SECTION TWO: THE CAUSES OF GLAMOUR
[Webinar 109]
1. The Racial and Individual Growth of Glamour.
|
[94] We shall now employ the word “glamour” to cover all the aspects of those deceptions, illusions, misunderstandings and misinterpretations which confront the aspirant at every step of his way until he achieves unity. I would have you note that word “unity,” for it holds the secret of disillusionment, as this process of release from glamour has been occultly called. It will be apparent to you (if you have studied these instructions with care) that the cause of glamour is primarily based upon the sense of duality. If such a duality did not exist, there would be no glamour, and this perception of the dual nature of all manifestation lies at the very root of the trouble or troubles with which humanity is—in time and space—faced. This perception passes through various stages and constitutes the great problem of the conscious entity. This condition is a difficulty in the realm of consciousness itself and is not really inherent in the substance or matter. The dweller in the body perceives wrongly: he interprets incorrectly that which is perceived; he proceeds to identify himself with that which is not himself; he shifts his consciousness into a realm of phenomena which engulfs him, deludes him and imprisons him until such time as he becomes restless and unhappy under the sense that something is wrong. Then he comes finally to the recognition that he is not what he seems to be and that the phenomenal world of appearances is not identical with reality [95] as he had hitherto supposed it to be. From that moment on he comes to the sense of duality, to the recognition of “otherness” and to the perception that his sense of dualism should be ended and that a process of unification and an attempt to achieve at-one-ment should be undertaken. From that moment, the troubles of the evolving man begin to be observed by him and consciously encountered, and he faces a long period of “extrication from glamour and the entering into that world wherein only unity is known.” The stages from then on might be enumerated as follows: |
[94] Giờ đây chúng ta sẽ dùng từ “ảo cảm” để bao hàm mọi phương diện của những lừa dối, ảo tưởng, hiểu lầm và diễn giải sai lạc vốn đối diện với người chí nguyện ở mỗi bước trên đường y đi, cho đến khi y đạt được sự hợp nhất. Tôi muốn các bạn lưu ý đến từ “hợp nhất” ấy, vì nó nắm giữ bí quyết của sự thoát ảo tưởng, như tiến trình giải thoát khỏi ảo cảm này đã được gọi một cách huyền bí. Các bạn sẽ thấy rõ, nếu đã nghiên cứu các huấn thị này một cách cẩn thận, rằng nguyên nhân của ảo cảm chủ yếu đặt nền trên ý thức về nhị nguyên. Nếu nhị nguyên ấy không tồn tại, sẽ không có ảo cảm; và nhận thức về bản chất kép của mọi biểu hiện nằm ngay nơi gốc rễ của khó khăn hay những khó khăn mà nhân loại, trong thời gian và không gian, đang phải đối diện. Nhận thức này đi qua nhiều giai đoạn khác nhau và tạo nên vấn đề lớn lao của thực thể có ý thức. Tình trạng này là một khó khăn trong chính lĩnh vực của tâm thức, chứ thật ra không cố hữu trong chất liệu hay vật chất. Kẻ cư ngụ trong thể nhận thức sai lầm: y diễn giải không đúng điều được nhận thức; y tiến tới chỗ đồng hoá chính mình với cái không phải là chính mình; y chuyển tâm thức của mình vào một lĩnh vực hiện tượng vốn nuốt chửng y, mê hoặc y và giam hãm y cho đến khi y trở nên bất an và bất hạnh dưới cảm thức rằng có điều gì đó không ổn. Rồi cuối cùng y đi đến sự nhận biết rằng y không phải là điều y có vẻ là, và rằng thế giới hiện tượng của các sắc tướng không đồng nhất với thực tại [95] như y đã từng giả định trước đó. Từ khoảnh khắc ấy trở đi, y đi đến ý thức về nhị nguyên, đến sự nhận biết về “tính khác” và đến nhận thức rằng ý thức nhị nguyên của y phải chấm dứt, và rằng một tiến trình hợp nhất cùng một nỗ lực đạt tới sự hiệp nhất phải được đảm nhiệm. Từ khoảnh khắc ấy, những khó khăn của con người đang tiến hoá bắt đầu được y quan sát và đối diện một cách có ý thức, và y đứng trước một thời kỳ dài “thoát ra khỏi ảo cảm và bước vào thế giới nơi chỉ có sự hợp nhất được biết đến.” Các giai đoạn từ đó trở đi có thể được liệt kê như sau: |
[Webinar 110]
[Webinar 111]
[Webinar 112]
[Webinar 113]
[Webinar 114]
|
3. The stage wherein the intelligent thinking man, whether disciple or well-meaning aspirant, or an initiate of the first and second degrees, has to learn to distinguish between the truth and the truths, between knowledge and wisdom, between reality and illusion. When this stage has been passed through it leads to the third initiation, wherein the personality (which is prone to maya, glamour and illusion) stands free. It again experiences a sense of at-one-ment. This is due to the development of the sense of the intuition which puts into the disciple’s hand an infallible instrument whereby to discriminate and to discern. His perception is becoming accurate and he stands relatively free from deception and wrong identifications and interpretations. |
3. Giai đoạn trong đó con người tư duy thông minh, dù là đệ tử, người chí nguyện có thiện chí, hay điểm đạo đồ bậc một và bậc hai, phải học phân biệt giữa chân lý và các chân lý, giữa tri thức và minh triết, giữa thực tại và ảo tưởng. Khi giai đoạn này đã được vượt qua, nó dẫn đến lần điểm đạo thứ ba, trong đó phàm ngã, vốn dễ rơi vào ảo lực, ảo cảm và ảo tưởng, đứng tự do. Nó lại trải nghiệm một cảm thức về sự hiệp nhất. Điều này là do sự phát triển của ý thức trực giác, vốn đặt vào tay đệ tử một khí cụ không thể sai lầm để phân biện và phân biện tinh thần. Nhận thức của y đang trở nên chính xác và y đứng tương đối tự do khỏi sự lừa dối, khỏi những đồng hoá và diễn giải sai lầm. |
|
You will have noted how the career of the man has, therefore, proceeded from a crisis of duality to one of a relative unity, only to have that sense of unification disturbed by a renewed recognition of a higher and deeper duality. This duality temporarily produces another cleavage in a man’s life, and thus re-initiates a torturing process of bridging or of “occultly healing” [102] this break in the continuity of the spiritual consciousness. I would here remind you that this sense of peace or perception of cleavage is in itself an illusion and of the nature of glamour, and is based upon the illusory sense of identification with that which is not the self, or soul. The entire problem can be solved if the shift of the consciousness is away from identification with the lower forms of experience into that of identification with the real and true man. |
Các bạn hẳn đã lưu ý cách sự nghiệp của con người, vì vậy, đã tiến từ một cuộc khủng hoảng nhị nguyên đến một tình trạng tương đối hợp nhất, chỉ để rồi cảm thức hợp nhất ấy bị xáo trộn bởi một sự nhận biết mới về một nhị nguyên cao hơn và sâu hơn. Nhị nguyên này tạm thời tạo ra một sự rạn nứt khác trong đời sống con người, và như vậy lại khởi đầu một tiến trình đau đớn của việc bắt cầu hay “chữa lành một cách huyền bí” [102] sự đứt đoạn này trong tính liên tục của tâm thức tinh thần. Ở đây tôi muốn nhắc các bạn rằng cảm thức bình an này hay nhận thức về sự rạn nứt tự nó là một ảo tưởng và mang bản chất của ảo cảm, và được đặt nền trên cảm thức ảo tưởng về sự đồng hoá với cái không phải là bản ngã, hay linh hồn. Toàn bộ vấn đề có thể được giải quyết nếu sự chuyển dịch tâm thức rời khỏi việc đồng hoá với các hình thức kinh nghiệm thấp để đi vào sự đồng hoá với con người thật và chân chính. |
|
4. Stage by stage, the man has progressed from one state of illusion or glamour to another, from one point of discriminative opportunity to another until he has developed in himself three major capacities: |
4. Từng giai đoạn một, con người đã tiến từ một trạng thái ảo tưởng hay ảo cảm này sang một trạng thái khác, từ một điểm cơ hội phân biện này sang một điểm khác, cho đến khi y đã phát triển trong chính mình ba năng lực chính yếu: |
|
1. The capacity to handle force. |
1. Năng lực xử lý mãnh lực. |
|
2. The capacity to tread the middle way between the pairs of opposites. |
2. Năng lực bước đi trên con đường trung đạo giữa các cặp đối cực. |
|
3. Năng lực sử dụng trực giác. |
|
|
These capacities he developed by resolving the pairs of opposites on the physical, astral and lower mental planes. Now he faces his climaxing resolution, equipped with these powers. He becomes aware of those two great and apparently opposing entities (with both of whom he finds himself consciously identified)—the Angel of the Presence and the Dweller on the Threshold. Behind the Angel he dimly senses, not another duality, but a great Identity, a living Unity, which—for lack of a better word—we call the PRESENCE. |
Y đã phát triển các năng lực này bằng cách giải quyết các cặp đối cực trên cõi hồng trần, cõi cảm dục và cõi hạ trí. Giờ đây, được trang bị bằng các quyền năng này, y đối diện với sự giải quyết đạt đến cao điểm của mình. Y trở nên ý thức về hai thực thể vĩ đại và dường như đối nghịch, mà với cả hai y thấy mình đồng hoá một cách có ý thức: Thiên Thần của Hiện Diện và Kẻ Chận Ngõ. Phía sau Thiên Thần, y cảm nhận mơ hồ, không phải một nhị nguyên khác, mà là một Bản Sắc vĩ đại, một Hợp Nhất sống động, mà vì thiếu một từ tốt hơn, chúng ta gọi là HIỆN DIỆN. |
|
He then discovers that the way out in this case is not the method of handling force or of leaving behind both pairs of opposites, or of right recognition through the intuition, but that this Dweller and this Angel must be brought together; the lower entity must be “blotted out” in the “light,” or “forced to disappear within the [103] radiance.” This is the task of the higher of the two entities, with which the disciple or the initiate, consciously and deliberately, identifies himself. With this process we will later deal. This is the problem which faces the initiate before he takes the final three initiations. |
Khi ấy y khám phá rằng lối thoát trong trường hợp này không phải là phương pháp xử lý mãnh lực, hay bỏ lại phía sau cả hai cặp đối cực, hay sự nhận biết đúng đắn thông qua trực giác, mà là Kẻ Chận Ngõ này và Thiên Thần này phải được đưa lại với nhau; thực thể thấp phải bị “xoá mờ” trong “ánh sáng,” hay “bị buộc phải biến mất trong [103] ánh huy hoàng.” Đây là nhiệm vụ của thực thể cao hơn trong hai thực thể, mà đệ tử hay điểm đạo đồ đồng hoá chính mình với nó một cách có ý thức và chủ ý. Chúng ta sẽ bàn đến tiến trình này về sau. Đây là vấn đề đối diện với điểm đạo đồ trước khi y trải qua ba cuộc điểm đạo cuối cùng. |
|
You must bear in mind that none of these three stages are, in reality, divided off from each other by clear lines of demarcation, nor do they follow each other in a clear sequence. They proceed with much overlapping and often with a partial simultaneity. It is only when the disciple faces certain initiations that he awakens to the fact of these distinctions. Therefore, it might be stated that: |
Các bạn phải ghi nhớ rằng, trong thực tại, không giai đoạn nào trong ba giai đoạn này bị phân cách với nhau bằng những đường ranh giới rõ rệt, cũng không nối tiếp nhau theo một trình tự rõ ràng. Chúng diễn tiến với nhiều sự chồng lấn và thường với tính đồng thời từng phần. Chỉ khi đệ tử đối diện với một số cuộc điểm đạo nào đó, y mới thức tỉnh trước sự kiện về các phân biệt này. Vì vậy, có thể nói rằng: |
[Webinar 115]
[Webinar 116]
|
It is with the intention of discovering how far the aspirants and disciples of the world have gone in their understanding and in their handling of this problem that such an experiment as that being carried on in these groups has been undertaken and permitted. |
Chính với ý định khám phá xem những người chí nguyện và đệ tử của thế giới đã đi xa đến đâu trong sự thấu hiểu và trong việc xử lý vấn đề này mà một thí nghiệm như thí nghiệm đang được tiến hành trong các nhóm này đã được thực hiện và cho phép. |
2. The Causes Producing World Glamour.
[Webinar 117]
[Webinar 118]
|
Race |
Duality |
Problem |
Method |
Goal |
|
Giống Dân |
Nhị Nguyên Tính |
Vấn Đề |
Phương Pháp |
Mục Tiêu |
|
Lemurian |
Physical Force versus Vital Energy |
Maya |
Astral control Hatha Yoga: Aspirants Laya Yoga: Disciples |
1st Initiation Inspiration |
|
Lemuria |
Mãnh Lực Thể Xác đối với Năng Lượng Sinh Lực |
Ảo lực |
Kiểm soát cảm dục Hatha Yoga: Người chí nguyện Laya Yoga: Đệ tử |
Lần Điểm Đạo Thứ Nhất Cảm Hứng |
|
Atlantean |
The Pairs of Opposites Qualities Sentiency |
Glamour |
Mental control Bahkti Yoga: Aspirants Raja Yoga: Disciples |
2nd Initiation Illumination |
|
Atlantis |
Các Cặp Đối Lập Các Phẩm Tính Tri Giác |
Ảo cảm |
Kiểm soát trí tuệ Bahkti Yoga: Người chí nguyện Raja Yoga: Đệ tử |
Lần Điểm Đạo Thứ Hai Soi Sáng |
|
Aryan |
Dweller on the Threshold Angel of the Presence |
Illusion |
Soul control Raja Yoga: Aspirants Agni Yoga: Disciples |
3rd Initiation Intuition |
|
Arya |
Kẻ Chận Ngõ Thiên Thần của Hiện Diện |
Ảo tưởng |
Kiểm soát linh hồn Raja Yoga: Người chí nguyện Agni Yoga: Đệ tử |
Lần Điểm Đạo Thứ Ba Trực Giác |
|
I speak not in terms of the Aryan race as it is generally understood today or in its Nordic implications. |
Tôi không nói về giống dân Arya theo cách nó thường được hiểu ngày nay, hay theo những hàm ý Bắc Âu của nó. |
[Webinar 119]
[Webinar 120]
|
[116] Many such questions arise in the mind of the aspirant. They indicate dilemma, bewilderment, a realisation of surrounding glamour, a stage of illusion and a condition of impotency. Against the disciple are fighting all the forces of his own nature, and also those of humanity as a whole and of the planetary state. He feels helpless, inert, feeble and hopeless. He cannot even see the way out. Only one clear fact remains and that is the fact of the Soul, of the immortal Identity, the Warrior behind the scenes, the Charioteer, Krishna, the Christ within. |
[116] Nhiều câu hỏi như thế nảy sinh trong thể trí của người chí nguyện. Chúng biểu thị tình trạng tiến thoái lưỡng nan, sự hoang mang, việc nhận ra ảo cảm bao quanh, một giai đoạn của ảo tưởng và một tình trạng bất lực. Chống lại đệ tử là tất cả các mãnh lực thuộc bản chất riêng của y, cũng như các mãnh lực của toàn thể nhân loại và của tình trạng hành tinh. Y cảm thấy bất lực, trì trệ, yếu đuối và tuyệt vọng. Y thậm chí không thể thấy lối thoát. Chỉ còn lại một sự kiện rõ ràng duy nhất, đó là sự kiện về Linh hồn, về Bản Sắc bất tử, Chiến Sĩ ở hậu trường, Người Đánh Xe, Krishna, Đức Christ bên trong. |
|
The Bhagavad Gita can be read entirely from the standpoint of the disciple’s combat with glamour and students would be well-advised so to study it. |
Chí Tôn Ca có thể được đọc trọn vẹn từ lập trường cuộc chiến của đệ tử với ảo cảm, và các đạo sinh nên nghiên cứu nó theo cách ấy. |
|
The individual glamours of which the disciple becomes aware are consequently of five types of force. These, when brought into activity simultaneously, produce those glamours which are strictly initiated and produced by the man himself. They are: |
Do đó, các ảo cảm cá nhân mà đệ tử ý thức được thuộc về năm loại mãnh lực. Khi được đưa vào hoạt động đồng thời, chúng tạo ra những ảo cảm hoàn toàn do chính con người khởi phát và tạo nên. Chúng là: |
|
1. The forces of his dense physical nature and of the vital body which latter, functioning through the dense physical nature, produce a condition of maya or of uncontrolled energy. |
1. Các mãnh lực thuộc bản chất hồng trần đậm đặc của y và của thể sinh lực/thể dĩ thái, thể sau này khi vận hành qua bản chất hồng trần đậm đặc sẽ tạo ra một tình trạng ảo lực hay năng lượng không được kiểm soát. |
|
2. The forces of the astral nature, based upon desire and upon sentiency. These, at this stage, fall into two groups which we call the pairs of opposites. Their potency is accentuating at this period of individual history, for the disciple is polarised in the majority of cases in his astral body and is, therefore, subject to the glamours produced by the interplay of the opposites, plus the condition of maya, referred to above. |
2. Các mãnh lực của bản chất cảm dục, dựa trên dục vọng và cảm giác tính. Ở giai đoạn này, chúng rơi vào hai nhóm mà chúng ta gọi là các cặp đối cực. Quyền năng của chúng đang gia tăng trong giai đoạn lịch sử cá nhân này, vì trong đa số trường hợp đệ tử được phân cực trong thể cảm dục của mình, và vì thế chịu tác động của các ảo cảm do sự tương tác của các đối cực tạo ra, cộng thêm tình trạng ảo lực đã được nhắc đến ở trên. |
|
3. The forces of the lower mental nature, of the chitta or mind-stuff of which the mental body is composed. This [117] is coloured by past activity, as is the substance composing all the vehicles. This adds to maya and glamour, the state of illusion. |
3. Các mãnh lực của bản chất hạ trí, của chất trí hay chất liệu trí tuệ mà thể trí được cấu thành từ đó. Điều này [117] bị nhuốm màu bởi hoạt động quá khứ, cũng như chất liệu cấu thành mọi hiện thể. Điều này thêm vào ảo lực và ảo cảm tình trạng ảo tưởng. |
|
4. The personality ray then emerges and intensifies all these three aspects of force expression, producing eventually their synthetic work. Then we have the emerging of what has been called “the threefold glamorous condition,” into one major glamour. |
4. Khi ấy cung phàm ngã xuất hiện và tăng cường cả ba phương diện biểu lộ mãnh lực này, cuối cùng tạo ra hoạt động tổng hợp của chúng. Khi đó chúng ta có sự xuất hiện của điều đã được gọi là “tình trạng ảo cảm tam phân” thành một ảo cảm lớn duy nhất. |
|
5. The soul ray or energy is all this time steadily increasing its rhythmic potency, and seeking to impose its purpose and will upon the personality. It is the united relation and the interplay between these two which—when a point of balance has been achieved—sweeps the man on to the Probationary Path, on to the Path of Discipleship, and right up to the gate of initiation. There, standing before the Gate, he recognises the final duality which awaits resolution. The Dweller on the Threshold and the Angel of the PRESENCE. |
5. Cung linh hồn hay năng lượng linh hồn trong suốt thời gian này đang đều đặn gia tăng quyền năng nhịp nhàng của nó, và tìm cách áp đặt mục đích cùng ý chí của nó lên phàm ngã. Chính mối quan hệ thống nhất và sự tương tác giữa hai điều này — khi một điểm quân bình đã đạt được — cuốn con người tiến vào Con Đường Dự Bị, vào Con Đường Đệ Tử, và thẳng đến cổng điểm đạo. Ở đó, đứng trước Cổng, y nhận ra nhị nguyên cuối cùng đang chờ được giải quyết: Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần của Hiện Diện. |
[Webinar 121]
[Webinar 122]
|
To return to the consideration of the many glamours which are produced by and related to certain ray types: |
Trở lại việc xem xét nhiều ảo cảm được tạo ra bởi và liên hệ với một số kiểu cung nhất định: |
RAY I.—CUNG I.
|
The glamour of physical strength. |
Ảo cảm của sức mạnh thể chất. |
|
The glamour of personal magnetism. [121] |
Ảo cảm của từ tính cá nhân. [121] |
|
The glamour of self-centredness and personal potency. |
Ảo cảm của sự tập trung vào bản thân và sức mạnh cá nhân. |
|
The glamour of “the one at the centre.” |
Ảo cảm của “người ở trung tâm.” |
|
The glamour of selfish personal ambition. |
Ảo cảm của tham vọng cá nhân ích kỷ. |
|
The glamour of rulership, of dictatorship and of wide control. |
Ảo cảm của sự cai trị, của sự độc tài hoặc của sự kiểm soát rộng rãi. |
|
The glamour of the Messiah complex in the field of politics. |
Ảo cảm của phức cảm Đấng Cứu Thế trong lĩnh vực chính trị. |
|
The glamour of selfish destiny, of the divine right of kings personally exacted. |
Ảo cảm của định mệnh ích kỷ, của thiên quyền của các vua chúa được đòi hỏi cho cá nhân. |
|
The glamour of destruction. |
Ảo cảm của sự hủy diệt. |
|
The glamour of isolation, of aloneness, of aloofness. |
Ảo cảm của sự cô lập, sự đơn độc, sự xa cách. |
|
The glamour of the superimposed will—upon others and upon groups. |
Ảo cảm của ý chí áp đặt — lên người khác và lên các nhóm. |
[Webinar 123] [Webinar 124] [Webinar 125]
RAY II
|
The glamour of the love of being loved. |
Ảo cảm của sự yêu thích được yêu. |
|
The glamour of popularity. |
Ảo cảm của sự nổi tiếng. |
|
The glamour of personal wisdom. |
Ảo cảm của minh triết cá nhân. |
|
The glamour of selfish responsibility. |
Ảo cảm của trách nhiệm ích kỷ. |
|
The glamour of too complete an understanding, which negates right action. |
Ảo cảm của sự thấu hiểu quá trọn vẹn, vốn phủ định hành động đúng đắn. |
|
The glamour of self-pity, a basic glamour of this ray. |
Ảo cảm của sự tự thương hại, một ảo cảm căn bản của cung này. |
|
The glamour of the Messiah complex, in the world of religion and world need. |
Ảo cảm của phức cảm Đấng Cứu Thế trong thế giới tôn giáo và nhu cầu thế gian. |
|
The glamour of fear, based on undue sensitivity. |
Ảo cảm của sợ hãi, dựa trên sự nhạy cảm thái quá. |
|
The glamour of self-sacrifice. |
Ảo cảm của sự tự hi sinh. |
|
The glamour of selfish unselfishness. |
Ảo cảm của sự vô ngã ích kỷ. |
|
The glamour of self-satisfaction. |
Ảo cảm của sự tự mãn. |
|
The glamour of selfish service. |
Ảo cảm của sự phụng sự ích kỷ. |
[Webinar 126]
RAY III.
|
Ảo cảm của việc bận rộn. |
|
|
The glamour of cooperation with the Plan in an individual [122] and not a group way. |
Ảo cảm của sự cộng tác với Thiên Cơ theo cách cá nhân [122] chứ không theo cách nhóm. |
|
The glamour of active scheming. |
Ảo cảm của sự tính toán tích cực. |
|
The glamour of creative work—without true motive. |
Ảo cảm của công việc sáng tạo — không có động cơ chân chính. |
|
The glamour of good intentions, which are basically selfish. |
Ảo cảm của các ý định tốt, vốn căn bản là ích kỷ. |
|
The glamour of “the spider at the centre.” |
Ảo cảm của “con nhện ở trung tâm.” |
|
The glamour of “God in the machine.” |
Ảo cảm của “Thượng đế trong cỗ máy.” |
|
The glamour of devious and continuous manipulation. |
Ảo cảm của sự thao túng quanh co và liên tục. |
|
The glamour of self-importance, from the standpoint of knowing, of efficiency. |
Ảo cảm của tầm quan trọng bản thân, xét từ lập trường của tri thức và hiệu năng. |
[Webinar 127]
RAY IV.
|
The glamour of harmony, aiming at personal comfort and satisfaction. |
Ảo cảm của hòa hợp, nhằm vào sự thoải mái và thỏa mãn cá nhân. |
|
The glamour of war. |
Ảo cảm của chiến tranh. |
|
The glamour of conflict, with the objective of imposing righteousness and peace. |
Ảo cảm của xung đột, với mục tiêu áp đặt sự công chính và hòa bình. |
|
The glamour of vague artistic perception. |
Ảo cảm của nhận thức nghệ thuật mơ hồ. |
|
The glamour of psychic perception instead of intuition. |
Ảo cảm của nhận thức thông linh thay vì trực giác. |
|
The glamour of musical perception. |
Ảo cảm của nhận thức âm nhạc. |
|
The glamour of the pairs of opposites, in the higher sense. |
Ảo cảm của các cặp đối cực, theo nghĩa cao hơn. |
[Webinar 128]
RAY V.
|
The glamour of materiality, or over-emphasis of form. |
Ảo cảm của tính vật chất, hay sự nhấn mạnh quá mức vào hình tướng. |
|
The glamour of the intellect. |
Ảo cảm của trí năng. |
|
The glamour of knowledge and of definition. |
Ảo cảm của tri thức và định nghĩa. |
|
The glamour of assurance, based on a narrow point of view. |
Ảo cảm của sự chắc chắn, dựa trên một quan điểm hẹp hòi. |
|
The glamour of the form which hides reality. |
Ảo cảm của hình tướng che giấu thực tại. |
|
The glamour of organisation. |
Ảo cảm của tổ chức. |
|
The glamour of the outer, which hides the inner. [123] |
Ảo cảm của bên ngoài, vốn che giấu bên trong. [123] |
[Webinar 129]
RAY VI.
|
The glamour of devotion. |
Ảo cảm Sùng tín. |
|
The glamour of adherence to forms and persons. |
Ảo cảm của sự bám chấp vào các hình tướng và con người. |
|
The glamour of idealism. |
Ảo cảm của chủ nghĩa lý tưởng. |
|
Ảo cảm của các lòng trung thành, của các tín điều. |
|
|
The glamour of emotional response. |
Ảo cảm của đáp ứng cảm xúc. |
|
The glamour of sentimentality. |
Ảo cảm của tính đa cảm. |
|
The glamour of interference. |
Ảo cảm của sự can thiệp. |
|
The glamour of the lower pairs of opposites. |
Ảo cảm của các cặp đối cực thấp. |
|
The glamour of World Saviours and Teachers. |
Ảo cảm của các Đấng Cứu Thế và các Huấn sư Thế Gian. |
|
The glamour of the narrow vision. |
Ảo cảm của tầm nhìn hẹp hòi. |
|
The glamour of fanaticism. |
Ảo cảm của sự cuồng tín. |
[Webinar 130] [Webinar 131]
RAY VII.
|
The glamour of magical work. |
Ảo cảm của công việc huyền thuật. |
|
The glamour of the relation of the opposites. |
Ảo cảm của mối quan hệ giữa các đối cực. |
|
The glamour of the subterranean powers. |
Ảo cảm của các quyền năng ngầm. |
|
The glamour of that which brings together. |
Ảo cảm của điều đem các sự vật lại với nhau. |
|
The glamour of the physical body. |
Ảo cảm của thể xác. |
|
The glamour of the mysterious and the secret. |
Ảo cảm của điều huyền bí và bí mật. |
|
The glamour of sex magic. |
Ảo cảm của huyền thuật tính dục. |
|
The glamour of the emerging manifested forces. |
Ảo cảm của các mãnh lực biểu hiện đang xuất hiện. |
[Webinar 132]
|
I have here enumerated many glamours. But their names are legion, and I have by no means covered the possibilities or the field of glamour. |
Ở đây tôi đã liệt kê nhiều ảo cảm. Nhưng tên gọi của chúng thì vô số, và tôi tuyệt nhiên chưa bao quát hết các khả năng hay toàn bộ lĩnh vực của ảo cảm. |
|
One of the groups with which I have worked had certain characteristics and difficulties, and it might be of value if I mentioned it here. |
Một trong các nhóm mà tôi đã làm việc có một số đặc điểm và khó khăn nhất định, và có thể hữu ích nếu tôi đề cập đến nó ở đây. |
|
This group had a curious history in relation to other groups, because its personnel changed several times. Each time, the person who left the group had been in it from karmic right and old relation to myself or to the group members, [124] and had, therefore, earned the opportunity to participate in this activity. Each time they failed, and each time for personality reasons. They lacked group realisation and were definitely occupied with themselves. They lacked the new and wider vision. So they eliminated themselves from this initial new age activity. I am explaining this, for it is valuable to disciples to grasp the fact that karmic relation cannot be ignored and that group opportunity must be offered, even though it delay functioning in group service. |
Nhóm này có một lịch sử kỳ lạ trong quan hệ với các nhóm khác, vì thành phần nhân sự của nó đã thay đổi nhiều lần. Mỗi lần, người rời khỏi nhóm đều đã ở trong nhóm do quyền nghiệp quả và mối quan hệ xưa cũ với tôi hoặc với các thành viên trong nhóm, [124] và do đó đã giành được cơ hội tham gia vào hoạt động này. Mỗi lần họ đều thất bại, và mỗi lần đều vì các lý do phàm ngã. Họ thiếu sự nhận thức nhóm và rõ ràng bận tâm với chính mình. Họ thiếu tầm nhìn mới và rộng lớn hơn. Vì vậy, họ tự loại mình khỏi hoạt động sơ khởi của kỷ nguyên mới này. Tôi giải thích điều này vì đối với các đệ tử, việc nắm vững sự kiện rằng mối quan hệ nghiệp quả không thể bị bỏ qua, và cơ hội nhóm phải được trao, dù điều đó làm chậm trễ việc vận hành trong phụng sự nhóm, là điều có giá trị. |
|
Một số thành viên của nhóm vẫn còn đang vật lộn với ảo cảm, và họ cần thêm thời gian để tự điều chỉnh mình hầu nhận ra nó khi gặp phải. Nhiệm vụ chính của nhóm này là làm tiêu tan một phần ảo cảm phổ quát bằng một bài tham thiền được chỉ định và thực hiện trong sự hợp nhất. Một số thành viên của nhóm cũng đang đối diện, hoặc đã có, những điều chỉnh lớn trong đời sống của họ, và cần một ít thời gian để nhịp điệu chủ quan cần thiết được thiết lập. Nhưng tất cả họ đều làm việc với sự thấu hiểu, kiên trì và nhiệt thành, và chẳng bao lâu công việc nhóm đã được khởi sự. |
|
|
You would find it of value to consider the following questions: |
Các bạn sẽ thấy có giá trị khi xem xét những câu hỏi sau đây: |
|
1. What is the method whereby ideas are developed from the moment of impressing the mind of some intuitive? |
1. Phương pháp nhờ đó các ý tưởng được phát triển kể từ khoảnh khắc chúng gây ấn tượng lên thể trí của một người có trực giác là gì? |
|
Broadly speaking, they pass through the following stages, as you have oft been told: |
Nói một cách rộng rãi, chúng đi qua các giai đoạn sau đây, như các bạn đã thường được nói: |
|
a. The idea… based on intuitive perception. |
a. Ý tưởng… dựa trên nhận thức trực giác. |
|
b. The ideal… based on mental formulation and distribution. |
b. Lý tưởng… dựa trên sự hình thành và phân phối trí tuệ. |
|
c. The idol… based on the concretising tendency of physical manifestation. |
c. Ngẫu tượng… dựa trên khuynh hướng cụ thể hoá của sự biểu hiện hồng trần. |
|
2. What glamours do you feel are particularly dominant in the world today, and why? [125] |
2. Các bạn cảm thấy những ảo cảm nào đặc biệt chiếm ưu thế trong thế giới ngày nay, và vì sao? [125] |
|
3. I have spoken often of the work which this group and certain other groups are intending to do in dissipating world glamour. Have you any ideas as to how this should be done, or what will be demanded of you? |
3. Tôi đã thường nói về công việc mà nhóm này và một số nhóm khác dự định thực hiện trong việc làm tiêu tan ảo cảm thế gian. Các bạn có ý tưởng nào về cách điều này nên được thực hiện, hoặc điều gì sẽ được đòi hỏi nơi các bạn không? |
3. The Contrast between Higher and Lower Glamours
[Webinar 133]
[Webinar 134]
|
For a long time, the sense of dualism pervades the disciple’s being and makes his life appear to be a ceaseless conflict between the pairs of opposites. The battle of the contraries is taking place consciously in the disciple’s life. He alternates between the experiences of the past and a recollection of the experience of initiation through which he has passed, with the emphasis, first of all, in the earlier experiences; later, in the final great experience which is so deeply colouring his inner life. He has prolonged moments wherein he is the baffled disciple, struggling with glamour, and brief moments wherein he is the triumphant initiate. He [127] discovers in himself the sources of glamour and illusion and the lure of maya until the moment arrives when again he stands before the portal and faces the major dualities in his own particular little cosmos—the Dweller and the Angel. At first he fears the Angel and dreads the light which streams from that Angel’s countenance, because it throws into vivid reality the nature of the Dweller who is himself. He senses, as never before, the formidable task ahead of him and the true significance of the undertaking to which he has pledged himself. Little by little, two things emerge with startling clarity in his mind: |
Trong một thời gian dài, ý thức về nhị nguyên thấm khắp bản thể của đệ tử và khiến đời sống của y dường như là một cuộc xung đột không ngừng giữa các cặp đối cực. Trận chiến của các mặt tương phản đang diễn ra một cách có ý thức trong đời sống của đệ tử. Y luân phiên giữa các kinh nghiệm của quá khứ và ký ức về kinh nghiệm điểm đạo mà y đã trải qua, trước hết với sự nhấn mạnh đặt vào các kinh nghiệm trước kia; về sau, vào kinh nghiệm lớn lao cuối cùng, vốn đang nhuốm màu sâu sắc đời sống bên trong của y. Y có những khoảnh khắc kéo dài trong đó y là đệ tử bối rối, vật lộn với ảo cảm, và những khoảnh khắc ngắn ngủi trong đó y là điểm đạo đồ chiến thắng. Y [127] khám phá trong chính mình các nguồn của ảo cảm và ảo tưởng cùng sức quyến rũ của ảo lực, cho đến khi khoảnh khắc đến mà y một lần nữa đứng trước cửa vào và đối diện với các nhị nguyên chính trong tiểu vũ trụ riêng của mình — Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần. Lúc đầu y sợ Thiên Thần và kinh hãi ánh sáng tuôn ra từ gương mặt của Thiên Thần ấy, vì nó phơi bày thành hiện thực sống động bản chất của Kẻ Chận Ngõ, tức chính y. Y cảm nhận, hơn bao giờ hết, nhiệm vụ ghê gớm đang ở phía trước và thâm nghĩa chân thực của công việc mà y đã tự cam kết. Từng chút một, hai điều hiện ra trong thể trí của y với sự rõ ràng đáng kinh ngạc: |
|
1. The significance of his own nature, with its essential dualism. |
1. Thâm nghĩa của bản chất riêng của y, với tính nhị nguyên thiết yếu của nó. |
|
2. The recognition of the relationship between the pairs of opposites with which he, as a disciple, has to work. |
2. Sự nhận biết mối quan hệ giữa các cặp đối cực mà y, với tư cách đệ tử, phải làm việc cùng. |
|
Một khi y nắm vững mối quan hệ của nhị nguyên chính thấp, tức nhị nguyên giữa phàm ngã và linh hồn, y khi ấy được chuẩn bị để tiến tới thực tại cao hơn, tức Bản Ngã tích hợp, gồm phàm ngã và linh hồn, cùng mối quan hệ của nó với Hiện Diện. Trong phát biểu này, các bạn có kết quả của ba lần điểm đạo đầu tiên và hai lần cuối cùng được diễn đạt trong vài lời ngắn gọn. Hãy suy ngẫm về điều này. |
|
|
It will be of real value, I believe, if I relate for your benefit the various contrasting characteristics of the intelligent man and the disciple, using the word “disciple” to cover all stages of development from that of accepted disciple to that of the Master. There is naught but the Hierarchy, which is a term denoting a steady progress from a lower state of being and of consciousness to a higher. This is in every case the state of consciousness of some Being, limited and confined and controlled by substance. You will note that [128] I say “substance” and not “form” for it is in reality substance which controls spirit for a long, a very long, cycle of expression; it is not matter that controls, for the reason that gross matter is always controlled by the forces which are esoterically regarded as etheric in nature and, therefore, as substance, not form. Remember this at all times for it holds the clue to the true understanding of the lower nature. |
Tôi tin rằng sẽ có giá trị thực sự nếu, vì lợi ích của các bạn, tôi trình bày các đặc tính tương phản khác nhau của người thông minh và đệ tử, dùng từ “đệ tử” để bao hàm mọi giai đoạn phát triển, từ giai đoạn đệ tử được chấp nhận cho đến giai đoạn Chân sư. Không có gì ngoài Thánh Đoàn, một thuật ngữ chỉ sự tiến bộ đều đặn từ một trạng thái hiện hữu và tâm thức thấp hơn đến một trạng thái cao hơn. Trong mọi trường hợp, đây là trạng thái tâm thức của một Đấng nào đó, bị giới hạn, bị ràng buộc và bị kiểm soát bởi chất liệu. Các bạn sẽ lưu ý rằng [128] tôi nói “chất liệu” chứ không phải “hình tướng”, vì trong thực tại chính chất liệu kiểm soát tinh thần trong một chu kỳ biểu lộ dài, rất dài; không phải vật chất kiểm soát, bởi lý do vật chất thô luôn luôn bị kiểm soát bởi các mãnh lực mà một cách huyền bí được xem là có bản chất dĩ thái, và do đó là chất liệu, không phải hình tướng. Hãy luôn luôn nhớ điều này, vì nó nắm giữ chìa khóa đưa đến sự thấu hiểu chân thực về bản chất thấp. |
[Webinar 135]
|
We will study, therefore, the basic essential contrasts which the disciple must intuitively grasp and with which he must familiarise himself. We will divide what we have to say into four parts, dealing briefly, but I trust helpfully, with each: |
Do đó, chúng ta sẽ nghiên cứu những tương phản căn bản và thiết yếu mà đệ tử phải nắm bắt bằng trực giác và phải làm cho quen thuộc với chính mình. Chúng ta sẽ chia điều cần nói thành bốn phần, bàn đến từng phần một cách ngắn gọn, nhưng tôi tin là hữu ích: |
|
a. |
The contrast between Illusion and its opposite |
Intuition. |
|
a. |
Sự tương phản giữa Ảo tưởng và đối lập của nó |
Trực giác. |
|
b. |
The contrast between Glamour and its opposite |
Illumination. |
|
b. |
Sự tương phản giữa Ảo cảm và đối lập của nó |
Soi sáng. |
|
c. |
The contrast between Maya and its opposite |
Inspiration. |
|
c. |
Sự tương phản giữa Ảo lực và đối lập của nó |
Cảm hứng. |
|
d. |
The contrast between the Dweller on the Threshold and its opposite |
The Angel of the PRESENCE. |
|
d. |
Sự tương phản giữa Kẻ Chận Ngõ và đối lập của nó |
Thiên Thần của HIỆN DIỆN. |
|
This, you will realise, is a large subject and deals with the major problem of the disciple. I would refer you at this point to what I have already said anent these four aspects of glamour, and would ask you to refer with care to the various charts and tabulations which have been given to you from time to time. |
Điều này, các bạn sẽ nhận ra, là một chủ đề rộng lớn và đề cập đến vấn đề chính của đệ tử. Ở điểm này, tôi muốn nhắc các bạn về những gì tôi đã nói liên quan đến bốn phương diện này của ảo cảm, và yêu cầu các bạn tham khảo cẩn thận các biểu đồ và bảng liệt kê khác nhau đã được trao cho các bạn theo thời gian. |
a. The Contrast between Illusion and Intuition.
|
I have chosen this as the first contrast with which to deal as it should (even though it probably may not) constitute the major glamour of the members of this group. Unfortunately the emotional glamour dominates still and, for the majority of you, the second contrast, that between glamour and illumination, may prove the most useful and the most constructive. |
Tôi đã chọn điều này làm tương phản đầu tiên để bàn đến, vì nó nên, dù có lẽ không phải, cấu thành ảo cảm chính của các thành viên trong nhóm này. Đáng tiếc là ảo cảm cảm xúc vẫn còn chi phối, và đối với đa số các bạn, tương phản thứ hai, tức giữa ảo cảm và sự soi sáng, có thể chứng tỏ là hữu ích nhất và có tính xây dựng nhất. |
|
Illusion is the power of some mental thoughtform, of some ideal, and some concept—sensed, grasped and interpreted [129] in mental form—to dominate the mental processes of the individual or of the race and consequently to produce the limitation of the individual or group expression. Such ideas and concepts can be of three kinds, as I realise you should know: |
Ảo tưởng là quyền năng của một hình tư tưởng trí tuệ nào đó, của một lý tưởng nào đó và một khái niệm nào đó — được cảm nhận, nắm bắt và diễn giải [129] trong hình thức trí tuệ — nhằm chi phối các tiến trình trí tuệ của cá nhân hoặc của nhân loại, và do đó tạo ra sự giới hạn trong biểu lộ của cá nhân hoặc nhóm. Các ý tưởng và khái niệm như thế có thể thuộc ba loại, như tôi nhận ra rằng các bạn nên biết: |
|
1. They can be inherited ideas, as in the case of those who find it so difficult to adjust themselves to the new vision of world life and of social order, as expressed in the newer ideologies. They are powerfully conditioned by their cast, their tradition and their background. |
1. Chúng có thể là các ý tưởng được thừa hưởng, như trong trường hợp những người thấy rất khó tự điều chỉnh mình với tầm nhìn mới về đời sống thế giới và trật tự xã hội, như được biểu lộ trong các hệ tư tưởng mới hơn. Họ bị tác động mạnh mẽ bởi tầng lớp, truyền thống và bối cảnh của mình. |
|
2. They can be the more modern ideas which are, in the last analysis, the reaction of modern thought to world conditions and situations, and to these many other aspirants are very prone and most naturally so, especially if living in the vortex of force which we call modern Europe. Such modern ideas are construed today into major currents and dominating ideologies, and to these every intelligent person must inevitably react, though they forget that that reaction is based on tradition, or upon national or international predisposition. |
2. Chúng có thể là các ý tưởng hiện đại hơn, xét đến cùng, là phản ứng của tư tưởng hiện đại đối với các điều kiện và tình huống thế giới; và nhiều người chí nguyện khác rất dễ thiên về chúng, điều đó cũng hết sức tự nhiên, đặc biệt nếu họ đang sống trong xoáy mãnh lực mà chúng ta gọi là châu Âu hiện đại. Ngày nay, các ý tưởng hiện đại như thế được diễn giải thành những dòng chảy lớn và các hệ tư tưởng chi phối, và mọi người thông minh tất yếu phải phản ứng với chúng, dù họ quên rằng phản ứng ấy dựa trên truyền thống, hoặc trên khuynh hướng quốc gia hay quốc tế. |
|
3. They can be the newer dimly sensed ideas which have in them the power to condition the future and lead the modern generation out of darkness into light. None of you as yet really sense these new ideas, though in moments of high meditation and spiritual achievement, you may vaguely and briefly react to them. That reaction may be real just in so far that it conditions, with definiteness, your service to your fellowmen. You can react correctly and can do so increasingly if you preserve your soul’s integrity and are not overcome by the battle and the fever of your surroundings within your chosen field of service. |
3. Chúng có thể là những ý tưởng mới hơn được cảm nhận lờ mờ, vốn có trong chúng quyền năng tác động lên tương lai và dẫn thế hệ hiện đại ra khỏi bóng tối đi vào ánh sáng. Chưa ai trong các bạn thật sự cảm nhận được những ý tưởng mới này, dù trong những khoảnh khắc tham thiền cao và thành tựu tinh thần, các bạn có thể phản ứng với chúng một cách mơ hồ và ngắn ngủi. Phản ứng ấy có thể là chân thực đúng trong mức độ nó tác động một cách xác định lên sự phụng sự của các bạn đối với đồng loại. Các bạn có thể phản ứng đúng đắn và ngày càng làm được như vậy nếu các bạn giữ gìn sự toàn vẹn của linh hồn mình, và không bị khuất phục bởi trận chiến cùng cơn sốt của môi trường xung quanh trong lĩnh vực phụng sự mà các bạn đã chọn. |
|
[130] A mental illusion might perhaps be described as an idea, embodied in an ideal form, which permits no room or scope for any other form of ideal. It precludes an ability, therefore, to contact ideas. The man is tied to the world of ideals and of idealism. He cannot move away from it. This mental illusion ties and limits and imprisons the man. A good idea may consequently become an illusion with great facility and prove a disastrous conditioning factor in the life of the man who registers it. |
[130] Một ảo tưởng trí tuệ có lẽ có thể được mô tả như một ý tưởng, được hiện thân trong một hình thức lý tưởng, không cho phép có chỗ hay phạm vi nào cho bất kỳ hình thức lý tưởng nào khác. Vì thế, nó loại trừ khả năng tiếp xúc với các ý tưởng. Con người bị buộc chặt vào thế giới của các lý tưởng và của chủ nghĩa lý tưởng. Y không thể rời khỏi nó. Ảo tưởng trí tuệ này trói buộc, giới hạn và giam hãm con người. Do đó, một ý tưởng tốt có thể rất dễ dàng trở thành một ảo tưởng và chứng tỏ là một yếu tố tác động tai hại trong đời sống của người ghi nhận nó. |
[Webinar 136]
[Webinar 137]
[Webinar 138]
|
I cite these two illustrations, out of many possible ones, so that you may realise how illusions come, how they develop and how they must eventually disappear; thus you can achieve some standard of comparison whereby to grasp the relative value of the true and the false, of the immediately temporal and the basic eternality of the real. |
Tôi nêu hai minh họa này, trong số nhiều minh họa có thể có, để bạn có thể nhận ra ảo tưởng đến như thế nào, chúng phát triển ra sao và cuối cùng chúng phải biến mất như thế nào; nhờ đó bạn có thể đạt được một tiêu chuẩn so sánh nào đó để nắm bắt giá trị tương đối của cái thật và cái giả, của cái tạm thời trước mắt và tính vĩnh cửu căn bản của cái thực. |
|
It will, therefore, be apparent to you that the lower or concrete levels of the mental plane will have acquired or accumulated—down the ages—a vast number of ideas, which have been formulated as ideals, clothed in mental matter, nourished by the vitality of those who have recognised as much of the truth of the idea as they are capable of expressing and who have given to these ideals the emphasis of their thoughtform-making faculty and their directed attention, which necessarily implies the energising of the limited formulated ideal because—as you know—energy follows thought. |
Do đó, bạn sẽ thấy rõ rằng các cấp độ thấp hay cụ thể của cõi trí đã thu nhận hoặc tích lũy—qua các thời đại—một số lượng lớn lao các ý tưởng, vốn đã được trình bày thành những lý tưởng, được khoác bằng vật chất trí tuệ, được nuôi dưỡng bằng sinh lực của những người đã nhận ra phần chân lý của ý tưởng trong mức độ họ có khả năng biểu hiện, và đã trao cho những lý tưởng này sức nhấn mạnh của năng lực tạo hình tư tưởng cùng sự chú tâm có định hướng của họ, điều tất yếu hàm ý việc tiếp năng lượng cho lý tưởng đã được trình bày một cách giới hạn, bởi—như bạn biết—năng lượng đi theo tư tưởng. |
|
These forms of thought become objectives towards which the subjective reality, man, reaches and with which he identifies himself for long periods of time; into them, he projects himself, thus vitalising them and giving them life and persistence. They become part of him; they condition his reactions and activities; they feed his desire nature and consequently assume undue importance, creating a barrier (of varying density, according to the extent of the identification) between the man in incarnation and the reality which is his true Being. |
Những hình tư tưởng này trở thành các mục tiêu mà thực tại chủ quan, tức con người, vươn tới và đồng hoá với trong những thời kỳ dài; vào trong chúng, y phóng chiếu chính mình, nhờ vậy tiếp sinh lực cho chúng và trao cho chúng sự sống cùng tính bền bỉ. Chúng trở thành một phần của y; chúng tác động lên các phản ứng và hoạt động của y; chúng nuôi dưỡng bản chất dục vọng của y và do đó khoác lấy một tầm quan trọng quá mức, tạo nên một rào cản, với độ đậm đặc khác nhau tùy theo mức độ đồng hoá, giữa con người đang lâm phàm và thực tại vốn là Bản Thể chân thực của y. |
|
There is no need for me here to itemise any of these prevailing thoughtforms and aspects of intellectual and mental illusion. I would not have you think for a moment that the embodied idea, which we call an ideal, is in itself an illusion. It only becomes so when it is regarded as an end in itself instead of being what it essentially is, a means to an end. An ideal, rightly grasped and used, provides a temporary [134] aid towards the attainment of immediate and imminent reality which it is the goal of the man or the race, at any particular time, to reach. The idea before the race today is the re-establishing (upon a higher turn of the spiral) of that spiritual relationship which characterised the race in its child state, in its primitive condition. Then, under the wise guidance and the paternalistic attitude of the Hierarchy and the initiate-priests of the time, men knew themselves to be one family—a family of brothers—and achieved this through a feeling and a developed sensuous perception. Today, under the name of Brotherhood, the same idea is seeking mental form and the establishment of a renewed spiritual relationship (the idea) through training in right human relations (the ideal). This is the immediate goal of humanity. |
Ở đây, tôi không cần liệt kê bất cứ hình tư tưởng phổ biến nào trong số này, hay các phương diện của ảo tưởng trí thức và trí tuệ. Tôi không muốn bạn nghĩ, dù chỉ trong một khoảnh khắc, rằng ý tưởng được hiện thân, mà chúng ta gọi là một lý tưởng, tự nó là một ảo tưởng. Nó chỉ trở thành như thế khi được xem là cứu cánh tự thân, thay vì là điều về bản chất nó vốn là: một phương tiện để đạt đến cứu cánh. Một lý tưởng, nếu được nắm bắt và sử dụng đúng đắn, cung cấp một trợ giúp tạm thời [134] hướng tới việc đạt được thực tại trước mắt và sắp đến, vốn là mục tiêu mà con người hay nhân loại, vào bất cứ thời điểm đặc thù nào, cần vươn tới. Ý tưởng đứng trước nhân loại ngày nay là sự tái lập, trên một vòng cao hơn của đường xoắn ốc, mối quan hệ tinh thần đã đặc trưng cho nhân loại trong trạng thái thơ ấu, trong điều kiện nguyên thủy của nó. Khi ấy, dưới sự hướng dẫn minh triết và thái độ phụ quyền của Thánh Đoàn cùng các điểm đạo đồ-tư tế thời đó, con người biết mình là một gia đình—một gia đình của các huynh đệ—và đạt được điều này thông qua cảm xúc và một nhận thức giác quan đã phát triển. Ngày nay, dưới danh xưng Tình Huynh Đệ, cùng một ý tưởng ấy đang tìm kiếm hình tướng trí tuệ và sự thiết lập một mối quan hệ tinh thần được đổi mới, tức ý tưởng, thông qua việc rèn luyện trong các mối quan hệ nhân loại đúng đắn, tức lý tưởng. Đây là mục tiêu trước mắt của nhân loại. |
[Webinar 139]
[Webinar 140]
[Webinar 141]
[Webinar 142]
b. The Contrast between Glamour and Illumination.
[Webinar 143]
[Webinar 144]
|
5. The disciple must relinquish all sense of tension or of strain and must learn to work with pure faith and love. The less he feels and the less he is preoccupied with his own feelings or sense of achievement or of non-achievement, the more probable it will be that the work will proceed with effectiveness and the glamour be slowly dispelled. In this work there is no haste. That which is very ancient cannot be immediately dispelled no matter how good the intention or how accurate may be the grasp of the needed technique. |
5. Người đệ tử phải từ bỏ mọi cảm thức căng thẳng hay gắng sức, và phải học cách làm việc với đức tin thuần khiết và tình thương. Y càng ít cảm nhận và càng ít bận tâm với các cảm xúc của chính mình hay cảm thức thành tựu hoặc không thành tựu của mình, thì công việc càng có khả năng tiến hành hiệu quả và ảo cảm càng chậm rãi được xua tan. Trong công việc này không có sự vội vã. Điều rất cổ xưa không thể được làm tiêu tan tức khắc, dù ý định có tốt đến đâu hay sự nắm bắt kỹ thuật cần thiết có chính xác đến mức nào. |
|
It will be apparent to you that there are elements of danger in this work. Unless the members of the group are exceedingly watchful and unless they cultivate the habit of careful observation, they may suffer from over-stimulation of the solar plexus until such time as they have mastered the process of rapidly transferring the light of the soul, focussed in the solar plexus, and the innate light of the astral body, also found localised in that centre, into the heart centre between the shoulder blades. I would, therefore, warn each and all of you to proceed with the utmost care and I would caution you that if you suffer any solar plexus disturbance or encounter in yourselves any increased emotional instability, to be not unduly disturbed. I would ask you to regard the phenomenon of disturbance as simply a temporary difficulty, incident upon the service which you are seeking to render. If you pay this intelligent attention to the matter and no more, refusing to be distressed or to be disturbed, no bad results will be felt. |
Bạn sẽ thấy rõ rằng trong công việc này có những yếu tố nguy hiểm. Trừ khi các thành viên của nhóm hết sức cảnh giác và trừ khi họ nuôi dưỡng thói quen quan sát cẩn thận, họ có thể chịu sự kích thích quá mức của tùng thái dương cho đến khi họ làm chủ được tiến trình nhanh chóng chuyển ánh sáng của linh hồn, được tập trung trong tùng thái dương, và ánh sáng bẩm sinh của thể cảm dục, cũng được thấy định vị trong trung tâm ấy, vào trung tâm tim giữa hai xương bả vai. Do đó, tôi muốn cảnh báo từng người và tất cả các bạn hãy tiến hành với sự thận trọng tối đa, và tôi muốn khuyên các bạn rằng nếu các bạn chịu bất cứ rối loạn nào ở tùng thái dương hoặc gặp nơi chính mình bất cứ sự bất ổn cảm xúc gia tăng nào, thì đừng quá bối rối. Tôi yêu cầu các bạn xem hiện tượng rối loạn ấy chỉ đơn giản là một khó khăn tạm thời, phát sinh từ sự phụng sự mà các bạn đang tìm cách thực hiện. Nếu các bạn dành cho vấn đề này sự chú ý thông minh ấy và không hơn, từ chối bị đau khổ hay bị xáo động, thì sẽ không có kết quả xấu nào được cảm thấy. |
|
[143] In connection with your anticipated group work along these lines, you will proceed with your group meditation as indicated elsewhere (Discipleship in the New Age, Volume I, page 61), and then—when you have arrived at Stage III in the group meditation—you will work together as follows: |
[143] Liên quan đến công việc nhóm được dự liệu của các bạn theo những đường hướng này, các bạn sẽ tiến hành tham thiền nhóm như đã được chỉ dẫn ở nơi khác (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập I, trang 61), và rồi—khi các bạn đã đến Giai đoạn III trong tham thiền nhóm—các bạn sẽ cùng nhau làm việc như sau: |
[Webinar 145]
[Webinar 146]
[Webinar 147]
c. The Contrast between Maya and Inspiration.
|
Ở đây chúng ta chắc chắn đi vào lĩnh vực của chất liệu vật chất. Về bản chất và theo một cách đặc thù, đây là lĩnh vực của mãnh lực. Ảo lực chủ yếu là (đối với cá nhân) tổng hợp các mãnh lực kiểm soát những trung tâm mãnh lực thất phân của y, loại trừ, Tôi muốn nhấn mạnh, năng lượng kiểm soát của linh hồn. Do đó, bạn sẽ thấy rằng phần lớn nhân loại, cho đến khi một người đứng trên Con Đường Dự Bị, đều ở dưới sự kiểm soát của ảo lực, vì con người khuất phục ảo lực khi y bị kiểm soát bởi bất cứ mãnh lực hay các mãnh lực nào khác ngoài những năng lượng đến trực tiếp từ linh hồn, vốn tác động và kiểm soát các mãnh lực thấp hơn của phàm ngã, như cuối cùng và tất yếu chúng phải và sẽ làm. |
|
|
When a man is under the control of physical, astral and mental forces, he is convinced at the time that they are, for him, right forces. Herein lies the problem of maya. Such forces, however, when they control a man, determine him in a separative attitude and produce an effect which feeds and stimulates the personality and does not bring in the energy of the soul, the true Individuality. This analysis should prove illuminating to you. If men and [149] women would bring their lives under a closer scrutiny by the true inner or spiritual man and could thus determine what combination of energies conditions their life activity, they would not continue to function—as they do now—so blindly, so inadequately and so ineffectually. |
Khi một người ở dưới sự kiểm soát của các mãnh lực hồng trần, cảm dục và trí tuệ, vào lúc ấy y tin chắc rằng chúng là những mãnh lực đúng đắn đối với y. Chính trong đó có vấn đề của ảo lực. Tuy nhiên, khi các mãnh lực như thế kiểm soát con người, chúng quy định y trong một thái độ chia rẽ và tạo ra một tác động nuôi dưỡng, kích thích phàm ngã, chứ không đưa vào năng lượng của linh hồn, Cá Thể đích thực. Phân tích này sẽ chứng tỏ có sức soi sáng đối với bạn. Nếu những người nam và [149] nữ đem đời sống của mình ra dưới sự xem xét kỹ lưỡng hơn của con người bên trong chân thật hay con người tinh thần, và nhờ đó có thể xác định tổ hợp năng lượng nào tác động lên hoạt động sống của họ, thì họ sẽ không tiếp tục vận hành—như hiện nay—một cách mù quáng, thiếu thỏa đáng và kém hiệu quả như thế. |
|
It is for this reason that the study and understanding of motives is of such value and importance, for such a study determines intellectually (if properly investigated) what factor or factors inspires the daily life. This is a statement worth careful consideration. I would ask you: What is your major actuating motive? For, whatever it may be, it conditions and determines your predominant life tendency. |
Chính vì lý do này mà việc nghiên cứu và thấu hiểu các động cơ có giá trị và tầm quan trọng lớn lao như vậy, vì một nghiên cứu như thế xác định bằng trí tuệ (nếu được khảo sát đúng đắn) yếu tố hay các yếu tố nào truyền cảm hứng cho đời sống hằng ngày. Đây là một phát biểu đáng được suy xét cẩn thận. Tôi muốn hỏi bạn: Động cơ thúc đẩy chủ yếu của bạn là gì? Vì dù nó là gì đi nữa, nó tác động và quy định khuynh hướng đời sống nổi trội của bạn. |
|
Many people, particularly the unintelligent masses, are solely inspired by desire—material, physical and temporary. Animal desire for the satisfaction of the animal appetites, material desire for possession and for the luxuries of existence, the longing for “things,” for comforts and for security—economic, social and religious—control the majority. The man is under the influence of the densest form of maya, and the forces of his nature are concentrated in the sacral centre. Others are motivated by some form of aspiration or ambition—aspiration towards some material heaven (and most religions portray heaven in this manner), ambitions for power, desire for the satisfaction of the emotional or aesthetic appetites and for the possession of the more subtle realities, and the longing for emotional comfort, for mental stability and assurance that the higher desires will meet with gratification. All this is maya in its emotional form, and it is not the same thing as glamour. In the case of glamour, the forces of a man’s nature are seated in the solar plexus. In the case of maya, they are seated in the sacral centre. Glamour is subtle and emotional. Maya is tangible and etheric. |
Nhiều người, đặc biệt là quần chúng kém trí tuệ, chỉ được cảm hứng bởi dục vọng—vật chất, hồng trần và tạm thời. Dục vọng thú tính nhằm thỏa mãn các ham muốn thú tính, dục vọng vật chất đối với sở hữu và các xa hoa của đời sống, sự khao khát “đồ vật,” tiện nghi và an toàn—kinh tế, xã hội và tôn giáo—đang kiểm soát đa số. Con người ở dưới ảnh hưởng của hình thức ảo lực đậm đặc nhất, và các mãnh lực trong bản chất của y tập trung nơi trung tâm xương cùng. Những người khác được thúc đẩy bởi một hình thức khát vọng hay tham vọng nào đó—khát vọng hướng tới một thiên đường vật chất nào đó (và hầu hết các tôn giáo mô tả thiên đường theo cách này), tham vọng quyền lực, dục vọng thỏa mãn các ham muốn cảm xúc hay thẩm mỹ và sở hữu những thực tại vi tế hơn, cùng sự khao khát được an ủi về cảm xúc, ổn định về trí tuệ và bảo đảm rằng những dục vọng cao hơn sẽ được thỏa mãn. Tất cả điều này là ảo lực trong hình thức cảm xúc của nó, và không đồng nhất với ảo cảm. Trong trường hợp ảo cảm, các mãnh lực trong bản chất con người an trú nơi tùng thái dương. Trong trường hợp ảo lực, chúng an trú nơi trung tâm xương cùng. Ảo cảm thì vi tế và cảm xúc. Ảo lực thì hữu hình và dĩ thái. |
[Webinar 148]
|
[150] Such are the forces of maya which actuate, motivate and energise the life of the ordinary man. Under their influence he is helpless for they inspire all his thinking, all his aspiration and his desire, and all his activity on the physical plane. His problem is twofold: |
[150] Đó là những mãnh lực của ảo lực thúc đẩy, tạo động lực và tiếp sinh lực cho đời sống của con người bình thường. Dưới ảnh hưởng của chúng, y bất lực, vì chúng truyền cảm hứng cho toàn bộ tư tưởng, toàn bộ khát vọng và dục vọng của y, cũng như toàn bộ hoạt động của y trên cõi hồng trần. Vấn đề của y có hai mặt: |
|
1. To bring all his centres under the inspiration of the soul. |
1. Đưa tất cả các trung tâm của y vào dưới cảm hứng của linh hồn. |
|
2. To transfer or transmute the forces of the lower centres, which control the personality, into the energies of the centres above the diaphragm, which respond automatically to the inspiration of the soul. |
2. Chuyển dịch hay chuyển hoá các mãnh lực của những trung tâm thấp hơn, vốn kiểm soát phàm ngã, thành các năng lượng của những trung tâm phía trên hoành cách mô, vốn tự động đáp ứng với cảm hứng của linh hồn. |
|
It is in this thought that the potency and the symbolic value of breathing exercises consists. The motive is soul control, and though the methods employed are (in many cases) definitely undesirable yet the developing tendency of the life thought will prove inevitably determining and conditioning. The methods used may not save the unprepared physical body from certain evil and disastrous results yet, in the long run and in the last analysis, they may condition the future experience (probably in another life) in such a manner that the aspirant will find himself more able to function as a soul than might otherwise have been the case. |
Chính trong tư tưởng này có quyền năng và giá trị biểu tượng của các bài tập thở. Động cơ là sự kiểm soát của linh hồn, và dù các phương pháp được sử dụng (trong nhiều trường hợp) rõ ràng là không đáng mong muốn, khuynh hướng đang phát triển của tư tưởng đời sống rốt cuộc sẽ chứng tỏ có tính quyết định và tác động. Các phương pháp được dùng có thể không cứu thể xác chưa được chuẩn bị khỏi một số hậu quả xấu xa và tai hại, nhưng về lâu dài và xét đến cùng, chúng có thể tác động lên kinh nghiệm tương lai (có lẽ trong một đời sống khác) theo cách khiến người chí nguyện thấy mình có khả năng vận hành như một linh hồn hơn so với điều có thể xảy ra nếu không như vậy. |
|
Before I close this particular instruction upon glamour, I would like to call the attention of the group to the occult sentences which I gave to D.L.R. prior to his leaving the group. They have a definite relation to the group work and I would like you to give them careful consideration and study. The Old Commentary, in speaking of the work of those whose dharma it is to dissipate world glamour, uses the following illuminating sentences: |
Trước khi Tôi kết thúc huấn thị đặc biệt này về ảo cảm, Tôi muốn kêu gọi nhóm chú ý đến những câu huyền bí mà Tôi đã trao cho D.L.R. trước khi ông rời nhóm. Chúng có liên hệ rõ rệt với công việc nhóm, và Tôi muốn các bạn suy xét, nghiên cứu chúng cẩn thận. Cổ Luận, khi nói về công việc của những người có bổn phận làm tiêu tan ảo cảm thế giới, dùng những câu soi sáng sau đây: |
|
“They come and stand. Within the midst of whirling forms—some of beauty rare and some of [151] horror and despair—they stand. They look not here or there but, with their faces turned towards the light, they stand. Thus through their minds the pure light streams to dissipate the fogs. |
“Họ đến và đứng. Giữa những hình tướng xoáy cuộn—một số có vẻ đẹp hiếm có, một số đầy [151] kinh hoàng và tuyệt vọng—họ đứng. Họ không nhìn nơi này hay nơi kia, mà đứng với mặt hướng về ánh sáng. Như thế, qua thể trí của họ, ánh sáng tinh khiết tuôn chảy để làm tiêu tan các màn sương mù. |
|
“They come and rest. They cease their outer labours, pausing to do a different work. Within their hearts is rest. They run not here and there, but constitute a point of peace and rest. That which upon the surface veils and hides the real begins to disappear and from the heart at rest a beam of dissipating force projects, blends with the shining light and then the mists of man’s creation disappear. |
“Họ đến và nghỉ. Họ ngừng các công việc bên ngoài, dừng lại để làm một công việc khác. Trong tim họ có sự nghỉ ngơi. Họ không chạy đây chạy đó, mà tạo thành một điểm bình an và nghỉ ngơi. Điều trên bề mặt che phủ và ẩn giấu thực tại bắt đầu biến mất, và từ trái tim an nghỉ, một tia mãnh lực làm tiêu tan được phóng chiếu ra, hòa nhập với ánh sáng rực rỡ, rồi những màn sương mù do con người tạo ra biến mất. |
|
“They come and they observe. They own the eye of vision; likewise they own the right direction of the needed force. They see the glamour of the world, and seeing, they note behind it all the true, the beautiful, the real. Thus through the eye of Buddhi comes the power to drive away the veiling, swirling glamours of that glamorous world. |
“Họ đến và họ quan sát. Họ sở hữu con mắt của tầm nhìn; đồng thời họ sở hữu hướng đi đúng của mãnh lực cần thiết. Họ thấy ảo cảm của thế giới, và khi thấy, họ ghi nhận phía sau tất cả điều đó cái chân, cái mỹ, cái thực. Như thế, qua con mắt của Bồ đề, quyền năng xua tan các ảo cảm che phủ, xoáy cuộn của thế giới đầy ảo cảm ấy xuất hiện. |
|
“They stand, they rest, and they observe. Such are their lives and such the service that they render to the souls of men.” |
“Họ đứng, họ nghỉ, và họ quan sát. Đời sống của họ là như thế, và sự phụng sự mà họ thực hiện cho linh hồn của nhân loại cũng là như thế.” |
|
Tôi muốn trao những dòng này cho sự suy nghĩ cẩn thận của các bạn. Chúng truyền đạt cho các bạn không chỉ lĩnh vực phụng sự nhóm của các bạn, mà còn cả thái độ mong muốn trong đời sống cá nhân của mỗi thành viên trong nhóm. |
[Webinar 149] [Webinar 150]
|
I would also like, at this point, to touch upon a factor of real importance in this work and to repeat my earlier warning: Will you remember that the effort to free yourselves from irritation or from what is called in Agni Yoga “imperil” (a peculiar yet satisfying word, my brothers) is particularly essential for this group? Irritation is exceedingly prevalent these days of nervous tension and it most [152] definitely imperils progress and retards the steps of the disciple upon the Way. It can produce dangerous group tension if present in any of you, and this induced group tension can interfere with the free play of the power and light which you are supposed to use, even when the other group members remain unconscious of the emanating source. Irritation definitely generates a poison which locates itself in the region of the stomach and of the solar plexus. Irritation is a disease, if I might use that word, of the solar plexus centre and it is definitely contagious to an almost alarming extent. So, my brothers, watch yourselves with care and remember that just in so far as you can live in the head and in the heart, you will end the disease of imperil and aid in the transference of the forces of the solar plexus into the heart centre. |
Tôi cũng muốn, vào điểm này, đề cập đến một yếu tố có tầm quan trọng thực sự trong công việc này và lặp lại lời cảnh báo trước đây của Tôi: Các bạn có nhớ rằng nỗ lực giải phóng chính mình khỏi sự bực dọc hay khỏi điều được gọi trong Agni Yoga là “imperil” (một từ đặc biệt nhưng thỏa đáng, các huynh đệ của Tôi) là điều đặc biệt thiết yếu đối với nhóm này không? Sự cáu kỉnh cực kỳ phổ biến trong những ngày căng thẳng thần kinh này, và nó hết sức [152] chắc chắn gây nguy hại cho tiến bộ và làm chậm các bước của đệ tử trên Đường Đạo. Nếu hiện diện trong bất cứ ai trong các bạn, nó có thể tạo ra sự căng thẳng nhóm nguy hiểm, và sự căng thẳng nhóm được khơi dậy này có thể cản trở sự vận hành tự do của quyền năng và ánh sáng mà các bạn được giả định là phải sử dụng, ngay cả khi các thành viên khác trong nhóm vẫn không ý thức về nguồn phát xạ. Sự cáu kỉnh chắc chắn tạo ra một chất độc định vị nơi vùng dạ dày và tùng thái dương. Sự cáu kỉnh là một chứng bệnh, nếu Tôi có thể dùng từ ấy, của trung tâm tùng thái dương, và chắc chắn có tính lây lan đến mức gần như đáng báo động. Các huynh đệ của Tôi, vì vậy, hãy cẩn thận quan sát chính mình và hãy nhớ rằng đúng trong mức độ các bạn có thể sống trong đầu và trong tim, các bạn sẽ chấm dứt căn bệnh nguy hại và hỗ trợ việc chuyển dịch các mãnh lực của tùng thái dương vào trung tâm tim. |
[Webinar 151]
d. The Contrast between the Dweller and its opposite, the Angel of the Presence.
|
The entire subject of the Dweller and its relation to the Angel (a symbolic way of dealing with a great relationship and possibility, and a great fact in manifestation) is only now possible of consideration. Only when man is an integrated personality does the problem of the Dweller truly arise, and only when the mind is alert and the intelligence organised (as is becoming the case today on a fairly large scale) is it possible for man to sense—intelligently and not just mystically—the Angel and so intuit the PRESENCE. Only then does the entire question of hindrances which the Dweller embodies, and the limitations which it provides to spiritual contact and realisation assume potent proportions. Only then can they be usefully considered and steps taken to induce right action. Only when there is adequate fusion within humanity as a whole does [153] the great human Dweller on the Threshold appear as an integrated entity, or the Dweller in a national or racial sense makes its appearance, spreading and vitalising national, racial and planetary glamour, fostering and feeding individual glamours and making the entire problem unmistakably apparent. Only then can the relation between the soul of humanity and the generated forces of its ancient and potent personality assume proportions which call for drastic activity and intelligent cooperation. |
Toàn bộ chủ đề về Kẻ Chận Ngõ và mối liên hệ của nó với Thiên Thần (một cách biểu tượng để đề cập đến một mối quan hệ và khả năng lớn lao, cùng một sự kiện lớn lao trong biểu hiện) chỉ nay mới có thể được xem xét. Chỉ khi con người là một Phàm ngã tích hợp thì vấn đề Kẻ Chận Ngõ mới thật sự nảy sinh; và chỉ khi thể trí tỉnh thức, trí tuệ được tổ chức (như ngày nay đang trở nên như vậy trên một quy mô khá rộng), con người mới có thể cảm nhận—một cách thông minh chứ không chỉ thần bí—Thiên Thần, và nhờ đó trực nhận HIỆN DIỆN. Chỉ khi ấy toàn bộ vấn đề về những chướng ngại mà Kẻ Chận Ngõ hiện thân, và những giới hạn mà nó đặt ra đối với sự tiếp xúc và chứng nghiệm tinh thần, mới mang những tỉ lệ mạnh mẽ. Chỉ khi ấy chúng mới có thể được xem xét một cách hữu ích và các bước mới được thực hiện để khơi dậy hành động đúng. Chỉ khi có sự dung hợp đầy đủ trong toàn thể nhân loại thì [153] Kẻ Chận Ngõ vĩ đại của nhân loại trên Ngưỡng Cửa mới xuất hiện như một thực thể tích hợp, hoặc Kẻ Chận Ngõ theo ý nghĩa quốc gia hay giống dân mới xuất hiện, lan tỏa và tiếp sinh lực cho ảo cảm quốc gia, giống dân và hành tinh, nuôi dưỡng và bồi đắp các ảo cảm cá nhân, đồng thời làm cho toàn bộ vấn đề trở nên hiển nhiên không thể nhầm lẫn. Chỉ khi ấy mối liên hệ giữa linh hồn của nhân loại và các mãnh lực được sinh ra từ phàm ngã cổ xưa và mạnh mẽ của nó mới mang những tỉ lệ đòi hỏi hành động quyết liệt và sự hợp tác thông minh. |
|
Một thời điểm như thế nay đã đến, và trong hai quyển sách, Các Vấn Đề của Nhân Loại và Sự Tái Lâm của Đức Christ, cũng như trong các thông điệp Trăng Tròn lễ Tam Hợp và tháng Sáu, Tôi đã đề cập đến tình thế hết sức thực tiễn và cấp bách này, vốn tự nó là bảo chứng cho tiến bộ của nhân loại hướng tới mục tiêu đã định, cũng như là sự khẳng định những chướng ngại lớn của nhân loại đối với chứng nghiệm tinh thần. Các phần mà chúng ta sắp khảo sát có tầm quan trọng hàng đầu đối với tất cả những ai đang được huấn luyện cho điểm đạo. Tôi đã nói “đang được huấn luyện,” các huynh đệ của Tôi; Tôi không nói rằng các bạn sẽ được điểm đạo trong đời này. Chính Tôi cũng không biết các bạn sẽ hay không; vấn đề nằm trong tay các bạn và trong định mệnh đã được hoạch định của các bạn—được hoạch định bởi linh hồn các bạn. Vấn đề của các bạn về bản chất là học cách xử lý Kẻ Chận Ngõ và xác định các thủ tục cùng tiến trình nhờ đó hoạt động dung hợp trọng đại có thể diễn ra. Thông qua phương tiện của sự dung hợp này, Kẻ Chận Ngõ “biến mất và không còn được thấy nữa, dù y vẫn hoạt động trên cõi bên ngoài, tác nhân của Thiên Thần; ánh sáng hấp thu Kẻ Chận Ngõ, và trong sự khuất lấp—rạng rỡ nhưng từ tính—hình thức sự sống cổ xưa này tan biến, dù vẫn giữ hình tướng của nó; nó nghỉ ngơi và làm việc, nhưng nay không còn là chính nó nữa.” Đó là những phát biểu nghịch lý của Cổ Luận. |
|
|
I have earlier defined for you in as simple terms as possible the nature of the Dweller. I would like, however, [154] to enlarge upon one or two points and give one or two new suggestions which—for the sake of clarity and for your more rapid comprehension—we will tabulate as follows: |
Trước đây Tôi đã định nghĩa cho các bạn bằng những thuật ngữ giản dị nhất có thể về bản chất của Kẻ Chận Ngõ. Tuy nhiên, Tôi muốn [154] mở rộng thêm một hoặc hai điểm và đưa ra một hoặc hai gợi ý mới; vì sự rõ ràng và để các bạn lĩnh hội nhanh hơn, chúng ta sẽ lập bảng như sau: |
[Webinar 152]
|
1. The Dweller on the Threshold is essentially the personality; it is an integrated unity composed of physical forces, vital energy, astral forces and mental energies, constituting the sum total of the lower nature. |
1. Kẻ Chận Ngõ về bản chất là phàm ngã; đó là một nhất thể tích hợp gồm các mãnh lực hồng trần, năng lượng sinh lực, các mãnh lực cảm dục và các năng lượng trí tuệ, cấu thành tổng cộng toàn bộ bản chất thấp. |
|
2. The Dweller takes form when a re-orientation of man’s life has taken place consciously and under soul impression; the whole personality is then theoretically directed towards liberation into service. The problem is to make the theory and the aspiration facts in experience. |
2. Kẻ Chận Ngõ thành hình khi một sự tái định hướng trong đời sống con người đã diễn ra một cách có ý thức và dưới ấn tượng của linh hồn; khi ấy toàn bộ phàm ngã về mặt lý thuyết được hướng tới sự giải thoát để bước vào phụng sự. Vấn đề là biến lý thuyết và khát vọng thành các sự kiện trong kinh nghiệm. |
|
3. For a great length of time the forces of the personality do not constitute a Dweller. The man is not on the threshold of divinity; he is not consciously aware of the Angel. His forces are inchoate; he works unconsciously in his environment, the victim of circumstance and of his own nature apparently and under the lure and the urge of desire for physical plane activity and existence. When, however, the life of the man is ruled from the mental plane, plus desire or ambition, and he is controlled at least to some large extent by mental influence, then the Dweller begins to take shape as a unified force. |
3. Trong một thời gian rất dài, các mãnh lực của phàm ngã không cấu thành một Kẻ Chận Ngõ. Con người chưa ở trên ngưỡng cửa của thiên tính; y chưa ý thức nhận biết Thiên Thần. Các mãnh lực của y còn hỗn độn; y hoạt động vô thức trong môi trường của mình, dường như là nạn nhân của hoàn cảnh và của chính bản chất mình, dưới sức lôi cuốn và thôi thúc của dục vọng đối với hoạt động và sự hiện hữu trên cõi hồng trần. Tuy nhiên, khi đời sống của con người được cai quản từ cõi trí, cộng thêm dục vọng hay tham vọng, và y bị kiểm soát ít nhất ở một mức độ khá lớn bởi ảnh hưởng trí tuệ, thì Kẻ Chận Ngõ bắt đầu thành hình như một mãnh lực thống nhất. |
|
4. The stages wherein the Dweller on the Threshold is recognised, subjected to a discriminating discipline and finally controlled and mastered, are mainly three: |
4. Các giai đoạn trong đó Kẻ Chận Ngõ được nhận ra, đặt dưới một kỷ luật phân biện, và cuối cùng được kiểm soát, chế ngự, chủ yếu có ba: |
|
a. Giai đoạn trong đó phàm ngã chi phối và cai quản đời sống, các tham vọng và các mục tiêu trong nỗ lực đời sống của con người. Khi ấy Kẻ Chận Ngõ kiểm soát. |
|
|
b. The stage of a growing cleavage in the consciousness [155] of the disciple. The Dweller or the personality is then urged in two directions: one, towards the pursuit of personal ambitions and desires in the three worlds; the other, in which the effort is made by the Dweller (note this statement) to take a stand upon the threshold of divinity and before the Portal of Initiation. |
b. Giai đoạn có sự phân rẽ ngày càng tăng trong tâm thức [155] của đệ tử. Khi ấy Kẻ Chận Ngõ hay phàm ngã bị thúc đẩy theo hai hướng: một là hướng tới việc theo đuổi các tham vọng và dục vọng cá nhân trong ba cõi thấp; hướng kia, trong đó Kẻ Chận Ngõ nỗ lực (hãy lưu ý phát biểu này) đứng trên ngưỡng cửa của thiên tính và trước Cánh Cổng Điểm Đạo. |
|
c. The stage wherein the Dweller consciously seeks the cooperation of the soul and, though still in itself essentially constituting a barrier to spiritual progress, is more and more influenced by the soul than by its lower nature. |
c. Giai đoạn trong đó Kẻ Chận Ngõ có ý thức tìm kiếm sự hợp tác của linh hồn và, dù tự thân nó vẫn về bản chất cấu thành một rào cản đối với tiến bộ tinh thần, nó ngày càng chịu ảnh hưởng của linh hồn nhiều hơn là của bản chất thấp của nó. |
|
5. When the final stage is reached (and many are now reaching it today) the disciple strives with more or less success to steady the Dweller (by learning to “hold the mind steady in the light” and thus controlling the lower nature). In this way the constant fluid changefulness of the Dweller is gradually overcome; its orientation towards reality and away from the Great Illusion is made effective, and the Angel and the Dweller are slowly brought into a close rapport. |
5. Khi đạt đến giai đoạn cuối cùng (và ngày nay nhiều người đang đạt đến giai đoạn ấy), đệ tử nỗ lực với mức độ thành công nhiều hay ít để làm vững Kẻ Chận Ngõ (bằng cách học “giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng” và nhờ đó kiểm soát bản chất thấp). Bằng cách này, sự đổi thay linh động liên tục của Kẻ Chận Ngõ dần dần được vượt qua; sự định hướng của nó về phía thực tại và rời khỏi Đại Ảo Tưởng trở nên hiệu quả, và Thiên Thần cùng Kẻ Chận Ngõ từ từ được đưa vào một mối liên hệ mật thiết. |
|
6. In the earlier stages of effort and of attempted control, the Dweller is positive and the Soul is negative in their effects in the three worlds of human endeavour. Then there is a period of oscillation, leading to a life of equilibrium wherein neither aspect appears to dominate; after that the balance changes and the personality steadily becomes negative and the soul or psyche becomes dominant and positive. |
6. Trong các giai đoạn đầu của nỗ lực và của sự cố gắng kiểm soát, Kẻ Chận Ngõ là dương tính và Linh hồn là âm tính trong các tác động của chúng nơi ba cõi của nỗ lực nhân loại. Rồi có một thời kỳ dao động, dẫn tới một đời sống quân bình trong đó không phương diện nào dường như chi phối; sau đó cán cân thay đổi, phàm ngã đều đặn trở nên âm tính, còn linh hồn hay tâm hồn trở nên chi phối và dương tính. |
|
7. The astrological influences can potently affect these situations and—speaking generally and within certain esoteric limits—it might be noted that: [156] |
7. Các ảnh hưởng chiêm tinh có thể tác động mạnh mẽ đến những tình huống này, và—nói chung cũng như trong một số giới hạn huyền bí nhất định—có thể lưu ý rằng: [156] |
|
a. |
Leo |
controls the positive Dweller. |
|
a. |
Sư Tử |
chi phối Kẻ Chận Ngõ tích cực. |
|
b. |
Gemini |
controls the processes of oscillation. |
|
b. |
Song Tử |
chi phối các quá trình dao động. |
|
c. |
Sagittarius |
controls the negative Dweller. |
|
c. |
Nhân Mã |
chi phối Kẻ Chận Ngõ tiêu cực. |
[Webinar 153] [Webinar 154]
|
11. The rays which govern humanity and which condition humanity and the present world problem are as follows: |
11. Các cung cai quản nhân loại và tác động lên nhân loại cùng vấn đề thế giới hiện nay là như sau: |
|
a. |
The Soul ray |
2nd |
humanity must express love. |
|
a. |
Cung linh hồn |
thứ 2 |
nhân loại phải biểu lộ tình thương. |
|
b. |
The personality ray |
3rd |
developing intelligence for transmutation into love-wisdom. |
|
b. |
Cung phàm ngã |
thứ 3 |
phát triển trí năng để chuyển hoá thành bác ái-minh triết. |
|
c. |
Mind ray |
5th |
scientific achievement. |
|
c. |
Cung trí |
thứ 5 |
thành tựu khoa học. |
|
d. |
Astral ray |
6th |
idealistic development. |
|
d. |
Cung cảm dục |
thứ 6 |
phát triển lý tưởng. |
|
e. |
Physical ray |
7th |
organisation. Business. |
|
e. |
Cung thể xác |
thứ 7 |
tổ chức. Kinh doanh. |
|
[157] The soul ray controls for an entire life period. The personality rays given above are for the Piscean Age which is now beginning to pass out; but these have definitely and irrevocably conditioned humanity. |
[157] Cung linh hồn kiểm soát trong suốt cả một chu kỳ đời sống. Các cung phàm ngã được nêu ở trên là dành cho Kỷ Nguyên Song Ngư, hiện đang bắt đầu qua đi; nhưng chúng đã tác động lên nhân loại một cách rõ rệt và không thể đảo ngược. |
|
You will note also that the first Ray of Will or Power is missing as is the fourth Ray of Harmony through Conflict. This fourth ray is always active as it controls in a peculiar manner the fourth creative Hierarchy and might be regarded as forming the basic personality ray of the fourth creative Hierarchy. The one given above is a transient and fleeting personality ray of a minor incarnation. |
Bạn cũng sẽ lưu ý rằng Cung một của Ý Chí hay Quyền Lực vắng mặt, cũng như Cung bốn của Hài Hòa qua Xung Đột. Cung bốn này luôn luôn hoạt động, vì nó kiểm soát theo một cách đặc thù Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư và có thể được xem như tạo thành cung phàm ngã cơ bản của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư. Cung được nêu ở trên là một cung phàm ngã thoáng qua và tạm thời của một cuộc nhập thể thứ yếu. |
|
12. In the Aquarian Age which is rapidly coming, the Dweller will present slightly different personality forces: |
12. Trong Kỷ Nguyên Bảo Bình đang nhanh chóng đến gần, Kẻ Chận Ngõ sẽ trình hiện các mãnh lực phàm ngã hơi khác: |
|
a. |
Personality ray |
5th |
basic and determining. |
|
a. |
Cung phàm ngã |
thứ 5 |
cơ bản và xác định. |
|
b. |
Mind ray |
4th |
the creative effect. |
|
b. |
Cung trí |
thứ 4 |
hiệu ứng sáng tạo. |
|
c. |
Astral ray |
6th |
conditioning incentives. |
|
c. |
Cung cảm dục |
thứ 6 |
các động cơ điều kiện hoá. |
|
d. |
Physical ray |
7th |
incoming ray. |
|
d. |
Cung thể xác |
thứ 7 |
cung đang đến. |
[Webinar 155]
|
14. Each race produced its own type of Dweller on the Threshold who was faced at the close of the spiritual cycle (not the physical which goes on to crystallisation) [158] when maturity was achieved and a certain initiation became possible for its advanced humanity. |
14. Mỗi giống dân tạo ra loại Kẻ Chận Ngõ riêng của mình, đối diện vào lúc kết thúc chu kỳ tinh thần (không phải chu kỳ hồng trần, vốn tiếp tục đi tới sự kết tinh) [158] khi sự trưởng thành đã đạt được và một cuộc điểm đạo nào đó trở nên khả hữu cho phần nhân loại tiến bộ của giống dân ấy. |
|
15. When a racial incarnation and a zodiacal cycle synchronise (which is not always the case) then there comes a significant and important focussing of the attention of the Dweller on the Angel and vice versa. This is taking place at this time at the close of the Piscean era and when the Aryan race has reached maturity and a relatively high water mark of development. Discipleship is significant of maturity, and it is with mature development that the Dweller is met. The Aryan race is ready for discipleship. |
15. Khi một cuộc nhập thể giống dân và một chu kỳ hoàng đạo đồng bộ (điều không phải lúc nào cũng xảy ra), khi ấy xuất hiện một sự tập trung chú ý có ý nghĩa và quan trọng của Kẻ Chận Ngõ vào Thiên Thần và ngược lại. Điều này đang diễn ra vào lúc này, vào cuối kỷ nguyên Song Ngư và khi giống dân Arya đã đạt đến sự trưởng thành cùng một mức phát triển tương đối cao. Địa vị đệ tử biểu thị sự trưởng thành, và chính với sự phát triển trưởng thành mà Kẻ Chận Ngõ được gặp. Giống dân Arya đã sẵn sàng cho địa vị đệ tử. |
|
16. The development of sensitivity in the individual and in the race indicates the imminence of the recognition of the Angel from both angles of vision and the immediacy of the opportunity. This opportunity for active fusion has never been so true as now. |
16. Sự phát triển tính nhạy bén nơi cá nhân và nơi giống dân cho thấy sự nhận biết Thiên Thần đang đến gần từ cả hai góc nhìn, và cơ hội đang ở ngay trước mắt. Cơ hội cho sự dung hợp tích cực này chưa bao giờ chân thật như hiện nay. |
|
17. The lines of demarcation as existing between the recognised areas of influence between the Dweller and the Angel are clearer than ever before in the history of the race. Man knows the difference between right and wrong and must now choose the way that he shall go. In the Atlantean racial crisis (which was also a complete human crisis), the history of which is perpetuated for us in the Bhagavad Gita, Arjuna—symbol of the then disciple and the world disciple—was frankly bewildered. This is not so true now. The disciples of the world and the world disciple do see the issues today relatively quite clearly. Will expediency win or will the Dweller be sacrificed with love and understanding to the Angel? This is the major problem. |
17. Các ranh giới phân định giữa những vùng ảnh hưởng được nhận ra của Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần ngày nay rõ ràng hơn bao giờ hết trong lịch sử giống dân. Con người biết sự khác biệt giữa đúng và sai, và nay phải chọn con đường mình sẽ đi. Trong cuộc khủng hoảng giống dân Atlantis (vốn cũng là một cuộc khủng hoảng hoàn toàn của nhân loại), lịch sử của nó được lưu giữ cho chúng ta trong Chí Tôn Ca, Arjuna—biểu tượng của đệ tử thời ấy và của đệ tử thế giới—đã thật sự bối rối. Điều này ngày nay không còn đúng như vậy nữa. Các đệ tử của thế giới và đệ tử thế giới ngày nay thấy các vấn đề tương đối khá rõ ràng. Liệu sự quyền nghi sẽ thắng, hay Kẻ Chận Ngõ sẽ được hiến dâng bằng tình thương và sự thấu hiểu cho Thiên Thần? Đây là vấn đề chủ yếu. |