Webinar Program 41 – Rule 10.25

📘 Sách: Bình Giảng A Treatise on White Magic – Astral Rules – Tác giả: Michael D. Robbins

Astral Rule Webinar 41

Tóm Tắt

Tóm tắt Webinar: Commentary 41-Astral-Plane-10.25_tagged

Hạnh phúc của phàm ngã, niềm vui của linh hồn và chí phúc của tinh thần

Thầy MDR giải thích sự phân biệt ba trạng thái: hạnh phúc đến khi phàm ngã được thỏa mãn trong thể xác, môi trường, quan hệ chung quanh hay cơ hội trí tuệ; niềm vui xuất hiện khi con người cố sống như linh hồn và quan tâm đến sự biểu lộ tốt hơn của người khác; còn chí phúc của tinh thần là một cấp còn cao hơn, phải đi xuyên qua kinh nghiệm của linh hồn mới chạm đến. Thầy nhấn mạnh “hạnh phúc là mục tiêu của cái ngã tách biệt”, còn niềm vui luôn gắn với tính vô ngã, không chiếm hữu và có yếu tố nhóm. Thầy MDR lưu ý người tu tập cần tự xét mình đang sống chủ yếu trong hạnh phúc của phàm ngã, trong niềm vui của linh hồn, hay chỉ trong tình trạng bất mãn pha trộn của cả ba cõi thấp.

Niềm vui đến từ phụng sự và nâng đỡ người khác

Theo đoạn văn được bình giải, việc đem niềm vui đến cho người khác có thể biểu hiện trên ba tầng: cải thiện điều kiện vật chất, mang lại bình an và nâng cao cảm xúc, hoặc kích thích sự sáng tỏ tư tưởng và thấu hiểu. Thầy MDR nhận xét Chân sư DK dường như đang nói từ chính kinh nghiệm của Ngài, vì toàn bộ giáo huấn của Ngài đã tạo tác động mạnh mẽ trên phương diện tâm lý và trí tuệ nơi các đạo sinh. Thầy nhấn mạnh hiệu quả nơi chính người phụng sự là niềm vui nội tại, vì hành động ấy không nhằm đòi hỏi điều gì cho bản thân mà chỉ mong phúc lợi lớn hơn cho người khác.

Những gì không phải là niềm vui

Thầy MDR phân biệt rõ niềm vui với sự hân hoan bốc đồng của tuổi trẻ và với sự mãn nguyện tập trung vào bản thân của người sống khép kín sau “tấm khiên của các ham muốn bảo vệ mình”. Thầy lấy hình ảnh những người trẻ trên truyền hình trông có vẻ rất vui, nhưng theo Thầy đó thường chỉ là sự dồi dào năng lượng và khả năng thỏa mãn dục vọng chứ chưa phải niềm vui của linh hồn. Thầy lưu ý niềm vui thật luôn chứa sự quên mình và sự nâng đỡ tha nhân, trong khi sự hài lòng của người ích kỷ chỉ là trạng thái tự bao bọc và không quan tâm đến nỗi khó khăn của xung quanh.

Niềm vui của linh hồn giữa đau khổ của phàm ngã

Một nghịch lý huyền bí được nhấn mạnh là dù phàm ngã có thể rơi vào khổ sở sâu sắc, niềm vui của linh hồn vẫn có thể được cảm nhận. Thầy MDR cho rằng điều này liên hệ đến việc trong trí tuệ con người nhận ra điều thiện đang được thực hiện, và Thầy liên tưởng đến nhân vật hy sinh trong A Tale of Two Cities, đi ra pháp trường mà vẫn cảm thấy hành động của mình là điều cao cả nhất từng làm. Thầy nhấn mạnh đây là mục tiêu thực tế của đạo sinh: ngay giữa thất vọng, bệnh tật, nghiệp lực và sức ép gia đình, quốc gia hay nhân loại, vẫn giữ được niềm vui vì biết mình đang góp phần vào điều thiện lớn hơn.

Đạo sinh thức tỉnh nhưng nhạy cảm và dễ đau khổ

Khác với những người “nhắm mắt trước chân lý” hoặc tự thôi miên mình trong một vỏ ốc ảo tưởng, người chí nguyện thường đã mở mắt, tập nói thật với chính mình và không còn dựng bức tường ngăn cách với tha nhân. Thầy MDR nhận xét đây là trạng thái rất thường gặp: con người trở nên thức tỉnh, sống động, nhạy cảm và vì thế cũng dễ đau khổ hơn, rồi tự hỏi vì sao thứ mà thế gian gọi là hạnh phúc và bình an dường như đã rời bỏ mình. Theo Thầy, chính ở đây cần phân biện tinh thần: niềm vui thật không phải sự dễ chịu, mà là ánh sáng nhóm và sự tự quên khiến nỗi đau của hoàn cảnh hiện tại bị vượt qua.

Sự quan sát và trợ giúp từ bên trong của các Chân sư

Đoạn “Chúng Ta, những Đấng quan sát và hướng dẫn ở mặt bên trong” được Thầy MDR bình giải như một lời bảo đảm rằng đạo sinh không đơn độc trong chiến trường tiến hóa. Thầy ví các Ngài như bộ tham mưu ở tổng hành dinh theo dõi trận chiến từ vị thế an toàn, nhưng lưu ý rằng các Ngài chỉ có thể đứng đó vì trước kia chính các Ngài cũng đã ở chiến địa. Thầy MDR còn nhận xét con người thường bị để lại “một mình” khá nhiều để tự chứng tỏ và tự tăng cường năng lực, nên sự nâng đỡ bên trong không xóa bỏ thử thách mà làm nền cho thành công tối hậu.

Bí mật tiến hóa nằm trong sự hủy diệt hình tướng

Một phát biểu được Thầy nhấn mạnh là “trong sự hủy diệt của hình tướng ẩn giấu bí mật của toàn bộ tiến hóa”. Thầy MDR nhận xét con người thường bám chặt vào hình tướng và muốn bảo tồn nó bằng mọi giá, kể cả qua viễn tượng “con người điều khiển học” hay thân thể bionic gần như không thể hủy hoại, nhưng đó vẫn là sự bám víu vào nhà tù của chính mình. Thầy dẫn lời Chân sư Morya rằng bỏ hình tướng chẳng đáng lo hơn việc cắt một sợi tóc, và lời Chân sư DK rằng cái chết nhiều lắm chỉ như một cú sốc điện nhẹ; theo Thầy, nỗi sợ chết khủng khiếp đã bị Hắc đoàn gieo vào tâm trí nhân loại suốt hàng thiên niên kỷ.

Cái chết, tái sinh và việc không nên bám chặt vào hình tướng

Thầy MDR giải thích các Chân sư dùng hình tướng đến mức tối đa, duy trì nó lâu chừng nào còn phụng sự mục đích và còn có thể giáo huấn nhân loại qua nó. Nhưng khi hình tướng teo hóa, kết tinh và trở thành chướng ngại cho ánh sáng đang mở rộng, sự hủy diệt của nó lại trở nên hữu ích nhất và một hình tướng mới sẽ được tái thiết nhanh chóng; Thầy xem đây là Định luật Chu Kỳ hay Định luật Tái sinh ở cấp nhân loại. Thầy đặc biệt lưu ý nên học “đi vào giấc ngủ một cách có ý thức”, vì Chân sư DK dạy điều đó sẽ hỗ trợ tiến trình chết; Thầy còn liên hệ khả năng “đến và đi” có ý thức với Sao Hải Vương và sự mở cánh hoa thứ sáu.

Chu kỳ tồn tại của hình tướng và sự gia tốc tiến hóa

Theo bản văn, trong thời sơ khai của nhân loại, các hình tướng tồn tại rất lâu vì tiến hóa diễn ra chậm; nay trên đà đi lên, hình tướng sống mãnh liệt trong thời gian ngắn rồi được thay bằng hình tướng khác. Thầy MDR nhận xét nhịp rung của tâm thức sẽ ngày càng nhanh và nhẹ hơn, nên nỗ lực cố giữ nguyên hình tướng hiện tại vĩnh viễn là không khôn ngoan. Thầy đề xuất nhân loại phải học quý trọng tâm thức hơn sự bền chắc của thể xác đậm đặc, vì điều cốt yếu không phải thân thể còn nguyên bao lâu mà là đã đạt được gì cho sự mở rộng tâm thức.

Thể dĩ thái là trọng tâm của công việc hiện nay

Thầy MDR nhấn mạnh một trong những mục tiêu chính của các Huynh Trưởng hiện nay là kích thích, thanh lọc và phối hợp thể dĩ thái. Thầy nhận xét điều này hoàn toàn phù hợp với thời đại cung bảy, vì cung bảy liên hệ mạnh với thể dĩ thái và sẽ giúp nhân loại có thân thể khỏe mạnh hơn nhờ loại bỏ những “miasma dĩ thái” kết tủa thành bệnh trong thể xác đậm đặc. Thầy cũng phân biệt prana thu từ mặt trời như nguồn sinh lực quan trọng được thể dĩ thái truyền dẫn, bên cạnh chức năng của thể này như môi trường tiếp nhận mọi năng lượng khác đang được khảo cứu.

Thể dĩ thái như bước kế tiếp của tâm thức nhân loại

Ở điểm a, Thầy MDR chú ý đến phát biểu rằng “tâm thức dĩ thái là bước kế tiếp của nhân loại”, dù ở nơi khác Chân sư DK từng nói không có tâm thức dĩ thái; Thầy cho rằng ít nhất điều này có nghĩa là con người sẽ ngày càng nhận biết rõ sự hiện diện và tình trạng của thể dĩ thái. Dấu hiệu ban đầu là khả năng thấy dĩ thái và nhận biết vật chất dĩ thái, điều mà Thầy nói đã xuất hiện ở quy mô khá rộng nơi các đệ tử và sẽ còn tăng theo sự tinh luyện của thể dĩ thái, thể xác và bộ não. Thầy nhận xét đây là một bước chuyển có tính chủng tộc chứ không chỉ cá nhân.

Khoa học và y học sẽ phải công nhận thể dĩ thái

Ở điểm b, bản văn nói thể dĩ thái là lĩnh vực thăm dò ngay trước mắt của khoa học hiện đại, và trong mười năm nhiều bác sĩ sẽ công nhận nó như một sự kiện của bản chất. Thầy MDR nhận xét tiên đoán ấy có thể chưa được phát biểu công khai rộng rãi vì chính thống luôn chống lại người khai phá mô hình mới. Theo Thầy, sự kháng cự đến từ việc người ta không muốn từ bỏ cả đời lao động nhằm bảo vệ một hệ quan niệm có thể là ảo tưởng, nên việc tái cấu trúc tư duy là đòn rất mạnh giáng vào phàm ngã trí tuệ.

Nguồn gốc bệnh tật chủ yếu nằm ở thể dĩ thái và cõi cảm dục

Ở điểm c, Thầy MDR nhấn mạnh hầu như không có bệnh nào thuần hồng trần, vì phần lớn bệnh của thể xác bắt nguồn từ các điều kiện dĩ thái và cảm dục. Thầy giải thích tắc nghẽn, quá kích thích hay thiếu kích thích trong thể dĩ thái sẽ dẫn đến mất quân bình, teo hóa hoặc bệnh trong các cơ quan thể xác, nên phải hiểu vị trí nguyên nhân của thể dĩ thái đối với thân thể. Thầy còn mở rộng rằng nhiều mất quân bình dĩ thái lại do bản chất ham muốn gây ra, nên muốn trị bệnh tận gốc phải lần ngược về tính cách và các hiện thể vi tế; Thầy xem đây là cơ sở cho cách hiểu “tâm-thân” ở mức huyền bí học.

Thông nhãn, thông nhĩ an toàn và sự tinh sạch của thể dĩ thái

Ở điểm d, bản văn nói bí mật của thông nhãn và thông nhĩ an toàn, lành mạnh tùy thuộc vào sự thanh lọc vận cụ dĩ thái. Thầy MDR nhận xét trực giác ban đầu có thể khiến người ta nghĩ chỉ cần thanh lọc thể cảm dục để loại các ảo cảm, nhưng vấn đề ở đây còn là khả năng tiếp nhận ấn tượng vào tâm thức não bộ mà không bị bóp méo. Theo Thầy, một thể dĩ thái sạch, trong, rung động tốt là điều kiện để điều được cảm nhận từ bên trong có thể đi vào bộ não một cách không biến dạng.

Ô nhiễm dĩ thái và ảnh hưởng sinh lực giữa người với người

Ở điểm e, Thầy MDR nhấn mạnh các phát xạ dĩ thái của con người có thể là nguồn ô nhiễm lớn, nên sự thanh lọc thể dĩ thái là bí quyết cho một nhân loại “ngọt lành và lành mạnh” hơn. Thầy đưa ví dụ cá nhân về một nhà tâm lý học lỗi lạc có “rò rỉ dĩ thái”, khiến người làm việc chung luôn cảm thấy bị hút sinh lực và suy kiệt sau mỗi buổi gặp; Thầy dùng điều này để minh họa việc một trường sinh điện có thể trực tiếp ảnh hưởng lên trường của người khác. Thầy kết luận thể dĩ thái là thực tại nguyên nhân, là đối phần có thực chất hơn so với thể xác đậm đặc, và sự quân bình của nó quyết định phần lớn sức khỏe hữu cơ.

Cần nắm các đại cương trước khi đi vào chi tiết

Thầy MDR nhấn mạnh lời khuyên phải bám vào những khái quát rộng cho đến khi toàn bộ vấn đề về thể dĩ thái thành hình rõ ràng trong trí tuệ. Theo Thầy, nếu đi vào chi tiết quá sớm mà chưa thấy các quan hệ thiết yếu, người học sẽ lạc lối. Dù Chân sư DK đã cho rất nhiều dữ kiện trong Luận về Chánh Thuật, Thầy lưu ý rằng so với tri thức tương lai, những điều hiện được trao chỉ mới là “ABC”, nên cần kiên nhẫn hấp thu và để đại cương dẫn đường cho minh triết.

Thể dĩ thái hành tinh và sự kích thích của Trái Đất

Thầy MDR nhấn mạnh công việc trên thể dĩ thái không chỉ giới hạn nơi những người nam và nữ mà là một tiến trình hành tinh, vì sức khỏe của thể dĩ thái con người tùy thuộc sâu sắc vào tình trạng của thể dĩ thái Trái Đất. Thầy liên hệ một số tương ứng trong Chiêm Tinh Học Nội Môn, cho rằng Trái Đất có thể tương ứng với đáy cột sống, với thể dĩ thái, với trung tâm cổ họng tùy ngữ cảnh, và nhắc người học luôn phải cẩn thận xét ngữ cảnh khi Chân sư DK nói về “earth”. Thầy còn gợi ý sự kích thích hiện nay của thể dĩ thái hành tinh có liên quan đến một cuộc điểm đạo bậc thấp của hành tinh, được Chân sư DK nói đến trong Luận về Lửa Vũ Trụ trang 384.

Tinh linh địa cầu và sự tiếp sinh lực của nó

Khi nói về “spirit of the earth”, Thầy MDR phân biệt đây không phải Chân Linh Hành Tinh mà là một thực thể bí ẩn thấp hơn, thuộc cung giáng hạ tiến hoá, gắn với phương diện vật chất. Thầy suy đoán tinh linh địa cầu bao gồm thể xác thấp, thể dĩ thái và có lẽ phần lớn bản chất hành khí của phàm ngã Hành Tinh Thượng đế; vì vậy khi Chân sư DK dùng từ “earth”, có lúc phải phân biệt giữa bầu hành tinh, Dãy, hay toàn bộ hệ hành tinh. Thầy cho rằng thực thể này đang được tiếp sinh lực theo một cách mới, và sự tiếp sinh lực ấy sẽ làm nảy sinh nhiều phát triển đáng chú ý.

Ba tác nhân làm sống động tinh linh địa cầu

Thầy MDR tóm lược ba tác nhân mà bản văn nêu ra: thứ nhất là gia tăng nhịp rung của các nguyên tử dĩ thái do cung nghi lễ, tức cung bảy, đi vào; thứ hai là tác động của một số mãnh lực cảm dục lên thể dĩ thái, làm thay đổi chậm nhưng chắc cấu trúc bên trong của nguyên tử và đánh thức thêm một loa tuyến; thứ ba là việc Mahachohan sử dụng một talisman quyền năng của cung bảy trên các cõi bên trong. Thầy nhận xét talisman này có tác dụng tổ chức vật chất theo các mô hình cung bảy, còn các thay đổi nói trên đều là nguyên nhân nội tại mà chúng ta chỉ thấy hệ quả bên ngoài. Thầy cũng suy luận rằng sự đánh thức thêm một loa tuyến có thể góp phần tạo điều kiện cho sự xuất hiện của giới thứ năm.

Vai trò của Mahachohan, cung bảy và vật chất

Thầy MDR nhận xét Mahachohan hiện nay là Chân sư R., với cấu trúc được Thầy ước đoán là chân thần cung ba và linh hồn cung bảy, nên rất thích hợp với công việc trên vật chất và thể dĩ thái. Thầy nhấn mạnh toàn bộ tiến trình hiện tại cho thấy cung bảy đang lên đỉnh trong ngôi sao năm cánh của năm cung Brahma, và nhân loại sẽ phải học thích ứng với loại năng lượng này. Thầy còn nhắc một nhận xét độc đáo của Chân sư DK rằng chỉ các chân thần cung sáu mới gặp khó khăn đặc biệt với cung bảy, rồi dùng đó để lưu ý rằng hệ thống cung có khi được nói như ba, có khi như bảy, tùy bối cảnh huyền bí.

Tinh linh địa cầu tiến hóa chậm và không mang nhân loại theo

Thầy MDR đặc biệt chú ý câu nói rằng tinh linh địa cầu đang thức tỉnh rất chậm, thuộc cung giáng hạ tiến hoá và chỉ trong tương lai mờ xa mới chuyển sang cung thăng thượng tiến hoá. Theo Thầy, đây là một hữu thể rất nguyên sơ, đại diện mạnh cho phương diện vật chất, có thể chứa nhiều vật chất thừa hưởng từ Dãy Mặt Trăng hay từ hệ mặt trời trước, tức phần cần được cứu chuộc. Thầy nhấn mạnh câu “hắn sẽ không mang chúng ta theo”, hiểu là nhân loại rồi sẽ vượt lên, không còn gắn với những trạng thái ức chế của vật chất mà thực thể này cai quản, dù hiện tại nó vẫn phục vụ mục đích cứu chuộc của chúng ta bằng cách cung cấp “một ngôi nhà trong thân thể của nó”.

Thiên thần dĩ thái và sự tăng tốc tiến hóa

Từ sự kích thích thể dĩ thái hành tinh, Thầy MDR nêu ra rằng các thiên thần của các dĩ thái cũng đang tiến nhanh hơn trong tiến hóa và đến gần lý tưởng của họ hơn. Thầy phân biệt các thiên thần này là loại thăng thượng tiến hoá, khác với các sự sống hành khí thấp hơn thường được gọi là hành khí hay elemental. Thầy nhận xét toàn cảnh này cho thấy mối liên hệ rất lớn giữa các sự sống giáng hạ tiến hoá và thăng thượng tiến hoá, cũng như vai trò hỗ tương của chúng trong kế hoạch cứu chuộc vật chất.

Cung bảy chi phối thể dĩ thái và các cõi phụ tương ứng

Thầy MDR nhấn mạnh “mấu chốt của toàn bộ tình hình” là hiện nay năm cung có cung bảy làm cung trội nhất, và cung bảy kiểm soát thể dĩ thái cũng như các thiên thần của các dĩ thái. Thầy lưu ý cung bảy cai quản cõi phụ thứ bảy của mọi cõi, và trong thời kỳ này đặc biệt chi phối cõi phụ thứ bảy của cõi hồng trần hệ thống, đồng thời do đang ở cuộc tuần hoàn thứ tư nên một cung khi đi vào lâm phàm còn có ảnh hưởng đặc biệt lên cõi phụ thứ tư. Theo Thầy, nắm chắc các danh sách và tương ứng này là phần “từ vựng” cần thiết của huyền bí học; lúc đầu có vẻ nặng nề, nhưng khi đã thuộc thì cấu trúc tư tưởng của Chân sư DK sẽ trở nên rõ ràng hơn nhiều.

Ba biểu hiện hiện thời của tác động cung bảy lên bốn

Trong ba cõi giới, Thầy MDR nhấn mạnh ba hệ quả: thứ nhất, dĩ thái thứ tư, tức thấp nhất của bốn loại dĩ thái, sẽ là cõi hồng trần của tâm thức kế tiếp; thứ hai, cõi phụ thứ tư của cõi cảm dục giữ phần lớn nhân loại sau khi chết nên đây là nơi có thể thực hiện công việc lớn trên số đông; thứ ba, cõi phụ thứ tư của cõi trí là cõi devachan. Thầy ghi nhận ở điểm đầu Chân sư DK nói rất rõ về “tâm thức dĩ thái”, điều dường như đối nghịch với chỗ khác nơi Ngài nói không có tâm thức dĩ thái, nên đây là chỗ cần nghiên cứu cẩn thận hơn. Thầy cũng cho rằng sự kiện vật chất dĩ thái đang bắt đầu trở nên hữu hình với một số người là dấu hiệu trực tiếp của sự kích thích này.

Nhận xét kết thúc về giá trị của việc học và chu kỳ bảy năm tới

Ở phần cuối, Thầy MDR nhận xét loại tài liệu này thấm vào rất chậm nhưng tạo nên một kho tri thức để minh triết được xây dựng trên đó. Thầy đề xuất tận dụng bảy năm còn lại cho đến Đại Mật Nghị và cho đến khi sự ban ra của kỷ nguyên mới bắt đầu, nhằm đồng hóa và áp dụng giáo huấn. Thầy cũng hé mở chủ đề kế tiếp là sự sáng lập của Thánh Đoàn, liên hệ đến Đền Ibez và những dấu vết của ảnh hưởng Shamballa cổ xưa, đặc biệt tại Nam Mỹ, nơi theo Thầy có thể sắp lộ ra thêm nhiều bằng chứng của một thời đại minh triết xa xưa.


Webinar Program 41 – Rule 10.25

[1] When however we seek to live as souls, the contentment of the lower man is discounted and we find joy in our group relationships and in bringing about those conditions which lead to the better expression of the souls of those we contact. [2] This bringing of joy to others in order to produce conditions in which they may better express themselves may have a physical effect as we seek to better their material conditions, or an emotional effect as our presence brings to them peace and uplift, or an intellectual result as we stimulate them to clarity of thought and understanding. [3] But the effect upon ourselves is joy, for our action has been selfless and non-acquisitive, and not dependent upon the aspirant’s circumstance or worldly state. [4] Much happiness is necessarily foregone when ill-health makes its pressure felt, as the environment is difficult and the “accumulated karma of many births” presses down, [5] or as the troubles of the family, nation or race weigh upon the sensitive personality. [6] The happiness of youth [7] or the self-centred contentment of the selfish insulated person (hiding himself behind the shield of his protective desires) must not be confounded with joy.

[1] Tuy nhiên, khi chúng ta tìm cách sống như những linh hồn, sự mãn nguyện của phàm nhân bị xem nhẹ, và chúng ta tìm thấy sự hoan hỉ trong các mối liên hệ nhóm của mình, cũng như trong việc tạo ra những điều kiện dẫn đến sự biểu lộ tốt đẹp hơn của linh hồn nơi những người mà chúng ta tiếp xúc. [2] Việc đem sự hoan hỉ đến cho người khác, nhằm tạo ra những điều kiện trong đó họ có thể biểu lộ chính mình tốt hơn, có thể tạo nên một ảnh hưởng hồng trần khi chúng ta tìm cách cải thiện các điều kiện vật chất của họ; hoặc một ảnh hưởng cảm xúc khi sự hiện diện của chúng ta đem đến cho họ sự bình an và nâng đỡ; hoặc một kết quả trí tuệ khi chúng ta kích thích họ đạt tới sự sáng tỏ trong tư tưởng và thấu hiểu. [3] Nhưng ảnh hưởng đối với chính chúng ta là sự hoan hỉ, vì hành động của chúng ta là vô ngã và không nhằm thu đoạt, cũng không tùy thuộc vào hoàn cảnh hay địa vị thế gian của người chí nguyện. [4] Nhiều hạnh phúc tất yếu phải bị từ bỏ khi bệnh tật gây áp lực, khi môi trường trở nên khó khăn và “nghiệp quả tích lũy của nhiều kiếp sinh” đè nặng xuống, [5] hoặc khi những khó khăn của gia đình, quốc gia hay nhân loại đè lên phàm ngã nhạy cảm. [6] Hạnh phúc của tuổi trẻ [7] hay sự mãn nguyện tập trung vào bản thân của kẻ ích kỷ tự cô lập, ẩn mình sau tấm khiên của những ham muốn tự vệ, không được lẫn lộn với sự hoan hỉ.

[8] It is a platitude as well as an occult paradox to say that in the midst of profound personality distress and unhappiness, the joy of the soul may be known and felt. [9] Such however is the case, and it is for this the student must aim. [10] Some people are happy because they shut their eyes to truth, or are self-hypnotised, hiding themselves within a shell of illusion. [11] But the aspirant has frequently reached the stage wherein his eyes are wide open; he has learnt to speak truth to himself, and has built up no separating wall between himself and [Page 371] others. He is awake and alive; he is sensitive and frequently suffering. He wonders why apparently what the world calls happiness and peace have left him, and asks what is to be the outcome.

[8] Nói rằng giữa nỗi khốn khổ và bất hạnh sâu xa của phàm ngã, sự hoan hỉ của linh hồn vẫn có thể được nhận biết và cảm nhận, vừa là một điều sáo mòn vừa là một nghịch lý huyền bí. [9] Tuy nhiên, sự thật là như vậy, và đó là điều đạo sinh phải hướng tới. [10] Một số người hạnh phúc vì họ nhắm mắt trước chân lý, hoặc tự thôi miên mình, ẩn mình trong một lớp vỏ ảo tưởng. [11] Nhưng người chí nguyện thường đã đạt tới giai đoạn trong đó mắt y mở rộng; y đã học cách nói sự thật với chính mình, và không dựng lên bức tường chia cách nào giữa chính mình và [Page 371] người khác. Y tỉnh thức và sống động; y nhạy cảm và thường đau khổ. Y tự hỏi vì sao điều mà thế gian gọi là hạnh phúc và bình an dường như đã rời bỏ y, và hỏi kết quả sẽ là gì.

[12] We who watch and guide on the inner side, [13] watch with loving care all of you who struggle in the thick of the fray. [14] We are like the General Headquarters Staff who follow the course of the battle from a secure eminence. [15] In our security lies your ultimate success, for we hold in our hands the solution of many problems, and apply that solution when the battle goes contrary. [16] One thing always would I have you remember. It is of vital importance. It is this statement, that in the destruction of the form lies hid the secret of all evolution. [17] Think not this is truism. You will see it in constant application and need to be prepared for its demonstration. [18] The Masters utilize the form to the uttermost; [19] They seek to work through it, imprisoning the life in confining walls for just as long as the purpose is served and the race instructed through that form. [20] Then the time comes that the form no longer serves the purpose intended, when the structure atrophies, crystallises and becomes easily destructible. [21] Its destruction then becomes the matter of greatest concern and usefulness, and it goes, whilst a new form takes its place. [22] Watch and see if this be not so. [23] Always the building of the form, always its utilisation for as long as possible, [24] always the destruction of the form when it hinders and cramps the expanding light, always then the rapid reconstruction of a new form. [25] Such has been the method since the commencement of the aeon.

[12] Chúng tôi, những Đấng quan sát và hướng dẫn ở phía nội giới, [13] quan sát với sự chăm sóc đầy tình thương tất cả các bạn, những người đang đấu tranh giữa nơi giao tranh ác liệt. [14] Chúng tôi giống như Ban Tham mưu Bộ Tổng chỉ huy, theo dõi diễn tiến của trận chiến từ một điểm cao an toàn. [15] Chính trong sự an toàn của chúng tôi có thành công tối hậu của các bạn, vì chúng tôi nắm trong tay lời giải cho nhiều vấn đề, và áp dụng lời giải ấy khi trận chiến diễn biến bất lợi. [16] Tôi luôn muốn các bạn ghi nhớ một điều. Điều ấy có tầm quan trọng thiết yếu. Đó là lời khẳng định này: trong sự hủy diệt hình tướng, bí mật của mọi tiến hoá được ẩn giấu. [17] Đừng nghĩ đây là một chân lý hiển nhiên sáo rỗng. Các bạn sẽ thấy nó được áp dụng thường xuyên và cần chuẩn bị cho sự chứng minh của nó. [18] Các Chân sư sử dụng hình tướng đến mức tối đa; [19] Các Ngài tìm cách làm việc thông qua nó, giam giữ sự sống trong những bức tường hạn hẹp đúng chừng nào mục đích còn được phục vụ và nhân loại còn được giáo huấn qua hình tướng ấy. [20] Rồi đến lúc hình tướng không còn phục vụ mục đích đã định, khi cấu trúc teo lại, kết tinh và trở nên dễ bị phá hủy. [21] Khi ấy, sự hủy diệt của nó trở thành vấn đề có tầm quan trọng và hữu ích lớn lao nhất, và nó biến mất, trong khi một hình tướng mới thay thế vị trí của nó. [22] Hãy quan sát và xem có phải điều này không đúng như vậy chăng. [23] Luôn luôn là việc xây dựng hình tướng, luôn luôn là việc sử dụng nó lâu nhất có thể, [24] luôn luôn là sự hủy diệt hình tướng khi nó cản trở và bó hẹp ánh sáng đang mở rộng, và rồi luôn luôn là sự tái kiến tạo nhanh chóng một hình tướng mới. [25] Đó đã là phương pháp từ lúc khởi đầu của đại chu kỳ này.

[26] In the infancy of the race the forms endured for a long time. [27] Evolution moved more slowly, but now on the upward trend of all things, the form has but short duration. [28] It lives vitally for a brief period; it moves with rapidity and then is succeeded by another form. This [Page 372] rapidity will increase not decrease as the consciousness or inner expansion of the life of the race vibrates ever to a faster and lighter rate of rhythm.

[26] Trong thời thơ ấu của nhân loại, các hình tướng tồn tại rất lâu. [27] Tiến hoá chuyển động chậm hơn, nhưng nay, trên chiều hướng thăng thượng của vạn vật, hình tướng chỉ có thời gian tồn tại ngắn. [28] Nó sống động mạnh mẽ trong một giai đoạn ngắn; nó chuyển động nhanh chóng rồi được kế tục bởi một hình tướng khác. Tốc độ [Page 372] này sẽ gia tăng chứ không giảm bớt, khi tâm thức hay sự mở rộng nội tâm của sự sống nhân loại rung động theo một nhịp điệu ngày càng nhanh hơn và nhẹ hơn.

[29] It is necessary likewise that you arrive at the realization that one of the principal objects of endeavor at the present time on the part of those whom you call the Elder Brothers of the race, is to stimulate, purify and coordinate the etheric body. [30] This etheric body is not only the transmitter of prana but is the medium for all the energies which we are considering. [31] Its importance also lies in other directions:

[29] Cũng cần thiết để các bạn đạt tới nhận biết rằng một trong những mục tiêu chính yếu của nỗ lực hiện nay, từ phía những Đấng mà các bạn gọi là các Huynh Trưởng của nhân loại, là kích thích, thanh lọc và phối hợp thể dĩ thái. [30] Thể dĩ thái này không chỉ là bộ truyền dẫn prana, mà còn là phương tiện trung gian cho tất cả các năng lượng mà chúng ta đang xem xét. [31] Tầm quan trọng của nó còn nằm ở những phương diện khác:

[32] a. Being of physical plane matter, literally, etheric consciousness is the next step ahead for the race. [33] This will demonstrate at first as the ability to see etherically and to cognize etheric matter.

[32] a. Vì theo nghĩa đen, nó thuộc vật chất cõi hồng trần, nên tâm thức dĩ thái là bước kế tiếp trước mắt của nhân loại. [33] Điều này ban đầu sẽ biểu lộ như khả năng thấy bằng dĩ thái và nhận biết vật chất dĩ thái.

[34] b. It is the field of exploration immediately ahead of the modern scientist. [35] In ten years time, many medical practitioners will be recognizing it as a fact of nature.

[34] b. Nó là lĩnh vực khảo sát ngay trước mắt nhà khoa học hiện đại. [35] Trong vòng mười năm, nhiều nhà hành nghề y sẽ nhận ra nó như một sự kiện của tự nhiên.

[36] c. Most of the diseases that the physical body suffers from at present have their roots in the etheric body. There are few, if any, purely physical diseases. Disease has its source in astral and etheric conditions.

[36] c. Phần lớn các bệnh tật mà thể xác hiện nay mắc phải đều có gốc rễ trong thể dĩ thái. Có rất ít, nếu có, những bệnh thuần túy hồng trần. Bệnh tật có nguồn gốc trong các tình trạng cảm dục và dĩ thái.

[37] d. The secret of safe and sane clairvoyance and clairaudience depends upon the purification of the etheric vehicle.

[37] d. Bí mật của thông nhãn và thông nhĩ an toàn, lành mạnh tùy thuộc vào sự thanh lọc hiện thể dĩ thái.

[38] e. The etheric emanations of people can be great contaminators. In the purification, therefore, of this body lies the secret of a sweeter and saner humanity.

[38] e. Các phát xạ dĩ thái của con người có thể là những tác nhân gây ô nhiễm mạnh mẽ. Vì vậy, chính trong sự thanh lọc thể này có bí mật của một nhân loại dịu hòa hơn và lành mạnh hơn.

[39] Hence, the importance of the etheric. There are many other reasons which will later be emphasized. In beginning to form your ideas on the subject, however, it is the part of wisdom to adhere to wide generalities until the whole matter has taken clear shape in your mind.

[39] Do đó, thể dĩ thái có tầm quan trọng. Có nhiều lý do khác sẽ được nhấn mạnh về sau. Tuy nhiên, khi bắt đầu hình thành các ý tưởng của các bạn về chủ đề này, điều khôn ngoan là bám vào những khái quát rộng, cho đến khi toàn bộ vấn đề đã định hình rõ ràng trong trí bạn.

[40] Work on the etheric body, however, from the standpoint of the Hierarchy is not confined only to the bodies of men. It is a planetary process. [41] The etheric body of [Page 373] the earth itself is being subjected to a definite stimulation. [42] The spirit of the earth, [43] that mysterious entity—not the planetary Logos—is being vivified in a new sense and in his vivification many interesting developments eventuate. [44] In three ways this is being attempted:

[40] Tuy nhiên, xét từ lập trường của Thánh Đoàn, công việc đối với thể dĩ thái không chỉ giới hạn trong các thể của con người. Đó là một tiến trình hành tinh. [41] Thể dĩ thái của [Page 373] chính Trái Đất đang chịu một sự kích thích rõ rệt. [42] Tinh linh địa cầu, [43] thực thể huyền bí ấy — không phải Hành Tinh Thượng đế — đang được tiếp sinh lực theo một ý nghĩa mới, và trong sự tiếp sinh lực của thực thể ấy, nhiều phát triển thú vị xảy ra. [44] Điều này đang được thực hiện theo ba cách:

[45] 1. By an increased rate of vibration of the etheric atoms, caused by the coming in of the ceremonial ray. [46] This must not be pictured as a sudden and violent change. From the standpoint of the human student the rate of increase is apparently so slow and gradual as to be inappreciable. [47] Nevertheless, the stimulation exists, and in the course of centuries will be recognized.

[45] 1. Bằng một tốc độ rung động gia tăng của các nguyên tử dĩ thái, do sự nhập lưu của cung nghi lễ gây nên. [46] Điều này không nên được hình dung như một thay đổi đột ngột và dữ dội. Từ lập trường của đạo sinh là con người, tốc độ gia tăng dường như chậm rãi và tuần tự đến mức không thể nhận thấy. [47] Tuy nhiên, sự kích thích vẫn hiện hữu, và theo dòng các thế kỷ, nó sẽ được nhận ra.

[48] 2. By the play of certain astral forces on the etheric body that leads to slow but definite changes in the internal structure of the atom, the coming into consciousness of another of the spirillae and a general tightening up of the whole cosmos of the atom.

[48] 2. Bằng sự tác động của một số mãnh lực cảm dục lên thể dĩ thái, dẫn đến những thay đổi chậm rãi nhưng rõ rệt trong cấu trúc nội tại của nguyên tử, sự thức tỉnh trong tâm thức của một loa tuyến khác, và sự siết chặt tổng quát của toàn bộ tiểu vũ trụ nguyên tử.

[49] 3. By the use on the inner planes by the Mahachohan of one of the powerful talismans of the seventh ray.

[49] 3. Bằng việc Đức Mahachohan sử dụng trên các cõi nội giới một trong những linh phù đầy quyền năng của cung bảy.

[50] The spirit of the earth, it might be noted, is of slow and gradual arousing. He is on the involutionary arc and passes on to the evolutionary in some dim and distant future. [51] Therefore, he will not carry us with him. [52] He but serves our purpose now, [53] offering us a home within his body, yet remaining dissociated from us. [54] The devas of the ethers from this very stimulation are consequently hastening forward in evolution and approximating also nearer to their ideal.

[50] Cần lưu ý rằng tinh linh địa cầu đang thức tỉnh chậm rãi và tuần tự. Thực thể ấy ở trên cung giáng hạ tiến hoá và sẽ chuyển sang cung thăng thượng tiến hoá trong một tương lai mờ xa. [51] Vì vậy, thực thể ấy sẽ không mang chúng ta đi theo mình. [52] Hiện nay, thực thể ấy chỉ phục vụ mục đích của chúng ta, [53] ban cho chúng ta một mái nhà trong thân thể của mình, nhưng vẫn tách biệt khỏi chúng ta. [54] Do chính sự kích thích này, các thiên thần của những tầng dĩ thái đang được thúc đẩy nhanh hơn trong tiến hoá, và cũng tiến gần hơn đến lý tưởng của các vị ấy.

[55] In all I have said anent the etheric body of men, anent the planet, anent the spirit of the earth, the crux of the whole situation lies in the fact that the five rays at this time have the seventh ray as their predominating ray. [56] The seventh ray is the ray that controls the etheric and the devas of the ethers. [57] It controls the seventh sub-plane of all planes [58] but it dominates at this time the seventh sub-plane of the physical plane. [59] Being in the fourth [Page 374] round also, [60] when a ray comes into definite incarnation, it not only controls on planes of the same number but has a special influence on the fourth sub-plane. [61] Note how this works at this time in the three worlds:

[55] Trong tất cả những gì tôi đã nói về thể dĩ thái của con người, về hành tinh, về tinh linh địa cầu, điểm mấu chốt của toàn bộ tình thế nằm ở sự kiện rằng năm cung vào lúc này lấy cung bảy làm cung chi phối của chúng. [56] Cung bảy là cung cai quản dĩ thái và các thiên thần của những tầng dĩ thái. [57] Nó cai quản cõi phụ thứ bảy của mọi cõi, [58] nhưng vào lúc này nó chi phối cõi phụ thứ bảy của cõi hồng trần. [59] Vì chúng ta cũng đang ở cuộc tuần hoàn thứ tư, [Page 374] [60] nên khi một cung nhập thể rõ rệt, nó không chỉ cai quản trên các cõi có cùng số, mà còn có một ảnh hưởng đặc biệt trên cõi phụ thứ tư. [61] Hãy lưu ý cách điều này vận hành vào lúc này trong ba cõi giới:

[62] 1. The fourth ether, the lowest of the ethers, is to be the next physical plane of consciousness. [63] Etheric matter is even now becoming visible to some, and will be entirely visible at the end of this century to many.

[62] 1. Dĩ thái thứ tư, tầng thấp nhất trong các tầng dĩ thái, sẽ là cõi hồng trần kế tiếp của tâm thức. [63] Vật chất dĩ thái ngay lúc này đã trở nên hữu hình đối với một số người, và đến cuối thế kỷ này sẽ hoàn toàn hữu hình đối với nhiều người.

[64] 2. The fourth sub-plane of the astral holds the majority of men when they pass over and consequently much work on the greatest number can therefore be accomplished.

[64] 2. Cõi phụ thứ tư của cõi cảm dục giữ phần lớn con người khi họ qua đời, và do đó, nhiều công việc đối với số đông nhất có thể được thực hiện.

[65] 3. The fourth mental sub-plane is the plane of devachan.

[65] 3. Cõi phụ thứ tư của cõi trí là cõi thiên đường.


Program-41-Astral-Plane-Rule-X-10.25

Hi everybody, and we are continuing now with what will either be an hour-long program or a half-hour program. This is program number 41 in the Rules for Magic for the Astral Plane, and we’re in Rule 10, and it’s the 25th program for Rule 10. It’s a very long rule.

Xin chào mọi người, chúng ta tiếp tục với một chương trình có thể dài một giờ hoặc nửa giờ. Đây là chương trình số 41 trong Các Quy Luật Huyền Thuật dành cho Cõi Cảm Dục, và chúng ta đang ở Quy luật 10; đây là chương trình thứ 25 về Quy luật 10. Đây là một quy luật rất dài.

We’ve been talking about happiness of the personality, the joy of the soul, and the bliss of the spirit, whatever that really is. He describes happiness here:

Chúng ta đã nói về hạnh phúc của phàm ngã, sự hoan hỉ của linh hồn, và chí phúc của tinh thần, dù điều đó thật sự là gì. Ngài mô tả hạnh phúc ở đây:

Happiness comes when the personality is meeting with those conditions which satisfy it in one part or other of its lower nature;

Hạnh phúc đến khi phàm ngã gặp những điều kiện làm nó thỏa mãn trong phần này hay phần khác của bản chất thấp của nó;

maybe even in the totality of the personality.

có lẽ thậm chí trong toàn bộ phàm ngã.

it comes when there is a sense of physical [Page 370] well being, of contentment with one’s environment or surrounding personalities,

nó đến khi có cảm giác an lành về thể xác [Trang 370], sự hài lòng với môi trường của mình hoặc với các phàm ngã chung quanh,

Which is largely an astral reaction, discussed in the Light of the Soul, that we should be content in the circumstances in which we find ourselves,

điều này phần lớn là một phản ứng cảm dục, được bàn đến trong Ánh Sáng của Linh Hồn, rằng chúng ta nên hài lòng trong những hoàn cảnh mà mình đang ở trong đó,

or of satisfaction with one’s mental opportunities and contacts. Happiness is the goal of the separated self.

hoặc sự thỏa mãn với các cơ hội và tiếp xúc trí tuệ của mình. Hạnh phúc là mục tiêu của cái ngã biệt lập.

One can be frustrated in any one of these areas, or one can be gratified and therefore at least happy about that, even if not happy in all aspects of the personality. But we go on here, page 370,

Người ta có thể bị thất vọng trong bất cứ lĩnh vực nào trong các lĩnh vực này, hoặc có thể được thỏa mãn và do đó ít nhất cảm thấy hạnh phúc về điều đó, dù không hạnh phúc trong mọi phương diện của phàm ngã. Nhưng chúng ta tiếp tục ở đây, trang 370,

[1] When however we seek to live as souls, the contentment of the lower man is discounted and we find joy in our group relationships and in bringing about those conditions which lead to the better expression of the souls of those we contact.

[1] Tuy nhiên, khi chúng ta tìm cách sống như những linh hồn, sự mãn nguyện của phàm nhân bị xem nhẹ, và chúng ta tìm thấy sự hoan hỉ trong các mối liên hệ nhóm của mình, cũng như trong việc tạo ra những điều kiện dẫn đến sự biểu lộ tốt đẹp hơn của linh hồn nơi những người mà chúng ta tiếp xúc.

So joy, the quality of it, is rising as we advance, seek to live as souls, and receive some of that soul energy which changes the quality also of our personality life.

Vì vậy, sự hoan hỉ, phẩm tính của nó, đang nâng cao khi chúng ta tiến bước, tìm cách sống như những linh hồn, và tiếp nhận phần nào năng lượng linh hồn ấy, năng lượng cũng làm thay đổi phẩm tính của đời sống phàm ngã chúng ta.

[2] This bringing of joy to others in order to produce conditions in which they may better express themselves may have a physical effect as we seek to better their material conditions, or an emotional effect as our presence brings to them peace and uplift, or an intellectual result as we stimulate them to clarity of thought and understanding.

[2] Việc đem sự hoan hỉ đến cho người khác, nhằm tạo ra những điều kiện trong đó họ có thể biểu lộ chính mình tốt hơn, có thể tạo nên một ảnh hưởng hồng trần khi chúng ta tìm cách cải thiện các điều kiện vật chất của họ; hoặc một ảnh hưởng cảm xúc khi sự hiện diện của chúng ta đem đến cho họ sự bình an và nâng đỡ; hoặc một kết quả trí tuệ khi chúng ta kích thích họ đạt tới sự sáng tỏ trong tư tưởng và thấu hiểu.

The Tibetan is speaking of Himself here so much—look at all He has done along these lines, and probably we have some experience of doing this as well. Maybe on all three levels, but probably very much on the psychological level, affecting the astral body, and since we are students of this great teaching, then also the mental, intellectual result as thought and understanding come to our students and those we work with.

Chân sư Tây Tạng đang nói rất nhiều về chính Ngài ở đây—hãy nhìn xem tất cả những gì Ngài đã làm theo các đường hướng này, và có lẽ chúng ta cũng có phần kinh nghiệm trong việc làm điều đó. Có thể trên cả ba cấp độ, nhưng có lẽ rất nhiều trên cấp độ tâm lý, tác động đến thể cảm dục; và vì chúng ta là đạo sinh của giáo huấn vĩ đại này, nên cũng có kết quả trí tuệ, tinh thần, khi tư tưởng và sự thấu hiểu đến với các môn sinh của chúng ta và những người chúng ta làm việc cùng.

[3] But the effect upon ourselves is joy, for our action has been selfless and non-acquisitive, and not dependent upon the aspirant’s circumstance or worldly state.

[3] Nhưng ảnh hưởng đối với chính chúng ta là sự hoan hỉ, vì hành động của chúng ta là vô ngã và không nhằm thu đoạt, cũng không tùy thuộc vào hoàn cảnh hay địa vị thế gian của người chí nguyện.

Circumstances are worldly state, so this is so good because it shows you how to cultivate joy in your life. Selflessness, or at least the selflessness in which the lower self is discounted somewhat, or ignored even—

Hoàn cảnh là địa vị thế gian, vì vậy điều này rất hay, bởi nó cho các bạn thấy cách vun bồi sự hoan hỉ trong đời sống của mình. Sự vô ngã, hoặc ít nhất là sự vô ngã trong đó phàm ngã phần nào bị xem nhẹ, hoặc thậm chí bị bỏ qua—

Our action has been selfless and non-acquisitive, and not dependent upon the aspirant’s circumstance or worldly state. In other words, we don’t want anything from this aspirant, this fellow student, fellow disciple, whatever. We don’t want anything except their greater welfare, and I’m sure we’ve had the experience of seeing the uplift we may have brought, and that resounds as joy within us, the sounding joy.

Hành động của chúng ta đã vô ngã và không chiếm hữu, không lệ thuộc vào hoàn cảnh hay địa vị thế gian của người chí nguyện. Nói cách khác, chúng ta không muốn điều gì từ người chí nguyện này, người bạn đồng môn này, đệ tử đồng môn này, hay bất cứ ai. Chúng ta không muốn gì ngoài phúc lợi lớn hơn của họ, và tôi chắc rằng chúng ta đã có kinh nghiệm thấy sự nâng đỡ mà mình có thể đã đem lại; và điều đó vang vọng như sự hoan hỉ trong chúng ta, sự hoan hỉ ngân vang.

[4] Much happiness is necessarily foregone when ill-health makes its pressure felt, as the environment is difficult and the “accumulated karma of many births” presses down,

[4] Nhiều hạnh phúc tất yếu phải bị từ bỏ khi bệnh tật gây áp lực, khi môi trường trở nên khó khăn và “nghiệp quả tích lũy của nhiều kiếp sinh” đè nặng xuống,

Isn’t that so Saturnian, the pressure?

Điều đó chẳng phải rất mang tính Sao Thổ sao, sức ép ấy?

[5] or as the troubles of the family, nation or race weigh upon the sensitive personality.

[5] hoặc khi những khó khăn của gia đình, quốc gia hay nhân loại đè lên phàm ngã nhạy cảm.

The sensitive personality of the student of these matters.

Phàm ngã nhạy cảm của đạo sinh về những vấn đề này.

[6] The happiness of youth

[6] Hạnh phúc của tuổi trẻ

Where there’s just exuberant energy, and Saturn has not quite hemmed us in, and it seems that we can accomplish anything so that the desire body can be fulfilled. The happiness of youth,

khi chỉ có năng lượng tràn đầy, và Sao Thổ chưa hoàn toàn vây hãm chúng ta, và dường như chúng ta có thể hoàn thành bất cứ điều gì để thể dục vọng được thỏa mãn. Hạnh phúc của tuổi trẻ,

[7] or the self-centred contentment of the selfish insulated person (hiding himself behind the shield of his protective desires) must not be confounded with joy.

[7] hay sự mãn nguyện tập trung vào bản thân của kẻ ích kỷ tự cô lập, ẩn mình sau tấm khiên của những ham muốn tự vệ, không được lẫn lộn với sự hoan hỉ.

Here we have, in a way, what joy is not. Many times I look at television, I see all these young people, all look so happy, maybe in their presentation on television, but they have that exuberance that comes from not having to parcel out and be economical about your energy, which goes away as you get much older. With a self-centered contentment of the insulated person who doesn’t really care about what’s going on around him, or of the difficulties of those around him, because he’s just into his own desires and the fulfillment of them, this is not joy. But always the uplift of others is involved with joy.

Ở đây, theo một cách nào đó, chúng ta có điều không phải là sự hoan hỉ. Nhiều lần tôi nhìn vào truyền hình, thấy tất cả những người trẻ này, họ đều trông rất hạnh phúc, có lẽ trong cách họ xuất hiện trên truyền hình, nhưng họ có sự tràn đầy đến từ việc chưa phải phân phối và tiết kiệm năng lượng của mình, điều sẽ mất đi khi các bạn già hơn nhiều. Với sự hài lòng tập trung vào bản thân của người khép kín, người thật sự không quan tâm đến điều đang diễn ra chung quanh mình, hoặc đến những khó khăn của những người chung quanh, bởi y chỉ đắm vào các dục vọng của riêng mình và sự thỏa mãn chúng, thì đó không phải là sự hoan hỉ. Nhưng sự hoan hỉ luôn luôn liên quan đến việc nâng đỡ người khác.

We really have to think about this to see what state it is that we are in, because one of these three states will characterize us, or perhaps the complete absence of them, or not complete, but partial absence of them. We will find ourselves burdened with discontent over the state of our personality, or maybe discontent over how we can reach people and help. By the time we get to bliss, it’s quite another matter, because we have to pass through joy and the soul experience, which can radiate and uplift.

Chúng ta thật sự phải suy ngẫm về điều này để thấy mình đang ở trong trạng thái nào, bởi một trong ba trạng thái này sẽ đặc trưng cho chúng ta, hoặc có lẽ là sự vắng mặt hoàn toàn của chúng, hay không hoàn toàn, mà là vắng mặt một phần. Chúng ta sẽ thấy mình bị đè nặng bởi sự bất mãn về tình trạng của phàm ngã mình, hoặc có lẽ bất mãn về cách chúng ta có thể vươn đến người khác và giúp đỡ. Khi chúng ta đạt đến chí phúc, đó là một vấn đề hoàn toàn khác, bởi chúng ta phải đi qua sự hoan hỉ và kinh nghiệm linh hồn, vốn có thể tỏa chiếu và nâng đỡ.

[8] It is a platitude as well as an occult paradox to say that in the midst of profound personality distress and unhappiness, the joy of the soul may be known and felt.

[8] Nói rằng giữa nỗi khốn khổ và bất hạnh sâu xa của phàm ngã, sự hoan hỉ của linh hồn vẫn có thể được nhận biết và cảm nhận, vừa là một điều sáo mòn vừa là một nghịch lý huyền bí.

But I suppose if in the mind, this joy is experienced in the mind, we realize that the good is being done. I’m reminded of the book A Tale of Two Cities, where the hero of that gives up his life for others. He’s on the way to the guillotine. “It is a far, far better thing that I do now than I’ve ever done.” Something of that nature is his thoughts.

Nhưng tôi cho rằng nếu trong thể trí, sự hoan hỉ này được kinh nghiệm trong thể trí, chúng ta nhận ra rằng điều thiện đang được thực hiện. Tôi nhớ đến quyển sách Chuyện Hai Thành Phố, trong đó nhân vật anh hùng hy sinh mạng sống của mình vì người khác. Ông đang trên đường đến máy chém. “Điều tôi làm lúc này là một việc tốt đẹp hơn rất xa, rất xa so với bất cứ điều gì tôi từng làm.” Những tư tưởng của ông đại khái như vậy.

The joy of the soul may be known and felt.

Sự hoan hỉ của linh hồn có thể được biết đến và cảm nhận.

Let’s remind ourselves of that in the midst of personal frustration, even. And that’s quite a step: if despite personal frustration, one can experience the joy.

Chúng ta hãy tự nhắc mình điều đó ngay cả giữa sự thất vọng cá nhân. Và đó là một bước tiến khá lớn: nếu bất chấp sự thất vọng cá nhân, người ta vẫn có thể kinh nghiệm sự hoan hỉ.

[9] Such however is the case, and it is for this the student must aim.

[9] Tuy nhiên, sự thật là như vậy, và đó là điều đạo sinh phải hướng tới.

So practical, friends. It’s been a long time since I’ve really paid a lot of attention to this book. Of course, references come, and I collect references, and study topically, and all that. But to really go through the book carefully—what a wonderful treasure.

Thật thực tiễn, các bạn thân mến. Đã lâu rồi tôi chưa thật sự chú ý nhiều đến quyển sách này. Dĩ nhiên, các tham chiếu xuất hiện, và tôi thu thập các tham chiếu, nghiên cứu theo chủ đề, và mọi việc như thế. Nhưng thật sự đi qua quyển sách một cách cẩn thận—đó là một kho tàng tuyệt vời.

[10] Some people are happy because they shut their eyes to truth, or are self-hypnotised, hiding themselves within a shell of illusion.

[10] Một số người hạnh phúc vì họ nhắm mắt trước chân lý, hoặc tự thôi miên mình, ẩn mình trong một lớp vỏ ảo tưởng.

They repeat certain mantras and so forth, and it’s a kind of pretense they don’t see. I remember dealing with some Christian scientists along that line, but they were firm in not listening to what I considered reason.

Họ lặp lại một số mantram và những điều tương tự, và đó là một loại giả vờ rằng họ không thấy. Tôi nhớ mình đã từng làm việc với một số người theo Khoa học Cơ Đốc theo đường hướng đó, nhưng họ kiên quyết không lắng nghe điều tôi xem là lý trí.

[11] But the aspirant has frequently reached the stage wherein his eyes are wide open; he has learnt to speak truth to himself, and has built up no separating wall between himself and [Page 371] others. He is awake and alive; he is sensitive and frequently suffering. He wonders why apparently what the world calls happiness and peace have left him, and asks what is to be the outcome.

[11] Nhưng người chí nguyện thường đã đạt tới giai đoạn trong đó mắt y mở rộng; y đã học cách nói sự thật với chính mình, và không dựng lên bức tường chia cách nào giữa chính mình và [Page 371] người khác. Y tỉnh thức và sống động; y nhạy cảm và thường đau khổ. Y tự hỏi vì sao điều mà thế gian gọi là hạnh phúc và bình an dường như đã rời bỏ y, và hỏi kết quả sẽ là gì.

This is often the state of the aspirant. We must discriminate between what is real joy: It always has that element of the group of the other, an element of self-forgetfulness, which negates the pain of the present circumstance.

Đây thường là trạng thái của người chí nguyện. Chúng ta phải phân biện đâu là sự hoan hỉ chân thật: nó luôn có yếu tố của nhóm, của người khác, một yếu tố quên mình, vốn phủ nhận nỗi đau của hoàn cảnh hiện tại.

[12] We who watch and guide on the inner side,

[12] Chúng tôi, những Đấng quan sát và hướng dẫn ở phía nội giới,

One day we will be such, He tells us—be patient. Learn to be patient because there’s not much of a response sometimes, a very slow response to the inner promptings by those on the outer side. One has to not lose courage as one tries to reach and influence. We who watch and guide on the inner side,

Một ngày nào đó chúng ta sẽ như vậy, Ngài nói với chúng ta—hãy kiên nhẫn. Hãy học kiên nhẫn, bởi đôi khi không có nhiều đáp ứng, một đáp ứng rất chậm đối với các thúc giục bên trong từ những người ở phía bên ngoài. Người ta không được mất can đảm khi cố gắng vươn đến và gây ảnh hưởng. Chúng tôi, những Đấng quan sát và hướng dẫn ở phía bên trong,

[13] watch with loving care all of you who struggle in the thick of the fray.

[13] quan sát với sự chăm sóc đầy tình thương tất cả các bạn, những người đang đấu tranh giữa nơi giao tranh ác liệt.

If we are honest, the fray is still going on.

Nếu chúng ta thành thật, cuộc chiến vẫn còn đang diễn ra.

[14] We are like the General Headquarters Staff who follow the course of the battle from a secure eminence.

[14] Chúng tôi giống như Ban Tham mưu Bộ Tổng chỉ huy, theo dõi diễn tiến của trận chiến từ một điểm cao an toàn.

They are only allowed to do so because they have been in the battlefield before. You don’t work your way up to general by not being a soldier in some life anyway.

Các Ngài chỉ được phép làm như vậy bởi trước đó Các Ngài đã từng ở trên chiến trường. Các bạn không tiến lên đến cấp tướng nếu không từng là một người lính trong một đời nào đó.

[15] In our security lies your ultimate success, for we hold in our hands the solution of many problems, and apply that solution when the battle goes contrary.

[15] Chính trong sự an toàn của chúng tôi có thành công tối hậu của các bạn, vì chúng tôi nắm trong tay lời giải cho nhiều vấn đề, và áp dụng lời giải ấy khi trận chiến diễn biến bất lợi.

We are left to ourselves a lot so that we can prove ourselves. We must be left to ourselves so we can prove ourselves and strengthen ourselves on our own merits.

Chúng ta thường được để lại cho chính mình để có thể chứng tỏ bản thân. Chúng ta phải được để lại cho chính mình để có thể chứng tỏ bản thân và củng cố bản thân bằng chính giá trị của mình.

[16] One thing always would I have you remember. It is of vital importance. It is this statement, that in the destruction of the form lies hid the secret of all evolution.

[16] Tôi luôn muốn các bạn ghi nhớ một điều. Điều ấy có tầm quan trọng thiết yếu. Đó là lời khẳng định này: trong sự hủy diệt hình tướng, bí mật của mọi tiến hoá được ẩn giấu.

It’s hard to say because we work so hard to try to preserve the form. I was reading about how the cyber human being is coming, and one thinks of oneself as surviving as a bionic kind of human being with one’s consciousness intact and the outer form will be virtually indestructible, certainly not the victim of the ills that flesh is heir to. We know the form must be preserved at all costs and we cling to the bars of our prison.

Điều này khó nói, bởi chúng ta nỗ lực rất nhiều để cố bảo tồn hình tướng. Tôi đã đọc về việc con người điều khiển học đang xuất hiện như thế nào, và người ta nghĩ đến chính mình như sẽ sống sót như một loại con người sinh học-cơ khí, với tâm thức của mình còn nguyên vẹn, và hình tướng bên ngoài hầu như không thể bị hủy diệt, chắc chắn không phải là nạn nhân của những bệnh tật mà xác thịt phải thừa hưởng. Chúng ta biết hình tướng phải được bảo tồn bằng mọi giá, và chúng ta bám chặt vào song sắt của nhà tù mình.

[17] Think not this is truism. You will see it in constant application and need to be prepared for its demonstration.

[17] Đừng nghĩ đây là một chân lý hiển nhiên sáo rỗng. Các bạn sẽ thấy nó được áp dụng thường xuyên và cần chuẩn bị cho sự chứng minh của nó.

What’s being said here is: hold not too tightly to the form. Master Morya said something which is rather amusing—he says getting rid of the form should be of no more concern than clipping a hair off your head when you have a haircut. Doesn’t hurt too much, does it? It’s just quick and you feel practically nothing.

Điều đang được nói ở đây là: đừng nắm quá chặt hình tướng. Chân sư Morya đã nói một điều khá thú vị—Ngài nói việc rũ bỏ hình tướng không nên khiến người ta bận tâm hơn việc cắt một sợi tóc khỏi đầu khi các bạn đi hớt tóc. Không đau nhiều lắm, phải không? Việc ấy chỉ nhanh chóng và các bạn hầu như chẳng cảm thấy gì.

D.K. tells us that at the most we feel something akin to an electric shock and nothing more. The Black Lodge has instilled in the mind of man a great shimmer, a horrific image of what death is, and the fear of death has held us for millennia.

Chân sư DK nói với chúng ta rằng nhiều nhất chúng ta cảm thấy điều gì đó giống như một cú sốc điện và không hơn. Hắc đoàn đã gieo vào thể trí con người một ánh chập chờn lớn, một hình ảnh khủng khiếp về cái chết là gì, và nỗi sợ chết đã giữ chặt chúng ta trong nhiều thiên niên kỷ.

D.K. tells us it’s going to be a very familiar experience. Consider how many times we, even as human beings, have passed through it, and as animals, and as universes. Every universe dies at some point, goes into pralaya, and we are that universe. That takes it into a pretty big philosophical expansion.

Chân sư DK nói với chúng ta rằng đó sẽ là một kinh nghiệm rất quen thuộc. Hãy xét xem bao nhiêu lần chúng ta, ngay cả với tư cách con người, đã đi qua nó, và với tư cách động vật, và với tư cách các vũ trụ. Mọi vũ trụ đều chết vào một lúc nào đó, đi vào Giai kỳ qui nguyên, và chúng ta là vũ trụ ấy. Điều đó đưa vấn đề vào một sự mở rộng triết học khá lớn.

[18] The Masters utilize the form to the uttermost;

[18] Các Chân sư sử dụng hình tướng đến mức tối đa;

They can’t really preserve it as long as it needs to be preserved. Master R seems to be a great expert in this.

Các Ngài thật sự không thể bảo tồn nó lâu như nó cần được bảo tồn. Chân sư R. dường như là một chuyên gia vĩ đại trong việc này.

[19] They seek to work through it, imprisoning the life in confining walls for just as long as the purpose is served and the race instructed through that form.

[19] Các Ngài tìm cách làm việc thông qua nó, giam giữ sự sống trong những bức tường hạn hẹp đúng chừng nào mục đích còn được phục vụ và nhân loại còn được giáo huấn qua hình tướng ấy.

We’re being told to use the form, but for the good of all, but do not become a fearful prisoner of that form. So many human beings are. We talk to all kinds of people, but it’s very easy to talk to those who have a fear of death and have no hope, and have maybe even a brilliant mind which has convinced them that they are a blip of consciousness in the midst of eternity, and all there is in the future is nothing for them. Only immediate experience will dissuade them of that point of view.

Chúng ta được bảo phải sử dụng hình tướng, nhưng vì lợi ích của tất cả, và đừng trở thành tù nhân sợ hãi của hình tướng ấy. Rất nhiều con người là như vậy. Chúng ta nói chuyện với đủ loại người, nhưng rất dễ gặp những người có nỗi sợ chết và không có hy vọng, và có lẽ thậm chí có một trí tuệ xuất sắc đã thuyết phục họ rằng họ chỉ là một chớp tâm thức giữa vĩnh cửu, và tất cả những gì có trong tương lai đối với họ là hư vô. Chỉ kinh nghiệm trực tiếp mới làm họ từ bỏ quan điểm đó.

[20] Then the time comes that the form no longer serves the purpose intended, when the structure atrophies, crystallises and becomes easily destructible.

[20] Rồi đến lúc hình tướng không còn phục vụ mục đích đã định, khi cấu trúc teo lại, kết tinh và trở nên dễ bị phá hủy.

The word of death, the mind repeats that word, and then the principle of mind organizes itself and repeats that word. The form drops away, the soul stands free. It’s the 10th law of healing.

Linh từ của sự chết, thể trí lặp lại linh từ ấy, rồi nguyên khí trí tuệ tự tổ chức và lặp lại linh từ ấy. Hình tướng rơi rụng, linh hồn đứng tự do. Đó là định luật thứ mười của trị liệu.

[21] Its destruction then becomes the matter of greatest concern and usefulness, and it goes, whilst a new form takes its place.

[21] Khi ấy, sự hủy diệt của nó trở thành vấn đề có tầm quan trọng và hữu ích lớn lao nhất, và nó biến mất, trong khi một hình tướng mới thay thế vị trí của nó.

We get so used to coming and going. This ability to come and go probably is related to Neptune and to the opening of the sixth petal, and it is an ability we all want to have. D.K. tells us to learn to fall asleep consciously because that will help you in the death process.

Chúng ta quá quen với việc đến và đi. Khả năng đến và đi này có lẽ liên quan đến Sao Hải Vương và đến sự khai mở của cánh hoa thứ sáu, và đó là một khả năng mà tất cả chúng ta đều muốn có. Chân sư DK bảo chúng ta hãy học cách đi vào giấc ngủ một cách có ý thức, bởi điều đó sẽ giúp các bạn trong tiến trình chết.

[22] Watch and see if this be not so.

[22] Hãy quan sát và xem có phải điều này không đúng như vậy chăng.

The new form will take its place. We have to watch and see. We have to become very aware, very conscious of the reincarnation process. Humanity has suffered a lot, and suffered through its ignorance and suffered through its rejection of the good law and the good teaching, perfect laws, which were given back in Lemurian times.

Hình tướng mới sẽ thay thế nó. Chúng ta phải quan sát và xem. Chúng ta phải trở nên rất tỉnh thức, rất có ý thức về tiến trình tái sinh. Nhân loại đã chịu khổ rất nhiều, chịu khổ vì vô minh của mình và chịu khổ vì đã bác bỏ định luật tốt lành và giáo huấn tốt lành, những định luật hoàn hảo đã được ban ra từ thời Lemuria.

The psychology of the rebel is the psychology of our Planetary Logos, the Divine Rebel, and we have inherited something from the Great Being in whom we live and move and have our being—this rebelliousness. He hints that a rebellion that occurred in the previous solar system, maybe where some of us were involved.

Tâm lý của kẻ phản nghịch là tâm lý của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, Đấng Phản Nghịch Thiêng Liêng, và chúng ta đã thừa hưởng điều gì đó từ Hữu Thể Vĩ Đại mà trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và có sự hiện hữu của mình—tính phản nghịch này. Ngài gợi ý rằng có một cuộc nổi loạn đã xảy ra trong hệ mặt trời trước, có lẽ nơi một số chúng ta đã tham dự.

Then the time comes that the form no longer serves the purpose intended.

Rồi đến lúc hình tướng không còn phục vụ mục đích đã định.

[23] Always the building of the form, always its utilisation for as long as possible,

[23] Luôn luôn là việc xây dựng hình tướng, luôn luôn là việc sử dụng nó lâu nhất có thể,

Sometimes they have kept the form alive, as in the case of HPB, in the case of Alice Bailey. They have their ways of preserving and vitalizing the form until the forces of karma just become irresistible, or maybe until the task is complete. One gets the sense that Alice Bailey’s assigned task was completed, but maybe not so much HPB.

Đôi khi Các Ngài đã giữ cho hình tướng sống, như trong trường hợp Bà HPB, trong trường hợp Bà Alice Bailey. Các Ngài có những cách bảo tồn và tiếp sinh lực cho hình tướng cho đến khi các mãnh lực nghiệp quả trở nên không thể cưỡng lại, hoặc có lẽ cho đến khi nhiệm vụ hoàn tất. Người ta có cảm giác rằng nhiệm vụ được giao cho Alice Bailey đã hoàn tất, nhưng có lẽ với HPB thì không hẳn như vậy.

Maybe there was more that could have been written and was planned, but she submitted herself to such tremendous pressure. Always the building of the form, always its utilization for as long as possible,

Có lẽ còn nhiều điều hơn có thể đã được viết ra và đã được dự định, nhưng bà đã đặt mình dưới một áp lực khủng khiếp. Luôn luôn là việc xây dựng hình tướng, luôn luôn là việc sử dụng nó chừng nào còn có thể,

[24] always the destruction of the form when it hinders and cramps the expanding light, always then the rapid reconstruction of a new form.

[24] luôn luôn là sự hủy diệt hình tướng khi nó cản trở và bó hẹp ánh sáng đang mở rộng, và rồi luôn luôn là sự tái kiến tạo nhanh chóng một hình tướng mới.

This is the Law of Periodicity or Law of Reincarnation on the human level.

Đây là Định luật Chu Kỳ hay Định luật Tái Sinh trên cấp độ con người.

[25] Such has been the method since the commencement of the aeon.

[25] Đó đã là phương pháp từ lúc khởi đầu của đại chu kỳ này.

Maybe the aeon is the incarnation of our Planetary Logos, or something even greater. The thing is, He does really leave these time units undescribed. Manvantara is a term that indicates a cycle. There are different kinds of rounds. We don’t know how long each one of them takes. A term like the aeon is used to indicate a very long cycle, but we don’t know which. This science of cycles is very well guarded. It’s one of the last things we’re going to find out in the usual table of cities or powers, because it resides on the third subplane of the atmic plane, which is in a way a mental plane, and it’s called All Knowledge. Well, it can’t be all knowledge, but it can be All Knowledge with respect to our planetary globe, or maybe chain. I don’t know how far it extends. I don’t know if it really means all knowledge with respect to the planetary scheme, but it certainly alerts us to the vastness of the knowledge which can be accumulated.

Có lẽ đại kiếp là sự lâm phàm của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, hoặc một điều gì còn lớn hơn. Vấn đề là, Ngài thật sự để các đơn vị thời gian này không được mô tả rõ. Giai kỳ sinh hóa là một thuật ngữ chỉ một chu kỳ. Có nhiều loại cuộc tuần hoàn khác nhau. Chúng ta không biết mỗi loại kéo dài bao lâu. Một thuật ngữ như đại kiếp được dùng để chỉ một chu kỳ rất dài, nhưng chúng ta không biết chu kỳ nào. Khoa học về các chu kỳ này được canh giữ rất kỹ. Đó là một trong những điều cuối cùng chúng ta sẽ khám phá trong bảng thông thường về các thành tựu hay quyền năng, bởi nó trú ở cõi phụ thứ ba của cõi atma, vốn theo một cách nào đó là một cõi trí, và được gọi là Toàn Tri. Dĩ nhiên, nó không thể là toàn bộ tri thức, nhưng nó có thể là Toàn Tri đối với bầu hành tinh của chúng ta, hoặc có lẽ Dãy. Tôi không biết nó mở rộng đến đâu. Tôi không biết liệu nó thật sự có nghĩa là toàn bộ tri thức đối với hệ hành tinh hay không, nhưng chắc chắn nó cảnh báo chúng ta về sự rộng lớn của tri thức có thể được tích lũy.

[26] In the infancy of the race the forms endured for a long time.

[26] Trong thời thơ ấu của nhân loại, các hình tướng tồn tại rất lâu.

Maybe we see this in the Bible. We also see references to giants, and we see primitive forms of life living for a long time. Maybe reptiles and others.

Có lẽ chúng ta thấy điều này trong Kinh Thánh. Chúng ta cũng thấy các tham chiếu đến những người khổng lồ, và thấy những hình thức sự sống sơ khai sống rất lâu. Có lẽ là bò sát và những loài khác.

[27] Evolution moved more slowly, but now on the upward trend of all things, the form has but short duration.

[27] Tiến hoá chuyển động chậm hơn, nhưng nay, trên chiều hướng thăng thượng của vạn vật, hình tướng chỉ có thời gian tồn tại ngắn.

It’s going to be even shorter to come.

Nó sẽ còn ngắn hơn nữa trong tương lai.

[28] It lives vitally for a brief period; it moves with rapidity and then is succeeded by another form. This [Page 372] rapidity will increase not decrease as the consciousness or inner expansion of the life of the race vibrates ever to a faster and lighter rate of rhythm.

[28] Nó sống động mạnh mẽ trong một giai đoạn ngắn; nó chuyển động nhanh chóng rồi được kế tục bởi một hình tướng khác. Tốc độ [Page 372] này sẽ gia tăng chứ không giảm bớt, khi tâm thức hay sự mở rộng nội tâm của sự sống nhân loại rung động theo một nhịp điệu ngày càng nhanh hơn và nhẹ hơn.

The oscillation increases in rapidity, and the attempt to preserve the present form forever is ill-advised. We have to learn about the inner worlds. We have to enter incarnation and be rapidly connected with our sense of purpose, find the best way to fulfill that purpose, and then leave when there’s nothing further of a constructive nature to be done.

Dao động tăng nhanh, và nỗ lực bảo tồn hình tướng hiện tại mãi mãi là thiếu sáng suốt. Chúng ta phải học về các thế giới bên trong. Chúng ta phải nhập thể và nhanh chóng được nối kết với ý thức về mục đích của mình, tìm cách tốt nhất để hoàn thành mục đích ấy, rồi rời đi khi không còn điều gì thêm mang tính xây dựng cần làm.

This seems a long way from the present fearful attempt to make the form last forever, even if that form is bionic. We know very little about the inner occult life and must be in a position to know more and to have people know more in a graded manner so that their sense of values can change. We must learn now to value consciousness over the coherence of the gross physical form.

Điều này dường như còn rất xa với nỗ lực đầy sợ hãi hiện nay nhằm làm cho hình tướng tồn tại mãi mãi, ngay cả nếu hình tướng ấy là sinh học-cơ khí. Chúng ta biết rất ít về đời sống huyền bí bên trong và phải ở trong vị thế biết nhiều hơn, cũng như giúp người khác biết nhiều hơn theo cách có cấp độ, để ý thức giá trị của họ có thể thay đổi. Giờ đây chúng ta phải học coi trọng tâm thức hơn sự cố kết của hình tướng hồng trần thô đặc.

All may go well and that gross physical form be unscathed for a long time, and departure from it may be an easy matter, but then what has been accomplished for the sake of consciousness? That’s the question.

Mọi sự có thể diễn ra tốt đẹp và hình tướng hồng trần thô đặc ấy có thể không bị tổn hại trong một thời gian dài, và việc rời khỏi nó có thể là một việc dễ dàng, nhưng khi ấy điều gì đã được hoàn thành vì lợi ích của tâm thức? Đó là câu hỏi.

[29] It is necessary likewise that you arrive at the realization that one of the principal objects of endeavor at the present time on the part of those whom you call the Elder Brothers of the race, is to stimulate, purify and coordinate the etheric body.

[29] Cũng cần thiết để các bạn đạt tới nhận biết rằng một trong những mục tiêu chính yếu của nỗ lực hiện nay, từ phía những Đấng mà các bạn gọi là các Huynh Trưởng của nhân loại, là kích thích, thanh lọc và phối hợp thể dĩ thái.

We would expect this in a Seventh Ray age, wouldn’t we? The Seventh Ray has very much to do with the etheric body, and we’re entering the time of emphasis for it. We are told there will be much healthier bodies under the reign of the Seventh Ray because we’ll be able to remove those etheric miasmas which are precipitating into the dense physical body as disease.

Chúng ta hẳn mong đợi điều này trong một thời đại cung bảy, phải không? Cung bảy liên hệ rất nhiều với thể dĩ thái, và chúng ta đang bước vào thời kỳ nhấn mạnh nó. Chúng ta được nói rằng sẽ có những thể xác khỏe mạnh hơn nhiều dưới triều đại của cung bảy, bởi chúng ta sẽ có thể loại bỏ những chướng khí dĩ thái đang ngưng tụ vào thể xác đậm đặc thành bệnh tật.

The prana, which is life-sustaining, will be better received. This is the solar prana, pretty much, isn’t it? Because we’re not talking so much about the prana that’s received through the pores, which is more planetary prana, but that which is received as radiant heat from the sun—not latent fire, but radiant fire.

Prana, vốn duy trì sự sống, sẽ được tiếp nhận tốt hơn. Đây phần lớn là prana thái dương, phải không? Bởi chúng ta không nói nhiều về prana được tiếp nhận qua các lỗ chân lông, vốn là prana hành tinh nhiều hơn, mà là prana được tiếp nhận như nhiệt bức xạ từ mặt trời—không phải lửa tiềm ẩn, mà là lửa bức xạ.

[30] This etheric body is not only the transmitter of prana but is the medium for all the energies which we are considering.

[30] Thể dĩ thái này không chỉ là bộ truyền dẫn prana, mà còn là phương tiện trung gian cho tất cả các năng lượng mà chúng ta đang xem xét.

Many energies gather in the etheric body, including great sustaining energies from above.

Nhiều năng lượng hội tụ trong thể dĩ thái, kể cả những năng lượng nâng đỡ vĩ đại từ trên cao.

[31] Its importance also lies in other directions:

[31] Tầm quan trọng của nó còn nằm ở những phương diện khác:

Let’s talk about here the importance of the etheric body.

Hãy nói ở đây về tầm quan trọng của thể dĩ thái.

[32] a. Being of physical plane matter, literally, etheric consciousness is the next step ahead for the race.

[32] a. Vì theo nghĩa đen, nó thuộc vật chất cõi hồng trần, nên tâm thức dĩ thái là bước kế tiếp trước mắt của nhân loại.

Sometimes he says there is no etheric consciousness, and at other times that there is. Certainly there will be an awareness of the condition and presence of the etheric body.

Đôi khi Ngài nói không có tâm thức dĩ thái, và lúc khác lại nói có. Chắc chắn sẽ có một sự nhận biết về tình trạng và sự hiện diện của thể dĩ thái.

[33] This will demonstrate at first as the ability to see etherically and to cognize etheric matter.

[33] Điều này ban đầu sẽ biểu lộ như khả năng thấy bằng dĩ thái và nhận biết vật chất dĩ thái.

Already one can see this developing on a fairly large scale amongst disciples. And who knows what other people, not technically calling themselves disciples—the general refinement of the etheric body and of the physical body and the physical brain is coming, and with it will come this type of etheric sight. Going on, point B.

Người ta đã có thể thấy điều này đang phát triển trên một quy mô khá rộng nơi các đệ tử. Và ai biết được còn những người nào khác, không tự gọi mình một cách kỹ thuật là đệ tử—sự tinh luyện tổng quát của thể dĩ thái, thể xác và bộ não hồng trần đang đến, và cùng với nó sẽ đến loại thị giác dĩ thái này. Tiếp tục, điểm b.

[34] b. It is the field of exploration immediately ahead of the modern scientist.

[34] b. Nó là lĩnh vực khảo sát ngay trước mắt nhà khoa học hiện đại.

Already this is happening.

Điều này đã đang xảy ra.

[35] In ten years time, many medical practitioners will be recognizing it as a fact of nature.

[35] Trong vòng mười năm, nhiều nhà hành nghề y sẽ nhận ra nó như một sự kiện của tự nhiên.

Perhaps they did not talk about it too expansively. Orthodoxy always has its revenge against those who are pioneers. Try to present a new paradigm to somehow crash into the old paradigm, and there will be resistance because you might have to give up a life’s work, and you might have to look at the time you spent fortifying an illusion. It’s not very easy on the ego, lower ego, to do that. Everything you think is true is challenged.

Có lẽ họ đã không nói về nó quá rộng rãi. Chính thống luôn trả đũa những người tiên phong. Hãy thử trình bày một mô hình mới bằng cách nào đó va vào mô hình cũ, và sẽ có sự kháng cự, bởi các bạn có thể phải từ bỏ công trình cả đời, và có thể phải nhìn lại thời gian mình đã dùng để củng cố một ảo tưởng. Điều đó không dễ dàng cho cái tôi thấp, phàm ngã, làm như vậy. Mọi điều các bạn nghĩ là đúng đều bị thách thức.

You don’t have too much time because you only believe in one life anyway, so you’d rather be comfortable in your thoughts and think that you maybe have achieved something instead of having to reorganize the whole thing and say, “How have I spent my days defending an illusion?”

Các bạn không có quá nhiều thời gian, bởi dù sao các bạn chỉ tin vào một đời sống, nên các bạn thà thoải mái trong tư tưởng của mình và nghĩ rằng mình có lẽ đã đạt được điều gì đó, thay vì phải tổ chức lại toàn bộ và nói: “Tôi đã dùng những ngày đời mình để bảo vệ một ảo tưởng như thế nào?”

Point number C.

Điểm c.

[36] c. Most of the diseases that the physical body suffers from at present have their roots in the etheric body. There are few, if any, purely physical diseases. Disease has its source in astral and etheric conditions.

[36] c. Phần lớn các bệnh tật mà thể xác hiện nay mắc phải đều có gốc rễ trong thể dĩ thái. Có rất ít, nếu có, những bệnh thuần túy hồng trần. Bệnh tật có nguồn gốc trong các tình trạng cảm dục và dĩ thái.

And not yet so much in mental conditions, because the race is not there yet. There are energy flows which are going to affect the dense physical body. If there’s congestion, if there’s overstimulation in the etheric body, if there’s a dearth or lack of stimulation, atrophy may develop. It’s the etheric balance which has to be understood. In an age where the Seventh Ray is coming in, and in a book like A Treatise on White Magic, which deals a lot with the etheric body, we have to consider its causal position with respect to the physical body.

Và chưa nhiều trong các điều kiện trí tuệ, bởi nhân loại chưa đến đó. Có những dòng năng lượng sẽ tác động đến thể xác đậm đặc. Nếu có sự tắc nghẽn, nếu có sự kích thích quá mức trong thể dĩ thái, nếu có sự thiếu hụt hay thiếu kích thích, sự teo mòn có thể phát triển. Chính sự quân bình dĩ thái phải được thấu hiểu. Trong một thời đại khi cung bảy đang đi vào, và trong một quyển sách như Luận về Chánh Thuật, vốn đề cập nhiều đến thể dĩ thái, chúng ta phải xem xét vị trí nguyên nhân của nó đối với thể xác.

[37] d. The secret of safe and sane clairvoyance and clairaudience depends upon the purification of the etheric vehicle.

[37] d. Bí mật của thông nhãn và thông nhĩ an toàn, lành mạnh tùy thuộc vào sự thanh lọc hiện thể dĩ thái.

Not distort what is impressed. That’s interesting. You would think you would have to purify the astral vehicle, and I’m sure you do, as we get rid of the various glamours that beset us and beset the race, but there’s something about receiving this in the brain consciousness in an undistorted way that depends upon the etheric body. If we are to receive impression in the brain consciousness in a manner undistorted, a clean, pure, vibrant etheric body is required.

Không bóp méo điều được ấn tượng. Điều đó thú vị. Các bạn có thể nghĩ rằng mình phải thanh lọc hiện thể cảm dục, và tôi chắc rằng các bạn phải làm vậy, khi chúng ta loại bỏ những ảo cảm khác nhau đang vây bủa mình và vây bủa nhân loại; nhưng có điều gì đó về việc tiếp nhận điều này trong tâm thức bộ não một cách không bị bóp méo tùy thuộc vào thể dĩ thái. Nếu chúng ta phải tiếp nhận ấn tượng trong tâm thức bộ não theo một cách không bị bóp méo, thì cần có một thể dĩ thái sạch, tinh khiết, rung động mạnh mẽ.

[38] e. The etheric emanations of people can be great contaminators. In the purification, therefore, of this body lies the secret of a sweeter and saner humanity.

[38] e. Các phát xạ dĩ thái của con người có thể là những tác nhân gây ô nhiễm mạnh mẽ. Vì vậy, chính trong sự thanh lọc thể này có bí mật của một nhân loại dịu hòa hơn và lành mạnh hơn.

Uncontaminated by contact with many people who spread the contamination.

Không bị ô nhiễm do tiếp xúc với nhiều người lan truyền sự ô nhiễm.

I’m remembering one of my friends who—I can’t be too specific—but he was a distinguished psychologist. He was working with another very distinguished psychologist. He said the condition of the etheric body of the latter affected the former, and he says “This individual had an etheric leak. When I was with him, that kind of pulling on my etheric body occurred. I always felt devitalized after our sessions together.” Maybe that’s not contamination, but it certainly is one etheric body affecting another. This bioelectric field, if we want to use more contemporary terminology, is of the utmost importance. It is causal. It is numinal compared to the physical body. It is substantial compared to the physical body and the source, in its imbalance and clogging and overstimulations, of much disease of the organs in the physical body.

Tôi nhớ một người bạn của tôi—tôi không thể nói quá cụ thể—nhưng ông là một nhà tâm lý học nổi bật. Ông làm việc với một nhà tâm lý học rất nổi bật khác. Ông nói tình trạng thể dĩ thái của người sau ảnh hưởng đến người trước, và ông nói: “Cá nhân này có một chỗ rò dĩ thái. Khi tôi ở với ông ấy, có một loại kéo hút xảy ra trên thể dĩ thái của tôi. Tôi luôn cảm thấy bị rút mất sinh lực sau các buổi làm việc cùng nhau.” Có lẽ đó không phải là ô nhiễm, nhưng chắc chắn đó là một thể dĩ thái ảnh hưởng đến một thể dĩ thái khác. Trường điện sinh học này, nếu chúng ta muốn dùng thuật ngữ đương đại hơn, có tầm quan trọng tối thượng. Nó có tính nguyên nhân. Nó có tính bản thể vi tế so với thể xác. Nó có tính chất liệu so với thể xác và là nguồn gốc, trong sự mất quân bình, tắc nghẽn và kích thích quá mức của nó, của nhiều bệnh nơi các cơ quan trong thể xác.

We have to deal with disease at its cause. Many of those congestions and overstimulations may be the result of the desire in nature, and then we’ll have to trace it back even further. We will find that in the change of character and attending to the condition of certain of the subtle vehicles, better health of the dense physical body will result.

Chúng ta phải xử lý bệnh tật tại nguyên nhân của nó. Nhiều sự tắc nghẽn và kích thích quá mức ấy có thể là kết quả của dục vọng trong bản chất, và khi đó chúng ta sẽ phải truy ngược xa hơn nữa. Chúng ta sẽ thấy rằng trong sự thay đổi tính cách và trong việc chú ý đến tình trạng của một số hiện thể vi tế, sức khỏe tốt hơn của thể xác đậm đặc sẽ là kết quả.

After all, things are psychosomatic in a way, and according to our subtle inner conditions, so will be the outer demonstration. We are already accepting that idea.

Rốt cuộc, mọi sự theo một cách nào đó đều mang tính tâm-thể, và tùy theo các điều kiện vi tế bên trong của chúng ta, sự biểu lộ bên ngoài cũng sẽ như vậy. Chúng ta đã đang chấp nhận ý tưởng đó.

[39] Hence, the importance of the etheric. There are many other reasons which will later be emphasized. In beginning to form your ideas on the subject, however, it is the part of wisdom to adhere to wide generalities until the whole matter has taken clear shape in your mind.

[39] Do đó, thể dĩ thái có tầm quan trọng. Có nhiều lý do khác sẽ được nhấn mạnh về sau. Tuy nhiên, khi bắt đầu hình thành các ý tưởng của các bạn về chủ đề này, điều khôn ngoan là bám vào những khái quát rộng, cho đến khi toàn bộ vấn đề đã định hình rõ ràng trong trí bạn.

Otherwise, we enter into too much detail before we really see the necessary relationships. We have to be patient to see the larger picture and to realize that for us, it’s not given to know all the details, but the general picture.

Nếu không, chúng ta đi vào quá nhiều chi tiết trước khi thật sự thấy các mối liên hệ cần thiết. Chúng ta phải kiên nhẫn để thấy bức tranh lớn hơn và nhận ra rằng đối với chúng ta, không được ban cho việc biết tất cả chi tiết, mà là bức tranh tổng quát.

Master DK has presented in this book so very much detail. We might think we’re being given the detail, but compared to what will later be presented, we will see that we’re actually being given the ABCs.

Chân sư DK đã trình bày trong quyển sách này rất nhiều chi tiết. Chúng ta có thể nghĩ mình đang được trao chi tiết, nhưng so với những gì sẽ được trình bày về sau, chúng ta sẽ thấy rằng thật ra mình đang được trao bảng chữ cái đầu tiên.

[40] Work on the etheric body, however, from the standpoint of the Hierarchy is not confined only to the bodies of men. It is a planetary process.

[40] Tuy nhiên, xét từ lập trường của Thánh Đoàn, công việc đối với thể dĩ thái không chỉ giới hạn trong các thể của con người. Đó là một tiến trình hành tinh.

Everything is connected. The health of the human etheric body will depend on the condition of the planetary etheric body, which these days is very much challenged.

Mọi sự đều được nối kết. Sức khỏe của thể dĩ thái con người sẽ tùy thuộc vào tình trạng của thể dĩ thái hành tinh, vốn ngày nay đang bị thách thức rất nhiều.

[41] The etheric body of [Page 373] the earth itself is being subjected to a definite stimulation.

[41] Thể dĩ thái của [Page 373] chính Trái Đất đang chịu một sự kích thích rõ rệt.

Sometimes the earth actually represents in the energy system of man the etheric body. We can find a reference to that in the earlier pages of Esoteric Astrology. A number of the planets can be assigned to different chakras. The earth can be assigned to the base of the spine, absolutely, to the etheric body. Perhaps the spleen can be assigned to the mental unit with Venus taking the role of the manasic permanent atom. There are many and flexible assignments of these systemic centers to the different chakras of man. The earth is related to the throat center.

Đôi khi Trái Đất thật sự tượng trưng trong hệ thống năng lượng của con người cho thể dĩ thái. Chúng ta có thể tìm thấy một tham chiếu về điều đó trong những trang đầu của Chiêm Tinh Học Nội Môn. Một số hành tinh có thể được gán cho những luân xa khác nhau. Trái Đất có thể được gán cho đáy cột sống, chắc chắn là cho thể dĩ thái. Có lẽ lá lách có thể được gán cho đơn vị hạ trí, với Sao Kim đảm nhiệm vai trò của nguyên tử trường tồn manas. Có nhiều cách gán linh hoạt các trung tâm hệ thống này cho những luân xa khác nhau của con người. Trái Đất liên hệ với trung tâm cổ họng.

The etheric body of the earth itself is being subjected to a definite stimulation, I suppose because we here on this planet and in this chain are passing through an initiation. It’s a fourth initiation of a lesser kind. Go to A Treatise on Cosmic Fire, page 384, and you’ll see the layout there and how DK explains it.

Thể dĩ thái của chính Trái Đất đang chịu một sự kích thích nhất định, tôi cho là bởi chúng ta ở đây trên hành tinh này và trong Dãy này đang đi qua một cuộc điểm đạo. Đó là lần điểm đạo thứ tư thuộc một loại thấp hơn. Hãy đến Luận về Lửa Vũ Trụ, trang 384, và các bạn sẽ thấy bố cục ở đó và cách Chân sư DK giải thích.

[42] The spirit of the earth,

[42] Tinh linh địa cầu,

It depends on how he uses the word spirit. Sometimes it does mean the Planetary Logos, sometimes it doesn’t. In this case, it doesn’t. The spirit of the earth,

Điều này tùy vào cách Ngài dùng từ tinh thần. Đôi khi nó thật sự có nghĩa là Hành Tinh Thượng đế, đôi khi không. Trong trường hợp này, không phải. Tinh linh địa cầu,

[43] that mysterious entity—not the planetary Logos—is being vivified in a new sense and in his vivification many interesting developments eventuate.

[43] thực thể huyền bí ấy — không phải Hành Tinh Thượng đế — đang được tiếp sinh lực theo một ý nghĩa mới, và trong sự tiếp sinh lực của thực thể ấy, nhiều phát triển thú vị xảy ra.

This is a lower Being still—involutionary, not evolutionary. The entity of the earth, sometimes called the spirit of the earth—I have seen the word spirit capitalized when it does mean the Planetary Logos, but it has been used in both ways, at least as I remember it. The spirit of the earth includes the lower physical body, the etheric body, and perhaps the general elemental nature of the personality of the Planetary Logos. When he talks about earth, you never quite know whether he’s talking about our particular globe, which has its own globe lord with its own Monad, or the greater chain lord, or earth as the Scheme.

Đây vẫn là một Hữu Thể thấp hơn—thuộc giáng hạ tiến hoá, không phải thăng thượng tiến hoá. Thực thể của Trái Đất, đôi khi được gọi là tinh linh địa cầu—tôi đã thấy từ tinh thần được viết hoa khi nó có nghĩa là Hành Tinh Thượng đế, nhưng nó đã được dùng theo cả hai cách, ít nhất theo như tôi nhớ. Tinh linh địa cầu bao gồm thể xác thấp, thể dĩ thái, và có lẽ bản chất hành khí tổng quát của phàm ngã của Hành Tinh Thượng đế. Khi Ngài nói về Trái Đất, các bạn không bao giờ biết chắc Ngài đang nói về bầu hành tinh riêng của chúng ta, có Chúa Tể Bầu hành tinh riêng với Chân thần riêng của nó, hay Chúa Tể Dãy lớn hơn, hay Trái Đất như hệ hành tinh.

You have to look at the context and see what he might be meaning. There’s a vivification—what is the nature of this vivification of the spirit of the earth?

Các bạn phải nhìn vào ngữ cảnh và xem Ngài có thể muốn nói gì. Có một sự sinh động hóa—bản chất của sự sinh động hóa này của tinh linh địa cầu là gì?

[44] In three ways this is being attempted:

[44] Điều này đang được thực hiện theo ba cách:

[45] 1. By an increased rate of vibration of the etheric atoms, caused by the coming in of the ceremonial ray.

[45] 1. Bằng một tốc độ rung động gia tăng của các nguyên tử dĩ thái, do sự nhập lưu của cung nghi lễ gây nên.

Wherever there’s a stimulation coming from a certain type of being with its ray structure, there will be a stimulation or a heightening of the vibratory rate of those lesser material factors which correspond with that greater being whose day has come.

Bất cứ nơi nào có sự kích thích đến từ một loại hữu thể nào đó với cấu trúc cung của nó, sẽ có sự kích thích hoặc nâng cao tốc độ rung động của những yếu tố vật chất thấp hơn tương ứng với hữu thể lớn hơn ấy, Đấng mà ngày của Ngài đã đến.

[46] This must not be pictured as a sudden and violent change. From the standpoint of the human student the rate of increase is apparently so slow and gradual as to be inappreciable.

[46] Điều này không nên được hình dung như một thay đổi đột ngột và dữ dội. Từ lập trường của đạo sinh là con người, tốc độ gia tăng dường như chậm rãi và tuần tự đến mức không thể nhận thấy.

It can be a lot slower than the heating up of the earth at the moment and the rising of the levels of the oceans. We have a lot environmentally, from a seventh-ray perspective, to deal with.

Nó có thể chậm hơn nhiều so với sự nóng lên của Trái Đất hiện nay và sự dâng cao của mực nước đại dương. Từ viễn cảnh cung bảy, chúng ta có rất nhiều điều thuộc môi trường phải xử lý.

[47] Nevertheless, the stimulation exists, and in the course of centuries will be recognized.

[47] Tuy nhiên, sự kích thích vẫn hiện hữu, và theo dòng các thế kỷ, nó sẽ được nhận ra.

This will make possible a greater ability to see ethers. Somewhere He tells us that that stimulation makes them more visible, and there are certain changes occurring in the eye as well. The stimulation of the etheric atoms is one of the factors in the stimulation of the general spirit of the earth, and

Điều này sẽ làm cho khả năng thấy các dĩ thái lớn hơn trở nên có thể. Ở đâu đó Ngài nói với chúng ta rằng sự kích thích ấy làm cho chúng dễ thấy hơn, và cũng có những thay đổi nhất định đang xảy ra trong mắt. Sự kích thích của các nguyên tử dĩ thái là một trong những yếu tố trong sự kích thích của tinh linh địa cầu nói chung, và

[48] 2. By the play of certain astral forces on the etheric body that leads to slow but definite changes in the internal structure of the atom, the coming into consciousness of another of the spirillae and a general tightening up of the whole cosmos of the atom.

[48] 2. Bằng sự tác động của một số mãnh lực cảm dục lên thể dĩ thái, dẫn đến những thay đổi chậm rãi nhưng rõ rệt trong cấu trúc nội tại của nguyên tử, sự thức tỉnh trong tâm thức của một loa tuyến khác, và sự siết chặt tổng quát của toàn bộ tiểu vũ trụ nguyên tử.

DK is being vague and general, and we will not know the details. The structure of the atom—of the etheric atoms is being changed—and perhaps also of astral atoms. Astral forces working on the etheric body lead to slow but definite changes in the internal structure of the atom, the coming into consciousness of another of the spirillae. This other spiral will vibrate more intensively, and therefore the state of consciousness associated with it be noticed. This may facilitate the emerging of the fifth kingdom of nature. Here’s another thing: the Maha Chohan being associated with the Third Ray and the Seventh Ray, and with matter in general.

Chân sư DK đang nói mơ hồ và tổng quát, và chúng ta sẽ không biết các chi tiết. Cấu trúc của nguyên tử—của các nguyên tử dĩ thái—đang được thay đổi, và có lẽ cả các nguyên tử cảm dục nữa. Các mãnh lực cảm dục tác động lên thể dĩ thái dẫn đến những thay đổi chậm nhưng rõ ràng trong cấu trúc bên trong của nguyên tử, sự đi vào tâm thức của một trong các loa tuyến khác. Vòng xoắn khác này sẽ rung động mãnh liệt hơn, và do đó trạng thái tâm thức gắn liền với nó được nhận biết. Điều này có thể tạo thuận lợi cho sự xuất hiện của giới thứ năm trong tự nhiên. Đây là một điều khác: Đức Mahachohan liên hệ với cung ba và cung bảy, và với vật chất nói chung.

[49] 3. By the use on the inner planes by the Mahachohan of one of the powerful talismans of the seventh ray.

[49] 3. Bằng việc Đức Mahachohan sử dụng trên các cõi nội giới một trong những linh phù đầy quyền năng của cung bảy.

The Maha Chohan is now Master R, a Third Ray Monad and Seventh Ray soul, which seems a reasonable estimation. These are the three factors. This talisman is one of the factors. All this we have nothing to do with. These big changes are occurring internally, and we are living in the world of effects. But the play of certain astral force upon the etheric body leads to slow but definite changes in the internal structure of the atom.

Đức Mahachohan hiện nay là Chân sư R., một Chân thần cung ba và linh hồn cung bảy, điều dường như là một ước định hợp lý. Đây là ba yếu tố. Bùa linh này là một trong những yếu tố. Tất cả điều này chúng ta không liên can trực tiếp. Những thay đổi lớn này đang xảy ra bên trong, và chúng ta đang sống trong thế giới của các hiệu quả. Nhưng tác động của một số mãnh lực cảm dục lên thể dĩ thái dẫn đến những thay đổi chậm nhưng rõ ràng trong cấu trúc bên trong của nguyên tử.

If we could see as DK sees from the inside out, then we’d really know what He’s talking about. At least we have the general picture. All of this is about what is the nature of the vivification of the spirit of the earth: increased vibration, changes in the structure of the atom, etheric atoms presumably, but there are many types of atoms, certainly on the cosmic physical plane. It’s all atomic, underlaid by the bubbles in the coil, as they’re called. And then a great talisman on the Seventh Ray. A talisman will organize matter according to Seventh Ray patterns.

Nếu chúng ta có thể thấy như Chân sư DK thấy từ trong ra ngoài, thì chúng ta thật sự sẽ biết Ngài đang nói về điều gì. Ít nhất chúng ta có bức tranh tổng quát. Tất cả điều này liên quan đến bản chất của sự sinh động hóa tinh linh địa cầu: rung động gia tăng, những thay đổi trong cấu trúc của nguyên tử, có lẽ là các nguyên tử dĩ thái, nhưng có nhiều loại nguyên tử, chắc chắn trên cõi hồng trần vũ trụ. Tất cả đều mang tính nguyên tử, được đặt nền bởi các bong bóng trong cuộn xoắn, như chúng được gọi. Và rồi một bùa linh vĩ đại trên cung bảy. Một bùa linh sẽ tổ chức vật chất theo các mô hình cung bảy.

[50] The spirit of the earth, it might be noted, is of slow and gradual arousing. He is on the involutionary arc and passes on to the evolutionary in some dim and distant future.

[50] Cần lưu ý rằng tinh linh địa cầu đang thức tỉnh chậm rãi và tuần tự. Thực thể ấy ở trên cung giáng hạ tiến hoá và sẽ chuyển sang cung thăng thượng tiến hoá trong một tương lai mờ xa.

We don’t even know if this is in our solar system or in the next. There maybe—maybe DK knows, and some of them know it. It’s a quite primitive Being, and I suppose represents very much the matter aspect. It’s much composed of the matter inherited from perhaps the Moon Chain or the previous solar system, all that needing to be redeemed.

Chúng ta thậm chí không biết điều này xảy ra trong hệ mặt trời của chúng ta hay trong hệ kế tiếp. Có lẽ—có lẽ Chân sư DK biết, và một số vị trong Các Ngài biết điều đó. Đó là một Hữu Thể khá sơ khai, và tôi cho rằng đại diện rất nhiều cho phương diện vật chất. Y phần lớn được cấu thành từ vật chất thừa hưởng có lẽ từ Dãy Mặt Trăng hoặc hệ mặt trời trước, tất cả đều cần được cứu chuộc.

[51] Therefore, he will not carry us with him.

[51] Vì vậy, thực thể ấy sẽ không mang chúng ta đi theo mình.

That’s interesting—that’s a hint. We will have moved on in evolution and will not be associated any longer with the inhibitory states of matter which he rules and of which he is comprised.

Điều đó thú vị—đó là một gợi ý. Chúng ta sẽ đã tiến xa trong tiến hoá và sẽ không còn liên hệ với các trạng thái vật chất ức chế mà y cai quản và từ đó y được cấu thành.

[52] He but serves our purpose now,

[52] Hiện nay, thực thể ấy chỉ phục vụ mục đích của chúng ta,

It’s a redemptive purpose, requiring an opposition against which to strengthen our abilities. A redemptive purpose requiring an opposition against which to strengthen our abilities,

Đó là một mục đích cứu chuộc, đòi hỏi một sự đối lập để dựa vào đó củng cố các khả năng của chúng ta. Một mục đích cứu chuộc đòi hỏi một sự đối lập để dựa vào đó củng cố các khả năng của chúng ta,

[53] offering us a home within his body, yet remaining dissociated

[53] ban cho chúng ta một mái nhà trong thân thể của mình, nhưng vẫn tách biệt khỏi chúng ta.

We utilize the material constituents of his body.

Chúng ta sử dụng các thành phần vật chất trong thân thể y.

[54] The devas of the ethers from this very stimulation are consequently hastening forward in evolution and approximating also nearer to their ideal.

[54] Do chính sự kích thích này, các thiên thần của những tầng dĩ thái đang được thúc đẩy nhanh hơn trong tiến hoá, và cũng tiến gần hơn đến lý tưởng của các vị ấy.

These particular devas are evolutionary. It’s a mysterious being and he does deal with it somewhat in A Treatise on Cosmic Fire and elsewhere. Imagine what it is to have that kind of knowledge and really see where mankind fits in this evolutionary and also involutionary scheme, and how involutionary lives can assist evolutionary lives.

Những thiên thần đặc biệt này thuộc thăng thượng tiến hoá. Đây là một hữu thể huyền bí, và Ngài có đề cập phần nào đến y trong Luận về Lửa Vũ Trụ và ở nơi khác. Hãy tưởng tượng có loại tri thức đó và thật sự thấy nhân loại ăn khớp ở đâu trong hệ thống thăng thượng tiến hoá cũng như giáng hạ tiến hoá này, và các sự sống giáng hạ tiến hoá có thể hỗ trợ các sự sống thăng thượng tiến hoá như thế nào.

[55] In all I have said anent the etheric body of men, anent the planet, anent the spirit of the earth, the crux of the whole situation lies in the fact that the five rays at this time have the seventh ray as their predominating ray.

[55] Trong tất cả những gì tôi đã nói về thể dĩ thái của con người, về hành tinh, về tinh linh địa cầu, điểm mấu chốt của toàn bộ tình thế nằm ở sự kiện rằng năm cung vào lúc này lấy cung bảy làm cung chi phối của chúng.

Are we talking about the five rays of Brahma? Because, from the atmic plane on down, we are dealing with Brahma and Vishnu on the monadic plane and Shiva on the sea of fire, the first plane, Logoic. There’s a rotation here, I suppose, and in different ages and at different times, different rays come to the apex of the five-pointed star.

Chúng ta có đang nói về năm cung của Brahma không? Bởi từ cõi atma trở xuống, chúng ta đang đề cập đến Brahma, và Vishnu trên cõi chân thần, còn Shiva trên biển lửa, cõi thứ nhất, cõi Thượng đế. Có một sự luân chuyển ở đây, tôi cho là vậy, và trong những thời đại khác nhau cùng những thời điểm khác nhau, các cung khác nhau đi lên đỉnh của ngôi sao năm cánh.

The seventh is on top now, and we’ll all have to get used to getting along with that particular ray. He tells us that only the sixth-ray monads will have problems. Did you even think that there were sixth-ray monads when he tells us there’s only three? But it depends on the context. There’s seven in one context and three in another.

Cung bảy hiện ở trên cùng, và tất cả chúng ta sẽ phải quen với việc hòa hợp với cung đặc biệt ấy. Ngài nói với chúng ta rằng chỉ các chân thần cung sáu mới gặp vấn đề. Các bạn có từng nghĩ rằng có các chân thần cung sáu khi Ngài nói với chúng ta chỉ có ba không? Nhưng điều đó tùy vào ngữ cảnh. Có bảy trong một ngữ cảnh và ba trong một ngữ cảnh khác.

[56] The seventh ray is the ray that controls the etheric and the devas of the ethers.

[56] Cung bảy là cung cai quản dĩ thái và các thiên thần của những tầng dĩ thái.

Presumably also the evolutionary devas. Sometimes, when a deva is involutionary or of low quality, we call it an elemental, and sometimes a deva.

Có lẽ cũng kiểm soát các thiên thần thăng thượng tiến hoá. Đôi khi, khi một thiên thần thuộc giáng hạ tiến hoá hoặc có phẩm chất thấp, chúng ta gọi nó là một hành khí, và đôi khi là một thiên thần.

[57] It controls the seventh sub-plane of all planes

[57] Nó cai quản cõi phụ thứ bảy của mọi cõi,

the lowest or perhaps the highest,

cõi thấp nhất hoặc có lẽ cõi cao nhất,

[58] but it dominates at this time the seventh sub-plane of the physical plane.

[58] nhưng vào lúc này nó chi phối cõi phụ thứ bảy của cõi hồng trần.

Of the systemic physical plane. This would be the dense physical body of man, but perhaps also the dense physical body of the planetary logos, which consists of 18 lower sub-planes. There’s a lot of fifth-ray stuff to get under our belt here. But once we memorize a few of the lists and associations, the vocabulary, it’s not as difficult as it seems, not as burdensome as it seems at first.

Của cõi hồng trần thuộc hệ thống. Đây sẽ là thể xác đậm đặc của con người, nhưng có lẽ cũng là thể xác đậm đặc của Hành Tinh Thượng đế, vốn gồm mười tám cõi phụ thấp. Có rất nhiều điều thuộc cung năm mà chúng ta phải nắm vững ở đây. Nhưng một khi chúng ta ghi nhớ một vài danh sách và liên hệ, cùng từ vựng, thì nó không khó như vẻ ngoài, không nặng nề như lúc đầu tưởng.

[59] Being in the fourth [Page 374] round also,

[59] Vì chúng ta cũng đang ở cuộc tuần hoàn thứ tư, [Page 374]

we are here in this chain.

chúng ta ở đây trong Dãy này.

[60] when a ray comes into definite incarnation, it not only controls on planes of the same number but has a special influence on the fourth sub-plane.

[60] nên khi một cung nhập thể rõ rệt, nó không chỉ cai quản trên các cõi có cùng số, mà còn có một ảnh hưởng đặc biệt trên cõi phụ thứ tư.

Because of the round—I’ve been putting italics in, and I see that not long ago I completed my italics run here, and I need to go further—But I think we’re not going to go any farther here than the Founding of the Hierarchy.

Bởi cuộc tuần hoàn—tôi đã thêm chữ nghiêng vào, và tôi thấy rằng cách đây không lâu tôi đã hoàn tất đoạn chữ nghiêng của mình ở đây, và tôi cần đi xa hơn—nhưng tôi nghĩ chúng ta sẽ không đi xa hơn ở đây đến đoạn Thành Lập Thánh Đoàn.

This sounds amazing. Maybe we’ll learn about the Temple of Ibez again, and what it is in South America that is so derivative of the early hierarchical Shamballic influence. We find so many things there that seem to point to an earlier, wiser age, and it’s interesting that the jungle is now being penetrated by certain types of photographic machines, which somehow can detect the many ancient cities and so forth that lie buried in the jungle. I think that before long, this Temple of Ibez and what it was, and what it meant to Shambhala 17 million years ago or so, will be more emergent in the consciousness of the human race.

Điều này nghe thật đáng kinh ngạc. Có lẽ chúng ta sẽ lại học về Đền Ibez, và về điều gì ở Nam Mỹ có nguồn gốc rất mạnh từ ảnh hưởng Shamballa thuộc Thánh Đoàn thời kỳ đầu. Chúng ta thấy rất nhiều điều ở đó dường như chỉ về một thời đại sớm hơn, minh triết hơn, và thật thú vị là rừng rậm hiện nay đang được xuyên thấu bởi một số loại máy chụp ảnh, bằng cách nào đó có thể phát hiện nhiều thành phố cổ và những thứ tương tự đang nằm chôn trong rừng. Tôi nghĩ rằng chẳng bao lâu nữa, Đền Ibez này và nó là gì, nó có ý nghĩa gì đối với Shamballa khoảng mười bảy triệu năm trước, sẽ hiện ra rõ hơn trong tâm thức của nhân loại.

[61] Note how this works at this time in the three worlds:

[61] Hãy lưu ý cách điều này vận hành vào lúc này trong ba cõi giới:

The seventh ray is affecting the fourth, basically. The seventh ray is affecting those aspects of the planet which correlate with the number four, because we are experiencing the fourth round in the fourth chain. This does seem like a chain round, but maybe we’re also experiencing the fourth scheme round. There do seem to be two different types, one much longer and larger than the other.

Cung bảy về cơ bản đang tác động đến cung bốn. Cung bảy đang tác động đến những phương diện của hành tinh tương ứng với số bốn, bởi chúng ta đang trải nghiệm cuộc tuần hoàn thứ tư trong Dãy thứ tư. Điều này quả có vẻ như một cuộc tuần hoàn của Dãy, nhưng có lẽ chúng ta cũng đang trải nghiệm cuộc tuần hoàn hệ hành tinh thứ tư. Dường như có hai loại khác nhau, một loại dài và lớn hơn nhiều so với loại kia.

[62] 1. The fourth ether, the lowest of the ethers, is to be the next physical plane of consciousness.

[62] 1. Dĩ thái thứ tư, tầng thấp nhất trong các tầng dĩ thái, sẽ là cõi hồng trần kế tiếp của tâm thức.

There’s no question here—He is definitely talking about etheric consciousness. This contrasts with the statement that there is no consciousness on the etheric plane. How is that possible?

Ở đây không có nghi vấn—Ngài chắc chắn đang nói về tâm thức dĩ thái. Điều này tương phản với phát biểu rằng không có tâm thức trên cõi dĩ thái. Làm sao có thể như vậy?

[63] Etheric matter is even now becoming visible to some, and will be entirely visible at the end of this century to many.

[63] Vật chất dĩ thái ngay lúc này đã trở nên hữu hình đối với một số người, và đến cuối thế kỷ này sẽ hoàn toàn hữu hình đối với nhiều người.

Perhaps they do not talk about it too much, but I know some for whom that visibility is real.

Có lẽ họ không nói về điều đó quá nhiều, nhưng tôi biết một số người mà đối với họ sự thấy được ấy là có thật.

[64] 2. The fourth sub-plane of the astral holds the majority of men when they pass over and consequently much work on the greatest number can therefore be accomplished.

[64] 2. Cõi phụ thứ tư của cõi cảm dục giữ phần lớn con người khi họ qua đời, và do đó, nhiều công việc đối với số đông nhất có thể được thực hiện.

Because the seven affects the four, and the seven is usually transformative.

Bởi số bảy tác động đến số bốn, và số bảy thường có tính chuyển đổi.

[65] 3. The fourth mental sub-plane is the plane of devachan.

[65] 3. Cõi phụ thứ tư của cõi trí là cõi thiên đường.

And this concept will certainly emerge in contrast to the heaven or paradise of some religions.

Và khái niệm này chắc chắn sẽ xuất hiện, tương phản với thiên đường hay cõi cực lạc của một số tôn giáo.

Where are we now? We’re on page 374. We have to go back to the place where all this started, and here it is. I’m going to copy this as I have been doing, hoping to save time thereby, and we’re really going to begin a fresh subject of great interest: the founding of the Hierarchy. It’ll give me a chance to complete a little more italicization. This is the end of 41, and we’ve dealt with 370 to 374. Number 366 is out of the picture. This should have been the 25th, and we can go ahead into the 26th. We’re going to begin on page 374, and we’re starting with the 42nd.

Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta ở trang 374. Chúng ta phải quay lại nơi tất cả điều này bắt đầu, và đây rồi. Tôi sẽ sao chép điều này như tôi đã làm, hy vọng nhờ đó tiết kiệm thời gian, và chúng ta thật sự sẽ bắt đầu một chủ đề mới rất đáng quan tâm: sự thành lập Thánh Đoàn. Nó sẽ cho tôi cơ hội hoàn tất thêm một chút phần chữ nghiêng. Đây là kết thúc của chương trình 41, và chúng ta đã xử lý từ trang 370 đến 374. Số 366 đã ra khỏi khung hình. Đây lẽ ra là chương trình thứ 25, và chúng ta có thể tiếp tục sang chương trình thứ 26. Chúng ta sẽ bắt đầu ở trang 374, và chúng ta khởi sự với chương trình thứ 42.

Interesting material, isn’t it? Do we have the leisure for this kind of study? It does sink in slowly, but it provides a reservoir of knowledge upon which wisdom can be built. I hope that we will take the time during these seven years, which remain until the Great Conclave and until the giving out, or the beginning of the giving out of the new dispensation, these seven years to assimilate and apply.

Tài liệu thú vị, phải không? Chúng ta có sự nhàn rỗi cho loại nghiên cứu này không? Nó thấm vào chậm rãi, nhưng cung cấp một kho tri thức trên đó minh triết có thể được xây dựng. Tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ dành thời gian trong bảy năm này, những năm còn lại cho đến Đại Mật Nghị và cho đến việc ban ra, hoặc khởi đầu việc ban ra thiên quy mới, bảy năm này để đồng hóa và áp dụng.

Thank you, and we’ll see you soon. Lots of love, many blessings, and study hard. Thank you.

Cảm ơn các bạn, và chúng ta sẽ sớm gặp lại. Thật nhiều tình thương, nhiều ân phúc, và hãy học tập chăm chỉ. Cảm ơn các bạn.

Leave a Comment

Scroll to Top