Text Webinar 14-3 (581-587)
Tóm Tắt
Sự cô đơn trên Đường Đạo và tự lực nội tâm
Chân sư DK dạy rằng sự cô đơn trên Con Đường Đệ Tử không xuất phát từ tinh thần ly khai mà từ bản chất của Đường Đạo, buộc mỗi cá nhân phải học cách tiếp cận minh triết nội tâm của chính mình. Thầy MDR chia sẻ kinh nghiệm cá nhân khi soạn thảo cuốn sách về sự vô hạn, rằng thầy đã buông bỏ hầu hết tài liệu tham khảo và chỉ dựa vào một bản dịch nhỏ của Viveka Chudamani (Crest Jewel of Discrimination) làm điểm tựa, để tự tìm đường trong sự hiểu biết của chính mình. Thầy MDR nhận xét rằng trực giác giống như con hươu vàng trên sườn đồi gần ngôi đền — có thể bắt được nhưng không thuộc về ai, và vấn đề cốt lõi là sự tự tin vào bản thân (self-trust) mà không nắm tay người hướng dẫn quá chặt.
Sự tự lực của linh hồn qua nhiều kiếp luân hồi
Chân sư DK khẳng định rằng trong sự cô đơn vốn là phần của mọi đệ tử chân chính, tự tri và tự lực được sinh ra — những phẩm chất sẽ đủ điều kiện cho người đó trở thành Chân sư. Thầy MDR lưu ý rằng sự tự lực này không dừng ở cấp độ phàm ngã mà phải phát triển thành sự tự lực của một linh hồn có kinh nghiệm qua nhiều kiếp, học cách tin tưởng vào minh triết đã tích lũy từ trải nghiệm. Thầy MDR đề xuất rằng mỗi cá nhân, với tư cách là một xuất lộ độc đáo, mang trách nhiệm biểu hiện một phần Ý Chí thiêng liêng chỉ thuộc về mình, và nếu tiếng nói đó vắng mặt thì một khía cạnh của Thiên Cơ sẽ không được hoàn thành.
Ba đặc điểm của người chân thật thỉnh cầu Con Đường
Chân sư DK mô tả người chân thật thỉnh cầu Con Đường qua ba phẩm tính: thứ nhất là sự bất mãn thiêng liêng của tinh thần — thôi thúc tìm hiểu từ bên trong; thứ hai là dũng khí hiếm có để đứng vững và cất lên âm điệu riêng của mình giữa hỗn loạn thế gian; thứ ba là con mắt được huấn luyện để thấy vượt qua màn sương ảo cảm trên cõi cảm dục, và lỗ tai hướng về Tiếng Nói của Im Lặng, không để bị thu hút bởi những tiếng nói thấp kém hơn. Thầy MDR giải thích rằng “trung tâm của an bình” mà Chân sư DK nhắc đến mang bản chất Shambhala, và sự xa cách (aloofness) của đệ tử không phải là ly khai mà là sự chú tâm đúng đắn vào cõi cao hơn.
Nghịch lý của việc thỉnh cầu Con Đường khi không ai có thể chỉ đường
Chân sư DK đặt ra nghịch lý: đệ tử được dạy phải thỉnh cầu Con Đường nhưng không có ai thực sự có thể chỉ đường, vì Con Đường được tự kiến tạo như người thợ dệt kéo tơ từ trung tâm bản thể của chính mình. Chân sư DK trích từ Cổ Luận rằng chỉ những linh hồn nào “một mình ép nho trong máy ép của cơn thịnh nộ Thượng đế” — tức là tự mình làm việc với nghiệp quả của mình — mới nở hoa thành các chân sư. Thầy MDR nhận xét rằng mỗi cá nhân vừa đồng nhất trong bản chất (identical in essence) vừa độc đáo trong biểu hiện, và chính sự độc đáo này tạo ra sự cô đơn cần thiết trên Con Đường.
Bốn lời khuyên thực hành cho đệ tử trên cõi hồng trần
Chân sư DK đưa ra bốn lời khuyên thực hành trong cuốn Luận về Chánh Thuật: (1) Thỉnh cầu Con Đường; (2) Tuân theo những thôi thúc nội tâm của linh hồn; (3) Không để tâm đến sự khôn ngoan thận trọng của khoa học và minh triết thế gian; (4) Sống một cuộc đời làm gương cho người khác. Thầy MDR nhấn mạnh rằng bốn khuyến nghị này đơn giản nhưng đòi hỏi có thể kiểm tra bản thân hằng ngày, và cho rằng cuốn Luận về Chánh Thuật xứng đáng được đọc kỹ hơn nhiều người tưởng vì nó xây dựng nền tảng trước khi đi vào Luận về Lửa Vũ Trụ hay Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo.
Phân biện giữa thôi thúc của linh hồn và thôi thúc của phàm ngã
Chân sư DK liệt kê năm cặp đối lập mà người đệ tử phải phân biện: bản năng và trực giác; hạ trí và thượng trí; dục vọng và thôi thúc tinh thần; khát vọng ích kỷ và động lực thiêng liêng; thôi thúc từ các nguyệt tinh quân và sự khai mở của nhật tinh quân. Thầy MDR giải thích rằng sự phân biện thực sự xuất hiện ở cõi phụ thứ tư của cõi trí, vốn là tiền phòng để bước vào ba cõi phụ cao của cõi trí — vùng chuyển tiếp giữa thể đậm đặc và thể dĩ thái vũ trụ của Hành Tinh Thượng đế. Thầy MDR lưu ý thêm rằng Dãy Mặt Trăng — dãy thứ ba trong Hệ Hành Tinh Địa Cầu — đã tan rã và ảnh hưởng của nó vẫn tiếp tục tác động lên phàm ngã qua các nguyệt tinh quân.
Tính trung thực với bản thân và sự phân biện tinh thần
Chân sư DK yêu cầu người đệ tử phải có sự chính xác trong tự đánh giá và trung thực với chính mình, thừa nhận rằng ngay cả sự phụng sự và ham muốn nghiên cứu đôi khi có nguồn gốc ích kỷ — chẳng hạn mong muốn giải thoát hay chán ghét những bổn phận tầm thường hằng ngày. Thầy MDR trích dẫn Shakespeare qua lời Polonius trong Hamlet: “I must to my own self be true”, và liên kết điều này với cung Leo trong chiêm tinh học, cho rằng Leo dạy sự trung thực với bản thân nhiều nhất. Thầy MDR cũng đề cập rằng Chân sư DK được Blavatsky nhận xét là người mà không một lời dối nào có thể thoát khỏi môi — vào năm 1875 khi Chân sư DK đắc quả Chân sư, cũng là năm thành lập Hội Thông Thiên Học.
Lòng dũng cảm để cất lên tiếng nói riêng bất chấp quyền uy thế gian
Chân sư DK khẳng định người đệ tử cần dũng cảm đứng ngược lại ý kiến thế gian — kể cả những ý kiến được coi là tốt nhất và được trích dẫn nhiều nhất — và phải hành động theo những gì anh ta tự nhận thức được trong những giây phút giao cảm tinh thần. Thầy MDR dẫn ví dụ về Einstein, người phải đối mặt với sự hoài nghi của các nhà khoa học Đức khi trình bày thuyết tương đối vì ông tiếp cận trực giác và trí trừu tượng vượt ngoài khả năng của tư duy cụ thể cung năm; và Giordano Bruno, người có tầm nhìn vũ trụ rộng lớn nhưng bị trừng phạt khắc nghiệt vì dám thách thức quyền uy tôn giáo thời Phản Cải Cách. Thầy MDR nhận xét rằng huyền bí học rất khó được những người được nuôi dưỡng bởi khoa học hiện đại chấp nhận, nhưng khi thể dĩ thái được khoa học khám phá thì có thể sẽ có sự hội tụ dần dần.
Sự tích lũy những thất bại nhỏ và tính hèn nhát tâm linh
Chân sư DK cảnh báo rằng chính sự tích lũy của những chi tiết nhỏ chưa hoàn thành tạo nên những thất bại lớn, và ngay cả một lời chưa nói hay một hành động chưa thực hiện có thể là yếu tố đang giữ một người lại không cho bước vào điểm đạo. Chân sư DK tuyên bố rằng phẩm chất tạo ra số lượng thất bại lớn nhất trong số những người chí nguyện hướng đến địa vị chân sư chính là sự hèn nhát (cowardice). Thầy MDR nhận xét rằng câu nói này rất đáng suy ngẫm, và liên kết hình ảnh con sư tử trong bài kỳ công Leo của Hercules với quá trình tự đối mặt với phàm ngã — con sư tử chạy trốn qua cửa sau cho đến khi Hercules quyết tâm chặn mọi lối thoát rồi mới có thể chiến thắng.
Sống cuộc đời làm gương và hoàn thành bổn phận tại nơi mình đang ở
Chân sư DK dạy rằng phụng sự nhóm thực chất chỉ là cuộc sống làm gương, và người đệ tử tốt nhất là người sống đời đệ tử tại nơi mình đang ở — không phải nơi mình tưởng mình nên ở. Chân sư DK chỉ ra rằng nhiều người trốn tránh hoàn cảnh khó khăn, bất hòa hay đòi hỏi cao, trong khi chính những hoàn cảnh đó được linh hồn dàn dựng như một sân khấu để mang ra điều tốt nhất trong con người. Thầy MDR liên kết với hành trình từ Bethlehem đến Calvary trong cuốn Từ Bethlehem đến Calvary, rằng ai bỏ qua giai đoạn Bethlehem — tức những bổn phận khiêm tốn đối với các nguyệt tinh quân và những sự sống đang biểu hiện — sẽ bị kéo trở lại để hoàn thành chúng vì những phẩm tính chưa tích lũy đủ sẽ không cho phép tiến lên.
Lời tổng kết và triển vọng điểm đạo nhóm
Thầy MDR kết thúc phần bình giảng quy luật 14 (mục 9) trong Luận về Chánh Thuật, từ trang 581 đến 587, và thông báo sẽ bắt đầu mục 10 (14.4) về Sự Thức Tỉnh Của Các Luân Xa trong buổi tiếp theo. Thầy MDR nhận xét rằng thời đại hiện nay đang có một đợt thu nạp lớn vào các ashram của Thánh Đoàn, cần nhiều Chân sư hơn, và điểm đạo theo nhóm sẽ diễn ra — đây là lý do các hàng ngũ ashram và các tiểu ashram cần được bổ sung. Thầy MDR bày tỏ hy vọng rằng nhờ hiểu biết tốt hơn về Con Đường, mỗi thế hệ sẽ không chỉ có một người hiếm hoi đắc quả mà có đủ số lượng để sự đắc quả chân sư trở thành một thực tế đã hoàn thành.
|
[1] The Treading of the Way |
[1] Bước Đi Trên Thánh Đạo |
|
[2] We have seen, as we have considered Rule XIV that, in the magical work, the critical point of objectivity has now been reached by the aspirant. He is endeavouring to become a magical creator and to accomplish two things: |
[2] Khi xem xét Quy Luật XIV, chúng ta đã thấy rằng trong công việc huyền thuật, điểm then chốt của tính khách quan nay đã được người chí nguyện đạt đến. Y đang cố gắng trở thành một nhà sáng tạo huyền thuật và hoàn thành hai điều: |
|
[3] 1. Re-create his instrument or mechanism of contact, so that the solar Angel has a vehicle, adequate for [Page 582] the expression of Reality. This involves, we noted, right type, quality, strength and speed. |
[3] 1. Tái tạo công cụ hay bộ máy tiếp xúc của mình, để Thái dương Thiên Thần có một vận cụ thích đáng cho [Page 582] sự biểu lộ của Thực Tại. Như chúng ta đã ghi nhận, điều này bao hàm loại, phẩm tính, sức mạnh và tốc độ đúng đắn. |
|
[4] 2. Build those subsidiary forms of expression in the outer world through which the embodied Energy, flowing through the re-created sheaths, can serve the world. |
[4] 2. Xây dựng những hình tướng biểu lộ phụ trợ trong thế giới bên ngoài, qua đó Năng Lượng nhập thể, tuôn chảy qua các lớp vỏ đã được tái tạo, có thể phụng sự thế giới. |
|
[5] In the first case, the aspirant is dealing with himself, working within his own circumference, and thus learning to know himself, to change himself and to rebuild his form aspect. [6] In the other case, he is learning to be a server of the race, [7] and to construct those forms of expression which will embody the new ideas, [8] the emerging principles, and the new concepts which must govern and round out our racial progress. |
[5] Trong trường hợp thứ nhất, người chí nguyện đang xử lý chính mình, làm việc trong chu vi của riêng mình, và nhờ đó học biết chính mình, thay đổi chính mình và tái kiến tạo phương diện hình tướng của mình. [6] Trong trường hợp kia, y đang học trở thành một người phụng sự nhân loại, [7] và kiến tạo những hình tướng biểu lộ sẽ làm hiện thân cho các ý tưởng mới, [8] các nguyên lý đang xuất hiện, và các khái niệm mới vốn phải chi phối và làm tròn đầy sự tiến bộ của nhân loại chúng ta. |
|
[9] Remember that no man is a disciple, in the Master’s sense of the word, who is not a pioneer. [10] A registered response to spiritual truth, a realised pleasure in forward-looking ideals, and a pleased acquiescence in the truths of the New Age do not constitute discipleship. [11] If it were so, the ranks of disciples would be rapidly filled and this is sadly not the case. It is the ability to arrive at an understanding of the next realisations which lie ahead of the human mind which marks the aspirant, who stands at the threshold of accepted discipleship; [12] it is the power, wrought out in the crucible of strenuous inner experience, [13] to see the immediate vision and to grasp those concepts in which the mind must necessarily clothe it, which give a man the right to be a recognised worker with the plan (recognised by the Great Ones, if not recognised by the world); [14] it is the achievement of that spiritual orientation, held steadily—no matter what the outer disturbance in the physical plane life may be—that signifies to Those Who watch and seek for workers, that a man can be trusted to deal with some small aspect of Their undertaken work; it is the capacity to submerge [Page 583] and to lose sight of the personal lower self in the task of world guidance, under soul impulse, which lifts a man out of the ranks of the aspiring mystics into those of the practical, though mystically minded, occultists. |
[9] Hãy nhớ rằng không ai là đệ tử, theo nghĩa mà Chân sư dùng từ này, nếu người ấy không phải là một người tiên phong. [10] Một đáp ứng đã được ghi nhận đối với chân lý tinh thần, một niềm vui đã được nhận biết trong các lý tưởng hướng về phía trước, và sự thuận nhận vui vẻ các chân lý của Kỷ Nguyên Mới không cấu thành địa vị đệ tử. [11] Nếu là như vậy, hàng ngũ đệ tử sẽ nhanh chóng được lấp đầy, và đáng buồn thay, sự thật không phải thế. Chính khả năng đi đến sự thấu hiểu các chứng nghiệm kế tiếp đang nằm phía trước thể trí nhân loại là điều đánh dấu người chí nguyện đang đứng tại ngưỡng cửa của địa vị đệ tử được chấp nhận; [12] chính quyền năng, được rèn luyện trong lò thử thách của kinh nghiệm nội tâm căng thẳng, [13] để thấy linh ảnh trước mắt và nắm bắt các khái niệm mà thể trí nhất thiết phải khoác lên nó, là điều đem lại cho một người quyền được là một người hoạt động được công nhận với Thiên Cơ, được Các Đấng Cao Cả công nhận, dù thế giới có thể không công nhận; [14] chính sự đạt được định hướng tinh thần ấy, được giữ vững không lay chuyển, bất kể sự xáo trộn bên ngoài trong đời sống cõi hồng trần có thể là gì, là điều báo hiệu cho Những Đấng đang quan sát và tìm kiếm người hoạt động rằng một người có thể được tin cậy để xử lý một phương diện nhỏ nào đó trong công việc mà Các Ngài đảm trách; chính khả năng nhấn chìm [Page 583] và đánh mất khỏi tầm nhìn phàm ngã cá nhân trong nhiệm vụ hướng dẫn thế giới, dưới xung động của linh hồn, là điều nâng một người ra khỏi hàng ngũ các nhà thần bí chí nguyện để bước vào hàng ngũ các nhà huyền bí học thực tiễn, dù có khuynh hướng thần bí. |
|
[15] This is an intensely practical work, on which we are engaged; [16] it is likewise of such proportions that it will occupy all of a man’s attention and time, even his entire thought life, and will lead him to efficient expression in his personality task (imposed by karmic limitation and inherited tendency) and to a steadfast application of the creative and magical work. [17] Discipleship is a synthesis of hard work, intellectual unfoldment, steady aspiration and spiritual orientation, plus the unusual qualities of positive harmlessness and the opened eye which sees at will into the world of reality. |
[15] Đây là một công việc hết sức thực tiễn mà chúng ta đang dấn thân vào; [16] đồng thời, nó có tầm vóc đến mức sẽ chiếm trọn mọi chú tâm và thời gian của một người, thậm chí toàn bộ đời sống tư tưởng của y, và sẽ dẫn y đến sự biểu lộ hữu hiệu trong nhiệm vụ phàm ngã của mình, vốn được áp đặt bởi giới hạn nghiệp quả và khuynh hướng thừa hưởng, cũng như đến sự áp dụng vững bền công việc sáng tạo và huyền thuật. [17] Địa vị đệ tử là sự tổng hợp của lao động gian khổ, sự khai mở trí tuệ, khát vọng bền bỉ và định hướng tinh thần, cộng thêm các phẩm tính khác thường của tính vô tổn hại tích cực và con mắt đã mở, có thể tùy ý nhìn vào thế giới của thực tại. |
|
[18] Certain considerations should be brought to the notice of the disciple which—for the sake of clarity—we will tabulate. To become an adept it will be necessary for the disciple to: |
[18] Một số điều cần được đưa đến sự chú ý của đệ tử, và để rõ ràng, chúng ta sẽ liệt kê. Để trở thành một chân sư, đệ tử cần phải: |
|
[19] 1. Enquire the Way. |
[19] 1. Tìm hỏi Đường Đạo. |
|
[20] 2. Obey the inward impulses of the soul. |
[20] 2. Tuân theo các xung động bên trong của linh hồn. |
|
[21] 3. Pay no attention to any worldly consideration. |
[21] 3. Không chú ý đến bất cứ cân nhắc thế gian nào. |
|
[22] 4. Live a life which is an example to others. |
[22] 4. Sống một đời sống làm gương cho người khác. |
|
[23] These four requirements may sound at the first superficial reading as easy of accomplishment, but if carefully studied it will become apparent why an adept is a “rare efflorescence of a generation of enquirers.” Let us take up each of these four points: |
[23] Bốn yêu cầu này khi đọc qua lần đầu có thể nghe như dễ thực hiện, nhưng nếu được nghiên cứu cẩn thận, sẽ thấy rõ vì sao một chân sư là “bông hoa hiếm hoi của một thế hệ những người tìm hỏi”. Chúng ta hãy bàn từng điểm trong bốn điểm này: |
|
[24] 1. Enquire the Way. We are told by one of the Masters [25] that a whole generation of enquirers may only produce one adept. [26] Why should this be so? For two reasons: |
[24] 1. Tìm hỏi Đường Đạo. Một trong các Chân sư [25] cho chúng ta biết rằng cả một thế hệ những người tìm hỏi có thể chỉ tạo ra một chân sư. [26] Vì sao lại như vậy? Vì hai lý do: |
|
[27] First, the true enquirer is one who avails himself of the wisdom of his generation, who is the best product of his own period and yet who remains unsatisfied and with the [Page 584] inner longing for wisdom unappeased. [28] To him there appears to be something of more importance than knowledge and something of greater moment than the accumulated experience of his own period and time. [29] He recognises a step further on and seeks to take it in order to gain something to add to the quota already gained by his compeers. [30] Nothing satisfies him until he finds the Way, [31] and nothing appeases the desire at the centre of his being [32] except that which is found in the house of his Father. [33] He is what he is because he has tried all lesser ways and found them wanting, and has submitted to many guides only to find them “blind leaders of the blind”. [34] Nothing is left to him but to become his own guide and find his own way home alone. [35] In the loneliness which is the lot of every true disciple are born that self-knowledge and self-reliance which will fit him in his turn to be a Master. [36] This loneliness is not due to any separative spirit but to the conditions of the Way itself. [37] Aspirants must carefully bear this distinction in mind. |
[27] Thứ nhất, người tìm hỏi chân chính là người tận dụng minh triết của thế hệ mình, là sản phẩm tốt đẹp nhất của thời kỳ mình, nhưng vẫn không thỏa mãn và nỗi [Page 584] khao khát bên trong về minh triết vẫn chưa được xoa dịu. [28] Đối với y, dường như có điều gì đó quan trọng hơn tri thức, và có điều gì đó trọng đại hơn kinh nghiệm tích lũy của chính thời kỳ và thời đại y. [29] Y nhận ra một bước xa hơn ở phía trước và tìm cách thực hiện bước ấy để đạt được điều gì đó bổ sung vào phần đã được các bạn đồng hành của y đạt tới. [30] Không điều gì thỏa mãn y cho đến khi y tìm thấy Đường Đạo, [31] và không điều gì làm dịu niềm ham muốn nơi trung tâm bản thể y [32] ngoại trừ điều được tìm thấy trong nhà của Cha y. [33] Y là như thế vì y đã thử mọi con đường thấp hơn và thấy chúng thiếu sót, và đã phó mình cho nhiều người hướng dẫn chỉ để thấy họ là “những kẻ mù dẫn dắt người mù”. [34] Không còn gì cho y ngoài việc trở thành người hướng dẫn của chính mình và một mình tìm đường về nhà đơn độc. [35] Trong sự cô độc vốn là số phận của mọi đệ tử chân chính, sự tự tri và tự lực được sinh ra, và những điều này đến lượt chúng sẽ làm cho y thích hợp để trở thành một Chân sư. [36] Sự cô độc này không do bất cứ tinh thần chia rẽ nào, mà do chính các điều kiện của Đường Đạo. [37] Người chí nguyện phải ghi nhớ cẩn thận sự phân biệt này. |
|
[38] Secondly, the true enquirer is one whose courage is of that rare kind which enables its possessor to stand upright and to sound his own clear note in the very midst of the turmoil of the world. [39] He is one who has the eye trained to see beyond the fogs and miasmas of the earth to that centre of peace [40] which presides over all earth’s happenings, and that trained attentive ear which (having caught a whisper of the Voice of the Silence) [41] is kept tuned to that high vibration and is thus deaf to all lesser alluring voices. [42] This again brings loneliness and produces that aloofness which all less evolved souls feel when in the presence of those who are forging ahead. |
[38] Thứ hai, người tìm hỏi chân chính là người có lòng can đảm thuộc loại hiếm hoi, cho phép người sở hữu nó đứng thẳng và xướng lên âm điệu trong trẻo của chính mình ngay giữa cơn hỗn loạn của thế giới. [39] Y là người có con mắt đã được rèn luyện để nhìn vượt qua sương mù và uế khí của Trái Đất đến trung tâm bình an [40] vốn chủ trì mọi biến cố của Trái Đất, và có đôi tai chăm chú đã được rèn luyện, sau khi bắt được một tiếng thì thầm của Tiếng Nói của Im Lặng, [41] vẫn giữ mình hòa điệu với rung động cao ấy và do đó điếc trước mọi tiếng gọi quyến rũ thấp hơn. [42] Điều này lại đem đến sự cô độc và tạo ra sự cách biệt mà mọi linh hồn kém tiến hóa hơn cảm thấy khi ở trong sự hiện diện của những người đang tiến lên phía trước. |
|
[43] A paradoxical situation is brought about from the fact that the disciple is told to enquire the Way and yet there is none to tell him. [44] Those who know the Way may not speak, knowing that the Path is constructed by the aspirant as the spinner spins its web out of the centre [Page 585] of his own being. [45] Thus only those souls flower forth into adepts in any specific generation who have “trodden the winepress of the wrath of God alone” [46] or who (in other words) have worked out their karma alone and who have intelligently taken up the task of treading the Path. |
[43] Một tình trạng nghịch lý được tạo ra từ sự kiện rằng đệ tử được bảo phải tìm hỏi Đường Đạo, nhưng lại không có ai nói cho y biết. [44] Những ai biết Đường Đạo không thể nói, vì biết rằng Đường Đạo được người chí nguyện kiến tạo như con nhện dệt tấm mạng của nó từ trung tâm [Page 585] bản thể của chính mình. [45] Do đó, chỉ những linh hồn nào trong bất cứ thế hệ đặc thù nào đã “một mình giẫm đạp bàn ép rượu của cơn thịnh nộ của Thượng đế”, [46] hay nói cách khác, đã tự mình giải quyết nghiệp quả của mình và đã thông minh đảm nhận nhiệm vụ bước đi trên Đường Đạo, mới nở hoa thành các chân sư. |
|
[47] 2. Obey the inward impulses of the soul. [47b] Well do the teachers of the race instruct the budding initiate to practise discrimination and train him in the arduous task of distinguishing between: |
[47] 2. Tuân theo các xung động bên trong của linh hồn. [47b] Các huấn sư của nhân loại đã dạy rất đúng khi chỉ dẫn điểm đạo đồ đang chớm nở thực hành phân biện và rèn luyện y trong nhiệm vụ gian khổ là phân biệt giữa: |
|
[48] a. Instinct and intuition. |
[48] a. Bản năng và trực giác. |
|
[49] b. Higher and lower mind. |
[49] b. Thượng trí và hạ trí. |
|
[50] c. Desire and spiritual impulse. |
[50] c. Ham muốn và xung động tinh thần. |
|
[51] d. Selfish aspiration and divine incentive. |
[51] d. Khát vọng ích kỷ và động lực thiêng liêng. |
|
[52] e. The urge emanating from the lunar lords, and the unfoldment of the solar Lord. |
[52] e. Sự thúc đẩy phát xuất từ các nguyệt tinh quân, và sự khai mở của nhật tinh quân. |
|
[53] It is no easy or flattering task [54] to find oneself out and to discover that perhaps even the service we have rendered and our longing to study and work has had a basically selfish origin, and resting on a desire for liberation or a distaste for the humdrum duties of everyday. [55] He who seeks to obey the impulses of the soul has to cultivate an accuracy of summation and a truthfulness with himself which is rare indeed these days. [56] Let him say to himself “I must to my own Self be true” [57] and in the private moments of his life and in the secrecy of his own meditation let him not gloss over one fault, nor excuse himself along a single line. [58] Let him learn to diagnose his own words, deeds, and motives, and to call things by their true names. [59] Only thus will he train himself in spiritual discrimination and learn to recognise truth in all things. Only thus will the reality be arrived at and the true self known. |
[53] Không dễ dàng hay dễ chịu chút nào [54] khi khám phá ra chính mình và phát hiện rằng có lẽ ngay cả sự phụng sự mà chúng ta đã hiến dâng, cũng như niềm khao khát học hỏi và làm việc của chúng ta, về căn bản đã có nguồn gốc ích kỷ, và đặt nền trên ham muốn được giải thoát hoặc sự chán ghét những bổn phận tẻ nhạt hằng ngày. [55] Người nào tìm cách tuân theo các xung động của linh hồn phải vun bồi một sự chính xác trong tổng kết và một sự chân thật với chính mình, điều quả thật hiếm có trong những ngày này. [56] Hãy để y tự nói với mình: “Tôi phải chân thật với Chính Mình”, [57] và trong những khoảnh khắc riêng tư của đời sống y, trong sự kín nhiệm của chính sự tham thiền của y, y đừng che đậy một lỗi lầm nào, cũng đừng tự bào chữa theo bất cứ đường lối nào. [58] Hãy để y học chẩn đoán lời nói, hành vi và động cơ của chính mình, và gọi sự vật bằng đúng tên của chúng. [59] Chỉ như thế y mới tự rèn luyện trong sự phân biện tinh thần và học nhận biết chân lý trong mọi sự. Chỉ như thế mới đạt đến thực tại và biết được chân ngã. |
|
[60] 3. Pay no consideration to the prudential considerations of worldly science and sagacity. [61] If the aspirant has need to cultivate a capacity to walk alone, if he has to [Page 586] develop the ability to be truthful in all things, [62] he has likewise need to cultivate courage. [63] It will be needful for him to run counter consistently to the world’s opinion, and to the very best expression of that opinion, and this with frequency. [64] He has to learn to do the right thing as he sees and knows it, irrespective of the opinion of earth’s greatest and most quoted. [64b] He must depend upon himself and upon the conclusions he himself has come to in his moments of spiritual communion and illumination. It is here that so many aspirants fail. [65] They do not do the very best they know; they fail to act in detail as their inner voice tells them; they leave undone certain things which they are prompted to do in their moments of meditation, and fail to speak the word which their spiritual mentor, the Self, urges them to speak. [66] It is in the aggregate of these unaccomplished details that the big failures are seen. |
[60] 3. Không chú ý đến những cân nhắc thận trọng của khoa học và sự khôn ngoan thế gian. [61] Nếu người chí nguyện cần vun bồi khả năng bước đi một mình, nếu y phải [Page 586] phát triển năng lực chân thật trong mọi sự, [62] thì y cũng cần vun bồi lòng can đảm. [63] Y sẽ cần thường xuyên và nhất quán đi ngược lại ý kiến của thế gian, và cả sự biểu lộ tốt đẹp nhất của ý kiến ấy. [64] Y phải học làm điều đúng như y thấy và biết, bất kể ý kiến của những người vĩ đại nhất và được trích dẫn nhiều nhất trên Trái Đất. [64b] Y phải nương tựa vào chính mình và vào các kết luận mà chính y đã đi đến trong những khoảnh khắc giao cảm tinh thần và soi sáng. Chính ở đây rất nhiều người chí nguyện thất bại. [65] Họ không làm điều tốt nhất mà họ biết; họ không hành động trong từng chi tiết như tiếng nói bên trong bảo họ; họ bỏ không làm một số điều mà họ được thúc đẩy làm trong những khoảnh khắc tham thiền, và không nói lời mà vị cố vấn tinh thần của họ, Chân Ngã, thôi thúc họ nói. [66] Chính trong tổng số những chi tiết chưa được hoàn thành này mà các thất bại lớn được nhìn thấy. |
|
[67] There are no trifles in the life of the disciple and an unspoken word or unfulfilled action may prove the factor which is holding a man from initiation. |
[67] Không có điều gì nhỏ nhặt trong đời sống của đệ tử, và một lời không nói ra hay một hành động không được thực hiện có thể chứng tỏ là yếu tố giữ một người lại khỏi điểm đạo. |
|
[68] 4. Live a life which is an example to others. Is it necessary for me to enlarge upon this? It seems as if it should not be and yet here again is where men fail. [69] What after all is group service? Simply the life of example. [70] He is the best exponent of the Ageless Wisdom who lives each day in the place where is the life of the disciple; he does not live it in the place where he thinks he should be. [71] Perhaps after all the quality which produces the greatest number of failures among aspirants to adeptship [72] is cowardice. [73] Men fail to make good where they are because they find some reason which makes them think they should be elsewhere. Men run away, almost unrealising it, from difficulty, from inharmonious conditions, from places which involve problems, and from circumstances which call for action of a high sort and which are staged [74] to draw out the best that is in a man, [Page 587] provided he stays in them. They flee from themselves and from other people, instead of simply living the life. |
[68] 4. Sống một đời sống làm gương cho người khác. Có cần tôi mở rộng về điều này không? Dường như không cần, nhưng ở đây một lần nữa chính là nơi con người thất bại. [69] Rốt cuộc, phụng sự nhóm là gì? Đơn giản là đời sống nêu gương. [70] Người diễn giải tốt nhất Minh Triết Ngàn Đời là người sống mỗi ngày tại nơi đời sống của đệ tử đang hiện hữu; y không sống đời sống ấy ở nơi y nghĩ rằng mình nên ở. [71] Có lẽ, sau cùng, phẩm tính gây ra số lượng thất bại lớn nhất trong số những người chí nguyện đến địa vị chân sư [72] là sự hèn nhát. [73] Con người không làm tốt tại nơi họ đang ở vì họ tìm ra một lý do nào đó khiến họ nghĩ rằng họ nên ở nơi khác. Hầu như không nhận ra, con người chạy trốn khỏi khó khăn, khỏi các điều kiện bất hòa, khỏi những nơi liên quan đến vấn đề, và khỏi các hoàn cảnh đòi hỏi hành động thuộc loại cao cả, những hoàn cảnh được sắp đặt [74] để rút ra điều tốt nhất có trong một người, [Page 587] miễn là y ở lại trong đó. Họ chạy trốn khỏi chính mình và khỏi người khác, thay vì đơn giản sống đời sống. |
|
[75] The adept speaks no word which can hurt, harm or wound. [76] Therefore he has had to learn the meaning of speech in the midst of life’s turmoil. He wastes no time in self pity or self justification for he knows the law has placed him where he is, and where he best can serve, and has learnt that difficulties are ever of a man’s own making and the result of his own mental attitude. If the incentive to justify himself occurs he recognises it as a temptation to be avoided. [77] He realises that each word spoken, each deed undertaken and every look and thought has its effect for good or for evil upon the group. |
[75] Chân sư không nói lời nào có thể làm đau, gây hại hay gây thương tổn. [76] Vì vậy, Ngài đã phải học ý nghĩa của lời nói ngay giữa cơn hỗn loạn của đời sống. Ngài không lãng phí thời gian vào sự tự thương hại hay tự biện minh, vì Ngài biết định luật đã đặt Ngài ở nơi Ngài đang ở, nơi Ngài có thể phụng sự tốt nhất, và Ngài đã học rằng khó khăn luôn do chính con người tạo ra và là kết quả của thái độ trí tuệ của chính y. Nếu động lực tự biện minh nảy sinh, Ngài nhận ra đó là một cám dỗ cần tránh. [77] Ngài nhận biết rằng mỗi lời nói ra, mỗi việc làm được thực hiện, và mỗi ánh nhìn cùng tư tưởng đều có hiệu quả thiện hoặc ác đối với nhóm. |
|
[78] Is it not apparent therefore why so few achieve and so many fail? |
[78] Vì vậy, chẳng phải đã rõ vì sao rất ít người đạt được, còn rất nhiều người thất bại sao? |
Program-9-XIV-14.3
|
Hi everybody. We’re in rule number 14, one of the Rules of White Magic for the physical plane. We’re on the third program for rule 14 and the ninth program for the physical plane rules. We’ve come through some pretty complex material—highly outlined, highly structured—and hopefully with a little bit of re-study we will get it under our belt. |
Xin chào tất cả các bạn. Chúng ta đang ở quy luật số 14, một trong các Quy Luật Chánh Thuật dành cho cõi hồng trần. Đây là chương trình thứ ba về quy luật 14 và là chương trình thứ chín về các quy luật dành cho cõi hồng trần. Chúng ta đã đi qua một số tài liệu khá phức tạp—được trình bày rất có dàn ý, rất có cấu trúc—và hy vọng rằng, với một chút ôn lại, chúng ta sẽ nắm vững được nội dung ấy. |
|
It’s been pretty much about the many, many energies which the aspiring white magician has to learn how to access and appropriate, properly direct from his own energy system. Once these energies are absorbed by the energy system, he has to note the kinds of energies which he seems to be emitting. He has to note the effect that they have upon the environment. It’s a close study by the inner man of all that is radiating, emanating from him. |
Nội dung này phần lớn đề cập đến rất nhiều năng lượng mà người chí nguyện trở thành nhà huyền thuật chánh đạo phải học cách tiếp cận và chiếm hữu, rồi điều hướng đúng đắn từ chính hệ thống năng lượng của mình. Một khi những năng lượng này được hệ thống năng lượng hấp thu, y phải ghi nhận các loại năng lượng mà dường như y đang phát ra. Y phải ghi nhận ảnh hưởng của chúng đối với môi trường. Đó là một sự nghiên cứu sát sao của con người bên trong về tất cả những gì đang bức xạ, đang xuất lộ từ y. |
|
But now we get to some very practical material—very sound and cogent advice. We’ve been given pretty much what the aspirant to white magic and to a closer relationship with the Spiritual Hierarchy has to do to fit himself or herself for that kind of role. Really, it’s all about the right reception and transmission and direction of energy, all this in line with the Divine Plan. |
Nhưng bây giờ chúng ta đi đến một tài liệu rất thực tiễn—những lời khuyên rất vững chắc và thuyết phục. Chúng ta đã được trao khá nhiều điều mà người chí nguyện hướng đến Chánh Thuật và đến một mối liên hệ gần gũi hơn với Huyền Giai Tinh Thần phải làm để tự chuẩn bị cho vai trò ấy. Thực sự, tất cả đều liên quan đến việc tiếp nhận, truyền dẫn và điều hướng năng lượng một cách đúng đắn, tất cả phù hợp với Thiên Cơ. |
|
Here is the section called the Treading of the Way. We stopped there after a program that was just about three and a half hours. The Treading of the Way. |
Đây là phần được gọi là Việc Bước Đi trên Đường Đạo. Chúng ta đã dừng lại ở đó sau một chương trình dài khoảng ba giờ rưỡi. Việc Bước Đi trên Đường Đạo. |
|
As we have considered rule 14—a rather long rule and somehow very potent—I want to read it again because I think it’s just so important to have it in the back of our mind. |
Khi chúng ta đã xem xét quy luật 14—một quy luật khá dài và bằng cách nào đó rất mạnh mẽ—tôi muốn đọc lại quy luật ấy, vì tôi nghĩ rằng điều rất quan trọng là chúng ta phải giữ nó ở phía sau tâm trí mình. |
|
Rule 14: “The hour of danger to the soul courageous draweth near. The waters have not hurt the white creator and naught could drown nor drench him. Danger from fire and flame menaces now and dimly yet the rising smoke is seen. Let him again after the cycle of peace call upon the solar angels.” In terms of its wording, it is a relatively longer rule than some, and we probably have another 30 to 40 pages in that rule. |
Quy luật 14: “Giờ nguy hiểm đối với linh hồn can đảm đang đến gần. Nước đã không làm hại đấng sáng tạo trắng, và không điều gì có thể nhận chìm hay làm ướt đẫm y. Nguy hiểm từ lửa và ngọn lửa giờ đây đe dọa, và khói bốc lên tuy còn mờ nhạt nhưng đã được thấy. Sau chu kỳ bình an, hãy để y một lần nữa kêu gọi các thái dương thiên thần.” Xét về cách diễn đạt, đây là một quy luật tương đối dài hơn một số quy luật khác, và có lẽ chúng ta còn khoảng 30 đến 40 trang nữa trong quy luật này. |
|
[1] THE TREADING OF THE WAY |
[1] Bước Đi Trên Thánh Đạo |
|
[2] We have seen, as we have considered Rule XIV that, in the magical work, the critical point of objectivity has now been reached by the aspirant. He is endeavouring to become a magical creator and to accomplish two things: |
[2] Khi xem xét Quy Luật XIV, chúng ta đã thấy rằng trong công việc huyền thuật, điểm then chốt của tính khách quan nay đã được người chí nguyện đạt đến. Y đang cố gắng trở thành một nhà sáng tạo huyền thuật và hoàn thành hai điều: |
|
We have reached the point at which the inwardly created structure of thought and desire is to become tangible and objective, entering the etheric plane and the dense physical plane. Fires will be involved in that point of entry, and there seem to be a number of ways that in this dangerous process of magic the practitioner can die. |
Chúng ta đã đạt đến điểm mà tại đó cấu trúc tư tưởng và dục vọng được tạo ra bên trong phải trở nên hữu hình và khách quan, đi vào cõi dĩ thái và cõi hồng trần đậm đặc. Lửa sẽ tham dự vào điểm đi vào ấy, và dường như có nhiều cách mà trong tiến trình huyền thuật nguy hiểm này, người thực hành có thể chết. |
|
We probably never think about that when thinking about various magical formulas and the possibility of a working magic that seems to be held out or promised by some of the books. But it is true. There is danger and the possibility of a premature demise unless, with purity and right connection to the soul—the Solar Angel—unless these things are sustained properly and the right procedure is used. It’s a Seventh Ray process, and we know regarding the Seventh Ray that correct procedure, the right thing done at the right time for the right length of time, these things are indispensable. |
Có lẽ chúng ta không bao giờ nghĩ đến điều đó khi nghĩ về các công thức huyền thuật khác nhau và về khả năng có một huyền thuật vận hành dường như được nêu ra hoặc được hứa hẹn trong một số sách. Nhưng điều đó là thật. Có nguy hiểm và có khả năng một sự kết thúc đời sống sớm, trừ phi sự thanh khiết và mối liên hệ đúng đắn với linh hồn—Thái dương Thiên Thần—được duy trì đúng mức, và thủ tục đúng đắn được sử dụng. Đây là một tiến trình thuộc Cung bảy, và chúng ta biết rằng đối với Cung bảy, thủ tục chính xác, điều đúng được làm đúng lúc trong đúng khoảng thời gian, là những điều không thể thiếu. |
|
The one who would become the magical creator has to accomplish two things. I get the sense that in another century, maybe two centuries, some of these magical methods will be put into practice in a practical manner. Right now there is academic learning about them, but DK tells us that if we apply ourselves to the academic studies now, it’ll be that much easier in the future when the true practical formulas are given out. |
Người muốn trở thành nhà sáng tạo huyền thuật phải hoàn thành hai điều. Tôi có cảm giác rằng trong một thế kỷ nữa, có lẽ hai thế kỷ nữa, một số phương pháp huyền thuật này sẽ được đưa vào thực hành một cách thực tiễn. Hiện nay người ta đang học chúng theo lối học thuật, nhưng Chân sư DK cho chúng ta biết rằng nếu bây giờ chúng ta chuyên tâm vào các nghiên cứu học thuật, thì trong tương lai, khi các công thức thực hành đích thực được ban ra, việc ấy sẽ dễ dàng hơn nhiều. |
|
What do we have to do? |
Chúng ta phải làm gì? |
|
[3] 1. Re-create his instrument or mechanism of contact, so that the solar Angel has a vehicle, adequate for the expression of Reality. This involves, we noted, right type, quality, strength and speed. |
[3] 1. Tái tạo công cụ hay bộ máy tiếp xúc của mình, để Thái dương Thiên Thần có một vận cụ thích đáng cho [Page 582] sự biểu lộ của Thực Tại. Như chúng ta đã ghi nhận, điều này bao hàm loại, phẩm tính, sức mạnh và tốc độ đúng đắn. |
|
Or spontaneous and even instantaneous precipitation might be an even better way of describing the fourth step than the word speed. |
Hoặc sự ngưng tụ tự phát, thậm chí tức thời, có lẽ còn là cách diễn tả bước thứ tư tốt hơn từ “tốc độ”. |
|
When we’re aligned with the Solar Angel and in deep communion with that Solar Angel—and it is a real being for us—then the Solar Angel will have an entity for expression of its intention. We spent quite a bit of time on the right type, which is related to the Divine Will and the right direction of the various forces; the quality, which is magnetic; the strength, which is persistent; and the speed, which is spontaneous and operates when there are no obstructions. |
Khi chúng ta chỉnh hợp với Thái dương Thiên Thần và ở trong sự hiệp thông sâu xa với Thái dương Thiên Thần ấy—và Ngài là một thực thể có thật đối với chúng ta—thì Thái dương Thiên Thần sẽ có một thực thể để biểu lộ ý định của Ngài. Chúng ta đã dành khá nhiều thời gian cho loại đúng đắn, vốn liên hệ đến Ý Chí thiêng liêng và sự điều hướng đúng đắn của các mãnh lực khác nhau; phẩm tính, vốn có tính từ tính; sức mạnh, vốn bền bỉ; và tốc độ, vốn tự phát và vận hành khi không có chướng ngại. |
|
We’re trying to accomplish two things here: Recreate the instrument or mechanism of contact—in a way it already exists, but what we mean here is to activate it so that it is ready to function according to the will of the magician—and further |
Ở đây chúng ta đang cố gắng hoàn thành hai điều: tái tạo khí cụ hay bộ máy tiếp xúc—theo một nghĩa nào đó nó đã hiện hữu, nhưng điều chúng ta muốn nói ở đây là kích hoạt nó để nó sẵn sàng vận hành theo ý chí của nhà huyền thuật—và thêm nữa, |
|
[4] 2. Build those subsidiary forms of expression in the outer world through which the embodied Energy, flowing through the re-created sheaths, can serve the world. |
[4] 2. Xây dựng những hình tướng biểu lộ phụ trợ trong thế giới bên ngoài, qua đó Năng Lượng nhập thể, tuôn chảy qua các lớp vỏ đã được tái tạo, có thể phụng sự thế giới. |
|
We are refining, making the sheaths fit, and building in the world those forms which can receive and profit from the transmission of energy. |
Chúng ta đang tinh luyện, làm cho các lớp vỏ trở nên thích hợp, và xây dựng trong thế giới những hình tướng có thể tiếp nhận và hưởng lợi từ sự truyền dẫn năng lượng. |
|
I think we’re all somehow responsible for building forms which truly help the Divine Plan to manifest, and I think this has something to do with that process. Let me elaborate on that a little bit. DK will elaborate on this. |
Tôi nghĩ tất cả chúng ta, bằng cách nào đó, đều có trách nhiệm xây dựng những hình tướng thật sự giúp Thiên Cơ hiển lộ, và tôi nghĩ điều này có liên quan đến tiến trình ấy. Tôi xin khai triển thêm một chút. Chân sư DK sẽ khai triển điều này. |
|
[5] In the first case, the aspirant is dealing with himself, working within his own circumference, and thus learning to know himself, to change himself and to rebuild his form aspect. |
[5] Trong trường hợp thứ nhất, người chí nguyện đang xử lý chính mình, làm việc trong chu vi của riêng mình, và nhờ đó học biết chính mình, thay đổi chính mình và tái kiến tạo phương diện hình tướng của mình. |
|
This is a spiritual training, and no one who is untrained and relatively unpurified can step in and perform successfully the white magical process. We’re working within our own circumference: know thyself, change thyself, rebuild thyself. This is necessary. Otherwise, the plan will be received and expressed in a distorted manner. |
Đây là một sự huấn luyện tinh thần, và không ai chưa được huấn luyện, còn tương đối chưa được thanh luyện, có thể bước vào và thực hiện thành công tiến trình Chánh Thuật. Chúng ta đang làm việc bên trong chu vi của chính mình: biết mình, thay đổi mình, xây dựng lại mình. Điều này là cần thiết. Nếu không, Thiên Cơ sẽ được tiếp nhận và biểu lộ theo cách méo mó. |
|
[6] In the other case, he is learning to be a server of the race, |
[6] Trong trường hợp kia, y đang học trở thành một người phụng sự nhân loại, |
|
He’s building the forms through which he can serve. Various kinds of groups and organizations are built—means, buildings, methods, patterns, whatever you want to call them—and they do give access to those who must be served. The energy can flow through those built forms and reach the people or whomever one is serving, whatever kingdom, and lift them up. |
Y đang xây dựng những hình tướng qua đó y có thể phụng sự. Nhiều loại nhóm và tổ chức khác nhau được xây dựng—phương tiện, công trình, phương pháp, mô hình, hay bất cứ tên gọi nào các bạn muốn dùng—và chúng thật sự mở lối tiếp cận đến những người cần được phụng sự. Năng lượng có thể tuôn chảy qua những hình tướng đã được xây dựng ấy và đến được với con người, hoặc bất cứ đối tượng nào mà người ta đang phụng sự, thuộc bất cứ giới nào, và nâng họ lên. |
|
Various inventions come in here. We could probably think of many forms that are built for the purpose of service. Look at medicine and surgical instruments that are created to perform certain procedures that could not be accomplished before that time. There is a building process whereby to enhance the method whereby the inner energies reach and assist others. |
Nhiều phát minh khác nhau thuộc về lĩnh vực này. Chúng ta có lẽ có thể nghĩ đến nhiều hình tướng được xây dựng nhằm mục đích phụng sự. Hãy nhìn vào y học và các dụng cụ phẫu thuật được tạo ra để thực hiện những thủ thuật mà trước thời điểm ấy không thể thực hiện được. Có một tiến trình xây dựng nhằm nâng cao phương pháp nhờ đó các năng lượng bên trong đến được với người khác và trợ giúp họ. |
|
In the other case—case number two—he’s learning to be a server of the race |
Trong trường hợp kia—trường hợp số hai—y đang học trở thành một người phụng sự nhân loại |
|
[7] and to construct those forms of expression which will embody the new ideas, |
[7] và kiến tạo những hình tướng biểu lộ sẽ làm hiện thân cho các ý tưởng mới, |
|
formulation of ideas through thoughts, in books, in art. Man is a form-creating being at his present stage of development, whether he does that consciously or unconsciously. This is a kind of conscious creation under the influence of love and goodwill and a luminous mind and steadfast will to construct those forms of expression which will embody the new ideas, |
sự hình thành ý tưởng qua tư tưởng, trong sách vở, trong nghệ thuật. Con người là một hữu thể tạo hình tướng ở giai đoạn phát triển hiện nay của mình, dù y làm điều đó một cách hữu thức hay vô thức. Đây là một loại sáng tạo hữu thức dưới ảnh hưởng của bác ái và thiện chí, của một thể trí sáng suốt và một ý chí kiên định nhằm xây dựng những hình tướng biểu lộ sẽ hiện thân cho các ý tưởng mới, |
|
[8] the emerging principles, and the new concepts which must govern and round out our racial progress. |
[8] các nguyên lý đang xuất hiện, và các khái niệm mới vốn phải chi phối và làm tròn đầy sự tiến bộ của nhân loại chúng ta. |
|
All kinds of new inventions and new patterns are emerging. In the emergence of the new patterns come new possibilities for the elevation of man. The Second Ray Lord is called the ray of the Divine Pattern, the ray of archetypes which are purposeful and found on the higher planes of being. From those archetypal patterns come many subsidiary and transient patterns in time and space, many arrangements which will slowly work for the elevation. |
Mọi loại phát minh mới và mô hình mới đang xuất hiện. Trong sự xuất hiện của các mô hình mới có những khả năng mới để nâng cao con người. Đấng Chúa Tể Cung hai được gọi là cung của Mô Hình Thiêng Liêng, cung của các nguyên mẫu có mục đích và được tìm thấy trên các cõi cao của bản thể. Từ những mô hình nguyên mẫu ấy phát sinh nhiều mô hình phụ thuộc và tạm thời trong thời gian và không gian, nhiều cách sắp xếp sẽ dần dần hoạt động cho sự nâng cao. |
|
Just think about even very practical things—education and medicine. There are some countries that see to the medical needs of their people because they have evolved patterns, systems which meet those needs. They see to the educational needs of their younger people and the training of those who are working for various kinds of jobs and professions. Patterns exist because they’ve been created to facilitate these things. Other countries don’t do this at all; those patterns are absent, and therefore the good that comes through the patterns of relationship is missing. |
Hãy nghĩ ngay cả đến những điều rất thực tiễn—giáo dục và y học. Có những quốc gia chăm lo các nhu cầu y tế của dân chúng vì họ đã phát triển các mô hình, các hệ thống đáp ứng những nhu cầu ấy. Họ chăm lo các nhu cầu giáo dục của người trẻ và việc huấn luyện những người đang làm việc trong nhiều loại nghề nghiệp và chuyên môn. Các mô hình tồn tại vì chúng đã được tạo ra để tạo thuận lợi cho những điều này. Những quốc gia khác hoàn toàn không làm như vậy; các mô hình ấy vắng mặt, và vì thế điều tốt đẹp đến qua các mô hình quan hệ cũng thiếu vắng. |
|
I speak about that because being a citizen of the United States and also a permanent resident here in Scandinavia, I’ve seen countries which see after their people and create patterns of service. When the right pattern is created, service can be offered. Countries that do not do that, service patterns are very important. |
Tôi nói về điều đó vì, với tư cách là một công dân Hoa Kỳ và cũng là một cư dân thường trú tại Scandinavia, tôi đã thấy những quốc gia chăm lo cho dân chúng và tạo ra các mô hình phụng sự. Khi mô hình đúng đắn được tạo ra, sự phụng sự có thể được hiến dâng. Đối với những quốc gia không làm điều đó, các mô hình phụng sự là rất quan trọng. |
|
Obviously the head has to be used as well as the heart. The heart may motivate but the head has to design the method by which the energy, the right sort of applied energy and force, will reach the people or whatever kingdom beneficently. There are those who serve the animal kingdom, those who serve the plant kingdom, and even in some ways the mineral kingdom—increasingly so as we move into the age of Aquarius and understand more about how to do that. |
Hiển nhiên, đầu óc phải được sử dụng cũng như trái tim. Trái tim có thể thúc đẩy, nhưng đầu óc phải thiết kế phương pháp nhờ đó năng lượng, loại năng lượng và mãnh lực được áp dụng đúng đắn, sẽ đến với con người, hoặc bất cứ giới nào, theo cách có ích. Có những người phụng sự giới động vật, những người phụng sự giới thực vật, và thậm chí theo một số cách, giới kim thạch—ngày càng như vậy khi chúng ta tiến vào thời đại Bảo Bình và thấu hiểu nhiều hơn về cách làm điều đó. |
|
Constructing the forms which will embody the new ideas, the emerging principles, the new concepts which must govern and round out our racial progress—we have no idea about the patterns which will be conceived to serve in the future. After all, it is a great age of service, isn’t it? A water of life am I poured forth for thirsty men, thirsty human beings, thirsty people—for the thirsty in whatever kingdom. We have these energies within our head centre and all through our energy system and we pour them forth without thought of our own welfare. |
Xây dựng những hình tướng sẽ hiện thân cho các ý tưởng mới, các nguyên khí đang xuất hiện, các khái niệm mới phải điều khiển và hoàn thiện sự tiến bộ của nhân loại chúng ta—chúng ta không biết gì về những mô hình sẽ được hình dung để phụng sự trong tương lai. Sau cùng, đây là một thời đại lớn của phụng sự, phải không? Tôi là nước của sự sống tuôn đổ cho những người khát, những con người khát, những người khát—cho kẻ khát trong bất cứ giới nào. Chúng ta có những năng lượng này trong trung tâm đầu và khắp hệ thống năng lượng của mình, và chúng ta tuôn đổ chúng ra mà không nghĩ đến phúc lợi riêng của mình. |
|
We do have to maintain the instrument of course in order to continue to serve with effectiveness. As DK was reminding his students, you cannot exhaust yourself entirely. You have to have recreation, you have to rest, you have to keep the instrument in serviceable order so that service can really be offered. So it is a balance really. |
Dĩ nhiên chúng ta phải duy trì khí cụ để tiếp tục phụng sự một cách hữu hiệu. Như Chân sư DK đã nhắc nhở các môn sinh của Ngài, các bạn không thể làm cho mình hoàn toàn kiệt sức. Các bạn phải có sự tái tạo sức lực, phải nghỉ ngơi, phải giữ khí cụ trong trật tự có thể phụng sự, để sự phụng sự thật sự có thể được hiến dâng. Vì vậy, thật ra đó là một sự cân bằng. |
|
The magical creator is attempting to do two things. He has to get his mechanism into a serviceable shape so that it can really endure in high quality service, and he has to build the patterns through which he can serve others, serve in the environment. |
Nhà sáng tạo huyền thuật đang cố gắng làm hai điều. Y phải đưa bộ máy của mình vào một tình trạng có thể phụng sự, để nó thật sự có thể bền bỉ trong sự phụng sự có phẩm chất cao; và y phải xây dựng những mô hình qua đó y có thể phụng sự người khác, phụng sự trong môi trường. |
|
[9] Remember that no man is a disciple, in the Master’s sense of the word, who is not a pioneer. |
[9] Hãy nhớ rằng không ai là đệ tử, theo nghĩa mà Chân sư dùng từ này, nếu người ấy không phải là một người tiên phong. |
|
That’s quite a statement. We do have to break new ground and we have to cut our way through the jungle of the ordinary and make new paths towards the accomplishment of new objectives. |
Đó là một phát biểu rất đáng chú ý. Chúng ta phải khai phá những vùng đất mới, phải mở đường xuyên qua khu rừng của cái thông thường, và tạo ra những con đường mới hướng đến việc hoàn thành những mục tiêu mới. |
|
[10] A registered response to spiritual truth, a realised pleasure in forward-looking ideals, and a pleased acquiescence in the truths of the New Age do not constitute discipleship. |
[10] Một đáp ứng đã được ghi nhận đối với chân lý tinh thần, một niềm vui đã được nhận biết trong các lý tưởng hướng về phía trước, và sự thuận nhận vui vẻ các chân lý của Kỷ Nguyên Mới không cấu thành địa vị đệ tử. |
|
That is a powerful statement and it should cause us to evaluate our particular approach to spiritual truth and to forward-looking ideals and to the truths of the New Age. These do not constitute in and of themselves, although they are necessary, discipleship. |
Đó là một phát biểu mạnh mẽ, và nó phải khiến chúng ta đánh giá cách tiếp cận riêng của mình đối với chân lý tinh thần, đối với các lý tưởng hướng về tương lai và đối với các chân lý của Kỷ Nguyên Mới. Dù chúng cần thiết, nhưng tự chúng không cấu thành địa vị đệ tử. |
|
[11] If it were so, the ranks of disciples would be rapidly filled and this is sadly not the case. |
[11] Nếu là như vậy, hàng ngũ đệ tử sẽ nhanh chóng được lấp đầy, và đáng buồn thay, sự thật không phải thế. Chính khả năng đi đến sự thấu hiểu các chứng nghiệm kế tiếp đang nằm phía trước thể trí nhân loại là điều đánh dấu người chí nguyện đang đứng tại ngưỡng cửa của địa vị đệ tử được chấp nhận; |
|
He’s saying here that there are not yet enough disciples. This was being said in the late 1920s when this book was being written. Is it still the case? I think it is in many ways. |
Ở đây Ngài đang nói rằng vẫn chưa có đủ đệ tử. Điều này được nói vào cuối thập niên 1920, khi quyển sách này đang được viết. Hiện nay điều đó vẫn còn đúng không? Tôi nghĩ, theo nhiều cách, vẫn đúng. |
|
It is the ability to arrive at an understanding of the next realizations which lie ahead of the human mind, which marks the aspirant who stands at the threshold of accepted discipleship. |
Chính khả năng đi đến một sự thấu hiểu về những nhận thức kế tiếp đang nằm phía trước thể trí con người, mới đánh dấu người chí nguyện đang đứng tại ngưỡng cửa của địa vị đệ tử được chấp nhận. |
|
It seems we skipped over the idea that the aspirant is a disciple of a kind, maybe a probationary disciple. |
Dường như chúng ta đã lướt qua ý tưởng rằng người chí nguyện là một loại đệ tử, có lẽ là một đệ tử dự bị. |
|
[12] it is the power, wrought out in the crucible of strenuous inner experience, |
[12] chính quyền năng, được rèn luyện trong lò thử thách của kinh nghiệm nội tâm căng thẳng, |
|
not just outer strenuous experience, |
không chỉ là kinh nghiệm căng thẳng bên ngoài, |
|
[13] to see the immediate vision and to grasp those concepts in which the mind must necessarily clothe it, which give a man the right to be a recognised worker with the plan (recognised by the Great Ones, if not recognised by the world); |
[13] để thấy linh ảnh trước mắt và nắm bắt các khái niệm mà thể trí nhất thiết phải khoác lên nó, là điều đem lại cho một người quyền được là một người hoạt động được công nhận với Thiên Cơ, được Các Đấng Cao Cả công nhận, dù thế giới có thể không công nhận; |
|
This is defining, isn’t it? We’re learning what really makes an aspirant, what really makes a disciple. There’s nothing sentimental about this and certainly there’s nothing easy about it. The ability to arrive at an understanding of the next realizations, not the distant ones, but the next necessary ones, which will really help the present situation. |
Điều này đang định nghĩa, phải không? Chúng ta đang học điều gì thật sự làm nên một người chí nguyện, điều gì thật sự làm nên một đệ tử. Ở đây không có gì ủy mị, và chắc chắn không có gì dễ dàng. Khả năng đi đến một sự thấu hiểu về những nhận thức kế tiếp, không phải những nhận thức xa xôi, mà là những nhận thức cần thiết kế tiếp, những điều sẽ thật sự giúp ích cho tình trạng hiện tại. |
|
The next realizations which lie ahead of the human mind mark the aspirant. He’s part of the avant-garde, in a way, the forward-moving edge of the body that’s moving progressively. There’s danger on the front lines, in a way, but that aspirant stands at the threshold of accepted discipleship, already being a kind of disciple. |
Những nhận thức kế tiếp đang nằm phía trước thể trí con người đánh dấu người chí nguyện. Theo một nghĩa nào đó, y là một phần của đội tiền phong, là mép tiến tới của một cơ thể đang chuyển động tiến bộ. Ở tiền tuyến, theo một nghĩa nào đó, có nguy hiểm, nhưng người chí nguyện ấy đứng ở ngưỡng cửa của địa vị đệ tử được chấp nhận, và đã là một loại đệ tử. |
|
We might say an accepting disciple, a probationary disciple, then an accepted disciple. And before long, when their real work is accomplished and Saturn and Mercury are really put discriminatively to use, an accepted disciple. Notice how the word “power” comes in here—it’s an augmentation over simply “ability” that was describing the aspirant. |
Chúng ta có thể nói: một đệ tử đang chấp nhận, một đệ tử dự bị, rồi một đệ tử được chấp nhận. Và chẳng bao lâu, khi công việc thực sự của họ được hoàn thành, và Sao Thổ cùng Sao Thủy thật sự được vận dụng một cách phân biện, thì đó là một đệ tử được chấp nhận. Hãy chú ý cách từ “quyền năng” xuất hiện ở đây—đó là một sự tăng cường so với chỉ “khả năng” vốn mô tả người chí nguyện. |
|
It is the power wrought out in the crucible of strenuous inner experience to see the immediate vision and to grasp those concepts in which the mind must necessarily clothe it, so that it’s effective and people can assimilate it, because you have to speak in such a language and with concepts that the immediate possibilities of the future can be registered and the people who receive them can acquiesce in the idea that they must be accomplished. It’s doing these things which give a man the right to be recognized, a recognized worker with the Plan, recognized with the Great Ones, if not recognized by the world. This can be called accepted disciple and accepted discipleship. |
Đó là quyền năng được rèn luyện trong lò nung của kinh nghiệm nội tâm căng thẳng để thấy linh ảnh trước mắt và nắm bắt những khái niệm mà thể trí tất yếu phải dùng để khoác lên nó, để nó có hiệu quả và con người có thể đồng hóa nó, bởi vì các bạn phải nói bằng một ngôn ngữ và với những khái niệm sao cho các khả năng trước mắt của tương lai có thể được ghi nhận, và những người tiếp nhận chúng có thể thuận nhận ý tưởng rằng chúng phải được hoàn thành. Chính việc làm những điều này trao cho một người quyền được công nhận, một người hoạt động được công nhận với Thiên Cơ, được Các Đấng Cao Cả công nhận, dù không được thế gian công nhận. Điều này có thể được gọi là đệ tử được chấp nhận và địa vị đệ tử được chấp nhận. |
|
[14] it is the achievement of that spiritual orientation, held steadily—no matter what the outer disturbance in the physical plane life may be—that signifies to Those Who watch and seek for workers, that a man can be trusted to deal with some small aspect of Their undertaken work; it is the capacity to submerge and to lose sight of the personal lower self in the task of world guidance, under soul impulse, which lifts a man out of the ranks of the aspiring mystics into those of the practical, though mystically minded, occultists. |
[14] chính sự đạt được định hướng tinh thần ấy, được giữ vững không lay chuyển, bất kể sự xáo trộn bên ngoài trong đời sống cõi hồng trần có thể là gì, là điều báo hiệu cho Những Đấng đang quan sát và tìm kiếm người hoạt động rằng một người có thể được tin cậy để xử lý một phương diện nhỏ nào đó trong công việc mà Các Ngài đảm trách; chính khả năng nhấn chìm [Page 583] và đánh mất khỏi tầm nhìn phàm ngã cá nhân trong nhiệm vụ hướng dẫn thế giới, dưới xung động của linh hồn, là điều nâng một người ra khỏi hàng ngũ các nhà thần bí chí nguyện để bước vào hàng ngũ các nhà huyền bí học thực tiễn, dù có khuynh hướng thần bí. |
|
This is yet another step and maybe we can call such a step by the name senior disciple, advanced disciple, something of that nature. So we have aspirant to accepted discipleship, the accepted disciple, and the more senior disciple who is also a probationary initiate. |
Đây lại là một bước khác, và có lẽ chúng ta có thể gọi bước ấy bằng tên đệ tử cao cấp, đệ tử tiến hóa, hay một điều gì tương tự. Như vậy, chúng ta có người chí nguyện hướng đến địa vị đệ tử được chấp nhận, đệ tử được chấp nhận, và đệ tử cao cấp hơn, cũng là điểm đạo đồ dự bị. |
|
All of these stages kind of overlap and it’s really difficult to make them cut and dried as it were, because that takes away the livingness of them. A human individual interested in the spiritual work can be a number of things simultaneously. Power is involved and also this persistence, the strength of persistence to hold steady no matter what the outer disturbance of physical life. |
Tất cả các giai đoạn này phần nào chồng lấn lên nhau, và thật sự rất khó làm cho chúng trở nên cứng nhắc rạch ròi, vì như thế sẽ lấy đi tính sống động của chúng. Một cá nhân con người quan tâm đến công việc tinh thần có thể đồng thời là nhiều điều. Quyền năng có liên quan, và cũng có sự bền bỉ này, sức mạnh của sự bền bỉ để giữ vững, bất kể sự xáo trộn bên ngoài của đời sống hồng trần. |
|
Many of us have no idea of how steadily some of those who have gone before and who’ve achieved have held under circumstances that might prevent us from doing the work. But they have achieved and they have negated what to so many would be an inhibitory outer disturbance. There are those who do watch and who do judge, and they judge when a human being can be brought into closer rapport with the ashram that they have gathered. |
Nhiều người trong chúng ta không biết những người đã đi trước và đã thành tựu đã giữ vững một cách kiên định đến mức nào trong những hoàn cảnh có thể ngăn chúng ta làm công việc. Nhưng họ đã thành tựu và họ đã phủ nhận điều mà đối với rất nhiều người sẽ là một sự xáo trộn bên ngoài có tính ức chế. Có những Đấng thật sự quan sát và thật sự phán định, và Các Ngài phán định khi một con người có thể được đưa vào mối tương giao gần gũi hơn với ashram mà Các Ngài đã quy tụ. |
|
It’s symbolic perhaps, but it’s really vibratory where we stand with respect to the ashram. It depends on the degree of our skill, our selflessness, our mental illumination, our love, the degree to which we can appropriate spiritual will and express it, certainly as goodwill and later as the will to good. There are many markers by which the great ones looking on can judge. |
Có lẽ điều ấy có tính biểu tượng, nhưng thật sự nó có tính rung động, xét theo vị trí của chúng ta đối với ashram. Nó tùy thuộc vào mức độ khéo léo, tính vô ngã, sự soi sáng trí tuệ, tình thương của chúng ta, mức độ chúng ta có thể chiếm hữu ý chí tinh thần và biểu lộ nó, chắc chắn như thiện chí và về sau như Ý Chí-hướng Thiện. Có nhiều dấu hiệu để Các Đấng Cao Cả đang quan sát có thể phán định. |
|
Alice Bailey used to say the position that a disciple holds is all about what she called spheres of responsibility. Presumably, a highly trained disciple, an advanced disciple can deal with a sphere of responsibility which is larger and more demanding than a less trained disciple. This is the way that enlargement occurs. |
Bà Alice Bailey thường nói rằng vị trí mà một đệ tử nắm giữ hoàn toàn liên quan đến điều bà gọi là các khối cầu trách nhiệm. Có lẽ, một đệ tử được huấn luyện cao, một đệ tử tiến hóa, có thể xử lý một khối cầu trách nhiệm lớn hơn và đòi hỏi hơn so với một đệ tử ít được huấn luyện hơn. Đây là cách sự mở rộng diễn ra. |
|
You fit yourself for the task. Master Morya said at one point that it’s a demand which awakens you to the seriousness of the whole process. He says, make yourself indispensable. |
Các bạn tự chuẩn bị cho nhiệm vụ. Chân sư Morya từng nói rằng chính sự đòi hỏi đánh thức các bạn trước tính nghiêm trọng của toàn bộ tiến trình. Ngài nói: hãy làm cho mình trở nên không thể thiếu. |
|
Make yourself indispensable. It’s not necessarily by calling yourself in an egotistical manner indispensable—”I am indispensable.” It’s just work so hard and so skillfully and so effectively that actually you really must be welded into the great work because maybe you’re one of the only ones that can do it. Maybe you’re really needed to make the great work succeed. |
Hãy làm cho mình trở nên không thể thiếu. Điều đó không nhất thiết bằng cách tự gọi mình một cách vị ngã là không thể thiếu—“Tôi là người không thể thiếu.” Chỉ cần làm việc hết sức chăm chỉ, khéo léo và hiệu quả đến nỗi thật sự các bạn phải được hàn gắn vào công việc lớn lao, bởi vì có lẽ các bạn là một trong số rất ít người có thể làm việc ấy. Có lẽ các bạn thật sự cần thiết để làm cho công việc lớn lao thành công. |
|
Now we’re getting to a section of the book that I’ve often quoted because it has to do with advice which is indispensable. |
Chúng ta đang đi đến một phần của quyển sách mà tôi thường trích dẫn, vì nó liên quan đến những lời khuyên không thể thiếu. |
|
[15] This is an intensely practical work, on which we are engaged; |
[15] Đây là một công việc hết sức thực tiễn mà chúng ta đang dấn thân vào; |
|
He’s dealt with many rules of magic and he’s dealt with them in A Treatise on Cosmic Fire in a more abstracted sense. Now he’s getting into the implications of these rules in the life of the striving disciple. |
Ngài đã đề cập đến nhiều quy luật huyền thuật, và Ngài đã đề cập đến chúng trong Luận về Lửa Vũ Trụ theo một nghĩa trừu tượng hơn. Bây giờ Ngài đi vào các hàm ý của những quy luật này trong đời sống của đệ tử đang nỗ lực. |
|
We can be an aspirant to becoming the white magician, but I think only those who are really disciples can hope to be in any way effective in this process. And even they, not entirely. I think one must really be a third degree initiate and beyond to be called the true white magician instead of somebody who is interested in and attracted to the process. |
Chúng ta có thể là người chí nguyện muốn trở thành nhà huyền thuật chánh đạo, nhưng tôi nghĩ chỉ những ai thật sự là đệ tử mới có thể hy vọng trở nên hữu hiệu trong tiến trình này theo bất kỳ cách nào. Và ngay cả họ cũng không hoàn toàn như vậy. Tôi nghĩ một người thật sự phải là điểm đạo đồ cấp ba trở lên mới có thể được gọi là nhà huyền thuật chánh đạo đích thực, thay vì chỉ là người quan tâm và bị thu hút bởi tiến trình ấy. |
|
This is an intensely practical work on which we are engaged. |
Đây là một công việc hết sức thực tiễn mà chúng ta đang tham gia. |
|
[16] it is likewise of such proportions that it will occupy all of a man’s attention and time, even his entire thought life, and will lead him to efficient expression in his personality task (imposed by karmic limitation and inherited tendency) and to a steadfast application of the creative and magical work. |
[16] đồng thời, nó có tầm vóc đến mức sẽ chiếm trọn mọi chú tâm và thời gian của một người, thậm chí toàn bộ đời sống tư tưởng của y, và sẽ dẫn y đến sự biểu lộ hữu hiệu trong nhiệm vụ phàm ngã của mình, vốn được áp đặt bởi giới hạn nghiệp quả và khuynh hướng thừa hưởng, cũng như đến sự áp dụng vững bền công việc sáng tạo và huyền thuật. |
|
Notice the efficiency aspect there, the third aspect, imposed by karmic limitation and inherited tendency. What is that personality task for any one of us? What are the karmic limitations which have drawn the circle within which we have to undertake that personality task? Every one of us should see how we got where we are and how our spiritualized personality task is indicated by not only our aspirations and the types of energies we appropriate, but by karmic factors which hold us within a certain ring-pass-not and demand that we perform efficiently within that ring-pass-not. |
Hãy chú ý đến phương diện hiệu quả ở đó, phương diện thứ ba, do giới hạn nghiệp quả và khuynh hướng di truyền áp đặt. Nhiệm vụ phàm ngã ấy đối với bất cứ ai trong chúng ta là gì? Những giới hạn nghiệp quả nào đã vẽ nên vòng tròn bên trong đó chúng ta phải đảm nhận nhiệm vụ phàm ngã ấy? Mỗi người chúng ta nên thấy mình đã đi đến vị trí hiện nay như thế nào, và nhiệm vụ phàm ngã được tinh thần hóa của mình được chỉ ra không chỉ bởi các khát vọng và các loại năng lượng mà chúng ta chiếm hữu, mà còn bởi các yếu tố nghiệp quả giữ chúng ta trong một vòng-giới-hạn nhất định và đòi hỏi chúng ta thực hiện một cách hữu hiệu trong vòng-giới-hạn ấy. |
|
[17] Discipleship is a synthesis of hard work, intellectual unfoldment, steady aspiration and spiritual orientation, plus the unusual qualities of positive harmlessness and the opened eye which sees at will into the world of reality. |
[17] Địa vị đệ tử là sự tổng hợp của lao động gian khổ, sự khai mở trí tuệ, khát vọng bền bỉ và định hướng tinh thần, cộng thêm các phẩm tính khác thường của tính vô tổn hại tích cực và con mắt đã mở, có thể tùy ý nhìn vào thế giới của thực tại. |
|
This is real discipleship, this is a kind of discipleship as it appears when maybe when a man is no longer called a disciple. We’re all disciples. |
Đây là địa vị đệ tử thật sự, đây là một loại địa vị đệ tử như nó xuất hiện khi có lẽ một người không còn được gọi là đệ tử nữa. Tất cả chúng ta đều là đệ tử. |
|
Even the Planetary Logos is a disciple of the Solar Logos, and on and on it goes. There is a relativity of terms, but the later part of the sentence indicates a more advanced stage. This is one of those sentences which we read and which steadily constitutes guidance for us and a clarification of what we might have thought discipleship was. |
Ngay cả Hành Tinh Thượng đế cũng là đệ tử của Thái dương Thượng đế, và cứ tiếp tục như vậy. Có một tính tương đối trong các thuật ngữ, nhưng phần sau của câu chỉ ra một giai đoạn tiến hóa hơn. Đây là một trong những câu mà chúng ta đọc và nó bền bỉ trở thành sự hướng dẫn cho chúng ta, đồng thời làm sáng tỏ điều mà có lẽ chúng ta đã nghĩ địa vị đệ tử là. |
|
A synthesis of hard work—notice he puts that first, isn’t it? It’s not just that pleased acquiescence in ideals and interesting thoughts—oh, how interesting that is—but we don’t work at it. It’s a synthesis of hard work, intellectual unfoldment. The mind has to be well focused. The man has to be focused, at least mentally, even if not entirely polarized mentally. That’s maybe a later stage between the second and third initiation. |
Một sự tổng hợp của lao động gian khó—hãy chú ý Ngài đặt điều đó trước tiên, phải không? Không chỉ là sự thuận thuận vui vẻ đối với các lý tưởng và các tư tưởng thú vị—ôi, điều ấy thú vị biết bao—nhưng chúng ta không làm việc với nó. Đó là một sự tổng hợp của lao động gian khó, sự khai mở trí tuệ. Thể trí phải được tập trung tốt. Con người phải được tập trung, ít nhất là về mặt trí tuệ, dù chưa hoàn toàn phân cực trí tuệ. Đó có lẽ là một giai đoạn về sau, giữa lần điểm đạo thứ hai và lần điểm đạo thứ ba. |
|
Steady aspiration, not fitful, and spiritual orientation, always looking to the east symbolically, looking to the downflow of energy from the soul and looking for ways of identifying as the soul. And here comes the plus, which has to be added on as we become accepted disciples. Even for them, it’s certainly not perfect. Plus the unusual qualities of positive harmlessness, which is not a passive acquiescence when unpleasant circumstances strike. |
Khát vọng bền bỉ, không thất thường, và định hướng tinh thần, luôn hướng nhìn về phương đông theo nghĩa biểu tượng, hướng nhìn về dòng năng lượng tuôn xuống từ linh hồn và tìm cách đồng hóa với tư cách linh hồn. Và ở đây xuất hiện phần cộng thêm, điều phải được thêm vào khi chúng ta trở thành các đệ tử được chấp nhận. Ngay cả đối với họ, điều ấy chắc chắn cũng chưa hoàn hảo. Cộng với những phẩm tính khác thường của tính vô tổn hại tích cực, vốn không phải là sự thuận nhận thụ động khi các hoàn cảnh khó chịu xảy đến. |
|
We may have to take, in being harmless, even drastic action. Harmlessness does not, harmlessness sometimes suggests some kind of passivity, but it is not so. There’s poise in it. There’s a completed point of view, divine understanding, a number of Libran qualities. Though whatever your sign may be, you can achieve this, can and must achieve this positive harmlessness. |
Trong việc trở nên vô tổn hại, chúng ta có thể phải thực hiện cả những hành động quyết liệt. Tính vô tổn hại không phải là, đôi khi tính vô tổn hại gợi ý một loại thụ động nào đó, nhưng không phải như vậy. Trong đó có sự quân bình. Có một quan điểm trọn vẹn, sự thấu hiểu thiêng liêng, một số phẩm tính Thiên Bình. Dù dấu hiệu của các bạn là gì, các bạn vẫn có thể đạt được điều này, có thể và phải đạt được tính vô tổn hại tích cực này. |
|
I think the soul from its perspective, or we as the soul, are always harmless. But when we descend into greater limitation of perception, then we are perhaps no longer harmless and fight for the prerogatives of our personality over the prerogatives of the personality of others. There is this friction in the world of fire by friction, instead of harmony in the world of Solar Fire. |
Tôi nghĩ linh hồn, từ viễn cảnh của nó, hoặc chúng ta với tư cách linh hồn, luôn luôn vô tổn hại. Nhưng khi chúng ta đi xuống vào sự giới hạn lớn hơn của tri giác, thì có lẽ chúng ta không còn vô tổn hại nữa và đấu tranh cho các đặc quyền của phàm ngã mình hơn các đặc quyền của phàm ngã người khác. Có sự ma sát này trong thế giới của Lửa ma sát, thay vì sự hài hòa trong thế giới của Lửa Thái dương. |
|
Positive harmlessness and the opened eye, the eye of Shiva, which sees at will into the world of reality. This opened eye requires that the triangle of the head center, the Ajna and the Sahasrara center must be completed and functioning. It seems to evoke the powers of the third eye and is more an achievement of the third initiation. |
Tính vô tổn hại tích cực và con mắt đã mở, con mắt của Shiva, vốn có thể tùy ý nhìn vào thế giới của thực tại. Con mắt đã mở này đòi hỏi rằng tam giác của trung tâm đầu, ajna và trung tâm Sahasrara phải được hoàn tất và vận hành. Nó dường như khơi gợi các quyền năng của con mắt thứ ba và là một thành tựu nhiều hơn của lần điểm đạo thứ ba. |
|
We’ve reached that point where we can continue with these very important injunctions, pieces of advice that eventually will make of us the adept. We are just about, perhaps at that one-hour point. I’m going to just keep going here. There’s a bit of irregularity here toward the end of the book, but it seems that it is necessary to finish this work. |
Chúng ta đã đạt đến điểm có thể tiếp tục với những huấn thị rất quan trọng này, những lời khuyên cuối cùng sẽ làm cho chúng ta trở thành chân sư. Có lẽ chúng ta đang ở gần mốc một giờ. Tôi sẽ tiếp tục ở đây. Có một chút bất thường ở gần cuối quyển sách, nhưng dường như cần phải hoàn tất công việc này. |
|
[18] Certain considerations should be brought to the notice of the disciple which—for the sake of clarity—we will tabulate. To become an adept it will be necessary for the disciple to: |
[18] Một số điều cần được đưa đến sự chú ý của đệ tử, và để rõ ràng, chúng ta sẽ liệt kê. Để trở thành một chân sư, đệ tử cần phải: |
|
and then we will look at what are the necessities. Remember that the adept is that rare efflorescence of a generation of inquirers, or enquirers, depending whether we’re using American English or British English. |
và rồi chúng ta sẽ xem những điều cần thiết là gì. Hãy nhớ rằng chân sư là “sự nở hoa hiếm hoi của một thế hệ những người tìm hỏi”. |
|
We are at that point, I believe, about an hour into 14.3. This is serious business here because quite a number of fifth degree initiates will be needed, says The Tibetan, and needed in short order, in a short time. During the Aquarian age, some of these will appear, and maybe even more in the subsequent age of Capricorn. The third initiation is related to Aquarius and to Capricorn, and the fourth initiation definitely to Aquarius. |
Tôi tin rằng chúng ta đang ở điểm khoảng một giờ trong phần 14.3. Đây là một vấn đề nghiêm túc, vì Chân sư Tây Tạng nói rằng sẽ cần một số khá lớn các điểm đạo đồ cấp năm, và cần trong thời gian ngắn. Trong thời đại Bảo Bình, một số vị này sẽ xuất hiện, và có lẽ còn nhiều hơn trong thời đại Ma Kết kế tiếp. Lần điểm đạo thứ ba liên hệ đến Bảo Bình và Ma Kết, và lần điểm đạo thứ tư chắc chắn liên hệ đến Bảo Bình. |
|
Many disciples or initiates end their quest for mastership in the sign Aquarius. Much achievement will come in Aquarius, and certainly quite a bit more in the age of Capricorn. Here are the requirements, which I so often repeat, and the question is, can we do them? |
Nhiều đệ tử hay điểm đạo đồ kết thúc cuộc truy cầu chân sư tính trong dấu hiệu Bảo Bình. Nhiều thành tựu sẽ đến trong Bảo Bình, và chắc chắn còn khá nhiều hơn trong thời đại Ma Kết. Đây là các yêu cầu mà tôi thường lặp lại, và câu hỏi là: chúng ta có thể thực hiện chúng không? |
|
[19] 1. Enquire the Way. |
[19] 1. Tìm hỏi Đường Đạo. |
|
[20] 2. Obey the inward impulses of the soul. |
[20] 2. Tuân theo các xung động bên trong của linh hồn. |
|
[21] 3. Pay no attention to any worldly consideration. |
[21] 3. Không chú ý đến bất cứ cân nhắc thế gian nào. |
|
[22] 4. Live a life which is an example to others. |
[22] 4. Sống một đời sống làm gương cho người khác. |
|
By emphasizing these, perhaps they will have a greater chance of impacting my consciousness and the consciousness of others. He is now going to explain these very practical injunctions, demands, pieces of advice, rules—whatever we want to call them. These are ways which, if followed with persistence, with intelligence, with the proper technique, will lead to adeptship, to mastership. They are requirements for transiting to adeptship. |
Bằng cách nhấn mạnh những điều này, có lẽ chúng sẽ có cơ hội lớn hơn để tác động đến tâm thức của tôi và tâm thức của người khác. Bây giờ Ngài sẽ giải thích những huấn thị, đòi hỏi, lời khuyên, quy luật rất thực tiễn này—dù chúng ta muốn gọi chúng là gì. Đây là những cách thức, nếu được theo đuổi với sự bền bỉ, với trí tuệ, với kỹ thuật thích hợp, sẽ dẫn đến chân sư tính. Chúng là những yêu cầu để chuyển tiếp đến chân sư tính. |
|
[23] These four requirements may sound at the first superficial reading as easy of accomplishment, but if carefully studied it will become apparent why an adept is a “rare efflorescence of a generation of enquirers.” Let us take up each of these four points: |
[23] Bốn yêu cầu này khi đọc qua lần đầu có thể nghe như dễ thực hiện, nhưng nếu được nghiên cứu cẩn thận, sẽ thấy rõ vì sao một chân sư là “bông hoa hiếm hoi của một thế hệ những người tìm hỏi”. Chúng ta hãy bàn từng điểm trong bốn điểm này: |
|
An adept is the rare efflorescence of a generation of inquirers, and so often in occultism, that which appears easy of attainment certainly is not—it is veiling unsuspected depths. |
Một chân sư là sự nở hoa hiếm hoi của một thế hệ những người tìm hỏi, và trong huyền bí học, điều thường có vẻ dễ đạt được chắc chắn lại không phải như vậy—nó che phủ những chiều sâu không ngờ tới. |
|
[24] 1. Enquire the Way. We are told by one of the Masters |
[24] 1. Tìm hỏi Đường Đạo. Một trong các Chân sư |
|
I often wonder whether when he speaks of a master speaking, it isn’t so often Master K.H. He usually keeps the master involved anonymous when he speaks of something said by one of them. In the case of Master Serapis, he gave some very interesting definitions of time and space and the overcoming of time and space through the intuition. |
Tôi thường tự hỏi liệu khi Ngài nói về lời của một Chân sư, có phải rất thường đó là Chân sư KH hay không. Ngài thường giữ cho vị Chân sư liên hệ được ẩn danh khi nói về một điều gì do một trong Các Ngài phát biểu. Trong trường hợp Chân sư Serapis, Ngài đã đưa ra một số định nghĩa rất thú vị về thời gian và không gian, và việc vượt thắng thời gian và không gian qua trực giác. |
|
He has not mentioned, at least not as far as I can remember, the statements of Master K.H., though no doubt since Master D.K. is a disciple of Master K.H., no doubt Master K.H. is responsible for a number of these statements which D.K. offers when He talks of a Master speaking. There’s a little bit from Saint Paul about the kingdom of heaven suffereth violence and the violent take it by force. There’s a little bit from Master Morya too, when speaking of that condition of irritation that we call imperil and which becomes substantial and which precipitates itself on the walls of the nerves within. |
Ngài đã không đề cập, ít nhất theo như tôi nhớ, đến các phát biểu của Chân sư KH, dù chắc chắn vì Chân sư DK là đệ tử của Chân sư KH, Chân sư KH chắc hẳn chịu trách nhiệm đối với một số phát biểu mà Chân sư DK đưa ra khi Ngài nói về lời của một Chân sư. Có một chút từ Thánh Paul về việc Thiên Giới chịu sức mạnh và những người mạnh mẽ chiếm lấy nó bằng sức mạnh. Cũng có một chút từ Chân sư Morya, khi nói về tình trạng kích thích mà chúng ta gọi là imperil, tình trạng trở nên có chất liệu và tự ngưng tụ trên các vách của dây thần kinh bên trong. |
|
There is quite an exchange between the masters, and they have a certain knowledge of what each other may be saying, especially the strongest and most powerful statements. “My God, my God, why hast thou forsaken me?” enunciated by Master Jesus on the cross—D.K. explains that as the overcoming of illusion, of the great synthetic illusion, and the realization by Master Jesus or the Initiate Jesus at that time that he is God. |
Có sự trao đổi đáng kể giữa các Chân sư, và Các Ngài có một tri thức nhất định về điều mà mỗi vị khác có thể đang nói, đặc biệt là các phát biểu mạnh mẽ và quyền năng nhất. “Thượng đế của con, Thượng đế của con, sao Ngài bỏ rơi con?” được Chân sư Jesus thốt ra trên thập giá—Chân sư DK giải thích điều đó như sự vượt thắng ảo tưởng, ảo tưởng tổng hợp lớn lao, và sự nhận thức của Chân sư Jesus hay Điểm đạo đồ Jesus vào lúc ấy rằng Ngài là Thượng đế. |
|
Certain of the masters are quoted. Jesus, Paul, Serapis, Kuthumi—I don’t doubt at all that he’s in there because he’s the one closest to Master D.K. and Master Morya. Various masters have all been somehow quoted to a greater or lesser degree. Here we have: Inquire the Way. |
Một số Chân sư được trích dẫn. Jesus, Paul, Serapis, Kuthumi—tôi không chút nghi ngờ rằng Ngài có ở đó, vì Ngài là vị gần gũi nhất với Chân sư DK và Chân sư Morya. Các Chân sư khác nhau, bằng cách này hay cách khác, đều đã được trích dẫn ở mức độ lớn nhỏ khác nhau. Ở đây chúng ta có: Tìm hỏi Con Đường. |
|
We are told by one of the Masters, |
Một trong các Chân sư cho chúng ta biết, |
|
[25] that a whole generation of enquirers may only produce one adept. |
[25] cho chúng ta biết rằng cả một thế hệ những người tìm hỏi có thể chỉ tạo ra một chân sư. |
|
That’s not going to be enough when we realize how many fifth-degree initiates will be needed in the relatively short term, but it does signal to us something of the difficulty of the process. We have to have sense of proportion based on humility when we think of the demands of the requirements presented to us. Sometimes we really underestimate their difficulty. |
Điều đó sẽ không đủ khi chúng ta nhận ra cần bao nhiêu điểm đạo đồ cấp năm trong tương lai tương đối gần, nhưng nó cũng báo hiệu cho chúng ta điều gì đó về sự khó khăn của tiến trình. Chúng ta phải có Ý thức về tỉ lệ dựa trên sự khiêm nhường khi nghĩ đến các đòi hỏi của những yêu cầu được trình bày cho chúng ta. Đôi khi chúng ta thật sự đánh giá thấp sự khó khăn của chúng. |
|
If there are millions of inquirers and billions of human beings, of the many who thirst after illumination and ascension and life in the higher worlds identified with the higher aspect of themselves, there are millions with aspiration and burning at a certain level of intensity. But a generation producing just one adept? We begin to realize what it means to be an adept. |
Nếu có hàng triệu người tìm hỏi và hàng tỷ con người, trong số rất nhiều người khao khát soi sáng, thăng thượng và đời sống trong các cõi cao, đồng hóa với phương diện cao hơn của chính mình, thì có hàng triệu người có khát vọng và đang bừng cháy ở một mức cường độ nhất định. Nhưng một thế hệ chỉ tạo ra một chân sư? Chúng ta bắt đầu nhận ra trở thành một chân sư có nghĩa là gì. |
|
[26] Why should this be so? For two reasons: |
[26] Vì sao lại như vậy? Vì hai lý do: |
|
First and second. |
Thứ nhất và thứ hai. |
|
[27] First, the true enquirer is one who avails himself of the wisdom of his generation, who is the best product of his own period and yet who remains unsatisfied and with the inner longing for wisdom unappeased. |
[27] Thứ nhất, người tìm hỏi chân chính là người tận dụng minh triết của thế hệ mình, là sản phẩm tốt đẹp nhất của thời kỳ mình, nhưng vẫn không thỏa mãn và nỗi [Page 584] khao khát bên trong về minh triết vẫn chưa được xoa dịu. |
|
That is a definition of the true inquirer. Very intelligent, very capable with regard to all that his generation may offer of knowledge and even of wisdom, but he’s not satisfied. This divine discontent is burning in the hearts and mind of all those who will succeed in becoming adepts. |
Đó là định nghĩa về người tìm hỏi chân chính. Rất thông minh, rất có năng lực đối với tất cả những gì thế hệ của mình có thể cống hiến về tri thức và thậm chí về minh triết, nhưng y không thỏa mãn. Sự bất mãn thiêng liêng này đang cháy trong trái tim và thể trí của tất cả những ai sẽ thành công trong việc trở thành chân sư. |
|
[28] To him there appears to be something of more importance than knowledge and something of greater moment than the accumulated experience of his own period and time. |
[28] Đối với y, dường như có điều gì đó quan trọng hơn tri thức, và có điều gì đó trọng đại hơn kinh nghiệm tích lũy của chính thời kỳ và thời đại y. |
|
Which must be very limited. Some people I know are very intelligent, but they are captured by the idea that modern man is at the forefront of what man can know, and discount the thought that in previous times, and among adepts and initiates and priests and those of the inner temple, even more was known. Whatever man can know, he certainly knows now, and no knowledge has been lost. I think that’s a great mistake. |
Điều ấy hẳn rất giới hạn. Một số người tôi biết rất thông minh, nhưng họ bị cuốn giữ bởi ý tưởng rằng con người hiện đại đang ở tuyến đầu của những gì con người có thể biết, và xem nhẹ tư tưởng rằng trong các thời kỳ trước, cũng như giữa các chân sư, điểm đạo đồ, tư tế và những người của nội điện, còn có nhiều điều hơn đã được biết đến. Bất cứ điều gì con người có thể biết, chắc chắn hiện nay con người đã biết, và không có tri thức nào bị mất. Tôi nghĩ đó là một sai lầm lớn. |
|
There appears to be something of more importance than knowledge, and something of greater moment than the accumulated experience of his own period in time. His spirit within knows that omniscience will be his, and is discontent forever until omnipotence, omniscience, and omnipresence have been achieved. The spirit knows these things, and he is connecting with his spirit. |
Dường như có một điều gì quan trọng hơn tri thức, và có một điều gì có tầm trọng đại hơn kinh nghiệm tích lũy của chính thời kỳ trong thời gian của y. Tinh thần bên trong y biết rằng toàn tri sẽ là của y, và mãi mãi bất mãn cho đến khi toàn năng, toàn tri và toàn hiện đã được đạt đến. Tinh thần biết những điều này, và y đang kết nối với tinh thần của mình. |
|
[29] He recognises a step further on and seeks to take it in order to gain something to add to the quota already gained by his compeers. |
[29] Y nhận ra một bước xa hơn ở phía trước và tìm cách thực hiện bước ấy để đạt được điều gì đó bổ sung vào phần đã được các bạn đồng hành của y đạt tới. |
|
Master D.K. is talking very much about himself. In Esoteric Psychology 1, He talks about the second-ray type, and he says that the second-ray type is ever unsatisfied with even his highest attainments. Around page 203, the student on this ray is ever unsatisfied with his highest attainments. No matter how great his knowledge, his mind is still fixed on the unknown, the beyond, and on the heights as yet unscaled. I find that to be such a definitive quotation about the inner longing of the second-ray type, especially if on the knowledge aspect of the second ray. This is E.P. 1, page 203. |
Chân sư DK đang nói rất nhiều về chính Ngài. Trong Tâm Lý Học Nội Môn 1, Ngài nói về người cung hai, và Ngài nói rằng người cung hai luôn không thỏa mãn ngay cả với những thành tựu cao nhất của mình. Khoảng trang 203, đạo sinh trên cung này luôn không thỏa mãn với những thành tựu cao nhất của mình. Dù tri thức của y lớn đến đâu, thể trí của y vẫn gắn chặt vào điều chưa biết, vào cái vượt ngoài, và vào những đỉnh cao chưa được chinh phục. Tôi thấy đó là một trích dẫn rất xác định về nỗi khát khao bên trong của người cung hai, đặc biệt nếu thuộc phương diện tri thức của cung hai. Đây là Tâm Lý Học Nội Môn 1, trang 203. |
|
To him, there appears to be something of more moment. He recognizes a step further on, and seeks to take it in order to gain something to add to the quotas already gained by his compeers. He’s really involved in the process of what I call monadic retraction, or emanative retraction. |
Đối với y, dường như có một điều gì có tầm trọng đại hơn. Y nhận ra một bước xa hơn phía trước, và tìm cách thực hiện bước ấy nhằm đạt được một điều gì đó để thêm vào những phần đã được các bạn đồng hàng của y giành được. Y thật sự tham dự vào tiến trình mà tôi gọi là sự rút lui chân thần, hay sự rút lui xuất lộ. |
|
[30] Nothing satisfies him until he finds the Way, |
[30] Không điều gì thỏa mãn y cho đến khi y tìm thấy Đường Đạo, |
|
And what is that way? A way of high revolution, leading even beyond the planet, beyond the cosmic physical plane, beyond our solar system. |
Và con đường ấy là gì? Một con đường tiến hóa cao siêu, dẫn vượt cả hành tinh, vượt ngoài cõi hồng trần vũ trụ, vượt ngoài hệ mặt trời của chúng ta. |
|
[31] and nothing appeases the desire at the centre of his being |
[31] và không điều gì làm dịu niềm ham muốn nơi trung tâm bản thể y |
|
Notice where that desire is coming from, and notice that desire is not to be discounted as a factor in the life of the advanced type. The Planetary Logos, the Solar Logos, and beyond—they have their desires too. |
Hãy chú ý dục vọng ấy đến từ đâu, và hãy chú ý rằng dục vọng không nên bị xem nhẹ như một yếu tố trong đời sống của kiểu người tiến hóa. Hành Tinh Thượng đế, Thái dương Thượng đế, và vượt xa hơn nữa—Các Ngài cũng có những dục vọng của mình. |
|
We’re not just talking about low desire for phenomenal occurrences and phenomenal acquisitions, which cannot really be held. Those are the things that the Buddha says we have to dispense with. |
Chúng ta không chỉ đang nói về dục vọng thấp đối với các hiện tượng xảy ra và các sự chiếm hữu hiện tượng, những thứ thật sự không thể nắm giữ. Đó là những điều Đức Phật nói rằng chúng ta phải từ bỏ. |
|
Nothing satisfies him until he finds the way, and nothing appeases the desire at the center of his being, |
Không điều gì làm y thỏa mãn cho đến khi y tìm thấy Con Đường, và không điều gì làm dịu được dục vọng ở trung tâm bản thể y, |
|
[32] except that which is found in the house of his Father. |
[32] ngoại trừ điều được tìm thấy trong nhà của Cha y. |
|
Even then there’ll be more yearning for something still higher, but this is the yearning for Shambhala. |
Ngay cả khi ấy vẫn sẽ còn có thêm sự khao khát một điều gì cao hơn nữa, nhưng đây là nỗi khao khát Shamballa. |
|
[33] He is what he is because he has tried all lesser ways and found them wanting, and has submitted to many guides only to find them “blind leaders of the blind”. |
[33] Y là như thế vì y đã thử mọi con đường thấp hơn và thấy chúng thiếu sót, và đã phó mình cho nhiều người hướng dẫn chỉ để thấy họ là “những kẻ mù dẫn dắt người mù”. |
|
These guides have all had their Bucyrus tendencies. Bucyrus was found in the Labour of Hercules, and he was the false teacher. He was a teacher who limited the possible attainment of his students by binding them too closely to him and to his thought and to his words and what he thought to be real. |
Những người hướng dẫn này đều đã có các khuynh hướng Bucyrus của họ. Bucyrus được tìm thấy trong kỳ công của Hercules, và ông là vị thầy giả. Ông là một huấn sư đã giới hạn thành tựu khả dĩ của các môn sinh bằng cách buộc họ quá chặt vào ông, vào tư tưởng của ông, vào lời nói của ông và vào điều ông cho là thực. |
|
Bucyrus did not encourage the inner capacity of his students but made repetitive mental slaves of them. Hercules rebelled and bound Bucyrus to his own altar. The Tibetan has written in the old commentary style the story of the first seven labors, so Gemini is included. The early labors are more elaborate than we might otherwise expect. When he stopped writing and others took over, naturally the labors could not be so elaborate, and much probably was left out that would have been patent to the Tibetan’s understanding. |
Bucyrus không khuyến khích năng lực bên trong của các môn sinh của mình, mà biến họ thành những nô lệ trí tuệ lặp đi lặp lại. Hercules nổi loạn và trói Bucyrus vào chính bàn thờ của y. Chân sư Tây Tạng đã viết câu chuyện về bảy kỳ công đầu tiên theo văn phong Cổ Luận, vì vậy Song Tử được bao gồm. Những kỳ công ban đầu được trình bày công phu hơn mức chúng ta có thể mong đợi. Khi Ngài ngừng viết và những người khác tiếp tục, tự nhiên các kỳ công không thể còn công phu như vậy, và có lẽ nhiều điều đã bị bỏ sót vốn hẳn đã hiển nhiên đối với sự thấu hiểu của Chân sư Tây Tạng. |
|
He cannot follow others really. He has to learn to follow his own inner, or inward wisdom, which of course he possesses. |
Y thật sự không thể đi theo người khác. Y phải học cách đi theo minh triết bên trong, hay minh triết nội tại của chính mình, điều dĩ nhiên y có sẵn. |
|
[34] Nothing is left to him but to become his own guide and find his own way home alone. |
[34] Không còn gì cho y ngoài việc trở thành người hướng dẫn của chính mình và một mình tìm đường về nhà đơn độc. |
|
Inquiring the way is a bit of a lonely path. I remember I had a little bit of this maybe once in my life because I’d written a book on the rays and utilized much of what D.K. had said and thought quite a bit based upon that. But then when I got into the infinitization book, it’s like I put everything away and used a few points of contact. |
Việc tìm hỏi con đường là một con đường có phần cô độc. Tôi nhớ có lẽ tôi đã từng có một chút kinh nghiệm về điều này một lần trong đời, vì tôi đã viết một cuốn sách về các cung và đã dùng nhiều điều Chân sư DK đã nói, rồi suy nghĩ khá nhiều dựa trên đó. Nhưng khi tôi đi vào cuốn sách về sự vô hạn hóa, dường như tôi gạt mọi thứ sang một bên và chỉ dùng vài điểm tiếp xúc. |
|
I had a tiny little book called the Viveka Cudamani, the Crest Jewel of Discrimination. It wasn’t even the translation that The Tibetan recommended. I think he recommended a Chatterjee translation. I didn’t realize that, and I didn’t have it, so I just dealt with this very little book translation, and I used that as an occasional reference. |
Tôi có một cuốn sách rất nhỏ gọi là Viên Ngọc Đỉnh Cao của Phân Biện. Nó thậm chí không phải là bản dịch mà Chân sư Tây Tạng đã khuyên dùng. Tôi nghĩ Ngài đã khuyên dùng bản dịch của Chatterjee. Tôi đã không nhận ra điều đó, và tôi cũng không có bản ấy, nên tôi chỉ xử lý bản dịch rất nhỏ này, và thỉnh thoảng dùng nó làm tài liệu tham khảo. |
|
I felt that I had to find within my own understanding, and of course, I’ve not yet found it, a way to present certain ideas. Now here it is, more than 20 years later, and I’m finding that I didn’t go deep enough. I’m going to be, again, relying upon my own wisdom, if I can access it, my own intuition. Of course, none of this really belongs to the individual, and that which is intuitive is like the golden hind on the hillside near the temple. You may capture the hind, but when you turn around, there it’s going to be. |
Tôi cảm thấy rằng mình phải tìm ra trong sự thấu hiểu của chính mình, và dĩ nhiên, tôi vẫn chưa tìm thấy, một cách để trình bày một số ý tưởng nhất định. Hơn hai mươi năm sau, tôi nhận ra rằng mình đã chưa đi đủ sâu. Tôi lại sẽ dựa vào minh triết của chính mình, nếu tôi có thể tiếp cận nó, vào trực giác của chính mình. Dĩ nhiên, không điều nào trong những điều này thật sự thuộc về cá nhân, và cái gì thuộc về trực giác thì giống như con nai cái vàng trên sườn đồi gần đền thờ. Các bạn có thể bắt được con nai cái ấy, nhưng khi quay lại, nó vẫn ở đó. |
|
The deer, the golden deer, will still be on the hillside. It doesn’t really belong to anybody. I think I have a little experience with this, and there is a question of self-trust. You have to give yourself permission to think through things on your own without holding the hand of the guide too tightly, so he has to find his own way home. |
Con nai, con nai vàng, vẫn sẽ ở trên sườn đồi. Nó thật sự không thuộc về ai cả. Tôi nghĩ tôi có chút kinh nghiệm với điều này, và ở đây có vấn đề về lòng tin vào bản thân. Các bạn phải cho phép mình tự suy nghĩ thấu đáo mọi sự mà không nắm tay người hướng dẫn quá chặt; vì vậy y phải tự mình tìm con đường trở về nhà. |
|
[35] In the loneliness which is the lot of every true disciple are born that self-knowledge and self-reliance which will fit him in his turn to be a Master. |
[35] Trong sự cô độc vốn là số phận của mọi đệ tử chân chính, sự tự tri và tự lực được sinh ra, và những điều này đến lượt chúng sẽ làm cho y thích hợp để trở thành một Chân sư. |
|
We really do have to develop this self-reliance, and we don’t just mean this in a personal sense. Maybe some work on developing personal self-reliance will help us develop the self-reliance of one who identifies as a soul or a Triad or even a Monad eventually. But it doesn’t stop at the personality, surely. |
Chúng ta thật sự phải phát triển sự tự lực này, và chúng ta không chỉ muốn nói điều này theo nghĩa cá nhân. Có lẽ một phần công việc phát triển sự tự lực cá nhân sẽ giúp chúng ta phát triển sự tự lực của người đồng hoá với linh hồn, hoặc Tam Nguyên Tinh Thần, hoặc cuối cùng thậm chí là chân thần. Nhưng chắc chắn điều này không dừng lại ở phàm ngã. |
|
Our next objective is to develop the self-reliance of the experienced soul that has been through many incarnations and can begin to learn to trust itself. It has seen and it has harvested the wisdom from experience. |
Mục tiêu kế tiếp của chúng ta là phát triển sự tự lực của linh hồn từng trải, đã đi qua nhiều lần lâm phàm và có thể bắt đầu học cách tin cậy chính mình. Nó đã thấy và đã thu hoạch minh triết từ kinh nghiệm. |
|
[36] This loneliness is not due to any separative spirit but to the conditions of the Way itself. |
[36] Sự cô độc này không do bất cứ tinh thần chia rẽ nào, mà do chính các điều kiện của Đường Đạo. |
|
We oftentimes talk of the Path, but once the sixth initiation begins, we talk of the way. |
Chúng ta thường nói về Đường Đạo, nhưng một khi lần điểm đạo thứ sáu bắt đầu, chúng ta nói về Con đường. |
|
Maybe DK is speaking more generically here, and the way means the Path. |
Có lẽ Chân sư DK đang nói theo nghĩa tổng quát hơn ở đây, và con đường có nghĩa là Đường Đạo. |
|
[37] Aspirants must carefully bear this distinction in mind. |
[37] Người chí nguyện phải ghi nhớ cẩn thận sự phân biệt này. |
|
It’s not the loneliness of separativeness. It’s the loneliness which the Path forces upon every individual who would access, learn to access his own wisdom. What is the old saying that knowledge dwells in the mind of those attentive to the thoughts of others. The wisdom dwells, I think it’s in the heart of those attentive to their own thoughts. |
Đó không phải là sự cô độc của tính chia rẽ. Đó là sự cô độc mà Đường Đạo áp đặt lên mọi cá nhân muốn tiếp cận, học cách tiếp cận minh triết của chính mình. Câu nói xưa là gì nhỉ: tri thức cư ngụ trong thể trí của những ai chú tâm đến tư tưởng của người khác. Còn minh triết, tôi nghĩ, cư ngụ trong trái tim của những ai chú tâm đến tư tưởng của chính mình. |
|
This question of self-trust and making the leap into accessing the higher aspects of one’s energy system is a bit of a perilous process and a little shaky. We don’t know when something good is coming of it at first, but we have to, without declaring the absolute truth of what we find within ourselves at first, still have to risk it and not hold the hand of the superior guide too tightly. Otherwise we’ll never develop our own expression of the Divine Will. |
Vấn đề về lòng tin vào bản thân và bước nhảy vọt để tiếp cận các phương diện cao hơn trong hệ thống năng lượng của mình là một tiến trình có phần nguy hiểm và hơi chông chênh. Ban đầu chúng ta không biết khi nào điều gì tốt đẹp sẽ phát sinh từ đó, nhưng không tuyên bố ngay chân lý tuyệt đối của điều mình tìm thấy trong chính mình, chúng ta vẫn phải liều và không nắm tay người hướng dẫn cao hơn quá chặt. Nếu không, chúng ta sẽ không bao giờ phát triển được sự biểu lộ riêng của mình về Ý Chí thiêng liêng. |
|
Inquire the way. That’s the first thing about it. The true inquiry—dissatisfaction of the spirit as the prompt to inquiry within one’s self, or maybe the higher self. |
Hãy tìm hỏi con đường. Đó là điều đầu tiên về nó. Sự tìm hỏi chân chính—sự bất mãn của tinh thần như lực thúc đẩy sự tìm hỏi trong chính mình, hoặc có lẽ trong chân ngã. |
|
Now what else about an inquirer? |
Còn điều gì khác về một người tìm hỏi? |
|
[38] Secondly, the true enquirer is one whose courage is of that rare kind which enables its possessor to stand upright and to sound his own clear note in the very midst of the turmoil of the world. |
[38] Thứ hai, người tìm hỏi chân chính là người có lòng can đảm thuộc loại hiếm hoi, cho phép người sở hữu nó đứng thẳng và xướng lên âm điệu trong trẻo của chính mình ngay giữa cơn hỗn loạn của thế giới. |
|
There are all kinds of forces that want to knock you off your center. They want to invalidate you in preference to those who have the reputation of certain knowledge, those who have established themselves as authorities. They want to take away your authority in favor of the authority of someone upon whom you simply should be relying. But when you have the courage to stand up, it’s pretty rare, he says, and to sound your own note clearly in the midst of all kinds of confusion and all kinds of dissuasion, all kinds of discounting and ridicule and all the rest, then you’re on your way. |
Có đủ loại mãnh lực muốn đánh bật các bạn ra khỏi trung tâm của mình. Chúng muốn phủ nhận giá trị của các bạn để ưu tiên cho những người có tiếng là sở hữu tri thức chắc chắn, những người đã tự thiết lập mình như các thẩm quyền. Chúng muốn tước bỏ thẩm quyền của các bạn để dành chỗ cho thẩm quyền của một người mà các bạn được cho là đơn giản phải dựa vào. Nhưng khi các bạn có can đảm đứng lên, điều ấy khá hiếm hoi, Ngài nói, và xướng lên âm điệu của chính mình một cách rõ ràng giữa mọi loại rối loạn, mọi loại khuyên can, mọi loại xem nhẹ, chế giễu và tất cả những điều còn lại, thì các bạn đang ở trên đường. |
|
[39] He is one who has the eye trained to see beyond the fogs and miasmas of the earth |
[39] Y là người có con mắt đã được rèn luyện để nhìn vượt qua sương mù và uế khí của Trái Đất đến trung tâm bình an |
|
It sounds very much like the world of glamour on the astral plane— |
Điều này nghe rất giống thế giới ảo cảm trên cõi cảm dục— |
|
to that center of peace, |
đến trung tâm bình an ấy, |
|
Shamballic, |
thuộc Shamballa, |
|
[40] which presides over all earth’s happenings, and that trained attentive ear which (having caught a whisper of the Voice of the Silence) |
[40] vốn chủ trì mọi biến cố của Trái Đất, và có đôi tai chăm chú đã được rèn luyện, sau khi bắt được một tiếng thì thầm của Tiếng Nói của Im Lặng, |
|
which is from one perspective the voice of the soul, |
mà theo một quan điểm là tiếng nói của linh hồn, |
|
[41] is kept tuned to that high vibration and is thus deaf to all lesser alluring voices. |
[41] vẫn giữ mình hòa điệu với rung động cao ấy và do đó điếc trước mọi tiếng gọi quyến rũ thấp hơn. |
|
that want to lead him back into the dense physical nature of the Planetary Logos. |
vốn muốn dẫn y trở lại vào bản chất hồng trần đậm đặc của Hành Tinh Thượng đế. |
|
[42] This again brings loneliness and produces that aloofness which all less evolved souls feel when in the presence of those who are forging ahead. |
[42] Điều này lại đem đến sự cô độc và tạo ra sự cách biệt mà mọi linh hồn kém tiến hóa hơn cảm thấy khi ở trong sự hiện diện của những người đang tiến lên phía trước. |
|
It’s not a separative aloofness. It’s the aloofness of right attentiveness to the higher voice. One is always listening for what may be spoken on the higher and inner planes or what may descend in symbolic form and which then has to be deciphered. |
Đó không phải là sự cách biệt chia rẽ. Đó là sự cách biệt của sự chú tâm đúng đắn vào tiếng nói cao hơn. Người ta luôn lắng nghe điều có thể được nói trên các cõi cao hơn và bên trong, hoặc điều có thể giáng xuống dưới hình thức biểu tượng rồi sau đó phải được giải mã. |
|
See beyond, hear beyond—basically that’s what this is all about. See beyond and hear beyond the immediate. The immediate is lesser than what lies beyond. These people have to receive the best from their surroundings, but they have not to be bewildered the way so many people with a modern mind are bewildered about what is reality. They have to be attuned beyond the level of confusion or possible acquisition in the immediate surroundings. You take what is useful, but you see beyond and you hear beyond. |
Nhìn vượt qua, nghe vượt qua—về căn bản đó là toàn bộ ý nghĩa ở đây. Nhìn vượt qua và nghe vượt qua cái tức thời. Cái tức thời thấp hơn điều nằm phía sau nó. Những người này phải tiếp nhận điều tốt nhất từ môi trường chung quanh, nhưng họ không được bối rối như rất nhiều người có trí tuệ hiện đại đang bối rối về thực tại là gì. Họ phải được hòa điệu vượt khỏi cấp độ rối loạn hoặc khả năng thủ đắc trong môi trường tức thời. Các bạn nhận lấy điều hữu ích, nhưng các bạn nhìn vượt qua và nghe vượt qua. |
|
[43] A paradoxical situation is brought about from the fact that the disciple is told to enquire the Way and yet there is none to tell him. |
[43] Một tình trạng nghịch lý được tạo ra từ sự kiện rằng đệ tử được bảo phải tìm hỏi Đường Đạo, nhưng lại không có ai nói cho y biết. |
|
None other than the true self, which he is. |
Không ai khác ngoài chân ngã, tức là chính y. |
|
[44] Those who know the Way may not speak, knowing that the Path is constructed by the aspirant as the spinner spins its web out of the centre of his own being. |
[44] Những ai biết Đường Đạo không thể nói, vì biết rằng Đường Đạo được người chí nguyện kiến tạo như con nhện dệt tấm mạng của nó từ trung tâm [Page 585] bản thể của chính mình. |
|
We make our own connections through light threads to the higher worlds, at least energy currents that allow a transmission from higher vibration to lower. |
Chúng ta tạo ra các liên kết của chính mình bằng những sợi ánh sáng với các thế giới cao hơn, ít nhất là những dòng năng lượng cho phép sự truyền dẫn từ rung động cao hơn xuống thấp hơn. |
|
[45] Thus only those souls flower forth into adepts in any specific generation who have “trodden the winepress of the wrath of God alone” |
[45] Do đó, chỉ những linh hồn nào trong bất cứ thế hệ đặc thù nào đã “một mình giẫm đạp bàn ép rượu của cơn thịnh nộ của Thượng đế”, |
|
In the old days, you stepped on the grapes and the juice was produced. You didn’t rely on someone else to make your wine. You are doing it yourself. In the process, there are many harrowing experiences to face—the wrath of God. We’re talking about the flowering forth of the adept as a rare efflorescence, a rare flower of a generation of inquiries—those souls |
Ngày xưa, các bạn giẫm lên nho và nước ép được tạo ra. Các bạn không dựa vào người khác để làm rượu cho mình. Các bạn tự làm điều đó. Trong tiến trình này, có nhiều kinh nghiệm kinh hoàng phải đối mặt—cơn thịnh nộ của Thượng đế. Chúng ta đang nói về sự nở hoa của chân sư như một sự khai hoa hiếm hoi, một bông hoa hiếm của một thế hệ những người tìm hỏi—những linh hồn ấy |
|
[46] or who (in other words) have worked out their karma alone and who have intelligently taken up the task of treading the Path. |
[46] hay nói cách khác, đã tự mình giải quyết nghiệp quả của mình và đã thông minh đảm nhận nhiệm vụ bước đi trên Đường Đạo, mới nở hoa thành các chân sư. |
|
Each individual is unique in expression and identical in essence. We share something—we share identicality—and yet there is this aloneness experienced in our unique circumstances and that unique part of the Will of God, which it is our duty to bring into expression, maybe before successfully returning to the identicality. |
Mỗi cá nhân là độc nhất trong biểu lộ và đồng nhất trong tinh túy. Chúng ta chia sẻ một điều gì đó—chúng ta chia sẻ tính đồng nhất—và tuy vậy vẫn có sự đơn độc này được trải nghiệm trong các hoàn cảnh độc đáo của chúng ta và trong phần độc đáo ấy của Ý Chí của Thượng Đế, điều mà bổn phận của chúng ta là đưa vào biểu lộ, có lẽ trước khi trở về thành công với tính đồng nhất. |
|
Inquire the way. As you can see, just a few paragraphs there, but how very important that we learn to rely upon ourselves. There is a divine discontent found within one and all, and it is produced by the spirit. The spirit, when immersed in matter, is ever discontent, especially once it has carried forward its manifestational responsibility. Then the spirit wants to return to the full expression of its own power. |
Hãy tìm hỏi con đường. Như các bạn có thể thấy, chỉ vài đoạn ở đó thôi, nhưng thật quan trọng biết bao khi chúng ta học cách dựa vào chính mình. Có một sự bất mãn thiêng liêng được tìm thấy trong mỗi người và mọi người, và nó do tinh thần tạo ra. Tinh thần, khi chìm trong vật chất, luôn bất mãn, đặc biệt một khi nó đã thực hiện trách nhiệm biểu hiện của mình. Khi ấy tinh thần muốn trở về với sự biểu lộ trọn vẹn quyền năng của chính nó. |
|
Maybe in the lower worlds of limitation, to return to full power, even within those lower worlds, or at least to much greater power than it achieved when first immersed. I call that sometimes the prakritic immersion of the spirit. That’s what happens in emanation. Prakriti is matter, and the life, the being, the consciousness is immersed in ever more constricted circumstances because of the thickness of matter with which it must contend, the slower vibrations. |
Có lẽ trong các thế giới thấp của giới hạn, nó muốn trở về với quyền năng trọn vẹn, ngay cả trong các thế giới thấp ấy, hoặc ít nhất với quyền năng lớn hơn nhiều so với lúc nó mới chìm vào. Đôi khi tôi gọi điều đó là sự chìm đắm của tinh thần vào vật chất. Đó là điều xảy ra trong sự xuất lộ. Vật chất là vật chất, và sự sống, bản thể, tâm thức bị chìm vào những hoàn cảnh ngày càng bị co hẹp hơn vì độ dày của vật chất mà nó phải đối diện, vì các rung động chậm hơn. |
|
How many times have we been through this? You just cannot give it a definite number because there’ll always be a higher number and a higher number, so you can say in a way, cyclically forever. Now we go to the next injunction, or maybe we should call it a charge. After passing through an initiation ceremony, there’s going to be a charging up of the newly made initiate, and his energy is thrown into him via this charge. |
Chúng ta đã đi qua điều này bao nhiêu lần? Các bạn không thể đưa ra một con số xác định, vì luôn sẽ có một con số cao hơn và cao hơn nữa, nên theo một cách nào đó các bạn có thể nói là theo chu kỳ, mãi mãi. Bây giờ chúng ta đi đến huấn lệnh kế tiếp, hoặc có lẽ nên gọi là một sự giao phó. Sau khi đi qua một nghi lễ điểm đạo, sẽ có sự tiếp năng lượng cho điểm đạo đồ mới được tạo lập, và năng lượng của y được phóng vào y qua sự giao phó này. |
|
[47] 2. Obey the inward impulses of the soul. |
[47] 2. Tuân theo các xung động bên trong của linh hồn. [47b] Các huấn sư của nhân loại đã dạy rất đúng khi chỉ dẫn điểm đạo đồ đang chớm nở thực hành phân biện và rèn luyện y trong nhiệm vụ gian khổ là phân biệt giữa: |
|
It seems very straightforward, doesn’t it? We’re told to do this all the time, but when it actually comes, inward impulses. I said inner, and for years I’ve been saying inner, so now I have to correct that. Inward impulses of the soul, but maybe really practically there’s not so much difference. |
Điều này có vẻ rất thẳng thắn, phải không? Chúng ta luôn được bảo phải làm điều này, nhưng khi nó thật sự đến, những xung động hướng nội. Tôi đã nói bên trong, và trong nhiều năm tôi đã nói bên trong, nên bây giờ tôi phải sửa điều đó. Những xung động hướng nội của linh hồn, nhưng có lẽ về mặt thực hành thật sự không có quá nhiều khác biệt. |
|
[47b] Well do the teachers of the race instruct the budding initiate to practise discrimination and train him in the arduous task of distinguishing between: |
[47b] Các huấn sư của nhân loại thật khéo léo khi chỉ dạy điểm đạo đồ đang chớm nở thực hành phân biện và huấn luyện y trong nhiệm vụ gian khó là phân biệt giữa: |
|
On the fourth sub-level of the mental plane comes this factor of discrimination, and it’s the antechamber to entering the higher three sub-planes of the soul. When real effective discrimination is established, then that entry into the realm of the soul occurs—the transition area between, let’s say, the dense physical body of the Planetary Logos and his cosmic etheric body. |
Trên cõi phụ thứ tư của cõi trí xuất hiện yếu tố phân biện này, và nó là tiền sảnh để đi vào ba cõi phụ cao hơn của linh hồn. Khi sự phân biện thật sự hữu hiệu được thiết lập, thì sự đi vào cõi giới của linh hồn xảy ra—khu vực chuyển tiếp giữa, ta có thể nói, thể xác đậm đặc của Hành Tinh Thượng đế và thể dĩ thái vũ trụ của Ngài. |
|
The higher three sub-planes of the mental plane are in a way transitional. They are etheric from a certain point of view, and yet transitional into the cosmic ethers where we can truly begin to live within a principled, cosmically principled area of the Planetary Logos and also of the Solar Logos. Distinguish between |
Ba cõi phụ cao hơn của cõi trí, theo một cách nào đó, có tính chuyển tiếp. Từ một quan điểm nhất định, chúng là dĩ thái, và tuy vậy vẫn là chuyển tiếp vào các cõi dĩ thái vũ trụ, nơi chúng ta thật sự có thể bắt đầu sống trong một khu vực có nguyên khí, có nguyên khí vũ trụ, của Hành Tinh Thượng đế và cũng của Thái dương Thượng đế. Phân biệt giữa |
|
[48] a. Instinct and intuition. |
[48] a. Bản năng và trực giác. |
|
One has the full knowledge of why something is as it is, and the other may guide intelligently but unconsciously. |
Một bên có tri thức đầy đủ về lý do tại sao điều gì là như nó đang là, còn bên kia có thể hướng dẫn một cách thông minh nhưng vô thức. |
|
[49] b. Higher and lower mind. |
[49] b. Thượng trí và hạ trí. |
|
[50] c. Desire and spiritual impulse. |
[50] c. Ham muốn và xung động tinh thần. |
|
The spiritual impulse has more to do with aspiration. |
Xung động tinh thần liên hệ nhiều hơn với khát vọng. |
|
[51] d. Selfish aspiration and divine incentive. |
[51] d. Khát vọng ích kỷ và động lực thiêng liêng. |
|
One can aspire for better circumstances for the personality, but divine incentive has to do with the urge towards service and acquisition of higher potentialities and liberation, ultimately, the better to serve. |
Người ta có thể khát vọng những hoàn cảnh tốt đẹp hơn cho phàm ngã, nhưng động lực thiêng liêng liên hệ với thôi thúc hướng đến phụng sự và sự thủ đắc các tiềm năng cao hơn, và cuối cùng là giải thoát, để phụng sự tốt hơn. |
|
[52] e. The urge emanating from the lunar lords, and the unfoldment of the solar Lord. |
[52] e. Sự thúc đẩy phát xuất từ các nguyệt tinh quân, và sự khai mở của nhật tinh quân. |
|
Unfortunately, here on our earth, we have this disintegrating body we call the moon, and it’s part of what was the third chain in the Earth Scheme. It met maybe an untimely end, or maybe it was indeed timely given the mistakes that were being made even by the Planetary Logos in relation to this moon chain. So we need a very sharp, discriminative mind. We need to see that the personality will be motivated largely by instinct, lower mind, desire, selfish aspiration, and lunar urges. |
Thật không may, ở đây trên Trái Đất của chúng ta, chúng ta có thể đang tan rã mà chúng ta gọi là mặt trăng, và nó là một phần của điều từng là dãy thứ ba trong hệ hành tinh Địa Cầu. Nó có lẽ đã gặp một kết thúc không đúng lúc, hoặc có lẽ thật sự đúng lúc, xét đến những sai lầm đang được tạo ra ngay cả bởi Hành Tinh Thượng đế liên quan đến Dãy Mặt Trăng này. Vì vậy chúng ta cần một thể trí phân biện rất sắc bén. Chúng ta cần thấy rằng phàm ngã sẽ được thúc đẩy phần lớn bởi bản năng, Hạ trí, dục vọng, khát vọng ích kỷ và các thôi thúc mặt trăng. |
|
That part of us which is the detached, ultimately detached, soul-in-incarnation, the consciousness within the personality will be motivated eventually by the intuition, and before that by the higher mind. There will be a spiritual impulse which will elevate the quality of desire into aspiration and a yearning for the higher states. There will be a reception of the higher levels of spirituality, and even of divinity, which is higher still. They will provide an incentive for the individual to reach in his desired body towards these sources, and not for the things of the phenomenal world against which the Buddha warns us. |
Phần trong chúng ta là linh hồn đang nhập thể tách rời, cuối cùng hoàn toàn tách rời, là tâm thức bên trong phàm ngã, cuối cùng sẽ được thúc đẩy bởi trực giác, và trước đó bởi Thượng trí. Sẽ có một xung động tinh thần nâng phẩm tính của dục vọng lên thành khát vọng và một sự khao khát các trạng thái cao hơn. Sẽ có sự tiếp nhận các cấp độ tinh thần cao hơn, và thậm chí thiên tính, vốn còn cao hơn nữa. Chúng sẽ cung cấp một động lực cho cá nhân vươn trong thể đầy ham muốn của mình về phía các nguồn này, chứ không phải về phía những sự vật của thế giới hiện tượng mà Đức Phật cảnh báo chúng ta. |
|
We will have the unfoldment of the soul of the Lord to which the soul and incarnation attends. Less and less we as the observer within the personality attend to the promptings of the personality, and more to the still small voice, to the cyclic radiation of the soul, which earlier in this book tells us are our higher impulses. More and more we attend to those kinds of things, even in the midst of chaos, of fatigue, of apparent emotional upset, of mental confusion. All that can exist, but somehow our attentiveness is tracking the real source, which in this case is the soul, and still higher sources remain for us to come into rapport with. |
Chúng ta sẽ có sự khai mở linh hồn của Chúa Tể mà linh hồn đang nhập thể chú tâm đến. Càng ngày chúng ta, với tư cách người quan sát bên trong phàm ngã, càng ít chú tâm đến các thúc giục của phàm ngã, và càng chú tâm nhiều hơn đến tiếng nói nhỏ nhẹ tĩnh lặng, đến bức xạ theo chu kỳ của linh hồn, điều mà phần trước trong cuốn sách này cho chúng ta biết là các xung động cao hơn của chúng ta. Càng ngày chúng ta càng chú tâm đến những điều như thế, ngay cả giữa hỗn loạn, mệt mỏi, xáo trộn cảm xúc bề ngoài, rối loạn trí tuệ. Tất cả những điều ấy có thể tồn tại, nhưng bằng cách nào đó sự chú tâm của chúng ta vẫn lần theo nguồn thật, trong trường hợp này là linh hồn, và vẫn còn những nguồn cao hơn để chúng ta đi vào tương giao. |
|
It’s a subtle process, really. As we go through many difficulties, we are always drawn by the lodestar, the attractive star, the star of the monad—withdrawing an aspect of itself from immersion in matter. Accordingly, we rise through higher and more intense points of tension, reclaiming that which we lost upon our descent. |
Đó thật sự là một tiến trình tinh tế. Khi chúng ta đi qua nhiều khó khăn, chúng ta luôn được thu hút bởi ngôi sao dẫn đường, ngôi sao hấp dẫn, ngôi sao của chân thần—đang rút một phương diện của chính nó khỏi sự chìm đắm trong vật chất. Theo đó, chúng ta vươn lên qua những điểm tập trung nhất tâm cao hơn và mãnh liệt hơn, đòi lại điều chúng ta đã mất khi đi xuống. |
|
But we never really lose it. In terms of our immediate consciousness, it seems to be lost and is remote, yet we realize it’s always been a part of us. As we ascend emanatively, we’ve descended, so we will ascend. We discover the vastness increasingly—the vastness of our true spiritual and then divine nature. It requires patience, but I always ask myself how many times we’ve been through this, and the answer is always more times than you can name specifically, no matter how great your number might be. |
Nhưng chúng ta chưa bao giờ thật sự mất nó. Xét theo tâm thức tức thời của chúng ta, nó dường như đã mất và xa xôi, tuy vậy chúng ta nhận ra nó luôn là một phần của chúng ta. Khi chúng ta đi lên theo đường xuất lộ, như chúng ta đã đi xuống, chúng ta sẽ đi lên. Chúng ta ngày càng khám phá sự bao la—sự bao la của bản chất tinh thần chân thật và rồi bản chất thiêng liêng của mình. Điều đó đòi hỏi kiên nhẫn, nhưng tôi luôn tự hỏi chúng ta đã đi qua điều này bao nhiêu lần, và câu trả lời luôn là nhiều hơn số lần các bạn có thể gọi tên cụ thể, bất kể con số của các bạn lớn đến đâu. |
|
Discrimination is the word here, and why it’s important. There are many impulses, but do we know which are the inward impulses of the soul? Do we know, or do we fail to separate this from that? Are we confused about which are the impulses of the soul and which are simply the promptings of our lunar lords of the personal nature? |
Phân biện là từ ở đây, và lý do nó quan trọng. Có nhiều xung động, nhưng chúng ta có biết đâu là những xung động hướng nội của linh hồn không? Chúng ta có biết, hay chúng ta không tách điều này khỏi điều kia? Chúng ta có bối rối về đâu là các xung động của linh hồn và đâu chỉ đơn giản là các thúc giục của các nguyệt tinh quân thuộc bản chất cá nhân của chúng ta không? |
|
[53] It is no easy or flattering task |
[53] Không dễ dàng hay dễ chịu chút nào |
|
In the beginning, people want to flatter themselves. They are spiritual aspirants, cut above everybody else, having achieved what others have not achieved—until they really look and have the privilege of seeing the residue which has to be uplifted and sublimated, burned away, thrown away, transformed, transmuted. You can’t carry around the residue in an untransformed state. It will hold you down. It’s no easy or flattering task |
Ban đầu, người ta muốn tự tâng bốc mình. Họ là những người chí nguyện tinh thần, vượt trội hơn mọi người khác, đã đạt được điều người khác chưa đạt—cho đến khi họ thật sự nhìn và có đặc ân thấy phần cặn bã phải được nâng lên và thăng hoa, đốt cháy, vứt bỏ, chuyển đổi, chuyển hoá. Các bạn không thể mang theo phần cặn bã trong trạng thái chưa chuyển đổi. Nó sẽ kéo các bạn xuống. Đó không phải là một nhiệm vụ dễ dàng hay dễ làm người ta tự mãn |
|
[54] to find oneself out and to discover that perhaps even the service we have rendered and our longing to study and work has had a basically selfish origin, and resting on a desire for liberation or a distaste for the humdrum duties of everyday. |
[54] khi khám phá ra chính mình và phát hiện rằng có lẽ ngay cả sự phụng sự mà chúng ta đã hiến dâng, cũng như niềm khao khát học hỏi và làm việc của chúng ta, về căn bản đã có nguồn gốc ích kỷ, và đặt nền trên ham muốn được giải thoát hoặc sự chán ghét những bổn phận tẻ nhạt hằng ngày. |
|
Maybe we’ve discovered a little bit of that within ourselves. It’s not flattering, and you really begin to question yourself: why am I doing this? What is my true motive? |
Có lẽ chúng ta đã khám phá một chút điều đó trong chính mình. Điều đó không làm ta tự mãn, và các bạn thật sự bắt đầu tự hỏi: tại sao tôi làm điều này? Động cơ thật sự của tôi là gì? |
|
When people came into his group, he said, “Look, first thing you have to realize is that what has brought you into this group is not a burning desire to serve humanity, but basically the desire for spiritual attainment, spiritual ambition, liberation, relief.” You have to begin with a hard look at the unpleasant truths, which are nonetheless truths. They have to be seen. |
Khi người ta bước vào nhóm của Ngài, Ngài nói: “Hãy nhìn xem, điều đầu tiên các bạn phải nhận ra là điều đã đưa các bạn vào nhóm này không phải là một khát vọng cháy bỏng phụng sự nhân loại, mà về căn bản là ham muốn thành tựu tinh thần, tham vọng tinh thần, giải thoát, nhẹ nhõm.” Các bạn phải bắt đầu bằng một cái nhìn nghiêm khắc vào những chân lý khó chịu, dù sao vẫn là chân lý. Chúng phải được nhìn thấy. |
|
[55] He who seeks to obey the impulses of the soul has to cultivate an accuracy of summation and a truthfulness with himself which is rare indeed these days. |
[55] Người nào tìm cách tuân theo các xung động của linh hồn phải vun bồi một sự chính xác trong tổng kết và một sự chân thật với chính mình, điều quả thật hiếm có trong những ngày này. |
|
We have many students, but how truthful are they with themselves? Do we have enough discernment to answer that question about truthfulness with ourselves? |
Chúng ta có nhiều đạo sinh, nhưng họ chân thật với chính mình đến mức nào? Chúng ta có đủ phân biện tinh thần để trả lời câu hỏi ấy về sự chân thật với chính mình không? |
|
[56] Let him say to himself “I must to my own Self be true” |
[56] Hãy để y tự nói với mình: “Tôi phải chân thật với Chính Mình”, |
|
It’s a quotation from Hamlet by Shakespeare. Polonius gives this advice to his son Laertes, who is going to leave the castle and go off to study. “And it shall follow as the night the day thou canst not be false to any other man.” Different signs of the zodiac teach us to be true to our own self. Perhaps Leo teaches the most. |
Đó là một câu trích từ Hamlet của Shakespeare. Polonius đưa lời khuyên này cho con trai mình là Laertes, người sắp rời lâu đài để đi học. “Và điều đó sẽ theo sau như đêm theo ngày, ngươi không thể giả dối với bất kỳ người nào khác.” Những dấu hiệu hoàng đạo khác nhau dạy chúng ta chân thật với bản ngã của chính mình. Có lẽ Sư Tử dạy điều này nhiều nhất. |
|
Let him say to himself, “I must to my own self be true.” |
Y hãy tự nói với mình: “Tôi phải chân thật với bản ngã của chính mình.” |
|
[57] and in the private moments of his life and in the secrecy of his own meditation let him not gloss over one fault, nor excuse himself along a single line. |
[57] và trong những khoảnh khắc riêng tư của đời sống y, trong sự kín nhiệm của chính sự tham thiền của y, y đừng che đậy một lỗi lầm nào, cũng đừng tự bào chữa theo bất cứ đường lối nào. |
|
DK is pretty demanding here, isn’t he? |
Chân sư DK khá đòi hỏi ở đây, phải không? |
|
[58] Let him learn to diagnose his own words, deeds, and motives, and to call things by their true names. |
[58] Hãy để y học chẩn đoán lời nói, hành vi và động cơ của chính mình, và gọi sự vật bằng đúng tên của chúng. |
|
It’s very exacting to obey the inward impulses of the soul. Very exacting. And who’s going to hold you to this standard of truth? The master’s not going to materialize and say no, you’re not being truthful. You yourself, as an illuminating soul, have to see whether you’re being truthful. There are many hard moments, unflattering moments, when you see yourself as you are and understand your motives as they are, which are perhaps rarely as high as you think they are. |
Tuân theo những xung động hướng nội của linh hồn là điều rất nghiêm ngặt. Rất nghiêm ngặt. Và ai sẽ giữ các bạn theo tiêu chuẩn chân thật này? Chân sư sẽ không hiện hình và nói: không, con đang không chân thật. Chính các bạn, với tư cách linh hồn soi sáng, phải thấy liệu các bạn có đang chân thật không. Có nhiều khoảnh khắc khó khăn, những khoảnh khắc không làm ta tự mãn, khi các bạn thấy mình như mình đang là và thấu hiểu các động cơ của mình như chúng đang là, có lẽ hiếm khi cao như các bạn nghĩ. |
|
[59] Only thus will he train himself in spiritual discrimination and learn to recognise truth in all things. Only thus will the reality be arrived at and the true self known. |
[59] Chỉ như thế y mới tự rèn luyện trong sự phân biện tinh thần và học nhận biết chân lý trong mọi sự. Chỉ như thế mới đạt đến thực tại và biết được chân ngã. |
|
DK is said to be a very truthful individual. Blavatsky was speaking about her time in Tibet, and DK was one of her instructors. He was still a young man, and something to this effect was said: “I know a youth so pure that no lie would ever escape his lips.” This would be a master. DK wasn’t yet a master at that time—he was an arhat—and in 1875 became a master. Interestingly, the same year that the founding of the Theosophical Society took place. |
Người ta nói Chân sư DK là một cá nhân rất chân thật. Bà Blavatsky đã nói về thời gian của bà ở Tây Tạng, và Chân sư DK là một trong những người hướng dẫn bà. Ngài khi ấy vẫn còn là một thanh niên, và có điều gì đó đại loại được nói: “Tôi biết một thanh niên trong sạch đến mức không lời dối trá nào từng thoát khỏi môi y.” Đây hẳn là một Chân sư. Chân sư DK khi ấy chưa là Chân sư—Ngài là một arhat—và vào năm 1875 Ngài trở thành Chân sư. Thú vị thay, cùng năm với việc thành lập Hội Thông Thiên Học. |
|
Truth in all things. If you are to obey the inner impulses, the inward impulses of the soul, it’s really the use of the fifth ray, cultivating an accuracy of summation and willingness to see the unpleasant aspects within oneself. Pluto is involved here as well, because it does tend to unearth that which is hidden and to bring it up before the eye of the observer, and then you just have to admit it. |
Chân lý trong mọi sự. Nếu các bạn muốn tuân theo các xung động bên trong, các xung động hướng nội của linh hồn, thì đó thật sự là việc sử dụng cung năm, vun trồng sự chính xác trong tổng kết và sự sẵn lòng nhìn thấy các phương diện khó chịu bên trong bản thân. Sao Diêm Vương cũng có liên quan ở đây, vì nó có khuynh hướng đào bới những gì bị che giấu và đưa chúng lên trước con mắt của người quan sát, rồi các bạn chỉ phải thừa nhận điều đó. |
|
Sometimes your computer gets invaded by all kinds of promptings, but I’ve learned that you don’t try to do something else while you’re trying to do this, or you’ll pay the price. |
Đôi khi máy tính của các bạn bị đủ loại thúc giục xâm nhập, nhưng tôi đã học được rằng các bạn không nên cố làm điều gì khác trong khi đang cố làm việc này, nếu không các bạn sẽ phải trả giá. |
|
Obey the inward impulses of the soul, and you have to discriminate what they really are. You have to be very truthful as you purify yourself so you can obey these inward impulses. Sometimes what is very pleasant you think, “Well, if it’s spiritual, it’s got to be pleasant. I have to be enjoying it.” But sometimes the most dire type of requirements are offered in the line of true spirituality, not that which is pleasant at all. |
Hãy tuân theo những xung động hướng nội của linh hồn, và các bạn phải phân biện chúng thật sự là gì. Các bạn phải rất chân thật khi thanh luyện bản thân để có thể tuân theo những xung động hướng nội này. Đôi khi điều rất dễ chịu khiến các bạn nghĩ: “Nếu nó là tinh thần, nó hẳn phải dễ chịu. Tôi phải vui thích với nó.” Nhưng đôi khi những đòi hỏi nghiêm khắc nhất lại được đưa ra trong đường lối của tinh thần chân thật, hoàn toàn không phải là điều dễ chịu. |
|
We have to learn to achieve certain eliminations which we didn’t even suspect. Maybe other people are pointing them out to us somehow, and we maybe don’t believe them. They tell us how we are, and we don’t believe them, and then we have to see it ourselves. |
Chúng ta phải học cách đạt được một số sự loại trừ mà chúng ta thậm chí không nghi ngờ. Có lẽ những người khác bằng cách nào đó đang chỉ ra chúng cho chúng ta, và có lẽ chúng ta không tin họ. Họ nói cho chúng ta biết chúng ta như thế nào, và chúng ta không tin họ, rồi chúng ta phải tự mình thấy điều đó. |
|
There are things in the way still for all of us who are reading books like this. There are things in the way all the way up, of course. Always there’s an impediment to the next stage of achievement. You don’t let yourself off the hook. |
Vẫn còn những điều chắn đường đối với tất cả chúng ta, những người đang đọc các sách như thế này. Dĩ nhiên, có những điều chắn đường suốt cả con đường đi lên. Luôn có một trở ngại đối với giai đoạn thành tựu kế tiếp. Các bạn không để mình thoát khỏi trách nhiệm. |
|
Think about Leo for a minute and the cave that Hercules encounters where the lion races in—the lower self, the personal nature. Hercules says, “Okay, I’ll take care of you now.” But the lion runs out the back door, the back entrance, and then maybe runs in again. It’s a very elusive process. The lion of pride, the lion of lower personality is elusive until Hercules takes a step and says, “Look, I won’t let you escape. I will now block the escape route.” Then he can chase the lion into the cave, and the confrontation takes place. Hercules really sees himself as he is, he kills that lion, and becomes the victor over his lower self. |
Hãy nghĩ về Sư Tử trong chốc lát và hang động mà Hercules gặp, nơi con sư tử lao vào—phàm ngã, bản chất cá nhân thấp. Hercules nói: “Được, bây giờ ta sẽ xử lý ngươi.” Nhưng con sư tử chạy ra cửa sau, lối vào phía sau, rồi có lẽ lại chạy vào. Đó là một tiến trình rất khó nắm bắt. Con sư tử của kiêu hãnh, con sư tử của phàm ngã thấp rất khó nắm bắt cho đến khi Hercules bước một bước và nói: “Hãy xem, ta sẽ không để ngươi trốn thoát. Bây giờ ta sẽ chặn đường thoát.” Khi đó y có thể đuổi con sư tử vào hang, và cuộc đối mặt diễn ra. Hercules thật sự thấy mình như mình đang là, y giết con sư tử ấy, và trở thành người chiến thắng phàm ngã của mình. |
|
There are different ways to kill a lion. Hercules kills a lot of things with his club, but the unicorn blinds the lion with his weapon of revelation—the horn of the unicorn—and maybe kills it too. There’s a lot of things that we have to kill out. You just read Master Hilarion in his book The Light of the Soul. Or is it Light on the Path? Maybe that’s it. |
Có nhiều cách khác nhau để giết một con sư tử. Hercules giết nhiều thứ bằng cây chùy của mình, nhưng kỳ lân làm mù con sư tử bằng vũ khí của sự mặc khải—chiếc sừng của kỳ lân—và có lẽ cũng giết nó. Có nhiều điều chúng ta phải diệt trừ. Các bạn chỉ cần đọc Chân sư Hilarion trong sách của Ngài Ánh Sáng của Linh Hồn. Hay là Ánh sáng trên Đường Đạo? Có lẽ là vậy. |
|
It just starts out: kill this, kill out that, kill this, kill that. He’s a first-ray monad, and he has us deal with a lot of eliminations, but he balances them. Kill out ambition, but work as one who is ambitious. He always finds the harvest of some quality in that which you have killed. One of the things that comes to us as we’re treading the path is just how difficult it is really to tread the path. This is beyond the estimation of the aspirant, who cannot foresee how thorny is the path of occultism. But we all learn in time, and what we are unwilling to do at the beginning, we are willing to do later, because we’ve seen the necessity for it. |
Nó bắt đầu ngay bằng: giết điều này, diệt trừ điều kia, giết điều này, giết điều kia. Ngài là chân thần cung một, và Ngài khiến chúng ta xử lý nhiều sự loại trừ, nhưng Ngài cân bằng chúng. Diệt trừ tham vọng, nhưng làm việc như một người có tham vọng. Ngài luôn tìm thấy phần thu hoạch của một phẩm tính trong điều mà các bạn đã giết. Một trong những điều đến với chúng ta khi đang bước trên Đường Đạo là việc thật sự bước trên Đường Đạo khó khăn đến mức nào. Điều này vượt ngoài sự ước lượng của người chí nguyện, người không thể thấy trước con đường huyền bí học gai góc ra sao. Nhưng tất cả chúng ta đều học theo thời gian, và điều chúng ta không sẵn lòng làm lúc ban đầu, về sau chúng ta sẵn lòng làm, vì chúng ta đã thấy sự cần thiết của nó. |
|
[60] 3. Pay no consideration to the prudential considerations of worldly science and sagacity. |
[60] 3. Không chú ý đến những cân nhắc thận trọng của khoa học và sự khôn ngoan thế gian. |
|
Basically. That must be tough, because everybody’s saying, “Well, look, you’re not listening to the best and the smartest among us here. You’re not taking advantage of what everybody knows and somehow should follow.” But you get rid of that particular should, because you know that it may pay off in terms of the world, but it’s not going to pay off in terms of your spiritual approach. |
Về căn bản là vậy. Điều đó hẳn khó khăn, vì mọi người đều nói: “Hãy xem, bạn không lắng nghe những người giỏi nhất và thông minh nhất trong chúng ta ở đây. Bạn không tận dụng điều mọi người đều biết và bằng cách nào đó nên noi theo.” Nhưng các bạn loại bỏ cái “nên” đặc biệt ấy, vì các bạn biết rằng nó có thể đem lại kết quả theo nghĩa thế gian, nhưng sẽ không đem lại kết quả theo nghĩa cách tiếp cận tinh thần của các bạn. |
|
Pay no consideration to the prudential. |
Đừng quan tâm đến những xét đoán thận trọng. |
|
You have to be prudent, right? Prudent means wise, really. Prudential considerations of worldly science and sagacity, worldly knowledge, we might say—the wisdom, the apparent wisdom of the world. |
Các bạn phải thận trọng, đúng không? Thận trọng thật ra có nghĩa là khôn ngoan. Những xét đoán thận trọng của khoa học và sự khôn ngoan thế tục, tri thức thế tục, chúng ta có thể nói vậy—minh triết, thứ minh triết bề ngoài của thế gian. |
|
[61] If the aspirant has need to cultivate a capacity to walk alone, if he has to develop the ability to be truthful in all things, |
[61] Nếu người chí nguyện cần vun bồi khả năng bước đi một mình, nếu y phải [Page 586] phát triển năng lực chân thật trong mọi sự, |
|
Otherwise you can’t achieve this obedience to the soul and import the qualities of the soul and identify as a soul—he’s summarizing here. |
Nếu không, các bạn không thể đạt được sự vâng phục này đối với linh hồn và đưa vào các phẩm tính của linh hồn, cũng như đồng hoá với linh hồn—Ngài đang tóm lược ở đây. |
|
[62] he has likewise need to cultivate courage. |
[62] thì y cũng cần vun bồi lòng can đảm. |
|
He’s going to look at this from the point of view of courage, where you stand up and you sound your own note, despite the fact that worldly wisdom, knowledge, sagacity, may go against what you say. |
Ngài sẽ nhìn điều này từ quan điểm của lòng can đảm, nơi các bạn đứng lên và xướng lên âm điệu của chính mình, bất chấp việc minh triết, tri thức, sự khôn ngoan thế tục có thể chống lại điều các bạn nói. |
|
When Einstein was discovering the theories of relativity, special and general, the German scientists thought it was absolute nonsense. In their fifth-ray concrete way, they could not follow him because he really accessed the intuition and had a tremendous abstract mind. But he had to offer his truth as he understood it, despite the withering criticism which was directed towards him. |
Khi Einstein khám phá các thuyết tương đối, đặc biệt và tổng quát, các nhà khoa học Đức nghĩ đó là điều hoàn toàn vô lý. Theo lối cụ thể cung năm của họ, họ không thể theo kịp ông vì ông thật sự đã tiếp cận trực giác và có một trí trừu tượng phi thường. Nhưng ông phải đưa ra chân lý của mình như ông thấu hiểu nó, bất chấp sự chỉ trích cay nghiệt nhắm vào ông. |
|
[63] It will be needful for him to run counter consistently to the world’s opinion, and to the very best expression of that opinion, and this with frequency. |
[63] Y sẽ cần thường xuyên và nhất quán đi ngược lại ý kiến của thế gian, và cả sự biểu lộ tốt đẹp nhất của ý kiến ấy. |
|
I suppose DK is speaking as one who knows what’s been through it, especially since his work lies in the realm of knowledge and wisdom—a very brilliant mind, a very learned individual. But you have to stand up. |
Tôi cho rằng Chân sư DK đang nói như một người biết rõ vì đã trải qua điều ấy, đặc biệt vì công việc của Ngài nằm trong lĩnh vực tri thức và minh triết—một thể trí rất rực rỡ, một cá nhân rất uyên bác. Nhưng các bạn phải đứng lên. |
|
Sometimes Giordano Bruno tried to stand up, and he had great conceptions of what the universe might be. He was even kind of intuiting the idea of the speed of light—that what one was observing of the heavens was not really as it is right now, but you’re observing many times simultaneously. This star, the light from the star occurred at that time; the light from another star at another time. It’s not how things are right now. |
Đôi khi Giordano Bruno đã cố đứng lên, và ông có những quan niệm vĩ đại về vũ trụ có thể là gì. Ông thậm chí phần nào trực nhận ý tưởng về tốc độ ánh sáng—rằng điều người ta quan sát trên bầu trời không thật sự như nó là ngay bây giờ, mà các bạn đang quan sát nhiều thời điểm đồng thời. Ánh sáng từ ngôi sao này đã xảy ra vào thời điểm ấy; ánh sáng từ một ngôi sao khác vào thời điểm khác. Đó không phải là cách sự vật đang là ngay bây giờ. |
|
It’s a composite. He had a very expansive point of view. He tried to offer the cosmic perspective in the midst of the Counter-Reformation, or when the Counter-Reformation was beginning, and the guardians of the scripture were very frightened at the Reformation, which was taking place in Germany and in Europe, Northern Europe. |
Đó là một tổng hợp. Ông có một quan điểm rất rộng mở. Ông đã cố đưa ra viễn cảnh vũ trụ giữa cuộc Phản Cải Cách, hoặc khi cuộc Phản Cải Cách đang bắt đầu, và những người bảo vệ kinh văn rất sợ hãi trước cuộc Cải Cách đang diễn ra ở Đức và ở châu Âu, Bắc Âu. |
|
They were unusually harsh with him. Plus, he had a keen wit and a bit of sarcasm, and he had criticized them a little too pointedly, I guess. But in any case, courage to offer the way you see things, and they may be very, very different. |
Họ khắc nghiệt khác thường với ông. Thêm nữa, ông có trí tuệ sắc bén và hơi châm biếm, và tôi đoán ông đã phê phán họ hơi quá thẳng thừng. Nhưng dù sao đi nữa, đó là lòng can đảm để đưa ra cách các bạn thấy sự vật, và chúng có thể rất, rất khác. |
|
I realized in choosing the path of Occultism, when you talk to those people who are nourished on the best that science can offer at this time and think no further, it’s a tough sell. Occultism is a tough sell. And the worldview of the conventionally knowledgeable and wise just cannot yet embrace it. |
Tôi nhận ra rằng khi chọn con đường huyền bí học, khi các bạn nói chuyện với những người được nuôi dưỡng bằng điều tốt nhất mà khoa học có thể cung cấp vào lúc này và không nghĩ xa hơn, đó là điều rất khó thuyết phục. Huyền bí học là điều rất khó thuyết phục. Và thế giới quan của những người có tri thức và khôn ngoan theo quy ước vẫn chưa thể ôm trọn nó. |
|
Maybe step by step, as the etheric body is discovered, and as its functions are revealed, maybe some encompassing of the occult presentation will occur. And there are some scientists, of course, who are making the bridge, but not the majority. So it will be needful for him to run counter consistently to the world’s opinion and to the very best expression of that opinion, and this with frequency. |
Có lẽ từng bước, khi thể dĩ thái được khám phá và các chức năng của nó được mặc khải, có thể sẽ có một sự bao gồm nào đó đối với trình bày huyền bí. Và dĩ nhiên có một số nhà khoa học đang xây cầu, nhưng không phải đa số. Vì vậy y sẽ cần phải thường xuyên và nhất quán đi ngược lại ý kiến của thế gian, và cả sự biểu lộ tốt nhất của ý kiến ấy. |
|
[64] He has to learn to do the right thing as he sees and knows it, irrespective of the opinion of earth’s greatest and most quoted. |
[64] Y phải học làm điều đúng như y thấy và biết, bất kể ý kiến của những người vĩ đại nhất và được trích dẫn nhiều nhất trên Trái Đất. [64b] Y phải nương tựa vào chính mình và vào các kết luận mà chính y đã đi đến trong những khoảnh khắc giao cảm tinh thần và soi sáng. Chính ở đây rất nhiều người chí nguyện thất bại. |
|
And some of these greatest and most quoted may be even those who broke ground earlier and ran against what was the prevailing wisdom. We’re assuming that quantum theory has some merit, and it’s certainly widely accepted among many now, but Einstein rejected it. |
Và một số những người vĩ đại nhất và được trích dẫn nhiều nhất này thậm chí có thể là những người trước đó đã khai phá và đi ngược lại điều từng là minh triết thịnh hành. Chúng ta giả định rằng thuyết lượng tử có một giá trị nào đó, và nó chắc chắn được nhiều người chấp nhận rộng rãi hiện nay, nhưng Einstein đã bác bỏ nó. |
|
And what did he say? God does not play dice with the world, something like that. The consideration of what chance was. Anyway, some of these quantum theorists had to run counter to Einstein as the great authority. |
Và ông đã nói gì? Thượng đế không chơi xúc xắc với thế giới, đại loại như vậy. Sự xét đoán về cái gọi là ngẫu nhiên là gì. Dù sao, một số nhà lý thuyết lượng tử này đã phải đi ngược lại Einstein như một thẩm quyền lớn. |
|
His ideas—Einstein’s ideas—had settled into the public mind as sacrosanct as the truth, and yet there was more, more to be discovered. I don’t know enough about it, but looking at it from the fifth-ray perspective, Einstein had his theory of relativity and Niels Bohr had the quantum theory, and they were both colleagues in a way and contemporaries. What was the interaction? |
Các ý tưởng của ông—các ý tưởng của Einstein—đã lắng vào tâm trí công chúng như chân lý thiêng liêng không thể đụng đến, và tuy vậy vẫn còn nhiều hơn, nhiều hơn để khám phá. Tôi không biết đủ về điều này, nhưng nhìn từ quan điểm cung năm, Einstein có thuyết tương đối của ông và Niels Bohr có thuyết lượng tử, và cả hai, theo một cách nào đó, là đồng nghiệp và người cùng thời. Sự tương tác ấy là gì? |
|
[64b] He must depend upon himself and upon the conclusions he himself has come to in his moments of spiritual communion and illumination. It is here that so many aspirants fail. |
[64b] Y phải dựa vào chính mình và vào những kết luận mà chính y đã đi đến trong những khoảnh khắc giao cảm và soi sáng tinh thần. Chính ở đây mà rất nhiều người chí nguyện thất bại. |
|
Better to be warned, right? |
Tốt hơn là được cảnh báo, phải không? |
|
[65] They do not do the very best they know; they fail to act in detail as their inner voice tells them; they leave undone certain things which they are prompted to do in their moments of meditation, and fail to speak the word which their spiritual mentor, the Self, urges them to speak. |
[65] Họ không làm điều tốt nhất mà họ biết; họ không hành động trong từng chi tiết như tiếng nói bên trong bảo họ; họ bỏ không làm một số điều mà họ được thúc đẩy làm trong những khoảnh khắc tham thiền, và không nói lời mà vị cố vấn tinh thần của họ, Chân Ngã, thôi thúc họ nói. |
|
We have to test ourselves against what the Tibetan just said. |
Chúng ta phải tự kiểm nghiệm mình trước điều Chân sư Tây Tạng vừa nói. |
|
It is here that so many aspirants fail, |
Chính ở đây mà rất nhiều người chí nguyện thất bại, |
|
[66] It is in the aggregate of these unaccomplished details that the big failures are seen. |
[66] Chính trong tổng số những chi tiết chưa được hoàn thành này mà các thất bại lớn được nhìn thấy. |
|
It’s not that you fail once. Over time we continue to make the same mistakes, and we demonstrate the same type of spiritual cowardice. It is in the aggregate of these unaccomplished details that the big failures are seen. |
Không phải các bạn thất bại một lần. Theo thời gian, chúng ta tiếp tục phạm cùng những sai lầm, và chúng ta biểu lộ cùng một loại hèn nhát tinh thần. Chính trong tổng số những chi tiết chưa hoàn thành này mà các thất bại lớn được nhìn thấy. |
|
[67] There are no trifles in the life of the disciple and an unspoken word or unfulfilled action may prove the factor which is holding a man from initiation. |
[67] Không có điều gì nhỏ nhặt trong đời sống của đệ tử, và một lời không nói ra hay một hành động không được thực hiện có thể chứng tỏ là yếu tố giữ một người lại khỏi điểm đạo. |
|
This is practical advice, but very earnest somehow, and not leaving the opportunity for evasion. Evasion is a subtle factor. I’m sure we’ve all experienced it, and how do we escape from the implications or the demands of the still small voice? Maybe we’ve covered it over so thoroughly that in certain areas of our inner discourse, the voice isn’t even coming through anymore, and the solving of that problem or the carrying out of that behest will have to be accomplished at another time. |
Đây là lời khuyên thực tế, nhưng bằng cách nào đó rất nghiêm túc, và không để lại cơ hội cho sự né tránh. Né tránh là một yếu tố tinh tế. Tôi chắc rằng tất cả chúng ta đều đã trải nghiệm nó, và làm thế nào chúng ta thoát khỏi những hàm ý hoặc đòi hỏi của tiếng nói nhỏ nhẹ tĩnh lặng? Có lẽ chúng ta đã che phủ nó kỹ đến mức trong một số khu vực của cuộc đối thoại nội tâm, tiếng nói ấy thậm chí không còn xuyên qua được nữa, và việc giải quyết vấn đề đó hoặc thực hiện mệnh lệnh đó sẽ phải hoàn tất vào một thời điểm khác. |
|
Maybe one shouldn’t ask to have all of one’s karma precipitated immediately. There’s the story of what happened to the colleague of Blavatsky, T. Subba Rho. Apparently her spiritual equal, but he really, through an act of courage, importuned his teacher to release the full weight of his karma, and well, I’m sure the results were liberating, but they were horrible at the same time in terms of disease. So courage, right? Courage. |
Có lẽ người ta không nên xin cho toàn bộ nghiệp quả của mình ngưng tụ ngay lập tức. Có câu chuyện về điều đã xảy ra với đồng sự của bà Blavatsky, T. Subba Rho. Rõ ràng ông là người ngang hàng với bà về mặt tinh thần, nhưng qua một hành động can đảm, ông thật sự đã khẩn cầu huấn sư của mình giải phóng toàn bộ trọng lượng nghiệp quả của ông, và tôi chắc rằng kết quả là giải thoát, nhưng đồng thời cũng kinh khủng về mặt bệnh tật. Vì vậy, lòng can đảm, đúng không? Lòng can đảm. |
|
He has to likewise cultivate courage, and I’m going to make that a very big word. Likewise develop courage and speak his own revelation. There’s this factor of inauthenticity when you’re speaking from the study of another person who maybe you don’t even fully understand. |
Y cũng phải vun trồng lòng can đảm, và tôi sẽ biến điều đó thành một từ rất lớn. Cũng vậy, hãy phát triển lòng can đảm và nói ra sự mặc khải của chính mình. Có yếu tố thiếu chân thật này khi các bạn nói từ việc nghiên cứu một người khác mà có lẽ các bạn thậm chí chưa thấu hiểu đầy đủ. |
|
Somehow you’re evading your own inner truth. Maybe they are quite close, but you have to find your own inner truth because as an emanation, you are unique in your responsibility. There is a type of carrying forward of the will, of the purpose of the plan, which is yours and yours alone. |
Bằng cách nào đó, các bạn đang né tránh chân lý bên trong của chính mình. Có lẽ chúng khá gần nhau, nhưng các bạn phải tìm ra chân lý bên trong của chính mình, vì với tư cách một xuất lộ, các bạn là độc nhất trong trách nhiệm của mình. Có một loại tiếp nối ý chí, Thiên Ý của Thiên Cơ, vốn là của các bạn và chỉ riêng các bạn. |
|
And if your voice is missing from the general presentation of these factors, aspects of the divine will, then something is missing in the carrying forward of the divine will. So in these discussions, you will sometimes see that I kind of take a little path and offer a type of commentary, which might not be found in DK, because it is the product of my own thought and I have to kind of present it in the context where I think it does belong. Now it may be correct or incorrect or correct in part and incorrect in part, but you’ll never know if you don’t present it and if it fails to meet the test of confrontation with other ideas or formulations which may prove it to be correct or incorrect. |
Và nếu tiếng nói của các bạn thiếu vắng trong sự trình bày chung về các yếu tố này, các phương diện của Ý Chí thiêng liêng, thì có điều gì đó thiếu vắng trong việc tiếp nối Ý Chí thiêng liêng. Vì vậy trong những thảo luận này, đôi khi các bạn sẽ thấy tôi phần nào rẽ vào một lối nhỏ và đưa ra một kiểu bình giảng, có thể không tìm thấy trong Chân sư DK, vì đó là sản phẩm của tư tưởng riêng tôi và tôi phải phần nào trình bày nó trong bối cảnh mà tôi nghĩ nó thuộc về. Nó có thể đúng hoặc sai, hoặc đúng một phần và sai một phần, nhưng các bạn sẽ không bao giờ biết nếu không trình bày nó và nếu nó không đi qua thử thách đối diện với các ý tưởng hoặc công thức khác có thể chứng minh nó đúng hoặc sai. |
|
Even the little things count and as Master Morya tells us, even the smallest grain of sand can stop the largest wheel. There are no little things, and as Morya says again, so often his life was saved. He was very rarely assassinated or anything like that, even though he occupied positions of power. |
Ngay cả những điều nhỏ cũng quan trọng, và như Chân sư Morya nói với chúng ta, ngay cả hạt cát nhỏ nhất cũng có thể chặn bánh xe lớn nhất. Không có chuyện nhỏ, và như Chân sư Morya lại nói, rất thường khi đời Ngài đã được cứu. Ngài rất hiếm khi bị ám sát hay điều gì tương tự, dù Ngài từng giữ các vị trí quyền lực. |
|
He was very rarely assassinated because he observed the little things, which revealed to him much bigger things. Be aware of what apparently are the trifles and also realize that these trifles, these tiny little things can be much more important than we imagine and actually because we don’t have the courage to perform them or to take care of them, we may be holding ourselves back from the next possible step. This is certainly one of the most practical areas in the Tibetan’s presentation here in the White Magical Book. |
Ông rất hiếm khi bị ám sát, vì ông quan sát những điều nhỏ bé, vốn mặc khải cho ông những điều lớn hơn nhiều. Hãy nhận biết những gì bề ngoài có vẻ là chuyện vụn vặt, và cũng hãy nhận ra rằng những chuyện vụn vặt ấy, những điều bé nhỏ ấy, có thể quan trọng hơn chúng ta tưởng rất nhiều; thật ra, vì chúng ta không có can đảm thực hiện chúng hoặc chăm lo đến chúng, chúng ta có thể đang tự ngăn mình khỏi bước kế tiếp khả hữu. Đây chắc chắn là một trong những phần thực tiễn nhất trong phần trình bày của Chân sư Tây Tạng ở đây trong sách Chánh Thuật. |
|
Truthfulness is so important. In the next one, having the courage to pay attention to your own wisdom and not what is suggested to you to be a better and higher wisdom than your own and asks you to forego or to stop paying attention to your own wisdom—that would be a big mistake. This kind of decision to go with one’s own inward wisdom relates to the idea that better one’s own karma or dharma than the dharma of another. You may be able to perform very well the dharma of another, but it’s not your dharma, and by not performing your own you leave an aspect of the will of God unaccounted for and the divine plan cannot fully manifest if you don’t do your particular task. |
Tính chân thật vô cùng quan trọng. Ở điểm kế tiếp, đó là có can đảm chú tâm đến minh triết của chính mình, chứ không phải điều được gợi ý cho các bạn như một minh triết tốt đẹp hơn và cao hơn minh triết của chính các bạn, rồi đòi các bạn từ bỏ hoặc ngừng chú tâm đến minh triết của mình—đó sẽ là một sai lầm lớn. Loại quyết định đi theo minh triết nội tại của chính mình liên hệ đến ý tưởng rằng nghiệp quả hay thiên chức của chính mình vẫn tốt hơn thiên chức của người khác. Các bạn có thể thực hiện rất tốt thiên chức của người khác, nhưng đó không phải là thiên chức của các bạn; và khi không thực hiện thiên chức của chính mình, các bạn để một phương diện của Ý Chí của Thượng Đế không được tính đến, và Thiên Cơ không thể biểu hiện trọn vẹn nếu các bạn không làm nhiệm vụ riêng biệt của mình. |
|
And then the final one: |
Và điểm cuối cùng: |
|
[68] 4. Live a life which is an example to others. Is it necessary for me to enlarge upon this? It seems as if it should not be and yet here again is where men fail. |
[68] 4. Sống một đời sống làm gương cho người khác. Có cần tôi mở rộng về điều này không? Dường như không cần, nhưng ở đây một lần nữa chính là nơi con người thất bại. |
|
It’s possible to know a lot and do little, to sense the whole and yet remain apart. |
Có thể biết rất nhiều mà làm rất ít, cảm nhận được toàn thể mà vẫn đứng tách riêng. |
|
It’s a second ray failing. It’s possible to be a know-it-all but not a do-it-all. In the 12-step programs it tells us we have to walk our talk. It’s so essentialized in the way that has been presented. Men fail here. |
Đó là một thất bại của cung hai. Có thể là người biết tất cả, nhưng không phải là người làm tất cả. Trong các chương trình mười hai bước, người ta bảo chúng ta phải sống đúng với điều mình nói. Điều ấy đã được cô đọng hết sức trong cách trình bày. Con người thất bại ở đây. |
|
[69] What after all is group service? Simply the life of example. |
[69] Rốt cuộc, phụng sự nhóm là gì? Đơn giản là đời sống nêu gương. |
|
It’s not so much what we say that has an effect and can inspire, but we’re all watching each other. We’re all observing our behavior. We see each other and know the villainy of each and yet there is with this great revelation no shakiness upon the road. |
Không phải điều chúng ta nói mới có tác động và có thể truyền cảm hứng nhiều đến thế, mà là tất cả chúng ta đang quan sát lẫn nhau. Tất cả chúng ta đang quan sát hành vi của mình. Chúng ta thấy nhau và biết sự thấp hèn của mỗi người, thế nhưng với sự mặc khải lớn lao này vẫn không có sự dao động trên đường đạo. |
|
What is it? No turning back, no spurning of each other, no shakiness upon the road. Everyone sees, and at a certain stage in development it’s quite impossible to hide what one is. |
Đó là gì? Không quay lui, không khước từ nhau, không dao động trên đường đạo. Mọi người đều thấy, và ở một giai đoạn phát triển nào đó, thật sự không thể che giấu mình là gì. |
|
What after all is group service? Simply the life of example. |
Rốt cuộc phụng sự nhóm là gì? Chỉ đơn giản là đời sống làm gương. |
|
[70] He is the best exponent of the Ageless Wisdom who lives each day in the place where is the life of the disciple; he does not live it in the place where he thinks he should be. |
[70] Người diễn giải tốt nhất Minh Triết Ngàn Đời là người sống mỗi ngày tại nơi đời sống của đệ tử đang hiện hữu; y không sống đời sống ấy ở nơi y nghĩ rằng mình nên ở. |
|
Often that’s just a question of spiritual ambition. What I am, what you are has brought me, has brought you to the place where we are, and we might prefer to be elsewhere. It might be much more interesting, but according to what we have been and what we are, here we are. |
Thường thì đó chỉ là vấn đề tham vọng tinh thần. Tôi là gì, các bạn là gì, điều ấy đã đưa tôi, đã đưa các bạn đến nơi chúng ta đang ở; và chúng ta có thể thích ở nơi khác hơn. Điều ấy có thể thú vị hơn nhiều, nhưng theo những gì chúng ta đã là và đang là, thì chúng ta đang ở đây. |
|
For forever longing—if only I was out of the house not taking care of the kids then I could really be a disciple. And then you leave behind unaccomplished a certain developmental stage which has to be completed. Otherwise you really can’t go on, and the people—those on the way to Calvary—if they ignore Bethlehem and they try to step out in the world and be somebody, they’re forced back and back into Bethlehem, into the original stage where you have to pay your duties maybe to the lunar lords and to the manifested beings on very humble levels. |
Cứ mãi ao ước rằng—giá như tôi ra khỏi nhà, không phải chăm sóc con cái, thì tôi mới thật sự có thể là một đệ tử. Và rồi các bạn bỏ lại phía sau một giai đoạn phát triển nào đó chưa hoàn tất, vốn phải được hoàn tất. Nếu không, các bạn thật sự không thể tiếp tục; và những người—những người đang trên đường đến Calvary—nếu họ bỏ qua Bethlehem và cố bước ra thế giới để trở thành một nhân vật nào đó, họ sẽ bị buộc phải quay lại, quay mãi về Bethlehem, về giai đoạn nguyên thủy nơi các bạn có thể phải chu toàn bổn phận của mình đối với các nguyệt tinh quân và đối với những thực thể đã biểu hiện ở các cấp độ rất khiêm hạ. |
|
If that’s not fulfilled, if that bit of merit is not accumulated, then you’re not really free to go forward no matter how you may force yourself to go forward, and you suffer in the new place as you realize that the old requirement is not fulfilled and you’re thrown back into it. What’s the old saying? The mills of the gods grind slow but exceeding fine. Every little fault and non-observance, every little error—these things are detected and they have to be handled. |
Nếu điều đó chưa được hoàn thành, nếu phần công đức ấy chưa được tích lũy, thì các bạn chưa thật sự tự do để tiến tới, bất kể các bạn có thể ép mình tiến tới như thế nào; và các bạn sẽ đau khổ ở nơi mới khi nhận ra rằng yêu cầu cũ chưa được hoàn thành, rồi bị ném trở lại vào đó. Câu nói xưa là gì? Cối xay của các thần nghiền chậm nhưng cực kỳ mịn. Mọi lỗi nhỏ và mọi sự không tuân giữ nhỏ nhặt, mọi sai lầm nhỏ—những điều này đều được phát hiện và phải được xử lý. |
|
[71] Perhaps after all the quality which produces the greatest number of failures among aspirants to adeptship |
[71] Có lẽ, sau cùng, phẩm tính gây ra số lượng thất bại lớn nhất trong số những người chí nguyện đến địa vị chân sư |
|
I guess that’s all of us who are treading the path of probationary initiation or initiation— |
Tôi cho rằng đó là tất cả chúng ta, những người đang bước trên Con Đường Dự Bị hoặc điểm đạo— |
|
[72] is cowardice. |
[72] là sự hèn nhát. |
|
That’s a tough one. Perhaps after all the quality which produces the greatest number of failures among aspirants to adeptship is cowardice.There’s something to think about. If we weren’t cowardly, cowed, hiding at some level of our nature, we would have made much more rapid progress than at present. |
Đó là một điều khó nghe. Có lẽ rốt cuộc phẩm tính tạo ra số thất bại lớn nhất nơi những người chí nguyện hướng tới địa vị chân sư là sự hèn nhát. Có điều đáng suy ngẫm ở đây. Nếu chúng ta không hèn nhát, không bị khuất phục, không ẩn náu ở một cấp độ nào đó trong bản chất mình, thì chúng ta đã tiến bộ nhanh hơn hiện nay rất nhiều. |
|
[73] Men fail to make good where they are because they find some reason which makes them think they should be elsewhere. Men run away, almost unrealising it, from difficulty, from inharmonious conditions, from places which involve problems, and from circumstances which call for action of a high sort and which are staged |
[73] Con người không làm tốt tại nơi họ đang ở vì họ tìm ra một lý do nào đó khiến họ nghĩ rằng họ nên ở nơi khác. Hầu như không nhận ra, con người chạy trốn khỏi khó khăn, khỏi các điều kiện bất hòa, khỏi những nơi liên quan đến vấn đề, và khỏi các hoàn cảnh đòi hỏi hành động thuộc loại cao cả, những hoàn cảnh được sắp đặt |
|
Great stage director, the soul, |
Vị đạo diễn vĩ đại, linh hồn, |
|
[74] to draw out the best that is in a man, provided he stays in them. They flee from themselves and from other people, instead of simply living the life. |
[74] để rút ra điều tốt nhất có trong một người, [Page 587] miễn là y ở lại trong đó. Họ chạy trốn khỏi chính mình và khỏi người khác, thay vì đơn giản sống đời sống. |
|
This is such sound advice for so many. Immediately I can think of many people to whom I would recommend this, which must certainly mean that I have to recommend it to myself. |
Đây là lời khuyên rất vững chắc cho rất nhiều người. Ngay lập tức tôi có thể nghĩ đến nhiều người mà tôi muốn khuyên như vậy, điều này chắc chắn có nghĩa là tôi phải khuyên chính mình như thế. |
|
It is a very recommendable passage because we all suffer from a type of divine discontent, whether we realize what it is or not. And that divine discontent can drive us towards premature exit from the place and circumstances in which we could fulfill our spiritual duty and acquire new capacities and fulfill certain karmas of the past. It’s so practical. |
Đây là một đoạn rất đáng được khuyến nghị, vì tất cả chúng ta đều chịu một dạng bất mãn thiêng liêng nào đó, dù chúng ta có nhận ra nó là gì hay không. Và sự bất mãn thiêng liêng ấy có thể thúc đẩy chúng ta rời khỏi nơi chốn và hoàn cảnh quá sớm, trong khi chính tại đó chúng ta có thể hoàn thành bổn phận tinh thần, đạt được các năng lực mới và hoàn tất một số nghiệp quả của quá khứ. Điều này hết sức thực tiễn. |
|
On some gloomy day when you don’t see the sun for days, you can ask: what am I doing here? Why am I here? The little self would rather be elsewhere. And then I forget that these circumstances have been staged by the soul so often and are the place where I, where you have to make good. |
Vào một ngày u ám nào đó, khi các bạn nhiều ngày không thấy mặt trời, các bạn có thể hỏi: tôi đang làm gì ở đây? Vì sao tôi ở đây? Cái ngã nhỏ bé muốn ở nơi khác hơn. Và rồi tôi quên rằng những hoàn cảnh này rất thường đã được linh hồn dàn dựng, và là nơi tôi, nơi các bạn, phải thành tựu điều tốt đẹp. |
|
We have to make good where we are. It’s true we might have been somewhere else had our decisions been otherwise, but we made those decisions on the basis of who we are. What is our energy configuration of the moment? If we want to have a new pattern, we have to fulfil and get the best out of the pattern in which we find ourselves. |
Chúng ta phải thành tựu điều tốt đẹp nơi mình đang ở. Đúng là chúng ta có thể đã ở nơi khác nếu những quyết định của chúng ta khác đi, nhưng chúng ta đã đưa ra những quyết định ấy trên cơ sở con người chúng ta là ai. Cấu hình năng lượng của chúng ta trong khoảnh khắc này là gì? Nếu muốn có một mô hình mới, chúng ta phải hoàn thành và rút ra điều tốt đẹp nhất từ mô hình mà mình đang ở trong đó. |
|
Live a life which is an example to others. Inquire the way, obey the inward impulses of the soul, pay no attention to strictly worldly wisdom or sagacity and live a life which is an example to others. These four recommendations are so simple, and we could test ourselves every day. |
Hãy sống một đời sống làm gương cho người khác. Hãy tìm hỏi con đường, tuân theo những thúc đẩy nội tâm của linh hồn, đừng chú tâm đến minh triết hay sự khôn ngoan thuần túy thế gian, và hãy sống một đời sống làm gương cho người khác. Bốn khuyến nghị này thật đơn giản, và chúng ta có thể tự kiểm nghiệm mỗi ngày. |
|
The more I think about it, the more I realize that this book could be read with such profit by so many. It’s nice to race off and get into Cosmic Fire and the Rays and the Initiations and so forth, but how is the foundation built except by fulfilling the abundant requirements that we find here? |
Càng nghĩ về điều này, tôi càng nhận ra rằng cuốn sách này có thể được rất nhiều người đọc với lợi ích lớn lao. Thật thú vị khi lao vào Luận về Lửa Vũ Trụ, các Cung và các cuộc điểm đạo, vân vân; nhưng nền tảng được xây dựng bằng cách nào, nếu không phải bằng cách hoàn thành những yêu cầu phong phú mà chúng ta tìm thấy ở đây? |
|
[75] The adept speaks no word which can hurt, harm or wound. |
[75] Chân sư không nói lời nào có thể làm đau, gây hại hay gây thương tổn. |
|
Of course, people are sometimes wounded by the words of truth coming from the adept in DK’s group. The adept speaks the truth in a skillful, kind, and helpful way, and then people quit because their sensitive astral body was hurt. But this is certainly a purposeful approach: no word that can hurt, harm, or wound. Ask yourself: when have I hurt, harmed, or wounded someone through my words? Immediately, these things come to us, and we can live with the chagrin, stopped in our tracks by the shame of the past. |
Dĩ nhiên, đôi khi người ta bị tổn thương bởi những lời chân lý phát ra từ chân sư trong nhóm của Chân sư DK. Chân sư nói chân lý một cách khéo léo, nhân từ và hữu ích, rồi người ta bỏ đi vì thể cảm dục nhạy cảm của họ bị đau. Nhưng đây chắc chắn là một phương pháp có chủ đích: không một lời nào có thể làm đau, gây hại hoặc gây tổn thương. Hãy tự hỏi: khi nào tôi đã làm đau, gây hại hoặc gây tổn thương ai đó qua lời nói của mình? Ngay lập tức, những điều này đến với chúng ta, và chúng ta có thể sống với nỗi hổ thẹn, bị chặn đứng bởi sự xấu hổ của quá khứ. |
|
[76] Therefore he has had to learn the meaning of speech in the midst of life’s turmoil. He wastes no time in self pity or self justification for he knows the law has placed him where he is, and where he best can serve, and has learnt that difficulties are ever of a man’s own making and the result of his own mental attitude. If the incentive to justify himself occurs he recognises it as a temptation to be avoided. |
[76] Vì vậy, Ngài đã phải học ý nghĩa của lời nói ngay giữa cơn hỗn loạn của đời sống. Ngài không lãng phí thời gian vào sự tự thương hại hay tự biện minh, vì Ngài biết định luật đã đặt Ngài ở nơi Ngài đang ở, nơi Ngài có thể phụng sự tốt nhất, và Ngài đã học rằng khó khăn luôn do chính con người tạo ra và là kết quả của thái độ trí tuệ của chính y. Nếu động lực tự biện minh nảy sinh, Ngài nhận ra đó là một cám dỗ cần tránh. |
|
that finger of enticement we talked about. |
ngón tay quyến dụ mà chúng ta đã nói đến. |
|
[77] He realises that each word spoken, each deed undertaken and every look and thought has its effect for good or for evil upon the group. |
[77] Ngài nhận biết rằng mỗi lời nói ra, mỗi việc làm được thực hiện, và mỗi ánh nhìn cùng tư tưởng đều có hiệu quả thiện hoặc ác đối với nhóm. |
|
Such attentiveness to one’s own expression in thought, word, and deed is required. We need self-observation without self-preoccupation. |
Cần có sự chú tâm như thế đối với biểu hiện của chính mình trong tư tưởng, lời nói và hành động. Chúng ta cần tự quan sát mà không bận tâm quá mức về bản thân. |
|
If we look on at our lower self long enough, can we stay away from identifying with that self? |
Nếu chúng ta nhìn vào phàm ngã của mình đủ lâu, liệu chúng ta có thể tránh đồng hoá với cái ngã ấy không? |
|
[78] Is it not apparent therefore why so few achieve and so many fail? |
[78] Vì vậy, chẳng phải đã rõ vì sao rất ít người đạt được, còn rất nhiều người thất bại sao? |
|
We have been warned, we’ve been advised, and we’ve been given four great injunctions here concerning the fulfilment of that which will one day make of a man an adept. |
Chúng ta đã được cảnh báo, đã được khuyên nhủ, và đã được trao bốn huấn thị lớn ở đây liên quan đến việc hoàn thành điều mà một ngày kia sẽ làm cho con người trở thành chân sư. |
|
I don’t have any idea where I am in terms of time, but what I’m going to do before starting this new section, which will be number 10, is we start out at 581 and we have made our way through to page 587. This is rule 14 and 14.3—I don’t know in how many parts, maybe two and a half. This is the end of number 9, and we’re going to begin number 10, which is 14.4. It’s going to be the fourth program on rules for the physical plane—the etheric physical plane really. Although the hour is late, I’ll be able to start and go forward with this awakening of the centers. We are still about 53 book pages away from the end of the book. |
Tôi không biết mình đang ở đâu về mặt thời gian, nhưng điều tôi sẽ làm trước khi bắt đầu phần mới này, phần số mười, là chúng ta đã bắt đầu ở trang năm trăm tám mươi mốt và đã đi đến trang năm trăm tám mươi bảy. Đây là quy luật mười bốn và mười bốn chấm ba—tôi không biết gồm bao nhiêu phần, có lẽ hai phần rưỡi. Đây là phần kết thúc của số chín, và chúng ta sẽ bắt đầu số mười, tức mười bốn chấm bốn. Đó sẽ là chương trình thứ tư về các quy luật dành cho cõi hồng trần—thật ra là cõi hồng trần dĩ thái. Dù đã muộn, tôi vẫn có thể bắt đầu và tiến tới với phần đánh thức các trung tâm. Chúng ta vẫn còn cách cuối sách khoảng năm mươi ba trang sách. |
|
I have this slight anxiety about finishing it before I have to go to the United States, but let’s see. You never can tell how fast you’ll go, what you’ll meet, or how you’ll have to explain what may occur to you of a useful nature. But this seems a very big section here—The Awakening Of The Centers. I think it can be time for us now to stop this particular program. Thank you everybody for your studies. |
Tôi có một chút lo lắng về việc hoàn tất nó trước khi phải đi Hoa Kỳ, nhưng hãy xem. Không bao giờ biết được mình sẽ đi nhanh đến đâu, sẽ gặp điều gì, hoặc sẽ phải giải thích ra sao điều có thể xuất hiện với mình như một điều hữu ích. Nhưng đây dường như là một phần rất lớn—Sự Đánh Thức Các Trung Tâm. Tôi nghĩ bây giờ đã đến lúc chúng ta dừng chương trình này. Cảm ơn tất cả mọi người vì sự học hỏi của các bạn. |
|
Study very hard. Incorporate these matters deeply into yourself. For all of us, the advice is to be able to walk our talk, to be able to express in action that which we think, especially that which we think of a high nature. Then we can become true examples of the soul and be on our way to becoming one day a rare efflorescence of a generation of inquirers. Hopefully, it won’t just be one per generation, but because we begin to know what we’re doing, there’ll be a sufficient number per generation to make the stage of adeptship an accomplished fact. More masters will be needed. |
Hãy học thật chuyên cần. Hãy đưa những vấn đề này thấm sâu vào chính mình. Đối với tất cả chúng ta, lời khuyên là có thể sống đúng với điều mình nói, có thể biểu hiện trong hành động điều mình suy nghĩ, đặc biệt là điều mình suy nghĩ thuộc bản chất cao cả. Khi ấy chúng ta có thể trở thành những tấm gương chân thực của linh hồn và đang trên đường để một ngày kia trở thành một sự nở hoa hiếm có của một thế hệ những người tìm hỏi. Hy vọng rằng sẽ không chỉ có một người trong mỗi thế hệ, mà vì chúng ta bắt đầu biết mình đang làm gì, sẽ có đủ số người trong mỗi thế hệ để biến giai đoạn chân sư thành một sự kiện đã hoàn thành. Sẽ cần thêm nhiều Chân sư. |
|
Group initiation will be taking place. A great period of radiation—or we might call it in-gathering—is with us now. The ranks of the ashrams have to be filled, and the different sub-ashrams have to be filled out. There’s an increase in the numbers of those who have to achieve success. |
Điểm đạo nhóm sẽ diễn ra. Một thời kỳ bức xạ lớn lao—hoặc chúng ta có thể gọi là sự quy tụ—đang ở với chúng ta hiện nay. Hàng ngũ của các ashram phải được lấp đầy, và các ashram phụ khác nhau cũng phải được kiện toàn. Số người phải đạt thành công đang gia tăng. |
|
We’ll talk to you soon. All I can say is thank you for studying with me. As you can see, I’m studying as I go along, and if we’re sharing this joy of studying the Master’s words and his thoughts, then it just remains for us to apply them in the right way. See you soon. |
Chúng ta sẽ sớm trao đổi lại. Tôi chỉ có thể nói cảm ơn các bạn đã học cùng tôi. Như các bạn thấy, tôi cũng đang học khi đi tới, và nếu chúng ta đang chia sẻ niềm hoan hỉ này trong việc học những lời và tư tưởng của Chân sư, thì điều còn lại chỉ là áp dụng chúng theo cách đúng đắn. Hẹn sớm gặp lại. |