SECTION THREE: THE ENDING OF GLAMOUR— SỰ KẾT THÚC CỦA ẢO CẢM
[Webinar 157]
[Webinar 158]
|
All generalisations admit of error. It might, however, be said that Germany has focussed in herself world glamour—the most potent and expressive of the three aspects of glamour. Japan is manifesting the force of maya—the crudest form of material force. Italy, individualistic and mentally polarised, is the expression of world illusion. The United Nations, with all their faults, limitations, weaknesses and nationalisms, are focussing the conflict between the Dweller and the Angel, and thus the three forms of glamour and the final form of the conflict between the spiritual ideal and its material opponent are appearing simultaneously. The United Nations are, however, gradually and most decisively throwing the weight of their effort and aspiration on to the side of the Angel, thus restoring the lost balance and slowly producing on a planetary scale those attributes and conditions which will eventually dispel illusion, dissipate glamour and devitalise the prevalent maya. This they are doing by the increased clear thinking of the general public of all the nations, bound together to conquer the three Axis Powers, by their growing ability to conceive ideas in terms of the whole, in terms of a desirable world order or federation, and their capacity to discriminate between the Forces of Light and the potency of evil or materialism. |
Mọi khái quát hóa đều có thể sai lầm. Tuy nhiên, có thể nói rằng nước Đức đã tập trung trong chính mình ảo cảm thế giới—phương diện mạnh mẽ và biểu cảm nhất trong ba phương diện của ảo cảm. Nhật Bản đang biểu hiện mãnh lực của ảo lực—hình thức thô sơ nhất của mãnh lực vật chất. Ý, mang tính cá nhân chủ nghĩa và phân cực trí tuệ, là biểu hiện của ảo tưởng thế giới. Các quốc gia Liên Hiệp, với mọi lỗi lầm, giới hạn, yếu kém và chủ nghĩa dân tộc của họ, đang tập trung cuộc xung đột giữa Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần; vì thế, ba hình thức của ảo cảm và hình thức cuối cùng của cuộc xung đột giữa lý tưởng tinh thần và đối thủ vật chất của nó đang xuất hiện đồng thời. Tuy nhiên, các quốc gia Liên Hiệp đang dần dần và hết sức quyết định đặt sức nặng của nỗ lực và khát vọng của họ về phía Thiên Thần, nhờ đó khôi phục sự quân bình đã mất và từ từ tạo ra trên quy mô hành tinh những thuộc tính và điều kiện cuối cùng sẽ xua tan ảo tưởng, làm tiêu tan ảo cảm và làm suy kiệt sinh lực của ảo lực đang thịnh hành. Họ đang làm điều này bằng sự tư duy sáng rõ ngày càng tăng của công chúng nói chung trong tất cả các quốc gia liên kết để chinh phục ba Cường Quốc Trục, bằng khả năng ngày càng lớn của họ trong việc hình dung các ý tưởng theo toàn thể, theo một trật tự hay liên bang thế giới đáng mong muốn, và bằng năng lực phân biện giữa các Mãnh Lực Ánh Sáng và quyền năng của sự ác hay chủ nghĩa duy vật. |
|
The work being done by those who see the world stage as the arena for the conflict between the Dweller on the Threshold and the Angel of the PRESENCE might be itemised as: |
Công việc đang được thực hiện bởi những người thấy sân khấu thế giới như đấu trường của cuộc xung đột giữa Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần của HIỆN DIỆN có thể được liệt kê như sau: |
|
1. The producing of those world conditions in which the Forces of Light can overcome the Forces of Evil. This they do by the weight of their armed forces, plus their clear insight. [164] |
1. Tạo ra những điều kiện thế giới trong đó các Mãnh Lực Ánh Sáng có thể chiến thắng các Mãnh Lực Sự Ác. Họ làm điều này bằng sức nặng của lực lượng vũ trang của họ, cộng với cái nhìn sáng rõ của họ. [164] |
|
2. The educating of humanity in the distinction between: |
2. Giáo dục nhân loại về sự phân biệt giữa: |
|
a. Spirituality and materialism, pointing to the differing goals of the combatant forces. |
a. Tính tinh thần và chủ nghĩa duy vật, chỉ ra các mục tiêu khác nhau của những lực lượng giao chiến. |
|
b. Sharing and greed, outlining a future world wherein the Four Freedoms will be dominant and all will have that which is needed for right living-processes. |
b. Sự chia sẻ và lòng tham, phác họa một thế giới tương lai trong đó Bốn Quyền Tự Do sẽ chiếm ưu thế và mọi người sẽ có những gì cần thiết cho các tiến trình sống đúng đắn. |
|
c. Light and dark, demonstrating the difference between an illumined future of liberty and opportunity, and the dark future of slavery. |
c. Ánh sáng và bóng tối, chứng minh sự khác biệt giữa một tương lai được soi sáng của tự do và cơ hội, với tương lai tối tăm của nô lệ. |
|
d. Tình huynh đệ và sự chia rẽ, chỉ ra một trật tự thế giới trong đó những thù hận chủng tộc, phân biệt đẳng cấp và khác biệt tôn giáo sẽ không tạo thành rào cản đối với sự thấu hiểu quốc tế, đối lập với trật tự Trục của các chủng tộc thống trị, các thái độ tôn giáo bị áp đặt, và các dân tộc bị nô dịch. |
|
|
e. The whole and the part, pointing to the time which is approaching (under the evolutionary urge of spirit) wherein the part or the point of life assumes its responsibility for the whole, and the whole exists for the good of the part. |
e. Toàn thể và bộ phận, chỉ ra thời kỳ đang đến gần, dưới sự thúc đẩy thăng thượng tiến hóa của tinh thần, trong đó bộ phận hay điểm của sự sống đảm nhận trách nhiệm của mình đối với toàn thể, và toàn thể hiện hữu vì lợi ích của bộ phận. |
|
The dark aspect has been brought about by ages of glamour. The light is being emphasised and made clear by the world aspirants and disciples who by their attitudes, their actions, their writings and their utterances are bringing the light into dark places. |
Phương diện tối tăm đã được tạo ra bởi nhiều thời đại ảo cảm. Ánh sáng đang được nhấn mạnh và làm cho sáng rõ bởi các người chí nguyện và đệ tử thế giới, những người qua thái độ, hành động, trước tác và lời nói của mình đang đem ánh sáng vào những nơi tối tăm. |
[Webinar 159]
[Webinar 160]
|
Students need to remember that all manifestations and every point of crisis are symbolised by the ancient symbol of a point within the circle, the focus of power within a sphere of influence or aura. So it is today with the entire problem of ending the world glamour and illusion which fundamentally lie behind the present acute situation and world catastrophe. The possibility of such a dispelling and dissipation is definitely centred in the two Avatars, the Buddha and the Christ. |
Các đạo sinh cần nhớ rằng mọi biểu hiện và mọi điểm khủng hoảng đều được biểu tượng hóa bằng biểu tượng cổ xưa của một điểm trong vòng tròn, tiêu điểm quyền năng trong một khối cầu ảnh hưởng hay hào quang. Ngày nay cũng vậy đối với toàn bộ vấn đề kết thúc ảo cảm và ảo tưởng thế giới, vốn về căn bản nằm sau tình thế gay gắt hiện tại và thảm họa thế giới. Khả năng của sự xua tan và làm tiêu tan ấy chắc chắn được tập trung nơi hai Đấng Hoá Thân, Đức Phật và Đức Christ. |
|
Within the world of glamour—the world of the astral plane and of the emotions—appeared a point of light. The Lord of Light, the Buddha, undertook to focus in Himself the illumination which would eventually make possible the dissipation of glamour. Within the world of illusion—the world of the mental plane—appeared the Christ, the Lord [167] of Love Himself, Who embodied in Himself the power of the attractive will of God. He undertook to dispel illusion by drawing to Himself (by the potency of love) the hearts of all men, and stated this determination in the words, “I, if I be lifted up, will draw all men unto Me.” (John 12:32) From the point they then will have reached, the world of spiritual perception, of truth and of divine ideas will stand revealed. The result will be the disappearing of illusion. |
Trong thế giới của ảo cảm—thế giới của cõi cảm dục và của các xúc cảm—đã xuất hiện một điểm sáng. Chúa Tể Ánh Sáng, Đức Phật, đã đảm nhận việc tập trung nơi chính Ngài sự soi sáng mà cuối cùng sẽ làm cho việc làm tiêu tan ảo cảm trở nên khả hữu. Trong thế giới của ảo tưởng—thế giới của cõi trí—đã xuất hiện Đức Christ, chính Chúa Tể [167] của Tình Thương, Đấng thể hiện nơi chính Ngài quyền năng của Ý Chí hấp dẫn của Thượng đế. Ngài đảm nhận việc xua tan ảo tưởng bằng cách lôi cuốn về chính Ngài, nhờ quyền năng của tình thương, trái tim của mọi người, và đã phát biểu quyết tâm này bằng những lời: “Còn Ta, khi Ta được nâng lên khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người đến với Ta.” (Gioan 12:32) Từ điểm mà bấy giờ họ đã đạt tới, thế giới của tri giác tinh thần, của chân lý và của các ý tưởng thiêng liêng sẽ hiện ra. Kết quả sẽ là sự biến mất của ảo tưởng. |
|
The combined work of these two great Sons of God, concentrated through the world disciples and through Their initiates must and will inevitably shatter illusion and dispel glamour—the one by the intuitive recognition of reality by minds attuned to it, and the other by the pouring in of the light of reason. The Buddha made the first planetary effort to dissipate world glamour; the Christ made the first planetary effort towards the dispelling of illusion. Their work must now be intelligently carried forward by a humanity wise enough to recognise its dharma. Men are being rapidly disillusioned and will consequently see more clearly. The world glamour is being steadily removed from the ways of men. |
Công việc kết hợp của hai Người Con vĩ đại này của Thượng đế, được tập trung qua các đệ tử thế giới và qua các điểm đạo đồ của Các Ngài, nhất định và tất yếu sẽ phá vỡ ảo tưởng và xua tan ảo cảm—một bên nhờ sự nhận biết trực giác về thực tại bởi những thể trí đã hòa hợp với thực tại ấy, và bên kia nhờ sự tuôn đổ của ánh sáng lý trí. Đức Phật đã thực hiện nỗ lực hành tinh đầu tiên nhằm làm tiêu tan ảo cảm thế giới; Đức Christ đã thực hiện nỗ lực hành tinh đầu tiên hướng tới việc xua tan ảo tưởng. Công việc của Các Ngài giờ đây phải được nhân loại đủ minh triết để nhận biết thiên chức của mình tiếp tục một cách thông minh. Con người đang nhanh chóng vỡ mộng và do đó sẽ thấy rõ ràng hơn. Ảo cảm thế giới đang đều đặn được loại khỏi những nẻo đường của con người. |
[Webinar 161]
[Webinar 162]
[Webinar 166]
[Webinar 167]
|
In the section with which we are now concerned we shall consider the practical ways in which illusion, glamour and the power of maya can be brought to an end in the life of the individual, and eventually in the life of nations and finally in the world. Always we must begin with the unity of life, the Microcosm; then, having grasped process and progress in connection with the individual, the idea can then be extended to the group, the organisation, the nation, and to humanity as a whole. Thus gradually we shall approach the great Idea to which we give the name of God, the Macrocosm. |
Trong phần mà giờ đây chúng ta đang quan tâm, chúng ta sẽ xem xét các phương cách thực tiễn nhờ đó ảo tưởng, ảo cảm và quyền năng của ảo lực có thể được kết thúc trong đời sống của cá nhân, và cuối cùng trong đời sống của các quốc gia, rồi sau rốt trong thế giới. Chúng ta luôn phải bắt đầu với đơn vị của sự sống, Tiểu thiên địa; rồi, sau khi đã nắm bắt tiến trình và sự tiến bộ liên quan đến cá nhân, ý tưởng ấy có thể được mở rộng đến nhóm, tổ chức, quốc gia, và đến nhân loại như một toàn thể. Như vậy, dần dần chúng ta sẽ tiếp cận Ý Tưởng vĩ đại mà chúng ta gọi là Thượng đế, Đại thiên địa. |
|
We shall in this section deal with techniques, and these might be summarised as follows: |
Trong phần này, chúng ta sẽ đề cập đến các kỹ thuật, và các kỹ thuật này có thể được tóm lược như sau: |
|
1. The Technique of the Presence. By means of this technique, the soul assumes control of the integrated personality and of its relations, horizontal and vertical. This technique involves the unfolding of the flower of the intuition, dispelling illusion, revealing the Angel, indicating the Presence, and opening up to the disciple the world of ideas and the door of the higher initiations. Through the disciple’s grasp and application of these divine ideas or seed thoughts, he becomes initiate and the third initiation becomes possible as an immediate goal. The intuition is the applied power of transfiguration. This technique is related to the little known yoga called Agni Yoga or the yoga of fire. |
1. Kỹ Thuật của Hiện Diện. Nhờ kỹ thuật này, linh hồn nắm quyền kiểm soát phàm ngã tích hợp và các mối quan hệ của nó, theo chiều ngang và chiều dọc. Kỹ thuật này bao hàm sự khai mở của đóa hoa trực giác, xua tan ảo tưởng, mặc khải Thiên Thần, chỉ ra Hiện Diện, và mở ra cho đệ tử thế giới của các ý tưởng cùng cánh cửa của các cuộc điểm đạo cao hơn. Qua sự nắm bắt và áp dụng của đệ tử đối với các ý tưởng thiêng liêng hay tư tưởng hạt giống này, y trở thành điểm đạo đồ và lần điểm đạo thứ ba trở nên khả hữu như một mục tiêu tức thời. Trực giác là quyền năng được áp dụng của sự biến hình. Kỹ thuật này liên hệ với phép du-già ít được biết đến gọi là du-già lửa. |
|
2. The Technique of Light. By means of this technique, the illumined mind assumes control over the astral or emotional body and dissipates glamour. When light pours in, glamour fades out. Illumination dominates and the vision [172] of reality can be seen. This technique is related to Raja Yoga and its goal is the second initiation; it produces ability to tread the Path of Discipleship, and enables the man to “live a life, enlightened by divinity.” Illumination is the applied power of transformation. |
2. Kỹ Thuật Ánh sáng. Nhờ kỹ thuật này, thể trí được soi sáng nắm quyền kiểm soát thể cảm dục hay thể xúc cảm và làm tiêu tan ảo cảm. Khi ánh sáng tuôn vào, ảo cảm phai tàn. Sự soi sáng chiếm ưu thế và tầm nhìn [172] về thực tại có thể được thấy. Kỹ thuật này liên hệ với du-già vương giả, và mục tiêu của nó là lần điểm đạo thứ hai; nó tạo ra khả năng bước trên Con Đường Đệ Tử, và giúp con người “sống một đời sống được thiên tính soi sáng.” Sự soi sáng là quyền năng được áp dụng của sự chuyển đổi. |
|
3. The Technique of Indifference. By means of this technique, maya is ended; for the control of the purified astral vehicle is consciously and technically brought into activity, producing the freeing of the energies of the etheric body from the control of matter or force-substance, and bringing men in large numbers on to the Probationary Path. Where there is “divine indifference” to the call or pull of matter, then inspiration becomes possible. This technique is related to Karma Yoga in its most practical form and the use of matter with complete impersonality. The goal of this technique is the first initiation, which enables man to “live a life, inspired by God.” Inspiration is the applied power of transmission. |
3. Kỹ Thuật Điềm Nhiên. Nhờ kỹ thuật này, ảo lực được kết thúc; bởi quyền kiểm soát hiện thể cảm dục đã thanh luyện được đưa vào hoạt động một cách hữu thức và kỹ thuật, tạo ra sự giải phóng các năng lượng của thể dĩ thái khỏi sự kiểm soát của vật chất hay chất liệu-mãnh lực, và đưa số đông con người lên Con Đường Dự Bị. Nơi nào có “Điềm nhiên thiêng liêng” trước tiếng gọi hay sức kéo của vật chất, bấy giờ cảm hứng trở nên khả hữu. Kỹ thuật này liên hệ với du-già hành động trong hình thức thực tiễn nhất của nó, và với việc sử dụng vật chất bằng sự vô ngã hoàn toàn. Mục tiêu của kỹ thuật này là lần điểm đạo thứ nhất, giúp con người “sống một đời sống được Thượng đế truyền cảm hứng.” Cảm hứng là quyền năng được áp dụng của sự truyền dẫn. |
1. The Technique of the Presence.—1. Kỹ Thuật của Hiện Diện.
[Webinar 169]
[Webinar 170]
[Webinar 171]
a. Intuition dispels Individual Illusion—a. Trực giác xua tan Ảo tưởng Cá nhân
[Webinar 172]
|
Next come six more stages in the Technique, and these must be thoroughly understood and form the basis of prolonged brooding and intelligent reflection, carried on whilst the daily avocations and duties are being performed and not carried out at certain set times. The trained intuitive or disciple lives ever the dual life of mundane activity and of intense and simultaneous spiritual reflection. This will be the outstanding characteristic of the Western disciple in contradistinction to the Eastern disciple who escapes from life into the silent places and away from the pressures of daily living and constant contact with others. The task of the Western disciple is much harder, but that which he will prove to himself and to the world as a whole will be still higher. This is to be expected if the evolutionary process means anything. The Western races must move forward into spiritual supremacy, without obliterating the Eastern contribution, and the functioning of the Law of Rebirth holds the clue to this and demonstrates this necessity. The [180] tide of life moves from East to West as moves the sun, and those who in past centuries struck the note of Eastern mysticism must strike and are now striking the note of Western occultism. Therefore, the following stages must follow upon the three earlier. We will continue with the numbering as given, for what I here suggest is a formula for a more advanced meditation attitude. I said not form. |
Kế đó là sáu giai đoạn nữa trong Kỹ Thuật này, và chúng phải được thấu hiểu triệt để, đồng thời trở thành nền tảng của sự suy tưởng kéo dài và sự phản tỉnh thông minh, được thực hiện trong khi các công việc và bổn phận hằng ngày đang diễn ra, chứ không chỉ vào những thời điểm cố định nào đó. Người trực giác hay đệ tử đã được huấn luyện luôn sống đời sống kép: hoạt động trần thế và đồng thời phản tỉnh tinh thần sâu sắc. Đây sẽ là đặc điểm nổi bật của đệ tử phương Tây, khác với đệ tử phương Đông, là người rút khỏi đời sống vào những nơi yên lặng, xa khỏi áp lực của sinh hoạt hằng ngày và sự tiếp xúc thường xuyên với người khác. Nhiệm vụ của đệ tử phương Tây khó khăn hơn nhiều, nhưng điều y sẽ chứng minh cho chính mình và cho toàn thể thế giới sẽ còn cao hơn nữa. Điều này là điều phải được mong đợi nếu tiến trình tiến hóa có ý nghĩa gì. Các giống dân phương Tây phải tiến tới ưu thế tinh thần mà không xóa bỏ đóng góp của phương Đông, và sự vận hành của Định luật Tái sinh giữ chìa khóa cho điều này, đồng thời chứng minh tính tất yếu ấy. [180] Dòng triều sự sống chuyển từ Đông sang Tây như mặt trời chuyển động, và những ai trong các thế kỷ trước đã xướng lên âm điệu của Thần bí học phương Đông thì nay phải xướng lên, và đang xướng lên, âm điệu của huyền bí học phương Tây. Vì vậy, các giai đoạn sau đây phải tiếp nối ba giai đoạn trước. Chúng ta sẽ tiếp tục cách đánh số như đã cho, vì điều Tôi gợi ý ở đây là một công thức cho một thái độ tham thiền tiến bộ hơn. Tôi không nói là một hình thức. |
|
4. Definite and sustained effort to sense the Presence throughout the Universe in all forms and in all presentations of truth. This could be expressed in the words: “the effort to isolate the germ or seed of divinity which has brought all forms into being.” I would point out that this is not the attainment of a loving attitude and a sentimental approach to all people and circumstances. That is the mystical way and though not intended to be negated in the disciple’s life, is not used at this time in the process of effective approach. It is the effort primarily to see in the light which the Angel radiates the point of light behind all phenomenal appearances. This is, therefore, the transference of the mystical vision to the higher levels of awareness. It is not the vision of the soul but the vision or the spiritual sensing of that which the light of the soul can aid in revealing. The flickering soul light in the personal self has enabled the disciple to see the vision of the soul and in that light to reach union with the soul, even if only temporarily. Now the greater light of the soul becomes focussed like a radiant sun and it reveals in its turn a still more stupendous vision—that of the Presence, of which the Angel is the guarantee and promise. As the light of the Moon is the guarantee that the light of the Sun exists, so the light of the Sun is the guarantee, did you but know it, of a still greater light. [181] |
4. Nỗ lực rõ ràng và bền bỉ để cảm nhận Hiện Diện trong toàn Vũ trụ, trong mọi hình tướng và trong mọi trình bày của chân lý. Điều này có thể được diễn đạt bằng những lời sau: “nỗ lực cô lập mầm hay hạt giống của thiên tính đã đưa mọi hình tướng vào hiện hữu.” Tôi muốn chỉ ra rằng đây không phải là việc đạt được một thái độ yêu thương và một cách tiếp cận đa cảm đối với mọi người và mọi hoàn cảnh. Đó là con đường thần bí, và tuy không nhằm bị phủ nhận trong đời sống của đệ tử, nó không được dùng vào lúc này trong tiến trình tiếp cận hiệu quả. Chủ yếu đó là nỗ lực nhìn thấy trong ánh sáng mà Thiên Thần tỏa chiếu điểm sáng đằng sau mọi sắc tướng hiện tượng. Vì vậy, đây là sự chuyển dịch tầm nhìn thần bí lên các cấp độ nhận thức cao hơn. Đó không phải là tầm nhìn của linh hồn, mà là tầm nhìn hay sự cảm nhận tinh thần về điều mà ánh sáng của linh hồn có thể trợ giúp để mặc khải. Ánh sáng linh hồn chập chờn trong phàm ngã đã giúp đệ tử thấy được tầm nhìn của linh hồn, và trong ánh sáng ấy đạt đến sự hợp nhất với linh hồn, dù chỉ tạm thời. Giờ đây, ánh sáng lớn hơn của linh hồn được tập trung như một mặt trời rực rỡ, và đến lượt nó mặc khải một tầm nhìn còn kỳ vĩ hơn—tầm nhìn về Hiện Diện, mà Thiên Thần là bảo chứng và lời hứa. Như ánh sáng của Mặt Trăng là bảo chứng rằng ánh sáng của Mặt Trời hiện hữu, thì ánh sáng của Mặt Trời, nếu các bạn chỉ biết, cũng là bảo chứng của một ánh sáng còn lớn hơn nữa. [181] |
[Webinar 173]
|
5. Then, having sensed the Presence—not theoretically but in vibrating response to its Existence—there next comes the stage of the ascertaining of the Purpose. Hope of identification with the purpose lies too far ahead even for the average initiate, under the status of Master. With that unattainable stage (for us) we are not concerned. But we are concerned with the effort to achieve an understanding of that which through the medium of form is seeking to embody the high purpose at any particular point in the evolutionary cycle. This is possible and has been achieved down the ages by those who have rightly approached and duly reflected upon the Way of the Higher Evolution. This Way is revealed to the disciple, e’en though it may not concern the intuitive message which he may bring back from his high adventure. |
5. Khi đã cảm nhận được Hiện Diện—không phải về mặt lý thuyết, mà trong đáp ứng rung động đối với Sự Hiện Hữu của Hiện Diện—thì kế đó đến giai đoạn xác định Thiên Ý. Hy vọng đồng hoá với Thiên Ý còn ở quá xa, ngay cả đối với điểm đạo đồ trung bình dưới cấp bậc Chân sư. Với giai đoạn không thể đạt tới ấy đối với chúng ta, chúng ta không bàn đến. Nhưng chúng ta quan tâm đến nỗ lực đạt được sự thấu hiểu về điều, qua trung gian hình tướng, đang tìm cách thể hiện Thiên Ý cao cả tại bất kỳ điểm nào trong chu kỳ tiến hóa. Điều này là khả hữu và đã được những người qua các thời đại đạt được, khi họ tiếp cận đúng đắn và suy ngẫm thích đáng về Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Con đường này được mặc khải cho đệ tử, dù nó có thể không liên quan đến thông điệp trực giác mà y có thể mang về từ cuộc phiêu lưu cao siêu của mình. |
|
6. He then carries some world problem, some design which his mind has evolved or his heart desired for the helping of humanity into what is esoterically called “the triple light of the intuition.” This light is formed by the blending of the light of the personal self, focussed in the mind, the light of the soul, focussed in the Angel, and the universal light which the Presence emits; this, when done with facility through concentration and long practice, will produce two results: |
6. Kế đó, y đem một vấn đề thế giới nào đó, một thiết kế nào đó mà thể trí của y đã phát triển hoặc trái tim y đã ao ước nhằm trợ giúp nhân loại, vào điều được gọi một cách huyền bí là “ánh sáng tam phân của trực giác.” Ánh sáng này được tạo thành do sự hòa trộn ánh sáng của phàm ngã, tập trung trong thể trí, ánh sáng của linh hồn, tập trung trong Thiên Thần, và ánh sáng phổ quát mà Hiện Diện phát ra; khi việc này được thực hiện thành thạo qua tập trung và thực hành lâu dài, nó sẽ tạo ra hai kết quả: |
|
a. There will suddenly dawn upon the disciple’s waiting mind (which still remains the agent of reception) the answer to his problem, the clue to what is needed to bring relief to humanity, the information desired which, when applied, will unlock some door in the realm of science, psychology or religion. This door, when opened, will bring relief or release to many. As before I have told you, the intuition is never concerned [182] with individual problems or enquiries, as so many self-centred aspirants think. It is purely impersonal and only applicable to humanity in a synthetic sense. |
a. Đáp án cho vấn đề của y, chìa khóa cho điều cần thiết để đem lại sự cứu trợ cho nhân loại, thông tin được mong muốn mà khi áp dụng sẽ mở một cánh cửa nào đó trong lĩnh vực khoa học, tâm lý học hay tôn giáo, sẽ đột nhiên ló dạng trong thể trí đang chờ đợi của đệ tử, thể trí vẫn là tác nhân tiếp nhận. Cánh cửa này, khi mở ra, sẽ đem lại sự cứu trợ hay giải thoát cho nhiều người. Như trước đây Tôi đã nói với các bạn, trực giác không bao giờ liên quan [182] đến các vấn đề hay thắc mắc cá nhân, như rất nhiều người chí nguyện tập trung vào bản thân vẫn nghĩ. Nó hoàn toàn phi cá nhân và chỉ áp dụng cho nhân loại theo nghĩa tổng hợp. |
|
b. The “intruding agent of light” (as the Old Commentary calls these adventuring intuitives) is recognised as one to whom can be entrusted some revelation, some new impartation of truth, some significant expansion from a seed of truth already given to the race. He then sees a vision, hears a voice, registers a message, or—highest form of all—he becomes a channel of power and light to the world, a conscious Embodiment of divinity, or a Custodian of a divine principle. These forms constitute true revelation, imparted or embodied; they are still rare but will increasingly be developed in humanity. |
b. “Tác nhân ánh sáng xâm nhập”, như Cổ Luận gọi những người trực giác phiêu lưu này, được nhận biết là người có thể được trao phó một mặc khải nào đó, một truyền đạt mới nào đó của chân lý, một sự mở rộng có thâm nghĩa nào đó từ một hạt giống chân lý đã được trao cho nhân loại. Khi ấy y thấy một tầm nhìn, nghe một tiếng nói, ghi nhận một thông điệp, hoặc—hình thức cao nhất trong tất cả—y trở thành một kênh dẫn quyền năng và ánh sáng cho thế giới, một Hiện Thân có ý thức của thiên tính, hay một Người Giữ gìn một nguyên khí thiêng liêng. Những hình thức này cấu thành sự mặc khải chân chính, được truyền đạt hay được thể hiện; chúng vẫn còn hiếm, nhưng sẽ ngày càng được phát triển trong nhân loại. |
|
7. The next few stages are called, in preparation for the revelation: |
7. Vài giai đoạn kế tiếp được gọi, trong việc chuẩn bị cho sự mặc khải, là: |
|
a. The relinquishing of the Higher Way. |
a. Sự từ bỏ Con Đường Cao Siêu. |
|
b. The return to the Angel, or a refocussing in the soul. |
b. Sự trở về với Thiên Thần, hay một sự tái tập trung trong linh hồn. |
|
c. A pause or interlude for constructive thinking, under the influence of the Angel. |
c. Một khoảng dừng hay quãng nghỉ để tư duy xây dựng, dưới ảnh hưởng của Thiên Thần. |
|
d. The turning of the mind to the formulation of those forms of thought which must embody the revelation. |
d. Sự xoay thể trí về việc định hình những hình tư tưởng phải thể hiện sự mặc khải. |
|
e. Then again a pause which is called “the pause preceding presentation.” |
e. Rồi lại một khoảng dừng nữa, được gọi là “khoảng dừng trước khi trình bày.” |
|
8. The presentation of the revelation or of the imparted truth and its precipitation into the world of illusion comes next. In that world of illusion, it undergoes the “fiery ordeal” wherein “some of the fire within that which is revealed wings its way back to the source from whence it came; some of it serves to destroy the revealer, [183] and some to burn those who recognise the revelation.” This is a phase of Agni Yoga which, as you can see, is only for those who can penetrate beyond the Angel into the place “where fire dwelleth,” and where God, the Presence, functions as a consuming fire and waits for the hour of total revelation. This is a symbolic rendering of a great truth. In the case of the individual initiate, the third initiation, the Transfiguration, marks the consummation of the process. Only glory then is seen: only the voice of the Presence is heard and union with the past, the present and the future is reached. |
8. Kế đến là sự trình bày mặc khải hay chân lý được truyền đạt, và sự ngưng tụ của nó vào thế giới ảo tưởng. Trong thế giới ảo tưởng ấy, nó trải qua “cuộc thử thách bằng lửa”, trong đó “một phần lửa bên trong điều được mặc khải vỗ cánh quay về nguồn cội từ nơi nó đã đến; một phần lửa ấy dùng để hủy diệt người mặc khải, [183] và một phần để đốt cháy những người nhận biết sự mặc khải.” Đây là một giai đoạn của Du-già Lửa mà, như các bạn có thể thấy, chỉ dành cho những ai có thể xuyên vượt qua Thiên Thần vào nơi “lửa cư ngụ”, và nơi Thượng đế, Hiện Diện, vận hành như một ngọn lửa thiêu đốt và chờ đợi giờ phút mặc khải toàn vẹn. Đây là cách diễn đạt biểu tượng của một chân lý lớn lao. Trong trường hợp điểm đạo đồ cá nhân, lần điểm đạo thứ ba, Biến hình, đánh dấu sự viên mãn của tiến trình. Khi ấy chỉ còn vinh quang được thấy; chỉ tiếng nói của Hiện Diện được nghe, và sự hợp nhất với quá khứ, hiện tại và tương lai được đạt tới. |
|
9. The succumbing of the revelation to the prevailing illusion, its descent into the world of glamour, and its subsequent disappearance as a revelation and its emergence as a doctrine. But, in the meantime, humanity has been helped and led forward; the intuitives continue to work and the inflow of that which is to be revealed never ceases. |
9. Sự mặc khải khuất phục trước ảo tưởng đang thịnh hành, sự giáng xuống của nó vào thế giới ảo cảm, và sự biến mất sau đó của nó với tư cách là một mặc khải, để rồi xuất hiện như một giáo lý. Tuy nhiên, trong lúc ấy, nhân loại đã được trợ giúp và dẫn dắt tiến lên; những người trực giác tiếp tục làm việc và dòng tuôn vào của điều cần được mặc khải không bao giờ ngừng. |
[Webinar 175]
|
This basic technique underlies both primary and secondary revelations. In the case of the first, the time cycle is long; in the second, the time cycle is short. A very good instance of this process is demonstrated by one of the secondary points of revelation in connection with the teaching which emanated from the Hierarchy (the Custodian of secondary revelations, as Shamballa is of primary) fifty years ago and which took the form of The Secret Doctrine. H.P.B. was the “penetrating, sensing, appropriating intuitive.” The revelation she conveyed followed the accustomed routine of all secondary revelation from the Source to the outer plane. There the minds of men, veiled by illusion and clouded by glamour, formulated it into an inelastic doctrine, recognising no further revelation and holding steadily—many of the theosophical groups—that The Secret Doctrine was a final [184] revelation and that naught must be recognised but that book and naught deemed correct but their interpretations of that book. If they are correct, then evolutionary revelation is ended and the plight of humanity is hard indeed. |
Kỹ thuật căn bản này nằm dưới cả các mặc khải chính yếu lẫn thứ yếu. Trong trường hợp thứ nhất, chu kỳ thời gian dài; trong trường hợp thứ hai, chu kỳ thời gian ngắn. Một ví dụ rất hay về tiến trình này được chứng minh bởi một trong các điểm mặc khải thứ yếu liên quan đến giáo huấn phát xuất từ Thánh đoàn, Đấng Giữ gìn các mặc khải thứ yếu cũng như Shamballa là Đấng Giữ gìn các mặc khải chính yếu, cách đây năm mươi năm và đã mang hình thức của Giáo Lý Bí Nhiệm. Bà Blavatsky là “người trực giác xuyên nhập, cảm nhận và chiếm hữu.” Sự mặc khải bà truyền đạt đã theo lộ trình quen thuộc của mọi mặc khải thứ yếu từ Nguồn đến cõi bên ngoài. Ở đó, trí tuệ của con người, bị che phủ bởi ảo tưởng và bị mây mù bởi ảo cảm, đã định hình nó thành một giáo lý cứng nhắc, không nhận biết thêm mặc khải nào nữa và nhiều nhóm Thông Thiên Học vẫn giữ vững rằng Giáo Lý Bí Nhiệm là một mặc khải cuối cùng [184] và rằng không điều gì phải được nhận biết ngoài cuốn sách ấy, cũng không điều gì được xem là đúng ngoài những diễn giải của họ về cuốn sách ấy. Nếu họ đúng, thì sự mặc khải tiến hóa đã chấm dứt và cảnh ngộ của nhân loại quả thật khốn khó. |
|
Even the neophyte upon the way of the intuition can begin to develop in himself the power to recognise that which the lower mind cannot give him. Some thought of revealing potency, to be used for the helping of the many, may drop into his mind; some new light upon an old, old truth may penetrate, releasing the truth from the trammels of orthodoxy, thus illumining his consciousness. This he must use for all and not for himself alone. Little by little, he learns the way into the world of the intuition; day by day, and year by year, he becomes more sensitive to divine Ideas and more apt in appropriating them wisely for the use of his fellowmen. |
Ngay cả người sơ cơ trên con đường trực giác cũng có thể bắt đầu phát triển trong chính mình quyền năng nhận biết điều mà hạ trí không thể trao cho y. Một tư tưởng nào đó có năng lực mặc khải, được dùng để trợ giúp nhiều người, có thể rơi vào thể trí của y; một ánh sáng mới nào đó soi trên một chân lý rất xưa có thể xuyên nhập, giải phóng chân lý khỏi xiềng xích của chính thống giáo, nhờ đó soi sáng tâm thức của y. Điều này y phải dùng cho tất cả, chứ không chỉ cho riêng mình. Từng chút một, y học con đường đi vào thế giới của trực giác; ngày qua ngày, năm qua năm, y trở nên nhạy bén hơn với các Ý Tưởng thiêng liêng và khéo léo hơn trong việc chiếm hữu chúng một cách minh triết để sử dụng cho đồng loại. |
|
Hy vọng của thế giới và việc xua tan ảo tưởng nằm trong sự phát triển những người trực giác và sự huấn luyện có ý thức dành cho họ. Có nhiều người trực giác tự nhiên mà công việc của họ là sự pha trộn giữa thông linh cao cấp với những tia lóe của trực giác chân chính. Cần phải có sự huấn luyện người trực giác chính xác. Song song với đáp ứng trực giác của họ và nỗ lực của họ nhằm ngưng tụ trực giác vào thế giới tư tưởng nhân loại, cũng phải có sự phát triển bền bỉ của thể trí con người để nó có thể nắm bắt và tri nhận điều được phóng chiếu; và chính trong điều này cũng nằm hy vọng của nhân loại. |
[Webinar 176]
b. Group Intuition dispels World Illusion—b. Trực giác Nhóm xua tan Ảo tưởng Thế giới
|
Today the world is full of illusions, many of them veiled under the form of idealisms; it is full of wishful thinking and planning, and even though much of this is rightly oriented and expresses the fixed determination of the intelligentsia to create better living conditions for the entire population [185] of the world, the question arises: Is there in the sum total of this wishful thinking enough of the essential dynamic livingness which will carry it down into physical demonstration and factual expression and thus truly meet human need? I would point out that the two greatest revealing Agents Who have ever come to Earth within the range of modern history made the following simple revelations to humanity: |
Ngày nay, thế giới đầy những ảo tưởng, nhiều ảo tưởng trong số đó được che phủ dưới hình thức các chủ nghĩa lý tưởng; nó đầy những mơ ước và hoạch định theo ý muốn, và dù phần lớn điều này được định hướng đúng đắn và biểu lộ quyết tâm cố định của giới trí thức nhằm tạo ra những điều kiện sống tốt đẹp hơn cho toàn thể dân chúng [185] trên thế giới, câu hỏi nảy sinh là: Trong tổng thể những mơ ước theo ý muốn này, có đủ sức sống năng động thiết yếu để đưa nó xuống biểu hiện hồng trần và thể hiện thành sự kiện, nhờ đó thật sự đáp ứng nhu cầu của con người hay không? Tôi muốn chỉ ra rằng hai Tác Nhân mặc khải vĩ đại nhất từng đến Trái Đất trong phạm vi lịch sử hiện đại đã đem đến cho nhân loại các mặc khải đơn giản sau đây: |
|
1. The cause of all human suffering is desire and personal selfishness. Give up desire and you will be free. |
1. Nguyên nhân của mọi đau khổ nhân loại là dục vọng và sự ích kỷ cá nhân. Hãy từ bỏ dục vọng và các bạn sẽ được tự do. |
|
2. There is a way of liberation and it leads to illumination. |
2. Có một con đường giải thoát, và nó dẫn đến sự soi sáng. |
|
3. It profits a man nothing to gain the whole world and lose his soul. |
3. Một người được cả thế gian mà mất linh hồn mình thì chẳng ích lợi gì. |
|
4. Every human being is a Son of God. |
4. Mỗi con người là một Con của Thượng đế. |
|
5. There is a way of liberation and it is the way of love and sacrifice. |
5. Có một con đường giải thoát, và đó là con đường của tình thương và hi sinh. |
|
The lives of these Revealers were symbolic representations of that which They taught, and the rest of Their teaching but an extension of Their central themes. Their contribution was an integral part of the general revelation of the ages which has led men from the primitive state of human existence to the complex state of modern civilisation. This general revelation can be called the Revelation of the Path which leads out of form to the Centre of all life; the purity of this revelation has been preserved down the ages by a small handful of disciples, initiates and true esotericists who have always been present upon the Earth—defending the simplicity of that teaching, seeking for those who could respond to and recognise the germ or seed of truth, and training men to take Their place and to tread the way of intuitive perception. One of the major tasks of the Hierarchy is to seek for and find those who are sensitive to revelation [186] and whose minds are trained so that they can formulate the emerging truths in such a way that they reach the ears of the world thinkers, relatively unchanged. All revelation, however, when put into words and word forms, loses something of its divine clarity. |
Đời sống của các Đấng Mặc Khải này là những biểu hiện tượng trưng của điều Các Ngài đã dạy, và phần còn lại trong giáo huấn của Các Ngài chỉ là sự mở rộng các chủ đề trung tâm ấy. Đóng góp của Các Ngài là một phần toàn vẹn của sự mặc khải chung qua các thời đại, vốn đã dẫn con người từ trạng thái nguyên thủy của sự hiện hữu nhân loại đến trạng thái phức tạp của nền văn minh hiện đại. Sự mặc khải chung này có thể được gọi là Mặc Khải về Đường Đạo, dẫn ra khỏi hình tướng đến Trung Tâm của mọi sự sống; sự tinh khiết của mặc khải này đã được bảo tồn qua các thời đại bởi một nhóm nhỏ đệ tử, điểm đạo đồ và các nhà bí truyền học chân chính, những người luôn hiện diện trên Trái Đất—bảo vệ sự đơn giản của giáo huấn ấy, tìm kiếm những người có thể đáp ứng và nhận biết mầm hay hạt giống chân lý, và huấn luyện con người để đảm nhận vị trí của Các Ngài và bước trên con đường tri nhận trực giác. Một trong các nhiệm vụ chính yếu của Thánh đoàn là tìm kiếm và tìm thấy những người nhạy cảm với sự mặc khải [186] và có thể trí được huấn luyện để họ có thể định hình các chân lý đang xuất hiện theo cách chúng đến được tai của các nhà tư tưởng thế giới mà tương đối không bị biến đổi. Tuy nhiên, mọi mặc khải, khi được đưa vào ngôn từ và hình thức ngôn từ, đều mất đi phần nào sự trong sáng thiêng liêng của nó. |
|
Phần lớn sự mặc khải trong quá khứ đã đến theo đường lối của xung lực tôn giáo, và khi ảo tưởng sâu dày thêm và lớn lên theo thời gian, sự đơn giản nguyên thủy, như đã được các Đấng Mặc Khải truyền đạt, đã bị mất. Mọi mặc khải căn bản đều được trình bày trong những hình thức đơn giản nhất. Từng lớp bồi đắp nối tiếp nhau len vào; trí tuệ con người làm cho giáo huấn trở nên phức tạp qua các luận giải trí tuệ của họ, cho đến khi các hệ thống thần học vĩ đại được dựng lên, mà chúng ta gọi, chẳng hạn, là Giáo hội Cơ Đốc và hệ thống Phật giáo. Các Đấng Sáng Lập của chúng hẳn sẽ rất khó nhận ra hai hay ba sự kiện hoặc chân lý căn bản và thiêng liêng mà Các Ngài đã tìm cách mặc khải và nhấn mạnh, bởi tấm màn ảo tưởng phủ lên những tuyên ngôn đơn giản của Đức Christ và Đức Phật quá dày. Các đại giáo đường đồ sộ và những nghi lễ khoa trương của giới chính thống cách rất xa lối sống khiêm nhường của Đức Christ, Chân sư của mọi Chân sư và cũng là Huấn Sư của thiên thần và con người, cũng như cách rất xa sự đơn giản trong lối sống hiện nay của Ngài khi Ngài quan sát và chờ đợi dân của Ngài trở về với con đường đơn giản của sự chứng nghiệm tinh thần. |
[Webinar 177]
[Webinar 178]
|
The revelations of science, though focussed often through one man or woman, are more specifically the result of group endeavour and of trained group activity than are the revelations of religion, so called. Revelation, therefore, comes in two ways: |
Các mặc khải của khoa học, dù thường được tập trung qua một người nam hay nữ, về mặt chuyên biệt hơn là kết quả của nỗ lực nhóm và hoạt động nhóm được huấn luyện, hơn là các mặc khải của cái gọi là tôn giáo. Vì vậy, mặc khải đến theo hai cách: |
|
1. Through the effort, aspiration and achievement of one man who is so close to the Hierarchy and so imbued with conscious divinity that he can receive the message direct from the central divine Source. He has joined the ranks of the Great Intuitives and works freely in the world of divine Ideas. He knows His mission clearly; He chooses His sphere of activity with deliberation and isolates the truth or truths which He deems appropriate to the need of the time. He comes forth as a Messenger of the Most High, leads a dramatic and arresting life of service and symbolises in His life-events certain basic truths which have already been revealed but which He pictorially re-enacts. He epitomises in Himself the revelations of the past, and to them adds His Own contribution of the new revelation which it is His specific function to present to the world. |
1. Qua nỗ lực, khát vọng và thành tựu của một người ở gần Thánh đoàn đến mức, và được thấm nhuần thiên tính có ý thức đến mức, y có thể nhận thông điệp trực tiếp từ Nguồn thiêng liêng trung tâm. Y đã gia nhập hàng ngũ các Bậc Trực Giác Vĩ Đại và làm việc tự do trong thế giới của các Ý Tưởng thiêng liêng. Ngài biết rõ sứ mệnh của Ngài; Ngài chọn lĩnh vực hoạt động của mình một cách có chủ ý và cô lập chân lý hay các chân lý mà Ngài xem là thích hợp với nhu cầu của thời đại. Ngài xuất hiện như một Sứ giả của Đấng Tối Cao, sống một đời phụng sự đầy kịch tính và gây chú ý, và biểu tượng hóa trong các biến cố đời Ngài một số chân lý căn bản đã được mặc khải, nhưng được Ngài tái diễn bằng hình ảnh. Ngài kết tinh trong chính Ngài các mặc khải của quá khứ, và thêm vào đó đóng góp riêng của Ngài là mặc khải mới mà chức năng chuyên biệt của Ngài là trình bày cho thế giới. |
|
2. Through the effort of a group of seekers, such as the scientific investigators in every country, who together are searching for light on the problems of manifestation or for some means to alleviate human suffering, a revelation comes. The effort of such a group often lifts upon the wings of its unrealised aspiration some one man who can then penetrate into the world of divine Ideas and there find the longed for cure or key and thus he intuitively discovers a long sought secret. The discovery, [189] when of the first rank, is as much a revelation as the truths presented by the World Teachers. Who shall say that the statement that God is Love is of more value than the statement that All is Energy? |
2. Qua nỗ lực của một nhóm người tìm kiếm, như các nhà điều tra khoa học ở mọi quốc gia, những người cùng nhau tìm kiếm ánh sáng trên các vấn đề của sự biểu hiện, hoặc một phương tiện nào đó để làm dịu đau khổ của con người, một mặc khải xuất hiện. Nỗ lực của một nhóm như thế thường nâng lên, trên đôi cánh của khát vọng chưa được nhận ra của mình, một người nào đó để rồi người ấy có thể xuyên nhập vào thế giới của các Ý Tưởng thiêng liêng và tại đó tìm thấy phương thuốc hay chìa khóa hằng mong đợi, nhờ vậy y trực giác khám phá ra một bí mật đã được tìm kiếm từ lâu. Sự khám phá ấy, [189] khi thuộc hàng bậc nhất, cũng là một mặc khải chẳng kém gì các chân lý do các Đức Chưởng Giáo trình bày. Ai sẽ nói rằng phát biểu Thượng đế là Tình thương có giá trị hơn phát biểu Tất cả là Năng lượng? |
|
The route which the revelation then follows is the same in both cases, and illusion overtakes both forms of revelation but—and here is a point upon which I would ask you to reflect—there is a little less illusion gathered around the revelations of science than has gathered around the revelations of what humanity calls the more definitely spiritual truths. One reason lies in the fact that the last great spiritual revelation, given by the Christ, was given two thousand years ago, and the development of man’s mind and his responsiveness to truth has grown greatly since that time. Again, the revelations of science are largely the result of group tension, eventually focussed in one intuitive recipient, and the revelation is thereby protected. |
Con đường mà sự mặc khải sau đó đi theo là như nhau trong cả hai trường hợp, và ảo tưởng bắt kịp cả hai hình thức mặc khải; nhưng—và đây là một điểm Tôi muốn các bạn suy ngẫm—có ít ảo tưởng tụ lại quanh các mặc khải của khoa học hơn là quanh các mặc khải của những điều mà nhân loại gọi là các chân lý tinh thần rõ rệt hơn. Một lý do nằm ở sự kiện rằng mặc khải tinh thần vĩ đại gần đây nhất, do Đức Christ ban cho, đã được trao cách đây hai nghìn năm, và sự phát triển của trí tuệ con người cùng khả năng đáp ứng của y đối với chân lý đã lớn lên rất nhiều kể từ thời ấy. Hơn nữa, các mặc khải của khoa học phần lớn là kết quả của sự căng thẳng nhất tâm nhóm, cuối cùng được tập trung nơi một người tiếp nhận trực giác, và nhờ vậy sự mặc khải được bảo vệ. |
|
Ngày nay, khi nhân loại chờ đợi sự mặc khải sẽ thể hiện các tư tưởng, ước mơ và mục tiêu xây dựng của Kỷ Nguyên Mới, lần đầu tiên nhu cầu ấy đến từ một nhóm lớn những người có khuynh hướng trực giác. Huynh đệ của Ngày Xưa, Tôi không nói là những người trực giác. Nhóm này hiện lớn đến mức, tiêu điểm của nó hiện thực đến mức, và nhu cầu của nó vang dội đến mức, nó đang thành công trong việc tập trung ý định hợp nhất của quần chúng. Vì vậy, bất cứ mặc khải nào có thể xuất hiện trong tương lai gần sẽ được “bảo vệ bởi tinh thần thấu hiểu” tốt hơn bất kỳ mặc khải nào trước đây. Đây là thâm nghĩa của những lời trong Tân Ước: “mọi mắt sẽ thấy Ngài”; toàn thể nhân loại sẽ nhận biết Đấng mặc khải. Trong các thời đại trước, Sứ giả từ Trên Cao chỉ được nhận biết và được biết đến bởi một nhóm người rất ít, và thông điệp của Ngài phải mất nhiều thập niên, đôi khi nhiều thế kỷ, mới thâm nhập vào trái tim nhân loại. |
|
|
[190] |
[190] |
|
The stress of the times also and the development of the sense of proportion, plus an enforced return to simplicity of living and requirements may save the coming revelation from too swift and quick submergence in the fire of the Great Illusion. |
Áp lực của thời đại, cùng sự phát triển của Ý thức về tỉ lệ, cộng với một sự trở về bắt buộc với sự đơn giản trong đời sống và nhu cầu, có thể cứu mặc khải sắp đến khỏi bị chìm ngập quá nhanh chóng trong ngọn lửa của Đại Ảo Tưởng. |
|
It will be apparent to you from the above that the mode of handling world affairs, states of consciousness and conditions in the three worlds is one in which the disciple and initiate work from above downwards. The method is in reality a repetition of the involutionary arc in which—like the Creator, from a vantage point of exterior direction—energy, force and forces are directed into the world of phenomena and produce definite effects upon the substance of the three planes. This is a point which should be most carefully remembered; and it is for this reason that the Technique of the Presence must always be employed, prior to all other techniques. It establishes contact with the directing spiritual Agent and enables the disciple to assume the attitude of the detached Observer and an agent of the Plan. When this technique is correctly followed, it brings the intuition into play and the world of meaning (lying behind the world of phenomena) stands revealed, thereby dispelling illusion. Truth, as it is, is seen and known. Forms in the outer world of phenomena (outer from the angle of the soul and therefore encompassing the three worlds of our familiar daily living) are seen to be but symbols of an inward and spiritual Reality. |
Từ những điều trên, các bạn sẽ thấy rõ rằng phương thức xử lý các sự vụ thế giới, các trạng thái tâm thức và các điều kiện trong ba cõi thấp là phương thức trong đó đệ tử và điểm đạo đồ làm việc từ trên xuống dưới. Phương pháp này thực ra là sự lặp lại của cung giáng hạ tiến hoá, trong đó—giống như Đấng Sáng Tạo, từ một vị thế chỉ đạo bên ngoài—năng lượng, mãnh lực và các mãnh lực được hướng vào thế giới hiện tượng và tạo ra những hiệu quả xác định trên chất liệu của ba cõi. Đây là một điểm cần được ghi nhớ hết sức cẩn thận; và chính vì lý do này mà Kỹ Thuật của Hiện Diện phải luôn được sử dụng trước mọi kỹ thuật khác. Nó thiết lập sự tiếp xúc với Tác Nhân tinh thần chỉ đạo và giúp đệ tử đảm nhận thái độ của Nhà Quan Sát tách rời và của một tác nhân của Thiên Cơ. Khi kỹ thuật này được theo đúng cách, nó đưa trực giác vào hoạt động, và Thế giới của ý nghĩa, nằm đằng sau thế giới hiện tượng, được mặc khải, nhờ đó xua tan ảo tưởng. Chân lý, như chính nó là, được thấy và được biết. Các hình tướng trong thế giới bên ngoài của hiện tượng, bên ngoài xét từ góc độ linh hồn và do đó bao gồm ba cõi giới của đời sống hằng ngày quen thuộc của chúng ta, được thấy chỉ là các biểu tượng của một Thực Tại nội tại và tinh thần. |
[Webinar 179]
2. The Technique of Light—2. Kỹ Thuật Ánh sáng
|
We come now to the consideration of the next development and service to be rendered through the medium of another technique. |
Giờ đây chúng ta đi đến việc xem xét sự phát triển và phụng sự kế tiếp, sẽ được thực hiện qua trung gian của một kỹ thuật khác. |
|
This theme is so vast and there is so much literature to be found in all the world Scriptures, commentaries and theological [191] dissertations on the subject of Light that the simple truth and a few basic principles are lost to sight in a welter of words. |
Chủ đề này quá rộng lớn, và có quá nhiều văn liệu được tìm thấy trong tất cả các Thánh Kinh thế giới, các chú giải và các [191] luận giải thần học về đề tài Ánh sáng, đến nỗi chân lý đơn giản và vài nguyên lý căn bản bị khuất khỏi tầm nhìn trong một mớ hỗn độn ngôn từ. |
|
Trong các sách khác nhau của Tôi, Tôi đã nói nhiều về đề tài này, và trong sách Ánh Sáng của Linh Hồn, mà Tôi viết với sự cộng tác của bà Alice Bailey, một nỗ lực đã được thực hiện nhằm chỉ ra bản chất của ánh sáng linh hồn. Chìa khóa của kỹ thuật này được tìm thấy trong những lời: Trong Ánh Sáng ấy, chúng ta sẽ thấy ÁNH SÁNG. Một cách diễn giải đơn giản về những lời có vẻ trừu tượng và biểu tượng này có thể được đưa ra như sau: Khi đệ tử đã tìm thấy trung tâm được soi sáng ấy bên trong chính mình và có thể bước đi trong ánh sáng tỏa chiếu của nó, khi ấy y ở trong vị thế, hay trong một trạng thái tâm thức nếu các bạn muốn nói như vậy, trong đó y trở nên nhận biết ánh sáng bên trong mọi hình tướng và nguyên tử. Thế giới nội tại của thực tại hiện ra trước y như chất liệu-ánh sáng, một điều khác với Thực Tại được trực giác mặc khải. Khi ấy y có thể trở thành một cộng sự hữu hiệu với Thiên Cơ, vì thế giới của ý nghĩa thông linh trở nên có thật đối với y và y biết điều gì cần được làm để xua tan ảo cảm. Có thể nói rằng tiến trình đem ánh sáng vào những nơi tối tăm này tự nhiên chia thành ba giai đoạn: |
|
|
1. The stage wherein the beginner and the aspirant endeavour to eradicate glamour out of their own life by the use of the light of the mind. The light of knowledge is a major dispelling agent in the earlier phases of the task and effectively eliminates the various glamours which veil the truth from the aspirant. |
1. Giai đoạn trong đó người mới bắt đầu và người chí nguyện cố gắng loại trừ ảo cảm khỏi đời sống của mình bằng cách sử dụng ánh sáng của thể trí. Ánh sáng tri thức là một tác nhân xua tan chính yếu trong các giai đoạn đầu của nhiệm vụ, và loại bỏ hữu hiệu các ảo cảm khác nhau đang che phủ chân lý khỏi người chí nguyện. |
|
2. The stage wherein the aspirant and disciple work with the light of the soul. This is the light of wisdom which is the interpreted result of long experience, and this streams forth, blending with the light of knowledge. |
2. Giai đoạn trong đó người chí nguyện và đệ tử làm việc với ánh sáng của linh hồn. Đây là ánh sáng minh triết, tức kết quả được diễn giải của kinh nghiệm lâu dài, và ánh sáng này tuôn ra, hòa trộn với ánh sáng tri thức. |
|
3. The stage wherein the disciple and the initiate work with the light of the intuition. It is through the blended [192] medium of the light of knowledge (personality light) and the light of wisdom (soul light) that the Light is seen, known and appropriated. This light puts out the lesser lights through the pure radiance of its power. |
3. Giai đoạn trong đó đệ tử và điểm đạo đồ làm việc với ánh sáng của trực giác. Chính qua trung gian hòa trộn [192] của ánh sáng tri thức, ánh sáng phàm ngã, và ánh sáng minh triết, ánh sáng linh hồn, mà Ánh Sáng được thấy, được biết và được chiếm hữu. Ánh sáng này dập tắt các ánh sáng nhỏ hơn bằng sự rạng rỡ thuần khiết của quyền năng nó. |
|
You have therefore the light of knowledge, the light of wisdom and the light of the intuition, and these are three definite stages or aspects of the One Light. They correspond to the physical Sun, the heart of the Sun, and the Central Spiritual Sun. In this last sentence you have the clue and the key to the relation of man to the Logos. |
Vì vậy, các bạn có ánh sáng tri thức, ánh sáng minh triết và ánh sáng của trực giác, và đây là ba giai đoạn hay phương diện xác định của Một Ánh Sáng. Chúng tương ứng với Mặt Trời hồng trần, tâm của Mặt Trời và Mặt trời Tinh thần Trung Ương. Trong câu cuối này, các bạn có manh mối và chìa khóa cho mối liên hệ của con người với Thượng đế. |
[Webinar 180]
[Webinar 181]
|
When, therefore, students and aspirants have made progress in soul contact, they have taken one of the first important steps towards the comprehension of light and its uses. They must however be careful not to confuse the light which they can bring to bear on life, circumstance, events, and on environment with the intuition. The light with which we are concerned expresses itself in the three worlds and reveals form and forms, their reaction and effects, their glamour and attractive appeal, and their power to delude and imprison consciousness. The light concerned is soul light, illuminating the mind and bringing about revelation of the world of forms in which that life is immersed. |
Do đó, khi các đạo sinh và người chí nguyện đã có tiến bộ trong sự tiếp xúc với linh hồn, họ đã thực hiện một trong những bước quan trọng đầu tiên hướng tới việc thấu hiểu ánh sáng và các cách sử dụng của nó. Tuy nhiên, họ phải cẩn thận đừng nhầm lẫn ánh sáng mà họ có thể đem soi chiếu vào đời sống, hoàn cảnh, biến cố và môi trường với trực giác. Ánh sáng mà chúng ta đang bàn đến biểu lộ trong ba cõi thấp và mặc khải hình tướng cùng các hình tướng, phản ứng và hiệu quả của chúng, ảo cảm và sức hấp dẫn lôi cuốn của chúng, cũng như quyền năng của chúng trong việc đánh lừa và giam hãm tâm thức. Ánh sáng được đề cập là ánh sáng linh hồn, soi sáng thể trí và đem lại sự mặc khải về thế giới hình tướng mà trong đó sự sống ấy đang đắm chìm. |
|
The intuition is concerned with nothing whatsoever in the three worlds of human experience but only with the perceptions of the Spiritual Triad and with the world of ideas. The intuition is to the world of meaning what the mind is to the three worlds of experience. It produces understanding just as the light of soul produces knowledge, through the medium of that experience. Knowledge is not a purely mental reaction but is something which is found on all levels and is instinctual in some form in all kingdoms. This is axiomatic. The five senses bring physical plane knowledge; psychic sensitivity brings a knowledge of the astral plane; the mind brings intellectual perception, but all three are aspects of the light of knowledge (coming from the soul) as it informs its vehicles of expression in the vast threefold [195] environment in which it chooses to imprison itself for purposes of development. |
Trực giác hoàn toàn không liên quan gì đến bất cứ điều gì trong ba cõi kinh nghiệm của nhân loại, mà chỉ liên quan đến các tri nhận của Tam Nguyên Tinh Thần và đến thế giới của các ý tưởng. Trực giác đối với thế giới của ý nghĩa cũng như thể trí đối với ba cõi kinh nghiệm. Nó tạo ra sự thấu hiểu, cũng như ánh sáng của linh hồn tạo ra tri thức, thông qua phương tiện của kinh nghiệm ấy. Tri thức không phải là một phản ứng thuần túy trí tuệ, mà là điều được tìm thấy trên mọi cấp độ và, dưới một hình thức nào đó, có tính bản năng trong mọi giới. Đây là điều hiển nhiên. Năm giác quan đem lại tri thức về cõi hồng trần; sự nhạy cảm thông linh đem lại tri thức về cõi cảm dục; thể trí đem lại tri nhận trí năng, nhưng cả ba đều là các phương diện của ánh sáng tri thức, phát xuất từ linh hồn, khi nó thấm nhuần các vận cụ biểu lộ của mình trong môi trường tam phân rộng lớn [195] mà nó chọn để tự giam mình vào đó vì mục đích phát triển. |
[Webinar 182]
[Webinar 183]
[Webinar 184]
[Webinar 185]
[Webinar 187]
[Webinar 188]
a. The Dissipation of Individual Glamour—a. Sự tiêu tan của Ảo cảm Cá nhân
|
Let us first of all consider the mode by which the individual aspirant can succeed in dissipating the glamours which have for ages conditioned his life in the three worlds. He has been dominated by desire for four-fifths of his incarnated experience. He has begun to transmute his desire into aspiration and to seek—with all the devotion, emotion and longing of which he is capable—for realisation. It is then that he becomes aware of the appalling nature of the glamours in which he automatically and normally walks. Glamour arose when man recognised and registered desire as an incentive, thus demonstrating his humanity and his distinction from the animal, because it is the mind which reveals the existence of desire. The instinctual effort to satisfy desire—innate and inherent in the lower nature—gave [203] place to planned efforts to meet desire, involving the directive use of the mind. Thus the line of demarcation between the animal and the human has become increasingly apparent and the first and basic expression of pure selfishness appeared aeons ago. Later, as evolution proceeded and desire shifted from one planned satisfaction to another, it began to take on a less physical aspect and men sought pleasure in emotional experience and in its dramatisation: this led to the establishment of the drama as its first artistic expression; by means of this, down the ages, man has supplemented individual emotional and dramatic living with a vicarious submergence in it, thus exteriorising himself and supplementing his personal dramas, desires, and objectives with those which were developed by means of the creative imagination, thus laying the foundation for the recognition—intelligent and real—of the part in relation to the whole. Thus from earliest Atlantean times the foundation was laid for the unfoldment of the sense of mystical duality through the various stages of an anthropomorphic recognition of deity to the recognition of the real in man himself, until finally we arrive at the proposition which faces the disciple. Then the Dweller on the Threshold confronts the Angel of the Presence and the last and major conflict is fought out. |
Trước hết, chúng ta hãy xem xét phương thức nhờ đó người chí nguyện cá nhân có thể thành công trong việc làm tiêu tan các ảo cảm đã tác động lên đời sống của y trong ba cõi thấp qua nhiều thời đại. Y đã bị ham muốn chi phối trong bốn phần năm kinh nghiệm nhập thể của mình. Y đã bắt đầu chuyển hóa ham muốn của mình thành khát vọng và tìm kiếm—với tất cả lòng sùng tín, cảm xúc và niềm mong mỏi mà y có khả năng—sự chứng nghiệm. Khi ấy y trở nên nhận biết bản chất kinh khủng của các ảo cảm mà trong đó y tự động và bình thường bước đi. Ảo cảm phát sinh khi con người nhận biết và ghi nhận ham muốn như một động lực, qua đó chứng tỏ tính người của y và sự phân biệt của y với loài vật, vì chính thể trí mặc khải sự tồn tại của ham muốn. Nỗ lực bản năng nhằm thỏa mãn ham muốn—vốn bẩm sinh và cố hữu trong bản chất thấp—đã [203] nhường chỗ cho những nỗ lực có kế hoạch nhằm đáp ứng ham muốn, bao hàm việc sử dụng thể trí theo hướng chỉ đạo. Như vậy, đường ranh giới giữa loài vật và con người ngày càng trở nên rõ ràng, và biểu lộ đầu tiên cùng căn bản của sự ích kỷ thuần túy đã xuất hiện từ nhiều kiếp trước. Về sau, khi tiến hoá tiếp diễn và ham muốn chuyển từ một sự thỏa mãn có kế hoạch sang một sự thỏa mãn khác, nó bắt đầu mang một phương diện ít hồng trần hơn, và con người tìm kiếm khoái lạc trong kinh nghiệm cảm xúc và trong sự kịch hóa của nó: điều này dẫn đến việc thiết lập kịch nghệ như biểu lộ nghệ thuật đầu tiên của nó; bằng phương tiện này, qua các thời đại, con người đã bổ sung đời sống cảm xúc và kịch tính cá nhân bằng sự chìm đắm gián tiếp vào đó, nhờ vậy ngoại hiện chính mình và bổ sung các vở kịch, ham muốn và mục tiêu cá nhân của mình bằng những điều được phát triển qua Sự tưởng tượng sáng tạo, qua đó đặt nền tảng cho sự nhận biết—thông minh và thực sự—về phần trong tương quan với toàn thể. Như vậy, từ những thời kỳ Atlantis sớm nhất, nền tảng đã được đặt cho sự khai mở ý thức về nhị nguyên thần bí qua nhiều giai đoạn nhận biết Thượng đế theo hình người, cho đến sự nhận biết điều thực trong chính con người, để cuối cùng chúng ta đi đến đề xuất đối diện với đệ tử. Khi ấy Kẻ Chận Ngõ đối diện với Thiên Thần của Hiện Diện, và cuộc xung đột sau cùng cùng trọng đại được tiến hành. |
|
This dualistic consciousness culminates at the time of the third initiation in the final fight between the pairs of opposites and the triumphant victory of the Angel—the embodiment of the Forces of Good in the individual, in the group and in humanity. Then dualism and the desire for that which is material and not oneself (as identified with the Whole) dies out. Unity and the “life more abundantly” is achieved. |
Tâm thức nhị nguyên này đạt đến đỉnh điểm vào lúc lần điểm đạo thứ ba, trong trận chiến cuối cùng giữa các cặp đối nghịch và chiến thắng khải hoàn của Thiên Thần—hiện thân của các Mãnh Lực Thiện trong cá nhân, trong nhóm và trong nhân loại. Khi ấy nhị nguyên và ham muốn đối với điều thuộc vật chất và không phải là chính mình, khi đã đồng hóa với Toàn Thể, sẽ tàn lụi. Sự hợp nhất và “sự sống dồi dào hơn” được đạt tới. |
[Webinar 189]
|
The process followed by the disciple who is consciously working at the dissipation of glamour in his life can be [204] divided into four stages to which the following definitions can be given: |
Tiến trình mà đệ tử theo đuổi khi y đang làm việc một cách hữu thức để làm tiêu tan ảo cảm trong đời sống của mình có thể được [204] chia thành bốn giai đoạn, có thể được định nghĩa như sau: |
|
1. The stage of recognition of the glamour or glamours which hide the Real. These glamours are dependent in any particular life crisis upon the ray of the personality. |
1. Giai đoạn nhận biết ảo cảm hoặc các ảo cảm che giấu Thực Tại. Trong bất kỳ cuộc khủng hoảng đời sống đặc thù nào, các ảo cảm này tùy thuộc vào cung phàm ngã. |
|
2. The stage of focussing the disciple’s consciousness upon the mental plane and the gathering of the light to that point of focus so that the illumination is clear, the work to be done is plainly seen, and the searchlight of the mind is directed upon the glamour which it is intended should be dissipated. |
2. Giai đoạn tập trung tâm thức của đệ tử trên cõi trí, và gom ánh sáng về điểm tập trung ấy để sự soi sáng được rõ ràng, công việc cần làm được thấy hiển nhiên, và đèn pha của thể trí được hướng vào ảo cảm mà người ta dự định làm tiêu tan. |
|
3. The stage of direction. This involves the steady pouring of the light (under intelligent direction) into the dark places of the astral plane, remembering that the light will enable the disciple to do two things: |
3. Giai đoạn định hướng. Giai đoạn này bao hàm việc đều đặn tuôn đổ ánh sáng, dưới sự chỉ đạo thông minh, vào những nơi tối tăm của cõi cảm dục, đồng thời nhớ rằng ánh sáng sẽ giúp đệ tử làm hai điều: |
|
a. Dissipate the glamour—a satisfying experience. |
a. Làm tiêu tan ảo cảm—một kinh nghiệm thỏa mãn. |
|
b. See the Real—a terrifying experience, brother of mine. |
b. Huynh đệ của tôi, thấy được Thực Tại—một kinh nghiệm đáng kinh sợ. |
|
4. The stage of identification with the Real as it is contacted after the dissipation of the glamour. In the added light which is now available, there will be a further recognition of still subtler glamours which in their turn must be dissipated. |
4. Giai đoạn đồng hóa với Thực Tại khi nó được tiếp xúc sau khi ảo cảm đã được làm tiêu tan. Trong ánh sáng gia tăng hiện đang sẵn có, sẽ có thêm sự nhận biết về những ảo cảm còn tinh tế hơn, đến lượt chúng cũng phải được làm tiêu tan. |
|
This process of recognition, focussing, dissipation and consequent revelation goes on continually from the time a disciple treads the Path of Accepted Discipleship until the third initiation. |
Tiến trình nhận biết, tập trung, tiêu tan và mặc khải theo sau này tiếp diễn liên tục từ khi một đệ tử bước trên Con Đường Đệ Tử Được Chấp Nhận cho đến lần điểm đạo thứ ba. |
|
The clue to all success in this process is, therefore, connected with meditation and the holding of the mind steady in the light. Only through steadiness can the beam of light be formed, intensified, focussed and projected and then—[205] at the right moment—withdrawn. I cannot here enter upon an elucidation of the process of meditation, based on the right understanding of the nature of concentration. I have written much upon the subject and the Raja Yoga discipline is well known. Mental concentration and control is now the ordinary theme of all instructions given by educators and enlightened parents. It is difficult for the average person today to realise that there was a time when such phrases as “Use your mind” or “If you will only think” or “A little mental control on your part would be useful” were totally unknown because the mind was so little developed. It was then only recognised as a functioning factor by those with initiate consciousness. The Path of Evolution is in fact the path of recognitions, leading to revelation. The whole process of evolution is initiatory in character, leading from one expansion of consciousness to another until the worlds of the formless and of form stand revealed in the light which the initiate generates and in which he walks. These lights are varied and variously revealing; there is: |
Vì vậy, chìa khóa của mọi thành công trong tiến trình này liên hệ với tham thiền và việc giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng. Chỉ nhờ sự vững vàng mà tia sáng mới có thể được hình thành, tăng cường, tập trung và phóng chiếu, rồi sau đó—[205] vào đúng lúc—được rút lại. Ở đây tôi không thể đi vào việc làm sáng tỏ tiến trình tham thiền, dựa trên sự thấu hiểu đúng đắn về bản chất của sự tập trung. Tôi đã viết nhiều về đề tài này, và kỷ luật Raja Yoga thì đã được biết rõ. Sự tập trung và kiểm soát trí tuệ hiện nay là chủ đề thông thường của mọi chỉ dẫn do các nhà giáo dục và các bậc cha mẹ giác ngộ đưa ra. Ngày nay, người bình thường khó nhận ra rằng đã từng có một thời những câu như “Hãy dùng thể trí của bạn” hoặc “Giá như bạn chịu suy nghĩ” hay “Một chút kiểm soát trí tuệ về phía bạn sẽ hữu ích” hoàn toàn không được biết đến, vì thể trí khi ấy còn phát triển quá ít. Lúc đó, nó chỉ được nhận biết như một yếu tố đang hoạt động bởi những người có tâm thức điểm đạo đồ. Con Đường Tiến Hoá thật ra là con đường của những sự nhận biết, dẫn đến mặc khải. Toàn bộ tiến trình tiến hoá mang tính điểm đạo, dẫn từ một sự mở rộng tâm thức này đến một sự mở rộng khác, cho đến khi các thế giới vô hình tướng và hình tướng đứng hiển lộ trong ánh sáng mà điểm đạo đồ tạo ra và trong đó y bước đi. Các ánh sáng này đa dạng và mặc khải theo nhiều cách; có: |
|
1. The light of matter itself, found in every atom of substance. |
1. Ánh sáng của chính vật chất, được tìm thấy trong mỗi nguyên tử chất liệu. |
|
2. The light of the vital or etheric vehicle—a light which is the reflection of the One Light because it unifies the three types of light within the three worlds. |
2. Ánh sáng của vận cụ sinh lực hay dĩ thái—một ánh sáng là sự phản chiếu của Ánh Sáng Duy Nhất, vì nó hợp nhất ba loại ánh sáng trong ba cõi thấp. |
|
3. The light of the instinct. |
3. Ánh sáng của bản năng. |
|
4. The light of the intellect or the light of knowledge. |
4. Ánh sáng của trí năng hay ánh sáng của tri thức. |
|
5. The light of the soul. |
5. Ánh sáng của linh hồn. |
|
6. The light of the intuition. |
6. Ánh sáng của trực giác. |
|
From light to light we pass, from revelation to revelation until we pass out of the realm of light into the realm of life which is, as yet to us, pure darkness. |
Từ ánh sáng này đến ánh sáng khác chúng ta đi qua, từ mặc khải này đến mặc khải khác, cho đến khi chúng ta đi ra khỏi lãnh vực ánh sáng để vào lãnh vực sự sống, điều mà đối với chúng ta hiện nay vẫn là bóng tối thuần túy. |
|
It will be obvious to you that this increasing light brings with it a constantly developing series of revelations which, [206] like all else in the world of human experience, unfolds before the eyes first of all the world of forms, then the world of ideals, then the nature of the soul, of ideas and of divinity. I am choosing but a few of the words which embody the revelation and are symbolic of its character. But all these revelations constitute one great unified revelation which is slowly unfolding before the eyes of humanity. The light of the personal lower self reveals to man the world of form, of matter, of instinct, of desire and of mind; the light of the soul reveals the nature of the relation of these forms of life to the world of the formless and of the conflict between the real and the unreal. The light of the intuition unfolds before the vision of the soul within the personality, the nature of God and the unity of the Whole. The restlessness of material desire, seeking its satisfaction in the three worlds, eventually gives place to aspiration towards soul contact and soul life. This in its turn is recognised as a step towards those great fundamental experiences to which we give the names of the five major initiations. These reveal to man the hitherto unrealised fact of his non-separateness and of the relation of his individual will to the divine will. |
Các bạn sẽ thấy rõ rằng ánh sáng ngày càng gia tăng này mang theo nó một chuỗi mặc khải không ngừng phát triển, vốn, [206] giống như mọi điều khác trong thế giới kinh nghiệm nhân loại, trước hết mở ra trước mắt thế giới hình tướng, rồi thế giới của các lý tưởng, rồi bản chất của linh hồn, của các ý tưởng và của thiên tính. Tôi chỉ chọn một vài từ hiện thân cho sự mặc khải và tượng trưng cho tính chất của nó. Nhưng tất cả những mặc khải này cấu thành một sự mặc khải thống nhất vĩ đại đang dần dần khai mở trước mắt nhân loại. Ánh sáng của phàm ngã thấp cá nhân mặc khải cho con người thế giới hình tướng, vật chất, bản năng, ham muốn và thể trí; ánh sáng của linh hồn mặc khải bản chất của mối liên hệ giữa các hình tướng sự sống này với thế giới vô hình tướng, và của cuộc xung đột giữa điều thực và điều không thực. Ánh sáng của trực giác khai mở trước tầm nhìn của linh hồn bên trong phàm ngã bản chất của Thượng đế và sự hợp nhất của Toàn Thể. Sự bất an của ham muốn vật chất, tìm kiếm sự thỏa mãn của nó trong ba cõi thấp, cuối cùng nhường chỗ cho khát vọng hướng tới sự tiếp xúc với linh hồn và đời sống linh hồn. Đến lượt điều này được nhận biết như một bước hướng tới những kinh nghiệm căn bản vĩ đại mà chúng ta gọi là năm cuộc điểm đạo chính. Những cuộc điểm đạo này mặc khải cho con người sự thật mà trước đây y chưa nhận ra về tính không chia lìa của y và về mối liên hệ giữa ý chí cá nhân của y với Ý Chí thiêng liêng. |
|
We are now going to study the mode whereby these phases of work upon the astral plane are carried forward: first, the individual learns to use the light of the mind, generated by the soul as it becomes closely related to the personality and impulsed by the intuition. By means of this light the disciple learns to dissipate his personal and private glamours. I mention this because I would have you appreciate the extent of the task a man undertakes when he consciously sets about ridding himself of glamour preparatory to extended service. He is in conflict then with the whole glamour of the entire plane and is apt to be overwhelmed by a realisation of what he is facing. This is one of the [207] causes of the deep depression and those profound inferiority complexes which render some people completely futile or lead eventually to suicide. Their own personal glamours tie them in to national or planetary glamour and thus condition their life expression and their thinking. I would ask you to remember this as you deal with people and find them set in their ideas and unable to see the truth as you see it. They are as they are because their individual glamour is fed by the greater glamours, and this is as yet too much for them. |
Giờ đây chúng ta sẽ nghiên cứu phương thức nhờ đó các giai đoạn công việc này trên cõi cảm dục được xúc tiến: trước hết, cá nhân học cách sử dụng ánh sáng của thể trí, do linh hồn tạo ra khi nó trở nên liên hệ mật thiết với phàm ngã và được trực giác thúc đẩy. Bằng ánh sáng này, đệ tử học cách làm tiêu tan các ảo cảm cá nhân và riêng tư của mình. Tôi nhắc đến điều này vì tôi muốn các bạn nhận thức được tầm mức của nhiệm vụ mà một người đảm nhận khi y hữu thức bắt đầu tự giải thoát khỏi ảo cảm để chuẩn bị cho sự phụng sự mở rộng. Khi ấy y ở trong xung đột với toàn bộ ảo cảm của cả cõi ấy, và có khuynh hướng bị choáng ngợp bởi sự nhận ra điều mà y đang đối diện. Đây là một trong những [207] nguyên nhân của sự trầm uất sâu xa và những phức cảm tự ti trầm trọng khiến một số người hoàn toàn vô hiệu hoặc cuối cùng dẫn đến tự tử. Các ảo cảm cá nhân của chính họ buộc họ vào ảo cảm quốc gia hoặc ảo cảm hành tinh, và do đó tác động lên sự biểu lộ đời sống cùng tư tưởng của họ. Tôi đề nghị các bạn nhớ điều này khi các bạn tiếp xúc với con người và thấy họ cố chấp trong các ý tưởng của mình, không thể thấy chân lý như các bạn thấy. Họ là như vậy vì ảo cảm cá nhân của họ được nuôi dưỡng bởi những ảo cảm lớn hơn, và điều này hiện vẫn còn quá sức đối với họ. |
|
It is not my intention to deal specifically with particular glamours but to give you a formula which—with slight changes and additions—can serve the individual and the group in the task of eradicating glamour. I would begin by saying that the first need is for the man to realise that his reactions, ideas, desires and life experience, as far as his emotional nature is concerned, are conditioned by some one glamour or glamours, that he is the victim of several glamours, engendered over many lives, deeply rooted in his past history, and to which he instinctually reacts. The time, however, comes when the probationary disciple becomes aware of these instinctual glamours and recognises them on appearance, even when reacting to them; he seeks to free himself, working at first spasmodically, trying to use the mind to rationalise himself out of them and alternating between temporary success, when he can with deliberation act as if free from glamour, and long periods of defeat when he is overwhelmed, can see no light anywhere and acts like a blind, bewildered person. This indicates that he is drawn as by a magnet (the force of accumulated ancient glamour with its karmic effects) into the midst of the very glamour he would seek to avoid. Later comes the stage (a result of this alternating process) when the pull of the soul begins to offset the pull of these glamours: he [208] aspires to free expression and to liberation from astral plane control. The balancing process then takes place. |
Ý định của tôi không phải là bàn riêng về những ảo cảm đặc thù, mà là trao cho các bạn một công thức, với vài thay đổi và bổ sung nhỏ, có thể phục vụ cá nhân và nhóm trong nhiệm vụ diệt trừ ảo cảm. Tôi sẽ bắt đầu bằng cách nói rằng nhu cầu đầu tiên là con người phải nhận ra rằng các phản ứng, ý tưởng, ham muốn và kinh nghiệm đời sống của y, xét theo bản chất cảm xúc của y, đều chịu tác động của một ảo cảm hoặc nhiều ảo cảm nào đó; rằng y là nạn nhân của nhiều ảo cảm, được sinh ra qua nhiều kiếp sống, cắm rễ sâu trong lịch sử quá khứ của y, và y phản ứng với chúng theo bản năng. Tuy nhiên, thời điểm sẽ đến khi đệ tử dự bị trở nên nhận biết các ảo cảm bản năng này và nhận biết chúng ngay khi chúng xuất hiện, ngay cả khi đang phản ứng với chúng; y tìm cách tự giải thoát, ban đầu làm việc một cách thất thường, cố gắng sử dụng thể trí để hợp lý hóa mình thoát khỏi chúng, và dao động giữa thành công tạm thời, khi y có thể cố ý hành động như thể tự do khỏi ảo cảm, với những giai đoạn thất bại kéo dài khi y bị choáng ngợp, không thể thấy ánh sáng ở bất cứ đâu và hành động như một người mù lòa, hoang mang. Điều này cho thấy y bị kéo như bởi nam châm, tức mãnh lực của ảo cảm cổ xưa tích lũy cùng các hiệu quả nghiệp quả của nó, vào giữa chính ảo cảm mà y tìm cách tránh. Về sau đến giai đoạn, như kết quả của tiến trình dao động này, khi sức hút của linh hồn bắt đầu hóa giải sức hút của các ảo cảm này: y [208] khát vọng đến sự biểu lộ tự do và sự giải thoát khỏi sự kiểm soát của cõi cảm dục. Khi ấy tiến trình quân bình diễn ra. |
|
It is during this stage that meditation is instituted so that the man becomes aware of soul light as it blends with the inherent light of the mental body, and this blended light steadily intensifies as he persists in the meditation work. A point then comes where the aspirant discovers that this inner light can be used, and he begins tentatively and with uneven success to turn that light upon the problems of his particular glamour. It is also at this point that we now carry forward the Technique of Light, employing it so that the vague unscientific technique of the past comes to an end. The indicated technique is of use only to the man who knows something of the light of the mind, of the light in the head, and of the light of the soul. The light in the head is produced by the definitely planned bringing together of soul light and personality light, focussed in the mental body and producing an effect in the brain. This focussing process falls into three stages: |
Chính trong giai đoạn này mà tham thiền được thiết lập, để con người trở nên nhận biết ánh sáng linh hồn khi nó hòa trộn với ánh sáng vốn có của thể trí, và ánh sáng hòa trộn này tăng cường đều đặn khi y kiên trì trong công việc tham thiền. Rồi đến một điểm mà người chí nguyện khám phá rằng ánh sáng bên trong này có thể được sử dụng, và y bắt đầu một cách thăm dò, với thành công không đều, hướng ánh sáng ấy vào các vấn đề của ảo cảm đặc thù của mình. Cũng chính tại điểm này mà chúng ta nay xúc tiến Kỹ Thuật Ánh sáng, sử dụng nó để kỹ thuật mơ hồ và phi khoa học của quá khứ chấm dứt. Kỹ thuật được chỉ ra chỉ hữu dụng cho người biết đôi điều về ánh sáng của thể trí, về ánh sáng trong đầu, và về ánh sáng của linh hồn. Ánh sáng trong đầu được tạo ra nhờ việc quy tụ có kế hoạch rõ ràng ánh sáng linh hồn và ánh sáng phàm ngã, tập trung trong thể trí và tạo ra một hiệu quả trong bộ não. Tiến trình tập trung này gồm ba giai đoạn: |
|
1. The attempt to focus the light of the mind and of matter in the mental vehicle. |
1. Nỗ lực tập trung ánh sáng của thể trí và của vật chất trong vận cụ trí tuệ. |
|
This signifies a bringing together of the light of matter and substance (dense material and etheric light) and the light of the mind itself. There is no peculiar or specific light in or of the astral body itself, for it is only an aggregate of forms, created by individual man, by nations and by races, and these in their entirety constitute the astral plane and possess no inherent light as do other forms. They are not created as a form of expression for some dynamic life by the planetary Logos, and this is the real meaning of what I have earlier told you that the astral plane in reality does not exist. It is the phantasmoric creation of human desire down the [209] ages and its false light is a reflection of either the light of matter or of the mind. This process of focussing is undertaken through alignment and by the effort to bring to a point of illumination the positive light of the mind and the negative light of the brain and is carried forward through mental control, developed in meditation. When these two opposite poles are in relation then (by an act of the personality will) these two aspects of the lesser light can form a pin point of light—like a small torch light—revealing some phase of the glamour to which the aspirant most easily responds. This first focussed light is not of such a nature that it can do more than reveal. It has no dissipating power, nor can it render existing glamour ineffective. It can only make a man aware in his waking or brain consciousness that glamour holds him. This is related to the stage of concentration in the meditation process. |
Điều này hàm ý việc quy tụ ánh sáng của vật chất và chất liệu, tức ánh sáng vật chất đậm đặc và ánh sáng dĩ thái, với ánh sáng của chính thể trí. Không có ánh sáng đặc thù hay riêng biệt nào trong hoặc của chính thể cảm dục, vì nó chỉ là một tập hợp các hình tướng do con người cá nhân, các quốc gia và các nhân loại tạo ra, và toàn thể chúng cấu thành cõi cảm dục, không sở hữu ánh sáng cố hữu như các hình tướng khác. Chúng không được Đức Hành Tinh Thượng đế tạo ra như một hình thức biểu lộ cho một sự sống năng động nào đó, và đây là ý nghĩa thực sự của điều tôi đã nói với các bạn trước đây rằng cõi cảm dục trong thực tại không tồn tại. Nó là sáng tạo ảo ảnh của ham muốn nhân loại qua các [209] thời đại, và ánh sáng giả của nó là sự phản chiếu hoặc của ánh sáng vật chất hoặc của thể trí. Tiến trình tập trung này được thực hiện thông qua sự chỉnh hợp và bằng nỗ lực đưa ánh sáng dương của thể trí cùng ánh sáng âm của bộ não đến một điểm soi sáng, và được xúc tiến qua sự kiểm soát trí tuệ, phát triển trong tham thiền. Khi hai cực đối nghịch này ở trong mối liên hệ, thì bằng một hành động của ý chí phàm ngã, hai phương diện này của ánh sáng thấp có thể tạo thành một điểm sáng nhỏ—giống như một ngọn đèn pin nhỏ—mặc khải một phương diện nào đó của ảo cảm mà người chí nguyện dễ đáp ứng nhất. Ánh sáng tập trung đầu tiên này không có bản chất đến mức có thể làm được gì hơn ngoài việc mặc khải. Nó không có quyền năng làm tiêu tan, cũng không thể khiến ảo cảm hiện hữu trở nên vô hiệu. Nó chỉ có thể khiến con người nhận biết, trong tâm thức tỉnh thức hay tâm thức bộ não của y, rằng ảo cảm đang nắm giữ y. Điều này liên hệ với giai đoạn tập trung trong tiến trình tham thiền. |
|
2. The second stage of the focussing process is produced through the effort to meditate. In the previous stage, the blending of the two material lights was entirely a form process and the aspirant is actuated entirely by his personality forces and expediency. An illustration of this and of its effectiveness can be seen in the man who, from purely selfish motives and through an intense concentration, focusses his mind and brings about the gratification of his desires and the achievement of his goals. He kills out all emotional reactions and goes a long way towards dissipating glamour. He develops the ability to draw on the light of matter itself (physical matter and mental substance) and thus he generates a false light from which soul light is rigorously excluded. It is this power which eventually produces a black magician. He has developed the capacity to draw [210] upon the light energy of matter itself and to focus it so powerfully and effectively that it becomes a great destructive force. It is this which has given Hitler and the six evil men associated with him their power to destroy upon the material plane. But, in the case of the aspirant, the power to meditate upon spiritual reality and to contact the soul offsets the dangers inherent in focussing on and using solely the light of matter; to the lesser light of matter is added the light of the soul and then these two blended lights, or aspects of the One Light, are focussed upon the mental plane through the power of the creative imagination. This enables man eventually to dissipate glamour and liberates him from the astral plane. |
2. Giai đoạn thứ hai của tiến trình tập trung được tạo ra thông qua nỗ lực tham thiền. Trong giai đoạn trước, sự hòa trộn của hai ánh sáng vật chất hoàn toàn là một tiến trình hình tướng, và người chí nguyện hoàn toàn bị thúc đẩy bởi các mãnh lực phàm ngã và tính lợi ích nhất thời của y. Một minh họa về điều này và về hiệu quả của nó có thể được thấy nơi người, xuất phát từ những động cơ hoàn toàn ích kỷ và nhờ sự tập trung mãnh liệt, tập trung thể trí của mình và tạo ra sự thỏa mãn các ham muốn cũng như sự đạt được các mục tiêu của mình. Y dập tắt mọi phản ứng cảm xúc và đi một quãng dài hướng tới việc làm tiêu tan ảo cảm. Y phát triển khả năng rút lấy ánh sáng của chính vật chất, tức vật chất hồng trần và chất liệu trí tuệ, và nhờ vậy y tạo ra một ánh sáng giả mà khỏi đó ánh sáng linh hồn bị loại trừ nghiêm ngặt. Chính quyền năng này cuối cùng tạo ra nhà hắc thuật. Y đã phát triển khả năng rút [210] từ năng lượng ánh sáng của chính vật chất và tập trung nó mạnh mẽ, hiệu quả đến mức nó trở thành một mãnh lực hủy diệt lớn lao. Chính điều này đã trao cho Hitler và sáu kẻ ác liên kết với ông quyền năng hủy diệt trên cõi vật chất. Nhưng trong trường hợp người chí nguyện, quyền năng tham thiền về thực tại tinh thần và tiếp xúc với linh hồn hóa giải những nguy hiểm cố hữu trong việc chỉ tập trung vào và sử dụng ánh sáng của vật chất; vào ánh sáng thấp của vật chất được thêm ánh sáng của linh hồn, và khi ấy hai ánh sáng hòa trộn này, hay hai phương diện của Ánh Sáng Duy Nhất, được tập trung trên cõi trí thông qua quyền năng của Sự tưởng tượng sáng tạo. Điều này cuối cùng giúp con người làm tiêu tan ảo cảm và giải thoát y khỏi cõi cảm dục. |
|
3. The third stage is that in which the light of matter, the light of the mind and the light of the soul (as a channel for the intuition) are consciously blended, fused and focussed. The man then turns this blended light, under soul direction, upon the world of glamour and upon the particular glamour with which he is at any one time pre-occupied. The false light of the astral plane disappears in this triple blended light just like a fire can be nearly put out if subjected to the full rays of the sun; or a burning glass, focussing the rays of the sun, can start a destructive blaze. It is the use of a powerful light which can obliterate a lesser light and dissipate a fog. |
3. Giai đoạn thứ ba là giai đoạn trong đó ánh sáng của vật chất, ánh sáng của thể trí và ánh sáng của linh hồn, như một kênh cho trực giác, được hòa trộn, dung hợp và tập trung một cách hữu thức. Khi ấy con người hướng ánh sáng hòa trộn này, dưới sự chỉ đạo của linh hồn, vào thế giới ảo cảm và vào ảo cảm đặc thù mà y đang bận tâm ở bất kỳ thời điểm nào. Ánh sáng giả của cõi cảm dục biến mất trong ánh sáng tam phân hòa trộn này, giống như một ngọn lửa gần như có thể bị dập tắt nếu bị đặt dưới toàn bộ các tia mặt trời; hoặc một thấu kính hội tụ, khi tập trung các tia mặt trời, có thể khởi phát một đám cháy hủy diệt. Đó là việc sử dụng một ánh sáng mạnh mẽ có thể xóa bỏ một ánh sáng yếu hơn và làm tiêu tan một màn sương. |
|
All this has to be understandingly and consciously carried forward as a preliminary to the technique proper. His work will be experimental at first, and scientifically applied eventually. It will be based upon a recognition of truth—a truth which is faced and accepted. This work is not a form of rationalisation, though that precedes the definitely [211] scientific work I am outlining; it is not the cultivation of fresh interests of a mental and spiritual kind which gradually supersede desire and drive out glamour. That is all preparatory in character and leads to an unfoldment which prepares the aspirant to work scientifically; it is not a process of “killing out desire” as some schools of thought teach, but is a process of gradually eradicating desire by stern discipline and hard trained work and this, incidentally, involves the dissipation of glamour. Such have been the slow techniques of the past. Today the process is to be changed because enough people are now the product of understanding and can work wisely and also scientifically. |
Tất cả điều này phải được tiến hành một cách thấu hiểu và có ý thức như một bước chuẩn bị cho kỹ thuật đúng nghĩa. Công việc của y lúc đầu sẽ mang tính thử nghiệm, và cuối cùng sẽ được áp dụng một cách khoa học. Nó sẽ đặt nền trên sự nhận ra chân lý—một chân lý được đối diện và chấp nhận. Công việc này không phải là một hình thức hợp lý hóa, dù điều đó đi trước công việc khoa học rõ rệt mà Tôi đang phác thảo; nó không phải là việc vun trồng những mối quan tâm mới thuộc loại trí tuệ và tinh thần, dần dần thay thế ham muốn và xua đuổi ảo cảm. Tất cả điều đó đều có tính chuẩn bị và dẫn đến một sự khai mở chuẩn bị cho người chí nguyện làm việc một cách khoa học; đó không phải là tiến trình “diệt trừ ham muốn” như một số trường phái tư tưởng giảng dạy, mà là tiến trình dần dần nhổ bỏ ham muốn bằng kỷ luật nghiêm khắc và công việc được rèn luyện gian khổ, và điều này, nhân tiện nói, bao hàm việc làm tiêu tan ảo cảm. Những kỹ thuật chậm rãi như thế đã thuộc về quá khứ. Ngày nay tiến trình phải được thay đổi, vì hiện nay đã có đủ người là sản phẩm của sự thấu hiểu và có thể làm việc một cách minh triết cũng như khoa học. |
|
The process I am developing for you is one of rapid and effective dissipation and is based upon the acceptance of the hypothesis of light, upon the recognition of the fact that the astral plane has no true existence, upon a trained use of the creative imagination and upon the unquestioning following of instructions, individually and as a group. |
Tiến trình Tôi đang khai triển cho các bạn là một tiến trình làm tiêu tan nhanh chóng và hữu hiệu, đặt nền trên việc chấp nhận giả thuyết về ánh sáng, trên sự nhận biết sự kiện rằng cõi cảm dục không có thực tại chân thật, trên việc sử dụng có rèn luyện Sự tưởng tượng sáng tạo, và trên sự tuân theo các huấn thị một cách không nghi vấn, cả cá nhân lẫn với tư cách một nhóm. |
|
It is my intention to give you two formulas—one for the use of the individual and the other which groups can use as they contribute their united effort to the dissipation of glamour, either of group glamour or in relation to some aspect of the prevalent world glamour. Two things will be apparent to you: |
Ý định của Tôi là trao cho các bạn hai công thức—một dành cho cá nhân sử dụng và một công thức khác mà các nhóm có thể dùng khi họ đóng góp nỗ lực hợp nhất của mình vào việc làm tiêu tan ảo cảm, hoặc là ảo cảm nhóm, hoặc liên quan đến một phương diện nào đó của ảo cảm thế giới đang thịnh hành. Hai điều sẽ trở nên rõ ràng đối với các bạn: |
|
First: that those participating in the eradication of glamour must be able to distinguish between glamour and the reality. These often closely resemble each other on a superficial examination. They must be in a position to recognise that an emotional or astral condition constitutes a veil over the truth and is a distortion of the presentation or the appearance of the individual’s or the group’s expression of divinity. They must, therefore, be capable of vision, clear thinking, and prompt recognition as to what is preventing [212] the materialising of that vision and the accurate reception of the truth. They must also be able to distinguish between a major and a minor glamour. A minor glamour, a passing evanescent thoughtform of an easily recognisable nature does not warrant the use of either of the formulas. Such a minor glamour would be a sense of self-pity in an individual or the glorification of some notable individual by an individual, a group or a nation. Time and commonsense suffice to take care of such a situation. A major glamour in the world (prior to the war) was the emphasis put upon possessions and the belief that happiness was dependent upon things and upon material good and comfort. |
Thứ nhất: rằng những ai tham dự vào việc nhổ bỏ ảo cảm phải có khả năng phân biệt giữa ảo cảm và thực tại. Hai điều này thường rất giống nhau khi xét một cách hời hợt. Họ phải ở trong vị thế có thể nhận biết rằng một tình trạng cảm xúc hay cảm dục tạo thành một bức màn che phủ chân lý và là một sự bóp méo sự trình hiện hay vẻ ngoài của sự biểu lộ thiên tính nơi cá nhân hoặc nơi nhóm. Vì vậy, họ phải có khả năng về tầm nhìn, tư duy sáng suốt, và nhận biết nhanh chóng điều gì đang ngăn cản [212] sự hiện hình của tầm nhìn ấy và sự tiếp nhận chính xác chân lý. Họ cũng phải có khả năng phân biệt giữa một ảo cảm lớn và một ảo cảm nhỏ. Một ảo cảm nhỏ, một hình tư tưởng thoáng qua và chóng tan thuộc loại dễ nhận biết, không đáng để sử dụng bất cứ công thức nào trong hai công thức. Một ảo cảm nhỏ như thế có thể là cảm thức tự thương hại nơi một cá nhân, hoặc sự tôn vinh một cá nhân nổi bật nào đó bởi một cá nhân, một nhóm hay một quốc gia. Thời gian và lương tri đủ để xử lý một tình huống như vậy. Một ảo cảm lớn trong thế giới trước chiến tranh là sự nhấn mạnh đặt vào của cải sở hữu và niềm tin rằng hạnh phúc tùy thuộc vào sự vật, vào tiện nghi và phúc lợi vật chất. |
|
Second: that the three stages of focussing, referred to above, constitute a preparatory process. These three stages must be somewhat developed before effective use of the formulas can be possible, and those intending to work at the task of ridding the world of glamour must subject themselves constantly to these phases in the art of polarisation, if I might so call it. They must have an understanding of the apparatus of thought, of the creation of thoughtforms, and of the nature of the thinker. They must be emotionally polarised, yet, in group work relatively free from astral control. This astral liberation must to a certain extent control the choice of those who are to work at major dissipations. In the case of the individual who is seeking to break up glamour in his individual life, he should be mentally polarised by decision and effort even if the emotional nature is for him in any one life the line of least resistance. Those working in group formation will have achieved a measure of mental focus but for the purposes of the work to be done they will focus themselves consciously and deliberately upon the emotional plane through [213] their control of their natures. Workers must therefore have practised meditation, have reflected much upon the nature of thought and its uses, and must be aware of the light within. |
Thứ hai: rằng ba giai đoạn tập trung, đã được đề cập ở trên, tạo thành một tiến trình chuẩn bị. Ba giai đoạn này phải được phát triển phần nào trước khi có thể sử dụng các công thức một cách hữu hiệu, và những ai có ý định làm việc trong nhiệm vụ giải thoát thế giới khỏi ảo cảm phải thường xuyên tự đặt mình vào các giai đoạn này trong nghệ thuật phân cực, nếu Tôi có thể gọi như vậy. Họ phải có sự thấu hiểu về bộ máy tư tưởng, về việc tạo ra các hình tư tưởng, và về bản chất của người tư tưởng. Họ phải được phân cực về mặt cảm xúc, nhưng trong công việc nhóm thì tương đối thoát khỏi sự kiểm soát cảm dục. Sự giải thoát cảm dục này, ở một mức độ nào đó, phải chi phối việc chọn lựa những người sẽ làm việc trong các hoạt động làm tiêu tan lớn lao. Trong trường hợp cá nhân đang tìm cách phá vỡ ảo cảm trong đời sống riêng của mình, y nên được phân cực trí tuệ bằng quyết định và nỗ lực, ngay cả khi bản chất cảm xúc đối với y trong một kiếp sống nào đó là con đường ít trở ngại nhất. Những người làm việc trong đội hình nhóm sẽ đạt được một mức độ tập trung trí tuệ, nhưng vì mục đích của công việc cần thực hiện, họ sẽ tự tập trung một cách có ý thức và chủ ý trên cõi cảm xúc thông qua [213] sự kiểm soát bản chất của mình. Vì vậy, những người hoạt động phải đã thực hành tham thiền, đã suy ngẫm nhiều về bản chất của tư tưởng và các cách sử dụng nó, và phải ý thức về ánh sáng bên trong. |
|
When these three stages are established as related activities, habits and automatic reactions, and when the intention is fixed and the ability to focus has become an almost instinctual reaction, then sound and effective work can be done; to this work must be added persistence and patience. It is not necessary, I might add, to have achieved perfection in the process before starting this work and service. Disciples and aspirants must cultivate the consciousness of cooperation and realisation that in service such as is proposed, they are definitely participating in a hierarchical activity and are, therefore, in a position to render help even if they could not—alone and unaided—achieve the desired results. They can hasten the process by their combined help. The power of united effort upon the physical plane is being realised today on a large scale, and the war effort in all countries has greatly hastened this realisation. The power of unified emotion (often expressing itself in what is called mob psychology) is everywhere recognised and feared as well as exploited. The power of unified thought is little grasped as yet, and the power inherent in the light of many minds, rendering them effective instruments in world affairs, penetrating and dissipating glamour and proving creative upon the physical plane, will prove to be a part of the new modes of work which will be employed in the new age. For this, the Hierarchy has planned and worked and it is now prepared to test the effectiveness of that work by organising a group or groups which will work upon the problem of glamour. |
Khi ba giai đoạn này được thiết lập như những hoạt động, thói quen và phản ứng tự động có liên hệ với nhau, và khi ý định đã được cố định còn khả năng tập trung đã trở thành một phản ứng gần như bản năng, bấy giờ công việc lành mạnh và hữu hiệu mới có thể được thực hiện; vào công việc này phải thêm sự bền bỉ và kiên nhẫn. Tôi có thể nói thêm rằng không nhất thiết phải đạt đến sự hoàn hảo trong tiến trình trước khi bắt đầu công việc và sự phụng sự này. Các đệ tử và người chí nguyện phải vun trồng tâm thức hợp tác và nhận biết rằng trong sự phụng sự như điều được đề nghị, họ chắc chắn đang tham dự vào một hoạt động của Thánh đoàn, và do đó, họ ở trong vị thế có thể giúp đỡ, dù một mình và không được trợ giúp, họ không thể đạt được các kết quả mong muốn. Họ có thể thúc đẩy tiến trình bằng sự trợ giúp phối hợp của mình. Quyền năng của nỗ lực hợp nhất trên cõi hồng trần ngày nay đang được nhận biết trên quy mô lớn, và nỗ lực chiến tranh ở mọi quốc gia đã thúc đẩy rất nhiều sự nhận biết này. Quyền năng của cảm xúc hợp nhất, thường biểu lộ trong điều được gọi là tâm lý đám đông, được khắp nơi nhận biết, vừa bị sợ hãi vừa bị khai thác. Quyền năng của tư tưởng hợp nhất cho đến nay còn ít được nắm bắt, và quyền năng vốn có trong ánh sáng của nhiều thể trí, khiến chúng trở thành những khí cụ hữu hiệu trong các sự vụ thế giới, xuyên thấu và làm tiêu tan ảo cảm, đồng thời tỏ ra có tính sáng tạo trên cõi hồng trần, sẽ chứng tỏ là một phần của các phương thức làm việc mới sẽ được sử dụng trong kỷ nguyên mới. Vì điều này, Thánh Đoàn đã hoạch định và làm việc, và nay đã sẵn sàng thử nghiệm hiệu quả của công việc ấy bằng cách tổ chức một nhóm hay nhiều nhóm sẽ làm việc trên vấn đề ảo cảm. |
|
You can see, consequently, that what I am outlining is relatively new. The faint impression of the coming technique [214] as far as the individual is concerned has been registered. Men and women everywhere are attempting to rid themselves of glamour by the power of clear thinking, stern discipline and commonsense, and by a recording consciously of their relation to the whole—which prompts them to eliminate out of their lives all that could hinder others or increase world deception through glamour. To this will be added (perhaps as an aspect of the new world religion now on its way towards externalising) the realisation that groups can successfully clear away the glamours which darken humanity’s way to its goal, through the power of combined and projected thought. |
Do đó, các bạn có thể thấy rằng điều Tôi đang phác thảo tương đối mới. Ấn tượng mờ nhạt về kỹ thuật sắp đến [214], xét theo cá nhân, đã được ghi nhận. Những người nam và nữ ở khắp nơi đang cố gắng giải thoát chính mình khỏi ảo cảm bằng quyền năng của tư duy sáng suốt, kỷ luật nghiêm khắc và lương tri, cũng như bằng việc ghi nhận có ý thức mối liên hệ của họ với toàn thể—điều thôi thúc họ loại bỏ khỏi đời sống mình tất cả những gì có thể cản trở người khác hoặc làm gia tăng sự lừa dối thế giới thông qua ảo cảm. Vào điều này sẽ được thêm vào, có lẽ như một phương diện của tôn giáo thế giới mới hiện đang trên đường ngoại hiện, sự nhận biết rằng các nhóm có thể thành công trong việc quét sạch những ảo cảm làm tối tăm con đường của nhân loại hướng đến mục tiêu của mình, nhờ quyền năng của tư tưởng phối hợp và được phóng chiếu. |
|
In order to make the first step towards united group activity along this line of service, I present a formula or group ritual which—if employed by those whose lives are relatively free from glamour, who are realists and who are recognised by the group as thus relatively free, and who are animated by good intent—will do much to bring to an end certain aspects of the world glamour. Their effort, combined with that of similar groups, will so weaken the power of these ancient glamours that the “Day of Clarification” will eventually come. |
Để thực hiện bước đầu tiên hướng đến hoạt động nhóm hợp nhất theo đường lối phụng sự này, Tôi trình bày một công thức hay nghi thức nhóm; nếu được sử dụng bởi những người có đời sống tương đối thoát khỏi ảo cảm, những người thực tế và được nhận biết bởi nhóm là tương đối tự do như thế, đồng thời được thôi thúc bởi ý định thiện lành, công thức này sẽ làm được nhiều điều để chấm dứt một số phương diện của ảo cảm thế giới. Nỗ lực của họ, kết hợp với nỗ lực của các nhóm tương tự, sẽ làm suy yếu quyền năng của những ảo cảm cổ xưa này đến mức “Ngày Minh Giải” cuối cùng sẽ đến. |
|
First, however, let me briefly offer for the use of the individual aspirant a formula whereby he may aid in freeing himself from his particular glamour or glamours. I will tabulate the process, and the aspirant would do well to follow it as given, having in his mind no sense of time, and being willing to do this work regularly for months, and if necessary for years, until he has freed himself and the light breaks in on the astral plane through the medium of his astral body. I would suggest that no aspirant attempt to tackle the problem of glamour as a whole or seek to dissipate all the glamours to which he is susceptible. He is dealing with very ancient evil and with firmly established [215] habits of glamour. They are closely connected with aspects of his daily living, with his sex life or with his ambitions, with his relations to other people, with his pet ideals and ideas, his dreams and visions. He should choose the glamour that is the most apparent and the most hindering at any given time (and there is always one) and for its dissipation he should work conscientiously, if he would lay the foundations for effective service in the dissipation of world glamour. |
Tuy nhiên, trước hết, hãy để Tôi trình bày ngắn gọn cho người chí nguyện cá nhân sử dụng một công thức nhờ đó y có thể trợ giúp trong việc giải thoát chính mình khỏi ảo cảm hay các ảo cảm riêng của y. Tôi sẽ trình bày tiến trình dưới dạng bảng, và người chí nguyện nên làm theo đúng như đã được trao, không giữ trong tâm trí bất cứ cảm thức nào về thời gian, và sẵn lòng thực hiện công việc này đều đặn trong nhiều tháng, và nếu cần trong nhiều năm, cho đến khi y đã giải thoát chính mình và ánh sáng đột nhập vào cõi cảm dục thông qua trung gian là thể cảm dục của y. Tôi đề nghị rằng không người chí nguyện nào cố gắng đương đầu với vấn đề ảo cảm như một toàn thể, hoặc tìm cách làm tiêu tan tất cả các ảo cảm mà y dễ bị ảnh hưởng. Y đang xử lý một điều ác rất cổ xưa và những thói quen ảo cảm đã được thiết lập vững chắc [215]. Chúng liên hệ mật thiết với các phương diện của đời sống hằng ngày của y, với đời sống tính dục hay tham vọng của y, với các mối quan hệ của y với người khác, với những lý tưởng và ý tưởng y ưa thích, những giấc mơ và linh ảnh của y. Y nên chọn ảo cảm nào rõ rệt nhất và gây cản trở nhất vào bất cứ thời điểm nào, và luôn luôn có một ảo cảm như thế; rồi đối với việc làm tiêu tan nó, y nên làm việc một cách tận tâm, nếu y muốn đặt nền móng cho sự phụng sự hữu hiệu trong việc làm tiêu tan ảo cảm thế giới. |
|
FORMULA FOR THE DISSIPATION OF GLAMOUR |
CÔNG THỨC LÀM TIÊU TAN ẢO CẢM |
|
(For the Individual) |
Dành cho Cá nhân |
I. Preparatory Stages.—I. Các Giai đoạn Chuẩn bị.
II. The Technique or Formula.—II. Kỹ thuật hay Công thức.
b. The Dissipation of Group Glamour and of World Glamour—b. Sự tiêu tan của Ảo cảm Nhóm và của Ảo cảm Thế giới
Preparatory Stages.—Các Giai đoạn Chuẩn bị.
|
1. Recognition of the glamour to be dissipated. This involves: |
1. Nhận biết ảo cảm cần được làm tiêu tan. Điều này bao hàm: |
|
a. A willingness to cooperate with the soul. |
a. Sự sẵn lòng hợp tác với linh hồn. |
|
b. Understanding the nature of the particular glamour. |
b. Thấu hiểu bản chất của ảo cảm đặc thù. |
|
2. The three stages of focussing: |
2. Ba giai đoạn tập trung: |
|
a. Focussing the dual light of matter and mind in the mental body. |
a. Tập trung ánh sáng kép của vật chất và thể trí trong thể trí. |
|
b. Focussing, through meditation, this dual light and the light of the soul. |
b. Tập trung, qua tham thiền, ánh sáng kép này và ánh sáng của linh hồn. |
|
c. Focussing these three lights and so creating the searchlight for the dissipation of glamour. |
c. Tập trung ba ánh sáng này và nhờ vậy tạo nên đèn pha để làm tiêu tan ảo cảm. |
|
3. Preparedness through alignment and integration. This is the production of a field of magnetic thought substance. |
3. Sự chuẩn bị thông qua chỉnh hợp và tích hợp. Đây là sự tạo ra một trường chất liệu tư tưởng từ tính. |
|
4. The turning of the attention and of the searchlight of the mind on to the astral plane. [236] |
4. Việc xoay sự chú ý và đèn pha của thể trí hướng vào cõi cảm dục. [236] |
The Formula.—Công thức.
|
5. The soul breathes out the OM into the waiting personality and the light and power thus generated are retained for use. |
5. Linh hồn thở ra OM vào phàm ngã đang chờ đợi, và ánh sáng cùng quyền năng được tạo ra như vậy được giữ lại để sử dụng. |
|
6. An intense light is slowly and consciously generated. |
6. Một ánh sáng mãnh liệt được tạo ra chậm rãi và có ý thức. |
|
7. The spiritual will is invoked whilst the mind is held steady in the light. |
7. Ý chí tinh thần được khẩn cầu trong khi thể trí được giữ vững trong ánh sáng. |
|
8. The glamour to be dissipated and the searchlight of the mind are brought into relationship. |
8. Ảo cảm cần được làm tiêu tan và đèn pha của thể trí được đưa vào mối liên hệ với nhau. |
|
9. The searchlight is then turned on by an act of the will and a strong beam of light is projected into the glamour. |
9. Đèn pha sau đó được bật lên bằng một hành động của ý chí, và một chùm ánh sáng mạnh được phóng chiếu vào ảo cảm. |
|
10. The glamour is named and the aspirant says with tension inaudibly: |
10. Ảo cảm được gọi tên và người chí nguyện nói trong sự tập trung nhất tâm, không thành tiếng: |
|
“The power of the light prevents the appearance of the glamour (naming it). The power of the light negates the quality of the glamour from affecting me. The power of the light destroys the life behind the glamour.” |
“Quyền năng của ánh sáng ngăn chặn sự xuất hiện của ảo cảm (gọi tên nó). Quyền năng của ánh sáng phủ định phẩm tính của ảo cảm không cho nó ảnh hưởng đến tôi. Quyền năng của ánh sáng phá hủy sự sống phía sau ảo cảm.” |
|
11. The OM is sounded by the aspirant, producing an Act of Penetration. This produces impact, penetration and dissipation. |
11. Người chí nguyện xướng OM, tạo ra một Hành Động Thâm Nhập. Điều này tạo nên sự tác động, thâm nhập và tiêu tan. |
|
12. The aspirant, having done his work, withdraws himself consciously on to the mental plane and the beam of light fades out. |
12. Người chí nguyện, sau khi đã hoàn tất công việc của mình, tự rút lui một cách có ý thức lên cõi trí và chùm ánh sáng mờ dần. |
|
Brief Form of the Individual Formula. |
Hình thức Tóm lược của Công thức Cá nhân. |
|
1. The four preparatory stages: |
1. Bốn giai đoạn chuẩn bị: |
|
a. Nhận biết ảo cảm cần được làm tiêu tan. [237] |
|
|
b. Focussing the dual light of the personality. |
b. Tập trung ánh sáng kép của phàm ngã. |
|
c. Meditation and recognition of soul light. |
c. Tham thiền và nhận biết ánh sáng linh hồn. |
|
d. Unification of the three lights. |
d. Hợp nhất ba ánh sáng. |
|
2. The process of alignment and of recognised integration. |
2. Tiến trình chỉnh hợp và tích hợp đã được nhận biết. |
|
3. The turning of the searchlight of the mind to the astral plane. |
3. Việc xoay đèn pha của thể trí đến cõi cảm dục. |
|
The Formula. |
Công thức. |
|
4. Soul activity and the retention of the triple light. |
4. Hoạt động của linh hồn và sự giữ lại ánh sáng tam phân. |
|
5. The generating and visualising of the searchlight. |
5. Việc tạo ra và hình dung đèn pha. |
|
6. The evocation of the WILL behind the searchlight of the mind. |
6. Sự gợi lên Ý CHÍ phía sau đèn pha của thể trí. |
|
7. The searchlight of the mind is turned upon the glamour, directed by thought. |
7. Đèn pha của thể trí được xoay hướng vào ảo cảm, do tư tưởng chỉ đạo. |
|
8. The naming of the glamour and the triple affirmation. |
8. Việc gọi tên ảo cảm và lời khẳng định tam phân. |
|
9. The Act of Penetration. |
9. Hành Động Thâm Nhập. |
|
10. The process of Withdrawing. |
10. Tiến trình Rút Lui. |
|
FORMULA FOR THE DISSIPATION OF WORLD GLAMOUR |
CÔNG THỨC LÀM TIÊU TAN ẢO CẢM THẾ GIỚI |
|
(Technique for a Group) |
(Kỹ thuật dành cho Nhóm) |
The Preparatory Stages.—Các Giai đoạn Chuẩn bị.
3. The Technique of Indifference—Kỹ Thuật Điềm Nhiên
a. Force distribution and manipulation upon the etheric plane.—Phân phối và thao túng mãnh lực trên cõi dĩ thái.
b. The use of the Science of the Breath.—Việc sử dụng Khoa học của Hơi thở.
c. The Technique of Indifference— Kỹ Thuật Điềm Nhiên
SECTION FOUR: THE TECHNIQUE OF FUSION— KỸ THUẬT DUNG HỢP
|
[266] |
[266] |
|
In this, our final point, we are concerned with the control—constant and unremitting—of the soul over the personality. We are therefore concerned with the stage of initiation which brings to an end the path of development for humanity and inaugurates a cycle of existence of which we know, and can know, nothing except that the liberated Master then begins to function in a dual manner: as a member of the Hierarchy, cooperating with the Plan and occupied with the salvaging of humanity and, secondly, as a disciple of Sanat Kumara. The task of Sanat Kumara in relation to the Masters is to prepare Them to tread the Way of the Higher Evolution. When this becomes possible, the shift of the spiritual “attention” (I use this inadequate word for lack of a better one) is away from the soul and the Angel of the Presence to the mysterious Presence itself; this has hitherto only been sensed and dimly visioned. The Master—freed from the three and five worlds of human and so-called superhuman evolution—has now the full gifts of omnipresence and omniscience. He is aware of the underlying unity, brought about by the factual nature of the One Life and Being Who pervades all manifestation; He has also mastered all possible techniques and modes and methods of activity, of control and of fusion. But having developed those capacities, He now becomes faintly aware of that which conditions the One Being, and senses energies and contacts which are extra-planetary and of which He has hitherto been totally unaware. Knowledge comes to Him after the fifth initiation. |
Trong điểm cuối cùng này, chúng ta đề cập đến sự kiểm soát — liên tục và không gián đoạn — của linh hồn đối với phàm ngã. Vì thế, chúng ta đề cập đến giai đoạn điểm đạo kết thúc con đường phát triển của nhân loại và mở đầu một chu kỳ hiện tồn mà chúng ta không biết, và không thể biết, gì ngoài việc Chân sư đã giải thoát khi ấy bắt đầu hoạt động theo một cách kép: như một thành viên của Thánh Đoàn, hợp tác với Thiên Cơ và chuyên lo việc cứu vãn nhân loại; và thứ hai, như một đệ tử của Đức Sanat Kumara. Nhiệm vụ của Đức Sanat Kumara đối với các Chân sư là chuẩn bị cho Các Ngài bước trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Khi điều này trở nên khả hữu, sự chuyển dịch “chú tâm” tinh thần — tôi dùng từ không thích đáng này vì thiếu một từ hay hơn — rời khỏi linh hồn và Thiên Thần của Hiện Diện để hướng đến chính Hiện Diện huyền nhiệm; điều này cho đến nay chỉ mới được cảm nhận và thấy lờ mờ trong linh thị. Chân sư — đã thoát khỏi ba và năm cõi của tiến hoá nhân loại và cái gọi là tiến hoá siêu nhân — nay có đầy đủ các ân huệ của sự hiện diện khắp nơi và sự toàn tri. Ngài nhận biết sự hợp nhất nền tảng, do bản chất thực hữu của Sự Sống Duy Nhất và Bản Thể Duy Nhất vốn thấm nhuần toàn bộ biểu lộ đem lại; Ngài cũng đã làm chủ mọi kỹ thuật, phương thức và phương pháp hoạt động, kiểm soát và dung hợp khả hữu. Nhưng sau khi đã phát triển những năng lực ấy, giờ đây Ngài bắt đầu nhận biết lờ mờ điều đang tác động lên Bản Thể Duy Nhất, và cảm nhận những năng lượng cùng tiếp xúc ngoài hành tinh mà trước đây Ngài hoàn toàn không hề biết. Tri thức đến với Ngài sau lần điểm đạo thứ năm. |
|
[267] |
[267] |
|
Before Him lies the attainment of a still higher range of perceptions and, in order to garner the reward of those possible contacts, He has to master techniques and methods of development which will make Him omnipotent and, therefore, expressive of the highest of the three divine aspects. This development will put into His grasp potencies and experiences which can only be manipulated and understood through the scientific activity of the WILL and this must be implemented from a point of tension, focussed in whatever is meant by the word “Monad.” Do you know what that means, my brother? I am sure that you do not. Only the Masters of the Wisdom have any appreciation of these final unfoldments and then only in the sense of the Will-full aspiration—a phase of aspiration which is characterised by the conscious will, just as the aspiration of the disciple is characterised by sublimated desire. These things are, however, beyond the comprehension of the average disciple; their sole value is to depict the unending opportunity which presents itself at every stage and point of crisis upon the everlasting Way. |
Trước mắt Ngài là việc đạt tới một phạm vi tri giác còn cao hơn nữa; và để thu hoạch phần thưởng của những tiếp xúc khả hữu ấy, Ngài phải làm chủ các kỹ thuật và phương pháp phát triển sẽ khiến Ngài trở nên toàn năng, và do đó biểu đạt phương diện cao nhất trong ba phương diện thiêng liêng. Sự phát triển này sẽ đặt vào tầm nắm giữ của Ngài những quyền năng và kinh nghiệm chỉ có thể được vận dụng và thấu hiểu thông qua hoạt động khoa học của Ý CHÍ; và điều này phải được thực hiện từ một điểm tập trung nhất tâm, quy tụ vào bất cứ điều gì được hàm ý bởi từ “Chân thần”. Huynh đệ của tôi, bạn có biết điều đó nghĩa là gì không? Tôi chắc chắn rằng bạn không biết. Chỉ các Chân sư Minh Triết mới có phần nào nhận thức về những sự khai mở sau cùng này, và ngay cả khi ấy cũng chỉ theo nghĩa của khát vọng đầy Ý chí — một giai đoạn của khát vọng được đặc trưng bởi ý chí có ý thức, cũng như khát vọng của đệ tử được đặc trưng bởi dục vọng đã được thăng hoa. Tuy nhiên, những điều này vượt ngoài sự lĩnh hội của người đệ tử trung bình; giá trị duy nhất của chúng là phác hoạ cơ hội vô tận tự hiển bày ở mọi giai đoạn và mọi điểm khủng hoảng trên Con Đường vĩnh cửu. |
|
We are concerned at this time with the great point of crisis which faces the disciple when he attempts to resolve the final pair of opposites, prior to certain major initiations; this is the confronting the personality by the Angel of the PRESENCE. There is no need for me to define the two aspects of the disciple’s nature, for that is what they essentially are. You have been told and have known that the Dweller upon the Threshold is the fully developed personality—the sum total of all the past and the composite presentation upon the physical plane of all unresolved problems, all undeclared desires, all latent characteristics and qualities, all phases of thought and of self-will, all lower potencies and ancient habits of any of the three bodies (both bad and good). These, in their totality, are brought to the surface [268] of consciousness, there to be dealt with in such a way that their control is broken. The disciple is then free to take the final initiations. This process is not consummated in one particular facing of the two antagonistic forces. It is a threefold process, covering each of the three periods before the first three initiations or (from the angle of the Hierarchy) before the two initiations of the threshold and the first major initiation, the Transfiguration. |
Vào lúc này, chúng ta đề cập đến điểm khủng hoảng lớn mà đệ tử phải đối diện khi y cố gắng giải quyết cặp đối cực cuối cùng, trước một số cuộc điểm đạo lớn; đó là việc phàm ngã đối diện với Thiên Thần của HIỆN DIỆN. Tôi không cần định nghĩa hai phương diện trong bản chất của đệ tử, vì về bản chất chúng chính là như thế. Các bạn đã được cho biết và đã biết rằng Kẻ Chận Ngõ là phàm ngã đã phát triển đầy đủ — tổng số của toàn bộ quá khứ và sự trình hiện tổng hợp trên cõi hồng trần của mọi vấn đề chưa được giải quyết, mọi dục vọng chưa được tuyên bố, mọi đặc tính và phẩm tính tiềm tàng, mọi giai đoạn tư tưởng và ý chí cá nhân, mọi quyền năng thấp và thói quen cổ xưa của bất cứ thể nào trong ba thể, dù xấu hay tốt. Tất cả những điều này, trong toàn thể của chúng, được đưa lên bề mặt [268] tâm thức, tại đó chúng được xử lý sao cho sự kiểm soát của chúng bị phá vỡ. Khi ấy đệ tử được tự do nhận những cuộc điểm đạo cuối cùng. Tiến trình này không hoàn tất trong một lần đối diện riêng biệt giữa hai mãnh lực đối kháng. Đó là một tiến trình tam phân, bao gồm từng thời kỳ trong ba thời kỳ trước ba lần điểm đạo đầu tiên, hay — xét từ góc độ của Thánh Đoàn — trước hai cuộc điểm đạo của ngưỡng cửa và cuộc điểm đạo lớn thứ nhất, cuộc Biến hình. |
|
For many lives, the disciple has been dwelling upon the threshold. He himself is the Dweller. Behind the slowly opening door he senses life, energy, spiritual embodiment, and the fact of the Angel. Between him and that door is a burning-ground; this he faces, and this he knows he has to cross if he seeks to pass through the door. The question for him to answer is whether his will to achieve is strong enough for him to submit his personal lower self to the fires of the final purification. The personal self is now very highly developed; it is a useful instrument which the soul can use; it is a highly trained agent for service; it is essentially a piece of adequate and useful equipment. It has, however, its points of weakness which are liable at any time to present points of crisis; it has likewise its points of strength which can be transmuted with relative ease into points of tension; on the whole, it is a dependable instrument and one which can render good service. Can it and should it be sacrificed so that (esoterically speaking) its life is lost and in its place consecration and devotion are substituted? This is a hard problem for all disciples to solve, to understand and to make effectively practical. Only by crossing the burning ground three successive times are all impediments to the free use of the will destroyed. The relation between the Angel and the Dweller must be released, by means of the will, to full expression. I here refer to the spiritual will and to its three aspects which [269] must be brought into play before the divine will can begin to control. The disciple brings the two aspects of his nature together in full consciousness and with clear intention through a planned act of the will, and this act produces a point of tension in the “centre of the burning-ground wherein the two can meet,” as the ancient Archives put it. |
Trong nhiều kiếp sống, đệ tử đã cư ngụ trên ngưỡng cửa. Chính y là Kẻ Chận Ngõ. Phía sau cánh cửa đang chậm rãi mở ra, y cảm nhận sự sống, năng lượng, hiện thân tinh thần, và sự kiện về Thiên Thần. Giữa y và cánh cửa ấy là một vùng đất cháy; y đối diện với nó, và y biết rằng mình phải băng qua nó nếu muốn đi qua cánh cửa. Câu hỏi mà y phải trả lời là liệu ý chí thành tựu của y có đủ mạnh để y đặt phàm ngã thấp của mình vào các ngọn lửa của sự thanh luyện cuối cùng hay không. Bản ngã cá nhân nay đã phát triển rất cao; nó là một khí cụ hữu dụng mà linh hồn có thể sử dụng; nó là một tác nhân đã được huấn luyện cao cho phụng sự; về bản chất, nó là một trang bị thích đáng và hữu ích. Tuy nhiên, nó có những điểm yếu có thể bất cứ lúc nào trở thành các điểm khủng hoảng; nó cũng có những điểm mạnh có thể được chuyển hoá tương đối dễ dàng thành các điểm tập trung nhất tâm; xét chung, nó là một khí cụ đáng tin cậy và có thể phụng sự tốt đẹp. Nó có thể và có nên được hi sinh để — nói theo huyền bí học — sự sống của nó mất đi, và thay vào đó là sự thánh hiến cùng lòng sùng tín hay không? Đây là một vấn đề khó cho mọi đệ tử giải quyết, thấu hiểu và đưa vào thực hành một cách hiệu quả. Chỉ bằng cách băng qua vùng đất cháy ba lần liên tiếp, mọi chướng ngại đối với việc sử dụng tự do ý chí mới bị phá huỷ. Mối liên hệ giữa Thiên Thần và Kẻ Chận Ngõ phải được giải phóng, nhờ ý chí, để biểu đạt trọn vẹn. Ở đây tôi nói đến ý chí tinh thần và ba phương diện của nó, những phương diện [269] phải được vận dụng trước khi ý chí thiêng liêng có thể bắt đầu kiểm soát. Đệ tử đưa hai phương diện của bản chất mình lại với nhau trong tâm thức trọn vẹn và với ý định sáng rõ, thông qua một hành vi được hoạch định của ý chí; và hành vi này tạo ra một điểm tập trung nhất tâm tại “trung tâm của vùng đất cháy, nơi hai bên có thể gặp nhau”, như các Văn Khố cổ xưa đã nói. |
|
I would call your attention to the fact that it is at a “midway point” that the great submission of the lower to the higher takes place. It does not happen when the disciple hovers uncertainly upon the periphery of the burning-ground or when he stands before the door with the burning ground experience behind him. The essential point of crisis, producing the needed point of tension, is the result of the “invocative decision” of the personality which, in time, produces an “evocative response” from the Angel. The two factors involved (and forget not, my brother, that all this takes place within the field of consciousness of the disciple) move together and towards each other. In the centre of the burning ground they meet, and then the lesser light (a true light in its own right) of the personality is absorbed into the greater light of the Angel or soul. The Angel, therefore, “occultly obliterates” the Dweller who becomes lost to sight in the radiant aura of the Angel. This has been symbolically portrayed for us in the picture book of the heavens when, according to Catholic Festivals, the Assumption of the Virgin takes place and the constellation Virgo is lost to sight in the radiance of the sun. There you have the three factors: |
Tôi muốn các bạn lưu ý rằng chính tại một “Điểm ở giữa” mà sự quy phục lớn lao của cái thấp trước cái cao diễn ra. Điều đó không xảy ra khi đệ tử còn lưỡng lự chập chờn nơi chu vi của vùng đất cháy, hoặc khi y đứng trước cánh cửa với kinh nghiệm vùng đất cháy ở phía sau. Điểm khủng hoảng cốt yếu, tạo ra điểm tập trung nhất tâm cần thiết, là kết quả của “quyết định khẩn cầu” của phàm ngã, điều theo thời gian tạo ra một “đáp ứng gợi lên” từ Thiên Thần. Hai yếu tố liên hệ — và huynh đệ của tôi, đừng quên rằng tất cả điều này diễn ra trong trường tâm thức của đệ tử — cùng chuyển động và hướng về nhau. Tại trung tâm của vùng đất cháy, chúng gặp nhau; rồi ánh sáng nhỏ hơn của phàm ngã — một ánh sáng chân thật theo quyền riêng của nó — được hấp thụ vào ánh sáng lớn hơn của Thiên Thần hay linh hồn. Vì thế, Thiên Thần “xoá nhoà về mặt huyền bí” Kẻ Chận Ngõ, kẻ trở nên khuất khỏi tầm nhìn trong hào quang rạng rỡ của Thiên Thần. Điều này đã được mô tả cho chúng ta một cách biểu tượng trong quyển sách bằng hình ảnh của các tầng trời, khi theo các lễ hội Công giáo, sự Thăng Thiên của Đức Trinh Nữ diễn ra và chòm sao Xử Nữ khuất khỏi tầm nhìn trong ánh rạng rỡ của Mặt Trời. Ở đó các bạn có ba yếu tố: |
|
1. |
1. |
|
The Virgin |
Đức Trinh Nữ |
|
material form |
hình tướng vật chất |
|
personality |
phàm ngã |
|
Dweller. |
Kẻ Chận Ngõ. |
|
2. |
2. |
|
The Sun |
Mặt Trời |
|
spiritual nature |
bản chất tinh thần |
|
soul |
linh hồn |
|
Angel. |
Thiên Thần. |
|
3. |
3. |
|
The Earth |
Trái Đất |
|
aspiring man |
con người chí nguyện |
|
the disciple |
đệ tử |
|
The personality remains; it still exists but it is seen no more as of old. The light of the Angel envelops it; the burning ground has done its work and the personality is now nothing [270] more or less than the purified shell or form through which the light, the radiance, the quality and the characteristics of the Angel can shine. It is a fusion of lights, with the stronger and the more powerful obliterating the lesser. |
Phàm ngã vẫn còn; nó vẫn hiện hữu nhưng không còn được thấy như xưa nữa. Ánh sáng của Thiên Thần bao bọc nó; vùng đất cháy đã hoàn thành công việc của mình, và phàm ngã giờ đây chẳng hơn chẳng kém là lớp vỏ hay hình tướng đã được thanh luyện, qua đó ánh sáng, sự rạng rỡ, phẩm tính và các đặc điểm của Thiên Thần có thể chiếu toả. Đó là sự dung hợp của các ánh sáng, trong đó ánh sáng mạnh hơn và quyền năng hơn xoá nhoà ánh sáng nhỏ hơn.[270] |
|
How has this been brought about? I refer not here to the preparation of the Dweller on the Threshold for this great event or to the aeon of disciplining, of preparation, of experiment and of experience from life to life which has made this consummating event possible and successful. The two aspects in man can only meet in full power and with intention and finality when illusion can no longer control the mind, when glamour has lost all power to veil and when the forces of maya can no longer hinder. Discrimination, dispassion and indifference have produced the dispelling through focussed light, the dissipating potency of distributed light and the directing power of light energy. Only five recognitions now control the disciple: |
Điều này đã được đem lại như thế nào? Ở đây tôi không nói đến sự chuẩn bị của Kẻ Chận Ngõ cho biến cố lớn lao này, cũng không nói đến kỷ nguyên dài của kỷ luật, chuẩn bị, thử nghiệm và kinh nghiệm từ kiếp này sang kiếp khác, vốn đã khiến biến cố hoàn tất này trở nên khả hữu và thành công. Hai phương diện trong con người chỉ có thể gặp nhau trong đầy đủ quyền năng, với ý định và tính chung quyết, khi ảo tưởng không còn có thể kiểm soát thể trí, khi ảo cảm đã mất mọi quyền năng che phủ, và khi các mãnh lực của ảo lực không còn có thể cản trở. Sự phân biện, sự vô dục và sự điềm nhiên đã tạo nên việc xua tan nhờ ánh sáng được tập trung, quyền năng làm tiêu tan của ánh sáng được phân phối, và quyền năng điều hướng của năng lượng ánh sáng. Giờ đây chỉ còn năm nhận biết kiểm soát đệ tử: |
|
1. The fact of his discipleship. |
1. Sự kiện về địa vị đệ tử của y. |
|
2. The perception of the Angel, waiting and dynamic. |
2. Sự tri giác về Thiên Thần, đang chờ đợi và đầy năng lực. |
|
3. The invocative appeal of the Dweller on the Threshold. |
3. Lời khẩn cầu của Kẻ Chận Ngõ. |
|
4. The necessity to use the will in a new and different manner. |
4. Sự cần thiết phải sử dụng ý chí theo một cách mới và khác. |
|
5. The need to cross the burning ground. |
5. Nhu cầu băng qua vùng đất cháy. |
|
The issues are now entirely clear. It is a question of timing and of decision. I would remind you that in all these processes, it is the disciple who, in full consciousness, acts. He initiates all the processes himself. It is not the Angel or the Dweller but the spiritual man himself who has to employ the will and take definite forward moving action. Once the disciple has taken the necessary steps and moved irrevocably forward, the response of the Angel is sure, automatic and all-enveloping. Complete obliteration of [271] the personal self in three successive stages is the immediate and normal result. It was to this that John the Baptist referred when he said “He shall increase but I must decrease.” When he spoke these words, he spoke as a disciple, prior to the second initiation of the threshold. This occult waxing and waning is portrayed for us in the phases of the moon and, for the planet as a whole, in the sign Gemini, where the light of one of the twins is slowly dimming and the light of the other is gaining in intensity. |
Các vấn đề giờ đây hoàn toàn rõ ràng. Đó là vấn đề thời điểm và quyết định. Tôi muốn nhắc các bạn rằng trong tất cả các tiến trình này, chính đệ tử là người hành động trong tâm thức trọn vẹn. Y tự mình khởi phát mọi tiến trình. Không phải Thiên Thần hay Kẻ Chận Ngõ, mà chính con người tinh thần phải vận dụng ý chí và thực hiện hành động tiến tới rõ rệt. Một khi đệ tử đã thực hiện các bước cần thiết và tiến tới không thể đảo ngược, đáp ứng của Thiên Thần là chắc chắn, tự động và bao trùm tất cả. Sự xoá nhoà hoàn toàn [271] bản ngã cá nhân trong ba giai đoạn liên tiếp là kết quả tức thì và bình thường. Chính điều này Gioan Tẩy Giả đã ám chỉ khi ông nói: “Ngài phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Khi thốt ra những lời này, ông nói với tư cách một đệ tử, trước cuộc điểm đạo thứ hai của ngưỡng cửa. Sự tăng trưởng và suy giảm huyền bí này được mô tả cho chúng ta trong các pha của Mặt Trăng, và đối với toàn thể hành tinh, trong dấu hiệu Song Tử, nơi ánh sáng của một trong hai người sinh đôi đang từ từ mờ đi, còn ánh sáng của người kia đang tăng cường độ. |
|
When this “occult obliteration” has taken place, what then is the destiny of the disciple? It is complete control by the soul and this, in practice, connotes group realisation, group work, group service and eventually group initiation. With these developments, it is not my intent to deal, for I have covered much of these matters in my other books. Here I have been dealing in this short elucidation with the effects that substances and the substantial forces, found in the three worlds, produce in the disciple and as they affect the aspirant. I have not considered the problem of glamour, illusion and maya from the angle of average man. The latter is necessarily immersed in them, and under their constant impact he passes his life. By their means he learns. He is not at the point where he seeks deliverance from them as does the man upon the Path. I have, therefore, considered the problem from the angle of the disciples and aspirants. |
Khi sự “xoá nhoà huyền bí” này đã diễn ra, vậy định mệnh của đệ tử là gì? Đó là sự kiểm soát hoàn toàn của linh hồn; và trong thực hành, điều này hàm ý sự chứng nghiệm nhóm, công việc nhóm, phụng sự nhóm và sau cùng là điểm đạo nhóm. Tôi không có ý định bàn đến những phát triển này, vì tôi đã đề cập nhiều về các vấn đề ấy trong các sách khác của tôi. Ở đây, trong phần giải thích ngắn này, tôi đã bàn đến những hiệu quả mà các chất liệu và các mãnh lực vật chất, được tìm thấy trong ba cõi thấp, tạo ra nơi đệ tử và tác động lên người chí nguyện. Tôi đã không xem xét vấn đề ảo cảm, ảo tưởng và ảo lực từ góc độ của con người trung bình. Người sau tất yếu bị chìm đắm trong chúng, và dưới tác động thường xuyên của chúng, y sống trọn đời mình. Nhờ chúng, y học hỏi. Y chưa ở điểm mà y tìm kiếm sự giải thoát khỏi chúng như người đang ở trên Đường Đạo. Vì thế, tôi đã xem xét vấn đề từ góc độ của các đệ tử và người chí nguyện. |
|
From them the WAY opens up, and for them comes the conscious recognition of the light. The need for the service of men and women, free from illusion and glamour, has never been so dramatically present as it is today and it is for these potential servers of a desperate necessity that I have written. |
Từ họ, CON ĐƯỜNG mở ra, và đối với họ xuất hiện sự nhận biết có ý thức về ánh sáng. Nhu cầu về sự phụng sự của những người nam và nữ đã thoát khỏi ảo tưởng và ảo cảm chưa bao giờ hiện diện một cách khẩn thiết đến thế như ngày nay; và chính vì những người phụng sự tiềm năng trong một nhu cầu tuyệt vọng ấy mà tôi đã viết. |
|
That the Angel of the PRESENCE may make His nearness felt and inspire you to pass courageously through [272] the fires of the burning ground is my earnest prayer; that the fact of the PRESENCE may be sensed by you and lead you to greater activity—once the burning ground is passed—is my deepest wish for you; and that the light may shine upon your way and bring a certain and assured consummation of all the travail and struggle which has characterised your way of life is my heart’s desire for you. To more active and steady enterprise I call you. |
Ước gì Thiên Thần của HIỆN DIỆN khiến sự gần gũi của Ngài được bạn cảm nhận và truyền cảm hứng để bạn can đảm đi qua [272] các ngọn lửa của vùng đất cháy — đó là lời cầu nguyện tha thiết của tôi; ước gì sự kiện về HIỆN DIỆN được bạn cảm nhận và dẫn bạn đến hoạt động lớn lao hơn — một khi vùng đất cháy đã được vượt qua — đó là ước nguyện sâu xa nhất của tôi dành cho bạn; và ước gì ánh sáng chiếu rọi trên đường đi của bạn, đem lại sự hoàn tất chắc chắn và bảo đảm cho toàn bộ nhọc nhằn và tranh đấu đã đặc trưng con đường sống của bạn — đó là khát vọng từ trái tim tôi dành cho bạn. Tôi kêu gọi bạn bước vào một nỗ lực tích cực và vững bền hơn. |
|
THE TIBETAN. |
CHÂN SƯ TÂY TẠNG. |
|
Ghi chú của Nhà xuất bản: Xem thêm các Kỹ Thuật Dung Hợp và Tích Hợp trong Luận về Bảy Cung, Tập II, Tâm Lý Học Nội Môn, tr. 345-401. |