Commentary S1S1 (3-7)

📘 Sách: Bình Giảng Luận Về Lửa Vũ Trụ – S1 – Tác giả: Michael D. Robbins

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF

TCF S1S1 (3 – 7)

Version 1.4 VSK Reconstituted 04Apr05

Phiên bản 1.4 VSK tái cấu trúc 04Apr05

(from original s1s1: removed preface material to s1s0; and Stanzas now separated)

(từ bản s1s1 gốc: đã loại bỏ phần lời tựa thuộc s1s0; và các Bài Kệ nay được tách riêng)

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong lớp học. Chú thích và các tham chiếu từ những sách AAB khác và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận được trình bày bằng cỡ chữ 12. Việc gạch chân, in đậm và tô nổi bật do MDR thực hiện)

A TREATISE ON COSMIC FIRE

LUẬN VỀ LỬA VŨ TRỤ

BY

CỦA

ALICE A. BAILEY

ALICE A. BAILEY

COPYRIGHT 1951 © BY LUCIS TRUST

BẢN QUYỀN 1951 © THUỘC LUCIS TRUST

COPYRIGHT RENEWED 1979 © BY LUCIS TRUST

BẢN QUYỀN ĐƯỢC GIA HẠN 1979 © THUỘC LUCIS TRUST

DEDICATED WITH GRATITUDE

TRÂN TRỌNG DÂNG TẶNG, VỚI LÒNG TRI ÂN

TO

CHO

HELENA PETROVNA BLAVATSKY,

HELENA PETROVNA BLAVATSKY,

THAT GREAT DISCIPLE WHO LIGHTED HER TORCH

VỊ ĐỆ TỬ VĨ ĐẠI ĐÃ THẮP NGỌN ĐUỐC CỦA BÀ

IN THE EAST AND BROUGHT THE LIGHT TO EUROPE AND AMERICA IN 1875.

Ở PHƯƠNG ĐÔNG VÀ MANG ÁNH SÁNG ĐẾN CHÂU ÂU VÀ CHÂU MỸ VÀO NĂM 1875.

“To the God Who is in the FIRE and Who is in the waters;

“Kính Dâng lên Thượng đế ở trong LỬA và ở trong nước;

To the God Who has suffused Himself through all the world;

Kính Dâng lên Thượng đế đã tự thấm nhuần khắp toàn thế giới;

To the God Who is in summer plants and in the lords of the forest;

Kính Dâng lên Thượng đế ở trong cây cỏ mùa hạ và trong các chúa tể của rừng sâu;

To that God be adoration, adoration.”

Xin tôn thờ Thượng đế ấy, tôn thờ, tôn thờ.”

—Sh’vet Upanishad, II.17.

—Upanishad Sh’vet, II.17.

1. That God is more than either “FIRE” or “waters”. That God is Pure Being or Flame.

1. Thượng đế ấy vượt hơn cả “LỬA” lẫn “nước”. Thượng đế ấy là Bản Thể Thuần Khiết hay Ngọn Lửa.

2. FIRE (God going forth in emanation) is an emanation of FLAME (God). The “waters” are all of matter. “Matter” and “water” are synonymous.

2. LỬA (Thượng đế tuôn ra trong sự xuất lộ) là một sự xuất lộ của NGỌN LỬA (Thượng đế). “Nước” là toàn bộ vật chất. “Vật chất” và “nước” là đồng nghĩa.

3. Fire and water are united in manifestation. Pervasion of all things by that God is a great fact.

3. Lửa và nước hợp nhất trong sự biểu hiện. Việc Thượng đế ấy thấm khắp mọi sự là một sự thật.

4. We address the God of all living things—all animate life. But then all life is animate.

4. Chúng ta hướng đến Thượng đế của mọi sinh linh—mọi sự sống hữu động. Nhưng rồi mọi sự sống đều là hữu động.

5. The only way to begin such a study is in a spirit of “adoration”.

5. Cách duy nhất để bắt đầu một cuộc khảo cứu như thế là trong tinh thần “tôn thờ”.

6. We are aspects of that all-pervading God. We address our adoration to the Fount of All Cosmic Being. Before the ABSOLUTE FOUNT we must remain silent.

6. Chúng ta là các phương diện của Thượng đế thấm khắp ấy. Chúng ta dâng lòng tôn thờ lên Nguồn Mạch của mọi Hữu Thể Vũ Trụ. Trước NGUỒN MẠCH TUYỆT ĐỐI, chúng ta phải giữ im lặng.

7. When we think of the ABSOLUTE we may, indeed, be able to call IT the OAWNMBS (the truest of THE ONES ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID).The name may tell something vitally important about ITS NATURE—as soon as you say anything about IT, the aspect of consciousness is brought in, and consciousness is inevitably a limitation upon PURE BE-NESS

7. Khi chúng ta nghĩ về TUYỆT ĐỐI, quả thật, chúng ta có thể gọi NÓ là ĐBBKTN (cách chân thật nhất để nói về Đấng Bất Khả Tư Nghị). Danh xưng ấy có thể nói lên điều gì đó vô cùng trọng yếu về BẢN CHẤT của NÓ—bởi ngay khi các bạn nói bất cứ điều gì về NÓ, phương diện tâm thức được đưa vào, và tâm thức tất yếu là một sự giới hạn đối với HỮU THỂ THUẦN KHIẾT

[Page vi]

[Page vi]

INTRODUCTION

GIỚI THIỆU

INTRODUCTION

GIỚI THIỆU

The story of the many years of telepathic work by the Tibetan with Alice A. Bailey is revealed in her Unfinished Autobiography, published in 1 951. This includes the circumstances of her first contact with him, on the physical plane, which took place in California in November 1 919. Thirty years’ work was planned. When this had been accomplished, and within thirty days after that period, Mrs. Bailey gained her release from the limitations of the physical vehicle.

Câu chuyện về nhiều năm làm việc viễn cảm của Chân sư Tây Tạng với Alice A. Bailey được tiết lộ trong cuốn Tự Truyện Chưa Hoàn Tất của bà, xuất bản năm 1951. Trong đó có những tình tiết về lần tiếp xúc đầu tiên của bà với Ngài, trên cõi hồng trần, diễn ra tại California vào tháng Mười Một năm 1919. Một kế hoạch làm việc ba mươi năm đã được định ra. Khi công việc ấy hoàn tất, và trong vòng ba mươi ngày sau thời kỳ đó, bà Bailey đã được giải thoát khỏi những giới hạn của vận cụ hồng trần.

8. A work for Hierarchy and humanity was accomplished.

8. Một công trình cho Thánh Đoàn và nhân loại đã được hoàn thành.

9. It is amazing that exactly thirty year’s work was planned, and accomplished. There may have been vicissitudes—some things that might have been done and were not, but the overall plan held.

9. Thật đáng kinh ngạc khi đúng ba mươi năm công tác đã được hoạch định và đã được hoàn tất. Có thể đã có những thăng trầm—một số điều lẽ ra có thể làm mà đã không làm, nhưng tổng thể kế hoạch vẫn được giữ vững.

The Autobiography also contains certain statements by the Tibetan in regard to his work and some information as to the reasons why it was undertaken. In the early stages the work involved careful attention to the physical plane conditions which might best help to make the telepathic process more successful. But during the latter years the technique was so perfected and the etheric mechanism of A.A.B. so skillfully attuned and adjusted that the whole process was practically effortless, and the reality and practical usefulness of telepathic interplay was demonstrated to an unique degree.

Cuốn Tự Truyện cũng chứa đựng một số phát biểu của Chân sư Tây Tạng liên quan đến công việc của Ngài và một ít thông tin về những lý do khiến công việc ấy được thực hiện. Trong các giai đoạn đầu, công việc đòi hỏi sự chú ý cẩn trọng đến các điều kiện trên cõi hồng trần có thể trợ giúp tốt nhất để tiến trình viễn cảm thành công hơn. Nhưng trong những năm về sau, kỹ thuật đã được hoàn thiện đến mức như vậy và cơ chế dĩ thái của A.A.B. đã được chỉnh hợp và điều chỉnh một cách khéo léo đến thế, đến nỗi toàn bộ tiến trình hầu như không tốn sức, và tính hiện thực cùng ích dụng thực tiễn của sự tương tác viễn cảm đã được chứng minh ở một mức độ độc đáo.

10. These are brief and useful descriptions of the telepathic process between DK and AAB.

10. Đây là những mô tả ngắn gọn và hữu ích về tiến trình viễn cảm giữa Chân sư DK và AAB.

The spiritual truths dealt with involved in many cases the expression by the lower concrete mind (often with the insuperable restrictions of the English language) of abstract ideas and hitherto quite unknown concepts of spiritual realities. This unescapable limitation of truth has been frequently called to the attention of the readers of the books so produced but is all too often forgotten. Its constant remembrance will constitute in the years to come one of the chief factors in preventing the crystallisation of the teaching from producing yet one more dogmatic sectarian cult.

Những chân lý tinh thần được bàn đến, trong nhiều trường hợp, liên quan đến việc hạ trí cụ thể diễn đạt (thường với những hạn chế không thể vượt qua của tiếng Anh) các ý niệm trừu tượng và những khái niệm cho đến nay hoàn toàn chưa được biết đến về các thực tại tinh thần. Sự hạn chế không thể tránh này của chân lý đã nhiều lần được nhắc đến với độc giả của các sách được tạo ra như thế, nhưng quá thường xuyên bị quên lãng. Việc luôn ghi nhớ điều ấy sẽ, trong những năm sắp tới, trở thành một trong những yếu tố chủ chốt nhằm ngăn chặn sự kết tinh của giáo huấn, để nó không tạo ra thêm một giáo phái giáo điều mang tính bè phái nữa.

11. In all humility, we must remember the limitations of language, even of language so skillfully used by AAB.

11. Với tất cả sự khiêm nhường, chúng ta phải nhớ đến những giới hạn của ngôn ngữ, ngay cả thứ ngôn ngữ được AAB sử dụng một cách khéo léo đến vậy.

12. In saying this, FB is attempting to protect this particular presentation of the Universal Teaching.

12. Khi nói điều này, FB đang cố gắng bảo vệ sự trình bày đặc thù này của Giáo Huấn Phổ Quát.

The present volume, A Treatise on Cosmic Fire, first published in 1925, was the third book jointly produced and carries inherent evidence that it will stand as the major and most far-reaching portion of the thirty-year teachings, notwithstanding the profundity and usefulness of the volumes published in the series [ Page vii] entitled A Treatise on the Seven Rays or of any other of the books.

Tập sách hiện tại, Luận về Lửa Vũ Trụ, lần đầu xuất bản năm 1925, là quyển thứ ba được đồng sáng tạo và mang bằng chứng nội tại rằng nó sẽ đứng như phần trọng yếu và sâu rộng nhất của giáo huấn ba mươi năm, bất chấp tính thâm sâu và ích dụng của các tập sách đã xuất bản trong bộ [Page vii] mang tựa Luận về Bảy Cung, hay của bất kỳ quyển sách nào khác.

13. Therefore the value of studying it closely.

13. Vì vậy, giá trị của việc khảo cứu nó một cách kỹ lưỡng.

14. All the books are to be respected and are, indeed, profound. But A Treatise on Cosmic Fire stands beyond them all—yet needs, for its understanding, the supplementation of all that the Tibetan has written through AAB.

14. Tất cả các sách đều đáng được tôn trọng và quả thật rất thâm sâu. Nhưng Luận về Lửa Vũ Trụ vượt lên trên tất cả—tuy nhiên, để thấu hiểu nó, cần có sự bổ sung từ mọi điều mà Chân sư Tây Tạng đã viết qua AAB.

15. I have often repeated the thought: the Tibetan Teacher has written One Great Book. This is all the more evident in these days of instant accessibility to references via the CD AAB Rom.

15. Tôi thường lặp lại một ý tưởng: Huấn sư Tây Tạng đã viết Một Cuốn Sách Vĩ Đại. Điều này càng hiển nhiên hơn trong những ngày nay, khi việc truy cập tham chiếu tức thời qua đĩa CD AAB Rom trở nên dễ dàng.

During the long course of the work the minds of the Tibetan and A.A.B. became so closely attuned that they were in effect—so far as much of the production of the teaching was concerned—a single joint projecting mechanism. Even to the end A.A.B. often spoke of her amazement at the glimpses she obtained through contact with the Tibetan’s mind, of limitless vistas of spiritual truths which she could not possibly have otherwise contacted, and often of a quality she could not possibly express. This experience was the basis of her often proclaimed but frequently little-understood assertion that all the teachings she was aiding in producing was in fact only the A B C of esoteric knowledge, and that in the future she would gladly abandon any pronouncement in the present teaching, when she found better and more deeply esoteric teaching available. Clear and profound as the teaching actually is in the books published in her name, the truths imparted are so partial and subject to later revelation and expansion that this fact, if constantly remembered, will give us a second much-needed safeguard against that quality of the concrete mind which constantly tends to produce sectarianism.

Trong suốt tiến trình dài của công việc, thể trí của Chân sư Tây Tạng và của A.A.B. đã trở nên hòa điệu mật thiết đến mức, trên thực tế—xét theo phần lớn việc tạo tác giáo huấn—họ là một cơ chế phóng chiếu chung duy nhất. Ngay cho đến cuối, A.A.B. thường nói về sự kinh ngạc của bà trước những thoáng thấy mà bà nhận được qua sự tiếp xúc với thể trí của Chân sư Tây Tạng: những viễn cảnh vô hạn của các chân lý tinh thần mà bà không thể nào tiếp xúc được theo cách khác, và thường mang một phẩm tính mà bà không thể nào diễn đạt. Trải nghiệm này là nền tảng cho lời khẳng định mà bà thường công bố nhưng hay bị hiểu lầm: rằng toàn bộ giáo huấn mà bà đang trợ giúp tạo ra, trên thực tế, chỉ là A B C của tri thức huyền bí; và rằng trong tương lai bà sẽ vui lòng từ bỏ bất kỳ tuyên bố nào trong giáo huấn hiện tại khi bà tìm thấy giáo huấn tốt hơn và huyền bí hơn sẵn có. Dẫu giáo huấn trong các sách xuất bản dưới tên bà thực sự rõ ràng và thâm sâu, những chân lý được truyền đạt vẫn quá phần mảnh và còn tùy thuộc vào sự mặc khải và mở rộng về sau; vì thế, nếu luôn ghi nhớ điều này, chúng ta sẽ có thêm một sự bảo vệ thứ hai rất cần thiết chống lại phẩm chất của hạ trí cụ thể vốn luôn có khuynh hướng tạo ra tính bè phái.

16. This describes the scope of AAB’s consciousness and its inherent humility.

16. Điều này mô tả phạm vi tâm thức của AAB và sự khiêm nhường vốn có của bà.

17. A safeguard against the concrete mind which tends to produce sectarianism.

17. Một sự bảo vệ chống lại hạ trí cụ thể vốn có khuynh hướng tạo ra tính bè phái.

18. If TCF is the ABC of esoteric knowledge, what is the vastness yet concealed?

18. Nếu TCF là ABC của tri thức huyền bí, vậy sự bao la còn được che giấu là đến mức nào?

19. Lives of practice were spent creating this “single joint projecting mechanism”. It was truly an expert Geminian interplay.

19. Những đời sống thực hành đã được dành ra để tạo nên “cơ chế phóng chiếu chung duy nhất” này. Đó thật sự là một sự tương tác Song Tử đầy chuyên môn.

20. The Tibetan scrutinized everything written. Some books were given almost word for word. Others depended upon the flow of His ideas skillfully translated into words by AAB. Yet, always there was supervision, dialogue and correction if need be.

20. Chân sư Tây Tạng đã xem xét kỹ lưỡng mọi điều được viết ra. Một số sách được ban truyền gần như từng chữ. Những sách khác tùy thuộc vào dòng chảy các ý tưởng của Ngài được AAB khéo léo chuyển thành lời. Tuy vậy, luôn luôn có sự giám sát, đối thoại và sửa chữa khi cần.

At the very beginning of the joint effort and after careful consideration it was decided between the Tibetan (D.K.) and A.A.B. that she as the working disciple on the outer plane should shoulder as much as possible of karmic responsibility on that plane, and that the teaching should go to the public over her signature. This involved the burden of leadership in the esoteric field and precipitated attack and condemnation from persons and organisations whose positions and activities were more Piscean and authoritarian.

Ngay từ lúc khởi đầu của nỗ lực chung và sau khi cân nhắc cẩn trọng, Chân sư Tây Tạng (D.K.) và A.A.B. đã quyết định rằng bà, với tư cách là đệ tử làm việc trên cõi ngoài, nên gánh vác càng nhiều càng tốt trách nhiệm nghiệp quả trên cõi ấy, và rằng giáo huấn nên đến với công chúng dưới chữ ký của bà. Điều này kéo theo gánh nặng lãnh đạo trong lĩnh vực huyền bí học và đã làm phát sinh sự công kích và lên án từ những cá nhân và tổ chức có lập trường và hoạt động mang tính Song Ngư hơn và độc đoán hơn.

21. AAB became vulnerable to attack through the assumption of responsibility for the teaching.

21. AAB trở nên dễ bị công kích do đảm nhận trách nhiệm đối với giáo huấn.

The entire platform upon which esoteric teaching stands before the public today has been liberated from the limitations and follies of mystery, glamour, claim-making and impracticality, by the position taken by the Tibetan and A.A.B. The stand taken against dogmatic assertion has helped to establish a new era of mental freedom for the students of the progressively unfolding revelation of the Ageless Wisdom. [ viii]

Toàn bộ nền tảng mà giáo huấn huyền bí đứng trước công chúng ngày nay đã được giải phóng khỏi những giới hạn và sự dại dột của tính bí ẩn, ảo cảm, sự tự xưng và tính phi thực tiễn, nhờ lập trường mà Chân sư Tây Tạng và A.A.B. đã chọn. Lập trường chống lại sự khẳng định giáo điều đã góp phần thiết lập một kỷ nguyên mới của tự do trí tuệ cho các môn sinh của sự mặc khải đang dần khai mở của Minh Triết Ngàn Đời. [viii]

22. The mental freedom of students is indispensable.

22. Tự do trí tuệ của môn sinh là điều không thể thiếu.

23. Dogmatism never liberated any mind.

23. Giáo điều chưa bao giờ giải phóng được bất kỳ thể trí nào.

The age-old method of arriving at truth by the process of accepting new authorities and comparing them with previously established doctrines, while of undoubted value in the training of the mind, is gradually being transcended. In its place is emerging in both the religious and philosophical worlds a new capacity to take a more scientific position. Spiritual teaching will be increasingly accepted as an hypothesis to be proved less by scholasticism, historical foundation and authority, and more by the results of its effect upon the life lived and its practical usefulness in solving the problems of humanity.

Phương pháp xưa cũ để đi đến chân lý bằng tiến trình chấp nhận các thẩm quyền mới và so sánh chúng với những giáo lý đã được thiết lập trước đó—dẫu chắc chắn có giá trị trong việc huấn luyện thể trí—đang dần được vượt qua. Thay vào đó, trong cả thế giới tôn giáo lẫn triết học, một năng lực mới đang xuất hiện: có thể đứng trên một lập trường khoa học hơn. Giáo huấn tinh thần sẽ ngày càng được chấp nhận như một giả thuyết cần được chứng minh ít hơn bằng tính kinh viện, nền tảng lịch sử và thẩm quyền, mà nhiều hơn bằng kết quả của ảnh hưởng của nó lên đời sống được sống và bằng ích dụng thực tiễn của nó trong việc giải quyết các vấn đề của nhân loại.

24. A new and more scientific position with respect to imparted teaching is emerging. This is in keeping with the emergence of a new type of discipleship.

24. Một lập trường mới và khoa học hơn đối với giáo huấn được ban truyền đang xuất hiện. Điều này phù hợp với sự xuất hiện của một loại địa vị đệ tử mới.

25. Teaching will now be accepted as hypothesis and the attempt will be made to manifest it practically.

25. Giáo huấn giờ đây sẽ được chấp nhận như một giả thuyết và người ta sẽ cố gắng biểu hiện nó một cách thực tiễn.

Heretofore, advanced esoteric teaching has almost invariably been obtainable only by the student’s acceptance of the authority of the teacher, varying degrees of personal obedience to that teacher and pledges of secrecy. As the new Aquarian dispensation progresses these limitations will disappear. The personal relation of the disciple to the Master remains, but already discipleship training has been attempted in Group formation. The record of one such experiment and attempt to use this new age method has been made available to the public in the book entitled Discipleship in the New Age, which gives the direct personal instructions by the Tibetan to a selected group.

Trước đây, giáo huấn huyền bí cao cấp hầu như luôn chỉ có thể đạt được khi môn sinh chấp nhận thẩm quyền của huấn sư, tuân phục cá nhân ở những mức độ khác nhau đối với huấn sư ấy, và thề giữ bí mật. Khi thời kỳ ban phát Bảo Bình mới tiến triển, những giới hạn này sẽ biến mất. Mối quan hệ cá nhân của đệ tử với Chân sư vẫn còn, nhưng ngay từ bây giờ việc huấn luyện địa vị đệ tử đã được thử nghiệm trong sự hình thành nhóm. Biên bản của một thí nghiệm như thế và nỗ lực sử dụng phương pháp thời đại mới này đã được công bố cho công chúng trong cuốn sách mang tựa Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, trong đó đưa ra những chỉ dẫn cá nhân trực tiếp của Chân sư Tây Tạng dành cho một nhóm được tuyển chọn.

26. FB describes the new form of discipleship, less subject to authoritarianism.

26. FB mô tả hình thức địa vị đệ tử mới, ít bị chi phối bởi tính độc đoán.

In A Treatise on Cosmic Fire the Tibetan has given us what H. P. Blavatsky prophesied he would give, namely the psychological key to the Cosmic Creation. H.P.B. stated that in the 20th century a disciple would come who would give the psychological key to her own monumental work The Secret Doctrine on which treatise the Tibetan worked with her; and Alice A. Bailey worked in complete recognition of her own task in this sequence.

Trong Luận về Lửa Vũ Trụ, Chân sư Tây Tạng đã trao cho chúng ta điều mà H. P. Blavatsky đã tiên tri rằng Ngài sẽ trao, tức là chìa khóa tâm lý học cho Sáng Tạo Vũ Trụ. H.P.B. đã nói rằng trong thế kỷ 20 sẽ có một đệ tử đến, người sẽ trao chìa khóa tâm lý học cho công trình đồ sộ của chính bà là Giáo Lý Bí Nhiệm—một luận thuyết mà Chân sư Tây Tạng đã cùng bà thực hiện; và Alice A. Bailey đã làm việc trong sự nhận biết trọn vẹn về nhiệm vụ của chính bà trong chuỗi tiếp nối này.

FOSTER BAILEY

FOSTER BAILEY

27. It is a profound idea—that A Treatise on Cosmic Fire is the “psychological key to the Cosmic Creation”. We are given in A Treatise on Cosmic Fire the qualitative interrelationship of beings in our local cosmos.

27. Đây là một ý tưởng thâm sâu—rằng Luận về Lửa Vũ Trụ là “chìa khóa tâm lý học cho Sáng Tạo Vũ Trụ”. Trong Luận về Lửa Vũ Trụ, chúng ta được trao mối tương quan về phẩm tính giữa các hữu thể trong vũ trụ địa phương của chúng ta.

28. In our modern era, perhaps only five keys to the Secret Doctrine are available: the physiological, the psychological (through TCF), astrological (only in part), the metaphysical (perhaps through the book, The Secret Doctrine) and geometrical (doubtfully available in wholeness). There are ten keys in all and those that we have, are still to be turned a number of times if the whole truth is to be revealed.

28. Trong thời đại hiện đại của chúng ta, có lẽ chỉ có năm chìa khóa cho Giáo Lý Bí Nhiệm là sẵn có: chìa khóa sinh lý học, chìa khóa tâm lý học (qua TCF), chìa khóa chiêm tinh học (chỉ một phần), chìa khóa siêu hình học (có lẽ qua cuốn Giáo Lý Bí Nhiệm) và chìa khóa hình học (khó nói là có trọn vẹn). Tổng cộng có mười chìa khóa, và những chìa khóa mà chúng ta có vẫn còn phải được xoay nhiều lần nếu toàn bộ chân lý được mặc khải.

Tunbridge Wells

Tunbridge Wells

December 1950

Tháng Mười Hai 1950

[Page xi]

[Page xi]

[ Page xii]

[Page xii]

FOREWORD

LỜI NÓI ĐẦU

FOREWORD

LỜI NÓI ĐẦU

This “Treatise on Cosmic Fire” has a fivefold purpose in view:

“Luận về Lửa Vũ Trụ” này có năm mục đích:

First , to provide a compact and skeleton outline of a scheme of cosmology, philosophy, and psychology which may perhaps be employed for a generation as a reference and a textbook, and may serve as a scaffolding upon which more detailed instruction may later be built, as the great tide of evolutionary teaching flows on.

Thứ nhất , cung cấp một bản phác thảo cô đọng và khung sườn của một hệ thống vũ trụ luận, triết học và tâm lý học, có lẽ có thể được sử dụng trong một thế hệ như một tài liệu tham khảo và sách giáo khoa, và có thể làm giàn giáo để về sau xây dựng nên những chỉ dẫn chi tiết hơn, khi làn sóng lớn của giáo huấn tiến hoá tiếp tục tuôn chảy.

29. Cosmology—knowledge of the cosmos, or the method by which knowledge of the cosmos is acquired.

29. Vũ trụ luận—tri thức về vũ trụ, hay phương pháp nhờ đó tri thức về vũ trụ được đạt đến.

30. Philosophy—love of Wisdom. Love of Truth.

30. Triết học—tình yêu đối với minh triết. Tình yêu đối với chân lý.

31. Psychology—it is about relations and consciousness. It requires true knowledge of psyche and the psyche is the soul. Cosmo-psychology is the study of the soul of the cosmos. Cosmo-psychology further reveals how to establish soul relations through matter, by a very complete knowledge of matter.

31. Tâm lý học—đó là về các mối quan hệ và tâm thức. Nó đòi hỏi tri thức chân thật về psyche, và psyche là linh hồn. Tâm lý học vũ trụ là sự khảo cứu linh hồn của vũ trụ. Tâm lý học vũ trụ còn tiết lộ cách thiết lập các mối quan hệ linh hồn xuyên qua vật chất, nhờ một tri thức rất đầy đủ về vật chất.

32. This book will be useful for more than a generation, I would suspect. This is a humble expectation. DK, Himself, said it was to provide study for students at the end of the twentieth century and during the twenty-first.

32. Tôi cho rằng quyển sách này sẽ hữu ích hơn một thế hệ. Đây là một kỳ vọng khiêm nhường. Chính Chân sư DK đã nói rằng nó nhằm cung cấp sự khảo cứu cho môn sinh vào cuối thế kỷ hai mươi và trong thế kỷ hai mươi mốt.

33. We note that the word “compact” is used for this monumental book. This should give us a sense of proportion when considering the Master’s point of view.

33. Cần lưu ý rằng từ “cô đọng” được dùng cho quyển sách đồ sộ này. Điều đó nên đem lại cho chúng ta một ý thức về tỉ lệ khi xét đến quan điểm của Chân sư.

34. If TCF is scaffolding, then we can only imagine the detail.

34. Nếu TCF là giàn giáo, thì chúng ta chỉ có thể hình dung mức độ chi tiết.

35. Still, the foundation must be strong.

35. Tuy vậy, nền móng phải vững chắc.

Secondly , to express that which is subjective in comprehensible terms, and to point out the next step forward in the understanding of the true psychology. It is an elucidation of the relation existing between Spirit and Matter, which relation demonstrates as consciousness. It will be found that the Treatise deals primarily with the aspect of mind , with consciousness and with the higher psychology, and less with matter as we know of it on the physical plane. The danger involved in giving out information concerning the various energies of atomic matter is too great, and the race as yet too selfish to be entrusted with these potencies. Man is already, through the able work of the scientists, discovering the needed knowledge with adequate rapidity. The emphasis in this book will be found to be laid upon those forces which are responsible for the objective manifestation of a solar Logos and of man, and only in the first section will indication be given as to the nature of those energies which are strictly confined to the physical plane.

Thứ hai , diễn đạt điều thuộc chủ quan bằng những thuật ngữ có thể hiểu được, và chỉ ra bước tiến kế tiếp trong sự thấu hiểu tâm lý học chân thật. Đây là sự làm sáng tỏ mối liên hệ hiện hữu giữa tinh thần và vật chất, mối liên hệ ấy biểu lộ thành tâm thức. Sẽ thấy rằng Luận thuyết này chủ yếu bàn về phương diện thể trí, về tâm thức và về tâm lý học cao cấp, và ít bàn hơn về vật chất như chúng ta biết trên cõi hồng trần. Mối nguy trong việc công bố thông tin liên quan đến các năng lượng khác nhau của vật chất nguyên tử là quá lớn, và nhân loại hiện vẫn quá ích kỷ để có thể được giao phó những quyền năng này. Con người, nhờ công trình hữu hiệu của các nhà khoa học, đã và đang khám phá tri thức cần thiết với tốc độ đủ nhanh. Trong quyển sách này, trọng tâm sẽ được đặt lên những lực chịu trách nhiệm cho sự biểu hiện khách quan của một Thái dương Thượng đế và của con người; và chỉ trong phần thứ nhất mới có những chỉ dẫn về bản chất của các năng lượng vốn bị giới hạn nghiêm ngặt trong cõi hồng trần.

36. The psyche is consciousness. Consciousness is produced by the merging of Spirit and Matter. This book is considered to be cosmo-psychology because it is “an elucidation of the relation existing between Spirit and Matter”, and that relation is, in fact, consciousness or psyche.

36. Psyche là tâm thức. Tâm thức được tạo ra bởi sự hòa nhập của tinh thần và vật chất. Quyển sách này được xem là tâm lý học vũ trụ vì nó là “sự làm sáng tỏ mối liên hệ hiện hữu giữa tinh thần và vật chất”, và mối liên hệ ấy chính là tâm thức hay psyche.

37. The Science of Relations is revealed through cosmo-psychology.

37. Khoa học về các mối quan hệ được mặc khải qua tâm lý học vũ trụ.

38. In many ways, TCF is a book about solar fire, the fire of the second aspect of divinity.

38. Theo nhiều cách, TCF là một quyển sách về lửa thái dương, lửa của phương diện thứ hai của thiên tính.

39. Here we are told that TCF deals with the higher sort of matter (but as we realize from study, also with the lower sort in its relation to the higher).

39. Ở đây chúng ta được cho biết rằng TCF bàn về loại vật chất cao hơn (nhưng như chúng ta nhận ra qua khảo cứu, nó cũng bàn về loại thấp hơn trong mối liên hệ với loại cao hơn).

40. The “danger” here cited materialized rapidly during the twentieth century.

40. “Mối nguy” được nêu ở đây đã nhanh chóng hiện thực hoá trong thế kỷ hai mươi.

41. In studying TCF, we do, however, begin with a study of the more physical energies so that a firm and practical foundation can be laid.

41. Tuy nhiên, khi khảo cứu TCF, chúng ta bắt đầu với một cuộc khảo cứu về các năng lượng mang tính hồng trần hơn để có thể đặt một nền tảng vững chắc và thực tiễn.

Thirdly , to show the coherent development of all that is found within a solar system; to demonstrate that everything which exists evolves (from the lowest form of life at the densest point of concretion up to the highest and most tenuous manifestation) and that all forms are but the expression of a stupendous and divine Existence. This expression is caused by the blending of two divine aspects through the influence of a third, and produces the manifestation which we call a form, starting it upon its [ Page xiii] evolutionary cycle in time and space. Thus is form brought to the point where it is an adequate medium for the demonstration of the nature of that which we call God.

Thứ ba , cho thấy sự phát triển mạch lạc của tất cả những gì được tìm thấy trong một hệ mặt trời; chứng minh rằng mọi thứ hiện hữu đều tiến hoá (từ dạng sống thấp nhất tại điểm kết tụ đậm đặc nhất cho đến sự biểu hiện cao nhất và tinh tế nhất) và rằng mọi hình tướng chỉ là sự biểu đạt của một Hữu Thể mênh mông và thiêng liêng. Sự biểu đạt này được gây ra bởi sự hoà trộn của hai phương diện thiêng liêng dưới ảnh hưởng của một phương diện thứ ba, và tạo ra sự biểu hiện mà chúng ta gọi là một hình tướng, khởi động nó trên chu kỳ tiến hoá của nó trong thời gian và không gian. Như vậy, hình tướng được đưa đến điểm mà nó trở thành một trung gian đầy đủ cho việc biểu lộ bản chất của điều mà chúng ta gọi là Thượng đế.

42. The third purpose for which TCF was written involves the following ideas:

42. Mục đích thứ ba khiến TCF được viết bao hàm các ý tưởng sau:

1. The theory of ‘solar coherency’, demonstrating all parts of our solar system as an expression of “a stupendous and divine Existence”.

1. Lý thuyết về “tính mạch lạc thái dương”, chứng minh mọi phần của hệ mặt trời chúng ta như một sự biểu đạt của “một Hữu Thể mênh mông và thiêng liêng”.

2. The theory of ‘cosmic coherency’, much the same as the above, but of almost limitlessly vast scope.

2. Lý thuyết về “tính mạch lạc vũ trụ”, gần như tương tự điều trên, nhưng có phạm vi mênh mông gần như vô hạn.

3. The theory of universal evolution—the evolution of all emanated lives.

3. Lý thuyết về tiến hoá phổ quát—sự tiến hoá của mọi sự sống được xuất lộ.

4. The revelation of the unitary nature of That of which all forms are but an expression

4. Sự mặc khải về bản chất nhất thể của Đấng mà mọi hình tướng chỉ là sự biểu đạt

5. The revelation of expressive purpose of form.

5. Sự mặc khải về mục đích biểu đạt của hình tướng.

Fourthly , to give practical information anent those focal points of energy which are found in the etheric bodies of the solar Logos, the macrocosm, and of man, the microcosm. As the etheric substratum which is the true substance underlying every tangible form is understood, certain great revolutions will be brought about in the domains of science, of medicine and of chemistry. The study of medicine, for instance, will eventually be taken up from a new angle, and its practice will be built upon a comprehension of the laws of radiation, of magnetic currents, and of the force centres found in men’s bodies and their relationship to the force centres and currents of the solar system.

Thứ tư , cung cấp thông tin thực tiễn liên quan đến những điểm hội tụ năng lượng được tìm thấy trong các thể dĩ thái của Thái dương Thượng đế, đại thiên địa, và của con người, tiểu thiên địa. Khi nền chất dĩ thái—là chất liệu chân thật nằm dưới mọi hình tướng hữu hình—được thấu hiểu, một số cuộc cách mạng lớn sẽ được tạo ra trong các lĩnh vực khoa học, y học và hoá học. Chẳng hạn, việc khảo cứu y học cuối cùng sẽ được tiếp cận từ một góc độ mới, và thực hành của nó sẽ được xây dựng trên sự thấu hiểu các định luật về bức xạ, về các dòng từ tính, và về các trung tâm lực trong thân thể con người cùng mối liên hệ của chúng với các trung tâm lực và các dòng lực của hệ mặt trời.

43. In TCF there is tremendous information given concerning the etheric nature of Space and of a number of analogically related types of entities.

43. Trong TCF có một lượng thông tin to lớn liên quan đến bản chất dĩ thái của Không Gian và của một số loại thực thể có liên hệ tương đồng.

44. We study of the etheric body of several types of entities, including the Solar Logos, the Planetary Logos and man. The etheric nature of the atom is also somewhat discussed..

44. Chúng ta khảo cứu thể dĩ thái của một số loại thực thể, bao gồm Thái dương Thượng đế, Hành Tinh Thượng đế và con người. Bản chất dĩ thái của nguyên tử cũng được bàn đến phần nào..

Fifthly , to give some information, hitherto not exoterically imparted as to the place and work of those myriads of sentient lives who form the essence of objectivity; to indicate the nature of those Hierarchies of Existences who form out of their own substance all that is seen and known, and who are themselves Fire and the cause of all the heat, warmth, life and motion in the universe. In this way the action of Fire on Water, of Heat in Matter, whether macrocosmically or microcosmically considered, will be touched upon and some light thrown upon the Law of Cause and Effect (the Law of Karma) and its significance in the solar system.

Thứ năm , cung cấp một số thông tin, cho đến nay chưa từng được truyền dạy một cách ngoại môn, về vị trí và công việc của vô số sự sống hữu thức tạo thành tinh chất của tính khách quan; chỉ ra bản chất của những Huyền Giai Sáng Tạo gồm các Hữu Thể tạo nên, từ chính chất liệu của họ, mọi điều được thấy và được biết, và chính họ là Lửa và là nguyên nhân của mọi nhiệt, ấm, sự sống và chuyển động trong vũ trụ. Theo cách này, tác động của Lửa lên Nước, của Nhiệt trong Vật Chất—dù xét theo đại thiên địa hay tiểu thiên địa—sẽ được chạm đến, và một ít ánh sáng sẽ được soi rọi lên Định luật Nhân Quả (Định luật Nghiệp Quả) và thâm nghĩa của nó trong hệ mặt trời.

45. TCF offers a close study of the Deva Kingdom—“those myriads of sentient lives who form the essence of objectivity”.

45. TCF đưa ra một cuộc khảo cứu cận kẽ về giới thiên thần—“vô số sự sống hữu thức tạo thành tinh chất của tính khách quan”.

46. A close study of the Creative Hierarchies is also offered—especially those “who form out of their own substance all that is seen and known”.

46. Một cuộc khảo cứu cận kẽ về các Huyền Giai Sáng Tạo cũng được đưa ra—đặc biệt là những vị “tạo nên, từ chính chất liệu của họ, mọi điều được thấy và được biết”.

47. The study of the interrelation of the elements—considered both macrocosmically and microcosmically. All the elements (as Agni Yoga suggests) are essentially fire.

47. Sự khảo cứu về mối tương quan giữa các nguyên tố—được xét theo cả đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa. Tất cả các nguyên tố (như Agni Yoga gợi ý) về bản chất là lửa.

48. Some aspects of the Law of Karma are elucidated. The relation of the four elements to each other is a subject relating to the activities of the four Lords of Karma (in all their many subdivisions).

48. Một số phương diện của Định luật Nghiệp Quả được làm sáng tỏ. Mối liên hệ của bốn nguyên tố với nhau là một chủ đề liên quan đến các hoạt động của bốn Chúa Tể Nghiệp Quả (trong mọi phân bộ đa dạng của các Ngài).

To sum up the matter, the teaching in this book should tend to an expansion of consciousness, and should bring about a recognition of the adequacy, as a working basis, for both science and religion, of that interpretation of the processes of nature which has been formulated for us by the Master Minds of all time. It should tend to bring about a reaction in favor of a system of philosophy which will link both Spirit and matter, and demonstrate the essential unity of the scientific and religious idea. The two are at present somewhat divorced, and we are only just beginning to grope our intellectual way out of the depths of a materialistic interpretation. It must not be forgotten, however, that under the Law of Action and Reaction, the long period of materialistic thought has been a necessary one for humanity, because the mysticism of the Middle Ages has led [ Page xiv] us too far in the opposite direction. We are now tending to a more balanced view, and it is hoped that this treatise may form part of the process through which equilibrium is attained.

Tóm lại, giáo huấn trong quyển sách này nên hướng đến sự mở rộng tâm thức, và nên đưa đến sự nhận biết rằng—như một nền tảng làm việc—cách diễn giải các tiến trình của bản chất do các Thể Trí Chân sư của mọi thời đại đã hoạch định cho chúng ta là đầy đủ cho cả khoa học lẫn tôn giáo. Nó nên đưa đến một phản ứng ủng hộ một hệ thống triết học sẽ liên kết cả tinh thần lẫn vật chất, và chứng minh sự hợp nhất thiết yếu giữa ý niệm khoa học và ý niệm tôn giáo. Hiện nay, hai điều ấy phần nào bị tách rời, và chúng ta chỉ mới bắt đầu dò dẫm con đường trí tuệ để thoát ra khỏi vực sâu của một lối diễn giải duy vật. Tuy nhiên, không được quên rằng, dưới Định luật Hành Động và Phản Ứng, thời kỳ dài của tư tưởng duy vật là một thời kỳ cần thiết đối với nhân loại, bởi vì thần bí học của thời Trung Cổ đã đưa [Page xiv] chúng ta đi quá xa theo hướng đối nghịch. Giờ đây chúng ta đang hướng đến một quan điểm cân bằng hơn, và hy vọng rằng luận thuyết này có thể tạo thành một phần của tiến trình nhờ đó sự quân bình được đạt đến.

49. Our studies are meant to expand our consciousness.

49. Các cuộc khảo cứu của chúng ta nhằm mở rộng tâm thức.

50. The perspective of the Spiritual Hierarchy (a Hierarchy consisting of the “Master Minds of all time”) is offered as a sufficient basis for the evolutionary progression of both science and religion.

50. Quan điểm của Thánh Đoàn (một Thánh Đoàn gồm các “Thể Trí Chân sư của mọi thời đại”) được đưa ra như một nền tảng đầy đủ cho sự tiến triển tiến hoá của cả khoa học lẫn tôn giáo.

51. The essential unity of science and religion is to be perceived through this philosophy which will link both Spirit and matter.

51. Sự hợp nhất thiết yếu của khoa học và tôn giáo sẽ được nhận ra qua triết học này, vốn sẽ liên kết cả tinh thần lẫn vật chất.

52. TCF is meant to restore balance to humanity’s world view; it will balance the “mysticism of the Middle Ages” and the materialistic thought which followed that period as a reaction.

52. TCF nhằm phục hồi sự quân bình cho thế giới quan của nhân loại; nó sẽ cân bằng “thần bí học của thời Trung Cổ” và tư tưởng duy vật đã theo sau thời kỳ ấy như một phản ứng.

In studying this treatise the student is asked to bear in mind certain things:

Khi khảo cứu luận thuyết này, môn sinh được yêu cầu ghi nhớ một số điều:

a. That in dealing with these subjects we are concerned with the essence of that which is objective, with the subjective side of manifestation, and with the consideration of force and of energy. It is well nigh impossible to reduce such concepts to concrete formulas and to express them in such a way that they can be easily apprehended by the average man.

a. Rằng khi bàn đến các chủ đề này, chúng ta quan tâm đến tinh chất của điều thuộc khách quan, đến mặt chủ quan của sự biểu hiện, và đến việc xét về lực và năng lượng. Gần như không thể giảm những khái niệm như thế thành các công thức cụ thể và diễn đạt chúng theo cách để người bình thường có thể dễ dàng nắm bắt.

53. We are dealing with the essence of manifestation, which is essentially, force and energy.

53. Chúng ta đang bàn đến tinh chất của sự biểu hiện, mà về bản chất là lực và năng lượng.

54. Formulas for these forces and energies cannot, at this time, be given. We are the “average man” who cannot apprehend such formulas.

54. Hiện nay, không thể đưa ra các công thức cho những lực và năng lượng này. Chúng ta là “người bình thường” chưa thể nắm bắt các công thức như thế.

b. That as we use words and phrases and speak in terms of modern language the whole subject necessarily becomes limited and dwarfed, and much of the truth is thereby lost.

b. Rằng khi chúng ta dùng từ ngữ và cụm từ và nói theo thuật ngữ của ngôn ngữ hiện đại, toàn bộ chủ đề tất yếu trở nên bị giới hạn và thu nhỏ, và do đó nhiều chân lý bị mất đi.

55. Words and phrases in modern language stultify the truth and much is thereby lost.

55. Từ ngữ và cụm từ trong ngôn ngữ hiện đại làm trì độn chân lý và do đó nhiều điều bị mất đi.

c. That all that is in this treatise is offered in no dogmatic spirit but simply as a contribution to the mass of thought upon the subject of world origins and to the data already accumulated as to the nature of man. The best that man can offer as a solution of the world problem must perforce take a dual form and will demonstrate through a life of active service, tending to amelioration of environal conditions, and through a formulation of some cosmological scheme or plan which will seek to account as much as may be for conditions as they are seen to exist. Arguing as men do at present from the basis of the known and the demonstrated and leaving untouched and unaccounted for, those deep-seated causes which must be presumed to be producing the seen and known, all solutions as yet fail and will continue to fail in their objective.

c. Rằng mọi điều trong luận thuyết này được đưa ra không phải trong tinh thần giáo điều, mà chỉ như một đóng góp cho khối tư tưởng về nguồn gốc thế giới và cho dữ liệu đã được tích lũy về bản chất con người. Điều tốt nhất mà con người có thể đưa ra như một giải pháp cho vấn đề thế giới tất yếu phải mang hình thức kép và sẽ được chứng minh qua một đời sống phụng sự tích cực, hướng đến việc cải thiện các điều kiện môi trường, và qua việc hình thành một hệ thống hay kế hoạch vũ trụ luận nhằm giải thích, nhiều nhất có thể, các điều kiện như chúng được thấy là đang tồn tại. Khi con người hiện nay lập luận từ nền tảng của cái đã biết và đã được chứng minh, và để nguyên không đụng đến, không giải thích, những nguyên nhân sâu xa vốn phải được giả định là đang tạo ra cái được thấy và được biết, thì mọi giải pháp cho đến nay đều thất bại và sẽ tiếp tục thất bại trong phương diện khách quan của chúng.

56. TCF is not offered in a “dogmatic spirit”.

56. TCF không được đưa ra trong một “tinh thần giáo điều”.

57. World problems are to be solved through active service and, also, with the help of the “formulation of a cosmological scheme or plan”.

57. Các vấn đề thế giới cần được giải quyết qua phụng sự tích cực và, đồng thời, với sự trợ giúp của “việc hình thành một hệ thống hay kế hoạch vũ trụ luận”.

58. Solutions to world difficulties must take into consideration “deep-seated causes…producing the seen and known”.

58. Các giải pháp cho những khó khăn của thế giới phải xét đến “những nguyên nhân sâu xa… tạo ra cái được thấy và được biết”.

d. That all attempts to formulate in words that which must be felt and lived in order to be truly comprehended must necessarily prove distressingly inadequate. All that can be said will be after all but the partial statements of the great veiled Truth, and must be offered to the reader and student as simply providing a working hypothesis, and a suggestive explanation. To the open-minded student and the man who keeps the recollection in his mind that the truth is progressively revealed, it will be apparent that the fullest expression of the truth possible at any one time will be seen later to be but a fragment of a whole, and [ Page xv] later still be recognised to be only portions of a fact and thus in itself a distortion of the real.

d. Rằng mọi nỗ lực diễn đạt bằng lời điều phải được cảm nhận và sống để có thể thực sự thấu hiểu, tất yếu sẽ tỏ ra đau đớn là bất cập. Tất cả những gì có thể nói, rốt cuộc, chỉ là những phát biểu phần mảnh về Chân Lý vĩ đại bị che phủ, và phải được trao cho độc giả và môn sinh như chỉ cung cấp một giả thuyết làm việc và một lời giải thích gợi mở. Đối với môn sinh có tâm trí rộng mở và người luôn giữ trong thể trí sự ghi nhớ rằng chân lý được mặc khải dần dần, sẽ hiển nhiên rằng sự diễn đạt đầy đủ nhất có thể của chân lý tại bất kỳ thời điểm nào, về sau sẽ được thấy chỉ là một mảnh của một toàn thể, và [Page xv] về sau nữa sẽ được nhận ra chỉ là những phần của một sự thật, và do đó tự nó là một sự bóp méo của cái thực.

59. The authors (knowing more than the reader) are distressed by the inadequacy of the words they must use.

59. Các tác giả (biết nhiều hơn độc giả) cảm thấy bức bối trước sự bất cập của những từ ngữ mà họ buộc phải dùng.

60. There is a “great veiled Truth”, which words in ordinary language cannot reveal.

60. Có một “Chân Lý vĩ đại bị che phủ”, mà từ ngữ trong ngôn ngữ thông thường không thể mặc khải.

61. We must always keep in mind the relativity of truth and its sequential revelation over vast periods of time.

61. Chúng ta phải luôn ghi nhớ tính tương đối của chân lý và sự mặc khải tuần tự của nó qua những thời kỳ thời gian mênh mông.

62. No truth possible of apprehension at this time is the “whole Truth”.

62. Không có chân lý nào có thể được nắm bắt vào lúc này là “toàn bộ Chân Lý”.

This treatise is put out in the hope that it may prove useful to all broad-minded seekers after truth and of value to all investigators into the subjective Source of all that which is tangibly objective. It aims to provide a reasonably logical plan of systemic evolution and to indicate to man the part he must play as an atomic unit in a great and corporate Whole. This fragment of the Secret Doctrine, in the turning of the evolutionary wheel, goes out to the world making no claims as to its source, its infallibility or the correctness in detail of its statements.

Luận thuyết này được công bố với hy vọng rằng nó có thể hữu ích cho mọi người tìm kiếm chân lý có tâm trí rộng mở và có giá trị cho mọi nhà khảo cứu về Nguồn chủ quan của mọi điều khách quan hữu hình. Nó nhằm cung cấp một kế hoạch hợp lý ở mức vừa phải về tiến hoá của một hệ thống và chỉ ra cho con người vai trò mà y phải đóng như một đơn vị nguyên tử trong một Toàn Thể vĩ đại và hợp nhất. Mảnh Giáo Lý Bí Nhiệm này, trong vòng quay của bánh xe tiến hoá, được gửi ra thế giới mà không đưa ra bất kỳ tuyên bố nào về nguồn gốc của nó, về tính không sai lầm của nó, hay về tính đúng đắn chi tiết của các phát biểu.

63. TCF is written for the “broad-minded”.

63. TCF được viết cho những người “có tâm trí rộng mở”.

64. It attempts to offer “a reasonably logical plan of systemic evolution”. Those who read it must think both logically and intuitively.

64. Nó cố gắng đưa ra “một kế hoạch hợp lý ở mức vừa phải về tiến hoá của một hệ thống”. Những ai đọc nó phải suy nghĩ vừa logic vừa trực giác.

65. A close study of TCF may help to reveal the place of man (“an atomic unit”) within the “corporate Whole”. In short, we, as human beings, can better learn our place within the vaster system.

65. Một cuộc khảo cứu cận kẽ TCF có thể giúp làm lộ rõ vị trí của con người (“một đơn vị nguyên tử”) trong “Toàn Thể hợp nhất”. Tóm lại, chúng ta, với tư cách con người, có thể học tốt hơn vị trí của mình trong hệ thống rộng lớn hơn.

66. Whether the statements made in this book are true or not is to be established by the reader.

66. Những phát biểu trong quyển sách này đúng hay không sẽ do độc giả xác lập.

No book gains anything from dogmatic claims or declarations as to the authoritative value of its source of inspiration. It should stand or fall solely on the basis of its own intrinsic worth, on the value of the suggestions made, and its power to foster the spiritual life and the intellectual apprehension of the reader. If this treatise has within it anything of truth and of reality, it will inevitably and unfailingly do its work, carry its message, and thus reach the hearts and minds of searchers everywhere. If it is of no value, and has no basis in fact, it will disappear and die, and most rightly so. All that is asked from the student of this treatise is a sympathetic approach, a willingness to consider the views put forth and that honesty and sincerity of thought which will tend to the development of the intuition, of spiritual diagnosis, and a discrimination which will lead to a rejection of the false and an appreciation of the true.

Không quyển sách nào được lợi gì từ những tuyên bố hay khẳng định giáo điều về giá trị thẩm quyền của nguồn cảm hứng của nó. Nó nên đứng vững hay sụp đổ chỉ dựa trên giá trị nội tại của chính nó, trên giá trị của những gợi ý được đưa ra, và trên năng lực của nó trong việc nuôi dưỡng đời sống tinh thần và sự nắm bắt trí tuệ của độc giả. Nếu luận thuyết này chứa đựng bất cứ điều gì thuộc chân lý và thực tại, nó tất yếu và chắc chắn sẽ thực hiện công việc của nó, chuyển tải thông điệp của nó, và như vậy chạm đến trái tim và thể trí của những người tìm kiếm ở khắp nơi. Nếu nó không có giá trị và không có nền tảng trong sự thật, nó sẽ biến mất và tàn lụi, và hoàn toàn đúng như vậy. Điều duy nhất được yêu cầu nơi môn sinh của luận thuyết này là một thái độ tiếp cận cảm thông, một sự sẵn lòng cân nhắc các quan điểm được nêu ra, và sự trung thực cùng chân thành trong tư tưởng—những điều sẽ hướng đến sự phát triển của trực giác, của sự chẩn đoán tinh thần, và của sự phân biện sẽ dẫn đến việc bác bỏ điều giả và trân trọng điều chân.

67. While TCF goes forth with no dogmatic assertions, we are asked to maintain:

67. Dù TCF được gửi ra mà không có những khẳng định giáo điều, chúng ta được yêu cầu duy trì:

1. A sympathetic approach

1. Một thái độ tiếp cận cảm thông

2. A willingness to consider the various points of view put forth

2. Sự sẵn lòng cân nhắc các quan điểm khác nhau được nêu ra

3. Honesty and sincerity of thought

3. Sự trung thực và chân thành trong tư tưởng

4. The cultivation (through honesty and sincerity of thought) of

4. Việc nuôi dưỡng (qua sự trung thực và chân thành trong tư tưởng) của

i. Intuition

i. Trực giác

ii. Spiritual diagnosis

ii. Sự chẩn đoán tinh thần

iii. Discrimination

iii. Sự phân biện

The words of the Buddha most appropriately have their place here, and make a fitting conclusion to these preliminary remarks:

Những lời của Đức Phật có vị trí thích đáng nhất ở đây, và tạo nên một kết luận phù hợp cho những nhận xét sơ bộ này:

THE LORD BUDDHA HAS SAID

ĐỨC PHẬT ĐÃ NÓI

that we must not believe in a thing said merely because it is said; nor traditions because they have been handed down from antiquity; nor rumors, as such; nor writings by sages, because sages wrote them; nor fancies that we may suspect to have been inspired in us by a Deva (that is, in presumed spiritual inspiration); nor from inferences drawn from some haphazard assumption we may have made; nor [ Page xvi] because of what seems an analogical necessity; nor on the mere authority of our teachers or masters. But we are to believe when the writing, doctrine, or saying is corroborated by our own reason and consciousness. ”For this,” says he in concluding, “I taught you not to believe merely because you have heard, but when you believed of your consciousness, then to act accordingly and abundantly.”

rằng chúng ta không được tin một điều chỉ vì nó được nói ra; cũng không được tin truyền thống chỉ vì chúng đã được truyền lại từ thời cổ; cũng không được tin lời đồn như thế; cũng không được tin các trước tác của các bậc hiền triết chỉ vì các bậc hiền triết đã viết ra; cũng không được tin những tưởng tượng mà chúng ta có thể nghi ngờ là đã được một thiên thần gợi hứng trong chúng ta (tức là, trong cái gọi là cảm hứng tinh thần); cũng không được tin từ những suy luận rút ra từ một giả định ngẫu nhiên nào đó mà chúng ta đã đặt ra; cũng không [Page xvi] được tin chỉ vì điều ấy dường như là một tất yếu tương đồng; cũng không được tin chỉ dựa trên thẩm quyền đơn thuần của các huấn sư hay các chân sư của chúng ta. Nhưng chúng ta phải tin khi trước tác, giáo lý, hay lời nói ấy được xác chứng bởi chính lý trí và tâm thức của chúng ta. “Vì điều này,” Ngài nói khi kết luận, “Tôi dạy các bạn đừng tin chỉ vì các bạn đã nghe, mà khi các bạn tin bởi tâm thức của các bạn, thì hãy hành động tương ứng và dồi dào.”

—Secret Doctrine III. 401.

—Giáo Lý Bí Nhiệm III. 401.

68. A great epistemological statement. Epistemology may be called the ‘science of knowledge’. It deals with the nature of knowing and the knowable.

68. Một phát biểu nhận thức luận vĩ đại. Nhận thức luận có thể được gọi là “khoa học về tri thức”. Nó bàn về bản chất của việc biết và cái có thể biết.

May this be the attitude of every reader of this ”Treatise on Cosmic Fire.”

Ước mong đây là thái độ của mọi độc giả của “Luận về Lửa Vũ Trụ” này.

ALICE A. BAILEY.

ALICE A. BAILEY.

69. The Buddha was among the wisest of men. He is knows as the “Lord of Light” and the “Lord of Wisdom”.

69. Đức Phật là một trong những bậc minh triết nhất của nhân loại. Ngài được biết như “Chúa Tể của Ánh sáng” và “Chúa Tể của Minh Triết”.

70. His approach to truth is cautious. He seeks to protect us from many of the usual foibles and idols of the mind.

70. Cách tiếp cận chân lý của Ngài là thận trọng. Ngài tìm cách bảo vệ chúng ta khỏi nhiều nhược điểm và thần tượng thường thấy của thể trí.

71. In the last analysis (as promoted in the Last Sermon of the Buddha), we have to rely upon ourselves.

71. Trong phân tích cuối cùng (như được nêu trong Bài Thuyết Pháp Cuối Cùng của Đức Phật), chúng ta phải nương tựa vào chính mình.

Note:—In the footnotes throughout this treatise ”The Secret Doctrine” by H. P. Blavatsky is designated by the initials S.D. The page references are to the ”Third Revised Edition.”

Ghi chú:—Trong các chú thích xuyên suốt luận thuyết này, “Giáo Lý Bí Nhiệm” của H. P. Blavatsky được ký hiệu bằng các chữ cái viết tắt S.D. Các tham chiếu trang là theo “Ấn bản Tu chỉnh lần thứ ba”.

72. This Third Revised Edition is not readily available in print, but the many references and citations found within TCF will help us access the parts of The Secret Doctrine which are supplementary to an understanding of TCF.

72. Ấn bản Tu chỉnh lần thứ ba này không dễ tìm ở dạng in, nhưng nhiều tham chiếu và trích dẫn trong TCF sẽ giúp chúng ta tiếp cận những phần của Giáo Lý Bí Nhiệm bổ sung cho sự thấu hiểu TCF.

[Page xvii]

[Page xvii]

FIRE

LỬA

“What says the esoteric teaching with regard to Fire?”

“Giáo huấn nội môn nói gì về Lửa?”

Fire is the most perfect and unadulterated reflection, in Heaven as on earth, of the One Flame. It is life and death, the origin and the end of every material thing. It is divine Substance.” [Substance is still principled and matter is not]

Lửa là sự phản chiếu hoàn hảo và không pha tạp nhất, trên Trời cũng như dưới đất, của Ngọn Lửa Duy Nhất. Nó là sự sống và cái chết, nguồn gốc và kết thúc của mọi vật chất. Nó là Chất Liệu thiêng liêng.” [Chất liệu vẫn là nguyên khí và vật chất thì không]

—Secret Doctrine I. 146.

—Giáo Lý Bí Nhiệm I. 146.

73. We will try to come to an understanding of some essential factors: Flame, Fire and Divine Substance.

73. Chúng ta sẽ cố gắng đi đến sự thấu hiểu một số yếu tố thiết yếu: Ngọn Lửa, Lửa và Chất Liệu thiêng liêng.

74. “Heaven” represents the higher dimensions of nature. With respect to the cosmic physical plane, “Heaven” may be considered equivalent the four cosmic ethers.

74. “Trời” biểu thị các chiều kích cao hơn của bản chất. Xét theo cõi hồng trần vũ trụ, “Trời” có thể được xem là tương đương với bốn cõi dĩ thái vũ trụ.

75. The “One Flame” is the One Reality, Pure Being. “The spark hangs from the flame by the finest thread of Fohat.” (TCF 773)

75. “Ngọn Lửa Duy Nhất” là Thực Tại Duy Nhất, Hữu Thể Thuần Khiết. “Tia lửa treo từ ngọn lửa bằng sợi dây Fohat mảnh nhất.” (TCF 773)

76. “Fire” and “Flame” are often used interchangeably, but when thinking of the “One Flame”, it must be considered the origin of “Fire” and of all kinds of fires.

76. “Lửa” và “Ngọn Lửa” thường được dùng thay thế cho nhau, nhưng khi nghĩ về “Ngọn Lửa Duy Nhất”, nó phải được xem là cội nguồn của “Lửa” và của mọi loại lửa.

77. Thus, “Fire” in this context, it to be considered the reflection of Flame.

77. Vì vậy, “Lửa” trong ngữ cảnh này được xem là sự phản chiếu của Ngọn Lửa.

78. Philosophically, “Flame” is the noumenon of “Fire”, which is the phenomenon of “Flame”.

78. Về mặt triết học, “Ngọn Lửa” là bản thể của “Lửa”, còn “Lửa” là hiện tượng của “Ngọn Lửa”.

79. Does pure flame burn anything? Perhaps it does not. As there is naught else but Pure Being, Flame consumes itself and can be considered Self-existent.

79. Ngọn lửa thuần khiết có đốt cháy điều gì không? Có lẽ là không. Vì không có gì khác ngoài Hữu Thể Thuần Khiết, Ngọn Lửa tự tiêu thụ chính nó và có thể được xem là tự hữu.

80. When that which flames is dependent upon something to burn, you have fire, but Flame (in this ultimate context) may considered Self-consuming. Flame has only itself to consume. This is another way of saying that Pure Being is Self-sustaining.

80. Khi điều đang cháy phụ thuộc vào một thứ gì đó để đốt, các bạn có lửa; nhưng Ngọn Lửa (trong ngữ cảnh tối hậu này) có thể được xem là tự tiêu thụ. Ngọn Lửa chỉ có chính nó để tiêu thụ. Đây là một cách khác để nói rằng Hữu Thể Thuần Khiết là tự duy trì.

81. Fires descend from the One Flame; analogically, God can only create from out Himself. (What else is there?)

81. Các loại lửa giáng xuống từ Ngọn Lửa Duy Nhất; theo sự tương đồng, Thượng đế chỉ có thể sáng tạo từ chính Ngài. (Còn gì khác nữa?)

82. Flame is pure essence and even “fire electric” is a reflection of it.

82. Ngọn Lửa là tinh chất thuần khiết và ngay cả “lửa điện” cũng là sự phản chiếu của nó.

83. Pure Being is the ‘Unperceived Perceiver’, the ‘Ultimate Subject’. Flame is the ‘Ultimate Fire’. Flame abides as Essence throughout the duration of every universe, just as the Unmanifested Logos similarly abides.

83. Hữu Thể Thuần Khiết là “Chủ Thể Tri Giác không được tri giác”, “Chủ Thể Tối Hậu”. Ngọn Lửa là “Lửa Tối Hậu”. Ngọn Lửa lưu trú như Tinh chất xuyên suốt thời lượng của mọi vũ trụ, cũng như Thượng đế Không Biểu Hiện tương tự lưu trú.

84. Essential Flame is the Great Breath, the One Essential Motion. The Great Breath has no beginning and no end. From this perspective, Breath and Flame are equivalent.

84. Ngọn Lửa thiết yếu là Đại Hơi Thở, Chuyển Động Thiết Yếu Duy Nhất. Đại Hơi Thở không có khởi đầu và không có kết thúc. Theo quan điểm này, Hơi Thở và Ngọn Lửa là tương đương.

85. The three aspects of divinity “Father”, “Son” and “Holy Spirit” are “Fires”. Flame, however, is pure Life/Being, of which “Father”, “Son” and “Holy Spirit” are aspects.

85. Ba phương diện của thiên tính “Cha”, “Con” và “Chúa Thánh Thần” là các “Lửa”. Tuy nhiên, Ngọn Lửa là Sự Sống/Hữu Thể thuần khiết, mà “Cha”, “Con” và “Chúa Thánh Thần” là các phương diện.

86. Do not expect that there will be an easy consistency of terminology in these matters. Even in Theosophical works and charts, the terminology and the meaning of terms seem to vary.

86. Đừng mong sẽ có một sự nhất quán dễ dàng về thuật ngữ trong những vấn đề này. Ngay cả trong các tác phẩm và biểu đồ của Thông Thiên Học, thuật ngữ và ý nghĩa của các thuật ngữ dường như cũng thay đổi.

87. If we say of Fire that “it is life and death, the origin and the end of every material thing”, we mean that all things are both created and destroyed by Fire. The various fires in combination or association are the creation of material things; the various fires in dissociation are the destruction of all material things.

87. Khi chúng ta nói về Lửa rằng “nó là sự sống và cái chết, nguồn gốc và kết thúc của mọi vật chất”, chúng ta muốn nói rằng mọi sự đều được tạo ra và bị hủy diệt bởi Lửa. Các loại lửa khác nhau trong sự kết hợp hay liên kết chính là sự tạo tác các vật chất; các loại lửa khác nhau trong sự phân ly chính là sự hủy diệt mọi vật chất.

88. The true origin and end of every material thing is the Divine Flame or Pure Being.

88. Cội nguồn và kết thúc đích thực của mọi vật chất là Ngọn Lửa thiêng liêng hay Hữu Thể Thuần Khiết.

89. If we call Fire by the term, “Divine Substance”, (as suggested above) we are reminded of the “Sea of Fire” on the systemic logoic plane. This plane, in relation to the cosmic physical plane, is the ‘location’ of that which can be considered systemic Mulaprakriti, but not of universal Mulaprakriti. When we think of Mulaprakriti in relation the systemic logoic plane, we are thinking only from the perspective of our solar system, and, instead of thinking of that which is truly homogeneous, we are dealing with differentiated matter (though matter of the least complex kind—systemically speaking—matter ‘nearest’ to homogeneity). The matter of the first subplane of the logoic plane approximates homogeneity more completely that any other matter in our solar system, but is still far from homogeneous. In other words, the first subplane matter of the systemic logoic plane is not really Universal Mulaprakriti.

89. Nếu chúng ta gọi Lửa bằng thuật ngữ “Chất Liệu thiêng liêng” (như gợi ý ở trên), chúng ta được nhắc về “Biển Lửa” trên cõi thượng đế hệ thống. Cõi này, trong mối liên hệ với cõi hồng trần vũ trụ, là “vị trí” của điều có thể được xem là Mulaprakriti hệ thống, nhưng không phải Mulaprakriti vũ trụ. Khi chúng ta nghĩ về Mulaprakriti trong mối liên hệ với cõi thượng đế hệ thống, chúng ta đang nghĩ chỉ từ quan điểm của hệ mặt trời chúng ta, và thay vì nghĩ về điều thật sự đồng nhất, chúng ta đang xử lý vật chất đã biến phân (dù là vật chất thuộc loại ít phức tạp nhất—xét theo hệ thống—vật chất “gần” với tính đồng nhất nhất). Vật chất của cõi phụ thứ nhất của cõi thượng đế hệ thống tiệm cận tính đồng nhất trọn vẹn hơn bất kỳ loại vật chất nào khác trong hệ mặt trời chúng ta, nhưng vẫn còn xa mới đồng nhất. Nói cách khác, vật chất cõi phụ thứ nhất của cõi thượng đế hệ thống không thật sự là Mulaprakriti Vũ Trụ.

90. Philosophically, ‘Universal Mulaprakriti (i.e., Universal Pre-Genetic Matter) is the reflection or Self-perception of the Universal Spirit’. That Universal Spirit (or Universal Logos) is Flame expressing (in emanation) as a multiplicity Fires.

90. Về mặt triết học, “Mulaprakriti Vũ Trụ (tức là Vật Chất Tiền-Sinh-Thành Vũ Trụ) là sự phản chiếu hay tự-tri-giác của Tinh Thần Vũ Trụ”. Tinh Thần Vũ Trụ ấy (hay Thượng đế Vũ Trụ) là Ngọn Lửa biểu lộ (trong sự xuất lộ) thành một đa tạp các loại Lửa.

91. We might say that ‘Fire-in-Mulaprakriti (taking Mulaprakriti as universal undifferentiated, “pre-genetic substance”) substands all manifestation, and is, thus, ‘sub-stance’.

91. Chúng ta có thể nói rằng “Lửa-trong-Mulaprakriti (lấy Mulaprakriti như chất liệu tiền-di truyền phổ quát, chưa phân biệt) làm nền cho mọi biểu hiện, và vì vậy, là ‘chất liệu ở dưới’, tức ‘chất liệu nền’”.

92. Thus, when considering matter and substance as different, it is possible to think of Fire as substance. Universal Mulaprakriti, would then, be the ‘Self-reflection of the one homogeneous Divine Flame”. Fire (the active emanation of that One Flame) would work within Universal Mulaprakriti creating the differentiated universe.

92. Vì vậy, khi xem vật chấtchất liệu như hai điều khác nhau, ta có thể nghĩ về Lửa như là chất liệu. Khi ấy, Mulaprakriti phổ quát sẽ là “sự tự-phản chiếu của một Ngọn Lửa Thiêng liêng đồng nhất”. Lửa (sự xuất lộ năng động của Ngọn Lửa Duy Nhất ấy) sẽ hoạt động trong Mulaprakriti phổ quát, tạo ra vũ trụ đã được phân biệt.

93. Within our solar system, it would seem that the Fires of Spirit work upon relatively undifferentiated matter. But there may be problem with this supposition.

93. Trong hệ mặt trời của chúng ta, dường như các Lửa của tinh thần tác động lên vật chất tương đối chưa phân biệt. Nhưng giả định này có thể có vấn đề.

94. Metaphysical problem to be resolved: Do the ‘Creative Fires’ actually work upon universal, homogeneous, undifferentiated, pre-genetic matter (i.e., Universal Mulaprakriti) or do they work upon differentiated matter (which, even in its most homogenous condition is far from being Universal Mulaprakriti)? What we are asking is, “Is Universal Mulaprakriti the ‘Play Stuff’ of all great Creative Logoi, or only the ‘Play Stuff’ of the Spirit Aspect of the ‘First Universal Logoic Trinity’? Universal Mulaprakriti cannot be confined to any particular plane or subplane in cosmos as it is the Source of all planes and subplanes.

94. Vấn đề siêu hình cần được giải quyết: Các “Lửa Sáng Tạo” thật sự tác động lên vật chất tiền-di truyền phổ quát, đồng nhất, chưa phân biệt (tức Mulaprakriti phổ quát) hay tác động lên vật chất đã phân biệt (mà, ngay cả trong trạng thái đồng nhất nhất của nó, vẫn còn rất xa Mulaprakriti phổ quát)? Điều chúng ta đang hỏi là: “Mulaprakriti phổ quát có phải là ‘chất liệu để chơi’ của tất cả các Thượng đế Sáng Tạo vĩ đại, hay chỉ là ‘chất liệu để chơi’ của Phương diện Tinh thần của ‘Tam Vị Thượng đế Phổ Quát Thứ Nhất’?” Mulaprakriti phổ quát không thể bị giới hạn trong bất kỳ cõi hay cõi phụ nào trong vũ trụ, vì nó là Nguồn của mọi cõi và mọi cõi phụ.

95. True Divine Substance however is not that which has been created by any Logos (such as the Third Universal Logos Who differentiated pre-genetic matter into its manifold parts). True Divine Substance (from the universal perspective) is Pure Being, Itself.

95. Tuy nhiên, Chất Liệu Thiêng liêng đích thực không phải là điều đã được bất kỳ Thượng đế nào sáng tạo (như Thượng đế Vũ Trụ Thứ Ba, Đấng đã phân biệt vật chất tiền-di truyền thành vô số phần). Chất Liệu Thiêng liêng đích thực (từ quan điểm phổ quát) chính là Bản Thể Thuần Khiết, tự chính Nó.

96. When we say this, we are using word “Substance” in a way somewhat in the manner that the philosopher Spinoza used it: Substance, for him was not only infinite, but was the INFINITE—i.e., the INFINITE GOD/DEITY. For him, “Substance” was ‘SUBSTANCE’.

96. Khi nói như vậy, chúng ta đang dùng từ “Chất liệu” theo cách phần nào giống như triết gia Spinoza đã dùng: Chất liệu, đối với ông, không chỉ là vô hạn, mà còn là chính VÔ HẠN—tức là THƯỢNG ĐẾ/THƯỢNG ĐẾ VÔ HẠN. Đối với ông, “Chất liệu” là ‘CHẤT LIỆU’.

97. It would seem that Spinoza’s definition of substance was very much deeper than the one we are using in relation to HPB’s statement above concerning “divine Substance”, for Spinoza equated Substance (really SUBSTANCE) with the Theosophical ABSOLUTE, the INFINITE DEITY.

97. Dường như định nghĩa của Spinoza về chất liệu sâu sắc hơn rất nhiều so với cách chúng ta đang dùng khi liên hệ với phát biểu của HPB ở trên về “Chất liệu thiêng liêng”, vì Spinoza đồng nhất Chất liệu (thật ra là CHẤT LIỆU) với TUYỆT ĐỐI của Thông Thiên Học, tức THƯỢNG ĐẾ VÔ HẠN.

98. Returning to intra-Universe considerations, we might say that “Flame” antedates any of the Three “Outpourings”. The very word, “Outpouring” suggests an emanation from that which already exists.

98. Trở lại với các suy xét nội-vũ-trụ, chúng ta có thể nói rằng “Ngọn Lửa” có trước bất kỳ một trong Ba “lần tuôn đổ” nào. Chính từ “lần tuôn đổ” gợi ý một sự xuất lộ từ cái vốn đã hiện hữu.

99. Divine Substance (considered as Fire), therefore, is not matter, for Fire works upon matter which already exists to be worked upon.

99. Vì vậy, Chất liệu Thiêng liêng (được xem như Lửa) không phải là vật chất, vì Lửa tác động lên vật chất vốn đã hiện hữu để có thể được tác động.

100. Flame, when considered universally, reaches far beyond our solar system.

100. Ngọn Lửa, khi được xét theo nghĩa phổ quát, vươn xa vượt khỏi hệ mặt trời của chúng ta.

101. Universally considered, Flame (as the Divine Flame) antedates cosmic emanation of any kind. Flame is the Source if the three Primary Universal Emanations—Universal Electric Fire, Universal Solar Fire and Universal Fire by Friction.

101. Khi xét theo nghĩa phổ quát, Ngọn Lửa (như Ngọn Lửa Thiêng liêng) có trước mọi loại xuất lộ vũ trụ. Ngọn Lửa là Nguồn của ba Xuất Lộ Phổ Quát sơ cấp—Lửa Điện Phổ Quát, Lửa Thái dương Phổ Quát và Lửa do ma sát Phổ Quát.

102. Two summary metaphysical reflections emerge from these rather abstract considerations:

102. Từ những suy xét khá trừu tượng này, nổi lên hai suy niệm siêu hình tóm lược:

1. Flame (the universal “Divine Flame”) is a conditioned “reflection” of the ABSOLUTE. The term ‘conditioned emanation’ can also be used.

1. Ngọn Lửa (Ngọn Lửa Thiêng liêng “phổ quát”) là một “phản chiếu” đã được tác động-định hình của TUYỆT ĐỐI. Cũng có thể dùng thuật ngữ “xuất lộ được tác động-định hình”.

2. Fire is a ‘reflection’ or emanation of the Divine Flame.

2. Lửa là một “phản chiếu” hay xuất lộ của Ngọn Lửa Thiêng liêng.

103. The universe is created through Self-perception.

103. Vũ trụ được sáng tạo qua sự tự-tri giác.

104. From this perspective, the Unmanifested Logos is Flame, the point of Pure Being within the Trinity of “Electric Fire”/Father, “Solar Fire”/ “Son and “Fire by Friction” / “Holy Spirit”.

104. Từ quan điểm này, Thượng đế Không Biểu Hiện là Ngọn Lửa, điểm của Bản Thể Thuần Khiết trong Tam Vị gồm “Lửa Điện”/Cha, “Lửa Thái dương”/ “Con” và “Lửa do ma sát”/ “Chúa Thánh Thần”.

105. It should be noted that this definition of the “Unmanifested Logos” is different from that put forward in the beginning of TCF. There is always a danger of putting forth three ‘Originators’ and forgetting the fourth factor.. As here presented, however, the “Unmanifested Logos” is the “Point within the Triangle” or the ‘Peak of the Universal Tetrahedron’, and thus the one preceding the three, making, in all, four.

105. Cần lưu ý rằng định nghĩa về “Thượng đế Không Biểu Hiện” này khác với định nghĩa được nêu ra ở phần đầu của Luận về Lửa Vũ Trụ. Luôn có nguy cơ nêu ra ba “Đấng Khởi Nguyên” và quên mất yếu tố thứ tư.. Tuy nhiên, như được trình bày ở đây, “Thượng đế Không Biểu Hiện” là “Điểm ở trong Tam Giác” hay “Đỉnh của Tứ Diện Thể Phổ Quát”, và do đó là một đi trước ba, khiến tổng cộng là bốn.

106. Thus, the Universal Flame is ‘Pure-Being-in-Universe’.

106. Vì vậy, Ngọn Lửa Phổ Quát là “Bản Thể Thuần Khiết-trong-Vũ Trụ”.

107. Is Flame, then, finite or infinite? In one respect, Flame is finite, because the Universe (of which Flame is the ‘First Intelligible Cause’) ends repeatedly, cyclically, forever.

107. Vậy Ngọn Lửa là hữu hạn hay vô hạn? Ở một phương diện, Ngọn Lửa là hữu hạn, vì Vũ trụ (mà Ngọn Lửa là “Nguyên Nhân Khả Tri Thứ Nhất” của nó) kết thúc lặp đi lặp lại, theo chu kỳ, mãi mãi.

108. The real first cause (which is not intelligible) is the ABSOLUTE (which cannot act, but from which ‘arises’ the ‘RAY’ {the “RAY of the ABSOLUTE”} which is the ORIGIN of successive universes.

108. Nguyên nhân thứ nhất thật sự (không khả tri) là TUYỆT ĐỐI (không thể hành động, nhưng từ đó “phát sinh” “TIA” {“TIA của TUYỆT ĐỐI”} là NGUỒN GỐC của các vũ trụ nối tiếp nhau.

109. Flame (considered as an extension of the “RAY of the ABSOLUTE”) is, from our perspective, ever-recurring and virtually infinite, because it is, conceivably, the ‘Representative’-in-Cosmos of the ABSOLUTE. (This must be pondered further)

109. Ngọn Lửa (được xem như sự mở rộng của “TIA của TUYỆT ĐỐI”) từ quan điểm của chúng ta, là sự tái hiện không ngừng và hầu như vô hạn, vì có thể hình dung rằng nó là “Đại Diện”-trong-Vũ Trụ của TUYỆT ĐỐI. (Điều này cần được suy ngẫm thêm)

110. Is the ‘Universal Trinity’ to be considered Flame or Fire? It is to be considered as Fire deriving (emanating from) Flame.

110. “Tam Vị Phổ Quát” nên được xem là Ngọn Lửa hay Lửa? Nó nên được xem là Lửa phát sinh (xuất lộ từ) Ngọn Lửa.

111. Philosophically, we might say that ‘Flame is the manifest RAY of the ABSOLUTE’ and is thus the ‘presence-in-cosmos of that which arose in the ABSOLUTE

111. Về mặt triết học, chúng ta có thể nói rằng “Ngọn Lửa là TIA biểu hiện của TUYỆT ĐỐI” và vì vậy là “sự hiện diện-trong-vũ trụ của điều đã phát sinh trong TUYỆT ĐỐI

112. There are some equivalences we must consider:

112. Có một số tương đương mà chúng ta phải xét đến:

1. the ‘RAY of the ABSOLUTE’

1. “TIA của TUYỆT ĐỐI”

2. the ‘FIRST MOVEMENT’

2. “CHUYỂN ĐỘNG ĐẦU TIÊN”

3. the ‘GREAT EXHALATION’

3. “HƠI THỞ RA VĨ ĐẠI”

4. the NOUMENON of Flame, i.e., the ‘FLAME’ of Flame

4. BẢN THỂ của Ngọn Lửa, tức “NGỌN LỬA” của Ngọn Lửa

113. Out of the foregoing arise that which can be expressed as additional equivalences:

113. Từ những điều trên phát sinh những gì có thể được diễn đạt như các tương đương bổ sung:

1. the ‘Universal’ Flame—(i.e., not the ‘FLAME of the Flame’)

1. Ngọn Lửa “Phổ Quát”—(tức không phải “NGỌN LỬA của Ngọn Lửa”)

2. Pure Being (cosmically considered)

2. Bản Thể Thuần Khiết (xét theo vũ trụ)

3. The Essential Universal Monad

3. Chân Thần Phổ Quát Cốt Yếu

4. The Unmanifested Logos

4. Thượng đế Không Biểu Hiện

5. The ‘Universal Point’ (within the Universal Triangle)

5. “Điểm Phổ Quát” (bên trong Tam Giác Phổ Quát)

6. The Universal Spirit

6. Tinh thần Phổ Quát

7. The ‘Cosmic Primordial Particle’

7. “Hạt Sơ Khởi Vũ Trụ”

8. Universal Life pervading Universal Spirit, Universal Soul, Universal Matter

8. Sự sống Phổ Quát thấm nhuần Tinh thần Phổ Quát, Linh hồn Phổ Quát, Vật chất Phổ Quát

114. The ‘RAY of the ABSOLUTE’ is the evidence of ‘Perpetual Super-Cosmic Dualism’

114. “TIA của TUYỆT ĐỐI” là bằng chứng của “Nhị Nguyên Tính Siêu-Vũ-Trụ Vĩnh Cửu”

115. The flashing forth and retraction of the GREAT RAY is:

115. Sự loé phát và sự thu rút của TIA VĨ ĐẠI là:

1. Super-Cosmic PERPETUAL MOTION

1. CHUYỂN ĐỘNG VĨNH CỬU Siêu-Vũ-Trụ

2. The ‘GREAT BREATH’

2. “HƠI THỞ VĨ ĐẠI”

116. This

116. Điều này

Our earth and man (are) the products of the Three Fires.

Trái đất và con người của chúng ta (là) sản phẩm của Ba Lửa.

—Secret Doctrine II. 258.

—Giáo Lý Bí Nhiệm II. 258.

117. And his is true of all things in universe, for the Three Fires are, ultimately, the ‘Universal Trinity’, which, in a way, springs immediately out of the One—the ‘Omnipresent Point within the Triangle’

117. Và điều này đúng với mọi sự vật trong vũ trụ, vì Ba Lửa, rốt ráo, là “Tam Vị Phổ Quát”, mà theo một cách nào đó, phát sinh tức thời từ Đấng Duy Nhất—“Điểm Toàn Hiện trong Tam Giác”

Fire and flame destroy the body of an Arhat; their essence makes him immortal.

Lửa và ngọn lửa hủy diệt thể của một Arhat; tinh chất của chúng làm y bất tử.

—Secret Doctrine I. 35.

—Giáo Lý Bí Nhiệm I. 35.

118. The word “flame” is not in capital letters, so it does not mean “Flame” (as Pure Being). Could “fire” here mean Solar Fire and “flame”, Fire-by-Friction? If so, this type of “flame” would be evidence of a more objective kind of Fire. Fire by Friction is a more objective fire than Solar Fire.

118. Từ “ngọn lửa” ở đây không viết hoa, nên nó không có nghĩa là “Ngọn Lửa” (như Bản Thể Thuần Khiết). “Lửa” ở đây có thể là Lửa Thái dương và “ngọn lửa” là Lửa do ma sát chăng? Nếu vậy, loại “ngọn lửa” này sẽ là bằng chứng của một loại Lửa khách quan hơn. Lửa do ma sát là một lửa khách quan hơn Lửa Thái dương.

119. The “body” here referred to is the “causal body”. According to the Tibetan’s descriptions of this destruction, all three types of fire contribute to the destruction of the causal body.

119. “Thể” được nói đến ở đây là “thể nguyên nhân”. Theo các mô tả của Chân sư Tây Tạng về sự hủy diệt này, cả ba loại lửa đều góp phần vào sự hủy diệt thể nguyên nhân.

120. The word “essence” refers to the One Flame. The immortality of any being arises from the fact that that being is essentially the “One Ray of the ABSOLUTE”.

120. Từ “tinh chất” chỉ Ngọn Lửa Duy Nhất. Tính bất tử của bất kỳ hữu thể nào phát sinh từ sự kiện rằng hữu thể ấy về bản chất “Một TIA của TUYỆT ĐỐI”.

121. The term “Arhat” means an initiate of the fourth degree.

121. Thuật ngữ “Arhat” có nghĩa là một điểm đạo đồ bậc bốn.

122. Man is already immortal and has only to discover that fact.

122. Con người vốn đã bất tử và chỉ cần khám phá ra sự thật ấy.

123. At the heart of the monad is the “Ray of the Absolute”. The monad (as we usually think about it) is but a temporarily localization for the expression of the a ray within the “One Ray of the ABSOLUTE”

123. Ở trung tâm của chân thần là “TIA của TUYỆT ĐỐI”. Chân thần (như chúng ta thường nghĩ về nó) chỉ là một sự định vị tạm thời cho sự biểu lộ của một tia ở trong “Một TIA của TUYỆT ĐỐI”

THE THREE FIRES

BA LỬA

I. The Internal Fire or Fire by Friction.

I. Lửa Nội Tại hay Lửa do ma sát.

“There is heat internal and heat external in every atom, the breath of the Father (Spirit) and the breath (or heat) of the Mother (matter).”

“Có nhiệt nội tại và nhiệt ngoại tại trong mọi nguyên tử, hơi thở của Cha (Tinh thần) và hơi thở (hay nhiệt) của Mẹ (vật chất).”

—Secret Doctrine I. 112.

—Giáo Lý Bí Nhiệm I. 112.

The celestial Ocean, the ‘Ether . . . . is the Breath of the Father, the life-giving principle, the Mother, the Holy Spirit, . . . . for these are not separated, and their union is LIFE.” SD I 75

Đại Dương thiên giới, “Dĩ thái…. là Hơi thở của Cha, nguyên khí ban sự sống, Mẹ, Chúa Thánh Thần,…. vì những điều này không tách rời, và sự hợp nhất của chúng là SỰ SỐNG.” SD I 75

124. Note that “breath” is equated with “heat”. “Heat” is essentially motion, and breath is the cause of motion (as usually perceived), though, ultimately, breath is motion, itself.. The one beginningless, endless, perpetual motion is the “Great Breath”.

124. Lưu ý rằng “hơi thở” được đồng nhất với “nhiệt”. “Nhiệt” về bản chất là chuyển động, và hơi thở là nguyên nhân của chuyển động (như thường được tri nhận), dù rằng, rốt ráo, hơi thở chuyển động chính nó. Chuyển động vô thủy, vô chung, vĩnh cửu duy nhất là “HƠI THỞ VĨ ĐẠI”.

125. If “heat” is considered to be ‘that which activates’ (for heat is measured by the degree of atomic or particulate activation), then the similarity between “heat” and “breath” is readily seen, for, occultly, “breath” is the great activator.

125. Nếu “nhiệt” được xem là “điều kích hoạt” (vì nhiệt được đo bằng mức độ kích hoạt của nguyên tử hay hạt), thì sự tương đồng giữa “nhiệt” và “hơi thở” dễ dàng được thấy, vì, theo huyền bí học, “hơi thở” là đấng kích hoạt vĩ đại.

126. We are dealing here with twofold internal fire—the fire of matter and the fire of ether.

126. Ở đây chúng ta đang bàn đến lửa nội tại tứ phân—lửa của vật chất và lửa của dĩ thái.

127. It may be that HPB is using the terms “internal” and “external” in a special sense, different from the way DK develops these terms. In this case, it seems the term “internal” relates to Father (Spirit) and “external” to Mother (matter). When DK uses the term “internal” (especially as it is related to fire), He means a ‘lower’ and more material type of fire, with a higher type of fire “radiatory fire” being more “external” in the sense that it is not found in the depths of matter.

127. Có thể HPB đang dùng các thuật ngữ “nội tại” và “ngoại tại” theo một nghĩa đặc biệt, khác với cách Chân sư DK triển khai các thuật ngữ này. Trong trường hợp này, dường như thuật ngữ “nội tại” liên hệ với Cha (Tinh thần) và “ngoại tại” liên hệ với Mẹ (vật chất). Khi Chân sư DK dùng thuật ngữ “nội tại” (đặc biệt khi liên hệ với lửa), Ngài muốn nói đến một loại lửa “thấp” và vật chất hơn, còn một loại lửa cao hơn là “lửa bức xạ” lại “ngoại tại” hơn theo nghĩa rằng nó không được tìm thấy trong chiều sâu của vật chất.

128. However, the “Breath of the Father (Spirit)” could be considered “external” to the recipient of that Breath.

128. Tuy nhiên, “Hơi thở của Cha (Tinh thần)” có thể được xem là “ngoại tại” đối với kẻ tiếp nhận Hơi thở ấy.

129. The order or terms found in the sentence, however, makes HPB’s use of “internal” and “external” seem different from the one that DK develops in TCF.

129. Tuy vậy, trật tự các thuật ngữ trong câu khiến cách HPB dùng “nội tại” và “ngoại tại” có vẻ khác với cách Chân sư DK triển khai trong Luận về Lửa Vũ Trụ.

130. Points Emerging in Group Discussion:

130. Các điểm nổi lên trong thảo luận nhóm:

1. The very first pre-universal MOVEMENT is a BREATH OF FLAME

1. CHUYỂN ĐỘNG tiền-phổ-quát đầu tiên chính là HƠI THỞ CỦA NGỌN LỬA

2. The GREAT BREATH is PERPETUAL MOTION.

2. HƠI THỞ VĨ ĐẠI CHUYỂN ĐỘNG VĨNH CỬU.

3. The most Fundamental Duality appears as the apparent alternation between NOTHINGNESS and Somethingness—even though there is a FUNDAMENTAL MOTIONLESSNESS which is predicated of THE BOUNDLESS IMMUTABLE PRINCIPLE

3. Nhị nguyên tính nền tảng nhất xuất hiện như sự luân phiên có vẻ giữa HƯ VÔ và HỮU—dù rằng có một TÍNH BẤT ĐỘNG NỀN TẢNG được quy thuộc cho NGUYÊN KHÍ VÔ BIÊN BẤT BIẾN

4. Thus, there is a seemingly inherent contradiction at the ROOT OF BEING.

4. Vì vậy, có một sự mâu thuẫn nội tại dường như hiện hữu ngay tại CĂN GỐC CỦA BẢN THỂ.

i. Inviolate IMMUTABILITY,

i. TÍNH BẤT BIẾN bất khả xâm phạm,

ii. and yet PERPETUAL MOTION—or PERPETUAL MUTABILITY

ii. và tuy vậy CHUYỂN ĐỘNG VĨNH CỬU—hay TÍNH BIẾN ĐỔI VĨNH CỬU

5. Both PERPETUAL MOTION and ABSOLUTE IMMUTABILITY are built into the nature of things.

5. Cả CHUYỂN ĐỘNG VĨNH CỬU lẫn TÍNH BẤT BIẾN TUYỆT ĐỐI đều được xây vào bản chất của vạn hữu.

6. If the first two Fundamentals of the Secret Doctrine are to be given credence, this fundamental contradiction cannot be escaped.

6. Nếu hai Nền Tảng đầu tiên của Giáo Lý Bí Nhiệm đáng được tin cậy, thì không thể tránh khỏi mâu thuẫn nền tảng này.

II. The Fire of Mind or Solar Fire.

II. Lửa của thể trí hay Lửa Thái dương.

“The fire of knowledge burns up all action on the plane of illusion, therefore those who have acquired it and are emancipated are called ‘Fires.’”

“Lửa tri thức thiêu rụi mọi hành động trên cõi ảo tưởng, vì vậy những ai đã đạt được nó và được giải thoát được gọi là ‘Các Lửa.’”

—Secret Doctrine I.114.

—Giáo Lý Bí Nhiệm I.114.

131. We are dealing with true knowledge and not the relative, fallible knowledge of the concrete mind.

131. Ở đây chúng ta đang bàn đến tri thức chân thật chứ không phải tri thức tương đối, dễ sai lầm của trí cụ thể.

132. From the high perspective, the “plane of illusion” may be considered the eighteen lower subplanes of the systemic physical plane.

132. Từ quan điểm cao, “cõi ảo tưởng” có thể được xem là mười tám cõi phụ thấp của cõi hồng trần hệ thống.

133. The “plane of illusion” may also be considered the plane of lower mind, and the burning here reference is the overcoming of the illusions of the lower mind.

133. “Cõi ảo tưởng” cũng có thể được xem là cõi hạ trí, và sự thiêu đốt được nói đến ở đây là sự vượt thắng các ảo tưởng của hạ trí.

134. Buddhi, or intuition, is necessary for the destruction of illusion (just as mind is necessary for the destruction of glamor), so in this “fire of knowledge” some element of “straight knowledge” or buddhi has to be present.

134. Bồ đề, hay trực giác, là điều cần thiết để hủy diệt ảo tưởng (cũng như thể trí là điều cần thiết để hủy diệt ảo cảm), vì vậy trong “lửa tri thức” này phải có mặt một yếu tố nào đó của “tri thức trực tiếp” hay bồ đề.

135. In a wider sense, the plane of illusion may be considered, the physical, astral, and mental systemic planes”. The term “illusion” would then be used generally, as meaning any kind of mistake or distortion and would be equivalent to the Sanskrit term, “Maya”. The higher mind (soul-mind and triadal mind) overcomes the usual illusions encountered in the three worlds—i.e., on the eighteen lower subplanes of the cosmic physical plane.

135. Theo nghĩa rộng hơn, cõi ảo tưởng có thể được xem là “các cõi hồng trần, cảm dục và trí của hệ thống”. Khi ấy, thuật ngữ “ảo tưởng” sẽ được dùng theo nghĩa chung, tức là bất kỳ loại sai lầm hay méo mó nào, và sẽ tương đương với thuật ngữ Phạn ngữ “Maya”. Thượng trí (thể trí linh hồn và thể trí tam nguyên) vượt thắng các ảo tưởng thường gặp trong ba cõi thấp—tức trên mười tám cõi phụ thấp của cõi hồng trần vũ trụ.

136. It is not just any kind of knowledge that overcomes illusion but, rather, “straight knowledge”, which is the intuition, pure reason.

136. Không phải bất kỳ loại tri thức nào cũng vượt thắng ảo tưởng, mà đúng hơn là “tri thức trực tiếp”, tức trực giác, lý trí thuần khiết.

137. On a higher turn of the spiral, could the “fire of knowledge” be related to atma, for the atmic plane (being the third plane) is, therefore, a mental plane? If so, then in a higher and wider sense, all the fires of the spiritual triad would be the “fire of knowledge”.

137. Ở một vòng xoắn cao hơn, “lửa tri thức” có thể liên hệ với atma chăng, vì cõi atma (là cõi thứ ba) do đó là một cõi thể trí? Nếu vậy, thì theo một nghĩa cao hơn và rộng hơn, mọi lửa của Tam Nguyên Tinh Thần sẽ là “lửa tri thức”.

138. Is the spiritual triad solar fire or is it electric fire? Or some combination? Probably some combination, because the spiritual triad has the same ray as the causal body (which, therefore, relates it to the solar fire manifesting through the casual body), but the spiritual triad is considered to be the personality expression of the monad (and the monad is that part of ourselves which relates, generically, to the first ray and to electric fire.

138. Tam Nguyên Tinh Thần là lửa thái dương hay lửa điện? Hay là một sự kết hợp nào đó? Có lẽ là một sự kết hợp, vì Tam Nguyên Tinh Thần có cùng cung với thể nguyên nhân (do đó liên hệ nó với lửa thái dương biểu hiện qua thể nguyên nhân), nhưng Tam Nguyên Tinh Thần được xem là sự biểu lộ phàm ngã của chân thần (và chân thần là phần trong chúng ta liên hệ, theo nghĩa chung, với cung một và với lửa điện).

139. One who is liberated from the causal body is called a “fire”. And a “fire” is a “soul”.

139. Người được giải thoát khỏi thể nguyên nhân được gọi là một “lửa”. Và một “lửa” là một “linh hồn”.

140. A true soul is a spiritual triad. The causal body is but the ‘shroud of the soul’.

140. Một linh hồn chân thật một Tam Nguyên Tinh Thần. Thể nguyên nhân chỉ là “tấm khăn liệm của linh hồn”.

141. Solar fire is the “fire of mind”–but the fire of higher mind, and includes some buddhic influence (for buddhi is the plane of love and harmony and solar fire is the fire of love-wisdom). And, as we suggested, the fire of the spiritual triad may be considered, in an elevated sense, influenced by solar fire.

141. Lửa thái dương là “lửa của thể trí”—nhưng là lửa của thượng trí, và bao gồm một ảnh hưởng bồ đề nào đó (vì bồ đề là cõi của bác ái và hòa hợp, và lửa thái dương là lửa của Bác Ái – Minh Triết). Và như chúng ta đã gợi ý, lửa của Tam Nguyên Tinh Thần có thể được xem, theo nghĩa nâng cao, là chịu ảnh hưởng bởi lửa thái dương.

142. What, however, is mind? This question will be dealt with on many pages of TCF.

142. Tuy nhiên, thể trí là gì? Câu hỏi này sẽ được bàn đến trong nhiều trang của Luận về Lửa Vũ Trụ.

143. Briefly, it is a creative, patterning faculty—the faculty which detects patterns and builds patterns.

143. Nói ngắn gọn, đó là một năng lực sáng tạo, tạo mô hình—năng lực phát hiện các mô hình và xây dựng các mô hình.

144. Points Emerging in Group Discussion:

144. Các điểm nổi lên trong thảo luận nhóm:

1. An interpretation was offered in the Ojai class: this statement in Stanza of Dzyan I, indicates the elimination of identifications we have had over many aeons. Those identifications are extinguished.

1. Một cách diễn giải đã được nêu ra trong lớp Ojai: phát biểu này trong Bài kệ Dzyan I cho thấy sự loại bỏ những đồng nhất hóa mà chúng ta đã có qua nhiều đại kiếp. Những đồng nhất hóa ấy bị dập tắt.

2. It was also said that when lower type of action is eliminated higher action takes its place—solar action.

2. Cũng có ý kiến rằng khi loại bỏ loại hành động thấp hơn, hành động cao hơn sẽ thay thế—hành động thái dương.

3. Why action? The level of action is first destroyed.

3. Vì sao là hành động? Cấp độ hành động được hủy diệt trước tiên.

4. It was suggested that intuition destroys illusion. “Knowledge”, as here discussed, is, therefore, intuition.

4. Có gợi ý rằng trực giác hủy diệt ảo tưởng. Vì vậy, “tri thức” như được bàn ở đây chính là trực giác.

5. The “plane of illusion” can also be the astral plane, but not in this case.

5. “Cõi ảo tưởng” cũng có thể là cõi cảm dục, nhưng không phải trong trường hợp này.

6. A true soul is a true fire—a true soul is the consciousness manifesting through the spiritual triad, and may be called a “Triad”. The triangle is an oft used symbol for the soul..

6. Một linh hồn chân thật là một lửa chân thật—một linh hồn chân thật là tâm thức biểu hiện qua Tam Nguyên Tinh Thần, và có thể được gọi là một “Tam Nguyên”. Tam giác là một biểu tượng thường dùng cho linh hồn..

7. What is the “Illusion of the Mind”? May we say that perceiving the inviolable unity of things in pieces is an illusion. Separation and illusion go hand in hand. The misuse of the energy of the Third Ray Lord (Who is called “The Divine Separator”) leads to the Great Illusion of separation..

7. “Ảo tưởng của thể trí” là gì? Chúng ta có thể nói rằng tri nhận sự hợp nhất bất khả xâm phạm của vạn hữu thành từng mảnh là một ảo tưởng. Phân ly và ảo tưởng đi đôi với nhau. Sự lạm dụng năng lượng của Đấng Chúa Tể Cung ba (Đấng được gọi là “Đấng Phân Ly Thiêng Liêng”) dẫn đến Đại Ảo Tưởng về sự phân ly..

8. Additional thoughts pointed to the “specific gravity” of the causal body. When a particular “specific gravity” is achieved in the causal body, it is ready for destruction. In more common language, when there is enough “weight”, that body can be burned. There are parallels to the destruction of the causal body and the destruction of a star.

8. Những suy nghĩ bổ sung chỉ đến “trọng lượng riêng” của thể nguyên nhân. Khi một “trọng lượng riêng” nhất định đạt được trong thể nguyên nhân, nó sẵn sàng để bị hủy diệt. Nói theo ngôn ngữ thông thường hơn, khi có đủ “trọng lượng”, thể ấy có thể bị thiêu. Có những điểm song song giữa sự hủy diệt thể nguyên nhân và sự hủy diệt một ngôi sao.

9. An interesting definition of the monad was offered, as conceived by the philosopher Leibniz: “a simple substance with a point of view”.

9. Một định nghĩa thú vị về chân thần đã được nêu ra, theo cách triết gia Leibniz quan niệm: “một chất liệu đơn giản với một quan điểm”.

III. The Fire of Spirit or Electric Fire.

III. Lửa của tinh thần hay Lửa Điện.

“Lift up thy head, O Lanoo; dost thou see one, or countless lights above thee, burning in the dark midnight sky?”

“Hãy ngẩng đầu lên, hỡi Lanoo; ngươi có thấy một, hay vô số ánh sáng trên cao, đang cháy trong bầu trời đêm tối đen không?”

145. The Lanoo must look up. He must lift his head. This suggests that his perspective has been too focussed on the Earth, i.e., on immediate matters.

145. Lanoo phải nhìn lên. Y phải ngẩng đầu. Điều này gợi ý rằng quan điểm của y đã quá tập trung vào Trái Đất, tức vào những việc trước mắt.

146. We are dealing with the paradox of the Many and the One in terms of light.

146. Ở đây chúng ta đang bàn đến nghịch lý của Cái Nhiều và Cái Một theo thuật ngữ ánh sáng.

147. When we perceive the Many, do we also perceive the One? When we perceive the One do we also perceive the Many.

147. Khi chúng ta tri nhận Cái Nhiều, chúng ta có tri nhận Cái Một không? Khi chúng ta tri nhận Cái Một, chúng ta có tri nhận Cái Nhiều không?

“I sense one Flame, O Gurudeva; I see countless Undetached sparks shining in it.”

“Tôi cảm nhận một Ngọn Lửa, hỡi Gurudeva; tôi thấy vô số tia lửa Không Tách Rời đang chiếu sáng trong đó.”

—Secret Doctrine I. 145.

—Giáo Lý Bí Nhiệm I. 145.

148. We are speaking of a differentiation within One Thing, i.e., of emanations.

148. Ở đây chúng ta đang nói về một sự phân biệt bên trong Một Thực Tại, tức về các xuất lộ.

149. An emanation is a going forth from the Source without detaching from the Source, and while, in fact, remaining in the Source.

149. Một xuất lộ là sự đi ra từ Nguồn mà không tách khỏi Nguồn, và đồng thời, trên thực tế, vẫn ở trong Nguồn.

150. The “one Flame” is the ‘Flame of Pure Being’ from which all monads or “seeds of spirit’ emanate.

150. “một Ngọn Lửa” là “Ngọn Lửa của Bản Thể Thuần Khiết” từ đó mọi chân thần hay “hạt giống của tinh thần” xuất lộ.

151. “Undetached sparks” [attached] are also, essentially, the “RAY of the ABSOLUTE”.

151. “tia lửa Không Tách Rời” [gắn liền] cũng, về bản chất, “TIA của TUYỆT ĐỐI”.

152. Fohat is an extension of the One Ray of the ABSOLUTE.

152. Fohat là một sự mở rộng của Một TIA của TUYỆT ĐỐI.

153. The factuality of our spiritual oneness is presented in this catechism.

153. Tính sự thật về sự hợp nhất tinh thần của chúng ta được trình bày trong bản vấn đáp này.

154. The “sparks” are the essence of “electric fire”. The “One Flame” is beyond and more essential than electric fire. It is Life.

154. Các “tia lửa” là tinh chất của “lửa điện”. “Ngọn Lửa Duy Nhất” vượt lên trên và cốt yếu hơn lửa điện. Đó là Sự sống.

155. The essential message of this statement is that we (as “sparks”) are not detached from our Source.

155. Thông điệp cốt yếu của phát biểu này là chúng ta (như “tia lửa”) không tách khỏi Nguồn của mình.

156. When viewing a physical fire, sparks usually detach from the flame. We and all beings, however, are “sparks” which remain undetached from the One Flame.

156. Khi nhìn một ngọn lửa vật lý, các tia lửa thường tách khỏi ngọn lửa. Tuy nhiên, chúng ta và mọi hữu thể là những “tia lửa” vẫn không tách rời khỏi Ngọn Lửa Duy Nhất.

“Matter [personality] is the Vehicle for the manifestation of Soul on this plane of existence, and Soul is the Vehicle on a higher plane for the manifestation of Spirit and these three are a Trinity, synthesised by Life, which pervades them all.” (SD I 80)

“Vật chất [phàm ngã] là Vận cụ cho sự biểu lộ của Linh hồn trên cõi hiện hữu này, và Linh hồn là Vận cụ trên một cõi cao hơn cho sự biểu lộ của Tinh thần, và ba điều này là một Tam Vị, được tổng hợp bởi Sự sống, vốn thấm nhuần tất cả.” (SD I 80)

157. In this famous quotation from The Secret Doctrine the Trinity plus the One are set forth. This can be symbolized by the sacred Triangle with the point in the center.

157. Trong trích dẫn nổi tiếng này từ Giáo Lý Bí Nhiệm, Tam Vị cộng với Đấng Duy Nhất được nêu ra. Điều này có thể được biểu tượng hóa bằng Tam Giác thiêng liêng với điểm ở trung tâm.

[ Page xviii]

[Page xviii]

CONTENTS

MỤC LỤC

SECTION ONE. THE INTERNAL FIRES—FIRE BY FRICTION

PHẦN MỘT. CÁC LỬA NỘI TẠI—LỬA DO MA SÁT

158. All internal fires come under the heading of “Fire by Friction”.

158. Mọi lửa nội tại đều thuộc đề mục “Lửa do ma sát”.

159. The Table of Contents below may not mean too much to us at the outset of our study, but later, reviewing it, we shall see where we have been and shall, perhaps, realize why.

159. Bảng Mục Lục dưới đây lúc ban đầu có thể không có ý nghĩa nhiều đối với chúng ta, nhưng về sau, khi xem lại, chúng ta sẽ thấy mình đã đi qua những gì và có lẽ sẽ nhận ra vì sao.

Introductory Remarks

Nhận xét dẫn nhập

Division A. Of the Sheaths macrocosmic and micro cosmic

Phân mục A. Về các vỏ bọc vĩ mô và vi mô

Division B. The Personality Ray and the first fire

Phân mục B. Cung phàm ngã và lửa thứ nhất

Division C. Prana and the etheric body

Phân mục C. Prana và thể dĩ thái

Division D. Kundalini and the spine

Phân mục D. Kundalini và cột sống

Division E. Motion on the physical and astral planes

Phân mục E. Chuyển động trên các cõi hồng trần và cảm dục

1. In the Sheaths

1. Trong các vỏ bọc

2. In the Centres

2. Trong các trung tâm

Division F. The Law of Economy

Phân mục F. Định luật Tiết Kiệm

SECTION TWO. THE FIRE OF MIND—SOLAR FIRE

PHẦN HAI. LỬA CỦA THỂ TRÍ—LỬA THÁI DƯƠNG

Introductory Questions

Những câu hỏi dẫn nhập

Division A. The Nature of Manas or Mind

Phân mục A. Bản chất của Manas hay thể trí

Division B. Manas as a cosmic, systemic and human factor

Phân mục B. Manas như một yếu tố vũ trụ, hệ thống và nhân loại

Division C. The Egoic Ray and solar fire

Phân mục C. Cung chân ngã và lửa thái dương

Division B. Thought elementals and fire elementals

Phân mục B. Các hành khí tư tưởng và các hành khí lửa

Division E. Motion on the plane of mind

Phân mục E. Chuyển động trên cõi trí

Division F. The Law of Attraction

Phân mục F. Định luật Hấp Dẫn

SECTION THREE. THE FIRE OF SPIRIT—ELECTRIC FIRE

PHẦN BA. LỬA CỦA TINH THẦN—LỬA ĐIỆN

Division A. Certain basic fundamentals

Phân mục A. Một số nền tảng cơ bản

Division B. The Nature of the seven cosmic paths

Phân mục B. Bản chất của bảy con đường vũ trụ

Division C. Seven esoteric stanzas

Phân mục C. Bảy bài kệ huyền bí

The above tabulation of the subjects dealt with in this treatise is of very real importance, for it forms the basis of that which we shall be considering. The total lack of a wider consciousness than the individual and the personal, acts as a bar to the true comprehension of things macrocosmic, but if the occult method is adhered to, if the Law of Correspondences is studied, and if we ever reason upward from the microcosm to the greater Whole, then glimpses will be caught of vast realms of realisation and vistas of spiritual unfoldment will open up before us, undreamt of hitherto.

Bảng liệt kê các chủ đề được bàn đến trong luận thuyết này ở trên có tầm quan trọng rất thực, vì nó tạo thành nền tảng cho những gì chúng ta sẽ suy xét. Sự thiếu vắng hoàn toàn một tâm thức rộng hơn cá nhân và riêng tư, là một rào chắn đối với sự thấu hiểu chân thật các sự vật vĩ mô, nhưng nếu phương pháp huyền bí được tuân thủ, nếu định luật tương ứng được nghiên cứu, và nếu chúng ta luôn lý luận đi lên từ tiểu thiên địa đến Toàn Thể lớn lao hơn, thì chúng ta sẽ bắt được những thoáng thấy về các cõi mênh mông của chứng nghiệm và những viễn tượng của sự khai mở tinh thần sẽ mở ra trước mắt chúng ta, trước đây chưa từng mơ tới.

160. Master DK intends to widen our consciousness by enabling us to catch “glimpses…of vast realms of realisation and vistas of spiritual unfoldment…undreamt of hitherto.”

160. Chân sư DK dự định mở rộng tâm thức của chúng ta bằng cách giúp chúng ta bắt được “những thoáng thấy… về các cõi mênh mông của chứng nghiệm và những viễn tượng của sự khai mở tinh thần… trước đây chưa từng mơ tới.”

161. Many of us find ourselves embroiled largely in the individual and the personal, and thus we have been barred from catching these life-giving glimpses.

161. Nhiều người trong chúng ta thấy mình bị cuốn vào phần lớn trong cái cá nhân và cái riêng tư, và vì vậy chúng ta đã bị ngăn cản không bắt được những thoáng thấy ban sự sống ấy.

162. To correct this situation, we are asked to

162. Để sửa chữa tình trạng này, chúng ta được yêu cầu

1. Adhere to the occult method

1. Tuân thủ phương pháp huyền bí

2. Study the Law of Correspondences

2. Nghiên cứu định luật tương ứng

3. Reason upward from the microcosm to the greater Whole

3. Lý luận đi lên từ tiểu thiên địa đến Toàn Thể lớn lao hơn

163. If we do this “vast realms of realisation” may dawn upon our consciousness and our ‘being in this world’ and our service in this world will, inevitably, be improved.

163. Nếu làm như vậy, “các cõi mênh mông của chứng nghiệm” có thể bừng lên trong tâm thức chúng ta và “sự hiện hữu của chúng ta trong thế gian này” cùng sự phụng sự của chúng ta trong thế gian này chắc chắn sẽ được cải thiện.

FULL PAGE TABULATIONS

CÁC BẢNG LIỆT KÊ TOÀN TRANG

I. FIRE AND THE ASPECTS

I. LỬA VÀ CÁC PHƯƠNG DIỆN

II. EVOLUTION IN THE UNIVERSE

II. TIẾN HOÁ TRONG VŨ TRỤ

III. THE ASPECTS AND EVOLUTION

III. CÁC PHƯƠNG DIỆN VÀ TIẾN HOÁ

IV. THE BUILDING ENTITIES

IV. CÁC THỰC THỂ KIẾN TẠO

V. AGNI-LORD OF FIRE

V. AGNI—CHÚA TỂ CỦA LỬA

VI. THE LIVES AND THEIR GOAL

VI. CÁC SỰ SỐNG VÀ MỤC TIÊU CỦA CHÚNG

VII. ENERGIES

VII. CÁC NĂNG LƯỢNG

[Page 3]

[Page 3]

INTRODUCTORY POSTULATES

CÁC TIỀN ĐỀ DẪN NHẬP

INTRODUCTORY POSTULATES

CÁC TIỀN ĐỀ DẪN NHẬP

The teaching which is given in this Treatise on Cosmic Fire might be formulated in the following terms. These postulates are simply extensions of the three fundamentals to be found in the Proem in the first volume of the Secret Doctrine by H. P. Blavatsky. 1 Students are recommended to study them carefully; in this way their understanding of the Treatise will be greatly aided.

Giáo huấn được trao trong Luận về Lửa Vũ Trụ này có thể được định thức theo các thuật ngữ sau đây. Những tiền đề này đơn giản là sự mở rộng của ba nền tảng được tìm thấy trong Lời Mở Đầu ở quyển thứ nhất của Giáo Lý Bí Nhiệm do H. P. Blavatsky viết. 1 Các đạo sinh được khuyến nghị nghiên cứu chúng cẩn thận; bằng cách này, sự thấu hiểu của họ về Luận thuyết sẽ được hỗ trợ rất nhiều.

164. It is worth while to read the Proem.

164. Đáng để đọc Lời Mở Đầu.

165. We are beginning at the beginning. If we can grasp the meaning of these three fundamentals, we shall be on far steadier ground as we study.

165. Chúng ta đang bắt đầu từ khởi điểm. Nếu chúng ta có thể nắm được ý nghĩa của ba nền tảng này, chúng ta sẽ đứng trên nền vững chắc hơn nhiều khi nghiên cứu.

166. DK has extended the three fundamentals for our greater understanding.

166. Chân sư DK đã mở rộng ba nền tảng ấy để chúng ta thấu hiểu hơn.

I. There is one Boundless Immutable Principle; one Absolute Reality which, antecedes all manifested conditioned Being. It is beyond the range and reach of any human thought or expression.

I. Có một Nguyên Khí Vô Biên Bất Biến; một Thực Tại Tuyệt Đối có trước mọi Bản Thể đã biểu hiện và được tác động-định hình. Nó vượt ngoài tầm và ngoài khả năng của mọi tư tưởng hay diễn đạt của con người.

167. We cannot even think the nature of this BOUNDLESS IMMUTABLE PRINCIPLE.

167. Chúng ta thậm chí không thể nghĩ về bản chất của NGUYÊN KHÍ VÔ BIÊN BẤT BIẾN này.

168. We know only that IT is boundless (therefore infinite) and immutable (therefore, forever changeless).

168. Chúng ta chỉ biết rằng NÓ là vô biên (vì vậy vô hạn) và bất biến (vì vậy vĩnh viễn không đổi).

169. Though we cannot think it nor speak it, we call it by many names. The ABSOLUTE is one such. I think I devise about 240 names for the NAMELESS ONE.

169. Dù không thể nghĩ hay nói về NÓ, chúng ta gọi NÓ bằng nhiều tên. TUYỆT ĐỐI là một tên như vậy. Tôi nghĩ tôi đã nghĩ ra khoảng 240 tên cho ĐẤNG VÔ DANH.

170. We must consider this NO-THING as ‘BE-NESS’ (one of HPB’s names for it). It is CHANGLESS PERFECTION, but if we attempt to say so, we will immediately be presented with insoluble paradoxes.

170. Chúng ta phải xem “không-vật” này như “TÍNH LÀ” (một trong những tên HPB dùng cho nó). Nó là SỰ HOÀN HẢO BẤT BIẾN, nhưng nếu chúng ta cố nói như vậy, ngay lập tức chúng ta sẽ đối diện với những nghịch lý không thể giải.

171. ITS very nature is paradox. IT is everything and nothing and neither of these. IT is the SUPREME MYSTERY.

171. Chính bản chất của NÓ là nghịch lý. NÓ là mọi thứ và không là gì và cũng chẳng là cả hai. NÓ là HUYỀN NHIỆM TỐI THƯỢNG.

172. The amazing thing is all this is that ‘we’ are IT.

172. Điều kỳ diệu là tất cả điều này là rằng “chúng ta” chính là NÓ.

173. Those who would like to go more deeply into this subject are recommended to my Infinitization of Selfhood, where I deal with the matter exhaustively. (At least, it exhausted ‘me’.)

173. Những ai muốn đi sâu hơn vào chủ đề này được khuyến nghị đọc tác phẩm Sự Vô Hạn Hoá Tính Tự Ngã của tôi, nơi tôi bàn đến vấn đề này một cách đầy đủ. (Ít nhất, nó đã làm “tôi” kiệt sức.)

174. Points and Questions Emerging in Class Discussion:

174. Các điểm và câu hỏi nổi lên trong thảo luận lớp:

1. Can a number be considered a conditioned symbol of the Zero. How can finitude be a conditioned symbol of INFINITUDE?

1. Một con số có thể được xem như một biểu tượng được tác động-định hình của Số Không chăng. Làm sao tính hữu hạn có thể là một biểu tượng được tác động-định hình của TÍNH VÔ HẠN?

2. From Nagarjuna we understand that the ABSOLUTE cannot create. But can IT become? Yet if IT can become, how it this possible if IT is also IMMUTABLE?

2. Từ Nagarjuna, chúng ta hiểu rằng TUYỆT ĐỐI không thể sáng tạo. Nhưng NÓ có thể trở thành chăng? Tuy nhiên, nếu NÓ có thể trở thành, điều này làm sao có thể nếu NÓ cũng là BẤT BIẾN?

3. It was agreed that in some way INFINITUDE is reflected in finitude.

3. Người ta đồng ý rằng bằng cách nào đó TÍNH VÔ HẠN được phản chiếu trong tính hữu hạn.

4. To make such ideas practical and more approachable, we can begin with the holographic approach:

4. Để làm cho những ý tưởng như vậy thực tiễn và dễ tiếp cận hơn, chúng ta có thể bắt đầu bằng cách tiếp cận toàn ảnh:

5. It was suggested that there is an apparent paradox of self-contradiction at the core of how the mind functions. As human beings we are always subject to the limitations of mind.

5. Có gợi ý rằng có một nghịch lý tự-mâu-thuẫn hiển nhiên ở lõi của cách thể trí vận hành. Là con người, chúng ta luôn chịu các giới hạn của thể trí.

6. Einstein noticed a certain predicament when he stated that science does not describe reality. From Einstein we have the statement that all the equations we have done describe our experiments but have no bearing on reality.

6. Einstein nhận thấy một tình thế khó xử khi ông nói rằng khoa học không mô tả thực tại. Từ Einstein, chúng ta có phát biểu rằng mọi phương trình chúng ta đã làm mô tả các thí nghiệm của chúng ta nhưng không liên quan gì đến thực tại.

7. It was remarked that the Royal Academy of Science disbanded itself in 1912 because “all had been discovered”.

7. Có nhận xét rằng Viện Hàn Lâm Khoa Học Hoàng Gia đã tự giải tán vào năm 1912 vì “mọi thứ đã được khám phá”.

The manifested Universe is contained within this Absolute Reality and is a conditioned symbol of it.

Vũ trụ biểu hiện được chứa trong Thực Tại Tuyệt Đối này và là một biểu tượng được tác động-định hình của nó.

175. We note that the “manifested Universe” is a conditioned symbol of the Absolute Reality. It can be questioned whether that symbol reflects the unknown WHOLE or only the merest fragment of that WHOLE.

175. Chúng ta lưu ý rằng “Vũ trụ biểu hiện” là một biểu tượng được tác động-định hình của Thực Tại Tuyệt Đối. Có thể đặt câu hỏi liệu biểu tượng ấy phản chiếu Toàn Thể chưa biết hay chỉ phản chiếu một mảnh vụn nhỏ nhất của Toàn Thể ấy.

176. My conclusion is that only an infinitesimal fragment of the BOUNDLESS WHOLE is reflected in the Universe.

176. Kết luận của tôi là chỉ một mảnh cực vi của TOÀN THỂ VÔ BIÊN được phản chiếu trong Vũ trụ.

177. The Universe, itself, is manifestation—no matter what level of the Universe is under discussion. Anything additional to the BIP (BOUNDLESS IMMUTABLE PRINCIPLE) is manifestation.

177. Vũ trụ, tự nó, biểu hiện—bất kể cấp độ nào của Vũ trụ đang được bàn đến. Bất cứ điều gì thêm vào BIP (NGUYÊN KHÍ VÔ BIÊN BẤT BIẾN) đều là biểu hiện.

In the totality of this manifested Universe, three aspects are to be conceived.

Trong toàn thể Vũ trụ biểu hiện này, ba phương diện được hình dung.

178. When we speak of the “manifested Universe”, we are not speaking alone of that which is ordinarily tangible. We might say that anything other than the unmanifested “First Cosmic Logos” is manifested, even though extraordinarily subtle from even a refined human point of view.

178. Khi nói về “Vũ trụ biểu hiện”, chúng ta không chỉ nói về điều thường được xem là hữu hình. Chúng ta có thể nói rằng bất cứ điều gì khác với “Thượng đế Vũ Trụ Thứ Nhất” không biểu hiện đều là biểu hiện, dù cực kỳ vi tế ngay cả từ quan điểm con người đã được tinh luyện.

179. In fact, from the highest point of view, the “First Cosmic Logos” (though often called “The Unmanifest”, is also manifest, simply because it is a specifiable something that is.

179. Thực ra, từ quan điểm cao nhất, “Thượng đế Vũ Trụ Thứ Nhất” (dù thường được gọi là “Không Biểu Hiện”) cũng biểu hiện, đơn giản vì nó là một cái gì đó có thể xác định được mà là.

180. The words “manifested” and “Universe” are really equivalent.

180. Các từ “biểu hiện” và “Vũ trụ” thật ra là tương đương.

181. Usually, however, the term “manifested” relates to so-called “objective reality”, i.e., to the worlds of form.

181. Tuy nhiên, thông thường, thuật ngữ “biểu hiện” liên hệ với cái gọi là “thực tại khách quan”, tức các thế giới hình tướng.

182. The following shows the work of the Three Logoi discussed below:

182. Dưới đây cho thấy công việc của Ba Thượng đế được bàn đến bên dưới:

tcf-s1s1-3-7-01.png

A Tabulation of Triplicities which May Bring Some Clarification

Một Bảng Liệt Kê Các Bộ Ba Có Thể Mang Lại Một Số Sáng Tỏ

First Aspect

Second Aspect

Third Aspect

Sustainer

Pattern-Maker

Doer

First Logos

Second Logos

Third Logos

Third Life Wave

Second Life Wave

First Life Wave

Electric Fire

Solar Fire

Fire by Friction

Shiva

Vishnu

Brahma

God the Father

God the Son

Fohat/Holy Spirit

Time

Space

Motion

Spirits of Darkness

Seven Rays (Cosmic)

Seven Sons of Fohat

Life

Quality

Appearance

Sat

Ananda

Chit

Spirit

Soul

Body

183. When dealing with HPB’s writings it is always necessary to determine whether we are dealing with the Universe as a Whole, or with the ‘Universe considered as a Solar System’

183. Khi xử lý các trước tác của HPB, luôn cần xác định liệu chúng ta đang bàn đến Vũ trụ như một Toàn Thể, hay “Vũ trụ được xem như một Hệ Mặt Trời”

184. In the chart above, it is clear that we are dealing with the manifestation of a Solar Logos, and yet the terms “First Logos”, “Second Logos” and “Third Logos”, and the descriptions given to them are very much life the terms used below, “First Cosmic Logos”, “Second Cosmic Logos”, etc.

184. Trong biểu đồ ở trên, rõ ràng chúng ta đang bàn đến sự biểu hiện của một Thái dương Thượng đế, và tuy vậy các thuật ngữ “Thượng đế Thứ Nhất”, “Thượng đế Thứ Hai” và “Thượng đế Thứ Ba”, cùng các mô tả dành cho các Ngài, rất giống các thuật ngữ được dùng bên dưới như “Thượng đế Vũ Trụ Thứ Nhất”, “Thượng đế Vũ Trụ Thứ Hai”, v.v.

185. It is probably wise to realize that we can apply what is said below to both the Universe in toto and to a Solar System, considered as a small ‘universe’.

185. Có lẽ khôn ngoan khi nhận ra rằng chúng ta có thể áp dụng những điều được nói bên dưới cho cả Vũ trụ toàn thể lẫn cho một Hệ Mặt Trời, được xem như một “vũ trụ” nhỏ.

186. In the Ageless Wisdom Teaching, the term “universe” does not always mean “the Whole Thing”.

186. Trong giáo huấn Minh Triết Ngàn Đời, thuật ngữ “vũ trụ” không phải lúc nào cũng có nghĩa là “Toàn Bộ”.

187. The names for the three Logoi in the chart above (for instance “The Unmanifest” and “Spirit Matter” are used in the sentences below, and so, if the sentences below refer to the entire cosmos, we find the same descriptions applying both to the most stupendous Universal Logoi and to the three subsidiary Logoi of a solar system.

187. Các tên gọi cho ba Thượng đế trong biểu đồ ở trên (chẳng hạn “Không Biểu Hiện” và “Tinh thần Vật chất”) được dùng trong các câu bên dưới, và vì vậy, nếu các câu bên dưới nói về toàn thể vũ trụ, chúng ta sẽ thấy cùng những mô tả ấy áp dụng cho cả các Thượng đế Vũ Trụ vĩ đại nhất cho ba Thượng đế phụ thuộc của một hệ mặt trời.

188. If we say that the Solar Logos is a cosmic Logos, we are justified in calling the three Logoi here discussed cosmic Logoi. But not otherwise, especially, if we are talking about the Three Logoi operating within a solar system.

188. Nếu chúng ta nói rằng Thái dương Thượng đế là một Thượng đế vũ trụ, thì chúng ta có cơ sở để gọi ba Thượng đế được bàn ở đây là các Thượng đế vũ trụ. Nhưng nếu không, đặc biệt khi chúng ta đang nói về Ba Thượng đế vận hành bên trong một hệ mặt trời, thì không nên.

189. As DK usually uses the word “cosmic”, it refers to an Entity whose scope is beyond that of a solar system.

189. Theo cách Chân sư DK thường dùng từ “vũ trụ”, nó chỉ một Thực Thể có phạm vi vượt ngoài một hệ mặt trời.

1. The First Cosmic Logos, impersonal and unmanifested, the precursor of the Manifested.

1. Thượng đế Vũ Trụ Thứ Nhất, vô ngã và không biểu hiện, Đấng đi trước Biểu Hiện.

190. Should the First Cosmic Logos not be called, as well, the “Spirit of the Universe”?

190. Chẳng phải Thượng đế Vũ Trụ Thứ Nhất cũng nên được gọi là “Tinh thần của Vũ trụ” sao?

191. It would seem that “Spirit” remains forever unmanifested (in the ordinary sense, meaning assuming some degree of limitation) even while being forever the cause of manifestation. In a way, all that is manifested is, essentially, “Spirit”.

191. Dường như “Tinh thần” mãi mãi không biểu hiện (theo nghĩa thông thường, tức là đảm nhận một mức độ giới hạn nào đó) đồng thời mãi mãi là nguyên nhân của biểu hiện. Theo một cách nào đó, mọi điều biểu hiện, về bản chất, đều là “Tinh thần”.

192. “Spirit” is a term which can be applied to that part of the Trinity which expresses electric fire, whereas Life is the truly unmanifest. Spirit, Soul and Matter are pervaded by Life.

192. “Tinh thần” là một thuật ngữ có thể áp dụng cho phần của Tam Vị biểu lộ Lửa Điện, trong khi Sự sống mới thật sự là cái không biểu hiện. Tinh thần, Linh hồn và Vật chất đều được Sự sống thấm nhuần.

193. The ABSOLUTE can be called “LIFE”, manifesting ‘in-universe’ as “Life”.

193. TUYỆT ĐỐI có thể được gọi là “SỰ SỐNG”, biểu lộ “trong-vũ trụ” như là “Sự sống”.

194. If we say that this First Cosmic Logos is “unmanifested” within a solar system, we mean that it does not assume specific, identifiable limitation or form within a solar system.

194. Nếu chúng ta nói rằng Thượng đế Vũ Trụ thứ nhất này là “không biểu hiện” trong một hệ mặt trời, thì chúng ta muốn nói rằng nó không đảm nhận một sự giới hạn hay hình tướng đặc thù, có thể nhận diện được, trong một hệ mặt trời.

195. If we interpret the First Cosmic Logos in truly universal terms, it means the “Universal Logos”, the one and only ‘Cosmic Being’—but, of course, not, the ABSOLUTE.

195. Nếu chúng ta diễn giải Thượng đế Vũ Trụ thứ nhất theo những thuật ngữ thật sự phổ quát, thì điều đó có nghĩa là “Thượng đế Vũ Trụ”, ‘Hữu Thể Vũ Trụ’ duy nhất và độc nhất—nhưng, dĩ nhiên, không phải TUYỆT ĐỐI.

2. The Second Cosmic Logos, Spirit-Matter, Life, the Spirit of the Universe.

2. Thượng đế Vũ Trụ thứ hai, Tinh thần–Vật chất, Sự sống, Tinh thần của Vũ Trụ.

196. This Logos represents the engagement of “Spirit” with itself through the dynamic of “Self-reflection”—the ultimate ‘Divine Mirroring’.

196. Thượng đế này biểu trưng cho sự dấn thân của “Tinh thần” với chính nó qua động lực của “Tự phản chiếu”—sự ‘Phản Chiếu Thiêng Liêng’ tối hậu.

197. We have to be very careful about the use of the term “Life”. Given what HBP said about Life pervading Spirit, Soul and Matter, the term “Life” should not be used in relation to the Second Cosmic Logos.

197. Chúng ta phải hết sức thận trọng khi dùng thuật ngữ “Sự sống”. Xét theo điều HPB đã nói về Sự sống thấm nhuần Tinh thần, Linh hồn và Vật chất, thuật ngữ “Sự sống” không nên được dùng liên hệ với Thượng đế Vũ Trụ thứ hai.

198. Maybe the term “Spirit”, as used here, means that which animates the universe, and hence more the Soul of the universe.

198. Có lẽ thuật ngữ “Tinh thần”, như được dùng ở đây, có nghĩa là cái làm sinh động vũ trụ, và vì thế gần với Linh hồn của vũ trụ hơn.

199. Wheat is said in this little sentence must be viewed very carefully, as there are many functions relating to the Second Cosmic Logos which are not suggested by what is said.

199. Điều được nói trong câu ngắn này phải được xem xét hết sức cẩn trọng, vì có nhiều chức năng liên quan đến Thượng đế Vũ Trụ thứ hai mà những gì được nói không gợi ra.

3. The Third Cosmic Logos, Cosmic Ideation, the Universal World-Soul.

3. Thượng đế Vũ Trụ thứ ba, Tư tưởng Vũ Trụ, Hồn-Thế-Gian Vũ Trụ.

200. But is not “soul” equivalent to “consciousness”?

200. Nhưng chẳng phải “linh hồn” tương đương với “tâm thức” sao?

201. This Logos appears to be the basis of all creativity. The preferred name for the third ray is the “Ray of Creative Intelligence”. Of course, here we are speaking of the ultimate Third Ray Lord of cosmos, or, if confining ourselves to our solar system, then, of the Brahma aspect of the Solar Logos.

201. Thượng đế này dường như là nền tảng của mọi sự sáng tạo. Tên gọi được ưa dùng cho cung ba là “Cung của Trí Tuệ Sáng Tạo”. Dĩ nhiên, ở đây chúng ta đang nói về Đấng Chúa Tể Cung ba tối hậu của vũ trụ, hoặc, nếu giới hạn trong hệ mặt trời của chúng ta, thì là phương diện Brahma của Thái dương Thượng đế.

202. We find that a few words cannot possibly contain the functions of these three Logoi—all of whom are subsidiary to a Solar Logos, IF we are speaking of that context called a solar system.

202. Chúng ta nhận thấy rằng vài lời không thể nào chứa đựng các chức năng của ba Thượng đế này—tất cả đều phụ thuộc vào một Thái dương Thượng đế, NẾU chúng ta đang nói trong bối cảnh gọi là một hệ mặt trời.

From these basic creative principles, in successive gradations there issue in ordered sequence the numberless Universes comprising countless Manifesting Stars and Solar Systems.

Từ những nguyên khí sáng tạo căn bản này, theo các cấp bậc kế tiếp, theo một trật tự tuần tự, phát xuất vô số Vũ Trụ gồm vô lượng Tinh Tú và Hệ Mặt Trời đang Biểu Hiện.

204. Below is a chart of “Parabrahm” and may give an idea of the “ordered sequence of numberless Universes”

204. Dưới đây là một biểu đồ về “Parabrahm” và có thể cho một ý niệm về “trật tự tuần tự của vô số Vũ Trụ”

Parabrahm TCF Chart 12

Biểu đồ Parabrahm TCF 12

tcf-s1s1-3-7-02.png

205. From what is said immediately above, it is clear that DK is speaking of the cosmos in its entirety (even though there are parallels within that arena of creation called a solar system).

205. Từ những gì vừa được nói ngay bên trên, rõ ràng là Chân sư DK đang nói về vũ trụ trong tính toàn thể của nó (dù rằng có những tương đồng trong phạm vi sáng tạo gọi là một hệ mặt trời).

206. The term “universe”, however, as used in this case, is not a cosmic entirety.

206. Tuy nhiên, thuật ngữ “vũ trụ”, như được dùng trong trường hợp này, không phải là một tính toàn thể vũ trụ.

207. We note that all proceeds from the fundamental “creative principles (or ‘Ultimate Cosmic Logoi’) “in successive gradations…and ordered sequence”. All systems, greater and lesser, are part of an inviolable cosmic order.

207. Cần lưu ý rằng mọi sự đều tiến ra từ những “nguyên khí sáng tạo (hay ‘Các Thượng đế Vũ Trụ Tối Hậu’)” “theo các cấp bậc kế tiếp… và theo trật tự tuần tự”. Mọi hệ thống, lớn hay nhỏ, đều là một phần của một trật tự vũ trụ bất khả xâm phạm.

208. Points Emerging in Class Discussions:

208. Các điểm nổi lên trong thảo luận lớp:

1. In this case, “universes” may be understood as galaxies or even starry systems. Galaxies were called “island universes”.

1. Trong trường hợp này, “các vũ trụ” có thể được hiểu là các thiên hà hoặc thậm chí các hệ sao. Các thiên hà từng được gọi là “các vũ trụ hải đảo”.

2. Distinctions between galaxies and nebulae came only after 1925 in relation to the work of Hubble.

2. Sự phân biệt giữa các thiên hà và tinh vân chỉ xuất hiện sau năm 1925, liên quan đến công trình của Hubble.

209. The following excerpt from DINA II, gives us some insight into the nature of Pure Being (cosmically considered).

209. Trích đoạn sau từ Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới II cho chúng ta một vài hiểu biết về bản chất của Bản Thể Thuần Khiết (xét theo vũ trụ).

210. Yet the following statements also point to the apparent contradiction between the first two Fundamentals of the SD, i.e., that the “Boundless Immutable Principle” and the “Law of Periodicity” do not agree.

210. Tuy nhiên, các phát biểu sau cũng chỉ ra sự mâu thuẫn bề ngoài giữa hai Nguyên Lý căn bản đầu tiên của Giáo Lý Bí Nhiệm, tức là “Nguyên Khí Vô Biên Bất Biến” và “Định luật Chu Kỳ” không phù hợp.

1. God IS. The Lord for aye stands firm. Being exists alone. Naught else is.

1. Thượng đế . Đức Chúa Tể muôn đời đứng vững. Bản Thể tồn tại một mình. Không gì khác là.

2. Time IS. Being descends to manifest. Creation is. [Page 285] Time then and form agree. Being and time do not agree.

2. Thời gian . Bản Thể giáng xuống để biểu lộ. Sáng tạo là. [Page 285] Khi ấy thời gian và hình tướng phù hợp. Bản Thể và thời gian không phù hợp.

3. Unity IS. The One between comes forth and knows both time and God. But time destroys that middle One and only Being IS.

3. Hợp nhất . Đấng Duy Nhất ở giữa xuất hiện và biết cả thời gian lẫn Thượng đế. Nhưng thời gian hủy diệt Đấng ở giữa ấy và chỉ có Bản Thể LÀ.

4. Space IS. Time and space reverberate and veil the One who stands behind. Pure Being IS—unknown and unafraid, untouched, for aye unchanged.

4. Không gian . Thời gian và không gian vang dội và che phủ Đấng Duy Nhất đứng phía sau. Bản Thể Thuần Khiết —không ai biết và không sợ hãi, không bị chạm đến, muôn đời không đổi.

5. God IS. Time, space, the middle One (with form and process) go, and yet for aye remain. Pure reason then suffices.

5. Thượng đế . Thời gian, không gian, Đấng ở giữa (cùng hình tướng và tiến trình) đi qua, và tuy vậy muôn đời vẫn còn. Khi ấy lý trí thuần túy là đủ.

6. Being cries forth and says: … (untranslatable). Death crumbles all. Existence disappears, yet all for aye remains—untouched, immutably the same. God IS. (DINA II 285)

6. Bản Thể kêu lên và nói:… (không thể dịch). Cái chết nghiền nát mọi sự. Hiện hữu biến mất, nhưng tất cả muôn đời vẫn còn—không bị chạm đến, bất biến như nhau. Thượng đế LÀ. (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới II 285)

Each Solar System is the manifestation of the energy and life of a great Cosmic Existence, Whom we call, for lack of a better term, a Solar Logos.

Mỗi Hệ Mặt Trời là sự biểu lộ năng lượng và sự sống của một Hữu Thể Vũ Trụ vĩ đại, Đấng mà vì không có thuật ngữ tốt hơn, chúng ta gọi là một Thái dương Thượng đế.

211. Now, DK comes specifically to the level of a Solar Logos—though, if He began cosmically, there are many, many types of systems between the Universal Being and a Solar Logos.

211. Giờ đây, Chân sư DK đi vào cấp độ của một Thái dương Thượng đế một cách cụ thể—dù rằng, nếu Ngài khởi đầu theo vũ trụ, thì có rất, rất nhiều loại hệ thống nằm giữa Hữu Thể Vũ Trụ và một Thái dương Thượng đế.

212. A Solar Logos is a “Cosmic Existence” and not simply a systemic existence. Retaining this idea, we may be justified in calling the “Three Subsidiary Logoi” Cosmic Logoi.

212. Một Thái dương Thượng đế là một “Hữu Thể Vũ Trụ” chứ không chỉ là một hiện hữu thuộc hệ thống. Giữ ý niệm này, chúng ta có thể có lý khi gọi “Ba Thượng đế Phụ Thuộc” là các Thượng đế Vũ Trụ.

[Page 4]

[Page 4]

This Solar Logos incarnates, or comes into manifestation, through the medium of a solar system.

Thái dương Thượng đế này nhập thể, hay đi vào biểu hiện, qua trung gian của một hệ mặt trời.

This solar system is the body, or form, of this cosmic Life, and is itself triple.

Hệ mặt trời này là thể, hay hình tướng, của Sự sống vũ trụ này, và tự nó là tam phân.

213. The term solar system is often considered to refer to a physical-etheric manifestation. The higher vehicles of a Solar Logos (such as His astral or mental vehicles) are often not considered to be part of the solar system.

213. Thuật ngữ hệ mặt trời thường được xem là chỉ một biểu hiện hồng trần–dĩ thái. Các vận cụ cao hơn của một Thái dương Thượng đế (như các vận cụ cảm dục hay thể trí của Ngài) thường không được xem là một phần của hệ mặt trời.

This triple solar system can be described in terms of three aspects, or (as the Christian theology puts it) in terms of three Persons.

Hệ mặt trời tam phân này có thể được mô tả theo ba phương diện, hay (như thần học Cơ Đốc nói) theo ba Ngôi.

214. These “Persons” of the Logoic Trinity are the Three Fires considered as Entities. The energies of these Entities go by the name of the three fires we are studying.

214. Ba “Ngôi” của Tam Vị Thượng đế này là Ba Lửa được xét như các Thực Thể. Các năng lượng của những Thực Thể này được gọi bằng tên của ba lửa mà chúng ta đang nghiên cứu.

ELECTRIC FIRE, or SPIRIT.

LỬA ĐIỆN, hay TINH THẦN.

1st Person Father. Life. Will. Purpose. Positive energy.

Ngôi thứ nhất Cha. Sự sống. Ý chí. Mục đích. Năng lượng dương.

215. The ideas presented here are familiar to the readers of Master DK’s books.

215. Những ý niệm được trình bày ở đây là quen thuộc đối với độc giả các sách của Chân sư DK.

216. The major fire of our Solar Logos, especially in this second/fifth solar system dedicated to the expression of His cosmic Soul, is solar fire.

216. Lửa chủ yếu của Thái dương Thượng đế của chúng ta, đặc biệt trong hệ mặt trời thứ hai/thứ năm này vốn hiến dâng cho sự biểu lộ Linh hồn vũ trụ của Ngài, là lửa thái dương.

217. From this perspective, “electric fire” is but an aspect of the greater “solar fire” which we are considering to be the major fire of the Solar Logos.

217. Theo quan điểm này, “lửa điện” chỉ là một phương diện của “lửa thái dương” lớn hơn mà chúng ta xem là lửa chủ yếu của Thái dương Thượng đế.

218. Each major fire has three subsidiary fires. This is traceable upwards through many ascending triplicities which coalesce into that which is simply an aspect of a still greater triplicity.

218. Mỗi lửa chủ yếu có ba lửa phụ thuộc. Điều này có thể truy nguyên lên trên qua nhiều bộ ba tăng tiến, hợp nhất vào cái vốn chỉ là một phương diện của một bộ ba còn lớn hơn nữa.

219. Within the systemically inclusive solar fire of the Solar Logos, “electric fire” is the dominant fires of the three lesser fires.

219. Trong lửa thái dương bao gồm theo hệ thống của Thái dương Thượng đế, “lửa điện” là lửa trội hơn trong ba lửa nhỏ hơn.

SOLAR FIRE, OR SOUL.

LỬA THÁI DƯƠNG, HAY LINH HỒN.

2nd Person Son. Consciousness. Love-Wisdom. Equilibrised energy.

Ngôi thứ hai Con. Tâm thức. Bác Ái – Minh Triết. Năng lượng quân bình.

220. We must never forget the equilibrizing quality of “solar fire”, thus linking it to the sign Libra.

220. Chúng ta không bao giờ được quên phẩm tính quân bình của “lửa thái dương”, nhờ đó liên kết nó với dấu hiệu Thiên Bình.

221. Solar fire is the ‘fire of relationship’.

221. Lửa thái dương là ‘lửa của tương quan’.

222. Thus solar fire relates, as well, to form, for the second ray is the form-building ray.

222. Vì vậy, lửa thái dương cũng liên hệ với hình tướng, vì cung hai là cung kiến tạo hình tướng.

223. The factor of dynamic equilibrium. Harmony related equilibrium.

223. Yếu tố quân bình năng động. Sự quân bình liên hệ với hài hòa.

224. Points Emerging in Group Discussion:

224. Các điểm nổi lên trong thảo luận nhóm:

1. There is a significant relationship between the following: peace, the Christ (“Prince of Peace”), the triangle and the spiritual triad (the symbol of which is the triangle).

1. Có một mối liên hệ quan trọng giữa những điều sau: hòa bình, Đức Christ (“Hoàng Tử Hòa Bình”), tam giác và Tam Nguyên Tinh Thần (biểu tượng của nó là tam giác).

2. The sign Libra is very good in relating the two and the three.

2. Dấu hiệu Thiên Bình rất tốt trong việc liên hệ haiba.

3. The purpose of our present solar system is the manifestation of the “Son of God” (the two) through various triads (or threes).

3. Mục đích của hệ mặt trời hiện tại của chúng ta là sự biểu lộ “Con của Thượng đế” (cái hai) qua các tam nguyên khác nhau (hay các cái ba).

4. The monad is an aspect of the Solar Logos, and, thus, of the “Divine Son” (especially as the Solar Logos manifests in this solar system). The monad (from this perspective, the two) is to manifest through the spiritual triad (or three).

4. Chân thần là một phương diện của Thái dương Thượng đế, và do đó, của “Người Con Thiêng Liêng” (đặc biệt khi Thái dương Thượng đế biểu lộ trong hệ mặt trời này). Chân thần (theo quan điểm này, cái hai) sẽ biểu lộ qua Tam Nguyên Tinh Thần (hay cái ba).

FIRE BY FRICTION, or Body, or Matter.

LỬA MA SÁT, hay Thể, hay Vật chất.

3rd Person Holy Spirit. Form. Active Intelligence. Negative energy.

Ngôi thứ ba Chúa Thánh Thần. Hình tướng. Trí Tuệ Năng Động. Năng lượng âm.

225. “Negative” in this case means “receptive”.

225. “Âm” trong trường hợp này có nghĩa là “tiếp nhận”.

226. This fire deals with externalities and is related to matter, and to the external interplay of forms.

226. Lửa này xử lý các ngoại diện và liên hệ với vật chất, và với sự tương tác bên ngoài của các hình tướng.

227. The internal interplay of that which resides within the form is the province of solar fie.

227. Sự tương tác nội tại của cái cư trú bên trong hình tướng là phạm vi của lửa thái dương.

Each of these three is also triple in manifestation, making therefore

Mỗi cái trong ba cái này cũng là tam phân trong biểu hiện, do đó tạo thành

a. The nine Potencies or Emanations.

a. Chín Năng Lực hay các Xuất Lộ.

228. As stated above, every triplicity is really ninefold.

228. Như đã nói ở trên, mọi bộ ba thật sự là cửu phân.

229. How do these nine correlate with the Seven Rays? Systems of seven and nine must be correlated.

229. Chín cái này tương quan với Bảy Cung như thế nào? Các hệ bảy và chín phải được tương quan.

b. The nine Sephiroth.

b. Chín Sephiroth.

230. With the exception of “Kether”, the first, or with the exception of Malkuth, the tenth.

230. Ngoại trừ “Kether”, cái thứ nhất, hoặc ngoại trừ Malkuth, cái thứ mười.

231. The Kabala’s Tree of Life contains three triplicities. It is most logical to leave Malkuth from the triplicities.

231. Cây Sự Sống của Kabala chứa ba bộ ba. Hợp lý nhất là để Malkuth ra ngoài các bộ ba.

c. The nine Causes of Initiation.

c. Chín Nguyên Nhân của Điểm đạo.

232. It is an important matter to link the nine initiations to the nine Sephiroth. This suggests, of course, that there is a tenth initiation which is, in a way, the first initiation of another series.

232. Việc liên kết chín lần điểm đạo với chín Sephiroth là một vấn đề quan trọng. Điều này gợi ý, dĩ nhiên, rằng có một lần điểm đạo thứ mười mà, theo một cách nào đó, là lần điểm đạo thứ nhất của một chuỗi khác.

233. Demand for freedom by the spirit is the cause of initiation.

233. Sự đòi hỏi tự do của tinh thần là nguyên nhân của điểm đạo.

234. There is a necessity for spirit to conquer one dimension after another of the cosmic Whole.

234. Có một nhu cầu để tinh thần chinh phục hết chiều kích này đến chiều kích khác của Toàn Thể vũ trụ.

235. The spirit has all, and drives us into the corresponding dimension (nine of them).

235. Tinh thần có tất cả, và thúc đẩy chúng ta đi vào chiều kích tương ứng (chín chiều kích).

236. Points Emerging in Group Discussion:

236. Các điểm nổi lên trong thảo luận nhóm:

1. There are three categories of initiation related respectively to humanity, Hierarchy, and Shamballa. Initiations 1, 2, and 3 relate to humanity; initiations 4, 5, and 6, to Hierarchy; initiations 7, 8, and 9 are related to Shamballa.

1. Có ba loại điểm đạo liên hệ lần lượt với nhân loại, Thánh Đoàn, và Shamballa. Các lần điểm đạo 1, 2 và 3 liên hệ với nhân loại; các lần điểm đạo 4, 5 và 6 liên hệ với Thánh Đoàn; các lần điểm đạo 7, 8 và 9 liên hệ với Shamballa.

2. The third initiation is pivotal between humanity and Hierarchy. The sixth initiation is pivotal between Hierarchy and Shamballa.

2. Lần điểm đạo thứ ba là then chốt giữa nhân loại và Thánh Đoàn. Lần điểm đạo thứ sáu là then chốt giữa Thánh Đoàn và Shamballa.

3. The planetary center we call Humanity can, from one perspective, be seen as extending from the first to the fifth degree for a Master is still a man, whereas a Chohan is not. From this perspective Hierarchy is seen as extending from the third to the sixth or perhaps seventh degree. Shamballa may be understood as extending from the sixth through the ninth degree and, perhaps, beyond.

3. Trung tâm hành tinh mà chúng ta gọi là Nhân Loại, theo một quan điểm, có thể được thấy là trải từ cấp độ thứ nhất đến cấp độ thứ năm vì một chân sư vẫn là một người, trong khi một Chohan thì không. Theo quan điểm này, Thánh Đoàn được thấy là trải từ cấp độ thứ ba đến cấp độ thứ sáu hoặc có lẽ thứ bảy. Shamballa có thể được hiểu là trải từ cấp độ thứ sáu đến cấp độ thứ chín và, có lẽ, vượt nữa.

4. Certainly, the Lord of the World is not limited by what we call the ninth degree.

4. Chắc chắn, Đức Chúa Tể Thế Giới không bị giới hạn bởi điều chúng ta gọi là cấp độ thứ chín.

These, with the totality of manifestation or the Whole, produce the ten (10) of perfect manifestation of the perfect MAN.

Những điều này, cùng với tính toàn thể của biểu hiện hay Toàn Thể, tạo ra con số mười (10) của biểu hiện hoàn hảo của CON NGƯỜI hoàn hảo.

237. Points Emerging in Group Discussion:

237. Các điểm nổi lên trong thảo luận nhóm:

1. The Luxor Brotherhood gave Tetraktys to Pythagoras. The Tetraktys is a relationship of numbers. It is not only an abstract configuration, but many numerical derivations emerge from it.

1. Huynh đệ Đoàn Luxor đã trao Tetraktys cho Pythagoras. Tetraktys là một mối liên hệ của các con số. Nó không chỉ là một cấu hình trừu tượng, mà nhiều diễn xuất số học phát sinh từ đó.

2. Reflect upon 21, 22, 24 and 27

2. Hãy suy ngẫm về 21, 22, 24 và 27

238. Ten is the number of perfection; it is a higher form of perfection than that which is represented by the twelve. The Zodiac of Ten and the Zodiac of Twelve are to be compared—one related to “MAN” (cosmically considered) and the other to the deva kingdom.

238. Mười là con số của sự hoàn hảo; nó là một hình thức hoàn hảo cao hơn so với cái được biểu trưng bởi mười hai. Hoàng đạo Mười và Hoàng đạo Mười Hai cần được so sánh—một cái liên hệ với “CON NGƯỜI” (xét theo vũ trụ) và cái kia liên hệ với giới thiên thần.

239. The ten of the two hands relates to this perfection. The two feet also enumerate a ten.

239. Con số mười của hai bàn tay liên hệ với sự hoàn hảo này. Hai bàn chân cũng đếm thành mười.

240. Through the Tetraktys, the ten and the four are related, (ten dots, four rows).

240. Qua Tetraktys, mườibốn được liên hệ, (mười chấm, bốn hàng).

These three aspects of the Whole are present in every form.

Ba phương diện này của Toàn Thể hiện diện trong mọi hình tướng.

241. Every form contains the three fires, which are reflections of the three Cosmic Logoi.

241. Mọi hình tướng đều chứa ba lửa, là những phản ánh của ba Thượng đế Vũ Trụ.

a. The solar system is triple, manifesting through the three above mentioned.

a. Hệ mặt trời là tam phân, biểu lộ qua ba điều vừa nêu trên.

b. A human being is equally triple, manifesting as Spirit, Soul and Body, or Monad, Ego and Personality.

b. Con người cũng tam phân như vậy, biểu lộ như Tinh thần, Linh hồn và Thể, hay Chân thần, Chân ngã và Phàm ngã.

242. This triplicity is reflected in the human physical body: head, torso and limbs.

242. Bộ ba này được phản ánh trong thể xác con người: đầu, thân và tứ chi.

c. The atom of the scientist is also triple, being composed of a positive nucleus, the negative electrons, and the totality of the outer manifestation, [Page 5] the result of the relation of the other two.

c. Nguyên tử của nhà khoa học cũng là tam phân, gồm một hạt nhân dương, các điện tử âm, và tính toàn thể của biểu hiện bên ngoài, [Page 5] là kết quả của mối liên hệ giữa hai cái kia.

243. Proton, Neutron, Electron. When was the neutron discovered? Is a later discovery the reason that it is not mentioned?

243. Proton, Neutron, Electron. Neutron được phát hiện khi nào? Có phải vì là một phát hiện muộn hơn nên nó không được nhắc đến?

244. Ions: any atom or group of atoms that bears one or more positive or negative electrical charges. Positively charged ions are called cations; negatively charged ions, anions. Ions are formed by the addition of electrons to, or the removal of electrons from, neutral atoms or molecules or other ions; by combination of ions with other particles; or by rupture of a covalent bond between two atoms in such a way that both of the electrons of the bond are left in association with one of the formerly bonded atoms. Examples of these processes include the reaction of a sodium atom with a chlorine atom to form a sodium cation and a chloride anion; the addition of a hydrogen cation to an ammonia molecule to form an ammonium cation; and the dissociation of a water molecule to form a hydrogen cation and a hydroxide anion.

244. Ion: bất kỳ nguyên tử hay nhóm nguyên tử nào mang một hay nhiều điện tích dương hoặc âm. Ion mang điện dương được gọi là cation; ion mang điện âm là anion. Ion được hình thành do thêm điện tử vào, hoặc lấy điện tử ra khỏi, các nguyên tử hay phân tử trung hòa hoặc các ion khác; do sự kết hợp của các ion với các hạt khác; hoặc do sự đứt gãy của một liên kết cộng hóa trị giữa hai nguyên tử theo cách mà cả hai điện tử của liên kết được để lại gắn với một trong hai nguyên tử trước đó đã liên kết. Ví dụ về các tiến trình này gồm phản ứng của một nguyên tử natri với một nguyên tử clo để tạo thành một cation natri và một anion clorua; sự thêm một cation hiđrô vào một phân tử amoniac để tạo thành một cation amoni; và sự phân ly của một phân tử nước để tạo thành một cation hiđrô và một anion hiđrôxít.

Many crystalline substances are composed of ions held in regular geometric patterns by the attraction of the oppositely charged particles for each other. Ions migrate under the influence of an electrical field and are the conductors of electric current in electrolytic cells.

Nhiều chất kết tinh được cấu tạo bởi các ion được giữ trong những mô hình hình học đều đặn nhờ lực hút giữa các hạt mang điện trái dấu đối với nhau. Các ion di chuyển dưới ảnh hưởng của một điện trường và là các chất dẫn dòng điện trong các tế bào điện phân.

245. Triplicity precedes in importance the septenary division.

245. Bộ ba đứng trước về tầm quan trọng so với sự phân chia thất phân.

The three aspects of every form are inter-related and susceptible of intercourse, because

Ba phương diện của mọi hình tướng có liên hệ lẫn nhau và có thể tương giao, bởi vì

246. This thought overcomes the tendency towards maintaining arbitrary division.

246. Tư tưởng này khắc phục khuynh hướng duy trì những sự phân chia tùy tiện.

247. This statement is the foundation of the Science of Triangles.

247. Phát biểu này là nền tảng của Khoa Học về Tam Giác.

1. Energy is in motion and circulates.

1. Năng lượng đang chuyển động và lưu chuyển.

Definition of energy from the Encyclopedia Britannica: Energy as defined in physics, the capacity for doing work. It may exist in potential, kinetic, thermal, electrical, chemical, nuclear, or other various forms. There are, moreover, heat and work—i.e., energy in the process of transfer from one body to another. After it has been transferred, energy is always designated according to its nature. Hence, heat transferred may become thermal energy, while work done may manifest itself in the form of mechanical energy.

Định nghĩa về năng lượng từ Bách khoa toàn thư Britannica: Năng lượng, như được định nghĩa trong vật lý học, là khả năng thực hiện công. Nó có thể tồn tại dưới dạng thế năng, động năng, nhiệt năng, điện năng, hóa năng, năng lượng hạt nhân, hoặc nhiều dạng khác. Hơn nữa, còn có nhiệt và công—tức là năng lượng trong tiến trình chuyển từ vật thể này sang vật thể khác. Sau khi đã được chuyển, năng lượng luôn được gọi theo bản chất của nó. Vì vậy, nhiệt được chuyển có thể trở thành nhiệt năng, trong khi công được thực hiện có thể biểu lộ dưới dạng cơ năng.

All forms of energy are associated with motion. For example, any given body has kinetic energy if it is in motion. A tensioned device such as a bow or spring, though at rest, has the potential for creating motion; it contains potential energy because of its configuration. Similarly, nuclear energy is potential energy because it results from the configuration of subatomic particles in the nucleus of an atom.

Mọi dạng năng lượng đều gắn với chuyển động. Ví dụ, bất kỳ vật thể nào cũng có động năng nếu nó đang chuyển động. Một thiết bị bị căng như cung hay lò xo, dù đứng yên, vẫn có khả năng tạo ra chuyển động; nó chứa thế năng vì cấu hình của nó. Tương tự, năng lượng hạt nhân là thế năng vì nó phát sinh từ cấu hình của các hạt hạ nguyên tử trong hạt nhân của một nguyên tử.

Energy can be converted from one form to another in various ways. Usable mechanical or electrical energy is, for instance, produced by many kinds of devices, including fuel-burning heat engines, generators, batteries, fuel cells, and magnetohydrodynamic systems.

Năng lượng có thể được chuyển đổi từ dạng này sang dạng khác theo nhiều cách. Chẳng hạn, cơ năng hoặc điện năng có thể sử dụng được được tạo ra bởi nhiều loại thiết bị, gồm các động cơ nhiệt đốt nhiên liệu, máy phát điện, pin, pin nhiên liệu, và các hệ thống từ thủy động lực.

Energy is treated in a number of articles. For the development of the concept of energy and the principle of energy conservation, see physical science, principles of; mechanics; thermodynamics. For the major sources of energy and the mechanisms by which the transition of energy from one form to another occurs, see coal; nuclear fission; oil shale; petroleum; electromagnetism; energy conversion. (Encyclopedia Britannica)

Năng lượng được bàn đến trong nhiều bài viết. Về sự phát triển của khái niệm năng lượng và nguyên lý bảo toàn năng lượng, xem khoa học vật lý, các nguyên lý của; cơ học; nhiệt động lực học. Về các nguồn năng lượng chủ yếu và các cơ chế theo đó sự chuyển tiếp năng lượng từ dạng này sang dạng khác xảy ra, xem than đá; phân hạch hạt nhân; đá phiến dầu; dầu mỏ; điện từ học; chuyển đổi năng lượng. (Bách khoa toàn thư Britannica)

248. It is difficult to make an infallible distinction between the concept of energy and that of force.

248. Thật khó để tạo ra một sự phân biệt không sai lầm giữa khái niệm năng lượng và khái niệm mãnh lực.

249. Let us consider energy from a number of perspectives. We might consider energy as the ‘power which induces motion’.

249. Hãy xét năng lượng từ một số quan điểm. Chúng ta có thể xem năng lượng như là ‘quyền năng gây ra chuyển động’.

250. The original ‘MOTION’ is the ‘MOTION’ which became the appearance of a universe. Really, that MOTION becomes the appearance and disappearance of universes (meaning the entirety of all that exists).

250. ‘CHUYỂN ĐỘNG’ nguyên thủy là ‘CHUYỂN ĐỘNG’ đã trở thành sắc tướng của một vũ trụ. Thật ra, CHUYỂN ĐỘNG ấy trở thành sắc tướng sự biến mất của các vũ trụ (nghĩa là tính toàn thể của mọi cái hiện hữu).

251. The original ‘ENERGY’ is the ‘RAY of the ABSOLUTE’ becoming-as-cosmos, the ‘Ray of the ABSOLUTE’. Note the differences in the capitalization.

251. ‘NĂNG LƯỢNG’ nguyên thủy là ‘CUNG của TUYỆT ĐỐI’ trở-thành-vũ-trụ, ‘Cung của TUYỆT ĐỐI’. Hãy lưu ý những khác biệt trong cách viết hoa.

252. The greatest potential ENERGY is the ABSOLUTE, ITSELF.

252. NĂNG LƯỢNG tiềm tàng lớn nhất là chính TUYỆT ĐỐI.

253. The original (shall we say?—kinetic) ‘ENERGY’ (which is, inescapably, the original ‘MOTION’ as well) is the ‘RAY-as-Ray’ becoming the emergence of distinct, identifiable existence, and continuing to move in the form of all things it becomes.

253. ‘NĂNG LƯỢNG’ nguyên thủy (chúng ta sẽ nói chăng?—động) (vốn, không thể tránh, cũng là ‘CHUYỂN ĐỘNG’ nguyên thủy) là ‘CUNG-như-CUNG’ trở thành sự xuất hiện của hiện hữu phân biệt, có thể nhận diện, và tiếp tục chuyển động trong hình thức của mọi sự mà nó trở thành.

254. The ABSOLUTE is not an identifiable existence because it never can be objectified.

254. TUYỆT ĐỐI không phải là một hiện hữu có thể nhận diện vì nó không bao giờ có thể được khách thể hóa.

255. Verbal analysis of “Energy is in motion and circulates” reveals different ways of construing the meaning.

255. Phân tích bằng lời về “Năng lượng đang chuyển động và lưu chuyển” cho thấy những cách khác nhau để kiến giải ý nghĩa.

1. Either energy itself moves. In other words, ‘energy is in motion’.

1. Hoặc năng lượng tự nó chuyển động. Nói cách khác, ‘năng lượng đang chuyển động’.

2. Or energy is found in that or within that which we call “motion”. In other words, ‘energy is in motion’.

2. Hoặc năng lượng được tìm thấy trong cái hay bên trong cái mà chúng ta gọi là “chuyển động”. Nói cách khác, ‘năng lượng ở trong chuyển động’.

256. An ontological analysis of energy suggested the following:

256. Một phân tích bản thể luận về năng lượng gợi ra những điều sau:

1. Once the ‘ORIGINAL ENERGY’ has generated a cosmos, that ‘ENERGY-now-Energy’ circulates as the ‘breath’ circulates.

1. Một khi ‘NĂNG LƯỢNG NGUYÊN THỦY’ đã tạo sinh một vũ trụ, thì ‘NĂNG LƯỢNG-giờ-đây-Năng lượng’ ấy lưu chuyển như ‘hơi thở’ lưu chuyển.

2. The ‘ORIGINAL BREATH’, however, does not circulate (for there is nothing in which it can circulate). It only persists perpetually without beginning or end, generating Somethingness and retracting it into NOTHINGNESS.

2. Tuy nhiên, ‘HƠI THỞ NGUYÊN THỦY’ không lưu chuyển (vì không có gì đểcó thể lưu chuyển trong đó). Nó chỉ tồn tại thường hằng không khởi đầu không kết thúc, tạo sinh Tính Có và thu rút nó vào HƯ VÔ.

3. But within cosmos ‘Animating Power/Energy’ (which is but an ‘ontological extension’ of the ‘RAY of the ABSOLUTE’) circulates as the breath circulates

3. Nhưng bên trong vũ trụ, ‘Quyền năng/Năng lượng Làm Sinh Động’ (vốn chỉ là một ‘sự mở rộng bản thể luận’ của ‘CUNG của TUYỆT ĐỐI’) lưu chuyển như hơi thở lưu chuyển

4. In cosmos, animation moves from one ‘location’ in time/space to another.

4. Trong vũ trụ, sự làm sinh động di chuyển từ một ‘vị trí’ trong thời gian/không gian sang một vị trí khác.

5. From another perspective, Energy, really, is the ‘power to induce the emergence and disappearance of Duality’. This is the ‘Ultimate Kinetic Energy’—responsible for the Ultimate Universal Motion—the dualism inherent in the “Great Breath”

5. Từ một quan điểm khác, Năng lượng, thật ra, là ‘quyền năng gây ra sự xuất hiện và biến mất của Nhị nguyên tính’. Đây là ‘Động Năng Tối Hậu’—chịu trách nhiệm cho Chuyển Động Vũ Trụ Tối Hậu—tính nhị nguyên vốn có trong “Đại Hơi Thở”

6. A more ‘homely’ definition is that ‘energy is the power to cause change’. The PRIMORDIAL CHANGE is from ‘NOT THIS to This’ or from’ This to NOT THIS’.

6. Một định nghĩa ‘gần gũi’ hơn là ‘năng lượng là quyền năng gây ra thay đổi’. SỰ THAY ĐỔI NGUYÊN THỦY là từ ‘KHÔNG PHẢI ĐIỀU NÀY sang Điều này’ hoặc từ ‘Điều này sang KHÔNG PHẢI ĐIỀU NÀY’.

7. Energy (kinetic) is a progressive change of frequency experienced by contiguous or related units. Inherent in the concept of a change of frequency is the necessity for movement, for only that which exists as identifiable can vibrate and have a change in frequency.

7. Năng lượng (động) là một sự thay đổi tần số tiến triển được kinh nghiệm bởi các đơn vị kề cận hoặc có liên hệ. Hàm chứa trong khái niệm thay đổi tần số là nhu cầu về chuyển động, vì chỉ cái hiện hữu như có thể nhận diện mới có thể rung động và có sự thay đổi tần số.

257. This simple sentence, “energy is in motion and circulates” demands that we define energy.

257. Câu đơn giản này, “năng lượng đang chuyển động và lưu chuyển” đòi hỏi chúng ta phải định nghĩa năng lượng.

258. This sentence promoted much debate in the first Finland Class also. Some statements below reflect points made in that discussion and when they arose in that class, will be indicated in violet color.

258. Câu này cũng đã khơi lên nhiều tranh luận trong lớp Phần Lan đầu tiên. Một số phát biểu dưới đây phản ánh các điểm được nêu trong thảo luận đó và khi chúng phát sinh trong lớp ấy, sẽ được chỉ ra bằng màu tím.

259. Points Emerging in Class Discussion relating to energy and change.

259. Các điểm nổi lên trong thảo luận lớp liên quan đến năng lượng và thay đổi.

1. What happens ‘here’ can happen ‘there’. Change ‘here’ induces change ‘there’.

1. Điều xảy ra ‘ở đây’ có thể xảy ra ‘ở kia’. Thay đổi ‘ở đây’ gây ra thay đổi ‘ở kia’.

2. What causes receptivity to change? What brings about susceptibility to change within the whole? Change is detected because the sameness in patterns of movement is altered or disrupted. Change is difference in motion.)

2. Điều gì tạo ra tính tiếp nhận đối với thay đổi? Điều gì làm phát sinh tính dễ bị tác động bởi thay đổi trong toàn thể? Thay đổi được nhận ra vì sự giống nhau trong các mô hình chuyển động bị biến đổi hoặc bị phá vỡ. Thay đổi là sự khác biệt trong chuyển động.)

260. Energy, Motion, Fire are interrelated and even, perhaps, identical. Energy and movement are inseparable. Change and movement are inseparable. According to the intensity of the change so we measure the intensity of the energy.

260. Năng lượng, Chuyển động, Lửa có liên hệ với nhau và thậm chí, có lẽ, đồng nhất. Năng lượng và chuyển động là bất khả phân. Thay đổi và chuyển động là bất khả phân. Theo cường độ của thay đổi mà chúng ta đo cường độ của năng lượng.

261. In relation to the sentence “energy is in motion and circulates”, what exactly is it that is in motion, and how does it circulate?

261. Liên quan đến câu “năng lượng đang chuyển động và lưu chuyển”, chính xác thì cái gì đang chuyển động, và nó lưu chuyển như thế nào?

262. Energy induces motion and a change in energy induces a change in motion.

262. Năng lượng gây ra chuyển động và một sự thay đổi trong năng lượng gây ra một sự thay đổi trong chuyển động.

263. The appearance of motion is the means by which energy is detected.

263. Sắc tướng của chuyển động là phương tiện nhờ đó năng lượng được phát hiện.

264. Motion is power expressed rather than retained.

264. Chuyển động là quyền năng được biểu lộ hơn là được giữ lại.

265. Archetypes can be defined as standing waves.

265. Các nguyên mẫu có thể được định nghĩa là các sóng đứng.

266. Questions regarding standing waves:

266. Các câu hỏi liên quan đến sóng đứng:

1. In what respect does a standing wave “stand” or reflect ‘sameness’?

1. Ở phương diện nào một sóng đứng “đứng” hay phản ánh ‘tính giống nhau’?

2. In what respect does it “move”?

2. Ở phương diện nào nó “chuyển động”?

3. Is a standing wave in motion or is it that the vibrating particles that compose it or induce it are in repetitive motion?

3. Một sóng đứng có đang chuyển động không, hay là các hạt rung động cấu thành nó hoặc gây ra nó đang chuyển động lặp lại?

4. Is not the principle of “rotary motion” involved in a standing wave? Rotary motion is beneficial in that it (through repetition) conduces to stability

4. Chẳng phải nguyên lý “chuyển động quay” có liên quan trong một sóng đứng sao? Chuyển động quay có lợi ở chỗ nó (qua sự lặp lại) dẫn đến tính ổn định

267. Motion communicates itself as further motion. There is a universal responsiveness to communicated motion.

267. Chuyển động truyền đạt chính nó như chuyển động thêm nữa. Có một sự đáp ứng phổ quát đối với chuyển động được truyền đạt.

268. In all the “World of Becoming” we have only motion and changes in motion, frequencies and changes in frequency.

268. Trong toàn bộ “Thế Giới Đang Trở Thành” chúng ta chỉ có chuyển động và các thay đổi trong chuyển động, các tần số và các thay đổi trong tần số.

269. Patterns of motion circulate.

269. Các mô hình chuyển động lưu chuyển.

270. Vibratory patterns communicate themselves to other vibratory domains.

270. Các mô hình rung động truyền đạt chính chúng sang các miền rung động khác.

271. Energy-in-cosmos is detected as a communicated pattern of vibration capable of inducing the same pattern in the vibrational domain to which it is communicated or altering the pattern in the vibrational domain to which it is communicated.

271. Năng lượng-trong-vũ-trụ được phát hiện như một mô hình rung động được truyền đạt, có khả năng gây ra cùng mô hình ấy trong miền rung động mà nó được truyền đạt đến, hoặc làm biến đổi mô hình trong miền rung động mà nó được truyền đạt đến.

272. A principle emerges here: ‘detection demands difference’.

272. Một nguyên lý xuất hiện ở đây: ‘phát hiện đòi hỏi sự khác biệt’.

273. Energy-in-cosmos is ultimately related to the first ray and determines whether a thing shall be or not be. Without the ‘ORIGINAL ENERGY’ nothing comes to exist.

273. Năng lượng-trong-vũ-trụ rốt ráo liên hệ với cung một và quyết định liệu một vật sẽ là hay sẽ không là. Không có ‘NĂNG LƯỢNG NGUYÊN THỦY’ thì không gì đi vào hiện hữu.

274. Breath is fire. Breath is animation. ‘BREATH’ (the very first ‘movement’—as far as one universe is concerned) is ENERGY..

274. Hơi thở là lửa. Hơi thở là sự làm sinh động. ‘HƠI THỞ’ (chuyển động ‘đầu tiên’—xét theo một vũ trụ) là NĂNG LƯỢNG..

275. Each of the many fires is a different pattern of motion or consists of different rhythms in that which vibrates..

275. Mỗi một trong nhiều lửa là một mô hình chuyển động khác nhau hoặc gồm những nhịp điệu khác nhau trong cái đang rung động..

276. Point Emerging in Group Discussion:

276. Điểm nổi lên trong thảo luận nhóm:

1. A group member suggested that there is kinetic energy and potential energy. An atom is potential energy. When it is split, it demonstrates kinetic energy. Gravity is a force, but has no energy.

1. Một thành viên nhóm gợi ý rằng có động năng và thế năng. Một nguyên tử là thế năng. Khi nó bị tách, nó biểu lộ động năng. Trọng lực là một mãnh lực, nhưng không có năng lượng.

2. Force is related to the application of energy.

2. Mãnh lực liên hệ với sự áp dụng năng lượng.

3. As energy circulates through media of lesser vibratory frequency, force is applied.

3. Khi năng lượng lưu chuyển qua các môi trường có tần số rung động thấp hơn, mãnh lực được áp dụng.

4. It was suggested that force is experienced by a lesser entity in relation to a greater entity. When the energy expresses only within the level in which it naturally radiates, it continues to be called “energy”. But when energy becomes effective for change in relation to lesser vibratory levels

4. Có ý kiến cho rằng mãnh lực được một thực thể nhỏ hơn kinh nghiệm trong tương quan với một thực thể lớn hơn. Khi năng lượng chỉ biểu lộ trong cấp độ mà nó tự nhiên phát xạ, nó tiếp tục được gọi là “năng lượng”. Nhưng khi năng lượng trở nên hữu hiệu cho thay đổi trong tương quan với các cấp độ rung động thấp hơn

5. Energy may be considered as the “Breath of Life”.

5. Năng lượng có thể được xem như “Hơi Thở của Sự Sống”.

6. The “Breath of Life: causes animation. Animation is registered through noticeable increases in frequency.

6. “Hơi Thở của Sự Sống” gây ra sự làm sinh động. Sự làm sinh động được ghi nhận qua những gia tăng tần số đáng chú ý.

7. The soul is the “anima” and its presence or relative absence causes changes in movement.

7. Linh hồn là “anima” và sự hiện diện hay sự vắng mặt tương đối của nó gây ra những thay đổi trong chuyển động.

b. All forms in the solar system form part of the Whole, and are not isolated units.

b. Mọi hình tướng trong hệ mặt trời đều là một phần của Toàn Thể, và không phải là các đơn vị cô lập.

277. We glibly repeat this statement, but do not realize it with immediacy. Nothing is separated. Nothing is isolated. The implications are profound.

277. Chúng ta lặp lại phát biểu này một cách trơn tru, nhưng không chứng nghiệm nó một cách trực tiếp. Không gì bị tách rời. Không gì bị cô lập. Những hàm ý là sâu xa.

c. This is the basis of brotherhood, of the communion of saints, [which is Hierarchy] and of astrology.

c. Đây là nền tảng của tình huynh đệ, của sự hiệp thông các thánh, [tức là Thánh Đoàn] và của chiêm tinh học.

278. Isolation is an illusion negated by the reality of the One Monad which all monads essentially are.

278. Sự cô lập là một ảo tưởng bị phủ định bởi thực tại của Đấng Duy Nhất Chân thần mà mọi chân thần vốn là về bản chất.

279. Isolation is an illusion negated by the reality of mobility and interpenetration.

279. Sự cô lập là một ảo tưởng bị phủ định bởi thực tại của tính động và sự xuyên thấu lẫn nhau.

280. It is important to link “brotherhood” (monadic), the “communion of saints” (relating to the soul) and “astrology” (relating to the third aspect and, thus, more to manifestation).

280. Điều quan trọng là liên kết “tình huynh đệ” (chân thần), “sự hiệp thông các thánh” (liên hệ với linh hồn) và “chiêm tinh học” (liên hệ với phương diện thứ ba và do đó, gần với biểu hiện hơn).

These three aspects of God, the solar Logos, and the Central Energy or Force (for the terms are occultly synonymous) demonstrate through seven centres of force,—three major centres and four minor.

Ba phương diện này của Thượng đế, Thái dương Thượng đế, và Năng Lượng hay Mãnh Lực Trung Tâm (vì các thuật ngữ này, theo huyền bí học, là đồng nghĩa) biểu lộ qua bảy trung tâm mãnh lực,—ba trung tâm chính và bốn trung tâm phụ.

281. The terms “God”, the “Solar Logos” and the “Central Energy or Force” are synonymous. Perhaps different ray types will find one of these terms more appealing or useful than the others.

281. Các thuật ngữ “Thượng đế”, “Thái dương Thượng đế” và “Năng Lượng hay Mãnh Lực Trung Tâm” là đồng nghĩa. Có lẽ các loại cung khác nhau sẽ thấy một trong những thuật ngữ này hấp dẫn hay hữu ích hơn những thuật ngữ còn lại.

282. As three demonstrate through seven, we must find the correspondence in the structure of the human being. This probably can be done in relation to the chakra system.

282. Khi ba biểu lộ qua bảy, chúng ta phải tìm sự tương ứng trong cấu trúc của con người. Điều này có lẽ có thể làm được liên hệ với hệ thống luân xa.

283. We have here the origin of the ten. The question has often been asked, “Are the ten contained within the seven, or are there, in fact, ten, exemplified by three superior to a lesser seven, and that lesser seven?” This would seem to be the case.

283. Ở đây chúng ta có nguồn gốc của mười. Câu hỏi thường được đặt ra là: “Mười có nằm trong bảy không, hay thật sự có mười, được minh họa bởi ba cái trội hơn một bảy cái nhỏ hơn, bảy cái nhỏ hơn ấy?” Dường như đúng là như vậy.

284. When speaking of seven there are always a major three and a minor four. When speaking of ten, there are always a major three and a minor seven.

284. Khi nói về bảy thì luôn có một ba chính và một bốn phụ. Khi nói về mười, thì luôn có một ba chính và một bảy phụ.

285. We notice how occult numerology is necessary for the setting forth of fundamentals.

285. Chúng ta nhận thấy huyền bí số học là cần thiết như thế nào cho việc trình bày các điều căn bản.

286. Watch for the number 16, as it is closely related to the number 3 and to the creative aspect of deity.

286. Hãy để ý con số 16, vì nó liên hệ chặt chẽ với con số 3 và với phương diện sáng tạo của Thượng đế.

These seven centres of logoic Force are themselves so constituted that they form corporate Entities. They are known as

Bảy trung tâm Mãnh Lực thượng đế này tự chúng được cấu tạo sao cho chúng hình thành các Thực Thể tập thể. Chúng được biết đến như là

287. What are “corporate Entities”?

287. “Các Thực Thể tập thể” là gì?

288. First of all, the “seven centres of logoic Force” are the seven major Planetary Logoi.

288. Trước hết, “bảy trung tâm Mãnh Lực thượng đế” là bảy Hành Tinh Thượng đế chính.

289. Each of these Logoi is composed significantly of human and deva monads.

289. Mỗi Thượng đế này được cấu thành một cách đáng kể bởi các chân thần nhân loại và chân thần thiên thần.

290. We learn that Solar Angels can become Planetary Logoi, but do not do so singly, but in groups. This relates to the “corporate” nature of the Planetary Logoi.

290. Chúng ta học rằng các Thái dương Thiên Thần có thể trở thành các Hành Tinh Thượng đế, nhưng không làm như vậy một cách đơn lẻ, mà theo nhóm. Điều này liên hệ với bản chất “tập thể” của các Hành Tinh Thượng đế.

The student must bear in mind that in thinking of the Pitris, he must ever think in group terms. The Pitris who formed the egoic body of a human being do not—alone and isolated—form planetary Logoi.

Đạo sinh phải ghi nhớ rằng khi nghĩ về các Pitris, y phải luôn nghĩ theo thuật ngữ nhóm. Các Pitris đã tạo nên thể chân ngã của một con người không—một mình và cô lập—tạo nên các Hành Tinh Thượng đế.

The forty-nine groups of solar fires concerned in the great work are those spoken of, and they become the forty-nine planetary Logoi in connexion with seven solar systems. (TCF 878-879)

Bốn mươi chín nhóm lửa thái dương liên quan đến công việc vĩ đại là những nhóm được nói đến, và chúng trở thành bốn mươi chín Hành Tinh Thượng đế liên hệ với bảy hệ mặt trời. (TCF 878-879)

a. The seven planetary Logoi.

a. Bảy Hành Tinh Thượng đế.

b. The seven Spirits before the Throne.

b. Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai.

c. The seven Rays.

c. Bảy Cung.

d. The seven Heavenly Men.

d. Bảy Đấng Thiên Nhân.

291. Some may wish (at times) to differentiate these four, but from another and important perspective, they are entirely equivalent.

291. Một số người có thể muốn (đôi lúc) phân biệt bốn điều này, nhưng từ một quan điểm khác và quan trọng, chúng hoàn toàn tương đương.

292. There are also higher correspondences to some of these divisions. There are, for instance, intra-planetary “Spirits before the Throne” and greater, extra-planetary “Spirits” Who are planetary Logoi. The Seven Solar Logoi who are the major conditioning factors of our local seven solar systems are also to be considered “Spirits before the Throne”. In this case, which is the “Throne”?

292. Cũng có những tương ứng cao hơn đối với một số phân chia này. Chẳng hạn, có các “Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai” nội-hành-tinh và các “Thánh Linh” lớn hơn, ngoại-hành-tinh là những Đấng là các Hành Tinh Thượng đế. Bảy Thái dương Thượng đế là những yếu tố tác động định hình chủ yếu của bảy hệ mặt trời địa phương của chúng ta cũng cần được xem là “Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai”. Trong trường hợp này, “Thánh Ngai” là gì?

293. It was noted that there is a strong presentation of Divine Order in the Rig Veda.

293. Cần lưu ý rằng có một sự trình bày mạnh mẽ về Trật Tự Thiêng Liêng trong Rig Veda.

The Seven Logoi embody seven types of differentiated force , and in this Treatise are known under the names of Lords of the Rays. The names of the Rays are

Bảy Thượng đế thể hiện bảy loại mãnh lực được biến phân , và trong Luận này được biết dưới các danh xưng là các Đấng Chúa Tể của các Cung. Tên các Cung là

Ray I Ray of Will or Power 1st Aspect

Cung I Cung của Ý chí hay Quyền năng Phương diện thứ nhất

Ray II Ray of Love-Wisdom 2nd Aspect

Cung II Cung của Bác Ái – Minh Triết Phương diện thứ hai

Ray III Ray of Active Intelligence 3rd Aspect

Cung III Cung của Trí Tuệ Năng Động Phương diện thứ ba

These are the major Rays.

Đây là các Cung chính.

Ray IV Ray of Harmony, Beauty and Art. [and Rhythm]

Cung IV Cung của Hài Hòa, Mỹ Lệ và Nghệ Thuật. [và Nhịp điệu]

Ray V Ray of Concrete Knowledge or Science.

Cung V Cung của Tri Thức Cụ Thể hay Khoa Học.

Ray VI Ray of Devotion or of Abstract Idealism.

Cung VI Cung của Sùng Tín hay của Lý Tưởng Trừu Tượng.

294. The seven rays are “seven types of differentiated force”. This is a good definition of a ray. Another is:

294. Bảy cung là “bảy loại mãnh lực được biến phân”. Đây là một định nghĩa tốt về một cung. Một định nghĩa khác là:

A ray is but a name for a particular force or type of energy, with the emphasis upon the quality which that force exhibits and not upon the force aspect which it creates. This is a true definition of a ray. (EP I 316)

Một cung chỉ là một tên gọi cho một mãnh lực đặc thù hay một loại năng lượng, với sự nhấn mạnh đặt trên phẩm tính mà mãnh lực ấy biểu lộ chứ không phải trên phương diện mãnh lực mà nó tạo ra. Đây là một định nghĩa đúng về một cung. (EP I 316)

295. Note the importance of the term “Abstract Idealism”. There are many sources of idealism in cosmos, and every soul, regardless of its ray, has its idealism. What is here indicated is an idealism which is inspired by that which is intangible and formless and which seeks communion with such an intangible and formless source.

295. Hãy lưu ý tầm quan trọng của thuật ngữ “Lý Tưởng Trừu Tượng”. Có nhiều nguồn lý tưởng trong vũ trụ, và mọi linh hồn, bất kể cung của nó, đều có lý tưởng của mình. Điều được chỉ ra ở đây là một lý tưởng được khơi nguồn bởi cái vô hình tướng và vô hình thể, và tìm cách hiệp thông với một nguồn vô hình tướng và vô hình thể như thế.

Ray VII Ray of Ceremonial Magic or Order.

Cung VII Cung của Huyền Thuật Nghi Lễ hay Trật Tự.

296. Note that the seventh ray is not simply the Ray of “Magic” but of “Ceremonial Magic”. From an important perspective, the third ray is a ray of magic, but not of ordered ceremonial magic. (cf. DON 145)

296. Hãy lưu ý rằng cung bảy không chỉ đơn giản là Cung của “Huyền thuật” mà là của “Huyền thuật Nghi lễ”. Từ một quan điểm quan trọng, cung ba là một cung của huyền thuật, nhưng không phải của huyền thuật nghi lễ có trật tự. (xem DON 145)

Ray III — Adaptation — Development Evolution — The Magician.

Cung III — Thích nghi — Phát triển Tiến hoá — Nhà huyền thuật.

Ray VII — Incantation —Magic — Ritual — The Ritualist.

Cung VII — Xướng chú —Huyền thuật — Nghi lễ — Nhà nghi lễ.

297. Not all of the significant names of these Ray Lords are given above.

297. Không phải tất cả các danh xưng quan trọng của các Đấng Chúa Tể Cung này đều được nêu ở trên.

298. We note that the emphasis upon conflict leading to harmony is missing from the name of the Fourth Ray Lord. We are here given a higher name for this Ray Lord—“Harmony through Conflict” being the lower name.

298. Chúng ta nhận thấy sự nhấn mạnh về xung đột dẫn đến hài hòa bị thiếu trong tên của Đấng Chúa Tể Cung bốn. Ở đây chúng ta được trao một danh xưng cao hơn cho Đấng Chúa Tể Cung này—“Hài Hòa qua Xung Đột” là danh xưng thấp hơn.

II. There is a basic law called the Law of Periodicity.

II. Có một định luật căn bản gọi là Định luật Chu Kỳ.

1. This law governs all manifestation, whether it is the manifestation of a solar Logos through the [Page 6] medium of a solar system, or the manifestation of a human being through the medium of a form. This law controls likewise in all the kingdoms of nature.

1. Định luật này chi phối mọi biểu hiện, dù đó là sự biểu hiện của một Thái dương Thượng đế qua [Page 6] trung gian của một hệ mặt trời, hay sự biểu hiện của một con người qua trung gian của một hình tướng. Định luật này cũng kiểm soát tương tự trong mọi giới của bản chất.

299. It was suggested that periodicity demonstrates that all things are evanescent, and contributes to the destruction of attachment.

299. Có ý kiến cho rằng tính chu kỳ chứng tỏ mọi sự đều phù du, và góp phần phá hủy sự chấp trước.

300. An important point to consider is that the first two Fundamental of the Secret Doctrine are, apparently, contradictory.

300. Một điểm quan trọng cần xét là hai Nguyên Lý căn bản đầu tiên của Giáo Lý Bí Nhiệm, bề ngoài, là mâu thuẫn.

1. The BOUNDLESS IMMUTABLE PRINCIPLE admits of no change.

1. NGUYÊN KHÍ VÔ BIÊN BẤT BIẾN không chấp nhận bất kỳ thay đổi nào.

2. The Law of Periodicity demands beginningless, endless, perpetual change.

2. Định luật Chu Kỳ đòi hỏi sự thay đổi thường hằng, không khởi đầu, không kết thúc.

301. When considering the Law of Periodicity, we might say that manifestation occurs in periods. Simply, ‘things appear and disappear’. Even the Universe is a ‘thing’ which appears and disappears.

301. Khi xét Định luật Chu Kỳ, chúng ta có thể nói rằng biểu hiện xảy ra theo các thời kỳ. Nói đơn giản, ‘các sự vật xuất hiện và biến mất’. Ngay cả Vũ Trụ cũng là một ‘sự vật’ xuất hiện và biến mất.

302. Points Arising in Group Discussion:

302. Các điểm phát sinh trong thảo luận nhóm:

1. Lights blink on and off (periodically) 60 times a second

1. Đèn nhấp nháy bật tắt (theo chu kỳ) 60 lần mỗi giây

2. A “Plank instant” is an inconceivably short unit of time

2. Một “khoảnh khắc Plank” là một đơn vị thời gian ngắn đến mức không thể tưởng tượng

3. The “zero point field” (zpf). It is theorized that the energy of the zpf (which esotericists might call the etheric) are so enormous, that one cubic centimeter has more energy than the matter of the entire universe.

3. “Trường điểm không” (zpf). Người ta giả thuyết rằng năng lượng của zpf (mà các nhà huyền bí học có thể gọi là cõi dĩ thái) lớn đến mức, một centimet khối chứa nhiều năng lượng hơn vật chất của toàn thể vũ trụ.

4. It is well to ponder on the vacuity of normal matter. What we call “matter” is a void within ‘infinitely dense objectivity’.

4. Thật hữu ích khi suy ngẫm về tính rỗng không của vật chất bình thường. Điều chúng ta gọi là “vật chất” là một khoảng trống bên trong ‘tính khách quan đậm đặc vô hạn’.

5. A discussion arose concerning the words “infinitely dense” compared to “super-dense”.

5. Đã nảy sinh một cuộc thảo luận về các từ “đậm đặc vô hạn” so với “siêu đậm đặc”.

6. Matter is in fact a vacuum in space which is ‘super dense’.

6. Thật ra, vật chất là một khoảng chân không trong không gian vốn ‘siêu đậm đặc’.

303. The following was submitted by a student in relation to the Law of Periodicity:

303. Phần sau đây do một môn sinh gửi, liên hệ đến Định luật Chu Kỳ:

1. Question: How long does it take for a photon to travel from one edge of the universe to the other?

1. Câu hỏi: Một photon mất bao lâu để đi từ rìa này của vũ trụ sang rìa kia?

According to the mathematics of special relativity, to a photon traveling at the speed of light, time stands still, and space is contracted to the extent that no distance exists between any two points in the universe.

Theo toán học của thuyết tương đối hẹp, đối với một photon di chuyển với tốc độ ánh sáng, thời gian đứng yên, và không gian co lại đến mức không còn tồn tại khoảng cách giữa bất kỳ hai điểm nào trong vũ trụ.

2. Zero point energy field: According to calculations of John Wheeler, energy density of ZPF = 10 94 erg/cc, a quantity of energy greater than all the energy in the known physical universe.

2. Trường năng lượng điểm không: Theo các phép tính của John Wheeler, mật độ năng lượng của ZPF = 10 94 erg/cc, một lượng năng lượng lớn hơn toàn bộ năng lượng trong vũ trụ hồng trần đã biết.

3. ZPF is “super-dense” & frictionless (Michelson-Morley experiments).

3. ZPF là “siêu đậm đặc” và không ma sát (các thí nghiệm Michelson–Morley).

4. Plank instant is to one second as the mass of one proton is to the mass of the Earth.

4. Khoảnh khắc Plank so với một giây cũng như khối lượng của một proton so với khối lượng của Trái Đất.

304. The Law of Periodicity accounts for the basic “wave motion” behind all manifestation.

304. Định luật Chu Kỳ giải thích “chuyển động sóng” căn bản đứng sau mọi sự biểu hiện.

305. Even the tiniest lives are controlled by cyclic motion.

305. Ngay cả những sự sống nhỏ bé nhất cũng bị chi phối bởi chuyển động theo chu kỳ.

306. An idea which should be developed is the relation of the “One Ray of the ABSOLUTE” to all wave motion, and the relation of the emergent Universe (the ‘Cosmic Primordial Particle’) to all ‘particles’ within cosmos.

306. Một ý tưởng cần được phát triển là mối liên hệ giữa “Một Cung của TUYỆT ĐỐI” với mọi chuyển động sóng, và mối liên hệ giữa Vũ Trụ đang xuất hiện (’Hạt Sơ Khởi Vũ Trụ’) với mọi ‘hạt’ trong vũ trụ.

307. The wave/particle duality begins with the perpetual motion of the ‘ULTIMATE WAVE’ (the GREAT BREATH), endlessly reproducing the Ultimate Particle (the Universe).

307. Tính nhị nguyên sóng/hạt bắt đầu từ chuyển động vĩnh cửu của ‘SÓNG TỐI HẬU’ (HƠI THỞ VĨ ĐẠI), bất tận tái tạo Hạt Tối Hậu (Vũ Trụ).

308. Man is controlled by periodicity in the following ways:

308. Con người bị chi phối bởi tính chu kỳ theo những cách sau:

1. Cyclic impulses of the soul.

1. Các xung lực theo chu kỳ của linh hồn.

2. Day and night; daily rhythms.

2. Ngày và đêm; nhịp điệu hằng ngày.

3. The yearly cycle.

3. Chu kỳ hằng năm.

4. Bodily rhythms:

4. Nhịp điệu của thân thể:

i. Rhythm of the heart

i. Nhịp tim

ii. Rhythm of the breath

ii. Nhịp thở

iii. Digestive rhythms

iii. Nhịp tiêu hoá

5. Meridian rhythms

5. Nhịp điệu kinh mạch

6. Incarnation and death (the “Wheel of Rebirth”)

6. Nhập thể và chết ( “Bánh Xe Tái Sinh”)

7. Highs and lows of the emotional body (and other bodies).Circadian rhythms.

7. Những thăng trầm của thể cảm dục (và các thể khác). Nhịp sinh học ngày-đêm.

8. Pulsation of the etheric webs

8. Sự đập nhịp của các mạng dĩ thái

9. Astrological rhythms—and ray-cycle rhythms.

9. Nhịp điệu chiêm tinh—và nhịp điệu chu kỳ cung.

10. Rhythms of the Sun, for instance, sunspot cycles.

10. Nhịp điệu của Mặt Trời, thí dụ, các chu kỳ vết đen mặt trời.

309. In relation to the Law of Periodicity:

309. Liên hệ đến Định luật Chu Kỳ:

1. Breath, per se, is intimately related to the Law of Periodicity

1. Chính hơi thở có liên hệ mật thiết với Định luật Chu Kỳ

2. Metaphysically, a breath is an ‘extension and retraction of presence, of being’

2. Về siêu hình học, một hơi thở là một ‘sự mở rộng và co rút của hiện diện, của hiện hữu’

3. Breaths organize—breaths vitalize. Breath carries the archetype.

3. Hơi thở tổ chức—hơi thở tiếp sinh lực. Hơi thở mang theo nguyên mẫu.

2. There are certain other laws in the system which are linked with this one; some of them are as follows:

2. Có một số định luật khác trong hệ thống được liên kết với định luật này; một vài định luật như sau:

310. What are some examples of this linking of certain laws with the great Law of Periodicity?

310. Một vài ví dụ về sự liên kết của một số định luật với Định luật Chu Kỳ vĩ đại là gì?

a. The Law of Economy……the law governing matter, the third aspect.

a. Định luật Tiết Kiệm……định luật cai quản vật chất, phương diện thứ ba.

311. Rotary motion is linked to waves. There are “bull” and “bear” markets (cycles of economic expansion and retrenchment). Jupiter and Saturn are implicated in such cycles. There are economic ebbs and flows, cycles of plenty and of privation.

311. Chuyển động quay có liên hệ với sóng. Có thị trường “bò” và “gấu” (các chu kỳ mở rộng và thu hẹp kinh tế). Sao Mộc và Sao Thổ có liên can trong các chu kỳ như vậy. Có những lúc kinh tế lên xuống, các chu kỳ sung túc và thiếu thốn.

312. The eight cycles of the Moon are a good example of the waxing and waning to which distributable energy (economy) is subjected.

312. Tám chu kỳ của Mặt Trăng là một ví dụ hay về sự tăng giảm mà năng lượng có thể phân phối (tiết kiệm) phải chịu.

b. The Law of Attraction…the law governing soul, the second aspect.

b. Định luật Hấp Dẫn…định luật cai quản linh hồn, phương diện thứ hai.

313. There are periodical attractions and repulsions. The cyclic passage of the progressing Moon through different houses of the horoscope will demonstrate this.

313. Có những hấp dẫn và đẩy lùi theo chu kỳ. Sự đi qua theo chu kỳ của Mặt Trăng tiến triển qua các nhà khác nhau của lá số chiêm tinh sẽ minh hoạ điều này.

314. People, nations, races, for instance, are attracted to each other and are repulsed according to certain periodical cycles.

314. Chẳng hạn, con người, quốc gia, nhân loại, bị hấp dẫn lẫn nhau và bị đẩy lùi theo những chu kỳ nhất định.

315. The “seven year itch” and the many divorces that occur after seven years are down-to-earth examples.

315. “Cơn ngứa bảy năm” và nhiều vụ ly hôn xảy ra sau bảy năm là những ví dụ rất thực tế.

c. The Law of Synthesis….the law governing spirit, or the first aspect.

c. Định luật Tổng Hợp….định luật cai quản tinh thần, hay phương diện thứ nhất.

316. The Law of Synthesis combines all cycles.

316. Định luật Tổng Hợp kết hợp mọi chu kỳ.

317. The threefold dialectic of “Thesis, Antithesis and Synthesis” shows the necessary antecedents of Synthesis from the human perspective.

317. Biện chứng tam phân của “Chính đề, Phản đề và Tổng hợp” cho thấy những tiền đề tất yếu của Tổng hợp theo quan điểm con người.

318. Why are these three laws linked with the Law of Periodicity? Perhaps because the goals of each of these three Cosmic Laws are only achieved in time and by cyclic means.

318. Vì sao ba định luật này được liên kết với Định luật Chu Kỳ? Có lẽ vì mục tiêu của mỗi định luật vũ trụ trong ba định luật này chỉ đạt được trong thời gianbằng các phương tiện theo chu kỳ.

1. With regard to the Law of Economy, distributable energy is available or not according to the inter-weavings of a number of cycles—each of which have their periods.

1. Về Định luật Tiết Kiệm, năng lượng có thể phân phối có sẵn hay không tuỳ theo sự đan dệt của nhiều chu kỳ—mỗi chu kỳ đều có các thời kỳ của nó.

2. Entities are cyclically attracted or repulsed; they can recognize the ‘completion of a cycle’ between them.

2. Các thực thể bị hấp dẫn hoặc bị đẩy lùi theo chu kỳ; họ có thể nhận ra ‘sự hoàn tất của một chu kỳ’ giữa họ.

3. All cycles are coordinated in the Great Synthesis and their perfectly attuned dance is necessitated if the Synthesis is to be revealed.

3. Mọi chu kỳ đều được phối hợp trong Đại Tổng Hợp và vũ điệu được điều chỉnh hoàn hảo của chúng là điều tất yếu nếu Tổng Hợp được mặc khải.

319. It is sometimes forgotten that the three cosmic laws here listed are lined to the second Fundamental of the Secret Doctrine “The Law of Periodicity”. The whole matter must be taken into meditation.

319. Đôi khi người ta quên rằng ba định luật vũ trụ được liệt kê ở đây gắn với Nền Tảng thứ hai của Giáo Lý Bí Nhiệm “Định luật Chu Kỳ”. Toàn bộ vấn đề này phải được đem vào tham thiền.

320. We note that the Tibetan lists these cosmic laws in ascending order, beginning with the law characteristic of the third aspect of divinity.

320. Cần lưu ý rằng Chân sư Tây Tạng liệt kê các định luật vũ trụ này theo thứ tự tăng dần, bắt đầu với định luật đặc trưng cho phương diện thứ ba của thiên tính.

321. Points Emerging in Group Discussion about periodicity in relation to the Three Laws:

321. Các điểm nổi lên trong thảo luận nhóm về tính chu kỳ liên hệ đến Ba Định luật:

1. We learn that our vehicles are subject to periodicity and that we can live our lives as long as our vehicles are functional. Thus we learn detachment through periodicity.

1. Chúng ta học rằng các hiện thể của mình chịu sự chi phối của tính chu kỳ và rằng chúng ta có thể sống đời mình chừng nào các hiện thể còn hoạt động. Do đó, qua tính chu kỳ, chúng ta học được sự tách rời.

2. Tides rise and fall (in relation to the moon’s position relative to the Earth) in order to maintain the lowest energy levels. This correlates the tides to the Law of Economy.

2. Thuỷ triều lên xuống (liên hệ đến vị trí của Mặt Trăng so với Trái Đất) để duy trì các mức năng lượng thấp nhất. Điều này liên hệ thuỷ triều với Định luật Tiết Kiệm.

3. Actual worlds are being created and eliminated, because consciousness outgrows their usefulness. The growth of consciousness is thus related to the Law of Economy.

3. Các thế giới thực sự đang được tạo ra và bị loại bỏ, vì tâm thức vượt quá tính hữu dụng của chúng. Do đó, sự tăng trưởng của tâm thức có liên hệ đến Định luật Tiết Kiệm.

4. There is a waxing and waning of cycles which if not intelligently observed will lead to a non-economical response.

4. Có sự tăng giảm của các chu kỳ; nếu không được quan sát một cách thông minh sẽ dẫn đến một đáp ứng không tiết kiệm.

5. Astrology is related to the Law of Economy for through astrology are presented windows of opportunity by means of which action can be well-timed and efficient (i.e., exerted with the least expenditure of force, and thus related to the Law of Economy).

5. Chiêm tinh học có liên hệ đến Định luật Tiết Kiệm vì qua chiêm tinh học, các “cửa sổ cơ hội” được trình bày, nhờ đó hành động có thể đúng thời và hiệu quả (tức là được tác động với sự tiêu hao mãnh lực ít nhất, và do đó liên hệ đến Định luật Tiết Kiệm).

6. If there is to be a right management of energy, periodicity has to be respected.

6. Nếu muốn quản trị năng lượng đúng đắn, phải tôn trọng tính chu kỳ.

322. Points Emerging in a Discussion relating the Law of Attraction to the Law of Periodicity.

322. Các điểm nổi lên trong một cuộc thảo luận liên hệ Định luật Hấp Dẫn với Định luật Chu Kỳ.

1. Political or religious belief systems come and go and are, thus, periodical. They also seem to cycle in and out.

1. Các hệ thống niềm tin chính trị hay tôn giáo đến rồi đi và vì vậy mang tính chu kỳ. Chúng cũng dường như luân phiên xuất hiện rồi biến mất.

2. Souls groups emerge and disappear at regular intervals.

2. Các nhóm linh hồn xuất hiện và biến mất theo những khoảng thời gian đều đặn.

3. Attraction leads to repulsion.

3. Hấp dẫn dẫn đến đẩy lùi.

4. Attractions are periodical, and so are repulsions. There are seasons of attraction and seasons of repulsion. Spring/Summer might be considered seasons of attraction; Fall/Winter, seasons of repulsion.

4. Hấp dẫn mang tính chu kỳ, và đẩy lùi cũng vậy. Có mùa hấp dẫn và mùa đẩy lùi. Xuân/Hạ có thể được xem là mùa hấp dẫn; Thu/Đông là mùa đẩy lùi.

5. The soul during the first part of life is attracted to the form and later to the monad.

5. Linh hồn trong phần đầu của đời sống bị hấp dẫn về hình tướng và về sau bị hấp dẫn về chân thần.

6. The revolution of planets around a central point is both attractive and periodic.

6. Sự quay của các hành tinh quanh một điểm trung tâm vừa mang tính hấp dẫn vừa mang tính chu kỳ.

7. There are cycles of fashion. Patterns emerge and disappear periodically.

7. Có các chu kỳ thời trang. Các mô hình xuất hiện và biến mất theo chu kỳ.

8. There are cycles of introversion and extroversion—in the history of the soul

8. Có các chu kỳ hướng nội và hướng ngoại—trong lịch sử của linh hồn

9. The Saturn return is a periodical phenomenon as are any of the planetary returns. These planetary cycles determine that to which we are attracted and that from which we are repelled.

9. Sự trở lại của Sao Thổ là một hiện tượng theo chu kỳ, cũng như mọi sự trở lại của các hành tinh. Các chu kỳ hành tinh này quyết định điều mà chúng ta bị hấp dẫn và điều mà chúng ta bị đẩy lùi.

10. There are lunar rhythms occurring monthly. We are related to the waxing and waning of the energies represented by the Moon. We are alternately attracted and repelled to that energy which they embody. We are attracted or repelled to those things which are of the nature of the energy.

10. Có các nhịp điệu theo tháng của Mặt Trăng. Chúng ta có liên hệ đến sự tăng giảm của các năng lượng do Mặt Trăng biểu trưng. Chúng ta luân phiên bị hấp dẫn và bị đẩy lùi đối với năng lượng mà chúng hàm chứa. Chúng ta bị hấp dẫn hoặc bị đẩy lùi đối với những điều thuộc bản chất của năng lượng ấy.

323. Points Emerging in Group Discussion in relation to the manner in which the Law of Synthesis is related to the Law of Periodicity.

323. Các điểm nổi lên trong thảo luận nhóm liên hệ đến cách thức Định luật Tổng Hợp liên hệ với Định luật Chu Kỳ.

1. The Law of Synthesis is the law which sustains the Whole as Whole.

1. Định luật Tổng Hợp là định luật duy trì Toàn Thể như một Toàn Thể.

2. The Law of Synthesis is listed third but is a law related to the first aspect.

2. Định luật Tổng Hợp được liệt kê thứ ba nhưng là một định luật liên hệ đến phương diện thứ nhất.

3. In manifestation Synthesis is progressive. There is a continual stripping away of impediments to Synthesis. In manifestation there are different levels of expression in different cycles. There are progressive cycles of temporary or relative completion or essentialization. We periodically arrive at relative essentializations on our way to the Synthesis which already is.

3. Trong biểu hiện, Tổng Hợp tiến triển. Có sự liên tục lột bỏ các chướng ngại đối với Tổng Hợp. Trong biểu hiện có những cấp độ biểu đạt khác nhau trong các chu kỳ khác nhau. Có những chu kỳ tiến triển của sự hoàn tất tạm thời hay tương đối, hoặc của sự tinh yếu hoá. Theo chu kỳ, chúng ta đạt đến những sự tinh yếu hoá tương đối trên đường đi tới Tổng Hợp vốn đã .

4. Spiral cyclic motion proceeds towards the Synthesis which is by offering the opportunity for elevation and recapitulation.

4. Chuyển động chu kỳ xoắn ốc tiến về Tổng Hợp vốn bằng cách trao cơ hội cho sự nâng cao và sự ôn lại.

5. With the passing of each cycle, all things move closer to the ‘archetypal organization’. When Synthesis is achieved, archetypes are as perfectly reflected as they can be. But archetypes are themselves imperfect.

5. Khi mỗi chu kỳ trôi qua, mọi sự tiến gần hơn đến ‘tổ chức nguyên mẫu’. Khi Tổng Hợp được đạt, các nguyên mẫu được phản chiếu hoàn hảo nhất có thể. Nhưng bản thân các nguyên mẫu cũng không hoàn hảo.

6. All intra-universal syntheses are relative. The only COMPLETE SYNTHESIS is the ABSOLUTE.

6. Mọi tổng hợp nội-vũ-trụ đều là tương đối. Chỉ có TỔNG HỢP HOÀN TOÀN là TUYỆT ĐỐI.

7. The Law of Synthesis is related to the Law of Periodicity because in the process of progress, new approximations to the Synthesis which is will be discovered. This occurs because, periodically, evolving lives move beyond their ring(s)-pass-not, breaking down the impediments to the perception of the ever-prevailing Synthesis.

7. Định luật Tổng Hợp liên hệ đến Định luật Chu Kỳ vì trong tiến trình tiến bộ, những xấp xỉ mới đối với Tổng Hợp vốn sẽ được khám phá. Điều này xảy ra vì, theo chu kỳ, các sự sống đang tiến hoá vượt ra ngoài (các) vòng-giới-hạn của chúng, phá vỡ các chướng ngại đối với sự tri nhận Tổng Hợp luôn hiện hữu.

8. We have to be careful how we use the word “Synthesis”. There is a first ray understanding of Synthesis, and also a buddhic understanding.

8. Chúng ta phải cẩn thận khi dùng từ “Tổng Hợp”. Có một sự thấu hiểu Tổng Hợp theo cung một, và cũng có một sự thấu hiểu theo Bồ đề.

9. Often we confound “Unity” and “Synthesis”. When we do so, an encompassing unification is called Synthesis.

9. Thường khi chúng ta lẫn lộn “Hợp Nhất” và “Tổng Hợp”. Khi làm vậy, một sự hợp nhất bao trùm được gọi là Tổng Hợp.

10. When we speak of discovering new realms of Synthesis, we are really discovering a progressive series of unifications.

10. Khi nói về việc khám phá những cõi giới mới của Tổng Hợp, thật ra chúng ta đang khám phá một chuỗi tiến triển các sự hợp nhất.

11. The buddhi reveals the Synthesis which ever is. One need not extend the consciousness in order to buddhically perceive the Synthesis. One must intensify the consciousness.

11. Bồ đề mặc khải Tổng Hợp vốn luôn . Không cần mở rộng tâm thức để tri nhận Tổng Hợp bằng Bồ đề. Người ta phải tăng cường tâm thức.

12. New realms of Unity can be discovered, but not new realms of Synthesis. The Realm of Synthesis is One Realm which ever abides.

12. Có thể khám phá những cõi giới mới của Hợp Nhất, nhưng không có những cõi giới mới của Tổng Hợp. Cõi giới của Tổng Hợp là Một Cõi luôn thường trụ.

13. Because we are in the second solar system the concepts of Unity and Synthesis are easily confounded.

13. Vì chúng ta đang ở hệ mặt trời thứ hai nên các khái niệm Hợp Nhất và Tổng Hợp dễ bị lẫn lộn.

14. Synthesis is revealed in time after many cycles but it not created. The Synthesis that is revealed already IS. We are engaged in a cyclic approach to the revelation of that which is.

14. Tổng Hợp được mặc khải trong thời gian sau nhiều chu kỳ nhưng không được tạo ra. Tổng Hợp được mặc khải vốn đã . Chúng ta đang tham dự vào một sự tiến gần theo chu kỳ đến sự mặc khải của điều vốn .

15. Achieving progressive unifications eventually reveals the ISNESS (which is Synthesis)

15. Việc đạt được những sự hợp nhất tiến triển cuối cùng sẽ mặc khải TÍNH-LÀ (vốn là Tổng Hợp)

16. When periodical cycles are rightly coordinated, the Synthesis which is appears and manifests progressively through the lower energies.

16. Khi các chu kỳ được phối hợp đúng đắn, Tổng Hợp vốn xuất hiện và biểu hiện tiến triển qua các năng lượng thấp.

17. The process by which archetypes are reflected into the lower worlds are akin to the dynamic of branding.

17. Tiến trình mà các nguyên mẫu được phản chiếu vào các cõi thấp tương tự như động lực của việc xây dựng thương hiệu.

3. These three are cosmic laws. There are seven systemic laws, which govern the manifestation of our solar Logos:

3. Ba định luật này là các định luật vũ trụ. Có bảy định luật hệ thống, cai quản sự biểu hiện của Thái dương Thượng đế của chúng ta:

324. A “cosmic law” is operative beyond the confines of our solar system.

324. Một “định luật vũ trụ” hoạt động vượt ngoài giới hạn của hệ mặt trời chúng ta.

325. A systemic law is operative within our solar system. But given the fundamental nature of the systemic laws given below, they must be applicable to much larger systems than our solar system One could imagine them operative in all systems, yet somehow regulated by the three fundamental cosmic laws.

325. Một định luật hệ thống hoạt động trong hệ mặt trời chúng ta. Nhưng xét bản chất nền tảng của các định luật hệ thống được nêu dưới đây, chúng hẳn phải áp dụng cho những hệ thống lớn hơn nhiều so với hệ mặt trời của chúng ta. Người ta có thể hình dung chúng hoạt động trong mọi hệ thống, tuy nhiên bằng cách nào đó được điều tiết bởi ba định luật vũ trụ nền tảng.

326. An interesting theme for meditation would be to relate each one of the seven systemic laws to the three cosmic laws.

326. Một chủ đề tham thiền thú vị là liên hệ từng định luật trong bảy định luật hệ thống với ba định luật vũ trụ.

327. For instance, it is already easy to see the Law of Cohesion, the Law of Magnetic Control and the Law of Love as related to the cosmic Law of Attraction and Repulsion.

327. Chẳng hạn, ngay từ bây giờ đã dễ thấy Định luật Kết Dính, Định luật Kiểm Soát Từ Tính và Định luật Bác Ái có liên hệ với định luật vũ trụ về Hấp Dẫn và Đẩy Lùi.

328. Probably ray relations have a lot to do with how these two sets of laws correlate.

328. Có lẽ các liên hệ cung có liên quan rất nhiều đến cách hai bộ định luật này tương quan.

a. The Law of Vibration.

a. Định luật Rung Động.

b. The Law of Cohesion.

b. Định luật Kết Dính.

c. The Law of Disintegration.

c. Định luật Tan Rã.

d. The Law of Magnetic Control.

d. Định luật Kiểm Soát Từ Tính.

e. The Law of Fixation.

e. Định luật Cố Định.

f. The Law of Love.

f. Định luật Bác Ái.

g. The Law of Sacrifice and Death.

g. Định luật Hi Sinh và Chết.

329. The words here found (vibration, cohesion, disintegration, etc.) have each an important relationship to the ray, the number of which correlates with a particular law.

329. Những từ được tìm thấy ở đây (rung động, kết dính, tan rã, v.v.) mỗi từ đều có một mối liên hệ quan trọng với cung, mà con số của cung tương quan với một định luật nhất định.

330. Some of these correlations are obvious and others less so.

330. Một số tương quan này là hiển nhiên và một số thì kém hiển nhiên hơn.

1. For instance, all vibration is begun by a first ray impact. (Consider the impact of the first ray planet, Vulcan.)

1. Chẳng hạn, mọi rung động đều được khởi phát bởi một tác động của cung một. (Hãy xét tác động của hành tinh cung một, Vulcan.)

2. The second ray is called the “Ray of Attractive Coherency”.

2. Cung hai được gọi là “Cung của Tính Kết Dính Hấp Dẫn”.

3. The third ray is known as “The Divine Separator” and, hence, its association with disintegration.

3. Cung ba được biết là “Đấng Phân Ly Thiêng Liêng” và vì vậy liên hệ với sự tan rã.

4. “Magnetic Control” is probably achieved through fourth ray attunement and rapport.

4. “Kiểm Soát Từ Tính” có lẽ đạt được qua sự điều chỉnh và sự tương thông của cung bốn.

5. “Fixation” is one of the particular functions of the mind—especially the concrete mind associated with the number five.

5. “Cố Định” là một trong những chức năng đặc thù của thể trí—đặc biệt là trí cụ thể liên hệ với con số năm.

6. “Love” is, per se, a term more associated with the second ray than the sixth, but the sixth is, in a way, a more concrete aspect of the second.

6. “Bác Ái”, xét chính nó, là một thuật ngữ gắn với cung hai hơn là cung sáu, nhưng cung sáu, theo một nghĩa nào đó, là một phương diện cụ thể hơn của cung hai.

7. “Sacrifice and Death” are the results of the seventh ray entombment of the spirit. The lowest plane (the seventh) is occultly the realm of death, and to enter into such concreteness of form is a great sacrifice. This may tell us something about Sanat Kumara knows as “The Great Sacrifice”

7. “Hi Sinh và Chết” là kết quả của việc cung bảy chôn vùi tinh thần. Cõi thấp nhất (cõi thứ bảy) về mặt huyền bí là cõi của cái chết, và đi vào sự cụ thể của hình tướng như thế là một sự hi sinh lớn. Điều này có thể cho chúng ta biết đôi điều về Đức Sanat Kumara được biết như là “Đại Hi Sinh”

4. Each of these Laws manifests primarily on one or other of the seven planes of the solar system.

4. Mỗi Định luật này biểu hiện chủ yếu trên một hay một cõi trong bảy cõi của hệ mặt trời.

331. Any one systemic plane may be the primary focus for a particular law, but since each systemic plane has seven subplanes, all seven laws manifest on each systemic plane.

331. Bất kỳ một cõi hệ thống nào cũng có thể là trọng tâm chính cho một định luật nhất định, nhưng vì mỗi cõi hệ thống có bảy cõi phụ, nên cả bảy định luật đều biểu hiện trên mỗi cõi hệ thống.

332. Given the focus of the usual disciple today, the systemic Law of Fixation should be a most influential factor in his life. The Law of Magnetic Control (relating to the work of the Solar Angels) will also loom large in the disciplic consciousness.

332. Xét trọng tâm của đa số đệ tử ngày nay, Định luật Cố Định của hệ thống hẳn là một yếu tố có ảnh hưởng nhất trong đời sống y. Định luật Kiểm Soát Từ Tính (liên hệ đến công việc của các Thái dương Thiên Thần) cũng sẽ nổi bật trong tâm thức đệ tử.

5. Each law sweeps periodically into power and each plane has its period of manifestation and its period of obscuration.

5. Mỗi định luật theo chu kỳ tràn vào quyền năng và mỗi cõi có thời kỳ biểu hiện và thời kỳ che khuất.

333. The great Law of Cycles would reveal these truths, but it is not until a man has attained “All Knowledge” on the third subplane of the atmic plane that such knowledge begins to dawn, even if incompletely.

333. Định luật Chu Kỳ vĩ đại sẽ mặc khải những chân lý này, nhưng chỉ khi một người đã đạt “Toàn Tri” trên cõi phụ thứ ba của cõi atma thì tri thức ấy mới bắt đầu ló rạng, dù còn chưa trọn vẹn.

334. It seems suggested that the seven planes included within any larger plane operate according to an involutionary and evolution cycle.

334. Dường như có gợi ý rằng bảy cõi nằm trong bất kỳ một cõi lớn hơn nào vận hành theo một chu kỳ giáng hạ tiến hoá và tiến hoá.

335. We are familiar with the idea that a day will come when the ethers will be all that remains of the physical plane. If we study the various chains of globes proposed in Theosophy, we shall see that some chains have no etheric-physical globe, and some no astral globe. The lower areas of life expression are not always with us.

335. Chúng ta quen với ý tưởng rằng sẽ đến một ngày khi các dĩ thái là tất cả những gì còn lại của cõi hồng trần. Nếu nghiên cứu các dãy bầu hành tinh được đề xuất trong Thông Thiên Học, chúng ta sẽ thấy rằng một số dãy không có bầu hành tinh dĩ thái-hồng trần, và một số không có bầu hành tinh cảm dục. Những khu vực thấp của sự biểu đạt sự sống không phải lúc nào cũng ở cùng chúng ta.

336. Because human beings are the fourth kingdom on the fourth globe of the fourth chain of the fourth planetary scheme, the Law of Magnetic Control, the fourth law, must be tremendously influential.

336. Vì con người là giới thứ tư trên bầu hành tinh thứ tư của dãy thứ tư trong hệ hành tinh thứ tư, nên Định luật Kiểm Soát Từ Tính, định luật thứ tư, hẳn phải có ảnh hưởng vô cùng lớn.

337. Microcosmic man, though subject to various of these systemic laws because he lives within the larger wholes which are subjected to them, will also, independently, focus on different laws depending upon his stage of evolution. All of these systemic laws have their lower, microcosmic correspondences.

337. Con người tiểu vũ trụ, tuy chịu sự chi phối của nhiều định luật hệ thống này vì y sống trong những toàn thể lớn hơn vốn chịu chúng, cũng sẽ, một cách độc lập, tập trung vào các định luật khác nhau tuỳ theo giai đoạn tiến hoá của y. Tất cả các định luật hệ thống này đều có các tương ứng thấp hơn, tiểu vũ trụ.

338. It was suggested that obscuration is the shift of emphasis from one sphere of expression to another. In occultism, the term “obscuration” is used in two ways;

338. Có gợi ý rằng sự che khuất là sự chuyển trọng tâm nhấn mạnh từ một lĩnh vực biểu đạt sang lĩnh vực khác. Trong huyền bí học, thuật ngữ “che khuất” được dùng theo hai cách;

1. A temporary quieting,

1. Một sự lắng yên tạm thời,

2. also disappearance (absorption).

2. và cũng là sự biến mất (hấp thụ).

We might consider obscuration at the prelude to absorption.

Chúng ta có thể xem sự che khuất như khúc dạo đầu của sự hấp thụ.

6. Every manifested life has its three great cycles:

6. Mọi sự sống biểu hiện đều có ba chu kỳ lớn:

Birth Life Death.

Sinh Sống Chết.

Appearance growth disappearance.

Sắc tướng tăng trưởng biến mất.

[Page 7]

[Page 7]

Involution evolution obscuration.

Giáng hạ tiến hoá tiến hoá che khuất.

Inert motion activity rhythmic motion.

Chuyển động trì trệ hoạt động chuyển động nhịp nhàng.

Tamasic life rajasic life sattvic life.

Sự sống tamas sự sống rajas sự sống sattva.

339. For the greatest revelation, this tabulation should be read both horizontally and vertically.

339. Để có sự mặc khải lớn nhất, bảng liệt kê này nên được đọc cả theo chiều ngang lẫn chiều dọc.

340. Some perhaps surprising results emerge. A vertical reading of columns one and two seem to make sense, (for birth, appearance, involution, inert motion and tamasic life are all reasonably equivalent, as are life, growth, evolution, activity and rajasic life) but to equate “rhythmic motion” and “sattvic life” (which are equivalent) to death, disappearance and obscuration, is less easy to understand.

340. Một số kết quả có lẽ gây ngạc nhiên xuất hiện. Việc đọc theo chiều dọc của cột một và hai dường như có lý (vì sinh, sắc tướng, giáng hạ tiến hoá, chuyển động trì trệ và sự sống tamas đều tương đối tương đương, cũng như sống, tăng trưởng, tiến hoá, hoạt động và sự sống rajas), nhưng việc đồng nhất “chuyển động nhịp nhàng” và “sự sống sattva” (vốn tương đương) với chết, biến mất và che khuất thì khó hiểu hơn.

341. In this regard, it is suggested that when true harmonic rhythm is achieved, the period of death, disappearance and obscuration will begin. Once harmony is achieve, the cycle has fulfilled its purpose.

341. Về điểm này, có gợi ý rằng khi nhịp điệu hoà điệu chân chính được đạt, thời kỳ chết, biến mất và che khuất sẽ bắt đầu. Một khi hoà điệu được đạt, chu kỳ đã hoàn thành mục đích của nó.

342. It would seem that sattva and right rhythm can be achieved during the process of life-in-form (which is the meaning of the term “Life” as here used), but the achievement does summon the energies which bring termination.

342. Dường như sattva và nhịp điệu đúng đắn có thể được đạt trong tiến trình sự sống-trong-hình tướng (đó là ý nghĩa của thuật ngữ “Sống” như được dùng ở đây), nhưng sự đạt được ấy lại triệu gọi các năng lượng đem đến sự kết thúc.

343. Points Emerging in Group Discussion:

343. Các điểm nổi lên trong thảo luận nhóm:

1. There is a relation between beauty and death. Often, people about to die reveal a great beauty. Art brought to consummation/perfection must be followed by a type of death.

1. Có một mối liên hệ giữa cái đẹp và cái chết. Thường khi sắp chết, con người bộc lộ một vẻ đẹp lớn. Nghệ thuật được đưa đến chỗ viên mãn/hoàn hảo phải được theo sau bởi một loại chết.

2. There is scent emitted by dying people. Each person has his/her own fragrance—either a fragrance of perfume and flowers or the stench decay.

2. Có mùi toả ra từ người sắp chết. Mỗi người có hương riêng—hoặc hương nước hoa và hoa cỏ, hoặc mùi hôi của sự mục rữa.

3. We cannot avoid a correlation with the fourth ray. How long is a flower in its prime? It was suggested that when a flower withers and dies it gives off its sweetest fragrance.

3. Chúng ta không thể tránh một tương quan với cung bốn. Một bông hoa ở thời kỳ rực rỡ được bao lâu? Có gợi ý rằng khi một bông hoa héo và chết, nó toả ra hương thơm ngọt ngào nhất.

7. Knowledge of the cycles involves knowledge of number, sound and colour.

7. Tri thức về các chu kỳ bao hàm tri thức về số, âm thanh và màu sắc.

344. In these three is contained the secret of all revelation. The new occultism of the twenty-first century must reveal that which is now concealed with respect to number, sound and color.

344. Trong ba điều này chứa bí mật của mọi sự mặc khải. Huyền bí học mới của thế kỷ hai mươi mốt phải mặc khải điều hiện đang bị che giấu liên quan đến số, âm thanh và màu sắc.

345. True information on these three is tremendously veiled, and wisely so. So many of the present tables of correspondences are erroneous or fallible. Extremely deep knowledge of mathematics, music and color theory are required to straighten out these erroneous correspondences.

345. Thông tin chân thực về ba điều này bị che phủ rất nhiều, và khôn ngoan là như vậy. Nhiều bảng tương ứng hiện nay là sai lầm hoặc dễ sai. Cần có tri thức cực kỳ sâu về toán học, âm nhạc và lý thuyết màu sắc để chỉnh lại những tương ứng sai lạc này.

346. We can see the reason for the veils. The power to create and destroy lies with the one who has mastered number, sound and color.

346. Chúng ta có thể thấy lý do của các tấm màn che. Quyền năng sáng tạo và huỷ diệt nằm trong tay người đã làm chủ số, âm thanh và màu sắc.

347. The rays of humanity are presently the fourth and fifth. A combination of these rays (rays to be strong during the Aquarian Age) will assist greatly in the necessary mastery.

347. Các cung của nhân loại hiện nay là cung bốn và cung năm. Sự kết hợp của các cung này (các cung sẽ mạnh trong Kỷ Nguyên Bảo Bình) sẽ trợ giúp rất nhiều cho sự làm chủ cần thiết.

348. We note that the numbers four and five relate respectively to the initiation of the Arhat and that of the Master, Who presumably have the necessary knowledge.

348. Cần lưu ý rằng các con số bốn và năm lần lượt liên hệ đến lần điểm đạo của Arhat và của Chân sư, những Đấng hẳn có tri thức cần thiết.

8. Full knowledge of the mystery of the cycles is the possession only of the perfected adept.

8. Tri thức đầy đủ về huyền nhiệm của các chu kỳ chỉ thuộc về chân sư đã hoàn thiện.

349. Attention was called to the number 55, 66, 77. The number 55 suggests the perfected adept (Sanat = 55); 66 is the goal for the present solar system; 77 for the next.

349. Người ta đã lưu ý đến các con số 55, 66, 77. Số 55 gợi ý chân sư đã hoàn thiện (Sanat = 55); 66 là mục tiêu cho hệ mặt trời hiện tại; 77 cho hệ mặt trời kế tiếp.

350. As stated, “All knowledge” is an atmic siddhi (cf. TCF 188), though, interestingly, not the supreme atmic siddhi. There are still two higher.

350. Như đã nói, “Toàn Tri” là một siddhi atma (x. LVC 188), tuy nhiên, điều thú vị là nó không phải siddhi atma tối thượng. Vẫn còn hai siddhi cao hơn.

351. It is not only a question of knowing how long cycles last (which often involves understanding rather intricate planetary, solar and even constellational orbits), but of knowing exactly which sources are actually cycling or orbiting. Some very important sources are invisible and some have no dense planetary body associated with them, but they still have orbits and predictable cycles.

351. Không chỉ là vấn đề biết các chu kỳ kéo dài bao lâu (điều thường liên quan đến việc thấu hiểu các quỹ đạo hành tinh, mặt trời và thậm chí các quỹ đạo chòm sao khá phức tạp), mà còn là biết chính xác những nguồn nào thật sự đang theo chu kỳ hay đang quay theo quỹ đạo. Một số nguồn rất quan trọng là vô hình và một số không có thể hành tinh đậm đặc đi kèm, nhưng chúng vẫn có quỹ đạo và các chu kỳ có thể dự đoán.

352. The siddhi of “all knowledge” is found upon the third subplane of the third systemic plane or the fifth subplane of the fifth systemic plane (counting from below). In any case the numbers three and five are very important in the life of the “perfected adept”.

352. Siddhi “toàn tri” được tìm thấy trên cõi phụ thứ ba của cõi hệ thống thứ ba hoặc cõi phụ thứ năm của cõi hệ thống thứ năm (tính từ dưới lên). Dù thế nào, các con số banăm rất quan trọng trong đời sống của “chân sư đã hoàn thiện”.

353. May we say that adept has learned much of what the Fifth Creative Hierarchy (“Solar Angels”) has to offer, and is highly responsive to the gifts of the “Triads” (the Third Creative Hierarchy)? We realize that a Master has, in some respects, dominated the atmic plane and is thus a Master of five planes, and a Master of the realm of the spiritual triad.

353. Có thể nói rằng chân sư đã học được nhiều điều mà Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm (“Thái dương Thiên Thần”) cống hiến, và đáp ứng rất cao với các ân tặng của “các Tam nguyên” (Huyền Giai Sáng Tạo thứ ba)? Chúng ta nhận ra rằng một Chân sư, theo một số phương diện, đã chế ngự cõi atma và vì vậy là Chân sư của năm cõi, và là Chân sư của cõi của Tam Nguyên Tinh Thần.

354. Anyway, it is along the third and/or the fifth ray that full knowledge of cycles may be expected to dawn.

354. Dù sao, chính theo cung ba và/hoặc cung năm mà tri thức đầy đủ về các chu kỳ có thể được mong đợi sẽ ló rạng.

III. All souls are identical with the Oversoul.

III. Mọi linh hồn đều đồng nhất với đại hồn.

1. The Logos of the solar system is the Macrocosm. Man is the Microcosm.

1. Thái dương Thượng đế của hệ mặt trời là Đại thiên địa. Con người là Tiểu thiên địa.

355. This is, at least, one definition of “Macrocosm”—the Solar Logos. So much will depend upon the system being discussed, for the Solar Logos is a microcosm perhaps to what we might call a ‘Galactic Logos’, though many ever-larger inclusive Entities are to be found before reaching the level of our galaxy.

355. Đây, ít nhất, là một định nghĩa của “Đại thiên địa”—Thái dương Thượng đế. Rất nhiều điều sẽ tuỳ thuộc vào hệ thống đang được bàn đến, vì Thái dương Thượng đế có lẽ là một tiểu vũ trụ đối với điều mà chúng ta có thể gọi là một ‘Thượng đế Ngân Hà’, dù trước khi đạt đến cấp độ của ngân hà chúng ta, vẫn còn có thể tìm thấy nhiều Thực Thể bao gồm lớn hơn nữa.

356. At least for purposes of terminological consistency, when life within our solar system is considered, the Solar Logos is the Macrocosm and man the microcosm.

356. Ít nhất để nhất quán thuật ngữ, khi xét sự sống trong hệ mặt trời chúng ta, Thái dương Thượng đế là Đại thiên địa và con người là tiểu thiên địa.

357. Again, we see the term “soul” associated with the number three, which is unusual. Perhaps this can be explained by the thought that the number three seems to fall into the second place, because the number one is given to that which remains abstracted and unmanifest.

357. Một lần nữa, chúng ta thấy thuật ngữ “linh hồn” gắn với con số ba, điều này khác thường. Có lẽ có thể giải thích bằng ý nghĩ rằng con số ba dường như rơi vào vị trí thứ hai, vì con số một được dành cho điều vẫn còn trừu tượng và không biểu hiện.

358. There are no individual souls. This is clearly stated in Rule V for Disciples and Initiates in The Rays and the Initiations (R&I 20), where the group is aware that the “macrocosmic Whole is all there is” and, as a result of perceiving that Whole, is no longer to use the thought, “my soul and thine”

358. Không có các linh hồn cá biệt. Điều này được nêu rõ trong Quy luật V dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ trong Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo (R&I 20), nơi nhóm ý thức rằng “Toàn Thể vĩ mô là tất cả những gì hiện hữu” và, như một kết quả của việc tri nhận Toàn Thể ấy, không còn dùng ý nghĩ “linh hồn tôi và linh hồn bạn”

“The macrocosmic Whole is all there is. Let the group perceive that Whole and then no longer use the thought ‘My soul and thine’.”

“Toàn Thể vĩ mô là tất cả những gì hiện hữu. Hãy để nhóm tri nhận Toàn Thể ấy và rồi không còn dùng ý nghĩ ‘Linh hồn tôi và linh hồn bạn’.”

2. Soul is an aspect of every form of life from a Logos to an atom.

2. Linh hồn là một phương diện của mọi hình thức sự sống từ một Thượng đế đến một nguyên tử.

359. It was asked, “Is the soul of an atom its etheric body?” It was suggested that there is a correspondence from man to atom—from cosmic ethers (whereon the true soul of man is to be found) to the systemic ethers (on which the true soul of the atom may be found).

359. Có câu hỏi: “Linh hồn của một nguyên tử có phải là thể dĩ thái của nó không?” Có gợi ý rằng có một tương ứng từ người đến nguyên tử—từ các dĩ thái vũ trụ (nơi linh hồn chân thực của con người được tìm thấy) đến các dĩ thái hệ thống (nơi linh hồn chân thực của nguyên tử có thể được tìm thấy).

360. An aspect is an inherent fundamental. An attribute is external to an aspect. Aspects are structural and attributes are modes of expression.

360. Một Phương diện là một điều nền tảng cố hữu. Một thuộc tính là điều ở bên ngoài một phương diện. Các phương diện mang tính cấu trúc và các thuộc tính là các phương thức biểu đạt.

361. Three of the seven principles of man may be considered aspectual, and four principles as related to divine attributes. All seven, however, are still principles.

361. Ba trong bảy nguyên khí của con người có thể được xem là thuộc phương diện, và bốn nguyên khí liên hệ đến các thuộc tính thiêng liêng. Tuy nhiên, cả bảy vẫn là các nguyên khí.

362. We might say that the attributes can be derived from aspects. The lower four can be generated by various combinations of the higher three.

362. Chúng ta có thể nói rằng các thuộc tính có thể được rút ra từ các phương diện. Bốn thuộc tính thấp có thể được tạo ra bởi các kết hợp khác nhau của ba phương diện cao.

363. This is the “Hylozoistic Theory” which affirms that all lives are conscious—for soul is, inherently, consciousness.

363. Đây là “Lý thuyết Hylozoistic” khẳng định rằng mọi sự sống đều có tâm thức—vì linh hồn, một cách cố hữu, là tâm thức.

364. Points Emerging in Group Discussion: A question which arose pointed us to the examination the problem of the triads, and other thought and questions followed:

364. Các điểm nổi lên trong thảo luận nhóm: Một câu hỏi nảy sinh đã dẫn chúng ta đến việc khảo sát vấn đề các tam nguyên, và các ý nghĩ cùng câu hỏi khác tiếp theo:

1. How are spiritual triads associated with distinct animal forms; does one triad supervise many animal forms?

1. Các Tam Nguyên Tinh Thần liên hệ thế nào với các hình thức động vật riêng biệt; một tam nguyên có giám sát nhiều hình thức động vật không?

2. May a particular monad work through a number of the lower life forms?

2. Một chân thần cụ thể có thể hoạt động qua một số hình thức sự sống thấp hơn không?

3. It was suggested that bacteria are like one individual. A biologist in the group suggested that bacteria of the same strain, for instance, behave like one ‘individual’.

3. Có gợi ý rằng vi khuẩn giống như một cá thể. Một nhà sinh học trong nhóm gợi ý rằng vi khuẩn cùng một chủng, chẳng hạn, hành xử như một ‘cá thể’.

365. In a ‘pyramidal universe’ there are fewer far monads than atoms, and fewer men than animals of all kinds. It would seem that with the in-mineralization, the in-vegetalization, and the in-zoonation of the monad, the one monad hence one triad, would have to be associated evolutionary, with many forms in the lower kingdoms.

365. Trong một ‘vũ trụ hình tháp’, có ít chân thần hơn nguyên tử, và ít người hơn mọi loài động vật. Dường như với sự khoáng hoá, sự thực vật hoá, và sự động vật hoá của chân thần, một chân thần, do đó một tam nguyên, sẽ phải được gắn, theo tiến hoá, với nhiều hình tướng trong các giới thấp.

3. This relationship between all souls and the Oversoul constitutes the basis for the scientific belief in Brotherhood. Brotherhood is a fact in nature, not an ideal.

3. Mối liên hệ giữa mọi linh hồn và đại hồn này cấu thành nền tảng cho niềm tin khoa học về Huynh Đệ. Huynh Đệ là một sự kiện trong bản chất, không phải một lý tưởng.

366. The term “soul” as here used, applies to “life units”, monads or “jivas”. We are not here speaking strictly of the consciousness aspect most often discussed as focussed on the higher mental plane

366. Thuật ngữ “linh hồn” như được dùng ở đây áp dụng cho “các đơn vị sự sống”, các chân thần hay “jiva”. Ở đây chúng ta không nói một cách nghiêm ngặt về phương diện tâm thức thường được bàn đến như tập trung trên cõi thượng trí

367. “Brotherhood” is a monadic relation, and, from a certain perspective, ‘monads—i.e., units of spirit—are souls’.

367. “Huynh Đệ” là một mối liên hệ chân thần, và, từ một quan điểm nhất định, ‘các chân thần—tức các đơn vị tinh thần—là các linh hồn’.

368. We have to realize that sometimes the Ancient Wisdom has language which is used with relative exactitude, and sometimes different terms can mean the same thing.

368. Chúng ta phải nhận ra rằng đôi khi Minh Triết Cổ Xưa dùng ngôn ngữ với độ chính xác tương đối, và đôi khi các thuật ngữ khác nhau có thể mang cùng một nghĩa.

369. One of the chief methods of ‘blinding’ is to use the same term for different things or different terms for the same thing. Tracing whether this is being done involves an extensive familiarity with the Teaching, so naturally, many occult blinds will escape us.

369. Một trong những phương pháp chính để ‘làm mù’ là dùng cùng một thuật ngữ cho những điều khác nhau hoặc dùng những thuật ngữ khác nhau cho cùng một điều. Việc truy xét xem điều này có đang được làm hay không đòi hỏi sự quen thuộc sâu rộng với Giáo Huấn, nên tự nhiên, nhiều màn che huyền bí sẽ thoát khỏi chúng ta.

370. Humanity’s approach to Brotherhood is often emotional and idealistic. When triadal and monadic consciousness becomes established realities in individuals and groups, Brotherhood will be recognized as factual—directly through experience.

370. Cách tiếp cận Huynh Đệ của nhân loại thường mang tính cảm xúc và lý tưởng. Khi tâm thức tam nguyên và chân thần trở thành những thực tại được thiết lập trong cá nhân và nhóm, Huynh Đệ sẽ được nhận biết như một sự kiện—trực tiếp qua kinh nghiệm.

371. Points Arising in Group Discussion:

371. Các điểm nảy sinh trong thảo luận nhóm:

1. Scientific brotherhood is related to Venus, the ruler of the ‘Age of Brotherhood’ in the last decanate of Aquarius. Solar Angel is our elder brother, ruled by Venus.

1. Huynh đệ khoa học liên hệ đến Sao Kim, chủ tinh của ‘Thời Đại Huynh Đệ’ trong thập độ cuối của Bảo Bình. Thái dương Thiên Thần là huynh trưởng của chúng ta, do Sao Kim cai quản.

2. Liberty—Aquarius: Equality—Libra; Fraternity—Gemini. Venus and fraternity.

2. Tự do—Bảo Bình: Bình đẳng—Thiên Bình; Huynh đệ—Song Tử. Sao Kim và huynh đệ.

3. First reflection of Brotherhood—maybe on the astral plane at the second initiation after Venus has brought soul and buddhi into the astral vehicle.

3. Sự phản chiếu đầu tiên của Huynh Đệ—có lẽ trên cõi cảm dục ở lần điểm đạo thứ hai sau khi Sao Kim đã đem linh hồn và Bồ đề vào vận cụ cảm dục.

4. Venus is R2 is its personality; and R2, in its higher monad; second initiation;

4. Sao Kim là cung hai là phàm ngã của nó; và cung hai, trong chân thần cao của nó; lần điểm đạo thứ hai;

5. Law of the Soul induced to Brotherhood—Law of Magnetic Impulse; Law of Group Progress/Law of Elevation—Capricorn, Venus rules Capricorn.

5. Định luật của Linh hồn dẫn đến Huynh Đệ—Định luật Xung Động Từ Tính; Định luật Tiến Bộ Nhóm/Định luật Nâng Cao—Ma Kết, Sao Kim cai quản Ma Kết.

6. Archetype of Brotherhood is our relation with the Solar Angel, and when we succeed we have brotherly relations with our fellows.

6. Nguyên mẫu của Huynh Đệ là mối liên hệ của chúng ta với Thái dương Thiên Thần, và khi chúng ta thành công, chúng ta có các quan hệ huynh đệ với các đệ tử đồng môn.

4. The Law of Correspondences will explain the details of this relationship. This Law of Correspondences or of Analogy is the interpretive law of the system, and explains God to man.

4. Định luật tương ứng sẽ giải thích các chi tiết của mối liên hệ này. Định luật tương ứng hay định luật tương đồng là định luật diễn giải của hệ thống, và giải thích Thượng đế cho con người.

372. There is a difference between these two laws: The Law of Correspondences is understood to be more exacting that the Law of Analogy. Here the two laws seem to be equated.

372. Có một khác biệt giữa hai định luật này: Định luật tương ứng được hiểu là nghiêm ngặt hơn Định luật tương đồng. Ở đây hai định luật dường như được đồng nhất.

373. Analogy and correspondence can provide much apparently missing structural detail, but they also must not be pushed too far or errors (due to an overly concrete approach) will result. Similarities often exist in general but not in particular.

373. Tương đồng và tương ứng có thể cung cấp nhiều chi tiết cấu trúc tưởng như bị thiếu, nhưng cũng không được đẩy quá xa nếu không sẽ dẫn đến sai lầm (do một cách tiếp cận quá cụ thể). Những tương tự thường tồn tại ở mức tổng quát nhưng không ở mức chi tiết.

374. The Law of Correspondences and the Law of Analogy is not only the interpretive law of the system, but of the entire universe. Our present range of apprehension is, however, largely theoretical and is limited to the solar system and our local cosmos (at least qualitatively). Quantitatively, astro-physicists have taken us into deep space where analogies can also be applied (without knowing the qualitative nature of that which is being compared).

374. Định luật tương ứng và Định luật tương đồng không chỉ là định luật diễn giải của hệ thống, mà còn của toàn thể vũ trụ. Tuy nhiên, tầm tri nhận hiện nay của chúng ta phần lớn mang tính lý thuyết và bị giới hạn trong hệ mặt trời và vũ trụ địa phương của chúng ta (ít nhất về phẩm tính). Về lượng, các nhà vật lý thiên văn đã đưa chúng ta vào không gian sâu, nơi các tương đồng cũng có thể được áp dụng (mà không biết bản chất phẩm tính của điều đang được so sánh).

375. What is interpretation? It is often the expressing of that which is unknown in terms of that which is known, and thereby gaining greater knowledge of the unknown. That which needs to be interpreted always begins as an unknown. It must be defined (in terms of what is known and is similar to it) and, thereby its proper place and meaning found within the context in which it appears to be placed.

375. Diễn giải là gì? Thường đó là việc diễn đạt điều chưa biết bằng các thuật ngữ của điều đã biết, và nhờ vậy đạt được tri thức lớn hơn về điều chưa biết. Điều cần được diễn giải luôn bắt đầu như một điều chưa biết. Nó phải được định nghĩa (theo những gì đã biết và tương tự với nó) và nhờ vậy vị trí và ý nghĩa đúng của nó được tìm thấy trong bối cảnh mà nó dường như được đặt vào.

376. Points Emerging in Group Discussion in relation to the theme of interpretation.

376. Các điểm nổi lên trong thảo luận nhóm liên hệ đến chủ đề diễn giải.

1. What is interpretation?

1. Diễn giải là gì?

i. Casting light on a hidden meaning

i. Soi sáng một ý nghĩa ẩn giấu

ii. Building connections with the larger context.

ii. Xây dựng các liên kết với bối cảnh lớn hơn.

iii. Moving from known to unknown, whether up or down.

iii. Đi từ cái đã biết đến cái chưa biết, dù lên hay xuống.

2. The number four is related to linking higher and lower, and to Mercury, the planet of interpretation.

2. Con số bốn liên hệ đến việc nối kết cao và thấp, và đến Sao Thủy, hành tinh của sự diễn giải.

3. The number three relates the abstract mind to the concrete levels of perception, thus presiding over relating the general to the specific and the specific to the general. The three is also related to Mercury (probably its personality ray and major monadic ray).

3. Con số ba liên hệ trí trừu tượng với các cấp độ tri nhận cụ thể, do đó chủ trì việc liên hệ cái tổng quát với cái đặc thù và cái đặc thù với cái tổng quát. Con số ba cũng liên hệ đến Sao Thủy (có lẽ là cung phàm ngã của nó và cung chân thần chính).

5. Just as God is the Macrocosm for all the kingdoms in Nature, so man is the Macrocosm for all the sub-human kingdoms.

5. Cũng như Thượng đế là Đại thiên địa đối với mọi giới trong bản chất, con người là Đại thiên địa đối với mọi giới dưới nhân loại.

377. Point five uses the Law of Correspondences or of Analogy to compare God and Man—the first being a macrocosm and the second a microcosm.

377. Điểm năm dùng Định luật tương ứng hay Định luật tương đồng để so sánh Thượng đế và Con người—điều thứ nhất là một đại vũ trụ và điều thứ hai là một tiểu vũ trụ.

378. The mind can be trained to think analogically, and this is good practice for any would-be occultist. Having the fourth ray in the ray structure (or the second) is useful in this regard, for ratios and proportions are ruled by fourth and second rays, but those on all the rays can learn to perceive in this manner. And, after all, we are living in a solar system of the “fourth order” which is a vehicle of expression for a Solar Logos whose principle known ray is the second.

378. Thể trí có thể được rèn luyện để tư duy theo tương đồng, và đây là một thực hành tốt cho bất kỳ ai muốn trở thành một nhà huyền bí học. Có cung bốn trong cấu trúc cung (hoặc cung hai) là hữu ích trong việc này, vì tỉ số và tỉ lệ do cung bốn và cung hai cai quản, nhưng những người thuộc mọi cung đều có thể học cách tri nhận theo phương thức này. Và rốt cuộc, chúng ta đang sống trong một hệ mặt trời thuộc “trật tự thứ tư”, là một vận cụ biểu đạt cho một Thái dương Thượng đế mà nguyên khí cung đã biết là cung hai.

379. Points Emerging in Group Discussion:

379. Các điểm nổi lên trong thảo luận nhóm:

1. Man/Mineral = Solar Lives/Man (This is an analogical ratio)

1. Người/Giới kim thạch = Các Sự Sống Thái dương/Người (Đây là một tỉ lệ tương đồng)

2. The principle of analogy is not only connected with ray four but with ray two.

2. Nguyên lý tương đồng không chỉ gắn với cung bốn mà còn với cung hai.

3. In music the second ray relates to intervals. An interval is created with two are sounded. Music is fundamentally an art on the second ray, and has a reflection in the fourth ray. Overtones are partials (little notes contained or sounding within a fundamental). The vibratory relation of partials to the fundamental note is expressed in a ratio (one number divided by another –such as ⅔ known as the major fifth, or ¾ known as the fourth or subdominant).they are formed by a ratio with two terms.

3. Trong âm nhạc, cung hai liên hệ đến các quãng. Một quãng được tạo ra khi hai nốt được xướng lên. Âm nhạc về căn bản là một nghệ thuật thuộc cung hai, và có một phản chiếu trong cung bốn. Các hoà âm bồi là các phần âm (những nốt nhỏ được chứa trong hoặc vang lên bên trong một nốt nền). Mối liên hệ rung động của các phần âm với nốt nền được biểu đạt bằng một tỉ lệ (một số chia cho một số khác—như ⅔ gọi là quãng năm trưởng, hoặc ¾ gọi là quãng bốn hay hạ át). Chúng được hình thành bởi một tỉ lệ có hai hạng.

4. If an interval consists of two notes and is related to the second ray, a chord consists of no less than three notes and is fundamentally related to the third ray and to the triangle. Chords with greater numbers of notes can be related to other geometrical figures.

4. Nếu một quãng gồm hai nốt và liên hệ đến cung hai, thì một hợp âm gồm không ít hơn ba nốt và về căn bản liên hệ đến cung ba và đến tam giác. Các hợp âm có số nốt lớn hơn có thể liên hệ đến các hình học khác.

1. The Mineral Kingdom VII

1. Giới Kim Thạch VII

2. The Vegetable Kingdom VI

2. Giới Thực Vật VI

3. The Animal Kingdom V

3. Giới Động Vật V

4. The Kingdom of Men IV

4. Giới của Con Người IV

5. The Kingdom of Souls III

5. Giới của các Linh Hồn III

6. The Kingdom of Planetary Lives II

6. Giới của các Sự Sống Hành Tinh II

7. The Kingdom of Solar Lives I (EP I 215)

7. Giới của các Sự Sống Thái dương I (EP I 215)

6. The goal for the evolution of the atom is self-consciousness as exemplified in the human kingdom.

6. Mục tiêu cho sự tiến hoá của nguyên tử là ngã thức, như được minh hoạ trong giới nhân loại.

The goal for the evolution of man is group consciousness, as exemplified by a planetary Logos. 2

Mục tiêu cho sự tiến hoá của con người là tâm thức nhóm, như được minh hoạ bởi một Hành Tinh Thượng đế. 2

The goal for the planetary Logos is God consciousness, as exemplified by the solar Logos.

Mục tiêu cho Hành Tinh Thượng đế là tâm thức Thượng đế, như được minh hoạ bởi Thái dương Thượng đế.

380. It may be that a number of Planetary Logoi become one Solar Logos.

380. Có thể là một số Hành Tinh Thượng đế trở thành một Thái dương Thượng đế.

381. We see an example of the pyramidal structure of cosmos, for there are far fewer men than atoms, far fewer Planetary Logoi than men, and far fewer Solar Logoi than Planetary Logoi.

381. Chúng ta thấy một ví dụ về cấu trúc hình tháp của vũ trụ, vì số người ít hơn rất nhiều so với số nguyên tử, số Hành Tinh Thượng đế ít hơn rất nhiều so với số người, và số Thái dương Thượng đế ít hơn rất nhiều so với số Hành Tinh Thượng đế.

382. The goals-in-consciousness for the various ‘atoms’ are here presented, each level of consciousness being far more inclusive than the next.

382. Ở đây, các mục tiêu-trong-tâm thức cho các “nguyên tử” khác nhau được trình bày, mỗi cấp độ tâm thức đều bao gồm rộng hơn rất nhiều so với cấp kế tiếp.

383. Much is spoken of the group consciousness towards which the human being strives; a Planetary Logos is considered the exemplification of group consciousness.

383. Người ta nói nhiều về tâm thức nhóm mà con người đang phấn đấu hướng tới; một Hành Tinh Thượng đế được xem là sự minh hoạ của tâm thức nhóm.

384. Each of these levels of consciousness has multiple levels contained within it. They are huge and general categories.

384. Mỗi cấp độ tâm thức này đều chứa nhiều cấp độ bên trong nó. Chúng là những phạm trù rộng lớn và tổng quát.

385. Contained within these three sentences is a significant philosophical problem which can be conceived by questions such as the following which suggest the necessity for ‘group ascent’.

385. Trong ba câu này hàm chứa một vấn đề triết học quan trọng, có thể được hình dung qua những câu hỏi như sau, vốn gợi ý sự cần thiết của “sự thăng tiến theo nhóm”.

1. How can a ‘lesser entity’ literally become a ‘greater entity’ that includes a number of ‘lesser entities’ like itself?

1. Làm sao một “thực thể nhỏ hơn” có thể thực sự trở thành một “thực thể lớn hơn” vốn bao gồm một số “thực thể nhỏ hơn” giống như chính nó?

2. When a ‘lesser entity’ becomes the kind of entity which includes it, is that becoming a group process?

2. Khi một “thực thể nhỏ hơn” trở thành loại thực thể bao gồm nó, thì sự trở thành ấy có phải là một tiến trình nhóm không?

3. Does a single atom achieve self-consciousness, or do a number of such atoms achieve self-consciousness together?

3. Một nguyên tử đơn lẻ đạt được ngã thức, hay một số nguyên tử như thế cùng nhau đạt được ngã thức?

386. Points Emerging in Group Discussion:

386. Các điểm nổi lên trong thảo luận nhóm:

1. There is no difference between our essential identity and that into which we can be ‘retracted’. In ‘Emanation Theory’ we follow the ‘emanatory tracks’ along which we came into our present depth of material immersion.

1. Không có khác biệt nào giữa bản sắc cốt yếu của chúng ta và điều mà chúng ta có thể được “thu hồi” vào đó. Trong “Thuyết Xuất Lộ”, chúng ta đi theo các “đường mòn xuất lộ” mà qua đó chúng ta đã đi vào độ sâu hiện tại của sự chìm đắm trong vật chất.

2. It was humorously yet truly suggested that “We are matchless and yet we are fire:”

2. Người ta đã gợi ý một cách hài hước mà vẫn chân thực rằng: “Chúng ta vô song, và tuy vậy chúng ta là lửa:”

3. Is there ever a RPN (Ring Pass Not) to the sutratma which is the ‘life thread’? No. But there is only a RPN to consciousness.

3. Có bao giờ có một vòng-giới-hạn đối với sutratma, vốn là “sợi dây” sự sống không? Không. Nhưng chỉ có một vòng-giới-hạn đối với tâm thức.

4. The interiority (the life) of all beings is identical. RPNs separate the outer forms.

4. Tính nội tại (tức sự sống) của mọi hữu thể là đồng nhất. Các vòng-giới-hạn phân cách các hình tướng bên ngoài.

7. The solar Logos is the sum-total of all the states of consciousness within the solar system. 3

7. Thái dương Thượng đế là tổng thể của mọi trạng thái tâm thức bên trong hệ mặt trời. 3

(3: “We have all got into the habit of viewing the universe as a vast group of isolated bodies having very little connection with each other, while the fact is that the universe is one in its essence and many in its manifestations, descending from a homogeneity on the highest plane to more and more marked heterogeneity as it reaches the lowest planes.”—Some Thoughts on the Gita, p.54)

(3: “Tất cả chúng ta đã quen nhìn vũ trụ như một nhóm khổng lồ các thể cô lập, có rất ít liên hệ với nhau, trong khi sự thật là vũ trụ là một trong bản chất của nó và là nhiều trong các biểu hiện của nó, đi xuống từ một tính đồng nhất ở cõi cao nhất đến một tính dị biệt ngày càng rõ nét khi nó chạm đến các cõi thấp nhất.”—Một Vài Suy Tư về Gita, tr.54)

387. The kind of thought proposed here in “Some Thoughts on the Gita” is essential in solving the problem suggested above.

387. Loại tư tưởng được đề xuất ở đây trong “Một Vài Suy Tư về Gita” là thiết yếu để giải quyết vấn đề được gợi ý ở trên.

388. Heterogeneity is not separateness. Strictly mental apprehension leads to the perception of separation where none essentially exists. It must be overcome by uniting buddhi to manas.

388. Tính dị biệt không phải là sự tách biệt. Sự nắm bắt thuần túy của thể trí dẫn đến tri giác về sự phân ly ở nơi mà về bản chất không hề có. Điều này phải được vượt qua bằng cách hợp nhất Bồ đề với manas.

Scroll to Top