Ảo Cảm Một Vấn đề Thế Giới – Phần II

📘 Sách: Ảo cảm, Một Vấn đề Thế Giới – Tác giả: Alice Bailey

SECTION TWO: THE CAUSES OF GLAMOUR – PHẦN HAI: CÁC NGUYÊN NHÂN CỦA ẢO CẢM

1. The Racial and Individual Growth of Glamour – 1. Sự Phát Triển của Ảo Cảm trong Nhân Loại và Cá Nhân

[94] We shall now employ the word “glamour” to cover all the aspects of those deceptions, illusions, misunderstandings and misinterpretations which confront the aspirant at every step of his way until he achieves unity. I would have you note that word “unity,” for it holds the secret of disillusionment, as this process of release from glamour has been occultly called. It will be apparent to you (if you have studied these instructions with care) that the cause of glamour is primarily based upon the sense of duality. If such a duality did not exist, there would be no glamour, and this perception of the dual nature of all manifestation lies at the very root of the trouble or troubles with which humanity is—in time and space—faced. This perception passes through various stages and constitutes the great problem of the conscious entity. This condition is a difficulty in the realm of consciousness itself and is not really inherent in the substance or matter. The dweller in the body perceives wrongly: he interprets incorrectly that which is perceived; he proceeds to identify himself with that which is not himself; he shifts his consciousness into a realm of phenomena which engulfs him, deludes him and imprisons him until such time as he becomes restless and unhappy under the sense that something is wrong. Then he comes finally to the recognition that he is not what he seems to be and that the phenomenal world of appearances is not identical with reality [95] as he had hitherto supposed it to be. From that moment on he comes to the sense of duality, to the recognition of “otherness” and to the perception that his sense of dualism should be ended and that a process of unification and an attempt to achieve at-one-ment should be undertaken. From that moment, the troubles of the evolving man begin to be observed by him and consciously encountered, and he faces a long period of “extrication from glamour and the entering into that world wherein only unity is known.” The stages from then on might be enumerated as follows:

[94] Giờ đây, chúng ta sẽ dùng từ “ảo cảm” để bao quát mọi phương diện của những sự lừa dối, ảo tưởng, hiểu lầm và diễn giải sai mà người chí nguyện gặp phải ở mỗi bước trên đường, cho đến khi y đạt được sự hợp nhất. Tôi muốn các bạn lưu ý từ “hợp nhất”, vì nó chứa đựng bí mật của sự thoát khỏi mê lầm—tên gọi huyền bí của tiến trình giải thoát khỏi ảo cảm này. Nếu đã nghiên cứu cẩn thận những huấn thị này, các bạn sẽ thấy rõ rằng nguyên nhân của ảo cảm chủ yếu dựa trên cảm thức về nhị nguyên. Nếu nhị nguyên ấy không tồn tại, sẽ không có ảo cảm; và chính sự nhận thức về bản chất kép của mọi biểu hiện này nằm ở tận gốc rễ của khó khăn hay những khó khăn mà nhân loại phải đối diện trong thời gian và không gian. Sự nhận thức này trải qua nhiều giai đoạn và tạo thành vấn đề lớn của thực thể hữu thức. Tình trạng này là một khó khăn trong chính lĩnh vực tâm thức, chứ thực ra không vốn có trong chất liệu hay vật chất. Kẻ cư ngụ trong thân thể nhận thức sai: y diễn giải không đúng những gì mình nhận thức; y tiến tới đồng hoá với những gì không phải là chính mình; y chuyển tâm thức vào một lĩnh vực hiện tượng nhấn chìm, mê hoặc và giam hãm y, cho đến khi y trở nên bất an và khổ sở vì cảm thấy có điều gì đó không ổn. Cuối cùng, y nhận ra rằng mình không phải là những gì mình có vẻ là, và thế giới hiện tượng của những vẻ ngoài không đồng nhất với thực tại [95] như y vẫn giả định cho đến lúc ấy. Từ thời điểm đó, y bắt đầu có cảm thức về nhị nguyên, nhận ra “cái khác”, và nhận thức rằng cảm thức nhị nguyên của mình cần chấm dứt, rằng cần thực hiện một tiến trình thống nhất và nỗ lực đạt tới sự hợp nhất. Từ thời điểm đó, con người đang tiến hoá bắt đầu quan sát những khó khăn của mình và đối diện với chúng một cách có ý thức; y bước vào một thời kỳ dài “thoát khỏi ảo cảm và tiến vào thế giới nơi chỉ có sự hợp nhất”. Các giai đoạn từ đó trở đi có thể được liệt kê như sau:

First: The stage wherein the material world is recognised and valued. Temporarily it is made the goal of all activity and the man, refusing to recognise the difference existing between him and the material and natural world, seeks to identify himself with it and to find satisfaction in purely physical pleasures and pursuits. This stage divides itself into two parts:

Thứ nhất: Giai đoạn trong đó thế giới vật chất được nhận biết và coi trọng. Tạm thời, thế giới ấy trở thành mục tiêu của mọi hoạt động; con người, không chịu nhìn nhận sự khác biệt giữa mình với thế giới vật chất và tự nhiên, tìm cách đồng hoá với thế giới ấy và tìm sự thỏa mãn trong những lạc thú và những theo đuổi thuần túy hồng trần. Giai đoạn này chia thành hai phần:

a. That wherein satisfaction is sought in the almost automatic response to the physical instincts, to sex, food and warmth. These loom large in man’s consciousness. The animal nature in man is made the centre of the attempt to produce some sense of unity. Because the inner and subtle man is as yet “weak in impact” (as it is esoterically called), a physical unification temporarily takes place which serves to deepen the glamour and to delay progress into freedom.

a. Giai đoạn tìm kiếm sự thỏa mãn trong việc đáp ứng gần như tự động với các bản năng hồng trần, với tình dục, thức ăn và hơi ấm. Những điều này chiếm vị trí nổi bật trong tâm thức con người. Bản chất động vật trong con người trở thành trung tâm của nỗ lực tạo ra một cảm thức hợp nhất nào đó. Vì con người vi tế bên trong vẫn còn “yếu về sức tác động” (theo cách gọi huyền bí), nên tạm thời diễn ra một sự hợp nhất hồng trần, làm ảo cảm thêm sâu đậm và trì hoãn bước tiến tới tự do.

b. The stage wherein satisfaction and sense of oneness is sought in the realm of material possessions, and in the establishing of a centre of beauty and comfort in life on the physical plane. Therein the man can be at home and oblivious of a growing sense of dualism which, day by day, gets steadily stronger. This stage only takes place [96] ages later when the aspirant is about to re-orient himself to truth and to take the first steps towards the Probationary Path. It is a correspondence towards the end of the Path of Evolution to the stage above mentioned, but the man experiencing it is a very different person to the one who now seeks synthesis in the materialisation of beauty upon the outer plane. The subtle man is now becoming dominant.

b. Giai đoạn tìm kiếm sự thỏa mãn và cảm thức nhất thể trong lĩnh vực sở hữu vật chất, cũng như trong việc thiết lập một trung tâm của vẻ đẹp và sự tiện nghi trong đời sống trên cõi hồng trần. Ở đó, con người có thể cảm thấy yên ổn như ở nhà và không để ý đến cảm thức nhị nguyên đang lớn dần, ngày một mạnh hơn. Giai đoạn này chỉ diễn ra [96] nhiều thời đại về sau, khi người chí nguyện sắp tái định hướng bản thân về chân lý và bước những bước đầu tiên hướng tới Con Đường Dự Bị. Gần cuối Con Đường Tiến Hoá, giai đoạn này tương ứng với giai đoạn đã nêu ở trên, nhưng con người trải nghiệm giai đoạn ấy rất khác với người hiện đang tìm kiếm sự tổng hợp trong việc hiện hình cái đẹp trên cõi bên ngoài. Giờ đây, con người vi tế đang trở nên chi phối.

Secondly: The stage wherein the man first of all becomes aware of the duality which can be expressed by the words “the man and the forces.” He becomes alive to the fact that he and all humanity are the victims of forces and energies over which they have no control and which drive men hither and thither. He becomes aware also of forces and energies within himself over which he likewise has no control and which force him to act in various ways, making him frequently the victim of his own revolts, his own acts and selfishly directed energies. Here the man discovers (unconsciously at first and later consciously), the initial duality—the physical body and the vital or etheric body. One is the mechanism of contact upon the physical plane, the other is the mechanism of contact with the inner forces, energies and worlds of being. This vital body controls and galvanises the physical body into an almost automatic activity. I referred to this duality in an earlier instruction. This stage is one of great difficulty for the man, as an individual, and for humanity as a whole. Men are still so ignorant of the “reality which shines under the envelope which envelops it”—as the Old Commentary calls it—that true perception is difficult and at first well-nigh impossible. Blindly and ignorantly men have to cope with this first pair of opposites. It is this that we see happening in the world at this time. The masses are awakening to the realisation that they are the victims and [97] the exponents of forces over which they have no control and of which they have no understanding. They would like to assume control over them and are determined so to do whenever possible. This constitutes the major problem today in the economic field and in the field of daily living and of government.

Thứ hai: Giai đoạn trong đó, trước hết, con người nhận biết nhị nguyên có thể diễn đạt bằng những từ “con người và các mãnh lực”. Y ý thức rõ rằng mình và toàn thể nhân loại là nạn nhân của các mãnh lực và năng lượng mà họ không kiểm soát được, và chúng thúc đẩy con người đi hết hướng này đến hướng khác. Y cũng nhận biết những mãnh lực và năng lượng bên trong mình mà y cũng không kiểm soát được, chúng buộc y hành động theo nhiều cách khác nhau, thường khiến y trở thành nạn nhân của chính những cuộc nổi loạn, hành động và năng lượng hướng theo sự ích kỷ của mình. Ở đây, con người khám phá (ban đầu một cách vô thức, về sau một cách có ý thức) nhị nguyên đầu tiên—thể xác và thể sinh lực hay thể dĩ thái. Một thể là bộ máy tiếp xúc trên cõi hồng trần, thể kia là bộ máy tiếp xúc với các mãnh lực, năng lượng và những thế giới hiện tồn bên trong. Thể sinh lực này kiểm soát và thúc đẩy thể xác vào hoạt động gần như tự động. Tôi đã đề cập đến nhị nguyên này trong một huấn thị trước. Đây là một giai đoạn vô cùng khó khăn đối với con người xét như một cá nhân, và đối với toàn thể nhân loại. Con người vẫn còn quá thiếu hiểu biết về “thực tại tỏa sáng bên dưới lớp vỏ bao bọc nó”—theo cách gọi của Cổ Luận—đến nỗi nhận thức chân thực là điều khó khăn và thoạt đầu gần như bất khả. Trong mù quáng và thiếu hiểu biết, con người phải đối phó với cặp đối cực đầu tiên này. Đó chính là điều chúng ta thấy đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Quần chúng đang thức tỉnh để nhận ra rằng họ là nạn nhân và [97] là những người biểu lộ các mãnh lực mà họ không kiểm soát được và cũng không thấu hiểu. Họ muốn nắm quyền kiểm soát các mãnh lực ấy và quyết tâm làm như vậy bất cứ khi nào có thể. Điều này tạo thành vấn đề chủ yếu ngày nay trong lĩnh vực kinh tế, đời sống hằng ngày và việc quản trị.

World tension today consists in the fact that physical force and etheric energy are at grips. Forget not what I earlier told you that etheric force is closely related to the Monad or the highest spiritual aspect. It is life itself on the verge of externalisation. Hence the emphasis today upon the spirit of humanity, upon the spirit of a nation, and the spirit of a group. This is all the result of the battle going on between this pair of opposites in the field of human affairs and in the field of individual average human living. It is, however, this conflict—fought out to the point of synthesis and of at-one-ment—which produces the re-orientation of the race and of the individual to the truer values and to the world of reality. It is this conflict—successfully waged—which lands the man, as an individual, and the mass, as a whole, upon the Path of Purification. When there is unification of these energies upon the physical plane, you then have one-pointed activity and a determination to travel in a specific direction. There follows the resolution (note this word and its usage) of the duality into a unity.

Sự căng thẳng trên thế giới ngày nay nằm ở chỗ mãnh lực hồng trần và năng lượng dĩ thái đang giao tranh. Đừng quên điều Tôi đã nói với các bạn trước đây: mãnh lực dĩ thái có quan hệ mật thiết với chân thần, hay phương diện tinh thần cao nhất. Đó là chính sự sống đang ở ngưỡng ngoại hiện. Vì thế, ngày nay người ta nhấn mạnh tinh thần của nhân loại, tinh thần của một quốc gia và tinh thần của một nhóm. Tất cả những điều này là kết quả của cuộc chiến đang diễn ra giữa cặp đối cực ấy trong lĩnh vực các sự việc của nhân loại và trong lĩnh vực đời sống của cá nhân con người bình thường. Tuy nhiên, chính cuộc xung đột này—diễn ra đến khi đạt tới sự tổng hợp và hợp nhất—tạo nên sự tái định hướng của nhân loại và cá nhân về những giá trị chân thực hơn và về thế giới thực tại. Chính cuộc xung đột này, khi được tiến hành thành công, đưa con người xét như một cá nhân, và quần chúng xét như một toàn thể, đến Con Đường Thanh Luyện. Khi những năng lượng này hợp nhất trên cõi hồng trần, sẽ có hoạt động nhất tâm và quyết tâm tiến theo một hướng cụ thể. Tiếp đó là sự hóa giải (hãy lưu ý từ này và cách dùng của nó) nhị nguyên thành một sự hợp nhất.

This resolution works out in the early stages (where the average type of aspirant is concerned) into a temporary astral unity and then there emerges the one-pointed devotee. He is found in all fields—of religion, of science, of politics or in any other department of life. His etheric unity, producing re-orientation—with its results of a clear vision, a grasp of truth, and a picture of the immediate way to go—serves temporarily to glamour the man with a sense of achievement, of surety, of power and of destiny. He goes [98] ahead blindly, furiously and ruthlessly until suddenly he is brought sharply up against changing conditions and recognises another and far more difficult situation. The pairs of opposites upon the astral plane confront him, and he becomes Arjuna upon the field of battle. All his sense of at-one-ment, of direction, of sure and oft-times smug satisfaction disappears and he is lost in the fogs and glamours of the astral plane. This is the plight of many well-meaning disciples at this time and upon it I must for a moment dwell because this group, when it can work as a group, has for its intended task the dissolution of some of the world glamour. Some day (and let us hope that it will take place before long) this group and other such groups should work, as a group and under direction of their Master, in piercing the world glamour and letting in some light and illumination so that men may walk from henceforth more truly on the Way in safety.

Trong những giai đoạn đầu, đối với người chí nguyện thuộc loại bình thường, sự hóa giải này dẫn đến một sự hợp nhất cảm dục tạm thời, rồi người sùng tín nhất tâm xuất hiện. Có thể thấy y trong mọi lĩnh vực—tôn giáo, khoa học, chính trị hoặc bất cứ lĩnh vực nào khác của đời sống. Sự hợp nhất dĩ thái của y tạo ra sự tái định hướng, với những kết quả là một tầm nhìn rõ ràng, sự nắm bắt chân lý và hình dung về con đường cần đi ngay trước mắt; điều này tạm thời khiến y bị ảo cảm mê hoặc bởi cảm thức về thành tựu, sự chắc chắn, quyền năng và vận mệnh. Y tiến [98] tới một cách mù quáng, cuồng nhiệt và không khoan nhượng, cho đến khi đột nhiên phải đối diện gay gắt với những điều kiện thay đổi và nhận ra một tình thế khác, khó khăn hơn nhiều. Các cặp đối cực trên cõi cảm dục hiện ra trước y, và y trở thành Arjuna trên chiến trường. Mọi cảm thức hợp nhất, định hướng, thỏa mãn chắc chắn và thường tự mãn của y đều biến mất; y lạc trong sương mù và ảo cảm của cõi cảm dục. Đây là tình cảnh của nhiều đệ tử có thiện chí hiện nay, và Tôi phải dừng lại ở đó đôi chút, vì nhóm này, khi có thể hoạt động như một nhóm, có nhiệm vụ dự kiến là làm tan biến một phần ảo cảm thế giới. Một ngày nào đó (và chúng ta hãy hy vọng điều ấy sẽ xảy ra không lâu nữa), nhóm này và những nhóm tương tự khác cần hoạt động như một nhóm, dưới sự chỉ đạo của Chân sư của họ, để xuyên thủng ảo cảm thế giới, đưa vào một phần ánh sáng và sự soi sáng, để từ đó con người có thể bước đi chân thực hơn trên Đường Đạo một cách an toàn.

I have, therefore, chosen for participation in this work several aspirants whose tendency is to succumb to glamour, though two of them are less prone to it than are the others. Their relative freedom from it was one of the reasons why I chose them. These two are D.L.R. and D.P.R. Let these two keep their lives free from any tendency to glamour if they are rightly to serve their brothers as desired by me. I will give indication of their tendency in that direction in their personal instructions. The other group members are quickly prone to glamour, but this is a grief to them. It can, however, be as quickly turned into an asset. How can the world glamour be dissipated except by those who recognise it for what it is and who have wrestled with it in their daily lives? How can there be success in removing world glamour through illumination, unless this illumination is brought about by those who have learned to cast the searchlight of the soul into the dark places and the glamour which surrounds [99] them, as individuals, and then see it disappear? Be not discouraged by this “glamorous weakness” but regard your effort to understand the problem and your ability to arrive at the solution in your own lives as part of the contribution which you can make to this most stupendous of world problems. Solve your glamour by dwelling in the light and holding the mind steady in that light, and by learning to throw this light into the fogs of glamour on the astral plane. Do not attempt to solve it, as some aspirants so frequently do, by saying, “Now I understand,” whereas all that they do (and many of you do the same) is to react to a self-evident occult platitude.

Do đó, Tôi đã chọn tham gia công việc này một số người chí nguyện có khuynh hướng khuất phục trước ảo cảm, dù hai người trong số họ ít dễ mắc phải hơn những người khác. Việc họ tương đối thoát khỏi ảo cảm là một trong những lý do Tôi chọn họ. Hai người này là D.L.R. và D.P.R. Hai người ấy hãy giữ đời sống của mình không vướng vào bất cứ khuynh hướng ảo cảm nào, nếu muốn phụng sự đúng đắn các huynh đệ của mình như Tôi mong muốn. Tôi sẽ chỉ ra khuynh hướng của họ theo chiều hướng ấy trong những huấn thị riêng dành cho họ. Những thành viên khác của nhóm dễ nhanh chóng mắc ảo cảm, nhưng điều này khiến họ đau buồn. Tuy nhiên, nó cũng có thể nhanh chóng trở thành một lợi thế. Ai có thể làm tiêu tan ảo cảm thế giới, nếu không phải là những người nhận ra đúng bản chất của nó và đã vật lộn với nó trong đời sống hằng ngày? Làm sao có thể thành công trong việc loại bỏ ảo cảm thế giới bằng sự soi sáng, nếu sự soi sáng ấy không do những người đã học cách rọi đèn pha của linh hồn vào những nơi tối tăm và vào ảo cảm bao quanh [99] chính họ với tư cách cá nhân, rồi thấy nó biến mất? Đừng nản lòng vì “sự yếu đuối trước ảo cảm” này, mà hãy xem nỗ lực thấu hiểu vấn đề và khả năng tìm ra giải pháp trong đời sống của chính các bạn là một phần đóng góp mà các bạn có thể dành cho vấn đề thế giới hết sức to lớn này. Hãy hóa giải ảo cảm của mình bằng cách sống trong ánh sáng, giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng ấy, và học cách rọi ánh sáng này vào sương mù ảo cảm trên cõi cảm dục. Đừng cố hóa giải nó, như một số người chí nguyện rất thường làm, bằng cách nói: “Giờ tôi đã thấu hiểu”, trong khi tất cả những gì họ làm (và nhiều người trong các bạn cũng làm như vậy) chỉ là phản ứng với một lời sáo mòn huyền bí hiển nhiên.

Third: This stage of glamour is oft called the Arjuna Experience. Today the world Arjuna is facing the pairs of opposites, just as does the individual disciple, ready—when these pairs have been resolved into a unity—to tread the Path of Discipleship.

Thứ ba: Giai đoạn ảo cảm này thường được gọi là Trải nghiệm Arjuna. Ngày nay, Arjuna của thế giới đang đối diện với các cặp đối cực, cũng như người đệ tử cá nhân, sẵn sàng—khi những cặp này đã được hóa giải thành một sự hợp nhất—bước trên Con Đường Đệ Tử.

It might be pointed out that:

Có thể chỉ ra rằng:

1. The masses in all lands are wrestling with the first pair of opposites, that upon the physical plane. When “resolution” has taken place, these masses will step on to the Path of Purification. This is rapidly taking place. It might be added that this is a long and slow process because the consciousness is—in this stage—not the intelligent awareness of the thinking man but the blind consciousness of the physical man, plus the forces of nature themselves.

1. Quần chúng ở mọi quốc gia đang vật lộn với cặp đối cực đầu tiên, cặp đối cực trên cõi hồng trần. Khi “sự hóa giải” đã diễn ra, những quần chúng này sẽ bước vào Con Đường Thanh Luyện. Điều này đang diễn ra nhanh chóng. Có thể nói thêm rằng đây là một tiến trình dài và chậm, vì ở giai đoạn này, tâm thức không phải là sự nhận biết sáng suốt của con người biết suy tư, mà là tâm thức mù quáng của con người hồng trần, cộng với chính những mãnh lực của tự nhiên.

2. The average educated citizen in all lands is facing today the Arjuna experience and the pairs of opposites upon the astral plane. Hence the intense feeling abroad in the world; hence also the search for illumination, through education, through religion, and through the many agencies of mental instruction, with the consequent [100] growth of knowledge, wisdom and right relationships. These people fall normally into two classes:

2. Ngày nay, người dân có học vấn ở mức trung bình trong mọi quốc gia đang đối diện với trải nghiệm Arjuna và các cặp đối cực trên cõi cảm dục. Vì thế, cảm xúc mãnh liệt lan khắp thế giới; cũng vì thế mà có sự tìm kiếm sự soi sáng thông qua giáo dục, tôn giáo và nhiều cơ quan giảng dạy về trí tuệ, kéo theo [100] sự phát triển của tri thức, minh triết và những mối quan hệ đúng đắn. Những người này thường thuộc hai nhóm:

a. Those who are aware of the necessity for decision and discrimination in thinking and in choice, but who are not yet truly aware of the implications or of the indications. They are called the “bewilderment phase of Arjuna’s plight,” and to racial, national and individual glamour, they have added a spiritual glamour which intensifies the fog.

a. Những người nhận biết sự cần thiết phải quyết định và phân biện trong tư duy cũng như trong lựa chọn, nhưng chưa thực sự nhận biết những hàm ý hay những dấu hiệu. Họ thuộc “giai đoạn hoang mang trong tình cảnh của Arjuna”, và ngoài ảo cảm của nhân loại, quốc gia và cá nhân, họ còn thêm vào một ảo cảm tinh thần khiến màn sương dày đặc hơn.

b. Those who have emerged out of this condition and are becoming aware of their problem. They see the pairs of opposites and are entering upon the “recognition stage of Arjuna’s release.” They see the Form of God and the indwelling Reality within that Form and are arriving at the decision to let the Warrior carry on the fight. They will then (when right decision and choice have been made) “stand up and fight,” and will find themselves no longer on the Path of Purification but upon the Path of Discipleship.

b. Những người đã thoát khỏi tình trạng này và đang nhận biết vấn đề của mình. Họ thấy các cặp đối cực và đang bước vào “giai đoạn nhận biết trong sự giải thoát của Arjuna”. Họ thấy Hình Tướng của Thượng đế và Thực Tại ngự bên trong Hình Tướng ấy, và đang đi đến quyết định để Chiến Sĩ tiếp tục chiến đấu. Khi đó, sau khi đã quyết định và lựa chọn đúng đắn, họ sẽ “đứng lên và chiến đấu”, và thấy mình không còn ở trên Con Đường Thanh Luyện mà đã ở trên Con Đường Đệ Tử.

With this stage you are all familiar, and aspirants such as are found in this group of students need no instruction from me as to the treading of the path out of glamour into light. The rules are well known: the glamours to which you are susceptible are equally familiar; the glamours to which humanity is prone are well recognised by you. It remains but for you to follow the ancient way of Raja Yoga and bring in the mind as a dispelling agency and thus learn to stand in the “light” between the pairs of opposites, and through that “light” achieve freedom by treading the noble middle way. Sometimes, my brothers, I feel that you know so much theoretically but have worked out relatively [101] so little. I ask myself whether I do not shoulder an unreasonable responsibility by giving you any more instructions. But I remind myself that I write for others as well as for you and that my time is short for this particular service.

Tất cả các bạn đều quen thuộc với giai đoạn này, và những người chí nguyện như các đạo sinh trong nhóm này không cần Tôi chỉ dẫn cách bước trên con đường ra khỏi ảo cảm để vào ánh sáng. Các quy luật đã quá quen thuộc; những ảo cảm mà các bạn dễ mắc phải cũng quen thuộc không kém; các bạn cũng nhận biết rõ những ảo cảm mà nhân loại dễ mắc phải. Các bạn chỉ còn cần đi theo con đường cổ xưa của pháp tu vương giả, đưa thể trí vào làm tác nhân xua tan, và nhờ đó học cách đứng trong “ánh sáng” giữa các cặp đối cực, rồi thông qua “ánh sáng” ấy đạt được tự do bằng cách bước trên con đường trung đạo cao quý. Đôi khi, các huynh đệ của Tôi, Tôi cảm thấy các bạn biết rất nhiều về lý thuyết nhưng đã thực hiện tương đối [101] quá ít. Tôi tự hỏi liệu mình có đang gánh một trách nhiệm quá mức hợp lý khi trao thêm cho các bạn bất cứ huấn thị nào hay không. Nhưng Tôi tự nhắc mình rằng Tôi viết cho những người khác cũng như cho các bạn, và thời gian của Tôi dành cho việc phụng sự cụ thể này không còn nhiều.

The resolution of these dualities takes place when the soul, the true spiritual man, no longer identifies itself with either of the opposites, but stands free upon this middle way; the disciple then sees the “lighted Way ahead,” along which he learns to go without being drawn into the glamorous worlds which stretch on either hand. He travels straight towards his goal.

Sự hóa giải những nhị nguyên này diễn ra khi linh hồn, con người tinh thần đích thực, không còn đồng hoá với bất cứ đối cực nào, mà đứng tự do trên con đường trung đạo này; khi ấy, người đệ tử thấy “Đường Đạo được soi sáng phía trước”, và học cách đi trên đó mà không bị lôi cuốn vào những thế giới ảo cảm trải dài ở hai bên. Y tiến thẳng tới mục tiêu của mình.

3. The stage wherein the intelligent thinking man, whether disciple or well-meaning aspirant, or an initiate of the first and second degrees, has to learn to distinguish between the truth and the truths, between knowledge and wisdom, between reality and illusion. When this stage has been passed through it leads to the third initiation, wherein the personality (which is prone to maya, glamour and illusion) stands free. It again experiences a sense of at-one-ment. This is due to the development of the sense of the intuition which puts into the disciple’s hand an infallible instrument whereby to discriminate and to discern. His perception is becoming accurate and he stands relatively free from deception and wrong identifications and interpretations.

3. Giai đoạn trong đó con người suy tư sáng suốt, dù là đệ tử, người chí nguyện có thiện chí hay điểm đạo đồ bậc một và bậc hai, phải học cách phân biệt giữa chân lý và những chân lý, giữa tri thức và minh triết, giữa thực tại và ảo tưởng. Khi đã trải qua giai đoạn này, y tiến tới lần điểm đạo thứ ba, trong đó phàm ngã (vốn dễ mắc ảo lực, ảo cảm và ảo tưởng) trở nên tự do. Phàm ngã lại trải nghiệm một cảm thức hợp nhất. Điều này là nhờ sự phát triển cảm thức trực giác, đặt vào tay người đệ tử một công cụ không bao giờ sai để phân biện và phân biện tinh thần. Nhận thức của y đang trở nên chính xác, và y tương đối thoát khỏi sự lừa dối, những đồng hoá và diễn giải sai lầm.

You will have noted how the career of the man has, therefore, proceeded from a crisis of duality to one of a relative unity, only to have that sense of unification disturbed by a renewed recognition of a higher and deeper duality. This duality temporarily produces another cleavage in a man’s life, and thus re-initiates a torturing process of bridging or of “occultly healing” [102] this break in the continuity of the spiritual consciousness. I would here remind you that this sense of peace or perception of cleavage is in itself an illusion and of the nature of glamour, and is based upon the illusory sense of identification with that which is not the self, or soul. The entire problem can be solved if the shift of the consciousness is away from identification with the lower forms of experience into that of identification with the real and true man.

Do đó, các bạn hẳn đã nhận thấy cuộc đời con người tiến từ một cuộc khủng hoảng nhị nguyên đến một trạng thái hợp nhất tương đối, chỉ để cảm thức thống nhất ấy lại bị xáo trộn khi y nhận ra một nhị nguyên mới, cao hơn và sâu hơn. Nhị nguyên này tạm thời tạo ra một sự chia rẽ khác trong đời sống con người, và như vậy lại khởi đầu một tiến trình đầy đau đớn để bắc cầu hoặc “chữa lành một cách huyền bí” [102] sự đứt đoạn này trong tính liên tục của tâm thức tinh thần. Ở đây, Tôi muốn nhắc các bạn rằng chính cảm thức bình an hay nhận thức về sự chia rẽ này là một ảo tưởng và mang bản chất ảo cảm, dựa trên cảm thức đồng hoá đầy ảo tưởng với những gì không phải là bản ngã, hay linh hồn. Toàn bộ vấn đề có thể được giải quyết nếu tâm thức chuyển từ sự đồng hoá với những hình tướng trải nghiệm thấp sang sự đồng hoá với con người chân thực, đích thực.

4. Stage by stage, the man has progressed from one state of illusion or glamour to another, from one point of discriminative opportunity to another until he has developed in himself three major capacities:

4. Từng giai đoạn một, con người đã tiến từ trạng thái ảo tưởng hay ảo cảm này sang trạng thái khác, từ cơ hội phân biện này sang cơ hội khác, cho đến khi phát triển trong mình ba năng lực chủ yếu:

1. The capacity to handle force.

1. Năng lực điều khiển mãnh lực.

2. The capacity to tread the middle way between the pairs of opposites.

2. Năng lực bước trên con đường trung đạo giữa các cặp đối cực.

3. The capacity to use the intuition.

3. Năng lực sử dụng trực giác.

These capacities he developed by resolving the pairs of opposites on the physical, astral and lower mental planes. Now he faces his climaxing resolution, equipped with these powers. He becomes aware of those two great and apparently opposing entities (with both of whom he finds himself consciously identified)—the Angel of the Presence and the Dweller on the Threshold. Behind the Angel he dimly senses, not another duality, but a great Identity, a living Unity, which—for lack of a better word—we call the PRESENCE.

Y phát triển những năng lực này bằng cách hóa giải các cặp đối cực trên cõi hồng trần, cõi cảm dục và cõi hạ trí. Giờ đây, được trang bị những quyền năng ấy, y đối diện với sự hóa giải tột đỉnh của mình. Y nhận biết hai thực thể lớn lao và dường như đối lập (mà y thấy mình đồng hoá một cách có ý thức với cả hai)—Thiên Thần của Hiện Diện và Kẻ Chận Ngõ. Đằng sau Thiên Thần, y cảm nhận lờ mờ không phải một nhị nguyên khác, mà là một Bản Sắc vĩ đại, một Sự Hợp Nhất sống động, mà chúng ta gọi là HIỆN DIỆN vì thiếu một từ thích hợp hơn.

He then discovers that the way out in this case is not the method of handling force or of leaving behind both pairs of opposites, or of right recognition through the intuition, but that this Dweller and this Angel must be brought together; the lower entity must be “blotted out” in the “light,” or “forced to disappear within the [103] radiance.” This is the task of the higher of the two entities, with which the disciple or the initiate, consciously and deliberately, identifies himself. With this process we will later deal. This is the problem which faces the initiate before he takes the final three initiations.

Khi đó, y khám phá rằng lối thoát trong trường hợp này không phải là phương pháp điều khiển mãnh lực, hay bỏ lại phía sau cả hai cặp đối cực, hay nhận biết đúng đắn thông qua trực giác, mà là phải đưa Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần này đến với nhau; thực thể thấp phải được “xóa sạch” trong “ánh sáng”, hoặc “buộc phải biến mất trong [103] hào quang”. Đây là nhiệm vụ của thực thể cao hơn trong hai thực thể, thực thể mà người đệ tử hay điểm đạo đồ đồng hoá với một cách có ý thức và có chủ đích. Chúng ta sẽ đề cập đến tiến trình này sau. Đây là vấn đề mà điểm đạo đồ phải đối diện trước khi trải qua ba cuộc điểm đạo cuối cùng.

You must bear in mind that none of these three stages are, in reality, divided off from each other by clear lines of demarcation, nor do they follow each other in a clear sequence. They proceed with much overlapping and often with a partial simultaneity. It is only when the disciple faces certain initiations that he awakens to the fact of these distinctions. Therefore, it might be stated that:

Các bạn phải ghi nhớ rằng, trong thực tế, không giai đoạn nào trong ba giai đoạn này tách biệt với những giai đoạn khác bằng các ranh giới rõ ràng, cũng như chúng không nối tiếp nhau theo một trình tự rành mạch. Chúng diễn tiến với nhiều phần chồng lấn, và thường có những phần diễn ra đồng thời. Chỉ khi người đệ tử đối diện với một số cuộc điểm đạo nhất định, y mới thức tỉnh trước những sự phân biệt này. Do đó, có thể nói rằng:

1. In the first initiation the disciple demonstrates that he has resolved the dualities of the physical plane and can rightly impose etheric energy (the higher of the two) upon physical energy.

1. Trong lần điểm đạo thứ nhất, người đệ tử chứng tỏ rằng y đã hóa giải các nhị nguyên của cõi hồng trần và có thể áp đặt đúng đắn năng lượng dĩ thái (năng lượng cao hơn trong hai năng lượng) lên năng lượng hồng trần.

2. In the second initiation, the initiate demonstrates that he can choose between the pairs of opposites and proceed with decision upon the “middle way.”

2. Trong lần điểm đạo thứ hai, điểm đạo đồ chứng tỏ rằng y có thể lựa chọn giữa các cặp đối cực và tiến bước một cách dứt khoát trên “con đường trung đạo”.

3. In the third initiation, the initiate can employ the intuition for the right perception of truth, and in that initiation he catches the first real glimpse of the Dweller on the Threshold and the Angel of the Presence.

3. Trong lần điểm đạo thứ ba, điểm đạo đồ có thể sử dụng trực giác để nhận thức đúng đắn chân lý, và trong cuộc điểm đạo ấy, y lần đầu tiên thực sự thoáng thấy Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần của Hiện Diện.

4. In the fourth initiation, the initiate demonstrates his ability to produce complete at-one-ment between the higher and lower aspect of the soul in manifestation and sees the Dweller on the Threshold merge into the Angel of the Presence.

4. Trong lần điểm đạo thứ tư, điểm đạo đồ chứng tỏ khả năng tạo nên sự hợp nhất trọn vẹn giữa phương diện cao và phương diện thấp của linh hồn đang biểu hiện, và thấy Kẻ Chận Ngõ hòa nhập vào Thiên Thần của Hiện Diện.

5. In the fifth initiation—and here words fail to express the truth—he sees the Dweller on the Threshold, [104] the Angel, and the Presence merged into a divine synthesis.

5. Trong lần điểm đạo thứ năm—và ở đây, ngôn từ không thể diễn đạt chân lý—y thấy Kẻ Chận Ngõ, [104] Thiên Thần và Hiện Diện hòa nhập thành một tổng hợp thiêng liêng.

The question arises as to what produces this glamour and illusion. The subject is so vast (embracing as it does the whole field of planetary history) that I can do little more than indicate some of the causes. Few of them have, as yet, been susceptible of correction except in the case of individuals. This means that when individuals reach the point in evolution where they can identify themselves with their higher aspect, the soul, and can then bring in soul energy to offset, subdue and dominate the lower forces of the personality, then correction becomes possible and inevitably takes place. When, therefore, the time comes when a very large number of persons become aware of the condition of world glamour (through discovering it and dealing with it in their own lives), then we shall have a group approach to the problem. Then we shall have a definite attack upon the world glamour, and when this does take place—speaking esoterically—“an opening will be made which will admit the light of the solar orb. The fogs will slowly disappear, subdued by the solar radiance, and the pilgrims will then find the enlightened WAY which leads from the heart of the fog, straight to the door of light.”

Câu hỏi đặt ra là điều gì tạo nên ảo cảm và ảo tưởng này. Chủ đề này rộng lớn đến mức (vì bao trùm toàn bộ lĩnh vực lịch sử hành tinh) Tôi khó có thể làm gì hơn ngoài việc chỉ ra một số nguyên nhân. Cho đến nay, chỉ một vài nguyên nhân trong số đó có thể được khắc phục, và cũng chỉ trong trường hợp của từng cá nhân. Điều này có nghĩa là khi các cá nhân đạt đến điểm tiến hoá mà ở đó họ có thể đồng hoá với phương diện cao của mình, tức linh hồn, rồi đưa năng lượng linh hồn vào để hóa giải, chế ngự và làm chủ các mãnh lực thấp của phàm ngã, thì việc khắc phục trở nên khả thi và tất yếu diễn ra. Vì vậy, khi đến lúc rất đông người nhận biết tình trạng ảo cảm thế giới (qua việc khám phá và xử lý nó trong chính cuộc sống của mình), chúng ta sẽ có một cách tiếp cận theo nhóm đối với vấn đề này. Khi ấy, chúng ta sẽ có một cuộc tiến công rõ rệt vào ảo cảm thế giới, và khi điều này thực sự diễn ra—nói một cách huyền bí—“một khoảng mở sẽ được tạo ra, cho phép ánh sáng của khối cầu mặt trời đi vào. Những màn sương mù sẽ từ từ tan biến dưới ánh rạng ngời của mặt trời, và khi ấy những người hành hương sẽ tìm thấy CON ĐƯỜNG được soi sáng, dẫn thẳng từ giữa màn sương mù đến cánh cửa ánh sáng.”

It is with the intention of discovering how far the aspirants and disciples of the world have gone in their understanding and in their handling of this problem that such an experiment as that being carried on in these groups has been undertaken and permitted.

Chính nhằm khám phá xem những người chí nguyện và đệ tử trên thế giới đã tiến xa đến đâu trong việc thấu hiểu và xử lý vấn đề này mà một cuộc thử nghiệm như cuộc thử nghiệm đang diễn ra trong các nhóm này đã được tiến hành và cho phép.

2. The Causes Producing World Glamour. – 2. Các Nguyên Nhân Tạo Nên Ảo Cảm Thế Giới.

The causes producing world glamour can be divided into three groups: [105]

Các nguyên nhân tạo nên ảo cảm thế giới có thể chia thành ba nhóm: [105]

A. Planetary causes.

A. Các nguyên nhân hành tinh.

B. Causes initiated by humanity itself.

B. Các nguyên nhân do chính nhân loại khởi phát.

C. Causes induced by any individual person which are, nevertheless, founded and based in the two above groups of conditioning factors.

C. Các nguyên nhân do từng cá nhân gây ra, nhưng vẫn có nền tảng và cơ sở trong hai nhóm yếu tố tác động nêu trên.

A. Planetary Causes. These causes are two in number and beyond your finite comprehension. I only state them and ask you to accept them as reasonable speculations and possibly accurate hypotheses:

A. Các Nguyên Nhân Hành Tinh. Có hai nguyên nhân như vậy, và chúng vượt ngoài khả năng thấu hiểu hữu hạn của các bạn. Tôi chỉ nêu chúng ra và đề nghị các bạn chấp nhận chúng như những suy đoán hợp lý và những giả thuyết có thể chính xác:

1. Causes inherent in substance itself. The atoms of which all forms are made have been inherited from an earlier universe or solar system and are, therefore, tinged with or coloured by the results of that great creative manifestation. The effects produced in that expression of divine existence constitute predisposing factors or initiating causes in this solar system and planetary life. These conditioning and inherited factors cannot be evaded. They determine the nature of the life urge, the trend of the evolutionary unfoldment, and the innate tendencies which all forms possess, such as the capacity to grow and to unfold, to orient the type and to express in time and space the archetype or pattern, and to outline and determine the structure of the kingdoms into which science divides the natural world. These are but a few of the innate, inherent characteristics of substance itself, inherited and conditioning our present manifestation of divine life.

1. Các nguyên nhân vốn có trong chính chất liệu. Những nguyên tử cấu thành mọi hình tướng là di sản từ một vũ trụ hoặc hệ mặt trời trước đó, nên mang dấu ấn hoặc sắc thái của những kết quả từ cuộc biểu hiện sáng tạo vĩ đại ấy. Những hiệu quả phát sinh trong sự biểu lộ hiện tồn thiêng liêng đó tạo thành các yếu tố gây khuynh hướng hoặc các nguyên nhân khởi phát trong hệ mặt trời và sự sống hành tinh này. Không thể tránh được những yếu tố tác động và di truyền ấy. Chúng quyết định bản chất của sự thôi thúc sống, chiều hướng khai mở tiến hoá và những khuynh hướng bẩm sinh mà mọi hình tướng đều có, như khả năng tăng trưởng và khai mở, định hướng loại hình và biểu lộ nguyên mẫu hay mô hình trong thời gian và không gian, cũng như phác định và xác lập cấu trúc của các giới mà khoa học dùng để phân chia thế giới tự nhiên. Đây chỉ là một vài đặc tính bẩm sinh, vốn có của chính chất liệu, được kế thừa và tác động lên sự biểu hiện hiện nay của sự sống thiêng liêng nơi chúng ta.

2. The life or manifestation of the planetary Logos, the “One in Whom we live and move and have our being,” is determined by His Own Nature. To us, that great Life embodies perfection and the qualities which distinguish Him are those to which we direct our highest [106] aspiration. But, from the angle of Those Lives Who are ahead of Him upon the cosmic path (I speak symbolically and in terms of human experience) He is among the “imperfect Gods.” These imperfections, hindering unfoldment or the perfect expression of divine energy when brought into conjunction with the inherited qualities and biases of the substances through which He must express His life, His purposes and intentions, produce the “seeds of death and of decay” which characterise our planetary evolution in all the four kingdoms in nature. They create the obstacles, obstructions and hindrances against which the soul in all created forms must struggle, gaining strength and understanding thereby and eventual liberation.

2. Sự sống hay sự biểu hiện của Hành Tinh Thượng đế, “Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện tồn”, do chính Bản Chất của Ngài quyết định. Đối với chúng ta, Sự Sống Vĩ Đại ấy là hiện thân của sự hoàn thiện, và những phẩm tính đặc trưng của Ngài là những phẩm tính mà chúng ta hướng đến bằng [106] khát vọng cao nhất. Nhưng từ góc nhìn của Những Sự Sống đi trước Ngài trên con đường vũ trụ (Tôi nói theo nghĩa biểu tượng và bằng những cách diễn đạt thuộc kinh nghiệm con người), Ngài ở trong số “các Thượng đế bất toàn”. Những sự bất toàn này cản trở sự khai mở hoặc sự biểu lộ hoàn hảo của năng lượng thiêng liêng; khi kết hợp với những phẩm tính và thiên hướng được kế thừa của các chất liệu mà qua đó Ngài phải biểu lộ sự sống, mục đích và ý định của mình, chúng tạo ra những “hạt giống của sự chết và sự suy tàn”, vốn đặc trưng cho sự tiến hoá hành tinh của chúng ta trong cả bốn giới trong thiên nhiên. Chúng tạo ra những chướng ngại, ngăn trở và cản trở mà linh hồn trong mọi hình tướng được tạo thành phải đấu tranh vượt qua, nhờ đó đạt được sức mạnh, sự thấu hiểu và cuối cùng là sự giải thoát.

These are the two major planetary causes. They cannot finally deter the soul from emancipation but they can and do hinder and delay. It is useless for men to speculate upon these hypotheses with their present inadequate equipment and type of brain. Nothing would be achieved and you would be none the wiser.

Đây là hai nguyên nhân hành tinh chủ yếu. Rốt cuộc, chúng không thể ngăn linh hồn đạt đến giải thoát, nhưng chúng có thể và thực sự gây cản trở, trì hoãn. Với bộ máy và loại bộ não còn bất cập hiện nay, con người suy đoán về những giả thuyết này cũng vô ích. Sẽ chẳng đạt được gì, và các bạn cũng không sáng suốt hơn chút nào.

B. Causes initiated by humanity itself. Slowly, step by step, humanity has created and intensified that glamorous condition of consciousness which we call the astral plane. All glamour is produced by the bringing together of one or more streams of energy which produce a temporary whirlpool of energies and, from the angle of man—the onlooker and participator—produce a condition of darkness, a state of bewilderment which makes clear choice and right discrimination difficult and, in the early stages, impossible. It creates an aura which is today of such a general nature and so all-enveloping that everybody is, figuratively speaking, immersed in it. This aura, in the infancy [107] of the race, only surrounded the more advanced people. To understand what I mean by this statement, I would call your attention to the fact that very unintelligent people, those who are among the lowest human types, and those who are little more than active animals, governed primarily by the instincts, are apt to deal very simply and with complete directness with the facts of existence with which they are faced and which to them are of paramount or sole importance—the facts of hunger, of birth and death, of self-protection and perpetuation. There is little true glamour in their reaction to life and living, and their simplicity, like that of a child, saves and protects them from many of the subtler ills. Their emotions are not subtle, and their minds are unawakened. But, as humanity evolved and the higher levels of the racial consciousness became more subtle and the mind factor slowly became more active, then glamour and illusion developed very rapidly.

B. Các nguyên nhân do chính nhân loại khởi phát. Chậm rãi, từng bước một, nhân loại đã tạo ra và làm tăng cường tình trạng tâm thức đầy ảo cảm mà chúng ta gọi là cõi cảm dục. Mọi ảo cảm đều phát sinh từ việc tập hợp một hay nhiều dòng năng lượng, tạo nên một xoáy năng lượng tạm thời và, từ góc nhìn của con người—vừa là người quan sát vừa là người tham dự—tạo nên một tình trạng tối tăm, một trạng thái hoang mang khiến việc lựa chọn sáng suốt và phân biện đúng đắn trở nên khó khăn, và trong những giai đoạn đầu thì không thể thực hiện. Nó tạo ra một hào quang mà ngày nay phổ biến và bao trùm đến mức, nói theo nghĩa bóng, ai cũng đắm chìm trong đó. Vào thời thơ ấu [107] của nhân loại, hào quang này chỉ bao quanh những người tiến hóa hơn. Để các bạn thấu hiểu điều Tôi muốn nói qua nhận định này, Tôi xin lưu ý các bạn rằng những người có trí tuệ rất kém phát triển, những người thuộc các loại hình nhân loại thấp nhất, và những người chỉ hơn các động vật hoạt động đôi chút, chủ yếu do bản năng chi phối, thường xử lý rất đơn giản và hoàn toàn trực tiếp những sự kiện của đời sống mà họ đối diện và xem là quan trọng nhất hoặc duy nhất—những sự kiện về đói khát, sinh và tử, tự bảo vệ và duy trì sự tồn tại. Có rất ít ảo cảm thực sự trong phản ứng của họ đối với sự sống và việc sống, và sự đơn giản của họ, giống như sự đơn giản của một đứa trẻ, cứu họ và bảo vệ họ khỏi nhiều tai hại tinh vi hơn. Cảm xúc của họ chưa tinh tế, và thể trí của họ chưa thức tỉnh. Nhưng khi nhân loại tiến hoá, các cấp độ cao hơn của tâm thức nhân loại trở nên tinh tế hơn, và yếu tố trí tuệ dần hoạt động tích cực hơn, thì ảo cảm và ảo tưởng phát triển rất nhanh chóng.

The first indications of glamour arose when the disciples and the aspirants of the Lemurian world (whose problem was the right comprehension, correct functioning and control of the physical body) began to differentiate between themselves, as self-conscious beings, and physical and vital forces. That immediately set up a tremendous activity in the throat centre which is the higher aspect of the sacral centre (the sex centre) and thus led to the initial glamour and to the first definite recognition and consideration of the sex impulse, of sex attraction, and—for the initiate of that period—of the necessary sex transmutation. This went hand in hand with the earliest Yoga, or the cult of the physical body with the objective of its control by the soul, and the consequent merging of the conscious and the subconscious.

Những dấu hiệu đầu tiên của ảo cảm xuất hiện khi các đệ tử và người chí nguyện trong thế giới Lemuria (mà vấn đề của họ là thấu hiểu đúng đắn, vận hành chính xác và kiểm soát thể xác) bắt đầu phân biệt giữa bản thân mình, với tư cách những sinh linh có ngã thức, và các mãnh lực hồng trần cùng sinh lực. Điều đó lập tức khơi lên một hoạt động mãnh liệt trong trung tâm cổ họng, vốn là phương diện cao hơn của trung tâm xương cùng (trung tâm tính dục), và vì thế dẫn đến ảo cảm ban đầu cùng sự nhận biết và xem xét rõ rệt đầu tiên về xung động tính dục, sức hấp dẫn tính dục và—đối với điểm đạo đồ thời kỳ ấy—sự chuyển hoá tính dục cần thiết. Điều này đi đôi với pháp tu sơ khai nhất, hay việc chuyên tu thể xác nhằm đặt thể xác dưới sự kiểm soát của linh hồn, và sự hòa nhập tiếp theo giữa tâm thức hữu thức và tiềm thức.

Around the aspirants of that time could then be seen gathering the first clouds and fogs of glamour, though illusion [108] was nowhere present. The first recognition of the plane of the emotions, of the astral plane, was evoked in the consciousness of the groups under preparation for the first initiation which was the highest initiation possible at that time. The reason for this slowly emerging astral consciousness in the physically polarised aspirant of that time, was due to the fact that one of the secrets of initiation consists in the right understanding and use of the consciousness which is aware and capable of functioning upon a plane higher than that on which humanity as a whole is, at any given time, living. Hence, in Lemurian times, the physically centred man who was on the verge of admission to the Path was aware of:

Khi ấy, có thể thấy những đám mây và màn sương mù đầu tiên của ảo cảm tụ lại quanh những người chí nguyện thời đó, dù ảo tưởng [108] chưa xuất hiện ở đâu cả. Sự nhận biết đầu tiên về cõi cảm xúc, tức cõi cảm dục, được khơi dậy trong tâm thức của các nhóm đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất, vốn là lần điểm đạo cao nhất có thể đạt được vào thời ấy. Lý do khiến tâm thức cảm dục này từ từ xuất hiện nơi người chí nguyện phân cực hồng trần thời đó là vì một trong những bí mật của điểm đạo nằm ở việc thấu hiểu và sử dụng đúng đắn tâm thức có khả năng nhận biết và hoạt động trên một cõi cao hơn cõi mà toàn thể nhân loại đang sống vào bất kỳ thời điểm nào. Do đó, vào thời Lemuria, người tập trung nơi phương diện hồng trần và sắp được nhận vào Đường Đạo đã nhận biết:

1. The physical duality wherein his consciousness was accustomed to function normally and of the conflict between the physical body per se and the vital etheric body.

1. Nhị nguyên hồng trần, trong đó tâm thức của y đã quen hoạt động bình thường, và sự xung đột giữa chính thể xác với thể dĩ thái mang sinh lực.

2. A dimly sensed higher consciousness which was distinguished by quality and sentiency. This was all that he could at that time contact upon the most familiar plane today, the astral plane.

2. Một tâm thức cao hơn được cảm nhận lờ mờ, có đặc trưng là phẩm tính và khả năng cảm thụ. Đó là tất cả những gì y có thể tiếp xúc vào thời ấy trên cõi quen thuộc nhất ngày nay, tức cõi cảm dục.

3. A growing sense of self-identity which was the awakening soul or self, the Master who was to lead him out of the purely physical consciousness into the next divine stage, the astral consciousness. Forget not, through familiarity and fatigue of conflict, the divinity of each developing step.

3. Một ý thức ngày càng rõ về bản sắc của mình, vốn là linh hồn hay bản ngã đang thức tỉnh, là Chân sư sẽ dẫn y ra khỏi tâm thức thuần túy hồng trần để bước vào giai đoạn thiêng liêng tiếp theo, tức tâm thức cảm dục. Đừng vì đã quá quen thuộc và mệt mỏi do xung đột mà quên đi thiên tính của mỗi bước phát triển.

Thus it will be apparent to you, if the above is a true statement of fact, that glamour arose from the recognition of these factors in consciousness and was the result of man’s reactions to the complexities of his own constitution and to the energy of his own soul.

Như vậy, nếu những điều nêu trên phản ánh đúng sự thật, các bạn sẽ thấy rõ rằng ảo cảm phát sinh từ sự nhận biết những yếu tố này trong tâm thức, và là kết quả của những phản ứng của con người đối với sự phức tạp trong cấu tạo của chính mình và đối với năng lượng của chính linh hồn mình.

[109] As time went on, the entire human family became aware of the new emerging dualism existing between the physical constitution and the astral plane, plus the activity of the centre within himself, which at this stage made its appearance as conscience and innate—and at that time unreasoning—realisation of an urge to higher living or a tendency to lower activity. This nebulous conscience developed eventually into what we call the Voice of Conscience. When that took place, the intricacy and the difficulty of life was greatly increased and glamour was definitely established on Earth. It was that which enfolded and over-emphasised the lower at the expense of the higher, and served to distract the attention of the aspirant away from reality. May I again re-emphasise that, at this early stage, glamour was only evoked by and recognised by the highly evolved people of that period?

[109] Theo thời gian, toàn thể gia đình nhân loại nhận biết tính nhị nguyên mới xuất hiện giữa cấu tạo hồng trần và cõi cảm dục, cùng với hoạt động của trung tâm bên trong mỗi người; ở giai đoạn này, trung tâm ấy biểu lộ thành lương tâm và sự nhận biết bẩm sinh—vào thời đó chưa dựa trên lý trí—về một thôi thúc hướng đến đời sống cao hơn hoặc một khuynh hướng hướng đến hoạt động thấp hơn. Lương tâm còn mơ hồ này cuối cùng phát triển thành điều chúng ta gọi là Tiếng Nói của Lương Tâm. Khi điều đó diễn ra, tính phức tạp và khó khăn của cuộc sống tăng lên rất nhiều, và ảo cảm đã xác lập rõ rệt trên Trái Đất. Chính nó bao phủ và nhấn mạnh quá mức cái thấp, làm lu mờ cái cao, đồng thời khiến sự chú ý của người chí nguyện rời xa thực tại. Xin cho phép Tôi nhấn mạnh lại rằng, ở giai đoạn sơ khai này, chỉ những người tiến hóa cao của thời kỳ ấy mới khơi dậy và nhận biết ảo cảm.

Then the Lemurian race slowly passed away and the Atlantean race came into existence. During the millions of years this race flourished on Earth there were vast numbers of people with the Lemurian consciousness flourishing at the same time, just as today in this modern Aryan race, there are many, many millions of people who express the Atlantean consciousness and are polarised in their astral bodies, the victims of emotion and of consequent glamour.

Sau đó, nhân loại Lemuria dần biến mất và nhân loại Atlantis xuất hiện. Trong hàng triệu năm nhân loại này phát triển mạnh trên Trái Đất, đồng thời vẫn có rất đông người mang tâm thức Lemuria phát triển mạnh, cũng như ngày nay, trong nhân loại Arya hiện đại này, có rất nhiều triệu người biểu lộ tâm thức Atlantis và phân cực trong thể cảm dục của mình, là nạn nhân của cảm xúc và ảo cảm phát sinh từ đó.

In the Atlantean race, the physical duality was then solved, and the physical body and the etheric body constituted a unity, and in the healthy person still do so. The sense of duality shifted then into a growing recognition of the conflict in the realm of quality and into the field of what we today call the “pairs of opposites”—good and evil, pain and pleasure, right and wrong, sense and nonsense, and the multiplicity of opposites by which the aspirant is today faced.

Trong nhân loại Atlantis, nhị nguyên hồng trần lúc ấy đã được giải quyết, và thể xác cùng thể dĩ thái tạo thành một thể thống nhất; ở người khỏe mạnh, chúng vẫn như vậy. Khi ấy, ý thức về nhị nguyên chuyển thành sự nhận biết ngày càng rõ về xung đột trong lĩnh vực phẩm tính và trong lĩnh vực mà ngày nay chúng ta gọi là “các cặp đối lập”—thiện và ác, đau đớn và khoái lạc, đúng và sai, có nghĩa và vô nghĩa, cùng vô số mặt đối lập mà người chí nguyện ngày nay phải đối diện.

[110] Each of these racial histories sees the establishing of a temporary sense of unity in the early stages, when the previous cleavage had been healed and the initial duality had been resolved into a unity. Then there comes a growing recognition of a fresh realm of choice, based upon the emergence of the higher values, and finally a period of conflict in the consciousness of the individual and of humanity as a whole, as the attempt is made to resolve this higher duality with which the man or the race is confronted.

[110] Trong lịch sử của mỗi giai đoạn nhân loại này, một ý thức thống nhất tạm thời được xác lập ở những giai đoạn đầu, khi sự chia rẽ trước đó đã được hàn gắn và nhị nguyên ban đầu đã được giải quyết thành một thể thống nhất. Sau đó, sự nhận biết về một lĩnh vực lựa chọn mới dần tăng lên, dựa trên sự xuất hiện của những giá trị cao hơn, và cuối cùng là một thời kỳ xung đột trong tâm thức của cá nhân cũng như toàn thể nhân loại, khi họ cố gắng giải quyết nhị nguyên cao hơn này mà con người hay nhân loại đang đối diện.

This resolution is brought about when a higher aspect of the consciousness is dimly visioned and men become aware of themselves as mental beings. There is then a growing demand for that mind nature to be developed and brought into play in the effort to solve the problem in this category of opposites upon the astral plane.

Sự giải quyết này diễn ra khi con người thoáng nhận thấy một phương diện cao hơn của tâm thức và nhận biết mình là những sinh linh trí tuệ. Khi ấy, nhu cầu phát triển và vận dụng bản chất trí tuệ đó ngày càng tăng, nhằm giải quyết vấn đề trong nhóm các mặt đối lập này trên cõi cảm dục.

At the same time the sense of self-identity or the consciousness that “I am,” is steadily growing, and the initiate of the day faces the effort to release himself from the thraldom of the senses upon the astral plane, from the dense glamour into which his sensory perception has thrown him, and to establish his freedom by a complete control of the astral body. This he eventually does by developing the power to pass between the pairs of opposites, unaffected by either, and thus leave them behind. He accomplishes this by using the mind as a distributor of the light which reveals the “middle way” and which dissipates the glamour with its brilliance and radiance.

Đồng thời, ý thức về bản sắc của mình, hay tâm thức rằng “Tôi hiện tồn”, không ngừng tăng trưởng, và điểm đạo đồ thời ấy phải nỗ lực giải thoát mình khỏi sự nô dịch của các giác quan trên cõi cảm dục, khỏi ảo cảm dày đặc mà sự tri giác của các giác quan đã đẩy y vào, và xác lập tự do bằng việc kiểm soát hoàn toàn thể cảm dục. Cuối cùng, y làm được điều này bằng cách phát triển quyền năng đi giữa các cặp đối lập mà không chịu ảnh hưởng của bên nào, nhờ đó bỏ chúng lại phía sau. Y thực hiện điều này bằng cách sử dụng thể trí như một phương tiện phân phối ánh sáng, thứ ánh sáng làm hiển lộ “con đường trung đạo” và làm tiêu tan ảo cảm bằng sự chói sáng và rạng ngời của nó.

This glamour has steadily deepened and intensified as more and more people have succeeded in resolving the initial physical cleavage and have become centred in the astral consciousness. Today such is the magnitude of this glamour and such the success of the evolutionary process, that humanity, as a whole, is wandering in the fogs and miasmas of the world of sentient consciousness. When I [111] use the word “sentient” I do not refer to the sensory apparatus of the physical nervous system, but to the sentient awareness of the Self which is today so immersed in glamour that the mass of men are entirely identified with the world of feeling, of quality, of sentient interplay, and of emotional reactions, with their likes and dislikes, and their dominant self-pity. Self-pity is one of the major glamours of the advanced and sensitive man. It is the advanced people who contribute the most to the world glamour. The major glamour is the reaction of the aspirant to the truth, to reality when he first becomes aware of that which lies beyond the astral plane. He interprets all that he there senses and sees in terms of glamour, of emotional understanding, of a sentient fanaticism. He forgets that truth lies beyond the world of feeling altogether, unaffected by it, and can only be sensed in its purity when feeling is transcended and transmuted. The second major glamour is self-pity.

Ảo cảm này không ngừng sâu đậm và mạnh thêm khi ngày càng có nhiều người thành công trong việc giải quyết sự chia rẽ hồng trần ban đầu và tập trung trong tâm thức cảm dục. Ngày nay, ảo cảm này lớn đến mức, và tiến trình tiến hoá thành công đến mức, toàn thể nhân loại đang lang thang trong những màn sương mù và chướng khí của thế giới tâm thức cảm thụ. Khi Tôi [111] dùng từ “cảm thụ”, Tôi không nói đến bộ máy cảm giác của hệ thần kinh thể xác, mà nói đến sự nhận biết có cảm thụ của Chân Ngã, hiện đang chìm đắm trong ảo cảm đến mức đại đa số con người hoàn toàn đồng hoá với thế giới cảm xúc, phẩm tính, sự tương tác cảm thụ và những phản ứng cảm xúc, với những điều họ thích và không thích, cùng sự tự thương thân chi phối họ. Tự thương thân là một trong những ảo cảm chủ yếu của người tiến hóa và nhạy cảm. Chính những người tiến hóa đóng góp nhiều nhất vào ảo cảm thế giới. Ảo cảm chủ yếu là phản ứng của người chí nguyện đối với chân lý, với thực tại, khi y lần đầu nhận biết những gì nằm ngoài cõi cảm dục. Y diễn giải tất cả những gì mình cảm nhận và thấy ở đó theo ảo cảm, theo sự thấu hiểu bằng cảm xúc, theo một sự cuồng tín mang tính cảm thụ. Y quên rằng chân lý hoàn toàn nằm ngoài thế giới cảm xúc, không chịu ảnh hưởng của nó, và chỉ có thể được cảm nhận trong sự thuần khiết khi cảm xúc đã được vượt qua và chuyển hoá. Ảo cảm chủ yếu thứ hai là sự tự thương thân.

The world today is divided into three groups, all of whom are subject to certain phases of glamour:

Thế giới ngày nay chia thành ba nhóm, tất cả đều chịu ảnh hưởng của một số dạng ảo cảm:

1. Those who are Atlantean in their consciousness and are, therefore, completely glamoured by:

1. Những người mang tâm thức Atlantis và do đó hoàn toàn bị những điều sau chi phối bằng ảo cảm:

a. That which is material and to be desired.

a. Những gì thuộc vật chất và đáng ham muốn.

b. That which they feel in all relationships.

b. Những gì họ cảm thấy trong mọi mối quan hệ.

c. That which they believe to be ideal, to be true or just, based on their reactions to the thinkers of the day, but which they themselves do not mentally understand.

c. Những gì họ tin là lý tưởng, chân thực hoặc công bằng, dựa trên phản ứng của họ đối với các nhà tư tưởng đương thời, nhưng bản thân họ không thấu hiểu bằng trí tuệ.

d. That which they demand of beauty, and of emotional comfort.

d. Những gì họ đòi hỏi về cái đẹp và sự an ủi về cảm xúc.

e. That which brings to them spiritual comfort in the realm of religion and religious desire. Note the phrasing.[112]

e. Những gì đem lại cho họ sự an ủi tinh thần trong lĩnh vực tôn giáo và dục vọng tôn giáo. Hãy lưu ý cách diễn đạt này.[112]

2. Those who are more definitely Aryan in their consciousness. This means that the mind factor is awakening and thus constituting a difficulty and that the illusions of the mental plane are now added to the glamours of the astral plane. These illusions are theoretical and intellectual in nature.

2. Những người mang tâm thức Arya rõ rệt hơn. Điều này có nghĩa là yếu tố trí tuệ đang thức tỉnh và vì thế tạo nên một khó khăn, và giờ đây những ảo tưởng của cõi trí lại thêm vào những ảo cảm của cõi cảm dục. Những ảo tưởng này có bản chất lý thuyết và trí thức.

3. A group of people who are emerging out of those subject to glamour and illusion, and who are alive to the Voice of the Silence and to the demands of the soul.

3. Một nhóm người đang thoát ra khỏi hàng ngũ những người chịu ảnh hưởng của ảo cảm và ảo tưởng, và nhạy bén với Tiếng Nói của Im Lặng cùng những đòi hỏi của linh hồn.

The complexity of the modern psychological problem lies in the fact that our race and period sees the synthesis of all the glamours and the emergence of the illusions of the mental plane. Today we have aspirants at all stages of unfoldment, and find the masses recapitulating the different steps upon the evolutionary way, with the lowest layer of the human race definitely Lemurian in their consciousness, even though few in numbers relatively speaking.

Sự phức tạp của vấn đề tâm lý học hiện đại nằm ở chỗ, trong nhân loại và thời kỳ của chúng ta, mọi ảo cảm đang tổng hợp lại và những ảo tưởng của cõi trí đang xuất hiện. Ngày nay, chúng ta có những người chí nguyện ở mọi giai đoạn khai mở, và thấy quần chúng tái diễn các bước khác nhau trên con đường tiến hoá, trong đó tầng lớp thấp nhất của nhân loại mang tâm thức Lemuria rõ rệt, dù xét tương đối thì số lượng không nhiều.

Illusion is rapidly growing as the mental power of the race develops, for illusion is the succumbing to the powerful thoughtforms which the thinkers of the time and of the immediately preceding age have formulated, and which at the time of their creation constituted the hope of the race. They embodied then the new and emerging ideas by means of which the race was intended to progress. These forms, when old and crystallised, become a menace and a hindrance to the expanding life. The realisation of the problems of illusion lies centuries ahead when the race will have left glamour behind, when there will be few Atlantean minded people on the planet, and when there will be no people at all with the Lemurian consciousness. However, as evolution proceeds, things are greatly speeded up, and the time when humanity will be predominantly distinguished by the Aryan consciousness, is not as far ahead as might be [113] generally supposed.

Ảo tưởng đang tăng trưởng nhanh chóng khi năng lực trí tuệ của nhân loại phát triển, vì ảo tưởng là sự khuất phục trước những Hình tư tưởng mạnh mẽ mà các nhà tư tưởng đương thời và thời đại ngay trước đó đã tạo lập, và vào lúc ra đời, chúng là niềm hy vọng của nhân loại. Khi ấy, chúng thể hiện những ý tưởng mới đang xuất hiện, nhằm giúp nhân loại tiến bộ. Khi trở nên cũ kỹ và kết tinh, những hình tướng này trở thành mối đe dọa và sự cản trở đối với sự sống đang mở rộng. Việc nhận biết những vấn đề của ảo tưởng còn ở phía trước nhiều thế kỷ, khi nhân loại đã bỏ ảo cảm lại phía sau, khi trên hành tinh chỉ còn ít người có lối tư duy Atlantis, và khi không còn ai mang tâm thức Lemuria. Tuy nhiên, khi tiến hoá tiếp diễn, mọi việc được đẩy nhanh rất nhiều, và thời điểm mà tâm thức Arya trở thành đặc trưng chủ yếu của nhân loại không còn xa như người ta [113] thường nghĩ.

Race

Nhân loại

Duality

Nhị nguyên

Problem

Vấn đề

Method

Phương pháp

Goal

Mục tiêu

Lemurian

Lemuria

Physical Force versus Vital Energy

Mãnh lực hồng trần đối lập với Năng lượng sinh lực

Maya

Ảo lực

Astral control Hatha Yoga: Aspirants Laya Yoga: Disciples

Sự kiểm soát cảm dục Pháp tu thân thể: Người chí nguyện Pháp tu dung giải: Đệ tử

1st Initiation Inspiration

Lần điểm đạo thứ nhất Cảm hứng

Atlantean

Atlantis

The Pairs of Opposites Qualities Sentiency

Các Cặp Đối Lập Phẩm tính Khả năng cảm thụ

Glamour

Ảo cảm

Mental control Bahkti Yoga: Aspirants Raja Yoga: Disciples

Sự kiểm soát trí tuệ Pháp tu sùng tín: Người chí nguyện Pháp tu vương giả: Đệ tử

2nd Initiation Illumination

Lần điểm đạo thứ hai Soi sáng

Aryan

Arya

Dweller on the Threshold Angel of the Presence

Kẻ Chận Ngõ Thiên Thần của Hiện Diện

Illusion

Ảo tưởng

Soul control Raja Yoga: Aspirants Agni Yoga: Disciples

Sự kiểm soát của linh hồn Pháp tu vương giả: Người chí nguyện Pháp tu Lửa: Đệ tử

3rd Initiation Intuition

Lần điểm đạo thứ ba Trực giác

I speak not in terms of the Aryan race as it is generally understood today or in its Nordic implications.

Tôi không nói về nhân loại Arya theo cách hiểu phổ biến ngày nay, hay theo những hàm ý liên quan đến người Bắc Âu.

C. Causes initiated by the individual. If you have studied all the above with the needed care, it will be apparent to you that the individual man enters upon incarnation already handicapped by existent glamour of a very ancient origin and utterly beyond his power to control at this stage. It is of great potency. I use the word “handicapped” advisedly for lack of a better term. I would like, however, to point out that the true significance of the situation exists in the fact that these conditions offer the opportunity to the man of evoking the understanding and point of view of the soul, for they provide the means whereby experience is gained. This experience will lead eventually to the soul assuming control of the mechanism, the personality, and thus giving to that soul a definite field of service. The vehicles through which the soul is seeking experience and expression are normally and naturally subject to world glamours, and to the glamours of humanity as well as illusion. When the soul, in the early stages of experience, falls into the snare of maya, of glamour and eventually of illusion, the reason is that the soul is identifying itself with those forms and therefore with the surrounding glamour, and thus failing to achieve identification with itself. As evolution proceeds, the nature of the problem becomes apparent to the soul in incarnation and a process is then instituted whereby the soul frees itself from the results of wrong identification. Every soul in incarnation which succeeds in releasing its consciousness from the world of illusion and of glamour is definitely serving the race, and helping to free humanity from this ancient and potent thraldom.

C. Các nguyên nhân do cá nhân khởi phát. Nếu các bạn đã nghiên cứu cẩn thận đúng mức tất cả những điều trên, các bạn sẽ thấy rõ rằng khi bước vào nhập thể, mỗi cá nhân đã bị cản trở bởi ảo cảm sẵn có từ nguồn gốc rất xa xưa, hoàn toàn nằm ngoài khả năng kiểm soát của y ở giai đoạn này. Nó có sức mạnh rất lớn. Tôi có chủ ý khi dùng từ “bị cản trở”, vì chưa có thuật ngữ nào thích hợp hơn. Tuy nhiên, Tôi muốn chỉ ra rằng thâm nghĩa thực sự của tình thế này nằm ở chỗ những điều kiện ấy đem lại cho con người cơ hội khơi dậy sự thấu hiểu và quan điểm của linh hồn, vì chúng cung cấp phương tiện để thu nhận kinh nghiệm. Kinh nghiệm này cuối cùng sẽ dẫn đến việc linh hồn nắm quyền kiểm soát bộ máy, tức phàm ngã, và nhờ đó đem lại cho linh hồn ấy một lĩnh vực phụng sự rõ rệt. Các hiện thể mà qua đó linh hồn tìm kiếm kinh nghiệm và sự biểu lộ thường chịu ảnh hưởng một cách tự nhiên của những ảo cảm thế giới, những ảo cảm của nhân loại cũng như ảo tưởng. Khi linh hồn, trong những giai đoạn trải nghiệm ban đầu, rơi vào cạm bẫy của ảo lực, ảo cảm và cuối cùng là ảo tưởng, nguyên nhân là linh hồn đang đồng hoá với những hình tướng ấy, và do đó với ảo cảm xung quanh, nên không đạt được sự đồng hoá với chính mình. Khi tiến hoá tiếp diễn, bản chất của vấn đề trở nên rõ ràng đối với linh hồn đang nhập thể, và khi ấy một tiến trình bắt đầu, qua đó linh hồn tự giải thoát khỏi những hậu quả của sự đồng hoá sai lầm. Mỗi linh hồn đang nhập thể thành công trong việc giải thoát tâm thức của mình khỏi thế giới ảo tưởng và ảo cảm đều đang thực sự phụng sự nhân loại, và giúp giải thoát nhân loại khỏi sự nô dịch cổ xưa và mạnh mẽ này.

[115] But it must be borne in mind that when a man is nearing the stage of consciousness when both the astral body and the mental body are active and functioning, he himself becomes a manufacturer of glamour. He struggles with forces within himself and within the world in which he lives, and the increasing potency of the inflowing soul energy (which comes in conflict with personality forces) gradually produces around him a field of glamour and an environment of illusion that brings this third category of glamour into full play.

[115] Nhưng cần nhớ rằng khi một người tiến gần đến giai đoạn tâm thức mà cả thể cảm dục lẫn thể trí đều hoạt động và vận hành, thì chính y trở thành người tạo ra ảo cảm. Y đấu tranh với các mãnh lực bên trong mình và trong thế giới nơi mình sống, và sức mạnh ngày càng tăng của năng lượng linh hồn tuôn vào (xung đột với các mãnh lực phàm ngã) dần tạo ra quanh y một trường ảo cảm và một môi trường ảo tưởng, khiến loại ảo cảm thứ ba này phát huy đầy đủ tác động.

These glamours are dependent upon the expression of the different forces which constitute a man’s lower nature, of which he is becoming increasingly aware, and which pass through the stages of emergence into recognition, potency in expression, and violence in conflict until the struggling soul sits down—as did Arjuna—in the midst between the two opposing forces (personality force and soul energy) and asks himself:

Những ảo cảm này tùy thuộc vào sự biểu lộ của các mãnh lực khác nhau cấu thành bản chất thấp của con người, mà y ngày càng nhận biết rõ hơn; chúng trải qua các giai đoạn từ xuất hiện và được nhận biết, đến biểu lộ mạnh mẽ, rồi xung đột dữ dội, cho đến khi linh hồn đang đấu tranh ngồi xuống—như Arjuna đã làm—ở giữa hai mãnh lực đối nghịch (mãnh lực phàm ngã và năng lượng linh hồn), và tự hỏi:

1. Which is right, this or that?

1. Bên nào đúng, bên này hay bên kia?

2. How can I distinguish where my duty or my responsibility lies?

2. Làm sao tôi có thể phân biệt bổn phận hay trách nhiệm của mình nằm ở đâu?

3. How can I find my way out of this bewildering situation?

3. Làm sao tôi có thể tìm được lối thoát khỏi tình thế gây hoang mang này?

4. How can I bring in the control of the Warrior so that the two groups of forces which I love may be resolved into a unity?

4. Làm sao tôi có thể đưa sự kiểm soát của Chiến Binh vào, để hai nhóm mãnh lực mà tôi yêu thương có thể hợp thành một thể thống nhất?

5. How can I find my way out of this impasse?

5. Làm sao tôi có thể tìm được lối thoát khỏi tình thế bế tắc này?

6. Why must I hurt that which I love and through which I have expressed myself for ages?

6. Vì sao tôi phải làm tổn thương những gì tôi yêu thương và đã dùng để biểu lộ bản thân suốt bao thời đại?

7. How can I become aware of that mental illumination which will reveal the “middle way” between the pairs of opposites?

7. Làm sao tôi có thể nhận biết sự soi sáng trí tuệ sẽ làm hiển lộ “con đường trung đạo” giữa các cặp đối lập?

8. How can I see God? or else the Form of God?

8. Làm sao tôi có thể thấy Thượng đế? Hoặc ít ra là Hình Tướng của Thượng đế?

[116] Many such questions arise in the mind of the aspirant. They indicate dilemma, bewilderment, a realisation of surrounding glamour, a stage of illusion and a condition of impotency. Against the disciple are fighting all the forces of his own nature, and also those of humanity as a whole and of the planetary state. He feels helpless, inert, feeble and hopeless. He cannot even see the way out. Only one clear fact remains and that is the fact of the Soul, of the immortal Identity, the Warrior behind the scenes, the Charioteer, Krishna, the Christ within.

[116] Nhiều câu hỏi như vậy nảy sinh trong thể trí của người chí nguyện. Chúng cho thấy một tình thế khó xử, sự hoang mang, sự nhận biết về ảo cảm xung quanh, một giai đoạn ảo tưởng và một tình trạng bất lực. Mọi mãnh lực thuộc bản chất của chính đệ tử, cũng như các mãnh lực của toàn thể nhân loại và của trạng thái hành tinh, đều đang chống lại y. Y cảm thấy bất lực, trì trệ, yếu đuối và tuyệt vọng. Y thậm chí không thấy lối thoát. Chỉ còn lại một sự thật rõ ràng duy nhất, đó là sự thật về Linh Hồn, về Bản Sắc bất tử, về Chiến Binh phía sau hậu trường, Người Đánh Xe, Krishna, Đức Christ bên trong.

The Bhagavad Gita can be read entirely from the standpoint of the disciple’s combat with glamour and students would be well-advised so to study it.

Chí Tôn Ca có thể được đọc hoàn toàn từ góc nhìn về cuộc chiến của đệ tử với ảo cảm, và các đạo sinh nên nghiên cứu tác phẩm theo cách ấy.

The individual glamours of which the disciple becomes aware are consequently of five types of force. These, when brought into activity simultaneously, produce those glamours which are strictly initiated and produced by the man himself. They are:

Do đó, những ảo cảm cá nhân mà đệ tử nhận biết thuộc năm loại mãnh lực. Khi đồng thời được đưa vào hoạt động, chúng tạo ra những ảo cảm hoàn toàn do chính con người khởi phát và tạo nên. Đó là:

1. The forces of his dense physical nature and of the vital body which latter, functioning through the dense physical nature, produce a condition of maya or of uncontrolled energy.

1. Các mãnh lực của bản chất hồng trần đậm đặc và của thể sinh lực nơi y; thể sinh lực này hoạt động qua bản chất hồng trần đậm đặc, tạo nên một tình trạng ảo lực hay năng lượng không được kiểm soát.

2. The forces of the astral nature, based upon desire and upon sentiency. These, at this stage, fall into two groups which we call the pairs of opposites. Their potency is accentuating at this period of individual history, for the disciple is polarised in the majority of cases in his astral body and is, therefore, subject to the glamours produced by the interplay of the opposites, plus the condition of maya, referred to above.

2. Các mãnh lực của bản chất cảm dục, dựa trên dục vọng và khả năng cảm thụ. Ở giai đoạn này, chúng chia thành hai nhóm mà chúng ta gọi là các cặp đối lập. Sức mạnh của chúng gia tăng trong thời kỳ này của lịch sử cá nhân, vì trong đa số trường hợp, đệ tử phân cực trong thể cảm dục của mình, và do đó chịu ảnh hưởng của những ảo cảm do sự tương tác giữa các mặt đối lập tạo ra, cộng thêm tình trạng ảo lực đã nói ở trên.

3. The forces of the lower mental nature, of the chitta or mind-stuff of which the mental body is composed. This [117] is coloured by past activity, as is the substance composing all the vehicles. This adds to maya and glamour, the state of illusion.

3. Các mãnh lực của bản chất hạ trí, của tâm chất hay chất trí cấu thành thể trí. Chất liệu này [117] mang sắc thái của hoạt động quá khứ, cũng như chất liệu cấu thành mọi hiện thể. Điều này thêm trạng thái ảo tưởng vào ảo lực và ảo cảm.

4. The personality ray then emerges and intensifies all these three aspects of force expression, producing eventually their synthetic work. Then we have the emerging of what has been called “the threefold glamorous condition,” into one major glamour.

4. Sau đó, cung phàm ngã xuất hiện và tăng cường cả ba phương diện biểu lộ mãnh lực này, cuối cùng tạo nên hoạt động tổng hợp của chúng. Khi ấy, điều được gọi là “tình trạng ảo cảm tam phân” xuất hiện, hợp thành một ảo cảm chủ yếu.

5. The soul ray or energy is all this time steadily increasing its rhythmic potency, and seeking to impose its purpose and will upon the personality. It is the united relation and the interplay between these two which—when a point of balance has been achieved—sweeps the man on to the Probationary Path, on to the Path of Discipleship, and right up to the gate of initiation. There, standing before the Gate, he recognises the final duality which awaits resolution. The Dweller on the Threshold and the Angel of the PRESENCE.

5. Trong suốt thời gian này, cung linh hồn hay năng lượng linh hồn không ngừng gia tăng sức mạnh nhịp điệu của mình, đồng thời tìm cách áp đặt mục đích và ý chí của mình lên phàm ngã. Chính mối quan hệ hợp nhất và sự tương tác giữa hai bên—khi đã đạt đến điểm cân bằng—thúc đẩy con người tiến vào Con Đường Dự Bị, rồi Con Đường Đệ Tử, và thẳng đến tận cổng điểm đạo. Tại đó, đứng trước Cổng, y nhận ra nhị nguyên cuối cùng đang chờ được giải quyết: Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần của Hiện Diện.

The nature of these glamours differs with different people, for the ray quality determines the type of glamour or illusion to which a man will easily succumb, and that kind of glamour which he will the most easily create. Disciples have to learn to differentiate between:

Bản chất của những ảo cảm này khác nhau ở mỗi người, vì phẩm tính cung quyết định loại ảo cảm hay ảo tưởng mà một người dễ khuất phục, cũng như loại ảo cảm mà y dễ tạo ra nhất. Các đệ tử phải học cách phân biệt giữa:

1. The glamours or glamour already existent in his environment, to which he will easily be attracted, or which he will easily attract, for they constitute the line of least resistance.

1. Những ảo cảm hay ảo cảm đã tồn tại trong môi trường của y, mà y dễ bị thu hút vào hoặc dễ thu hút về phía mình, vì chúng tạo thành con đường ít trở ngại nhất.

2. The glamour that he creates as he tackles life through the medium of a particular equipment, which is coloured by the experiences of past incarnations, and by the ray quality under which he has come into being.

2. Ảo cảm mà y tạo ra khi ứng phó với cuộc sống thông qua một hệ thống trang bị cụ thể, mang sắc thái của những kinh nghiệm từ các kiếp trước và của phẩm tính cung mà dưới ảnh hưởng của nó, y đã ra đời.

[118] This subject is so intricate that it will serve no useful purpose for me to go into detailed particulars. I can indicate the major glamours (and under this term I include the various maya and illusions) to which the ray types predispose the man. If you then apply these to the three vehicles of manifestation as well as to the personality and the soul, you will note how complicated is the problem. Yet remember this, my brother:

[118] Chủ đề này phức tạp đến mức việc Tôi đi sâu vào từng chi tiết sẽ không mang lại ích lợi nào. Tôi có thể chỉ ra những ảo cảm chính (và trong thuật ngữ này, Tôi bao gồm các dạng ảo lực và ảo tưởng khác nhau) mà các kiểu cung khiến con người dễ mắc phải. Nếu sau đó các bạn áp dụng chúng vào ba hiện thể biểu hiện, cũng như vào phàm ngã và linh hồn, các bạn sẽ nhận thấy vấn đề phức tạp đến mức nào. Tuy vậy, hãy nhớ điều này, huynh đệ của tôi:

The issue is certain and determined for, in this solar system, the triumph of the soul and its final dominance and control is a foregone conclusion, no matter how great the glamour or how fierce the strife. Thus, the ascertaining (by the aspirant) of his ray influence is one of the first steps towards understanding the nature of his problem and the method of release. The psychology of the future will direct attention to the discovery of the two rays which govern the soul and personality. Having done this through a study of the physical type, emotional reactions and mental tendencies, attention will then be directed to the discovery of the rays governing the specialised vehicles. When these five rays (egoic, personality, physical, astral and mental) have been approximately ascertained, then the following factors will need consideration:

Kết quả là chắc chắn và đã được định đoạt, vì trong hệ mặt trời này, sự chiến thắng của linh hồn cùng quyền chi phối và kiểm soát cuối cùng của nó là điều tất yếu, bất kể ảo cảm lớn đến đâu hay cuộc đấu tranh khốc liệt đến mức nào. Vì vậy, việc người chí nguyện xác định ảnh hưởng cung của mình là một trong những bước đầu tiên để thấu hiểu bản chất vấn đề của mình và phương pháp giải thoát. Tâm lý học trong tương lai sẽ hướng sự chú ý đến việc khám phá hai cung cai quản linh hồn và phàm ngã. Sau khi thực hiện điều này qua việc nghiên cứu kiểu thể xác, các phản ứng cảm xúc và những khuynh hướng trí tuệ, sự chú ý sẽ hướng đến việc khám phá các cung cai quản những hiện thể chuyên biệt. Khi đã xác định tương đối được năm cung này (cung chân ngã, cung phàm ngã, cung thể xác, cung thể cảm dục và cung thể trí), cần xem xét những yếu tố sau:

1. The nature, quality and stability of the glandular system.

1. Bản chất, phẩm tính và sự ổn định của hệ tuyến.

2. The point attained in evolution. This will be done by a careful consideration of the centres and the glands and their relation to each other.

2. Điểm đã đạt được trong tiến hoá. Việc xác định này sẽ dựa trên sự xem xét cẩn thận các trung tâm, các tuyến và mối quan hệ giữa chúng.

3. The recognition of the points of cleavage or the splits in the personality which exist. These can be:

3. Việc nhận ra những điểm phân cách hay những sự chia tách hiện có trong phàm ngã. Chúng có thể nằm:

a. Between the etheric and the physical bodies, leading to a lack of vitality, physical weakness, obsession and many forms of difficulty. [119]

a. Giữa thể dĩ thái và thể xác, dẫn đến thiếu sinh lực, suy yếu thể xác, ám nhập và nhiều dạng khó khăn. [119]

b. In the sentient astral body, leading to a vast number of problems and psychological difficulties based upon undue sensitivity, reaction to glamour in the environment, innate tendencies to glamour in the equipment or resulting from sensitivity to the glamours of other people.

b. Trong thể cảm dục có khả năng cảm nhận, dẫn đến vô số vấn đề và khó khăn tâm lý do quá nhạy cảm, do phản ứng với ảo cảm trong môi trường, do những khuynh hướng bẩm sinh dễ mắc ảo cảm trong hệ thống trang bị, hoặc do nhạy cảm với những ảo cảm của người khác.

c. In the mental body, imposing mental illusions of many kinds, such as control by self-created thoughtforms, sensitivity to existing world, national, or environing thoughtforms of any school of thought, idée fixe, the sense of the dramatic or of importance, or a fanatical adherence to groups of ideas, inherited from the past, or mental reactions of a purely personal nature.

c. Trong thể trí, gây ra nhiều loại ảo tưởng trí tuệ, chẳng hạn như chịu sự kiểm soát của những hình tư tưởng do chính mình tạo ra, nhạy cảm với những hình tư tưởng hiện có trên thế giới, trong quốc gia hoặc trong môi trường xung quanh thuộc bất kỳ trường phái tư tưởng nào, ý tưởng ám ảnh, cảm thức về tính kịch tính hay tầm quan trọng, hoặc sự bám giữ cuồng tín vào những nhóm ý tưởng thừa hưởng từ quá khứ, hay những phản ứng trí tuệ mang bản chất thuần túy cá nhân.

d. Between any of these groups of forces which we call bodies:

d. Giữa bất kỳ nhóm mãnh lực nào trong số những nhóm mà chúng ta gọi là các thể của phàm ngã:

Between the etheric and astral bodies.

Giữa thể dĩ thái và thể cảm dục.

Between the astral and the mental bodies.

Giữa thể cảm dục và thể trí.

There is, for instance, a definite correspondence between the condition of negativity to physical plane living which is the result of a lack of integration between the physical and the etheric bodies, and that lack of interest and that failure to handle physical plane living which the thinker on abstract and scientific levels so frequently evidences. Both groups fail to make a definite and decisive manifestation upon the physical plane, both groups fail to deal with the problems of physical plane living in a clear and satisfactory manner, both are non-positive physically, but the causes producing these relatively similar conditions are totally different—though alike in their effects.

Chẳng hạn, có một sự tương ứng rõ rệt giữa trạng thái thụ động đối với đời sống trên cõi hồng trần do thiếu sự tích hợp giữa thể xác và thể dĩ thái, với sự thiếu quan tâm và bất lực trong việc xử lý đời sống trên cõi hồng trần mà người tư duy ở các cấp độ trừu tượng và khoa học thường biểu lộ. Cả hai nhóm đều không thể biểu hiện rõ rệt và dứt khoát trên cõi hồng trần; cả hai nhóm đều không thể xử lý những vấn đề của đời sống trên cõi hồng trần một cách rõ ràng và thỏa đáng; cả hai đều thiếu tính chủ động về mặt hồng trần. Nhưng những nguyên nhân tạo ra các trạng thái tương đối giống nhau này lại hoàn toàn khác biệt—dù có những tác động tương tự.

4. The comprehension of the Path of Life for an individual, through a study of his astrological indications. It is necessary in this connection to regard the sun sign [120] into which a man is born, as indicative of his personality trends, and as embodying the characteristics which he has inherited from the past, but to regard the rising sign as holding within it the indications of the way that a man’s soul would have him go.

4. Việc thấu hiểu Con Đường Sự Sống của một cá nhân qua việc nghiên cứu những chỉ dấu chiêm tinh của y. Trong mối liên hệ này, cần xem dấu hiệu Mặt Trời [120] mà một người sinh ra dưới đó là chỉ dấu về những khuynh hướng phàm ngã của y và là sự thể hiện những đặc điểm mà y thừa hưởng từ quá khứ; nhưng cần xem dấu hiệu mọc là nơi chứa đựng những chỉ dấu về con đường mà linh hồn muốn y đi theo.

Many other factors will warrant careful attention. The problem of the individual is complicated by certain inherited tendencies of a family, national and racial nature. These powerfully affect the physical body in both its aspects, producing glamours of many kinds. It is also affected by certain inherited ideas which are the embodied thoughtforms of family, national and racial approaches to truth. These produce powerful illusions to which the individual man easily succumbs. There are also the inflowing forces of the sign into which the sun may be passing, such as the conditions found in the world today, due to the fact that our sun is passing into a new sign of the zodiac. Therefore powerful and new energies are playing upon humanity, producing effects in all the three bodies. They are evoking glamours in the emotional nature and illusions in the mental nature. Those easily subject to glamour become at this time conscious of an emphasised duality. The subject, as you will therefore see, is vast, and this science of the psychological influences and the results of their impact upon the human mechanism is, as yet, in its infancy. I have, however, indicated enough to arouse interest and to start investigation in this new field of psychological activity.

Nhiều yếu tố khác cũng cần được chú ý cẩn thận. Vấn đề của cá nhân trở nên phức tạp do một số khuynh hướng thừa hưởng mang bản chất gia đình, quốc gia và nhân loại. Những khuynh hướng này tác động mạnh mẽ lên thể xác ở cả hai phương diện của nó, tạo ra nhiều loại ảo cảm. Vấn đề ấy còn chịu ảnh hưởng của một số ý tưởng thừa hưởng, vốn là những hình tư tưởng đã thành hình, thể hiện các cách tiếp cận chân lý của gia đình, quốc gia và nhân loại. Chúng tạo ra những ảo tưởng mạnh mẽ mà cá nhân dễ khuất phục. Còn có những mãnh lực tuôn vào từ dấu hiệu mà Mặt Trời có thể đang đi vào, chẳng hạn như những điều kiện hiện có trên thế giới ngày nay do Mặt Trời của chúng ta đang đi vào một dấu hiệu hoàng đạo mới. Vì vậy, những năng lượng mới và mạnh mẽ đang tác động lên nhân loại, tạo ra những ảnh hưởng trong cả ba thể của phàm ngã. Chúng khơi dậy những ảo cảm trong bản chất cảm xúc và những ảo tưởng trong bản chất trí tuệ. Lúc này, những người dễ chịu ảnh hưởng của ảo cảm trở nên có ý thức về một nhị nguyên nổi bật hơn. Do đó, như các bạn sẽ thấy, chủ đề này rất rộng lớn, và khoa học về những ảnh hưởng tâm lý cùng các kết quả do chúng tác động lên bộ máy con người hiện vẫn còn trong giai đoạn sơ khai. Tuy nhiên, Tôi đã chỉ ra đủ để khơi dậy sự quan tâm và khởi đầu việc nghiên cứu trong lĩnh vực hoạt động tâm lý mới này.

To return to the consideration of the many glamours which are produced by and related to certain ray types:

Trở lại việc xem xét nhiều ảo cảm do một số kiểu cung tạo ra và có liên quan đến các kiểu cung ấy:

RAY I

CUNG I

The glamour of physical strength.

Ảo cảm của sức mạnh thể chất.

The glamour of personal magnetism. [121]

Ảo cảm của từ tính cá nhân. [121]

The glamour of self-centredness and personal potency.

Ảo cảm của việc tập trung vào bản thân và sức mạnh cá nhân.

The glamour of “the one at the centre.”

Ảo cảm của “người ở trung tâm.”

The glamour of selfish personal ambition.

Ảo cảm của tham vọng cá nhân ích kỷ.

The glamour of rulership, of dictatorship and of wide control.

Ảo cảm của sự cai trị, của sự độc tài hoặc của sự kiểm soát rộng rãi.

The glamour of the Messiah complex in the field of politics.

Ảo cảm của phức cảm Đấng Cứu Thế trong lĩnh vực chính trị.

The glamour of selfish destiny, of the divine right of kings personally exacted.

Ảo cảm của vận mệnh ích kỷ, của việc đích thân đòi hỏi quyền thiêng liêng của các vị vua.

The glamour of destruction.

Ảo cảm của sự hủy diệt.

The glamour of isolation, of aloneness, of aloofness.

Ảo cảm của sự cô lập, của sự đơn độc, của sự xa cách.

The glamour of the superimposed will—upon others and upon groups.

Ảo cảm của ý chí áp đặt—lên người khác và lên các nhóm.

RAY II

CUNG II

The glamour of the love of being loved.

Ảo cảm của sự yêu thích được yêu.

The glamour of popularity.

Ảo cảm của sự nổi tiếng.

The glamour of personal wisdom.

Ảo cảm của minh triết cá nhân.

The glamour of selfish responsibility.

Ảo cảm của trách nhiệm ích kỷ.

The glamour of too complete an understanding, which negates right action.

Ảo cảm của sự thấu hiểu quá toàn diện, khiến hành động đúng đắn bị phủ định.

The glamour of self-pity, a basic glamour of this ray.

Ảo cảm của sự tự thương hại, một ảo cảm căn bản của cung này.

The glamour of the Messiah complex, in the world of religion and world need.

Ảo cảm của phức cảm Đấng Cứu Thế trong thế giới tôn giáo và nhu cầu của thế giới.

The glamour of fear, based on undue sensitivity.

Ảo cảm của sự sợ hãi, dựa trên tính nhạy cảm quá mức.

The glamour of self-sacrifice.

Ảo cảm của sự tự hy sinh.

The glamour of selfish unselfishness.

Ảo cảm của lòng vị tha ích kỷ.

The glamour of self-satisfaction.

Ảo cảm của sự tự mãn.

The glamour of selfish service.

Ảo cảm của sự phụng sự ích kỷ.

RAY III

CUNG III

The glamour of being busy.

Ảo cảm của sự bận rộn.

The glamour of cooperation with the Plan in an individual [122] and not a group way.

Ảo cảm của việc hợp tác với Thiên Cơ theo cách cá nhân [122] chứ không theo cách nhóm.

The glamour of active scheming.

Ảo cảm của sự tính toán tích cực.

The glamour of creative work—without true motive.

Ảo cảm của công việc sáng tạo—không có động cơ chân chính.

The glamour of good intentions, which are basically selfish.

Ảo cảm của những ý định tốt đẹp nhưng về căn bản là ích kỷ.

The glamour of “the spider at the centre.”

Ảo cảm của “con nhện ở trung tâm.”

The glamour of “God in the machine.”

Ảo cảm của “Thượng đế trong cỗ máy.”

The glamour of devious and continuous manipulation.

Ảo cảm của sự thao túng quanh co và liên tục.

The glamour of self-importance, from the standpoint of knowing, of efficiency.

Ảo cảm của việc tự cho mình là quan trọng, xét từ góc độ hiểu biết và hiệu quả.

RAY IV

CUNG IV

The glamour of harmony, aiming at personal comfort and satisfaction.

Ảo cảm của sự hài hòa nhằm đem lại sự thoải mái và thỏa mãn cá nhân.

The glamour of war.

Ảo cảm của chiến tranh.

The glamour of conflict, with the objective of imposing righteousness and peace.

Ảo cảm của xung đột, với mục tiêu áp đặt lẽ phải và hòa bình.

The glamour of vague artistic perception.

Ảo cảm của sự cảm nhận nghệ thuật mơ hồ.

The glamour of psychic perception instead of intuition.

Ảo cảm của sự cảm nhận thông linh thay vì trực giác.

The glamour of musical perception.

Ảo cảm của sự cảm nhận âm nhạc.

The glamour of the pairs of opposites, in the higher sense.

Ảo cảm của các cặp đối cực, theo nghĩa cao hơn.

RAY V

CUNG V

The glamour of materiality, or over-emphasis of form.

Ảo cảm của tính vật chất, hay sự nhấn mạnh quá mức vào hình tướng.

The glamour of the intellect.

Ảo cảm của trí năng.

The glamour of knowledge and of definition.

Ảo cảm của tri thức và của sự định nghĩa.

The glamour of assurance, based on a narrow point of view.

Ảo cảm của sự quả quyết, dựa trên một quan điểm hẹp hòi.

The glamour of the form which hides reality.

Ảo cảm của hình tướng che giấu thực tại.

The glamour of organisation.

Ảo cảm của sự tổ chức.

The glamour of the outer, which hides the inner. [123]

Ảo cảm của cái bên ngoài che giấu cái bên trong. [123]

RAY VI

CUNG VI

The glamour of devotion.

Ảo cảm Sùng tín.

The glamour of adherence to forms and persons.

Ảo cảm của sự bám giữ vào các hình tướng và con người.

The glamour of idealism.

Ảo cảm của chủ nghĩa lý tưởng.

The glamour of loyalties, of creeds.

Ảo cảm của những lòng trung thành, của các tín điều.

The glamour of emotional response.

Ảo cảm của sự đáp ứng cảm xúc.

The glamour of sentimentality.

Ảo cảm của tính đa cảm.

The glamour of interference.

Ảo cảm của sự can thiệp.

The glamour of the lower pairs of opposites.

Ảo cảm của các cặp đối cực thấp.

The glamour of World Saviours and Teachers.

Ảo cảm của các Đấng Cứu Thế và các Huấn sư Thế Gian.

The glamour of the narrow vision.

Ảo cảm của tầm nhìn hạn hẹp.

The glamour of fanaticism.

Ảo cảm của sự cuồng tín.

RAY VII

CUNG VII

The glamour of magical work.

Ảo cảm của công việc huyền thuật.

The glamour of the relation of the opposites.

Ảo cảm của mối quan hệ giữa các đối cực.

The glamour of the subterranean powers.

Ảo cảm của những quyền năng dưới lòng đất.

The glamour of that which brings together.

Ảo cảm của những gì kết hợp lại với nhau.

The glamour of the physical body.

Ảo cảm của thể xác.

The glamour of the mysterious and the secret.

Ảo cảm của những điều huyền bí và bí mật.

The glamour of sex magic.

Ảo cảm của huyền thuật tính dục.

The glamour of the emerging manifested forces.

Ảo cảm của những mãnh lực biểu hiện đang xuất hiện.

I have here enumerated many glamours. But their names are legion, and I have by no means covered the possibilities or the field of glamour.

Ở đây, Tôi đã liệt kê nhiều ảo cảm. Nhưng tên gọi của chúng nhiều vô kể, và Tôi hoàn toàn chưa bao quát hết những khả năng hay lĩnh vực của ảo cảm.

One of the groups with which I have worked had certain characteristics and difficulties, and it might be of value if I mentioned it here.

Một trong những nhóm mà Tôi từng làm việc cùng có một số đặc điểm và khó khăn, và có lẽ việc Tôi đề cập đến nhóm ấy ở đây sẽ có giá trị.

This group had a curious history in relation to other groups, because its personnel changed several times. Each time, the person who left the group had been in it from karmic right and old relation to myself or to the group members, [124] and had, therefore, earned the opportunity to participate in this activity. Each time they failed, and each time for personality reasons. They lacked group realisation and were definitely occupied with themselves. They lacked the new and wider vision. So they eliminated themselves from this initial new age activity. I am explaining this, for it is valuable to disciples to grasp the fact that karmic relation cannot be ignored and that group opportunity must be offered, even though it delay functioning in group service.

Nhóm này có một lịch sử khác thường so với những nhóm khác, vì thành phần của nhóm đã thay đổi nhiều lần. Mỗi lần như vậy, người rời nhóm trước đó đã có mặt trong nhóm nhờ quyền do nghiệp quả đem lại và mối quan hệ từ xưa với Tôi hoặc với các thành viên trong nhóm, [124] và do đó đã xứng đáng có cơ hội tham gia hoạt động này. Mỗi lần họ đều thất bại, và lần nào cũng vì những lý do thuộc phàm ngã. Họ thiếu sự nhận biết về nhóm và rõ ràng chỉ bận tâm đến bản thân. Họ thiếu tầm nhìn mới và rộng lớn hơn. Vì vậy, họ tự loại mình khỏi hoạt động mở đầu này của kỷ nguyên mới. Tôi giải thích điều này vì các đệ tử sẽ được lợi khi nắm bắt sự thật rằng không thể phớt lờ mối quan hệ nghiệp quả, và phải trao cơ hội tham gia nhóm, ngay cả khi điều đó làm chậm việc thực hiện công việc phụng sự nhóm.

Several of the group members were still struggling with glamour and it needed a longer time for them to adjust themselves to recognition of it when encountered. The major task of this group was to dissipate some of the universal glamour by a united indicated meditation. Certain of the group members also were facing or had major adjustments in their lives, and it took a little time for the needed subjective rhythm to become established. But they all worked with understanding, perseverance and enthusiasm, and it was not long before the group work was started.

Một số thành viên của nhóm vẫn đang đấu tranh với ảo cảm, và họ cần nhiều thời gian hơn để tự điều chỉnh, nhằm nhận ra nó khi gặp phải. Nhiệm vụ chính của nhóm này là làm tiêu tan một phần ảo cảm phổ quát bằng một bài tham thiền hợp nhất đã được chỉ dẫn. Một số thành viên trong nhóm cũng đang đối diện hoặc đã trải qua những điều chỉnh lớn trong cuộc sống, và cần một ít thời gian để thiết lập nhịp điệu chủ quan cần thiết. Nhưng tất cả họ đều làm việc với sự thấu hiểu, lòng kiên trì và nhiệt tình, và chẳng bao lâu công việc nhóm đã bắt đầu.

You would find it of value to consider the following questions:

Các bạn sẽ thấy việc xem xét những câu hỏi sau đây là có giá trị:

1. What is the method whereby ideas are developed from the moment of impressing the mind of some intuitive?

1. Các ý tưởng phát triển theo phương pháp nào kể từ lúc chúng tạo ấn tượng lên thể trí của một người có trực giác?

Broadly speaking, they pass through the following stages, as you have oft been told:

Nói chung, chúng trải qua những giai đoạn sau, như các bạn đã thường được cho biết:

a. The idea… based on intuitive perception.

a. Ý tưởng… dựa trên sự cảm nhận trực giác.

b. The ideal… based on mental formulation and distribution.

b. Lý tưởng… dựa trên sự định hình và phân phối bằng trí tuệ.

c. The idol… based on the concretising tendency of physical manifestation.

c. Ngẫu tượng… dựa trên khuynh hướng cụ thể hóa của sự biểu hiện hồng trần.

2. What glamours do you feel are particularly dominant in the world today, and why? [125]

2. Các bạn cảm thấy những ảo cảm nào đặc biệt chi phối thế giới ngày nay, và tại sao? [125]

3. I have spoken often of the work which this group and certain other groups are intending to do in dissipating world glamour. Have you any ideas as to how this should be done, or what will be demanded of you?

3. Tôi đã thường nói về công việc mà nhóm này cùng một số nhóm khác dự định thực hiện để làm tiêu tan ảo cảm thế giới. Các bạn có ý tưởng nào về cách thực hiện công việc này, hoặc về những gì sẽ đòi hỏi ở các bạn không?

3. The Contrast between Higher and Lower Glamours – 3. Sự Tương Phản giữa Những Ảo Cảm Cao và Thấp

In the preceding part of this section we considered (briefly and all too cursorily) some of the causes of the dense glamour which surrounds humanity. That this glamour is very ancient, powerfully organised, and is the dominant characteristic of the astral plane emerged clearly, as did the fact of the three major predisposing subsidiary causes:

Trong phần trước của mục này, chúng ta đã xem xét (một cách ngắn gọn và quá sơ lược) một số nguyên nhân của ảo cảm đậm đặc bao quanh nhân loại. Đã hiện rõ rằng ảo cảm này có từ rất xa xưa, được tổ chức mạnh mẽ và là đặc điểm chi phối của cõi cảm dục; đồng thời cũng hiện rõ ba nguyên nhân phụ trợ chính khiến con người dễ mắc ảo cảm:

1. The glamours induced by the planetary life and inherent in substance itself.

1. Những ảo cảm do sự sống hành tinh gây ra và vốn có trong chính chất liệu.

2. Those glamours which are initiated by humanity, as a whole, and intensified throughout an aeonial past.

2. Những ảo cảm do toàn thể nhân loại khởi xướng và tăng cường qua một quá khứ kéo dài nhiều thời đại.

3. Glamour engendered by the individual himself, either in the past, through participation in world glamour, or started this life.

3. Ảo cảm do chính cá nhân tạo ra, hoặc trong quá khứ qua việc tham dự vào ảo cảm thế giới, hoặc khởi đầu trong kiếp sống này.

To all of these, every human being is prone and for many lives proves himself the helpless victim of that which he later discovers to be erroneous, false and deceiving. He learns then that he need not fall supinely under the domination of the past—astral, emotional and glamorous—but that he is adequately equipped to handle it, did he but know it, and that there are methods and techniques whereby he can emerge the conqueror of illusion, the dissipator of glamour and the master of maya. This is the initial revelation, and it is when he has realised the implication of this and has [126] set out to dominate the undesirable condition that he arrives later at a recognition of an essential duality. This is, for the time being, in no case an illusion. He discovers the relationship between himself as a personality, the true Dweller on the Threshold, and the Angel of the PRESENCE—guarding the door of initiation. This marks a critical moment in the life of the disciple for it indicates the moment wherein he can begin to tread the Path of Initiation, if he so desires and possesses the required fortitude.

Mọi người đều dễ mắc tất cả những ảo cảm này, và trong nhiều kiếp sống, mỗi người tỏ ra là nạn nhân bất lực của điều mà về sau y khám phá là sai lầm, giả dối và lừa gạt. Khi ấy, y học được rằng mình không cần thụ động chịu sự chi phối của quá khứ—thuộc cảm dục, cảm xúc và ảo cảm—mà y có đủ trang bị để xử lý nó, giá như y biết điều này; và rằng có những phương pháp cùng kỹ thuật giúp y trở thành người chiến thắng ảo tưởng, người làm tiêu tan ảo cảm và người làm chủ ảo lực. Đây là sự mặc khải ban đầu, và chính khi y nhận ra hàm ý của điều này và đã [126] bắt đầu chế ngự trạng thái không mong muốn ấy, thì về sau y mới nhận biết một nhị nguyên căn bản. Trong giai đoạn này, nó hoàn toàn không phải là một ảo tưởng. Y khám phá mối quan hệ giữa chính mình với tư cách phàm ngã, Kẻ Chận Ngõ thực sự, và Thiên Thần của Hiện Diện—đang canh giữ cửa điểm đạo. Điều này đánh dấu một thời điểm then chốt trong cuộc đời người đệ tử, vì nó chỉ ra thời điểm y có thể bắt đầu bước trên Con Đường Điểm Đạo, nếu y mong muốn và có được sự kiên cường cần thiết.

In the last analysis, the partial subjugation of glamour and escape from the complete thraldom of illusion are indications to the watching Hierarchy that a man is ready for the processes of initiation. Until he is no longer completely deceived and until he is somewhat free mentally, it is not possible for him to face the waiting Angel and pass through the door. One thing I would here point out to you: after passing through the door of initiation, the disciple returns each time again to take up anew his tasks in the three worlds of activity; he there re-enacts the former processes—briefly and with understanding—after which he proceeds to master the essentials of the next initiatory lesson. I am here putting a great deal of information in a very condensed form, but that is all that is possible at this time.

Xét đến cùng, việc phần nào chế ngự được ảo cảm và thoát khỏi sự nô dịch hoàn toàn của ảo tưởng là những dấu hiệu cho Thánh đoàn đang quan sát thấy rằng một người đã sẵn sàng cho các tiến trình điểm đạo. Chừng nào y còn hoàn toàn bị lừa gạt và chưa có được phần nào tự do về trí tuệ, y vẫn chưa thể đối diện với Thiên Thần đang chờ đợi và bước qua cửa. Ở đây, Tôi muốn chỉ ra với các bạn một điều: mỗi lần sau khi bước qua cửa điểm đạo, người đệ tử lại trở về để tiếp tục những nhiệm vụ của mình trong ba cõi giới hoạt động; tại đó, y tái diễn những tiến trình trước đây—một cách ngắn gọn và với sự thấu hiểu—rồi tiến đến làm chủ những điều cốt yếu của bài học điểm đạo kế tiếp. Ở đây, Tôi đang trình bày rất nhiều thông tin dưới một hình thức hết sức cô đọng, nhưng đó là tất cả những gì có thể làm vào lúc này.

For a long time, the sense of dualism pervades the disciple’s being and makes his life appear to be a ceaseless conflict between the pairs of opposites. The battle of the contraries is taking place consciously in the disciple’s life. He alternates between the experiences of the past and a recollection of the experience of initiation through which he has passed, with the emphasis, first of all, in the earlier experiences; later, in the final great experience which is so deeply colouring his inner life. He has prolonged moments wherein he is the baffled disciple, struggling with glamour, and brief moments wherein he is the triumphant initiate. He [127] discovers in himself the sources of glamour and illusion and the lure of maya until the moment arrives when again he stands before the portal and faces the major dualities in his own particular little cosmos—the Dweller and the Angel. At first he fears the Angel and dreads the light which streams from that Angel’s countenance, because it throws into vivid reality the nature of the Dweller who is himself. He senses, as never before, the formidable task ahead of him and the true significance of the undertaking to which he has pledged himself. Little by little, two things emerge with startling clarity in his mind:

Trong một thời gian dài, cảm thức nhị nguyên thấm khắp con người của đệ tử và khiến cuộc sống của y dường như là một cuộc xung đột không ngừng giữa các cặp đối cực. Cuộc chiến giữa các đối cực đang diễn ra một cách có ý thức trong cuộc sống của người đệ tử. Y luân phiên giữa những kinh nghiệm của quá khứ và sự hồi tưởng về kinh nghiệm điểm đạo mà y đã trải qua, ban đầu nhấn mạnh những kinh nghiệm trước kia; về sau nhấn mạnh kinh nghiệm lớn lao cuối cùng đang nhuộm sắc sâu đậm cho đời sống bên trong của y. Y có những lúc kéo dài trong vai trò người đệ tử bối rối, đấu tranh với ảo cảm, và những lúc ngắn ngủi trong vai trò điểm đạo đồ chiến thắng. Y [127] khám phá trong chính mình những nguồn gốc của ảo cảm và ảo tưởng cùng sức quyến rũ của ảo lực, cho đến khi lại đến thời điểm y đứng trước cổng và đối diện với những nhị nguyên chính trong tiểu vũ trụ riêng của mình—Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần. Ban đầu, y sợ Thiên Thần và khiếp sợ ánh sáng tuôn ra từ gương mặt Thiên Thần ấy, vì ánh sáng này làm hiện rõ sống động bản chất của Kẻ Chận Ngõ, vốn chính là y. Hơn bao giờ hết, y cảm nhận được nhiệm vụ vô cùng khó khăn phía trước cùng thâm nghĩa đích thực của công việc mà y đã cam kết thực hiện. Dần dần, hai điều hiện ra trong thể trí y với một sự rõ ràng đáng kinh ngạc:

1. The significance of his own nature, with its essential dualism.

1. Thâm nghĩa của bản chất y, với nhị nguyên căn bản của nó.

2. The recognition of the relationship between the pairs of opposites with which he, as a disciple, has to work.

2. Sự nhận biết mối quan hệ giữa các cặp đối cực mà y, với tư cách đệ tử, phải làm việc cùng.

Once he grasps the relation of the lower major duality (that of the personality and the soul) he is then prepared to pass on to the higher reality, that of the integrated Self (personality and soul) and its relation to the PRESENCE. In this statement, you have expressed in a few concise words the result of the first three initiations and the two final. Ponder on this.

Một khi nắm bắt được mối quan hệ của nhị nguyên chính thấp hơn (nhị nguyên giữa phàm ngã và linh hồn), y đã sẵn sàng tiến đến thực tại cao hơn, tức Bản Ngã tích hợp (phàm ngã và linh hồn) cùng mối quan hệ của nó với HIỆN DIỆN. Trong lời phát biểu này, các bạn có được kết quả của ba cuộc điểm đạo đầu tiên và hai cuộc cuối cùng, diễn đạt bằng vài từ súc tích. Hãy suy ngẫm về điều này.

It will be of real value, I believe, if I relate for your benefit the various contrasting characteristics of the intelligent man and the disciple, using the word “disciple” to cover all stages of development from that of accepted disciple to that of the Master. There is naught but the Hierarchy, which is a term denoting a steady progress from a lower state of being and of consciousness to a higher. This is in every case the state of consciousness of some Being, limited and confined and controlled by substance. You will note that [128] I say “substance” and not “form” for it is in reality substance which controls spirit for a long, a very long, cycle of expression; it is not matter that controls, for the reason that gross matter is always controlled by the forces which are esoterically regarded as etheric in nature and, therefore, as substance, not form. Remember this at all times for it holds the clue to the true understanding of the lower nature.

Tôi tin rằng sẽ thực sự có giá trị nếu Tôi trình bày cho các bạn những đặc điểm tương phản khác nhau giữa người thông minh và người đệ tử, dùng từ “đệ tử” để bao hàm mọi giai đoạn phát triển, từ đệ tử được chấp nhận đến Chân sư. Không có gì ngoài hệ thống thứ bậc, một thuật ngữ biểu thị sự tiến triển đều đặn từ một trạng thái hiện tồn và tâm thức thấp hơn đến một trạng thái cao hơn. Trong mọi trường hợp, đây là trạng thái tâm thức của một Sinh Mệnh nào đó, chịu sự giới hạn, giam hãm và kiểm soát của chất liệu. Các bạn sẽ nhận thấy rằng [128] Tôi nói “chất liệu” chứ không phải “hình tướng”, vì thật ra chính chất liệu chi phối tinh thần trong một chu kỳ biểu hiện dài, rất dài; không phải vật chất chi phối, vì vật chất thô luôn chịu sự kiểm soát của những mãnh lực mà theo quan điểm huyền bí, bản chất là dĩ thái và do đó là chất liệu, chứ không phải hình tướng. Hãy luôn ghi nhớ điều này, vì nó chứa đựng manh mối để thực sự thấu hiểu bản chất thấp.

[Webinar 135] – [Webinar 135]

We will study, therefore, the basic essential contrasts which the disciple must intuitively grasp and with which he must familiarise himself. We will divide what we have to say into four parts, dealing briefly, but I trust helpfully, with each:

Vì vậy, chúng ta sẽ nghiên cứu những tương phản căn bản, cốt yếu mà người đệ tử phải nắm bắt bằng trực giác và phải làm quen. Chúng ta sẽ chia những điều cần nói thành bốn phần, bàn ngắn gọn về từng phần, nhưng Tôi tin rằng sẽ hữu ích:

a.

The contrast between Illusion and its opposite

Intuition.

b.

The contrast between Glamour and its opposite

Illumination.

c.

The contrast between Maya and its opposite

Inspiration.

d.

The contrast between the Dweller on the Threshold and its opposite

The Angel of the PRESENCE.

This, you will realise, is a large subject and deals with the major problem of the disciple. I would refer you at this point to what I have already said anent these four aspects of glamour, and would ask you to refer with care to the various charts and tabulations which have been given to you from time to time.

Các bạn sẽ nhận ra rằng đây là một chủ đề rộng lớn, liên quan đến vấn đề chính của người đệ tử. Tại điểm này, Tôi muốn hướng các bạn trở lại những điều Tôi đã nói về bốn phương diện này của ảo cảm, và yêu cầu các bạn tham khảo cẩn thận những sơ đồ cùng các bảng đã được cung cấp cho các bạn qua từng thời điểm.

a. The Contrast between Illusion and Intuition.

a. Sự Tương Phản giữa Ảo Tưởng và Trực Giác.

I have chosen this as the first contrast with which to deal as it should (even though it probably may not) constitute the major glamour of the members of this group. Unfortunately the emotional glamour dominates still and, for the majority of you, the second contrast, that between glamour and illumination, may prove the most useful and the most constructive.

Tôi đã chọn đây là sự tương phản đầu tiên để bàn đến, vì nó hẳn phải là ảo cảm chủ yếu của các thành viên trong nhóm này (dù có lẽ thực tế không phải vậy). Đáng tiếc là ảo cảm thuộc cảm xúc vẫn chiếm ưu thế, và đối với đa số các bạn, sự tương phản thứ hai, giữa ảo cảm và soi sáng, có thể tỏ ra hữu ích nhất và có tính xây dựng nhất.

Illusion is the power of some mental thoughtform, of some ideal, and some concept—sensed, grasped and interpreted [129] in mental form—to dominate the mental processes of the individual or of the race and consequently to produce the limitation of the individual or group expression. Such ideas and concepts can be of three kinds, as I realise you should know:

Ảo tưởng là quyền lực của một hình tư tưởng trí tuệ nào đó, một lý tưởng nào đó và một khái niệm nào đó—được cảm nhận, nắm bắt và diễn giải [129] dưới hình tướng trí tuệ—chi phối các tiến trình trí tuệ của cá nhân hoặc nhân loại, và do đó hạn chế sự biểu hiện của cá nhân hoặc nhóm. Những ý tưởng và khái niệm như vậy có thể thuộc ba loại, như Tôi nhận thấy các bạn hẳn đã biết:

1. They can be inherited ideas, as in the case of those who find it so difficult to adjust themselves to the new vision of world life and of social order, as expressed in the newer ideologies. They are powerfully conditioned by their cast, their tradition and their background.

1. Chúng có thể là những ý tưởng được kế thừa, như trường hợp những người thấy rất khó điều chỉnh mình theo tầm nhìn mới về đời sống thế giới và trật tự xã hội, thể hiện trong các hệ tư tưởng mới hơn. Họ chịu ảnh hưởng sâu sắc của đẳng cấp, truyền thống và hoàn cảnh xuất thân của mình.

2. They can be the more modern ideas which are, in the last analysis, the reaction of modern thought to world conditions and situations, and to these many other aspirants are very prone and most naturally so, especially if living in the vortex of force which we call modern Europe. Such modern ideas are construed today into major currents and dominating ideologies, and to these every intelligent person must inevitably react, though they forget that that reaction is based on tradition, or upon national or international predisposition.

2. Chúng có thể là những ý tưởng hiện đại hơn, xét cho cùng là phản ứng của tư tưởng hiện đại trước các điều kiện và tình hình thế giới; nhiều người chí nguyện khác rất dễ ngả theo những ý tưởng này, và điều đó hoàn toàn tự nhiên, nhất là khi họ sống trong xoáy mãnh lực mà chúng ta gọi là châu Âu hiện đại. Ngày nay, những ý tưởng hiện đại ấy được diễn giải thành các trào lưu lớn và những hệ tư tưởng chi phối; mọi người thông minh tất yếu đều phải phản ứng trước chúng, dù họ quên rằng phản ứng ấy dựa trên truyền thống hoặc trên khuynh hướng sẵn có của quốc gia hay quốc tế.

3. They can be the newer dimly sensed ideas which have in them the power to condition the future and lead the modern generation out of darkness into light. None of you as yet really sense these new ideas, though in moments of high meditation and spiritual achievement, you may vaguely and briefly react to them. That reaction may be real just in so far that it conditions, with definiteness, your service to your fellowmen. You can react correctly and can do so increasingly if you preserve your soul’s integrity and are not overcome by the battle and the fever of your surroundings within your chosen field of service.

3. Chúng có thể là những ý tưởng mới hơn, được cảm nhận lờ mờ, mang trong mình quyền năng định hình tương lai và dẫn thế hệ hiện đại ra khỏi bóng tối, bước vào ánh sáng. Chưa ai trong các bạn thực sự cảm nhận được những ý tưởng mới này, dù trong những thời khắc tham thiền cao sâu và thành tựu tinh thần, các bạn có thể phản ứng với chúng một cách mơ hồ và thoáng qua. Phản ứng ấy chỉ có thể là chân thực trong chừng mực nó định hình một cách rõ rệt việc các bạn phụng sự đồng loại. Các bạn có thể phản ứng đúng đắn và ngày càng làm được như vậy nếu giữ gìn tính toàn vẹn của linh hồn mình, không để cuộc đấu tranh và sự sôi sục của môi trường xung quanh trong lĩnh vực phụng sự đã chọn lấn át mình.

[130] A mental illusion might perhaps be described as an idea, embodied in an ideal form, which permits no room or scope for any other form of ideal. It precludes an ability, therefore, to contact ideas. The man is tied to the world of ideals and of idealism. He cannot move away from it. This mental illusion ties and limits and imprisons the man. A good idea may consequently become an illusion with great facility and prove a disastrous conditioning factor in the life of the man who registers it.

[130] Có lẽ có thể mô tả một ảo tưởng trí tuệ là một ý tưởng hiện thân trong một hình tướng lý tưởng, không dành chỗ hay phạm vi cho bất kỳ hình tướng lý tưởng nào khác. Vì vậy, nó ngăn cản khả năng tiếp xúc với các ý tưởng. Con người bị ràng buộc vào thế giới của những lý tưởng và chủ nghĩa lý tưởng. Y không thể rời khỏi thế giới ấy. Ảo tưởng trí tuệ này trói buộc, giới hạn và giam hãm con người. Do đó, một ý tưởng tốt có thể rất dễ trở thành ảo tưởng và tỏ ra là một yếu tố tác động tai hại trong đời sống của người ghi nhận nó.

[Webinar 136] – [Webinar 136]

You might well ask here if the Hierarchy itself is not conditioned by an idea and, therefore, is itself a victim of general and widespread illusion. Apart from the fact that the Directors of the Hierarchy and the Custodians of the Plan are never permitted to become such until they are free from the incentive of illusion, I would remind you that all ideas stream into the planetary consciousness along the channel of the seven rays. Thus, the Hierarchy is wide open, in any case, to the seven major groups of ideas which are the IDEA of God for any specific point in time, expressed in seven major ways—all of them equally right and serving the sevenfold need of humanity. Each of these seven formulations of God’s Idea has its specific contribution to make; each of them is a true idea which has its part to play in human or planetary service; and each of them is so interrelated with the other six expressions of the same divine Idea, working out as ideals upon the mental plane, that there can be no narrowing down to one idea with its ramifications as happens among men. There is, at least, sensitivity to seven groups of ideas and their resultant ideals and—if it were no more than that—the Hierarchy is so far fluid and pliable. But it is far more than just this, for, to the members of the Hierarchy, the idea and its effects are not only interpreted in terms of human thoughtforms and human idealism, but they are also to be contacted and studied in their relation to the [131] Mind of God Himself and to the planetary kingdoms. These ideas come from and they emanate from the buddhic plane, which is seldom open to the consciousness of the average disciple and certainly is not open to the contact of the average idealist. I would here remind you that few idealists are personally in touch with the idea which has given birth to the idealism. They are only in touch with the human interpretation of the idea, as formulated by some disciple or intuitive—a very different thing.

Đến đây, các bạn hoàn toàn có thể hỏi liệu chính Thánh đoàn có chịu tác động của một ý tưởng và do đó cũng là nạn nhân của một ảo tưởng phổ biến, lan rộng hay không. Ngoài sự thật rằng những Vị Chỉ Đạo Thánh đoàn và những Vị Gìn Giữ Thiên Cơ không bao giờ được phép đảm nhiệm những vai trò ấy cho đến khi thoát khỏi động lực của ảo tưởng, Tôi muốn nhắc các bạn rằng mọi ý tưởng đều tuôn vào tâm thức hành tinh theo kênh của bảy cung. Vì vậy, trong bất kỳ trường hợp nào, Thánh đoàn cũng hoàn toàn rộng mở trước bảy nhóm ý tưởng chính, vốn là Ý TƯỞNG của Thượng đế ở bất kỳ thời điểm cụ thể nào, được biểu hiện theo bảy cách chính—tất cả đều đúng đắn như nhau và đáp ứng nhu cầu thất phân của nhân loại. Mỗi cách trình bày trong bảy cách trình bày Ý Tưởng của Thượng đế đều có phần đóng góp riêng; mỗi cách đều là một ý tưởng chân thực, có vai trò trong việc phụng sự nhân loại hoặc hành tinh; và mỗi cách đều liên hệ mật thiết với sáu biểu hiện còn lại của cùng Ý Tưởng thiêng liêng ấy, đang triển khai thành những lý tưởng trên cõi trí, đến mức không thể có sự thu hẹp vào một ý tưởng cùng các nhánh phát triển của nó như thường xảy ra nơi con người. Ít nhất, có sự nhạy cảm với bảy nhóm ý tưởng và những lý tưởng phát sinh từ chúng; và—dù chỉ có thế thôi—Thánh đoàn cũng đã linh động và linh hoạt đến mức ấy. Nhưng điều này còn vượt xa hơn thế, vì đối với các thành viên của Thánh đoàn, ý tưởng và những tác động của nó không chỉ được diễn giải theo các hình tư tưởng và chủ nghĩa lý tưởng của con người, mà còn phải được tiếp xúc và nghiên cứu trong mối quan hệ với [131] Trí của chính Thượng đế và với các giới hành tinh. Những ý tưởng này đến từ và phát xạ từ cõi Bồ đề, vốn hiếm khi mở ra cho tâm thức của người đệ tử trung bình, và chắc chắn không mở ra cho sự tiếp xúc của người theo lý tưởng trung bình. Ở đây, Tôi muốn nhắc các bạn rằng rất ít người theo lý tưởng trực tiếp tiếp xúc với ý tưởng đã làm nảy sinh chủ nghĩa lý tưởng ấy. Họ chỉ tiếp xúc với cách con người diễn giải ý tưởng, do một đệ tử hoặc một người có trực giác nào đó trình bày—một điều rất khác.

[Webinar 137] – [Webinar 137]

An illusion can, therefore, be defined as the consequence of an idea (translated into ideal) being regarded as the entire presentation, as the complete story or solution and as being separated from and visioned independently of all other ideas—both religious in nature or apparently completely unrelated to religion. In this statement lies the story of separation and of man’s inability to relate the various implications of a divine idea with each other. When visioned and grasped in a narrow and separative manner, there is necessarily a distortion of the truth, and the disciple or aspirant inevitably pledges himself to a partial aspect of reality or of the Plan and not to the truth as far as it can be revealed or to the Plan as the Members of the Hierarchy know it. This illusion evokes in the disciple or idealist an emotional reaction which immediately feeds desire and consequently shifts off the mental plane on to the astral; a desire is thus evoked for a partial and inadequate ideal and thus the idea cannot arrive at full expression, because its exponent sees only this partial ideal as the whole truth and cannot, therefore, grasp its social and planetary and its cosmic implications.

Do đó, có thể định nghĩa ảo tưởng là hệ quả của việc xem một ý tưởng (đã chuyển thành lý tưởng) như toàn bộ sự trình bày, như toàn bộ câu chuyện hoặc giải pháp, và như một điều tách biệt, được nhìn nhận độc lập với mọi ý tưởng khác—dù mang bản chất tôn giáo hay có vẻ hoàn toàn không liên quan đến tôn giáo. Chính trong phát biểu này có câu chuyện về sự chia rẽ và việc con người không thể liên hệ các hàm ý khác nhau của một ý tưởng thiêng liêng với nhau. Khi nhìn nhận và nắm bắt một cách hẹp hòi, chia rẽ, tất yếu sẽ có sự bóp méo chân lý, và người đệ tử hoặc người chí nguyện không tránh khỏi việc cam kết với một phương diện phiến diện của thực tại hoặc của Thiên Cơ, chứ không phải với chân lý trong chừng mực chân lý có thể hiển lộ, hay với Thiên Cơ như các Thành Viên của Thánh đoàn biết đến. Ảo tưởng này khơi dậy trong người đệ tử hoặc người theo lý tưởng một phản ứng cảm xúc, lập tức nuôi dưỡng dục vọng và do đó chuyển từ cõi trí sang cõi cảm dục; như vậy, dục vọng đối với một lý tưởng phiến diện và không đầy đủ được khơi dậy, và ý tưởng không thể đạt tới sự biểu hiện trọn vẹn, vì người truyền bá nó chỉ thấy lý tưởng phiến diện này là toàn bộ chân lý, nên không thể nắm bắt những hàm ý xã hội, hành tinh và vũ trụ của nó.

Where there is a real grasp of the whole idea (a rare thing indeed) there can be no illusion. The idea is so much bigger than the idealist that humility saves him from narrowness. Where there is illusion (which is usual and commonplace) [132] and a vague interpretive reaction to an idea, we find emerging fanatics, vague idealists, sadistic enforcers of the idea as grasped, one-pointed and narrow men and women, seeking to express their interpretation of God’s idea, and limited, cramped visionaries. Such illusionary picturing of reality and such visionary showing forth of the idea has been both the pride and the curse of the world. It is one of the factors which has brought our modern world to its sorry pass, and it is from this misuse of the divine faculty of touching the idea and transforming it into the ideal that the world is today suffering—probably inevitably. The imposition of these humanly and mentally interpreted ideas in the form of limited ideologies has had a sorry effect upon men. They need to learn to penetrate to the true idea which lies behind their ideal and to interpret it with accuracy in the light of their soul, besides employing those methods which have the warrant and the sanction of LOVE. It is, for instance, no illusion that the idea which finds expression in the statement that “all men are equal” is a fact which needs emphasis. This has been seized upon by the democratically inclined. It is indeed a statement of fact, but when no allowance is made for the equally important ideas of evolution, of racial attributes, and of national and religious characteristics, then the basic idea receives only limited application. Hence the enforced ideological systems of our modern times and of the present day, and the rapid growth of ideological illusions, which are nevertheless based on a true idea—each and all without any exception. It is again no illusion that the development of the Christ consciousness is the goal of the human family, but when it is interpreted in terms of authoritative religion and by those in whom the Christ consciousness is as yet undeveloped, it becomes simply a nice concept and often a sadistic incentive and thus enters immediately into the realm of illusion. [133]

Ở đâu có sự nắm bắt thực sự toàn bộ ý tưởng (quả thật là một điều hiếm có), ở đó không thể có ảo tưởng. Ý tưởng lớn lao hơn người theo lý tưởng rất nhiều, nên sự khiêm nhường cứu y khỏi tính hẹp hòi. Ở đâu có ảo tưởng (vốn là điều thường thấy và phổ biến) [132] và một phản ứng diễn giải mơ hồ trước một ý tưởng, chúng ta thấy xuất hiện những kẻ cuồng tín, những người theo lý tưởng mơ hồ, những kẻ áp đặt ý tưởng theo cách mình nắm bắt với tính tàn bạo, những người nam và nữ nhất tâm nhưng hẹp hòi, tìm cách biểu hiện cách họ diễn giải ý tưởng của Thượng đế, và những người có tầm nhìn nhưng bị giới hạn, bó hẹp. Việc hình dung thực tại đầy ảo tưởng như thế và việc trình bày ý tưởng theo tầm nhìn như thế vừa là niềm kiêu hãnh vừa là tai họa của thế giới. Đó là một trong những yếu tố đã đưa thế giới hiện đại của chúng ta đến tình cảnh đáng buồn này; và chính vì sự lạm dụng năng lực thiêng liêng tiếp xúc với ý tưởng rồi chuyển đổi nó thành lý tưởng mà thế giới ngày nay đang đau khổ—có lẽ không thể tránh khỏi. Việc áp đặt những ý tưởng do con người diễn giải bằng trí tuệ này dưới hình thức các hệ tư tưởng giới hạn đã gây tác động đáng buồn lên con người. Họ cần học cách thâm nhập vào ý tưởng chân thực nằm sau lý tưởng của mình và diễn giải nó chính xác trong ánh sáng của linh hồn, đồng thời sử dụng những phương pháp có sự bảo đảm và chuẩn thuận của TÌNH THƯƠNG. Chẳng hạn, không phải là ảo tưởng khi cho rằng ý tưởng thể hiện trong phát biểu “mọi người đều bình đẳng” là một sự thật cần được nhấn mạnh. Những người có khuynh hướng dân chủ đã nắm lấy ý tưởng này. Quả thật, đó là một phát biểu về sự thật, nhưng khi không xét đến những ý tưởng cũng quan trọng không kém về tiến hoá, về các thuộc tính của nhân loại, và về những đặc điểm quốc gia và tôn giáo, thì ý tưởng căn bản ấy chỉ được áp dụng một cách giới hạn. Từ đó xuất hiện những hệ thống tư tưởng bị áp đặt trong thời hiện đại và hiện nay, cùng sự gia tăng nhanh chóng của các ảo tưởng về hệ tư tưởng, dù mỗi ảo tưởng ấy, không có bất kỳ ngoại lệ nào, đều dựa trên một ý tưởng chân thực. Cũng không phải là ảo tưởng khi cho rằng sự phát triển tâm thức Đức Christ là mục tiêu của gia đình nhân loại; nhưng khi điều này được diễn giải theo tôn giáo mang tính áp đặt quyền uy, và do những người mà tâm thức Đức Christ chưa phát triển diễn giải, nó chỉ trở thành một khái niệm đẹp đẽ, và thường là một động lực tàn bạo, do đó lập tức đi vào lĩnh vực ảo tưởng. [133]

[Webinar 138] – [Webinar 138]

I cite these two illustrations, out of many possible ones, so that you may realise how illusions come, how they develop and how they must eventually disappear; thus you can achieve some standard of comparison whereby to grasp the relative value of the true and the false, of the immediately temporal and the basic eternality of the real.

Tôi nêu hai minh họa này trong số nhiều minh họa có thể có, để các bạn nhận ra ảo tưởng xuất hiện như thế nào, phát triển ra sao và cuối cùng phải biến mất thế nào; nhờ đó, các bạn có thể đạt được một chuẩn mực so sánh để nắm bắt giá trị tương đối của cái thật và cái giả, của cái nhất thời trước mắt và tính vĩnh cửu căn bản của cái thực.

It will, therefore, be apparent to you that the lower or concrete levels of the mental plane will have acquired or accumulated—down the ages—a vast number of ideas, which have been formulated as ideals, clothed in mental matter, nourished by the vitality of those who have recognised as much of the truth of the idea as they are capable of expressing and who have given to these ideals the emphasis of their thoughtform-making faculty and their directed attention, which necessarily implies the energising of the limited formulated ideal because—as you know—energy follows thought.

Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ rằng các cấp độ thấp hay cụ thể của cõi trí đã thu nhận hoặc tích lũy—qua nhiều thời đại—một số lượng ý tưởng khổng lồ. Những ý tưởng này đã được trình bày thành các lý tưởng, khoác lấy vật chất trí tuệ, được nuôi dưỡng bằng sinh lực của những người đã nhận biết phần chân lý của ý tưởng trong chừng mực họ có khả năng biểu hiện, và đã nhấn mạnh các lý tưởng này bằng năng lực tạo hình tư tưởng cùng sự chú ý có định hướng của mình. Điều đó tất yếu hàm ý việc tiếp năng lượng cho lý tưởng giới hạn đã được định hình, vì—như các bạn biết—năng lượng đi theo tư tưởng.

These forms of thought become objectives towards which the subjective reality, man, reaches and with which he identifies himself for long periods of time; into them, he projects himself, thus vitalising them and giving them life and persistence. They become part of him; they condition his reactions and activities; they feed his desire nature and consequently assume undue importance, creating a barrier (of varying density, according to the extent of the identification) between the man in incarnation and the reality which is his true Being.

Những hình tư tưởng này trở thành các mục tiêu mà thực tại chủ quan, tức con người, vươn tới và đồng hoá với trong những thời gian dài; y phóng chiếu mình vào chúng, nhờ đó tiếp sinh lực, ban cho chúng sự sống và sức tồn tại bền bỉ. Chúng trở thành một phần của y; chúng định hình các phản ứng và hoạt động của y; chúng nuôi dưỡng bản chất dục vọng của y và do đó trở nên quan trọng quá mức, tạo ra một rào chắn (có độ đậm đặc khác nhau, tùy theo mức độ đồng hoá) giữa con người đang lâm phàm và thực tại vốn là Bản Thể chân thực của y.

There is no need for me here to itemise any of these prevailing thoughtforms and aspects of intellectual and mental illusion. I would not have you think for a moment that the embodied idea, which we call an ideal, is in itself an illusion. It only becomes so when it is regarded as an end in itself instead of being what it essentially is, a means to an end. An ideal, rightly grasped and used, provides a temporary [134] aid towards the attainment of immediate and imminent reality which it is the goal of the man or the race, at any particular time, to reach. The idea before the race today is the re-establishing (upon a higher turn of the spiral) of that spiritual relationship which characterised the race in its child state, in its primitive condition. Then, under the wise guidance and the paternalistic attitude of the Hierarchy and the initiate-priests of the time, men knew themselves to be one family—a family of brothers—and achieved this through a feeling and a developed sensuous perception. Today, under the name of Brotherhood, the same idea is seeking mental form and the establishment of a renewed spiritual relationship (the idea) through training in right human relations (the ideal). This is the immediate goal of humanity.

Ở đây, Tôi không cần liệt kê bất kỳ hình tư tưởng thịnh hành nào hay phương diện nào của ảo tưởng thuộc trí năng và trí tuệ. Tôi không muốn các bạn dù chỉ trong chốc lát nghĩ rằng ý tưởng đã hiện thân, mà chúng ta gọi là lý tưởng, chính nó là một ảo tưởng. Nó chỉ trở thành ảo tưởng khi được xem là mục đích tự nó, thay vì là điều mà nó vốn có trong bản chất: một phương tiện để đạt mục đích. Một lý tưởng, khi được nắm bắt và sử dụng đúng đắn, đem lại sự trợ giúp tạm thời [134] để đạt tới thực tại trước mắt và sắp hiện hữu, mà con người hoặc nhân loại hướng tới như mục tiêu ở bất kỳ thời điểm cụ thể nào. Ý tưởng đặt trước nhân loại ngày nay là tái lập (trên một vòng xoắn ốc cao hơn) mối quan hệ tinh thần từng là đặc trưng của nhân loại trong thời thơ ấu, trong tình trạng nguyên sơ. Khi ấy, dưới sự hướng dẫn minh triết và thái độ dìu dắt như người cha của Thánh đoàn cùng các tư tế–điểm đạo đồ đương thời, con người biết mình thuộc về một gia đình—một gia đình gồm các huynh đệ—và đạt được điều này qua cảm nhận cùng tri giác giác quan đã phát triển. Ngày nay, dưới tên gọi Tình Huynh Đệ, chính ý tưởng ấy đang tìm kiếm hình tướng trí tuệ và sự thiết lập một mối quan hệ tinh thần được đổi mới (ý tưởng) thông qua việc huấn luyện các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người (lý tưởng). Đây là mục tiêu trước mắt của nhân loại.

[Webinar 139] – [Webinar 139]

This result will be inevitably brought about by means of the cycle of necessity through which we are now passing and the dimly sensed idea will—as a result of dire necessity—impose its rhythm upon the race and thus force the realisation of true Being upon all men. If a close study is made of the basic foundation of all the ideologies without excepting any, it will be discovered that this idea of integral relationships (often distorted in presentation and hidden through wrong methods), of spiritual objectives and of definite positive brotherly activity lies behind every outer form. I have used the current situation as an illustration of the idea taking form as the ideal and, alas, brother of mine, oft becoming the idol and the fanatical misunderstood and over-emphasised goal of the masses, under the guidance of some pronounced idealist. An ideal is a temporary expression of a basic idea; it is not intended to be permanent but simply to serve a need and to indicate a way out of the past into a more adequate future. All the present ideals, expressing themselves through the current ideologies, will serve their [135] purpose and eventually pass away, as all else has passed in the history of the race and will give place, eventually, to a recognised spiritual relationship, a subjective fellowship, as a defined and expressed brotherhood. These will produce, when sufficiently developed and understood, a form of control and guidance and a species of government which it is not possible for even advanced thinkers at this time to grasp.

Kết quả này tất yếu sẽ xuất hiện nhờ chu kỳ tất yếu mà chúng ta hiện đang trải qua; và ý tưởng được cảm nhận lờ mờ ấy—do nhu cầu cấp bách—sẽ áp đặt nhịp điệu của nó lên nhân loại, qua đó buộc mọi người nhận biết Bản Thể chân thực. Nếu nghiên cứu kỹ nền tảng căn bản của tất cả các hệ tư tưởng, không trừ một hệ nào, người ta sẽ phát hiện rằng đằng sau mọi hình tướng bên ngoài đều có ý tưởng này về các mối quan hệ toàn vẹn (thường bị bóp méo trong cách trình bày và bị che khuất qua những phương pháp sai lầm), về các mục tiêu tinh thần và về hoạt động huynh đệ rõ ràng, tích cực. Tôi đã dùng tình hình hiện nay để minh họa cho ý tưởng đang thành hình như lý tưởng và, than ôi, huynh đệ của Tôi, thường trở thành thần tượng và mục tiêu cuồng tín, bị hiểu sai và nhấn mạnh quá mức của quần chúng, dưới sự hướng dẫn của một người theo lý tưởng nổi bật nào đó. Một lý tưởng là sự biểu hiện tạm thời của một ý tưởng căn bản; nó không nhằm tồn tại vĩnh viễn, mà chỉ nhằm đáp ứng một nhu cầu và chỉ ra con đường thoát khỏi quá khứ để bước vào một tương lai thích hợp hơn. Mọi lý tưởng hiện nay, đang biểu hiện qua các hệ tư tưởng đương thời, sẽ hoàn thành [135] mục đích của chúng và cuối cùng sẽ qua đi, như mọi điều khác đã qua đi trong lịch sử nhân loại; cuối cùng, chúng sẽ nhường chỗ cho một mối quan hệ tinh thần được nhận biết, một tình thân hữu chủ quan, dưới hình thức một tình huynh đệ được xác định và biểu hiện. Khi phát triển đầy đủ và được thấu hiểu, những điều này sẽ tạo ra một hình thức kiểm soát và hướng dẫn, cùng một kiểu quản trị mà ngay cả các nhà tư tưởng tiến bộ hiện nay cũng không thể nắm bắt.

When ideals and mental concepts and formulated thoughtforms dominate the mind of an individual, a race or humanity in general, to the exclusion of all perspective or vision and to the shutting out of the real, then they constitute an illusion for as long as they control the mind and method of life. They prevent the free play of the intuition, with its real power to reveal the immediate future; they frequently exclude in their expression the basic principle of the solar system, Love, through the imposed control of some secondary and temporary principle; they can thus constitute a “forbidding dark cloud of rain” which serves to hide from view the “raincloud of knowable things” (to which Patanjali refers in his final book)—that cloud of wisdom which hovers over the lower mental plane and which can be tapped and used by students and aspirants through the free play of the intuition.

Khi các lý tưởng, các khái niệm trí tuệ và những hình tư tưởng đã được định hình chi phối thể trí của một cá nhân, một dân tộc hoặc nhân loại nói chung, loại trừ mọi góc nhìn hay tầm nhìn và ngăn cái thực ở bên ngoài, thì chúng tạo thành một ảo tưởng chừng nào còn kiểm soát thể trí và cách sống. Chúng ngăn cản sự vận hành tự do của trực giác, với quyền năng thực sự mặc khải tương lai trước mắt; trong sự biểu hiện của mình, chúng thường loại trừ nguyên khí căn bản của hệ mặt trời, Tình thương, bằng sự kiểm soát áp đặt của một nguyên khí thứ yếu và tạm thời nào đó; do vậy, chúng có thể tạo thành một “đám mây mưa đen tối đáng sợ”, che khuất “đám mây mưa của những điều khả tri” (mà Patanjali đề cập trong quyển cuối cùng của mình)—đám mây minh triết lơ lửng trên cõi hạ trí, mà các đạo sinh và người chí nguyện có thể khai thác, sử dụng nhờ sự vận hành tự do của trực giác.

[Webinar 140] – [Webinar 140]

Let us now consider the intuition, which is the opposite of illusion, remembering that illusion imprisons a man upon the mental plane and surrounds him entirely with man-made thoughtforms, barring out escape into the higher realms of awareness or into that loving service which must be given in the lower worlds of conscious, manifested effort.

Giờ đây, chúng ta hãy xét trực giác, vốn đối lập với ảo tưởng, và nhớ rằng ảo tưởng giam hãm con người trên cõi trí, bao quanh y hoàn toàn bằng những hình tư tưởng do con người tạo ra, ngăn y thoát lên những lĩnh vực nhận biết cao hơn hoặc bước vào việc phụng sự đầy tình thương phải được thực hiện trong các cõi thấp của nỗ lực hữu thức đã biểu hiện.

The major point I would seek to make here is that the intuition is the source or the bestower of revelation. Through the intuition, progressive understanding of the ways of God in the world and on behalf of humanity are [136] revealed; through the intuition, the transcendence and the immanence of God is sequentially grasped and man can enter into that pure knowledge, that inspired reason, which will enable him to comprehend not only the processes of nature in its fivefold divine expression but also the underlying causes of these processes, proving them effects and not initiatory events; through the intuition man arrives at the experience of the kingdom of God, and discovers the nature, the type of lives and of phenomena, and the characteristics of the Sons of God as They come into manifestation. Through the intuition, some of the plans and purposes working out through the manifested created worlds are brought to his attention, and he is shown in what way he and the rest of humanity can cooperate and hasten the divine purpose; through the intuition, the laws of the spiritual life, which are the laws governing God Himself, conditioning Shamballa, and guiding the Hierarchy, are brought to his notice progressively and as he proves capable of appreciating them and working them.

Điểm chính Tôi muốn nêu ở đây là trực giác chính là nguồn hoặc tác nhân ban phát sự mặc khải. Qua trực giác, sự thấu hiểu ngày càng sâu về những cách thức Thượng đế hoạt động trong thế giới và vì nhân loại [136] được mặc khải; qua trực giác, con người lần lượt nắm bắt tính siêu việt và tính nội tại của Thượng đế, và có thể đi vào tri thức thuần khiết, lý trí được cảm hứng ấy, nhờ đó thấu hiểu không chỉ các tiến trình của tự nhiên trong sự biểu hiện thiêng liêng ngũ phân, mà còn cả những nguyên nhân nền tảng của các tiến trình này, chứng tỏ chúng là những kết quả chứ không phải những sự kiện khởi phát; qua trực giác, con người đạt tới trải nghiệm về Thiên Giới, khám phá bản chất, các loại sự sống và hiện tượng, cùng những đặc điểm của các Con của Thượng đế khi Các Ngài đi vào biểu hiện. Qua trực giác, y nhận biết một số Thiên Cơ và mục đích đang triển khai qua các thế giới thụ tạo đã biểu hiện, và thấy cách mình cùng phần còn lại của nhân loại có thể hợp tác, đẩy nhanh sự thực hiện Thiên Ý; qua trực giác, các định luật của đời sống tinh thần—những định luật chi phối chính Thượng đế, định hình Shamballa và hướng dẫn Thánh đoàn—dần dần được đưa vào tầm nhận biết của y, khi y chứng tỏ khả năng lĩnh hội và vận dụng chúng.

Four types of people are subject to revelation through the awakening of the intuition:

Bốn loại người đón nhận sự mặc khải thông qua sự thức tỉnh trực giác:

1. Those on the line of the world saviours. These touch and sense the divine plan and are pledged to service, and to work for the salvation of humanity. They are found expressing different and varying degrees of realisation, stretching all the way from the man who seeks to reveal divinity in his own life and to his immediate small circle (through the medium of the changes and effects wrought in his personal life) to those great Intuitives and world Saviours, such as the Christ. The former is motivated in all probability by some one intuitive crisis which entirely remade him and gave him a new sense of values; the latter can, at will, rise into the world of intuitive perception and [137] values and there ascertain the will of God and a wide vision of the Plan. Such great Representatives of Deity have the freedom of the Holy City (Shamballa) and of the New Jerusalem (the Hierarchy). They are thus unique in their contacts and there have been relatively few of Them as yet.

1. Những người đi theo đường hướng của các đấng cứu thế. Những người này tiếp xúc và cảm nhận Thiên Cơ, cam kết phụng sự và làm việc để cứu độ nhân loại. Họ biểu hiện những mức độ chứng nghiệm khác nhau, trải suốt từ người tìm cách mặc khải thiên tính trong đời sống của mình và cho nhóm nhỏ gần gũi quanh mình (thông qua những thay đổi và tác động diễn ra trong đời sống cá nhân), đến những Đấng có Trực Giác vĩ đại và những Đấng Cứu Thế như Đức Christ. Người thuộc loại thứ nhất rất có thể được thúc đẩy bởi một cuộc khủng hoảng trực giác nào đó, đã hoàn toàn đổi mới y và đem lại cho y một ý thức mới về các giá trị; những Đấng thuộc loại thứ hai có thể tùy ý vươn lên thế giới của tri giác trực giác và [137] các giá trị, và tại đó xác định Ý Chí của Thượng Đế cùng một tầm nhìn rộng lớn về Thiên Cơ. Những Vị Đại Diện vĩ đại như thế của Thượng đế có quyền tự do ra vào Thánh Đô (Shamballa) và Jerusalem Mới (Thánh đoàn). Vì vậy, Các Ngài độc đáo trong những mối tiếp xúc của mình, và cho đến nay số lượng Các Ngài còn tương đối ít.

[Webinar 141] – [Webinar 141]

2. Those who are on the line of the prophets. These touch the Plan at high intuitive moments and know what the immediate future holds. I do not refer here to the Hebrew prophets, so familiar to the West, but to all who see clearly what should be done to lead humanity out of darkness into light, beginning with the situation as it is and looking forward into a future of divine consummation. They have a clear picture in their minds of what is possible to accomplish, and the power to point it out to the people of their time. They necessarily range all the way from those who have a relatively clear vision of the cosmic picture and objectives to those who simply see the next step ahead for the race or the nation. Isaiah and Ezekiel are the only two of the Hebrew prophets who had true prophetic and cosmic vision. The others were small, but intelligent men who, from analysis and deduction, assessed the immediate future and indicated immediate possibilities. They had no direct revealing intuition. In the New Testament, John, the beloved disciple, was privileged to gain a cosmic picture and a true prophetic vision which he embodied in the Apocalypse, but he is the only one who so achieved and he achieved because he loved so deeply, so wisely and so inclusively. His intuition was evoked through the depth and intensity of his love—as it was in his Master, the Christ.

2. Những người đi theo đường hướng của các nhà tiên tri. Những người này tiếp xúc với Thiên Cơ trong những thời khắc trực giác cao sâu và biết tương lai trước mắt chứa đựng điều gì. Ở đây, Tôi không nói đến các nhà tiên tri Do Thái vốn rất quen thuộc với phương Tây, mà nói đến tất cả những người thấy rõ cần làm gì để dẫn nhân loại ra khỏi bóng tối, bước vào ánh sáng, bắt đầu từ tình hình thực tế và hướng tới một tương lai thành tựu thiêng liêng trọn vẹn. Trong thể trí, họ có một hình ảnh rõ ràng về những gì có thể thực hiện, cùng quyền năng chỉ ra điều đó cho người đương thời. Họ tất yếu trải suốt từ những người có tầm nhìn tương đối rõ về bức tranh và các mục tiêu vũ trụ, đến những người chỉ đơn giản thấy bước tiếp theo trước mắt của nhân loại hoặc quốc gia. Isaiah và Ezekiel là hai nhà tiên tri Do Thái duy nhất có tầm nhìn tiên tri và vũ trụ chân thực. Những người khác là những người có tầm vóc nhỏ bé nhưng thông minh; qua phân tích và suy luận, họ đánh giá tương lai trước mắt và chỉ ra những khả năng trước mắt. Họ không có trực giác mặc khải trực tiếp. Trong Tân Ước, Gioan, người đệ tử được yêu thương, có đặc ân đạt được một bức tranh vũ trụ và một tầm nhìn tiên tri chân thực, mà y thể hiện trong sách Khải Huyền; nhưng y là người duy nhất đạt được như vậy, và y đạt được vì đã yêu thương sâu sắc, minh triết và bao gồm đến thế. Trực giác của y được khơi dậy qua chiều sâu và cường độ tình thương—cũng như nơi Chân sư của y, Đức Christ.

3. Those who are the true priests. They are priests by spiritual calling and not by choice. It is the misunderstanding of the province and duties of a priest which has led all the Churches (in the East and in the West) to their disastrous [138] authoritarian position. The love of God, and the true spiritual incentive which recognises God immanent in all nature and peculiarly expressing that divinity in man, is lacking in the bulk of the priesthood in all the world religions. Love is not the guide, the indicator and the interpreter. Hence the dogmatism of the theologian, his ridiculous and profound assurances of correct interpretation, and his oft-times cruelty, cloaked by his claim of right principles and good intentions. But the true priest exists and is found in all religions. He is the friend and the brother of all and, because he loves deeply, wisdom is his and (if he is of a mental type and training) his intuition is awakened and revelation is his reward. Ponder on this. The true priest is rare and is not found only in the so-called “holy orders”.

3. Những người là các tư tế chân chính. Họ là tư tế do tiếng gọi tinh thần, chứ không do lựa chọn. Chính sự hiểu sai về phạm vi và bổn phận của một tư tế đã dẫn mọi Giáo hội (ở phương Đông và phương Tây) đến lập trường [138] độc đoán tai hại. Phần lớn hàng tư tế trong mọi tôn giáo trên thế giới thiếu tình thương đối với Thượng đế và thiếu động lực tinh thần chân thực vốn nhận biết Thượng đế nội tại trong toàn bộ tự nhiên, biểu hiện thiên tính ấy một cách đặc biệt nơi con người. Tình thương không phải là yếu tố hướng dẫn, chỉ đường và diễn giải. Từ đó nảy sinh tính giáo điều của nhà thần học, những lời quả quyết vừa nực cười vừa hết sức chắc chắn của y về cách diễn giải đúng đắn, cùng sự tàn nhẫn thường thấy, được che đậy bằng lời khẳng định rằng y có những nguyên khí đúng đắn và ý định tốt đẹp. Nhưng tư tế chân chính vẫn tồn tại và có mặt trong mọi tôn giáo. Y là bạn và huynh đệ của tất cả mọi người; vì yêu thương sâu sắc, y có minh triết, và (nếu thuộc loại trí tuệ và được đào luyện về trí tuệ) trực giác của y thức tỉnh, còn sự mặc khải là phần thưởng dành cho y. Hãy suy ngẫm điều này. Tư tế chân chính rất hiếm và không chỉ có trong cái gọi là “hàng giáo phẩm”.

4. Those who are the practical mystics or occultists. These, by virtue of a disciplined life, an ardent aspiration, and a trained intellect, have succeeded in evoking the intuition and are, therefore, personally in touch with the true source of divine wisdom. This, it is their function to interpret and to formulate into temporary systems of knowledge. There are many such, working patiently today in the world, unrecognised and unsought by the unthinking. Their need today is to “assemble themselves” in this hour of the world need and so let their voice be clearly heard. These people are resolving the sense of duality into a known unity, and their preoccupation with reality and their deep love of humanity have released the intuition. When this release has taken place, no barriers are felt and true knowledge as a result of revealed wisdom is the gift which such people have, to give to their race and time.

4. Những người là các nhà thần bí hoặc nhà huyền bí học thực hành. Nhờ một đời sống có kỷ luật, khát vọng nhiệt thành và trí năng được rèn luyện, những người này đã thành công trong việc khơi dậy trực giác, và do đó trực tiếp tiếp xúc với nguồn minh triết thiêng liêng chân thực. Chức năng của họ là diễn giải minh triết ấy và trình bày nó thành những hệ thống tri thức tạm thời. Ngày nay, có nhiều người như vậy đang kiên nhẫn làm việc trên thế giới, không được những người thiếu suy nghĩ nhận biết hoặc tìm đến. Điều họ cần làm hiện nay là “tập hợp lại” trong giờ phút thế giới đang cần này, để tiếng nói của họ được nghe rõ. Những người này đang giải quyết cảm nhận về nhị nguyên thành một sự hợp nhất đã được nhận biết; sự chuyên tâm vào thực tại và tình thương sâu sắc đối với nhân loại của họ đã giải phóng trực giác. Khi sự giải phóng này diễn ra, họ không còn cảm thấy rào chắn nào, và tri thức chân thực, kết quả của minh triết được mặc khải, là món quà họ có để trao cho nhân loại và thời đại của mình.

These are the four groups who are exchanging illusion for the intuition. This is the initial resolution of the pairs of opposites, for there is no such resolution without the aid of the intellect, because the intellect—through analysis, discrimination [139] and right reasoning—indicates what should be done.

Đây là bốn nhóm đang thay thế ảo tưởng bằng trực giác. Đây là sự giải quyết ban đầu các cặp đối cực, vì không thể có sự giải quyết như thế nếu thiếu sự trợ giúp của trí năng, bởi trí năng—thông qua phân tích, phân biện [139] và lập luận đúng đắn—chỉ ra những gì cần làm.

b. The Contrast between Glamour and Illumination

b. Sự Tương Phản giữa Ảo Cảm và Soi Sáng

One of the aptest symbols by which one can gather some picture of the nature of glamour is to picture the astral plane on three of its levels (the second, third and fourth, counting from the top downwards) as a land shrouded in a thick fog of varying densities. The ordinary light of the ordinary man, which is similar to the headlights of a car and their self-sufficient blaze, serves only to intensify the problem and fails to penetrate into the mists and the fog. It simply throws it into relief so that its density and its deterring effects become the more apparent. The condition of fog is revealed—but that is all. So it is on the astral plane in relation to glamour; the light which is in man, self-induced and self-generated, fails ever to penetrate into or to dissipate the gloom and the foggy miasmic conditions. The only light which can dissipate the fogs of glamour and rid the life of its ill effects is that of the soul, which—like a pure dispelling beam—possesses the curious and unique quality of revelation, of immediate dissipation, and of illumination. The revelation vouchsafed is different to that of the intuition for it is the revelation of that which the glamour veils and hides, which is a revelation unique to the astral plane and conditioned by its laws. This particular utilisation of soul light takes the form of a focussed concentration of the light (emanating from the soul, via the mind) upon the state of glamour—particular or specific, or general and world-wide—so that the nature of the glamour is revealed, its quality and basis is discovered, and its power is brought to an end by a steady, prolonged period of concentration which is given to the dispelling of the condition.

Một trong những biểu tượng thích hợp nhất để hình dung phần nào bản chất của ảo cảm là hình dung cõi cảm dục, trên ba cấp độ của nó (thứ hai, thứ ba và thứ tư, tính từ trên xuống), như một vùng đất phủ trong màn sương mù dày đặc với những mật độ khác nhau. Ánh sáng thông thường của người bình thường, tương tự đèn pha của một chiếc xe cùng luồng sáng tự đủ của chúng, chỉ làm vấn đề trầm trọng hơn và không xuyên thấu được màn sương và sương mù. Nó chỉ làm màn sương nổi bật lên, khiến độ dày và tác động cản trở của màn sương càng rõ rệt. Tình trạng sương mù được phơi bày—nhưng chỉ có thế. Trên cõi cảm dục, đối với ảo cảm cũng vậy; ánh sáng trong con người, do chính y khơi dậy và tạo ra, không bao giờ xuyên thấu hoặc làm tiêu tan bóng tối và những tình trạng mù sương đầy khí độc. Ánh sáng duy nhất có thể làm tiêu tan sương mù của ảo cảm và loại bỏ những tác động xấu của nó khỏi đời sống là ánh sáng của linh hồn; ánh sáng ấy—như một tia sáng thuần khiết có sức xua tan—mang phẩm tính kỳ lạ và độc đáo của sự mặc khải, sự làm tiêu tan tức thời và sự soi sáng. Sự mặc khải được ban cho khác với sự mặc khải của trực giác, vì đó là sự mặc khải những gì ảo cảm che phủ và giấu kín; đây là sự mặc khải riêng biệt của cõi cảm dục và chịu tác động của các định luật cõi ấy. Cách sử dụng đặc biệt này đối với ánh sáng linh hồn mang hình thức tập trung ánh sáng (phát xạ từ linh hồn, qua thể trí) vào tình trạng ảo cảm—riêng biệt hoặc cụ thể, hay tổng quát và toàn thế giới—để bản chất của ảo cảm hiển lộ, phẩm tính và nền tảng của nó được khám phá, và quyền lực của nó chấm dứt nhờ một thời gian tập trung kiên định, kéo dài, dành cho việc xua tan tình trạng ấy.

[140] In our next section we will deal in detail with the technique of this scientific use of light and, therefore, I will not elaborate the theme at this point. I will only deal with that much of it as will enable you, as a group, to begin your long awaited work upon the problem of dispelling the present world glamour—at least in some of its aspects. I am not defining glamour in this place or giving you instances of its activity as I did in the case of illusion and its contrasting correspondence, the intuition, because I covered the ground very thoroughly in the section immediately preceding, and you have only to refer to that section to read all that I am prepared to give you at this time.

[140] Trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ bàn chi tiết về kỹ thuật sử dụng ánh sáng một cách khoa học này, nên ở đây Tôi sẽ không triển khai thêm chủ đề ấy. Tôi sẽ chỉ bàn đến phần đủ để các bạn, với tư cách một nhóm, bắt đầu công việc đã mong đợi từ lâu là xua tan ảo cảm thế giới hiện nay—ít nhất trong một số phương diện của nó. Ở đây, Tôi không định nghĩa ảo cảm hay đưa ra những ví dụ về hoạt động của nó như đã làm với ảo tưởng và đối phần tương phản của nó, trực giác, vì Tôi đã trình bày vấn đề rất kỹ trong phần ngay trước đó; các bạn chỉ cần tham khảo phần ấy để đọc tất cả những gì Tôi sẵn sàng cung cấp cho các bạn vào lúc này.

I will, however, briefly define illumination, asking you to bear in mind that we are not here dealing with the illumination which reveals Reality, or the nature of the soul or which makes clear to your vision the kingdom of the soul, but with that form of illumination which is thrown down by the soul into the world of the astral plane. This involves the conscious use of light and its employment, first of all, as a searchlight, scanning the astral horizon and localising the glamour which is causing the trouble, and secondly, as a focussed distribution of light, turned with intention upon that area of the astral plane wherein it is proposed that some effort be made to dissipate the fog and mist which are there concentrated.

Tuy nhiên, Tôi sẽ định nghĩa ngắn gọn sự soi sáng, và đề nghị các bạn nhớ rằng ở đây chúng ta không bàn về sự soi sáng mặc khải Thực Tại hay bản chất của linh hồn, hoặc làm cho giới linh hồn trở nên rõ ràng trước tầm nhìn của các bạn, mà bàn về hình thức soi sáng do linh hồn chiếu xuống thế giới của cõi cảm dục. Điều này bao hàm việc sử dụng ánh sáng một cách hữu thức: trước hết, dùng nó như một đèn rọi, quét qua chân trời cảm dục và xác định vị trí của ảo cảm đang gây khó khăn; thứ hai, dùng nó như một sự phân bố ánh sáng có tiêu điểm, có chủ đích hướng vào khu vực trên cõi cảm dục nơi dự định thực hiện một nỗ lực để làm tiêu tan sương mù và màn sương đang tập trung ở đó.

Certain basic premises are, therefore, in order and these might be stated as follows:

Vì vậy, cần nêu một số tiền đề căn bản, có thể trình bày như sau:

1. The quality and the major characteristic of the soul is light. Therefore, if that light is to be used and that quality expressed by the disciple and the worker, he must first of all achieve a recognised contact with the soul through meditation.

1. Phẩm tính và đặc điểm chủ yếu của linh hồn là ánh sáng. Do đó, nếu người đệ tử và người hoạt động muốn sử dụng ánh sáng ấy và biểu hiện phẩm tính ấy, trước hết y phải đạt được sự tiếp xúc với linh hồn mà y nhận biết rõ, thông qua tham thiền.

2. The quality of the astral plane—its major characteristic—[141] is glamour. It is the field whereon the great battle of the pairs of opposites must be fought as they are the expression of ancient desire, in the one case—glamorous, deceptive and false—and in the other, high spiritual longing for that which is real and true. It should be here remembered that astral desire, wrong and selfish emotion and astral reactions to the facts of daily life, are not natural to the soul and constitute eventually a condition which serves to veil successfully the true nature of the spiritual man.

2. Phẩm tính của cõi cảm dục—đặc điểm chủ yếu của nó—[141] là ảo cảm. Đây là chiến trường nơi phải diễn ra cuộc chiến lớn giữa các cặp đối cực, vì một phía là sự biểu hiện của dục vọng cổ xưa—đầy ảo cảm, lừa dối và sai lạc—còn phía kia là niềm khao khát tinh thần cao cả đối với cái thực và cái chân. Ở đây, cần nhớ rằng dục vọng cảm dục, cảm xúc sai lầm và ích kỷ, cùng các phản ứng cảm dục trước những sự kiện của đời sống hằng ngày không thuộc bản chất tự nhiên của linh hồn, và cuối cùng tạo thành một tình trạng che phủ hữu hiệu bản chất chân thực của con người tinh thần.

3. A relation must then be established between the soul and the astral plane, via the astral body of the disciple. This astral body must be regarded by him as his response apparatus to the world of sensation and as the only instrument whereby his soul can contact that level of expression—temporary and non-lasting as it may be. The disciple must, therefore, establish contact with the soul and do this consciously and with the needed emphasis and so carry soul light to his own astral body, learn to focus it there in the solar plexus centre, and from that point of achievement proceed to work upon the astral plane at the arduous task of dispelling glamour.

3. Sau đó, phải thiết lập một mối quan hệ giữa linh hồn và cõi cảm dục, qua thể cảm dục của người đệ tử. Y phải xem thể cảm dục này là bộ máy đáp ứng của mình đối với thế giới cảm giác, và là công cụ duy nhất nhờ đó linh hồn của y có thể tiếp xúc với cấp độ biểu hiện ấy—dù cấp độ ấy có thể tạm thời và không bền vững. Vì vậy, người đệ tử phải thiết lập sự tiếp xúc với linh hồn, thực hiện điều này một cách hữu thức với sự chú trọng cần thiết, nhờ đó đưa ánh sáng linh hồn vào chính thể cảm dục của mình, học cách tập trung ánh sáng ấy tại trung tâm tùng thái dương, và từ thành tựu đó tiến tới làm việc trên cõi cảm dục với nhiệm vụ gian nan là xua tan ảo cảm.

4. When this line of contact has been made and the soul, the astral body and the astral plane have thus been intimately related, the disciple must carry the focussed light from the solar plexus (where it has been temporarily localised) to the heart centre. There he must steadily hold it and work consistently and perseveringly from that higher centre. I might here paraphrase an ancient instruction for disciples, which can be found in the Archives of the Hierarchy and which refers to this particular process. I am giving you a brief and somewhat inadequate paraphrase of this ancient symbolic wording: [142]

4. Khi đường tiếp xúc này đã được thiết lập và linh hồn, thể cảm dục cùng cõi cảm dục nhờ đó đã liên hệ mật thiết với nhau, đệ tử phải đưa ánh sáng đã tập trung từ tùng thái dương (nơi ánh sáng tạm thời khu trú) đến trung tâm tim. Tại đó, y phải giữ ánh sáng ổn định và làm việc nhất quán, kiên trì từ trung tâm cao hơn ấy. Ở đây, Tôi có thể diễn ý một huấn thị cổ dành cho các đệ tử, lưu trong Văn Khố của Thánh đoàn và đề cập đến tiến trình đặc biệt này. Tôi đưa ra cho các bạn một bản diễn ý ngắn gọn và phần nào chưa đầy đủ của lời văn biểu tượng cổ xưa ấy: [142]

“The disciple stands and, with his back to the glamorous fog, looks towards the East from whence the light must stream. Within his heart he gathers all the light available and from that point of power between the shoulder blades the light streams forth.”

“Đệ tử đứng vững và, quay lưng về phía màn sương ảo cảm, nhìn về phương Đông, nơi ánh sáng phải tuôn đến. Trong tim mình, y tập hợp mọi ánh sáng sẵn có, và từ điểm quyền năng ấy giữa hai xương bả vai, ánh sáng tuôn ra.”

5. The disciple must relinquish all sense of tension or of strain and must learn to work with pure faith and love. The less he feels and the less he is preoccupied with his own feelings or sense of achievement or of non-achievement, the more probable it will be that the work will proceed with effectiveness and the glamour be slowly dispelled. In this work there is no haste. That which is very ancient cannot be immediately dispelled no matter how good the intention or how accurate may be the grasp of the needed technique.

5. Đệ tử phải buông bỏ mọi cảm giác căng thẳng hay gắng sức và phải học cách làm việc với đức tin và tình thương thuần khiết. Y càng ít cảm nhận và càng ít bận tâm đến những cảm xúc của mình hay cảm giác thành tựu hoặc không thành tựu, thì công việc càng có khả năng tiến hành hiệu quả và ảo cảm càng có khả năng dần dần được xua tan. Trong công việc này, không có sự vội vã. Những gì đã tồn tại từ rất xa xưa không thể lập tức bị xua tan, dù ý định tốt đẹp đến đâu hay sự nắm bắt kỹ thuật cần thiết chính xác đến mức nào.

It will be apparent to you that there are elements of danger in this work. Unless the members of the group are exceedingly watchful and unless they cultivate the habit of careful observation, they may suffer from over-stimulation of the solar plexus until such time as they have mastered the process of rapidly transferring the light of the soul, focussed in the solar plexus, and the innate light of the astral body, also found localised in that centre, into the heart centre between the shoulder blades. I would, therefore, warn each and all of you to proceed with the utmost care and I would caution you that if you suffer any solar plexus disturbance or encounter in yourselves any increased emotional instability, to be not unduly disturbed. I would ask you to regard the phenomenon of disturbance as simply a temporary difficulty, incident upon the service which you are seeking to render. If you pay this intelligent attention to the matter and no more, refusing to be distressed or to be disturbed, no bad results will be felt.

Các bạn sẽ thấy rõ rằng công việc này có những yếu tố nguy hiểm. Trừ khi các thành viên của nhóm hết sức cảnh giác và vun bồi thói quen quan sát cẩn thận, họ có thể chịu sự kích thích quá mức ở tùng thái dương, cho đến khi làm chủ được tiến trình nhanh chóng chuyển ánh sáng của linh hồn, vốn tập trung ở tùng thái dương, cùng ánh sáng vốn có của thể cảm dục, cũng khu trú tại trung tâm ấy, vào trung tâm tim giữa hai xương bả vai. Vì vậy, Tôi muốn cảnh báo từng người và tất cả các bạn hãy tiến hành hết sức thận trọng, đồng thời nhắc các bạn rằng nếu gặp bất kỳ sự rối loạn nào ở tùng thái dương hoặc nhận thấy sự bất ổn cảm xúc gia tăng trong bản thân, thì đừng quá lo lắng. Tôi yêu cầu các bạn xem hiện tượng rối loạn ấy chỉ là một khó khăn tạm thời, phát sinh trong quá trình phụng sự mà các bạn đang tìm cách thực hiện. Nếu các bạn chú tâm một cách sáng suốt đến vấn đề này và không hơn thế, không để mình phiền muộn hay lo lắng, thì sẽ không có hậu quả xấu nào.

[143] In connection with your anticipated group work along these lines, you will proceed with your group meditation as indicated elsewhere (Discipleship in the New Age, Volume I, page 61), and then—when you have arrived at Stage III in the group meditation—you will work together as follows:

[143] Về công việc nhóm mà các bạn dự định thực hiện theo những đường hướng này, các bạn sẽ tiến hành bài tham thiền nhóm như đã chỉ dẫn ở nơi khác (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập I, trang 61), rồi—khi đã đến Giai đoạn III trong bài tham thiền nhóm—các bạn sẽ cùng làm việc như sau:

1. Having linked up with all your group brothers, then consciously carry out the hints given symbolically in the ancient writing which I paraphrased for you above.

1. Sau khi đã kết nối với tất cả các huynh đệ trong nhóm, hãy thực hiện một cách có ý thức những gợi ý được trình bày bằng biểu tượng trong văn bản cổ mà Tôi đã diễn ý cho các bạn ở trên.

a. Link up consciously with your soul and realise this linking as a fact.

a. Hãy kết nối một cách có ý thức với linh hồn của các bạn và nhận biết sự kết nối này là một sự thật.

b. Then carry the light of the soul, through the power of the creative imagination, direct to your astral body and from thence to the solar plexus centre—which is the line of least resistance.

b. Sau đó, nhờ quyền năng của sự tưởng tượng sáng tạo, hãy đưa ánh sáng của linh hồn trực tiếp đến thể cảm dục, rồi từ đó đến trung tâm tùng thái dương—đó là con đường ít trở ngại nhất.

c. Then transfer the light of the soul and the innate light of the astral body from the solar plexus centre to the heart centre, by a definite act of the will.

c. Tiếp đó, bằng một hành động ý chí dứt khoát, hãy chuyển ánh sáng của linh hồn cùng ánh sáng vốn có của thể cảm dục từ trung tâm tùng thái dương đến trung tâm tim.

2. Then, imaginatively, stand with your back to the world of glamour and with the eye of your mind focussed on the soul, whose nature is LOVE.

2. Sau đó, trong sự tưởng tượng, hãy đứng quay lưng về phía thế giới ảo cảm, với con mắt của thể trí tập trung vào linh hồn, mà bản chất là TÌNH THƯƠNG.

3. Let a few minutes’ interlude then take place wherein you stabilise yourself for the work, and definitely and consciously focus the light available, from all sources, within the heart centre. Imagine that centre between the shoulder blades as a radiant sun. I might here point out that this is, in the individual, the microcosmic correspondence to the “heart of the Sun” which is always directed by the “central spiritual Sun,” localised in the head. Get this picture clearly into your consciousness, for it involves the dual, yet synthetic, activity of the head and the heart. [144]

3. Tiếp đó, hãy dành một khoảng dừng vài phút để ổn định bản thân cho công việc, đồng thời tập trung một cách dứt khoát và có ý thức mọi ánh sáng sẵn có, từ tất cả các nguồn, vào trung tâm tim. Hãy tưởng tượng trung tâm ấy giữa hai xương bả vai như một mặt trời tỏa sáng. Ở đây, Tôi có thể chỉ ra rằng, trong mỗi cá nhân, đây là sự tương ứng ở tiểu thiên địa với “trái tim của Mặt Trời”, vốn luôn chịu sự chỉ đạo của “Mặt trời Tinh thần Trung Ương”, khu trú trong đầu. Hãy đưa hình ảnh này vào tâm thức các bạn thật rõ ràng, vì nó bao hàm hoạt động kép, nhưng mang tính tổng hợp, của đầu và tim. [144]

4. Then see a shaft of pure white light, broad and brilliant, pouring out of the heart centre between the shoulder blades, on to that localised glamour with which you, as a group, are dealing. What this localised area is, I will presently disclose.

4. Sau đó, hãy thấy một luồng ánh sáng trắng thuần khiết, rộng và rực rỡ, tuôn ra từ trung tâm tim giữa hai xương bả vai, chiếu lên ảo cảm khu trú mà các bạn, với tư cách một nhóm, đang xử lý. Vùng khu trú ấy là gì, Tôi sẽ sớm tiết lộ.

5. When this is clearly defined in your mind and inspired by your desire and force, and when you have the entire symbolic picture clearly visualised, then see your particular shaft of light blended with the shafts of light which your group brothers are projecting. Thus a great flood of directed light coming from several trained aspirants (and are you trained, my brothers?) will pour on to that area of glamour with which you are supposed to deal.

5. Khi điều này đã được xác định rõ trong thể trí các bạn và được dục vọng cùng mãnh lực của các bạn khơi nguồn cảm hứng, và khi các bạn đã hình dung rõ toàn bộ hình ảnh biểu tượng, hãy thấy luồng ánh sáng riêng của mình hòa vào những luồng ánh sáng mà các huynh đệ trong nhóm đang phóng chiếu. Như vậy, một dòng ánh sáng lớn có định hướng, đến từ nhiều người chí nguyện đã được huấn luyện (và Các huynh đệ của Tôi, các bạn đã được huấn luyện chưa?), sẽ tuôn lên vùng ảo cảm mà các bạn có nhiệm vụ xử lý.

6. Do this work for five carefully sustained minutes and then proceed as indicated in Stage IV of your meditation outline.

6. Hãy thực hiện công việc này trong năm phút, duy trì cẩn thận, rồi tiếp tục như chỉ dẫn ở Giai đoạn IV trong đề cương bài tham thiền của các bạn.

In defining illumination as the antithesis of glamour it is obvious that my remarks must necessarily be limited to certain aspects of illumination and will only concern those directed forms of work and those presentations of the problem which will concern the use of light upon the astral plane and particularly in connection with the work that you have pledged yourselves to do. There are many other definitions possible, for the light of the soul is like an immense searchlight, the beams of which can be turned in many directions and focussed on many levels. We are however only concerned here with its specialised use.

Khi định nghĩa sự soi sáng là điều đối nghịch với ảo cảm, rõ ràng những nhận xét của Tôi nhất thiết phải giới hạn ở một số phương diện của sự soi sáng và chỉ đề cập đến những hình thức công việc có định hướng cùng những cách trình bày vấn đề liên quan đến việc sử dụng ánh sáng trên cõi cảm dục, đặc biệt là trong mối liên hệ với công việc mà các bạn đã cam kết thực hiện. Có thể có nhiều định nghĩa khác, vì ánh sáng của linh hồn giống như một đèn pha khổng lồ, có thể hướng các tia sáng theo nhiều phía và tập trung chúng trên nhiều cấp độ. Tuy nhiên, ở đây chúng ta chỉ quan tâm đến cách sử dụng chuyên biệt của ánh sáng ấy.

Illumination and the light of knowledge can be regarded as synonymous terms and many glamours can be dissipated and dispersed when subjected to the potency of the informative mind, for the mind is essentially the subduer of emotion through the presentation of fact. The problem is to [145] induce the individual or the race or nation which is acting under the influence of glamour to call in the mental power of assessing the situation and subject it to a calm, cold scrutiny. Glamour and emotion play into each other’s hands and feeling runs so strong usually in relation to glamour that it is impossible to bring in the light of knowledge with ease and effectiveness.

Có thể xem sự soi sáng và ánh sáng của tri thức là những thuật ngữ đồng nghĩa, và nhiều ảo cảm có thể được làm tiêu tan và phân tán khi chịu tác động của sức mạnh của thể trí cung cấp tri thức, vì về cơ bản, thể trí chế ngự cảm xúc bằng cách trình bày sự thật. Vấn đề là [145] khiến cá nhân, nhân loại hay quốc gia đang hành động dưới ảnh hưởng của ảo cảm huy động quyền năng trí tuệ để đánh giá tình hình và xem xét tình hình ấy một cách bình tĩnh, lạnh lùng. Ảo cảm và cảm xúc tiếp tay cho nhau, và cảm xúc thường mạnh mẽ đến mức, khi liên quan đến ảo cảm, không thể dễ dàng và hiệu quả đưa ánh sáng của tri thức vào.

Illumination and perception of truth are also synonymous terms, but it should be remembered that the truth in this case is not truth on the abstract planes but concrete and knowable truth—truth which can be formulated and expressed in concrete form and terms. Where the light of truth is called in, glamour automatically disappears, even if only for a temporary period. But, again, difficulty arises because few people care to face the actual truth, for it involves eventually the abandonment of the beloved glamour and the ability to recognise error and to admit mistakes, and this the false pride of the mind will not permit. Again, I would assure you that humility is one of the most potent factors in releasing the illuminating power of the mind, as it reflects and transmits the light of the soul. The determined facing of the factual life and the stern recognition of truth—coldly, calmly and dispassionately—will greatly facilitate the calling in of the flood of illumination which will suffice to dispel glamour.

Sự soi sáng và sự nhận thức chân lý cũng là những thuật ngữ đồng nghĩa, nhưng cần nhớ rằng chân lý trong trường hợp này không phải là chân lý trên các cõi trừu tượng, mà là chân lý cụ thể và khả tri—chân lý có thể được định hình và diễn đạt bằng hình thức cùng ngôn từ cụ thể. Khi ánh sáng của chân lý được huy động, ảo cảm tự động biến mất, dù chỉ trong một khoảng thời gian tạm thời. Nhưng một lần nữa, khó khăn nảy sinh vì ít người muốn đối diện với chân lý thực tế, bởi cuối cùng điều đó đòi hỏi từ bỏ ảo cảm mình yêu quý, có khả năng nhận ra sai lầm và thừa nhận những lỗi lầm, mà lòng kiêu hãnh giả tạo của thể trí không cho phép điều này. Một lần nữa, Tôi muốn bảo đảm với các bạn rằng lòng khiêm nhường là một trong những yếu tố mạnh mẽ nhất giúp giải phóng quyền năng soi sáng của thể trí, khi thể trí phản chiếu và truyền dẫn ánh sáng của linh hồn. Việc kiên quyết đối diện với đời sống thực tế và nghiêm khắc nhìn nhận chân lý—một cách lạnh lùng, bình tĩnh và không thiên lệch vì cảm xúc—sẽ tạo thuận lợi rất lớn cho việc huy động dòng soi sáng đủ sức xua tan ảo cảm.

As we are dealing with the problem of glamour and illumination, it might be of value here if I dealt with the particular glamour which I would ask your group to aid in dispelling. I refer here to the glamour of separateness. Work along this line will have most practical and salutary implications, for none of you (as you will discover) will be able to work effectively on this matter if you feel any sense of separativeness; this separative reaction may express itself as hatred, as an active dislike or as a voiced criticism—[146] perhaps, in some cases, all three. There are forces which you may personally regard as separativeness or as the cause of separation. I would remind you that the favourite views and cherished beliefs of those to whom you are mentally opposed (often under the guise of a strenuous adherence to what you regard as right principles) are to those who hold them equally right; they feel that your views are erroneous and they regard them as separative in their effect and as the basis of trouble. They are, in their place, as sincere as you are and as eager for the achievement of the right attitude as you feel yourself to be. This is something often forgotten and I would remind you of it. I might also illustrate this point by pointing out to you that the hatred or the dislike (if hatred is too strong a word) that any of you may feel for the activities of the German Government, and for the line that they have taken against the Jewish people, might be turned with almost equal justification against the Jews themselves. The latter have always been separative and have regarded themselves as “the chosen of the Lord” and have never proved assimilable in any nation. The same can be said of the Germans, and from many they evoke the same reaction as they mete out to the Jew, though not the physical persecution. Neither attitude, as you well know, is justifiable from the angle of the soul; they are both equally wrong, and this is a point of view which the Jew and the anti-Jew must eventually understand and, through understanding, bring to an end.

Vì chúng ta đang bàn đến vấn đề ảo cảm và sự soi sáng, có lẽ ở đây sẽ hữu ích nếu Tôi đề cập đến ảo cảm cụ thể mà Tôi muốn yêu cầu nhóm các bạn góp sức xua tan. Ở đây, Tôi nói đến ảo cảm của sự chia rẽ. Công việc theo đường hướng này sẽ có những tác động hết sức thiết thực và tốt lành, vì không ai trong các bạn (như các bạn sẽ khám phá) có thể làm việc hiệu quả về vấn đề này nếu còn mang bất kỳ cảm thức chia rẽ nào; phản ứng chia rẽ ấy có thể biểu hiện thành lòng thù hận, sự ác cảm rõ rệt hoặc lời chỉ trích thốt ra—[146] có lẽ, trong một số trường hợp, là cả ba. Có những mãnh lực mà cá nhân các bạn có thể xem là tính chia rẽ hoặc nguyên nhân gây chia rẽ. Tôi muốn nhắc các bạn rằng những quan điểm ưa thích và niềm tin được trân trọng của những người mà các bạn chống đối về mặt tư tưởng (thường dưới vỏ bọc của sự kiên quyết tuân theo những gì các bạn xem là nguyên khí đúng đắn) cũng đúng đắn như thế đối với những người giữ các quan điểm và niềm tin ấy; họ cảm thấy quan điểm của các bạn là sai lầm, và xem chúng có tác dụng gây chia rẽ cũng như là nguồn gốc của rắc rối. Trong hoàn cảnh của mình, họ cũng chân thành như các bạn và cũng tha thiết đạt được thái độ đúng đắn như các bạn cảm thấy ở bản thân. Đây là điều thường bị lãng quên, và Tôi muốn nhắc các bạn nhớ đến nó. Tôi cũng có thể minh họa điểm này bằng cách chỉ ra cho các bạn rằng lòng thù hận hay ác cảm (nếu thù hận là một từ quá mạnh) mà bất kỳ ai trong các bạn có thể cảm thấy đối với các hoạt động của Chính phủ Đức và đường lối họ đã áp dụng chống lại người Do Thái, cũng có thể hướng vào chính người Do Thái với lý lẽ biện minh gần như tương đương. Người Do Thái luôn có tính chia rẽ, tự xem mình là “những người được Chúa tuyển chọn” và chưa bao giờ tỏ ra có thể hòa nhập vào bất kỳ quốc gia nào. Cũng có thể nói điều tương tự về người Đức, và ở nhiều người, họ gợi lên cùng một phản ứng như phản ứng mà họ dành cho người Do Thái, tuy không có sự bức hại về thân thể. Như các bạn biết rõ, không thái độ nào có thể biện minh từ góc nhìn của linh hồn; cả hai đều sai như nhau, và đây là một quan điểm mà người Do Thái cùng người chống Do Thái cuối cùng phải thấu hiểu, rồi qua sự thấu hiểu ấy, chấm dứt những thái độ này.

I mention this because I am going to ask you to deal with that ancient and world-wide glamour—the glamour of the hatred of the Jew. In this group there are those who are, in their thought at least, violently anti-German; there are others who are definitely, though intelligently, anti-Jew. I would ask those in both these groups to recognise the problem with which they are faced. It is a problem which [147] is so very ancient and deeply rooted in the consciousness of the race that it is far bigger than the individual can possibly vision; the individual point of view is consequently so limited that constructive usefulness is noticeably impaired. After all, my brothers, the point of view of the “under dog” is not necessarily the only one or necessarily always the correct one. Both the Germans and the Jews merit our impersonal love, particularly as they are both guilty (if I may use such a term) of the same basic errors and faults. The German is powerfully race conscious; so is the Jew. The German is separative in his attitude to the world; so is the Jew. The German insists today on racial purity, a thing upon which the Jew has insisted for centuries. A small group of Germans are anti-Christian; so are an equally small number of Jews. I could continue piling up these resemblances but the above will suffice. Therefore, your dislike of one group is not more warranted than your refusal to recognise any justification for the activities and attitudes of the other. Like frequently repudiates and swings away from like, and the Germans and the Jews are curiously alike. Just as many British people and the preponderance of the British race are reincarnated Romans, so many Germans are reincarnated Jews. Hence the similarity of their points of view. It is a family quarrel and there is nothing more terrible than this.

Tôi đề cập đến điều này vì Tôi sẽ yêu cầu các bạn xử lý ảo cảm cổ xưa và lan rộng khắp thế giới ấy—ảo cảm của lòng thù hận người Do Thái. Trong nhóm này, có những người, ít nhất trong tư tưởng, chống Đức một cách dữ dội; cũng có những người rõ ràng chống Do Thái, tuy theo cách có suy xét. Tôi yêu cầu những người thuộc cả hai nhóm này nhận ra vấn đề mà họ đang đối diện. Đó là một vấn đề [147] quá cổ xưa và ăn sâu vào tâm thức nhân loại đến mức nó lớn lao hơn rất nhiều so với những gì cá nhân có thể hình dung; do đó, góc nhìn cá nhân hạn hẹp đến mức khả năng đóng góp hữu ích mang tính xây dựng bị suy giảm rõ rệt. Xét cho cùng, Các huynh đệ của Tôi, góc nhìn của “người yếu thế” không nhất thiết là góc nhìn duy nhất, cũng không nhất thiết luôn là góc nhìn đúng. Cả người Đức lẫn người Do Thái đều xứng đáng nhận tình thương vô ngã của chúng ta, đặc biệt vì cả hai đều phạm phải (nếu Tôi có thể dùng từ như thế) những sai lầm và khuyết điểm cơ bản giống nhau. Người Đức có ý thức chủng tộc mạnh mẽ; người Do Thái cũng vậy. Người Đức có thái độ chia rẽ đối với thế giới; người Do Thái cũng vậy. Ngày nay, người Đức khăng khăng đòi sự thuần khiết chủng tộc, điều mà người Do Thái đã khăng khăng đòi hỏi suốt nhiều thế kỷ. Một nhóm nhỏ người Đức chống Kitô giáo; một số người Do Thái ít ỏi tương đương cũng vậy. Tôi có thể tiếp tục kể thêm những điểm tương đồng này, nhưng những điều trên đã đủ. Vì vậy, sự ác cảm của các bạn đối với một nhóm không có cơ sở chính đáng hơn việc các bạn từ chối thừa nhận bất kỳ lý lẽ biện minh nào cho các hoạt động và thái độ của nhóm kia. Những gì giống nhau thường chối bỏ và quay lưng với nhau, mà người Đức và người Do Thái lại giống nhau một cách kỳ lạ. Cũng như nhiều người Anh và phần lớn dân tộc Anh là những người La Mã tái sinh, nhiều người Đức là những người Do Thái tái sinh. Vì thế có sự tương đồng trong góc nhìn của họ. Đây là một cuộc tranh chấp trong gia đình, và không có gì khủng khiếp hơn điều này.

I am going to ask you to take the Germans and the Jews into your group meditation and pour out your group love upon both these divisions of your brothers in the human family. See to it that before you begin your meditation you have freed yourselves—emotions and mind—from any latent antagonisms, from any hatreds, from any preconceived ideas of right or wrong but that you simply fall back upon the love of your souls, remembering that both [148] Jews and Germans are souls as you are and identical in their origin, their goal and their life experience with yours.

Tôi sẽ yêu cầu các bạn đưa người Đức và người Do Thái vào bài tham thiền nhóm, và tuôn đổ tình thương của nhóm lên cả hai bộ phận huynh đệ này trong gia đình nhân loại. Hãy bảo đảm rằng trước khi bắt đầu tham thiền, các bạn đã giải phóng bản thân—cả cảm xúc lẫn thể trí—khỏi mọi sự đối kháng tiềm ẩn, mọi lòng thù hận, mọi ý tưởng định sẵn về đúng hay sai, và chỉ đơn thuần nương vào tình thương của linh hồn mình, ghi nhớ rằng cả [148] người Do Thái lẫn người Đức đều là linh hồn như các bạn, và giống các bạn về nguồn gốc, mục tiêu cùng kinh nghiệm sống.

As you pour out the stream of pure white light (as Stage III instructs you), see to it that it pours through you with purity and clarity as one stream. Then see it bisect into equal quantities or proportions—one stream of living light and love going to the Jews and the other to the German peoples. The quality of your love will count and not so much the accuracy of your analysis or the perfection of your technique.

Khi các bạn tuôn đổ dòng ánh sáng trắng thuần khiết (như Giai đoạn III chỉ dẫn), hãy bảo đảm rằng ánh sáng ấy tuôn qua các bạn một cách thuần khiết và trong sáng thành một dòng duy nhất. Sau đó, hãy thấy nó chia đôi thành hai phần hay hai tỷ lệ bằng nhau—một dòng ánh sáng và tình thương sống động đến với người Do Thái, dòng kia đến với các cộng đồng người Đức. Phẩm tính tình thương của các bạn mới là điều quan trọng, chứ không phải quá nhiều ở sự chính xác trong phân tích hay sự hoàn hảo của kỹ thuật.

c. The Contrast between Maya and Inspiration

c. Sự Tương Phản giữa Ảo Lực và Cảm Hứng

Here we come definitely into the realm of material substance. This is essentially and in a peculiar manner the realm of force. Maya is predominantly (for the individual) the aggregate of the forces which control his septenary force centres to the exclusion, I would emphasise, of the controlling energy of the soul. Therefore, you will see that the bulk of humanity, until a man stands upon the Probationary Path, are under the control of maya, for a man succumbs to maya when he is controlled by any other force or forces than those energies which come direct from the soul, conditioning and controlling the lesser forces of the personality as they eventually and inevitably must and will.

Ở đây, chúng ta rõ ràng bước vào lĩnh vực chất liệu vật chất. Về bản chất và theo một cách đặc biệt, đây là lĩnh vực của mãnh lực. Đối với cá nhân, ảo lực chủ yếu là tổng hợp những mãnh lực kiểm soát bảy trung tâm mãnh lực của y, loại trừ—Tôi muốn nhấn mạnh—năng lượng kiểm soát của linh hồn. Vì vậy, các bạn sẽ thấy rằng phần đông nhân loại, cho đến khi một người đứng trên Con Đường Dự Bị, đều chịu sự kiểm soát của ảo lực, vì con người khuất phục trước ảo lực khi chịu sự kiểm soát của bất kỳ mãnh lực nào khác ngoài những năng lượng đến trực tiếp từ linh hồn, vốn tác động và kiểm soát những mãnh lực thấp hơn của phàm ngã, như cuối cùng những năng lượng ấy tất yếu phải làm và sẽ làm.

When a man is under the control of physical, astral and mental forces, he is convinced at the time that they are, for him, right forces. Herein lies the problem of maya. Such forces, however, when they control a man, determine him in a separative attitude and produce an effect which feeds and stimulates the personality and does not bring in the energy of the soul, the true Individuality. This analysis should prove illuminating to you. If men and [149] women would bring their lives under a closer scrutiny by the true inner or spiritual man and could thus determine what combination of energies conditions their life activity, they would not continue to function—as they do now—so blindly, so inadequately and so ineffectually.

Khi một người chịu sự kiểm soát của các mãnh lực hồng trần, cảm dục và trí tuệ, lúc ấy y tin chắc rằng đối với mình, đó là những mãnh lực đúng đắn. Chính trong đó có vấn đề của ảo lực. Tuy nhiên, khi kiểm soát con người, những mãnh lực ấy khiến y mang thái độ chia rẽ và tạo ra một tác động nuôi dưỡng, kích thích phàm ngã, chứ không đưa vào năng lượng của linh hồn, Cá Thể đích thực. Sự phân tích này hẳn sẽ giúp soi sáng cho các bạn. Nếu những người nam và [149] nữ để con người bên trong hay con người tinh thần đích thực xem xét đời sống của mình kỹ lưỡng hơn, và nhờ đó có thể xác định tổ hợp năng lượng nào đang tác động lên hoạt động đời sống của họ, thì họ sẽ không tiếp tục hoạt động—như hiện nay—một cách mù quáng, thiếu sót và vô hiệu quả đến thế.

It is for this reason that the study and understanding of motives is of such value and importance, for such a study determines intellectually (if properly investigated) what factor or factors inspires the daily life. This is a statement worth careful consideration. I would ask you: What is your major actuating motive? For, whatever it may be, it conditions and determines your predominant life tendency.

Chính vì lý do này mà việc nghiên cứu và thấu hiểu động cơ có giá trị và tầm quan trọng lớn lao như vậy, vì sự nghiên cứu ấy xác định bằng trí tuệ (nếu khảo sát đúng cách) yếu tố hay những yếu tố nào khơi nguồn cảm hứng cho đời sống hằng ngày. Đây là một phát biểu đáng cân nhắc cẩn thận. Tôi muốn hỏi các bạn: Động cơ thúc đẩy chủ yếu của các bạn là gì? Bởi dù đó là gì, nó cũng tác động và quyết định xu hướng chủ đạo trong đời sống của các bạn.

Many people, particularly the unintelligent masses, are solely inspired by desire—material, physical and temporary. Animal desire for the satisfaction of the animal appetites, material desire for possession and for the luxuries of existence, the longing for “things,” for comforts and for security—economic, social and religious—control the majority. The man is under the influence of the densest form of maya, and the forces of his nature are concentrated in the sacral centre. Others are motivated by some form of aspiration or ambition—aspiration towards some material heaven (and most religions portray heaven in this manner), ambitions for power, desire for the satisfaction of the emotional or aesthetic appetites and for the possession of the more subtle realities, and the longing for emotional comfort, for mental stability and assurance that the higher desires will meet with gratification. All this is maya in its emotional form, and it is not the same thing as glamour. In the case of glamour, the forces of a man’s nature are seated in the solar plexus. In the case of maya, they are seated in the sacral centre. Glamour is subtle and emotional. Maya is tangible and etheric.

Nhiều người, đặc biệt là quần chúng kém thông minh, chỉ nhận cảm hứng từ dục vọng—mang tính vật chất, hồng trần và tạm thời. Dục vọng thú tính muốn thỏa mãn những ham muốn thú tính, dục vọng vật chất muốn sở hữu và hưởng những xa hoa của cuộc sống, sự khao khát “đồ vật”, tiện nghi và sự an toàn—về kinh tế, xã hội và tôn giáo—kiểm soát đa số. Con người chịu ảnh hưởng của hình thức ảo lực đậm đặc nhất, và các mãnh lực trong bản chất của y tập trung ở trung tâm xương cùng. Những người khác được thúc đẩy bởi một hình thức khát vọng hay tham vọng nào đó—khát vọng hướng đến một thiên đường vật chất nào đó (và hầu hết các tôn giáo đều mô tả thiên đường theo cách này), tham vọng quyền lực, dục vọng muốn thỏa mãn những ham muốn cảm xúc hay thẩm mỹ và muốn sở hữu những thực tại tinh tế hơn, cùng sự khao khát tiện nghi cảm xúc, sự ổn định trí tuệ và sự bảo đảm rằng những dục vọng cao hơn sẽ được thỏa mãn. Tất cả những điều này là ảo lực dưới hình thức cảm xúc, và không đồng nhất với ảo cảm. Trong trường hợp ảo cảm, các mãnh lực trong bản chất của con người trú tại tùng thái dương. Trong trường hợp ảo lực, chúng trú tại trung tâm xương cùng. Ảo cảm tinh tế và mang tính cảm xúc. Ảo lực hữu hình và mang tính dĩ thái.

[150] Such are the forces of maya which actuate, motivate and energise the life of the ordinary man. Under their influence he is helpless for they inspire all his thinking, all his aspiration and his desire, and all his activity on the physical plane. His problem is twofold:

[150] Đó là những mãnh lực của ảo lực thúc đẩy, tạo động cơ và tiếp năng lượng cho đời sống của người bình thường. Dưới ảnh hưởng của chúng, y bất lực, vì chúng khơi nguồn cảm hứng cho toàn bộ tư duy, mọi khát vọng và dục vọng, cùng mọi hoạt động của y trên cõi hồng trần. Vấn đề của y có hai mặt:

1. To bring all his centres under the inspiration of the soul.

1. Đưa tất cả các trung tâm của y vào dưới cảm hứng của linh hồn.

2. To transfer or transmute the forces of the lower centres, which control the personality, into the energies of the centres above the diaphragm, which respond automatically to the inspiration of the soul.

2. Chuyển dịch hoặc chuyển hoá những mãnh lực của các trung tâm thấp hơn, vốn kiểm soát phàm ngã, thành những năng lượng của các trung tâm phía trên cơ hoành, vốn tự động đáp ứng với cảm hứng của linh hồn.

It is in this thought that the potency and the symbolic value of breathing exercises consists. The motive is soul control, and though the methods employed are (in many cases) definitely undesirable yet the developing tendency of the life thought will prove inevitably determining and conditioning. The methods used may not save the unprepared physical body from certain evil and disastrous results yet, in the long run and in the last analysis, they may condition the future experience (probably in another life) in such a manner that the aspirant will find himself more able to function as a soul than might otherwise have been the case.

Chính trong tư tưởng này có sức mạnh và giá trị biểu tượng của những bài tập thở. Động cơ là sự kiểm soát của linh hồn, và dù những phương pháp được sử dụng (trong nhiều trường hợp) rõ ràng không đáng mong muốn, xu hướng đang phát triển của tư tưởng chi phối đời sống vẫn tất yếu có tác dụng quyết định và định hình. Những phương pháp được sử dụng có thể không cứu được thể xác chưa được chuẩn bị khỏi một số hậu quả tai hại và thảm khốc, nhưng về lâu dài và xét cho cùng, chúng có thể định hình kinh nghiệm tương lai (có lẽ trong một kiếp sống khác) theo cách khiến người chí nguyện có khả năng hoạt động như một linh hồn tốt hơn so với trường hợp không có chúng.

Before I close this particular instruction upon glamour, I would like to call the attention of the group to the occult sentences which I gave to D.L.R. prior to his leaving the group. They have a definite relation to the group work and I would like you to give them careful consideration and study. The Old Commentary, in speaking of the work of those whose dharma it is to dissipate world glamour, uses the following illuminating sentences:

Trước khi kết thúc huấn thị cụ thể này về ảo cảm, Tôi muốn lưu ý nhóm đến những câu huyền bí mà Tôi đã trao cho D.L.R. trước khi người đệ tử ấy rời nhóm. Chúng có mối liên hệ rõ rệt với công việc nhóm, và Tôi muốn các bạn cân nhắc, nghiên cứu chúng cẩn thận. Cổ Luận, khi nói về công việc của những người có bổn phận làm tiêu tan ảo cảm thế giới, dùng những câu mang tính soi sáng sau đây:

“They come and stand. Within the midst of whirling forms—some of beauty rare and some of [151] horror and despair—they stand. They look not here or there but, with their faces turned towards the light, they stand. Thus through their minds the pure light streams to dissipate the fogs.

“Họ đến và đứng vững. Giữa những hình tướng xoáy cuộn—có những hình tướng đẹp hiếm có, cũng có những hình tướng [151] kinh hoàng và tuyệt vọng—họ đứng vững. Họ không nhìn đây hay đó, mà đứng vững, mặt hướng về ánh sáng. Như vậy, qua thể trí họ, ánh sáng thuần khiết tuôn đến để làm tiêu tan những màn sương.

“They come and rest. They cease their outer labours, pausing to do a different work. Within their hearts is rest. They run not here and there, but constitute a point of peace and rest. That which upon the surface veils and hides the real begins to disappear and from the heart at rest a beam of dissipating force projects, blends with the shining light and then the mists of man’s creation disappear.

“Họ đến và an nghỉ. Họ ngừng những công việc bên ngoài, tạm dừng để làm một công việc khác. Trong tim họ có sự an nghỉ. Họ không chạy đây chạy đó, mà tạo thành một điểm bình an và an nghỉ. Những gì trên bề mặt che phủ và giấu kín cái thực bắt đầu biến mất, và từ trái tim an nghỉ, một tia mãnh lực làm tiêu tan phóng chiếu ra, hòa vào ánh sáng rạng ngời, rồi những màn sương do con người tạo ra biến mất.

“They come and they observe. They own the eye of vision; likewise they own the right direction of the needed force. They see the glamour of the world, and seeing, they note behind it all the true, the beautiful, the real. Thus through the eye of Buddhi comes the power to drive away the veiling, swirling glamours of that glamorous world.

“Họ đến và quan sát. Họ có con mắt linh thị; họ cũng có khả năng định hướng đúng mãnh lực cần thiết. Họ thấy ảo cảm của thế giới, và khi thấy, họ nhận ra đằng sau tất cả những điều ấy cái chân, cái mỹ, cái thực. Như vậy, qua con mắt Bồ đề, quyền năng đến để xua đi những ảo cảm che phủ, xoáy cuộn của thế giới đầy ảo cảm ấy.

“They stand, they rest, and they observe. Such are their lives and such the service that they render to the souls of men.”

“Họ đứng vững, họ an nghỉ và họ quan sát. Đời sống của họ là như thế, và sự phụng sự mà họ dành cho linh hồn con người cũng là như thế.”

I would commend these lines to your careful thought. They convey to you not only the field of your group service but also the desired attitude of the personal life of every member of the group.

Tôi muốn gửi gắm những dòng này để các bạn suy ngẫm cẩn thận. Chúng truyền đạt cho các bạn không chỉ lĩnh vực phụng sự của nhóm, mà còn cả thái độ mong muốn trong đời sống cá nhân của mỗi thành viên.

I would also like, at this point, to touch upon a factor of real importance in this work and to repeat my earlier warning: Will you remember that the effort to free yourselves from irritation or from what is called in Agni Yoga “imperil” (a peculiar yet satisfying word, my brothers) is particularly essential for this group? Irritation is exceedingly prevalent these days of nervous tension and it most [152] definitely imperils progress and retards the steps of the disciple upon the Way. It can produce dangerous group tension if present in any of you, and this induced group tension can interfere with the free play of the power and light which you are supposed to use, even when the other group members remain unconscious of the emanating source. Irritation definitely generates a poison which locates itself in the region of the stomach and of the solar plexus. Irritation is a disease, if I might use that word, of the solar plexus centre and it is definitely contagious to an almost alarming extent. So, my brothers, watch yourselves with care and remember that just in so far as you can live in the head and in the heart, you will end the disease of imperil and aid in the transference of the forces of the solar plexus into the heart centre.

Ở điểm này, Tôi cũng muốn đề cập đến một yếu tố thực sự quan trọng trong công việc này và nhắc lại lời cảnh báo trước đây của Tôi: Các bạn có ghi nhớ rằng nỗ lực giải phóng bản thân khỏi sự bực bội, hay khỏi điều mà Du Già Lửa gọi là “hiểm độc” (một từ lạ nhưng thỏa đáng, Các huynh đệ của Tôi), là đặc biệt thiết yếu đối với nhóm này không? Sự bực bội hết sức phổ biến trong những ngày căng thẳng thần kinh này, và nó [152] rõ ràng gây nguy hại cho sự tiến bộ và làm chậm bước chân của đệ tử trên Đường Đạo. Nếu hiện diện trong bất kỳ ai trong các bạn, nó có thể tạo ra sự căng thẳng nguy hiểm trong nhóm; và sự căng thẳng nhóm phát sinh ấy có thể cản trở sự vận hành tự do của quyền năng và ánh sáng mà các bạn có nhiệm vụ sử dụng, ngay cả khi những thành viên khác trong nhóm vẫn không nhận biết nguồn phát xạ. Sự bực bội chắc chắn tạo ra một chất độc khu trú ở vùng dạ dày và tùng thái dương. Sự bực bội là một căn bệnh, nếu Tôi có thể dùng từ ấy, của trung tâm tùng thái dương, và rõ ràng nó có tính lây lan đến mức gần như đáng báo động. Vì vậy, Các huynh đệ của Tôi, hãy cẩn thận tự quan sát và ghi nhớ rằng trong chừng mực có thể sống trong đầu và tim, các bạn sẽ chấm dứt căn bệnh hiểm độc và góp phần chuyển dịch những mãnh lực của tùng thái dương vào trung tâm tim.

d. The Contrast between the Dweller and its opposite, the Angel of the Presence

d. Sự Tương Phản giữa Kẻ Chận Ngõ và đối cực của nó, Thiên Thần của Hiện Diện

The entire subject of the Dweller and its relation to the Angel (a symbolic way of dealing with a great relationship and possibility, and a great fact in manifestation) is only now possible of consideration. Only when man is an integrated personality does the problem of the Dweller truly arise, and only when the mind is alert and the intelligence organised (as is becoming the case today on a fairly large scale) is it possible for man to sense—intelligently and not just mystically—the Angel and so intuit the PRESENCE. Only then does the entire question of hindrances which the Dweller embodies, and the limitations which it provides to spiritual contact and realisation assume potent proportions. Only then can they be usefully considered and steps taken to induce right action. Only when there is adequate fusion within humanity as a whole does [153] the great human Dweller on the Threshold appear as an integrated entity, or the Dweller in a national or racial sense makes its appearance, spreading and vitalising national, racial and planetary glamour, fostering and feeding individual glamours and making the entire problem unmistakably apparent. Only then can the relation between the soul of humanity and the generated forces of its ancient and potent personality assume proportions which call for drastic activity and intelligent cooperation.

Toàn bộ chủ đề về Kẻ Chận Ngõ và mối liên hệ của nó với Thiên Thần (một cách biểu tượng để bàn đến một mối liên hệ và một khả năng lớn lao, cùng một sự thật lớn lao trong biểu hiện) chỉ đến nay mới có thể được xem xét. Chỉ khi con người là một phàm ngã tích hợp thì vấn đề Kẻ Chận Ngõ mới thực sự nảy sinh, và chỉ khi thể trí tỉnh táo cùng trí thông minh được tổ chức (như ngày nay đang diễn ra trên quy mô khá rộng), con người mới có thể cảm nhận—một cách sáng suốt chứ không chỉ theo lối thần bí—Thiên Thần, và nhờ đó trực nhận HIỆN DIỆN. Chỉ khi ấy, toàn bộ vấn đề về những chướng ngại mà Kẻ Chận Ngõ hiện thân, cùng những giới hạn mà nó đặt ra đối với sự tiếp xúc và chứng nghiệm tinh thần, mới trở nên có sức tác động lớn. Chỉ khi ấy mới có thể xem xét chúng một cách hữu ích và thực hiện những bước đi nhằm tạo ra hành động đúng đắn. Chỉ khi toàn thể nhân loại có sự dung hợp đầy đủ thì [153] Kẻ Chận Ngõ vĩ đại của nhân loại mới xuất hiện như một thực thể tích hợp, hoặc Kẻ Chận Ngõ theo nghĩa quốc gia hay chủng tộc mới xuất hiện, lan truyền và tiếp sinh lực cho ảo cảm quốc gia, chủng tộc và hành tinh, thúc đẩy và nuôi dưỡng những ảo cảm cá nhân, khiến toàn bộ vấn đề hiện ra rõ ràng không thể nhầm lẫn. Chỉ khi ấy, mối liên hệ giữa linh hồn nhân loại và những mãnh lực do phàm ngã cổ xưa, mạnh mẽ của nhân loại tạo ra mới có thể đạt đến quy mô đòi hỏi hoạt động quyết liệt và sự hợp tác sáng suốt.

Such a time has now come, and in the two books, Problems of Humanity and The Reappearance of the Christ, and also in the Wesak and June Full Moon messages, I have dealt with this most practical and urgent situation, which is in itself the guarantee of human progress toward its destined goal as well as the assertion of its major hindrances to spiritual realisation. The sections on which we shall now be engaged are of prime importance to all who are in training for initiation. I said “in training,” my brothers; I did not say that you would take initiation in this life. I know not myself whether you will or no; the issue lies in your hands and in your planned destiny—planned by your souls. Your problem is essentially that of learning to handle the Dweller on the Threshold and of ascertaining the procedures and the processes whereby the momentous activity of fusion can take place. Through the medium of this fusion the Dweller “disappears and is no more seen, though still he functions on the outer plane, the agent of the Angel; the light absorbs the Dweller, and into obscuration—radiant yet magnetic—this ancient form of life dissolves though keeping still its form; it rests and works but is not now itself.” Such are the paradoxical statements of the Old Commentary.

Một thời điểm như thế nay đã đến, và trong hai cuốn sách, Những Vấn Đề của Nhân Loại và Sự Tái Lâm của Đức Christ, cũng như trong các thông điệp dịp Trăng Tròn Wesak và tháng Sáu, Tôi đã bàn đến tình thế hết sức thiết thực và cấp bách này; chính tình thế ấy bảo đảm sự tiến bộ của nhân loại hướng đến mục tiêu định sẵn, đồng thời khẳng định những chướng ngại chủ yếu đối với sự chứng nghiệm tinh thần của nhân loại. Những phần mà giờ đây chúng ta sẽ nghiên cứu có tầm quan trọng hàng đầu đối với tất cả những ai đang được huấn luyện để điểm đạo. Các huynh đệ của Tôi, Tôi nói “đang được huấn luyện”; Tôi không nói rằng các bạn sẽ được điểm đạo trong kiếp này. Chính Tôi cũng không biết các bạn có được điểm đạo hay không; vấn đề nằm trong tay các bạn và trong vận mệnh đã hoạch định của các bạn—do linh hồn các bạn hoạch định. Về cơ bản, vấn đề của các bạn là học cách xử lý Kẻ Chận Ngõ và xác định những thủ tục cùng tiến trình mà qua đó hoạt động dung hợp có ý nghĩa trọng đại có thể diễn ra. Qua sự dung hợp này, Kẻ Chận Ngõ “biến mất và không còn được thấy nữa, dù vẫn hoạt động trên cõi bên ngoài, là tác nhân của Thiên Thần; ánh sáng hấp thụ Kẻ Chận Ngõ, và trong sự che khuất—rạng rỡ nhưng mang tính từ tính—hình thức sự sống cổ xưa này tan biến dù vẫn giữ hình tướng của mình; nó an nghỉ và làm việc, nhưng giờ đây không còn là chính nó.” Đó là những phát biểu nghịch lý của Cổ Luận.

I have earlier defined for you in as simple terms as possible the nature of the Dweller. I would like, however, [154] to enlarge upon one or two points and give one or two new suggestions which—for the sake of clarity and for your more rapid comprehension—we will tabulate as follows:

Trước đây, Tôi đã định nghĩa cho các bạn bản chất của Kẻ Chận Ngõ bằng những lời đơn giản nhất có thể. Tuy nhiên, Tôi muốn [154] mở rộng một hai điểm và đưa ra một hai gợi ý mới mà—để rõ ràng và giúp các bạn lĩnh hội nhanh hơn—chúng ta sẽ liệt kê như sau:

1. The Dweller on the Threshold is essentially the personality; it is an integrated unity composed of physical forces, vital energy, astral forces and mental energies, constituting the sum total of the lower nature.

1. Kẻ Chận Ngõ về cơ bản là phàm ngã; nó là một khối thống nhất đã tích hợp, gồm những mãnh lực hồng trần, năng lượng sinh lực, những mãnh lực cảm dục và những năng lượng trí tuệ, tạo thành toàn bộ bản chất thấp.

2. The Dweller takes form when a re-orientation of man’s life has taken place consciously and under soul impression; the whole personality is then theoretically directed towards liberation into service. The problem is to make the theory and the aspiration facts in experience.

2. Kẻ Chận Ngõ thành hình khi đời sống con người đã được tái định hướng một cách có ý thức và dưới ấn tượng của linh hồn; khi ấy, về lý thuyết, toàn bộ phàm ngã hướng đến sự giải thoát để phụng sự. Vấn đề là biến lý thuyết và khát vọng thành những sự thật trong kinh nghiệm.

3. For a great length of time the forces of the personality do not constitute a Dweller. The man is not on the threshold of divinity; he is not consciously aware of the Angel. His forces are inchoate; he works unconsciously in his environment, the victim of circumstance and of his own nature apparently and under the lure and the urge of desire for physical plane activity and existence. When, however, the life of the man is ruled from the mental plane, plus desire or ambition, and he is controlled at least to some large extent by mental influence, then the Dweller begins to take shape as a unified force.

3. Trong một thời gian rất dài, những mãnh lực của phàm ngã không tạo thành một Kẻ Chận Ngõ. Con người chưa ở trên ngưỡng cửa của thiên tính; y chưa nhận biết một cách có ý thức về Thiên Thần. Những mãnh lực của y chưa thành hình; y làm việc một cách vô thức trong môi trường của mình, dường như là nạn nhân của hoàn cảnh và của bản chất riêng, dưới sức lôi cuốn và thôi thúc của dục vọng muốn hoạt động và tồn tại trên cõi hồng trần. Tuy nhiên, khi đời sống con người chịu sự cai quản từ cõi trí, cùng với dục vọng hay tham vọng, và ít nhất ở mức độ đáng kể y chịu sự kiểm soát của ảnh hưởng trí tuệ, thì Kẻ Chận Ngõ bắt đầu thành hình như một mãnh lực thống nhất.

4. The stages wherein the Dweller on the Threshold is recognised, subjected to a discriminating discipline and finally controlled and mastered, are mainly three:

4. Những giai đoạn trong đó Kẻ Chận Ngõ được nhận diện, được đặt dưới một kỷ luật dựa trên sự phân biện, rồi cuối cùng được kiểm soát và làm chủ, chủ yếu gồm ba giai đoạn:

a. The stage wherein the personality dominates and rules the life and ambitions and the goals of man’s life-endeavour. The Dweller then controls.

a. Giai đoạn trong đó phàm ngã thống trị và cai quản đời sống, tham vọng cùng những mục tiêu phấn đấu của con người. Khi ấy, Kẻ Chận Ngõ nắm quyền kiểm soát.

b. The stage of a growing cleavage in the consciousness [155] of the disciple. The Dweller or the personality is then urged in two directions: one, towards the pursuit of personal ambitions and desires in the three worlds; the other, in which the effort is made by the Dweller (note this statement) to take a stand upon the threshold of divinity and before the Portal of Initiation.

b. Giai đoạn có sự phân rẽ ngày càng sâu trong tâm thức [155] của đệ tử. Khi ấy, Kẻ Chận Ngõ hay phàm ngã bị thôi thúc theo hai hướng: một hướng là theo đuổi những tham vọng và dục vọng cá nhân trong ba cõi giới; hướng kia là nỗ lực của Kẻ Chận Ngõ (hãy lưu ý phát biểu này) để đứng vững trên ngưỡng cửa của thiên tính và trước Cổng Điểm Đạo.

c. The stage wherein the Dweller consciously seeks the cooperation of the soul and, though still in itself essentially constituting a barrier to spiritual progress, is more and more influenced by the soul than by its lower nature.

c. Giai đoạn trong đó Kẻ Chận Ngõ tìm kiếm sự hợp tác của linh hồn một cách có ý thức và, dù về bản chất vẫn là một chướng ngại đối với sự tiến bộ tinh thần, ngày càng chịu ảnh hưởng của linh hồn nhiều hơn là của bản chất thấp của nó.

5. When the final stage is reached (and many are now reaching it today) the disciple strives with more or less success to steady the Dweller (by learning to “hold the mind steady in the light” and thus controlling the lower nature). In this way the constant fluid changefulness of the Dweller is gradually overcome; its orientation towards reality and away from the Great Illusion is made effective, and the Angel and the Dweller are slowly brought into a close rapport.

5. Khi đạt đến giai đoạn cuối cùng (và ngày nay nhiều người đang đạt đến giai đoạn ấy), đệ tử nỗ lực, với mức độ thành công ít nhiều khác nhau, làm cho Kẻ Chận Ngõ ổn định (bằng cách học “giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng” và nhờ đó kiểm soát bản chất thấp). Theo cách này, tính biến đổi linh động không ngừng của Kẻ Chận Ngõ dần dần được khắc phục; sự định hướng của nó về thực tại và rời xa Ảo Tưởng Vĩ Đại trở nên hữu hiệu, và Thiên Thần cùng Kẻ Chận Ngõ dần dần đi vào một mối tương giao mật thiết.

6. In the earlier stages of effort and of attempted control, the Dweller is positive and the Soul is negative in their effects in the three worlds of human endeavour. Then there is a period of oscillation, leading to a life of equilibrium wherein neither aspect appears to dominate; after that the balance changes and the personality steadily becomes negative and the soul or psyche becomes dominant and positive.

6. Trong những giai đoạn đầu của nỗ lực và cố gắng kiểm soát, Kẻ Chận Ngõ có tính dương, còn Linh Hồn có tính âm trong tác động của chúng nơi ba cõi giới hoạt động của con người. Sau đó là một thời kỳ dao động, dẫn đến một đời sống quân bình, trong đó dường như không phương diện nào chiếm ưu thế; tiếp đó, thế quân bình thay đổi, phàm ngã dần trở nên âm tính, còn linh hồn hay tâm hồn trở nên chiếm ưu thế và có tính dương.

7. The astrological influences can potently affect these situations and—speaking generally and within certain esoteric limits—it might be noted that: [156]

7. Các ảnh hưởng chiêm tinh có thể tác động mạnh mẽ đến những tình thế này và—nói chung, trong những giới hạn huyền bí nhất định—có thể lưu ý rằng: [156]

a.

a.

Leo

Sư Tử

controls the positive Dweller.

kiểm soát Kẻ Chận Ngõ có tính dương.

b.

b.

Gemini

Song Tử

controls the processes of oscillation.

kiểm soát các tiến trình dao động.

c.

c.

Sagittarius

Nhân Mã

controls the negative Dweller.

kiểm soát Kẻ Chận Ngõ có tính âm.

It might be added that the three signs—Scorpio, Sagittarius, Capricorn—lead finally to the fusion of the Dweller and the Angel.

Có thể nói thêm rằng ba dấu hiệu—Hổ Cáp, Nhân Mã, Ma Kết—cuối cùng dẫn đến sự dung hợp của Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần.

8. The soul ray controls and conditions the activity of the Angel and its type of influence upon the Dweller. It affects karma, times and seasons.

8. Cung linh hồn kiểm soát và định hình hoạt động của Thiên Thần cùng kiểu ảnh hưởng của Thiên Thần lên Kẻ Chận Ngõ. Nó tác động đến nghiệp quả, thời điểm và thời kỳ.

9. The personality ray controls the Dweller in all the earlier states and up to the time when the soul ray begins steadily to produce a growing effect. This personality ray is, as you know, a combination of three energies which produce the fourth or personality ray, through the medium of their inter-relation over a vast period of time.

9. Cung phàm ngã kiểm soát Kẻ Chận Ngõ trong tất cả những trạng thái ban đầu, cho đến khi cung linh hồn bắt đầu đều đặn tạo ra một tác động ngày càng lớn. Cung phàm ngã này, như các bạn đã biết, là sự kết hợp của ba năng lượng; thông qua mối tương quan của chúng trong một khoảng thời gian rất dài, ba năng lượng ấy tạo ra cung thứ tư, tức cung phàm ngã.

10. Therefore, the five types of energy which I indicated to you as of importance in your own lives when I gave you indications as to the nature of your five controlling rays, govern also the relation between the Dweller and the Angel, both in the individual and in humanity as a whole. These five are the rays of the physical body, the astral ray, the mind ray, the personality ray and the soul ray.

10. Vì vậy, năm loại năng lượng mà Tôi đã chỉ ra là quan trọng trong đời sống của các bạn, khi Tôi cho các bạn những chỉ dẫn về bản chất của năm cung đang chi phối các bạn, cũng chi phối mối quan hệ giữa Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần, cả trong cá nhân lẫn toàn thể nhân loại. Năm cung này là cung thể xác, cung thể cảm dục, cung thể trí, cung phàm ngã và cung linh hồn.

11. The rays which govern humanity and which condition humanity and the present world problem are as follows:

11. Các cung chi phối nhân loại, tác động lên nhân loại và vấn đề thế giới hiện nay như sau:

a.

a.

The Soul ray

Cung linh hồn

2nd

Cung hai

humanity must express love.

nhân loại phải biểu lộ tình thương.

b.

b.

The personality ray

Cung phàm ngã

3rd

Cung ba

developing intelligence for transmutation into love-wisdom.

phát triển trí thông minh để chuyển hoá thành Bác Ái – Minh Triết.

c.

c.

Mind ray

Cung thể trí

5th

Cung năm

scientific achievement.

thành tựu khoa học.

d.

d.

Astral ray

Cung thể cảm dục

6th

Cung sáu

idealistic development.

phát triển lý tưởng.

e.

e.

Physical ray

Cung thể xác

7th

Cung bảy

organisation. Business.

tổ chức. Kinh doanh.

[157] The soul ray controls for an entire life period. The personality rays given above are for the Piscean Age which is now beginning to pass out; but these have definitely and irrevocably conditioned humanity.

[157] Cung linh hồn kiểm soát trong suốt một chu kỳ đời sống. Các cung phàm ngã nêu trên thuộc Kỷ Nguyên Song Ngư, hiện đang bắt đầu qua đi; nhưng chúng đã định hình nhân loại một cách rõ rệt và không thể đảo ngược.

You will note also that the first Ray of Will or Power is missing as is the fourth Ray of Harmony through Conflict. This fourth ray is always active as it controls in a peculiar manner the fourth creative Hierarchy and might be regarded as forming the basic personality ray of the fourth creative Hierarchy. The one given above is a transient and fleeting personality ray of a minor incarnation.

Các bạn cũng sẽ nhận thấy rằng cung một của Ý Chí hay Quyền Năng không có mặt, cũng như cung bốn của Hài Hoà qua Xung Đột. Cung bốn này luôn hoạt động vì nó kiểm soát Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư theo một cách đặc biệt, và có thể xem nó là cung phàm ngã cơ bản của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư. Cung đã nêu ở trên là một cung phàm ngã nhất thời và ngắn ngủi của một lần lâm phàm nhỏ.

12. In the Aquarian Age which is rapidly coming, the Dweller will present slightly different personality forces:

12. Trong Kỷ Nguyên Bảo Bình đang nhanh chóng đến gần, Kẻ Chận Ngõ sẽ biểu lộ các mãnh lực phàm ngã hơi khác:

a.

a.

Personality ray

Cung phàm ngã

5th

Cung năm

basic and determining.

cơ bản và mang tính quyết định.

b.

b.

Mind ray

Cung thể trí

4th

Cung bốn

the creative effect.

tác động sáng tạo.

c.

c.

Astral ray

Cung thể cảm dục

6th

Cung sáu

conditioning incentives.

định hình các động lực.

d.

d.

Physical ray

Cung thể xác

7th

Cung bảy

incoming ray.

cung đang đi vào.

13. Each great cycle in the zodiac is in the nature of an incarnation of the human family, and each great race is a somewhat similar happening; the latter is, however, of more importance where the human understanding and consciousness is concerned. The analogy is to the few important incarnations in the life of the soul in contra-distinction to the many unimportant and rapidly succeeding incarnations. Of the important incarnations there are three which are of major import: the Lemurian, the Atlantean, and the Aryan races.

13. Mỗi chu kỳ lớn trong hoàng đạo mang bản chất của một lần lâm phàm của gia đình nhân loại, và mỗi giống dân lớn cũng là một sự kiện có phần tương tự; tuy nhiên, sự kiện sau quan trọng hơn đối với sự thấu hiểu và tâm thức của con người. Điều này tương tự với một số ít lần lâm phàm quan trọng trong đời sống của linh hồn, đối lập với nhiều lần lâm phàm không quan trọng nối tiếp nhau nhanh chóng. Trong những lần lâm phàm quan trọng, có ba lần mang ý nghĩa trọng đại: các giống dân Lemuria, Atlantis và Arya.

14. Each race produced its own type of Dweller on the Threshold who was faced at the close of the spiritual cycle (not the physical which goes on to crystallisation) [158] when maturity was achieved and a certain initiation became possible for its advanced humanity.

14. Mỗi giống dân tạo ra một kiểu Kẻ Chận Ngõ riêng, mà giống dân ấy phải đối diện vào cuối chu kỳ tinh thần (không phải chu kỳ hồng trần, vốn tiếp tục đi đến sự kết tinh) [158] khi đã đạt đến sự trưởng thành và một cuộc điểm đạo nhất định trở nên khả thi đối với bộ phận nhân loại tiến bộ của giống dân ấy.

15. When a racial incarnation and a zodiacal cycle synchronise (which is not always the case) then there comes a significant and important focussing of the attention of the Dweller on the Angel and vice versa. This is taking place at this time at the close of the Piscean era and when the Aryan race has reached maturity and a relatively high water mark of development. Discipleship is significant of maturity, and it is with mature development that the Dweller is met. The Aryan race is ready for discipleship.

15. Khi một lần lâm phàm của giống dân và một chu kỳ hoàng đạo diễn ra đồng thời (điều không phải lúc nào cũng xảy ra), sự chú ý của Kẻ Chận Ngõ tập trung vào Thiên Thần, và ngược lại, theo một cách có thâm nghĩa và quan trọng. Hiện nay điều này đang diễn ra vào cuối thời đại Song Ngư, khi giống dân Arya đã đạt đến sự trưởng thành và một đỉnh cao phát triển tương đối. Địa vị đệ tử biểu thị sự trưởng thành, và chính khi phát triển đến độ trưởng thành, người ta mới gặp Kẻ Chận Ngõ. Giống dân Arya đã sẵn sàng cho địa vị đệ tử.

16. The development of sensitivity in the individual and in the race indicates the imminence of the recognition of the Angel from both angles of vision and the immediacy of the opportunity. This opportunity for active fusion has never been so true as now.

16. Sự phát triển tính nhạy cảm nơi cá nhân và nhân loại cho thấy việc nhận biết Thiên Thần từ cả hai góc nhìn đã gần kề, và cơ hội đang ở ngay trước mắt. Cơ hội chủ động dung hợp này chưa bao giờ hiện thực như lúc này.

17. The lines of demarcation as existing between the recognised areas of influence between the Dweller and the Angel are clearer than ever before in the history of the race. Man knows the difference between right and wrong and must now choose the way that he shall go. In the Atlantean racial crisis (which was also a complete human crisis), the history of which is perpetuated for us in the Bhagavad Gita, Arjuna—symbol of the then disciple and the world disciple—was frankly bewildered. This is not so true now. The disciples of the world and the world disciple do see the issues today relatively quite clearly. Will expediency win or will the Dweller be sacrificed with love and understanding to the Angel? This is the major problem.

17. Những đường phân định giữa các phạm vi ảnh hưởng đã được nhận biết của Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần rõ ràng hơn bất cứ lúc nào trước đây trong lịch sử nhân loại. Con người biết sự khác biệt giữa đúng và sai, và giờ đây phải chọn con đường mình sẽ đi. Trong cuộc khủng hoảng của giống dân Atlantis (cũng là một cuộc khủng hoảng của toàn thể nhân loại), mà lịch sử được lưu truyền cho chúng ta trong Chí Tôn Ca, Arjuna—biểu tượng của đệ tử thời ấy và của đệ tử thế giới—quả thực đã hoang mang. Giờ đây điều ấy không còn đúng như trước. Ngày nay, các đệ tử trên thế giới và đệ tử thế giới thực sự nhìn thấy các vấn đề tương đối rõ ràng. Liệu sự vụ lợi sẽ thắng thế, hay Kẻ Chận Ngõ sẽ được hi sinh cho Thiên Thần với tình thương và sự thấu hiểu? Đây là vấn đề chính.

[159] I will ask you, my brother, to do two things: study the above ideas in the light of the present world crisis, and in the light of your own soul-personality problem.

[159] Hỡi huynh đệ của tôi, Tôi sẽ yêu cầu huynh đệ làm hai việc: nghiên cứu những ý tưởng trên dưới ánh sáng của cuộc khủng hoảng thế giới hiện nay, và dưới ánh sáng của vấn đề linh hồn–phàm ngã của chính huynh đệ.

Advanced humanity stands, as the Dweller, on the very threshold of divinity. The Angel stands expectant—absorbed in the PRESENCE yet ready to absorb the Dweller. Humanity has advanced in consciousness to the very boundaries of the world of spiritual values and the kingdom of Light and of God. The Angel has “come to Earth” in expectation of recognition—an event of which the advent of Christ two thousand years ago was the symbol and the precursor. This is the situation where all advanced aspirants are concerned. It can be yours. It is the situation also where humanity as a whole is concerned and the approaching Hierarchy. The consciousness of humanity from the higher and spiritual standpoint functions today through the steadily growing band of world servers, world aspirants and world disciples, and their name is Legion.

Bộ phận nhân loại tiến bộ, với tư cách Kẻ Chận Ngõ, đang đứng ngay trên ngưỡng cửa của thiên tính. Thiên Thần đứng chờ đợi—đắm mình trong HIỆN DIỆN nhưng vẫn sẵn sàng thu nhận Kẻ Chận Ngõ vào mình. Tâm thức nhân loại đã tiến đến tận ranh giới của thế giới các giá trị tinh thần và giới của Ánh Sáng và Thượng đế. Thiên Thần đã “đến Trái Đất” trong sự chờ đợi được nhận biết—một sự kiện mà sự giáng lâm của Đức Christ hai nghìn năm trước là biểu tượng và dấu hiệu báo trước. Đây là tình thế của tất cả những người chí nguyện tiến bộ. Đó có thể là tình thế của huynh đệ. Đây cũng là tình thế của toàn thể nhân loại và Thánh đoàn đang đến gần. Ngày nay, xét từ quan điểm cao hơn và tinh thần, tâm thức nhân loại hoạt động thông qua đội ngũ ngày càng đông đảo những người phụng sự thế gian, những người chí nguyện thế giới và những đệ tử thế giới; họ đông vô số.

Humanity today is the Dweller whilst the Hierarchy of Souls is the Angel and behind stands the PRESENCE of Divinity Itself, intuited by the Hierarchy and dimly sensed by humanity but providing in this manner that threefold synthesis which is divine manifestation in form.

Ngày nay nhân loại là Kẻ Chận Ngõ, còn Thánh đoàn các Linh Hồn là Thiên Thần, và phía sau là HIỆN DIỆN của chính Thiên Tính; Thánh đoàn trực nhận HIỆN DIỆN ấy, còn nhân loại cảm nhận một cách mơ hồ, nhưng bằng cách này, HIỆN DIỆN tạo nên sự tổng hợp tam phân vốn là sự biểu hiện thiêng liêng trong hình tướng.

All these three have powerful emanations (though the emanation of the PRESENCE via Shamballa has been wisely held in leash since the human race came into being). They all have auras, if you care so to call them, and in the three worlds at present that of the Dweller is still the most powerful, just as in the life of the aspirant, his personality is as yet the dominant predisposing factor. It is this powerful human emanation which constitutes the major glamour in the life of humanity and of the individual disciple. It is a synthesis of glamour, fused and blended by the personality ray but precipitated by the effect of the steadily influencing soul ray. It [160] is the shadow or distortion of reality, now sensed for the first time on a large scale by the race of men and thrown into high relief by the light which shines from the Angel, the transmitter of energy from the PRESENCE.

Cả ba đều có những phát xạ mạnh mẽ (mặc dù phát xạ của HIỆN DIỆN thông qua Shamballa đã được kiềm giữ một cách minh triết kể từ khi nhân loại xuất hiện). Cả ba đều có hào quang, nếu các bạn muốn gọi như vậy, và hiện nay trong ba cõi giới, hào quang của Kẻ Chận Ngõ vẫn mạnh nhất, cũng như trong đời sống của người chí nguyện, phàm ngã của y vẫn là yếu tố chi phối và tạo khuynh hướng chủ đạo. Chính phát xạ mạnh mẽ này của con người tạo thành ảo cảm chủ yếu trong đời sống nhân loại và của từng đệ tử. Đó là một sự tổng hợp của ảo cảm, do cung phàm ngã dung hợp và hoà trộn, nhưng ngưng tụ do tác động của cung linh hồn đang ảnh hưởng ngày càng đều đặn. Nó [160] là cái bóng hay sự biến dạng của thực tại, mà nay lần đầu tiên nhân loại cảm nhận trên quy mô lớn, và ánh sáng toả ra từ Thiên Thần, Đấng truyền năng lượng từ HIỆN DIỆN, làm cho nó hiện rõ nổi bật.

And so they stand—Humanity and the Hierarchy. And so you stand, my brother, personality and soul, with freedom to go forward into the light if you so determine or to remain static and unprogressive, learning nothing and getting nowhere; you are equally free to return to identification with the Dweller, negating thus the influence of the Angel, refusing imminent opportunity and postponing—until a much later cycle—your determining choice. This is true of you and of Humanity as a whole. Will humanity’s third ray materialistic personality dominate the present situation or will its soul of love prove the most powerful factor, taking hold of the personality and its little issues, leading it to discriminate rightly and to recognise the true values and thus bring in the age of soul or hierarchical control? Time alone will show.

Và như thế, Nhân Loại và Thánh đoàn đứng đó. Và huynh đệ cũng đứng như thế, hỡi huynh đệ của tôi, với phàm ngã và linh hồn, tự do tiến vào ánh sáng nếu huynh đệ quyết tâm như vậy, hoặc vẫn đứng yên và không tiến bộ, không học được gì và chẳng đi đến đâu; huynh đệ cũng tự do trở lại đồng hoá với Kẻ Chận Ngõ, qua đó phủ nhận ảnh hưởng của Thiên Thần, từ chối cơ hội đang đến gần và trì hoãn sự lựa chọn mang tính quyết định của mình đến một chu kỳ muộn hơn nhiều. Điều này đúng với huynh đệ và với toàn thể Nhân Loại. Liệu phàm ngã duy vật cung ba của nhân loại sẽ chi phối tình thế hiện nay, hay linh hồn bác ái của nhân loại sẽ chứng tỏ là yếu tố mạnh nhất, nắm lấy phàm ngã cùng những vấn đề nhỏ nhặt của nó, dẫn nó đến sự phân biện đúng đắn và nhận biết các giá trị chân thực, từ đó mở ra thời đại dưới sự kiểm soát của linh hồn hay Thánh đoàn? Chỉ thời gian mới cho thấy.

I will give you no more today. I am anxious for these few essential statements to be mastered by all of you, prior to our taking up Section III. I am anxious too for the general group instructions, which you have lately received, to take much of your time, interest and attention. Inner group adjustments and more firmly established group relations are urgently needed and upon these I ask you to work. I would remind you here also that—as in all else in manifestation—there is a group personality and a group soul; you must learn clearly to distinguish between the two and to throw the entire weight of your influence, desire and pressure on the side of the Group Angel. In this way there might occur that stupendous recognition for which all initiation prepares the applicant—the revelation of the PRESENCE.

Hôm nay Tôi sẽ không truyền đạt thêm. Tôi tha thiết mong tất cả các bạn nắm vững vài điều cốt yếu này trước khi chúng ta đi vào Phần III. Tôi cũng tha thiết mong các huấn thị chung dành cho nhóm mà các bạn vừa nhận được chiếm phần lớn thời gian, sự quan tâm và chú ý của các bạn. Những điều chỉnh nội bộ nhóm và các mối quan hệ nhóm vững chắc hơn là điều hết sức cấp thiết, và Tôi yêu cầu các bạn nỗ lực thực hiện những điều này. Ở đây, Tôi cũng muốn nhắc các bạn rằng—cũng như mọi điều khác trong sự biểu hiện—có một phàm ngã nhóm và một linh hồn nhóm; các bạn phải học cách phân biệt rõ hai điều ấy và dồn toàn bộ sức ảnh hưởng, dục vọng và sức thúc đẩy của mình về phía Thiên Thần của Nhóm. Theo cách này, sự nhận biết kỳ diệu mà mọi cuộc điểm đạo đều chuẩn bị cho người xin điểm đạo có thể xảy ra—sự mặc khải HIỆN DIỆN.

Leave a Comment

Scroll to Top