Webinar Program 35 – Rule 10.19
Tóm Tắt
TÓM TẮT WEBINAR — Luận về Chánh Thuật (A Treatise on White Magic) Bình giảng số 35 (Quy Luật 10, chương trình thứ 19) — Trang 347–357
Tác động của những rung động cao và cách ứng xử
Bình giảng tiếp tục từ ba loại nỗi sợ đã thảo luận trước đó và chuyển sang chủ đề những rung động mạnh ngày càng xuất hiện nhiều hơn khi nhân loại tiến hóa. Chân sư DK chỉ rõ một thực tế quan trọng: khi rung động tinh thần gia tăng, nó đồng thời kích thích cả những điều tốt lẫn những gì được gọi là ác — đây là lý do tại sao các thời kỳ tiến bộ tinh thần thường đi kèm với các cơn sóng tội phạm và xã hội hỗn loạn. Rung động cao cũng có thể gây mệt mỏi thể xác, cần được giải quyết bằng sự thay đổi rung động, giải trí và tiêu khiển thay vì chỉ nghỉ ngơi. Nó còn có thể gây ra cơn trầm cảm sâu sắc khi đối mặt với tương lai, nhưng Chân sư DK khuyến khích rằng “niềm vui đến vào buổi sáng.” Bên cạnh đó, nó có thể tạo ra sự nhạy cảm đau đớn của thể cảm dục, nhưng đồng thời thực sự nâng cao và đưa người đệ tử tiến gần hơn đến mục tiêu.
Con đường huyền môn — thực tế và yêu cầu
Chân sư DK đưa ra những lời khuyến cáo rất thực tiễn và mạnh mẽ. Lý thuyết không có giá trị cho đến khi được biến thành thực tế — toàn bộ sự tiến bộ phụ thuộc vào thái độ của người học trong việc biến giáo lý thành của mình. Thiền định về một lý tưởng giúp ổn định rung động đúng đắn như một rung động thường trực. Tri thức nội tâm phát triển qua ba cách: được chỉ dẫn trên cõi nội trong trạng thái ngủ về công việc cần làm; tiếp theo là thực sự nắm vững và thực hành những điều đã cảm nhận; và cuối cùng là sự truyền đạt các khả năng thực sự cho những người học khác.
Đường đạo thực sự là con đường một mình, dù đó là “một mình trong tất cả.” Năng lực đứng vững một mình, gánh chịu trách nhiệm và hoàn thành mọi việc đơn độc là dấu hiệu của một Huynh Đệ Chánh Đạo. Thầy MDR nhận xét rằng Mars cho chúng ta ý chí đối đầu với đối kháng, và niềm tin vào sự bất tử của Thượng Đế bên trong là nền tảng của lòng can đảm đích thực.
Lời khuyến khích từ Thánh đoàn
Một trong những đoạn xúc động nhất của cả cuốn sách xuất hiện ở đây, khi Chân sư DK thể hiện tình thương của Thánh đoàn đối với những đệ tử đang chiến đấu. Ngài bày tỏ rằng các Chân sư nhìn thấy và quan tâm đến từng giờ phụng sự được thực hiện trong đau đớn và căng thẳng, từng ngày lao động với thần kinh bị dày vò và trái tim mệt mỏi — không một điều nào trong số này bị phép qua đi mà không được chú ý. Thánh đoàn biết và quan tâm, dù không thể can thiệp vào công việc mà người đệ tử phải tự làm trong thế giới. Thầy MDR thừa nhận rằng đoạn văn này đã làm ông rơi nước mắt khi đọc.
Những sai lầm giáo lý cần bác bỏ
Chân sư DK phê bình một giáo thuyết nguy hiểm cho rằng chỉ một số ít người mới có linh hồn, còn số đông còn lại không có sự bất tử. Giáo thuyết này dựa trên thuyết chọn lọc tự nhiên và dẫn đến sự kiêu ngạo tâm linh — cảm giác ưu việt của những người có thể trí phát triển so với những người khác. Chân sư DK khẳng định đây là một phần của ảo tưởng lớn về sự chia cắt, hay còn được gọi là “sai lầm của sự bác bỏ.” Thực tế, tâm thức bất tử và sự hiểu biết về Thượng Đế được tìm thấy ngay cả ở những người nông dân bình thường nhất, và những lời khuyên khôn ngoan thường xuất phát từ những người vô học. Thầy MDR lưu ý rằng khi trí tuệ chiếm ưu thế trong tương lai, nó cũng sẽ tạo ra những vấn đề riêng của nó, giống như cảm xúc đang làm điều đó ngày nay.
Tự do đi trong ánh sáng — và những thách thức mới
Một nghịch lý quan trọng được trình bày: khi người đệ tử thực sự đi trong ánh sáng của linh hồn mình, ánh sáng đó vừa chiếu sáng con đường vừa đồng thời tiết lộ Thiên Cơ, nhưng cũng tiết lộ mức độ mà Thiên Cơ còn xa mới hoàn thành. Tất cả bóng tối, hỗn loạn và thất bại của thế giới trở nên hiển nhiên. Người đệ tử có thể bị choáng ngợp bởi điều này nếu không nhớ rằng phía sau mọi vẻ ngoài xáo trộn là trái tim tình thương đang đập. Câu hỏi quyết định là: liệu người đệ tử có thể đứng vững dưới áp lực này và vẫn khẳng định sự chiến thắng cuối cùng của điều thiện? Liệu người đó có thể nhìn thấy nỗi đau của thế giới và vẫn vui mừng trong tâm thức thiêng liêng?
Bình giảng kết thúc tại trang 357. Bình giảng số 36 (Quy Luật 10, chương trình thứ 20) sẽ tiếp tục từ trang 357 với chủ đề các loại năng lượng trí tuệ và sự vĩ đại lầm lạc của sự chia cắt trong nhận thức.
Text
|
[1] Strong vibrations will come with ever increasing frequency, and as the race progresses in evolution the vibrations will wax stronger and their reactions must be dealt with in wisdom. |
[1] Những rung động mạnh mẽ sẽ đến với tần suất ngày càng gia tăng, và khi nhân loại tiến bước trong tiến hoá, các rung động ấy sẽ trở nên mạnh hơn, còn những phản ứng của chúng cần được xử lý bằng minh triết. |
|
[2] Two things manifest when the spiritual vibration is exceedingly potent. [3] All good aspirations and synchronous high vibrations are stimulated and, secondly, all that we term “evil” is likewise stimulated. Aspirants should bear this carefully in mind. [4] There may demonstrate such a factor as a crime wave, but there will also demonstrate an increasing number of groups that stand for [Page 348] spiritual endeavor and high aspiration. [5] The effect of the heightening of the vibration on you, the aspirant, may manifest in various ways also. It may [6] result in bodily fatigue and this must be dealt with—not so much by sleep and by rest, though a just proportion of them is necessary—but above all by a change of vibration, of recreation and of amusement. [7] Secondly, [8] it results frequently in a profound depression, in an utter sinking of the heart as the future is faced. [9] Face that future, however, and remember that what the future holds is not revealed, but that “joy cometh in the morning”. [10] It results also in a sensitiveness of the astral body that is, perhaps, even more hard to bear. [11] This must be dealt with by the individual as best he may, bearing in mind the suggestions that I have given him. [12] It results also in a permanent stimulation of the atoms in the various vehicles and their coherent, stabilized vibration. It lifts a little nearer to the goal, though perhaps the aspirant may not realize it. |
[2] Hai điều biểu hiện khi rung động tinh thần trở nên cực kỳ mạnh mẽ. [3] Mọi khát vọng thiện lành và các rung động cao đồng điệu đều được kích thích; thứ hai, tất cả những gì chúng ta gọi là “tà ác” cũng được kích thích như vậy. Người chí nguyện nên ghi nhớ kỹ điều này. [4] Có thể biểu hiện một yếu tố như làn sóng tội ác, nhưng cũng sẽ biểu hiện ngày càng nhiều nhóm đại diện cho [Page 348] nỗ lực tinh thần và khát vọng cao cả. [5] Ảnh hưởng của việc nâng cao rung động đối với bạn, người chí nguyện, cũng có thể biểu hiện theo nhiều cách khác nhau. Điều đó có thể [6] dẫn đến sự mệt mỏi thể xác, và điều này phải được xử lý—không hẳn bằng giấc ngủ và sự nghỉ ngơi, dù một tỉ lệ thích đáng của chúng là cần thiết—mà trên hết bằng sự thay đổi rung động, bằng sự giải trí và tiêu khiển. [7] Thứ hai, [8] nó thường dẫn đến một sự trầm cảm sâu xa, một sự chùng xuống hoàn toàn của lòng khi đối diện với tương lai. [9] Tuy nhiên, hãy đối diện với tương lai ấy, và hãy nhớ rằng điều tương lai nắm giữ chưa được mặc khải, nhưng “sự hoan hỉ đến vào buổi sáng”. [10] Nó cũng dẫn đến một sự nhạy cảm của thể cảm dục, có lẽ còn khó chịu đựng hơn nữa. [11] Cá nhân phải xử lý điều này tốt nhất trong khả năng của y, đồng thời ghi nhớ những gợi ý mà Tôi đã trao cho y. [12] Nó cũng dẫn đến sự kích thích thường xuyên các nguyên tử trong những hiện thể khác nhau và sự rung động cố kết, ổn định của chúng. Nó nâng người chí nguyện đến gần mục tiêu hơn đôi chút, dù có lẽ y không nhận ra điều đó. |
|
[13] Everything depends upon the pupil’s ability to grasp the inner meaning of all events. [14] His entire progress upon the Path rests upon his attitude in making the teaching his own. [15] It is only as we transmute the lessons on the inner planes into practical knowledge that they become part of our own experience and are no longer theoretical. [16] Expansion of consciousness should be an ever increasing practical experience. [17] Theories are of no value until we have changed them into fact. [18] Hence the value of meditating on an ideal. [19] In the meditation our thoughts vibrate temporarily to the measure of the conception, and in time that vibration becomes permanent. |
[13] Mọi sự tùy thuộc vào khả năng của môn sinh trong việc nắm bắt ý nghĩa bên trong của mọi biến cố. [14] Toàn bộ bước tiến của y trên Đường Đạo tùy thuộc vào thái độ của y khi biến giáo huấn thành của chính mình. [15] Chỉ khi chúng ta chuyển hoá các bài học trên các cõi bên trong thành tri thức thực tiễn, chúng mới trở thành một phần kinh nghiệm của chính chúng ta và không còn là lý thuyết nữa. [16] Sự mở rộng tâm thức phải là một kinh nghiệm thực tiễn ngày càng tăng trưởng. [17] Các lý thuyết không có giá trị cho đến khi chúng ta biến chúng thành sự kiện. [18] Do đó có giá trị của việc tham thiền về một lý tưởng. [19] Trong tham thiền, các tư tưởng của chúng ta tạm thời rung động theo nhịp độ của quan niệm ấy, và theo thời gian, rung động đó trở nên thường hằng. |
|
[20] Those who, with open eyes, enter on occult training need indeed to count the cost. [21] The reward at the end is great, but the path is rough and the true occultist walks it alone. [22] The capacity to stand alone, to assume responsibility, [Page 349] and then to carry all through single-handed, and to brave evil for the sake of the good achieved is the mark of a White Brother. [23] Be prepared then for loneliness, for dangers of a dim and obscure character, and expect to see your life spent for no reward that touches the personality. [24] It is only as the consciousness expands, and one finds one’s true position in the cosmic whole that the reward becomes apparent; but cease from fear, and know that the personality is only temporary, and what matter if it suffer? [25] Some good gained for the universal Brotherhood, some law explained and demonstrated in the life of every day, [26] may make the Master say eventually (yes, eventually, after all is over) well done! [27] Let your eyes therefore look straight on. Turn not to the right hand nor to the left. The path leads upward and on to greater rapidity of vibration and to greater sensitiveness. Seek the point of balance in your work and keep that balance, for the years hold much work, much pressure and much suffering. |
[20] Những ai, với đôi mắt mở, bước vào sự huấn luyện huyền bí thật sự cần cân nhắc cái giá phải trả. [21] Phần thưởng ở cuối đường là lớn lao, nhưng con đường thì gập ghềnh và nhà huyền bí học chân chính bước đi trên đó một mình. [22] Khả năng đứng một mình, đảm nhận trách nhiệm, [Page 349] rồi tự mình đưa mọi việc đến cùng, và can đảm đối mặt với tà ác vì điều thiện đã đạt được, là dấu hiệu của một Huynh đệ Chánh đạo. [23] Vậy hãy chuẩn bị cho sự cô độc, cho những hiểm nguy có tính chất mờ tối và khó nhận rõ, và hãy chờ đợi thấy đời mình được tiêu hao mà không có phần thưởng nào chạm đến phàm ngã. [24] Chỉ khi tâm thức mở rộng, và con người tìm thấy vị trí đích thực của mình trong toàn thể vũ trụ, thì phần thưởng mới trở nên hiển nhiên; nhưng hãy dứt bỏ sợ hãi, và biết rằng phàm ngã chỉ là tạm thời, vậy có hề gì nếu nó chịu khổ? [25] Một điều thiện nào đó đạt được cho Tình Huynh Đệ Đại Đồng, một định luật nào đó được giải thích và chứng minh trong đời sống hằng ngày, [26] cuối cùng có thể khiến Chân sư nói rằng — vâng, cuối cùng, sau khi mọi sự đã qua — làm tốt lắm! [27] Vì vậy, hãy để mắt bạn nhìn thẳng về phía trước. Đừng quay sang bên phải hay bên trái. Con đường dẫn lên cao và tiến tới mức rung động nhanh hơn, cùng sự nhạy cảm lớn hơn. Hãy tìm điểm quân bình trong công việc của bạn và giữ vững quân bình ấy, vì những năm tháng chứa đựng nhiều công việc, nhiều áp lực và nhiều đau khổ. |
|
[28] Are you strong enough to see the world’s woe, to see disaster and yet keep joyful? [29] Can you be a partner in the work of furthering the evolution of the race and see the necessity for trouble and for discipline and yet not move to stem the tide of sorrow? [30] Picked and tried souls are being trained all over the world at the present time. [31] The Masters [32] are overwhelmed with the work and Their time is over-occupied. [33] They give what They can but on the individual aspirant depends the use made of that which is given. |
[28] Bạn có đủ mạnh mẽ để nhìn thấy nỗi thống khổ của thế gian, nhìn thấy thảm họa mà vẫn giữ được sự hoan hỉ không? [29] Bạn có thể là cộng sự trong công việc thúc đẩy sự tiến hoá của nhân loại, thấy được sự cần thiết của khổ đau và kỷ luật, mà vẫn không ra tay ngăn dòng triều sầu khổ không? [30] Hiện nay, khắp thế giới, những linh hồn được tuyển chọn và thử luyện đang được huấn luyện. [31] Các Chân sư [32] đang ngập trong công việc và thời giờ của Các Ngài bị chiếm dụng quá mức. [33] Các Ngài ban cho những gì Các Ngài có thể, nhưng việc sử dụng những gì được ban tùy thuộc vào từng người chí nguyện. |
|
[34] Those of us who watch and guide on the inner side of life realize more than perhaps you who bear the burden and heat of physical plane existence know. [35] We know your physical disabilities and some day may be able to help definitely in the building up of strong bodies for world service. [36] Now—such is the astral miasma—it is well nigh impossible for you, our struggling brethren, [Page 350] to have good health; [37] the karma of the world prohibits it. [38] The astral corruption and the foul cesspools of the lower levels of the mental plane infect all, and lucky is he who escapes. [39] We watch with tenderness all of you, who, with weak and sensitive bodies, struggle, work, fight, fail, continue and serve. [40] Not one hour of service, given in pain and tension, not one day’s labor followed with racked nerves, with head tired and with heart sick, is allowed to pass unnoticed. [41] We know and we care, yet, we may do naught that you, struggling in the field of the world, can do of that which is needed. The world’s karma engulfs each of you at this epoch. If you could but realize it, the time is short, and rest, joy and peace are on their way. |
[34] Chúng tôi, những người quan sát và hướng dẫn ở mặt bên trong của đời sống, nhận biết nhiều hơn điều mà có lẽ các bạn, những người đang gánh chịu sức nặng và sức nóng của sự hiện hữu nơi cõi hồng trần, có thể biết. [35] Chúng tôi biết những khiếm khuyết thể xác của các bạn, và một ngày nào đó có thể giúp đỡ một cách rõ rệt trong việc xây dựng những thể xác mạnh mẽ để phụng sự thế gian. [36] Hiện nay—chướng khí cảm dục là như thế—gần như không thể nào để các bạn, những huynh đệ đang phấn đấu của chúng tôi, [Page 350] có được sức khỏe tốt; [37] nghiệp quả của thế giới ngăn cấm điều đó. [38] Sự băng hoại cảm dục và những hố nước thải hôi thối ở các cấp độ thấp của cõi trí lây nhiễm tất cả, và may mắn thay cho y nào thoát khỏi. [39] Chúng tôi âu yếm dõi theo tất cả các bạn, những người, với các thể yếu ớt và nhạy cảm, vẫn phấn đấu, làm việc, chiến đấu, thất bại, tiếp tục và phụng sự. [40] Không một giờ phụng sự nào, được hiến dâng trong đau đớn và căng thẳng, không một ngày lao động nào đi kèm với thần kinh rã rời, đầu mỏi mệt và lòng đau đớn, mà chúng tôi để trôi qua không ghi nhận. [41] Chúng tôi biết và chúng tôi quan tâm, tuy nhiên, chúng tôi không thể làm điều gì trong những việc cần thiết mà chính các bạn, đang phấn đấu trong cánh đồng thế gian, mới có thể làm. Nghiệp quả của thế giới đang cuốn lấy mỗi người trong các bạn vào thời kỳ này. Giá như các bạn có thể nhận ra điều đó, thời gian thật ngắn ngủi, và sự nghỉ ngơi, sự hoan hỉ cùng bình an đang trên đường đến. |
|
[42] The half-gained victory, the days lived through with a certain measure of success, yet with an unachieved ideal, the minutes of exhaustion of soul and body when the emptiness of everything, even of service itself, seems the only noticeable thing, the weeks and months of endeavor and of struggle against apparently insuperable odds, against the stupendous power of the forces of evolution, against the roaring tide of the world’s ignorance, —all are known. Take comfort in the assurance that love rules all; take courage from the realization that the Hierarchy stands. |
[42] Chiến thắng mới đạt được một nửa, những ngày đã sống qua với một mức độ thành công nào đó nhưng lý tưởng vẫn chưa thành tựu, những phút giây kiệt quệ của linh hồn và thể xác khi sự trống rỗng của mọi sự, ngay cả của chính sự phụng sự, dường như là điều duy nhất có thể nhận thấy, những tuần và tháng nỗ lực và chiến đấu chống lại những trở lực dường như không thể vượt qua, chống lại quyền năng phi thường của các mãnh lực tiến hóa, chống lại thủy triều gầm thét của vô minh thế gian — tất cả đều đã được biết rõ. Hãy tìm niềm an ủi trong sự xác tín rằng tình thương cai quản tất cả; hãy lấy can đảm từ nhận biết rằng Thánh Đoàn vẫn đứng vững. |
|
[43] Those who are to teach the world more about the Masters and who are being trained to be focal points of contact are put through a very drastic disciplining. [44] They are tested in every possible way and taught much through bitter experience. [45] They are taught to attach no importance to recognition. [46] They are trained not to judge from the appearance but from the inner vision. [47] Capacity to recognize the Master’s purpose and the ability to love are counted of paramount importance. [48] Aspirants who seek to be chosen for work as disciples must lose all desire for the things of self and must be willing at any [Page 351] cost to pay the price of knowledge. [49] If proof is to be given to the world of the subjective realm of reality it will be bought with the heart’s blood, for only “in the blood of the heart” can power be safely gained and wisely wielded. [50] As you go on and, as aspirants, study the hidden laws of nature, you will realize the need for the price paid. [51] The spiritual unfoldment of the disciple’s character must keep pace with his inner knowledge. [52] This knowledge grows in three ways: |
[43] Những người sẽ giảng dạy cho thế gian nhiều hơn về các Chân sư, và đang được huấn luyện để trở thành các tiêu điểm tiếp xúc, phải trải qua một kỷ luật rèn luyện hết sức nghiêm khắc. [44] Họ được thử thách bằng mọi cách có thể và được dạy dỗ nhiều qua kinh nghiệm cay đắng. [45] Họ được dạy không gán tầm quan trọng nào cho sự công nhận. [46] Họ được huấn luyện để không phán xét theo vẻ ngoài mà theo linh thị bên trong. [47] Năng lực nhận ra mục đích của Chân sư và khả năng yêu thương được xem là có tầm quan trọng tối thượng. [48] Những người chí nguyện tìm cách được chọn để làm việc với tư cách là đệ tử phải mất hết mọi ham muốn đối với những điều thuộc về cái tôi, và phải sẵn lòng trả giá cho tri thức bằng bất cứ [Page 351] giá nào. [49] Nếu bằng chứng về cõi giới chủ quan của thực tại phải được trao cho thế gian, thì bằng chứng ấy sẽ được mua bằng máu tim, vì chỉ “trong máu của trái tim” quyền năng mới có thể được đạt lấy một cách an toàn và vận dụng một cách minh triết. [50] Khi các bạn tiến bước và, với tư cách là những người chí nguyện, nghiên cứu các định luật ẩn tàng của thiên nhiên, các bạn sẽ nhận ra sự cần thiết của cái giá đã trả. [51] Sự khai mở tinh thần trong tính cách của người đệ tử phải theo kịp tri thức bên trong của y. [52] Tri thức này tăng trưởng theo ba cách: |
|
[53] 1. By definite expansions of consciousness, which open up to the disciple a realization of the points to be attained. [54] This produces in his mind a formulation of what lies ahead to be grasped and is the first step towards acquirement. An aspirant is definitely taken on the inner planes and shown by a more advanced chela what is the work to be done, much in the same way as a pupil is shown by his master the lesson to be learned. |
[53] 1. Bằng những sự mở rộng tâm thức rõ rệt, vốn mở ra cho đệ tử một nhận biết về các điểm cần đạt tới. [54] Điều này tạo ra trong thể trí của y một hình thành về những gì còn ở phía trước cần được nắm bắt, và là bước đầu tiên hướng tới sự sở đắc. Một người chí nguyện quả thực được đưa lên các cõi bên trong, và được một đệ tử tiến xa hơn chỉ cho thấy công việc phải làm, rất giống như một học trò được Chân sư của y chỉ cho bài học cần học. |
|
[55] 2. The next step is the mastering of the lesson and the working out in meditation and experiment of the truths sensed. [56] This is a lengthy process, for all has to be assimilated and made part and parcel of the disciple’s very self before he can go on. [57] It resembles the working out of a [58] sum—figure by figure, line by line, the working out being carried forward until the answer is achieved. This work is done both on the inner planes and on the physical. In the Hall of Learning the pupil is taught nightly for a short time before proceeding with any work of service. [59] This teaching he brings over into his physical brain consciousness in the form of a deep interest in certain subjects, and in an increasing aptitude to think concretely and abstractly on the various occult matters that are occupying his attention. [60] He attempts to experiment and tries various methods of studying the laws and in process of time arrives at results that are of value to him. [61] Time passes and as he appropriates and knows more, his knowledge takes a synthetic form and he becomes [Page 352] ready to teach and to impart to others the residue of knowledge of which he is sure. |
[55] 2. Bước kế tiếp là làm chủ bài học và triển khai trong tham thiền cùng thực nghiệm những chân lý đã cảm nhận. [56] Đây là một tiến trình dài, vì tất cả phải được đồng hóa và trở thành một phần không thể tách rời của chính bản thân đệ tử trước khi y có thể tiếp tục tiến bước. [57] Nó giống như việc giải một [58] bài toán — từng con số, từng dòng một, công việc giải được tiếp tục cho đến khi đạt được đáp số. Công việc này được thực hiện cả trên các cõi bên trong lẫn trên cõi hồng trần. Trong Phòng Học Tập, môn sinh được dạy dỗ hằng đêm trong một thời gian ngắn trước khi tiến hành bất kỳ công việc phụng sự nào. [59] Sự dạy dỗ này, y mang vào tâm thức bộ não hồng trần của mình dưới hình thức một mối quan tâm sâu sắc đối với một số chủ đề, và một năng lực ngày càng tăng trong việc suy nghĩ cụ thể cũng như trừu tượng về các vấn đề huyền bí khác nhau đang chiếm trọn sự chú ý của y. [60] Y cố gắng thực nghiệm và thử nhiều phương pháp nghiên cứu các định luật, rồi theo thời gian đạt đến những kết quả có giá trị đối với y. [61] Thời gian trôi qua, và khi y lĩnh hội cùng hiểu biết nhiều hơn, tri thức của y mang một hình thức tổng hợp, và y trở nên [Page 352] sẵn sàng giảng dạy cũng như truyền đạt cho người khác phần tri thức còn lại mà y chắc chắn. |
|
[62] 3. In teaching others comes further knowledge. [63] The definition of truth in teaching crystallises the facts learnt, and, in the play of other minds, [64] the aspirant’s own vibration becomes keyed up to ever higher planes, and thus fresh intuition and fresh reaches of truth pour in. |
[62] 3. Trong việc giảng dạy người khác, tri thức thêm nữa sẽ đến. [63] Việc định nghĩa chân lý trong khi giảng dạy kết tinh những sự kiện đã học được, và trong sự tương tác của các thể trí khác, [64] rung động của chính người chí nguyện được điều chỉnh lên các cõi ngày càng cao hơn; nhờ đó, trực giác mới và những tầm mức mới của chân lý tuôn vào. |
|
[65] When one lesson has, in this way, been mastered, a further one is set, and when a pupil has learnt a particular series of lessons he graduates and passes an initiation. [66] The whole group he teaches is benefited by his step forward, for every disciple carries those he instructs along with him in a curious indefinable sense. [67] The benefit to the unit reacts upon the whole. [68] A Master carries His disciples on and up with Him in a similar manner. [69] The matter is abstruse and largely one of the secrets of the law of vibratory expansion. The initiation of the Logos has a universal effect. |
[65] Khi một bài học đã được làm chủ theo cách này, một bài học tiếp theo được giao; và khi một môn sinh đã học xong một chuỗi bài học đặc thù, y tốt nghiệp và vượt qua một cuộc điểm đạo. [66] Toàn thể nhóm mà y giảng dạy đều được lợi ích nhờ bước tiến của y, vì mỗi đệ tử đều mang theo những người mà y huấn luyện cùng tiến với mình, theo một nghĩa kỳ lạ khó định nghĩa. [67] Lợi ích đến với đơn vị sẽ tác động trở lại lên toàn thể. [68] Một Chân sư cũng mang các đệ tử của Ngài tiến tới và vươn lên cùng với Ngài theo một cách tương tự. [69] Vấn đề này thâm áo và phần lớn là một trong những bí mật của định luật mở rộng rung động. Cuộc điểm đạo của Đức Thượng đế có ảnh hưởng phổ quát. |
|
You are right in your assumption that the probationary path corresponds to the later stages of the period of gestation. At the first initiation what is called in the New Testament “the babe in Christ” starts upon the pilgrimage of the path. The first initiation simply stands for commencement. A certain structure of right living, of thinking and of conduct has been attained; the form that the Christ is to occupy has been constructed and now that form is to be vivified and indwelt. The Christ life enters and the form becomes alive. Therein lies the difference between theory and making that theory a part of yourself. You can have a perfect picture or image but it lacks the life. You have a person who has modelled his life on the divine as far as he can. He has a good copy yet something is lacking. What is this something? The manifestation of the indwelling Christ. The germ has been there but it has lain dormant. Now it is fostered and brought to birth, and the first initiation is [Page 353] attained. Much then remains to be done. The analogy is complete. Many years were spent by the disciple Jesus between the birth and baptism. The remaining three initiations were taken in three years. You have the same situation on the path of the aspirant. |
Các bạn đúng trong giả định rằng Con Đường Dự Bị tương ứng với các giai đoạn sau của thời kỳ thai nghén. Ở lần điểm đạo thứ nhất, điều trong Tân Ước gọi là “hài nhi trong Đức Christ” bắt đầu cuộc hành hương trên con đường. Lần điểm đạo thứ nhất chỉ đơn giản biểu thị sự khởi đầu. Một cấu trúc nhất định của đời sống đúng đắn, tư tưởng và hành vi đúng đắn đã đạt được; hình tướng mà Đức Christ sẽ chiếm ngự đã được kiến tạo, và nay hình tướng ấy phải được làm cho sinh động và được cư ngụ. Sự sống Đức Christ đi vào và hình tướng trở nên sống động. Chính trong đó có sự khác biệt giữa lý thuyết và việc biến lý thuyết ấy thành một phần của chính các bạn. Các bạn có thể có một bức tranh hay hình ảnh hoàn hảo nhưng nó thiếu sự sống. Các bạn có một người đã mô phỏng đời mình theo điều thiêng liêng hết mức y có thể. Y có một bản sao tốt, nhưng vẫn thiếu điều gì đó. Điều đó là gì? Sự biểu lộ của Đức Christ nội tại. Mầm đã có ở đó nhưng vẫn nằm yên. Nay nó được nuôi dưỡng và đưa đến sự sinh ra, và lần điểm đạo thứ nhất [Page 353] được đạt tới. Khi ấy còn nhiều điều phải làm. Sự tương đồng là trọn vẹn. Nhiều năm đã trôi qua đối với đệ tử Jesus giữa lúc sinh ra và phép rửa. Ba cuộc điểm đạo còn lại được trải qua trong ba năm. Các bạn có cùng tình huống trên con đường của người chí nguyện. |
|
[70] The second initiation marks the crisis of the control of the astral body. After baptism [71] there remain the three temptations, demonstrating the complete control of the three lower vehicles. [72] Then comes the Transfiguration, followed by knowledge of the [73] future and complete self-abnegation. [74] Therefore, you have the following: |
[70] Lần điểm đạo thứ hai đánh dấu cuộc khủng hoảng trong việc kiểm soát thể cảm dục. Sau lễ rửa tội [71] vẫn còn ba cám dỗ, chứng tỏ sự kiểm soát hoàn toàn đối với ba hiện thể thấp. [72] Rồi đến sự Biến hình, tiếp theo là tri thức về [73] tương lai và sự tự phủ nhận hoàn toàn. [74] Vì vậy, các bạn có như sau: |
|
[75] 1. The moment of conception—i.e. individualization. |
[75] 1. Thời điểm thụ thai—tức là biệt ngã hóa. |
|
[76] 2. Nine months gestation—i.e. the wheel of life. |
[76] 2. Chín tháng thai nghén—tức là bánh xe sự sống. |
|
[77] 3. First initiation—i.e. the birth hour. |
[77] 3. lần điểm đạo thứ nhất—tức là giờ sinh. |
|
[78] The path is, therefore, a path on which steady expansion of consciousness is undergone with increasing sensitivity to the higher vibrations. [79] This works out at first as sensitiveness to the inner voice and this is one of the most necessary faculties in a disciple. [80] The Great Ones are looking for those who can rapidly obey the inner voice of their soul. [81] The times are critical and all aspirants are urged also to render themselves sensitive to the voice of their Master as well. [82] His time is fully occupied and disciples must train themselves to be sensitive to His impression. [83] A slight hint, a pointed finger, a hurried suggestion, may be all that He has time to give, and each disciple must be upon the watch. [84] The pressure upon Them is great now that They are moving closer to the physical plane. [85] More souls are conscious of Them than when They worked on mental levels only [86] and They also, working on denser planes, are finding conditions more difficult. [87] The devas and disciples, aspirants and those upon the probationary path are being gathered around Them now and are being organized into groups with special work assigned. [88] Some souls can work only in mass [Page 354] formation, banded together and unified by a common aspiration. [89] Such are the majority of Christians, for instance, in the churches. [90] These, knowing not the laws of occultism, and only sensing the inner truth, work on broad lines of preparation. [91] They are aided by bands of lesser devas or angels who suggest, guide and control. |
[78] Do đó, con đường là một con đường trên đó sự mở rộng đều đặn của tâm thức diễn ra cùng với độ nhạy cảm ngày càng tăng đối với các rung động cao hơn. [79] Điều này lúc đầu biểu hiện như sự nhạy cảm với tiếng nói nội tâm, và đây là một trong những năng lực cần thiết nhất nơi một đệ tử. [80] Các Đấng Cao Cả đang tìm kiếm những ai có thể nhanh chóng tuân theo tiếng nói nội tâm của linh hồn mình. [81] Thời cuộc đang nguy cấp, và mọi người chí nguyện cũng được thúc giục làm cho mình nhạy cảm với tiếng nói của Chân sư mình. [82] Thời gian của Ngài đã hoàn toàn kín, và các đệ tử phải tự rèn luyện để nhạy cảm với sự ấn truyền của Ngài. [83] Một gợi ý nhẹ, một ngón tay chỉ rõ, một lời đề nghị vội vã, có thể là tất cả những gì Ngài có thời gian để ban cho, và mỗi đệ tử phải luôn canh chừng. [84] Áp lực đặt lên Các Ngài hiện nay rất lớn, khi Các Ngài đang tiến gần hơn đến cõi hồng trần. [85] Nhiều linh hồn ý thức về Các Ngài hơn so với khi Các Ngài chỉ hoạt động trên các cấp độ cõi trí [86] và chính Các Ngài, khi hoạt động trên các cõi đậm đặc hơn, cũng đang nhận thấy các điều kiện khó khăn hơn. [87] Các thiên thần và đệ tử, những người chí nguyện và những người trên con đường dự bị hiện đang được quy tụ quanh Các Ngài và được tổ chức thành các nhóm với công việc đặc biệt được giao phó. [88] Một số linh hồn chỉ có thể hoạt động trong đội hình đông đảo [Page 354], liên kết với nhau và được thống nhất bởi một khát vọng chung. [89] Chẳng hạn, đó là trường hợp của đa số Cơ Đốc nhân trong các giáo hội. [90] Những người này, không biết các định luật của huyền bí học mà chỉ cảm nhận chân lý nội tâm, hoạt động theo những đường lối chuẩn bị rộng lớn. [91] Họ được trợ giúp bởi các nhóm thiên thần bậc thấp hơn, những vị gợi ý, hướng dẫn và kiểm soát. |
|
[92] Others more advanced work in smaller groups. They idealize more and in them you see the thinkers and leaders of social reform, of humanitarian regeneration and of church leadership, either Christian or Oriental. [93] The higher devas guide them, the blue and yellow devas, as the former group are guided by the blue and rose. |
[92] Những người khác tiến bộ hơn hoạt động trong các nhóm nhỏ hơn. Họ lý tưởng hóa nhiều hơn, và nơi họ các bạn thấy những nhà tư tưởng và những người lãnh đạo công cuộc cải cách xã hội, sự tái sinh nhân đạo và sự lãnh đạo giáo hội, dù thuộc Cơ Đốc giáo hay Đông phương. [93] Các thiên thần cao hơn hướng dẫn họ, các thiên thần màu xanh lam và vàng, cũng như nhóm trước được hướng dẫn bởi các thiên thần màu xanh lam và hồng. |
|
[94] Back of them stand the still more advanced—the aspirants, probationers and disciples of the world. [95] They work singly or in twos or threes and never in groups exceeding nine—the occult significance of these numbers being necessary to the success of their work. [96] Great white and gold devas attend their labours. |
[94] Đằng sau họ là những người còn tiến hóa cao hơn—những người chí nguyện, các đệ tử dự bị và các đệ tử của thế giới. [95] Họ làm việc đơn lẻ, hoặc theo nhóm hai hay ba người, và không bao giờ trong các nhóm vượt quá chín người—vì thâm nghĩa huyền bí của những con số này là cần thiết cho sự thành công trong công việc của họ. [96] Các thiên thần vĩ đại sắc trắng và vàng phụ trợ cho những lao tác của họ. |
|
[97] Back again of these three groups stand the Masters and the devas of the formless levels [98] —a Great Brotherhood, pledged to serve humanity. |
[97] Lại nữa, đứng phía sau ba nhóm này là các Chân sư và các thiên thần của những cấp độ vô hình tướng [98] — một Huynh Đệ Đoàn Vĩ Đại, đã nguyện phụng sự nhân loại. |
|
[99] Movements are being set on foot to transmute, if possible, the labours of destruction into constructive work. [100] The time is critical, for a pause has come in the work of the destroyers. [101] There is opportunity for the tide to turn and for the re-building of the body social. |
[99] Các phong trào đang được khởi xướng nhằm, nếu có thể, chuyển hoá những công việc phá hoại thành công việc xây dựng. [100] Thời điểm này thật nguy cấp, vì đã có một khoảng tạm dừng trong công việc của những kẻ phá hoại. [101] Có cơ hội để chiều hướng xoay chuyển và để tái thiết cơ thể xã hội. |
|
[102] It is for this reason that each one of you needs to make a fresh dedication of himself to the work of the redemption. Personalities must be submerged. [103] Aspirants must live harmlessly in thought and word and deed. [104] In this way each one of you will provide a pure channel, will become an outpost for the consciousness of the Master and provide a centre of energy through which the Brotherhood can work. |
[102] Chính vì lý do này mà mỗi người trong các bạn cần tận hiến lại chính mình cho công cuộc cứu chuộc. Các phàm ngã phải lắng chìm. [103] Những người chí nguyện phải sống vô tổn hại trong tư tưởng, lời nói và hành động. [104] Bằng cách này, mỗi người trong các bạn sẽ tạo nên một vận hà thanh khiết, sẽ trở thành một tiền đồn cho tâm thức của Chân sư, và cung cấp một trung tâm năng lượng qua đó Huynh Đệ Đoàn có thể hoạt động. |
|
[105] The prime problem of the aspirant is to dominate the emotional nature. [106] Then he stands victor on the field of [Page 355] Kurukshetra; [107] the clouds have rolled away, and henceforth he can walk in the light. [108] Let it here be remembered that this very freedom to walk in the light carries with it its own problems. [109] You ask how this can be? Let me give one simple, yet (I think you will find) convincing argument. |
[105] Vấn đề hàng đầu của người chí nguyện là chế ngự bản chất cảm xúc. [106] Bấy giờ y đứng như người chiến thắng trên cánh đồng [Page 355] Kurukshetra; [107] mây đã tan đi, và từ đó y có thể bước đi trong ánh sáng. [108] Ở đây cần nhớ rằng chính sự tự do được bước đi trong ánh sáng này cũng mang theo những vấn đề riêng của nó. [109] Các bạn hỏi điều này có thể như thế nào? Tôi xin đưa ra một luận cứ đơn giản, nhưng (tôi nghĩ các bạn sẽ thấy) có sức thuyết phục. |
|
[110] When a man literally walks in the light of his soul and the clear light of the sun pours through him—revealing the Path, —it reveals at the same time the Plan. [111] Simultaneously however, he becomes aware of the fact that the Plan is very far as yet from consummation. [112] The dark becomes more truly apparent; the chaos and misery and failure of the world groups stand revealed; the filth and dust of the warring forces are noted, and the whole sorrow of the world bears down upon the astounded, yet illuminated, aspirant. [113] Can he stand this pressure? Can he become indeed acquainted with grief and yet rejoice forever in the divine consciousness? [114] Has he the ability to face what the light reveals and still go his way with serenity, sure of the ultimate triumph of good? Will he be overwhelmed by the surface evil and forget the heart of Love which beats behind all outer seeming? This situation should ever be remembered by the disciple, or he will be shattered by that which he has discovered. |
[110] Khi một con người thật sự bước đi trong ánh sáng của linh hồn mình, và ánh sáng trong trẻo của mặt trời tuôn chảy xuyên qua y — làm hiển lộ Đường Đạo — thì đồng thời ánh sáng ấy cũng hiển lộ Thiên Cơ. [111] Tuy nhiên, đồng thời y nhận biết rằng Thiên Cơ vẫn còn rất xa mới đạt đến sự hoàn thành. [112] Bóng tối trở nên thật sự rõ ràng hơn; sự hỗn loạn, khốn khổ và thất bại của các nhóm thế gian được phơi bày; sự ô uế và bụi bặm của các mãnh lực tranh chiến được nhận thấy, và toàn bộ nỗi sầu khổ của thế gian đè nặng lên người chí nguyện kinh ngạc nhưng đã được soi sáng. [113] Liệu y có thể chịu đựng áp lực này chăng? Liệu y có thể thật sự quen thuộc với khổ đau mà vẫn mãi hoan hỉ trong tâm thức thiêng liêng chăng? [114] Liệu y có khả năng đối diện với điều mà ánh sáng hiển lộ, nhưng vẫn tiếp tục đi con đường của mình với sự tĩnh lặng, vững tin vào chiến thắng tối hậu của điều thiện chăng? Liệu y sẽ bị choáng ngợp bởi cái ác trên bề mặt và quên mất trái tim của Tình thương đang đập phía sau mọi vẻ ngoài chăng? Đệ tử phải luôn ghi nhớ tình huống này, nếu không, điều y đã khám phá sẽ làm y tan vỡ. |
|
[115] But with the advent of the light, he becomes aware of a new (for him) form of energy. He learns to work in a new field of opportunity. The realm of the mind opens up before him, [116] and he discovers that he can differentiate between the emotional nature and the mental. [117] He discovers also that the mind can be made to assume the position of the controller, and that the sentient forces respond with obedience to mental energies. [118] “The light of reason” brings this about—light that is always present in man but which only becomes significant and potent when seen and known, either phenomenally or intuitionally. |
[115] Nhưng với sự xuất hiện của ánh sáng, y nhận biết một hình thức năng lượng mới mẻ đối với y. Y học cách hoạt động trong một lĩnh vực cơ hội mới. Cõi trí mở ra trước y, [116] và y khám phá rằng mình có thể phân biệt giữa bản chất cảm xúc và bản chất trí tuệ. [117] Y cũng khám phá rằng thể trí có thể được đặt vào vị thế của chủ thể kiểm soát, và các mãnh lực hữu cảm đáp ứng một cách tuân phục trước những năng lượng trí tuệ. [118] “Ánh sáng của lý trí” tạo nên điều này—ánh sáng vốn luôn hiện diện trong con người, nhưng chỉ trở nên có ý nghĩa và mạnh mẽ khi được thấy và được biết, hoặc qua hiện tượng, hoặc bằng trực giác. |
|
[Page 356] |
[Page 356] |
|
[119] Much false teaching is going about these days in connection with the mind and the soul. It might be summed up in the teaching of one school which shall be nameless, as follows: |
[119] Ngày nay, nhiều giáo huấn sai lạc đang được lan truyền liên quan đến thể trí và linh hồn. Có thể tóm lược chúng trong giáo huấn của một trường phái xin không nêu tên như sau: |
|
[120] Nature is cruel and selective. She works by the Law of the survival of the fittest; in the process of selection, millions of lives are sacrificed and much birthing of forms comes to naught. Hence the achieving of soul life is a rare event. [121] Few people have souls and only a few therefore possess immortality and go hence to their own place of power to return no more. [122] The rest are lost, submerged and swallowed up in the general process of nature, and the human kingdom as a whole is a dead loss except for a few emerging and significant figures which the past and the present produce. They have achieved through the sacrifice of the many. |
[120] Thiên nhiên tàn nhẫn và có tính chọn lọc. Thiên nhiên vận hành theo Định luật sinh tồn của kẻ thích nghi nhất; trong tiến trình chọn lọc ấy, hàng triệu sự sống bị hi sinh và nhiều sự sinh thành của các hình tướng trở nên vô ích. Vì vậy, việc đạt được đời sống linh hồn là một sự kiện hiếm hoi. [121] Ít người có linh hồn, và do đó chỉ một số ít sở hữu sự bất tử, rồi từ đây đi đến nơi quyền năng riêng của họ để không còn trở lại nữa. [122] Số còn lại bị mất hút, chìm ngập và bị nuốt chửng trong tiến trình chung của thiên nhiên; và giới nhân loại xét như một toàn thể là một mất mát hoàn toàn, ngoại trừ một vài nhân vật đang nổi lên và có ý nghĩa mà quá khứ và hiện tại tạo ra. Họ đã thành tựu nhờ sự hi sinh của số đông. |
|
[123] But the reaction of men themselves to this teaching is an adequate answer. [124] The sense of immortality, the surety of an eternal future, the innate belief in God, the revelation of the light, the achieving of a wisdom which helps and aids is not the prerogative of the Senecas, of the St. Pauls, of the Akbars of the race. [125] It is found (and sometimes in its purest form) in the humblest peasant. [126] Words of wise counsel fall from the lips of the illiterate, and a knowledge of God and a belief in the soul’s immortality are discovered to be latent in the hearts of the most unlikely and oft of the most sinful. [127] But when the highly evolved and the most intelligent of the race discover in themselves the divine Flame, and awaken the power of the supreme Controller, [128] seated at the heart of their being, [129] they are very apt to place themselves in a higher category than other people, [130] and to classify those who do not have their mental grasp of the differentiations of the evolutionary development as differing so widely from them as not to deserve the name of Sons of God. [131] They regard all not working in mental energy as lacking souls [Page 357] and hence as lacking eternal persistence as individuals. [132] This is only a glamour of the mind, is part of the great heresy of separateness, and indicates faintly the coming period wherein the mind will be as dominant and as misleading as is the sentient body at this time. |
[123] Nhưng chính phản ứng của con người đối với giáo huấn này là một câu trả lời đầy đủ. [124] Ý thức về sự bất tử, niềm xác tín về một tương lai vĩnh cửu, niềm tin bẩm sinh nơi Thượng đế, sự mặc khải của ánh sáng, việc đạt được một minh triết có khả năng trợ giúp và nâng đỡ, không phải là đặc quyền của những Seneca, những Thánh Phao-lô, những Akbar của nhân loại. [125] Nó được tìm thấy, và đôi khi trong hình thức tinh khiết nhất, nơi người nông dân khiêm hạ nhất. [126] Những lời khuyên minh triết thốt ra từ môi miệng của người thất học, và người ta phát hiện rằng tri thức về Thượng đế cùng niềm tin vào sự bất tử của linh hồn vốn tiềm tàng trong trái tim của những người ít ai ngờ tới nhất, và thường là những người tội lỗi nhất. [127] Nhưng khi những người tiến hoá cao và thông minh nhất trong nhân loại khám phá nơi chính mình Ngọn Lửa thiêng liêng, và đánh thức quyền năng của Đấng Điều Khiển tối cao, [128] đang ngự nơi trung tâm bản thể họ, [129] họ rất dễ đặt mình vào một hạng cao hơn những người khác, [130] và xếp những ai không có sự nắm bắt trí tuệ như họ về các biến phân của sự phát triển thăng thượng tiến hoá vào loại khác biệt với họ đến mức không xứng đáng mang danh Các Con của Thượng đế. [131] Họ xem tất cả những ai không hoạt động trong năng lượng trí tuệ là thiếu linh hồn [Page 357] và do đó thiếu sự tồn tại bền bỉ vĩnh cửu với tư cách là những cá nhân. [132] Đây chỉ là một ảo cảm của thể trí, là một phần của Đại Tà thuyết về sự chia rẽ, và chỉ thoáng cho thấy thời kỳ sắp đến, trong đó thể trí sẽ chiếm ưu thế và gây lầm lạc chẳng khác nào thể cảm giác đang làm vào lúc này. |
Program-35-Astral-Plane-Rule-X-10.19 |
|
|
Hello everybody and welcome back to our video commentaries on A Treatise on White Magic, focusing here on the rules for magic on the astral plane. We’re in Rule 10 and this is the 19th program for Rule 10, it’s a long one, and the 35th program for the Rules for the astral plane. We have been dealing here with two types of fears; He’s given us three methods of counteracting fear. |
Xin chào tất cả mọi người và chào mừng các bạn trở lại với loạt bình giảng video của chúng ta về Luận về Chánh Thuật, ở đây tập trung vào các quy luật huyền thuật trên cõi cảm dục. Chúng ta đang ở Quy luật 10, đây là chương trình thứ 19 cho Quy luật 10, một quy luật dài, và là chương trình thứ 35 về các Quy luật cho cõi cảm dục. Ở đây chúng ta đã đề cập đến hai loại sợ hãi; Ngài đã trao cho chúng ta ba phương pháp để đối trị sợ hãi. |
|
Fears which arise simply within the astral body and the personality and may be quite unfounded. Fears which arise because something definite has precipitated on the physical plane which works against what must be accomplished. So it is a real type of opposition, a concretized counterforce, and then a more occult attack. |
Những sợ hãi nảy sinh đơn thuần bên trong thể cảm dục và phàm ngã, và có thể hoàn toàn không có căn cứ. Những sợ hãi nảy sinh vì một điều gì đó rõ rệt đã ngưng tụ trên cõi hồng trần, chống lại điều phải được hoàn thành. Vì vậy, đó là một loại đối lập có thật, một mãnh lực đối kháng đã cụ thể hóa, rồi đến một cuộc tấn công huyền bí hơn. |
|
The fears that come when we realize that those on the left hand path and the Brothers of Form are counteracting us and warring militantly against the aspirant and the disciple. He’s given us methods of dealing with these and these are some of the most important practical pieces of advice that we will find in this book. Find your way to these pages which are immediately before page 347. |
Những sợ hãi xuất hiện khi chúng ta nhận ra rằng những kẻ trên tả đạo và các Huynh đệ của Hình Tướng đang chống lại chúng ta và giao chiến quyết liệt với người chí nguyện và đệ tử. Ngài đã trao cho chúng ta các phương pháp để xử lý những điều này, và đây là một số lời khuyên thực tiễn quan trọng nhất mà chúng ta sẽ tìm thấy trong quyển sách này. Hãy tìm đến những trang ngay trước trang 347. |
|
Now we’re on 347 and we’re talking about the kinds of vibrations which will come in and they may even be of a higher sort and they will cause disruption. So what happens when spiritual vibrations enter? |
Chúng ta đang ở trang 347 và đang nói về những loại rung động sẽ đi vào; chúng thậm chí có thể thuộc loại cao hơn và sẽ gây nên sự xáo trộn. Vậy điều gì xảy ra khi các rung động tinh thần đi vào? |
|
[1] Strong vibrations will come with ever increasing frequency, and as the race progresses in evolution the vibrations will wax stronger and their reactions must be dealt with in wisdom. |
[1] Những rung động mạnh mẽ sẽ đến với tần suất ngày càng gia tăng, và khi nhân loại tiến bước trong tiến hoá, các rung động ấy sẽ trở nên mạnh hơn, còn những phản ứng của chúng cần được xử lý bằng minh triết. |
|
Because always the conditioned pattern will react against something new which tries to recondition it. It’s a bit of a conflict between the conditioning of Saturn in its lower aspect and the reconditioning, the archetypalization provided by Uranus when it’s functioning in a high manner. |
Bởi vì mô hình đã chịu tác động bao giờ cũng sẽ phản ứng chống lại một điều gì mới đang cố gắng tác động lại nó. Đó phần nào là một xung đột giữa sự tác động của Thổ Tinh trong phương diện thấp của nó và sự tái tác động, sự nguyên mẫu hóa do Sao Thiên Vương đem lại khi nó hoạt động theo cách cao cả. |
|
[2] Two things manifest when the spiritual vibration is exceedingly potent. |
[2] Hai điều biểu hiện khi rung động tinh thần trở nên cực kỳ mạnh mẽ. |
|
Of course this comes at periods of the full moon and so forth. |
Dĩ nhiên, điều này đến vào những thời kỳ trăng tròn và những lúc tương tự. |
|
[3] All good aspirations and synchronous high vibrations are stimulated and, secondly, all that we term “evil” is likewise stimulated. Aspirants should bear this carefully in mind. |
[3] Mọi khát vọng thiện lành và các rung động cao đồng điệu đều được kích thích; thứ hai, tất cả những gì chúng ta gọi là “tà ác” cũng được kích thích như vậy. Người chí nguyện nên ghi nhớ kỹ điều này. |
|
Although we term evil, maybe it’s our mistake to call it that, but anyway all that we term evil is likewise stimulated and the aspirants should bear this definitely in mind. Stimulation is stimulation and the augmentation of that which is good or bad may occur simultaneously. Naturally we wish it was just the good vibrations which were stimulated but that’s not really how it is. |
Mặc dù chúng ta gọi là tà ác, có lẽ đó là sai lầm của chúng ta khi gọi như vậy, nhưng mọi điều mà chúng ta gọi là tà ác cũng được kích thích như vậy và những người chí nguyện nhất định nên ghi nhớ điều này. Kích thích là kích thích, và sự gia tăng của điều tốt hoặc điều xấu có thể xảy ra đồng thời. Tự nhiên chúng ta mong rằng chỉ có các rung động tốt được kích thích, nhưng thực ra không phải như vậy. |
|
[4] There may demonstrate such a factor as a crime wave, but there will also demonstrate an increasing number of groups that stand for spiritual endeavor and high aspiration. |
[4] Có thể biểu hiện một yếu tố như làn sóng tội ác, nhưng cũng sẽ biểu hiện ngày càng nhiều nhóm đại diện cho [Page 348] nỗ lực tinh thần và khát vọng cao cả. |
|
This is an example of this dual type of stimulation. |
Đây là một ví dụ về loại kích thích kép này. |
|
[5] The effect of the heightening of the vibration on you, the aspirant, may manifest in various ways also. It may |
[5] Ảnh hưởng của việc nâng cao rung động đối với bạn, người chí nguyện, cũng có thể biểu hiện theo nhiều cách khác nhau. Điều đó có thể |
|
Even if it’s a high vibration, |
Ngay cả khi đó là một rung động cao, |
|
[6] result in bodily fatigue and this must be dealt with—not so much by sleep and by rest, though a just proportion of them is necessary—but above all by a change of vibration, of recreation and of amusement |
[6] dẫn đến sự mệt mỏi thể xác, và điều này phải được xử lý—không hẳn bằng giấc ngủ và sự nghỉ ngơi, dù một tỉ lệ thích đáng của chúng là cần thiết—mà trên hết bằng sự thay đổi rung động, bằng sự giải trí và tiêu khiển. |
|
Notice the Libran quality there. Master Morya has basically said that rest is a change of labor. Master DK is telling us that we need a change of vibration anyway, recreation and amusement, and Master Morya is saying, Well, if you change your labor you’re going to find some degree of rest otherwise you’ll get dull through repetition. |
Hãy chú ý phẩm tính Thiên Bình ở đó. Chân sư Morya về cơ bản đã nói rằng nghỉ ngơi là một sự thay đổi lao động. Chân sư DK đang bảo chúng ta rằng dù thế nào chúng ta cũng cần một sự thay đổi rung động, sự tái tạo và giải trí, còn Chân sư Morya nói rằng nếu các bạn thay đổi lao động của mình, các bạn sẽ tìm thấy một mức độ nghỉ ngơi nào đó, nếu không các bạn sẽ trở nên trì độn do lặp lại. |
|
Two things manifest. There is a dual stimulation which occurs, a dual stimulation, the good and the bad, simultaneously. |
Hai điều biểu hiện. Có một sự kích thích kép xảy ra, một sự kích thích kép, điều tốt và điều xấu, đồng thời. |
|
[7] Secondly, |
[7] Thứ hai, |
|
Even if it’s a high vibration |
Ngay cả khi đó là một rung động cao |
|
[8] it results frequently in a profound depression, in an utter sinking of the heart as the future is faced. |
[8] nó thường dẫn đến một sự trầm cảm sâu xa, một sự chùng xuống hoàn toàn của lòng khi đối diện với tương lai. |
|
This phrase, “the sinking of the heart”, is interesting. Probably we have all actually physically experienced this. |
Cụm từ “sự chùng xuống của con tim” thật thú vị. Có lẽ tất cả chúng ta đều đã thật sự trải nghiệm điều này về mặt thể xác. |
|
[9] Face that future, however, and remember that what the future holds is not revealed, but that “joy cometh in the morning”. |
[9] Tuy nhiên, hãy đối diện với tương lai ấy, và hãy nhớ rằng điều tương lai nắm giữ chưa được mặc khải, nhưng “sự hoan hỉ đến vào buổi sáng”. |
|
That’s the idea. After the night of perhaps what we would term dreadful experience, joy cometh in the morning, because we think well here’s this high vibration, it may indicate to me some possibilities but my equipment, my time, my environment, whatever, feels totally unsuited to the achievement of that vision and my heart sinks when I think that I cannot achieve that which is indicated as a possibility. |
Đó là ý tưởng. Sau đêm của điều mà có lẽ chúng ta gọi là trải nghiệm kinh hoàng, sự hoan hỉ đến vào buổi sáng, bởi vì chúng ta nghĩ rằng đây là rung động cao này, nó có thể chỉ cho tôi một số khả năng, nhưng trang bị của tôi, thời gian của tôi, môi trường của tôi, hay bất cứ điều gì khác, lại cảm thấy hoàn toàn không thích hợp để đạt được linh ảnh ấy, và con tim tôi chùng xuống khi tôi nghĩ rằng mình không thể đạt được điều được chỉ ra như một khả năng. |
|
Joy cometh in the morning, that’s a beautiful phrase and it’s good cheer because no matter what dark night we may pass through, and we will all necessarily pass through the dark nights, there will be that upliftment of identification with the soul and realization that no environmental factor can ever finally subdue, curtail the radiation of the soul and the experience of this expansive loving pervasive soul. |
Sự hoan hỉ đến vào buổi sáng, đó là một cụm từ đẹp đẽ và là sự khích lệ tốt lành, bởi vì dù chúng ta có đi qua đêm tối nào, và tất cả chúng ta tất yếu sẽ đi qua những đêm tối, vẫn sẽ có sự nâng lên của việc đồng hoá với linh hồn và sự nhận ra rằng không yếu tố môi trường nào cuối cùng có thể khuất phục hay cắt giảm sự bức xạ của linh hồn và trải nghiệm về linh hồn bao trùm, đầy tình thương và lan tỏa này. |
|
[10] It results also in a sensitiveness of the astral body that is, perhaps, even more hard to bear. |
[10] Nó cũng dẫn đến một sự nhạy cảm của thể cảm dục, có lẽ còn khó chịu đựng hơn nữa. |
|
High vibrations also result in a sensitiveness of the astral body that is perhaps more hard to bear. High vibrations sensitize the astral body to the point of pain. Now |
Các rung động cao cũng dẫn đến một sự nhạy cảm của thể cảm dục, có lẽ còn khó chịu đựng hơn. Các rung động cao làm thể cảm dục trở nên nhạy cảm đến mức đau đớn. |
|
[11] This must be dealt with by the individual as best he may, bearing in mind the suggestions that I have given him. |
[11] Cá nhân phải xử lý điều này tốt nhất trong khả năng của y, đồng thời ghi nhớ những gợi ý mà Tôi đã trao cho y. |
|
There are plenty of them in the foregoing, including not the suppression of the astral body but the disidentification with it and the identification with something more real within, so that one becomes the observer and not identificatorily in the middle of all the pain. |
Có rất nhiều gợi ý trong phần trước, bao gồm không phải sự đè nén thể cảm dục, mà là sự không đồng hoá với nó và sự đồng hoá với một điều gì chân thật hơn bên trong, để người ta trở thành người quan sát chứ không đứng giữa mọi đau đớn theo cách đồng hoá. |
|
[12] It results also in a permanent stimulation of the atoms in the various vehicles and their coherent, stabilized vibration. It lifts a little nearer to the goal, though perhaps the aspirant may not realize it. |
[12] Nó cũng dẫn đến sự kích thích thường xuyên các nguyên tử trong những hiện thể khác nhau và sự rung động cố kết, ổn định của chúng. Nó nâng người chí nguyện đến gần mục tiêu hơn đôi chút, dù có lẽ y không nhận ra điều đó. |
|
The high vibrations, though experienced at times painfully and depressively, do in fact uplift and bring us closer to the desired objective, the goal. God as Being, God as our true Identity. It’s hard to escape the cleavage making, dichotomization of the mind. We look at all these different things around us, and they look like separate things, but to the initiate they’re not separate things, and to the uninitiate they are, because the mind has dichotomized them, put them in separate categories which seem not to be able to be bridged, but we have to bridge a difference. |
Các rung động cao, dù đôi khi được trải nghiệm một cách đau đớn và trầm uất, thực sự nâng lên và đưa chúng ta đến gần hơn mục tiêu mong muốn. Thượng đế như Bản Thể, Thượng đế như Bản Sắc chân thật của chúng ta. Thật khó thoát khỏi sự chia tách, sự lưỡng phân hóa do thể trí tạo ra. Chúng ta nhìn tất cả những sự vật khác nhau quanh mình, và chúng trông như những sự vật riêng biệt, nhưng đối với điểm đạo đồ chúng không phải là những sự vật riêng biệt; còn đối với người chưa được điểm đạo thì chúng là như vậy, bởi vì thể trí đã lưỡng phân hóa chúng, đặt chúng vào các phạm trù riêng biệt dường như không thể được bắt cầu, nhưng chúng ta phải bắt cầu một khác biệt. |
|
I’ll call it the inceptional bridging of apparent difference, so that something pervades all these differences, which gives unity and ultimately sameness that unites and makes us one. All the apparent differences, we just have to find our way beyond difference. When I was younger, I heard the phrase that the wise one looks in all directions and sees nothing but the same. |
Tôi sẽ gọi đó là sự bắt cầu khởi đầu đối với khác biệt biểu kiến, để một điều gì đó thấm nhập mọi khác biệt này, đem lại hợp nhất và cuối cùng là tính đồng nhất, vốn hợp nhất và làm chúng ta trở thành một. Mọi khác biệt biểu kiến, chúng ta chỉ cần tìm đường vượt ra ngoài khác biệt. Khi còn trẻ, tôi nghe câu rằng bậc minh triết nhìn về mọi hướng và không thấy gì ngoài cùng một điều. |
|
I don’t think I could understand it, because it seemed to negate that which the perceptions presented. But in fact, in the Mahamaya, the perceptions will present what they will present, but there’s the realization that all of it is really the same, and I find that this realization deepens as one works with it, as one goes on, as one reminds oneself of these factors. This is such a practical book, and even as Master DK is teaching us, he’s also teaching us how to teach others, because there’s so much here that we can suggest to people who may not be familiar with it, and it will help them, even as his very practical suggestions are helping us. |
Tôi không nghĩ mình có thể hiểu được câu ấy, vì nó dường như phủ nhận điều mà tri giác trình bày. Nhưng thật ra, trong đại ảo lực, các tri giác sẽ trình bày điều chúng trình bày, nhưng vẫn có sự nhận ra rằng tất cả thật sự là cùng một điều, và tôi thấy rằng sự nhận ra này sâu sắc dần khi người ta làm việc với nó, khi người ta tiếp tục, khi người ta tự nhắc mình về những yếu tố này. Đây là một quyển sách thực tiễn đến vậy, và ngay cả khi Chân sư DK đang dạy chúng ta, Ngài cũng đang dạy chúng ta cách dạy người khác, bởi vì ở đây có quá nhiều điều chúng ta có thể gợi ý cho những người có thể chưa quen thuộc với nó, và nó sẽ giúp họ, cũng như những gợi ý rất thực tiễn của Ngài đang giúp chúng ta. |
|
[13] Everything depends upon the pupil’s ability to grasp the inner meaning of all events. |
[13] Mọi sự tùy thuộc vào khả năng của môn sinh trong việc nắm bắt ý nghĩa bên trong của mọi biến cố. |
|
What is that when you think about grasping the inner meaning? I would call it spiritual discernment, found on the third sub-level of the mental plane as a power. |
Điều đó là gì khi các bạn nghĩ về việc nắm bắt ý nghĩa bên trong? Tôi sẽ gọi đó là phân biện tinh thần, được tìm thấy trên cõi phụ thứ ba của cõi trí như một quyền năng. |
|
[14] His entire progress upon the Path rests upon his attitude in making the teaching his own. |
[14] Toàn bộ bước tiến của y trên Đường Đạo tùy thuộc vào thái độ của y khi biến giáo huấn thành của chính mình. |
|
The inner monitor must reveal at the appropriate moment that which the teaching has implanted within us, and then we believe it, experiment, apply, and confirm it. Increasingly it becomes our own. |
Vị hướng dẫn bên trong phải mặc khải vào thời điểm thích hợp điều mà giáo huấn đã gieo vào trong chúng ta, rồi chúng ta tin, thử nghiệm, áp dụng và xác nhận nó. Càng ngày nó càng trở thành của chính chúng ta. |
|
[15] It is only as we transmute the lessons on the inner planes into practical knowledge that they become part of our own experience and are no longer theoretical. |
[15] Chỉ khi chúng ta chuyển hoá các bài học trên các cõi bên trong thành tri thức thực tiễn, chúng mới trở thành một phần kinh nghiệm của chính chúng ta và không còn là lý thuyết nữa. |
|
Theory is the beginning of much of this, and perhaps people are willing to accept theoretically much that they cannot verify and accept as practically demonstrated as true, but it’s a start. |
Lý thuyết là khởi đầu của phần lớn những điều này, và có lẽ người ta sẵn lòng chấp nhận về mặt lý thuyết nhiều điều mà họ chưa thể kiểm chứng và chấp nhận như chân lý đã được chứng minh thực tiễn, nhưng đó là một khởi đầu. |
|
[16] Expansion of consciousness should be an ever increasing practical experience. |
[16] Sự mở rộng tâm thức phải là một kinh nghiệm thực tiễn ngày càng tăng trưởng. |
|
I hear the words, and I’m aware that I have studied—probably you have studied—so many things that cannot yet be put into practice because they really do lie beyond. But they have analogies and lower analogies, and these analogies can be properly applied. Analogical processes reflect what we cannot put into practice. These analogical lower reflections can be put into practice. |
Tôi nghe những lời này, và tôi ý thức rằng tôi đã học—có lẽ các bạn cũng đã học—rất nhiều điều chưa thể đưa vào thực hành, bởi vì chúng thật sự nằm ở phía bên kia. Nhưng chúng có những tương đồng và những tương đồng thấp hơn, và các tương đồng này có thể được áp dụng đúng đắn. Các tiến trình tương đồng phản chiếu điều chúng ta chưa thể đưa vào thực hành. Những phản chiếu thấp hơn theo tương đồng này có thể được đưa vào thực hành. |
|
[17] Theories are of no value until we have changed them into fact. |
[17] Các lý thuyết không có giá trị cho đến khi chúng ta biến chúng thành sự kiện. |
|
Perhaps there’s some kind of mental construct of value, so we have a truer idea of how things are. Very few scientists can put the theory of relativity into practice right now, but some can. We probably can’t, but we can at least try to understand it. |
Có lẽ có một dạng cấu trúc trí tuệ nào đó có giá trị, để chúng ta có một ý tưởng chân thật hơn về cách sự vật hiện hữu. Rất ít nhà khoa học có thể đưa thuyết tương đối vào thực hành ngay lúc này, nhưng một số có thể. Có lẽ chúng ta không thể, nhưng ít nhất chúng ta có thể cố gắng thấu hiểu nó. |
|
Theories are of no value until we have changed them into fact. It’s such a clear statement that we have to go beyond our theoretical approach. We must. As we progress in occultism, so much that seemed strange but possible will become familiar and actual. |
Các lý thuyết không có giá trị cho đến khi chúng ta đã biến chúng thành sự kiện. Đó là một phát biểu rất rõ ràng rằng chúng ta phải vượt ra ngoài cách tiếp cận lý thuyết. Chúng ta phải làm như vậy. Khi chúng ta tiến bộ trong huyền bí học, rất nhiều điều từng có vẻ xa lạ nhưng có thể xảy ra sẽ trở nên quen thuộc và thực hữu. |
|
[18] Hence the value of meditating on an ideal. |
[18] Do đó có giá trị của việc tham thiền về một lý tưởng. |
|
Such as the Master in the heart, or our own ideal image in the heart. |
Chẳng hạn như Chân sư trong tim, hoặc hình ảnh lý tưởng của chính chúng ta trong tim. |
|
[19] In the meditation our thoughts vibrate temporarily to the measure of the conception, and in time that vibration becomes permanent. |
[19] Trong tham thiền, các tư tưởng của chúng ta tạm thời rung động theo nhịp độ của quan niệm ấy, và theo thời gian, rung động đó trở nên thường hằng. |
|
Meditate on the ideal to stabilize the true conception as a permanent vibration and a permanent ability. We’re growing constantly. We’re filling out the causal body. We’re just beginning to be aware of it and that we can consciously fill it with virtue and strength. We’re learning how to do this, not in a haphazard way, but in a progressive manner. |
Hãy tham thiền về lý tưởng để ổn định quan niệm chân thật như một rung động thường xuyên và một năng lực thường xuyên. Chúng ta đang không ngừng trưởng thành. Chúng ta đang làm đầy thể nguyên nhân. Chúng ta chỉ mới bắt đầu ý thức về nó và về việc chúng ta có thể hữu thức làm đầy nó bằng đức hạnh và sức mạnh. Chúng ta đang học cách làm điều này, không theo cách ngẫu nhiên, mà theo một cách tiến bộ. |
|
[20] Those who, with open eyes, enter on occult training need indeed to count the cost. |
[20] Những ai, với đôi mắt mở, bước vào sự huấn luyện huyền bí thật sự cần cân nhắc cái giá phải trả. |
|
This is fine advice from some elderly uncle who has been through it all and is trying to help us do the same. He is wiser and happier but wiser. During some of the process, we may feel we are sadder but wiser because we’ve had to relinquish certain attachments which previously apparently gave us happiness. |
Đây là lời khuyên tốt đẹp từ một người chú cao tuổi đã trải qua tất cả và đang cố gắng giúp chúng ta làm điều tương tự. Ngài minh triết hơn và hạnh phúc hơn, nhưng minh triết hơn. Trong một phần của tiến trình, chúng ta có thể cảm thấy mình buồn hơn nhưng minh triết hơn, bởi vì chúng ta đã phải từ bỏ một số ràng buộc trước kia dường như đem lại hạnh phúc cho chúng ta. |
|
[21] The reward at the end is great, but the path is rough and the true occultist walks it alone. |
[21] Phần thưởng ở cuối đường là lớn lao, nhưng con đường thì gập ghềnh và nhà huyền bí học chân chính bước đi trên đó một mình. |
|
So many of these phrases that have been ringing in my ears for these almost 50 years that I’ve been studying this material are shown here. I’m seeing where they come from. We sort of remember the statement, but we may really forget the source. The reward at the end is great, but the path is rough. We call it the thorny path of occultism. It’s like the sting of the scorpion. I once got stung by what I think was a very little scorpion in Australia. It just grazed me, but it was a shock of pain. From thorns, we get the shock of pain, and on the thorny path of occultism, we get the shock of pain. |
Rất nhiều cụm từ trong số này đã vang lên trong tai tôi suốt gần 50 năm tôi học tài liệu này, và chúng được trình bày ở đây. Tôi đang thấy chúng xuất phát từ đâu. Chúng ta phần nào nhớ phát biểu ấy, nhưng có thể thật sự quên nguồn. Phần thưởng ở cuối đường thì lớn lao, nhưng con đường thì gồ ghề. Chúng ta gọi đó là con đường đầy gai của huyền bí học. Nó giống như nọc chích của bọ cạp. Một lần ở Úc tôi bị thứ mà tôi nghĩ là một con bọ cạp rất nhỏ chích. Nó chỉ sượt qua tôi, nhưng đó là một cú sốc đau đớn. Từ gai, chúng ta nhận cú sốc đau đớn, và trên con đường đầy gai của huyền bí học, chúng ta nhận cú sốc đau đớn. |
|
The reward at the end is great, but the path is rough and the true occultist walks it alone, or in the all one, we might say, including all ontologically in terms of Being, but somehow because of that extension of the monad into privation, walks it alone. The monad extends itself into relative privation, and thus the true occultist, as that extension, walks the path. |
Phần thưởng ở cuối đường thì lớn lao, nhưng con đường thì gồ ghề và nhà huyền bí học chân chính bước đi trên đó một mình, hoặc trong cái một bao gồm tất cả, chúng ta có thể nói như vậy, bao gồm tất cả về mặt bản thể theo nghĩa Bản Thể, nhưng bằng cách nào đó, do sự mở rộng của chân thần vào tình trạng thiếu thốn tương đối, y bước đi một mình. Chân thần tự mở rộng vào tình trạng thiếu thốn tương đối, và vì vậy nhà huyền bí học chân chính, với tư cách sự mở rộng ấy, bước đi trên con đường. |
|
[22] The capacity to stand alone, to assume responsibility, and then to carry all through single-handed, and to brave evil for the sake of the good achieved is the mark of a White Brother. |
[22] Khả năng đứng một mình, đảm nhận trách nhiệm, [Page 349] rồi tự mình đưa mọi việc đến cùng, và can đảm đối mặt với tà ác vì điều thiện đã đạt được, là dấu hiệu của một Huynh đệ Chánh đạo. |
|
I’d like to send that to a number of people that I know and to myself because it’s so powerful. |
Tôi muốn gửi câu ấy cho một số người tôi biết và cho chính tôi, bởi vì nó mạnh mẽ đến vậy. |
|
The capacity to stand alone, apparently alone—of course, because there are many watchers, and really we’re one being. We can’t be alone. We can only be all one. But this is the nature of the great illusion and our particular perception at this time within the Maha Maya, which is the great illusion. |
Khả năng đứng một mình, dường như một mình—dĩ nhiên, bởi vì có nhiều vị quan sát, và thật ra chúng ta là một hữu thể. Chúng ta không thể cô đơn. Chúng ta chỉ có thể là tất cả trong một. Nhưng đây là bản chất của đại ảo tưởng và tri giác đặc thù của chúng ta vào lúc này bên trong đại ảo lực, vốn là đại ảo tưởng. |
|
Think about braving evil. What makes a brave? In the Native American sense, a brave is a willingness to confront the opposition, which may be even lethal, but not running away, not shrinking back, not recoiling. The willingness to face the opposition—Mars is the planet which so often gives this willingness to go forth and willingly face the perhaps deadly opposition, having full faith in the immortality of the inner God. Many of those warriors of the past in Greek times knew that if they died, they would be shortly in the realm of Hades. Hades was not hell. It was simply the shadow world, the astral plane, and so forth. They knew their life would continue. |
Hãy nghĩ về việc can đảm đối mặt với tà ác. Điều gì làm nên một người dũng cảm? Theo nghĩa của thổ dân châu Mỹ, người dũng cảm là sự sẵn lòng đối mặt với đối lập, có thể thậm chí gây chết người, nhưng không bỏ chạy, không lùi bước, không co rúm lại. Sự sẵn lòng đối diện với đối lập—Sao Hỏa là hành tinh rất thường đem lại sự sẵn lòng này để tiến tới và tự nguyện đối diện với đối lập có lẽ chết người, với niềm tin trọn vẹn vào sự bất tử của Thượng đế bên trong. Nhiều chiến sĩ thời xưa, vào thời Hy Lạp cổ, biết rằng nếu họ chết, chẳng bao lâu họ sẽ ở trong cõi bóng tối. Cõi bóng tối không phải là địa ngục. Nó chỉ là thế giới bóng, cõi cảm dục, và những điều tương tự. Họ biết sự sống của họ sẽ tiếp tục. |
|
As Master DK says, there is no death. There is no death. There is no death. |
Như Chân sư DK nói, không có sự chết. Không có sự chết. Không có sự chết. |
|
[23] Be prepared then for loneliness, for dangers of a dim and obscure character, and expect to see your life spent for no reward that touches the personality. |
[23] Vậy hãy chuẩn bị cho sự cô độc, cho những hiểm nguy có tính chất mờ tối và khó nhận rõ, và hãy chờ đợi thấy đời mình được tiêu hao mà không có phần thưởng nào chạm đến phàm ngã. |
|
It’s just one good statement, good sentence after another—memorable. I’ve memorized or remembered these. They’ve been with me lo these many decades. Perhaps some of us become familiar with these occult attacks. |
Đây lại là một phát biểu hay, một câu hay nối tiếp câu hay—đáng nhớ. Tôi đã thuộc lòng hoặc ghi nhớ những câu này. Chúng đã ở cùng tôi suốt bao nhiêu thập niên qua. Có lẽ một số chúng ta trở nên quen thuộc với những cuộc tấn công huyền bí này. |
|
Expect to see your life spent for no reward that touches the personality, but if it touches the soul, that’s what we want. |
Hãy trông đợi thấy đời mình được tiêu dùng mà không có phần thưởng nào chạm đến phàm ngã, nhưng nếu nó chạm đến linh hồn, đó là điều chúng ta muốn. |
|
[24] It is only as the consciousness expands, and one finds one’s true position in the cosmic whole that the reward becomes apparent; but cease from fear, and know that the personality is only temporary, and what matter if it suffer? |
[24] Chỉ khi tâm thức mở rộng, và con người tìm thấy vị trí đích thực của mình trong toàn thể vũ trụ, thì phần thưởng mới trở nên hiển nhiên; nhưng hãy dứt bỏ sợ hãi, và biết rằng phàm ngã chỉ là tạm thời, vậy có hề gì nếu nó chịu khổ? |
|
In this particular book, I want to underline everything. I had a friend who read through an entire book—maybe it was Letters on Occult Meditation, he underlined everything, absolutely everything. I think he had a very strong sixth ray. |
Trong quyển sách đặc biệt này, tôi muốn gạch dưới mọi thứ. Tôi có một người bạn đã đọc trọn một quyển sách—có lẽ là Thư về Tham Thiền Huyền Bí, ông gạch dưới mọi thứ, tuyệt đối mọi thứ. Tôi nghĩ ông có cung sáu rất mạnh. |
|
It is only as the consciousness expands and one finds one’s true position in the cosmic whole and sees that there has been actually an elevation of position spiritually compared to where one was positioned before, that the reward becomes apparent. The whole point of this section is to cease from fear and know that the personality is only temporary. There’s something behind it that’s real and lasting, and the personality will always de-aggregate. The mask will always fall to pieces. It cannot be preserved. |
Chỉ khi tâm thức mở rộng và người ta tìm thấy vị trí chân thật của mình trong toàn thể vũ trụ, và thấy rằng thật ra đã có một sự nâng cao vị trí về mặt tinh thần so với nơi người ta đã đứng trước đó, phần thưởng mới trở nên hiển nhiên. Toàn bộ điểm chính của đoạn này là chấm dứt sợ hãi và biết rằng phàm ngã chỉ là tạm thời. Có một điều gì phía sau nó là chân thật và bền vững, còn phàm ngã bao giờ cũng sẽ tan rã. Chiếc mặt nạ bao giờ cũng sẽ vỡ vụn. Nó không thể được bảo tồn. |
|
That which becomes cannot be preserved. Only that which is. Even the archetypes themselves are not preserved except in the realm of absolute infinitude, which is post and pre-universal altogether. So what matter if it suffer? We have to get used to that idea because, even if we don’t think so, we’re quite identified more so than we think with the personality. |
Điều đang trở thành không thể được bảo tồn. Chỉ điều đang là mới có thể. Ngay cả chính các nguyên mẫu cũng không được bảo tồn, ngoại trừ trong cõi vô biên tuyệt đối, vốn hoàn toàn ở sau và trước vũ trụ. Vậy nó có chịu khổ thì có hề gì? Chúng ta phải quen với ý tưởng đó, bởi vì dù chúng ta không nghĩ vậy, chúng ta vẫn đồng hoá với phàm ngã nhiều hơn mình tưởng. |
|
[25] Some good gained for the universal Brotherhood, some law explained and demonstrated in the life of every day, |
[25] Một điều thiện nào đó đạt được cho Tình Huynh Đệ Đại Đồng, một định luật nào đó được giải thích và chứng minh trong đời sống hằng ngày, |
|
As in the case of the Christ—the Law of Love, not considering it the sixth systemic law, but something more, a cosmic law, the Law of Attraction. |
Như trong trường hợp của Đức Christ—Định luật Bác Ái, không xét nó như định luật hệ thống thứ sáu, mà như một điều gì lớn hơn, một định luật vũ trụ, Định luật Hấp Dẫn. |
|
Some good gained for the Universal Brotherhood, some Law explained and demonstrated in the life of every day |
Một điều thiện nào đó giành được cho Đại Huynh Đệ Phổ Quát, một Định luật nào đó được giải thích và chứng minh trong đời sống hằng ngày |
|
[26] may make the Master say eventually (yes, eventually, after all is over) well done! |
[26] cuối cùng có thể khiến Chân sư nói rằng — vâng, cuối cùng, sau khi mọi sự đã qua — làm tốt lắm! |
|
They just don’t want to speak prematurely because so much more is lost through premature compliments than through some chastening, which may seem unpleasant at the moment, but guards the quality of what is being attempted. |
Các Ngài không muốn nói quá sớm, bởi vì có quá nhiều điều bị mất do những lời khen quá sớm, hơn là do một sự rèn nghiêm có thể có vẻ khó chịu lúc đó, nhưng bảo vệ phẩm tính của điều đang được cố gắng thực hiện. |
|
Take poor Milarepa as an example. He had the teacher Marpa, who basically said that every time Milarepa built a structure he was instructed to build, Marpa said, “No, not here, there.” Then later, “No, not there, somewhere else. And somewhere else and somewhere else,” until Milarepa’s lower personality sense was defeated. Milarepa emerged from that life as at least an Initiate of the Fourth Degree, and maybe he made astonishing progress and even achieved some kind of a Mastership. But giving chastening is better than giving compliments, which force or encourage the reduction of the necessary point of tension. |
Hãy lấy Mi-la-rê-pa đáng thương làm ví dụ. Ông có vị huấn sư Mác-pa, người về cơ bản nói rằng mỗi lần Mi-la-rê-pa xây một công trình mà ông được chỉ thị xây, Mác-pa nói: “Không, không phải ở đây, ở kia.” Rồi sau đó: “Không, không phải ở đó, ở chỗ khác. Và chỗ khác nữa, rồi chỗ khác nữa,” cho đến khi cảm thức phàm ngã thấp của Mi-la-rê-pa bị đánh bại. Mi-la-rê-pa ra khỏi đời ấy ít nhất như một điểm đạo đồ bậc bốn, và có lẽ ông đã tiến bộ đáng kinh ngạc, thậm chí đạt đến một dạng Chân sư vị nào đó. Nhưng trao sự rèn nghiêm thì tốt hơn trao lời khen, vốn ép buộc hoặc khuyến khích sự giảm thấp điểm tập trung nhất tâm cần thiết. |
|
Compliments offer such relief. But then your point of tension just dissipates, and your ability to accomplish dissipates along with the point of tension. This is where Master DK really shows his kind of aspiration and will that got him where he is. |
Lời khen đem lại sự nhẹ nhõm lớn. Nhưng rồi điểm tập trung nhất tâm của các bạn tiêu tan, và khả năng hoàn thành của các bạn cũng tiêu tan cùng với điểm tập trung nhất tâm. Đây là nơi Chân sư DK thật sự cho thấy loại khát vọng và ý chí đã đưa Ngài đến vị trí hiện nay. |
|
[27] Let your eyes therefore look straight on. Turn not to the right hand nor to the left. The path leads upward and on to greater rapidity of vibration and to greater sensitiveness. Seek the point of balance in your work and keep that balance, for the years hold much work, much pressure and much suffering. |
[27] Vì vậy, hãy để mắt bạn nhìn thẳng về phía trước. Đừng quay sang bên phải hay bên trái. Con đường dẫn lên cao và tiến tới mức rung động nhanh hơn, cùng sự nhạy cảm lớn hơn. Hãy tìm điểm quân bình trong công việc của bạn và giữ vững quân bình ấy, vì những năm tháng chứa đựng nhiều công việc, nhiều áp lực và nhiều đau khổ. |
|
I’m so grateful for the kind of strong advice that’s being offered here in words that you cannot really resist. You cannot brush them aside. They go right into you, into your mind, into your heart. And at some point when the going really gets rough, such words as this will come to us. |
Tôi rất biết ơn loại lời khuyên mạnh mẽ đang được trao ở đây bằng những lời mà các bạn thật sự không thể cưỡng lại. Các bạn không thể gạt chúng sang một bên. Chúng đi thẳng vào các bạn, vào trí tuệ các bạn, vào trái tim các bạn. Và đến một lúc nào đó khi đường đi thật sự trở nên gồ ghề, những lời như thế này sẽ đến với chúng ta. |
|
Let your eyes therefore look straight on, turn not to the right hand, nor to the left. The path leads upward. We’re told it winds upward all the way. It’s a poem. |
Vì vậy, hãy để mắt các bạn nhìn thẳng về phía trước, đừng quay sang bên phải hay bên trái. Con đường dẫn lên cao. Chúng ta được bảo rằng nó uốn lượn lên cao suốt đường. Đó là một bài thơ. |
|
The path leads upward and on to greater rapidity of vibration and to greater sensitiveness. Hard to bear though. |
Con đường dẫn lên cao và tiến tới tốc độ rung động lớn hơn cùng sự nhạy cảm lớn hơn. Dù thật khó chịu đựng. |
|
Seek the point of balance in your work so that the work may be preserved and not fall apart and keep that balance. We’re being told to tread the noble middle path. |
Hãy tìm điểm quân bình trong công việc của các bạn để công việc có thể được giữ vững và không tan rã, và hãy giữ sự quân bình ấy. Chúng ta đang được bảo bước đi trên con đường trung đạo cao quý. |
|
For the years hold much work, much pressure, which Master Morya says this pressure is the way to go. It’s the law of existence and much suffering. Are we willing to bear it? I suppose when we find out what we really are and see ahead to what is coming, we are willing. I love these exhortations—they appeal to my six-ray. |
Vì những năm tháng chứa đựng nhiều công việc, nhiều áp lực, mà Chân sư Morya nói rằng áp lực này là con đường phải đi. Đó là định luật của sự tồn tại và nhiều đau khổ. Chúng ta có sẵn lòng chịu đựng không? Tôi cho rằng khi chúng ta khám phá ra mình thật sự là gì và nhìn thấy phía trước điều đang đến, chúng ta sẵn lòng. Tôi yêu những lời khích lệ này—chúng hấp dẫn cung sáu của tôi. |
|
We do know that Master DK had plenty of that, as some of the older Masters jested. |
Chúng ta biết rằng Chân sư DK có rất nhiều điều đó, như một số Chân sư lớn tuổi đã nói đùa. |
|
[28] Are you strong enough to see the world’s woe, to see disaster and yet keep joyful? |
[28] Bạn có đủ mạnh mẽ để nhìn thấy nỗi thống khổ của thế gian, nhìn thấy thảm họa mà vẫn giữ được sự hoan hỉ không? |
|
That’s a special strength—to preserve joy in the face of disaster and suffering. It’s a special ability. And he’s asking, can we do it? Can we really do it? |
Đó là một sức mạnh đặc biệt—giữ gìn sự hoan hỉ trước tai họa và đau khổ. Đó là một năng lực đặc biệt. Và Ngài đang hỏi, chúng ta có làm được không? Chúng ta thật sự có thể làm được không? |
|
[29] Can you be a partner in the work of furthering the evolution of the race and see the necessity for trouble and for discipline and yet not move to stem the tide of sorrow? |
[29] Bạn có thể là cộng sự trong công việc thúc đẩy sự tiến hoá của nhân loại, thấy được sự cần thiết của khổ đau và kỷ luật, mà vẫn không ra tay ngăn dòng triều sầu khổ không? |
|
Let me repeat this because I was called away for a minute. This is an exhortation. Master DK is aware that in teaching, exhortations are really necessary because our aspirational level has to be lifted. We’re not yet at the stage where we are pure Will. We hardly know what Will is. |
Tôi xin lặp lại điều này vì tôi vừa bị gọi đi trong một phút. Đây là một lời khích lệ. Chân sư DK ý thức rằng trong việc dạy dỗ, những lời khích lệ thật sự cần thiết, bởi vì mức độ khát vọng của chúng ta phải được nâng lên. Chúng ta chưa ở giai đoạn là Ý Chí thuần túy. Chúng ta hầu như chưa biết Ý Chí là gì. |
|
We can accomplish much through an elevated aspiration. So he challenges us to have something powerful arise within us to do the job. |
Chúng ta có thể hoàn thành nhiều điều nhờ một khát vọng được nâng cao. Vì vậy Ngài thách thức chúng ta để một điều gì mạnh mẽ trỗi dậy trong chúng ta nhằm thực hiện công việc. |
|
Are you strong enough to see the world’s woe, to see disaster and yet keep joyful? Because joy cometh in the morning and joy will be for everybody. And it will all look like a dream. Is life a dream? There’s an old song about that, and I never could understand it, but increasingly studying Occultism, I do understand it now. It’s the inner worlds that are not the dream. “To die, perchance to dream—aye, there’s the rub.” That’s from Hamlet, but this is the dream. |
Các bạn có đủ mạnh mẽ để thấy nỗi đau của thế gian, thấy tai họa mà vẫn giữ được sự hoan hỉ không? Bởi vì sự hoan hỉ đến vào buổi sáng và sự hoan hỉ sẽ dành cho mọi người. Và tất cả sẽ trông như một giấc mộng. Đời sống có phải là một giấc mộng không? Có một bài hát xưa về điều đó, và tôi chưa bao giờ hiểu được, nhưng khi ngày càng học huyền bí học, giờ đây tôi hiểu. Chính các thế giới bên trong mới không phải là giấc mộng. “Chết, có lẽ là mơ—đó là điều vướng mắc.” Câu ấy từ vở bi kịch về vị hoàng tử Đan Mạch, nhưng đây mới là giấc mộng. |
|
Can you be a partner in the work of furthering the evolution of the race and see the necessity for trouble and for discipline and yet not move to stem the tide of sorrow? That’s a hard one because naturally one wants to move to stem the tide of sorrow, and yet Master Morya says obstacles are possibilities. So we have to be very judicious and see what the outcome of the discipline may be. |
Các bạn có thể là cộng sự trong công việc thúc đẩy sự tiến hoá của nhân loại, và thấy sự cần thiết của khó khăn và kỷ luật mà vẫn không hành động để chặn đứng dòng triều sầu khổ không? Điều đó khó, bởi vì tự nhiên người ta muốn hành động để chặn đứng dòng triều sầu khổ, vậy mà Chân sư Morya nói rằng chướng ngại là những khả năng. Vì vậy chúng ta phải rất sáng suốt và thấy kết quả của kỷ luật có thể là gì. |
|
“To give all,” He says, “is to put on chains. And if we give all, we will produce weaklings,” He says, “and not the kinds of strong workers that the Hierarchy needs.” |
“Cho tất cả,” Ngài nói, “là khoác xiềng xích. Và nếu chúng ta cho tất cả, chúng ta sẽ tạo ra những kẻ yếu đuối,” Ngài nói, “chứ không phải loại người hoạt động mạnh mẽ mà Thánh Đoàn cần.” |
|
[30] Picked and tried souls are being trained all over the world at the present time. |
[30] Hiện nay, khắp thế giới, những linh hồn được tuyển chọn và thử luyện đang được huấn luyện. |
|
There is a process of selection by the Masters of who they will train. |
Có một tiến trình chọn lựa của các Chân sư về những ai Các Ngài sẽ huấn luyện. |
|
[31] The Masters |
[31] Các Chân sư |
|
in the late twenties and early thirties |
vào cuối thập niên hai mươi và đầu thập niên ba mươi |
|
[32] are overwhelmed with the work and Their time is over-occupied. |
[32] đang ngập trong công việc và thời giờ của Các Ngài bị chiếm dụng quá mức. |
|
Maybe we forget that. We think we’re so busy and so hard-pressed, but it’s the old camel and donkey—they can carry the load of the camel and put it on us and we give way immediately. |
Có lẽ chúng ta quên điều đó. Chúng ta nghĩ mình quá bận rộn và quá bị thúc ép, nhưng đó là câu chuyện con lạc đà và con lừa ngày xưa—người ta có thể lấy gánh nặng của lạc đà đặt lên chúng ta và chúng ta lập tức gục xuống. |
|
The Masters are overwhelmed with the work and their time is over-occupied. |
Các Chân sư bị tràn ngập bởi công việc và thời gian của Các Ngài bị chiếm dụng quá mức. |
|
[33] They give what They can but on the individual aspirant depends the use made of that which is given. |
[33] Các Ngài ban cho những gì Các Ngài có thể, nhưng việc sử dụng những gì được ban tùy thuộc vào từng người chí nguyện. |
|
This is the old “horse to water” adage. They tried to make the horse drink and drowned the horse. We are the horse in this case, and we’ve been led to the waters of life. We’ve been led to the great spiritual teaching. This is a wonderful section. |
Đây là câu ngạn ngữ cũ về việc đưa ngựa đến nước. Họ cố làm cho con ngựa uống và làm con ngựa chết đuối. Chúng ta là con ngựa trong trường hợp này, và chúng ta đã được dẫn đến các dòng nước sự sống. Chúng ta đã được dẫn đến giáo huấn tinh thần vĩ đại. Đây là một đoạn tuyệt vời. |
|
[34] Those of us who watch and guide on the inner side of life realize more than perhaps you who bear the burden and heat of physical plane existence know. |
[34] Chúng tôi, những người quan sát và hướng dẫn ở mặt bên trong của đời sống, nhận biết nhiều hơn điều mà có lẽ các bạn, những người đang gánh chịu sức nặng và sức nóng của sự hiện hữu nơi cõi hồng trần, có thể biết. |
|
We realize more than perhaps you know. |
Chúng Tôi nhận ra nhiều hơn điều có lẽ các bạn biết. |
|
[35] We know your physical disabilities and some day may be able to help definitely in the building up of strong bodies for world service. |
[35] Chúng tôi biết những khiếm khuyết thể xác của các bạn, và một ngày nào đó có thể giúp đỡ một cách rõ rệt trong việc xây dựng những thể xác mạnh mẽ để phụng sự thế gian. |
|
He told us in the seventh-ray Age this will happen because it will be such a connection with the etheric body and its strengthening via that ray. |
Ngài đã nói với chúng ta rằng trong Kỷ Nguyên cung bảy điều này sẽ xảy ra, bởi vì sẽ có một mối liên hệ như vậy với thể dĩ thái và sự củng cố nó thông qua cung ấy. |
|
[36] Now—such is the astral miasma—it is well nigh impossible for you, our struggling brethren, to have good health; |
[36] Hiện nay—chướng khí cảm dục là như thế—gần như không thể nào để các bạn, những huynh đệ đang phấn đấu của chúng tôi, [Page 350] có được sức khỏe tốt; |
|
That’s a direct statement. We may wonder—all around us are the corruptors of health. I think things have improved quite a bit. If we shift our perspective a little, things will look better. |
Đó là một phát biểu trực tiếp. Chúng ta có thể tự hỏi—xung quanh chúng ta toàn là những tác nhân làm hư hoại sức khỏe. Tôi nghĩ mọi thứ đã cải thiện khá nhiều. Nếu chúng ta chuyển góc nhìn của mình một chút, mọi thứ sẽ trông tốt hơn. |
|
[37] the karma of the world prohibits it. |
[37] nghiệp quả của thế giới ngăn cấm điều đó. |
|
In the early thirties, the storm was gathering. |
Vào đầu thập niên ba mươi, cơn bão đang tụ lại. |
|
It is well nigh impossible for you, our struggling brethren, to have good health. Master DK talks about good health as something far more vibrant than what we ordinarily call good health. |
Gần như không thể nào để các bạn, những huynh đệ đang phấn đấu của chúng Tôi, có sức khỏe tốt. Chân sư DK nói về sức khỏe tốt như một điều sống động hơn rất nhiều so với điều chúng ta thường gọi là sức khỏe tốt. |
|
[38] The astral corruption and the foul cesspools of the lower levels of the mental plane infect all, and lucky is he who escapes. |
[38] Sự băng hoại cảm dục và những hố nước thải hôi thối ở các cấp độ thấp của cõi trí lây nhiễm tất cả, và may mắn thay cho y nào thoát khỏi. |
|
They can see these things and we don’t even suspect them. |
Các Ngài có thể thấy những điều này còn chúng ta thậm chí không nghi ngờ. |
|
[39] We watch with tenderness all of you, who, with weak and sensitive bodies, struggle, work, fight, fail, continue and serve. |
[39] Chúng tôi âu yếm dõi theo tất cả các bạn, những người, với các thể yếu ớt và nhạy cảm, vẫn phấn đấu, làm việc, chiến đấu, thất bại, tiếp tục và phụng sự. |
|
If you hear some pounding in the background it’s just the ongoing work around here—rain pouring through the roof, have to fix the roof. |
Nếu các bạn nghe tiếng đập ở phía sau thì đó chỉ là công việc đang tiếp diễn quanh đây—mưa đổ qua mái nhà, phải sửa mái nhà. |
|
We watch with tenderness all of you who with weak and sensitive bodies struggle, work, fight, fail, continue, and serve. |
Chúng Tôi quan sát với sự dịu dàng tất cả các bạn, những người, với những thể xác yếu và nhạy cảm, đang phấn đấu, làm việc, chiến đấu, thất bại, tiếp tục và phụng sự. |
|
[40] Not one hour of service, given in pain and tension, not one day’s labor followed with racked nerves, with head tired and with heart sick, is allowed to pass unnoticed. |
[40] Không một giờ phụng sự nào, được hiến dâng trong đau đớn và căng thẳng, không một ngày lao động nào đi kèm với thần kinh rã rời, đầu mỏi mệt và lòng đau đớn, mà chúng tôi để trôi qua không ghi nhận. |
|
It’s really beautiful—their solicitude for the likes of us. Master DK doesn’t lie. It’s how it is. That’s how he sees it and that’s what they do. |
Điều đó thật đẹp—sự ân cần của Các Ngài đối với những người như chúng ta. Chân sư DK không nói dối. Sự việc là như vậy. Đó là cách Ngài thấy và đó là điều Các Ngài làm. |
|
[41] We know and we care, yet, we may do naught that you, struggling in the field of the world, can do of that which is needed. The world’s karma engulfs each of you at this epoch. If you could but realize it, the time is short, and rest, joy and peace are on their way. |
[41] Chúng tôi biết và chúng tôi quan tâm, tuy nhiên, chúng tôi không thể làm điều gì trong những việc cần thiết mà chính các bạn, đang phấn đấu trong cánh đồng thế gian, mới có thể làm. Nghiệp quả của thế giới đang cuốn lấy mỗi người trong các bạn vào thời kỳ này. Giá như các bạn có thể nhận ra điều đó, thời gian thật ngắn ngủi, và sự nghỉ ngơi, sự hoan hỉ cùng bình an đang trên đường đến. |
|
I’ve often thought about how in former days and even today when someone dies they say, “rest in peace,” eternal rest. I think that would be horrible. But the law of periodicity has to be obeyed and there will be periods of expression and periods of pralaya, manvantara, the universal manvantara, and then pralaya and onward forever in that way as it has forever been. Relatively, these are extremely unnatural and pressured times for those who are willing to take upon themselves even something of the burden. |
Tôi thường nghĩ về việc trong những ngày xưa, và ngay cả ngày nay, khi ai đó chết, người ta nói: “hãy yên nghỉ trong bình an,” sự yên nghỉ vĩnh cửu. Tôi nghĩ điều đó sẽ khủng khiếp. Nhưng định luật chu kỳ phải được tuân theo, và sẽ có những thời kỳ biểu hiện và những thời kỳ qui nguyên, giai kỳ sinh hóa, giai kỳ sinh hóa vũ trụ, rồi giai kỳ qui nguyên, và cứ tiếp diễn mãi như thế, như đã luôn luôn là vậy. Tương đối mà nói, đây là những thời kỳ cực kỳ không tự nhiên và đầy áp lực đối với những ai sẵn lòng nhận lấy thậm chí một phần nào gánh nặng. |
|
[42] The half-gained victory, the days lived through with a certain measure of success, yet with an unachieved ideal, the minutes of exhaustion of soul and body when the emptiness of everything, even of service itself, seems the only noticeable thing, the weeks and months of endeavor and of struggle against apparently insuperable odds, against the stupendous power of the forces of evolution, against the roaring tide of the world’s ignorance, —all are known. Take comfort in the assurance that love rules all; take courage from the realization that the Hierarchy stands. |
[42] Chiến thắng mới đạt được một nửa, những ngày đã sống qua với một mức độ thành công nào đó nhưng lý tưởng vẫn chưa thành tựu, những phút giây kiệt quệ của linh hồn và thể xác khi sự trống rỗng của mọi sự, ngay cả của chính sự phụng sự, dường như là điều duy nhất có thể nhận thấy, những tuần và tháng nỗ lực và chiến đấu chống lại những trở lực dường như không thể vượt qua, chống lại quyền năng phi thường của các mãnh lực tiến hóa, chống lại thủy triều gầm thét của vô minh thế gian — tất cả đều đã được biết rõ. Hãy tìm niềm an ủi trong sự xác tín rằng tình thương cai quản tất cả; hãy lấy can đảm từ nhận biết rằng Thánh Đoàn vẫn đứng vững. |
|
Tears come to my eyes when I read that because it’s just wonderful. And of course, these are the odds against us. I don’t know—maybe things were harder in those days as the great war was ramping up on the internal planes. Master Morya was talking about the epidemic of obsession. He was writing as if the Black Lodge was really active, in a way that only the occultists could see. |
Nước mắt tôi trào ra khi đọc điều đó, bởi vì nó thật tuyệt vời. Và dĩ nhiên, đây là những bất lợi chống lại chúng ta. Tôi không biết—có lẽ mọi việc khó khăn hơn trong những ngày ấy khi cuộc đại chiến đang gia tăng trên các cõi bên trong. Chân sư Morya đã nói về dịch bệnh ám ảnh. Ngài viết như thể Hắc đoàn thật sự đang hoạt động, theo một cách mà chỉ các nhà huyền bí học mới có thể thấy. |
|
This is also found elsewhere in the books—transported into other books—the roaring tide of the world’s ignorance. That’s a phrase which has really stuck with me. And yet even the stupendous forces of evolution going towards a destination which we cannot fathom and being irresistible can cause great distress. |
Điều này cũng được tìm thấy ở những nơi khác trong các sách—được chuyển vào các sách khác—dòng triều gầm thét của vô minh thế gian. Đó là một cụm từ thật sự ở lại với tôi. Vậy mà ngay cả các mãnh lực tiến hoá phi thường đang đi đến một đích đến mà chúng ta không thể dò thấu, và vốn không thể cưỡng lại, cũng có thể gây ra đau khổ lớn. |
|
We move on towards a great destiny, but meanwhile the things we’ve been holding on to are shattered. What then? The faith, the faith. |
Chúng ta tiến về một vận mệnh vĩ đại, nhưng trong khi đó những điều chúng ta đã bám giữ lại bị đập vỡ. Rồi sao nữa? Đức tin, đức tin. |
|
Take comfort in the assurance that love rules all on our planet, in our solar system. Take courage from the realization that the Hierarchy stands. What a great assertion. Take courage from the fact that the Hierarchy stands. I’d like to get that into my deep understanding so that in the dark moments I too and all of us can take courage from the realization that the Hierarchy stands. |
Hãy được an ủi trong sự bảo đảm rằng tình thương cai quản tất cả trên hành tinh của chúng ta, trong hệ mặt trời của chúng ta. Hãy lấy can đảm từ sự nhận ra rằng Thánh Đoàn đứng vững. Thật là một khẳng định lớn lao. Hãy lấy can đảm từ sự kiện rằng Thánh Đoàn đứng vững. Tôi muốn đưa điều đó vào sự thấu hiểu sâu xa của mình để trong những khoảnh khắc tăm tối, tôi cũng như tất cả chúng ta có thể lấy can đảm từ sự nhận ra rằng Thánh Đoàn đứng vững. |
|
[43] Those who are to teach the world more about the Masters and who are being trained to be focal points of contact are put through a very drastic disciplining. |
[43] Những người sẽ giảng dạy cho thế gian nhiều hơn về các Chân sư, và đang được huấn luyện để trở thành các tiêu điểm tiếp xúc, phải trải qua một kỷ luật rèn luyện hết sức nghiêm khắc. |
|
And do we even notice the elements of that disciplining? |
Và chúng ta có nhận ra những yếu tố của sự rèn luyện ấy không? |
|
[44] They are tested in every possible way and taught much through bitter experience. |
[44] Họ được thử thách bằng mọi cách có thể và được dạy dỗ nhiều qua kinh nghiệm cay đắng. |
|
Which they will not repeat if the impression of the harm done is sufficient. Think about your bitter experiences. Whatever they may be for you, sometimes they’re deaths, sometimes they’re divorces and breaking up of relationships. Sometimes they are loss. I had a friend whose house burned down entirely along with what looked like his life savings in cash in the house. Bitter experiences that lead to a condition eventually of loving detachment. |
Những điều họ sẽ không lặp lại nếu ấn tượng về tác hại gây ra đủ mạnh. Hãy nghĩ về các kinh nghiệm cay đắng của các bạn. Dù chúng là gì đối với các bạn, đôi khi đó là những cái chết, đôi khi là ly dị và sự tan vỡ của các mối quan hệ. Đôi khi đó là mất mát. Tôi có một người bạn có ngôi nhà bị cháy rụi hoàn toàn cùng với thứ trông như toàn bộ tiền tiết kiệm của ông bằng tiền mặt trong nhà. Những kinh nghiệm cay đắng cuối cùng dẫn đến một trạng thái tách rời đầy tình thương. |
|
[45] They are taught to attach no importance to recognition. |
[45] Họ được dạy không gán tầm quan trọng nào cho sự công nhận. |
|
That’s coming in at the beginning of rule 11—giving up all desire for recognition. |
Điều đó sẽ xuất hiện ở đầu Quy luật 11—từ bỏ mọi ham muốn được công nhận. |
|
[46] They are trained not to judge from the appearance but from the inner vision. |
[46] Họ được huấn luyện để không phán xét theo vẻ ngoài mà theo linh thị bên trong. |
|
But can we discern it? That’s the question. |
Nhưng chúng ta có thể phân biện điều đó không? Đó là câu hỏi. |
|
[47] Capacity to recognize the Master’s purpose and the ability to love are counted of paramount importance. |
[47] Năng lực nhận ra mục đích của Chân sư và khả năng yêu thương được xem là có tầm quan trọng tối thượng. |
|
Let us not be misled by superficialities but in fact spiritually discern that which lies beneath the apparency. Perhaps people like ourselves are really being put through very drastic disciplining. I feel that we have to remember that if our life does not seem especially easy, it’s probably nothing compared with what they are carrying and in comparison with the life of many whom we do not know but whose lives are extremely stressful because they carry even more. |
Chúng ta đừng để những điều hời hợt làm lạc lối, mà thật sự phân biện tinh thần điều nằm bên dưới vẻ biểu kiến. Có lẽ những người như chúng ta thật sự đang được đưa qua sự rèn luyện rất nghiêm khắc. Tôi cảm thấy chúng ta phải nhớ rằng nếu đời sống của chúng ta không có vẻ đặc biệt dễ dàng, có lẽ nó chẳng là gì so với điều Các Ngài đang mang, và so với đời sống của nhiều người chúng ta không biết nhưng đời sống của họ cực kỳ căng thẳng vì họ còn mang nhiều hơn. |
|
[48] Aspirants who seek to be chosen for work as disciples must lose all desire for the things of self and must be willing at any cost to pay the price of knowledge. |
[48] Những người chí nguyện tìm cách được chọn để làm việc với tư cách là đệ tử phải mất hết mọi ham muốn đối với những điều thuộc về cái tôi, và phải sẵn lòng trả giá cho tri thức bằng bất cứ [Page 351] giá nào. |
|
As I read this I see that I’ve tried to base my life on a lot of this—early on in the game—and whether or not one succeeds is a big question. |
Khi đọc điều này, tôi thấy rằng mình đã cố gắng đặt đời sống mình trên rất nhiều điều trong số này—từ khá sớm trong cuộc chơi—và liệu người ta có thành công hay không là một câu hỏi lớn. |
|
Aspirants who seek to be chosen—now, of course, the accepting disciple chooses. The accepting disciple gives credence to that which has been taught. He accepts it. The old saying is many are called but few are chosen and that’s true, but many are called and few choose to live up to the call. So few choose is also true—an act of will to choose. |
Những người chí nguyện tìm cách được chọn—dĩ nhiên, đệ tử đang chấp nhận thì lựa chọn. Đệ tử đang chấp nhận trao sự tin cậy cho điều đã được dạy. Y chấp nhận nó. Câu nói xưa là nhiều người được gọi nhưng ít người được chọn, và điều đó đúng, nhưng nhiều người được gọi và ít người chọn sống xứng với tiếng gọi. Vì vậy “ít người chọn” cũng đúng—một hành vi ý chí để lựa chọn. |
|
The aspirants who seek to be chosen for work as disciples, and I suppose accepted disciples, because the master determines that, must lose all desire for the things of self and must be willing at any cost to pay the price of knowledge. Test yourself. I’ll test myself. Are we willing at any cost to pay the price of knowledge? You can lose a lot as you pursue knowledge. You can lose reputation. You can lose your financial stability. You can lose your relationships. If someone in the relationship is wanting something else, you can lose secondary things. |
Những người chí nguyện tìm cách được chọn cho công việc như các đệ tử, và tôi cho rằng là các đệ tử được chấp nhận, bởi vì Chân sư quyết định điều đó, phải mất mọi ham muốn đối với những điều của bản ngã và phải sẵn lòng bằng mọi giá trả giá cho tri thức. Hãy thử thách chính các bạn. Tôi sẽ thử thách chính tôi. Chúng ta có sẵn lòng bằng mọi giá trả giá cho tri thức không? Các bạn có thể mất rất nhiều khi theo đuổi tri thức. Các bạn có thể mất danh tiếng. Các bạn có thể mất sự ổn định tài chính. Các bạn có thể mất các mối quan hệ. Nếu ai đó trong mối quan hệ muốn một điều khác, các bạn có thể mất những điều thứ yếu. |
|
[49] If proof is to be given to the world of the subjective realm of reality it will be bought with the heart’s blood, for only “in the blood of the heart” can power be safely gained and wisely wielded. |
[49] Nếu bằng chứng về cõi giới chủ quan của thực tại phải được trao cho thế gian, thì bằng chứng ấy sẽ được mua bằng máu tim, vì chỉ “trong máu của trái tim” quyền năng mới có thể được đạt lấy một cách an toàn và vận dụng một cách minh triết. |
|
This reminds me of Master Hilarion in his Light on the Path—that very militant kind of approach. He asks you to rip evil out of your heart and then the heart will bleed. We have to somehow tolerate this and recognize the moment when it’s happening. We can understand that certain esoteric approaches are absolutely necessary, but do we recognize when they need to be applied? That’s the question. |
Điều này làm tôi nhớ đến Chân sư Hilarion trong Ánh sáng trên Đường Đạo—loại cách tiếp cận rất chiến đấu ấy. Ngài yêu cầu các bạn xé tà ác ra khỏi trái tim mình và rồi trái tim sẽ chảy máu. Bằng cách nào đó chúng ta phải chịu đựng điều này và nhận ra khoảnh khắc khi nó đang xảy ra. Chúng ta có thể thấu hiểu rằng một số cách tiếp cận nội môn là tuyệt đối cần thiết, nhưng chúng ta có nhận ra khi nào chúng cần được áp dụng không? Đó là câu hỏi. |
|
If proof is to be given to the world of the subjective realm, and right now not so many believe in it except vaguely of heaven and hell, of reality, it will be bought with the heart’s blood. There’s the absolute need for sacrifice, for only in the blood of the heart can power be safely gained and wisely wielded. We have to demonstrate always that we are ready and willing to sacrifice. |
Nếu bằng chứng về cõi chủ quan của thực tại phải được trao cho thế gian, và ngay lúc này không nhiều người tin vào nó ngoại trừ một cách mơ hồ về thiên đường và địa ngục, nó sẽ được mua bằng máu của trái tim. Có nhu cầu tuyệt đối về hi sinh, vì chỉ trong máu của trái tim quyền năng mới có thể được đạt lấy một cách an toàn và được vận dụng một cách minh triết. Chúng ta phải luôn luôn chứng minh rằng mình sẵn sàng và tự nguyện hi sinh. |
|
[50] As you go on and, as aspirants, study the hidden laws of nature, you will realize the need for the price paid. |
[50] Khi các bạn tiến bước và, với tư cách là những người chí nguyện, nghiên cứu các định luật ẩn tàng của thiên nhiên, các bạn sẽ nhận ra sự cần thiết của cái giá đã trả. |
|
I remember the old days when I was reading this, and it’s now coming back to me decades later. I see more, and all of us will see more as we keep living the life, and what was theoretical will have demonstrated itself as practical and real. |
Tôi nhớ những ngày xưa khi tôi đọc điều này, và giờ đây nó trở lại với tôi sau nhiều thập niên. Tôi thấy nhiều hơn, và tất cả chúng ta sẽ thấy nhiều hơn khi tiếp tục sống đời sống ấy, và điều từng là lý thuyết sẽ tự chứng minh là thực tiễn và có thật. |
|
[51] The spiritual unfoldment of the disciple’s character must keep pace with his inner knowledge. |
[51] Sự khai mở tinh thần trong tính cách của người đệ tử phải theo kịp tri thức bên trong của y. |
|
I suppose that’s the reason why the fifth ray ashram was suspended in its activities, maybe from 1950 to year 2000 or maybe beyond. Because the character, moral character of human beings had not kept pace with the bounding pace of knowledge acquired. |
Tôi cho rằng đó là lý do tại sao ashram cung năm đã đình chỉ các hoạt động của mình, có lẽ từ năm 1950 đến năm 2000 hoặc có thể xa hơn. Bởi vì Tính cách, Tính cách đạo đức của con người đã không theo kịp nhịp tiến vọt của tri thức được thu nhận. |
|
[52] This knowledge grows in three ways: |
[52] Tri thức này tăng trưởng theo ba cách: |
|
What we might call the method of growth of inner knowledge. How does it grow? |
Điều chúng ta có thể gọi là phương pháp tăng trưởng của tri thức bên trong. Nó tăng trưởng như thế nào? |
|
[53] 1. By definite expansions of consciousness, which open up to the disciple a realization of the points to be attained. |
[53] 1. Bằng những sự mở rộng tâm thức rõ rệt, vốn mở ra cho đệ tử một nhận biết về các điểm cần đạt tới. |
|
And one might almost say the points of tension to be attained. |
Và gần như người ta có thể nói là các điểm tập trung nhất tâm phải đạt tới. |
|
[54] This produces in his mind a formulation of what lies ahead to be grasped and is the first step towards acquirement. An aspirant is definitely taken on the inner planes and shown by a more advanced chela what is the work to be done, much in the same way as a pupil is shown by his master the lesson to be learned. |
[54] Điều này tạo ra trong thể trí của y một hình thành về những gì còn ở phía trước cần được nắm bắt, và là bước đầu tiên hướng tới sự sở đắc. Một người chí nguyện quả thực được đưa lên các cõi bên trong, và được một đệ tử tiến xa hơn chỉ cho thấy công việc phải làm, rất giống như một học trò được Chân sư của y chỉ cho bài học cần học. |
|
We might call this in a way seeing ahead under guidance by the more advanced. At least we have to have some kind of conception of what may lie ahead. Even an aspirant, not necessarily yet a disciple, is definitely taken on the inner planes during the hours of sleep and shown by a more advanced chela what the work to be done is. |
Chúng ta có thể gọi điều này theo một cách nào đó là thấy trước dưới sự hướng dẫn của người tiến bộ hơn. Ít nhất chúng ta phải có một dạng quan niệm nào đó về điều có thể nằm phía trước. Ngay cả một người chí nguyện, chưa nhất thiết là một đệ tử, nhất định được đưa lên các cõi bên trong trong những giờ ngủ và được một đệ tử tiến bộ hơn chỉ cho thấy công việc phải làm là gì. |
|
A true aspirant has taken the first initiation. If one is a chela, really, one has taken the first initiation. So we see the point at which this showing is occurring—underline these major points as we go through them. There is a lot of value in memorizing all these tabulations. We see the sequence of things. We’re shown something. This is how knowledge is gained. |
Một người chí nguyện chân chính đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất. Nếu người ta thật sự là một đệ tử, người ta đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất. Vì vậy chúng ta thấy điểm mà sự chỉ cho thấy này đang xảy ra—hãy gạch dưới những điểm chính này khi chúng ta đi qua chúng. Có rất nhiều giá trị trong việc ghi nhớ tất cả các bảng liệt kê này. Chúng ta thấy trình tự của sự việc. Chúng ta được chỉ cho thấy một điều gì đó. Đây là cách tri thức được đạt lấy. |
|
[55] 2. The next step is the mastering of the lesson and the working out in meditation and experiment of the truths sensed. |
[55] 2. Bước kế tiếp là làm chủ bài học và triển khai trong tham thiền cùng thực nghiệm những chân lý đã cảm nhận. |
|
The conception, the foresight is good—it’s a start. But next comes something where we actually make that which we see our own. |
Quan niệm, sự thấy trước là tốt—đó là một khởi đầu. Nhưng tiếp theo đến một điều trong đó chúng ta thật sự biến điều mình thấy thành của chính mình. |
|
[56] This is a lengthy process, for all has to be assimilated and made part and parcel of the disciple’s very self before he can go on. |
[56] Đây là một tiến trình dài, vì tất cả phải được đồng hóa và trở thành một phần không thể tách rời của chính bản thân đệ tử trước khi y có thể tiếp tục tiến bước. |
|
Seven years remain until 2025. How much can we assimilate and make, as he says, part and parcel? |
Còn bảy năm nữa đến năm 2025. Chúng ta có thể đồng hóa và làm cho bao nhiêu điều trở thành, như Ngài nói, một phần không thể tách rời? |
|
[57] It resembles the working out of a sum— |
[57] Nó giống như việc giải một |
|
Before the era of computers, perhaps, but laborious hands-on method in your mind. |
Có lẽ trước thời đại máy tính, nhưng là phương pháp thủ công nhọc nhằn trong trí các bạn. |
|
[58] figure by figure, line by line, the working out being carried forward until the answer is achieved. This work is done both on the inner planes and on the physical. In the Hall of Learning |
[58] bài toán — từng con số, từng dòng một, công việc giải được tiếp tục cho đến khi đạt được đáp số. Công việc này được thực hiện cả trên các cõi bên trong lẫn trên cõi hồng trần. Trong Phòng Học Tập, môn sinh được dạy dỗ hằng đêm trong một thời gian ngắn trước khi tiến hành bất kỳ công việc phụng sự nào. |
|
That’s the second tier— |
Đó là tầng thứ hai— |
|
If we’re engaged in a work of service related to the Hierarchy, we can realize that we have been shown something about how to proceed. |
Nếu chúng ta tham gia vào một công việc phụng sự liên hệ với Thánh Đoàn, chúng ta có thể nhận ra rằng chúng ta đã được chỉ cho thấy một điều gì đó về cách tiến hành. |
|
[59] This teaching he brings over into his physical brain consciousness in the form of a deep interest in certain subjects, and in an increasing aptitude to think concretely and abstractly on the various occult matters that are occupying his attention. |
[59] Sự dạy dỗ này, y mang vào tâm thức bộ não hồng trần của mình dưới hình thức một mối quan tâm sâu sắc đối với một số chủ đề, và một năng lực ngày càng tăng trong việc suy nghĩ cụ thể cũng như trừu tượng về các vấn đề huyền bí khác nhau đang chiếm trọn sự chú ý của y. |
|
We may not recall exactly the kind of guidance, the kind of instruction we received on the inner side in preparation for certain parts of service, but we will be deeply interested. We’ll be able to think about these things, and not only in the abstract, but in a way which will help them occur. |
Chúng ta có thể không nhớ chính xác loại hướng dẫn, loại chỉ dạy mà chúng ta đã nhận ở phía bên trong nhằm chuẩn bị cho một số phần phụng sự, nhưng chúng ta sẽ quan tâm sâu sắc. Chúng ta sẽ có thể suy nghĩ về những điều này, không chỉ theo cách trừu tượng, mà theo cách giúp chúng xảy ra. |
|
Of course, DK is assuming that spiritual occultism will be foremost on our mind because we need to reveal the truth of the inner things to people so they can have a truer sense of values almost immediately. When you think about the time equation here, it’s needed almost immediately. |
Dĩ nhiên, Chân sư DK giả định rằng huyền bí học tinh thần sẽ đứng hàng đầu trong trí chúng ta, bởi vì chúng ta cần mặc khải chân lý của những điều bên trong cho mọi người để họ có thể có một ý thức chân thật hơn về các giá trị gần như ngay lập tức. Khi các bạn nghĩ về phương trình thời gian ở đây, điều đó cần thiết gần như ngay lập tức. |
|
[60] He attempts to experiment and tries various methods of studying the laws and in process of time arrives at results that are of value to him. |
[60] Y cố gắng thực nghiệm và thử nhiều phương pháp nghiên cứu các định luật, rồi theo thời gian đạt đến những kết quả có giá trị đối với y. |
|
We say guided by his own deep interest which is impelled by the inner instruction. |
Chúng ta nói rằng ông được hướng dẫn bởi mối quan tâm sâu xa của chính mình, vốn được thúc đẩy bởi sự chỉ dẫn bên trong. |
|
[61] Time passes and as he appropriates and knows more, his knowledge takes a synthetic form and he becomes ready to teach and to impart to others the residue of knowledge of which he is sure. |
[61] Thời gian trôi qua, và khi y lĩnh hội cùng hiểu biết nhiều hơn, tri thức của y mang một hình thức tổng hợp, và y trở nên [Page 352] sẵn sàng giảng dạy cũng như truyền đạt cho người khác phần tri thức còn lại mà y chắc chắn. |
|
I sometimes wonder how much of Master DK’s writing have we assimilated. I sometimes test myself on this, and maybe I’m climbing towards two or three percent, but then when I re-evaluate it, I feel that it’s less than one percent. Really, to be honest, generalities yes, but there’s such incredible specificity here that if we are really to examine what has been given, our percentage of assimilation is very low, the residue is very low, but we can give something. We have to look ahead, we have to master the lessons, and this is the hour point. But would I be interrupted? Almost certainly. |
Đôi khi tôi tự hỏi chúng ta đã hấp thụ được bao nhiêu trong các trước tác của Chân sư DK. Đôi khi tôi tự kiểm tra về điều này, và có lẽ tôi đang tiến đến hai hoặc ba phần trăm; nhưng khi đánh giá lại, tôi cảm thấy chưa đến một phần trăm. Thành thật mà nói, những điều tổng quát thì có, nhưng ở đây có sự chuyên biệt phi thường đến mức nếu chúng ta thật sự khảo sát những gì đã được ban cho, thì tỷ lệ hấp thụ của chúng ta rất thấp, phần còn lại rất ít, nhưng chúng ta vẫn có thể trao truyền một điều gì đó. Chúng ta phải nhìn về phía trước, phải nắm vững các bài học, và đây là điểm của giờ học này. Nhưng liệu tôi có bị gián đoạn không? Gần như chắc chắn. |
|
Something that has to be done on the concrete levels—it’s real. The concrete levels are real, or maybe actual. Maybe they’re not really real, but they’re real enough. Onward then. This is hour number 35. |
Có điều gì đó phải được thực hiện trên các cấp độ cụ thể—điều đó có thật. Các cấp độ cụ thể là có thật, hoặc có thể nói là hiện thực. Có lẽ chúng không thật sự là thực tại, nhưng chúng đủ thật. Vậy tiếp tục. Đây là giờ thứ ba mươi lăm. |
|
[62] 3. In teaching others comes further knowledge. |
[62] 3. Trong việc giảng dạy người khác, tri thức thêm nữa sẽ đến. |
|
I can really attest to that, and I’m sure many teachers can. The old saying is that the listener is gaining five percent, maybe the teacher is gaining 95 percent of that which is taught. |
Tôi thật sự có thể xác nhận điều đó, và tôi chắc chắn nhiều huấn sư cũng vậy. Câu nói xưa cho rằng người nghe tiếp nhận năm phần trăm, còn có lẽ người dạy tiếp nhận chín mươi lăm phần trăm của điều được giảng dạy. |
|
[63] The definition of truth in teaching crystallises the facts learnt, and, in the play of other minds, |
[63] Việc định nghĩa chân lý trong khi giảng dạy kết tinh những sự kiện đã học được, và trong sự tương tác của các thể trí khác, |
|
Webinars, classes, so forth— |
các webinar, lớp học, vân vân— |
|
[64] the aspirant’s own vibration becomes keyed up to ever higher planes, and thus fresh intuition and fresh reaches of truth pour in. |
[64] rung động của chính người chí nguyện được điều chỉnh lên các cõi ngày càng cao hơn; nhờ đó, trực giác mới và những tầm mức mới của chân lý tuôn vào. |
|
Teaching leads to learning, and all of us who really are students of this have to remind ourselves of this. Maybe we’re working in a school like the Arcane School, School for Esoteric Studies, maybe Mauryan Federation, whatever. Do I dare to teach? Do I know enough? Well, we never know enough, but we know enough. |
Giảng dạy dẫn đến học hỏi, và tất cả chúng ta, những người thật sự là đạo sinh của giáo huấn này, phải tự nhắc mình về điều đó. Có thể chúng ta đang làm việc trong một trường như Trường Arcane, Trường Nghiên Cứu Nội Môn, có thể là Liên Đoàn Morya, hoặc bất cứ nơi nào. Tôi có dám giảng dạy không? Tôi có biết đủ không? Chúng ta không bao giờ biết đủ, nhưng chúng ta biết đủ để bắt đầu. |
|
At a certain point we say, well, I’ve received a certain amount of light, and I can pass that light on. Then as we start to pass it on, our light—the light in our consciousness—really begins to grow. I would encourage all of you who are students of this great teaching to reach that point where you say to yourself, I will pass it on. It can be humble at first, just a few people, or even one or whatever in a conversation, but pass it on, pass it on. You will find that your understanding of the teaching will grow. |
Đến một điểm nào đó, chúng ta nói: tôi đã nhận được một mức độ ánh sáng nào đó, và tôi có thể truyền ánh sáng ấy đi. Khi bắt đầu truyền nó đi, ánh sáng của chúng ta—ánh sáng trong tâm thức chúng ta—thật sự bắt đầu lớn lên. Tôi khuyến khích tất cả các bạn, những đạo sinh của giáo huấn vĩ đại này, hãy đạt đến điểm mà các bạn tự nói với mình: tôi sẽ truyền nó đi. Lúc đầu có thể khiêm tốn, chỉ với vài người, hoặc thậm chí một người trong một cuộc trò chuyện, nhưng hãy truyền nó đi. Các bạn sẽ thấy sự thấu hiểu của mình về giáo huấn sẽ tăng trưởng. |
|
I can certainly attest to that, and I think I’m not alone. As I have to attempt to explain things, I’m explaining them to myself too, and gaining in my deeper understanding. So may it be for all of us. |
Tôi chắc chắn có thể xác nhận điều đó, và tôi nghĩ mình không đơn độc. Khi phải cố gắng giải thích các sự việc, tôi cũng đang giải thích chúng cho chính mình, và nhờ đó đạt được sự thấu hiểu sâu hơn. Mong rằng điều ấy cũng xảy ra cho tất cả chúng ta. |
|
[65] When one lesson has, in this way, been mastered, a further one is set, and when a pupil has learnt a particular series of lessons he graduates and passes an initiation. |
[65] Khi một bài học đã được làm chủ theo cách này, một bài học tiếp theo được giao; và khi một môn sinh đã học xong một chuỗi bài học đặc thù, y tốt nghiệp và vượt qua một cuộc điểm đạo. |
|
DK puts initiation in terms that are very easy to understand—just like in a school. And as a matter of fact, all the planets are schools; he calls them planetary schools. If you turn to the end of Esoteric Astrology, and well, it’s also in A Treatise on Cosmic Fire, but the different schools—school on Venus, school on Mercury. Some are missing, of course, because maybe too much knowledge about them would not be wise for us at this point. |
Chân sư DK trình bày điểm đạo bằng những thuật ngữ rất dễ hiểu—giống như trong một trường học. Thật ra, tất cả các hành tinh đều là trường học; Ngài gọi chúng là các trường hành tinh. Nếu các bạn xem phần cuối của Chiêm Tinh Học Nội Môn, và điều này cũng có trong Luận về Lửa Vũ Trụ, sẽ thấy các trường khác nhau—trường trên Sao Kim, trường trên Sao Thủy. Dĩ nhiên có một số bị bỏ khuyết, vì có lẽ quá nhiều tri thức về chúng sẽ không khôn ngoan cho chúng ta vào lúc này. |
|
[66] The whole group he teaches is benefited by his step forward, for every disciple carries those he instructs along with him in a curious indefinable sense. |
[66] Toàn thể nhóm mà y giảng dạy đều được lợi ích nhờ bước tiến của y, vì mỗi đệ tử đều mang theo những người mà y huấn luyện cùng tiến với mình, theo một nghĩa kỳ lạ khó định nghĩa. |
|
Master DK is a great Teacher here, and He became a master in 1875, we are told, and he’s working with Blavatsky even before that in Tibet. Just think, over the many, many years—I don’t know how many years, 50, 60, maybe 70, 80 years of teaching—he’s gained a lot, because this certainly applies to him as to any other master: in teaching comes further knowledge. Alice Bailey was taking a lot of things down for him, and then great vistas of possibility appeared to her that were not even dictated by him because of this service of reception and transmission. |
Chân sư DK là một Huấn sư vĩ đại ở đây, và chúng ta được cho biết rằng Ngài trở thành Chân sư vào năm 1875, và trước đó Ngài đã làm việc với Bà Blavatsky ở Tây Tạng. Hãy nghĩ xem, qua rất nhiều năm—tôi không biết bao nhiêu năm, năm mươi, sáu mươi, có lẽ bảy mươi hay tám mươi năm giảng dạy—Ngài đã thu nhận rất nhiều, vì điều này chắc chắn áp dụng cho Ngài cũng như cho bất cứ Chân sư nào khác: trong giảng dạy, tri thức thêm nữa sẽ đến. Bà Alice Bailey đã ghi chép rất nhiều điều cho Ngài, và rồi những viễn cảnh rộng lớn về khả năng đã hiện ra với bà, thậm chí không phải do Ngài đọc truyền, nhờ sự phụng sự trong việc tiếp nhận và truyền đạt này. |
|
[67] The benefit to the unit reacts upon the whole. |
[67] Lợi ích đến với đơn vị sẽ tác động trở lại lên toàn thể. |
|
and also that which is non-beneficial. |
và điều không có lợi cũng vậy. |
|
[68] A Master carries His disciples on and up with Him in a similar manner. |
[68] Một Chân sư cũng mang các đệ tử của Ngài tiến tới và vươn lên cùng với Ngài theo một cách tương tự. |
|
Of course, and some of us have questioned, well, when will Master DK be a Chohan? We have the Chohan M and the Chohan KH, and they work with Master DK as an expression. Master DK is closely related, not only to KH, but to M. But maybe his day is coming or has come. It’s hard to say. |
Dĩ nhiên, và một số chúng ta đã tự hỏi: khi nào Chân sư DK sẽ là một Chohan? Chúng ta có Chohan M. và Chohan K.H., và Các Ngài làm việc với Chân sư DK như một biểu lộ. Chân sư DK liên hệ mật thiết không chỉ với Chân sư K.H. mà còn với Chân sư M. Nhưng có lẽ ngày của Ngài đang đến, hoặc đã đến rồi. Khó nói. |
|
A Master carries His disciples on and up with him. “I, if I be lifted up, will draw all men unto me.” That’s the story of magnetism, and it shouldn’t be interpreted only in Christian terms. |
Một Chân sư mang các đệ tử của Ngài tiến tới và vươn lên cùng với Ngài. “Nếu ta được nâng lên, ta sẽ kéo mọi người đến với ta.” Đó là câu chuyện về từ điện, và không nên chỉ diễn giải nó theo nghĩa Cơ Đốc giáo. |
|
[69] The matter is abstruse and largely one of the secrets of the law of vibratory expansion. The initiation of the Logos has a universal effect. |
[69] Vấn đề này thâm áo và phần lớn là một trong những bí mật của định luật mở rộng rung động. Cuộc điểm đạo của Đức Thượng đế có ảnh hưởng phổ quát. |
|
Which ones of the Laws of the Soul does it talk about? Is it the Law of Magnetic Expanse? Let’s see—the Law of the Lower Four, because an Expansive Response will be right near it. There it is: the Law of Expansive Response. Maybe that’s it. I once tried to say a little bit about it, but it’s hard to say much about these last two Laws. We pretty much end with the Law of Elevation or the Law of Group Progress, the fifth law, which is—you might think it’s Aquarian, but it’s really a Capricornian law, but administered in the age of Aquarius, it will be even more powerful. |
Điều này nói đến định luật nào trong các Định luật của Linh hồn? Có phải Định luật Mở Rộng Từ Tính không? Hãy xem—Định luật của Bốn Thấp, vì Định luật Đáp Ứng Mở Rộng sẽ ở gần đó. Đây rồi: Định luật Đáp Ứng Mở Rộng. Có lẽ chính là nó. Tôi từng cố nói đôi điều về nó, nhưng thật khó nói nhiều về hai Định luật cuối này. Chúng ta gần như kết thúc với Định luật Nâng Cao hay Định luật Tiến Bộ Nhóm, định luật thứ năm, mà các bạn có thể nghĩ là thuộc Bảo Bình, nhưng thật ra là một định luật Ma Kết; tuy nhiên, khi được vận hành trong thời đại Bảo Bình, nó sẽ còn mạnh mẽ hơn. |
|
Go to A Treatise on Cosmic Fire here and study the laws and the symbols. I’ve tried to bring that forward in some video commentaries along the way. |
Hãy đến với Luận về Lửa Vũ Trụ và nghiên cứu các định luật cùng các biểu tượng. Tôi đã cố đưa điều đó ra trong một số bình giảng bằng video trên đường đi. |
|
We are all lifting each other or causing a suppression of elevation, and oftentimes unconsciously. If we rise automatically, those with whom we are deeply affiliated will also be inclined to rise. They will have a support which elevates them. |
Tất cả chúng ta đang nâng đỡ nhau, hoặc gây ra sự kìm hãm việc nâng cao, và thường là một cách vô thức. Nếu chúng ta tự nhiên vươn lên, những người có liên hệ sâu xa với chúng ta cũng sẽ có khuynh hướng vươn lên. Họ sẽ có một sự hỗ trợ nâng họ lên. |
|
We are also responsible for our misdeeds and possibly dragging others down in ways that we cannot easily fathom. What have we been studying here? A few points. We’ve been saying knowledge grows three ways. That’s been our little theme here. It’s possible to get so involved in the work of explaining various connections that we may forget the subject. Knowledge grows in three ways: by definite expansions of consciousness, which open up to the disciple a realization of points to be attained. We see the future, future conceptions. We’re shown the vision. We might almost say this is about the vision. |
Chúng ta cũng chịu trách nhiệm về những lỗi lầm của mình và có thể kéo người khác xuống theo những cách mà chúng ta không dễ dò thấu. Chúng ta đã nghiên cứu điều gì ở đây? Một vài điểm. Chúng ta đã nói rằng tri thức tăng trưởng theo ba cách. Đó là chủ đề nhỏ của chúng ta ở đây. Có thể chúng ta quá dính mắc vào công việc giải thích các mối liên hệ khác nhau đến nỗi quên mất chủ đề. Tri thức tăng trưởng theo ba cách: bằng những mở rộng tâm thức rõ rệt, mở ra cho đệ tử một nhận thức về các điểm cần đạt tới. Chúng ta thấy tương lai, những quan niệm tương lai. Chúng ta được cho thấy tầm nhìn. Gần như có thể nói đây là về tầm nhìn. |
|
And then the next step is the mastering of the lessons and the working out in meditation and experiment of the truth sense. It’s not just a vision; it’s making it one’s own. Not just a vision, but making the vision one’s own through a kind of mastery. And then finally, in teaching others: because once you’ve mastered something, you have to impart it. Isn’t it so? Once you have mastered a field, you are obliged to impart it. |
Rồi bước kế tiếp là nắm vững các bài học và triển khai trong tham thiền cùng thực nghiệm cảm thức về chân lý. Đó không chỉ là một tầm nhìn; đó là biến nó thành của riêng mình. Không chỉ là tầm nhìn, mà là làm cho tầm nhìn trở thành của mình thông qua một dạng làm chủ. Và cuối cùng, trong việc giảng dạy người khác: bởi vì một khi các bạn đã nắm vững điều gì, các bạn phải truyền đạt nó. Chẳng phải vậy sao? Một khi các bạn đã làm chủ một lĩnh vực, các bạn có bổn phận truyền đạt nó. |
|
I see this. I spent a lot of time in the operatic field and I saw wonderful performers do their thing and demonstrate the peak of excellence. But the time came when maybe circumstances, health, the physical body wore out—whatever—they were invited to teach and convey that which they had so beautifully demonstrated on the stage. |
Tôi thấy điều này. Tôi đã dành nhiều thời gian trong lĩnh vực nhạc kịch và đã thấy những nghệ sĩ tuyệt vời làm công việc của họ, biểu lộ đỉnh cao của sự xuất sắc. Nhưng rồi đến lúc hoàn cảnh, sức khỏe, thể xác suy mòn—bất cứ lý do gì—họ được mời giảng dạy và truyền lại điều mà họ đã biểu diễn đẹp đẽ trên sân khấu. |
|
Whatever we have managed to master, to gain control over, to utilize, apply—whatever—we do have to pass it on. We’re not really successful, nor is the human race successful, unless degrees of mastery are passed on to others who are aspiring towards them. It’s such a shame when knowledge gets all locked up in the one who possesses it and cannot find even an appropriate way of being passed on. |
Bất cứ điều gì chúng ta đã phần nào làm chủ, kiểm soát, sử dụng, áp dụng—bất cứ điều gì—chúng ta thật sự phải truyền nó đi. Chúng ta không thật sự thành công, và nhân loại cũng không thành công, trừ khi các mức độ làm chủ được truyền lại cho những người khác đang khát vọng hướng đến chúng. Thật đáng tiếc khi tri thức bị khóa chặt trong người sở hữu nó và không thể tìm được một cách thích hợp nào để truyền đi. |
|
I remember working with Charles Jane, telling little anecdotal things here. I don’t know why I’m inclined to do it, but I met him in January 1985 and he died in December 1985. It was all part of a thing. I was working at the Arcane School. We weren’t encouraged exactly to talk to the people that came in the office, but I knew He was a famous astrologer and just well-known and excellent. I remember sort of being held at bay because I couldn’t speak with him. Others were speaking with him and basically kind of rebuffing him in terms of what he came to do. But I found my way out the back door in the hallway when he was leaving and I made contact with him. That led to an ongoing Sunday morning meeting for almost the whole year. I learned a lot, but not as much as my friends better versed in that kind of astrology learned. |
Tôi nhớ khi làm việc với Charles Jane, kể vài chuyện nhỏ ở đây. Tôi không biết vì sao mình có khuynh hướng làm vậy, nhưng tôi gặp ông vào tháng Giêng năm 1985 và ông mất vào tháng Mười Hai năm 1985. Tất cả là một phần của một sự việc. Tôi đang làm việc tại Trường Arcane. Chúng tôi không hẳn được khuyến khích nói chuyện với những người đến văn phòng, nhưng tôi biết ông là một nhà chiêm tinh nổi tiếng, được biết đến rộng rãi và rất xuất sắc. Tôi nhớ mình như bị giữ lại vì không thể nói chuyện với ông. Những người khác đang nói chuyện với ông và về cơ bản hơi gạt bỏ ông về điều ông đến để làm. Nhưng tôi đã tìm đường ra cửa sau, ra hành lang khi ông rời đi, và tôi tiếp xúc với ông. Điều đó dẫn đến một cuộc gặp gỡ sáng Chủ nhật liên tục gần như suốt cả năm. Tôi đã học được nhiều, nhưng không nhiều bằng những người bạn của tôi vốn rành hơn về loại chiêm tinh ấy. |
|
His whole system was passed on to others because I kind of dared to go out that back door and say, “Hey, Mr. Jane, I’m really interested in what you have to say.” He was the teacher that year, and once he looked at me in the middle of the year and he got kind of a shiver. He said, “Ooh, I feel like I’m emptying the bowl.” You know how that is before you die—you pass on everything that you can. “I feel like I’m emptying the bowl.” I guess he was. |
Toàn bộ hệ thống của ông đã được truyền lại cho người khác vì tôi đã phần nào dám đi ra cánh cửa sau ấy và nói: “Thưa ông Jane, tôi thật sự quan tâm đến điều ông muốn nói.” Ông là huấn sư trong năm đó, và một lần vào giữa năm, ông nhìn tôi rồi hơi rùng mình. Ông nói: “Ôi, tôi cảm thấy như mình đang trút cạn chiếc bát.” Các bạn biết đó, trước khi chết, người ta truyền lại tất cả những gì có thể. “Tôi cảm thấy như mình đang trút cạn chiếc bát.” Tôi đoán đúng là ông đang làm vậy. |
|
Because he did, and I passed on whatever he gave to me to others even more capable than myself, his work was again preserved to a further extent and was able to enter a wider circle. It’ll never be the mainstream. It’s very complex. |
Bởi vì ông đã làm thế, và tôi đã truyền lại bất cứ điều gì ông trao cho tôi cho những người khác còn có khả năng hơn tôi, nên công trình của ông lại được bảo tồn ở mức xa hơn và có thể bước vào một vòng tròn rộng hơn. Nó sẽ không bao giờ trở thành dòng chính. Nó rất phức tạp. |
|
His work is all about how there are 49 internal charts for every human being. I know some in the pre-computer days who spent their whole life working out their own 49 charts. The degree of complexity is just overwhelming, but there are those interior charts. The astrologer Niklas Nilen is very accomplished. He knows about those and he can pass on to others now what he has learned as a result of coming in contact with this material, which would have just died all locked up with Charles Jane. |
Công trình của ông hoàn toàn liên quan đến việc mỗi con người có bốn mươi chín lá số nội tại. Tôi biết có những người trong thời trước máy tính đã dành cả đời để tính ra bốn mươi chín lá số của chính mình. Mức độ phức tạp thật choáng ngợp, nhưng những lá số nội tại ấy có thật. Nhà chiêm tinh Niklas Nilen rất thành tựu. Ông biết về chúng và hiện nay có thể truyền lại cho người khác những gì ông đã học do tiếp xúc với tài liệu này, vốn nếu không đã chết đi, bị khóa chặt cùng Charles Jane. |
|
Remember everyone that when we have something and the bowl has got some content of value, it’s got to be emptied in the right way so that others can benefit. It doesn’t do any good to just take it with you to the grave. My little lessons here, if you’ll abide with my anecdotal stories. Now, |
Hãy nhớ rằng khi chúng ta có điều gì, và chiếc bát có một nội dung giá trị nào đó, nó phải được trút ra đúng cách để người khác có thể hưởng lợi. Chẳng ích gì nếu chỉ mang nó theo mình xuống mồ. Đó là những bài học nhỏ của tôi ở đây, nếu các bạn chịu lắng nghe các câu chuyện giai thoại của tôi. |
|
[70] The Second Initiation marks the crisis of the control of the astral body. After baptism |
[70] Lần điểm đạo thứ hai đánh dấu cuộc khủng hoảng trong việc kiểm soát thể cảm dục. Sau lễ rửa tội |
|
It’s called the Baptism—it’s the toughest lesson for the second, fourth, sixth ray types, and for those maybe upon the first ray. It’s a tough test. So many people, the sort of applicants to the Second Initiation, they really think somehow they’re applicants to the Fourth Initiation. Maybe there’s some similarities. I think that leapfrog method—my old friend Robert Girard lived to be 95 years old, at least, something like that. He would be now 102, but he was very, very tough, a wonderful psychologist and esotericist. He said, “Well, it’s a leapfrog thing. When you’re taking the first, some of the qualities and capacities and demands of the third are brought home to you.” Take the second, it’s thus with the fourth; take the third, it’s thus with the fifth, the leapfrog, or maybe we just look at it as a resonance factor. This question of taking the second initiation and taking the fourth, thinking you’re taking the fourth is a common mistake because there’s a lot of suffering involved in that second initiation, and when we suffer, we naturally think we’re going through the crucifixion. |
Nó được gọi là Phép Rửa—đó là bài học khó nhất đối với những người cung hai, cung bốn, cung sáu, và có lẽ cả những người thuộc cung một. Đó là một thử thách khó. Rất nhiều người, những ứng viên cho lần điểm đạo thứ hai, thật sự nghĩ bằng cách nào đó rằng họ là ứng viên cho lần điểm đạo thứ tư. Có lẽ có vài điểm tương đồng. Tôi nghĩ phương pháp nhảy cóc ấy—người bạn cũ của tôi, Robert Girard, sống ít nhất đến chín mươi lăm tuổi, đại khái vậy. Nếu còn sống bây giờ ông đã một trăm lẻ hai tuổi, nhưng ông rất, rất nghiêm khắc, một nhà tâm lý học và nhà bí truyền học tuyệt vời. Ông nói: “Đó là chuyện nhảy cóc. Khi các bạn đang trải qua lần thứ nhất, một số phẩm tính, năng lực và đòi hỏi của lần thứ ba được đưa đến cho các bạn thấy rõ.” Trải qua lần thứ hai thì cũng như vậy với lần thứ tư; trải qua lần thứ ba thì cũng như vậy với lần thứ năm—sự nhảy cóc, hoặc có lẽ chúng ta chỉ xem đó là một yếu tố cộng hưởng. Việc đang trải qua lần điểm đạo thứ hai mà nghĩ mình đang trải qua lần thứ tư là một sai lầm phổ biến, vì có rất nhiều đau khổ liên quan đến lần điểm đạo thứ hai; và khi đau khổ, chúng ta tự nhiên nghĩ mình đang đi qua cuộc đóng đinh. |
|
DK straightened this out on that matter in the later letters to his disciple ISGL. Group love was one of those things, and stability too. I’m forgetting what the letter “I” was, but I can go back and get it. His name—he had some ashrams on the physical plane in North Carolina. What’s the name of that nice city in North Carolina where spiritual things tend to happen? Can’t think of it at the moment. He also had ashrams in Montana and various groups of students. The reputation is that his students knew their stuff, but he was very first-ray and they overestimated him and he overestimated himself. It’s so easy to do. He had a lot of Leo, and it’s easy to overestimate. |
Chân sư DK đã làm rõ điều này trong các thư sau gửi đệ tử ISGL của Ngài. Tình thương nhóm là một trong những điều đó, và sự ổn định cũng vậy. Tôi quên chữ “I” là gì, nhưng tôi có thể trở lại và tìm. Tên của ông—ông có một số ashram trên cõi hồng trần ở Bắc Carolina. Tên thành phố xinh đẹp ấy ở Bắc Carolina, nơi các sự việc tinh thần thường xảy ra, là gì nhỉ? Lúc này tôi không nhớ ra. Ông cũng có các ashram ở Montana và nhiều nhóm đạo sinh khác nhau. Tiếng tăm là các đạo sinh của ông rất hiểu biết, nhưng ông rất thuộc cung một, và họ đánh giá ông quá cao, còn ông cũng đánh giá mình quá cao. Điều đó rất dễ xảy ra. Ông có nhiều ảnh hưởng Sư Tử, và dễ đánh giá quá cao. |
|
They used to say about Ronald Reagan that he had wandered into his anecdotage, interesting combination of words. Older people tend to tell stories and little anecdotes. I’m trying to make them relevant to what we may be reading here. I hope I’m not boring you to death. |
Người ta từng nói về Ronald Reagan rằng ông đã lạc vào tuổi kể chuyện giai thoại của mình, một sự kết hợp từ ngữ thú vị. Người lớn tuổi thường kể chuyện và những giai thoại nhỏ. Tôi đang cố làm cho chúng liên hệ với những gì chúng ta có thể đang đọc ở đây. Tôi hy vọng không làm các bạn chán đến chết. |
|
The crisis of the astral body—so many of DK’s students in His ashram were on the periphery of His ashram. They had that insight, the second degree. Some were passing through it, some would in the next life or the next couple of lives. It may take a long time or it may not take so long, but generally the time between first and second is a long time, though it might not be depending upon how we handle time and the purity of our consecration to the task. |
Cuộc khủng hoảng của thể cảm dục—rất nhiều đạo sinh của Chân sư DK trong ashram của Ngài ở nơi ngoại vi ashram ấy. Họ có sự thấu thị đó, cấp độ thứ hai. Một số đang đi qua nó, một số sẽ đi qua trong đời sau hoặc vài đời sau. Có thể mất rất lâu, hoặc có thể không lâu đến vậy; nhưng nói chung, thời gian giữa lần thứ nhất và lần thứ hai là rất dài, dù điều đó có thể không đúng tùy vào cách chúng ta xử lý thời gian và mức độ tinh khiết trong sự thánh hiến của chúng ta đối với nhiệm vụ. |
|
After the baptism, |
Sau phép rửa, |
|
[71] there remain the three temptations, demonstrating the complete control of the three lower vehicles. |
[71] vẫn còn ba cám dỗ, chứng tỏ sự kiểm soát hoàn toàn đối với ba hiện thể thấp. |
|
And everybody’s got to go through it. It’s not just how the Christ demonstrated. He demonstrated these things on a very high level, but we all pass through that—the world of flesh and the devil. If we pass, then we’re ready to go on to the Path of Initiation. If we pass the world, flesh, and the devil in our encounter with the lower nature in the desert, then we are ready for the continued progress on the spiritual path of initiation. |
Và mọi người đều phải đi qua điều đó. Không chỉ là cách Đức Christ đã biểu lộ. Ngài biểu lộ những điều này ở một cấp độ rất cao, nhưng tất cả chúng ta đều đi qua điều ấy—thế gian, xác thịt và ma quỷ. Nếu vượt qua, chúng ta sẵn sàng tiếp tục bước vào Con Đường Điểm Đạo. Nếu vượt qua thế gian, xác thịt và ma quỷ trong cuộc chạm trán với bản chất thấp nơi sa mạc, chúng ta sẵn sàng cho sự tiến bộ tiếp tục trên con đường tinh thần của điểm đạo. |
|
[72] Then comes the Transfiguration, followed by knowledge of the future |
[72] Rồi đến sự Biến hình, tiếp theo là tri thức về |
|
Because the higher psychism enters involving the ajna center, |
vì thông linh cao cấp bước vào, liên quan đến luân xa ajna, |
|
[73] and complete self-abnegation. |
[73] tương lai và sự tự phủ nhận hoàn toàn. |
|
That’s at the fourth degree. Some third degrees don’t have that yet; at the fourth degree it comes. We have the story of the rich young man: take what you have, sell it, give the money to the poor and follow me. That’s not complete self-abnegation yet. He didn’t do it, but of course, that was a long time ago. He did that eventually and he’s passed on and he’s probably some high initiate in some capacity. |
Điều đó ở cấp độ thứ tư. Một số người ở cấp độ thứ ba chưa có điều ấy; đến cấp độ thứ tư nó mới đến. Chúng ta có câu chuyện về người thanh niên giàu có: hãy lấy những gì ngươi có, bán đi, đem tiền cho người nghèo và theo ta. Đó chưa phải là sự tự phủ nhận hoàn toàn. Ông đã không làm điều đó, nhưng dĩ nhiên, đó là chuyện rất lâu trước đây. Cuối cùng ông đã làm, đã vượt qua, và có lẽ hiện nay là một điểm đạo đồ cao cấp trong một năng lực nào đó. |
|
[74] Therefore, you have the following: |
[74] Vì vậy, các bạn có như sau: |
|
[75] 1. The moment of conception—i.e. individualization. |
[75] 1. Thời điểm thụ thai—tức là biệt ngã hóa. |
|
That’s the birth of that which will become millions of years later, the initiate. |
Đó là sự ra đời của cái mà hàng triệu năm sau sẽ trở thành điểm đạo đồ. |
|
[76] 2. Nine months gestation—i.e. the wheel of life. |
[76] 2. Chín tháng thai nghén—tức là bánh xe sự sống. |
|
And that nine months is millions of years. We’ve all been through it. If I say to you that those who are really interested in these matters have been through maybe 99% of their lives as a human being, it might seem like an exaggeration, but I once worked it out in terms of the thousands of lives we have and the millions of years we spend, and it certainly seemed like in excess of 99%. Then comes |
Và chín tháng ấy là hàng triệu năm. Tất cả chúng ta đã đi qua điều đó. Nếu tôi nói với các bạn rằng những người thật sự quan tâm đến các vấn đề này có lẽ đã đi qua chín mươi chín phần trăm đời sống của họ với tư cách con người, điều đó có vẻ phóng đại; nhưng tôi từng tính toán theo hàng nghìn kiếp sống mà chúng ta có và hàng triệu năm chúng ta trải qua, và chắc chắn dường như vượt quá chín mươi chín phần trăm. Rồi đến |
|
[77] 3. First initiation—i.e. the birth hour. |
[77] 3. lần điểm đạo thứ nhất—tức là giờ sinh. |
|
All this process is a moving, an entry into the fourth kingdom of nature, and then much later into the fifth kingdom of nature. |
Toàn bộ tiến trình này là một sự chuyển động, một sự đi vào giới thứ tư của tự nhiên, và rồi rất lâu sau vào giới thứ năm của tự nhiên. |
|
[78] The path is, therefore, a path on which steady expansion of consciousness is undergone with increasing sensitivity to the higher vibrations. |
[78] Do đó, con đường là một con đường trên đó sự mở rộng đều đặn của tâm thức diễn ra cùng với độ nhạy cảm ngày càng tăng đối với các rung động cao hơn. |
|
It’s pretty hard to look ahead and say what is the next higher vibration, what does that feel like, until we do achieve it and look back and see that we hadn’t achieved it before. From the point of view of having achieved it and then stabilizing that vibration, we can see and understand the lower vibrations in which we had spent a lengthy time in prison of a psychological kind. |
Rất khó nhìn về phía trước và nói rung động cao hơn kế tiếp là gì, nó cảm thấy ra sao, cho đến khi chúng ta thật sự đạt được nó rồi nhìn lại và thấy rằng trước đó mình chưa đạt. Từ quan điểm đã đạt được nó và rồi ổn định rung động ấy, chúng ta có thể thấy và thấu hiểu các rung động thấp hơn mà chúng ta đã dành một thời gian dài bị giam giữ trong đó theo kiểu tâm lý. |
|
Consciousness is expanded. That’s what the path of initiation is. It’s a subtle something, this consciousness. It’s not really material. It’s more relational. It’s one thing touching another, and it’s the result of impression. |
Tâm thức được mở rộng. Đó là con đường điểm đạo. Tâm thức là một điều gì rất tinh tế. Nó không thật sự vật chất. Nó mang tính tương quan hơn. Đó là một sự việc chạm đến một sự việc khác, và là kết quả của ấn tượng. |
|
It’s difficult to define the non-material nature of consciousness. But you know it when things come to light. Before they come to light, it’s like being in a dark room. You don’t know it’s there. You can feel your way around, maybe get a guess, but then a window opens and all that’s there, and I didn’t know it before, and now I see it. Couldn’t see it in the dark or the night sky. |
Thật khó định nghĩa bản chất phi vật chất của tâm thức. Nhưng các bạn biết nó khi sự việc bước ra ánh sáng. Trước khi chúng bước ra ánh sáng, giống như ở trong một căn phòng tối. Các bạn không biết nó ở đó. Các bạn có thể lần mò, có lẽ đoán được, nhưng rồi một cửa sổ mở ra và tất cả hiện rõ ở đó; trước kia tôi không biết, còn bây giờ tôi thấy. Trong bóng tối hay bầu trời đêm, tôi không thể thấy. |
|
The work of Uranus is very interesting. It’s all dark. You’re having a storm at night, but lightning flashes and lights up for a split second. All that is around—that’s that very first of the processes we’ve been looking at here, and that’s the opening up to a realization of the points to be attained, the seeing ahead, even if for just a short moment. |
Công việc của Sao Thiên Vương rất thú vị. Mọi thứ đều tối. Các bạn đang gặp một cơn bão ban đêm, nhưng tia chớp lóe lên và soi sáng trong một phần giây. Tất cả những gì ở quanh đó—đó là tiến trình đầu tiên trong những điều chúng ta đang xem xét ở đây, và đó là sự mở ra cho một nhận thức về các điểm cần đạt tới, việc nhìn thấy phía trước, dù chỉ trong một khoảnh khắc ngắn. |
|
Maybe during the initiation ceremony, we only see for a short moment, because something like lightning occurs. The one Initiator is ruled by Uranus in a way, and he’s imparting the lightning of revelation. But that revelation has to become a steady realization, which means we have to work it out in experience. It’s not just being given to us; it’s being indicated, and then by our own powers we work it out. |
Có lẽ trong nghi lễ điểm đạo, chúng ta chỉ thấy trong một khoảnh khắc ngắn, vì điều gì đó giống như tia chớp xảy ra. Đấng Điểm đạo duy nhất theo một cách nào đó chịu sự cai quản của Sao Thiên Vương, và Ngài truyền trao tia chớp của sự mặc khải. Nhưng sự mặc khải ấy phải trở thành một nhận thức vững bền, nghĩa là chúng ta phải triển khai nó trong kinh nghiệm. Nó không chỉ được trao cho chúng ta; nó được chỉ ra, rồi bằng chính năng lực của mình, chúng ta triển khai nó. |
|
The path is one of steady expansion of consciousness, and it’s undergone with increasing sensitivity to higher vibrations. This can at first be painful. We have the analogy of what’s called growing pains. I didn’t know that those were real until I experienced them myself. |
Con đường là con đường của sự mở rộng tâm thức đều đặn, và nó được trải qua với độ nhạy cảm ngày càng tăng đối với các rung động cao hơn. Lúc đầu điều này có thể đau đớn. Chúng ta có sự tương đồng với cái gọi là đau khi lớn. Tôi không biết những cơn đau ấy là có thật cho đến khi chính tôi trải nghiệm chúng. |
|
[79] This works out at first as sensitiveness to the inner voice and this is one of the most necessary faculties in a disciple. |
[79] Điều này lúc đầu biểu hiện như sự nhạy cảm với tiếng nói nội tâm, và đây là một trong những năng lực cần thiết nhất nơi một đệ tử. |
|
We say hearing. Hearing is the first sense to open up. |
Chúng ta nói đến thính giác. Thính giác là giác quan đầu tiên mở ra. |
|
[80] The Great Ones are looking for those who can rapidly obey the inner voice of their soul. |
[80] Các Đấng Cao Cả đang tìm kiếm những ai có thể nhanh chóng tuân theo tiếng nói nội tâm của linh hồn mình. |
|
Obey the inner voice of the soul, one of the very first out of four requirements. Pay attention to the soul. Obey the inner voice, the voice of conscience, we might call it. It’s in the Enquire the way list, found in this book. Let me just see. |
Tuân theo tiếng nói bên trong của linh hồn, một trong những yêu cầu đầu tiên trong bốn yêu cầu. Hãy chú ý đến linh hồn. Hãy tuân theo tiếng nói bên trong, tiếng nói của lương tâm, chúng ta có thể gọi như vậy. Nó nằm trong danh sách Hãy hỏi đường, được tìm thấy trong sách này. Để tôi xem. |
![]() |
[Picture 1] |
|
My disc is quite full. I’m just hoping that my full disc is not that full, otherwise, I’ll be in a real pickle here. I’ll try to save. Hopefully it will tell me that I’ve been saving, and it allowed me to save. Yes, save as. Let’s try that. And now we’ll hope to see the right time. Yes, there was a save. I eliminated a lot from this computer, but it’s still overstuffed. Hearing is the first sense to open up. |
Đĩa của tôi khá đầy. Tôi chỉ hy vọng rằng ổ đĩa đầy của tôi không đầy đến mức ấy, nếu không tôi sẽ thật sự gặp rắc rối. Tôi sẽ cố lưu. Hy vọng nó sẽ cho tôi biết rằng tôi đã lưu, và nó đã cho phép tôi lưu. Vâng, lưu thành. Hãy thử cách đó. Bây giờ chúng ta hy vọng thấy đúng thời gian. Vâng, đã có một lần lưu. Tôi đã xóa rất nhiều khỏi máy tính này, nhưng nó vẫn quá đầy. Thính giác là giác quan đầu tiên mở ra. |
|
The Great Ones are looking for those who can rapidly obey the inner voice of their soul. We were looking for this idea of Enquire the way. It’s part of a fourfold list, found in three places: Enquire the way, Obey the Inner Impulses of the Soul. They can come in various ways, but hearing about them is the first way. Pay no attention to any worldly consideration, and live a life which is an example to others. Those are such simple things, but to become an adept, says DK, you have to do those things. This is in A Treatise on White Magic, later in the book, page 583. |
Các Đấng Cao Cả đang tìm kiếm những người có thể nhanh chóng tuân theo tiếng nói bên trong của linh hồn mình. Chúng ta đang tìm ý tưởng này về Hãy hỏi đường. Nó là một phần của danh sách tứ phân, được tìm thấy ở ba nơi: Hãy hỏi đường; Hãy tuân theo các Xung động Bên trong của Linh hồn. Chúng có thể đến theo nhiều cách khác nhau, nhưng nghe về chúng là cách đầu tiên. Đừng chú ý đến bất cứ cân nhắc thế tục nào, và hãy sống một đời sống làm gương cho người khác. Đó là những điều rất đơn giản, nhưng để trở thành một chân sư, Chân sư DK nói, các bạn phải làm những điều đó. Điều này nằm trong Luận về Chánh Thuật, phần sau của sách, trang 583. |
|
[81] The times are critical and all aspirants are urged also to render themselves sensitive to the voice of their Master as well. |
[81] Thời cuộc đang nguy cấp, và mọi người chí nguyện cũng được thúc giục làm cho mình nhạy cảm với tiếng nói của Chân sư mình. |
|
Perhaps we confuse what that is at first, and hopefully we don’t run off and find a bunch of misleading astral masters, as some have done with good intentions. |
Có lẽ lúc đầu chúng ta nhầm lẫn điều đó là gì, và hy vọng chúng ta không lao đi tìm một loạt các chân sư cảm dục gây lầm lạc, như một số người đã làm với thiện ý. |
|
[82] His time is fully occupied and disciples must train themselves to be sensitive to His impression. |
[82] Thời gian của Ngài đã hoàn toàn kín, và các đệ tử phải tự rèn luyện để nhạy cảm với sự ấn truyền của Ngài. |
|
His fleeting impression. Economy of time is of the utmost importance to the Master. He’s not going to sit down and have coffee with you. A word to the wise is sufficient. We saw in the DINA books a compression of what DK had to impart in just a page, a page and a half, maybe two, laboriously written out by Alice Bailey as a service to that group. It wasn’t even her ashram, really, and that was enough to direct the life forward for a half a year, a year, or even two years during the war. |
Ấn tượng thoáng qua của Ngài. Sự tiết kiệm thời gian có tầm quan trọng tối thượng đối với Chân sư. Ngài sẽ không ngồi xuống uống cà phê với các bạn. Một lời cho người khôn là đủ. Chúng ta đã thấy trong các sách Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới sự nén lại những gì Chân sư DK phải truyền đạt chỉ trong một trang, một trang rưỡi, có lẽ hai trang, được Bà Alice Bailey nhọc công viết ra như một sự phụng sự cho nhóm ấy. Thật ra đó thậm chí không phải là ashram của bà, và như vậy đã đủ để định hướng đời sống tiến về phía trước trong nửa năm, một năm, hoặc thậm chí hai năm trong thời chiến. |
|
[83] A slight hint, a pointed finger, a hurried suggestion, may be all that He has time to give, and each disciple must be upon the watch. |
[83] Một gợi ý nhẹ, một ngón tay chỉ rõ, một lời đề nghị vội vã, có thể là tất cả những gì Ngài có thời gian để ban cho, và mỗi đệ tử phải luôn canh chừng. |
|
Vigilance and alertness are the watch words of the student of occultism. |
Sự cảnh giác và tỉnh thức là những khẩu hiệu của đạo sinh huyền bí học. |
|
[84] The pressure upon Them is great now that They are moving closer to the physical plane. |
[84] Áp lực đặt lên Các Ngài hiện nay rất lớn, khi Các Ngài đang tiến gần hơn đến cõi hồng trần. |
|
There is pressure from Shambhala and pressure to deal with the vibrations arising from the physical plane. They have a two-way responsiveness required of them—between the Hierarchy and the physical plane, between Shambhala and the physical plane. |
Có áp lực từ Shamballa và áp lực phải xử lý các rung động phát sinh từ cõi hồng trần. Các Ngài cần một sự đáp ứng hai chiều—giữa Thánh Đoàn và cõi hồng trần, giữa Shamballa và cõi hồng trần. |
|
[85] More souls are conscious of Them than when They worked on mental levels only |
[85] Nhiều linh hồn ý thức về Các Ngài hơn so với khi Các Ngài chỉ hoạt động trên các cấp độ cõi trí |
|
They are descending at sacrificial cost, and working on denser planes, they are finding conditions more difficult. Even they have to guard their own health. The congestion found in the big cities can cause a problem. Was it Master Morya that said one of his students had caused, probably very temporarily, the Master R. to fall ill through the intensity of the connection? Hard to explain, but that’s what was said. More souls are conscious of them than when they worked on mental levels only, |
Các Ngài đang giáng xuống với cái giá hy sinh, và khi làm việc trên các cõi đậm đặc hơn, Các Ngài thấy các điều kiện khó khăn hơn. Ngay cả Các Ngài cũng phải bảo vệ sức khỏe của mình. Sự ùn tắc trong các thành phố lớn có thể gây vấn đề. Có phải Chân sư Morya đã nói rằng một trong những đạo sinh của Ngài đã khiến Chân sư R., có lẽ rất tạm thời, bị bệnh do cường độ của mối liên hệ? Khó giải thích, nhưng đó là điều đã được nói. Nhiều linh hồn ý thức về Các Ngài hơn so với khi Các Ngài chỉ làm việc trên các cấp độ trí tuệ, |
|
[86] and They also, working on denser planes, are finding conditions more difficult. |
[86] và chính Các Ngài, khi hoạt động trên các cõi đậm đặc hơn, cũng đang nhận thấy các điều kiện khó khăn hơn. |
|
The love of humanity impels them. |
Tình thương đối với nhân loại thúc đẩy Các Ngài. |
|
[87] The devas and disciples, aspirants and those upon the probationary path are being gathered around Them now and are being organized into groups with special work assigned. |
[87] Các thiên thần và đệ tử, những người chí nguyện và những người trên con đường dự bị hiện đang được quy tụ quanh Các Ngài và được tổ chức thành các nhóm với công việc đặc biệt được giao phó. |
|
Some of what Master D.K. attempted is here indicated. He tried, and only He is in a position to know what was the success of it. The success is never entirely what the originator hopes, as you probably know from your own efforts. |
Một phần điều Chân sư DK đã cố thực hiện được chỉ ra ở đây. Ngài đã cố gắng, và chỉ Ngài ở vị thế biết mức thành công của điều đó. Thành công không bao giờ hoàn toàn như người khởi xướng hy vọng, như có lẽ các bạn biết từ những nỗ lực của chính mình. |
|
[88] Some souls can work only in mass formation, banded together and unified by a common aspiration. |
[88] Một số linh hồn chỉ có thể hoạt động trong đội hình đông đảo [Page 354], liên kết với nhau và được thống nhất bởi một khát vọng chung. |
|
It’s an earlier phase— |
Đó là một giai đoạn sớm hơn— |
|
[89] Such are the majority of Christians, for instance, in the churches. |
[89] Chẳng hạn, đó là trường hợp của đa số Cơ Đốc nhân trong các giáo hội. |
|
Independent work is not yet possible for most. |
Công việc độc lập đối với đa số vẫn chưa thể có. |
|
[90] These, knowing not the laws of occultism, and only sensing the inner truth, work on broad lines of preparation. |
[90] Những người này, không biết các định luật của huyền bí học mà chỉ cảm nhận chân lý nội tâm, hoạt động theo những đường lối chuẩn bị rộng lớn. |
|
In relation to the Path of Probation. D.K. has told us that the Bible and such books are really books for the probationary path. They’re not yet occult books, and they hint at occultism. The Christ was teaching the secrets of the kingdom of heaven to his disciples, but in parables to others. Now, mostly we’ve got the parables, and many people sanctify the parables as if they are the last word. |
Liên quan đến Con Đường Dự Bị. Chân sư DK đã cho chúng ta biết rằng Kinh Thánh và các sách như vậy thật sự là các sách dành cho con đường dự bị. Chúng chưa phải là các sách huyền bí, và chúng gợi ý về huyền bí học. Đức Christ đã dạy các bí mật của Thiên Giới cho các đệ tử của Ngài, nhưng với những người khác thì bằng dụ ngôn. Hiện nay, phần lớn chúng ta có các dụ ngôn, và nhiều người thánh hóa các dụ ngôn như thể chúng là lời cuối cùng. |
|
People are always looking for the last word, mostly because they are afraid, spiritually lazy, and cannot contain the idea of an eternity which has ever been, not just an eternity originating with their birth. Welcome to eternity. When someone dies, they say, now you will have eternal life—but he’s always had eternal life. Life is eternal, and there’s only one Life. These simple concepts take a while and many relinquishments before they are accepted. |
Con người luôn tìm kiếm lời cuối cùng, phần lớn vì họ sợ hãi, lười biếng về tinh thần, và không thể chứa đựng ý tưởng về một sự vĩnh cửu vốn luôn hiện hữu, chứ không phải một sự vĩnh cửu khởi đầu với sự sinh ra của họ. Chào mừng đến với vĩnh cửu. Khi ai đó chết, người ta nói: bây giờ bạn sẽ có sự sống vĩnh cửu—nhưng người ấy luôn luôn có sự sống vĩnh cửu. Sự sống là vĩnh cửu, và chỉ có một Sự sống. Những khái niệm đơn giản này cần một thời gian và nhiều sự buông bỏ trước khi được chấp nhận. |
|
[91] They are aided by bands of lesser devas or angels who suggest, guide and control. |
[91] Họ được trợ giúp bởi các nhóm thiên thần bậc thấp hơn, những vị gợi ý, hướng dẫn và kiểm soát. |
|
Many of them are conscious, self-conscious. |
Nhiều vị trong số họ có ý thức, có ngã thức. |
|
[92] Others more advanced work in smaller groups. They idealize more and in them you see the thinkers and leaders of social reform, of humanitarian regeneration and of church leadership, either Christian or Oriental. |
[92] Những người khác tiến bộ hơn hoạt động trong các nhóm nhỏ hơn. Họ lý tưởng hóa nhiều hơn, và nơi họ các bạn thấy những nhà tư tưởng và những người lãnh đạo công cuộc cải cách xã hội, sự tái sinh nhân đạo và sự lãnh đạo giáo hội, dù thuộc Cơ Đốc giáo hay Đông phương. |
|
It’s moving from exclusively mass initiatives. |
Điều này đang chuyển khỏi các sáng kiến quần chúng thuần túy. |
|
[93] The higher devas guide them, the blue and yellow devas, as the former group are guided by the blue and rose. |
[93] Các thiên thần cao hơn hướng dẫn họ, các thiên thần màu xanh lam và vàng, cũng như nhóm trước được hướng dẫn bởi các thiên thần màu xanh lam và hồng. |
|
Master K.H.’s devas are rose and blue, and blue and yellow sounds a lot like D.K., as the former group are guided by blue and rose. That’s interesting—blue and rose. Master K.H. seems very much involved with the mass of those who aspire, and D.K. more with the blue and gold. |
Các thiên thần của Chân sư K.H. có màu hồng và xanh lam, còn xanh lam và vàng nghe rất giống Chân sư DK, cũng như nhóm trước được hướng dẫn bởi xanh lam và hồng. Điều đó thú vị—xanh lam và hồng. Chân sư K.H. dường như rất liên hệ với khối đông những người khát vọng, còn Chân sư DK liên hệ nhiều hơn với xanh lam và vàng kim. |
|
Anecdotally, I went to the University of Michigan. The colors were yellow and blue. I guess the flag of Sweden is that way now, and there was always this glee club refrain, “Hurrah for the yellow and the blue.” I’ve always loved the yellow and the blue together. The mental factor is coming in on the yellow, and the blue is the heart factor. When we deal with the rose, we’re dealing with the solar plexus, with aspiration, and the blue, of course depending on the shade, the Love-Wisdom vibration. |
Theo giai thoại, tôi đã học tại Đại học Michigan. Màu của trường là vàng và xanh lam. Tôi đoán quốc kỳ Thụy Điển hiện nay cũng như vậy, và luôn có điệp khúc của câu lạc bộ hợp xướng: “Hoan hô màu vàng và xanh lam.” Tôi luôn yêu thích màu vàng và xanh lam đi cùng nhau. Yếu tố trí tuệ đi vào qua màu vàng, và màu xanh lam là yếu tố trái tim. Khi chúng ta đề cập đến màu hồng, chúng ta đang đề cập đến tùng thái dương, đến khát vọng; và màu xanh lam, dĩ nhiên tùy sắc độ, là rung động Bác Ái – Minh Triết. |
|
[94] Back of them stand the still more advanced—the aspirants, probationers and disciples of the world. |
[94] Đằng sau họ là những người còn tiến hóa cao hơn—những người chí nguyện, các đệ tử dự bị và các đệ tử của thế giới. |
|
Back of the church people, and even the leaders of the church people. When you look at the Pope and some of the high people in the church, they’re obviously even initiates. Somewhere in Initiation, Human and Solar, D.K. talked about the Master Jesus meeting with high Prelates of the Anglican Church. |
Phía sau những người trong giáo hội, và thậm chí các nhà lãnh đạo của những người trong giáo hội. Khi các bạn nhìn vào Giáo hoàng và một số nhân vật cao cấp trong giáo hội, rõ ràng họ thậm chí là các điểm đạo đồ. Ở đâu đó trong Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương, Chân sư DK đã nói về việc Chân sư Jesus gặp gỡ các giáo phẩm cao cấp của Giáo hội Anh giáo. |
|
We’re going to have an interesting time with this, because my chronometer has stopped working, so I have no idea where I am, and we’re going to see whether this is going to be a two-hour program or something else. |
Chúng ta sẽ có một thời gian thú vị với điều này, vì đồng hồ bấm giờ của tôi đã ngừng hoạt động, nên tôi không biết mình đang ở đâu, và chúng ta sẽ xem liệu đây sẽ là chương trình hai giờ hay điều gì khác. |
|
D.K. oftentimes gives hierarchical progressions of people with different capacities. The aspirants, probationers, and disciples are considered above the average church leader, but if Master Jesus is meeting with high prelates in the Anglican Church or the Catholic Church, they are obviously initiates on the sixth ray and are in his group. The aspirants, probationers, and disciples |
Chân sư DK thường đưa ra các tiến trình thứ bậc của những người có năng lực khác nhau. Người chí nguyện, người dự bị và đệ tử được xem là cao hơn nhà lãnh đạo giáo hội trung bình; nhưng nếu Chân sư Jesus đang gặp các giáo phẩm cao cấp trong Giáo hội Anh giáo hoặc Giáo hội Công giáo, thì rõ ràng họ là các điểm đạo đồ thuộc cung sáu và ở trong nhóm của Ngài. Những người chí nguyện, người dự bị và các đệ tử |
|
[95] They work singly or in twos or threes and never in groups exceeding nine—the occult significance of these numbers being necessary to the success of their work. |
[95] Họ làm việc đơn lẻ, hoặc theo nhóm hai hay ba người, và không bao giờ trong các nhóm vượt quá chín người—vì thâm nghĩa huyền bí của những con số này là cần thiết cho sự thành công trong công việc của họ. |
|
Master Morya is always praising the dodecahedron, the twelve-fold assemblage, which is an even number. But then, there is the Teacher in the center, and then you have the archetype of the Ashram—Christ and his twelve disciples. For our purposes, maybe to confine ourselves to groups of nine at the most would be safest. Let the odd numbers be sustained, and maybe then we can learn more about the twelve and the one when we are something higher. |
Chân sư Morya luôn ca ngợi khối mười hai mặt, sự tập hợp mười hai phần, vốn là một số chẵn. Nhưng rồi có Huấn sư ở trung tâm, và khi đó các bạn có nguyên mẫu của ashram—Đức Christ và mười hai đệ tử của Ngài. Với mục đích của chúng ta, có lẽ tự giới hạn trong các nhóm tối đa chín người là an toàn nhất. Hãy duy trì các số lẻ, và có lẽ khi đó chúng ta có thể học thêm về mười hai và một khi chúng ta ở một mức cao hơn. |
|
[96] Great white and gold devas attend their labours. |
[96] Các thiên thần vĩ đại sắc trắng và vàng phụ trợ cho những lao tác của họ. |
|
I’m thinking that Master Morya works with red and gold devas. I think it’s more or less correct. Master M works with white and gold devas. Three great groups of angels—the gold, the flame-colored, and the white and gold—work on mental levels with those lesser angels or devas. He seeks to touch the inner spiritual fire. These three great groups of devas (gold, flame-colored, and white and gold) are, until we have the experience, just interesting words that direct us to what some of these great teachers can do. |
Tôi đang nghĩ rằng Chân sư Morya làm việc với các thiên thần đỏ và vàng kim. Tôi nghĩ điều đó ít nhiều đúng. Chân sư M. làm việc với các thiên thần trắng và vàng kim. Ba nhóm thiên thần vĩ đại—vàng kim, màu lửa, và trắng-vàng kim—làm việc trên các cấp độ trí tuệ cùng với những thiên thần nhỏ hơn ấy. Ngài tìm cách chạm đến lửa tinh thần bên trong. Ba nhóm thiên thần vĩ đại này, vàng kim, màu lửa, và trắng-vàng kim, cho đến khi chúng ta có kinh nghiệm, chỉ là những từ ngữ thú vị hướng chúng ta đến điều mà một số Huấn sư vĩ đại này có thể làm. |
|
[97] Back again of these three groups stand the Masters and the devas of the formless levels |
[97] Lại nữa, đứng phía sau ba nhóm này là các Chân sư và các thiên thần của những cấp độ vô hình tướng |
|
not described concretely. |
không được mô tả một cách cụ thể. |
|
[98] —a Great Brotherhood, pledged to serve humanity. |
[98] — một Huynh Đệ Đoàn Vĩ Đại, đã nguyện phụng sự nhân loại. |
|
The Masters, and the greater Devas. There are 140 billion (140,000 million) devas and 60 billion human beings in our solar system, depending on what you’re reading. Obviously we’re not going to understand all their categories when we can barely understand the different categories of man. |
Các Chân sư, và các thiên thần lớn hơn. Có một trăm bốn mươi tỷ thiên thần và sáu mươi tỷ con người trong hệ mặt trời của chúng ta, tùy theo tài liệu các bạn đọc. Rõ ràng chúng ta sẽ không hiểu hết các loại của họ khi chúng ta còn chỉ vừa đủ hiểu các loại người khác nhau. |
|
This is a progression from the blue and rose, from the blue and gold, then the flame-colored, the white and gold, with the aspirants and so forth. Then the flame color of agony is added when Master M gets to work—flame-colored, gold, and white and gold, not just white, but white and gold. All of this will make more sense to us as we go along. |
Đây là một tiến trình từ xanh lam và hồng, từ xanh lam và vàng kim, rồi màu lửa, trắng và vàng kim, với những người chí nguyện và vân vân. Sau đó màu lửa của khổ đau được thêm vào khi Chân sư M. bắt tay vào việc—màu lửa, vàng kim, và trắng-vàng kim, không chỉ trắng, mà trắng và vàng kim. Tất cả điều này sẽ có ý nghĩa hơn đối với chúng ta khi chúng ta tiếp tục. |
|
[99] Movements are being set on foot to transmute, if possible, the labours of destruction into constructive work. |
[99] Các phong trào đang được khởi xướng nhằm, nếu có thể, chuyển hoá những công việc phá hoại thành công việc xây dựng. |
|
There was a big goodwill movement in 1935–36, and there was the attempt to avert the war, but it precipitated, and the broom of Shambhala swept things very clean. Great was the opportunity following, but did we take advantage of that? Is our house fuller still, more full of devils than it was before? |
Đã có một phong trào thiện chí lớn vào năm 1935–1936, và đã có nỗ lực nhằm ngăn chiến tranh, nhưng nó đã ngưng tụ, và cây chổi của Shamballa quét dọn mọi thứ rất sạch. Cơ hội tiếp theo thật lớn lao, nhưng chúng ta có tận dụng không? Ngôi nhà của chúng ta có còn đầy hơn nữa, đầy quỷ hơn trước không? |
|
[100] The time is critical, for a pause has come in the work of the destroyers. |
[100] Thời điểm này thật nguy cấp, vì đã có một khoảng tạm dừng trong công việc của những kẻ phá hoại. |
|
This was in the 1930s. |
Điều này là vào thập niên 1930. |
|
[101] There is opportunity for the tide to turn and for the re-building of the body social. |
[101] Có cơ hội để chiều hướng xoay chuyển và để tái thiết cơ thể xã hội. |
|
As it appears, humanity was not equal to this, and unfortunately, the disciples of the world also were not equal to this. May we be now equal, because the dangers are even greater. When DK is writing after the war, he suggests that the whole human experiment might have to come to an end—that’s a pretty big danger. The weaponry is quite remarkable, and it is possible that the weaponry is advancing rapidly now. Even if the fifth ray ashram, per se, is deactivated and only functioning under the greater third ray, |
Theo bề ngoài, nhân loại đã không đáp ứng được điều này, và đáng tiếc là các đệ tử của thế giới cũng không đáp ứng được. Mong rằng hiện nay chúng ta có thể đáp ứng, vì các nguy hiểm còn lớn hơn. Khi Chân sư DK viết sau chiến tranh, Ngài gợi ý rằng toàn bộ thí nghiệm nhân loại có thể phải đi đến kết thúc—đó là một nguy hiểm rất lớn. Vũ khí thật đáng kể, và có thể vũ khí hiện nay đang tiến bộ nhanh chóng. Ngay cả nếu ashram cung năm, chính nó, bị bất hoạt và chỉ vận hành dưới cung ba lớn hơn, |
|
[102] It is for this reason that each one of you needs to make a fresh dedication of himself to the work of the redemption. |
[102] Chính vì lý do này mà mỗi người trong các bạn cần tận hiến lại chính mình cho công cuộc cứu chuộc. Các phàm ngã phải lắng chìm. |
|
This was written a long time ago, but it applies to us as a group right now. |
Điều này được viết từ lâu, nhưng áp dụng cho chúng ta như một nhóm ngay bây giờ. |
|
Personalities must be submerged. |
Các phàm ngã phải được dìm xuống. |
|
How do we do that? We keep on remembering who we are, and when personality promptings come up, we just don’t give in to them if they are contrary to the indications of the emergent soul within us. There’s an emphasis today on self-expression, and that’s fine in a way. But for the real disciples and the true aspirants who have taken the first initiation and thus are, in a sense, disciples, |
Chúng ta làm điều đó bằng cách nào? Chúng ta tiếp tục nhớ mình là ai, và khi các thúc đẩy của phàm ngã nổi lên, chúng ta đơn giản không nhượng bộ nếu chúng trái với các chỉ dẫn của linh hồn đang trỗi dậy bên trong chúng ta. Ngày nay có sự nhấn mạnh vào tự biểu lộ, và theo một cách nào đó điều đó cũng tốt. Nhưng đối với các đệ tử thật sự và những người chí nguyện chân chính đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất, và do đó theo một nghĩa nào đó là đệ tử, |
|
Personalities must be submerged. We don’t expect this of people who are still developing their personalities. They have to develop them through expression and so forth. |
Các phàm ngã phải được dìm xuống. Chúng ta không mong điều này nơi những người vẫn đang phát triển phàm ngã của họ. Họ phải phát triển chúng thông qua biểu lộ và những điều tương tự. |
|
[103] Aspirants must live harmlessly in thought and word and deed. |
[103] Những người chí nguyện phải sống vô tổn hại trong tư tưởng, lời nói và hành động. |
|
The rules are very straight, very strong, very tough. Can we live up to that? Go through the day and live harmlessly in thought, word, and deed. That simple sentence—can we live up to that? Harmlessness is the life expression of the man who realizes himself to be everywhere, who lives consciously as a soul, whose nature is love, whose method is inclusiveness, and for whom all forms are alike in that they veil and hide the light and are but externalizations of the One Infinite Being. Live a day harmlessly in thought, word, and deed. |
Các quy luật rất thẳng thắn, rất mạnh mẽ, rất khó. Chúng ta có thể sống đúng như vậy không? Hãy đi qua một ngày và sống vô tổn hại trong tư tưởng, lời nói và hành động. Câu đơn giản ấy—chúng ta có thể sống đúng như vậy không? Tính vô tổn hại là biểu lộ sự sống của người nhận ra mình hiện hữu khắp nơi, sống có ý thức như một linh hồn, có bản chất là tình thương, có phương pháp là tính bao gồm, và đối với người ấy mọi hình tướng đều giống nhau ở chỗ chúng che phủ và ẩn giấu ánh sáng, và chỉ là những sự ngoại hiện của Đấng Hiện Hữu Vô Biên Duy Nhất. Hãy sống một ngày vô tổn hại trong tư tưởng, lời nói và hành động. |
|
[104] In this way each one of you will provide a pure channel, will become an outpost for the consciousness of the Master and provide a centre of energy through which the Brotherhood can work. |
[104] Bằng cách này, mỗi người trong các bạn sẽ tạo nên một vận hà thanh khiết, sẽ trở thành một tiền đồn cho tâm thức của Chân sư, và cung cấp một trung tâm năng lượng qua đó Huynh Đệ Đoàn có thể hoạt động. |
|
That business of becoming the outpost—we use it in our meditations. When we enter the blue disk and we start to ascend toward contact with various planets or their devic representatives, this is the method: be a pure channel, and we can become then an outpost for the consciousness of the Master. Maybe not before, until we are the pure channel. |
Việc trở thành tiền đồn ấy—chúng ta dùng nó trong các bài tham thiền của mình. Khi chúng ta đi vào đĩa xanh lam và bắt đầu đi lên hướng tới sự tiếp xúc với các hành tinh khác nhau hoặc các đại diện thiên thần của chúng, phương pháp là như vậy: hãy là một kênh tinh khiết, và khi đó chúng ta có thể trở thành một tiền đồn cho tâm thức của Chân sư. Có lẽ không trước đó, cho đến khi chúng ta là kênh tinh khiết. |
|
It’s one thing to be translucent—the light can get through—but it’s another thing to be transparent, with much greater intensity of light and much greater clarity in general. The requirements of the occult life are pretty stiff. They are exacting. As we wander in and put our hand to the plow, many of those who stop and turn around and leave the field. I’ve seen it. I know that I’ve done it, and others have done it. Maybe we’ve all done it in those vacillating days when we are first taking up the attempt to tread the path of occultism. |
Trong suốt là một chuyện—ánh sáng có thể xuyên qua—nhưng minh bạch lại là chuyện khác, với cường độ ánh sáng lớn hơn nhiều và nói chung là sự rõ ràng lớn hơn nhiều. Các yêu cầu của đời sống huyền bí khá nghiêm ngặt. Chúng đòi hỏi cao. Khi chúng ta lang thang đi vào và đặt tay lên lưỡi cày, nhiều người dừng lại, quay quanh và rời khỏi cánh đồng. Tôi đã thấy điều đó. Tôi biết mình đã làm vậy, và những người khác cũng đã làm. Có lẽ tất cả chúng ta đều đã làm trong những ngày dao động khi lần đầu tiên bắt đầu nỗ lực bước trên con đường huyền bí học. |
|
It looks pretty unbelievable when you look back and see now the advantages of everything that lies ahead. But that’s where some people are. You just can’t scold them to death—they’re going to do what they’re going to do. Hopefully the kind of encouragement can be offered that will help them re-grip the plow and really lean into it no matter how discouraged they may be at the moment and how much other forces are pulling upon them or some kind of satisfaction, which has been denied during the period when you’ve been trying very hard in relation to the path. |
Khi nhìn lại và thấy giờ đây các lợi ích của mọi điều nằm phía trước, điều đó trông khá khó tin. Nhưng đó là nơi một số người đang ở. Các bạn không thể trách mắng họ đến chết—họ sẽ làm điều họ sẽ làm. Hy vọng có thể trao một sự khích lệ nào đó giúp họ nắm lại lưỡi cày và thật sự dồn sức vào đó, bất kể lúc này họ nản lòng đến đâu và các mãnh lực khác đang lôi kéo họ ra sao, hoặc một loại thỏa mãn nào đó đã bị từ chối trong thời kỳ các bạn đã cố gắng rất nhiều liên quan đến con đường. |
|
[105] The prime problem of the aspirant is to dominate the emotional nature. |
[105] Vấn đề hàng đầu của người chí nguyện là chế ngự bản chất cảm xúc. |
|
That’s what the book is all about. Master DK comes in writing at a time when quite a few people are ready for that and struggling, as the psychology of the last century has shown us and given people opportunity. The prime problem of the aspirant is to dominate the emotional nature. |
Đó là toàn bộ nội dung của cuốn sách. Chân sư DK bắt đầu viết vào thời điểm có khá nhiều người sẵn sàng cho điều đó và đang vật lộn, như tâm lý học của thế kỷ trước đã cho chúng ta thấy và đã trao cơ hội cho con người. Vấn đề chính yếu của người chí nguyện là chế ngự bản chất cảm xúc. |
|
[106] Then he stands victor on the field of Kurukshetra; |
[106] Bấy giờ y đứng như người chiến thắng trên cánh đồng [Page 355] Kurukshetra; |
|
A plain south of the city of Delhi, India. The story goes that glass formations can be found at Kurukshetra which only could be created under the influence of impress or because of the detonation of atomic weapons. Is it possible? Anyway, it was a real thing four million years ago, and in the psyche of every disciple, including ourselves, it’s a real thing. The battle—the scorpionic battle. Once having released yourself from that battle, things go faster. But there are going to be battles all along the way. Can we link Kurukshetra with the temptations in the desert? Maybe not. Maybe the Kurukshetra comes earlier, and then you get retested in the desert following apparently the purification of the astral body. |
Một đồng bằng phía nam thành phố Delhi, Ấn Độ. Câu chuyện kể rằng tại Kurukshetra có thể tìm thấy những cấu trúc thủy tinh chỉ có thể được tạo ra dưới ảnh hưởng của sức ép hoặc do sự kích nổ của vũ khí nguyên tử. Có thể không? Dù sao, đó là một điều có thật bốn triệu năm trước, và trong tâm thức của mọi đệ tử, kể cả chúng ta, nó là một điều có thật. Trận chiến—trận chiến kiểu Hổ Cáp. Một khi đã giải phóng mình khỏi trận chiến ấy, mọi việc diễn ra nhanh hơn. Nhưng sẽ còn có những trận chiến suốt dọc đường. Chúng ta có thể liên kết Kurukshetra với các cám dỗ nơi sa mạc không? Có lẽ không. Có lẽ Kurukshetra đến sớm hơn, rồi các bạn được thử thách lại nơi sa mạc sau khi dường như đã thanh lọc thể cảm dục. |
|
[107] the clouds have rolled away, and henceforth he can walk in the light. |
[107] mây đã tan đi, và từ đó y có thể bước đi trong ánh sáng. |
|
Taking the Sirian Path of Initiation, whether or not his Path is the Path to Sirius. |
Đi theo Con Đường Điểm Đạo Sirius, dù Con Đường của y có phải là Con Đường đến Sirius hay không. |
|
Nevertheless, initiation on our planet at least is sponsored by Sirius and probably throughout the solar system in as much as the Solar Logos is the disciple of the Logos of Sirius. So dominate the emotional nature, control the body of motion for the waves that rise upon the stormy seas of life, engulf the swimmer, shut out the sun and render all plans futile. Turn to page 473 in this book and you’ll see those important 15 councils. |
Tuy nhiên, điểm đạo trên hành tinh chúng ta ít nhất được Sirius bảo trợ, và có lẽ trong toàn hệ mặt trời, bởi vì Thái dương Thượng đế là đệ tử của Thượng đế Sirius. Vì vậy, hãy chế ngự bản chất cảm xúc, kiểm soát thể của chuyển động, vì những làn sóng nổi lên trên biển đời bão tố sẽ nhấn chìm người bơi, che khuất mặt trời và làm mọi kế hoạch trở nên vô ích. Hãy mở trang 473 trong sách này, các bạn sẽ thấy mười lăm lời khuyên quan trọng ấy. |
|
We become the victor and we have thrown our lot, our energy, our dedication, our aspiration on the side of the good guys, the good part of ourselves, the higher aspects of ourselves, those soul powers and the representations of soul powers within our personality. We now fight on their side even though our opponents are of our own family. In other words, they’re part of our nature, in this case the personality nature. |
Chúng ta trở thành người chiến thắng và đã đặt số phận, năng lượng, sự thánh hiến, khát vọng của mình về phía những người tốt, phần tốt của chính mình, các phương diện cao hơn của chính mình, những quyền năng linh hồn và các đại diện của quyền năng linh hồn trong phàm ngã của mình. Giờ đây chúng ta chiến đấu về phía họ, dù các đối thủ của chúng ta thuộc chính gia đình mình. Nói cách khác, họ là một phần bản chất của chúng ta, trong trường hợp này là bản chất phàm ngã. |
|
The clouds have rolled away and henceforth he can walk in the light. |
Các đám mây đã cuộn đi và từ đó về sau y có thể bước đi trong ánh sáng. |
|
[108] Let it here be remembered that this very freedom to walk in the light carries with it its own problems. |
[108] Ở đây cần nhớ rằng chính sự tự do được bước đi trong ánh sáng này cũng mang theo những vấn đề riêng của nó. |
|
one after another. Galaxies have problems; they merge and you wonder what are the casualties in this merging? Who is swallowing whom? How can this be? |
hết vấn đề này đến vấn đề khác. Các thiên hà cũng có vấn đề; chúng hợp nhất, và các bạn tự hỏi thương vong trong sự hợp nhất này là gì? Ai đang nuốt ai? Điều này có thể ra sao? |
|
[109] You ask how this can be? Let me give one simple, yet (I think you will find) convincing argument. |
[109] Các bạn hỏi điều này có thể như thế nào? Tôi xin đưa ra một luận cứ đơn giản, nhưng (tôi nghĩ các bạn sẽ thấy) có sức thuyết phục. |
|
Always there are higher and higher conflicts and the new field of freedom finds its own conflicts of a higher kind with more important results. |
Luôn luôn có những xung đột ngày càng cao hơn, và lĩnh vực tự do mới tìm thấy những xung đột riêng thuộc một loại cao hơn, với những kết quả quan trọng hơn. |
|
[110] When a man literally walks in the light of his soul and the clear light of the sun pours through him—revealing the Path, —it reveals at the same time the Plan. |
[110] Khi một con người thật sự bước đi trong ánh sáng của linh hồn mình, và ánh sáng trong trẻo của mặt trời tuôn chảy xuyên qua y — làm hiển lộ Đường Đạo — thì đồng thời ánh sáng ấy cũng hiển lộ Thiên Cơ. |
|
Alignment, Light, Crisis, Accolade, or is it Alignment, Crisis, Light, Revelation, and then Integration and Initiation and so forth? |
Chỉnh hợp, Ánh sáng, Khủng hoảng, Sự ban ân; hay là Chỉnh hợp, Khủng hoảng, Ánh sáng, Mặc khải, rồi đến Tích hợp và Điểm đạo, vân vân? |
|
We’ve gone through that quite a bit and in other commentary on the Old Commentary, I’ve taken this in and tried to deal with it. First comes the light that shines on the personality and reveals all the inadequacies, but almost simultaneously comes the revelation of the plan. It can be that when you’ve got yourself in hand, you’re much more ready to deal with the plan, but as the plan begins to reveal itself, there’s light with that and it also reveals to you the aspects of yourself which are inadequate to handling the plan. |
Chúng ta đã bàn khá nhiều về điều đó, và trong phần bình giảng khác về Cổ Luận, tôi đã đưa điều này vào và cố gắng xử lý nó. Trước hết là ánh sáng chiếu lên phàm ngã và khải lộ mọi điều bất toàn; nhưng gần như đồng thời cũng có sự mặc khải về Thiên Cơ. Có thể là khi các bạn đã tự làm chủ mình, các bạn sẵn sàng hơn nhiều để xử lý Thiên Cơ; nhưng khi Thiên Cơ bắt đầu tự khải lộ, ánh sáng đi kèm với nó cũng khải lộ cho các bạn những phương diện nơi bản thân mình còn bất toàn, chưa đủ để đảm đương Thiên Cơ. |
|
A lot of this is not just a linear process, even though DK has to deal with it at first in a linear way. Alignment causes a crisis, the crisis causes the breaking forth of the light, then comes a revelation of the plan, accolade, and then finally the integration. It’s in that section about the integration of the soul and personality. |
Phần lớn điều này không chỉ là một tiến trình tuyến tính, dù ban đầu Chân sư DK phải trình bày nó theo cách tuyến tính. Sự chỉnh hợp gây nên một cuộc khủng hoảng; cuộc khủng hoảng làm ánh sáng bừng ra; rồi đến sự mặc khải về Thiên Cơ, sự ban ân, và cuối cùng là sự tích hợp. Điều này nằm trong phần nói về sự tích hợp của linh hồn và phàm ngã. |
|
In Esoteric Psychology II, when a man literally walks in the light of his soul, as we are intent on doing, and the clear light of the sun, which is the Angel of the Presence and our own Monad in Extension in the causal body, when the light of the Sun pours through him, revealing the Path ahead, it reveals at the same time the Plan. The revelation of the Plan—we’ve got to have it. |
Trong Tâm Lý Học Nội Môn II, khi một người thật sự bước đi trong ánh sáng của linh hồn mình, như chúng ta đang chuyên tâm thực hiện, và ánh sáng trong trẻo của mặt trời, tức Thiên Thần của Hiện Diện và Chân Thần-trong-sự-mở-rộng của chính chúng ta trong thể nguyên nhân, khi ánh sáng của Mặt Trời tuôn đổ xuyên qua y, khải lộ Con Đường phía trước, thì đồng thời nó cũng khải lộ Thiên Cơ. Sự mặc khải về Thiên Cơ—chúng ta cần phải có điều đó. |
|
[111] Simultaneously however, he becomes aware of the fact that the Plan is very far as yet from consummation. |
[111] Tuy nhiên, đồng thời y nhận biết rằng Thiên Cơ vẫn còn rất xa mới đạt đến sự hoàn thành. |
|
And not only in humanity in general, but in himself. |
Và không chỉ trong nhân loại nói chung, mà còn trong chính y. |
|
[112] The dark becomes more truly apparent; the chaos and misery and failure of the world groups stand revealed; the filth and dust of the warring forces are noted, and the whole sorrow of the world bears down upon the astounded, yet illuminated, aspirant. |
[112] Bóng tối trở nên thật sự rõ ràng hơn; sự hỗn loạn, khốn khổ và thất bại của các nhóm thế gian được phơi bày; sự ô uế và bụi bặm của các mãnh lực tranh chiến được nhận thấy, và toàn bộ nỗi sầu khổ của thế gian đè nặng lên người chí nguyện kinh ngạc nhưng đã được soi sáng. |
|
It’s a kind of dark night. Apparently, I don’t know if he’s going to deal with it here, but he says the Master Jesus had a kind of dark night of the soul—it really dawned upon his soul, not just his mind, when he was on the cross. In his soul he realized this. We see the failure, and we see the obstacles, and maybe we become aware of just how strong the forces of obstruction really are. |
Đó là một loại đêm tối. Dường như, tôi không biết Ngài có đề cập đến điều đó ở đây không, nhưng Ngài nói rằng Đức Jesus đã trải qua một loại đêm tối của linh hồn—điều đó thật sự bừng sáng trong linh hồn Ngài, chứ không chỉ trong thể trí Ngài, khi Ngài ở trên thập giá. Trong linh hồn mình, Ngài đã nhận ra điều này. Chúng ta thấy sự thất bại, chúng ta thấy các chướng ngại, và có lẽ chúng ta nhận thức được các mãnh lực cản trở thật sự mạnh đến mức nào. |
|
[113] Can he stand this pressure? Can he become indeed acquainted with grief and yet rejoice forever in the divine consciousness? |
[113] Liệu y có thể chịu đựng áp lực này chăng? Liệu y có thể thật sự quen thuộc với khổ đau mà vẫn mãi hoan hỉ trong tâm thức thiêng liêng chăng? |
|
A man of sorrows acquainted with grief. It’s in the Messiah, a wonderful piece of music. If you want to know what channeling is, look at George Friedrich Handel channeling the Messiah in 21 days. |
Một con người của sầu khổ, quen thuộc với đau buồn. Điều đó có trong tác phẩm Đấng Cứu Thế, một nhạc phẩm tuyệt vời. Nếu các bạn muốn biết truyền dẫn là gì, hãy nhìn George Friedrich Handel truyền dẫn Đấng Cứu Thế trong hai mươi mốt ngày. |
|
Can he stand this pressure? Can he become indeed acquainted with grief and yet rejoice forever in the divine consciousness? It all depends on the manner of identification, doesn’t it? |
Y có thể chịu đựng áp lực này không? Y có thể thật sự quen thuộc với đau buồn mà vẫn mãi hoan hỉ trong tâm thức thiêng liêng không? Tất cả tùy thuộc vào cách đồng hoá với, phải không? |
|
[114] Has he the ability to face what the light reveals and still go his way with serenity, sure of the ultimate triumph of good? Will he be overwhelmed by the surface evil and forget the heart of Love which beats behind all outer seeming? This situation should ever be remembered by the disciple, or he will be shattered by that which he has discovered. |
[114] Liệu y có khả năng đối diện với điều mà ánh sáng hiển lộ, nhưng vẫn tiếp tục đi con đường của mình với sự tĩnh lặng, vững tin vào chiến thắng tối hậu của điều thiện chăng? Liệu y sẽ bị choáng ngợp bởi cái ác trên bề mặt và quên mất trái tim của Tình thương đang đập phía sau mọi vẻ ngoài chăng? Đệ tử phải luôn ghi nhớ tình huống này, nếu không, điều y đã khám phá sẽ làm y tan vỡ. |
|
Hence the potential shattering of the one that walks more freely in the light of the soul. Every one of these is a meditation for us, isn’t it? We might just sit with it. How much pressure can we stand? And can we see the world’s grief and rejoice in the Monadic, the divine consciousness of the higher two planes, which will win out, of course? |
Do đó có khả năng tan vỡ nơi người bước đi tự do hơn trong ánh sáng của linh hồn. Mỗi điều này đều là một đề tài tham thiền cho chúng ta, phải không? Chúng ta có thể chỉ cần ngồi với nó. Chúng ta có thể chịu được bao nhiêu áp lực? Và chúng ta có thể thấy nỗi đau buồn của thế gian mà vẫn hoan hỉ trong tâm thức chân thần, thiêng liêng của hai cõi cao hơn, vốn dĩ cuối cùng sẽ chiến thắng hay không? |
|
Can we face this horrible revelation and retain our serenity and assert the fact, assert the ultimate triumph of good? Will I have a superficial point of view and see only the evil and not sense the great love of the other, still greater beings moving behind the surface evil and beating out the rhythm of love? Are we going to be taken in by seeming? That’s a great question concerning the Maha Maya. |
Chúng ta có thể đối diện với sự mặc khải khủng khiếp này mà vẫn giữ được sự tĩnh lặng và khẳng định sự kiện, khẳng định chiến thắng tối hậu của điều thiện hay không? Tôi sẽ có một quan điểm hời hợt, chỉ thấy điều ác mà không cảm nhận được tình thương vĩ đại của những Đấng khác, còn vĩ đại hơn, đang chuyển động phía sau cái ác bề mặt và đang gõ nên nhịp điệu của tình thương chăng? Chúng ta có bị vẻ ngoài lừa gạt không? Đó là một câu hỏi lớn liên quan đến Đại Ảo Lực. |
|
All of this is a seeming, but what is underneath? Here’s where our spiritual discernment on the third level of the mental plane comes in. We’ve got to discern something deeper behind the outer chaos. We better remember this or we will go to pieces. |
Tất cả điều này là một vẻ ngoài, nhưng bên dưới là gì? Chính ở đây, phân biện tinh thần của chúng ta trên cấp độ thứ ba của cõi trí phát huy tác dụng. Chúng ta phải phân biện một điều sâu xa hơn phía sau sự hỗn loạn bên ngoài. Tốt hơn là chúng ta nên nhớ điều này, nếu không chúng ta sẽ tan rã. |
|
That’s the problem. The freedom to walk in the light—that’s the problem. It’s what you see and how you respond to it. It’s what you see and how you respond to it. How can this be? He explains: Do we find ourselves at the moment being crushed by the revelation? That’s the question. |
Đó là vấn đề. Sự tự do bước đi trong ánh sáng—đó là vấn đề. Vấn đề là các bạn thấy gì và các bạn đáp ứng với nó như thế nào. Vấn đề là các bạn thấy gì và các bạn đáp ứng với nó như thế nào. Điều này có thể xảy ra như thế nào? Ngài giải thích: Hiện tại chúng ta có thấy mình bị nghiền nát bởi sự mặc khải không? Đó là câu hỏi. |
|
[115] But with the advent of the light, he becomes aware of a new (for him) form of energy. He learns to work in a new field of opportunity. The realm of the mind opens up before him, |
[115] Nhưng với sự xuất hiện của ánh sáng, y nhận biết một hình thức năng lượng mới mẻ đối với y. Y học cách hoạt động trong một lĩnh vực cơ hội mới. Cõi trí mở ra trước y, |
|
Higher mind and transcendental mind. |
Thượng trí và trí tuệ siêu việt. |
|
[116] and he discovers that he can differentiate between the emotional nature and the mental. |
[116] và y khám phá rằng mình có thể phân biệt giữa bản chất cảm xúc và bản chất trí tuệ. |
|
Hopefully, he will not be captivated by Kama-Manasic, which is the condition of mind in which so many people seem to live. |
Hy vọng rằng y sẽ không bị trí-cảm cuốn hút, vốn là tình trạng của thể trí mà dường như rất nhiều người đang sống trong đó. |
|
[117] He discovers also that the mind can be made to assume the position of the controller, and that the sentient forces respond with obedience to mental energies. |
[117] Y cũng khám phá rằng thể trí có thể được đặt vào vị thế của chủ thể kiểm soát, và các mãnh lực hữu cảm đáp ứng một cách tuân phục trước những năng lượng trí tuệ. |
|
This is what we might call steps towards mental polarization. |
Đây là điều chúng ta có thể gọi là những bước tiến đến sự phân cực trí tuệ. |
|
[118] “The light of reason” brings this about—light that is always present in man but which only becomes significant and potent when seen and known, either phenomenally or intuitionally. |
[118] “Ánh sáng của lý trí” tạo nên điều này—ánh sáng vốn luôn hiện diện trong con người, nhưng chỉ trở nên có ý nghĩa và mạnh mẽ khi được thấy và được biết, hoặc qua hiện tượng, hoặc bằng trực giác. |
|
A new relationship to the light of reason. We grow in strength and we can handle this; we don’t need to stay in this overwhelming state. I’ll try to go as far as this. I have no idea how long it is, but a little more anyway. |
Một mối quan hệ mới với ánh sáng của lý trí. Chúng ta lớn mạnh hơn và có thể xử lý điều này; chúng ta không cần phải ở lại trong trạng thái bị áp đảo này. Tôi sẽ cố gắng đi xa đến mức này. Tôi không biết nó dài bao lâu, nhưng dù sao cũng thêm một chút nữa. |
|
[119] Much false teaching is going about these days in connection with the mind and the soul. It might be summed up in the teaching of one school which shall be nameless, as follows: |
[119] Ngày nay, nhiều giáo huấn sai lạc đang được lan truyền liên quan đến thể trí và linh hồn. Có thể tóm lược chúng trong giáo huấn của một trường phái xin không nêu tên như sau: |
|
[120] Nature is cruel and selective. She works by the Law of the survival of the fittest; in the process of selection, millions of lives are sacrificed and much birthing of forms comes to naught. Hence the achieving of soul life is a rare event. |
[120] Thiên nhiên tàn nhẫn và có tính chọn lọc. Thiên nhiên vận hành theo Định luật sinh tồn của kẻ thích nghi nhất; trong tiến trình chọn lọc ấy, hàng triệu sự sống bị hi sinh và nhiều sự sinh thành của các hình tướng trở nên vô ích. Vì vậy, việc đạt được đời sống linh hồn là một sự kiện hiếm hoi. |
|
All experience in form life is noted in the soul realm. That corrects that erroneous teaching. But soul life—people don’t have souls. |
Mọi kinh nghiệm trong đời sống hình tướng đều được ghi nhận trong cõi linh hồn. Điều đó sửa lại giáo huấn sai lầm kia. Nhưng đời sống linh hồn—người ta không có linh hồn. |
|
What does that really say? They don’t have a consciousness? They don’t have a surviving consciousness? What, they’re just material beings? Hence the achieving of soul life is a rare event. |
Điều đó thật sự nói gì? Họ không có tâm thức sao? Họ không có một tâm thức tiếp tục tồn tại sao? Vậy họ chỉ là những hữu thể vật chất sao? Vì thế, việc đạt được đời sống linh hồn là một biến cố hiếm hoi. |
|
[121] Few people have souls and only a few therefore possess immortality and go hence to their own place of power to return no more. |
[121] Ít người có linh hồn, và do đó chỉ một số ít sở hữu sự bất tử, rồi từ đây đi đến nơi quyền năng riêng của họ để không còn trở lại nữa. |
|
Very selfish—what can I say? Very selfish and exclusive and egotistical. Some Christians believe that not everybody has a soul, and certain groups just don’t have souls. But soul is such a difficult word to really define, and you need the constitution of man to discuss this intelligently. |
Rất ích kỷ—tôi có thể nói gì đây? Rất ích kỷ, loại trừ và tự cao. Một số tín đồ Kitô giáo tin rằng không phải ai cũng có linh hồn, và có những nhóm nhất định đơn giản là không có linh hồn. Nhưng linh hồn là một từ rất khó định nghĩa thật sự, và các bạn cần biết cấu tạo của con người để bàn về điều này một cách sáng suốt. |
|
[122] The rest are lost, submerged and swallowed up in the general process of nature, and the human kingdom as a whole is a dead loss except for a few emerging and significant figures which the past and the present produce. They have achieved through the sacrifice of the many. |
[122] Số còn lại bị mất hút, chìm ngập và bị nuốt chửng trong tiến trình chung của thiên nhiên; và giới nhân loại xét như một toàn thể là một mất mát hoàn toàn, ngoại trừ một vài nhân vật đang nổi lên và có ý nghĩa mà quá khứ và hiện tại tạo ra. Họ đã thành tựu nhờ sự hi sinh của số đông. |
|
So many are called but few are chosen, and this is a mounting or a climbing of the mountain of spiritual ambition. Survival of the fittest—only a few of us, not going to be one, will make it and actually have a soul, get a soul, be a soul. And all the rest, too bad for them, have gone down so that I can ascend. It’s so separative, so exclusive, and so untrue. |
Nhiều người được gọi nhưng ít người được chọn, và đây là sự leo lên ngọn núi của tham vọng tinh thần. Sự sinh tồn của kẻ thích nghi nhất—chỉ một số ít trong chúng ta, không phải là một trong số họ, sẽ thành công và thật sự có một linh hồn, đạt được một linh hồn, là một linh hồn. Còn tất cả những người khác, thật đáng tiếc cho họ, đã đi xuống để tôi có thể đi lên. Điều đó quá chia rẽ, quá loại trừ và quá sai sự thật. |
|
[123] But the reaction of men themselves to this teaching is an adequate answer. |
[123] Nhưng chính phản ứng của con người đối với giáo huấn này là một câu trả lời đầy đủ. |
|
I would say it just is not accepted. |
Điều đó đơn giản không được chấp nhận. |
|
[124] The sense of immortality, the surety of an eternal future, the innate belief in God, the revelation of the light, the achieving of a wisdom which helps and aids is not the prerogative of the Senecas, of the St. Pauls, of the Akbars of the race. |
[124] Ý thức về sự bất tử, niềm xác tín về một tương lai vĩnh cửu, niềm tin bẩm sinh nơi Thượng đế, sự mặc khải của ánh sáng, việc đạt được một minh triết có khả năng trợ giúp và nâng đỡ, không phải là đặc quyền của những Seneca, những Thánh Phao-lô, những Akbar của nhân loại. |
|
But of all. |
Mà là của tất cả mọi người. |
|
[125] It is found (and sometimes in its purest form) in the humblest peasant. |
[125] Nó được tìm thấy, và đôi khi trong hình thức tinh khiết nhất, nơi người nông dân khiêm hạ nhất. |
|
the achieving of wisdom. |
Sự đạt được minh triết. |
|
[126] Words of wise counsel fall from the lips of the illiterate, and a knowledge of God and a belief in the soul’s immortality are discovered to be latent in the hearts of the most unlikely and oft of the most sinful. |
[126] Những lời khuyên minh triết thốt ra từ môi miệng của người thất học, và người ta phát hiện rằng tri thức về Thượng đế cùng niềm tin vào sự bất tử của linh hồn vốn tiềm tàng trong trái tim của những người ít ai ngờ tới nhất, và thường là những người tội lỗi nhất. |
|
The immortal soul exists in all—this is widely evident, even in those which society rejects. |
Linh hồn bất tử hiện hữu trong tất cả—điều này hiển nhiên rộng rãi, ngay cả nơi những người bị xã hội ruồng bỏ. |
|
[127] But when the highly evolved and the most intelligent of the race discover in themselves the divine Flame, and awaken the power of the supreme Controller, |
[127] Nhưng khi những người tiến hoá cao và thông minh nhất trong nhân loại khám phá nơi chính mình Ngọn Lửa thiêng liêng, và đánh thức quyền năng của Đấng Điều Khiển tối cao, |
|
If it is supreme, could this be the Monad, |
Nếu là tối cao, liệu đây có thể là chân thần không, |
|
[128] seated at the heart of their being, |
[128] đang ngự nơi trung tâm bản thể họ, |
|
The heart is the life and the Monad is the life. |
Trái tim là sự sống và chân thần là sự sống. |
|
[129] they are very apt to place themselves in a higher category than other people, |
[129] họ rất dễ đặt mình vào một hạng cao hơn những người khác, |
|
There is an egotistical taint in their realization. The realization is not full. |
Có một vết nhiễm tự cao trong nhận thức của họ. Nhận thức ấy chưa trọn vẹn. |
|
[130] and to classify those who do not have their mental grasp of the differentiations of the evolutionary development as differing so widely from them as not to deserve the name of Sons of God. |
[130] và xếp những ai không có sự nắm bắt trí tuệ như họ về các biến phân của sự phát triển thăng thượng tiến hoá vào loại khác biệt với họ đến mức không xứng đáng mang danh Các Con của Thượng đế. |
|
So separative and blind and proud. |
Quá chia rẽ, mù quáng và kiêu hãnh. |
|
[131] They regard all not working in mental energy as lacking souls and hence as lacking eternal persistence as individuals. |
[131] Họ xem tất cả những ai không hoạt động trong năng lượng trí tuệ là thiếu linh hồn [Page 357] và do đó thiếu sự tồn tại bền bỉ vĩnh cửu với tư cách là những cá nhân. |
|
Unless you can really think, you have no soul—this is fallacy. |
Nếu các bạn không thật sự có thể tư duy, các bạn không có linh hồn—đây là một sai lầm. |
|
[132] This is only a glamour of the mind, is part of the great heresy of separateness, and indicates faintly the coming period wherein the mind will be as dominant and as misleading as is the sentient body at this time. |
[132] Đây chỉ là một ảo cảm của thể trí, là một phần của Đại Tà thuyết về sự chia rẽ, và chỉ thoáng cho thấy thời kỳ sắp đến, trong đó thể trí sẽ chiếm ưu thế và gây lầm lạc chẳng khác nào thể cảm giác đang làm vào lúc này. |
|
Trouble still lies ahead with every new elevation. DK warned us about the time when the personality is going to be found as a condition within a majority. Integrated personality is not yet the case, and it will bring its own problems. |
Rắc rối vẫn còn ở phía trước với mỗi sự nâng cao mới. Chân sư DK đã cảnh báo chúng ta về thời kỳ khi phàm ngã sẽ được thấy như một tình trạng nơi đa số. Phàm ngã tích hợp vẫn chưa phải là trường hợp hiện nay, và nó sẽ mang theo những vấn đề riêng. |
|
Sufficient unto the day is the evil thereof. We have to deal with what is before us at the moment, and other issues for resolution are forthcoming. |
Cái ác của ngày nào đủ cho ngày ấy. Chúng ta phải xử lý điều đang ở trước mặt mình trong hiện tại, và những vấn đề khác cần được giải quyết sẽ còn đến. |
|
Let us therefore study the types of mental energy with which the individual has to work and see how this great heresy of separateness and the fallacy of repudiation, as it is sometimes called, can be offset. |
Vì vậy chúng ta hãy nghiên cứu các loại năng lượng trí tuệ mà cá nhân phải làm việc với và xem bằng cách nào Đại Tà thuyết về sự chia rẽ và sai lầm của sự phủ nhận, như đôi khi người ta gọi nó, có thể được hóa giải. |
|
The Law of Repulse is an aspect of the Law of Love. When we repulse, we are repulsing the things that prevent us from realizing the nature of love. |
Định luật Đẩy Lùi là một phương diện của Định luật Bác ái. Khi chúng ta đẩy lùi, chúng ta đang đẩy lùi những điều ngăn cản chúng ta nhận ra bản chất của bác ái. |
|
We’re on page 357, and this has been maybe a two-hour program because I lost my chronometer. Page 357 is going to be about 10 pages, and I will go back to where we left off. I like that—the fallacy of repudiation. Wow. Maybe it says even more to me than the great heresy of separateness, or at least it’s an aspect of it. |
Chúng ta đang ở trang ba trăm năm mươi bảy, và đây có lẽ đã là một chương trình hai giờ vì tôi đã mất máy đo giờ. Trang ba trăm năm mươi bảy sẽ còn khoảng mười trang, và tôi sẽ trở lại chỗ chúng ta đã dừng. Tôi thích điều đó—sai lầm của sự phủ nhận. Thật mạnh mẽ. Có lẽ nó còn nói với tôi nhiều hơn cả Đại Tà thuyết về sự chia rẽ, hoặc ít nhất nó là một phương diện của điều ấy. |
|
This is number 35, and we’ve gone from 347 to 357. Today is the 28th of August. We’re on the 19th program. This is going to be number 20—Rule 10, number 35. This is 10.20. I just want to get this correct. I’ve taken it off onto another disc. I think I have it now. |
Đây là số ba mươi lăm, và chúng ta đã đi từ trang ba trăm bốn mươi bảy đến trang ba trăm năm mươi bảy. Hôm nay là ngày hai mươi tám tháng Tám. Chúng ta đang ở chương trình thứ mười chín. Chương trình này sẽ là số hai mươi—Quy luật mười, số ba mươi lăm. Đây là mười chấm hai mươi. Tôi chỉ muốn ghi cho đúng. Tôi đã chuyển nó sang một đĩa khác. Tôi nghĩ bây giờ tôi đã có nó. |
|
We’re going to begin number 36 next, and it will be 10.20. We’ve just finished up 10.19, which has led us to page 357, and we begin again on 357. It looks like a new subject. We can look at this aspect of the Law of Separateness—not the law, but the heresy of separateness—and that part of it that is called the fallacy of repudiation. |
Kế tiếp chúng ta sẽ bắt đầu số ba mươi sáu, và đó sẽ là mười chấm hai mươi. Chúng ta vừa hoàn tất mười chấm mười chín, điều đã đưa chúng ta đến trang ba trăm năm mươi bảy, và chúng ta lại bắt đầu ở trang ba trăm năm mươi bảy. Có vẻ như đây là một chủ đề mới. Chúng ta có thể xem xét phương diện này của Định luật Chia Rẽ—không phải định luật, mà là tà thuyết về sự chia rẽ—và phần của nó được gọi là sai lầm của sự phủ nhận. |
|
I’m hoping that is a save. It looks like 17.20. Yes, it is. A save is a save is a save. We have approximately a two-hour program here, maybe a little more. We will go on with number 36 and 10—the 20th program on Rule 10 and the 36th program for the Rules of Magic for the Astral Plane. |
Tôi hy vọng đây là một lần lưu. Nó trông giống mười bảy chấm hai mươi. Đúng vậy. Lưu được là lưu được. Ở đây chúng ta có khoảng một chương trình hai giờ, có lẽ hơn một chút. Chúng ta sẽ tiếp tục với số ba mươi sáu và mười—chương trình thứ hai mươi về Quy luật mười và chương trình thứ ba mươi sáu cho Các Quy Luật Huyền Thuật dành cho Cõi Cảm Dục. |
|
Thank you for studying this with me. We’re scratching the surface here, but if we can instill in our consciousness even a fragment of what is suggested, we will be making progress and will be of more use in the presentation of the Divine Plan—manifestation of the Divine Plan. |
Cảm ơn các bạn đã học phần này cùng tôi. Chúng ta chỉ mới chạm vào bề mặt ở đây, nhưng nếu có thể gieo vào tâm thức mình dù chỉ một mảnh nhỏ của điều được gợi ý, chúng ta sẽ tiến bộ và sẽ hữu ích hơn trong việc trình bày Thiên Cơ—sự biểu hiện của Thiên Cơ. |
|
All the best. See you soon. |
Chúc mọi điều tốt lành. Hẹn sớm gặp lại. |
