liberation and it leads to illumination.

2. Có một con đường giải thoát, và nó dẫn đến sự soi sáng.

3. It profits a man nothing to gain the whole world and lose his soul.

3. Một người được cả thế gian mà mất linh hồn mình thì chẳng ích lợi gì.

4. Every human being is a Son of God.

4. Mỗi con người là một Con của Thượng đế.

5. There is a way of liberation and it is the way of love and sacrifice.

5. Có một con đường giải thoát, và đó là con đường của tình thương và hi sinh.

The lives of these Revealers were symbolic representations of that which They taught, and the rest of Their teaching but an extension of Their central themes. Their contribution was an integral part of the general revelation of the ages which has led men from the primitive state of human existence to the complex state of modern civilisation. This general revelation can be called the Revelation of the Path which leads out of form to the Centre of all life; the purity of this revelation has been preserved down the ages by a small handful of disciples, initiates and true esotericists who have always been present upon the Earth—defending the simplicity of that teaching, seeking for those who could respond to and recognise the germ or seed of truth, and training men to take Their place and to tread the way of intuitive perception. One of the major tasks of the Hierarchy is to seek for and find those who are sensitive to revelation [186] and whose minds are trained so that they can formulate the emerging truths in such a way that they reach the ears of the world thinkers, relatively unchanged. All revelation, however, when put into words and word forms, loses something of its divine clarity.

Đời sống của các Đấng Mặc Khải này là những biểu hiện tượng trưng của điều Các Ngài đã dạy, và phần còn lại trong giáo huấn của Các Ngài chỉ là sự mở rộng các chủ đề trung tâm ấy. Đóng góp của Các Ngài là một phần toàn vẹn của sự mặc khải chung qua các thời đại, vốn đã dẫn con người từ trạng thái nguyên thủy của sự hiện hữu nhân loại đến trạng thái phức tạp của nền văn minh hiện đại. Sự mặc khải chung này có thể được gọi là Mặc Khải về Đường Đạo, dẫn ra khỏi hình tướng đến Trung Tâm của mọi sự sống; sự tinh khiết của mặc khải này đã được bảo tồn qua các thời đại bởi một nhóm nhỏ đệ tử, điểm đạo đồ và các nhà bí truyền học chân chính, những người luôn hiện diện trên Trái Đất—bảo vệ sự đơn giản của giáo huấn ấy, tìm kiếm những người có thể đáp ứng và nhận biết mầm hay hạt giống chân lý, và huấn luyện con người để đảm nhận vị trí của Các Ngài và bước trên con đường tri nhận trực giác. Một trong các nhiệm vụ chính yếu của Thánh đoàn là tìm kiếm và tìm thấy những người nhạy cảm với sự mặc khải [186] và có thể trí được huấn luyện để họ có thể định hình các chân lý đang xuất hiện theo cách chúng đến được tai của các nhà tư tưởng thế giới mà tương đối không bị biến đổi. Tuy nhiên, mọi mặc khải, khi được đưa vào ngôn từ và hình thức ngôn từ, đều mất đi phần nào sự trong sáng thiêng liêng của nó.

Much of the revelation of the past has come along the lines of the religious impulse and, as the illusion has deepened and grown in time, the original simplicity (as it was conveyed by its Revealers) has been lost. All basic revelations are presented in the simplest forms. Accretion after accretion crept in; the minds of men made the teaching complex through their mental dissertations until the great theological systems were built up which we call, for instance, the Christian Church and the Buddhist system. Their Founders would have much difficulty in recognising the two or three fundamental and divine facts or truths which They sought to reveal and emphasise, so great is the mantle of illusion which has been thrown over the simple pronouncements of the Christ and of the Buddha. The vast cathedrals and the pompous ceremonies of the orthodox are far removed from the humble way of the life of the Christ, the Master of all the Masters and the Teacher alike of angels and of men, and from the simplicity of His present way of life as He watches and waits for the return of His people to the simple way of spiritual realisation.

Phần lớn sự mặc khải trong quá khứ đã đến theo đường lối của xung lực tôn giáo, và khi ảo tưởng sâu dày thêm và lớn lên theo thời gian, sự đơn giản nguyên thủy, như đã được các Đấng Mặc Khải truyền đạt, đã bị mất. Mọi mặc khải căn bản đều được trình bày trong những hình thức đơn giản nhất. Từng lớp bồi đắp nối tiếp nhau len vào; trí tuệ con người làm cho giáo huấn trở nên phức tạp qua các luận giải trí tuệ của họ, cho đến khi các hệ thống thần học vĩ đại được dựng lên, mà chúng ta gọi, chẳng hạn, là Giáo hội Cơ Đốc và hệ thống Phật giáo. Các Đấng Sáng Lập của chúng hẳn sẽ rất khó nhận ra hai hay ba sự kiện hoặc chân lý căn bản và thiêng liêng mà Các Ngài đã tìm cách mặc khải và nhấn mạnh, bởi tấm màn ảo tưởng phủ lên những tuyên ngôn đơn giản của Đức Christ và Đức Phật quá dày. Các đại giáo đường đồ sộ và những nghi lễ khoa trương của giới chính thống cách rất xa lối sống khiêm nhường của Đức Christ, Chân sư của mọi Chân sư và cũng là Huấn Sư của thiên thần và con người, cũng như cách rất xa sự đơn giản trong lối sống hiện nay của Ngài khi Ngài quan sát và chờ đợi dân của Ngài trở về với con đường đơn giản của sự chứng nghiệm tinh thần.

[Webinar 177]

So great has been the illusion that in the West today men talk of the “temporal power of the Catholic Church”; the Protestant Churches are split up into warring factions; the Christian Science Church is known for its ability to amass money and to teach its adherents to do so and to achieve temporary good health; the Greek Orthodox Church was corrupt throughout, and only the simple faith of the uncultured and the poor has preserved any semblance of the truth in its original simple form. They have no ability for [187] high sounding theological discussions, but they do believe that God is love—just simply that—that there is a way which leads to peace and light, and that if they deny their own material desires they are pleasing God. I am, I know, widely generalising, brother of mine, for I do know also that there are wise and good Christians and churchmen within the theological systems; these, however, spend not their time in theological discussions but in loving their fellowmen, and this they do because they love Christ and all for which He stands. They are not interested in building great churches of stone and marble and in gathering together the money needed for their support; they are interested to gather out those who form the true Church upon the inner spiritual plane and in helping them to walk in the light.

Ảo tưởng đã lớn đến mức ngày nay ở phương Tây, con người nói đến “quyền lực thế tục của Giáo hội Công giáo”; các Giáo hội Tin Lành bị chia tách thành những phe phái giao tranh; Giáo hội Khoa Học Cơ Đốc được biết đến vì khả năng tích lũy tiền bạc và dạy tín đồ của mình làm như vậy, đồng thời đạt được sức khỏe tốt tạm thời; Giáo hội Chính thống Hy Lạp đã mục nát toàn diện, và chỉ đức tin đơn sơ của những người ít học và nghèo khó mới còn bảo tồn được chút dáng dấp nào đó của chân lý trong hình thức đơn giản nguyên thủy của nó. Họ không có khả năng tham gia các [187] cuộc thảo luận thần học nghe cao siêu, nhưng họ tin rằng Thượng đế là tình thương—chỉ đơn giản như thế—rằng có một con đường dẫn đến bình an và ánh sáng, và rằng nếu họ phủ nhận những ham muốn vật chất của riêng mình thì họ đang làm vui lòng Thượng đế. Huynh đệ của tôi, Tôi biết mình đang khái quát hóa rất rộng, vì Tôi cũng biết rằng có những tín đồ Cơ Đốc và giáo sĩ khôn ngoan, tốt lành bên trong các hệ thống thần học; tuy nhiên, những người này không dành thời gian cho các cuộc tranh luận thần học mà dành để yêu thương đồng loại, và họ làm điều này vì họ yêu Đức Christ và tất cả những gì Ngài đại diện. Họ không quan tâm đến việc xây các đại giáo đường bằng đá và cẩm thạch, cũng không quan tâm đến việc quyên góp tiền bạc cần thiết để duy trì chúng; họ quan tâm đến việc quy tụ những người hình thành Giáo hội chân chính trên cõi tinh thần bên trong, và giúp họ bước đi trong ánh sáng.

The illusion of power, the illusion of superiority, taints them not. After the world crisis is over, Churchmen everywhere will not rest until they can discover how to penetrate through the illusion of doctrine and dogma which engulfs them, and find their way back to Christ and His simple message which has in it the power to save the world, if recognised and practised.

Ảo tưởng quyền lực, ảo tưởng ưu việt, không làm họ vấy nhiễm. Sau khi cuộc khủng hoảng thế giới kết thúc, các giáo sĩ ở khắp nơi sẽ không nghỉ ngơi cho đến khi họ có thể khám phá cách xuyên qua ảo tưởng giáo lý và tín điều đang nhấn chìm họ, và tìm được đường trở về với Đức Christ cùng thông điệp đơn giản của Ngài, thông điệp có quyền năng cứu độ thế giới, nếu được nhận biết và thực hành.

Much of the true revelation since the time of Christ has come to the world along the line of science. The presentation, for instance, of material substance (scientifically proven) as essentially only a form of energy was as great a revelation as any given by the Christ or the Buddha. It completely revolutionised men’s thinking and was—little as you may think it—a major blow struck at the Great Illusion. It related energy to force, form to life, and man to God and held the secret of transformation, transmutation and transfiguration. The revelations of science when basic and fundamental are as divine as those of religion, but both have been prostituted to meet human demand. The era is [188] close at hand when science will bend every effort to heal humanity’s sores and build a better and happier world.

Phần lớn sự mặc khải chân chính kể từ thời Đức Christ đã đến với thế giới theo đường lối khoa học. Chẳng hạn, việc trình bày chất liệu vật chất, được chứng minh một cách khoa học, như về bản chất chỉ là một hình thức của năng lượng, là một mặc khải lớn lao như bất kỳ mặc khải nào do Đức Christ hay Đức Phật đưa ra. Nó hoàn toàn cách mạng hóa tư tưởng con người và—dù các bạn có thể ít nghĩ như vậy—là một đòn đánh lớn giáng vào Đại Ảo Tưởng. Nó liên hệ năng lượng với mãnh lực, hình tướng với sự sống, và con người với Thượng đế, đồng thời nắm giữ bí mật của sự chuyển đổi, chuyển hoá và biến hình. Các mặc khải của khoa học, khi căn bản và nền tảng, cũng thiêng liêng như các mặc khải của tôn giáo, nhưng cả hai đều đã bị lạm dụng để đáp ứng đòi hỏi của con người. Kỷ nguyên đang [188] gần kề khi khoa học sẽ dốc mọi nỗ lực để chữa lành các vết thương của nhân loại và xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn.

[Webinar 178]

The revelations of science, though focussed often through one man or woman, are more specifically the result of group endeavour and of trained group activity than are the revelations of religion, so called. Revelation, therefore, comes in two ways:

Các mặc khải của khoa học, dù thường được tập trung qua một người nam hay nữ, về mặt chuyên biệt hơn là kết quả của nỗ lực nhóm và hoạt động nhóm được huấn luyện, hơn là các mặc khải của cái gọi là tôn giáo. Vì vậy, mặc khải đến theo hai cách:

1. Through the effort, aspiration and achievement of one man who is so close to the Hierarchy and so imbued with conscious divinity that he can receive the message direct from the central divine Source. He has joined the ranks of the Great Intuitives and works freely in the world of divine Ideas. He knows His mission clearly; He chooses His sphere of activity with deliberation and isolates the truth or truths which He deems appropriate to the need of the time. He comes forth as a Messenger of the Most High, leads a dramatic and arresting life of service and symbolises in His life-events certain basic truths which have already been revealed but which He pictorially re-enacts. He epitomises in Himself the revelations of the past, and to them adds His Own contribution of the new revelation which it is His specific function to present to the world.

1. Qua nỗ lực, khát vọng và thành tựu của một người ở gần Thánh đoàn đến mức, và được thấm nhuần thiên tính có ý thức đến mức, y có thể nhận thông điệp trực tiếp từ Nguồn thiêng liêng trung tâm. Y đã gia nhập hàng ngũ các Bậc Trực Giác Vĩ Đại và làm việc tự do trong thế giới của các Ý Tưởng thiêng liêng. Ngài biết rõ sứ mệnh của Ngài; Ngài chọn lĩnh vực hoạt động của mình một cách có chủ ý và cô lập chân lý hay các chân lý mà Ngài xem là thích hợp với nhu cầu của thời đại. Ngài xuất hiện như một Sứ giả của Đấng Tối Cao, sống một đời phụng sự đầy kịch tính và gây chú ý, và biểu tượng hóa trong các biến cố đời Ngài một số chân lý căn bản đã được mặc khải, nhưng được Ngài tái diễn bằng hình ảnh. Ngài kết tinh trong chính Ngài các mặc khải của quá khứ, và thêm vào đó đóng góp riêng của Ngài là mặc khải mới mà chức năng chuyên biệt của Ngài là trình bày cho thế giới.

2. Through the effort of a group of seekers, such as the scientific investigators in every country, who together are searching for light on the problems of manifestation or for some means to alleviate human suffering, a revelation comes. The effort of such a group often lifts upon the wings of its unrealised aspiration some one man who can then penetrate into the world of divine Ideas and there find the longed for cure or key and thus he intuitively discovers a long sought secret. The discovery, [189] when of the first rank, is as much a revelation as the truths presented by the World Teachers. Who shall say that the statement that God is Love is of more value than the statement that All is Energy?

2. Qua nỗ lực của một nhóm người tìm kiếm, như các nhà điều tra khoa học ở mọi quốc gia, những người cùng nhau tìm kiếm ánh sáng trên các vấn đề của sự biểu hiện, hoặc một phương tiện nào đó để làm dịu đau khổ của con người, một mặc khải xuất hiện. Nỗ lực của một nhóm như thế thường nâng lên, trên đôi cánh của khát vọng chưa được nhận ra của mình, một người nào đó để rồi người ấy có thể xuyên nhập vào thế giới của các Ý Tưởng thiêng liêng và tại đó tìm thấy phương thuốc hay chìa khóa hằng mong đợi, nhờ vậy y trực giác khám phá ra một bí mật đã được tìm kiếm từ lâu. Sự khám phá ấy, [189] khi thuộc hàng bậc nhất, cũng là một mặc khải chẳng kém gì các chân lý do các Đức Chưởng Giáo trình bày. Ai sẽ nói rằng phát biểu Thượng đế là Tình thương có giá trị hơn phát biểu Tất cả là Năng lượng?

The route which the revelation then follows is the same in both cases, and illusion overtakes both forms of revelation but—and here is a point upon which I would ask you to reflect—there is a little less illusion gathered around the revelations of science than has gathered around the revelations of what humanity calls the more definitely spiritual truths. One reason lies in the fact that the last great spiritual revelation, given by the Christ, was given two thousand years ago, and the development of man’s mind and his responsiveness to truth has grown greatly since that time. Again, the revelations of science are largely the result of group tension, eventually focussed in one intuitive recipient, and the revelation is thereby protected.

Con đường mà sự mặc khải sau đó đi theo là như nhau trong cả hai trường hợp, và ảo tưởng bắt kịp cả hai hình thức mặc khải; nhưng—và đây là một điểm Tôi muốn các bạn suy ngẫm—có ít ảo tưởng tụ lại quanh các mặc khải của khoa học hơn là quanh các mặc khải của những điều mà nhân loại gọi là các chân lý tinh thần rõ rệt hơn. Một lý do nằm ở sự kiện rằng mặc khải tinh thần vĩ đại gần đây nhất, do Đức Christ ban cho, đã được trao cách đây hai nghìn năm, và sự phát triển của trí tuệ con người cùng khả năng đáp ứng của y đối với chân lý đã lớn lên rất nhiều kể từ thời ấy. Hơn nữa, các mặc khải của khoa học phần lớn là kết quả của sự căng thẳng nhất tâm nhóm, cuối cùng được tập trung nơi một người tiếp nhận trực giác, và nhờ vậy sự mặc khải được bảo vệ.

Today, as humanity awaits the revelation which will embody the thoughts and dreams and constructive goal of the New Age, the demand comes for the first time from a large group of intuitively inclined people. I said not intuitives, brother of old. This group is now so large and its focus is now so real and its demand so loud that it is succeeding in focussing the massed intent of the people. Therefore, whatever revelation may emerge in the immediate future will be better “protected by the spirit of understanding” than any previous one. This is the significance of the words of the New Testament, “every eye shall see Him”; humanity as a whole will recognise the revealing One. In past ages the Messenger from on High was only recognised by and known to a mere handful of men, and it took decades and sometimes centuries for His message to penetrate into the hearts of humanity.

Ngày nay, khi nhân loại chờ đợi sự mặc khải sẽ thể hiện các tư tưởng, ước mơ và mục tiêu xây dựng của Kỷ Nguyên Mới, lần đầu tiên nhu cầu ấy đến từ một nhóm lớn những người có khuynh hướng trực giác. Huynh đệ của Ngày Xưa, Tôi không nói là những người trực giác. Nhóm này hiện lớn đến mức, tiêu điểm của nó hiện thực đến mức, và nhu cầu của nó vang dội đến mức, nó đang thành công trong việc tập trung ý định hợp nhất của quần chúng. Vì vậy, bất cứ mặc khải nào có thể xuất hiện trong tương lai gần sẽ được “bảo vệ bởi tinh thần thấu hiểu” tốt hơn bất kỳ mặc khải nào trước đây. Đây là thâm nghĩa của những lời trong Tân Ước: “mọi mắt sẽ thấy Ngài”; toàn thể nhân loại sẽ nhận biết Đấng mặc khải. Trong các thời đại trước, Sứ giả từ Trên Cao chỉ được nhận biết và được biết đến bởi một nhóm người rất ít, và thông điệp của Ngài phải mất nhiều thập niên, đôi khi nhiều thế kỷ, mới thâm nhập vào trái tim nhân loại.

[190]

[190]

The stress of the times also and the development of the sense of proportion, plus an enforced return to simplicity of living and requirements may save the coming revelation from too swift and quick submergence in the fire of the Great Illusion.

Áp lực của thời đại, cùng sự phát triển của Ý thức về tỉ lệ, cộng với một sự trở về bắt buộc với sự đơn giản trong đời sống và nhu cầu, có thể cứu mặc khải sắp đến khỏi bị chìm ngập quá nhanh chóng trong ngọn lửa của Đại Ảo Tưởng.

It will be apparent to you from the above that the mode of handling world affairs, states of consciousness and conditions in the three worlds is one in which the disciple and initiate work from above downwards. The method is in reality a repetition of the involutionary arc in which—like the Creator, from a vantage point of exterior direction—energy, force and forces are directed into the world of phenomena and produce definite effects upon the substance of the three planes. This is a point which should be most carefully remembered; and it is for this reason that the Technique of the Presence must always be employed, prior to all other techniques. It establishes contact with the directing spiritual Agent and enables the disciple to assume the attitude of the detached Observer and an agent of the Plan. When this technique is correctly followed, it brings the intuition into play and the world of meaning (lying behind the world of phenomena) stands revealed, thereby dispelling illusion. Truth, as it is, is seen and known. Forms in the outer world of phenomena (outer from the angle of the soul and therefore encompassing the three worlds of our familiar daily living) are seen to be but symbols of an inward and spiritual Reality.

Từ những điều trên, các bạn sẽ thấy rõ rằng phương thức xử lý các sự vụ thế giới, các trạng thái tâm thức và các điều kiện trong ba cõi thấp là phương thức trong đó đệ tử và điểm đạo đồ làm việc từ trên xuống dưới. Phương pháp này thực ra là sự lặp lại của cung giáng hạ tiến hoá, trong đó—giống như Đấng Sáng Tạo, từ một vị thế chỉ đạo bên ngoài—năng lượng, mãnh lực và các mãnh lực được hướng vào thế giới hiện tượng và tạo ra những hiệu quả xác định trên chất liệu của ba cõi. Đây là một điểm cần được ghi nhớ hết sức cẩn thận; và chính vì lý do này mà Kỹ Thuật của Hiện Diện phải luôn được sử dụng trước mọi kỹ thuật khác. Nó thiết lập sự tiếp xúc với Tác Nhân tinh thần chỉ đạo và giúp đệ tử đảm nhận thái độ của Nhà Quan Sát tách rời và của một tác nhân của Thiên Cơ. Khi kỹ thuật này được theo đúng cách, nó đưa trực giác vào hoạt động, và Thế giới của ý nghĩa, nằm đằng sau thế giới hiện tượng, được mặc khải, nhờ đó xua tan ảo tưởng. Chân lý, như chính nó là, được thấy và được biết. Các hình tướng trong thế giới bên ngoài của hiện tượng, bên ngoài xét từ góc độ linh hồn và do đó bao gồm ba cõi giới của đời sống hằng ngày quen thuộc của chúng ta, được thấy chỉ là các biểu tượng của một Thực Tại nội tại và tinh thần.

[Webinar 179]

2. The Technique of Light—2. Kỹ Thuật Ánh sáng

We come now to the consideration of the next development and service to be rendered through the medium of another technique.

Giờ đây chúng ta đi đến việc xem xét sự phát triển và phụng sự kế tiếp, sẽ được thực hiện qua trung gian của một kỹ thuật khác.

This theme is so vast and there is so much literature to be found in all the world Scriptures, commentaries and theological [191] dissertations on the subject of Light that the simple truth and a few basic principles are lost to sight in a welter of words.

Chủ đề này quá rộng lớn, và có quá nhiều văn liệu được tìm thấy trong tất cả các Thánh Kinh thế giới, các chú giải và các [191] luận giải thần học về đề tài Ánh sáng, đến nỗi chân lý đơn giản và vài nguyên lý căn bản bị khuất khỏi tầm nhìn trong một mớ hỗn độn ngôn từ.

In my various books I have given much anent this subject and in the book, The Light of the Soul, which I wrote in collaboration with A.A.B., an effort was made to indicate the nature of the light of the soul. The key to this technique is to be found in the words: In that Light shall we see LIGHT. A simple paraphrase of these apparently abstract and symbolic words could be given as follows: When the disciple has found that lighted centre within himself and can walk in its radiating light, he is then in a position (or in a state of consciousness, if you prefer) wherein he becomes aware of the light within all forms and atoms. The inner world of reality stands visible to him as light-substance (a different thing to the Reality, revealed by the intuition). He can then become an efficient cooperator with the Plan because the world of psychic meaning becomes real to him and he knows what should be done to dispel glamour. It might be stated that this process of bringing light into dark places falls naturally into three stages:

Trong các sách khác nhau của Tôi, Tôi đã nói nhiều về đề tài này, và trong sách Ánh Sáng của Linh Hồn, mà Tôi viết với sự cộng tác của bà Alice Bailey, một nỗ lực đã được thực hiện nhằm chỉ ra bản chất của ánh sáng linh hồn. Chìa khóa của kỹ thuật này được tìm thấy trong những lời: Trong Ánh Sáng ấy, chúng ta sẽ thấy ÁNH SÁNG. Một cách diễn giải đơn giản về những lời có vẻ trừu tượng và biểu tượng này có thể được đưa ra như sau: Khi đệ tử đã tìm thấy trung tâm được soi sáng ấy bên trong chính mình và có thể bước đi trong ánh sáng tỏa chiếu của nó, khi ấy y ở trong vị thế, hay trong một trạng thái tâm thức nếu các bạn muốn nói như vậy, trong đó y trở nên nhận biết ánh sáng bên trong mọi hình tướng và nguyên tử. Thế giới nội tại của thực tại hiện ra trước y như chất liệu-ánh sáng, một điều khác với Thực Tại được trực giác mặc khải. Khi ấy y có thể trở thành một cộng sự hữu hiệu với Thiên Cơ, vì thế giới của ý nghĩa thông linh trở nên có thật đối với y và y biết điều gì cần được làm để xua tan ảo cảm. Có thể nói rằng tiến trình đem ánh sáng vào những nơi tối tăm này tự nhiên chia thành ba giai đoạn:

1. The stage wherein the beginner and the aspirant endeavour to eradicate glamour out of their own life by the use of the light of the mind. The light of knowledge is a major dispelling agent in the earlier phases of the task and effectively eliminates the various glamours which veil the truth from the aspirant.

1. Giai đoạn trong đó người mới bắt đầu và người chí nguyện cố gắng loại trừ ảo cảm khỏi đời sống của mình bằng cách sử dụng ánh sáng của thể trí. Ánh sáng tri thức là một tác nhân xua tan chính yếu trong các giai đoạn đầu của nhiệm vụ, và loại bỏ hữu hiệu các ảo cảm khác nhau đang che phủ chân lý khỏi người chí nguyện.

2. The stage wherein the aspirant and disciple work with the light of the soul. This is the light of wisdom which is the interpreted result of long experience, and this streams forth, blending with the light of knowledge.

2. Giai đoạn trong đó người chí nguyện và đệ tử làm việc với ánh sáng của linh hồn. Đây là ánh sáng minh triết, tức kết quả được diễn giải của kinh nghiệm lâu dài, và ánh sáng này tuôn ra, hòa trộn với ánh sáng tri thức.

3. The stage wherein the disciple and the initiate work with the light of the intuition. It is through the blended [192] medium of the light of knowledge (personality light) and the light of wisdom (soul light) that the Light is seen, known and appropriated. This light puts out the lesser lights through the pure radiance of its power.

3. Giai đoạn trong đó đệ tử và điểm đạo đồ làm việc với ánh sáng của trực giác. Chính qua trung gian hòa trộn [192] của ánh sáng tri thức, ánh sáng phàm ngã, và ánh sáng minh triết, ánh sáng linh hồn, mà Ánh Sáng được thấy, được biết và được chiếm hữu. Ánh sáng này dập tắt các ánh sáng nhỏ hơn bằng sự rạng rỡ thuần khiết của quyền năng nó.

You have therefore the light of knowledge, the light of wisdom and the light of the intuition, and these are three definite stages or aspects of the One Light. They correspond to the physical Sun, the heart of the Sun, and the Central Spiritual Sun. In this last sentence you have the clue and the key to the relation of man to the Logos.

Vì vậy, các bạn có ánh sáng tri thức, ánh sáng minh triết và ánh sáng của trực giác, và đây là ba giai đoạn hay phương diện xác định của Một Ánh Sáng. Chúng tương ứng với Mặt Trời hồng trần, tâm của Mặt Trời và Mặt trời Tinh thần Trung Ương. Trong câu cuối này, các bạn có manh mối và chìa khóa cho mối liên hệ của con người với Thượng đế.

[Webinar 180]

These stages and their corresponding techniques are apt to be misunderstood if the student fails to remember that between them lie no real lines of demarcation but only a constant overlapping, a cyclic development and a process of fusion which is most confusing to beginners. Just as the result of innate reaction to environment produces the apparatus needed to contact that environment, so the unfoldment of the powers which these techniques serve produces modes of contact with soul and spiritual environments. Each of these techniques is related to a new environment; each of them eventually develops power in the initiate or disciple which can be used in the service of humanity and in higher spheres of divine activity; each is related to the other techniques, and each releases the disciple into a conscious relationship with a new environment, new states of awareness and new fields of service. For instance:

Những giai đoạn này và các kỹ thuật tương ứng của chúng rất dễ bị hiểu lầm nếu đạo sinh không nhớ rằng giữa chúng không có những đường phân ranh thật sự, mà chỉ có sự chồng lấn liên tục, một sự phát triển theo chu kỳ và một tiến trình dung hợp vốn rất gây bối rối cho người mới bắt đầu. Cũng như kết quả của phản ứng bẩm sinh đối với môi trường tạo ra bộ máy cần thiết để tiếp xúc với môi trường ấy, thì sự khai mở các quyền năng mà các kỹ thuật này phục vụ cũng tạo ra những phương thức tiếp xúc với các môi trường linh hồn và tinh thần. Mỗi kỹ thuật này liên hệ với một môi trường mới; cuối cùng mỗi kỹ thuật phát triển quyền năng trong điểm đạo đồ hay đệ tử, có thể được sử dụng trong phụng sự nhân loại và trong các lĩnh vực cao hơn của hoạt động thiêng liêng; mỗi kỹ thuật liên hệ với các kỹ thuật khác, và mỗi kỹ thuật giải phóng đệ tử vào một mối liên hệ có ý thức với một môi trường mới, những trạng thái nhận thức mới và những lĩnh vực phụng sự mới. Chẳng hạn:

1. The Technique of the Presence, when successfully followed, enables the intuition to flow in and to supersede the activity of the rationalising mind and to dispel illusion, substituting for that illusion divine ideas, formulated into concepts which we call ideals. The Masters, it should be remembered, only use the mind for two activities: [193]

1. Kỹ Thuật của Hiện Diện, khi được theo đuổi thành công, cho phép trực giác tuôn vào và thay thế hoạt động của thể trí lý luận hóa, đồng thời xua tan ảo tưởng, thay thế ảo tưởng ấy bằng các ý tưởng thiêng liêng được định hình thành các khái niệm mà chúng ta gọi là các lý tưởng. Cần nhớ rằng các Chân sư chỉ sử dụng thể trí cho hai hoạt động: [193]

a. To reach the minds of Their disciples and attract aspirants through the medium of an instrument similar to the disciple’s mind.

a. Để vươn tới thể trí của các đệ tử của Các Ngài và thu hút những người chí nguyện qua trung gian một khí cụ tương tự với thể trí của đệ tử.

b. To create thoughtforms on concrete levels which can embody these divine ideas. The directing Agent, the Angel of the Presence, produces the power to create in this manner, and this we call the result of the intuition—idea or truth, its perception and its reproduction.

b. Để tạo ra các hình tư tưởng trên các cấp độ cụ thể, có thể thể hiện những ý tưởng thiêng liêng này. Tác Nhân chỉ đạo, Thiên Thần của Hiện Diện, tạo ra quyền năng sáng tạo theo cách này, và điều này chúng ta gọi là kết quả của trực giác—ý tưởng hay chân lý, sự tri nhận nó và sự tái tạo nó.

2. The Technique of Light is more closely related to the mind and signifies the method whereby the illumination which flows from the soul (whose nature is light) can irradiate not only ideals but life, circumstances and events, revealing the cause and the meaning of the experience. When the power of the disciple to illumine is grasped, he has taken the first step towards dispelling glamour; and just as the technique of the Presence becomes effective upon the mental plane, so this technique produces powers which can become effective on the astral plane and eventually bring about the dissipation and the disappearance of that plane.

2. Kỹ Thuật Ánh sáng liên hệ mật thiết hơn với thể trí và biểu thị phương pháp nhờ đó sự soi sáng tuôn ra từ linh hồn, vốn có bản chất là ánh sáng, có thể chiếu rọi không chỉ các lý tưởng mà cả đời sống, hoàn cảnh và biến cố, mặc khải nguyên nhân và ý nghĩa của kinh nghiệm. Khi quyền năng soi sáng của đệ tử được nắm bắt, y đã thực hiện bước đầu tiên hướng tới việc xua tan ảo cảm; và cũng như Kỹ Thuật của Hiện Diện trở nên hữu hiệu trên cõi trí, kỹ thuật này tạo ra các quyền năng có thể trở nên hữu hiệu trên cõi cảm dục và cuối cùng đem lại sự làm tiêu tan và biến mất của cõi ấy.

3. The Technique of Indifference renders ineffective or neutralises the hold of substance over the life or spirit, functioning in the three worlds, for soul is the evidence of life.

3. Kỹ Thuật Điềm Nhiên làm cho sự kìm giữ của chất liệu đối với sự sống hay tinh thần đang vận hành trong ba cõi trở nên vô hiệu, hay trung hòa nó, vì linh hồn là bằng chứng của sự sống.

In connection, therefore, with this second technique, I would like to take some words out of the Bible, substituting the word “light” for the word “faith.” I give you this definition: Light is the substance of things hoped for, the evidence of things not seen. This is perhaps one of the most occult definitions of the light of the world that has yet been given and its true meaning is intended to be revealed in the next two generations. The word “faith” is a good [194] instance of the method of rendering “blind” some of the ancient truths so that their significance may not be prematurely revealed. Light and substance are synonymous terms. Soul and light are equally so, and in this equality of idea—light, substance, soul—you have the key to fusion and to the at-one-ment which Christ expressed so fully for us in His life on Earth.

Vì vậy, liên quan đến kỹ thuật thứ hai này, Tôi muốn lấy một số lời trong Kinh Thánh, thay từ “đức tin” bằng từ “ánh sáng.” Tôi trao cho các bạn định nghĩa này: Ánh sáng là chất liệu của những điều được hy vọng, là bằng chứng của những điều không thấy được. Đây có lẽ là một trong những định nghĩa huyền bí nhất về ánh sáng của thế giới từng được đưa ra, và ý nghĩa chân thật của nó dự định sẽ được mặc khải trong hai thế hệ tới. Từ “đức tin” là một ví dụ hay [194] về phương pháp làm cho một số chân lý cổ xưa trở nên “mù”, để thâm nghĩa của chúng không bị mặc khải quá sớm. Ánh sáng và chất liệu là những thuật ngữ đồng nghĩa. Linh hồn và ánh sáng cũng như vậy, và trong sự đồng nhất của ý tưởng—ánh sáng, chất liệu, linh hồn—các bạn có chìa khóa cho sự dung hợp và cho sự hợp nhất mà Đức Christ đã biểu lộ trọn vẹn cho chúng ta trong đời sống của Ngài trên Trái Đất.

[Webinar 181]

When, therefore, students and aspirants have made progress in soul contact, they have taken one of the first important steps towards the comprehension of light and its uses. They must however be careful not to confuse the light which they can bring to bear on life, circumstance, events, and on environment with the intuition. The light with which we are concerned expresses itself in the three worlds and reveals form and forms, their reaction and effects, their glamour and attractive appeal, and their power to delude and imprison consciousness. The light concerned is soul light, illuminating the mind and bringing about revelation of the world of forms in which that life is immersed.

Do đó, khi các đạo sinh và người chí nguyện đã có tiến bộ trong sự tiếp xúc với linh hồn, họ đã thực hiện một trong những bước quan trọng đầu tiên hướng tới việc thấu hiểu ánh sáng và các cách sử dụng của nó. Tuy nhiên, họ phải cẩn thận đừng nhầm lẫn ánh sáng mà họ có thể đem soi chiếu vào đời sống, hoàn cảnh, biến cố và môi trường với trực giác. Ánh sáng mà chúng ta đang bàn đến biểu lộ trong ba cõi thấp và mặc khải hình tướng cùng các hình tướng, phản ứng và hiệu quả của chúng, ảo cảm và sức hấp dẫn lôi cuốn của chúng, cũng như quyền năng của chúng trong việc đánh lừa và giam hãm tâm thức. Ánh sáng được đề cập là ánh sáng linh hồn, soi sáng thể trí và đem lại sự mặc khải về thế giới hình tướng mà trong đó sự sống ấy đang đắm chìm.

The intuition is concerned with nothing whatsoever in the three worlds of human experience but only with the perceptions of the Spiritual Triad and with the world of ideas. The intuition is to the world of meaning what the mind is to the three worlds of experience. It produces understanding just as the light of soul produces knowledge, through the medium of that experience. Knowledge is not a purely mental reaction but is something which is found on all levels and is instinctual in some form in all kingdoms. This is axiomatic. The five senses bring physical plane knowledge; psychic sensitivity brings a knowledge of the astral plane; the mind brings intellectual perception, but all three are aspects of the light of knowledge (coming from the soul) as it informs its vehicles of expression in the vast threefold [195] environment in which it chooses to imprison itself for purposes of development.

Trực giác hoàn toàn không liên quan gì đến bất cứ điều gì trong ba cõi kinh nghiệm của nhân loại, mà chỉ liên quan đến các tri nhận của Tam Nguyên Tinh Thần và đến thế giới của các ý tưởng. Trực giác đối với thế giới của ý nghĩa cũng như thể trí đối với ba cõi kinh nghiệm. Nó tạo ra sự thấu hiểu, cũng như ánh sáng của linh hồn tạo ra tri thức, thông qua phương tiện của kinh nghiệm ấy. Tri thức không phải là một phản ứng thuần túy trí tuệ, mà là điều được tìm thấy trên mọi cấp độ và, dưới một hình thức nào đó, có tính bản năng trong mọi giới. Đây là điều hiển nhiên. Năm giác quan đem lại tri thức về cõi hồng trần; sự nhạy cảm thông linh đem lại tri thức về cõi cảm dục; thể trí đem lại tri nhận trí năng, nhưng cả ba đều là các phương diện của ánh sáng tri thức, phát xuất từ linh hồn, khi nó thấm nhuần các vận cụ biểu lộ của mình trong môi trường tam phân rộng lớn [195] mà nó chọn để tự giam mình vào đó vì mục đích phát triển.

[Webinar 182]

On a higher turn of the spiral, the intuition is the expression of the threefold Spiritual Triad, placing it in relation to the higher levels of divine expression; it is a result of the life of the Monad—an energy which carries revelation of divine purpose. It is in the world of this divine revelation that the disciple learns eventually to work and in which the initiate consciously functions. Of this higher experience, the active life of the three worlds is a distorted expression but constitutes also the training ground in which capacity to live the initiate life of intuitional perception and to serve the Plan is slowly developed. These distinctions (in time and space, because all distinctions are part of the great illusion, though necessary and inevitable when the mind controls) must be carefully considered. Disciples will reach a point in their development where they will know whether they are reacting to the light of the soul or to the intuitional perception of the Triad. They will then come to the point where they will realise that intuitive perception—as they call it—is only the reaction of the illumined personality to the identification tendency of the Triad. But these concepts are beyond the grasp of the average man because fusion and identification are by no means the same.

Trên một vòng xoắn cao hơn, trực giác là biểu lộ của Tam Nguyên Tinh Thần tam phân, đặt nó trong mối liên hệ với các cấp độ cao hơn của biểu lộ thiêng liêng; đó là kết quả của sự sống của chân thần—một năng lượng mang theo sự mặc khải về Thiên Ý. Chính trong thế giới của sự mặc khải thiêng liêng này mà rốt cuộc đệ tử học cách làm việc, và trong đó điểm đạo đồ hoạt động một cách hữu thức. Đối với kinh nghiệm cao siêu này, đời sống hoạt động của ba cõi thấp là một biểu lộ méo mó, nhưng cũng tạo thành bãi rèn luyện trong đó năng lực sống đời sống điểm đạo đồ của tri nhận trực giác và phụng sự Thiên Cơ được phát triển dần dần. Những phân biệt này, trong thời gian và không gian, vì mọi phân biệt đều là một phần của đại ảo tưởng, dù chúng cần thiết và không thể tránh khỏi khi thể trí kiểm soát, phải được xem xét cẩn thận. Các đệ tử sẽ đạt đến một điểm trong sự phát triển của họ, nơi họ sẽ biết mình đang đáp ứng với ánh sáng của linh hồn hay với tri nhận trực giác của Tam nguyên tinh thần. Khi ấy họ sẽ đi đến điểm mà họ sẽ nhận ra rằng tri nhận trực giác, như họ gọi nó, chỉ là phản ứng của phàm ngã đã được soi sáng đối với khuynh hướng đồng hóa với của Tam nguyên tinh thần. Nhưng các khái niệm này vượt quá tầm nắm bắt của người bình thường, vì sự dung hợp và sự đồng hóa với tuyệt nhiên không phải là một.

The rules for the Technique of Light have been adequately laid down in the Raja Yoga system of Patanjali, of which the five stages of Concentration, Meditation, Contemplation, Illumination, and Inspiration are illustrative; these, in their turn, must be parallelled by a following of the Five Rules and the Five Commandments. I would ask you to study these. They, in their turn, produce the many results in psychic sensitivity, of which hierarchical contact, illumination, service and discipline are descriptive and, finally, the [196] stage of “isolated unity,” which is the paradoxical term used by Patanjali to describe the inner life of the initiate.

Các quy luật dành cho Kỹ Thuật Ánh sáng đã được trình bày đầy đủ trong hệ thống Raja Yoga của Patanjali, mà năm giai đoạn Tập trung, Tham thiền, Chiêm ngưỡng, Soi sáng và Cảm hứng là những minh họa; đến lượt chúng, phải được song hành bằng việc tuân theo Năm Quy luật và Năm Điều răn. Tôi đề nghị các bạn nghiên cứu những điều này. Đến lượt chúng, chúng tạo ra nhiều kết quả trong sự nhạy cảm thông linh, mà sự tiếp xúc với Thánh Đoàn, sự soi sáng, phụng sự và kỷ luật là những mô tả, và cuối cùng là [196] giai đoạn “hợp nhất cô lập”, thuật ngữ nghịch lý mà Patanjali dùng để mô tả đời sống bên trong của điểm đạo đồ.

Most of what I have said above is well known to all aspirants whether they study the Raja Yoga teaching of India or the life of practical mysticism as laid down by such mystics as Meister Eckhart and the more mentally polarised modern esotericist. These latter went beyond the mystical vision by arriving at fusion. I need not enlarge on this. It is the higher stage of at-one-ment to which all true mystics bear witness.

Phần lớn những gì tôi đã nói ở trên đều được mọi người chí nguyện biết rõ, dù họ nghiên cứu giáo huấn Raja Yoga của Ấn Độ hay đời sống thần bí học thực tiễn như đã được trình bày bởi các nhà thần bí như Meister Eckhart và nhà bí truyền học hiện đại phân cực trí tuệ hơn. Những người sau này đã vượt qua linh ảnh thần bí bằng cách đạt đến sự dung hợp. Tôi không cần nói rộng thêm về điều này. Đó là giai đoạn cao hơn của sự hợp nhất mà mọi nhà thần bí chân chính đều làm chứng.

What does concern us here is how this light is recognised, appropriated and used in order to dispel glamour and render a deeply esoteric service to the world. It might be said that the inner light is like a searchlight, swinging out into the world of glamour and of human struggle from what one Master has called “the pedestal of the soul and the spiritual tower or beacon.” These terms convey the idea of altitude and of distance which are so characteristic of the mystical approach. Power to use this light as a dissipating agent only comes when these symbols are dropped and the server begins to regard himself as the light and as the irradiating centre. Herein lies the reason for some of the technicalities of the occult science. The esotericist knows that in every atom of his body is to be found a point of light. He knows that the nature of the soul is light. For aeons, he walks by means of the light engendered within his vehicles, by the light within the atomic substance of his body and is, therefore, guided by the light of matter. Later, he discovers the light of the soul. Later still, he learns to fuse and blend soul light and material light. Then he shines forth as a Light bearer, the purified light of matter and the light of the soul being blended and focussed. The use of this focussed light as it dispels individual glamour teaches the disciples the early stages of the technique which will dispel [197] group glamour and eventually world glamour, and this is the next point with which we will deal.

Điều chúng ta cần quan tâm ở đây là ánh sáng này được nhận biết, chiếm hữu và sử dụng như thế nào để xua tan ảo cảm và đem lại một sự phụng sự sâu xa, mang tính huyền bí, cho thế giới. Có thể nói rằng ánh sáng bên trong giống như một đèn pha, quét ra thế giới của ảo cảm và của cuộc đấu tranh nhân loại từ nơi mà một Chân sư đã gọi là “bệ đứng của linh hồn và tháp tinh thần hay hải đăng”. Những thuật ngữ này truyền đạt ý niệm về độ cao và khoảng cách, vốn rất đặc trưng cho lối tiếp cận thần bí. Quyền năng sử dụng ánh sáng này như một tác nhân làm tiêu tan chỉ đến khi các biểu tượng này được buông bỏ và người phụng sự bắt đầu xem chính mình là ánh sáng và là trung tâm chiếu xạ. Chính trong điều này có lý do của một số tính kỹ thuật trong khoa học huyền bí. Nhà bí truyền học biết rằng trong mỗi nguyên tử của thể y đều có thể tìm thấy một điểm sáng. Y biết rằng bản chất của linh hồn là ánh sáng. Trong nhiều kiếp, y bước đi bằng ánh sáng được sinh ra bên trong các vận cụ của mình, bằng ánh sáng bên trong chất liệu nguyên tử của thể mình, và do đó được ánh sáng của vật chất hướng dẫn. Về sau, y khám phá ra ánh sáng của linh hồn. Về sau nữa, y học cách dung hợp và hòa trộn ánh sáng linh hồn với ánh sáng vật chất. Khi ấy y tỏa sáng như một người mang Ánh sáng, ánh sáng đã được tinh luyện của vật chất và ánh sáng của linh hồn được hòa trộn và tập trung. Việc sử dụng ánh sáng tập trung này khi nó xua tan ảo cảm cá nhân dạy cho các đệ tử những giai đoạn đầu của kỹ thuật sẽ xua tan [197] ảo cảm nhóm và cuối cùng là ảo cảm thế giới; và đây là điểm kế tiếp mà chúng ta sẽ bàn đến.

[Webinar 183]

The theme with which we are dealing—the light of the soul as it dissipates glamour in the three worlds—is the most practical and useful and needed subject for study to be found today: it concerns the astral plane, and the service to be rendered is vital and timely. The ridding of the world of the individual and the world of humanity as a whole of the all-enveloping glamour which holds humanity in thrall is an essential requirement for the race. The new era which will open up before mankind at the close of the war will be distinguished by its mental polarisation and consequent freedom from glamour; then illusion will for a time control until the intuition is more fully developed. This illusion will produce vastly different results to those which follow when men live and work in the midst of glamour. The second characteristic of the new era will be the scientific approach to the entire problem of glamour which will then be recognised for what it is and will be scientifically dissipated by the use of the illumined minds of groups, working in unison for just that purpose.

Chủ đề mà chúng ta đang bàn đến—ánh sáng của linh hồn khi nó làm tiêu tan ảo cảm trong ba cõi thấp—là đề tài thực tiễn, hữu ích và cần thiết nhất để nghiên cứu hiện nay: nó liên quan đến cõi cảm dục, và sự phụng sự cần được thực hiện là thiết yếu và đúng lúc. Việc giải thoát thế giới của cá nhân và thế giới của toàn thể nhân loại khỏi ảo cảm bao trùm tất cả đang giam giữ nhân loại là một yêu cầu thiết yếu đối với nhân loại. Kỷ nguyên mới sẽ mở ra trước nhân loại vào cuối cuộc chiến sẽ được phân biệt bởi sự phân cực trí tuệ và do đó bởi sự tự do khỏi ảo cảm; khi ấy ảo tưởng sẽ kiểm soát trong một thời gian, cho đến khi trực giác được phát triển đầy đủ hơn. Ảo tưởng này sẽ tạo ra những kết quả hết sức khác với các kết quả phát sinh khi con người sống và làm việc giữa ảo cảm. Đặc tính thứ hai của kỷ nguyên mới sẽ là phương pháp tiếp cận khoa học đối với toàn bộ vấn đề ảo cảm, vốn khi ấy sẽ được nhận biết đúng như nó là, và sẽ được làm tiêu tan một cách khoa học bằng việc sử dụng các thể trí đã được soi sáng của những nhóm người cùng làm việc nhất trí cho chính mục đích ấy.

The proposition, therefore, which I am laying before you (who are the aspirants and the disciples of the world) is the possibility of a definite world service. Groups will eventually be formed of those who are working at the dissipation of glamour in their individual lives and who are doing so not so much in order to achieve their own liberation but with the special objective of ridding the astral plane of its significant glamours. They will work unitedly on some major phase of world glamour by the power of their individual illumined minds; unitedly they will turn “the searchlight of the mind, reflecting the light of the sun but at the same time radiating its own inner light upon the mists and fogs of Earth, for in these mists and fogs all men stumble. [198] Within the lighted sphere of the focussed radiant light, reality will issue forth triumphant.”

Do đó, đề nghị mà tôi đang đặt ra trước các bạn, những người chí nguyện và các đệ tử của thế giới, là khả năng của một sự phụng sự thế giới xác định. Rốt cuộc, các nhóm sẽ được hình thành từ những người đang làm việc để làm tiêu tan ảo cảm trong đời sống cá nhân của họ, và họ làm như vậy không phải chủ yếu để đạt được sự giải thoát riêng của mình, mà với mục tiêu đặc biệt là giải thoát cõi cảm dục khỏi các ảo cảm trọng yếu của nó. Họ sẽ cùng nhau làm việc trên một phương diện chính yếu nào đó của ảo cảm thế giới bằng quyền năng của các thể trí cá nhân đã được soi sáng; cùng nhau họ sẽ hướng “đèn pha của thể trí, phản chiếu ánh sáng của mặt trời nhưng đồng thời cũng tỏa ra ánh sáng bên trong của chính nó, vào các màn sương và sương mù của Trái Đất, vì trong những màn sương và sương mù này mọi người đều vấp ngã. [198] Trong khối cầu được chiếu sáng của ánh sáng rực rỡ đã tập trung, thực tại sẽ xuất hiện trong chiến thắng.”

[Webinar 184]

It is interesting to note that the most ancient prayer in the world refers to the three aspects of glamour, and it is for these that the three techniques must be used to make release and progress possible. As you know, this prayer runs as follows (Brihadaranyaki Upanishad I, 3, 28):

Điều đáng chú ý là lời cầu nguyện cổ xưa nhất trên thế giới đề cập đến ba phương diện của ảo cảm, và chính vì chúng mà ba kỹ thuật phải được sử dụng để sự giải thoát và tiến bộ trở nên khả hữu. Như các bạn biết, lời cầu nguyện này như sau, trong Áo Nghĩa Thư Rừng Lớn I, 3, 28:

“Lead us, O Lord, from darkness to light; from the unreal to the real; from death to immortality.”

“Lạy Chúa, xin dẫn chúng con từ bóng tối đến ánh sáng; từ điều không thực đến điều thực; từ sự chết đến sự bất tử.”

“Lead us from darkness to light” refers to the mind as it becomes eventually illumined by the light of the intuition; this illumination is brought about by the means of the Technique of the Presence from Whom the light shines. This is the mediating factor producing the Transfiguration of the personality, and a centre of radiant light upon the mental plane. This statement is true whether one is speaking of an individual or of that focal point of light which is formed by the mental unity and the clear thinking of advanced humanity. These, through the power of their unified minds, will succeed in ridding the world of some aspects of the Great Illusion.

“Xin dẫn chúng con từ bóng tối đến ánh sáng” nói đến thể trí khi cuối cùng nó được soi sáng bởi ánh sáng của trực giác; sự soi sáng này được tạo ra bằng phương tiện của Kỹ Thuật của Hiện Diện, Đấng mà từ Ngài ánh sáng tỏa chiếu. Đây là yếu tố trung gian tạo ra sự Biến hình của phàm ngã, và tạo nên một trung tâm ánh sáng rực rỡ trên cõi trí. Phát biểu này đúng, dù người ta đang nói về một cá nhân hay về điểm tập trung ánh sáng được hình thành bởi sự hợp nhất trí tuệ và tư duy rõ ràng của nhân loại tiến bộ. Những người này, nhờ quyền năng của các thể trí hợp nhất của họ, sẽ thành công trong việc giải thoát thế giới khỏi một số phương diện của Đại Ảo Tưởng.

“Lead us from the unreal to the Real” has specific relation to the astral plane and its all-encompassing glamours. These glamours embody the unreal and present them to the prisoners of the astral plane, leading them to mistake them for the Reality. This imprisonment by glamour can be ended by the activity of the Technique of Light, utilised by those who work—in group formation—for the dissipation of glamour and for the emergence in the consciousness of men of a clear conception and recognition of the nature of Reality.

“Xin dẫn chúng con từ điều không thực đến Thực Tại” có liên hệ đặc biệt với cõi cảm dục và các ảo cảm bao trùm tất cả của nó. Những ảo cảm này hiện thân cho điều không thực và trình bày chúng cho các tù nhân của cõi cảm dục, khiến họ lầm tưởng chúng là Thực Tại. Sự giam hãm bởi ảo cảm này có thể được chấm dứt nhờ hoạt động của Kỹ Thuật Ánh sáng, được sử dụng bởi những người làm việc—trong đội hình nhóm—để làm tiêu tan ảo cảm và để trong tâm thức con người xuất hiện một quan niệm rõ ràng cùng sự nhận biết về bản chất của Thực Tại.

This particular work of dissipation is our immediate theme. It is of vital importance that those who recognise [199] the open door to the future through which all men must pass should begin to carry forward this work. Only thus can humanity be helped to leave behind the errors, the glamours and the failures of the past. It is this technique which brings freedom from glamour and which can transform human living, and so bring in the new civilisation and culture. This dissipation can be carried forward by disciples in all parts of the planet, aided by the world aspirants; it will, however, be primarily the work of those whose ray focus makes astral living the line of least resistance and who have learnt or are learning to dominate it by the power of thought and mental light. These are the sixth ray people in the first instance, aided by aspirants and disciples upon the second and fourth rays.

Công việc tiêu tan đặc biệt này là chủ đề trước mắt của chúng ta. Điều có tầm quan trọng thiết yếu là những người nhận biết [199] cánh cửa rộng mở vào tương lai, qua đó mọi người đều phải đi qua, nên bắt đầu xúc tiến công việc này. Chỉ bằng cách ấy nhân loại mới có thể được giúp đỡ để bỏ lại phía sau các sai lầm, các ảo cảm và các thất bại của quá khứ. Chính kỹ thuật này đem lại sự tự do khỏi ảo cảm và có thể chuyển đổi đời sống nhân loại, nhờ đó đưa vào nền văn minh và văn hóa mới. Sự tiêu tan này có thể được các đệ tử ở khắp mọi nơi trên hành tinh xúc tiến, với sự trợ giúp của những người chí nguyện thế giới; tuy nhiên, đó chủ yếu sẽ là công việc của những người mà tiêu điểm cung của họ khiến đời sống cảm dục trở thành con đường ít trở ngại nhất, và những người đã học hoặc đang học cách chế ngự nó bằng quyền năng của tư tưởng và ánh sáng trí tuệ. Trước hết, đó là những người cung sáu, được trợ giúp bởi các người chí nguyện và đệ tử thuộc cung hai và cung bốn.

[Webinar 185]

In time and space, this task will be first of all instituted and controlled in group formation only by aspirants whose soul or personality rays are the sixth or by those whose astral bodies are conditioned by the sixth ray. When they have grasped the nature of the work to be done and “fanatically adopted the technique of light in the service of the race,” their work will be completed by second ray disciples, working from the Ashrams of those Masters Who take disciples. The work done by these two groups will be finally revealed (and at a much later date) by those aspirants and disciples who will swing into astral activity when the fourth ray again begins to manifest. Therefore, the work of dissipating glamour is carried forward by those who come out into manifestation along the lines of energy which embody the second, fourth and sixth rays. I emphasise this as disciples frequently undertake tasks for which they are not particularly fitted and whose rays do not aid them in accomplishment and sometimes prevent that accomplishment.

Trong thời gian và không gian, trước hết nhiệm vụ này sẽ được thiết lập và kiểm soát trong đội hình nhóm chỉ bởi những người chí nguyện có cung linh hồn hoặc cung phàm ngã là cung sáu, hoặc bởi những người có thể cảm dục được cung sáu tác động. Khi họ đã nắm bắt bản chất của công việc cần làm và “cuồng nhiệt tiếp nhận kỹ thuật ánh sáng trong sự phụng sự nhân loại”, công việc của họ sẽ được hoàn tất bởi các đệ tử cung hai, làm việc từ các ashram của những Chân sư nhận đệ tử. Công việc do hai nhóm này thực hiện cuối cùng sẽ được mặc khải, vào một thời điểm muộn hơn rất nhiều, bởi những người chí nguyện và đệ tử sẽ bước vào hoạt động cảm dục khi cung bốn lại bắt đầu biểu hiện. Do đó, công việc làm tiêu tan ảo cảm được xúc tiến bởi những người xuất hiện vào biểu hiện theo các đường năng lượng hiện thân cho cung hai, cung bốn và cung sáu. Tôi nhấn mạnh điều này vì các đệ tử thường đảm nhận những nhiệm vụ mà họ không đặc biệt thích hợp, và các cung của họ không trợ giúp họ hoàn thành, đôi khi còn ngăn cản sự hoàn thành ấy.

[200]

[200]

The whole subject is related to consciousness, to the second aspect, and concerns the forms through which mankind becomes progressively aware. Glamour is caused by the recognition of that which man has himself created and, as has occultly been said, “Man only becomes aware of reality when he has destroyed that which he has himself created.” These forms fall into two major groups:

Toàn bộ chủ đề này liên hệ với tâm thức, với phương diện thứ hai, và liên quan đến các hình tướng mà qua đó nhân loại trở nên nhận biết một cách tiệm tiến. Ảo cảm được gây ra bởi sự nhận biết điều mà chính con người đã tạo ra, và như đã được nói một cách huyền bí, “Con người chỉ trở nên nhận biết thực tại khi y đã phá hủy điều mà chính y đã tạo ra.” Các hình tướng này rơi vào hai nhóm chính:

1. Those forms which are of very ancient origin and which are the result of human activity, human thinking and of human error. They embrace all the forms which the desire nature of man has created down the ages and are the nebulous substance of glamour—nebulous from the physical angle but dense from the angle of the astral plane. They are that which provides the incentive behind all striving and activity upon the outer plane as man attempts to satisfy desire. From these forms the individual aspirant has ever to rid himself, emerging after so doing through that gate which we call the second initiation into a wider consciousness.

1. Những hình tướng có nguồn gốc rất cổ xưa và là kết quả của hoạt động nhân loại, tư tưởng nhân loại và sai lầm nhân loại. Chúng bao gồm tất cả các hình tướng mà bản chất ham muốn của con người đã tạo ra qua các thời đại, và là chất liệu mờ sương của ảo cảm—mờ sương theo góc độ hồng trần nhưng đậm đặc theo góc độ cõi cảm dục. Chúng là điều cung cấp động lực phía sau mọi nỗ lực và hoạt động trên cõi bên ngoài khi con người cố gắng thỏa mãn ham muốn. Người chí nguyện cá nhân luôn phải tự giải thoát khỏi các hình tướng này, và sau khi làm như vậy, y đi ra qua cánh cửa mà chúng ta gọi là lần điểm đạo thứ hai để bước vào một tâm thức rộng lớn hơn.

2. Those forms which are being constantly created and ceaselessly produced in response to the aspirational nature of humanity and which provide the enticements which lead the man along towards high personal achievement in the first instance and spiritual achievement later. They have in them the indications of the new and the possible. These likewise (strange as it may seem) constitute a glamour, for they are temporary and illusory and must not be permitted to hide the Real. That Reality will precipitate itself at the right moment once the higher light pours in. They are indicative of the Real and are often mistaken for the Real; they are in conflict with the old thoughts and desires of the past and must eventually give place to the factual presence of the [201] Real. They provide (in times of crisis) the great testing for all aspirants and disciples, evoking the subtlest kind of discrimination; but once that testing has been triumphantly passed, then can the task of dissipating both these types of glamour be given to the disciple and aspirant, with the emphasis upon the immediate need or any particular and current world glamour.

2. Những hình tướng đang không ngừng được tạo ra và liên tục được sản sinh để đáp ứng với bản chất khát vọng của nhân loại, và cung cấp những sức lôi cuốn dẫn con người trước hết tiến tới thành tựu cá nhân cao cả, rồi về sau tới thành tựu tinh thần. Trong chúng có những dấu hiệu của điều mới và điều khả hữu. Những điều này cũng vậy, dù có vẻ lạ, cấu thành một ảo cảm, vì chúng tạm thời và hư ảo, và không được phép che khuất Thực Tại. Thực Tại ấy sẽ tự ngưng tụ đúng lúc một khi ánh sáng cao hơn tuôn vào. Chúng chỉ thị về Thực Tại và thường bị lầm tưởng là Thực Tại; chúng xung đột với các tư tưởng và ham muốn cũ của quá khứ, và cuối cùng phải nhường chỗ cho sự hiện diện thực tại của [201] Thực Tại. Trong các thời kỳ khủng hoảng, chúng tạo nên cuộc thử thách lớn cho mọi người chí nguyện và đệ tử, gợi lên loại phân biện tinh tế nhất; nhưng một khi cuộc thử thách ấy đã được vượt qua một cách chiến thắng, thì nhiệm vụ làm tiêu tan cả hai loại ảo cảm này có thể được giao cho đệ tử và người chí nguyện, với trọng tâm đặt vào nhu cầu trước mắt hoặc vào bất kỳ ảo cảm thế giới đặc thù và hiện hành nào.

[Webinar 187]

It will be apparent to you, therefore, that groups working consciously at the service of dissipating glamour will have the following characteristics:

Do đó, các bạn sẽ thấy rõ rằng những nhóm làm việc một cách hữu thức trong sự phụng sự làm tiêu tan ảo cảm sẽ có các đặc tính sau đây:

1. They will be composed of sixth ray aspirants and disciples, aided by second ray spiritual workers.

1. Họ sẽ gồm những người chí nguyện và đệ tử cung sáu, được trợ giúp bởi những người hoạt động tinh thần cung hai.

2. They will be formed of those who:

2. Họ sẽ được hình thành từ những người:

a. Are learning or have learnt to dissipate their own individual glamours and can bring understanding to the task.

a. Đang học hoặc đã học cách làm tiêu tan các ảo cảm cá nhân của chính họ, và có thể đem sự thấu hiểu vào nhiệm vụ ấy.

b. Are focussed upon the mental plane and have, therefore, some measure of mental illumination. They are mastering the Technique of Light.

b. Tập trung trên cõi trí và do đó có một mức độ soi sáng trí tuệ nào đó. Họ đang làm chủ Kỹ Thuật Ánh sáng.

c. Are aware of the nature of the glamours which they are attempting to dissipate and can use the illumined mind as a searchlight.

c. Nhận biết bản chất của các ảo cảm mà họ đang cố gắng làm tiêu tan, và có thể sử dụng thể trí đã được soi sáng như một đèn pha.

3. They will count among their numbers those who (occultly speaking) have the following powers in process of rapid development:

3. Trong số họ sẽ có những người, nói một cách huyền bí, đang có các quyền năng sau đây trong tiến trình phát triển nhanh chóng:

a. The power not only to recognise glamour for what it is, but to discriminate between the various and many types of glamour.

a. Quyền năng không chỉ nhận biết ảo cảm đúng như nó là, mà còn phân biện giữa các loại ảo cảm khác nhau và rất nhiều.

b. The power to appropriate the light, absorbing it into themselves and then consciously and scientifically project it into the world of glamour. The [202] Masters, the higher initiates and the world disciples do this alone, if need be, and require not the protection of the group or the aid of the light of the group members.

b. Quyền năng chiếm hữu ánh sáng, hấp thụ nó vào chính họ, rồi phóng chiếu nó một cách hữu thức và khoa học vào thế giới ảo cảm. Các [202] Chân sư, các điểm đạo đồ cao cấp và các đệ tử thế giới làm điều này một mình nếu cần, và không cần sự bảo vệ của nhóm hay sự trợ giúp của ánh sáng từ các thành viên nhóm.

c. The power to use the light not only through absorption and projection but also by a conscious use of the will, carrying energy upon the beam of projected light. To this they add a persistent and steady focus. This beam, thus projected, has a twofold use: It works expulsively and dynamically, much as a strong wind blows away or dissipates a dense fog or as the rays of the sun dry up and absorb the mist. It acts also as a beam along which that which is new and a part of the divine intention can enter. The new ideas and the desired ideals can come in “on the beam,” just as the beam directs and brings in the airplanes to a desired landing place.

c. Quyền năng sử dụng ánh sáng không chỉ qua sự hấp thụ và phóng chiếu, mà còn bằng việc sử dụng ý chí một cách hữu thức, mang năng lượng trên tia sáng được phóng chiếu. Vào điều này, họ thêm một tiêu điểm bền bỉ và vững chắc. Tia sáng được phóng chiếu như vậy có công dụng nhị phân: Nó tác động theo cách xua đẩy và năng động, giống như một cơn gió mạnh thổi tan hoặc làm tiêu tan làn sương mù dày đặc, hoặc như các tia mặt trời làm khô và hấp thụ màn sương. Nó cũng hoạt động như một tia sáng mà dọc theo đó điều mới mẻ và là một phần của ý định thiêng liêng có thể đi vào. Các ý tưởng mới và các lý tưởng được mong muốn có thể đi vào “trên tia sáng”, giống như tia sáng hướng dẫn và đưa máy bay đến nơi hạ cánh mong muốn.

[Webinar 188]

a. The Dissipation of Individual Glamour—a. Sự tiêu tan của Ảo cảm Cá nhân

Let us first of all consider the mode by which the individual aspirant can succeed in dissipating the glamours which have for ages conditioned his life in the three worlds. He has been dominated by desire for four-fifths of his incarnated experience. He has begun to transmute his desire into aspiration and to seek—with all the devotion, emotion and longing of which he is capable—for realisation. It is then that he becomes aware of the appalling nature of the glamours in which he automatically and normally walks. Glamour arose when man recognised and registered desire as an incentive, thus demonstrating his humanity and his distinction from the animal, because it is the mind which reveals the existence of desire. The instinctual effort to satisfy desire—innate and inherent in the lower nature—gave [203] place to planned efforts to meet desire, involving the directive use of the mind. Thus the line of demarcation between the animal and the human has become increasingly apparent and the first and basic expression of pure selfishness appeared aeons ago. Later, as evolution proceeded and desire shifted from one planned satisfaction to another, it began to take on a less physical aspect and men sought pleasure in emotional experience and in its dramatisation: this led to the establishment of the drama as its first artistic expression; by means of this, down the ages, man has supplemented individual emotional and dramatic living with a vicarious submergence in it, thus exteriorising himself and supplementing his personal dramas, desires, and objectives with those which were developed by means of the creative imagination, thus laying the foundation for the recognition—intelligent and real—of the part in relation to the whole. Thus from earliest Atlantean times the foundation was laid for the unfoldment of the sense of mystical duality through the various stages of an anthropomorphic recognition of deity to the recognition of the real in man himself, until finally we arrive at the proposition which faces the disciple. Then the Dweller on the Threshold confronts the Angel of the Presence and the last and major conflict is fought out.

Trước hết, chúng ta hãy xem xét phương thức nhờ đó người chí nguyện cá nhân có thể thành công trong việc làm tiêu tan các ảo cảm đã tác động lên đời sống của y trong ba cõi thấp qua nhiều thời đại. Y đã bị ham muốn chi phối trong bốn phần năm kinh nghiệm nhập thể của mình. Y đã bắt đầu chuyển hóa ham muốn của mình thành khát vọng và tìm kiếm—với tất cả lòng sùng tín, cảm xúc và niềm mong mỏi mà y có khả năng—sự chứng nghiệm. Khi ấy y trở nên nhận biết bản chất kinh khủng của các ảo cảm mà trong đó y tự động và bình thường bước đi. Ảo cảm phát sinh khi con người nhận biết và ghi nhận ham muốn như một động lực, qua đó chứng tỏ tính người của y và sự phân biệt của y với loài vật, vì chính thể trí mặc khải sự tồn tại của ham muốn. Nỗ lực bản năng nhằm thỏa mãn ham muốn—vốn bẩm sinh và cố hữu trong bản chất thấp—đã [203] nhường chỗ cho những nỗ lực có kế hoạch nhằm đáp ứng ham muốn, bao hàm việc sử dụng thể trí theo hướng chỉ đạo. Như vậy, đường ranh giới giữa loài vật và con người ngày càng trở nên rõ ràng, và biểu lộ đầu tiên cùng căn bản của sự ích kỷ thuần túy đã xuất hiện từ nhiều kiếp trước. Về sau, khi tiến hoá tiếp diễn và ham muốn chuyển từ một sự thỏa mãn có kế hoạch sang một sự thỏa mãn khác, nó bắt đầu mang một phương diện ít hồng trần hơn, và con người tìm kiếm khoái lạc trong kinh nghiệm cảm xúc và trong sự kịch hóa của nó: điều này dẫn đến việc thiết lập kịch nghệ như biểu lộ nghệ thuật đầu tiên của nó; bằng phương tiện này, qua các thời đại, con người đã bổ sung đời sống cảm xúc và kịch tính cá nhân bằng sự chìm đắm gián tiếp vào đó, nhờ vậy ngoại hiện chính mình và bổ sung các vở kịch, ham muốn và mục tiêu cá nhân của mình bằng những điều được phát triển qua Sự tưởng tượng sáng tạo, qua đó đặt nền tảng cho sự nhận biết—thông minh và thực sự—về phần trong tương quan với toàn thể. Như vậy, từ những thời kỳ Atlantis sớm nhất, nền tảng đã được đặt cho sự khai mở ý thức về nhị nguyên thần bí qua nhiều giai đoạn nhận biết Thượng đế theo hình người, cho đến sự nhận biết điều thực trong chính con người, để cuối cùng chúng ta đi đến đề xuất đối diện với đệ tử. Khi ấy Kẻ Chận Ngõ đối diện với Thiên Thần của Hiện Diện, và cuộc xung đột sau cùng cùng trọng đại được tiến hành.

This dualistic consciousness culminates at the time of the third initiation in the final fight between the pairs of opposites and the triumphant victory of the Angel—the embodiment of the Forces of Good in the individual, in the group and in humanity. Then dualism and the desire for that which is material and not oneself (as identified with the Whole) dies out. Unity and the “life more abundantly” is achieved.

Tâm thức nhị nguyên này đạt đến đỉnh điểm vào lúc lần điểm đạo thứ ba, trong trận chiến cuối cùng giữa các cặp đối nghịch và chiến thắng khải hoàn của Thiên Thần—hiện thân của các Mãnh Lực Thiện trong cá nhân, trong nhóm và trong nhân loại. Khi ấy nhị nguyên và ham muốn đối với điều thuộc vật chất và không phải là chính mình, khi đã đồng hóa với Toàn Thể, sẽ tàn lụi. Sự hợp nhất và “sự sống dồi dào hơn” được đạt tới.

[Webinar 189]

The process followed by the disciple who is consciously working at the dissipation of glamour in his life can be [204] divided into four stages to which the following definitions can be given:

Tiến trình mà đệ tử theo đuổi khi y đang làm việc một cách hữu thức để làm tiêu tan ảo cảm trong đời sống của mình có thể được [204] chia thành bốn giai đoạn, có thể được định nghĩa như sau:

1. The stage of recognition of the glamour or glamours which hide the Real. These glamours are dependent in any particular life crisis upon the ray of the personality.

1. Giai đoạn nhận biết ảo cảm hoặc các ảo cảm che giấu Thực Tại. Trong bất kỳ cuộc khủng hoảng đời sống đặc thù nào, các ảo cảm này tùy thuộc vào cung phàm ngã.

2. The stage of focussing the disciple’s consciousness upon the mental plane and the gathering of the light to that point of focus so that the illumination is clear, the work to be done is plainly seen, and the searchlight of the mind is directed upon the glamour which it is intended should be dissipated.

2. Giai đoạn tập trung tâm thức của đệ tử trên cõi trí, và gom ánh sáng về điểm tập trung ấy để sự soi sáng được rõ ràng, công việc cần làm được thấy hiển nhiên, và đèn pha của thể trí được hướng vào ảo cảm mà người ta dự định làm tiêu tan.

3. The stage of direction. This involves the steady pouring of the light (under intelligent direction) into the dark places of the astral plane, remembering that the light will enable the disciple to do two things:

3. Giai đoạn định hướng. Giai đoạn này bao hàm việc đều đặn tuôn đổ ánh sáng, dưới sự chỉ đạo thông minh, vào những nơi tối tăm của cõi cảm dục, đồng thời nhớ rằng ánh sáng sẽ giúp đệ tử làm hai điều:

a. Dissipate the glamour—a satisfying experience.

a. Làm tiêu tan ảo cảm—một kinh nghiệm thỏa mãn.

b. See the Real—a terrifying experience, brother of mine.

b. Huynh đệ của tôi, thấy được Thực Tại—một kinh nghiệm đáng kinh sợ.

4. The stage of identification with the Real as it is contacted after the dissipation of the glamour. In the added light which is now available, there will be a further recognition of still subtler glamours which in their turn must be dissipated.

4. Giai đoạn đồng hóa với Thực Tại khi nó được tiếp xúc sau khi ảo cảm đã được làm tiêu tan. Trong ánh sáng gia tăng hiện đang sẵn có, sẽ có thêm sự nhận biết về những ảo cảm còn tinh tế hơn, đến lượt chúng cũng phải được làm tiêu tan.

This process of recognition, focussing, dissipation and consequent revelation goes on continually from the time a disciple treads the Path of Accepted Discipleship until the third initiation.

Tiến trình nhận biết, tập trung, tiêu tan và mặc khải theo sau này tiếp diễn liên tục từ khi một đệ tử bước trên Con Đường Đệ Tử Được Chấp Nhận cho đến lần điểm đạo thứ ba.

The clue to all success in this process is, therefore, connected with meditation and the holding of the mind steady in the light. Only through steadiness can the beam of light be formed, intensified, focussed and projected and then—[205] at the right moment—withdrawn. I cannot here enter upon an elucidation of the process of meditation, based on the right understanding of the nature of concentration. I have written much upon the subject and the Raja Yoga discipline is well known. Mental concentration and control is now the ordinary theme of all instructions given by educators and enlightened parents. It is difficult for the average person today to realise that there was a time when such phrases as “Use your mind” or “If you will only think” or “A little mental control on your part would be useful” were totally unknown because the mind was so little developed. It was then only recognised as a functioning factor by those with initiate consciousness. The Path of Evolution is in fact the path of recognitions, leading to revelation. The whole process of evolution is initiatory in character, leading from one expansion of consciousness to another until the worlds of the formless and of form stand revealed in the light which the initiate generates and in which he walks. These lights are varied and variously revealing; there is:

Vì vậy, chìa khóa của mọi thành công trong tiến trình này liên hệ với tham thiền và việc giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng. Chỉ nhờ sự vững vàng mà tia sáng mới có thể được hình thành, tăng cường, tập trung và phóng chiếu, rồi sau đó—[205] vào đúng lúc—được rút lại. Ở đây tôi không thể đi vào việc làm sáng tỏ tiến trình tham thiền, dựa trên sự thấu hiểu đúng đắn về bản chất của sự tập trung. Tôi đã viết nhiều về đề tài này, và kỷ luật Raja Yoga thì đã được biết rõ. Sự tập trung và kiểm soát trí tuệ hiện nay là chủ đề thông thường của mọi chỉ dẫn do các nhà giáo dục và các bậc cha mẹ giác ngộ đưa ra. Ngày nay, người bình thường khó nhận ra rằng đã từng có một thời những câu như “Hãy dùng thể trí của bạn” hoặc “Giá như bạn chịu suy nghĩ” hay “Một chút kiểm soát trí tuệ về phía bạn sẽ hữu ích” hoàn toàn không được biết đến, vì thể trí khi ấy còn phát triển quá ít. Lúc đó, nó chỉ được nhận biết như một yếu tố đang hoạt động bởi những người có tâm thức điểm đạo đồ. Con Đường Tiến Hoá thật ra là con đường của những sự nhận biết, dẫn đến mặc khải. Toàn bộ tiến trình tiến hoá mang tính điểm đạo, dẫn từ một sự mở rộng tâm thức này đến một sự mở rộng khác, cho đến khi các thế giới vô hình tướng và hình tướng đứng hiển lộ trong ánh sáng mà điểm đạo đồ tạo ra và trong đó y bước đi. Các ánh sáng này đa dạng và mặc khải theo nhiều cách; có:

1. The light of matter itself, found in every atom of substance.

1. Ánh sáng của chính vật chất, được tìm thấy trong mỗi nguyên tử chất liệu.

2. The light of the vital or etheric vehicle—a light which is the reflection of the One Light because it unifies the three types of light within the three worlds.

2. Ánh sáng của vận cụ sinh lực hay dĩ thái—một ánh sáng là sự phản chiếu của Ánh Sáng Duy Nhất, vì nó hợp nhất ba loại ánh sáng trong ba cõi thấp.

3. The light of the instinct.

3. Ánh sáng của bản năng.

4. The light of the intellect or the light of knowledge.

4. Ánh sáng của trí năng hay ánh sáng của tri thức.

5. The light of the soul.

5. Ánh sáng của linh hồn.

6. The light of the intuition.

6. Ánh sáng của trực giác.

From light to light we pass, from revelation to revelation until we pass out of the realm of light into the realm of life which is, as yet to us, pure darkness.

Từ ánh sáng này đến ánh sáng khác chúng ta đi qua, từ mặc khải này đến mặc khải khác, cho đến khi chúng ta đi ra khỏi lãnh vực ánh sáng để vào lãnh vực sự sống, điều mà đối với chúng ta hiện nay vẫn là bóng tối thuần túy.

It will be obvious to you that this increasing light brings with it a constantly developing series of revelations which, [206] like all else in the world of human experience, unfolds before the eyes first of all the world of forms, then the world of ideals, then the nature of the soul, of ideas and of divinity. I am choosing but a few of the words which embody the revelation and are symbolic of its character. But all these revelations constitute one great unified revelation which is slowly unfolding before the eyes of humanity. The light of the personal lower self reveals to man the world of form, of matter, of instinct, of desire and of mind; the light of the soul reveals the nature of the relation of these forms of life to the world of the formless and of the conflict between the real and the unreal. The light of the intuition unfolds before the vision of the soul within the personality, the nature of God and the unity of the Whole. The restlessness of material desire, seeking its satisfaction in the three worlds, eventually gives place to aspiration towards soul contact and soul life. This in its turn is recognised as a step towards those great fundamental experiences to which we give the names of the five major initiations. These reveal to man the hitherto unrealised fact of his non-separateness and of the relation of his individual will to the divine will.

Các bạn sẽ thấy rõ rằng ánh sáng ngày càng gia tăng này mang theo nó một chuỗi mặc khải không ngừng phát triển, vốn, [206] giống như mọi điều khác trong thế giới kinh nghiệm nhân loại, trước hết mở ra trước mắt thế giới hình tướng, rồi thế giới của các lý tưởng, rồi bản chất của linh hồn, của các ý tưởng và của thiên tính. Tôi chỉ chọn một vài từ hiện thân cho sự mặc khải và tượng trưng cho tính chất của nó. Nhưng tất cả những mặc khải này cấu thành một sự mặc khải thống nhất vĩ đại đang dần dần khai mở trước mắt nhân loại. Ánh sáng của phàm ngã thấp cá nhân mặc khải cho con người thế giới hình tướng, vật chất, bản năng, ham muốn và thể trí; ánh sáng của linh hồn mặc khải bản chất của mối liên hệ giữa các hình tướng sự sống này với thế giới vô hình tướng, và của cuộc xung đột giữa điều thực và điều không thực. Ánh sáng của trực giác khai mở trước tầm nhìn của linh hồn bên trong phàm ngã bản chất của Thượng đế và sự hợp nhất của Toàn Thể. Sự bất an của ham muốn vật chất, tìm kiếm sự thỏa mãn của nó trong ba cõi thấp, cuối cùng nhường chỗ cho khát vọng hướng tới sự tiếp xúc với linh hồn và đời sống linh hồn. Đến lượt điều này được nhận biết như một bước hướng tới những kinh nghiệm căn bản vĩ đại mà chúng ta gọi là năm cuộc điểm đạo chính. Những cuộc điểm đạo này mặc khải cho con người sự thật mà trước đây y chưa nhận ra về tính không chia lìa của y và về mối liên hệ giữa ý chí cá nhân của y với Ý Chí thiêng liêng.

We are now going to study the mode whereby these phases of work upon the astral plane are carried forward: first, the individual learns to use the light of the mind, generated by the soul as it becomes closely related to the personality and impulsed by the intuition. By means of this light the disciple learns to dissipate his personal and private glamours. I mention this because I would have you appreciate the extent of the task a man undertakes when he consciously sets about ridding himself of glamour preparatory to extended service. He is in conflict then with the whole glamour of the entire plane and is apt to be overwhelmed by a realisation of what he is facing. This is one of the [207] causes of the deep depression and those profound inferiority complexes which render some people completely futile or lead eventually to suicide. Their own personal glamours tie them in to national or planetary glamour and thus condition their life expression and their thinking. I would ask you to remember this as you deal with people and find them set in their ideas and unable to see the truth as you see it. They are as they are because their individual glamour is fed by the greater glamours, and this is as yet too much for them.

Giờ đây chúng ta sẽ nghiên cứu phương thức nhờ đó các giai đoạn công việc này trên cõi cảm dục được xúc tiến: trước hết, cá nhân học cách sử dụng ánh sáng của thể trí, do linh hồn tạo ra khi nó trở nên liên hệ mật thiết với phàm ngã và được trực giác thúc đẩy. Bằng ánh sáng này, đệ tử học cách làm tiêu tan các ảo cảm cá nhân và riêng tư của mình. Tôi nhắc đến điều này vì tôi muốn các bạn nhận thức được tầm mức của nhiệm vụ mà một người đảm nhận khi y hữu thức bắt đầu tự giải thoát khỏi ảo cảm để chuẩn bị cho sự phụng sự mở rộng. Khi ấy y ở trong xung đột với toàn bộ ảo cảm của cả cõi ấy, và có khuynh hướng bị choáng ngợp bởi sự nhận ra điều mà y đang đối diện. Đây là một trong những [207] nguyên nhân của sự trầm uất sâu xa và những phức cảm tự ti trầm trọng khiến một số người hoàn toàn vô hiệu hoặc cuối cùng dẫn đến tự tử. Các ảo cảm cá nhân của chính họ buộc họ vào ảo cảm quốc gia hoặc ảo cảm hành tinh, và do đó tác động lên sự biểu lộ đời sống cùng tư tưởng của họ. Tôi đề nghị các bạn nhớ điều này khi các bạn tiếp xúc với con người và thấy họ cố chấp trong các ý tưởng của mình, không thể thấy chân lý như các bạn thấy. Họ là như vậy vì ảo cảm cá nhân của họ được nuôi dưỡng bởi những ảo cảm lớn hơn, và điều này hiện vẫn còn quá sức đối với họ.

It is not my intention to deal specifically with particular glamours but to give you a formula which—with slight changes and additions—can serve the individual and the group in the task of eradicating glamour. I would begin by saying that the first need is for the man to realise that his reactions, ideas, desires and life experience, as far as his emotional nature is concerned, are conditioned by some one glamour or glamours, that he is the victim of several glamours, engendered over many lives, deeply rooted in his past history, and to which he instinctually reacts. The time, however, comes when the probationary disciple becomes aware of these instinctual glamours and recognises them on appearance, even when reacting to them; he seeks to free himself, working at first spasmodically, trying to use the mind to rationalise himself out of them and alternating between temporary success, when he can with deliberation act as if free from glamour, and long periods of defeat when he is overwhelmed, can see no light anywhere and acts like a blind, bewildered person. This indicates that he is drawn as by a magnet (the force of accumulated ancient glamour with its karmic effects) into the midst of the very glamour he would seek to avoid. Later comes the stage (a result of this alternating process) when the pull of the soul begins to offset the pull of these glamours: he [208] aspires to free expression and to liberation from astral plane control. The balancing process then takes place.

Ý định của tôi không phải là bàn riêng về những ảo cảm đặc thù, mà là trao cho các bạn một công thức, với vài thay đổi và bổ sung nhỏ, có thể phục vụ cá nhân và nhóm trong nhiệm vụ diệt trừ ảo cảm. Tôi sẽ bắt đầu bằng cách nói rằng nhu cầu đầu tiên là con người phải nhận ra rằng các phản ứng, ý tưởng, ham muốn và kinh nghiệm đời sống của y, xét theo bản chất cảm xúc của y, đều chịu tác động của một ảo cảm hoặc nhiều ảo cảm nào đó; rằng y là nạn nhân của nhiều ảo cảm, được sinh ra qua nhiều kiếp sống, cắm rễ sâu trong lịch sử quá khứ của y, và y phản ứng với chúng theo bản năng. Tuy nhiên, thời điểm sẽ đến khi đệ tử dự bị trở nên nhận biết các ảo cảm bản năng này và nhận biết chúng ngay khi chúng xuất hiện, ngay cả khi đang phản ứng với chúng; y tìm cách tự giải thoát, ban đầu làm việc một cách thất thường, cố gắng sử dụng thể trí để hợp lý hóa mình thoát khỏi chúng, và dao động giữa thành công tạm thời, khi y có thể cố ý hành động như thể tự do khỏi ảo cảm, với những giai đoạn thất bại kéo dài khi y bị choáng ngợp, không thể thấy ánh sáng ở bất cứ đâu và hành động như một người mù lòa, hoang mang. Điều này cho thấy y bị kéo như bởi nam châm, tức mãnh lực của ảo cảm cổ xưa tích lũy cùng các hiệu quả nghiệp quả của nó, vào giữa chính ảo cảm mà y tìm cách tránh. Về sau đến giai đoạn, như kết quả của tiến trình dao động này, khi sức hút của linh hồn bắt đầu hóa giải sức hút của các ảo cảm này: y [208] khát vọng đến sự biểu lộ tự do và sự giải thoát khỏi sự kiểm soát của cõi cảm dục. Khi ấy tiến trình quân bình diễn ra.

It is during this stage that meditation is instituted so that the man becomes aware of soul light as it blends with the inherent light of the mental body, and this blended light steadily intensifies as he persists in the meditation work. A point then comes where the aspirant discovers that this inner light can be used, and he begins tentatively and with uneven success to turn that light upon the problems of his particular glamour. It is also at this point that we now carry forward the Technique of Light, employing it so that the vague unscientific technique of the past comes to an end. The indicated technique is of use only to the man who knows something of the light of the mind, of the light in the head, and of the light of the soul. The light in the head is produced by the definitely planned bringing together of soul light and personality light, focussed in the mental body and producing an effect in the brain. This focussing process falls into three stages:

Chính trong giai đoạn này mà tham thiền được thiết lập, để con người trở nên nhận biết ánh sáng linh hồn khi nó hòa trộn với ánh sáng vốn có của thể trí, và ánh sáng hòa trộn này tăng cường đều đặn khi y kiên trì trong công việc tham thiền. Rồi đến một điểm mà người chí nguyện khám phá rằng ánh sáng bên trong này có thể được sử dụng, và y bắt đầu một cách thăm dò, với thành công không đều, hướng ánh sáng ấy vào các vấn đề của ảo cảm đặc thù của mình. Cũng chính tại điểm này mà chúng ta nay xúc tiến Kỹ Thuật Ánh sáng, sử dụng nó để kỹ thuật mơ hồ và phi khoa học của quá khứ chấm dứt. Kỹ thuật được chỉ ra chỉ hữu dụng cho người biết đôi điều về ánh sáng của thể trí, về ánh sáng trong đầu, và về ánh sáng của linh hồn. Ánh sáng trong đầu được tạo ra nhờ việc quy tụ có kế hoạch rõ ràng ánh sáng linh hồn và ánh sáng phàm ngã, tập trung trong thể trí và tạo ra một hiệu quả trong bộ não. Tiến trình tập trung này gồm ba giai đoạn:

1. The attempt to focus the light of the mind and of matter in the mental vehicle.

1. Nỗ lực tập trung ánh sáng của thể trí và của vật chất trong vận cụ trí tuệ.

This signifies a bringing together of the light of matter and substance (dense material and etheric light) and the light of the mind itself. There is no peculiar or specific light in or of the astral body itself, for it is only an aggregate of forms, created by individual man, by nations and by races, and these in their entirety constitute the astral plane and possess no inherent light as do other forms. They are not created as a form of expression for some dynamic life by the planetary Logos, and this is the real meaning of what I have earlier told you that the astral plane in reality does not exist. It is the phantasmoric creation of human desire down the [209] ages and its false light is a reflection of either the light of matter or of the mind. This process of focussing is undertaken through alignment and by the effort to bring to a point of illumination the positive light of the mind and the negative light of the brain and is carried forward through mental control, developed in meditation. When these two opposite poles are in relation then (by an act of the personality will) these two aspects of the lesser light can form a pin point of light—like a small torch light—revealing some phase of the glamour to which the aspirant most easily responds. This first focussed light is not of such a nature that it can do more than reveal. It has no dissipating power, nor can it render existing glamour ineffective. It can only make a man aware in his waking or brain consciousness that glamour holds him. This is related to the stage of concentration in the meditation process.

Điều này hàm ý việc quy tụ ánh sáng của vật chất và chất liệu, tức ánh sáng vật chất đậm đặc và ánh sáng dĩ thái, với ánh sáng của chính thể trí. Không có ánh sáng đặc thù hay riêng biệt nào trong hoặc của chính thể cảm dục, vì nó chỉ là một tập hợp các hình tướng do con người cá nhân, các quốc gia và các nhân loại tạo ra, và toàn thể chúng cấu thành cõi cảm dục, không sở hữu ánh sáng cố hữu như các hình tướng khác. Chúng không được Đức Hành Tinh Thượng đế tạo ra như một hình thức biểu lộ cho một sự sống năng động nào đó, và đây là ý nghĩa thực sự của điều tôi đã nói với các bạn trước đây rằng cõi cảm dục trong thực tại không tồn tại. Nó là sáng tạo ảo ảnh của ham muốn nhân loại qua các [209] thời đại, và ánh sáng giả của nó là sự phản chiếu hoặc của ánh sáng vật chất hoặc của thể trí. Tiến trình tập trung này được thực hiện thông qua sự chỉnh hợp và bằng nỗ lực đưa ánh sáng dương của thể trí cùng ánh sáng âm của bộ não đến một điểm soi sáng, và được xúc tiến qua sự kiểm soát trí tuệ, phát triển trong tham thiền. Khi hai cực đối nghịch này ở trong mối liên hệ, thì bằng một hành động của ý chí phàm ngã, hai phương diện này của ánh sáng thấp có thể tạo thành một điểm sáng nhỏ—giống như một ngọn đèn pin nhỏ—mặc khải một phương diện nào đó của ảo cảm mà người chí nguyện dễ đáp ứng nhất. Ánh sáng tập trung đầu tiên này không có bản chất đến mức có thể làm được gì hơn ngoài việc mặc khải. Nó không có quyền năng làm tiêu tan, cũng không thể khiến ảo cảm hiện hữu trở nên vô hiệu. Nó chỉ có thể khiến con người nhận biết, trong tâm thức tỉnh thức hay tâm thức bộ não của y, rằng ảo cảm đang nắm giữ y. Điều này liên hệ với giai đoạn tập trung trong tiến trình tham thiền.

2. The second stage of the focussing process is produced through the effort to meditate. In the previous stage, the blending of the two material lights was entirely a form process and the aspirant is actuated entirely by his personality forces and expediency. An illustration of this and of its effectiveness can be seen in the man who, from purely selfish motives and through an intense concentration, focusses his mind and brings about the gratification of his desires and the achievement of his goals. He kills out all emotional reactions and goes a long way towards dissipating glamour. He develops the ability to draw on the light of matter itself (physical matter and mental substance) and thus he generates a false light from which soul light is rigorously excluded. It is this power which eventually produces a black magician. He has developed the capacity to draw [210] upon the light energy of matter itself and to focus it so powerfully and effectively that it becomes a great destructive force. It is this which has given Hitler and the six evil men associated with him their power to destroy upon the material plane. But, in the case of the aspirant, the power to meditate upon spiritual reality and to contact the soul offsets the dangers inherent in focussing on and using solely the light of matter; to the lesser light of matter is added the light of the soul and then these two blended lights, or aspects of the One Light, are focussed upon the mental plane through the power of the creative imagination. This enables man eventually to dissipate glamour and liberates him from the astral plane.

2. Giai đoạn thứ hai của tiến trình tập trung được tạo ra thông qua nỗ lực tham thiền. Trong giai đoạn trước, sự hòa trộn của hai ánh sáng vật chất hoàn toàn là một tiến trình hình tướng, và người chí nguyện hoàn toàn bị thúc đẩy bởi các mãnh lực phàm ngã và tính lợi ích nhất thời của y. Một minh họa về điều này và về hiệu quả của nó có thể được thấy nơi người, xuất phát từ những động cơ hoàn toàn ích kỷ và nhờ sự tập trung mãnh liệt, tập trung thể trí của mình và tạo ra sự thỏa mãn các ham muốn cũng như sự đạt được các mục tiêu của mình. Y dập tắt mọi phản ứng cảm xúc và đi một quãng dài hướng tới việc làm tiêu tan ảo cảm. Y phát triển khả năng rút lấy ánh sáng của chính vật chất, tức vật chất hồng trần và chất liệu trí tuệ, và nhờ vậy y tạo ra một ánh sáng giả mà khỏi đó ánh sáng linh hồn bị loại trừ nghiêm ngặt. Chính quyền năng này cuối cùng tạo ra nhà hắc thuật. Y đã phát triển khả năng rút [210] từ năng lượng ánh sáng của chính vật chất và tập trung nó mạnh mẽ, hiệu quả đến mức nó trở thành một mãnh lực hủy diệt lớn lao. Chính điều này đã trao cho Hitler và sáu kẻ ác liên kết với ông quyền năng hủy diệt trên cõi vật chất. Nhưng trong trường hợp người chí nguyện, quyền năng tham thiền về thực tại tinh thần và tiếp xúc với linh hồn hóa giải những nguy hiểm cố hữu trong việc chỉ tập trung vào và sử dụng ánh sáng của vật chất; vào ánh sáng thấp của vật chất được thêm ánh sáng của linh hồn, và khi ấy hai ánh sáng hòa trộn này, hay hai phương diện của Ánh Sáng Duy Nhất, được tập trung trên cõi trí thông qua quyền năng của Sự tưởng tượng sáng tạo. Điều này cuối cùng giúp con người làm tiêu tan ảo cảm và giải thoát y khỏi cõi cảm dục.

3. The third stage is that in which the light of matter, the light of the mind and the light of the soul (as a channel for the intuition) are consciously blended, fused and focussed. The man then turns this blended light, under soul direction, upon the world of glamour and upon the particular glamour with which he is at any one time pre-occupied. The false light of the astral plane disappears in this triple blended light just like a fire can be nearly put out if subjected to the full rays of the sun; or a burning glass, focussing the rays of the sun, can start a destructive blaze. It is the use of a powerful light which can obliterate a lesser light and dissipate a fog.

3. Giai đoạn thứ ba là giai đoạn trong đó ánh sáng của vật chất, ánh sáng của thể trí và ánh sáng của linh hồn, như một kênh cho trực giác, được hòa trộn, dung hợp và tập trung một cách hữu thức. Khi ấy con người hướng ánh sáng hòa trộn này, dưới sự chỉ đạo của linh hồn, vào thế giới ảo cảm và vào ảo cảm đặc thù mà y đang bận tâm ở bất kỳ thời điểm nào. Ánh sáng giả của cõi cảm dục biến mất trong ánh sáng tam phân hòa trộn này, giống như một ngọn lửa gần như có thể bị dập tắt nếu bị đặt dưới toàn bộ các tia mặt trời; hoặc một thấu kính hội tụ, khi tập trung các tia mặt trời, có thể khởi phát một đám cháy hủy diệt. Đó là việc sử dụng một ánh sáng mạnh mẽ có thể xóa bỏ một ánh sáng yếu hơn và làm tiêu tan một màn sương.

All this has to be understandingly and consciously carried forward as a preliminary to the technique proper. His work will be experimental at first, and scientifically applied eventually. It will be based upon a recognition of truth—a truth which is faced and accepted. This work is not a form of rationalisation, though that precedes the definitely [211] scientific work I am outlining; it is not the cultivation of fresh interests of a mental and spiritual kind which gradually supersede desire and drive out glamour. That is all preparatory in character and leads to an unfoldment which prepares the aspirant to work scientifically; it is not a process of “killing out desire” as some schools of thought teach, but is a process of gradually eradicating desire by stern discipline and hard trained work and this, incidentally, involves the dissipation of glamour. Such have been the slow techniques of the past. Today the process is to be changed because enough people are now the product of understanding and can work wisely and also scientifically.

Tất cả điều này phải được tiến hành một cách thấu hiểu và có ý thức như một bước chuẩn bị cho kỹ thuật đúng nghĩa. Công việc của y lúc đầu sẽ mang tính thử nghiệm, và cuối cùng sẽ được áp dụng một cách khoa học. Nó sẽ đặt nền trên sự nhận ra chân lý—một chân lý được đối diện và chấp nhận. Công việc này không phải là một hình thức hợp lý hóa, dù điều đó đi trước công việc khoa học rõ rệt mà Tôi đang phác thảo; nó không phải là việc vun trồng những mối quan tâm mới thuộc loại trí tuệ và tinh thần, dần dần thay thế ham muốn và xua đuổi ảo cảm. Tất cả điều đó đều có tính chuẩn bị và dẫn đến một sự khai mở chuẩn bị cho người chí nguyện làm việc một cách khoa học; đó không phải là tiến trình “diệt trừ ham muốn” như một số trường phái tư tưởng giảng dạy, mà là tiến trình dần dần nhổ bỏ ham muốn bằng kỷ luật nghiêm khắc và công việc được rèn luyện gian khổ, và điều này, nhân tiện nói, bao hàm việc làm tiêu tan ảo cảm. Những kỹ thuật chậm rãi như thế đã thuộc về quá khứ. Ngày nay tiến trình phải được thay đổi, vì hiện nay đã có đủ người là sản phẩm của sự thấu hiểu và có thể làm việc một cách minh triết cũng như khoa học.

The process I am developing for you is one of rapid and effective dissipation and is based upon the acceptance of the hypothesis of light, upon the recognition of the fact that the astral plane has no true existence, upon a trained use of the creative imagination and upon the unquestioning following of instructions, individually and as a group.

Tiến trình Tôi đang khai triển cho các bạn là một tiến trình làm tiêu tan nhanh chóng và hữu hiệu, đặt nền trên việc chấp nhận giả thuyết về ánh sáng, trên sự nhận biết sự kiện rằng cõi cảm dục không có thực tại chân thật, trên việc sử dụng có rèn luyện Sự tưởng tượng sáng tạo, và trên sự tuân theo các huấn thị một cách không nghi vấn, cả cá nhân lẫn với tư cách một nhóm.

It is my intention to give you two formulas—one for the use of the individual and the other which groups can use as they contribute their united effort to the dissipation of glamour, either of group glamour or in relation to some aspect of the prevalent world glamour. Two things will be apparent to you:

Ý định của Tôi là trao cho các bạn hai công thức—một dành cho cá nhân sử dụng và một công thức khác mà các nhóm có thể dùng khi họ đóng góp nỗ lực hợp nhất của mình vào việc làm tiêu tan ảo cảm, hoặc là ảo cảm nhóm, hoặc liên quan đến một phương diện nào đó của ảo cảm thế giới đang thịnh hành. Hai điều sẽ trở nên rõ ràng đối với các bạn:

First: that those participating in the eradication of glamour must be able to distinguish between glamour and the reality. These often closely resemble each other on a superficial examination. They must be in a position to recognise that an emotional or astral condition constitutes a veil over the truth and is a distortion of the presentation or the appearance of the individual’s or the group’s expression of divinity. They must, therefore, be capable of vision, clear thinking, and prompt recognition as to what is preventing [212] the materialising of that vision and the accurate reception of the truth. They must also be able to distinguish between a major and a minor glamour. A minor glamour, a passing evanescent thoughtform of an easily recognisable nature does not warrant the use of either of the formulas. Such a minor glamour would be a sense of self-pity in an individual or the glorification of some notable individual by an individual, a group or a nation. Time and commonsense suffice to take care of such a situation. A major glamour in the world (prior to the war) was the emphasis put upon possessions and the belief that happiness was dependent upon things and upon material good and comfort.

Thứ nhất: rằng những ai tham dự vào việc nhổ bỏ ảo cảm phải có khả năng phân biệt giữa ảo cảm và thực tại. Hai điều này thường rất giống nhau khi xét một cách hời hợt. Họ phải ở trong vị thế có thể nhận biết rằng một tình trạng cảm xúc hay cảm dục tạo thành một bức màn che phủ chân lý và là một sự bóp méo sự trình hiện hay vẻ ngoài của sự biểu lộ thiên tính nơi cá nhân hoặc nơi nhóm. Vì vậy, họ phải có khả năng về tầm nhìn, tư duy sáng suốt, và nhận biết nhanh chóng điều gì đang ngăn cản [212] sự hiện hình của tầm nhìn ấy và sự tiếp nhận chính xác chân lý. Họ cũng phải có khả năng phân biệt giữa một ảo cảm lớn và một ảo cảm nhỏ. Một ảo cảm nhỏ, một hình tư tưởng thoáng qua và chóng tan thuộc loại dễ nhận biết, không đáng để sử dụng bất cứ công thức nào trong hai công thức. Một ảo cảm nhỏ như thế có thể là cảm thức tự thương hại nơi một cá nhân, hoặc sự tôn vinh một cá nhân nổi bật nào đó bởi một cá nhân, một nhóm hay một quốc gia. Thời gian và lương tri đủ để xử lý một tình huống như vậy. Một ảo cảm lớn trong thế giới trước chiến tranh là sự nhấn mạnh đặt vào của cải sở hữu và niềm tin rằng hạnh phúc tùy thuộc vào sự vật, vào tiện nghi và phúc lợi vật chất.

Second: that the three stages of focussing, referred to above, constitute a preparatory process. These three stages must be somewhat developed before effective use of the formulas can be possible, and those intending to work at the task of ridding the world of glamour must subject themselves constantly to these phases in the art of polarisation, if I might so call it. They must have an understanding of the apparatus of thought, of the creation of thoughtforms, and of the nature of the thinker. They must be emotionally polarised, yet, in group work relatively free from astral control. This astral liberation must to a certain extent control the choice of those who are to work at major dissipations. In the case of the individual who is seeking to break up glamour in his individual life, he should be mentally polarised by decision and effort even if the emotional nature is for him in any one life the line of least resistance. Those working in group formation will have achieved a measure of mental focus but for the purposes of the work to be done they will focus themselves consciously and deliberately upon the emotional plane through [213] their control of their natures. Workers must therefore have practised meditation, have reflected much upon the nature of thought and its uses, and must be aware of the light within.

Thứ hai: rằng ba giai đoạn tập trung, đã được đề cập ở trên, tạo thành một tiến trình chuẩn bị. Ba giai đoạn này phải được phát triển phần nào trước khi có thể sử dụng các công thức một cách hữu hiệu, và những ai có ý định làm việc trong nhiệm vụ giải thoát thế giới khỏi ảo cảm phải thường xuyên tự đặt mình vào các giai đoạn này trong nghệ thuật phân cực, nếu Tôi có thể gọi như vậy. Họ phải có sự thấu hiểu về bộ máy tư tưởng, về việc tạo ra các hình tư tưởng, và về bản chất của người tư tưởng. Họ phải được phân cực về mặt cảm xúc, nhưng trong công việc nhóm thì tương đối thoát khỏi sự kiểm soát cảm dục. Sự giải thoát cảm dục này, ở một mức độ nào đó, phải chi phối việc chọn lựa những người sẽ làm việc trong các hoạt động làm tiêu tan lớn lao. Trong trường hợp cá nhân đang tìm cách phá vỡ ảo cảm trong đời sống riêng của mình, y nên được phân cực trí tuệ bằng quyết định và nỗ lực, ngay cả khi bản chất cảm xúc đối với y trong một kiếp sống nào đó là con đường ít trở ngại nhất. Những người làm việc trong đội hình nhóm sẽ đạt được một mức độ tập trung trí tuệ, nhưng vì mục đích của công việc cần thực hiện, họ sẽ tự tập trung một cách có ý thức và chủ ý trên cõi cảm xúc thông qua [213] sự kiểm soát bản chất của mình. Vì vậy, những người hoạt động phải đã thực hành tham thiền, đã suy ngẫm nhiều về bản chất của tư tưởng và các cách sử dụng nó, và phải ý thức về ánh sáng bên trong.

When these three stages are established as related activities, habits and automatic reactions, and when the intention is fixed and the ability to focus has become an almost instinctual reaction, then sound and effective work can be done; to this work must be added persistence and patience. It is not necessary, I might add, to have achieved perfection in the process before starting this work and service. Disciples and aspirants must cultivate the consciousness of cooperation and realisation that in service such as is proposed, they are definitely participating in a hierarchical activity and are, therefore, in a position to render help even if they could not—alone and unaided—achieve the desired results. They can hasten the process by their combined help. The power of united effort upon the physical plane is being realised today on a large scale, and the war effort in all countries has greatly hastened this realisation. The power of unified emotion (often expressing itself in what is called mob psychology) is everywhere recognised and feared as well as exploited. The power of unified thought is little grasped as yet, and the power inherent in the light of many minds, rendering them effective instruments in world affairs, penetrating and dissipating glamour and proving creative upon the physical plane, will prove to be a part of the new modes of work which will be employed in the new age. For this, the Hierarchy has planned and worked and it is now prepared to test the effectiveness of that work by organising a group or groups which will work upon the problem of glamour.

Khi ba giai đoạn này được thiết lập như những hoạt động, thói quen và phản ứng tự động có liên hệ với nhau, và khi ý định đã được cố định còn khả năng tập trung đã trở thành một phản ứng gần như bản năng, bấy giờ công việc lành mạnh và hữu hiệu mới có thể được thực hiện; vào công việc này phải thêm sự bền bỉ và kiên nhẫn. Tôi có thể nói thêm rằng không nhất thiết phải đạt đến sự hoàn hảo trong tiến trình trước khi bắt đầu công việc và sự phụng sự này. Các đệ tử và người chí nguyện phải vun trồng tâm thức hợp tác và nhận biết rằng trong sự phụng sự như điều được đề nghị, họ chắc chắn đang tham dự vào một hoạt động của Thánh đoàn, và do đó, họ ở trong vị thế có thể giúp đỡ, dù một mình và không được trợ giúp, họ không thể đạt được các kết quả mong muốn. Họ có thể thúc đẩy tiến trình bằng sự trợ giúp phối hợp của mình. Quyền năng của nỗ lực hợp nhất trên cõi hồng trần ngày nay đang được nhận biết trên quy mô lớn, và nỗ lực chiến tranh ở mọi quốc gia đã thúc đẩy rất nhiều sự nhận biết này. Quyền năng của cảm xúc hợp nhất, thường biểu lộ trong điều được gọi là tâm lý đám đông, được khắp nơi nhận biết, vừa bị sợ hãi vừa bị khai thác. Quyền năng của tư tưởng hợp nhất cho đến nay còn ít được nắm bắt, và quyền năng vốn có trong ánh sáng của nhiều thể trí, khiến chúng trở thành những khí cụ hữu hiệu trong các sự vụ thế giới, xuyên thấu và làm tiêu tan ảo cảm, đồng thời tỏ ra có tính sáng tạo trên cõi hồng trần, sẽ chứng tỏ là một phần của các phương thức làm việc mới sẽ được sử dụng trong kỷ nguyên mới. Vì điều này, Thánh Đoàn đã hoạch định và làm việc, và nay đã sẵn sàng thử nghiệm hiệu quả của công việc ấy bằng cách tổ chức một nhóm hay nhiều nhóm sẽ làm việc trên vấn đề ảo cảm.

You can see, consequently, that what I am outlining is relatively new. The faint impression of the coming technique [214] as far as the individual is concerned has been registered. Men and women everywhere are attempting to rid themselves of glamour by the power of clear thinking, stern discipline and commonsense, and by a recording consciously of their relation to the whole—which prompts them to eliminate out of their lives all that could hinder others or increase world deception through glamour. To this will be added (perhaps as an aspect of the new world religion now on its way towards externalising) the realisation that groups can successfully clear away the glamours which darken humanity’s way to its goal, through the power of combined and projected thought.

Do đó, các bạn có thể thấy rằng điều Tôi đang phác thảo tương đối mới. Ấn tượng mờ nhạt về kỹ thuật sắp đến [214], xét theo cá nhân, đã được ghi nhận. Những người nam và nữ ở khắp nơi đang cố gắng giải thoát chính mình khỏi ảo cảm bằng quyền năng của tư duy sáng suốt, kỷ luật nghiêm khắc và lương tri, cũng như bằng việc ghi nhận có ý thức mối liên hệ của họ với toàn thể—điều thôi thúc họ loại bỏ khỏi đời sống mình tất cả những gì có thể cản trở người khác hoặc làm gia tăng sự lừa dối thế giới thông qua ảo cảm. Vào điều này sẽ được thêm vào, có lẽ như một phương diện của tôn giáo thế giới mới hiện đang trên đường ngoại hiện, sự nhận biết rằng các nhóm có thể thành công trong việc quét sạch những ảo cảm làm tối tăm con đường của nhân loại hướng đến mục tiêu của mình, nhờ quyền năng của tư tưởng phối hợp và được phóng chiếu.

In order to make the first step towards united group activity along this line of service, I present a formula or group ritual which—if employed by those whose lives are relatively free from glamour, who are realists and who are recognised by the group as thus relatively free, and who are animated by good intent—will do much to bring to an end certain aspects of the world glamour. Their effort, combined with that of similar groups, will so weaken the power of these ancient glamours that the “Day of Clarification” will eventually come.

Để thực hiện bước đầu tiên hướng đến hoạt động nhóm hợp nhất theo đường lối phụng sự này, Tôi trình bày một công thức hay nghi thức nhóm; nếu được sử dụng bởi những người có đời sống tương đối thoát khỏi ảo cảm, những người thực tế và được nhận biết bởi nhóm là tương đối tự do như thế, đồng thời được thôi thúc bởi ý định thiện lành, công thức này sẽ làm được nhiều điều để chấm dứt một số phương diện của ảo cảm thế giới. Nỗ lực của họ, kết hợp với nỗ lực của các nhóm tương tự, sẽ làm suy yếu quyền năng của những ảo cảm cổ xưa này đến mức “Ngày Minh Giải” cuối cùng sẽ đến.

First, however, let me briefly offer for the use of the individual aspirant a formula whereby he may aid in freeing himself from his particular glamour or glamours. I will tabulate the process, and the aspirant would do well to follow it as given, having in his mind no sense of time, and being willing to do this work regularly for months, and if necessary for years, until he has freed himself and the light breaks in on the astral plane through the medium of his astral body. I would suggest that no aspirant attempt to tackle the problem of glamour as a whole or seek to dissipate all the glamours to which he is susceptible. He is dealing with very ancient evil and with firmly established [215] habits of glamour. They are closely connected with aspects of his daily living, with his sex life or with his ambitions, with his relations to other people, with his pet ideals and ideas, his dreams and visions. He should choose the glamour that is the most apparent and the most hindering at any given time (and there is always one) and for its dissipation he should work conscientiously, if he would lay the foundations for effective service in the dissipation of world glamour.

Tuy nhiên, trước hết, hãy để Tôi trình bày ngắn gọn cho người chí nguyện cá nhân sử dụng một công thức nhờ đó y có thể trợ giúp trong việc giải thoát chính mình khỏi ảo cảm hay các ảo cảm riêng của y. Tôi sẽ trình bày tiến trình dưới dạng bảng, và người chí nguyện nên làm theo đúng như đã được trao, không giữ trong tâm trí bất cứ cảm thức nào về thời gian, và sẵn lòng thực hiện công việc này đều đặn trong nhiều tháng, và nếu cần trong nhiều năm, cho đến khi y đã giải thoát chính mình và ánh sáng đột nhập vào cõi cảm dục thông qua trung gian là thể cảm dục của y. Tôi đề nghị rằng không người chí nguyện nào cố gắng đương đầu với vấn đề ảo cảm như một toàn thể, hoặc tìm cách làm tiêu tan tất cả các ảo cảm mà y dễ bị ảnh hưởng. Y đang xử lý một điều ác rất cổ xưa và những thói quen ảo cảm đã được thiết lập vững chắc [215]. Chúng liên hệ mật thiết với các phương diện của đời sống hằng ngày của y, với đời sống tính dục hay tham vọng của y, với các mối quan hệ của y với người khác, với những lý tưởng và ý tưởng y ưa thích, những giấc mơ và linh ảnh của y. Y nên chọn ảo cảm nào rõ rệt nhất và gây cản trở nhất vào bất cứ thời điểm nào, và luôn luôn có một ảo cảm như thế; rồi đối với việc làm tiêu tan nó, y nên làm việc một cách tận tâm, nếu y muốn đặt nền móng cho sự phụng sự hữu hiệu trong việc làm tiêu tan ảo cảm thế giới.

FORMULA FOR THE DISSIPATION OF GLAMOUR

CÔNG THỨC LÀM TIÊU TAN ẢO CẢM

(For the Individual)

Dành cho Cá nhân

I. Preparatory Stages.—I. Các Giai đoạn Chuẩn bị.

1. Recognition of the glamour to be dissipated. This involves:

1. Nhận biết ảo cảm cần được làm tiêu tan. Điều này bao hàm:

a. A willingness to cooperate with the soul in physical, astral and mental ways in order to aid in the more technical work. Ponder on the implications in this sentence.

a. Sự sẵn lòng hợp tác với linh hồn theo các cách hồng trần, cảm dục và trí tuệ để trợ giúp trong công việc có tính kỹ thuật hơn. Hãy suy ngẫm về các hàm ý trong câu này.

b. A recognition of the ways in which this glamour affects the daily life and all relationships.

b. Sự nhận biết những cách thức mà ảo cảm này ảnh hưởng đến đời sống hằng ngày và mọi mối quan hệ.

2. The three stages of focussing outlined (pp. 208-210) must be undertaken.

2. Ba giai đoạn tập trung đã được phác thảo ở các trang 208-210 phải được thực hiện.

a. The stage of focussing the light of the mind and the light of matter in the mental vehicle. This is done by a process of lifting up and of blending and fusion, and to do this the activity of the creative imagination is employed.

a. Giai đoạn tập trung ánh sáng của thể trí và ánh sáng của vật chất trong vận cụ trí tuệ. Điều này được thực hiện bằng một tiến trình nâng lên, hòa trộn và sự dung hợp; để làm điều này, hoạt động của Sự tưởng tượng sáng tạo được sử dụng.

b. The stage of meditation which in time brings about the fusion of the light of matter, the light of the mind and the light of the soul upon the mental plane. [216]

b. Giai đoạn tham thiền, theo thời gian, tạo ra sự dung hợp của ánh sáng vật chất, ánh sáng của thể trí và ánh sáng của linh hồn trên cõi trí. [216]

c. The stage in which these three lights are realised to be one unified light—a searchlight, ready to be turned in the needed direction.

c. Giai đoạn trong đó ba ánh sáng này được nhận biết là một ánh sáng hợp nhất—một luồng đèn pha, sẵn sàng được hướng về phía cần thiết.

3. The recognition of two aspects of preparedness:

3. Sự nhận biết hai phương diện của trạng thái sẵn sàng:

a. Alignment of the personality, so that the three aspects of the lower nature are seen as constituting one functioning personality.

a. Sự chỉnh hợp của phàm ngã, để ba phương diện của bản chất thấp được thấy như tạo thành một phàm ngã đang vận hành.

b. An act of integration in which the personality and the soul are seen also as a unit. This is done through the dedication of the personality to the soul and its acceptance by the soul.

b. Một hành động tích hợp, trong đó phàm ngã và linh hồn cũng được thấy như một đơn vị. Điều này được thực hiện qua việc phàm ngã hiến dâng cho linh hồn và được linh hồn chấp nhận.

These two lines of thinking produce a field of magnetic thought and realisation in which all the work is done.

Hai dòng tư tưởng này tạo ra một trường tư tưởng và nhận biết có tính từ tính, trong đó toàn bộ công việc được thực hiện.

4. A pause in which the whole man braces himself for the work to be done. From a profound pre-occupation with the stage of soul contact and initial preparation he now focusses his attentive mind upon the glamour to be eradicated. This does not involve a consciousness of the glamour and its why and wherefore. It means a turning of the attention of the integrated soul-personality to the astral plane and the particular glamour; the attention is not turned to the astral body of the aspirant, seeking to do the work. This is a statement of major importance because in destroying the peculiar type of glamour with which he is concerned, the aspirant or disciple begins to destroy his share in it—that in him which gives him contact with the glamour—and at the same time he is preparing himself for group service along the same line. This will not prove an easy task. [217]

4. Một khoảng dừng, trong đó toàn thể con người tự chuẩn bị cho công việc cần làm. Từ sự chuyên chú sâu xa vào giai đoạn tiếp xúc với linh hồn và chuẩn bị ban đầu, giờ đây y tập trung thể trí chú tâm của mình vào ảo cảm cần bị nhổ bỏ. Điều này không bao hàm một tâm thức về ảo cảm và lý do cũng như căn nguyên của nó. Nó có nghĩa là một sự chuyển hướng chú ý của linh hồn-phàm ngã tích hợp về cõi cảm dục và ảo cảm đặc thù; sự chú ý không được chuyển về thể cảm dục của người chí nguyện đang tìm cách thực hiện công việc. Đây là một phát biểu có tầm quan trọng lớn, vì trong việc phá hủy loại ảo cảm đặc thù mà y đang quan tâm, người chí nguyện hay đệ tử bắt đầu phá hủy phần dự phần của chính y trong đó—điều trong y khiến y tiếp xúc với ảo cảm—và đồng thời y đang chuẩn bị chính mình cho sự phụng sự nhóm theo cùng đường lối. Điều này sẽ không tỏ ra là một nhiệm vụ dễ dàng. [217]

II. The Technique or Formula.—II. Kỹ thuật hay Công thức.

5. By an act of the creative imagination the worker endeavours to see and hear the soul—the source of light and power in the three worlds—breathing out the OM into the mind of the attentive waiting personality. There the light and power of the soul is retained and held by the positive personality, for a negative attitude is not desirable.

5. Bằng một hành động của Sự tưởng tượng sáng tạo, người hoạt động cố gắng thấy và nghe linh hồn—nguồn ánh sáng và quyền năng trong ba cõi thấp—thở ra OM vào thể trí của phàm ngã đang chăm chú chờ đợi. Ở đó, ánh sáng và quyền năng của linh hồn được giữ lại và nắm giữ bởi phàm ngã tích cực, vì thái độ tiêu cực là điều không đáng mong muốn.

6. The retained light and power, combined with the dual light of the personality (focussed as we know on the mental plane) is seen generating an intense light which can be visualised as a searchlight of great brilliance and strength. It must be seen as a sphere of vivid brilliant light but not yet radiating out or projecting outwards.

6. Ánh sáng và quyền năng được giữ lại, kết hợp với ánh sáng kép của phàm ngã, mà như chúng ta biết được tập trung trên cõi trí, được thấy như đang tạo ra một ánh sáng mãnh liệt có thể được hình dung như một luồng đèn pha rực rỡ và mạnh mẽ. Nó phải được thấy như một khối cầu ánh sáng chói sáng sống động, nhưng chưa tỏa chiếu ra hay phóng chiếu ra ngoài.

7. When this act of visualisation is deemed to be satisfactorily accomplished, a pause then ensues wherein the aspirant focusses all the will he has behind the light thus created by the fusion of the three lights. This refers to the stage spoken of by Patanjali as that of the “mind held steady in the light.” This use of the will—soul-personality will—is dynamic but at this stage quiescent and not magnetic or radiatory.

7. Khi hành động hình dung này được xem là đã hoàn thành thỏa đáng, bấy giờ có một khoảng dừng, trong đó người chí nguyện tập trung toàn bộ ý chí y có đằng sau ánh sáng đã được tạo ra như thế bằng sự dung hợp của ba ánh sáng. Điều này chỉ giai đoạn mà Patanjali nói đến như là giai đoạn “thể trí được giữ vững trong ánh sáng.” Việc sử dụng ý chí này—ý chí linh hồn-phàm ngã—có tính năng động, nhưng ở giai đoạn này thì tĩnh lặng, không có tính từ tính hay tỏa chiếu.

8. Next follows a process wherein the glamour to be dissipated and the searchlight of the mind are brought into relationship by the power of thought. The glamour and its quality and the searchlight and its power are recognised to be as they are, and the effect or effects to be brought about by that relationship are carefully thought out. This must not be done in such a way that the mind process, light [218] and power will strengthen the already powerful glamour. It must be done in such a way that at the close of the process the glamour will be appreciably weakened and eventually dissipated. This is an important realisation.

8. Tiếp theo là một tiến trình trong đó ảo cảm cần được làm tiêu tan và luồng đèn pha của thể trí được đưa vào mối liên hệ bằng quyền năng của tư tưởng. Ảo cảm và phẩm tính của nó, luồng đèn pha và quyền năng của nó, được nhận biết đúng như chúng là, và hiệu quả hay các hiệu quả cần được tạo ra bởi mối liên hệ ấy được suy xét cẩn thận. Điều này không được thực hiện theo cách khiến tiến trình trí tuệ, ánh sáng [218] và quyền năng sẽ tăng cường ảo cảm vốn đã mạnh mẽ. Nó phải được thực hiện theo cách sao cho vào cuối tiến trình, ảo cảm sẽ yếu đi rõ rệt và cuối cùng được làm tiêu tan. Đây là một sự nhận biết quan trọng.

9. Having, as far as possible, achieved the needed concentration, realisation and relationship, the aspirant then (by an act of the will and of the creative imagination) turns on the searchlight and sees a vivid beam of light stream forth and pierce the glamour. He must visualise a broad brilliant beam, pouring forth from the illumined mind on to the astral plane. He must believe that this is so.

9. Sau khi đã đạt được, trong mức có thể, sự tập trung, nhận biết và mối liên hệ cần thiết, người chí nguyện bấy giờ, bằng một hành động của ý chí và của Sự tưởng tượng sáng tạo, bật luồng đèn pha lên và thấy một tia sáng sống động tuôn ra và xuyên thủng ảo cảm. Y phải hình dung một tia sáng rộng lớn, rực rỡ, tuôn ra từ thể trí được soi sáng xuống cõi cảm dục. Y phải tin rằng điều này là như vậy.

10. Then comes an important and difficult phase of the work in which the worker names the glamour and sees it in process of dissipation. He aids the process by saying with tension and inaudibly:

10. Rồi đến một giai đoạn quan trọng và khó khăn của công việc, trong đó người hoạt động gọi tên ảo cảm và thấy nó đang trong tiến trình tiêu tan. Y trợ giúp tiến trình bằng cách nói với sự tập trung nhất tâm và không phát ra âm thanh:

The power of the light prevents the appearance of the glamour (Naming it).

Quyền năng của ánh sáng ngăn chặn sự xuất hiện của ảo cảm, nêu tên nó.

The power of the light negates the quality of the glamour from affecting me.

Quyền năng của ánh sáng phủ định phẩm tính của ảo cảm khỏi việc ảnh hưởng đến tôi.

The power of the light destroys the life behind the glamour.

Quyền năng của ánh sáng phá hủy sự sống đằng sau ảo cảm.

The saying of these three sentences constitutes an affirmation of power and of purpose and must be enunciated at a point of tension, with the mind held in steadiness and with a positive orientation.

Việc nói ba câu này tạo thành một sự khẳng định về quyền năng và mục đích, và phải được phát biểu tại một điểm tập trung nhất tâm, với thể trí được giữ vững vàng và với một định hướng tích cực.

11. Again the Sacred Word is sounded with intent to produce what in occult parlance is called an “Act of Penetration”; the light is then seen accomplishing three things: [219]

11. Một lần nữa Linh từ Thiêng liêng được xướng lên với ý định tạo ra điều trong thuật ngữ huyền bí được gọi là một “Hành động Xuyên thấu”; bấy giờ ánh sáng được thấy như đang hoàn thành ba điều: [219]

a. Making a definite impact upon the glamour.

a. Tạo một tác động rõ rệt lên ảo cảm.

b. Penetrating the glamour and being absorbed by it.

b. Xuyên thấu ảo cảm và được nó hấp thụ.

c. Dissipating it slowly; as time elapses the glamour will never again be so powerful and will eventually disappear altogether.

c. Làm nó tiêu tan chậm rãi; khi thời gian trôi qua, ảo cảm sẽ không bao giờ còn mạnh mẽ như trước nữa và cuối cùng sẽ hoàn toàn biến mất.

12. This is followed by a process of withdrawing wherein the aspirant consciously and deliberately withdraws the beam of light and re-orients himself upon the mental plane.

12. Tiếp theo là một tiến trình rút lui, trong đó người chí nguyện rút lại một cách có ý thức và chủ ý tia sáng, và tái định hướng chính mình trên cõi trí.

I would point out that glamour is never immediately dissipated. It is of too ancient an origin. But a persistent use of this formula will weaken the glamour and slowly and inevitably it will vanish and the man will walk free from that particular hindrance. This may seem like a very long formula but I have purposely detailed it in as full a manner as possible so that the aspirant may clearly apprehend what he is intended to do. After due practice and a faithful following of the required conditions, the aspirant will follow it well-nigh automatically and all that he will then need will be the formula reduced to the following brief outline:

Tôi muốn chỉ ra rằng ảo cảm không bao giờ tiêu tan tức khắc. Nó có nguồn gốc quá cổ xưa. Nhưng việc sử dụng kiên trì công thức này sẽ làm suy yếu ảo cảm, và chậm rãi nhưng chắc chắn, nó sẽ biến mất và con người sẽ bước đi tự do khỏi chướng ngại đặc thù ấy. Công thức này có thể có vẻ rất dài, nhưng Tôi đã cố ý trình bày chi tiết hết mức có thể để người chí nguyện có thể nắm bắt rõ ràng điều y được dự định phải làm. Sau khi đã thực hành đầy đủ và trung thành tuân theo các điều kiện cần thiết, người chí nguyện sẽ làm theo nó gần như tự động, và bấy giờ tất cả những gì y cần sẽ là công thức được rút gọn thành dàn ý ngắn sau đây:

Brief Outline of the Formula

Dàn ý Ngắn của Công thức

1. The four Preparatory Stages:

1. Bốn Giai đoạn Chuẩn bị:

a. Recognition of the glamour to be dissipated.

a. Nhận biết ảo cảm cần được làm tiêu tan.

b. The stage of focussing the light of the personality, a dual light.

b. Giai đoạn tập trung ánh sáng của phàm ngã, một ánh sáng kép.

c. The stage of meditation and the recognition of the greater light.

c. Giai đoạn tham thiền và sự nhận biết ánh sáng lớn hơn.

d. The unification of the dual light of matter and the light of the soul, creating thus the searchlight of the mind. [220]

d. Sự hợp nhất của ánh sáng kép của vật chất và ánh sáng của linh hồn, nhờ đó tạo ra luồng đèn pha của thể trí. [220]

2. A process of alignment and of recognised integration.

2. Một tiến trình chỉnh hợp và tích hợp đã được nhận biết.

3. A deliberate turning of the searchlight of the mind to the astral plane.

3. Việc chủ ý hướng luồng đèn pha của thể trí về cõi cảm dục.

The Formula

Công thức

4. Soul activity and the retention of the light.

4. Hoạt động của linh hồn và sự giữ lại ánh sáng.

5. The generating and visualising of the searchlight.

5. Việc tạo ra và hình dung luồng đèn pha.

6. The evocation of the will behind the searchlight of the mind.

6. Sự gợi lên ý chí đằng sau luồng đèn pha của thể trí.

7. The generated unified light is turned upon the glamour by the power of thought.

7. Ánh sáng hợp nhất đã được tạo ra được hướng vào ảo cảm bằng quyền năng của tư tưởng.

8. The naming of the glamour and the triple affirmation.

8. Việc gọi tên ảo cảm và sự khẳng định tam phân.

9. The Act of Penetration.

9. Hành động Xuyên thấu.

10. The Process of Withdrawing.

10. Tiến trình Rút lui.

You will see, brother of mine, that what I am in fact doing is teaching the coming generation how to destroy those forms of thought which hold the race in bondage and which in the case of glamour are the forms which desire, emotion, sensitivity to environment, developing aspiration and old ideals have taken and which prevent the light of the soul from illuminating the waking consciousness. The energies taking form upon the astral plane are not pure emotion and feeling, clothed in pure astral matter, for there is no such thing. They are the instinctual desires, evoked by the evolving substance of the physical plane and this, in its entirety and through the activity of the human family, is being redeemed and drawn upwards until some day we shall see the transfiguration of that substance and the “Glorification of the Virgin Mary”—the Mother Aspect in relation to divinity. They are also the descending thoughtforms which the developing human being is always creating and [221] drawing downwards into manifestation, clothing them with the substance of desire. When the descending forms of thought (a reflection in the three worlds of that vast “cloud of knowable things” in process of perception, as Patanjali calls it, and which hovers upon the buddhic plane, awaiting precipitation) and the ascending mass of instinctual demands from the lower aspect of the human unit and from humanity as a whole, meet at a point of tension then you have the appearance of what is known as the astral plane—a man-created sphere of activity. The subhuman kingdoms of nature know no astral plane; the superhuman kingdoms have surmounted it and discovered the secret of its delusion and no longer recognise it except as a temporary field of experience wherein man lives. In that sphere he learns the fact that reality is “none of these but only the One and the Other in relation with each other.” This is one of the occult phrases which the disciple has to learn to understand and which is descriptive of manifestation.

Huynh đệ của tôi, bạn sẽ thấy rằng điều Tôi thực sự đang làm là dạy thế hệ sắp đến cách phá hủy những hình thức tư tưởng đang giam giữ nhân loại trong sự nô lệ, và trong trường hợp của ảo cảm, đó là những hình thức mà ham muốn, cảm xúc, sự nhạy cảm đối với môi trường, khát vọng đang phát triển và các lý tưởng cũ đã khoác lấy, những hình thức ngăn cản ánh sáng của linh hồn soi sáng tâm thức tỉnh thức. Các năng lượng đang thành hình trên cõi cảm dục không phải là cảm xúc và tình cảm thuần khiết, khoác trong vật chất cảm dục thuần khiết, vì không có điều như thế. Chúng là các ham muốn bản năng, được gợi lên bởi chất liệu đang tiến hóa của cõi hồng trần, và toàn bộ điều này, thông qua hoạt động của gia đình nhân loại, đang được cứu chuộc và kéo lên cao, cho đến một ngày nào đó chúng ta sẽ thấy sự Biến hình của chất liệu ấy và “Sự Tôn Vinh Đức Trinh Nữ Maria”—Phương diện Mẹ trong liên hệ với thiên tính. Chúng cũng là các hình tư tưởng đi xuống mà con người đang phát triển luôn luôn tạo ra và [221] kéo xuống vào biểu hiện, khoác chúng bằng chất liệu của ham muốn. Khi các hình thức tư tưởng đi xuống, một phản chiếu trong ba cõi thấp của “đám mây mưa của những điều khả tri” rộng lớn đang trong tiến trình nhận thức, như Patanjali gọi, và đang lơ lửng trên cõi Bồ đề, chờ đợi sự ngưng tụ, gặp khối lượng đang đi lên của những đòi hỏi bản năng từ phương diện thấp của đơn vị nhân loại và từ nhân loại như một toàn thể, tại một điểm tập trung nhất tâm, bấy giờ các bạn có sự xuất hiện của điều được biết đến như cõi cảm dục—một khối cầu hoạt động do con người tạo ra. Các giới dưới nhân loại trong thiên nhiên không biết đến cõi cảm dục; các giới siêu nhân đã vượt lên trên nó và khám phá bí mật của sự mê lầm của nó, và không còn nhận biết nó nữa, ngoại trừ như một trường kinh nghiệm tạm thời trong đó con người sống. Trong khối cầu ấy, y học được sự kiện rằng thực tại là “không phải điều nào trong các điều này, mà chỉ là Đấng Duy Nhất và Cái Khác trong mối liên hệ với nhau.” Đây là một trong những cụm từ huyền bí mà đệ tử phải học để thấu hiểu, và là cụm từ mô tả sự biểu hiện.

b. The Dissipation of Group Glamour and of World Glamour—b. Sự tiêu tan của Ảo cảm Nhóm và của Ảo cảm Thế giới

Group work in dissipating world glamour must be handled (as will be obvious to you) by those who are working at the dissipation of glamour in their own lives and have learnt to use the formula just given. The majority of those so working are sixth ray aspirants—those who have sixth ray personalities or whose soul ray is the sixth, plus those on all rays who have powerful sixth ray astral vehicles. These make the most effective workers in the group but are subject to one major difficulty. In spite of aspiration and good intention, they are seldom aware of the glamours which control them. It is exceedingly hard to induce the sixth ray aspirant to admit that he is held [222] by a glamour, particularly when it is glamour of spiritual connotation and of a very high order. In their case, the glamour is enhanced by the energy of devotion which stiffens it and brings in a quality which makes it most difficult to penetrate. Their complete assurance proves a serious obstacle to clear-sighted work because that has all to go before the work of dissipation can be carried forward successfully. First ray people can overcome glamour with relative ease once they become aware of it as a personality limitation. Third ray people are as susceptible to it as are those of the sixth ray and their devious, twisting, planning minds and the rapidity with which they can deceive themselves (and seek often to deceive others) greatly hinders their work of clearing away glamour. Their pronounced tendency to be the victims of glamour is evidenced by the inability of the third ray aspirant and disciple to convey his meaning clearly by speech. He has guarded himself for many lives by devious formulations of thought and of ideas and can seldom convey his meaning clearly. This is why sixth ray people and third ray people almost inevitably prove themselves unable to teach. Both these groups must, therefore, learn to use this formula and they would greatly hasten the process of dissipation if they would force themselves to speak or write their thoughts clearly, if they would never be ambiguous or deal in half thoughts, innuendo or suggestion. They should clearly enunciate the ideas with which they may be dealing.

Công việc nhóm trong việc làm tiêu tan ảo cảm thế giới phải được xử lý, như sẽ hiển nhiên đối với các bạn, bởi những người đang làm việc để làm tiêu tan ảo cảm trong đời sống riêng của họ và đã học sử dụng công thức vừa được trao. Phần lớn những người làm việc như thế là các người chí nguyện cung sáu—những người có phàm ngã cung sáu hoặc có cung linh hồn là cung sáu, cộng thêm những người thuộc mọi cung nhưng có các vận cụ cảm dục cung sáu mạnh mẽ. Những người này tạo thành những người hoạt động hữu hiệu nhất trong nhóm, nhưng họ phải chịu một khó khăn lớn. Bất chấp khát vọng và thiện chí, họ hiếm khi ý thức về các ảo cảm đang kiểm soát họ. Rất khó khiến người chí nguyện cung sáu thừa nhận rằng y đang bị [222] một ảo cảm giữ chặt, đặc biệt khi đó là ảo cảm có hàm nghĩa tinh thần và thuộc một cấp bậc rất cao. Trong trường hợp của họ, ảo cảm được tăng cường bởi năng lượng sùng tín, năng lượng này làm nó cứng lại và đưa vào một phẩm tính khiến nó cực kỳ khó xuyên thấu. Sự chắc chắn hoàn toàn của họ tỏ ra là một trở ngại nghiêm trọng đối với công việc sáng suốt, vì tất cả điều đó phải mất đi trước khi công việc làm tiêu tan có thể được tiến hành thành công. Người cung một có thể vượt qua ảo cảm tương đối dễ dàng một khi họ ý thức được nó như một giới hạn của phàm ngã. Người cung ba cũng dễ bị ảo cảm như những người cung sáu, và các thể trí quanh co, uốn khúc, đầy hoạch định của họ, cùng tốc độ mà họ có thể tự lừa dối mình và thường tìm cách lừa dối người khác, cản trở rất nhiều công việc quét sạch ảo cảm của họ. Khuynh hướng rõ rệt của họ trở thành nạn nhân của ảo cảm được chứng minh bởi sự bất lực của người chí nguyện và đệ tử cung ba trong việc truyền đạt rõ ràng ý nghĩa của mình bằng lời nói. Y đã tự bảo vệ mình qua nhiều kiếp sống bằng những công thức tư tưởng và ý tưởng quanh co, và hiếm khi có thể truyền đạt rõ ràng ý nghĩa của mình. Đây là lý do vì sao người cung sáu và người cung ba hầu như chắc chắn chứng tỏ mình không có khả năng giảng dạy. Vì vậy, cả hai nhóm này phải học sử dụng công thức này, và họ sẽ thúc đẩy rất nhiều tiến trình làm tiêu tan nếu họ buộc mình phải nói hoặc viết các tư tưởng của mình một cách rõ ràng, nếu họ không bao giờ mơ hồ hoặc vận dụng những ý nghĩ nửa vời, ám chỉ hay gợi ý. Họ nên phát biểu rõ ràng các ý tưởng mà họ có thể đang đề cập đến.

The seventh ray person is faced with the difficulty of being able to create exceedingly clear-cut thoughtforms and the glamours, therefore, which control him are precise and definite and, to him, all compelling. They rapidly crystallise, however, and die their own death. Second ray aspirants are usually fully aware of any glamour which may be seeking to hold them because they have an innate faculty [223] of clear perception. Their problem is to kill out in themselves their rapid response to the magnetic pull of the astral plane and its many and widespread glamours. They are not so frequently responsive to a glamour as to all glamours in a relatively temporary manner but one which is nevertheless exceedingly delaying to their progress. Because of their clearsightedness, they add to this sensitivity to glamour an ability to suffer about it and to register their responsiveness as a sin and failure and thus delay their liberation from it by a negative attitude of inferiority and distress. They will profit enormously from a constant use of the formula until the time comes when they are aware of the glamour or glamours but are not touched by them. Fifth ray people suffer the least from glamour but are primarily the victims of illusion, and for them the Technique of the Presence is all-important because it brings in a factor which the true fifth ray person is apt to negate and refuse to admit, the fact of the Higher Self. He feels self-sufficient. They respond so easily and with such satisfaction to the power of thought; pride in their mental competence is their besetting sin and they are, therefore, set in their purposes and preoccupied with the world of the concrete and the intellectual. The moment that the Angel of the Presence is a reality to them, their response to illusion weakens and disappears. Their major problem is not so much the negation of the astral body, for they are apt to despise its hold, but they have a major difficulty in recognising that which the mind is intended to reveal—the divine spiritual Self. Their lower concrete mind interposes itself between them and the vision.

Người cung bảy đối diện với khó khăn là có khả năng tạo ra các hình tư tưởng cực kỳ rõ nét, và vì vậy, các ảo cảm kiểm soát y cũng chính xác và xác định, và đối với y, có sức cưỡng bách hoàn toàn. Tuy nhiên, chúng nhanh chóng kết tinh và tự chết đi. Người chí nguyện cung hai thường hoàn toàn ý thức về bất cứ ảo cảm nào có thể đang tìm cách giữ chặt họ, vì họ có một năng lực bẩm sinh [223] về tri giác sáng suốt. Vấn đề của họ là diệt trừ trong chính họ sự đáp ứng nhanh chóng trước sức hút từ tính của cõi cảm dục và nhiều ảo cảm lan rộng của nó. Họ không thường xuyên đáp ứng với một ảo cảm cho bằng với tất cả các ảo cảm theo một cách tương đối tạm thời, nhưng dù vậy lại cực kỳ làm chậm bước tiến của họ. Vì sự sáng suốt của mình, họ thêm vào sự nhạy cảm này đối với ảo cảm một khả năng chịu đau khổ vì nó, và ghi nhận sự đáp ứng của mình như một tội lỗi và thất bại, do đó trì hoãn sự giải thoát của họ khỏi nó bằng một thái độ tiêu cực của mặc cảm thấp kém và đau khổ. Họ sẽ được lợi ích vô cùng từ việc sử dụng công thức một cách liên tục cho đến khi thời điểm đến mà họ ý thức về ảo cảm hay các ảo cảm nhưng không bị chúng chạm đến. Người cung năm ít chịu ảo cảm nhất, nhưng chủ yếu là nạn nhân của ảo tưởng, và đối với họ Kỹ Thuật của Hiện Diện là điều tối quan trọng, vì nó đưa vào một yếu tố mà người cung năm chân chính thường có khuynh hướng phủ định và từ chối thừa nhận, đó là sự kiện về Bản Ngã Cao Siêu. Y cảm thấy tự đủ. Họ đáp ứng rất dễ dàng và với sự thỏa mãn lớn đối với quyền năng của tư tưởng; niềm kiêu hãnh về năng lực trí tuệ của họ là tội lỗi thường ám ảnh họ, và do đó, họ cố định trong các mục đích của mình và bận tâm với thế giới của cái cụ thể và trí năng. Khoảnh khắc Thiên Thần của Hiện Diện trở thành một thực tại đối với họ, sự đáp ứng của họ đối với ảo tưởng suy yếu và biến mất. Vấn đề lớn của họ không hẳn là sự phủ định thể cảm dục, vì họ thường khinh thường sự kềm giữ của nó, mà là họ có một khó khăn lớn trong việc nhận biết điều mà thể trí được dự định phải mặc khải—Bản Ngã tinh thần thiêng liêng. Hạ trí cụ thể của họ xen vào giữa họ và tầm nhìn.

Fourth ray people are peculiarly prone to fall into glamour and thus to produce a condition which is one of extreme difficulty. I might define their problem by saying that they tend to bring their illusions down to the astral plane and there clothe them with glamour and have consequently [224] a double problem upon their hands; they are faced with a unification of glamour and illusion. They are, however, the group of souls which will eventually reveal the true nature of the intuition and this will be the result of their illusory glamorous fight in the world of appearances.

Người cung bốn đặc biệt dễ rơi vào ảo cảm và do đó tạo ra một tình trạng cực kỳ khó khăn. Tôi có thể định nghĩa vấn đề của họ bằng cách nói rằng họ có khuynh hướng đưa các ảo tưởng của mình xuống cõi cảm dục, rồi ở đó khoác chúng bằng ảo cảm, và hệ quả là [224] họ có một vấn đề kép trong tay; họ đối diện với sự hợp nhất của ảo cảm và ảo tưởng. Tuy nhiên, họ là nhóm linh hồn cuối cùng sẽ mặc khải bản chất chân thật của trực giác, và điều này sẽ là kết quả của cuộc chiến đầy ảo tưởng và ảo cảm của họ trong thế giới của các sắc tướng.

We come now to the consideration of the formula to be used by those who seek to serve humanity by deliberately breaking up and dispersing the glamours which hold the race in thrall and who know the need to do this in group formation. Certain individual characteristics are essential for the personnel of such groups. First of all there must be an ability to work “without attachment” to results and to use the formula for a given length of time (for instance, once a week for two years or more) without looking for results; they need to realise that they can never know whether they are successful or not, because the glamours they are attempting to dissipate are so widespread and general that effects cannot be grasped by their individual minds. They are too close to the picture; their perspective has necessarily to be that of the immediate foreground. Secondly, they must have an intelligent appreciation of what constitutes a world glamour so that they can occultly “name it” and, by so doing, contact it. They must, thirdly, be accustomed to the work of dispersing glamour in their own lives; the necessity to do this and their success in so doing are factors which indicate their suitability for the task.

Giờ đây chúng ta đi đến việc xem xét công thức sẽ được sử dụng bởi những người tìm cách phụng sự nhân loại bằng cách chủ ý phá vỡ và phân tán các ảo cảm đang giam giữ nhân loại trong sự nô lệ, và những người biết nhu cầu phải làm điều này trong đội hình nhóm. Một số đặc tính cá nhân là thiết yếu đối với nhân sự của các nhóm như thế. Trước hết, phải có khả năng làm việc “không dính mắc” với kết quả và sử dụng công thức trong một khoảng thời gian nhất định, chẳng hạn mỗi tuần một lần trong hai năm hoặc hơn, mà không tìm kiếm kết quả; họ cần nhận biết rằng họ không bao giờ có thể biết mình thành công hay không, bởi vì các ảo cảm mà họ đang cố gắng làm tiêu tan quá lan rộng và tổng quát đến mức các hiệu quả không thể được các thể trí cá nhân của họ nắm bắt. Họ ở quá gần bức tranh; phối cảnh của họ nhất thiết phải là phối cảnh của tiền cảnh tức thời. Thứ hai, họ phải có sự nhận định thông minh về điều gì tạo thành một ảo cảm thế giới, để họ có thể “gọi tên nó” một cách huyền bí và nhờ vậy tiếp xúc với nó. Thứ ba, họ phải quen với công việc phân tán ảo cảm trong đời sống riêng của mình; sự cần thiết phải làm điều này và sự thành công của họ trong việc đó là những yếu tố chỉ ra sự thích hợp của họ đối với nhiệm vụ.

They must, finally, love their fellowmen. This they must not do as the sixth ray person loves them, with an isolating devotion, but as the second ray person loves—with an all round appreciation of humanity, an understanding heart, plus a critical mind, which loves steadily in spite of error seen, with a clear sighted perception of the assets and the debits of an individual or a race. The ability to [225] do this is one of the factors which enables the sixth ray aspirant to transfer off the minor sixth ray and find his place upon the major second ray, as must all sixth and fourth ray initiates.

Cuối cùng, họ phải yêu thương đồng loại của mình. Họ không được làm điều này như người cung sáu yêu thương họ, với một sự sùng tín có tính cô lập, mà như người cung hai yêu thương—với sự trân trọng toàn diện đối với nhân loại, một trái tim thấu hiểu, cộng với một thể trí phê phán, yêu thương bền bỉ bất chấp sai lầm được thấy, với một nhận thức sáng suốt về các ưu điểm và nhược điểm của một cá nhân hay một nhân loại. Khả năng [225] làm điều này là một trong các yếu tố giúp người chí nguyện cung sáu chuyển khỏi cung sáu thứ yếu và tìm được vị trí của mình trên cung hai chính yếu, như tất cả các điểm đạo đồ cung sáu và cung bốn đều phải làm.

One of the requirements in this group work is a most careful choice of those who are to participate in the work. They must be chosen because they can work together. They must either know each other exceedingly well and be free from personality frictions or they must be relatively unknown to each other as personalities but are drawn to each other as soul-collaborators in this particular work. They must, as far as in them lies, endeavour to work with regularity so that a rhythm can be set up which will lead to a steady rhythmic impact of the light upon the glamour. They must also adhere faithfully to the formula given. This is one of the initial formulas and is most powerful because it is one of the very first to be used in group dissipation of glamour. This whole procedure is entirely new as far as man is concerned, and the work to be done will necessarily prove hard as it involves an interesting situation. The groups who will do this work of piercing the glamours which dim the vision of humanity and of dissipating them will be the first non-initiate groups to work this way upon the physical plane and to work consciously and with fixed intent. Hitherto the work has been carried forward by members of the Hierarchy, and then only with the idea of holding back the glamours until such time as humanity was ready to destroy that which it had created. Glamours have also been pierced before now by massed effort carried forward for a long time and usually without any very real conscious understanding. An illustration of this would be the work done by the Church in a diffused and vague way in piercing the glamour of material desire and material good by substituting the idea of a heavenly substitute. The work that is [226] now planned is dynamic and clear cut, consciously carried forward and specific in its impact. It is a definite method of handling and projecting the energy of light with the objective of destroying the impediments of an emotional-mental nature upon the Path of Return to God.

Một trong các yêu cầu trong công việc nhóm này là sự lựa chọn hết sức cẩn thận những người sẽ tham dự công việc. Họ phải được chọn vì họ có thể làm việc cùng nhau. Hoặc họ phải biết nhau cực kỳ rõ và thoát khỏi các va chạm phàm ngã, hoặc họ phải tương đối không biết nhau với tư cách phàm ngã nhưng được thu hút đến với nhau như những cộng tác viên linh hồn trong công việc đặc thù này. Trong mức có thể, họ phải cố gắng làm việc đều đặn để một nhịp điệu có thể được thiết lập, dẫn đến một tác động đều đặn, có nhịp điệu của ánh sáng lên ảo cảm. Họ cũng phải trung thành tuân theo công thức đã được trao. Đây là một trong các công thức ban đầu và rất mạnh mẽ, vì nó là một trong những công thức đầu tiên được sử dụng trong việc làm tiêu tan ảo cảm theo nhóm. Toàn bộ thủ tục này hoàn toàn mới xét theo con người, và công việc cần làm nhất thiết sẽ tỏ ra khó khăn, vì nó bao hàm một tình huống thú vị. Các nhóm sẽ thực hiện công việc xuyên thủng những ảo cảm làm mờ tầm nhìn của nhân loại và làm tiêu tan chúng sẽ là những nhóm không phải điểm đạo đồ đầu tiên làm việc theo cách này trên cõi hồng trần, và làm việc một cách có ý thức với ý định cố định. Từ trước đến nay, công việc đã được các thành viên của Thánh Đoàn tiến hành, và khi đó chỉ với ý tưởng kìm giữ các ảo cảm cho đến thời điểm nhân loại sẵn sàng phá hủy điều mà chính mình đã tạo ra. Các ảo cảm cũng đã từng bị xuyên thủng trước đây bằng nỗ lực tập thể được tiến hành trong một thời gian dài và thường không có bất cứ sự thấu hiểu có ý thức thật sự nào. Một minh họa cho điều này là công việc do Giáo hội thực hiện theo cách tản mạn và mơ hồ trong việc xuyên thủng ảo cảm về ham muốn vật chất và phúc lợi vật chất bằng cách thay thế bằng ý tưởng về một sự thay thế trên trời. Công việc hiện đang [226] được hoạch định là năng động và rõ nét, được tiến hành có ý thức và chuyên biệt trong tác động của nó. Đó là một phương pháp xác định để xử lý và phóng chiếu năng lượng ánh sáng với mục tiêu phá hủy những chướng ngại có bản chất cảm xúc-trí tuệ trên Con Đường Trở Về với Thượng đế.

It is desirable and aids an easier and more concentrated form of work if the group can meet together for the use of the formula. If, however, this proves not possible, then the personnel of the group can arrange to work apart but with the idea of the work being group work firmly realised and with a steady recognition of the members who form the group body. This is necessary both for the “pooling of the light” and also for protection from the glamour to be attacked. This “pooling of the light” is a major requirement and must ever be borne in mind. Whenever possible, the rule should be that the work is done at some definite planned group meeting, even if this entails quite drastic sacrifice on the part of some of the members.

Điều đáng mong muốn, và giúp công việc trở nên dễ dàng hơn và tập trung hơn, là nhóm có thể gặp nhau để sử dụng công thức. Tuy nhiên, nếu điều này tỏ ra không thể, thì nhân sự của nhóm có thể sắp xếp làm việc riêng rẽ, nhưng với ý tưởng rằng công việc là công việc nhóm được nhận biết một cách vững chắc, và với sự nhận biết đều đặn về các thành viên tạo thành thể nhóm. Điều này cần thiết cả cho việc “hợp tụ ánh sáng” và cũng để bảo vệ khỏi ảo cảm sẽ bị tấn công. Việc “hợp tụ ánh sáng” này là một yêu cầu lớn và phải luôn được ghi nhớ. Bất cứ khi nào có thể, quy luật nên là công việc được thực hiện trong một buổi họp nhóm đã được hoạch định rõ ràng, ngay cả khi điều này đòi hỏi sự hy sinh khá quyết liệt từ một số thành viên.

I advise that some glamour which all the group members recognise as a major hindrance to the progress of humanity be one of the first handled by the group. I would also advise that in the early stages of their work, they deal with a glamour affecting aspirants and that they do not attempt to tackle the more widely spread and deeply centred glamours of the race as a whole. Let them develop facility in handling some of the lesser and more easily visualised glamours. Then as time goes on and facility in the work is gained, the group can pass to the more difficult tasks and handle the glamours further removed from their own orbit of difficulties. It is surely needless for me to point out that the group members be but those who are endeavouring to keep their own lives free from glamour. I would also add that if a group member is in the thick of glamour himself and is occupied with wrestling with it, he should abstain [227] from the group work until he has freed himself with the aid of the individual formula.

Tôi khuyên rằng một ảo cảm nào đó mà tất cả các thành viên nhóm nhận biết là một chướng ngại lớn đối với sự tiến bộ của nhân loại nên là một trong những điều đầu tiên được nhóm xử lý. Tôi cũng khuyên rằng trong các giai đoạn đầu của công việc, họ nên đề cập đến một ảo cảm ảnh hưởng đến người chí nguyện, và không nên cố gắng đương đầu với các ảo cảm lan rộng hơn và tập trung sâu hơn của toàn thể nhân loại. Hãy để họ phát triển sự thành thạo trong việc xử lý một số ảo cảm nhỏ hơn và dễ hình dung hơn. Rồi khi thời gian trôi qua và sự thành thạo trong công việc được đạt tới, nhóm có thể chuyển sang các nhiệm vụ khó khăn hơn và xử lý các ảo cảm xa hơn khỏi quỹ đạo khó khăn của chính họ. Chắc chắn không cần Tôi phải chỉ ra rằng các thành viên nhóm chỉ nên là những người đang nỗ lực giữ cho đời sống riêng của mình thoát khỏi ảo cảm. Tôi cũng muốn nói thêm rằng nếu một thành viên nhóm đang ở giữa lòng ảo cảm và đang bận vật lộn với nó, y nên kiêng tham dự [227] công việc nhóm cho đến khi y đã tự giải thoát với sự trợ giúp của công thức cá nhân.

Those who can face themselves with an open eye and who see the truth as it is, who can face the same facts in connection with humanity, and can stand serene and unafraid in the face of the worst kind of discoveries about themselves and the world of men, are those who will employ this technique with the most success. I would also remind you that the group will need to protect itself from the glamour or glamours which it is attempting to dissipate. Their individual tendency to glamour is the factor which gives them the right to serve in this way but it also lays them open to danger, and for this a protective formula will be necessary.

Những ai có thể đối diện với chính mình bằng một con mắt mở rộng và thấy chân lý đúng như nó là, những ai có thể đối diện với cùng các sự kiện ấy trong liên hệ với nhân loại, và có thể đứng tĩnh lặng, không sợ hãi trước những khám phá tồi tệ nhất về chính họ và về thế giới con người, là những người sẽ sử dụng kỹ thuật này với thành công lớn nhất. Tôi cũng nhắc các bạn rằng nhóm sẽ cần tự bảo vệ khỏi ảo cảm hay các ảo cảm mà nhóm đang cố gắng làm tiêu tan. Khuynh hướng cá nhân của họ đối với ảo cảm là yếu tố trao cho họ quyền phụng sự theo cách này, nhưng nó cũng khiến họ dễ gặp nguy hiểm, và vì điều này, một công thức bảo vệ sẽ cần thiết.

The formula will, therefore, be divided into three parts:

Do đó, công thức sẽ được chia thành ba phần:

1. The Preparatory Stages.

1. Các Giai đoạn Chuẩn bị.

2. The Use of the Protective Formula.

2. Việc Sử dụng Công thức Bảo vệ.

3. Group Formula for the Dissipation of Glamour.

3. Công thức Nhóm để Làm Tiêu Tan Ảo Cảm.

The work done by the individual in dealing with his personal problems of glamour will greatly facilitate the preparatory work of the group.

Công việc do cá nhân thực hiện trong việc xử lý các vấn đề ảo cảm riêng của y sẽ tạo thuận lợi rất nhiều cho công việc chuẩn bị của nhóm.

You will note that in outlining to you this work, I make no reference to the type of room, to the position of the group members, to posture assumed, to the use of incense, or to any of the paraphernalia which so many occult groups deem of importance. The set physical rituals are today (from the angle of the Hierarchy) entirely obsolete and of no importance where disciples and advanced aspirants are concerned. They are of value to the little evolved in whom the sense of drama has to be developed and who need external aids, and they do provide a setting which serves to help beginners to keep the theme of their work and their objective in view. The only ritual which is [228] still regarded as of value to the human family as a whole—particularly to the advanced person—is the Masonic Ritual. The reason for this is that it is a pictorial representation of the process of Creation, of the relation between God and man, of the Path of Return and also of those great Initiations through the means of which the liberated initiate passes into the Council Chamber of the Most High. But with the exception of this, the small petty rituals of position and of physical relations in respect to attitude and seating arrangements are regarded as unnecessary and as usurping frequently the attention which should be given to the work in hand.

Bạn sẽ lưu ý rằng khi phác thảo cho các bạn công việc này, tôi không nhắc đến loại phòng, vị trí của các thành viên nhóm, tư thế được dùng, việc dùng hương trầm, hay bất cứ vật dụng phụ trợ nào mà rất nhiều nhóm huyền bí xem là quan trọng. Ngày nay, các nghi thức hồng trần cố định, xét từ góc độ của Thánh Đoàn, đã hoàn toàn lỗi thời và không quan trọng đối với các đệ tử và những người chí nguyện tiến bộ. Chúng có giá trị đối với những người tiến hoá còn ít, nơi đó ý thức về kịch tính cần được phát triển và họ cần những trợ giúp bên ngoài; chúng cũng tạo nên một khung cảnh giúp những người sơ cơ giữ được chủ đề công việc và mục tiêu của họ trong tầm nhìn. Nghi thức duy nhất [228] vẫn được xem là có giá trị đối với toàn thể gia đình nhân loại, đặc biệt đối với người tiến bộ, là Nghi thức Tam Điểm. Lý do là vì nó là một sự trình bày bằng hình ảnh về tiến trình Sáng Tạo, về mối quan hệ giữa Thượng đế và con người, về Con Đường Trở Về, cũng như về những cuộc Điểm Đạo lớn lao, nhờ đó điểm đạo đồ đã giải thoát đi vào Phòng Hội Đồng của Đấng Tối Cao. Nhưng ngoại trừ điều này, những nghi thức nhỏ nhặt về vị trí và các tương quan hồng trần liên quan đến thái độ và cách sắp xếp chỗ ngồi được xem là không cần thiết, và thường chiếm mất sự chú tâm đáng lẽ phải dành cho công việc trước mắt.

Those using these formulas are presumed to have acquired some measure of inner polarisation and to be able to withdraw themselves to their spiritual centre in any place and at any time. This is the centre of quiet thought from whence the work is carried on.

Những người sử dụng các công thức này được giả định là đã đạt được một mức độ nào đó của sự phân cực bên trong và có thể rút mình về trung tâm tinh thần của họ ở bất cứ nơi nào và bất cứ lúc nào. Đây là trung tâm của tư tưởng tĩnh lặng, từ đó công việc được tiến hành.

All that is needed as a preface to this group work is ten minutes of complete silence in which the group members attempt to set up that magnetic field of positive receptive activity (note here the paradoxes of the occult sciences) which will make the rest of the work possible.

Tất cả những gì cần thiết như phần mở đầu cho công việc nhóm này là mười phút hoàn toàn im lặng, trong đó các thành viên nhóm cố gắng thiết lập trường từ tính của hoạt động tiếp nhận tích cực, hãy lưu ý ở đây các nghịch lý của khoa học huyền bí, điều sẽ khiến phần còn lại của công việc trở nên khả thi.

The leader of the group (chosen in rotation so that all the members of the group occupy that position) starts the work by calling the names of the group members and as each name is called, the other group members look directly into the eyes of the one named, who rises and for a minute faces them. Thus a rapport and a relationship is established because the directive magnetic force of each soul is always reached from “eye to eye.” This is the occult significance of the words “Can you look me in the eye?” or “They eyed each other” and similar phrases. Then, having established this interlocking relationship, the group sits in silence for ten minutes. This is done in order to withdraw the consciousness [229] from all world and personal affairs and centre it upon the work to be done. At the end of that time, the leader names the glamour with which the group is to be occupied. There will be no dissension anent the glamour at the time of the group meeting because the group members—outside the meetings and for a month prior to undertaking the task of dissipating the glamour will have made a study of it, its implications, its historicity and effects—psychological, individual, group and national, and also its widespread influence over humanity as a whole. The experience of the group in this type of work will determine the nature of the glamour to be dealt with. As I earlier pointed out, the inexperienced group of workers will begin by dealing with one of the glamours which hinder aspirants and will pass on from these to handle the more powerful and more widely dispersed glamours which trouble humanity as a whole. This preface to the work is frequently called the Act of Naming, because both the group members and also the glamour are named.

Người lãnh đạo nhóm, được chọn luân phiên để tất cả các thành viên trong nhóm đều giữ vị trí đó, bắt đầu công việc bằng cách gọi tên các thành viên nhóm; và khi mỗi tên được gọi, các thành viên khác nhìn thẳng vào mắt người được nêu tên, người ấy đứng dậy và trong một phút đối diện với họ. Như vậy, một sự giao cảm và một mối liên hệ được thiết lập, vì mãnh lực từ tính chỉ đạo của mỗi linh hồn luôn được chạm đến từ “mắt nhìn mắt”. Đây là ý nghĩa huyền bí của những lời “Bạn có thể nhìn thẳng vào mắt tôi không?” hoặc “Họ nhìn thẳng vào mắt nhau” và những cụm từ tương tự. Sau đó, khi mối liên hệ đan kết này đã được thiết lập, nhóm ngồi im lặng trong mười phút. Điều này được thực hiện nhằm rút tâm thức [229] khỏi mọi công việc thế gian và cá nhân, rồi tập trung nó vào công việc cần làm. Khi hết thời gian đó, người lãnh đạo nêu tên ảo cảm mà nhóm sẽ chú tâm đến. Sẽ không có bất đồng nào về ảo cảm ấy vào lúc họp nhóm, vì các thành viên nhóm, bên ngoài các buổi họp và trong một tháng trước khi đảm nhận nhiệm vụ làm tiêu tan ảo cảm, đã nghiên cứu nó, các hàm ý của nó, tính lịch sử của nó và các hiệu quả của nó, về mặt tâm lý, cá nhân, nhóm và quốc gia, cũng như ảnh hưởng rộng khắp của nó đối với toàn thể nhân loại. Kinh nghiệm của nhóm trong loại công việc này sẽ quyết định bản chất của ảo cảm cần được đề cập đến. Như tôi đã chỉ ra trước đây, nhóm người hoạt động chưa có kinh nghiệm sẽ bắt đầu bằng cách xử lý một trong những ảo cảm cản trở người chí nguyện, rồi từ đó tiến sang xử lý những ảo cảm mạnh hơn và lan rộng hơn đang gây rối loạn cho toàn thể nhân loại. Phần mở đầu này của công việc thường được gọi là Hành Động Gọi Tên, vì cả các thành viên nhóm lẫn ảo cảm đều được gọi tên.

The next stage is similar to the preparatory stages in the formula for the dissipation of glamour for the individual. You have therefore the following:

Giai đoạn kế tiếp tương tự các giai đoạn chuẩn bị trong công thức làm tiêu tan ảo cảm đối với cá nhân. Do đó, các bạn có những điều sau:

THE PREPARATORY STAGES

CÁC GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ

1. The Act of Naming.

1. Hành Động Gọi Tên.

2. The Protective Formula.

2. Công Thức Bảo Vệ.

The Protective Formula is very simple. The members of the group will say in unison:

Công Thức Bảo Vệ rất đơn giản. Các thành viên nhóm sẽ đồng thanh nói:

“As a soul I work in light and darkness cannot touch me.

“Với tư cách là một linh hồn, tôi làm việc trong ánh sáng và bóng tối không thể chạm đến tôi.

I take my stand within the light.

Tôi đứng vững trong ánh sáng.

I work and from that point I never move.”

Tôi làm việc và từ điểm ấy tôi không bao giờ chuyển dời.”

[230]

[230]

As they say this, each person in the group makes the sign of the Cross by touching the centre of the forehead, the centre of the chest, and each of the two eyes, thus forming the long limbed Cross of the Christ or of divine humanity. The Cross is not, as you well know, simply a Christian symbol. It is the great symbol of light and of consciousness and signifies the vertical light and the horizontal light, the power of attraction and the power of radiation, soul life and service. The Cross as now made in the Catholic Churches, touching the forehead, the heart and the two shoulders is the sign of matter. It signifies in reality the third Aspect. The Cross which the group will make is the Cross of Christ and of the Christ consciousness. Gradually the Cross of Christ (the Cross of the Risen Christ) will supersede the Cross of matter and of the Mother aspect. Its likeness to the swastika is obvious and will be one of the reasons for its disappearance.

Khi nói điều này, mỗi người trong nhóm làm dấu Thập Giá bằng cách chạm vào trung tâm trán, trung tâm ngực, và mỗi bên mắt, nhờ vậy tạo thành Thập Giá tay dài của Đức Christ hay của nhân loại thiêng liêng. Như các bạn biết rõ, Thập Giá không chỉ đơn thuần là một biểu tượng Kitô giáo. Nó là biểu tượng lớn lao của ánh sáng và tâm thức, và biểu thị ánh sáng thẳng đứng cùng ánh sáng nằm ngang, quyền năng hấp dẫn và quyền năng phóng xạ, đời sống linh hồn và sự phụng sự. Thập Giá như hiện nay được làm trong các Giáo hội Công giáo, chạm vào trán, tim và hai vai, là dấu hiệu của vật chất. Trong thực tại, nó biểu thị Phương diện thứ ba. Thập Giá mà nhóm sẽ làm là Thập Giá của Đức Christ và của tâm thức Đức Christ. Dần dần, Thập Giá của Đức Christ, Thập Giá của Đức Christ Phục Sinh, sẽ thay thế Thập Giá của vật chất và của phương diện Mẹ. Sự tương đồng của nó với chữ vạn là hiển nhiên và sẽ là một trong những lý do khiến chữ vạn biến mất.

3. The Preparatory Stages:

3. Các Giai đoạn Chuẩn bị:

a. Focussing the dual personality light of matter and of mind.

a. Tập trung ánh sáng kép của phàm ngã, gồm vật chất và thể trí.

b. Meditation on soul contact and the recognition of soul light.

b. Tham thiền về sự tiếp xúc linh hồn và nhận biết ánh sáng linh hồn.

c. The blending and fusion of the two lesser lights and of soul light. This is carried forward as a group, each member making his contribution and consciously attempting to visualise the process of blending the triple light which each contributes, into one sphere of light.

c. Sự pha trộn và dung hợp của hai ánh sáng thấp và ánh sáng linh hồn. Điều này được tiến hành như một nhóm, mỗi thành viên đóng góp phần của mình và cố gắng một cách có ý thức để hình dung tiến trình pha trộn ánh sáng tam phân mà mỗi người đóng góp vào một khối cầu ánh sáng duy nhất.

4. Then the group says in unison, at a signal from the leader: [231]

4. Rồi nhóm đồng thanh nói, theo tín hiệu của người lãnh đạo: [231]

“The light is one and in that light shall we see light.

“Ánh sáng là một và trong ánh sáng ấy chúng ta sẽ thấy ánh sáng.

This is the light that turns the darkness into day.”

Đây là ánh sáng biến bóng tối thành ban ngày.”

OM.

OM.

OM.

OM.

OM.

OM.

The processes of individual and group alignment and integration can now be regarded as completed and when it is really correctly accomplished, each meeting thereafter should see a more rapid integration and fusion and a greater brilliance of the sphere of light thus created. The sounding of OM indicates both the fusion and the sphere of action because OM is first of all sounded forth by the group soul (the realised unity of the souls of all the group members) and then as the soul upon the mental plane, and finally as the soul ready to function as lightbearer and distributor of light upon the astral plane. These are all symbolic ways of registering the inner reality and are an attempt to externalise force, for that is what all symbols and symbolic ways of acting are capable of doing; they thus serve to keep the workers at a point of tension. This is an important recognition and should keep the workers from attributing undue power to the form aspect of the simple ritual and aid them in focussing their attention in the world of meaning and of subjective spiritual activity. These three stages are called:

Các tiến trình chỉnh hợp và tích hợp cá nhân cũng như nhóm giờ đây có thể được xem là hoàn tất; và khi điều này thực sự được thực hiện đúng đắn, mỗi buổi họp sau đó sẽ chứng kiến một sự tích hợp và dung hợp nhanh chóng hơn, cùng một độ rực rỡ lớn hơn của khối cầu ánh sáng được tạo ra như thế. Việc xướng OM biểu thị cả sự dung hợp lẫn khối cầu hành động, vì trước hết OM được nhóm linh hồn, tức sự hợp nhất đã được nhận biết của các linh hồn của tất cả thành viên nhóm, xướng lên; rồi như linh hồn trên cõi trí; và cuối cùng như linh hồn sẵn sàng hoạt động với tư cách là người mang ánh sáng và phân phối ánh sáng trên cõi cảm dục. Tất cả những điều này là các cách biểu tượng để ghi nhận thực tại bên trong, và là một nỗ lực nhằm ngoại hiện mãnh lực, vì đó là điều mọi biểu tượng và mọi cách hành động biểu tượng có khả năng thực hiện; như vậy, chúng giúp giữ những người hoạt động tại một điểm tập trung nhất tâm. Đây là một sự nhận biết quan trọng, và nên giữ cho những người hoạt động khỏi gán quyền năng quá mức cho phương diện hình tướng của nghi thức đơn giản, đồng thời giúp họ tập trung sự chú ý vào Thế giới của ý nghĩa và vào hoạt động tinh thần chủ quan. Ba giai đoạn này được gọi là:

1. The Act of Naming.

1. Hành Động Gọi Tên.

2. The Act of Protection.

2. Hành Động Bảo Vệ.

3. The Act of Focussing the Light.

3. Hành Động Tập Trung Ánh Sáng.

It will be apparent to you that much depends upon the ability of the group members to visualise clearly as well as to think clearly. Practice naturally tends to perfect both processes. At the close of these three stages, the group members are united as souls insulated against the attractive power of the glamour, and united as souls with mind and brain held steady and positive in the light. Their blended [232] light is looked upon by them as a great searchlight whose beams are to be directed through an act of the will downward from the mental plane on to the glamour existing on the astral plane and which has been brought into relation with the group by the very act of naming it. I am going into detail on this matter because the work is a new venture and I am anxious for you to start it with a clear understanding as to how the task is to be carried out. At the close of this instruction you will find the two long and two short formulas so that they can be seen and grasped apart from their explanatory context. This initial work should take fifteen minutes at first and later not more than five (excluding the ten minutes of silent preparation which precedes the formal work) for the group members will get used to working together and will eventually attain the objectives of the preparatory work with great rapidity.

Các bạn sẽ thấy rõ rằng rất nhiều điều tùy thuộc vào khả năng của các thành viên nhóm trong việc hình dung rõ ràng cũng như suy nghĩ rõ ràng. Sự thực hành tự nhiên có khuynh hướng hoàn thiện cả hai tiến trình. Khi kết thúc ba giai đoạn này, các thành viên nhóm được hợp nhất với tư cách là các linh hồn, được cách ly khỏi quyền năng hấp dẫn của ảo cảm, và được hợp nhất với tư cách là các linh hồn, với thể trí và bộ não được giữ vững vàng và tích cực trong ánh sáng. Ánh sáng đã pha trộn của họ [232] được họ xem như một đèn pha lớn, các tia của nó sẽ được hướng xuống bằng một hành động của ý chí từ cõi trí đến ảo cảm đang hiện hữu trên cõi cảm dục và đã được đưa vào mối liên hệ với nhóm chính bằng hành động gọi tên nó. Tôi đi vào chi tiết về vấn đề này vì công việc này là một cuộc thử nghiệm mới, và tôi mong muốn các bạn bắt đầu nó với một sự thấu hiểu rõ ràng về cách nhiệm vụ này phải được thực hiện. Ở cuối huấn thị này, các bạn sẽ tìm thấy hai công thức dài và hai công thức ngắn, để có thể nhìn thấy và nắm bắt chúng tách khỏi bối cảnh giải thích. Lúc đầu, công việc khởi đầu này nên mất mười lăm phút, và về sau không quá năm phút, không kể mười phút chuẩn bị im lặng trước công việc chính thức, vì các thành viên nhóm sẽ quen với việc làm việc cùng nhau và cuối cùng sẽ đạt được các mục tiêu của công việc chuẩn bị với tốc độ rất nhanh.

THE TECHNIQUE OR FORMULA

KỸ THUẬT HAY CÔNG THỨC

5. Then together and in vocal unison the group says:

5. Rồi cùng nhau và đồng thanh thành tiếng, nhóm nói:

“Radiance we are and power. We stand forever with our hands stretched out, linking the heavens and the earth, the inner world of meaning and the subtle world of glamour.

“Chúng ta là sự rạng rỡ và quyền năng. Chúng ta đứng mãi mãi với đôi tay dang rộng, nối kết các cõi trời và đất, thế giới bên trong của ý nghĩa và thế giới vi tế của ảo cảm.

“We reach into the Light and bring it down to meet the need. We reach into the silent Place and bring from thence the gift of understanding. Thus with the light we work and turn the darkness into day.”

“Chúng ta vươn vào Ánh sáng và đưa nó xuống để đáp ứng nhu cầu. Chúng ta vươn vào Chốn Im Lặng và từ đó mang về ân huệ của sự thấu hiểu. Như vậy, với ánh sáng chúng ta làm việc và biến bóng tối thành ban ngày.”

As they say this, the group visualises the turning of the great searchlight which they have jointly created by their unified light on to the glamour to be dissipated, holding the light steady [233] and realising mentally the work of dissipation it is intended to do. This is called the Act of Direction.

Khi nói điều này, nhóm hình dung việc xoay đèn pha lớn mà họ đã cùng tạo ra bằng ánh sáng hợp nhất của mình hướng vào ảo cảm cần được làm tiêu tan, giữ ánh sáng vững vàng [233] và nhận biết bằng trí tuệ công việc làm tiêu tan mà nó được dự định thực hiện. Điều này được gọi là Hành Động Định Hướng.

6. Then follows a pause for a few minutes in which the group attempts to throw behind the searchlight their united directed and dynamic will or intent; this carries along the projected beam of light the destructive quality of the spiritual will—destructive to all that hinders the manifestation of divinity. This is done by attaining a united point of tension, and the dedication of the individual and group will to the will of God. This is called the Act of Will and is carried on by each member of the group silently and with a deep realisation that all are thus accepted and that it is the group will which is being silently focussed. Then together they say:

6. Sau đó là một khoảng dừng trong vài phút, trong đó nhóm cố gắng đặt phía sau đèn pha ý chí hay ý định hợp nhất, có định hướng và năng động của họ; điều này mang theo dọc theo chùm ánh sáng được phóng chiếu phẩm tính hủy diệt của ý chí tinh thần, hủy diệt mọi điều cản trở sự biểu hiện của thiên tính. Điều này được thực hiện bằng cách đạt đến một điểm tập trung nhất tâm hợp nhất, và bằng sự hiến dâng ý chí cá nhân cũng như ý chí nhóm cho Ý Chí của Thượng Đế. Điều này được gọi là Hành Động của Ý Chí và được mỗi thành viên nhóm tiến hành trong im lặng, với sự nhận biết sâu xa rằng tất cả đều được chấp nhận như vậy và rằng chính ý chí nhóm đang được âm thầm tập trung. Rồi cùng nhau họ nói:

“With power upon its beam, the light is focussed on the goal.”

“Với quyền năng trên tia sáng của nó, ánh sáng được tập trung vào mục tiêu.”

7. Then comes the Act of Projection and the saying of the words of power which—again naming the particular glamour which is the subject of attention and thus bringing it consciously into relation with the focussed light—begins the task of dissipation.

7. Rồi đến Hành Động Phóng Chiếu và việc nói các lời quyền năng, những lời ấy, bằng cách một lần nữa gọi tên ảo cảm đặc thù đang là đối tượng chú tâm và như vậy đưa nó một cách có ý thức vào mối liên hệ với ánh sáng đã tập trung, bắt đầu nhiệm vụ làm tiêu tan.

“The power of our united light prevents the appearance of the glamour of… (naming it). The power of our united light negates the quality of the glamour from affecting men. The power of our united light destroys the life behind the glamour.”

“Quyền năng của ánh sáng hợp nhất của chúng ta ngăn chặn sự xuất hiện của ảo cảm về… (gọi tên nó). Quyền năng của ánh sáng hợp nhất của chúng ta phủ định phẩm tính của ảo cảm không cho nó ảnh hưởng đến con người. Quyền năng của ánh sáng hợp nhất của chúng ta phá hủy sự sống phía sau ảo cảm.”

These words are very nearly the same as those in the individual formula and gain strength from the experience of the aspirant and from his familiarity with their use. This constitutes an Act of Affirmation [234] which is the second part of the Act of Projection.

Những lời này gần như giống với những lời trong công thức cá nhân và đạt thêm sức mạnh từ kinh nghiệm của người chí nguyện cũng như từ sự quen thuộc của y với việc sử dụng chúng. Điều này cấu thành một Hành Động Khẳng Định [234], là phần thứ hai của Hành Động Phóng Chiếu.

8. Then comes an important aspect of the work in which the group members visualise the gradual dissipation and dispersal of the glamour by the penetration of the light into its darkness. They endeavour to see it disintegrating and the reality emerging, doing this by an effort of the creative imagination. Each will do this in his own way and according to his understanding and capacity. This is the Act of Penetration.

8. Rồi đến một phương diện quan trọng của công việc, trong đó các thành viên nhóm hình dung sự tiêu tan và phân tán dần dần của ảo cảm do ánh sáng thâm nhập vào bóng tối của nó. Họ cố gắng thấy nó tan rã và thực tại hiện ra, làm điều này bằng một nỗ lực của Sự tưởng tượng sáng tạo. Mỗi người sẽ thực hiện theo cách riêng của mình và tùy theo sự thấu hiểu cùng năng lực của mình. Đây là Hành Động Thâm Nhập.

9. Now follows five minutes of silence and intensity of purpose while the group waits for the work instituted to go forward. Then follows the group withdrawal of its consciousness from the astral plane and the world of glamour. The group members refocus their attention first of all on the mental plane and then on the soul, relinquishing all thought of the glamour, knowing that the work has been successfully carried forward. They re-organise themselves as a group in relation to the kingdom of souls and to each other. Occultly speaking, the “searchlight of the soul is shut off.” This is the Act of Withdrawal.

9. Bây giờ là năm phút im lặng và cường độ mục đích trong khi nhóm chờ công việc đã được khởi sự tiếp tục tiến hành. Sau đó là việc nhóm rút tâm thức của mình khỏi cõi cảm dục và thế giới ảo cảm. Trước hết, các thành viên nhóm tái tập trung sự chú ý trên cõi trí, rồi trên linh hồn, buông bỏ mọi tư tưởng về ảo cảm, biết rằng công việc đã được tiến hành thành công. Họ tái tổ chức chính mình như một nhóm trong mối liên hệ với giới linh hồn và với nhau. Nói theo huyền bí học, “đèn pha của linh hồn được tắt đi”. Đây là Hành Động Rút Lui.

10. The OM is then sounded in group formation; and then, in order to emphasise that the group work is ended, each member of the group sounds the OM alone, saying:

10. Sau đó OM được xướng trong đội hình nhóm; rồi, nhằm nhấn mạnh rằng công việc nhóm đã kết thúc, mỗi thành viên nhóm tự mình xướng OM, và nói:

“So let it be, and help me in my own life to end all glamour and untruth.”

“Nguyện điều đó thành tựu, và xin trợ giúp tôi trong đời sống riêng của tôi để chấm dứt mọi ảo cảm và mọi điều không chân thật.”

It will take aspirants some time to gain facility in this work, but it is surely obvious that in learning what is an [235] entirely new technique of service each step must be mastered and practised for quite a long time. Every new branch of learning takes some time to become familiar and this one is no exception. But the effort is well worth while both from the individual angle and as an act of service to humanity.

Những người chí nguyện sẽ cần một thời gian để đạt được sự thành thạo trong công việc này, nhưng chắc chắn hiển nhiên rằng khi học một [235] kỹ thuật phụng sự hoàn toàn mới, mỗi bước phải được làm chủ và thực hành trong một thời gian khá dài. Mỗi ngành học mới đều cần một thời gian để trở nên quen thuộc, và ngành này cũng không ngoại lệ. Nhưng nỗ lực ấy rất đáng giá, cả từ góc độ cá nhân lẫn như một hành động phụng sự nhân loại.

That all the groups may learn to function in the light and that glamour may disappear from all your lives so that you may walk freely in that light and use that light for others is the wish of my heart for you.

Nguyện tất cả các nhóm học được cách hoạt động trong ánh sáng, và nguyện ảo cảm biến mất khỏi mọi đời sống của các bạn, để các bạn có thể tự do bước đi trong ánh sáng ấy và sử dụng ánh sáng ấy cho người khác; đó là ước nguyện trong tim tôi dành cho các bạn.

FORMULA FOR THE DISSIPATION OF GLAMOUR

CÔNG THỨC LÀM TIÊU TAN ẢO CẢM

(For the Individual)

(Dành cho Cá nhân)

Preparatory Stages.—Các Giai đoạn Chuẩn bị.

1. Recognition of the glamour to be dissipated. This involves:

1. Nhận biết ảo cảm cần được làm tiêu tan. Điều này bao hàm:

a. A willingness to cooperate with the soul.

a. Sự sẵn lòng hợp tác với linh hồn.

b. Understanding the nature of the particular glamour.

b. Thấu hiểu bản chất của ảo cảm đặc thù.

2. The three stages of focussing:

2. Ba giai đoạn tập trung:

a. Focussing the dual light of matter and mind in the mental body.

a. Tập trung ánh sáng kép của vật chất và thể trí trong thể trí.

b. Focussing, through meditation, this dual light and the light of the soul.

b. Tập trung, qua tham thiền, ánh sáng kép này và ánh sáng của linh hồn.

c. Focussing these three lights and so creating the searchlight for the dissipation of glamour.

c. Tập trung ba ánh sáng này và nhờ vậy tạo nên đèn pha để làm tiêu tan ảo cảm.

3. Preparedness through alignment and integration. This is the production of a field of magnetic thought substance.

3. Sự chuẩn bị thông qua chỉnh hợp và tích hợp. Đây là sự tạo ra một trường chất liệu tư tưởng từ tính.

4. The turning of the attention and of the searchlight of the mind on to the astral plane. [236]

4. Việc xoay sự chú ý và đèn pha của thể trí hướng vào cõi cảm dục. [236]

The Formula.—Công thức.

5. The soul breathes out the OM into the waiting personality and the light and power thus generated are retained for use.

5. Linh hồn thở ra OM vào phàm ngã đang chờ đợi, và ánh sáng cùng quyền năng được tạo ra như vậy được giữ lại để sử dụng.

6. An intense light is slowly and consciously generated.

6. Một ánh sáng mãnh liệt được tạo ra chậm rãi và có ý thức.

7. The spiritual will is invoked whilst the mind is held steady in the light.

7. Ý chí tinh thần được khẩn cầu trong khi thể trí được giữ vững trong ánh sáng.

8. The glamour to be dissipated and the searchlight of the mind are brought into relationship.

8. Ảo cảm cần được làm tiêu tan và đèn pha của thể trí được đưa vào mối liên hệ với nhau.

9. The searchlight is then turned on by an act of the will and a strong beam of light is projected into the glamour.

9. Đèn pha sau đó được bật lên bằng một hành động của ý chí, và một chùm ánh sáng mạnh được phóng chiếu vào ảo cảm.

10. The glamour is named and the aspirant says with tension inaudibly:

10. Ảo cảm được gọi tên và người chí nguyện nói trong sự tập trung nhất tâm, không thành tiếng:

“The power of the light prevents the appearance of the glamour (naming it). The power of the light negates the quality of the glamour from affecting me. The power of the light destroys the life behind the glamour.”

“Quyền năng của ánh sáng ngăn chặn sự xuất hiện của ảo cảm (gọi tên nó). Quyền năng của ánh sáng phủ định phẩm tính của ảo cảm không cho nó ảnh hưởng đến tôi. Quyền năng của ánh sáng phá hủy sự sống phía sau ảo cảm.”

11. The OM is sounded by the aspirant, producing an Act of Penetration. This produces impact, penetration and dissipation.

11. Người chí nguyện xướng OM, tạo ra một Hành Động Thâm Nhập. Điều này tạo nên sự tác động, thâm nhập và tiêu tan.

12. The aspirant, having done his work, withdraws himself consciously on to the mental plane and the beam of light fades out.

12. Người chí nguyện, sau khi đã hoàn tất công việc của mình, tự rút lui một cách có ý thức lên cõi trí và chùm ánh sáng mờ dần.

Brief Form of the Individual Formula.

Hình thức Tóm lược của Công thức Cá nhân.

1. The four preparatory stages:

1. Bốn giai đoạn chuẩn bị:

a. Recognition of the glamour to be dissipated. [237]

a. Nhận biết ảo cảm cần được làm tiêu tan. [237]

b. Focussing the dual light of the personality.

b. Tập trung ánh sáng kép của phàm ngã.

c. Meditation and recognition of soul light.

c. Tham thiền và nhận biết ánh sáng linh hồn.

d. Unification of the three lights.

d. Hợp nhất ba ánh sáng.

2. The process of alignment and of recognised integration.

2. Tiến trình chỉnh hợp và tích hợp đã được nhận biết.

3. The turning of the searchlight of the mind to the astral plane.

3. Việc xoay đèn pha của thể trí đến cõi cảm dục.

The Formula.

Công thức.

4. Soul activity and the retention of the triple light.

4. Hoạt động của linh hồn và sự giữ lại ánh sáng tam phân.

5. The generating and visualising of the searchlight.

5. Việc tạo ra và hình dung đèn pha.

6. The evocation of the WILL behind the searchlight of the mind.

6. Sự gợi lên Ý CHÍ phía sau đèn pha của thể trí.

7. The searchlight of the mind is turned upon the glamour, directed by thought.

7. Đèn pha của thể trí được xoay hướng vào ảo cảm, do tư tưởng chỉ đạo.

8. The naming of the glamour and the triple affirmation.

8. Việc gọi tên ảo cảm và lời khẳng định tam phân.

9. The Act of Penetration.

9. Hành Động Thâm Nhập.

10. The process of Withdrawing.

10. Tiến trình Rút Lui.

FORMULA FOR THE DISSIPATION OF WORLD GLAMOUR

CÔNG THỨC LÀM TIÊU TAN ẢO CẢM THẾ GIỚI

(Technique for a Group)

(Kỹ thuật dành cho Nhóm)

The Preparatory Stages.—Các Giai đoạn Chuẩn bị.

1. The naming of the group members, followed by ten minutes silence.

1. Việc gọi tên các thành viên nhóm, tiếp theo là mười phút im lặng.

2. The Protective Formula: The group members say in unison: [238]

2. Công Thức Bảo Vệ: Các thành viên nhóm đồng thanh nói: [238]

“As a soul I work in light and darkness cannot touch me.

“Với tư cách là một linh hồn, tôi làm việc trong ánh sáng và bóng tối không thể chạm đến tôi.

I take my stand within the light.

Tôi đứng vững trong ánh sáng.

I work and from that point I never move.”

Tôi làm việc và từ điểm ấy tôi không bao giờ chuyển dời.”

As these words are uttered, each group member makes the sign of the Cross of Divinity.

Khi những lời này được thốt ra, mỗi thành viên nhóm làm dấu Thập Giá của Thiên Tính.

3. The three preparatory stages:

3. Ba giai đoạn chuẩn bị:

a. Focussing the dual light of matter and mind.

a. Tập trung ánh sáng kép của vật chất và thể trí.

b. Meditation on soul contact and recognition of soul light.

b. Tham thiền về sự tiếp xúc linh hồn và nhận biết ánh sáng linh hồn.

c. The fusion of the two lesser lights with soul light.

c. Sự dung hợp của hai ánh sáng thấp với ánh sáng linh hồn.

4. On a signal from the leader, the group says together:

4. Theo tín hiệu của người lãnh đạo, nhóm cùng nói:

“The light is one and in that light shall we see light. This is the light that turns the darkness nto day.”

“Ánh sáng là một và trong ánh sáng ấy chúng ta sẽ thấy ánh sáng. Đây là ánh sáng biến bóng tối thành ban ngày.”

5. Then together the group says:

5. Rồi nhóm cùng nói:

“Radiance are we and power. We stand forever with our hands stretched out, linking the heavens and the earth, the inner world of meaning and the subtle world of glamour.

“Chúng ta là sự rạng rỡ và quyền năng. Chúng ta đứng mãi mãi với đôi tay dang rộng, nối kết các cõi trời và đất, thế giới bên trong của ý nghĩa và thế giới vi tế của ảo cảm.

We reach into the light and bring it down to meet the need. We reach into the silent Place and bring from thence the gift of understanding. Thus with the light we work and turn the darkness into day.”

Chúng ta vươn vào ánh sáng và đưa nó xuống để đáp ứng nhu cầu. Chúng ta vươn vào Chốn Im Lặng và từ đó mang về ân huệ của sự thấu hiểu. Như vậy, với ánh sáng chúng ta làm việc và biến bóng tối thành ban ngày.”

[239]

[239]

As these words are said, the group members visualise the great searchlight they have created turning its light upon the astral plane.

Khi những lời này được nói ra, các thành viên nhóm hình dung đèn pha lớn mà họ đã tạo ra đang xoay ánh sáng của nó hướng vào cõi cảm dục.

6. A pause follows and then comes the invocation of the spiritual will. When this has been done the group says:

6. Sau đó là một khoảng dừng, rồi đến sự khẩn cầu ý chí tinh thần. Khi điều này đã được thực hiện, nhóm nói:

“With power upon its beam, the light is focussed on the goal.”

“Với quyền năng trên tia sáng của nó, ánh sáng được tập trung vào mục tiêu.”

7. The glamour to be dissipated is named and the light is thrown upon it. The Words of Power are uttered:

7. Ảo cảm cần được làm tiêu tan được gọi tên và ánh sáng được chiếu vào nó. Các Quyền năng từ được thốt ra:

“The power of our united light prevents the appearance of the glamour of… (naming it).

“Quyền năng của ánh sáng hợp nhất của chúng ta ngăn chặn sự xuất hiện của ảo cảm về… (gọi tên nó).

The power of our united light negates the quality of the glamour from affecting man.

Quyền năng của ánh sáng hợp nhất của chúng ta phủ định phẩm tính của ảo cảm không cho nó ảnh hưởng đến con người.

The power of our united light destroys the life behind the glamour.”

Quyền năng của ánh sáng hợp nhất của chúng ta phá hủy sự sống phía sau ảo cảm.”

8. Visualisation of the light, penetrating into the glamour and producing its weakening and dissipation.

8. Sự hình dung ánh sáng thâm nhập vào ảo cảm và tạo ra sự suy yếu cùng tiêu tan của nó.

9. Five minutes of silence and intensity of purpose whilst the work is seen proceeding. Then the group members refocus themselves upon the mental plane, turning their attention away from the astral plane. The searchlight of the soul is shut off.

9. Năm phút im lặng và cường độ mục đích trong khi công việc được thấy là đang tiếp diễn. Rồi các thành viên nhóm tái tập trung chính mình trên cõi trí, chuyển sự chú ý khỏi cõi cảm dục. Đèn pha của linh hồn được tắt đi.

10. The sounding of the OM individually and aloud by each member.

10. Việc mỗi thành viên xướng OM riêng rẽ và thành tiếng.

Brief Form of the Group Formula.

Hình thức Tóm lược của Công thức Nhóm.

1. The Act of Naming.

1. Hành Động Gọi Tên.

2. The Act of Protection.

2. Hành Động Bảo Vệ.

3. The Act of Focussing the Lights.

3. Hành Động Tập Trung các Ánh Sáng.

4. The Act of Direction. [240]

4. Hành Động Định Hướng. [240]

5. The Act of Invoking the Will.

5. Hành Động Khẩn Cầu Ý Chí.

6. The Act of Projection and Affirmation.

6. Hành Động Phóng Chiếu và Khẳng Định.

7. The Act of Penetration.

7. Hành Động Thâm Nhập.

8. The Act of Withdrawal.

8. Hành Động Rút Lui.

Our consideration of glamour is nearing its close. We have carried a consecutive theme steadily and have traced the threefold aspect of the world illusion as it appears upon the mental plane, and there conditions the intelligentsia of the world; as it appears upon the astral plane where it constitutes the glamour to which the masses of men succumb; we shall now consider the world of maya in which we, physically, live and move and have our being.

Việc xem xét của chúng ta về ảo cảm đang gần đến hồi kết. Chúng ta đã đều đặn theo đuổi một chủ đề liên tục và đã truy nguyên phương diện tam phân của ảo tưởng thế giới khi nó xuất hiện trên cõi trí, và tại đó tác động lên giới trí thức của thế giới; khi nó xuất hiện trên cõi cảm dục, nơi nó cấu thành ảo cảm mà quần chúng nhân loại khuất phục; giờ đây chúng ta sẽ xem xét thế giới của ảo lực, trong đó, về mặt hồng trần, chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu.

I wonder if those who read my words appreciate the importance of this entire subject or if they are aware of the wide field of service which it opens up, making practical—as it does—all human living, and indicating likewise the steps whereby Reality can be known and all veiling forms disappear. Behind these words of illusion, glamour and maya, lies TRUTH. This truth is the clear consciousness of Being, of Existence and of essential, initial Reality. That is the reason that Christ stood mute before Pilate who symbolised the human intellect; He knew that no reply could convey meaning to that veiled, inhibited mind.

Tôi tự hỏi liệu những người đọc các lời của tôi có nhận thức được tầm quan trọng của toàn bộ chủ đề này, hoặc có ý thức được lĩnh vực phụng sự rộng lớn mà nó mở ra hay không; vì nó làm cho toàn bộ đời sống nhân loại trở nên thực tiễn, đồng thời chỉ ra các bước nhờ đó Thực Tại có thể được biết đến và mọi hình tướng che phủ biến mất. Đằng sau những lời ảo tưởng, ảo cảm và ảo lực này là CHÂN LÝ. Chân lý này là tâm thức trong sáng về Bản Thể, về Hiện Hữu và về Thực Tại thiết yếu, nguyên sơ. Đó là lý do Đức Christ đứng im lặng trước Pilate, người biểu tượng cho trí năng con người; Ngài biết rằng không một câu trả lời nào có thể truyền đạt ý nghĩa cho thể trí bị che phủ và bị ức chế ấy.

Illusion is the mode whereby limited understanding and material knowledge interpret truth, veiling and hiding it behind a cloud of thoughtforms. Those thoughtforms become then more real than the truth they veil, and consequently control man’s approach to Reality. Through illusion, he becomes aware of the apparatus of thought, of its activity, expressed in thoughtform building, and of that which he succeeds in constructing and which he views as the creation of his intellect. He has, however, created a barrier between himself and that which is and, until he has exhausted [241] the resources of his intellect or has deliberately refused to utilise it, his divine intuition cannot function. It is the intuition which reveals true Being and which induces a state of spiritual perception. Then the technique of the PRESENCE becomes an established habit.

Ảo tưởng là phương thức qua đó sự thấu hiểu giới hạn và tri thức vật chất diễn giải chân lý, che phủ và giấu nó sau một đám mây các hình tư tưởng. Khi ấy, các hình tư tưởng ấy trở nên thực hơn chân lý mà chúng che phủ, và do đó kiểm soát cách con người tiếp cận Thực Tại. Thông qua ảo tưởng, y trở nên ý thức về bộ máy tư tưởng, về hoạt động của nó được biểu lộ trong việc xây dựng hình tư tưởng, và về điều y thành công trong việc kiến tạo và xem như sáng tạo của trí năng mình. Tuy nhiên, y đã tạo ra một rào cản giữa chính mình và điều đang là; và cho đến khi y đã cạn kiệt [241] các nguồn lực của trí năng mình, hoặc đã cố ý từ chối sử dụng nó, trực giác thiêng liêng của y không thể hoạt động. Chính trực giác mặc khải Bản Thể chân thật và tạo nên một trạng thái tri nhận tinh thần. Khi ấy Kỹ Thuật của Hiện Diện trở thành một thói quen vững lập.

Glamour, in its turn, veils and hides the truth behind the fogs and mists of feeling and emotional reaction; it is of unique and terrible potency, owing to the strength of human nature to identify itself with the astral nature and to the vital nature of conscious and sentient response itself. As you know and have been taught, glamour can only be dissipated by the inflow of clear, directed light; this is true of the life of the individual or of humanity as a whole. Illumination reveals first of all the existence of glamour; it provides the distressing contrasts with which all true aspirants wrestle and then gradually it floods the life to such an extent that eventually glamour completely vanishes. Men see things then as they are—a facade hiding the good, the beautiful and true. The opposites are then resolved and consciousness is superseded by a condition of realisation—a realisation of Being for which we have no adequate term. The technique of LIGHT becomes a permanent condition.

Ảo cảm, đến lượt nó, che phủ và giấu chân lý sau những làn sương mù của cảm xúc và phản ứng cảm xúc; nó có một quyền năng đặc biệt và khủng khiếp, do sức mạnh của bản chất con người trong việc đồng hoá với bản chất cảm dục, cũng như do bản chất sinh động của chính sự đáp ứng có ý thức và hữu cảm. Như các bạn biết và đã được dạy, ảo cảm chỉ có thể được làm tiêu tan bởi dòng chảy vào của ánh sáng trong sáng, có định hướng; điều này đúng đối với đời sống của cá nhân cũng như của toàn thể nhân loại. Sự soi sáng trước hết mặc khải sự hiện hữu của ảo cảm; nó đem lại những tương phản gây đau khổ mà mọi người chí nguyện chân chính phải vật lộn, rồi dần dần nó tràn ngập đời sống đến mức cuối cùng ảo cảm hoàn toàn biến mất. Khi ấy, con người thấy sự vật như chúng là, một mặt tiền che giấu điều thiện, điều đẹp và điều chân thật. Khi ấy, các đối cực được giải quyết và tâm thức được thay thế bằng một tình trạng chứng nghiệm, một chứng nghiệm về Bản Thể mà chúng ta không có thuật ngữ nào thích đáng. Kỹ Thuật Ánh sáng trở thành một tình trạng thường hằng.

3. The Technique of Indifference—Kỹ Thuật Điềm Nhiên

We come now to a brief study of the third aspect of illusion, to which we give the name Maya, and to the technique which can overcome it. We will deal next with the Technique of Indifference which is concerned with the distribution of soul force upon the physical plane, via the etheric plane, leading to inspiration. This is related to the Science of the Breath.

Bây giờ chúng ta đi đến một khảo sát ngắn gọn về phương diện thứ ba của ảo tưởng, mà chúng ta gọi là ảo lực, và về kỹ thuật có thể vượt thắng nó. Tiếp theo, chúng ta sẽ bàn đến Kỹ Thuật Điềm Nhiên, liên quan đến sự phân phối mãnh lực linh hồn trên cõi hồng trần, thông qua cõi dĩ thái, dẫn đến cảm hứng. Điều này liên hệ đến Khoa Học về Hơi Thở.

What then is maya? This, my brother, is not easy to define because it is related to the form-building activity of [242] the planetary Logos Himself. However, a consideration of the analogy existing between the microcosm and the Macrocosm may help somewhat. The soul creates a threefold expression in the three worlds of human living. This is an occult truism. The outer form, the dual physical body (dense and vital or etheric) is produced, created, motivated, energised and conditioned by certain energies and forces, emanating from those levels whereon the soul has—rightly or wrongly—engineered a reaction of identification. Note this phrase, my brother. These make the man what he is; they give him his temperament, profession and quality upon the physical plane; they make him negative or positive to various types of impacting energy; they give him his character and make him what he appears to be to others; they produce his colouring, his capacities and his personality. With all of these the average man identifies himself; he believes himself to be the form, the medium through which he attempts to express his desires and his ideas. This complete identification with the transient creation and with the outer appearance is maya. It must be remembered that individual maya is a fractional part of the world of energies and forces which constitute the life expression of the planetary Logos, which condition our outer planetary life, and make our planet what it appears to be to the other planets.

Vậy thì ảo lực là gì? Huynh đệ của tôi, điều này không dễ định nghĩa vì nó liên quan đến hoạt động xây dựng hình tướng của [242] chính Hành Tinh Thượng đế. Tuy nhiên, việc xem xét sự tương đồng hiện hữu giữa Tiểu thiên địa và Đại thiên địa có thể giúp được phần nào. Linh hồn tạo ra một biểu hiện tam phân trong ba cõi của đời sống nhân loại. Đây là một chân lý hiển nhiên của huyền bí học. Hình tướng bên ngoài, thể xác kép, đậm đặc và sinh lực hay dĩ thái, được sản sinh, sáng tạo, thúc đẩy, tiếp sinh lực và tác động bởi những năng lượng và mãnh lực nhất định, xuất phát từ các cấp độ nơi linh hồn đã, đúng hay sai, điều khiển một phản ứng đồng hoá. Huynh đệ của tôi, hãy lưu ý cụm từ này. Những điều này làm cho con người trở thành điều y là; chúng đem lại cho y khí chất, nghề nghiệp và phẩm tính trên cõi hồng trần; chúng khiến y trở nên âm tính hoặc dương tính đối với nhiều loại năng lượng tác động; chúng đem lại cho y Tính cách và làm cho y trở thành điều y dường như là đối với người khác; chúng tạo ra sắc thái, các năng lực và phàm ngã của y. Với tất cả những điều này, người bình thường đồng hoá chính mình; y tin mình là hình tướng, là trung gian qua đó y cố gắng biểu lộ các ham muốn và ý tưởng của mình. Sự đồng hoá hoàn toàn này với sáng tạo thoáng qua và với sắc tướng bên ngoài chính là ảo lực. Cần nhớ rằng ảo lực cá nhân là một phần nhỏ của thế giới năng lượng và mãnh lực vốn cấu thành sự biểu lộ đời sống của Hành Tinh Thượng đế, tác động lên đời sống hành tinh bên ngoài của chúng ta, và làm cho hành tinh của chúng ta trở thành điều nó dường như là đối với các hành tinh khác.

The difference between man, the microcosm, and the planetary Logos, the Lord of the World, the Macrocosm, lies in the fact that the Lord of the World is not identified with the maya which He has created, and which has its purpose in eventually bringing about the release of the “prisoners of the planet.” To that Maya, HE is supremely indifferent and it is this divine indifference which has led to the great theological illusion of an anthropomorphic Deity and to the belief (in the East) that our planet is but the background [243] or the plaything of the Gods. It is this cosmic indifference which has led to the human glamour concerning the “inscrutable will of God” and to the affirmation that God is far away and not immanent in every creature and in every atom of which creatures are made. These are some aspects of the glamours and illusions which must be dispelled and dissipated and, in the process, discovery will be made that the form is only maya and can be disregarded, that forces can be organised and directed by energy and that the world of thought, the field of sentient consciousness and the playground of the energies are something apart from the Thinker, from the One who feels and from the Actor and Player of the many parts which the Soul undertakes to play.

Sự khác biệt giữa con người, Tiểu thiên địa, và Hành Tinh Thượng đế, Đức Chúa Tể Thế Giới, Đại thiên địa, nằm ở chỗ Đức Chúa Tể Thế Giới không đồng hoá với ảo lực mà Ngài đã tạo ra, và ảo lực ấy có mục đích cuối cùng là đem lại sự giải thoát cho “những tù nhân của hành tinh”. Đối với ảo lực ấy, NGÀI tuyệt đối điềm nhiên, và chính Điềm nhiên thiêng liêng này đã dẫn đến đại ảo tưởng thần học về một Thượng đế mang hình người, cũng như niềm tin ở phương Đông rằng hành tinh của chúng ta chỉ là bối cảnh [243] hay món đồ chơi của các Thượng đế. Chính sự điềm nhiên vũ trụ này đã dẫn đến ảo cảm của con người liên quan đến “ý chí khôn dò của Thượng đế” và đến sự khẳng định rằng Thượng đế ở rất xa và không nội tại trong mọi sinh vật cũng như trong mọi nguyên tử cấu tạo nên các sinh vật. Đây là một số phương diện của các ảo cảm và ảo tưởng cần phải được xua tan và làm tiêu tan; và trong tiến trình ấy, người ta sẽ khám phá rằng hình tướng chỉ là ảo lực và có thể được bỏ qua, rằng các mãnh lực có thể được tổ chức và chỉ đạo bởi năng lượng, và rằng thế giới tư tưởng, lĩnh vực của tâm thức hữu cảm và sân chơi của các năng lượng là một điều gì tách biệt với Chủ Thể Tư Tưởng, với Đấng cảm nhận và với Tác Nhân cùng Người Diễn nhiều vai trò mà Linh hồn đảm nhận để diễn.

The disciple learns eventually to know himself to be, above everything else (whilst in incarnation), the director of forces: these he directs from the altitude of the divine Observer and through the attainment of detachment. These are things which I have oft told you before. These truths are, for you, only the platitudes of occultism and yet, if you could but grasp the full significance of detachment and stand serene as the observing Director, there would be no more waste motion, no more mistaken moves and no more false interpretations, no wandering down the bypaths of daily living, no seeing others through distorted and prejudiced vision and—above all—no more misuse of force.

Cuối cùng, đệ tử học cách biết mình, trên hết mọi điều khác, khi đang lâm phàm, là người chỉ đạo các mãnh lực: y chỉ đạo chúng từ độ cao của Nhà Quan Sát thiêng liêng và nhờ đạt được sự tách rời. Đây là những điều tôi đã thường nói với các bạn trước đây. Đối với các bạn, những chân lý này chỉ là những điều sáo mòn của huyền bí học; tuy nhiên, nếu các bạn có thể nắm bắt trọn vẹn thâm nghĩa của sự tách rời và đứng tĩnh lặng như Vị Chỉ Đạo quan sát, thì sẽ không còn chuyển động lãng phí, không còn những bước đi sai lầm, không còn những diễn giải sai, không còn lang thang trên những lối rẽ của đời sống hằng ngày, không còn nhìn người khác bằng tầm nhìn méo mó và đầy thành kiến, và trên hết, không còn lạm dụng mãnh lực.

Again and again, down the ages, the Masters have told Their disciples (as I have told you) that the occultist works in the world of forces. All human beings live and move and express themselves in and through that same world of ever-moving, ever-impacting, outgoing and incoming energies. The occultist, however, works there; he becomes a conscious directing agent; he creates upon the physical plane that which he desires, and that which he desires is the pattern of [244] things and the design laid down upon the trestle board of the spiritual consciousness by the great divine Architect. Yet he identifies himself not with the pattern or with the forces which he employs. He moves in the world of maya, free from all illusion, unhindered by glamour and uncontrolled by the mayavic forces. He is rapidly arriving, as far as his own little world is concerned, at the same “divine indifference” which characterises Sanat Kumara, the Lord of the World; therefore increasingly he becomes aware of the Plan as it exists in the Universal Mind and the Purpose which motivates the Will of God.

Hết lần này đến lần khác, qua các thời đại, các Chân sư đã nói với các đệ tử của Các Ngài, như tôi đã nói với các bạn, rằng nhà huyền bí học làm việc trong thế giới mãnh lực. Tất cả nhân loại đều sống, chuyển động và biểu lộ chính mình trong và qua cùng thế giới của những năng lượng luôn chuyển động, luôn tác động, đi ra và đi vào ấy. Tuy nhiên, nhà huyền bí học làm việc ở đó; y trở thành một tác nhân chỉ đạo có ý thức; y tạo ra trên cõi hồng trần điều y mong muốn, và điều y mong muốn là mô hình của [244] sự vật và thiết kế được đặt xuống trên bảng vẽ của tâm thức tinh thần bởi Kiến Trúc Sư thiêng liêng vĩ đại. Tuy nhiên, y không đồng hoá chính mình với mô hình hay với các mãnh lực mà y sử dụng. Y chuyển động trong thế giới ảo lực, tự do khỏi mọi ảo tưởng, không bị ảo cảm cản trở và không bị các mãnh lực ảo lực kiểm soát. Y đang nhanh chóng đạt đến, trong phạm vi thế giới nhỏ bé riêng của mình, cùng một “Điềm nhiên thiêng liêng” vốn đặc trưng cho Đức Sanat Kumara, Đức Chúa Tể Thế Giới; do đó, ngày càng nhiều hơn, y trở nên ý thức về Thiên Cơ như nó hiện hữu trong Vũ Trụ Trí và về Thiên Ý thúc đẩy Ý Chí của Thượng Đế.

It is this divine indifference which is responsible for the fact that in attempting to describe “Pure Being” or God, and in the effort to arrive at some understanding of the nature of divinity, the formula of negation has been evolved. God is not this; God is not that; God is no-thing; God is neither time nor space; God is not feeling or thought; God is not form or substance. God simply IS. God IS—apart from all expression and manifestation as the Manipulator of energy, the Creator of the tangible and the intangible worlds, the Pervader of life, or the Indweller in all forms. God is the ONE WHO can withdraw and, in withdrawing, dispel, dissipate and devitalise all that has been created—using those words in their fullest significance.

Chính sự điềm nhiên thiêng liêng này chịu trách nhiệm về sự kiện rằng, khi cố gắng mô tả “Bản Thể Thuần Khiết” hay Thượng đế, và trong nỗ lực đạt đến một sự thấu hiểu nào đó về bản chất của thiên tính, công thức phủ định đã được khai triển. Thượng đế không phải là điều này; Thượng đế không phải là điều kia; Thượng đế không là một vật gì; Thượng đế không phải thời gian cũng không phải không gian; Thượng đế không phải cảm xúc hay tư tưởng; Thượng đế không phải hình tướng hay chất liệu. Thượng đế chỉ đơn giản HIỆN HỮU. Thượng đế HIỆN HỮU—tách khỏi mọi biểu hiện và hiển lộ như Đấng Điều Khiển năng lượng, Đấng Sáng Tạo các thế giới hữu hình và vô hình, Đấng Thấm Nhuần sự sống, hay Đấng Nội Tại trong mọi hình tướng. Thượng đế là ĐẤNG có thể rút lui và, trong khi rút lui, xua tan, làm tiêu tanlàm mất sinh lực tất cả những gì đã được sáng tạo—khi dùng các từ ấy trong thâm nghĩa đầy đủ nhất của chúng.

It will be obvious to you, therefore, that in these three activities of that Reality which is not identified with appearance, the will of God, the Destroyer aspect of Deity, is beneficently present. The act of abstraction produces the dispelling of the illusory world of thought; the withdrawal of the divine attention dissipates the sentient universe and brings glamour to an end; the cessation of divine direction brings death to the physical world. All these activities are evidences of the will or of the first aspect—the will-to-good which can and will function in perfection only when goodwill [245] is finally and fully developed on Earth, through the agency of humanity.

Do đó, hẳn bạn sẽ thấy rõ rằng trong ba hoạt động này của Thực Tại vốn không đồng hoá với sắc tướng, Ý Chí của Thượng Đế, phương diện Hủy Diệt của Thượng đế, hiện diện một cách từ ái. Hành động trừu xuất tạo ra sự xua tan thế giới ảo tưởng của tư tưởng; sự rút lui của sự chú tâm thiêng liêng làm tiêu tan vũ trụ hữu cảm và chấm dứt ảo cảm; sự ngừng lại của sự chỉ đạo thiêng liêng đem cái chết đến cho thế giới hồng trần. Tất cả các hoạt động này là bằng chứng của ý chí hay của phương diện thứ nhất—Ý Chí-hướng Thiện, vốn chỉ có thể và sẽ vận hành trong sự hoàn thiện khi thiện chí [245] cuối cùng được phát triển trọn vẹn trên Trái Đất, thông qua tác nhân là nhân loại.

The will and the breath, my brother, are occultly synonymous terms. In this statement you have the clue to the ending of maya.—

Ý chí và hơi thở, huynh đệ của tôi, về mặt huyền bí là những thuật ngữ đồng nghĩa. Trong lời khẳng định này, bạn có chìa khóa để chấm dứt ảo lực.—

The above remarks are preliminary to our study of the Technique of Indifference. It is necessary to point out analogies and to link together the various aspects of related teaching if true perception is to be developed. Let us divide our consideration of this subject as follows:

Những nhận xét trên là phần mở đầu cho việc nghiên cứu Kỹ Thuật Điềm Nhiên của chúng ta. Cần phải chỉ ra các tương đồng và liên kết các phương diện khác nhau của giáo huấn liên hệ nếu muốn phát triển tri giác chân thực. Chúng ta hãy chia sự xem xét đề tài này như sau:

1. Activity upon the etheric plane, i.e., the world of forces.

1. Hoạt động trên cõi dĩ thái, tức là thế giới của các mãnh lực.

a. Their distribution.

a. Sự phân phối của chúng.

b. Their manipulation.

b. Sự thao túng chúng.

2. The Science of the Breath.

2. Khoa học của Hơi thở.

a. The relation of the will and the breath.

a. Mối liên hệ giữa ý chí và hơi thở.

b. Inspiration.

b. Cảm hứng.

3. The Technique of Indifference.

3. Kỹ Thuật Điềm Nhiên.

a. Through concentration.

a. Thông qua sự tập trung.

b. Through detachment.

b. Thông qua sự tách rời.

We enter now the field of practical occultism. This is not the field of aspiration or the sphere of a planned moving forward towards that which is higher and desirable. It is, in some ways, a reverse activity. From the point reached upon the ladder of evolution, the disciple “stands in spiritual Being” (as far as in him lies), and consciously, deliberately works with the energies in the three worlds. He directs them into the etheric body from whatever level he chooses to work—mental, emotional, or from the vital plane itself. He does this in conformity with some visioned idea, some cherished ideal, some sensed divine pattern, some spiritual hope, some consecrated ambition or some dedicated desire.

Giờ đây chúng ta bước vào lĩnh vực huyền bí học thực hành. Đây không phải là lĩnh vực của khát vọng hay phạm vi của một sự tiến tới có hoạch định hướng về điều cao hơn và đáng mong muốn. Theo một số phương diện, đó là một hoạt động ngược lại. Từ điểm đã đạt được trên chiếc thang tiến hoá, đệ tử “đứng trong Bản Thể tinh thần” trong mức độ y có thể, và một cách hữu thức, có chủ ý, làm việc với các năng lượng trong ba cõi giới. Y điều khiển chúng vào thể dĩ thái từ bất cứ cấp độ nào y chọn để làm việc—trí tuệ, cảm xúc, hay từ chính cõi sinh lực. Y làm điều này phù hợp với một ý tưởng đã được thấy trong tầm nhìn, một lý tưởng được trân quý, một mô hình thiêng liêng được cảm nhận, một niềm hy vọng tinh thần, một tham vọng đã được thánh hiến hay một ước muốn đã được tận hiến.

[246]

[246]

The etheric body of the individual is, as you know, a part of the etheric body of humanity and this, in its turn, is an aspect of the etheric body of the planet, which is likewise an intrinsic part of the etheric body of the solar system. Incidentally, in this far-reaching factual relationship, you have the basis of all astrological influences. Man moves, therefore, in a whirlpool of forces of all types and qualities. He is composed of energies in every part of his manifested and unmanifested expression; he is, therefore, related to all other energies. His task is one of supreme difficulty and needs the great length of the evolutionary cycle. With the mass of world energies and systemic forces we cannot here deal, but we will confine ourselves to the consideration of the individual problem, advising the student to endeavour to extend his understanding of the microcosmic situation to the macrocosmic.

Như bạn biết, thể dĩ thái của cá nhân là một phần của thể dĩ thái của nhân loại, và thể này đến lượt nó là một phương diện của thể dĩ thái của hành tinh, vốn cũng là một phần nội tại của thể dĩ thái của hệ mặt trời. Nhân tiện, trong mối liên hệ thực tế rộng lớn này, bạn có nền tảng của mọi ảnh hưởng chiêm tinh. Do đó, con người chuyển động trong một vòng xoáy gồm các mãnh lực thuộc mọi loại và mọi phẩm tính. Y được cấu thành bởi các năng lượng trong mọi phần của biểu hiện đã hiển lộ và chưa hiển lộ của mình; vì vậy, y liên hệ với mọi năng lượng khác. Nhiệm vụ của y là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn và cần đến độ dài lớn lao của chu kỳ thăng thượng tiến hoá. Ở đây chúng ta không thể bàn đến khối lượng các năng lượng thế giới và các mãnh lực thuộc hệ thống, mà sẽ giới hạn mình trong việc xem xét vấn đề cá nhân, đồng thời khuyên đạo sinh cố gắng mở rộng sự thấu hiểu của mình về tình huống tiểu thiên địa sang đại thiên địa.

a. Force distribution and manipulation upon the etheric plane.—Phân phối và thao túng mãnh lực trên cõi dĩ thái.

We will now assume that the aspirant is aware of the need for him to establish a new and higher rhythm in his physical plane life, to organise his time in obedience to the injunction of his higher self, and to produce, consciously and scientifically, those effects which—in his highest moments—are presented to him as desirable. He has now a certain amount of knowledge as to the equipment available for his task and has mastered some facts anent the etheric vehicle. The pairs of opposites are clearly seen by him, even if he is as yet influenced by one or other of them; he is aware of a basic disagreement between his vision of goodness and his expression of that goodness. He has learnt that he is a triple reflection of a higher Trinity and that this Trinity is—for him—the Reality. He understands that [247] mind, emotions and physical being are intended eventually to manifest that Reality. In the last analysis, he knows that if that intermediate aspect of himself, the etheric body, can be controlled and rightly directed, then vision and expression will and must finally coincide. He is also aware that the dense physical body (the outer tangible appearance) is only an automaton, obedient to whatever forces and energies are the controlling factors in the subjective, conditioning the man. Is that physical body to be controlled by emotional force, pouring through the sacral centre and producing desire for the satisfaction of the physical appetites, or through the solar plexus leading to emotional satisfaction of some kind? Is it to be responsive to the mind and work largely under the impulse of projected thought? Is it perhaps to be directed by an energy greater than any of these but hitherto apparently impotent, the energy of the soul as an expression of pure Being? Is it to be swept into action under the impulse of sentient reactions, ideas and thoughts, emanating from other human beings or is it to be motivated and spurred into activity under the direction of the spiritual Hierarchy? Such are some of the questions to which answers must be found. The stage of aspiring, dreaming and of wishful thinking must now be superseded by direct action and by the carefully planned use of the available forces, swept into activity by the breath, under the direction of the inner eye and controlled by the spiritual man. Which energies can and must be thus used? What forces must be brought under direction? In what manner can they be controlled? Should they be ignored and so rendered futile by that ignoring, or are they forces which are needed in the great creative work?

Giờ đây chúng ta sẽ giả định rằng người chí nguyện ý thức được nhu cầu phải thiết lập một nhịp điệu mới và cao hơn trong đời sống cõi hồng trần của y, phải tổ chức thời gian của mình theo sự tuân phục huấn lệnh của chân ngã, và phải tạo ra, một cách hữu thức và khoa học, những hiệu quả mà—trong những khoảnh khắc cao nhất của y—được trình hiện cho y như điều đáng mong muốn. Giờ đây y có một lượng tri thức nhất định về trang bị sẵn có cho nhiệm vụ của mình và đã nắm vững một số sự kiện liên quan đến thể dĩ thái. Các cặp đối lập được y thấy rõ, dù y vẫn còn chịu ảnh hưởng của cặp này hay cặp kia; y ý thức được một sự bất nhất căn bản giữa tầm nhìn của mình về điều thiện và sự biểu hiện điều thiện ấy của mình. Y đã học được rằng y là phản ánh tam phân của một Ba Ngôi cao hơn và rằng Ba Ngôi này—đối với y—là Thực Tại. Y thấu hiểu rằng [247] thể trí, các cảm xúc và hiện hữu hồng trần cuối cùng được dự định để biểu lộ Thực Tại ấy. Trong phân tích sau cùng, y biết rằng nếu phương diện trung gian ấy của chính y, tức thể dĩ thái, có thể được kiểm soát và được điều khiển đúng đắn, thì tầm nhìn và sự biểu hiện cuối cùng sẽ và phải trùng khớp. Y cũng ý thức rằng thể xác đậm đặc, tức sắc tướng hữu hình bên ngoài, chỉ là một bộ máy tự động, tuân phục bất cứ mãnh lực và năng lượng nào là các yếu tố kiểm soát trong phần chủ quan đang tác động lên con người. Thể xác ấy sẽ bị kiểm soát bởi mãnh lực cảm xúc, tuôn qua trung tâm xương cùng và tạo ra dục vọng nhằm thỏa mãn các thèm muốn thể xác, hay qua tùng thái dương dẫn đến một loại thỏa mãn cảm xúc nào đó? Nó sẽ đáp ứng với thể trí và hoạt động phần lớn dưới xung lực của tư tưởng được phóng chiếu? Có lẽ nó sẽ được điều khiển bởi một năng lượng lớn hơn bất cứ năng lượng nào trong số này nhưng cho đến nay dường như bất lực, tức năng lượng của linh hồn như một biểu hiện của Bản Thể thuần khiết? Nó sẽ bị cuốn vào hành động dưới xung lực của các phản ứng hữu cảm, các ý tưởng và tư tưởng, xuất phát từ những con người khác, hay nó sẽ được thúc đẩy và khích lệ hoạt động dưới sự chỉ đạo của Huyền Giai Tinh Thần? Đó là một số câu hỏi cần phải tìm ra câu trả lời. Giai đoạn khát vọng, mơ mộng và tư duy ước muốn giờ đây phải được thay thế bằng hành động trực tiếp và bằng việc sử dụng có hoạch định cẩn thận các mãnh lực sẵn có, được cuốn vào hoạt động bởi hơi thở, dưới sự chỉ đạo của con mắt bên trong và được kiểm soát bởi con người tinh thần. Những năng lượng nào có thể và phải được sử dụng như vậy? Những mãnh lực nào phải được đặt dưới sự chỉ đạo? Chúng có thể được kiểm soát bằng cách nào? Có nên phớt lờ chúng và nhờ sự phớt lờ ấy làm cho chúng vô hiệu, hay chúng là những mãnh lực cần thiết trong công trình sáng tạo vĩ đại?

It will be apparent to you that the first step the spiritual investigator has to take is to ascertain—truly and in the light of his soul—where exactly is his focus of identification. [248] By that I mean: Is his major use of energy to be found upon the mental plane? Is he predominantly emotional and utilising force from the astral plane the greater part of the time? Can he contact the soul and bring in soul energy in such a manner that it negates or offsets his personality force? Can he thus live like a soul upon the physical plane, via the etheric body? If he earnestly studies this problem, he will in time discover which forces are dominant in the etheric body and will become aware consciously of the times and experience which call for the expenditure of soul energy. This, my brother, will take time and will be the result of prolonged observation and a close analysis of acts and sentient reactions, of words and thoughts. We are here concerned, as you can see, with an intensely practical problem which is at the same time an intrinsic part of our study and which will be evocative of basic changes in the life of the disciple.

Hẳn bạn sẽ thấy rõ rằng bước đầu tiên mà nhà khảo sát tinh thần phải thực hiện là xác định—một cách chân thực và trong ánh sáng của linh hồn mình—chính xác tiêu điểm đồng hoá của y nằm ở đâu. [248] Ý tôi muốn nói là: Việc sử dụng năng lượng chính yếu của y có được tìm thấy trên cõi trí không? Y có chủ yếu thiên về cảm xúc và sử dụng mãnh lực từ cõi cảm dục trong phần lớn thời gian không? Y có thể tiếp xúc với linh hồn và đưa năng lượng linh hồn vào theo cách phủ định hay hóa giải mãnh lực phàm ngã của y không? Nhờ vậy y có thể sống như một linh hồn trên cõi hồng trần, thông qua thể dĩ thái không? Nếu y nghiêm túc nghiên cứu vấn đề này, theo thời gian y sẽ khám phá những mãnh lực nào chiếm ưu thế trong thể dĩ thái và sẽ trở nên ý thức một cách hữu thức về những thời điểm và kinh nghiệm đòi hỏi việc tiêu dùng năng lượng linh hồn. Huynh đệ của tôi, điều này sẽ cần thời gian và sẽ là kết quả của sự quan sát kéo dài cùng một sự phân tích sát sao về các hành động và phản ứng hữu cảm, về lời nói và tư tưởng. Như bạn có thể thấy, ở đây chúng ta đang liên quan đến một vấn đề hết sức thực tiễn, đồng thời là một phần nội tại trong sự nghiên cứu của chúng ta, và sẽ gợi lên những thay đổi căn bản trong đời sống của đệ tử.

He will add to this observation and analysis of the strength of the force or the forces engaged, the conditions which will swing them into action, the frequency of their appearance, indicating to him novelty or habit, and likewise the nature of their expression. In this way, he will arrive at a new understanding of the conditioning factors which work through his vital body and make him—upon the physical plane—what he essentially is. This will prove to him of deep spiritual and significant help.

Y sẽ thêm vào sự quan sát và phân tích này về sức mạnh của mãnh lực hay các mãnh lực đang tham gia, các điều kiện sẽ làm chúng chuyển vào hoạt động, tần suất xuất hiện của chúng, chỉ cho y thấy tính mới mẻ hay thói quen, và cũng như bản chất biểu hiện của chúng. Bằng cách này, y sẽ đạt đến một sự thấu hiểu mới về các yếu tố tác động vốn hoạt động qua thể sinh lực của y và làm cho y—trên cõi hồng trần—trở thành điều mà y về bản chất là. Điều này sẽ chứng tỏ là một trợ giúp tinh thần sâu xa và đầy thâm nghĩa cho y.

This period of observation is, however, confined to mental and intelligent observation. It forms the background of the work to be done, giving assurance and knowledge but leaving the situation as it was. His next step is to become aware of the quality of the forces applied; in ascertaining this, he will find it necessary to discover not only his soul ray and his personality ray but to know also the rays of his mental apparatus, and his emotional nature. This will lead [249] necessarily to another period of investigation and careful observation, if he is not already aware of them. When I tell you that to this information he must add a close consideration of the potencies of the forces and energies reaching him astrologically, you will see what a stern task he has set himself. Not only has he to isolate his five ray energies, but he has to allow for the energy of his sun sign as it conditions his personality, and of his rising sign as it seeks to stimulate that personality into soul responsiveness, thus working out soul purpose through personality cooperation.

Tuy nhiên, giai đoạn quan sát này được giới hạn vào sự quan sát trí tuệ và thông minh. Nó tạo thành hậu cảnh của công việc phải làm, đem lại sự bảo đảm và tri thức nhưng vẫn để tình huống y như cũ. Bước kế tiếp của y là trở nên ý thức về phẩm tính của các mãnh lực được áp dụng; khi xác định điều này, y sẽ thấy cần phải khám phá không chỉ cung linh hồn và cung phàm ngã của mình, mà còn phải biết các cung của bộ máy trí tuệ và bản chất cảm xúc của mình. Điều này tất yếu sẽ dẫn [249] đến một giai đoạn khảo sát và quan sát cẩn thận khác, nếu y chưa ý thức về chúng. Khi tôi nói với bạn rằng, vào thông tin này, y phải thêm một sự xem xét sát sao về các quyền năng của những mãnh lực và năng lượng đến với y theo chiêm tinh, bạn sẽ thấy nhiệm vụ y đặt ra cho mình nghiêm khắc đến mức nào. Y không chỉ phải cô lập năm năng lượng cung của mình, mà còn phải tính đến năng lượng của dấu hiệu mặt trời khi nó tác động lên phàm ngã của y, và của dấu hiệu mọc khi nó tìm cách kích thích phàm ngã ấy đáp ứng với linh hồn, nhờ đó thực hiện mục đích linh hồn thông qua sự hợp tác của phàm ngã.

There are, therefore, seven factors which condition the quality of the forces which seek expression through the etheric body:

Do đó, có bảy yếu tố tác động lên phẩm tính của các mãnh lực tìm cách biểu hiện qua thể dĩ thái:

1. The ray of the soul.

1. Cung của linh hồn.

2. The ray of the personality.

2. Cung của phàm ngã.

3. The ray of the mind.

3. Cung của thể trí.

4. The ray of the emotional nature.

4. Cung của bản chất cảm xúc.

5. The ray of the physical vehicle.

5. Cung của hiện thể hồng trần.

6. The energy of the sun sign.

6. Năng lượng của dấu hiệu mặt trời.

7. The influence of the rising sign.

7. Ảnh hưởng của dấu hiệu mọc.

Once, however, these are ascertained and there is some assurance as to their factual truth, the entire problem begins to clarify and the disciple can work with knowledge and understanding. He becomes a scientific worker in the field of hidden forces. He knows then what he is doing, with what energies he must work, and he begins to feel these energies as they find their way into the etheric vehicle.

Tuy nhiên, một khi những điều này được xác định và có một mức độ bảo đảm nào đó về chân lý thực tế của chúng, toàn bộ vấn đề bắt đầu sáng tỏ và đệ tử có thể làm việc với tri thức và sự thấu hiểu. Khi ấy y trở thành một người hoạt động khoa học trong lĩnh vực các mãnh lực ẩn tàng. Bấy giờ y biết mình đang làm gì, phải làm việc với những năng lượng nào, và y bắt đầu cảm nhận các năng lượng này khi chúng tìm đường vào thể dĩ thái.

Now comes the stage wherein he is in a position to find out the reality and the work of the seven centres which provide inlet and outlet for the moving forces and energies with which he is immediately concerned in this particular incarnation. He enters upon a prolonged period of observation, of experiment and experience and institutes a trial and error, [250] a success and failure, campaign which will call for all the strength, courage and endurance of which he is capable.

Giờ đây đến giai đoạn trong đó y ở vào vị thế có thể tìm ra thực tại và công việc của bảy trung tâm, vốn cung cấp lối vào và lối ra cho các mãnh lực và năng lượng đang chuyển động mà y trực tiếp liên quan trong lần lâm phàm đặc thù này. Y bước vào một thời kỳ dài quan sát, thí nghiệm và kinh nghiệm, và thiết lập một chiến dịch thử và sai, [250] thành công và thất bại, vốn sẽ đòi hỏi tất cả sức mạnh, lòng can đảm và sức chịu đựng mà y có khả năng.

Broadly speaking, the energy of the soul works through the highest head centre and is brought into activity through meditation and applied aptitude in contact. The energy of the integrated personality is focussed through the ajna centre, between the eyes; and when the disciple can identify himself with that, and is also aware of the nature and the vibration of his soul energy, then he can begin to work with the power of direction, using the eyes as directing agencies. There are, as you have gathered in your studies, three eyes of vision and direction at the disposal of the disciple.

Nói rộng ra, năng lượng của linh hồn hoạt động qua trung tâm đầu cao nhất và được đưa vào hoạt động thông qua tham thiền và năng lực áp dụng trong tiếp xúc. Năng lượng của Phàm ngã tích hợp được tập trung qua trung tâm ajna, giữa hai mắt; và khi đệ tử có thể đồng hoá chính mình với điều đó, đồng thời cũng ý thức về bản chất và rung động của năng lượng linh hồn của mình, bấy giờ y có thể bắt đầu làm việc với quyền năng chỉ đạo, sử dụng đôi mắt như các tác nhân chỉ đạo. Như bạn đã nắm bắt trong các nghiên cứu của mình, có ba con mắt của tầm nhìn và sự chỉ đạo sẵn có cho đệ tử sử dụng.

1. The inner eye, the single eye of the spiritual man. This is the true eye of vision and involves the idea of duality (of the see-er and that which is seen). It is the divine eye. It is that through which the soul looks forth into the world of men and through which direction of the personality takes place.

1. Con mắt bên trong, con mắt đơn nhất của con người tinh thần. Đây là con mắt chân thực của tầm nhìn và bao hàm ý tưởng về Nhị nguyên, tức người thấy và điều được thấy. Đó là con mắt thiêng liêng. Chính qua đó linh hồn nhìn ra thế giới loài người và qua đó sự chỉ đạo phàm ngã diễn ra.

2. The right eye, the eye of buddhi, the eye which is in direct responsive relation to the inner eye. Through this eye the highest activity of the personality can be directed upon the physical plane. You have therefore in this connection a triangle of spiritual forces which can be swept into unique activity by the advanced disciple and initiate.

2. Con mắt phải, con mắt của Bồ đề, con mắt ở trong mối liên hệ đáp ứng trực tiếp với con mắt bên trong. Qua con mắt này, hoạt động cao nhất của phàm ngã có thể được điều khiển trên cõi hồng trần. Vì vậy, trong mối liên hệ này, bạn có một tam giác các mãnh lực tinh thần có thể được đệ tử tiến hoá và điểm đạo đồ cuốn vào hoạt động độc nhất vô nhị.

[251]

[251]

It is through this triplicity, for instance, that the trained initiate works when dealing with a group of people or with an individual.

Chẳng hạn, chính thông qua bộ ba này mà điểm đạo đồ lão luyện làm việc khi xử lý một nhóm người hay một cá nhân.

3. The left eye, the eye of manas, the distributor of mental energy under correct control—correct as far as personality purposes are concerned. This eye is also a part of a triangle of forces, available for the use of the aspirant and the probationary disciple.

3. Con mắt trái, con mắt của manas, tác nhân phân phối năng lượng trí tuệ dưới sự kiểm soát đúng đắn—đúng đắn trong chừng mực liên quan đến các mục đích của phàm ngã. Con mắt này cũng là một phần của một tam giác mãnh lực, sẵn có cho người chí nguyện và đệ tử dự bị sử dụng.

The inner or divine eye is quiescent and relatively inactive, being only the organ of observation where the soul is concerned and it is not yet—in the majority of cases—a distributor of directing soul energy. The disciplined reoriented aspirant, however, integrated and focussed in his purified personality, is using both buddhic and manasic force; he is beginning to be intuitional and predominantly mental. It is when these two triangles are under control and are beginning to function properly that the seven centres in the etheric body are brought under clear direction, become the recipients of the established rhythm of the developed human being, and present consequently an instrument to the soul through which appropriate energies can flow and the full organisation and purpose of a functioning son of God can be manifested on Earth.

Con mắt bên trong hay thiêng liêng thì tĩnh lặng và tương đối bất hoạt, chỉ là cơ quan quan sát xét theo linh hồn, và trong đa số trường hợp, nó chưa phải là tác nhân phân phối năng lượng linh hồn mang tính chỉ đạo. Tuy nhiên, người chí nguyện có kỷ luật và đã được tái định hướng, được tích hợp và tập trung trong phàm ngã thanh luyện của mình, đang sử dụng cả mãnh lực Bồ đề lẫn mãnh lực manas; y bắt đầu có tính trực giác và chủ yếu thiên về trí tuệ. Khi hai tam giác này được đặt dưới sự kiểm soát và bắt đầu vận hành đúng đắn, bảy trung tâm trong thể dĩ thái được đặt dưới sự chỉ đạo rõ ràng, trở thành các nơi tiếp nhận nhịp điệu đã thiết lập của con người đã phát triển, và do đó trình hiện một khí cụ cho linh hồn, qua đó các năng lượng thích hợp có thể tuôn chảy và toàn bộ sự tổ chức cùng mục đích của một Con của Thượng đế đang vận hành có thể được biểu lộ trên Trái Đất.

Next comes what we have called the stage of direction. The soul or the integrated personality is in command or—on a higher turn of the spiral—the Monad is in command [252] and the personality is simply then the agent of spirit. Through the two triangles or through both of them working synchronously, the centres up the spine (five in all) are brought under rhythmic control. Energy is directed into them or through them; they are steadily brought into a beauty of organisation which has been described as a “life aflame with God”; it is a life of spiritual application and service wherein the higher triangle is the most potent.

Kế đến là điều chúng ta đã gọi là giai đoạn chỉ đạo. Linh hồn hay Phàm ngã tích hợp nắm quyền điều khiển, hoặc—trên một vòng cao hơn của vòng xoắn ốc—Chân thần nắm quyền điều khiển [252] và khi ấy phàm ngã chỉ đơn giản là tác nhân của tinh thần. Thông qua hai tam giác, hoặc thông qua cả hai cùng hoạt động đồng bộ, các trung tâm dọc theo cột sống, tất cả là năm, được đặt dưới sự kiểm soát nhịp nhàng. Năng lượng được điều khiển vào chúng hoặc xuyên qua chúng; chúng dần dần được đưa vào một vẻ đẹp của sự tổ chức vốn đã được mô tả là “một sự sống bừng cháy với Thượng đế”; đó là một đời sống áp dụng tinh thần và phụng sự, trong đó tam giác cao hơn là quyền năng mạnh mẽ nhất.

The following three statements sum up the story of the eventual release of the disciple from the Great Illusion:

Ba lời khẳng định sau đây tóm lược câu chuyện về sự giải thoát sau cùng của đệ tử khỏi Đại Ảo Tưởng:

First: As the soul, working through the higher triangle, becomes the directing agent, illusion is dispelled. The mind becomes illumined.

Thứ nhất: Khi linh hồn, hoạt động qua tam giác cao hơn, trở thành tác nhân chỉ đạo, ảo tưởng được xua tan. Thể trí trở nên được soi sáng.

Second: As the personality (under the growing influence of the soul) works through the second triangle, glamour is dissipated. The control of the astral nature is broken.

Thứ hai: Khi phàm ngã, dưới ảnh hưởng ngày càng tăng của linh hồn, hoạt động qua tam giác thứ hai, ảo cảm được làm tiêu tan. Sự kiểm soát của bản chất cảm dục bị phá vỡ.

Third: As the disciple, working as the soul and as an integrated personality, assumes direction of his life expression, maya or the world of etheric energies becomes devitalised, and only those forces and energies are employed which serve the need of the disciple or the initiate as he fulfils divine intent.

Thứ ba: Khi đệ tử, hoạt động như linh hồn và như một Phàm ngã tích hợp, đảm nhận sự chỉ đạo biểu hiện đời sống của mình, ảo lực hay thế giới của các năng lượng dĩ thái trở nên mất sinh lực, và chỉ những mãnh lực cùng năng lượng nào phụng sự nhu cầu của đệ tử hay điểm đạo đồ khi y hoàn thành ý định thiêng liêng mới được sử dụng.

You will note that this is all embodied and brought about in the sevenfold work described above. This can be summarised as follows:

Bạn sẽ lưu ý rằng tất cả điều này được hàm chứa và được tạo nên trong công việc thất phân đã mô tả ở trên. Điều này có thể được tóm tắt như sau:

1. The disciple discovers the focus of his identification.

1. Đệ tử khám phá tiêu điểm đồng hoá của mình.

2. He ascertains the nature of the forces he is in the habit of using and which perpetually seem to swing him into action. [253]

2. Y xác định bản chất của các mãnh lực mà y có thói quen sử dụng và dường như liên tục thúc đẩy y vào hành động. [253]

3. He becomes aware of the strength and frequency of this force expression.

3. Y trở nên ý thức về sức mạnh và tần suất của sự biểu hiện mãnh lực này.

All this is carried forward as the mental observer.

Tất cả điều này được tiến hành với tư cách là người quan sát trí tuệ.

4. He becomes conscious of the quality of the forces employed, their ray relation or their astrological significance.

4. Y trở nên có ý thức về phẩm tính của các mãnh lực được sử dụng, mối liên hệ cung của chúng hay thâm nghĩa chiêm tinh của chúng.

This is a sentient, feeling activity and is not so basically mental as the previous three stages.

Đây là một hoạt động hữu cảm, cảm nhận, và không căn bản mang tính trí tuệ như ba giai đoạn trước.

5. He identifies the centres in the etheric body and becomes aware of their individual existence as force agents.

5. Y nhận diện các trung tâm trong thể dĩ thái và trở nên ý thức về sự tồn tại riêng biệt của chúng như các tác nhân mãnh lực.

6. The two “triangles of vision and direction” in the head reach a stage of organisation and become

6. Hai “tam giác của tầm nhìn và sự chỉ đạo” trong đầu đạt đến một giai đoạn tổ chức và trở thành

a. Active and functioning mechanisms.

a. Các bộ máy hoạt động và vận hành.

b. Related and functioning, as one expressive instrument. This is an objective and subjective activity.

b. Liên hệ với nhau và vận hành như một khí cụ biểu hiện duy nhất. Đây là một hoạt động vừa khách quan vừa chủ quan.

7. The galvanising of the physical body into activity through the medium of the directing agencies in the head and through the centres up the spine.

7. Sự kích hoạt mạnh mẽ thể xác vào hoạt động thông qua trung gian là các tác nhân chỉ đạo trong đầu và qua các trung tâm dọc theo cột sống.

The question now arises as to how this is to be brought about. This brings us to our second point.

Giờ đây nảy sinh câu hỏi là điều này sẽ được thực hiện bằng cách nào. Điều này đưa chúng ta đến điểm thứ hai.

b. The use of the Science of the Breath.—Việc sử dụng Khoa học của Hơi thở.

There has been a great deal of nonsense talked and taught about the science of the breath. Many groups give a great deal of dangerous instruction anent breathing—dangerous because it is based on book knowledge and its exponents have never practised it extensively themselves, and dangerous because many groups simply exploit the unready, [254] usually for commercial gain. Fortunately for the mass of aspirants, the information and the instruction given are both feeble, inaccurate and frequently innocuous, though there are many cases of significantly bad reaction; fortunately, also, the purpose of the average aspirant is so weak that he is incapable of persistent, daily, unchanging compliance with the requirements and fails to render that application which would be the guarantee of a dubious success; hence, in these cases, no danger exists. Many occult groups exploit the subject in order to build up mystery and to hold out inducements to the unwary, or give their adherents something to do and thus gain kudos for themselves as learned and well trained occultists. Anyone can teach breathing exercises. It is largely a matter of periodic in-breathing and exhalation, timed and spaced according to the wish of the teacher. Where there is persistence in effort, results will be achieved and these will usually be undesirable because the average teacher emphasises the technique of the breath and not the ideas which—upon the energy which that breath engenders—should take form in the life of the disciple.

Đã có rất nhiều điều vô nghĩa được nói và được dạy về khoa học của hơi thở. Nhiều nhóm đưa ra rất nhiều chỉ dẫn nguy hiểm liên quan đến hô hấp—nguy hiểm vì chúng dựa trên tri thức sách vở và những người trình bày chúng chưa bao giờ thực hành rộng rãi chính chúng, và nguy hiểm vì nhiều nhóm chỉ đơn giản khai thác những người chưa sẵn sàng, [254] thường vì lợi ích thương mại. May mắn cho số đông người chí nguyện, thông tin và chỉ dẫn được đưa ra đều yếu ớt, thiếu chính xác và thường vô hại, dù có nhiều trường hợp phản ứng xấu đáng kể; cũng may mắn thay, mục đích của người chí nguyện trung bình yếu đến mức y không có khả năng tuân thủ bền bỉ, hằng ngày, không thay đổi các yêu cầu và không thực hiện sự áp dụng vốn sẽ là bảo đảm cho một thành công đáng ngờ; vì vậy, trong những trường hợp này, không có nguy hiểm nào tồn tại. Nhiều nhóm huyền bí khai thác đề tài này để dựng nên sự huyền bí và đưa ra những dụ dỗ cho người nhẹ dạ, hoặc cho tín đồ của họ một việc gì đó để làm và nhờ đó tự giành lấy tiếng tăm như những nhà huyền bí học uyên bác và được huấn luyện kỹ. Bất cứ ai cũng có thể dạy các bài tập hô hấp. Phần lớn đó là vấn đề hít vào và thở ra theo chu kỳ, được định thời và sắp đặt theo ý muốn của người dạy. Nơi nào có sự kiên trì trong nỗ lực, các kết quả sẽ đạt được, và những kết quả này thường sẽ không đáng mong muốn, vì người dạy trung bình nhấn mạnh kỹ thuật của hơi thở chứ không phải các ý tưởng mà—trên năng lượng do hơi thở ấy phát sinh—phải mang hình tướng trong đời sống của đệ tử.

The entire science of the breath is built around the use of the Sacred Word, the OM. The use of the Word is intended to be confined to those aspirants who are earnestly pledged to tread the Way, but it has been passed on and its use enjoined by many unscrupulous teachers, particularly those swamis who come from India, pose as Holy Men and get the silly women of the occident into their clutches. The Word is then used with no spiritual intent but simply as a sound which, carried on the breath, produces psychic results which indicate to the gullible their deep spirituality. The trouble is that breathing is inevitably related to the OM, but the effects are dependent upon motive and inner fixed intention. The oriental, unless he has attained the fourth or fifth initiation, has no true understanding of the [255] occidental or of his mechanism and equipment which, as the result of a civilisation and a mode of living, differs widely from that of the oriental. In the East, the problem of the teacher or Guru is to take negatively polarised people and make them positive. In the West, the races are as a whole positive in attitude and need no such training as is rightly given to the oriental. What exactly do I mean when I make this statement? I mean that in the East, the will factor (the quality of the first aspect) is absent. The oriental, particularly the inhabitant of India, lacks will, dynamic incentive and the ability to exert that inner pressure upon himself which will produce definite results. That is why that particular civilisation is so unadaptable to modern civilisation, and that is why the people of India make so little progress along the lines of regulated municipal and national life, and why they are so behind the times as far as modern civilised living is concerned. Generalising, the occidental is positive and needs the directive force of the soul and can produce it with very little teaching. In the Aryan race, a fusion is today taking place between the will aspect, the mind and the brain. This is not so in the Orient. It will be so later.

Toàn bộ khoa học của hơi thở được xây dựng quanh việc sử dụng Linh từ Thiêng Liêng, OM. Việc sử dụng Linh từ được dự định chỉ giới hạn cho những người chí nguyện đã nghiêm túc cam kết bước đi trên Đường Đạo, nhưng nó đã được truyền lại và việc sử dụng nó đã được nhiều huấn sư vô lương tâm huấn lệnh, đặc biệt là những đạo sĩ đến từ Ấn Độ, giả làm Thánh Nhân và đưa những phụ nữ ngốc nghếch của phương Tây vào nanh vuốt của họ. Khi ấy Linh từ được sử dụng không với ý định tinh thần nào, mà chỉ như một âm thanh, được mang trên hơi thở, tạo ra các kết quả thông linh khiến người cả tin cho rằng đó là dấu hiệu của tinh thần sâu xa nơi họ. Vấn đề là hô hấp tất yếu liên hệ với OM, nhưng các hiệu quả tùy thuộc vào động cơ và ý định cố định bên trong. Người phương Đông, trừ khi y đã đạt lần điểm đạo thứ tư hay thứ năm, không có sự thấu hiểu chân thực về [255] người phương Tây hay về bộ máy và trang bị của y, vốn do kết quả của một nền văn minh và một lối sống mà khác biệt rất xa với người phương Đông. Ở phương Đông, vấn đề của huấn sư hay Đạo sư là tiếp nhận những người phân cực tiêu cực và làm cho họ trở nên tích cực. Ở phương Tây, xét như một toàn thể, các nhân loại có thái độ tích cực và không cần loại huấn luyện ấy, vốn được trao đúng đắn cho người phương Đông. Chính xác tôi muốn nói gì khi đưa ra lời khẳng định này? Ý tôi là ở phương Đông, yếu tố ý chí, phẩm tính của phương diện thứ nhất, vắng mặt. Người phương Đông, đặc biệt là cư dân Ấn Độ, thiếu ý chí, động lực năng động và khả năng tạo ra áp lực bên trong lên chính mình để đem lại những kết quả xác định. Đó là lý do vì sao nền văn minh đặc thù ấy quá kém thích nghi với nền văn minh hiện đại, và đó là lý do vì sao dân chúng Ấn Độ tiến bộ rất ít theo các đường lối của đời sống đô thị và quốc gia được điều hòa, và vì sao họ quá lạc hậu xét theo đời sống văn minh hiện đại. Nói khái quát, người phương Tây là tích cực và cần mãnh lực chỉ đạo của linh hồn, và có thể tạo ra mãnh lực ấy với rất ít giáo huấn. Trong nhân loại Arya, ngày nay đang diễn ra một sự dung hợp giữa phương diện ý chí, thể trí và bộ não. Điều này không như vậy ở phương Đông. Về sau sẽ như vậy.

The only factor which makes the breath effective is the thought, the intent and the purpose which lie behind it. In this statement, you have the clue to dynamic useful breathing exercises. Unless there is a clear appreciation of purpose, unless the disciple knows just what he is doing as he practises esoteric breathing, and unless the significance of the words “energy follows thought” is understood, breathing exercises are sheer waste of time and can be dangerous. From this it can be gathered that only when there is an alliance between breathing and thinking will results be possible.

Yếu tố duy nhất làm cho hơi thở có hiệu quả là tư tưởng, ý định và mục đích nằm phía sau nó. Trong lời khẳng định này, bạn có chìa khóa cho các bài tập hô hấp năng động và hữu ích. Trừ khi có sự nhận thức rõ ràng về mục đích, trừ khi đệ tử biết đúng điều y đang làm khi y thực hành hô hấp huyền bí, và trừ khi thâm nghĩa của các lời “năng lượng theo sau tư tưởng” được thấu hiểu, các bài tập hô hấp chỉ là sự lãng phí thời gian và có thể nguy hiểm. Từ điều này có thể nhận ra rằng chỉ khi có sự liên minh giữa hô hấp và tư duy thì các kết quả mới có thể xảy ra.

Behind this lies a third and even more important factor—the WILL. Therefore, the only person who can safely [256] and usefully practise breathing exercises is the man whose will is active—his spiritual will and, therefore, the will of the Spiritual Triad. Any disciple who is in process of building the antahkarana can begin to use, with care, directed breathing exercises. But, in the last analysis, it is only the initiates of the third degree and who are coming under monadic influence who can properly and successfully employ this form of life direction and reach effective results. This is fundamentally true. However, a beginning has to be made and to this effort all true disciples are invited.

Phía sau điều này có một yếu tố thứ ba và còn quan trọng hơn—Ý CHÍ. Do đó, người duy nhất có thể [256] thực hành thực hành các bài tập hô hấp một cách an toàn và hữu ích là con người có ý chí hoạt động—ý chí tinh thần của y và, vì vậy, Ý Chí của Tam Nguyên Tinh Thần. Bất cứ đệ tử nào đang trong tiến trình xây dựng antahkarana đều có thể bắt đầu sử dụng, với sự cẩn trọng, các bài tập hô hấp được chỉ đạo. Nhưng, trong phân tích sau cùng, chỉ các điểm đạo đồ bậc ba và những ai đang đi vào dưới ảnh hưởng chân thần mới có thể sử dụng đúng đắn và thành công hình thức chỉ đạo sự sống này và đạt được các kết quả hiệu quả. Điều này căn bản là đúng. Tuy nhiên, cần phải có một khởi đầu và mọi đệ tử chân chính đều được mời gọi vào nỗ lực này.

If all the implications in the above paragraph are considered, it will be apparent that the disciple has to establish—as a preliminary step—a direct relation between his brain, his mind and the will aspect of the Spiritual Triad; in other words, the negative receptor of thought (the brain), the agent of the will (the mind), and the Triad itself, have to be brought into contact with each other, via the antahkarana. When such a relation exists or is beginning to be established, then breathing exercises can safely and profitably be attempted. You see, my brother, only the directed will, using the organised rhythmic breath as its agent, can control the centres and produce an ordered purpose in life. Therefore, it is the dominating idea or line of mental activity with which the disciple must be concerned as he performs a breathing exercise. This idea must embody some purpose, some planned activity and some recognised goal before the breath which will engineer or implement it is generated, assembled, sent forth and thus becomes the carrier of power. This has to be done upon the wings of conscious intention, if I may here speak symbolically. I would urge you to read these last sentences with frequency because they concern the Science of the Breath and hold the clue to needed work. This science is primarily and fundamentally concerned with ideas as formulated into clear thoughtforms [257] and thus condition the life of the disciple upon etheric levels. From there, they eventually condition his physical plane life.

Nếu tất cả các hàm ý trong đoạn trên được xem xét, sẽ thấy rõ rằng đệ tử phải thiết lập—như một bước sơ khởi—mối liên hệ trực tiếp giữa bộ não, thể trí và phương diện ý chí của Tam Nguyên Tinh Thần; nói cách khác, cơ quan tiếp nhận tiêu cực của tư tưởng, tức bộ não, tác nhân của ý chí, tức thể trí, và chính Tam nguyên tinh thần, phải được đưa vào tiếp xúc với nhau thông qua antahkarana. Khi một mối liên hệ như vậy tồn tại hoặc đang bắt đầu được thiết lập, bấy giờ các bài tập hô hấp có thể được thử nghiệm một cách an toàn và có lợi. Huynh đệ của tôi, bạn thấy đó, chỉ ý chí được chỉ đạo, sử dụng hơi thở có nhịp điệu và được tổ chức làm tác nhân của mình, mới có thể kiểm soát các trung tâm và tạo ra một mục đích có trật tự trong đời sống. Vì vậy, chính ý tưởng chi phối hay đường lối hoạt động trí tuệ là điều đệ tử phải quan tâm khi y thực hiện một bài tập hô hấp. Ý tưởng này phải hàm chứa một mục đích nào đó, một hoạt động đã được hoạch định nào đó và một mục tiêu nào đó đã được nhận biết trước khi hơi thở, vốn sẽ điều hành hay thực thi nó, được sinh ra, tập hợp, phóng ra và nhờ đó trở thành vật mang quyền năng. Điều này phải được thực hiện trên đôi cánh của ý định hữu thức, nếu ở đây tôi có thể nói một cách biểu tượng. Tôi thúc giục bạn đọc những câu cuối này thường xuyên, vì chúng liên quan đến Khoa học của Hơi thở và nắm giữ chìa khóa cho công việc cần thiết. Khoa học này trước hết và căn bản liên quan đến các ý tưởng khi chúng được hình thành thành những hình tư tưởng rõ ràng [257] và nhờ vậy tác động lên đời sống của đệ tử trên các cấp độ dĩ thái. Từ đó, cuối cùng chúng tác động lên đời sống cõi hồng trần của y.

I have no intention here of giving any breathing exercises which disciples or aspirants could use—or, more probably, misuse. Their first responsibility is to become aware of the impulses within themselves which could galvanise the centres into activity and so produce conditions and events upon the physical plane. When these are clear and firmly established in the mind consciousness of the disciple, nothing can then stop their emergence in due time into the light of day. But they must follow an ordered process of gestation and of timed appearance.

Ở đây tôi không có ý định đưa ra bất cứ bài tập hô hấp nào mà các đệ tử hay người chí nguyện có thể sử dụng—hoặc, nhiều khả năng hơn, lạm dụng. Trách nhiệm đầu tiên của họ là trở nên ý thức về các xung lực bên trong chính họ vốn có thể kích hoạt mạnh mẽ các trung tâm vào hoạt động và nhờ đó tạo ra các điều kiện cùng biến cố trên cõi hồng trần. Khi những điều này rõ ràng và được thiết lập vững chắc trong tâm thức trí tuệ của đệ tử, bấy giờ không gì có thể ngăn sự xuất hiện của chúng vào đúng thời điểm trong ánh sáng ban ngày. Nhưng chúng phải tuân theo một tiến trình thai nghén có trật tự và sự xuất hiện đúng thời.

When there is true idealism, right thought, plus an understanding of the vehicle of expression and the world of forces into which the idea has to be launched, then the student can safely follow certain scheduled breathing exercises and the second phase or the result of sound rhythmic breathing will appear. This is Inspiration.

Khi có chủ nghĩa lý tưởng chân thực, tư tưởng đúng đắn, cộng với sự thấu hiểu về hiện thể biểu hiện và thế giới các mãnh lực mà ý tưởng phải được phóng vào, bấy giờ đạo sinh có thể an toàn theo một số bài tập hô hấp đã được sắp lịch, và giai đoạn thứ hai hay kết quả của hô hấp có âm thanh và nhịp điệu sẽ xuất hiện. Đó là Cảm hứng.

Breathing exercises, my brother, have a purely physiological effect when not impelled or motivated by directed thought and when they are not the result of the aspirant attaining and adhering to a point of tension. Steadily, whilst the process of inhalation and exhalation is being carried forward, a clear line of active thinking must be preserved so that the breath (as it is sent out) is qualified and conditioned by some idea. It is here that the average aspirant fails so often. He is usually so intensely preoccupied with the process of directing breathing and so expectant of some phenomenal results, that the living purpose of the breath is forgotten; this is to energise and add quality to the life of the centres through the medium of some projected and presented thought, expressing some sensed and determined idea. Where this background of idealistic thought is lacking, then the results of the breath will be practically nil or—[258] where there are results of any kind under these circumstances—they will be in no way concerned with thought but will be psychic in nature. They can then produce lasting psychic trouble, for the emanating source of the activity is astral and the projected energy goes to centres below the diaphragm, thus feeding the lower nature, enriching and strengthening its astral content and thereby enhancing and deepening glamour. The results can also be physiological, producing the stimulation of the etheric body leading to the strengthening of the physical nature; this often leads to serious results, for the breath is carried to centres which should be in “process of elevation” as it is esoterically called; this increases their physical potency, feeds the physical appetites and makes the task of the aspirant much harder as he seeks to sublimate the lower nature and anchor or focus the life of the centres above the diaphragm or in the head.

Huynh đệ của tôi, các bài tập hô hấp có hiệu quả thuần túy sinh lý khi không được thúc đẩy hay tạo động cơ bởi tư tưởng được chỉ đạo và khi chúng không phải là kết quả của việc người chí nguyện đạt đến và giữ vững một điểm tập trung nhất tâm. Một cách đều đặn, trong khi tiến trình hít vào và thở ra đang được tiến hành, một đường lối tư duy hoạt động rõ ràng phải được duy trì để hơi thở, khi được phóng ra, được phẩm định và được tác động bởi một ý tưởng nào đó. Chính ở đây người chí nguyện trung bình thường thất bại. Y thường quá bận tâm mãnh liệt với tiến trình điều khiển hô hấp và quá kỳ vọng vào một số kết quả hiện tượng, đến nỗi mục đích sống động của hơi thở bị quên mất; mục đích này là tiếp năng lượng và thêm phẩm tính cho đời sống của các trung tâm thông qua trung gian là một tư tưởng được phóng chiếu và trình hiện, biểu hiện một ý tưởng nào đó đã được cảm nhận và xác định. Nơi nào thiếu hậu cảnh của tư tưởng lý tưởng này, thì các kết quả của hơi thở trên thực tế sẽ bằng không, hoặc—[258] nếu trong những hoàn cảnh này có bất kỳ kết quả nào—chúng sẽ không liên quan gì đến tư tưởng mà sẽ có bản chất thông linh. Khi ấy chúng có thể tạo ra rắc rối thông linh kéo dài, vì nguồn phát xuất của hoạt động là cảm dục và năng lượng được phóng chiếu đi đến các trung tâm bên dưới hoành cách mô, do đó nuôi dưỡng bản chất thấp, làm phong phú và tăng cường nội dung cảm dục của nó, và nhờ đó gia tăng cùng đào sâu ảo cảm. Các kết quả cũng có thể là sinh lý, tạo ra sự kích thích thể dĩ thái dẫn đến việc tăng cường bản chất hồng trần; điều này thường dẫn đến các kết quả nghiêm trọng, vì hơi thở được đưa đến các trung tâm vốn phải ở trong “tiến trình nâng cao”, như cách gọi huyền bí; điều này làm tăng quyền năng hồng trần của chúng, nuôi dưỡng các thèm muốn thể xác và khiến nhiệm vụ của người chí nguyện khó khăn hơn nhiều khi y tìm cách thăng hoa bản chất thấp và neo giữ hay tập trung đời sống của các trung tâm ở trên hoành cách mô hoặc trong đầu.

Glamour and maya are then increased and for the life in which these exercises are misapplied, the aspirant remains in a static and unprofitable condition. As he breathes in or inhales, he draws the breath from within his own aura, his auric ring-pass-not; he feeds the lower nature and sets up a vicious circle within himself which strengthens day by day until he is completely enmeshed by the glamour and maya which he is constantly establishing and re-establishing. The lower centres are steadily vitalised and become extremely active and the point of tension from which the aspirant then works is found in the personality and is not focussed in relation to the soul; the consciousness of the uniqueness of special breathing and the expectancy of phenomenal results bar out all thought, except lower reactions of a kama-manasic nature; emotion is fostered and the power of the astral body is tremendously increased; very frequently also the physiological results are potent and [259] noticeable, such as a great chest development and the muscular strengthening of the diaphragm. Something of this can be seen in the case of operatic singers. Singing, as now taught, is an expression of some of the lower aspects of the breath, and the breathing in the case of the above vocalists produces much breast development, intensifying emotionalism, producing instability in the life expression (which is often referred to as temperament) and keeps the singing aspect entirely astral in nature.

Khi ấy ảo cảm và ảo lực được gia tăng, và trong đời sống mà các bài tập này bị áp dụng sai, người chí nguyện vẫn ở trong một trạng thái tĩnh tại và không sinh lợi. Khi y hít vào, y rút hơi thở từ bên trong hào quang của chính mình, vòng-giới-hạn hào quang của y; y nuôi dưỡng bản chất thấp và thiết lập một vòng lẩn quẩn trong chính mình, vòng này mạnh lên từng ngày cho đến khi y hoàn toàn bị vướng mắc trong ảo cảm và ảo lực mà y liên tục thiết lập và tái thiết lập. Các trung tâm thấp dần dần được tiếp sinh lực và trở nên cực kỳ hoạt động, và điểm tập trung nhất tâm từ đó người chí nguyện làm việc được tìm thấy trong phàm ngã chứ không được tập trung trong liên hệ với linh hồn; tâm thức về tính độc đáo của hô hấp đặc biệt và sự kỳ vọng các kết quả hiện tượng loại trừ mọi tư tưởng, ngoại trừ các phản ứng thấp thuộc bản chất trí-cảm; cảm xúc được nuôi dưỡng và quyền năng của thể cảm dục gia tăng khủng khiếp; rất thường khi các kết quả sinh lý cũng mạnh mẽ và [259] dễ nhận thấy, như sự phát triển lớn của lồng ngực và sự tăng cường cơ bắp của hoành cách mô. Một phần điều này có thể được thấy trong trường hợp các ca sĩ nhạc kịch. Ca hát, như hiện nay được dạy, là một biểu hiện của một số phương diện thấp của hơi thở, và hô hấp trong trường hợp các ca sĩ nói trên tạo ra nhiều sự phát triển ngực, làm tăng cường tính cảm xúc, tạo ra sự bất ổn trong biểu hiện đời sống, thường được gọi là khí chất, và giữ cho phương diện ca hát hoàn toàn có bản chất cảm dục.

There is a higher and better mode of song, actuated by a difference in the point of tension and involving a breathing process which draws the needed energy upon the breath from sources higher and far more extensive than those normally used; this will produce the inspiration which will involve the whole man and not simply his emotional reaction to the theme of his song and his audience. This will bring into being a new mode and type of singing and of breathing, based on a form of mental breathing which will carry energy and consequent inspiration from sources without the personality aura. The time for this is not yet. My words will be little understood today, but the singing in the next century will be by those who will know how to tap the reservoirs of inspiration by means of a new method and technique in breathing. These techniques and exercises will be taught, to start with, in the new and coming schools of esotericism.

Có một phương thức ca hát cao hơn và tốt đẹp hơn, được thúc đẩy bởi một sự khác biệt trong điểm tập trung nhất tâm và bao hàm một tiến trình hô hấp rút năng lượng cần thiết trên hơi thở từ những nguồn cao hơn và rộng lớn hơn nhiều so với những nguồn thường được sử dụng; điều này sẽ tạo ra cảm hứng bao hàm toàn bộ con người chứ không chỉ phản ứng cảm xúc của y đối với đề tài bài hát và khán giả của y. Điều này sẽ đem vào hiện hữu một phương thức và loại hình ca hát cũng như hô hấp mới, dựa trên một hình thức hô hấp trí tuệ vốn sẽ mang năng lượng và cảm hứng hệ quả từ các nguồn bên ngoài hào quang phàm ngã. Thời điểm cho điều này chưa đến. Lời tôi hôm nay sẽ ít được thấu hiểu, nhưng việc ca hát trong thế kỷ tới sẽ do những người biết cách khai mở các hồ chứa cảm hứng bằng một phương pháp và kỹ thuật mới trong hô hấp thực hiện. Các kỹ thuật và bài tập này lúc đầu sẽ được giảng dạy trong các trường huyền bí học mới và sắp đến.

Inspiration is a process of qualifying, vitalising and stimulating the reaction of the personality—via the centres—to that point of tension where soul control becomes present and apparent. It is the mode whereby energy from the soul can flood the personality life, can sweep through the centres, expelling that which hinders, ridding the aspirant of all remaining glamours and maya, and perfecting an instrument whereby the music of the soul and, later, the musical quality of the Hierarchy can be heard. Forget not [260] that sound permeates all forms; the planet itself has its own note or sound; each minute atom also has its sound; each form can be evoked into music and each human being has his peculiar chord and all chords contribute to the great symphony which the Hierarchy and Humanity are playing, and playing now. Every spiritual group has its own tune (if I may employ so inappropriate a word) and the groups which are in process of collaborating with the Hierarchy make music ceaselessly. This rhythm of sound and this myriad of chords and notes blend with the music of the Hierarchy itself and this is a steadily enriching symphony; as the centuries slip away, all these sounds slowly unite and are resolved into each other until some day the planetary symphony which Sanat Kumara is composing will be completed and our Earth will then make a notable contribution to the great chords of the solar system—and this is a part, intrinsic and real, of the music of the spheres. Then, as the Bible says, the Sons of God, the planetary Logoi, will sing together. This, my brother, will be the result of right breathing, of controlled and organised rhythm, of true pure thought and of the correct relation between all parts of the chorus.

Cảm hứng là một tiến trình phẩm định, tiếp sinh lực và kích thích phản ứng của phàm ngã—thông qua các trung tâm—đến điểm tập trung nhất tâm nơi sự kiểm soát của linh hồn trở nên hiện diện và rõ ràng. Đó là phương thức nhờ đó năng lượng từ linh hồn có thể tràn ngập đời sống phàm ngã, có thể quét qua các trung tâm, trục xuất điều cản trở, giải thoát người chí nguyện khỏi mọi ảo cảm và ảo lực còn lại, và hoàn thiện một khí cụ nhờ đó âm nhạc của linh hồn và, về sau, phẩm tính âm nhạc của Thánh Đoàn có thể được nghe thấy. Đừng quên [260] rằng âm thanh thấm nhuần mọi hình tướng; chính hành tinh có âm điệu hay âm thanh riêng của nó; mỗi nguyên tử cực nhỏ cũng có âm thanh của nó; mỗi hình tướng có thể được gợi lên thành âm nhạc và mỗi con người có hợp âm riêng biệt của y, và mọi hợp âm đều đóng góp vào bản giao hưởng vĩ đại mà Thánh Đoàn và Nhân loại đang trình diễn, và đang trình diễn ngay lúc này. Mỗi nhóm tinh thần có giai điệu riêng của mình, nếu tôi có thể dùng một từ không thích hợp như vậy, và các nhóm đang trong tiến trình cộng tác với Thánh Đoàn không ngừng tạo nên âm nhạc. Nhịp điệu âm thanh này cùng vô số hợp âm và âm điệu này hòa lẫn với âm nhạc của chính Thánh Đoàn, và đó là một bản giao hưởng đang không ngừng trở nên phong phú; khi các thế kỷ trôi qua, tất cả những âm thanh này chậm rãi hợp nhất và hòa giải vào nhau cho đến một ngày nào đó, bản giao hưởng hành tinh mà Đức Sanat Kumara đang sáng tác sẽ hoàn tất, và khi ấy Trái Đất của chúng ta sẽ đóng góp đáng kể vào các hợp âm vĩ đại của hệ mặt trời—và đây là một phần nội tại và thực hữu của âm nhạc các khối cầu. Khi ấy, như Kinh Thánh nói, các Con của Thượng đế, tức các Hành Tinh Thượng đế, sẽ cùng nhau ca hát. Huynh đệ của tôi, điều này sẽ là kết quả của hô hấp đúng đắn, của nhịp điệu được kiểm soát và tổ chức, của tư tưởng chân thật trong sạch và của mối liên hệ đúng đắn giữa mọi phần của hợp xướng.

Think out this theme as a meditation exercise and gain inspiration thereby.

Hãy suy ngẫm đề tài này như một bài tập tham thiền và nhờ đó đạt được cảm hứng.

c. The Technique of Indifference— Kỹ Thuật Điềm Nhiên

I have, in my other books, given much information anent the etheric body and the centres—major and minor—which are to be found within its radius. There is a tendency among students to identify the centres with the physical body in their thinking and not so clearly with the etheric body. This concerns location in the majority of cases and is a mistake. Aspirants would do well to avoid any concentration at all [261] upon the physical body and learn gradually to shift their focus of attention into the etheric body. Necessarily the physical body is active and potent but increasingly it should be regarded as an automaton, influenced and directed by:

Trong các sách khác của tôi, tôi đã đưa ra nhiều thông tin liên quan đến thể dĩ thái và các trung tâm—chính và phụ—được tìm thấy trong phạm vi của nó. Có một khuynh hướng nơi các đạo sinh là trong tư duy của họ đồng hoá các trung tâm với thể xác, chứ không rõ ràng với thể dĩ thái. Trong đa số trường hợp, điều này liên quan đến vị trí và là một sai lầm. Những người chí nguyện nên tránh mọi sự tập trung [261] vào thể xác và dần dần học cách chuyển tiêu điểm chú tâm của mình vào thể dĩ thái. Tất nhiên thể xác thì hoạt động và mạnh mẽ, nhưng ngày càng phải được xem như một bộ máy tự động, chịu ảnh hưởng và được điều khiển bởi:

1. The vital body and the forces of maya; or by inspiration, emanating from points of spiritual tension.

1. Thể sinh lực và các mãnh lực của ảo lực; hoặc bởi cảm hứng, xuất lộ từ các điểm tập trung nhất tâm tinh thần.

2. The astral vehicle and the forces of glamour; or sentient, conscious love, emanating from the soul.

2. Hiện thể cảm dục và các mãnh lực của ảo cảm; hoặc bởi tình thương hữu cảm, hữu thức, xuất lộ từ linh hồn.

3. The mind and the forces of illusion; or by illumination, coming from higher sources than the life in the three worlds.

3. Thể trí và các mãnh lực của ảo tưởng; hoặc bởi sự soi sáng, đến từ những nguồn cao hơn đời sống trong ba cõi giới.

4. The soul, as the vehicle of monadic impression, until such time as the antahkarana is built—that bridge in mental matter which will eventually link the Monad and the personality.

4. Linh hồn, với tư cách là hiện thể của ấn tượng chân thần, cho đến khi antahkarana được kiến tạo — cây cầu bằng chất liệu trí tuệ rốt cuộc sẽ nối kết Chân thần và phàm ngã.

One of the problems which disciples have to solve is the source of the incentive, impulses, impressions or inspiration which—via the etheric body—sweep the physical vehicle into activity upon the physical plane, thus giving a demonstration of the quality, purpose and point of tension of the incarnating man, and manifesting the nature of the man as he is at any particular point upon the ladder of evolution. According to the tensions and impulses indicated, will be the activity of the centres. You can see, therefore, how much that I teach reverses the usual occult procedures. I teach no mode of awakening the centres because right impulse, steady reaction to higher impulsions and the practical recognition of the sources of inspiration will automatically and safely swing the centres into needed and appropriate activity. This is the sound method of development. It is slower, but leads to no premature development and produces a rounded out unfoldment; it enables the aspirant to [262] become truly the Observer and to know with surety what he is doing; it brings the centres, one by one, to a point of spiritual responsiveness and then establishes the ordered and cyclic rhythm of a controlled lower nature. That breathing exercises may eventually find a place in the training of the disciple is true and possible, but they will be self-initiated as a result of rhythmic living and a constant right use of the Sacred Word, the OM. When, for instance, a disciple in meditation sounds the OM seven times, it is the equivalent of a breathing exercise; when he can send the energy thus generated on the wings of conscious planned thought to one or other of the centres, he is bringing about changes and readjustments within the mechanism which handles force, and when this can be carried out with ease and with the mind held at a point of “thought-full tension,” then the disciple is well on the way to shifting his entire focus of attention away from the world of illusion, glamour and maya and into the realm of the soul, in the world of the “clear cold light” and into the kingdom of God.

Một trong những vấn đề mà các đệ tử phải giải quyết là nguồn gốc của động lực, các xung lực, các ấn tượng hay cảm hứng vốn — qua thể dĩ thái — cuốn hiện thể hồng trần vào hoạt động trên cõi hồng trần, nhờ đó biểu lộ phẩm tính, mục đích và điểm tập trung nhất tâm của con người đang nhập thể, đồng thời làm hiển lộ bản chất của con người đúng như y đang là tại bất cứ điểm nào trên nấc thang tiến hoá. Tuỳ theo những điểm tập trung nhất tâm và xung lực được chỉ ra mà hoạt động của các trung tâm sẽ diễn ra. Do đó, các bạn có thể thấy phần lớn những điều tôi dạy đảo ngược các thủ tục huyền bí thông thường đến mức nào. Tôi không dạy phương pháp nào để đánh thức các trung tâm, bởi vì xung lực đúng đắn, sự đáp ứng vững vàng đối với các thúc đẩy cao hơn, và sự nhận biết thực tiễn về các nguồn cảm hứng sẽ tự động và an toàn đưa các trung tâm vào hoạt động cần thiết và thích hợp. Đây là phương pháp phát triển lành mạnh. Nó chậm hơn, nhưng không dẫn đến sự phát triển non yểu và tạo nên một sự khai mở tròn đầy; nó giúp người chí nguyện [262] thật sự trở thành Người Quan Sát và biết chắc mình đang làm gì; nó đưa các trung tâm, từng trung tâm một, đến một điểm đáp ứng tinh thần, rồi thiết lập nhịp điệu có trật tự và theo chu kỳ của một bản chất thấp đã được kiểm soát. Việc các bài tập thở rốt cuộc có thể tìm được vị trí trong sự huấn luyện đệ tử là điều đúng và khả hữu, nhưng chúng sẽ tự khởi phát như kết quả của đời sống có nhịp điệu và việc sử dụng đúng đắn, thường xuyên Linh Từ thiêng liêng, OM. Chẳng hạn, khi một đệ tử trong tham thiền xướng OM bảy lần, điều đó tương đương với một bài tập thở; khi y có thể gửi năng lượng được tạo ra như thế, trên đôi cánh của tư tưởng có ý thức và được hoạch định, đến trung tâm này hay trung tâm khác, y đang tạo ra những thay đổi và điều chỉnh lại bên trong bộ máy xử lý mãnh lực; và khi điều này có thể được thực hiện một cách dễ dàng, với thể trí được giữ tại một điểm “tập trung nhất tâm đầy tư tưởng”, thì đệ tử đã tiến rất xa trên con đường chuyển toàn bộ trọng tâm chú ý của mình ra khỏi thế giới của ảo tưởng, ảo cảm và ảo lực, để đi vào cõi giới của linh hồn, trong thế giới của “ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo”, và vào Thiên Giới.

When he also adds to this an understanding and the practice of the Technique of Indifference, he stands free and liberated and is essentially at all times the Observer and User of the apparatus of manifestation.

Khi y còn thêm vào đó sự thấu hiểu và việc thực hành Kỹ Thuật Điềm Nhiên, y đứng tự do và giải thoát, và về bản chất, trong mọi lúc, y là Người Quan Sát và Người Sử Dụng bộ máy biểu lộ.

What is this technique? What is indifference? I wonder, brother of mine, if you understand the significance of this word “indifference”? It means in reality the achieving of a neutral attitude towards that which is regarded as the Not-self; it involves a repudiation of similarity; it marks the recognition of a basic distinction; it signifies refusal to be identified with anything save the spiritual reality as far as that is sensed and known at any given point in time and space. It is, therefore, a much stronger and vital thing than what is usually meant when the word is used. It is active repudiation without any concentration upon that which is [263] repudiated. That is a statement of moment and warrants your careful consideration. It is concerned with the point of tension from which the observing disciple or aspirant is working. The point of tension becomes the emanating source of some type of energy, and this pours down into and through the etheric body without being in any way affected by maya or by the concentration of diverse forces of which the etheric body is ever composed. Indifference, technically understood, signifies direct descent from there to here, without deviation or distortion. The manifesting entity, the disciple, stands steady and firm at this point of tension and his first step is, therefore, to ascertain where that is, on what plane it is found, and what is the strength of the tension upon which he has to depend. The next step is to discover if that which he seeks to convey to the physical body, and thus produce effects upon the outer world of experiment and experience, is distorted by illusion of any kind, arrested in its expression by glamour, or liable to be sidetracked by uncontrolled forces and by the maya which these produce. This he ascertains not by identifying himself, stage by stage of descent, with the hindrances and possible obstructions but by intensifying his point of tension, by the constant recollection of the truth that he is the Self and not the not-self and by a process of projection; this projection is defined as sending of energy, qualified and recognised, from the point of tension direct and undeviatingly to the vital body from whence it can find its way to the seven centres of control.

Kỹ thuật này là gì? Điềm nhiên là gì? Huynh đệ của tôi, tôi tự hỏi liệu bạn có thấu hiểu thâm nghĩa của từ “điềm nhiên” này chăng? Thực ra, nó có nghĩa là đạt được một thái độ trung lập đối với điều được xem là Phi ngã; nó hàm chứa sự phủ nhận tính tương đồng; nó đánh dấu sự nhận biết một phân biệt căn bản; nó biểu thị sự từ chối đồng hoá với bất cứ điều gì, ngoại trừ thực tại tinh thần trong chừng mực thực tại ấy được cảm nhận và biết đến tại bất cứ điểm nào trong thời gian và không gian. Vì thế, nó là một điều mạnh mẽ và sống động hơn nhiều so với ý nghĩa thường được hiểu khi từ này được sử dụng. Nó là sự phủ nhận chủ động mà không hề tập trung vào điều bị [263] phủ nhận. Đó là một phát biểu quan trọng và đáng để bạn xem xét kỹ lưỡng. Nó liên quan đến điểm tập trung nhất tâm mà từ đó đệ tử hay người chí nguyện đang quan sát làm việc. Điểm tập trung nhất tâm trở thành nguồn phát xuất của một loại năng lượng nào đó, và năng lượng này tuôn xuống vào trong và xuyên qua thể dĩ thái mà không hề bị ảo lực hay sự tập trung của những mãnh lực đa dạng — vốn luôn cấu thành thể dĩ thái — ảnh hưởng theo bất cứ cách nào. Điềm nhiên, hiểu theo nghĩa kỹ thuật, biểu thị sự giáng xuống trực tiếp từ đó đến đây, không lệch hướng hay biến dạng. Thực thể đang biểu lộ, tức đệ tử, đứng vững vàng và kiên định tại điểm tập trung nhất tâm này; vì thế, bước đầu tiên của y là xác định điểm ấy ở đâu, được tìm thấy trên cõi nào, và sức mạnh của điểm tập trung nhất tâm mà y phải nương tựa là gì. Bước kế tiếp là khám phá xem điều y tìm cách truyền đạt đến thể xác, và nhờ đó tạo ra những hiệu quả trong thế giới bên ngoài của thử nghiệm và kinh nghiệm, có bị bóp méo bởi bất cứ loại ảo tưởng nào, bị chặn lại trong sự biểu đạt bởi ảo cảm, hay có nguy cơ bị chuyển hướng bởi các mãnh lực không được kiểm soát và bởi ảo lực do chúng tạo ra hay không. Y xác định điều này không phải bằng cách đồng hoá chính mình, từng giai đoạn trong tiến trình đi xuống, với những chướng ngại và các trở lực khả hữu, mà bằng cách tăng cường điểm tập trung nhất tâm của mình, bằng sự thường xuyên hồi tưởng chân lý rằng y là Chân Ngã chứ không phải phi ngã, và bằng một tiến trình phóng chiếu; sự phóng chiếu này được định nghĩa là việc gửi năng lượng, đã được định tính và được nhận biết, từ điểm tập trung nhất tâm đi thẳng và không lệch hướng đến thể sinh lực, từ đó nó có thể tìm đường đến bảy trung tâm kiểm soát.

It is at this point that he applies the technique of indifference for, if he does not, that which he is seeking to express may be held up and arrested by etheric force or by the veils of maya. He works consequently from a point of intense concentration; he refuses any “attachment” to any form or plane as he projects the energy into and [264] through the three worlds. When he discovers any arresting or sidetracking of progress through active illusion, or glamour, he “detaches” himself consciously from such contacts and braces himself for the final stage of indifference or repudiation of all forces except those which he—consciously and with purpose—is seeking to use upon the physical plane.

Chính tại điểm này, y áp dụng Kỹ Thuật Điềm Nhiên, vì nếu không làm như vậy, điều y đang tìm cách biểu đạt có thể bị trì hoãn và chặn lại bởi mãnh lực dĩ thái hay bởi các màn che của ảo lực. Do đó, y làm việc từ một điểm tập trung mãnh liệt; y từ chối mọi “ràng buộc” với bất cứ hình tướng hay cõi nào khi y phóng chiếu năng lượng vào trong và [264] xuyên qua ba cõi thấp. Khi phát hiện bất cứ sự chặn đứng hay chuyển hướng nào của tiến trình do ảo tưởng hay ảo cảm đang hoạt động, y “tách rời” chính mình một cách có ý thức khỏi những tiếp xúc như thế và tự củng cố cho giai đoạn cuối cùng của điềm nhiên, hay sự phủ nhận mọi mãnh lực ngoại trừ những mãnh lực mà y — một cách có ý thức và có mục đích — đang tìm cách sử dụng trên cõi hồng trần.

In the last analysis, my brother, the point of tension for the average disciple will be found on mental levels, involving the illumined mind and a growing soul contact:

Xét đến cùng, huynh đệ của tôi, điểm tập trung nhất tâm của người đệ tử trung bình sẽ được tìm thấy trên các cấp độ trí tuệ, liên quan đến thể trí đã được soi sáng và một tiếp xúc linh hồn đang tăng trưởng:

a. He will be able then to “see” clearly in the light of the soul, and with a developed sense of values; he can consequently dispel illusion.

a. Khi đó y sẽ có thể “thấy” rõ ràng trong ánh sáng của linh hồn, và với một ý thức về các giá trị đã phát triển; do đó, y có thể xua tan ảo tưởng.

b. He will be able to project light, consciously, on to the astral plane and can thus dissipate glamour.

b. Y sẽ có thể phóng chiếu ánh sáng một cách có ý thức lên cõi cảm dục, và nhờ vậy có thể làm tiêu tan ảo cảm.

c. He will be able to pour light energy through the etheric body and anchor the light or energy in the appropriate centres because there will be complete indifference or non-identification with maya.

c. Y sẽ có thể tuôn đổ năng lượng ánh sáng xuyên qua thể dĩ thái và neo giữ ánh sáng hay năng lượng trong các trung tâm thích hợp, bởi vì sẽ có sự điềm nhiên trọn vẹn, hay sự không đồng hoá với ảo lực.

Where the initiate is concerned, the process is carried on at first from a point of tension within the soul and later from a point of tension in the Spiritual Triad. In all cases, however, once within the ring-pass-not of the three worlds, the directing energy produces results as outlined in this book and brings about:

Đối với điểm đạo đồ, tiến trình trước hết được tiến hành từ một điểm tập trung nhất tâm bên trong linh hồn, và về sau từ một điểm tập trung nhất tâm trong Tam Nguyên Tinh Thần. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, một khi đã ở bên trong vòng-giới-hạn của ba cõi thấp, năng lượng điều hướng sẽ tạo ra các kết quả như đã phác hoạ trong quyển sách này và đem lại:

1. The dispelling of illusion.

1. Sự xua tan ảo tưởng.

2. The dissipation of glamour.

2. Sự làm tiêu tan ảo cảm.

3. The overcoming of maya.

3. Sự vượt thắng ảo lực.

It sounds fairly simple and easy of accomplishment as the aspirant reads these fairly simple elucidations of a difficult [265] process but that in itself is delusion. Age-long identification with the form side of life is not easily overcome and the task ahead of the disciple is a long and arduous one but one which promises eventual success, provided there is clear thinking, earnest purpose and planned scientific work.

Điều này nghe có vẻ khá đơn giản và dễ thực hiện khi người chí nguyện đọc những giải thích tương đối đơn giản này về một [265] tiến trình khó khăn, nhưng chính điều đó lại là một sự mê lầm. Sự đồng hoá lâu đời với phương diện hình tướng của sự sống không dễ bị vượt thắng, và nhiệm vụ trước mắt đệ tử là một nhiệm vụ dài lâu và gian khổ, nhưng là nhiệm vụ hứa hẹn thành công sau cùng, miễn là có tư duy sáng rõ, mục đích nghiêm túc và công việc khoa học được hoạch định.

SECTION FOUR: THE TECHNIQUE OF FUSION— KỸ THUẬT DUNG HỢP

[266]

[266]

In this, our final point, we are concerned with the control—constant and unremitting—of the soul over the personality. We are therefore concerned with the stage of initiation which brings to an end the path of development for humanity and inaugurates a cycle of existence of which we know, and can know, nothing except that the liberated Master then begins to function in a dual manner: as a member of the Hierarchy, cooperating with the Plan and occupied with the salvaging of humanity and, secondly, as a disciple of Sanat Kumara. The task of Sanat Kumara in relation to the Masters is to prepare Them to tread the Way of the Higher Evolution. When this becomes possible, the shift of the spiritual “attention” (I use this inadequate word for lack of a better one) is away from the soul and the Angel of the Presence to the mysterious Presence itself; this has hitherto only been sensed and dimly visioned. The Master—freed from the three and five worlds of human and so-called superhuman evolution—has now the full gifts of omnipresence and omniscience. He is aware of the underlying unity, brought about by the factual nature of the One Life and Being Who pervades all manifestation; He has also mastered all possible techniques and modes and methods of activity, of control and of fusion. But having developed those capacities, He now becomes faintly aware of that which conditions the One Being, and senses energies and contacts which are extra-planetary and of which He has hitherto been totally unaware. Knowledge comes to Him after the fifth initiation.

Trong điểm cuối cùng này, chúng ta đề cập đến sự kiểm soát — liên tục và không gián đoạn — của linh hồn đối với phàm ngã. Vì thế, chúng ta đề cập đến giai đoạn điểm đạo kết thúc con đường phát triển của nhân loại và mở đầu một chu kỳ hiện tồn mà chúng ta không biết, và không thể biết, gì ngoài việc Chân sư đã giải thoát khi ấy bắt đầu hoạt động theo một cách kép: như một thành viên của Thánh Đoàn, hợp tác với Thiên Cơ và chuyên lo việc cứu vãn nhân loại; và thứ hai, như một đệ tử của Đức Sanat Kumara. Nhiệm vụ của Đức Sanat Kumara đối với các Chân sư là chuẩn bị cho Các Ngài bước trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Khi điều này trở nên khả hữu, sự chuyển dịch “chú tâm” tinh thần — tôi dùng từ không thích đáng này vì thiếu một từ hay hơn — rời khỏi linh hồn và Thiên Thần của Hiện Diện để hướng đến chính Hiện Diện huyền nhiệm; điều này cho đến nay chỉ mới được cảm nhận và thấy lờ mờ trong linh thị. Chân sư — đã thoát khỏi ba và năm cõi của tiến hoá nhân loại và cái gọi là tiến hoá siêu nhân — nay có đầy đủ các ân huệ của sự hiện diện khắp nơi và sự toàn tri. Ngài nhận biết sự hợp nhất nền tảng, do bản chất thực hữu của Sự Sống Duy Nhất và Bản Thể Duy Nhất vốn thấm nhuần toàn bộ biểu lộ đem lại; Ngài cũng đã làm chủ mọi kỹ thuật, phương thức và phương pháp hoạt động, kiểm soát và dung hợp khả hữu. Nhưng sau khi đã phát triển những năng lực ấy, giờ đây Ngài bắt đầu nhận biết lờ mờ điều đang tác động lên Bản Thể Duy Nhất, và cảm nhận những năng lượng cùng tiếp xúc ngoài hành tinh mà trước đây Ngài hoàn toàn không hề biết. Tri thức đến với Ngài sau lần điểm đạo thứ năm.

[267]

[267]

Before Him lies the attainment of a still higher range of perceptions and, in order to garner the reward of those possible contacts, He has to master techniques and methods of development which will make Him omnipotent and, therefore, expressive of the highest of the three divine aspects. This development will put into His grasp potencies and experiences which can only be manipulated and understood through the scientific activity of the WILL and this must be implemented from a point of tension, focussed in whatever is meant by the word “Monad.” Do you know what that means, my brother? I am sure that you do not. Only the Masters of the Wisdom have any appreciation of these final unfoldments and then only in the sense of the Will-full aspiration—a phase of aspiration which is characterised by the conscious will, just as the aspiration of the disciple is characterised by sublimated desire. These things are, however, beyond the comprehension of the average disciple; their sole value is to depict the unending opportunity which presents itself at every stage and point of crisis upon the everlasting Way.

Trước mắt Ngài là việc đạt tới một phạm vi tri giác còn cao hơn nữa; và để thu hoạch phần thưởng của những tiếp xúc khả hữu ấy, Ngài phải làm chủ các kỹ thuật và phương pháp phát triển sẽ khiến Ngài trở nên toàn năng, và do đó biểu đạt phương diện cao nhất trong ba phương diện thiêng liêng. Sự phát triển này sẽ đặt vào tầm nắm giữ của Ngài những quyền năng và kinh nghiệm chỉ có thể được vận dụng và thấu hiểu thông qua hoạt động khoa học của Ý CHÍ; và điều này phải được thực hiện từ một điểm tập trung nhất tâm, quy tụ vào bất cứ điều gì được hàm ý bởi từ “Chân thần”. Huynh đệ của tôi, bạn có biết điều đó nghĩa là gì không? Tôi chắc chắn rằng bạn không biết. Chỉ các Chân sư Minh Triết mới có phần nào nhận thức về những sự khai mở sau cùng này, và ngay cả khi ấy cũng chỉ theo nghĩa của khát vọng đầy Ý chí — một giai đoạn của khát vọng được đặc trưng bởi ý chí có ý thức, cũng như khát vọng của đệ tử được đặc trưng bởi dục vọng đã được thăng hoa. Tuy nhiên, những điều này vượt ngoài sự lĩnh hội của người đệ tử trung bình; giá trị duy nhất của chúng là phác hoạ cơ hội vô tận tự hiển bày ở mọi giai đoạn và mọi điểm khủng hoảng trên Con Đường vĩnh cửu.

We are concerned at this time with the great point of crisis which faces the disciple when he attempts to resolve the final pair of opposites, prior to certain major initiations; this is the confronting the personality by the Angel of the PRESENCE. There is no need for me to define the two aspects of the disciple’s nature, for that is what they essentially are. You have been told and have known that the Dweller upon the Threshold is the fully developed personality—the sum total of all the past and the composite presentation upon the physical plane of all unresolved problems, all undeclared desires, all latent characteristics and qualities, all phases of thought and of self-will, all lower potencies and ancient habits of any of the three bodies (both bad and good). These, in their totality, are brought to the surface [268] of consciousness, there to be dealt with in such a way that their control is broken. The disciple is then free to take the final initiations. This process is not consummated in one particular facing of the two antagonistic forces. It is a threefold process, covering each of the three periods before the first three initiations or (from the angle of the Hierarchy) before the two initiations of the threshold and the first major initiation, the Transfiguration.

Vào lúc này, chúng ta đề cập đến điểm khủng hoảng lớn mà đệ tử phải đối diện khi y cố gắng giải quyết cặp đối cực cuối cùng, trước một số cuộc điểm đạo lớn; đó là việc phàm ngã đối diện với Thiên Thần của HIỆN DIỆN. Tôi không cần định nghĩa hai phương diện trong bản chất của đệ tử, vì về bản chất chúng chính là như thế. Các bạn đã được cho biết và đã biết rằng Kẻ Chận Ngõ là phàm ngã đã phát triển đầy đủ — tổng số của toàn bộ quá khứ và sự trình hiện tổng hợp trên cõi hồng trần của mọi vấn đề chưa được giải quyết, mọi dục vọng chưa được tuyên bố, mọi đặc tính và phẩm tính tiềm tàng, mọi giai đoạn tư tưởng và ý chí cá nhân, mọi quyền năng thấp và thói quen cổ xưa của bất cứ thể nào trong ba thể, dù xấu hay tốt. Tất cả những điều này, trong toàn thể của chúng, được đưa lên bề mặt [268] tâm thức, tại đó chúng được xử lý sao cho sự kiểm soát của chúng bị phá vỡ. Khi ấy đệ tử được tự do nhận những cuộc điểm đạo cuối cùng. Tiến trình này không hoàn tất trong một lần đối diện riêng biệt giữa hai mãnh lực đối kháng. Đó là một tiến trình tam phân, bao gồm từng thời kỳ trong ba thời kỳ trước ba lần điểm đạo đầu tiên, hay — xét từ góc độ của Thánh Đoàn — trước hai cuộc điểm đạo của ngưỡng cửa và cuộc điểm đạo lớn thứ nhất, cuộc Biến hình.

For many lives, the disciple has been dwelling upon the threshold. He himself is the Dweller. Behind the slowly opening door he senses life, energy, spiritual embodiment, and the fact of the Angel. Between him and that door is a burning-ground; this he faces, and this he knows he has to cross if he seeks to pass through the door. The question for him to answer is whether his will to achieve is strong enough for him to submit his personal lower self to the fires of the final purification. The personal self is now very highly developed; it is a useful instrument which the soul can use; it is a highly trained agent for service; it is essentially a piece of adequate and useful equipment. It has, however, its points of weakness which are liable at any time to present points of crisis; it has likewise its points of strength which can be transmuted with relative ease into points of tension; on the whole, it is a dependable instrument and one which can render good service. Can it and should it be sacrificed so that (esoterically speaking) its life is lost and in its place consecration and devotion are substituted? This is a hard problem for all disciples to solve, to understand and to make effectively practical. Only by crossing the burning ground three successive times are all impediments to the free use of the will destroyed. The relation between the Angel and the Dweller must be released, by means of the will, to full expression. I here refer to the spiritual will and to its three aspects which [269] must be brought into play before the divine will can begin to control. The disciple brings the two aspects of his nature together in full consciousness and with clear intention through a planned act of the will, and this act produces a point of tension in the “centre of the burning-ground wherein the two can meet,” as the ancient Archives put it.

Trong nhiều kiếp sống, đệ tử đã cư ngụ trên ngưỡng cửa. Chính y là Kẻ Chận Ngõ. Phía sau cánh cửa đang chậm rãi mở ra, y cảm nhận sự sống, năng lượng, hiện thân tinh thần, và sự kiện về Thiên Thần. Giữa y và cánh cửa ấy là một vùng đất cháy; y đối diện với nó, và y biết rằng mình phải băng qua nó nếu muốn đi qua cánh cửa. Câu hỏi mà y phải trả lời là liệu ý chí thành tựu của y có đủ mạnh để y đặt phàm ngã thấp của mình vào các ngọn lửa của sự thanh luyện cuối cùng hay không. Bản ngã cá nhân nay đã phát triển rất cao; nó là một khí cụ hữu dụng mà linh hồn có thể sử dụng; nó là một tác nhân đã được huấn luyện cao cho phụng sự; về bản chất, nó là một trang bị thích đáng và hữu ích. Tuy nhiên, nó có những điểm yếu có thể bất cứ lúc nào trở thành các điểm khủng hoảng; nó cũng có những điểm mạnh có thể được chuyển hoá tương đối dễ dàng thành các điểm tập trung nhất tâm; xét chung, nó là một khí cụ đáng tin cậy và có thể phụng sự tốt đẹp. Nó có thể và có nên được hi sinh để — nói theo huyền bí học — sự sống của nó mất đi, và thay vào đó là sự thánh hiến cùng lòng sùng tín hay không? Đây là một vấn đề khó cho mọi đệ tử giải quyết, thấu hiểu và đưa vào thực hành một cách hiệu quả. Chỉ bằng cách băng qua vùng đất cháy ba lần liên tiếp, mọi chướng ngại đối với việc sử dụng tự do ý chí mới bị phá huỷ. Mối liên hệ giữa Thiên Thần và Kẻ Chận Ngõ phải được giải phóng, nhờ ý chí, để biểu đạt trọn vẹn. Ở đây tôi nói đến ý chí tinh thần và ba phương diện của nó, những phương diện [269] phải được vận dụng trước khi ý chí thiêng liêng có thể bắt đầu kiểm soát. Đệ tử đưa hai phương diện của bản chất mình lại với nhau trong tâm thức trọn vẹn và với ý định sáng rõ, thông qua một hành vi được hoạch định của ý chí; và hành vi này tạo ra một điểm tập trung nhất tâm tại “trung tâm của vùng đất cháy, nơi hai bên có thể gặp nhau”, như các Văn Khố cổ xưa đã nói.

I would call your attention to the fact that it is at a “midway point” that the great submission of the lower to the higher takes place. It does not happen when the disciple hovers uncertainly upon the periphery of the burning-ground or when he stands before the door with the burning ground experience behind him. The essential point of crisis, producing the needed point of tension, is the result of the “invocative decision” of the personality which, in time, produces an “evocative response” from the Angel. The two factors involved (and forget not, my brother, that all this takes place within the field of consciousness of the disciple) move together and towards each other. In the centre of the burning ground they meet, and then the lesser light (a true light in its own right) of the personality is absorbed into the greater light of the Angel or soul. The Angel, therefore, “occultly obliterates” the Dweller who becomes lost to sight in the radiant aura of the Angel. This has been symbolically portrayed for us in the picture book of the heavens when, according to Catholic Festivals, the Assumption of the Virgin takes place and the constellation Virgo is lost to sight in the radiance of the sun. There you have the three factors:

Tôi muốn các bạn lưu ý rằng chính tại một “Điểm ở giữa” mà sự quy phục lớn lao của cái thấp trước cái cao diễn ra. Điều đó không xảy ra khi đệ tử còn lưỡng lự chập chờn nơi chu vi của vùng đất cháy, hoặc khi y đứng trước cánh cửa với kinh nghiệm vùng đất cháy ở phía sau. Điểm khủng hoảng cốt yếu, tạo ra điểm tập trung nhất tâm cần thiết, là kết quả của “quyết định khẩn cầu” của phàm ngã, điều theo thời gian tạo ra một “đáp ứng gợi lên” từ Thiên Thần. Hai yếu tố liên hệ — và huynh đệ của tôi, đừng quên rằng tất cả điều này diễn ra trong trường tâm thức của đệ tử — cùng chuyển động và hướng về nhau. Tại trung tâm của vùng đất cháy, chúng gặp nhau; rồi ánh sáng nhỏ hơn của phàm ngã — một ánh sáng chân thật theo quyền riêng của nó — được hấp thụ vào ánh sáng lớn hơn của Thiên Thần hay linh hồn. Vì thế, Thiên Thần “xoá nhoà về mặt huyền bí” Kẻ Chận Ngõ, kẻ trở nên khuất khỏi tầm nhìn trong hào quang rạng rỡ của Thiên Thần. Điều này đã được mô tả cho chúng ta một cách biểu tượng trong quyển sách bằng hình ảnh của các tầng trời, khi theo các lễ hội Công giáo, sự Thăng Thiên của Đức Trinh Nữ diễn ra và chòm sao Xử Nữ khuất khỏi tầm nhìn trong ánh rạng rỡ của Mặt Trời. Ở đó các bạn có ba yếu tố:

1.

1.

The Virgin

Đức Trinh Nữ

material form

hình tướng vật chất

personality

phàm ngã

Dweller.

Kẻ Chận Ngõ.

2.

2.

The Sun

Mặt Trời

spiritual nature

bản chất tinh thần

soul

linh hồn

Angel.

Thiên Thần.

3.

3.

The Earth

Trái Đất

aspiring man

con người chí nguyện

the disciple

đệ tử

The personality remains; it still exists but it is seen no more as of old. The light of the Angel envelops it; the burning ground has done its work and the personality is now nothing [270] more or less than the purified shell or form through which the light, the radiance, the quality and the characteristics of the Angel can shine. It is a fusion of lights, with the stronger and the more powerful obliterating the lesser.

Phàm ngã vẫn còn; nó vẫn hiện hữu nhưng không còn được thấy như xưa nữa. Ánh sáng của Thiên Thần bao bọc nó; vùng đất cháy đã hoàn thành công việc của mình, và phàm ngã giờ đây chẳng hơn chẳng kém là lớp vỏ hay hình tướng đã được thanh luyện, qua đó ánh sáng, sự rạng rỡ, phẩm tính và các đặc điểm của Thiên Thần có thể chiếu toả. Đó là sự dung hợp của các ánh sáng, trong đó ánh sáng mạnh hơn và quyền năng hơn xoá nhoà ánh sáng nhỏ hơn.[270]

How has this been brought about? I refer not here to the preparation of the Dweller on the Threshold for this great event or to the aeon of disciplining, of preparation, of experiment and of experience from life to life which has made this consummating event possible and successful. The two aspects in man can only meet in full power and with intention and finality when illusion can no longer control the mind, when glamour has lost all power to veil and when the forces of maya can no longer hinder. Discrimination, dispassion and indifference have produced the dispelling through focussed light, the dissipating potency of distributed light and the directing power of light energy. Only five recognitions now control the disciple:

Điều này đã được đem lại như thế nào? Ở đây tôi không nói đến sự chuẩn bị của Kẻ Chận Ngõ cho biến cố lớn lao này, cũng không nói đến kỷ nguyên dài của kỷ luật, chuẩn bị, thử nghiệm và kinh nghiệm từ kiếp này sang kiếp khác, vốn đã khiến biến cố hoàn tất này trở nên khả hữu và thành công. Hai phương diện trong con người chỉ có thể gặp nhau trong đầy đủ quyền năng, với ý định và tính chung quyết, khi ảo tưởng không còn có thể kiểm soát thể trí, khi ảo cảm đã mất mọi quyền năng che phủ, và khi các mãnh lực của ảo lực không còn có thể cản trở. Sự phân biện, sự vô dục và sự điềm nhiên đã tạo nên việc xua tan nhờ ánh sáng được tập trung, quyền năng làm tiêu tan của ánh sáng được phân phối, và quyền năng điều hướng của năng lượng ánh sáng. Giờ đây chỉ còn năm nhận biết kiểm soát đệ tử:

1. The fact of his discipleship.

1. Sự kiện về địa vị đệ tử của y.

2. The perception of the Angel, waiting and dynamic.

2. Sự tri giác về Thiên Thần, đang chờ đợi và đầy năng lực.

3. The invocative appeal of the Dweller on the Threshold.

3. Lời khẩn cầu của Kẻ Chận Ngõ.

4. The necessity to use the will in a new and different manner.

4. Sự cần thiết phải sử dụng ý chí theo một cách mới và khác.

5. The need to cross the burning ground.

5. Nhu cầu băng qua vùng đất cháy.

The issues are now entirely clear. It is a question of timing and of decision. I would remind you that in all these processes, it is the disciple who, in full consciousness, acts. He initiates all the processes himself. It is not the Angel or the Dweller but the spiritual man himself who has to employ the will and take definite forward moving action. Once the disciple has taken the necessary steps and moved irrevocably forward, the response of the Angel is sure, automatic and all-enveloping. Complete obliteration of [271] the personal self in three successive stages is the immediate and normal result. It was to this that John the Baptist referred when he said “He shall increase but I must decrease.” When he spoke these words, he spoke as a disciple, prior to the second initiation of the threshold. This occult waxing and waning is portrayed for us in the phases of the moon and, for the planet as a whole, in the sign Gemini, where the light of one of the twins is slowly dimming and the light of the other is gaining in intensity.

Các vấn đề giờ đây hoàn toàn rõ ràng. Đó là vấn đề thời điểm và quyết định. Tôi muốn nhắc các bạn rằng trong tất cả các tiến trình này, chính đệ tử là người hành động trong tâm thức trọn vẹn. Y tự mình khởi phát mọi tiến trình. Không phải Thiên Thần hay Kẻ Chận Ngõ, mà chính con người tinh thần phải vận dụng ý chí và thực hiện hành động tiến tới rõ rệt. Một khi đệ tử đã thực hiện các bước cần thiết và tiến tới không thể đảo ngược, đáp ứng của Thiên Thần là chắc chắn, tự động và bao trùm tất cả. Sự xoá nhoà hoàn toàn [271] bản ngã cá nhân trong ba giai đoạn liên tiếp là kết quả tức thì và bình thường. Chính điều này Gioan Tẩy Giả đã ám chỉ khi ông nói: “Ngài phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Khi thốt ra những lời này, ông nói với tư cách một đệ tử, trước cuộc điểm đạo thứ hai của ngưỡng cửa. Sự tăng trưởng và suy giảm huyền bí này được mô tả cho chúng ta trong các pha của Mặt Trăng, và đối với toàn thể hành tinh, trong dấu hiệu Song Tử, nơi ánh sáng của một trong hai người sinh đôi đang từ từ mờ đi, còn ánh sáng của người kia đang tăng cường độ.

When this “occult obliteration” has taken place, what then is the destiny of the disciple? It is complete control by the soul and this, in practice, connotes group realisation, group work, group service and eventually group initiation. With these developments, it is not my intent to deal, for I have covered much of these matters in my other books. Here I have been dealing in this short elucidation with the effects that substances and the substantial forces, found in the three worlds, produce in the disciple and as they affect the aspirant. I have not considered the problem of glamour, illusion and maya from the angle of average man. The latter is necessarily immersed in them, and under their constant impact he passes his life. By their means he learns. He is not at the point where he seeks deliverance from them as does the man upon the Path. I have, therefore, considered the problem from the angle of the disciples and aspirants.

Khi sự “xoá nhoà huyền bí” này đã diễn ra, vậy định mệnh của đệ tử là gì? Đó là sự kiểm soát hoàn toàn của linh hồn; và trong thực hành, điều này hàm ý sự chứng nghiệm nhóm, công việc nhóm, phụng sự nhóm và sau cùng là điểm đạo nhóm. Tôi không có ý định bàn đến những phát triển này, vì tôi đã đề cập nhiều về các vấn đề ấy trong các sách khác của tôi. Ở đây, trong phần giải thích ngắn này, tôi đã bàn đến những hiệu quả mà các chất liệu và các mãnh lực vật chất, được tìm thấy trong ba cõi thấp, tạo ra nơi đệ tử và tác động lên người chí nguyện. Tôi đã không xem xét vấn đề ảo cảm, ảo tưởng và ảo lực từ góc độ của con người trung bình. Người sau tất yếu bị chìm đắm trong chúng, và dưới tác động thường xuyên của chúng, y sống trọn đời mình. Nhờ chúng, y học hỏi. Y chưa ở điểm mà y tìm kiếm sự giải thoát khỏi chúng như người đang ở trên Đường Đạo. Vì thế, tôi đã xem xét vấn đề từ góc độ của các đệ tử và người chí nguyện.

From them the WAY opens up, and for them comes the conscious recognition of the light. The need for the service of men and women, free from illusion and glamour, has never been so dramatically present as it is today and it is for these potential servers of a desperate necessity that I have written.

Từ họ, CON ĐƯỜNG mở ra, và đối với họ xuất hiện sự nhận biết có ý thức về ánh sáng. Nhu cầu về sự phụng sự của những người nam và nữ đã thoát khỏi ảo tưởng và ảo cảm chưa bao giờ hiện diện một cách khẩn thiết đến thế như ngày nay; và chính vì những người phụng sự tiềm năng trong một nhu cầu tuyệt vọng ấy mà tôi đã viết.

That the Angel of the PRESENCE may make His nearness felt and inspire you to pass courageously through [272] the fires of the burning ground is my earnest prayer; that the fact of the PRESENCE may be sensed by you and lead you to greater activity—once the burning ground is passed—is my deepest wish for you; and that the light may shine upon your way and bring a certain and assured consummation of all the travail and struggle which has characterised your way of life is my heart’s desire for you. To more active and steady enterprise I call you.

Ước gì Thiên Thần của HIỆN DIỆN khiến sự gần gũi của Ngài được bạn cảm nhận và truyền cảm hứng để bạn can đảm đi qua [272] các ngọn lửa của vùng đất cháy — đó là lời cầu nguyện tha thiết của tôi; ước gì sự kiện về HIỆN DIỆN được bạn cảm nhận và dẫn bạn đến hoạt động lớn lao hơn — một khi vùng đất cháy đã được vượt qua — đó là ước nguyện sâu xa nhất của tôi dành cho bạn; và ước gì ánh sáng chiếu rọi trên đường đi của bạn, đem lại sự hoàn tất chắc chắn và bảo đảm cho toàn bộ nhọc nhằn và tranh đấu đã đặc trưng con đường sống của bạn — đó là khát vọng từ trái tim tôi dành cho bạn. Tôi kêu gọi bạn bước vào một nỗ lực tích cực và vững bền hơn.

THE TIBETAN.

CHÂN SƯ TÂY TẠNG.

Publisher’s Note: See also the Techniques of Fusion and Integration in A Treatise on the Seven Rays, Vol. II, Esoteric Psychology, pp. 345-401.

Ghi chú của Nhà xuất bản: Xem thêm các Kỹ Thuật Dung Hợp và Tích Hợp trong Luận về Bảy Cung, Tập II, Tâm Lý Học Nội Môn, tr. 345-401.

Leave a Comment

Scroll to Top