Từ Bethlem Đến Calvary – Chương 5 -7

📘 Sách: Từ Bethlem Đến Calvary – Tác giả: Alice Bailey

CHAPTER FIVE – The Fourth Initiation . . . The Crucifixion – CHƯƠNG NĂM – Lần điểm đạo thứ tư . . . Sự Đóng Đinh

KEY THOUGHT

TƯ TƯỞNG THEN CHỐT

A fire-mist and a planet,

Một màn sương lửa và một hành tinh,

A crystal and a cell,

Một tinh thể và một tế bào,

A jelly-fish and a saurian,

Một con sứa và một loài bò sát cổ,

And caves where the cave-men dwell;

Và những hang động nơi người hang cư ngụ;

Then a sense of law and beauty,

Rồi một ý thức về định luật và vẻ đẹp,

And a face turned from the clod—

Và một khuôn mặt quay khỏi cục đất—

Some call it Evolution,

Một số người gọi đó là Tiến hoá,

And others call it God.

Và những người khác gọi đó là Thượng đế.

~

~

Like tides on a crescent sea-beach

Như thủy triều trên bãi biển hình lưỡi liềm

When the moon is new and thin,

Khi mặt trăng mới và mỏng,

Into our hearts high yearnings

Những khát vọng cao cả

Come welling and surging in:

Dâng trào và cuộn lên trong trái tim chúng ta:

Come from the mystic ocean

Đến từ đại dương thần bí

Whose rim no foot has trod—

Mà vành mép chưa bàn chân nào đặt tới—

Some of us call it Longing,

Một số chúng ta gọi đó là Nỗi Khao Khát,

And others call it God.

Và những người khác gọi đó là Thượng đế.

~

~

A picket frozen on duty,

Một lính gác chết cóng khi làm nhiệm vụ,

A mother starved for her brood,

Một người mẹ đói lả vì đàn con,

Socrates drinking the hemlock,

Socrates uống độc cần,

And Jesus on the rood;

Và Đức Jesus trên thập giá;

And millions who, humble and nameless,

Và hàng triệu người, khiêm nhường và vô danh,

The straight, hard pathway plod—

Lê bước trên con đường thẳng và gian khổ—

Some call it Consecration,

Một số người gọi đó là Sự Thánh Hiến,

And others call it God.

Và những người khác gọi đó là Thượng đế.

WILLIAM HERBERT CARRUTH.

WILLIAM HERBERT CARRUTH.

1

1

[175] We now come to the central mystery of Christianity, and to the climaxing initiation to which men, as human beings, can aspire. Of the next initiation, the Resurrection, and of the Ascension connected with it, we know practically nothing, beyond the fact that Christ rose from the dead. The Resurrection initiation is veiled in silence. All that is recorded is the reaction of those who knew and loved the Lord, and the after effects upon the history of the Christian Church. But the Crucifixion has always been the outstanding, dramatic episode upon which the entire structure of Christian theology has been founded. Upon this has the emphasis been laid. Millions of words have been written about it, and thousands of books and commentaries have attempted to elucidate its meaning and to explain the significance of its mystery. Down the ages a myriad points of view have been presented for the consideration of men. There has been much misinterpretation, but much also that is divinely real has been expressed. God has been misrepresented many times, and the interpretation of what Christ did has been travestied in terms of men’s small views. The wonder of the happening on Mount Calvary has been unveiled through the illumined experiences of the believer and the knower.

[175] Giờ đây chúng ta đi đến huyền nhiệm trung tâm của Cơ Đốc giáo, và đến cuộc điểm đạo tột đỉnh mà con người, với tư cách nhân loại, có thể khát vọng đạt tới. Về cuộc điểm đạo kế tiếp, sự Phục Sinh, và sự Thăng Thiên liên hệ với nó, chúng ta hầu như không biết gì, ngoài sự kiện rằng Đức Christ đã sống lại từ cõi chết. Cuộc điểm đạo Phục Sinh được che phủ trong im lặng. Tất cả những gì được ghi lại là phản ứng của những người đã biết và yêu mến Chúa, cùng những hậu quả về sau đối với lịch sử của Giáo Hội Cơ Đốc. Nhưng sự Đóng Đinh luôn luôn là biến cố nổi bật, đầy kịch tính, trên đó toàn bộ cấu trúc thần học Cơ Đốc được đặt nền. Chính trên điều này mà sự nhấn mạnh đã được đặt. Hàng triệu lời đã được viết về nó, và hàng ngàn sách cùng bình giảng đã cố gắng làm sáng tỏ ý nghĩa của nó và giải thích thâm nghĩa của huyền nhiệm ấy. Qua các thời đại, vô số quan điểm đã được trình bày để con người xem xét. Đã có nhiều sự diễn giải sai lầm, nhưng cũng có nhiều điều thiêng liêng chân thật đã được biểu lộ. Thượng đế đã bị trình bày sai nhiều lần, và sự diễn giải về điều Đức Christ đã làm đã bị bóp méo theo những quan điểm nhỏ hẹp của con người. Điều kỳ diệu của biến cố trên Núi Calvary đã được vén mở qua các kinh nghiệm được soi sáng của người tin và thức giả.

A new world order came into being when Christ came to earth, and from that time on we have moved steadily forward towards a new age wherein men inevitably will live as brothers because Christ died, and the true nature of the kingdom of God will find expression on earth. Of this, past [176] progress is the guarantee. The immediacy of this happening is already faintly understood by those who, as Christ has said, have the eyes to see and the ears to hear. Inevitably we are moving forward towards greatness, and Christ emphasised this in His life and work. We have not yet achieved this greatness, but the signs of it can be seen. Already there are indications of the coming of this new era, and the dim outlines of a new and more nearly ideal social structure, based on perfected humanity, are discernible. It is this perfection which is of importance.

Một trật tự thế giới mới đã xuất hiện khi Đức Christ đến Trái Đất, và từ thời điểm đó trở đi chúng ta đã đều đặn tiến tới một kỷ nguyên mới, trong đó con người tất yếu sẽ sống như huynh đệ vì Đức Christ đã chết, và bản chất đích thực của Thiên Giới sẽ tìm thấy sự biểu lộ trên Trái Đất. Về điều này, tiến bộ [176] trong quá khứ là bảo chứng. Tính gần kề của biến cố này đã được những ai, như Đức Christ đã nói, có mắt để thấy và tai để nghe, thấu hiểu một cách mờ nhạt. Tất yếu chúng ta đang tiến tới sự vĩ đại, và Đức Christ đã nhấn mạnh điều này trong đời sống và công việc của Ngài. Chúng ta chưa đạt được sự vĩ đại này, nhưng các dấu hiệu của nó có thể được nhìn thấy. Đã có những chỉ dấu về sự xuất hiện của kỷ nguyên mới này, và những đường nét mờ của một cơ cấu xã hội mới, gần với lý tưởng hơn, dựa trên nhân loại đã được hoàn thiện, có thể được phân biện. Chính sự hoàn thiện này mới là điều quan trọng.

One of the first things that it seems essential to recognise is the fact, the definite fact, that Christ’s Crucifixion must be lifted out of the realm of its purely individual application, into the realm of the universal and the whole. It may perhaps cause some consternation when we emphasise the necessity of realising that the death of the historical Christ upon the Cross was not primarily concerned with each individual man who claims to profit by it. It was a great cosmic event. Its implications and its results concern the masses of humanity, and do not concern specifically the individual. We are so apt to take to ourselves, as a personal affair, the many implications of Christ’s sacrifice. The selfishness of the spiritual aspirant is often very real.

Một trong những điều đầu tiên dường như thiết yếu phải nhận ra là sự kiện, sự kiện xác định, rằng sự Đóng Đinh của Đức Christ phải được nâng ra khỏi lĩnh vực áp dụng thuần túy cá nhân, để đi vào lĩnh vực phổ quát và toàn thể. Có lẽ điều này có thể gây một ít kinh ngạc khi chúng ta nhấn mạnh nhu cầu nhận ra rằng cái chết của Đức Christ lịch sử trên Thập Giá không chủ yếu liên quan đến từng cá nhân tuyên bố mình được hưởng lợi từ đó. Đó là một biến cố vũ trụ vĩ đại. Các hàm ý và kết quả của nó liên quan đến quần chúng nhân loại, và không đặc biệt liên quan đến cá nhân. Chúng ta rất dễ nhận lấy cho mình, như một chuyện cá nhân, nhiều hàm ý của sự hy sinh của Đức Christ. Tính ích kỷ của người chí nguyện tinh thần thường rất thật.

It is surely evident, if one approaches the subject intelligently, that Christ did not die in order that you and I might go to heaven. He died as the result of the very nature of the service which He rendered, of the note which He struck, and because He inaugurated a new age and told men how to live as sons of God.

Chắc chắn là hiển nhiên, nếu người ta tiếp cận đề tài này một cách thông minh, rằng Đức Christ không chết để các bạn và tôi có thể lên thiên đường. Ngài chết như kết quả của chính bản chất sự phụng sự mà Ngài đã thực hiện, của âm điệu mà Ngài đã đánh lên, và vì Ngài đã khai mở một kỷ nguyên mới, đồng thời nói cho con người biết cách sống như các Con của Thượng đế.

In considering the story of Jesus upon the Cross, it is essential, therefore, that we see it in broader and more general terms than is usually the case. Most of the treatises and writings upon the subject are controversial and argumentative, usually defending or attacking the evidence or the theology associated with the theme. Or they may be of a purely mystical or sentimental nature in tone and object, concerning themselves with the relation of the individual [177] to the truth or with his personal salvation in Christ. But in so doing, it is possible that the real elements of the story and their highest meaning have been lost. Two things emerge, however, from the research and the questioning of the past century. One is that the Gospel story is not unique, but has been paralleled in the lives of other Sons of God; secondly, that Christ was unique in His particular Person and mission, and that, from a specific angle, His appearance was unprecedented. No student of comparative religion will question the Christian parallels to earlier events. No man who has truly investigated with an open mind will deny that Christ was an integral part of a great continuity of revelation. God has never “left Himself without witness.” (Acts, XIV, 17.) And the salvation of mankind has always been close to the heart of the Father. To quote one writer who seeks to prove this continuity:

Vì vậy, khi xem xét câu chuyện về Đức Jesus trên Thập Giá, điều thiết yếu là chúng ta thấy nó theo những nghĩa rộng hơn và tổng quát hơn so với thông thường. Phần lớn các khảo luận và tác phẩm về đề tài này đều mang tính tranh luận và biện bác, thường bênh vực hoặc công kích bằng chứng hay nền thần học liên hệ với chủ đề. Hoặc chúng có thể mang âm điệu và mục tiêu thuần túy thần bí hay tình cảm, bận tâm đến mối liên hệ của cá nhân [177] với chân lý hoặc với sự cứu rỗi cá nhân của y trong Đức Christ. Nhưng khi làm như vậy, có thể những yếu tố thật sự của câu chuyện và ý nghĩa cao nhất của chúng đã bị mất đi. Tuy nhiên, hai điều nổi lên từ công cuộc nghiên cứu và chất vấn của thế kỷ vừa qua. Một là câu chuyện Phúc Âm không phải là độc nhất, mà đã có những điều tương ứng trong đời sống của các Con của Thượng đế khác; thứ hai, Đức Christ đã độc nhất trong Ngôi vị và sứ mệnh đặc thù của Ngài, và từ một góc độ riêng biệt, sự xuất hiện của Ngài là chưa từng có. Không đạo sinh nào của tôn giáo đối chiếu sẽ đặt nghi vấn về những song hành Cơ Đốc với các biến cố trước đó. Không người nào đã thật sự khảo sát với một trí óc cởi mở sẽ phủ nhận rằng Đức Christ là một phần không thể tách rời của một dòng mặc khải liên tục vĩ đại. Thượng đế chưa bao giờ “để chính Ngài không có chứng nhân.” (Công Vụ, XIV, 17.) Và sự cứu rỗi nhân loại luôn luôn gần gũi với trái tim của Cha. Để trích dẫn một tác giả tìm cách chứng minh tính liên tục này:

“At the time of the life or recorded appearance of Jesus of Nazareth and for some centuries before, the Mediterranean and neighbouring world had been the scene of a vast number of pagan creeds and rituals. There were Temples without end dedicated to gods like Apollo or Dionysus among the Greeks, Hercules among the Romans, Mithra among the Persians, Adonis and Arris in Syria and Phrygia, Osiris and Isis and Horus in Egypt, Baal and Astarte among the Babylonians and Carthaginians, and so forth. Societies, large or small, united believers and the devout in the service or ceremonials connected with their respective deities, and in the creeds which they confessed concerning these deities. And an extraordinarily interesting fact, for us, is that, notwithstanding great geographical distances and racial differences in the details of their services, the general outlines of their creeds and ceremonials were—if not identical—so markedly similar as we find them.

“Vào thời điểm đời sống hay sự xuất hiện được ghi lại của Đức Jesus thành Nazareth, và trong vài thế kỷ trước đó, vùng Địa Trung Hải và thế giới lân cận đã là sân khấu của vô số tín ngưỡng và nghi lễ ngoại giáo. Có vô tận những Đền thờ được dâng hiến cho các vị thần như Apollo hay Dionysus nơi người Hy Lạp, Hercules nơi người La Mã, Mithra nơi người Ba Tư, Adonis và Arris ở Syria và Phrygia, Osiris, Isis và Horus ở Ai Cập, Baal và Astarte nơi người Babylon và Carthage, vân vân. Những hội đoàn, lớn hay nhỏ, đã hợp nhất các tín đồ và những người mộ đạo trong sự phụng sự hoặc các nghi thức liên hệ với các thần linh tương ứng của họ, và trong các tín điều mà họ tuyên xưng về các thần linh ấy. Và một sự kiện đặc biệt thú vị đối với chúng ta là, bất chấp những khoảng cách địa lý lớn lao và những khác biệt chủng tộc trong các chi tiết phụng sự của họ, những đường nét tổng quát của tín điều và nghi thức của họ—nếu không đồng nhất—thì cũng giống nhau rõ rệt đến mức như chúng ta thấy.

“I cannot of course go at length into these different cults, but I may say roughly that of all or nearly all the deities above-mentioned it was said and believed that:

“Dĩ nhiên tôi không thể đi dài dòng vào các giáo phái khác nhau này, nhưng có thể nói đại khái rằng về tất cả hoặc gần như tất cả các thần linh đã nêu trên, người ta đã nói và tin rằng:

1. They were born on or very near our Christmas Day.

1. Các vị ấy được sinh ra vào, hoặc rất gần, Ngày Giáng Sinh của chúng ta.

2. They were born of a Virgin-Mother. [178]

2. Các vị ấy được sinh ra từ một Người Mẹ Đồng Trinh. [178]

3. And in a Cave or Underground Chamber.

3. Và trong một Hang Động hoặc Phòng Ngầm.

4. They led a life of toil for Mankind.

4. Các vị ấy sống một đời lao nhọc vì Nhân loại.

5. And were called by the names of Light-bringer, Healer, Mediator, Saviour, Deliverer.

5. Và được gọi bằng các danh hiệu Đấng Mang Ánh Sáng, Đấng Chữa Lành, Đấng Trung Gian, Đấng Cứu Thế, Đấng Giải Thoát.

6. They were, however, vanquished by the Powers of Darkness.

6. Tuy nhiên, các vị ấy bị các Quyền Lực Bóng Tối đánh bại.

7. And descended into Hell or the Underworld.

7. Và đi xuống Địa Ngục hay Cõi Âm.

8. They rose again from the dead, and became the pioneers of mankind to the Heavenly world.

8. Các vị ấy sống lại từ cõi chết, và trở thành những người tiên phong của nhân loại đến cõi thiên thượng.

9. They founded Communions of Saints and Churches into which disciples were received by Baptism.

9. Các vị ấy sáng lập các Cộng Đồng Thánh Đồ và Giáo Hội, trong đó các đệ tử được tiếp nhận bằng Phép Rửa.

10. And they were commemorated by Eucharistic meals.

10. Và các vị ấy được tưởng niệm bằng những bữa ăn Thánh Thể.

‘PAGAN AND CHRISTIAN CREEDS, BY EDWARD CARPENTER, PP. 20, 21.

‘CÁC TÍN ĐIỀU NGOẠI GIÁO VÀ CƠ ĐỐC, CỦA EDWARD CARPENTER, TR. 20, 21.

These facts can be checked by anyone who cares to do so and who is sufficiently interested to trace the growth of the doctrine of world Saviours in world idealism. Edward Carpenter goes on to say, in the same book:

Những sự kiện này có thể được kiểm chứng bởi bất cứ ai muốn làm như vậy và đủ quan tâm để truy tìm sự phát triển của giáo lý về các Đấng Cứu Thế trong chủ nghĩa lý tưởng thế giới. Edward Carpenter tiếp tục nói, trong cùng cuốn sách:

“The number of pagan deities (mostly virgin-born and done to death in some way or other in their efforts to save mankind) is so great as to be difficult to keep account of. The god Krishna in India, the god Indra in Nepal and Tibet spilt their blood for the salvation of men; Buddha said, according to Max Müller, ‘Let all the sins that were in the world fall on me, that the world may be delivered;’ the Chinese Tien the Holy One—‘one with God and existing with him from all eternity’—died to save the world; The Egyptian Osiris was called Saviour, so was Horus; so was the Persian Mithra; so was the Greek Hercules who overcame Death though his body was consumed in the burning garment of mortality, out of which he rose into heaven. So also was the Phrygian Attis called Saviour, and the Syrian Tammuz or Adonis likewise—both of whom, as we have seen, were nailed or tied to a tree, and afterwards rose again from their biers or coffins. Prometheus, the greatest and earliest benefactor of the human race, was nailed by the hands and the feet, and with arms extended, to the rocks of Mount Caucasus. Bacchus or Dionysus, born of the virgin Semele to be the Liberator of mankind (Dionysus Eleutherios as he was called) was torn to pieces, not unlike Osiris. Even in far Mexico [179] Quetzalcoatl, the Saviour, was born of a virgin, was tempted, and fasted forty days, was done to death, and his second coming looked for so eagerly that (as is well known) when Cortes appeared, the Mexicans, poor things, greeted him as the returning god! In Peru and among the American Indians, North and South of the Equator, similar legends are, or were, to be found.”

“Số lượng các thần linh ngoại giáo, phần lớn được sinh bởi trinh nữ và bị giết bằng cách này hay cách khác trong nỗ lực cứu nhân loại, nhiều đến mức khó mà ghi nhớ hết. Vị thần Krishna ở Ấn Độ, vị thần Indra ở Nepal và Tây Tạng đã đổ máu mình vì sự cứu rỗi con người; Đức Phật, theo Max Müller, đã nói: ‘Hãy để mọi tội lỗi từng có trong thế gian rơi xuống ta, để thế gian được giải thoát;’ vị Tien Chí Thánh của Trung Hoa—‘một với Thượng đế và hiện hữu với Ngài từ muôn đời’—đã chết để cứu thế gian; Osiris của Ai Cập được gọi là Đấng Cứu Thế, Horus cũng vậy; Mithra của Ba Tư cũng vậy; Hercules của Hy Lạp cũng vậy, người đã chiến thắng Cái Chết dù thể xác của ông bị thiêu rụi trong chiếc áo cháy của tính hữu tử, từ đó ông vươn lên thiên đường. Attis của Phrygia cũng được gọi là Đấng Cứu Thế, và Tammuz hay Adonis của Syria cũng vậy—cả hai vị, như chúng ta đã thấy, bị đóng đinh hoặc buộc vào một cái cây, rồi sau đó sống lại từ cáng tang hay quan tài của mình. Prometheus, ân nhân vĩ đại nhất và sớm nhất của nhân loại, bị đóng đinh qua bàn tay và bàn chân, với hai cánh tay dang rộng, vào các vách đá của Núi Caucasus. Bacchus hay Dionysus, sinh bởi trinh nữ Semele để trở thành Đấng Giải Phóng nhân loại, Dionysus Eleutherios như ông được gọi, đã bị xé thành từng mảnh, không khác Osiris. Ngay cả ở Mexico xa xôi [179] Quetzalcoatl, Đấng Cứu Thế, cũng được sinh bởi một trinh nữ, bị cám dỗ, nhịn ăn bốn mươi ngày, bị giết chết, và lần đến thứ hai của ông được trông đợi nôn nóng đến nỗi, như ai cũng biết, khi Cortes xuất hiện, những người Mexico đáng thương đã chào đón ông như vị thần trở lại! Ở Peru và giữa các thổ dân Châu Mỹ, Bắc và Nam Xích Đạo, những truyền thuyết tương tự vẫn có, hoặc đã từng có.”

‘PAGAN AND CHRISTIAN CREEDS, BY EDWARD CARPENTER, PP. 129, 130.

‘CÁC TÍN ĐIỀU NGOẠI GIÁO VÀ CƠ ĐỐC, CỦA EDWARD CARPENTER, TR. 129, 130.

Into the argument for and against these ideas it is no part of this book to enter. The only question which is of importance for us is what part Christ really played as the World Saviour, and what constituted the uniqueness of His mission. What was this world to which He came; and what is the significance of His death to the average human being today? Are the facts of His life historically true; and was there a period in our racial history wherein He walked and talked and lived an ordinary human life? Did He serve His race and return to the Source whence He came?

Bước vào cuộc tranh luận ủng hộ hay chống lại các ý tưởng này không phải là phần việc của cuốn sách này. Câu hỏi duy nhất quan trọng đối với chúng ta là Đức Christ thật sự đã đóng vai trò gì với tư cách Đấng Cứu Thế của thế gian, và điều gì tạo nên tính độc đáo trong sứ mệnh của Ngài. Thế giới mà Ngài đã đến là gì; và thâm nghĩa của cái chết của Ngài đối với con người bình thường ngày nay là gì? Các sự kiện trong đời Ngài có chân thật về mặt lịch sử không; và đã có một thời kỳ trong lịch sử nhân loại của chúng ta, trong đó Ngài đã đi lại, nói năng và sống một đời người bình thường không? Ngài đã phụng sự nhân loại của Ngài và trở về Nguồn mà từ đó Ngài đã đến chăng?

The fact of Christ constitutes no problem to those who know Him. They realise, past all controversy, that He exists. They know Whom they have believed. (II Timothy, I, 12.) For them, His reality cannot be disproved. They may differ among themselves as to the emphasis to be laid upon the various theological interpretations of His life story, but Christ they know, and with Him they tread life’s pathway. They may argue about whether He was God or man, or God-Man, or Man-God, but on one point they all agree, and that is that He was God and Man, manifesting in one body. They may struggle to perpetuate the memory of the dead Christ upon the Cross, or they may endeavour to live by the life of the risen Christ, but to the reality of Christ Himself they all bear testimony, and by the multitude of witnesses the fact is surely established. The one who knows cannot doubt.

Sự kiện về Đức Christ không tạo thành vấn đề đối với những ai biết Ngài. Họ nhận ra, vượt trên mọi tranh cãi, rằng Ngài hiện hữu. Họ biết Đấng mà họ đã tin. (II Ti-mô-thê, I, 12.) Đối với họ, thực tại của Ngài không thể bị bác bỏ. Họ có thể khác nhau về trọng tâm cần đặt lên các diễn giải thần học khác nhau về câu chuyện đời Ngài, nhưng họ biết Đức Christ, và cùng Ngài họ bước trên con đường đời. Họ có thể tranh luận về việc Ngài là Thượng đế hay con người, hay Thượng đế-Người, hay Người-Thượng đế, nhưng về một điểm họ đều đồng ý, đó là Ngài vừa là Thượng đế vừa là Con Người, biểu hiện trong một thân thể duy nhất. Họ có thể tranh đấu để duy trì ký ức về Đức Christ đã chết trên Thập Giá, hoặc họ có thể cố gắng sống bằng sự sống của Đức Christ phục sinh, nhưng tất cả họ đều làm chứng cho thực tại của chính Đức Christ, và nhờ vô số chứng nhân, sự kiện ấy chắc chắn được thiết lập. Người biết thì không thể nghi ngờ.

Christianity is the restatement of a very old doctrine. It is not new. It is so essential to the salvation and to the happiness of the world that God has always proclaimed it. [180] The Gospel narratives are dependable and true, just because they are integrated with the spiritual revelation of the past, and are being reinterpreted today in terms of Christ. Therefore, mankind being more evolved and intelligent, that reinterpretation will more readily and adequately meet humanity’s need. But it is no new thing, and Christ never proclaimed Himself in such terms. He foretold a new age and a coming kingdom of God. Out of the wide sweep of time and out of the aeonian grasp of God’s consciousness, mankind is only today beginning to see a world and a humanity ready for the new revelation—a revelation which will be based upon truly Christian ethics and vital Christian truths. That for which Christ stood, the truth which He embodies, is so old that there has never been a time when it was not present as a need in the human consciousness, and yet it is so new that there will never be a time when the story of the birth and the death of the world Saviour will not be of the utmost moment to man. Edward Carpenter points this out, throwing light upon this ceaseless and age-old focussing of the love of God and the desire of man in the person of a son of God. He says:

Cơ Đốc giáo là sự tái tuyên bố một giáo lý rất xưa. Nó không mới. Nó thiết yếu đến mức đối với sự cứu rỗi và hạnh phúc của thế gian, Thượng đế đã luôn luôn công bố nó. [180] Các trình thuật Phúc Âm đáng tin cậy và chân thật, chính vì chúng được tích hợp với sự mặc khải tinh thần của quá khứ, và ngày nay đang được diễn giải lại theo các thuật ngữ của Đức Christ. Vì vậy, khi nhân loại đã tiến hoá hơn và thông minh hơn, sự diễn giải lại ấy sẽ dễ dàng hơn và đầy đủ hơn đáp ứng nhu cầu của nhân loại. Nhưng đó không phải là điều gì mới, và Đức Christ chưa bao giờ tự tuyên bố Ngài theo những thuật ngữ như thế. Ngài tiên báo một kỷ nguyên mới và một Thiên Giới sắp đến. Từ tầm bao quát rộng lớn của thời gian và từ sự nắm bắt theo các đại kiếp của tâm thức Thượng đế, chỉ ngày nay nhân loại mới bắt đầu thấy một thế giới và một nhân loại sẵn sàng cho sự mặc khải mới—một sự mặc khải sẽ được đặt nền trên đạo đức Cơ Đốc thật sự và các chân lý Cơ Đốc sống động. Điều mà Đức Christ đại diện, chân lý mà Ngài hiện thân, xưa đến nỗi chưa từng có một thời nào nó không hiện diện như một nhu cầu trong tâm thức con người, nhưng lại mới đến nỗi sẽ không bao giờ có một thời nào mà câu chuyện về sự sinh ra và cái chết của Đấng Cứu Thế của thế gian không có tầm quan trọng tối thượng đối với con người. Edward Carpenter chỉ ra điều này, chiếu sáng sự tập trung không ngừng và lâu đời này của tình thương Thượng đế và ước vọng của con người nơi ngôi vị của một Con của Thượng đế. Ông nói:

“If the historicity of Jesus, in any degree, could be proved, it would give us reason for supposing—what I have personally always been inclined to believe—that there was also a historical nucleus for such personages as Osiris, Mithra, Krishna, Hercules, Apollo and the rest. The question, in fact, narrows itself down to this, Have there been in the course of human evolution certain, so to speak, nodal points or periods at which the psychologic currents ran together and condensed themselves for a new start, and has each such node or point of condensation been marked by the appearance of an actual and heroic man (or woman) who supplied a necessary impetus for the new departure, and gave his name to the resulting movement? or is it sufficient to suppose the automatic formation of such nodes or starting-points without the intervention of any special hero or genius, and to imagine that in each case the myth-making tendency of mankind created a legendary and inspiring figure and worshipped the same for a long period afterwards as a god? [181]

“Nếu tính lịch sử của Đức Jesus, ở bất cứ mức độ nào, có thể được chứng minh, thì điều đó sẽ cho chúng ta lý do để giả định—điều mà cá nhân tôi luôn có khuynh hướng tin—rằng cũng đã có một hạt nhân lịch sử cho những nhân vật như Osiris, Mithra, Krishna, Hercules, Apollo và các vị khác. Thật ra, câu hỏi thu hẹp lại thành điều này: Trong dòng tiến hoá của con người, liệu đã từng có những điểm hay thời kỳ, có thể nói là nút, nơi các dòng tâm lý hội tụ và cô đọng lại để khởi đầu mới, và mỗi nút hay điểm cô đọng như thế có được đánh dấu bằng sự xuất hiện của một người nam hay nữ thật sự và anh hùng, người đã cung cấp xung lực cần thiết cho bước khởi đầu mới, và trao tên mình cho phong trào phát sinh hay không? hay chỉ cần giả định sự hình thành tự động của những nút hay điểm khởi đầu như thế mà không có sự can thiệp của bất kỳ anh hùng hay thiên tài đặc biệt nào, và tưởng tượng rằng trong mỗi trường hợp, khuynh hướng tạo huyền thoại của nhân loại đã sáng tạo nên một hình tượng huyền thoại và đầy cảm hứng, rồi tôn thờ hình tượng ấy trong một thời gian dài về sau như một vị thần? [181]

“As I have said before, this is a question which, interesting as it is, is not really very important. The main thing being that the prophetic and creative spirit of mankind has from time to time evolved those figures as idealisations of its ‘heart’s desire’ and placed a halo round their heads. The long procession of them becomes a real piece of History—the history of the evolution of the human heart, and of human consciousness.”

“Như tôi đã nói trước đây, đây là một câu hỏi, dù thú vị, nhưng thật ra không quá quan trọng. Điều chính yếu là tinh thần tiên tri và sáng tạo của nhân loại đã thỉnh thoảng tiến hoá nên những hình tượng ấy như những lý tưởng hoá của ‘ước vọng trái tim’ mình và đặt một vầng hào quang quanh đầu họ. Đoàn dài những hình tượng ấy trở thành một mảnh lịch sử thật sự—lịch sử của sự tiến hoá trái tim con người và tâm thức con người.”

‘PAGAN AND CHRISTIAN CREEDS’, BY EDWARD CARPENTER, PP. 217, 218.

‘CÁC TÍN ĐIỀU NGOẠI GIÁO VÀ CƠ ĐỐC’, CỦA EDWARD CARPENTER, TR. 217, 218.

The Crucifixion and the Cross of Christ are as old as humanity itself. Both are symbols of the eternal sacrifice of God as He immerses Himself in the form aspect of nature and thus becomes God immanent as well as God transcendent.

Sự Đóng Đinh và Thập Giá của Đức Christ xưa như chính nhân loại. Cả hai đều là biểu tượng của sự hy sinh vĩnh cửu của Thượng đế khi Ngài tự dìm mình vào phương diện hình tướng của thiên nhiên, và nhờ đó trở thành Thượng đế nội tại cũng như Thượng đế siêu việt.

We have seen that Christ must be recognised, first of all, in the cosmic sense. The cosmic Christ has existed from all eternity. This cosmic Christ is divinity, or spirit, crucified in space. He personifies the immolation or sacrifice of spirit upon the cross of matter, of form or substance, in order that all divine forms, including the human, may live. This has ever been recognised by the so-called pagan faiths. If the symbolism of the cross is traced far back, it will be found that it antedates Christianity by thousands of years, and that finally, the four arms of the cross will be seen to drop away, leaving only the picture of the living Heavenly Man, with His arms outspread in space. North, south, east and west stands the cosmic Christ upon what is called “the fixed cross of the heavens.” Upon this cross God is eternally crucified.

Chúng ta đã thấy rằng trước hết Đức Christ phải được nhận ra theo nghĩa vũ trụ. Đức Christ vũ trụ đã hiện hữu từ muôn đời. Đức Christ vũ trụ này là thiên tính, hay tinh thần, bị đóng đinh trong không gian. Ngài nhân cách hóa sự hiến tế hay hy sinh của tinh thần trên thập giá của vật chất, của hình tướng hay chất liệu, để mọi hình tướng thiêng liêng, kể cả hình tướng nhân loại, có thể sống. Điều này luôn luôn được các tín ngưỡng gọi là ngoại giáo thừa nhận. Nếu biểu tượng thập giá được truy nguyên thật xa, người ta sẽ thấy rằng nó có trước Cơ Đốc giáo hàng ngàn năm, và cuối cùng, bốn cánh tay của thập giá sẽ được thấy là rơi rụng đi, chỉ còn lại hình ảnh Đấng Thiên Nhân sống động, với hai cánh tay Ngài dang rộng trong không gian. Ở bắc, nam, đông và tây, Đức Christ vũ trụ đứng trên cái được gọi là “thập giá cố định của các tầng trời.” Trên thập giá này, Thượng đế vĩnh viễn bị đóng đinh.

“The sky is mystically spoken of as the Temple and the eternal consciousness of God. Its altar is the sun, whose four arms or rays typify the four corners or the cardinal cross of the universe, which have become the four fixed signs of the Zodiac, and as the four powerful sacred animal signs, are both cosmical and spiritual…. These four are known as the consecrated animals of the Zodiac, while the signs themselves represent the basic fundamental elements of life, Fire, Earth, Air and Water.”

“Bầu trời được nói đến một cách thần bí như Đền Thờ và tâm thức vĩnh cửu của Thượng đế. Bàn thờ của nó là mặt trời, mà bốn cánh tay hay tia sáng tượng trưng cho bốn góc hay Thập Giá Chủ Yếu của vũ trụ, vốn đã trở thành bốn dấu hiệu cố định của Hoàng Đạo, và với tư cách bốn dấu hiệu linh thú thiêng liêng đầy quyền lực, vừa có tính vũ trụ vừa có tính tinh thần…. Bốn dấu hiệu này được biết đến như các linh thú thánh hiến của Hoàng Đạo, trong khi chính các dấu hiệu ấy đại diện cho các nguyên tố căn bản nền tảng của sự sống: Lửa, Đất, Khí và Nước.”

‘THE CELESTIAL SHIP OF THE NORTH, BY E. V. STRAITON, VOL. I, P. 104.

‘CON TÀU THIÊN GIỚI CỦA PHƯƠNG BẮC, CỦA E. V. STRAITON, QUYỂN I, TR. 104.

[182] These four signs are Taurus, Leo, Scorpio and Aquarius, and they constitute pre-eminently the cross of the soul, the cross upon which the second Person of the divine Trinity is crucified. Christ personified in His mission these four aspects, and as the cosmic Christ He exemplified in His Person the qualities for which each sign stood. Even primitive man, unevolved and ignorant, was aware of the significance of the cosmic spirit, immolated in matter and crucified upon the four-armed cross. These four signs are to be found unequivocally in the Bible, and are regarded in our Christian belief as the four sacred animals. The Prophet Ezekiel refers to them in the words:

[182] Bốn dấu hiệu này là Kim Ngưu, Sư Tử, Hổ Cáp và Bảo Bình, và chúng tạo thành, một cách nổi bật nhất, thập giá của linh hồn, thập giá mà trên đó Ngôi Hai của Ba Ngôi thiêng liêng chịu đóng đinh. Trong sứ mạng của Ngài, Đức Christ đã nhân cách hóa bốn phương diện này, và với tư cách Đức Christ vũ trụ, Ngài đã nêu gương nơi Chính Ngài những phẩm tính mà mỗi dấu hiệu biểu thị. Ngay cả con người nguyên thủy, chưa tiến hóa và vô minh, cũng đã nhận biết thâm nghĩa của tinh thần vũ trụ, bị hiến tế trong vật chất và bị đóng đinh trên thập giá bốn tay. Bốn dấu hiệu này có thể được tìm thấy một cách rõ ràng trong Kinh Thánh, và trong niềm tin Cơ Đốc giáo của chúng ta, chúng được xem là bốn con vật thiêng liêng. Tiên tri Ezekiel nói đến chúng bằng những lời sau:

“As for the likeness of their faces, they four had the face of a man, and the face of a lion, on the right side; and they four had the face of an ox on the left side; they four also had the face of an eagle.” (Ezekiel, I , 10.)

“Về hình dạng các khuôn mặt của chúng, cả bốn đều có mặt người, và mặt sư tử ở bên phải; cả bốn đều có mặt bò ở bên trái; cả bốn cũng có mặt đại bàng.” (Ezekiel, I, 10.)

And again in the Book of Revelations, we find the same astrological symbology:

Và một lần nữa trong Sách Khải Huyền, chúng ta thấy cùng biểu tượng chiêm tinh ấy:

“And before the throne there was a sea of glass like unto crystal: and in the midst of the throne, and round about the throne, were four beasts full of eyes, before and behind.

“Và trước ngai có một biển bằng thủy tinh giống như pha lê; và ở giữa ngai, cùng quanh ngai, có bốn sinh vật đầy mắt, phía trước và phía sau.

“And the first beast was like a lion, and the second beast was like a calf, and the third beast had a face as a man, and the fourth beast was like a flying eagle.”

“Sinh vật thứ nhất giống như sư tử, sinh vật thứ hai giống như bò con, sinh vật thứ ba có mặt như người, và sinh vật thứ tư giống như đại bàng đang bay.”

REVELATIONS, IV, 6, 7.

KHẢI HUYỀN, IV, 6, 7.

The “face of the man” is the ancient sign of Aquarius, the sign of the man carrying the water-pot, to which Christ referred when He sent His disciples into the city, saying: “Behold, when ye are entered into the city, there shall a man meet you, bearing a pitcher of water; follow him into the house where he entereth in.” (St. Luke, XXII, 10.) This is the zodiacal sign into which we are entering. It might be as well to point out that this is astronomically true and not simply a pronouncement [183] of the astrologers. The symbol which stands for the zodiacal sign Leo, is the Lion. This sign is the symbol of individuality, and under its influence the race arrives at self-consciousness and men can function as individuals. Christ, in His teaching, emphasised the significance of the individual and in His life demonstrated the supreme value of the individual, his perfecting, his service and his ultimate sacrifice in the interests of the whole. The constellation Aquila is always regarded as interchangeable with the sign Scorpio, the serpent, and it is therefore frequently used in this connection when considering the fixed cross of the cosmic Saviour. Scorpio is the serpent of illusion from which the Christ nature finally frees us, and it is to the illusory wiles of this serpent Scorpio that Adam succumbed in the garden of Eden. The “face of the ox” is the biblical symbol for the sign Taurus, the Bull, which was the religion immediately antedating the Jewish revelation, and which found its exponents in Egypt and in the Mithraic Mysteries. Upon this fixed cross all the world Saviours, not excepting the Christ of the West, have been eternally crucified, as reminders to man of the divine intent based upon the divine sacrifice.

“Mặt người” là dấu hiệu cổ xưa của Bảo Bình, dấu hiệu của người mang vò nước, mà Đức Christ đã nhắc đến khi Ngài sai các đệ tử của Ngài vào thành, nói rằng: “Này, khi các ngươi vào thành, sẽ có một người mang vò nước gặp các ngươi; hãy theo người ấy vào nhà nơi người ấy đi vào.” (Thánh Luke, XXII, 10.) Đây là dấu hiệu hoàng đạo mà chúng ta đang bước vào. Có lẽ cũng nên chỉ ra rằng điều này đúng về mặt thiên văn, chứ không chỉ là một tuyên bố [183] của các nhà chiêm tinh. Biểu tượng đại diện cho dấu hiệu hoàng đạo Sư Tử là con Sư Tử. Dấu hiệu này là biểu tượng của cá tính, và dưới ảnh hưởng của nó, nhân loại đạt đến ngã thức và con người có thể hoạt động như những cá nhân. Trong giáo huấn của Ngài, Đức Christ đã nhấn mạnh thâm nghĩa của cá nhân, và trong đời sống của Ngài, Ngài đã chứng minh giá trị tối thượng của cá nhân, sự hoàn thiện của y, sự phụng sự của y và sự hy sinh tối hậu của y vì lợi ích của toàn thể. Chòm sao Aquila luôn được xem là có thể hoán đổi với dấu hiệu Hổ Cáp, con rắn, và vì thế thường được dùng trong mối liên hệ này khi xét đến thập giá cố định của Đấng Cứu Thế vũ trụ. Hổ Cáp là con rắn của ảo tưởng mà bản chất Christ cuối cùng giải thoát chúng ta khỏi nó, và chính trước những mưu chước ảo tưởng của con rắn Hổ Cáp này mà Adam đã khuất phục trong vườn Eden. “Mặt bò” là biểu tượng Kinh Thánh cho dấu hiệu Kim Ngưu, con Bò, vốn là tôn giáo ngay trước mặc khải Do Thái, và đã tìm thấy những người diễn giải của nó ở Ai Cập và trong các Bí nhiệm Mithra. Trên thập giá cố định này, tất cả các Đấng Cứu Thế của thế giới, kể cả Đức Christ của phương Tây, đã vĩnh viễn chịu đóng đinh, như những lời nhắc nhở con người về ý định thiêng liêng đặt nền trên hy sinh thiêng liêng.

The early Fathers recognised this truth, and realised that the story written in the heavens had a definite relation to humanity and to the evolution of human souls. Clement of Alexandria tells us that “the path of souls to ascension lies through the twelve signs of the zodiac,” and the church festivals today are based, not upon historical dates in connection with the outstanding religious figures to which they refer, but upon the times and the seasons. We saw how in the Birth at Bethlehem the date was fixed astronomically nearly four centuries after Christ was born. The combination of Virgo with the Star in the East (Sirius), and the Three Kings (symbolised by Orion’s belt) was the determining factor. The Virgin was seen in the east, with the line of the horizon passing through her centre, and this is one of the factors determining the doctrine of the Virgin birth.

Các Giáo phụ thời đầu đã nhận ra chân lý này, và nhận biết rằng câu chuyện được viết trên các tầng trời có một liên hệ xác định với nhân loại và với sự tiến hóa của các linh hồn nhân loại. Clement thành Alexandria nói với chúng ta rằng “con đường của các linh hồn đi lên nằm xuyên qua mười hai dấu hiệu hoàng đạo,” và các lễ hội của giáo hội ngày nay không đặt nền trên những niên đại lịch sử liên hệ với các nhân vật tôn giáo nổi bật mà chúng nói đến, mà đặt nền trên các thời điểm và mùa tiết. Chúng ta đã thấy trong Sự Giáng Sinh tại Bethlehem, niên đại đã được ấn định theo thiên văn gần bốn thế kỷ sau khi Đức Christ ra đời. Sự kết hợp của Xử Nữ với Ngôi Sao phương Đông, Sirius, và Ba Vua, được biểu tượng hóa bởi thắt lưng Orion, là yếu tố quyết định. Trinh Nữ được thấy ở phương đông, với đường chân trời đi qua trung tâm của nàng, và đây là một trong những yếu tố quyết định giáo lý về sự sinh hạ đồng trinh.

[184] Another instance can here be given to illustrate the astronomical background of our Christian festivals. There are two festivals kept in the Roman Catholic and the higher Anglican Churches, called the Assumption of the Virgin and the Birth of the Virgin Mary. One is celebrated on August 15th and the other on September 8th. Each year, the sun can be seen entering the sign Virgo about the time of the Assumption, and the entire constellation is enveloped and lost to sight in the radiant glory of the sun. About September 8th the constellation Virgo can be seen slowly reappearing as it emerges from the rays of the sun. This is spoken of as the birth of the Virgin.

[184] Ở đây có thể nêu một ví dụ khác để minh họa nền tảng thiên văn của các lễ hội Cơ Đốc giáo của chúng ta. Có hai lễ hội được giữ trong Giáo hội Công giáo La Mã và các Giáo hội thuộc truyền thống High Church của Anh giáo, gọi là Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời và Lễ Sinh Nhật Đức Trinh Nữ Maria. Một lễ được cử hành vào ngày 15 tháng Tám và lễ kia vào ngày 8 tháng Chín. Mỗi năm, có thể thấy mặt trời đi vào dấu hiệu Xử Nữ vào khoảng thời gian Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, và toàn bộ chòm sao bị bao phủ và khuất khỏi tầm nhìn trong vinh quang rạng rỡ của mặt trời. Vào khoảng ngày 8 tháng Chín, có thể thấy chòm sao Xử Nữ từ từ xuất hiện trở lại khi nó thoát ra khỏi các tia sáng của mặt trời. Điều này được gọi là sự sinh ra của Trinh Nữ.

Easter Day is always decided astronomically. These facts warrant the most careful consideration. This information should be in the hands of all Christian people, because then and only then can they arrive at a full and clear understanding of what, in His cosmic nature, Christ came to Earth to do. That event was of far greater importance than simply bringing about the salvation of any individual human being. It signified far more than the basis of the belief of several million people in their heavenly future. Christ’s incarnation, apart from its historical value, and apart from the keynote which He sounded, marked the closing of a great cosmic cycle, but it marked also the opening of that door into the kingdom which had opened only occasionally theretofore, in order to permit the entrance of those sons of God who had triumphed over matter. After the advent of Christ, the door stood wide open for all time, and the kingdom of God began to form on Earth. In the long processes of time four great expressions of divine life, four forms of God immanent in nature, have appeared upon our planet. We call them the four kingdoms of nature. They constitute, symbolically, the planetary reflection of the four arms of the zodiacal cross upon which the cosmic Christ can be seen crucified. Down the ages human beings have symbolised the cosmic Christ immolated upon the cross of matter, and thus have perpetuated in the [185] consciousness of the race the knowledge of that event; so in a planetary sense, the four kingdoms of nature do the same, portraying the spirit of God stretched upon a cross of material form, in order eventually to make possible the appearance of the kingdom of God on Earth. This connotes the spiritualisation of matter and form, the assumption of matter into heaven, and the release of God from the cosmic crucifixion. The poet, Joseph Plunkett, makes this beautifully clear in the following verses:

Ngày Lễ Phục Sinh luôn được quyết định theo thiên văn. Những sự kiện này đáng được xem xét hết sức cẩn trọng. Thông tin này nên nằm trong tay mọi tín đồ Cơ Đốc giáo, bởi khi ấy và chỉ khi ấy họ mới có thể đạt đến một sự thấu hiểu đầy đủ và rõ ràng về điều mà, trong bản chất vũ trụ của Ngài, Đức Christ đã đến Trái Đất để thực hiện. Biến cố ấy có tầm quan trọng lớn lao hơn nhiều so với việc chỉ đem lại sự cứu rỗi cho bất kỳ con người cá nhân nào. Nó hàm ý nhiều hơn nền tảng của niềm tin nơi vài triệu người về tương lai thiên thượng của họ. Sự lâm phàm của Đức Christ, ngoài giá trị lịch sử của nó, và ngoài chủ âm mà Ngài đã xướng lên, đã đánh dấu sự kết thúc của một chu kỳ vũ trụ lớn, nhưng nó cũng đánh dấu việc mở ra cánh cửa vào Thiên Giới, vốn trước đó chỉ thỉnh thoảng mới mở, để cho phép những Con của Thượng đế đã chiến thắng vật chất được đi vào. Sau sự giáng lâm của Đức Christ, cánh cửa ấy mở rộng mãi mãi, và Thiên Giới bắt đầu hình thành trên Trái Đất. Trong các tiến trình lâu dài của thời gian, bốn biểu hiện lớn lao của sự sống thiêng liêng, bốn hình tướng của Thượng đế nội tại trong thiên nhiên, đã xuất hiện trên hành tinh chúng ta. Chúng ta gọi chúng là bốn giới của thiên nhiên. Về mặt biểu tượng, chúng tạo thành sự phản chiếu hành tinh của bốn tay của thập giá hoàng đạo, trên đó có thể thấy Đức Christ vũ trụ chịu đóng đinh. Qua các thời đại, con người đã biểu tượng hóa Đức Christ vũ trụ bị hiến tế trên thập giá vật chất, và như thế đã duy trì trong [185] tâm thức của nhân loại tri thức về biến cố ấy; vì vậy, theo nghĩa hành tinh, bốn giới của thiên nhiên cũng làm điều tương tự, khắc họa tinh thần của Thượng đế trải rộng trên một thập giá của hình tướng vật chất, để cuối cùng khiến sự xuất hiện của Thiên Giới trên Trái Đất trở nên khả hữu. Điều này hàm ý sự tinh thần hóa vật chất và hình tướng, sự nâng vật chất lên cõi trời, và sự giải thoát Thượng đế khỏi cuộc đóng đinh vũ trụ. Thi sĩ Joseph Plunkett làm sáng tỏ điều này một cách đẹp đẽ trong những câu thơ sau:

“I see His blood upon the rose

“Tôi thấy máu Ngài trên đóa hồng

And in the stars the glory of His eyes,

Và trong các vì sao là vinh quang của đôi mắt Ngài,

His body gleams amid eternal snows,

Thân thể Ngài lấp lánh giữa những tuyết vĩnh cửu,

His tears fall from the skies.

Nước mắt Ngài rơi xuống từ bầu trời.

I see His face in every flower,

Tôi thấy khuôn mặt Ngài trong từng đóa hoa,

The thunder and the singing of the birds

Sấm vang và tiếng chim ca

Are but His voice—and carven by His power

Chỉ là tiếng nói của Ngài—và được khắc bởi quyền năng Ngài

Rocks are His written words.

Đá tảng là những lời Ngài viết.

All pathways by His feet are worn,

Mọi lối đi đều mòn dưới chân Ngài,

His strong heart stirs the ever-beating sea,

Trái tim mạnh mẽ của Ngài làm biển cả muôn đời đập nhịp,

His crown of thorns is twined with every thorn,

Mão gai của Ngài bện cùng mọi gai nhọn,

His cross is every tree.”

Thập giá của Ngài là mọi thân cây.”

QUOTED IN ‘THE TESTAMENT OF MAN’, BY ARTHUR STANLEY, P. 498.

TRÍCH TRONG ‘DI CHÚC CỦA CON NGƯỜI’, CỦA ARTHUR STANLEY, TR. 498.

The wonder of Christ’s mission lay in the fact that, though He was one of a long continuity of perfected divine men, He had a unique function. He summed up in Himself and brought to a conclusion the symbolic presentation of God’s eternal sacrifice upon the fixed cross of the heavens, to which the stars bear testimony and which the history of religion has so successfully veiled, and today refuses to recognise. The Heavenly Man is today pendant in the Heavens, as He has been since the creation of the solar system, and as Christ said, “I, if I be lifted up from the earth, will draw all men unto Me, (St. John, XII, 32.) and not all men only, but eventually all forms of life in all kingdoms will render up their life, not as an imposed sacrifice, but as a willing offering to the [186] final glory of God. “He that loseth his life for my sake shall find it,” (St. Matthew, X, 39.) is a fact which is often forgotten and one which has a definite bearing upon the story of the crucifixion in its wider implications. It is, however, through the achievement of the last of the manifesting kingdoms, the human, that the cross and its purpose is completed, and to this the death of Christ bears testimony.

Điều kỳ diệu trong sứ mạng của Đức Christ nằm ở sự kiện rằng, tuy Ngài là một trong một chuỗi dài liên tục những con người thiêng liêng đã được hoàn thiện, Ngài có một chức năng độc nhất. Nơi Chính Ngài, Ngài đã tổng kết và đưa đến kết thúc sự trình bày bằng biểu tượng về hy sinh vĩnh cửu của Thượng đế trên thập giá cố định của các tầng trời, điều mà các vì sao làm chứng và điều mà lịch sử tôn giáo đã che phủ rất thành công, và ngày nay từ chối thừa nhận. Đấng Thiên Nhân ngày nay vẫn treo trong các Tầng Trời, như Ngài đã từng như thế từ khi hệ mặt trời được tạo dựng, và như Đức Christ đã nói: “Còn Ta, khi Ta được nâng lên khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người đến cùng Ta,” (Thánh John, XII, 32.) và không chỉ mọi người, mà cuối cùng mọi hình tướng sự sống trong mọi giới cũng sẽ dâng hiến sự sống của mình, không phải như một hy sinh bị áp đặt, mà như một lễ vật tự nguyện dâng lên [186] vinh quang tối hậu của Thượng đế. “Ai mất sự sống mình vì Ta thì sẽ tìm lại được,” (Thánh Matthew, X, 39.) là một sự kiện thường bị quên lãng và là điều có liên hệ xác định với câu chuyện đóng đinh trên thập giá trong những hàm ý rộng lớn hơn của nó. Tuy nhiên, chính qua thành tựu của giới biểu hiện cuối cùng, tức giới nhân loại, mà thập giá và mục đích của nó được hoàn tất, và cái chết của Đức Christ làm chứng cho điều này.

But the important point is not His death, though that was climactic in the evolutionary process, but the subsequent Resurrection, symbolising as it did the formation and the precipitation upon Earth of a new kingdom in which men and all forms would be free from death—a kingdom of which the Man released from the Cross should be the symbol. We thus complete the entire circle, from the Man in space, with arms outspread in the form of a cross, through the sequence of crucified Saviours, telling us again and again what God had done for the universe until we arrive at the culminating Son of God Who carried the symbolism down on to the physical plane, in all its stages. He then rose from the dead to tell us that the long task of evolution had at last reached its final phase—if we so choose, and if we are ready to do as He did—pay the price, and, passing through the gates of death, attain to a joyful resurrection. St. Paul sought to bring this truth home to us, though his words have been so often distorted through translation and theological misinterpretation:

Nhưng điểm quan trọng không phải là cái chết của Ngài, dù điều đó là đỉnh điểm trong tiến trình tiến hóa, mà là Sự Phục Sinh tiếp theo, vì nó biểu tượng cho sự hình thành và ngưng tụ trên Trái Đất của một giới mới, trong đó con người và mọi hình tướng sẽ được tự do khỏi sự chết—một giới mà Con Người được giải thoát khỏi Thập Giá sẽ là biểu tượng. Như vậy chúng ta hoàn tất toàn bộ vòng tròn, từ Con Người trong không gian, với hai tay dang rộng theo hình thập giá, xuyên qua chuỗi các Đấng Cứu Thế chịu đóng đinh, lặp đi lặp lại cho chúng ta biết Thượng đế đã làm gì cho vũ trụ, cho đến khi chúng ta đạt tới Con của Thượng đế tột đỉnh, Đấng đã đưa biểu tượng ấy xuống cõi hồng trần, trong tất cả các giai đoạn của nó. Rồi Ngài sống lại từ cõi chết để nói với chúng ta rằng nhiệm vụ lâu dài của tiến hóa cuối cùng đã đạt đến giai đoạn sau chót—nếu chúng ta chọn như vậy, và nếu chúng ta sẵn sàng làm như Ngài đã làm—trả giá, và, đi qua các cổng của sự chết, đạt tới một sự phục sinh hoan hỉ. Thánh Paul đã tìm cách đưa chân lý này thấm sâu vào chúng ta, dù lời của ông đã quá thường bị bóp méo qua dịch thuật và diễn giải thần học sai lạc:

“I long to know Christ and the power which is in His resurrection, and to share in His suffering and die even as He died; in the hope that I may attain to the resurrection from the dead. I do not say that I have already gained this knowledge or already reached perfection, but I press on.”

“Tôi khao khát biết Đức Christ và quyền năng ở trong Sự Phục Sinh của Ngài, và được dự phần vào đau khổ của Ngài và chết như chính Ngài đã chết; trong hy vọng rằng tôi có thể đạt tới sự phục sinh từ cõi chết. Tôi không nói rằng tôi đã đạt được tri thức này hay đã đạt tới sự hoàn thiện, nhưng tôi tiếp tục tiến tới.”

PHILIPPIANS, III, 10, 11, WEYMOUTH’S TRANSLATION.

PHILIPPI, III, 10, 11, BẢN DỊCH WEYMOUTH.

It would not appear from this passage that St. Paul regarded it as sufficient to salvation that one should simply believe that Christ died for one’s sins.

Từ đoạn này, dường như Thánh Paul không xem việc chỉ tin rằng Đức Christ đã chết vì tội lỗi của một người là đủ cho sự cứu rỗi.

[187] Let me state here, briefly and succinctly, what it would appear really transpired when Christ died upon the Cross. He rendered up the form aspect and identified Himself as Man with the life aspect of Deity. He thereby liberated us from the form side of life, of religion and of matter, and demonstrated to us the possibility of being in the world and yet not of the world, ( St. John, XVII, 16.) living as souls, released from the trammels and limitations of the flesh, while yet walking on earth. To the very deeps of its being humanity is tired of death. Its only rest lies in the belief that the ultimate victory is over death, and that some day death will be abolished. This we shall go into more definitely in our next chapter, but in passing, it may be said that the race is so imbued with the thought of death that it has been the line of least resistance for theology to emphasise the death of Christ, and to omit to lay the major emphasis upon the renewal of life to which that death was the prelude. This practice will end because the world today demands a living Christ rather than a dead Saviour. It demands an ideal so universal in its implications—so inclusive of time and space and life—that the constant explanations and the endless attempts to make theology conform to the requirements of a deeply sensed vital truth will no longer be needed. The world has outlived the thought of a wrathful God who demands a blood sacrifice. Intelligent people today must agree that “… modern thought does not clash with primitive Christian ideas; but in regard to the propitiation for these evil inclinations the case is different. We can no longer accept the appalling theological doctrine that for some mystic reason a propitiatory sacrifice was necessary. It outrages either our conception of God as almighty or else our conception of Him as all-loving.” (‘The Paganism in Our Christianity’, by Arthur Weigall, p. 152.) Humanity will accept the thought of a God who so loved the world that He sent His Son to give us the final expression of the cosmic sacrifice and to say to us, as He did [188] upon the Cross: “It is finished.” (St. John, XIX, 30.) We can now “enter into the joy of the Lord.” ( St. Matthew, XXV, 21.) Men are learning to love, and they will, and do, repudiate a theology which makes of God a force of hardness and cruelty in the world, unparalleled by men.

[187] Ở đây, hãy để tôi trình bày ngắn gọn và súc tích điều dường như đã thật sự xảy ra khi Đức Christ chết trên Thập Giá. Ngài đã dâng hiến phương diện hình tướng và đồng hóa Chính Ngài, với tư cách Con Người, với phương diện sự sống của Thượng đế. Nhờ đó Ngài giải thoát chúng ta khỏi mặt hình tướng của sự sống, của tôn giáo và của vật chất, và chứng minh cho chúng ta khả năng hiện hữu trong thế gian mà vẫn không thuộc về thế gian, (Thánh John, XVII, 16.) sống như những linh hồn, được giải thoát khỏi xiềng xích và giới hạn của xác thịt, trong khi vẫn bước đi trên đất. Tận những chiều sâu của bản thể mình, nhân loại đã mệt mỏi với sự chết. Sự nghỉ ngơi duy nhất của nó nằm trong niềm tin rằng chiến thắng tối hậu là chiến thắng sự chết, và một ngày nào đó sự chết sẽ bị bãi bỏ. Chúng ta sẽ đi vào điều này rõ ràng hơn trong chương kế tiếp, nhưng nhân tiện có thể nói rằng nhân loại đã thấm nhuần tư tưởng về sự chết đến mức con đường ít trở ngại nhất đối với thần học là nhấn mạnh cái chết của Đức Christ, và bỏ qua việc đặt trọng tâm chính vào sự đổi mới sự sống mà cái chết ấy là khúc dạo đầu. Thực hành này sẽ chấm dứt vì thế giới ngày nay đòi hỏi một Đức Christ sống động hơn là một Đấng Cứu Thế đã chết. Thế giới đòi hỏi một lý tưởng phổ quát đến mức trong các hàm ý của nó—bao gồm thời gian, không gian và sự sống đến mức—những giải thích liên tục và những cố gắng bất tận nhằm khiến thần học phù hợp với các đòi hỏi của một chân lý sống động được cảm nhận sâu sắc sẽ không còn cần thiết nữa. Thế giới đã vượt qua tư tưởng về một Thượng đế phẫn nộ, Đấng đòi hỏi một hy sinh bằng máu. Những người thông minh ngày nay phải đồng ý rằng “… tư tưởng hiện đại không xung đột với các ý tưởng Cơ Đốc giáo nguyên thủy; nhưng liên quan đến sự chuộc lỗi cho những khuynh hướng xấu này thì trường hợp lại khác. Chúng ta không còn có thể chấp nhận giáo lý thần học kinh hoàng rằng vì một lý do thần bí nào đó, một hy sinh chuộc tội là cần thiết. Nó xúc phạm hoặc quan niệm của chúng ta về Thượng đế như Đấng toàn năng, hoặc quan niệm của chúng ta về Ngài như Đấng toàn ái.” (‘Tính Ngoại Giáo Trong Kitô Giáo Của Chúng Ta’, của Arthur Weigall, tr. 152.) Nhân loại sẽ chấp nhận tư tưởng về một Thượng đế yêu thương thế gian đến nỗi Ngài sai Con của Ngài đến để ban cho chúng ta biểu hiện cuối cùng của hy sinh vũ trụ và để nói với chúng ta, như Ngài đã nói [188] trên Thập Giá: “Mọi sự đã hoàn tất.” (Thánh John, XIX, 30.) Giờ đây chúng ta có thể “bước vào sự hoan hỉ của Chúa.” (Thánh Matthew, XXV, 21.) Con người đang học yêu thương, và họ sẽ, cũng như đang, bác bỏ một nền thần học biến Thượng đế thành một mãnh lực cứng rắn và tàn bạo trong thế giới, không gì nơi con người có thể sánh bằng.

The whole trend of human life tends to repudiate those ancient tenets which were founded in fear, and instead, courageously faces the facts and the responsibilities which are inherent in its spiritual birthright.

Toàn bộ khuynh hướng của đời sống nhân loại có xu hướng bác bỏ những tín điều cổ xưa được đặt nền trong sợ hãi, và thay vào đó, can đảm đối diện với các sự kiện và trách nhiệm vốn cố hữu trong quyền thừa kế tinh thần của nó.

2

2

When the Church lays its emphasis upon the living Christ, and when it recognises that its forms and ceremonies, its festivals and rituals are inherited from a very ancient past, we shall then have the emergence of a new religion which will be as much divorced from form and the past as the kingdom of God is divorced from matter and the body nature. Orthodox religion, as a whole, can be regarded as a cross upon which we have crucified Christ; it has served its purpose as the custodian of the ages and the preserver of ancient forms, but it must enter into new life and pass through the resurrection if it is to meet the need of the deeply spiritual humanity of today. “Nations, like individuals,” we are told, “are made, not only by what they acquire but by what they resign, and this is true also of religion at this time.” (‘The Supreme Spiritual Ideal’, by Sir Radhakrishnan, Hibbert Journal, October, 1936.) Its form must be sacrificed upon the Cross of Christ in order that it may be resurrected into true and vital life for the meeting of the people’s need. Let a living Christ be its theme, and not a dying Saviour. Christ has died. About that let there be no mistake. The Christ of history passed through the gates of death for us. The cosmic [189] Christ is still dying upon the Cross of Matter. There He hangs fixed until the last weary pilgrim shall find his way home. (‘The Secret Doctrine’, Vol. I, p. 229.) The planetary Christ, the life of the four kingdoms of nature, has been crucified on the four arms of the planetary Cross down the ages. But the end of this period of crucifixion is close upon us. Mankind can descend from the cross as Christ did, and enter into the kingdom of God, a living spirit. The sons of God are ready to be manifested. Today as never before:

Khi Giáo hội đặt trọng tâm vào Đức Christ sống động, và khi Giáo hội nhận ra rằng các hình thức và nghi lễ, các lễ hội và nghi thức của mình được thừa hưởng từ một quá khứ rất cổ xưa, bấy giờ chúng ta sẽ có sự xuất hiện của một tôn giáo mới, tách khỏi hình tướng và quá khứ nhiều như Thiên Giới tách khỏi vật chất và bản chất thể xác. Tôn giáo chính thống, xét toàn bộ, có thể được xem là một thập giá mà trên đó chúng ta đã đóng đinh Đức Christ; nó đã phục vụ mục đích của nó như người gìn giữ của các thời đại và người bảo tồn các hình thức cổ xưa, nhưng nó phải bước vào sự sống mới và đi qua sự phục sinh nếu nó muốn đáp ứng nhu cầu của nhân loại sâu sắc tinh thần ngày nay. “Các quốc gia, giống như các cá nhân,” chúng ta được bảo, “được tạo nên không chỉ bởi những gì họ thu nhận mà còn bởi những gì họ từ bỏ, và điều này hiện nay cũng đúng với tôn giáo.” (‘Lý Tưởng Tinh Thần Tối Cao’, của Sir Radhakrishnan, Hibbert Journal, tháng Mười, 1936.) Hình thức của nó phải được hy sinh trên Thập Giá của Đức Christ để nó có thể được phục sinh vào sự sống chân thực và sống động nhằm đáp ứng nhu cầu của con người. Hãy để Đức Christ sống động là chủ đề của nó, chứ không phải một Đấng Cứu Thế đang hấp hối. Đức Christ đã chết. Về điều đó, đừng có sự nhầm lẫn nào. Đức Christ của lịch sử đã đi qua các cổng của sự chết vì chúng ta. Đức Christ vũ trụ [189] vẫn đang chết trên Thập Giá của Vật Chất. Ở đó Ngài treo cố định cho đến khi người hành hương mệt mỏi cuối cùng tìm được đường về nhà. (‘Giáo Lý Bí Nhiệm’, Quyển I, tr. 229.) Đức Christ hành tinh, sự sống của bốn giới thiên nhiên, đã bị đóng đinh trên bốn tay của Thập Giá hành tinh qua các thời đại. Nhưng kết thúc của thời kỳ đóng đinh này đang đến gần chúng ta. Nhân loại có thể bước xuống khỏi thập giá như Đức Christ đã làm, và bước vào Thiên Giới, một tinh thần sống động. Các Con của Thượng đế đã sẵn sàng để được biểu hiện. Ngày nay hơn bao giờ hết:

“The Spirit Himself bears witness with our own spirits that we are children of God; and if children, then heirs too—heirs of God and co-heirs with Christ; if indeed we share Christ’s sufferings, in order to share also His glory….

“Chính Tinh thần làm chứng cùng các tinh thần của chúng ta rằng chúng ta là con cái của Thượng đế; và nếu là con cái, thì cũng là những kẻ thừa kế—thừa kế của Thượng đế và đồng thừa kế với Đức Christ; nếu quả thật chúng ta chia sẻ những đau khổ của Đức Christ, để cũng được chia sẻ vinh quang của Ngài….

“All creation is yearning, longing to see the manifestation of the sons of God. For the Creation was made subject to futility, not of its own choice, but by the will of Him who so subjected it; yet with the hope that at last the Creation itself would be set free from the thraldom of decay to enjoy the liberty that comes with the glory of the children of God.

“Toàn thể tạo vật đang khao khát, mong mỏi được thấy sự biểu hiện của các Con của Thượng đế. Vì Tạo vật đã bị đặt dưới sự phù phiếm, không do lựa chọn của riêng nó, mà bởi ý muốn của Đấng đã đặt nó dưới đó; song với hy vọng rằng cuối cùng chính Tạo vật cũng sẽ được giải thoát khỏi ách nô lệ của sự suy hoại để vui hưởng tự do đi kèm với vinh quang của con cái Thượng đế.

“For we know that the whole of Creation is moaning in the pangs of childbirth until this hour. And more than that, we ourselves, though we possess the Spirit as a foretaste of bliss, yet we ourselves moan as we wait for full sonship in the redemption of our bodies.”

“Vì chúng ta biết rằng toàn thể Tạo vật đang rên xiết trong cơn đau sinh nở cho đến giờ này. Và hơn thế nữa, chính chúng ta, dù sở hữu Tinh thần như một sự nếm trước chí phúc, chính chúng ta cũng rên xiết khi chờ đợi tư cách làm con trọn vẹn trong sự cứu chuộc thân thể chúng ta.”

ROMANS, VIII, 16-24, WEYMOUTH’S TRANSLATION.

RÔMA, VIII, 16-24, BẢN DỊCH WEYMOUTH.

Towards this glorification of God we are all moving. Some of the sons of men have already achieved, through the realisation of their divinity.

Tất cả chúng ta đang tiến về sự tôn vinh Thượng đế này. Một số những người con của nhân loại đã đạt được điều đó, qua sự chứng nghiệm thiên tính của họ.

It is of interest to note how the two great branches of orthodox Christianity, the Eastern, as expressed through the Greek Church, and the Western, as expressed through the Roman Catholic and the Protestant Churches, have preserved two great concepts which the spirit of the race needed on its great evolutionary journey away from God and back to God. The Greek Church has always emphasised the [190] risen Christ. The West has emphasised the crucified Saviour. Eastern Christianity looks to the resurrection as its pivotal teaching.

Điều đáng chú ý là hai nhánh lớn của Cơ Đốc giáo chính thống, phương Đông, như được biểu hiện qua Giáo hội Hy Lạp, và phương Tây, như được biểu hiện qua Giáo hội Công giáo La Mã và các Giáo hội Tin Lành, đã bảo tồn hai quan niệm lớn mà tinh thần của nhân loại cần đến trên hành trình tiến hóa vĩ đại của nó rời xa Thượng đế và trở về với Thượng đế. Giáo hội Hy Lạp luôn nhấn mạnh [190] Đức Christ phục sinh. Phương Tây đã nhấn mạnh Đấng Cứu Thế chịu đóng đinh. Cơ Đốc giáo phương Đông xem sự phục sinh là giáo huấn then chốt của mình.

The need of a death unto things material, the tendency of man to sin and to forget God, and the necessity for a change of heart or of intention have been the contribution of Western Christianity to the religious beliefs in the world. But we have been so preoccupied with the subject of sin that we have forgotten our divinity; and we have been so intensely individual in our consciousness that we have depicted a Saviour Who gave His life for us as individuals, believing that had He never died we could never enter heaven. On these truths the Eastern Christian has placed little emphasis, stressing the living Christ and the divine nature of man. Assuredly, only when the best of the two lines of presented truths are brought together and then reinterpreted shall we arrive at the basic concept upon which we can take our stand without questioning, and also with the certainty that it is inclusive enough to be really divine. Sin exists, and there is sacrifice involved in the process of adjusting our sinful natures. There is a death unto life, and a need to “die daily,” ( I Corinthians, XV, 31.) as St. Paul says, in order that we may live. Christ died to all that had its existence in form, leaving us an example that we should follow His steps. But we in the West have forgotten the Transfiguration and lost touch with divinity, and we should now stand ready to accept from the Eastern Christian what he has so long believed.

Nhu cầu chết đối với những sự vật vật chất, khuynh hướng phạm tội và quên Thượng đế của con người, cùng sự cần thiết phải thay đổi tâm hồn hay ý định, là đóng góp của Cơ Đốc giáo phương Tây cho các niềm tin tôn giáo trong thế giới. Nhưng chúng ta đã quá bận tâm với chủ đề tội lỗi đến nỗi quên mất thiên tính của mình; và chúng ta đã quá chú trọng cá nhân trong tâm thức đến nỗi mô tả một Đấng Cứu Thế đã ban sự sống của Ngài cho chúng ta như những cá nhân, tin rằng nếu Ngài chưa từng chết thì chúng ta không bao giờ có thể vào thiên đường. tín đồ Cơ Đốc giáo phương Đông đã đặt rất ít trọng tâm vào những chân lý này, mà nhấn mạnh Đức Christ sống động và bản chất thiêng liêng của con người. Chắc chắn rằng chỉ khi phần tốt đẹp nhất của hai dòng chân lý được trình bày được đem lại với nhau rồi được diễn giải lại, chúng ta mới đạt tới quan niệm căn bản mà trên đó chúng ta có thể đứng vững không nghi vấn, và cũng với sự chắc chắn rằng nó đủ bao gồm để thật sự thiêng liêng. Tội lỗi hiện hữu, và có hy sinh liên quan trong tiến trình điều chỉnh các bản chất tội lỗi của chúng ta. Có một cái chết dẫn đến sự sống, và nhu cầu “chết hằng ngày,” (I Corinthians, XV, 31.) như Thánh Paul nói, để chúng ta có thể sống. Đức Christ đã chết đối với tất cả những gì có sự hiện hữu trong hình tướng, để lại cho chúng ta một gương mẫu rằng chúng ta nên theo dấu chân Ngài. Nhưng chúng ta ở phương Tây đã quên Biến hình và mất liên hệ với thiên tính, và giờ đây chúng ta nên sẵn sàng tiếp nhận từ tín đồ Cơ Đốc giáo phương Đông điều y đã tin tưởng từ lâu.

This gnosis has always been in the world. Long before Christ came the divinity of man was affirmed and divine incarnations were recognised.

Tri thức huyền linh này đã luôn có trong thế giới. Rất lâu trước khi Đức Christ đến, thiên tính của con người đã được khẳng định và các cuộc lâm phàm thiêng liêng đã được thừa nhận.

The Gnostics themselves claimed to be the custodians of a revelation which was not uniquely theirs, but which had always been present in the world. G.R.S. Mead, an authority on these matters, remarks that: “The claim of these Gnostics was practically that the good news of Christ (the Christos) [191] was the consummation of the inner doctrine of the Mystery-Institutions of all the nations; the end of them all being the revelation of the Mystery of Man. In Christ the Mystery of Man was unveiled.” (‘Thrice-Greatest Hermes, by G. R. S. Mead, Vol. I, p.141.)

Chính các nhà Ngộ Đạo tuyên bố rằng họ là những người gìn giữ một mặc khải không phải là của riêng họ một cách độc nhất, mà đã luôn hiện diện trong thế giới. G.R.S. Mead, một thẩm quyền về các vấn đề này, nhận xét rằng: “Tuyên bố của những nhà Ngộ Đạo này thực tế là tin mừng của Đức Christ, tức Christos, [191] là sự hoàn tất của giáo lý nội môn của các Tổ chức Bí nhiệm của mọi quốc gia; mục đích của tất cả chúng là sự mặc khải Bí nhiệm về Con Người. Trong Đức Christ, Bí nhiệm về Con Người đã được vén mở.” (‘Hermes Ba Lần Vĩ Đại’, của G. R. S. Mead, Quyển I, tr.141.)

In view of the proven fact that there has been a continuity of revelation, and that Christ was one of the long line of manifesting Sons of God, wherein did His Person and His mission differ from that of the others? We can and must agree with Pfleger when he says: “The Incarnation of God in Christ is but a greater and more perfect theophany in a series of other more imperfect theophanies, which prepared the way for it by moulding the human nature which received them … the Incarnation is not a miracle in the strict and crude sense of the term, any more than the Resurrection, which is the inner union of matter with spirit, is foreign to the universal order of existence.” (‘Wrestlers with Christ, by Karl Pfleger, p. 242.) In what, therefore, did the mission of Christ differ from the others?

Xét đến sự kiện đã được chứng minh rằng đã có một sự liên tục của mặc khải, và rằng Đức Christ là một trong chuỗi dài các Con của Thượng đế đang biểu hiện, thì ở đâu Ngôi vị của Ngài và sứ mạng của Ngài khác với những vị khác? Chúng ta có thể và phải đồng ý với Pfleger khi ông nói: “Sự Lâm Phàm của Thượng đế trong Đức Christ chỉ là một sự hiển hiện thần tính lớn hơn và hoàn hảo hơn trong một chuỗi các sự hiển hiện thần tính khác kém hoàn hảo hơn, vốn đã chuẩn bị đường cho nó bằng cách khuôn đúc bản chất con người đã tiếp nhận chúng… Sự Lâm Phàm không phải là một phép lạ theo nghĩa nghiêm ngặt và thô sơ của thuật ngữ, cũng như Sự Phục Sinh, vốn là sự hợp nhất bên trong của vật chất với tinh thần, không xa lạ với trật tự phổ quát của sự hiện hữu.” (‘Những Người Vật Lộn Với Đức Christ’, của Karl Pfleger, tr. 242.) Vậy, sứ mạng của Đức Christ khác với những sứ mạng khác ở điểm nào?

The difference lay in the point in evolution which humanity itself had reached. The cycle which Christ inaugurated has been one in which men have become strictly human. Up till that Incarnation there had always been those who, having achieved humanity, had then passed on to demonstrate divinity. But now the whole race is at the point of so doing. Although today men are predominantly animal-emotional, yet through the success of the evolutionary process—leading as it has to our widespread educational systems and the general high level of mental awareness—men have reached the point where the masses themselves, given proper encouragement, can “enter into the kingdom of God.” Who can say that it is not this realisation, dim and uncertain as it may be, which prompts the universal unrest and the widespread determination to better conditions? That we interpret the kingdom of God in terms of the material is inevitable at first, but it is a hopeful and spiritual sign that we are today so [192] busy cleaning house, and thus attempting to raise the level of our civilisation. Christ incarnated when, for the first time, humanity was a complete whole, as far as the form side of its nature was concerned, with all the qualities manifesting—physical, psychic and mental—which distinguish the human animal. He brought to us a manifestation of what the perfect man could be who, regarding that form side as the temple of God, but recognising his innate divinity, strives to bring it to the foreground, first of all in his own consciousness and then before the world. This Christ did. The mysteries had always been revealed to the individual who fitted himself to penetrate into a hidden arcanum or temple, but Christ revealed them to humanity as a whole, and enacted the whole drama of the God-Man before the race. This was His major achievement, and this we have forgotten—the living Christ—in the emphasis we have laid upon man himself, on his relation to himself as a sinner, and to God as the One against Whom he has sinned.

Sự khác biệt nằm ở điểm tiến hoá mà chính nhân loại đã đạt đến. Chu kỳ mà Đức Christ khai mở là một chu kỳ trong đó con người đã trở thành con người đúng nghĩa. Cho đến cuộc Lâm Phàm ấy, luôn có những vị, sau khi đã đạt được nhân tính, đã tiếp tục tiến lên để chứng minh thiên tính. Nhưng giờ đây toàn bộ nhân loại ở điểm có thể làm như vậy. Dù ngày nay con người chủ yếu vẫn là động vật-cảm xúc, nhưng qua thành công của tiến trình tiến hóa—vì nó đã dẫn đến các hệ thống giáo dục rộng khắp của chúng ta và mức độ cao tổng quát của nhận thức trí tuệ—con người đã đạt đến điểm mà chính đại chúng, nếu được khích lệ đúng đắn, có thể “bước vào Thiên Giới.” Ai có thể nói rằng không phải chính sự nhận biết này, dù mờ nhạt và bất định, đã thúc đẩy tình trạng bất ổn phổ quát và quyết tâm rộng khắp nhằm cải thiện các điều kiện? Việc chúng ta ban đầu diễn giải Thiên Giới theo các thuật ngữ vật chất là điều không thể tránh khỏi, nhưng đó là một dấu hiệu đầy hy vọng và tinh thần rằng ngày nay chúng ta đang quá [192] bận rộn dọn dẹp nhà cửa, và do đó cố gắng nâng cao trình độ văn minh của mình. Đức Christ lâm phàm khi, lần đầu tiên, nhân loại là một toàn thể hoàn chỉnh, xét theo mặt hình tướng của bản chất nó, với mọi phẩm tính đang biểu hiện—hồng trần, thông linh và trí tuệ—vốn phân biệt con người-động vật. Ngài đem đến cho chúng ta một biểu hiện về điều mà con người hoàn thiện có thể là, người xem mặt hình tướng ấy như đền thờ của Thượng đế, nhưng nhận ra thiên tính nội tại của mình, cố gắng đưa nó ra tiền diện, trước hết trong tâm thức của chính mình và rồi trước thế giới. Đức Christ đã làm điều này. Các bí nhiệm luôn được mặc khải cho cá nhân nào tự chuẩn bị để thâm nhập vào một thánh điện hay mật thất ẩn giấu, nhưng Đức Christ đã mặc khải chúng cho toàn thể nhân loại, và trình diễn toàn bộ vở kịch của Thượng đế-Con Người trước nhân loại. Đây là thành tựu lớn lao của Ngài, và điều này chúng ta đã quên—Đức Christ sống động—trong sự nhấn mạnh mà chúng ta đặt lên chính con người, lên mối liên hệ của y với chính mình như một tội nhân, và với Thượng đế như Đấng mà y đã phạm tội chống lại.

Again, every great organisation or group religion or cult of any kind has originated with a person, and from that person the idea has spread out into the world, gathering adherents as time elapsed. Christ in this way precipitated the kingdom of God upon earth. It had always existed in the heavenly places. He caused it to materialise, thus becoming a fact to the consciousness of men.

Lại nữa, mọi tổ chức lớn hay tôn giáo nhóm hay giáo phái thuộc bất kỳ loại nào đều bắt nguồn từ một người, và từ người đó ý tưởng đã lan rộng ra thế giới, thu hút những người theo khi thời gian trôi qua. Theo cách này, Đức Christ đã ngưng tụ Thiên Giới trên Trái Đất. Nó đã luôn hiện hữu trong các nơi thiên thượng. Ngài khiến nó hiện hình, nhờ đó trở thành một sự kiện đối với tâm thức con người.

Preparedness for the Kingdom, and the arrival of the time when men in large numbers could be initiated into the mysteries, required from them a recognition of an unworthiness and a sinfulness which only the development of the mind could give. The age of Christianity has been an age of mental unfoldment. It has been an age also wherein much emphasis has been laid upon sin and evil doing. There is no consciousness of sin in the animals, though there may be indications of a conscience among the domesticated animals, due to their association with man. Mind produces the power to analyse and observe, to differentiate and distinguish; and so with the advent [193] of mental development there has been, for a long time, a growing sense of sinfulness, of contrition, and of an almost abject attitude to the Creator, producing in humanity that strongly marked inferiority complex with which today psychologists have to deal. Against this sense of sin, with its concomitants of propitiation, atonement and the sacrifice of Christ for us, there has been a revolt; and in this really wholesome reaction there is the normal tendency to go too far. Fortunately, we are never able to get too far from divinity; and that, as a race, we shall swing back into a state of greater spirituality than ever before is the sincere belief of all who know. Theology over-reached itself with its “miserable sinner” complex and its emphasis upon the necessity for the purification by blood. This teaching of purification through the blood of bulls and of rams (or lambs) was part of the ancient mysteries, and was inherited by us primarily from the Mysteries of Mithra. These mysteries, in their turn, inherited the teaching, and thus formulated their doctrine, which Christianity absorbed. When the sun was in the zodiacal sign of Taurus the Bull, the sacrifice of the bull was offered as a forecast of that which Christ came later to reveal. When the sun passed (in the precession of the equinoxes) into the next sign, that of Aries the Ram, we find the lamb was sacrificed and the scapegoat sent into the wilderness. Christ was born into the next sign, Pisces the Fishes, and it is for this reason that we eat fish on Good Friday, in commemoration of His coming. Tertullian, one of the early Church Fathers, speaks of Jesus Christ as the “Great Fish,” and of us, His followers, as the “little fishes.” These facts are well known, as the following extract will indicate:

Sự chuẩn bị cho Thiên Giới, và sự đến của thời điểm khi đông đảo con người có thể được điểm đạo vào các bí nhiệm, đòi hỏi nơi họ sự thừa nhận một tình trạng bất xứng và tội lỗi mà chỉ sự phát triển của trí tuệ mới có thể đem lại. Thời đại Cơ Đốc giáo là một thời đại của sự khai mở trí tuệ. Nó cũng là một thời đại trong đó người ta đặt nhiều nhấn mạnh vào tội lỗi và hành động xấu. Không có tâm thức về tội lỗi nơi loài vật, dù có thể có những dấu hiệu của lương tâm nơi các động vật thuần hóa, do sự liên hệ của chúng với con người. Thể trí tạo ra quyền năng phân tích và quan sát, biến phân và phân biệt; và như vậy với sự xuất hiện [193] của phát triển trí tuệ, trong một thời gian dài đã có một cảm thức ngày càng tăng về tội lỗi, về sự ăn năn, và về một thái độ gần như hèn mọn trước Đấng Sáng Tạo, tạo ra trong nhân loại phức cảm tự ti được đánh dấu mạnh mẽ mà ngày nay các nhà tâm lý học phải xử lý. Chống lại cảm thức tội lỗi này, cùng những điều đi kèm của nó là chuộc lỗi, đền tội và hy sinh của Đức Christ vì chúng ta, đã có một cuộc nổi dậy; và trong phản ứng thật sự lành mạnh này, có khuynh hướng bình thường là đi quá xa. May mắn thay, chúng ta không bao giờ có thể đi quá xa khỏi thiên tính; và rằng, với tư cách một nhân loại, chúng ta sẽ quay trở lại một trạng thái tinh thần lớn lao hơn bao giờ hết là niềm tin chân thành của tất cả những ai biết. Thần học đã đi quá xa với phức cảm “tội nhân khốn khổ” của nó và sự nhấn mạnh của nó vào nhu cầu thanh tẩy bằng máu. Giáo huấn về sự thanh tẩy bằng máu của bò đực và cừu đực, hay chiên con, là một phần của các bí nhiệm cổ xưa, và chúng ta thừa hưởng nó chủ yếu từ các Bí nhiệm Mithra. Đến lượt mình, các bí nhiệm này đã thừa hưởng giáo huấn ấy, và do đó hình thành giáo lý của mình, điều mà Cơ Đốc giáo đã hấp thụ. Khi mặt trời ở trong dấu hiệu hoàng đạo Kim Ngưu, con Bò, hy sinh bò đực được dâng lên như một dự báo về điều mà Đức Christ sau này đến để mặc khải. Khi mặt trời đi qua, trong tuế sai của các điểm phân, vào dấu hiệu kế tiếp, là Bạch Dương, con Cừu đực, chúng ta thấy chiên con được hy sinh và con dê gánh tội được gửi vào hoang địa. Đức Christ được sinh ra trong dấu hiệu kế tiếp, Song Ngư, các Con Cá, và chính vì lý do này mà chúng ta ăn cá vào Thứ Sáu Tuần Thánh, để tưởng niệm sự giáng lâm của Ngài. Tertullian, một trong các Giáo phụ thời đầu, nói về Đức Jesus Christ như “Con Cá Vĩ Đại,” và về chúng ta, những người theo Ngài, như “những con cá nhỏ.” Những sự kiện này được biết rõ, như đoạn trích sau đây sẽ chỉ ra:

“The ceremonies of purification by the sprinkling or drenching of the novice with the blood of bulls or rams were widespread, and were to be found in the rites of Mithra. By this purification a man was ‘born again’ and the Christian expression ‘washed in the blood of the Lamb’ is undoubtedly a reflection of this idea, the reference thus being clear in the words of the Epistle to the Hebrews: ‘It is not possible that the blood of bulls and of goats should take away [194] sins.’ In this passage the writer goes on to say: ‘Having boldness to enter into the holiest by the blood of Jesus, by a new and living way which he hath consecrated for us through the veil, that is to say his flesh … let us draw near … having our hearts sprinkled from an evil conscience, and our bodies washed with pure water.’ But when we learn that the Mithraic initiation ceremony consisted in entering boldly into a mysterious underground ‘holy of holies’ with the eyes veiled, and there being sprinkled with blood, and washed with water, it is clear that the author of the Epistle was thinking of those Mithraic rites with which everybody at that time must have been so familiar.”

“Các nghi lễ thanh tẩy bằng việc rảy hoặc dội người sơ cơ bằng máu bò đực hay cừu đực đã rất phổ biến, và được tìm thấy trong các nghi thức Mithra. Nhờ sự thanh tẩy này, một người được ‘sinh lại’ và cách diễn đạt Cơ Đốc giáo ‘được rửa trong máu của Chiên Con’ chắc chắn là sự phản chiếu của ý tưởng này, nhờ vậy sự liên hệ trở nên rõ ràng trong những lời của Thư gửi tín hữu Hebrew: ‘Không thể nào máu của bò đực và dê đực lại có thể cất đi [194] tội lỗi.’ Trong đoạn này, tác giả tiếp tục nói: ‘Vì có sự dạn dĩ để vào nơi chí thánh nhờ máu Đức Jesus, bằng một con đường mới và sống động mà Ngài đã thánh hiến cho chúng ta xuyên qua bức màn, tức là xác thịt Ngài… chúng ta hãy đến gần… với lòng đã được rảy sạch khỏi lương tâm xấu, và thân thể đã được rửa bằng nước tinh khiết.’ Nhưng khi chúng ta biết rằng nghi lễ điểm đạo Mithra gồm việc mạnh dạn đi vào một ‘nơi chí thánh’ bí nhiệm dưới lòng đất, với đôi mắt bị che, và ở đó được rảy máu và rửa bằng nước, thì rõ ràng tác giả của Thư ấy đã nghĩ đến những nghi thức Mithra mà mọi người vào thời đó hẳn phải rất quen thuộc.”

‘THE PAGANISM IN OUR CHRISTIANITY’, BY ARTHUR WEIGALL, PP. 132, 133.

‘TÍNH NGOẠI GIÁO TRONG CƠ ĐỐC GIÁO CỦA CHÚNG TA’, CỦA ARTHUR WEIGALL, TR. 132, 133.

Christ came to abolish these sacrifices by showing us their true meaning, and in His Person as perfect man He died the death of the Cross to show us (in picture form and through actual demonstration) that divinity can be manifested and can truly express itself only when man, as man, has died in order that the hidden Christ may live. The lower carnal nature (as St. Paul loved to call it) must die in order that the higher divine nature may show forth in all its beauty. The lower self must die in order that the higher self can manifest on earth. Christ had to die in order that once and for all mankind might learn the lesson that by the sacrifice of the human nature the divine aspect might be “saved.” Thus Christ summed up in Himself the significance of all the past world sacrifices. That mysterious truth which had been revealed only to the pledged and trained initiate when he was ready for the fourth initiation was given out by Christ to the world of men. He died for all so that all might live. But this is not the doctrine of the vicarious atonement which was pre-eminently St. Paul’s interpretation of the Crucifixion, but the doctrine which Christ Himself taught—the doctrine of divine immanence (see St. John XVII), and the doctrine of the God-Man.

Đức Christ đến để bãi bỏ những hy sinh này bằng cách chỉ cho chúng ta thấy ý nghĩa chân thật của chúng, và trong Ngôi vị của Ngài như con người hoàn thiện, Ngài đã chết cái chết trên Thập Giá để chỉ cho chúng ta, bằng hình ảnh và qua sự chứng minh thực tế, rằng thiên tính có thể được biểu hiện và thật sự tự biểu lộ chỉ khi con người, với tư cách con người, đã chết để Đức Christ ẩn tàng có thể sống. Bản chất thấp thuộc xác thịt, như Thánh Paul ưa gọi, phải chết để bản chất thiêng liêng cao hơn có thể hiển lộ trong toàn bộ vẻ đẹp của nó. Phàm ngã phải chết để chân ngã có thể biểu hiện trên đất. Đức Christ phải chết để một lần cho mãi mãi nhân loại có thể học bài học rằng nhờ hy sinh bản chất con người, phương diện thiêng liêng có thể được “cứu.” Như vậy, nơi Chính Ngài, Đức Christ đã tổng kết thâm nghĩa của mọi hy sinh thế giới trong quá khứ. Chân lý bí nhiệm ấy, vốn chỉ được mặc khải cho điểm đạo đồ đã cam kết và được huấn luyện khi y sẵn sàng cho lần điểm đạo thứ tư, đã được Đức Christ ban ra cho thế giới con người. Ngài đã chết cho tất cả để tất cả có thể sống. Nhưng đây không phải là giáo lý về sự đền tội thay thế, vốn nổi bật là cách diễn giải của Thánh Paul về Sự Đóng Đinh, mà là giáo lý do chính Đức Christ dạy—giáo lý về tính nội tại thiêng liêng, xem Thánh John XVII, và giáo lý về Thượng đế-Con Người.

Christianity inherited many of its interpretations, and the teachers and interpreters of the early Christian times were no more free from the thraldom of ancient beliefs than are we [195] from the interpretations given to Christianity during the past two thousand years. Christ did give us the teaching that we must die in order to live as Gods, and therefore He died. He did sum up in Himself all the traditions of the past for He “not only fulfilled the Judaic Scriptures, but He also fulfilled those of the pagan world, and therein lay the great appeal of early Christianity. In Him a dozen shadowy Gods were condensed into a proximate reality; and in His crucifixion the old stories of their ghastly atoning sufferings and sacrificial deaths were made actual and given a direct meaning.” (‘The Paganism in Our Christianity’, by Arthur Weigall, pp. 158.) But His death was also the consummating act of a life of sacrifice and service, and the logical outcome of His teaching. Pioneers and those who reveal to men their next step, those who come forth as the interpreters of the divine Plan, inevitably are repudiated, and usually die as the result of their courageous pronouncements. To this rule Christ was no exception. “Advanced Christian thinkers now regard the Crucifixion of our Lord as the supreme sacrifice made by Him for the sake of the principles of His teaching. It was the crowning act of His most heroic life, and it affords such a sublime example to mankind that meditation upon it may be said to produce a condition of at-one-ment with the Fountainhead of all goodness.” (‘The Paganism in Our Christianity’, by Arthur Weigall, pp. 166.)

Cơ Đốc giáo đã thừa hưởng nhiều cách diễn giải của mình, và các huấn sư cùng người diễn giải của thời Cơ Đốc giáo sơ khai không tự do khỏi ách nô lệ của những niềm tin cổ xưa hơn chúng ta [195] khỏi những cách diễn giải được gán cho Cơ Đốc giáo trong hai nghìn năm qua. Đức Christ thật sự đã ban cho chúng ta giáo huấn rằng chúng ta phải chết để sống như các vị thần, và vì thế Ngài đã chết. Ngài thật sự đã tổng kết nơi Chính Ngài mọi truyền thống của quá khứ, vì Ngài “không chỉ làm ứng nghiệm Kinh Điển Do Thái, mà Ngài cũng làm ứng nghiệm những kinh điển của thế giới ngoại giáo, và chính trong đó có sức hấp dẫn lớn lao của Cơ Đốc giáo sơ khai. Trong Ngài, hàng tá các vị thần mờ bóng được cô đọng thành một thực tại gần gũi; và trong sự đóng đinh của Ngài, những câu chuyện xưa về các đau khổ đền tội ghê rợn và các cái chết hy sinh của họ đã trở thành thực tại và được trao cho một ý nghĩa trực tiếp.” (‘Tính Ngoại Giáo Trong Kitô Giáo Của Chúng Ta’, của Arthur Weigall, tr. 158.) Nhưng cái chết của Ngài cũng là hành vi hoàn tất của một đời sống hy sinh và phụng sự, và là kết quả hợp lý của giáo huấn của Ngài. Những người tiên phong và những ai mặc khải cho con người bước kế tiếp của họ, những ai xuất hiện như các nhà diễn giải Thiên Cơ, tất yếu bị bác bỏ, và thường chết do hậu quả của các tuyên bố can đảm của họ. Đức Christ không phải là ngoại lệ đối với quy luật này. “Các nhà tư tưởng Cơ Đốc giáo tiên tiến hiện nay xem Sự Đóng Đinh của Chúa chúng ta là hy sinh tối thượng do Ngài thực hiện vì các nguyên lý trong giáo huấn của Ngài. Đó là hành vi đỉnh cao của đời sống anh hùng nhất của Ngài, và nó đem lại cho nhân loại một gương mẫu cao cả đến nỗi tham thiền về nó có thể nói là tạo ra một tình trạng hợp nhất với Nguồn Mạch của mọi điều thiện hảo.” (‘Tính Ngoại Giáo Trong Kitô Giáo Của Chúng Ta’, của Arthur Weigall, tr. 166.)

How then is it that today we have such an emphasis upon the blood sacrifice of Christ and upon the idea of sin? It would appear that two causes are responsible for this:

Vậy thì làm sao ngày nay chúng ta lại có sự nhấn mạnh như thế vào hy sinh bằng máu của Đức Christ và vào ý tưởng tội lỗi? Dường như có hai nguyên nhân chịu trách nhiệm cho điều này:

1. The inherited idea of blood sacrifice. As Dr. Rashdall tells us:

1. Ý tưởng thừa hưởng về hy sinh bằng máu. Như Tiến sĩ Rashdall nói với chúng ta:

“The various authors of the canonical books in fact were so accustomed to the pre-Christian ideas of an expiatory sacrifice and atonement that they accepted it without going to the roots of the matter. But this vagueness was not to the liking of the early Christian Fathers. In the Second Century A.D., Irenaeus, and after him other writers, explained the doctrine by what is called the ‘Ransom Theory,’ which states that the Devil was lawful lord of [196] mankind owing to Adam’s fall, and that God, being unable with justice to take Satan’s subjects from him without paying a ransom for them, handed over His own incarnate Son in exchange.”

“Thật ra, các tác giả khác nhau của những sách kinh điển chính thức đã quá quen thuộc với các ý tưởng tiền Cơ Đốc giáo về một hy sinh chuộc lỗi và sự đền tội đến nỗi họ chấp nhận nó mà không đi vào gốc rễ của vấn đề. Nhưng sự mơ hồ này không hợp ý các Giáo phụ Cơ Đốc giáo thời đầu. Vào thế kỷ thứ hai sau Công nguyên, Irenaeus, và sau ông là các tác giả khác, đã giải thích giáo lý này bằng điều được gọi là ‘Thuyết Chuộc Mạng,’ nói rằng Ma Quỷ là chúa tể hợp pháp của [196] nhân loại do sự sa ngã của Adam, và rằng Thượng đế, vì không thể theo công lý mà lấy các thần dân của Satan khỏi hắn nếu không trả một giá chuộc cho họ, đã trao Con nhập thể của chính Ngài để đổi lấy.”

‘THE IDEA OF ATONEMENT’, BY H. RASHDALL, P. 248.

‘Ý TƯỞNG VỀ SỰ CHUỘC TỘI’, CỦA H. RASHDALL, TR. 248.

In this thought we have a definite demonstration of the way in which all ideas (intuitively perceived and infallibly right) are distorted. Men’s minds and preconceived notions colour them. The idea becomes the ideal, and serves a useful purpose and leads men on (as the idea of sacrifice has always led men nearer to God) until it becomes an idol, and consequently limiting and untrue.

Trong tư tưởng này, chúng ta có một minh chứng rõ ràng về cách mọi ý tưởng, dù được trực giác nhận biết và đúng đắn không sai lầm, đều bị bóp méo. Tâm trí và những quan niệm định sẵn của con người tô màu cho chúng. Ý tưởng trở thành lý tưởng, phục vụ một mục đích hữu ích và dẫn dắt con người tiến lên, như ý tưởng hy sinh vẫn luôn dẫn con người đến gần Thượng đế hơn, cho đến khi nó trở thành một thần tượng, và do đó trở nên giới hạn và không còn chân thật.

2. The growth of the consciousness of sin in the race, due to its increasing sensitivity to divinity and its consequent recognition of the shortcomings and the relative evil of the lower human nature.

2. Sự tăng trưởng của tâm thức về tội lỗi trong nhân loại, do tính nhạy bén ngày càng tăng của nhân loại đối với thiên tính, và do sự nhận ra tiếp theo đó về những thiếu sót cùng điều ác tương đối của bản chất nhân loại thấp.

We have seen that one of the factors responsible for the sin-complex of the West has been the development of the mind faculty, with its consequent aftermath of a developed conscience, a capacity to have a sense of values, and (as the result of that) the ability to see the higher and the lower natures in opposition to each other. When the higher self with its values and its range of contacts is instinctively contacted, and the lower self, with its lesser values and its more material range of activities is also realised, it necessarily follows that a sense of division and of failure is developed; men realise their lack of achievement; they become aware of God and humanity, of the world, of the flesh and the devil, but at the same time of the kingdom of God. As man develops, his definitions alter, and the crude so-called sins of the unevolved man, and the faults and failings of the average “nice” citizen of modern times involve different attitudes of mind and judgment, and surely different punitive approaches. As our sense of God changes and develops, and as we approach nearer to reality, our entire outlook upon life, ourselves and our fellowmen is apt to alter and widen, and become more divine as well as more human. It is a human [197] characteristic to be conscious of sin, and to realise that when a man has offended he must, in some form or other, pay a price. The germ of mind, even in infant humanity, gives rise to this realisation, but it took nearly two thousand years of Christianity to raise sin to a position of such importance that it occupied (as it still does) a primary place in the thought of the entire race. We have a situation wherein the law and the Church and the educators of the race are almost entirely occupied with sin and how to prevent it. One wonders sometimes what the world would have been like today if the exponents of the Christian faith had occupied themselves with the theme of love and loving service instead of with this constantly reiterated emphasis upon the blood sacrifice and upon the wickedness of man.

Chúng ta đã thấy rằng một trong những yếu tố chịu trách nhiệm cho phức cảm tội lỗi của phương Tây là sự phát triển của năng lực trí tuệ, với hệ quả tiếp theo là một lương tâm đã phát triển, một khả năng có ý thức về các giá trị, và do kết quả của điều đó, khả năng nhìn thấy các bản chất cao và thấp đối lập với nhau. Khi chân ngã, với các giá trị và phạm vi tiếp xúc của nó, được tiếp xúc một cách bản năng, và phàm ngã, với các giá trị thấp hơn và phạm vi hoạt động vật chất hơn của nó, cũng được nhận ra, thì tất yếu một ý thức về sự chia rẽ và thất bại được phát triển; con người nhận ra sự thiếu thành tựu của mình; họ trở nên ý thức về Thượng đế và nhân loại, về thế gian, về xác thịt và ma quỷ, nhưng đồng thời cũng về Thiên Giới. Khi con người phát triển, các định nghĩa của y thay đổi, và những tội lỗi thô sơ được gọi là của con người chưa tiến hóa, cùng những lỗi lầm và khiếm khuyết của người công dân “tử tế” trung bình thời hiện đại, bao hàm những thái độ trí tuệ và phán đoán khác nhau, và chắc chắn cũng những phương cách trừng phạt khác nhau. Khi ý thức của chúng ta về Thượng đế thay đổi và phát triển, và khi chúng ta tiến gần hơn đến thực tại, toàn bộ cách nhìn của chúng ta về sự sống, về chính mình và về đồng loại có khuynh hướng thay đổi, mở rộng, trở nên thiêng liêng hơn cũng như nhân bản hơn. Ý thức về tội lỗi, và nhận ra rằng khi một người đã xúc phạm thì y phải, bằng cách này hay cách khác, trả một giá, là một đặc tính [197] của con người. Mầm mống của trí tuệ, ngay cả trong nhân loại còn ấu thơ, làm phát sinh sự nhận ra này, nhưng phải mất gần hai ngàn năm của Cơ Đốc giáo mới nâng tội lỗi lên một vị trí quan trọng đến mức nó chiếm, như hiện nay vẫn vậy, một vị trí hàng đầu trong tư tưởng của toàn thể nhân loại. Chúng ta có một tình trạng trong đó luật pháp, Giáo hội và các nhà giáo dục của nhân loại hầu như hoàn toàn bận tâm với tội lỗi và cách ngăn ngừa nó. Đôi khi người ta tự hỏi thế giới ngày nay sẽ ra sao nếu những người xiển dương đức tin Cơ Đốc giáo đã bận tâm với chủ đề tình thương và phụng sự đầy tình thương, thay vì với sự nhấn mạnh được lặp đi lặp lại không ngừng vào lễ hy sinh bằng máu và vào sự độc ác của con người.

The theme of sin runs naturally and normally throughout human history; and the effort to expiate it, in the form of animal sacrifice, has always been present. The belief in an angry deity, who exacted penalties for all that was done by man against a brother, and who demanded a price for all that was given to man as a product of the natural processes of the earth, is as old as man himself. It has passed through many phases. The idea of a God Whose nature is love has battled for centuries with the idea of a God Whose nature is wrath. The outstanding contribution of Christ to world progress was His affirmation, through word and example, of the thought that God is love and not a wrathful deity, inflicting jealous retribution. The battle still rages between this ancient belief and the truth of God’s love which Christ expressed, and which Shri Krishna also embodied. But the belief in an angry, jealous God is still strongly entrenched. It is rooted in the consciousness of the race, and only today are we slowly beginning to realise a different expression of divinity. Our interpretation of sin and its penalty has been at fault, but the reality of God’s love can now be grasped and can thus offset the disastrous doctrine of an angry God Who sent His Son to be the propitiation for the world evil. Of this [198] belief Calvinism is perhaps the best and purest interpretation, and a brief statement as to that theological doctrine will present the concept in understandable terms.

Chủ đề tội lỗi chạy xuyên suốt lịch sử nhân loại một cách tự nhiên và bình thường; và nỗ lực chuộc tội ấy, dưới hình thức hiến tế súc vật, vẫn luôn hiện diện. Niềm tin vào một vị thần linh phẫn nộ, đòi hỏi hình phạt đối với mọi điều con người làm chống lại một huynh đệ, và đòi một giá phải trả cho mọi điều được trao cho con người như sản phẩm của các tiến trình tự nhiên của Trái Đất, cũng xưa như chính con người. Niềm tin ấy đã trải qua nhiều giai đoạn. Ý tưởng về một Thượng đế mà bản chất là tình thương đã chiến đấu qua nhiều thế kỷ với ý tưởng về một Thượng đế mà bản chất là cơn thịnh nộ. Đóng góp nổi bật của Đức Christ cho sự tiến bộ thế giới là sự khẳng định của Ngài, qua lời nói và gương sống, về tư tưởng rằng Thượng đế là tình thương chứ không phải một thần linh thịnh nộ, giáng sự báo ứng ghen tuông. Cuộc chiến vẫn còn dữ dội giữa niềm tin cổ xưa này và chân lý về tình thương của Thượng đế mà Đức Christ đã biểu lộ, và mà Shri Krishna cũng đã hiện thân. Nhưng niềm tin vào một Thượng đế phẫn nộ, ghen tuông vẫn còn bám rễ rất mạnh. Nó cắm sâu trong tâm thức của nhân loại, và chỉ ngày nay chúng ta mới chậm rãi bắt đầu nhận ra một biểu lộ khác của thiên tính. Cách diễn giải của chúng ta về tội lỗi và hình phạt của nó đã sai lầm, nhưng thực tại về tình thương của Thượng đế nay có thể được nắm bắt, và do đó có thể hóa giải giáo lý tai hại về một Thượng đế phẫn nộ, Đấng đã sai Con của Ngài làm lễ đền tội cho điều ác của thế gian. Có lẽ thuyết Calvin là cách diễn giải tốt nhất và thuần khiết nhất của niềm tin [198] này, và một phát biểu ngắn gọn về giáo lý thần học ấy sẽ trình bày khái niệm này bằng những thuật ngữ dễ hiểu.

“Calvinism is built upon the dogma of the absolute sovereignty of God, including omnipotence, omniscience and eternal justice—a common Christian doctrine, but developed by Calvinists with relentless logic to extreme conclusions. Calvinism is often summarised in five points. (1) Every human being as a descendant of Adam (whom all Christians in those times supposed to be an historical character) is guilty from his birth of original sin, in addition to later sins committed in his own lifetime. A man can do nothing to remove his own sin and guilt; that can only be done by the grace of God, mercifully vouchsafed to him through the atonement of Christ, and without any merit whatever on his own part; (2) So only those certain persons can be saved (particular redemption); (3) To whom God gives an effectual calling, strengthening their wills, and enabling them to accept salvation; (4) Who shall, and who shall not be saved is thus a matter of divine election, or predestination; (5) God will never fail those who are his elect: they shall never fall from ultimate salvation (perseverance of the saints). Calvinists insisted with great heat, and endeavoured with much subtility to demonstrate, that their doctrine fully provides for human freedom, and that God is in no way responsible for human sin.”

“Thuyết Calvin được xây dựng trên tín điều về quyền tối thượng tuyệt đối của Thượng đế, bao gồm toàn năng, toàn tri và công lý vĩnh cửu — một giáo lý Cơ Đốc giáo phổ thông, nhưng được những người theo Calvin phát triển bằng lôgic không khoan nhượng đến những kết luận cực đoan. Thuyết Calvin thường được tóm tắt trong năm điểm. (1) Mọi con người, với tư cách là hậu duệ của Adam, người mà mọi tín đồ Cơ Đốc giáo thời ấy đều cho là một nhân vật lịch sử, đều mắc tội nguyên tổ từ khi sinh ra, thêm vào những tội lỗi về sau phạm trong đời mình. Một người không thể làm gì để xóa bỏ tội lỗi và trách nhiệm chịu tội của chính mình; điều đó chỉ có thể được thực hiện bởi ân sủng của Thượng đế, được ban một cách từ bi cho y qua sự chuộc tội của Đức Christ, và không do bất cứ công trạng nào của chính y; (2) Vì vậy chỉ những người nhất định ấy mới có thể được cứu rỗi, tức sự cứu chuộc đặc thù; (3) Những người mà Thượng đế ban cho một tiếng gọi hiệu nghiệm, củng cố ý chí của họ, và giúp họ có khả năng chấp nhận sự cứu rỗi; (4) Ai sẽ và ai sẽ không được cứu rỗi do đó là vấn đề tuyển chọn thiêng liêng, hay tiền định; (5) Thượng đế sẽ không bao giờ bỏ rơi những người được Ngài tuyển chọn: họ sẽ không bao giờ mất sự cứu rỗi tối hậu, tức sự kiên trì của các thánh. Những người theo Calvin đã nhấn mạnh với nhiệt tình lớn lao, và cố gắng với nhiều tinh tế để chứng minh rằng giáo lý của họ hoàn toàn bảo đảm tự do của con người, và rằng Thượng đế tuyệt nhiên không chịu trách nhiệm về tội lỗi của con người.”

‘A STUDENT’S PHILOSOPHY OF RELIGION’, BY WILLIAM K. WRIGHT, P. 178.

‘TRIẾT HỌC TÔN GIÁO CỦA MỘT MÔN SINH’, CỦA WILLIAM K. WRIGHT, TR. 178.

In view, therefore, of this emphasis upon human sinfulness, and as a result of the age-old habit of offering sacrifice to God, the true mission of Christ was long ignored. Instead of His being recognised as embodying in Himself an eternal hope for the race, He was incorporated into the ancient system of sacrifices, and the ancient habits of thought were too strong for the new idea which He came to give. Sin and sacrifice ousted and supplanted the love and service which He sought to bring to our attention through His life and His words. That is also why, from the psychological angle, Christianity has produced such sad, weary, and sin-conscious men. Christ, the sacrifice for sin, and the Cross of Christ as the [199] instrument of His death, have absorbed men’s attention, whilst Christ the perfect man and Christ the Son of God have been less emphasised. The cosmic significance of the cross has been entirely forgotten (or never known) in the West.

Vì vậy, xét đến sự nhấn mạnh này vào tính tội lỗi của con người, và như kết quả của thói quen lâu đời dâng lễ hy sinh lên Thượng đế, sứ mệnh chân thật của Đức Christ đã bị phớt lờ trong thời gian dài. Thay vì được nhận ra như Đấng hiện thân trong chính Ngài một niềm hy vọng vĩnh cửu cho nhân loại, Ngài đã bị đưa vào hệ thống hiến tế cổ xưa, và các thói quen tư tưởng cổ xưa quá mạnh đối với ý tưởng mới mà Ngài đến để trao ban. Tội lỗi và hy sinh đã đẩy lùi và thay thế tình thương cùng phụng sự mà Ngài tìm cách đưa đến sự chú ý của chúng ta qua đời sống và lời nói của Ngài. Đó cũng là lý do vì sao, nhìn từ góc độ tâm lý, Cơ Đốc giáo đã tạo ra những con người buồn bã, mỏi mệt và đầy ý thức tội lỗi như thế. Đức Christ, lễ hy sinh cho tội lỗi, và Thập Giá của Đức Christ như [199] công cụ của cái chết Ngài, đã thu hút sự chú ý của con người, trong khi Đức Christ, con người hoàn hảo, và Đức Christ, Con của Thượng đế, lại ít được nhấn mạnh hơn. Ý nghĩa vũ trụ của thập giá đã hoàn toàn bị quên lãng, hoặc chưa bao giờ được biết đến, ở phương Tây.

Salvation is not primarily connected with sin. Sin is a symptom of a condition, and when a man is “truly saved” that condition is offset, and with it the incidental sinful nature. It was this that Christ came to do—to show us the nature of the “saved” life; to demonstrate to us the quality of the eternal Self which is in every man; this is the lesson of the Crucifixion and the Resurrection: the lower nature must die in order that the higher may be manifested, and the eternal immortal soul in every man must rise from the tomb of matter. It is interesting to trace the idea that men must suffer in this world as the result of sin. In the East, where the doctrines of reincarnation and of karma hold sway, a man suffers for his own deeds and sins and “works out his own salvation, with fear and trembling.” (Philippians, II, 12.) In the Jewish teaching a man suffers for the sins of his forebears and of his nation, and thus gives substance to a truth which is only today beginning to be a known fact—the truth of physical inheritance. Under the Christian teaching, Christ, the perfect man, suffers with God, because God so loved the world that, immanent in it as He is, He could not divorce Himself from the consequences of human frailty and ignorance. Thus humanity gives a purpose to pain, and thus evil is eventually defeated.

Sự cứu rỗi không chủ yếu liên hệ với tội lỗi. Tội lỗi là triệu chứng của một tình trạng, và khi một người “thật sự được cứu rỗi”, tình trạng ấy được hóa giải, và cùng với nó là bản chất tội lỗi đi kèm. Chính điều này Đức Christ đã đến để thực hiện — để cho chúng ta thấy bản chất của đời sống “được cứu rỗi”; để chứng minh cho chúng ta phẩm tính của Bản Ngã vĩnh cửu vốn ở trong mỗi người; đây là bài học của sự Đóng Đinh và sự Phục Sinh: bản chất thấp phải chết để bản chất cao có thể biểu lộ, và linh hồn vĩnh cửu bất tử trong mỗi người phải trỗi dậy khỏi ngôi mộ của vật chất. Thật thú vị khi truy nguyên ý tưởng rằng con người phải đau khổ trong thế giới này như kết quả của tội lỗi. Ở phương Đông, nơi các giáo lý về tái sinh và nghiệp quả chi phối, một người chịu đau khổ vì những hành vi và tội lỗi của chính mình, và “tự thực hiện sự cứu rỗi của mình, với kính sợ và run rẩy.” (Thư gửi tín hữu Philipphê, II, 12.) Trong giáo huấn Do Thái, một người chịu đau khổ vì tội lỗi của tổ tiên và dân tộc mình, và như thế làm cho một chân lý trở nên cụ thể mà chỉ ngày nay mới bắt đầu trở thành một sự kiện được biết đến — chân lý về di truyền thể xác. Theo giáo huấn Cơ Đốc giáo, Đức Christ, con người hoàn hảo, chịu đau khổ cùng với Thượng đế, bởi vì Thượng đế yêu thương thế gian đến nỗi, nội tại trong đó như Ngài vốn là, Ngài không thể tách rời chính Ngài khỏi những hậu quả của sự yếu đuối và vô minh của con người. Như vậy nhân loại đem lại mục đích cho đau khổ, và như vậy điều ác cuối cùng bị đánh bại.

The thought and idea of sacrifice for the sins of the people was not the original and basic idea. Originally, infant humanity offered sacrifices to God to appease His wrath, displayed in the elements through storms and earthquakes and physical disasters. When, instinctively, men turned on each other, when they offended and hurt one another, and so transgressed a dimly sensed realisation of human relationships and intercourse, sacrifice was offered again to God so that He too would not hurt mankind. Thus little by little [200] the idea grew until, at last, the salvation concept might be briefly summarised in the following terms:

Tư tưởng và ý tưởng về sự hy sinh vì tội lỗi của dân chúng không phải là ý tưởng nguyên thủy và căn bản. Ban đầu, nhân loại ấu thơ dâng các lễ hy sinh lên Thượng đế để xoa dịu cơn thịnh nộ của Ngài, được biểu hiện trong các nguyên tố qua bão tố, động đất và các tai họa hồng trần. Khi, theo bản năng, con người quay sang chống lại nhau, khi họ xúc phạm và gây tổn thương cho nhau, và do đó vi phạm một nhận biết còn mờ nhạt về các mối quan hệ và sự giao tiếp của con người, lễ hy sinh lại được dâng lên Thượng đế để Ngài cũng sẽ không làm tổn thương nhân loại. Như thế, từng chút một [200] ý tưởng ấy lớn lên cho đến khi, sau cùng, khái niệm cứu rỗi có thể được tóm tắt ngắn gọn bằng những thuật ngữ sau:

1. Men are saved from the wrath of God in natural phenomena through animal sacrifices, preceded in still more ancient times by the sacrifice of the fruits of the earth.

1. Con người được cứu khỏi cơn thịnh nộ của Thượng đế trong các hiện tượng tự nhiên nhờ các lễ hiến tế súc vật, mà trong những thời cổ xưa hơn nữa đã được đi trước bằng việc hiến tế hoa trái của đất.

2. Men are saved from God’s wrath and from each other by the sacrifice of that which is valued, leading eventually to human sacrifices.

2. Con người được cứu khỏi cơn thịnh nộ của Thượng đế và khỏi nhau bằng sự hy sinh những gì được quý trọng, cuối cùng dẫn đến các lễ hiến tế con người.

3. Men are saved by the sacrifice of a recognised Son of God, hence the vicarious atonement, for which the many crucified world Saviours prepared the way for Christ.

3. Con người được cứu bằng sự hy sinh của một Con của Thượng đế được công nhận, do đó có sự chuộc tội thay thế, mà nhiều Đấng Cứu Thế của thế gian từng bị đóng đinh đã chuẩn bị con đường cho Đức Christ.

4. Men are definitely saved from eternal punishment for their sins by the death of Christ upon the Cross, the sinner guilty of an unkind word being as much responsible for the death of Christ as the vilest murderer.

4. Con người chắc chắn được cứu khỏi hình phạt vĩnh cửu vì tội lỗi của mình bởi cái chết của Đức Christ trên Thập Giá, kẻ tội lỗi phạm một lời thiếu tử tế cũng chịu trách nhiệm về cái chết của Đức Christ không kém gì tên sát nhân đê tiện nhất.

5. Finally, the gradually emerging recognition that we are saved by the living risen Christ—historically presenting to us a goal, and present in each of us as the eternal omniscient soul of man.

5. Sau cùng, sự nhận biết đang dần xuất hiện rằng chúng ta được cứu bởi Đức Christ hằng sống và phục sinh — về mặt lịch sử, Ngài trình bày cho chúng ta một mục tiêu, và hiện diện trong mỗi chúng ta như linh hồn vĩnh cửu toàn tri của con người.

Today it is the risen Christ who is emerging into the forefront of men’s consciousness, and because of this we are on our way towards a period of greater spirituality and a truer expression of religion than at any other time in the history of man. The religious consciousness is the persistent expression of the indwelling spiritual man, the Christ within; and no outer earthly happenings, and no national situations, no matter how temporarily material they may appear to be in their objectives, can dull or obliterate the Presence of God in us. We are learning that that Presence can be released in us only by the death of the lower nature, and this is what Christ has always proclaimed to us from His Cross. We are realising increasingly that the “fellowship of His sufferings” means that we mount the Cross with Him and share constantly in the Crucifixion experience. We are coming to the knowledge that the determining factor in human life is love, and that “God is love.” (I St. John, IV, 8.) Christ came to show us that love was the motivating [201] power of the universe. He suffered and died because He loved and cared enough for human beings to demonstrate to them the Way that they must go—from the cave of Birth to the mount of Transfiguration, and on to the agony of the Crucifixion—if they too are to share in the life of humanity and become, in their turn, saviours of their fellowmen.

Ngày nay, chính Đức Christ phục sinh đang hiện lên hàng đầu trong tâm thức con người, và vì điều này chúng ta đang trên đường tiến tới một thời kỳ có tinh thần lớn lao hơn và một biểu lộ tôn giáo chân thật hơn bất cứ thời điểm nào khác trong lịch sử con người. Tâm thức tôn giáo là biểu lộ bền bỉ của con người tinh thần nội tại, Đức Christ bên trong; và không biến cố trần thế bên ngoài nào, không tình huống quốc gia nào, dù tạm thời có vẻ vật chất đến đâu trong các mục tiêu của chúng, có thể làm mờ hoặc xóa bỏ Sự Hiện Diện của Thượng đế trong chúng ta. Chúng ta đang học rằng Sự Hiện Diện ấy chỉ có thể được giải phóng trong chúng ta bằng cái chết của bản chất thấp, và đây là điều Đức Christ vẫn luôn tuyên bố với chúng ta từ Thập Giá của Ngài. Chúng ta ngày càng nhận ra rằng “sự thông công trong những đau khổ của Ngài” nghĩa là chúng ta lên Thập Giá cùng với Ngài và liên tục chia sẻ trong kinh nghiệm Đóng Đinh. Chúng ta đang đi đến tri thức rằng yếu tố quyết định trong đời sống con người là tình thương, và rằng “Thượng đế là tình thương.” (Thư thứ nhất của Thánh Gioan, IV, 8.) Đức Christ đã đến để chỉ cho chúng ta thấy rằng tình thương là quyền năng thúc đẩy [201] của vũ trụ. Ngài chịu đau khổ và chết vì Ngài yêu thương và quan tâm đủ đến con người để chứng minh cho họ Con Đường mà họ phải đi — từ hang đá Giáng Sinh đến núi Biến hình, rồi đến cơn thống khổ của sự Đóng Đinh — nếu họ cũng muốn chia sẻ trong đời sống của nhân loại và đến lượt mình trở thành những vị cứu tinh của đồng loại.

How then shall we define sin? First let us look at the words which are used in the Bible and in theological works and commentaries dealing with the theme of sin, transgression, iniquity, evil, separation. All of these are expressions of man’s relation to God and to his fellowmen and, according to the New Testament, these terms—God and our fellowmen—are interchangeable terms. What do these words mean?

Vậy chúng ta sẽ định nghĩa tội lỗi như thế nào? Trước hết, chúng ta hãy nhìn vào những từ được dùng trong Kinh Thánh và trong các tác phẩm thần học cùng các bình giải đề cập đến chủ đề tội lỗi, sự vi phạm, sự bất chính, điều ác, sự chia rẽ. Tất cả những điều này là các biểu lộ của mối quan hệ của con người với Thượng đế và với đồng loại của y, và theo Tân Ước, hai thuật ngữ này — Thượng đế và đồng loại của chúng ta — là những thuật ngữ có thể thay thế cho nhau. Những từ này có nghĩa gì?

The real meaning of the word sin is very obscure. It signifies literally “the one who it is.” (Webster’s ‘Unabridged Dictionary’.) Literally, therefore, the one who is in existence, just in so far as he sets himself up against the divine aspect hidden in himself, is a sinner. Some words by Dr. Grensted are illuminating in this connection. He says:

Ý nghĩa thật của từ tội lỗi rất tối nghĩa. Theo nghĩa đen, nó biểu thị “kẻ là nó.” (Từ điển Webster không giản lược.) Do đó, theo nghĩa đen, kẻ đang hiện hữu, đúng trong chừng mực y dựng chính mình lên chống lại phương diện thiêng liêng ẩn giấu trong chính mình, là một kẻ tội lỗi. Một vài lời của Tiến sĩ Grensted soi sáng trong mối liên hệ này. Ông nói:

“ ‘Men turned away from God,’ says Athanasius, ‘when they began to give heed to themselves.’ Augustine identifies sin with the love of self. Dr. Williams has argued that the underlying principle from which sin arises is to be found in ‘the self-assertion of the individual against the herd, a principle which we can only designate by the inadequate titles of selfishness, lovelessness and hate.’ And Dr. Kirk declares that ‘sin may be said to begin with self-regard.’ ”

“‘Con người quay lưng khỏi Thượng đế,’ Athanasius nói, ‘khi họ bắt đầu chú tâm đến chính mình.’ Augustine đồng nhất tội lỗi với tình yêu bản thân. Tiến sĩ Williams đã lập luận rằng nguyên lý nền tảng từ đó tội lỗi phát sinh được tìm thấy trong ‘sự tự khẳng định của cá nhân chống lại bầy đàn, một nguyên lý mà chúng ta chỉ có thể gọi bằng những danh xưng bất toàn là ích kỷ, thiếu tình thương và thù ghét.’ Và Tiến sĩ Kirk tuyên bố rằng ‘có thể nói tội lỗi bắt đầu với sự chú ý đến bản thân.’”

‘PSYCHOLOGY AND GOD’, BY L. W. GRENSTED, P. 136.

‘TÂM LÝ HỌC VÀ THƯỢNG ĐẾ’, CỦA L. W. GRENSTED, TR. 136.

These thoughts bring us directly to the central problem of sin which is (in the last analysis) the problem of man’s essential duality, before he has made the at-one-ment for which Christ stood. When man, before he awakens to his dual nature, does that which is wrong and sinful, we cannot and do not regard him as a sinner—unless we are old-fashioned [202] enough to believe in the doctrine that every man is irretrievably lost unless he is “saved” in the orthodox sense of the term. To St. James, sin is acting against knowledge, and he says “To him that knoweth to do good, and doeth it not, to him it is sin.” (St. James, IV, 17.) There we have a real definition of sin. It is to act against light and knowledge, and with deliberation to do that which we know is wrong and undesirable. Where there is no such knowledge there can be no sin; therefore animals are regarded as free from sin, and men acting in equal ignorance should likewise be so regarded. But the moment a man becomes aware that he is two persons in one form, that he is God and man, then responsibility steadily increases, sin becomes possible, and it is here that the mystery aspect of sin enters in. It consists in the relation between the “hidden man of the heart” (I St. Peter, III, 4.) and the outer, tangible man. Each has its own life and its own field of experience. Each therefore remains a mystery to the other. The at-one-ment consists in resolving the relationship between these two, and when the wishes of the “hidden man” are violated, the sin occurs.

Những tư tưởng này đưa chúng ta trực tiếp đến vấn đề trung tâm của tội lỗi, mà xét đến cùng là vấn đề về tính nhị nguyên thiết yếu của con người, trước khi y đã thực hiện sự hiệp nhất mà Đức Christ đại diện. Khi con người, trước khi thức tỉnh với bản chất kép của mình, làm điều sai trái và tội lỗi, chúng ta không thể và cũng không xem y là kẻ tội lỗi — trừ phi chúng ta cổ hủ [202] đến mức tin vào giáo lý rằng mọi người đều hư mất không thể cứu vãn trừ khi y được “cứu rỗi” theo nghĩa chính thống của thuật ngữ. Đối với Thánh Giacôbê, tội lỗi là hành động chống lại tri thức, và ông nói: “Kẻ nào biết làm điều lành mà không làm, thì đối với kẻ ấy đó là tội.” (Thánh Giacôbê, IV, 17.) Ở đó chúng ta có một định nghĩa thật về tội lỗi. Đó là hành động chống lại ánh sáng và tri thức, và cố ý làm điều mà chúng ta biết là sai trái và không đáng mong muốn. Nơi nào không có tri thức như thế thì không thể có tội lỗi; vì vậy loài vật được xem là không có tội, và những người hành động trong sự vô minh tương tự cũng nên được xem như vậy. Nhưng ngay khoảnh khắc một người trở nên ý thức rằng y là hai con người trong một hình tướng, rằng y là Thượng đế và con người, thì trách nhiệm tăng lên đều đặn, tội lỗi trở nên khả hữu, và chính ở đây phương diện huyền nhiệm của tội lỗi bước vào. Nó nằm trong mối quan hệ giữa “con người ẩn giấu của trái tim” (Thư thứ nhất của Thánh Phêrô, III, 4.) và con người bên ngoài, hữu hình. Mỗi bên có đời sống riêng và lĩnh vực kinh nghiệm riêng. Vì vậy mỗi bên vẫn là một huyền nhiệm đối với bên kia. Sự hiệp nhất nằm ở việc giải quyết mối quan hệ giữa hai bên này, và khi các ước muốn của “con người ẩn giấu” bị vi phạm, tội lỗi xảy ra.

When these two aspects of man are united and function together as a unity, and when the spiritual man controls the activities of the carnal man, sin becomes impossible, and man moves on towards greatness.

Khi hai phương diện này của con người được hợp nhất và hoạt động cùng nhau như một nhất thể, và khi con người tinh thần kiểm soát các hoạt động của con người xác thịt, tội lỗi trở nên bất khả, và con người tiến tới sự cao cả.

The word “transgression” signifies the walking across a boundary; it involves the displacing of a landmark, as it is called in Masonry, or the infringement of one of the basic principles of living. There are certain things which are recognised by all as having a controlling relation to man. Such a compilation of principles as the Ten Commandments might be cited as a case in point. They constitute the boundary which ancient custom, ordained right habits, and the social order have imposed upon the race. To step across these boundaries, which man, from experience, has himself instituted, and to which God has accorded divine recognition, [203] is to transgress, and for every transgression there is an inevitable penalty. We pay the price of ignorance every time, and thereby learn not to sin; we are penalised when we do not keep the rules, and in time we learn not to transgress them. Instinctively we keep certain rules; probably because we have often paid the price, and certainly because we care too much about our reputations and public opinion to transgress them now. There are boundaries across which the average right-minded citizen does not step. When he does, he joins the large group of sinners. Controlled action in every department of human life is the ideal, and this action must be based on right motive, be actuated by unselfish purpose, and be carried forward in the strength of the inner spiritual man, the “hidden man of the heart.”

Từ “vi phạm” biểu thị việc bước qua một ranh giới; nó bao hàm việc dời một mốc giới, như cách gọi trong Hội Tam Điểm, hoặc xâm phạm một trong những nguyên lý căn bản của sự sống. Có một số điều được mọi người công nhận là có mối quan hệ kiểm soát đối với con người. Một tập hợp các nguyên lý như Mười Điều Răn có thể được nêu như một trường hợp điển hình. Chúng cấu thành ranh giới mà tập tục cổ xưa, những thói quen đúng đắn đã được thiết lập, và trật tự xã hội đã áp đặt lên nhân loại. Bước qua những ranh giới này, mà con người, từ kinh nghiệm, đã tự thiết lập, và được Thượng đế ban sự công nhận thiêng liêng, [203] là vi phạm, và đối với mỗi sự vi phạm đều có một hình phạt tất yếu. Mỗi lần chúng ta trả giá cho vô minh, và nhờ đó học cách không phạm tội; chúng ta bị phạt khi không giữ các quy luật, và theo thời gian chúng ta học cách không vi phạm chúng. Theo bản năng, chúng ta giữ một số quy luật; có lẽ vì chúng ta đã nhiều lần trả giá, và chắc chắn vì chúng ta quan tâm quá nhiều đến danh tiếng của mình và dư luận công chúng nên nay không vi phạm chúng. Có những ranh giới mà người công dân trung bình có tâm trí đúng đắn không bước qua. Khi y làm vậy, y gia nhập nhóm lớn những kẻ tội lỗi. Hành động được kiểm soát trong mọi lĩnh vực của đời sống con người là lý tưởng, và hành động này phải đặt nền trên động cơ đúng đắn, được thúc đẩy bởi mục đích vị tha, và được tiến hành trong sức mạnh của con người tinh thần nội tại, “con người ẩn giấu của trái tim.”

“Iniquity” is a word with a seemingly innocuous meaning. It signifies simply an unevenness, an inequality. An iniquitous man is therefore technically an unbalanced man, one who tolerates some unevennesses in his daily life. A definition such as this is broadly inclusive, and even if we do not regard ourselves as sinners and transgressors, we surely come under the category of those whose lives show certain inequalities in conduct. We are not always the same. We are fluid in our expression of living. We are some days one thing and some days another, and because of this lack of balance and of equilibrium, we are iniquitous people in the true sense of the word. These things are good to remember, for they prevent that dire sin, self-satisfaction.

“Bất chính” là một từ có ý nghĩa dường như vô hại. Nó chỉ đơn giản biểu thị sự không đồng đều, sự không cân bằng. Do đó, về mặt kỹ thuật, một người bất chính là một người mất quân bình, một người dung thứ một số sự không đồng đều trong đời sống hằng ngày của mình. Một định nghĩa như thế có tính bao gồm rộng rãi, và ngay cả nếu chúng ta không xem mình là những kẻ tội lỗi và những kẻ vi phạm, chắc chắn chúng ta vẫn thuộc về loại những người mà đời sống biểu lộ một số sự không nhất quán trong hành vi. Chúng ta không phải lúc nào cũng như nhau. Chúng ta linh động trong biểu lộ sống của mình. Có ngày chúng ta là một điều, có ngày lại là điều khác, và vì sự thiếu cân bằng và quân bình này, chúng ta là những người bất chính theo nghĩa chân thật của từ này. Những điều này đáng được ghi nhớ, vì chúng ngăn ngừa tội lỗi ghê gớm ấy: sự tự mãn.

The question of evil is too large to elucidate at length, but it might be defined simply as adherence to that which we should have outgrown, the grasping of that which we should have left behind. Evil is, for the bulk of us, simply and solely an effort to identify ourselves with the form life when we have a capacity for soul consciousness; and righteousness is the steady turning of the thought and life towards the soul, leading to those activities which are spiritual and harmless and helpful. This sense of evil and this reaction to good is again latent in the relationship between the two [204] halves of man’s nature—the spiritual and the strictly human. When we turn the light of our awakened consciousness into the lower nature, and then with deliberation do, “in the light,” those things which are determined and vitalised from the lower levels of our existence, we are throwing the weight of our knowledge on the side of evil, and are retrogressing. It is not always expedient from the point of view of the “carnal man” to do, or to reject, certain things, and when we choose the lower, and do it, making a specific choice, then the evil which is in us is dominating.

Vấn đề điều ác quá rộng lớn để làm sáng tỏ dài dòng, nhưng có thể định nghĩa đơn giản là sự bám chặt vào điều mà lẽ ra chúng ta đã phải vượt qua, sự nắm giữ điều mà lẽ ra chúng ta đã phải bỏ lại phía sau. Đối với phần đông chúng ta, điều ác chỉ đơn giản và duy nhất là một nỗ lực đồng hóa mình với sự sống hình tướng khi chúng ta có khả năng đạt đến tâm thức linh hồn; và sự công chính là việc đều đặn xoay tư tưởng và đời sống về phía linh hồn, dẫn đến những hoạt động tinh thần, vô tổn hại và hữu ích. Ý thức về điều ác này và phản ứng này đối với điều thiện lại tiềm tàng trong mối quan hệ giữa hai [204] nửa của bản chất con người — phần tinh thần và phần thuần túy nhân loại. Khi chúng ta hướng ánh sáng của tâm thức đã thức tỉnh vào bản chất thấp, rồi cố ý làm, “trong ánh sáng”, những điều được quyết định và tiếp sinh lực từ các cấp độ thấp hơn của hiện tồn chúng ta, chúng ta đang đặt sức nặng tri thức của mình về phía điều ác, và đang thụt lùi. Từ quan điểm của “con người xác thịt”, không phải lúc nào cũng thuận tiện để làm, hoặc từ chối, một số điều, và khi chúng ta chọn cái thấp hơn và thực hiện nó, bằng một lựa chọn cụ thể, thì điều ác trong chúng ta đang thống trị.

It is gradually dawning on the human consciousness that a separative attitude has in it the elements of sin and of evil. When we are separative in our attitudes or do anything which produces separation, we are transgressing a fundamental law of God. What we are really doing is breaking the Law of Love, which knows no separation, but sees only unity and synthesis, brotherhood and interrelation everywhere. Herein lies our major problem. Our study in connection with sin and evil will, as Dr. Grensted tells us, serve….

Tâm thức con người đang dần nhận ra rằng một thái độ chia rẽ chứa trong nó các yếu tố của tội lỗi và điều ác. Khi chúng ta có thái độ chia rẽ hoặc làm bất cứ điều gì tạo ra sự chia rẽ, chúng ta đang vi phạm một định luật căn bản của Thượng đế. Điều chúng ta thật sự đang làm là phá vỡ Định luật Tình thương, vốn không biết đến sự chia rẽ, mà chỉ thấy sự hợp nhất và tổng hợp, tình huynh đệ và sự tương quan ở khắp nơi. Chính trong điều này có vấn đề chính yếu của chúng ta. Nghiên cứu của chúng ta liên quan đến tội lỗi và điều ác, như Tiến sĩ Grensted cho chúng ta biết, sẽ phục vụ….

“in the main to reveal the fundamental character of our problem as resulting from a failure of faith and a refusal of love. The psychologists do not escape from this view of sin when they deal with it as moral disease, for their one hope of treating such moral disease successfully rests in an attempt to awaken the latent personal resources of the ego, through processes in themselves personal. Where, as in certain of the major psychoses, this appeal cannot be made, there is no human hope of a cure. The key to psychological healing lies in the transference and there is the closest possible parallel between this and the Christian way of forgiveness. Both methods are wholly personal, both depend upon a readjustment of relationships which begins at priest or physician and passes out into every relationship of the social environment.” [Italics are mine. A.A.B.]

“chủ yếu để mặc khải đặc tính căn bản của vấn đề chúng ta như phát sinh từ sự thất bại của đức tin và sự khước từ tình thương. Các nhà tâm lý học không thoát khỏi quan điểm này về tội lỗi khi họ đề cập đến nó như một bệnh lý đạo đức, vì hy vọng duy nhất của họ trong việc điều trị thành công bệnh lý đạo đức như thế đặt trên một nỗ lực đánh thức các nguồn lực cá nhân tiềm tàng của cái tôi, qua những tiến trình tự chúng mang tính cá nhân. Nơi nào, như trong một số rối loạn tâm thần lớn, lời kêu gọi này không thể được thực hiện, nơi đó không có hy vọng chữa lành nào của con người. Chìa khóa của việc chữa lành tâm lý nằm trong sự chuyển di, và có sự tương đồng gần gũi nhất có thể giữa điều này và con đường tha thứ của Cơ Đốc giáo. Cả hai phương pháp đều hoàn toàn mang tính cá nhân, cả hai đều tùy thuộc vào một sự điều chỉnh lại các mối quan hệ, bắt đầu nơi linh mục hoặc thầy thuốc và lan ra mọi mối quan hệ của môi trường xã hội.” [Chữ nghiêng là của tôi. A.A.B.]

‘PSYCHOLOGY AND GOD’, BY L. W. GRENSTED, P. 199.

‘TÂM LÝ HỌC VÀ THƯỢNG ĐẾ’, CỦA L. W. GRENSTED, TR. 199.

The sense of responsibility for one’s actions grows as one progresses from stage to stage upon the Path of Evolution. [205] In the early stages there is little or no responsibility. There is little or no knowledge, no sense of relationship to God, and very little sense of relationship to humanity. It is this sense of separateness, this emphasis upon personal and individual good, which is of the nature of sin. Love is unity, at-one-ment and synthesis. Separateness is hatred, aloneness and division. But man, being divine in nature, has to love, and the trouble has been that he has loved wrongly. In the early stages of his development he places his love in the wrong direction, and turning his back on the love of God, which is of the very nature of his own soul, he loves that which is connected with the form side of life, and not with the life side of form.

Ý thức trách nhiệm đối với các hành động của mình tăng trưởng khi người ta tiến từ giai đoạn này sang giai đoạn khác trên Con Đường Tiến Hóa. [205] Trong các giai đoạn đầu, có rất ít hoặc không có trách nhiệm. Có rất ít hoặc không có tri thức, không có ý thức về mối quan hệ với Thượng đế, và rất ít ý thức về mối quan hệ với nhân loại. Chính ý thức về sự tách biệt này, sự nhấn mạnh này vào điều tốt cá nhân và riêng tư, mang bản chất của tội lỗi. Tình thương là sự hợp nhất, sự hiệp nhất và tổng hợp. Sự tách biệt là thù ghét, đơn độc và chia rẽ. Nhưng con người, vì có bản chất thiêng liêng, phải yêu thương, và rắc rối là y đã yêu sai lầm. Trong các giai đoạn đầu của sự phát triển, y đặt tình thương của mình sai hướng, và quay lưng lại với tình thương của Thượng đế, vốn chính là bản chất của linh hồn y, y yêu điều gắn liền với mặt hình tướng của sự sống, chứ không phải với mặt sự sống của hình tướng.

Sin is therefore a definite infringement of the Law of Love, as we show it in our relation with God or with our brother, a son of God. It is the doing of those things from purely selfish interest which brings suffering to those we have in our immediate surroundings, or to the group with which we may be affiliated—a family group, a social group, a business group, or just the group of human beings with whom our general destiny casts us.

Vì vậy, tội lỗi là một sự xâm phạm rõ ràng Định luật Tình thương, như chúng ta biểu lộ nó trong mối quan hệ của mình với Thượng đế hoặc với huynh đệ của mình, một người Con của Thượng đế. Đó là việc làm những điều do lợi ích hoàn toàn ích kỷ, gây đau khổ cho những người ở ngay quanh chúng ta, hoặc cho nhóm mà chúng ta có thể liên kết — một nhóm gia đình, một nhóm xã hội, một nhóm kinh doanh, hoặc chỉ là nhóm những con người mà vận mệnh chung của chúng ta đưa chúng ta đến với họ.

This brings us to the realisation that, in the last analysis, sin signifies wrong relation to other human beings. It was the sense of this wrong relation which in the early days of man’s history gave rise to the sacrifice of worldly goods upon the altar, for primitive man seemed to feel that by making an offering to God he succeeded in making redemption of his character possible with his fellowmen.

Điều này đưa chúng ta đến nhận thức rằng, xét đến cùng, tội lỗi biểu thị mối quan hệ sai lầm với những con người khác. Chính ý thức về mối quan hệ sai lầm này trong những ngày đầu của lịch sử con người đã làm phát sinh việc hiến dâng của cải thế gian trên bàn thờ, vì con người nguyên thủy dường như cảm thấy rằng bằng cách dâng lễ vật lên Thượng đế, y đã thành công trong việc làm cho sự cứu chuộc tính cách của mình trở nên khả hữu với đồng loại.

It is beginning to dawn upon the race today that the only real sin is to hurt another human being. Sin is the misuse of our relationships with each other, and there is no evading these relationships. They exist. We live in a world of men, and our lives are spent in contact with other human beings. The way in which we handle this daily problem demonstrates either our divinity or our erring lower nature. Our task in life is to express divinity. And that divinity manifests itself [206] in the same way that the divinity of Christ expressed itself; in harmless living and ceaseless service to our fellowmen; in a careful watchfulness over words and deeds lest in any way we should “offend one of these little ones”; (St. Luke, XVII, 2.) in the sharing with Christ of the urgency which He felt to meet the world’s need and to act the part of a saviour to men. It is gloriously true that this basic concept of Deity is beginning to grip humanity.

Ngày nay, nhân loại bắt đầu nhận ra rằng tội lỗi thật sự duy nhất là làm tổn thương một con người khác. Tội lỗi là sự lạm dụng các mối quan hệ của chúng ta với nhau, và không thể né tránh các mối quan hệ này. Chúng hiện hữu. Chúng ta sống trong một thế giới của con người, và đời sống của chúng ta trôi qua trong tiếp xúc với những con người khác. Cách chúng ta xử lý vấn đề hằng ngày này chứng minh hoặc thiên tính của chúng ta, hoặc bản chất thấp sai lầm của chúng ta. Nhiệm vụ của chúng ta trong đời là biểu lộ thiên tính. Và thiên tính ấy biểu lộ [206] theo cùng cách mà thiên tính của Đức Christ đã biểu lộ; trong đời sống vô tổn hại và sự phụng sự không ngừng đối với đồng loại; trong sự canh chừng cẩn trọng lời nói và hành động để bằng bất cứ cách nào chúng ta cũng không “làm vấp phạm một trong những kẻ bé nhỏ này”; (Thánh Luca, XVII, 2.) trong việc chia sẻ với Đức Christ tính khẩn thiết mà Ngài cảm thấy để đáp ứng nhu cầu của thế giới và đảm nhiệm vai trò một vị cứu tinh cho con người. Thật vinh quang thay khi đúng là khái niệm căn bản này về Thượng đế đang bắt đầu nắm giữ nhân loại.

Christ’s major task was the establishing of God’s kingdom upon earth. He showed us the way in which humanity could enter that kingdom—by subjecting the lower nature to the death of the cross, and rising by the power of the indwelling Christ. Each one of us has to tread the way of the cross alone, and enter God’s kingdom by right of achievement. But the way is found in service to our fellowmen, and Christ’s death, viewed from one angle, was the logical outcome of the service which He had rendered. Service, pain, difficulty and the cross—such are the rewards of the man who puts humanity first and himself second. But having done so, he discovers that the door into the kingdom is flung wide open and that he can enter in. But he has first to suffer. It is the Way.

Nhiệm vụ chính yếu của Đức Christ là thiết lập Thiên Giới trên Trái Đất. Ngài đã chỉ cho chúng ta cách nhân loại có thể bước vào giới ấy — bằng cách đặt bản chất thấp dưới cái chết của thập giá, và trỗi dậy nhờ quyền năng của Đức Christ nội tại. Mỗi người trong chúng ta phải một mình bước trên con đường thập giá, và bước vào Thiên Giới bằng quyền của thành tựu. Nhưng con đường được tìm thấy trong sự phụng sự đồng loại, và cái chết của Đức Christ, nhìn từ một góc độ, là kết quả hợp lý của sự phụng sự mà Ngài đã thực hiện. Phụng sự, đau khổ, khó khăn và thập giá — đó là các phần thưởng của người đặt nhân loại lên trước và bản thân mình ở sau. Nhưng khi đã làm như vậy, y khám phá rằng cánh cửa vào Thiên Giới mở rộng, và y có thể bước vào. Nhưng trước hết y phải chịu đau khổ. Đó là Con Đường.

It is through supreme service and sacrifice that we become followers of Christ and earn the right to enter into His kingdom, because we do not enter alone. This is the subjective element in all religious aspiration, and this all the sons of God have grasped and taught. Man triumphs through death and sacrifice.

Chính qua phụng sự và hy sinh tối thượng mà chúng ta trở thành những người theo Đức Christ và giành được quyền bước vào Thiên Giới của Ngài, bởi vì chúng ta không bước vào một mình. Đây là yếu tố chủ quan trong mọi khát vọng tôn giáo, và điều này tất cả các Con của Thượng đế đều đã nắm bắt và giảng dạy. Con người chiến thắng qua cái chết và sự hy sinh.

That superhuman Spirit, Christ, did this perfectly. In Him was no sin because He had perfectly transcended the ephemeral lower self. His personality was subordinated to His divinity. The laws of transgression touched Him not, because He crossed no boundaries and infringed no principles. He embodied in Himself the principle of love and therefore it was not possible for Him, at the stage in evolution [207] which He had reached, to hurt a human being. He was perfectly balanced and had achieved that equilibrium which released Him from all lower impacts and set Him free to ascend to the throne of God. For Him there was no holding on to the lower and to that which was humanly desirable but divinely rejected. Evil therefore passed Him by, and he had no traffic with it. “He was in all points tempted like as we are, yet without sin.” (Hebrews, IV, 15.) He knew no separateness. Rich men, publicans, fishermen, learned professors, harlots and simple folk were all His friends, and the “great heresy of separateness” was completely overcome by His all-inclusive spirit. Thus He fulfilled the law of the past, emphasised the type for the humanity of the future, and entered for us within the veil, leaving us an example that we should follow His steps—an example of sacrifice unto the death, of service rendered ceaselessly, of self-forgetfulness, and of a heroism that led Him from point to point upon the way, and from altitude to altitude, until no bonds could hold Him (not even the barriers of death). He remains the eternal God-Man, the Saviour of the world. In perfection He fulfilled the will of God, and said to us the words which give us a simple rule with a great reward: “If any man will do his will, he shall know of the doctrine, whether it be of God.” (St. John, VII, 17.)

Đấng Tinh thần siêu nhân ấy, Đức Christ, đã thực hiện điều này một cách hoàn hảo. Trong Ngài không có tội lỗi vì Ngài đã hoàn toàn vượt lên trên phàm ngã phù du. Phàm ngã của Ngài được đặt dưới thiên tính của Ngài. Các luật của sự vi phạm không chạm đến Ngài, vì Ngài không vượt qua ranh giới nào và không xâm phạm nguyên lý nào. Ngài hiện thân trong chính Ngài nguyên lý tình thương, và vì vậy, ở giai đoạn tiến hóa [207] mà Ngài đã đạt đến, Ngài không thể làm tổn thương một con người. Ngài hoàn toàn cân bằng và đã đạt được sự quân bình giải phóng Ngài khỏi mọi tác động thấp và làm Ngài tự do thăng lên ngai của Thượng đế. Đối với Ngài, không có sự bám giữ vào điều thấp và vào điều đáng mong muốn theo nhân tính nhưng bị bác bỏ theo thiên tính. Vì vậy điều ác đi ngang qua Ngài, và Ngài không giao thiệp gì với nó. “Ngài đã chịu cám dỗ trong mọi phương diện như chúng ta, nhưng không phạm tội.” (Thư gửi tín hữu Do Thái, IV, 15.) Ngài không biết đến sự tách biệt. Người giàu, người thu thuế, ngư phủ, các giáo sư uyên bác, kỹ nữ và những người đơn sơ đều là bạn của Ngài, và “Đại Tà thuyết về sự chia rẽ” đã được vượt qua hoàn toàn bởi tinh thần bao gồm tất cả của Ngài. Như thế Ngài đã hoàn thành luật của quá khứ, nhấn mạnh kiểu mẫu cho nhân loại tương lai, và vì chúng ta bước vào bên trong bức màn, để lại cho chúng ta một gương mẫu hầu chúng ta theo dấu chân Ngài — một gương mẫu về hy sinh cho đến chết, về phụng sự được thực hiện không ngừng, về sự quên mình, và về một chủ nghĩa anh hùng đã dẫn Ngài từ điểm này đến điểm khác trên con đường, và từ cao độ này đến cao độ khác, cho đến khi không xiềng xích nào có thể giữ Ngài, ngay cả những rào chắn của cái chết. Ngài vẫn là Thượng đế-Người vĩnh cửu, Đấng Cứu Thế của thế gian. Trong sự hoàn hảo, Ngài đã hoàn thành Ý Chí của Thượng Đế, và nói với chúng ta những lời ban cho chúng ta một quy luật đơn giản với một phần thưởng lớn lao: “Nếu ai muốn làm theo ý muốn của Ngài, người ấy sẽ biết giáo lý này có phải bởi Thượng đế hay không.” (Thánh Gioan, VII, 17.)

The simplicity of this instruction is almost baffling. We are told simply to do God’s will and then truth will be revealed to us. There were times in Christ’s life, as in the Garden of Gethsemane, when He fought with Himself to do God’s will. There were moments when His human flesh quailed before the prospect which opened up before Him. He therefore knew the difficulty of this simple rule.

Sự đơn giản của lời chỉ dạy này gần như làm chúng ta bối rối. Chúng ta chỉ đơn giản được bảo hãy làm theo Ý Chí của Thượng Đế, rồi chân lý sẽ được mặc khải cho chúng ta. Đã có những thời điểm trong đời Đức Christ, như trong Vườn Gethsemane, khi Ngài đấu tranh với chính mình để làm theo Ý Chí của Thượng Đế. Đã có những khoảnh khắc khi xác thịt nhân loại của Ngài run sợ trước viễn cảnh mở ra trước Ngài. Vì vậy Ngài biết sự khó khăn của quy luật đơn giản này.

3

3

In turning our attention to the story of the Crucifixion it is obvious that there is no need to recount the details of it. [208] It is so well known and so familiar that the words in which it is couched are apt to mean little. The tale of Christ’s triumphant entry into Jerusalem, of His gathering the disciples together into the upper room, and there sharing with them the communion of bread and of wine and of the desertion of those who supposedly loved Him, with His subsequent agony in the Garden of Gethsemane, is as familiar to us as our own names, and much less arresting. That is the tragedy of Christ. He did so much, and we have recognised so little. It has taken us twenty centuries to begin to understand Him and His mission and career. The Crucifixion itself was only an anticipated and expected consummation of that career. No other end was possible. It was predetermined from the beginning, and really dated from the time when, after the Baptism initiation, He started out to serve humanity, and to teach and preach the good tidings of the kingdom of God. That was His theme, and we have forgotten it and have preached the Personality of Jesus Christ—one theme which He Himself ignored and which seemed to Him of small importance in view of the greater values involved. This again is the tragedy of Christ. He has one set of values and the world has another.

Khi hướng sự chú ý của chúng ta đến câu chuyện Đóng Đinh, rõ ràng không cần kể lại các chi tiết của nó. [208] Nó quá nổi tiếng và quá quen thuộc đến nỗi những lời trong đó nó được diễn đạt dễ trở nên ít ý nghĩa. Câu chuyện về việc Đức Christ khải hoàn vào Jerusalem, về việc Ngài quy tụ các đệ tử trong căn phòng trên lầu, và tại đó chia sẻ với họ lễ hiệp thông bằng bánh và rượu, rồi về sự bỏ rơi của những người được cho là yêu mến Ngài, cùng cơn thống khổ tiếp theo của Ngài trong Vườn Gethsemane, quen thuộc với chúng ta như chính tên mình, và kém gây chấn động hơn nhiều. Đó là bi kịch của Đức Christ. Ngài đã làm quá nhiều, còn chúng ta nhận ra quá ít. Chúng ta đã mất hai mươi thế kỷ mới bắt đầu thấu hiểu Ngài cùng sứ mệnh và sự nghiệp của Ngài. Chính sự Đóng Đinh chỉ là sự viên mãn đã được dự liệu và mong đợi của sự nghiệp ấy. Không thể có kết thúc nào khác. Nó đã được định trước từ ban đầu, và thật sự bắt đầu từ lúc, sau lần điểm đạo Rửa Tội, Ngài khởi sự phụng sự nhân loại, dạy dỗ và rao giảng tin mừng về Thiên Giới. Đó là chủ đề của Ngài, còn chúng ta đã quên nó và đã rao giảng Phàm ngã của Đức Jesus Christ — một chủ đề mà chính Ngài đã bỏ qua và dường như đối với Ngài chỉ có tầm quan trọng nhỏ bé trước những giá trị lớn lao hơn liên hệ. Đây lại là bi kịch của Đức Christ. Ngài có một hệ giá trị, còn thế gian có một hệ khác.

We have made of the Crucifixion a tragedy, whereas the real tragedy was our failure to recognise its true significance. The agony in the Garden of Gethsemane was based upon the fact that He was not understood. Many men have died violent deaths. In this, Christ was in no wise different from thousands of other far-seeing men and reformers, down the ages. Many people have passed through the Gethsemane experience and prayed with the same fervour as Christ that God’s will might be done. Many men have been deserted by those who might have been expected to understand and participate in the work and service visioned. In none of these respects was Christ really unique. But His suffering was based upon His unique vision. The lack of comprehension of the people, and the distorted interpretations which future theologians would give to His message must surely have been a part of [209] the pre-vision, as likewise the knowledge that the emphasis accorded to Him as the Saviour of the world would retard for centuries the materialising of the kingdom of God on earth, which it was His mission to found. Christ came that all mankind might have “life … more abundantly.” (St. John, X, 10.) We have so interpreted His words that only the “saved” are credited with having taken the necessary steps towards that life. But the abundant life is surely not a life to be lived hereafter, in some distant heaven where those who are believers shall enjoy an exclusive life of happiness, whilst the rest of God’s children are left outside. The Cross was intended to indicate the line of demarcation between the kingdom of men and the kingdom of God, between one great kingdom in nature which had reached maturity, and another kingdom in nature which could now enter upon its cycle of activity. The human kingdom had evolved to the point where it had produced the Christ and those other children of God whose lives bore constant testimony to the divine nature.

Chúng ta đã biến sự Đóng Đinh thành một bi kịch, trong khi bi kịch thật sự là sự thất bại của chúng ta trong việc nhận ra thâm nghĩa chân thật của nó. Cơn thống khổ trong Vườn Gethsemane đặt nền trên sự kiện rằng Ngài không được thấu hiểu. Nhiều người đã chết những cái chết bạo lực. Trong điều này, Đức Christ tuyệt nhiên không khác hàng ngàn người có tầm nhìn xa và các nhà cải cách khác qua các thời đại. Nhiều người đã đi qua kinh nghiệm Gethsemane và cầu nguyện với cùng nhiệt thành như Đức Christ rằng Ý Chí của Thượng Đế được thực hiện. Nhiều người đã bị bỏ rơi bởi những người lẽ ra có thể được trông đợi là thấu hiểu và tham dự vào công việc cùng sự phụng sự đã được hình dung. Trong không phương diện nào như thế Đức Christ thật sự độc nhất. Nhưng nỗi đau khổ của Ngài đặt nền trên tầm nhìn độc nhất của Ngài. Sự thiếu thấu hiểu của dân chúng, và những diễn giải méo mó mà các nhà thần học tương lai sẽ gán cho thông điệp của Ngài, chắc chắn phải là một phần của [209] linh ảnh tiên tri, cũng như sự biết rằng sự nhấn mạnh dành cho Ngài như Đấng Cứu Thế của thế gian sẽ trì hoãn qua nhiều thế kỷ việc hiện hình Thiên Giới trên Trái Đất, vốn là sứ mệnh Ngài đến để thiết lập. Đức Christ đã đến để toàn thể nhân loại có “sự sống… dồi dào hơn.” (Thánh Gioan, X, 10.) Chúng ta đã diễn giải lời Ngài đến mức chỉ những người “được cứu rỗi” mới được công nhận là đã thực hiện các bước cần thiết hướng tới sự sống ấy. Nhưng sự sống dồi dào chắc chắn không phải là một đời sống sẽ được sống về sau, trong một thiên đường xa xôi nào đó, nơi những người tin sẽ hưởng một đời sống hạnh phúc độc quyền, trong khi phần còn lại của con cái Thượng đế bị bỏ lại bên ngoài. Thập Giá được dự định để chỉ ra đường phân giới giữa giới của con người và Thiên Giới, giữa một giới lớn trong thiên nhiên đã đạt tới sự trưởng thành, và một giới khác trong thiên nhiên nay có thể bước vào chu kỳ hoạt động của nó. Giới nhân loại đã tiến hóa đến điểm nó đã sản sinh ra Đức Christ và những người con khác của Thượng đế, mà đời sống của họ liên tục làm chứng cho bản chất thiêng liêng.

Christ assumed the ancient symbol and burden of the cross, and, taking His stand beside all the previous crucified Saviours, embodied in Himself the immediate and the cosmic, the past and the future, rearing the Cross on the hill outside Jerusalem (the name of which signifies the “vision of peace”), thus calling attention to the kingdom which He died to establish. The work had been completed, and in that strange little country called the Holy Land, a narrow strip of territory between the two hemispheres, the East and the West, the Orient and the Occident, Christ mounted the Cross and fixed the boundary between the kingdom of God and the kingdoms of the world, between the world of men and the world of Spirit. Thus He brought to a climax the ancient Mysteries, which had prophesied the coming of that kingdom, and instituted the Mysteries of the kingdom of God.

Đức Christ đã đảm nhận biểu tượng cổ xưa và gánh nặng của thập giá, và, đứng bên cạnh tất cả các Đấng Cứu Thế bị đóng đinh trước đó, Ngài hiện thân trong chính Ngài điều tức thời và điều vũ trụ, quá khứ và tương lai, dựng Thập Giá trên ngọn đồi bên ngoài Jerusalem, tên gọi ấy biểu thị “tầm nhìn của hòa bình”, qua đó kêu gọi sự chú ý đến Thiên Giới mà Ngài đã chết để thiết lập. Công việc đã hoàn tất, và trong xứ sở nhỏ bé lạ thường ấy được gọi là Thánh Địa, một dải lãnh thổ hẹp giữa hai bán cầu, phương Đông và phương Tây, Đông phương và Tây phương, Đức Christ đã lên Thập Giá và xác lập ranh giới giữa Thiên Giới và các vương quốc của thế gian, giữa thế giới của con người và thế giới của Tinh thần. Như thế Ngài đưa các Bí Nhiệm cổ xưa, vốn đã tiên tri sự xuất hiện của Thiên Giới ấy, đến cao điểm, và thiết lập các Bí Nhiệm của Thiên Giới.

The effort to carry out to perfection the will of God brought to an end the most complete life that had been lived on earth. The attempt to found the kingdom, preordained [210] for all time, and the antagonism it evoked, brought Christ to the place of crucifixion. The hardness of men’s hearts, the weakness of their love, and their failure to see the vision, broke the heart of the Saviour of the world—a Saviour because He opened the door into the kingdom.

Nỗ lực thực hiện đến mức hoàn hảo Ý Chí của Thượng Đế đã kết thúc đời sống trọn vẹn nhất từng được sống trên Trái Đất. Nỗ lực thiết lập Thiên Giới, đã được tiền định [210] cho mọi thời, và sự đối kháng mà nó khơi dậy, đã đưa Đức Christ đến nơi đóng đinh. Sự cứng cỏi của trái tim con người, sự yếu ớt của tình thương họ, và sự thất bại của họ trong việc thấy tầm nhìn, đã làm tan nát trái tim của Đấng Cứu Thế của thế gian — một Đấng Cứu Thế vì Ngài đã mở cánh cửa vào Thiên Giới.

It is time that the Church woke up to its true mission, which is to materialise the kingdom of God on earth, today, here and now. The time is past wherein we can emphasise a future and coming kingdom. People are no longer interested in a possible heavenly state or a probable hell. They need to learn that the kingdom is here, and must express itself on earth; it consists of those who do the will of God at any cost, as Christ did, and who can love one another as Christ loved us. The way into that kingdom is the way that Christ trod. It involves the sacrifice of the personal self for the good of the world, and the service of humanity instead of the service of one’s own desires. In the course of enunciating these new truths concerning love and service Christ lost his life. Canon Streeter tells us that “the significance and value of the death of Christ springs from its inner quality. It is the expression in external act of a freely chosen self-dedication, ungrudging, and without reserve, to the highest service of God and man. The suffering incidental to such self-offering is morally creative.” (‘The Buddha and the Christ’, by B. H. Streeter, p. 215.)

Đã đến lúc Giáo hội phải thức tỉnh trước sứ mệnh đích thực của mình, đó là hiện hình Thiên Giới trên trái đất, hôm nay, tại đây và ngay bây giờ. Thời kỳ chúng ta có thể nhấn mạnh đến một Thiên Giới tương lai và sắp đến đã qua rồi. Con người không còn quan tâm đến một trạng thái thiên đàng khả hữu hay một địa ngục có thể có. Họ cần học biết rằng Thiên Giới đang ở đây, và phải biểu lộ trên trái đất; Thiên Giới ấy gồm những người thực hiện Ý Chí của Thượng Đế bằng mọi giá, như Đức Christ đã làm, và những người có thể thương yêu nhau như Đức Christ đã thương yêu chúng ta. Con đường vào Thiên Giới ấy là con đường mà Đức Christ đã bước đi. Nó bao hàm sự hi sinh cái ngã cá nhân vì lợi ích của thế giới, và sự phụng sự nhân loại thay vì phụng sự các dục vọng riêng của mình. Trong khi công bố những chân lý mới này về tình thương và phụng sự, Đức Christ đã mất mạng sống của Ngài. Giáo sĩ Streeter nói với chúng ta rằng “thâm nghĩa và giá trị của cái chết của Đức Christ phát sinh từ phẩm tính bên trong của nó. Đó là sự biểu hiện trong hành động bên ngoài của một sự tự hiến được tự do chọn lựa, không miễn cưỡng và không dè giữ, cho sự phụng sự cao cả nhất đối với Thượng Đế và con người. Nỗi đau khổ đi kèm với sự tự hiến như thế có tính sáng tạo về mặt đạo đức.” (‘Đức Phật và Đức Christ’, của B. H. Streeter, tr. 215.)

Is it not, perhaps, a fact that the Crucifixion of Christ, with its great preceding events—the communion and the Gethsemane experience—is a tragedy which has its basis in the conflict between love and hate? It is not the intention of this book to belittle the world event which took place upon Calvary. But today as one looks back upon that event, a certain truth begins to emerge, and this is that we have interpreted that sacrifice and that death in purely selfish terms. We are concerned with our individual interest in the matter. We have emphasised the importance of our individual salvation and feel it to be of tremendous importance. But the world view and what Christ was destined to [211] do for humanity down the ages, and the attitude of God towards human beings from the earliest times, through the period of Christ’s life in Palestine and on until the present time, are subordinated to the factor of our belief or non-belief in the efficacy of the Crucifixion upon Calvary to save our individual souls. Yet in His conversation with the repentant thief Christ admitted him into the kingdom of God on the basis of his recognition of divinity. Christ had not yet died, and the blood sacrifice of Christ had not yet been made. It was almost as if Christ had foreseen the turn which theology would give to His death, and endeavoured to offset it by making the recognition of the dying thief one of the outstanding events at His death. He made no reference to the remission of sins through His blood as the reason for that admission.

Có lẽ nào việc Đức Christ chịu Đóng Đinh, cùng với những biến cố trọng đại đi trước—tiệc thánh và kinh nghiệm tại vườn Gethsemane—lại là một bi kịch có nền tảng trong cuộc xung đột giữa tình thương và hận thù chăng? Quyển sách này không có ý hạ thấp biến cố thế giới đã xảy ra trên đồi Calvary. Nhưng ngày nay, khi nhìn lại biến cố ấy, một chân lý nào đó bắt đầu hiện ra, đó là chúng ta đã diễn giải sự hi sinh và cái chết ấy bằng những thuật ngữ hoàn toàn ích kỷ. Chúng ta quan tâm đến lợi ích cá nhân của mình trong vấn đề này. Chúng ta đã nhấn mạnh tầm quan trọng của sự cứu rỗi cá nhân và cảm thấy điều đó có ý nghĩa vô cùng lớn lao. Nhưng quan điểm thế giới, điều Đức Christ đã được định sẵn để [211] thực hiện cho nhân loại qua các thời đại, và thái độ của Thượng Đế đối với con người từ những thời kỳ sớm nhất, xuyên qua giai đoạn đời sống của Đức Christ tại Palestine và tiếp tục cho đến hiện nay, đều bị đặt thấp hơn yếu tố niềm tin hay sự không tin của chúng ta vào hiệu lực của việc Đóng Đinh trên đồi Calvary để cứu rỗi các linh hồn cá nhân của chúng ta. Thế nhưng, trong cuộc đối thoại với người trộm biết ăn năn, Đức Christ đã thâu nhận y vào Thiên Giới trên cơ sở sự nhận biết thiên tính của y. Đức Christ khi ấy chưa chết, và sự hi sinh bằng máu của Đức Christ khi ấy chưa được thực hiện. Gần như Đức Christ đã thấy trước hướng đi mà thần học sẽ gán cho cái chết của Ngài, và đã cố gắng hóa giải điều đó bằng cách làm cho sự nhận biết của người trộm sắp chết trở thành một trong những biến cố nổi bật khi Ngài chết. Ngài không hề nhắc đến việc xóa tội nhờ máu của Ngài như lý do cho sự thâu nhận ấy.

The real issue was the issue between love and hate. Only St. John, the beloved Apostle, the one closest to Jesus, really understood; and in his Epistles the emphasis is entirely upon love, and the usual orthodox interpretation is nowhere to be found. Just love and hate; the desire to live as children of God and the inclination to live as ordinary human beings: herein lies the distinction between the citizen of the kingdom of God and a member of the human family. It was love which Christ endeavoured to express, but it is hate and separation and war, culminating in the World War, which have characterised the official rendering of His teaching, down the age. Christ died in order to bring to our notice that the way into the kingdom of God was the way of love and of service. He served and loved and wrought miracles, and gathered together the poor and the hungry. He fed them, and sought in every possible way to call attention to the principle of love as the major characteristic of divinity, only to find that this life of loving service brought Him trouble and eventually the death of the Cross.

Vấn đề thực sự là vấn đề giữa tình thương và hận thù. Chỉ Thánh John, vị Tông đồ được yêu mến, người gần gũi nhất với Đức Jesus, mới thật sự thấu hiểu; và trong các Thư của ông, trọng tâm hoàn toàn đặt vào tình thương, còn lối diễn giải chính thống quen thuộc thì không thấy đâu cả. Chỉ là tình thương và hận thù; ước muốn sống như con cái của Thượng Đế và khuynh hướng sống như những con người bình thường: chính trong đó có sự phân biệt giữa công dân của Thiên Giới và một thành viên của gia đình nhân loại. Chính tình thương là điều Đức Christ đã cố gắng biểu lộ, nhưng hận thù, chia rẽ và chiến tranh, đạt đến cao điểm trong Thế Chiến, mới là những gì đã đặc trưng cho sự trình bày chính thức giáo huấn của Ngài qua các thời đại. Đức Christ đã chết để đưa chúng ta nhận thấy rằng con đường vào Thiên Giới là con đường của tình thương và phụng sự. Ngài đã phụng sự, đã thương yêu, đã làm các phép lạ, và đã quy tụ những người nghèo cùng những kẻ đói khát. Ngài đã nuôi họ, và tìm mọi cách có thể để kêu gọi sự chú ý đến nguyên khí tình thương như đặc tính chính yếu của thiên tính, để rồi nhận ra rằng đời sống phụng sự đầy tình thương ấy đã đem đến cho Ngài phiền não và cuối cùng là cái chết trên Thập Giá.

We have fought for the theological doctrine of the Virgin Birth. We have fought over the doctrines whereby men shall be saved. We have fought over the subject of baptism, and [212] over the atonement. We have fought over the fact and the denial of immortality, and what man must do in order to be raised from the dead. We have regarded half the world as lost and only the Christian believer as saved, yet all the time Christ has told us that love is the way into the kingdom, and that the fact of the presence of divinity in each of us makes us eligible for that kingdom. We have omitted to realise that the “vicarious atonement is the harmonising of the disharmony of others by the power of a spiritual presence, which brings about the great transmutation; evil is absorbed and transmuted into good or equilibrised.” (‘Some Mystical Adventures’, by G. R. S. Mead, p. 161.) This constitutes the endeavour of Christ, and the fact of His Presence is the harmonising medium in life. Men are not saved by belief in the formulation of a theological dogma, but by the fact of His living Presence, of the living immediate Christ. It is the realisation of the fact of the presence of God in the human heart which is the basis of the mystical vision, while the knowledge that one is a son of God gives one the strength to follow the Saviour’s footsteps from Bethlehem to Calvary. That which will eventually reorganise our human life is the presence in the world of those who know Christ as their example, and recognise that they possess the same divine life, just as the affirmation of the basic law of the kingdom of God, the Law of Love, will finally save the world. It is the substitution of the life of Christ for the life of the world, the flesh and the devil, which will inject a meaning and a value into life.

Chúng ta đã tranh đấu vì giáo lý thần học về Sự Sinh Ra bởi Đồng Trinh. Chúng ta đã tranh cãi về các giáo lý nhờ đó con người sẽ được cứu rỗi. Chúng ta đã tranh cãi về vấn đề phép rửa, và [212] về sự chuộc tội. Chúng ta đã tranh cãi về sự thật và sự phủ nhận tính bất tử, và về điều con người phải làm để được nâng dậy từ cõi chết. Chúng ta đã xem một nửa thế giới là hư mất và chỉ người tín hữu Cơ Đốc là được cứu, thế nhưng suốt thời gian ấy Đức Christ đã nói với chúng ta rằng tình thương là con đường vào Thiên Giới, và rằng sự kiện về sự hiện diện của thiên tính trong mỗi người chúng ta khiến chúng ta đủ tư cách vào Thiên Giới ấy. Chúng ta đã không nhận ra rằng “sự chuộc tội thay thế là sự điều hòa điều bất hòa của người khác bằng quyền năng của một sự hiện diện tinh thần, vốn đem lại cuộc chuyển hoá lớn lao; điều ác được hấp thu và chuyển hoá thành điều thiện hoặc được quân bình hóa.” (‘Một Vài Cuộc Phiêu Lưu Thần Bí’, của G. R. S. Mead, tr. 161.) Điều này cấu thành nỗ lực của Đức Christ, và sự kiện về Sự Hiện Diện của Ngài là phương tiện điều hòa trong đời sống. Con người không được cứu rỗi nhờ niềm tin vào công thức của một giáo điều thần học, mà nhờ sự kiện về Sự Hiện Diện sống động của Ngài, về Đức Christ sống động đang hiện diện. Chính sự nhận biết sự kiện về sự hiện diện của Thượng Đế trong trái tim con người là nền tảng của linh ảnh thần bí, trong khi sự hiểu biết rằng mình là một người con của Thượng Đế ban cho người ấy sức mạnh để bước theo dấu chân của Đấng Cứu Thế từ Bethlehem đến Calvary. Điều cuối cùng sẽ tái tổ chức đời sống nhân loại của chúng ta là sự hiện diện trong thế giới của những người biết Đức Christ như gương mẫu của mình, và nhận ra rằng họ sở hữu cùng một sự sống thiêng liêng, cũng như sự xác nhận định luật căn bản của Thiên Giới, Định luật Tình Thương, cuối cùng sẽ cứu thế giới. Chính sự thay thế đời sống của Đức Christ cho đời sống của thế gian, xác thịt và ma quỷ sẽ đưa thâm nghĩa và giá trị vào đời sống.

A sense of the failure of love constitutes the outstanding problem in the agony in the Garden; it was this sense of travail with world forces which enabled Christ to join the company of all His brothers. Men had failed Him, just as men fail us. In the moment when He most needed understanding, and all the strength which companionship gives, His nearest and dearest either deserted Him or slept, unaware of His agony of mind. “The Promethean conflict is the [213] strife which takes place in the human mind between the yearning for understanding, and the nearer more immediate pull of those living affections and desires which are conditioned upon the goodwill and the support of fellow beings; desires for the happiness of loved ones; for the alleviation of pain and disappointment in minds that cannot understand the inner dream; and for the warm reassurance of mundane honours. This conflict is the rock upon which the religious mind founders and is split against itself.” (‘Psychology and the Promethean Will’, by W. H. Sheldon, pp. 85,86.) Upon this rock Christ did not founder, but He had His moments of intensest agony, finding relief only in the realisation of the Fatherhood of God and its corollary, the brotherhood of man. “Father,” He said. It was this sense of unity with God and His fellowmen which led Him to institute the Last Supper, to originate that communion service, the symbolism of which has been so disastrously lost in theological practice. The keynote of that communion service was fellowship. “It is only thus that Jesus creates fellowship among us. It is not as a symbol that he does it … in so far as we with one another and with him are of one will, to place the Kingdom of God above all, and to serve in behalf of this faith and hope, so far is there fellowship between him and us and the men of all generations who lived and live in the same thought.” (‘The Mystery of the Kingdom of God’, by Albert Schweitzer, p. 56.)

Một cảm thức về sự thất bại của tình thương cấu thành vấn đề nổi bật trong cơn thống khổ tại Vườn; chính cảm thức đau đớn cùng các mãnh lực thế giới này đã khiến Đức Christ có thể gia nhập đoàn thể của tất cả các huynh đệ Ngài. Con người đã làm Ngài thất vọng, cũng như con người làm chúng ta thất vọng. Trong khoảnh khắc Ngài cần sự thấu hiểu nhất, và cần tất cả sức mạnh mà tình bạn đồng hành đem lại, những người gần gũi và thân yêu nhất với Ngài hoặc đã bỏ rơi Ngài, hoặc đã ngủ, không hay biết cơn thống khổ trong trí Ngài. “Cuộc xung đột Prometheus là [213] cuộc tranh đấu diễn ra trong trí tuệ con người giữa niềm khao khát được thấu hiểu, và lực kéo gần hơn, tức thời hơn của những tình cảm và dục vọng sống động vốn tùy thuộc vào thiện chí và sự hỗ trợ của đồng loại; các dục vọng về hạnh phúc của những người thân yêu; về việc làm vơi nhẹ đau khổ và thất vọng trong những trí tuệ không thể thấu hiểu giấc mơ bên trong; và về sự trấn an ấm áp của các danh dự thế tục. Cuộc xung đột này là tảng đá mà trên đó trí tuệ tôn giáo mắc cạn và tự phân rẽ chống lại chính mình.” (‘Tâm Lý Học và Ý Chí Prometheus’, của W. H. Sheldon, tr. 85, 86.) Trên tảng đá này Đức Christ đã không mắc cạn, nhưng Ngài đã có những khoảnh khắc thống khổ cực độ, chỉ tìm được sự khuây khỏa trong việc nhận biết Tình Phụ Tử của Thượng Đế và hệ quả của nó, tình huynh đệ của con người. “Cha ơi,” Ngài nói. Chính cảm thức hợp nhất này với Thượng Đế và đồng loại đã đưa Ngài đến việc thiết lập Bữa Tiệc Ly, khởi lập nghi thức hiệp thông ấy, mà biểu tượng của nó đã bị đánh mất một cách tai hại trong thực hành thần học. Chủ âm của nghi thức hiệp thông ấy là tình huynh đệ. “Chỉ bằng cách ấy Đức Jesus mới tạo nên tình huynh đệ giữa chúng ta. Không phải như một biểu tượng mà Ngài làm điều đó… chừng nào chúng ta, với nhau và với Ngài, cùng một ý chí, đặt Thiên Giới của Thượng Đế lên trên hết, và phụng sự vì đức tin và niềm hy vọng này, thì chừng ấy có tình huynh đệ giữa Ngài và chúng ta, cùng những con người thuộc mọi thế hệ đã sống và đang sống trong cùng tư tưởng ấy.” (‘Mầu Nhiệm của Thiên Giới’, của Albert Schweitzer, tr. 56.)

4

4

1. “Father, forgive them; for they know not what they do.” (St. Luke, XXIII, 34.)

1. “Cha ơi, xin tha thứ cho họ; vì họ không biết điều họ làm.” (Thánh Luke, XXIII, 34.)

2. “To day thou shalt be with me in paradise.” (St. Luke, XXIII, 43.)

2. “Hôm nay ngươi sẽ ở với ta trong thiên đàng.” (Thánh Luke, XXIII, 43.)

3. “Woman, behold thy son! Then saith He to the disciple, Behold thy mother!” (St. John, XIX, 26.)

3. “Hỡi người nữ, hãy nhìn con của bà! Rồi Ngài nói với người đệ tử: Hãy nhìn mẹ của con!” (Thánh John, XIX, 26.)

4. “My God, my God, why hast thou forsaken me?”(St. Matthew, XXVII, 46.) [214]

4. “Thượng Đế của con, Thượng Đế của con, vì sao Ngài bỏ rơi con?”(Thánh Matthew, XXVII, 46.) [214]

5. “I thirst.” (St. John, XIX, 28.)

5. “Ta khát.” (Thánh John, XIX, 28.)

6. “It is finished.” (St. John, XIX, 30.)

6. “Mọi sự đã hoàn tất.” (Thánh John, XIX, 30.)

7. “Father, into thy hands I commend my spirit.” (St. Luke, XXIII, 46.)

7. “Cha ơi, con phó thác tinh thần con trong tay Cha.” (Thánh Luke, XXIII, 46.)

The thought of the kingdom coloured all that He said upon the Cross. The Word of Power which emanated from the Cross was spoken by Jesus Christ Himself and not, this time, by the Father. Christ spoke a sevenfold word, and in that word summed up for us the Word that inaugurated the kingdom of God. Each of His utterances had relation to that kingdom, and not the usual small, individual or selfish relation which we have so often ascribed to them. What were those seven words? Let us consider them, realising while doing so that the causes which gave rise to them produced the manifestation of the kingdom of God on earth.

Tư tưởng về Thiên Giới đã nhuộm màu tất cả những gì Ngài nói trên Thập Giá. Quyền năng từ xuất lộ từ Thập Giá đã được chính Đức Jesus Christ nói ra, và lần này không phải bởi Đức Cha. Đức Christ đã nói một linh từ thất phân, và trong linh từ ấy Ngài đã tóm kết cho chúng ta Linh từ đã khai mở Thiên Giới. Mỗi lời thốt ra của Ngài đều liên hệ đến Thiên Giới ấy, chứ không phải mối liên hệ nhỏ bé, cá nhân hay ích kỷ quen thuộc mà chúng ta thường gán cho chúng. Bảy lời ấy là gì? Chúng ta hãy xem xét chúng, đồng thời nhận biết rằng những nguyên nhân đã làm phát sinh chúng đã tạo ra sự biểu hiện của Thiên Giới trên trái đất.

In every case the seven words have been interpreted as having either an individual application in connection with the person to whom they were supposedly spoken, or as having a personal significance to Christ Himself. We have always read the Bible in this manner, with the personal significance in our minds. But these words of Christ are of too great importance to be thus interpreted. They have a meaning far wider than those usually given. The wonder of all He said (as it is the wonder of all the world scriptures) is that the words are capable of various meanings. The time has come when the meaning that Christ gave should be more generally understood by us in the light of the kingdom of God, and with a wider connotation than the individual one. His words were Words of Power, evoking and invoking, potent and dynamic.

Trong mọi trường hợp, bảy lời ấy đã được diễn giải như có một ứng dụng cá nhân liên hệ đến người mà người ta cho rằng chúng được nói với, hoặc như có một thâm nghĩa cá nhân đối với chính Đức Christ. Chúng ta vẫn luôn đọc Kinh Thánh theo cách này, với thâm nghĩa cá nhân trong trí mình. Nhưng những lời này của Đức Christ có tầm quan trọng quá lớn để được diễn giải như thế. Chúng có một ý nghĩa rộng hơn nhiều so với những ý nghĩa thường được gán cho. Điều kỳ diệu trong tất cả những gì Ngài nói, cũng như điều kỳ diệu trong mọi thánh thư của thế giới, là các lời ấy có khả năng mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Đã đến lúc ý nghĩa mà Đức Christ đã trao truyền cần được chúng ta thấu hiểu rộng rãi hơn trong ánh sáng của Thiên Giới, và với một hàm ý rộng hơn hàm ý cá nhân. Những lời của Ngài là các Quyền năng từ, vừa gợi lên vừa khẩn cầu, đầy quyền năng và năng động.

One of the first things which emerges in one’s consciousness as one studies the first word from the Cross was the fact that Jesus requested His Father to forgive the people who crucified Him; He evidently, then, did not regard His death upon the Cross as adequate to that need. There was [215] no remission of sins through the shedding of blood; but there was the need to ask God’s pardon for the sin committed. The two facts which come to the fore in this word are the Fatherhood of God, and the fact that ignorance, if productive of wrong-doing, does not make a man guilty and therefore punishable. Sin and ignorance are frequently synonymous terms, but the sin is recognised as such by those who know and who are not ignorant. Where there is ignorance there is no sin. In this word from the Cross Christ tells us two things:

Một trong những điều đầu tiên hiện lên trong tâm thức của người ta khi nghiên cứu lời thứ nhất từ Thập Giá là sự kiện Đức Jesus đã xin Đức Cha tha thứ cho những người đóng đinh Ngài; do đó, hiển nhiên Ngài không xem cái chết của Ngài trên Thập Giá là đủ cho nhu cầu ấy. Không có [215] sự xóa tội nhờ việc đổ máu; nhưng có nhu cầu xin Thượng Đế tha thứ cho tội đã phạm. Hai sự kiện nổi bật trong lời này là Tình Phụ Tử của Thượng Đế, và sự kiện rằng vô minh, nếu sinh ra hành động sai trái, không khiến một người trở nên có tội và do đó đáng bị trừng phạt. Tội lỗi và vô minh thường là những thuật ngữ đồng nghĩa, nhưng tội lỗi được những người biết và không vô minh nhận ra là tội lỗi. Nơi nào có vô minh, nơi đó không có tội lỗi. Trong lời này từ Thập Giá, Đức Christ nói với chúng ta hai điều:

1. That God is our Father, and that we approach Him through Christ. It is the inner hidden man of the heart, the unrealised Christ who can approach the Father. Christ had earned this right because of His proven divinity and because He had passed through the third initiation, the Transfiguration; when we too are transfigured (for only the transfigured Christ can be crucified) then we too can invoke the Father and call on the spirit, which is God, the life of all forms, to adjust relationships, and to bring about that forgiveness which is the very essence of life itself.

1. Rằng Thượng Đế là Cha của chúng ta, và chúng ta đến với Ngài qua Đức Christ. Chính con người ẩn kín bên trong của trái tim, Đức Christ chưa được nhận biết, mới có thể đến với Đức Cha. Đức Christ đã giành được quyền này nhờ thiên tính đã được chứng minh của Ngài và vì Ngài đã đi qua lần điểm đạo thứ ba, Biến hình; khi chúng ta cũng được biến hình, vì chỉ Đức Christ đã biến hình mới có thể bị đóng đinh, thì chúng ta cũng có thể khẩn cầu Đức Cha và kêu gọi tinh thần, vốn là Thượng Đế, sự sống của mọi hình tướng, điều chỉnh các mối quan hệ, và đem lại sự tha thứ vốn là chính tinh túy của sự sống.

2. That forgiveness is the result of life. This is a hard truth for the Western believer to accept. He is so used to resting back upon the activity of the Christ in the distant past. Forgiveness is, however, a result of living processes which bring adjustment, cause restitution, and produce that attitude wherein a man is no longer ignorant and therefore not in need of forgiveness. Life and experience do this for us, and nothing can arrest the process. It is not a theological belief that puts us right with God, but an attitude to life and an attitude to the Christ dwelling in the human heart. We learn through pain and suffering (that is, through experience) not to sin. We pay the price of our sins and mistakes, and cease to make them. We arrive eventually at the point where we no longer make our earlier errors or commit our former sins. For we suffer and agonise, and learn that sin brings retribution and causes suffering. But suffering [216] has its uses, as Christ knew. In His Person He was not only the historical Jesus Whom we know and love, but He was also the symbol to us of the cosmic Christ, God suffering through the sufferings of His created beings.

2. Rằng sự tha thứ là kết quả của sự sống. Đây là một chân lý khó chấp nhận đối với tín đồ Tây phương. Y quá quen với việc nương tựa vào hoạt động của Đức Christ trong quá khứ xa xôi. Tuy nhiên, sự tha thứ là kết quả của các tiến trình sống đem lại sự điều chỉnh, gây nên sự hoàn nguyên, và tạo ra thái độ trong đó con người không còn vô minh và vì vậy không cần sự tha thứ. Sự sống và kinh nghiệm làm điều này cho chúng ta, và không gì có thể ngăn chặn tiến trình ấy. Không phải một niềm tin thần học khiến chúng ta trở nên đúng đắn với Thượng Đế, mà là một thái độ đối với đời sống và một thái độ đối với Đức Christ ngự trong trái tim con người. Qua đau đớn và khổ đau, tức là qua kinh nghiệm, chúng ta học không phạm tội. Chúng ta trả giá cho tội lỗi và sai lầm của mình, và thôi không phạm chúng nữa. Cuối cùng chúng ta đạt đến điểm mà chúng ta không còn lặp lại những lỗi lầm trước kia hay phạm những tội cũ. Vì chúng ta đau khổ và thống khổ, và học rằng tội lỗi đem lại quả báo và gây đau khổ. Nhưng đau khổ [216] có công dụng của nó, như Đức Christ đã biết. Trong Ngôi vị của Ngài, Ngài không chỉ là Đức Jesus lịch sử mà chúng ta biết và yêu mến, mà còn là biểu tượng cho chúng ta về Đức Christ vũ trụ, Thượng Đế đau khổ qua những đau khổ của các sinh linh do Ngài tạo dựng.

Justice can be forgiveness when the facts of the case are rightly understood, and in this demand of the crucified Saviour we have the recognition of the Law of Justice, and not that of Retribution, in an act at which the whole world stands aghast. This work of forgiveness is the age-long work of the soul in matter or form. The Oriental believer calls this karma. The Western believer talks of the Law of Cause and Effect. Both, however, are dealing with the working out by a man of his soul’s salvation, and the constant paying of the price which the ignorant pay for mistakes made and so-called sins committed. A man who deliberately sins against light and knowledge is rare. Most “sinners” are simply ignorant. “They know not what they do.”

Công lý có thể là sự tha thứ khi các sự kiện của trường hợp được thấu hiểu đúng, và trong lời thỉnh cầu này của Đấng Cứu Thế bị đóng đinh, chúng ta có sự nhận biết Định luật Công Lý, chứ không phải luật Báo Oán, trong một hành động khiến cả thế giới kinh hoàng. Công việc tha thứ này là công việc kéo dài qua các thời đại của linh hồn trong vật chất hay hình tướng. Tín đồ Đông phương gọi điều này là nghiệp quả. Tín đồ Tây phương nói về Định luật Nhân Quả. Tuy nhiên, cả hai đều đề cập đến việc một người thực hiện sự cứu rỗi linh hồn mình, và liên tục trả giá mà kẻ vô minh phải trả cho những sai lầm đã làm và những điều gọi là tội đã phạm. Một người cố ý phạm tội chống lại ánh sáng và tri thức là hiếm có. Phần lớn “người tội lỗi” chỉ đơn giản là vô minh. “Họ không biết điều họ làm.”

Then Christ turned to a sinner, to a man who had been convicted of wrong-doing in the eyes of the world—and who himself recognised the correctness of the judgment and of his punishment. He stated that he received the due reward of his sins, but at the same time there was something in the quality of Jesus which arrested his attention and forced from him the admission that this third Malefactor had “done nothing amiss.” The factor which accorded him admission into paradise was a two-fold one. He recognised the divinity of Christ. “Lord,” he said. And he also had a realisation of what Christ’s mission was—to found a kingdom. “Remember me when Thou comest into Thy kingdom.” The significance of his words is eternal and universal, for the man who recognises divinity, and who at the same time is sensible of the kingdom, is ready to take advantage of the words, “To day, thou shalt be with me in paradise.”

Rồi Đức Christ quay sang một người tội lỗi, một người đã bị kết án làm điều sai trái trong mắt thế gian—và chính y cũng nhận ra sự đúng đắn của bản án và hình phạt dành cho mình. Y tuyên bố rằng y nhận hình phạt xứng đáng cho tội lỗi của mình, nhưng đồng thời có một điều gì đó trong phẩm tính của Đức Jesus đã thu hút sự chú ý của y và buộc y phải thừa nhận rằng Kẻ Làm Ác thứ ba này “không làm điều gì sai trái.” Yếu tố đem lại cho y sự thâu nhận vào thiên đàng gồm hai mặt. Y nhận biết thiên tính của Đức Christ. “Lạy Chúa,” y nói. Và y cũng có một sự nhận biết về sứ mệnh của Đức Christ—thiết lập một Thiên Giới. “Xin nhớ đến con khi Ngài đến trong Thiên Giới của Ngài.” Thâm nghĩa lời của y là vĩnh cửu và phổ quát, vì người nhận biết thiên tính, đồng thời cảm nhận được Thiên Giới, thì sẵn sàng tận dụng các lời: “Hôm nay, ngươi sẽ ở với ta trong thiên đàng.”

In the first word from the Cross, Jesus considered the ignorance and the feebleness of man. He was as helpless as a little child, and in His words He testified to the reality of the first initiation and to the time when He was a “babe in [217] Christ.” The parallels between the two episodes are significant. The ignorance, helplessness and consequent maladjustment of human beings evoked from Jesus the demand that forgiveness be accorded. But when life experience has played its part, we have again the “babe in Christ,” ignorant of the laws of the spiritual kingdom, yet released from the darkness and ignorance of the human kingdom.

Trong lời thứ nhất từ Thập Giá, Đức Jesus đã xét đến sự vô minh và yếu đuối của con người. Y bất lực như một trẻ nhỏ, và trong lời Ngài, Ngài đã làm chứng cho thực tại của lần điểm đạo thứ nhất và cho thời điểm khi Ngài là một “hài nhi trong [217] Đức Christ.” Những tương đồng giữa hai biến cố này thật có ý nghĩa. Sự vô minh, bất lực và sự thiếu điều chỉnh theo sau của con người đã gợi lên nơi Đức Jesus lời thỉnh cầu rằng sự tha thứ phải được ban. Nhưng khi kinh nghiệm đời sống đã đóng vai trò của nó, chúng ta lại có “hài nhi trong Đức Christ,” vô minh về các định luật của giới tinh thần, nhưng đã được giải thoát khỏi bóng tối và vô minh của giới nhân loại.

In the second word from the Cross we have the recognition of the Baptism episode, which signified purity and release through the purification of the waters of life. The waters of John’s Baptism released from the thraldom of the personality life. But the Baptism to which Christ was subjected through the power of His Own life, and to which we are also subjected through the life of Christ within us, was the Baptism of fire and of suffering, which finds its climax of pain upon the Cross. That climax of suffering, for the man who could endure unto the end, was his entrance to “paradise”—a name connoting bliss. Three words are used to express this power to enjoy—happiness, joy and bliss. Happiness has a purely physical connotation, and concerns our physical life and its relationships; joy is of the nature of the soul and reflects itself in happiness. But bliss, which is of the nature of God Himself, is an expression of divinity and of the spirit. Happiness might be regarded as the reward of the new birth, for it has a physical significance, and we are sure that Christ knew happiness, even though He was a “man of sorrows”; joy, being more especially of the soul, reaches its consummation at the Transfiguration. Though Christ was “acquainted with sorrow,” He knew joy in its essence, for the “joy of the Lord is our strength,” and it is the soul, the Christ in every human being, which is strength and joy and love. He knew also bliss, for at the Crucifixion the bliss which is the reward of the soul’s triumph was His.

Trong lời thứ hai từ Thập Giá, chúng ta có sự nhận biết biến cố Phép Rửa, vốn biểu thị sự thanh khiết và giải thoát qua việc thanh lọc bằng nước của sự sống. Nước trong Phép Rửa của John đã giải thoát khỏi sự nô lệ của đời sống phàm ngã. Nhưng Phép Rửa mà Đức Christ phải chịu qua quyền năng của Chính sự sống Ngài, và mà chúng ta cũng phải chịu qua sự sống của Đức Christ bên trong chúng ta, là Phép Rửa bằng lửa và bằng đau khổ, đạt đến cao điểm đau đớn trên Thập Giá. Cao điểm đau khổ ấy, đối với người có thể chịu đựng đến cùng, là lối vào “thiên đàng”—một tên gọi hàm ý chí phúc. Ba từ được dùng để diễn tả quyền năng hưởng thụ này—hạnh phúc, hoan hỉ và chí phúc. Hạnh phúc có hàm ý thuần túy hồng trần, và liên quan đến đời sống hồng trần cùng các mối quan hệ của chúng ta; sự hoan hỉ thuộc bản chất của linh hồn và phản chiếu chính nó trong hạnh phúc. Nhưng chí phúc, vốn thuộc bản chất của Chính Thượng Đế, là một biểu hiện của thiên tính và của tinh thần. Hạnh phúc có thể được xem như phần thưởng của sự sinh ra mới, vì nó có một thâm nghĩa hồng trần, và chúng ta chắc chắn rằng Đức Christ đã biết hạnh phúc, dù Ngài là “người của những nỗi buồn”; sự hoan hỉ, đặc biệt thuộc về linh hồn hơn, đạt đến sự viên mãn của nó trong cuộc Biến hình. Dù Đức Christ “quen thuộc với nỗi buồn,” Ngài đã biết sự hoan hỉ trong tinh túy của nó, vì “sự hoan hỉ của Chúa là sức mạnh của chúng ta,” và chính linh hồn, Đức Christ trong mỗi con người, là sức mạnh, sự hoan hỉ và tình thương. Ngài cũng biết chí phúc, vì trong cuộc Đóng Đinh, chí phúc vốn là phần thưởng cho chiến thắng của linh hồn đã thuộc về Ngài.

Thus in these two Words of Power “Father, forgive them for they know not what they do,” and “To day thou shalt be with me in paradise,” we have the significances of the first two initiations summarised for us.

Như vậy, trong hai Quyền năng từ này, “Cha ơi, xin tha thứ cho họ vì họ không biết điều họ làm,” và “Hôm nay ngươi sẽ ở với ta trong thiên đàng,” chúng ta có những thâm nghĩa của hai lần điểm đạo đầu tiên được tóm kết cho mình.

[218] Now we come to the extraordinary and much debated episode between Christ and His mother, summed up in the words: “Woman, behold thy son,” and followed by the words spoken to the beloved apostle: “Behold thy mother.” What did these words mean? Below Christ stood the two people who meant the most to Him, and from the agony of the Cross He spoke to them a special message, relating them to each other. Our consideration of the previous initiations may make the meaning clear. John typifies the personality which is reaching perfection and whose nature is becoming irradiated by divine love, the major characteristic of the second Person of the divine Triplicity, the soul, the son of God, whose nature is love. As we have seen, Mary represents the third Person of the Trinity, the material aspect of nature which cherishes and nurtures the son and gives birth to him in Bethlehem. In these words Christ, utilising the symbolism of these two persons, relates them to each other, and practically says: Son, recognise who is to give thee birth at Bethlehem, the one who shelters and guards the Christ life. To His mother, He says: Recognise that in the developed personality there is latent the Christ child. Matter, or the virgin Mary, is glorified through her son. Therefore the words of Christ have a definite reference to the third initiation, that of the Transfiguration.

[218] Bây giờ chúng ta đến với biến cố phi thường và được tranh luận nhiều giữa Đức Christ và mẹ Ngài, được tóm kết trong các lời: “Hỡi người nữ, hãy nhìn con của bà,” và tiếp theo là các lời nói với vị tông đồ được yêu mến: “Hãy nhìn mẹ của con.” Những lời này có nghĩa gì? Dưới chân Đức Christ là hai người có ý nghĩa nhiều nhất đối với Ngài, và từ cơn thống khổ của Thập Giá, Ngài nói với họ một thông điệp đặc biệt, liên kết họ với nhau. Việc chúng ta xem xét các lần điểm đạo trước có thể làm sáng tỏ ý nghĩa. John tiêu biểu cho phàm ngã đang đạt đến sự hoàn thiện và bản chất của nó đang được chiếu rạng bởi tình thương thiêng liêng, đặc tính chính yếu của Ngôi thứ hai trong bộ ba thiêng liêng, linh hồn, Con của Thượng Đế, mà bản chất là tình thương. Như chúng ta đã thấy, Mary tượng trưng cho Ngôi thứ ba của Ba Ngôi, phương diện vật chất của thiên nhiên, vốn gìn giữ và nuôi dưỡng người con và sinh ra người con ấy tại Bethlehem. Trong những lời này, Đức Christ, sử dụng biểu tượng của hai nhân vật ấy, liên kết họ với nhau, và thực tế nói rằng: Hỡi con, hãy nhận biết ai sẽ sinh ra con tại Bethlehem, người che chở và gìn giữ sự sống Christ. Với mẹ Ngài, Ngài nói: Hãy nhận biết rằng trong phàm ngã đã phát triển có tiềm tàng hài nhi Christ. Vật chất, hay trinh nữ Mary, được vinh hiển qua con của bà. Vì vậy, các lời của Đức Christ có liên hệ rõ rệt đến lần điểm đạo thứ ba, tức cuộc Biến hình.

Thus in His first three Words from the Cross He refers to the first three initiations, and recalls to our minds the synthesis revealed in Himself and the stages which we must cover if we are to follow in His steps. It is possible also that the thought was in the consciousness of the crucified Saviour that matter itself, being divine, was capable of infinite suffering; and in these words there was wrung from Him the recognition that though God suffers in the Person of His Son, He also suffers with similar acute agony in the person of that Son’s mother, the material form which has given Him birth. Christ stands midway between the two—the mother and the Father. Therein is His problem, and therein is [219] found the problem of every human being. Christ draws the two together—the matter aspect and the spirit aspect, and the union of these two produces the son. This is humanity’s problem and humanity’s opportunity.

Như vậy, trong ba Lời đầu tiên của Ngài từ Thập Giá, Ngài đề cập đến ba lần điểm đạo đầu tiên, và gợi lại trong trí chúng ta sự tổng hợp được mặc khải nơi chính Ngài và các giai đoạn mà chúng ta phải đi qua nếu muốn bước theo dấu chân Ngài. Cũng có thể rằng trong tâm thức của Đấng Cứu Thế bị đóng đinh đã có tư tưởng rằng chính vật chất, vì là thiêng liêng, có khả năng chịu đau khổ vô hạn; và trong những lời này, từ Ngài đã bật ra sự nhận biết rằng dù Thượng Đế đau khổ trong Ngôi vị Con của Ngài, Ngài cũng đau khổ với nỗi thống khổ tương tự trong ngôi vị mẹ của Người Con ấy, hình tướng vật chất đã sinh ra Ngài. Đức Christ đứng ở điểm giữa hai bên—người mẹ và Đức Cha. Chính trong đó có vấn đề của Ngài, và chính trong đó [219] tìm thấy vấn đề của mọi con người. Đức Christ kéo hai bên lại với nhau—phương diện vật chất và phương diện tinh thần, và sự hợp nhất của hai phương diện này sinh ra người con. Đây là vấn đề của nhân loại và cũng là cơ hội của nhân loại.

The fourth Word from the Cross admits us into one of the most intimate moments of Christ’s life—a moment that has a definite relation to the kingdom, just as had the three previous Words. One always hesitates to intrude upon this episode in His life, because it is one of the deepest and most secret and perhaps most sacred phases of His life on earth. We read that there was “darkness on the face of the earth” for three hours. This is a most significant interlude. From the Cross, alone and in the dark, He symbolised all that was embodied in this tragic and agonised Word. The number three is, of course, one of the most important and sacred numbers. It stands for divinity, and also for perfected humanity. Christ, the perfect Man, hung upon the Cross for “three hours,” and in that time each of the three aspects of His nature was carried to the highest point of its capacity for realisation and for consequent suffering. At the end, this triple personality gave vent to the cry, “My God, my God, why hast thou forsaken me?”

Lời thứ tư từ Thập Giá cho phép chúng ta bước vào một trong những khoảnh khắc thân mật nhất trong đời sống của Đức Christ—một khoảnh khắc có liên hệ rõ rệt với Thiên Giới, cũng như ba Lời trước đó. Người ta luôn ngần ngại khi đi vào biến cố này trong đời sống Ngài, vì đó là một trong những giai đoạn sâu xa nhất, kín nhiệm nhất và có lẽ thiêng liêng nhất trong đời sống của Ngài trên trái đất. Chúng ta đọc rằng đã có “bóng tối trên mặt đất” trong ba giờ. Đây là một quãng gián đoạn đầy ý nghĩa. Từ Thập Giá, một mình và trong bóng tối, Ngài biểu tượng hóa tất cả những gì được hàm chứa trong Lời bi thảm và thống khổ này. Dĩ nhiên, số ba là một trong những con số quan trọng và thiêng liêng nhất. Nó tượng trưng cho thiên tính, và cũng cho nhân loại đã hoàn thiện. Đức Christ, Con Người hoàn hảo, treo trên Thập Giá trong “ba giờ,” và trong thời gian ấy, mỗi một trong ba phương diện bản chất của Ngài được đưa đến điểm cao nhất trong khả năng chứng nghiệm và đau khổ hệ quả của nó. Cuối cùng, phàm ngã tam phân này thốt lên tiếng kêu: “Thượng Đế của con, Thượng Đế của con, vì sao Ngài bỏ rơi con?”

Christ had passed through all the climaxing episodes of adjustment. The Transfiguration experience was only just over. Let us not forget that fact. In that experience God had been near, and the transfigured Christ had seemed in His initiation to link God and man. He had just uttered the Word which had testified to the relation of the body nature, the Mary aspect, and the personality, in the person of St. John—the symbol of a personality carried to a very high state of perfection and realisation. Then for three long hours He wrestled in the dark with the problem of the relation of God and the soul. Spirit and soul had to be fused and blended to one great unity—just as He had already fused and blended the soul and the body, and had testified to that consummation in the Transfiguration. Suddenly He discovered [220] that all the achievement of the past, all that He had done, was but the prelude to another atonement which He had to make as a human being; and there on the Cross, in the full blaze of publicity, He had to renounce that to which He had hitherto held, His soul, and realise for a brief instant that in this renunciation everything was at stake. Even the consciousness that He was the Son of God, the soul incarnate in the flesh (for which He had fought and sacrificed), had to disappear, and He be left bereft of all contacts. All sense of feeling and all possible reactions failed to fill the sensed void. He seemed deserted, not only by humanity, but by God. That upon which He had relied, the divinity of which He had felt assured, was found to be related to feeling. That feeling He must also transcend. All had therefore to be relinquished.

Đức Christ đã đi qua tất cả những biến cố điều chỉnh đạt đến cao điểm. Kinh nghiệm Biến hình chỉ vừa kết thúc. Chúng ta đừng quên sự kiện ấy. Trong kinh nghiệm đó, Thượng Đế đã ở gần, và Đức Christ được biến hình dường như trong cuộc điểm đạo của Ngài đã liên kết Thượng Đế và con người. Ngài vừa thốt ra Linh từ đã làm chứng cho mối quan hệ của bản chất thể xác, phương diện Mary, và phàm ngã, trong ngôi vị Thánh John—biểu tượng của một phàm ngã được đưa đến một trạng thái hoàn thiện và chứng nghiệm rất cao. Rồi trong ba giờ dài, Ngài vật lộn trong bóng tối với vấn đề về mối quan hệ giữa Thượng Đế và linh hồn. Tinh thần và linh hồn phải được dung hợp và hòa quyện thành một hợp nhất vĩ đại—cũng như Ngài đã dung hợp và hòa quyện linh hồn với thân thể, và đã làm chứng cho sự viên mãn ấy trong cuộc Biến hình. Đột nhiên Ngài khám phá [220] rằng mọi thành tựu của quá khứ, tất cả những gì Ngài đã làm, chỉ là khúc dạo đầu cho một sự hợp nhất khác mà Ngài phải thực hiện với tư cách một con người; và tại đó, trên Thập Giá, trong ánh sáng công khai rực rỡ, Ngài phải từ bỏ điều mà cho đến lúc ấy Ngài vẫn nắm giữ, tức linh hồn của Ngài, và nhận biết trong một thoáng ngắn ngủi rằng trong sự từ bỏ này, mọi sự đều bị đặt vào thế nguy. Ngay cả tâm thức rằng Ngài là Con của Thượng Đế, linh hồn nhập thể trong xác thịt, điều mà Ngài đã tranh đấu và hi sinh vì nó, cũng phải biến mất, và Ngài bị bỏ lại, mất hết mọi tiếp xúc. Mọi cảm thức và mọi phản ứng khả hữu đều không thể lấp đầy khoảng trống được cảm nhận. Ngài dường như bị bỏ rơi, không chỉ bởi nhân loại, mà bởi cả Thượng Đế. Điều mà Ngài đã nương tựa, thiên tính mà Ngài đã cảm thấy chắc chắn, được nhận ra là có liên hệ với cảm xúc. Cảm xúc ấy Ngài cũng phải siêu vượt. Vì vậy, tất cả đều phải được buông bỏ.

It was through this experience that Christ blazed the trail to the very heart of God Himself. Only when the soul has learnt to stand alone, assured of divinity, and yet with no outer recognition of that divinity, can the very centre of spiritual life he recognised as stable and eternal. It was in this experience that Christ fitted Himself for the Resurrection initiation, and so proved to Himself, and to us, that God existed, and that the immortality of divinity is an established and unalterable fact. This experience of loneliness, of being bereft of all that protects, all that has hitherto been regarded as essential to one’s very being, is the hallmark of achievement. Disciples are apt to forget this, and one wonders for a brief moment, as one listens to Christ thus veiling His agony, whether He was not again “in all points tempted like as we are,” and whether at this moment He did not descend into the deepest recesses of the valley and feel that utter aloneness which is the reward of those who mount the Cross on Golgotha.

Chính qua kinh nghiệm này mà Đức Christ đã khai mở con đường đến tận trái tim của Chính Thượng Đế. Chỉ khi linh hồn đã học cách đứng một mình, chắc chắn về thiên tính, nhưng không có sự thừa nhận bên ngoài nào về thiên tính ấy, thì chính trung tâm của đời sống tinh thần mới có thể được nhận biết là ổn định và vĩnh cửu. Chính trong kinh nghiệm này mà Đức Christ tự chuẩn bị cho cuộc điểm đạo Phục Sinh, và do đó chứng minh cho chính Ngài, và cho chúng ta, rằng Thượng Đế hiện hữu, và rằng tính bất tử của thiên tính là một sự kiện đã được thiết lập và không thể thay đổi. Kinh nghiệm cô đơn này, kinh nghiệm bị tước mất tất cả những gì che chở, tất cả những gì cho đến nay vẫn được xem là thiết yếu đối với chính hiện tồn của mình, là dấu hiệu của thành tựu. Các đệ tử thường quên điều này, và người ta tự hỏi trong một thoáng ngắn, khi lắng nghe Đức Christ che giấu cơn thống khổ của Ngài như thế, liệu Ngài có phải một lần nữa “bị cám dỗ trong mọi điểm giống như chúng ta,” và liệu trong khoảnh khắc ấy Ngài đã không đi xuống những nơi sâu nhất của thung lũng và cảm thấy sự đơn độc tuyệt đối vốn là phần thưởng của những người leo lên Thập Giá trên Golgotha chăng.

Although each son of God at different stages upon his way of initiation prepares for this final loneliness by phases of utter rejection, when the final crisis comes he must experience [221] moments of loneliness such as he could not previously conceive. He follows in the footsteps of his Master, being crucified before men and deserted both by his fellowmen and by the comforting presence of the divine self upon which he has learnt to rely. Yet because Christ entered thus into the place of outer darkness, and felt entirely deserted of all that had hitherto meant so much to Him, both humanly and from the angle of divinity, He has enabled us to gauge the value of the experience, and has shown us that only through this place of outer darkness, which the mystics have justifiably called “the dark night of the soul,” can we truly enter into the blessed companionship of the kingdom. Many books have been written about this experience, but it is rare—far rarer than the literature of the mystics would have us believe. It will become more frequent, as more and more men pass through the gates of suffering and of death into the kingdom. Christ hung pendent between heaven and earth, and although He was surrounded by crowds, and although at His feet stood those whom He loved, He was utterly alone. It is the loneliness whilst accompanied, the utter sense of being forsaken whilst surrounded by those who seek to understand and help, which constitutes the darkness. The light of the Transfiguration is suddenly obliterated; and because of the intensity of that light, the night appears more dark. But it is in the dark that we know God.

Dù mỗi người con của Thượng Đế, ở các giai đoạn khác nhau trên con đường điểm đạo của mình, chuẩn bị cho sự cô đơn cuối cùng này bằng những giai đoạn bị chối bỏ hoàn toàn, nhưng khi khủng hoảng cuối cùng đến, y phải trải nghiệm [221] những khoảnh khắc cô đơn mà trước đó y không thể hình dung. Y bước theo dấu chân của Chân sư mình, bị đóng đinh trước mắt con người và bị bỏ rơi cả bởi đồng loại lẫn bởi sự hiện diện an ủi của bản ngã thiêng liêng mà y đã học nương tựa. Tuy nhiên, vì Đức Christ đã bước vào nơi bóng tối bên ngoài như thế, và cảm thấy hoàn toàn bị bỏ rơi bởi tất cả những gì cho đến lúc ấy có ý nghĩa rất nhiều đối với Ngài, cả về mặt nhân loại lẫn từ góc độ thiên tính, Ngài đã giúp chúng ta đo lường giá trị của kinh nghiệm ấy, và đã chỉ cho chúng ta thấy rằng chỉ qua nơi bóng tối bên ngoài này, mà các nhà thần bí đã gọi một cách chính đáng là “đêm tối của linh hồn,” chúng ta mới có thể thật sự bước vào tình bạn đồng hành phúc lành của Thiên Giới. Nhiều sách đã được viết về kinh nghiệm này, nhưng nó hiếm có—hiếm hơn rất nhiều so với điều mà văn chương của các nhà thần bí muốn chúng ta tin. Nó sẽ trở nên thường xuyên hơn, khi ngày càng nhiều người đi qua các cánh cổng của đau khổ và chết chóc để vào Thiên Giới. Đức Christ treo lơ lửng giữa trời và đất, và dù Ngài bị đám đông vây quanh, và dù dưới chân Ngài đứng những người Ngài yêu mến, Ngài vẫn hoàn toàn đơn độc. Chính sự cô đơn trong khi có người bên cạnh, cảm thức hoàn toàn bị bỏ rơi trong khi được vây quanh bởi những người tìm cách thấu hiểu và giúp đỡ, cấu thành bóng tối. Ánh sáng của cuộc Biến hình đột nhiên bị xóa mờ; và vì cường độ của ánh sáng ấy, đêm tối hiện ra càng đen hơn. Nhưng chính trong bóng tối mà chúng ta biết Thượng Đế.

Four Words of Power had now been uttered by the Christ. He had spoken the Word for the plane of everyday life, the Word of forgiveness, and in it He indicated the principle upon which God works in relation to the evil done by men. Where there is ignorance and no defiance or wrong intent, then forgiveness is assured, for sin consists of definite action in the face of the warning voice of conscience. He had spoken the Word which brought peace to the dying thief, and had told him that he was assured, not only of forgiveness, but of peace and happiness. He had spoken the Word which brought together the two aspects which were being symbolically crucified [222] upon the Cross—matter and soul, the matter of the form and the perfected lower nature. These are the three Words of the physical, the emotional, and the mental planes, whereon man habitually lives. The sacrifice of the entire lower nature had been completed, and there was silence and darkness for three hours. Then was uttered that stupendous Word which indicated that Christ had reached the stage of the final sacrifice, and that even the consciousness of divinity, the consciousness of the soul itself, with its strength and power, its light and understanding, had also to be laid upon the altar. He had to undergo the experience of an utter renunciation of all that had constituted His very being. This brought the cry of protest and of questioning: “My God, my God! Why hast Thou forsaken me?”

Bốn Quyền năng từ bấy giờ đã được Đức Christ thốt ra. Ngài đã nói Linh từ dành cho cõi đời sống hằng ngày, Linh từ của sự tha thứ, và trong đó Ngài chỉ ra nguyên tắc mà Thượng Đế dùng để hành động trong tương quan với điều ác do con người gây ra. Nơi nào có vô minh và không có sự thách thức hay ý định sai trái, nơi đó sự tha thứ được bảo đảm, vì tội lỗi là hành động rõ rệt trước tiếng nói cảnh báo của lương tâm. Ngài đã nói Linh từ đem lại bình an cho người trộm sắp chết, và đã bảo y rằng y được bảo đảm không chỉ về sự tha thứ, mà cả bình an và hạnh phúc. Ngài đã nói Linh từ đem hai phương diện đang được biểu tượng hóa là bị đóng đinh [222] trên Thập Giá lại với nhau—vật chất và linh hồn, vật chất của hình tướng và bản chất thấp đã hoàn thiện. Đây là ba Linh từ của các cõi hồng trần, cảm xúc và trí tuệ, nơi con người thường sống. Sự hi sinh toàn bộ bản chất thấp đã hoàn tất, và có sự im lặng cùng bóng tối trong ba giờ. Rồi Lời phi thường ấy được thốt ra, chỉ ra rằng Đức Christ đã đạt đến giai đoạn hi sinh cuối cùng, và rằng ngay cả tâm thức về thiên tính, tâm thức của chính linh hồn, với sức mạnh và quyền năng của nó, ánh sáng và sự thấu hiểu của nó, cũng phải được đặt lên bàn thờ. Ngài phải trải qua kinh nghiệm từ bỏ hoàn toàn tất cả những gì đã cấu thành chính hiện tồn của Ngài. Điều này đem đến tiếng kêu phản kháng và chất vấn: “Thượng Đế của con, Thượng Đế của con! Vì sao Ngài bỏ rơi con?”

Then followed three Words of a different quality altogether. In the words, “I thirst,” He expressed the motivating power of every Saviour. This was misinterpreted by the onlookers, who have given it most naturally a physical connotation; but it surely had a deeper meaning, and must have reference to that divine thirst which sweeps through the consciousness of every son of God who has achieved divinity, and which indicates his willingness to undertake the task of Saviour. It is characteristic of all who have attained that they cannot rest satisfied with their achievement which brought them liberation and freedom, but immediately reorient themselves to the world of men and stay with humanity, working for the salvation of human beings until all the sons of God shall have found their way back to the Father’s home. This thirst for the souls of men forced Christ to open the door into the kingdom, and to hold it open Himself, so that it might be His hand and His aid which should lift us over the threshold. This is the redemption, and in this redemption we all share, not from the selfish angle of our individual salvation, but from the consciousness that, as we redeem are we redeemed, as we save are we ourselves salvaged, and that as we help others to achieve, we too are [223] admitted as citizens into the kingdom. But this is the way of Crucifixion. Only when we can utter the five Words of Power do we really understand the meaning of God and His love. The way of the Saviour becomes then our way. God’s life and purpose stand revealed.

Rồi tiếp theo là ba Lời có phẩm tính hoàn toàn khác. Trong các lời “Ta khát,” Ngài biểu lộ quyền năng thúc đẩy của mọi Đấng Cứu Thế. Những người đứng xem đã hiểu sai điều này, và rất tự nhiên gán cho nó một hàm ý hồng trần; nhưng chắc chắn nó có một ý nghĩa sâu xa hơn, và phải liên hệ đến cơn khát thiêng liêng tràn qua tâm thức của mỗi người con của Thượng Đế đã đạt đến thiên tính, và chỉ ra sự sẵn lòng của y trong việc đảm nhận nhiệm vụ Đấng Cứu Thế. Đặc tính của tất cả những ai đã thành tựu là họ không thể nghỉ ngơi thỏa mãn với thành tựu đã đem lại cho họ sự giải thoát và tự do, mà ngay lập tức tự tái định hướng về thế giới con người và ở lại với nhân loại, làm việc cho sự cứu rỗi con người cho đến khi tất cả những người con của Thượng Đế tìm được đường trở về nhà Cha. Cơn khát đối với linh hồn con người này đã buộc Đức Christ mở cánh cửa vào Thiên Giới, và chính Ngài giữ cánh cửa ấy mở, để chính bàn tay và sự trợ giúp của Ngài có thể nâng chúng ta qua ngưỡng cửa. Đây là sự cứu chuộc, và trong sự cứu chuộc này tất cả chúng ta đều dự phần, không từ góc độ ích kỷ của sự cứu rỗi cá nhân, mà từ tâm thức rằng khi chúng ta cứu chuộc thì chúng ta được cứu chuộc, khi chúng ta cứu thì chính chúng ta được cứu, và khi chúng ta giúp người khác thành tựu, chúng ta cũng [223] được thâu nhận làm công dân trong Thiên Giới. Nhưng đây là con đường của sự Đóng Đinh. Chỉ khi chúng ta có thể thốt ra năm Quyền năng từ, chúng ta mới thật sự thấu hiểu ý nghĩa của Thượng Đế và tình thương của Ngài. Khi ấy, con đường của Đấng Cứu Thế trở thành con đường của chúng ta. Sự sống và mục đích của Thượng Đế được mặc khải.

It is this thirst which we share with the Saviour, and the world need (of which our own is a part, though relatively incidental) that unite us with Him. It is the “fellowship of His sufferings” to which He calls us, and the demand which we hear as He hears it. This aspect of the Cross and its lesson has been summed up in the following words, which warrant our careful consideration, and our consequent consecration to the service of the Cross, which is the service of humanity.

Chính cơn khát này mà chúng ta chia sẻ với Đấng Cứu Thế, và nhu cầu của thế giới, trong đó nhu cầu của riêng chúng ta là một phần dù chỉ là phần tương đối thứ yếu, hợp nhất chúng ta với Ngài. Chính “sự thông công trong các đau khổ của Ngài” là điều Ngài kêu gọi chúng ta bước vào, và là lời thỉnh cầu mà chúng ta nghe như Ngài đã nghe. Phương diện này của Thập Giá và bài học của nó đã được tóm kết trong những lời sau đây, đáng để chúng ta suy xét cẩn thận, và theo đó thánh hiến mình cho sự phụng sự của Thập Giá, tức sự phụng sự nhân loại.

“When I … turned from that world-appealing sight, Christ crucified for us, to look upon life’s most perplexed and sorrowful contradictions, I was not met as in intercourse with my fellow-men by the cold platitudes that fall so lightly from the lips of those whose hearts have never known one real pang, nor whose lives one crushing blow. I was not told that all things were ordered for the best, nor assured that the overwhelming disparities of life were but apparent, but I was met from the eyes and brow of Him who was indeed acquainted with grief, by a look of solemn recognition, such as may pass between friends who have endured between them some strange and secret sorrow, and are through it united in a bond that cannot be broken.”

“Khi tôi… quay khỏi cảnh tượng kêu gọi cả thế giới ấy, Đức Christ bị đóng đinh vì chúng ta, để nhìn vào những mâu thuẫn rối ren và đau buồn nhất của đời sống, tôi không gặp phải, như trong giao tiếp với đồng loại, những lời sáo rỗng lạnh lùng tuôn ra quá dễ dàng từ môi những kẻ mà trái tim chưa từng biết một nỗi đau thật sự, cũng như đời sống chưa từng chịu một đòn nghiền nát. Tôi không được bảo rằng mọi sự đều được an bài cho điều tốt nhất, cũng không được bảo đảm rằng những bất bình đẳng áp đảo của đời sống chỉ là bề ngoài, nhưng từ đôi mắt và vầng trán của Đấng thật sự quen thuộc với khổ đau, tôi gặp một cái nhìn nhận biết trang nghiêm, như cái nhìn có thể trao đổi giữa những người bạn đã cùng nhau chịu đựng một nỗi buồn kỳ lạ và kín nhiệm nào đó, và nhờ đó được hợp nhất trong một mối dây không thể bị phá vỡ.”

‘COLLOQUIA CRUCIS’, BY DORA GREENWELL, P. 14 F.

‘COLLOQUIA CRUCIS’, CỦA DORA GREENWELL, TR. 14 F.

Then there burst upon Christ’s consciousness the wonder of accomplishment. He had succeeded, so that, with full realisation of the significance of the statement, He could say, “It is finished.” He had done what He came into incarnation to do. The gate into the kingdom stood open. The boundary between the world and the kingdom was clearly defined. He had given us an example of service unparalleled in history. He had shown us the way that we should go. He had demonstrated to us the nature of perfection. There was [224] no more that He could then do, and so we hear the triumphant cry, “It is finished.”

Rồi điều kỳ diệu của sự hoàn thành bừng lên trong tâm thức của Đức Christ. Ngài đã thành công, đến nỗi, với sự nhận biết đầy đủ về thâm nghĩa của lời tuyên bố, Ngài có thể nói: “Mọi sự đã hoàn tất.” Ngài đã làm điều Ngài đến lâm phàm để làm. Cánh cổng vào Thiên Giới đã mở. Ranh giới giữa thế giới và Thiên Giới đã được xác định rõ ràng. Ngài đã cho chúng ta một gương phụng sự không gì sánh được trong lịch sử. Ngài đã chỉ cho chúng ta con đường chúng ta phải đi. Ngài đã chứng minh cho chúng ta bản chất của sự hoàn thiện. Khi ấy không còn điều gì [224] Ngài có thể làm thêm, và vì vậy chúng ta nghe tiếng kêu chiến thắng: “Mọi sự đã hoàn tất.”

Only one more Word of Power came forth from the darkness which shrouded the dying Christ. The moment of His death was prefaced by the words, “Father, into Thy hands I commend my spirit.” His first word and His last begin with the appeal: “Father”—for ever we are the children of God, and “If children, then heirs; heirs of God, and joint heirs with Christ; if so be that we suffer with Him, that we may be also glorified together;” (Romans, VIII, 17.) joint heirs of glory, but also joint heirs in the suffering which must be ours if the world is to be saved and humanity as a whole is to pass into the kingdom. The kingdom is in existence. Through the work of Christ and His living Presence in all of us there exists today, subjective as yet, but awaiting immediate tangible expression…

Chỉ còn một Quyền năng từ nữa phát ra từ bóng tối bao phủ Đức Christ đang hấp hối. Khoảnh khắc chết của Ngài được mở đầu bằng các lời: “Cha ơi, con phó thác tinh thần con trong tay Cha.” Lời đầu tiên và lời cuối cùng của Ngài bắt đầu bằng lời khẩn cầu: “Cha ơi”—vì mãi mãi chúng ta là con cái của Thượng Đế, và “Nếu là con cái, thì cũng là người thừa kế; người thừa kế của Thượng Đế, và đồng thừa kế với Đức Christ; nếu quả thật chúng ta cùng chịu khổ với Ngài, để cũng được cùng vinh hiển với Ngài;” (Romans, VIII, 17.) đồng thừa kế vinh quang, nhưng cũng đồng thừa kế trong nỗi đau khổ vốn phải là của chúng ta nếu thế giới phải được cứu và nhân loại như một toàn thể phải đi vào Thiên Giới. Thiên Giới hiện hữu. Qua công việc của Đức Christ và Sự Hiện Diện sống động của Ngài trong tất cả chúng ta, ngày nay có tồn tại, tuy còn chủ quan, nhưng đang chờ sự biểu hiện hữu hình tức thời…

“One body, and one Spirit, even as ye are called in one hope of your calling; One Lord, one faith, one baptism, One God and Father of all, who is above all, and through all, and in you all.”

“Một thân thể, và một Tinh thần, cũng như các ngươi được kêu gọi trong một niềm hy vọng duy nhất của sự kêu gọi mình; Một Chúa, một đức tin, một phép rửa, Một Thượng Đế và Cha của tất cả, Đấng ở trên tất cả, xuyên qua tất cả, và trong tất cả các ngươi.”

EPHESIANS, IV, 4, 5, 6.

EPHESIANS, IV, 4, 5, 6.

Furthermore, in words later used by Christ, the psalmist says, “Into thine hand I commit my spirit, for thou hast redeemed me.” (Psalm XXXI, 5.) The implication here is clear. It is the spirit of life in Christ and in us which makes us sons of God, and it is that sonship (with its quality of divinity) which is the guarantee of our final accomplishment and entrance into the kingdom of spirit. The sign given is expressed in the words: “Behold, the veil of the temple was rent in twain from the top to the bottom.” (St. Matthew, XXVII, 51.) Access to God was established, and the inner spiritual forces could pass out without hindrance into manifestation. This was an act of God, a stupendous recognition by the Father of what His [225] Son had done. Spirit and matter were now one. All separating barriers were abolished, and man and God could meet and hold intercourse.

Hơn nữa, trong những lời về sau được Đức Christ sử dụng, tác giả thánh vịnh nói: “Con phó thác tinh thần con trong tay Ngài, vì Ngài đã cứu chuộc con.” (Psalm XXXI, 5.) Hàm ý ở đây rõ ràng. Chính tinh thần của sự sống trong Đức Christ và trong chúng ta khiến chúng ta trở thành con cái của Thượng Đế, và chính tư cách làm con ấy, cùng với phẩm tính thiên tính của nó, là bảo chứng cho sự hoàn thành cuối cùng của chúng ta và lối vào giới tinh thần. Dấu hiệu được ban được diễn tả trong các lời: “Kìa, bức màn trong đền thờ bị xé làm đôi từ trên xuống dưới.” (Thánh Matthew, XXVII, 51.) Lối đến với Thượng Đế đã được thiết lập, và các mãnh lực tinh thần bên trong có thể tuôn ra không bị cản trở vào sự biểu hiện. Đây là một hành động của Thượng Đế, một sự nhận biết phi thường của Đức Cha về điều Con của Ngài [225] đã làm. Tinh thần và vật chất bấy giờ là một. Mọi hàng rào chia cách đều bị xóa bỏ, và con người cùng Thượng Đế có thể gặp gỡ và giao tiếp.

In an ancient scripture of India we read these words, spoken thousands of years ago, yet capable of being applied in a most significant manner to this act of Christ, which linked Him up not only with ourselves and all past believers prior to His advent, but with the Cosmic Christ, so unmistakably speaking here:

Trong một thánh thư cổ của Ấn Độ, chúng ta đọc những lời này, được nói ra hàng ngàn năm trước, nhưng vẫn có thể áp dụng theo một cách đầy thâm nghĩa cho hành động này của Đức Christ, vốn liên kết Ngài không chỉ với chúng ta và tất cả những tín đồ quá khứ trước khi Ngài giáng lâm, mà còn với Đức Christ Vũ Trụ, Đấng đang nói ở đây một cách không thể nhầm lẫn:

“Brahma, the self-effulgent meditated. He considered … Come, let me sacrifice myself in living things and all living things in Myself … He thus acquired greatness, self-effulgence, lordship and mastery.”

“Brahma, Đấng tự chói sáng, đã tham thiền. Ngài suy xét… Nào, hãy để Ta hiến tế chính mình trong các sinh linh, và mọi sinh linh trong Chính Ta… Nhờ vậy Ngài đạt được sự vĩ đại, sự tự chói sáng, quyền chủ tể và quyền năng làm chủ.”

In concluding this chapter upon the Crucifixion, let us consider what really was the purpose of Christ’s sacrifice. Why did He die? We are told why most clearly in St. John’s Gospel, and yet very little emphasis has been laid upon the statement. Only today are we beginning to understand the meaning of what He did. Only today is the wonder of His sacrifice beginning to dawn upon the minds of those whose intuition is awakened. He came primarily to do two things, upon both of which we have already touched: first of all, He came to found, or to materialise upon the earth, the kingdom of God; secondly, to show us what the love of God signified and how it expressed itself in service and in the eternal sacrifice of divinity upon the cross of matter. Christ stood as a symbol and also as an example. He revealed to us God’s Mind, and showed us the pattern upon which we should mould our lives.

Khi kết thúc chương này về Cuộc Đóng Đinh, chúng ta hãy xem xét đâu thật sự là mục đích sự hi sinh của Đức Christ. Tại sao Ngài chết? Chúng ta được cho biết lý do một cách rõ ràng nhất trong Phúc Âm Thánh John, nhưng lời tuyên bố ấy lại được nhấn mạnh rất ít. Chỉ ngày nay chúng ta mới bắt đầu thấu hiểu ý nghĩa của điều Ngài đã làm. Chỉ ngày nay điều kỳ diệu trong sự hi sinh của Ngài mới bắt đầu ló rạng trong trí tuệ của những người có trực giác được đánh thức. Ngài đến chủ yếu để làm hai việc, mà chúng ta đã đề cập đến cả hai: trước hết, Ngài đến để thiết lập, hay hiện hình trên Trái Đất, Thiên Giới; thứ hai, để chỉ cho chúng ta thấy tình thương của Thượng đế hàm ý điều gì và nó biểu lộ ra sao trong phụng sự và trong sự hi sinh vĩnh cửu của thiên tính trên thập giá của vật chất. Đức Christ đứng như một biểu tượng và cũng như một gương mẫu. Ngài mặc khải cho chúng ta Trí của Thượng đế, và chỉ cho chúng ta mô hình theo đó chúng ta nên khuôn đúc đời sống mình.

The kingdom and the service! These are the keynotes which today have in them that rallying power which the believers of the world demand. Christ shared with us, as a human being, the path of world experience. He mounted the Cross and showed us in His sacrifice and example what we had to do. He shared with us the way of life, because there was nothing else for Him to do, as He was a human [226] being. But He threw upon this life experience the radiant light of divinity itself, telling us also to “let our light shine.” (St. Matthew, V, 16.) He proclaimed Himself Man, and then told us that we were the children of God. He was with us then, and He is with us now, for He is in us all the time, although very often unrecognised and unapproached.

Thiên Giới và sự phụng sự! Đây là những chủ âm ngày nay mang trong chúng quyền năng quy tụ mà các tín đồ của thế giới đòi hỏi. Đức Christ đã chia sẻ với chúng ta, như một con người, con đường kinh nghiệm thế gian. Ngài bước lên Thập giá và chỉ cho chúng ta, trong sự hi sinh và gương mẫu của Ngài, điều chúng ta phải làm. Ngài chia sẻ với chúng ta con đường sự sống, vì không có điều gì khác để Ngài làm, bởi Ngài là một con người [226]. Nhưng Ngài đã chiếu lên kinh nghiệm sống này ánh sáng rạng ngời của chính thiên tính, đồng thời bảo chúng ta “hãy để ánh sáng của mình chiếu sáng.” (Thánh Matthew, V, 16.) Ngài tuyên bố Chính Mình là Con Người, rồi bảo chúng ta rằng chúng ta là con cái của Thượng đế. Khi ấy Ngài ở cùng chúng ta, và nay Ngài vẫn ở cùng chúng ta, vì Ngài ở trong tất cả chúng ta mọi lúc, dù rất thường khi không được nhận biết và không được tìm đến.

The outstanding lesson with which we are confronted is the fact that “… human nature as we know it can neither attain happiness without suffering, nor perfection without the sacrifice of itself.” (‘Mirage and Truth, by M. B. D’Arcy, S.J., p. 179.) For us the kingdom constitutes the vision, but for Christ it was a reality. The service of the kingdom is our duty and also our method of release from the thraldom of human experience. We must grasp this; we must realise that we shall find release only in the service of the kingdom. We have been held too long by the dogmas of the past, and there is today a natural revolt against the idea of individual salvation through the blood sacrifice of Christ. This latter is the outer and more obvious teaching—but it is the inner meaning which really concerns us, and this we can sense only when we ourselves come face to face with that which dwells within. As the outer forms lose their power it frequently happens that the true significance emerges. This we have each to prove for himself. Frequently fear prevents us from being truthful and from facing facts. It is essential that today we face the problem of the relation of Christ to the modern world, and dare to see the truth, without any theological bias. Our personal experience of Christ will not suffer in this process. No modern view and no theology can take Christ away from the soul which has once known Him. That is outside the range of possibility. But it is quite possible that we may find the ordinary orthodox theological interpretation at fault. It is quite possible that Christ is far more inclusive than we have been led to believe, and that the heart of God the Father is far kinder [227] than those who have sought to interpret it. We have preached a God of love and have spread a doctrine of hate. We have taught that Christ died to save the world and have endeavoured to show that only believers could be saved— though millions live and die without ever hearing of Christ. We live in a world of chaos, endeavouring to build a kingdom of God divorced from current daily life and the general economic situation, and at the same time postulate a distant heaven which we may some day attain. But Christ founded a kingdom on earth, wherein all God’s children would have equal opportunity of expressing themselves as sons of the Father. This, many Christians find impossible to accept, and some of the best minds of the age have repudiated the idea.

Bài học nổi bật mà chúng ta đối diện là sự kiện rằng “… bản chất con người như chúng ta biết không thể đạt hạnh phúc nếu không có đau khổ, cũng không thể đạt sự hoàn thiện nếu không hi sinh chính mình.” (‘Ảo Ảnh và Chân Lý’, của M. B. D’Arcy, S.J., tr. 179.) Đối với chúng ta, Thiên Giới cấu thành linh ảnh, nhưng đối với Đức Christ, đó là một thực tại. Phụng sự Thiên Giới là bổn phận của chúng ta và cũng là phương pháp giải thoát chúng ta khỏi sự nô lệ của kinh nghiệm nhân loại. Chúng ta phải nắm vững điều này; chúng ta phải nhận ra rằng chúng ta sẽ chỉ tìm thấy giải thoát trong phụng sự Thiên Giới. Chúng ta đã bị các giáo điều của quá khứ kìm giữ quá lâu, và ngày nay có một sự phản kháng tự nhiên đối với ý tưởng cứu rỗi cá nhân qua sự hi sinh bằng máu của Đức Christ. Điều sau này là giáo huấn bên ngoài và hiển nhiên hơn—nhưng chính ý nghĩa bên trong mới thật sự liên quan đến chúng ta, và điều này chúng ta chỉ có thể cảm nhận khi chính chúng ta đối diện với điều cư ngụ bên trong. Khi các hình tướng bên ngoài mất quyền năng, thường xảy ra việc thâm nghĩa chân thật xuất hiện. Mỗi chúng ta phải tự chứng minh điều này cho mình. Thường khi, nỗi sợ ngăn chúng ta trung thực và đối diện với sự kiện. Ngày nay, điều thiết yếu là chúng ta phải đối diện vấn đề mối liên hệ của Đức Christ với thế giới hiện đại, và dám thấy chân lý, không thiên kiến thần học. Kinh nghiệm cá nhân của chúng ta về Đức Christ sẽ không bị tổn hại trong tiến trình này. Không quan điểm hiện đại nào và không nền thần học nào có thể lấy Đức Christ khỏi linh hồn đã từng biết Ngài. Điều đó nằm ngoài phạm vi khả thể. Nhưng rất có thể chúng ta sẽ thấy lối diễn giải thần học chính thống thông thường là sai lầm. Rất có thể Đức Christ bao gồm hơn nhiều so với điều người ta đã dẫn chúng ta tin, và trái tim của Thượng đế Cha nhân từ hơn [227] nhiều so với những người đã tìm cách diễn giải nó. Chúng ta đã rao giảng một Thượng đế của tình thương và đã truyền bá một giáo lý của hận thù. Chúng ta đã dạy rằng Đức Christ chết để cứu thế giới và đã cố gắng chứng minh rằng chỉ các tín đồ mới có thể được cứu—dù hàng triệu người sống và chết mà chưa bao giờ nghe nói đến Đức Christ. Chúng ta sống trong một thế giới hỗn loạn, cố gắng xây dựng một Thiên Giới tách rời khỏi đời sống hằng ngày hiện tại và tình hình kinh tế chung, đồng thời giả định một thiên đường xa xôi mà một ngày nào đó chúng ta có thể đạt tới. Nhưng Đức Christ đã thiết lập một Thiên Giới trên Trái Đất, trong đó mọi con cái của Thượng đế đều có cơ hội bình đẳng để biểu lộ chính mình như các con của Cha. Điều này, nhiều tín đồ Cơ Đốc giáo thấy không thể chấp nhận, và một số trí tuệ ưu tú nhất của thời đại đã bác bỏ ý tưởng ấy.

Individual salvation is surely selfish in its interest and its origin. We must serve in order to be saved, and only can we serve intelligently if we believe in the divinity of all men and also in Christ’s outstanding service to the race. The kingdom is a kingdom of servers, for every saved soul must without compromise join the ranks of those who ceaselessly serve their fellowmen. Dr. Schweitzer, whose vision of the kingdom of God is so rare and real, points out this truth and its gradations of recognition in the following words:

Sự cứu rỗi cá nhân chắc chắn là ích kỷ trong mối quan tâm và trong nguồn gốc của nó. Chúng ta phải phụng sự để được cứu, và chúng ta chỉ có thể phụng sự một cách sáng suốt nếu chúng ta tin vào thiên tính của mọi người và cũng tin vào sự phụng sự nổi bật của Đức Christ đối với nhân loại. Thiên Giới là một giới của những người phụng sự, vì mỗi linh hồn được cứu phải không thỏa hiệp mà gia nhập hàng ngũ những người không ngừng phụng sự đồng loại mình. Tiến sĩ Schweitzer, người có tầm nhìn về Thiên Giới hiếm có và chân thật đến thế, chỉ ra chân lý này và các cấp độ nhận biết của nó trong những lời sau:

“The descending stages of service correspond to the ascending stages of rule.

“Các giai đoạn đi xuống của phụng sự tương ứng với các giai đoạn đi lên của sự cai quản.

1. Whosoever would become great among you, shall be your servant. (Mark X.43.)

1. Ai muốn trở nên lớn lao giữa các bạn, sẽ là người phụng sự của các bạn. (Mark X.43.)

2. Whosoever of you would be first, shall be bondservant of all (others). (Mark X.44.)

2. Ai trong các bạn muốn đứng đầu, sẽ là tôi tớ của tất cả những người khác. (Mark X.44.)

3. Therefore the Son of Man expected the post of highest rule because he was not come to be served but to serve, in giving his life as ransom for many. (Mark X.45.)

3. Vì vậy Con Người đã mong đợi địa vị cai quản cao nhất, bởi Ngài đến không phải để được phụng sự mà để phụng sự, bằng cách hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho nhiều người. (Mark X.45.)

“The climax is a double one. The service of the Disciples extended only to their circle: the service of Jesus to an unlimited number, namely, to all such as were to benefit by his suffering and death. In the case of the Disciples it was merely a question of [228] unselfish subjection: in the case of Jesus it meant the bitter suffering of death. Both count as serving, inasmuch as they establish a claim to a position of rule in the Kingdom.”

“Đỉnh điểm là một đỉnh kép. Sự phụng sự của các Đệ tử chỉ mở rộng đến vòng của họ; sự phụng sự của Đức Jesus mở rộng đến một số lượng không giới hạn, tức là đến tất cả những ai sẽ được lợi ích nhờ đau khổ và cái chết của Ngài. Trong trường hợp các Đệ tử, đó chỉ là vấn đề [228] quy phục vô kỷ; trong trường hợp Đức Jesus, điều đó có nghĩa là nỗi đau cay đắng của cái chết. Cả hai đều được kể là phụng sự, vì chúng thiết lập một quyền đòi hỏi một vị trí cai quản trong Thiên Giới.”

THE MYSTERY OF THE KINGDOM OF GOD’, BY ALBERT SCHWEITZER, P. 75.

BÍ NHIỆM CỦA THIÊN GIỚI’, CỦA ALBERT SCHWEITZER, TR. 75.

Love is the beginning, and love the end, and in love we serve and work. The long journey ends thus, in the glory of the renunciation of personal desire, and in the dedication to living service.

Tình thương là khởi đầu, và tình thương là kết thúc, và trong tình thương chúng ta phụng sự và hoạt động. Như vậy, cuộc hành trình dài kết thúc trong vinh quang của sự từ bỏ dục vọng cá nhân và trong sự hiến dâng cho phụng sự sống động.

CHAPTER SIX – The Fifth Initiation . . . The Resurrection and Ascension – CHƯƠNG SÁU – Lần điểm đạo thứ năm . . . Sự Phục Sinh và Thăng Thiên

KEY THOUGHT

TƯ TƯỞNG THEN CHỐT

“Apart from Christ we know neither what our life nor our death is; we do not know what God is nor what we ourselves are.”

“Ngoài Đức Christ, chúng ta không biết đời sống hay cái chết của mình là gì; chúng ta không biết Thượng đế là gì, cũng không biết chính chúng ta là gì.”

PASCAL: PENSÉES

PASCAL: TƯ TƯỞNG

“There is a Soul above the soul of each,

“Có một Linh Hồn ở trên linh hồn của mỗi người,

A mightier soul which yet to each belongs!

Một linh hồn hùng mạnh hơn mà vẫn thuộc về từng người!

There is a sound made of all human speech,

Có một âm thanh làm nên từ mọi lời nói của nhân loại,

And numerous as the concourse of all songs:

Và đông đảo như hội tụ của mọi bài ca:

And in that Soul lives each, in each that Soul,

Và trong Linh Hồn ấy mỗi linh hồn sống, trong mỗi linh hồn có Linh Hồn ấy,

Tho’ all the ages are its lifetime vast;

Dù mọi thời đại là đời sống bao la của nó;

Each soul that dies in its most sacred whole

Mỗi linh hồn chết đi trong toàn thể thiêng liêng nhất của mình

Receiveth life that shall for ever last.”

Đều nhận được sự sống sẽ trường tồn mãi mãi.”

RICHARD WATSON DIXON

RICHARD WATSON DIXON

[231] This initiation is divided into two halves, and of neither of them do we know very much. The detail of the Resurrection episode, or crisis, in Christ’s life is left untold by the writers of the New Testament. It was not possible for them to know more. After the Crucifixion we are told little of Christ’s own life, or what occupied Him between the time He rose again until He left the company of the Apostles, and “ascended into Heaven”—a symbolic phrase which can mean very little to any of us. The crucial initiation for humanity to understand at this time is the fourth. Only when we have mastered the significance of service and sacrifice can the fact of immortality and its true meaning be revealed to us. How Christ rose, what were the processes undergone, in exactly what body He appeared, we cannot tell. We are assured by the Apostles that it resembled the one He had previously employed, but whether it was the same body miraculously resurrected; whether it was His spiritual body, which appeared to be the same to the physical eyes of those who loved Him, or whether He had constructed an entirely new body on the same general lines as the previous one, it is not possible for us to say; neither is it possible for us to be confident that the vision of the disciples was not supernormal or that, through the intensification of His expressed divinity, Christ had so stimulated their inner vision that they saw clairvoyantly, or in another dimension. The important matter was that He did rise again, that He was seen of many, [232] and that the fact of His resurrection was credited in the minds of His friends and for the two or three centuries after His departure.

[231] Lần điểm đạo này được chia thành hai nửa, và về cả hai nửa ấy chúng ta đều biết rất ít. Chi tiết của biến cố Phục Sinh, hay cuộc khủng hoảng trong đời sống Đức Christ, không được các tác giả Tân Ước thuật lại. Họ không thể biết nhiều hơn. Sau Cuộc Đóng Đinh, chúng ta được cho biết rất ít về đời sống riêng của Đức Christ, hay điều gì đã chiếm lĩnh Ngài trong khoảng thời gian từ khi Ngài sống lại cho đến khi Ngài rời khỏi đoàn Tông đồ và “thăng lên Thiên Đàng”—một cụm từ biểu tượng có thể có rất ít ý nghĩa đối với bất cứ ai trong chúng ta. Lần điểm đạo then chốt mà nhân loại cần thấu hiểu vào lúc này là lần thứ tư. Chỉ khi chúng ta đã làm chủ thâm nghĩa của phụng sự và hi sinh, sự kiện bất tử và ý nghĩa chân thật của nó mới có thể được mặc khải cho chúng ta. Đức Christ đã sống lại như thế nào, các tiến trình Ngài đã trải qua là gì, Ngài xuất hiện chính xác trong loại thể nào, chúng ta không thể nói. Các Tông đồ bảo đảm với chúng ta rằng thể ấy giống thể Ngài đã dùng trước đó, nhưng đó có phải là cùng một thân thể được phục sinh một cách kỳ diệu; hay đó là thể tinh thần của Ngài, trông có vẻ như cùng một thể đối với đôi mắt hồng trần của những người yêu mến Ngài; hay Ngài đã kiến tạo một thân thể hoàn toàn mới theo cùng những đường nét tổng quát như thể trước đó, chúng ta không thể nói; chúng ta cũng không thể tin chắc rằng tầm nhìn của các đệ tử không phải là siêu thường, hoặc rằng, qua sự tăng cường thiên tính được biểu lộ của Ngài, Đức Christ đã kích thích linh thị bên trong của họ đến mức họ thấy bằng thông nhãn, hay trong một chiều kích khác. Điều quan trọng là Ngài đã sống lại, Ngài đã được nhiều người thấy [232], và sự kiện phục sinh của Ngài đã được tin nhận trong trí tuệ của bạn hữu Ngài và trong hai hoặc ba thế kỷ sau khi Ngài ra đi.

The psychology of the disciples is the best proof we have of the reality of their conviction that death could not hold the Saviour, and that after death He was present and living among them. It is difficult for us to gain this high achievement in consciousness which they showed. Apparently their world had come to an end upon the Cross. Christ had apparently failed them, and instead of being the divine Son of God, and King of the Jews, He was nothing but an ordinary man, convicted of treason and punished as a common malefactor. What they must have endured during the three days of His absence it is not hard for us to imagine. Hopelessness, despair, the loss of confidence in themselves and of prestige among their friends; the cause for which they had been so ready to dedicate themselves, as they tramped with Christ from place to place in the Holy Land, had ended and collapsed. Their Leader was discredited. Then something happened to alter the whole trend of their thought. All that had been lost of confidence and hope and purpose was restored, and the first few centuries of the Christian history (before theology gave a turn to interpretation, and so altered the Gospel of love into a cult of separation) reveal to us

Tâm lý của các đệ tử là bằng chứng tốt nhất chúng ta có về thực tại niềm xác tín của họ rằng cái chết không thể giữ Đấng Cứu Thế, và rằng sau cái chết Ngài hiện diện và sống giữa họ. Chúng ta khó đạt được thành tựu cao trong tâm thức mà họ đã biểu lộ. Dường như thế giới của họ đã chấm dứt trên Thập giá. Dường như Đức Christ đã làm họ thất vọng, và thay vì là Con thiêng liêng của Thượng đế, là Vua dân Do Thái, Ngài chẳng là gì ngoài một người thường, bị kết án phản quốc và bị trừng phạt như một tội phạm thông thường. Chúng ta không khó hình dung điều họ hẳn đã chịu đựng trong ba ngày Ngài vắng mặt. Sự tuyệt vọng, nỗi chán chường, sự mất niềm tin nơi chính mình và mất uy tín giữa bạn hữu; chính nghĩa mà họ đã sẵn sàng hiến mình, khi họ theo Đức Christ đi từ nơi này đến nơi khác trong Đất Thánh, đã kết thúc và sụp đổ. Vị Lãnh đạo của họ bị mất uy tín. Rồi một điều gì đó đã xảy ra, làm thay đổi toàn bộ khuynh hướng tư tưởng của họ. Tất cả những gì đã mất về niềm tin, hy vọng và mục đích đều được phục hồi, và vài thế kỷ đầu của lịch sử Cơ Đốc giáo, trước khi thần học bẻ hướng sự diễn giải và do đó biến đổi Phúc Âm của tình thương thành một giáo phái của chia rẽ, mặc khải cho chúng ta

“… a company of men and women full of confidence, enthusiasm and courage, ready to face persecution and death, eager missionaries. What has given them this new character? Not long before some of them had fled in dismay at the first threat of personal danger. When Jesus was crucified they had lost the last glimmer of hope that he might prove to be the Christ. When he was placed in the tomb, Christianity was dead and buried too. Now we meet these men and women a few weeks later and they are utterly changed. It is not that there is some faint return of hope among a few of them. All are completely certain that Jesus is indeed the Christ. What has happened to cause this transformation? Their answer is unanimous: on the third day he rose from the dead.”

“… một đoàn những người nam và nữ đầy tự tin, nhiệt thành và can đảm, sẵn sàng đối diện với bách hại và cái chết, là những nhà truyền giáo hăng hái. Điều gì đã ban cho họ tính cách mới này? Không lâu trước đó, một số người trong họ đã chạy trốn trong kinh hoàng trước mối đe dọa đầu tiên của nguy hiểm cá nhân. Khi Đức Jesus bị đóng đinh, họ đã mất tia hy vọng cuối cùng rằng Ngài có thể chứng tỏ là Đức Christ. Khi Ngài được đặt trong mộ, Cơ Đốc giáo cũng đã chết và bị chôn theo. Nay chúng ta gặp lại những người nam và nữ này vài tuần sau đó, và họ đã hoàn toàn đổi khác. Không phải chỉ có một tia hy vọng mờ nhạt trở lại nơi vài người trong họ. Tất cả đều hoàn toàn chắc chắn rằng Đức Jesus quả thật là Đức Christ. Điều gì đã xảy ra để gây nên sự chuyển đổi này? Câu trả lời của họ là nhất trí: ngày thứ ba Ngài đã sống lại từ cõi chết.”

‘THE VALLEY AND BEYOND’, BY ANTHONY C. DEANE, P. 72.

‘THUNG LŨNG VÀ BÊN KIA’, CỦA ANTHONY C. DEANE, TR. 72.

[233] “Christ is risen,” is their cry, and because He has risen the kingdom of God can go forward upon earth, and His message of love can be widely distributed. They know now, past all controversy, that He has overcome death, and that in the years that lie ahead they will see death vanquished. That they expected an immediate kingdom and that they looked to see the fact of immortality universally recognised is evident from their writings and their enthusiasm. That they were mistaken, nearly two thousand years of Christianity has proved. We are not yet citizens of a divine kingdom definitely manifesting upon earth, the fear of death is as strong as ever, and the fact of immortality is still but a source of speculation to millions. But it was their sense of time that was at fault, and their failure to understand the slow processes of nature. Evolution moves slowly, and it is only today that we are truly on the verge of the demonstration of God’s kingdom upon earth. Because this is the end of an age, we know that before long the hold death has on the human being, and the terror which the angel of death inspires, will disappear. They will vanish because we shall regard death as only another step on the way towards light and life, and shall realise that, as the Christ life expresses itself in and through human beings, they will demonstrate to themselves, and in the world, the reality of immortality.

[233] “Đức Christ đã sống lại,” là tiếng kêu của họ, và vì Ngài đã sống lại nên Thiên Giới có thể tiến tới trên Trái Đất, và thông điệp tình thương của Ngài có thể được truyền rộng. Giờ đây họ biết, vượt khỏi mọi tranh cãi, rằng Ngài đã chiến thắng cái chết, và rằng trong những năm trước mặt họ sẽ thấy cái chết bị khuất phục. Việc họ mong đợi một Thiên Giới tức thời và trông thấy sự kiện bất tử được công nhận phổ quát là điều hiển nhiên từ các trước tác và lòng nhiệt thành của họ. Việc họ đã lầm, gần hai nghìn năm Cơ Đốc giáo đã chứng minh. Chúng ta chưa phải là công dân của một Thiên Giới thiêng liêng đang biểu hiện rõ ràng trên Trái Đất, nỗi sợ chết vẫn mạnh như xưa, và sự kiện bất tử vẫn chỉ là nguồn suy đoán đối với hàng triệu người. Nhưng chính cảm thức của họ về thời gian đã sai, và họ đã không thấu hiểu các tiến trình chậm rãi của thiên nhiên. Tiến hoá chuyển động chậm, và chỉ ngày nay chúng ta mới thật sự ở trên ngưỡng của sự chứng minh Thiên Giới trên Trái Đất. Vì đây là cuối một thời đại, chúng ta biết rằng chẳng bao lâu nữa sự kìm giữ mà cái chết đặt lên con người, và nỗi kinh hoàng mà thiên thần của cái chết gây ra, sẽ biến mất. Chúng sẽ tan biến vì chúng ta sẽ xem cái chết chỉ là một bước khác trên đường hướng tới ánh sáng và sự sống, và sẽ nhận ra rằng, khi sự sống Christ biểu lộ trong và qua con người, họ sẽ chứng minh cho chính mình và trong thế giới thực tại của sự bất tử.

The key to the overcoming of death and to the processes of realising the meaning and nature of eternity and the continuity of life can with safety be revealed only when love holds sway over the human consciousness, and where the good of the whole, and not the selfish good of the individual, comes to be the supreme regard. Only through love (and service as the expression of love) can the real message of Christ be understood and men pass on towards a joyful resurrection. Love makes us humbler, and at the same time wiser. It penetrates to the heart of reality and has a faculty of discovering the truth hidden by a form. The early Christians were simple in this way because they loved one another, because [234] they loved Christ and the Christ within each other. Dr. Grensted points this out in the following words, giving us a fine summation of the attitude of the early Christians and of their approach, in those enthusiastic days, to Christ and to life in the world:

Chìa khóa để chiến thắng cái chết và để thực hiện các tiến trình chứng nghiệm ý nghĩa và bản chất của vĩnh cửu cùng tính liên tục của sự sống chỉ có thể được mặc khải an toàn khi tình thương ngự trị trên tâm thức con người, và khi điều thiện của toàn thể, chứ không phải điều thiện ích kỷ của cá nhân, trở thành mối quan tâm tối thượng. Chỉ qua tình thương, và phụng sự như biểu lộ của tình thương, thông điệp chân thật của Đức Christ mới có thể được thấu hiểu và con người mới tiến tới một sự phục sinh hoan hỉ. Tình thương làm chúng ta khiêm nhường hơn, đồng thời minh triết hơn. Nó thâm nhập đến trái tim của thực tại và có khả năng khám phá chân lý bị một hình tướng che giấu. Những tín đồ Cơ Đốc giáo sơ khai đơn sơ theo cách này vì họ yêu thương nhau, vì [234] họ yêu thương Đức Christ và Đức Christ bên trong nhau. Tiến sĩ Grensted chỉ ra điều này trong những lời sau, trao cho chúng ta một tổng kết đẹp đẽ về thái độ của các tín đồ Cơ Đốc giáo sơ khai và cách họ tiếp cận Đức Christ cùng đời sống trong thế gian, vào những ngày đầy nhiệt thành ấy:

“They spoke in plain terms of God. They did not think of Jesus of Nazareth as a crucial experiment. They knew Him as Friend and Master, and they flung their whole being into the enthusiasm of His friendship and service. Their preaching was the good news about Jesus. They assumed that men already meant something when they spoke of God, and, without challenging the inheritance which they received from Judaism, they set side by side with it the Jesus whom they had known living, and dead, and alive again. They had been through much more than a time of inexplicable miracles, healings, and voices, and a strange mastery over Nature itself, and at the end a conquest of death. If they had told the world, and us, these things alone, they would have been believed. Such stories have always found a hearing. And men would still have known nothing more of the meaning of God. But their experience had been one of such a Friendship as man had never known, of disastrous failure and a forgiveness beyond all believing, and of a new, a free, a creative life. Nothing of all this was of their own achievement. They knew they were men remade, and they knew that the mode of their remaking was love. This was a providence, a deliverance, greater and more significant than anything that the Jew had ever claimed for the Creator-God. Yet they could not think of it as other than His work, since God, as all their national tradition taught, is One. It interpreted for them, as we might put it in our more cautious way, the creative reality to which they, with all men, had looked with uncertainty and even with fear. Henceforth the central hypothesis which men call God was known as love, and everywhere He was made manifest just in so far as love had passed out from Christ to the fellowship of the Christian community.”

“Họ nói bằng những lời giản dị về Thượng đế. Họ không nghĩ đến Đức Jesus thành Nazareth như một thử nghiệm then chốt. Họ biết Ngài như Bạn Hữu và Chân sư, và họ ném trọn bản thể mình vào nhiệt tình của tình bạn và sự phụng sự Ngài. Lời rao giảng của họ là tin mừng về Đức Jesus. Họ giả định rằng con người đã có một ý nghĩa nào đó khi nói về Thượng đế, và không thách thức di sản họ nhận từ Do Thái giáo, họ đặt bên cạnh nó Đức Jesus mà họ đã biết khi sống, khi chết, và khi lại sống. Họ đã trải qua nhiều hơn một thời kỳ của những phép lạ, chữa lành và tiếng nói không thể giải thích, của một quyền chủ tể lạ lùng trên chính Thiên nhiên, và cuối cùng là sự chinh phục cái chết. Nếu họ đã nói với thế giới và với chúng ta chỉ những điều ấy thôi, họ đã được tin. Những câu chuyện như vậy luôn tìm được người lắng nghe. Và con người vẫn sẽ chẳng biết gì thêm về ý nghĩa của Thượng đế. Nhưng kinh nghiệm của họ là kinh nghiệm về một Tình Bạn mà con người chưa từng biết, về thất bại thảm hại và một sự tha thứ lớn lao đến khó tin, và về một sự sống mới, tự do, sáng tạo. Không điều nào trong tất cả điều này là thành tựu riêng của họ. Họ biết mình là những con người được làm mới, và họ biết rằng phương thức làm mới họ là tình thương. Đây là một sự quan phòng, một cuộc giải thoát, lớn lao hơn và thâm nghĩa hơn bất cứ điều gì người Do Thái từng tuyên xưng về Thượng đế-Sáng Tạo. Tuy nhiên họ không thể nghĩ về nó như điều gì khác ngoài công trình của Ngài, vì Thượng đế, như toàn bộ truyền thống dân tộc của họ dạy, là Một. Nó đã diễn giải cho họ, như chúng ta có thể nói theo cách thận trọng hơn của mình, thực tại sáng tạo mà họ, cùng mọi người, đã nhìn đến trong bất định và thậm chí trong sợ hãi. Từ đó về sau, giả thuyết trung tâm mà con người gọi là Thượng đế được biết đến như tình thương, và ở khắp nơi Ngài được biểu hiện đúng mức tình thương đã tuôn ra từ Đức Christ đến tình huynh đệ của cộng đồng tín đồ Cơ Đốc giáo.”

‘PSYCHOLOGY AND GOD’, BY L. W. GRENSTED, P. 237.

‘TÂM LÝ HỌC VÀ THƯỢNG ĐẾ’, CỦA L. W. GRENSTED, TR. 237.

Christ had risen, and by His Resurrection proved that humanity had in it the seed of life, and that there was no death for the man who could follow in the steps of the Master.

Đức Christ đã sống lại, và bằng Sự Phục Sinh của Ngài chứng minh rằng nhân loại có trong mình hạt giống của sự sống, và rằng không có cái chết đối với con người có thể bước theo dấu chân của Chân sư.

[235] In the past, being wholly engrossed with consideration of the Crucifixion, we have been apt to forget the fact of the Resurrection. Yet on Easter Day, throughout the world, believers everywhere express their belief in the risen Christ and in the life beyond the grave. They have argued along many lines as to the possibility of His rising, and whether He rose as a human being or as the Son of God. They have been deeply concerned to prove that because He rose again, so shall we rise, provided we believe in Him. In order to meet the theological need of proving that God is love, we have invented a place of discipline, called by many names, such as purgatory, or the various stages of the different faiths on the road of departed spirits to heaven, because so many millions die, or have died, without ever having heard of Christ. Therefore belief in Him as an historical figure is not possible for them. We have evolved such doctrines as conditional immortality, and the atonement through the blood of Jesus, in an endeavour to glorify the personality of Jesus and safe-guard Christian believers, and to reconcile human interpretations with the truth in the Gospels. We have taught the doctrine of hell-fire and eternal punishment, and then tried to fit it in to the general belief that God is love.

[235] Trong quá khứ, vì hoàn toàn bị cuốn hút vào việc xem xét Cuộc Đóng Đinh, chúng ta thường quên sự kiện Phục Sinh. Tuy nhiên vào Ngày Phục Sinh, khắp thế giới, các tín đồ ở mọi nơi bày tỏ niềm tin của họ vào Đức Christ phục sinh và vào sự sống bên kia nấm mồ. Họ đã tranh luận theo nhiều hướng về khả năng Ngài sống lại, và liệu Ngài sống lại như một con người hay như Con của Thượng đế. Họ quan tâm sâu sắc đến việc chứng minh rằng vì Ngài đã sống lại, chúng ta cũng sẽ sống lại, miễn là chúng ta tin vào Ngài. Để đáp ứng nhu cầu thần học nhằm chứng minh rằng Thượng đế là tình thương, chúng ta đã phát minh một nơi rèn luyện, được gọi bằng nhiều tên, như luyện ngục, hoặc các giai đoạn khác nhau của các tín ngưỡng khác nhau trên con đường của các linh hồn đã khuất đến thiên đường, bởi vì quá nhiều triệu người chết, hoặc đã chết, mà chưa bao giờ nghe nói đến Đức Christ. Do đó, đối với họ, niềm tin vào Ngài như một nhân vật lịch sử là điều không thể. Chúng ta đã phát triển những giáo lý như bất tử có điều kiện, và sự chuộc tội qua máu của Đức Jesus, trong nỗ lực tôn vinh phàm ngã của Đức Jesus và bảo vệ các tín đồ Cơ Đốc giáo, cũng như dung hòa các diễn giải của con người với chân lý trong các Phúc Âm. Chúng ta đã dạy giáo lý về lửa địa ngục và hình phạt vĩnh cửu, rồi cố gắng ghép nó vào niềm tin chung rằng Thượng đế là tình thương.

Yet the truth is that Christ died and rose again because He was divinity immanent in a human body. Through the processes of evolution and initiation He demonstrated to us the meaning and purpose of the divine life present in Him and in us all. Because Christ was human, He rose again. Because He was also divine, He rose again, and in the enacting of the drama of resurrection He revealed to us that great concept of the continuity of unfoldment which it has ever been the task of the Mysteries of all time to reveal.

Tuy nhiên chân lý là Đức Christ đã chết và sống lại vì Ngài là thiên tính nội tại trong một thân thể con người. Qua các tiến trình tiến hoá và điểm đạo, Ngài đã chứng minh cho chúng ta ý nghĩa và mục đích của sự sống thiêng liêng hiện diện trong Ngài và trong tất cả chúng ta. Vì Đức Christ là con người, Ngài đã sống lại. Vì Ngài cũng là thiêng liêng, Ngài đã sống lại, và trong việc thực hiện vở kịch phục sinh, Ngài mặc khải cho chúng ta quan niệm vĩ đại về tính liên tục của sự khai mở, điều vốn luôn là nhiệm vụ của các Bí Nhiệm mọi thời đại phải mặc khải.

Again and again we have found that the three episodes related in the Gospel story are not isolated happenings in the life of Jesus of Nazareth, but that they have been repeatedly undergone in the secret places of the Temples of the Mysteries, from the dawn of time. The Saviours of the past were all [236] subjected to the processes of death in some form or other, but they all rose again or were translated to glory. In the initiation ceremonies this burial and resurrection at the end of three days was a familiar ceremonial. History tells us of many of these Sons of God who died and rose again, and finally ascended into Heaven. We find, for instance, that “the Obsequies of Adonis were celebrated in Alexandria (in Egypt) with the utmost display. His image was carried with great solemnity to a tomb, which served the purpose of rendering him the last honours. Before singing his return to life, there were mournful rites celebrated in honour of his suffering and his death. The large wound which he received was shown, just as the wound was shown which was made to Christ by the thrust of the spear. The feast of his resurrection was fixed at the 25th of March.” (‘Origin of Religious Belief’, by Dupuis, p. 161.) There is the same legend attached to the names of Tammuz, to Zoroaster, to Esculapius. To the latter, Ovid addressed the following words:

Hết lần này đến lần khác, chúng ta đã thấy rằng ba biến cố được thuật lại trong câu chuyện Phúc Âm không phải là những sự kiện cô lập trong đời sống Đức Jesus thành Nazareth, mà đã nhiều lần được trải qua trong những nơi bí mật của các Đền thờ Bí Nhiệm, từ buổi bình minh của thời gian. Các Đấng Cứu Thế trong quá khứ đều [236] chịu các tiến trình của cái chết dưới hình thức này hay hình thức khác, nhưng tất cả Các Ngài đều sống lại hoặc được chuyển vào vinh quang. Trong các nghi lễ điểm đạo, việc chôn cất và phục sinh này vào cuối ba ngày là một nghi lễ quen thuộc. Lịch sử kể cho chúng ta về nhiều Con của Thượng đế đã chết và sống lại, rồi cuối cùng thăng lên Thiên Đàng. Chẳng hạn, chúng ta thấy rằng “Tang lễ của Adonis được cử hành tại Alexandria, ở Ai Cập, với sự phô diễn hết mức. Tượng của Ngài được rước với nghi thức trọng thể đến một ngôi mộ, dùng để dâng cho Ngài những vinh dự cuối cùng. Trước khi hát mừng Ngài trở lại sự sống, các nghi thức bi thương được cử hành để tôn vinh sự đau khổ và cái chết của Ngài. Vết thương lớn mà Ngài nhận được được trưng bày, giống như vết thương do mũi giáo đâm vào Đức Christ cũng được trưng bày. Lễ phục sinh của Ngài được ấn định vào ngày 25 tháng Ba.” (‘Nguồn Gốc của Niềm Tin Tôn Giáo’, của Dupuis, tr. 161.) Cùng một huyền thoại ấy gắn với các tên Tammuz, Zoroaster, Esculapius. Với vị sau, Ovid đã ngỏ những lời sau:

“Hail, Great Physician of the world! All hail!

“Kính chào, Y Sư Vĩ Đại của thế gian! Xin kính chào!

Hail, mighty Infant who in years to come

Kính chào, Hài Nhi hùng mạnh, Đấng trong những năm sắp tới

Shall heal the nations and defraud the tomb.

Sẽ chữa lành các dân tộc và tước đoạt quyền của nấm mồ.

Swift be Thy growth, Thy triumphs unconfined

Nguyện Ngài lớn nhanh, chiến thắng của Ngài không giới hạn

Make kingdoms thicken and increase mankind.

Làm các vương quốc thêm đông và gia tăng nhân loại.

~

~

Thy daring art shall animate the dead,

Nghệ thuật táo bạo của Ngài sẽ làm người chết sống lại,

And draw the thunder on Thy guilty head;

Và kéo sấm sét xuống trên đầu có tội của Ngài;

Then shalt Thou die, but from the dark abode

Rồi Ngài sẽ chết, nhưng từ nơi cư ngụ tối tăm

Shalt rise victorious and be twice a God.”

Sẽ trỗi dậy chiến thắng và hai lần là một vị thần.”

OVID’S ‘METAMORPHOSES’, AS RENDERED BY ADDISON, QUOTED IN TAYLOR’S ‘DIEGESIS’, P. 148.

‘BIẾN HÌNH’ CỦA OVID, DO ADDISON DIỄN DỊCH, TRÍCH TRONG ‘DIEGESIS’ CỦA TAYLOR, TR. 148.

These words might have been appropriately addressed to Christ, and they serve to indicate the antiquity of the Mystery Teaching which, with unbroken continuity, has revealed the divinity in Man and shown him the Way of a Saviour. But in ancient times these mysteries were enacted in [237] secret, and the rites of initiation were administered only to those who were fitted to pass through the five great experiences from the Birth to the Resurrection. The uniqueness of Christ’s work lay in the fact that He was the first to enact the whole of the initiation ceremonial rites and ritual publicly, before the world at large, thus giving to humanity a demonstration of divinity centred in one person, so that all could see, could know, believe and follow in His steps.

Những lời này hẳn đã có thể được ngỏ một cách thích đáng với Đức Christ, và chúng cho thấy tính cổ xưa của Giáo Huấn Bí Nhiệm, vốn với tính liên tục không gián đoạn, đã mặc khải thiên tính trong Con Người và chỉ cho y Con Đường của một Đấng Cứu Thế. Nhưng thời xưa, các bí nhiệm này được thực hiện trong [237] bí mật, và các nghi thức điểm đạo chỉ được trao cho những ai đủ tư cách đi qua năm kinh nghiệm lớn từ Giáng Sinh đến Phục Sinh. Tính độc đáo trong công việc của Đức Christ nằm ở sự kiện rằng Ngài là Đấng đầu tiên thực hiện toàn bộ các nghi thức và lễ thức điểm đạo một cách công khai, trước toàn thế giới, nhờ đó trao cho nhân loại một sự chứng minh về thiên tính tập trung trong một người, để tất cả có thể thấy, có thể biết, tin và bước theo dấu chân Ngài.

The same stories are told of Hercules, of Baldur, of Mithra, of Bacchus, and of Osiris, to mention only a few of a large number. One of the early Church Fathers, Firmicus Maternus, tells us that the mysteries of Osiris bear a close resemblance to the Christian teaching, and that after the resurrection of Osiris his friends rejoice together, saying, “We have found him.” Annie Besant points out in an illuminating passage that:

Cũng những câu chuyện ấy được kể về Hercules, Baldur, Mithra, Bacchus và Osiris, chỉ nêu vài vị trong số rất nhiều. Một trong các Giáo phụ đầu tiên của Giáo hội, Firmicus Maternus, nói với chúng ta rằng các bí nhiệm của Osiris rất giống với giáo huấn Cơ Đốc giáo, và rằng sau sự phục sinh của Osiris, bạn hữu Ngài cùng vui mừng, nói rằng: “Chúng ta đã tìm thấy Ngài.” Bà Annie Besant chỉ ra trong một đoạn văn soi sáng rằng:

“In the Christian Mysteries—as in the ancient Egyptian, Chaldean, and others—there was an outer symbolism which expressed the stages through which the man was passing. He was brought into the chamber of Initiation, and was stretched on the ground with his arms extended, sometimes on a cross of wood, sometimes merely on the stone floor, in the posture of a crucified man. He was then touched with the thyrsus on the heart—the ‘spear’ of the crucifixion—and, leaving the body, he passed into the worlds beyond, the body falling into a deep trance, the death of the crucified. The body was placed in a sarcophagus of stone, and there left, carefully guarded. Meanwhile the man himself was treading first the strange obscure regions called ‘the heart of the earth,’ and thereafter the heavenly mount, where he put on the perfected bliss body, now fully organised as a vehicle of consciousness. In that he returned to the body of flesh, to re-animate it. The cross bearing that body, or the entranced and rigid body, if no cross had been used, was lifted out of the sarcophagus and placed on a sloping surface, facing the east, ready for the rising of the sun on the third day. At the moment that the rays of the sun touched the face, the Christ, the perfected Initiate or Master, re-entered the body, glorifying it by the bliss body He was wearing, changing the body of flesh by contact with the body of bliss, giving [238] it new properties, new powers, new capacities, transmuting it into His own likeness. That was the Resurrection of the Christ, and thereafter the body of flesh itself was changed, and took on a new nature.”

“Trong các Bí Nhiệm Cơ Đốc giáo—cũng như trong các Bí Nhiệm Ai Cập, Chaldea cổ đại và những nơi khác—có một biểu tượng bên ngoài diễn tả các giai đoạn mà con người đang đi qua. Y được đưa vào phòng Điểm đạo, và được đặt nằm trên đất với hai tay dang rộng, đôi khi trên một thập giá bằng gỗ, đôi khi chỉ trên sàn đá, trong tư thế của một người bị đóng đinh. Rồi y được chạm vào trái tim bằng cây trượng thyrsus—‘ngọn giáo’ của cuộc đóng đinh—và, rời khỏi thể xác, y đi vào các thế giới bên kia, thể xác rơi vào một cơn xuất thần sâu, cái chết của người bị đóng đinh. Thể xác được đặt trong một quan tài đá và để lại đó, được canh giữ cẩn mật. Trong khi đó, chính con người ấy trước hết đang bước qua những miền xa lạ, u tối, gọi là ‘trái tim của đất’, rồi sau đó là ngọn núi thiên thượng, nơi y khoác lấy thể chí phúc hoàn thiện, nay đã được tổ chức đầy đủ như một vận cụ của tâm thức. Trong thể ấy, y trở lại với thể xác bằng thịt để làm nó sống lại. Thập giá mang thể xác ấy, hoặc thể xác trong trạng thái xuất thần và cứng đờ nếu không dùng thập giá, được nâng ra khỏi quan tài đá và đặt trên một mặt nghiêng, hướng về phía đông, sẵn sàng cho mặt trời mọc vào ngày thứ ba. Vào khoảnh khắc các tia mặt trời chạm vào khuôn mặt, Đức Christ, điểm đạo đồ hoàn thiện hay Chân sư, trở lại thể xác, làm nó vinh quang bằng thể chí phúc mà Ngài đang mang, biến đổi thân thể bằng thịt qua sự tiếp xúc với thể chí phúc, ban cho [238] nó những đặc tính mới, những quyền năng mới, những năng lực mới, chuyển hoá nó theo hình ảnh của chính Ngài. Đó là Sự Phục Sinh của Đức Christ, và sau đó chính thân thể bằng thịt được biến đổi và khoác lấy một bản chất mới.”

‘ESOTERIC CHRISTIANITY’, BY ANNIE BESANT, PP. 247, 248, 249.

‘CƠ ĐỐC GIÁO NỘI MÔN’, CỦA ANNIE BESANT, TR. 247, 248, 249.

Thus we find that the resurrection story is of very ancient date, and that God has always held before humanity, through the Mysteries and through His illumined Sons, the fact of immortality, as before our Christian world, through the death and resurrection of His beloved Son, Jesus Christ.

Như vậy, chúng ta thấy rằng câu chuyện phục sinh có từ rất cổ xưa, và rằng Thượng đế luôn đặt trước nhân loại, qua các Bí Nhiệm và qua các Người Con được soi sáng của Ngài, sự kiện bất tử, cũng như trước thế giới Cơ Đốc giáo của chúng ta, qua cái chết và sự phục sinh của Người Con yêu dấu của Ngài, Đức Jesus Christ.

This whole problem of death and immortality is engrossing a great deal of public attention at this time. The World War brought the fact of death before the public consciousness in a new and arresting manner. There was scarcely a family in over twenty nations which had not been bereft by death, in some form or other. The world has passed through a process of dying, and at the present time the mystery of the Resurrection is becoming a theme of major importance in men’s minds. The thought of the Resurrection is coming closer, and its significance has been the central idea of the Masonic Fraternity down the ages, forming the focal point of the work of the sublime Third Degree. In close relation to this Masonic “raising” can be placed a little-known sermon of the Buddha, in which He teaches His disciples the significance of the “five points of Friendship,” and thus links up these five points, the five crises in the life of Christ and the five points in the Masonic legend. All these references serve to show the continuity of revelation of which the Resurrection (with its subsequent Ascension) was the climaxing event for the Occident.

Toàn bộ vấn đề về cái chết và bất tử này đang thu hút rất nhiều sự chú ý của công chúng vào lúc này. Chiến Tranh Thế Giới đã đặt sự kiện cái chết trước tâm thức công chúng theo một cách mới mẻ và gây chấn động. Hầu như không có một gia đình nào trong hơn hai mươi quốc gia lại không chịu tang bởi cái chết, dưới hình thức này hay hình thức khác. Thế giới đã đi qua một tiến trình chết đi, và vào thời điểm hiện tại, bí nhiệm của Sự Phục Sinh đang trở thành một chủ đề có tầm quan trọng lớn trong trí tuệ con người. Tư tưởng về Sự Phục Sinh đang đến gần hơn, và thâm nghĩa của nó đã là ý tưởng trung tâm của Huynh Đệ Đoàn Tam Điểm qua các thời đại, tạo thành tiêu điểm của công việc thuộc Cấp Ba cao quý. Trong mối liên hệ mật thiết với việc “nâng dậy” của Tam Điểm này có thể đặt một bài thuyết giảng ít được biết đến của Đức Phật, trong đó Ngài dạy các đệ tử của Ngài thâm nghĩa của “năm điểm của Tình Bạn”, và như vậy liên kết năm điểm này, năm cuộc khủng hoảng trong đời sống Đức Christ và năm điểm trong huyền thoại Tam Điểm. Tất cả những tham chiếu này cho thấy tính liên tục của sự mặc khải mà Sự Phục Sinh, cùng với Sự Thăng Thiên sau đó, là biến cố đạt đỉnh đối với phương Tây.

The outstanding need of Christianity today is to emphasise the living, risen Christ. We have argued too long over the death of Christ, seeking to impose a narrow sectarian Christ upon the world. We have fed the fires of separation by our Christian divisions, churches, sects and “isms.” “Their name [239] is legion,” and most of them are founded upon some sectarian presentation of the dead Christ, and of the earlier aspects of His story. Let us now unite on the basis of the risen Christ—Christ alive today, Christ the source of inspiration and the founder of the kingdom of God; Christ, the cosmic Christ, eternally on the Cross, yet eternally alive; Christ, the historical Saviour, the founder of Christianity, watching over His Church; Christ, the mystic, mythic Christ, portraying upon the canvas of the Gospels the episodes of unfoldment so that all who live may know and follow; and Christ, alive today in every human heart, the guarantee of, and the urge towards divinity, which humanity so constantly exhibits. Because of the presence of Christ in man, the conviction of divinity and of man’s consequent immortality seem to be inherent in the human consciousness. It will inevitably occupy more and more of man’s attention until it is demonstrated and proven; meanwhile that something apparently persists beyond physical death has been demonstrated. The fact of immortality has not been proven as yet, though it constitutes a basic belief in the minds of millions, and where such a belief is universally found, there must indubitably be a basis for it.

Nhu cầu nổi bật của Cơ Đốc giáo ngày nay là nhấn mạnh Đức Christ sống động, phục sinh. Chúng ta đã tranh luận quá lâu về cái chết của Đức Christ, tìm cách áp đặt lên thế giới một Đức Christ giáo phái hẹp hòi. Chúng ta đã nuôi dưỡng những ngọn lửa chia rẽ bằng các phân phái, giáo hội, giáo phái và các “chủ nghĩa” Cơ Đốc giáo của mình. “Tên của chúng [239] là đạo binh,” và phần lớn trong số đó được đặt nền trên một cách trình bày giáo phái nào đó về Đức Christ đã chết, và về các phương diện trước đó của câu chuyện Ngài. Giờ đây chúng ta hãy hợp nhất trên nền tảng Đức Christ phục sinh—Đức Christ đang sống hôm nay, Đức Christ là nguồn cảm hứng và là Đấng sáng lập Thiên Giới; Đức Christ, Đức Christ vũ trụ, vĩnh cửu trên Thập giá, nhưng vẫn vĩnh cửu sống động; Đức Christ, Đấng Cứu Thế lịch sử, Đấng sáng lập Cơ Đốc giáo, trông nom Giáo hội của Ngài; Đức Christ, Đức Christ thần bí và huyền thoại, mô tả trên bức nền các Phúc Âm những biến cố của sự khai mở để tất cả những ai sống có thể biết và đi theo; và Đức Christ, sống động hôm nay trong mọi trái tim con người, là bảo chứng của thiên tính và là thôi thúc hướng tới thiên tính mà nhân loại biểu lộ hết sức thường xuyên. Vì sự hiện diện của Đức Christ trong con người, niềm xác tín về thiên tính và do đó về sự bất tử của con người dường như vốn có trong tâm thức con người. Nó chắc chắn sẽ ngày càng chiếm nhiều sự chú ý của con người cho đến khi được chứng minh và xác lập; trong khi đó, điều gì đó dường như vẫn tồn tại vượt qua cái chết hồng trần đã được chứng minh. Sự kiện bất tử vẫn chưa được chứng minh, dù nó cấu thành một niềm tin căn bản trong trí tuệ của hàng triệu người, và nơi nào một niềm tin như vậy được tìm thấy một cách phổ quát, chắc chắn phải có một nền tảng cho nó.

The entire question of immortality is closely linked with the problem of divinity and of the unseen, subjective world, which seems to underlie the tangible and visible, frequently making its presence felt. Working therefore on the premise of the unseen and invisible, it is probable that we shall eventually penetrate to it and discover that it has always been with us, but that we have been blinded and unable to recognise its presence. Always some have done so, and their note sounds forth, strengthening our belief, endorsing our hope, and guaranteeing to us the eventual experience.

Toàn bộ vấn đề bất tử gắn bó mật thiết với vấn đề thiên tính và thế giới chủ quan, vô hình, dường như nằm bên dưới cái hữu hình và khả kiến, thường làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận. Do đó, khi làm việc trên tiền đề về cái không thấy và vô hình, có khả năng cuối cùng chúng ta sẽ thâm nhập vào nó và khám phá rằng nó đã luôn ở cùng chúng ta, nhưng chúng ta đã bị che mắt và không thể nhận ra sự hiện diện của nó. Luôn luôn đã có một số người làm được điều đó, và âm điệu của họ vang lên, củng cố niềm tin của chúng ta, xác nhận hy vọng của chúng ta, và bảo đảm cho chúng ta kinh nghiệm cuối cùng.

How then shall we recognise truth or reality when we meet it? How shall we know that a doctrine is of God, or not? It is so easy to make mistakes, to believe what we want to believe, and to deceive ourselves in the desire to have our own ideas endorsed by other minds. The words of Dr. [240] Streeter have here a definite note of encouragement because they indicate requirements that are possible for us to follow:

Vậy chúng ta sẽ nhận ra chân lý hay thực tại như thế nào khi gặp nó? Làm sao chúng ta biết một giáo lý có thuộc về Thượng đế hay không? Rất dễ mắc sai lầm, tin điều mình muốn tin, và tự lừa dối mình trong mong muốn thấy các ý tưởng riêng được trí tuệ của những người khác xác nhận. Những lời của Tiến sĩ [240] Streeter ở đây có một âm điệu khích lệ rõ rệt, vì chúng chỉ ra những yêu cầu mà chúng ta có thể noi theo:

“Even self-deception, the last stronghold of the enemy, will lose its power in proportion as the individual conforms to certain conditions which (in the view of the biblical writers) must be fulfilled to qualify him for the reception of an authentic message from the Divine—whether at the level of the epoch-creating prophet or of the simple person rightly guided on the path of everyday duty.

“Ngay cả sự tự lừa dối, thành trì cuối cùng của kẻ thù, cũng sẽ mất quyền lực tương ứng với mức độ cá nhân tuân theo một số điều kiện nhất định mà, theo quan điểm của các tác giả Kinh Thánh, phải được hoàn thành để làm cho y đủ tư cách tiếp nhận một thông điệp xác thực từ Đấng Thiêng Liêng—dù ở cấp độ của vị tiên tri tạo ra một kỷ nguyên hay của người bình thường được hướng dẫn đúng trên con đường bổn phận hằng ngày.

“These are mainly four:

“Chủ yếu có bốn điều:

“(1) ‘I would fain be to the Eternal Goodness what his own right hand is to a man.’ Absolute devotion or surrender of the self to the Divine. ‘Here am I, send me,’ says Isaiah; and when Christ addressed to his earliest followers the words ‘Follow Me,’ we are told they left all and followed Him.

“(1) ‘Tôi ao ước được trở thành đối với Thiện Tính Vĩnh Cửu như chính bàn tay phải của một người đối với người ấy.’ Sự tận hiến tuyệt đối hay sự quy phục của bản ngã trước Đấng Thiêng Liêng. ‘Này con đây, xin sai con đi,’ Isaiah nói; và khi Đức Christ ngỏ với những môn đồ đầu tiên của Ngài lời ‘Hãy theo Ta,’ chúng ta được cho biết họ đã bỏ tất cả và đi theo Ngài.

“(2) Self-knowledge, and the consequent admission of failure. The promise ‘I will guide thee with mine eye,’ in the Psalm quoted above, is given to the man who has confessed his iniquity and thereby established a right relationship with God. The first response of Isaiah to the divine call was that flash of self-knowledge which brings home to a man a conviction of unworthiness and sin: ‘I am a man of unclean lips.’…

“(2) Sự tự biết mình, và sự thừa nhận thất bại theo sau đó. Lời hứa ‘Ta sẽ hướng dẫn ngươi bằng mắt Ta,’ trong Thi Thiên được trích ở trên, được trao cho người đã thú nhận tội lỗi mình và nhờ đó thiết lập một mối quan hệ đúng với Thượng đế. Đáp ứng đầu tiên của Isaiah trước tiếng gọi thiêng liêng là tia lóe của sự tự biết mình, điều đem về cho con người một niềm xác tín về sự bất xứng và tội lỗi: ‘Tôi là người có môi ô uế.’…

“(3) ‘Tarry ye … until ye be clothed with power from on high’ (St. Luke XXIV.49). But this life of power, a power instinct with love and joy and peace, can only with difficulty be lived continuously except in a fellowship, within which mutual challenge, mutual encouragement and mutual confession of failure are easy….

“(3) ‘Các con hãy chờ… cho đến khi được mặc lấy quyền năng từ trên cao’ (Thánh Luke XXIV.49). Nhưng đời sống quyền năng này, một quyền năng thấm nhuần tình thương, sự hoan hỉ và bình an, chỉ có thể được sống liên tục một cách khó khăn nếu không ở trong một tình huynh đệ, trong đó việc cùng nhau thử thách, cùng nhau khích lệ và cùng nhau thú nhận thất bại là điều dễ dàng….

“(4) Entrance into such a life and such a fellowship involves some measure of suffering, sacrifice, or humiliation. ‘Whosoever doth not bear his own cross, and come after me, cannot be my disciple’ (Luke XIV.27). It is perhaps not an accident that already in the Old Testament the promise ‘Thine eyes shall hear a word behind thee, saying This is the way, walk ye in it,’ is preceded by the words ‘and though the Lord give you the bread of adversity and the water of affliction.’ ”

“(4) Việc bước vào một đời sống như thế và một tình huynh đệ như thế bao hàm một mức độ nào đó của đau khổ, hi sinh, hay hạ mình. ‘Ai không vác thập giá của mình và theo Ta thì không thể là đệ tử của Ta’ (Luke XIV.27). Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà ngay trong Cựu Ước, lời hứa ‘Tai ngươi sẽ nghe một lời phía sau ngươi, nói rằng Đây là con đường, hãy đi trong đó,’ lại được đặt trước bởi những lời ‘và dù Chúa ban cho các ngươi bánh của nghịch cảnh và nước của khổ đau.’ ”

‘THE GOD WHO SPEAKS’, BY B. H. STREETER, PP. 175, 176.

‘ĐỨC THƯỢNG ĐẾ PHÁN DẠY’, CỦA B. H. STREETER, TR. 175, 176.

It takes courage to face the fact of death, and to formulate with definiteness one’s beliefs upon the subject. It is a statistical fact that about fifty million people die every year. [241] Fifty million people are more than the entire population of Great Britain, and constitute a large group of human beings who make the great adventure. If this is so, the establishing of the verity of Christ’s Resurrection and the truth of immortality are of far greater importance than the individual may deem. We are too apt to study these problems either from the scientific angle or from a purely selfish individual one. Death is the only event which we can predict with absolute certainty, and yet it is the event about which the majority of human beings refuse to think at all until faced with the imminent and personal issue. People face death in many different ways; some bring to the adventure a feeling of self-pity, and are so occupied with what they have to leave behind, what is about to end for them, and the relinquishing of all they have gathered in life, that the true significance of the inevitable future fails to arrest their attention. Others face it with courage, making the best of what may not be evaded, and look up into the face of death with a gallant gesture because there is nothing else they can do. Their pride helps them to encounter the event. Still others refuse altogether to consider the possibility; they hypnotise themselves into a condition wherein the thought of death is refused all lodgement in their consciousness, and they will not consider its possibility, so that when it comes, it catches them unawares; they are left helpless and unable to do more than simply die. The Christian attitude, as a rule, is more definitely an acceptance of the will of God, with the resolution to regard the happening as therefore the best of happenings, even if it does not seem so from the angle of environment and circumstance. A steadfast belief in God and His predestined purpose for the individual carries them triumphantly through the gate of death, but if one told them that this was simply another form of the fatalism of the Eastern thinker, and a fixed belief in an unalterable destiny, they would regard it as untrue. They hide behind the name of God.

Cần có can đảm để đối diện với sự kiện tử vong, và để xác lập một cách dứt khoát những niềm tin của mình về đề tài ấy. Đó là một sự kiện thống kê rằng mỗi năm có khoảng năm mươi triệu người chết. [241] Năm mươi triệu người còn nhiều hơn toàn bộ dân số Đại Anh, và tạo thành một nhóm đông đảo những con người đang thực hiện cuộc phiêu lưu lớn. Nếu quả như vậy, thì việc xác lập chân lý về Sự Phục Sinh của Đức Christ và sự thật về tính bất tử có tầm quan trọng lớn hơn nhiều so với điều cá nhân có thể nghĩ. Chúng ta quá dễ có khuynh hướng nghiên cứu những vấn đề này hoặc từ góc độ khoa học, hoặc từ một góc độ cá nhân thuần túy ích kỷ. Cái chết là biến cố duy nhất mà chúng ta có thể tiên đoán với sự chắc chắn tuyệt đối, vậy mà đó lại là biến cố mà đa số con người nhất quyết không suy nghĩ đến, cho đến khi phải đối diện với vấn đề cận kề và riêng tư ấy. Người ta đối diện với cái chết theo nhiều cách khác nhau; một số người mang vào cuộc phiêu lưu ấy cảm giác tự thương hại, và quá bận tâm với những gì họ phải bỏ lại phía sau, với những gì sắp chấm dứt đối với họ, và với việc phải buông bỏ tất cả những gì họ đã gom góp trong đời, đến nỗi thâm nghĩa đích thực của tương lai không tránh khỏi ấy không thu hút được sự chú ý của họ. Những người khác đối diện với nó bằng can đảm, tận dụng hết mức điều không thể tránh né, và ngẩng nhìn vào khuôn mặt của cái chết bằng một cử chỉ dũng cảm, vì họ không còn điều gì khác có thể làm. Lòng kiêu hãnh giúp họ gặp gỡ biến cố ấy. Lại có những người khác hoàn toàn từ chối xem xét khả năng ấy; họ tự thôi miên mình vào một trạng thái trong đó ý nghĩ về cái chết bị từ chối mọi chỗ đứng trong tâm thức của họ, và họ sẽ không xem xét khả năng ấy, để rồi khi nó đến, nó bắt gặp họ không hề chuẩn bị; họ bị bỏ lại trong tình trạng bất lực và không thể làm gì hơn ngoài việc đơn giản là chết. Thái độ Cơ Đốc giáo, như một quy luật, rõ ràng hơn là sự chấp nhận Ý Chí của Thượng Đế, với quyết tâm xem biến cố ấy vì thế là biến cố tốt đẹp nhất, cho dù từ góc độ hoàn cảnh và môi trường nó không có vẻ như vậy. Một niềm tin kiên định vào Thượng Đế và Thiên Ý đã được tiền định của Ngài dành cho cá nhân đưa họ chiến thắng đi qua cánh cửa tử vong; nhưng nếu có ai nói với họ rằng đó chỉ là một hình thức khác của thuyết định mệnh nơi nhà tư tưởng Đông phương, và là niềm tin cố định vào một định mệnh bất khả biến, họ sẽ xem điều ấy là không đúng. Họ ẩn núp đằng sau danh xưng Thượng Đế.

Death can, however, be more than these things, and can be met in a different way. It can be made to hold a definite [242] place in life and thought, and we can prepare for it as something which cannot be evaded, but which is simply the Bringer of Changes. Thus we make the process of death a planned part of our entire life purpose. We can live with the consciousness of immortality, and it will give an added colouring and beauty to life; we can foster the awareness of our future transition, and live with the expectation of its wonder. Death thus faced, and regarded as a prelude to further living experience, takes on a different meaning. It becomes a mystical experience, a form of initiation, finding its culminating point in the Crucifixion. All previous lesser renunciations prepare us for the great renunciation; all earlier deaths are but the prelude for the stupendous episode of dying. Death brings us release—temporary perhaps, though eventually permanent—from the body nature, from existence on the physical plane and its visible experience. It is a setting free from limitation; and whether one believes (as many millions do) that death is only an interlude in a life of steadily accumulating experience, or the end of all such experience (as many other millions hold), there is no denying the fact that it marks a definite transition from one state of consciousness into another. If one believes in immortality and the soul, this transition may make for an intensification of consciousness; while if the materialistic point of view dominates, it may indicate the end of conscious existence. The crucial question is, therefore: Is that which we call the soul immortal? What is the meaning of immortality?

Tuy nhiên, cái chết có thể còn hơn những điều ấy, và có thể được gặp gỡ theo một cách khác. Nó có thể được dành cho một vị trí xác định [242] trong đời sống và tư tưởng, và chúng ta có thể chuẩn bị cho nó như một điều không thể tránh né, nhưng chỉ đơn giản là Đấng Mang Lại Những Thay Đổi. Như thế, chúng ta biến tiến trình tử vong thành một phần đã được hoạch định trong toàn bộ mục đích đời sống của mình. Chúng ta có thể sống với tâm thức về tính bất tử, và điều đó sẽ đem lại cho đời sống thêm sắc thái và vẻ đẹp; chúng ta có thể nuôi dưỡng sự nhận biết về cuộc chuyển tiếp tương lai của mình, và sống trong niềm mong đợi điều kỳ diệu của nó. Khi được đối diện như thế, và được xem như khúc dạo đầu cho kinh nghiệm sống xa hơn, cái chết mang một ý nghĩa khác. Nó trở thành một kinh nghiệm thần bí, một hình thức điểm đạo, đạt đến điểm tột đỉnh của nó trong Sự Đóng Đinh. Mọi sự từ bỏ nhỏ hơn trước đó chuẩn bị chúng ta cho sự từ bỏ lớn; mọi cái chết trước đó chỉ là khúc dạo đầu cho biến cố phi thường của sự chết. Cái chết đem lại cho chúng ta sự giải thoát—có lẽ tạm thời, dù cuối cùng là vĩnh viễn—khỏi bản chất thể xác, khỏi sự hiện hữu trên cõi hồng trần và kinh nghiệm hữu hình của nó. Đó là sự giải phóng khỏi giới hạn; và dù người ta tin rằng cái chết chỉ là một khoảng ngắt trong một đời sống của kinh nghiệm tích lũy đều đặn, như nhiều triệu người tin, hay là sự kết thúc của mọi kinh nghiệm như thế, như nhiều triệu người khác chủ trương, thì cũng không thể phủ nhận sự kiện rằng nó đánh dấu một chuyển tiếp xác định từ một trạng thái tâm thức này sang một trạng thái khác. Nếu người ta tin vào tính bất tử và linh hồn, chuyển tiếp này có thể tạo nên sự tăng cường tâm thức; còn nếu quan điểm duy vật chi phối, nó có thể chỉ ra sự kết thúc của hiện hữu có ý thức. Do đó, câu hỏi then chốt là: Điều mà chúng ta gọi là linh hồn có bất tử không? Ý nghĩa của tính bất tử là gì?

It is urgent today that we recover some form of faith in the inner subjective world, and in our relation to it. Upon this, the success of the work and message of Christ must rise or fall. These are days wherein everything is being questioned—and the fact of the soul and its immortality perhaps most of all. This is a necessary and valuable stage, provided we go on seeking answers to these questions.

Ngày nay, điều cấp bách là chúng ta phải khôi phục một hình thức đức tin nào đó vào thế giới chủ quan bên trong, và vào mối liên hệ của chúng ta với thế giới ấy. Trên điều này, sự thành công của công việc và thông điệp của Đức Christ phải đứng vững hay sụp đổ. Đây là những ngày mà mọi sự đều bị chất vấn—và có lẽ sự kiện về linh hồn cùng tính bất tử của nó bị chất vấn hơn hết. Đây là một giai đoạn cần thiết và có giá trị, miễn là chúng ta tiếp tục tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi ấy.

Many may regard these “moral disturbances” as hopeful indications of an emergence from the static condition in all [243] realms of human thought which marked the early part of the last century, and that we are today on the verge of a new era of truer spiritual values. But the newer structures of faith and conduct must have their foundations deep in the best that the past has to give. The ideals which Christ enunciated still remain the highest yet given in the continuity of revelation, and He Himself prepared us for the emergence of those truths which will mark the time of the end and the overcoming of the last enemy, whose name is Death.

Nhiều người có thể xem những “xáo trộn luân lý” này là các dấu hiệu đầy hy vọng của một sự trỗi dậy khỏi tình trạng tĩnh tại trong mọi [243] lĩnh vực tư tưởng nhân loại, vốn đánh dấu phần đầu của thế kỷ trước, và rằng ngày nay chúng ta đang ở ngưỡng cửa một kỷ nguyên mới của những giá trị tinh thần chân thật hơn. Nhưng những cấu trúc mới hơn của đức tin và hành vi phải có nền móng ăn sâu vào những gì tốt đẹp nhất mà quá khứ có thể trao lại. Các lý tưởng mà Đức Christ đã công bố vẫn còn là những lý tưởng cao nhất từng được ban ra trong dòng liên tục của sự mặc khải, và chính Ngài đã chuẩn bị chúng ta cho sự xuất hiện của những chân lý sẽ đánh dấu thời kỳ sau rốt và sự chiến thắng kẻ thù cuối cùng, tên của nó là Cái Chết.

This questioning of belief, and this wrestling with an inherent hope must go on until assurance has been gained, belief has become knowledge, and faith, certainty. Man knows incontrovertibly that there is a goal greater than his petty aims, and that a life exists which will embrace his widest reach, enabling him eventually to attain his highest, though dimly sensed, ideal. A consideration of the Resurrection may provide a greater surety, provided we keep in mind the long continuity of revelation given out by God, and realise that we can know little as yet beyond the fact that Sons of God have died and risen again, and that behind that fact lies a cause which is basic.

Việc chất vấn niềm tin này, và cuộc vật lộn với một niềm hy vọng cố hữu này phải tiếp diễn cho đến khi đạt được sự xác tín, niềm tin trở thành tri thức, và đức tin trở thành sự chắc chắn. Con người biết một cách không thể tranh cãi rằng có một mục tiêu lớn hơn những mục đích nhỏ bé của y, và rằng có một sự sống sẽ ôm trọn tầm vươn rộng nhất của y, cuối cùng giúp y đạt tới lý tưởng cao nhất mà y cảm nhận được dù còn mờ nhạt. Việc suy xét về Sự Phục Sinh có thể đem lại một bảo đảm lớn hơn, miễn là chúng ta ghi nhớ dòng liên tục lâu dài của sự mặc khải do Thượng Đế ban ra, và nhận ra rằng cho đến nay chúng ta vẫn chỉ có thể biết rất ít, ngoài sự kiện rằng Các Con của Thượng đế đã chết và đã sống lại, và rằng đằng sau sự kiện ấy có một nguyên nhân nền tảng.

The Tibetans speak of the process of death as that of “entering into the clear cold light.” (‘The Tibetan Book of the Dead’, by W. Y. Evans-Wentz, p. 29.) It is possible that death can be best regarded as the experience which frees us from the illusion of form; and this brings clearly to our minds the realisation that when we speak of death we are referring to a process which concerns the material nature, the body, with its psychical faculties and its mental processes. This therefore can be narrowed down to a query as to whether we are the body and nothing but the body, or whether the ancient scripture of India was right when it pointed out that:

Người Tây Tạng nói về tiến trình tử vong như là tiến trình “đi vào ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo.” (‘Tử Thư Tây Tạng’, của W. Y. Evans-Wentz, tr. 29.) Có thể tốt nhất nên xem cái chết như kinh nghiệm giải phóng chúng ta khỏi ảo tưởng của hình tướng; và điều này đem rõ ràng vào trí chúng ta sự nhận ra rằng khi nói về cái chết, chúng ta đang nói đến một tiến trình liên quan đến bản chất vật chất, thân thể, cùng các năng lực thông linh và các tiến trình trí tuệ của nó. Do đó, điều này có thể được thu hẹp thành một câu hỏi rằng chúng ta có phải là thân thể và không gì ngoài thân thể, hay kinh điển cổ của Ấn Độ đã đúng khi nêu rõ rằng:

“Certain is the death of what is born, and certain is the birth of what dies; therefore, deign not to grieve in a matter that is inevitable…. This lord of the body dwells ever immortal in the body of each.” (‘The Bhagavad Gita, II, 26, 29.)

“Cái gì đã sinh ra thì chắc chắn phải chết, và cái gì đã chết thì chắc chắn sẽ sinh ra; vì vậy, chớ đoái hoài sầu khổ về một điều không thể tránh khỏi…. Vị chúa tể của thân này luôn luôn bất tử cư ngụ trong thân của mỗi người.” (‘Chí Tôn Ca, II, 26, 29.)

[244] A modern Christian poet has expressed the same idea in the following beautiful words:

[244] Một thi sĩ Cơ Đốc giáo hiện đại đã diễn đạt cùng ý tưởng ấy bằng những lời đẹp đẽ sau đây:

“Death is to life as marble to the sculptor,

“Cái chết đối với sự sống như đá cẩm thạch đối với nhà điêu khắc,

Waits for the touch that lets the soul go free;

Chờ đợi cái chạm để linh hồn được tự do;

Death is that moment when the swimmer feels

Cái chết là khoảnh khắc khi người bơi cảm thấy

The swift pain of the plunge into the pool,

Cơn đau nhanh của cú lao mình xuống hồ,

Followed by laughter where the bubbles flow

Rồi tiếp theo là tiếng cười nơi những bọt nước trôi

From the divided water and the sun

Từ làn nước rẽ đôi và mặt trời

Turns them to crystal: life and light are one.”

Biến chúng thành pha lê: sự sống và ánh sáng là một.”

‘THE MODERNISTS’, BY ROBERT NORWOOD, P. 57, SOCRATES.

‘NHỮNG NGƯỜI HIỆN ĐẠI’, CỦA ROBERT NORWOOD, TR. 57, SOCRATES.

It might here be pertinent to enquire what it is that we seek to see endure. An analysis of one’s attitude to the whole question of death and immortality can frequently serve to clear one’s mind of indefiniteness and vagueness, with their base in fear, in mental inertia, and in confused thinking. The following questions therefore come to one’s mind, and warrant consideration.

Ở đây có lẽ thích hợp để hỏi điều gì là điều chúng ta tìm cách thấy nó tồn tại bền lâu. Việc phân tích thái độ của mình đối với toàn bộ vấn đề tử vong và tính bất tử thường có thể giúp làm trong sáng trí tuệ khỏi sự không xác định và mơ hồ, vốn đặt nền trên sợ hãi, quán tính trí tuệ và tư duy rối rắm. Vì vậy, những câu hỏi sau đây nảy sinh trong trí, và đáng được suy xét.

How do we know that the process of death brings about such definite changes in our consciousness that it proves fatal to us, as sentient beings, and renders futile all previous effort of thought, development and understanding? The wonder of Christ’s Resurrection, as far as His Personality was concerned, consisted in the fact that, after having passed through death and risen again, He was essentially the same Person, only with added powers. May it not be the same with ourselves? May not death simply remove limitation in the physical sense, leaving us with enhanced sensibilities and a clearer sense of values? This life has moulded us and wrought us into certain definite expressions in form and quality, and these, rightly or wrongly, constitute that which is the Self, that which is the real man, from the angle of human life. There is something in us that refuses final identification with the physical form, in spite of what science and the inexperienced may tell us. An intuitive, substantial inner Self steadily and universally repudiates annihilation, and holds firmly to the belief that the search and the goal, the values [245] perceived and for which we struggle, must somewhere, some time, in some manner, prove themselves worth while. Any other point of view argues for the utter lack of an intelligent plan in existence, and leads to the despair which St. Paul expressed in the words: “If in this life only we have hope in Christ, we are of all men most miserable.” (I Corinthians, XV, 19.) We are surely on our way towards something of value and dynamic worth; otherwise life is a futile process of aimless wanderings; of caring for a body and educating a mind which have no worth of any kind, and are of no value to God or men. This, we know, cannot be the case.

Làm sao chúng ta biết rằng tiến trình tử vong tạo ra những thay đổi xác định đến mức trong tâm thức chúng ta, khiến nó trở thành chí tử đối với chúng ta với tư cách là những sinh linh hữu cảm, và khiến mọi nỗ lực trước đó về tư tưởng, phát triển và thấu hiểu trở nên vô ích? Điều kỳ diệu của Sự Phục Sinh của Đức Christ, xét về Phàm Ngã của Ngài, nằm ở sự kiện rằng sau khi đã đi qua cái chết và sống lại, về căn bản Ngài vẫn là cùng một Người, chỉ có thêm những quyền năng. Liệu điều ấy không thể cũng đúng với chính chúng ta sao? Liệu cái chết có thể chỉ đơn giản loại bỏ giới hạn theo nghĩa hồng trần, để lại cho chúng ta những độ nhạy bén được tăng cường và một ý thức rõ ràng hơn về các giá trị chăng? Đời sống này đã khuôn đúc chúng ta và rèn luyện chúng ta thành những biểu hiện xác định nào đó trong hình tướng và phẩm tính, và những điều này, đúng hay sai, tạo thành cái là Bản Ngã, cái là con người đích thực, xét từ góc độ đời sống nhân loại. Có điều gì đó trong chúng ta từ chối sự đồng hoá cuối cùng với hình tướng hồng trần, bất chấp những gì khoa học và người thiếu kinh nghiệm có thể nói với chúng ta. Một Bản Ngã nội tại, trực giác và thực chất, đều đặn và phổ quát bác bỏ sự hủy diệt, và giữ vững niềm tin rằng cuộc tìm kiếm và mục tiêu, những giá trị [245] được nhận biết và vì đó chúng ta tranh đấu, ở đâu đó, vào lúc nào đó, theo cách nào đó, phải chứng tỏ là xứng đáng. Bất cứ quan điểm nào khác đều biện luận cho sự hoàn toàn thiếu vắng một thiên cơ thông minh trong hiện hữu, và dẫn đến nỗi tuyệt vọng mà Thánh Phao-lô đã diễn tả bằng những lời: “Nếu trong đời này mà thôi chúng ta có hy vọng nơi Đức Christ, thì chúng ta là những kẻ khốn khổ nhất trong mọi người.” (I Cô-rinh-tô, XV, 19.) Chắc chắn chúng ta đang trên đường hướng tới một điều gì có giá trị và có phẩm tính năng động; nếu không, đời sống là một tiến trình vô ích của những cuộc lang thang không mục đích; của việc chăm sóc một thân thể và giáo dục một trí tuệ vốn chẳng có bất cứ giá trị nào, và không có giá trị gì đối với Thượng Đế hay con người. Chúng ta biết rằng điều này không thể là sự thật.

It is the prolongation of value, of that which is worth while, and the continuation of the persistent, inner, divine incentive to progress, to create and to benefit others, that seem, to those who have reached the point where thought is consecutively possible, to hold the clue to the problem of immortality. The entire story of Christ goes to prove this. He had, throughout His life of consecrated service and devotion to His fellowmen, proved that He had reached the point in His evolution wherein He had somewhat to contribute to the good of the whole; He had attained altitude on the evolutionary ladder, and His humanity was lost to sight in the divinity which He expressed. He had that which was of worth to offer to God and man, and He offered it upon the Cross. It cost Him His life to make His contribution to the source of the whole body corporate, but He made it. Because of the worth of what He had achieved, and the value of the livingness of His contribution, He could demonstrate immortality. It is the immortal value which survives, and where that value exists the soul needs no more the school of human experience.

Chính sự kéo dài của giá trị, của điều xứng đáng, và sự tiếp diễn của thôi thúc thiêng liêng, nội tại, bền bỉ hướng tới tiến bộ, sáng tạo và làm lợi ích cho người khác, dường như đối với những ai đã đạt đến điểm mà tư tưởng liên tục trở nên khả hữu, nắm giữ chìa khóa cho vấn đề tính bất tử. Toàn bộ câu chuyện về Đức Christ chứng minh điều này. Suốt đời sống phụng sự thánh hiến và sùng tín đối với đồng loại, Ngài đã chứng tỏ rằng Ngài đã đạt tới điểm trong cuộc tiến hoá của Ngài, nơi Ngài có điều gì đó để đóng góp cho lợi ích của toàn thể; Ngài đã đạt đến một cao độ trên nấc thang tiến hoá, và nhân tính của Ngài khuất khỏi tầm nhìn trong thiên tính mà Ngài biểu lộ. Ngài có điều có giá trị để dâng hiến cho Thượng Đế và con người, và Ngài đã dâng hiến điều ấy trên Thập Giá. Việc đóng góp của Ngài cho nguồn của toàn bộ đoàn thể đã khiến Ngài phải trả bằng chính mạng sống, nhưng Ngài đã làm điều đó. Nhờ giá trị của điều Ngài đã thành tựu, và giá trị của sức sống trong sự đóng góp của Ngài, Ngài có thể chứng minh tính bất tử. Chính giá trị bất tử là điều tồn tại, và nơi nào giá trị ấy hiện hữu, linh hồn không còn cần đến trường học của kinh nghiệm nhân loại nữa.

This thought gives rise to the question: What is it, therefore, that we seek to see survive? What part of ourselves do we regard as desirably immortal? What in each of us warrants persistence? Surely none of us seek to see the physical body resurrected, nor are we anxious again to be trammelled [246] and confined by the present limiting vehicle in which most of us find ourselves. Its value seems inadequate for the experience of resurrection and for the gift of immortality. Nor are we desirous, surely, of seeing the same psychic nature, with its aggregate of moods and feelings and sentient reactions to environing condition, hold sway over us again. Equally surely, none of us are pleased to contemplate the old idea of a sugary heaven wherein we pass our time clothed in white robes, singing and talking upon religious matters. We have outgrown these ideas, and to them Christ Himself is a direct refutation. He rose from the dead and entered upon a life of increased active service. The “other sheep” which He had to gather must be sought and shepherded; (St. John, X, 16.) His disciples must be trained and taught; His followers must be guided and helped; the kingdom of God must be organised on earth. And still the risen Christ moves among us, often unrecognised, but busy with the task of world salvage and service. There is no heaven of peace and rest and inactivity for Christ whilst we remain unsaved; there is surely none for us who seek to follow in His footsteps.

Tư tưởng này làm nảy sinh câu hỏi: Vậy điều gì là điều chúng ta tìm cách thấy nó tồn tại? Phần nào của chính mình mà chúng ta xem là đáng mong muốn được bất tử? Điều gì trong mỗi chúng ta bảo đảm cho sự tồn tại bền bỉ? Chắc chắn không ai trong chúng ta tìm cách thấy thể xác được phục sinh, cũng chẳng lo lắng muốn lại bị trói buộc [246] và giam hãm bởi vận cụ giới hạn hiện tại trong đó phần lớn chúng ta đang thấy mình. Giá trị của nó dường như không tương xứng với kinh nghiệm phục sinh và với ân huệ bất tử. Chắc chắn chúng ta cũng không mong muốn thấy cùng một bản chất tâm lý ấy, với toàn bộ những tâm trạng, cảm xúc và phản ứng hữu cảm của nó đối với hoàn cảnh bao quanh, lại thống trị chúng ta. Cũng chắc chắn như vậy, không ai trong chúng ta hài lòng khi chiêm ngưỡng ý niệm cũ về một thiên đường ngọt lịm, nơi chúng ta dùng thời gian khoác áo trắng, ca hát và trò chuyện về các vấn đề tôn giáo. Chúng ta đã vượt qua những ý tưởng ấy, và chính Đức Christ là sự bác bỏ trực tiếp đối với chúng. Ngài đã sống lại từ cõi chết và bước vào một đời sống phụng sự tích cực gia tăng. “Những chiên khác” mà Ngài phải quy tụ cần được tìm kiếm và chăn dắt; (Thánh Gioan, X, 16.) các đệ tử của Ngài phải được rèn luyện và giáo huấn; những người theo Ngài phải được hướng dẫn và trợ giúp; Thiên Giới phải được tổ chức trên Trái Đất. Và Đức Christ phục sinh vẫn còn chuyển động giữa chúng ta, thường không được nhận ra, nhưng bận rộn với nhiệm vụ cứu độ và phụng sự thế giới. Không có thiên đường bình an, nghỉ ngơi và bất động nào dành cho Đức Christ khi chúng ta vẫn chưa được cứu; chắc chắn cũng không có thiên đường nào như thế cho chúng ta, những người tìm cách bước theo dấu chân Ngài.

When a man’s life has gained significance, then he is ready to tread the path of purification and probation in preparation for the mysteries; as his significance and influence increase he can pass, stage by stage, through the processes of initiation, and tread the path of holiness. He can be “born in Bethlehem,” because the germ of that which is dynamic and living is awakened and is gaining potency and significance, and must therefore make its appearance; he can pass through the waters of purification, and attain the mountain-top of transfiguration where that which is of worth shines forth in all its glory. Having achieved that moment of heightened experience, and that which he has of value being recognised by God as worth while, he is then, and then only, ready to offer his life upon the altar of sacrifice and of service, and can set his face to go up to Jerusalem, there to be crucified. It is the inevitable end to that which is of worth. It is the underlying [247] purpose of the whole process of perfecting, as there is now something worthy to be offered. But though this may be the end of the physical expression of worth, it is essentially the moment of the triumph of value, and the demonstration of its immortality. For that which is of value, the divine and hidden beauty which life-experience and initiation have served to reveal, cannot die. It is essentially immortal, and must live. This is the true resurrection of the body. When the consciousness of value and of worth, and the recognition of man’s reach, as well as his grasp, are considered, the life of service (leading to death) and of resurrection (leading to full citizenship in the kingdom of God) begin to gain in meaning. The body which we now have is relatively worthless; the sum total of moods and mental reactions to which we now submit is of no value to anyone but ourselves; the environment in which we live and move has in it surely nothing to warrant its endless perpetuation. In short, a continuance of the personal self in some heaven which is the extension of our own individual consciousness, and the concept of an endless eternity lived with oneself, have for most of us no allurement whatsoever. Yet an aspect of oneself longs for immortality and the sense of infinity. The “endless prolongation in time of a self’s career” has led to much confusion of thought. Few of us, if asked seriously to consider the problem and seriously to give an answer, would feel that as individuals we warrant arrangements being made for our endless persistence. A sense of truth and justice might lead us honestly to the conclusion that our value to the universe is practically nil. And yet we know that there is a value and a reason behind all our life experience, and that the phenomenal world, of which we are indubitably a part, veils or hides something of infinite value, of which we are also a part.

Khi đời sống của một người đã đạt được thâm nghĩa, bấy giờ y sẵn sàng bước trên con đường thanh luyện và dự bị để chuẩn bị cho các bí nhiệm; khi thâm nghĩa và ảnh hưởng của y gia tăng, y có thể đi qua, từng giai đoạn một, các tiến trình điểm đạo, và bước trên con đường thánh thiện. Y có thể được “sinh ra tại Bethlehem,” vì mầm mống của điều năng động và sống động đã thức tỉnh, đang đạt được quyền năng và thâm nghĩa, và do đó phải xuất hiện; y có thể đi qua các dòng nước thanh luyện, và đạt tới đỉnh núi của sự biến hình, nơi điều có giá trị chiếu rạng trong mọi vinh quang của nó. Sau khi đạt được khoảnh khắc kinh nghiệm được nâng cao ấy, và điều có giá trị nơi y được Thượng Đế công nhận là xứng đáng, thì bấy giờ, và chỉ bấy giờ, y mới sẵn sàng dâng hiến đời sống mình trên bàn thờ hi sinh và phụng sự, và có thể hướng mặt đi lên Jerusalem, để tại đó chịu đóng đinh. Đó là kết cuộc không thể tránh khỏi của điều có giá trị. Đó là mục đích nằm bên dưới [247] toàn bộ tiến trình hoàn thiện, vì lúc này có điều xứng đáng để được dâng hiến. Nhưng dù đây có thể là kết thúc của biểu hiện hồng trần của giá trị, về căn bản đó là khoảnh khắc chiến thắng của giá trị, và là sự chứng minh tính bất tử của nó. Vì điều có giá trị, vẻ đẹp thiêng liêng và ẩn tàng mà kinh nghiệm đời sống và điểm đạo đã phụng sự để mặc khải, không thể chết. Về căn bản nó bất tử, và phải sống. Đây là sự phục sinh đích thực của thể xác. Khi tâm thức về giá trị và sự xứng đáng, cùng sự nhận biết về tầm vươn cũng như khả năng nắm bắt của con người, được suy xét, thì đời sống phụng sự, dẫn đến cái chết, và đời sống phục sinh, dẫn đến quyền công dân trọn vẹn trong Thiên Giới, bắt đầu đạt được ý nghĩa. Thể xác mà chúng ta hiện có tương đối vô giá trị; tổng số những tâm trạng và phản ứng trí tuệ mà hiện nay chúng ta phục tùng không có giá trị đối với bất cứ ai ngoài chính chúng ta; môi trường trong đó chúng ta sống và chuyển động chắc chắn không có gì bảo đảm cho sự kéo dài vô tận của nó. Tóm lại, sự tiếp tục của bản ngã cá nhân trong một thiên đường nào đó vốn là sự mở rộng của tâm thức cá nhân của chính chúng ta, và quan niệm về một vĩnh cửu vô tận được sống với chính mình, đối với phần lớn chúng ta không có chút hấp dẫn nào. Tuy vậy, một phương diện của bản thân mình vẫn khao khát tính bất tử và ý thức về vô hạn. “Sự kéo dài vô tận trong thời gian của hành trình một bản ngã” đã dẫn đến nhiều rối rắm trong tư tưởng. Ít ai trong chúng ta, nếu được yêu cầu nghiêm túc suy xét vấn đề và nghiêm túc đưa ra câu trả lời, sẽ cảm thấy rằng với tư cách cá nhân, chúng ta xứng đáng để có những sắp đặt cho sự tồn tại bền bỉ vô tận của mình. Một ý thức về chân lý và công bình có thể thành thật dẫn chúng ta đến kết luận rằng giá trị của chúng ta đối với vũ trụ hầu như là không. Tuy vậy, chúng ta biết rằng có một giá trị và một lý do đằng sau mọi kinh nghiệm đời sống của mình, và rằng thế giới hiện tượng, mà không thể nghi ngờ chúng ta là một phần trong đó, che phủ hoặc ẩn giấu một điều có giá trị vô hạn, mà chúng ta cũng là một phần của điều ấy.

We seek assurance that those whom we love and value are not lost to us. We seek to share with them some state of happiness which will have in it truer values than any we [248] have known on earth; we long to prolong, in time and space, the familiar state which we love and cherish. We desire compensation for what we have endured, and the realisation that everything has had a purpose and has been worth while. It is this longing, this belief, this determination to persist, which lies behind all achievement and which is the incentive and impulse upon which we base all effort. Socrates pointed out this basic argument for immortality when he said that “no-one knows what death is, and whether it is not the greatest of all good things. Nevertheless, it is feared as if it were the supreme evil…. When death comes near to man that which is mortal in him is scattered; that which is immortal and incorruptible withdraws intact.”

Chúng ta tìm kiếm sự bảo đảm rằng những người chúng ta yêu thương và quý trọng không bị mất đối với chúng ta. Chúng ta tìm cách chia sẻ với họ một trạng thái hạnh phúc nào đó, trong đó sẽ có những giá trị chân thật hơn bất cứ điều gì chúng ta [248] đã biết trên Trái Đất; chúng ta khao khát kéo dài, trong thời gian và không gian, trạng thái quen thuộc mà chúng ta yêu mến và trân quý. Chúng ta mong muốn sự bù đắp cho những gì mình đã chịu đựng, và sự chứng nghiệm rằng mọi sự đều có mục đích và đều xứng đáng. Chính niềm khao khát này, niềm tin này, quyết tâm tồn tại bền bỉ này, nằm đằng sau mọi thành tựu và là động lực cùng xung lực trên đó chúng ta đặt nền cho mọi nỗ lực. Socrates đã nêu ra luận cứ căn bản này cho tính bất tử khi ông nói rằng “không ai biết cái chết là gì, và liệu nó có phải là điều tốt đẹp lớn nhất trong mọi điều hay không. Tuy nhiên, người ta lại sợ nó như thể nó là điều ác tối thượng…. Khi cái chết đến gần con người, điều gì hữu tử trong y bị phân tán; điều gì bất tử và không thể hư hoại thì rút lui nguyên vẹn.”

Three thoughts are of importance in considering this problem of value, which is so amazingly evidenced by Christ, and which was the true reason why He rose again. His immortality was based upon His divinity. His divinity expressed itself through human form, and in that form evidenced value, destiny, service and purpose. All of these He demonstrated perfectly, and therefore death could not hold Him, nor could the chains of the grave prevent His liberation.

Có ba tư tưởng quan trọng khi suy xét vấn đề giá trị này, điều đã được Đức Christ chứng minh một cách đáng kinh ngạc, và là lý do đích thực khiến Ngài sống lại. Tính bất tử của Ngài đặt nền trên thiên tính của Ngài. Thiên tính của Ngài tự biểu lộ qua hình tướng nhân loại, và trong hình tướng ấy chứng tỏ giá trị, định mệnh, phụng sự và mục đích. Tất cả những điều này Ngài đã chứng minh một cách hoàn hảo, và vì vậy cái chết không thể giữ Ngài, cũng như xiềng xích của mồ mả không thể ngăn cản sự giải thoát của Ngài.

The first thought is that immortality is the safeguarding of what we really care about. The factor on which we place the emphasis in our daily lives survives and functions on some level of consciousness. We must, and do, eventually attain what we demand. When we care for that which is eternal in value, then eternal life, free from the limitations of the flesh, is ours. Dean Inge tells us that “in so far as we can identify ourselves with the absolute values, we are sure of immortality.” What we really care about, then, in our highest moments, when free from the illusions of the emotional nature, determines our immortal life.

Tư tưởng thứ nhất là tính bất tử là sự bảo vệ điều chúng ta thật sự quan tâm. Yếu tố mà chúng ta đặt trọng tâm trong đời sống hằng ngày sẽ tồn tại và hoạt động trên một cấp độ tâm thức nào đó. Rốt cuộc, chúng ta phải đạt được, và quả thật sẽ đạt được, điều chúng ta đòi hỏi. Khi chúng ta quan tâm đến điều có giá trị vĩnh cửu, thì đời sống vĩnh cửu, tự do khỏi những giới hạn của xác thịt, là của chúng ta. Viện trưởng Inge nói với chúng ta rằng “trong mức độ chúng ta có thể đồng hoá mình với các giá trị tuyệt đối, chúng ta chắc chắn về tính bất tử.” Vậy điều chúng ta thật sự quan tâm, trong những khoảnh khắc cao nhất của mình, khi tự do khỏi các ảo tưởng của bản chất cảm xúc, quyết định đời sống bất tử của chúng ta.

The question then arises as to what occurs when the sense of values is distorted or temporarily nonexistent. In an attempt to meet this question millions of people have accepted [249] the Oriental doctrine of rebirth, which states the world to be the “vale of soul-making,” as Keats calls it, and which teaches that we return again and again to physical life, until the time comes when our values are properly adjusted, and we can pass through the five initiations into liberation. Much of the teaching given in the occult and esoteric books is distorted and fanciful, but that there is much to be said for the doctrine of rebirth is evident to the unprejudiced student. In the last analysis, if perfection is to be ultimately achieved, the question is merely one of time and location. The Christian may believe in a sudden perfecting through the process of death itself, or in a mental acceptance of the death of Jesus, which he calls “conversion”; he may regard death as the door into a place of discipline and development which he calls “purgatory,” where a purificatory process goes on; or he may believe that in heaven itself adjustments are made and expansions of consciousness are undergone which render him a different man from what he was before. The Oriental may believe that the earth provides adequate facilities for the training and developing processes, and that again and again we return, until we have reached perfection. The goal remains one. The objective is identical. The school is in a different place, and the consciousness is unfolded in varying localities. But that is all. Plato held that:

Bấy giờ nảy sinh câu hỏi về điều gì xảy ra khi ý thức về giá trị bị bóp méo hoặc tạm thời không hiện hữu. Trong nỗ lực trả lời câu hỏi này, hàng triệu người đã chấp nhận [249] giáo lý Đông phương về tái sinh, giáo lý xem thế giới là “thung lũng rèn luyện linh hồn,” như Keats gọi, và dạy rằng chúng ta trở lại đời sống hồng trần hết lần này đến lần khác, cho đến khi đến lúc các giá trị của chúng ta được điều chỉnh đúng đắn, và chúng ta có thể đi qua năm cuộc điểm đạo để vào giải thoát. Nhiều giáo huấn được đưa ra trong các sách huyền bí và nội môn bị bóp méo và kỳ ảo, nhưng đối với đạo sinh không thiên kiến, hiển nhiên có nhiều điều đáng nói ủng hộ giáo lý tái sinh. Trong phân tích sau cùng, nếu sự hoàn thiện rốt cuộc phải đạt được, câu hỏi chỉ đơn thuần là vấn đề thời gian và nơi chốn. Người tín đồ Cơ Đốc giáo có thể tin vào một sự hoàn thiện đột ngột qua chính tiến trình tử vong, hoặc vào một sự chấp nhận bằng trí tuệ đối với cái chết của Đức Jesus, mà y gọi là “cải đạo”; y có thể xem cái chết là cánh cửa đi vào một nơi rèn luyện và phát triển mà y gọi là “luyện ngục,” nơi một tiến trình thanh luyện đang diễn ra; hoặc y có thể tin rằng ngay trong thiên đường, các điều chỉnh được thực hiện và các mở rộng tâm thức được trải qua, khiến y trở thành một con người khác với trước kia. Người Đông phương có thể tin rằng Trái Đất cung cấp đầy đủ phương tiện cho các tiến trình rèn luyện và phát triển, và rằng chúng ta trở lại hết lần này đến lần khác cho đến khi đạt tới hoàn thiện. Mục tiêu vẫn là một. Mục đích là đồng nhất. Trường học ở một nơi khác, và tâm thức được khai mở trong những địa điểm khác nhau. Nhưng chỉ có thế. Plato chủ trương rằng:

“Confined in the body as in a prison … the soul seeks its pristine sphere of pure rationality by pursuing the philosophic life, by thinking the universal, by loving and living according to reason. The bodily life is but an episode in the eternal career of the soul, which precedes birth and proceeds after death. Life in the flesh is a trial and a probation; death, the release and the return to the soul’s destiny; to another term of probation, or to the realm of pure reason.”

“Bị giam trong thể xác như trong một nhà tù… linh hồn tìm kiếm cõi nguyên sơ của lý tính thuần khiết bằng cách theo đuổi đời sống triết học, bằng cách tư duy về cái phổ quát, bằng cách yêu thương và sống theo lý trí. Đời sống trong xác thịt chỉ là một giai đoạn trong hành trình vĩnh cửu của linh hồn, vốn có trước khi sinh và tiếp tục sau khi chết. Đời sống trong xác thịt là một thử thách và một kỳ dự bị; cái chết là sự giải thoát và sự trở về với định mệnh của linh hồn; hoặc đến một kỳ dự bị khác, hoặc đến cõi của lý trí thuần khiết.”

In some place, consciously and willingly, we must learn to enter and work in the world of values, and so fit ourselves for citizenship in the kingdom of God. It was the demonstration of this that Christ gave.

Ở một nơi nào đó, một cách có ý thức và tự nguyện, chúng ta phải học bước vào và hoạt động trong thế giới của các giá trị, và nhờ đó làm cho mình thích hợp với quyền công dân trong Thiên Giới. Chính sự chứng minh điều này mà Đức Christ đã ban cho.

[250] The second thought which should be considered is that man’s effort, his struggle to achieve, his sense of God, innate and true, his constant effort to better conditions and to master himself as well as the natural world, must have an objective; else all that we see going on around is void, futile and senseless. It was this command of Himself and of the elements of nature, and the undeviating direction of His purpose, that led Christ from point to point and enabled Him to open the door into the kingdom and to rise from the dead, the “first fruits of them that slept.” (I Corinthians, XV, 20.)

[250] Tư tưởng thứ hai cần được suy xét là nỗ lực của con người, cuộc đấu tranh để thành tựu của y, ý thức về Thượng Đế nơi y, vốn bẩm sinh và chân thật, nỗ lực thường xuyên của y nhằm cải thiện các điều kiện và làm chủ chính mình cũng như thế giới tự nhiên, phải có một mục tiêu; nếu không, tất cả những gì chúng ta thấy đang diễn ra xung quanh đều trống rỗng, vô ích và vô nghĩa. Chính sự làm chủ này đối với chính Ngài và đối với các nguyên tố của thiên nhiên, cùng hướng đi không lệch khỏi mục đích của Ngài, đã dẫn Đức Christ từ điểm này đến điểm khác và giúp Ngài mở cánh cửa vào Thiên Giới và sống lại từ cõi chết, “hoa trái đầu mùa của những kẻ đã ngủ.” (I Cô-rinh-tô, XV, 20.)

Purpose must underlie pain. An objective must be sensed under all human activity. The idealism of the leaders of the race cannot all be hallucination. The realisation of God must have some basis in fact. Human beings are convinced that the apparent injustice of the world provides legitimate assurance of a hereafter wherein the integrity of the divine purpose will be vindicated. There is a basic belief that good and evil are in combat in man’s nature, and that good must inevitably triumph. Down the ages, man has asserted this. Humanity has evolved many theories to account for man and his future, for his preparation for the after-life, and for his reason here on earth. With the detail of these theories there is no need, or time, to deal. They are in themselves proof of the fact of immortality and of man’s divinity. He has intuited the ultimate possibility, and will not rest until he has achieved it. Whether it is plurality of lives upon our planet, leading to an ultimate perfection, or the Buddhistic theory leading to Nirvana, the goal is one. This latter theory is beautifully summarised in a book dealing with the secret doctrines of the Tibetan philosophy:

Mục đích phải nằm bên dưới đau khổ. Một mục tiêu phải được cảm nhận bên dưới mọi hoạt động của con người. Chủ nghĩa lý tưởng của các nhà lãnh đạo nhân loại không thể tất cả đều là ảo giác. Sự chứng nghiệm Thượng Đế phải có một nền tảng nào đó trong sự kiện. Con người tin chắc rằng sự bất công bề ngoài của thế giới đem lại sự bảo đảm chính đáng về một đời sau, nơi sự toàn vẹn của Thiên Ý sẽ được minh oan. Có một niềm tin căn bản rằng thiện và ác đang giao chiến trong bản chất con người, và thiện tất yếu phải chiến thắng. Qua các thời đại, con người đã khẳng định điều này. Nhân loại đã phát triển nhiều lý thuyết để giải thích về con người và tương lai của y, về sự chuẩn bị của y cho đời sau, và về lý do của y ở đây trên Trái Đất. Không cần, cũng không có thời gian, để bàn đến chi tiết của các lý thuyết ấy. Tự thân chúng là bằng chứng cho sự kiện về tính bất tử và thiên tính của con người. Y đã trực nhận khả năng tối hậu, và sẽ không nghỉ ngơi cho đến khi đạt được nó. Dù đó là nhiều kiếp sống trên hành tinh của chúng ta, dẫn đến một sự hoàn thiện tối hậu, hay lý thuyết Phật giáo dẫn đến Niết Bàn, mục tiêu vẫn là một. Lý thuyết sau này được tóm tắt đẹp đẽ trong một cuốn sách bàn về các giáo lý bí nhiệm của triết học Tây Tạng:

“… when the Lords of Compassion shall have spiritually civilised the Earth and made of it a Heaven, there will be revealed to the Pilgrims the Endless Path, which reaches to the Heart of the Universe. Man, then no longer man, will transcend Nature, and impersonally, yet consciously, in at-one-ment with all the Enlightened [251] Ones, help to fulfil the Law of the Higher Evolution, of which Nirvana is but the beginning.”

“… khi các Chúa Tể Từ Bi đã văn minh hóa Trái Đất về mặt tinh thần và biến nó thành một Thiên Đường, Con Đường Vô Tận, vươn tới Trái Tim của Vũ Trụ, sẽ được mặc khải cho những Người Hành Hương. Khi ấy con người, không còn là con người nữa, sẽ vượt lên trên Thiên Nhiên, và một cách phi cá nhân nhưng có ý thức, trong sự hợp nhất với tất cả các Đấng Giác Ngộ [251], giúp hoàn thành Định luật Tiến Hóa Cao Siêu, mà Niết Bàn chỉ là khởi đầu.”

‘TIBETAN YOGA AND SECRET DOCTRINES’, EDITED BY W. Y. EVANS-WENTZ, P. 12.

‘YOGA TÂY TẠNG VÀ CÁC GIÁO LÝ BÍ NHIỆM’, DO W. Y. EVANS-WENTZ BIÊN TẬP, TR. 12.

Here we have the idea of the kingdom of God appearing on earth because humanity is spiritually civilised, and the attainment of the perfection which Christ inculcated.

Ở đây chúng ta có ý tưởng về Thiên Giới xuất hiện trên Trái Đất bởi vì nhân loại đã được văn minh hóa về mặt tinh thần, và về sự đạt tới hoàn thiện mà Đức Christ đã truyền dạy.

There is also the doctrine of eternal recurrence, in which both Nietzsche and Heine believed, with its emphasis upon a ceaseless, recurrent, earthly existence by each unit of force, until a soul has been evolved. The dreary doctrine of our survival as influences perpetuated in the race to which we belong has also been developed, emphasising a selflessness which is admirable, but is also the negation of the individual. The orthodox Christian doctrines are three in number, and consist of the doctrine of eternal retribution, of universal restoration, and of conditional immortality. To these we must add the speculations of the Spiritualists, with their various spheres, corresponding somewhat to the subtle worlds, seven in number, of the Theosophists and the Rosicrucians; and also the extreme theory of annihilation, which does not find much response from the healthy-minded. The value of all these doctrines consists in attracting attention to the eternal interest of man in the hereafter, and his many speculations as to his future and his immortality.

Cũng có giáo lý về sự lặp lại vĩnh cửu, điều cả Nietzsche lẫn Heine đều tin, với sự nhấn mạnh của nó vào một hiện hữu trần thế không ngừng, tái diễn, của mỗi đơn vị mãnh lực, cho đến khi một linh hồn đã được tiến hoá. Giáo lý ảm đạm về sự tồn tại của chúng ta như những ảnh hưởng được kéo dài trong nhân loại mà chúng ta thuộc về cũng đã được phát triển, nhấn mạnh một sự vị tha đáng khâm phục, nhưng đồng thời cũng là sự phủ định cá nhân. Các giáo lý Cơ Đốc giáo chính thống có ba loại, gồm giáo lý về báo ứng vĩnh cửu, về phục hồi phổ quát, và về tính bất tử có điều kiện. Với những điều này, chúng ta phải thêm vào các suy luận của những nhà thần linh học, với các cõi khác nhau của họ, phần nào tương ứng với các thế giới vi tế, bảy về số lượng, của các nhà Thông Thiên Học và các nhà Hoa Hồng Thập Tự; và cũng cả lý thuyết cực đoan về sự hủy diệt, vốn không tìm được nhiều đáp ứng từ những người có trí tuệ lành mạnh. Giá trị của tất cả những giáo lý này nằm ở chỗ thu hút sự chú ý đến mối quan tâm vĩnh cửu của con người đối với đời sau, và đến nhiều suy luận của y về tương lai và tính bất tử của mình.

Christ died and rose again. He lives. And some people in the world today do not need to have this fact proven to them. They know He is alive, and that because He lives we shall live also. In us is the same germ of essential life which flowered forth to perfection in Him, overcoming the tendency to death inherent in the natural man. Surely, then, we can say that immortality consists for us in three stages:

Đức Christ đã chết và sống lại. Ngài sống. Và một số người trên thế giới ngày nay không cần sự kiện này được chứng minh cho họ. Họ biết Ngài đang sống, và rằng vì Ngài sống nên chúng ta cũng sẽ sống. Trong chúng ta có cùng mầm sống thiết yếu đã nở hoa đến hoàn thiện nơi Ngài, vượt thắng khuynh hướng chết vốn cố hữu trong phàm nhân tự nhiên. Vậy chắc chắn chúng ta có thể nói rằng đối với chúng ta, tính bất tử gồm ba giai đoạn:

First, as that livingness which we call the urge to evolution, the impulse to progress, to push forward, to live, and to know that one lives. This is the incentive behind man’s determination [252] to know himself an individual, with his own life cycle, his own innate purpose and his eternal future.

Thứ nhất, như sức sống mà chúng ta gọi là thôi thúc tiến hoá, xung lực tiến bộ, thúc đẩy tiến lên, sống, và biết rằng mình đang sống. Đây là động lực đằng sau quyết tâm của con người [252] muốn biết mình là một cá nhân, với chu kỳ sống riêng của mình, mục đích bẩm sinh riêng của mình và tương lai vĩnh cửu của mình.

Secondly, as that dynamic spiritual awareness which manifests in the re-orientation to eternity and the eternal values, which is the distinguishing feature of the man who is ready to take the necessary steps to demonstrate his spiritual life and to function as an immortal. Then the resurrection which lies ahead of him, and which Christ expressed, is seen to be something different from what had earlier been supposed. The following definition of the true resurrection, as it begins to dawn on the eyes of the man who is awakening to the glory of the Lord within his own heart and immanent in every form, finds place:

Thứ hai, như sự nhận biết tinh thần năng động biểu lộ trong sự tái định hướng về vĩnh cửu và các giá trị vĩnh cửu, vốn là đặc điểm phân biệt của người đã sẵn sàng thực hiện các bước cần thiết để chứng minh đời sống tinh thần của mình và hoạt động như một kẻ bất tử. Bấy giờ sự phục sinh nằm phía trước y, và điều Đức Christ đã biểu lộ, được thấy là một điều khác với những gì trước đây từng được giả định. Định nghĩa sau đây về sự phục sinh đích thực, khi nó bắt đầu ló rạng trước mắt người đang thức tỉnh trước vinh quang của Chúa trong chính trái tim mình và nội tại trong mọi hình tướng, được nêu ra:

“The resurrection is not the rise of the dead from their tombs but the passage from the death of self-absorption to the life of unselfish love, the transition from the darkness of selfish individualism to the light of universal spirit, from falsehood to truth, from the slavery of the world to the liberty of the eternal. Creation ‘groaneth and travaileth in pain’ ‘to be delivered from the bondage of corruption into the liberty of the glory of the children of God.’ ”

“Sự phục sinh không phải là sự trỗi dậy của người chết từ mồ mả, mà là sự đi qua từ cái chết của sự chỉ chăm chú vào bản thân đến đời sống của tình thương vị tha, sự chuyển tiếp từ bóng tối của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ đến ánh sáng của tinh thần phổ quát, từ giả dối đến chân lý, từ sự nô lệ của thế gian đến tự do của cái vĩnh cửu. Tạo vật ‘rên xiết và quằn quại trong đau đớn’ ‘để được giải thoát khỏi xiềng xích của sự hư hoại vào tự do của vinh quang của các con của Thượng Đế.’ ”

‘THE SUPREME SPIRITUAL IDEAL’, BY S. RADHAKRISHNAN, HIBBERT JOURNAL, OCTOBER, 1936.

‘LÝ TƯỞNG TINH THẦN TỐI THƯỢNG’, CỦA S. RADHAKRISHNAN, TẠP CHÍ HIBBERT, THÁNG MƯỜI, 1936.

The third and final thought which must be emphasised is that we are resurrected to life eternal and become of the company of the immortals when we have fitted ourselves to be co-workers with Christ in the kingdom. It is when we lose the consciousness of the separative individual and become divinely aware of the whole of which we are a part that we have learnt life’s final lesson and need “no more return.” It is the death of the individual which we fear and dread, and the loss of personal consciousness. We do not realise that when the vision of the kingdom is ours, when the whole of creation shines forth before our eyes, it is that Whole which matters to us, and we lose sight of our personal selves.

Tư tưởng thứ ba và sau cùng cần được nhấn mạnh là chúng ta được phục sinh vào đời sống vĩnh cửu và trở thành thành viên của đoàn thể những người bất tử khi chúng ta đã làm cho mình thích hợp để làm đồng sự với Đức Christ trong Thiên Giới. Chính khi chúng ta đánh mất tâm thức về cá nhân chia rẽ và trở nên nhận biết một cách thiêng liêng về toàn thể mà chúng ta là một phần, thì chúng ta đã học được bài học cuối cùng của đời sống và “không cần trở lại nữa.” Chính cái chết của cá nhân là điều chúng ta sợ hãi và kinh khiếp, cùng sự mất mát tâm thức cá nhân. Chúng ta không nhận ra rằng khi tầm nhìn về Thiên Giới là của chúng ta, khi toàn thể tạo vật chiếu rạng trước mắt chúng ta, thì chính Toàn Thể ấy mới là điều quan trọng đối với chúng ta, và chúng ta không còn thấy các bản ngã cá nhân của mình nữa.

The resurrection therefore might be defined as the persistence [253] on into the future of that which is the divine aspect, and which is integrated with the life and consciousness of that sum total which we call God. That life and that consciousness flow through all parts of God’s manifestation, the natural world. The kingdoms of nature have one by one evolved, and in so doing have expressed some aspect of His life as it informs and animates His creation. One by one, they have steadily progressed from the inert consciousness and slow, heavy rhythm of the mineral kingdom, and have revealed sequentially more and more of the hidden divine nature, until we come to man whose consciousness is of a much higher order and whose divine expression is that of the self-conscious, self-determined Deity. From automatic forms of consciousness, the life of God has carried the forms of life through sentient consciousness to the instinctive consciousness of the animal; then it has progressed on into the human kingdom, wherein self-consciousness holds sway, until the higher members of that kingdom begin to show a disposition towards divinity. The faint, dim signs of a still higher kingdom can now be seen, in which self-consciousness will give place to group-consciousness, and man will know himself to be identified with the Whole, and not to be simply a self-sufficient individual. Then the life of the whole body of God can flow consciously into and through him, and the life of God becomes his life and he is resurrected into life eternal.

Do đó, sự phục sinh có thể được định nghĩa là sự tồn tại bền bỉ [253] đi vào tương lai của điều vốn là phương diện thiêng liêng, và vốn được tích hợp với sự sống và tâm thức của tổng thể mà chúng ta gọi là Thượng Đế. Sự sống ấy và tâm thức ấy tuôn chảy qua mọi phần trong biểu hiện của Thượng Đế, tức thế giới tự nhiên. Các giới của thiên nhiên đã lần lượt tiến hoá, và khi làm như vậy đã biểu lộ một phương diện nào đó của sự sống Ngài khi nó thấm nhuần và làm linh hoạt tạo vật của Ngài. Từng giới một, chúng đã đều đặn tiến bộ từ tâm thức trơ ì và nhịp điệu chậm chạp, nặng nề của giới kim thạch, và đã tuần tự mặc khải ngày càng nhiều hơn bản chất thiêng liêng ẩn tàng, cho đến khi chúng ta đến với con người, tâm thức của y thuộc một trật tự cao hơn nhiều, và biểu hiện thiêng liêng của y là biểu hiện của Thượng đế tự ý thức, tự quyết định. Từ các hình thức tâm thức tự động, sự sống của Thượng Đế đã đưa các hình tướng của sự sống đi qua tâm thức hữu cảm đến tâm thức bản năng của con vật; rồi nó tiến vào giới nhân loại, nơi ngã thức nắm quyền, cho đến khi các thành viên cao hơn của giới ấy bắt đầu cho thấy một khuynh hướng hướng về thiên tính. Những dấu hiệu mờ nhạt, lờ mờ của một giới còn cao hơn nay có thể được thấy, trong đó ngã thức sẽ nhường chỗ cho tâm thức nhóm, và con người sẽ biết mình đồng hoá với Toàn Thể, chứ không chỉ đơn giản là một cá nhân tự đủ. Bấy giờ sự sống của toàn bộ thân thể Thượng Đế có thể tuôn chảy một cách có ý thức vào và qua y, và sự sống của Thượng Đế trở thành sự sống của y, và y được phục sinh vào đời sống vĩnh cửu.

Therefore the trend in human affairs at this time towards synthesis, cooperation, fusion and amalgamation is a sign of the advanced stage humanity has reached. It is a portent of promise, and indicates that the resurrection to life, to which all the Sons of God, down the ages, have testified, is now a general possibility. Humanity today, as a whole, faces towards life because its values are real, its integrity is being steadily assured, and the world indications (as manifested through the nations and groups) are oriented towards synthesis and cooperation. The present world turmoil is simply [254] the result of this process of re-orientation, and has its parallel in the process of Christian “conversion” and the adjustments incident to that happening, which usually alter and re-arrange a man’s entire life programme. The world programme is thus being re-adjusted, and the immediate result is chaos. But the new direction is assured, and nothing can arrest the progress of humanity’s entrance into life. Hence the world crisis—the readjustments, the tendency to fusion and synthesis. The new race, which is immortal, is coming into being, and yet it is the same race at a new and high point of achievement. The Great Expectation then is that Birth into the Deathless Race may be realised here and now, as it has been realised already by those of humanity who have been made Divine.

Do đó, khuynh hướng trong các sự vụ nhân loại vào lúc này hướng tới tổng hợp, hợp tác, sự dung hợp và hòa nhập là dấu hiệu của giai đoạn tiến bộ mà nhân loại đã đạt tới. Đó là điềm báo đầy hứa hẹn, và cho thấy rằng sự phục sinh vào đời sống, điều mà tất cả Các Con của Thượng đế qua các thời đại đã làm chứng, nay là một khả năng chung. Ngày nay, nhân loại xét như một toàn thể hướng mặt về sự sống, vì các giá trị của nó là thực, sự toàn vẹn của nó đang được bảo đảm đều đặn, và các dấu hiệu thế giới, như được biểu lộ qua các quốc gia và nhóm, đang định hướng về tổng hợp và hợp tác. Tình trạng hỗn loạn hiện nay của thế giới chỉ đơn giản [254] là kết quả của tiến trình tái định hướng này, và có sự tương ứng của nó trong tiến trình “cải đạo” Cơ Đốc giáo và những điều chỉnh đi kèm biến cố ấy, vốn thường làm thay đổi và sắp xếp lại toàn bộ chương trình đời sống của một người. Vì vậy, chương trình thế giới đang được tái điều chỉnh, và kết quả trước mắt là hỗn loạn. Nhưng hướng đi mới đã được bảo đảm, và không gì có thể ngăn cản sự tiến bộ của việc nhân loại bước vào sự sống. Do đó có cuộc khủng hoảng thế giới—những tái điều chỉnh, khuynh hướng hướng tới sự dung hợp và tổng hợp. Nhân loại mới, vốn bất tử, đang đi vào hiện hữu, tuy vậy đó vẫn là cùng một nhân loại ở một điểm thành tựu mới và cao. Vậy Kỳ Vọng Lớn là sự Sinh Vào Nhân Loại Bất Tử có thể được chứng nghiệm ngay tại đây và bây giờ, như đã được chứng nghiệm bởi những người thuộc nhân loại đã được làm cho Thiêng Liêng.

The kingdom of God moves on to fulfilment. The purpose of Christ’s life, death and resurrection is on the verge of achieving consummation. A new kingdom is coming into being; a fifth kingdom in nature is materialising, and already has a nucleus functioning on earth in physical bodies. Therefore let us welcome the striving and struggling of the present time, for it is a sign of resurrection. Let us understand the upheaval and the chaos, as humanity breaks out of the tomb of selfishness and individualism and comes to the place of living light and unity, for it is the resurrection. Let us penetrate into the darkness with what light we have, and see humanity stirring, the dead bones coming to life, and the wrappings and bands being discarded, as spiritual strength and life pour into the race of men, for this is the resurrection.

Thiên Giới tiến tới sự hoàn thành. Mục đích của đời sống, cái chết và sự phục sinh của Đức Christ đang ở ngưỡng cửa đạt tới sự viên mãn. Một giới mới đang đi vào hiện hữu; một giới thứ năm trong thiên nhiên đang hiện hình, và đã có một hạt nhân hoạt động trên Trái Đất trong các thể xác. Vì vậy, chúng ta hãy chào đón sự cố gắng và đấu tranh của thời hiện tại, vì đó là dấu hiệu của sự phục sinh. Chúng ta hãy thấu hiểu sự chấn động và hỗn loạn, khi nhân loại thoát ra khỏi nấm mồ của ích kỷ và chủ nghĩa cá nhân, và đi đến nơi của ánh sáng sống động và sự hợp nhất, vì đó là sự phục sinh. Chúng ta hãy xuyên vào bóng tối bằng ánh sáng mà mình có, và thấy nhân loại đang chuyển động, những xương khô đi vào sự sống, những tấm vải liệm và dây buộc bị vứt bỏ, khi sức mạnh tinh thần và sự sống tuôn đổ vào nhân loại, vì đây là sự phục sinh.

We are privileged to be present at a moment of great crisis for the race. We are seeing the birth of a new and deathless race—a race in which the germ of immortality will flower, and in which divinity can express itself through the transfiguration of mankind. That which is of value is coming to the fore. It has always been there, but today it can be seen, ushering in the consummation of Christ’s work, and bringing to realisation His vision.

Chúng ta có đặc ân được hiện diện vào một khoảnh khắc khủng hoảng lớn lao đối với nhân loại. Chúng ta đang thấy sự ra đời của một nhân loại mới và bất tử—một nhân loại trong đó mầm bất tử sẽ nở hoa, và trong đó thiên tính có thể tự biểu lộ qua sự biến hình của loài người. Điều có giá trị đang đi ra phía trước. Nó đã luôn luôn ở đó, nhưng ngày nay nó có thể được thấy, mở đường cho sự viên mãn công việc của Đức Christ, và đưa tầm nhìn của Ngài đến sự chứng nghiệm.

CHAPTER SEVEN – Our Immediate Goal . . . The Founding of the Kingdom – CHƯƠNG BẢY – Mục Tiêu Trước Mắt Của Chúng Ta . . . Việc Thành Lập Thiên Giới

KEY THOUGHT

TƯ TƯỞNG CHỦ ĐẠO

“Any given moment of life must choose between two gods, psychologically incompatible. On the one hand, the peace of the hermit, the silence of the forest, the exaltation of sacrifice, the mightiness of simplification and unity, the joy of self-abandonment, the calm of absolute contemplation, the vision of God. On the other hand, the variety and stress of life, the zest of common ends, the mastery of means, the glory of infinite enterprise, the pride of creativity and self-possession. The modern world as a whole has made its choice. But there is a better choice; namely, the choice of both. For the life of each is that it may lose itself, from time to time, in the life of the other. And this, which is obvious in things partial, is true—and even chiefly true—in things total.”

“Bất cứ khoảnh khắc nào của đời sống cũng phải chọn giữa hai vị thần, vốn không tương hợp về mặt tâm lý. Một bên là sự bình an của ẩn sĩ, sự im lặng của rừng sâu, sự cao cả của hi sinh, sức mạnh của sự giản dị hóa và hợp nhất, niềm hoan hỉ của sự tự buông bỏ, sự tĩnh lặng của chiêm ngưỡng tuyệt đối, tầm nhìn về Thượng đế. Bên kia là tính đa dạng và căng thẳng của đời sống, niềm hăng say đối với các mục tiêu chung, sự làm chủ phương tiện, vinh quang của công cuộc vô tận, niềm kiêu hãnh của sức sáng tạo và sự tự chủ. Nhìn chung, thế giới hiện đại đã chọn lựa. Nhưng có một lựa chọn tốt đẹp hơn; đó là lựa chọn cả hai. Vì đời sống của mỗi bên là để, thỉnh thoảng, có thể đánh mất chính mình trong đời sống của bên kia. Và điều này, vốn hiển nhiên trong những sự việc bộ phận, cũng đúng — và thậm chí đúng chủ yếu — trong những sự việc toàn thể.”

‘THE MEANING OF GOD IN HUMAN EXPERIENCE’, BY W.E. HOCKING, P. 427.

‘Ý NGHĨA CỦA THƯỢNG ĐẾ TRONG KINH NGHIỆM NHÂN LOẠI’, CỦA W.E. HOCKING, TR. 427.

1

1

[257] We have followed Christ from Bethlehem to Calvary, and through the Resurrection to the episode wherein He disappeared from tangible worldly view and entered the world of subjective values, therein to function as the “Master of all the Masters and the Teacher alike of angels and of men.” We approached the subject of the five crises in His life from the angle of their world importance far more than from that of their significance to us as individuals. We have seen that there has been a revolt (and rightly so) from the emphasis laid by past theologians upon the blood sacrifice of Christ; and have arrived at the conclusion that the need of the world today is for the recognition of a risen Saviour. We have noted the fact that the uniqueness of His mission consisted in the fact that in “the fullness of time” He came to found the kingdom of God, to bring into being upon earth another kingdom of nature, and so set up the boundary line between that which is objective and illusory and that which is subjective and real. His coming marked the line of demarcation between the world of forms or symbols and that of values or of meaning. Into the latter world we are entering with great rapidity. Science, religion and philosophy are today occupied with significance, and their investigations are carrying them out of the world of appearances; governments and the allied sciences—politics and economics and sociology—are, in their turn, dealing with ideas and ideals. Even in [258] the realm of social disorders and wars—general, sporadic or civil—we see the conflict of differing ideals, and no longer wars of aggression or for the defense of property. These distinctions between the objective and the subjective, between the tangible and the intangible, the visible and the invisible, Christianity has fostered, because it was these differences which the kingdom of God and the kingdom of man presented. Christ came to give to life a meaning and a value, just as the Buddha came to make clear to us the false values upon which our modern world is based.

[257] Chúng ta đã theo Đức Christ từ Bethlehem đến Calvary, và qua sự Phục Sinh đến biến cố trong đó Ngài biến mất khỏi tầm nhìn hữu hình của thế gian và bước vào thế giới của các giá trị chủ quan, để ở đó hoạt động với tư cách là “Chân sư của mọi Chân sư và cũng là Huấn sư của các thiên thần và của con người.” Chúng ta đã tiếp cận đề tài về năm cuộc khủng hoảng trong đời Ngài từ góc độ tầm quan trọng thế giới của chúng nhiều hơn là từ góc độ thâm nghĩa của chúng đối với chúng ta như những cá nhân. Chúng ta đã thấy rằng đã có một sự phản kháng — và đúng như vậy — đối với sự nhấn mạnh mà các nhà thần học quá khứ đặt trên sự hi sinh bằng máu của Đức Christ; và đã đi đến kết luận rằng nhu cầu của thế giới ngày nay là nhận biết một Đấng Cứu Rỗi phục sinh. Chúng ta đã ghi nhận sự kiện rằng tính độc nhất trong sứ mệnh của Ngài nằm ở chỗ, vào “thời điểm viên mãn,” Ngài đã đến để thiết lập Thiên Giới, để đưa vào hiện tồn trên Trái Đất một giới khác của tự nhiên, và như thế dựng nên đường ranh giới giữa cái khách quan và hư ảo với cái chủ quan và chân thực. Sự đến của Ngài đánh dấu đường phân ranh giữa thế giới của các hình tướng hay biểu tượng và thế giới của các giá trị hay ý nghĩa. Chúng ta đang bước vào thế giới sau với tốc độ rất nhanh. Ngày nay, khoa học, tôn giáo và triết học đều bận tâm đến thâm nghĩa, và các cuộc khảo cứu của chúng đang đưa chúng ra khỏi thế giới của các sắc tướng; đến lượt mình, các chính quyền và những khoa học liên hệ — chính trị, kinh tế học và xã hội học — đang đề cập đến các ý tưởng và lý tưởng. Ngay cả trong [258] lĩnh vực của những rối loạn xã hội và chiến tranh — tổng quát, lẻ tẻ hay nội chiến — chúng ta cũng thấy xung đột của những lý tưởng khác nhau, chứ không còn là các cuộc chiến xâm lược hay nhằm bảo vệ tài sản. Những phân biệt này giữa khách quan và chủ quan, giữa hữu hình và vô hình, giữa thấy được và không thấy được, Cơ Đốc giáo đã nuôi dưỡng, bởi vì chính những khác biệt ấy được Thiên Giới và giới của con người trình bày. Đức Christ đến để ban cho đời sống một ý nghĩa và một giá trị, cũng như Đức Phật đến để làm sáng tỏ cho chúng ta những giá trị giả tạo mà thế giới hiện đại của chúng ta đặt nền trên đó.

A study of the teachings earlier given will show that every teaching, and every suffering Son of God who antedated Christ, did two things:

Việc nghiên cứu các giáo huấn đã được ban trước đây sẽ cho thấy rằng mọi giáo huấn, và mọi Con của Thượng đế chịu khổ nạn có trước Đức Christ, đều đã làm hai điều:

First of all, He prepared the way for Christ, giving out the teaching that His particular age, period and civilisation required; and secondly, He enacted in His life the teaching of the Mysteries, which however, before Christ’s time, was confined to the very few who were being prepared for initiation, or who could penetrate by right of initiation into the temples of those Mysteries.

Trước hết, Ngài chuẩn bị con đường cho Đức Christ, ban ra giáo huấn mà thời đại, giai đoạn và nền văn minh đặc thù của Ngài đòi hỏi; và thứ hai, trong đời sống của Ngài, Ngài thực hiện giáo huấn của các Bí nhiệm, vốn trước thời Đức Christ chỉ giới hạn cho rất ít người đang được chuẩn bị cho điểm đạo, hoặc những người có thể, nhờ quyền của điểm đạo, thâm nhập vào các đền thờ của những Bí nhiệm ấy.

Then the Buddha came and spoke to the multitude, telling them what was the source of their misery and discontent, and giving them, in the Four Noble Truths, a concise statement of the human situation. He outlined to them the Noble Eightfold Path governing right conduct, and gave in reality the rules which should control one upon the Path of Discipleship. Then, having Himself achieved Illumination, He entered into the “Secret Place of the Most High,” to come forth once a year, so legend tells us, in order to bless the world. That day of blessing (the day of the full moon of May) is preserved in the East as a general holiday, and in the West many hundreds also keep it as a day of spiritual remembrance.

Rồi Đức Phật đến và nói với quần chúng, cho họ biết đâu là nguồn gốc của khổ đau và bất mãn của họ, và trong Tứ Diệu Đế, Ngài ban cho họ một phát biểu cô đọng về tình trạng nhân loại. Ngài phác họa cho họ Bát Chánh Đạo cao quý, chi phối cách hành xử đúng đắn, và thực sự ban ra những quy luật phải kiểm soát một người trên Con Đường Đệ Tử. Rồi, sau khi chính Ngài đã đạt được Sự Soi Sáng, Ngài bước vào “Nơi Bí Mật của Đấng Tối Cao,” để mỗi năm một lần lại xuất hiện, như truyền thuyết kể lại, nhằm ban phúc cho thế giới. Ngày ban phúc ấy — ngày trăng tròn tháng Năm — được giữ gìn ở phương Đông như một ngày lễ chung, và ở phương Tây cũng có nhiều trăm người giữ ngày ấy như một ngày tưởng niệm tinh thần.

Then Christ came, and presented to the world, and made public in His life and through its critical points, the great processes of initiation (five in number) which lie ahead of [259] all who keep the rules which His great Brother laid down. He carried the teaching forward the next step, and made it available to the masses. Thus the continuity of revelation was perpetuated. The Buddha taught us the rules for disciples in preparation for the Mysteries of initiation, whilst Christ gave us the next stage, and showed us the process of initiation from the moment of the new birth into the kingdom to that of the final resurrection into life. His work was unique in its time and place, for it marked a consummation of the past, and an entrance into something utterly new, as far as humanity as a whole was concerned.

Rồi Đức Christ đến, và trình bày cho thế giới, đồng thời công khai hóa trong đời Ngài và qua các điểm khủng hoảng của đời ấy, những tiến trình lớn lao của điểm đạo — gồm năm tiến trình — đang nằm phía trước [259] tất cả những ai tuân giữ các quy luật mà Huynh Trưởng vĩ đại của Ngài đã đặt ra. Ngài đưa giáo huấn tiến thêm bước kế tiếp, và làm cho nó trở nên sẵn có đối với quần chúng. Như thế, tính liên tục của sự mặc khải được duy trì. Đức Phật dạy chúng ta các quy luật dành cho đệ tử trong sự chuẩn bị cho các Bí nhiệm của điểm đạo, trong khi Đức Christ ban cho chúng ta giai đoạn kế tiếp, và chỉ cho chúng ta tiến trình điểm đạo từ khoảnh khắc của sự sinh ra mới vào Thiên Giới cho đến sự phục sinh cuối cùng vào sự sống. Công việc của Ngài là độc nhất trong thời gian và nơi chốn của nó, vì nó đánh dấu sự hoàn tất của quá khứ và sự bước vào một điều hoàn toàn mới, xét theo nhân loại như một toàn thể.

Humanity had also reached a unique stage in its development. The race had become intelligent, and the personality of man—physical, emotional and mental—had been carried forward to a definite point of integration and coordination. This, on a scale so immense, was unique. There had been isolated personalities. Now, in the Christian era, we live in an age of personalities. So high is the general level of integrated personality life that we are apt to feel we have reached an era where there are no outstanding figures. This is probably due to the fact that the general average of human development is so high that the power to stand out dominantly is much more limited. Because of this development, humanity (regarding it as a kingdom in nature) has reached a point where something new can emerge, as has always happened in analogous circumstances in other kingdoms. We can produce, and as a race give birth to, the next kingdom in nature, which Christ called the kingdom of God; this is the kingdom of souls, the kingdom of spiritual lives, and herein, uniquely, Christ emerges. He is the founder of that kingdom. He proclaimed its existence and He indicated its nature. In Himself He gave us an expression of its qualifications, and showed us the characteristics of the citizen of that kingdom.

Nhân loại cũng đã đạt tới một giai đoạn độc nhất trong sự phát triển của mình. Nhân loại đã trở nên thông minh, và phàm ngã của con người — hồng trần, cảm xúc và trí tuệ — đã được đưa đến một điểm tích hợp và phối hợp xác định. Điều này, trên một quy mô bao la như thế, là độc nhất. Trước kia đã có những phàm ngã cô lập. Nay, trong kỷ nguyên Cơ Đốc giáo, chúng ta sống trong một thời đại của các phàm ngã. Mức độ chung của đời sống phàm ngã tích hợp cao đến nỗi chúng ta dễ cảm thấy mình đã đạt tới một kỷ nguyên không còn những nhân vật nổi bật. Điều này có lẽ là do mức trung bình chung của sự phát triển nhân loại cao đến mức khả năng nổi bật một cách áp đảo bị giới hạn hơn nhiều. Do sự phát triển này, nhân loại — nếu xem nó như một giới trong tự nhiên — đã đạt tới một điểm nơi một điều mới có thể xuất hiện, như vẫn luôn xảy ra trong các hoàn cảnh tương đồng ở những giới khác. Chúng ta có thể tạo ra, và với tư cách là một nhân loại, sinh ra giới kế tiếp trong tự nhiên, mà Đức Christ gọi là Thiên Giới; đây là giới của các linh hồn, giới của các sự sống tinh thần, và chính ở đây, một cách độc nhất, Đức Christ xuất hiện. Ngài là vị sáng lập giới ấy. Ngài tuyên bố sự hiện hữu của nó và chỉ rõ bản chất của nó. Nơi chính Ngài, Ngài ban cho chúng ta một biểu hiện về các phẩm chất của nó, và chỉ cho chúng ta những đặc tính của công dân trong giới ấy.

Through the example of its Founder, Christianity has also had a unique mission in inaugurating the era of service. World service, world welfare, world interest, world inter-communication [260] and the importance of the general good are all products of the emphasis Christ laid upon human divinity and on the brotherhood of man, based upon the Fatherhood of God. No other religion or era has thus emphasised these points. They still remain in many ways ideals, but are slowly in process of becoming facts.

Qua gương mẫu của Đấng Sáng Lập, Cơ Đốc giáo cũng đã có một sứ mệnh độc nhất trong việc khai mở kỷ nguyên phụng sự. Phụng sự thế giới, phúc lợi thế giới, mối quan tâm đến thế giới, sự liên giao thế giới [260] và tầm quan trọng của lợi ích chung đều là sản phẩm của sự nhấn mạnh mà Đức Christ đặt trên thiên tính của con người và trên tình huynh đệ của nhân loại, dựa trên Tình Phụ Tử của Thượng đế. Không tôn giáo hay kỷ nguyên nào khác đã nhấn mạnh những điểm này như vậy. Chúng vẫn còn, theo nhiều cách, là các lý tưởng, nhưng đang chậm rãi trong tiến trình trở thành sự kiện.

Christ therefore achieved through His work the following things:

Do đó, qua công việc của Ngài, Đức Christ đã đạt được những điều sau đây:

1. He externalised the Mysteries so that they have become known to humanity as a whole, and are not only the secret possession of the Initiates.

1. Ngài đã ngoại hiện các Bí nhiệm để chúng trở nên được nhân loại nói chung biết đến, chứ không chỉ là sở hữu bí mật của các điểm đạo đồ.

2. He enacted the drama of initiation before the world, so that its symbolism could penetrate into the human consciousness.

2. Ngài đã diễn vở kịch điểm đạo trước thế giới, để biểu tượng tính của nó có thể thâm nhập vào tâm thức con người.

3. He gave us a demonstration of perfection so that we can no longer question the nature of God, yet at the same time He gave us the guarantee that we too are the children of God, and can likewise achieve divinity if we follow in His steps.

3. Ngài ban cho chúng ta một minh chứng về sự hoàn thiện, để chúng ta không còn có thể nghi vấn về bản chất của Thượng đế; tuy vậy, đồng thời Ngài ban cho chúng ta sự bảo đảm rằng chúng ta cũng là con cái của Thượng đế, và cũng có thể đạt được thiên tính nếu chúng ta bước theo dấu chân Ngài.

4. He revealed to us the world of meaning, and, in the Person of the historical Christ, showed us the significance of the cosmic Christ, the mythic Christ, and the mystical Christ in the heart of every man. He revealed the nature of God transcendent and of God immanent.

4. Ngài mặc khải cho chúng ta Thế giới của ý nghĩa, và trong Ngôi Vị của Đức Christ lịch sử, chỉ cho chúng ta thâm nghĩa của Đức Christ vũ trụ, Đức Christ huyền thoại, và Đức Christ thần bí trong tâm của mỗi người. Ngài mặc khải bản chất của Thượng đế siêu việt và của Thượng đế nội tại.

5. The past of humanity culminated in Him; the present finds in Him its solution, and the future is symbolised in His life and death. Therefore all three lines of past, present and future meet in Him, and give Him His unique significance.

5. Quá khứ của nhân loại đạt đến đỉnh điểm nơi Ngài; hiện tại tìm thấy lời giải nơi Ngài, và tương lai được biểu tượng hóa trong sự sống và cái chết của Ngài. Vì vậy, cả ba tuyến quá khứ, hiện tại và tương lai đều gặp nhau nơi Ngài, và ban cho Ngài thâm nghĩa độc nhất của Ngài.

6. He founded the kingdom of God in due time when the human kingdom was reaching maturity. He demonstrated the values of that kingdom in His Own life, portraying for us the character of its citizenship, and He opened the door wide for all who could fit themselves (through service and discipline) to pass out of the human kingdom into the spiritual kingdom. [261]

6. Ngài đã thiết lập Thiên Giới đúng thời điểm, khi giới nhân loại đang đạt tới sự trưởng thành. Trong Chính đời sống của Ngài, Ngài minh chứng các giá trị của giới ấy, mô tả cho chúng ta tính cách của công dân thuộc giới ấy, và Ngài mở rộng cánh cửa cho tất cả những ai có thể tự làm cho mình thích hợp — qua phụng sự và kỷ luật — để đi ra khỏi giới nhân loại và bước vào giới tinh thần. [261]

7. He reared His Cross as a boundary, a symbol, and an example of method, between the world of tangible values and the world of spiritual values, and called us to the death of the lower nature in order that the Spirit of God may have full sway.

7. Ngài dựng Thập Giá của Ngài như một ranh giới, một biểu tượng, và một gương mẫu về phương pháp, giữa thế giới của các giá trị hữu hình và thế giới của các giá trị tinh thần, và kêu gọi chúng ta đi vào cái chết của bản chất thấp để Tinh thần của Thượng đế có thể toàn quyền chi phối.

8. He taught us that death must end, and that the destiny of humanity is the resurrection from among the dead. Immortality must take the place of mortality. For our sakes, therefore, He rose from the dead and proved that the bonds of death cannot hold any human being who can function as a Son of God.

8. Ngài dạy chúng ta rằng cái chết phải chấm dứt, và định mệnh của nhân loại là sự phục sinh từ giữa những kẻ chết. Bất tử phải thay thế cho hữu tử. Vì chúng ta, do đó, Ngài đã sống lại từ cõi chết và chứng minh rằng xiềng xích của sự chết không thể giữ bất cứ con người nào có thể hoạt động như một Con của Thượng đế.

Many sons of God had passed through the Temples of the Mysteries; many had learnt to function divinely and had, in the process of expressing divinity, lived and served and died. But none of them came at the particular period of unfoldment which made possible the universal recognition which Christ has evoked, nor was the intellect of the masses sufficiently developed to profit by their teaching on a large scale until that time. In these respects Christ and His mission were uniquely important. He taught us to work towards unity and to bring to an end isolation and hatred and separation, telling us to love our neighbour as ourselves. He gave a message which was universal in its implications, for the kingdom of God stands wide open to all who love and serve and who purify the lower nature, irrespective of creed and dogma. He taught the unity of the faith, the Fatherhood of God, and the necessity not only to walk with God, but to walk with each other in love and understanding. He emphasised the necessity for cooperation, indicating that if we truly follow the Way, we shall put an end to competition, and substitute for it cooperation. He urged us to live by principles, divine, basic and fundamental, and to lay no emphasis upon personalities.

Nhiều con của Thượng đế đã đi qua các Đền Thờ của những Bí nhiệm; nhiều người đã học cách hoạt động một cách thiêng liêng và, trong tiến trình biểu hiện thiên tính, đã sống, phụng sự và chết. Nhưng không ai trong số họ đến vào giai đoạn khai mở đặc thù khiến sự công nhận phổ quát mà Đức Christ đã gợi lên trở nên khả hữu; cũng không phải cho đến thời ấy trí năng của quần chúng mới phát triển đủ để hưởng lợi từ giáo huấn của họ trên quy mô rộng lớn. Về những phương diện này, Đức Christ và sứ mệnh của Ngài có tầm quan trọng độc nhất. Ngài dạy chúng ta làm việc hướng tới sự hợp nhất và chấm dứt cô lập, thù hận và chia rẽ, bảo chúng ta yêu người lân cận như chính mình. Ngài ban một thông điệp có hàm ý phổ quát, vì Thiên Giới mở rộng cho tất cả những ai yêu thương và phụng sự, và thanh luyện bản chất thấp, bất kể tín điều và giáo điều. Ngài dạy sự hợp nhất của đức tin, Tình Phụ Tử của Thượng đế, và sự cần thiết không chỉ bước đi với Thượng đế, mà còn bước đi với nhau trong tình thương và sự thấu hiểu. Ngài nhấn mạnh sự cần thiết của hợp tác, chỉ ra rằng nếu chúng ta thật sự theo Đường Đạo, chúng ta sẽ chấm dứt cạnh tranh và thay vào đó bằng hợp tác. Ngài thúc giục chúng ta sống theo các nguyên tắc — thiêng liêng, nền tảng và căn bản — và không đặt sự nhấn mạnh nào lên các phàm ngã.

Love, brotherhood, cooperation, service, self-sacrifice, inclusiveness, freedom from doctrine, recognition of divinity—these are the characteristics of the citizen of the kingdom, [262] and these still remain our ideals. Therefore the question of importance facing humanity today is, just what must be done in order to bring about the attainment of the three major objectives which Christ held before us. They remain objectives for all mankind, and are generally so recognised, even when their Christian interpretation is ignored, or when Christ remains unrecognised. How shall we perfect the human being, so that his handling of life, and his attitude to people and his environment, are correct and constructive? How shall we materialise on earth that state of consciousness, accompanied by that condition of living, the result of which would deserve to be recognised as the kingdom of God? How shall we arrive at an understanding of the problem of death, with the surmounting of the process of dying, and the achieving of resurrection? Christ has provided a definite answer and programme for the solution of the problem of human perfection, the problem of a new world, and the problem of immortality.

Tình thương, tình huynh đệ, hợp tác, phụng sự, tự hi sinh, tính bao gồm, tự do khỏi giáo điều, sự công nhận thiên tính — đó là những đặc tính của công dân Thiên Giới, [262] và chúng vẫn còn là các lý tưởng của chúng ta. Vì vậy, câu hỏi quan trọng đang đối diện nhân loại ngày nay là: chính xác phải làm gì để đạt được ba mục tiêu lớn mà Đức Christ đã đặt trước chúng ta. Chúng vẫn là các mục tiêu cho toàn thể nhân loại, và nhìn chung được công nhận như thế, ngay cả khi cách diễn giải Cơ Đốc giáo về chúng bị bỏ qua, hoặc khi Đức Christ không được công nhận. Làm thế nào chúng ta hoàn thiện con người, để cách y xử lý đời sống, thái độ của y đối với người khác và môi trường của y, đều đúng đắn và xây dựng? Làm thế nào chúng ta hiện hình trên Trái Đất trạng thái tâm thức ấy, đi kèm với tình trạng sống ấy, mà kết quả của nó xứng đáng được công nhận là Thiên Giới? Làm thế nào chúng ta đạt tới sự thấu hiểu vấn đề cái chết, cùng với việc vượt thắng tiến trình chết và đạt được sự phục sinh? Đức Christ đã cung cấp một lời đáp và một chương trình xác định để giải quyết vấn đề hoàn thiện con người, vấn đề một thế giới mới, và vấn đề bất tử.

That humanity is on its way to great and vital events is generally recognised. We have in the past progressed through varying civilisations to the important present, and we are on our way to still greater achievements. The question, however, arises whether we may hasten the process; whether, by a right understanding of Christ and His teaching, we could so expedite matters that the kingdom and its laws may hold sway earlier than would otherwise be the case. No sacrifice on our part would be too great, if Christ was right in the position He took and in the teaching He gave as to the nature of man. The decision rests with us. The choice is ours. Therefore in the last analysis what is the decision we have to make? What is the question that we have to answer? Christ has said that man is divine. Was He right? If man is divine and a son of the Father, then let us proceed to express that divinity and claim our birthright. We have been occupied with much thought and discussion about God in the past. God transcendent has been both recognised and denied. God immanent is on the verge of recognition, and in that recognition [263] may surely lie the way out for man. Are we divine? That is the all-important question.

Nhìn chung, người ta công nhận rằng nhân loại đang trên đường tiến tới những biến cố lớn lao và thiết yếu. Trong quá khứ, chúng ta đã tiến qua các nền văn minh khác nhau đến hiện tại quan trọng này, và chúng ta đang trên đường tới những thành tựu còn lớn lao hơn nữa. Tuy nhiên, câu hỏi nảy sinh là liệu chúng ta có thể thúc nhanh tiến trình hay không; liệu, bằng một sự thấu hiểu đúng đắn về Đức Christ và giáo huấn của Ngài, chúng ta có thể xúc tiến sự việc đến mức Thiên Giới và các định luật của nó có thể nắm quyền chi phối sớm hơn so với trường hợp khác hay không. Không hi sinh nào từ phía chúng ta là quá lớn, nếu Đức Christ đã đúng trong lập trường Ngài giữ và trong giáo huấn Ngài ban về bản chất của con người. Quyết định nằm nơi chúng ta. Sự lựa chọn là của chúng ta. Vì vậy, xét đến cùng, quyết định mà chúng ta phải đưa ra là gì? Câu hỏi mà chúng ta phải trả lời là gì? Đức Christ đã nói rằng con người là thiêng liêng. Ngài có đúng không? Nếu con người là thiêng liêng và là con của Cha, vậy chúng ta hãy tiến tới biểu hiện thiên tính ấy và đòi quyền thừa kế do sinh ra của mình. Trong quá khứ, chúng ta đã bận tâm nhiều với tư tưởng và thảo luận về Thượng đế. Thượng đế siêu việt đã vừa được công nhận vừa bị phủ nhận. Thượng đế nội tại đang ở ngưỡng cửa của sự công nhận, và trong sự công nhận ấy [263] chắc chắn có thể có lối thoát cho con người. Chúng ta có thiêng liêng không? Đó là câu hỏi tối quan trọng.

If man is divine, if the testimony of the ages is true, and if Christ came to show us divinity in expression and to found the new kingdom, then the breaking down today of the old forms, and the widespread destruction of the familiar structures of society and religion, may simply be part of the process of instituting the new processes of life and the planned work of a vital evolving spirit. A reaction to the appearance of the kingdom may account for the unrest of the masses, and the general sensitive response to the new ideals may be due to the impact of the force of the kingdom upon the minds of the more advanced people of the world. The mystic and the Christian may talk in terms of the kingdom of God; philanthropists and philosophers may talk in terms of the world community, of the new civilisation, of the world federation of nations, of humanity as a body corporate, of community living and of internationalism and economic interdependence and world unity; but these are mere words and names which differing types of mind apply to the one great emerging fact of a new kingdom in nature arising out of the human kingdom, with its own principles of living, its laws of group welfare, and its brotherhood of man.

Nếu con người là thiêng liêng, nếu chứng ngôn của các thời đại là đúng, và nếu Đức Christ đã đến để chỉ cho chúng ta thiên tính trong biểu hiện và để thiết lập giới mới, thì sự phá vỡ ngày nay của các hình tướng cũ, và sự hủy hoại lan rộng của những cấu trúc quen thuộc trong xã hội và tôn giáo, có thể chỉ đơn giản là một phần của tiến trình thiết lập những tiến trình sống mới và công việc có hoạch định của một tinh thần sống động đang tiến hoá. Một phản ứng trước sự xuất hiện của Thiên Giới có thể giải thích sự bất ổn của quần chúng, và sự đáp ứng nhạy bén chung đối với các lý tưởng mới có thể là do tác động của mãnh lực Thiên Giới lên thể trí của những người tiến bộ hơn trong thế giới. Nhà thần bí và tín đồ Cơ Đốc giáo có thể nói bằng thuật ngữ Thiên Giới; các nhà từ thiện và triết gia có thể nói bằng thuật ngữ cộng đồng thế giới, nền văn minh mới, liên bang thế giới của các quốc gia, nhân loại như một đoàn thể thống nhất, đời sống cộng đồng, chủ nghĩa quốc tế, sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế và sự thống nhất thế giới; nhưng đó chỉ là những từ ngữ và danh xưng mà các kiểu trí tuệ khác nhau áp dụng cho một sự kiện vĩ đại đang xuất hiện: một giới mới trong tự nhiên đang phát sinh từ giới nhân loại, với các nguyên tắc sống riêng, các định luật về phúc lợi nhóm riêng, và tình huynh đệ của nhân loại riêng.

In the unfoldment of the human consciousness we are passing out of the necessary stage of individualism; we have temporarily lost sight of the deeper truths, the mystical values, and the one Life behind all forms. We have been too much occupied with material and selfish interests. But this has been a needed stage, even though it may well be that it has persisted too long. It is time for us to end the period of selfish individualism, permitting it no longer to be a controlling factor in our lives, time for us to begin to blend and unify the deeper elements of the world of reality with the outer life. The best minds of the age are now appreciating this, and on every hand the call is going out for a deepening of life, a recognition of the nature of and the need for a coherent understanding of the world processes, and their conscious intelligent [264] integration into a recognisable world order. The disintegration in the world at this time is right and good, provided we understand why it is taking place and by what it should be succeeded. Destruction which is carried on with a view to eventual construction is right and proper, but the plans for the coming building must be somewhere understood, and some idea must exist as to subsequent reconstruction.

Trong sự khai mở của tâm thức con người, chúng ta đang đi ra khỏi giai đoạn cần thiết của chủ nghĩa cá nhân; chúng ta đã tạm thời mất khỏi tầm nhìn những chân lý sâu xa hơn, các giá trị thần bí, và Sự Sống duy nhất đằng sau mọi hình tướng. Chúng ta đã quá bận tâm với các lợi ích vật chất và ích kỷ. Nhưng đây là một giai đoạn cần thiết, dù rất có thể nó đã kéo dài quá lâu. Đã đến lúc chúng ta chấm dứt thời kỳ của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, không còn cho phép nó là một yếu tố chi phối trong đời sống của chúng ta; đã đến lúc chúng ta bắt đầu hòa trộn và hợp nhất các yếu tố sâu xa hơn của thế giới thực tại với đời sống bên ngoài. Những trí tuệ ưu tú nhất của thời đại hiện đang nhận thức điều này, và khắp nơi lời kêu gọi đang vang lên cho sự đào sâu đời sống, sự công nhận bản chất và nhu cầu về một sự thấu hiểu mạch lạc đối với các tiến trình thế giới, cùng sự tích hợp có ý thức và thông minh [264] của chúng vào một trật tự thế giới có thể nhận biết. Sự tan rã trong thế giới vào lúc này là đúng và tốt, miễn là chúng ta thấu hiểu vì sao nó đang diễn ra và điều gì phải kế tiếp nó. Sự hủy hoại được tiến hành nhằm hướng tới xây dựng sau cùng là đúng đắn và thích hợp, nhưng các kế hoạch cho công trình xây dựng sắp đến phải được thấu hiểu ở đâu đó, và phải có một ý tưởng nào đó về sự tái thiết theo sau.

Our need today is to see the hidden thread of purpose which will lead us out of the apparent impasse; to isolate, out of the many theories, that basic theory which not only has its roots in the past, but is capable of application in a new way, in new terms, by those who are permeated with the new vision. We need what Dr. Schweitzer calls “… the recognition that civilization is founded on some sort of theory of the universe, and can be restored only through a spiritual awakening and a will for ethical good in the mass of mankind.” (‘The Decay and Restoration of Civilisation’, by Albert Schweitzer, p. 78-79.) This awakening is already here, and the will to good is present. The teaching of Christ is not obsolete and out of date. It needs only to be rescued from the interpretations of the theologies of the past, and taken at its simple face value, which is an expression of the divinity of man, of his participation in the kingdom which is in process of being brought into recognition, and of his immortality as a citizen of that kingdom. What we are in reality passing through is “a religious initiation into the mysteries of Being,” (‘The End of Our Time’, by Nicholas Berdayaev, p. 105.) and from that we shall emerge with a deepened sense of God immanent in ourselves and in all humanity. The need for this revaluation is being impressed upon us constantly. It might be of value to us, therefore, to admit this possibility and consider practically our individual relation to the work which Christ expressed and inaugurated, and to deal with the problem of our individual perfecting, in order that we may help to found [265] the kingdom and to develop those values which will warrant immortality.

Nhu cầu của chúng ta ngày nay là thấy được sợi dây ẩn giấu của mục đích sẽ dẫn chúng ta ra khỏi bế tắc bề ngoài; là tách ra, từ nhiều lý thuyết, lý thuyết nền tảng không chỉ có rễ trong quá khứ mà còn có khả năng được áp dụng theo một cách mới, bằng những thuật ngữ mới, bởi những người được thấm nhuần bởi tầm nhìn mới. Chúng ta cần điều mà Tiến sĩ Schweitzer gọi là “… sự công nhận rằng văn minh được đặt nền trên một loại lý thuyết nào đó về vũ trụ, và chỉ có thể được phục hồi qua một sự thức tỉnh tinh thần và một ý chí hướng về điều thiện đạo đức trong đại chúng nhân loại.” (‘Sự Suy Tàn và Phục Hồi của Văn Minh’, của Albert Schweitzer, tr. 78-79.) Sự thức tỉnh này đã có ở đây, và ý chí hướng thiện đang hiện diện. Giáo huấn của Đức Christ không lỗi thời và lạc hậu. Nó chỉ cần được giải cứu khỏi các diễn giải của những thần học quá khứ, và được tiếp nhận theo giá trị đơn giản bề mặt của nó, vốn là một biểu hiện của thiên tính nơi con người, của sự tham dự của y vào giới đang trong tiến trình được đưa vào sự công nhận, và của sự bất tử của y với tư cách là công dân của giới ấy. Điều mà trong thực tế chúng ta đang trải qua là “một cuộc điểm đạo tôn giáo vào các bí nhiệm của Bản Thể,” (‘Sự Kết Thúc Thời Đại Chúng Ta’, của Nicholas Berdayaev, tr. 105.) và từ đó chúng ta sẽ bước ra với một ý thức sâu sắc hơn về Thượng đế nội tại trong chính mình và trong toàn thể nhân loại. Nhu cầu về sự tái định giá này đang liên tục được in sâu vào chúng ta. Vì vậy, có thể hữu ích cho chúng ta khi thừa nhận khả năng này và xem xét một cách thực tiễn mối liên hệ cá nhân của chúng ta với công việc mà Đức Christ đã biểu hiện và khai mở, cũng như xử lý vấn đề hoàn thiện cá nhân của chúng ta, để chúng ta có thể giúp thiết lập [265] Thiên Giới và phát triển những giá trị sẽ bảo đảm sự bất tử.

Someone has remarked that our troubles at this time are due largely to the lack of intuitive perception on the part of those who can impress the masses and lead people forward. They seek to guide by mental processes and enforcements, and not by that intuitive presentation of reality which the child and the wise man can simultaneously recognise. It is vision that is needed, for “where there is no vision the people perish.” (Proverbs, XXIX, 18.) We have not lacked idealism, nor have we been too greatly unintelligent. Most people, faced with issues and problems, act with sincerity, even if their line of action may seem mistaken. But our outstanding error has been a failure to make those personality adjustments and sacrifices which would render realisation possible.

Có người đã nhận xét rằng những khó khăn của chúng ta vào lúc này phần lớn là do sự thiếu tri giác trực giác nơi những người có thể tạo ấn tượng lên quần chúng và dẫn dắt con người tiến về phía trước. Họ tìm cách hướng dẫn bằng các tiến trình trí tuệ và sự áp đặt, chứ không bằng cách trình bày thực tại theo trực giác, điều mà đứa trẻ và người minh triết có thể đồng thời nhận ra. Điều cần thiết là tầm nhìn, vì “nơi nào không có tầm nhìn, dân chúng sẽ tiêu vong.” (Châm Ngôn, XXIX, 18.) Chúng ta không thiếu lý tưởng chủ nghĩa, cũng không phải quá kém thông minh. Phần lớn mọi người, khi đối diện với các vấn đề và khó khăn, đều hành động với sự chân thành, ngay cả khi đường lối hành động của họ có thể có vẻ sai lầm. Nhưng lỗi lầm nổi bật của chúng ta là đã không thực hiện những điều chỉnh và hi sinh nơi phàm ngã, vốn sẽ làm cho sự chứng nghiệm trở nên khả hữu.

People ask for guidance; they demand right leadership; they hope to be led in the way that they should go; and yet all the time the guidance, leadership and direction have been given them. Christ blazed the trail and is still waiting for us to follow, not one by one, but—under inspired disciples—as a race. Like the children of Israel under Moses, we must go forth and find the “holy land.” How then can those who have vision (and they are many) train themselves to aid in the right orientation of humanity? How can they become the leaders so sorely needed? By learning to be led themselves by Christ, and by following the guidance of the inner mystical Christ which will inevitably lead them direct to Christ the Initiator. As aspirants to the mysteries we must learn the way through obedience to the light which we may have, by love, and by becoming sensitive to inspiration from on high. There is no other way. We have no genuine excuse for failing, for others have gone ahead, and Christ made it all so clear and simple.

Con người cầu xin sự hướng dẫn; họ đòi hỏi sự lãnh đạo đúng đắn; họ hy vọng được dẫn dắt trên con đường mà họ nên đi; vậy mà suốt thời gian ấy, sự hướng dẫn, lãnh đạo và chỉ đạo đã được ban cho họ. Đức Christ đã mở đường và vẫn đang chờ chúng ta đi theo, không phải từng người một, mà — dưới sự dẫn dắt của các đệ tử được cảm hứng — với tư cách là một nhân loại. Giống như con cái Israel dưới sự dẫn dắt của Moses, chúng ta phải tiến ra và tìm “đất thánh.” Vậy làm thế nào những người có tầm nhìn — và họ rất nhiều — có thể tự rèn luyện để hỗ trợ sự định hướng đúng đắn của nhân loại? Làm thế nào họ có thể trở thành những nhà lãnh đạo đang hết sức cần thiết? Bằng cách học để chính họ được Đức Christ dẫn dắt, và bằng cách noi theo sự hướng dẫn của Đức Christ thần bí bên trong, điều sẽ tất yếu dẫn họ trực tiếp đến Đức Christ Đấng Điểm đạo. Với tư cách là những người chí nguyện vào các bí nhiệm, chúng ta phải học con đường qua sự vâng phục ánh sáng mà chúng ta có thể có, qua tình thương, và qua việc trở nên nhạy bén với cảm hứng từ trên cao. Không có con đường nào khác. Chúng ta không có lý do biện hộ chân chính nào cho sự thất bại, vì những người khác đã đi trước, và Đức Christ đã làm cho tất cả điều ấy thật rõ ràng và đơn giản.

Obedience to the highest one knows, in small things as well as in great, is too simple a rule for many to follow, but it is the secret of the Way. We demand so much, and when a [266] simple rule is given us, and we are told merely to obey the voice of conscience and to follow the glimmer of light which we can see, we do not find it sufficiently interesting to call forth prompt obedience. But this rule was the first which Christ followed, and even when a child, He said that He came to occupy Himself with His Father’s business. He obeyed the call. He did as God told Him; He followed step by step the inner voice—and it led Him from Bethlehem to Calvary. But it took Him eventually to the Mount of Ascension. He has shown us what results from obedience, and He “learned obedience by the things which He suffered.” He paid the price, and revealed to us what God in man could be and do.

Vâng phục điều cao nhất mà một người biết, trong những việc nhỏ cũng như việc lớn, là một quy luật quá đơn giản đối với nhiều người để noi theo, nhưng đó là bí quyết của Đường Đạo. Chúng ta đòi hỏi quá nhiều, và khi một [266] quy luật đơn giản được ban cho chúng ta, và chúng ta chỉ được bảo hãy vâng theo tiếng nói của lương tâm và đi theo tia sáng le lói mà chúng ta có thể thấy, chúng ta không thấy nó đủ thú vị để khơi dậy sự vâng phục tức khắc. Nhưng quy luật này là quy luật đầu tiên mà Đức Christ đã noi theo, và ngay khi còn là một đứa trẻ, Ngài đã nói rằng Ngài đến để lo công việc của Cha Ngài. Ngài vâng theo tiếng gọi. Ngài làm như Thượng đế bảo Ngài; Ngài từng bước đi theo tiếng nói bên trong — và nó dẫn Ngài từ Bethlehem đến Calvary. Nhưng cuối cùng nó đưa Ngài đến Núi Thăng Thiên. Ngài đã chỉ cho chúng ta thấy những gì phát sinh từ sự vâng phục, và Ngài “học vâng phục qua những điều Ngài chịu khổ.” Ngài đã trả giá, và mặc khải cho chúng ta điều Thượng đế trong con người có thể là và có thể làm.

The achievement of human perfection is not the simple matter of building a good character and being nice and kind. More than that is involved. It is a question of understanding and of a new and regulated inner attitude, one which is oriented to God because it is oriented to the service of man, in whom God is expressing Himself. “If we do not love our brother whom we have seen, how can we love God whom we have not seen?” (St. John, IV, 20.) This is the question which St. John, the beloved Apostle, asks and which we have not yet, as a race, attempted to answer. The vital need is to return to the simple fundamental instruction which Christ gave, and to learn to love our brother. Love is not a sentimental, emotional state of consciousness. It takes into account the point in evolution and the development of character of those to be loved; but in spite of all, it is a love which sees truly, and which, because it sees so truly can act wisely. It is a love which realises that the world needs love, and that a spirit of love (which is a spirit of inclusiveness, of tolerance, of wise judgment and far-sighted vision) can draw all men together into that outward unity which is based upon a recognised inner relationship.

Thành tựu sự hoàn thiện của con người không phải là việc đơn giản của việc xây dựng một tính cách tốt và trở nên dễ thương, tử tế. Nó hàm chứa nhiều hơn thế. Đó là vấn đề thấu hiểu và một thái độ nội tâm mới, được điều chỉnh, một thái độ hướng về Thượng đế bởi vì nó hướng về phụng sự con người, nơi Thượng đế đang biểu hiện Chính Ngài. “Nếu chúng ta không yêu huynh đệ mình là người chúng ta đã thấy, làm sao chúng ta có thể yêu Thượng đế là Đấng chúng ta chưa thấy?” (Thánh Gioan, IV, 20.) Đây là câu hỏi mà Thánh Gioan, Tông đồ được yêu mến, nêu ra và chúng ta, với tư cách là một nhân loại, vẫn chưa cố gắng trả lời. Nhu cầu thiết yếu là trở về với chỉ dẫn căn bản đơn giản mà Đức Christ đã ban, và học yêu thương huynh đệ của mình. Tình thương không phải là một trạng thái tâm thức đa cảm, cảm xúc. Nó tính đến điểm tiến hoá và sự phát triển tính cách của những người cần được yêu thương; nhưng bất chấp tất cả, đó là một tình thương thấy đúng sự thật, và vì thấy đúng sự thật như thế nên có thể hành động một cách minh triết. Đó là một tình thương nhận ra rằng thế giới cần tình thương, và rằng một tinh thần thương yêu — vốn là một tinh thần của tính bao gồm, của khoan dung, của phán đoán minh triết và tầm nhìn xa — có thể kéo mọi người lại với nhau vào sự hợp nhất bên ngoài dựa trên một mối liên hệ bên trong được công nhận.

We are all so ready to take love. We are all so eager to be loved, because we realise, unconsciously if not consciously, [267] that love means service, and we like to be served. The time has come when that selfish attitude to life must change, and we must learn to give love and not to ask love, to go out in service to all whom we contact day by day, and expect and exact nothing for the separated self. When this spirit (which is outstandingly the spirit of Christ and of those who know Him best) becomes more general, then we shall see a more rapid consummation of the desired changes. Theologically, we have said that “God is love,” and then have interpreted Him in terms of our own hatreds, our own limited ideals, our narrow theologies, and our separative attitudes. We have recognised Christ as the great Server of the race, and have pointed to Him as the example of what is possible. But we accord no general service, and that quality is not yet the motivating power in the life of the world. It is motivating life more definitely than ever before, but the efforts that are now being made—twenty centuries after Christ left us with the command to follow in His steps—only serve to show how slow we have been, how much remains to be done, and how desperately men need to be served by those who have vision and the love of God in their hearts. It is obvious how little love there is used in the world at this time. The essential thing to remember is that the reason we can recognise God as a God of love is that we are ourselves, basically and potentially, God-like in quality. This in itself constitutes a problem, for unless the divine in us is somewhat awakened it is difficult for us to interpret love correctly, and it is impossible for the masses of men, who are yet upon the path of becoming, and in many cases are scarcely human beings, to understand the real significance of love.

Tất cả chúng ta đều quá sẵn sàng nhận tình thương. Tất cả chúng ta đều quá khao khát được yêu thương, bởi vì chúng ta nhận ra, dù vô thức nếu không hữu thức, [267] rằng tình thương hàm ý phụng sự, và chúng ta thích được phụng sự. Đã đến lúc thái độ ích kỷ ấy đối với đời sống phải thay đổi, và chúng ta phải học trao tình thương chứ không đòi hỏi tình thương, đi ra trong phụng sự đối với tất cả những ai chúng ta tiếp xúc ngày này qua ngày khác, và không mong đợi cũng không đòi hỏi điều gì cho cái ngã tách biệt. Khi tinh thần này — vốn nổi bật là tinh thần của Đức Christ và của những ai biết Ngài rõ nhất — trở nên phổ biến hơn, bấy giờ chúng ta sẽ thấy sự hoàn tất nhanh chóng hơn của những thay đổi được mong muốn. Về mặt thần học, chúng ta đã nói rằng “Thượng đế là tình thương,” rồi lại diễn giải Ngài theo những thù hận của chính chúng ta, những lý tưởng hạn hẹp của chính chúng ta, những thần học chật hẹp của chúng ta, và những thái độ chia rẽ của chúng ta. Chúng ta đã công nhận Đức Christ là Đấng Phụng Sự vĩ đại của nhân loại, và đã chỉ vào Ngài như gương mẫu của điều có thể thực hiện. Nhưng chúng ta không ban ra sự phụng sự chung, và phẩm tính ấy vẫn chưa là quyền năng thúc đẩy trong đời sống của thế giới. Nó đang thúc đẩy đời sống rõ rệt hơn bao giờ hết, nhưng những nỗ lực hiện đang được thực hiện — hai mươi thế kỷ sau khi Đức Christ rời chúng ta với mệnh lệnh bước theo dấu chân Ngài — chỉ cho thấy chúng ta đã chậm chạp đến mức nào, còn bao nhiêu điều phải làm, và con người cần được phụng sự khẩn thiết ra sao bởi những người có tầm nhìn và tình thương của Thượng đế trong tâm. Rõ ràng biết bao là có quá ít tình thương được sử dụng trong thế giới vào lúc này. Điều cốt yếu cần nhớ là lý do chúng ta có thể công nhận Thượng đế là một Thượng đế của tình thương là vì chính chúng ta, về căn bản và tiềm tàng, có phẩm tính giống như Thượng đế. Điều này tự nó cấu thành một vấn đề, vì trừ khi phần thiêng liêng trong chúng ta được đánh thức phần nào, chúng ta khó diễn giải tình thương một cách đúng đắn; và đối với quần chúng nhân loại, những người vẫn còn trên con đường đang trở thành, và trong nhiều trường hợp hầu như chưa phải là con người, thì không thể thấu hiểu thâm nghĩa thật sự của tình thương.

The understanding of love and the expression of love are strictly personal matters. Love can remain indefinitely a theory or an emotional experience. It can become a motivating factor in life and something which we contribute to the whole. If each would think out for himself the meaning of love in his life, and if all would decide to give love and understanding (not emotional reactions, but steady, [268] steadfast, understanding love), then the tangles in this troubled world of ours would straighten out, and it would be an easier place in which to live. The present chaos and turmoil would then more rapidly disappear. Love is essentially the realisation of brotherhood. It is the recognition that we are all the children of the One Father; it is pity and compassion and understanding and patience. It is the true expression of the life of God.

Sự thấu hiểu tình thương và sự biểu hiện tình thương hoàn toàn là những vấn đề cá nhân. Tình thương có thể vẫn mãi là một lý thuyết hoặc một kinh nghiệm cảm xúc. Nó có thể trở thành một yếu tố thúc đẩy trong đời sống và một điều gì đó chúng ta đóng góp cho toàn thể. Nếu mỗi người tự suy nghĩ kỹ về ý nghĩa của tình thương trong đời sống của mình, và nếu tất cả quyết định trao tình thương và sự thấu hiểu — không phải các phản ứng cảm xúc, mà là tình thương thấu hiểu, vững vàng, [268] kiên định — thì những rối rắm trong thế giới đầy khó khăn này của chúng ta sẽ được tháo gỡ, và nó sẽ trở thành một nơi dễ sống hơn. Bấy giờ hỗn loạn và xáo động hiện nay sẽ biến mất nhanh chóng hơn. Về bản chất, tình thương là sự nhận biết tình huynh đệ. Đó là sự công nhận rằng tất cả chúng ta đều là con cái của một Người Cha Duy Nhất; đó là lòng thương xót, lòng từ bi, sự thấu hiểu và sự kiên nhẫn. Đó là sự biểu hiện chân thật của sự sống của Thượng đế.

If the first requirement of the man who seeks to prepare himself for the Mysteries of Jesus is obedience to the highest which he can sense and know, and the second is the practice of love, the third is the development of that sensitivity and inner attention by means of which he can arrive at the significance and the condition of inspiration. This is not in any sense the development of psychic faculty as usually understood; it is present among God’s children in many forms, from that of attention to the inner voice of conscience and duty (two of the lowest forms of inspiration) to that high spiritual attainment which finds expression in the inspired scriptures of the world.

Nếu yêu cầu thứ nhất của người tìm cách chuẩn bị chính mình cho các Bí nhiệm của Đức Jesus là vâng phục điều cao nhất mà y có thể cảm nhận và biết, và yêu cầu thứ hai là thực hành tình thương, thì yêu cầu thứ ba là phát triển sự nhạy bén và chú tâm bên trong, nhờ đó y có thể đạt tới thâm nghĩa và tình trạng của cảm hứng. Điều này không theo bất cứ nghĩa nào là sự phát triển năng lực thông linh như thường được hiểu; nó hiện diện nơi con cái của Thượng đế dưới nhiều hình thức, từ sự chú tâm đến tiếng nói bên trong của lương tâm và bổn phận — hai trong những hình thức thấp nhất của cảm hứng — cho đến thành tựu tinh thần cao cả tìm thấy sự biểu hiện trong các kinh sách được cảm hứng của thế giới.

Unless there is this inspiration, it is not possible for a man to enter into the temple and to commune with That which is introducing him to the subtle processes of initiation. The first Initiator is the soul itself, the divine self in man, the spiritual man, who stands behind the screen of the outer man, and who struggles to control and work through the outer personality. It is that soul or self which opens to man the door of inspiration and reveals to him the nature of his divine consciousness, attuning his ear to catch the sound of that “Voice which speaks in the silence”—when a man has quieted all the outer voices.

Nếu không có cảm hứng này, con người không thể bước vào đền thờ và giao cảm với Điều đang đưa y vào các tiến trình vi tế của điểm đạo. Đấng Điểm đạo đầu tiên chính là linh hồn, bản ngã thiêng liêng trong con người, con người tinh thần, đứng đằng sau bức màn của con người bên ngoài, và đang đấu tranh để kiểm soát và làm việc qua phàm ngã bên ngoài. Chính linh hồn hay bản ngã ấy mở cho con người cánh cửa của cảm hứng và mặc khải cho y bản chất của tâm thức thiêng liêng của y, chỉnh tai y để bắt lấy âm thanh của “Tiếng Nói vang lên trong im lặng” — khi con người đã làm lặng yên mọi tiếng nói bên ngoài.

The attainment of the faculty of inspiration is essential to any progress upon the path of initiation, and it presupposes a development of intelligence which will enable a man to make the necessary differentiations. True inspiration is not in any sense the welling-up of the subconscious self or mind; nor is it the releasing in man of the flood of ideas and [269] thoughts which are his—racial, national or family; it is not the tuning in on the world of thought which can so easily be done by those in whom a certain quality of telepathic rapport is developed. Nor is it listening to the many voices which can make themselves heard when a man succeeds in becoming so utterly negative and so emptied of all intelligent thought that the sounds, the ideas and the suggestions of the world of psychic phenomena very easily intrude. This happens usually when the standard of intelligence is of a relatively low order. Inspiration is something entirely different. It is a penetration into the world of thought and ideas to which Christ listened when He heard a Voice, and the Father spoke to Him. It is the intuitive response of an intelligent mind to impressions coming from the soul and from the world of souls. The speech of the kingdom then becomes familiar to us. We are in touch with those liberated souls who are functioning in that kingdom, and the waves of thought and the ideas which they seek to impress upon the minds of men find their way into circulation through the attuned minds of the disciples of the world. This is inspiration, and this is the faculty for which aspirants everywhere should begin to train themselves, and which must be attained in the world of everyday living. It is a power which is generated through the processes of right meditation; it is an expression of the soul, working through the mind, and thus actuating the brain with impulses which are purely spiritual. Inspiration is responsible for all the new ideas and the developing ideals of our modern world. The age of inspiration is not gone and past; it is present here and now. God still speaks to men, for this world of ours still provides adequate facilities for the development of those qualities which are characteristic of the Christ in the human heart, the soul, the son of God in incarnation, dwelling in this vale of tears, or as it has been called, this “vale of soul-making.”

Việc đạt được năng lực cảm hứng là thiết yếu cho mọi tiến bộ trên Con Đường Điểm Đạo, và nó giả định một sự phát triển trí thông minh sẽ giúp con người thực hiện những phân biệt cần thiết. Cảm hứng chân thật không theo bất cứ nghĩa nào là sự trào dâng của bản ngã hay trí tuệ tiềm thức; cũng không phải là sự phóng thích trong con người dòng lũ các ý tưởng và [269] tư tưởng vốn thuộc về y — thuộc nhân loại, quốc gia hay gia đình; nó không phải là sự bắt sóng vào thế giới tư tưởng, điều có thể được thực hiện quá dễ dàng bởi những người nơi họ một phẩm tính nhất định của sự hòa điệu viễn cảm đã được phát triển. Nó cũng không phải là lắng nghe nhiều tiếng nói có thể tự khiến mình được nghe thấy khi một người thành công trong việc trở nên hoàn toàn thụ động và trống rỗng mọi tư tưởng thông minh đến mức các âm thanh, ý tưởng và gợi ý của thế giới hiện tượng thông linh rất dễ xâm nhập. Điều này thường xảy ra khi mức độ trí thông minh tương đối thấp. Cảm hứng là một điều hoàn toàn khác. Đó là sự thâm nhập vào thế giới tư tưởng và ý tưởng mà Đức Christ đã lắng nghe khi Ngài nghe một Tiếng Nói, và Cha phán với Ngài. Đó là sự đáp ứng trực giác của một thể trí thông minh đối với các ấn tượng đến từ linh hồn và từ thế giới của các linh hồn. Bấy giờ ngôn ngữ của Thiên Giới trở nên quen thuộc với chúng ta. Chúng ta tiếp xúc với những linh hồn giải thoát đang hoạt động trong giới ấy, và các làn sóng tư tưởng cùng những ý tưởng mà họ tìm cách in sâu vào thể trí của con người tìm được đường đi vào lưu thông qua thể trí đã được chỉnh hợp của các đệ tử thế giới. Đây là cảm hứng, và đây là năng lực mà những người chí nguyện khắp nơi nên bắt đầu tự rèn luyện, và phải đạt được trong thế giới của đời sống hằng ngày. Đó là một quyền năng được sinh ra qua các tiến trình tham thiền đúng đắn; đó là một biểu hiện của linh hồn, làm việc qua thể trí, và do đó tác động lên bộ não bằng những xung lực thuần túy tinh thần. Cảm hứng chịu trách nhiệm cho mọi ý tưởng mới và các lý tưởng đang phát triển của thế giới hiện đại chúng ta. Thời đại của cảm hứng chưa trôi qua và chấm dứt; nó hiện diện ở đây và bây giờ. Thượng đế vẫn phán với con người, vì thế giới này của chúng ta vẫn còn cung cấp đầy đủ các điều kiện thuận lợi cho sự phát triển những phẩm tính đặc trưng của Đức Christ trong tâm con người, linh hồn, Con của Thượng đế đang nhập thể, cư ngụ trong thung lũng nước mắt này, hay như người ta đã gọi, “thung lũng tạo linh hồn” này.

But to achieve this definite and conscious soul contact, the aspirant has to learn obedience through the things which he [270] suffers, and he has also to practise the task of loving. This is not easy. It calls for discipline, for ceaseless effort and striving, for that conquest of self which means a daily crucifixion, and for that close attention which never takes its eyes from the goal, but which is always conscious of purpose, of progress and of orientation. The wonder of the process is that it can be carried forward here and now, in the situation in which we find ourselves, without demanding the least deviation from the place of duty and responsibility.

Nhưng để đạt được sự tiếp xúc linh hồn xác định và có ý thức này, người chí nguyện phải học vâng phục qua những điều y [270] chịu khổ, và y cũng phải thực hành nhiệm vụ yêu thương. Điều này không dễ. Nó đòi hỏi kỷ luật, nỗ lực và phấn đấu không ngừng, sự chinh phục bản ngã hàm ý một cuộc đóng đinh hằng ngày, và sự chú tâm sát sao không bao giờ rời mắt khỏi mục tiêu, nhưng luôn có ý thức về mục đích, về tiến bộ và về sự định hướng. Điều kỳ diệu của tiến trình là nó có thể được đưa tiến ở đây và bây giờ, trong hoàn cảnh mà chúng ta đang ở, mà không đòi hỏi một sự lệch hướng nhỏ nhất khỏi nơi chốn của bổn phận và trách nhiệm.

Such is the goal for the man who seeks to stand with Christ in the founding of the kingdom, thus fulfilling the will of God. There is no other objective worthy of man’s attention, nor one which will so absorb every power he has, every gift and talent he possesses, and every moment of his being. Today the call is going forth for Servers of the race, and for men and women who will work at the task of perfecting the self in order that they may be better equipped to serve their fellowmen and God in man.

Đó là mục tiêu cho người tìm cách đứng cùng Đức Christ trong việc thiết lập Thiên Giới, qua đó hoàn thành Ý Chí của Thượng đế. Không có mục tiêu nào khác xứng đáng với sự chú tâm của con người, cũng không có mục tiêu nào sẽ hấp thu trọn vẹn mọi quyền năng y có, mọi ân huệ và tài năng y sở hữu, và mọi khoảnh khắc hiện tồn của y. Ngày nay, lời kêu gọi đang vang lên cho những Người Phụng Sự nhân loại, và cho những người nam và nữ sẽ làm việc trong nhiệm vụ hoàn thiện bản ngã để họ có thể được trang bị tốt hơn nhằm phụng sự đồng loại của mình và Thượng đế trong con người.

We are told that when we enter the world of ideals, “the differences between religions become negligible and the agreements striking. There is only one ideal for man, to make himself profoundly human. ‘Be ye perfect.’ The whole man, the complete man, is the ideal man, the divine man.” On the path of purification we discover how weak and faulty is the lower personal man; on the path of discipleship we work at the unfoldment of those qualities which are characteristic of the man who is ready to tread the Way and be born in Bethlehem. Then we shall know the truth about ourselves and God, shall know through attainment whether what we are told is fact or not. We are told that “… no one can rightly understand the historic truth of such documents as the Gospels unless he has first experienced within himself the mystical meaning which they contain….” Angelus Silesius of the seventeenth century has already expressed the whole of the critical attitude toward this kind of investigation:

Chúng ta được bảo rằng khi bước vào thế giới của các lý tưởng, “những khác biệt giữa các tôn giáo trở nên không đáng kể và những điểm tương đồng trở nên nổi bật. Chỉ có một lý tưởng duy nhất cho con người, là làm cho chính mình trở thành con người có nhân tính sâu sắc. ‘Hãy nên hoàn thiện.’ Con người toàn vẹn, con người đầy đủ, là con người lý tưởng, con người thiêng liêng.” Trên con đường thanh luyện, chúng ta khám phá con người phàm ngã thấp yếu đuối và khiếm khuyết biết bao; trên Con Đường Đệ Tử, chúng ta làm việc cho sự khai mở những phẩm tính đặc trưng của người sẵn sàng bước trên Đường Đạo và được sinh ra tại Bethlehem. Bấy giờ chúng ta sẽ biết sự thật về chính mình và Thượng đế, sẽ biết qua thành tựu liệu điều chúng ta được bảo là sự kiện hay không. Chúng ta được bảo rằng “… không ai có thể thấu hiểu đúng đắn chân lý lịch sử của những văn kiện như các sách Phúc Âm trừ khi trước hết y đã kinh nghiệm trong chính mình ý nghĩa thần bí mà chúng chứa đựng….” Angelus Silesius của thế kỷ mười bảy đã diễn đạt toàn bộ thái độ phê phán đối với loại khảo cứu này:

“Though Christ were yearly born in Bethlehem and never

“Dù Đức Christ mỗi năm sinh tại Bethlehem và chẳng bao giờ

Had birth in you yourself, then were you lost for ever; [271]

Được sinh ra trong chính bạn, thì bạn đã mất đời đời; [271]

And if within yourself it is not reared again

Và nếu trong chính bạn nó không được dựng lên lần nữa

The Cross at Golgotha can save you not from pain.”

Thập Giá tại Golgotha không thể cứu bạn khỏi đau khổ.”

QUOTED IN ‘THE WAY OF INITIATION’, BY RUDOLPH STEINER, P. 46.

TRÍCH TRONG ‘CON ĐƯỜNG ĐIỂM ĐẠO’, CỦA RUDOLPH STEINER, TR. 46.

Self knowledge leads one to God knowledge. It is the first step. Purification of the self leads one up to the portal of initiation, and then one can tread the Way that Christ trod from Bethlehem to Calvary.

Sự tự tri dẫn con người đến sự tri thức về Thượng đế. Đó là bước đầu tiên. Sự thanh luyện bản ngã dẫn con người lên tới cổng điểm đạo, và rồi người ấy có thể bước trên Đường Đạo mà Đức Christ đã bước từ Bethlehem đến Calvary.

We are human beings, but we are also divine. We are citizens of the kingdom, although we have not yet claimed and entered into our divine heritage. Inspiration is pouring in all the time; love is latent in every human heart. Only obedience is required at the first step, and when that is rendered, service, which is the expression of love, and inspiration, which is the influence of the kingdom, become a definite part of our life expression. This is what Christ came to reveal; it is the Word which He sounded forth. He has demonstrated to us our human and divine possibilities, and by accepting the fact of our dual but divine nature we can begin to aid in the founding and expressing of the kingdom.

Chúng ta là những con người, nhưng chúng ta cũng là thiêng liêng. Chúng ta là công dân của Thiên Giới, dù chúng ta chưa đòi lấy và bước vào di sản thiêng liêng của mình. Cảm hứng luôn luôn đang tuôn đổ vào; tình thương tiềm tàng trong mọi trái tim con người. Chỉ cần sự vâng phục ở bước đầu tiên, và khi điều ấy được thực hiện, phụng sự, vốn là sự biểu hiện của tình thương, và cảm hứng, vốn là ảnh hưởng của Thiên Giới, trở thành một phần xác định trong sự biểu hiện đời sống của chúng ta. Đây là điều Đức Christ đã đến để mặc khải; đó là Linh từ mà Ngài đã xướng vang. Ngài đã minh chứng cho chúng ta những khả năng nhân loại và thiêng liêng của chúng ta, và bằng cách chấp nhận sự kiện về bản chất kép nhưng thiêng liêng của mình, chúng ta có thể bắt đầu hỗ trợ trong việc thiết lập và biểu hiện Thiên Giới.

The realisation must come to us that “the highest, purest and absolutely adequate expression of the mystery of man is Christ the God-man. He alone really and finally places human nature in the right light. His appearance in history entitles man to regard himself as more than a mere creature. If there is really a God-man there is also a Man-god, that is ‘man’ who has received the godhead into himself… the Man-god is collective and universal, that is to say, mankind as a whole or a world-church. For it is only in communion with all his fellowmen that man can receive God.” (‘Wrestlers with Christ’, by Karl Pfleger, p. 235.)

Sự chứng nghiệm phải đến với chúng ta rằng “biểu hiện cao nhất, tinh khiết nhất và hoàn toàn thích đáng của bí nhiệm con người là Đức Christ, Đấng Thượng đế-con người. Chỉ một mình Ngài thật sự và sau cùng đặt bản chất con người vào ánh sáng đúng đắn. Sự xuất hiện của Ngài trong lịch sử cho phép con người xem mình là hơn một thụ tạo đơn thuần. Nếu thật sự có một Đấng Thượng đế-con người thì cũng có một Con người-thượng đế, tức là ‘con người’ đã tiếp nhận thần tính vào trong chính mình… Con người-thượng đế là tập thể và phổ quát, nghĩa là nhân loại như một toàn thể hay một giáo hội thế giới. Vì chỉ trong sự hiệp thông với tất cả đồng loại của mình mà con người có thể tiếp nhận Thượng đế.” (‘Những Người Vật Lộn với Đức Christ’, của Karl Pfleger, tr. 235.)

The individual attitude to the example of Christ is therefore obedience to the command that we achieve perfection. But the motive must be the one that incited Christ to all His divine activity—the founding of the new kingdom and the attainment of that state of consciousness on a universal and human scale which will make out of the human being [272] a citizen of the kingdom, consciously functioning therein, voluntarily subject to its laws, and striving steadfastly for its extension on earth. He is the messenger of the kingdom; and the raising of the consciousness of his fellowmen, so that they can transcend themselves, becomes his self-appointed task. The sharing with them of the benefits of the kingdom, and the strengthening of them as they tread the difficult path to the gate which admits into that kingdom, become the only dear and immediate duty. The soul who has made contact with the lower expression, the personal self, sweeps that self on to the path of Service. The man cannot then rest until he has led others into the Way and toward the freedom of the sons of God which distinguishes the new and coming kingdom.

Do đó, thái độ của cá nhân đối với gương mẫu của Đức Christ là vâng theo mệnh lệnh rằng chúng ta phải đạt đến sự hoàn thiện. Nhưng động cơ phải là động cơ đã thúc đẩy Đức Christ trong mọi hoạt động thiêng liêng của Ngài — việc thiết lập Thiên Giới mới và đạt đến trạng thái tâm thức trên quy mô phổ quát và nhân loại, trạng thái ấy sẽ làm cho con người [272] trở thành một công dân của Thiên Giới, hoạt động trong đó một cách hữu thức, tự nguyện tuân phục các định luật của Thiên Giới, và kiên trì nỗ lực mở rộng Thiên Giới trên Trái Đất. Y là sứ giả của Thiên Giới; và việc nâng cao tâm thức của đồng loại, để họ có thể vượt lên trên chính mình, trở thành nhiệm vụ mà y tự đảm nhận. Việc chia sẻ với họ những lợi ích của Thiên Giới, và củng cố họ khi họ bước trên con đường khó khăn dẫn đến cánh cổng cho phép đi vào Thiên Giới ấy, trở thành bổn phận duy nhất, thân thiết và trước mắt. Linh hồn đã tiếp xúc với biểu hiện thấp, tức bản ngã cá nhân, cuốn bản ngã ấy vào con đường Phụng sự. Khi ấy, con người không thể nghỉ ngơi cho đến khi y đã dẫn dắt những người khác vào Đường Đạo và hướng tới sự tự do của những người con của Thượng đế, điều làm nên đặc tính của Thiên Giới mới và đang đến.

The new religion is on the way, and it is one for which all previous religions have prepared us. It differs only in that it will no longer be distinguished by dogmas and doctrines, but will be essentially an attitude of mind, an orientation to life, to man and to God. It will also be a living service. Selfishness and self-centred interests will finally be ruled out, for the kingdom of God is the life of the corporate whole, sensed and desired by all its citizens, and worked for and expressed by all who tread the Way. Initiation is nothing more than the process of developing within us the powers and faculties of this new and higher kingdom, which powers release one into a wider world, and tend to make one sensible of the organic whole in place of the part. Individualism and separateness will disappear as that kingdom comes into being. The collective consciousness is its major expression and quality. It is the next definite and clearly indicated step upon the evolutionary Path, and there is no escape from this issue. We cannot prevent ourselves from finally becoming conscious of the larger whole, or actively participating in its unified life. However, it is possible to hasten the coming of the kingdom, and the need of the world at this time, and the general turning of men towards the world of ideas, would seem to indicate that the time has come for the making of [273] that extra effort which will precipitate the appearance of the kingdom and bring forth into manifestation that which is awaiting immediate revelation. This is the challenge which today confronts the Christian Church. The need is for vision, wisdom and that wide tolerance which will see divinity on every hand and recognise the Christ in every human being.

Tôn giáo mới đang trên đường xuất hiện, và đó là tôn giáo mà tất cả các tôn giáo trước đây đã chuẩn bị cho chúng ta. Nó chỉ khác ở chỗ nó sẽ không còn được phân biệt bởi tín điều và giáo lý, mà về bản chất sẽ là một thái độ của trí tuệ, một định hướng đối với sự sống, đối với con người và đối với Thượng đế. Nó cũng sẽ là một sự phụng sự sống động. Tính ích kỷ và những lợi ích tập trung vào bản thân cuối cùng sẽ bị loại trừ, vì Thiên Giới là sự sống của toàn thể hợp nhất, được mọi công dân của Thiên Giới cảm nhận và mong muốn, được mọi người bước trên Đường Đạo phụng sự và biểu hiện. Điểm đạo chẳng qua là tiến trình phát triển trong chúng ta các quyền năng và năng lực của Thiên Giới mới và cao hơn này; những quyền năng ấy giải phóng con người vào một thế giới rộng lớn hơn, và có khuynh hướng làm cho y cảm nhận được toàn thể hữu cơ thay vì chỉ phần riêng lẻ. Chủ nghĩa cá nhân và sự chia rẽ sẽ biến mất khi Thiên Giới ấy đi vào hiện tồn. Tâm thức tập thể là biểu hiện và phẩm tính chính yếu của nó. Đó là bước kế tiếp rõ ràng và được chỉ định dứt khoát trên Con đường tiến hoá, và không thể tránh khỏi kết cuộc này. Chúng ta không thể ngăn mình cuối cùng ý thức được toàn thể rộng lớn hơn, hay tham dự tích cực vào sự sống hợp nhất của toàn thể ấy. Tuy nhiên, có thể thúc đẩy sự đến của Thiên Giới, và nhu cầu của thế giới vào lúc này, cùng khuynh hướng chung của con người quay về thế giới của các ý tưởng, dường như cho thấy rằng thời điểm đã đến để thực hiện [273] nỗ lực phụ trội ấy, nỗ lực sẽ làm ngưng tụ sự xuất hiện của Thiên Giới và đưa vào biểu hiện điều đang chờ đợi sự mặc khải tức thời. Đây là thách thức mà Giáo hội Cơ Đốc ngày nay phải đối diện. Điều cần thiết là tầm nhìn, minh triết và lòng khoan dung rộng lớn, vốn sẽ thấy thiên tính ở khắp mọi nơi và nhận ra Đức Christ trong mọi con người.

As we grasp the significance of the kingdom of God we begin to understand what is meant by the Church of Christ, and the meaning of that “cloud of witnesses” (Hebrews, XII, 1.) by which we are so constantly surrounded. The kingdom of God is not some one particular church with its own peculiar doctrines, its particular formulations of truth, its specialised method of government upon earth and of approach to God.

Khi chúng ta nắm bắt thâm nghĩa của Thiên Giới, chúng ta bắt đầu thấu hiểu điều được hàm ý bởi Giáo hội của Đức Christ, và ý nghĩa của “đám mây nhân chứng” (Thư gửi tín hữu Híp-ri, XII, 1.) bao quanh chúng ta không ngừng. Thiên Giới không phải là một giáo hội đặc thù nào đó với các giáo lý riêng biệt của nó, các công thức chân lý đặc thù của nó, phương pháp cai quản chuyên biệt của nó trên Trái Đất và phương pháp riêng của nó để đến với Thượng đế.

The true Church is the kingdom of God on earth, divorced from all clerical government and composed of all, regardless of race or creed, who live by the light within, who have discovered the fact of the mystical Christ in their hearts, and are preparing to tread the Way of Initiation. The kingdom is not composed of orthodox theologically minded people. Its citizenship is wider than that, and includes every human being who is thinking in larger terms than the individual, the orthodox, the national and the racial. The members of the coming kingdom will think in terms of humanity as a whole; and as long as they are separative or nationalistic, or religiously bigoted, or commercially selfish, they have no place in that kingdom. The word spiritual will be given a far wider connotation than that which has been given in the old age which is fortunately now passing. All forms of life will be regarded from the angle of spiritual phenomena, and we shall no longer regard one activity as spiritual and another as not. The question of motive, purpose and group usefulness will determine the spiritual nature of an activity. To work for the whole; to be occupied with the aiding of the group; to be cognisant of One Life pulsing through all forms, and to work in the consciousness that all men are brothers—these are the initial qualities which a citizen of the kingdom [274] must show. The human family is individually self-conscious and this stage of the separative consciousness has been a needed and useful one; but the time has arrived when we are aware of greater contacts, of wider implications, and of a more general inclusiveness.

Giáo hội chân chính là Thiên Giới trên Trái Đất, tách khỏi mọi sự cai trị của giới giáo sĩ và bao gồm tất cả mọi người, bất kể chủng tộc hay tín ngưỡng, những ai sống theo ánh sáng bên trong, đã khám phá sự kiện về Đức Christ thần bí trong tâm mình, và đang chuẩn bị bước trên Con Đường Điểm Đạo. Thiên Giới không gồm những người có trí tuệ thần học chính thống. Quyền công dân của Thiên Giới rộng hơn thế, và bao gồm mọi con người đang suy nghĩ theo những phạm vi lớn hơn cá nhân, chính thống, quốc gia và chủng tộc. Các thành viên của Thiên Giới đang đến sẽ suy nghĩ theo phạm vi nhân loại như một toàn thể; và chừng nào họ còn chia rẽ hoặc theo chủ nghĩa dân tộc, hoặc cuồng tín về tôn giáo, hoặc ích kỷ về thương mại, chừng đó họ không có chỗ trong Thiên Giới ấy. Từ tinh thần sẽ được trao cho một nội hàm rộng lớn hơn nhiều so với nội hàm đã được trao trong thời đại cũ, một thời đại may mắn thay nay đang qua đi. Mọi hình thức sự sống sẽ được nhìn từ góc độ các hiện tượng tinh thần, và chúng ta sẽ không còn xem một hoạt động là tinh thần còn hoạt động khác thì không. Vấn đề động cơ, mục đích và sự hữu ích cho nhóm sẽ quyết định bản chất tinh thần của một hoạt động. Làm việc cho toàn thể; bận tâm với việc trợ giúp nhóm; nhận biết Một Sự Sống đang đập nhịp qua mọi hình tướng, và làm việc trong tâm thức rằng mọi người đều là huynh đệ — đó là những phẩm tính khởi đầu mà một công dân của Thiên Giới [274] phải biểu lộ. Gia đình nhân loại có ngã thức cá biệt, và giai đoạn tâm thức chia rẽ này từng là một giai đoạn cần thiết và hữu ích; nhưng thời điểm đã đến khi chúng ta ý thức về những tiếp xúc lớn lao hơn, những hàm ý rộng lớn hơn, và một tính bao gồm phổ quát hơn.

How will this condition of God’s kingdom materialise on earth? By the gradual and steady increase of the numbers of those who are citizens of that kingdom living their lives on earth and demonstrating the qualities and the consciousness which is characteristic of such citizens; by men and women everywhere cultivating the wider consciousness, and becoming more and more inclusive. “Any reflection,” Dr. Hocking tells us, “that can infallibly break the walls of the Self, opens up at once an infinite World-field. Set a second to my One, and I have given all the numbers.” (‘The Meaning of God in Human Experience’, by W. E. Hocking, p. 315.) And he gives us the clue to the process which must be cultivated in this work of essential unity by saying that “… the true mystic is he who holds to the reality of both worlds, and leaves to time and effort the understanding of their union.” (The Meaning of God in Human Experience’, by W. E. Hocking, p. 399.) The kingdom of God is not divorced from practical daily living upon the level of everyday affairs. The citizen of the kingdom is world-conscious and God-conscious. His lines of contact are clearly delineated in both directions: he is interested not in himself, but in God and his fellowmen, and his duty to God is worked out through the love he feels and shows for those around him. He knows no barriers and recognises no divisions; he is living—as a soul—in every aspect of his nature, through his mind and his emotions, and on the physical plane of life. He works through love and in love; and because of the love of God.

Tình trạng này của Thiên Giới sẽ hiện hình trên Trái Đất như thế nào? Bằng sự gia tăng dần dần và đều đặn số lượng những người là công dân của Thiên Giới ấy, sống đời sống của họ trên Trái Đất và biểu lộ các phẩm tính cùng tâm thức đặc trưng của những công dân như thế; bằng việc những người nam và nữ ở khắp nơi vun trồng tâm thức rộng lớn hơn, và ngày càng trở nên bao gồm hơn. Tiến sĩ Hocking nói với chúng ta: “Bất cứ suy tư nào có thể phá vỡ một cách không sai lầm những bức tường của Bản ngã, đều lập tức mở ra một Trường-thế giới vô hạn. Hãy đặt một cái Thứ Hai bên cạnh cái Một của tôi, và tôi đã trao cho tất cả các con số.” (‘Ý Nghĩa của Thượng Đế trong Kinh Nghiệm Nhân Loại’, của W. E. Hocking, tr. 315.) Và ông trao cho chúng ta chìa khóa của tiến trình cần được vun trồng trong công việc hiệp nhất thiết yếu này khi nói rằng “… nhà thần bí chân chính là người giữ vững thực tại của cả hai thế giới, và để cho thời gian cùng nỗ lực đem lại sự thấu hiểu về sự hợp nhất của chúng.” (‘Ý Nghĩa của Thượng Đế trong Kinh Nghiệm Nhân Loại’, của W. E. Hocking, tr. 399.) Thiên Giới không tách khỏi đời sống thực tiễn hằng ngày trên cấp độ các công việc thường nhật. Công dân của Thiên Giới có tâm thức thế giới và tâm thức Thượng đế. Các đường tiếp xúc của y được vạch rõ theo cả hai hướng: y không quan tâm đến bản thân mình, mà quan tâm đến Thượng đế và đồng loại, và bổn phận của y đối với Thượng đế được thực hiện qua tình thương mà y cảm nhận và biểu lộ đối với những người quanh mình. Y không biết đến rào cản và không thừa nhận chia rẽ; y đang sống — như một linh hồn — trong mọi phương diện của bản chất mình, qua thể trí và các cảm xúc của y, và trên cõi hồng trần của sự sống. Y làm việc qua tình thương và trong tình thương; và vì tình thương của Thượng đế.

A close study of the Gospel story and a spirited attention to the words of Christ will make apparent that the three outstanding characteristics of His work and the three main lines of His activity are intended to be ours also. These three are, as we have seen, first, the achieving of perfection and its demonstrating [275] through the five great events which we call the crises in the life of Christ, the five major initiations of the Orient and of the esoteric schools; secondly, the founding of the kingdom—a responsibility which rests upon each of us, because, though Christ certainly opened the door into the kingdom, the rest of the work rests upon our shoulders; thirdly, the attaining of immortality, based on the development of that within ourselves which is of the nature of the real, which has true value and which deserves to stand the test of immortality. This last thought is one which warrants our attention. Arresting in its implication, it is sadly and deeply true that “… man, as he exists today, is not capable of survival. He must change or perish. Man, as he is, is not the last word of creation. If he does not, if he cannot, adapt himself and his institutions to the new world, he will yield his place to a species more sensitive and less gross in its nature. If man cannot do the work demanded of him, another creature who can, will arise.” (‘The Supreme Spiritual Ideal’, by S. Radhakrishnan, in The Hibbert Journal, October 1936, p. 33.)

Một nghiên cứu kỹ lưỡng câu chuyện Phúc Âm và sự chú tâm đầy sinh khí đến lời của Đức Christ sẽ làm hiển nhiên rằng ba đặc tính nổi bật của công việc Ngài và ba đường hoạt động chính của Ngài cũng được dự định là của chúng ta. Như chúng ta đã thấy, ba điều ấy là: thứ nhất, đạt đến sự hoàn thiện và biểu lộ sự hoàn thiện ấy [275] qua năm biến cố lớn mà chúng ta gọi là các cuộc khủng hoảng trong đời sống Đức Christ, năm cuộc điểm đạo chính của Đông phương và của các trường phái nội môn; thứ hai, thiết lập Thiên Giới — một trách nhiệm đặt trên mỗi người chúng ta, vì dù Đức Christ chắc chắn đã mở cánh cửa vào Thiên Giới, phần còn lại của công việc đặt trên vai chúng ta; thứ ba, đạt đến tính bất tử, dựa trên sự phát triển điều bên trong chính chúng ta vốn thuộc bản chất của cái thực, có giá trị chân thật và xứng đáng đứng vững trước thử thách của tính bất tử. Tư tưởng sau cùng này đáng được chúng ta chú tâm. Gây chấn động trong hàm ý của nó, điều này thật đáng buồn và sâu sắc đúng rằng “… con người, như y đang tồn tại ngày nay, không có khả năng sống sót. Y phải thay đổi hoặc diệt vong. Con người, như y hiện là, không phải là lời cuối cùng của cuộc sáng tạo. Nếu y không, nếu y không thể, thích nghi bản thân và các thiết chế của mình với thế giới mới, y sẽ nhường chỗ cho một loài nhạy bén hơn và ít thô trược hơn trong bản chất. Nếu con người không thể làm công việc đòi hỏi nơi y, một sinh vật khác có thể làm được sẽ xuất hiện.” (‘Lý Tưởng Tinh Thần Tối Cao’, của S. Radhakrishnan, trong Tạp chí Hibbert, tháng Mười 1936, tr. 33.)

Such has always been the evolutionary plan. The life of God has constructed for itself vehicle after vehicle, in order to manifest, and kingdom has succeeded kingdom. The same great expansion is imminent today. Man, the self-conscious being, can differ radically from the forms of life in the other kingdoms because he can go forward upon the wave of God’s life in full consciousness. He can share in the “joy of the Lord” as the wider reaches of consciousness become his; he can know the nature of that bliss which is the outstanding condition of God’s nature. There is no need for human failure, nor for a definite break in the continuity of revelation. There is that in man which can enable him to bridge the gap between the kingdom in which he finds himself and the new kingdom on the horizon. Human beings who are citizens of both kingdoms—the human and the spiritual—are with us today as always. They move with freedom in either world, and Christ Himself gave us the perfect demonstration [276] of that citizenship and told us that we could do “even greater things” than He had done. Such is the glorious future towards which man is oriented today, and for which all world events are preparing him.

Thiên Cơ tiến hoá luôn luôn là như thế. Sự sống của Thượng đế đã kiến tạo cho chính nó hết vận cụ này đến vận cụ khác, để biểu hiện, và giới này đã nối tiếp giới kia. Sự mở rộng vĩ đại tương tự đang gần kề hôm nay. Con người, sinh linh có ngã thức, có thể khác biệt triệt để với các hình thức sự sống trong những giới khác vì y có thể tiến tới trên làn sóng sự sống của Thượng đế trong tâm thức trọn vẹn. Y có thể chia sẻ “sự hoan hỉ của Chúa” khi những tầm với rộng lớn hơn của tâm thức trở thành của y; y có thể biết bản chất của chí phúc vốn là tình trạng nổi bật của bản chất Thượng đế. Không cần phải có sự thất bại của nhân loại, cũng không cần một sự đứt đoạn dứt khoát trong tính liên tục của mặc khải. Trong con người có điều có thể giúp y bắc cầu qua khoảng cách giữa giới mà y đang ở trong đó và giới mới nơi chân trời. Những con người là công dân của cả hai giới — giới nhân loại và giới tinh thần — ngày nay vẫn ở với chúng ta như luôn luôn. Họ di chuyển tự do trong cả hai thế giới, và chính Đức Christ đã trao cho chúng ta sự biểu lộ hoàn hảo [276] về quyền công dân ấy và nói với chúng ta rằng chúng ta có thể làm “những điều còn lớn lao hơn” những điều Ngài đã làm. Đó là tương lai huy hoàng mà con người ngày nay đang hướng tới, và mọi biến cố thế giới đang chuẩn bị y cho tương lai ấy.

The preparation for this kingdom is the task of discipleship and constitutes the arduous discipline of the five-fold way of initiation. The work of the disciple is the founding of the kingdom, and the primary characteristic of its citizens is immortality. They are members of a Deathless Race, and the final enemy which they overcome is death; they function consciously in or out of the body and care not which it is; they have life everlasting because there is in them that which cannot die, being of the nature of God. To be immortal because one’s sins are forgiven seems an inadequate reason to an intelligent mind; to have everlasting life because Christ died two thousand years ago does not prove satisfactory to the man who is conscious of his own responsibility and his own identity; to live for ever because one is religious, or has accepted certain forms of belief, is a reason repudiated by the man who is aware of his own inner power and nature; to base one’s faith in survival upon tradition or even upon an innate sense of persistence does not seem sufficient. We know much about the power and tenacity of self-preservation and the creative urge to self-perpetuation. Perhaps these two are simply carried forward in an idealistic sense as man faces finality.

Sự chuẩn bị cho Thiên Giới này là nhiệm vụ của địa vị đệ tử và tạo nên kỷ luật gian khổ của con đường ngũ phân của điểm đạo. Công việc của đệ tử là thiết lập Thiên Giới, và đặc tính chính yếu của các công dân Thiên Giới là tính bất tử. Họ là thành viên của một Nhân loại Bất Tử, và kẻ thù cuối cùng mà họ vượt thắng là cái chết; họ hoạt động một cách hữu thức trong thân thể hoặc ngoài thân thể và không bận tâm đó là điều nào; họ có sự sống vĩnh cửu vì trong họ có điều không thể chết, vốn thuộc bản chất của Thượng đế. Bất tử vì tội lỗi của một người được tha thứ dường như là một lý do không tương xứng đối với một trí tuệ thông minh; có sự sống vĩnh cửu vì Đức Christ đã chết hai nghìn năm trước không chứng tỏ là thỏa đáng đối với con người ý thức về trách nhiệm của chính mình và bản sắc của chính mình; sống mãi mãi vì một người có tôn giáo, hoặc đã chấp nhận một số hình thức tín ngưỡng nào đó, là một lý do bị người ý thức về quyền năng và bản chất bên trong của chính mình bác bỏ; đặt đức tin của mình vào sự sống còn dựa trên truyền thống hay thậm chí trên một ý thức bẩm sinh về sự trường tồn dường như không đủ. Chúng ta biết nhiều về quyền năng và sự bền bỉ của bản năng tự bảo tồn và xung lực sáng tạo hướng tới sự tự duy trì. Có lẽ hai điều này chỉ đơn giản được tiếp tục theo một ý nghĩa lý tưởng khi con người đối diện với tính chung cuộc.

Yet there is innate in humanity the sense of belonging elsewhere; there is a divine discontent which must surely have a basis in some natural inheritance which is the guarantee of our origin. This reaching out towards a larger and fuller life is just as much a human characteristic as the normal tendency of the individual to reach toward family life and social contacts. It is therefore just as capable of achievement as that tendency, and to this the testimony of the ages contributes. Personal salvation is, after all, of small importance unless it has place in a more general and universal salvaging. Promise is held out in the Bible that “he that doeth the will [277] of God abideth for ever,” (I St. John, II, 17.) and in these words we have the clue. There has been a tendency to think that when God created man His will to expression had been perfectly satisfied. There is surely no real basis for this belief. If God is not capable of producing something of far greater perfection than humanity, and if the life which pours through the natural world is not working towards something greater, finer and more beautiful than anything yet produced, then God is not divine in the sense in which this term is usually accepted. We demand of God far more than this—greatness beyond anything that has yet been shown us. We believe that this is possible. We rest back upon divinity, and are assured that it will not fail us. But revelation of the ultimate perfection, whatever that may be (and we should not limit God by any of our own pre-conceived ideas), may require the unfolding in man of powers and a mechanism which will enable him to recognise it, to share in its wonder and its larger sphere of contacts. We ourselves may have to change in order to express the divine as Christ expressed it, before God can go on to the manifestation of the beauty of the hidden kingdom. God needs man’s cooperation. He calls for men to do His will. We have looked upon this as a way to our own individual good, which perhaps has been a wrong attitude. We may arise and carry forward the inner Plan by equipping ourselves towards perfection, in order that God may “see of the travail of His soul, and shall be satisfied.” (Isaiah, LIII, 11.) We may constitute God’s crucial experiment. The germ of divine life is in us, but we ourselves have something to do about it, and the time has come when humanity as a whole must apply itself to the fostering of the divine life within the racial form.

Tuy vậy, trong nhân loại có sẵn ý thức thuộc về nơi khác; có một sự bất mãn thiêng liêng chắc chắn phải có nền tảng trong một di sản tự nhiên nào đó, vốn là bảo chứng cho nguồn gốc của chúng ta. Sự vươn tới một đời sống lớn lao hơn và đầy đủ hơn này cũng là một đặc tính nhân loại như khuynh hướng bình thường của cá nhân vươn tới đời sống gia đình và các tiếp xúc xã hội. Do đó, nó cũng có khả năng được thành tựu như khuynh hướng ấy, và chứng ngôn của các thời đại góp phần xác nhận điều này. Rốt cuộc, sự cứu rỗi cá nhân chỉ có tầm quan trọng nhỏ bé nếu nó không có vị trí trong một sự cứu vớt phổ quát và rộng lớn hơn. Kinh Thánh đưa ra lời hứa rằng “ai làm theo ý muốn [277] của Thượng đế thì còn lại đời đời,” (Thư thứ nhất của Thánh Gioan, II, 17.) và trong những lời này chúng ta có chìa khóa. Đã có khuynh hướng nghĩ rằng khi Thượng đế tạo ra con người, ý chí biểu hiện của Ngài đã được thỏa mãn hoàn toàn. Chắc chắn không có nền tảng thực sự nào cho niềm tin này. Nếu Thượng đế không có khả năng tạo ra một điều gì hoàn thiện hơn nhiều so với nhân loại, và nếu sự sống tuôn chảy qua thế giới tự nhiên không đang hoạt động hướng tới một điều gì lớn lao hơn, tinh tế hơn và đẹp đẽ hơn bất cứ điều gì đã được tạo ra, thì Thượng đế không thiêng liêng theo nghĩa mà thuật ngữ này thường được chấp nhận. Chúng ta đòi hỏi nơi Thượng đế nhiều hơn thế — sự vĩ đại vượt quá bất cứ điều gì đã từng được cho chúng ta thấy. Chúng ta tin rằng điều này là khả thể. Chúng ta nương tựa vào thiên tính, và tin chắc rằng nó sẽ không phụ lòng chúng ta. Nhưng sự mặc khải về sự hoàn thiện tối hậu, bất kể đó là gì (và chúng ta không nên giới hạn Thượng đế bằng bất kỳ ý tưởng tiên định nào của chính mình), có thể đòi hỏi sự khai mở trong con người những quyền năng và một bộ máy sẽ giúp y nhận ra nó, chia sẻ sự kỳ diệu của nó và phạm vi tiếp xúc rộng lớn hơn của nó. Chính chúng ta có thể phải thay đổi để biểu hiện cái thiêng liêng như Đức Christ đã biểu hiện, trước khi Thượng đế có thể tiếp tục đi tới sự biểu hiện vẻ đẹp của Thiên Giới ẩn tàng. Thượng đế cần sự hợp tác của con người. Ngài kêu gọi con người làm theo Ý Chí của Ngài. Chúng ta đã nhìn điều này như một con đường dẫn đến lợi ích cá nhân của chính mình, và có lẽ đó là một thái độ sai lầm. Chúng ta có thể đứng dậy và đưa Thiên Cơ bên trong tiến tới bằng cách trang bị bản thân hướng đến sự hoàn thiện, để Thượng đế có thể “thấy kết quả lao nhọc của linh hồn Ngài, và được thỏa mãn.” (Isaiah, LIII, 11.) Chúng ta có thể tạo thành cuộc thí nghiệm trọng yếu của Thượng đế. Mầm sống thiêng liêng ở trong chúng ta, nhưng chính chúng ta phải làm điều gì đó đối với nó, và thời điểm đã đến khi nhân loại như một toàn thể phải chuyên tâm nuôi dưỡng sự sống thiêng liêng trong hình tướng chủng tộc.

It is our immediate duty therefore, in the interests of the kingdom whose citizens are immortal, to unfold that which in ourselves is divine, and whose characteristics can be known by the sense of value, by the attribute of light, and by the nature of its love and loves. Full expression of the “Hidden [278] Man of the Heart” is the need today. The revelation of the Self within the self is the demand. It is this self, nurtured, fostered, then trained and developed, which is the immortal aspect in man, and for this self are we responsible. There is no evading this, nor is there evading of the fact that we are part of a whole, and that only as Christ enters into recognition by the entire race and is expressed by humanity as a whole, shall we achieve that for which we have been created—the fulfilling of the will of God, as Christ fulfilled it. We need to transcend the inferiority complex which rises up in questioning when such words occur as the above phrase: “As Christ fulfilled it.” A book earlier quoted states that this idea of a personal Christ must be eclipsed and superseded by Christ as the life and hope in all of us. It is only the uniquely significant who understand the true inner meaning of immortality. Those in whom the sense of values is subordinated to the values of the soul, whose consciousness is that of eternity, are eternal in their living processes. This we must remember.

Vì vậy, bổn phận trước mắt của chúng ta, vì lợi ích của Thiên Giới mà công dân của nó là bất tử, là khai mở điều trong chính chúng ta vốn là thiêng liêng, và các đặc tính của nó có thể được biết qua ý thức về giá trị, qua thuộc tính của ánh sáng, và qua bản chất tình thương cùng các tình thương của nó. Sự biểu hiện trọn vẹn của “Con Người Ẩn Tàng [278] của Trái Tim” là nhu cầu ngày nay. Sự mặc khải của Bản ngã bên trong bản ngã là đòi hỏi. Chính bản ngã này, được nuôi dưỡng, chăm bồi, rồi được huấn luyện và phát triển, là phương diện bất tử trong con người, và đối với bản ngã này chúng ta chịu trách nhiệm. Không thể tránh né điều này, cũng không thể tránh né sự kiện rằng chúng ta là một phần của toàn thể, và chỉ khi Đức Christ được toàn thể nhân loại nhận biết và được nhân loại như một toàn thể biểu hiện, chúng ta mới đạt được điều vì đó chúng ta đã được tạo ra — sự hoàn thành Ý Chí của Thượng đế, như Đức Christ đã hoàn thành. Chúng ta cần vượt lên trên phức cảm tự ti vốn trỗi dậy trong sự chất vấn khi những lời như cụm từ trên xuất hiện: “như Đức Christ đã hoàn thành.” Một cuốn sách được trích dẫn trước đó nói rằng ý tưởng về một Đức Christ cá nhân này phải bị che khuất và được thay thế bằng Đức Christ như sự sống và hy vọng trong tất cả chúng ta. Chỉ những người có thâm nghĩa độc đáo mới thấu hiểu ý nghĩa bên trong chân thật của tính bất tử. Những người mà nơi họ ý thức về các giá trị được đặt dưới các giá trị của linh hồn, những người có tâm thức là tâm thức của vĩnh cửu, thì vĩnh cửu trong các tiến trình sống của họ. Điều này chúng ta phải ghi nhớ.

Are we interested in the vital whole? Is the welfare of the race of real moment to us? Are we willing to sacrifice everything to the good of the whole? These are questions which are of importance to the individual aspirant, and which he must answer if he is to understand clearly what he is attempting to do. This process of giving deference to the whole has been summed up for us by Dr. Schweitzer, who presents to us such a wonderful picture of the kingdom of God. He says that:

Chúng ta có quan tâm đến toàn thể sống động không? Phúc lợi của nhân loại có thật sự quan trọng đối với chúng ta không? Chúng ta có sẵn lòng hy sinh mọi điều cho lợi ích của toàn thể không? Đây là những câu hỏi có tầm quan trọng đối với cá nhân người chí nguyện, và y phải trả lời nếu y muốn thấu hiểu rõ ràng điều y đang cố gắng làm. Tiến trình kính trọng toàn thể này đã được Tiến sĩ Schweitzer tóm lược cho chúng ta, người trình bày với chúng ta một bức tranh tuyệt diệu như thế về Thiên Giới. Ông nói rằng:

“Civilization, put quite simply, consists in our giving ourselves, as human beings, to the effort to attain the perfecting of the human race and the actualization of progress of every sort in the circumstances of humanity and of the objective world. This mental attitude, however, involves a double predisposition: firstly, we must be prepared to act affirmatively toward the world and life; secondly, we must become ethical.

“Văn minh, nói thật đơn giản, cốt ở việc chúng ta, với tư cách con người, hiến mình cho nỗ lực đạt đến sự hoàn thiện của nhân loại và sự hiện thực hóa mọi loại tiến bộ trong các hoàn cảnh của nhân loại và của thế giới khách quan. Tuy nhiên, thái độ trí tuệ này bao hàm một khuynh hướng kép: thứ nhất, chúng ta phải sẵn sàng hành động theo hướng khẳng định đối với thế giới và sự sống; thứ hai, chúng ta phải trở nên có đạo đức.

“Only when we are able to attribute a real meaning to the world and to life shall we be able also to give ourselves to such action as [279] will produce results of real value. As long as we look on our existence in the world as meaningless, there is no point whatever in desiring to effect anything in the world. We become workers for that universal spiritual and material progress which we call civilization only in so far as we affirm that the world and life possess some sort of meaning, or, which is the same thing, only in so far as we think optimistically.

“Chỉ khi chúng ta có thể quy cho thế giới và sự sống một ý nghĩa thực sự, chúng ta mới có thể hiến mình cho hành động [279] sẽ tạo ra những kết quả có giá trị thực sự. Chừng nào chúng ta còn xem sự tồn tại của mình trong thế giới là vô nghĩa, thì hoàn toàn không có lý do gì để mong muốn tạo ra điều gì trong thế giới. Chúng ta trở thành những người hoạt động cho sự tiến bộ tinh thần và vật chất phổ quát mà chúng ta gọi là văn minh chỉ trong mức độ chúng ta khẳng định rằng thế giới và sự sống sở hữu một loại ý nghĩa nào đó, hay cũng chính là, chỉ trong mức độ chúng ta suy nghĩ một cách lạc quan.

“Civilization originates when men become inspired by a strong and clear determination to attain progress, and consecrate themselves, as a result of this determination, to the service of life and of the world. It is only in ethics that we can find the driving force for such action, transcending as it does, the limits of our own existence.

“Văn minh khởi sinh khi con người được cảm hứng bởi một quyết tâm mạnh mẽ và rõ ràng nhằm đạt đến tiến bộ, và do quyết tâm ấy mà thánh hiến chính mình cho việc phụng sự sự sống và thế giới. Chỉ trong đạo đức chúng ta mới có thể tìm thấy mãnh lực thúc đẩy cho hành động như thế, vì nó vượt lên trên những giới hạn của sự tồn tại riêng của chúng ta.

“Nothing of real value in the world is ever accomplished without enthusiasm and self-sacrifice.”

“Không điều gì có giá trị thực sự trong thế giới từng được hoàn thành mà không có nhiệt tâm và sự hy sinh bản thân.”

‘THE DECAY AND RESTORATION OF CIVILISATION’, BY ALBERT SCHWEITZER, P. VIII, PREFACE.

‘SỰ SUY TÀN VÀ PHỤC HỒI VĂN MINH’, CỦA ALBERT SCHWEITZER, TR. VIII, LỜI TỰA.

No man who cannot attain to the consciousness of the true values is yet ready for the immortality which is the prerogative of the sons of God. The building of that inner structure which is the spiritual body is carried on by means of purification, perfecting, meditation and initiation, and above all else, by service. There is no other way. The true values to which the initiate gives his life are those of the spirit, of the kingdom of God, those which concern the whole and which lay no primary emphasis upon the individual. They are expressed through expansion, service and conscious incorporation in the whole. They are to be summed up in the one word Service. They are expressed through inclusiveness and non-separateness. It is here that the Church, as usually understood, meets its major challenge. Is it spiritual enough to let go of theology and become truly human? Is it interested enough to widen its horizon and recognise as truly Christian all who demonstrate the Christ spirit, whether they be Hindu, Mohammedan, or Buddhist, whether they are labelled by any name other than that of orthodox Christian?

Không người nào chưa thể đạt đến tâm thức về các giá trị chân thật lại đã sẵn sàng cho tính bất tử vốn là đặc quyền của những người con của Thượng đế. Việc xây dựng cấu trúc bên trong ấy, tức thể tinh thần, được tiến hành bằng thanh lọc, hoàn thiện, tham thiền và điểm đạo, và trên hết, bằng phụng sự. Không có con đường nào khác. Các giá trị chân thật mà điểm đạo đồ hiến dâng đời mình cho là những giá trị của tinh thần, của Thiên Giới, những giá trị liên quan đến toàn thể và không đặt trọng tâm chính yếu trên cá nhân. Chúng được biểu hiện qua sự mở rộng, phụng sự và sự tháp nhập hữu thức vào toàn thể. Chúng có thể được tóm lại trong một từ duy nhất: Phụng sự. Chúng được biểu hiện qua tính bao gồm và sự không chia rẽ. Chính ở đây, Giáo hội, như thường được hiểu, gặp thách thức lớn nhất của mình. Giáo hội có đủ tinh thần để buông bỏ thần học và trở nên thật sự nhân bản không? Giáo hội có đủ quan tâm để mở rộng chân trời của mình và nhìn nhận là thật sự Cơ Đốc tất cả những ai biểu lộ tinh thần Đức Christ, dù họ là người Ấn giáo, Hồi giáo hay Phật giáo, dù họ được gán bất cứ danh xưng nào khác ngoài danh xưng Cơ Đốc chính thống?

Another basic thought emerges out of all that we have considered. It is whether or not we are today transiting out of the age of authority into the age of experience, and whether [280] this transition does not indicate that the race is rapidly preparing for initiation. We are revolting from doctrines, having very little use for them, and the reason, Dr. Dewey tells us, is that “… adherence to any body of doctrines and dogmas based upon a specific authority signifies distrust in the power of experience to provide, in its own ongoing movement, the needed principles of belief and action. Faith in its newer sense signifies that experience itself is the sole ultimate authority.” (Quoted in ‘Reality and Illusion’, by Richard Rothschild, p. 320.) It is obvious that this connotes not uniformity but a recognition of our essential unity.

Một tư tưởng căn bản khác hiện ra từ tất cả những gì chúng ta đã xem xét. Đó là liệu ngày nay chúng ta có đang chuyển từ thời đại quyền uy sang thời đại kinh nghiệm hay không, và liệu [280] sự chuyển tiếp này có cho thấy rằng nhân loại đang nhanh chóng chuẩn bị cho điểm đạo hay không. Chúng ta đang nổi dậy chống lại các giáo lý, rất ít dùng đến chúng, và lý do, Tiến sĩ Dewey nói với chúng ta, là “… sự bám chặt vào bất kỳ hệ thống giáo lý và tín điều nào dựa trên một thẩm quyền đặc thù biểu thị sự thiếu tin tưởng vào quyền năng của kinh nghiệm trong việc cung cấp, trong chính chuyển động liên tục của nó, các nguyên tắc cần thiết cho niềm tin và hành động. Đức tin theo nghĩa mới hơn của nó hàm ý rằng chính kinh nghiệm là thẩm quyền tối hậu duy nhất.” (Trích trong ‘Thực Tại và Ảo Tưởng’, của Richard Rothschild, tr. 320.) Hiển nhiên điều này không hàm ý sự đồng nhất, mà là sự nhận biết tính hiệp nhất thiết yếu của chúng ta.

2

2

Thus step by step we have followed the Christ in His stupendous task, and we have studied the task in its uniqueness. He did something of such significance for the race that only today are we in a position to grasp it. So occupied have we been with our own individual salvation and our own hope of heaven that the really unique things which Christ did have largely escaped our observation. That He followed in the steps of many of God’s children who, in their day and generation, had served, suffered, and brought the world salvation, remains unquestioned; that He gave us an example of perfected humanity such as the world had never previously seen is equally unchallenged. The greatest of the previous sons of God, the Buddha, after much struggle arrived at illumination, and blazed the trail for humanity up to and through the portal of initiation. But Christ was perfect, having (dare we say during some previous cycle of lives?) learned obedience through the things which He had suffered. That He overcame death and opened the gates of immortality to all humanity is likewise true. But since the first dawn of human history men have always suffered for each other; they have again and again, here one and there another, achieved perfection and disappeared from human view. The divine spark in man has always rendered him immortal. Men have always [281] sensed their divinity, and they have always reached out their hands and their hearts to God. The sons of the Father have never forgotten the Father’s home, no matter how far away they may have wandered. God has always equally sought after us, and from century to century He has sent His messengers as an embodiment of His remembrance.

Như vậy, từng bước một, chúng ta đã theo Đức Christ trong nhiệm vụ kỳ vĩ của Ngài, và chúng ta đã nghiên cứu nhiệm vụ ấy trong tính độc nhất của nó. Ngài đã làm một điều có thâm nghĩa lớn lao đến mức chỉ ngày nay chúng ta mới ở vị thế nắm bắt được nó. Chúng ta đã quá bận rộn với sự cứu rỗi cá nhân của mình và hy vọng lên thiên đường của mình đến nỗi những điều thật sự độc nhất mà Đức Christ đã làm phần lớn đã thoát khỏi sự quan sát của chúng ta. Việc Ngài đã bước theo dấu chân của nhiều người con của Thượng đế, những vị trong thời đại và thế hệ của mình đã phụng sự, chịu đau khổ và đem sự cứu rỗi đến cho thế giới, vẫn không bị nghi vấn; việc Ngài đã trao cho chúng ta một gương mẫu của nhân loại hoàn thiện như thế giới chưa từng thấy trước đó cũng không thể bị phủ nhận. Vị vĩ đại nhất trong những người con trước kia của Thượng đế, Đức Phật, sau nhiều đấu tranh đã đạt đến sự soi sáng, và khai phá con đường cho nhân loại đi lên đến và qua cánh cổng điểm đạo. Nhưng Đức Christ thì hoàn hảo, vì Ngài đã — chúng ta có dám nói là trong một chu kỳ đời sống trước nào đó chăng? — học sự vâng phục qua những điều Ngài đã chịu đau khổ. Việc Ngài vượt thắng cái chết và mở các cánh cổng bất tử cho toàn thể nhân loại cũng là chân thật. Nhưng từ buổi bình minh đầu tiên của lịch sử nhân loại, con người luôn luôn chịu đau khổ cho nhau; hết lần này đến lần khác, người này ở đây, người kia ở đó, họ đã đạt đến sự hoàn thiện và biến mất khỏi tầm nhìn của nhân loại. Tia lửa thiêng liêng trong con người luôn luôn khiến y bất tử. Con người luôn luôn [281] cảm nhận thiên tính của mình, và luôn luôn vươn tay cùng trái tim mình tới Thượng đế. Những người con của Cha chưa bao giờ quên mái nhà của Cha, bất kể họ đã lang thang xa đến đâu. Thượng đế cũng luôn luôn tìm kiếm chúng ta, và từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, Ngài đã gửi các sứ giả của Ngài như hiện thân của sự tưởng nhớ của Ngài.

But Christ came as a special Messenger. He came to found the kingdom of God on earth and to institute a new and tangible expression of Deity upon our planet. His mission has not failed. The kingdom is now organised upon earth and is composed of those men and women everywhere who have lost sight of their own individual salvation and hope of heaven because they know that unless heaven can express itself here and now it is but a futile hope. They are occupied with the processes of self-perfection and self-purification because they seek to serve their fellowmen more efficiently and adequately, and thus “glorify their Father which is in heaven.” (St. Matthew, V, 16.) They are not interested in self-aggrandisement nor with the making of claims of any kind—beyond the one stupendous claim that they are sons of God, as are we all; they do not prate of initiation or call themselves initiates; they are satisfied to walk among men as those who serve and who are citizens of the kingdom of God. They are the world servers, and their only interest is in following the steps of Him Who went about doing good and proclaiming the tidings of the kingdom. They do not say that theirs is the only way into the kingdom, but to those who do not know Christ they say: “Little children, love one another.” They do not condemn those who know nothing of Christ’s sacrifice upon the Cross, but they say to those who seek the way; “Take up thy cross” and follow Christ. To their fellow disciples they bring constantly the reminder that “except a corn of wheat fall into the ground and die, it abideth alone,” and they set themselves the goal of the new birth. The bulk of the thinking, well-meaning men and women of the world are today [282] going up from Nazareth in Galilee to Bethlehem. Some, perhaps more than one can estimate, are passing on their way to the Baptism in Jordan, whilst a few are valiantly climbing the Mount of Transfiguration. One here and there may be steadfastly setting his face to go to Jerusalem, there to be crucified; but these are rare. Most of us are learning, in the daily dying to self, to fit ourselves for the final Crucifixion initiation, and by the constant renunciation of everything that holds back the expression of divinity qualifying for that tremendous spiritual experience which ever preceded the Resurrection, and which is called the Great Renunciation.

Nhưng Đức Christ đã đến như một Sứ Giả đặc biệt. Ngài đến để thiết lập Thiên Giới trên Trái Đất và thiết lập một biểu hiện mới, hữu hình của Thượng Đế trên hành tinh chúng ta. Sứ mạng của Ngài đã không thất bại. Thiên Giới hiện nay đã được tổ chức trên Trái Đất và gồm những người nam và nữ ở khắp nơi, những người đã không còn đặt tầm nhìn vào sự cứu rỗi cá nhân của riêng mình và hy vọng lên thiên đường, vì họ biết rằng nếu thiên đường không thể biểu hiện chính nó tại đây và ngay bây giờ, thì nó chỉ là một hy vọng vô ích. Họ bận tâm với các tiến trình tự hoàn thiện và tự thanh lọc vì họ tìm cách phụng sự đồng loại một cách hữu hiệu và đầy đủ hơn, và như thế “làm sáng danh Cha của họ ở trên trời.” (Thánh Matthew, V, 16.) Họ không quan tâm đến việc tự tôn cao bản thân hay đưa ra những tuyên bố thuộc bất cứ loại nào — ngoài một tuyên bố kỳ vĩ duy nhất rằng họ là những người con của Thượng đế, như tất cả chúng ta đều là; họ không ba hoa về điểm đạo hay tự gọi mình là điểm đạo đồ; họ hài lòng bước đi giữa con người như những người phụng sự và là công dân của Thiên Giới. Họ là những Người Phụng Sự Thế Gian, và mối quan tâm duy nhất của họ là bước theo dấu chân của Đấng đã đi khắp nơi làm điều thiện và loan báo tin mừng về Thiên Giới. Họ không nói rằng con đường của họ là con đường duy nhất vào Thiên Giới, nhưng với những người không biết Đức Christ, họ nói: “Hỡi các con nhỏ, hãy yêu thương nhau.” Họ không kết án những người không biết gì về sự hy sinh của Đức Christ trên Thập Giá, nhưng họ nói với những người tìm kiếm con đường: “Hãy vác thập giá của mình” và đi theo Đức Christ. Với các đệ tử đồng môn của mình, họ không ngừng nhắc nhở rằng “nếu hạt lúa mì không rơi xuống đất và chết đi, nó vẫn ở một mình,” và họ đặt cho mình mục tiêu của sự sinh ra mới. Phần lớn những người nam và nữ có tư tưởng, thiện chí của thế giới ngày nay [282] đang đi lên từ Nazareth ở Galilee đến Bethlehem. Một số, có lẽ nhiều hơn ta có thể ước lượng, đang đi trên đường tới Phép Rửa ở Jordan, trong khi một số ít đang dũng cảm leo lên Núi Biến Hình. Người này người kia có thể đang kiên định hướng mặt đi tới Jerusalem, để ở đó chịu đóng đinh; nhưng những người ấy hiếm hoi. Phần lớn chúng ta đang học, trong việc hằng ngày chết đi đối với bản ngã, để làm cho mình thích hợp với cuộc điểm đạo Đóng Đinh cuối cùng, và bằng sự từ bỏ liên tục mọi điều cản trở sự biểu hiện của thiên tính, làm cho mình đủ điều kiện cho kinh nghiệm tinh thần lớn lao ấy, vốn luôn luôn đi trước Phục Sinh, và được gọi là Đại Từ Bỏ.

Let us vision clearly just where we stand upon the Path of Evolution. Have we yet set our feet upon the Path of Probation, that difficult path of purification which is a necessary first step? Or are we definitely upon the Path of Discipleship, knowing what we are doing, cultivating the finer values and those distinctive qualities which are the hall mark of manifesting divinity?

Chúng ta hãy hình dung rõ ràng chính xác mình đang đứng ở đâu trên Con Đường Tiến Hoá. Chúng ta đã đặt chân lên Con Đường Dự Bị, con đường thanh lọc khó khăn vốn là bước đầu cần thiết chưa? Hay chúng ta đã dứt khoát ở trên Con Đường Đệ Tử, biết rõ mình đang làm gì, vun trồng các giá trị tinh tế hơn và những phẩm tính đặc thù là dấu ấn của thiên tính đang biểu hiện?

The only incentive which will be strong enough (or which ever has been strong enough) to enable a man to tread the fivefold way to the Centre from which the Word goes forth is a realisation of the deep and distressing need of our modern world for revelation, for pure example and for loving service. There is no way by which this sad and war-torn world of ours can be saved and men’s lives transfigured except by a manifestation of the spirit of God. Instead of waiting for God to take action and send some Saviour (Who would probably not be recognised any more than Christ was), the time has come, and mankind has evolved sufficiently, for the divine life within it to surge forth and up to God, calling forth His response, His recognition, which we have seen Him repeat time and time again. He is willing to accord. We are His children and we are beginning to live divinely, thinking (as He thinks) in terms of the whole and not in terms of the separative and selfish individual. Now is a time of crisis when all human beings are needed, and the call goes forth for each [283] to make that extra effort towards unselfishness, and that mental push towards clarity of thought, which will transform us from well-meaning aspirants into clear-sighted disciples animated by a spirit of love and goodwill to all men, irrespective of race or creed or colour.

Động lực duy nhất đủ mạnh (hoặc từng đủ mạnh) để giúp một người bước trên con đường ngũ phân đến Trung Tâm, từ đó Linh từ phát ra, là sự chứng nghiệm về nhu cầu sâu xa và đau đớn của thế giới hiện đại chúng ta đối với mặc khải, đối với gương mẫu trong sạch và đối với sự phụng sự bằng tình thương. Không có con đường nào nhờ đó thế giới buồn thảm và tan nát vì chiến tranh này của chúng ta có thể được cứu, và đời sống con người được Biến hình, ngoại trừ bằng sự biểu hiện của tinh thần Thượng đế. Thay vì chờ đợi Thượng đế hành động và gửi một Đấng Cứu Thế nào đó (vị có lẽ cũng sẽ không được nhận ra, cũng như Đức Christ đã không được nhận ra), thời điểm đã đến, và nhân loại đã tiến hoá đủ, để sự sống thiêng liêng bên trong nó trào dâng ra ngoài và hướng lên Thượng đế, gợi lên sự đáp ứng của Ngài, sự nhận biết của Ngài, điều chúng ta đã thấy Ngài lặp lại hết lần này đến lần khác. Ngài sẵn lòng ban thuận. Chúng ta là con cái của Ngài và chúng ta đang bắt đầu sống một cách thiêng liêng, suy nghĩ (như Ngài suy nghĩ) theo phạm vi toàn thể chứ không theo phạm vi cá nhân chia rẽ và ích kỷ. Giờ đây là thời điểm khủng hoảng khi mọi con người đều cần thiết, và lời kêu gọi vang lên cho mỗi người [283] thực hiện nỗ lực phụ trội ấy hướng tới lòng vị tha, và cú thúc đẩy trí tuệ ấy hướng tới sự trong sáng của tư tưởng, điều sẽ chuyển đổi chúng ta từ những người chí nguyện thiện chí thành các đệ tử sáng suốt, được linh hoạt bởi tinh thần tình thương và thiện chí đối với mọi người, bất kể chủng tộc, tín ngưỡng hay màu da.

This religious will is in expression now, not turned to theology or to the formation of doctrines and occupied with their enforcement, but to love and service, forgetting self, giving the uttermost that is possible for the helping of the world. This will breaks down all barriers and elevates the children of men wherever the will to be so helped is found. And it is something that is organising slowly in the world today, its quality that of universality, and its technique that of loving service. Men everywhere are responding to the same inner spiritual impulse which is illustrated for us in the beautiful tale which is related of the Buddha. It runs as follows:

Ý chí tôn giáo này hiện đang được biểu hiện, không hướng về thần học hay việc hình thành giáo lý và bận tâm cưỡng hành chúng, mà hướng về tình thương và phụng sự, quên bản thân, hiến dâng tối đa điều có thể để trợ giúp thế giới. Ý chí này phá đổ mọi rào cản và nâng cao con cái của nhân loại ở bất cứ nơi nào có ý chí muốn được trợ giúp như thế. Và đó là điều đang được tổ chức chậm rãi trong thế giới ngày nay, phẩm tính của nó là tính phổ quát, và kỹ thuật của nó là phụng sự bằng tình thương. Con người ở khắp nơi đang đáp ứng cùng một xung lực tinh thần bên trong, điều được minh họa cho chúng ta trong câu chuyện đẹp đẽ kể về Đức Phật. Câu chuyện như sau:

“In the belief that He had attained unto the last stage of perfection the Buddha was about to abandon existence in finite space and time, to relinquish all sorrow and suffering for the pure being of bliss universal and eternal.

“Trong niềm tin rằng Ngài đã đạt đến giai đoạn cuối cùng của sự hoàn thiện, Đức Phật sắp rời bỏ sự tồn tại trong không gian và thời gian hữu hạn, từ bỏ mọi sầu khổ và đau đớn để đi vào Bản Thể thuần khiết của chí phúc phổ quát và vĩnh cửu.

“At that moment a buzzing gnat was snapped up by a passing bat.

“Ngay khoảnh khắc ấy, một con muỗi đang vo ve bị một con dơi bay qua chộp lấy.

“‘Stay,’ mused the Enlightened One, ‘the state of perfection I am entering is but perfection of myself, a unique perfection, my wholeness is a unique wholeness; not yet then am I a being universal. Other beings still suffer imperfection, existence, and resultant death. Compassion unto these still awakes within me when I contemplate their suffering.

“‘Hãy dừng lại,’ Đấng Giác Ngộ suy ngẫm, ‘trạng thái hoàn thiện mà ta đang bước vào chỉ là sự hoàn thiện của chính ta, một sự hoàn thiện độc nhất, sự toàn vẹn của ta là một sự toàn vẹn độc nhất; vậy thì ta chưa phải là một sinh linh phổ quát. Những sinh linh khác vẫn còn chịu sự bất toàn, sự tồn tại, và cái chết do đó mà ra. Lòng từ bi đối với họ vẫn thức dậy trong ta khi ta chiêm ngưỡng sự đau khổ của họ.

“‘The way of life unto perfection I have, in truth and in deed, illuminated for them: but can they tread that way without me?

“‘Con đường sự sống dẫn tới sự hoàn thiện, một cách chân thật và thực tế, ta đã soi sáng cho họ: nhưng họ có thể bước trên con đường ấy mà không có ta chăng?

“‘The unique perfection of myself I dreamed, the perfection of my own character and personality is but imperfection while one other being—one single gnat—still suffers imperfection of its identical kind.

“‘Sự hoàn thiện độc nhất của chính ta mà ta từng mơ tưởng, sự hoàn thiện của Tính cách và phàm ngã của riêng ta, vẫn chỉ là bất toàn khi một sinh linh khác — dù chỉ một con muỗi duy nhất — vẫn còn chịu sự bất toàn thuộc loại đồng nhất của nó.

“‘No being may reach bliss alone: all must reach it together, and that, the unique bliss proper to each. For am I not in every other being and is not every other being in me?’

“‘Không sinh linh nào có thể đạt chí phúc một mình: tất cả phải cùng nhau đạt đến nó, và đó là chí phúc độc nhất thích hợp với mỗi sinh linh. Vì chẳng phải ta ở trong mọi sinh linh khác, và mọi sinh linh khác ở trong ta sao?’

[284] “With still small voice in every self thus speaketh the Buddha, by its inspiration to inner character, its aspiration to outer personality, perpetually transmuting this self into not-self, each reality dependent on the other, an everlasting way of life to tread to perfection of each, of all.”

[284] “Bằng tiếng nói nhỏ nhẹ, tĩnh lặng trong mỗi bản ngã, Đức Phật nói như vậy, qua cảm hứng của nó đối với Tính cách bên trong, qua khát vọng của nó đối với phàm ngã bên ngoài, không ngừng chuyển hoá bản ngã này thành phi ngã, mỗi thực tại tùy thuộc vào thực tại kia, một con đường sự sống vĩnh cửu để bước tới sự hoàn thiện của mỗi người, của tất cả.”

‘EROS AND PSYCHE’, BY BENCHARA BRANFORD, P. 355.

‘EROS VÀ PSYCHE’, CỦA BENCHARA BRANFORD, TR. 355.

Christ emphasises the same lesson, and always His disciples have sought, in their place and time, to teach the law of service.

Đức Christ nhấn mạnh cùng một bài học, và các đệ tử của Ngài luôn luôn tìm cách, trong vị trí và thời đại của mình, giảng dạy Định luật Phụng sự.

Sometimes it seems as if the two extremes lived on in the consciousness of man—the notorious and ambitious, and the great world servers. Hitherto the sequence has been: service of ourselves, of our family, of those we love, of some leader, some cause, some school of politics or religion. The time has come when service must expand and express itself on broader and more inclusive lines, and we must learn to serve as Christ served, to love all men as He loved them and, by the potency of our spiritual vitality and the quality of our service, stimulate all we meet so that they too can serve and love and become members of the kingdom. When this is seen clearly, and when we are ready to make the needed sacrifices and renunciations, there will be a more rapid manifestation of the kingdom of God on earth. The call is not for fanatics or for the rabid devotee who, in attempting to express it, has so marred divinity. The call is for sane and normal men and women who can comprehend the situation, face what must be done, and then give their lives to expressing for the world the qualities of the citizens of the kingdom of Souls: love, wisdom, silence, non-separativeness and freedom from hatreds and partisan, creedal beliefs. When such men can be gathered together in large numbers (and they are gathering rapidly) we shall have the fulfilment of the angels’ song at Bethlehem, “On earth peace, good will toward men.”

Đôi khi dường như hai cực đoan vẫn sống trong tâm thức con người — kẻ khét tiếng và đầy tham vọng, và các Người Phụng Sự Thế Gian vĩ đại. Cho đến nay trình tự là: phụng sự bản thân chúng ta, gia đình chúng ta, những người chúng ta yêu thương, một nhà lãnh đạo nào đó, một chính nghĩa nào đó, một trường phái chính trị hay tôn giáo nào đó. Thời điểm đã đến khi sự phụng sự phải mở rộng và biểu hiện trên những đường lối bao quát hơn và bao gồm hơn, và chúng ta phải học phụng sự như Đức Christ đã phụng sự, yêu thương mọi người như Ngài đã yêu thương họ, và bằng quyền năng của sinh lực tinh thần cùng phẩm tính phụng sự của chúng ta, kích thích mọi người chúng ta gặp để họ cũng có thể phụng sự, yêu thương và trở thành thành viên của Thiên Giới. Khi điều này được thấy rõ, và khi chúng ta sẵn sàng thực hiện những hy sinh và từ bỏ cần thiết, sẽ có một sự biểu hiện nhanh chóng hơn của Thiên Giới trên Trái Đất. Lời kêu gọi không dành cho những kẻ cuồng tín hay người sùng tín cuồng nhiệt, những người khi cố gắng biểu hiện điều đó đã làm hư hỏng thiên tính đến thế. Lời kêu gọi dành cho những người nam và nữ lành mạnh và bình thường, những người có thể thấu hiểu tình thế, đối diện với điều phải làm, rồi hiến dâng đời mình để biểu hiện cho thế giới các phẩm tính của công dân Thiên Giới của các Linh hồn: tình thương, minh triết, sự im lặng, tính không chia rẽ và sự tự do khỏi hận thù cùng các niềm tin đảng phái, giáo điều. Khi những người như thế có thể được quy tụ với số lượng lớn (và họ đang quy tụ nhanh chóng), chúng ta sẽ có sự thành tựu của bài ca các thiên thần tại Bethlehem, “Bình an dưới thế, thiện chí đối với con người.”

THE ARCANE SCHOOL – TRƯỜNG ARCANE

Training for new age discipleship

Sự huấn luyện cho địa vị đệ tử thời đại mới

is provided by the Arcane School.

được cung cấp bởi Trường Arcane.

The principles of the Ageless Wisdom

Các nguyên lý của Minh Triết Ngàn Đời

are presented through esoteric meditation,

được trình bày qua tham thiền nội môn,

study and service as a way of life.

học hỏi và phụng sự như một lối sống.

Contact the publishers for information

Liên hệ các nhà xuất bản để biết thông tin

www.lucistrust.org/arcaneschool.

www.lucistrust.org/arcaneschool.

INDEX – MỤC LỤC TRA CỨU

A

A

Age of authority to age of experience, 279-280

Thời đại quyền uy chuyển sang thời đại kinh nghiệm, 279-280

Ambition, problem of disciple, 128

Tham vọng, vấn đề của đệ tử, 128

Amen, origin, 52

Amen, nguồn gốc, 52

Aquarian Age—

Kỷ Nguyên Bảo Bình—

message, 167-168

thông điệp, 167-168

See also New Age.

Xem thêm Kỷ Nguyên Mới.

Aquarius—

Bảo Bình—

arm of cross, 182

cánh tay của thập giá, 182

entrance, 98

lối vào, 98

symbolism, 182-183

biểu tượng học, 182-183

Aries, symbolism, 69

Bạch Dương, biểu tượng học, 69

Aspiration, requirement, 29

Khát vọng, yêu cầu, 29

Asses, symbolism, 69

Lừa, biểu tượng học, 69

Astronomical symbolism, 60-69

Biểu tượng học thiên văn, 60-69

At-one-ment—

Sự hợp nhất—

achievement, 18

thành tựu, 18

doctrine, 82

giáo lý, 82

At-one-ments of Christ. See Christ.

Các sự hợp nhất của Đức Christ. Xem Đức Christ.

A.U.M., significance, 52

A.U.M., thâm nghĩa, 52

B

B

Bethlehem, definitions, 63, 66

Bethlehem, định nghĩa, 63, 66

Bhagavad Gita, quotations, 58, 124, 133, 147, 154, 164, 171, 243

Bhagavad Gita, trích dẫn, 58, 124, 133, 147, 154, 164, 171, 243

Birth—

Sự sinh ra—

in Bethlehem, date, fixing, 183

tại Bethlehem, niên đại, xác định, 183

in Bethlehem, symbolism, 63-74

tại Bethlehem, biểu tượng học, 63-74

new-

mới—

experience, 82-83, 93

kinh nghiệm, 82-83, 93

gate, 54, 57

cổng, 54, 57

nature of, 81

bản chất của, 81

study, 59

nghiên cứu, 59

Blood sacrifice, idea, 194-200

Hy sinh bằng máu, ý tưởng, 194-200

Book of Revelations, quotation, 182

Sách Khải Huyền, trích dẫn, 182

Brain, actuating in inspiration, 269

Bộ não, được tác động trong cảm hứng, 269

Brotherhood of man, 260, 261-262, 268

Tình huynh đệ của nhân loại, 260, 261-262, 268

Browning, Robert, quotations, 39-40, 42, 146

Browning, Robert, trích dẫn, 39-40, 42, 146

Buddha, Lord—

Đức Phật—

and the gnat, 283-284

và con muỗi, 283-284

message, 90, 258

thông điệp, 90, 258

mother, 65

mẹ, 65

religion, 12

tôn giáo, 12

sermon, 238

bài giảng, 238

work, 14-15, 16, 258, 280

công việc, 14-15, 16, 258, 280

C

C

Call to service, 270, 284

Tiếng gọi phụng sự, 270, 284

Cassiopeia, symbolism, 67

Cassiopeia, biểu tượng, 67

Cave, symbolism, 59, 60, 68-69

Hang động, biểu tượng, 59, 60, 68-69

Christ—

Đức Christ—

achievements, 16-17, 137, 138, 157, 158, 159, 259-261

thành tựu, 16-17, 137, 138, 157, 158, 159, 259-261

at-one-ments, 95-96, 137, 145-146

sự hiệp nhất, 95-96, 137, 145-146

comparison with Buddha, 13-14

so sánh với Đức Phật, 13-14

consciousness, vii, 67, 95

tâm thức, vii, 67, 95

cosmic, 181, 182, 184

vũ trụ, 181, 182, 184

death, 187-188

cái chết, 187-188

dedication to Plan, 48

sự hiến mình cho Thiên Cơ, 48

destiny, 66

thiên mệnh, 66

era of service, 169-170

kỷ nguyên phụng sự, 169-170

function, unique, 185-186

chức năng độc nhất, 185-186

ideal of service, 91

lý tưởng phụng sự, 91

ideas, 91-92

các ý tưởng, 91-92

importance, 17-18

tầm quan trọng, 17-18

life—

đời sống—

episodes, parallels, 13-14

các biến cố, những điểm tương đồng, 13-14

evocation, viii

sự gợi lên, viii

in man, 162-163

trong con người, 162-163

message, 18, 55

thông điệp, 18, 55

mission, 18, 77, 91-96, 161, 185-186, 225, 261

sứ mệnh, 18, 77, 91-96, 161, 185-186, 225, 261

prayer, 82

lời cầu nguyện, 82

publicising initiation process, 258-259

việc công khai hóa tiến trình điểm đạo, 258-259

purpose, 65, 281

mục đích, 65, 281

recognition of Plan, 47

sự nhận biết Thiên Cơ, 47

resurrection, symbolism, 186-187

sự phục sinh, biểu tượng, 186-187

revelations, 1, 20, 53, 92, 260-261

các mặc khải, 1, 20, 53, 92, 260-261

road to, first steps, 15

con đường đến với Ngài, những bước đầu, 15

task, 206, 280

nhiệm vụ, 206, 280

teaching, 15-16, 17

giáo huấn, 15-16, 17

vision, 165

tầm nhìn, 165

words from cross, 216-219, 221-224

lời từ thập giá, 216-219, 221-224

work, characteristics, three, 274-275

công việc, ba đặc điểm, 274-275

work, recognition by humanity, vii

công việc, sự nhận biết của nhân loại, vii

Christian Church—

Giáo hội Cơ Đốc—

challenge today, 273

thách thức ngày nay, 273

festivals, astronomical background 181-184

các lễ hội, bối cảnh thiên văn, 181-184

true mission, 210

sứ mệnh chân thực, 210

Christianity—

Cơ Đốc giáo—

Age of, characteristics, 192-193

Kỷ nguyên của, các đặc điểm, 192-193

ancient doctrine, 179, 181

giáo lý cổ xưa, 179, 181

essentials, resurrection, 12

những yếu lý, sự phục sinh, 12

faults, 6-7

các khiếm khuyết, 6-7

importance, 17

tầm quan trọng, 17

nature of, 17

bản chất của, 17

need today, 8-9

nhu cầu ngày nay, 8-9

orthodox, problem, 4

chính thống, vấn đề, 4

place, 6

vị trí, 6

purpose, 18

mục đích, 18

sources, 13

các nguồn, 13

value today, 8, 9

giá trị ngày nay, 8, 9

Christians, true, 279

Các tín đồ Cơ Đốc chân chính, 279

Christmas day, date, 62-64

Ngày Giáng sinh, ngày tháng, 62-64

Coma Bernice, symbolism, 67

Coma Bernice, biểu tượng, 67

Consciousness—

Tâm thức—

collective, 272

tập thể, 272

initiation, 41

điểm đạo, 41

unfoldment, 49-50

sự khai mở, 49-50

Cross—

Thập giá—

of soul, 182

của linh hồn, 182

of Zodiac, 181-183

của Hoàng đạo, 181-183

symbolism, 181-186

biểu tượng, 181-186

Crucifixion—

Đóng đinh trên thập giá—

concern, 176

mối quan tâm, 176

enactment, 60

sự diễn hiện, 60

symbolism, 181

biểu tượng, 181

D

D

Daniel, three friends, 153

Daniel, ba người bạn, 153

Death—

Cái chết—

meeting, 240-246

sự gặp gỡ, 240-246

of lower nature, 261

của bản chất thấp, 261

overcoming, 233, 276

vượt thắng, 233, 276

Deities, parallel, 177-178

Các vị thần, sự tương đồng, 177-178

Detachment, lesson, 15-17

Tách rời, bài học, 15-17

Devil, interpretation, 112-113, 114-115

Ma quỷ, diễn giải, 112-113, 114-115

Disciple, task, 164

Đệ tử, nhiệm vụ, 164

Discipleship—

Địa vị đệ tử—

next step, 77-79

bước kế tiếp, 77-79

task, 276

nhiệm vụ, 276

Discrimination, lesson, 15, 16, 17

Phân biện, bài học, 15, 16, 17

Disease, occurrence, 121

Bệnh tật, sự xuất hiện, 121

Dispassion, lesson, 16, 17

Vô dục, bài học, 16, 17

Divine, unfoldment, 277-278

Thiêng liêng, sự khai mở, 277-278

Divinity—

Thiên tính—

discovery, 50

sự khám phá, 50

life, quality, and appearance, 136

sự sống, phẩm tính và sắc tướng, 136

Doctrines, revolt from, 280

Các giáo lý, sự nổi dậy chống lại, 280

Door of opportunity, 50

Cánh cửa cơ hội, 50

Doors, opening, 52

Các cánh cửa, sự mở ra, 52

Dove, symbolism, 106

Chim bồ câu, biểu tượng, 106

Duality—

Nhị nguyên—

in man, 18, 138-140

trong con người, 18, 138-140

realisation, stage in unfoldment, 18

sự chứng nghiệm, giai đoạn trong sự khai mở, 18

Dweller on Threshold, 118, 119

Kẻ Chận Ngõ, 118, 119

E

E

East and West, gap, bridge, 91

Đông và Tây, khoảng cách, cây cầu, 91

Easter Day, date, fixing, 184

Ngày Phục sinh, ngày tháng, ấn định, 184

Elias, definition, 144

Elias, định nghĩa, 144

Evolution, Plan, stages, 48-50

Tiến hoá, Thiên Cơ, các giai đoạn, 48-50

Evolutionary—

Tiến hoá—

process, 158-191

tiến trình, 158-191

urge, source, 162

thúc lực, nguồn gốc, 162

Experience, living, 4

Kinh nghiệm, sống động, 4

Eye of wisdom, 28

Con mắt minh triết, 28

Ezekiel, quotation, 182

Ezekiel, trích dẫn, 182

F

F

Father, revelation, 136

Cha, sự mặc khải, 136

Forgiveness, result of life, 215-216

Tha thứ, kết quả của đời sống, 215-216

Four Noble Truths, 14-15, 258

Tứ Diệu Đế, 14-15, 258

G

G

Galilee, definition, 66

Galilee, định nghĩa, 66

Gifts brought to Christ Child, 72, 73-74

Các lễ vật dâng lên Hài Nhi Christ, 72, 73-74

Glamour—

Ảo cảm—

definition, 118-119

định nghĩa, 118-119

dissipate, 119

làm tiêu tan, 119

of doubt, 124-125

của hoài nghi, 124-125

Gnosis and Gnostics, 190-191

Gnosis và các nhà Ngộ Đạo, 190-191

God—

Thượng đế—

idea, development, 49-50

ý tưởng, sự phát triển, 49-50

immanent, 159, 164, 262-263, 264

nội tại, 159, 164, 262-263, 264

incarnated in man, 54

nhập thể trong con người, 54

is love, new concept, 167-168

là tình thương, quan niệm mới, 167-168

kingdom. See Kingdom.

giới. Xem Giới.

knowledge of, truer, 50

tri thức về Ngài, chân thực hơn, 50

plan, vision of, 53

Thiên Cơ, tầm nhìn về, 53

Gospel—

Phúc âm—

narrative, lesson, 18

trình thuật, bài học, 18

story, 17, 177

câu chuyện, 17, 177

Group—

Nhóm—

activity, 17

hoạt động, 17

usefulness, 273

tính hữu dụng, 273

Group-conscious unified world, future, 18

Thế giới hợp nhất trong tâm thức nhóm, tương lai, 18

H

H

Hate, conflict with love, 210-211

Thù hận, xung đột với tình thương, 210-211

History, making, 91

Lịch sử, sự kiến tạo, 91

Holy Ghost, definition, 148

Chúa Thánh Thần, định nghĩa, 148

Humanity—

Nhân loại—

destiny, 16-17, 21, 29, 30, 36, 261, 275-276

thiên mệnh, 16-17, 21, 29, 30, 36, 261, 275-276

development, 259

sự phát triển, 259

divinity, expression, 262-263

thiên tính, sự biểu lộ, 262-263

history, 35

lịch sử, 35

individualism, 263

chủ nghĩa cá nhân, 263

problems, solution, 262

các vấn đề, giải pháp, 262

synthesis with ultimate reality, 142

sự tổng hợp với thực tại tối hậu, 142

I

I

Idea of God, development, 49-50

Ý niệm về Thượng đế, sự phát triển, 49-50

Ideals, developing, source, 269

Các lý tưởng, sự phát triển, nguồn gốc, 269

Ideas—

Các ý tưởng—

great, source, 167-168

vĩ đại, nguồn gốc, 167-168

importance, 91

tầm quan trọng, 91

new, source, 269

mới, nguồn gốc, 269

Identification, message of Christ, 17

Sự đồng hoá với, thông điệp của Đức Christ, 17

Illumination of Buddha, 258

Sự soi sáng của Đức Phật, 258

Illusion—

Ảo tưởng—

concern, 119-120

mối quan tâm, 119-120

world, 15

thế giới, 15

Immortal aspect in man, 278

Phương diện bất tử trong con người, 278

Immortality—

Sự bất tử—

attainment 276

sự đạt được, 276

consciousness of, 239, 242

tâm thức về, 239, 242

idea, link, 239

ý tưởng, mối liên hệ, 239

meaning, 242, 244-245, 278

ý nghĩa, 242, 244-245, 278

ready for, 279

sẵn sàng cho, 279

reality, 261

thực tại, 261

stages, 251-252

các giai đoạn, 251-252

Individual attainment, 17

Thành tựu cá nhân, 17

Individualism, result of teaching, 18

Chủ nghĩa cá nhân, kết quả của giáo huấn, 18

Individuality, message of Christ, 17

Cá tính, thông điệp của Đức Christ, 17

Initiates, characteristics, 23-24, 44

Các điểm đạo đồ, đặc điểm, 23-24, 44

Initiation—

Điểm đạo—

characteristics, 167

đặc điểm, 167

definitions, 25, 26-27, 101-102, 272

định nghĩa, 25, 26-27, 101-102, 272

drama, enactment, 260

vở kịch, sự diễn hiện, 260

fifth, Resurrection and Ascension, 43, 137, 231-254

lần thứ năm, Phục sinh và Thăng thiên, 43, 137, 231-254

key thought, 229

tư tưởng then chốt, 229

first, Birth—

lần thứ nhất, Giáng sinh—

appearance of God, 136

sự xuất hiện của Thượng đế, 136

discussion, 33-83

bàn luận, 33-83

gifts of kings, 73

lễ vật của các vua, 73

key thought, 31

tư tưởng then chốt, 31

fourth, Crucifixion—

lần thứ tư, Đóng đinh trên thập giá—

demonstration, 96

sự chứng minh, 96

discussion, 175-228

bàn luận, 175-228

in life of race, 34-35, 36

trong đời sống của nhân loại, 34-35, 36

key thought, 173

tư tưởng then chốt, 173

message of Christ, 17, 18

thông điệp của Đức Christ, 17, 18

of humanity, 46-47

của nhân loại, 46-47

results, 54

kết quả, 54

second, Baptism–

lần thứ hai, Rửa tội–

discussion, 87-132

bàn luận, 87-132

keynote, 96

chủ âm, 96

key thought, 85

tư tưởng then chốt, 85

purification, 96-98, 99, 136, 147

thanh luyện, 96-98, 99, 136, 147

two kinds, significance, 98

hai loại, thâm nghĩa, 98

water symbolism, 99, 106

biểu tượng nước, 99, 106

third, Transfiguration—

lần thứ ba, Biến hình—

discussion, 135-171

bàn luận, 135-171

factor of mind, 100

yếu tố thể trí, 100

key thought 133

tư tưởng then chốt, 133

mountain experience, 137, 146, 148, 149, 150-152, 158, 165, 166

kinh nghiệm trên núi, 137, 146, 148, 149, 150-152, 158, 165, 166

quality of God, 136

phẩm tính của Thượng đế, 136

requirements, 42-43

các yêu cầu, 42-43

revelation, 140

sự mặc khải, 140

sell-sacrifice, 136

sự hi sinh bản thân, 136

syllable of Word, 137

âm tiết của Linh từ, 137

testimony, 96

chứng ngôn, 96

Initiations—

Các cuộc điểm đạo—

five great 17, 21, 22-23, 33, 35, 47, 50, 59

năm cuộc lớn, 17, 21, 22-23, 33, 35, 47, 50, 59

three aspects of divinity, 136

ba phương diện của thiên tính, 136

Initiator, first, 268

Đấng Điểm đạo, đầu tiên, 268

Initiatory process, stages, universal, 50-51

Tiến trình điểm đạo, các giai đoạn, phổ quát, 50-51

Inspiration—

Cảm hứng—

age of, 269

thời đại của, 269

door, opening, 268

cánh cửa, sự mở ra, 268

faculty, attainment, 268, 269

năng lực, sự đạt được, 268, 269

true, definition, 268-269

chân thực, định nghĩa, 268-269

two forms, 268

hai hình thức, 268

Integration of—

Sự tích hợp của—

personality, 88

phàm ngã, 88

soul and body, 96

linh hồn và thân thể, 96

Intuition, growth, 49

Trực giác, sự tăng trưởng, 49

Intuitives, great, medium of great ideas, 167

Những người trực giác vĩ đại, phương tiện của các ý tưởng vĩ đại, 167

J

J

James, symbolism, 154-155

James, biểu tượng, 154-155

Jesus, story, correspondences, 60-61

Đức Jesus, câu chuyện, các tương ứng, 60-61

Job, three friends, 152-153

Job, ba người bạn, 152-153

John—

John—

Baptist, baptism, 96, 98-99

Người Rửa Tội, phép rửa, 96, 98-99

disciple, symbolism, 154-155

đệ tử, biểu tượng, 154-155

symbolism, 101

biểu tượng, 101

Joseph, definition, 68

Joseph, định nghĩa, 68

K

K

Kingdom of—

Giới của—

God, vii, 50, 259, 260, 273-274, 277

Thượng đế, vii, 50, 259, 260, 273-274, 277

souls, 259

các linh hồn, 259

Kingdoms of nature, 185

Các giới của thiên nhiên, 185

Krishna, quotation in Gita, 58

Krishna, trích dẫn trong Gita, 58

L

L

Lao-Tzu, teaching, 12

Lão Tử, giáo huấn, 12

Law of—

Định luật của—

Attraction, 90

Hấp dẫn, 90

Cyclic Appearance, 5

Sự Xuất Hiện theo Chu Kỳ, 5

Love, 90

Tình thương, 90

Service, 284

Phụng sự, 284

Leo, arm of cross 182-183

Sư Tử, cánh tay của thập giá, 182-183

Life, central problem, 13

Đời sống, vấn đề trung tâm, 13

Light—

Ánh sáng—

entrance, 104

sự đi vào, 104

pure white, 55

trắng tinh khiết, 55

revelation, 150-151

sự mặc khải, 150-151

significance, 151

thâm nghĩa, 151

Loneliness of initiate, 220-221

Nỗi cô đơn của điểm đạo đồ, 220-221

Love—

Tình thương—

cosmic embodiment, 90

hiện thân vũ trụ, 90

failure, 212

thất bại, 212

keynote of lives, 79

chủ âm của các đời sống, 79

latency, 271

trạng thái tiềm tàng, 271

nature of, 266-268

bản chất của, 266-268

origin, 14

nguồn gốc, 14

religion of, 72

tôn giáo của, 72

M

M

Man—

Con người—

divinity, essential, 92

thiên tính, thiết yếu, 92

status today, 10, 29, 40

tình trạng ngày nay, 10, 29, 40

threefold, 73

tam phân, 73

Masonry, resurrection idea, 238

Hội Tam Điểm, ý tưởng phục sinh, 238

Mary, definition, 66, 145-146

Mary, định nghĩa, 66, 145-146

May, Full Moon, institution, 258

Tháng Năm, Trăng tròn, sự thiết lập, 258

Maya—

Ảo lực—

definition, 118

định nghĩa, 118

of physical nature, 122

của bản chất hồng trần, 122

penetration, 127

sự xuyên thấu, 127

Meditation—

Tham thiền—

means of attaining inspiration, 269

phương tiện để đạt cảm hứng, 269

requirements, 79

các yêu cầu, 79

Melchizedek, Initiator, 42

Melchizedek, Đấng Điểm đạo, 42

Mithras—

Mithras—

birth, 60

sự giáng sinh, 60

mysteries, 69

các bí nhiệm, 69

Mohammedanism, message, 33

Hồi giáo, thông điệp, 33

Moses—

Moses—

definition, 144

định nghĩa, 144

message, 90

thông điệp, 90

Mountain experience—

Kinh nghiệm trên núi—

description, 148-155

mô tả, 148-155

first, 137

đầu tiên, 137

glorification of matter, 146-147

sự tôn vinh vật chất, 146-147

subsequent events, 60

các biến cố tiếp theo, 60

with Moses and Elias, 144

với Moses và Elias, 144

Mysteries—

Các Bí Nhiệm—

ancient, restoration, 20-21

cổ xưa, sự phục hồi, 20-21

externalisation, 260

sự ngoại hiện, 260

of—

của—

Being, religious initiation into, 264

Bản Thể, điểm đạo tôn giáo vào, 264

initiation, rules taught, 259

điểm đạo, các quy luật được dạy, 259

Jesus, preparation for, 268

Đức Jesus, sự chuẩn bị cho, 268

Mithras, 69

Mithras, 69

recognition, 28

sự nhận biết, 28

Mystery teaching, continuity, 236-237, 238, 258-259

Giáo huấn Bí Nhiệm, tính liên tục, 236-237, 238, 258-259

Myth—

Huyền thoại—

definitions, 7, 9

định nghĩa, 7, 9

making factual, 51

làm cho thành sự kiện, 51

N

N

Nazareth, definition, 66

Nazareth, định nghĩa, 66

New Age—

Kỷ Nguyên Mới—

gateway, passing, 38, 175, 176

cửa ngõ, sự đi qua, 38, 175, 176

See also Aquarian Age; Aquarius.

Xem thêm Kỷ nguyên Bảo Bình; Bảo Bình.

New Civilisation and new order, 168-169

Nền Văn Minh Mới và trật tự mới, 168-169

Nirvana; beginning of Higher Evolution, 251

Niết Bàn; khởi đầu của Tiến Hóa Cao Siêu, 251

Noble Eightfold Path, 258

Bát Chánh Đạo, 258

O

O

Obedience to the highest, importance, 265-266, 271

Vâng phục điều cao nhất, tầm quan trọng, 265-266, 271

Ovid, quotation, 236

Ovid, trích dẫn, 236

P

P

Path of—

Con Đường của—

Evolution, stages, 48-50

Tiến hoá, các giai đoạn, 48-50

Initiation, progress on, 268-269

Điểm đạo, sự tiến bộ trên đó, 268-269

Service, 272

Phụng sự, 272

Peace that passeth understanding, 53

Sự bình an vượt ngoài trí hiểu, 53

Personalities, age of, 259

Các phàm ngã, thời đại của, 259

Personality—

Phàm ngã—

disappearance, 17

sự biến mất, 17

functions, 88, 89

các chức năng, 88, 89

integrated, 88

được tích hợp, 88

Peter, symbolism, 154

Peter, biểu tượng, 154

Piscean Age—

Kỷ nguyên Song Ngư—

Christianity, 64

Cơ Đốc giáo, 64

definition, 18-19

định nghĩa, 18-19

symbology, 19, 20

hệ biểu tượng, 19, 20

Pisces, symbolism, 64, 193

Song Ngư, biểu tượng, 64, 193

Plan—

Thiên Cơ—

attitude and fulfillment by Christ, 48

thái độ và sự hoàn thành bởi Đức Christ, 48

divine, emergence, 49-50

thiêng liêng, sự xuất hiện, 49-50

of God, 53-54, 71

của Thượng đế, 53-54, 71

shown to initiate, 53

được chỉ cho điểm đạo đồ, 53

Plato, quotation, 249

Plato, trích dẫn, 249

Pope, Alexander, quotation, 130-131

Pope, Alexander, trích dẫn, 130-131

Presence, the, 150-151, 200

Sự Hiện Diện, 150-151, 200

Problems of humanity, solution, 262

Các vấn đề của nhân loại, giải pháp, 262

Purification—

Thanh luyện—

from sin, 193-194

khỏi tội lỗi, 193-194

of vehicles, 87-89

các hiện thể, 87-89

of worker, 48

của người hoạt động, 48

types, 97-98

các loại, 97-98

way, 23, 46

con đường, 23, 46

R

R

Radiation, definition, 148

Bức xạ, định nghĩa, 148

Rebirth—

Tái sinh—

doctrine, 249, 250, 251

giáo lý, 249, 250, 251

religious, 50

tôn giáo, 50

Religion—

Tôn giáo—

coming world, 12-13, 188, 272

thế giới sắp đến, 12-13, 188, 272

comparative, 61

so sánh, 61

problem, 4

vấn đề, 4

Re-orientation, need for, 82

Tái định hướng, nhu cầu về, 82

Resurrection—

Phục sinh—

achievement by man, 262

thành tựu của con người, 262

definition, 252-253

định nghĩa, 252-253

Revelation—

Sự mặc khải—

Christian, 10

Cơ Đốc giáo, 10

continuity, 5-6, 177, 190-191

tính liên tục, 5-6, 177, 190-191

new, 11

mới, 11

of—

về—

Christ, 5-6

Đức Christ, 5-6

love of God, 14

tình thương của Thượng đế, 14

Self within self, 277-278

Bản Ngã trong bản ngã, 277-278

ultimate perfection, 277

sự hoàn thiện tối hậu, 277

Revelations, Book of, quotation, 182

Sách Khải Huyền, trích dẫn, 182

S

S

Sacrifice, blood, 194-200

Hy sinh, máu, 194-200

Saviours, world, list, 177-179

Các Đấng Cứu Thế, thế giới, danh sách, 177-179

Scorpio—

Hổ Cáp—

arm of cross, 182, 183

nhánh của thập giá, 182, 183

symbolism, 183

biểu tượng học, 183

Self—

Bản ngã—

conquest, 270

chinh phục, 270

knowledge, 271

tri thức, 271

purification, 271, 279

thanh lọc, 271, 279

symbolism, 183

biểu tượng học, 183

Service—

Phụng sự—

capacity, increase, 167

năng lực, gia tăng, 167

era of, 169, 259

kỷ nguyên của, 169, 259

expanded, 54

mở rộng, 54

importance, 279

tầm quan trọng, 279

Law of, 284

Định luật Phụng sự, 284

meaning of love, 267

ý nghĩa của tình thương, 267

Sons of God, 57

Các Con của Thượng đế, 57

spiritual body building, 279

xây dựng thể tinh thần, 279

trend, basis, 169-170

khuynh hướng, nền tảng, 169-170

Sign—

Dấu hiệu—

given to Jesus, 53

được trao cho Đức Jesus, 53

of Son of Man, 53

của Con Người, 53

seen, 53

được thấy, 53

Sin, sense of, 192-193, 196-200, 201-206, 215

Tội lỗi, cảm thức về, 192-193, 196-200, 201-206, 215

Sirius, Star of the East, 63

Sirius, Ngôi Sao phương Đông, 63

Socrates, quotation, 248

Socrates, trích dẫn, 248

Son—

Con—

of God, 55

của Thượng đế, 55

of Man, 50, 55-56

Người, 50, 55-56

Sons of God, service, 57-58

Các Con của Thượng đế, phụng sự, 57-58

Soul—

Linh hồn—

and body, at-one-ment, 96

và thân thể, sự hợp nhất, 96

contact by aspirant, achievement, 269-270

tiếp xúc bởi người chí nguyện, thành tựu, 269-270

contact with lower self, result, 272

tiếp xúc với phàm ngã, kết quả, 272

doctrine of Plato, 249

giáo lý của Plato, 249

glory of, 17

vinh quang của, 17

initiator, first, 41-44, 268

Đấng Điểm đạo, đầu tiên, 41-44, 268

living as, 274

sống như, 274

nature of, 38-39

bản chất của, 38-39

of man, galvanising, 52

của con người, làm sinh động, 52

working through mind, expression, 269

hoạt động qua trí tuệ, biểu hiện, 269

Sound, registration, 52

Âm thanh, ghi nhận, 52

Spirituality, definition, 56

Tinh thần, định nghĩa, 56

St John—

Thánh John—

Gospel, omissions, 56

Phúc âm, những chỗ lược bỏ, 56

quotation, 161-162

trích dẫn, 161-162

St. Paul—

Thánh Paul—

message, outstanding, 35

thông điệp, nổi bật, 35

quotations, 18, 27, 74, 129

các trích dẫn, 18, 27, 74, 129

theology, 136

thần học, 136

Star of—

Ngôi Sao của—

Bethlehem, 53, 63, 72, 183

Bethlehem, 53, 63, 72, 183

the East, 63, 183

phương Đông, 63, 183

initiation, 72

điểm đạo, 72

Subjective world, characteristics, 148-149

Thế giới chủ quan, đặc điểm, 148-149

Sun-god, ceremonies, 63

Thần Mặt Trời, nghi lễ, 63

Sungods, pre-Christian, 60-61

Các thần Mặt Trời, tiền Cơ Đốc giáo, 60-61

Symbol at initiation, 53

Biểu tượng tại điểm đạo, 53

Symbolism of—

Biểu tượng học của—

birth in Bethlehem, 63-74

sự sinh ra tại Bethlehem, 63-74

drama of initiation, penetration, 260

vở kịch điểm đạo, sự xuyên thấu, 260

Synthesis, trend towards, 253, 254

Tổng hợp, khuynh hướng hướng tới, 253, 254

T

T

Taurus, arm of cross, 182, 183

Kim Ngưu, nhánh của thập giá, 182, 183

Teachers, World, work, 58, 258-259

Các Đức Chưởng Giáo, công việc, 58, 258-259

Temple of Isis, site, 62

Đền Isis, địa điểm, 62

Temptations in wilderness, 107-131

Các cám dỗ trong hoang địa, 107-131

Ten, numerical significance, 88

Mười, thâm nghĩa số học, 88

Testing cycles, 54

Các chu kỳ thử thách, 54

Tests—

Các thử thách—

home life, 77-78

đời sống gia đình, 77-78

nature of, 78

bản chất của, 78

threefold, 165-166

tam phân, 165-166

Theologians, error, 4-5

Các nhà thần học, sai lầm, 4-5

Thirty, numerical significance, 88

Ba mươi, thâm nghĩa số học, 88

Three, numerical significance, 152-153

Ba, thâm nghĩa số học, 152-153

Tibetan philosophy, quotations, 243, 250

Triết học Tây Tạng, trích dẫn, 243, 250

Transfiguration, enactment, 60

Biến hình, diễn hiện, 60

Transmutation, definition, 148

Chuyển hoá, định nghĩa, 148

Truth, recognition, means, 239-240

Chân lý, nhận biết, phương tiện, 239-240

Twelve, numerical significance, 75-76

Mười hai, thâm nghĩa số học, 75-76

U

U

Unity, achievement, 18

Hợp nhất, thành tựu, 18

V

V

Vicarious atonement, 212

Chuộc tội thay thế, 212

Virgin—

Trinh nữ—

births, 58-59, 183

các cuộc sinh hạ, 58-59, 183

Mother, symbolism, 57

Mẹ, biểu tượng học, 57

Virgo, constellation, 62, 63, 64, 66, 183-184

Xử Nữ, chòm sao, 62, 63, 64, 66, 183-184

Vision, recording, 53

Tầm nhìn, ghi nhận, 53

Voice—

Tiếng nói—

hearing, 52

nghe, 52

sounding, 52

xướng lên, 52

W

W

Water, symbolism, 99-100

Nước, biểu tượng học, 99-100

Way—

Con đường—

fivefold, 282

ngũ phân, 282

for Asia, 52

cho Châu Á, 52

High and low, 51

cao và thấp, 51

of initiation, 273, 276

của điểm đạo, 273, 276

secret of, 265-266

bí mật của, 265-266

TAO, 52

Đạo, 52

See also Path.

Xem thêm Con Đường.

Wesak, institution, 258

Wesak, thiết lập, 258

Will of God—

Ý Chí của Thượng Đế—

fruition on earth, 13

thành tựu trên Trái Đất, 13

fulfilling, 278

hoàn thành, 278

revelation, 53

sự mặc khải, 53

Will-to-good, present, 264

Ý Chí-hướng Thiện, hiện tại, 264

Wisdom—

Minh triết—

cosmic, 14, 90

vũ trụ, 14, 90

embodiment, 14

hiện thân, 14

Word—

Linh từ—

heard, 53

được nghe, 53

in the beginning, 36

lúc khởi nguyên, 36

Lost, 37, 118

Đã Mất, 37, 118

of God, 54

của Thượng đế, 54

of Power, 52, 214

Quyền năng từ, 52, 214

sounding, 37

xướng lên, 37

speaking, 160

nói ra, 160

symbolism, 117-118

biểu tượng học, 117-118

threefold, 70

tam phân, 70

universality, 121

tính phổ quát, 121

Words, racial, 52

Các linh từ của nhân loại, 52

World welfare and inter-communication, 259-260

Phúc lợi thế giới và sự liên thông, 259-260

Y

Y

Yoga Sutras of Patanjali, reference, 97, 103

Kinh Yoga của Patanjali, tham chiếu, 97, 103

Z

Z

Zarathustra, message, 90

Zarathustra, thông điệp, 90

Zodiac, cross, 181-183

Hoàng đạo, thập giá, 181-183

Leave a Comment

Scroll to Top