TCF 190-202 S2S8
|
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR) |
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện) |
|
Please Read these Commentaries with your TCF Book Handy for the Sake of Continuity. The extensive commentary may otherwise disrupt the sense of flow. |
Xin đọc các phần Bình Luận này với sách TCF trong tầm tay để giữ được tính liên tục. Nếu không, phần bình luận quá rộng có thể làm gián đoạn mạch chảy của ý nghĩa. |
|
1. We recall our context. We are focusing on the Senses and the Centres. |
1. Chúng ta nhớ lại bối cảnh của mình. Chúng ta đang tập trung vào các Giác Quan và các Trung Tâm. |
|
2. We will again tabulate them here as they appear on TCF, 189. |
2. Tại đây, chúng ta sẽ lại lập bảng chúng như chúng xuất hiện trong TCF, 189. |
|
We might here, for the sake of clarity, tabulate the five different aspects of the five senses on the five planes, so that their correspondences may be readily visualised, using the above table as the basis: |
Tại đây, vì mục đích làm sáng tỏ, chúng ta có thể lập bảng năm phương diện khác nhau của năm giác quan trên năm cõi, để các tương ứng của chúng có thể được hình dung một cách dễ dàng, dùng bảng trên làm cơ sở: |
|
3. We might note that DK asks for an act of visualization in relation to the five different aspects of the five senses on the five planes. It is unlikely that any of us will grasp with fulness the significance of the highest and, even, the higher correspondences to the five senses. Acts of visualization may be the best method for learning at least something of them. |
3. Chúng ta có thể lưu ý rằng Chân sư DK yêu cầu một hành vi hình dung liên quan đến năm phương diện khác nhau của năm giác quan trên năm cõi. Khó có khả năng bất kỳ ai trong chúng ta sẽ nắm bắt đầy đủ thâm nghĩa của những tương ứng cao nhất và thậm chí cả những tương ứng cao hơn đối với năm giác quan. Những hành vi hình dung có thể là phương pháp tốt nhất để học được ít nhất điều gì đó về chúng. |
|
4. It is also necessary to study the subplanes upon which a particular faculty appears. For instance, in relation to the sense of hearing, it is significant that this sense and its higher correspondences appear on the fifth subplane of the physical, the fifth subplane of the astral, the seventh subplane of the mental, the seventh subplane of the buddhic and the seventh of the atmic (all counting from above downwards). |
4. Cũng cần phải nghiên cứu các cõi phụ mà trên đó một năng lực đặc thù xuất hiện. Chẳng hạn, liên quan đến giác quan thính giác, điều có ý nghĩa là giác quan này và các tương ứng cao hơn của nó xuất hiện trên cõi phụ thứ năm của cõi hồng trần, cõi phụ thứ năm của cõi cảm dục, cõi phụ thứ bảy của cõi trí, cõi phụ thứ bảy của cõi Bồ đề và cõi phụ thứ bảy của cõi atma (tất cả đều đếm từ trên xuống dưới). |
|
5. Another way of cross-referencing is to compare all senses occurring on a particular subplane with each other. |
5. Một cách đối chiếu khác là so sánh tất cả các giác quan xuất hiện trên một cõi phụ nhất định với nhau. |
|
a. The First Sense……Hearing. |
a. Giác quan thứ nhất……Thính giác. |
|
1. Physical hearing. |
1. Thính giác hồng trần. |
|
2. Clairaudience. |
2. Thông nhĩ. |
|
3. Higher clairaudience. |
3. Thông nhĩ cao. |
|
4. Comprehension (of four sounds) |
4. Sự lĩnh hội (bốn âm thanh) |
|
5. Beatitude. |
5. Chí phúc. |
|
6. General observations: |
6. Những nhận xét tổng quát: |
|
a. All five of these capacities are related to the sense of hearing. It is especially important to grasp this when thinking of the final two faculties—Comprehension and Beatitude. |
a. Cả năm năng lực này đều liên hệ với giác quan thính giác. Điều đặc biệt quan trọng là phải nắm được điều này khi suy nghĩ về hai năng lực cuối cùng—Sự lĩnh hội và Chí phúc. |
|
b. The third aspect of divinity, correlated with the area of the throat and ears is always the first to develop in the evolutionary cycle. |
b. Phương diện thứ ba của thiên tính, tương ứng với vùng cổ họng và tai, luôn luôn là phương diện đầu tiên phát triển trong chu kỳ tiến hóa. |
|
c. The heart is involved with the higher aspects of hearing. The “heart” is formed by the “hear” plus the cross (the “t”). |
c. Tim có liên quan đến các phương diện cao hơn của thính giác. “Heart” được hình thành từ “hear” cộng với thập giá (chữ “t”). |
|
d. Leaders upon the first ray are often called “dictators”. They speak directly and expect to be heard and obeyed. This dynamic illustrates the close relation between the first and the third ray. First ray types prefer to appeal directly to the ear rather than to the eye through the written word. |
d. Các nhà lãnh đạo trên cung một thường được gọi là “nhà độc tài”. Họ nói trực tiếp và mong được lắng nghe và tuân phục. Tính năng động này minh họa mối liên hệ chặt chẽ giữa cung một và cung ba. Những người thuộc cung một thích tác động trực tiếp đến tai hơn là đến mắt qua lời viết. |
|
e. The sense of hearing is related to what might be called ‘Lemurian perception’. |
e. Giác quan thính giác liên hệ với điều có thể được gọi là ‘tri giác Lemuria’. |
|
b. The Second Sense…..Touch or feeling. |
b. Giác quan thứ hai…..Xúc giác hay cảm giác. |
|
1. Physical touch. |
1. Xúc giác hồng trần. |
|
2. Psychometry. |
2. Thuật trắc tâm. |
|
3. Planetary psychometry. |
3. Thuật trắc tâm hành tinh. |
|
4. Healing. |
4. Trị liệu. |
|
5. Active service. |
5. Phụng sự tích cực. |
|
7. General observations: |
7. Những nhận xét tổng quát: |
|
a. All the five capacities are based upon the sense of touch. |
a. Cả năm năng lực đều dựa trên giác quan xúc giác. |
|
b. The faculties related to the astral and mental planes are similar, but with respect to the mental plane there is a great expansion in scope. Psychometry becomes planetary psychometry. |
b. Các năng lực liên hệ với cõi cảm dục và cõi trí thì tương tự nhau, nhưng đối với cõi trí có một sự mở rộng rất lớn về phạm vi. Thuật trắc tâm trở thành thuật trắc tâm hành tinh. |
|
c. It is important, when thinking of the essence of both Healing and Active Service, that they are fundamentally based on the sense of touch. Neither can occur without a refined sense of touch. |
c. Điều quan trọng, khi suy nghĩ về bản chất của cả Trị liệu lẫn Phụng sự Tích cực, là chúng về căn bản đều dựa trên giác quan xúc giác. Không điều nào trong hai điều ấy có thể xảy ra nếu không có một giác quan xúc giác tinh luyện. |
|
d. The sense of touch is correlated to both the sixth and second rays (the two of which are closely related to each other). The fact that touch is the second sense in the developmental evolutionary sequence relates it to the second ray. Touch is also the predominant sense related to the astral plane, which is the sixth plane (counting from above) and thus related to the second ray. That the astral plane is the second (counting from below) relates it to the second ray. |
d. Giác quan xúc giác tương ứng với cả cung sáu lẫn cung hai (hai cung này có liên hệ chặt chẽ với nhau). Sự kiện rằng xúc giác là giác quan thứ hai trong trình tự phát triển tiến hóa khiến nó liên hệ với cung hai. Xúc giác cũng là giác quan nổi trội liên hệ với cõi cảm dục, là cõi thứ sáu (đếm từ trên xuống) và do đó liên hệ với cung hai. Việc cõi cảm dục là cõi thứ hai (đếm từ dưới lên) khiến nó liên hệ với cung hai. |
|
e. The sense of touch is related to what might be called ‘Atlantean perception’. |
e. Giác quan xúc giác liên hệ với điều có thể được gọi là ‘tri giác Atlantis’. |
|
c. The Third Sense……Sight. |
c. Giác quan thứ ba……Thị giác. |
|
1. Physical sight. |
1. Thị giác hồng trần. |
|
2. Clairvoyance. |
2. Thông nhãn. |
|
3. Higher clairvoyance. |
3. Thông nhãn cao. |
|
4. Divine vision. |
4. linh thị thiêng liêng. |
|
5. Realisation. |
5. (sự)chứng nghiệm. |
|
8. General observations: |
8. Những nhận xét tổng quát: |
|
a. All these five faculties are related to the sense of sight |
a. Cả năm năng lực này đều liên hệ với giác quan thị giác |
|
b. The sense of sight is the sense preeminently relating to the mental plane. |
b. Giác quan thị giác là giác quan nổi bật nhất liên hệ với cõi trí. |
|
c. The sense of sight was initially developed during the second part of the Lemurian rootrace (the third rootrace). The higher correspondences of this sense were especially developed during the Aryan rootrace, which is the third of the self-conscious rootraces, hence the importance of the number three in relation to the sense of sight. |
c. Giác quan thị giác ban đầu được phát triển trong phần thứ hai của giống dân gốc Lemuria (giống dân gốc thứ ba). Các tương ứng cao hơn của giác quan này đặc biệt được phát triển trong giống dân gốc Arya, là giống dân thứ ba trong các giống dân gốc có ngã thức, do đó tầm quan trọng của con số ba liên quan đến giác quan thị giác. |
|
d. The sense of sight is correlated especially to the fifth ray, the Ray of Observation. |
d. Giác quan thị giác đặc biệt tương ứng với cung năm, Cung của Quan Sát. |
|
e. It is also correlated to the first ray (the Ray of Synthesis) because sight is a synthetic sense facilitating the grasp of many relationships simultaneously. |
e. Nó cũng tương ứng với cung một (Cung của Tổng Hợp) bởi vì thị giác là một giác quan tổng hợp, tạo điều kiện cho việc nắm bắt đồng thời nhiều mối liên hệ. |
|
f. Sight is also correlated to the third ray because the development of sight correlates with the development of intelligence. |
f. Thị giác cũng tương ứng với cung ba bởi vì sự phát triển của thị giác tương ứng với sự phát triển của trí tuệ. |
|
g. Four of the corresponding senses/faculties relate easily and understandably to the sense of sight. It must be realized that “Realization” is also an aspect of sight—atmic sight. |
g. Bốn trong các giác quan/năng lực tương ứng liên hệ một cách dễ dàng và dễ hiểu với giác quan thị giác. Cần phải nhận ra rằng “(sự)chứng nghiệm” cũng là một phương diện của thị giác—thị giác atma. |
|
h. We should not leave out the correlation of sight to the second ray, the ray most sensitive to light. |
h. Chúng ta cũng không nên bỏ qua sự tương ứng của thị giác với cung hai, cung nhạy cảm nhất với ánh sáng. |
|
d. The Fourth Sense…..Taste. |
d. Giác quan thứ tư…..Vị giác. |
|
1. Physical taste. |
1. Vị giác hồng trần. |
|
2. Imagination. |
2. Sự tưởng tượng. |
|
3. Discrimination. |
3. Sự phân biện. |
|
4. Intuition. |
4. Trực giác. |
|
5. Perfection. |
5. Sự hoàn hảo. |
|
9. General observations: |
9. Những nhận xét tổng quát: |
|
a. All these five faculties are related to the sense of taste. |
a. Cả năm năng lực này đều liên hệ với vị giác. |
|
b. The sense of taste will be far more fully developed during the sixth and coming rootrace. |
b. Vị giác sẽ được phát triển đầy đủ hơn rất nhiều trong giống dân gốc thứ sáu sắp đến. |
|
c. The sense of taste is particularly correlated to the buddhic plane and the faculty of buddhi. |
c. Vị giác đặc biệt tương quan với cõi Bồ đề và năng lực buddhi. |
|
d. The development of buddhi confers a heightened sense of values, necessary if the higher correspondences to the sense of taste are to be developed. |
d. Sự phát triển của buddhi ban cho một ý thức về giá trị được nâng cao, điều cần thiết nếu các tương ứng cao hơn với vị giác muốn được phát triển. |
|
e. Whereas the higher correspondences relating to the three senses just considered are for the most part easily seen as related to the particular sense on which all of them are based, it is more difficult to see the relation between physical taste and its four higher correspondences. This will have to be worked out. |
e. Trong khi các tương ứng cao hơn liên quan đến ba giác quan vừa được xét phần lớn dễ thấy là có liên hệ với giác quan đặc thù mà tất cả chúng đều dựa trên đó, thì khó thấy hơn mối liên hệ giữa vị giác hồng trần và bốn tương ứng cao hơn của nó. Điều này sẽ phải được khai triển. |
|
f. The sense of taste involves the factor of choice—acceptance or rejection. |
f. Vị giác bao hàm yếu tố lựa chọn—chấp nhận hoặc từ chối. |
|
i. Taste is related to desire and one’s sense of values. According to one’s desires and values so one imagines, fashioning only certain types of images and. |
i. Vị giác liên hệ với dục vọng và ý thức về giá trị của một người. Theo dục vọng và giá trị của mình, người ta tưởng tượng, chỉ tạo tác những loại hình ảnh nhất định mà thôi. |
|
ii. According to one’s desires and sense of values one chooses to identify with the soul or with the personality sphere. In this choice discrimination is exercised. |
ii. Theo dục vọng và ý thức về giá trị của mình, người ta chọn đồng hoá với linh hồn hay với phạm vi của phàm ngã. Trong sự lựa chọn này, sự phân biện được vận dụng. |
|
iii. According to one’s desires and sense of values one chooses to be cognizant of the wholeness or merely of parts. Thus the factor of intuition, which is ever aware of wholeness, unity, cohesions and the One is engaged. |
iii. Theo dục vọng và ý thức về giá trị của mình, người ta chọn nhận biết tính toàn thể hay chỉ các phần riêng lẻ. Vì vậy, yếu tố trực giác, vốn luôn ý thức về tính toàn thể, sự hợp nhất, sự kết dính và Đấng Duy Nhất, được vận dụng. |
|
iv. According to one’s desires and sense of values one learns to reject that which is unsuitable for the achievement of a final perfection. One must exercise a refined spiritual ‘taste’ to select only that which is suitable to that final arrangement of energies called perfection. |
iv. Theo dục vọng và ý thức về giá trị của mình, người ta học cách từ chối điều không thích hợp cho việc đạt đến một sự hoàn hảo tối hậu. Người ta phải vận dụng một “vị giác” tinh thần tinh tế để chỉ chọn điều thích hợp với sự sắp xếp năng lượng tối hậu ấy, được gọi là sự hoàn hảo. |
|
g. Because the sense of taste is the fourth sense in the evolutionary, developmental sequence, it is naturally related to the fourth ray of Harmony, Beauty and Art. Even conventionally, it is often recognized that those with the fourth ray prominent are endowed with a more developed sense of ‘taste’ (on the several levels to which this sense may be applied). |
g. Bởi vì vị giác là giác quan thứ tư trong chuỗi tiến hoá và phát triển, nên tự nhiên nó liên hệ với cung bốn của Hài Hòa, Mỹ Đẹp và Nghệ Thuật. Ngay cả theo cách hiểu thông thường, người ta cũng thường công nhận rằng những ai nổi trội cung bốn được phú cho một ý thức “thẩm vị” phát triển hơn (trên nhiều cấp độ mà giác quan này có thể được áp dụng). |
|
h. The second, fourth and sixth rays are concerned with this sense. Buddhi, required for the full development of this sense, is the sixth principle and thus related to the sixth ray. Buddhi is also the conveyer of the second ray of love wisdom. The buddhic plane is the fourth and thus related to the fourth ray. |
h. Cung hai, cung bốn và cung sáu đều liên quan đến giác quan này. Buddhi, cần thiết cho sự phát triển trọn vẹn của giác quan này, là nguyên khí thứ sáu và vì thế liên hệ với cung sáu. Buddhi cũng là tác nhân chuyển tải cung hai của bác ái-minh triết. Cõi Bồ đề là cõi thứ tư và vì thế liên hệ với cung bốn. |
|
i. From one angle, the sense of taste can be considered one of the lower senses, very dependent upon the sense of touch. From a higher perspective, it is one of the later senses to develop. |
i. Từ một góc độ, vị giác có thể được xem là một trong những giác quan thấp, rất lệ thuộc vào xúc giác. Từ một viễn tượng cao hơn, nó là một trong những giác quan phát triển muộn hơn. |
|
e. The Fifth Sense……Smell. |
e. Giác quan thứ năm……Khứu giác. |
|
1. Physical smell. |
1. Khứu giác hồng trần. |
|
2. Emotional idealism. |
2. Chủ nghĩa lý tưởng cảm xúc. |
|
3. Spiritual discernment. |
3. Sự phân biện tinh thần. |
|
4. Idealism. |
4. Chủ nghĩa lý tưởng. |
|
5. All knowledge. |
5. Mọi tri thức. |
|
10. General observations: |
10. Những nhận xét tổng quát: |
|
a. All these five faculties are related to the sense of smell. |
a. Cả năm năng lực này đều liên hệ với khứu giác. |
|
b. As with the sense of taste, the higher correspondences to the physical sense of smell are not immediately to be seen as related to that physical sense. Thought is required to show the relationships and will be expended. |
b. Cũng như với vị giác, các tương ứng cao hơn với khứu giác hồng trần không thể lập tức được thấy là có liên hệ với giác quan hồng trần ấy. Cần có tư duy để chỉ ra các mối liên hệ, và tư duy ấy sẽ được vận dụng. |
|
c. In general all the faculties built upon the sense of smell (and even the physical sense of smell) concern that which is not obvious to sight, but which is present and may be detected by the discernment which the sense of smell embodies. |
c. Nói chung, mọi năng lực được xây dựng trên khứu giác (và ngay cả khứu giác hồng trần) đều liên quan đến điều không hiển nhiên đối với thị giác, nhưng vẫn hiện diện và có thể được phát hiện nhờ sự phân biện mà khứu giác thể hiện. |
|
d. The foundational sense of the atmic plane is the sense of smell. Thus, although the sense of smell can be considered a rudimentary sense in one respect (and very animal in nature), its essence is of a very refined nature and pertains most directly to the highest of the five planes under consideration. |
d. Giác quan nền tảng của cõi atma là khứu giác. Vì vậy, tuy khứu giác có thể được xem là một giác quan sơ khai ở một phương diện nào đó (và rất có bản chất động vật), tinh túy của nó lại có bản chất rất tinh luyện và liên hệ trực tiếp nhất đến cõi cao nhất trong năm cõi đang được xem xét. |
|
e. Since the atmic plane is ruled by the first and third rays, the sense of smell must also be related to these rays. |
e. Vì cõi atma được cai quản bởi cung một và cung ba, nên khứu giác cũng phải liên hệ với các cung này. |
|
f. Further, an examination of the higher correspondences to the physical sense of smell will reveal the importance of the sixth ray of Idealism—for both Emotional Idealism and Idealism are listed among the higher correspondences. |
f. Hơn nữa, việc khảo sát các tương ứng cao hơn với khứu giác hồng trần sẽ cho thấy tầm quan trọng của cung sáu của Chủ nghĩa Lý tưởng—vì cả Chủ nghĩa Lý tưởng Cảm xúc lẫn Chủ nghĩa Lý tưởng đều được liệt kê trong các tương ứng cao hơn. |
|
g. We do remember, however, the close relationship existing between the third and the sixth rays. The third ray is visible in relation to such faculties as Spiritual Discernment and All Knowledge, just as the sixth is in relation to Emotional Idealism and Idealism. |
g. Tuy nhiên, chúng ta vẫn nhớ mối liên hệ mật thiết hiện hữu giữa cung ba và cung sáu. Cung ba biểu lộ trong mối liên hệ với những năng lực như Sự Phân Biện Tinh Thần và Mọi Tri Thức, cũng như cung sáu biểu lộ trong mối liên hệ với Chủ nghĩa Lý tưởng Cảm xúc và Chủ nghĩa Lý tưởng. |
|
11. It has been said above that another way of comparing the senses is to list all those which occur on the same subplane of any plane. The lists would then be as follows: |
11. Trên đây đã nói rằng một cách khác để so sánh các giác quan là liệt kê tất cả những giác quan xuất hiện trên cùng một cõi phụ của bất kỳ cõi nào. Khi đó các danh sách sẽ như sau: |
|
a. Appearing on the seventh subplane |
a. Xuất hiện trên cõi phụ thứ bảy |
|
i. Higher Clairaudience |
i. Thông nhĩ cao hơn |
|
ii. Comprehension |
ii. Sự thấu hiểu |
|
iii. Beatitude |
iii. Chí phúc |
|
b. Appearing on the sixth subplane |
b. Xuất hiện trên cõi phụ thứ sáu |
|
i. Planetary psychometry |
i. Thuật trắc tâm hành tinh |
|
ii. Healing |
ii. Trị liệu |
|
iii. Active Service |
iii. Phụng sự tích cực |
|
c. Appearing on the fifth subplane |
c. Xuất hiện trên cõi phụ thứ năm |
|
i. Physical hearing |
i. Thính giác hồng trần |
|
ii. Clairaudience |
ii. Thông nhĩ |
|
iii. Higher clairvoyance |
iii. Thông nhãn cao hơn |
|
iv. Divine vision |
iv. Linh thị thiêng liêng |
|
v. Realization |
v. Sự chứng nghiệm |
|
d. Appearing on the fourth subplane |
d. Xuất hiện trên cõi phụ thứ tư |
|
i. Physical touch, feeling |
i. Xúc giác hồng trần, cảm giác |
|
ii. Psychometry |
ii. Thuật trắc tâm |
|
iii. Discrimination |
iii. Sự phân biện |
|
iv. Intuition |
iv. Trực giác |
|
v. Perfection |
v. Sự hoàn hảo |
|
e. Appearing on the third subplane |
e. Xuất hiện trên cõi phụ thứ ba |
|
i. Physical sight |
i. Thị giác hồng trần |
|
ii. Clairvoyance |
ii. Thông nhãn |
|
iii. Spiritual discernment |
iii. Sự phân biện tinh thần |
|
iv. Idealism |
iv. Chủ nghĩa lý tưởng |
|
v. All knowledge |
v. Mọi tri thức |
|
f. Appearing on the second subplane |
f. Xuất hiện trên cõi phụ thứ hai |
|
i. Physical taste |
i. Vị giác hồng trần |
|
ii. Imagination |
ii. Sự tưởng tượng |
|
iii. Response to group vibration |
iii. Đáp ứng với rung động nhóm |
|
g. Appearing on the first subplane |
g. Xuất hiện trên cõi phụ thứ nhất |
|
i. Physical smell |
i. Khứu giác hồng trần |
|
ii. Emotional idealism |
ii. Chủ nghĩa lý tưởng cảm xúc |
|
iii. Spiritual telepathy |
iii. Viễn cảm tinh thần |
|
12. The ordering suggested is different from that ordering (listed by the Tibetan) which is created by comparing, let us say, all the senses in the lowest position of any series of five (or, in one case, seven), in the next to lowest position, etc., etc.. In the Tibetan’s arrangement, Response to Group Vibration and Spiritual Telepathy are not compared to other senses. |
12. Trật tự được gợi ý này khác với trật tự kia (do Chân sư Tây Tạng liệt kê), vốn được tạo ra bằng cách so sánh, chúng ta hãy nói rằng, tất cả các giác quan ở vị trí thấp nhất của bất kỳ chuỗi năm giác quan nào (hoặc trong một trường hợp là bảy), rồi đến vị trí thấp kế tiếp, v.v.. Trong cách sắp xếp của Chân sư Tây Tạng, Đáp ứng với Rung động Nhóm và Viễn cảm Tinh thần không được so sánh với các giác quan khác. |
|
13. While some of these relationships might not be readily understandable, they would repay pondering. Finding similarities between apparently dissimilar things is a method of illumination. |
13. Dù một số mối liên hệ này có thể không dễ hiểu ngay, chúng vẫn đáng để suy ngẫm. Tìm ra những điểm tương đồng giữa những điều bề ngoài khác nhau là một phương pháp soi sáng. |
|
14. In interpreting faculties/senses assembled in this way, the relationships between one/three, two/four, three/five, four/ six, etc. must be considered. |
14. Khi diễn giải các năng lực/giác quan được tập hợp theo cách này, phải xét đến các mối liên hệ giữa một/ba, hai/bốn, ba/năm, bốn/sáu, v.v.. |
|
[Page 190] |
|
|
Let us now proceed to take up each of these senses in detail: |
Giờ đây chúng ta hãy tiếp tục khảo sát chi tiết từng giác quan này: |
|
15. We will attempt to understand the development of these senses from the occult perspective. |
15. Chúng ta sẽ cố gắng thấu hiểu sự phát triển của các giác quan này từ viễn tượng huyền bí học. |
|
a. Hearing. This, very appropriately, is the first sense to be manifested; the first aspect of manifestation is that of sound, and necessarily therefore we would expect sound to be the first thing noticed by man on the physical plane, the plane of densest manifestation, and of the most marked effects of sound, regarding it as a creating factor. |
a. Thính giác. Điều này, rất thích đáng, là giác quan đầu tiên được biểu lộ; phương diện đầu tiên của sự biểu lộ là âm thanh, và tất yếu do đó chúng ta sẽ chờ đợi âm thanh là điều đầu tiên được con người nhận biết trên cõi hồng trần, cõi của sự biểu lộ đậm đặc nhất, và của những hiệu quả rõ rệt nhất của âm thanh, khi xem nó như một yếu tố sáng tạo. |
|
16. In this section we find sound to be related both to the highest and the lowest of the planes under consideration (as per the tabulation in the Secret Doctrine) |
16. Trong phần này, chúng ta thấy âm thanh liên hệ với cả cõi cao nhất lẫn cõi thấp nhất trong các cõi đang được xem xét (theo bảng liệt kê trong Giáo Lý Bí Nhiệm) |
|
a. Aether Hearing, Sound Atmic plane |
a. Thính giác dĩ thái, Âm thanh Cõi atma |
|
b. Air Touch Sound, touch Buddhic plane |
b. Khí Xúc giác Âm thanh, xúc giác Cõi Bồ đề |
|
c. Fire Sight Sound, touch, sight Mental plane |
c. Lửa Thị giác Âm thanh, xúc giác, thị giác Cõi trí |
|
d. Water Taste Sound, touch, sight, taste Astral plane |
d. Nước Vị giác Âm thanh, xúc giác, thị giác, vị giác Cõi cảm dục |
|
e. Earth Smell Sound, touch, sight, taste, smell Physical plane |
e. Đất Khứu giác Âm thanh, xúc giác, thị giác, vị giác, khứu giác Cõi hồng trần |
|
17. In a still more fundamental respect, sound should be related to the Akasha of the second plane, a plane which is not included in this tabulation. |
17. Ở một phương diện còn căn bản hơn nữa, âm thanh phải được liên hệ với Akasha của cõi thứ hai, một cõi không được bao gồm trong bảng liệt kê này. |
|
18. The major idea put forward is that the originating sense (on the highest of the planes considered) will be the first sense developed (on the lowest of the planes considered). |
18. Ý tưởng chính được nêu ra là giác quan khởi nguyên (trên cõi cao nhất trong các cõi được xét) sẽ là giác quan đầu tiên được phát triển (trên cõi thấp nhất trong các cõi được xét). |
|
19. It is interesting that the physical plane, whereon densest manifestation occurs, is considered the plane where the “most marked effects of sound” are to be experienced, if sound is regarded as a “creating factor”. |
19. Thật thú vị khi cõi hồng trần, nơi sự biểu lộ đậm đặc nhất xảy ra, lại được xem là cõi mà “những hiệu quả rõ rệt nhất của âm thanh” được kinh nghiệm, nếu âm thanh được xem như một “yếu tố sáng tạo”. |
|
20. Through sound, magical effects are wrought on the physical plane. Similar effects on subtler planes would, perhaps, not be considered quite so magical. |
20. Thông qua âm thanh, các hiệu quả huyền thuật được tạo ra trên cõi hồng trần. Những hiệu quả tương tự trên các cõi vi tế hơn có lẽ sẽ không được xem là huyền thuật đến thế. |
|
21. Because they are most affected by sound, the atmic and physical planes are related. Since sound is more intimately related to the monadic plane (the akashic plane), that plane, too, must be intimately related to the physical plane (in both its dense and etheric aspects). We do see this, in fact, because so many of the dynamics of energy movement and transmission in the etheric body are related to the Monad (on the second plane from above). |
21. Bởi vì chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi âm thanh, cõi atma và cõi hồng trần có liên hệ với nhau. Vì âm thanh còn liên hệ mật thiết hơn với cõi chân thần (cõi akasha), nên cõi ấy cũng phải liên hệ mật thiết với cõi hồng trần (trong cả hai phương diện đậm đặc và dĩ thái của nó). Thật vậy, chúng ta thấy điều này, vì rất nhiều động lực của sự vận động và truyền dẫn năng lượng trong thể dĩ thái đều liên hệ với Chân thần (trên cõi thứ hai tính từ trên xuống). |
|
22. VSK suggests: “It seems sound is the first to manifest (to man’s physical brain as sensation), and the last to abstract (from man’s consciousness in the 3/5 worlds). |
22. VSK gợi ý: “Dường như âm thanh là điều đầu tiên biểu lộ (đối với bộ não hồng trần của con người như một cảm giác), và là điều cuối cùng được rút ra khỏi (khỏi tâm thức con người trong ba/năm cõi giới). |
|
23. Upon the physical plane, it is primarily through the medium of air that sound is transmitted (though other and more rapid means of transmission are to be found—water or metal, for instance). |
23. Trên cõi hồng trần, âm thanh chủ yếu được truyền qua môi trường khí (dù cũng có thể tìm thấy những phương tiện truyền dẫn khác và nhanh hơn—chẳng hạn như nước hoặc kim loại). |
|
24. The physical plane is paramountly the plane of separation, and it is sound that initially overcomes that sense of separation, relating separated objects via vibratory transmission through the air. This type of relationship precedes the more intimate sense of touch. |
24. Cõi hồng trần trước hết và trên hết là cõi của sự phân ly, và chính âm thanh ban đầu vượt qua cảm giác phân ly ấy, liên hệ các vật thể tách biệt qua sự truyền dẫn rung động trong không khí. Loại liên hệ này có trước giác quan thân mật hơn là xúc giác. |
|
Pre-eminently the physical plane is the plane of hearing and hence the sense ascribed to the lowest plane of evolution, and of each of the five planes. |
Trước hết và trên hết, cõi hồng trần là cõi của thính giác và vì thế là giác quan được quy cho cõi thấp nhất của tiến hoá, và của mỗi một trong năm cõi. |
|
25. The relationship of the physical plane and of hearing to the third ray has already been suggested. The third ray is the “Primordial Ray”—the foundation, the basis of all subsequent development. |
25. Mối liên hệ của cõi hồng trần và của thính giác với cung ba đã được gợi ra. Cung ba là “Cung Nguyên Sơ”—nền tảng, cơ sở của mọi sự phát triển tiếp theo. |
|
On this seventh or lowest plane man has to come to full cognisance of the effect of the Sacred Word as it is in process of sounding forth. |
Trên cõi thứ bảy hay thấp nhất này, con người phải đi đến chỗ nhận biết trọn vẹn hiệu quả của Linh từ thiêng liêng khi nó đang trong tiến trình được xướng lên. |
|
26. What may be considered the origin of the Sacred Word? Certainly it originates far ‘above’ the cosmic physical plane. May we say that its origin is (in relation to our solar system) the higher levels of the cosmic mental plane upon which the “Heart of the Sun” (or the Egoic nature of the Solar Logos) may be found? In fact its origin must be even ‘higher’. |
26. Điều gì có thể được xem là nguồn gốc của Linh từ thiêng liêng? Chắc chắn nó phát nguyên rất “cao” bên trên cõi hồng trần vũ trụ. Chúng ta có thể nói rằng nguồn gốc của nó là (trong liên hệ với hệ mặt trời của chúng ta) các cấp độ cao hơn của cõi trí vũ trụ, nơi có thể tìm thấy “Trái Tim của Mặt Trời” (hay bản chất chân ngã của Thái dương Thượng đế) chăng? Thật ra, nguồn gốc của nó còn phải “cao” hơn nữa. |
|
27. In simple terms, what is being said is that the Word of the Soul (first in its microcosmic expression, and then in increasingly comprehensive expressions) must come to be recognized on the physical plane. |
27. Nói một cách đơn giản, điều đang được nói là Quyền năng từ của linh hồn (trước hết trong biểu hiện vi mô của nó, rồi sau đó trong những biểu hiện ngày càng bao quát hơn) phải được nhận biết trên cõi hồng trần. |
|
28. In all listening, we are, in fact, listening for the sounding of the Word of the Soul. To this, all true listening leads. |
28. Trong mọi sự lắng nghe, thật ra chúng ta đang lắng nghe tiếng vang của Quyền năng từ của linh hồn. Mọi sự lắng nghe chân chính đều dẫn đến điều này. |
|
As it reverberates throughout the system, it drives matter into its appointed place, and on the physical plane finds its point of deepest materiality and of most concrete demonstration. |
Khi nó vang dội khắp hệ thống, nó đẩy vật chất vào vị trí đã được chỉ định của nó, và trên cõi hồng trần tìm thấy điểm vật chất tính sâu đậm nhất và sự biểu hiện cụ thể nhất của nó. |
|
29. The Sacred Word arranges all according to the design dictated by pure reason. |
29. Linh từ thiêng liêng sắp xếp mọi sự theo mô hình do lý trí thuần túy chỉ định. |
|
30. From what is here said, it becomes apparent that the Sacred Word is intimately related to the Fixed Design which exists in the archetypal worlds and which must be manifested in the ‘mosaic worlds’. In relation to human development, the monadic plane is considered the true archetypal plane. |
30. Từ điều được nói ở đây, trở nên hiển nhiên rằng Linh từ thiêng liêng liên hệ mật thiết với Mô Hình Cố Định hiện hữu trong các thế giới nguyên mẫu và phải được biểu lộ trong các “thế giới khảm ghép”. Trong liên hệ với sự phát triển của con người, cõi chân thần được xem là cõi nguyên mẫu đích thực. |
|
31. We see that the Sacred Word as it manifests on the physical plane is (through the forms it produces) manifesting in its more concrete demonstration). |
31. Chúng ta thấy rằng Linh từ thiêng liêng khi biểu lộ trên cõi hồng trần thì (thông qua các hình tướng mà nó tạo ra) đang biểu lộ trong sự chứng minh cụ thể hơn của nó). |
|
32. VSK suggests a reiteration: “Sound is the MOST concrete of the senses.” |
32. VSK gợi ý một sự nhắc lại: “Âm thanh là giác quan CỤ THỂ nhất.” |
|
The key for man to discover and turn, concerns itself with the revealing of the mystery of: |
Chiếc chìa khóa để con người khám phá và xoay mở liên quan đến việc vén lộ huyền nhiệm của: |
|
33. We are alerted immediately to the fact that we are dealing with “mystery”—with things that are not easily apprehended. |
33. Chúng ta lập tức được báo cho biết rằng mình đang xử lý “huyền nhiệm”—những điều không dễ lĩnh hội. |
|
34. Of course, such apprehension depends upon the acuity of ‘listening’—however listening may be interpreted on each of these levels. |
34. Dĩ nhiên, sự lĩnh hội như thế tùy thuộc vào độ sắc bén của “sự lắng nghe”—dù sự lắng nghe được diễn giải thế nào trên mỗi cấp độ này. |
|
35. The discoveries required are, in a way, a search for the note of each of the entities listed below. |
35. Những khám phá cần thiết, theo một cách nào đó, là một cuộc tìm kiếm âm điệu của mỗi thực thể được liệt kê dưới đây. |
|
a. His own sound. |
a. Âm thanh của chính y. |
|
36. This is achieved through close self-observation and ‘self-listening’ leading to ever more extensive self-knowledge |
36. Điều này đạt được qua sự tự quan sát chặt chẽ và “tự lắng nghe”, dẫn đến sự tự tri ngày càng rộng lớn hơn |
|
b. His brother’s sound. |
b. Âm thanh của huynh đệ y. |
|
37. This is partially achieved through the expedient of altruism and brotherly love, and, of course, acute listening through the heart. In all of the types of listening necessary, it is the heart that must hear the Sacred Word resounding through the entity to which attentive listening is given. |
37. Điều này phần nào đạt được qua phương tiện của lòng vị tha và tình huynh đệ, và dĩ nhiên, qua sự lắng nghe sắc bén bằng trái tim. Trong mọi loại lắng nghe cần thiết, chính trái tim phải nghe Linh từ thiêng liêng vang vọng xuyên qua thực thể mà sự lắng nghe chăm chú đang hướng đến. |
|
c. His group sound. |
c. Âm thanh của nhóm y. |
|
38. This is partially achieved through the art of group identification, which is based upon the ability to remove preoccupation with one’s lower self. |
38. Điều này phần nào đạt được qua nghệ thuật đồng hoá với nhóm, vốn dựa trên khả năng loại bỏ sự bận tâm về phàm ngã của mình. |
|
d. The sound of that one of the Heavenly Men with whom he is connected. |
d. Âm thanh của một trong các Đấng Thiên Nhân mà y có liên hệ. |
|
39. If DK is speaking of human beings living on this planet, they are naturally all connected with the Planetary Logos of the Earth-scheme. |
39. Nếu Chân sư DK đang nói về những con người sống trên hành tinh này, thì tự nhiên tất cả họ đều đều liên hệ với Đức Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh Địa Cầu. |
|
40. This sentence may also speak of the connection which exists between any initiate—according to his soul ray and/or monadic ray—and the Heavenly Man Who expresses through that ray. |
40. Câu này cũng có thể nói đến mối liên hệ hiện hữu giữa bất kỳ điểm đạo đồ nào—tùy theo cung linh hồn và/hoặc cung chân thần của y—với Đấng Thiên Nhân biểu lộ qua cung ấy. |
|
e. The sound of the Logos, or the sound of nature; of the solar system, of the Grand Man of the Heavens. |
e. Âm thanh của Thượng đế, hay âm thanh của thiên nhiên; của hệ mặt trời, của Đại Nhân trên Thiên Giới. |
|
41. More than one note seems indicated. We have been told that the “sound of nature” or the “note of nature” is the note, FA, the green note. The note FA applies not only to our Earth (with its obvious third ray, correlated to FA) but to the entire solar system. |
41. Dường như có hơn một âm điệu được chỉ ra. Chúng ta đã được cho biết rằng “âm thanh của thiên nhiên” hay “âm điệu của thiên nhiên” là nốt FA, nốt xanh lục. Nốt FA không chỉ áp dụng cho Trái Đất của chúng ta (với cung ba hiển nhiên của nó, tương quan với FA) mà còn cho toàn bộ hệ mặt trời. |
|
“In system one, the completion of the First Breath, the culmination, was the sounding forth, in note majestic, of the note FA,—the note which forms the basic note of this system, the note of manifested nature. This note is, and to it must be supplemented the second note for this the second system. It is not fully sounded or rounded out, nor to the end of the greater cycle will it be completed. The Logos sounds it now, and should He cease to breathe it forth, the whole system would disappear into complete obscuration. It would mark the end of manifestation.” (LOM 52) |
“Trong hệ thống thứ nhất, sự hoàn tất của Hơi Thở Thứ Nhất, sự viên mãn, là việc xướng lên, trong âm điệu uy nghi, nốt FA,—nốt tạo thành âm điệu căn bản của hệ thống này, âm điệu của thiên nhiên biểu lộ. Nốt này hiện hữu, và vào đó phải được bổ sung nốt thứ hai cho hệ thống thứ hai này. Nó chưa được xướng lên đầy đủ hay hoàn chỉnh, và cho đến hết chu kỳ lớn hơn nó cũng sẽ chưa hoàn tất. Thượng đế đang xướng nó lúc này, và nếu Ngài ngừng thở ra nó, toàn bộ hệ thống sẽ biến mất vào sự che khuất hoàn toàn. Điều đó sẽ đánh dấu sự chấm dứt của biểu lộ.” (LOM 52) |
|
42. Yet it would seem that a higher note of the Solar Logos would be in need of discovery—the note of the soul nature of our Logos, which may be (we are not told with complete certainty) the note SOL. |
42. Tuy nhiên, dường như một âm điệu cao hơn của Thái dương Thượng đế cần được khám phá—âm điệu của bản chất linh hồn của Thượng đế chúng ta, có thể là (chúng ta không được cho biết với sự chắc chắn hoàn toàn) nốt SOL. |
|
43. The method of apprehending this latter note would necessitate familiarity with the “Heart of the Sun”, by means of which the soul nature of the Logos may be dimly apprehended. Apprehension would also require entering that series of initiations which are called “solar” initiations, and which begin (for humanity) with the third degree. Surely, no disciple who has not taken the third degree can possibly register the soul-sound of the Logos. |
43. Phương pháp để lĩnh hội âm điệu sau này sẽ đòi hỏi sự quen thuộc với “Trái Tim của Mặt Trời”, nhờ đó bản chất linh hồn của Thượng đế có thể được lĩnh hội một cách mơ hồ. Sự lĩnh hội cũng sẽ đòi hỏi phải bước vào chuỗi điểm đạo được gọi là các điểm đạo “thái dương”, bắt đầu (đối với nhân loại) từ cấp thứ ba. Chắc chắn không đệ tử nào chưa trải qua cấp thứ ba có thể ghi nhận âm thanh linh hồn của Thượng đế. |
|
44. It is clear that detection of these sounds is related to detecting the major ray which conditions each of these five entities. |
44. Rõ ràng việc phát hiện những âm thanh này liên hệ với việc phát hiện cung chính tác động lên mỗi một trong năm thực thể này. |
|
Therefore, we note that on the physical plane a man has to find his own note, finding it in spite of the density of the form. |
Vì vậy, chúng ta lưu ý rằng trên cõi hồng trần, con người phải tìm ra âm điệu riêng của mình, tìm thấy nó bất chấp sự đậm đặc của hình tướng. |
|
45. The density of the form has its own note which is frequently so obtrusive as to drown out the soul note of the one using the form. |
45. Sự đậm đặc của hình tướng có âm điệu riêng của nó, thường xâm lấn đến mức lấn át âm điệu linh hồn của người đang sử dụng hình tướng ấy. |
|
46. Immediately below we are to note an interesting progression which relates the notes of each of the five entities to the first five planes, beginning with the physical plane. |
46. Ngay bên dưới, chúng ta sẽ lưu ý một tiến trình thú vị liên hệ các âm điệu của mỗi một trong năm thực thể với năm cõi đầu tiên, bắt đầu từ cõi hồng trần. |
|
a. On the physical plane he finds his own note. |
a. Trên cõi hồng trần y tìm thấy âm điệu riêng của mình. |
|
47. This is done through meditation and the achieving of a soul-mind-brain alignment. |
47. Điều này được thực hiện qua tham thiền và việc đạt được sự chỉnh hợp linh hồn-trí tuệ-bộ não. |
|
48. We might say that “his own note” is his individual note and relates to the expression of his soul nature through his personality on the physical plane. |
48. Chúng ta có thể nói rằng “âm điệu riêng của y” là âm điệu cá nhân của y và liên hệ với sự biểu lộ bản chất linh hồn của y qua phàm ngã của y trên cõi hồng trần. |
|
49. Since the physical plane is the plane of greatest separation, it is fitting that the note of the apparently separate individual should be found there. |
49. Vì cõi hồng trần là cõi của sự phân ly lớn nhất, nên thật thích hợp khi âm điệu của cá nhân có vẻ tách biệt được tìm thấy ở đó. |
|
b. On the astral plane he finds his brother’s note; through identity of emotion he comes to the recognition of his brother’s identity. |
b. Trên cõi cảm dục y tìm thấy âm điệu của huynh đệ mình; qua sự đồng nhất về cảm xúc, y đi đến chỗ nhận ra bản sắc của huynh đệ mình. |
|
50. Some reflection of the love-wisdom energy is required. |
50. Cần có một sự phản chiếu nào đó của năng lượng bác ái-minh triết. |
|
51. The process suggests the utilization of the potencies of Gemini (the sign of one’s brother) in relation to the astral plane. |
51. Tiến trình này gợi ý việc sử dụng các tiềm năng của Song Tử (dấu hiệu của huynh đệ mình) trong liên hệ với cõi cảm dục. |
|
52. The astral plane is a plane of relationship, somewhat governed by the number two, the number of relationship. |
52. Cõi cảm dục là một cõi của tương quan, phần nào được chi phối bởi con số hai, con số của tương quan. |
|
53. The source of true identity, the Monad, has a direct reflection upon the astral plane, for the monadic plane is the second plane from ‘above’ and the astral plane, the second from ‘below’. We may expect that there is something about the functioning of the emotional body which will reveal the nature of the Monad/Spirit. |
53. Nguồn gốc của bản sắc chân thực, chân thần, có một sự phản chiếu trực tiếp trên cõi cảm dục, vì cõi chân thần là cõi thứ hai tính từ “trên xuống” và cõi cảm dục là cõi thứ hai tính từ “dưới lên”. Chúng ta có thể chờ đợi rằng có điều gì đó trong hoạt động của thể cảm xúc sẽ tiết lộ bản chất của chân thần/tinh thần. |
|
54. The value of coming into emotional rapport with one’s brother is emphasized as a means of understanding the nature of one’s brother’s identity. |
54. Giá trị của việc đi vào sự tương thông cảm xúc với huynh đệ mình được nhấn mạnh như một phương tiện để thấu hiểu bản chất bản sắc của huynh đệ mình. |
|
55. The implication is that we must ‘feel’ each other within an astral field if we are really to know each other. |
55. Hàm ý ở đây là chúng ta phải “cảm” nhau trong một trường cảm dục nếu thực sự muốn biết nhau. |
|
[Page 191] |
|
|
c. On the mental plane he begins to find his group note. |
c. Trên cõi trí, y bắt đầu tìm thấy âm điệu nhóm của mình. |
|
56. What is interesting here is that finding one’s group note is not a matter of astral feeling, as might be expected. |
56. Điều thú vị ở đây là việc tìm thấy âm điệu nhóm của mình không phải là vấn đề của sự cảm nhận cảm dục, như người ta có thể chờ đợi. |
|
57. The mental plane is responsive to the energy of purpose, and one finds one’s true group according to purpose. In other words, following one’s deeper interests leads to the revelation of purpose. Those with similar purpose aggregate into groups. |
57. Cõi trí đáp ứng với năng lượng của mục đích, và người ta tìm thấy nhóm chân thực của mình tùy theo mục đích. Nói cách khác, việc theo đuổi những mối quan tâm sâu xa hơn của mình dẫn đến sự mặc khải về mục đích. Những ai có mục đích tương tự sẽ tập hợp thành nhóm. |
|
58. It becomes clear that detecting the group note is not fundamentally a sentient activity but an activity involving deep thought, involving not only the lower mental plane but, especially, the higher. |
58. Rõ ràng là việc nhận ra âm điệu nhóm về căn bản không phải là một hoạt động cảm nhận mà là một hoạt động bao hàm tư tưởng sâu sắc, không chỉ liên quan đến cõi hạ trí mà đặc biệt là cõi thượng trí. |
|
59. The mental plane is divided into two sections and on the higher levels of that plane the casual body or “soul body” is to be found. Causal bodies, according to their quality, are gathered into groups. One’s true group is the group of souls into which one is gathered according to one’s soul nature and quality. |
59. Cõi trí được chia thành hai phần và trên các cấp độ cao hơn của cõi ấy có thể tìm thấy thể nguyên nhân hay “thể linh hồn”. Các thể nguyên nhân, tùy theo phẩm tính của chúng, được tập hợp thành nhóm. Nhóm chân thực của một người là nhóm các linh hồn mà người ấy được tập hợp vào theo bản chất và phẩm tính linh hồn của mình. |
|
60. This type of group abides incarnation after incarnation, stable in the face of the many transient groups with which the personality may affiliate. |
60. Loại nhóm này tồn tại từ kiếp lâm phàm này sang kiếp lâm phàm khác, ổn định trước vô số nhóm tạm thời mà phàm ngã có thể liên kết với. |
|
61. To find the group note, then, it would seem that a deep connection with the causal body and its sponsoring Solar Angel must be established—through both meditation and service. |
61. Vậy thì, để tìm thấy âm điệu nhóm, dường như phải thiết lập một sự nối kết sâu xa với thể nguyên nhân và Thái dương Thiên Thần bảo trợ của nó—thông qua cả tham thiền lẫn phụng sự. |
|
d. On the buddhic plane, or the plane of wisdom, he begins to find the note of his planetary Logos. |
d. Trên cõi Bồ đề, hay cõi minh triết, y bắt đầu tìm thấy âm điệu của Hành Tinh Thượng đế của mình. |
|
62. A man becomes a planetary factor when he takes the third initiation, thus entering into a more direct relationship with the Divine Plan expressed through the Spiritual Triad. Entrée into the Spiritual Triad is achieved at the third degree, though even at the fifth degree the initiate is still polarized within the triad—the atmic aspect at that particular point of development. |
62. Con người trở thành một nhân tố hành tinh khi y nhận lần điểm đạo thứ ba, nhờ đó đi vào một mối liên hệ trực tiếp hơn với Thiên Cơ được biểu lộ qua Tam Nguyên Tinh Thần. Sự đi vào Tam Nguyên Tinh Thần đạt được ở cấp độ thứ ba, dù ngay cả ở cấp độ thứ năm, điểm đạo đồ vẫn còn phân cực trong tam nguyên—ở phương diện atma tại điểm phát triển đặc thù ấy. |
|
63. Interestingly the third initiation represents a kind of intuitive victory over one significant phase of illusion. It requires intuition (buddhi) to dispel illusion, and this intuition is significantly accessed at the third degree which, interestingly, is the first solar initiation. Solar fire, intuition and buddhi are closely related. |
63. Điều đáng chú ý là lần điểm đạo thứ ba tượng trưng cho một loại chiến thắng trực giác trước một giai đoạn quan trọng của ảo tưởng. Cần có trực giác (Bồ đề) để làm tiêu tan ảo tưởng, và trực giác này được tiếp cận một cách đáng kể ở cấp độ thứ ba, vốn cũng là lần điểm đạo thái dương đầu tiên. Lửa Thái dương, trực giác và Bồ đề có liên hệ mật thiết với nhau. |
|
64. So at the first solar initiation, at which the energy of buddhi is given new access to the initiate’s energy system, the nature of the note of the Planetary Logos begins to be revealed. A fuller revelation will obviously come when the buddhic consciousness is no longer encumbered by the causal vehicle on the higher mental plane. |
64. Vì vậy, ở lần điểm đạo thái dương đầu tiên, khi năng lượng của Bồ đề được mở ra một lối tiếp cận mới vào hệ thống năng lượng của điểm đạo đồ, bản chất của âm điệu của Hành Tinh Thượng đế bắt đầu được tiết lộ. Một sự mặc khải đầy đủ hơn hiển nhiên sẽ đến khi tâm thức Bồ đề không còn bị vận cụ nguyên nhân trên cõi thượng trí cản trở nữa. |
|
65. It becomes clear that the finding of this note necessitates intuition. A Planetary Logos is a Dragon of Wisdom in whom the Love-Wisdom energy is demonstrating. The identity of this great Being must similarly be approached through an energy related to Love-Wisdom—namely buddhi. |
65. Rõ ràng là việc tìm ra âm điệu này đòi hỏi trực giác. Một Hành Tinh Thượng đế là một Rồng Minh Triết trong đó năng lượng Bác Ái – Minh Triết đang biểu lộ. Bản sắc của Đấng Vĩ Đại này cũng phải được tiếp cận qua một năng lượng liên hệ với Bác Ái – Minh Triết—tức là Bồ đề. |
|
66. We do remember that the majority of Ashrams are to be found on the buddhic plane and that these Ashrams are considered as chakras within the energy system of the Planetary Logos. Naturally, a growing sense of the Planetary Logos’ chakric development will reveal more of His identity as expressed through His note. |
66. Chúng ta nhớ rằng đa số các ashram được tìm thấy trên cõi Bồ đề và các ashram này được xem như những luân xa trong hệ thống năng lượng của Hành Tinh Thượng đế. Một cách tự nhiên, cảm nhận ngày càng tăng về sự phát triển luân xa của Hành Tinh Thượng đế sẽ tiết lộ thêm về bản sắc của Ngài như được biểu lộ qua âm điệu của Ngài. |
|
e. On the atmic, or spiritual, plane the note logoic begins to sound within his consciousness. |
e. Trên cõi atma, hay cõi tinh thần, âm điệu logoic bắt đầu vang lên trong tâm thức của y. |
|
67. This is an interesting idea if pursued. The atmic plane is a plane of will and of intelligence (since as the third plane from ‘above’ it is ruled by Saturn and the third ray of Abstract Intelligence). Since the atmic plane is also the first of the Brahmic planes, it is related as well to the first ray. |
67. Đây là một ý tưởng thú vị nếu được theo đuổi. Cõi atma là một cõi của ý chí và của trí tuệ (vì là cõi thứ ba tính từ “trên xuống” nên nó được Sao Thổ và cung ba của Trí Tuệ Trừu Tượng cai quản). Vì cõi atma cũng là cõi thứ nhất trong các cõi Brahmic, nên nó cũng liên hệ với cung một. |
|
68. The solar logoic note (we are here told) is initially apprehended on the atmic plane and, presumably, even more fully apprehended on the monadic level (which is still more resonant with the identity of the great Solar God expressing principally through the second ray). One might wonder why, on the buddhic plane, that solar logoic note might not be initially detected. |
68. Âm điệu logoic thái dương (ở đây chúng ta được cho biết) ban đầu được lĩnh hội trên cõi atma và, có lẽ, còn được lĩnh hội đầy đủ hơn nữa trên cấp độ chân thần (vốn còn cộng hưởng hơn với bản sắc của vị Thượng đế Thái dương vĩ đại, Đấng biểu lộ chủ yếu qua cung hai). Người ta có thể tự hỏi vì sao trên cõi Bồ đề, âm điệu logoic thái dương ấy lại không được nhận ra ngay từ đầu. |
|
69. We are being told, in essence, that an apprehension of the note of the Solar Logos must be approached through will, even though Love-Wisdom may be His principle note at this time. This means that knowledge and the sense of unity are not enough truly to reveal this highest note. |
69. Về bản chất, điều đang được nói với chúng ta là sự lĩnh hội âm điệu của Thái dương Thượng đế phải được tiếp cận qua ý chí, mặc dù Bác Ái – Minh Triết có thể là âm điệu nguyên khí của Ngài vào lúc này. Điều đó có nghĩa là tri thức và cảm thức hợp nhất không đủ để thực sự tiết lộ âm điệu tối cao này. |
|
70. The atmic plane is called not only the “spiritual” plane but also the “nirvanic” plane. The nirvanic experience focussed there is the beginning of intelligent and willing participation in solar logoic life. Entry into the stream of solar logoic life (as fully occurs on the monadic plane) is the first nirvana. |
70. Cõi atma không chỉ được gọi là cõi “tinh thần” mà còn là cõi “Niết Bàn”. Kinh nghiệm Niết Bàn tập trung tại đó là sự khởi đầu của việc tham dự một cách thông tuệ và đầy ý chí vào sự sống logoic thái dương. Việc đi vào dòng sự sống logoic thái dương (như xảy ra một cách trọn vẹn trên cõi chân thần) là niết bàn thứ nhất. |
|
71. Interestingly, the note FA, the green note, connected with the third ray and Saturn is the note of nature and the note which resounded at the close of the first solar system. From the atmic plane resonance may be established with this particular note of the Logos as a point of departure for apprehending a still deeper note, based on Love-Wisdom and positioned at a higher frequency than the note of nature. That note, the note hypothesized as “G” or SOL, is closely correlated to the monadic plane. |
71. Điều đáng chú ý là nốt FA, nốt xanh lục, liên hệ với cung ba và Sao Thổ, là âm điệu của thiên nhiên và là âm điệu đã vang lên vào lúc kết thúc hệ mặt trời thứ nhất. Từ cõi atma có thể thiết lập sự cộng hưởng với âm điệu đặc thù này của Thượng đế như một điểm khởi hành để lĩnh hội một âm điệu còn sâu xa hơn, dựa trên Bác Ái – Minh Triết và được đặt ở một tần số cao hơn âm điệu của thiên nhiên. Âm điệu ấy, âm điệu được giả định là “G” hay SOL, có tương quan mật thiết với cõi chân thần. |
|
I am differentiating thus for the sake of clarity. |
Tôi phân biệt như vậy vì mục đích làm sáng tỏ. |
|
72. The differentiation offered is surely thought-provoking however difficult it may be to see such clear distinctions when viewing the life-as-lived. |
72. Sự phân biệt được đưa ra quả thật gợi nhiều suy nghĩ, dù có thể rất khó nhận ra những phân biệt rõ ràng như thế khi quan sát sự sống như nó đang được sống. |
|
73. When we seek to come en rapport with the five entities listed, we shall know somewhat more clearly ‘where’ and how to focus our consciousness. |
73. Khi chúng ta tìm cách đi vào sự tương thông với năm thực thể được liệt kê, chúng ta sẽ biết rõ hơn phần nào “ở đâu” và bằng cách nào để tập trung tâm thức của mình. |
|
In evolution itself, due to the parallelism of nature, the distinctions are not so sharply made, and a man’s ray, point of development, the work earlier accomplished, his temporary limitations, and other causes create a seeming confusion, but in the great scheme as seen from above downwards, the work proceeds as described. |
Trong chính tiến hoá, do tính song hành của thiên nhiên, những phân biệt ấy không được tạo ra một cách sắc nét đến thế, và cung của một người, điểm tiến hoá, công việc đã hoàn thành trước đó, những giới hạn tạm thời của y, cùng các nguyên nhân khác tạo nên một sự lẫn lộn bề ngoài; nhưng trong đại thể, như được nhìn từ trên xuống dưới, công việc diễn tiến như đã mô tả. |
|
74. DK suggests that in order to see these distinctions with clarity, the point of vantage must be from ‘above’ downwards. |
74. Chân sư DK gợi ý rằng để thấy những phân biệt này một cách rõ ràng, điểm quan sát phải là từ “trên” nhìn xuống. |
|
75. Our evolutionary task is a progressive series of broadening and deepening identifications, each of them related to a certain vibratory level of the cosmic physical plane. |
75. Nhiệm vụ tiến hoá của chúng ta là một chuỗi tiến triển của những sự đồng hoá ngày càng mở rộng và đào sâu, mỗi sự đồng hoá đều liên hệ với một cấp độ rung động nhất định của cõi hồng trần vũ trụ. |
|
76. VSK suggests the following: “So it appears the cause is one plane above the effect; thus the group note is found on the mental (point c.), although the group/ashram is usually on the buddhic?” |
76. VSK gợi ý như sau: “Vì vậy dường như nguyên nhân nằm ở cõi cao hơn hiệu quả một bậc; do đó âm điệu nhóm được tìm thấy trên cõi trí (điểm c.), mặc dù nhóm/ashram thường ở trên cõi Bồ đề?” |
|
77. It is important to realize that the “move” of Hierarchy from the higher mental to the buddhic plane was not discussed in this rather early book, A Treatise on Cosmic Fire, published in 1925. |
77. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng sự “di chuyển” của Thánh đoàn từ cõi thượng trí sang cõi Bồ đề đã không được bàn đến trong cuốn sách tương đối sớm này, Luận về Lửa Vũ Trụ, xuất bản năm 1925. |
|
Hearing on the astral plane is commonly called clairaudience, and means the ability to hear the sounds of the astral plane. |
Thông nhĩ trên cõi cảm dục thường được gọi là thông nhĩ, và có nghĩa là khả năng nghe các âm thanh của cõi cảm dục. |
|
78. Apprehending these sounds may either help extricate ourselves from or immerse ourselves more deeply within the burgeoning illusion of that plane. |
78. Việc lĩnh hội các âm thanh này hoặc có thể giúp chúng ta thoát ra khỏi, hoặc khiến chúng ta chìm sâu hơn vào ảo tưởng đang phát triển của cõi ấy. |
|
It is a faculty that demonstrates throughout the entire astral body, and a man hears all over his vehicle and not only through the specialised organs, the ears, the product of physical plane action and reaction. |
Đó là một năng lực biểu lộ khắp toàn bộ thể cảm dục, và con người nghe bằng toàn bộ vận cụ của mình chứ không chỉ qua các cơ quan chuyên biệt, tức đôi tai, vốn là sản phẩm của tác động và phản ứng trên cõi hồng trần. |
|
79. One of the key rulers of the systemic physical level is Saturn, the planet of space, time and localization. The astral plane is, however, ruled by Neptune which blurs distinctions and eradicates boundaries. Under Neptune it is reasonable that sensitivity should be more generalized and not so particularly focused through concrete localized organs of reception. |
79. Một trong những chủ tinh then chốt của cấp độ hồng trần hệ thống là Sao Thổ, hành tinh của không gian, thời gian và sự định vị. Tuy nhiên, cõi cảm dục được Sao Hải Vương cai quản, hành tinh làm mờ các phân biệt và xóa bỏ các ranh giới. Dưới Sao Hải Vương, thật hợp lý khi tính nhạy cảm trở nên tổng quát hơn và không quá tập trung đặc biệt qua các cơ quan tiếp nhận cụ thể và định vị rõ rệt. |
|
This would necessarily be so, owing to the fluidic nature of the astral body. |
Điều này tất yếu phải như vậy, do bản chất linh động của thể cảm dục. |
|
80. DK tells us something about the nature of the astral body: it is fluidic (a term associated with the dynamics of Neptune). |
80. Chân sư DK cho chúng ta biết điều gì đó về bản chất của thể cảm dục: nó có tính linh động (một thuật ngữ gắn với động lực của Sao Hải Vương). |
|
Man on the physical plane hears at the same time a certain range of sounds, and only a small and particular gamut of vibrations impinges upon his ears. |
Con người trên cõi hồng trần đồng thời nghe được một phạm vi âm thanh nhất định, và chỉ một âm giai nhỏ và đặc thù của các rung động tác động lên tai của y. |
|
81. Saturn is the planet of limitation and, under Saturn, the range of impressionability is naturally limited. |
81. Sao Thổ là hành tinh của sự giới hạn, và dưới Sao Thổ, phạm vi khả năng tiếp nhận ấn tượng tự nhiên bị giới hạn. |
|
There are many of the lesser sounds of nature which entirely escape him, while the major group sounds are not differentiated at all. |
Có nhiều âm thanh nhỏ hơn của thiên nhiên hoàn toàn thoát khỏi y, trong khi các âm thanh nhóm lớn hơn thì hoàn toàn không được phân biệt. |
|
82. DK elaborates a bit on the sounds missed by the average human being. The small and great sounds elude his auditory apprehension equally. He fails to detect the sounds caused by tiny processes and by comprehensive processes as well. As he becomes more identified with large processes, his ability to register the minute will also grow. Man presently functions within a very limited ‘middle’ range. |
82. Chân sư DK giải thích thêm đôi chút về những âm thanh mà con người trung bình bỏ lỡ. Các âm thanh nhỏ và lớn đều thoát khỏi sự lĩnh hội thính giác của y như nhau. Y không nhận ra những âm thanh do các tiến trình cực nhỏ cũng như các tiến trình bao quát gây ra. Khi y ngày càng đồng hoá với các tiến trình lớn, khả năng ghi nhận cái vi tế của y cũng sẽ tăng lên. Hiện nay con người hoạt động trong một phạm vi “trung gian” rất hạn hẹp. |
|
83. By major group sounds (as they impact the physical plane) may be meant: |
83. Các âm thanh nhóm lớn (khi chúng tác động lên cõi hồng trần) có thể được hiểu là: |
|
a. The sounds of soul groups |
a. Các âm thanh của những nhóm linh hồn |
|
b. The sounds of nations and races |
b. Các âm thanh của các quốc gia và các nhân loại |
|
c. The sounds of kingdoms, including the sound of humanity. |
c. Các âm thanh của các giới, kể cả âm thanh của nhân loại. |
|
d. The sound of Nature |
d. Âm thanh của Thiên nhiên |
|
e. And so forth… |
e. Vân vân… |
|
84. We note the importance of the word “differentiated”. Sounds may be present but unless they are differentiated, noticed, isolated, it is as if they were not. |
84. Chúng ta lưu ý tầm quan trọng của từ “được phân biệt”. Âm thanh có thể hiện diện nhưng nếu không được phân biệt, được chú ý, được tách riêng ra, thì cũng như không có. |
|
85. We see something of the importance of Saturn (Lord of the third ray, and intimately related to sound and its sources) in the isolating and differentiating of various sounds. |
85. Chúng ta thấy phần nào tầm quan trọng của Sao Thổ (Đấng Chúa Tể của cung ba, và liên hệ mật thiết với âm thanh cùng các nguồn của nó) trong việc cô lập và phân biệt các âm thanh khác nhau. |
|
As evolution proceeds and the inner sense of hearing becomes acute, |
Khi tiến hoá tiếp diễn và nội nhĩ trở nên sắc bén, |
|
86. The energy of the third ray (a ray related to sound) is called “the acute energy of divine mental perception”. With growing acuity of thought it can be inferred that there will arise a growing acuity of the inner sense of hearing. |
86. Năng lượng của cung ba (một cung liên hệ với âm thanh) được gọi là “năng lượng sắc bén của tri giác trí tuệ thiêng liêng”. Từ sự sắc bén ngày càng tăng của tư tưởng, có thể suy ra rằng sẽ xuất hiện sự sắc bén ngày càng tăng của nội nhĩ. |
|
these other physical plane sounds will likewise swing into his ken, |
những âm thanh khác trên cõi hồng trần này cũng sẽ đi vào tầm nhận biết của y, |
|
87. The sounds (“lesser sounds of nature” and “major group sounds”) are considered physical plane sounds, no matter what may be their occult origin on higher planes. |
87. Các âm thanh (“những âm thanh nhỏ hơn của thiên nhiên” và “các âm thanh nhóm lớn”) được xem là những âm thanh của cõi hồng trần, bất kể nguồn gốc huyền bí của chúng có thể ở các cõi cao hơn nào. |
|
and he will be acutely conscious of all sounds on the astral, and the physical plane—a thing, which if possible now, would result in the shattering of the body. |
và y sẽ hữu thức một cách sắc bén về mọi âm thanh trên cõi cảm dục và cõi hồng trần—điều mà, nếu hiện nay có thể xảy ra, sẽ dẫn đến sự tan vỡ của thể xác. |
|
88. This is a fascinating and important sentence. Sound can shatter—of this we are aware. We come to understand the reason for those veils which presently limit the acuity of the senses. They are protective mechanisms. |
88. Đây là một câu rất hấp dẫn và quan trọng. Âm thanh có thể làm tan vỡ—điều này chúng ta biết. Chúng ta bắt đầu hiểu lý do của những bức màn hiện đang giới hạn sự sắc bén của các giác quan. Chúng là những cơ chế bảo vệ. |
|
89. Probably in dream states we become very aware of “sounds on the astral”, but at such times, sounds on the physical plane are not apprehensible. |
89. Có lẽ trong các trạng thái mộng, chúng ta trở nên rất ý thức về “những âm thanh trên cõi cảm dục”, nhưng vào những lúc ấy, các âm thanh trên cõi hồng trần lại không thể được lĩnh hội. |
|
90. It is the combination of the two types of sounds that may have a shattering effect. |
90. Chính sự kết hợp của hai loại âm thanh này mới có thể gây ra tác động làm tan vỡ. |
|
91. We begin to realize that the human nervous system and energy system in general must be in a very fit and resilient condition to withstand what we glibly call “continuity of consciousness”. |
91. Chúng ta bắt đầu nhận ra rằng hệ thần kinh con người và hệ thống năng lượng nói chung phải ở trong một tình trạng rất thích hợp và dẻo dai mới có thể chịu đựng điều mà chúng ta hời hợt gọi là “sự liên tục của tâm thức”. |
|
If the note of nature, for instance, were to strike but once upon the ear of a man (a note made up of the totality of vibrations produced by all dense material forms) his physical body would be completely disrupted. |
Chẳng hạn, nếu âm điệu của thiên nhiên chỉ đánh vào tai con người một lần thôi (một âm điệu được cấu thành bởi tổng thể các rung động do mọi hình tướng vật chất đậm đặc tạo ra) thì thể xác của y sẽ hoàn toàn bị phá vỡ. |
|
92. We are given a clear definition of the “note of nature”, and it is, from this description, a very “material” note. |
92. Chúng ta được trao cho một định nghĩa rõ ràng về “âm điệu của thiên nhiên”, và từ mô tả này, đó là một âm điệu rất “vật chất”. |
|
93. We notice that even one impact of this note would be sufficient to completely disrupt the physical body of man. |
93. Chúng ta lưu ý rằng chỉ một tác động của âm điệu này cũng đủ để hoàn toàn phá vỡ thể xác của con người. |
|
94. We should perhaps take with a grain of salt the testimony of those who state that they constantly hear the note of nature. |
94. Có lẽ chúng ta nên dè dặt trước lời chứng của những người nói rằng họ liên tục nghe thấy âm điệu của thiên nhiên. |
|
95. Well may we be impressed by a growing awareness of the constructive and destructive power of sound! |
95. Chúng ta hẳn phải ấn tượng trước sự nhận biết ngày càng tăng về quyền năng kiến tạo và hủy diệt của âm thanh! |
|
[Page 192] He is not ready yet for such a happening; the inner ear is not duly prepared. Only when the threefold hearing is consummated will completed hearing on the physical plane be likewise permitted. |
[Page 192] Y vẫn chưa sẵn sàng cho một biến cố như thế; nội nhĩ chưa được chuẩn bị đúng mức. Chỉ khi nào sự nghe tam phân được hoàn tất thì sự nghe hoàn chỉnh trên cõi hồng trần mới cũng được cho phép. |
|
96. The preparation of the inner ear is a slow process involving the wearing away of the etheric web through the agency of the combination of fire by friction and solar fire over a long period of time. |
96. Sự chuẩn bị của nội nhĩ là một tiến trình chậm chạp, bao gồm sự bào mòn của màng lưới dĩ thái nhờ tác động của sự kết hợp giữa Lửa ma sát và Lửa Thái dương trong một thời gian dài. |
|
97. Through such a gradual exposure to an increasing range of sounds, the disruptive shock of sudden impacts can be avoided. |
97. Nhờ sự phơi mở dần dần như thế trước một phạm vi âm thanh ngày càng tăng, có thể tránh được cú sốc phá vỡ do những tác động đột ngột gây ra. |
|
98. What may be meant by the “threefold hearing”? And the consummation of threefold hearing? Perhaps we are speaking of hearing on all three planes leading to some consummation of hearing achieved on the buddhic plane (a plane which can be understood as a “plane of consummation”). |
98. “Sự nghe tam phân” có thể có nghĩa là gì? Và sự hoàn tất của sự nghe tam phân? Có lẽ chúng ta đang nói đến sự nghe trên cả ba cõi dẫn đến một sự hoàn tất của sự nghe đạt được trên cõi Bồ đề (một cõi có thể được hiểu là “cõi của sự hoàn tất”). |
|
99. We may be dealing with a resonance related to the number four. When, for instance, hearing is consummated on the buddhic plane (the fourth) the hearing of the note of nature on the fourth and lowest plane of the personality (mental, astral, etheric, and physical) can be allowed. There is a certain symmetry in this thought. |
99. Có thể chúng ta đang đề cập đến một sự cộng hưởng liên hệ với con số bốn. Chẳng hạn, khi sự nghe được hoàn tất trên cõi Bồ đề (cõi thứ tư), thì sự nghe âm điệu của thiên nhiên trên cõi thứ tư và thấp nhất của phàm ngã (trí tuệ, cảm dục, dĩ thái và hồng trần) có thể được cho phép. Có một sự đối xứng nhất định trong ý tưởng này. |
|
100. It is as if one must be quite free of the lower three worlds (achieved with growing buddhic polarization) if the sound of the densest level of the lowest of those three worlds can be allowed to impact the now prepared ear. |
100. Dường như người ta phải thực sự thoát khỏi ba cõi thấp (đạt được nhờ sự phân cực Bồ đề ngày càng tăng) thì âm thanh của cấp độ đậm đặc nhất của cõi thấp nhất trong ba cõi ấy mới có thể được phép tác động lên đôi tai nay đã được chuẩn bị. |
|
101. What would be the value of hearing the note of nature? We would know the sound from which we are emerging and the basis of all progressive evolution into a higher note. We would be able to detect whether any influence resonated to the past or the intended future. |
101. Giá trị của việc nghe âm điệu của thiên nhiên là gì? Chúng ta sẽ biết âm thanh mà từ đó mình đang vươn ra, và nền tảng của mọi tiến hoá tiến bộ vào một âm điệu cao hơn. Chúng ta sẽ có thể nhận ra liệu bất kỳ ảnh hưởng nào cộng hưởng với quá khứ hay với tương lai được dự định. |
|
102. Hearing the note of nature would reveal what we have been and thus clarify the direction in which we are intended to progress. From a developmental perspective, it is necessary to hear the note of the past even if we no longer wish to identify with that note. |
102. Việc nghe âm điệu của thiên nhiên sẽ tiết lộ chúng ta đã từng là gì và nhờ đó làm sáng tỏ hướng mà chúng ta được dự định tiến tới. Từ góc độ phát triển, cần phải nghe âm điệu của quá khứ dù chúng ta không còn muốn đồng hoá với âm điệu ấy nữa. |
|
103. VSK suggests that threefold hearing may be achieved as the three spinal channels are completely opened through the progress of kundalini. |
103. VSK gợi ý rằng sự nghe tam phân có thể đạt được khi ba kinh mạch cột sống được khai mở hoàn toàn nhờ sự tiến triển của kundalini. |
|
Hearing on the mental plane is simply an extension of the faculty of differentiating sound. |
Sự nghe trên cõi trí đơn giản là sự mở rộng của năng lực phân biệt âm thanh. |
|
104. We can understand how much the faculty of hearing has to do with differentiation, Saturn and the third ray (the “Essential Discriminating Life”). |
104. Chúng ta có thể hiểu năng lực nghe liên hệ nhiều đến mức nào với sự biến phân, Sao Thổ và cung ba (“Sự Sống Phân Biện Cốt Yếu”). |
|
105. Hearing is the initial faculty by means of which location and direction in time in space is determined. |
105. Sự nghe là năng lực ban đầu nhờ đó vị trí và phương hướng trong thời gian và không gian được xác định. |
|
106. Through hearing on the mental plane the group note is found. Since the process of “differentiating sound” is of focal importance, it can be inferred that part of the finding of the group note is the differentiating of various group notes from each other. Discrimination is involved—both mental and sentient discrimination (as may be found on the higher mental plane, especially on the second subplane of that plane, whereon is found “Response to Group Vibration”) |
106. Nhờ sự nghe trên cõi trí mà âm điệu nhóm được tìm thấy. Vì tiến trình “phân biệt âm thanh” có tầm quan trọng trọng yếu, có thể suy ra rằng một phần của việc tìm ra âm điệu nhóm là phân biệt các âm điệu nhóm khác nhau với nhau. Sự phân biện có liên quan—cả phân biện trí tuệ lẫn phân biện cảm nhận (như có thể thấy trên cõi thượng trí, đặc biệt trên cõi phụ thứ hai của cõi ấy, nơi có “Đáp Ứng với Rung Động Nhóm”) |
|
107. Since on the higher mental plane, groupings of causal bodies (or egoic lotuses) can be found, it is clear why the mental plane should be level upon the group note may be found. The ‘move’ of Ashrams to the buddhic plane may have modified this somewhat, but the principle, it would seem, still holds good. |
107. Vì trên cõi thượng trí có thể tìm thấy những nhóm thể nguyên nhân (hay các Hoa Sen Chân Ngã), nên rõ ràng vì sao cõi trí phải là cấp độ mà trên đó âm điệu nhóm có thể được tìm thấy. Sự “di chuyển” của các ashram sang cõi Bồ đề có thể đã phần nào sửa đổi điều này, nhưng nguyên lý ấy, dường như, vẫn còn đúng. |
|
The hearing dealt with on all these planes is the hearing that has to do with the form, that concerns the vibration of matter, and that is occupied with the not-self. |
Sự nghe được bàn đến trên tất cả các cõi này là sự nghe có liên quan đến hình tướng, liên quan đến rung động của vật chất, và bận tâm với không-phải-ngã. |
|
108. By “all these planes” does DK include both the buddhic and atmic planes (not yet discussed in relation to hearing) or only those planes thus far discussed—physical, astral and mental? |
108. Bởi “tất cả các cõi này”, Chân sư DK có bao gồm cả cõi Bồ đề và cõi atma (chưa được bàn đến liên hệ với sự nghe) hay chỉ những cõi đã được bàn đến cho đến nay—hồng trần, cảm dục và trí tuệ? |
|
109. Hearing is, in many ways, a relatively ‘external’ sense, but upon the higher planes (i.e., the formless or arupa planes) it would seem to move beyond occupation with the not-Self. |
109. Sự nghe, theo nhiều phương diện, là một giác quan tương đối “bên ngoài”, nhưng trên các cõi cao hơn (tức các cõi vô sắc hay arupa) dường như nó vượt ra ngoài sự bận tâm với không-phải-Ngã. |
|
It has not to do with the psyche, or the telepathic communication that proceeds from mind to mind, but with the sound of the form or that power whereby one separated unit of consciousness is aware of another unit who is not himself. Bear this carefully in mind. |
Nó không liên quan đến thức giả, hay Giao tiếp viễn cảm diễn ra từ trí tuệ này sang trí tuệ khác, mà liên quan đến âm thanh của hình tướng hay quyền năng nhờ đó một đơn vị tâm thức biệt lập nhận biết một đơn vị khác không phải là chính mình. Hãy ghi nhớ điều này cẩn thận. |
|
110. DK seems to be specifying a particular type of hearing. We are given a particularly useful definition of hearing (as that sense is now being discussed): “That power whereby one separated unit of consciousness is aware of another unit who is not himself”. |
110. Chân sư DK dường như đang xác định một loại sự nghe đặc thù. Chúng ta được trao cho một định nghĩa đặc biệt hữu ích về sự nghe (theo nghĩa đang được bàn ở đây): “Quyền năng nhờ đó một đơn vị tâm thức biệt lập nhận biết một đơn vị khác không phải là chính mình”. |
|
111. Hearing of this type, therefore, is a tool for detection of the “other”, or of that which is not recognized as the self. It is an initial awareness of that “other” within the field of consciousness. |
111. Vì vậy, loại sự nghe này là một công cụ để phát hiện “cái khác”, hay cái không được nhận ra là bản ngã. Đó là sự nhận biết ban đầu về “cái khác” ấy trong trường tâm thức. |
|
112. We often ask when faced with a large environment: “Did you hear anything?” “Did you hear anyone?” “Is there anyone there?” It is a question of detecting another within the field. |
112. Chúng ta thường hỏi khi đối diện với một môi trường rộng lớn: “Bạn có nghe thấy gì không?” “Bạn có nghe thấy ai không?” “Có ai ở đó không?” Đó là vấn đề phát hiện một kẻ khác trong trường ấy. |
|
When the extension of hearing becomes such that it concerns the psyche, then we call it telepathy or that wordless communication that is the synthesis of hearing on all the three lower planes and which is known by the Ego in the causal body on the formless levels of the mental plane. |
Khi sự mở rộng của sự nghe đạt đến mức liên quan đến thức giả, thì chúng ta gọi đó là viễn cảm hay sự giao tiếp không lời là sự tổng hợp của sự nghe trên cả ba cõi thấp và được chân ngã trong thể nguyên nhân trên các cấp độ vô sắc của cõi trí biết đến. |
|
113. At this point in the discussion we are distinguishing between rupa and arupa hearing—hearing in relation to form and hearing on the so-called formless planes (including the higher mental plane as formless). |
113. Tại điểm này trong cuộc bàn luận, chúng ta đang phân biệt giữa sự nghe rupa và arupa—sự nghe liên hệ với hình tướng và sự nghe trên các cõi được gọi là vô sắc (bao gồm cả cõi thượng trí như là vô sắc). |
|
114. We are aware that on the first or atomic subplane of the mental plane the faculty of “Spiritual Telepathy” can be found. It is apparently this faculty which is here described as “the synthesis of hearing on all the lower planes”. Perhaps there is a kind of telepathy associated with each of the subplanes of the higher mental plane, “Spiritual Telepathy” being that which particular concerns the Spiritual Triad and the Divine Plan (as the word “spiritual”—so often used in relation to the Spiritual Triad—suggests). |
114. Chúng ta biết rằng trên cõi phụ thứ nhất hay cõi phụ nguyên tử của cõi trí có thể tìm thấy năng lực “Viễn cảm Tinh thần”. Rõ ràng chính năng lực này được mô tả ở đây như là “sự tổng hợp của sự nghe trên tất cả các cõi thấp”. Có lẽ có một loại viễn cảm gắn với mỗi cõi phụ của cõi thượng trí, trong đó “Viễn cảm Tinh thần” là loại đặc biệt liên quan đến Tam Nguyên Tinh Thần và Thiên Cơ (như chính từ “tinh thần”—thường được dùng trong liên hệ với Tam Nguyên Tinh Thần—gợi ý). |
|
115. The psyche is the knower. That which is known is, initially, the form. |
115. Thức giả là kẻ biết. Điều được biết, lúc ban đầu, là hình tướng. |
|
116. VSK suggests that we have here “a strong emphasis on the difference between the fires of matter and the to-be-addressed fires of mind. This is always a key ‘level check’ as to the focus and point in development of any entity under consideration, before attempting to place them in relation to other entities.” |
116. VSK gợi ý rằng ở đây chúng ta có “một sự nhấn mạnh mạnh mẽ vào sự khác biệt giữa các lửa của vật chất và các lửa của trí tuệ cần được đề cập đến. Đây luôn là một ‘kiểm tra cấp độ’ then chốt về tiêu điểm và điểm phát triển của bất kỳ thực thể nào đang được xem xét, trước khi cố gắng đặt họ trong tương quan với các thực thể khác.” |
|
117. It is significant that telepathy is considered “wordless”. This fact alone removes it from the province of the third ray which is the influence under which so many word-sounds are created. |
117. Điều đáng chú ý là viễn cảm được xem là “không lời”. Chỉ riêng sự kiện này đã đưa nó ra khỏi phạm vi của cung ba, vốn là ảnh hưởng dưới đó rất nhiều âm-thanh-ngôn-từ được tạo ra. |
|
118. A hint is here given suggesting that when causal consciousness is truly achieved, our modes of communication will be wordless—in fact, telepathic. Perhaps the moments of wordless communication which we experience to a greater or lesser extent are indications of moments of causal alignment. |
118. Ở đây có một gợi ý cho thấy rằng khi tâm thức nguyên nhân thực sự đạt được, các phương thức giao tiếp của chúng ta sẽ là không lời—thực ra là viễn cảm. Có lẽ những khoảnh khắc giao tiếp không lời mà chúng ta trải nghiệm ở mức độ nhiều hay ít là những dấu hiệu của những khoảnh khắc chỉnh hợp nguyên nhân. |
|
On the buddhic plane, hearing (now of the synthetic quality called telepathy) demonstrates as complete comprehension, for it has involved two things: |
Trên cõi Bồ đề, sự nghe (nay mang phẩm tính tổng hợp được gọi là viễn cảm) biểu lộ như sự thấu hiểu trọn vẹn, vì nó đã bao hàm hai điều: |
|
119. Telepathy may begin to develop on the higher mental plane, but by the time the buddhic plane is the more customary focus of consciousness, it is well established. |
119. Viễn cảm có thể bắt đầu phát triển trên cõi thượng trí, nhưng đến khi cõi Bồ đề trở thành tiêu điểm tâm thức quen thuộc hơn, thì nó đã được thiết lập vững chắc. |
|
120. The buddhic plane is one of the planes on which synthesis can begin to be appreciated. |
120. Cõi Bồ đề là một trong những cõi mà trên đó sự tổng hợp có thể bắt đầu được cảm nhận. |
|
121. VSK suggests: “Now we are dealing with telepathy, and therefore with the psyche. Thus, a definition of the fires of matter is simply the focus on (or evolutionarily transit through) the lower three worlds. The first solar system as the mental, astral, and physical, quite explicitly, can be understood in this way as opposed to something that happened ‘in the past’ or in any time sense.” |
121. VSK gợi ý: “Hiện nay chúng ta đang bàn đến viễn cảm, và do đó bàn đến psyche. Vì vậy, một định nghĩa về các lửa của vật chất đơn giản là sự tập trung vào (hay sự chuyển qua theo tiến hoá) ba cõi thấp. Hệ mặt trời thứ nhất, với tính cách là trí tuệ, cảm dục và hồng trần, khá minh nhiên, có thể được hiểu theo cách này thay vì như một điều gì đã xảy ra ‘trong quá khứ’ hay theo bất kỳ ý nghĩa thời gian nào.” |
|
122. VSK suggests that “buddhic hearing or telepathy is the basic hearing of the second solar system (the system developing dual life of consciousness) bridging the three colours of matter with the fires of light.” |
122. VSK gợi ý rằng “thông nhĩ Bồ đề hay viễn cảm là sự nghe căn bản của hệ mặt trời thứ hai (hệ đang phát triển sự sống nhị nguyên của tâm thức), bắt cầu ba màu sắc của vật chất với các lửa của ánh sáng.” |
|
123. We are given an important definition of hearing on the buddhic plane; such hearing is called “telepathy”. The atomic subplane of the mental plane (on which is focussed Spiritual Telepathy” is thus linked with the seventh or lowest subplane of the buddhic plane (the plane of Comprehension—of Four Sounds). |
123. Chúng ta được trao cho một định nghĩa quan trọng về sự nghe trên cõi Bồ đề; sự nghe như thế được gọi là “viễn cảm”. Cõi phụ nguyên tử của cõi trí (nơi “Viễn Cảm Tinh Thần” được tập trung) vì thế được nối kết với cõi phụ thứ bảy hay thấp nhất của cõi Bồ đề (cõi của Sự Thấu Triệt—của Bốn Âm Thanh). |
|
124. It is also suggested that true comprehension does not occur through word but in a telepathic manner. |
124. Cũng có gợi ý rằng sự thấu triệt chân chính không xảy ra qua linh từ mà theo cách viễn cảm. |
|
125. Comprehension is an intuitive act, not a mental one. This is important. At least, a deeper level of comprehension than mental understanding (or comprehension) is experienced on the buddhic plane. |
125. Sự thấu triệt là một hành động trực giác, không phải một hành động trí tuệ. Điều này quan trọng. Ít nhất, một cấp độ thấu triệt sâu hơn sự hiểu biết trí tuệ (hay sự thấu triệt) được kinh nghiệm trên cõi Bồ đề. |
|
126. Comprehension has in it the factor of synthesis; we remember that the number seven (found in relation to the subplane on which Comprehension is experienced) is a number of synthesis. |
126. Sự thấu triệt có trong nó yếu tố tổng hợp; chúng ta nhớ rằng con số bảy (được thấy trong liên hệ với cõi phụ nơi Sự Thấu Triệt được kinh nghiệm) là một con số của tổng hợp. |
|
127. We note that the Comprehension suggestion is not ‘Comprehension of four words’ but “Comprehension—of four sounds”. In this case the sound is superior to the word, and a conveyer of synthesis. |
127. Chúng ta lưu ý rằng gợi ý về Sự Thấu Triệt không phải là ‘Sự Thấu Triệt của bốn linh từ’ mà là “Sự Thấu Triệt—của bốn âm thanh”. Trong trường hợp này, âm thanh cao hơn linh từ, và là một tác nhân chuyển tải tổng hợp. |
|
1. A knowledge and recognition of individual sound, |
1. Một tri thức và sự nhận biết âm thanh cá nhân, |
|
2. A similar knowledge of group sound, |
2. Một tri thức tương tự về âm thanh nhóm, |
|
and their complete unification. |
và sự hợp nhất hoàn toàn của chúng. |
|
128. The Comprehension achieved has been a prepared process. On the physical plane the individual sound has been recognized and understood. On the astral plane, the same recognition and understanding have applied to a brother’s note. A group sound has been recognized and understood on the mental plane (especially the higher mental plane). |
128. Sự Thấu Triệt đạt được là một tiến trình đã được chuẩn bị. Trên cõi hồng trần, âm thanh cá nhân đã được nhận biết và thấu hiểu. Trên cõi cảm dục, cùng sự nhận biết và thấu hiểu ấy đã được áp dụng vào âm điệu của một huynh đệ. Một âm thanh nhóm đã được nhận biết và thấu hiểu trên cõi trí (đặc biệt là cõi trí thượng). |
|
129. It is difficult to know why DK does not include recognition and understanding of a brother’s note on the astral plane. It would seem that the synthesis of which He speaks would be incomplete without the astral experience. |
129. Thật khó biết vì sao Chân sư DK không bao gồm sự nhận biết và thấu hiểu âm điệu của một huynh đệ trên cõi cảm dục. Có vẻ như sự tổng hợp mà Ngài nói đến sẽ không trọn vẹn nếu thiếu kinh nghiệm cảm dục. |
|
130. In any case, there is a unification of these recognitions and understandings, and this unification prepares the way for the synthetic understanding (called Comprehension) of the lowest buddhic level. |
130. Dù sao đi nữa, có một sự hợp nhất của những nhận biết và thấu hiểu này, và sự hợp nhất ấy chuẩn bị con đường cho sự hiểu biết tổng hợp (được gọi là Sự Thấu Triệt) của cấp Bồ đề thấp nhất. |
|
This causes the most perfect comprehension, and is the secret of the Master’s power. |
Điều này tạo ra sự thấu triệt hoàn hảo nhất, và là bí mật của quyền năng của Chân sư. |
|
131. Knowledge/understanding/comprehension are, together, one significant source of power. |
131. Tri thức/sự hiểu biết/sự thấu triệt, cùng nhau, là một nguồn quyền năng đầy ý nghĩa. |
|
132. We can see that we are discussing no insignificant psychic faculty if it is the “secret of the Master’s power”. |
132. Chúng ta có thể thấy rằng mình không đang bàn về một năng lực thông linh không đáng kể nào, nếu đó là “bí mật của quyền năng của Chân sư”. |
|
133. We will, perhaps, pause to consider how often we misunderstand, distort, misconceive, etc. So much of this wrong reception and assimilation is based on words and the different ways in which they can be understood by different psyches. Once the telepathy of the higher mental and buddhic planes is truly functioning, all possibility for misunderstanding is removed. The truth blazes forth. |
133. Có lẽ chúng ta sẽ dừng lại để xét xem chúng ta thường xuyên hiểu lầm, bóp méo, hiểu sai, v.v. đến mức nào. Quá nhiều sự tiếp nhận và đồng hoá sai lầm này dựa trên linh từ và những cách khác nhau mà chúng có thể được các psyche khác nhau hiểu. Một khi viễn cảm của cõi thượng trí và cõi Bồ đề thực sự hoạt động, mọi khả năng hiểu lầm đều bị loại bỏ. Chân lý bừng sáng. |
|
134. The word “perfect” is significant, for it means “complete” and is related to the number four. We are dealing with the first faculty developed in relation to the buddhic plane. |
134. Từ “hoàn hảo” thật có ý nghĩa, vì nó có nghĩa là “trọn vẹn” và liên hệ với con số bốn. Chúng ta đang bàn đến năng lực đầu tiên được phát triển trong liên hệ với cõi Bồ đề. |
|
135. The buddhic plane is a plane of great clarity (achieved through transcendent calmness or serenity). This clarity contributes to what is being called “the most perfect comprehension”. |
135. Cõi Bồ đề là một cõi của sự minh bạch lớn lao (đạt được qua sự bình an siêu việt hay sự tĩnh lặng). Sự minh bạch này góp phần vào điều đang được gọi là “sự thấu triệt hoàn hảo nhất”. |
|
136. In relation to this faculty of Comprehension, hearing and the heart must be blended. |
136. Trong liên hệ với năng lực Thấu Triệt này, sự nghe và tim phải được hòa trộn. |
|
137. The Master’s power is based upon the apprehension of truth to which Comprehension greatly contributes. |
137. Quyền năng của Chân sư dựa trên sự nắm bắt chân lý mà Sự Thấu Triệt góp phần rất lớn vào đó. |
|
On the atmic plane this perfected hearing is seen as beatitude. |
Trên cõi atma, sự nghe đã được hoàn thiện này được thấy như chí phúc. |
|
138. Here is a list of the Beatitudes as recognized by Christianity (Wikipedia quoting the New American Bible): |
138. Đây là một danh sách các Mối Phúc Thật như được Kitô giáo công nhận (Wikipedia trích dẫn New American Bible): |
|
a. Matthew 5:3 – “Blessed are the poor in spirit, for theirs is the kingdom of heaven. |
a. Ma-thi-ơ 5:3 – “Phúc cho những ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. |
|
b. Matthew 5:4 – Blessed are they who mourn, for they will be comforted. |
b. Ma-thi-ơ 5:4 – Phúc cho những ai sầu khổ, vì họ sẽ được ủi an. |
|
c. Matthew 5:5 – Blessed are the meek, for they will inherit the land. |
c. Ma-thi-ơ 5:5 – Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. |
|
d. Matthew 5:6 – Blessed are they who hunger and thirst for righteousness, for they will be satisfied. |
d. Ma-thi-ơ 5:6 – Phúc cho những ai đói khát sự công chính, vì họ sẽ được no thoả. |
|
e. Matthew 5:7 – Blessed are the merciful, for they will be shown mercy. |
e. Ma-thi-ơ 5:7 – Phúc cho những ai xót thương người, vì họ sẽ được xót thương. |
|
f. Matthew 5:8 – Blessed are the clean of heart, for they will see God. |
f. Ma-thi-ơ 5:8 – Phúc cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được thấy Thượng đế. |
|
g. Matthew 5:9 – Blessed are the peacemakers, for they will be called children of God. |
g. Ma-thi-ơ 5:9 – Phúc cho những ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con cái của Thượng đế. |
|
h. Matthew 5:10 – Blessed are they who are persecuted for the sake of righteousness, for theirs is the kingdom of heaven. |
h. Ma-thi-ơ 5:10 – Phúc cho những ai bị bách hại vì sự công chính, vì Nước Trời là của họ. |
|
i. Matthew 5:11-12 – Blessed are you when they insult you and persecute you and utter every kind of evil against you (falsely) because of me. Rejoice and be glad, for your reward will be great in heaven.” |
i. Ma-thi-ơ 5:11-12 – Phúc cho các bạn khi người ta sỉ nhục, bách hại các bạn và vu khống đủ điều xấu xa chống lại các bạn vì tôi. Hãy vui mừng hoan hỉ, vì phần thưởng của các bạn ở trên trời sẽ lớn lao.” |
|
139. There is also a version of the Beatitudes offered in the Gospel According to St. Luke. They offer greater contrasts. |
139. Cũng có một bản các Mối Phúc Thật được nêu trong Phúc Âm theo Thánh Lu-ca. Chúng đưa ra những tương phản lớn hơn. |
|
a. “Blessed are you who are poor, for the kingdom of God is yours. |
a. “Phúc cho các bạn là những người nghèo khó, vì Thiên Giới là của các bạn. |
|
b. Blessed are you who are now hungry, for you will be satisfied. |
b. Phúc cho các bạn là những người hiện đang đói, vì các bạn sẽ được no thoả. |
|
c. Blessed are you who are now weeping, for you will laugh. |
c. Phúc cho các bạn là những người hiện đang khóc, vì các bạn sẽ cười. |
|
d. Blessed are you when people hate you, and when they exclude and insult you, and denounce your name as evil on account of the Son of Man. Rejoice and leap for joy on that day! Behold, your reward will be great in heaven. For their ancestors treated the prophets in the same way. |
d. Phúc cho các bạn khi người ta ghét các bạn, loại trừ và sỉ nhục các bạn, và phỉ báng tên các bạn là xấu xa vì Con Người. Hãy vui mừng và nhảy lên vì hoan hỉ trong ngày ấy! Kìa, phần thưởng của các bạn ở trên trời sẽ lớn lao. Vì tổ tiên họ đã đối xử với các vị tiên tri cũng theo cách ấy. |
|
e. But woe to you who are rich, for you have received your consolation. |
e. Nhưng khốn cho các bạn là những người giàu có, vì các bạn đã nhận phần an ủi của mình rồi. |
|
f. But woe to you who are filled now, for you will be hungry. |
f. Nhưng khốn cho các bạn là những người hiện đang no đủ, vì các bạn sẽ đói. |
|
g. Woe to you who laugh now, for you will grieve and weep. |
g. Khốn cho các bạn là những người hiện đang cười, vì các bạn sẽ sầu khổ và khóc than. |
|
h. Woe to you when all speak well of you, for their ancestors treated the false prophets in this way.” |
h. Khốn cho các bạn khi mọi người đều nói tốt về các bạn, vì tổ tiên họ đã đối xử với các tiên tri giả theo cách ấy.” |
|
140. The following is a selection from the article on the Beatitudes. It describes the stage of the those who are blessed—i.e., who are members of the Kingdom of God. We may also, in this context, refer to the section in EP II which describes the nature of the “Blessed Ones” (beginning EP II 32) |
140. Phần sau đây được chọn từ bài viết về các Mối Phúc Thật. Nó mô tả giai đoạn của những người được chúc phúc—tức là những thành viên của Thiên Giới. Trong bối cảnh này, chúng ta cũng có thể tham chiếu đến phần trong EP II mô tả bản chất của các “Đấng Chân Phúc” (bắt đầu từ EP II 32) |
|
“The Beatitudes (from Latin, beatitudo, happiness) is the name given to a well-known, and to some, such as Henri Nouwen, definitive and central, portion of the Sermon on the Mount, recorded in the Gospels of Matthew and Luke. In this section, Jesus describes the qualities of the citizens of the Kingdom of heaven, showing how each is/will be blessed. The Beatitudes do not describe many separate individuals, but rather the characteristics of those who are deemed blessed by God. Each of the blessed individuals are generally not considered blessed according to worldly standards, but we see, with a heavenly perspective, they truly are blessed. The word traditionally translated into English as “blessed” or “happy” is in the Greek original μακαριος; a more literal translation into contemporary English would be “possessing an inward contentness and joy that is not affected by the physical circumstances.” Each of the Beatitudes presents a situation in which the person described would not be described by the world as “blessed,” yet Jesus declares that they truly are blessed, and they are blessed with a blessing that outlasts any type of blessing this world has to offer. (Wikipedia) |
“Các Mối Phúc Thật (từ tiếng Latin, beatitudo, hạnh phúc) là tên gọi dành cho một phần nổi tiếng, và đối với một số người, như Henri Nouwen, là phần có tính quyết định và trung tâm, của Bài Giảng Trên Núi, được ghi lại trong các Phúc Âm của Ma-thi-ơ và Lu-ca. Trong phần này, Đức Jesus mô tả các phẩm tính của công dân Nước Trời, cho thấy mỗi người được/sẽ được chúc phúc như thế nào. Các Mối Phúc Thật không mô tả nhiều cá nhân riêng biệt, mà đúng hơn là những đặc tính của những người được Thượng đế xem là có phúc. Mỗi cá nhân được chúc phúc nói chung không được xem là có phúc theo tiêu chuẩn thế gian, nhưng chúng ta thấy, với một viễn tượng thiên thượng, rằng họ thực sự có phúc. Từ theo truyền thống được dịch sang tiếng Anh là “blessed” hay “happy” trong nguyên ngữ Hy Lạp là μακαριος; một bản dịch sát hơn sang tiếng Anh đương đại sẽ là “sở hữu một sự mãn nguyện và hoan hỉ nội tâm không bị ảnh hưởng bởi các hoàn cảnh hồng trần.” Mỗi Mối Phúc Thật trình bày một hoàn cảnh trong đó người được mô tả sẽ không được thế gian gọi là “có phúc”, nhưng Đức Jesus tuyên bố rằng họ thực sự có phúc, và họ được chúc phúc bằng một phúc lành bền lâu hơn bất kỳ loại phúc lành nào mà thế gian này có thể ban tặng. (Wikipedia) |
|
141. We can see that the state of blessed happiness really begins on the buddhic plane and is related to an understanding of some fundamental principles realized and lived by members of the Kingdom of God. |
141. Chúng ta có thể thấy rằng trạng thái hạnh phúc được chúc phúc thực sự bắt đầu trên cõi Bồ đề và liên hệ với sự thấu hiểu một số nguyên khí căn bản được chứng nghiệm và sống bởi các thành viên của Thiên Giới. |
|
142. It is interesting that the Gospel of Matthew offers nine Beatitudes and that of Luke, eight. Either of these numbers can be considered significant. The number eight, for instance, is particular related to the buddhic plane. |
142. Điều thú vị là Phúc Âm Ma-thi-ơ đưa ra chín Mối Phúc Thật và Phúc Âm Lu-ca đưa ra tám.Một trong hai con số này đều có thể được xem là có ý nghĩa. Chẳng hạn, con số tám, đặc biệt liên hệ với cõi Bồ đề. |
|
143. Perfect atmic hearing is perfected understanding. It excels the comprehension of the seventh subplane of the buddhic plane because it hears or understands the Will of the Planetary Logos. |
143. Sự nghe atma hoàn hảo là sự thấu hiểu đã được hoàn thiện. Nó vượt hơn sự thấu triệt của cõi phụ thứ bảy của cõi Bồ đề vì nó nghe hay thấu hiểu Ý Chí của Hành Tinh Thượng đế. |
|
Sound, the basis of existence; sound, the method of being; sound, the final unifier; sound therefore realised as the raison d’être, as the method of evolution, and therefore as beatitude.80 |
Âm thanh, nền tảng của hiện hữu; âm thanh, phương pháp của hiện thể; âm thanh, đấng hợp nhất tối hậu; vì vậy âm thanh được chứng nghiệm như raison d’être, như phương pháp của tiến hoá, và do đó như chí phúc.80 |
|
144. Here is one of the Tibetan’s excellent summaries. Let us tabulate for clearer comprehension: |
144. Đây là một trong những bản tóm lược tuyệt vời của Chân sư Tây Tạng. Chúng ta hãy lập bảng để thấu triệt rõ hơn: |
|
a. Sound the basis of existence |
a. Âm thanh là nền tảng của hiện hữu |
|
b. Sound, the method of being |
b. Âm thanh, phương pháp của hiện thể |
|
c. Sound the final unifier |
c. Âm thanh là đấng hợp nhất tối hậu |
|
d. Sound realizes as the raison d’être |
d. Âm thanh được chứng nghiệm như raison d’être |
|
e. Sound as the method of evolution |
e. Âm thanh như phương pháp của tiến hoá |
|
f. Sound as beatitude |
f. Âm thanh như chí phúc |
|
145. Is sound beatitude because it is the “method of evolution” or because of all the things it is said to be in this summary? |
145. Âm thanh là chí phúc vì nó là “phương pháp của tiến hoá” hay vì tất cả những điều mà nó được nói là như thế trong bản tóm lược này? |
|
146. We are reminded of the “sounding joy” of full happiness. |
146. Chúng ta được nhắc nhớ về “niềm vui vang ngân” của hạnh phúc viên mãn. |
|
147. The Beatitudes tell us how we may be supremely happy—from the spiritual perspective. From the worldly perspective, they may not seem like very good advice, but from the perspective of one who is a member of the Kingdom of God, they are divinely correct and make perfect spiritual sense. |
147. Các Mối Phúc Thật cho chúng ta biết làm thế nào chúng ta có thể hạnh phúc tối thượng—từ viễn tượng tinh thần. Từ viễn tượng thế gian, chúng có thể không có vẻ là lời khuyên thật hay, nhưng từ viễn tượng của một người là thành viên của Thiên Giới, chúng hoàn toàn đúng đắn một cách thiêng liêng và có ý nghĩa tinh thần trọn vẹn. |
|
148. An implication arises—that supreme happiness or blessedness (understood as beatitude) is inseparable from sound. |
148. Một hàm ý xuất hiện—rằng hạnh phúc tối thượng hay phúc lành tối thượng (được hiểu là chí phúc) không thể tách rời khỏi âm thanh. |
|
149. The Buddha has told us how we may be happy through His Four Noble Truths and His Noble Eightfold Path. The advice of the Christ is equally a path to happiness, though very different and filled with the spirit of the paradoxical fourth ray—such are the contrasts offered. |
149. Đức Phật đã chỉ cho chúng ta biết làm thế nào chúng ta có thể hạnh phúc qua Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo của Ngài. Lời dạy của Đức Christ cũng là một con đường dẫn đến hạnh phúc, tuy rất khác biệt và chan chứa tinh thần của cung bốn đầy nghịch lý—đó là những tương phản được đưa ra. |
|
150. We are being offered buddhic wisdom and understanding from one who completely understands the fourth or buddhic plane—a plane of great harmony, and yet of contrasts. |
150. Chúng ta đang được trao cho minh triết và sự thấu hiểu Bồ đề từ một Đấng hoàn toàn thấu hiểu cõi thứ tư hay cõi Bồ đề—một cõi của sự hài hoà lớn lao, nhưng cũng là của những tương phản. |
|
Footnote 80: |
Cước chú 80: |
|
…”the chief agency by which Nature’s wheel is moved in a phenomenal direction is sound. Sound is the first aspect of the manifested pentagon since it is a property of ether called Akas and as I already said Vedic recitation is the highest Yagnam containing in itself all minor Yagnams and tending to preserve the manifested pentagon in the proper order. |
…”tác nhân chính nhờ đó bánh xe của Thiên Nhiên được chuyển động theo hướng hiện tượng là âm thanh. Âm thanh là phương diện thứ nhất của ngũ giác biểu hiện vì nó là một thuộc tính của dĩ thái được gọi là Akas và như tôi đã nói, sự tụng đọc Veda là Yagnam cao nhất, tự chứa trong nó mọi Yagnam nhỏ hơn và có khuynh hướng bảo tồn ngũ giác biểu hiện trong trật tự thích đáng. |
|
151. By the “manifested pentagon” we are to understand all potencies of the lower five systemic planes of the cosmic physical plane. The atmic plane (related by HPB to sound) stands at the apex of this pentagram. |
151. Bởi “ngũ giác biểu hiện”, chúng ta phải hiểu là mọi tiềm năng của năm cõi hệ thống thấp của cõi hồng trần vũ trụ. Cõi atma (được HPB liên hệ với âm thanh) đứng ở đỉnh của ngôi sao năm cánh này. |
|
152. In this section of Some Thought from the Gita sound is also related to the Akasha through the word “Akas”. As here presented, sound and “Akas” are one. |
152. Trong phần này của Some Thought from the Gita, âm thanh cũng được liên hệ với Akasha qua từ “Akas”. Như được trình bày ở đây, âm thanh và “Akas” là một. |
|
153. A Yagnam is apparently a creative potency. Sound, being the highest Yagnam, holds all lesser Yagnams in place. Sound has an inherent ordering potency. |
153. Một Yagnam rõ ràng là một tiềm năng sáng tạo. Âm thanh, là Yagnam cao nhất, giữ mọi Yagnam thấp hơn ở đúng vị trí. Âm thanh có một tiềm năng sắp xếp cố hữu. |
|
In the opinion of our old philosophers sound or speech is next to thought the highest karmic agent used by man. |
Theo quan điểm của các triết gia xưa của chúng ta, âm thanh hay lời nói, chỉ sau tư tưởng, là tác nhân nghiệp quả cao nhất được con người sử dụng. |
|
154. This is a thought much emphasized by the Tibetan. Thought, however, is given preeminence as a karmic agent. |
154. Đây là một tư tưởng được Chân sư Tây Tạng nhấn mạnh rất nhiều. Tuy nhiên, tư tưởng được đặt ở vị trí ưu tiên như một tác nhân nghiệp quả. |
|
Of the various karmic agencies wielded by man in the way of moulding himself and surroundings, sound or speech is the most important, for, to speak is to work in ether which of course rules the lower quaternary of elements, air, fire, water and earth. |
Trong số các tác nhân nghiệp quả khác nhau mà con người vận dụng để uốn nắn chính mình và hoàn cảnh xung quanh, âm thanh hay lời nói là quan trọng nhất, vì nói là hoạt động trong dĩ thái, mà dĩ nhiên dĩ thái cai quản bộ tứ thấp của các nguyên tố: khí, lửa, nước và đất. |
|
155. We should note the significant thought that “to speak is to work in ether which of course rules the lower quaternary of elements, air, fire, water an earth”. |
155. Chúng ta nên lưu ý tư tưởng đầy ý nghĩa rằng “nói là hoạt động trong dĩ thái, mà dĩ nhiên dĩ thái cai quản bộ tứ thấp của các nguyên tố: khí, lửa, nước và đất”. |
|
156. To speak is thus to wield a great formative agency, patterning results that will precipitate upon the physical plane. |
156. Vì thế, nói là vận dụng một tác nhân tạo hình lớn lao, tạo mô hình cho những kết quả sẽ ngưng tụ trên cõi hồng trần. |
|
Human sound or language contains therefore all the elements required to move the different classes of Devas and those elements are of course the vowels and the consonants. |
Vì vậy, âm thanh hay ngôn ngữ của con người chứa mọi yếu tố cần thiết để làm chuyển động các loại thiên thần khác nhau, và dĩ nhiên những yếu tố ấy là các nguyên âm và phụ âm. |
|
157. T. Subba Row speaks of the potency of human sound and language. In his opinion language already in the possession of man is sufficient to wield power over many different classes of Devas. |
157. T. Subba Row nói về tiềm năng của âm thanh và ngôn ngữ con người. Theo quan điểm của ông, ngôn ngữ mà con người đã sở hữu đủ để vận dụng quyền năng trên nhiều loại thiên thần khác nhau. |
|
The details of the philosophy of sound in its relation to the devas who preside over the subtle world, belong to the domain of true Mantra Sastra which of course is in the hands of the knowers.”—Some Thoughts on the Gita, p. 72. |
Các chi tiết của triết học về âm thanh trong mối liên hệ của nó với các thiên thần chủ quản thế giới vi tế thuộc về lãnh vực của Mantra Sastra chân chính, mà dĩ nhiên nằm trong tay các thức giả.”—Some Thoughts on the Gita, tr. 72. |
|
158. The science of Mantra Yoga is called “Mantra Sastra” must be potent in the extreme. Little of it is in the possession of the average student. |
158. Khoa học của Mantra Yoga được gọi là “Mantra Sastra” hẳn phải có tiềm năng cực lớn. Rất ít điều trong đó nằm trong sự sở hữu của đạo sinh trung bình. |
|
159. Apparently, by implication, there are many imitations of the “true Mantra Sastra”. |
159. Rõ ràng, theo hàm ý, có nhiều sự bắt chước của “Mantra Sastra chân chính”. |
|
[Page 193] |
|
|
b. Touch. In taking up the subject of the second sense, that of touch, we must note that this sense is preeminently the sense of very great importance in this, the second, solar system—a system of astral-buddhic consciousness.81 |
b. Xúc giác. Khi bắt đầu đề tài về giác quan thứ hai, tức xúc giác, chúng ta phải lưu ý rằng giác quan này nổi bật hơn hết như là giác quan có tầm quan trọng rất lớn trong hệ mặt trời thứ hai này—một hệ của tâm thức cảm dục-Bồ đề.81 |
|
160. We may say that the sense of touch is preeminent in our astral-buddhic solar system. |
160. Chúng ta có thể nói rằng xúc giác là giác quan nổi trội trong hệ mặt trời cảm dục-Bồ đề của chúng ta. |
|
161. If we think carefully we shall see that no sense can operate without the factor of touch, for always (with respect to every sense) there is impression via a medium of impression. That impression is a variety of touch. |
161. Nếu suy nghĩ cẩn thận, chúng ta sẽ thấy rằng không giác quan nào có thể hoạt động mà không có yếu tố xúc chạm, vì luôn luôn (đối với mọi giác quan) có sự ghi nhận qua một môi trường ghi nhận. Sự ghi nhận ấy là một dạng xúc chạm. |
|
162. In relation to the sense of touch the factor of attraction and repulsion is a central dynamic. The sense of touch comes under the second cosmic law of Attraction (and Repulsion). |
162. Trong liên hệ với xúc giác, yếu tố hấp dẫn và đẩy lùi là một động lực trung tâm. Xúc giác thuộc về định luật vũ trụ thứ hai là Định luật Hấp Dẫn (và Đẩy Lùi). |
|
Each of these senses, after having reached a certain point, begins to synthesise with the others in such a way that it is almost impossible to know where one begins and the other ends. |
Mỗi giác quan này, sau khi đã đạt đến một điểm nào đó, bắt đầu tổng hợp với các giác quan khác theo cách khiến gần như không thể biết được giác quan này bắt đầu ở đâu và giác quan kia chấm dứt ở đâu. |
|
163. DK speaks of the synthesis of the senses, presumably as the more synthetic initiations are taken. |
163. Chân sư DK nói về sự tổng hợp của các giác quan, có lẽ khi các lần điểm đạo tổng hợp hơn được tiếp nhận. |
|
Footnote 81: |
Cước chú 81: |
|
Astral-buddhic consciousness is the term applied to the basic consciousness in our solar system. It is characterised by emotion, by feeling, sensation, which have eventually to be transmuted into intuition, spiritual perception and unity. |
Tâm thức cảm dục-Bồ đề là thuật ngữ được áp dụng cho tâm thức căn bản trong hệ mặt trời của chúng ta. Nó được đặc trưng bởi cảm xúc, cảm giác, tri giác, những điều cuối cùng phải được chuyển hoá thành trực giác, tri giác tinh thần và hợp nhất. |
|
164. The functional link between the astral and buddhic types of consciousness is presented. |
164. Mối nối chức năng giữa các loại tâm thức cảm dục và Bồ đề được trình bày. |
|
165. It is relatively easy to understand how emotion, feeling and sensation are related to the sense of touch. What must also be realized is that intuition, spiritual perception and the sense of unity are also related to this sense (though a much subtler form of touch). |
165. Tương đối dễ hiểu cách cảm xúc, cảm giác và tri giác liên hệ với xúc giác. Điều cũng phải được chứng nghiệm là trực giác, tri giác tinh thần và ý thức hợp nhất cũng liên hệ với giác quan này (dù là một hình thức xúc chạm tinh tế hơn nhiều). |
|
Touch is that innate recognition of contact through the exercise of manas or mind in a threefold manner: |
Xúc giác là sự nhận biết bẩm sinh về tiếp xúc qua việc vận dụng manas hay trí tuệ theo cách tam phân: |
|
As recognition. |
Như sự nhận biết. |
|
As memory. |
Như ký ức. |
|
As anticipation. |
Như sự dự cảm. |
|
166. In this definition of touch, it is interesting to understand that it is inseparable from the exercise of manas or mind. |
166. Trong định nghĩa này về xúc giác, điều thú vị là hiểu rằng nó không thể tách rời khỏi việc vận dụng manas hay trí tuệ. |
|
167. There may be contact of many kinds and yet the sense of touch remain dormant because there is no manasic recognition of the touch. The touch is not noticed. |
167. Có thể có nhiều loại tiếp xúc mà xúc giác vẫn ngủ yên vì không có sự nhận biết manas về sự xúc chạm. Sự xúc chạm không được ghi nhận. |
|
168. The focus of touch in the past, present and future are here given. |
168. Ở đây, tiêu điểm của xúc giác trong quá khứ, hiện tại và tương lai được nêu ra. |
|
a. Touch in relation to the past may be experienced through memory. |
a. Xúc giác trong liên hệ với quá khứ có thể được kinh nghiệm qua ký ức. |
|
b. Touch in relation to the present may be experienced through recognition. |
b. Xúc giác trong liên hệ với hiện tại có thể được kinh nghiệm qua sự nhận biết. |
|
c. Touch in relation to the future may be experienced through anticipation. |
c. Xúc giác trong liên hệ với tương lai có thể được kinh nghiệm qua sự dự cảm. |
|
169. In relation to the future, touch and the factor of faith are closely related. |
169. Trong liên hệ với tương lai, xúc giác và yếu tố đức tin liên hệ mật thiết với nhau. |
|
170. If there is contact and one is not aware of the contact, has the sense of touch been activated? It would seem not. |
170. Nếu có tiếp xúc mà người ta không ý thức được tiếp xúc ấy, thì xúc giác đã được hoạt hóa chưa? Có vẻ là chưa. |
|
Each of the five senses, when coupled with manas, develops within the subject a concept embodying the past, the present and the future. |
Mỗi một trong năm giác quan, khi được kết hợp với manas, phát triển bên trong chủ thể một khái niệm bao hàm quá khứ, hiện tại và tương lai. |
|
171. This is a concept of great importance. If manas is not coupled with the senses, the senses may be active but no concept of the past, present and future will exist. |
171. Đây là một khái niệm vô cùng quan trọng. Nếu manas không được kết hợp với các giác quan, các giác quan có thể hoạt động nhưng sẽ không có khái niệm nào về quá khứ, hiện tại và tương lai tồn tại. |
|
172. The animal (for instance, a developed mammal) has the five senses active and yet, no sense of past, present or future, because the manas is not activated. There has been no arrangement or categorization of sensory impression into three types. |
172. Con vật (chẳng hạn, một loài có vú phát triển) có năm giác quan hoạt động mà vẫn không có ý thức về quá khứ, hiện tại hay tương lai, vì manas chưa được hoạt hóa. Chưa có sự sắp xếp hay phân loại các ghi nhận giác quan thành ba loại. |
|
Therefore when a man is very highly evolved, has transcended time (as known in the three worlds), |
Vì vậy khi con người đã tiến hoá rất cao, đã vượt khỏi thời gian (như được biết trong ba cõi thấp), |
|
173. We note the care with which this phrase is worded. Time as it is known in the three worlds may be transcended by the highly evolved human being. This is not to say that time, in any absolute sense, is transcended, for there is also time as it is experienced on planes far higher than those of the three worlds. |
173. Chúng ta lưu ý sự cẩn trọng trong cách diễn đạt cụm từ này. Thời gian như nó được biết trong ba cõi thấp có thể được con người tiến hoá cao vượt qua. Điều này không có nghĩa là thời gian, theo bất kỳ ý nghĩa tuyệt đối nào, đã bị vượt qua, vì còn có thời gian như được kinh nghiệm trên những cõi cao hơn rất nhiều so với ba cõi thấp. |
|
and can therefore look at the three lower planes from the standpoint of the Eternal Now, he has superseded the senses by full active consciousness. |
và do đó có thể nhìn ba cõi thấp từ quan điểm của Hiện Tại Vĩnh Cửu, y đã vượt qua các giác quan bằng tâm thức đầy đủ và hoạt động. |
|
174. The transcending of time as it is related to the three worlds is related to the transcending of the relationship between manas and the senses. When faculties other (and higher) than manas are related to the senses, the limiting sense of past, present and future will not hold the consciousness in bondage. |
174. Sự vượt qua thời gian trong liên hệ với ba cõi thấp có liên hệ với sự vượt qua mối quan hệ giữa manas và các giác quan. Khi những năng lực khác (và cao hơn) manas được liên hệ với các giác quan, ý thức hạn chế về quá khứ, hiện tại và tương lai sẽ không còn trói buộc tâm thức nữa. |
|
175. How may we supersede the senses? The answer comes: “By full active consciousness”. There is a kind of ‘wholeness in consciousness’ which embraces past, present and future simultaneously. This wholeness is not limited by the sense of unalterable sequence. It can reach far ‘forwards’ or ‘backwards’ simultaneously and yet perceive the present fully in the moment. |
175. Làm thế nào chúng ta có thể vượt qua các giác quan? Câu trả lời đến là: “Bằng tâm thức đầy đủ và hoạt động”. Có một loại ‘toàn thể tính trong tâm thức’ bao trùm đồng thời quá khứ, hiện tại và tương lai. Toàn thể tính này không bị giới hạn bởi cảm giác về chuỗi tiếp nối bất biến. Nó có thể vươn rất xa ‘về phía trước’ hay ‘về phía sau’ cùng một lúc mà vẫn tri giác trọn vẹn hiện tại trong khoảnh khắc. |
|
176. The corollary to the implications from this section is also to be examined: if one is under the spell of the senses, one has not yet achieved full active consciousness. |
176. Hệ quả rút ra từ phần này cũng cần được khảo sát: nếu một người còn ở dưới bùa mê của các giác quan, người ấy vẫn chưa đạt được tâm thức đầy đủ và hoạt động. |
|
177. In the perception of the Eternal Now, that which is beyond any possibility of change must be constantly registered even ‘while’ that which changes always is ‘also’ registered. |
177. Trong tri giác về Hiện Tại Vĩnh Cửu, điều vượt ngoài mọi khả năng thay đổi phải được ghi nhận liên tục ngay cả ‘trong khi’ điều luôn thay đổi cũng ‘đồng thời’ được ghi nhận. |
|
178. Astrologically considered we are speaking of the transition from Saturn (time, space, sense, sequence) to Uranus (simultaneity, essence, fusion, synthesis). |
178. Xét theo chiêm tinh học, chúng ta đang nói đến sự chuyển tiếp từ Sao Thổ (thời gian, không gian, giác quan, chuỗi tiếp nối) sang Sao Thiên Vương (tính đồng thời, tinh tuý, sự dung hợp, tổng hợp). |
|
179. VSK remarks: “So the superseding of time is equivalent to the superseding of senses. Interesting in relation to the definition of the Plan given as the “transcending of time”, and in relation to the foregoing discussion of the kundalini and the burning away of webs in the three lower worlds, thus synthesizing these worlds ‘from the standpoint of the Eternal Now’. This is fun. |
179. VSK nhận xét: “Như vậy, việc vượt khỏi thời gian tương đương với việc vượt khỏi các giác quan. Thật thú vị khi liên hệ với định nghĩa về Thiên Cơ được nêu là sự ‘siêu vượt thời gian’, và liên hệ với phần bàn luận trước đó về kundalini và việc đốt cháy các màng lưới trong ba cõi thấp, nhờ đó tổng hợp các cõi này ‘từ quan điểm của Hiện Tại Vĩnh Cửu’. Điều này thật thú vị. |
|
He knows, and needs not the senses to guide him any longer to knowledge. |
Y biết, và không còn cần các giác quan dẫn dắt y đến tri thức nữa. |
|
180. From the astrological perspective, Mercury and the Sun have become one. The Path to Knowledge is the antahkarana which ends, eventually, in the fullness of the Sun (which represents the fullness of knowledge and realization). |
180. Từ góc độ chiêm tinh học, Sao Thủy và Mặt Trời đã trở thành một. Con Đường đến Tri Thức là antahkarana, cuối cùng kết thúc trong sự viên mãn của Mặt Trời (vốn biểu trưng cho sự viên mãn của tri thức và chứng nghiệm). |
|
181. The senses are mediators and give mediated knowledge. There is such a thing as “direct knowledge” (in the words of Master Morya). Direct knowledge is ever fuller and more satisfying that mediated knowledge, which is ever conditioned by the medium through which the knowledge must, as it were, pass. |
181. Các giác quan là những trung gian và ban cho tri thức đã được trung giới hóa. Có một điều gọi là “tri thức trực tiếp” (theo lời Chân sư Morya). Tri thức trực tiếp luôn đầy đủ hơn và thỏa đáng hơn tri thức được trung giới hóa, vốn luôn bị tác động bởi môi trường trung gian mà tri thức ấy phải, có thể nói như vậy, đi qua. |
|
182. Direct knowledge arises through identification, which suggests the ability to become (or realize one’s identicality with) the object of knowledge. |
182. Tri thức trực tiếp phát sinh qua sự đồng hoá với, điều này gợi ý khả năng trở thành (hay chứng nghiệm sự đồng nhất của mình với) đối tượng của tri thức. |
|
But in time, and in the three worlds, each sense on each plane is employed to convey to the Thinker some aspect of the not-self, and by the aid [Page 194] of mind, the Thinker can then adjust his relationship thereto. |
Nhưng theo thời gian, và trong ba cõi giới, mỗi giác quan trên mỗi cõi được sử dụng để truyền đạt cho Thức giả một phương diện nào đó của vô ngã, và nhờ sự trợ giúp [Page 194] của trí tuệ, Thức giả khi ấy có thể điều chỉnh mối liên hệ của y với điều đó. |
|
183. The right use of the senses is an unavoidable prelude to identificatory realization. We must accept mediated knowledge before we can be impressed with direct essence. |
183. Việc sử dụng đúng đắn các giác quan là phần mở đầu không thể tránh khỏi cho sự chứng nghiệm bằng đồng nhất hóa. Chúng ta phải chấp nhận tri thức được trung giới hóa trước khi có thể được gây ấn tượng bởi tinh túy trực tiếp. |
|
184. The senses reveal what is “out there” (including what seems to be “in there”) but is really “out there”—though in a more subtle manner. |
184. Các giác quan tiết lộ điều gì là “ở ngoài kia” (kể cả điều gì dường như là “ở trong kia”) nhưng thật ra là “ở ngoài kia”—dù theo một cách tinh tế hơn. |
|
185. Through the revelation of the nature of the not-Self, the Thinker can properly adjust to that not-Self. The clearer the testimony of the senses, the more probability of an intelligent adjustment. |
185. Thông qua sự mặc khải về bản chất của vô ngã, Thức giả có thể điều chỉnh đúng đắn với vô ngã đó. Chứng cứ của các giác quan càng rõ ràng thì xác suất có được một sự điều chỉnh thông minh càng lớn. |
|
186. VSK remarks: “Always ‘neti neti’ … seems like the Thinker would ‘get it ‘after a while that the only adjustment to make is to ‘no relationship’, as any relationship, per se, must be with the not-Self. |
186. VSK nhận xét: “Luôn luôn là ‘neti neti’ … dường như Thức giả rồi cũng sẽ ‘hiểu ra’ sau một thời gian rằng sự điều chỉnh duy nhất cần thực hiện là ‘không có mối liên hệ’, vì bất kỳ mối liên hệ nào, chính nó, cũng phải là với vô ngã. |
|
187. Now begins a more important tabulation of that which is conveyed to the Thinker by each of the senses. These short indications elucidate the meaning of the senses in unexpected ways. |
187. Giờ đây bắt đầu một bảng liệt kê quan trọng hơn về điều được mỗi giác quan truyền đạt cho Thức giả. Những chỉ dẫn ngắn gọn này làm sáng tỏ ý nghĩa của các giác quan theo những cách không ngờ. |
|
Hearing gives him an idea of relative direction, and enables a man to fix his place in the scheme and to locate himself. |
Thính giác cho y một ý niệm về phương hướng tương đối, và giúp con người xác định vị trí của mình trong hệ hành tinh và định vị chính mình. |
|
188. We see how very closely the sense of hearing is related to the establishment and maintenance of the illusion of time and space (and thus, of the illusion of separation). |
188. Chúng ta thấy giác quan thính giác liên hệ rất chặt chẽ với việc thiết lập và duy trì ảo tưởng về thời gian và không gian (và do đó, ảo tưởng về sự phân ly). |
|
189. Hearing conveys the impression not only of direction and location but of distance. It defines the time-space sphere or “Cube of Space”. |
189. Thính giác không chỉ truyền đạt ấn tượng về phương hướng và vị trí mà còn về khoảng cách. Nó xác định khối cầu thời-không hay “Khối Lập Phương Không Gian”. |
|
190. Saturn (the planet of hearing) might also be called the ‘planet of location’, for it convinces the consciousness that its apparatus can only be in one place at one time—if ‘here’, then not ‘there’; if ‘there’, then not ‘here’. Location means fixity of position and Saturn is one of the major planets of fixation. Vulcan may be another and Mars cannot be left out of the consideration. |
190. Sao Thổ (hành tinh của thính giác) cũng có thể được gọi là ‘hành tinh của vị trí’, vì nó thuyết phục tâm thức rằng bộ máy của nó chỉ có thể ở một nơi vào một thời điểm—nếu ‘ở đây’ thì không ‘ở đó’; nếu ‘ở đó’ thì không ‘ở đây’. Vị trí có nghĩa là sự cố định của chỗ đứng, và Sao Thổ là một trong những hành tinh lớn của sự cố định. Vulcan có thể là một hành tinh khác, và Sao Hỏa cũng không thể bị loại khỏi sự xem xét này. |
|
191. The sign ruling the ears and hearing, Taurus, ruled initially by fifth ray Venus, contributes to the sense of ‘here and not there’, and Vulcan, the esoteric ruler of Taurus anchors the consciousness in one location by means of a body apparently ‘attached’ to the Earth. For all its higher potentials, Vulcan has a materialistic effect upon the consciousness in the early stages of development. |
191. Dấu hiệu hoàng đạo cai quản tai và thính giác là Kim Ngưu, ban đầu do Sao Kim cung năm cai quản, góp phần tạo nên cảm giác ‘ở đây chứ không ở đó’, và Vulcan, chủ tinh huyền bí của Kim Ngưu, neo tâm thức vào một vị trí bằng một thể dường như ‘gắn chặt’ với Trái Đất. Dù có mọi tiềm năng cao hơn, Vulcan vẫn tạo ra một tác động duy vật lên tâm thức trong các giai đoạn phát triển ban đầu. |
|
192. The wording in DK’s sentence tells us that we should study the Law of Fixation in relation to the sense of hearing. |
192. Cách diễn đạt trong câu của Chân sư DK cho chúng ta biết rằng nên nghiên cứu định luật Cố Định trong liên hệ với giác quan thính giác. |
|
Touch gives him an idea of relative quantity and enables him to fix his relative value as regards other bodies, extraneous to himself. |
Xúc giác cho y một ý niệm về lượng tương đối và giúp y xác định giá trị tương đối của mình đối với các thể khác, ở ngoài y. |
|
193. If hearing conveys the idea of location and direction, the idea of “relative quantity” is conferred by the sense of touch. What is ‘big’ and what is ‘small’ are realized. Sight (when large distances are involved) can be misleading in this regard. |
193. Nếu thính giác truyền đạt ý niệm về vị trí và phương hướng, thì ý niệm về “lượng tương đối” được ban cho bởi xúc giác. Điều gì là ‘lớn’ và điều gì là ‘nhỏ’ được nhận biết. Thị giác (khi có khoảng cách lớn) có thể gây hiểu lầm về phương diện này. |
|
194. The word “value” is interesting, relating to both Venus and Taurus (both influences inclining towards tactility—yet towards a keen sense of the visual as well). “Value” suggests worth—comparisons between coarse and fine, uncomfortable and comfortable, and many of the pairs of opposites. |
194. Từ “giá trị” thật thú vị, liên hệ với cả Sao Kim lẫn Kim Ngưu (cả hai ảnh hưởng đều nghiêng về tính xúc chạm—nhưng cũng hướng đến một cảm nhận sắc bén về thị giác). “Giá trị” gợi ý sự đáng giá—những so sánh giữa thô và tinh, khó chịu và dễ chịu, cùng nhiều cặp đối đãi khác. |
|
195. The word “value” in this context may also mean “condition” or “state”. |
195. Từ “giá trị” trong ngữ cảnh này cũng có thể có nghĩa là “điều kiện” hay “trạng thái”. |
|
196. We can see that the factor of comparison is implicit in any consideration of the senses. |
196. Chúng ta có thể thấy rằng yếu tố so sánh hàm ẩn trong mọi sự xem xét về các giác quan. |
|
Sight gives him an idea of proportion, and enables him to adjust his movements to the movements of others. |
Thị giác cho y một ý niệm về tỉ lệ, và giúp y điều chỉnh các chuyển động của mình theo các chuyển động của người khác. |
|
197. The idea of proportion is implicit in the visual field. One ‘sees’ the great and small and is able to compare them instantly. The visual field is filled with things of many sizes, though when great distances are involved, size as it appears within the visual field can be most misleading. Are stars, appearing small, really small in comparison with all other elements in the visual field? Are the Sun and the moon really the same size, as the eye suggests they are? Clearly the mind must enter to make important adjustments. Such items as immense distant objects cannot be heard (except through electronic assistance), touched, tasted or smelled, and thus the other four senses cannot correct optical illusions. The mind, however, can. |
197. Ý niệm về tỉ lệ hàm ẩn trong trường thị giác. Người ta ‘thấy’ cái lớn và cái nhỏ và có thể so sánh chúng tức thì. Trường thị giác đầy những vật có nhiều kích thước khác nhau, dù khi có khoảng cách lớn, kích thước như nó xuất hiện trong trường thị giác có thể gây hiểu lầm rất nhiều. Các ngôi sao, trông nhỏ bé, có thật sự nhỏ so với mọi yếu tố khác trong trường thị giác không? Mặt Trời và mặt trăng có thật sự cùng kích thước như mắt gợi ra không? Rõ ràng trí tuệ phải tham gia để thực hiện những điều chỉnh quan trọng. Những vật như các đối tượng ở xa vô cùng lớn không thể được nghe thấy (trừ khi có trợ giúp điện tử), chạm tới, nếm hay ngửi, và vì thế bốn giác quan kia không thể sửa chữa các ảo tưởng quang học. Tuy nhiên, trí tuệ có thể. |
|
198. Much might be learned by a contemplation of the words “optical illusions”. |
198. Có thể học được nhiều điều bằng cách chiêm ngưỡng các từ “ảo tưởng quang học”. |
|
199. As for proportion, we can relate the sense of sight closely to the sign Libra, ruling as it does the ajna center and relating to both the right and left eyes (as well as to the central eye). Venus, an important planet of sight, is the first ruler of Libra. |
199. Về tỉ lệ, chúng ta có thể liên hệ giác quan thị giác một cách chặt chẽ với dấu hiệu Thiên Bình, vì dấu hiệu này cai quản trung tâm ajna và liên hệ với cả mắt phải lẫn mắt trái (cũng như con mắt trung tâm). Sao Kim, một hành tinh quan trọng của thị giác, là chủ tinh thứ nhất của Thiên Bình. |
|
200. A correct sense of proportion is the antidote to glamor, and so we can see how the emergence of the sense of sight (and of the mind more prominently) enabled man to escape from the emotional glamor characteristic of the era when the sense of touch (physical and, especially, astral) reigned supreme (the Atlantean phase of consciousness). |
200. Một ý thức về tỉ lệ đúng đắn là thuốc giải cho ảo cảm, và vì vậy chúng ta có thể thấy sự xuất hiện của giác quan thị giác (và của trí tuệ nổi bật hơn) đã giúp con người thoát khỏi ảo cảm cảm xúc đặc trưng của thời kỳ mà xúc giác (hồng trần và đặc biệt là cảm dục) ngự trị tối cao (giai đoạn Atlantis của tâm thức). |
|
201. We can also see the social function of the sense of sight, for when the movements of people can be reasonably adjusted to each other, social living is possible. Exaggerated movements (all out of proportion—again suggesting the importance of the comparative Libran influence) indicate a lack of cohesion with the norms of society. |
201. Chúng ta cũng có thể thấy chức năng xã hội của giác quan thị giác, vì khi các chuyển động của con người có thể được điều chỉnh hợp lý với nhau, đời sống xã hội trở nên khả hữu. Những chuyển động phóng đại (đều mất cân xứng—một lần nữa gợi ý tầm quan trọng của ảnh hưởng so sánh thuộc Thiên Bình) cho thấy sự thiếu gắn kết với các chuẩn mực của xã hội. |
|
202. A young child spends a long time observing and imitating, to learn how to ‘act’ or move in relation to those around him who are also acting and moving. We might say that the sense of sight keeps movement “within due bounds”. |
202. Một đứa trẻ nhỏ dành rất nhiều thời gian để quan sát và bắt chước, nhằm học cách ‘hành động’ hay di chuyển trong liên hệ với những người quanh nó, những người cũng đang hành động và di chuyển. Chúng ta có thể nói rằng giác quan thị giác giữ cho chuyển động “trong những giới hạn thích đáng”. |
|
203. The sense of sight is also related to the Law of Attraction and Repulsion, for, on the basis of what we see, we are both attracted and repelled. This might be said of all the senses to a degree, but the amount of information coming through the eye far exceeds that arising through the use of the other senses. |
203. Giác quan thị giác cũng liên hệ với Định luật Hấp Dẫn và Định luật Đẩy Lùi, vì trên cơ sở điều chúng ta thấy, chúng ta vừa bị thu hút vừa bị đẩy lùi. Điều này có thể nói về mọi giác quan ở một mức độ nào đó, nhưng lượng thông tin đi vào qua mắt vượt xa lượng phát sinh qua việc sử dụng các giác quan khác. |
|
Taste gives him an idea of value, and enables him to fix upon that which to him appears best. |
Vị giác cho y một ý niệm về giá trị, và giúp y quyết định điều gì đối với y dường như là tốt nhất. |
|
204. Again we have the word “value” used, as in describing the sense of touch. Indeed, taste is based primarily upon touch. |
204. Một lần nữa chúng ta lại có từ “giá trị” được dùng, như trong phần mô tả xúc giác. Thật vậy, vị giác chủ yếu dựa trên xúc giác. |
|
205. Taste reveals to the ‘taster’ his similarly or dissimilarity to (harmony or inharmony with) that which is tasted. It reveals whether that which is tasted (or to be tasted or was tasted) is assimilable by the taster, whether it can be incorporated into his system. |
205. Vị giác tiết lộ cho ‘người nếm’ sự tương đồng hay bất tương đồng của y với (sự hài hòa hay bất hài hòa với) điều được nếm. Nó tiết lộ liệu điều được nếm (hay sẽ được nếm hoặc đã được nếm) có thể được đồng hóa bởi người nếm hay không, liệu nó có thể được kết hợp vào hệ thống của y hay không. |
|
206. That which is of value is desired by the assimilating entity. The better the assimilation of valuable inputs or ‘imports’, the better the condition and growth of the entity—i.e., the more rapid the trajectory of fulfillment. |
206. Điều gì có giá trị thì được thực thể đồng hóa mong muốn. Sự đồng hóa các đầu vào hay ‘nhập liệu’ có giá trị càng tốt thì tình trạng và sự tăng trưởng của thực thể càng tốt—tức là quỹ đạo hoàn thành càng nhanh. |
|
207. We note again that the term “fix” is used as was the case in the description of touch. This is another confirmation that touch and taste are related. |
207. Chúng ta lại lưu ý rằng thuật ngữ “xác định” được dùng như trong phần mô tả xúc giác. Đây là một xác nhận nữa rằng xúc giác và vị giác có liên hệ với nhau. |
|
208. After much life experience one may become ‘set in his tastes’, and seek to incorporate only that which he has definitely decided is of value. |
208. Sau nhiều kinh nghiệm sống, người ta có thể trở nên ‘cố định trong thị hiếu của mình’, và chỉ tìm cách kết hợp vào mình điều mà y đã dứt khoát quyết định là có giá trị. |
|
209. The sense of taste is related to the general improvement of quality—whether of the environment (external) or of the individual (internal). We might say that this sense is related to the refinement of the desire body. |
209. Giác quan vị giác liên hệ với sự cải thiện chung về phẩm tính—dù là của môi trường (bên ngoài) hay của cá nhân (bên trong). Chúng ta có thể nói rằng giác quan này liên hệ với sự tinh luyện thể dục vọng. |
|
Smell gives him an idea of innate quality, and enables him to find that which appeals to him as of the same quality or essence as himself. |
Khứu giác cho y một ý niệm về phẩm tính bẩm sinh, và giúp y tìm ra điều gì hấp dẫn y như có cùng phẩm tính hay tinh túy với chính y. |
|
210. The sense of smell is at once the most internal and external sense. It is closely related to the animal brain and very active in the animal kingdom. |
210. Khứu giác đồng thời là giác quan nội tại nhất và ngoại tại nhất. Nó liên hệ chặt chẽ với bộ não động vật và rất hoạt động trong giới động vật. |
|
211. It is also a highly metaphysical sense bringing the one who senses through smell in touch with essence. |
211. Nó cũng là một giác quan có tính siêu hình cao, đưa người cảm nhận bằng mùi tiếp xúc với tinh túy. |
|
212. The senses of hearing, touch and sight are relatively external compared to the last two senses, which allow the one who senses to achieve an increasing intimacy with his object of sensation. |
212. Các giác quan thính giác, xúc giác và thị giác tương đối bên ngoài so với hai giác quan cuối, vốn cho phép người cảm nhận đạt đến sự thân mật ngày càng tăng với đối tượng cảm giác của mình. |
|
213. The sense of smell as here described achieves even a greater intimacy with the sensed object than does the sense of taste. One penetrates far beneath the surface of the object to that which is innate and of the essence. |
213. Khứu giác như được mô tả ở đây đạt đến một sự thân mật với đối tượng được cảm nhận còn lớn hơn cả vị giác. Người ta xuyên thấu sâu dưới bề mặt của đối tượng đến điều gì là bẩm sinh và thuộc về tinh túy. |
|
214. We can see that the sense of smell (which leads the sensing one ‘home’) is the method of finding similarity of essence and thus lead to the sense of identification and synthesis. |
214. Chúng ta có thể thấy rằng khứu giác (vốn dẫn người cảm nhận ‘về nhà’) là phương pháp để tìm ra sự tương đồng về tinh túy và do đó dẫn đến cảm thức đồng nhất hóa và tổng hợp. |
|
215. If smell leads ‘homewards’, the extensions of this sense will help the sensing one rediscover the Monad, which is the true home (and related closely to some of the higher correspondences of the physical sense of smell—for instance Idealism and All-Knowledge). |
215. Nếu khứu giác dẫn ‘về quê nhà’, thì những mở rộng của giác quan này sẽ giúp người cảm nhận tái khám phá chân thần, vốn là quê nhà đích thực (và liên hệ chặt chẽ với một số tương ứng cao hơn của khứu giác hồng trần—chẳng hạn như Chủ Nghĩa Duy Tưởng và Toàn Tri). |
|
216. It would seem that the sense of smell is as closely related to monadic life as to atmic life. Both areas of vibration relate to the presence of Will and Spirit—factors which are unitary and identical as the essence of all beings. |
216. Dường như khứu giác liên hệ với sự sống chân thần cũng chặt chẽ như với sự sống atma. Cả hai vùng rung động đều liên hệ với sự hiện diện của Ý Chí và tinh thần—những yếu tố có tính nhất nguyên và đồng nhất như tinh túy của mọi hữu thể. |
|
217. The sense of smell is again a great directional sense. One learns to “follow the scent home”, staying on the beam and ignoring many distractions. There is a certain linear quality to the whole process. |
217. Khứu giác lại là một giác quan định hướng lớn. Người ta học cách “lần theo mùi hương để về nhà”, giữ đúng trên tia tuyến và bỏ qua nhiều sự xao lãng. Toàn bộ tiến trình có một phẩm tính tuyến tính nhất định. |
|
In all these definitions it is necessary to bear in mind that the whole object of the senses is to reveal the not-self, and to enable the Self therefore to differentiate between the real and the unreal.82 |
Trong tất cả những định nghĩa này, cần ghi nhớ rằng toàn bộ mục đích của các giác quan là tiết lộ vô ngã, và do đó giúp Bản Ngã phân biệt giữa cái thực và cái không thực.82 |
|
218. The major function of the senses is given—to reveal the not-Self. It would seem that the sense are capable of an amazing degree of refinement and would be active on all planes (even those far above any plane thus far indicated as existent), for any thing that can be revealed (other than Oneself) is definitely of the not-Self (experientially at least). (Ultimately, and metaphysically, all things are the SELF.) |
218. Chức năng chính của các giác quan đã được nêu ra—tiết lộ vô ngã. Dường như các giác quan có khả năng tinh luyện đến một mức độ đáng kinh ngạc và sẽ hoạt động trên mọi cõi (ngay cả những cõi cao hơn rất xa bất kỳ cõi nào cho đến nay đã được chỉ ra là hiện hữu), vì bất kỳ vật gì có thể được tiết lộ (ngoài Chính Mình) thì chắc chắn thuộc về vô ngã (ít nhất là về mặt kinh nghiệm). (Rốt ráo, và về mặt siêu hình, mọi sự vật đều là ĐẠI NGÃ.) |
|
219. Notice the Tibetans use of the word “object” in “object of the senses”. This is a play on words which causes one to ponder. |
219. Hãy lưu ý cách người Tây Tạng dùng từ “đối tượng” trong cụm “đối tượng của các giác quan”. Đây là một lối chơi chữ khiến người ta phải suy ngẫm. |
|
220. From a deeper perspective there is naught but the SELF and, so, any revelation of the not-Self, no matter how seemingly distinct from self and objective, is nonetheless, the SELF. |
220. Từ một góc nhìn sâu hơn, không có gì ngoài ĐẠI NGÃ và vì vậy, bất kỳ sự tiết lộ nào về vô ngã, dù có vẻ tách biệt với bản ngã và khách quan đến đâu, vẫn là ĐẠI NGÃ. |
|
221. Leaving the Philosophy of Ultimates aside, we can see that the progressive use of ever-more refined senses leads to a more convinced realization of Selfhood. The Self is real, the not-Self unreal, and the senses are one of the chief means of telling the difference between them. |
221. Gác sang một bên Triết Học về Những Cứu Cánh Tối Hậu, chúng ta có thể thấy rằng việc sử dụng tiến bộ những giác quan ngày càng tinh luyện hơn dẫn đến một sự chứng nghiệm ngày càng xác tín về Bản Ngã tính. Bản Ngã là thực, vô ngã là không thực, và các giác quan là một trong những phương tiện chủ yếu để phân biệt giữa chúng. |
|
Footnote 82: |
Chú thích 82: |
|
82 Sensations aroused by sense objects are experienced by means of the outer instruments of the Lord of the Body or senses (Indriya) which are the pathways through which the Jiva receives worldly experience. |
82 Những cảm giác được khơi dậy bởi các đối tượng giác quan được trải nghiệm bằng các công cụ bên ngoài của Chúa Tể của Thể hay các giác quan (Indriya), vốn là những con đường qua đó Jiva tiếp nhận kinh nghiệm thế gian. |
|
222. The senses are called “Indriya”. They are outer instruments of the Lord of the Body. The Jiva is the Lord of the Body. |
222. Các giác quan được gọi là “Indriya”. Chúng là những công cụ bên ngoài của Chúa Tể của Thể. Jiva là Chúa Tể của Thể. |
|
223. The senses are the means of “worldly” and ‘otherworldly’ experience. |
223. Các giác quan là phương tiện của kinh nghiệm “thế gian” và ‘siêu thế gian’. |
|
These are ten in number, and are of two classes: |
Chúng có mười loại, và thuộc hai nhóm: |
|
a. The five organs of sensation Jnanendriya |
a. Năm cơ quan cảm giác Jnanendriya |
|
1. The Ear Hearing. |
1. Tai Nghe. |
|
2. Skin Feeling by touch. |
2. Da Cảm nhận bằng xúc chạm. |
|
3. Eye Sight. |
3. Mắt Thấy. |
|
4. Tongue Taste. |
4. Lưỡi Nếm. |
|
5. Nose Smell. |
5. Mũi Ngửi. |
|
b. The five organs of action Karmendriya |
b. Năm cơ quan hành động Karmendriya |
|
1. Mouth Speaking. |
1. Miệng Nói. |
|
2. Hands Grasping. |
2. Tay Nắm bắt. |
|
3. Legs Walking. |
3. Chân Đi. |
|
4. Anus Excretion. |
4. Hậu môn Bài tiết. |
|
5. Genitals Procreation. |
5. Cơ quan sinh dục Sinh sản. |
|
224. The description of the ten Indriya is straight-forward. It is interesting that the hands are seen as the instruments of grasping (a rather first ray activity) rather than as instruments of creativity or of manipulation (though the ability to grasp or to hold is assumed in any manual creative, manipulative act). |
224. Mô tả về mười Indriya khá trực tiếp. Thật thú vị khi đôi tay được xem là công cụ của sự nắm bắt (một hoạt động khá thuộc cung một) hơn là công cụ của sáng tạo hay thao tác (dù khả năng nắm hay giữ được giả định trong bất kỳ hành động sáng tạo hay thao tác thủ công nào). |
|
The organs of sensation are the reactive response which the Self makes to sensation. The organs of action are those through which effect is given to the Jiva’s desires. |
Các cơ quan cảm giác là đáp ứng phản ứng mà Bản Ngã thực hiện đối với cảm giác. Các cơ quan hành động là những cơ quan qua đó các ham muốn của Jiva được biểu lộ thành hiệu quả. |
|
225. It might be more accurate to say that “the organs of sensation are the means of the reactive response which the Self makes to vibrational impact”. |
225. Có lẽ sẽ chính xác hơn nếu nói rằng “các cơ quan cảm giác là phương tiện của đáp ứng phản ứng mà Bản Ngã thực hiện đối với tác động rung động”. |
|
226. The second sentence seems reasonable and accurate. It would seem that the anus and the genitals function at first instinctually and not so much according to conscious desire. Even the mouth, hands and legs seem to have an instinctual life of their own before the Jiva gains a more conscious grip over his instrument. |
226. Câu thứ hai có vẻ hợp lý và chính xác. Dường như hậu môn và cơ quan sinh dục lúc đầu hoạt động theo bản năng chứ không nhiều theo ham muốn có ý thức. Ngay cả miệng, tay và chân cũng dường như có một đời sống bản năng riêng của chúng trước khi Jiva đạt được sự nắm giữ có ý thức hơn đối với công cụ của mình. |
|
“The Indriya or sense is not the physical organ, but the faculty of mind operating through that organ as its instrument. |
“Indriya hay giác quan không phải là cơ quan hồng trần, mà là năng lực của trí tuệ hoạt động qua cơ quan ấy như công cụ của nó. |
|
227. The important point is made that the real sense is not the physical organ. Rather, it is a faculty of mind that responds to impact. |
227. Điểm quan trọng được nêu ra là giác quan thực sự không phải là cơ quan hồng trần. Đúng hơn, nó là một năng lực của trí tuệ đáp ứng với tác động. |
|
The outward sense organs are the usual means whereby on the physical plane the functions of hearing and so forth are accomplished. But, as they are mere instruments and their power is derived from the mind, a Yogi may accomplish by the mind only all that may be done by means of these physical organs without the use of the latter…. |
Các cơ quan giác quan bên ngoài là những phương tiện thông thường nhờ đó trên cõi hồng trần các chức năng nghe và vân vân được hoàn thành. Nhưng vì chúng chỉ là những công cụ và quyền năng của chúng bắt nguồn từ trí tuệ, nên một Yogi chỉ bằng trí tuệ cũng có thể hoàn thành mọi điều có thể được thực hiện bằng các cơ quan hồng trần này mà không cần dùng đến chúng…. |
|
228. This may seem an amazing thought to some who have not thought the matter through, but the sensory faculty may be activated independently of the normal organ of sensation. |
228. Điều này có thể có vẻ là một ý tưởng đáng kinh ngạc đối với một số người chưa suy nghĩ thấu đáo về vấn đề này, nhưng năng lực cảm giác có thể được kích hoạt độc lập với cơ quan cảm giác thông thường. |
|
“The three functions of attention, selection and synthesising the discreet manifold of the senses, are those belonging to that aspect of the mental body, the internal agent, called Manas. Just as manas is necessary to the senses, the latter are necessary for manas….Manas is thus the leading indriya, of which the senses are powers.”—Serpent Power, by Arthur Avalon. |
“Ba chức năng chú ý, chọn lọc và tổng hợp cái đa tạp rời rạc của các giác quan là những chức năng thuộc về phương diện ấy của thể trí, tác nhân nội tại, được gọi là Manas. Cũng như manas cần thiết cho các giác quan, các giác quan cũng cần thiết cho manas….Vì vậy manas là indriya dẫn đầu, mà các giác quan là những quyền năng của nó.”—Serpent Power, của Arthur Avalon. |
|
229. An indriya is a sense. The leading sense or indriya is said to be manas, but in extension, it might be named as buddhi which is a still more synthetic faculty than manas. |
229. Một indriya là một giác quan. Giác quan hay indriya dẫn đầu được nói là manas, nhưng theo sự mở rộng, nó có thể được gọi là buddhi, vốn là một năng lực tổng hợp hơn nữa so với manas. |
|
230. There is definitely the closest interplay between manas and the senses. It is a relationship which seems to occur in relation to the third and fifth rays. |
230. Chắc chắn có một sự tương tác hết sức mật thiết giữa manas và các giác quan. Đây là một mối liên hệ dường như xảy ra trong tương quan với cung ba và cung năm. |
|
231. Without the senses, manas would have nothing to coordinate and correlate. Without manas, the senses could not be organized and the field of consciousness would remain chaotic. |
231. Không có các giác quan, manas sẽ không có gì để phối hợp và tương liên. Không có manas, các giác quan không thể được tổ chức và trường tâm thức sẽ vẫn hỗn loạn. |
|
[Page 195] |
|
|
In the evolution of the senses, hearing is the first vague something which calls the attention of the apparently blind self. |
Trong sự tiến hoá của các giác quan, thính giác là một cái gì đó mơ hồ đầu tiên gọi sự chú ý của bản ngã dường như mù lòa. |
|
232. When the Tibetan does not want to define something in terms of yet another word (which also would need defining), He uses the word “something”, or “that”. |
232. Khi người Tây Tạng không muốn định nghĩa một điều gì bằng một từ khác nữa (mà từ ấy cũng lại cần được định nghĩa), Ngài dùng từ “cái gì đó”, hay “điều đó”. |
|
233. From what is said here, the senses attract the attention of the Jiva, who is initially not consciously related to his new environment. The senses draw the Jiva’s attention outwards. |
233. Từ điều được nói ở đây, các giác quan thu hút sự chú ý của Jiva, vốn ban đầu chưa có liên hệ có ý thức với môi trường mới của mình. Các giác quan kéo sự chú ý của Jiva ra bên ngoài. |
|
234. We note that the Tibetan describes the self as the “apparently blind self”. Something within the self, of course, is not blind. |
234. Chúng ta lưu ý rằng người Tây Tạng mô tả bản ngã là “bản ngã dường như mù lòa”. Dĩ nhiên, có điều gì đó bên trong bản ngã không mù. |
|
a. To another vibration. |
a. Đến một rung động khác. |
|
b. To something originating outside of itself. |
b. Đến một điều gì đó phát sinh từ bên ngoài chính nó. |
|
c. To the concept of externality. When sound is first contacted the consciousness for the first time becomes aware of that which is without. |
c. Đến khái niệm về tính bên ngoài. Khi âm thanh lần đầu được tiếp xúc, tâm thức lần đầu tiên nhận biết điều gì ở bên ngoài. |
|
235. How interesting, this relation of the sense of hearing to the “concept of externality”! The concept of the Self and not-Self (which will grow throughout most of the incarnation) thus has its basis in the sense of hearing. |
235. Thật thú vị, mối liên hệ này của giác quan thính giác với “khái niệm về tính bên ngoài”! Khái niệm về Bản Ngã và vô ngã (sẽ phát triển trong phần lớn thời kỳ nhập thể) như vậy có nền tảng trong giác quan thính giác. |
|
236. One must compare the meaning of the “concept of externality” with the meaning of Saturn and earth signs (such as Capricorn which Saturn rules). Capricorn, the Third Ray Lord and Saturn are closely related to the presentation to consciousness of the illusion of time and space. |
236. Người ta phải so sánh ý nghĩa của “khái niệm về tính bên ngoài” với ý nghĩa của Sao Thổ và các dấu hiệu hành thổ (như Ma Kết do Sao Thổ cai quản). Ma Kết, Đấng Chúa Tể Cung ba và Sao Thổ liên hệ chặt chẽ với việc trình hiện cho tâm thức ảo tưởng về thời gian và không gian. |
|
237. The senses are centrifugal rather than centripetal. Mars is the centrifugal planet and the, interestingly, the five senses are ruled by Mars. The senses also relate most specifically to the astral plane over which Mars has a definite (if incomplete) rulership. |
237. Các giác quan có tính ly tâm hơn là hướng tâm. Sao Hỏa là hành tinh ly tâm và, thật thú vị, năm giác quan được Sao Hỏa cai quản. Các giác quan cũng liên hệ đặc biệt nhất với cõi cảm dục, cõi mà Sao Hỏa có một quyền cai quản rõ rệt (dù chưa hoàn toàn). |
|
“Thirdly, Mars governs the senses which are five in number. These senses are the basis of all human knowledge where that which is tangible and objective is concerned or inferred. Mars, therefore, rules science and hence the reason in this present era for the fundamental but not permanent [Page 216] materiality of science—a materiality which is rapidly lessening as Mars nears the end of its present cycle of influence.” (EA 215-216) |
“Thứ ba, Sao Hỏa cai quản các giác quan, vốn có năm loại. Những giác quan này là nền tảng của mọi tri thức nhân loại ở nơi điều gì hữu hình và khách quan được quan tâm đến hay được suy ra. Vì vậy, Sao Hỏa cai quản khoa học và do đó là lý do trong thời đại hiện nay cho tính duy vật căn bản nhưng không thường hằng [Page 216] của khoa học—một tính duy vật đang nhanh chóng giảm bớt khi Sao Hỏa tiến gần đến cuối chu kỳ ảnh hưởng hiện tại của nó.” (EA 215-216) |
|
But all that is grasped by the dormant consciousness (by means of this one sense of hearing) is the fact of something extraneous to itself, and of the direction in which that something lies. |
Nhưng tất cả những gì được tâm thức còn ngủ yên nắm bắt (bằng phương tiện của một giác quan thính giác này) chỉ là sự kiện về một điều gì đó ở ngoài chính nó, và về phương hướng mà điều đó nằm ở đó. |
|
238. The Tibetan is unfolding the story of the development of the senses in a more narrative form. |
238. Người Tây Tạng đang khai triển câu chuyện về sự phát triển của các giác quan theo một hình thức tường thuật hơn. |
|
239. The sense of hearing (at first) is quite rudimentary. It identifies externality and the direction (within the sphere of consciousness) in which that which is sensed as external may be found. |
239. Giác quan thính giác (lúc đầu) khá sơ khai. Nó nhận diện tính bên ngoài và phương hướng (trong khối cầu tâm thức) nơi điều được cảm nhận là bên ngoài có thể được tìm thấy. |
|
This apprehension, in course of time, calls into being another sense, that of touch. |
Sự lĩnh hội này, theo thời gian, gọi một giác quan khác vào hiện hữu, đó là xúc giác. |
|
240. We notice how the exercise of one sense calls a succeeding one into activity. |
240. Chúng ta lưu ý cách việc vận dụng một giác quan gọi giác quan kế tiếp vào hoạt động. |
|
The Law of Attraction works, the consciousness moves slowly outwards towards that which is heard; and when contact is made with the not-self it is called touch. |
Định luật Hấp Dẫn vận hành, tâm thức chậm rãi di chuyển ra ngoài hướng về điều được nghe; và khi sự tiếp xúc được tạo ra với vô ngã thì đó được gọi là xúc giác. |
|
241. While through the medium of sound transmission a kind of ‘touch’ occurs, the sense of hearing precedes that which is really and fully touched. |
241. Trong khi qua trung gian của sự truyền âm có xảy ra một loại ‘xúc chạm’, thì giác quan thính giác đi trước điều gì thực sự và trọn vẹn được chạm tới. |
|
242. Here we have an excellent definition of touch: “when contact is made with the not-Self it is called touch.” This means that direct contact between the self and the not-Self is made (physically) through the skin, or if the sense of touch is related to a higher dimension and higher vehicle, then direct contact is made through the organ of touch utilized in relation to that dimension and to any ‘object/state/energy pattern, etc.’ being ‘touched’ within that dimension. The type of contact characteristic of touch is far more intimate, far closer, than the type of contact existing in relation to the sense of hearing. |
242. Ở đây chúng ta có một định nghĩa tuyệt vời về xúc giác: “khi sự tiếp xúc được tạo ra với vô ngã thì đó được gọi là xúc giác.” Điều này có nghĩa là sự tiếp xúc trực tiếp giữa bản ngã và vô ngã được tạo ra (về mặt hồng trần) qua da, hoặc nếu giác quan xúc giác liên hệ với một chiều kích cao hơn và một vận cụ cao hơn, thì sự tiếp xúc trực tiếp được tạo ra qua cơ quan xúc giác được sử dụng trong liên hệ với chiều kích đó và với bất kỳ ‘đối tượng/trạng thái/mô hình năng lượng, v.v.’ nào đang được ‘chạm tới’ trong chiều kích ấy. Loại tiếp xúc đặc trưng của xúc giác thân mật hơn nhiều, gần gũi hơn nhiều so với loại tiếp xúc tồn tại trong liên hệ với giác quan thính giác. |
|
This touch conveys other ideas to the groping consciousness, ideas of size, of external texture, and of surface differences; the concept of the Thinker is thus slowly enlarged. |
Sự xúc chạm này truyền đạt những ý niệm khác cho tâm thức đang dò dẫm, những ý niệm về kích thước, về kết cấu bên ngoài, và về những khác biệt bề mặt; khái niệm của Thức giả nhờ đó được mở rộng dần dần. |
|
243. We note that the Tibetan, in describing the nature of the senses, is using words like “idea” and “concept”. It becomes clear that the senses can be called ‘media of information’ or ‘media of education’. |
243. Chúng ta lưu ý rằng người Tây Tạng, khi mô tả bản chất của các giác quan, đang dùng những từ như “ý niệm” và “khái niệm”. Điều này làm rõ rằng các giác quan có thể được gọi là ‘những môi trường thông tin’ hay ‘những môi trường giáo dục’. |
|
244. The term “groping consciousness” is very vivid; it conveys to us the idea of how the consciousness tries to cope with the environment when it cannot yet see. |
244. Thuật ngữ “tâm thức đang dò dẫm” rất sinh động; nó truyền cho chúng ta ý niệm về cách tâm thức cố gắng ứng phó với môi trường khi nó chưa thể thấy. |
|
245. For purposes of clarity and impression, let us tabulate the ideas conveyed to the groping consciousness by the sense of touch: |
245. Để rõ ràng và gây ấn tượng hơn, chúng ta hãy lập bảng các ý tưởng được truyền đạt đến tâm thức đang lần mò qua xúc giác: |
|
a. Ideas of size |
a. Các ý tưởng về kích thước |
|
b. Ideas of external texture |
b. Các ý tưởng về kết cấu bên ngoài |
|
c. Ideas of surface differences |
c. Các ý tưởng về những khác biệt bề mặt |
|
246. We can see that the sense of touch is also dealing largely with externalities. |
246. Chúng ta có thể thấy rằng xúc giác cũng chủ yếu đề cập đến các yếu tố bên ngoài. |
|
He can hear and feel, but as yet knows not enough to correlate nor name. When he succeeds in naming, he has made a big stride forward. |
Y có thể nghe và cảm nhận, nhưng cho đến nay vẫn chưa biết đủ để tương liên hay gọi tên. Khi y thành công trong việc gọi tên, y đã tiến một bước lớn về phía trước. |
|
247. Sound (through hearing) indicates an externality and something about its location and direction, as well as its relative ‘power’ within the environment. For instance, loud sounds are threatening; gentle sounds may be inviting; unusual sounds may call for alertness. |
247. Âm thanh (qua thính giác) cho biết một yếu tố bên ngoài và đôi điều về vị trí cũng như phương hướng của nó, cũng như “quyền năng” tương đối của nó trong môi trường. Chẳng hạn, âm thanh lớn mang tính đe dọa; âm thanh nhẹ nhàng có thể mang tính mời gọi; âm thanh bất thường có thể đòi hỏi sự cảnh giác. |
|
248. Feeling tells much about whether the one who feels wishes to ‘remain in touch’ or to withdraw. If the one who touches, touches, for instance, spines or nettles, or excessive heat or cold, there will almost always be withdrawal. |
248. Cảm giác cho biết nhiều điều về việc kẻ cảm nhận có muốn “duy trì tiếp xúc” hay rút lui. Chẳng hạn, nếu kẻ chạm phải gai nhọn hay cây tầm ma, hoặc sức nóng hay lạnh quá mức, thì hầu như luôn luôn sẽ có sự rút lui. |
|
249. When hearing and touch are the only senses operative, there is not enough known about the object heard or touched, or about the environment, to make correlation possible. |
249. Khi thính giác và xúc giác là hai giác quan duy nhất hoạt động, thì chưa biết đủ về vật được nghe hay được chạm, hoặc về môi trường, để có thể tạo ra sự tương liên. |
|
250. The act of naming is the act of attaching a sound (or a written form) to a perception. With naming, the power of generalization begins. All impressions from the same object are associated with that object and not considered unrelated to each other. A kind of fixation occurs and the perception of the environment simplifies. Instead of numerous unrelated impressions, it is noticed that a number of the impressions are related because they ‘belong’ to the same something in the field of consciousness. Thus, through fixation comes simplification of the environment and a greater ability to manage it. |
250. Hành vi gọi tên là hành vi gắn một âm thanh (hoặc một hình thức viết) với một tri giác. Cùng với việc gọi tên, năng lực khái quát hóa bắt đầu. Mọi ấn tượng từ cùng một đối tượng đều được liên kết với đối tượng ấy và không còn bị xem là không liên hệ với nhau. Một loại sự cố định xuất hiện và tri giác về môi trường trở nên đơn giản hơn. Thay vì vô số ấn tượng không liên hệ, người ta nhận thấy rằng một số ấn tượng có liên hệ với nhau vì chúng “thuộc về” cùng một cái gì đó trong trường tâm thức. Như vậy, nhờ sự cố định mà có sự đơn giản hóa môi trường và khả năng quản lý nó lớn hơn. |
|
251. Before the power to notice sameness and to name appears, the sphere of consciousness is chaotic and unmanageable. Naming begins the process of ordering the sphere of consciousness or the “contents of consciousness”. |
251. Trước khi xuất hiện năng lực nhận ra sự giống nhau và gọi tên, khối cầu tâm thức là hỗn loạn và không thể quản lý. Việc gọi tên khởi đầu tiến trình sắp xếp khối cầu tâm thức hay “nội dung của tâm thức”. |
|
We might note here, therefore, that the earliest cosmic symbols are applicable to the senses as well as elsewhere: |
Do đó, ở đây chúng ta có thể lưu ý rằng những biểu tượng vũ trụ sớm nhất cũng áp dụng cho các giác quan cũng như ở những nơi khác: |
|
252. Thus far, we have applied the five cosmic symbols to the etheric body in general and, then, to the development of the chakras. Now they are to be applied to the five senses. |
252. Cho đến nay, chúng ta đã áp dụng năm biểu tượng vũ trụ cho thể dĩ thái nói chung và sau đó cho sự phát triển của các luân xa. Giờ đây chúng sẽ được áp dụng cho năm giác quan. |
|
The point in the centre—consciousness and the not-self at a stage where sound alone is descriptive. |
Điểm ở trung tâm—tâm thức và phi-ngã ở một giai đoạn mà chỉ riêng âm thanh là có tính mô tả. |
|
253. The inference is that the circle without the dot would represent a condition of ‘pre-sensibility’—a condition in which the Jiva or indwelling consciousness is out of sensory contact with its environment. |
253. Suy luận ở đây là vòng tròn không có chấm sẽ tượng trưng cho một trạng thái “tiền cảm giác”—một trạng thái trong đó Jiva hay tâm thức nội tại không có tiếp xúc giác quan với môi trường của nó. |
|
254. We may say that the point in the center indicates the arising of the first sense—that of hearing (in relation to sound). |
254. Chúng ta có thể nói rằng điểm ở trung tâm biểu thị sự phát sinh của giác quan đầu tiên—đó là thính giác (liên hệ với âm thanh). |
|
255. The one who hears stands in the center of his environment or circumstances and is receptive to sound impacts from the environmental sphere. |
255. Kẻ nghe đứng ở trung tâm môi trường hay hoàn cảnh của mình và tiếp nhận các tác động âm thanh từ khối cầu môi trường. |
|
256. VSK suggests that we recall the diagram in R&I in which the point in the circle represents the AUM becoming the OM and the OM receding simply to a point. |
256. VSK gợi ý rằng chúng ta hãy nhớ lại sơ đồ trong R&I, trong đó điểm trong vòng tròn tượng trưng cho AUM trở thành OM và OM lùi dần chỉ còn là một điểm. |
|
257. The point in the circle in relation to the OM, however, would represent a stage of finality in a process rather than an incipient stage (as in relation to the senses). |
257. Tuy nhiên, điểm trong vòng tròn liên hệ với OM sẽ tượng trưng cho một giai đoạn chung cuộc trong một tiến trình hơn là một giai đoạn khởi sinh (như trong liên hệ với các giác quan). |
|
The divided circle—consciousness aware of the not-self, through a dual recognition. |
Vòng tròn phân chia—tâm thức nhận biết phi-ngã, qua một sự nhận biết nhị nguyên. |
|
258. Though the term “touch” is not utilized in connection with this second symbol, it is implied. |
258. Dù thuật ngữ “xúc giác” không được dùng liên hệ với biểu tượng thứ hai này, nó vẫn được hàm ý. |
|
259. The divided circle suggests the self and the not-Self, not separated, but touching, for each of them as a semi-circle, shares the same diameter. |
259. Vòng tròn phân chia gợi ý ngã và phi-ngã, không tách rời, mà đang chạm nhau, vì mỗi bên như một nửa vòng tròn đều chia sẻ cùng một đường kính. |
|
260. Touch is necessarily based upon division, but requires that a divided duality be in close contact. |
260. Xúc giác tất yếu dựa trên sự phân chia, nhưng đòi hỏi một nhị nguyên đã phân chia phải ở trong tiếp xúc gần. |
|
261. The symbol also suggests the duality of our astral-buddhic solar system. |
261. Biểu tượng này cũng gợi ý tính nhị nguyên của hệ mặt trời cảm dục-Bồ đề của chúng ta. |
|
[Page 196] |
|
|
Sight follows on this, the third sense, and the one definitely marking the correlation of ideas, or the relation between; it parallels the coming of Mind, both in time and function. |
Tiếp theo là thị giác, giác quan thứ ba, và là giác quan đánh dấu rõ rệt sự tương liên của các ý tưởng, hay mối liên hệ giữa chúng; nó song hành với sự xuất hiện của trí tuệ, cả về thời gian lẫn chức năng. |
|
262. Presumably, the sense of sight is symbolized by the cross within the circle. |
262. Có lẽ xúc giác được biểu tượng hóa bằng thập giá bên trong vòng tròn. |
|
263. The arrival of sight and of mind are quite simultaneous occurrences. The planet Venus (a planet intimately related to sight and to its organs, the eyes) is, as well, the planet connected with the implantation of mind in the consciousness of animal man. |
263. Sự xuất hiện của thị giác và của trí tuệ là những biến cố xảy ra khá đồng thời. Hành tinh Sao Kim (một hành tinh liên hệ mật thiết với thị giác và với các cơ quan của nó là đôi mắt) đồng thời cũng là hành tinh gắn với việc cấy trí tuệ vào tâm thức của người thú. |
|
264. VSK suggests making a correlation between the emergence of this third function, sight, and the characteristics of the animal kingdom. Animals see; plants do not; animals have budding mind, memory and anticipation; plants do not. |
264. VSK gợi ý tạo một sự tương liên giữa sự xuất hiện của chức năng thứ ba này, thị giác, và các đặc tính của giới động vật. Động vật nhìn thấy; thực vật thì không; động vật có trí tuệ đang nảy nở, ký ức và sự dự liệu; thực vật thì không. |
|
265. Following on this idea, the mineral kingdom would be connected to sound. The huge sonic effects from explosions during the recent great wars affected the mineral kingdom by rupturing the etheric webs separating the physical plane from the astral (the plane particularly associated with the vegetable kingdom). |
265. Theo ý tưởng này, giới kim thạch sẽ được liên kết với âm thanh. Những tác động âm thanh khổng lồ từ các vụ nổ trong những cuộc đại chiến gần đây đã ảnh hưởng đến giới kim thạch bằng cách làm vỡ các màng dĩ thái ngăn cách cõi hồng trần với cõi cảm dục (cõi đặc biệt liên hệ với giới thực vật). |
|
266. VSK suggests that the separation of the sexes is related to the vegetable kingdom where sex differentiation first appears. Fifth ray Venus rules the vegetable kingdom and the Law of Cleavage (and hence the dividing of the circle). |
266. VSK gợi ý rằng sự phân chia giới tính có liên hệ với giới thực vật, nơi sự phân biệt giới tính lần đầu xuất hiện. Sao Kim cung năm cai quản giới thực vật và Định luật Phân Ly (và do đó là sự phân chia vòng tròn). |
|
267. The divided circle can be seen as the symbol for the separation of the sexes, but so can the cross, with the horizontal line representing the female and the vertical the male. |
267. Vòng tròn phân chia có thể được xem là biểu tượng cho sự phân chia giới tính, nhưng thập giá cũng vậy, với đường ngang tượng trưng cho nữ và đường dọc tượng trưng cho nam. |
|
We have hearing, touch or feeling, and then sight. In connection with the correspondence it is to be noted that sight came in with the third root-race in this round, and that the third race saw also the coming in of Mind. |
Chúng ta có thính giác, xúc giác hay cảm giác, rồi đến thị giác. Liên hệ với định luật tương ứng, cần lưu ý rằng thị giác xuất hiện cùng với giống dân gốc thứ ba trong cuộc tuần hoàn này, và giống dân thứ ba cũng chứng kiến sự xuất hiện của trí tuệ. |
|
268. This is an important piece of historical information. Animal man was apparently a groping creature before the advent of sight. Interestingly, however, a great number of animals far lower than man have eyes and can see. |
268. Đây là một mẩu thông tin lịch sử quan trọng. Người thú dường như là một sinh vật lần mò trước khi thị giác xuất hiện. Tuy nhiên, điều thú vị là có rất nhiều loài động vật thấp hơn con người rất xa vẫn có mắt và có thể nhìn thấy. |
|
269. If sight (with respect to human development) came in the third root-race in this round (the fourth), it was probably at the time of individualization and the (probably subsequent) separation of the sexes. |
269. Nếu thị giác (xét theo sự phát triển của con người) xuất hiện trong giống dân gốc thứ ba của cuộc tuần hoàn này (cuộc tuần hoàn thứ tư), thì có lẽ đó là vào thời kỳ biệt ngã hóa và sự phân chia giới tính (có lẽ xảy ra sau đó). |
|
The Self and the not-self were immediately correlated, and co-ordinated. |
Ngã và phi-ngã lập tức được tương liên và phối hợp. |
|
270. We are here given one of the great functions of the sense of sight—the correlation of the Self and the not-Self. By the Self we mean the indwelling consciousness or Jiva. We note that the spelling of the word (as that spelling appears in the Teaching) as either “self” or “Self” is not always significant. There are many times when the term “self” has been used when “Self” would have been more appropriate, but was simply not chosen. In the Commentary there is an attempt to be more consistent but the consistency is not exhaustive. |
270. Ở đây chúng ta được cho biết một trong những chức năng lớn của thị giác—sự tương liên giữa Ngã và phi-ngã. Bởi Ngã, chúng ta muốn nói đến tâm thức nội tại hay Jiva. Chúng ta lưu ý rằng cách viết từ này (như xuất hiện trong Giáo Huấn) dưới dạng “self” hay “Self” không phải lúc nào cũng có ý nghĩa. Nhiều lần thuật ngữ “self” đã được dùng trong khi “Self” sẽ thích hợp hơn, nhưng đơn giản là đã không được chọn. Trong Cổ Luận có một nỗ lực nhằm nhất quán hơn, nhưng sự nhất quán ấy không hoàn toàn triệt để. |
|
271. The number of registered items/perceptions within the field of consciousness increases dramatically when the sense of sight emerges. There are so many ‘things’ in the environment which simply do not sound, or whose sounds cannot be detected by human ears. What is revealed especially is: |
271. Số lượng các mục/tri giác được ghi nhận trong trường tâm thức tăng lên mạnh mẽ khi thị giác xuất hiện. Có quá nhiều “sự vật” trong môi trường đơn giản là không phát ra âm thanh, hoặc âm thanh của chúng không thể được tai người phát hiện. Điều được tiết lộ đặc biệt là: |
|
a. Relative position (far more precisely than either the sense of hearing or touch could reveal it) |
a. Vị trí tương đối (chính xác hơn nhiều so với điều thính giác hay xúc giác có thể tiết lộ) |
|
b. Relative size |
b. Kích thước tương đối |
|
c. The relative motions of items within the field of consciousness. Such relative motions are almost impossible to register and apprehend through the sense of hearing and touch only. |
c. Những chuyển động tương đối của các mục trong trường tâm thức. Những chuyển động tương đối như thế hầu như không thể được ghi nhận và lĩnh hội chỉ qua thính giác và xúc giác. |
|
d. As well, an entirely new qualitative dimension is revealed—the dimension of color which adds great variety within the field of vision. |
d. Ngoài ra, một chiều kích phẩm tính hoàn toàn mới được tiết lộ—chiều kích của màu sắc, vốn làm tăng thêm sự đa dạng lớn lao trong trường thị giác. |
|
e. Through sight it becomes possible to identify objects which were the source of various impressions heard and touched. The identification of objects as the sources of various sensations is established. The sense of location in space is greatly clarified. |
e. Qua thị giác, có thể nhận diện các đối tượng vốn là nguồn gốc của những ấn tượng khác nhau được nghe và chạm. Sự nhận diện các đối tượng như là nguồn gốc của các cảm giác khác nhau được xác lập. Cảm nhận về vị trí trong không gian được làm sáng tỏ rất nhiều. |
|
f. The fifth and seventh rays are rays which specify location. The sense of hearing is related to the seventh ray and the sense of sight to the fifth. |
f. Cung năm và cung bảy là những cung xác định vị trí. Thính giác liên hệ với cung bảy và thị giác liên hệ với cung năm. |
|
Their close partnership became an accomplished fact, and evolution hastened forward with renewed impetus. |
Sự cộng tác mật thiết của chúng trở thành một sự kiện đã hoàn tất, và tiến hoá được thúc đẩy tiến lên với động lực mới. |
|
272. When Self and not-Self were correlated, the incarnated Jiva became far more effective in relation to his environment. |
272. Khi Ngã và phi-ngã được tương liên, Jiva nhập thể trở nên hữu hiệu hơn rất nhiều trong mối liên hệ với môi trường của mình. |
|
These three major senses (if I might so describe them) are very definitely allied, each with one of the three Logoi: |
Ba giác quan chính này (nếu tôi có thể mô tả như vậy) rất rõ ràng liên kết, mỗi giác quan với một trong ba Các Thượng đế: |
|
273. We are speaking of both the three intra-systemic Logoi and the Logoi of an extra-systemic variety. |
273. Chúng ta đang nói đến cả ba Các Thượng đế nội-hệ thống lẫn Các Thượng đế thuộc loại ngoại-hệ thống. |
|
274. We note that there are considered to be major and minor senses; hearing, touch and sight are considered major. |
274. Chúng ta lưu ý rằng có những giác quan chính và phụ; thính giác, xúc giác và thị giác được xem là chính. |
|
275. In this respect, we note that in any pentagram, there are three major vertices and two minor (the legs of the pentagram). |
275. Về phương diện này, chúng ta lưu ý rằng trong bất kỳ ngôi sao năm cánh nào cũng có ba đỉnh chính và hai đỉnh phụ (hai chân của ngôi sao năm cánh). |
|
Hearing—The recognition of the fourfold word, the activity of matter, the third Logos. |
Thính giác—Sự nhận biết Linh từ tứ phân, hoạt động của vật chất, Thượng đế thứ ba. |
|
276. The fourfold “Word” works under the Third Logos. |
276. “Linh từ” tứ phân hoạt động dưới Thượng đế thứ ba. |
|
277. Each aspect of this “Word” correlates with one of the four directions, the four Archangels and the four elements. |
277. Mỗi phương diện của “Linh từ” này tương liên với một trong bốn phương hướng, bốn Tổng Thiên Thần và bốn nguyên tố. |
|
278. VSK suggests: Within the Secret Doctrine reference, hearing/sound is related to the atmic plane; the Third Logos is related to atma, to Saturn and to the Libran Hierarchy. This atmic focus stands at the head of the five worlds or manifesting pentagon (the Kumaras). There are also references to the Lord of Karma (Libra) holding sway in the fourfold world/word. |
278. VSK gợi ý: Trong tham chiếu của Giáo Lý Bí Nhiệm, thính giác/âm thanh liên hệ với cõi atma; Thượng đế thứ ba liên hệ với atma, với Sao Thổ và với Huyền Giai Thiên Bình. Trọng điểm atma này đứng đầu năm thế giới hay ngũ giác biểu hiện (các Kumara). Cũng có những tham chiếu về Chúa Tể của Nghiệp Quả (Thiên Bình) nắm quyền chi phối trong thế giới/linh từ tứ phân. |
|
Touch—The recognition of the sevenfold Form Builder, the gathering together of forms, their approximation and interrelation, the second Logos. The Law of Attraction between the Self and the not-self begins to work. |
Xúc giác—Sự nhận biết Đấng Kiến Tạo Hình Tướng thất phân, sự tập hợp các hình tướng, sự xích lại gần nhau và tương liên của chúng, Thượng đế thứ hai. Định luật Hấp Dẫn giữa Ngã và phi-ngã bắt đầu hoạt động. |
|
279. One of the numbers associated with the second ray is the number seven. The number of the second solar system is considered to be seven; five is associated with the first solar system and nine with the third. |
279. Một trong những con số gắn với cung hai là số bảy. Con số của hệ mặt trời thứ hai được xem là bảy; năm gắn với hệ mặt trời thứ nhất và chín với hệ mặt trời thứ ba. |
|
280. It would seem that the form builders work not only under the second ray but through the utilization of the sense of touch. |
280. Dường như các đấng kiến tạo hình tướng không chỉ hoạt động dưới cung hai mà còn thông qua việc sử dụng xúc giác. |
|
281. It is the sense of touch which facilitates: |
281. Chính xúc giác tạo điều kiện cho: |
|
a. The gathering together of forms |
a. Sự tập hợp các hình tướng |
|
b. The approximation of forms to each other |
b. Sự xích lại gần nhau của các hình tướng |
|
c. The interrelation of forms to each other |
c. Sự tương liên của các hình tướng với nhau |
|
282. Through the utilization of the sense of touch, the Self is attracted to the not-Self. Through touch begins the entire engagement of the Jiva with created circumstance. |
282. Qua việc sử dụng xúc giác, Ngã bị thu hút đến phi-ngã. Qua xúc giác bắt đầu toàn bộ sự dấn thân của Jiva vào hoàn cảnh được tạo ra. |
|
Sight—The recognition of totality, the synthesis of all, the realisation of the One in Many, the first Logos. The Law of Synthesis, operating between all forms which the self occupies, and the recognition of the essential unity of all manifestation by the means of sight. |
Thị giác—Sự nhận biết tính toàn thể, sự tổng hợp của tất cả, sự chứng nghiệm Đấng Duy Nhất trong Nhiều, Thượng đế thứ nhất. Định luật Tổng Hợp, hoạt động giữa mọi hình tướng mà ngã chiếm ngụ, và sự nhận biết tính hợp nhất cốt yếu của mọi biểu hiện bằng phương tiện thị giác. |
|
283. We can see how the sense of sight is related to the first ray and to synthesis. Thus, hearing would be related to the seventh ray, touch to the sixth ray and sight also to the fifth ray. Similarly (in relation to the Rays of Aspect) hearing would be related to the third ray, touch to the second, and sight to the first ray (as here stated). |
283. Chúng ta có thể thấy thị giác liên hệ như thế nào với cung một và với sự tổng hợp. Như vậy, thính giác sẽ liên hệ với cung bảy, xúc giác với cung sáu và thị giác cũng với cung năm. Tương tự (liên hệ với Các Cung Trạng Thái), thính giác sẽ liên hệ với cung ba, xúc giác với cung hai, và thị giác với cung một (như được nêu ở đây). |
|
284. It is sight that reveals the unity of the many (which sight discloses) and the One (the wholeness of which the field of vision reveals). |
284. Chính thị giác tiết lộ sự hợp nhất của cái nhiều (điều mà thị giác phơi bày) và Đấng Duy Nhất (tính toàn vẹn mà trường thị giác tiết lộ). |
|
285. The realization of synthesis as a fact is related to the “single eye” which supersedes the normal duality of right and left eyes. |
285. Sự chứng nghiệm tổng hợp như một sự kiện liên hệ với “mắt đơn” vượt lên trên tính nhị nguyên thông thường của mắt phải và mắt trái. |
|
As regards taste and smell, we might call them minor senses, for they are closely allied to the important sense of touch. They are practically subsidiary to that sense. |
Về vị giác và khứu giác, chúng ta có thể gọi chúng là những giác quan phụ, vì chúng liên kết mật thiết với giác quan quan trọng là xúc giác. Chúng thực tế là phụ thuộc vào giác quan ấy. |
|
286. This is a most important statement. If touch functions primarily in relation to the second and sixth rays, can this be said of the senses of taste and smell—so related to touch? |
286. Đây là một phát biểu hết sức quan trọng. Nếu xúc giác hoạt động chủ yếu liên hệ với cung hai và cung sáu, thì điều này có thể được nói về vị giác và khứu giác—vốn liên hệ với xúc giác—hay không? |
|
287. The sense of touch depends upon close contact. Certainly, we can see that this is true of the sense of taste. Physically, at least, there must be direct contact between the taster and that which is tasted, if the sense of taste is to be activated. The sense of smell is rather more distant than the sense of taste. Physically, taste usually involves contact between the taster and matter in a dense or liquid state. Physically, the one who smells contacts matter in a less condensed and more gaseous state. Yet there is touch between the one who exercises the sense of smell and that which he detects through the sense of smell. |
287. Xúc giác phụ thuộc vào sự tiếp xúc gần. Chắc chắn, chúng ta có thể thấy điều này đúng với vị giác. Ít nhất về mặt thể chất, phải có sự tiếp xúc trực tiếp giữa người nếm và vật được nếm thì vị giác mới được kích hoạt. Khứu giác có phần xa hơn vị giác. Về mặt thể chất, vị giác thường bao hàm sự tiếp xúc giữa người nếm và vật chất ở trạng thái đậm đặc hay lỏng. Về mặt thể chất, người ngửi tiếp xúc với vật chất ở trạng thái ít ngưng tụ hơn và có tính khí hơn. Tuy nhiên vẫn có sự chạm xúc giữa người sử dụng khứu giác và điều mà y phát hiện qua khứu giác. |
|
This second sense, and its connection with this second solar system, should be carefully pondered over. It is predominantly the sense most closely connected with the second Logos. |
Giác quan thứ hai này, và mối liên hệ của nó với hệ mặt trời thứ hai này, cần được suy ngẫm cẩn trọng. Đây chủ yếu là giác quan liên hệ mật thiết nhất với Thượng đế thứ hai. |
|
288. We do live in a solar system wherein the sense of touch is predominant. This reveals to us that we do not yet live in a solar system of vision. |
288. Quả thật chúng ta đang sống trong một hệ mặt trời mà xúc giác là chủ yếu. Điều này tiết lộ cho chúng ta rằng chúng ta chưa sống trong một hệ mặt trời của tầm nhìn. |
|
289. Correspondingly, our Solar Logos has not yet taken the third cosmic initiation (cf. TCF 384) which liberates the sense of sight. It may well be the Logos of Sirius Who conveys to our Solar Logos the necessary enhancement of the sense of sight which would make sight the characteristic sense this solar system. Similarly, it is Venus who conveys to our Planetary Logos the necessary enhancement of the sense of sight which would make sight the characteristic sense of the Earth-scheme. |
289. Tương ứng, Thái dương Thượng đế của chúng ta vẫn chưa trải qua lần điểm đạo vũ trụ thứ ba (x. TCF 384), vốn giải phóng thị giác. Rất có thể chính Thượng đế của Sirius truyền cho Thái dương Thượng đế của chúng ta sự tăng cường cần thiết của thị giác, điều sẽ khiến thị giác trở thành giác quan đặc trưng của hệ mặt trời này. Tương tự, chính Sao Kim truyền cho Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta sự tăng cường cần thiết của thị giác, điều sẽ khiến thị giác trở thành giác quan đặc trưng của hệ hành tinh Địa Cầu. |
|
This conveys a hint of much value if duly considered. It is of value to study the extensions of physical plane touch on other planes and to see whither we are led. |
Điều này chuyển tải một gợi ý rất có giá trị nếu được suy xét đúng mức. Sẽ có giá trị khi nghiên cứu những sự mở rộng của xúc giác cõi hồng trần trên các cõi khác và xem chúng ta được dẫn đến đâu. |
|
290. This is the method to be followed in relation to all the senses. |
290. Đây là phương pháp cần được theo đuổi trong mối liên hệ với mọi giác quan. |
|
It is the faculty which enables us to arrive [Page 197] at the essence by due recognition of the veiling sheath. |
Đó là năng lực giúp chúng ta đạt đến [Page 197] tinh chất nhờ sự nhận biết đúng đắn lớp vỏ che phủ. |
|
291. The veiling sheath represents the essence. Touch begins with outer contact but at length reveals or discloses the inner nature. |
291. Lớp vỏ che phủ biểu hiện tinh chất. Xúc giác bắt đầu bằng sự tiếp xúc bên ngoài nhưng cuối cùng tiết lộ hay phơi bày bản chất bên trong. |
|
292. We remember that it is the sense of smell, primarily, that reveals essence. |
292. Chúng ta nhớ rằng chính khứu giác, trước hết, là giác quan tiết lộ tinh chất. |
|
It enables the Thinker who fully utilises it to put himself en rapport with the essence of all selves at all stages, and thereby to aid in the due evolution of the sheath and actively to serve. |
Nó giúp Nhà Tư Tưởng, khi hoàn toàn sử dụng nó, đặt mình vào sự tương thông với tinh chất của mọi ngã ở mọi giai đoạn, và nhờ đó trợ giúp cho sự tiến hoá đúng đắn của lớp vỏ và tích cực phụng sự. |
|
293. Two of the extensions of the sense of touch are Healing (buddhic) and Active Service (atmic). When the Tibetan speaks immediately above of the ability ‘actively to serve” He is speaking of the sense of touch as it expresses on the atmic plane. |
293. Hai trong những sự mở rộng của xúc giác là Trị Liệu Huyền Môn (Bồ đề) và Phụng sự Tích cực (atma). Khi Chân sư Tây Tạng nói ngay bên trên về khả năng “tích cực phụng sự”, Ngài đang nói về xúc giác khi nó biểu lộ trên cõi atma. |
|
294. The healer and the one who actively serves are in process of aiding “in the due evolution of the sheath”. |
294. Nhà trị liệu và người tích cực phụng sự đang trong tiến trình trợ giúp “sự tiến hoá đúng đắn của lớp vỏ”. |
|
295. We infer that the ability to come “en rapport with the essence of all selves at all stages” is preceded by a preliminary outer contact. |
295. Chúng ta suy ra rằng khả năng đi vào “sự tương thông với tinh chất của mọi ngã ở mọi giai đoạn” được đi trước bởi một tiếp xúc bên ngoài sơ bộ. |
|
296. One of the planets ruling the astral plane, Neptune, is a planet inducing great sensitivity and is immediately related to the sense of touch. |
296. Một trong những hành tinh cai quản cõi cảm dục, Sao Hải Vương, là một hành tinh tạo ra sự nhạy cảm lớn và liên hệ trực tiếp với xúc giác. |
|
297. It is clear that the Christ, Who knew what was in man, had developed the subtle sense of touch to a very great degree. He was also a profound healer engaged in active service. |
297. Rõ ràng Đức Christ, Đấng biết điều gì ở trong con người, đã phát triển xúc giác vi tế đến một mức độ rất cao. Ngài cũng là một nhà trị liệu sâu sắc dấn thân trong sự phụng sự tích cực. |
|
298. The healer who serves actively must touch the sheaths of others in such a way that these sheathes may fully represent and express the inner reality. Healing very often occurs when the inner solar god is given free expression through the form. |
298. Nhà trị liệu phụng sự tích cực phải chạm đến các lớp vỏ của người khác theo cách sao cho những lớp vỏ ấy có thể biểu hiện và diễn đạt đầy đủ thực tại bên trong. Sự trị liệu rất thường xảy ra khi vị thần mặt trời nội tại được tự do biểu lộ qua hình tướng. |
|
A Lord of Compassion is one who (by means of touch) feels with, fully comprehends, and realises the manner in which to heal and correct the inadequacies of the not-self and thus actively to serve the plan of evolution. |
Một Chúa Tể của Lòng Từ Bi là Đấng mà (bằng phương tiện xúc giác) cảm cùng, thấu hiểu trọn vẹn, và chứng nghiệm cách thức để chữa lành và sửa chữa những bất toàn của phi-ngã và nhờ đó tích cực phụng sự thiên cơ tiến hoá. |
|
299. Here we have an extraordinary definition of healing and of the type of human being who usually wields the healing energy—a Lord of Compassion. |
299. Ở đây chúng ta có một định nghĩa phi thường về trị liệu và về kiểu con người thường vận dụng năng lượng trị liệu—một Chúa Tể của Lòng Từ Bi. |
|
300. We remember in this regard that among the ranks of the Masters there are to be found both Masters of the Wisdom (fewer in number) and Lords of Compassion (numerically greater in this astral-buddhic solar system). |
300. Chúng ta nhớ rằng về phương diện này, trong hàng ngũ các Chân sư có thể tìm thấy cả các Chân sư Minh Triết (ít hơn về số lượng) lẫn các Chúa Tể của Lòng Từ Bi (nhiều hơn về số lượng trong hệ mặt trời cảm dục-Bồ đề này). |
|
301. The inadequacies of the not-Self are those that prevent it from being the faithful instrument of the Jiva or Self. The personality is not meant to be made perfect for its own sake. |
301. Những bất toàn của phi-ngã là những gì ngăn nó trở thành công cụ trung thực của Jiva hay Ngã. Phàm ngã không nhằm được làm cho hoàn hảo vì chính bản thân nó. |
|
302. For the lengthier part of its career, form is in inadequate approximation to the inner conscious reality. This must be corrected, for it leads to division, distress and disease. The healer and later, the active server, are the ones who correct such problems. |
302. Trong phần dài hơn của sự nghiệp của nó, hình tướng ở trong sự xích lại gần không đầy đủ với thực tại hữu thức bên trong. Điều này phải được sửa chữa, vì nó dẫn đến phân ly, khổ đau và bệnh tật. Nhà trị liệu và về sau là người phụng sự tích cực là những người sửa chữa các vấn đề như thế. |
|
303. Master Jesus and Master Serapis are Lords of Compassion. Still greater beings such as the Christ and Buddha are both Lords of Compassion and, technically, “Masters of the Wisdom”. |
303. Chân sư Jesus và Chân sư Serapis là các Chúa Tể của Lòng Từ Bi. Những Đấng còn vĩ đại hơn như Đức Christ và Đức Phật thì đồng thời là các Chúa Tể của Lòng Từ Bi và, về mặt kỹ thuật, là “các Chân sư Minh Triết”. |
|
We should study likewise in this connection the value of touch as demonstrated by the healers of the race (those on the Bodhisattva line)83 and the effect of the Law of Attraction and Repulsion as thus manipulated by them. |
Chúng ta cũng nên nghiên cứu trong mối liên hệ này giá trị của xúc giác như được chứng minh bởi các nhà trị liệu của nhân loại (những vị trên tuyến của Đức Bồ Tát)83 và hiệu quả của Định luật Hấp Dẫn và Định luật Đẩy Lùi như được các vị ấy vận dụng. |
|
304. In the western world, the Christ is the major recent example of a healing Bodhisattva. The students and disciples of the Christ also demonstrated prodigious healing powers. |
304. Trong thế giới phương Tây, Đức Christ là tấm gương lớn gần đây nhất của một Đức Bồ Tát trị liệu. Các đạo sinh và đệ tử của Đức Christ cũng đã biểu lộ những quyền năng trị liệu phi thường. |
|
305. Probably the Buddha was a healer as well (how could He help but be, given His radiation and illumination), but in the Buddhist literature at least the physical healings attributed to the Buddha are far less numerous than those attributed to the Christ. Might we say, however, that the Buddha was one of the greatest mental/psychological healers in human history? |
305. Có lẽ Đức Phật cũng là một nhà trị liệu (làm sao Ngài lại không thể như vậy, xét đến bức xạ và sự soi sáng của Ngài), nhưng ít nhất trong văn học Phật giáo, những sự chữa lành thể xác được quy cho Đức Phật ít hơn nhiều so với những điều được quy cho Đức Christ. Tuy nhiên, liệu chúng ta có thể nói rằng Đức Phật là một trong những nhà trị liệu trí tuệ/tâm lý vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại hay không? |
|
Footnote 83: |
Chú thích 83: |
|
The line of the Bodhisattva is that of Love-Wisdom, and of the detailed science of the soul; |
Tuyến của Đức Bồ Tát là tuyến của Bác Ái – Minh Triết, và của khoa học chi tiết về linh hồn; |
|
306. The Bodhisattva emerges along the second ray line; the second ray is also called the “Ray of Specialized Detail”, and of “Detailed Unity”. We realize that Master DK is especially adept at understanding and teaching the “detailed science of the soul”. Patanjali, the author of the Yoga Sutras, would, necessarily, have been another such teacher, for what are the Yoga Sutras if not a detailed exposition on the science of the soul and the unfoldment of soul powers? |
306. Đức Bồ Tát xuất hiện theo tuyến cung hai; cung hai cũng được gọi là “Cung của Chi Tiết Chuyên Biệt”, và của “Sự Hợp Nhất Chi Tiết”. Chúng ta nhận ra rằng Chân sư DK đặc biệt thiện xảo trong việc thấu hiểu và giảng dạy “khoa học chi tiết về linh hồn”. Patanjali, tác giả của Yoga Sutras, tất yếu cũng là một huấn sư như vậy, vì Yoga Sutras là gì nếu không phải là một trình bày chi tiết về khoa học của linh hồn và sự khai mở các quyền năng của linh hồn? |
|
307. Study DINA II, 518, for descriptions of the two types of second ray approach here mentioned. |
307. Hãy nghiên cứu DINA II, 518, để biết các mô tả về hai loại tiếp cận cung hai được nhắc đến ở đây. |
|
it is the teaching line and the path upon which all must eventually pass. |
đó là tuyến giảng dạy và con đường mà rốt cuộc tất cả đều phải đi qua. |
|
308. Must all who are part of this solar system eventually pass upon the teaching line, or only all those on the second ray line? Might we say that all lives within this solar system are necessarily upon the second ray because our Solar Logos is both a second ray soul and second ray personality? |
308. Phải chăng tất cả những ai là một phần của hệ mặt trời này cuối cùng đều phải đi trên tuyến giảng dạy, hay chỉ tất cả những ai ở trên tuyến cung hai? Liệu chúng ta có thể nói rằng mọi sự sống trong hệ mặt trời này tất yếu đều ở trên cung hai vì Thái dương Thượng đế của chúng ta vừa là linh hồn cung hai vừa là phàm ngã cung hai hay không? |
|
Students of etymology will have noted that the origin of the word touch is somewhat obscure, but probably means to ‘draw with quick motion.’ |
Những người nghiên cứu từ nguyên học hẳn đã lưu ý rằng nguồn gốc của từ touch phần nào mơ hồ, nhưng có lẽ có nghĩa là “kéo bằng chuyển động nhanh.” |
|
309. This definition seems almost to suggest a gesture frequently found in the subtle healing arts. Miasmic energy is frequently drawn off in such a manner, and more beneficial energy distributed. |
309. Định nghĩa này dường như gần như gợi ý một cử chỉ thường thấy trong các nghệ thuật trị liệu vi tế. Năng lượng nhiễm khí thường được rút ra theo cách như vậy, và năng lượng có lợi hơn được phân phối. |
|
310. The definition of “draw” seems related to “draw away”, to attract. |
310. Định nghĩa của “kéo” dường như liên hệ với “kéo ra”, với sự thu hút. |
|
Herein lies the whole secret of this objective solar system, and herein will be demonstrated the quickening of vibration by means of touch. |
Chính trong đây có toàn bộ bí mật của hệ mặt trời khách quan này, và chính trong đây sẽ được chứng minh sự làm tăng nhanh rung động bằng phương tiện xúc giác. |
|
311. It is the First Ray Lord who is called “The Power that touches and withdraws”. An effective mode of vibratory stimulation is thus indicated. |
311. Chính Đấng Chúa Tể Cung một được gọi là “Quyền năng chạm vào rồi rút lui”. Như vậy, một phương thức hữu hiệu của sự kích thích rung động được nêu ra. |
|
312. The factor of ‘drawing’ is particularly related to the second ray and the “quick motion” to the first ray. |
312. Yếu tố “thu hút” đặc biệt liên hệ với cung hai, còn “chuyển động mau lẹ” thì liên hệ với cung một. |
|
313. This definition suggests the magnetic interplay which relates various entities. |
313. Định nghĩa này gợi ra sự tương tác từ tính liên kết các thực thể khác nhau. |
|
Inertia, mobility, rhythm, are the qualities manifested by the not-self. |
Quán tính, tính động, nhịp điệu, là những phẩm tính được biểu lộ bởi vô ngã. |
|
314. DK is telling us that the three gunas relate to the not-Self. |
314. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng ba guna liên hệ với vô ngã. |
|
Rhythm, balance, and stable vibration are achieved by means of this very faculty of touch or feeling. |
Nhịp điệu, quân bình và rung động ổn định được đạt tới nhờ chính năng lực xúc chạm hay cảm nhận này. |
|
315. Rhythm, balance and stable vibration relate to the third guna, Sattva. In relating the sense of touch to Sattva, DK is pointing out the importance of the second ray in achieving the sattvic state. |
315. Nhịp điệu, quân bình và rung động ổn định liên hệ với guna thứ ba, Sattva. Khi liên hệ xúc giác với Sattva, Chân sư DK đang chỉ ra tầm quan trọng của cung hai trong việc đạt tới trạng thái sattva. |
|
Let me illustrate briefly so as to make the problem somewhat clearer. What results in meditation? By dint of strenuous effort and due attention to rules laid down, the aspirant succeeds in touching matter of a quality rarer than is his usual custom. He contacts his causal body, in time he contacts the matter of the buddhic plane. By means of this touch his own vibration is temporarily and briefly quickened. |
Hãy để tôi minh họa ngắn gọn để làm cho vấn đề phần nào rõ ràng hơn. Kết quả của tham thiền là gì? Nhờ nỗ lực mãnh liệt và sự chú ý thích đáng đến các quy luật đã được đặt ra, người chí nguyện thành công trong việc chạm tới vật chất có phẩm tính tinh tế hơn điều vốn là thói quen thường lệ của y. Y tiếp xúc với thể nguyên nhân của mình, và theo thời gian y tiếp xúc với vật chất của cõi Bồ đề. Nhờ sự xúc chạm này, rung động của chính y tạm thời và trong chốc lát được gia tốc. |
|
316. The quickening may relate to the second guna, Rajas. When brief quickening becomes an established tendency, and promotes a heightened stability within the entire energy system, then the state of Sattva has been reached. |
316. Sự gia tốc này có thể liên hệ với guna thứ hai, Rajas. Khi sự gia tốc ngắn ngủi trở thành một khuynh hướng đã được xác lập, và thúc đẩy một sự ổn định cao hơn trong toàn bộ hệ thống năng lượng, thì trạng thái Sattva đã đạt được. |
|
317. Touch may either quicken or retard. |
317. Sự xúc chạm có thể hoặc gia tốc hoặc làm chậm lại. |
|
318. It becomes clear that one of the purposes of our usual meditative practices is to touch (and assimilate) matter of a higher vibration than that to which we are accustomed. |
318. Rõ ràng là một trong những mục đích của các thực hành tham thiền thông thường của chúng ta là chạm tới (và đồng hóa) vật chất có rung động cao hơn điều mà chúng ta vốn quen thuộc. |
|
Fundamentally we are brought back to the subject that we deal with in this treatise. The latent fire of matter attracts to itself that fire, latent in other forms. They touch, and recognition and awareness ensues. The fire of manas burns continuously and is fed by that which is attracted and repulsed. When the two [Page 198] blend, the stimulation is greatly increased and the ability to touch intensified. The Law of Attraction persists in its work until another fire is attracted and touched, and the threefold merging is completed. |
Về căn bản, chúng ta được đưa trở lại với chủ đề mà chúng ta bàn đến trong bộ luận này. Lửa tiềm ẩn của vật chất tự thu hút về mình ngọn lửa tiềm ẩn trong các hình tướng khác. Chúng chạm nhau, và sự nhận biết cùng tâm thức phát sinh. Lửa của manas cháy liên tục và được nuôi dưỡng bởi điều được thu hút và bị đẩy lui. Khi cả hai [Page 198] hòa trộn, sự kích thích tăng lên rất nhiều và khả năng xúc chạm được tăng cường. Định luật Hấp Dẫn tiếp tục công việc của nó cho đến khi một ngọn lửa khác được thu hút và được chạm tới, và sự hợp nhất tam phân được hoàn tất. |
|
319. Fires of like nature attract and touch each other. When like touches like, awareness ensues. |
319. Những ngọn lửa đồng tính chất thu hút và chạm vào nhau. Khi cái tương đồng chạm vào cái tương đồng, sự nhận biết phát sinh. |
|
320. Another principle that may be gathered from the foregoing: the touch of like with like promotes intensification. |
320. Một nguyên lý khác có thể rút ra từ những điều trên đây: sự xúc chạm của cái tương đồng với cái tương đồng thúc đẩy sự tăng cường. |
|
321. With increased stimulation, the sense of touch becomes more acute, more responsive. |
321. Khi sự kích thích gia tăng, xúc giác trở nên bén nhạy hơn, đáp ứng hơn. |
|
322. The sense of touch is related especially to solar fire, the higher fire of mind. When solar fire meets solar fire, “the stimulation is greatly increased and the ability to touch intensified”. |
322. Xúc giác đặc biệt liên hệ với Lửa Thái dương, ngọn lửa cao hơn của trí tuệ. Khi Lửa Thái dương gặp Lửa Thái dương, “sự kích thích tăng lên rất nhiều và khả năng xúc chạm được tăng cường”. |
|
323. VSK notes: “So the fires of mind are fed by BOTH attraction AND repulsion. Desire for or antipathy against; any ‘passion’, any energy in any direction (whether towards merging or repulsion), is a fuel. |
323. VSK ghi chú: “Vậy là các ngọn lửa của trí tuệ được nuôi dưỡng bởi CẢ hấp dẫn LẪN đẩy lui. Ham muốn hay ác cảm; bất kỳ ‘đam mê’ nào, bất kỳ năng lượng nào theo bất kỳ hướng nào (dù hướng tới hợp nhất hay đẩy lui), đều là nhiên liệu. |
|
324. Although a given fire attracts the same fire, it is also necessary that fire by friction attract solar fire, and that the blend of fire by friction and solar fire attract Spirit-fire. |
324. Mặc dù một ngọn lửa nhất định thu hút cùng loại lửa ấy, nhưng cũng cần thiết là Lửa ma sát phải thu hút Lửa Thái dương, và sự hòa trộn của Lửa ma sát với Lửa Thái dương phải thu hút Lửa-tinh thần. |
|
325. The technicalities of the science of the merging of the fires (of the same or contrasting fires) are beyond us. It is sufficient for us to realize that all such merging is occurring under the Law of Attraction (and Repulsion). |
325. Những chi tiết kỹ thuật của khoa học về sự hợp nhất các ngọn lửa (cùng loại hay tương phản) vượt ngoài khả năng của chúng ta. Chỉ cần chúng ta nhận ra rằng mọi sự hợp nhất như thế đều đang diễn ra dưới Định luật Hấp Dẫn (và Đẩy Lùi). |
|
Forget not in this connection the mystery of the Rod of Initiation.84 |
Đừng quên, trong mối liên hệ này, huyền nhiệm của Thần Trượng Điểm đạo.84 |
|
326. This is another great example of the power of touch, for the Rod is, indeed, used to touch that which is to be stimulated. |
326. Đây là một thí dụ lớn khác về quyền năng của sự xúc chạm, vì Thần Trượng quả thực được dùng để chạm vào điều cần được kích thích. |
|
Later when we consider the subject of the centres and Initiation it must be remembered that we are definitely studying one aspect of this mysterious faculty of touch, the faculty of the second Logos, wielding the law of Attraction. |
Sau này khi chúng ta khảo sát chủ đề các trung tâm và điểm đạo, cần nhớ rằng chúng ta đang dứt khoát nghiên cứu một phương diện của năng lực xúc chạm huyền nhiệm này, năng lực của Logos thứ hai, vận dụng định luật Hấp Dẫn. |
|
327. Touch is to be considered “the faculty of the second Logos, wielding the Law of Attraction”. |
327. Sự xúc chạm cần được xem là “năng lực của Logos thứ hai, vận dụng Định luật Hấp Dẫn”. |
|
328. DK seems to be telling us that there can be no initiation unless the faculty of touch is involved. |
328. Chân sư DK dường như đang cho chúng ta biết rằng không thể có điểm đạo nếu không có năng lực xúc chạm tham dự vào. |
|
329. This thought reminded one of certain Eastern Masters who conveyed initiatory potency to their chelas by touching them, often quite suddenly and unexpectedly. |
329. Ý tưởng này khiến người ta nhớ đến một số Chân sư phương Đông, những vị đã truyền đạt năng lực điểm đạo cho các đệ tử của mình bằng cách chạm vào họ, thường là khá đột ngột và bất ngờ. |
|
330. VSK enquires; “How can a Law be ‘wielded’. Like gravity, a Law simply IS. Can it be turned on and off or directed hither or thence by an Entity? |
330. VSK nêu câu hỏi: “Làm sao một Định luật có thể được ‘vận dụng’? Giống như trọng lực, một Định luật đơn giản là HIỆN HỮU. Nó có thể được bật lên tắt xuống hay được hướng về đây hoặc kia bởi một Thực Thể chăng? |
|
331. It may be said that a Master wields energy in full cognizance of a Law. He works with the Law and wields according to the Law. He does not change the Law. |
331. Có thể nói rằng một Chân sư vận dụng năng lượng với sự nhận biết trọn vẹn về một Định luật. Ngài làm việc với Định luật và vận dụng theo Định luật. Ngài không thay đổi Định luật. |
|
Footnote 84: |
Chú thích 84: |
|
The Initiations spoken of in this Treatise are the major Initiations which bring about those expansions of consciousness which lead to liberation; these are taken in the causal body and from thence reflected into the physical [astral and mental]; the Initiate never proclaims his initiation. |
Các cuộc điểm đạo được nói đến trong bộ Luận này là những cuộc điểm đạo lớn đem lại những sự mở rộng tâm thức dẫn đến giải thoát; chúng được tiếp nhận trong thể nguyên nhân và từ đó được phản chiếu vào thể xác hồng trần [astral and mental]; điểm đạo đồ không bao giờ công bố sự điểm đạo của mình. |
|
332. By “major initiations” DK does not mean the third degree and beyond, for the first and second initiations (of the Threshold) are also taken in the causal body. |
332. Bởi “những cuộc điểm đạo lớn”, Chân sư DK không có ý nói từ cấp ba trở lên, vì lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai (của Ngưỡng Cửa) cũng được tiếp nhận trong thể nguyên nhân. |
|
333. There are minor initiation (Initiations of the Four Elements) taken between the major initiations, and especially between the first and second initiations. |
333. Có những cuộc điểm đạo nhỏ (Các cuộc Điểm đạo của Bốn Nguyên tố) được tiếp nhận giữa các cuộc điểm đạo lớn, và đặc biệt là giữa lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai. |
|
334. Initiations taken in the causal body are reflected not only into the physical body but into the astral and mental vehicles as well. |
334. Các cuộc điểm đạo được tiếp nhận trong thể nguyên nhân không chỉ được phản chiếu vào thể xác mà còn vào cả các vận cụ cảm dục và trí tuệ nữa. |
|
335. It goes without saying that the initiate will not (and cannot) proclaim his initiation. Those who thus proclaim signal that they cannot possibly be true initiates. Yet, the persistent ego will proclaim and make all sorts of excuses for doing so. Let those who have eyes to see, see. |
335. Không cần phải nói rằng điểm đạo đồ sẽ không (và không thể) công bố sự điểm đạo của mình. Những ai công bố như thế tự cho thấy rằng họ không thể nào là những điểm đạo đồ chân chính. Tuy nhiên, chân ngã cố chấp sẽ công bố và đưa ra đủ mọi loại biện minh để làm như vậy. Ai có mắt để thấy, hãy thấy. |
|
Let us now finish what may be imparted on the remaining three senses—sight, taste, smell—and then briefly sum up their relationship to the centres, and their mutual action and interaction. |
Giờ đây chúng ta hãy hoàn tất những gì có thể được truyền đạt về ba giác quan còn lại—thị giác, vị giác, khứu giác—rồi sau đó ngắn gọn tổng kết mối liên hệ của chúng với các trung tâm, cùng hoạt động và sự tương tác lẫn nhau của chúng. |
|
336. A vast subject to be dealt with briefly. |
336. Một chủ đề bao la cần được bàn đến một cách ngắn gọn. |
|
That will then leave two more points to be dealt with in this first division of the Treatise on Cosmic Fire, and a summing up. We shall then be in a position to take up that portion of the treatise that deals with the fire of manas and with the development of the manasaputras,85 both in their totality and likewise individually. |
Sau đó, trong phân विभाग thứ nhất của Luận về Lửa Vũ Trụ này, sẽ còn lại hai điểm nữa cần được bàn đến, cùng một phần tổng kết. Khi ấy chúng ta sẽ ở vào vị thế có thể bắt đầu phần của bộ luận bàn về lửa của manas và về sự phát triển của các manasaputra,85 cả trong tính toàn thể của họ lẫn từng cá thể riêng biệt. |
|
337. The section of TCF which deals with the manasaputras deals with the present and with our current solar system. It will be, DK tells us, the most widely read section in the book because it has so much immediate relevance. |
337. Phần của Luận về Lửa Vũ Trụ bàn về các manasaputra bàn về hiện tại và về hệ mặt trời hiện nay của chúng ta. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng đó sẽ là phần được đọc rộng rãi nhất trong sách vì nó có quá nhiều liên hệ trực tiếp trước mắt. |
|
338. As difficult as it may have been to work through the section of the book dealing specifically with matter and fire by friction, it has been a necessary preamble to the more accessible psychological work of the middle section. |
338. Dù việc nghiên cứu phần sách bàn riêng về vật chất và Lửa ma sát có thể đã khó khăn đến đâu, nó vẫn là phần dẫn nhập cần thiết cho công trình tâm lý học dễ tiếp cận hơn ở phần giữa. |
|
This topic is of the most imperative importance as it deals entirely with man, the Ego, the thinker, and shows the cosmic blending of the fires of matter and of mind, and their utilisation by the indwelling Flame. |
Chủ đề này có tầm quan trọng cấp thiết nhất vì nó hoàn toàn bàn về con người, chân ngã, nhà tư tưởng, và cho thấy sự hòa trộn vũ trụ của các ngọn lửa của vật chất và của trí tuệ, cùng sự sử dụng chúng bởi Ngọn Lửa nội tại. |
|
339. The essence of the coming section is clearly given. We are the Ego, the Thinker on his own plane. On this planet and in this solar system we are learning to be fully that Ego/Thinker, and to express the potencies of the Ego/Thinker in the lower worlds as well as upon the higher mental plane. |
339. Tinh túy của phần sắp tới được nêu ra rất rõ. Chúng ta là chân ngã, Nhà Tư Tưởng trên cõi riêng của mình. Trên hành tinh này và trong hệ mặt trời này, chúng ta đang học để hoàn toàn là chân ngã/Nhà Tư Tưởng ấy, và để biểu lộ các tiềm năng của chân ngã/Nhà Tư Tưởng trong các cõi thấp cũng như trên Cõi thượng trí. |
|
340. DK, who does not exaggerate, tells us that the coming theme is of “imperative importance”. We should take Him at His word and learn to realize ourselves as souls in expression, as the Ego/Thinker in incarnation. |
340. Chân sư DK, Đấng không hề cường điệu, cho chúng ta biết rằng chủ đề sắp tới có tầm quan trọng “cấp thiết”. Chúng ta nên tin lời Ngài và học cách chứng nghiệm chính mình như những linh hồn đang biểu lộ, như chân ngã/Nhà Tư Tưởng đang lâm phàm. |
|
341. The term “indwelling Flame” relates to the Spirit aspect. We have studied the word “flame” and seen its close connection to pure being and also to the more objective aspects of fire. |
341. Thuật ngữ “Ngọn Lửa nội tại” liên hệ với phương diện Tinh thần. Chúng ta đã nghiên cứu từ “ngọn lửa” và thấy mối liên hệ chặt chẽ của nó với bản thể thuần túy và cả với những phương diện khách quan hơn của lửa. |
|
Footnote 85: |
Chú thích 85: |
|
Manasaputras: These are the Sons of Mind, the individual principle in man, the Ego, the solar Angel, in his own body on the abstract levels of the mental plane. |
Manasaputras: Đây là các Con của Trí Tuệ, nguyên khí cá thể trong con người, chân ngã, Thái dương Thiên Thần, trong thể riêng của y trên các cấp độ trừu tượng của cõi trí. |
|
342. Man is the Solar Angel and yet he is not. The definition immediately above equates a number of terms for which fine distinctions can be found. |
342. Con người là Thái dương Thiên Thần mà cũng không phải là như vậy. Định nghĩa ngay trên đây đồng nhất một số thuật ngữ mà giữa chúng có thể tìm thấy những phân biệt tinh tế. |
|
343. The causal body is one of the bodies of the Solar Angel. As a very advanced being, the Solar Angel has other vehicles on planes which the teaching does not yet specify. |
343. Thể nguyên nhân là một trong các thể của Thái dương Thiên Thần. Là một hữu thể rất cao cấp, Thái dương Thiên Thần có những vận cụ khác trên các cõi mà giáo huấn hiện chưa nêu rõ. |
|
344. Simply stated, Manasaputras are members of the Fifth Creative Hierarchy; they are Solar Angels, who are “returning Nirvanis” from a previous mahamanvantara. They are identified with man, but are beings greatly in advance of man’s development. |
344. Nói một cách đơn giản, các Manasaputras là những thành viên của Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm; họ là các Thái dương Thiên Thần, là những “nirvani trở về” từ một Đại giai kỳ sinh hóa trước đó. Họ được đồng hóa với con người, nhưng là những hữu thể vượt rất xa sự phát triển của con người. |
|
c. Sight. This sense, as said before, is the paramount correlating sense of the solar system. |
c. Thị giác. Giác quan này, như đã nói trước đây, là giác quan tương quan tối thượng của hệ mặt trời. |
|
345. Mercury is at once the planet of correlation and the planet of sight, for “Mercury heals the blind and restores sight, mental and physical.” (II. 571, EA 663). |
345. Sao Thủy đồng thời là hành tinh của sự tương quan và là hành tinh của thị giác, vì “Sao Thủy chữa lành người mù và phục hồi thị giác, cả trí tuệ lẫn thể xác.” (II. 571, EA 663). |
|
346. Venus is also a planet promoting sight, but not so much a planet of correlation (at least, mental correlation). |
346. Sao Kim cũng là một hành tinh thúc đẩy thị giác, nhưng không hẳn là một hành tinh của sự tương quan (ít nhất là sự tương quan trí tuệ). |
|
347. Both Mercury and Venus are related to the ajna center (each representing one of the two eyes—with the Sun representing the third) and are thus related to the sense of sight. |
347. Cả Sao Thủy lẫn Sao Kim đều liên hệ với trung tâm ajna (mỗi hành tinh tượng trưng cho một trong hai mắt—còn Mặt Trời tượng trưng cho con mắt thứ ba) và do đó liên hệ với thị giác. |
|
Under the Law of Economy man hears. Sound permeates matter and is the basis of its subsequent heterogeneity. |
Dưới Định luật Tiết Kiệm, con người nghe. Âm thanh thấm khắp vật chất và là nền tảng của tính dị biệt tiếp theo của nó. |
|
348. Master DK is relating the primary senses to the three major Laws of Cosmos. |
348. Chân sư DK đang liên hệ các giác quan chính yếu với ba Định luật lớn của Vũ trụ. |
|
349. Sound is particularly related to the first, third and seventh rays. Sound differentiates, as does the third ray (the “Discriminating Essential Life”). |
349. Âm thanh đặc biệt liên hệ với cung một, cung ba và cung bảy. Âm thanh tạo ra sự biến phân, cũng như cung ba ( “Sự Sống Cốt Yếu có tính Phân Biện”). |
|
350. Sound causes the heterogeneity of all things and hearing is the sense that reveals externality and the heterogeneity of that externality. |
350. Âm thanh gây ra tính dị biệt của mọi sự vật, và thính giác là giác quan phơi bày tính bên ngoài cùng tính dị biệt của cái bên ngoài ấy. |
|
351. Words convey sounds, and most word-sounds are keyed to diversity and are perpetuators of the illusion of diversity. When the use of word-sounds is transcended, the illusion of diversity is also ended. |
351. Ngôn từ chuyển tải âm thanh, và phần lớn các âm thanh-ngôn từ đều được điều chỉnh theo tính đa tạp và là những yếu tố duy trì ảo tưởng về tính đa tạp. Khi việc sử dụng các âm thanh-ngôn từ được siêu vượt, ảo tưởng về tính đa tạp cũng chấm dứt. |
|
352. VSK suggests that we relate sound (as it works through matter) as the origin of the Heresy of Separateness. |
352. VSK gợi ý rằng chúng ta hãy liên hệ âm thanh (khi nó hoạt động qua vật chất) với nguồn gốc của Đại Tà thuyết về Tính Tách Biệt. |
|
Under the Law of Attraction, man touches and makes contact with that which is brought to his attention [Page 199] through sound waves of activity. This leads to a condition of mutual repulsion and attraction between the one who apprehends and that which is apprehended. |
Dưới Định luật Hấp Dẫn, con người chạm vào và tiếp xúc với điều được đưa đến sự chú ý của y [Page 199] qua các làn sóng âm thanh của hoạt động. Điều này dẫn đến một trạng thái đẩy lui và hấp dẫn hỗ tương giữa người lĩnh hội và điều được lĩnh hội. |
|
353. Sound brings externality to attention. This is such an important idea. |
353. Âm thanh đưa tính bên ngoài đến sự chú ý. Đây là một ý tưởng rất quan trọng. |
|
354. But recognizing that something exists (through the agency of sound) is not the same as being in touch with that which is recognized. |
354. Nhưng việc nhận ra rằng một điều gì đó hiện hữu (qua tác động của âm thanh) không giống với việc tiếp xúc với điều được nhận ra ấy. |
|
355. First we must ‘hear’ the soul, the Word expressed perhaps through the “Voice of Conscience”. Later we come in touch with that which has spoken and, therefore, experience its energy in a non-theoretical manner. |
355. Trước hết chúng ta phải “nghe” linh hồn, Linh từ có lẽ được biểu lộ qua “Tiếng Nói của Lương Tâm”. Về sau chúng ta mới tiếp xúc với điều đã cất tiếng nói, và do đó kinh nghiệm năng lượng của nó theo cách không còn chỉ là lý thuyết. |
|
356. When contact is made through the sense of touch, attraction or repulsion follow, or perhaps, simply, indifference. |
356. Khi sự tiếp xúc được tạo lập qua xúc giác, hấp dẫn hay đẩy lui sẽ theo sau, hoặc có lẽ đơn giản chỉ là điềm nhiên. |
|
357. Those to whom we are most related are those we either love or hate. By far, the greatest number of those who could be contacted are those to whom we are, relatively speaking, indifferent. |
357. Những người mà chúng ta liên hệ nhiều nhất là những người chúng ta либо yêu thương hoặc căm ghét. Phần lớn nhất, vượt xa mọi số khác, trong số những người có thể được tiếp xúc là những người mà nói tương đối, chúng ta điềm nhiên đối với họ. |
|
358. Some degree of diversity and of difference is noted through the sense of hearing and the agency of sound. Awareness of diversity and difference is heightened through the Law of Attraction and the sense of touch. Awareness of similarity, however, is also heightened. |
358. Một mức độ đa tạp và khác biệt nào đó được ghi nhận qua thính giác và tác động của âm thanh. Sự nhận biết về tính đa tạp và khác biệt được tăng cường qua Định luật Hấp Dẫn và xúc giác. Tuy nhiên, sự nhận biết về tính tương đồng cũng được tăng cường. |
|
Having apprehended and then contacted his eyes are opened and he recognises his place in the whole order under the Law of Synthesis. |
Sau khi đã lĩnh hội rồi tiếp xúc, mắt y được mở ra và y nhận ra vị trí của mình trong toàn bộ trật tự dưới Định luật Tổng Hợp. |
|
Hearing Unity |
Thính giác Hợp nhất |
|
Touch Duality |
Xúc giác Nhị nguyên tính |
|
Sight Triplicity. |
Thị giác Bộ ba. |
|
359. The opening of the eyes follows upon contact. This is true in relation to soul culture. When once one has felt the presence of the soul the door is open to see that which one has felt. |
359. Sự mở mắt xảy ra sau sự tiếp xúc. Điều này đúng trong liên hệ với việc nuôi dưỡng linh hồn. Một khi người ta đã cảm nhận được sự hiện diện của linh hồn thì cánh cửa mở ra để thấy điều mà người ta đã cảm nhận. |
|
360. The sense of hearing gives a general idea of location, but when the sense of sight emerges, the idea of location becomes much more specific, because so many more items of perception ‘fill’ perceptual space. The concept of “order” emerges with the sense of sight and one sees far more exactly where he fits. |
360. Thính giác cho một ý niệm tổng quát về vị trí, nhưng khi thị giác xuất hiện, ý niệm về vị trí trở nên đặc thù hơn nhiều, vì có rất nhiều yếu tố tri giác hơn “lấp đầy” không gian tri giác. Khái niệm “trật tự” xuất hiện cùng với thị giác, và người ta thấy chính xác hơn nhiều mình phù hợp ở đâu. |
|
361. Looking at the three words, Unity, Duality and Triplicity, we note that either Triplicity or Unity could be applied to the sense of sight. This might also be said for the sense of hearing. Duality will always apply to the sense of sight until that which is ‘touched’ becomes more interior, more essential. |
361. Khi nhìn vào ba từ Hợp nhất, Nhị nguyên tính và Bộ ba, chúng ta lưu ý rằng hoặc Bộ ba hoặc Hợp nhất đều có thể được áp dụng cho thị giác. Điều này cũng có thể được nói về thính giác. Nhị nguyên tính sẽ luôn áp dụng cho thị giác cho đến khi điều được “chạm tới” trở nên nội tại hơn, cốt yếu hơn. |
|
362. If sight must correlate to the Cross in Circle, it is indicative of triplicity—two lines and one circle. |
362. Nếu thị giác phải tương quan với Thập Giá trong Vòng Tròn, thì nó biểu thị bộ ba—hai đường và một vòng tròn. |
|
363. The triplicity to which sight is related is easily seen as a unity for, in relation to the Trinity, the Three are the One. The Seer, the Seen and the ‘Seeing’ are all one. |
363. Bộ ba mà thị giác liên hệ có thể dễ dàng được thấy như một hợp nhất, vì trong liên hệ với Tam Vị, Ba là Một. Nhà thông nhãn, điều được thấy và sự “thấy” đều là một. |
|
In these three senses the present is summed up for us. The work of evolution is to recognise, utilise, co-ordinate, and dominate the whole till the Self, by means of these three, becomes actively aware of every form, of every vibration, and of every pulsation of the not-self; then, through the arranging power of mind, the objective of the self will be to find the truth, or that centre in the circle of manifestation which is, for the Self, the centre of equilibrium, and the one point where the co-ordination is perfected; then the Self can dissociate itself from every veil, every contact, and every sense. |
Trong ba giác quan này, hiện tại được tổng kết cho chúng ta. Công việc của tiến hoá là nhận ra, sử dụng, phối hợp và làm chủ toàn thể cho đến khi Bản Ngã, nhờ ba giác quan này, trở nên nhận biết một cách chủ động mọi hình tướng, mọi rung động và mọi nhịp đập của vô ngã; rồi, nhờ quyền năng sắp xếp của trí tuệ, mục tiêu của bản ngã sẽ là tìm ra chân lý, hay trung tâm ấy trong vòng tròn biểu hiện, vốn là đối với Bản Ngã, trung tâm quân bình, và là điểm duy nhất nơi sự phối hợp được hoàn thiện; khi ấy Bản Ngã có thể tách mình ra khỏi mọi màn che, mọi tiếp xúc và mọi giác quan. |
|
364. Again we have one of those brilliant summaries by means of which Master DK is able to reveal the interrelation of so many factors. |
364. Một lần nữa, chúng ta có một trong những phần tổng kết xuất sắc ấy, nhờ đó Chân sư DK có thể phơi bày mối tương quan của rất nhiều yếu tố. |
|
365. If the three major senses represent the present, may it be inferred that the sense of taste and of smell indicate the future? |
365. Nếu ba giác quan chính yếu tượng trưng cho hiện tại, liệu có thể suy ra rằng vị giác và khứu giác chỉ ra tương lai chăng? |
|
366. The senses are to reveal the nature of the form. The Self/Jiva is to become totally aware of all forms. |
366. Các giác quan phải phơi bày bản chất của hình tướng. Bản Ngã/Jiva phải trở nên hoàn toàn nhận biết mọi hình tướng. |
|
367. Awareness is the first step; arrangement, the second. |
367. Nhận biết là bước thứ nhất; sắp xếp là bước thứ hai. |
|
368. If one wishes to know one of the chief faculties of the mind, it is an “arranging power”—the power to move things into new and more desirable relationships. |
368. Nếu ai muốn biết một trong những năng lực chủ yếu của trí tuệ, thì đó là “quyền năng sắp xếp”—quyền năng đưa sự vật vào những tương quan mới và đáng mong muốn hơn. |
|
369. Total awareness of what is within the environmental field, does not guarantee that truth (in relation to that field) will be found. |
369. Sự nhận biết toàn diện về những gì nằm trong trường môi trường không bảo đảm rằng chân lý (liên hệ với trường ấy) sẽ được tìm ra. |
|
370. Truth is likened to the center of the circle—the point related to all other points within the circle or sphere of perception. |
370. Chân lý được ví như trung tâm của vòng tròn—điểm liên hệ với mọi điểm khác trong vòng tròn hay khối cầu tri giác. |
|
371. The Self or dot in the center of the circle or sphere means the following: |
371. Bản Ngã hay điểm ở trung tâm của vòng tròn hay khối cầu có nghĩa như sau: |
|
a. The Self’s center of equilibrium |
a. Trung tâm quân bình của Bản Ngã |
|
b. The Self’s vantage point for the perfection of coordination |
b. Điểm thuận lợi của Bản Ngã để hoàn thiện sự phối hợp |
|
372. From this center in the circle or sphere, the Self can begin its process of dissociation: |
372. Từ trung tâm này trong vòng tròn hay khối cầu, Bản Ngã có thể bắt đầu tiến trình tách rời: |
|
a. Dissociation from every veil |
a. Tách rời khỏi mọi màn che |
|
b. Dissociation from every contact |
b. Tách rời khỏi mọi tiếp xúc |
|
c. Dissociation from every sense |
c. Tách rời khỏi mọi giác quan |
|
373. Let us essentialize the process: |
373. Chúng ta hãy tinh yếu hóa tiến trình này: |
|
a. Awareness |
a. Nhận biết |
|
b. Truth |
b. Chân lý |
|
c. Balance |
c. Quân bình |
|
d. Environmental Coordination and Mastery |
d. Phối hợp và làm chủ môi trường |
|
e. Dissociation |
e. Tách rời |
|
374. Earlier, the point in the center of the circle or sphere was likened to the sense of hearing. |
374. Trước đây, điểm ở trung tâm của vòng tròn hay khối cầu đã được ví với thính giác. |
|
375. We are now presented with a more advanced meaning for this symbol; it is the center through which the Self/Jiva masters its environment or sphere of experience. |
375. Giờ đây chúng ta được trình bày một ý nghĩa cao hơn của biểu tượng này; đó là trung tâm qua đó Bản Ngã/Jiva làm chủ môi trường hay khối cầu kinh nghiệm của mình. |
|
376. From this point of power, liberation may at length be achieved. The point within the circle or sphere is also the symbol for the Master. |
376. Từ điểm quyền năng này, cuối cùng sự giải thoát có thể đạt được. Điểm trong vòng tròn hay khối cầu cũng là biểu tượng của Chân sư. |
|
This leads in every manifestation to three types of separation: |
Điều này dẫn trong mọi biểu hiện đến ba loại phân ly: |
|
377. We have an important threefold distinction below. Three great phases of the developmental process are discussed. |
377. Dưới đây chúng ta có một sự phân biệt tam phân quan trọng. Ba giai đoạn lớn của tiến trình phát triển được bàn đến. |
|
Involution. The separation of matter, or the one becoming the many. The senses are developed, and the apparatus is perfected by the Self for the utilisation of matter. This is under the Law of Economy. |
Giáng hạ tiến hoá. Sự phân ly của vật chất, hay cái Một trở thành cái Nhiều. Các giác quan được phát triển, và bộ máy được Bản Ngã hoàn thiện để sử dụng vật chất. Điều này diễn ra dưới Định luật Tiết Kiệm. |
|
378. The senses are developed upon the Path of Involution. The development of the senses make possible the utilization of matter by the Self. |
378. Các giác quan được phát triển trên Con Đường Giáng Hạ Tiến Hoá. Sự phát triển các giác quan làm cho việc sử dụng vật chất bởi Bản Ngã trở nên khả hữu. |
|
379. The senses are one of the chief means through which the One, having become the Many, may again become the One. But first must come the mastery of the Many through the use of the senses. |
379. Các giác quan là một trong những phương tiện chủ yếu nhờ đó Đấng Duy Nhất, sau khi đã trở thành cái Nhiều, có thể lại trở thành cái Một. Nhưng trước hết phải đến sự làm chủ cái Nhiều qua việc sử dụng các giác quan. |
|
Evolution up to the time of the Probationary Path. The merging of Spirit and matter, and the utilisation of the senses in a progressing identification of the Self with all forms from the lowest to those relatively refined. This is under the Law of Attraction. |
Tiến hoá cho đến thời kỳ của Con Đường Dự Bị. Sự hòa trộn của Tinh thần và vật chất, và sự sử dụng các giác quan trong một sự đồng hóa tiến triển của Bản Ngã với mọi hình tướng từ thấp nhất đến những hình tướng tương đối tinh tế. Điều này diễn ra dưới Định luật Hấp Dẫn. |
|
380. In the first phase the senses are applied to the utilization of matter; in this second phase, they are applied to a gradual (very gradual) merging of Spirit and matter. Under the Law of Attraction, identification of the Self with form occurs. This is not the same process as the stage of identification of the Self with the life within the forms. |
380. Trong giai đoạn thứ nhất, các giác quan được áp dụng vào việc sử dụng vật chất; trong giai đoạn thứ hai này, chúng được áp dụng vào sự hòa trộn dần dần (rất dần dần) của Tinh thần và vật chất. Dưới Định luật Hấp Dẫn, sự đồng hóa của Bản Ngã với hình tướng xảy ra. Đây không phải là cùng một tiến trình với giai đoạn đồng hóa của Bản Ngã với sự sống bên trong các hình tướng. |
|
Evolution on the Path. |
Tiến hoá trên Con Đường. |
|
381. For practical purposes, we may say that this evolution begins at a time near the first initiation. |
381. Vì những mục đích thực tiễn, chúng ta có thể nói rằng sự tiến hoá này bắt đầu vào một thời điểm gần lần điểm đạo thứ nhất. |
|
Again the separation of spirit from matter, its identification with the One, and the ultimate rejection of form. |
Một lần nữa, sự phân ly của tinh thần khỏi vật chất, sự đồng hóa của nó với Đấng Duy Nhất, và sự từ bỏ hình tướng sau cùng. |
|
382. In this third phase, three processes are experienced: |
382. Trong giai đoạn thứ ba này, ba tiến trình được kinh nghiệm: |
|
a. The separation of Spirit from matter |
a. Sự phân ly của Tinh thần khỏi vật chất |
|
b. The identification of Spirit with the One (as that One appears in and through all forms) |
b. Sự đồng hoá của Tinh thần với Đấng Duy Nhất (như Đấng ấy xuất hiện trong và xuyên qua mọi hình tướng) |
|
c. The ultimate rejection by Spirit of form |
c. Sự khước từ tối hậu của Tinh thần đối với hình tướng |
|
383. We are therefore dealing with a lengthy threefold process of separation, identification and separation/identification |
383. Vì vậy, chúng ta đang đề cập đến một tiến trình tam phân kéo dài gồm sự tách biệt, sự đồng hoá và sự tách biệt/đồng hoá. |
|
The senses then are synthesised into acquired faculty, and the Self has no [Page 200] further use for the not-self. It blends with the All-Self. This is under the Law of Synthesis. |
Khi ấy, các giác quan được tổng hợp thành năng lực đã thủ đắc, và Bản Ngã không còn [Page 200] dùng đến phi-ngã nữa. Nó hòa nhập với Đại Ngã. Điều này diễn ra dưới Định luật Tổng Hợp. |
|
384. What can be meant by this statement: “the senses are then synthesized into acquired faculty”? Rather than instruments of reception, they become instruments primarily of execution. The major purpose of the senses has been achieved. There is no further need for engagement with externalities, unless because of strictly sacrificial service. The fourth initiation and a significant stage of synthesis have been reached. |
384. Câu phát biểu này có thể được hiểu là gì: “khi ấy các giác quan được tổng hợp thành năng lực đã thủ đắc”? Thay vì là những công cụ tiếp nhận, chúng trở thành những công cụ chủ yếu để thi hành. Mục đích chính của các giác quan đã được hoàn tất. Không còn cần phải dấn thân vào các ngoại vật nữa, trừ phi vì sự phụng sự có tính hi sinh nghiêm ngặt. Lần điểm đạo thứ tư và một giai đoạn tổng hợp quan trọng đã đạt đến. |
|
385. When the Self begins to blend with the All-Self, Mercury and the Sun have become one. From a very important perspective, Mercury, the planet of mediation, is the significator of the senses. When Mercury symbolically blends with the Sun (symbol of synthesized knowledge and faculty), the senses (at least in relation to the eighteen lower subplanes) are no longer needed. |
385. Khi Bản Ngã bắt đầu hòa nhập với Đại Ngã, Sao Thủy và Mặt Trời đã trở thành một. Từ một góc nhìn rất quan trọng, Sao Thủy, hành tinh của sự trung gian, là biểu trưng của các giác quan. Khi Sao Thủy hòa nhập một cách biểu tượng với Mặt Trời (biểu tượng của tri thức và năng lực được tổng hợp), các giác quan (ít nhất trong liên hệ với mười tám cõi phụ thấp) không còn cần thiết nữa. |
|
386. The “acquired faculty” here mentioned has to do with causal faculty and faculties which can be elevated into the spiritual triad. |
386. “Năng lực đã thủ đắc” được nhắc đến ở đây liên quan đến năng lực nguyên nhân và các năng lực có thể được nâng lên Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
If this is borne in mind it leads to a realisation that the separation of the Spirit from the material vehicle involves two aspects of the One great All; herein is seen the work of the Creator, the Preserver and the Destroyer. |
Nếu ghi nhớ điều này, nó sẽ dẫn đến sự chứng nghiệm rằng sự tách biệt của Tinh thần khỏi vận cụ vật chất bao hàm hai phương diện của Một Đại Toàn Thể; chính trong đó thấy được công việc của Đấng Sáng Tạo, Đấng Bảo Tồn và Đấng Hủy Diệt. |
|
387. Separation involves both the third and the first aspects of divinity—the Creator and the Destroyer. The Preserver works primarily through attraction, but where attraction is present, repulsion is also to be found. The second aspect promotes the process whereby matter/form of higher quality is attracted and matter/form of lesser quality is rejected—thus involving the principle of separation even with respect to the Law of Attraction. |
387. Sự tách biệt bao hàm cả phương diện thứ ba lẫn phương diện thứ nhất của thiên tính—Đấng Sáng Tạo và Đấng Hủy Diệt. Đấng Bảo Tồn hoạt động chủ yếu qua sự hấp dẫn, nhưng ở đâu có hấp dẫn, ở đó cũng có đẩy lùi. Phương diện thứ hai thúc đẩy tiến trình theo đó vật chất/hình tướng có phẩm tính cao hơn được thu hút và vật chất/hình tướng có phẩm tính thấp hơn bị khước từ—do đó bao hàm nguyên lý tách biệt ngay cả đối với Định luật Hấp Dẫn. |
|
388. Students of our type are involved with the second phase and envisioning the possibility of the third. |
388. Những đạo sinh thuộc loại chúng ta đang dính líu đến giai đoạn thứ hai và hình dung khả năng của giai đoạn thứ ba. |
|
In the final perfection of this third sense of sight, the term used is the wholly inadequate one of realisation. |
Trong sự toàn hảo cuối cùng của giác quan thứ ba này là thị giác, thuật ngữ được dùng là từ hoàn toàn không thỏa đáng (sự)chứng nghiệm. |
|
389. The sense of psychic power called “Realization” represents the final perfection of the sense of sight. DK considers the word inadequate. |
389. Năng lực thông linh được gọi là “(sự)chứng nghiệm” biểu thị sự toàn hảo cuối cùng của thị giác. Chân sư DK xem từ này là không thỏa đáng. |
|
390. An old teacher and friend of mind used to speak of the capacity to see with ‘real-eyes’. Presumably he was talking of an unveiled condition of consciousness, perhaps related to the atmic plane. |
390. Một vị huấn sư và bằng hữu cũ của tôi thường nói về khả năng thấy bằng “đôi mắt thật”. Có lẽ ông đang nói về một trạng thái tâm thức không bị che phủ, có thể liên hệ với cõi atma. |
|
391. What is realized? May we say the unitary nature of reality? May it be that the Spirit within every form is actually seen? |
391. Điều gì được chứng nghiệm? Chúng ta có thể nói đó là bản chất nhất nguyên của thực tại chăng? Có thể nào Tinh thần bên trong mọi hình tướng thực sự được thấy? |
|
Let the student study carefully the lowest and highest demonstration of the senses as laid down in the tabulation earlier imparted, and note the occult significance of the expressions used in the summation. |
Hãy để đạo sinh nghiên cứu cẩn thận biểu hiện thấp nhất và cao nhất của các giác quan như đã được trình bày trong bảng trước đó, và lưu ý ý nghĩa huyền bí của các cách diễn đạt được dùng trong phần tổng kết. |
|
392. This, of course, is the great task, and many are the speculations or experiences that may result from such a focus. |
392. Dĩ nhiên, đây là công việc lớn lao, và biết bao suy đoán hay kinh nghiệm có thể phát sinh từ một sự tập trung như thế. |
|
Hearing Beatitude. This is realised through the not-self. |
Thính giác Chí phúc. Điều này được chứng nghiệm qua phi-ngã. |
|
393. Beatitude is a high state of blessedness. Work towards the beatific state signifies that the consciousness may, in fact, be focussed on the buddhic plane—its lowest level. |
393. Chí phúc là một trạng thái hồng phúc cao cả. Nỗ lực hướng đến trạng thái chí phúc biểu thị rằng tâm thức thực sự có thể được tập trung trên cõi Bồ đề—ở cấp thấp nhất của nó. |
|
394. If beatitude is realized through the not-Self or the form, perhaps it is a fourfold, harmonized sound which is registered, yielding a type of understanding which has not yet appeared through any merely mental approach. |
394. Nếu chí phúc được chứng nghiệm qua phi-ngã hay hình tướng, thì có lẽ đó là một âm thanh tứ phân hài hòa được ghi nhận, tạo ra một loại thấu hiểu mà chưa từng xuất hiện qua bất kỳ cách tiếp cận nào chỉ thuần trí tuệ. |
|
395. Beatitude suggests synthesis and its initial phases may correlate with the opening of the synthesis-love petal (petal eleven). |
395. Chí phúc gợi ý sự tổng hợp và các giai đoạn đầu của nó có thể tương ứng với sự khai mở cánh hoa tổng hợp-bác ái (cánh hoa thứ mười một). |
|
396. Once the causal body has been destroyed a truer meaning of blessedness, of beatitude may dawn. |
396. Một khi thể nguyên nhân đã bị hủy diệt, một ý nghĩa chân thực hơn của hồng phúc, của chí phúc có thể ló rạng. |
|
397. The first and seventh rays are here involved, both of them synthetic. |
397. Cung một và cung bảy đều được bao hàm ở đây, cả hai đều có tính tổng hợp. |
|
Touch Service. The summation of the work of the Self for the not-self. |
Xúc giác Phụng sự. Sự tổng kết công việc của Bản Ngã đối với phi-ngã. |
|
398. Active Service is the highest demonstration (here given) of the sense of touch. |
398. Phụng sự tích cực là biểu hiện cao nhất (được nêu ở đây) của xúc giác. |
|
399. It will be a faculty which naturally resonates with the Law of Service. |
399. Đó sẽ là một năng lực tự nhiên cộng hưởng với Định luật Phụng sự. |
|
400. It would involve a complete understanding of the real needs of any life expressing through the form. |
400. Nó sẽ bao hàm một sự thấu hiểu trọn vẹn về những nhu cầu thực sự của bất kỳ sự sống nào đang biểu lộ qua hình tướng. |
|
401. It involves a most intimate sense of touch and a ‘touching’ realization of how that which is touched may be healed, harmonized and endowed with precisely what it needs. |
401. Nó bao hàm một xúc giác hết sức mật thiết và một sự chứng nghiệm “cảm động” về cách mà điều được chạm đến có thể được chữa lành, hài hòa và được ban cho chính xác điều nó cần. |
|
402. What are called the “Gifts of the Spirit” may be endowed here. |
402. Điều được gọi là “Các Ân Tứ của Tinh thần” có thể được ban phát tại đây. |
|
403. The second and sixth rays are involved. |
403. Cung hai và cung sáu được bao hàm. |
|
Sight Realisation. Recognition of the triplicity needed in manifestation, or the reflex action of the Self and the not-self. |
Thị giác (sự)chứng nghiệm. Sự nhận biết bộ ba cần thiết trong biểu hiện, hay phản ứng phản chiếu của Bản Ngã và phi-ngã. |
|
404. The highest demonstration of the sense of sight is called “Realization”. DK said the word “Realization” was inadequate to convey the meaning of this faculty. Indeed, His explanation is rather unexpected. |
404. Biểu hiện cao nhất của thị giác được gọi là “(sự)chứng nghiệm”. Chân sư DK nói rằng từ “(sự)chứng nghiệm” không đủ để chuyển tải ý nghĩa của năng lực này. Quả thật, lời giải thích của Ngài khá bất ngờ. |
|
405. Realization involves a recognition of a triplicity in manifestation. This is fitting, as sight is the third sense, developmentally considered. |
405. (Sự)chứng nghiệm bao hàm sự nhận biết một bộ ba trong biểu hiện. Điều này thích hợp, vì thị giác là giác quan thứ ba nếu xét theo tiến trình phát triển. |
|
406. Through Realization the trinity is seen as the modus operandi of Oneness. We might say that it has much to do with the ability to see consciousness as the necessary middle factor between Spirit and Matter. |
406. Qua (sự)chứng nghiệm, Tam Vị được thấy như phương thức vận hành của Nhất Thể. Chúng ta có thể nói rằng nó liên quan rất nhiều đến khả năng thấy tâm thức như yếu tố trung gian tất yếu giữa Tinh thần và Vật chất. |
|
407. Realization will be related to light, to Venus, the second ray and the fifth ray. We might call it the “registration of the connecting Light’. There is a recognition of Light and of the interactivity between Spirit and matter which proceeds because of the existence of the Light. |
407. (Sự)chứng nghiệm sẽ liên hệ với ánh sáng, với Sao Kim, cung hai và cung năm. Chúng ta có thể gọi đó là “sự ghi nhận Ánh Sáng nối kết”. Có một sự nhận biết về Ánh Sáng và về tính tương tác giữa Tinh thần và vật chất, vốn diễn ra nhờ sự hiện hữu của Ánh Sáng. |
|
408. The third and fifth rays are involved. |
408. Cung ba và cung năm được bao hàm. |
|
Taste Perfection. Evolution completed through the utilisation of the not-self and its realised adequacy. |
Vị giác Toàn hảo. Tiến hoá hoàn tất qua việc sử dụng phi-ngã và sự chứng nghiệm tính đầy đủ của nó. |
|
409. Perfection is related to the number four, and Jupiter, the planet of perfection (or of a perfected rounding out) is symbolized by a glyph which is very reminiscent of the number four. |
409. Sự toàn hảo liên hệ với con số bốn, và Sao Mộc, hành tinh của sự toàn hảo (hay của một sự viên mãn hoàn bị), được biểu tượng bằng một ký hiệu rất gợi nhớ đến con số bốn. |
|
410. The “mathematical exactitude” conveyed by the fourth ray is necessary to create perfection. |
410. “Sự chính xác toán học” do cung bốn chuyển tải là điều cần thiết để tạo nên sự toàn hảo. |
|
411. The number four represents completion in the initiatory sequence for the fourth initiation is the last strictly human initiation, or, at least, the initiation after which man need no longer incarnated in the human kingdom. |
411. Con số bốn biểu thị sự hoàn tất trong chuỗi điểm đạo, vì lần điểm đạo thứ tư là lần điểm đạo cuối cùng còn mang tính nhân loại nghiêm ngặt, hay ít nhất là lần điểm đạo sau đó con người không còn cần phải nhập thể trong giới nhân loại nữa. |
|
412. If evolution is to be completed, the not-Self has to be fully utilized. It is not enough to reject it. Full use in service of the not-Self is equivalent to its rejection. |
412. Nếu tiến hoá phải được hoàn tất, thì phi-ngã phải được sử dụng trọn vẹn. Chỉ khước từ nó thôi thì chưa đủ. Việc sử dụng trọn vẹn phi-ngã trong phụng sự tương đương với việc khước từ nó. |
|
413. Through the instrumentality of taste there is a deep appreciation of form and the different qualities which form can confer. |
413. Qua công cụ của vị giác, có một sự trân trọng sâu sắc đối với hình tướng và những phẩm tính khác nhau mà hình tướng có thể ban cho. |
|
414. This type of Perfection suggests perfection of the form as an instrument of Spirit. The form is taken as far as it is intended to go, prior to its destruction. |
414. Loại Toàn hảo này gợi ý sự toàn hảo của hình tướng như một công cụ của Tinh thần. Hình tướng được đưa đi xa đến mức nó được dự định phải đi tới, trước khi bị hủy diệt. |
|
415. Beauty and Perfection are parallel ideas. Heights of realized beauty are achieved at this stage of sensory unfoldment. |
415. Cái Đẹp và Sự Toàn Hảo là những ý niệm song hành. Những đỉnh cao của cái đẹp được chứng nghiệm đạt được ở giai đoạn này của sự khai mở giác quan. |
|
Smell Perfected Knowledge. The principle of manas in its discriminating activity, perfecting the inter-relation between the Self and the not-self. |
Khứu giác Tri thức Toàn hảo. Nguyên khí manas trong hoạt động phân biện của nó, làm cho mối tương quan giữa Bản Ngã và phi-ngã trở nên toàn hảo. |
|
416. This faculty is variously called “All Knowledge” or “Perfected Knowledge”. If it is called “Perfected Knowledge” it is related to its immediately preceding faculty, “Perfection”. |
416. Năng lực này được gọi theo nhiều cách là “Toàn Tri” hay “Tri thức Toàn hảo”. Nếu được gọi là “Tri thức Toàn hảo” thì nó liên hệ với năng lực đứng ngay trước nó là “Sự Toàn Hảo”. |
|
417. Perfection and Perfected Knowledge are to be compared carefully. The latter is more manasically related than the former. |
417. Sự Toàn Hảo và Tri thức Toàn hảo cần được so sánh cẩn thận. Cái sau liên hệ với manas nhiều hơn cái trước. |
|
418. In Perfection the not-Self is realized as adequate to the expression of the Self or Jiva. In Perfected Knowledge (or All Knowledge—at least with respect to thirty lower subplanes) that adequacy is perfected. Through the utilization of atmic mind (acutely related to the third ray) the Triadal Self and the not-Self are brought into an ideal interrelation. |
418. Trong Sự Toàn Hảo, phi-ngã được chứng nghiệm là đầy đủ cho sự biểu lộ của Bản Ngã hay Jiva. Trong Tri thức Toàn hảo (hay Toàn Tri—ít nhất đối với ba mươi cõi phụ thấp), tính đầy đủ ấy được làm cho toàn hảo. Qua việc sử dụng trí tuệ atma (liên hệ sắc bén với cung ba), Bản Ngã Tam Nguyên Tinh Thần và phi-ngã được đưa vào một mối tương quan lý tưởng. |
|
419. The essence of the Self is known or sensed through the sense of smell, and that essence is perfectly (through spiritual intelligence) related to its instrument of expression. |
419. Tinh túy của Bản Ngã được biết đến hay được cảm nhận qua khứu giác, và tinh túy ấy được liên hệ một cách toàn hảo (qua trí tuệ tinh thần) với công cụ biểu lộ của nó. |
|
This all concerns the perfected, realised Personality. |
Tất cả điều này đều liên quan đến Phàm ngã đã được hoàn thiện và chứng nghiệm. |
|
420. The number four of personality is being completed. |
420. Con số bốn của phàm ngã đang được hoàn tất. |
|
421. When we consider personality, it is important to include the contents of the causal body, which are derived, over millennia, from the personality sphere. |
421. Khi xét đến phàm ngã, điều quan trọng là phải bao gồm cả nội dung của thể nguyên nhân, vốn được rút ra, qua hàng thiên niên kỷ, từ phạm vi phàm ngã. |
|
In all these perfections is seen the awareness of the Self, and the graded process of identification, utilisation, manipulation and final rejection of the not-self by that Self who is now consciously aware. |
Trong tất cả những sự toàn hảo này, người ta thấy được sự nhận biết của Bản Ngã, và tiến trình tuần tự của sự đồng hoá, sử dụng, điều khiển và sự khước từ cuối cùng đối với phi-ngã bởi Bản Ngã ấy, nay đã có nhận biết một cách hữu thức. |
|
422. DK emphasizes the consciousness angle. |
422. Chân sư DK nhấn mạnh góc độ tâm thức. |
|
423. Perfection is gradually reached through: |
423. Sự toàn hảo dần dần đạt được qua: |
|
a. Awareness of the Self |
a. Sự nhận biết Bản Ngã |
|
b. Identification with the not-Self |
b. Sự đồng hoá với phi-ngã |
|
c. Utilization of the not-Self |
c. Sử dụng phi-ngã |
|
d. Manipulation of the not-Self |
d. Điều khiển phi-ngã |
|
e. Final rejection of the not-Self by the Self. |
e. Sự khước từ cuối cùng đối với phi-ngã bởi Bản Ngã. |
|
424. In a state of Perfection, it is the Divine Self who is consciously aware. Personality consciousness, and even causally-based soul consciousness have been transcended. |
424. Trong trạng thái Toàn Hảo, chính Đại Ngã thiêng liêng là Đấng có nhận biết một cách hữu thức. Tâm thức phàm ngã, và ngay cả tâm thức linh hồn đặt nền trên thể nguyên nhân, đều đã được vượt qua. |
|
He hears the note of nature and that of his monad; |
Ngài nghe âm điệu của thiên nhiên và âm điệu của chân thần của Ngài; |
|
425. This, we decided, could occur at the point of taking the fourth initiation. |
425. Chúng ta đã quyết định rằng điều này có thể xảy ra vào lúc tiếp nhận lần điểm đạo thứ tư. |
|
426. The note of nature relates to the four elements which rule the lower worlds, over which the initiate of the fourth degree has now triumphed. |
426. Âm điệu của thiên nhiên liên hệ với bốn nguyên tố cai quản các cõi thấp, mà điểm đạo đồ cấp bốn nay đã chiến thắng. |
|
427. In terms of perception, the “Highest and the Lowest Meet”, for the high note of the Monad and the low note of nature are heard simultaneously. |
427. Xét theo phương diện tri giác, “Cao Nhất và Thấp Nhất Gặp Nhau”, vì âm điệu cao của Chân thần và âm điệu thấp của thiên nhiên được nghe đồng thời. |
|
he recognises their identity, utilises their vibration, and passes rapidly through the three stages of Creator, Preserver and Destroyer. |
Ngài nhận ra bản sắc của chúng, sử dụng rung động của chúng, và nhanh chóng đi qua ba giai đoạn của Đấng Sáng Tạo, Đấng Bảo Tồn và Đấng Hủy Diệt. |
|
428. The consciousness of the one possessing “Perfected Knowledge” or “All Knowledge” is exalted. It reaches the heights of Spirit and the depths of matter. |
428. Tâm thức của người sở hữu “Tri thức Toàn hảo” hay “Toàn Tri” được nâng cao. Nó vươn tới những đỉnh cao của Tinh thần và những chiều sâu của vật chất. |
|
429. The one who has reached this stage realizes that Spirit and matter are one, and that he is both of them. |
429. Người đã đạt đến giai đoạn này chứng nghiệm rằng Tinh thần và vật chất là một, và rằng y là cả hai. |
|
[Page 201] |
|
|
He touches or feels the vibration of the form or not-self in all its various grades, recognises his identity in time and space, and for purposes of existence or being and by means of the three Laws of Economy, Attraction and Synthesis utilises, blends and eventually dissociates himself. |
Ngài chạm hay cảm nhận rung động của hình tướng hay phi-ngã trong mọi cấp độ khác nhau của nó, nhận ra bản sắc của Ngài trong thời gian và không gian, và vì những mục đích của sự tồn tại hay bản thể, và bằng ba Định luật Tiết Kiệm, Hấp Dẫn và Tổng Hợp, sử dụng, hòa nhập và cuối cùng tách mình ra. |
|
430. In this section of summation, we are dealing with ultimate realizations (as far a normal humanity is concerned). |
430. Trong phần tổng kết này, chúng ta đang đề cập đến những chứng nghiệm tối hậu (xét theo mức độ của nhân loại bình thường). |
|
431. Such a spiritual man: |
431. Một con người tinh thần như thế: |
|
a. Utilizes form under the Law of Economy |
a. Sử dụng hình tướng dưới Định luật Tiết Kiệm |
|
b. Blends with form under the Law of Attraction |
b. Hòa nhập với hình tướng dưới Định luật Hấp Dẫn |
|
c. Dissociates himself from form under the Law of Synthesis |
c. Tách mình ra khỏi hình tướng dưới Định luật Tổng Hợp |
|
432. At this stage of evolution, all the senses have been raised to their highest pitch (at least the highest levels permitted discussion in this section of the book). |
432. Ở giai đoạn tiến hoá này, mọi giác quan đã được nâng lên đến mức cao nhất của chúng (ít nhất là những mức cao nhất được phép bàn đến trong phần này của quyển sách). |
|
He sees the threefold evolutionary process and by means of the development of the inner vision, sees within the heart of the system macrocosmic and microcosmic, the one SELF in many forms, and finally identifies himself with that one Self by the conscious rejection of the not-self after its complete subjugation and utilisation. |
Ngài thấy tiến trình tiến hoá tam phân, và bằng sự phát triển của linh thị bên trong, thấy trong trái tim của hệ thống, đại thiên địa và tiểu thiên địa, một BẢN NGÃ duy nhất trong nhiều hình tướng, và cuối cùng đồng hoá mình với Bản Ngã duy nhất ấy bằng sự khước từ có ý thức đối với phi-ngã sau khi nó đã hoàn toàn bị chế ngự và được sử dụng. |
|
433. We understand that the highest correspondence of sight always involves the sight of an operational trinity. |
433. Chúng ta hiểu rằng sự tương ứng cao nhất của thị giác luôn bao hàm việc thấy một Tam Vị đang vận hành. |
|
434. The type of higher sight here discussed necessitates seeing with the heart. It is a sight allied to “Divine Vision” and “Realization”. |
434. Loại thị giác cao hơn được bàn đến ở đây đòi hỏi phải thấy bằng tim. Đó là một thị giác đồng minh với “Linh thị Thiêng liêng” và “(sự)chứng nghiệm”. |
|
435. This type of sight is able to discern the one SELF in all tings and also to reject the not-Self if it obscures the One Self. |
435. Loại thị giác này có thể phân biện BẢN NGÃ duy nhất trong mọi sự vật và cũng có thể khước từ phi-ngã nếu nó che khuất Bản Ngã duy nhất ấy. |
|
436. It becomes apparent that on the lower turn of the spiral the five senses can more easily be discriminated. When we speak of the higher or highest correspondences of these physical senses, they all seem to coalesce and to serve the same purpose. |
436. Rõ ràng là ở vòng xoắn thấp hơn, năm giác quan có thể được phân biệt dễ dàng hơn. Khi chúng ta nói về những tương ứng cao hơn hay cao nhất của các giác quan thể xác này, tất cả chúng dường như hợp lại và cùng phụng sự một mục đích. |
|
d. Tasting. He tastes then finally and discriminates, for taste is the great sense that begins to hold sway during the discriminating process that takes place when the illusory nature of matter is in process of realisation. |
d. Nếm. Khi ấy, Ngài rốt ráo nếm và phân biện, vì vị giác là giác quan lớn lao bắt đầu nắm quyền trong tiến trình phân biện diễn ra khi bản chất ảo tưởng của vật chất đang trong tiến trình được chứng nghiệm. |
|
437. Taste is at the stage of evolution here described is much related to the mental processes. Glamor and illusion are seen for what they are, and through an increasingly refined sense of taste, the individual learns to choose that which is more real and reject that which is less so. |
437. Vị giác ở giai đoạn tiến hoá được mô tả ở đây liên hệ rất nhiều đến các tiến trình trí tuệ. Ảo cảm và ảo tưởng được thấy đúng như chúng là, và qua một vị giác ngày càng tinh luyện, cá nhân học cách chọn điều chân thực hơn và khước từ điều kém chân thực hơn. |
|
438. If we search the correspondences to the sense of physical taste, we shall see that Discrimination is the mental correspondence. |
438. Nếu chúng ta tìm kiếm những tương ứng với giác quan vị giác hồng trần, chúng ta sẽ thấy rằng Phân Biện là sự tương ứng trí tuệ. |
|
439. We often here of “personality taste”. It is interesting that taste is correlated with that dimension of the mental plane (the fourth) on which personality focus and integration occurs. |
439. Chúng ta thường nghe nói đến “gu phàm ngã”. Thật thú vị khi vị giác tương ứng với chiều kích của cõi trí (thứ tư) nơi sự tập trung và tích hợp phàm ngã diễn ra. |
|
Discrimination is the educatory process to which the Self subjects itself in the process of developing intuition—that faculty whereby the Self recognises its own essence in and under all forms. |
Phân biện là tiến trình giáo dục mà Bản Ngã tự đặt mình vào trong tiến trình phát triển trực giác—năng lực nhờ đó Bản Ngã nhận ra tinh túy của chính nó trong và bên dưới mọi hình tướng. |
|
440. These final sections are incredibly rich and instruct us in the movement whereby a given sense gives way to its higher correspondence. The sense called Discrimination gives place to Intuition, and this process is here described. |
440. Những phần cuối này vô cùng phong phú và chỉ dạy chúng ta về sự chuyển động theo đó một giác quan nhất định nhường chỗ cho sự tương ứng cao hơn của nó. Giác quan được gọi là Phân Biện nhường chỗ cho Trực Giác, và tiến trình này được mô tả ở đây. |
|
441. We are given an excellent definition of the faculty called Intuition. As described (though a higher correspondence to the sense of sight) it could be understood as a higher correspondence to the sense of smell, for the sense of smell also seeks out the essence under all forms. |
441. Chúng ta được trao cho một định nghĩa tuyệt vời về năng lực gọi là Trực Giác. Như được mô tả (dù là một tương ứng cao hơn của thị giác), nó cũng có thể được hiểu như một tương ứng cao hơn của khứu giác, vì khứu giác cũng tìm ra tinh túy bên dưới mọi hình tướng. |
|
442. We note that no external agency is submitting the Self to the curriculum of Discrimination. The Self subjects itself to this curriculum, and that subjection occurs at a fairly advanced stage of evolution. |
442. Chúng ta lưu ý rằng không có tác nhân bên ngoài nào bắt Bản Ngã phải theo học chương trình Phân Biện. Bản Ngã tự đặt mình vào chương trình ấy, và sự tự đặt mình đó xảy ra ở một giai đoạn tiến hoá khá cao. |
|
Discrimination concerns the duality of nature, the Self and the not-self, and is the means of their differentiation in the process of abstraction; |
Phân biện liên quan đến nhị nguyên tính của bản chất, Bản Ngã và phi-ngã, và là phương tiện để biến phân chúng trong tiến trình trừu xuất; |
|
443. At the fourth initiation, ruled in part by Mercury and Saturn, the Self must be discriminated from the not-Self. It is at this initiation that a significant abstraction occurs, for the consciousness is removed from the confines of the causal body and abstracted or elevated into buddhi consciousness. |
443. Ở lần điểm đạo thứ tư, được cai quản một phần bởi Sao Thủy và Sao Thổ, Bản Ngã phải được phân biện khỏi phi-ngã. Chính ở lần điểm đạo này mà một sự trừu xuất quan trọng xảy ra, vì tâm thức được rút ra khỏi những giới hạn của thể nguyên nhân và được trừu xuất hay nâng lên vào tâm thức Bồ đề. |
|
444. This is another way of saying that Discrimination serves buddhi, and through its proper exercise, gives place to intuition, the major faculty of the buddhic plane. |
444. Đây là một cách khác để nói rằng Phân Biện phụng sự Bồ đề, và qua việc vận dụng đúng đắn, nó nhường chỗ cho trực giác, năng lực chủ yếu của cõi Bồ đề. |
|
the intuition concerns unity and is the capacity of the Self to contact other selves, and is not a faculty whereby the not-self is contacted. |
trực giác liên quan đến hợp nhất và là khả năng của Bản Ngã tiếp xúc với các bản ngã khác, chứ không phải là một năng lực nhờ đó phi-ngã được tiếp xúc. |
|
445. This statement relates the Intuition to the Law of Magnetic Impulse (esoterically the Law of Polar Union). Under this law, soul contacts soul. Through the intuition (related as it is to the spiritual triad) Self contacts Self. The relationship is more Triad to Triad, or Spirit to Spirit. |
445. Phát biểu này liên hệ Trực Giác với Định luật Xung Động Từ Tính (một cách huyền bí là Định luật Hợp Nhất Phân Cực). Dưới định luật này, linh hồn tiếp xúc với linh hồn. Qua trực giác (vì nó liên hệ với Tam Nguyên Tinh Thần), Bản Ngã tiếp xúc với Bản Ngã. Mối liên hệ này đúng hơn là Tam nguyên tinh thần với Tam nguyên tinh thần, hay Tinh thần với Tinh thần. |
|
446. The main idea to extract is that Intuition does not concern contact with the not-Self. |
446. Ý tưởng chính cần rút ra là Trực Giác không liên quan đến sự tiếp xúc với phi-ngã. |
|
Hence, its rarity these days owing to the intense individualisation of the Ego, and its identification with the form—necessary identification at this particular time. |
Do đó, ngày nay nó hiếm hoi vì sự biệt ngã hóa mãnh liệt của Chân ngã, và sự đồng hoá của nó với hình tướng—một sự đồng hoá cần thiết vào thời điểm đặc biệt này. |
|
447. An important idea is presented. Advanced man is subject to an “intense individualisation of the Ego”. He is identified with his lower self and with the world in which that lower self is focussed. He may also be identified with his individualized Ego on its own plane and thus be preoccupied with the content of his causal body. In neither case will the Intuition be allowed full sway. |
447. Một ý tưởng quan trọng được trình bày. Con người tiến bộ chịu sự chi phối của một “sự biệt ngã hóa mãnh liệt của Chân ngã”. Y đồng hoá với phàm ngã thấp của mình và với thế giới trong đó phàm ngã thấp ấy được tập trung. Y cũng có thể đồng hoá với Chân ngã đã được biệt ngã hóa của mình trên cõi riêng của nó và do đó bận tâm với nội dung của thể nguyên nhân. Trong cả hai trường hợp, Trực Giác sẽ không được phép nắm quyền trọn vẹn. |
|
448. The consciousness must be somewhat abstracted from the form, if intuition is to flash forth with frequency. |
448. Tâm thức phải được trừu xuất phần nào khỏi hình tướng, nếu trực giác muốn lóe lên thường xuyên. |
|
As the sense of taste on the higher planes is developed, it leads one to ever finer distinctions till one is finally led through the form, right to the heart of one’s nature. |
Khi vị giác trên các cõi cao hơn được phát triển, nó dẫn con người đến những phân biệt ngày càng tinh tế hơn cho đến khi cuối cùng người ta được dẫn xuyên qua hình tướng, đi thẳng đến trái tim của bản chất mình. |
|
449. We are reminded that taste is discriminatory and that the discriminations to be made are ever more refined. |
449. Chúng ta được nhắc rằng vị giác có tính phân biện và những sự phân biện cần được thực hiện ngày càng tinh tế hơn. |
|
450. It is important to realize that all senses lead from a preoccupation with form and the information it can convey, to an intense focus on that which underlies the form. All senses, therefore, converge at an identical peak of identification and spiritual realization. |
450. Điều quan trọng là phải chứng nghiệm rằng mọi giác quan đều dẫn từ sự bận tâm với hình tướng và thông tin mà nó có thể chuyển tải, đến một sự tập trung mãnh liệt vào điều nằm bên dưới hình tướng. Vì vậy, mọi giác quan đều hội tụ tại một đỉnh điểm đồng nhất của sự đồng hoá và chứng nghiệm tinh thần. |
|
451. VSK would have us note the four basics of taste: sweet, salty, bitter, sour. And their esoteric correspondences. |
451. VSK muốn chúng ta lưu ý bốn cơ bản của vị giác: ngọt, mặn, đắng, chua. Và những tương ứng huyền bí của chúng. |
|
452. Planets related to these basics are Venus, Saturn and Mars. The planet associated with that which is sour is debatable—somewhat a mixture of Mars and Saturn. |
452. Các hành tinh liên hệ với những cơ bản này là Sao Kim, Sao Thổ và Sao Hỏa. Hành tinh gắn với vị chua còn có thể tranh luận—phần nào là sự pha trộn giữa Sao Hỏa và Sao Thổ. |
|
453. The “heart of one’s nature” is the Spirit itself, pure being. |
453. “Trái tim của bản chất mình” chính là Tinh thần, bản thể thuần túy. |
|
e. Smelling is the faculty of keen perception that eventually brings a man back to the source from whence he came, the archetypal plane, the plane where his true home is to be found. |
e. Ngửi là năng lực tri giác sắc bén, cuối cùng đưa con người trở về nguồn cội từ đó y đã đến, cõi nguyên mẫu, cõi nơi quê hương đích thực của y được tìm thấy. |
|
454. The archetypal plane, in this context, is the monadic plane. Thus smelling lead not only the atmic plane with which it is correspondentially associated, but to the monadic plane—man’s true home. |
454. Trong ngữ cảnh này, cõi nguyên mẫu là cõi chân thần. Vì vậy, ngửi không chỉ dẫn đến cõi atma, cõi mà nó được liên kết theo tính tương ứng, mà còn đến cõi chân thần—quê hương đích thực của con người. |
|
455. One would wonder whether the higher correspondences to the sense of smell would help an individual determine his monadic ray and trace his way back to his monadic home. |
455. Người ta có thể tự hỏi liệu những tương ứng cao hơn của khứu giác có giúp một cá nhân xác định cung chân thần của mình và lần theo đường trở về quê hương chân thần của mình hay không. |
|
456. This may fairly be said of idealism which is naturally related to the number six just as the Monad is (finding its residence on the sixth plane numbering from ‘below’). The highest sort of idealism lifts to the Monad. The Monad is, thus, the true ‘object’ of the idealistic impulse, though this is probably not recognized by the idealist. |
456. Điều này có thể được nói một cách khá xác đáng về chủ nghĩa lý tưởng, vốn tự nhiên liên hệ với con số sáu cũng như Chân thần vậy (vì nó cư ngụ trên cõi thứ sáu tính từ “dưới” lên). Loại chủ nghĩa lý tưởng cao nhất nâng lên đến Chân thần. Vì vậy, Chân thần là “đối tượng” đích thực của xung lực lý tưởng, dù điều này có lẽ không được người theo chủ nghĩa lý tưởng nhận ra. |
|
A perception of difference has been cultivated that has caused a divine discontent within the [Page 202] heart of the Pilgrim in the far country; |
Một sự nhận biết về khác biệt đã được vun bồi, và điều đó đã gây nên một nỗi bất mãn thiêng liêng trong [Page 202] tim của Người Hành Hương nơi xứ xa; |
|
457. “The Pilgrim in the far country” is the emanated extension of the Monad—i.e., the Jiva. |
457. “Người Hành Hương nơi xứ xa” là sự phát xạ mở rộng của chân thần—tức Jiva. |
|
458. How interesting that “a perception of difference” should awaken divine discontent! Of course the Spirit/Monad on its own plane perceives no essential difference. |
458. Thật thú vị biết bao khi “một sự nhận biết về khác biệt” lại đánh thức nỗi bất mãn thiêng liêng! Dĩ nhiên, Tinh thần/chân thần trên cõi riêng của nó không nhận biết bất kỳ khác biệt bản chất nào. |
|
459. We note that the “perception of difference” has been “cultivated”. This has occurred under the individualized mind, and is most necessary phase of evolution. The Spirit, however, considers this perception of difference a limitation and wishes to transcend it. |
459. Chúng ta lưu ý rằng “sự nhận biết về khác biệt” đã được “vun bồi”. Điều này đã xảy ra dưới hạ trí đã được biệt ngã hóa, và là một giai đoạn rất cần thiết của tiến hoá. Tuy nhiên, Tinh thần xem sự nhận biết về khác biệt này là một giới hạn và muốn vượt lên trên nó. |
|
460. It is also interesting that divine discontent (related to Neptune) awakens in the heart of the Pilgrim. Neptune, the planet of longing, in this case, is the longing for home arising within the heart. Neptune, as the primary second ray planet within our system (monadically considered—cf. EP I 420) is correctly placed in the heart at an advanced stage of development. Earlier, the Neptunian longing works through the solar plexus. It is a vague longing for the ideal. All may experience it, though all will not know the object or state for which they long. |
460. Cũng thật thú vị khi nỗi bất mãn thiêng liêng (liên hệ với Sao Hải Vương) lại thức dậy trong tim của Người Hành Hương. Trong trường hợp này, Sao Hải Vương, hành tinh của khát vọng, là nỗi khát vọng hướng về quê nhà khởi lên trong tim. Sao Hải Vương, với tư cách là hành tinh cung hai chủ yếu trong hệ thống của chúng ta (xét theo phương diện chân thần—x. EP I 420), được đặt đúng vào tim ở một giai đoạn phát triển cao. Trước đó, khát vọng kiểu Hải Vương tinh hoạt động qua tùng thái dương. Đó là một khát vọng mơ hồ hướng đến lý tưởng. Mọi người đều có thể trải nghiệm nó, dù không phải ai cũng biết đối tượng hay trạng thái mà họ khát khao. |
|
the prodigal son draws comparisons; he has developed the other four senses, and he utilises them. |
người con hoang đàng bắt đầu so sánh; y đã phát triển bốn giác quan kia, và y sử dụng chúng. |
|
461. The “prodigal son” is advancing rapidly, but he is not yet consciously oriented towards “home”—the monadic plane. |
461. “Người con hoang đàng” đang tiến bộ rất nhanh, nhưng y vẫn chưa có ý thức hướng về “nhà”—cõi chân thần. |
|
Now comes in the faculty of vibratory recognition of the home vibration, if it might be so expressed. |
Giờ đây xuất hiện năng lực nhận biết rung động của rung động quê nhà, nếu có thể diễn đạt như vậy. |
|
462. This will begin as the individual nears the period of the third initiation and will intensify thereafter. |
462. Điều này sẽ bắt đầu khi cá nhân tiến gần đến thời kỳ của lần điểm đạo thứ ba và sẽ tăng cường sau đó. |
|
It is the spiritual counterpart of that sense which in the animal, the pigeon and other birds, leads them back unerringly to the familiar spot from whence they originally came. |
Đó là đối phần tinh thần của giác quan mà nơi loài vật, chim bồ câu và các loài chim khác, dẫn chúng quay về không sai lạc đến chốn quen thuộc mà từ đó ban đầu chúng đã ra đi. |
|
463. We may expect a certain unerring quality in the higher correspondences to the sense of smell. DK is giving us a subtle assurance that we will find our way “home”. |
463. Chúng ta có thể chờ đợi một phẩm tính không sai lạc nào đó trong các tương ứng cao hơn của khứu giác. Chân sư DK đang trao cho chúng ta một sự bảo đảm tinh tế rằng chúng ta sẽ tìm được đường “về nhà”. |
|
464. He is also suggesting that, however buried the memory may be, the monadic plane is a “familiar spot” to us—as Spirits. |
464. Ngài cũng đang gợi ý rằng, dù ký ức có bị chôn vùi đến đâu, cõi chân thần vẫn là một “chốn quen thuộc” đối với chúng ta—với tư cách là các Tinh thần. |
|
It is the apprehension of the vibration of the Self, and a swift return by means of that instinct to the originating source. |
Đó là sự nắm bắt rung động của Chân ngã, và một sự trở về mau lẹ nhờ bản năng ấy đến nguồn cội phát sinh. |
|
465. There is an ongoing issue: does the higher sense of smell lead to the atmic plane or to the monadic plane, or to both? Probably, to both, though it may be a higher correspondence of the sixth sense, the mind, which leads finally to the monadic home. The number six tells the story. |
465. Có một vấn đề vẫn đang được bàn đến: liệu giác quan khứu giác cao hơn dẫn đến cõi atma hay cõi chân thần, hay đến cả hai? Có lẽ là đến cả hai, dù nó có thể là một tương ứng cao hơn của giác quan thứ sáu, tức trí tuệ, vốn cuối cùng dẫn về quê nhà chân thần. Con số sáu kể lên câu chuyện ấy. |
|
466. We note that the return is “swift” suggesting the “progress onwards” of the Spirit—a driving forward through the space that separates the longing consciousness from its Spirit-home. |
466. Chúng ta lưu ý rằng sự trở về là “mau lẹ”, gợi ý về “sự tiến bước” của Tinh thần—một sự thúc đẩy tiến lên xuyên qua khoảng không ngăn cách tâm thức khát vọng với quê nhà Tinh thần của nó. |
|
467. There are a number of instincts related to the higher life: spiritual instinct (first instinct); intuitive instinct (third initiation); and, perhaps, what we might call ‘ontological instinct’ or ‘existential instinct’ relating to Mastership and beyond. |
467. Có một số bản năng liên hệ với đời sống cao hơn: bản năng tinh thần (bản năng thứ nhất); bản năng trực giác (lần điểm đạo thứ ba); và có lẽ là điều mà chúng ta có thể gọi là ‘bản năng bản thể học’ hay ‘bản năng hiện sinh’, liên hệ với quả vị Chân sư và vượt xa hơn nữa. |
|
468. We have been discussing some very intricate matters in relation to the physical senses and their extensions, and, of course, we have only scratched the surface. This section of the book requires much pondering. DK suggested that we visualize the nature and meaning of the higher correspondences to the physical senses. Perhaps that is all we can do at this point. But one day, before long, the presence of these senses will make itself known to us and we will begin to apprehend in a non-theoretical manner what they reveal. |
468. Chúng ta đã bàn đến một số vấn đề rất tinh vi liên quan đến các giác quan hồng trần và những phần mở rộng của chúng, và dĩ nhiên, chúng ta mới chỉ chạm vào bề mặt. Phần này của cuốn sách đòi hỏi phải suy ngẫm rất nhiều. Chân sư DK gợi ý rằng chúng ta hãy hình dung bản chất và ý nghĩa của các tương ứng cao hơn đối với các giác quan hồng trần. Có lẽ đó là tất cả những gì chúng ta có thể làm vào lúc này. Nhưng một ngày không xa, sự hiện diện của các giác quan này sẽ tự biểu lộ cho chúng ta biết, và chúng ta sẽ bắt đầu nắm bắt một cách không còn thuần lý thuyết điều mà chúng tiết lộ. |