Cosmic Fire S7B
(Trang 854-925)
|
To continue with our consideration of egoic groups: It might be briefly stated that the egoic groups in connection with our planet may be roughly grouped according to the stage of lotus organisation, as follows: |
Để tiếp tục việc xem xét các nhóm chân ngã: Có thể nói ngắn gọn rằng các nhóm chân ngã liên hệ với hành tinh của chúng ta có thể được phân nhóm một cách đại khái theo giai đoạn tổ chức của hoa sen như sau: |
|
a. Egos who were produced through the individualisation process in Lemurian days. They are the true Earth humanity, along with the second group. |
a. Các chân ngã được tạo ra qua tiến trình biệt ngã hóa trong thời Lemuria. Họ là nhân loại Trái Đất đích thực, cùng với nhóm thứ hai. |
|
b. Egos who have individualised during the Atlantean root-race until the door was shut. |
b. Các chân ngã đã biệt ngã hóa trong giống dân gốc Atlantis cho đến khi cánh cửa khép lại. |
|
c. Egos who have “come-in” from the moon chain and who are much more evolved than the earth humanity. |
c. Các chân ngã đã “đi vào” từ Dãy Mặt Trăng và đã tiến hoá hơn nhiều so với nhân loại Trái Đất. |
|
d. Các chân ngã đã được cuốn vào kể từ thời Atlantis để thay thế những chân ngã đã đạt được giải thoát, và các thể nguyên nhân của họ đã biến mất, hoặc các hoa sen của họ đã “tàn lụi” để lại một khoảng trống trong chất liệu mãnh lực cần phải được cung cấp và lấp đầy. Họ thường đi vào từ một trong hai hệ: |
|
|
1. From the scheme embodied by the polar opposite of our planetary Logos. |
1. Từ hệ được nhập thể bởi cực đối nghịch của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. |
|
2. From that scheme which is allied with these two in forming a systemic triangle. [Page 854] |
2. Từ hệ liên kết với hai hệ kia trong việc hình thành một tam giác hệ thống. [Page 854] |
|
These cases are necessarily rare at present but will become more frequent as more and more of the human race take the fourth Initiation. |
Những trường hợp này hiện nay tất yếu hiếm, nhưng sẽ trở nên thường xuyên hơn khi ngày càng nhiều người trong nhân loại đạt lần điểm đạo thứ tư. |
|
e. Certain rare Egos or lotuses from schemes not enumerated in the above triplicity. They are usually only brought in so that they may perfect certain developments in their own nature, to carry out experimental work in connection with the deva kingdom, or to produce certain group results desired by the planetary Logos. They frequently do not descend into dense physical incarnation but work primarily on mental and astral levels, returning to their own spheres eventually for the final stages of liberation. |
e. Một số chân ngã hay hoa sen hiếm hoi từ các hệ không được liệt kê trong bộ ba nói trên. Họ thường chỉ được đưa vào để hoàn thiện một số phát triển nào đó trong bản chất riêng của mình, để thực hiện công việc thử nghiệm liên quan đến giới thiên thần, hoặc để tạo ra một số kết quả nhóm mà Hành Tinh Thượng đế mong muốn. Họ thường không giáng xuống nhập thể hồng trần đậm đặc mà chủ yếu hoạt động trên các cấp độ trí tuệ và cảm dục, rồi cuối cùng trở về các khối cầu riêng của mình cho những giai đoạn giải thoát cuối cùng. |
|
All these lotuses in their myriad differentiations have specific effects upon each other on mental levels, and these effects are as yet utterly unrealised by man. Nevertheless, they are the basis of the true psychology, and the grounds of all true activity. The student would do well to ponder upon the effect any advanced Ego would be likely to have upon: |
Tất cả những hoa sen này trong vô số biến phân của chúng đều có những tác động đặc thù lên nhau trên các cấp độ trí tuệ, và những tác động này hiện con người vẫn hoàn toàn chưa nhận ra. Tuy nhiên, chúng là nền tảng của môn tâm lý học chân chính, và là cơ sở của mọi hoạt động chân chính. Đạo sinh nên suy gẫm về ảnh hưởng mà bất kỳ chân ngã tiến hóa cao nào có thể có lên: |
|
a. Other Egos in his group. |
a. Các chân ngã khác trong nhóm của y. |
|
b. The solar Pitris who are the substance of the group. |
b. Các thái dương tổ phụ là chất liệu của nhóm. |
|
c. The lunar Pitris, who are linked with the solar Pitris through the permanent atoms. |
c. Các thái âm tổ phụ, những vị được liên kết với các thái dương tổ phụ qua các Nguyên tử trường tồn. |
|
We have enumerated above certain classifications of groups of Egos to be found on the causal levels of the mental plane, so as to give students some idea of the vastness of the subject, and the complexity of the problem. It must be remembered that on the third subplane of the mental plane there is no individual separation such as we find when in physical manifestation, but nevertheless group separation is to be seen. These groups are far too many to enumerate in detail. We have outlined and named five of the larger groups as catalogued under [Page 855] one scheme of tabulation in the Hall of Records. Other methods of enumeration exist, and even under the one here used, these five groups are each subdivided into ten groups, and these again are broken up into lesser units, all of them being known and portrayed under certain symbols. |
Ở trên chúng ta đã liệt kê một số phân loại các nhóm chân ngã được tìm thấy trên các cấp độ nguyên nhân của cõi trí, nhằm giúp đạo sinh có được một ý niệm nào đó về sự bao la của đề tài và tính phức tạp của vấn đề. Phải nhớ rằng trên cõi phụ thứ ba của cõi trí không có sự tách biệt cá nhân như chúng ta thấy khi ở trong biểu hiện hồng trần, nhưng tuy vậy sự tách biệt nhóm vẫn có thể được thấy. Các nhóm này quá nhiều để có thể liệt kê chi tiết. Chúng ta đã phác họa và nêu tên năm nhóm lớn hơn như được ghi mục dưới [Page 855] một hệ thống phân loại trong Phòng Lưu Trữ. Có những phương pháp liệt kê khác tồn tại, và ngay cả trong phương pháp được dùng ở đây, năm nhóm này mỗi nhóm lại được chia thành mười nhóm, rồi các nhóm ấy lại được phân thành những đơn vị nhỏ hơn, tất cả đều được biết đến và mô tả dưới những biểu tượng nhất định. |
|
When we come to the second subplane of the mental plane (the plane whereon the egoic bodies of advanced humanity, of disciples, and of initiates are found) the method of grouping will be according to: |
Khi chúng ta đến cõi phụ thứ hai của cõi trí (cõi nơi các thể chân ngã của nhân loại tiến hóa cao, của các đệ tử và các điểm đạo đồ được tìm thấy) thì phương pháp phân nhóm sẽ theo: |
|
a. Ray. |
a. Cung. |
|
b. Subray. |
b. Cung phụ. |
|
c. Department (whether under the Manu, the Mahachohan or the Bodhisattva on our earth scheme or their analogies on other schemes). |
c. Ban ngành (dù thuộc dưới Đức Manu, Đức Mahachohan hay Đức Bồ Tát trong hệ Địa Cầu của chúng ta hay các tương đồng của Các Ngài trong các hệ khác). |
|
d. The Master’s group. |
d. Nhóm của Chân sư. |
|
These egoic lotuses are all organised, and have a number of petals unfolded whilst some are in the final stages of development. |
Các Hoa Sen Chân Ngã này đều đã được tổ chức, và có một số cánh hoa đã khai mở trong khi một số khác đang ở những giai đoạn phát triển cuối cùng. |
|
They have also been grouped under the following three heads: |
Chúng cũng đã được phân nhóm dưới ba đầu mục sau đây: |
|
Lotuses of revelation. Those in which the “jewel” is just about to be revealed. |
Hoa sen mặc khải. Những hoa sen mà “ngọc” sắp được mặc khải. |
|
Lotuses with perfume. Those whose occult “smell” or aroma is permeating their environment. They are those Egos who have not yet completely unfolded the final tier of petals, but whose lives are of magnetic force in the three worlds, and whose careers are distinguished by altruistic service. |
Hoa sen có hương thơm. Những hoa sen mà “mùi” hay hương thơm huyền bí của chúng đang thấm khắp môi trường xung quanh. Đó là những chân ngã chưa hoàn toàn khai mở vòng cánh hoa cuối cùng, nhưng đời sống của họ là mãnh lực từ tính trong ba cõi thấp, và sự nghiệp của họ nổi bật bởi sự phụng sự vị tha. |
|
Radiant lotuses, or those whose light is beginning to shine forth as lights in a dark place. |
Hoa sen rạng ngời, hay những hoa sen mà ánh sáng của chúng bắt đầu chiếu tỏa như những ngọn đèn trong nơi tối tăm. |
|
They are grouped also according to primary colour, to subsidiary colouring, according to key or tone, and one tabulation is entirely numerical. It might be of interest [Page 856] to the student if we here pointed out that in the Hall of Records in connection with the human Egos certain of the records under symbological terminology keep a minute account of the following facts concerning each unit: |
Chúng cũng được phân nhóm theo màu chính, theo sắc thái phụ, theo chủ âm hay âm điệu, và có một bảng phân loại hoàn toàn theo số học. Có lẽ sẽ khiến đạo sinh quan tâm [Page 856] nếu ở đây chúng tôi chỉ ra rằng trong Phòng Lưu Trữ, liên quan đến các chân ngã nhân loại, một số hồ sơ dưới thuật ngữ biểu tượng học ghi chép tỉ mỉ các sự kiện sau đây về từng đơn vị: |
|
The lunar record. This deals with all the lower vehicles and forms, employed by the human Monads and concerns itself with: |
Hồ sơ thái âm. Hồ sơ này bàn đến tất cả các vận cụ và hình tướng thấp hơn được các chân thần nhân loại sử dụng và liên quan đến: |
|
a. Their rate of vibration, |
a. Tốc độ rung động của chúng, |
|
b. Their type, |
b. Loại của chúng, |
|
c. Their key number, |
c. Con số chủ âm của chúng, |
|
d. The particular group of lunar Lords who are concerned with those bodies, |
d. Nhóm nguyệt tinh quân đặc biệt có liên quan đến các thể ấy, |
|
e. The detailed history of the elemental lives who construct the bodies. |
e. Lịch sử chi tiết của các sự sống hành khí kiến tạo nên các thể ấy. |
|
This information is employed by the karmic official responsible for the production of a new set of vehicles at each incarnation, in order to assist the working out of karma. The history of the lunar bodies is stored up in the permanent atoms. |
Thông tin này được viên chức nghiệp quả chịu trách nhiệm tạo ra một bộ vận cụ mới trong mỗi lần nhập thể sử dụng, nhằm hỗ trợ việc triển khai nghiệp quả. Lịch sử của các thể thái âm được lưu giữ trong các Nguyên tử trường tồn. |
|
The solar record. This deals with the more permanent egoic vehicle, and concerns itself with: |
Hồ sơ thái dương. Hồ sơ này bàn đến vận cụ chân ngã bền vững hơn, và liên quan đến: |
|
a. The rate of vibration. |
a. Tốc độ rung động. |
|
b. The history of the petal unfoldment. |
b. Lịch sử sự khai mở của các cánh hoa. |
|
c. The history of any particular group of solar Angels concerned with the formation of the lotus. |
c. Lịch sử của bất kỳ nhóm Thái dương Thiên Thần đặc biệt nào có liên quan đến sự hình thành hoa sen. |
|
d. The activity of the deva substance out of which the lotus is constructed. |
d. Hoạt động của chất liệu thiên thần mà từ đó hoa sen được kiến tạo. |
|
e. Group relationships. |
e. Các mối liên hệ nhóm. |
|
This information is used by the Master Who has made Himself responsible for the stimulation and the growth of any particular series of Egos, and also by advanced Egos who are consciously working with their group. |
Thông tin này được Chân sư, Đấng đã tự mình nhận trách nhiệm về sự kích thích và tăng trưởng của bất kỳ chuỗi chân ngã đặc biệt nào, sử dụng, và cũng được các chân ngã tiến hóa cao đang hữu thức làm việc với nhóm của mình sử dụng. |
|
The consciousness record. This concerns the response of the indwelling Entity to its surroundings. It deals [Page 857] with the utilisation of knowledge by the knower, and is in many ways the most intricate and the most lengthy of the records. |
Hồ sơ tâm thức. Hồ sơ này liên quan đến sự đáp ứng của Thực Thể ngự bên trong đối với môi trường xung quanh. Nó bàn [Page 857] đến việc thức giả sử dụng tri thức, và theo nhiều phương diện là loại hồ sơ phức tạp nhất và dài nhất. |
|
These records are mostly used by the Lord of the World and His pupils to ascertain information in connection with the planetary centres. They are arranged in such a way that the entire record of any group, however vast and extensive, is embodied in seven sheets of symbols, each containing forty-nine symbols. These sheets are changed and corrected once every seven years, and are precipitated on astral matter by an effort of will by the Chohan responsible for the particular group involved. |
Những hồ sơ này phần lớn được Đức Chúa Tể Thế Giới và các môn sinh của Ngài sử dụng để xác định thông tin liên quan đến các trung tâm hành tinh. Chúng được sắp xếp theo cách mà toàn bộ hồ sơ của bất kỳ nhóm nào, dù bao la và rộng lớn đến đâu, đều được thể hiện trong bảy tờ biểu tượng, mỗi tờ chứa bốn mươi chín biểu tượng. Những tờ này được thay đổi và hiệu chỉnh mỗi bảy năm một lần, và được ngưng tụ trên vật chất cảm dục bằng một nỗ lực ý chí của vị Chohan chịu trách nhiệm về nhóm đặc biệt liên hệ. |
|
(d.) The Petals and the Etheric Centres. It remains now to point out the close connection between the unfoldment of the petals in the egoic lotuses and the etheric centres in man. It is through the centres that psychic energy flows. Students should carefully bear in mind the two following facts: First, the etheric body is vitalised, as we know, by prana. Pranic energy is the stimulator of animal activity, and of physical plane development. Its effect is primarily upon the atoms of the physical body and it has a triple effect upon the substance of the physical body: |
(d.) Các Cánh Hoa và các Trung Tâm Dĩ Thái. Giờ đây còn phải chỉ ra mối liên hệ mật thiết giữa sự khai mở của các cánh hoa trong các Hoa Sen Chân Ngã và các trung tâm dĩ thái trong con người. Chính qua các trung tâm mà năng lượng thông linh tuôn chảy. Đạo sinh nên cẩn thận ghi nhớ hai sự kiện sau đây: Thứ nhất, như chúng ta biết, thể dĩ thái được tiếp sinh lực bởi prana. Năng lượng prana là tác nhân kích thích hoạt động động vật và sự phát triển trên cõi hồng trần. Tác động của nó chủ yếu lên các nguyên tử của thể xác và nó có một tác động tam phân lên chất liệu của thể xác: |
|
a. It preserves the animal health of the body. |
a. Nó duy trì sức khỏe động vật của thể. |
|
b. Nó kiến tạo và xây dựng trong thể, qua năng lượng và các dòng mãnh lực của nó, những gì cần thiết để thay thế sự hao mòn hằng ngày. |
|
|
c. It is the medium whereby man comes into physical touch with his brother man. Physical magnetism is largely, even if not wholly, dependent upon prana. |
c. Nó là môi trường nhờ đó con người tiếp xúc hồng trần với đồng loại của mình. Từ điện hồng trần phần lớn, nếu không phải hoàn toàn, phụ thuộc vào prana. |
|
The etheric centres are the force vortices formed in etheric matter by astral impulse, transmitted via the [Page 858] astral centres. These astral centres in their turn are the transmitters of still higher energy, and thus the statement is technically true that the etheric centres are the source of man’s psychic energy, and are therefore affected by the unfoldment of the petals. Every petal is in its turn a type of force centre, and the energy emanating from it affects the etheric centres, and produces every type of psychic energy of the true kind. |
Các trung tâm dĩ thái là những xoáy mãnh lực được hình thành trong vật chất dĩ thái bởi xung lực cảm dục, được truyền qua [Page 858] các trung tâm cảm dục. Đến lượt mình, các trung tâm cảm dục này là những bộ truyền dẫn của năng lượng còn cao hơn nữa, và vì thế phát biểu rằng các trung tâm dĩ thái là nguồn của năng lượng thông linh của con người là đúng về mặt kỹ thuật, và do đó chúng bị ảnh hưởng bởi sự khai mở của các cánh hoa. Mỗi cánh hoa đến lượt nó là một loại trung tâm mãnh lực, và năng lượng phát ra từ nó ảnh hưởng đến các trung tâm dĩ thái, và tạo ra mọi loại năng lượng thông linh chân chính. |
|
The energy flowing from the Ego is but little felt in the early stages of development. Man follows his allotted path through animal and racial instinct, and can be safely left to the stimulation emanating from his group centres, and to the ordinary driving force inherent in form, and to the earlier life waves. It is only when he has reached a comparatively advanced stage (in comparison with that of animal man) that egoic or psychic force pours through his centres in such a way as to produce results in consciousness—of these he will eventually become profoundly aware within his physical brain. I do not here refer to the ordinary animal psychism displayed by the higher animals, and found among certain of the post Lemurian races. This is a type of consciousness inherent in the atoms, and is a constituent part of the “soul of the world.” It is unconscious and uncontrolled and has no part in this teaching. I refer to the conscious psychism which is displayed by advanced humanity, by disciples and initiates of all grades. This kind is the result of the pouring in of egoic energy through the etheric centres (mainly through five of them) in such a way that the consciousness of the physical brain becomes aware of it, and also aware of: |
Năng lượng tuôn chảy từ chân ngã chỉ được cảm nhận rất ít trong các giai đoạn phát triển đầu tiên. Con người đi theo con đường được phân định của mình nhờ bản năng động vật và bản năng chủng tộc, và có thể an toàn được để cho sự kích thích phát ra từ các trung tâm nhóm của y, cùng với động lực thông thường vốn có trong hình tướng, và các làn sóng sự sống trước đó. Chỉ khi y đã đạt đến một giai đoạn tương đối tiến hóa cao (so với người thú) thì mãnh lực chân ngã hay thông linh mới tuôn qua các trung tâm của y theo cách tạo ra các kết quả trong tâm thức—mà cuối cùng y sẽ trở nên nhận biết sâu sắc trong bộ não hồng trần của mình. Ở đây tôi không nói đến tính thông linh động vật thông thường được biểu lộ bởi các động vật cao cấp hơn, và được tìm thấy trong một số nhân loại hậu Lemuria. Đây là một loại tâm thức vốn có trong các nguyên tử, và là một phần cấu thành của “linh hồn thế giới.” Nó vô thức và không được kiểm soát và không thuộc về giáo huấn này. Tôi nói đến tính thông linh hữu thức được biểu lộ bởi nhân loại tiến hóa cao, bởi các đệ tử và các điểm đạo đồ ở mọi cấp bậc. Loại này là kết quả của sự tuôn vào của năng lượng chân ngã qua các trung tâm dĩ thái (chủ yếu qua năm trung tâm trong số đó) theo cách mà tâm thức của bộ não hồng trần nhận biết được nó, và cũng nhận biết được: |
|
a. Its purpose, |
a. Mục đích của nó, |
|
b. Its technique, |
b. Kỹ thuật của nó, |
|
c. The effects produced within the lower self of the man himself and also upon others, [Page 859] |
c. Các hiệu quả được tạo ra trong phàm ngã của chính con người ấy và cả trên những người khác, [Page 859] |
|
d. His ability to employ it or not as he may desire. It is under his control. |
d. Khả năng của y trong việc sử dụng hay không sử dụng nó tùy theo ý muốn. Nó ở dưới sự kiểm soát của y. |
|
The centres with which the student is concerned are, as we know, four in number: |
Như chúng ta biết, các trung tâm mà đạo sinh quan tâm đến có số lượng là bốn: |
|
a. The head, |
a. Đầu, |
|
b. The heart, |
b. Tim, |
|
c. The throat, |
c. Cổ họng, |
|
d. The base of the spine. |
d. Đáy cột sống. |
|
These are the only ones which should receive consideration. His work is to transfer the force or energy out of the two lower—the spinal and the solar plexus—into the three higher. It is presumed that he has already transferred, or is in process of transferring, the energy of the generative organs into the centre of desire, the solar plexus, with the aim in view of guiding it still higher to the throat centre. The splenic centre, being the vehicle of prana, is specially developed under evolutionary law, and its energy is not transferred to another centre, but is consciously diffused. When its correspondence in the head centre is awakened, this becomes the organ of occult healing; through it the healer (by an act of will), absorbs prana and vitality from the ethers, and then breathes it out again upon the object to be healed by an act of compassionate healing. |
Đây là những trung tâm duy nhất cần được xem xét. Công việc của y là chuyển dịch mãnh lực hay năng lượng ra khỏi hai trung tâm thấp hơn—trung tâm cột sống và tùng thái dương—vào ba trung tâm cao hơn. Giả định rằng y đã chuyển dịch, hoặc đang trong tiến trình chuyển dịch, năng lượng của các cơ quan sinh sản vào trung tâm ham muốn, tức tùng thái dương, với mục đích hướng dẫn nó lên cao hơn nữa đến trung tâm cổ họng. Trung tâm lá lách, là vận cụ của prana, được phát triển đặc biệt theo định luật tiến hoá, và năng lượng của nó không được chuyển dịch sang một trung tâm khác, mà được phân tán một cách hữu thức. Khi đối phần của nó trong trung tâm đầu được đánh thức, trung tâm này trở thành cơ quan của trị liệu huyền bí; qua đó người chữa lành (bằng một hành vi ý chí), hấp thu prana và sinh lực từ các dĩ thái, rồi lại thở nó ra trên đối tượng cần được chữa lành bằng một hành vi chữa lành đầy từ bi. |
|
In connection with the etheric centres, we should note the fact that the major head centre is twofold in structure, and consists of a lotus of ninety-six petals between the eyebrows, and of a twelve-petalled lotus at the top of the head, with ninety-six petals in a subsidiary whorl. The significance of these figures is profound. In every case the figure twelve is met with, showing a definite relation to the basic psychic lotuses on egoic levels. Twelve multiplied by eight stands for the twelve petals in each case, while in the figure eight lies hidden the idea of duality: [Page 860] |
Liên quan đến các trung tâm dĩ thái, chúng ta nên lưu ý sự kiện rằng trung tâm đầu chính có cấu trúc nhị phân, và gồm một hoa sen chín mươi sáu cánh giữa hai chân mày, và một hoa sen mười hai cánh ở đỉnh đầu, với chín mươi sáu cánh trong một vòng xoáy phụ. Ý nghĩa của các con số này rất sâu xa. Trong mọi trường hợp đều gặp con số mười hai, cho thấy một mối liên hệ xác định với các hoa sen thông linh căn bản trên các cấp độ chân ngã. Mười hai nhân với tám biểu thị mười hai cánh hoa trong mỗi trường hợp, trong khi trong con số tám ẩn giấu ý niệm về nhị nguyên tính: [Page 860] |
|
a. The four of the quaternary, |
a. Bốn của bộ tứ, |
|
b. The four of the egoic auric egg (the three aspects, and the ring-pass-not.) |
b. Bốn của noãn hào quang chân ngã (ba phương diện, và vòng-giới-hạn.) |
|
We must note also, that the idea of twelve in connection with the centres is found in three of them: |
Chúng ta cũng phải lưu ý rằng ý niệm về số mười hai liên quan đến các trung tâm được tìm thấy trong ba trung tâm: |
|
a. The higher head centre, |
a. Trung tâm đầu cao hơn, |
|
b. The secondary head centre, |
b. Trung tâm đầu thứ yếu, |
|
c. The heart centre. |
c. Trung tâm tim. |
|
If the student studies this condition, and links up the idea of the three tiers of petals in the twelve-petalled lotus, he may find illumination. More it is not possible to give at this stage. |
Nếu đạo sinh nghiên cứu điều kiện này, và liên kết ý niệm về ba tầng cánh hoa trong hoa sen mười hai cánh, y có thể tìm thấy sự soi sáng. Ở giai đoạn này không thể cho thêm gì hơn nữa. |
|
It is only when the etheric centres—the two head centres and the heart centre—are fully active with their twelve petals completely unfolded that the central circle of petals in the egoic lotus (the fourth or inner circle) unfolds. The significance of the four circles in the egoic lotus, and the eight circles of twelve petals each in the etheric lotuses on the mental plane is of great importance. |
Chỉ khi các trung tâm dĩ thái—hai trung tâm đầu và trung tâm tim—hoạt động hoàn toàn với mười hai cánh hoa của chúng được khai mở trọn vẹn thì vòng cánh hoa trung tâm trong Hoa Sen Chân Ngã (vòng thứ tư hay vòng bên trong) mới khai mở. Ý nghĩa của bốn vòng trong Hoa Sen Chân Ngã, và tám vòng mỗi vòng mười hai cánh trong các hoa sen dĩ thái trên cõi trí là vô cùng quan trọng. |
|
The centres with which man has to deal are necessarily five at this stage owing to the following facts, which must be studied if a man desires to awaken his centres according to plan, and if he wishes safely to follow along the line of the true psychic unfoldment: |
Ở giai đoạn này, các trung tâm mà con người phải xử lý tất yếu là năm do các sự kiện sau đây, những sự kiện phải được nghiên cứu nếu một người muốn đánh thức các trung tâm của mình theo đúng Thiên Cơ, và nếu y muốn an toàn đi theo con đường của sự khai mở thông linh chân chính: |
|
The fact that the energy starts from the fifth plane, the mental, where man is concerned, |
Sự kiện rằng năng lượng khởi đi từ cõi thứ năm, cõi trí, xét về con người, |
|
The fact that it is through the agency of the fifth principle that man can consciously work at his own unfoldment, |
Sự kiện rằng chính qua tác nhân của nguyên khí thứ năm mà con người có thể hữu thức làm việc cho sự khai mở của chính mình, |
|
The fact that the path of evolution is for man a fivefold one, covering the five planes of human unfoldment; and is divided into five stages as regards the Ego, |
Sự kiện rằng con đường tiến hoá đối với con người là một con đường ngũ phân, bao trùm năm cõi của sự khai mở nhân loại; và được chia thành năm giai đoạn xét về chân ngã, |
|
The fact that although this is the second solar system from the standpoint of the egoic cycles of the Logos, [Page 861] or His second major egoic cycle, yet it is the fifth when viewed from another angle, that of the lesser cycles. It corresponds to the fifth period in human evolution, that in which man treads the Path. The Logos is now treading the cosmic Path. |
Sự kiện rằng mặc dù đây là hệ mặt trời thứ hai xét từ quan điểm các chu kỳ chân ngã của Hành Tinh Thượng đế, [Page 861] hay chu kỳ chân ngã lớn thứ hai của Ngài, nhưng lại là chu kỳ thứ năm khi được nhìn từ một góc độ khác, tức góc độ của các chu kỳ nhỏ hơn. Nó tương ứng với thời kỳ thứ năm trong tiến hoá nhân loại, thời kỳ mà con người bước đi trên Con Đường. Hiện nay Hành Tinh Thượng đế đang bước đi trên Con Đường vũ trụ. |
|
The fact that the fifth spirilla is in process of awakening. This has to be effected before the interplay of energy between the egoic lotus and the etheric centres becomes so powerful as to awaken man’s physical brain, and cause him to become aware of the inner currents. This takes place usually when the fifth petal is organised. |
Sự kiện rằng loa tuyến thứ năm đang trong tiến trình được đánh thức. Điều này phải được thực hiện trước khi sự tương tác năng lượng giữa Hoa Sen Chân Ngã và các trung tâm dĩ thái trở nên mạnh mẽ đến mức đánh thức bộ não hồng trần của con người, và khiến y nhận biết các dòng chảy bên trong. Điều này thường xảy ra khi cánh hoa thứ năm được tổ chức. |
|
This whole question can also be viewed in a larger manner from the standpoint of the five Kumaras. It must be remembered that the aggregate of the etheric centres of any particular group of men form the force centres or minute “energy units” in the larger petals of their group centre. These again form petals in some particular planetary centre, and the aggregate of these petals form those larger centres of energy which we call “planetary centres.” These in their turn form centres of force for the Logos. |
Toàn bộ vấn đề này cũng có thể được nhìn theo cách rộng lớn hơn từ quan điểm của năm Kumaras. Phải nhớ rằng tổng thể các trung tâm dĩ thái của bất kỳ nhóm người riêng biệt nào tạo thành các trung tâm mãnh lực hay những “đơn vị năng lượng” nhỏ bé trong các cánh hoa lớn hơn của trung tâm nhóm của họ. Đến lượt mình, những cánh hoa này lại tạo thành các cánh hoa trong một trung tâm hành tinh đặc biệt nào đó, và tổng thể các cánh hoa này tạo thành những trung tâm năng lượng lớn hơn mà chúng ta gọi là “các trung tâm hành tinh.” Đến lượt chúng, các trung tâm này tạo thành các trung tâm mãnh lực cho Hành Tinh Thượng đế. |
|
Yet the mystery in connection with this is so profound that unless the student carefully guards himself from too mathematical and material a concept, he will go astray. The etheric centres of man are not on the same plane as the etheric centres of a planetary Logos. His centres are on the plane of the fourth cosmic ether, the systemic buddhic plane, and it is only when man has taken the final initiation that his energy becomes incorporated into that of the planetary centre on its own plane. The etheric centres of the planetary Logos are transmitters and transmuters of force, and bear the same relation to Him as do the physical centres to a human being. All the dense physical centres, such as the mouth, for instance, [Page 862] are transmitters of some type of energy arising in the human brain or will. |
Tuy nhiên, huyền nhiệm liên quan đến điều này sâu xa đến mức nếu đạo sinh không cẩn thận tự bảo vệ mình khỏi một quan niệm quá toán học và vật chất, y sẽ lạc đường. Các trung tâm dĩ thái của con người không ở trên cùng một cõi với các trung tâm dĩ thái của một Hành Tinh Thượng đế. Các trung tâm của Ngài ở trên cõi của dĩ thái vũ trụ thứ tư, tức cõi Bồ đề của hệ, và chỉ khi con người đã nhận lần điểm đạo cuối cùng thì năng lượng của y mới được sáp nhập vào năng lượng của trung tâm hành tinh trên chính cõi của nó. Các trung tâm dĩ thái của Hành Tinh Thượng đế là những bộ truyền dẫn và chuyển hoá mãnh lực, và có cùng mối liên hệ với Ngài như các trung tâm hồng trần đối với một con người. Tất cả các trung tâm hồng trần đậm đặc, chẳng hạn như miệng, [Page 862] đều là những bộ truyền dẫn một loại năng lượng nào đó phát sinh trong bộ não hay ý chí của con người. |
|
The understanding of force, of force transmission, and of the effects of liberated force upon the higher planes is the secret of occult knowledge. Force or energy flows in from the Ego. It works through the etheric centres and produces results on the three planes, varying according to the age of the soul. As yet, through lack of alignment, this egoic force does not reach the physical brain as fully as it later will, but it does reach the astral centres, and is frequently the cause of much of that lack of emotional control everywhere to be seen. The astral substance is as yet insufficiently organised, and when aroused by egoic energy moves violently. Astral substance is played upon by two counter streams of force: first, the egoic, and secondly, that vibration set up through countless ages on the physical plane, which is latent in substance itself, and is the result of an earlier solar system. This it is which produces the violent action and reaction to be seen in every life. |
Sự thấu hiểu về mãnh lực, về sự truyền dẫn mãnh lực, và về các hiệu quả của mãnh lực được giải phóng trên các cõi cao hơn là bí mật của tri thức huyền bí. Mãnh lực hay năng lượng tuôn vào từ chân ngã. Nó hoạt động qua các trung tâm dĩ thái và tạo ra các kết quả trên ba cõi, thay đổi tùy theo tuổi của linh hồn. Hiện nay, do thiếu sự chỉnh hợp, mãnh lực chân ngã này chưa đạt đến bộ não hồng trần đầy đủ như về sau nó sẽ đạt, nhưng nó có đạt đến các trung tâm cảm dục, và thường là nguyên nhân của phần lớn sự thiếu kiểm soát cảm xúc có thể thấy ở khắp nơi. Chất liệu cảm dục hiện vẫn chưa được tổ chức đầy đủ, và khi bị năng lượng chân ngã khơi động thì chuyển động dữ dội. Chất liệu cảm dục chịu tác động của hai dòng mãnh lực đối nghịch: thứ nhất là chân ngã, và thứ hai là rung động được thiết lập qua vô số thời đại trên cõi hồng trần, vốn tiềm ẩn trong chính chất liệu, và là kết quả của một hệ mặt trời trước. Chính điều này tạo ra hành động và phản ứng dữ dội có thể thấy trong mọi đời sống. |
|
It is not possible to give more data concerning the unfoldment of the petals and their connection with the etheric centres. Three hints of practical import anent this stupendous subject may however be given which, if duly pondered upon, may carry illumination to those who are ready. |
Không thể cung cấp thêm dữ liệu nào nữa liên quan đến sự khai mở của các cánh hoa và mối liên hệ của chúng với các trung tâm dĩ thái. Tuy nhiên, có thể đưa ra ba gợi ý có tầm quan trọng thực tiễn liên quan đến chủ đề đồ sộ này; nếu được suy gẫm đúng mức, chúng có thể mang lại sự soi sáng cho những ai đã sẵn sàng. |
|
Điều thứ nhất là các trung tâm dĩ thái trở nên hoạt động theo ý nghĩa chiều thứ tư (hay trở thành những bánh xe tự xoay trên chính mình) khi người chí nguyện đã tuân thủ một số chi tiết nhất định. |
|
|
He must work upon the unfoldment of the fifth and sixth petals, or the final two in the second circle and must endeavour to bring about two things in connection with his threefold lower nature: [Page 863] |
Y phải làm việc trên sự khai mở của cánh hoa thứ năm và thứ sáu, hay hai cánh cuối cùng trong vòng thứ hai, và phải nỗ lực mang lại hai điều liên quan đến bản chất thấp tam phân của mình: [Page 863] |
|
a. He must align his three bodies so that there is a direct channel of contact formed between the Ego and the physical brain. |
a. Y phải chỉnh hợp ba thể của mình sao cho một kênh tiếp xúc trực tiếp được hình thành giữa Chân ngã và bộ não hồng trần. |
|
b. He must strive to bring about a stabilisation of both the astral body and the mind, and must aim at that emotional equilibrium which is produced by the conscious “balancing of forces.” |
b. Y phải cố gắng mang lại sự ổn định cho cả thể cảm dục lẫn trí tuệ, và phải nhắm đến sự quân bình cảm xúc được tạo ra bởi việc “cân bằng các mãnh lực” một cách hữu thức. |
|
He must study the laws of transmutation and be a student of that divine alchemy which will result in a knowledge of how to transmute the lower force into the higher, of how to transfer his consciousness into the higher vehicles, and of how to manipulate energy currents so that his own nature is transformed. He will then become a channel for the light of the Ego, and for the illumination of buddhi to pour through for the saving of the race, and the lighting of those who stumble in dark places. He must demonstrate the laws of radioactivity in his own life on the physical plane. His life must begin to radiate, and to have a magnetic effect upon others. By this I mean he will begin to influence that which is imprisoned in others, for he will reach—through his own powerful vibrations—the hidden centre in each one. I do not mean by this the physical or magnetic effect that many quite unevolved souls have upon others. I refer to that spiritual radiation that is only responded to and realised by those who themselves are becoming aware of the spiritual centre within the heart. At this stage the man is recognised as one who can speak occultly “heart to heart.” He becomes a stimulator of the heart centre in his brother, and one who arouses men into activity for others. |
Y phải nghiên cứu các định luật chuyển hoá và là một môn sinh của thuật luyện kim thiêng liêng ấy, vốn sẽ dẫn đến tri thức về cách chuyển hoá lực thấp thành lực cao, về cách chuyển dịch tâm thức của mình vào các vận cụ cao hơn, và về cách vận dụng các dòng năng lượng sao cho chính bản chất của y được chuyển đổi. Khi đó y sẽ trở thành một kênh cho ánh sáng của Chân ngã, và cho sự soi sáng của Bồ đề tuôn qua để cứu rỗi nhân loại, và soi sáng những ai đang vấp ngã trong nơi tối tăm. Y phải biểu lộ các định luật phóng xạ trong chính đời sống của mình trên cõi hồng trần. Đời sống của y phải bắt đầu toả chiếu, và có một hiệu ứng từ tính đối với người khác. Bởi điều này tôi muốn nói rằng y sẽ bắt đầu ảnh hưởng đến điều đang bị giam hãm trong người khác, vì y sẽ chạm tới—qua các rung động mạnh mẽ của chính mình—trung tâm ẩn kín trong mỗi người. Tôi không muốn nói đến hiệu ứng hồng trần hay từ tính mà nhiều linh hồn còn khá chưa tiến hoá tạo ra nơi người khác. Tôi nói đến sự bức xạ tinh thần chỉ được đáp ứng và chứng nghiệm bởi những ai chính họ cũng đang bắt đầu nhận biết trung tâm tinh thần bên trong tim. Ở giai đoạn này con người được nhìn nhận là người có thể nói một cách huyền bí “tim với tim.” Y trở thành kẻ kích thích trung tâm tim nơi huynh đệ mình, và là người khơi dậy con người hoạt động vì người khác. |
|
The second hint is that as the aspirant becomes progressively radioactive, and as the energy of the inner God demonstrates more and more through the lower personality, the “heat radiations” become so powerful that very definite results are produced of a personal, and also [Page 864] of an environal, nature. A few of these results might be enumerated as follows: |
Điều gợi ý thứ hai là khi người chí nguyện dần dần trở nên có tính phóng xạ, và khi năng lượng của Thượng đế nội tại biểu lộ ngày càng nhiều qua phàm ngã thấp, thì các “bức xạ nhiệt” trở nên mạnh mẽ đến mức tạo ra những kết quả rất rõ rệt có tính cách cá nhân, và cũng có tính cách [Page 864] môi trường xung quanh. Có thể liệt kê một vài kết quả ấy như sau: |
|
The etheric web, separating the lower physical consciousness of the brain from the astral plane begins to undergo a lengthy process of destruction, and the first “rents” in the web occur. It is through these that the student becomes aware of the inner planes, becomes conscious in the physical brain of the inner happenings, and can (if a disciple) make his contacts with his Ego and (via that ego) with his Guru. (spiritual teacher) This marks a very important development. |
Mạng lưới dĩ thái, vốn ngăn cách tâm thức hồng trần thấp của bộ não với cõi cảm dục, bắt đầu trải qua một tiến trình huỷ diệt kéo dài, và những “vết rách” đầu tiên trong mạng lưới xuất hiện. Chính qua những vết rách này mà đạo sinh trở nên nhận biết các cõi bên trong, trở nên hữu thức trong bộ não hồng trần về những diễn biến nội tại, và có thể (nếu là một đệ tử) tạo các tiếp xúc của mình với Chân ngã và (qua chân ngã ấy) với Guru của mình. (huấn sư tinh thần) Điều này đánh dấu một sự phát triển rất quan trọng. |
|
The higher head centre increases its activity and becomes capable of receiving flashes of illumination from the higher planes. This happens only occasionally at first but with increasing frequency as the years progress, and the “rents” become more numerous. |
Trung tâm đầu cao hơn gia tăng hoạt động và trở nên có khả năng tiếp nhận những tia chớp soi sáng từ các cõi cao. Lúc đầu điều này chỉ xảy ra thỉnh thoảng nhưng với tần suất ngày càng tăng theo năm tháng, và các “vết rách” trở nên nhiều hơn. |
|
The various triangles become vivified and proceed to increased activity in due geometrical progression, whilst the centre between the shoulder blades, the converging point for certain fires, becomes active. This marks a definite stage in the process of transferring the fires into the higher centres. Roughly speaking, this period of the transference of the heat or energy of the lower centres into the higher may be divided into two parts: first, that in which the centres in the lower part of the body (those below the diaphragm) are transferred into the centres in the higher part of the torso. These centres in the torso are three in number, the heart, the throat, and the centre between the shoulder blades. We must here note that the throat centre is situated in the lower part of the throat, and properly belongs to the torso and not to the head. It should also be stated here that the centre between the shoulder blades is not a “sacred” centre, but is of a temporary nature, and is created by the aspirant himself during the process of transference. |
Các tam giác khác nhau được tiếp sinh lực và tiến tới hoạt động gia tăng theo cấp số hình học thích hợp, trong khi trung tâm giữa hai bả vai, điểm hội tụ của một số loại lửa, trở nên hoạt động. Điều này đánh dấu một giai đoạn xác định trong tiến trình chuyển các loại lửa vào các trung tâm cao hơn. Nói đại khái, thời kỳ chuyển nhiệt hay năng lượng của các trung tâm thấp vào các trung tâm cao có thể được chia thành hai phần: thứ nhất, phần trong đó các trung tâm ở phần dưới của cơ thể (những trung tâm dưới cơ hoành) được chuyển vào các trung tâm ở phần trên của thân mình. Các trung tâm này trong thân mình có ba trung tâm, là tim, cổ họng, và trung tâm giữa hai bả vai. Ở đây chúng ta phải lưu ý rằng trung tâm cổ họng nằm ở phần dưới của cổ họng, và đúng ra thuộc về thân mình chứ không thuộc về đầu. Cũng cần nói thêm ở đây rằng trung tâm giữa hai bả vai không phải là một trung tâm “thiêng liêng”, mà có tính chất tạm thời, và được chính người chí nguyện tạo ra trong tiến trình chuyển dịch. |
|
[Page 865] The second stage is that in which the energy of the lower six centres: |
[Page 865] Giai đoạn thứ hai là giai đoạn trong đó năng lượng của sáu trung tâm thấp: |
|
a. The throat, |
a. Trung tâm cổ họng, |
|
b. The heart, |
b. Trung tâm tim, |
|
c. The solar plexus, |
c. Tùng thái dương, |
|
d. The spleen, |
d. Luân xa lá lách, |
|
e. The organs of generation, |
e. Các cơ quan sinh sản, |
|
f. The base of the spine, |
f. Đáy cột sống, |
|
are—in due order according to a man’s ray and subray—transferred into the correspondences within the head centre. These seven head centres are the reflection in the microcosm of those “mansions prepared in the Heavens” which receive the sevenfold energy of the monad. These are the chambers prepared by the lower energy which are to be the recipients of “soul or the higher psychic energy.” |
được—theo đúng thứ tự tùy theo cung và cung phụ của một người—chuyển vào các đối phần bên trong trung tâm đầu. Bảy trung tâm đầu này là sự phản chiếu trong tiểu thiên địa của những “nơi cư ngụ đã được chuẩn bị trên Thiên giới” tiếp nhận năng lượng thất phân của chân thần. Đây là những buồng được năng lượng thấp chuẩn bị để trở thành những nơi tiếp nhận “linh hồn hay năng lượng thông linh cao hơn.” |
|
The final hint which can be given, may be summed up in the words that as the aspirant progresses, (275) he not only balances the pairs of opposites, but the secret of his brother’s heart becomes revealed to him. He becomes an acknowledged force in the world, and is recognised as one who can be depended upon to serve. Men turn to him for assistance and help along his recognised line, and he begins to sound forth his note so as to be heard not only in human but in deva ranks as well. This he does, at [Page 866] this stage, through the pen in literature, through the spoken word in lecturing and teaching, through music, painting and art. He reaches the hearts of men in some way or another, and becomes a helper and server of his race. |
Điều gợi ý cuối cùng có thể được đưa ra có thể được tóm lại trong lời rằng khi người chí nguyện tiến bộ, (275) y không những quân bình các cặp đối nghịch, mà bí mật của trái tim huynh đệ mình cũng được mặc khải cho y. Y trở thành một mãnh lực được thừa nhận trong thế giới, và được nhìn nhận là người có thể được tin cậy để phụng sự. Con người tìm đến y để xin trợ giúp và hỗ trợ theo đường lối đã được công nhận của y, và y bắt đầu xướng lên âm điệu của mình để được nghe thấy không chỉ trong hàng ngũ nhân loại mà cả trong hàng ngũ thiên thần nữa. Ở giai đoạn này, y làm điều đó qua ngòi bút trong văn chương, qua lời nói trong diễn giảng và giảng dạy, qua âm nhạc, hội hoạ [Page 866] và nghệ thuật. Bằng cách này hay cách khác y chạm tới trái tim con người, và trở thành một người trợ giúp và phụng sự cho nhân loại của mình. |
|
(275) Người chí nguyện. |
|
|
“The practices which make for union with the Soul are: fervent aspiration, spiritual reading, and complete obedience to the Master. |
“Những thực hành dẫn đến sự hợp nhất với linh hồn là: khát vọng nhiệt thành, đọc sách tinh thần, và hoàn toàn vâng phục Chân sư. |
|
The word which I have rendered “fervent aspiration” means primarily “fire”; and, in the Eastern teaching, it means the fire which gives life and light, and at the same time the fire which purifies. We have, therefore, as our first practice, as the first of the means of spiritual growth, that fiery quality of the will which enkindles and illumines, and, at the same time, the steady practice of purification, the burning away of all known impurities.” |
Từ mà tôi đã dịch là “khát vọng nhiệt thành” trước hết có nghĩa là “lửa”; và trong giáo huấn Đông phương, nó có nghĩa là ngọn lửa ban sự sống và ánh sáng, đồng thời cũng là ngọn lửa thanh lọc. Vì vậy, thực hành đầu tiên của chúng ta, phương tiện đầu tiên của sự tăng trưởng tinh thần, là phẩm tính rực lửa của ý chí vừa nhóm lên vừa soi sáng, đồng thời là sự thực hành thanh lọc bền bỉ, thiêu đốt đi mọi ô uế đã biết.” |
|
“Their aim is, to bring soul-vision, and to wear away hindrances.” |
“Mục tiêu của chúng là mang lại linh thị của linh hồn, và làm mòn đi các chướng ngại.” |
|
“The Rules are these: purity, serenity, fervent aspiration, spiritual reading, and perfect obedience to the Master.” |
“Các quy luật là đây: thanh khiết, tĩnh lặng, khát vọng nhiệt thành, đọc sách tinh thần, và vâng phục hoàn hảo đối với Chân sư.” |
|
“The perfection of the powers of the bodily vesture comes through the wearing away of impurities, and through fervent aspiration.”—Yoga Sutras of Patanjali, Book II, 1, 2, 32, 43 (C. Johnston’s Edition). (back) |
“Sự hoàn thiện các quyền năng của chiếc áo thể xác đến qua việc làm mòn đi các ô uế, và qua khát vọng nhiệt thành.”—Yoga Sutras of Patanjali, Quyển II, 1, 2, 32, 43 (Bản của C. Johnston). (back) |
|
Two more characteristics of this stage might here be enumerated. |
Có thể kể thêm ở đây hai đặc tính nữa của giai đoạn này. |
|
The aspirant has an appreciation of the occult value of money in service. He seeks nothing for himself, save that which may equip him for the work to be done, and he looks upon money, and that which money can purchase, as something which is to be used for others and a means to bring about the fruition of the Master’s plans as he senses those plans. The occult significance of money is little appreciated, yet one of the greatest tests as to the position of a man upon the probationary path is that which concerns his attitude to and his handling of that which all men seek in order to gratify desire. Only he who desires naught for himself can be a recipient of financial bounty, and a dispenser of the riches of the universe. In other cases where riches increase, they bring with them naught but sorrow and distress, discontent and misuse. |
Người chí nguyện có sự đánh giá đúng về giá trị huyền bí của tiền bạc trong phụng sự. Y không tìm kiếm gì cho mình, ngoại trừ điều có thể trang bị cho y đối với công việc cần làm, và y xem tiền bạc, cùng những gì tiền bạc có thể mua được, như một cái gì phải được dùng cho người khác và như một phương tiện để làm cho các kế hoạch của Chân sư được thành tựu theo như y cảm nhận các kế hoạch ấy. Ý nghĩa huyền bí của tiền bạc ít được đánh giá đúng, tuy nhiên một trong những thử thách lớn nhất về vị trí của một người trên Con Đường Dự Bị là điều liên quan đến thái độ của y đối với và cách y xử lý cái mà mọi người đều tìm kiếm để thoả mãn dục vọng. Chỉ người nào không mong cầu gì cho mình mới có thể là người tiếp nhận sự dồi dào tài chính, và là người phân phát các phong phú của vũ trụ. Trong những trường hợp khác, khi của cải gia tăng, chúng không mang theo gì ngoài buồn khổ và đau đớn, bất mãn và lạm dụng. |
|
At this stage also the aspirant’s life becomes an “instrument of destruction” in the occult sense of the term. Wherever he goes the force which flows through him from the higher planes, and from his own inner God, produces at times peculiar results upon his environment. It acts as a stimulator of both the good and the evil. The lunar Pitris who form the bodies of his brothers and his own body are likewise stimulated, their activity is increased, and their power greatly aggravated. This fact is used by Those Who work on the inner side to bring about certain desired ends. This it is also which oft times temporarily causes the downfall of advanced souls. They cannot stand the force pouring into them, or upon them, [Page 867] and through the temporary over-stimulation of their centres and vehicles they go astray. This can be seen working out in groups as well as in individuals. But, inversely, if the lunar Lords of the lower self have been earlier subjugated and brought under control, then the effect of the force and energy contacted is to stimulate the response of the physical brain consciousness and the head centres to egoic contact. Then the otherwise destructive force becomes a factor for good and helpful stimulation, and can be used by Those Who know how, to lead men on to further illumination. |
Ở giai đoạn này nữa, đời sống của người chí nguyện trở thành một “khí cụ huỷ diệt” theo ý nghĩa huyền bí của thuật ngữ này. Bất cứ nơi nào y đi, mãnh lực tuôn qua y từ các cõi cao hơn, và từ Thượng đế nội tại của chính y, đôi khi tạo ra những kết quả kỳ lạ nơi môi trường xung quanh. Nó hoạt động như một yếu tố kích thích cả điều thiện lẫn điều ác. Các thái âm tổ phụ tạo nên các thể của các huynh đệ y và thể của chính y cũng được kích thích, hoạt động của họ gia tăng, và quyền năng của họ bị làm cho trầm trọng thêm rất nhiều. Sự kiện này được Những Đấng hoạt động ở mặt bên trong sử dụng để mang lại một số cứu cánh mong muốn. Chính điều này cũng thường tạm thời gây ra sự sa ngã của các linh hồn tiến hoá cao. Họ không thể chịu nổi mãnh lực đang tuôn vào họ, hay đổ xuống trên họ, [Page 867] và qua sự kích thích quá mức tạm thời của các trung tâm và các vận cụ, họ đi lạc đường. Có thể thấy điều này diễn ra trong các nhóm cũng như nơi các cá nhân. Nhưng ngược lại, nếu các nguyệt tinh quân của phàm ngã đã được chế ngự từ trước và được đặt dưới sự kiểm soát, thì hiệu ứng của mãnh lực và năng lượng được tiếp xúc là kích thích sự đáp ứng của tâm thức bộ não hồng trần và các trung tâm đầu đối với tiếp xúc chân ngã. Khi đó mãnh lực vốn nếu không sẽ có tính huỷ diệt lại trở thành một yếu tố thiện lành và kích thích hữu ích, và có thể được Những Đấng biết cách sử dụng để dẫn dắt con người đến sự soi sáng thêm nữa. |
|
All these stages have to work out on all the three lower planes and in the three bodies; this they do according to the particular Ray and subray. In this fashion the work of the disciple is carried forward, and his testing and training carried out until the two circles of petals are unfolded, and the third is organised. Thus he is brought, through right direction of energy and wise manipulation of force currents, to the Portal of Initiation, and graduates out of the Hall of Learning (276) into the great Hall of Wisdom—that Hall wherein he gradually becomes “aware” of forces, and powers, latent in his own Ego and egoic group. It is the Hall wherein he gains the right to use the force of the egoic group, for he can now be trusted to wield it only for the helping of humanity. After the fourth Initiation, he becomes a sharer in, and can be trusted with some part of the energy of the planetary Logos and thus be enabled to carry forward the plans of that Logos for evolution. |
Tất cả các giai đoạn này phải được triển khai trên cả ba cõi thấp và trong ba thể; điều này diễn ra tùy theo cung và cung phụ đặc thù. Theo cách này công việc của đệ tử được tiếp tục, và sự thử luyện cùng huấn luyện của y được thực hiện cho đến khi hai vòng cánh hoa được khai mở, và vòng thứ ba được tổ chức. Như vậy y được đưa đến, qua sự định hướng đúng đắn của năng lượng và sự vận dụng khôn ngoan các dòng mãnh lực, Cửa Điểm Đạo, và tốt nghiệp ra khỏi Phòng Học Hỏi (276) để vào Phòng Minh triết vĩ đại—Phòng mà trong đó y dần dần trở nên “nhận biết” các mãnh lực và quyền năng tiềm ẩn trong chính Chân ngã và nhóm chân ngã của mình. Đó là Phòng trong đó y đạt được quyền sử dụng mãnh lực của nhóm chân ngã, vì giờ đây y có thể được tin cậy chỉ vận dụng nó để giúp đỡ nhân loại. Sau lần điểm đạo thứ tư, y trở thành người cùng chia sẻ một phần năng lượng của Hành Tinh Thượng đế và có thể được tin cậy giao phó một phần năng lượng ấy, nhờ đó có khả năng xúc tiến các kế hoạch của Hành Tinh Thượng đế ấy cho tiến hoá. |
|
(276) Ba Phòng mà linh hồn con người phải đi qua được nói đến trong Tiếng Nói của Im Lặng, tr. 19, 20. |
|
|
1st Hall… Hall of Ignorance… infant humanity… Physical plane. |
Phòng thứ 1… Phòng Vô Minh… nhân loại ấu trĩ… cõi hồng trần. |
|
2nd Hall… Hall of Learning… average man……astral plane. |
Phòng thứ 2… Phòng Học Hỏi… người trung bình……cõi cảm dục. |
|
3rd Hall… Hall of Wisdom…. spiritual man….. mental plane. |
Phòng thứ 3… Phòng Minh triết…. con người tinh thần….. cõi trí. |
|
The longest time is spent in the Hall of Ignorance. The later period in the Hall of Learning is called the Probationary Path. In the Hall of Wisdom the Initiate approaches the central mystery of Being. (back) |
Thời gian dài nhất được trải qua trong Phòng Vô Minh. Thời kỳ sau trong Phòng Học Hỏi được gọi là Con Đường Dự Bị. Trong Phòng Minh triết, điểm đạo đồ tiến gần đến huyền nhiệm trung tâm của Bản Thể. (back) |
|
[Page 868] (e.) Initiation and the Petals. In considering the connection of the petals and their unfoldment through initiation, there is little which it is permissible to give out at this time for the information of the general public. All that is possible is to give certain statements, containing: |
[Page 868] (e.) Điểm đạo và các cánh hoa. Khi xem xét mối liên hệ của các cánh hoa và sự khai mở của chúng qua điểm đạo, có rất ít điều hiện nay được phép công bố để cung cấp cho công chúng nói chung. Tất cả những gì có thể làm là đưa ra một số phát biểu, bao gồm: |
|
a. Hints as to the right direction of the energy, |
a. Những gợi ý về sự định hướng đúng đắn của năng lượng, |
|
b. Suggestions as to the basic mysteries which man has to solve, |
b. Những chỉ dẫn về các huyền nhiệm căn bản mà con người phải giải quyết, |
|
c. Indications as to certain correspondences, |
c. Những chỉ dấu về một số tương ứng, |
|
d. Những điểm thực tiễn cho tư duy kiến tạo. |
|
|
Students must remember that the aim of all truly occult teachers is not to give information but to train their pupils in the use of thought energy. It will therefore be apparent why this method of instruction is the one invariably used. It is the method which involves the dropping of a hint on the part of the Teacher, and the correlation perhaps of certain correspondences, coupled with a suggestion as to the sources of light. It involves, on the part of the pupil, the following recognitions: |
Các đạo sinh phải nhớ rằng mục tiêu của mọi huấn sư huyền bí chân chính không phải là cung cấp thông tin mà là huấn luyện học trò của mình trong việc sử dụng năng lượng tư tưởng. Vì vậy, sẽ rõ tại sao phương pháp giảng dạy này là phương pháp luôn luôn được dùng. Đó là phương pháp bao gồm việc huấn sư đưa ra một gợi ý, và có lẽ liên kết một số tương ứng nào đó, cùng với một chỉ dẫn về các nguồn ánh sáng. Về phần học trò, nó bao gồm những nhận thức sau đây: |
|
a. That the hint may be worth following. |
a. Rằng gợi ý ấy có thể đáng để theo đuổi. |
|
b. That meditation is the pathway to the source of light, and that the hint dropped is the “seed” for meditation. |
b. Rằng tham thiền là con đường dẫn đến nguồn ánh sáng, và rằng gợi ý được đưa ra là “hạt giống” cho tham thiền. |
|
c. That facts, ill-assorted and uncorrelated, are menaces to knowledge and no help. |
c. Rằng các sự kiện, nếu lộn xộn và không tương liên, là mối đe doạ đối với tri thức và không giúp ích gì. |
|
d. That every aspect of truth, progressively grasped, has to be assimilated, and welded into the experience of the student. |
d. Rằng mọi phương diện của chân lý, khi được nắm bắt dần dần, đều phải được đồng hoá và hàn gắn vào kinh nghiệm của đạo sinh. |
|
e. That unless the correspondences agree in an atomic, personal, planetary and cosmic fashion, they are not to be trusted. |
e. Rằng trừ phi các tương ứng phù hợp theo cách nguyên tử, cá nhân, hành tinh và vũ trụ, chúng không đáng được tin cậy. |
|
f. That much information is withheld until the student is a disciple, and still more until he is a pledged initiate. The reason for this is to be found in the [Page 869] fact that all knowledge concerns energy, its application, and its use or misuse. |
f. Rằng nhiều thông tin bị giữ lại cho đến khi đạo sinh là một đệ tử, và còn nhiều hơn nữa cho đến khi y là một điểm đạo đồ đã tuyên thệ. Lý do của điều này nằm trong sự kiện rằng mọi tri thức đều liên quan đến năng lượng, sự áp dụng của nó, và việc sử dụng hay lạm dụng nó.[Page 869] |
|
Let us now continue with our consideration of the petals and Initiation. |
Giờ đây chúng ta hãy tiếp tục việc xem xét các cánh hoa và điểm đạo. |
|
Each of the three circles of lotus petals is closely connected with one of the three Halls. This has been earlier referred to. Much of the work connected with the first tier of petals is part of the experience in the Hall of Ignorance. The act of organising and preparing for unfoldment is the most important stage, and that with which man is the most concerned. The act of petal opening is of briefer duration, and is produced by the pouring in of solar heat or fire, and thus bringing about a fresh access of energy. This is produced in our earth scheme through the co-operation of the Mahachohan, of the Chohan of a man’s egoic group, and the particular Ego concerned. |
Mỗi một trong ba vòng cánh hoa sen liên hệ mật thiết với một trong ba Phòng. Điều này đã được đề cập trước đây. Phần lớn công việc liên quan đến tầng cánh hoa thứ nhất là một phần của kinh nghiệm trong Phòng Vô Minh. Hành động tổ chức và chuẩn bị cho sự khai mở là giai đoạn quan trọng nhất, và là điều mà con người quan tâm nhiều nhất. Hành động mở cánh hoa có thời gian ngắn hơn, và được tạo ra bởi sự tuôn vào của nhiệt hay lửa thái dương, nhờ đó mang lại một sự gia tăng năng lượng mới. Trong hệ hành tinh địa cầu của chúng ta, điều này được tạo ra qua sự hợp tác của Đức Mahachohan, của Chohan của nhóm chân ngã của một người, và của Chân ngã liên hệ. |
|
The following tabulation may be found helpful: |
Bảng tóm lược sau đây có thể hữu ích: |
|
I. Knowledge Petals. First circle. |
I. Cánh hoa tri thức. Vòng thứ nhất. |
|
a. Organised in the Hall of Ignorance. |
a. Được tổ chức trong Phòng Vô Minh. |
|
b. Guided by the force and energy of the Mahachohan. |
b. Được hướng dẫn bởi mãnh lực và năng lượng của Đức Mahachohan. |
|
c. The third group of solar Pitris affected. |
c. Nhóm thái dương tổ phụ thứ ba bị tác động. |
|
II. Love Petals. Second circle. |
II. Cánh hoa bác ái. Vòng thứ hai. |
|
a. Organised in the Hall of Learning. |
a. Được tổ chức trong Phòng Học Hỏi. |
|
b. Guided by the force of the Bodhisattva. |
b. Được hướng dẫn bởi mãnh lực của Đức Bồ Tát. |
|
c. The second group of solar Lords affected. |
c. Nhóm nhật tinh quân thứ hai bị tác động. |
|
III. Will or Sacrifice Petals. Third circle. |
III. Cánh hoa ý chí hay hi sinh. Vòng thứ ba. |
|
a. Organised in the Hall of Wisdom. |
a. Được tổ chức trong Phòng Minh triết. |
|
b. Guided by the force and energy of the Manu. |
b. Được hướng dẫn bởi mãnh lực và năng lượng của Đức Manu. |
|
c. The first group of solar Angels affected. |
c. Nhóm Thái dương Thiên Thần thứ nhất bị tác động. |
|
At the stage which we are considering (that of the organisation and unfoldment of the first tier of petals), the egoic influence felt at the beginning is but small, but when the three petals become sufficiently active and alive through the energy accumulated and stored up in the [Page 870] ego during the activities of the personal life, a form of initiation then takes place which is a reflection (on a lower plane) of the great manasic initiations. The energy in the outer circle of petals causes it to spring apart from the next circle, and to unfold. This threefold energy becomes interactive and a very definite stage is thus reached. This series of initiations is seldom recognised within the physical brain consciousness owing to the relatively inchoate stage of the bodies, and the unresponsiveness of the brain matter. Yet they are nevertheless initiations of a definite though less important character, and they involve primarily the display (within the personal life of the man) of an intelligent recognition of his group relationships on earth. This recognition is frequently selfish in character, as, for instance, that which the union worker displays, but it is indicative of group interplay. |
Ở giai đoạn mà chúng ta đang xem xét (giai đoạn tổ chức và khai mở tầng cánh hoa thứ nhất), ảnh hưởng chân ngã được cảm nhận lúc ban đầu chỉ rất nhỏ, nhưng khi ba cánh hoa trở nên đủ hoạt động và sống động nhờ năng lượng được tích luỹ và chứa đựng trong [Page 870]chân ngã trong suốt các hoạt động của đời sống cá nhân, thì một hình thức điểm đạo diễn ra, là sự phản chiếu (trên một cõi thấp hơn) của các cuộc điểm đạo manas vĩ đại. Năng lượng trong vòng cánh hoa ngoài cùng khiến nó bung ra khỏi vòng kế tiếp và khai mở. Năng lượng tam phân này trở nên tương tác, và như vậy một giai đoạn rất xác định được đạt tới. Loạt điểm đạo này hiếm khi được nhận biết trong tâm thức bộ não hồng trần do giai đoạn còn tương đối chưa định hình của các thể, và sự không đáp ứng của chất liệu não. Tuy nhiên, chúng vẫn là những cuộc điểm đạo có tính chất xác định dù kém quan trọng hơn, và trước hết bao hàm sự biểu lộ (trong đời sống cá nhân của con người) một sự nhận biết thông minh về các liên hệ nhóm của y trên địa cầu. Sự nhận biết này thường có tính ích kỷ, chẳng hạn như điều mà người hoạt động công đoàn biểu lộ, nhưng nó cho thấy có sự tương tác nhóm. |
|
A similar process takes place when the second circle of petals is organised and ready for unfoldment. This time the World Teacher, the Master and the Ego concerned are co-operating, for these smaller initiations deal with the love nature, with astral or emotional organisation, and with the recognition (by the man in his personal life) of some form of unselfish love, and of a love for some object, person or ideal which leads to altruistic endeavor, and to the negation of the lower self. |
Một tiến trình tương tự diễn ra khi vòng cánh hoa thứ hai được tổ chức và sẵn sàng để khai mở. Lần này Đức Chưởng Giáo, Chân sư và Chân ngã liên hệ cùng hợp tác, vì các cuộc điểm đạo nhỏ hơn này liên quan đến bản chất bác ái, đến sự tổ chức cảm dục hay cảm xúc, và đến sự nhận biết (của con người trong đời sống cá nhân của mình) một hình thức bác ái vô ngã nào đó, và một tình yêu đối với một đối tượng, một người hay một lý tưởng nào đó dẫn đến nỗ lực vị tha, và đến sự phủ nhận phàm ngã. |
|
This brings us to the third group of petals or to the unfolding of the will or sacrifice petals, based on intelligent purpose and pure love. The force in this group calls in a different factor, that of the Manu, as well as the force of the Bodhisattva, and the desired effect is produced through the full co-operation of the fully awakened Ego, aided by his own Master (if he is evolving in a cycle wherein hierarchical effort for humanity takes the form it does in this present one), and the Manu. Eventually (after the second Initiation) the Lord of the World comes [Page 871] in as a factor,—the Lord of world power, fully expressing itself in love. |
Điều này đưa chúng ta đến nhóm cánh hoa thứ ba hay sự khai mở của các cánh hoa ý chí hay hi sinh, dựa trên mục đích thông minh và bác ái thuần khiết. Mãnh lực trong nhóm này gọi vào một yếu tố khác, đó là yếu tố của Đức Manu, cũng như mãnh lực của Đức Bồ Tát, và hiệu quả mong muốn được tạo ra qua sự hợp tác trọn vẹn của Chân ngã đã hoàn toàn thức tỉnh, được trợ giúp bởi chính Chân sư của y (nếu y đang tiến hoá trong một chu kỳ mà nỗ lực của Thánh đoàn đối với nhân loại mang hình thức như trong chu kỳ hiện tại này), và bởi Đức Manu. Cuối cùng (sau lần điểm đạo thứ hai) Đức Chúa Tể Thế Giới trở thành [Page 871]một yếu tố tham dự,—Đức Chúa Tể của quyền năng thế giới, đang biểu lộ trọn vẹn trong bác ái. |
|
Speaking generally, therefore, it might be stated that egoic groups in whom the knowledge petals are being organised and unfolded come under the primary influence of the Mahachohan; those in whom the love aspect, or the second circle of petals, is opening come under the primary influence of the Bodhisattva, with the knowledge unfoldment paralleling the work; whilst those in whom the third tier is being opened come under the energy direction of the Manu, with the two other types of force co-ordinated. It will be apparent to the careful reader that in this fact lies hid the secret of why the Mahachohan holds office longer than either of His two Brothers, holding it as He does for an entire world period. The key to these cycles lies hid in the following thoughts: the Bodhisattva and the Manu change more frequently and pass on to other work owing to the fact that They each embody one type of triple force, whereas the Mahachohan is the focal point for five types of energy, each in its turn triple in nature. |
Nói chung, vì vậy, có thể phát biểu rằng các nhóm chân ngã trong đó các cánh hoa tri thức đang được tổ chức và khai mở nằm dưới ảnh hưởng chủ yếu của Đức Mahachohan; những nhóm trong đó phương diện bác ái, hay vòng cánh hoa thứ hai, đang mở ra thì nằm dưới ảnh hưởng chủ yếu của Đức Bồ Tát, với sự khai mở tri thức song hành với công việc; còn những nhóm trong đó tầng thứ ba đang được mở ra thì nằm dưới sự định hướng năng lượng của Đức Manu, với hai loại mãnh lực kia được phối hợp. Đối với độc giả cẩn trọng, sẽ rõ rằng chính trong sự kiện này ẩn giấu bí mật vì sao Đức Mahachohan giữ chức vụ lâu hơn hai Huynh Đệ của Ngài, vì Ngài giữ chức ấy suốt trọn một thời kỳ thế giới. Chìa khoá của các chu kỳ này ẩn trong những tư tưởng sau đây: Đức Bồ Tát và Đức Manu thay đổi thường xuyên hơn và chuyển sang công việc khác do sự kiện rằng mỗi Ngài hiện thân cho một loại mãnh lực tam phân, trong khi Đức Mahachohan là tiêu điểm của năm loại năng lượng, mỗi loại đến lượt mình lại có bản chất tam phân. |
|
In each case of petal unfoldment, certain types of force are generated, dealt with, assimilated, and used, at first unconsciously and finally with full intelligence. |
Trong mỗi trường hợp khai mở cánh hoa, một số loại mãnh lực nhất định được tạo ra, được xử lý, được đồng hoá, và được sử dụng, lúc đầu một cách vô thức và cuối cùng với đầy đủ trí tuệ. |
|
In the Hall of Ignorance the force of the energy of Brahma (the activity and intelligence of substance) is that mostly dealt with, and the man has to learn the meaning of activity based on: |
Trong Phòng Vô Minh, mãnh lực của năng lượng Brahma (hoạt động và trí tuệ của chất liệu) là điều được xử lý nhiều nhất, và con người phải học ý nghĩa của hoạt động dựa trên: |
|
a. Inherent energy, |
a. Năng lượng cố hữu, |
|
b. Absorbed energy, |
b. Năng lượng được hấp thụ, |
|
c. Group energy, |
c. Năng lượng nhóm, |
|
d. Material energy or that which is hidden in physical plane matter. |
d. Năng lượng vật chất hay điều được ẩn giấu trong vật chất cõi hồng trần. |
|
In the Hall of Learning the disciple becomes aware of, and uses the energy of, the second aspect in form-building, in social relations, in family and other group affiliations. [Page 872] He comes to the true recognition of sex and its relations but as yet views this force as something to be controlled and not something to be consciously and constructively utilised. |
Trong Phòng Học Hỏi, đệ tử trở nên nhận biết và sử dụng năng lượng của phương diện thứ hai trong việc xây dựng hình tướng, trong các quan hệ xã hội, trong gia đình và các liên hệ nhóm khác. [Page 872] Y đi đến sự nhận biết chân chính về giới tính và các quan hệ của nó nhưng cho đến lúc này vẫn xem mãnh lực ấy như một điều phải được kiểm soát chứ không phải một điều phải được sử dụng một cách hữu thức và kiến tạo. |
|
In the Hall of Wisdom the initiate comes to the knowledge of the first great aspect of energy, the dynamic use of will in sacrifice, and to him is then committed the key to the three fold mystery of energy. Of this energy in its threefold aspect he became aware in the other two halls. At the third, fourth and fifth Initiations the three keys to the three mysteries are given to him. |
Trong Phòng Minh triết điểm đạo đồ đạt đến tri thức về phương diện lớn thứ nhất của năng lượng, việc sử dụng năng động của ý chí trong hi sinh, và khi ấy chìa khoá của huyền nhiệm tam phân của năng lượng được giao phó cho y. Về năng lượng này trong phương diện tam phân của nó, y đã trở nên nhận biết trong hai Phòng kia. Ở lần điểm đạo thứ ba, thứ tư và thứ năm, ba chìa khoá của ba huyền nhiệm được trao cho y. |
|
The key to the mystery sensed in the first Hall, the mystery of Brahma, is handed to him and he can then unlock the hidden energies of atomic substance. The key to the mystery of sex, or of the pairs of opposites, is thrust into his hand, and he can then unlock the hidden forces within all forms. The key to the mystery of sacrifice and to the secret of the Silent Watchers in the cosmos is revealed to him, and he learns to unlock the hidden energies of the will aspect. The dynamo of the solar system is shown to him, if it might so be expressed, and the intricacies of its mechanism revealed. |
Chìa khoá của huyền nhiệm được cảm nhận trong Phòng thứ nhất, huyền nhiệm của Brahma, được trao cho y và khi đó y có thể mở khoá các năng lượng ẩn giấu của chất liệu nguyên tử. Chìa khoá của huyền nhiệm về giới tính, hay về các cặp đối nghịch, được đặt vào tay y, và khi đó y có thể mở khoá các mãnh lực ẩn giấu bên trong mọi hình tướng. Chìa khoá của huyền nhiệm về hi sinh và bí mật của các Đấng Quan Sát Thầm Lặng trong vũ trụ được mặc khải cho y, và y học cách mở khoá các năng lượng ẩn giấu của phương diện ý chí. Cỗ máy phát lực của hệ mặt trời được chỉ cho y thấy, nếu có thể nói như vậy, và những phức tạp trong bộ máy của nó được mặc khải. |
|
The following are the three basic mysteries of the solar system: |
Sau đây là ba huyền nhiệm căn bản của hệ mặt trời: |
|
1. The mystery of Electricity. The mystery of Brahma. The secret of the third aspect. It is latent in the physical sun. |
1. Huyền nhiệm của Điện. Huyền nhiệm của Brahma. Bí mật của phương diện thứ ba. Nó tiềm ẩn trong mặt trời hồng trần. |
|
2. The mystery of Polarity, or of the universal sex impulse. The secret of the second aspect. It is latent in the Heart of the Sun, i.e., in the subjective Sun. |
2. Huyền nhiệm của Cực tính, hay của xung lực giới tính vũ trụ. Bí mật của phương diện thứ hai. Nó tiềm ẩn trong Trái Tim của Mặt Trời, tức là trong Mặt Trời chủ quan. |
|
3. The mystery of Fire itself, or the dynamic central systemic force. The secret of the first aspect. It is latent in the central spiritual sun. |
3. Huyền nhiệm của chính Lửa, hay mãnh lực trung tâm năng động của hệ thống. Bí mật của phương diện thứ nhất. Nó tiềm ẩn trong Mặt trời Tinh thần Trung Ương. |
|
These three mysteries which we have touched upon above, come in a peculiar sense under the jurisdiction of [Page 873] certain great Lords or Existences, and They have much to do with the revealing of the mystery to those prepared initiates Who come under Their influence during the final stages of the Path. |
Ba huyền nhiệm mà chúng ta đã chạm đến ở trên, theo một ý nghĩa đặc biệt, thuộc thẩm quyền của [Page 873]một số Chúa Tể hay Thực Thể vĩ đại, và Các Ngài có liên hệ rất nhiều đến việc mặc khải huyền nhiệm cho những điểm đạo đồ đã chuẩn bị, những người đi dưới ảnh hưởng của Các Ngài trong các giai đoạn cuối của Con Đường. |
|
The mystery of electricity has three keys, each of which is held in the hands of one of the Buddhas of Activity. Theirs is the prerogative to control the electrical forces of the physical plane, and Theirs the right to direct the three major streams of this type of force in connection with our present globe. These three streams are concerned with atomic substance, out of which all forms are constructed. In connection with our chain there are three mysterious Entities (of whom our three Pratyeka Buddhas are but the Earth reflections) Who perform a similar function in connection with the electrical forces of the chain. In the scheme, the planetary Logos has also three co-operating Existences Who are the summation of His third Aspect, and who perform therefore work similar to that performed by the three aspects of Brahma in the solar system. The mystery of this threefold type of electricity is largely connected with the lesser Builders, with the elemental essence in one particular aspect,—its lowest and most profound for men to apprehend as it concerns the secret of that which “substands” or “stands back” of all that is objective. In a secondary sense it concerns the forces in the ethers which are those which energise and produce the activities of all atoms. Another type deals with the electrical phenomenon which finds its expression in the light which man has somewhat harnessed, in the phenomena such as thunder storms and the manifestation of lightning, with the aurora borealis, and in the production of earthquakes and all volcanic action. All these manifestations are based on electrical activity of some kind, and have to do with the “soul of things,” or with the essence of matter. The old Commentary says: [Page 874] |
Huyền nhiệm của điện có ba chìa khoá, mỗi chìa khoá được nắm giữ trong tay một vị Phật Hoạt Động. Đó là đặc quyền của Các Ngài trong việc kiểm soát các mãnh lực điện của cõi hồng trần, và là quyền của Các Ngài trong việc điều khiển ba dòng chính của loại mãnh lực này liên hệ với bầu hành tinh hiện tại của chúng ta. Ba dòng này liên quan đến chất liệu nguyên tử, từ đó mọi hình tướng được kiến tạo. Liên hệ với Dãy của chúng ta, có ba Thực Thể huyền nhiệm (mà ba vị Phật Độc Giác của chúng ta chỉ là những phản chiếu trên Trái Đất) thực hiện một chức năng tương tự liên quan đến các mãnh lực điện của Dãy. Trong hệ hành tinh, Hành Tinh Thượng đế cũng có ba Thực Thể hợp tác là tổng hợp của Phương diện thứ ba của Ngài, và vì thế thực hiện công việc tương tự như công việc do ba phương diện của Brahma trong hệ mặt trời thực hiện. Huyền nhiệm của loại điện tam phân này phần lớn liên hệ với các vị tiểu kiến tạo, với Tinh chất hành khí trong một phương diện đặc biệt,—phương diện thấp nhất và sâu kín nhất để con người có thể lĩnh hội vì nó liên quan đến bí mật của cái “nâng đỡ từ bên dưới” hay “đứng phía sau” mọi điều khách quan. Theo ý nghĩa thứ yếu, nó liên quan đến các mãnh lực trong các dĩ thái, là những mãnh lực tiếp sinh lực và tạo ra các hoạt động của mọi nguyên tử. Một loại khác liên quan đến hiện tượng điện biểu lộ trong ánh sáng mà con người đã phần nào chế ngự, trong các hiện tượng như giông bão và sự biểu lộ của sét, với cực quang phương bắc, và trong việc tạo ra động đất cùng mọi hoạt động núi lửa. Tất cả những biểu lộ này đều dựa trên hoạt động điện thuộc một loại nào đó, và liên quan đến “linh hồn của vạn vật,” hay tinh chất của vật chất. Cổ Luận nói: [Page 874] |
|
“The garment of God is driven aside by the energy of His movements, and the real Man stands revealed, yet remains hidden, for who knows the secret of a man as it exists in his own self-recognition.” |
“Y phục của Thượng đế bị vén sang một bên bởi năng lượng của các chuyển động của Ngài, và Con Người thực sự đứng lộ ra, tuy vậy vẫn còn ẩn kín, vì ai biết được bí mật của một con người như nó tồn tại trong chính sự tự nhận biết của y.” |
|
The mystery of electricity deals with the “garment” of God, just as the mystery of polarity deals with His “form.” |
Huyền nhiệm của điện liên quan đến “y phục” của Thượng đế, cũng như huyền nhiệm của cực tính liên quan đến “hình tướng” của Ngài. |
|
In the mystery of Polarity, we have three different types of force manifesting and thus it is apparent that the two mysteries deal with the six forces. These three types of force are manipulated by the Buddhas of Love. They, through Their sacrifice, concern Themselves with the problem of sex, or of “magnetic approach” on all the planes. The Buddha of Whom we speak and Who contacts His people at the full moon of Wesak, is one of the three connected with our globe, having taken the place of One Who passed on to higher work in connection with the Chain, for the same hierarchical grading is seen as in connection with the Buddhas of Action. One group might be considered the divine Carpenters of the planetary system, the other the divine Assemblers of its parts and the Ones Who, through the magnetic influence They wield, unite the diversities and build them into form. |
Trong huyền nhiệm của Cực tính, chúng ta có ba loại mãnh lực khác nhau đang biểu lộ và do đó rõ ràng là hai huyền nhiệm này liên quan đến sáu mãnh lực. Ba loại mãnh lực này được vận dụng bởi các vị Phật Bác Ái. Qua sự hi sinh của Các Ngài, Các Ngài tự mình quan tâm đến vấn đề giới tính, hay của “sự tiếp cận từ tính” trên mọi cõi. Đức Phật mà chúng ta đang nói đến và Đấng tiếp xúc với dân của Ngài vào lúc trăng tròn Wesak, là một trong ba vị liên hệ với bầu hành tinh của chúng ta, đã thay thế vị trí của Một Đấng đã chuyển sang công việc cao hơn liên hệ với Dãy, vì cùng một sự phân cấp Thánh đoàn được thấy ở đây như trong trường hợp các vị Phật Hoạt Động. Một nhóm có thể được xem là những Thợ Mộc thiêng liêng của hệ hành tinh, nhóm kia là những Đấng Lắp Ráp thiêng liêng các bộ phận của nó và là Những Đấng, qua ảnh hưởng từ tính mà Các Ngài vận dụng, hợp nhất các dị biệt và xây dựng chúng thành hình tướng. |
|
The present ideas anent Sex must be transmuted and raised from the existing lower connotation to its true significance. Sex—in the three worlds—has to do with the work of the lunar Pitris and the solar Lords. It signifies essentially the form-building work in substance, and its energising by the spiritual aspect. It signifies the elevation of the material aspect through the influence of Spirit as the two together perform their legitimate function in co-operation and thus—by their mutual union and blending—produce the Son in all His glory. This method of interpreting it is equally true of all the Existences manifesting on any plane, systemic and cosmic. Certain [Page 875] factors enter into the thought of sex which might be enumerated as follows: |
Những quan niệm hiện nay về Giới tính phải được chuyển hoá và nâng lên khỏi hàm nghĩa thấp hiện có để đạt đến ý nghĩa chân thực của nó. Giới tính—trong ba cõi giới—liên quan đến công việc của các thái âm tổ phụ và các nhật tinh quân. Về bản chất, nó biểu thị công việc xây dựng hình tướng trong chất liệu, và việc tiếp sinh lực cho chất liệu ấy bởi phương diện tinh thần. Nó biểu thị sự nâng cao phương diện vật chất qua ảnh hưởng của Tinh thần khi cả hai cùng nhau thực hiện chức năng chính đáng của mình trong hợp tác và như vậy—qua sự kết hợp và hoà trộn hỗ tương của chúng—sản sinh ra Con trong tất cả vinh quang của Ngài. Phương pháp giải thích này cũng đúng như nhau đối với mọi Thực Thể đang biểu lộ trên bất kỳ cõi nào, thuộc hệ thống hay vũ trụ. Một số [Page 875]yếu tố đi vào tư tưởng về giới tính có thể được liệt kê như sau: |
|
a. Mutual attraction, |
a. Sự hấp dẫn hỗ tương, |
|
b. Complementary suitability, |
b. Sự thích hợp bổ sung, |
|
c. Instinctual appeal, |
c. Sự lôi cuốn bản năng, |
|
d. Approach, and recognised co-operation, |
d. Sự tiếp cận, và sự hợp tác được nhận biết, |
|
e. Union, |
e. Sự hợp nhất, |
|
f. The next stage is the temporary importance of the material aspect, that of the Mother, the feminine aspect, |
f. Giai đoạn kế tiếp là tầm quan trọng tạm thời của phương diện vật chất, tức của Mẹ, phương diện nữ tính, |
|
g. The withdrawal into a temporary retirement of the Father, |
g. Sự rút lui vào một trạng thái ẩn tàng tạm thời của Cha, |
|
h. Công việc tạo ra Người Con, |
|
|
i. The evolution and growth of the Son, both materially and in consciousness, |
i. Sự tiến hoá và tăng trưởng của Người Con, cả về vật chất lẫn về tâm thức, |
|
j. Emancipation of the Son from his Mother, or the liberation of the soul at maturity from matter, |
j. Sự giải phóng Người Con khỏi Mẹ của mình, hay sự giải thoát của linh hồn khi trưởng thành khỏi vật chất, |
|
k. Recognition by the Son of the Father and his return to that Father, |
k. Sự nhận biết của Người Con về Cha và sự trở về của Người Con với Cha ấy, |
|
The final result of all these successive stages being that all the three aspects have performed their functions (their dharma) on the physical plane and all three have demonstrated certain types of energy. |
Kết quả cuối cùng của tất cả các giai đoạn kế tiếp này là cả ba phương diện đều đã thực hiện các chức năng của mình (dharma của chúng) trên cõi hồng trần và cả ba đều đã biểu lộ một số loại năng lượng nhất định. |
|
The Father aspect manifests in giving the initial impulse or the positive electrical demonstration which is the germ of the created Son, and Whose Life is embodied in the Son. The occult significance of the words of the Christ in answer to the cry “Lord, show us the Father” is little appreciated. “He that has seen Me has seen the Father, for I and my Father are One,” He said. (Bible. John XIV, 8.) |
Phương diện Cha biểu lộ trong việc ban ra xung lực ban đầu hay sự biểu lộ điện dương là mầm mống của Người Con được tạo ra, và Sự Sống của Ngài được hiện thân trong Người Con. Ý nghĩa huyền bí của lời Đức Christ đáp lại tiếng kêu “Lạy Chúa, xin chỉ cho chúng con Cha” ít được đánh giá đúng. “Ai đã thấy Ta là đã thấy Cha, vì Ta và Cha Ta là Một,” Ngài nói. (Kinh Thánh. John XIV, 8.) |
|
The Mother, or the negative aspect, builds and nourishes, guards and cherishes the Son through the ante-natal, and the infant stages, and stands around Him during later stages, giving of the energy of her own body and activity in ministry to His need. |
Người Mẹ, hay phương diện âm, xây dựng và nuôi dưỡng, bảo vệ và chăm nom Người Con qua các giai đoạn trước khi sinh và ấu thơ, và đứng quanh Ngài trong các giai đoạn sau, ban ra năng lượng từ chính thể của mình và hoạt động trong sự phụng sự đối với nhu cầu của Ngài. |
|
[Page 876] The Son, the combined energy of Father and of Mother, embodies both types and all the dual sets of qualities, but has a character all His Own, an essence which is His peculiar nature, and an energy which leads Him to fulfil His Own ends and projects, and which will eventually cause Him to repeat the process of producing,— |
[Page 876] Người Con, năng lượng kết hợp của Cha và Mẹ, hiện thân cả hai loại và mọi cặp phẩm tính nhị nguyên, nhưng có một tính cách hoàn toàn của riêng Ngài, một tinh chất là bản chất đặc thù của Ngài, và một năng lượng dẫn Ngài đến việc hoàn thành các cứu cánh và các phóng chiếu của riêng Ngài, và cuối cùng sẽ khiến Ngài lặp lại tiến trình sản sinh,— |
|
1. Conception, |
1. Thụ thai, |
|
2. Creation, |
2. Sáng tạo, |
|
3. Conscious growth, |
3. Tăng trưởng hữu thức, |
|
như Cha của Ngài đã làm. |
|
|
When we reach the mystery of Fire, we are concerned with that mysterious extra-systemic energy which is the basis of both the activity of Mother and the Life of the Son. The Son in very deed “becomes His Mother’s husband,” as say the ancient Scriptures. This is but an enigmatical phrase unless interpreted in terms of the combination of energy. Only when the Son has reached maturity and knows Himself as essentially the same as the Father can He consciously perform His Father’s function, and produce and perpetuate that which is needed for the sustaining of cosmic generation. |
Khi chúng ta đạt đến huyền nhiệm của Lửa, chúng ta đang đề cập đến năng lượng ngoại hệ thống huyền nhiệm ấy, là nền tảng của cả hoạt động của Mẹ lẫn Sự Sống của Người Con. Người Con thực sự “trở thành chồng của Mẹ mình,” như các Kinh thư cổ nói. Đây chỉ là một cụm từ thần bí nếu không được giải thích theo các thuật ngữ của sự kết hợp năng lượng. Chỉ khi Người Con đã đạt đến trưởng thành và biết mình về bản chất là một với Cha thì Ngài mới có thể một cách hữu thức thực hiện chức năng của Cha mình, và sản sinh cũng như duy trì điều cần thiết cho sự tiếp diễn của sự sinh thành vũ trụ. |
|
The electricity of substance, the electricity of form, and the electricity of Life itself must blend and meet before the true Man (whether Logos, or human being) realises himself as creator. Man at this stage knows somewhat of the electricity of substance, and is coming to the belief as to the electricity of form (even though as yet he calls it magnetism) but as yet he knows nought of the electrical reality of life itself. Only when the “jewel in the Lotus” is about to be revealed, or the third circle of petals is about to open up, does the initiate begin to have a realisation of the true meaning of the word “life” or spirit. The consciousness has to be fully awakened before he can ever understand that great energising something of which the other types of energy are but expressions. |
Điện của chất liệu, điện của hình tướng, và điện của chính Sự sống phải hòa trộn và gặp nhau trước khi con Người đích thực (dù là Logos hay con người) chứng nghiệm chính mình là đấng sáng tạo. Ở giai đoạn này, con người biết phần nào về điện của chất liệu, và đang đi đến niềm tin về điện của hình tướng (dù hiện nay y vẫn gọi nó là từ điện), nhưng y vẫn chưa biết gì về thực tại điện của chính sự sống. Chỉ khi “viên ngọc trong Hoa sen” sắp được hiển lộ, hay vòng cánh hoa thứ ba sắp mở ra, thì điểm đạo đồ mới bắt đầu có sự chứng nghiệm về ý nghĩa chân thực của từ “sự sống” hay tinh thần. Tâm thức phải được thức tỉnh hoàn toàn trước khi y có thể hiểu được cái gì đó đại năng động ấy mà các loại năng lượng khác chỉ là những biểu hiện của nó. |
|
[Page 877] There are only two more points to be considered in connection with the petals and initiation. |
[Page 877] Chỉ còn hai điểm nữa cần được xem xét liên quan đến các cánh hoa và điểm đạo. |
|
First, it should be noted that the words “knowledge, love and sacrifice” mean much more occultly than the apparent significance of the terms. Each circle of petals stands for one of these three ideas, and each circle again embodies these three aspects of existence in a greater or lesser degree. These three concepts are the modes of expression of the three great qualities which (from the standpoint of the Past, the Present and the Future) characterise the natures of all the manifesting entities—Gods, men and devas. From the standpoint of the central factor in manifestation, man, it should be realised that knowledge was inherent in the previous solar system, and is the faculty of which he has to avail himself. It is there available for his use. It is the hidden energy of the planetary Logos which he has to learn to focus through his physical brain, and thus apply. |
Trước hết, cần lưu ý rằng các từ “tri thức, bác ái và hi sinh” mang ý nghĩa huyền bí sâu xa hơn nhiều so với thâm nghĩa bề ngoài của các thuật ngữ ấy. Mỗi vòng cánh hoa tượng trưng cho một trong ba ý tưởng này, và mỗi vòng lại hiện thân ba phương diện hiện hữu ấy ở mức độ lớn hay nhỏ. Ba khái niệm này là các phương thức biểu lộ của ba phẩm tính vĩ đại mà (xét từ quan điểm của Quá khứ, Hiện tại và Tương lai) đặc trưng cho bản chất của mọi thực thể đang biểu hiện—các Thượng đế, những người nam và nữ, và các thiên thần. Từ quan điểm của yếu tố trung tâm trong biểu hiện là con người, cần phải chứng nghiệm rằng tri thức vốn cố hữu trong hệ mặt trời trước đây, và là năng lực mà y phải tận dụng. Nó hiện hữu đó để y sử dụng. Đó là năng lượng ẩn tàng của Hành Tinh Thượng đế mà y phải học cách tập trung qua bộ não hồng trần của mình, và nhờ đó vận dụng nó. |
|
Love is the faculty inherent in the present. It is the hidden energy of the planetary Logos of which he must avail himself and focus in his heart centre and thus apply. |
Bác ái là năng lực cố hữu trong hiện tại. Đó là năng lượng ẩn tàng của Hành Tinh Thượng đế mà y phải tận dụng và tập trung vào trung tâm tim của mình rồi nhờ đó vận dụng nó. |
|
Sacrifice is the faculty which will be his in the future, which he will intelligently focus through the highest head centre and thus apply. It is dependent upon his development of consciousness, and therefore upon his recognition of the esoteric purpose of his group, and of the planetary existences. As it involves what is termed “a solar and lunar act of abnegation” it involves, therefore, a due comprehension of solar and of lunar energy, and a bringing of both these two groups to a stage of co-operative activity. It concerns, therefore, the nature of the Jewel in the lotus, and it is only when the three sacrifice petals in the three tiers are unfolded that this particular type of energy is released. The lunar Lords of the three bodies have been controlled, and their vibration synchronised, so that the great act of sacrifice finds them ready [Page 878] for the final process of renunciation. The solar Lords, in their three major groups, are equally ready for the final sacrifice, which involves the “rupture between the sun and the moon” as it is called. This results in the breaking of the magnetic link between the true man, and the vibratory sensitive substance of which his three world bodies are made. The need for incarnation is no longer felt, the chains of karma are broken, and the man is liberated. The “lunar Lords return to their own place” or—as the Christian expresses it—”Satan is bound for a thousand years,” (Bible. Rev. XX, 2. ) this meaning only that pralayic peace is the lot of these entities until the return of manvantaric opportunity. |
Hi sinh là năng lực sẽ là của y trong tương lai, năng lực mà y sẽ tập trung một cách thông minh qua trung tâm đầu cao nhất rồi nhờ đó vận dụng. Nó tùy thuộc vào sự phát triển tâm thức của y, và vì thế tùy thuộc vào việc y nhận ra mục đích huyền bí của nhóm mình, và của các hiện hữu hành tinh. Vì nó bao hàm điều được gọi là “một hành vi từ khước mang tính thái dương và thái âm”, nên do đó nó bao hàm một sự thấu hiểu đúng mức về năng lượng thái dương và thái âm, cùng việc đưa cả hai nhóm này đến một giai đoạn hoạt động hợp tác. Vì vậy, nó liên quan đến bản chất của Viên ngọc trong Hoa sen, và chỉ khi ba cánh hoa hi sinh trong ba tầng được khai mở thì loại năng lượng đặc biệt này mới được giải phóng. Các nguyệt tinh quân của ba thể đã được kiểm soát, và rung động của các vị ấy đã được đồng bộ hóa, để cho đại hành vi hi sinh thấy các vị ấy đã sẵn sàng [Page 878] cho tiến trình từ bỏ cuối cùng. Các nhật tinh quân, trong ba nhóm chính của các vị ấy, cũng sẵn sàng như vậy cho sự hi sinh cuối cùng, điều bao hàm “sự đoạn tuyệt giữa mặt trời và mặt trăng” như cách gọi của nó. Điều này dẫn đến việc cắt đứt liên kết từ tính giữa con người đích thực và chất liệu rung động nhạy cảm mà từ đó các thể của y trong ba cõi giới được tạo thành. Nhu cầu lâm phàm không còn được cảm thấy nữa, các xiềng xích nghiệp quả bị bẻ gãy, và con người được giải thoát. Các “nguyệt tinh quân trở về chỗ riêng của mình” hay—như người Kitô giáo diễn đạt—“Satan bị trói trong một ngàn năm,” (Kinh Thánh. Khải Huyền XX, 2.) điều này chỉ có nghĩa rằng sự bình an của giai kỳ qui nguyên là số phận của các thực thể này cho đến khi cơ hội của giai kỳ sinh hóa quay trở lại. |
|
The final sacrifice involves also the disappearance of the lower triangle, or the severing of the connection between the three permanent atoms in the lower part of the causal body or egoic lotus, and the central unit of energy. The energy of these atoms is set loose through the intense heat produced by the union of the three fires and is reabsorbed into the general reservoir in interplanetary space. The fiery triangle is lost sight of in the general blaze, and the deva essences who temporarily formed it cease their activity. |
Sự hi sinh cuối cùng cũng bao hàm sự biến mất của tam giác thấp, hay sự cắt đứt mối liên hệ giữa ba Nguyên tử trường tồn ở phần dưới của thể nguyên nhân hay Hoa Sen Chân Ngã, và đơn vị năng lượng trung tâm. Năng lượng của các nguyên tử này được giải phóng nhờ sức nóng mãnh liệt do sự hợp nhất của ba ngọn lửa tạo ra và được tái hấp thu vào kho chứa chung trong không gian liên hành tinh. Tam giác lửa không còn được nhìn thấy trong ngọn lửa rực chung, và các tinh chất thiên thần tạm thời tạo thành nó chấm dứt hoạt động của mình. |
|
Again, the solar Angels complete their initial sacrifice by a final one, and offer themselves upon the fiery altar. The causal body is completely destroyed. The four lower groups of solar Pitris return to the heart of the subjective sun, or to that inmost centre of the system from whence they came, whilst the three higher groups are carried (by the force and energy generated in the fiery furnace and blaze, and through the stimulation produced by the blazing forth of the central jewel) straight to the central spiritual sun, there to abide until another kalpa calls them forth to sacrifice Themselves, this time as planetary Logoi. The student must bear in mind that [Page 879] in thinking of the Pitris, he must ever think in group terms. The Pitris who formed the egoic body of a human being do not—alone and isolated—form planetary Logoi. The forty-nine groups of solar fires concerned in the great work are those spoken of, and they become the forty-nine planetary Logoi in connexion with seven solar systems. In them is hid the mystery of the three who become the sixteen—united or synthesised by the seventeenth—a correspondence upon cosmic levels of the seven with the eighth sphere. This must remain practically an insoluble mystery to man at present. |
Một lần nữa, các Thái dương Thiên Thần hoàn tất sự hi sinh ban đầu của mình bằng một sự hi sinh cuối cùng, và tự hiến mình trên bàn thờ lửa. Thể nguyên nhân bị hủy diệt hoàn toàn. Bốn nhóm thấp của thái dương tổ phụ trở về tim của mặt trời chủ quan, hay về trung tâm thâm nội nhất của hệ thống mà từ đó các vị ấy đã đến, trong khi ba nhóm cao hơn được mang (bởi mãnh lực và năng lượng phát sinh trong lò lửa và ngọn lửa rực, và nhờ sự kích thích do viên ngọc trung tâm bùng sáng) thẳng đến Mặt trời Tinh thần Trung Ương, ở đó an trụ cho đến khi một kalpa khác gọi các vị ấy ra để hi sinh chính mình, lần này như các Hành Tinh Thượng đế. Đạo sinh phải ghi nhớ rằng [Page 879] khi nghĩ về các Pitris, y phải luôn luôn nghĩ theo thuật ngữ nhóm. Các Pitris đã tạo thành thể chân ngã của một con người không—một mình và cô lập—trở thành các Hành Tinh Thượng đế. Bốn mươi chín nhóm lửa thái dương liên quan đến công việc vĩ đại ấy mới là những nhóm được nói đến, và các nhóm ấy trở thành bốn mươi chín Hành Tinh Thượng đế liên hệ với bảy hệ mặt trời. Trong các vị ấy ẩn giấu huyền nhiệm của ba trở thành mười sáu—được hợp nhất hay tổng hợp bởi vị thứ mười bảy—một sự tương ứng trên các cấp độ vũ trụ của bảy với khối cầu thứ tám. Điều này hiện nay đối với con người hầu như vẫn phải là một huyền nhiệm không thể giải được. |
|
The four groups who found their way to the Heart of the system will reappear as the four planetary Logoi who are the twenty-eight and who thus produce the possibility of the ten of perfection in another series of manifesting systems. |
Bốn nhóm đã tìm được đường đến Tim của hệ thống sẽ tái xuất hiện như bốn Hành Tinh Thượng đế là hai mươi tám, và nhờ đó tạo ra khả năng của mười hoàn hảo trong một chuỗi hệ thống biểu hiện khác. |
|
The seven types of solar energy find the “path of return” to their central emanating source; by the disruption of the tie between them and the lunar lords (who are esoterically spoken of as “dead or dying on the field of battle”) the great sacrifice is consummated, and they are free to return in triumph. |
Bảy loại năng lượng thái dương tìm thấy “Con Đường Trở Về” đến nguồn xuất lộ trung tâm của mình; nhờ sự phá vỡ mối ràng buộc giữa các vị ấy với các nguyệt tinh quân (những vị được nói đến một cách huyền bí là “đã chết hay đang hấp hối trên chiến trường”) mà sự hi sinh vĩ đại được hoàn tất, và các vị ấy được tự do trở về trong khải hoàn. |
|
The occult significance of these words in connection with the energy standing behind and working through all appearance might be expressed as follows: |
Ý nghĩa huyền bí của các từ này liên quan đến năng lượng đứng sau và hoạt động xuyên qua mọi sắc tướng có thể được diễn đạt như sau: |
|
Knowledge (279) is the right apprehension of the laws of energy, of the conservation of force, of the sources of [Page 880] energy, of its qualities, its types and its vibrations. |
Tri thức (279) là sự lĩnh hội đúng đắn các định luật của năng lượng, của sự bảo toàn mãnh lực, của các nguồn [Page 880] năng lượng, của các phẩm tính, các loại và các rung động của nó. |
|
(279) 1. There are seven branches of knowledge mentioned in the Puranas:—S. D., I, 192. |
(279) 1. Có bảy ngành tri thức được nhắc đến trong các Purana:—S. D., I, 192. |
|
2. The Gnosis, the hidden Knowledge, is the seventh Principle, the six schools of Indian philosophy are the six principles.—S. D., I, 299. |
2. Gnosis, Tri thức ẩn tàng, là nguyên khí thứ bảy; sáu trường phái triết học Ấn Độ là sáu nguyên khí.—S. D., I, 299. |
|
These six schools are: |
Sáu trường phái này là: |
|
a. The school of Logic…….. Proof of right perception. |
a. Trường phái Luận lý…….. Chứng minh tri giác đúng đắn. |
|
b. The atomic school……… System of particulars. Elements. Alchemy and chemistry. |
b. Trường phái nguyên tử……… Hệ thống các biệt thể. Các nguyên tố. Thuật luyện kim và hóa học. |
|
c. The Sankhya school…….. System of numbers. The materialistic school. The theory of the seven states of matter or prakriti. |
c. Trường phái Sankhya…….. Hệ thống các con số. Trường phái duy vật. Lý thuyết về bảy trạng thái của vật chất hay prakriti. |
|
d. The school of Yoga…….. Union. The rule of daily life. Mysticism. |
d. Trường phái Yoga…….. Hợp nhất. Quy luật của đời sống hằng ngày. Thần bí học. |
|
e. The school of Ceremonial Religion…….. Ritual. Worship of the devas or Gods. |
e. Trường phái Tôn giáo Nghi lễ…….. Nghi thức. Sự thờ phụng các thiên thần hay các Thượng đế. |
|
f. The Vedanta school…….. Has to do with non-duality. Deals with the relation of Atman in man to the Logos. |
f. Trường phái Vedanta…….. Liên quan đến bất nhị. Bàn đến mối liên hệ của Atman trong con người với Logos. |
|
3. There are four branches of knowledge to which H. P. B. specially refers—S.D., I, 192. |
3. Có bốn ngành tri thức mà H. P. B. đặc biệt đề cập đến—S.D., I, 192. |
|
These four are probably those with which man has dealt the most, in this fourth round and fourth chain. |
Bốn ngành này có lẽ là những ngành mà con người đã đề cập đến nhiều nhất, trong cuộc tuần hoàn thứ tư và Dãy Thứ Tư này. |
|
Compare S. D., I, 70, 95, 107, 227. |
So sánh S. D., I, 70, 95, 107, 227. |
|
The four Noble Truths. The four Vedas. The four Gospels. The four basic admissions. The four ready Elements. The four grades of Initiation. |
Bốn Chân Lý Cao Quý. Bốn Veda. Bốn Phúc Âm. Bốn sự thừa nhận căn bản. Bốn Nguyên tố sẵn có. Bốn cấp độ điểm đạo. |
|
a. Yajna Vidya………. The performance of religious rites in order to produce certain results. Ceremonial magic. It is concerned with Sound, therefore with the Akasha or the ether of space. The “yajna” is the invisible Deity who pervades space. |
a. Yajna Vidya………. Việc thực hiện các nghi lễ tôn giáo để tạo ra những kết quả nhất định. Huyền thuật nghi lễ. Nó liên quan đến Âm thanh, do đó liên quan đến Akasha hay dĩ thái của không gian. “Yajna” là Thượng đế vô hình thấm nhuần không gian. |
|
Perhaps this concerns the physical plane? |
Có lẽ điều này liên quan đến cõi hồng trần? |
|
b. Mahavidya………. The great magic knowledge. It has degenerated into Tantrika worship. Deals with the feminine aspect, or the matter (mother) aspect. The basis of black magic. True mahayoga has to do with the form (second aspect) and its adaptation to Spirit and its needs. |
b. Mahavidya………. Đại tri thức huyền thuật. Nó đã suy đồi thành sự thờ phụng Tantrika. Nó bàn đến phương diện nữ tính, hay phương diện vật chất (mẹ). Nền tảng của Hắc thuật. Mahayoga chân chính liên quan đến hình tướng (phương diện thứ hai) và sự thích ứng của hình tướng với tinh thần và các nhu cầu của tinh thần. |
|
Perhaps this concerns the astral plane? |
Có lẽ điều này liên quan đến cõi cảm dục? |
|
c. Guyha vidya………. Khoa học về các mantram. Tri thức bí mật về các mantram thần bí. Tiềm năng huyền bí của âm thanh, của Linh từ. |
|
|
Perhaps this concerns the mental plane? |
Có lẽ điều này liên quan đến cõi trí? |
|
d. Atma vidya………. True spiritual wisdom. |
d. Atma vidya………. Minh triết tinh thần chân chính. |
|
4. Knowledge of truth is a common inheritance.—S. D., II, 47, 3. |
4. Tri thức về chân lý là một gia tài chung.—S. D., II, 47, 3. |
|
5. Knowledge is a relative subject, and varies according to the grade achieved. |
5. Tri thức là một chủ đề tương đối, và thay đổi tùy theo cấp độ đạt được. |
|
a. Ranges of further knowledge open up before a planetary Logos.—S. D., II, 740. |
a. Những phạm vi tri thức xa hơn mở ra trước một Hành Tinh Thượng đế.—S. D., II, 740. |
|
b. The four truths can be arrived at by unaided man.—S. D., III, 420. |
b. Bốn chân lý có thể được con người đạt đến mà không cần trợ giúp.—S. D., III, 420. |
|
6. Finally, Knowledge is a dangerous weapon: |
6. Sau cùng, tri thức là một vũ khí nguy hiểm: |
|
This is due to: Personal Selfishness. |
Điều này là do: sự ích kỷ cá nhân. |
|
It is only safe when: |
Nó chỉ an toàn khi: |
|
a. One gives oneself up to it, body, soul and spirit.—S. D., III, 62, 63. |
a. Người ta hiến dâng chính mình cho nó, cả thể xác, linh hồn và tinh thần.—S. D., III, 62, 63. |
|
b. One has an unshakeable belief in one’s own divinity.—S. D., III, 62, 63. |
b. Người ta có một niềm tin bất lay chuyển vào thiên tính của chính mình.—S. D., III, 62, 63. |
|
c. One recognises one’s own immortal Principle. |
c. Người ta nhận ra nguyên khí bất tử của chính mình. |
|
d. One knows oneself:—S. D., III, 435, 436. |
d. Người ta biết chính mình:—S. D., III, 435, 436. |
|
e. All the virtues are practised.—S. D., III, 262. |
e. Mọi đức hạnh đều được thực hành.—S. D., III, 262. |
|
f. One has experience.—S. D., III, 481. |
f. Người ta có kinh nghiệm.—S. D., III, 481. |
|
g. One realises knowledge is the fruit of Spirit alone.—S. D., III, 453. |
g. Người ta chứng nghiệm rằng tri thức chỉ là hoa trái của Tinh thần.—S. D., III, 453. |
|
h. Knowledge is acquired through the region of the higher mind.—S. D., III, 453. (back) |
h. Tri thức được thu nhận qua vùng của thượng trí.—S. D., III, 453. (back) |
|
It involves an apprehension of: |
Nó bao hàm sự lĩnh hội về: |
|
a. The different key vibrations. |
a. Các rung động chủ âm khác nhau. |
|
b. The centres whereby force enters. |
b. Các trung tâm mà qua đó mãnh lực đi vào. |
|
c. The channels along which it circulates. [Page 881] |
c. Các kênh mà dọc theo đó nó lưu chuyển. [Page 881] |
|
d. The triangles and other geometrical figures which it produces during evolution. |
d. Các tam giác và những hình hình học khác mà nó tạo ra trong tiến hoá. |
|
e. The cycles and the ebb and flow of energy in connection with the different types of planetary manifestation, including all the kingdoms of nature. |
e. Các chu kỳ và sự lên xuống của năng lượng liên quan đến các loại biểu hiện hành tinh khác nhau, bao gồm mọi giới trong tự nhiên. |
|
f. The true significance of those force aspects which we call “periods of pralaya” and those we call “periods of manifestation.” It also involves a right realisation of the laws of obscuration. |
f. Thâm nghĩa chân thực của những phương diện mãnh lực mà chúng ta gọi là “các thời kỳ pralaya” và những phương diện mà chúng ta gọi là “các thời kỳ biểu hiện.” Nó cũng bao hàm một sự chứng nghiệm đúng đắn về các định luật của sự che khuất. |
|
Tất cả điều này con người đã học trong các Phòng khác nhau qua kinh nghiệm thực tiễn, bao hàm lạc thú và đau khổ; đến các lần điểm đạo cuối cùng, những điều này đưa y đến sự chứng nghiệm không chỉ về sự hiện hữu của các mãnh lực ấy mà còn về cách vận dụng và điều khiển chúng. Đây là tri thức: điều hướng đúng đắn các dòng mãnh lực, trước tiên trong ba cõi thấp của nỗ lực nhân loại, rồi sau đó trong hệ mặt trời. |
|
|
Love is the right apprehension of the uses and purposes of form, and of the energies involved in form-building, the utilisation of form, and the eventual dissipation of the superseded form. It involves a realisation of the Laws of Attraction and Repulsion, of the magnetic interplay between all forms, great and small, of group relationships, of the galvanizing power of the unifying life, and the attractive power of one unit upon another, be it atom, man, or solar system. It involves an understanding of all forms, form purposes, and form relationships; it concerns the building processes in man himself, and in the solar system; and it necessitates the development of those powers within man which will make him a conscious Builder, a solar Pitri of a coming cycle. This [Page 882] is one of the great revelations at initiation: the unveiling to the initiate of the particular cosmic centre whence emanates the type of force or energy which he, the initiate, will be concerned with when he becomes in due course of time a solar Pitri, or divine manasaputra to coming humanity. Hence he must have, not only knowledge, but the energy of love likewise to enable him to perform the function of linking the higher three and the lower four of a future race of men at some distant period, thus permitting of their individualising through the sacrifice of his own fully conscious middle principle. |
Bác ái là sự lĩnh hội đúng đắn về các công dụng và mục đích của hình tướng, và về các năng lượng liên quan đến việc xây dựng hình tướng, việc sử dụng hình tướng, và sự làm tiêu tan cuối cùng của hình tướng đã lỗi thời. Nó bao hàm sự chứng nghiệm về các Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi, về sự tương tác từ tính giữa mọi hình tướng, lớn và nhỏ, về các mối liên hệ nhóm, về quyền năng điện hóa của sự sống hợp nhất, và quyền năng hấp dẫn của đơn vị này đối với đơn vị khác, dù đó là nguyên tử, con người hay hệ mặt trời. Nó bao hàm sự thấu hiểu mọi hình tướng, các mục đích của hình tướng, và các mối liên hệ của hình tướng; nó liên quan đến các tiến trình xây dựng trong chính con người, và trong hệ mặt trời; và nó đòi hỏi sự phát triển những quyền năng bên trong con người sẽ khiến y trở thành một đấng kiến tạo hữu thức, một thái dương tổ phụ của một chu kỳ sắp đến. Điều này [Page 882] là một trong những mặc khải vĩ đại tại điểm đạo: sự vén mở cho điểm đạo đồ về trung tâm vũ trụ đặc thù mà từ đó phát ra loại mãnh lực hay năng lượng mà y, điểm đạo đồ, sẽ phải quan tâm đến khi theo thời gian y trở thành một thái dương tổ phụ, hay một manasaputra thiêng liêng đối với nhân loại tương lai. Vì thế y phải có không chỉ tri thức mà cả năng lượng bác ái nữa để giúp y thực hiện chức năng nối kết bộ ba cao và bộ bốn thấp của một nhân loại tương lai vào một thời kỳ xa xôi nào đó, nhờ đó cho phép họ biệt ngã hóa qua sự hi sinh nguyên khí trung gian hoàn toàn hữu thức của chính y. |
|
Sacrifice involves even more than what has been already pointed out. It involves the following factors: |
Hi sinh bao hàm còn nhiều hơn những gì đã được chỉ ra. Nó bao hàm các yếu tố sau: |
|
a. Knowledge of the purposes and intentions of the planetary Logos, |
a. Tri thức về các mục đích và ý định của Hành Tinh Thượng đế, |
|
b. Realisation of the particular and peculiar type of energy, and of the quality of his own Ray Lord, |
b. Sự chứng nghiệm về loại năng lượng đặc thù và riêng biệt, và về phẩm tính của Đấng Chúa Tể Cung của chính y, |
|
c. Comprehension of the different groups of existences who are participating in planetary evolution and in solar manifestation, |
c. Sự thấu hiểu các nhóm hiện hữu khác nhau đang tham dự vào tiến hoá hành tinh và biểu hiện thái dương, |
|
d. A revelation as to certain cosmic enterprises in which our planetary Logos is acting as an intelligent co-operator. Thus is brought in the factor of extra-systemic force. |
d. Một sự mặc khải về một số công cuộc vũ trụ trong đó Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đang hành động như một cộng tác viên thông tuệ. Như vậy yếu tố mãnh lực ngoài hệ thống được đưa vào. |
|
When all these and other factors are considered, it is evident that the energy set loose in sacrifice to these plans and intentions involves such a vast field of comprehending wisdom that it is not possible for the average man ever to sense it. It deals with the purposes and plans of the Silent Watchers over the three planes—the five, and the seven; it deals with the dynamic force of the great Destroying Angels on all the planes, who will eventually—through the manipulation of the three forms of energy—bring to an end all that is. These angels are a mysterious group of fohatic Lives Who sound forth the [Page 883] trumpets of destruction, and by means of the notes sounded produce that shattering which will set loose the energy of forms. |
Khi mọi yếu tố này và những yếu tố khác được xem xét, hiển nhiên là năng lượng được giải phóng trong sự hi sinh cho các kế hoạch và ý định này bao hàm một lĩnh vực minh triết thấu hiểu rộng lớn đến mức con người trung bình không bao giờ có thể cảm nhận được. Nó bàn đến các mục đích và kế hoạch của các Đấng Quan Sát Thầm Lặng trên ba cõi phụ—the five, and the seven; nó bàn đến mãnh lực năng động của các Thiên Thần Hủy Diệt vĩ đại trên mọi cõi, các vị mà rốt cuộc—qua sự điều khiển ba hình thức năng lượng—sẽ chấm dứt mọi cái đang hiện hữu. Các thiên thần này là một nhóm huyền nhiệm gồm các Sự sống fohat phát ra [Page 883] những tiếng kèn hủy diệt, và bằng các âm điệu được xướng lên tạo ra sự tan vỡ sẽ giải phóng năng lượng của các hình tướng. |
|
The second point is very briefly given. It concerns the innermost circle of petals, or that set of three petals, or those three streams of whirling energy, which immediately surround the “jewel in the lotus.” Each of these three petals is related to one of the three circles, and is organised as each of the three circles is unfolded. They form, therefore, a synthesis of knowledge, love or sacrifice, and are closely connected through the type of force flowing through them with one of the three higher centres of the planetary Logos of a man’s particular ray. This central unit of threefold force is dealt with in a specific manner at initiation. |
Điểm thứ hai được nêu ra rất vắn tắt. Nó liên quan đến vòng cánh hoa nội tâm nhất, hay bộ ba cánh hoa ấy, hay ba dòng năng lượng xoáy chuyển ấy, trực tiếp bao quanh “viên ngọc trong Hoa sen.” Mỗi cánh trong ba cánh này liên hệ với một trong ba vòng, và được tổ chức khi mỗi một trong ba vòng được khai mở. Vì vậy, chúng tạo thành một tổng hợp của tri thức, bác ái hay hi sinh, và được nối kết chặt chẽ, qua loại mãnh lực chảy qua chúng, với một trong ba trung tâm cao hơn của Hành Tinh Thượng đế thuộc cung riêng của một người. Đơn vị trung tâm của mãnh lực tam phân này được xử lý theo một cách đặc biệt tại điểm đạo. |
|
Ở lần điểm đạo thứ nhất, thứ hai và thứ ba, một trong ba cánh hoa mở ra, cho phép điểm điện trung tâm biểu lộ ngày càng tự do hơn. Ở lần điểm đạo thứ tư, viên ngọc (được hiển lộ hoàn toàn) nhờ ánh sáng rực cháy, sức nóng bức xạ mãnh liệt, và dòng mãnh lực tuôn ra khủng khiếp của nó, tạo ra sự tan rã của hình tướng bao quanh, sự vỡ nát của thể nguyên nhân, sự phá hủy Đền thờ Solomon, và sự tan biến của đóa hoa sen. Công việc của Đấng Điểm đạo trong mối liên hệ này rất đáng quan tâm. Qua trung gian của Thần Trượng Điểm đạo và một số Quyền năng từ, Ngài tạo ra những kết quả có tính phối hợp, chuyển hoá và giải phóng. |
|
|
Through the action of the Rod as wielded at the first two Initiations, the two outer circles unfold, the energy of the two is set free and the two sets of force as embodied in the six petals are co-ordinated and become interactive. This stage of petal adjustment succeeds upon that called earlier “unfoldment” and has to do with the simultaneous action of the two tiers of petals. The interplay between the two circles is completed, and the circulation [Page 884] of the force currents perfected. According to a man’s ray and subray, so is the Rod applied to what might be termed the “key” petal. This of course differs according to the unit of force involved. It is of interest to note here that, as the petal substance is deva substance and as the energy of the petals is the energy of certain manasadevas (one of the three higher orders of Agnishvattas) the initiate is overshadowed (the word is not entirely satisfactory in explaining the type of deva service here necessitated, but it must suffice) by a great deva who represents the equilibrium of substantial vibration which is brought about by the efforts of the initiate, aided by the adepts who present him, and who each represent one of the two polarities of force. This is temporarily stabilised by the Initiator. These three factors, |
Qua tác động của Thần Trượng khi được sử dụng trong hai lần điểm đạo đầu tiên, hai vòng ngoài được khai mở, năng lượng của hai vòng được giải phóng và hai bộ mãnh lực hiện thân trong sáu cánh hoa được phối hợp và trở nên tương tác. Giai đoạn điều chỉnh cánh hoa này tiếp nối giai đoạn trước đó được gọi là “sự khai mở” và liên quan đến hoạt động đồng thời của hai tầng cánh hoa. Sự tương tác giữa hai vòng được hoàn tất, và sự lưu chuyển [Page 884] của các dòng mãnh lực được hoàn thiện. Tùy theo cung và cung phụ của một người mà Thần Trượng được áp dụng vào cái có thể gọi là cánh hoa “chủ âm”. Dĩ nhiên điều này khác nhau tùy theo đơn vị mãnh lực liên quan. Ở đây điều đáng lưu ý là, vì chất liệu cánh hoa là chất liệu thiên thần và vì năng lượng của các cánh hoa là năng lượng của một số manasadeva nào đó (một trong ba cấp cao của Agnishvatta), nên điểm đạo đồ được phủ bóng (từ này không hoàn toàn thỏa đáng để giải thích loại phụng sự thiên thần cần thiết ở đây, nhưng phải tạm dùng vậy) bởi một thiên thần vĩ đại đại diện cho sự quân bình của rung động chất liệu được tạo ra bởi các nỗ lực của điểm đạo đồ, với sự trợ giúp của các chân sư giới thiệu y, và mỗi vị trong các vị ấy đại diện cho một trong hai cực tính của mãnh lực. Điều này được Đấng Điểm đạo tạm thời ổn định. Ba yếu tố này, |
|
1. thiên thần đại diện, |
|
|
2. The two adepts, |
2. hai chân sư, |
|
3. The initiator, |
3. Đấng điểm đạo, |
|
form, for a brief second, a triangle of force with the initiate at the centre. Through them circulates the terrific power, the “fire from Heaven,” which is brought down from the higher triad through the agency of the electrical rod. |
tạo thành, trong một giây ngắn ngủi, một tam giác mãnh lực với điểm đạo đồ ở trung tâm. Qua các vị ấy lưu chuyển quyền năng khủng khiếp, “lửa từ Thiên Đàng,” được kéo xuống từ Tam Nguyên Tinh Thần cao hơn qua tác nhân của thần trượng điện. |
|
This application of extra-egoic force is in itself of a threefold nature, as symbolised by the three protective agencies and the threefold nature of the Rod itself. It emanates in a primary sense from the planetary Logos of a man’s ray, and proceeds from that one of the planetary centres which corresponds to either the head, heart, or throat centre in a human unit. This energy is applied to the corresponding tier of petals and to the corresponding petal in a tier according to the initiation taken, and according to the primary and secondary ray. A close connection can be traced here between the petals and the centres of the etheric level of the physical plane, [Page 885] and thus it can be seen how (when the necessary work is done) it is possible to have a direct transmission of force from the higher planes to the lower in the following order: |
Việc áp dụng mãnh lực ngoài chân ngã này tự nó có bản chất tam phân, như được tượng trưng bởi ba tác nhân bảo hộ và bản chất tam phân của chính Thần Trượng. Theo nghĩa sơ cấp, nó phát xuất từ Hành Tinh Thượng đế thuộc cung của một người, và tiến ra từ một trong các trung tâm hành tinh tương ứng với trung tâm đầu, tim, hay cổ họng trong một đơn vị nhân loại. Năng lượng này được áp dụng vào tầng cánh hoa tương ứng và vào cánh hoa tương ứng trong một tầng tùy theo lần điểm đạo được nhận, và tùy theo cung chính và cung phụ. Ở đây có thể truy ra một mối liên hệ chặt chẽ giữa các cánh hoa và các trung tâm ở cấp độ dĩ thái của cõi hồng trần, [Page 885] và nhờ đó có thể thấy được làm thế nào (khi công việc cần thiết đã được thực hiện) có thể có một sự truyền dẫn trực tiếp mãnh lực từ các cõi cao xuống các cõi thấp theo trật tự sau: |
|
a. From the logoic centre, or the planetary Logos, to the Monad on its own plane. |
a. Từ trung tâm logoic, hay Hành Tinh Thượng đế, đến chân thần trên cõi riêng của nó. |
|
b. From that Monad to one of the three tiers of petals, according to the aspect or ray concerned. |
b. Từ chân thần ấy đến một trong ba tầng cánh hoa, tùy theo phương diện hay cung liên quan. |
|
c. From the tier of petals, viewed as a unit, to one of the petals in the circle, according to the quality and type of force, using the petal as a transmitting agency. |
c. Từ tầng cánh hoa, được xem như một đơn vị, đến một trong các cánh hoa trong vòng, tùy theo phẩm tính và loại mãnh lực, dùng cánh hoa như một tác nhân truyền dẫn. |
|
d. From the particular petal in which the force is momentarily centred to one of the permanent atoms, again according to ray and type of force. |
d. Từ cánh hoa đặc biệt mà trong đó mãnh lực tạm thời được tập trung đến một trong các Nguyên tử trường tồn, lại tùy theo cung và loại mãnh lực. |
|
e. Từ Nguyên tử trường tồn qua tam giác nguyên tử, và các trung tâm trí tuệ và cảm dục, đến một trong ba trung tâm cao hơn trong thể dĩ thái đặc biệt liên quan. |
|
|
f. From the etheric centre to the physical brain. |
f. Từ trung tâm dĩ thái đến bộ não hồng trần. |
|
We have here put very briefly the process of force transmission from the Monad to man on the physical plane, and hence it will be apparent why the emphasis is so consistently laid upon the necessity for bodily purity (in all the three bodies), and upon the alignment of those bodies so that the flow of force may be unimpeded. The effects of this downflow of force may be viewed in a twofold manner, that is, in a material and in a psychic sense. |
Ở đây chúng ta đã trình bày rất vắn tắt tiến trình truyền dẫn mãnh lực từ chân thần đến con người trên cõi hồng trần, và do đó sẽ thấy rõ vì sao sự nhấn mạnh lại luôn luôn được đặt lên nhu cầu thanh khiết của thể (trong cả ba thể), và lên sự chỉnh hợp của các thể ấy để dòng mãnh lực có thể lưu chuyển không bị cản trở. Các hiệu quả của dòng mãnh lực tuôn xuống này có thể được nhìn theo hai cách, nghĩa là theo nghĩa vật chất và theo nghĩa thông linh. |
|
The material effect, or the result of this stimulation upon the forms and upon the atoms in the forms, is to render them radioactive, or to set loose the energy of substance. This is the liberating of the energy imprisoned within the form, and concerns the Brahma aspect, and [Page 886] the evolution of matter itself. It affects the lunar bodies, and therefore relates to the lunar Lords or Pitris, causing a weakening of their hold upon the lesser builders, bringing them more under the force streams from the solar Angels, and leading to a situation which will eventually result in a return of the lunar Pitris of all degrees to the central point for force substance. In a psychic sense the result of the downflow is a stimulation of consciousness, and the acquisition (through that stimulation) of the psychic powers latent in man. His three higher physical centres, the pineal gland, the pituitary body, and the alta major centre are affected, and man becomes psychically aware in the physical brain of the higher influences, happenings and powers. According to the ray concerned, so is the centre affected. The force of the lunar Lords, which has succeeded in keeping these three organs quiescent, is superseded and the solar Angels pour in their energy. |
Hiệu quả vật chất, hay kết quả của sự kích thích này lên các hình tướng và lên các nguyên tử trong các hình tướng, là làm cho chúng trở nên phóng xạ, hay giải phóng năng lượng của chất liệu. Đây là sự giải phóng năng lượng bị giam hãm trong hình tướng, và liên quan đến phương diện Brahma, và [Page 886] sự tiến hoá của chính vật chất. Nó ảnh hưởng đến các thể thái âm, và vì vậy liên hệ đến các nguyệt tinh quân hay Pitris, gây ra sự suy yếu trong sự nắm giữ của các vị ấy đối với các vị tiểu kiến tạo, khiến các vị này chịu ảnh hưởng nhiều hơn từ các dòng mãnh lực của các Thái dương Thiên Thần, và dẫn đến một tình huống rốt cuộc sẽ đưa đến sự trở về của các thái âm tổ phụ ở mọi cấp độ về điểm trung tâm của chất liệu mãnh lực. Theo nghĩa thông linh thì kết quả của dòng tuôn xuống là sự kích thích tâm thức, và sự đạt được (qua sự kích thích ấy) các năng lực thông linh tiềm ẩn trong con người. Ba trung tâm hồng trần cao hơn của y, tuyến tùng, thể tuyến yên, và trung tâm alta major đều bị ảnh hưởng, và con người trở nên nhận biết một cách thông linh trong bộ não hồng trần về các ảnh hưởng, biến cố và quyền năng cao hơn. Tùy theo cung liên quan mà trung tâm bị ảnh hưởng. Mãnh lực của các nguyệt tinh quân, vốn đã thành công trong việc giữ cho ba cơ quan này ở trạng thái tĩnh, bị thay thế và các Thái dương Thiên Thần tuôn năng lượng của mình vào. |
|
All this again is closely connected with the threefold energy of the physical body, and produces effects within the spinal column which arouses the kundalini fire at the base of the spine, causing it to mount along the triple spinal channel, again according to ray and aspect involved. More anent this may not here be said, as the dangers of a premature knowledge along this line are far greater than the dangers of ignorance. Suffice it to point out that the fires at the lower centres,—those below the diaphragm—have, by the time the second initiation is reached, usually mounted to the centre between the shoulder blades; at the second initiation they rise as far as the head, and all the fires of the torso are then active. All that remains then to do is to centralise them, to produce the necessary geometrical interplay between the seven head centres, and then to focus them all prior to the final liberation in the highest centre of all. [Page 887] |
Tất cả điều này lại liên hệ chặt chẽ với năng lượng tam phân của thể xác, và tạo ra các hiệu quả trong cột sống làm thức dậy hỏa kundalini ở đáy cột sống, khiến nó đi lên dọc theo kênh cột sống tam phân, lại tùy theo cung và phương diện liên quan. Không thể nói thêm ở đây về điều này, vì những nguy hiểm của một tri thức quá sớm theo đường lối này còn lớn hơn nhiều so với những nguy hiểm của sự vô minh. Chỉ cần chỉ ra rằng các ngọn lửa ở các trung tâm thấp,—những trung tâm dưới cơ hoành—đến lúc đạt lần điểm đạo thứ hai, thường đã đi lên đến trung tâm giữa hai bả vai; ở lần điểm đạo thứ hai chúng dâng lên tận đầu, và khi đó mọi ngọn lửa của thân mình đều hoạt động. Khi ấy, tất cả những gì còn lại phải làm là tập trung chúng lại, tạo ra sự tương tác hình học cần thiết giữa bảy trung tâm đầu, rồi tập trung tất cả chúng trước khi giải phóng cuối cùng trong trung tâm cao nhất. [Page 887] |
4. The Fire Elementals, The Lesser Builders |
4. Các hành khí của lửa, các vị tiểu kiến tạo |
|
a. Introductory. |
a. Dẫn nhập. |
|
It will be apparent now that in our consideration of the deva Builders, great and small, of the solar system, we have hitherto practically confined ourselves to those who are the functioning agents in the three worlds of human endeavour. We have dealt briefly with the Builders on the evolutionary arc, the greater entities who either have passed through the human kingdom, and therefore have left that stage of evolution behind them in earlier cycles, or are at this time the “solar agents” of human manifestation. All these forms of divine existence represent—in their own place—aspects of positive force. We come now to the consideration of the lesser builders in the three worlds, those who represent the negative aspect of force, being on the involutionary arc, and who are, therefore, the recipients of energy and influences. They are worked upon by energy, and through the activity of the greater Builders are forced into different directions in space, being built into the differing forms. The energy that works upon them, as is well known, emanates from the second aspect, and in their totality they form the great Mother. |
Giờ đây sẽ thấy rõ rằng trong khi xem xét các thiên thần kiến tạo, lớn và nhỏ, của hệ mặt trời, cho đến nay chúng ta trên thực tế hầu như chỉ giới hạn vào những vị là các tác nhân hoạt động trong ba cõi giới của nỗ lực nhân loại. Chúng ta đã bàn sơ lược về các đấng kiến tạo trên cung tiến hoá, những thực thể lớn hơn hoặc đã đi qua giới nhân loại, và vì thế đã bỏ lại giai đoạn tiến hoá ấy phía sau trong các chu kỳ trước, hoặc hiện nay là các “tác nhân thái dương” của biểu hiện nhân loại. Tất cả các hình thức hiện hữu thiêng liêng này đại diện—ở vị trí riêng của mình—cho các phương diện của mãnh lực dương. Giờ đây chúng ta chuyển sang xem xét các vị tiểu kiến tạo trong ba cõi giới, những vị đại diện cho phương diện âm của mãnh lực, vì ở trên cung giáng hạ tiến hoá, và do đó là những vị tiếp nhận năng lượng và ảnh hưởng. Các vị ấy bị năng lượng tác động, và qua hoạt động của các đấng kiến tạo lớn hơn bị buộc phải đi theo những hướng khác nhau trong không gian, được xây dựng vào các hình tướng khác nhau. Năng lượng tác động lên các vị ấy, như ai cũng biết, phát ra từ phương diện thứ hai, và trong tính toàn thể của mình các vị ấy tạo thành Người Mẹ vĩ đại. |
|
I would call to the attention of all students the fact that these lesser builders are literally a “sea of fire” upon which the great breath, or the AUM, takes effect. Each fiery spark, or atom, becomes (through the action of the Word), vitalised with new life, and impregnated with a different type of energy. In the union of the life of atomic substance itself with that which causes the atoms to cohere, and to form vehicles of some kind or another, can be seen demonstrating the “Son of God.” Herein lies the essential duality of all manifestation; this duality is later supplemented by the life of the One Who sounds the Word. Thus is the cosmic incarnation [Page 888] brought about with the three factors entering in. This has been sufficiently dealt with in earlier pages. |
Tôi muốn lưu ý tất cả các đạo sinh đến sự kiện rằng các vị tiểu kiến tạo này theo nghĩa đen là một “biển lửa” mà trên đó đại hơi thở, hay AUM, tác động. Mỗi tia lửa, hay nguyên tử, nhờ tác động của Linh từ, được tiếp sinh lực bằng sự sống mới, và được thấm nhuần một loại năng lượng khác. Trong sự hợp nhất giữa sự sống của chính chất liệu nguyên tử với cái khiến các nguyên tử kết dính lại và tạo thành các vận cụ thuộc loại này hay loại khác, có thể thấy “Con của Thượng đế” đang được biểu lộ. Chính trong đó có tính nhị nguyên thiết yếu của mọi biểu hiện; tính nhị nguyên này về sau được bổ sung bởi sự sống của Đấng xướng Linh từ. Như vậy sự nhập thể vũ trụ [Page 888] được tạo ra với ba yếu tố cùng tham dự. Điều này đã được bàn đến đầy đủ trong các trang trước. |
|
Much that will have to be said will be of a tabulatory nature, and the only way in which students can check up the approximate accuracy of that which is imparted will be through a careful meditation upon: |
Nhiều điều sẽ phải được nói ra dưới dạng bảng biểu, và cách duy nhất để các đạo sinh kiểm tra độ chính xác gần đúng của điều được truyền đạt là qua sự tham thiền cẩn trọng về: |
|
a. The Law of Correspondences. |
a. định luật tương ứng. |
|
b. The realisable probabilities. |
b. những xác suất có thể chứng nghiệm được. |
|
c. The indications in occult literature of a corroborative nature. |
c. những chỉ dẫn trong văn liệu huyền bí có tính chất xác nhận. |
|
Students should remember that we are dealing with involutionary substance, or atomic matter. This atomic matter is living substance, each atom being a tiny life palpitating with the vitality of the third Logos. These lives, being negative energy, are responsive to their polar opposite, and can (under the Law of Attraction and Repulsion) be built into forms which are the expression of the second aspect. Eventually the forms themselves become in their turn negative, and responsive to still another type of force, becoming recipients of the life of the first Logos when the fourth or human kingdom is reached. |
Các đạo sinh nên nhớ rằng chúng ta đang bàn đến chất liệu giáng hạ tiến hoá, hay vật chất nguyên tử. Vật chất nguyên tử này là chất liệu sống, mỗi nguyên tử là một sự sống nhỏ bé rung động với sinh lực của Logos thứ ba. Các sự sống này, vì là năng lượng âm, nên đáp ứng với cực đối nghịch của mình, và có thể (theo Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi) được xây dựng thành những hình tướng là biểu hiện của phương diện thứ hai. Cuối cùng chính các hình tướng ấy đến lượt mình trở nên âm, và đáp ứng với một loại mãnh lực khác nữa, trở thành những kẻ tiếp nhận sự sống của Logos thứ nhất khi giới thứ tư hay giới nhân loại được đạt đến. |
|
This Treatise seeks to prove, that in the fourth kingdom the three fires meet: |
Luận về Lửa Vũ Trụ này tìm cách chứng minh rằng, trong giới thứ tư, ba ngọn lửa gặp nhau: |
|
a. Fire by friction, or the negative Brahma Aspect, the third Aspect. |
a. Lửa ma sát, hay phương diện Brahma âm, phương diện thứ ba. |
|
b. Solar Fire, or the positive negative Vishnu Aspect, the second Aspect. |
b. Lửa Thái dương, hay phương diện Vishnu dương-âm, phương diện thứ hai. |
|
c. Electric Fire, or the positive Shiva Aspect, the first Aspect. |
c. Lửa Điện, hay phương diện Shiva dương, phương diện thứ nhất. |
|
Man in the three worlds, consciously or unconsciously, recapitulates the logoic process, and becomes a creator, working in substance through the factor of his positive energy. He wills, he thinks, he speaks, and thought-forms eventuate. Atomic substance is attracted to the [Page 889] enunciator. The tiny lives which compose that substance are forced (through the energy of the thinker), into forms, which are themselves active, vitalised and powerful. What man builds is either a beneficent or a maleficent creation according to the underlying desire, motive, or purpose. |
Con người trong ba cõi giới, một cách hữu thức hay vô thức, lặp lại tiến trình logoic, và trở thành một đấng sáng tạo, hoạt động trong chất liệu qua yếu tố năng lượng dương của mình. Y ý chí, y suy nghĩ, y nói, và các Hình tư tưởng xuất hiện. Chất liệu nguyên tử bị hút đến [Page 889] người phát ngôn. Những sự sống nhỏ bé cấu thành chất liệu ấy bị buộc (qua năng lượng của người tư tưởng) vào các hình tướng, mà chính các hình tướng ấy lại hoạt động, được tiếp sinh lực và đầy quyền năng. Điều con người xây dựng là một sáng tạo thiện lành hay độc hại tùy theo dục vọng, động cơ hay mục đích nền tảng. |
|
It is essential that we endeavour to make practical what is here to be imparted, as it is useless for man to study the groups of lesser builders, their functions and their names, unless he realises that with many of them he has an intimate connection, being himself one of the great builders, and a creator within the planetary scheme. Men should remember that through the power of their thoughts and their spoken words they definitely produce effects upon other human beings functioning on the three planes of human evolution and upon the entire animal kingdom. The separative and maleficent thoughts of man are largely responsible for the savage nature of wild beasts, and the destructive quality of some of nature’s processes, including certain phenomena, such as plague and famine. |
Điều cốt yếu là chúng ta phải cố gắng làm cho những gì được truyền đạt ở đây trở nên thực tiễn, vì con người nghiên cứu các nhóm tiểu kiến tạo, các chức năng và tên gọi của họ sẽ là vô ích nếu y không chứng nghiệm rằng mình có một mối liên hệ mật thiết với nhiều vị trong số họ, vì chính y là một trong các đại kiến tạo, và là một đấng sáng tạo trong hệ hành tinh. Con người nên nhớ rằng qua quyền năng của tư tưởng và lời nói của mình, họ thực sự tạo ra các hiệu quả lên những con người khác đang hoạt động trên ba cõi của tiến hoá nhân loại và lên toàn bộ giới động vật. Những tư tưởng chia rẽ và độc hại của con người phần lớn chịu trách nhiệm về bản chất hung dữ của thú hoang, và phẩm tính hủy diệt của một số tiến trình trong tự nhiên, kể cả một số hiện tượng như dịch bệnh và nạn đói. |
|
It is of no value to man to know the names of some of the “army of the voice” unless he comprehends his relationship to that army, unless he apprehends the responsibility which is his to be a beneficent creator, working under the law of love, and not impelled to the creative act through selfish desire, or uncontrolled activity. |
Việc biết tên của một số thành phần trong “đạo quân của tiếng nói” không có giá trị gì đối với con người trừ phi y hiểu được mối liên hệ của mình với đạo quân ấy, trừ phi y lĩnh hội được trách nhiệm của mình là phải là một đấng sáng tạo thiện lành, hoạt động dưới định luật bác ái, chứ không bị thúc đẩy vào hành vi sáng tạo bởi dục vọng ích kỷ hay hoạt động không kiểm soát. |
|
b. Physical Plane Elementals. |
b. Hành khí cõi hồng trần. |
|
It should be remembered that the devas we have been considering are the originators of impulse, and the manipulators of energy in their own degree, and on their own plane. In connection with them are to be found, therefore, the recipients of force, or the multitude of lives of an elemental nature which form the sumtotal of the matter of a plane. These are swept on waves of energy, through the impulse of the Breath, and as the result of [Page 890] vibratory action, into all forms as we know them on the physical plane. Therefore, in connection with manifestation on the physical plane the devas may be divided into three groups: |
Cần nhớ rằng các thiên thần mà chúng ta đã xem xét là những vị khởi phát xung lực, và là những vị điều khiển năng lượng trong cấp độ riêng của mình và trên cõi riêng của mình. Vì vậy, liên hệ với các vị ấy có thể tìm thấy những kẻ tiếp nhận mãnh lực, hay vô số sự sống có bản chất hành khí tạo thành tổng số vật chất của một cõi. Các sự sống này bị cuốn đi trên những làn sóng năng lượng, qua xung lực của Hơi Thở, và như là kết quả của [Page 890] tác động rung động, vào mọi hình tướng như chúng ta biết trên cõi hồng trần. Vì vậy, liên quan đến biểu hiện trên cõi hồng trần, các thiên thần có thể được chia thành ba nhóm: |
|
1. The transmitters of the will of God, the originators of activity in deva substance. These are the greater builders in their various groups. |
1. Những vị truyền đạt Ý Chí của Thượng Đế, những vị khởi phát hoạt động trong chất liệu thiên thần. Đây là các đấng kiến tạo lớn hơn trong những nhóm khác nhau của các vị ấy. |
|
2. The manipulators of the initiated energy. These are the myriads of workers with force who transmit the impulse in their turn to the elemental essence. They are the builders of lesser degree, but are on the evolutionary arc as are the first group. |
2. Những vị điều khiển năng lượng đã được khởi phát. Đây là vô số người hoạt động với mãnh lực, đến lượt mình truyền xung lực đến Tinh chất hành khí. Họ là các đấng kiến tạo cấp thấp hơn, nhưng ở trên cung tiến hoá cũng như nhóm thứ nhất. |
|
3. The recipients of force, the sumtotal of the living substance of a plane. These lives are passive in the hands of the builders of greater degree. |
3. Những kẻ tiếp nhận mãnh lực, tổng số chất liệu sống của một cõi. Các sự sống này thụ động trong tay các đấng kiến tạo cấp cao hơn. |
|
The three groups to be considered are: |
Ba nhóm cần được xem xét là: |
|
1. Các hành khí của vật chất đậm đặc nhất. |
|
|
2. The elementals of liquid matter. |
2. Các hành khí của vật chất lỏng. |
|
3. The elementals of gaseous matter. |
3. Các hành khí của vật chất khí. |
|
We must bear in mind as we study these three groups that we are not concerned with the transmitters, but with the manipulators and with the recipients of energy. |
Khi nghiên cứu ba nhóm này, chúng ta phải ghi nhớ rằng chúng ta không bàn đến các vị truyền đạt, mà bàn đến các vị điều khiển và những kẻ tiếp nhận năng lượng. |
|
The Elementals of Densest Matter. These are the workers and builders which are concerned with the tangible and objective part of all manifestation. In their totality they literally form that which can be touched, seen, and contacted physically by man. In considering these matters we must never dissociate the various groups in our minds in a too literal sense, for they all interpenetrate and blend, in the same manner as man’s physical body is compounded of dense, liquid, gaseous, and etheric matter. Diversity, producing a unity, is everywhere to be seen; this fact must constantly be borne [Page 891] in mind by the occult student when studying the subhuman forms of existence. There is a distinct danger in all tabulations, for they tend to the forming of hard and fast divisions, whereas unity pervades all. |
Các hành khí của vật chất đậm đặc nhất. Đây là những người hoạt động và những đấng kiến tạo có liên quan đến phần hữu hình và khách quan của mọi biểu hiện. Trong tổng thể của chúng, chúng thực sự tạo thành cái có thể được con người chạm tới, nhìn thấy và tiếp xúc trên phương diện hồng trần. Khi xem xét các vấn đề này, chúng ta không bao giờ được tách rời các nhóm khác nhau trong trí óc mình theo nghĩa quá sát mặt chữ, vì tất cả chúng đều xuyên thấm lẫn nhau và hòa trộn với nhau, cũng theo cách mà thể xác của con người được cấu thành từ vật chất đậm đặc, lỏng, khí và dĩ thái. Tính đa dạng tạo ra một sự hợp nhất có thể được thấy ở khắp nơi; sự kiện này phải luôn luôn được ghi nhớ [Page 891] trong tâm trí của đạo sinh huyền bí học khi nghiên cứu các hình thức tồn tại dưới nhân loại. Có một nguy cơ rõ rệt trong mọi sự lập bảng, vì chúng có khuynh hướng tạo ra những phân chia cứng nhắc và cố định, trong khi sự hợp nhất thấm nhuần tất cả. |
|
Among the manipulating devas of the lowest level of the dense physical plane are to be found certain subterranean forms of existence, of which hints are to be found in the ancient and occult books. There is to be found in the very bowels of the earth, an evolution of a peculiar nature, with a close resemblance to the human. They have bodies of a peculiarly gross kind, which might be regarded as distinctly physical as we understand the term. They dwell in settlements, or groups, under a form of government suited to their needs in the central caves several miles below the crust of the earth. Their work is closely connected with the mineral kingdom, and the “agnichaitans” of the central fires are under their control. Their bodies are constituted so as to stand much pressure, and they are not dependent upon as free a circulation of air as man is, nor do they resent the great heat to be found in the earth’s interior. Little can here be communicated anent these existences, for they are connected with the lesser vital portions of the physical body of the planetary Logos, finding their microcosmic correspondence in the feet and legs of a man. They are one of the factors which make possible the revolutionary progressive activity of a planet. |
Trong số các thiên thần thao tác ở cấp thấp nhất của cõi hồng trần đậm đặc có thể tìm thấy một số dạng tồn tại dưới lòng đất, mà những ám chỉ về chúng có thể được thấy trong các sách cổ và huyền bí. Ngay trong lòng sâu của trái đất có một dòng tiến hoá có tính chất đặc biệt, rất giống với con người. Chúng có những thể thuộc loại đặc biệt thô nặng, có thể được xem là rõ rệt thuộc hồng trần theo cách chúng ta hiểu thuật ngữ này. Chúng sống trong các khu định cư, hay các nhóm, dưới một hình thức cai quản thích hợp với nhu cầu của chúng trong những hang động trung tâm cách lớp vỏ trái đất nhiều dặm bên dưới. Công việc của chúng liên hệ chặt chẽ với giới kim thạch, và các “agnichaitan” của những ngọn lửa trung tâm nằm dưới sự kiểm soát của chúng. Thể của chúng được cấu tạo để chịu được áp lực lớn, và chúng không phụ thuộc vào sự lưu thông không khí tự do như con người, cũng không khó chịu trước sức nóng lớn tìm thấy trong nội địa trái đất. Ở đây chỉ có thể truyền đạt rất ít điều liên quan đến các tồn tại này, vì chúng liên hệ với những phần sinh lực nhỏ hơn của thể xác của Hành Tinh Thượng đế, tìm thấy đối phần tiểu thiên địa của chúng nơi bàn chân và cẳng chân của con người. Chúng là một trong những yếu tố làm cho hoạt động tiến bộ mang tính cách mạng của một hành tinh trở nên khả hữu. |
|
Allied with them are several other groups of low class entities, whose place in the scheme of things can only be described as having relation to the grosser planetary functions. Little is gained by enlarging upon these lives and their work; it is not possible for man in any way to contact them, nor would it be desirable. When they have pursued their evolutionary cycle, they will take their place in a later cycle in the ranks of certain deva bodies that are related to the animal kingdom. |
Liên kết với chúng là vài nhóm thực thể cấp thấp khác, mà vị trí của chúng trong hệ sự vật chỉ có thể được mô tả là có liên hệ với những chức năng hành tinh thô nặng hơn. Mở rộng thêm về các sự sống này và công việc của chúng cũng không thu được bao nhiêu; con người không thể tiếp xúc với chúng theo bất kỳ cách nào, và điều đó cũng không đáng mong muốn. Khi chúng đã theo đuổi xong chu kỳ tiến hoá của mình, chúng sẽ đảm nhận vị trí trong một chu kỳ sau giữa hàng ngũ của một số thể thiên thần có liên hệ với giới động vật. |
|
[Page 892] It is commonly supposed that all the fairies, gnomes, elves, and like nature spirits are to be found solely in etheric matter, but this is not so. They are to be found in bodies of gaseous and liquid substance likewise, but the mistake has arisen for the reason that the basis of all that which can be objectively seen is the etheric structure, and these little busy lives frequently protect their dense physical activities through the agency of glamour, and cast a veil over their objective manifestation. When etheric vision is present then they can be seen, for the glamour, as we understand it, is only a veil over that which is tangible. |
[Page 892] Người ta thường cho rằng tất cả các tiên nữ, gnome, elf và những tinh linh tự nhiên tương tự chỉ được tìm thấy trong vật chất dĩ thái, nhưng điều này không đúng. Chúng cũng được tìm thấy trong những thể bằng chất liệu khí và lỏng, nhưng sự nhầm lẫn đã phát sinh vì lý do rằng nền tảng của mọi cái có thể được nhìn thấy một cách khách quan là cấu trúc dĩ thái, và những sự sống nhỏ bé bận rộn này thường bảo vệ các hoạt động hồng trần đậm đặc của chúng thông qua tác nhân của ảo cảm, và phủ một bức màn lên biểu hiện khách quan của chúng. Khi linh thị dĩ thái hiện diện thì chúng có thể được nhìn thấy, vì ảo cảm, theo cách chúng ta hiểu, chỉ là một bức màn che phủ cái hữu hình. |
|
Students must at this juncture remember that all dense physical forms, whether of a tree, an animal, a mineral, a drop of water, or a precious stone, are in themselves elemental lives constructed of living substance by the aid of living manipulators, acting under the direction of intelligent architects. It will immediately become apparent why it is not possible in any way to tabulate in connection with this particular lowest group. A beautiful diamond, a stately tree, or a fish in the water are but devas after all. It is the recognition of this essential livingness which constitutes the basic fact in all occult investigation, and is the secret of all beneficent magic. It is not my purpose, therefore, to deal more specifically with these lowest forms of divine life, except to impart two facts, and thus give indication of the solution of two problems which have oft disturbed the average student; these are, first, the problem as to the purpose of all reptilian life, and, secondly, the specific connection of the bird evolution with the deva kingdom. |
Đến lúc này, các đạo sinh phải nhớ rằng mọi hình tướng hồng trần đậm đặc, dù là của cây cối, động vật, khoáng vật, một giọt nước hay một viên đá quý, tự thân đều là những sự sống hành khí được cấu tạo từ chất liệu sống với sự trợ giúp của những đấng thao tác sống, hoạt động dưới sự chỉ đạo của các kiến trúc sư thông tuệ. Sẽ lập tức trở nên rõ ràng vì sao không thể theo bất kỳ cách nào lập bảng liên quan đến nhóm thấp nhất đặc biệt này. Một viên kim cương tuyệt đẹp, một cây cổ thụ uy nghi, hay một con cá trong nước, rốt cuộc cũng chỉ là các thiên thần. Chính sự nhận biết tính sống thiết yếu này tạo thành sự kiện nền tảng trong mọi khảo cứu huyền bí, và là bí mật của mọi huyền thuật từ thiện. Vì vậy, mục đích của tôi không phải là bàn đến cụ thể hơn về những hình thức thấp nhất này của sự sống thiêng liêng, ngoại trừ việc truyền đạt hai sự kiện, và như thế đưa ra chỉ dẫn về lời giải cho hai vấn đề vốn thường làm bối rối đạo sinh trung bình; đó là, thứ nhất, vấn đề về mục đích của toàn bộ sự sống loài bò sát, và thứ hai, mối liên hệ đặc thù của tiến hoá loài chim với giới thiên thần. |
|
The secret of the reptile kingdom is one of the mysteries of the second round, and there is a profound significance connected with the expression “the serpents of wisdom” which is applied to all adepts of the good law. [Page 893] The reptile kingdom has an interesting place in all mythologies, and all ancient forms of truth impartation, and this for no arbitrary reason. It is not possible to enlarge upon the underlying truth which is hidden in the karmic history of our planetary Logos, and is revealed as part of the teaching given to initiates of the second degree. |
Bí mật của giới bò sát là một trong những huyền nhiệm của cuộc tuần hoàn thứ hai, và có một thâm nghĩa sâu xa gắn với cách diễn đạt “những con rắn minh triết” được áp dụng cho mọi chân sư của thiện luật. [Page 893] Giới bò sát có một vị trí thú vị trong mọi thần thoại và mọi hình thức truyền đạt chân lý cổ xưa, và điều này không phải không có lý do. Không thể mở rộng về chân lý nền tảng được che giấu trong lịch sử nghiệp quả của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, và được mặc khải như một phần của giáo huấn ban cho các điểm đạo đồ bậc hai. |
|
The second great life impulse, or life wave, initiated by our planetary Logos, when brought in conjunction with the first, was the basis of that activity which we call evolutionary energy; it resulted in a gradual unrolling, or revelation, of the divine form. The heavenly serpent manifested, being produced out of the egg, and began its convolutions, gaining in strength and majesty, and producing through its immense fecundity millions of lesser “serpents.” The reptile kingdom is the most important part of the animal kingdom in certain aspects, if such an apparently contradictory statement can be made. For all animal life can be seen passing through it during the prenatal stage, or returning to it when the form is in advanced decomposition. The connection is not purely a physical one, but it is also psychic. When the real nature and method of the kundalini, or serpent fire, is known, this relation will be better understood, and the history of the second round assume a new importance. |
Xung lực sự sống lớn thứ hai, hay làn sóng sự sống, do Hành Tinh Thượng đế của chúng ta khởi xướng, khi được đưa vào đồng vị với xung lực thứ nhất, đã là nền tảng của hoạt động mà chúng ta gọi là năng lượng tiến hoá; nó dẫn đến sự mở cuộn dần dần, hay sự mặc khải, của hình tướng thiêng liêng. Con rắn thiên giới biểu hiện, được sinh ra từ quả trứng, và bắt đầu những vòng cuộn của nó, lớn lên về sức mạnh và uy nghi, và qua khả năng sinh sản to lớn của nó tạo ra hàng triệu “con rắn” nhỏ hơn. Giới bò sát là phần quan trọng nhất của giới động vật trong một số phương diện, nếu có thể đưa ra một phát biểu có vẻ mâu thuẫn như vậy. Vì mọi sự sống động vật đều có thể được thấy đi qua nó trong giai đoạn tiền sinh, hoặc quay trở lại nó khi hình tướng ở trong tình trạng phân huỷ cao độ. Mối liên hệ này không thuần túy là hồng trần, mà còn là thông linh. Khi bản chất và phương pháp thực sự của kundalini, hay lửa rắn, được biết đến, mối liên hệ này sẽ được thấu hiểu rõ hơn, và lịch sử của cuộc tuần hoàn thứ hai sẽ mang một tầm quan trọng mới. |
|
The secret of life lies hidden in the serpent stage,—not the life of the Spirit, but the life of the soul, and this will be revealed as the “serpent of the astral light” is truly approached, and duly studied. One of the four Lipika Lords, Who stand nearest to our planetary Logos, is called “The Living Serpent,” and His emblem is a serpent of blue with one eye, in the form of a ruby, in its head. Students who care to carry the symbology a little further can connect this idea with the “eye of Shiva” which sees and knows all, and records all, as [Page 894] does the human eye in lesser degree; all is photographed upon the astral light, as the human eye receives impressions upon the retina. The same thought is frequently conveyed in the Christian Bible, in the Hebrew and Christian recognition of the all-seeing eye of God. The application and value of the hints here given may be apparent if the subject of the third eye is studied, and its relation to the spine, and the spinal currents investigated. This third eye is one of the objects of kundalinic vivification, and in the spinal territory there is first the centre at the base of the spine, the home of the sleeping fire. Next we have the triple channel along which that fire will travel in due course of evolution, and finally we find at the summit of the column, and surmounting all, that small organ called the pineal gland, which when vivified causes the third eye to open, and the beauties of the higher, subtler planes to stand revealed. All this physico-psychical occurrence is possible to man owing to certain events which happened to the Heavenly Serpent in the second, or serpent, round. These happenings necessitated the formation and evolution of that peculiar and mysterious family we call the reptilian. These forms of divine life are very intimately connected with the second planetary scheme, being responsive to energy emanating from that scheme, and reaching the earth via the second globe in the second chain. A group of special devas (connected with a particular open sound in the planetary Word), work with the reptile evolution. |
Bí mật của sự sống ẩn giấu trong giai đoạn con rắn,—không phải sự sống của tinh thần, mà là sự sống của linh hồn, và điều này sẽ được mặc khải khi “con rắn của ánh sáng cảm dục” được tiếp cận đúng đắn và được nghiên cứu thích đáng. Một trong bốn Đấng Lipika, Đấng đứng gần Hành Tinh Thượng đế của chúng ta nhất, được gọi là “Con Rắn Sống,” và biểu tượng của Ngài là một con rắn màu lam với một con mắt, dưới hình thức một viên hồng ngọc, ở trong đầu nó. Những đạo sinh nào muốn đẩy biểu tượng học đi xa hơn một chút có thể nối kết ý tưởng này với “mắt của Shiva” là cái thấy và biết mọi sự, và ghi lại mọi sự, cũng như [Page 894] mắt người làm điều đó ở mức độ nhỏ hơn; mọi sự đều được chụp lại trên ánh sáng cảm dục, cũng như mắt người tiếp nhận các ấn tượng trên võng mạc. Cùng một tư tưởng này thường được chuyển tải trong Kinh Thánh Cơ Đốc, trong sự công nhận của Do Thái giáo và Cơ Đốc giáo về con mắt toàn tri của Thượng đế. Sự áp dụng và giá trị của những ám chỉ được đưa ra ở đây có thể sẽ rõ ràng nếu chủ đề về con mắt thứ ba được nghiên cứu, cùng mối liên hệ của nó với cột sống, và các dòng chảy trong cột sống được khảo sát. Con mắt thứ ba này là một trong những đối tượng của sự tiếp sinh lực kundalini, và trong khu vực cột sống trước hết có trung tâm ở đáy cột sống, nơi cư ngụ của ngọn lửa đang ngủ. Kế đó chúng ta có ba đường dẫn mà ngọn lửa ấy sẽ di chuyển theo trong tiến trình tiến hoá thích hợp, và cuối cùng chúng ta thấy ở đỉnh cột sống, và vượt lên trên tất cả, cơ quan nhỏ gọi là tuyến tùng, mà khi được tiếp sinh lực sẽ khiến con mắt thứ ba mở ra, và vẻ đẹp của các cõi cao hơn, vi tế hơn được mặc khải. Toàn bộ biến cố hồng trần-thông linh này trở nên khả hữu đối với con người nhờ một số sự kiện đã xảy ra cho Đấng Thiên Nhân Xà trong cuộc tuần hoàn thứ hai, hay cuộc tuần hoàn con rắn. Những biến cố này đòi hỏi sự hình thành và tiến hoá của họ đặc biệt và huyền bí mà chúng ta gọi là loài bò sát. Những hình thức sự sống thiêng liêng này liên hệ rất mật thiết với hệ hành tinh thứ hai, vì chúng đáp ứng với năng lượng phát ra từ hệ đó, và đến trái đất qua bầu hành tinh thứ hai trong dãy thứ hai. Một nhóm thiên thần đặc biệt (liên hệ với một âm thanh mở trong Linh từ hành tinh), làm việc với tiến hoá loài bò sát. |
|
It should be noted here that this evolution on the etheric planes has a closer effect upon man than on the physical. If students will apply themselves to the consideration of these facts, to the investigation of the serpent lore in all lands, mythologies and scriptures, and if they will link up all this knowledge with that concerning those heavenly constellations which have a serpent appellation (such as, for instance, the Dragon), much [Page 895] illumination may come. If the intuition suffices, knowledge may then be imparted which will make clearer the connection between the physical bodies with their centres, and the psychic nature. |
Cần lưu ý rằng tiến hoá này trên các cõi dĩ thái có ảnh hưởng gần gũi đến con người hơn là trên cõi hồng trần. Nếu các đạo sinh chuyên tâm xem xét các sự kiện này, khảo cứu truyền thuyết về rắn ở mọi xứ sở, thần thoại và kinh điển, và nếu họ nối kết toàn bộ tri thức này với tri thức liên quan đến những chòm sao thiên giới mang danh xưng con rắn (chẳng hạn như Rồng), thì nhiều [Page 895] soi sáng có thể đến. Nếu trực giác đủ mạnh, khi đó tri thức có thể được truyền đạt, điều sẽ làm sáng tỏ hơn mối liên hệ giữa các thể xác với các trung tâm của chúng, và bản chất thông linh. |
|
The bird kingdom is specifically allied to the deva evolution. It is the bridging kingdom between the purely deva evolution and two other manifestations of life. |
Giới chim liên minh một cách đặc thù với tiến hoá thiên thần. Đó là giới bắt cầu giữa tiến hoá thuần thiên thần và hai biểu hiện khác của sự sống. |
|
First. Certain groups of devas who desire to pass into the human kingdom, having developed certain faculties, can do so via the bird kingdom, and certain devas who wish to get in communication with human beings can do so via the bird kingdom. This truth is hinted at in the Christian Bible and Christian religious representations by angels or devas being frequently represented as having wings. These cases are not many, as the usual method is for the devas gradually to work themselves towards individualisation through expansive feeling, but in the cases which do occur these devas pass several cycles in the bird kingdom, building in a response to a vibration which will ultimately swing them into the human family. In this way they become accustomed to the use of a gross form without the limitations, and impurities, which the animal kingdom engenders. |
Thứ nhất. Một số nhóm thiên thần mong muốn đi vào giới nhân loại, sau khi đã phát triển một số năng lực nhất định, có thể làm như vậy qua giới chim, và một số thiên thần muốn đi vào giao tiếp với con người cũng có thể làm như vậy qua giới chim. Chân lý này được ám chỉ trong Kinh Thánh Cơ Đốc và trong các hình tượng tôn giáo Cơ Đốc khi các thiên thần thường được mô tả là có cánh. Những trường hợp này không nhiều, vì phương pháp thông thường là các thiên thần dần dần tự tiến tới biệt ngã hóa qua cảm xúc mở rộng, nhưng trong những trường hợp có xảy ra, các thiên thần này trải qua vài chu kỳ trong giới chim, xây dựng nơi mình một sự đáp ứng với một rung động mà cuối cùng sẽ đưa chúng vào gia đình nhân loại. Bằng cách này chúng quen với việc sử dụng một hình tướng thô nặng mà không có những giới hạn và tạp chất do giới động vật tạo ra. |
|
Second. Many devas pass out of the group of passive lives in the effort to become manipulating lives via the bird kingdom, and before becoming fairies, elves, gnomes, or other sprites, pass a certain number of cycles in the bird realm. |
Thứ hai. Nhiều thiên thần rời khỏi nhóm các sự sống thụ động trong nỗ lực trở thành các sự sống thao tác qua giới chim, và trước khi trở thành tiên nữ, elf, gnome hay các tinh linh khác, chúng trải qua một số chu kỳ trong giới chim. |
|
Why the two above events occur will not be apparent to the casual reader, nor will the true connection between the birds and the devas be accurately realised by the occult student unless he applies himself to the consideration of the “bird or swan out of time and space,” and the place that birds play in the mysteries. Herein lies for him the clue. He must remember likewise the fact that every life of every degree, from a god to the most [Page 896] insignificant of the lesser devas, or builders, must at some time or another pass through the human family. |
Vì sao hai biến cố trên xảy ra sẽ không rõ ràng đối với độc giả thông thường, và mối liên hệ thực sự giữa loài chim và các thiên thần cũng sẽ không được đạo sinh huyền bí học chứng nghiệm chính xác trừ phi y chuyên tâm xem xét “con chim hay thiên nga vượt ngoài thời gian và không gian,” và vai trò mà loài chim giữ trong các huyền nhiệm. Chính trong đó có đầu mối cho y. Y cũng phải nhớ sự kiện rằng mọi sự sống ở mọi cấp độ, từ một vị thần cho đến [Page 896] thiên thần nhỏ bé nhất hay đấng kiến tạo nhỏ nhất, vào lúc nào đó đều phải đi qua gia đình nhân loại. |
|
As H. P. B. has pointed out, (S. D., Section X, Vol. I, 384, 435; II, 306.) birds and serpents are closely connected with wisdom, and therefore with the psychic nature of God, of men, and of devas. The study of mythology should reveal certain stages and relationships which will make this matter clearer. |
Như H. P. B. đã chỉ ra, (S. D., Section X, Vol. I, 384, 435; II, 306.) chim và rắn liên hệ chặt chẽ với minh triết, và do đó với bản chất thông linh của Thượng đế, của con người, và của các thiên thần. Việc nghiên cứu thần thoại sẽ làm lộ ra một số giai đoạn và mối liên hệ khiến vấn đề này sáng tỏ hơn. |
|
The Elementals and Lesser Devas of Liquid Matter. A very interesting illustration of the interpenetration of all the living matter of creation can be seen in connection with the atmosphere surrounding our planet. In it is to be found: |
Các hành khí và các thiên thần nhỏ của vật chất lỏng. Một minh hoạ rất thú vị về sự xuyên thấm lẫn nhau của toàn bộ vật chất sống của tạo thành có thể được thấy liên quan đến bầu khí quyển bao quanh hành tinh chúng ta. Trong đó có thể tìm thấy: |
|
a. Moisture, or those living essences which are the liquid elementals. |
a. Độ ẩm, hay những tinh chất sống là các hành khí lỏng. |
|
b. Gaseous substance, or those lives which are linked to all fiery essences, being volatile and the result of heat. |
b. Chất liệu khí, hay những sự sống liên kết với mọi tinh chất lửa, có tính bốc hơi và là kết quả của nhiệt. |
|
c. Etheric matter, or the lowest orders of the devas of the ethers. |
c. Vật chất dĩ thái, hay các cấp thấp nhất của các thiên thần của các dĩ thái. |
|
Bộ ba lớn này, khi kết hợp với nhau, tạo ra cái mà chúng ta hít thở, và cái trong đó chúng ta sống, vận động và hiện hữu. Đối với đạo sinh biết suy tư, không khí đầy biểu tượng học, vì nó là một tổng hợp, và là cái bắt cầu giữa các tầng cao hơn và thấp hơn của biểu hiện. |
|
|
We must centre our attention first upon those lives which constitute the sumtotal of all that is watery, and liquid throughout manifestation, and in dealing with this we must remember that we are concerned with the most occult of investigations, and with matters which are very closely connected with man’s evolution. |
Trước hết, chúng ta phải tập trung chú ý vào những sự sống tạo thành tổng số của mọi cái có tính nước và lỏng trong toàn bộ biểu hiện, và khi bàn đến điều này chúng ta phải nhớ rằng mình đang quan tâm đến một trong những khảo cứu huyền bí nhất, và đến những vấn đề liên hệ rất chặt chẽ với tiến hoá của con người. |
|
The many groups of the water devas of the manipulatory class have been roughly grouped by mythological writers, under the terms undines, mermaids, and other [Page 897] expressions, but their diversity is great, and this will be necessarily apparent when it is remembered that the sumtotal of water upon the earth (oceans, seas, rivers, lakes and streams), far exceeds the dry portion, or land, and every drop of moisture is in itself a tiny life, fulfilling its function and running its cycle. The mythic forms above referred to are but those myriad lives built into a form through which an evolutionary deva is seeking expression. |
Nhiều nhóm thiên thần nước thuộc loại thao tác đã được các tác giả thần thoại gom nhóm một cách đại khái dưới các thuật ngữ undine, nàng tiên cá, và những [Page 897] cách gọi khác, nhưng tính đa dạng của chúng rất lớn, và điều này tất yếu sẽ rõ ràng khi nhớ rằng tổng lượng nước trên trái đất (đại dương, biển, sông, hồ và suối) vượt xa phần khô, hay đất liền, và mỗi giọt ẩm tự thân là một sự sống nhỏ bé, hoàn thành chức năng của nó và vận hành chu kỳ của nó. Những hình thức thần thoại vừa được nhắc đến chỉ là những sự sống vô số ấy được xây dựng thành một hình tướng qua đó một thiên thần tiến hoá đang tìm cách biểu lộ. |
|
The extreme interest of this subject might be expressed under certain statements which will give the student some idea of the close attention which should, and eventually will be paid to this subject of the deva lives of watery manifestation. As said above, the aggregate of these lives is greater than the aggregate of those lives which form the sum total of solid earth as we understand the term, even though they do not exceed the number of lives which form the gaseous portion of manifestation; this gaseous portion is found in the atmosphere, interpenetrating dense matter, and filling in a large degree the interior caverns of the planet. The microcosmic resemblance to the great Life of the planet is seen in the fact that both forms are but outer sheaths or frameworks, sheltering an inner “vault”; both forms are hollow, both have their negative and positive extremities, their poles, so to speak, and internally much proceeds affecting the outer evolutions. |
Mối quan tâm cực lớn của chủ đề này có thể được diễn đạt qua một số phát biểu sẽ cho đạo sinh một ý niệm nào đó về sự chú ý sát sao nên được, và cuối cùng sẽ được, dành cho chủ đề này về các sự sống thiên thần của biểu hiện nước. Như đã nói ở trên, tổng số các sự sống này lớn hơn tổng số các sự sống tạo thành toàn bộ đất rắn như chúng ta hiểu thuật ngữ đó, dù chúng không vượt quá số lượng các sự sống tạo thành phần khí của biểu hiện; phần khí này được tìm thấy trong bầu khí quyển, xuyên thấm vật chất đậm đặc, và lấp đầy ở mức độ lớn các hang động bên trong hành tinh. Sự tương đồng tiểu thiên địa với Sự sống vĩ đại của hành tinh được thấy trong sự kiện rằng cả hai hình thức chỉ là những vỏ bọc hay khung sườn bên ngoài, che chở một “vòm” bên trong; cả hai hình thức đều rỗng, cả hai đều có các cực âm và dương của chúng, các cực của chúng, có thể nói như vậy, và bên trong nhiều điều diễn ra ảnh hưởng đến các tiến hoá bên ngoài. |
|
One of the most occult of the planets, Neptune, presides over the “devas of the waters”; their presiding deva Lord, Varuna, the Raja of the astral plane, being an emanation from that planet. Students will find it of profound interest to study the close interaction therefore between: |
Một trong những hành tinh huyền bí nhất, Sao Hải Vương, chủ trì các “thiên thần của nước”; vị Chúa Tể thiên thần chủ trì của họ, Varuna, Raja của cõi cảm dục, là một phát xạ từ hành tinh đó. Vì vậy, các đạo sinh sẽ thấy vô cùng thú vị khi nghiên cứu sự tương tác chặt chẽ giữa: |
|
1. The sixth plane, the astral plane, and the sixth subplane of the physical plane, the liquid subplane. [Page 898] |
1. Cõi thứ sáu, cõi cảm dục, và cõi phụ thứ sáu của cõi hồng trần, cõi phụ lỏng. [Page 898] |
|
2. The sixth subplane of each plane in the solar system, and their relation to each other. |
2. Cõi phụ thứ sáu của mỗi cõi trong hệ mặt trời, và mối liên hệ của chúng với nhau. |
|
Herein will be found one reason why men of a relatively low type of physical body, and having an astral body with some sixth subplane matter in it are responsive to higher things and have a spiritual aspiration. The influence emanating from the sixth subplane of the buddhic plane calls out a reciprocal response from the sixth subplane matter in other bodies, and the sixth principle of buddhi under the Law of Correspondences intensifies that vibration. |
Chính trong đó có một lý do vì sao những người có loại thể xác tương đối thấp, và có thể cảm dục chứa một ít vật chất cõi phụ thứ sáu, lại đáp ứng với những điều cao hơn và có một khát vọng tinh thần. Ảnh hưởng phát ra từ cõi phụ thứ sáu của cõi Bồ đề gọi ra một sự đáp ứng tương hỗ từ vật chất cõi phụ thứ sáu trong các thể khác, và nguyên khí thứ sáu của Bồ đề dưới định luật tương ứng làm tăng cường rung động đó. |
|
The name Neptune is one under which the planetary Logos of one of the major three schemes is known upon our planet. Certain of His influences and energies affect paramountly the deva essence of this sixth subplane matter, reaching them via the Raja Lord Varuna. This knowledge is of practical value astrologically, for it will enable men to understand the nature of their own physical bodies, and above all of their astral bodies. It is an occult fact that the type of astral matter in a man’s body decides the quality of the watery substance of his physical body. There is, in occultism, no dissociating the physico-psychic natures, for the latter determines the former. The planet Neptune therefore has a profound effect and a close connection under the Law of Correspondences with the sixth, or astral plane, which is the plane of the liquid portion of the logoic physical body, with the sixth subplane of the physical plane, or with the liquid portion of the human physical body and of the planetary physical body, also with the sixth type of energy or force, or the sixth ray. |
Tên Neptune là một danh xưng mà dưới đó Hành Tinh Thượng đế của một trong ba hệ lớn được biết đến trên hành tinh chúng ta. Một số ảnh hưởng và năng lượng của Ngài tác động tối cao lên tinh chất thiên thần của vật chất cõi phụ thứ sáu này, đến với chúng qua Chúa Tể Raja Varuna. Tri thức này có giá trị thực tiễn về mặt chiêm tinh, vì nó sẽ giúp con người hiểu bản chất của chính thể xác mình, và trên hết là của thể cảm dục của mình. Đó là một sự kiện huyền bí rằng loại vật chất cảm dục trong thể của một người quyết định phẩm tính của chất liệu nước trong thể xác của y. Trong huyền bí học, không có sự tách rời giữa bản chất hồng trần-thông linh, vì cái sau quyết định cái trước. Do đó, hành tinh Neptune có một ảnh hưởng sâu xa và một mối liên hệ chặt chẽ dưới định luật tương ứng với cõi thứ sáu, hay cõi cảm dục, là cõi của phần lỏng trong thể xác của Thượng đế, với cõi phụ thứ sáu của cõi hồng trần, hay với phần lỏng của thể xác con người và của thể xác hành tinh, cũng như với loại năng lượng hay mãnh lực thứ sáu, hay cung sáu. |
|
The major scheme over which Neptune presides forms a systemic triangle of great interest for esoteric astrologers with the sixth scheme and one other. This is symbolised in the three pronged trident which the god Neptune [Page 899] is always portrayed as holding, the prongs being literally the symbolic triangles connected with each other by three lines of force. |
Hệ lớn mà Neptune chủ trì tạo thành một tam giác hệ thống rất đáng quan tâm đối với các nhà chiêm tinh học nội môn cùng với hệ thứ sáu và một hệ khác nữa. Điều này được biểu tượng hóa trong cây đinh ba mà thần Neptune [Page 899] luôn được mô tả là cầm trong tay, các mũi nhọn thực sự là những tam giác biểu tượng nối kết với nhau bằng ba đường mãnh lực. |
|
This planet has also a vital relation to the sixth logoic principle, or Buddhi, and therefore the sixth principle of man. No man begins to co-ordinate the buddhic vehicles until he comes under Neptunian influence in some life or another. When this is the case, his personality horoscope will show Neptunian influence dominating somewhere. |
Hành tinh này cũng có một mối liên hệ thiết yếu với nguyên khí thứ sáu của Thượng đế, hay Bồ đề, và do đó với nguyên khí thứ sáu của con người. Không ai bắt đầu phối hợp các vận cụ Bồ đề cho đến khi y chịu ảnh hưởng của Neptune trong một kiếp sống nào đó. Khi điều này xảy ra, lá số chiêm tinh phàm ngã của y sẽ cho thấy ảnh hưởng của Neptune chi phối ở đâu đó. |
|
The Neptunian scheme governs one of the three paths of return, and gathers to itself eventually all those Egos who attain primarily through the manipulation of the sixth type of energy usually called devotion. It is Neptunian influence likewise which presides over and makes possible the second Initiation, wherein the initiate produces results in the astral body, and wherein his astral centres are the object of the Hierophant’s attention. This particular type of energy flows through three centres: |
Hệ Neptune cai quản một trong ba con đường trở về, và cuối cùng thu hút về mình tất cả những Chân ngã đạt được chủ yếu qua sự thao tác loại năng lượng thứ sáu thường được gọi là sùng tín. Cũng chính ảnh hưởng của Neptune chủ trì và làm cho lần điểm đạo thứ hai trở nên khả hữu, trong đó điểm đạo đồ tạo ra các kết quả trong thể cảm dục, và trong đó các trung tâm cảm dục của y là đối tượng chú ý của Đấng Điểm đạo. Loại năng lượng đặc biệt này chảy qua ba trung tâm: |
|
a. That particular head centre which is linked to the heart centre. |
a. Trung tâm đầu đặc biệt được nối kết với trung tâm tim. |
|
b. The heart centre. |
b. Trung tâm tim. |
|
c. The solar plexus. |
c. Tùng thái dương. |
|
Hành tinh Neptune, cùng với Hành Tinh Thượng đế của cung sáu, kiểm soát các trung tâm cảm dục trong con người. Phát biểu này bao hàm nhiều thâm nghĩa huyền bí vĩ mô. Khi nhớ rằng mọi trung tâm—nhân loại và thiêng liêng—đều được cấu thành từ tinh chất thiên thần, mối liên hệ giữa ảnh hưởng này và các thiên thần, cùng tác động phản chiếu của chúng lên con người, sẽ lập tức trở nên rõ ràng. |
|
|
In the mystery of the sea and the secret of its occult “drying up” or absorption, will be revealed eventually the significance underlying: [Page 900] |
Trong huyền nhiệm của biển cả và bí mật của sự “khô cạn” hay hấp thụ huyền bí của nó, cuối cùng sẽ được mặc khải thâm nghĩa nằm bên dưới: [Page 900] |
|
a. The sex impulse, macrocosmically and microcosmically interpreted. |
a. Xung lực tính dục, được giải thích theo đại thiên địa và tiểu thiên địa. |
|
b. The cessation of desire. |
b. Sự chấm dứt của dục vọng. |
|
c. The direction of fire to the throat centre instead of to the generative organs. |
c. Sự hướng lửa đến trung tâm cổ họng thay vì đến các cơ quan sinh dục. |
|
d. Pralaya and obscuration. |
d. Giai kỳ qui nguyên và sự che khuất. |
|
e. The meaning of the words “There shall be no more sea” found in the Christian Bible. |
e. Ý nghĩa của những lời “Sẽ không còn biển nữa” được tìm thấy trong Kinh Thánh Cơ Đốc. |
|
When meditating upon these thoughts, students will find it well to bear in mind the fact that Neptune is one of the major or synthesising planets, that it is an “absorbing” or “abstracting” planet, and that it is connected with the process whereby eventual perfection is demonstrated. The Son is made perfect, and the cosmic incarnation is brought to a close. |
Khi tham thiền về những tư tưởng này, các đạo sinh sẽ thấy hữu ích khi ghi nhớ sự kiện rằng Neptune là một trong những hành tinh lớn hay tổng hợp, rằng nó là một hành tinh “hấp thụ” hay “trừu xuất,” và rằng nó liên hệ với tiến trình qua đó sự toàn hảo tối hậu được biểu lộ. Người Con được làm cho toàn hảo, và sự nhập thể vũ trụ được đưa đến chỗ kết thúc. |
|
There is again a very close esoteric connection between the fact lying behind the Biblical words “the Spirit of God moved upon the face of the waters,” (Bible. Gen., 1:2.) and the ordered lawful activity of the Great Mother as she performs her work of body-building under the impulse of desire. The true relation between the astral plane and the physical plane will only become apparent as students carefully bear in mind that the astral plane of the solar system is the sixth subplane of the cosmic physical plane, and constitutes the sumtotal of the liquid substance of the logoic physical body. When this is realised, the work of the deva essence takes due place; the factor of desire, or of astral motion, and its reflex action upon the physical body via the sixth subplane will become apparent, and the Great Mother will be seen actively engaged, under the influence of desire, in the work of building, nourishing, and producing that warmth and moisture which make manifestation possible. The Mother is the greatest of the devas, and closely linked [Page 901] with the devas of the waters, for moisture of some kind or another is an essential to all life. |
Lại có một mối liên hệ huyền bí rất chặt chẽ giữa sự kiện nằm sau những lời trong Kinh Thánh “Thần của Thượng đế vận hành trên mặt nước,” (Bible. Gen., 1:2.) và hoạt động có trật tự theo luật của Đại Mẫu khi Bà thực hiện công việc xây dựng thể dưới xung lực của dục vọng. Mối liên hệ thực sự giữa cõi cảm dục và cõi hồng trần sẽ chỉ trở nên rõ ràng khi các đạo sinh cẩn thận ghi nhớ rằng cõi cảm dục của hệ mặt trời là cõi phụ thứ sáu của cõi hồng trần vũ trụ, và tạo thành tổng số chất liệu lỏng của thể xác của Thượng đế. Khi điều này được chứng nghiệm, công việc của tinh chất thiên thần sẽ có vị trí thích đáng; yếu tố dục vọng, hay chuyển động cảm dục, và tác động phản chiếu của nó lên thể xác qua cõi phụ thứ sáu sẽ trở nên rõ ràng, và Đại Mẫu sẽ được thấy đang tích cực tham gia, dưới ảnh hưởng của dục vọng, vào công việc xây dựng, nuôi dưỡng, và tạo ra sự ấm áp cùng độ ẩm khiến biểu hiện trở nên khả hữu. Mẹ là vĩ đại nhất trong các thiên thần, và liên hệ chặt chẽ [Page 901] với các thiên thần của nước, vì một loại độ ẩm nào đó là điều thiết yếu cho mọi sự sống. |
|
The sixth principle, therefore, or the love aspect (the Christ principle), and the sixth plane, are connected; there is an interplay of energy between the fourth cosmic ether, or buddhic energy, and the sixth plane, or astral energy. The devas on both these planes belong essentially to groups over which Neptunian influence presides, hence the astral plane can, and eventually will, directly reflect the buddhic. |
Do đó, nguyên khí thứ sáu, hay phương diện tình thương (nguyên khí Christ), và cõi thứ sáu có liên hệ với nhau; có một sự tương tác năng lượng giữa dĩ thái vũ trụ thứ tư, hay năng lượng Bồ đề, và cõi thứ sáu, hay năng lượng cảm dục. Các thiên thần trên cả hai cõi này về bản chất thuộc về những nhóm mà ảnh hưởng của Neptune chủ trì, vì thế cõi cảm dục có thể, và cuối cùng sẽ, phản chiếu trực tiếp cõi Bồ đề. |
|
The greater building devas on the second plane of the solar system, the monadic plane or the second cosmic ether, direct the energies of the manipulating devas of the fourth cosmic ether, the buddhic plane. |
Các đấng đại kiến tạo thiên thần trên cõi thứ hai của hệ mặt trời, cõi chân thần hay dĩ thái vũ trụ thứ hai, chỉ đạo các năng lượng của các thiên thần thao tác của dĩ thái vũ trụ thứ tư, cõi Bồ đề. |
|
The manipulating devas of the fourth cosmic ether will, in due course of evolution, work out the plan in objective perfection through the medium of the living substance of the lesser devas of the liquid or astral plane. When they have done this two results will be seen: first, the astral plane will perfectly reflect the buddhic plane and, secondly, the result of that will be that the physical plane will produce the exact vehicle needed for microcosmic or macrocosmic expression through the force of water, or desire. |
Các thiên thần thao tác của dĩ thái vũ trụ thứ tư, trong tiến trình tiến hoá thích hợp, sẽ thực hiện Thiên Cơ đến mức toàn hảo khách quan qua trung gian của chất liệu sống của các thiên thần nhỏ của cõi lỏng hay cõi cảm dục. Khi họ đã làm xong điều này, sẽ thấy hai kết quả: thứ nhất, cõi cảm dục sẽ phản chiếu hoàn hảo cõi Bồ đề và, thứ hai, kết quả của điều đó sẽ là cõi hồng trần tạo ra đúng vận cụ cần thiết cho sự biểu lộ tiểu thiên địa hay đại thiên địa qua mãnh lực của nước, hay dục vọng. |
|
All this is revealed to esotericists in the symbology of the circulatory system in man. As the blood system, with its two types of channels (arteries and veins) and its two types of builders (the red and the white corpuscles), is studied from the occult standpoint, much will be ascertained of a revolutionary nature. The laws of the path of outgoing, and of the path of return, with the two groups of deva lives therein concerned, will be apprehended by man. A further hint may here be given. In the physical body of man in connection with the circulatory system, we find, in the three factors—the heart, the arteries, and the veins—the clue to the three types [Page 902] of devas, and also to the systemic triangle which they represent, and further, to the three modes of divine expression. There is a planetary as well as a systemic circulation, and it is carried on through the medium of deva substance everywhere, macrocosmically as well as microcosmically. |
Tất cả điều này được mặc khải cho các nhà bí truyền học trong biểu tượng học của hệ tuần hoàn nơi con người. Khi hệ máu, với hai loại kênh của nó (động mạch và tĩnh mạch) và hai loại đấng kiến tạo của nó (huyết cầu đỏ và huyết cầu trắng), được nghiên cứu từ quan điểm huyền bí, nhiều điều có tính cách mạng sẽ được xác định. Các định luật của con đường đi ra, và của con đường trở về, cùng với hai nhóm sự sống thiên thần liên quan trong đó, sẽ được con người lĩnh hội. Ở đây có thể đưa ra thêm một ám chỉ. Trong thể xác con người, liên hệ với hệ tuần hoàn, chúng ta thấy, trong ba yếu tố—tim, động mạch, và tĩnh mạch—đầu mối cho ba loại [Page 902] thiên thần, và cũng cho tam giác hệ thống mà chúng biểu hiện, và hơn nữa, cho ba phương thức biểu lộ thiêng liêng. Có một sự tuần hoàn hành tinh cũng như hệ thống, và nó được thực hiện qua trung gian của chất liệu thiên thần ở khắp nơi, trên bình diện đại thiên địa cũng như tiểu thiên địa. |
|
The devas of the sixth physical subplane can be divided into three groups, and these again into seven and into forty-nine, thus corresponding with all groups in the solar system. These groups (in their essential nature) respond to that “which lies above more than that which lies below,” which is only an occult way of expressing a relationship of an intimate nature between the devas of fire and the devas of water, and a negation of a close connection between the water devas and the earth. Occultly expressed, through the action of the fire devas, the water devas find liberation. |
Các thiên thần của cõi phụ hồng trần thứ sáu có thể được chia thành ba nhóm, và các nhóm này lại chia thành bảy và thành bốn mươi chín, do đó tương ứng với mọi nhóm trong hệ mặt trời. Các nhóm này (trong bản chất thiết yếu của chúng) đáp ứng với “cái nằm bên trên nhiều hơn cái nằm bên dưới,” đó chỉ là một cách diễn đạt huyền bí về một mối liên hệ mật thiết giữa các thiên thần của lửa và các thiên thần của nước, và là sự phủ nhận một mối liên hệ chặt chẽ giữa các thiên thần nước và đất. Được diễn đạt theo huyền bí học, qua hoạt động của các thiên thần lửa, các thiên thần nước tìm thấy sự giải thoát. |
|
The devas of water find for themselves the path of service in their great work of nourishing all the vegetable and animal life upon the planet; the goal for them is to enter into that higher group of devas which we call the gaseous or fire devas. These, through the action of their fire upon the waters, produce that sequence of evaporation, condensation, and eventual precipitation which—through its constant activity—nourishes all life upon the earth. Thus again can the psychic laws of love be seen at work in the deva kingdom as in the human; first, the withdrawal or segregation of the unit from the group (called individualisation in man, and evaporation in the water realm). Next, condensation, or the amalgamation of the unit with a newer or higher group, this we call condensation for the devas of the waters, and initiation in man; finally, the sacrifice of the group of human or deva atoms to the good of the whole. So does the law of service and sacrifice govern all the second aspect divine in all its departments great [Page 903] or small. Such is the law. But in the human kingdom, though love is the fulfilling of the law, it is arrived at along the path of pain and sorrow, and every true lover and server of humanity is stretched upon the cross until for them the sixth principle dominates, and the sixth type of matter in their bodies is completely subjected to the higher energy. (282) In the case of the devas, love is the fulfilling of the law without pain or sorrow. It is for them the line of least resistance, for they are the mother aspect, the feminine side of manifestation, and the easy path for them is to give, to nourish, and to tend. Therefore, the devas of the waters pour themselves out in service to the vegetable and animal kingdoms, and in the transmutative fires all that holds them on the sixth subplane will eventually be overcome, and through occult “distillation and evaporation” these devas will eventually form part of the gaseous fiery group and become those fires which are the basis of the divine alchemy. |
Các thiên thần nước tìm thấy cho mình con đường phụng sự trong công việc lớn lao là nuôi dưỡng toàn bộ sự sống thực vật và động vật trên hành tinh; mục tiêu của họ là đi vào nhóm thiên thần cao hơn mà chúng ta gọi là các thiên thần khí hay thiên thần lửa. Những vị này, qua tác động của lửa của họ lên nước, tạo ra chuỗi bốc hơi, ngưng tụ, và cuối cùng là ngưng tụ thành giọt, mà—qua hoạt động liên tục của nó—nuôi dưỡng toàn bộ sự sống trên trái đất. Như vậy, một lần nữa có thể thấy các định luật thông linh của tình thương đang hoạt động trong giới thiên thần cũng như trong giới nhân loại; trước hết, sự rút lui hay tách riêng của đơn vị ra khỏi nhóm (được gọi là biệt ngã hóa nơi con người, và là bốc hơi trong giới nước). Kế đó, sự ngưng tụ, hay sự hòa nhập của đơn vị với một nhóm mới hơn hay cao hơn, điều này chúng ta gọi là ngưng tụ đối với các thiên thần của nước, và là điểm đạo nơi con người; cuối cùng, sự hi sinh của nhóm các nguyên tử người hay thiên thần cho thiện ích của toàn thể. Như thế định luật phụng sự và hi sinh cai quản toàn bộ phương diện thiêng liêng thứ hai trong mọi bộ phận lớn [Page 903] hay nhỏ. Đó là định luật. Nhưng trong giới nhân loại, dù tình thương là sự hoàn tất của định luật, nó đạt được dọc theo con đường đau đớn và buồn khổ, và mọi người thực sự yêu thương và phụng sự nhân loại đều bị căng trên thập giá cho đến khi đối với họ nguyên khí thứ sáu chi phối, và loại vật chất thứ sáu trong các thể của họ hoàn toàn bị chế ngự bởi năng lượng cao hơn. (282) Trong trường hợp của các thiên thần, tình thương là sự hoàn tất của định luật mà không có đau đớn hay buồn khổ. Đối với họ, đó là con đường ít trở ngại nhất, vì họ là phương diện mẹ, mặt nữ tính của biểu hiện, và con đường dễ dàng đối với họ là cho đi, nuôi dưỡng, và chăm sóc. Do đó, các thiên thần của nước tuôn đổ chính mình ra trong sự phụng sự đối với giới thực vật và giới động vật, và trong những ngọn lửa chuyển hoá, mọi điều giữ họ lại trên cõi phụ thứ sáu cuối cùng sẽ được vượt qua, và qua sự “chưng cất và bốc hơi” huyền bí, các thiên thần này cuối cùng sẽ tạo thành một phần của nhóm khí lửa và trở thành những ngọn lửa là nền tảng của thuật luyện kim thiêng liêng. |
|
Speaking generally, it must be remembered that the earth devas of densest matter become, in the course of evolution, the devas of the waters, and find their way eventually on to the astral plane, the cosmic liquid; the devas of the waters of the physical plane find their way, through service, on to the gaseous subplane, and then to the cosmic gaseous, becoming the devas of the mental plane. This literally and occultly constitutes the transmutation of desire into thought. |
Nói chung, phải nhớ rằng các thiên thần đất của vật chất đậm đặc nhất, trong tiến trình tiến hoá, trở thành các thiên thần của nước, và cuối cùng tìm đường lên cõi cảm dục, chất lỏng vũ trụ; các thiên thần của nước của cõi hồng trần tìm đường, qua phụng sự, lên cõi phụ khí, rồi đến cõi khí vũ trụ, trở thành các thiên thần của cõi trí. Điều này theo nghĩa đen và theo huyền bí học tạo thành sự chuyển hoá dục vọng thành tư tưởng. |
|
The gaseous devas become eventually the devas of the fourth ether, and from thence in long aeons, find their way to the cosmic fourth ether, the buddhic plane. These three groups are therefore cosmically connected with: [Page 904] |
Các thiên thần khí cuối cùng trở thành các thiên thần của dĩ thái thứ tư, và từ đó trong những đại kiếp dài lâu, tìm đường đến dĩ thái vũ trụ thứ tư, cõi Bồ đề. Do đó, ba nhóm này có liên hệ vũ trụ với: [Page 904] |
|
1. The cosmic astral plane and the constellation whence emotional and desire energy originates. |
1. Cõi cảm dục vũ trụ và chòm sao từ đó năng lượng cảm xúc và dục vọng phát sinh. |
|
2. The cosmic mental plane, and therefore with the constellation Sirius. |
2. Cõi trí vũ trụ, và do đó với chòm sao Sirius. |
|
3. The cosmic buddhic plane, and the constellation of the Pleiades. |
3. Cõi Bồ đề vũ trụ, và chòm sao Pleiades. |
|
Thus can the whole process be worked out, if man carefully studies his own nature, and the law of analogy. |
Như vậy toàn bộ tiến trình có thể được triển khai, nếu con người cẩn thận nghiên cứu bản chất của chính mình, và định luật tương đồng. |
|
The Devas of the Gaseous Subplane. In dealing with the elementals, or lesser devas, under the manipulatory devas of this extensive group, we are dealing with the devas of fire, and with the fiery essences of substantial nature which can be seen manifesting in myriads of forms. Certain of the subdivisions of this group are known to students, such as: |
Các thiên thần của cõi phụ khí. Khi bàn đến các hành khí, hay các thiên thần nhỏ, dưới quyền các thiên thần thao tác của nhóm rộng lớn này, chúng ta đang bàn đến các thiên thần của lửa, và các tinh chất lửa có bản chất chất liệu có thể được thấy biểu hiện trong vô số hình thức. Một số phân nhóm của nhóm này đã được các đạo sinh biết đến, chẳng hạn như: |
|
The Salamanders, or the fiery lives which can be seen by clairvoyants leaping in the flames of a furnace or of a volcano; this group can be subdivided into four groups according to color—red, orange, yellow, and violet—the last of which approximate very closely to the devas of the fourth ether. |
Các Salamander, hay những sự sống lửa mà các nhà thông nhãn có thể thấy đang nhảy múa trong ngọn lửa của lò nung hay núi lửa; nhóm này có thể được chia thành bốn nhóm theo màu sắc—đỏ, cam, vàng, và tím—trong đó nhóm cuối cùng rất gần với các thiên thần của dĩ thái thứ tư. |
|
The Agnichaitans; this is a term applied to the fiery lives, which are the sumtotal of the plane substance, as seen in the first part of our treatise, and also to the tiny essences which compose the fires of manifestation. As the nature of physical plane electricity is understood and studied, and its true condition realised, the reality of the existence of these agnichaitans will stand revealed. |
Các Agnichaitan; đây là một thuật ngữ được áp dụng cho những sự sống lửa, là tổng số chất liệu cõi, như đã thấy trong phần đầu của luận thuyết chúng ta, và cũng cho những tinh chất nhỏ bé cấu thành các ngọn lửa của biểu hiện. Khi bản chất của điện lực cõi hồng trần được thấu hiểu và nghiên cứu, và tình trạng thực sự của nó được chứng nghiệm, thực tại về sự tồn tại của các agnichaitan này sẽ được mặc khải. |
|
As the race becomes clairvoyant, as it surely will in a great degree before the close of this rootrace, these gaseous devas will stand revealed, and men will realise that they are working with fiery lives, and that they are themselves closely allied to these lives through the fires of their own bodies. The clairvoyance which is in process [Page 905] of developing in this rootrace is entirely physical, and, under the law, its development is to be anticipated, for the Aryan rootrace is that one wherein man—in this fourth round—comes to full self-consciousness. This involves complete physical vision, and the use in perfection of the three physical plane senses of hearing, touch, and sight. In the next rootrace, astral clairvoyance will be prevalent, though not universal, and thus contact with the buddhic plane will be more easily achieved. In the earlier rootraces of the next round, the fifth, there will be a recapitulation of the activities of this round, until, in the fifth rootrace, the sumtotal of that achieved in this round will be seen. Men will then begin to demonstrate mental clairvoyance. Thus the cycles mingle and overlap, in order that no unit of life, however small and unimportant, may fail in opportunity. |
Khi nhân loại trở nên thông nhãn, như chắc chắn sẽ xảy ra ở mức độ lớn trước khi kết thúc giống dân gốc này, các thiên thần khí này sẽ được mặc khải, và con người sẽ nhận ra rằng họ đang làm việc với những sự sống lửa, và rằng chính họ cũng liên hệ chặt chẽ với những sự sống này qua các ngọn lửa trong chính các thể của mình. Thông nhãn đang trong tiến trình [Page 905] phát triển trong giống dân gốc này hoàn toàn là hồng trần, và theo định luật, sự phát triển của nó là điều có thể được dự kiến, vì giống dân gốc Arya là giống dân trong đó con người—trong cuộc tuần hoàn thứ tư này—đạt đến ngã thức trọn vẹn. Điều này bao hàm linh thị hồng trần hoàn chỉnh, và việc sử dụng hoàn hảo ba giác quan của cõi hồng trần là thính giác, xúc giác, và thị giác. Trong giống dân gốc kế tiếp, thông nhãn cảm dục sẽ phổ biến, dù không phải là phổ quát, và như vậy sự tiếp xúc với cõi Bồ đề sẽ đạt được dễ dàng hơn. Trong các giống dân gốc đầu tiên của cuộc tuần hoàn kế tiếp, cuộc tuần hoàn thứ năm, sẽ có một sự lặp lại các hoạt động của cuộc tuần hoàn này, cho đến khi, trong giống dân gốc thứ năm, tổng số những gì đạt được trong cuộc tuần hoàn này sẽ được thấy. Khi đó con người sẽ bắt đầu biểu lộ thông nhãn trí tuệ. Như vậy các chu kỳ hòa lẫn và chồng lấp lên nhau, để không một đơn vị sự sống nào, dù nhỏ bé và không quan trọng đến đâu, bị thiếu cơ hội. |
|
These agnichaitans of the third subplane come particularly under the influence of Saturnian energy. They are the great fusers of substance, and it is in connection with them that the transmutation of metals becomes possible. They have a relationship to the mineral kingdom analogous to that which the watery devas have to the vegetable and animal. They are, as will be apparent, connected with the throat centre of a planetary Logos and of a solar Logos, and it is through their activity that the transmission of sound through the air becomes possible. It might surprise students and inventors could they but realise that the present rapid growth of wireless communication everywhere is due to the swinging into contact with the human vibration of a group of fiery deva lives hitherto uncontacted. |
Các agnichaitan của cõi phụ thứ ba đặc biệt nằm dưới ảnh hưởng của năng lượng Sao Thổ. Chúng là những đấng dung hợp lớn của chất liệu, và chính liên hệ với chúng mà sự chuyển hoá kim loại trở nên khả hữu. Chúng có một mối liên hệ với giới kim thạch tương tự như mối liên hệ mà các thiên thần nước có với giới thực vật và giới động vật. Như sẽ rõ ràng, chúng liên hệ với trung tâm cổ họng của một Hành Tinh Thượng đế và của một Thái dương Thượng đế, và chính nhờ hoạt động của chúng mà sự truyền âm thanh qua không khí trở nên khả hữu. Các đạo sinh và các nhà phát minh có thể sẽ ngạc nhiên nếu họ có thể nhận ra rằng sự phát triển nhanh chóng hiện nay của truyền thông vô tuyến ở khắp nơi là do một nhóm sự sống thiên thần lửa từ trước đến nay chưa được tiếp xúc đang dao động để tiếp xúc với rung động của con người. |
|
Just as each plane has its seven subplanes, so likewise each subplane can be subdivided, thus making forty-nine fires on every plane, or the three hundred and forty-three fires of the solar system. Herein can be found the clue to the mystery of the “fourth between the three” [Page 906] which has at times bewildered students of the occult records. There are several ways of reading these figures, 3 4 3, but the only occult method which can be hinted at here, lies in the recognition of the three higher planes, the three lower planes, the fourth plane of meeting between them. This fourth plane has occultly been called “the meeting place.” When it is remembered that the goal for these gaseous devas is the fourth cosmic ether, or the buddhic plane and that they (in their major and minor groups) are the internal macrocosmic and microcosmic fires, some idea may be gained as to the true significance of the eventual at-one-ment between the two lines of evolution for the goal for man likewise is the buddhic plane. |
Cũng như mỗi cõi có bảy cõi phụ của nó, thì mỗi cõi phụ cũng có thể được phân chia, do đó tạo thành bốn mươi chín ngọn lửa trên mỗi cõi, hay ba trăm bốn mươi ba ngọn lửa của hệ mặt trời. Chính trong đó có thể tìm thấy đầu mối cho huyền nhiệm của “thứ tư ở giữa ba” [Page 906] điều đôi khi đã làm bối rối các đạo sinh của các biên niên huyền bí. Có nhiều cách đọc các con số này, 3 4 3, nhưng phương pháp huyền bí duy nhất có thể được ám chỉ ở đây nằm trong sự nhận biết ba cõi cao, ba cõi thấp, và cõi thứ tư là nơi gặp gỡ giữa chúng. Cõi thứ tư này theo huyền bí học đã được gọi là “nơi gặp gỡ.” Khi nhớ rằng mục tiêu của các thiên thần khí này là dĩ thái vũ trụ thứ tư, hay cõi Bồ đề, và rằng họ (trong các nhóm lớn và nhỏ của mình) là những ngọn lửa bên trong của đại thiên địa và tiểu thiên địa, có thể có được một ý niệm nào đó về thâm nghĩa thực sự của sự hợp nhất tối hậu giữa hai đường tiến hoá vì mục tiêu của con người cũng là cõi Bồ đề. |
|
On the third subplane, therefore, in its fifth division of deva essences, certain groups are now being contacted in this, the fifth rootrace; the result of this contact can be seen in the stimulation of responsive vibration, which is demonstrated already in the discovery of wireless intercourse and of radium. |
Do đó, trên cõi phụ thứ ba, trong phân bộ thứ năm của các tinh chất thiên thần, hiện nay một số nhóm đang được tiếp xúc trong giống dân gốc thứ năm này; kết quả của sự tiếp xúc này có thể được thấy trong sự kích thích rung động đáp ứng, vốn đã được biểu lộ trong việc khám phá giao tiếp vô tuyến và radium. |
|
There will also be seen a paralleling increased vibration of the human spirillae which will result, before the end of the round, in the awakening to full activity of the fifth spirilla of the human physical permanent atom. |
Cũng sẽ thấy một sự gia tăng rung động song hành của các loa tuyến con người, điều sẽ dẫn đến, trước khi kết thúc cuộc tuần hoàn, sự thức tỉnh vào hoạt động trọn vẹn của loa tuyến thứ năm của nguyên tử trường tồn hồng trần của con người. |
|
Hence the work of the Mahachohan at this time in connection with seventh ray (which is temporarily acting as the synthesis of the five types of energy over which He presides), might be summed up as follows: |
Do đó, công việc của Đức Mahachohan vào lúc này liên hệ với cung bảy (tạm thời đang hoạt động như sự tổng hợp của năm loại năng lượng mà Ngài chủ trì) có thể được tóm lược như sau: |
|
First, He is utilising the seventh type of energy in order to further the recognition by the human unit of the subtler substance of the physical plane. This seventh ray is a primary factor in the production of objectivity. The energy of the planetary Logos of the seventh scheme dominates the seventh plane; it is the ray whereon deva substance and Spirit can meet and adapt [Page 907] themselves to each other with greater facility than on any other ray except the third. |
Thứ nhất, Ngài đang sử dụng loại năng lượng thứ bảy để thúc đẩy sự nhận biết của đơn vị nhân loại về chất liệu vi tế hơn của cõi hồng trần. Cung bảy này là một yếu tố chủ yếu trong việc tạo ra tính khách quan. Năng lượng của Hành Tinh Thượng đế của hệ thứ bảy chi phối cõi thứ bảy; đó là cung mà trên đó chất liệu thiên thần và tinh thần có thể gặp nhau và thích ứng [Page 907] với nhau dễ dàng hơn trên bất kỳ cung nào khác ngoại trừ cung ba. |
|
Man, at present, is fully conscious, through some one or other of his senses, on the three lower subplanes; it is intended that he shall be equally conscious on the four higher. This has to be brought about by the stimulation of the deva substance which composes his bodies. This will be accomplished through the dynamic will of the transmitting devas as they energise the manipulatory devas, and thus affect the myriads of lesser lives which compose man’s body, and also by an increased responsiveness of the indwelling man or thinker to the contact made upon his body. This increased awareness will be brought about by the arousing of the fifth spirilla, by the unfolding of the fifth petal in the egoic lotus, and by the gradual opening of the third eye through the arousing and uniform activity of five factors: the centre at the base of the spine, the three channels in the spinal column, and the pineal gland. |
Hiện nay, con người hoàn toàn hữu thức, qua giác quan này hay giác quan khác của mình, trên ba cõi phụ thấp; dự định là y sẽ hữu thức tương đương trên bốn cõi cao hơn. Điều này phải được thực hiện bằng sự kích thích chất liệu thiên thần cấu thành các thể của y. Điều này sẽ được hoàn thành qua ý chí năng động của các thiên thần truyền dẫn khi họ tiếp năng lượng cho các thiên thần thao tác, và như thế ảnh hưởng đến vô số sự sống nhỏ hơn cấu thành thể của con người, và cũng bằng sự đáp ứng gia tăng của con người nội tại hay thức giả đối với sự tiếp xúc được tạo ra trên thể của y. Sự nhận biết gia tăng này sẽ được mang lại bởi sự khơi dậy loa tuyến thứ năm, bởi sự khai mở cánh hoa thứ năm trong Hoa Sen Chân Ngã, và bởi sự mở dần dần của con mắt thứ ba qua sự khơi dậy và hoạt động đồng đều của năm yếu tố: trung tâm ở đáy cột sống, ba đường dẫn trong cột sống, và tuyến tùng. |
|
All these factors involve the activity of deva essence, plus the resultant awareness of the thinker. This will be followed by the conscious use of the newly-awakened powers. In this manner the close interrelation and interdependence of the two lines of evolution becomes magnificently apparent. |
Tất cả những yếu tố này bao hàm hoạt động của tinh chất thiên thần, cộng với sự nhận biết kết quả của thức giả. Tiếp theo đó sẽ là việc sử dụng có ý thức các quyền năng mới được đánh thức. Theo cách này, mối tương liên và tương thuộc chặt chẽ của hai đường tiến hoá trở nên hiển nhiên một cách huy hoàng. |
|
Second, the Mahachohan is working specifically at this time (in co-operation with the Manu), with the devas of the gaseous subplane; this is in connection with the destroying work they are to effect by the end of this rootrace, in order to liberate Spirit from constricting forms. Volcanic action therefore may be looked for, demonstrating in unexpected localities, as well as within the sphere of the present earthquake and volcanic zones. Serious disturbance may be looked for in California before the end of the century, and in Alaska likewise. |
Thứ hai, Đức Mahachohan hiện đang làm việc một cách đặc thù (hợp tác với Đức Manu) với các thiên thần của cõi phụ khí; điều này liên hệ đến công việc hủy diệt mà họ sẽ thực hiện vào cuối giống dân gốc này, nhằm giải thoát tinh thần khỏi những hình tướng gò bó. Do đó, có thể chờ đợi hoạt động núi lửa, biểu lộ ở những địa phương bất ngờ, cũng như bên trong phạm vi của các vùng động đất và núi lửa hiện nay. Có thể chờ đợi những xáo trộn nghiêm trọng ở California trước khi thế kỷ kết thúc, và cả ở Alaska nữa. |
|
The work of the Mahachohan can also be seen in the [Page 908] effect that the devas of the kundalini fire are producing upon man. These are a peculiar group of Agnichaitans who have reached a stage of evolution which permits of their being separated off from their group into a group connected with a certain fire in man’s bodies. This fire owing to its present activity, and the direction of that activity, is responsible for the reaction against physical marriage, and for the desire evinced by highly evolved men everywhere to evade the marriage relation, and confine themselves to creation upon the mental or astral planes. This is due to the present inclination of the manipulatory devas of the lower generative organs to seek the throat centre, and to function there, utilising the strength of the kundalini fire to bring this about. All this is under the law of evolution, but in the interim between cause and justified effect much harm, evasion of the law, and consequent suffering can be seen. Owing, therefore, to the violent reaction at this time against the safeguarding laws of civilisation, it has been decided that the nature and functions of the devas must be somewhat revealed to man, and that their place in the scheme of things, and man’s close connection and dependence upon them, must be given out. (283) At the same time, the means whereby they can be contacted, and the words whereby they can be controlled, will be withheld. |
Công việc của Đức Mahachohan cũng có thể được thấy trong [Page 908] tác động mà các thiên thần của lửa kundalini đang tạo ra nơi con người. Đây là một nhóm Agnichaitan đặc biệt đã đạt đến một giai đoạn tiến hoá cho phép họ được tách ra khỏi nhóm của mình để thành một nhóm liên kết với một loại lửa nào đó trong các thể của con người. Lửa này, do hoạt động hiện nay của nó và do chiều hướng của hoạt động ấy, chịu trách nhiệm cho phản ứng chống lại hôn nhân thể xác, và cho ước muốn được biểu lộ bởi những người tiến hoá cao ở khắp nơi là né tránh quan hệ hôn nhân, và chỉ giới hạn mình trong sự sáng tạo trên cõi trí hay cõi cảm dục. Điều này là do khuynh hướng hiện nay của các thiên thần thao tác của các cơ quan sinh dục thấp muốn tìm đến trung tâm cổ họng, và hoạt động tại đó, sử dụng sức mạnh của lửa kundalini để thực hiện điều này. Tất cả điều này đều ở dưới định luật tiến hoá, nhưng trong khoảng trung gian giữa nguyên nhân và kết quả chính đáng, có thể thấy nhiều tổn hại, sự né tránh định luật, và nỗi đau khổ kéo theo. Vì vậy, do phản ứng dữ dội vào lúc này chống lại các định luật bảo vệ của nền văn minh, nên đã có quyết định rằng bản chất và chức năng của các thiên thần phải được phần nào tiết lộ cho con người, và vị trí của họ trong mô hình sự vật, cùng mối liên hệ mật thiết và sự lệ thuộc của con người vào họ, phải được công bố. (283) Đồng thời, các phương tiện nhờ đó họ có thể được tiếp xúc, và những lời nhờ đó họ có thể bị kiểm soát, sẽ bị giữ kín. |
|
(283) Nếu con người có thể được đưa đến chỗ chứng nghiệm bản chất của chính hữu thể mình và cấu tạo của mình, và có thể được dẫn dắt để hiểu được cơ sở hợp lý của những gì có thể thấy đang xảy ra, và nếu các nhà tư tưởng của nhân loại có thể được chỉ cho thấy những nguy cơ gắn liền với các diễn biến hiện nay trong tiến hoá thiên thần, thì nhiều hiểm họa có thể được ngăn tránh. Do đó có quyết định mở rộng phạm vi của quyển sách này để bao gồm thông tin chi tiết hơn về tiến hoá thiên thần. (back) |
|
|
Laxness in the marriage relation, due to this particular cause, is only seen amongst the highly evolved and amongst the independent thinkers of the race. Similar laxness amongst the masses, and the low types of humanity, is based upon a different reason, and their promiscuity is due to certain developments of the animal nature in its lowest manifestation. These two causes [Page 909] will bear consideration by those who have the present needs of civilisation at heart. They can then co-operate with the Mahachohan in the work of effecting the very necessary transfer of force from a lower to a higher centre, and prevent (through knowledge), the incidental license. This will bring about a refusal to besmirch the great love or sex impulse of nature. |
Sự lỏng lẻo trong quan hệ hôn nhân, do nguyên nhân đặc biệt này, chỉ thấy nơi những người tiến hoá cao và nơi các nhà tư tưởng độc lập của nhân loại. Sự lỏng lẻo tương tự nơi quần chúng và các hạng người thấp của nhân loại lại dựa trên một nguyên nhân khác, và sự bừa bãi của họ là do những phát triển nào đó của bản chất thú tính trong biểu hiện thấp nhất của nó. Hai nguyên nhân này [Page 909] đáng được những ai quan tâm đến các nhu cầu hiện nay của nền văn minh suy xét. Khi đó họ có thể hợp tác với Đức Mahachohan trong công việc thực hiện sự chuyển dịch mãnh lực rất cần thiết từ một trung tâm thấp lên một trung tâm cao hơn, và ngăn ngừa (nhờ tri thức) sự phóng túng ngẫu phát. Điều này sẽ đưa đến sự từ chối làm hoen ố xung lực vĩ đại của tình yêu hay giới tính trong bản chất. |
|
The ceremonial ray has been often called “the marriage ritual of the Son,” because upon this ray Spirit and matter can meet and have union. This fact also should be borne in mind during the next one hundred years, for they will see great changes in the marriage laws. The present laxity will inevitably bring a reaction, and the laws will become more stringent, in order to safeguard the race during a transition period. These laws will not be along the line of making escape from the marriage relation more difficult, but will take effect at the other end, so to speak; the rising generation will be properly taught and guarded, and indiscriminate, hasty marriage will not be permitted, nor will juveniles be allowed rashly to enter into the marriage obligation. There is no need to enlarge further upon this, for in working out their own problems men learn, and all that those upon the inner side are permitted to do is to give a hint or an indication. |
Cung nghi lễ thường được gọi là “nghi thức hôn phối của Thánh Tử”, bởi vì trên cung này tinh thần và vật chất có thể gặp nhau và kết hợp. Sự kiện này cũng cần được ghi nhớ trong một trăm năm tới, vì chúng sẽ chứng kiến những thay đổi lớn trong các luật lệ hôn nhân. Sự lỏng lẻo hiện nay tất yếu sẽ đưa đến một phản ứng, và các luật lệ sẽ trở nên nghiêm ngặt hơn để bảo vệ nhân loại trong một thời kỳ chuyển tiếp. Những luật này sẽ không theo hướng làm cho việc thoát khỏi quan hệ hôn nhân trở nên khó khăn hơn, mà sẽ có hiệu lực ở đầu kia, có thể nói như vậy; thế hệ đang lớn lên sẽ được giáo dục và bảo vệ đúng đắn, và hôn nhân bừa bãi, vội vã sẽ không được cho phép, cũng như người trẻ sẽ không được phép hấp tấp bước vào nghĩa vụ hôn nhân. Không cần phải nói thêm về điều này, vì trong khi tự giải quyết các vấn đề của mình, con người học hỏi, và tất cả những gì những người ở phía bên trong được phép làm chỉ là đưa ra một gợi ý hay một chỉ dấu. |
|
Another angle of the Mahachohan’s work at this time is connected with sound, and therefore with the particular devas whom we are considering. Through the mismanagement of men, and their unbalanced development, the sounds of earth, such as those of the great cities, of the manufactories, and of the implements of war, have brought about a very serious condition among the gaseous devas. This has to be offset in some way and the future efforts of civilisation will be directed towards the spreading of a revolt against the evils of congested living and to the dissemination of an impulse of a widespread [Page 910] nature to seek the country and wide spaces. One of the main interests in the future will be a tendency towards the elimination of noise, owing to the increased sensitiveness of the race. When the energy of water and of the atom is harnessed for the use of man, our present types of factories, our methods of navigation and of transportation, such as steamers and railway apparatus, will be entirely revolutionised. This will have a potent effect not only on man but on the devas. |
Một phương diện khác trong công việc của Đức Mahachohan vào lúc này có liên hệ với xướng, và do đó với những thiên thần đặc biệt mà chúng ta đang xét đến. Do sự quản lý sai lầm của con người, và sự phát triển mất quân bình của họ, những âm thanh của trái đất, như âm thanh của các thành phố lớn, của các nhà máy, và của các công cụ chiến tranh, đã gây ra một tình trạng rất nghiêm trọng nơi các thiên thần thể khí. Điều này phải được hóa giải bằng một cách nào đó, và những nỗ lực tương lai của nền văn minh sẽ được hướng đến việc lan rộng một cuộc phản kháng chống lại các tai hại của đời sống chen chúc và đến việc phổ biến một xung lực có tính chất [Page 910] rộng khắp nhằm tìm đến miền quê và những không gian rộng lớn. Một trong những mối quan tâm chính trong tương lai sẽ là xu hướng loại bỏ tiếng ồn, do sự nhạy cảm ngày càng tăng của nhân loại. Khi năng lượng của nước và của nguyên tử được khai thác để con người sử dụng, các loại nhà máy hiện nay của chúng ta, các phương pháp hàng hải và vận chuyển của chúng ta, như tàu hơi nước và thiết bị đường sắt, sẽ được cách mạng hóa hoàn toàn. Điều này sẽ có một tác động mạnh mẽ không chỉ lên con người mà còn lên các thiên thần. |
|
c. The Elementals of the Ethers. |
c. Các hành khí của các cõi dĩ thái. |
|
We will consider now the etheric levels of the physical plane or the four highest subplanes of the physical plane. These etheric levels are but gradations of physical plane matter of a rarer and more refined kind, but physical nevertheless. They are termed in most textbooks: |
Giờ đây chúng ta sẽ xét các cấp độ dĩ thái của cõi hồng trần hay bốn cõi phụ cao nhất của cõi hồng trần. Các cấp độ dĩ thái này chỉ là những cấp bậc của vật chất cõi hồng trần thuộc loại thưa hơn và tinh luyện hơn, nhưng dù sao vẫn là hồng trần. Trong phần lớn các giáo trình, chúng được gọi là: |
|
1. The first ether, or atomic matter. |
1. Dĩ thái thứ nhất, hay vật chất nguyên tử. |
|
2. The second ether, or sub-atomic matter. |
2. Dĩ thái thứ hai, hay vật chất hạ nguyên tử. |
|
3. The third ether, or super-etheric matter. |
3. Dĩ thái thứ ba, hay vật chất siêu dĩ thái. |
|
4. The fourth ether, or simply etheric matter. |
4. Dĩ thái thứ tư, hay đơn giản là vật chất dĩ thái. |
|
The fourth ether is the only one as yet recognised by scientists, and is the subject of their present investigations, little though they may realise it. |
Dĩ thái thứ tư là loại duy nhất cho đến nay được các nhà khoa học công nhận, và là đối tượng của các cuộc khảo cứu hiện nay của họ, dù họ ít nhận ra điều đó. |
|
On the atomic subplane are the permanent physical atoms of all humanity and the appropriated atoms of the deva kingdom. The devas do not develop as do the human race. They reincarnate in groups, and not as individuals, though each group is composed of units, and has nothing of the nature of the involutionary group soul. The group soul on the involutionary path and that upon the evolutionary are unlike; one is passing on to differentiation and is composed of entities animated by one general life; the other has differentiated, and each entity is a separate unit of the one life, complete in itself, yet one with the whole. |
Trên cõi phụ nguyên tử có các nguyên tử hồng trần trường tồn của toàn thể nhân loại và các nguyên tử được chiếm dụng của giới thiên thần. Các thiên thần không phát triển như nhân loại. Họ tái sinh theo nhóm chứ không như các cá nhân, mặc dù mỗi nhóm được cấu thành bởi các đơn vị, và không có gì thuộc bản chất của hồn nhóm giáng hạ tiến hoá. Hồn nhóm trên con đường giáng hạ tiến hoá và hồn nhóm trên con đường tiến hoá là không giống nhau; một bên đang tiến đến sự biến phân và được cấu thành bởi các thực thể được linh hoạt bởi một sự sống tổng quát duy nhất; bên kia đã biến phân, và mỗi thực thể là một đơn vị riêng biệt của một sự sống duy nhất, hoàn chỉnh trong chính nó, nhưng vẫn là một với toàn thể. |
|
[Page 911] There are many types of life to be contacted on the four etheric levels, but we can only concern ourselves at present with the deva life, remembering that the deva evolution is of equal importance to that of the human. These devas are many in number, are of involutionary and evolutionary nature, and of all grades and types. Ruling over them on the physical plane is the great deva Kshiti. He is a deva of rank and power equal to a Chohan of a Ray; He presides over everything outside the human kingdom upon the physical plane, and He has for His council the four subordinate deva lords of the four etheric levels. He, with these subordinate devas, presides over a subsidiary council of seven devas who handle all that concerns the deva evolution, and the work of the greater and the lesser builders. |
[Page 911] Có nhiều loại sự sống để tiếp xúc trên bốn cấp độ dĩ thái, nhưng hiện nay chúng ta chỉ có thể quan tâm đến sự sống thiên thần, đồng thời ghi nhớ rằng tiến hoá thiên thần quan trọng ngang với tiến hoá của con người. Các thiên thần này rất đông đảo, có bản chất giáng hạ tiến hoá và tiến hoá, và thuộc mọi cấp bậc và loại hình. Cai quản họ trên cõi hồng trần là đại thiên thần Kshiti. Ngài là một thiên thần có cấp bậc và quyền năng ngang với một Chohan của một Cung; Ngài chủ trì mọi sự bên ngoài giới nhân loại trên cõi hồng trần, và có bốn chúa tể thiên thần phụ thuộc của bốn cấp độ dĩ thái làm hội đồng của Ngài. Ngài, cùng với các thiên thần phụ thuộc này, chủ trì một hội đồng phụ gồm bảy thiên thần xử lý mọi điều liên quan đến tiến hoá thiên thần, và công việc của các đấng đại kiến tạo và các vị tiểu kiến tạo. |
|
The deva Ruler of the fourth, or lowest ether, has delegated a member of His council to meet with certain of the Masters at this time for two specific purposes, first, to see whether the approximation of the two lines of evolution, human and deva, might be now tentatively permitted, and, secondly, to reveal some of the methods of healing and the causes of physical disability which are inherent in the etheric double. |
Vị thiên thần cai quản dĩ thái thứ tư, hay dĩ thái thấp nhất, đã ủy nhiệm một thành viên trong hội đồng của Ngài gặp gỡ một số Chân sư vào lúc này vì hai mục đích cụ thể: thứ nhất, để xem liệu sự xích lại gần nhau của hai đường tiến hoá, con người và thiên thần, giờ đây có thể được tạm thời cho phép hay không; và thứ hai, để tiết lộ một số phương pháp trị liệu và các nguyên nhân của sự bất toàn thể xác vốn cố hữu trong bản sao dĩ thái. |
|
Devas of all kinds and colours are found on the physical etheric levels, but the prevailing hue is violet, hence the term so often employed, the “devas of the shadows.” With the coming in of the ceremonial ray of violet, we have the amplification therefore of the violet vibration, always inherent on these levels, and the great opportunity therefore for contact between the two kingdoms. It is in the development of etheric vision (which is a capacity of the physical human eye) and not in clairvoyance that this mutual apprehension will become possible. With the coming in likewise of this ray will arrive those who belong thereon, with a natural gift of seeing etherically. Children will frequently be born who will [Page 912] see etherically as easily as the average human being sees physically; as conditions of harmony gradually evolve out of the present world chaos, devas and human beings will meet as friends. |
Các thiên thần thuộc mọi loại và mọi màu sắc đều được tìm thấy trên các cấp độ dĩ thái hồng trần, nhưng sắc thái chủ đạo là tím, do đó có thuật ngữ thường được dùng là “các thiên thần của bóng tối”. Với sự xuất hiện của cung nghi lễ màu tím, vì vậy chúng ta có sự khuếch đại rung động tím vốn luôn tiềm tàng trên các cấp độ này, và do đó có cơ hội lớn cho sự tiếp xúc giữa hai giới. Chính trong sự phát triển linh thị dĩ thái (vốn là một năng lực của mắt hồng trần con người) chứ không phải trong thông nhãn mà sự nhận biết lẫn nhau này sẽ trở nên khả hữu. Cùng với sự xuất hiện của cung này cũng sẽ đến những người thuộc cung ấy, với thiên phú tự nhiên là nhìn thấy dĩ thái. Trẻ em sẽ thường được sinh ra có thể [Page 912] nhìn thấy dĩ thái dễ dàng như con người trung bình nhìn thấy hồng trần; khi các điều kiện hài hòa dần dần tiến hoá ra khỏi tình trạng hỗn loạn hiện nay của thế giới, các thiên thần và con người sẽ gặp nhau như những người bạn. |
|
As the two planes, astral and physical, merge and blend, and continuity of consciousness is experienced upon the two, it will be difficult for human beings to differentiate at first between devas of the astral plane, and those of the physical. At the beginning of this period of recognition, men will principally contact the violet devas, for those of the higher ranks amongst them are definitely making the attempt to contact the human. These devas of the shadows are of a dark purple on the fourth etheric level, of a lighter purple, much the same colour as violet, on the third etheric level, a light violet on the second, whilst on the atomic subplane they are of a glorious translucent lavender. |
Khi hai cõi, cảm dục và hồng trần, hòa nhập và pha trộn, và sự liên tục của tâm thức được trải nghiệm trên cả hai, lúc đầu con người sẽ khó phân biệt giữa các thiên thần của cõi cảm dục và các thiên thần của cõi hồng trần. Vào đầu thời kỳ nhận biết này, con người chủ yếu sẽ tiếp xúc với các thiên thần tím, vì những vị thuộc hàng cao hơn trong số họ đang dứt khoát cố gắng tiếp xúc với con người. Các thiên thần của bóng tối này có màu tím sẫm trên cấp dĩ thái thứ tư, màu tím nhạt hơn, gần giống màu violet, trên cấp dĩ thái thứ ba, màu tím nhạt trên cấp thứ hai, trong khi trên cõi phụ nguyên tử họ có màu oải hương rực rỡ trong suốt. |
|
Some of the groups of devas to be contacted on the physical plane are as follows: |
Một số nhóm thiên thần có thể được tiếp xúc trên cõi hồng trần như sau: |
|
Four groups of violet devas, associated with the etheric doubles of all that exists on the physical plane. These four are in two divisions, those associated with the building of the etheric doubles, and those out of whose substance these doubles are built. |
Bốn nhóm thiên thần tím, liên kết với các bản sao dĩ thái của mọi thứ hiện hữu trên cõi hồng trần. Bốn nhóm này chia thành hai phân bộ: những nhóm liên kết với việc xây dựng các bản sao dĩ thái, và những nhóm từ chất liệu của họ mà các bản sao ấy được xây dựng nên. |
|
The green devas of the vegetable kingdom. These exist in two divisions also. They are of high development, and will be contacted principally along the lines of magnetisation. The greater devas of this order preside over the magnetic spots of the earth, guard the solitude of the forests, reserve intact spaces on the planet which are required to be kept inviolate; they defend them from molestation, and with the violet devas are at this time working definitely, though temporarily, under the Lord Maitreya. The Raja Lord of the astral plane, Varuna [Page 913] and his brother Kshiti, have been called to the council chamber of the Hierarchy for specific consultation, and just as the Masters are endeavouring to prepare humanity for service when the World Teacher comes, so these Raja Lords are working along similar lines in connection with the devas. They are arduous in Their work, intense in Their zeal, but much obstructed by man. |
Các thiên thần xanh của giới thực vật. Họ cũng tồn tại thành hai phân bộ. Họ phát triển cao, và sẽ được tiếp xúc chủ yếu theo các đường từ điện hóa. Các thiên thần lớn hơn của cấp này chủ trì các điểm từ tính của trái đất, canh giữ sự tịch mịch của các khu rừng, bảo tồn nguyên vẹn những không gian trên hành tinh cần được giữ bất khả xâm phạm; họ bảo vệ chúng khỏi sự quấy nhiễu, và cùng với các thiên thần tím hiện đang làm việc một cách dứt khoát, dù tạm thời, dưới quyền Chúa Maitreya. Chúa Tể Raja của cõi cảm dục, Varuna [Page 913] và huynh đệ của Ngài là Kshiti, đã được triệu đến phòng hội đồng của Thánh Đoàn để tham vấn đặc biệt, và cũng như các Chân sư đang nỗ lực chuẩn bị nhân loại cho sự phụng sự khi Đức Chưởng Giáo đến, thì các Chúa Tể Raja này cũng đang làm việc theo những đường tương tự liên quan đến các thiên thần. Các Ngài chuyên cần trong công việc, mãnh liệt trong nhiệt tâm, nhưng bị con người cản trở rất nhiều. |
|
The white devas of the air and water who preside over the atmosphere work with certain aspects of electrical phenomena, and control the seas, rivers, and streams. From among them, at a certain stage in their evolution, are gathered the guardian angels of the race when in physical plane incarnation. Each unit of the human family has his guardian deva. |
Các thiên thần trắng của khí và nước chủ trì khí quyển, làm việc với một số phương diện của các hiện tượng điện, và kiểm soát biển cả, sông ngòi và suối lạch. Từ trong số họ, ở một giai đoạn nào đó trong tiến hoá của mình, các thiên thần hộ mệnh của nhân loại khi đang lâm phàm trên cõi hồng trần được tuyển chọn. Mỗi đơn vị trong gia đình nhân loại đều có thiên thần hộ mệnh của mình. |
|
Each group of devas has some specific method of development and some means whereby they evolve and attain a particular goal. |
Mỗi nhóm thiên thần đều có một phương pháp phát triển đặc thù nào đó và một phương tiện nhờ đó họ tiến hoá và đạt đến một mục tiêu nhất định. |
|
For the violet devas the path of attainment lies through feeling, and through educating the race in the perfecting of the physical body in its two departments. |
Đối với các thiên thần tím, con đường thành tựu nằm qua cảm giác, và qua việc giáo dục nhân loại trong sự hoàn thiện thể xác ở hai phương diện của nó. |
|
For the green devas the path of service is seen in magnetisation, of which the human race knows nothing as yet. Through this power they act as the protectors of the vegetable plant life, and of the sacred spots of the earth; in their work lies the safety of man’s body, for from the vegetable kingdom for the remainder of this round comes the nourishment of that body. |
Đối với các thiên thần xanh, con đường phụng sự được thấy trong từ điện hóa, điều mà nhân loại cho đến nay chưa biết gì cả. Qua quyền năng này họ hoạt động như những người bảo hộ sự sống thực vật, và các nơi thiêng liêng của trái đất; trong công việc của họ có sự an toàn của thể xác con người, vì từ giới thực vật, trong phần còn lại của cuộc tuần hoàn này, đến sự nuôi dưỡng của thể ấy. |
|
For the white devas the path of service lies in the guarding of the individuals of the human family, in the care and segregation of types, in the control of the water and air elementals, and much that concerns the fish kingdom. |
Đối với các thiên thần trắng, con đường phụng sự nằm trong việc canh giữ các cá nhân của gia đình nhân loại, trong sự chăm sóc và phân loại các loại hình, trong việc kiểm soát các hành khí của khí và nước, và nhiều điều liên quan đến giới cá. |
|
Thus in the service of humanity in some form or another lies attainment for these physical plane devas. They have much to give and do for humanity, and in time [Page 914] it will be apparent to the human unit what he has to give towards the perfecting of the deva kingdom. A great hastening of their evolution goes forward now coincident with that of the human family. |
Như vậy, chính trong sự phụng sự nhân loại dưới hình thức này hay hình thức khác mà thành tựu nằm đối với các thiên thần cõi hồng trần này. Họ có nhiều điều để trao ban và thực hiện cho nhân loại, và theo thời gian [Page 914] con người sẽ thấy rõ mình phải trao ban điều gì để góp phần vào sự hoàn thiện của giới thiên thần. Một sự thúc đẩy lớn lao trong tiến hoá của họ hiện đang diễn ra đồng thời với tiến hoá của gia đình nhân loại. |
|
There is another group of devas about which much may not as yet be communicated. They have come in from another planetary scheme, and are specialists in their particular line. They have attained, or passed through, the human kingdom, and are of equal rank with certain members of the Hierarchy, having chosen to stay and work in connection with the physical plane evolution. They are not many in number, being only twelve. Four work in the violet group, five in the green group, and two in the white, with a presiding officer of rank equal to a Chohan. The number of the deva evolution is six, as that of man is now five, and as ten stands for perfected man, so twelve stands for perfection in the deva kingdom. This group presides over the three earlier enumerated. Certain subsidiary groups are found. |
Có một nhóm thiên thần khác mà hiện nay chưa thể truyền đạt nhiều về họ. Họ đến từ một hệ hành tinh khác, và là những chuyên gia trong đường lối riêng của mình. Họ đã đạt đến, hay đã đi qua, giới nhân loại, và có cấp bậc ngang với một số thành viên của Thánh Đoàn, đã chọn ở lại và làm việc liên quan đến tiến hoá cõi hồng trần. Họ không đông, chỉ có mười hai vị. Bốn vị làm việc trong nhóm tím, năm vị trong nhóm xanh, và hai vị trong nhóm trắng, với một vị chủ tọa có cấp bậc ngang một Chohan. Con số của tiến hoá thiên thần là sáu, cũng như con số của con người hiện nay là năm, và cũng như mười tượng trưng cho con người hoàn thiện, thì mười hai tượng trưng cho sự hoàn thiện trong giới thiên thần. Nhóm này chủ trì ba nhóm đã được liệt kê trước đó. Có một số nhóm phụ thuộc nhất định. |
|
Under group 1 are found all the elementals working with the etheric doubles of men, all the elementals forming the etheric bodies wherein is life, and all the elementals working with the etheric counterparts of so-called inanimate objects. These are named in the order and the importance of their development. The violet devas are on the evolutionary path; the elementals are on the involutionary path, the goal for them being to pass into the deva kingdom of violet hue. |
Dưới nhóm 1 có tất cả các hành khí làm việc với các bản sao dĩ thái của con người, tất cả các hành khí tạo thành các thể dĩ thái nơi đó có sự sống, và tất cả các hành khí làm việc với các đối phần dĩ thái của những vật được gọi là vô tri. Chúng được nêu tên theo thứ tự và tầm quan trọng của sự phát triển của chúng. Các thiên thần tím ở trên con đường tiến hoá; các hành khí ở trên con đường giáng hạ tiến hoá, mục tiêu của chúng là đi vào giới thiên thần mang sắc tím. |
|
Under group 2 work the fairies of plant life, the elves who build and paint the flowers, the radiant little beings who inhabit the woods and the fields, the elementals who work with the fruits, vegetables, and with all that leads to the covering of the earth’s surface with verdure. Associated with them are the [Page 915] lesser devas of magnetisation, those attached to sacred spots, to talismans and to stones, and also a special group to be found around the habitations of the Masters wherever situated. |
Dưới nhóm 2 hoạt động các tiên tử của sự sống thực vật, các tinh linh xây dựng và tô điểm hoa lá, những hữu thể nhỏ bé rạng ngời cư ngụ trong rừng và đồng nội, các hành khí làm việc với trái cây, rau cỏ, và với mọi thứ dẫn đến việc phủ xanh bề mặt trái đất. Liên kết với họ là các [Page 915] thiên thần nhỏ của từ điện hóa, những vị gắn với các nơi thiêng liêng, với bùa hộ mệnh và với đá, và cả một nhóm đặc biệt được tìm thấy quanh nơi cư ngụ của các Chân sư ở bất cứ đâu. |
|
Under group 3 work the elementals of the air and the sea, the sylphs, the water fairies, and the devas who guard each human being. |
Dưới nhóm 3 hoạt động các hành khí của khí và biển, các sylph, các tiên nước, và các thiên thần canh giữ từng con người. |
|
Here only general hints are given. This list is not complete and does not include the grosser elementals, the brownies, and those that inhabit the dark spaces of the earth, the cities and the subterranean spots of the earth’s crust. |
Ở đây chỉ đưa ra những gợi ý tổng quát. Danh sách này chưa đầy đủ và không bao gồm các hành khí thô nặng hơn, các brownie, và những loài cư ngụ trong các khoảng tối của trái đất, các thành phố và các nơi dưới lòng lớp vỏ trái đất. |
|
The devas of the ethers carry on their foreheads a translucent symbol in the form of a crescent moon, and by this they may be distinguished from the astral devas by those able to see clairvoyantly. |
Các thiên thần của các cõi dĩ thái mang trên trán một biểu tượng trong suốt có hình trăng lưỡi liềm, và nhờ đó những ai có thể thấy bằng thông nhãn có thể phân biệt họ với các thiên thần cảm dục. |
|
As we consider the devas of the ethers, we find that they fall naturally—as far as manifestation is concerned—into two main groups. Each group is represented on each of the four subplanes, and this grouping must be considered as but one method of differentiation out of the many possible. These groups are, first, those devas who are the transmitters of prana to all forms of life; they are a group of intermediary devas, and may be regarded as the energy providers in their various differentiations; secondly, those devas who form the etheric bodies of every form in manifestation. These constitute the bulk of the lesser devas. |
Khi xét các thiên thần của các cõi dĩ thái, chúng ta thấy rằng họ tự nhiên rơi vào—xét theo biểu hiện—hai nhóm chính. Mỗi nhóm đều được biểu hiện trên mỗi một trong bốn cõi phụ, và sự phân nhóm này chỉ phải được xem như một phương pháp biến phân trong số nhiều phương pháp có thể có. Các nhóm này là, thứ nhất, những thiên thần là các vị truyền dẫn prana đến mọi hình tướng sự sống; họ là một nhóm thiên thần trung gian, và có thể được xem như những nhà cung cấp năng lượng trong các biến phân khác nhau của họ; thứ hai, những thiên thần tạo thành các thể dĩ thái của mọi hình tướng trong biểu hiện. Những vị này cấu thành phần lớn các thiên thần nhỏ. |
|
There are naturally many other organised intelligences in the great Army of the Voice in connection with this primary division of the physical plane, but if the student will consider these two groups, and will investigate their relationship to man and to the Heavenly Man within Whose body they are to be found, he will learn much which will enable him to comprehend problems hitherto considered insoluble, and will find many things [Page 916] revealed which will tend to revolutionise the findings of modern science, and bring about changes in the care of the physical body. |
Dĩ nhiên còn có nhiều trí tuệ có tổ chức khác trong đại Đạo Binh của Tiếng Nói liên quan đến phân bộ sơ khởi này của cõi hồng trần, nhưng nếu đạo sinh xét hai nhóm này, và khảo cứu mối liên hệ của họ với con người và với Đấng Thiên Nhân mà trong thể của Ngài họ được tìm thấy, y sẽ học được nhiều điều giúp y hiểu những vấn đề từ trước đến nay được xem là không thể giải quyết, và sẽ thấy nhiều điều [Page 916] được tiết lộ có khuynh hướng cách mạng hóa các kết luận của khoa học hiện đại, và đem lại những thay đổi trong việc chăm sóc thể xác. |
|
The Devas and Energy. Before we take up the consideration of these two groups it might be wise here to emphasise the necessity of remembering that when we consider the etheric levels of the physical plane we are dealing with those planes upon which the true form is to be found, and are approaching the solution of the mystery of the Holy Spirit and the Mother. In this realisation, and its extension to include an entire solar system, will come a clarifying of the connection between the four higher planes of the system and the three worlds of human endeavour. We have, in the macrocosm, the four planes of super-conscious life, or those four central vibrations which are the basis of the life and energy of the etheric body of a planetary Logos and of a solar Logos, and the three planes of conscious and of self-conscious life which form the dense physical vehicle of a Heavenly Man, and of the Grand Man of the Heavens. |
Các thiên thần và năng lượng. Trước khi bắt đầu xem xét hai nhóm này, có lẽ ở đây nên nhấn mạnh sự cần thiết phải ghi nhớ rằng khi chúng ta xét các cấp độ dĩ thái của cõi hồng trần, chúng ta đang xử lý những cõi mà trên đó hình tướng đích thực được tìm thấy, và đang tiến gần đến lời giải của huyền nhiệm về Chúa Thánh Thần và Mẹ. Trong sự chứng nghiệm này, và sự mở rộng của nó để bao gồm toàn bộ một hệ mặt trời, sẽ đến sự làm sáng tỏ mối liên hệ giữa bốn cõi cao hơn của hệ và ba cõi giới của nỗ lực nhân loại. Trong Đại thiên địa, chúng ta có bốn cõi của sự sống siêu hữu thức, hay bốn rung động trung tâm là nền tảng của sự sống và năng lượng của thể dĩ thái của một Hành Tinh Thượng đế và của một Thái dương Thượng đế, và ba cõi của sự sống hữu thức và ngã thức tạo thành vận cụ hồng trần đậm đặc của một Đấng Thiên Nhân và của Đại Nhân trên Thiên Giới. |
|
By a close scrutiny of these conditions in the macrocosm and in the microcosm will come a comprehension of the reason why the physical vehicle is never considered a principle at all by occultists. The Holy Spirit, the One Who overshadows and Who implants the germ of life in the waiting acquiescent Virgin Mother or matter (causing her to awaken and to commence her great work of producing the divine incarnation) is a primary factor from the standpoint of the second solar system. In a way incomprehensible to modern thinkers, the Mother, or the divine Aspirant to the mysteries of the cosmic marriage, was (in a previous system) the dominant factor. In this system in connection with substance it is the Holy Spirit. The work, therefore, on etheric levels, and the energy and activity originating therefrom, are the factors that primarily are responsible on the physical [Page 917] plane for all that is tangible, objective, and manifested. The accretion of matter around the vital body, and the densification of substance around the vital etheric nucleus are in themselves the result of interaction, and the final interchange of vibration between that which might be called the residue from an earlier manifestation, and the vibration of this present one. |
Nhờ khảo sát kỹ lưỡng các điều kiện này trong Đại thiên địa và trong Tiểu thiên địa, sẽ có sự thấu hiểu lý do tại sao vận cụ hồng trần không bao giờ được các nhà huyền bí học xem là một nguyên khí cả. Chúa Thánh Thần, Đấng phủ bóng và cấy mầm sự sống vào Mẹ Đồng Trinh hay vật chất đang chờ đợi và thuận phục (khiến bà thức tỉnh và bắt đầu công việc vĩ đại của mình là sản sinh sự nhập thể thiêng liêng), là một yếu tố sơ khởi theo quan điểm của hệ mặt trời thứ hai. Theo một cách mà các nhà tư tưởng hiện đại không thể hiểu được, Mẹ, hay người chí nguyện thiêng liêng hướng đến các huyền nhiệm của cuộc hôn phối vũ trụ, đã là (trong một hệ trước) yếu tố chi phối. Trong hệ này, liên quan đến chất liệu, chính là Chúa Thánh Thần. Vì vậy, công việc trên các cấp độ dĩ thái, và năng lượng cùng hoạt động phát sinh từ đó, là những yếu tố chủ yếu chịu trách nhiệm trên cõi hồng trần [Page 917] cho mọi điều hữu hình, khách quan và biểu hiện. Sự bồi tụ vật chất quanh thể sinh lực, và sự làm đậm đặc chất liệu quanh hạt nhân dĩ thái sinh lực, tự chúng là kết quả của sự tương tác, và của sự trao đổi rung động cuối cùng giữa cái có thể được gọi là phần dư từ một biểu hiện trước, và rung động của biểu hiện hiện nay này. |
|
It is here—in the relation between positive electrical energy in its fourfold differentiation, and the triple negative receptive lower substance—that scientists will eventually arrive at certain definite deductions and discover: |
Chính ở đây—trong mối liên hệ giữa năng lượng điện dương trong sự biến phân tứ phân của nó, và chất liệu thấp tam phân âm tiếp nhận—mà các nhà khoa học cuối cùng sẽ đi đến những kết luận xác định và khám phá ra: |
|
a. The secret of matter itself, that is, matter as we know and see it. |
a. Bí mật của chính vật chất, tức là vật chất như chúng ta biết và thấy nó. |
|
b. The key to the process of creation upon the physical plane, and the method whereby density and concretion on the three lower levels are brought about. |
b. Chìa khóa của tiến trình sáng tạo trên cõi hồng trần, và phương pháp nhờ đó sự đậm đặc và sự kết tụ trên ba cấp thấp được tạo ra. |
|
c. The formulas for organic transmutation, or the key to the processes whereby the elements as we know them can be disintegrated and recombined. |
c. Các công thức cho sự chuyển hoá hữu cơ, hay chìa khóa của các tiến trình nhờ đó các nguyên tố như chúng ta biết có thể bị phân giải và tái kết hợp. |
|
Only when scientists are prepared to admit the fact that there is a body of vitality which acts as a focal point in every organised form, and only when they are willing to consider each element and form of every degree as constituting part of a still greater vital body, will the true methods of the great goddess Nature become their methods. To do this they must be prepared to accept the sevenfold differentiation of the physical plane as stated by Eastern occultism, to recognise the triple nature of the septenary manifestation. |
Chỉ khi các nhà khoa học sẵn sàng thừa nhận sự kiện rằng có một thể sinh lực hoạt động như một tiêu điểm trong mọi hình tướng có tổ chức, và chỉ khi họ sẵn sàng xem mỗi nguyên tố và hình tướng ở mọi cấp độ như cấu thành một phần của một thể sinh lực còn lớn hơn nữa, thì các phương pháp đích thực của nữ thần vĩ đại là Thiên Nhiên mới trở thành phương pháp của họ. Để làm được điều này, họ phải sẵn sàng chấp nhận sự biến phân thất phân của cõi hồng trần như huyền bí học phương Đông đã nêu, và nhận ra bản chất tam phân của biểu hiện thất phân. |
|
a. The atomic or Shiva energy, the energy of the first subplane or the first etheric plane. |
a. Năng lượng nguyên tử hay Shiva, năng lượng của cõi phụ thứ nhất hay cõi dĩ thái thứ nhất. |
|
b. The vital form building energy of the three ensuing etheric levels. |
b. Năng lượng tiếp sinh lực xây dựng hình tướng của ba cấp dĩ thái kế tiếp. |
|
c. The negative receptive energy of the three planes [Page 918] of the dense physical, the gaseous, the liquid and the truly dense. |
c. Năng lượng âm tiếp nhận của ba cõi [Page 918] của hồng trần đậm đặc, thể khí, thể lỏng và thể thật sự đậm đặc. |
|
They will also eventually consider the interplay between the lower three and the higher four in that great atom called the physical plane. This can be seen duplicated in the atom of the physicist or chemist. Scientific students who are interested in these matters will find it worth while to consider the correspondence between these three types of energy, and that which is understood by the words, atoms, electrons, and ions. |
Cuối cùng họ cũng sẽ xét đến sự tương tác giữa ba cấp thấp và bốn cấp cao trong nguyên tử lớn được gọi là cõi hồng trần. Điều này có thể được thấy lặp lại trong nguyên tử của nhà vật lý hay nhà hóa học. Những đạo sinh khoa học quan tâm đến các vấn đề này sẽ thấy đáng công khi suy xét sự tương ứng giữa ba loại năng lượng này và điều được hiểu qua các từ nguyên tử, điện tử và ion. |
|
All that manifests (from God to man) (284) is the result of these three types of energy or force, of their combination, their interplay, and their psychic action and reaction. During the great cycle of logoic appearance it is the second type of energy which dominates and which is of evolutionary importance, and this is why the etheric body which lies back of all that is visible is the most important. This is equally true of gods, of men and of atoms. |
Mọi thứ biểu hiện (từ Thượng đế đến con người) (284) đều là kết quả của ba loại năng lượng hay mãnh lực này, của sự kết hợp của chúng, sự tương tác của chúng, và tác động cùng phản ứng thông linh của chúng. Trong đại chu kỳ của sắc tướng logoi, chính loại năng lượng thứ hai chi phối và có tầm quan trọng tiến hoá, và đây là lý do vì sao thể dĩ thái nằm phía sau mọi cái hữu hình là quan trọng nhất. Điều này đúng như nhau đối với các vị thần, con người và các nguyên tử. |
|
(284) Giáo Lý Bí Nhiệm nói rằng: Thượng đế, Chân thần, và Nguyên tử là những tương ứng của Tinh thần, Trí Tuệ và Thể.—S. D., I, 679. |
|
|
The Logos is manifesting in this mahamanvantara as Manas (the Divine Manasaputras in their totality) utilising atomic sheaths for purposes of evolution and with the aim in view of developing the second aspect of buddhi or wisdom. Wisdom must have manas, or intelligent mind for its basis. He is the sumtotal of Intelligence, evolving in order to develop Love. (back) |
Thượng đế đang biểu hiện trong đại giai kỳ sinh hóa này như Manas (các Manasaputra Thiêng Liêng trong tổng thể của Các Ngài), sử dụng các vỏ bọc nguyên tử cho các mục đích tiến hoá và với mục tiêu phát triển phương diện thứ hai của Bồ đề hay minh triết. Minh triết phải có manas, hay trí tuệ thông minh, làm nền tảng. Ngài là tổng thể của Trí Tuệ, tiến hoá để phát triển Bác ái. (back) |
|
Much time is spent in speculating upon the sources of life, upon the springs of action, and upon the impulses which underlie the creative processes. Hitherto science has worked somewhat blindly and has spent much time investigating the lower three planes. It has dealt principally with the Mother, with the negative receptive matter, and is only now becoming aware of the Holy Spirit aspect, or of the energy which enables that Mother to fulfill her function, and to carry on her work. |
Nhiều thời gian được dành để suy đoán về các nguồn của sự sống, về các suối nguồn của hành động, và về các xung lực nằm dưới các tiến trình sáng tạo. Cho đến nay khoa học đã làm việc phần nào một cách mù quáng và đã dành nhiều thời gian khảo cứu ba cõi thấp. Nó chủ yếu đã bàn đến Mẹ, đến vật chất âm tiếp nhận, và chỉ hiện nay mới bắt đầu nhận biết phương diện Chúa Thánh Thần, hay năng lượng giúp Mẹ ấy hoàn thành chức năng của mình và tiếp tục công việc của mình. |
|
Considering the same problem microcosmically it may be pointed out that men are only now beginning to be [Page 919] aware of the springs of spiritual action, and of the sources of spiritual life. The energy of the higher planes is only revealing itself as men begin to tread the Way, and to come under the influence of buddhi, which flows from the fourth cosmic etheric plane. |
Xét cùng một vấn đề theo Tiểu thiên địa, có thể chỉ ra rằng con người chỉ hiện nay mới bắt đầu [Page 919] nhận biết các suối nguồn của hành động tinh thần, và các nguồn của sự sống tinh thần. Năng lượng của các cõi cao hơn chỉ đang tự bộc lộ khi con người bắt đầu bước đi trên Con Đường, và bắt đầu chịu ảnh hưởng của Bồ đề, vốn tuôn chảy từ cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư. |
|
Cuối cùng, khi các nhà khoa học sẵn sàng nhận ra và hợp tác với các mãnh lực thông minh được tìm thấy trên các cấp độ dĩ thái, và khi họ trở nên xác tín về bản chất hylozoistic của mọi cái hiện hữu, thì các phát hiện và công trình của họ sẽ được đưa vào sự tương ứng chính xác hơn với sự vật như chúng thực sự là. Điều này, như đã được chỉ ra trước đây, sẽ được mang lại khi nhân loại phát triển linh thị dĩ thái, và chân lý của những khẳng định của nhà huyền bí học được chứng minh vượt ngoài mọi tranh cãi. |
|
|
It will have been noted that in the enumeration of these two main groups, we did not touch upon that great group of Builders who are called esoterically “Those who transmit the Word.” I have only dealt with the two groups who constitute the “Army of the Voice.” This is due to the fact that in this section we are only dealing with that army, or with those builders, great and small, who are swept into activity as the Word of the physical plane sounds forth. The “Transmitters of the Word” upon the first subplane or atomic level are those who take up the vibratory sound as it reaches them from the astral plane and—passing it through their bodies—send it forth to the remaining subplanes. These transmitters may be, for purposes of clarity, considered as seven in number. In their totality they form the atomic physical bodies of the Raja Lord of the plane and in a peculiarly occult sense these seven form (in their lower differentiations on etheric levels) the sumtotal of the etheric centres of all human beings, just as on the cosmic etheric levels are found the centres of a Heavenly Man. |
Cần lưu ý rằng trong việc liệt kê hai nhóm chính này, chúng ta đã không đề cập đến nhóm lớn các đấng kiến tạo được gọi một cách huyền bí là “Những Đấng truyền Linh từ.” Tôi chỉ bàn đến hai nhóm cấu thành “Đạo Binh của Tiếng Nói”. Điều này là do trong phần này chúng ta chỉ đang bàn đến đạo binh ấy, hay đến những đấng kiến tạo ấy, lớn và nhỏ, được cuốn vào hoạt động khi Linh từ của cõi hồng trần được xướng lên. “Những Đấng truyền Linh từ” trên cõi phụ thứ nhất hay cấp nguyên tử là những vị tiếp nhận âm thanh rung động khi nó đến với họ từ cõi cảm dục và—truyền nó qua các thể của mình—phát nó ra đến các cõi phụ còn lại. Vì mục đích làm sáng tỏ, có thể xem các vị truyền dẫn này là bảy vị. Trong tổng thể, họ tạo thành các thể hồng trần nguyên tử của Chúa Tể Raja của cõi, và theo một ý nghĩa huyền bí đặc biệt, bảy vị này tạo thành (trong các biến phân thấp hơn của mình trên các cấp dĩ thái) tổng thể các trung tâm dĩ thái của toàn thể nhân loại, cũng như trên các cấp dĩ thái vũ trụ có thể tìm thấy các trung tâm của một Đấng Thiên Nhân. |
|
The connection between the centres and etheric substance, systemic and human, opens up a vast range for [Page 920] thought. The “Transmitters of the Word” on the atomic subplane of each plane are devas of vast power and prerogative who may be stated to be connected with the Father aspect, and embodiments of electric fire. They are all fully self-conscious, having passed through the human stage in earlier kalpas. They are also corporate parts of the seven primary head centres in the body of a solar Logos or planetary Logos. |
Mối liên hệ giữa các trung tâm và chất liệu dĩ thái, của hệ và của con người, mở ra một phạm vi rộng lớn cho [Page 920] tư tưởng. “Những Đấng truyền Linh từ” trên cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi là những thiên thần có quyền năng và đặc quyền to lớn, có thể nói là liên kết với phương diện Cha, và là hiện thân của Lửa Điện. Tất cả các vị đều hoàn toàn ngã thức, đã đi qua giai đoạn con người trong các kalpa trước. Họ cũng là những phần hợp nhất của bảy trung tâm đầu sơ khởi trong thể của một Thái dương Thượng đế hay Hành Tinh Thượng đế. |
|
Though connected with the Father aspect, they are nevertheless part of the body of the Son, and each of them, according to the plane which he energises, is a component part of one or other of the seven centres, either solar or planetary—planetary when only the particular centre is concerned, systemic when that centre is viewed as an integral part of the whole. |
Dù liên kết với phương diện Cha, họ vẫn là một phần của thể của Thánh Tử, và mỗi vị trong số họ, tùy theo cõi mà y tiếp sinh lực, là một thành phần của một trong bảy trung tâm, hoặc thái dương hoặc hành tinh—hành tinh khi chỉ xét trung tâm đặc biệt ấy, hệ thống khi trung tâm ấy được nhìn như một phần toàn vẹn của toàn thể. |
|
Each of these great lives (embodying deva energy of the first degree) is an emanation from the central spiritual sun in the first instance and from one of the three major constellations in the second instance. Systemically they fall into three groups: Group 1 includes those transmitters of the Word who are found on the three lower subplanes of the plane Adi, or the logoic plane. Group 2 comprises those great builders who transmit the Word on the three next systemic planes, the monadic, the atmic and the buddhic. Group 3 is formed of those who carry on a similar function in the three worlds of human endeavour. Fundamentally they are also emanations from one of the seven stars of the Great Bear in the third instance. |
Mỗi một trong các đại sự sống này (hiện thân cho năng lượng thiên thần bậc thứ nhất) trước hết là một phát xạ từ Mặt trời Tinh thần Trung Ương và kế đó là từ một trong ba chòm sao lớn. Về mặt hệ thống, họ rơi vào ba nhóm: Nhóm 1 gồm những Đấng truyền Linh từ được tìm thấy trên ba cõi phụ thấp của cõi Adi, hay cõi logoi. Nhóm 2 gồm những đấng đại kiến tạo truyền Linh từ trên ba cõi kế tiếp của hệ, cõi chân thần, cõi atma và cõi Bồ đề. Nhóm 3 được tạo thành bởi những vị thực hiện một chức năng tương tự trong ba cõi giới của nỗ lực nhân loại. Về căn bản, ở cấp thứ ba, họ cũng là những phát xạ từ một trong bảy ngôi sao của Đại Hùng Tinh. |
|
In these triple emanatory forces may be found the origin of all that is visible and objective, and through their agency our solar system takes its place within the greater cosmic scheme, and a certain basic cosmic fire is formed. They are the sumtotal of the head, the heart and the throat centres of the solar Logos, and their correspondences will be found within a Heavenly Man, a human [Page 921] being, and an atom. Hence the scientist, as he discovers the nature of the atom, is putting himself in touch with these three types of solar energy, and is unravelling the central mystery of the system. As the triple nature of the atom stands revealed, so likewise the triple nature of man and of God gradually becomes proven. The energy of these groups passes through the physical sun, and from thence they sound the Word for the particular plane of their specific endeavour. |
Trong các mãnh lực phát xạ tam phân này có thể tìm thấy nguồn gốc của mọi điều hữu hình và khách quan, và nhờ tác nhân của họ mà hệ mặt trời của chúng ta chiếm vị trí của nó trong mô hình vũ trụ lớn hơn, và một loại lửa vũ trụ căn bản nào đó được hình thành. Họ là tổng thể của các trung tâm đầu, tim và cổ họng của Thái dương Thượng đế, và các tương ứng của họ sẽ được tìm thấy trong một Đấng Thiên Nhân, một con người [Page 921] và một nguyên tử. Do đó nhà khoa học, khi khám phá bản chất của nguyên tử, đang đặt mình vào sự tiếp xúc với ba loại năng lượng thái dương này, và đang tháo gỡ huyền nhiệm trung tâm của hệ. Khi bản chất tam phân của nguyên tử được tiết lộ, thì bản chất tam phân của con người và của Thượng đế cũng dần dần được chứng minh. Năng lượng của các nhóm này đi qua mặt trời hồng trần, và từ đó họ xướng Linh từ cho cõi đặc biệt thuộc nỗ lực chuyên biệt của mình. |
|
The student must not make the mistake of thinking that these seven great transmitters are the seven Heavenly Men. They form one half of Their real nature. This is all that can be said of this great mystery, though it might be added that from another angle of vision, they form but one third of his threefold divine nature. Man is dual, being Spirit and matter; he is also, during evolution, a triplicity, so it is with a Heavenly Man, and hence the mystery. |
Đạo sinh không được lầm tưởng rằng bảy vị truyền dẫn vĩ đại này là bảy Đấng Thiên Nhân. Họ tạo thành một nửa bản chất thực sự của Các Ngài. Đó là tất cả những gì có thể nói về huyền nhiệm lớn lao này, dù có thể thêm rằng từ một góc nhìn khác, họ chỉ tạo thành một phần ba bản chất thiêng liêng tam phân của Ngài. Con người là nhị nguyên, là tinh thần và vật chất; y cũng là một bộ ba trong tiến hoá, và Đấng Thiên Nhân cũng vậy, do đó có huyền nhiệm này. |
|
The great Transmitter of the Word on the physical plane, which is the one under our consideration, is the energising factor of the throat centre of Brahma. An interesting tabulation of the threefold centres and the three divine aspects might here be given which may prove of use to the student, though he should carefully bear in mind that these centres are for the purpose of generating and transmitting energy. |
Đấng truyền Linh từ vĩ đại trên cõi hồng trần, là vị mà chúng ta đang xét đến, là yếu tố tiếp sinh lực của trung tâm cổ họng của Brahma. Ở đây có thể đưa ra một bảng thú vị về các trung tâm tam phân và ba phương diện thiêng liêng, có thể hữu ích cho đạo sinh, dù y cần cẩn thận ghi nhớ rằng các trung tâm này nhằm mục đích phát sinh và truyền dẫn năng lượng. |
|
1. The transmitter of energy on the physical plane forms the throat centre in the body of Brahma, the third aspect. |
1. Vị truyền dẫn năng lượng trên cõi hồng trần tạo thành trung tâm cổ họng trong thể của Brahma, phương diện thứ ba. |
|
2. The transmitter of energy upon the astral plane forms the heart centre of Brahma. |
2. Vị truyền dẫn năng lượng trên cõi cảm dục tạo thành trung tâm tim của Brahma. |
|
3. The transmitter of the Word on the mental plane forms the head centre of this, the third aspect. |
3. Vị truyền Linh từ trên cõi trí tạo thành trung tâm đầu của phương diện thứ ba này. |
|
These three Raja Lords, devas, or transmitters, form the three centres of logoic force in the three worlds. They are the lowest energy aspect of Brahma. [Page 922] |
Ba Chúa Tể Raja, thiên thần, hay các vị truyền dẫn này tạo thành ba trung tâm của mãnh lực logoi trong ba cõi giới. Họ là phương diện năng lượng thấp nhất của Brahma. [Page 922] |
|
4. The Transmitter of the Word upon the buddhic plane forms the throat centre of Vishnu, the second aspect. From thence the Word goes forth that builds the dense physical form of a Heavenly Man or of a solar Logos. |
4. Đấng truyền Linh từ trên cõi Bồ đề tạo thành trung tâm cổ họng của Vishnu, phương diện thứ hai. Từ đó Linh từ phát ra để xây dựng hình tướng hồng trần đậm đặc của một Đấng Thiên Nhân hay của một Thái dương Thượng đế. |
|
5. Vị truyền dẫn năng lượng trên cõi chân thần tạo thành trung tâm tim của Vishnu, phương diện thứ hai. |
|
|
6. The Transmitter of force upon the atmic plane forms the head centre of Vishnu. |
6. Vị truyền dẫn mãnh lực trên cõi atma tạo thành trung tâm đầu của Vishnu. |
|
This tabulation will be confusing to students unless it is realised that we are here considering these aspects only as dualities, and are dealing with one of the dual parts. It will be apparent that in the Vishnu aspect, for instance, which manifests upon the second plane, the energy of that plane will act as the head centre to the succeeding planes, and this apprehension, rightly grasped, will clarify the others. |
Bảng này sẽ gây rối cho đạo sinh trừ phi nhận ra rằng ở đây chúng ta chỉ đang xét các phương diện này như những nhị nguyên tính, và đang bàn đến một trong hai phần nhị nguyên. Sẽ rõ ràng rằng chẳng hạn trong phương diện Vishnu, biểu hiện trên cõi thứ hai, năng lượng của cõi ấy sẽ hoạt động như trung tâm đầu đối với các cõi kế tiếp, và sự nhận thức này, nếu được nắm đúng, sẽ làm sáng tỏ các điều khác. |
|
The Transmitter of the Word on the first plane of Adi is the embodiment of the throat centre of a cosmic entity. From this statement will come a just realisation of our place in the cosmic scheme, and the fundamentally physical nature of the seven planes of the solar system is also here demonstrated, the nature of Brahma, or the Holy Spirit, becoming apparent. |
Đấng truyền Linh từ trên cõi thứ nhất của Adi là hiện thân của trung tâm cổ họng của một thực thể vũ trụ. Từ mệnh đề này sẽ đến một sự chứng nghiệm đúng đắn về vị trí của chúng ta trong mô hình vũ trụ, và bản chất căn bản là hồng trần của bảy cõi của hệ mặt trời cũng được chứng minh ở đây, bản chất của Brahma, hay Chúa Thánh Thần, trở nên hiển nhiên. |
|
The old Commentary says: |
Cổ Luận nói rằng: |
|
“Brahma is One, yet includes His brother. Vishnu is One, yet existeth not apart from His brother, younger in point of time yet older far. Shiva is One, and antedates Them both, yet He appeareth not nor is He seen, until They both have cycled through Their courses.” |
“Brahma là Một, nhưng bao gồm huynh đệ của Ngài. Vishnu là Một, nhưng không tồn tại tách rời huynh đệ của Ngài, trẻ hơn về thời gian nhưng già hơn rất xa. Shiva là Một, và có trước cả Hai Vị, nhưng Ngài không xuất hiện cũng không được thấy, cho đến khi Cả Hai đã tuần hoàn qua các chu trình của Các Ngài.” |
|
The above sevenfold tabulation can be, under the law of correspondences, applied equally to every plane, for the transmitters and workers on each plane form similar groups. Equally well can man consider this tabulation in connection with his seven centres, and from a study [Page 923] of the two together he will gain knowledge as to the type of energy which flows through any particular centre. These transmitters likewise can be heard sounding forth the Word with particular force and power in that planetary scheme which corresponds to their note and is keyed to their vibration. The planetary schemes, therefore, will fall into a similar grouping, and this will open up for students a vast field of conjecture. The seven Prajapatis fall into two groups of three, with one dominating. Students will do well to remember in studying the solar system, the planes, the schemes, man and the atom, that the groupings of the lines or streams of energy during the evolutionary cycles fall naturally into four divisions: |
Bảng thất phân trên đây, theo định luật tương ứng, có thể được áp dụng như nhau cho mọi cõi, vì các vị truyền dẫn và người hoạt động trên mỗi cõi tạo thành những nhóm tương tự. Con người cũng có thể xét bảng này liên hệ với bảy trung tâm của mình, và từ việc nghiên cứu [Page 923] cả hai cùng nhau, y sẽ đạt được tri thức về loại năng lượng chảy qua bất kỳ trung tâm đặc biệt nào. Các vị truyền dẫn này cũng có thể được nghe thấy đang xướng Linh từ với mãnh lực và quyền năng đặc biệt trong hệ hành tinh tương ứng với âm điệu của họ và được chỉnh theo rung động của họ. Vì vậy, các hệ hành tinh sẽ rơi vào một sự phân nhóm tương tự, và điều này sẽ mở ra cho đạo sinh một lĩnh vực suy đoán rộng lớn. Bảy Prajapati rơi vào hai nhóm ba, với một vị chi phối. Đạo sinh nên ghi nhớ khi nghiên cứu hệ mặt trời, các cõi, các hệ hành tinh, con người và nguyên tử, rằng các sự phân nhóm của các đường hay dòng năng lượng trong các chu kỳ tiến hoá tự nhiên rơi vào bốn phân bộ: |
|
1. 1―3―3 |
1. 1―3―3 |
|
2. 4―3 |
2. 4―3 |
|
3. 3―4 |
3. 3―4 |
|
4. 3―1―3 |
4. 3―1―3 |
|
Division 1 can be understood under the law of correspondences when the nature of the atomic plane of the solar system, the three cosmic etheric planes, and the three planes of human endeavour are investigated in connection with each other. |
Phân bộ 1 có thể được hiểu theo định luật tương ứng khi bản chất của cõi nguyên tử của hệ mặt trời, ba cõi dĩ thái vũ trụ, và ba cõi của nỗ lực nhân loại được khảo cứu trong mối liên hệ với nhau. |
|
Division 2 becomes easier of comprehension when the close relation between the four cosmic etheric planes and the three lower planes is grasped. This can be illuminated by a study of the four physical ethers and the three lower subplanes of our physical plane. |
Phân bộ 2 trở nên dễ hiểu hơn khi mối liên hệ mật thiết giữa bốn cõi dĩ thái vũ trụ và ba cõi thấp được nắm bắt. Điều này có thể được soi sáng bằng việc nghiên cứu bốn dĩ thái hồng trần và ba cõi phụ thấp của cõi hồng trần của chúng ta. |
|
Division 3 finds the clue to its mystery in the constitution of the mental plane, with its three formless levels, and its four levels of form. |
Phân bộ 3 tìm thấy chìa khóa cho huyền nhiệm của nó trong cấu tạo của cõi trí, với ba cấp vô sắc tướng và bốn cấp có sắc tướng. |
|
Division 4 can be grasped as the student arrives at a comprehension of his own nature as a spiritual triad, an egoic body and a threefold lower man. He can likewise approach the first division in a similar manner, and view himself as a primary force or Monad, a triple secondary [Page 924] force or Ego, and a threefold lower energy, or personality, remembering that we are here dealing only with creative energy and with the Brahma aspect of manifestation as it co-ordinates itself with the Vishnu aspect. |
Phân bộ 4 có thể được nắm bắt khi đạo sinh đi đến chỗ thấu hiểu bản chất của chính mình như một Tam Nguyên Tinh Thần, một thể chân ngã và một phàm nhân tam phân. Y cũng có thể tiếp cận phân bộ thứ nhất theo cách tương tự, và nhìn chính mình như một mãnh lực sơ khởi hay chân thần, một mãnh lực thứ cấp tam phân [Page 924] hay chân ngã, và một năng lượng thấp tam phân, hay phàm ngã, đồng thời ghi nhớ rằng ở đây chúng ta chỉ đang bàn đến năng lượng sáng tạo và đến phương diện Brahma của biểu hiện khi nó tự phối hợp với phương diện Vishnu. |
|
The Transmitters of Prana. We have in an earlier section of this treatise considered somewhat the devas who are the transmitters of prana for the etheric body of man and of the planet. They are the reflection upon the lowest plane of the Vishnu aspect of divinity; the seven subplanes of our physical plane reflect in a dim and distorted fashion the three aspects, and are a shadow, dark and unrevealing, of the Godhead. This group of transmitters are responsible for three principal results, and are active along three main lines. |
Những Đấng truyền dẫn prana. Trong một phần trước của bộ luận này, chúng ta đã phần nào xét đến các thiên thần là những vị truyền dẫn prana cho thể dĩ thái của con người và của hành tinh. Họ là sự phản chiếu trên cõi thấp nhất của phương diện Vishnu của thiên tính; bảy cõi phụ của cõi hồng trần của chúng ta phản chiếu một cách mờ nhạt và méo mó ba phương diện, và là một cái bóng, tối tăm và không mặc khải, của Thượng đế tính. Nhóm các vị truyền dẫn này chịu trách nhiệm cho ba kết quả chính, và hoạt động theo ba đường lối chủ yếu. |
|
They are the devas who vitalise and produce the energy of all forms of sentient life. Theirs is the life which pulsates through the etheric body of every plant and animal and of all intermediate forms of life, and which constitutes the raging fire which is seen circulating through all etheric vehicles. Among many other functions they produce the warmth of the sun and of all bodies; they are the cause of solar, planetary, and human radiation, and they nourish and preserve all forms. They occultly mediate between the Father and the Mother on each plane, whether cosmic or systemic. They originate in the sun, and are closely related to the logoic and planetary solar plexus, for the evolutionary process, as in all manifestation, is the result of desire, acting upon the creative faculties and producing that which is objective. |
Họ là các thiên thần tiếp sinh lực và tạo ra năng lượng cho mọi hình thức sự sống hữu cảm. Sự sống của họ là sự sống đang rung động xuyên qua thể dĩ thái của mọi loài thực vật, động vật và của mọi hình thức sự sống trung gian, và cấu thành ngọn lửa mãnh liệt được thấy đang lưu chuyển qua mọi thể dĩ thái. Trong nhiều chức năng khác, họ tạo ra hơi ấm của mặt trời và của mọi thể; họ là nguyên nhân của bức xạ thái dương, hành tinh và nhân loại, và họ nuôi dưỡng cũng như bảo tồn mọi hình tướng. Một cách huyền bí, họ làm trung gian giữa Cha và Mẹ trên mỗi cõi, dù là vũ trụ hay hệ thống. Họ phát nguyên trong mặt trời, và có liên hệ mật thiết với tùng thái dương của Thượng đế và của hành tinh, vì tiến trình tiến hoá, cũng như trong mọi biểu hiện, là kết quả của dục vọng tác động lên các năng lực sáng tạo và tạo ra điều vốn là khách quan. |
|
They are the devas who energise the myriads of minute lives which build the etheric bodies of all that is seen and tangible, and who are the instigators of the creative processes on the three lowest subplanes of the physical plane. Systemically, the devas engaged in this line of activity can be subdivided into two groups: [Page 925] |
Họ là các thiên thần tiếp năng lượng cho vô số sự sống cực vi đang kiến tạo các thể dĩ thái của mọi điều được thấy và sờ chạm được, và là những tác nhân khởi phát các tiến trình sáng tạo trên ba cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần. Về mặt hệ thống, các thiên thần hoạt động trong đường lối này có thể được chia thành hai nhóm: [Page 925] |
|
a. Những vị hoạt động trên bốn cõi hệ thống cao hơn và từ đó ảnh hưởng vào ba cõi giới, tạo ra các kết quả mong muốn qua tác động phản chiếu. |
|
|
b. Those who work in the three worlds of human endeavour, producing directly dense physical manifestation. |
b. Những vị hoạt động trong ba cõi giới của nỗ lực nhân loại, trực tiếp tạo ra biểu hiện hồng trần đậm đặc. |
|
All the etheric devas who transmit energy on the physical plane belong to the second division above enumerated, and according to the subplane on which they work come under the guidance of a greater intelligence on a corresponding plane. |
Tất cả các thiên thần dĩ thái truyền dẫn năng lượng trên cõi hồng trần đều thuộc phân bộ thứ hai được liệt kê ở trên, và tùy theo cõi phụ mà họ hoạt động, họ chịu sự hướng dẫn của một trí tuệ lớn hơn trên một cõi tương ứng. |
|
There are also the devas who form the attractive force of all subhuman forms, holding the forms of the three lower kingdoms of nature together in coherency, and thus producing the body of manifestation of the great Entity who is the sumtotal of the life of the kingdom, and of the lesser beings who ensoul different families and groups within any specific kingdom. |
Cũng có những thiên thần tạo thành lực hấp dẫn của mọi hình tướng dưới nhân loại, giữ cho các hình tướng của ba giới thấp trong thiên nhiên được kết hợp chặt chẽ, và nhờ đó tạo ra thể biểu hiện của Thực Thể vĩ đại là tổng số sự sống của giới ấy, cũng như của các hữu thể nhỏ hơn phú linh cho những họ và nhóm khác nhau trong bất kỳ giới đặc thù nào. |