Bình Giảng Thư Về Tham Thiền Huyền Môn – 13

📘 Sách: Bình Giảng Thư Về Tham Thiền Huyền Môn – Tác giả: Michael D. Robbins

LOM Commentary Webinar

Tóm Tắt

Tóm tắt Webinar: Commentary Program 13_tagged

Bối cảnh Thư IV về Linh từ thiêng liêng

Thầy MDR đặt phần học ở Thư IV của Thư Về Tham thiền Huyền môn, trang 50, với chủ đề “Việc sử dụng Linh từ Thiêng liêng trong tham thiền”. Thầy liên hệ chủ đề này với Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo, đặc biệt Quy luật hai, nơi có đoạn về tiếng khẩn cầu phát ra từ “trung tâm sâu thẳm của ánh sáng lạnh trong trẻo của nhóm” và được đáp ứng từ “trung tâm rực sáng nằm xa phía trước”, cho đến khi cầu khẩn và đáp ứng tan vào một ÂM THANH vĩ đại. Thầy lưu ý rằng giáo huấn trong Thư Về Tham thiền Huyền môn được viết khoảng năm 1920, còn Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo thuộc thập niên 1940 nên cách trình bày về OM về sau tinh vi hơn.

Cuộc cộng tác giữa Alice Bailey và Chân sư DK

Ngày ghi trong văn bản là 19 tháng 6 năm 1920, khi vẫn còn trong giai đoạn dấu hiệu Song Tử, và Thầy MDR suy tư về ảnh hưởng sâu rộng của cuộc gặp giữa Alice Bailey và Chân sư DK. Thầy nhận xét rằng cuộc hợp tác ấy đã tác động đến rất nhiều đời sống, trong đó có chính đời sống của Thầy, và Alice Bailey đã hiến dâng rất nhiều cho tiến trình này. Thầy MDR cũng suy luận rằng Alice Bailey và Chân sư DK nhiều khả năng đã biết nhau từ trước; khi Alice Bailey là “Đệ tử trong Ánh sáng”, Chân sư DK từng là người báo cáo về bà cho Chân sư, có lẽ là Chân sư KH, vì Alice Bailey thực sự thuộc ashram của Chân sư KH. Thầy lưu ý thêm rằng thuộc ashram của Chân sư DK theo một nghĩa nào đó cũng liên hệ với ashram của Chân sư KH, vì Chân sư Kuthumi là Chohan đứng đầu ashram cung hai.

Độ sâu của chủ đề và khó khăn của các tiên đề

Chân sư DK mở đầu bằng cách nói rằng đề tài này sâu thẳm và có tầm quan trọng sinh tử đến mức người học tự nhiên cảm thấy e ngại khi xem xét nó. Thầy MDR nhấn mạnh rằng dữ liệu được truyền đạt vẫn có giá trị lớn cho người đọc và người chiêm nghiệm, dù chỉ mới chạm vào rìa của một chủ đề mà phần chưa nói ra còn mênh mông hơn nhiều. Thầy tự hỏi người đọc có thật sự suy ngẫm khi đọc hay không, và Thầy nhận xét rằng chính kiểu đọc này đòi hỏi sự suy tư liên tục. Thầy cũng thú nhận rằng ban đầu tưởng đây là một sách sơ bộ dễ đọc, nhưng nhanh chóng gặp rất nhiều khó khăn.

Các nền tảng của Giáo Lý Bí Nhiệm và cuộc tuần hoàn dài lâu

Chân sư DK nói năm tiên đề trong Thư IV được đặt trên những sự kiện nền tảng, gồm bảy sự kiện, nhưng nhân loại hiện chưa thấu hiểu hết. H. P. Blavatsky chỉ nêu ba nền tảng trong Giáo Lý Bí Nhiệm; nền tảng thứ tư đang dần xuất hiện qua tâm lý học và khoa học trí tuệ, còn ba nền tảng khác sẽ xuất hiện trong ba cuộc tuần hoàn kế tiếp. Thầy MDR lưu ý rằng nếu các cuộc tuần hoàn của Dãy kéo dài khoảng hơn 300 triệu năm như H. P. Blavatsky nêu, thì sự khai mở này phải được hiểu trên thang thời gian cực kỳ lớn. Thầy nhận xét rằng nền tảng thứ tư có lẽ liên quan nhiều đến các Cung, năng lượng chiêm tinh, các chủ tinh thay thế, tâm lý học nội môn và quan hệ giữa các Cung, các dấu hiệu hoàng đạo với các Huyền Giai Sáng Tạo.

Năm tiên đề về Âm Thanh và Linh từ

Năm tiên đề được nêu là: mọi hiện hữu đều dựa trên Âm Thanh hay Linh từ; sự biến phân là kết quả của Âm Thanh; trên mỗi cõi Linh từ có một tác động khác nhau; tùy theo âm điệu của Linh từ hay rung động của âm thanh mà công việc xây dựng vào hay trục xuất được thực hiện; và Linh từ tam phân duy nhất có bảy khóa, mỗi khóa lại có các âm phụ. Thầy MDR giải thích “tiên đề” như một mệnh đề được đặt ra làm cơ sở cho lý luận, chưa được chứng minh trọn vẹn nhưng được giả định như chân lý quan trọng. Thầy lưu ý rằng các kết quả đầu tiên của Âm Thanh là hiện hữu, biến phân và những tác động khác nhau trên các cõi khác nhau. Thầy cũng nhấn mạnh rằng Linh từ không chỉ do linh hồn con người xướng lên, mà mọi Thực Thể ở một tầm vóc nào đó đều có thể xướng một Linh từ.

Biến phân, nhận thức và Âm Thanh

Thầy MDR đưa ra suy luận riêng rằng biến phân không chỉ là kết quả của Âm Thanh mà có thể còn do sự thu hẹp có chủ ý trong Tự-Nhìn của Thượng đế Vũ Trụ. Theo Thầy, nếu một Nguồn Vĩ Đại không nhìn toàn thể Chính Mình cùng lúc mà thu hẹp tầm nhìn về một phần của Chính Mình, sự biến phân sẽ xuất hiện. Tuy nhiên, Thầy cũng liên hệ Âm Thanh với Sao Thổ, hành tinh của sự biến phân, với trung tâm cổ họng và phương diện thứ ba, để cho thấy Âm Thanh vừa tạo ra vừa duy trì sự phân hóa. Thầy nêu một nhận định độc đáo: “Hiện hữu là được tri nhận”; nếu Thượng đế Vũ Trụ ngừng Tự-Tri-Nhận, nhất là Tự-Tri-Nhận trong hình thức biến phân, mọi sự vật sẽ tan biến.

Xây dựng vào, trục xuất và các tiến trình nhị nguyên

Tiên đề thứ tư nói rằng tùy theo âm điệu và rung động của Linh từ mà việc “xây dựng vào” hay “trục xuất” được hoàn thành. Thầy MDR giải thích rằng nguyên lý này áp dụng cho con người nhưng không giới hạn ở con người, vì bất cứ Thực Thể nào cũng có thể đưa vào hay loại bỏ. Thầy so sánh với hơi thở: con người hít oxygen và thải carbon dioxide, trong khi thực vật vận hành theo chiều ngược lại. Theo Thầy, mọi tiến trình tiếp nhận và loại bỏ như vậy là các biểu hiện của một nguyên lý nhị nguyên rộng lớn hơn.

Bảy khóa, bốn mươi chín âm phụ và tổ chức ashram

Tiên đề thứ năm nói Linh từ tam phân duy nhất có bảy khóa, mỗi khóa lại có âm phụ, tạo thành 49 khả năng. Thầy MDR liên hệ điều này với bảy lửa của Brahma, các lửa Cung, các “tinh thần của Bóng Tối” và những phụ phân của mỗi lửa chính. Thầy đặt câu hỏi về cấu trúc ashram: trong ashram cung hai, liệu Chohan của toàn ashram tập trung vào nhánh hai/phụ hai, hay nhánh này chỉ là một ashram phụ được một điểm đạo đồ thấp hơn Chohan hướng dẫn. Thầy đề xuất rằng người đi trên Con Đường Điểm Đạo rốt cuộc sẽ tìm thấy không chỉ ashram Cung do một Chohan hướng dẫn, mà còn một ashram phụ do một Chân sư thấp hơn Chohan hướng dẫn.

Độ phức tạp của các con số và các hệ thống vũ trụ

Thầy MDR nhận xét rằng ba phương diện ở trên bảy khóa gợi một cấu trúc gần với Kabbalah, và nếu mỗi phương diện có bảy khóa thì có thể liên hệ đến con số 21 cộng với 3 thành 24, một con số Shamballa theo một cách nhìn. Thầy liên hệ thêm các số 2, 4 và 6 với hệ mặt trời của chúng ta, vốn có thể đang biểu hiện qua Chân Thần cung bốn và linh hồn cung hai, đồng thời một ngày kia các thuộc tính bốn, năm, sáu, bảy phải được chuyển thành các Cung Trạng Thái một, hai hoặc ba. Thầy nhấn mạnh rằng những liên hệ giữa số và phẩm tính mà H. P. Blavatsky gọi là “các số tinh thần” mới chỉ là rìa của một độ phức tạp khổng lồ trong Hành Tinh Thượng đế, Thái dương Thượng đế và các Thượng đế cao hơn. Thầy mở rộng tầm nhìn đến bầu hành tinh, hệ hành tinh, hệ mặt trời, hệ Thượng đế vũ trụ, và cả cấp “siêu vũ trụ” của Đấng Bất Khả Tư Nghị.

Ba Hơi Thở nguyên thủy và các hệ mặt trời

Chân sư DK nói rằng trong lần xướng lên nguyên thủy vĩ đại của Linh từ Thiêng liêng có ba Hơi Thở nguyên thủy với bảy âm thanh, một Hơi Thở cho mỗi trong ba hệ mặt trời, và trong mỗi hệ âm điệu khác nhau. Thầy MDR hình dung điều này bằng ngôn ngữ âm nhạc như ba nốt tham gia vào một kết thúc: Fa, Sol, Do, tương ứng theo một cách nhìn với lục, lam và đỏ. Thầy nhận xét các Đấng Sáng Tạo vĩ đại là các Nhạc Sư bậc thầy, vì vậy việc học âm nhạc sẽ rất quan trọng trong các trường tham thiền mới, vốn đã được gợi trước phần nào bởi học viện Pythagoras ở Tiểu Á hơn 2.500 năm trước. Thầy cũng cho rằng mỗi người đi vào Giáo Lý Bí Nhiệm bằng một chìa khóa riêng, và đối với cung hai, chìa khóa âm nhạc dựa trên các tỷ lệ như 2:1, 3:2, 4:3, 5:4, 6:5, 7:6 và 8:7.

Tần số, chữa lành và thời kỳ cung bốn

Thầy MDR nhấn mạnh rằng nghiên cứu tần số là một khoa học chính xác thuộc cung bốn, và nó sẽ đem lại một mức kiểm soát mới đối với các phương diện dĩ thái sinh thành nằm sau hình tướng. Thầy dự đoán đây sẽ là một trong những phương pháp chữa lành đầu tiên nổi bật trong tương lai, vì bệnh tật phần lớn là trạng thái bất hòa giữa các yếu tố trong một hệ thống bệnh. Hài hòa, sức khỏe, chữa lành, toàn vẹn và hoàn hảo là những ý tưởng đi cùng nhau. Thầy cũng lưu ý rằng trong giai đoạn trở nên cung bốn, đặc biệt khi Chân Thần cung bốn đi vào biểu hiện vào năm 2025, nhân loại sẽ phải học làm việc với màu sắc.

Hệ mặt trời thứ nhất và nốt Fa màu lục

Trong hệ mặt trời thứ nhất, sự hoàn tất của Hơi Thở thứ nhất là việc xướng lên nốt Fa một cách uy nghi, nốt căn bản của hệ ấy và là nốt của bản chất biểu hiện. Thầy MDR đồng nhất nốt Fa với màu lục và liên hệ nó với hệ hoạt động, tức hệ mặt trời thứ nhất. Thầy nhắc rằng nếu con người nghe trọn vẹn nốt của bản chất, điều đó sẽ quá sức chịu đựng và áp đảo. Thầy cũng đưa ra nhận xét thực nghiệm rằng khuynh hướng Cung của con người đôi khi được gợi ý qua màu sắc họ yêu thích, chẳng hạn cung bảy với tím, cung sáu với xanh lam trung thành, cung năm với cam, cung bốn với vàng, cung ba với lục, cung hai với lam hay chàm, và cung một với đỏ.

Hệ mặt trời thứ hai, nốt chưa tiết lộ và màu lam

Chân sư DK nói nốt của hệ mặt trời thứ hai, tức hệ hiện tại, không được tiết lộ vì là một trong các bí mật của lần điểm đạo thứ sáu. Thầy MDR nhận xét rằng ở các sách sau Chân sư DK dường như đã được phép cho thêm gợi ý, vì trong Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương có câu rằng Thái dương Thượng đế xướng một Linh từ, hình tướng hệ mặt trời xuất hiện, màu của nó là lam và nốt của nó là một âm điệu vũ trụ đặc thù. Thầy phân tích quan hệ giữa lục và lam theo tỷ lệ quãng năm 3:2, không phải theo nghĩa lục là cung ba và lam là cung hai, mà theo nghĩa lam biểu thị linh hồn và lục biểu thị phàm ngã. Thầy cũng nêu vấn đề chưa giải quyết: tùy bắt đầu thang âm từ C đỏ hay A chàm, nốt G có thể là Sol/quãng năm màu lam hoặc là Si/quãng bảy, nên các tương ứng âm nhạc-màu sắc vẫn còn nhiều điều cần phân biện.

Hơi thở của Thái dương Thượng đế và sự biểu hiện

Chân sư DK nói Thái dương Thượng đế hiện đang xướng nốt ấy, và nếu Ngài ngừng thở nó ra thì toàn hệ thống sẽ biến mất vào sự che khuất hoàn toàn, đánh dấu sự kết thúc biểu hiện. Thầy MDR giải thích bằng phép tương ứng hơi thở: muốn tạo nốt, cần thở ra; sự thở ra đi qua dây thanh và làm chúng rung động. Thầy nhận xét rằng Thái dương Thượng đế có một hơi thở cực kỳ dài; Thực Thể càng lớn thì thời gian thở ra và hít vào càng dài. Theo Thầy, giáng hạ tiến hoá là sự thở ra, còn toàn bộ Con Đường Tiến Hóa có thể được hiểu như một sự hít vào, một tiến trình thu hồi phát xạ trở về nguồn.

Diễn giải lại đại chu kỳ và các cánh hoa Hoa Sen Chân Ngã

Thầy MDR ban đầu hiểu nhầm đại từ “it” trong đoạn nói nốt lục chưa được xướng trọn hay làm tròn cho đến cuối đại chu kỳ, rồi Thầy điều chỉnh rằng “it” có lẽ chỉ nốt lục của hệ thứ nhất chứ không phải nốt thứ hai. Thầy nhấn mạnh cần thận trọng với các đại từ trong văn bản Chân sư DK vì một sai lầm nhỏ có thể làm lệch toàn bộ diễn giải. Thầy liên hệ với sự khai mở các cánh hoa hi sinh của Hoa Sen Chân Ngã: cánh hoa thứ bảy khai mở ở lần điểm đạo thứ nhất nhưng chỉ hoàn toàn khi cả ba cánh hoa hi sinh bung mở; cánh hoa thứ tám liên hệ tiến trình lần điểm đạo thứ hai nhưng cũng chưa hoàn tất cho đến cuối chu kỳ lớn hơn. Thầy nhận xét nhiều đạo sinh như chúng ta có lẽ đang tập trung vào các cánh hoa bảy, tám và có thể chín, đồng thời cánh hoa năm và sáu đã khai mở tương đối đầy đủ trong một số trường hợp.

Hệ mặt trời thứ ba và “tam âm trưởng” của phàm ngã Thượng đế

Trong hệ mặt trời thứ ba, nốt thứ ba cuối cùng sẽ được thêm vào các nốt căn bản của hệ thứ nhất và thứ hai. Chân sư DK nói khi đó sẽ có “tam âm trưởng” của Phàm ngã Thượng đế trong sự hoàn tất, tương ứng với tam âm trưởng của tiểu thiên địa, mỗi nốt dành cho một cõi. Thầy MDR diễn giải có thể xem Do tương ứng với thể dĩ thái-hồng trần, Re với thể cảm dục, và Mi với thể trí, nơi đơn vị hạ trí và Hạ trí hoạt động. Thầy gọi đây là một phàm ngã được linh hồn thấm nhuần ở cấp Thượng đế.

Thái dương Thượng đế, trí tuệ vũ trụ và sự tương ứng với tiểu thiên địa

Chân sư DK cho biết Thái dương Thượng đế trên các cõi vũ trụ đang làm việc với vấn đề trí tuệ vũ trụ; Ngài vận hành trong hệ mặt trời hồng trần, phân cực trong thể cảm dục vũ trụ và đang phát triển trí tuệ vũ trụ. Thầy MDR giải thích rằng thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế có thể ở cõi phụ thứ nhất của cõi trí vũ trụ, trong khi Trái Đất và các hành tinh liên hệ là môi trường để Ngài phát triển trên cõi trí vũ trụ. Dù so với con người Thái dương Thượng đế rực rỡ không thể tưởng, Thầy nhấn mạnh rằng Ngài vẫn có sự phân cực cảm dục vũ trụ và đang tiến về Biến hình vũ trụ. Thầy đối chiếu rằng Sirius đã được Biến hình, gợi một chuẩn cao hơn cho tiến trình của Thái dương Thượng đế chúng ta.

Sử dụng OM, A, AU và cảnh báo về AUM

Chân sư DK nói sự nhận biết tương ứng giữa đại thiên địa và tiểu thiên địa, cùng việc áp dụng khôn ngoan, sẽ soi sáng việc dùng Linh từ Thiêng liêng trong tham thiền. Thầy MDR lưu ý rằng điều này phụ thuộc vào Linh từ nào được dùng: người học có thể dùng OM, có thể dần học dùng A hay AU, nhưng AUM không nên dùng theo cách thông thường. Thầy nhắc lời Chân sư DK trong Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo rằng AUM có tác dụng ghim con người vào tường như bị một luồng gió mạnh ép lại, tức có tính trói buộc hơn là giải thoát. Thầy đặt thêm câu hỏi tinh tế rằng có thể có khác biệt giữa A.U.M. với các dấu chấm phân cách và AUM như ba mẫu tự liền nhau.

Ba hệ mặt trời và việc xây dựng vận cụ trực giác

Chân sư DK đưa ra tương ứng: hệ mặt trời thứ nhất ứng với thể xác, hệ mặt trời thứ hai ứng với thể cảm dục, và hệ mặt trời thứ ba ứng với thể trí. Thầy MDR lưu ý rằng cách dùng “hệ lớn thứ hai” hay “hệ lớn thứ ba” là thuật ngữ Thầy dùng để làm rõ, không nhất thiết là từ ngữ nguyên văn của Chân sư DK. Chân sư DK nói việc nghiên cứu Linh từ hay Âm Thanh trong sự hình thành ba hệ này sẽ giúp hiểu cách dùng Linh từ để xây dựng vận cụ trực giác và thanh lọc phàm ngã. Thầy MDR gọi đây là một phát biểu trọng yếu vì nó nối chặt tiểu thiên địa với đại thiên địa và đặt nền cho phần nghiên cứu tiếp theo.

[1] LETTER IV—THE USE OF THE SACRED WORD IN MEDITATION

[1] THƯ IV—VIỆC SỬ DỤNG LINH TỪ THIÊNG LIÊNG TRONG THAM THIỀN

[2] l—Fundamental postulates.

[2] 1—Các định đề căn bản.

[3] 2—The creative effect of the Sacred Word.

[3] 2—Tác dụng sáng tạo của Linh Từ Thiêng Liêng.

[4] 3—The destructive effect of the Sacred Word.

[4] 3—Tác dụng phá hủy của Linh Từ Thiêng Liêng.

[5] 4—Pronunciation and use of the Sacred Word.

[5] 4—Cách phát âm và sử dụng Linh Từ Thiêng Liêng.

[6] 5—Its effect on the centres and on each body.

[6] 5—Tác dụng của nó đối với các trung tâm và đối với mỗi thể.

[Page 51]

[Page 51]

[7] June 19, 1920

[7] Ngày 19 tháng 6 năm 1920

[8] The subject that we are to deal with today is of such profundity and of such vital moment that your shrinking from even considering it is exceedingly natural. No matter what we may say upon the matter, we can but touch the fringe of it, and the depths of what will be left unsaid may seem so great, that the data communicated may assume too small proportions.

[8] Chủ đề mà hôm nay chúng ta sẽ bàn đến sâu xa và có tầm quan trọng thiết yếu đến mức việc các bạn ngần ngại ngay cả khi suy xét nó là điều hết sức tự nhiên. Dù chúng ta có thể nói gì về vấn đề này, chúng ta cũng chỉ có thể chạm đến phần rìa của nó; và chiều sâu của những điều sẽ còn chưa được nói ra có thể dường như quá lớn, đến nỗi các dữ kiện được truyền đạt có thể trở nên quá nhỏ bé.

[8b] Fundamental Postulates

[8b] Các Định Đề Căn Bản

[9] First, I seek to lay down certain basic postulates which, though realised as mental concepts, may yet be too deep for easy comprehension.

[9] Trước hết, tôi tìm cách đặt ra một số định đề căn bản; tuy chúng được nhận thức như những khái niệm trí tuệ, nhưng vẫn có thể quá sâu để dễ dàng lĩnh hội.

[10] These postulates are five in number—five out of a number too vast for your apprehension. [11] These postulates themselves are based on certain fundamental facts, and these facts (seven in number) are not as yet all comprehended. [12] H.P.B. touched on three in his statement of the fundamentals of the Secret Doctrine. Four yet remain hid, though the fourth is emerging somewhat through the study of psychology and mental science. The other three fundamentals will emerge during the next three rounds. [13] This round will see the apprehension of the fourth fundamental.

[10] Các định đề này gồm năm điều—năm điều trong một số lượng quá bao la đối với sự lĩnh hội của các bạn. [11] Chính các định đề này được đặt nền trên một số sự kiện căn bản, và các sự kiện ấy, gồm bảy điều, cho đến nay vẫn chưa được thấu hiểu trọn vẹn. [12] Bà H.P.B. đã đề cập đến ba điều trong phần trình bày của bà về các nguyên lý căn bản của Giáo Lý Bí Nhiệm. Bốn điều vẫn còn ẩn tàng, tuy điều thứ tư đang phần nào xuất hiện qua việc nghiên cứu tâm lý học và khoa học trí tuệ. Ba nguyên lý căn bản còn lại sẽ xuất hiện trong ba cuộc tuần hoàn kế tiếp. [13] Cuộc tuần hoàn này sẽ chứng kiến sự lĩnh hội nguyên lý căn bản thứ tư.

[14] These postulates are as follows:

[14] Các định đề ấy như sau:

[15] l—That all that exists is based on sound or on the Word.

[15] 1—Rằng tất cả những gì hiện hữu đều đặt nền trên âm thanh hoặc trên Linh từ.

[16] 2—That differentiation is the result of sound.

[16] 2—Rằng sự biến phân là kết quả của âm thanh.

[17] 3—That on each plane the Word has a different effect. [Page 52]

[17] 3—Rằng trên mỗi cõi, Linh từ có một tác dụng khác nhau. [Page 52]

[18] 4—That according to the note of the Word, or the vibration of the sound, will the work of building-in or casting-out be accomplished.

[18] 4—Rằng tùy theo âm điệu của Linh từ, hay rung động của âm thanh, công việc xây dựng vào trong hoặc loại trừ ra ngoài sẽ được hoàn thành.

[19] 5—That the one threefold Word has seven keys, and these seven keys have their own subtones.

[19] 5—Rằng Linh từ tam phân duy nhất có bảy khóa, và bảy khóa này có những âm phụ riêng của chúng.

[20] In the apprehension of these basic facts lies hid much light on the use of the Word in meditation.

[20] Trong sự lĩnh hội các sự kiện căn bản này, nhiều ánh sáng về việc sử dụng Linh từ trong tham thiền còn ẩn tàng.

[21] In the great original sounding forth of the Sacred Word (the three original Breaths, with their seven sounds,—one Breath for each of the three solar systems) the note was different, and the sounds pitched to a different key.

[21] Trong lần xướng phát nguyên thủy vĩ đại của Linh Từ Thiêng Liêng, tức ba Hơi Thở nguyên thủy, với bảy âm thanh của chúng—một Hơi Thở cho mỗi một trong ba hệ mặt trời—âm điệu đã khác, và các âm thanh được đặt theo một khóa khác.

[22] In system one, the completion of the First Breath, the culmination, was the sounding forth, in note majestic, of the note FA, [23] —the note which forms the basic note of this system, the note of manifested nature. [24] This note is, [25] and to it must be supplemented the second note for this the second system. It is not fully sounded or rounded out, nor to the end of the greater cycle will it be completed. [25b] The Logos sounds it now, and should He cease to breathe it forth, the whole system would disappear into complete obscuration. It would mark the end of manifestation.

[22] Trong hệ thứ nhất, sự hoàn tất của Hơi Thở Thứ Nhất, tức điểm tột đỉnh, là sự xướng phát, bằng một âm điệu uy nghi, nốt FA, [23] —nốt tạo thành âm điệu căn bản của hệ này, âm điệu của thiên nhiên biểu hiện. [24] Nốt này hiện hữu, [25] và nốt thứ hai phải được bổ sung cho nó trong hệ thứ hai này. Nó chưa được xướng trọn vẹn hay viên mãn, và cho đến cuối chu kỳ lớn hơn nó mới được hoàn tất. [25b] Hiện nay Thượng đế đang xướng nó, và nếu Ngài ngừng thở nó ra, toàn bộ hệ thống sẽ biến mất vào sự che khuất hoàn toàn. Điều đó sẽ đánh dấu sự chấm dứt của biểu hiện.

[26] In system two, the present system, the keynote may not be disclosed. It is one of the secrets of the sixth Initiation, and must not he revealed.

[26] Trong hệ thứ hai, tức hệ hiện tại, chủ âm không được phép tiết lộ. Đó là một trong những bí mật của lần Điểm Đạo thứ sáu, và không được tiết lộ.

[27] In system three the final third note will be added to the basic notes of the first and second systems, and then what will you have? [28] You will have the major third of the Logoic Personality in its completeness, [29] a correspondence to the major third of the microcosm,—one note for each plane. [30] We have been told that the solar Logos, on the cosmic planes, works at the problem of cosmic mind; that He functions in His physical solar system, is polarised in His cosmic astral, or emotional body, and is developing [Page 53] cosmic mind. [31] So, on the planes of the solar system, is it as with the microcosm. In the realisation of this correspondence and its wise application lies illumination on the use of the Sacred Word in meditation.

[27] Trong hệ thứ ba, nốt thứ ba cuối cùng sẽ được thêm vào các nốt căn bản của hệ thứ nhất và hệ thứ hai; và khi ấy các bạn sẽ có gì? [28] Các bạn sẽ có quãng ba trưởng của Phàm ngã Thượng đế trong sự trọn vẹn của nó, [29] một tương ứng với quãng ba trưởng của Tiểu thiên địa—một nốt cho mỗi cõi. [30] Chúng ta đã được cho biết rằng Thái dương Thượng đế, trên các cõi vũ trụ, hoạt động với vấn đề trí tuệ vũ trụ; rằng Ngài vận hành trong hệ mặt trời hồng trần của Ngài, phân cực trong thể cảm dục hay thể cảm xúc vũ trụ của Ngài, và đang phát triển trí tuệ vũ trụ. [Page 53] [31] Vì vậy, trên các cõi của hệ mặt trời, sự việc cũng giống như với Tiểu thiên địa. Trong sự chứng nghiệm tương ứng này và việc áp dụng nó một cách minh triết, có sự soi sáng về việc sử dụng Linh Từ Thiêng Liêng trong tham thiền.

[32] System I…….. corresponds to the physical body.

[32] Hệ I…….. tương ứng với thể xác.

[33] System II…….corresponds to the emotional body.

[33] Hệ II…….tương ứng với thể cảm xúc.

[34] System III……corresponds to the mental body.

[34] Hệ III……tương ứng với thể trí.

[35] By the study of the Word or Sound in the formation of these three will help come on the use of that Word in the building of the intuitional vehicle, and the purification of the personality.

[35] Qua việc nghiên cứu Linh từ hay Âm thanh trong sự hình thành ba thể này, sự trợ giúp sẽ đến trong việc sử dụng Linh từ ấy để xây dựng vận cụ trực giác và thanh lọc phàm ngã.

Commentary LOM-Program-13

We’re on letter four, this is page 50, and there are 350 pages in this book, so we’ve done 12 programs, and 7 times 12 is 84, so maybe we have about another 70, 72 programs to go, but it just depends on how we do it, and how many hours they last, how much ground they cover.

Chúng ta đang ở thư thứ tư, đây là trang 50, và quyển sách này có 350 trang, vậy là chúng ta đã thực hiện 12 chương trình, và 7 nhân 12 là 84, nên có lẽ chúng ta còn khoảng 70, 72 chương trình nữa, nhưng điều đó còn tùy vào cách chúng ta thực hiện, mỗi chương trình kéo dài bao nhiêu giờ, và bao quát được bao nhiêu nội dung.

This is letter four: The Use of The Sacred Word In Meditation. There’s quite a bit about this as well in Rays and the Initiations, so I would suggest that you check the chapter or the Rule—it’s either Rule two or Rule three that deals with the sacred word. If I’m to take a quick look here, I can do that, and right around page 20.

Đây là thư thứ tư: Việc Sử Dụng của Linh Từ Thiêng Liêng Trong Tham Thiền. Cũng có khá nhiều điều về đề tài này trong Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo, vì vậy tôi đề nghị các bạn xem chương ấy hoặc quy luật ấy—hoặc là quy luật hai hoặc quy luật ba, bàn đến linh từ thiêng liêng. Nếu tôi nhìn nhanh ở đây, tôi có thể làm điều đó, và nó ở khoảng trang 20.

commentary-lom-13-song-ngu-01.webp

Dual the moving forward. The Door is left behind. That is a happening of the past. Let the cry of invocation issue forth from the deep center of the group’s clear cold light. Let it evoke response from the bright center lying far ahead. When the demand and the response are lost in one great SOUND, move outward from the desert, leave the seas behind, and know that God is fire.

Sự tiến tới là song đôi. Cánh Cửa bị bỏ lại phía sau. Đó là một biến cố thuộc về quá khứ. Hãy để tiếng kêu khẩn cầu phát ra từ trung tâm sâu thẳm của ánh sáng trong trẻo, lạnh lẽo của nhóm. Hãy để nó gợi lên đáp ứng từ trung tâm rực sáng nằm xa phía trước. Khi sự đòi hỏi và sự đáp ứng mất hút trong một ÂM THANH vĩ đại duy nhất, hãy đi ra khỏi sa mạc, bỏ lại những biển cả phía sau, và biết rằng Thượng đế là lửa.

I think that’s the one. It’s rule two, and we see the different ways that the OM is sounded, and it’s on page 55, and I think following and proceeding just a little bit.

Tôi nghĩ đó chính là quy luật ấy. Đó là quy luật hai, và chúng ta thấy những cách khác nhau mà OM được xướng lên, và nó ở trang 55, và tôi nghĩ là phần sau đó và tiến thêm một chút.

Point three particularly tells the story, and it’s more sophisticated, because so much time had passed. This being written in the 40s, and Letters on Occult Meditation in the early 20s, maybe 1920 particularly. Check on this, and it’s all written out in commentary form on Makara, and presumably on YouTube before long, maybe there already.

Điểm ba đặc biệt kể lại câu chuyện, và nó tinh vi hơn, vì đã có quá nhiều thời gian trôi qua. Văn bản này được viết vào thập niên 40, còn Thư Về Tham thiền Huyền môn vào đầu thập niên 20, có lẽ đặc biệt là năm 1920. Hãy kiểm tra điều này, và tất cả đã được viết ra dưới dạng bình giảng trên Makara, và có lẽ chẳng bao lâu nữa trên YouTube, có thể đã có ở đó rồi.

Here we are,

Chúng ta ở đây,

[1] LETTER IV—THE USE OF THE SACRED WORD IN MEDITATION

[1] THƯ IV—VIỆC SỬ DỤNG LINH TỪ THIÊNG LIÊNG TRONG THAM THIỀN

[2] l—Fundamental postulates.

[2] 1—Các định đề căn bản.

[3] 2—The creative effect of the Sacred Word.

[3] 2—Tác dụng sáng tạo của Linh Từ Thiêng Liêng.

[4] 3—The destructive effect of the Sacred Word.

[4] 3—Tác dụng phá hủy của Linh Từ Thiêng Liêng.

[5] 4—Pronunciation and use of the Sacred Word.

[5] 4—Cách phát âm và sử dụng Linh Từ Thiêng Liêng.

[6] 5—Its effect on the centres and on each body.

[6] 5—Tác dụng của nó đối với các trung tâm và đối với mỗi thể.

Sometimes we are given to wonder whether the sacred word OM that we usually use is truly the correct sacred word, but letter four addresses this.

Đôi khi chúng ta tự hỏi liệu linh từ thiêng liêng OM mà chúng ta thường dùng có thật sự là linh từ thiêng liêng đúng đắn hay không, nhưng thư thứ tư đề cập đến điều này.

[7] June 19, 1920

[7] Ngày 19 tháng 6 năm 1920

It is still Gemini in the year 1920, 100 years ago. I think of that cooperation between the Tibetan and Alice Bailey, and how it has influenced so many lives, and I certainly think of how it has influenced my life. I realize what a momentous meeting that was, and how much Alice Bailey gave to the process. Of course, the likelihood is that they had known each other before, and there is somewhere a statement made. The Tibetan says that when Alice Bailey was a Chela in the Light—that’s the second stage of discipleship—He was her reporting master, or reporting disciple, reporting to the Master. I suspect this was Master KH, to whose ashram Alice Bailey truly belongs. I suppose there are some of us that belong to Master KH’s ashram. If we do belong to the Tibetan’s ashram, in a way, it’s like belonging to Master KH’s ashram, because the Chohan that’s head of the second Ray ashram is Master Kuthumi, and Master DK is very much part of that process, even though there are times when the Tibetan says that Master Kuthumi is His master, and other times when He directs that distinction to the Christ himself.

Vẫn là Song Tử trong năm 1920, một trăm năm trước. Tôi nghĩ đến sự hợp tác giữa Chân sư Tây Tạng và Alice Bailey, và cách nó đã ảnh hưởng đến biết bao đời sống, và chắc chắn tôi nghĩ đến cách nó đã ảnh hưởng đến đời tôi. Tôi nhận ra đó là một cuộc gặp gỡ trọng đại biết bao, và Alice Bailey đã đóng góp nhiều đến mức nào cho tiến trình ấy. Dĩ nhiên, rất có khả năng là Các Ngài đã biết nhau từ trước, và ở đâu đó có một lời phát biểu. Chân sư Tây Tạng nói rằng khi Alice Bailey là một Đệ tử trong Ánh Sáng—đó là giai đoạn thứ hai của địa vị đệ tử—Ngài là Chân sư báo cáo của bà, hoặc đệ tử báo cáo, báo cáo với Chân sư. Tôi nghi ngờ đó là Chân sư KH, người mà ashram của Ngài Alice Bailey thật sự thuộc về. Tôi cho rằng có một số người trong chúng ta thuộc về ashram của Chân sư KH. Nếu chúng ta thật sự thuộc về ashram của Chân sư Tây Tạng, theo một cách nào đó, điều ấy giống như thuộc về ashram của Chân sư KH, bởi vì Đức Chohan đứng đầu ashram cung hai là Chân sư Kuthumi, và Chân sư DK là một phần rất lớn của tiến trình ấy, mặc dù có những lúc Chân sư Tây Tạng nói rằng Chân sư Kuthumi là Chân sư của Ngài, và những lúc khác Ngài lại hướng sự phân biệt đó đến chính Đức Christ.

[8] The subject that we are to deal with today is of such profundity and of such vital moment that your shrinking from even considering it is exceedingly natural. No matter what we may say upon the matter, we can but touch the fringe of it, and the depths of what will be left unsaid may seem so great, that the data communicated may assume too small proportions.

[8] Chủ đề mà hôm nay chúng ta sẽ bàn đến sâu xa và có tầm quan trọng thiết yếu đến mức việc các bạn ngần ngại ngay cả khi suy xét nó là điều hết sức tự nhiên. Dù chúng ta có thể nói gì về vấn đề này, chúng ta cũng chỉ có thể chạm đến phần rìa của nó; và chiều sâu của những điều sẽ còn chưa được nói ra có thể dường như quá lớn, đến nỗi các dữ kiện được truyền đạt có thể trở nên quá nhỏ bé.

I think He’s saying here that what is going to be communicated is definitely of value to the reader, and to the one who ponders. When you read, do you ponder? When I read, do I ponder? In this mode of reading, I think so. So the fundamental postulates. I’m going to put a one there.

Tôi nghĩ ở đây Ngài đang nói rằng điều sắp được truyền đạt chắc chắn có giá trị đối với độc giả, và đối với người suy ngẫm. Khi các bạn đọc, các bạn có suy ngẫm không? Khi tôi đọc, tôi có suy ngẫm không? Trong lối đọc này, tôi nghĩ là có. Vậy là các định đề căn bản. Tôi sẽ đặt một con số một ở đó.

I always get lost in these outlines, and then I have to go back and hope that I can make sense out of it.

Tôi luôn bị lạc trong các dàn ý này, rồi tôi phải quay lại và hy vọng rằng tôi có thể làm cho nó có nghĩa.

[8b] Fundamental Postulates

[8b] Các Định Đề Căn Bản

Here there are five points.

Ở đây có năm điểm.

[9] First, I seek to lay down certain basic postulates which, though realised as mental concepts, may yet be too deep for easy comprehension.

[9] Trước hết, tôi tìm cách đặt ra một số định đề căn bản; tuy chúng được nhận thức như những khái niệm trí tuệ, nhưng vẫn có thể quá sâu để dễ dàng lĩnh hội.

I found that to be the case. I said, “Ah, well, this is going to be a preliminary book, and I can read through it without too much difficulty,” and I found immediately many, many, many difficulties.

Tôi thấy đúng là như vậy. Tôi đã nói: “À, được rồi, đây sẽ là một quyển sách sơ khởi, và tôi có thể đọc qua nó mà không gặp quá nhiều khó khăn,” và ngay lập tức tôi gặp rất, rất, rất nhiều khó khăn.

[10] These postulates are five in number—five out of a number too vast for your apprehension.

[10] Các định đề này gồm năm điều—năm điều trong một số lượng quá bao la đối với sự lĩnh hội của các bạn.

One of DK’s problems is to boil down the wealth of material of which He is aware, and which could be presented, but cannot be presented because the complexity is just too great, too overwhelming. So

Một trong những vấn đề của Chân sư DK là phải cô đọng kho tàng chất liệu mà Ngài nhận biết, và có thể được trình bày, nhưng không thể trình bày vì sự phức tạp đơn giản là quá lớn, quá choáng ngợp. Vậy

five in number, five out of a number too vast for your apprehension.

có năm, năm trong một con số quá rộng lớn đối với sự lĩnh hội của các bạn.

[11] These postulates themselves are based on certain fundamental facts, and these facts (seven in number) are not as yet all comprehended.

[11] Chính các định đề này được đặt nền trên một số sự kiện căn bản, và các sự kiện ấy, gồm bảy điều, cho đến nay vẫn chưa được thấu hiểu trọn vẹn.

We certainly have outlines here, and then outlines within the items of the outlines. I know I’m in trouble right away here to try to keep all this straight.

Chắc chắn ở đây chúng ta có các dàn ý, rồi lại có các dàn ý bên trong các mục của dàn ý. Tôi biết ngay từ đầu mình sẽ gặp rắc rối khi cố giữ cho tất cả những điều này rõ ràng.

[12] H.P.B. touched on three in his statement of the fundamentals of the Secret Doctrine. Four yet remain hid, though the fourth is emerging somewhat through the study of psychology and mental science. The other three fundamentals will emerge during the next three rounds.

[12] Bà H.P.B. đã đề cập đến ba điều trong phần trình bày của bà về các nguyên lý căn bản của Giáo Lý Bí Nhiệm. Bốn điều vẫn còn ẩn tàng, tuy điều thứ tư đang phần nào xuất hiện qua việc nghiên cứu tâm lý học và khoa học trí tuệ. Ba nguyên lý căn bản còn lại sẽ xuất hiện trong ba cuộc tuần hoàn kế tiếp.

That of course means millions of years if what Blavatsky said is correct about rounds. These chain rounds take something like 300 million plus years.

Dĩ nhiên, điều đó có nghĩa là hàng triệu năm nếu điều Blavatsky nói về các cuộc tuần hoàn là đúng. Những cuộc tuần hoàn của dãy này kéo dài khoảng hơn 300 triệu năm.

[13] This round will see the apprehension of the fourth fundamental.

[13] Cuộc tuần hoàn này sẽ chứng kiến sự lĩnh hội nguyên lý căn bản thứ tư.

The question is, when? We always want to rush things. “There is no rush, no hurry, nor is there any time to lose”, but we think perhaps that we will be the one who formulates this. It’s a kind of a mixed motive, isn’t it, because it has in it some ambition for the personal self.

Câu hỏi là, khi nào? Chúng ta luôn muốn thúc vội mọi sự. “Không có gì phải vội, không cần hấp tấp, và cũng không có thời gian nào để mất”, nhưng có lẽ chúng ta nghĩ rằng mình sẽ là người trình bày điều này. Đó là một loại động cơ pha trộn, phải không, bởi vì trong đó có một ít tham vọng dành cho phàm ngã cá nhân.

So the fourth is emerging through the study of psychology and mental science, a combination of the fourth and fifth rays, and probably DK has given us more concerning that Fundamental than we even realize. These are thus far the three fundamentals of the Secret Doctrine, and we’ve been going over these in the study of the Secret Doctrine with Francis, and we’ve also been looking at the beginning of A Treatise on Cosmic Fire the Fundamental regarding the Boundless Immutable Principle, the Fundamental regarding the Law of Periodicity to which all things are subject, and the Fundamental concerning the Identity of All Souls with the Oversoul. Maybe the third one is the one that we might be able most easily to grasp at this point.

Vậy nền tảng thứ tư đang xuất hiện qua việc nghiên cứu tâm lý học và khoa học trí tuệ, một sự kết hợp của cung bốn và cung năm, và có lẽ Chân sư DK đã trao cho chúng ta nhiều hơn về Nền Tảng đó so với điều chúng ta thậm chí nhận ra. Cho đến nay đây là ba nền tảng của Giáo Lý Bí Nhiệm, và chúng ta đã ôn lại những điều này trong việc nghiên cứu Giáo Lý Bí Nhiệm với Francis, và chúng ta cũng đã xem phần đầu của Luận về Lửa Vũ Trụ, Nền Tảng liên quan đến Nguyên Khí Vô Biên Bất Biến, Nền Tảng liên quan đến Định luật Chu Kỳ mà mọi sự đều chịu chi phối, và Nền Tảng liên quan đến Sự Đồng Nhất của Mọi Linh Hồn với đại hồn. Có lẽ điều thứ ba là điều mà ở thời điểm này chúng ta có thể nắm bắt dễ nhất.

I think so much of the information about Rays and astrological energies and their relationship to psychology will be the substance of this fourth fundamental. I’m perfectly happy to work with the Rays, with the astrological factors, with the alternative rulerships, and the relation of Rays and signs to the Creative Hierarchies. I’m quite happy to continue working in that way without necessarily having at my disposal a particular fundamental. Rounds last a long time. This being the fourth round, the fundamental would emerge.

Tôi nghĩ rất nhiều thông tin về các Cung và các năng lượng chiêm tinh cùng mối liên hệ của chúng với tâm lý học sẽ là chất liệu của nền tảng thứ tư này. Tôi hoàn toàn vui lòng làm việc với các Cung, với các yếu tố chiêm tinh, với các quyền cai quản thay thế, và với mối liên hệ của các Cung và các dấu hiệu với các Huyền Giai Sáng Tạo. Tôi rất vui lòng tiếp tục làm việc theo cách đó mà không nhất thiết phải có trong tay một nền tảng đặc thù. Các cuộc tuần hoàn kéo dài rất lâu. Vì đây là cuộc tuần hoàn thứ tư, nền tảng ấy sẽ xuất hiện.

Postulates—Five in number, five out of a number too vast for your apprehension, and He’s going to give us now some reckoning of these five.

Các Định Đề—Có năm, năm trong một con số quá rộng lớn đối với sự lĩnh hội của các bạn, và bây giờ Ngài sẽ cho chúng ta một vài sự tính kể về năm điều này.

Certain basic postulates, and the postulates are based upon Fundamentals of the Secret Doctrine, and one [Fundamental] has not yet emerged, and three others are reserved for later rounds, which tells you how long an unfoldment this really is.

Một vài định đề căn bản, và các định đề được đặt nền trên các Nền Tảng của Giáo Lý Bí Nhiệm, và một [Nền Tảng] vẫn chưa xuất hiện, còn ba nền tảng khác được dành cho các cuộc tuần hoàn sau, điều này cho các bạn thấy sự khai mở này thật sự kéo dài đến mức nào.

We have five postulates, three basic fundamentals upon which the postulates are based, plus one emerging, and three more destined to be revealed in the three subsequent rounds.

Chúng ta có năm định đề, ba nền tảng căn bản làm cơ sở cho các định đề, cộng thêm một nền tảng đang xuất hiện, và ba nền tảng nữa định sẵn sẽ được mặc khải trong ba cuộc tuần hoàn kế tiếp.

And now the postulates.

Và bây giờ là các định đề.

[14] These postulates are as follows:

[14] Các định đề ấy như sau:

By a postulate we mean a proposal upon which we base our reasoning. It’s like a theory in a way. It is the proposition that an important truth exists, and the truth is not proven yet, but it is postulated. Postulate number one:

Khi nói đến một định đề, chúng ta muốn nói đến một mệnh đề mà trên đó chúng ta đặt nền cho lý luận của mình. Theo một cách nào đó, nó giống như một lý thuyết. Đó là mệnh đề rằng một chân lý quan trọng hiện hữu, và chân lý ấy chưa được chứng minh, nhưng nó được giả định. Định đề số một:

[15] l—That all that exists is based on sound or on the Word.

[15] 1—Rằng tất cả những gì hiện hữu đều đặt nền trên âm thanh hoặc trên Linh từ.

[16] 2—That differentiation is the result of sound.

[16] 2—Rằng sự biến phân là kết quả của âm thanh.

[17] 3—That on each plane the Word has a different effect.

[17] 3—Rằng trên mỗi cõi, Linh từ có một tác dụng khác nhau. [Page 52]

Even in the starting of the emanation process, SOUND occurs at the beginning of the process, and that differentiation is the result of SOUND. One of the things that I’ve said—is it true or not—I have also said that differentiation is the result of the narrowing of the Universal Vision of the Universal Logos.

Ngay cả trong sự khởi đầu của tiến trình xuất lộ, ÂM THANH xảy ra ở đầu tiến trình, và sự biến phân là kết quả của ÂM THANH. Một trong những điều tôi đã nói—điều đó đúng hay không—tôi cũng đã nói rằng sự biến phân là kết quả của việc thu hẹp Tầm Nhìn Vũ Trụ của Thượng đế Vũ Trụ.

On each plane the Word has a different effect

Trên mỗi cõi, Linh từ có một hiệu quả khác nhau

We speak of every entity of a certain caliber Being able to sound forth a Word, not just the soul of man. So what do we have here?

Chúng ta nói về mọi thực thể thuộc một tầm vóc nào đó có thể xướng ra một Linh từ, chứ không chỉ linh hồn của con người. Vậy ở đây chúng ta có gì?

{So we have as the result of sound: existence, differentiation and differing effects on different planes

{Vậy như kết quả của âm thanh, chúng ta có: sự hiện hữu, sự biến phân và những hiệu quả khác nhau trên các cõi khác nhau

{So does differentiation arise because of sound or because of wilfully limited Self-observation..

{Vậy sự biến phân phát sinh do âm thanh hay do sự Tự-quan-sát được giới hạn một cách hữu ý..

Maybe the sounding occurs as Self-perception narrows

Có lẽ việc xướng âm xảy ra khi Tự-tri giác thu hẹp

We have existence, differentiation, and varying effects. We have, as the result of sound, existence, differentiation and differing effects on different planes. These are the three results so far. The effect of the Word is different. I tend to look at differentiation as a question of perception. There is a massive Universal Unitary Vision, a kind of a Self-Perception by the universal Logos of Itself in an undifferentiated manner, and then maybe sound comes along and reduction in perception.

Chúng ta có sự hiện hữu, sự biến phân, và những hiệu quả biến đổi. Như kết quả của âm thanh, chúng ta có sự hiện hữu, sự biến phân và những hiệu quả khác nhau trên các cõi khác nhau. Cho đến nay đây là ba kết quả. Hiệu quả của Linh từ thì khác nhau. Tôi có xu hướng nhìn sự biến phân như một vấn đề của tri giác. Có một Tầm Nhìn Nhất Thể Vũ Trụ khổng lồ, một loại Tự-Tri-Giác của Thượng đế Vũ Trụ về Chính Ngài theo một cách không biến phân, rồi có lẽ âm thanh xuất hiện cùng với sự thu giảm trong tri giác.

Does differentiation arise because of Sound or because of willfully limited Self-Observation? When a Great Source refuses to look at the entirety of Itself, but only collapses the extension of Its vision, then differentiation will appear. But we do have to think that with Sound being ruled in part by Saturn, the planet of differentiation, the throat center, the third aspect, that it has much to do with helping to produce and sustain that differentiation. It’s not just a question of producing it; it has to be sustained. I suppose if the variegated notes ceased, everything differentiated before us would also cease. The big question is how does the universal Logos Self-Perceive in a manner which produces differentiation through emanation? And maybe the sounding occurs as the perception narrows, as Self-Perception narrows.

Sự biến phân phát sinh do Âm Thanh hay do sự Tự-Quan-Sát được giới hạn một cách hữu ý? Khi một Cội Nguồn Vĩ Đại từ chối nhìn toàn thể Chính Ngài, mà chỉ làm sụp lại tầm mở rộng của tầm nhìn của Ngài, thì sự biến phân sẽ xuất hiện. Nhưng chúng ta quả phải nghĩ rằng, vì Âm Thanh phần nào do Sao Thổ cai quản, hành tinh của sự biến phân, trung tâm cổ họng, phương diện thứ ba, nên nó có liên hệ rất nhiều đến việc giúp tạo ra và duy trì sự biến phân ấy. Đó không chỉ là vấn đề tạo ra nó; nó phải được duy trì. Tôi cho rằng nếu các âm điệu đa dạng chấm dứt, mọi sự được biến phân trước mắt chúng ta cũng sẽ chấm dứt. Câu hỏi lớn là Thượng đế Vũ Trụ Tự-Tri-Giác như thế nào theo một cách tạo ra sự biến phân qua xuất lộ? Và có lẽ việc xướng âm xảy ra khi tri giác thu hẹp, khi Tự-Tri-Giác thu hẹp.

In any case, To Be Is To Be Perceived; if at any moment the Great Universal Logos ceased Its Self-Perception, especially its differentiated Self-Perception, everything we call a thing would vanish.

Dù sao đi nữa, Hiện Hữu Là Được Tri Giác; nếu vào bất cứ khoảnh khắc nào Thượng đế Vũ Trụ Vĩ Đại chấm dứt Tự-Tri-Giác của Ngài, đặc biệt là Tự-Tri-Giác biến phân của Ngài, mọi thứ chúng ta gọi là một sự vật sẽ tan biến.

Here, some more of these postulates:

Ở đây, thêm một vài định đề nữa:

[18] 4—That according to the note of the Word, or the vibration of the sound, will the work of building-in or casting-out be accomplished.

[18] 4—Rằng tùy theo âm điệu của Linh từ, hay rung động của âm thanh, công việc xây dựng vào trong hoặc loại trừ ra ngoài sẽ được hoàn thành.

In a way He might as well be talking about the human being here, but I think this statement is not limited to the human being. This applies to the human being, but not only the human being, any Entity can cast out and can incorporate.

Theo một cách nào đó, Ngài cũng có thể đang nói về con người ở đây, nhưng tôi nghĩ phát biểu này không giới hạn nơi con người. Điều này áp dụng cho con người, nhưng không chỉ con người; bất cứ Thực Thể nào cũng có thể tống xuất và có thể thu nạp.

So we have incorporation or building in—incorporation means taking into the body. We have incorporation or building in, and also casting out or ejecting. That idea of intake and casting away is operative in so many dual processes. Even in the air we breathe, what comes in as oxygen is retained and that which is cast out is carbon dioxide. For plants it is just the reverse.

Vậy chúng ta có sự thu nạp hay xây dựng vào—thu nạp nghĩa là đưa vào trong thể. Chúng ta có sự thu nạp hay xây dựng vào, và cũng có sự tống xuất hay đẩy ra. Ý tưởng về việc tiếp nhận và loại bỏ ấy vận hành trong rất nhiều tiến trình nhị nguyên. Ngay cả trong không khí chúng ta thở, điều đi vào như oxy được giữ lại và điều bị tống xuất là carbon dioxide. Đối với thực vật thì hoàn toàn ngược lại.

[19] 5—That the one threefold Word has seven keys, and these seven keys have their own subtones.

[19] 5—Rằng Linh từ tam phân duy nhất có bảy khóa, và bảy khóa này có những âm phụ riêng của chúng.

This makes 49 in all. There are seven fires of Brahma, the ray fires, the spirits of Darkness, and they all have subsidiary fires. There seem to be seven subsidiaries to every main fire.

Điều này tổng cộng thành 49. Có bảy lửa của Brahma, các lửa của cung, các tinh thần của Bóng Tối, và tất cả chúng đều có những lửa phụ thuộc. Dường như có bảy phần phụ thuộc cho mỗi lửa chính.

I wonder about something: in an ashram, like the second ray ashram, does the ray Lord of the Ashram or the Chohan of the ray ashram focus—if the ashram is the second ray ashram—on the two/two? Does that second ashram become the main ashram, or is there a focusing on all seven with the second ray sub-ashram being that which is simply like the others, a sub-ashram not specifically supervised by the Chohan of the entire ray ashram? Sometimes I’ve thought there’s just seven, perhaps the one/one, the two/two, the three/three, or one sub one, two sub two, three sub three, four sub four, that is the aspect of the ray ashram through which the Chohan guiding that ashram works. But it’s possible that it’s different and that the two sub two is guided by a lesser initiate than the Chohan of the entire second ray ashram. All of us will find our ways, if we’re on the path of initiation treading the path of initiation, we’ll find our way not only into a ray ashram guided by a chohan, but into a sub-ashram guided by a master who is lesser than a chohan.

Tôi tự hỏi về một điều: trong một ashram, như ashram cung hai, vị Chúa Tể cung của Ashram hay Đức Chohan của ashram cung ấy có tập trung—nếu ashram là ashram cung hai—vào hai/hai không? Ashram thứ hai ấy có trở thành ashram chính không, hay có sự tập trung vào cả bảy, trong đó ashram phụ cung hai chỉ đơn giản giống như các ashram khác, một ashram phụ không được Đức Chohan của toàn bộ ashram cung đặc biệt giám sát? Đôi khi tôi đã nghĩ chỉ có bảy, có lẽ một/một, hai/hai, ba/ba, hoặc một phụ một, hai phụ hai, ba phụ ba, bốn phụ bốn, tức là phương diện của ashram cung mà qua đó Đức Chohan hướng dẫn ashram ấy làm việc. Nhưng cũng có thể khác đi, và hai phụ hai được hướng dẫn bởi một điểm đạo đồ thấp hơn Đức Chohan của toàn bộ ashram cung hai. Tất cả chúng ta sẽ tìm thấy con đường của mình, nếu chúng ta ở trên Con Đường Điểm Đạo đang bước trên Con Đường Điểm Đạo, chúng ta sẽ tìm được lối vào không chỉ một ashram cung do một Đức Chohan hướng dẫn, mà còn vào một ashram phụ do một Chân sư thấp hơn một Đức Chohan hướng dẫn.

When you think of your particular soul ray, which sub-ashram do you find yourself gravitating towards? In the case of the second ray sub-ashrams, they’re all pretty well organized at this point, with maybe one of them being the least organized. The others maybe just have three or four or even less subsidiary ashrams organized.

Khi các bạn nghĩ đến cung linh hồn riêng của mình, các bạn thấy mình bị hút về ashram phụ nào? Trong trường hợp các ashram phụ cung hai, tất cả chúng đều được tổ chức khá tốt vào thời điểm này, có lẽ một trong số đó là kém tổ chức nhất. Những ashram khác có lẽ chỉ có ba hoặc bốn, hoặc thậm chí ít hơn, các ashram phụ thuộc đã được tổ chức.

These are our postulates, all based upon the seven fundamentals of the Secret Doctrine, of which only three are really given out at this time. What he’s seeking to do is lay down certain basic postulates which have much to do with how we live our ashramic life. Just as human beings have groupings and ashrams, we cannot say that Planetary Logoi or Solar Logoi or even Greater Logoi do not. They have their higher correspondences to the human types of ashrams and sub-ashrams.

Đây là các định đề của chúng ta, tất cả đặt nền trên bảy nền tảng của Giáo Lý Bí Nhiệm, trong đó chỉ có ba thật sự được đưa ra vào thời điểm này. Điều Ngài đang tìm cách làm là đặt ra một vài định đề căn bản có liên hệ rất nhiều đến cách chúng ta sống đời sống ashram của mình. Cũng như con người có các nhóm và các ashram, chúng ta không thể nói rằng các Hành Tinh Thượng đế hay các Thái dương Thượng đế, hay thậm chí các Thượng đế Vĩ Đại hơn, lại không có. Các Ngài có những tương ứng cao hơn của các loại ashram và ashram phụ của con người.

What are the postulates again?

Các định đề ấy lại là gì?

Postulate one—All that exists is based on sound or on the word. When we sound the word or whatever entity is sounding the word, things differentiate, things appear, things shine forth as existing. Things won’t exist unless there is differentiation. All you’ll have is the homogeneity of a uniform substance, so that differentiation is the result of sound.

Định đề một—Tất cả những gì hiện hữu đều đặt nền trên âm thanh hoặc trên linh từ. Khi chúng ta xướng linh từ, hoặc bất cứ thực thể nào đang xướng linh từ, các sự vật biến phân, các sự vật xuất hiện, các sự vật tỏa sáng như đang hiện hữu. Các sự vật sẽ không hiện hữu nếu không có sự biến phân. Tất cả những gì các bạn sẽ có là tính đồng nhất của một chất liệu đồng đều, vậy sự biến phân là kết quả của âm thanh.

Postulate two—and I’m including my own idea here—concerns the cause of differentiation being reduction in Self-Sight, a Willful Reduction in Self-Sight considered as another cause of differentiation.

Định đề hai—và ở đây tôi đưa vào ý tưởng riêng của mình—liên quan đến nguyên nhân của sự biến phân là sự thu giảm trong Tự-Thấy, một Sự Thu Giảm Tự-Thấy một cách Hữu Ý được xem như một nguyên nhân khác của sự biến phân.

Postulate three: on each plane the word has a different effect. There is a word sounded forth by the Being who somehow includes a whole system, whether it’s a plane or many planes or a planet or a Solar Logos, that system must have its differentiations which are caused by the word sounding forth by the Supervising Entity who is infusing the entire system.

Định đề ba: trên mỗi cõi, linh từ có một hiệu quả khác nhau. Có một linh từ được xướng ra bởi Sinh Mệnh nào đó, Đấng bằng cách nào đó bao gồm cả một hệ thống, dù đó là một cõi hay nhiều cõi, hoặc một hành tinh, hoặc một Thái dương Thượng đế; hệ thống ấy phải có những biến phân của nó, vốn do linh từ được xướng ra bởi Thực Thể Giám Quản đang thấm nhuần toàn bộ hệ thống gây nên.

Point four: according to the note of the word or the vibration of the sound—the note of the word may involve pitch, musical pitch—and the vibrations of the sound will determine whether the work of building in or casting out be accomplished. Work is creative in that way—it changes the nature, the structure, the quality of that which is being constructed. Through the word we can improve the quality the quality of any system which we are expressing.

Điểm bốn: tùy theo âm điệu của linh từ hoặc rung động của âm thanh—âm điệu của linh từ có thể bao hàm cao độ, cao độ âm nhạc—và các rung động của âm thanh sẽ quyết định liệu công việc xây dựng vào hay tống xuất ra sẽ được hoàn thành. Công việc sáng tạo theo cách ấy—nó thay đổi bản chất, cấu trúc, phẩm tính của điều đang được kiến tạo. Qua linh từ, chúng ta có thể cải thiện phẩm tính, phẩm tính của bất cứ hệ thống nào mà chúng ta đang biểu hiện.

Number five—it would be nice to remember these, wouldn’t it?—the one threefold word has seven keys and these seven keys have their own subtones. It’s like a Kabbalistic setup, three above the seven. You wonder whether each aspect of the word has its own seven keys, which would lead to 24. Seven, seven, seven is 21, and three would be 24—the Shamballic number, or one of them anyway, and six is another number. We have so much going on in our solar system that involves the numbers two and four. Maybe it should involve four and two, which still sum to six insofar as we’re probably still demonstrating through a kind of fourth ray monad and hence the great devic content of our solar system and as a second ray soul, but at length, any number of attributes—four, five, six, seven—has to change into a number of aspect: one, two, or three.

Số năm—thật tốt nếu nhớ được những điều này, phải không?—linh từ tam phân duy nhất có bảy khóa và bảy khóa này có các âm phụ riêng của chúng. Nó giống như một cấu trúc Kabbalah, ba ở trên bảy. Các bạn tự hỏi liệu mỗi phương diện của linh từ có bảy khóa riêng của nó hay không, điều này sẽ dẫn đến 24. Bảy, bảy, bảy là 21, và ba sẽ là 24—con số Shamballa, hoặc dù sao cũng là một trong các con số ấy, và sáu là một con số khác. Trong hệ mặt trời của chúng ta có rất nhiều điều liên quan đến các số hai và bốn. Có lẽ nó nên liên quan đến bốn và hai, vẫn cộng lại thành sáu, xét theo việc có lẽ chúng ta vẫn đang biểu lộ qua một loại chân thần cung bốn, và do đó là nội dung thiên thần vĩ đại của hệ mặt trời chúng ta, và như một linh hồn cung hai; nhưng cuối cùng, bất cứ số thuộc tính nào—bốn, năm, sáu, bảy—cũng phải chuyển thành một số của phương diện: một, hai, hoặc ba.

You begin to realize that we’re on the borderland of a staggering complexity. Even though some of these assessments of the interrelation of numbers and qualities—what HPB would call spiritual numerals—their interaction is complex, it’s of the utmost simplicity in relation to the complexity resident within the system of the Planetary Logos, the Solar Logos, etc.

Các bạn bắt đầu nhận ra rằng chúng ta đang ở vùng biên của một sự phức tạp choáng ngợp. Dù một số đánh giá này về mối tương quan của các con số và phẩm tính—điều HPB sẽ gọi là các số tinh thần—sự tương tác của chúng phức tạp, nó vẫn là điều hết sức đơn giản so với sự phức tạp cư ngụ trong hệ thống của Hành Tinh Thượng đế, Thái dương Thượng đế, v.v.

We’re just starting out on our journey into purely reasonable complexity. Eventually, as we begin to be more omniscient and possess all knowledge on the third subplane of the atmic plane—which also is a drop in the bucket—we will nevertheless get the idea of the complexity of the system in which we live. System, I mean globe system, scheme system, planetary system, solar system, cosmic logoic system, super cosmic logoic system of the One About Whom Naught May Be Said, and on and on it goes.

Chúng ta chỉ mới bắt đầu cuộc hành trình của mình vào sự phức tạp thuần lý. Cuối cùng, khi chúng ta bắt đầu trở nên toàn tri hơn và sở hữu mọi tri thức trên cõi phụ thứ ba của cõi atma—điều này cũng chỉ là một giọt nước trong biển cả—tuy nhiên chúng ta sẽ có được ý niệm về sự phức tạp của hệ thống mà chúng ta đang sống trong đó. Khi nói hệ thống, tôi muốn nói hệ thống bầu hành tinh, hệ thống hệ hành tinh, hệ thống hành tinh, hệ mặt trời, hệ thống thượng đế vũ trụ, hệ thống thượng đế siêu vũ trụ của Đấng Bất Khả Tư Nghị, và cứ thế tiếp diễn.

We have been through it many times, not just many, but forever, forever. Always emerging from what we do not seem to be, or emerging from what we seem to be through mistaken identity and through being subject to limitation into what we really are, seeing that again consciously. There are just such profound mysteries having to do with any type of manifestation in universe.

Chúng ta đã đi qua điều đó nhiều lần, không chỉ nhiều, mà là mãi mãi, mãi mãi. Luôn luôn xuất hiện từ điều dường như không phải là chúng ta, hoặc xuất hiện từ điều dường như là chúng ta qua sự đồng nhất sai lầm và qua việc chịu giới hạn, đi vào điều chúng ta thật sự là, một lần nữa thấy điều đó một cách có ý thức. Có những huyền nhiệm thật sâu xa liên quan đến bất cứ loại biểu hiện nào trong vũ trụ.

[20] In the apprehension of these basic facts lies hid much light on the use of the Word in meditation.

[20] Trong sự lĩnh hội các sự kiện căn bản này, nhiều ánh sáng về việc sử dụng Linh từ trong tham thiền còn ẩn tàng.

There’s also a section in A Treatise on Cosmic Fire where the A, the AU, the AUM, and then four other combinations related to the buddhic, mental, astral, and physical planes are given. That’s a very important page to combine with the information that is here.

Cũng có một đoạn trong Luận về Lửa Vũ Trụ nơi A, AU, AUM, rồi bốn tổ hợp khác liên quan đến các cõi Bồ đề, trí tuệ, cảm dục và hồng trần được đưa ra. Đó là một trang rất quan trọng để kết hợp với thông tin ở đây.

[21] In the great original sounding forth of the Sacred Word (the three original Breaths, with their seven sounds,—one Breath for each of the three solar systems) the note was different, and the sounds pitched to a different key.

[21] Trong lần xướng phát nguyên thủy vĩ đại của Linh Từ Thiêng Liêng, tức ba Hơi Thở nguyên thủy, với bảy âm thanh của chúng—một Hơi Thở cho mỗi một trong ba hệ mặt trời—âm điệu đã khác, và các âm thanh được đặt theo một khóa khác.

And I’m imagining—I’m imagining that, putting it in simple musical terms, we’re looking at three notes that are somehow involved in the cadence—the end, the end of a piece. If I could sing well enough, I’d be a Russian bass and be able to give it to you. It’s out of my range, except when one has a cold—and it’s not worth having a cold in the throat just to be able to sing that note. But the great creators are Master Musicians. It’s a wise thing for us to be schooled in music as we’re going to enter the new schools of meditation, which in some ways were anticipated by the Pythagorean academy in Asia Minor more than 2,500 years ago.

Và tôi đang hình dung—tôi đang hình dung điều đó, diễn đạt bằng thuật ngữ âm nhạc đơn giản, chúng ta đang nhìn vào ba nốt nào đó liên quan đến đoạn kết—đoạn kết, đoạn kết của một tác phẩm. Nếu tôi có thể hát đủ hay, tôi sẽ là một giọng trầm Nga và có thể hát cho các bạn nghe. Nó vượt ngoài âm vực của tôi, trừ khi người ta bị cảm lạnh—và chẳng đáng để bị cảm lạnh ở cổ họng chỉ để có thể hát được nốt ấy. Nhưng các Đấng sáng tạo vĩ đại là những Nhạc Sư Bậc Thầy. Việc chúng ta được rèn luyện trong âm nhạc là điều khôn ngoan, vì chúng ta sẽ bước vào các trường tham thiền mới, vốn theo một vài phương diện đã được học viện Pythagoras ở Tiểu Á dự báo hơn 2.500 năm trước.

Everybody has their own way into the Secret Doctrine and will turn the keys accordingly. We can’t turn all keys, for we have our limitations, but by whatever key you enter, you will find your way. When dealing with the second ray, the musical key is a very important one. It’s based upon ratio: two to one, three to two, four to three, five to four, six to five, seven to six, eight to seven. There are some adjustments there. With every octave, we double the frequency. We can organize the various notes of the scale and the notes that substand the different aspects of our nature either according to an octave measurement or a kind of circle of fifths measurement. There are other ways too, many ways to divide the octave.

Mỗi người đều có con đường riêng đi vào Giáo Lý Bí Nhiệm và sẽ xoay các chìa khóa tương ứng. Chúng ta không thể xoay tất cả các chìa khóa, vì chúng ta có những giới hạn của mình, nhưng dù các bạn đi vào bằng chìa khóa nào, các bạn cũng sẽ tìm thấy đường đi. Khi đề cập đến cung hai, khóa âm nhạc là một chìa khóa rất quan trọng. Nó đặt nền trên tỉ lệ: hai trên một, ba trên hai, bốn trên ba, năm trên bốn, sáu trên năm, bảy trên sáu, tám trên bảy. Có một vài điều chỉnh ở đó. Với mỗi quãng tám, chúng ta nhân đôi tần số. Chúng ta có thể tổ chức các nốt khác nhau của âm giai và các nốt nằm dưới những phương diện khác nhau của bản chất mình hoặc theo một phép đo quãng tám, hoặc theo một loại phép đo vòng quãng năm. Cũng có những cách khác, nhiều cách để chia quãng tám.

This whole study of frequencies—a precise study on the fourth ray of mathematical exactitude—will give us a kind of control over things which we have not had before. We’ll be able to deal with the etheric generative aspects substanding things. This is going to be one of the first methods of healing to make its way into prominence. It will tune up the outer mechanism because so much of what is diseased is in a state of dissonance with the other factors within a diseased system. Harmony and health and healing and wholeness and perfection—those ideas go together.

Toàn bộ việc nghiên cứu các tần số này—một nghiên cứu chính xác trên cung bốn của sự chính xác toán học—sẽ cho chúng ta một loại kiểm soát đối với những sự vật mà trước đây chúng ta chưa có. Chúng ta sẽ có thể xử lý các phương diện sinh thành dĩ thái nằm dưới các sự vật. Đây sẽ là một trong những phương pháp chữa lành đầu tiên đi vào vị trí nổi bật. Nó sẽ điều chỉnh bộ máy bên ngoài, bởi vì rất nhiều điều bệnh tật nằm trong trạng thái bất hòa với các yếu tố khác trong một hệ thống bệnh tật. Hài hòa, sức khỏe, chữa lành, toàn vẹn và hoàn hảo—những ý tưởng ấy đi cùng nhau.

In the great original sounding forth of the Sacred Word (the three original Breaths, with their seven sounds,—one Breath for each of the three solar systems) the note was different,

Trong lần xướng ra nguyên thủy vĩ đại của Linh Từ Thiêng Liêng, ba Hơi Thở nguyên thủy, với bảy âm thanh của chúng—một Hơi Thở cho mỗi trong ba hệ mặt trời—âm điệu thì khác nhau,

FA, SOL, DO. Which is another way of saying GREEN, BLUE, and RED.

FA, SOL, DO. Đó là một cách khác để nói XANH LÁ, XANH DƯƠNG, và ĐỎ.

It is interesting that when dealing with some of the repulsive colors associated with the Black Lodge, there is a lurid green and a loathsome purple. We could get purple out of a wrong combination of blue and red from the pigment point of view. We’re going to have to learn to work with color during this becoming fourth ray period when the monad of the fourth ray comes into manifestation in 2025.

Điều thú vị là khi đề cập đến một số màu sắc ghê tởm liên hệ với Hắc đoàn, có một màu xanh lá chói gắt và một màu tím đáng ghét. Chúng ta có thể có màu tím từ một sự kết hợp sai lạc của xanh dương và đỏ theo quan điểm sắc tố. Chúng ta sẽ phải học cách làm việc với màu sắc trong thời kỳ đang trở thành cung bốn này, khi chân thần của cung bốn đi vào biểu hiện vào năm 2025.

[22] In system one, the completion of the First Breath, the culmination, was the sounding forth, in note majestic, of the note FA,—

[22] Trong hệ thứ nhất, sự hoàn tất của Hơi Thở Thứ Nhất, tức điểm tột đỉnh, là sự xướng phát, bằng một âm điệu uy nghi, nốt FA,

It’s the F note, the green note—

Đó là nốt F, nốt xanh lá—

[23] the note which forms the basic note of this system, the note of manifested nature.

[23] —nốt tạo thành âm điệu căn bản của hệ này, âm điệu của thiên nhiên biểu hiện.

Which He says we really couldn’t stand to hear. It would be too much for us. It would be overwhelming if we were to suddenly hear in fullness the note of nature. I guess some of our ray indications are hinted at by the kinds of colors we like very much or wear or surround ourselves with. You get to the fourth ray, and they say, “Oh, I love all the colors.” You get to the sixth ray, you get true blue. Seventh ray, violet. Fifth ray, orange, but not as satirically. Fourth ray, yellow. Going backwards: three, green; two, blue or maybe indigo; and one, red for the first ray.

Ngài nói rằng chúng ta thật sự không thể chịu nổi khi nghe nó. Nó sẽ quá sức đối với chúng ta. Sẽ choáng ngợp nếu chúng ta đột nhiên nghe trọn vẹn nốt của thiên nhiên. Tôi đoán một số chỉ dẫn về cung của chúng ta được gợi ý bởi những loại màu sắc mà chúng ta rất thích, hoặc mặc, hoặc bao quanh mình. Các bạn đến cung bốn, và họ nói: “Ồ, tôi yêu tất cả các màu.” Các bạn đến cung sáu, các bạn có xanh dương chân thật. Cung bảy, tím. Cung năm, cam, nhưng không theo cách châm biếm như vậy. Cung bốn, vàng. Đi ngược lại: ba, xanh lá; hai, xanh dương hoặc có lẽ chàm; và một, đỏ cho cung một.

[24] This note is,

[24] Nốt này hiện hữu,

Which is very useful in esoteric healing,

Điều này rất hữu dụng trong Trị Liệu Huyền Môn,

[25] and to it must be supplemented the second note for this the second system. It is not fully sounded or rounded out, nor to the end of the greater cycle will it be completed.

[25] và nốt thứ hai phải được bổ sung cho nó trong hệ thứ hai này. Nó chưa được xướng trọn vẹn hay viên mãn, và cho đến cuối chu kỳ lớn hơn nó mới được hoàn tất.

What is the greater cycle? Is this cycle the entire present solar system, or since the monadic ray of this system is probably the indigo ray, do we have to complete all incarnations of the Solar Logos in a series of six or seven solar systems?

Chu kỳ lớn hơn là gì? Chu kỳ này là toàn bộ hệ mặt trời hiện tại, hay vì cung chân thần của hệ thống này có lẽ là cung chàm, chúng ta có phải hoàn tất mọi lần lâm phàm của Thái dương Thượng đế trong một chuỗi sáu hoặc bảy hệ mặt trời không?

Not until the end of the greater cycle will the rounding out of the great second ray occur. When you round out the third ray, it’s going to be a personality ray of our solar system. The previous major solar system had a second ray soul and a third ray personality, that’s exactly what the Earth has now—a second ray soul and a third ray personality—so there’s going to be quite a commonality there, except that we cannot look at our solar system as having the first ray Monad, which our Earth has. What is the Logos doing now?

Mãi đến cuối chu kỳ lớn hơn sự làm tròn đầy cung hai vĩ đại mới xảy ra. Khi các bạn làm tròn đầy cung ba, nó sẽ là cung phàm ngã của hệ mặt trời chúng ta. Hệ mặt trời lớn trước đây có một linh hồn cung hai và một phàm ngã cung ba, đó chính xác là điều Trái Đất hiện có—một linh hồn cung hai và một phàm ngã cung ba—vì vậy sẽ có khá nhiều điểm chung ở đó, ngoại trừ việc chúng ta không thể nhìn hệ mặt trời của mình như có Chân thần cung một, điều mà Trái Đất của chúng ta có. Thượng đế đang làm gì bây giờ?

[25b] The Logos sounds it now, and should He cease to breathe it forth, the whole system would disappear into complete obscuration. It would mark the end of manifestation. This note is, and to it must be supplemented the second note for this the second system.

[25b] Hiện nay Thượng đế đang xướng nó, và nếu Ngài ngừng thở nó ra, toàn bộ hệ thống sẽ biến mất vào sự che khuất hoàn toàn. Điều đó sẽ đánh dấu sự chấm dứt của biểu hiện.

This note is the green note—perhaps He is talking about the entire present solar system. I think he is talking of the green ray.

Nốt này là nốt xanh lá—có lẽ Ngài đang nói về toàn bộ hệ mặt trời hiện tại. Tôi nghĩ Ngài đang nói về cung xanh lá.

This note is, and to it must be supplemented the second note for this the second system.

Nốt này là, và với nó phải được bổ sung nốt thứ hai dành cho hệ thống thứ hai này.

This note is the green note, I believe, is not fully sounded or rounded out, nor to the end of the greater cycle will it be completed. We have had a period for the green ray, but the rounding out of the green ray is still incomplete. My mistake was in not understanding the antecedent—the word “this.” The green note is, and to it must be supplemented the second note for this the second solar system. We have two “this” in that sentence: one refers to the green note and the other to the present solar system, which is the second major solar system.

Tôi tin rằng nốt này là nốt xanh lá, chưa được xướng đầy đủ hay làm tròn đầy, và mãi đến cuối chu kỳ lớn hơn, nó mới được hoàn tất. Chúng ta đã có một thời kỳ dành cho cung xanh lá, nhưng sự làm tròn đầy cung xanh lá vẫn chưa hoàn tất. Sai lầm của tôi là không hiểu tiền từ—từ “này.” Nốt xanh lá là, và với nó phải được bổ sung nốt thứ hai dành cho hệ mặt trời thứ hai này. Chúng ta có hai từ “này” trong câu ấy: một từ chỉ nốt xanh lá và từ kia chỉ hệ mặt trời hiện tại, vốn là hệ mặt trời lớn thứ hai.

It is not fully sounded or rounded out, nor to the end of the greater cycle will it be so. I misinterpreted the word “it,” thinking that it meant the second note and thinking that from the Monadic perspective, the next solar system would be needed to really round out that Monadic second ray note, even though the system would be on the first ray.

Nó chưa được xướng đầy đủ hay làm tròn đầy, và mãi đến cuối chu kỳ lớn hơn, nó mới như thế. Tôi đã hiểu sai từ “nó,” nghĩ rằng nó có nghĩa là nốt thứ hai và nghĩ rằng từ viễn cảnh chân thần, hệ mặt trời kế tiếp sẽ cần thiết để thật sự làm tròn đầy nốt cung hai chân thần ấy, mặc dù hệ thống sẽ ở trên cung một.

It’s a long time away, if that chronology in footnote six in A Treatise on Cosmic Fire on pages 38 and 39 holds true information, which H. P. Blavatsky says it does, then it’s going to be a long time before we know how all this resolves.

Điều ấy còn rất xa, nếu niên đại trong chú thích sáu của Luận về Lửa Vũ Trụ ở các trang 38 và 39 chứa thông tin đúng, mà H. P. Blavatsky nói là đúng, thì sẽ còn rất lâu trước khi chúng ta biết tất cả điều này được giải quyết như thế nào.

A human being may, through a lack of wisdom or a lack of sufficient effort, defer an initiation which he or she might have otherwise taken. The same applies to the Solar Logos or Planetary Logos. The Solar Logos will in all probability take the fourth Initiation, but still in this solar system. Will the fifth Initiation take place in this solar system? Maybe not. Maybe it will have to be deferred until the next solar system.

Một con người có thể, do thiếu minh triết hoặc thiếu nỗ lực đầy đủ, trì hoãn một cuộc điểm đạo mà nếu không thì y đã có thể nhận. Điều tương tự áp dụng cho Thái dương Thượng đế hoặc Hành Tinh Thượng đế. Thái dương Thượng đế rất có thể sẽ nhận lần điểm đạo thứ tư, nhưng vẫn trong hệ mặt trời này. Liệu lần điểm đạo thứ năm có diễn ra trong hệ mặt trời này không? Có lẽ không. Có lẽ nó sẽ phải được trì hoãn đến hệ mặt trời kế tiếp.

Looking at the petals of the Egoic Lotus, especially the sacrifice petals on the mental plane, the seventh petal unfolds at the time of the first Initiation, which has to do with managing the third aspect of Divinity in a spiritual way, but the full unfoldment doesn’t come until all three sacrifice petals spring open. And thus it is with the eighth petal, unfolding during the second-initiation process, but not completely—not until the very end, which we might call the end of the greater cycle. Now, people like ourselves, I think—you know—we’re pretty much working with our concentration on petals seven and eight, and maybe nine. And this will mean that a fullish unfoldment of petals five and six is occurring and, in a number of cases, will already have occurred.

Nhìn vào các cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã, đặc biệt là các cánh hoa hi sinh trên cõi trí, cánh hoa thứ bảy khai mở vào thời điểm lần điểm đạo thứ nhất, vốn liên quan đến việc quản lý phương diện thứ ba của thiên tính theo một cách tinh thần, nhưng sự khai mở trọn vẹn không đến cho đến khi cả ba cánh hoa hi sinh bật mở. Và điều tương tự cũng đúng với cánh hoa thứ tám, khai mở trong tiến trình lần điểm đạo thứ hai, nhưng không hoàn toàn—không cho đến tận cùng, điều mà chúng ta có thể gọi là cuối chu kỳ lớn hơn. Bây giờ, những người như chúng ta, tôi nghĩ—các bạn biết đấy—chúng ta khá nhiều đang làm việc với sự tập trung của mình vào các cánh hoa bảy và tám, và có lẽ chín. Và điều này sẽ có nghĩa là một sự khai mở khá đầy đủ của các cánh hoa năm và sáu đang xảy ra và, trong một số trường hợp, đã xảy ra rồi.

I hope I’m being clear, because it is a little intricate. If you make a mistake, you have to go back over it.

Tôi hy vọng mình đang nói rõ, bởi vì điều này hơi phức tạp. Nếu các bạn mắc sai lầm, các bạn phải quay lại xem xét nó.

The Logos sounds it now, and should He cease to breathe it forth, the whole system would disappear into complete obscuration.

Hiện nay Thượng đế xướng nó, và nếu Ngài ngừng thở nó ra, toàn bộ hệ thống sẽ biến mất vào sự che khuất hoàn toàn.

It would no longer be objective. Things would cease to exist.

Nó sẽ không còn khách quan nữa. Các sự vật sẽ chấm dứt hiện hữu.

It would mark the end of manifestation.

Điều đó sẽ đánh dấu sự chấm dứt của biểu hiện.

This shows you something about scale. In order to sound the note, you have to breathe out; you have to exhale. The out-breathing, the exhalation, allows you to breathe in, and then you have your note, because the exhalation passes over the vocal cords and makes them vibrate. Fortunately, our Solar Logos has a very long breath. Some people well trained in music and voice can do a musical phrase for what seems like almost an unnatural length of time. Where we might be confined to a certain number of seconds in our exhalation, trained singers can do it. The greater the entity, the longer the exhalation, and also the longer the inhalation.

Điều này cho các bạn thấy điều gì đó về tỉ lệ. Để xướng nốt, các bạn phải thở ra; các bạn phải xuất tức. Sự thở ra, sự xuất tức, cho phép các bạn hít vào, và rồi các bạn có nốt của mình, bởi vì luồng thở ra đi qua dây thanh và làm cho chúng rung động. May thay, Thái dương Thượng đế của chúng ta có một hơi thở rất dài. Một số người được huấn luyện kỹ về âm nhạc và giọng nói có thể thực hiện một câu nhạc trong một khoảng thời gian dường như gần như phi tự nhiên. Nơi chúng ta có thể bị giới hạn trong một số giây nhất định khi thở ra, các ca sĩ được huấn luyện có thể làm được điều đó. Thực thể càng lớn, sự thở ra càng dài, và sự hít vào cũng càng dài.

We’re talking about things coming into manifestation and things going out of manifestation on the basis of a great breath—not necessarily the great universal breath, but the breath of the Solar Logos. Retraction, emanative retraction, where you’re going back where you came from, is really an inhalation. In a way the entire path of evolution is an inhalation. The path of involution is an exhalation.

Chúng ta đang nói về các sự vật đi vào biểu hiện và các sự vật đi ra khỏi biểu hiện trên nền tảng của một hơi thở vĩ đại—không nhất thiết là hơi thở vũ trụ vĩ đại, mà là hơi thở của Thái dương Thượng đế. Sự thu hồi, sự thu hồi xuất lộ, nơi các bạn quay trở lại nơi mình đã đến, thật sự là một sự hít vào. Theo một cách nào đó, toàn bộ con đường tiến hoá là một sự hít vào. Con đường giáng hạ tiến hoá là một sự thở ra.

[26] In system two, the present system, the keynote may not be disclosed. It is one of the secrets of the sixth Initiation, and must not he revealed.

[26] Trong hệ thứ hai, tức hệ hiện tại, chủ âm không được phép tiết lộ. Đó là một trong những bí mật của lần Điểm Đạo thứ sáu, và không được tiết lộ.

Elsewhere He has revealed it. He writes books in the beginning and says, “I can’t tell you about this,” and then some number of books later he’s been given permission to do so.

Ở nơi khác Ngài đã mặc khải nó. Ban đầu Ngài viết sách và nói: “Tôi không thể nói với các bạn về điều này,” rồi vài quyển sách sau đó Ngài đã được cho phép làm như vậy.

Is the keynote of the second system not blue? I’ve always felt it’s blue. The relationship between the blue and the green is three over two. In light frequencies—certainly in note frequencies it does work out. Blue represents the fifth, and the ratio of the fifth is three to two. We’re not talking about green being the third ray and blue being the second ray. We’re talking about blue representing the soul and green representing the personality. If we want to get into the soul, it’s three over two. If we want to deal with the personality, it is four over three, and that will give us a kind of green expression.

Chủ âm của hệ thống thứ hai không phải là xanh dương sao? Tôi luôn cảm thấy nó là xanh dương. Mối liên hệ giữa xanh dương và xanh lá là ba trên hai. Trong các tần số ánh sáng—chắc chắn trong các tần số nốt nhạc thì điều đó đúng. Xanh dương biểu trưng quãng năm, và tỉ lệ của quãng năm là ba trên hai. Chúng ta không nói về xanh lá là cung ba và xanh dương là cung hai. Chúng ta đang nói về xanh dương biểu trưng cho linh hồn và xanh lá biểu trưng cho phàm ngã. Nếu chúng ta muốn đi vào linh hồn, nó là ba trên hai. Nếu chúng ta muốn đề cập đến phàm ngã, nó là bốn trên ba, và điều đó sẽ cho chúng ta một loại biểu hiện xanh lá.

When we’re dealing with these matters, we’re dealing with the very simplest parts. We live in a blue system, or at least indigo. Maybe there will be a different frequency, but if we were to check, I’m not sure we can do this, but let’s try.

Khi đề cập đến những vấn đề này, chúng ta đang đề cập đến những phần đơn giản nhất. Chúng ta sống trong một hệ thống xanh dương, hoặc ít nhất là chàm. Có lẽ sẽ có một tần số khác, nhưng nếu chúng ta kiểm tra, tôi không chắc chúng ta có thể làm điều này, nhưng hãy thử.

“The Solar Logos sounded forth a Word. The form of our solar system came into being, its color being blue and its note a particular cosmic musical tone”.

“Thái dương Thượng đế đã xướng ra một Linh từ. Hình tướng của hệ mặt trời chúng ta đi vào hiện hữu, màu của nó là xanh dương và nốt của nó là một âm điệu âm nhạc vũ trụ đặc thù”.

This is from Initiation, Human and Solar, page 160.

Điều này trích từ Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương, trang 160.

Now, the problem here is: what is that musical tone? It is blue, but how do we arrive at blue? Do we arrive at a perfect fifth by starting on the note A, in which case yellow—the yellow note in the other scale—would emerge?

Bây giờ, vấn đề ở đây là: âm điệu âm nhạc ấy là gì? Nó là xanh dương, nhưng chúng ta đi đến xanh dương bằng cách nào? Chúng ta có đi đến một quãng năm đúng bằng cách bắt đầu từ nốt A, trong trường hợp đó màu vàng—nốt vàng trong âm giai khác—sẽ xuất hiện không?

Well, if we generally assign colors to notes, we would be starting with A as an indigo note. The sequence would be indigo, violet, red, orange and yellow. We do have a yellow sun, which has something to do with our developmental status, and also, I would say, something to do with passing through a fourth-ray stage—we don’t know in this incarnation— but anyway, yellow is the color, and that might tell us something about the monadic ray at this time. Maybe a second-ray Monad will be more to the fore in the next system.

Nếu chúng ta thường gán màu cho các nốt, chúng ta sẽ bắt đầu với A như một nốt chàm. Chuỗi sẽ là chàm, tím, đỏ, cam và vàng. Chúng ta quả có một mặt trời vàng, điều này có liên hệ đến trạng thái phát triển của chúng ta, và tôi cũng sẽ nói là có liên hệ đến việc đi qua một giai đoạn cung bốn—chúng ta không biết trong lần lâm phàm này—nhưng dù sao, vàng là màu sắc, và điều đó có thể nói với chúng ta điều gì đó về cung chân thần vào lúc này. Có lẽ một Chân thần cung hai sẽ nổi bật hơn trong hệ thống kế tiếp.

We’re told that it is one of the secrets of the sixth initiation, but perhaps we can say that there are different ways of looking at this. The sixth initiation is ruled by the third ray, which is green. Green is not the keynote. On the other hand, a Chohan is made through the sixth initiation. When we’re dealing with the sixth principle—and I’m going to look at sixes now—the sixth principle is buddhi, which is love-wisdom, and hence blue.

Chúng ta được cho biết rằng đó là một trong những bí mật của lần điểm đạo thứ sáu, nhưng có lẽ chúng ta có thể nói rằng có những cách nhìn khác nhau về điều này. Lần điểm đạo thứ sáu do cung ba cai quản, mà cung ba là xanh lá. Xanh lá không phải là chủ âm. Mặt khác, một Đức Chohan được tạo nên qua lần điểm đạo thứ sáu. Khi chúng ta đề cập đến nguyên khí thứ sáu—và bây giờ tôi sẽ xem xét các số sáu—nguyên khí thứ sáu là Bồ đề, tức Bác Ái – Minh Triết, và do đó là xanh dương.

You see, there can be two notes associated with the soul, and everything depends on whether we begin our scale on the note C, which is red, or begin our scale on the note A, which is indigo. The fifth, which is a soul note, is yellow when we begin on the note A. Yellow is a buddhic note and relates to the fourth ray. We do have our yellow sun.

Các bạn thấy đó, có thể có hai nốt liên hệ với linh hồn, và mọi sự tùy thuộc vào việc chúng ta bắt đầu âm giai của mình bằng nốt C, là đỏ, hay bắt đầu âm giai của mình bằng nốt A, là chàm. Quãng năm, vốn là một nốt linh hồn, là vàng khi chúng ta bắt đầu bằng nốt A. Vàng là một nốt Bồ đề và liên quan đến cung bốn. Chúng ta quả có mặt trời vàng của mình.

So, anyway, by “keynote,” does he mean a musical note, or does he mean a kind of color? One possibility is yellow. If we begin on the note A, which is an indigo note, then green would be one step beyond yellow. But if we begin on the note C, which is considered a perfectly legitimate starting place, then the blue note represents the fifth, and so we would have a fifth in blue. We would have a G for the soul: Sol, fifth, blue. I’m going to write that down. If we begin the scale on the note C, which is red, we will have SOL, fifth and blue.

Vậy, dù sao đi nữa, khi nói “chủ âm,” Ngài muốn nói một nốt nhạc, hay Ngài muốn nói một loại màu sắc? Một khả năng là vàng. Nếu chúng ta bắt đầu bằng nốt A, vốn là một nốt chàm, thì xanh lá sẽ ở một bước vượt quá vàng. Nhưng nếu chúng ta bắt đầu bằng nốt C, vốn được xem là một điểm khởi đầu hoàn toàn chính đáng, thì nốt xanh dương biểu trưng quãng năm, và như vậy chúng ta sẽ có một quãng năm trong xanh dương. Chúng ta sẽ có một G cho linh hồn: Sol, quãng năm, xanh dương. Tôi sẽ ghi điều đó xuống. Nếu chúng ta bắt đầu âm giai bằng nốt C, vốn là đỏ, chúng ta sẽ có SOL, quãng năm và xanh dương.

Bắt đầu từ A

Màu

Bắt đầu từ C

Màu

A

Chàm

C

Đỏ

B

Tím

D

Cam

C

Đỏ

E

Vàng

D

Cam

F

Lục

E – bậc năm

Vàng

G – bậc năm

Xanh lam

So somehow, through the books, it seems that we have been given a hint about blue.

Vậy bằng cách nào đó, qua các quyển sách, dường như chúng ta đã được trao một gợi ý về xanh dương.

Now, I wonder:

Bây giờ, tôi tự hỏi:

“The Solar Logos sounded forth a Word, the form of our solar system came into being, its color being blue and its note a particular cosmic musical tone. Its degree of activity is of a specific mathematical notation beyond the grasp of the human mind at this stage of development; and the nature of its great ensouling Life, that of the triple Logos, is active, intelligent Love.”

“Thái dương Thượng đế đã xướng ra một Linh từ, hình tướng của hệ mặt trời chúng ta đi vào hiện hữu, màu của nó là xanh dương và nốt của nó là một âm điệu âm nhạc vũ trụ đặc thù. Mức độ hoạt động của nó thuộc một ký hiệu toán học đặc biệt vượt ngoài sự nắm bắt của thể trí con người ở giai đoạn phát triển này; và bản chất của Sự Sống vĩ đại phú linh cho nó, bản chất của Thượng đế tam phân, là Tình thương linh hoạt, thông tuệ.”

I suppose green-blue. So I really want to keep this. Definitely we’re given that color. Yellow is another of the colors that have come to us from system one. There’s some marvelous things here, and we’ll get to that later. It’s just obvious: the activity system was green, the love system is blue, the power system will be red. This is spelled out for us on page 221, and yet we’re told it’s one of the secrets of the sixth Initiation. Here on page 221 is a simple statement: “The activity system was green, the love system is blue, and the power system will be red.”

Tôi cho rằng xanh lá-xanh dương. Vì vậy tôi thật sự muốn giữ điều này. Chắc chắn chúng ta được trao màu sắc ấy. Vàng là một trong những màu khác đã đến với chúng ta từ hệ thống thứ nhất. Có vài điều tuyệt diệu ở đây, và chúng ta sẽ đến đó sau. Điều đó hiển nhiên: hệ thống hoạt động là xanh lá, hệ thống bác ái là xanh dương, hệ thống quyền năng sẽ là đỏ. Điều này được trình bày rõ cho chúng ta ở trang 221, tuy vậy chúng ta lại được bảo rằng đó là một trong những bí mật của lần điểm đạo thứ sáu. Ở đây, trang 221 có một phát biểu đơn giản: “Hệ thống hoạt động là xanh lá, hệ thống bác ái là xanh dương, và hệ thống quyền năng sẽ là đỏ.”

In system two, the present system, the keynote may not be disclosed. It is one of the secrets of the sixth Initiation, and must not he revealed.

Trong hệ thống hai, hệ thống hiện tại, chủ âm không được phép tiết lộ. Đó là một trong những bí mật của lần điểm đạo thứ sáu, và không được phép mặc khải.

And if we’re dealing with the sixth initiation, it has resonance with the sixth principle, and that is Buddhi. The buddhic note at the moment is the G, which is yellow. Here again a particular cosmic musical tone. The note G, or the note SOL, is connected with this musical tone.

Và nếu chúng ta đang đề cập đến lần điểm đạo thứ sáu, thì nó có cộng hưởng với nguyên khí thứ sáu, và đó là Bồ đề. Âm điệu Bồ đề vào lúc này là Sol, vốn có màu vàng. Ở đây lại là một âm sắc nhạc tính vũ trụ đặc thù. Nốt Sol, hay nốt SOL, được liên kết với âm sắc nhạc tính này.

There is a strong connection between the note Fa and the color green, between the note Sol and the color blue, but there does seem to be some kind of question about what note we begin the scale on, because at one point he said that G is a seventh-ray note. Now, the only way to get a seventh-ray note out of G is to begin on the note A below it, like this [A B C D E F G]. Let’s see here. That is the note G.

Có một mối liên hệ mạnh mẽ giữa nốt Fa và màu xanh lá cây, giữa nốt Sol và màu xanh lam, nhưng dường như vẫn có một câu hỏi nào đó về việc chúng ta bắt đầu thang âm từ nốt nào, bởi vì có lúc Ngài nói rằng Sol là một nốt cung bảy. Giờ đây, cách duy nhất để có được một nốt cung bảy từ Sol là bắt đầu từ nốt La ở dưới nó, như thế này [A B C D E F G]. Hãy xem ở đây. Đó là nốt Sol.

So G can be the Ti, or the Si, in the solfège system when you begin on A; and it can be the fifth when you begin on C. I hope I’ve been clear. It’s the same note—it’s G—but it’s considered to be a fifth when we begin with the red note C, and it’s considered to be a seventh when we begin with the indigo note A.

Vì vậy Sol có thể là Ti, hay Si, trong hệ thống xướng âm khi các bạn bắt đầu từ La; và nó có thể là nốt thứ năm khi các bạn bắt đầu từ Đô. Tôi hy vọng tôi đã nói rõ. Đó vẫn là cùng một nốt — đó là Sol — nhưng nó được xem là nốt thứ năm khi chúng ta bắt đầu với nốt Đô màu đỏ, và được xem là nốt thứ bảy khi chúng ta bắt đầu với nốt La màu chàm.

All right, these matters are unresolved, and please forgive me for getting into them again.

Những vấn đề này vẫn chưa được giải quyết, và xin tha thứ cho tôi vì lại đi vào chúng một lần nữa.

[27] In system three the final third note will be added to the basic notes of the first and second systems, and then what will you have?

[27] Trong hệ thứ ba, nốt thứ ba cuối cùng sẽ được thêm vào các nốt căn bản của hệ thứ nhất và hệ thứ hai; và khi ấy các bạn sẽ có gì?

One way of looking at this is as a Fa-Sol-Do, and Fa-Sol-Do; Green, Blue, Red. But Fa-Sol-Do would be different if we were starting on the indigo note. It would be like this, with the indigo note being A. If you begin on the note A, and it’s not decided where we can begin that scale or whether we can begin in either place, with the note G representing Sol, in the solfège system, starting with the red note C, or with the note G representing the ti or the Si in the solfège system, starting with the indigo note. Can both of them be represented? Does the note G have two meanings? Blavatsky’s assignment of color is quite definite. We have C, the red assigned to the note C. That’s this note. That’s a red note. This is an orange note. This is the yellow note. This is a green note. This is a blue note. This is an indigo note.

Một cách nhìn điều này là như Fa-Sol-Đô, và Fa-Sol-Đô; Xanh lá cây, Xanh lam, Đỏ. Nhưng Fa-Sol-Đô sẽ khác nếu chúng ta bắt đầu từ nốt màu chàm. Nó sẽ như thế này, với nốt màu chàm là La. Nếu các bạn bắt đầu từ nốt La, và vẫn chưa quyết định được chúng ta có thể bắt đầu thang âm đó ở đâu, hoặc liệu chúng ta có thể bắt đầu ở cả hai vị trí hay không, với nốt Sol đại diện cho Sol trong hệ thống xướng âm, bắt đầu bằng nốt Đô màu đỏ, hoặc với nốt Sol đại diện cho Ti hay Si trong hệ thống xướng âm, bắt đầu bằng nốt màu chàm. Cả hai có thể được biểu thị không? Nốt Sol có hai ý nghĩa không? Sự gán màu của Blavatsky là khá dứt khoát. Chúng ta có Đô, màu đỏ được gán cho nốt Đô. Đó là nốt này. Đó là một nốt đỏ. Đây là một nốt cam. Đây là nốt vàng. Đây là một nốt xanh lá cây. Đây là một nốt xanh lam. Đây là một nốt chàm.

Friends, there have been quite a few interruptions here, and I’m so sorry. It’s interrupted by sound, interrupted by light. I have just a little more I want to do here, and I do hope that I don’t have to do the whole thing over again, because I had the microphone on mute. Now, that’s also possible, in which case this will be a pantomime.

Các bạn của tôi, ở đây đã có khá nhiều sự gián đoạn, và tôi rất xin lỗi. Nó bị gián đoạn bởi âm thanh, bị gián đoạn bởi ánh sáng. Tôi chỉ còn một chút nữa muốn làm ở đây, và tôi thật sự hy vọng rằng tôi không phải làm lại toàn bộ, vì tôi đã để micro ở chế độ tắt tiếng. Điều đó cũng có thể xảy ra, trong trường hợp ấy thì đây sẽ là một màn kịch câm.

In system three the final third note will be added to the basic notes of the first and second systems, and then what will you have?

Trong hệ thống ba, nốt thứ ba cuối cùng sẽ được thêm vào các nốt căn bản của hệ thống thứ nhất và thứ hai, và khi ấy các bạn sẽ có gì?

FA, SOL, DO, as I said. Unless the whole scale begins on A, and you will have a different Fa, a different Sol, and a different Do. Do is always the beginning. You will have this. FA, SOL, DO. But now he’s going to say something else about what will we have.

FA, SOL, ĐÔ, như tôi đã nói. Trừ phi toàn bộ thang âm bắt đầu từ La, và các bạn sẽ có một Fa khác, một Sol khác, và một Đô khác. Đô luôn luôn là khởi đầu. Các bạn sẽ có điều này. FA, SOL, ĐÔ. Nhưng giờ đây Ngài sắp nói một điều khác về việc chúng ta sẽ có gì.

[28] You will have the major third of the Logoic Personality in its completeness,

[28] Các bạn sẽ có quãng ba trưởng của Phàm ngã Thượng đế trong sự trọn vẹn của nó,

This will be a soul-infused personality,

Đây sẽ là một phàm ngã được linh hồn thấm nhuần,

[29] a correspondence to the major third of the microcosm,—one note for each plane.

[29] một tương ứng với quãng ba trưởng của Tiểu thiên địa—một nốt cho mỗi cõi.

Let’s say it’s like this: Do for the etheric physical, Re for the astral, and Mi for the mental, on which the mental unit is found, the lower mind is found. I hope that you’ve been able to make some sense out of all of this.

Có thể nói nó như thế này: Đô cho thể xác dĩ thái, Rê cho thể cảm dục, và Mi cho thể trí, nơi đơn vị hạ trí được tìm thấy, nơi Hạ trí được tìm thấy. Tôi hy vọng rằng các bạn đã có thể hiểu được phần nào tất cả những điều này.

[30] We have been told that the solar Logos, on the cosmic planes, works at the problem of cosmic mind; that He functions in His physical solar system, is polarised in His cosmic astral, or emotional body, and is developing [Page 53] cosmic mind.

[30] Chúng ta đã được cho biết rằng Thái dương Thượng đế, trên các cõi vũ trụ, hoạt động với vấn đề trí tuệ vũ trụ; rằng Ngài vận hành trong hệ mặt trời hồng trần của Ngài, phân cực trong thể cảm dục hay thể cảm xúc vũ trụ của Ngài, và đang phát triển trí tuệ vũ trụ. [Page 53]

Basically His causal body is on the first sub-level of the cosmic mental plane and He is working with the Earth and other such planets in terms of the cosmic mental plane, and that is the plane upon which we are developing. But He does have a polarization in the cosmic emotional body and that’s really important. Even though the Solar Logos is brilliant compared to anything that we possess, His polarization is cosmic mental and He has only taken the cosmic astral or second cosmic initiation along the line of Solar Logos and is developing towards cosmic mind. We might say developing towards cosmic transfiguration. Sirius is transfigured.

Về căn bản, thể nguyên nhân của Ngài ở trên cõi phụ thứ nhất của cõi trí vũ trụ, và Ngài đang làm việc với Trái Đất cùng các hành tinh tương tự khác xét theo cõi trí vũ trụ, và đó là cõi mà trên đó chúng ta đang phát triển. Nhưng Ngài thật sự có một sự phân cực trong thể cảm xúc vũ trụ, và điều đó thật sự quan trọng. Dù Thái dương Thượng đế rực rỡ so với bất cứ điều gì chúng ta sở hữu, sự phân cực của Ngài là trí tuệ vũ trụ, và Ngài mới chỉ trải qua lần điểm đạo cảm dục vũ trụ, hay lần điểm đạo vũ trụ thứ hai, theo tuyến Thái dương Thượng đế, và đang phát triển hướng tới trí tuệ vũ trụ. Chúng ta có thể nói là đang phát triển hướng tới sự Biến hình vũ trụ. Sirius đã được Biến hình.

[31] So, on the planes of the solar system, is it as with the microcosm. In the realisation of this correspondence and its wise application lies illumination on the use of the Sacred Word in meditation.

[31] Vì vậy, trên các cõi của hệ mặt trời, sự việc cũng giống như với Tiểu thiên địa. Trong sự chứng nghiệm tương ứng này và việc áp dụng nó một cách minh triết, có sự soi sáng về việc sử dụng Linh Từ Thiêng Liêng trong tham thiền.

This is going to be a really big hint here. It depends on which sacred word we use. We can use the OM, we can probably learn how to use the A or even the AU. But the AUM is not supposed to be used because, as D.K. tells us in Rays and the Initiations, it has the effect of pinning a man against a wall as if by a high wind. So it is an entrapping effect and not a liberating effect. But then again, I suppose it depends on whether the AUM has periods between it or whether it is three letters together. I think there will be a difference.

Đây sẽ là một gợi ý thật sự lớn. Nó tùy thuộc vào linh từ thiêng liêng nào chúng ta sử dụng. Chúng ta có thể dùng OM, có lẽ chúng ta có thể học cách dùng A hoặc thậm chí AU. Nhưng AUM thì không nên dùng, bởi vì, như Chân sư DK nói với chúng ta trong Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo, nó có tác dụng ghim một người vào tường như thể do một cơn gió mạnh. Vì vậy nó có tác dụng giam giữ chứ không có tác dụng giải thoát. Nhưng rồi một lần nữa, tôi cho rằng điều đó tùy thuộc vào việc AUM có các dấu chấm ở giữa hay không, hoặc liệu nó là ba chữ cái đứng liền nhau. Tôi nghĩ sẽ có một sự khác biệt.

[32] System I……..corresponds to the physical body.

[32] Hệ I…….. tương ứng với thể xác.

[33] System II…….corresponds to the emotional body.

[33] Hệ II…….tương ứng với thể cảm xúc.

[34] System III……corresponds to the mental body.

[34] Hệ III……tương ứng với thể trí.

Because after all there are four systems preceding that One, major system two and major system three. We are in major system two and the next one will be major system three. There’ll be some kind of synthesis into a seventh system that will be understood or derived not as a manifestation, but somehow as all six systems simultaneously. We’re in this one, and I’m going to use the appropriate colors again and that will take us, give us the hints we need.

Bởi vì xét cho cùng, có bốn hệ thống đi trước Đấng ấy, hệ thống chính thứ hai và hệ thống chính thứ ba. Chúng ta đang ở trong hệ thống chính thứ hai, và hệ thống kế tiếp sẽ là hệ thống chính thứ ba. Sẽ có một kiểu tổng hợp nào đó vào một hệ thống thứ bảy, điều này sẽ được hiểu hay được suy ra không như một biểu hiện, mà bằng cách nào đó như toàn bộ sáu hệ thống đồng thời. Chúng ta đang ở trong hệ thống này, và tôi sẽ lại dùng các màu sắc thích hợp, và điều đó sẽ đưa chúng ta đến, cho chúng ta những gợi ý chúng ta cần.

These words major don’t really belong to the Tibetan, we’re just using them. No wonder the Tibetan said it was such a subject. Here I am experiencing interruptions on a very difficult subject, but I’m not in a position to go back and edit everything.

Những từ “chính” này thật ra không thuộc về Chân sư Tây Tạng, chúng ta chỉ đang dùng chúng. Chẳng lạ gì Chân sư Tây Tạng nói rằng đây là một đề tài như thế. Ở đây tôi đang trải qua những gián đoạn trong một đề tài rất khó, nhưng tôi không ở trong vị thế có thể quay lại và chỉnh sửa mọi thứ.

[35] By the study of the Word or Sound in the formation of these three will help come on the use of that Word in the building of the intuitional vehicle, and the purification of the personality.

[35] Qua việc nghiên cứu Linh từ hay Âm thanh trong sự hình thành ba thể này, sự trợ giúp sẽ đến trong việc sử dụng Linh từ ấy để xây dựng vận cụ trực giác và thanh lọc phàm ngã.

This is a major statement and it lays out the relationship between the microcosm and this greater macrocosm.

Đây là một phát biểu trọng yếu, và nó trình bày mối quan hệ giữa Tiểu thiên địa và Đại thiên địa lớn hơn này.

We will divide what we have to say under four heads and take up each separately because we had five before. I think the place for me to do this is in the next program. I’ve been a bit muted here but I’m just preparing this for our next program.

Chúng ta sẽ chia những điều chúng ta phải nói thành bốn đề mục và lần lượt đề cập riêng từng đề mục bởi vì trước đó chúng ta đã có năm. Tôi nghĩ nơi để tôi làm việc này là trong chương trình kế tiếp. Ở đây tôi đã hơi bị tắt tiếng, nhưng tôi chỉ đang chuẩn bị phần này cho chương trình kế tiếp của chúng ta.

Friends, I’m eager to get out of this program because there’s been so many problems with it. But we’ll begin with program 14 on page 53. Lots of love, many blessings, and see you soon.

Các bạn của tôi, tôi nóng lòng muốn thoát khỏi chương trình này vì đã có quá nhiều vấn đề với nó. Nhưng chúng ta sẽ bắt đầu với chương trình 14 ở trang 53. Thật nhiều tình thương, nhiều ân phúc, và hẹn sớm gặp lại các bạn.

Leave a Comment

Scroll to Top