|
[447]
|
[447]
|
|
This rule is, as you know, the last of those governing work on the astral plane and the magical task of motivating those thought-forms which are to be the expression of some type of energy. We have considered the various energies with which men work and the power a man can wield through building thought-forms. We have seen also how a man can manipulate the various grades of matter until the embodied idea has clothed itself with mental matter and with astral matter. It is therefore a vital entity, on the verge of materialising upon the physical plane. Nothing, it should be noted, can now stop its emergence into objectivity except the expressed act of the will of its creator, for the form, being vitalised by that creator, is subject always to his will, until he has severed his connection with it by the utterance of the “mystic phrase”. We will assume that emergence into effective existence is the decision and that the creative work is carried forward.
|
Như các bạn biết, quy luật này là quy luật cuối cùng trong những quy luật chi phối công việc trên cõi cảm dục và nhiệm vụ huyền thuật là thúc động những hình tư tưởng vốn sẽ là sự biểu lộ của một loại năng lượng nào đó. Chúng ta đã xem xét các năng lượng khác nhau mà con người vận dụng, và quyền năng mà một người có thể sử dụng qua việc kiến tạo các hình tư tưởng. Chúng ta cũng đã thấy cách một người có thể điều khiển các cấp độ khác nhau của vật chất cho đến khi ý tưởng được hiện thân đã khoác lấy vật chất cõi trí và vật chất cảm dục. Vì thế, nó là một thực thể sống động, đang ở ngưỡng hiện hình trên cõi hồng trần. Cần lưu ý rằng giờ đây không gì có thể ngăn chặn sự xuất hiện của nó vào tính khách quan, ngoại trừ hành động ý chí được biểu lộ của người sáng tạo ra nó; vì hình tướng, do được người sáng tạo ấy tiếp sinh lực, luôn luôn lệ thuộc vào ý chí của y, cho đến khi y cắt đứt mối liên hệ với nó bằng việc thốt ra “cụm từ thần bí”. Chúng ta sẽ giả định rằng sự xuất hiện vào hiện hữu hữu hiệu là quyết định đã được chọn, và công việc sáng tạo được tiếp tục tiến hành.
|
|
It will here be noted that this work is either conscious or unconscious. In the unconscious building of thought-forms such as is the case with the average human being, many never produce the desired physical plane effects, and fail in their intended purpose. As long however, as man is animated by selfishness and by hatred, this is a beneficent thing. Fortunately for the human race, few people as yet work in mental matter. Most of them work with astral or desire matter and these forms are fluidic and changeable, and are powerful only through the faculty of persistence. There is an occult basis for [448] the statement that if one desires a thing for a sufficiently long period of time one will possess it. Such is the law governing the return to incarnation of the average human being. Lacking the one-pointedness of the mental plane matter as it is influenced by a concentrated mind, these desire forms fail to do the damage they otherwise might. Their effect is felt largely by the creator of these kama-manasic forms and not by his environing associates. The moment that the mind factor enters in and becomes dominant, that moment a man becomes dangerous or useful as the case may be—dangerous not only to himself but to those around him, or useful in the working out of the plan of evolution. He can then create thought-forms, capable of producing outward manifesting results and tangible effects. Given aspiration, however, and spiritual impulse, a man can become a true occultist, and produce organised results, and functioning organisms upon the physical plane. I use the word “organism” deliberately, for it will serve to convey the idea that any thought-form is regarded by us as a subjective and existing entity, clothed in subtle matter, and capable of manifestation. This is called popularly sometimes “the working out of an idea”, or the “carrying through of a project”; it is termed at other times a “discovery”, or an “ invention”, or something of that nature. All the time, quite unrealising it, man is talking in occult terms and evidencing an inner appreciation of the methods whereby all that has been thought (by God or man) comes into existence.
|
Ở đây cần lưu ý rằng công việc này hoặc là có ý thức hoặc là vô thức. Trong việc kiến tạo vô thức các hình tư tưởng, như trường hợp của con người trung bình, nhiều hình tư tưởng không bao giờ tạo ra được các hiệu quả mong muốn trên cõi hồng trần, và thất bại trong mục đích đã định. Tuy nhiên, chừng nào con người còn được thúc đẩy bởi tính ích kỷ và lòng thù hận, thì điều này là một điều lành. May mắn cho nhân loại, cho đến nay rất ít người làm việc trong vật chất cõi trí. Phần lớn họ làm việc với vật chất cảm dục hay dục vọng, và các hình tướng này linh động, hay thay đổi, và chỉ có quyền năng nhờ năng lực kiên trì. Có một nền tảng huyền bí cho [448] lời khẳng định rằng nếu một người ham muốn một điều gì trong một thời gian đủ dài, y sẽ sở hữu nó. Đó là định luật chi phối sự trở lại nhập thể của con người trung bình. Vì thiếu tính nhất tâm của vật chất cõi trí khi nó chịu ảnh hưởng của một thể trí tập trung, các hình tướng dục vọng này không gây ra được sự tổn hại mà nếu khác đi chúng có thể gây ra. Hiệu quả của chúng phần lớn được cảm nhận bởi người sáng tạo ra các hình tướng trí-cảm này, chứ không phải bởi những người cộng sự bao quanh y. Ngay khoảnh khắc yếu tố thể trí bước vào và trở nên chiếm ưu thế, ngay khoảnh khắc ấy con người trở nên nguy hiểm hoặc hữu ích, tùy trường hợp—nguy hiểm không chỉ cho chính y mà còn cho những người chung quanh, hoặc hữu ích trong việc thực hiện thiên cơ tiến hóa. Khi ấy y có thể tạo ra các hình tư tưởng có khả năng tạo nên những kết quả biểu hiện ra bên ngoài và các hiệu quả hữu hình. Tuy nhiên, nếu có khát vọng và xung lực tinh thần, một người có thể trở thành một nhà huyền bí học chân chính, và tạo ra những kết quả có tổ chức cùng những cơ cấu sống vận hành trên cõi hồng trần. Tôi cố ý dùng từ “cơ cấu sống”, vì nó sẽ giúp truyền đạt ý tưởng rằng mọi hình tư tưởng đều được chúng tôi xem như một thực thể chủ quan và hiện hữu, khoác lấy vật chất tinh anh, và có khả năng biểu hiện. Điều này đôi khi thường được gọi là “việc triển khai một ý tưởng”, hay “việc thực hiện một dự án”; lúc khác nó được gọi là một “khám phá”, hay một “phát minh”, hoặc điều gì đó thuộc loại ấy. Suốt thời gian đó, hoàn toàn không nhận ra, con người đang nói bằng những thuật ngữ huyền bí và biểu lộ một sự cảm nhận bên trong về các phương pháp nhờ đó mọi điều đã được tư tưởng đến, bởi Thượng đế hoặc con người, đi vào hiện hữu.
|
|
The embodied idea or thought (the former being potentially far more potent than the latter) has worked its way through to the verge of physical manifestation. Its creator who, in the case of a “white magician” is not an emotionally centred person, is consciously bringing it to the stage when its inner purpose and plan can be demonstrated. He holds the thought-form in his consciousness [449] and gives it shape and energy through the power of his own one-pointed mental focus.
|
Ý tưởng hay tư tưởng được hiện thân, trong đó cái trước tiềm tàng mạnh mẽ hơn cái sau rất nhiều, đã tự mở đường đến ngưỡng biểu hiện hồng trần. Người sáng tạo ra nó, trong trường hợp một “nhà huyền thuật chánh đạo”, không phải là một người lấy cảm xúc làm trung tâm, đang có ý thức đưa nó đến giai đoạn mà mục đích và kế hoạch bên trong của nó có thể được chứng minh. Y giữ hình tư tưởng trong tâm thức của mình [449] và ban cho nó hình dạng cùng năng lượng nhờ quyền năng của sự tập trung trí tuệ nhất tâm của chính y.
|
|
We are told in the rule under consideration that the aspirant has three things to do:
|
Trong quy luật đang được xem xét, chúng ta được cho biết rằng người chí nguyện có ba điều phải làm:
|
|
1. Ascertain the formula which will crystallise the form he has built, much in the same way that we find architects and bridge builders reducing the desired form to a mathematical formula.
|
1. Xác định công thức sẽ kết tinh hình tướng mà y đã kiến tạo, gần giống như cách chúng ta thấy các kiến trúc sư và những người xây cầu quy giảm hình tướng mong muốn thành một công thức toán học.
|
|
2. Pronounce certain words which will give the form vitality and so carry it forth on to the physical plane.
|
2. Xướng một số lời nhất định sẽ ban sinh lực cho hình tướng, và nhờ đó đưa nó tiến ra cõi hồng trần.
|
|
3. Utter the phrase which will detach the thought-form from his aura and so save the drain upon his energies.
|
3. Thốt ra cụm từ sẽ tách rời hình tư tưởng khỏi hào quang của y, và nhờ đó cứu y khỏi sự hao tổn năng lượng.
|
|
It will be noted that the formula has relation to the thought-form, the words of power to the objective for which the form has been constructed, and the mystic phrase concerns the severing of the magnetic link which binds together the creator and his creation. One therefore concerns the form, another the soul embodied in the form (whose lowest characteristic is desire, the reflection of love) and the last the life aspect with which the creator has endowed the creation. We are consequently face to face again with the eternal triplicities of spirit, soul and body. It should be remembered that the Rules for Magic, as understood by the true esotericist, are as true of a created universe, solar system or planet as they are true of the tiny thought creations of a chela or aspirant.
|
Cần lưu ý rằng công thức liên hệ với hình tư tưởng, các Quyền năng từ liên hệ với mục tiêu mà hình tướng được kiến tạo để đạt tới, và cụm từ thần bí liên quan đến việc cắt đứt mối liên kết từ tính vốn ràng buộc người sáng tạo với tạo vật của y. Vì vậy, một điều liên quan đến hình tướng, điều khác đến linh hồn được hiện thân trong hình tướng, mà đặc tính thấp nhất là dục vọng, phản ánh của bác ái, và điều cuối cùng liên quan đến phương diện sự sống mà người sáng tạo đã phú cho tạo vật. Do đó, chúng ta lại đối diện với các bộ ba vĩnh cửu của tinh thần, linh hồn và thân thể. Cần nhớ rằng Các Quy Luật về Huyền Thuật, như nhà bí truyền học chân chính thấu hiểu, đúng đối với một vũ trụ, hệ mặt trời hay hành tinh được sáng tạo, cũng như đúng đối với những tạo tác tư tưởng nhỏ bé của một đệ tử hay người chí nguyện.
|
|
The first reaction of the average student on reading the above is to think immediately of the body nature as it expresses some type of energy. Thus duality is the thing noted and that which employs the thing is present in his mind. Yet one of the main necessities before occult aspirants at this time is to endeavour to think in [450] terms of the one Reality which is Energy itself and nothing else. Therefore it is of value to emphasize in our discussions of this abstruse subject the fact that spirit and energy are synonymous terms and are interchangeable. Only in the realisation of this can we arrive at the reconciliation of science and religion and at a true understanding of the world of active phenomena by which we are surrounded and in which we move.
|
Phản ứng đầu tiên của đạo sinh trung bình khi đọc những điều trên là lập tức nghĩ đến bản chất thân thể khi nó biểu lộ một loại năng lượng nào đó. Như vậy, điều được ghi nhận là nhị nguyên, và cái sử dụng điều ấy hiện diện trong thể trí của y. Tuy nhiên, một trong những nhu cầu chính yếu trước mắt các người chí nguyện huyền bí vào lúc này là cố gắng tư tưởng trong [450] các thuật ngữ của Thực Tại duy nhất, vốn chính là Năng Lượng và không gì khác. Vì vậy, trong các cuộc bàn luận của chúng ta về đề tài thâm áo này, việc nhấn mạnh sự kiện rằng tinh thần và năng lượng là những thuật ngữ đồng nghĩa và có thể thay thế cho nhau là điều có giá trị. Chỉ trong sự chứng nghiệm điều này, chúng ta mới có thể đạt đến sự hòa giải giữa khoa học và tôn giáo, và đến một sự thấu hiểu chân thực về thế giới của các hiện tượng đang hoạt động bao quanh chúng ta và trong đó chúng ta vận hành.
|
|
The terms organic and inorganic are largely responsible for much of the confusion, and the sharp differentiation existing in the minds of many people between body and spirit, between life and form, have led to a refusal to admit the essential identity in nature of these two. The world in which we live is regarded by the majority as really solid and tangible, yet possessing some mysterious power lying concealed within it which produces movement, activity and change. This is of course putting it crudely but it suffices to sum up the unintelligent attitude.
|
Các thuật ngữ hữu cơ và vô cơ chịu trách nhiệm phần lớn cho nhiều sự lẫn lộn; và sự biến phân sắc bén hiện hữu trong thể trí của nhiều người giữa thân thể và tinh thần, giữa sự sống và hình tướng, đã dẫn đến việc từ chối thừa nhận sự đồng nhất căn bản về bản chất của hai điều này. Thế giới trong đó chúng ta sống được đa số xem là thật sự rắn chắc và hữu hình, nhưng lại sở hữu một quyền năng huyền bí nào đó ẩn giấu bên trong, tạo ra chuyển động, hoạt động và biến đổi. Dĩ nhiên, nói như vậy là thô sơ, nhưng đủ để tóm lược thái độ thiếu trí tuệ.
|
|
The orthodox scientist is largely occupied with structures, relationships, with the composition of form and with the activity produced by the component form parts and their interrelations and dependencies. The chemicals and elements and the functions and parts they play, and their mutual interactions as they compose all forms in all the kingdoms of nature are the subject of their investigation. The nature of the atom, of the molecule and the cell, their functions, the qualities of their force manifestations and the varying types of activity, the solving of the problem as to the character and nature of the energies—focalised or localised in the differing forms of the natural or material world—demand the consideration of the ablest minds in the world of thought. Yet the questions—What is Life? What is Energy? or What is the process of Becoming and the nature of Being? remain unanswered. The problem as to the why and the [451] wherefore is regarded as fruitless and speculative, almost insoluble.
|
Nhà khoa học chính thống phần lớn bận tâm đến các cấu trúc, các mối quan hệ, thành phần của hình tướng và hoạt động do các phần cấu thành hình tướng cùng những tương quan và phụ thuộc lẫn nhau của chúng tạo ra. Các hóa chất và nguyên tố, các chức năng và vai trò của chúng, cùng những tương tác lẫn nhau của chúng khi chúng cấu thành mọi hình tướng trong tất cả các giới của thiên nhiên, là đối tượng nghiên cứu của họ. Bản chất của nguyên tử, phân tử và tế bào, các chức năng của chúng, các phẩm tính trong những biểu hiện mãnh lực của chúng và các loại hoạt động khác nhau; việc giải quyết vấn đề về tính chất và bản chất của các năng lượng—được hội tụ hay định vị trong các hình tướng khác nhau của thế giới tự nhiên hay vật chất—đòi hỏi sự chú tâm của những thể trí ưu tú nhất trong thế giới tư tưởng. Tuy nhiên, các câu hỏi: Sự Sống là gì? Năng Lượng là gì? hay Tiến trình Đang Trở Thành và bản chất của Bản Thể là gì? vẫn chưa được trả lời. Vấn đề về lý do và căn nguyên [451] được xem là vô ích và tư biện, gần như không thể giải quyết.
|
|
Nevertheless, to the pure reason and through the correct functioning of the intuition, these problems can be solved and these questions answered. Their solution is one of the ordinary revelations and attainments of initiation. The only true biologists are the initiates of the mysteries, for they have an understanding of life and its purpose and are so identified with the life principle that they think and speak in terms of energy and its effects, and all their activities, in connection with the work of the planetary Hierarchy, are based on a few fundamental formulas which concern life as it makes itself felt through its three differentiations or aspects: —energy, force, matter.
|
Tuy vậy, đối với lý trí thuần túy và nhờ sự vận hành đúng đắn của trực giác, các vấn đề này có thể được giải quyết và các câu hỏi này có thể được trả lời. Sự giải quyết chúng là một trong những mặc khải và thành tựu thông thường của điểm đạo. Những nhà sinh học chân chính duy nhất là các điểm đạo đồ của các bí nhiệm, vì các vị ấy có sự thấu hiểu về sự sống và mục đích của nó, và đồng hóa với nguyên khí sự sống đến mức các vị ấy tư tưởng và nói năng bằng những thuật ngữ của năng lượng và các hiệu quả của nó; và mọi hoạt động của các vị ấy, liên hệ với công việc của Thánh đoàn hành tinh, đều dựa trên một vài công thức căn bản liên quan đến sự sống khi nó khiến chính nó được cảm nhận qua ba biến phân hay phương diện của nó: năng lượng, mãnh lực, vật chất.
|
|
It should be noted here that only as a man understands himself can he arrive at an understanding of that which is the sum total that we call God. This is a truism and an occult platitude, but when acted upon leads to a revelation which makes the present “Unknown God” a recognised Reality. Let me illustrate:
|
Ở đây cần lưu ý rằng chỉ khi con người thấu hiểu chính mình, y mới có thể đạt đến sự thấu hiểu về cái tổng thể mà chúng ta gọi là Thượng đế. Đây là một chân lý hiển nhiên và là một lời nói quen thuộc trong huyền bí học, nhưng khi được đem ra thực hành, nó dẫn đến một sự mặc khải khiến “Thượng đế Chưa Biết” hiện nay trở thành một Thực Tại được nhận biết. Hãy để tôi minh họa:
|
|
Man knows himself to be a living being and calls death that mysterious process wherein that something, which he commonly designates as the breath of life, is withdrawn. On its withdrawal, the form disintegrates. The cohesive vitalising force is gone, and this produces that falling apart into its essential elements of that which has hitherto been regarded as the body.
|
Con người biết mình là một sinh thể sống và gọi cái tiến trình huyền bí, trong đó một điều gì đó mà y thường gọi là hơi thở sự sống được rút lui, là cái chết. Khi nó rút lui, hình tướng tan rã. Mãnh lực cố kết và tiếp sinh lực đã ra đi, và điều này tạo ra sự phân rã thành các nguyên tố cơ bản của cái cho đến lúc ấy vẫn được xem là thể xác.
|
|
This life principle, this basic essential of being and this mysterious elusive factor is the correspondence in man of that which we call spirit or life in the macrocosm. Just as the life in man holds together, animates, vitalises and drives into activity the form and so makes of him a living being, so the life of God—as the Christian calls it—performs the same purpose in the universe and produces [452] that coherent, living, vital ensemble which we call a solar system.
|
Nguyên khí sự sống này, yếu tính căn bản này của hiện hữu và yếu tố huyền bí khó nắm bắt này, là tương ứng trong con người của điều mà chúng ta gọi là tinh thần hay sự sống trong Đại thiên địa. Cũng như sự sống trong con người giữ hình tướng lại với nhau, làm nó sinh động, tiếp sinh lực cho nó và thúc đẩy nó hoạt động, nhờ đó khiến y thành một sinh thể sống, thì sự sống của Thượng đế—như người Kitô hữu gọi—cũng thực hiện cùng mục đích ấy trong vũ trụ và tạo nên [452] tổng hợp cố kết, sống động và đầy sinh lực mà chúng ta gọi là một hệ mặt trời.
|
|
This life principle in man manifests in a triple manner:
|
Nguyên khí sự sống này trong con người biểu hiện theo ba cách:
|
|
1. As the directional will, purpose, basic incentive. This is the dynamic energy which sets the being functioning, brings him into existence, sets the term of his life, carries him through the years, long or short, and abstracts itself at the close of his life cycle. This is the spirit in man, manifesting as the will to live, to be, to act, to pursue, to evolve. In its lowest aspect this works through the mental body or nature, and in connection with the dense physical makes itself felt through the brain.
|
1. Như ý chí định hướng, mục đích, động cơ căn bản. Đây là năng lượng năng động khiến sinh thể vận hành, đưa y vào hiện hữu, ấn định thời hạn đời sống của y, đưa y đi qua những năm tháng, dài hay ngắn, và tự rút lui vào cuối chu kỳ đời sống của y. Đây là tinh thần trong con người, biểu hiện như ý chí muốn sống, muốn hiện hữu, muốn hành động, muốn theo đuổi, muốn tiến hóa. Ở phương diện thấp nhất của nó, điều này hoạt động qua thể trí hay bản chất trí tuệ, và trong liên hệ với thể xác đậm đặc, nó khiến chính nó được cảm nhận qua bộ não.
|
|
2. As the coherent force. It is that significant essential quality which makes each man different, which produces that complex manifestation of moods, desires, qualities, complexes, inhibitions, feelings and characteristics which produce a man’s peculiar psychology. This is the result of the interplay between the spirit or energy aspect, and the matter or body nature. This is the distinctive subjective man, his colouring, or individual note; this it is which sets the rate of vibratory activity of his body, produces his particular type of form, is responsible for the condition and nature of his organs, his glands, and his outer aspect. This is the soul and—in its lowest aspect—it works through the emotional or astral nature and in connection with the dense physical, through the heart.
|
2. Như mãnh lực cố kết. Đó là phẩm tính thiết yếu đầy thâm nghĩa khiến mỗi người khác biệt, tạo ra biểu hiện phức tạp của các tâm trạng, dục vọng, phẩm tính, phức cảm, ức chế, cảm giác và đặc điểm vốn tạo nên tâm lý riêng biệt của một người. Đây là kết quả của sự tương tác giữa phương diện tinh thần hay năng lượng, và bản chất vật chất hay thân thể. Đây là con người chủ quan đặc thù, sắc thái hay âm điệu cá nhân của y; chính điều này ấn định tốc độ hoạt động rung động của thể xác y, tạo ra loại hình tướng riêng của y, chịu trách nhiệm về tình trạng và bản chất của các cơ quan, các tuyến và phương diện bên ngoài của y. Đây là linh hồn và—ở phương diện thấp nhất—nó hoạt động qua bản chất cảm xúc hay cảm dục, và trong liên hệ với thể xác đậm đặc, qua trái tim.
|
|
3. As the activity of the atoms and cells of which the physical body is composed. It is the sum total of those little lives of which the human organs, comprising the entire man are composed. These have a life of their own and a consciousness which is strictly individual and identified. This aspect of the life principle works through [453] the etheric or vital body and in connection with the solid mechanism of the tangible form through the spleen.
|
3. Như hoạt động của các nguyên tử và tế bào cấu thành thể xác. Đó là tổng thể của những sự sống nhỏ bé mà các cơ quan của con người, hợp thành toàn bộ con người, được cấu tạo nên. Chúng có sự sống riêng của chúng và một tâm thức nghiêm ngặt cá biệt và đồng hóa. Phương diện này của nguyên khí sự sống hoạt động qua [453] thể dĩ thái hay thể sinh lực, và trong liên hệ với bộ máy rắn chắc của hình tướng hữu hình, qua lá lách.
|
|
It is not, of course, possible to give the mantric words and phrases which are mentioned in Rule XI. They would be profoundly incomprehensible to all but the initiate, and therefore need not engross our attention. It should be noted that much in these Instructions is in advance of modern thought and both these Instructions and the Treatise on Cosmic Fire will only be fully understood towards the end of this century.
|
Dĩ nhiên, không thể trao ra các lời và cụm từ mantram được đề cập trong Quy Luật XI. Chúng sẽ hoàn toàn không thể hiểu được đối với tất cả, ngoại trừ điểm đạo đồ, và vì vậy không cần chiếm lấy sự chú tâm của chúng ta. Cần lưu ý rằng nhiều điều trong các Huấn Thị này vượt trước tư tưởng hiện đại, và cả các Huấn Thị này lẫn Luận về Lửa Vũ Trụ sẽ chỉ được thấu hiểu trọn vẹn vào cuối thế kỷ này.
|
|
Let us consider this rule sentence by sentence, and arrive at that one of the interpretations which is the easiest for the average aspirant. All these rules can be read from the standpoint of intelligent man, and will mean but little; they can be read from the standpoint of the aspirant, and will then convey certain practical ideas which are susceptible of daily application and can be wrought out in the crucible of life experience. They will achieve meaning as the aspirant learns to handle energies, to work in mental matter and to cooperate creatively with the Purpose underlying the evolutionary plan. From the angle of vision of the disciple, these Rules carry certain potent instructions and will lead him to an understanding of the process of the creative work in nature, which is necessarily sealed to the mind of the aspirant. As to the comprehension of the initiate, these words convey definite commands which only his illumined intuition can rightly interpret. With the higher grades of intelligences we need not concern ourselves. We will consider this Rule therefore solely from the angle of vision of the average aspirant, leaving other interpretations to those individuals who have the internal equipment which will enable them to understand.
|
Chúng ta hãy xem xét quy luật này từng câu một, và đi đến một trong những diễn giải dễ nhất đối với người chí nguyện trung bình. Tất cả các quy luật này có thể được đọc từ quan điểm của con người có trí tuệ, và sẽ chỉ hàm nghĩa rất ít; chúng có thể được đọc từ quan điểm của người chí nguyện, và khi đó sẽ truyền đạt một số ý tưởng thực tiễn có thể áp dụng hằng ngày và có thể được thực hiện trong lò luyện của kinh nghiệm sống. Chúng sẽ đạt được ý nghĩa khi người chí nguyện học cách vận dụng các năng lượng, làm việc trong vật chất cõi trí và cộng tác một cách sáng tạo với Thiên Ý nằm bên dưới thiên cơ tiến hóa. Từ góc nhìn của đệ tử, các Quy Luật này mang một số huấn thị đầy quyền năng và sẽ dẫn y đến sự thấu hiểu về tiến trình của công việc sáng tạo trong thiên nhiên, điều tất yếu bị niêm kín đối với thể trí của người chí nguyện. Đối với sự lĩnh hội của điểm đạo đồ, những lời này truyền đạt các mệnh lệnh xác định mà chỉ trực giác đã được soi sáng của y mới có thể diễn giải đúng. Chúng ta không cần bận tâm đến các cấp trí tuệ cao hơn. Vì vậy, chúng ta sẽ xem xét Quy Luật này chỉ từ góc nhìn của người chí nguyện trung bình, để các diễn giải khác lại cho những cá nhân có trang bị nội tại giúp họ thấu hiểu.
|
|
I. Ascertain the formula which will confine the lives within the ensphering wall.
|
I. Xác định công thức sẽ giam giữ các sự sống trong bức tường bao quanh thành khối cầu.
|
|
All forms in nature, as we well know, are made up of [454] myriads of tiny lives, holding a certain measure of awareness, of rhythm, and of coherency according to the force of the Law of Attraction, utilized by the builder of the form. This is true both of the Macrocosm and of the infinite world of microcosmic lives, which are contained within the greater whole. Embryo solar systems, coming into being under the impulse of divine thought, are at first fluidic and nebulous, are shifting in outline and are held together loosely by the central nucleus of energy—another way of expressing the embodied idea. As time progresses, they pass on to other conditions, they take more definite form, they enter into peculiar relations with allied and neighbouring forms, and adjust themselves to varying relations of an internal nature with those forms, which in the earlier stage was not possible. Eventually we find a solar system such as ours and myriads of others—a solar system functioning as a sun with its revolving and rotating planets, preserving their differing orbits, holding their stated and relative positions, active as independent and inter-dependent organisms, and yet presenting, to the eye of the astronomer, a coherence, a unity and a structure that is unique in each case and yet which functions under cosmic law. It measures up to some vast purpose, conceived and held steadily in the Universal Mind, which is in its turn an aspect of that group-conscious and self-conscious entity who is the author of its being and the creator of its form.
|
Như chúng ta đều biết rõ, mọi hình tướng trong thiên nhiên được cấu thành bởi [454] vô số sự sống nhỏ bé, nắm giữ một mức độ nhận biết, nhịp điệu và cố kết nào đó tùy theo mãnh lực của Định luật Hấp Dẫn được đấng kiến tạo hình tướng sử dụng. Điều này đúng với cả Đại thiên địa lẫn thế giới vô tận của các sự sống tiểu thiên địa được chứa đựng trong toàn thể lớn hơn. Các hệ mặt trời phôi thai, đi vào hiện hữu dưới xung lực của tư tưởng thiêng liêng, lúc đầu linh động và mờ sương, đường nét thay đổi và được giữ lại với nhau một cách lỏng lẻo bởi hạt nhân năng lượng trung tâm—một cách khác để diễn đạt ý tưởng được hiện thân. Khi thời gian trôi qua, chúng chuyển sang những tình trạng khác, khoác lấy hình tướng xác định hơn, đi vào những mối quan hệ đặc thù với các hình tướng liên hệ và lân cận, và tự điều chỉnh theo những mối quan hệ khác nhau có tính nội tại với các hình tướng ấy, điều mà ở giai đoạn ban đầu là không thể. Cuối cùng, chúng ta thấy một hệ mặt trời như hệ của chúng ta và vô số hệ khác—một hệ mặt trời vận hành như một mặt trời với các hành tinh xoay quanh và tự quay, duy trì các quỹ đạo khác nhau, giữ các vị trí đã định và tương đối của chúng, hoạt động như những cơ cấu sống độc lập và tương thuộc, nhưng đồng thời, đối với mắt nhà thiên văn, trình hiện một sự cố kết, một sự hợp nhất và một cấu trúc độc nhất trong mỗi trường hợp, nhưng vẫn vận hành theo định luật vũ trụ. Nó đáp ứng một mục đích rộng lớn nào đó, được hình thành và nắm giữ vững vàng trong Vũ Trụ Trí, vốn đến lượt nó là một phương diện của thực thể có tâm thức nhóm và ngã thức, là tác giả của hiện hữu của nó và là đấng sáng tạo hình tướng của nó.
|
|
This one intelligent Life may be posited as creating in his meditation (or its, if you prefer, for what do words matter when all is futile to express reality as it is!) and consequently in his reflective mind, that which we call a thought-form. This thought-form has four main characteristics:
|
Có thể giả định rằng Sự sống thông tuệ duy nhất này sáng tạo trong tham thiền của Ngài, hay của Nó nếu các bạn thích, vì lời nói có nghĩa gì khi tất cả đều bất lực trong việc diễn đạt thực tại đúng như nó là, và do đó trong thể trí phản chiếu của Ngài, điều mà chúng ta gọi là một hình tư tưởng. Hình tư tưởng này có bốn đặc tính chính:
|
|
1. It is brought into being through the conscious use of the Law of Attraction. [455]
|
1. Nó được đưa vào hiện hữu nhờ việc sử dụng có ý thức Định luật Hấp Dẫn. [455]
|
|
2. It is formed of an infinite number of living entities who are attracted by the mind of the divine Creator and thus enter into relation with each other.
|
2. Nó được tạo thành từ vô số thực thể sống bị thể trí của Đấng Sáng Tạo thiêng liêng thu hút, và do đó đi vào liên hệ với nhau.
|
|
3. The form is the externalization of something that its Creator has:
|
3. Hình tướng là sự ngoại hiện của một điều mà Đấng Sáng Tạo của nó đã:
|
|
a. Visualized.
|
a. Hình dung.
|
|
b. Built intelligently and “coloured” or “qualified”, so as to meet the purpose for which it was intended.
|
b. Kiến tạo một cách thông tuệ và “nhuộm màu” hay “định phẩm”, để đáp ứng mục đích mà nó được dự định phục vụ.
|
|
c. Vitalized by the potency of his desire and the strength of his living thought.
|
c. Tiếp sinh lực bằng quyền năng dục vọng của Ngài và sức mạnh tư tưởng sống động của Ngài.
|
|
d. Held in shape as long as it is needed in order to perform its specific work.
|
d. Giữ trong hình dạng chừng nào nó còn cần thiết để thực hiện công việc riêng biệt của nó.
|
|
e. Connected to himself by a magnetic thread—the thread of his living purpose and the strength of his dominant will.
|
e. Nối kết với chính Ngài bằng một sợi dây từ tính—sợi dây của mục đích sống động của Ngài và sức mạnh của ý chí chủ đạo của Ngài.
|
|
4. This interior purpose, which has clothed itself in mental, astral and vital substance, is potent on the physical plane just as long as:
|
4. Mục đích nội tại này, vốn đã khoác lấy chất liệu cõi trí, cảm dục và sinh lực, có quyền năng trên cõi hồng trần chừng nào:
|
|
a. It remains consciously in its Creator’s thought.
|
a. Nó vẫn còn ở trong tư tưởng có ý thức của Đấng Sáng Tạo của nó.
|
|
b. It “keeps its distance” occultly from its Creator. Many thought-forms remain futile as they are “too close” to their Creator.
|
b. Nó “giữ khoảng cách” theo nghĩa huyền bí với Đấng Sáng Tạo của nó. Nhiều hình tư tưởng vẫn vô hiệu vì chúng “quá gần” Đấng Sáng Tạo của chúng.
|
|
c. It can be directed in any desired direction, and under the law of least resistance, can find its own place, thus performing its desired function and carrying out the purpose for which it was created.
|
c. Nó có thể được hướng theo bất cứ chiều hướng mong muốn nào, và theo định luật ít trở ngại nhất, có thể tìm được vị trí riêng của nó, nhờ đó thực hiện chức năng mong muốn và thi hành mục đích mà nó đã được tạo ra để phục vụ.
|
|
The “formula” therefore might be regarded as the idea emanating from the divine Thinker; it might be defined as the dynamic purpose, the “thing” as the Thinker sees it and externalizes it in his mind, and visualizes it as the carrier of his intent. The mathematics which underlie the construction of a bridge, such as any of the great spans which signalize human achievement, convey [456] naught to the uninitiated, but to those who know and understand, they are the bridge itself, reduced to its essential terms. They are the bridge in latency, and in these mathematical formulas lie hid the purpose, the quality and the form of the completed structure and its eventual usefulness. So it is with the concepts and the ideas which give birth to a thought-form. These occult formulas exist on the archetypal plane which (for the aspirant) is the plane of the intuition, though in reality it is a state of consciousness far higher still. These formulas underlie a world of forms and must be contacted by those who are duly equipped to work under the Great Architect of the Universe. There are, symbolically speaking, three great books of formulas. Note the words “symbolically speaking”, and forget them not. There is first the Book of Life, read and eventually mastered by initiates of all degrees. There is the Book of Divine Wisdom, read by aspirants of all degrees, sometimes called the Book of Knowing Experience, and there is the Book of Forms which is compulsory reading for all in whom the intelligence is awakening to functioning activity. It is with the Book of Forms that we are now concerned.
|
Vì vậy, “công thức” có thể được xem như ý tưởng xuất lộ từ Đấng Tư Tưởng thiêng liêng; nó có thể được định nghĩa là mục đích năng động, là “sự vật” như Đấng Tư Tưởng thấy nó và ngoại hiện nó trong thể trí của Ngài, rồi hình dung nó như vật mang ý định của Ngài. Toán học nằm bên dưới việc xây dựng một cây cầu, chẳng hạn bất cứ nhịp cầu lớn nào đánh dấu thành tựu của con người, chẳng truyền đạt [456] điều gì cho người chưa được điểm đạo; nhưng đối với những ai biết và thấu hiểu, chúng chính là cây cầu, được quy giảm thành các thuật ngữ thiết yếu của nó. Chúng là cây cầu ở trạng thái tiềm tàng, và trong các công thức toán học này ẩn giấu mục đích, phẩm tính và hình tướng của cấu trúc hoàn tất cùng tính hữu dụng sau cùng của nó. Đối với các quan niệm và ý tưởng sinh ra một hình tư tưởng cũng vậy. Các công thức huyền bí này hiện hữu trên cõi nguyên mẫu, cõi mà đối với người chí nguyện là cõi của trực giác, dù trong thực tại nó còn là một trạng thái tâm thức cao hơn rất nhiều. Các công thức này nằm bên dưới một thế giới hình tướng và phải được tiếp xúc bởi những ai được trang bị đúng mức để làm việc dưới quyền Kiến Trúc Sư Vĩ Đại của Vũ Trụ. Nói theo biểu tượng, có ba quyển sách lớn về các công thức. Hãy lưu ý những lời “nói theo biểu tượng”, và đừng quên chúng. Trước hết có Sách Sự Sống, được các điểm đạo đồ thuộc mọi cấp đọc và cuối cùng làm chủ. Có Sách Minh Triết Thiêng Liêng, được các người chí nguyện thuộc mọi cấp đọc, đôi khi được gọi là Sách Kinh Nghiệm Hiểu Biết; và có Sách Hình Tướng, là sách đọc bắt buộc đối với tất cả những ai mà trí tuệ đang thức tỉnh vào hoạt động vận hành. Chính Sách Hình Tướng là điều chúng ta hiện đang quan tâm.
|
|
Patanjali speaks in one place of the “rain-cloud of knowable things” of which the soul is consciously aware. The aspirant, weary of the eternal round of his own futile and unimportant thoughts, seeks to tap the resources of this “rain cloud” and so precipitate upon the earth some of the thoughts of God. He seeks to work so that he can further the manifestation of the ideas of the Creator. To do this he has to fulfill certain initial requirements, which might be briefly stated as follows:
|
Ở một chỗ, Patanjali nói về “đám mây mưa của những điều khả tri” mà linh hồn có ý thức nhận biết. Người chí nguyện, mệt mỏi vì vòng quay bất tận của những tư tưởng vô ích và không quan trọng của chính mình, tìm cách khai thác các nguồn lực của “đám mây mưa” này, và nhờ đó ngưng tụ xuống Trái Đất một số tư tưởng của Thượng đế. Y tìm cách làm việc để có thể thúc đẩy sự biểu hiện các ý tưởng của Đấng Sáng Tạo. Để làm điều này, y phải hoàn thành một số yêu cầu ban đầu, có thể được nêu vắn tắt như sau:
|
|
1. Know the true meaning of meditation.
|
1. Biết ý nghĩa chân thực của tham thiền.
|
|
2. Align with facility the soul, the mind and the brain.
|
2. Chỉnh hợp dễ dàng linh hồn, thể trí và bộ não.
|
|
3. Contemplate, or function as the soul on its own plane. It then becomes possible for the soul to act [457] as the intermediary between the plane of divine ideas and the mental plane. You see how this matter of participation in the divine creative process works out as the objective of all true meditation work?
|
3. Chiêm ngưỡng, hay vận hành như linh hồn trên cõi riêng của nó. Khi đó, linh hồn có thể hoạt động [457] như trung gian giữa cõi của các ý tưởng thiêng liêng và cõi trí. Các bạn thấy vấn đề tham dự vào tiến trình sáng tạo thiêng liêng này được thực hiện như mục tiêu của mọi công việc tham thiền chân chính như thế nào?
|
|
4. Register the idea, received by the soul intuitively, and recognize the form which it should take. These last seven words are of vital importance.
|
4. Ghi nhận ý tưởng mà linh hồn tiếp nhận bằng trực giác, và nhận ra hình tướng mà nó phải khoác lấy. Bảy từ sau cùng ấy có tầm quan trọng thiết yếu.
|
|
5. Reduce the vague and misty idea to its essentials, discarding all vain imaginings and the formulations of the lower mind, so equipping oneself to leap readily into activity, and, through steadfastness in contemplation, receive accurately the vision of the inner structure, or of the subjective skeleton, if I may so term it, of the form which is to be.
|
5. Quy giảm ý tưởng mơ hồ và mờ sương về các yếu tính của nó, loại bỏ mọi tưởng tượng hão huyền và các tạo lập của hạ trí, nhờ đó trang bị cho chính mình để sẵn sàng lao vào hoạt động, và nhờ sự kiên định trong chiêm ngưỡng, tiếp nhận chính xác linh ảnh về cấu trúc bên trong, hay khung xương chủ quan, nếu tôi có thể gọi như vậy, của hình tướng sẽ thành hình.
|
|
6. This, as recorded consciously by the soul upon the mind, is as consciously registered by the mind, held steady in the light, and might be regarded as the reduction of the formula to the blue print. It is not the formula itself, but the secondary process. According to the strength, the simplicity and the clarity of the embodiment of the formula in a simple outlined structure, so will be the finally furnished building and the consequent form, which will confine within the periphery of the outer form itself the lives used in its construction.
|
6. Điều này, khi được linh hồn ghi nhận một cách có ý thức trên thể trí, thì cũng được thể trí ghi nhận một cách có ý thức, giữ vững trong ánh sáng, và có thể được xem như sự quy giảm công thức thành bản thiết kế. Nó không phải là chính công thức, mà là tiến trình thứ yếu. Tùy theo sức mạnh, sự đơn giản và sự rõ ràng của việc hiện thân công thức trong một cấu trúc phác thảo đơn giản, mà công trình sau cùng được hoàn thiện và hình tướng hệ quả sẽ tương ứng, hình tướng ấy sẽ giam giữ trong chu vi của chính hình tướng bên ngoài các sự sống được dùng trong việc kiến tạo nó.
|
|
This, in reality, resembles the stage of conception. Latent within the germ (the result of male-female interrelation) lie all the potencies and capacities of the finished product. Latent within the idea which has been materially conceived, but which has been inspired by the Spirit aspect, lie hid the potencies of the finished thoughtforms. The matter aspect, represented by the mind, has been fecundated by the Spirit aspect, and the triplicity [458] will eventually be completed by the created form. But in the early stages there is as yet only the “formula”—the conceived idea, the latent yet dynamic concept. It is potent enough to draw to itself the essentials for growth and form, yet who shall say whether it will prove an abortion, a mediocre and feeble product, or a creation of real beauty and value?
|
Trong thực tại, điều này giống với giai đoạn thụ thai. Tiềm ẩn trong mầm giống, là kết quả của tương quan nam-nữ, có tất cả các tiềm lực và khả năng của sản phẩm hoàn tất. Tiềm ẩn trong ý tưởng đã được thụ thai một cách vật chất, nhưng được phương diện Tinh thần truyền cảm hứng, có các tiềm lực của các hình tư tưởng hoàn tất. Phương diện vật chất, được thể trí đại diện, đã được phương diện Tinh thần thụ tinh, và bộ ba [458] cuối cùng sẽ được hoàn tất bởi hình tướng được sáng tạo. Nhưng trong các giai đoạn đầu, vẫn chỉ có “công thức”—ý tưởng được thụ thai, quan niệm tiềm tàng nhưng năng động. Nó đủ mạnh để thu hút về mình các yếu tính cần cho sự tăng trưởng và hình tướng; tuy nhiên ai có thể nói liệu nó sẽ chứng tỏ là một sự sẩy thai, một sản phẩm tầm thường và yếu ớt, hay một tạo vật có vẻ đẹp và giá trị thực sự?
|
|
Every externalized idea is, therefore, possessed of form, animated by desire, and created by the power of the mind. The desire plane is the one upon which the mind imposes its conceptions in order to produce the “idea incarnate”, to clothe the idea in form. It is therefore the gestation ground. The mind previously has been the recipient of the archetypal idea, as grasped and visualized by the soul. In its turn the soul is the recipient of the formula as presented to it in the world of ideas. You have thus the “presented-idea”, the “perceived-idea” and the “formulated-idea”, and the idea working out into manifestation.
|
Vì vậy, mọi ý tưởng được ngoại hiện đều sở hữu hình tướng, được dục vọng làm cho sinh động, và được tạo ra bởi quyền năng của thể trí. Cõi dục vọng là cõi mà trên đó thể trí áp đặt các quan niệm của nó để tạo ra “ý tưởng nhập thể”, để khoác cho ý tưởng hình tướng. Vì vậy, đó là nền đất thai nghén. Trước đó, thể trí đã là nơi tiếp nhận ý tưởng nguyên mẫu, như linh hồn nắm bắt và hình dung. Đến lượt mình, linh hồn là nơi tiếp nhận công thức khi nó được trình bày cho linh hồn trong thế giới các ý tưởng. Như vậy các bạn có “ý tưởng được trình hiện”, “ý tưởng được tri nhận” và “ý tưởng được công thức hóa”, cùng ý tưởng đang tự triển khai vào biểu hiện.
|
|
It is well to bear in mind that the following factors govern the emergence of the idea out of the Universal Mind into the world of tangible forms. These are:
|
Cần ghi nhớ rằng các yếu tố sau chi phối sự xuất hiện của ý tưởng từ Vũ Trụ Trí vào thế giới của các hình tướng hữu hình. Đó là:
|
|
1. The energies emanating from the archetypal plane. This plane is the focus of the attention of the highest group of Intelligences on our planet. Their consciousness can respond and be inclusive to this sphere of activity whereon the Mind of God expresses itself, free from the limitations of what we understand as form. They are the custodians of the formula; they are the mathematicians who prepare the blue prints of the great Plan; they calculate the effects of the forces with which the work is carried forward, and the energies which must be manipulated; they allow for the strains and stresses to which the forms must be subjected under the impact of the life force, they deal with the cyclic impulses to which the evolutionary process must respond; they concern [459] themselves with the relation between the form aspect and the life urge.
|
1. Các năng lượng xuất lộ từ cõi nguyên mẫu. Cõi này là tiêu điểm chú tâm của nhóm các Trí Tuệ cao nhất trên hành tinh chúng ta. Tâm thức của Các Ngài có thể đáp ứng với và bao gồm lĩnh vực hoạt động này, nơi Trí của Thượng đế tự biểu lộ, tự do khỏi những giới hạn của điều chúng ta thấu hiểu là hình tướng. Các Ngài là những vị bảo trì công thức; các Ngài là những nhà toán học chuẩn bị các bản thiết kế của Thiên Cơ vĩ đại; các Ngài tính toán các hiệu quả của những mãnh lực nhờ đó công việc được tiến hành, và các năng lượng phải được điều khiển; các Ngài dự liệu những sức căng và áp lực mà các hình tướng phải chịu dưới tác động của mãnh lực sự sống; các Ngài xử lý các xung lực chu kỳ mà tiến trình tiến hóa phải đáp ứng; các Ngài quan tâm [459] đến mối quan hệ giữa phương diện hình tướng và thôi thúc sự sống.
|
|
2. The intuitional state of awareness. On this level of consciousness, we find the Masters of the Wisdom carrying on Their work, and it is in this sphere of influence that They work with the greatest ease and facility, as much so as does normally intelligent man work on the physical plane. Their minds are constantly in touch with the archetypal minds, who are the custodians of the formulas, and They—taking the blue prints (I speak again in symbolic fashion), deal with the specifications, look for those suitable for the control of the work, and assemble the needed personnel. Among Their disciples They search until They find the one most suited to be the focal point of information on the physical plane, or the group most eligible to carry into manifestation the desired part of the Plan. They work with those so chosen, impressing upon their minds that eternal triplicity of idea-quality-form until the details begin to emerge, and the work of what is literally a “precipitation” can go forward.
|
2. Trạng thái nhận biết trực giác. Trên cấp độ tâm thức này, chúng ta thấy các Chân sư Minh Triết tiếp tục công việc của Các Ngài, và chính trong phạm vi ảnh hưởng này Các Ngài làm việc với sự dễ dàng và thuận tiện lớn nhất, cũng như con người thông tuệ bình thường làm việc trên cõi hồng trần. Thể trí của Các Ngài thường xuyên tiếp xúc với các thể trí nguyên mẫu, là những vị bảo trì các công thức; và Các Ngài—tiếp nhận các bản thiết kế, tôi lại nói theo lối biểu tượng—xử lý các quy cách, tìm những người thích hợp cho việc kiểm soát công việc, và tập hợp nhân sự cần thiết. Trong số các đệ tử của Các Ngài, Các Ngài tìm kiếm cho đến khi tìm được người thích hợp nhất để làm tiêu điểm thông tin trên cõi hồng trần, hoặc nhóm đủ điều kiện nhất để đưa phần mong muốn của Thiên Cơ vào biểu hiện. Các Ngài làm việc với những người được chọn như vậy, in sâu vào thể trí họ bộ ba vĩnh cửu của ý tưởng-phẩm tính-hình tướng, cho đến khi các chi tiết bắt đầu xuất hiện, và công việc đúng nghĩa là một sự “ngưng tụ” có thể tiến hành.
|
|
3. The activity of the mental state of consciousness. It is on the mental plane that much of this work is necessarily done, and here is reason sufficient for the development, on the part of the aspirant, of a trained intellect. The “rain cloud of knowable things” precipitates first of all on the mental plane, and a further precipitation goes forward when disciples and aspirants are the recipients. These latter, in their turn, seek to impress and guide the lesser workers and aspirants, who, karmically or by choice, lie within their radius of influence. Thus the “idea” presented is seized upon by many minds and the formula aspect of the great work has played its part.
|
3. Hoạt động của trạng thái tâm thức cõi trí. Chính trên cõi trí mà phần lớn công việc này nhất thiết được thực hiện, và đây là lý do đủ cho việc người chí nguyện phát triển một trí năng được rèn luyện. “Đám mây mưa của những điều khả tri” trước hết ngưng tụ trên cõi trí, và một sự ngưng tụ xa hơn diễn ra khi các đệ tử và người chí nguyện là những người tiếp nhận. Đến lượt mình, những người sau này tìm cách tạo ấn tượng và hướng dẫn những người hoạt động cấp dưới và các người chí nguyện, những người, do nghiệp quả hoặc do lựa chọn, nằm trong phạm vi ảnh hưởng của họ. Như vậy, “ý tưởng” được trình hiện được nhiều thể trí nắm lấy, và phương diện công thức của công việc vĩ đại đã đóng phần của nó.
|
|
It will be seen how this work is consequently and essentially group work, and is therefore only truly possible for those who have somewhat mastered the meditation [460] process, and can “hold the mind steady in the light”. This light in reality streams forth from the Universal Mind and is of varying kinds and was (esoterically speaking) generated in a previous solar system and must be used and developed in this one.
|
Do đó, sẽ thấy rằng công việc này, về bản chất và tất yếu, là công việc nhóm, và vì vậy chỉ thật sự khả thi đối với những ai đã phần nào làm chủ tiến trình tham thiền [460] và có thể “giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng”. Ánh sáng này trong thực tại tuôn ra từ Vũ Trụ Trí và có nhiều loại khác nhau; nói một cách huyền bí, nó đã được tạo sinh trong một hệ mặt trời trước và phải được sử dụng, phát triển trong hệ này.
|
|
In the words “the light of the intuition” we have conveyed to our minds that type of energy which embodies the purpose, the will of God, the Plan, as we regard it. In the words “the light of the soul”, we have an expression which sums up the purpose, the plan, the will of those entities, who, incarnated in human form, and at times functioning out of the body, have the responsibility of materializing the divine concepts in the four kingdoms in nature. The human kingdom is, par excellence, the medium of expression for the Universal Mind, and when the sons of God in human form are perfected, the problems of the natural world will be solved in a large measure. The fully conscious sons of God, aware of themselves whilst in the human form (and they are few as yet), constitute literally the brain of the planetary life.
|
Trong những lời “ánh sáng của trực giác”, chúng ta đã truyền đạt vào thể trí mình loại năng lượng hiện thân cho mục đích, Ý Chí của Thượng Đế, Thiên Cơ, như chúng ta nhìn nhận. Trong những lời “ánh sáng của linh hồn”, chúng ta có một cách diễn đạt tóm lược mục đích, kế hoạch, ý chí của những thực thể, những vị nhập thể trong hình tướng con người và đôi khi vận hành ngoài thể xác, có trách nhiệm hiện hình các quan niệm thiêng liêng trong bốn giới của thiên nhiên. Giới nhân loại, một cách ưu việt nhất, là trung gian biểu lộ của Vũ Trụ Trí; và khi những người con của Thượng đế trong hình tướng con người được hoàn thiện, các vấn đề của thế giới tự nhiên sẽ được giải quyết ở mức độ lớn. Những người con của Thượng đế hoàn toàn có ý thức, nhận biết chính mình khi ở trong hình tướng con người, và hiện nay họ vẫn còn ít, thật sự cấu thành bộ não của sự sống hành tinh.
|
|
There is a truly occult significance to the words “to throw the light” upon a problem, a condition, or a situation. In its essential meaning it connotes the revelation of the presented idea, of the principle which underlies the outer manifestation. It is the recognition of the inner and spiritual reality which produces the outer and visible form. This is the keynote of all work in symbolism. The work of ascertaining the formulas, of drawing up the subjective charts or plans of intuitive impression and of intense activity on the mental plane is the sole work of the organized planetary hierarchy. The second phase of the work is carried on by those workers, who, co-operating consciously with the hierarchy, demonstrate the reality of that work in the three worlds of human evolution. They bring the germ of the idea, and the embryonic concept into outer and completed existence, [461] through the process of right thought, the awakening of desire, and the nurturing of right public opinion. They thus bring about the needed physical activity.
|
Có một thâm nghĩa huyền bí chân chính trong những lời “rọi ánh sáng” lên một vấn đề, một tình trạng hay một hoàn cảnh. Trong ý nghĩa thiết yếu, nó hàm ý sự mặc khải của ý tưởng được trình hiện, của nguyên khí nằm bên dưới biểu hiện bên ngoài. Đó là sự nhận biết thực tại bên trong và tinh thần, vốn tạo ra hình tướng bên ngoài và hữu hình. Đây là chủ âm của mọi công việc trong biểu tượng học. Công việc xác định các công thức, lập ra các biểu đồ hay kế hoạch chủ quan của ấn tượng trực giác, và hoạt động mãnh liệt trên cõi trí, là công việc riêng của Thánh đoàn hành tinh có tổ chức. Giai đoạn thứ hai của công việc được thực hiện bởi những người hoạt động, những người cộng tác có ý thức với Thánh đoàn, chứng minh thực tại của công việc ấy trong ba cõi giới của tiến hóa nhân loại. Họ đưa mầm giống của ý tưởng và quan niệm phôi thai vào hiện hữu bên ngoài và hoàn tất, [461] qua tiến trình tư tưởng đúng đắn, sự đánh thức dục vọng, và việc nuôi dưỡng công luận đúng đắn. Nhờ vậy, họ tạo ra hoạt động hồng trần cần thiết.
|
|
Aspirants, group leaders and thinkers in all parts of the globe can be available for this work, provided their minds are open and focussed. According to the simplicity of their approach to truth, according to the clarity of their thought, according to their group influence and state of inclusive awareness, and according also to their power for long sustained effort will be the approximation of the outer form to the inner idea and the spiritual subjective reality.
|
Các người chí nguyện, những vị lãnh đạo nhóm và những nhà tư tưởng ở mọi phần của địa cầu có thể sẵn sàng cho công việc này, miễn là thể trí của họ mở rộng và tập trung. Tùy theo sự đơn giản trong cách họ tiếp cận chân lý, tùy theo sự rõ ràng của tư tưởng họ, tùy theo ảnh hưởng nhóm và trạng thái nhận biết bao gồm của họ, và cũng tùy theo quyền năng nỗ lực bền bỉ lâu dài của họ, mà hình tướng bên ngoài sẽ xấp xỉ với ý tưởng bên trong và thực tại chủ quan tinh thần.
|
|
The point I seek to make is that the average reader of these Instructions has nothing to do with the formulas. They are grasped and understood by the great Knowers Who stand back of the evolutionary process and are responsible for its functional activity. The hierarchy of Masters, of the senior initiates, and disciples is proceeding steadily with that work but is dependent, under the Law, upon those on the physical plane who are to produce the outer forms. If they fail to respond, there will be delay or incorrect building; if they make mistakes, there will be lost time and energy, and again delay; if they lose interest and cease to work, or are primarily interested in their own affairs and personalities, the Plan will have to wait, and energy which would otherwise be made available for the solving of human problems and the guidance of humanity will have to find its outlet in other directions. There is never anything static in the creative process; energy which is flowing forth in the pulsation of the one Life, and its rhythmic and cyclic activity—never ending and never resting—must be somewhere utilized, and must find its way in some direction, often (when man fails in his duty) with catastrophic results. The problem of cataclysms, the cause, for instance, of the steadily increasing insect peril, will be [462] found to be related to the inflow of unused and unrecognized energy which is capable of right direction and right purpose and for the furthering of the Plan, if the aspirants and disciples of the world will shoulder their group responsibilities, submerge their personalities, and achieve true realization. Humanity must be more diligent and more intelligent in the working out of its true destiny and karmic obligations. When men are universally en rapport with the custodians of the plan and their minds and brains are illumined by the light of the intuition, of the soul and of the universal mind, when they can train themselves to respond intelligently to the timely impulses which cyclically emanate from the inner side of life, then there will be a steady adjustment between life and form and a rapid amelioration of world conditions. It is an interesting point to hear in mind that the first effect of the response of the more advanced of the sons of men to the formulas as translated and transmitted by the Knowers will be the establishing of right relations between the four kingdoms in nature, and right relations between units and groups in the human family. A step in this direction is being made. Relations between the four spheres of activity which we call human, animal, vegetable and mineral are now badly adjusted because the energy of matter is primarily the governing factor. In the human kingdom, the working of this energy demonstrates in what we call selfishness. In the animal kingdom, it demonstrates in what we call cruelty, though, where the sense of responsibility is nonexistent and only instinctual and temporary parental responsibility is found, there is no criticism to be given. In the vegetable kingdom this maladjustment expresses itself during this planetary period of misuse as disease.
|
Điểm tôi muốn nêu rõ là người đọc trung bình của các Huấn thị này không liên quan gì đến các công thức. Chúng được các đại Thức Giả, những Đấng đứng phía sau tiến trình tiến hoá và chịu trách nhiệm về hoạt động chức năng của tiến trình ấy, nắm bắt và thấu hiểu. Thánh đoàn các Chân sư, các điểm đạo đồ cao cấp và các đệ tử đang đều đặn tiến hành công việc ấy, nhưng theo Định luật, công việc đó tùy thuộc vào những người trên cõi hồng trần, những người phải tạo ra các hình tướng bên ngoài. Nếu họ không đáp ứng, sẽ có sự trì hoãn hoặc việc kiến tạo sai lầm; nếu họ phạm sai lầm, thời gian và năng lượng sẽ bị mất, và lại có sự trì hoãn; nếu họ mất hứng thú và ngừng làm việc, hoặc chủ yếu quan tâm đến các việc riêng và phàm ngã của mình, Thiên Cơ sẽ phải chờ đợi, và năng lượng lẽ ra có thể được dùng để giải quyết các vấn đề nhân loại và hướng dẫn nhân loại sẽ phải tìm lối thoát theo những hướng khác. Không bao giờ có điều gì tĩnh tại trong tiến trình sáng tạo; năng lượng đang tuôn chảy trong nhịp đập của Sự Sống Duy Nhất, và trong hoạt động nhịp nhàng, chu kỳ của nó — không bao giờ chấm dứt và không bao giờ nghỉ ngơi — phải được sử dụng ở đâu đó, và phải tìm đường đi theo một hướng nào đó, thường là với những kết quả thảm khốc khi con người thất bại trong bổn phận của mình. Vấn đề các đại biến động, chẳng hạn nguyên nhân của mối nguy côn trùng ngày càng gia tăng đều đặn, sẽ [462] được thấy là liên hệ với dòng chảy vào của năng lượng không được sử dụng và không được nhận biết, vốn có thể được định hướng đúng đắn, hướng đến mục đích đúng đắn và thúc đẩy Thiên Cơ, nếu các người chí nguyện và đệ tử của thế gian chịu gánh vác các trách nhiệm nhóm của mình, đặt chìm các phàm ngã của mình xuống, và đạt đến sự nhận biết chân thực. Nhân loại phải chuyên cần hơn và thông minh hơn trong việc thực hiện thiên mệnh chân thật và các nghĩa vụ nghiệp quả của mình. Khi con người ở khắp nơi hòa điệu với các vị bảo hộ Thiên Cơ, và thể trí cùng bộ não của họ được soi sáng bởi ánh sáng của trực giác, của linh hồn và của Vũ Trụ Trí; khi họ có thể tự rèn luyện để đáp ứng một cách thông minh với các xung lực đúng thời, vốn phát xuất theo chu kỳ từ mặt bên trong của sự sống, bấy giờ sẽ có một sự điều chỉnh đều đặn giữa sự sống và hình tướng, cùng một sự cải thiện nhanh chóng các điều kiện thế giới. Một điểm thú vị cần ghi nhớ là hiệu quả đầu tiên của sự đáp ứng nơi những người tiến bộ hơn trong những người con của nhân loại đối với các công thức, như đã được các Thức Giả chuyển dịch và truyền đạt, sẽ là việc thiết lập các liên hệ đúng đắn giữa bốn giới trong thiên nhiên, và các liên hệ đúng đắn giữa những đơn vị và các nhóm trong gia đình nhân loại. Một bước theo hướng này đang được thực hiện. Các liên hệ giữa bốn lĩnh vực hoạt động mà chúng ta gọi là nhân loại, động vật, thực vật và kim thạch hiện nay đang bị điều chỉnh rất tệ, bởi năng lượng của vật chất là yếu tố chi phối chủ yếu. Trong giới nhân loại, hoạt động của năng lượng này biểu hiện trong điều chúng ta gọi là lòng ích kỷ. Trong giới động vật, nó biểu hiện trong điều chúng ta gọi là sự tàn ác, dù ở nơi nào ý thức trách nhiệm không tồn tại, và chỉ có trách nhiệm cha mẹ mang tính bản năng và tạm thời, thì không có gì để phê phán. Trong giới thực vật, sự mất điều chỉnh này tự biểu lộ, trong chu kỳ hành tinh lạm dụng này, như bệnh tật.
|
|
This surprises you? Disease has its roots primarily in maladjustments and misdirected force in the vegetable kingdom; this affects the animal and mineral kingdoms [463] and subsequently the human. It is too far ahead for this to be demonstrated, but when this condition is understood, it will be in that kingdom in nature that the attention of the investigators must be focussed, and the eradication of disease will eventually find its solution.
|
Điều này làm các bạn ngạc nhiên chăng? Bệnh tật có gốc rễ chủ yếu trong những mất điều chỉnh và mãnh lực bị định hướng sai trong giới thực vật; điều này ảnh hưởng đến giới động vật và giới kim thạch [463] và sau đó đến giới nhân loại. Còn quá sớm để chứng minh điều này, nhưng khi tình trạng này được thấu hiểu, chính trong giới ấy của thiên nhiên mà sự chú ý của các nhà nghiên cứu phải được tập trung, và cuối cùng việc diệt trừ bệnh tật sẽ tìm thấy lời giải của nó.
|
|
II. Pronounce the words which will tell them what to do and where to carry that which has been made.
|
II. Hãy phát âm những lời sẽ bảo cho chúng biết phải làm gì và phải mang điều đã được tạo ra đi đâu.
|
|
Let us remember in connection with this Rule that it is only potent in so far as the “worker with the Law” is en rapport with the inner reality within himself, with the soul. It is essential that through him, in full waking consciousness, the soul should be functioning. It is the soul who pronounces the words. It is the soul who utters forth the mystic phrase, but it is the soul as controller or ruler of the mechanism, of the form-apparatus. This control is only possible where there is alignment of the brain and mind and soul. Again, it is necessary to remember that this Rule, being an expression of the creative work, applies to all creative process, whether macrocosmic or microcosmic, whether we are dealing with God as the creator of the solar system, with the soul as the creator of the human mechanism, or with the man as he attempts to master the technique of the magical work and so become a creator of forms in his own little sphere. All have to work out the true significance of the Rule, for God works under the law of His Being, and this Law demonstrates to us as the laws of nature.
|
Liên quan đến Quy luật này, chúng ta hãy nhớ rằng nó chỉ có uy lực trong mức độ “người hoạt động với Định luật” hòa điệu với thực tại bên trong nơi chính mình, với linh hồn. Điều thiết yếu là qua y, trong tâm thức tỉnh thức trọn vẹn, linh hồn phải đang hoạt động. Chính linh hồn phát âm các lời. Chính linh hồn thốt ra cụm từ thần bí, nhưng đó là linh hồn với tư cách là chủ thể kiểm soát hay cai quản bộ máy, tức bộ máy-hình tướng. Sự kiểm soát này chỉ có thể có khi bộ não, thể trí và linh hồn được chỉnh hợp. Một lần nữa, cần nhớ rằng Quy luật này, vì là một biểu hiện của công việc sáng tạo, áp dụng cho mọi tiến trình sáng tạo, dù thuộc Đại thiên địa hay Tiểu thiên địa, dù chúng ta đang đề cập đến Thượng đế với tư cách Đấng sáng tạo hệ mặt trời, đến linh hồn với tư cách Đấng sáng tạo bộ máy nhân loại, hay đến con người khi y cố gắng làm chủ kỹ thuật của công tác huyền thuật và nhờ đó trở thành một nhà sáng tạo hình tướng trong phạm vi nhỏ bé của riêng mình. Tất cả đều phải thực hiện thâm nghĩa chân thật của Quy luật, vì Thượng đế hoạt động dưới định luật của Bản Thể Ngài, và Định luật này biểu hiện với chúng ta như các định luật của thiên nhiên.
|
|
The ideas of ordered activity and of a conscious and purposeful goal are bound up in the phrase we are considering. The builder of any form is first of all a controller of lives and the arbiter of the destinies of certain entities. In this thought we have light thrown upon the subject of free will and upon the Law of Cause and Effect. It must not be forgotten however that the mystery of causes lies hid in past universes—all, in their day, the “forms indwelt by God”. For us there can be no such [464] thing as pure cause, but only the working out of major effects. Just as for us such a reality as pure reason is totally incomprehensible and unattainable, so with pure cause. These factors antedate our solar system and therefore speculation about them remains unrewarded, except in so far as it tends to develop the mental apparatus. This solar system is a system of effects, which in their turn generate causes. Only in the human family and only among those human beings who are consciously using mind power are any causes of any kind being generated. All causes, being initiated by a mind of some kind, functioning consciously and thinking clearly, posit a Thinker, and this is profoundly the position of the occult sciences. Our solar system is a thought-form but one having real existence just as long as thought persists. All that is forms part of the current of ideas emanating from the divine Thinker. All thoughts are part of a divine stream. The mass of people think not, and so do not generate causes that must in due time produce their effect.
|
Các ý tưởng về hoạt động có trật tự và về một mục tiêu có ý thức, có chủ đích, được gắn liền trong cụm từ mà chúng ta đang xem xét. Đấng kiến tạo bất kỳ hình tướng nào trước hết là một chủ thể kiểm soát các sự sống và là người phân xử số phận của một số thực thể nhất định. Trong tư tưởng này, chúng ta có ánh sáng chiếu rọi lên đề tài ý chí tự do và Định luật Nhân Quả. Tuy nhiên, không được quên rằng bí nhiệm của các nguyên nhân nằm ẩn trong các vũ trụ quá khứ — tất cả, vào thời của chúng, đều là “những hình tướng có Thượng đế ngự bên trong”. Đối với chúng ta, không thể có [464] điều gì gọi là nguyên nhân thuần túy, mà chỉ có sự triển khai của các hiệu quả lớn. Cũng như đối với chúng ta, một thực tại như lý trí thuần túy hoàn toàn không thể thấu hiểu và không thể đạt tới, nguyên nhân thuần túy cũng vậy. Các yếu tố này có trước hệ mặt trời của chúng ta, và do đó mọi suy đoán về chúng vẫn không đem lại kết quả, ngoại trừ trong chừng mực nó có khuynh hướng phát triển bộ máy trí tuệ. Hệ mặt trời này là một hệ thống của các hiệu quả, mà đến lượt chúng lại sinh ra các nguyên nhân. Chỉ trong gia đình nhân loại, và chỉ nơi những con người đang sử dụng quyền năng thể trí một cách có ý thức, mới có bất kỳ nguyên nhân thuộc loại nào được tạo ra. Tất cả các nguyên nhân, vì được khởi phát bởi một loại thể trí nào đó đang hoạt động có ý thức và suy nghĩ rõ ràng, đều giả định có một Chủ Thể Tư Duy, và đây chính là lập trường sâu xa của các khoa học huyền bí. Hệ mặt trời của chúng ta là một hình tư tưởng, nhưng là hình tư tưởng có sự hiện hữu thực sự bao lâu tư tưởng còn tiếp diễn. Tất cả những gì hiện hữu đều là một phần của dòng ý tưởng phát xuất từ Chủ Thể Tư Duy thiêng liêng. Mọi tư tưởng đều là một phần của một dòng chảy thiêng liêng. Đại đa số con người không tư duy, và do đó không tạo ra các nguyên nhân mà đến đúng lúc phải sản sinh hiệu quả của chúng.
|
|
You ask, where then the truth of the statement made in many occult modern books that the trend of life or cycle of lives indicates necessarily the future, and that the causes initiated in one life work out as effects in another? Where lives are predominantly emotional and are physically oriented, it is not a particular life that sets the pace but the group of lives, simultaneously interacting with each other, predisposes the future along certain lines. This is eternally true of all human beings at a certain level of conscious development where they are swayed by mass ideas, moulded unthinkingly by tradition and public opinion, are frankly immersed in selfish interests, and are not “taking hold” of conditions themselves but are being carried forward on the tide of evolution. It is a form of group activity (groups governed by the vibration of physical and astral forms) which produces the [465] characteristics and tendencies which cause the situation and environing circumstances. In this realization lies hid the secret of racial and national karma and conditions. In these groups, the ordinary feeling, active man is immersed, and out of this immersion he must find his way by discovering and using his mind. Instinct must give place to intellect. For cycles of lives, groups of souls incarnate through the pull of the material forms towards which they are attracted. These attractive energies have earlier been utilized by the soul—finally being discarded and disintegrated. It is the potency of form which in the first case draws the soul into incarnation, for in the first half of the evolutionary process matter—highly organized in a previous solar system—is the dominant factor. Later, we know, spirit mounts on the shoulder of matter. The mass interplay of spirit and matter is now so potent that one of the major experiences that a soul undergoes is the achieving of the stage wherein the pull of matter begins to wane and the soul learns to detach itself. This is the experience through which humanity is now passing—again a group activity on a higher turn of the spiral.
|
Các bạn hỏi: vậy đâu là chân lý trong lời khẳng định, được nêu trong nhiều sách huyền bí hiện đại, rằng chiều hướng của một đời sống hay chu kỳ các đời sống tất yếu chỉ ra tương lai, và rằng các nguyên nhân được khởi phát trong một đời sẽ được triển khai như các hiệu quả trong một đời khác? Nơi nào các đời sống chủ yếu mang tính cảm xúc và được định hướng về hồng trần, thì không phải một đời sống riêng biệt ấn định nhịp tiến, mà chính nhóm các đời sống, đồng thời tương tác với nhau, khiến tương lai nghiêng theo một số đường hướng nhất định. Điều này vĩnh viễn đúng đối với mọi con người ở một cấp độ phát triển tâm thức nhất định, nơi họ bị chi phối bởi các ý tưởng quần chúng, bị truyền thống và công luận uốn nắn mà không suy xét, thật sự chìm đắm trong các lợi ích ích kỷ, và không tự mình “nắm lấy” các điều kiện mà bị cuốn theo dòng thủy triều của tiến hoá. Đó là một hình thức hoạt động nhóm, gồm các nhóm được điều khiển bởi rung động của các hình tướng hồng trần và cảm dục, sản sinh ra [465] những đặc tính và khuynh hướng tạo nên hoàn cảnh và các điều kiện bao quanh. Trong sự nhận biết này ẩn giấu bí mật của nghiệp quả và các điều kiện của giống dân và quốc gia. Trong các nhóm này, con người bình thường, cảm xúc và hoạt động, bị chìm đắm; và khỏi sự chìm đắm ấy, y phải tìm đường thoát ra bằng cách khám phá và sử dụng thể trí của mình. Bản năng phải nhường chỗ cho trí năng. Qua nhiều chu kỳ đời sống, các nhóm linh hồn nhập thể bởi sức hút của các hình tướng vật chất mà họ bị hấp dẫn đến. Những năng lượng hấp dẫn này trước đó đã được linh hồn sử dụng — cuối cùng bị loại bỏ và tan rã. Chính quyền năng của hình tướng, trong trường hợp đầu tiên, lôi kéo linh hồn vào nhập thể, vì trong nửa đầu của tiến trình tiến hoá, vật chất — đã được tổ chức cao trong một hệ mặt trời trước — là yếu tố chi phối. Về sau, như chúng ta biết, tinh thần vươn lên trên vai vật chất. Sự tương tác đại chúng giữa tinh thần và vật chất hiện nay mạnh mẽ đến mức một trong những kinh nghiệm lớn mà linh hồn trải qua là đạt đến giai đoạn trong đó sức hút của vật chất bắt đầu suy giảm và linh hồn học cách tách rời chính mình. Đây là kinh nghiệm mà nhân loại hiện đang đi qua — lại là một hoạt động nhóm trên một vòng xoắn cao hơn của đường xoắn ốc.
|
|
Large generalizations are indeed safer than the detailed and oft erroneous information anent the rules governing the taking and relinquishing of form, found in much of our puerile literature, but e’en these generalizations should be regarded with much distrust. All that can be posited is that, under the Law of Cause and Effect, spirit and matter coalesced and the worlds were made. Governed by the same law, forms were created and became material expressions of the life urge. They were swept in and out of manifestation according to a rhythmic cyclic beat, initiated in still earlier solar systems, than the one immediately preceding ours. Groups of forms appeared and disappeared, and were governed [466] almost entirely by their group coherence and vibration. So the life progressed through the elemental or involutionary kingdoms, through the three lower kingdoms in nature and on into the human kingdom.
|
Những khái quát rộng lớn quả thật an toàn hơn các thông tin chi tiết và thường sai lầm về các quy luật chi phối việc tiếp nhận và từ bỏ hình tướng, được thấy trong nhiều tài liệu non nớt của chúng ta; nhưng ngay cả những khái quát này cũng nên được nhìn với nhiều dè dặt. Tất cả những gì có thể nêu ra là, dưới Định luật Nhân Quả, tinh thần và vật chất đã kết hợp, và các thế giới được tạo thành. Được chi phối bởi cùng một định luật, các hình tướng được tạo ra và trở thành những biểu hiện vật chất của xung lực sự sống. Chúng bị cuốn vào và ra khỏi biểu hiện theo một nhịp đập chu kỳ, nhịp nhàng, đã được khởi phát trong các hệ mặt trời còn sớm hơn cả hệ ngay trước hệ của chúng ta. Các nhóm hình tướng xuất hiện và biến mất, và hầu như hoàn toàn bị chi phối [466] bởi sự cố kết nhóm và rung động nhóm của chúng. Như thế, sự sống tiến triển qua các giới hành khí hay các giới giáng hạ tiến hoá, qua ba giới thấp trong thiên nhiên và đi vào giới nhân loại.
|
|
In the lower human stages and in the stage of animal man, the same group activity reigns, only (as in the involutionary kingdoms) becoming smaller and smaller groups as the individual units achieve—one by one—the status of truly self-conscious individuals, and begin to work as souls. Then they not only become creators, with the power of standing alone, with the faculty of clear thinking and accurate visualization, but demonstrate also that they are the possessors of the creative art or faculty of creative imagination. They pass through life after life of self-sufficiency in which the personality is developed and used; then they begin to find their subjective group which will eventually take the place of the outer material groups in their consciousness. Thus they regain again group existence, only this time in full awareness and control.
|
Trong các giai đoạn nhân loại thấp và trong giai đoạn người thú, cùng một hoạt động nhóm vẫn ngự trị, chỉ khác là các nhóm ấy, như trong các giới giáng hạ tiến hoá, trở nên ngày càng nhỏ hơn khi từng đơn vị cá nhân, lần lượt từng người một, đạt đến địa vị những cá nhân thật sự có ngã thức, và bắt đầu hoạt động như các linh hồn. Khi đó họ không chỉ trở thành những nhà sáng tạo, với quyền năng đứng một mình, với năng lực tư duy rõ ràng và hình dung chính xác, mà còn chứng tỏ rằng họ là những người sở hữu nghệ thuật sáng tạo hay năng lực của Sự tưởng tượng sáng tạo. Họ đi qua đời này sang đời khác trong sự tự túc, trong đó phàm ngã được phát triển và sử dụng; rồi họ bắt đầu tìm thấy nhóm nội tại của mình, nhóm cuối cùng sẽ thay thế các nhóm vật chất bên ngoài trong tâm thức của họ. Như thế, họ lại giành lại đời sống nhóm, chỉ khác là lần này trong nhận biết trọn vẹn và trong sự kiểm soát.
|
|
In the group with which they find themselves subjectively affiliated, will be found those who have worked with them in the earlier mass state, so that they work in close association with those who have been nearest to them and who have been linked with them in the great life cycle.
|
Trong nhóm mà họ thấy mình liên kết một cách nội tại, sẽ có những người đã từng làm việc với họ trong trạng thái quần chúng trước kia, đến nỗi họ hoạt động trong sự liên kết mật thiết với những người đã gần gũi nhất với họ và đã được nối kết với họ trong chu kỳ sự sống vĩ đại.
|
|
There are certain names given to these stages in the occult archives which are suggestive and illuminating; they are of course symbolic. It might be of interest if I gave some of these ancient cryptic utterances which convey three items of information, namely, the name of the stage, its esoteric colour, and its symbol. I would like to point out, however, that these intriguing pieces of information which I at times convey and which some of the students seem to regard as of vital importance are of [467] far less importance than the injunction to live kindly, speak words of gentleness and of wisdom, and practice self-forgetfulness. The occult data is read and noted, the familiar instructions are skipped and overlooked. We, who work with aspirants, smile oft at the foolishness and lack of judgment evinced by those we teach. Say to a student: Practice with steadfastness the law of loving-kindness, and he will say that indeed he will attempt to do, but within himself the very familiarity of the injunction palls and is deemed, at best, a needed platitude. Say to the student: I will give you some occult phrases or some items of information anent the Great Ones, and with keenness, with excitement, and with smug self-satisfaction and with a pleased curiosity, he prepares for the important revelation. Yet the earlier injunction is the conveyer of occult information and indicates a law which—if rightly followed—leads to release and liberation. The latter concerns phenomena and the knowledge of it leads not the weary pilgrim to the gates of heaven. Some of you need this reminder.
|
Có một số danh xưng được đặt cho các giai đoạn này trong các văn khố huyền bí, vừa gợi ý vừa soi sáng; dĩ nhiên chúng mang tính biểu tượng. Có lẽ sẽ thú vị nếu tôi đưa ra một vài phát ngôn cổ xưa, bí nhiệm này, vốn truyền đạt ba mục thông tin, đó là tên của giai đoạn, màu sắc huyền bí của nó, và biểu tượng của nó. Tuy nhiên, tôi muốn chỉ ra rằng những mẩu thông tin hấp dẫn này, mà đôi khi tôi truyền đạt và một số đạo sinh dường như xem là có tầm quan trọng thiết yếu, lại [467] kém quan trọng hơn rất nhiều so với huấn lệnh hãy sống nhân ái, nói những lời dịu dàng và minh triết, và thực hành sự quên mình. Dữ liệu huyền bí được đọc và ghi chú; các huấn thị quen thuộc bị bỏ qua và xem nhẹ. Chúng tôi, những người làm việc với các người chí nguyện, thường mỉm cười trước sự khờ dại và thiếu phán đoán được biểu lộ bởi những người chúng tôi dạy. Hãy nói với một đạo sinh: Hãy thực hành bền bỉ định luật của lòng từ ái; y sẽ nói rằng quả thật y sẽ cố gắng làm như vậy, nhưng trong chính y, sự quá quen thuộc của huấn lệnh khiến nó trở nên nhạt nhẽo và, tốt nhất, bị xem là một câu sáo ngữ cần thiết. Hãy nói với đạo sinh ấy: Tôi sẽ trao cho bạn một vài cụm từ huyền bí hoặc một số mục thông tin liên quan đến Các Đấng Cao Cả; và với sự háo hức, hào hứng, tự mãn kiêu hãnh cùng tò mò thích thú, y chuẩn bị đón nhận sự mặc khải quan trọng. Thế nhưng huấn lệnh trước mới là vật truyền đạt thông tin huyền bí và chỉ ra một định luật mà, nếu được theo đúng, sẽ dẫn đến sự thoát ly và giải thoát. Điều sau liên quan đến các hiện tượng, và tri thức về nó không dẫn người lữ khách mỏi mệt đến các cổng trời. Một số các bạn cần lời nhắc nhở này.
|
|
Those stages which precede the human are omitted as none who will read these words possess the equipment to comprehend their inner sense. We will begin therefore with the stages in the human kingdom.
|
Những giai đoạn trước nhân loại được bỏ qua, vì không ai đọc những lời này có đủ trang bị để thấu hiểu ý nghĩa bên trong của chúng. Do đó, chúng ta sẽ bắt đầu với các giai đoạn trong giới nhân loại.
|
|
Stage I
|
Giai đoạn Một
|
|
The life has climbed the stairway long through daily use of form. Through the lesser three, with progress slow, the long path has been travelled. Another door stands open now. The words sound forth: “Enter upon the way of real desire.”
|
Sự sống đã leo lên chiếc thang dài qua việc sử dụng hình tướng hằng ngày. Qua ba giới thấp, với bước tiến chậm, con đường dài đã được đi qua. Một cánh cửa khác nay đang mở. Những lời vang lên: “Hãy bước vào con đường của dục vọng chân thực.”
|
|
The life, that only knows itself as form, enshrouds itself in vivid red, the red of known desire, and through the red all longed-for forms approach, are grasped and held, used and discarded, until the red changes to rose [468] and rose to palest pink, and pink to white. Forth flowers then the pure white rose of life.
|
Sự sống, vốn chỉ biết chính nó như hình tướng, tự bao phủ trong màu đỏ rực rỡ, màu đỏ của dục vọng đã biết; và xuyên qua màu đỏ ấy, mọi hình tướng được khao khát tiến đến, bị nắm lấy và giữ lại, được sử dụng rồi bị loại bỏ, cho đến khi màu đỏ chuyển thành màu hồng [468] và màu hồng thành hồng phớt nhạt nhất, rồi hồng phớt thành trắng. Bấy giờ hoa hồng trắng tinh khiết của sự sống nở ra.
|
|
The tiny rose of living life is seen in bud; not yet the full blown flower.
|
Đóa hồng nhỏ bé của sự sống đang sống được thấy trong nụ; chưa phải là bông hoa nở trọn.
|
|
Stage II
|
Giai đoạn Hai
|
|
The picture changes form. Another voice, coming from close at hand utters another phrase. The life continues on its way. “Enter the field where children play and join their game.” Awakened to the game of life, the soul passes the gate.
|
Bức tranh đổi dạng. Một tiếng nói khác, đến từ gần bên, thốt ra một cụm từ khác. Sự sống tiếp tục con đường của nó. “Hãy bước vào cánh đồng nơi trẻ thơ vui chơi và tham gia trò chơi của chúng.” Được đánh thức trước trò chơi của sự sống, linh hồn đi qua cổng.
|
|
The field is green and on its broad expanse the many forms of the one moving Life disport themselves; they weave the dance of life, the many patterned forms God takes. The soul enters “the playground of the Lord” and plays thereon until he sees the star with five bright points, and says: “My Star.”
|
Cánh đồng xanh tươi, và trên khoảng rộng lớn của nó, nhiều hình tướng của một Sự Sống đang vận động nô đùa; chúng dệt nên vũ điệu của sự sống, những hình tướng đa dạng mà Thượng đế khoác lấy. Linh hồn bước vào “sân chơi của Chúa” và chơi ở đó cho đến khi y thấy ngôi sao có năm điểm sáng, và nói: “Ngôi Sao của tôi.”
|
|
The star is but a point of light, not yet a radiant sun.
|
Ngôi sao chỉ là một điểm sáng, chưa phải một mặt trời rực rỡ.
|
|
Stage III
|
Giai đoạn Ba
|
|
The way of red desire fails. It loses its allure. The playground of the sons of God no longer holds appeal. The voice which has twice sounded from out the world of form sounds now within the heart. The challenge comes: “Prove thine own worth. Take to thyself the orange ball of thy one-pointed purpose.” Responsive to the sounded word, the living soul, immersed in form, emerges from the many forms and hews its onward way. The way of the destroyer comes, the builder and again the tearer down of forms. The broken forms hold not the power to satisfy. The soul’s own form is now the great desire, and thus there comes the entering of the playground of the mind.
|
Con đường của dục vọng đỏ thẫm thất bại. Nó mất đi sức quyến rũ. Sân chơi của những người con của Thượng đế không còn hấp dẫn. Tiếng nói đã hai lần vang lên từ thế giới hình tướng nay vang trong tim. Lời thách thức đến: “Hãy chứng tỏ giá trị của chính ngươi. Hãy nhận lấy quả cầu cam của mục đích nhất tâm của ngươi.” Đáp ứng với lời đã vang lên, linh hồn sống động, chìm đắm trong hình tướng, trồi lên khỏi nhiều hình tướng và tự mở đường tiến tới. Con đường của kẻ phá hủy đến, của đấng kiến tạo và lại của kẻ phá bỏ các hình tướng. Các hình tướng tan vỡ không còn quyền năng thỏa mãn. Hình tướng riêng của linh hồn nay là dục vọng lớn lao, và như thế có sự bước vào sân chơi của thể trí.
|
|
But in these dreams and fantasies, at times a vision comes—a vision of a folded lotus flower, close petalled, [469] tightly sealed, lacking aroma yet, but bathed in cold blue light.
|
Nhưng trong những giấc mơ và ảo ảnh này, đôi khi một linh ảnh xuất hiện — linh ảnh về một hoa sen khép lại, các cánh hoa đóng kín, [469] niêm kín chặt chẽ, chưa có hương thơm, nhưng được tắm trong ánh sáng xanh lạnh.
|
|
Orange and blue in some more distant time will blended be, but far off yet the date. Their blending bathes the bud in light and causes future opening. Let the light shine.
|
Màu cam và màu xanh trong một thời xa hơn sẽ được hòa quyện, nhưng ngày ấy còn xa. Sự hòa quyện của chúng tắm nụ hoa trong ánh sáng và gây nên sự khai mở tương lai. Hãy để ánh sáng chiếu rọi.
|
|
Stage IV
|
Giai đoạn Bốn
|
|
Into the dark the life proceeds. A different voice seems to sound forth. “Enter the cave and find your own; walk in the dark and on your head carry a lighted lamp.” The cave is dark and lonely; cold is it and a place of many sounds and voices. The voice of the many sons of God, left playing on the playground of the Lord, make their appeal for light. The cave is long and narrow. The air is full of fog. The sound of running water meets the rushing sound of wind, and frequent roll of thunder.
|
Sự sống tiến vào bóng tối. Một tiếng nói khác dường như vang lên. “Hãy bước vào hang động và tìm người của ngươi; hãy đi trong bóng tối và trên đầu ngươi mang một ngọn đèn sáng.” Hang động tối tăm và cô độc; nó lạnh lẽo và là nơi có nhiều âm thanh cùng tiếng nói. Tiếng nói của nhiều người con của Thượng đế, bị bỏ lại vui chơi trên sân chơi của Chúa, cất lời kêu gọi ánh sáng. Hang động dài và hẹp. Không khí đầy sương mù. Âm thanh nước chảy gặp tiếng gió rít, và tiếng sấm thường vang rền.
|
|
Far off, dim and most vaguely seen, appears an oval opening, its color blue. Stretched athwart this space of blue, a rosy cross is seen, and at the centre of the cross, where four arms meet, a rose. Upon the upper limb, a vibrant diamond shines, within a star five-pointed.
|
Xa xa, mờ nhạt và được thấy hết sức lờ mờ, hiện ra một cửa mở hình bầu dục, màu xanh. Trải ngang khoảng không xanh ấy, một thập giá hồng được thấy, và ở trung tâm của thập giá, nơi bốn nhánh gặp nhau, có một đóa hồng. Trên nhánh trên, một viên kim cương rung động tỏa sáng, nằm trong một ngôi sao năm cánh.
|
|
The living soul drives forward towards the cross which bars his way to life, revealed and known.
|
Linh hồn sống động thúc mình tiến về phía thập giá đang chắn đường y đến sự sống, đã được mặc khải và được biết.
|
|
Not yet the cross is mounted and therefore left behind. But onward goes the living soul, eyes fixed upon the cross, ears open to the wailing cries of all his brother souls.
|
Thập giá chưa được leo lên và do đó chưa bị bỏ lại phía sau. Nhưng linh hồn sống động vẫn tiến tới, mắt cố định trên thập giá, tai mở ra trước những tiếng khóc than của mọi linh hồn huynh đệ của y.
|
|
Stage V
|
Giai đoạn Năm
|
|
Out into radiant life and light! The cave is left behind; the cross is overturned; the way stands clear. The word sounds clear within the head and not within the heart. “Enter again the playground of the Lord and this time lead the games.” The way upon the second [470] tier of stairs stands barred, this by the soul’s own act. No longer red desire governs all the life, but now the clear blue flame burns strong. Upon the bottom step of the barred Way he turns back and passes down the stairs on to the playground, meeting dead shells built in an earlier stage, stepping upon forms discarded and destroyed, and holding forth the hands of helpfulness. Upon his shoulder sits the bird of peace; upon his feet the sandals of the messenger.
|
Bước ra vào sự sống và ánh sáng rạng rỡ! Hang động bị bỏ lại phía sau; thập giá bị lật ngược; con đường mở rõ. Linh từ vang rõ trong đầu chứ không trong tim. “Hãy bước vào lại sân chơi của Chúa, và lần này hãy dẫn dắt các trò chơi.” Con đường trên tầng [470] thang thứ hai bị chắn lại, điều này do chính hành động của linh hồn. Dục vọng đỏ thẫm không còn chi phối toàn bộ sự sống nữa, mà nay ngọn lửa xanh trong sáng cháy mạnh. Trên bậc thấp nhất của Con Đường bị chắn, y quay lại và đi xuống các bậc thang đến sân chơi, gặp những lớp vỏ chết đã được xây dựng trong một giai đoạn trước, bước lên các hình tướng đã bị loại bỏ và phá hủy, và đưa ra đôi tay trợ giúp. Trên vai y đậu con chim hòa bình; nơi chân y là đôi dép của sứ giả.
|
|
Not yet the utter glory of the radiant life! Not yet the entering into everlasting peace! But still the work, and still the lifting of the little ones.
|
Chưa phải vinh quang trọn vẹn của sự sống rạng rỡ! Chưa phải sự bước vào an bình vĩnh cửu! Nhưng vẫn còn công việc, và vẫn còn việc nâng đỡ những kẻ bé nhỏ.
|
|
Here in symbolic form we have pictures of human life and progress, of life in form and growing through the building process which marks the creative work. It is only a bald translation of some mantric phrases, and of some basic symbols, and must in no way be considered to be anything except indicative of a process, veiled and couched so that only those who know can understand. Esotericists will understand that these five stages cover the life period of every form, no matter whether the creator is cosmic, planetary or human.
|
Ở đây, trong hình thức biểu tượng, chúng ta có những bức tranh về đời sống và tiến bộ của nhân loại, về sự sống trong hình tướng và sự tăng trưởng qua tiến trình kiến tạo vốn đánh dấu công việc sáng tạo. Đây chỉ là một bản chuyển dịch sơ lược của một vài cụm mantram và một số biểu tượng căn bản, và tuyệt đối không được xem là gì khác ngoài sự chỉ dẫn về một tiến trình, được che phủ và diễn đạt sao cho chỉ những người biết mới có thể thấu hiểu. Các nhà bí truyền học sẽ thấu hiểu rằng năm giai đoạn này bao trùm chu kỳ sống của mọi hình tướng, bất kể đấng sáng tạo là vũ trụ, hành tinh hay nhân loại.
|
|
Every form is built by an impulsive spark of life, emanated by a creator, and growing stage by stage under the law of accretion—an aspect of the law of attraction, which is the law of life. This law cooperates with the Law of Cause and Effect, which, as we know, is the law governing matter. Cause, attraction or desire, accretion and effect—these four words govern the construction of any thought-form. When the latter is a completed entity, it is an effect built by accretion under the power of an organized cause.
|
Mọi hình tướng đều được xây dựng bởi một tia lửa sự sống thôi thúc, phát xuất từ một đấng sáng tạo, và tăng trưởng từng giai đoạn dưới định luật bồi tụ — một phương diện của định luật hấp dẫn, vốn là định luật của sự sống. Định luật này hợp tác với Định luật Nhân Quả, mà như chúng ta biết, là định luật chi phối vật chất. Nguyên nhân, hấp dẫn hay dục vọng, bồi tụ và hiệu quả — bốn từ này chi phối việc kiến tạo bất kỳ hình tư tưởng nào. Khi hình tư tưởng ấy là một thực thể hoàn tất, nó là một hiệu quả được xây dựng bằng sự bồi tụ dưới quyền năng của một nguyên nhân có tổ chức.
|
|
The race has evolved now to a point where we think of effects primarily in terms of quality rather than in terms of matter. A thought-form exists for us in order [471] to produce an effect. The raison d’être of all forms we have come to feel is to express some subjective quality which will give us the key to its creator’s purpose. Ponder on these words. Hence, we find in this Rule XI that the purpose of the word pronounced is to tell the lives which constitute the form “what to do and where to carry that which has been made.” Thus we find the idea of purpose, activity and goal.
|
Nhân loại nay đã tiến hoá đến một điểm mà chúng ta nghĩ về các hiệu quả chủ yếu theo phẩm tính hơn là theo vật chất. Một hình tư tưởng hiện hữu đối với chúng ta nhằm [471] tạo ra một hiệu quả. Chúng ta đã dần cảm nhận rằng lý do hiện hữu của mọi hình tướng là để biểu lộ một phẩm tính nội tại nào đó, phẩm tính ấy sẽ trao cho chúng ta chìa khóa đến mục đích của đấng sáng tạo nó. Hãy suy ngẫm những lời này. Vì thế, trong Quy luật Mười Một này, chúng ta thấy rằng mục đích của linh từ được phát âm là để bảo cho các sự sống cấu thành hình tướng “phải làm gì và phải mang điều đã được tạo ra đi đâu”. Như vậy, chúng ta thấy có ý tưởng về mục đích, hoạt động và mục tiêu.
|
|
There is no need for me to add to the vast amount of literature which has been put forth or to emphasize the significance of purpose in connection with such a thoughtform as a solar system, a planet, a kingdom in nature or a human being. In some respects this subjective triplicity of purpose, activity and goal is well known and in others it is of too high and too inscrutable a nature for us to deal with in these Instructions and wander into the realms of speculation. With the goal, religion has long sought to deal; with the activity aspect, the scientist is now attempting to deal; and with the Will of God the most advanced thinkers and philosophers are constantly speculating. Only when man submits himself to the discipline of his own spiritual will and controls the activity of the lives within his form nature and so orients himself to the goal as it progressively makes its appeal to his vision, will he arrive at a true understanding of the plan, which constitutes the will of God as far as human beings can grasp it.
|
Tôi không cần thêm vào khối lượng văn liệu bao la đã được đưa ra, hoặc nhấn mạnh thâm nghĩa của mục đích liên quan đến một hình tư tưởng như hệ mặt trời, một hành tinh, một giới trong thiên nhiên hay một con người. Theo một vài phương diện, bộ ba nội tại này gồm mục đích, hoạt động và mục tiêu đã được biết rõ; theo những phương diện khác, nó có bản chất quá cao và quá bí hiểm để chúng ta bàn đến trong các Huấn thị này và lang thang vào các lãnh vực suy đoán. Từ lâu, tôn giáo đã tìm cách bàn đến mục tiêu; nhà khoa học nay đang cố gắng bàn đến phương diện hoạt động; còn các nhà tư tưởng và triết gia tiến bộ nhất thì không ngừng suy đoán về Ý Chí của Thượng Đế. Chỉ khi con người tự đặt mình dưới kỷ luật của ý chí tinh thần của chính y, kiểm soát hoạt động của các sự sống bên trong bản chất hình tướng của y, và nhờ đó tự định hướng về mục tiêu khi mục tiêu ấy dần dần kêu gọi tầm nhìn của y, bấy giờ y mới đạt đến sự thấu hiểu chân thật về Thiên Cơ, vốn cấu thành Ý Chí của Thượng Đế trong phạm vi con người có thể nắm bắt.
|
|
But with the thought-forms which he is beginning to create as he daily learns to think, we can concern ourselves for it is the first lesson soon to be learnt in the magical work. The creator in mental matter has:
|
Nhưng chúng ta có thể quan tâm đến các hình tư tưởng mà y bắt đầu tạo ra khi hằng ngày học cách tư duy, vì đó là bài học đầu tiên sắp được học trong công tác huyền thuật. Đấng sáng tạo trong chất liệu cõi trí phải:
|
|
a. To learn to build intelligently.
|
Một là, học cách kiến tạo một cách thông minh.
|
|
b. To give the impulse, through right speech which will animate that which he has built, and so enable the thought-form to convey the intended idea. [472]
|
Hai là, trao xung lực, thông qua lời nói đúng đắn, để làm linh hoạt điều y đã xây dựng, và nhờ đó khiến hình tư tưởng có thể truyền đạt ý tưởng được dự định. [472]
|
|
c. To send out his thought-form correctly oriented to his goal, and so truly directed that it will reach the objective and accomplish its sender’s purpose.
|
Ba là, phóng xuất hình tư tưởng của mình, được định hướng đúng đắn đến mục tiêu của y, và được hướng dẫn chính xác đến mức nó sẽ đạt tới mục tiêu và hoàn thành mục đích của người phóng xuất nó.
|
|
The necessity for clear thinking and the elimination of idle, destructive and negative thoughts becomes increasingly apparent as the aspirant progresses upon his way. As the power of the mind increases and as the human being differentiates his thought increasingly from mass thought, he inevitably builds thought substance into form. It is at first automatic and unconscious. He cannot help so doing, and fortunately, for the race, the forms constructed are so feeble that they are largely innocuous, or so in line with mass thought that they are negligible in their effect. But as man evolves his power and his capacity to harm or to help increases, and unless he learns to build rightly and correctly to motivate that which he has built he will become a destructive agency and a centre of harmful force—destroying and harming not only himself, as we shall see shortly, but equally hurting and harming those who vibrate to his note.
|
Nhu cầu tư duy rõ ràng và loại bỏ các tư tưởng vô ích, phá hoại và tiêu cực trở nên ngày càng hiển nhiên khi người chí nguyện tiến bước trên đường mình. Khi quyền năng của thể trí gia tăng và khi con người ngày càng phân biệt tư tưởng của mình với tư tưởng quần chúng, y tất yếu xây dựng chất liệu tư tưởng thành hình tướng. Lúc đầu việc ấy là tự động và vô thức. Y không thể không làm như vậy, và may thay cho nhân loại, các hình tướng được kiến tạo quá yếu nên phần lớn vô hại, hoặc quá phù hợp với tư tưởng quần chúng nên hiệu quả của chúng không đáng kể. Nhưng khi con người tiến hoá, quyền năng và khả năng gây hại hay giúp đỡ của y gia tăng; và nếu y không học cách kiến tạo đúng đắn, cũng như đặt động cơ đúng đắn cho điều y đã xây dựng, y sẽ trở thành một tác nhân phá hoại và một trung tâm của mãnh lực có hại — không chỉ hủy hoại và làm tổn thương chính mình, như chúng ta sẽ sớm thấy, mà còn gây tổn thương và hại đến những người rung động theo âm điệu của y.
|
|
Granted all this you might appositely inquire: Are there some simple rules which the earnest and sincere beginner could apply to this science of building and which are so clear and concise that they will produce the needed effect? There are, and I will state them simply so that the beginner will, if he follows them, escape the dangers of black magic, and learn to build in line with the plan. He will, if he follows the rules I give, avoid the intricate problem which he has himself blindly constructed and which will indeed shut out the light of day, darken his world, and imprison him in a wall of forms which will embody for him his own peculiar great illusion.
|
Thừa nhận tất cả những điều này, các bạn có thể hỏi một cách thích đáng: Có những quy luật đơn giản nào mà người sơ cơ nghiêm túc và chân thành có thể áp dụng vào khoa học kiến tạo này, những quy luật rõ ràng và súc tích đến mức chúng sẽ tạo ra hiệu quả cần thiết chăng? Có, và tôi sẽ trình bày chúng một cách đơn giản để người sơ cơ, nếu y noi theo, sẽ tránh được các nguy hiểm của Hắc thuật và học cách kiến tạo phù hợp với Thiên Cơ. Nếu y noi theo các quy luật tôi đưa ra, y sẽ tránh được vấn đề phức tạp mà chính y đã mù quáng xây dựng, và điều đó quả thật sẽ che khuất ánh sáng ban ngày, làm tối thế giới của y, và giam giữ y trong một bức tường hình tướng, vốn đối với y sẽ hiện thân cho ảo tưởng lớn lao riêng biệt của chính y.
|
|
These rules may sound too simple for the learned aspirant but for those who are willing to become as little children they will be found to be a safe guide into truth [473] and will eventually make them able to pass the tests for adeptship. Some are couched in terms symbolic, others are necessarily blinds, still others express the truth just as it is.
|
Các quy luật này có thể nghe quá đơn giản đối với người chí nguyện uyên bác, nhưng đối với những ai sẵn lòng trở nên như trẻ thơ, chúng sẽ được thấy là một hướng dẫn an toàn vào chân lý [473] và cuối cùng sẽ khiến họ có khả năng vượt qua các thử thách để đạt địa vị chân sư. Một số được diễn đạt bằng ngôn ngữ biểu tượng, số khác tất yếu là những màn che, lại có số khác biểu lộ chân lý đúng như nó là.
|
|
1. View the world of thought, and separate the false out of the true.
|
1. Hãy quan sát thế giới tư tưởng, và tách điều giả khỏi điều thật.
|
|
2. Learn the meaning of illusion, and in its midst locate the golden thread of truth.
|
2. Hãy học ý nghĩa của ảo tưởng, và giữa lòng nó hãy định vị sợi dây vàng của chân lý.
|
|
3. Control the body of emotion for the waves that rise upon the stormy seas of life engulf the swimmer, shut out the sun and render all plans futile.
|
3. Hãy kiểm soát thể cảm xúc, vì những đợt sóng nổi lên trên biển đời bão tố sẽ nhấn chìm người bơi, che khuất mặt trời và làm mọi kế hoạch trở nên vô ích.
|
|
4. Discover that thou hast a mind and learn its dual use.
|
4. Hãy khám phá rằng ngươi có một thể trí và học cách sử dụng kép của nó.
|
|
5. Concentrate the thinking principle, and be the master of thy mental world.
|
5. Hãy tập trung nguyên khí tư duy, và trở thành chủ nhân của thế giới trí tuệ của ngươi.
|
|
6. Learn that the thinker and his thought and that which is the means of thought are diverse in their nature, yet one in ultimate reality.
|
6. Hãy học rằng chủ thể tư duy, tư tưởng của y, và cái là phương tiện của tư tưởng, khác nhau trong bản chất, nhưng là một trong thực tại tối hậu.
|
|
7. Act as the thinker, and learn it is not right to prostitute thy thought to the base use of separative desire.
|
7. Hãy hành động như chủ thể tư duy, và học rằng không đúng khi đem tư tưởng của ngươi làm công cụ cho việc sử dụng thấp hèn của dục vọng chia rẽ.
|
|
8. The energy of thought is for the good of all and for the furtherance of the Plan of God. Use it not therefore for thy selfish ends.
|
8. Năng lượng của tư tưởng là vì lợi ích của tất cả và vì sự thúc đẩy Thiên Cơ của Thượng đế. Vì vậy, đừng dùng nó cho các mục đích ích kỷ của ngươi.
|
|
9. Before a thought-form is by thee constructed, vision its purpose, ascertain its goal, and verify the motive.
|
9. Trước khi ngươi kiến tạo một hình tư tưởng, hãy hình dung mục đích của nó, xác định mục tiêu của nó, và kiểm chứng động cơ.
|
|
10. For thee, the aspirant on the way of life, the way of conscious building is not yet the goal. The work of cleaning out the atmosphere of thought, of barring fast the doors of thought to hate and pain, to fear, and jealousy and low desire, must first precede the conscious work of building. See to thy aura, oh traveler on the way.
|
10. Đối với ngươi, người chí nguyện trên con đường sự sống, con đường kiến tạo có ý thức chưa phải là mục tiêu. Công việc làm sạch bầu khí quyển tư tưởng, khóa chặt các cánh cửa tư tưởng trước hận thù và đau khổ, trước sợ hãi, ghen tị và dục vọng thấp hèn, trước hết phải đi trước công việc kiến tạo có ý thức. Hãy chăm nom hào quang của ngươi, hỡi lữ khách trên đường.
|
|
11. Watch close the gates of thought. Sentinel desire. [474] Cast out all fear, all hate, all greed. Look out and up.
|
11. Hãy canh giữ kỹ các cổng của tư tưởng. Hãy canh chừng dục vọng. [474] Hãy trục xuất mọi sợ hãi, mọi hận thù, mọi tham lam. Hãy nhìn ra ngoài và hướng lên.
|
|
12. Because the life is mostly centered on the plane of concrete life, thy words and speech will indicate thy thought. To these pay close attention.
|
12. Vì sự sống phần lớn được tập trung trên cõi của đời sống cụ thể, lời nói và ngôn từ của ngươi sẽ chỉ ra tư tưởng của ngươi. Hãy chú ý kỹ đến chúng.
|
|
13. Speech is of triple kind. The idle words will each produce effect. If good and kind, naught need be done. If otherwise, the paying of the price cannot be long delayed.
|
13. Lời nói có ba loại. Những lời vô ích mỗi lời đều sẽ tạo ra hiệu quả. Nếu tốt lành và tử tế, không cần làm gì. Nếu ngược lại, việc trả giá không thể bị trì hoãn lâu.
|
|
The selfish words, sent forth with strong intent, build up a wall of separation. Long time it takes to break that wall and so release the stored-up, selfish purpose. See to thy motive, and seek to use those words which blend the little life with the large purpose of the will of God.
|
Những lời ích kỷ, được phóng ra với ý định mạnh mẽ, xây dựng một bức tường chia rẽ. Phải mất thời gian dài để phá vỡ bức tường ấy và nhờ đó giải phóng mục đích ích kỷ đã tích chứa. Hãy xem xét động cơ của ngươi, và tìm cách sử dụng những lời hòa nhập sự sống nhỏ bé với mục đích lớn lao của Ý Chí của Thượng Đế.
|
|
The word of hate, the cruel speech which ruins those who feel its spell, the poisonous gossip, passed along because it gives a thrill—these words kill the flickering impulses of the soul, cut at the roots of life, and so bring death.
|
Lời hận thù, lời nói tàn nhẫn hủy hoại những người cảm nhận bùa lực của nó, chuyện ngồi lê độc hại được truyền đi vì nó đem lại sự kích thích — những lời ấy giết chết các xung lực lập lòe của linh hồn, chặt đứt gốc rễ của sự sống, và như thế đem lại cái chết.
|
|
If spoken in the light of day, just retribution will they bring; when spoken and then registered as lies, they strengthen that illusory world in which the speaker lives and holds him back from liberation.
|
Nếu được nói ra trong ánh sáng ban ngày, chúng sẽ đem lại sự báo ứng công bằng; khi được nói ra rồi được ghi nhận như những lời dối trá, chúng củng cố thế giới ảo tưởng trong đó người nói sống và giữ y lại khỏi sự giải thoát.
|
|
If uttered with intent to hurt, to bruise and kill, they wander back to him who sent them forth and him they bruise and kill.
|
Nếu được thốt ra với ý định làm tổn thương, làm bầm dập và giết chết, chúng sẽ quay trở lại với người đã phóng chúng ra, và chính y bị chúng làm bầm dập và giết chết.
|
|
14. The idle thought, time selfish thought, the cruel hateful thought if rendered into word produce a prison, poison all the springs of life, lead to disease, and cause disaster and delay. Therefore, be sweet and kind and good as far as in thee lies. Keep silence and the light will enter in.
|
14. Tư tưởng vô ích, tư tưởng ích kỷ, tư tưởng tàn nhẫn đầy hận thù, nếu được chuyển thành lời, sẽ tạo ra một nhà tù, đầu độc mọi nguồn mạch của sự sống, dẫn đến bệnh tật, và gây nên tai họa cùng trì hoãn. Vì vậy, hãy dịu dàng, tử tế và tốt lành hết mức trong khả năng ngươi. Hãy giữ im lặng và ánh sáng sẽ đi vào.
|
|
15. Speak not of self. Pity not thy fate. The thoughts of self and of thy lower destiny prevent the inner [475] voice of thine own soul from striking upon thine ear. Speak of the soul; enlarge upon the plan; forget thyself in building for the world. Thus is the law of form offset. Thus can the rule of love enter upon that world.
|
15. Đừng nói về bản thân. Đừng thương hại số phận của ngươi. Các tư tưởng về bản thân và về định mệnh thấp của ngươi ngăn tiếng nói [475] bên trong của chính linh hồn ngươi chạm đến tai ngươi. Hãy nói về linh hồn; hãy nói rõ thêm về Thiên Cơ; hãy quên mình trong việc kiến tạo cho thế giới. Như thế, định luật của hình tướng được hóa giải. Như thế, quy luật của tình thương có thể đi vào thế giới ấy.
|
|
These simple rules will lay right foundations for the carrying forward of the magical work, and will render the mental body so clear and so powerful that right motive will control and true work in building will be possible.
|
Những quy luật đơn giản này sẽ đặt các nền tảng đúng đắn cho việc tiến hành công tác huyền thuật, và sẽ khiến thể trí trở nên trong sáng và mạnh mẽ đến mức động cơ đúng đắn sẽ kiểm soát, và công việc chân thật trong kiến tạo sẽ trở nên khả hữu.
|
|
Much of the significance of this rule must remain theoretical, and be considered as holding a challenge until such time as the real magical work of thought-form building becomes universally possible. The formula, as we have seen, will remain unknown to all save the members of the Hierarchy of Adepts for long ages to come. The directional words are capable of ascertainment, but only to those who are working consciously under the guidance of their own souls, and who, through mind control merging into deep meditation, can manipulate the matter of thought and become “knowing creators.” These can, and do, speak the impulsive words which bring into being those new forms and organisms, those expressions of ideas and those organisations which live their life cycle and serve their purpose, and so come, duly, to their timely and appointed end. These creators are the leaders and organisers, the teachers and the guides in all phases of human living. Their sound does go forth into all lands and their note is internationally recognised. Hundreds of such names are easily remembered and spring unhidden to the mind. They live in the memory of the multitude and that which lives is the sound of their accomplishment, be that good or bad.
|
Phần lớn thâm nghĩa của quy luật này phải còn mang tính lý thuyết, và được xem như một thách thức cho đến khi công tác huyền thuật thực sự của việc kiến tạo hình tư tưởng trở nên khả hữu một cách phổ quát. Công thức, như chúng ta đã thấy, sẽ vẫn không được biết đến đối với tất cả, ngoại trừ các thành viên của Thánh đoàn Chân sư, trong nhiều thời đại dài sắp tới. Những lời định hướng có thể được xác định, nhưng chỉ bởi những ai đang làm việc một cách có ý thức dưới sự hướng dẫn của chính linh hồn mình, và qua sự kiểm soát thể trí hòa nhập vào thiền định sâu xa, có thể vận dụng vật chất của tư tưởng và trở thành “những nhà sáng tạo hiểu biết”. Những người này có thể, và thật sự, nói ra những lời thôi thúc đem vào hiện hữu các hình tướng và cơ cấu mới, những biểu hiện của các ý tưởng và những tổ chức sống trọn chu kỳ đời sống của mình, phụng sự mục đích của mình, và như thế, đúng lúc, đi đến kết thúc hợp thời và được ấn định. Những nhà sáng tạo này là các nhà lãnh đạo và tổ chức, các huấn sư và người hướng dẫn trong mọi giai đoạn của đời sống nhân loại. Âm thanh của họ quả thật vang đi khắp mọi vùng đất, và âm điệu của họ được nhận biết trên bình diện quốc tế. Hàng trăm danh xưng như thế dễ dàng được nhớ đến và tự nhiên hiện lên trong thể trí. Họ sống trong ký ức của quần chúng, và điều sống còn chính là âm thanh của thành tựu của họ, dù tốt hay xấu.
|
|
But in the sentence which we must consider we find portrayed a universal function, even though it is as yet [476] carried forward for the most part unconsciously. The words to be dealt with are as follows:
|
Nhưng trong câu mà chúng ta phải xem xét, chúng ta thấy được phác họa một chức năng phổ quát, dù cho hiện nay nó vẫn [476] phần lớn được tiến hành một cách vô thức. Những lời cần được bàn đến như sau:
|
|
III. Finally, to utter forth the mystic phrase which will save him from their work.
|
III. Cuối cùng, thốt ra cụm từ thần bí sẽ cứu y khỏi công việc của chúng.
|
|
Therefore it appears that at the close of the magical work of creation, a phrase must be enunciated which effects a salvation and produces a liberation of a dual kind, —a liberation of the creating agent from the form which he has created, and the emancipation of that form from the control of the one who has brought it into being.
|
Vì vậy, có vẻ như vào lúc kết thúc công tác huyền thuật của sáng tạo, phải phát ra một cụm từ tạo nên sự cứu thoát và đem lại một sự giải phóng kép — sự giải phóng tác nhân sáng tạo khỏi hình tướng mà y đã tạo ra, và sự giải thoát hình tướng ấy khỏi sự kiểm soát của kẻ đã đưa nó vào hiện hữu.
|
|
It is obvious that already the nature of speech in relation to embodied ideas is being somewhat understood. Study the method of talk which is now the main factor employed to “launch an idea.” Note how all inventions (which are neither more nor less than embodied concepts) come into exoteric being on the physical plane through the power of the spoken word, and consider also with care the occult significance underlying all conferences, all meetings, all consultations, and all discussions which concern themselves with the launching of some idea or set of ideas upon the sea of public necessity. May it not be possible that under the modes of activity employed by the advertising agencies and the constant training given to salesmen in the use of the spoken word as a means of approach to the public in order to sell an idea, we shall find the first distorted indications of the emanations of those mystic phrases which will bring into being the creation of the soul in all fields of creative enterprise?
|
Hiển nhiên là bản chất của lời nói trong mối liên hệ với các ý tưởng được hiện thân trong hình tướng đã bắt đầu được thấu hiểu phần nào. Hãy nghiên cứu phương pháp đàm luận hiện nay vốn là yếu tố chính được dùng để “phóng xuất một ý tưởng”. Hãy lưu ý cách mọi phát minh, vốn chẳng hơn chẳng kém các khái niệm được hiện thân trong hình tướng, đi vào sự hiện hữu bên ngoài trên cõi hồng trần nhờ quyền năng của lời nói; và cũng hãy suy xét cẩn trọng thâm nghĩa huyền bí nằm bên dưới mọi hội nghị, mọi cuộc họp, mọi cuộc tham vấn và mọi cuộc thảo luận liên quan đến việc phóng xuất một ý tưởng hay một tập hợp ý tưởng lên biển nhu cầu của công chúng. Phải chăng có thể rằng, bên dưới các phương thức hoạt động mà những cơ quan quảng cáo sử dụng, và sự huấn luyện thường xuyên dành cho những người bán hàng trong việc dùng lời nói như một phương tiện tiếp cận công chúng nhằm bán một ý tưởng, chúng ta sẽ tìm thấy những dấu hiệu đầu tiên, tuy bị biến dạng, của các xuất lộ từ những cụm từ thần bí vốn sẽ đưa vào hiện hữu sự sáng tạo của linh hồn trong mọi lĩnh vực của hoạt động sáng tạo?
|
|
The training of public opinion, the utilisation of catch words and slogans, the tendency to embody the concepts of campaigners in trite and apposite phrases are part of the growing realisation as to the magical work. All these means are employed blindly and without true realisation; they constitute a part of the emerging activities of a humanity which is on the verge of real creative work, [477] the principles of which are not yet understood nor scientifically applied. But they do point the way, and under the simplification which marks the return to synthesis, we shall have the cessation of speech and the utilisation of simpler forms. Under the evolutionary urge, we have had the creative Sound, the Word, Speech. The latter, in its turn, has been differentiated into words, phrases, sentences, paragraphs, books, until we now have the era wherein this differentiation is at its height, and we have speeches at all hours of the day and night; we have the utilisation of the public platform to reach the public ear, and of the radio to reach all classes and races of humanity in an effort to mould public opinion and bring certain ideas and concepts into the public consciousness. We have the publication of books literally in their millions, and all playing their part in the same great work, and we have as yet both methods of communication being prostituted to the selfish ends and ambitious purposes of those who speak and write. Yet there are a few true creators who are endeavouring to make their sound heard, to speak those mystical words which will enable humanity to see the vision. Thus will be dispersed eventually the clouds of thought-forms which at this time shut out the clear light of God.
|
Việc rèn luyện dư luận công chúng, việc sử dụng các câu nói bắt tai và khẩu hiệu, khuynh hướng hiện thân các khái niệm của những người vận động trong các câu nói sáo mòn nhưng thích hợp, tất cả đều là một phần của sự nhận biết ngày càng tăng về công việc huyền thuật. Mọi phương tiện này được sử dụng một cách mù quáng và không có sự chứng nghiệm chân thật; chúng cấu thành một phần trong các hoạt động đang xuất hiện của một nhân loại đang ở ngưỡng cửa của công việc sáng tạo đích thực, [477] các nguyên lý của công việc ấy vẫn chưa được thấu hiểu cũng như chưa được áp dụng một cách khoa học. Nhưng chúng thật sự chỉ đường, và dưới sự đơn giản hóa vốn đánh dấu sự trở về với tổng hợp, chúng ta sẽ có sự chấm dứt của lời nói và việc sử dụng các hình thức đơn giản hơn. Dưới thúc đẩy tiến hoá, chúng ta đã có Âm thanh sáng tạo, Linh từ, Lời nói. Đến lượt mình, Lời nói đã được biến phân thành các từ, cụm từ, câu, đoạn văn, sách vở, cho đến nay chúng ta có một thời đại trong đó sự biến phân này đạt đến cực điểm; chúng ta có những bài diễn thuyết vào mọi giờ trong ngày và đêm; chúng ta có việc sử dụng diễn đàn công cộng để đến với tai nghe của công chúng, và máy thu thanh để đến với mọi giai cấp và mọi giống dân của nhân loại, trong nỗ lực uốn nắn dư luận công chúng và đưa một số ý tưởng cùng khái niệm nhất định vào tâm thức công chúng. Chúng ta có việc xuất bản sách theo nghĩa đen là hàng triệu cuốn, tất cả đều đóng phần của mình trong cùng một công việc vĩ đại ấy; và cho đến nay, cả hai phương pháp giao tiếp này vẫn đang bị lạm dụng cho những mục tiêu ích kỷ và những mục đích tham vọng của những người nói và viết. Tuy nhiên, vẫn có một vài nhà sáng tạo chân chính đang cố gắng làm cho âm thanh của mình được nghe thấy, nói ra những lời thần bí sẽ giúp nhân loại nhìn thấy tầm nhìn. Như vậy, cuối cùng các đám mây hình tư tưởng hiện đang che khuất ánh sáng trong trẻo của Thượng đế sẽ được xua tan.
|
|
The subject is too large for me to elaborate in this Treatise. I but seek to make suggestions which will carry to the intelligent reader some idea of the enormous progress which has been made in the magical work. In this way he will be enabled to go forward with optimism knowing that hitherto all has been good inasmuch as man has progressed in knowledge. Out of the present welter of speech and of words, of lectures and of books, a few clear concepts will surely emerge which will find an echo in the hearts of men. Thus also will men be led on into the new age, wherein “talk will die out and books come to naught” for the lines of subjective communication [478] will lie open. Men will recognise that noise acts as a deterrent to telepathic intercourse. The written word will not be needed either, for men will use symbols of light and colour to supplement through the eye what the subjective hearing has recorded. But that day is not yet, even though the radio and television are the first steps in the right direction.
|
Chủ đề này quá rộng để tôi triển khai trong Khảo luận này. Tôi chỉ tìm cách đưa ra những gợi ý có thể truyền đến độc giả thông minh một ý niệm nào đó về tiến bộ to lớn đã đạt được trong công việc huyền thuật. Bằng cách này, y sẽ có thể tiến tới với tinh thần lạc quan, biết rằng cho đến nay mọi sự đều tốt đẹp trong chừng mực con người đã tiến bộ trong tri thức. Từ tình trạng hỗn độn hiện tại của lời nói và ngôn từ, của các bài giảng và sách vở, chắc chắn sẽ xuất hiện một vài khái niệm trong sáng, những khái niệm sẽ tìm được tiếng vang trong lòng người. Như vậy, con người cũng sẽ được dẫn vào kỷ nguyên mới, trong đó “lời nói sẽ tàn lụi và sách vở trở nên vô nghĩa”, vì các đường giao tiếp nội tại [478] sẽ mở ra. Con người sẽ nhận ra rằng tiếng ồn tác động như một trở ngại đối với sự giao lưu viễn cảm. Lời viết cũng sẽ không còn cần thiết, vì con người sẽ dùng các biểu tượng ánh sáng và màu sắc để bổ sung qua mắt những gì thính giác nội tại đã ghi nhận. Nhưng ngày ấy vẫn chưa đến, dù máy thu thanh và truyền hình là những bước đầu theo đúng hướng.
|
|
Putting the truth as simply as possible we might state that through the complexity of much speech-making and book-writing, ideas are now enabled to take form and so run through their cycle of activity. But this method is as unsatisfactory in the field of knowledge as is the ancient tallow dip in the field of illumination. Electric light has superseded it, and some day the true telepathic communication and vision will take the place of speech and of writings.
|
Trình bày chân lý một cách đơn giản nhất, chúng ta có thể nói rằng, qua tính phức tạp của nhiều bài diễn thuyết và nhiều tác phẩm được viết ra, các ý tưởng hiện nay có thể khoác lấy hình tướng và nhờ đó đi hết chu kỳ hoạt động của chúng. Nhưng phương pháp này trong lĩnh vực tri thức cũng bất toàn chẳng khác nào cây đèn mỡ xưa trong lĩnh vực soi sáng. Ánh sáng điện đã thay thế nó, và một ngày nào đó, Giao tiếp viễn cảm cùng tầm nhìn chân thật sẽ thay thế lời nói và chữ viết.
|
|
Carrying the same concepts into the field of real esoteric work we have the worker in thought-matter building his thought-form and “confining the lives” which express and respond to his idea within a “ring-pass-not”. This latter persists for as long as his mind attention and hence his ensouling energy is directed upon it. We have him pronouncing the words which will enable his thought-form to do its work, fulfill the mission for which it has been constructed, and carry out the purpose for which it was created. All that has been given out hitherto in connection with the words used in the creative work is the sevenfold sacred Word, AUM. This, when rightly used by the soul on the mental plane vitalises and expedites all thought-forms, and so produces successful enterprise. It is interesting to note that in Atlantean days, the word used was TAU, enunciated explosively and so forcefully, that the thought-forms thus energised and expedited acted inevitably like a boomerang, and returned to the one who sent them forth. This word TAU is likewise, in its symbolic form, the [479] symbol of reincarnation. It is desire for form which produces the use of form and causes cyclic and constant rebirth in form. It was the constant use of the TAU likewise, which brought about the final overwhelming with water, which swept away the ancient Atlantean civilisation; the few who used the AUM in those days were not potent enough to offset the force of desire. The mind bodies of the race could not respond to that newer creative sound. Humanity was still swept entirely by longing and desire to such an extent that the united desire for possessions and for the enjoyment of form drove men esoterically “into the waters”. Desire for form still forces upon humanity the constant process of rebirth until such time as the TAU influence is exhausted and the AUM sound can dominate. The former influence is however weakening, and the AUM is increasing in potency until it will be the dominating factor. To this latter sound, the word of the Soul must eventually succeed, until AUM in its turn is entirely superseded.
|
Khi đưa cùng các khái niệm ấy vào lĩnh vực của công việc huyền bí đích thực, chúng ta có người hoạt động trong chất liệu tư tưởng, xây dựng hình tư tưởng của mình và “giam giữ các sự sống” vốn biểu lộ và đáp ứng ý tưởng của y bên trong một “vòng-giới-hạn”. Vòng giới hạn này tồn tại chừng nào sự chú ý của thể trí y, và do đó năng lượng phú linh của y, còn được hướng vào nó. Chúng ta có y phát âm những lời sẽ giúp hình tư tưởng của y thực hiện công việc của nó, hoàn thành sứ mệnh mà vì đó nó được xây dựng, và thi hành mục đích mà vì đó nó được tạo ra. Tất cả những gì cho đến nay đã được đưa ra liên quan đến các lời được dùng trong công việc sáng tạo là Linh từ thiêng liêng thất phân, AUM. Khi được sử dụng đúng cách do linh hồn trên cõi trí, Linh từ này tiếp sinh lực và thúc đẩy mọi hình tư tưởng, nhờ đó tạo nên hoạt động thành công. Điều thú vị cần lưu ý là vào thời Atlantis, linh từ được sử dụng là TAU, được phát âm một cách bùng nổ và mạnh mẽ đến nỗi các hình tư tưởng được truyền năng lượng và thúc đẩy như vậy đã tác động tất yếu như một vật ném quay trở lại, và trở về với người đã phóng chúng ra. Linh từ TAU này, trong hình thức biểu tượng của nó, cũng là [479] biểu tượng của sự tái sinh. Chính dục vọng đối với hình tướng tạo ra việc sử dụng hình tướng và gây nên sự tái sinh theo chu kỳ và liên tục trong hình tướng. Cũng chính việc sử dụng thường xuyên TAU đã đưa đến sự ngập lụt cuối cùng bằng nước, quét sạch nền văn minh Atlantis cổ xưa; số ít người dùng AUM trong những ngày ấy không đủ mạnh để hóa giải mãnh lực của dục vọng. Các thể trí của nhân loại không thể đáp ứng âm thanh sáng tạo mới hơn ấy. Nhân loại vẫn hoàn toàn bị cuốn đi bởi khát vọng và dục vọng đến mức dục vọng hợp nhất về sở hữu và về sự hưởng thụ hình tướng đã đẩy con người, xét một cách huyền bí, “vào trong nước”. Dục vọng đối với hình tướng vẫn còn áp đặt lên nhân loại tiến trình tái sinh liên tục, cho đến khi ảnh hưởng TAU cạn kiệt và âm thanh AUM có thể thống trị. Tuy nhiên, ảnh hưởng trước đang suy yếu, còn AUM đang gia tăng quyền năng cho đến khi nó trở thành yếu tố thống trị. Cuối cùng, Linh từ của Linh hồn phải kế tiếp âm thanh sau này, cho đến khi chính AUM đến lượt nó cũng hoàn toàn bị thay thế.
|
|
The sound of many waters (which is the symbolic way of expressing the TAU influence) will cease, and the time will come, as we are assured in the Christian Bible, when there “will be no more sea”. Then the sound of the AUM which is symbolically spoken of as the “roaring of a blazing fire”, and which is the sound of the mental plane will take its place. The word of the soul cannot be given except in the secret place of initiation. It has its own peculiar vibration and note, but this cannot be conveyed until such time as the AUM is used with correctness. Just as the TAU, carrying the note of desire and of the urge to have and to be, was misused and carried its civilisations to disaster, so AUM can also be misused and can carry its civilisations into the fire. This is the truth which really underlies the misunderstood Christian teaching anent hell-fire and the lake of fire. They portray symbolically the end of the age [480] when the mental plane civilisations will come to a cataclysmic end, as far as the form aspect is concerned just as the earlier civilisations came to a watery consummation.
|
Âm thanh của nhiều dòng nước, vốn là cách biểu tượng để diễn tả ảnh hưởng TAU, sẽ chấm dứt; và thời điểm sẽ đến, như chúng ta được bảo đảm trong Kinh Thánh Cơ Đốc, khi “sẽ không còn biển nữa”. Khi ấy âm thanh AUM, được nói đến một cách biểu tượng như “tiếng gầm của lửa cháy rực”, và là âm thanh của cõi trí, sẽ thay thế nó. Linh từ của linh hồn không thể được trao truyền ngoại trừ trong nơi bí mật của điểm đạo. Nó có rung động và âm điệu riêng biệt của nó, nhưng điều này không thể được truyền đạt cho đến khi AUM được sử dụng đúng đắn. Cũng như TAU, mang âm điệu của dục vọng và của thúc đẩy muốn có và muốn hiện tồn, đã bị lạm dụng và đưa các nền văn minh của nó đến thảm họa, AUM cũng có thể bị lạm dụng và có thể đưa các nền văn minh của nó vào lửa. Đây là chân lý thật sự nằm bên dưới giáo lý Cơ Đốc bị hiểu sai về lửa địa ngục và hồ lửa. Chúng mô tả một cách biểu tượng sự kết thúc của thời đại [480] khi các nền văn minh của cõi trí sẽ đi đến một kết thúc đại họa, xét theo phương diện hình tướng, cũng như các nền văn minh trước kia đã đi đến sự hoàn tất bằng nước.
|
|
One hint here I will give, and one that is oft overlooked. On the mental plane, time is not; therefore the time equation enters not into the idea of a final ending by fire. There is no setting of a time for a disaster or a catastrophe. The full effect will take place in the realm of the mind, and may it not be said that even now the fire of anxiety, of foreboding, of worry, and of fear is burning up our thoughts and engrossing our mental attention? Its work is to purify and cleanse, so, let the AUM do its work and let all of you who can, employ it with frequency and with right thought so that the world purification may proceed apace. Much must be burned and consumed which bars the way for the emergence of the new ideas, the new archetypal forms. These will eventually dominate the new age and make it possible for the word of the soul to sound forth and be heard exoterically.
|
Ở đây tôi sẽ đưa ra một gợi ý, và đó là điều thường bị bỏ qua. Trên cõi trí không có thời gian; vì vậy, phương trình thời gian không đi vào ý tưởng về một kết thúc cuối cùng bằng lửa. Không có việc ấn định thời điểm cho một tai họa hay một thảm biến. Hiệu quả trọn vẹn sẽ diễn ra trong lĩnh vực của thể trí; và chẳng phải có thể nói rằng ngay cả hiện nay, ngọn lửa của lo âu, của linh cảm dữ, của phiền muộn và của sợ hãi đang thiêu đốt các tư tưởng của chúng ta và chiếm trọn sự chú ý trí tuệ của chúng ta sao? Công việc của nó là thanh lọc và tẩy sạch; vậy hãy để AUM làm công việc của nó, và tất cả các bạn nào có thể, hãy sử dụng nó thường xuyên và với tư tưởng đúng đắn, để sự thanh lọc thế giới có thể tiến triển nhanh chóng. Nhiều điều phải bị thiêu đốt và tiêu hủy, những điều đang chặn đường cho sự xuất hiện của các ý tưởng mới, các hình tướng nguyên mẫu mới. Cuối cùng, chúng sẽ thống trị kỷ nguyên mới và khiến cho Linh từ của linh hồn có thể vang lên và được nghe thấy bên ngoài.
|
|
I realize that that which I have imparted here is difficult of comprehension, but the paragraphs above dictated hold warning for the careless and much instruction for the earnest seeker after light.
|
Tôi nhận ra rằng điều tôi đã truyền đạt ở đây khó thấu hiểu, nhưng các đoạn văn được đọc cho ghi lại ở trên chứa đựng lời cảnh báo cho kẻ bất cẩn và nhiều chỉ dẫn cho người thành tâm tìm kiếm ánh sáng.
|
|
There are two aspects of this phrase which we are considering with which I seek briefly to deal. There are many which I might take up, but two will suffice to carry practical suggestion, and to indicate ideas which aspirants everywhere would do well to grasp. The thought of salvation from the effect of form-embodied ideas must be considered, and I would like also to cover the idea of “a saving-from” under two headings. The aspirant has to be saved from the thought-forms built daily during his mental life, and a soul in incarnation has also to be saved from the form attachments which during the ages have [481] grown and strengthened, and from which he has to be released through the process we call death. We will therefore divide our subject as follows:
|
Có hai phương diện của cụm từ mà chúng ta đang xem xét, và tôi muốn đề cập ngắn gọn đến chúng. Có nhiều phương diện tôi có thể bàn đến, nhưng hai phương diện sẽ đủ để đưa ra gợi ý thực tiễn và chỉ ra những ý tưởng mà người chí nguyện ở khắp nơi nên nắm bắt. Tư tưởng về sự cứu thoát khỏi hiệu quả của các ý tưởng đã nhập vào hình tướng phải được xem xét; và tôi cũng muốn bao quát ý tưởng về “sự cứu thoát khỏi” dưới hai đề mục. Người chí nguyện phải được cứu khỏi các hình tư tưởng được xây dựng hằng ngày trong đời sống trí tuệ của y; và một linh hồn đang nhập thể cũng phải được cứu khỏi các ràng buộc với hình tướng, những ràng buộc đã [481] lớn mạnh và thêm vững chắc qua các thời đại, và khỏi đó y phải được giải thoát qua tiến trình mà chúng ta gọi là cái chết. Vì vậy, chúng ta sẽ chia chủ đề của mình như sau:
|
|
I. Salvation from the power exerted by the thought-forms we have ourselves created.
|
I. Sự cứu thoát khỏi quyền năng do các hình tư tưởng mà chính chúng ta đã tạo ra tác động.
|
|
II. Salvation from the power of the threefold body which the soul has built, through the magical release called death.
|
II. Sự cứu thoát khỏi quyền năng của thân thể tam phân mà linh hồn đã xây dựng, nhờ sự giải phóng huyền thuật được gọi là cái chết.
|
|
It is with the latter that I wish primarily to deal, but certain things must be said concerning the power of thought-forms, and concerning their danger, and the mode whereby they can be rendered innocuous.
|
Chính với điều sau tôi chủ yếu muốn đề cập, nhưng cần phải nói một số điều liên quan đến quyền năng của các hình tư tưởng, đến mối nguy hiểm của chúng, và phương thức nhờ đó chúng có thể trở nên vô hại.
|
|
I speak now for aspirants, who, through concentration and meditation, are gaining power in thought. I speak for the thinkers of the world, who, through their one-pointed application and devotion to business, to science, to religion or to the varying modes of human activity have oriented the mind (not the emotions but the mentality) to some line of constant action which is necessarily a part of the divine activity in the large sense.
|
Giờ đây tôi nói với những người chí nguyện, những người nhờ tập trung và tham thiền đang đạt được quyền năng trong tư tưởng. Tôi nói với các nhà tư tưởng của thế giới, những người nhờ sự chuyên chú nhất tâm và sự tận tụy của mình đối với kinh doanh, khoa học, tôn giáo hoặc các phương thức hoạt động khác nhau của con người, đã định hướng thể trí, không phải cảm xúc mà là trí năng, theo một đường hoạt động liên tục nào đó, vốn tất yếu là một phần của hoạt động thiêng liêng theo nghĩa rộng.
|
|
It is right here, in the use of thought, that the difference between black and white magic can be seen. Selfishness, ruthlessness, hatred, and cruelty characterise the worker in mental substance whose motives are, for many lives, centred around his own aggrandisement, focussed on his personal acquisition of possessions, and directed entirely to the attainment of his own pleasure and satisfaction, no matter what the cost to others. Such men are happily few, but the way to such a point of view is easy to achieve, and many need to guard themselves lest they tread unthinkingly the way towards materiality.
|
Chính ở đây, trong việc sử dụng tư tưởng, có thể thấy sự khác biệt giữa Hắc thuật và Chánh Thuật. Sự ích kỷ, tàn nhẫn, thù hận và độc ác đặc trưng cho người hoạt động trong chất liệu cõi trí mà động cơ của y, qua nhiều kiếp sống, tập trung quanh việc gia tăng quyền thế của bản thân, hướng vào việc thủ đắc của cải cho cá nhân, và hoàn toàn nhằm đạt được khoái lạc cùng sự thỏa mãn của riêng y, bất kể cái giá phải trả cho người khác. May thay, những người như thế rất ít; nhưng con đường dẫn đến quan điểm như vậy rất dễ đạt được, và nhiều người cần tự canh giữ để khỏi vô tình bước trên con đường hướng về vật chất tính.
|
|
A gradual and steady growth in group consciousness and responsibility, a submergence of the wishes of the [482] personal self and the manifestation of a loving spirit characterise those who are oriented towards the life side of the divine whole. It might be said that human beings fall into three main groups:
|
Sự tăng trưởng dần dần và vững chắc trong tâm thức nhóm và trách nhiệm, sự chìm lắng các ước muốn của [482] bản ngã cá nhân, và sự biểu hiện của một tinh thần yêu thương, đặc trưng cho những ai được định hướng về phía sự sống của toàn thể thiêng liêng. Có thể nói rằng con người rơi vào ba nhóm chính:
|
|
1. The vast majority, who are neither good nor bad, but simply unthinking and entirely submerged in the evolutionary tide, and in the work of developing a true self consciousness, and the needed equipment.
|
1. Đại đa số, những người không tốt cũng không xấu, mà chỉ đơn giản là không suy nghĩ và hoàn toàn bị chìm ngập trong dòng triều tiến hoá, cũng như trong công việc phát triển một ngã thức chân thật và trang bị cần thiết.
|
|
2. A small, a very small number, who are definitely and consciously working on the side of materiality or (if you prefer so to express it) on the side of evil. Potent are they on the physical plane, but their power is temporal and not eternal. The law of the universe, which is the law of love, is eternally against them, and out of the seeming evil good will come.
|
2. Một số ít, rất ít, những người đang làm việc một cách rõ rệt và có ý thức về phía vật chất tính, hoặc nếu các bạn thích diễn đạt như thế, về phía điều ác. Họ có quyền năng trên cõi hồng trần, nhưng quyền năng của họ thuộc thời gian chứ không vĩnh cửu. Định luật của vũ trụ, tức định luật của bác ái, vĩnh viễn chống lại họ; và từ điều ác có vẻ như vậy, điều thiện sẽ xuất hiện.
|
|
3. A goodly number who are the pioneers into the kingdom of the soul, who are the exponents of the new age ideas, and the custodians of that aspect of the Ageless Wisdom which is next to be revealed to mankind. This group is constituted of the unselfish and intelligent men and women in every field of human endeavour, of the aspirants and disciples, of the initiates who sound the note for the various groups and types, and of the Occult Hierarchy itself. The influence of this band of mystics and knowers is exceedingly great and the opportunity to work in cooperation with it at this time is easier of attainment than at any other time in racial history.
|
3. Một số khá đông là những người tiên phong đi vào giới của linh hồn, là những người trình bày các ý tưởng của kỷ nguyên mới, và là những người gìn giữ phương diện của Minh Triết Ngàn Đời sắp được mặc khải cho nhân loại. Nhóm này được cấu thành bởi những người nam và nữ vô ngã và thông minh trong mọi lĩnh vực nỗ lực của con người, bởi những người chí nguyện và các đệ tử, bởi các điểm đạo đồ xướng lên âm điệu cho những nhóm và kiểu loại khác nhau, và bởi chính Thánh đoàn Huyền môn. Ảnh hưởng của đoàn thể các nhà thần bí và các thức giả này vô cùng lớn lao, và cơ hội làm việc trong sự hợp tác với đoàn thể ấy vào lúc này dễ đạt được hơn bất cứ thời điểm nào khác trong lịch sử nhân loại.
|
|
The first group is unthinking; the two other groups are beginning to think and to employ the laws of thought. It is with the use of thought by the aspirant that I seek to deal. Much about thought will be found in A Treatise on Cosmic Fire [483], but I intend to give some practical ideas and suggestions which will help the average aspirant to work as he should.
|
Nhóm thứ nhất không suy nghĩ; hai nhóm kia đang bắt đầu suy nghĩ và sử dụng các định luật của tư tưởng. Chính việc sử dụng tư tưởng của người chí nguyện là điều tôi muốn bàn đến. Nhiều điều về tư tưởng sẽ được tìm thấy trong Luận về Lửa Vũ Trụ [483], nhưng tôi dự định đưa ra một số ý tưởng và gợi ý thực tiễn sẽ giúp người chí nguyện trung bình làm việc như y phải làm.
|
|
Let us remember first of all that no aspirant, no matter how sincere and devoted, is free from faults. Were he free, he would be an adept. All aspirants are still selfish, still prone to temper and to irritability, still subject to depression and even at times to hatred. Oft that temper and hatred may be aroused by what we call just causes. Injustice on the part of others, cruelty to human beings and to animals, and the hatreds and viciousness of their fellow men do arouse in them corresponding reactions, and cause them much suffering and delay. One thing must ever be remembered. If an aspirant evokes hatred in an associate, if he arouses him to temper, and if he meets with dislike and antagonism, it is because he himself is not entirely harmless; there are still in him the seeds of trouble, for it is a law in nature that we get what we give, and produce reactions in line with our activity be it physical, emotional or mental.
|
Trước hết, chúng ta hãy nhớ rằng không một người chí nguyện nào, dù chân thành và tận tụy đến đâu, lại không có lỗi lầm. Nếu y không có lỗi lầm, y đã là một chân sư. Mọi người chí nguyện vẫn còn ích kỷ, vẫn còn dễ nóng giận và cáu kỉnh, vẫn còn chịu sự chi phối của buồn nản và đôi khi cả thù hận. Thường khi, sự nóng giận và thù hận ấy có thể bị khơi dậy bởi những gì chúng ta gọi là các nguyên nhân chính đáng. Sự bất công từ phía người khác, sự tàn ác đối với con người và thú vật, những thù hận và sự độc ác của đồng loại họ thật sự khơi dậy trong họ những phản ứng tương ứng, và gây cho họ nhiều đau khổ cùng trì hoãn. Một điều luôn phải được ghi nhớ. Nếu một người chí nguyện gợi lên thù hận nơi một người cộng sự, nếu y khiến người ấy nổi nóng, và nếu y gặp sự không ưa cùng đối kháng, đó là vì chính y chưa hoàn toàn vô tổn hại; trong y vẫn còn các hạt giống của rắc rối, vì đó là một định luật trong thiên nhiên rằng chúng ta nhận được những gì mình cho đi, và tạo ra các phản ứng phù hợp với hoạt động của mình, dù là hồng trần, cảm xúc hay trí tuệ.
|
|
There are certain types of men who do not come under this category. When a man has reached a stage of high initiation, the case is different. The seed ideas he seeks to convey, the work he is empowered to do, the pioneering enterprise he is endeavouring to carry forward, may—and often do—call forth from those who sense not the beauty of his cause and the rightness of the truth he enunciates, a hatred and a fury which causes him much trouble and for which he is not personally responsible. This antagonism comes from the reactionaries and the devotees of the race and it should be remembered that it is largely impersonal even though focussed on him as the representative of an idea. But with these high souls I deal not, but with students of the Ageless Wisdom who are learning not only that they seldom think, but that when they do they are oft thinking [484] wrongly, for they are forced into a thought activity by reactions which have their seat in their lower nature, and are based on selfishness and lack of love.
|
Có một số kiểu người không thuộc phạm trù này. Khi một người đã đạt đến một giai đoạn điểm đạo cao, trường hợp sẽ khác. Các ý tưởng hạt giống mà y tìm cách truyền đạt, công việc y được trao quyền để thực hiện, hoạt động tiên phong y đang cố gắng tiến hành, có thể, và thường thật sự, gợi lên nơi những người không cảm nhận được vẻ đẹp của chính nghĩa y và sự đúng đắn của chân lý y tuyên thuyết, một thù hận và cuồng nộ gây cho y nhiều rắc rối mà y không chịu trách nhiệm cá nhân. Sự đối kháng này đến từ những kẻ phản động và những người sùng tín trong nhân loại; cần nhớ rằng nó phần lớn mang tính phi cá nhân, dù được tập trung vào y như đại diện của một ý tưởng. Nhưng tôi không bàn đến các linh hồn cao cả này, mà bàn đến các đạo sinh của Minh Triết Ngàn Đời, những người đang học không chỉ rằng họ hiếm khi suy nghĩ, mà còn rằng khi họ suy nghĩ, họ thường suy nghĩ [484] sai lầm, vì họ bị buộc vào hoạt động tư tưởng bởi các phản ứng có gốc rễ trong bản chất thấp của họ, và đặt nền trên ích kỷ cùng thiếu bác ái.
|
|
There are three lessons which every aspirant needs to learn:
|
Có ba bài học mà mỗi người chí nguyện cần học:
|
|
First, that every thought-form which he builds is built under the impulse of some emotion or of some desire; in rarer cases it may be built in the light of illumination and embody, therefore, some intuition. But with the majority, the motivating impulse which sweeps the mind-stuff into activity is an emotional one, or a potent desire, either good or bad, either selfish or unselfish.
|
Thứ nhất, mọi hình tư tưởng mà y xây dựng đều được xây dựng dưới xung lực của một cảm xúc nào đó hoặc một dục vọng nào đó; trong những trường hợp hiếm hơn, nó có thể được xây dựng trong ánh sáng của sự soi sáng và do đó hiện thân một trực giác nào đó. Nhưng với đa số, xung lực thúc đẩy cuốn chất liệu cõi trí vào hoạt động là một xung lực cảm xúc, hoặc một dục vọng mạnh mẽ, dù tốt hay xấu, dù ích kỷ hay vô ngã.
|
|
Secondly, it should be borne in mind that the thoughtform so constructed will either remain in his own aura, or will find its way to a sensed objective. In the first case, it will form part of a dense wall of such thoughtforms which entirely surround him or constitute his mental aura, and will grow in strength as he pays it attention until it is so large that it will shut out reality from him, or it will be so dynamic and potent that he will become the victim of that which he built. The thought-form will be more powerful than its creator, so that he becomes obsessed by his own ideas, and driven by his own creation. In the second case, his thought-form will find its way into the mental aura of another human being, or into some group. You have here the seeds of evil magical work and the imposition of a powerful mind upon a weaker. If it finds its way into some group, analogous impulsive forms (found within the group aura) will coalesce with it, having the same vibratory rate or measure. Then the same thing will take place in the group aura as has taken place within the individual ring-pass-not, —the group will have around it an inhibiting wall of thought-forms, or it will be obsessed by some idea. Here we have the clue to all sectarianism, to all fanaticism, and to some forms of insanity, both group and individual. [485]
|
Thứ hai, cần ghi nhớ rằng hình tư tưởng được kiến tạo như vậy hoặc sẽ ở lại trong hào quang của chính y, hoặc sẽ tìm đường đến một mục tiêu được cảm nhận. Trong trường hợp thứ nhất, nó sẽ tạo thành một phần của bức tường đậm đặc gồm những hình tư tưởng như thế, hoàn toàn bao quanh y hoặc cấu thành hào quang cõi trí của y; và nó sẽ tăng trưởng sức mạnh khi y chú ý đến nó, cho đến khi nó lớn đến mức che khuất thực tại khỏi y, hoặc trở nên năng động và mạnh mẽ đến mức y trở thành nạn nhân của chính điều y đã xây dựng. Hình tư tưởng sẽ mạnh hơn người tạo ra nó, khiến y bị ám ảnh bởi chính các ý tưởng của mình và bị thúc đẩy bởi chính sáng tạo của mình. Trong trường hợp thứ hai, hình tư tưởng của y sẽ tìm đường vào hào quang cõi trí của một người khác, hoặc vào một nhóm nào đó. Ở đây các bạn có những hạt giống của công việc huyền thuật tà vạy và sự áp đặt của một thể trí mạnh lên một thể trí yếu hơn. Nếu nó tìm đường vào một nhóm nào đó, các hình thức xung động tương tự, vốn được tìm thấy trong hào quang của nhóm, sẽ hợp nhất với nó, vì có cùng tốc độ hay mức độ rung động. Khi ấy, điều tương tự sẽ diễn ra trong hào quang của nhóm như đã diễn ra bên trong vòng-giới-hạn của cá nhân: nhóm sẽ có quanh nó một bức tường ngăn cản gồm các hình tư tưởng, hoặc sẽ bị một ý tưởng nào đó ám ảnh. Ở đây chúng ta có chìa khóa của mọi chủ nghĩa bè phái, mọi cuồng tín, và một số hình thức điên loạn, cả nhóm lẫn cá nhân. [485]
|
|
Thirdly, the creator of the thought-form (in this case an aspirant) remains responsible. The form remains linked to him by his living purpose and therefore the karma of the results, and the ultimate work of destroying that which he has built must be his. This is true of every embodied idea, the good as well as the bad. The creator of all of them is responsible for the work of his creation. The Master Jesus, for instance, has still to deal with the thought-forms which we call the Christian Church, and has much to do. The Christ and the Buddha have still some consummating work to carry through, though not so much with the forms which embody Their enunciated principles, as with the souls who have evolved through the application of those principles.
|
Thứ ba, người tạo ra hình tư tưởng, trong trường hợp này là một người chí nguyện, vẫn chịu trách nhiệm. Hình tướng vẫn liên kết với y bằng mục đích sống động của y; vì vậy nghiệp quả của các kết quả, và công việc cuối cùng là phá hủy điều y đã xây dựng, phải là của y. Điều này đúng với mọi ý tưởng được hiện thân, cả tốt lẫn xấu. Người tạo ra tất cả chúng chịu trách nhiệm về công việc của sáng tạo mình. Chẳng hạn, Chân sư Jesus vẫn còn phải xử lý các hình tư tưởng mà chúng ta gọi là Giáo hội Cơ Đốc, và Ngài còn nhiều việc phải làm. Đức Christ và Đức Phật vẫn còn một số công việc hoàn tất phải thực hiện, tuy không quá nhiều với các hình thức hiện thân những nguyên lý Các Ngài đã tuyên thuyết, cho bằng với các linh hồn đã tiến hoá qua việc áp dụng những nguyên lý ấy.
|
|
With the aspirant, however, who is still learning to think, the problem is different. He is still prone to use thought matter to embody his mistaken apprehension of the real ideas; he is still apt to express his likes and dislikes through the power of thought; he is still inclined to use the mind stuff to make possible his personality desires. To this every sincere aspirant will bear witness.
|
Tuy nhiên, với người chí nguyện vẫn đang học suy nghĩ, vấn đề lại khác. Y vẫn còn dễ dùng chất liệu tư tưởng để hiện thân sự lĩnh hội sai lầm của mình về các ý tưởng thực; y vẫn còn có khuynh hướng biểu lộ điều mình thích và không thích bằng quyền năng của tư tưởng; y vẫn còn nghiêng về việc dùng chất liệu cõi trí để làm cho các dục vọng phàm ngã của mình có thể thành tựu. Mọi người chí nguyện chân thành đều sẽ làm chứng cho điều này.
|
|
Much concern is being felt among many of you as to the guarding of thoughts and the protection of formulated ideas. Some thoughts are ideas, clothed in mental matter and keep their habitat on the plane of thought matter. Such are the abstract conceptions and the scarcely sensed facts of the inner occult or mystic life that pass through the mind of the thinker. They are not so difficult to guard, for their vibrations are so high and light that few people have the power to clothe them adequately in mental matter, and those few are so very scarce that the risk of such statements being unwisely promulgated is not very great.
|
Nhiều bạn đang cảm thấy nhiều lo lắng về việc canh giữ các tư tưởng và bảo vệ các ý tưởng đã thành hình. Một số tư tưởng là các ý tưởng được khoác trong chất liệu cõi trí và giữ nơi cư ngụ của chúng trên cõi chất liệu tư tưởng. Đó là các quan niệm trừu tượng và những sự kiện chỉ mơ hồ được cảm nhận của đời sống huyền môn hoặc thần bí bên trong, những điều đi qua thể trí của nhà tư tưởng. Chúng không quá khó để canh giữ, vì các rung động của chúng cao và nhẹ đến nỗi ít người có quyền năng khoác cho chúng một cách thích đáng bằng chất liệu cõi trí; và số ít ấy lại quá hiếm, nên nguy cơ những phát biểu như thế bị truyền bá thiếu khôn ngoan không lớn lắm.
|
|
Then there are the communications involved in occult teaching. The circle of those who apprehend them is widening somewhat and these thought-forms frequently [486] take to themselves astral matter from the desire in the heart of the student to verify, corroborate, and share with the group whose knowledge is as vital as his. Sometimes this is possible, and sometimes not. If prohibited what is the method of protection then? Largely a refusing to allow the matter of the astral plane to adhere to the mental thought-form. Fight the matter out on the desire level, and inhibit that type of matter from formulating. Where no desire to speak exists, and where the striving is to prevent the gathering of the material around the nucleus, another thought-form is built up, one that intervenes and protects.
|
Kế đó là các truyền đạt liên quan đến giáo huấn huyền môn. Vòng tròn những người lĩnh hội chúng đang mở rộng phần nào, và các hình tư tưởng này thường [486] tự thu hút lấy chất liệu cảm dục từ dục vọng trong tim của đạo sinh muốn kiểm chứng, xác nhận và chia sẻ với nhóm mà tri thức của họ cũng thiết yếu như tri thức của y. Đôi khi điều này có thể thực hiện, và đôi khi thì không. Nếu bị cấm, phương pháp bảo vệ khi ấy là gì? Chủ yếu là từ chối cho phép chất liệu của cõi cảm dục bám vào hình tư tưởng cõi trí. Hãy xử lý chất liệu ấy trên cấp độ dục vọng, và ngăn chặn loại chất liệu đó kết hình. Nơi nào không có dục vọng nói ra, và nơi nào nỗ lực là ngăn chất liệu tụ lại quanh hạt nhân, thì một hình tư tưởng khác được xây dựng, một hình tư tưởng can thiệp và bảo vệ.
|
|
Still another type of thought-form comes forth, —the most prevalent and the one that causes the most trouble. These are the facts of information, the detailed material, the news (if so you like to call it), the basis of what may degenerate into gossip, that concerns either your work, administrative or otherwise, and that which concerns other people. How shall you prevent your mind from transmitting to another facts such as these? These are facts that have their origination in physical plane occurrence, and therein lies the difficulty. The inner facts of the occult life, and those that originate on the mental plane are not so difficult to hide. They do not come your way till your vibrations are keyed high enough for them, and as a rule, when that is so, character of sufficient stability and wisdom goes alongside. But it is not thus with a physical plane fact. What must be done? The other thoughts descend from above; these latter work upwards from the physical plane and are increased in vitality by the knowledge of the many, often of the many unwise. One kind starts nebulously on the mental plane, and only the higher type of mind can formulate it, and clothe it with matter in geometrical precision, and such a mind usually has the wisdom that refuses to clothe it in astral plane matter. Not so with the physical plane fact. It [487] is a vital entity, robed in material of the astral plane and the mental plane when first you meet and contact it. Will you vitalise it, or will you arrest it? Arrest it by a rush and wave of love for the party implicated, that envelops the thought-form and sends it back to the originator, borne on the wings of a surge of astral plane matter, strong enough to sweep through and around, mayhap disintegrating, but most certainly returning it harmlessly to the sender. Perhaps it is an evil piece of information, a lie or item of gossip. Devitalise it by love, break it in pieces by the power of a counter thought-form of peace and harmony.
|
Lại còn một loại hình tư tưởng khác xuất hiện, loại phổ biến nhất và gây nhiều rắc rối nhất. Đó là các dữ kiện thông tin, chất liệu chi tiết, tin tức, nếu các bạn muốn gọi như vậy, nền tảng của điều có thể thoái hóa thành chuyện ngồi lê đôi mách, liên quan hoặc đến công việc của các bạn, hành chính hay mặt khác, hoặc đến những người khác. Làm thế nào các bạn ngăn thể trí mình truyền đến người khác những dữ kiện như thế? Đây là các dữ kiện có nguồn gốc trong sự việc xảy ra trên cõi hồng trần, và chính trong đó có khó khăn. Các sự kiện bên trong của đời sống huyền môn, và những sự kiện phát sinh trên cõi trí, không quá khó để che giấu. Chúng không đến với các bạn cho đến khi các rung động của các bạn được điều chỉnh đủ cao cho chúng; và theo quy luật, khi điều đó xảy ra, tính cách có đủ ổn định và minh triết sẽ đi kèm. Nhưng với một sự kiện trên cõi hồng trần thì không như vậy. Cần phải làm gì? Các tư tưởng kia đi xuống từ bên trên; còn các tư tưởng sau này hoạt động đi lên từ cõi hồng trần và được tăng cường sinh lực bởi sự biết đến của nhiều người, thường là nhiều người thiếu khôn ngoan. Một loại bắt đầu một cách mơ hồ trên cõi trí, và chỉ loại thể trí cao hơn mới có thể kết hình nó, khoác cho nó chất liệu với độ chính xác hình học; và một thể trí như thế thường có minh triết từ chối khoác cho nó chất liệu của cõi cảm dục. Không như vậy với sự kiện trên cõi hồng trần. Nó [487] là một thực thể sống động, khoác trong chất liệu của cõi cảm dục và cõi trí khi các bạn mới gặp và tiếp xúc với nó. Các bạn sẽ tiếp sinh lực cho nó, hay sẽ chặn nó lại? Hãy chặn nó bằng một luồng trào và làn sóng bác ái dành cho người liên quan, bao bọc hình tư tưởng ấy và gửi nó trở lại người khởi phát, được mang trên đôi cánh của một đợt dâng chất liệu cõi cảm dục đủ mạnh để quét xuyên qua và bao quanh, có thể làm tan rã, nhưng chắc chắn trả nó về cho người gửi một cách vô hại. Có lẽ đó là một mẩu thông tin xấu, một lời dối trá hay một chuyện ngồi lê đôi mách. Hãy làm nó mất sinh lực bằng bác ái, phá vỡ nó thành từng mảnh bằng quyền năng của một hình tư tưởng đối lập về bình an và hòa hợp.
|
|
Or again, it may be true, some sad or evil occurrence or deed of some mistaken brother. What then is there to do? Truth cannot be devitalised or disintegrated. The Law of Absorption will aid you here. Into your heart you absorb the thought-form you encounter and there transmute it by the alchemy of love. Let me be practical and illustrate, for the matter is of importance.
|
Hoặc nữa, nó có thể là sự thật, một biến cố hay hành vi buồn thảm hoặc xấu xa của một huynh đệ lầm lạc nào đó. Khi ấy phải làm gì? Sự thật không thể bị làm mất sinh lực hay bị làm tan rã. Định luật Hấp Thụ sẽ giúp các bạn ở đây. Vào trong tim mình, các bạn hấp thụ hình tư tưởng mà các bạn gặp, và tại đó chuyển hoá nó bằng thuật luyện kim của bác ái. Hãy để tôi thực tiễn và minh họa, vì vấn đề này quan trọng.
|
|
Some brother comes to you and tells to you a fact about another brother—a fact involving what the world would call wrongdoing on that brother’s part. You who know so much more than the average man of the street, will realise that that so called wrongdoing may be but the working out of karma, or have its basis in a good motive wrongly construed. You add not to the talk, you do not hand on the information, as far as you are concerned the thought-form, built around the fact, has wandered into what you call a cul-de-sac.
|
Một huynh đệ nào đó đến với các bạn và kể cho các bạn một sự kiện về một huynh đệ khác, một sự kiện liên quan đến điều mà thế gian sẽ gọi là hành vi sai trái về phía huynh đệ ấy. Các bạn, những người biết nhiều hơn người bình thường ngoài phố, sẽ nhận ra rằng cái gọi là hành vi sai trái ấy có thể chỉ là sự vận hành của nghiệp quả, hoặc có nền tảng trong một động cơ tốt bị hiểu sai. Các bạn không thêm vào lời bàn, các bạn không truyền tiếp thông tin; xét về phía các bạn, hình tư tưởng được xây dựng quanh sự kiện ấy đã đi vào điều các bạn gọi là một ngõ cụt.
|
|
What do you then? You build a counter stream of thoughts which (on a wave of love) you send your apparently erring brother: thoughts of kindly assistance, of courage and aspiration, and of a wise application of the lessons to be learnt from the deed he has accomplished. Use not force, for strong thinkers must not unduly influence other minds, but a gentle stream of [488] wise transmuting love. We have here three methods, none strictly occult, for those later shall be imparted, but methods available for the many.
|
Vậy các bạn làm gì? Các bạn xây dựng một luồng tư tưởng đối lập, và trên một làn sóng bác ái, các bạn gửi nó đến huynh đệ dường như lầm lỗi của mình: những tư tưởng về sự trợ giúp thân ái, về lòng can đảm và khát vọng, và về sự áp dụng khôn ngoan các bài học cần được rút ra từ hành vi y đã thực hiện. Đừng dùng mãnh lực, vì các nhà tư tưởng mạnh không được ảnh hưởng quá mức đến các thể trí khác, mà hãy dùng một luồng dịu dàng của [488] bác ái minh triết có sức chuyển hoá. Ở đây chúng ta có ba phương pháp, không phương pháp nào hoàn toàn huyền môn, vì những phương pháp huyền môn ấy sẽ được truyền đạt về sau, nhưng là những phương pháp khả dụng cho số đông.
|
|
1. The thought form kept to the mental levels, i.e. the inhibiting of astral plane matter.
|
1. Hình tư tưởng được giữ lại ở các cấp độ cõi trí, tức là sự ngăn chặn chất liệu cõi cảm dục.
|
|
2. The thought-form broken up and disintegrated by a stream of love-force well-directed.
|
2. Hình tư tưởng bị phá vỡ và làm tan rã bởi một luồng mãnh lực bác ái được hướng dẫn đúng đắn.
|
|
3. The absorbing of the thought-form, and the formulation of a counter-thought of loving wisdom.
|
3. Sự hấp thụ hình tư tưởng, và việc kết hình một tư tưởng đối lập của minh triết yêu thương.
|
|
Inhibition—Disintegration—Absorption
|
Ngăn chặn—Làm tan rã—Hấp thụ
|
|
There are three main penalties which attach to the wrong use of thought substance, and from these the aspirant must learn to save himself, and to avoid those activities; eventually this will make the process of salvation unnecessary.
|
Có ba hình phạt chính gắn liền với việc sử dụng sai chất liệu tư tưởng, và khỏi những điều này người chí nguyện phải học cách tự cứu mình, đồng thời tránh các hoạt động ấy; cuối cùng, điều này sẽ làm cho tiến trình cứu thoát trở nên không cần thiết.
|
|
1. A potent thought-form can act like a boomerang. It can return, charged with increased velocity, to the one who sent it on its mission. A strong hatred, clothed in mental matter, can return to its creator charged with the energy of the hated person, and can hence work havoc in the life of the aspirant. Hate not, for hatred returns ever from whence it came. There is a depth of truth in the ancient aphorism: “Curses, like chickens, come home to roost.”
|
1. Một hình tư tưởng mạnh mẽ có thể tác động như một vật ném quay trở lại. Nó có thể trở về, được tích điện với tốc độ tăng thêm, với người đã phái nó đi thi hành sứ mệnh. Một thù hận mạnh mẽ, khoác trong chất liệu cõi trí, có thể trở về với người tạo ra nó, được tích điện bằng năng lượng của người bị thù ghét, và do đó có thể gây tàn phá trong đời sống của người chí nguyện. Đừng thù ghét, vì thù hận luôn trở về nơi nó đã xuất phát. Có một chiều sâu chân lý trong châm ngôn cổ: “Lời nguyền, như gà con, cuối cùng cũng về chuồng.”
|
|
A potent desire for material acquisition will eventually return bringing inevitably that which has been desired, only to find in the majority of cases that the aspirant no longer aches for possession, but regards it as an incubus, or, in the meantime, already possesses more than he needs and is satiated and knows not what to do with all that he has gained.
|
Một dục vọng mạnh mẽ đối với sự thủ đắc vật chất cuối cùng sẽ trở về, tất yếu mang theo điều đã được ham muốn, chỉ để thấy rằng trong đa số trường hợp, người chí nguyện không còn đau đáu muốn sở hữu nữa, mà xem nó như một gánh nặng đè nén; hoặc trong thời gian đó, y đã sở hữu nhiều hơn mức y cần, đã chán ngấy và không biết phải làm gì với tất cả những gì y đã đạt được.
|
|
A potent thought-form embodying an aspiration for spiritual illumination or for recognition by the Master may bring such a flood of light as to blind the aspirant, and make him consequently the possessor of a wealth of spiritual energy for which he is unready, and which he [489] cannot use. Again, it may attract to the aspirant a thought-form of one of the Great Ones, and thus swing him deeper into the world of illusion and of astralism. Hence the need for humility, for a longing to serve and a resulting self-forgetfulness if one is to build truly and correctly. Such is the law.
|
Một hình tư tưởng mạnh mẽ hiện thân khát vọng về sự soi sáng tinh thần hoặc về sự công nhận của Chân sư có thể mang đến một trận lũ ánh sáng đến mức làm mù người chí nguyện, và vì thế khiến y trở thành sở hữu chủ của một khối năng lượng tinh thần mà y chưa sẵn sàng, và y [489] không thể sử dụng. Lại nữa, nó có thể thu hút đến người chí nguyện một hình tư tưởng của một trong Các Đấng Cao Cả, và như vậy cuốn y sâu hơn vào thế giới ảo tưởng và tình trạng cảm dục. Vì thế cần có sự khiêm nhường, lòng khao khát phụng sự và kết quả là sự quên mình, nếu một người muốn xây dựng một cách chân thật và đúng đắn. Định luật là như vậy.
|
|
2. A thought-form can also act as a poisoning agent, and poison all the springs of life. It may not be potent enough to swing out of its creator’s aura (very few thought-forms are), and find its goal in another aura there to gather strength and so return from whence it came, but it may have a vitality of its own which can devastate the life of the aspirant. A violent dislike, a gnawing worry, a jealousy, a constant anxiety and a longing for something or someone may act so potently as an irritant or poison that the entire life is spoilt, and service is rendered futile. The entire life is embittered and devitalised by the embodied worry, hatred or desire. All relationships with other people are rendered equally futile or even definitely harmful, for the worried or suspicious aspirant spoils the home circle or his group of friends by his inner poisonous attitude, governed by an idea. His relation to his own soul and the strength of the contact with the world of spiritual ideas is at a standstill, for he cannot progress onward and is held back by the poison in his mental system. His vision becomes distorted, his nature corroded, and all his relationships impeded by the wearing, nagging thoughts which he has himself embodied in form and which have a life so powerful that they can poison him. He cannot rid himself of them no matter how hard he tries or how clearly he sees (theoretically) the cause of his trouble. This is one of the commonest forms of difficulty, for it has its seat in the selfish personal life, and is ofttimes so fluidic that it seems to defy direct action.
|
2. Một hình tư tưởng cũng có thể tác động như một tác nhân đầu độc, và đầu độc mọi nguồn mạch của sự sống. Nó có thể không đủ mạnh để văng ra khỏi hào quang của người tạo ra nó, rất ít hình tư tưởng có thể làm được như vậy, và tìm thấy mục tiêu của nó trong một hào quang khác, tại đó gom thêm sức mạnh rồi trở về nơi nó đã xuất phát; nhưng nó có thể có một sinh lực riêng có khả năng tàn phá đời sống của người chí nguyện. Một sự không ưa mãnh liệt, một nỗi lo âu gặm nhấm, một sự ghen tị, một nỗi bất an thường trực và một khao khát đối với một điều gì hay một người nào đó có thể tác động mạnh mẽ như một chất kích thích hoặc chất độc đến mức toàn bộ đời sống bị hủy hoại, và sự phụng sự trở nên vô hiệu. Toàn bộ đời sống bị làm đắng cay và mất sinh lực bởi nỗi lo, thù hận hoặc dục vọng đã được hiện thân. Mọi mối quan hệ với người khác đều trở nên vô hiệu như nhau, hoặc thậm chí rõ ràng có hại, vì người chí nguyện đầy lo âu hoặc nghi ngờ làm hỏng vòng gia đình hay nhóm bạn hữu của mình bằng thái độ độc hại bên trong, do một ý tưởng chi phối. Mối liên hệ của y với linh hồn của chính mình và sức mạnh của sự tiếp xúc với thế giới các ý tưởng tinh thần bị đình trệ, vì y không thể tiến tới và bị giữ lại bởi chất độc trong hệ thống trí tuệ của mình. Tầm nhìn của y trở nên méo mó, bản chất của y bị ăn mòn, và mọi mối quan hệ của y bị cản trở bởi các tư tưởng dai dẳng, quấy nhiễu mà chính y đã hiện thân trong hình tướng, và chúng có một sự sống mạnh đến mức có thể đầu độc y. Y không thể tự giải thoát khỏi chúng, dù cố gắng đến đâu hay thấy rõ về mặt lý thuyết nguyên nhân của rắc rối mình đến mức nào. Đây là một trong những hình thức khó khăn thông thường nhất, vì nó có gốc rễ trong đời sống cá nhân ích kỷ, và thường linh động đến mức dường như thách thức hành động trực tiếp.
|
|
3. The third danger against which the aspirant must [490] guard himself is becoming obsessed by his own embodied ideas, be they temporarily right or basically wrong. Forget not that all right ideas are temporary in nature and must eventually take their place as partial rights and give place to the greater truth. The fact of the day is seen later as part of a greater fact. A man can have grasped some of the lesser principles of the Ageless Wisdom so clearly and be so convinced of their correctness that the bigger whole is forgotten and he builds a thought-form about the partial truth which he has seen which can prove a limitation and keep him a prisoner and hold him back from progress. He is so sure of his possession of truth that he can see the truth of no one else. He can be so convinced of the reality of His own embodied concept of what the truth may be that he forgets his own brain limitations and that the truth has come to him via his own soul and is consequently coloured by his ray, being subsequently built into form by his personal separative mind. He lives but for that little truth; he can see no other; he forces his thought-form on other people; he becomes the obsessed fanatic and so mentally unbalanced, even if the world regards him as sane.
|
3. Mối nguy thứ ba mà người chí nguyện phải [490] tự canh giữ là bị ám ảnh bởi chính các ý tưởng được hiện thân của mình, dù chúng tạm thời đúng hay căn bản sai. Đừng quên rằng mọi ý tưởng đúng đều có bản chất tạm thời, và cuối cùng phải nhận vị trí của chúng như những chân lý đúng từng phần, rồi nhường chỗ cho chân lý lớn hơn. Sự kiện của ngày hôm nay về sau được thấy như một phần của một sự kiện lớn hơn. Một người có thể nắm bắt một số nguyên lý nhỏ hơn của Minh Triết Ngàn Đời một cách rõ ràng đến mức, và tin chắc vào sự đúng đắn của chúng đến mức, toàn thể lớn hơn bị quên lãng; và y xây dựng một hình tư tưởng quanh chân lý từng phần mà y đã thấy, một hình tư tưởng có thể trở thành giới hạn, giam giữ y như tù nhân và kìm hãm y khỏi tiến bộ. Y quá chắc chắn về việc mình sở hữu chân lý đến nỗi không thể thấy chân lý của bất cứ ai khác. Y có thể quá tin chắc vào thực tại của khái niệm được hiện thân của chính y về điều chân lý có thể là, đến mức y quên các giới hạn của bộ não mình và quên rằng chân lý đã đến với y qua linh hồn của chính y, do đó bị tô màu bởi cung của y, rồi sau đó được xây dựng thành hình tướng bởi thể trí cá nhân chia rẽ của y. Y sống chỉ vì chút chân lý nhỏ ấy; y không thể thấy điều nào khác; y áp đặt hình tư tưởng của mình lên người khác; y trở thành kẻ cuồng tín bị ám ảnh và do đó mất quân bình trí tuệ, dù thế gian xem y là lành mạnh.
|
|
How shall a man guard himself from these dangers? How shall he rightly build? How shall he preserve that balance which will enable him to see truth, judge rightly, and so preserve his mental contact with his soul and with the souls of his fellow men?
|
Làm thế nào một người tự canh giữ khỏi những mối nguy này? Làm thế nào y xây dựng đúng đắn? Làm thế nào y duy trì được sự quân bình giúp y thấy chân lý, phán đoán đúng, và nhờ đó duy trì sự tiếp xúc trí tuệ với linh hồn của mình và với linh hồn của đồng loại?
|
|
First and foremost, by the constant practice of Harmlessness. This involves harmlessness in speech and also in thought and consequently in action. It is a positive harmlessness, involving constant activity and watchfulness; it is not a negative and fluidic tolerance.
|
Trước hết và trên hết, bằng việc thực hành thường xuyên tính vô tổn hại. Điều này bao hàm tính vô tổn hại trong lời nói cũng như trong tư tưởng, và do đó trong hành động. Đó là một tính vô tổn hại tích cực, bao hàm hoạt động và sự tỉnh thức thường xuyên; nó không phải là một sự khoan dung tiêu cực và linh động.
|
|
Secondly, by a daily guarding of the doors of thought, and a supervision of the thought life. Certain lines of thought will not be permitted; certain old thought habits will be offset by the institution of constructive creative [491] thinking; certain preconceived ideas (note the esoteric value of that phrase), will be relegated to the background so that the new horizons will be visioned and the new ideas can enter. This will entail a daily, hourly watchfulness, but only until ancient habits have been overcome and the new rhythm established. Then the aspirant will discover that the mind is so focussed on the new spiritual ideas that the old thought-forms will fail to arrest the attention; they will die of inanition. There is encouragement in this thought. The first three years’ work will be the hardest. After that the mind will be engrossed by the ideas and not by the thought-form.
|
Thứ hai, bằng việc hằng ngày canh giữ các cánh cửa của tư tưởng, và giám sát đời sống tư tưởng. Một số đường lối tư tưởng sẽ không được phép tồn tại; một số thói quen tư tưởng cũ sẽ được hóa giải bằng việc thiết lập tư duy sáng tạo có tính xây dựng [491]; một số ý tưởng định kiến sẵn có — hãy lưu ý giá trị huyền bí của cụm từ ấy — sẽ được đẩy lùi vào hậu cảnh để những chân trời mới được linh thị và các ý tưởng mới có thể đi vào. Điều này sẽ đòi hỏi sự tỉnh thức hằng ngày, hằng giờ, nhưng chỉ cho đến khi các thói quen xưa cũ đã được vượt qua và nhịp điệu mới được thiết lập. Khi đó, người chí nguyện sẽ khám phá rằng thể trí tập trung đến mức vào các ý tưởng tinh thần mới đến nỗi những hình tư tưởng cũ không còn thu hút được sự chú ý; chúng sẽ chết vì thiếu nuôi dưỡng. Trong tư tưởng này có sự khích lệ. Công việc trong ba năm đầu sẽ là khó khăn nhất. Sau đó, thể trí sẽ bị cuốn hút bởi các ý tưởng, chứ không phải bởi hình tư tưởng.
|
|
Thirdly, by refusing to live in one’s own thought world and by entering the world of ideas and the stream of human thought currents. The world of ideas is the world of the soul, and of the higher mind. The stream of human thoughts and of opinions is that of the public consciousness and of the lower mind. The aspirant must function free in both worlds. Note this with care. The thought is not that he must function freely, which involves more the idea of facility but that he must function as a free agent in both worlds. Through constant daily meditation he does the first. Through wide reading and sympathetic interest and understanding he accomplishes the second.
|
Thứ ba, bằng việc từ chối sống trong thế giới tư tưởng riêng của mình và bằng cách đi vào thế giới của các ý tưởng cùng dòng chảy các luồng tư tưởng nhân loại. Thế giới của các ý tưởng là thế giới của linh hồn và của thượng trí. Dòng chảy các tư tưởng và ý kiến của nhân loại là dòng chảy của tâm thức công chúng và của hạ trí. Người chí nguyện phải hoạt động như một tác nhân tự do trong cả hai thế giới. Hãy lưu ý điều này một cách cẩn thận. Ý tưởng ở đây không phải là y phải hoạt động một cách dễ dàng, điều hàm ý nhiều hơn về sự thuận tiện, mà là y phải hoạt động như một tác nhân tự do trong cả hai thế giới. Nhờ tham thiền hằng ngày và đều đặn, y thực hiện điều thứ nhất. Nhờ đọc rộng, quan tâm với thiện cảm và thấu hiểu, y hoàn thành điều thứ hai.
|
|
Fourthly, he must learn to detach himself from his own thought creations, and leave them free to accomplish the purpose for which he intelligently sent them forth. This fourth process falls into two parts:
|
Thứ tư, y phải học cách tách rời mình khỏi các tạo tác tư tưởng của chính mình, và để chúng tự do hoàn thành mục đích mà y đã thông minh phóng chúng ra. Tiến trình thứ tư này chia thành hai phần:
|
|
1. By the use of a mystic phrase he severs the link which holds an embodied idea in his thought-aura.
|
1. Bằng việc sử dụng một cụm từ thần bí, y cắt đứt mối liên kết đang giữ một ý tưởng đã nhập thể trong hào quang tư tưởng của y.
|
|
2. By detaching his mind from the idea, once he has sent it on its mission, he learns the lesson of the Bhagavad Gita and “works without attachment”.
|
2. Bằng cách tách thể trí của y khỏi ý tưởng, một khi y đã phái nó đi thực hiện sứ mệnh, y học bài học của Chí Tôn Ca và “làm việc không chấp trước”.
|
|
These two points will vary according to the growth and status of the aspirant. Each has, for himself, to formulate [492] his own “severing phrase”, and each has for himself, alone and unaided, to learn to look away from the three worlds wherein he works in his effort to push his idea of the work to be done. He has to teach himself to withdraw his attention from the thought-form he has built, wherein that idea is embodied, knowing that as he lives as a soul, and as spiritual energy pours through him so his thought-form will express the spiritual idea and accomplish its work. It is held together by the life of the soul, and not by personality desire. The tangible results are ever dependent upon the strength of the spiritual impulse animating his idea, which is embodied in his thought-form. His work lies in the world of ideas and not in physical effects. Automatically the physical aspects will respond to the spiritual impulse.
|
Hai điểm này sẽ thay đổi tùy theo sự trưởng thành và địa vị của người chí nguyện. Mỗi người phải tự mình tạo lập [492] “cụm từ cắt đứt” của riêng mình, và mỗi người phải tự mình, một mình và không được trợ giúp, học cách quay cái nhìn khỏi ba cõi giới nơi y làm việc trong nỗ lực thúc đẩy ý tưởng của mình về công việc cần làm. Y phải tự dạy mình rút sự chú ý khỏi hình tư tưởng mà y đã xây dựng, trong đó ý tưởng ấy được nhập thể, biết rằng khi y sống như một linh hồn, và khi năng lượng tinh thần tuôn chảy qua y, thì hình tư tưởng của y sẽ biểu lộ ý tưởng tinh thần và hoàn thành công việc của nó. Nó được giữ lại với nhau bởi sự sống của linh hồn, chứ không phải bởi dục vọng của phàm ngã. Các kết quả hữu hình luôn tùy thuộc vào sức mạnh của xung lực tinh thần đang làm linh hoạt ý tưởng của y, vốn được nhập thể trong hình tư tưởng của y. Công việc của y nằm trong thế giới của các ý tưởng chứ không nằm trong các hiệu quả hồng trần. Các phương diện hồng trần sẽ tự động đáp ứng với xung lực tinh thần.
|
|
We come now to the second phase of our study of the final words of Rule XI. We have dealt with salvation from the dangers incident to the creation of thoughtforms by a human being who has learnt, or is learning, to create on the mental plane. Much could have been said from the standpoint of the inability of the majority of students to think with clarity. Clear thinking involves capacity to dissociate oneself, temporarily at least, from all reactions and activities of an emotional nature. As long as the astral body is in a state of restless movement, and its moods and feelings, its desires and emotions are powerful enough to attract attention, positive pure thought processes are not possible. Until the time comes when there is a more general appreciation of the value of concentration and of meditation, and until the nature of the mind and its modifications are more universally understood, any further teaching on the subject would be futile.
|
Giờ đây chúng ta đi đến giai đoạn thứ hai trong việc nghiên cứu những lời cuối của Quy luật XI. Chúng ta đã đề cập đến sự cứu thoát khỏi những hiểm nguy gắn liền với việc tạo ra các hình tư tưởng bởi một con người đã học, hoặc đang học, cách sáng tạo trên cõi trí. Có thể nói rất nhiều từ lập trường về sự bất lực của đa số đạo sinh trong việc suy nghĩ rõ ràng. Tư duy rõ ràng bao hàm khả năng tách mình ra, ít nhất là tạm thời, khỏi mọi phản ứng và hoạt động thuộc bản chất cảm xúc. Bao lâu thể cảm dục còn ở trong trạng thái chuyển động bất an, và các tâm trạng, cảm xúc, dục vọng cùng xúc cảm của nó còn đủ mạnh để thu hút sự chú ý, thì các tiến trình tư tưởng thuần khiết và tích cực không thể có được. Cho đến khi đến lúc người ta biết trân trọng rộng rãi hơn giá trị của định trí và tham thiền, và cho đến khi bản chất của thể trí cùng các biến thái của nó được thấu hiểu phổ quát hơn, thì mọi giáo huấn thêm nữa về đề tài này đều sẽ vô ích.
|
|
In these Instructions I have sought to give an indication [493] of the first steps in esoteric psychology, and have dealt primarily with the nature and mode of training of the astral body. Later on in this century, the psychology of the mind, its nature and modifications may be handled in more detail. But the time is not yet.
|
Trong các Huấn thị này, Tôi đã tìm cách đưa ra một chỉ dẫn [493] về những bước đầu trong Tâm Lý Học Nội Môn, và chủ yếu đã đề cập đến bản chất cùng phương thức huấn luyện thể cảm dục. Về sau trong thế kỷ này, tâm lý học của thể trí, bản chất và các biến thái của nó, có thể được xử lý chi tiết hơn. Nhưng thời điểm ấy chưa đến.
|
|
Our subject now is salvation from the body nature through the process of death.
|
Đề tài của chúng ta hiện nay là sự cứu thoát khỏi bản chất thân thể thông qua tiến trình cái chết.
|
|
Two things must be borne in mind as we seek to study the means of this salvation:
|
Có hai điều cần được ghi nhớ khi chúng ta tìm cách nghiên cứu phương tiện của sự cứu thoát này:
|
|
First, by the body nature I mean the integrated personality, or the human equipment of physical body, vital or etheric vehicle, the matter (or mode of being) of the desire nature, and the mind stuff. These constitute the sheaths or outer forms of the incarnated soul. The consciousness aspect is sometimes focussed in one and sometimes in another, or is identified with the form or with the soul. The average man works with facility and self-consciousness in the physical and astral bodies. The intelligent and highly evolved man has added to these two the conscious control of his mental apparatus, though only in certain of its aspects, such as the memorising or analysing faculties. He has also, in some cases, succeeded in unifying these three into a consciously functioning personality. The aspirant is beginning to understand something of the principle of life which is animating the personality, whilst the disciple is utilising all three, because he has coordinated or aligned the soul, the mind, and the brain and is therefore beginning to work with his subjective apparatus or energy aspects.
|
Trước hết, khi nói đến bản chất thân thể, Tôi muốn nói đến Phàm ngã tích hợp, hay trang bị con người gồm thể xác, vận cụ sinh lực hay dĩ thái, chất liệu — hay phương thức hiện hữu — của bản chất dục vọng, và chất liệu cõi trí. Những điều này cấu thành các lớp vỏ hay các hình tướng bên ngoài của linh hồn đang nhập thể. Phương diện tâm thức đôi khi tập trung trong lớp này, đôi khi trong lớp khác, hoặc đồng hóa với hình tướng hay với linh hồn. Người bình thường hoạt động dễ dàng và có ngã thức trong thể xác và thể cảm dục. Người thông minh và tiến hóa cao đã thêm vào hai thể này sự kiểm soát có ý thức đối với bộ máy trí tuệ của mình, dù chỉ trong một số phương diện của nó, như các năng lực ghi nhớ hay phân tích. Trong một vài trường hợp, y cũng đã thành công trong việc hợp nhất ba yếu tố này thành một phàm ngã hoạt động có ý thức. Người chí nguyện đang bắt đầu thấu hiểu đôi chút về nguyên khí sự sống vốn làm linh hoạt phàm ngã, trong khi người đệ tử đang sử dụng cả ba, bởi vì y đã phối hợp hay chỉnh hợp linh hồn, thể trí và bộ não, và do đó đang bắt đầu làm việc với bộ máy chủ quan hay các phương diện năng lượng của mình.
|
|
Secondly, this salvation is brought about through a right understanding of the mystical experience we call death. This is to be our theme, and the subject is so immense that I can only indicate certain lines along which the aspirant may think, and posit certain premises which he can later elaborate. We shall confine ourselves also primarily to the death of the physical body. [494]
|
Thứ hai, sự cứu thoát này được đem lại nhờ sự thấu hiểu đúng đắn về kinh nghiệm thần bí mà chúng ta gọi là cái chết. Đây sẽ là chủ đề của chúng ta, và đề tài này rộng lớn đến mức Tôi chỉ có thể chỉ ra một số đường hướng mà người chí nguyện có thể suy nghĩ, và nêu lên một số tiền đề mà về sau y có thể khai triển. Chúng ta cũng sẽ tự giới hạn chủ yếu vào cái chết của thể xác. [494]
|
|
Let us first of all define this mysterious process to which all forms are subject and which is frequently only the dreaded end—dreaded because it is not understood. The mind of man is so little developed that fear of the unknown, terror of the unfamiliar, and attachment to form have brought about a situation where one of the most beneficent occurrences in the life cycle of an incarnating Son of God is looked upon as something to be avoided and postponed for as long a time as possible.
|
Trước hết, chúng ta hãy định nghĩa tiến trình huyền bí này, mà mọi hình tướng đều phải chịu, và thường chỉ được xem như một kết thúc đáng sợ — đáng sợ vì nó không được thấu hiểu. Thể trí của con người còn phát triển quá ít đến nỗi nỗi sợ điều chưa biết, sự kinh hoàng trước điều xa lạ, và sự bám chấp vào hình tướng đã tạo nên một tình trạng trong đó một trong những biến cố phúc lành nhất trong chu kỳ sống của một Con của Thượng đế đang nhập thể lại bị xem như điều cần tránh né và trì hoãn càng lâu càng tốt.
|
|
Death, if we could but realise it, is one of our most practised activities. We have died many times and shall die again and again. Death is essentially a matter of consciousness. We are conscious one moment on the physical plane, and a moment later we have withdrawn onto another plane and are actively conscious there. Just as long as our consciousness is identified with the form aspect, death will hold for us its ancient terror. Just as soon as we know ourselves to be souls, and find that we are capable of focussing our consciousness or sense of awareness in any form or on any plane at will, or in any direction within the form of God, we shall no longer know death.
|
Nếu chúng ta có thể nhận ra, cái chết là một trong những hoạt động mà chúng ta thực hành nhiều nhất. Chúng ta đã chết nhiều lần và sẽ còn chết đi chết lại. Về bản chất, cái chết là một vấn đề của tâm thức. Trong khoảnh khắc này chúng ta có ý thức trên cõi hồng trần, và khoảnh khắc tiếp theo chúng ta đã rút lui sang một cõi khác và có ý thức hoạt động ở đó. Bao lâu tâm thức của chúng ta còn đồng hóa với phương diện hình tướng, cái chết sẽ còn giữ đối với chúng ta nỗi kinh hoàng cổ xưa của nó. Ngay khi chúng ta biết mình là linh hồn, và nhận thấy rằng chúng ta có khả năng tùy ý tập trung tâm thức hay cảm thức nhận biết của mình trong bất kỳ hình tướng nào, trên bất kỳ cõi nào, hoặc theo bất kỳ hướng nào trong hình tướng của Thượng đế, chúng ta sẽ không còn biết đến cái chết nữa.
|
|
Death for the average man is the cataclysmic end, involving the termination of all human relations, the cessation of all physical activity, the severing of all signs of love and of affection, and the passage (unwilling and protesting) into the unknown and the dreaded. It is analogous to leaving a lighted and a warmed room, friendly and familiar, where our loved ones are assembled, and going out into the cold and dark night, alone and terror stricken, hoping for the best and sure of nothing.
|
Đối với người bình thường, cái chết là sự kết thúc mang tính thảm họa, bao hàm sự chấm dứt mọi quan hệ nhân loại, sự ngưng lại của mọi hoạt động hồng trần, sự cắt đứt mọi dấu hiệu của tình thương và tình cảm, và sự đi vào điều chưa biết và đáng sợ trong trạng thái không muốn và phản kháng. Nó tương tự như rời khỏi một căn phòng sáng đèn và ấm áp, thân thiện và quen thuộc, nơi những người thân yêu của chúng ta tụ họp, rồi đi ra ngoài vào đêm tối lạnh lẽo, một mình và đầy kinh hãi, hy vọng điều tốt đẹp nhất mà không chắc chắn điều gì.
|
|
But people are apt to forget that every night, in the hours of sleep, we die to the physical plane and are alive and functioning elsewhere. They forget that they have already achieved facility in leaving the physical body; [495] because they cannot as yet bring back into the physical brain consciousness the recollection of that passing out, and of the subsequent interval of active living, they fail to relate death and sleep. Death, after all, is only a longer interval in the life of physical plane functioning; one has only “gone abroad” for a longer period. But the process of daily sleep and the process of occasional dying are identical, with the one difference that in sleep the magnetic thread or current of energy along which the life force streams is preserved intact, and constitutes the path of return to the body. In death, this life thread is broken or snapped. When this has happened, the conscious entity cannot return to the dense physical body and that body lacking the principle of coherence, then disintegrates.
|
Nhưng người ta dễ quên rằng mỗi đêm, trong những giờ ngủ, chúng ta chết đối với cõi hồng trần và sống, hoạt động ở nơi khác. Họ quên rằng họ đã đạt được sự dễ dàng trong việc rời khỏi thể xác; [495] vì họ chưa thể đem trở lại vào tâm thức bộ não hồng trần ký ức về sự ra đi ấy, và về khoảng thời gian sống động sau đó, nên họ không liên hệ được cái chết với giấc ngủ. Xét cho cùng, cái chết chỉ là một khoảng gián đoạn dài hơn trong đời sống hoạt động trên cõi hồng trần; người ta chỉ “đi xa” trong một thời gian dài hơn. Nhưng tiến trình ngủ hằng ngày và tiến trình thỉnh thoảng chết đi là đồng nhất, với một khác biệt duy nhất: trong giấc ngủ, sợi dây từ tính hay dòng năng lượng dọc theo đó sinh lực tuôn chảy vẫn được giữ nguyên vẹn, và tạo thành con đường trở về với thể xác. Trong cái chết, sinh mệnh tuyến này bị đứt hay bị cắt lìa. Khi điều này xảy ra, thực thể có ý thức không thể trở về thể xác đậm đặc, và thể xác ấy, thiếu nguyên khí cố kết, khi đó tan rã.
|
|
It should be remembered that the purpose and will of the soul, the spiritual determination to be and to do, utilises the thread soul, the sutratma, the life current, as its means of expression in form. This life current differentiates into two currents or two threads when it reaches the body, and is “anchored”, if I might so express it, in two locations in that body. This is symbolic of the differentiations of Atma, or Spirit, into its two reflections, soul and body. The soul, or consciousness aspect, that which makes a human being a rational, thinking entity, is “anchored” by one aspect of this thread soul to a “seat” in the brain, found in the region of the pineal gland. The other aspect of the life which animates every atom of the body and which constitutes the principle of coherence or of integration, finds its way to the heart and is focussed or “anchored” there. From these two points, the spiritual man seeks to control the mechanism. Thus functioning on the physical plane becomes possible, and objective existence becomes a temporary mode of expression. The soul, seated in the brain, makes man an intelligent rational entity, self-conscious and self-directing; [496] he is aware in varying degree of the world in which he lives, according to the point in evolution and the consequent development of the mechanism. That mechanism is triple in expression. There are first of all the nadis and the seven centres of force; then the nervous system in its three divisions: cerebro-spinal, sympathetic, and peripheral; and then there is the endocrine system, which might be regarded as the densest aspect or externalisation of the other two.
|
Cần nhớ rằng mục đích và ý chí của linh hồn, quyết tâm tinh thần để hiện hữu và hành động, sử dụng sợi dây linh hồn, tức sinh mệnh tuyến, dòng sinh lực, như phương tiện biểu lộ của nó trong hình tướng. Dòng sinh lực này biến phân thành hai dòng hay hai sợi dây khi nó đến thể xác, và được “neo lại”, nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy, tại hai vị trí trong thể xác ấy. Điều này tượng trưng cho các sự biến phân của Atma, hay Tinh thần, thành hai phản chiếu của nó: linh hồn và thân thể. Linh hồn, hay phương diện tâm thức, cái làm cho một con người trở thành một thực thể có lý trí và biết suy nghĩ, được “neo” bởi một phương diện của sợi dây linh hồn này vào một “chỗ ngồi” trong bộ não, nằm ở vùng tuyến tùng. Phương diện kia của sự sống, vốn làm linh hoạt mọi nguyên tử của thể xác và cấu thành nguyên khí cố kết hay tích hợp, tìm đường đến trái tim và được tập trung hay “neo” ở đó. Từ hai điểm này, con người tinh thần tìm cách kiểm soát bộ máy. Nhờ vậy, việc hoạt động trên cõi hồng trần trở nên khả hữu, và sự tồn tại khách quan trở thành một phương thức biểu lộ tạm thời. Linh hồn, an tọa trong bộ não, làm cho con người trở thành một thực thể thông minh, có lý trí, có ngã thức và tự hướng dẫn; [496] y nhận biết ở những mức độ khác nhau về thế giới trong đó y sống, tùy theo điểm tiến hoá và sự phát triển hệ quả của bộ máy. Bộ máy ấy có biểu lộ tam phân. Trước hết là các tuyến lực và bảy trung tâm mãnh lực; kế đó là hệ thần kinh trong ba phân bộ của nó: não tủy, giao cảm và ngoại biên; rồi đến hệ nội tiết, có thể được xem như phương diện đậm đặc nhất hay sự ngoại hiện của hai hệ kia.
|
|
The soul, seated in the heart, is the life principle, the principle of self-determination, the central nucleus of positive energy by means of which all the atoms of the body are held in their right place and subordinated to the “will-to-be” of the soul. This principle of life utilises the blood stream as its mode of expression and as its controlling agency, and through the close relation of the endocrine system to the blood stream, we have the two aspects of soul activity brought together in order to make man a living, conscious, functioning entity, governed by the soul, and expressing the purpose of the soul in all the activities of daily living.
|
Linh hồn, an tọa trong trái tim, là nguyên khí sự sống, nguyên khí tự quyết, hạt nhân trung tâm của năng lượng dương nhờ đó mọi nguyên tử của thể xác được giữ đúng vị trí của chúng và được đặt dưới “ý chí hiện hữu” của linh hồn. Nguyên khí sự sống này sử dụng dòng máu như phương thức biểu lộ và như cơ quan kiểm soát của nó, và thông qua mối liên hệ mật thiết giữa hệ nội tiết với dòng máu, chúng ta có hai phương diện của hoạt động linh hồn được đem lại với nhau để khiến con người thành một thực thể sống động, có ý thức, đang hoạt động, được linh hồn cai quản, và biểu lộ mục đích của linh hồn trong mọi hoạt động của đời sống hằng ngày.
|
|
Death, therefore, is literally the withdrawal from the heart and from the head of these two streams of energy, producing consequently, complete loss of consciousness and disintegration of the body. Death differs from sleep in that both streams of energy are withdrawn. In sleep only the thread of energy, which is anchored in the brain is withdrawn, and when this happens the man becomes unconscious. By this we mean that his consciousness or sense of awareness is focussed elsewhere. His attention is no longer directed towards things tangible and physical but is turned upon another world of being and becomes centred in another apparatus or mechanism. In death, both the threads are withdrawn or unified in the life thread. Vitality ceases to penetrate through the medium of the blood stream and the heart fails to function [497] just as the brain fails to record, and thus silence settles down. The house is empty. Activity ceases except that amazing and immediate activity which is the prerogative of matter itself and which expresses itself in the process of decomposition. From certain aspects, therefore, that process indicates man’s unity with everything that is material; it demonstrates that he is part of nature itself and by nature we mean the body of the one life in whom “we live and move and have our being”. In those three words—living, moving and being—we have the entire story. Being is awareness, self consciousness and self-expression and of this man’s head and brain are the exoteric symbols. Living is energy, desire in form, coherence and adhesion to an idea and of this the heart and the blood are the exoteric symbols. Moving indicates the integration and response of the existing, aware, living entity into the universal activity, and of this the stomach, pancreas and liver are the symbols.
|
Do đó, cái chết, theo nghĩa đen, là sự rút lui khỏi trái tim và khỏi đầu của hai dòng năng lượng này, và hệ quả là tạo ra sự mất hoàn toàn tâm thức cùng sự tan rã của thể xác. Cái chết khác với giấc ngủ ở chỗ cả hai dòng năng lượng đều được rút lui. Trong giấc ngủ, chỉ sợi dây năng lượng được neo trong bộ não là được rút lui, và khi điều này xảy ra, con người trở nên vô thức. Bằng điều này, chúng ta muốn nói rằng tâm thức hay cảm thức nhận biết của y được tập trung ở nơi khác. Sự chú ý của y không còn hướng về những điều hữu hình và hồng trần, mà quay sang một thế giới hiện hữu khác và trở nên tập trung trong một bộ máy hay cơ chế khác. Trong cái chết, cả hai sợi dây đều được rút lui hoặc hợp nhất trong sinh mệnh tuyến. Sinh lực ngừng thâm nhập qua trung gian dòng máu và trái tim không còn hoạt động [497] cũng như bộ não không còn ghi nhận, và như thế sự im lặng lắng xuống. Ngôi nhà trống rỗng. Hoạt động chấm dứt, ngoại trừ hoạt động kỳ diệu và tức thời vốn là đặc quyền của chính vật chất và biểu lộ qua tiến trình phân hủy. Do đó, xét từ một số phương diện, tiến trình ấy cho thấy sự hợp nhất của con người với mọi điều thuộc vật chất; nó chứng minh rằng y là một phần của chính thiên nhiên, và bởi thiên nhiên chúng ta muốn nói đến thân thể của sự sống duy nhất trong đó “chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu”. Trong ba từ ấy — sống, chuyển động và hiện hữu — chúng ta có toàn bộ câu chuyện. Hiện hữu là nhận biết, ngã thức và tự biểu lộ, và đầu cùng bộ não của con người là các biểu tượng ngoại môn của điều này. Sống là năng lượng, dục vọng trong hình tướng, sự cố kết và sự gắn bó với một ý tưởng, và trái tim cùng máu là các biểu tượng ngoại môn của điều này. Chuyển động chỉ sự tích hợp và đáp ứng của thực thể đang hiện hữu, đang nhận biết, đang sống đối với hoạt động phổ quát, và dạ dày, tụy cùng gan là các biểu tượng của điều này.
|
|
It is interesting, though incidental to our subject, to bear in mind that in cases of imbecility and idiocy and in that stage of old age which we call senile decay, the thread which is anchored in the brain is withdrawn, whilst that which conveys the life impulse or urge remains still anchored in the heart. There is life but no intelligent awareness; there is movement but no intelligent direction; in the case of senile decay, when there has been a high grade apparatus utilized in life, there may be the appearance of intelligent functioning but that is an illusion due to old habit and to old established rhythm but not to coordinated coherent purpose.
|
Điều thú vị, dù chỉ là phụ đối với đề tài của chúng ta, là cần ghi nhớ rằng trong các trường hợp đần độn và ngu si, cũng như trong giai đoạn tuổi già mà chúng ta gọi là suy thoái lão niên, sợi dây được neo trong bộ não đã được rút lui, trong khi sợi dây truyền xung lực hay thôi thúc sự sống vẫn còn neo trong trái tim. Có sự sống nhưng không có nhận biết thông minh; có chuyển động nhưng không có sự hướng dẫn thông minh; trong trường hợp suy thoái lão niên, khi trong đời sống đã từng sử dụng một bộ máy thuộc cấp độ cao, có thể có vẻ ngoài của hoạt động thông minh, nhưng đó là một ảo tưởng do thói quen cũ và nhịp điệu đã thiết lập từ lâu, chứ không phải do mục đích phối hợp và cố kết.
|
|
It must be noted also that death is, therefore, undertaken at the direction of the ego, no matter how unaware a human being may be of that direction. The process works automatically with the majority, for when the soul withdraws its attention the inevitable reaction on the physical plane is death, either by the abstraction of the [498] dual threads of life and reason energy, or by the abstraction of the thread of energy which is qualified by mentality, leaving the life stream still functioning through the heart but no intelligent awareness. The soul is engaged elsewhere and occupied on its own plane with its own affairs.
|
Cũng cần lưu ý rằng, do đó, cái chết được thực hiện theo sự chỉ dẫn của chân ngã, bất kể một con người có thể không nhận biết đến mức nào về sự chỉ dẫn ấy. Đối với đa số, tiến trình này vận hành tự động, vì khi linh hồn rút sự chú ý của nó, phản ứng tất yếu trên cõi hồng trần là cái chết, hoặc bằng sự rút lấy [498] hai sợi dây của sự sống và năng lượng lý trí, hoặc bằng sự rút lấy sợi dây năng lượng được phẩm định bởi trí tuệ, để lại dòng sự sống vẫn hoạt động qua trái tim nhưng không có nhận biết thông minh. Linh hồn đang bận rộn ở nơi khác và lo việc riêng trên cõi riêng của nó.
|
|
In the case of highly developed human beings we often find a sense of pre-vision as to the death period; this is incident upon egoic contact and awareness of the wishes of the ego. It involves sometimes a knowledge of the very day of death, coupled to a preservation of self-determination up to the final moment of withdrawal. In the case of initiates there is much more than this. There is an intelligent understanding of the laws of abstraction and this enables the one who is making the transition to withdraw consciously and in full waking awareness out of the physical body and so to function on the astral plane. This involves the preservation of continuity of consciousness so that no hiatus occurs between the sense of awareness on the physical plane and that of the after death state. The man knows himself to be as he was before, though without an apparatus whereby he can contact the physical plane. He remains aware of the states of feeling and of the thoughts of those he loves, though he cannot perceive or contact the dense physical vehicle. He can communicate with them on the astral plane or telepathically through the mind if they and he are en rapport, but communication that involves the use of the five physical senses of perception lies necessarily out of his reach. It is useful to remember, however, that astrally and mentally the interplay can be closer and more sensitive than ever before for he is freed of the handicap of the physical body. Two things, however, militate against this interplay: one is the grief and violent emotional upset of those left behind and, in the case of the average human being, the other is the man’s own ignorance [499] and bewilderment as he stands faced by what are to him new conditions, though they are really old conditions, if he could but realize it. Once men have lost the fear of death and have established an understanding of the after-death world which is not based on hallucination and hysteria or on the conclusions (oft unintelligent) of the average medium, who speaks under the control of his own thought-form (built by himself and the circle of sitters), we shall have the process of death properly controlled. The condition of those left behind will be carefully handled so that there is no loss of relationship and no false expenditure of energy.
|
Trong trường hợp những con người phát triển cao, chúng ta thường thấy có một cảm thức tiên kiến về thời kỳ chết; điều này gắn liền với sự tiếp xúc chân ngã và sự nhận biết các ý muốn của chân ngã. Đôi khi nó bao hàm sự biết rõ chính ngày chết, đi kèm với việc duy trì quyền tự quyết cho đến khoảnh khắc cuối cùng của sự rút lui. Trong trường hợp các điểm đạo đồ, còn có nhiều hơn thế. Có một sự thấu hiểu thông minh về các định luật của sự rút lấy, và điều này cho phép người đang thực hiện chuyển tiếp rút lui một cách có ý thức và trong trạng thái tỉnh thức trọn vẹn ra khỏi thể xác, rồi hoạt động trên cõi cảm dục. Điều này bao hàm việc duy trì tính liên tục của tâm thức, để không có khoảng đứt đoạn nào xảy ra giữa cảm thức nhận biết trên cõi hồng trần và cảm thức của trạng thái sau khi chết. Con người biết mình vẫn là chính mình như trước, dù không còn một bộ máy nhờ đó y có thể tiếp xúc với cõi hồng trần. Y vẫn nhận biết các trạng thái cảm xúc và các tư tưởng của những người y yêu thương, dù y không thể nhận thức hay tiếp xúc với vận cụ hồng trần đậm đặc. Y có thể giao tiếp với họ trên cõi cảm dục hoặc bằng viễn cảm qua thể trí nếu họ và y ở trong sự hòa hợp cảm ứng, nhưng sự giao tiếp bao hàm việc sử dụng năm giác quan tri giác hồng trần tất yếu nằm ngoài tầm với của y. Tuy nhiên, hữu ích khi nhớ rằng về mặt cảm dục và trí tuệ, sự tương tác có thể gần gũi và nhạy bén hơn bao giờ hết, vì y đã được giải thoát khỏi sự cản trở của thể xác. Tuy nhiên, có hai điều chống lại sự tương tác này: một là nỗi đau buồn và sự xáo trộn cảm xúc dữ dội của những người ở lại, và trong trường hợp con người bình thường, điều kia là sự vô minh [499] và hoang mang của chính người ấy khi y đối diện với những điều kiện đối với y là mới, dù thật ra chúng là những điều kiện cũ, nếu y chỉ có thể nhận ra điều đó. Một khi con người đã mất đi nỗi sợ cái chết và đã thiết lập một sự thấu hiểu về thế giới sau khi chết không dựa trên ảo giác và kích động cuồng loạn, cũng không dựa trên các kết luận — thường thiếu thông minh — của đồng tử trung bình, người nói dưới sự kiểm soát của chính hình tư tưởng của mình, do bản thân y và vòng người tham dự xây dựng, thì chúng ta sẽ có tiến trình cái chết được kiểm soát đúng đắn. Tình trạng của những người ở lại sẽ được xử lý cẩn thận, để không có sự mất mát quan hệ và không có sự tiêu hao năng lượng sai lầm.
|
|
There is a big difference now between the scientific method of bringing people into incarnation and the perfectly blind and oft frightened and surely ignorant way in which we usher them out of incarnation. I seek today to open the door in the occident to a newer and more scientific method of handling the process of dying, and let me make myself perfectly clear. What I have to say in no way abrogates modern medical science with its palliatives and skill. All I plead for is a sane approach to death; all I seek to make is a suggestion that when pain has worn itself out and weakness has supervened, the dying person be permitted to prepare himself, even if apparently unconscious, for the great transition. Forget not that it takes strength and a strong hold on the nervous apparatus to produce pain. Is it impossible to conceive of a time when the act of dying will be a triumphant finale of life? Is it impossible to vision the time when the hours spent on the death bed may be but a glorious prelude to a conscious exit? When the fact that the man is to discard the handicap of the physical sheath may be for him and those around him the long waited for and joyous consummation? Can you not visualize the time when instead of tears and fear and the refusal to recognize the inevitable, the dying person and [500] his friends would mutually agree on the hour and that nothing but happiness would characterize the passing? That in the minds of those left behind the thought of sorrow will not enter and death beds will be regarded as happier occasions than births and marriages? I tell you, that before so very long this will be deeply so for the intelligent of the race, and little by little for all.
|
Hiện nay có một khác biệt lớn giữa phương pháp khoa học trong việc đưa con người vào lâm phàm và cách hoàn toàn mù quáng, thường đầy sợ hãi và chắc chắn vô minh mà chúng ta tiễn họ ra khỏi lâm phàm. Hôm nay, Tôi tìm cách mở cánh cửa ở phương Tây cho một phương pháp mới hơn và khoa học hơn trong việc xử lý tiến trình chết, và hãy để Tôi nói thật rõ. Điều Tôi phải nói không hề bác bỏ khoa học y học hiện đại với các phương tiện giảm đau và kỹ năng của nó. Tất cả những gì Tôi kêu gọi là một cách tiếp cận lành mạnh đối với cái chết; tất cả những gì Tôi tìm cách đưa ra là một gợi ý rằng khi đau đớn đã tự cạn kiệt và sự yếu sức đã ập đến, người sắp chết nên được phép chuẩn bị cho chính mình, ngay cả khi bề ngoài dường như vô thức, cho cuộc chuyển tiếp lớn lao. Đừng quên rằng cần có sức mạnh và sự nắm giữ mạnh mẽ trên bộ máy thần kinh mới tạo ra được đau đớn. Có phải không thể hình dung một thời điểm khi hành động chết đi sẽ là đoạn kết khải hoàn của đời sống? Có phải không thể linh thị thời điểm khi những giờ nằm trên giường chết chỉ là khúc dạo đầu huy hoàng cho một cuộc ra đi có ý thức? Khi sự kiện con người sắp loại bỏ chướng ngại của lớp vỏ hồng trần có thể là sự viên thành hoan hỉ và được chờ đợi từ lâu đối với y và những người chung quanh y? Các bạn không thể hình dung thời điểm khi thay vì nước mắt, sợ hãi và sự từ chối nhận ra điều không thể tránh khỏi, người sắp chết và [500] bạn bè của y sẽ cùng đồng thuận về giờ phút ấy, và chỉ có hạnh phúc đặc trưng cho sự ra đi đó sao? Rằng trong tâm trí của những người ở lại, tư tưởng buồn đau sẽ không đi vào, và giường chết sẽ được xem là những dịp hạnh phúc hơn cả sinh nở và hôn lễ? Tôi nói với các bạn rằng, chẳng bao lâu nữa điều này sẽ sâu sắc là như vậy đối với những người thông minh trong nhân loại, và dần dần đối với tất cả mọi người.
|
|
You say there are as yet only beliefs as to immortality and no sure evidences. In the accumulation of testimony, in the inner assurances of the human heart, in the fact of belief in eternal persistence as an idea in the minds of men lies sure indication. But indication will give place to conviction and knowledge before another hundred years has elapsed, for an event will take place and a revelation be given to the race which will turn hope into certainty and belief into knowledge. In the meantime, let a new attitude to death be cultivated and a new science of death be inaugurated. Let it cease to be the one thing we cannot control and which inevitably defeats us and let us begin to control our passing over to the other side, and to understand somewhat the technique of transition.
|
Các bạn nói rằng cho đến nay chỉ có những niềm tin về sự bất tử và không có bằng chứng chắc chắn. Trong sự tích lũy chứng ngôn, trong những xác tín bên trong của trái tim con người, trong sự kiện niềm tin vào sự tồn tại vĩnh cửu như một ý tưởng trong tâm trí con người, có một chỉ dấu chắc chắn. Nhưng chỉ dấu sẽ nhường chỗ cho xác tín và tri thức trước khi một trăm năm nữa trôi qua, vì một biến cố sẽ xảy ra và một sự mặc khải sẽ được ban cho nhân loại, điều sẽ biến hy vọng thành chắc chắn và niềm tin thành tri thức. Trong khi chờ đợi, hãy vun trồng một thái độ mới đối với cái chết và khởi lập một khoa học mới về cái chết. Hãy để nó không còn là điều duy nhất mà chúng ta không thể kiểm soát và điều tất yếu đánh bại chúng ta, và hãy bắt đầu kiểm soát sự vượt qua của chúng ta sang phía bên kia, cũng như thấu hiểu đôi chút về kỹ thuật chuyển tiếp.
|
|
Before I take up this subject in greater detail I would like to make reference to the “web in the brain”, which is intact for the majority but is non-existent for the illumined seer.
|
Trước khi Tôi bàn đề tài này chi tiết hơn, Tôi muốn nhắc đến “mạng lưới trong não”, vốn còn nguyên vẹn đối với đa số nhưng không tồn tại đối với nhà thông nhãn đã được soi sáng.
|
|
In the human body, as you know, we have an underlying, interpenetrating vital body which is the counterpart of the physical, which is larger than the physical and which we call the etheric body or double. It is an energy body and is composed of force centres and nadis or force threads. These underlie or are the counterparts of the nervous apparatus—the nerves and the nerve ganglia. In two places in the human vital body there are orifices of exit for the life force. One opening is in the solar plexus and the other is in the brain at the top of the head. Protecting [501] both is a closely woven web of etheric matter, composed of interlacing strands of life energy.
|
Trong thân người, như các bạn biết, chúng ta có một thể sinh lực nền tảng, thâm nhập lẫn nhau, là Đối phần của thể xác, lớn hơn thể xác, và chúng ta gọi nó là thể dĩ thái hay bản sao dĩ thái. Đó là một thể năng lượng và được cấu thành bởi các trung tâm mãnh lực cùng các tuyến lực hay sợi dây mãnh lực. Những thứ này nằm bên dưới hoặc là Đối phần của bộ máy thần kinh — các dây thần kinh và các hạch thần kinh. Ở hai nơi trong thể sinh lực của con người có các lỗ thoát ra cho sinh lực. Một lỗ mở nằm ở tùng thái dương và lỗ kia ở trong não, tại đỉnh đầu. Bảo vệ [501] cả hai là một mạng lưới chất liệu dĩ thái được dệt chặt chẽ, gồm những sợi năng lượng sự sống đan xen vào nhau.
|
|
During the process of death, the pressure of the life energy beating against the web produces eventually a puncturing or opening. Out of this the life force pours as the potency of the abstracting influence of the soul increases. In the case of animals, of infants and of men and women who are polarized entirely in the physical and astral bodies, the door of exit is the solar plexus and it is that web which is punctured, thus permitting the passing out. In the case of mental types, of the more highly evolved human units, it is the web at the top of the head in the region of the fontanelle which is ruptured, thus again permitting the exit of the thinking rational being.
|
Trong tiến trình cái chết, áp lực của năng lượng sự sống đập vào mạng lưới cuối cùng tạo ra một lỗ thủng hay lỗ mở. Từ đó sinh lực tuôn ra khi quyền năng của ảnh hưởng rút lấy từ linh hồn gia tăng. Trong trường hợp động vật, trẻ sơ sinh, và những người nam và nữ hoàn toàn phân cực trong thể xác và thể cảm dục, cửa thoát ra là tùng thái dương, và chính mạng lưới ấy bị chọc thủng, nhờ đó cho phép sự ra đi. Trong trường hợp các kiểu người trí tuệ, những đơn vị nhân loại tiến hóa cao hơn, chính mạng lưới ở đỉnh đầu, trong vùng thóp đầu, bị phá vỡ, nhờ đó một lần nữa cho phép thực thể có lý trí và biết suy nghĩ thoát ra.
|
|
In psychics and in the case of mediums and lower seers (clairvoyant and clairaudient people) the solar plexus web is permanently ruptured early in life and easily therefore they pass in or out of the body, going into trance, as it is called, and functioning on the astral plane. But for these types there is no continuity of consciousness and there seems no relation between their physical plane existence and the happenings which they relate whilst in trance and of which they usually remain totally unaware in the waking consciousness. The whole performance is below the diaphragm and is related primarily to animal sentient life. In the case of conscious clairvoyance and in the work of the higher psychics and seers there is no trance, obsession or mediumship. It is the web in the brain which is punctured and the opening in that region permits the inflow of light, information and inspiration; it confers also the power to pass into the state of Samadhi which is the spiritual correspondence to the trance condition of the animal nature.
|
Trong những người thông linh, và trong trường hợp các đồng tử cùng các nhà thông nhãn thấp — những người thông nhãn và thông nhĩ — mạng lưới tùng thái dương bị rách vĩnh viễn từ sớm trong đời, và do đó họ dễ dàng đi vào hoặc đi ra khỏi thể xác, bước vào trạng thái xuất thần, như người ta gọi, và hoạt động trên cõi cảm dục. Nhưng đối với các kiểu người này, không có tính liên tục của tâm thức, và dường như không có mối liên hệ nào giữa sự tồn tại trên cõi hồng trần của họ với các sự việc mà họ thuật lại trong khi xuất thần, những điều mà thường họ hoàn toàn không nhận biết trong tâm thức tỉnh thức. Toàn bộ hoạt động này nằm bên dưới cơ hoành và chủ yếu liên hệ với đời sống cảm tri của động vật. Trong trường hợp thông nhãn có ý thức, và trong công việc của những người thông linh và nhà thông nhãn cao hơn, không có xuất thần, ám ảnh hay đồng cốt. Chính mạng lưới trong não bị chọc thủng, và lỗ mở trong vùng ấy cho phép ánh sáng, thông tin và cảm hứng tuôn vào; nó cũng ban năng lực đi vào trạng thái đại định, vốn là tương ứng tinh thần của trạng thái xuất thần thuộc bản chất động vật.
|
|
In the process of death these are, therefore, the two main exits: the solar plexus for the astrally polarized, [502] physically biased human being and therefore of the vast majority, and the head centre for the mentally polarized and spiritually oriented human being. This is the first and most important fact to remember and it will easily be seen how the trend of a life tendency and the focus of the life attention determine the mode of exit at death. It can be seen also that an effort to control the astral life and the emotional nature and to orient one’s self to the mental world and to spiritual things has a momentous effect upon the phenomenal aspects of the death process.
|
Do đó, trong tiến trình cái chết, đây là hai lối ra chính: tùng thái dương dành cho con người phân cực cảm dục, [502] thiên về hồng trần, và vì thế dành cho đại đa số; và trung tâm đầu dành cho con người phân cực trí tuệ và hướng về tinh thần. Đây là sự kiện đầu tiên và quan trọng nhất cần ghi nhớ, và có thể dễ dàng thấy rằng xu hướng của khuynh hướng đời sống và tiêu điểm của sự chú ý trong đời sống quyết định phương thức thoát ra khi chết như thế nào. Cũng có thể thấy rằng nỗ lực kiểm soát đời sống cảm dục và bản chất cảm xúc, đồng thời định hướng bản thân về thế giới trí tuệ và các sự việc tinh thần, có một ảnh hưởng trọng đại đối với các phương diện hiện tượng của tiến trình cái chết.
|
|
If the student is thinking clearly, it will be apparent to him that one exit concerns the spiritual and highly evolved man, whilst the other concerns the low grade human being who has scarcely advanced beyond the animal stage. What then of the average man? A third exit is now in temporary use; just below the apex of the heart another etheric web is found covering an orifice of exit. We have, therefore, the following situation:
|
Nếu đạo sinh suy nghĩ rõ ràng, y sẽ thấy hiển nhiên rằng một lối ra liên quan đến con người tinh thần và tiến hóa cao, trong khi lối kia liên quan đến con người cấp thấp, hầu như chưa tiến xa hơn giai đoạn động vật. Vậy còn người bình thường thì sao? Hiện nay có một lối ra thứ ba đang được sử dụng tạm thời; ngay bên dưới đỉnh của trái tim có một mạng lưới dĩ thái khác che phủ một lỗ thoát ra. Do đó, chúng ta có tình trạng như sau:
|
|
1. The exit in the head, used by the intellectual type, by the disciples and initiates of the world.
|
1. Lối ra ở đầu, được kiểu người trí thức, các đệ tử và các điểm đạo đồ của thế gian sử dụng.
|
|
2. The exit in the heart, used by the kindly, well-meaning man or woman who is a good citizen, an intelligent friend and a philanthropic worker.
|
2. Lối ra ở tim, được người nam hay người nữ tử tế, có thiện chí, là công dân tốt, người bạn thông minh và người hoạt động nhân đạo sử dụng.
|
|
3. The exit in the region of the solar plexus, used by the emotional, unintelligent, unthinking man and by those whose animal nature is strong.
|
3. Lối ra ở vùng tùng thái dương, được người cảm xúc, thiếu thông minh, không suy nghĩ, và những người có bản chất động vật mạnh sử dụng.
|
|
This is the first point in the new information which will slowly become common knowledge in the West during the next century. Much of it is already known by thinkers in the East and is in the nature of a first step towards a rational understanding of the death process.
|
Đây là điểm đầu tiên trong thông tin mới sẽ dần dần trở thành tri thức phổ biến ở phương Tây trong thế kỷ tới. Phần lớn điều này đã được các nhà tư tưởng ở phương Đông biết đến, và có bản chất như một bước đầu hướng tới sự thấu hiểu hợp lý về tiến trình cái chết.
|
|
The second point to be grasped is that there can be a technique of dying and a training given during life which will lead up to the utilization of that technique.
|
Điểm thứ hai cần nắm bắt là có thể có một kỹ thuật chết và một sự huấn luyện được trao trong đời sống, dẫn đến việc sử dụng kỹ thuật ấy.
|
|
As regards the training to which a man can submit himself I will give a few hints which will be found to [503] convey a new meaning to much work now being done by all aspirants. The Elder Brothers of the race who have guided humanity through long centuries, are now busy preparing people for the next great step to be taken. This step will bring in a continuity of consciousness which will do away with all fear of death and link the physical and astral planes in such a close relation that they will in reality constitute one plane. Just as an at-one-ment has to be brought about between the various aspects of man, so a similar unification has to take place in connection with the various aspects of the planetary life. The planes have to be at-one-ed as well as soul and body. This has already been largely accomplished between the etheric plane and the dense physical plane. Now it is being rapidly carried forward between the physical and the astral.
|
Liên quan đến sự huấn luyện mà một người có thể tự mình tuân theo, Tôi sẽ đưa ra một vài gợi ý, những gợi ý sẽ được thấy là [503] truyền đạt một ý nghĩa mới cho nhiều công việc hiện đang được mọi người chí nguyện thực hiện. Các Huynh Trưởng của nhân loại, những Đấng đã hướng dẫn nhân loại qua nhiều thế kỷ dài, hiện đang bận rộn chuẩn bị con người cho bước lớn tiếp theo cần thực hiện. Bước này sẽ đem lại tính liên tục của tâm thức, điều sẽ loại bỏ mọi sợ hãi về cái chết và liên kết cõi hồng trần với cõi cảm dục trong một mối quan hệ gần gũi đến mức chúng thực sự sẽ cấu thành một cõi duy nhất. Cũng như một sự hợp nhất phải được tạo ra giữa các phương diện khác nhau của con người, thì một sự hợp nhất tương tự cũng phải diễn ra liên quan đến các phương diện khác nhau của sự sống hành tinh. Các cõi phải được hợp nhất cũng như linh hồn và thân thể. Điều này phần lớn đã được hoàn thành giữa cõi dĩ thái và cõi hồng trần đậm đặc. Giờ đây, nó đang được nhanh chóng thúc đẩy giữa cõi hồng trần và cõi cảm dục.
|
|
In the work being done by seekers in all departments of human thought and life, this unification is proceeding and in the training now suggested to earnest and sincere aspirants, there are other objectives than just the one of producing soul and body at-one-ment. No emphasis, however, is laid upon them, owing to the ability of man unduly to emphasize the wrong objectives. It might well be asked if it is possible to give a simple set of rules that would be followed now by all who seek to establish such a rhythm that life itself is not only organized and constructive, but when the moment for vacating the outer sheath arrives, there will be no problem nor difficulty. I will, therefore, give you four simple rules that link up with much that all students are now doing:
|
Trong công việc đang được những người tìm kiếm thực hiện trong mọi lĩnh vực tư tưởng và đời sống nhân loại, sự hợp nhất này đang tiến hành; và trong sự huấn luyện hiện được đề nghị cho những người chí nguyện nghiêm túc và chân thành, còn có các mục tiêu khác ngoài mục tiêu duy nhất là tạo ra sự hợp nhất giữa linh hồn và thân thể. Tuy nhiên, không nhấn mạnh vào chúng, do khả năng của con người là nhấn mạnh quá mức vào các mục tiêu sai lầm. Có thể đặt câu hỏi rằng liệu có thể đưa ra một bộ quy luật đơn giản mà hiện nay tất cả những ai tìm cách thiết lập một nhịp điệu như thế sẽ noi theo, để đời sống tự nó không chỉ có tổ chức và có tính xây dựng, mà khi khoảnh khắc rời bỏ lớp vỏ bên ngoài đến, sẽ không có vấn đề hay khó khăn nào. Do đó, Tôi sẽ trao cho các bạn bốn quy luật đơn giản liên kết với nhiều điều mà mọi đạo sinh hiện đang làm:
|
|
1. Learn to keep focussed in the head through visualization and meditation and through the steady practice of concentration; develop the capacity to live increasingly as the king seated on the throne between the eyebrows. This is a rule that can be applied to the every day affairs of life. [504]
|
1. Hãy học cách giữ sự tập trung trong đầu thông qua sự hình dung và tham thiền, cũng như qua việc thực hành định trí đều đặn; hãy phát triển khả năng ngày càng sống như vị vua ngồi trên ngai giữa hai lông mày. Đây là một quy luật có thể được áp dụng vào các công việc hằng ngày của đời sống. [504]
|
|
2. Learn to render heart service and not an emotional insistence on activity directed towards handling the affairs of others. This involves, prior to all such activity, the answering of two questions: —Am I rendering this service to an individual as an individual, or am I rendering it as a member of a group to a group? Is my motive an egoic impulse, or am I prompted by emotion, ambition to shine and love of being loved or admired? These two activities will result in the focussing of the life energies above the diaphragm and so negate the attractive power of the solar plexus. Hence, that centre will become increasingly inactive and there will not be so much danger of puncturing the web in that locality.
|
2. Hãy học cách thực hiện sự phụng sự bằng trái tim, chứ không phải sự khăng khăng đầy cảm xúc về hoạt động nhằm xử lý công việc của người khác. Điều này bao hàm, trước mọi hoạt động như vậy, việc trả lời hai câu hỏi: — Tôi đang thực hiện sự phụng sự này cho một cá nhân với tư cách là một cá nhân, hay tôi đang thực hiện nó với tư cách là một thành viên của một nhóm đối với một nhóm? Động cơ của tôi là một xung lực chân ngã, hay tôi bị thúc đẩy bởi cảm xúc, tham vọng tỏa sáng và sự yêu thích được yêu hoặc ngưỡng mộ? Hai hoạt động này sẽ dẫn đến việc tập trung các năng lượng sự sống bên trên cơ hoành và do đó phủ định quyền năng thu hút của tùng thái dương. Vì thế, trung tâm ấy sẽ ngày càng trở nên bất hoạt, và sẽ không còn nhiều nguy cơ chọc thủng mạng lưới ở vị trí đó.
|
|
3. Learn, as you go to sleep, to withdraw the consciousness to the head. This should be practiced as a definite exercise as one falls to sleep. One should not permit oneself to drift off to sleep, but should endeavor to preserve the consciousness intact until there is a conscious passing out onto the astral plane. Relaxation, close attention, and a steady drawing upwards to the center in the head should be attempted, for until the aspirant has learned to be steadily aware of all processes in going to sleep and to preserve at the same time his positivity, there is danger in this work. The first steps must be taken with intelligence and followed for many years until facility in the work of abstraction is achieved.
|
3. Hãy học, khi đi vào giấc ngủ, cách rút tâm thức về đầu. Điều này nên được thực hành như một bài tập xác định khi người ta chìm vào giấc ngủ. Người ta không nên để mình trôi dạt vào giấc ngủ, mà nên cố gắng giữ tâm thức nguyên vẹn cho đến khi có một sự đi ra có ý thức lên cõi cảm dục. Cần cố gắng thực hiện sự thư giãn, sự chú ý sát sao, và sự kéo lên đều đặn về trung tâm trong đầu; vì cho đến khi người chí nguyện đã học cách liên tục nhận biết mọi tiến trình trong khi đi vào giấc ngủ và đồng thời giữ vững tính tích cực của mình, vẫn có nguy hiểm trong công việc này. Những bước đầu phải được thực hiện với trí thông minh và được theo đuổi trong nhiều năm cho đến khi đạt được sự dễ dàng trong công việc rút lấy.
|
|
4. Record and watch all phenomena connected with the withdrawing process, whether followed in the meditation work or in going to sleep. It will be found, for instance, that many people wake with an almost painful start just as they have dropped asleep. This is due to the slipping out of the consciousness through a web which is not adequately clear and through an orifice which is partially closed. Others may hear an intensely loud snap in the region of the head. This is caused by the vital airs in the head of which we are not usually aware and is produced [505] by an inner aural sensitivity which causes awareness of sounds always present but not usually registered. Others will see light as they fall asleep, or clouds of colour, or banners and streamers of violet, all of which are etheric phenomena. These phenomena which are of no real moment, are all related to the vital body, to pranic emanations, and to the web of light.
|
4. Hãy ghi nhận và quan sát mọi hiện tượng liên quan đến tiến trình rút lui, dù được theo dõi trong công việc tham thiền hay khi đi vào giấc ngủ. Chẳng hạn, người ta sẽ thấy rằng nhiều người thức dậy với một cú giật mình gần như đau đớn ngay khi họ vừa chìm vào giấc ngủ. Điều này là do tâm thức trượt ra qua một mạng lưới chưa đủ thông suốt và qua một lỗ mở còn đóng một phần. Những người khác có thể nghe một tiếng tách cực lớn trong vùng đầu. Điều này do các luồng khí sinh lực trong đầu, mà thường chúng ta không nhận biết, gây ra, và được tạo nên [505] bởi một sự nhạy cảm thính giác bên trong, khiến ta nhận biết các âm thanh vốn luôn hiện diện nhưng thường không được ghi nhận. Những người khác sẽ thấy ánh sáng khi chìm vào giấc ngủ, hoặc các đám mây màu, hoặc các dải và luồng màu tím, tất cả đều là các hiện tượng dĩ thái. Những hiện tượng này, vốn không có tầm quan trọng thực sự, đều liên quan đến thể sinh lực, đến các phát xạ prana, và đến mạng lưới ánh sáng.
|
|
The carrying on of this practice and the following of these four rules over a period of years will do much to facilitate the technique of the death bed, for the man who has learned to handle his body as he falls asleep, has an advantage over the man who never pays any attention to the process.
|
Việc duy trì thực hành này và theo đúng bốn quy luật ấy trong một thời kỳ nhiều năm sẽ giúp rất nhiều cho kỹ thuật nơi giường chết, vì người đã học cách xử lý thân thể của mình khi đi vào giấc ngủ có lợi thế hơn người không bao giờ chú ý đến tiến trình ấy.
|
|
In relation to the technique of dying it is only possible for me at this time to make one or two suggestions. I deal not here with the attitude of the attendant watchers, I deal only with those points which will make for an easier passing over of the transient soul.
|
Liên quan đến kỹ thuật chết, vào lúc này Tôi chỉ có thể đưa ra một hoặc hai gợi ý. Ở đây Tôi không đề cập đến thái độ của những người túc trực chăm sóc; Tôi chỉ đề cập đến những điểm sẽ giúp cho sự vượt qua của linh hồn tạm trú được dễ dàng hơn.
|
|
First, let there be silence in the chamber. This is, of course, frequently the case. It must be remembered that the dying person may usually be unconscious. This unconsciousness is apparent but not real. In nine hundred cases out of a thousand the brain awareness is there, with a full consciousness of happenings, but there is a complete paralysis of the will to express and complete inability to generate the energy which will indicate aliveness. When silence and understanding rule the sick room, the departing soul can hold possession of its instrument with clarity until the last minute and can make due preparation.
|
Trước hết, hãy để có sự im lặng trong căn phòng. Dĩ nhiên, điều này thường là như vậy. Cần nhớ rằng người sắp chết thường có thể vô thức. Sự vô thức này là bề ngoài chứ không thật sự. Trong chín trăm trường hợp trên một nghìn, nhận biết của bộ não vẫn có đó, với tâm thức đầy đủ về các sự việc đang xảy ra, nhưng có sự tê liệt hoàn toàn của ý chí biểu lộ và sự bất lực hoàn toàn trong việc tạo ra năng lượng để chỉ ra rằng còn sống. Khi sự im lặng và thấu hiểu cai quản phòng bệnh, linh hồn đang ra đi có thể giữ quyền sở hữu công cụ của mình một cách rõ ràng cho đến phút cuối và có thể chuẩn bị thích đáng.
|
|
Later, when more anent colour is known, only orange lights will be permitted in the sick room of a dying person, and these will only be installed with due ceremony when there is assuredly no possibility of recovery. Orange aids the focussing in the head, just as red stimulates [506] the solar plexus and green has a definite effect upon the heart and life streams.
|
Sau này, khi người ta hiểu biết nhiều hơn về màu sắc, chỉ những ánh sáng màu cam mới được phép dùng trong phòng bệnh của người sắp chết, và chúng chỉ được đặt vào với nghi lễ thích đáng khi chắc chắn không còn khả năng hồi phục. Màu cam hỗ trợ sự tập trung trong đầu, cũng như màu đỏ kích thích [506] tùng thái dương và màu xanh lá có một ảnh hưởng rõ rệt đối với tim và các dòng sự sống.
|
|
Certain types of music will be used when more in connection with sound is understood, but there is no music as yet which will facilitate the work of the soul in abstracting itself from the body, though certain notes on the organ will be found effective. At the exact moment of death, if a person’s own note is sounded, it will coordinate the two streams of energy and eventually rupture the life thread, but the knowledge of this is too dangerous to transmit yet and can only later be given. I would indicate the future and the lines along which future occult study will run.
|
Một số loại âm nhạc sẽ được sử dụng khi người ta thấu hiểu nhiều hơn về âm thanh, nhưng hiện chưa có thứ âm nhạc nào có thể hỗ trợ công việc của linh hồn trong việc tự rút ra khỏi thể xác, dù một số âm điệu trên đại phong cầm sẽ được thấy là hữu hiệu. Vào đúng khoảnh khắc chết, nếu âm điệu riêng của một người được xướng lên, nó sẽ phối hợp hai dòng năng lượng và cuối cùng làm đứt sinh mệnh tuyến; nhưng tri thức này hiện còn quá nguy hiểm để truyền đạt và chỉ về sau mới có thể được trao. Tôi muốn chỉ ra tương lai và những đường hướng mà việc nghiên cứu huyền bí trong tương lai sẽ theo đó tiến hành.
|
|
It will be found also that pressure on certain nerve centers and on certain arteries will facilitate the work. (This science of dying is held in custody, as many students know, in Tibet.) Pressure on the jugular vein and on certain big nerves in the region of the head and on a particular spot in the medulla oblongata will be found helpful and effective. A definite science of death will inevitably later be elaborated, but only when the fact of the soul is recognized and its relation to the body has been scientifically demonstrated.
|
Người ta cũng sẽ thấy rằng việc tạo áp lực lên một số trung tâm thần kinh và một số động mạch sẽ hỗ trợ công việc ấy. Khoa học về sự chết này được gìn giữ tại Tây Tạng, như nhiều đạo sinh đã biết. Áp lực lên tĩnh mạch cảnh, lên một số dây thần kinh lớn trong vùng đầu, và lên một điểm đặc biệt ở hành tủy sẽ được thấy là hữu ích và hiệu quả. Một khoa học xác định về sự chết chắc chắn về sau sẽ được khai triển, nhưng chỉ khi sự kiện về linh hồn được công nhận và mối liên hệ của nó với thể xác đã được chứng minh một cách khoa học.
|
|
Mantric phrases will also be employed and definitely built into the consciousness of the dying person by those around him, or employed deliberately and mentally by himself. The Christ demonstrated their use when he cried aloud, “Father, into Thy hands I commend my spirit.” And we have another instance in the words, “Lord, now lettest Thou Thy servant depart in peace.” The steady use of the Sacred Word chanted in an undertone or on a particular key (to which the dying man will be found to respond) may later constitute also a part of the ritual of transition accompanied by the anointing with oil, as preserved in the Catholic Church. Extreme unction has an occult, scientific basis. The top of the [507] head of the dying man should also symbolically point towards the East and the feet and the hands should be crossed. Sandalwood only should be burned in the room and no incense of any other kind permitted, for sandalwood is the incense of the first or destroyer ray and the soul is in process of destroying its habitation.
|
Các cụm mantram cũng sẽ được sử dụng và được xây dựng rõ rệt vào tâm thức của người sắp chết bởi những người chung quanh y, hoặc được chính y sử dụng một cách chủ ý và bằng trí tuệ. Đức Christ đã chứng minh cách dùng chúng khi Ngài lớn tiếng kêu: “Lạy Cha, con phó thác tinh thần con trong tay Cha.” Và chúng ta có một trường hợp khác trong những lời: “Lạy Chúa, giờ đây xin để tôi tớ Ngài ra đi bình an.” Việc đều đặn dùng Linh từ Thiêng Liêng, được xướng bằng giọng trầm hoặc theo một chủ âm đặc biệt mà người sắp chết sẽ được thấy là đáp ứng, về sau cũng có thể trở thành một phần của nghi thức chuyển tiếp, đi kèm với việc xức dầu như được duy trì trong Giáo hội Công giáo. Phép xức dầu sau cùng có một nền tảng huyền bí và khoa học. Phần đỉnh [507] đầu của người sắp chết cũng nên hướng tượng trưng về phương Đông, và bàn chân cùng bàn tay nên được đặt chéo. Chỉ nên đốt gỗ đàn hương trong phòng, và không được phép dùng bất kỳ loại hương nào khác, vì đàn hương là hương của cung một, tức cung hủy diệt, và linh hồn đang trong tiến trình phá hủy nơi cư ngụ của mình.
|
|
This is all I can at this time communicate on the subject of death for the consideration of the general public. But I conjure all of you to push the study of death and its technique as far as possible and to carry forward occult investigation of this matter.
|
Đó là tất cả những gì vào lúc này tôi có thể truyền đạt về đề tài sự chết để công chúng suy xét. Nhưng tôi khẩn cầu tất cả các bạn hãy đẩy mạnh việc nghiên cứu sự chết và kỹ thuật của nó đến mức tối đa có thể, và hãy tiến hành việc khảo cứu huyền bí về vấn đề này.
|
|
[511]
|
[511]
|
|
We now come to the four rules which concern the physical plane. In many ways their understanding is far more difficult than was the case in the other rules, in just the same way that practical application is far harder than theorising. We can frequently think with clarity and desire rightly but the working out into physical plane manifestation of the subjective ideas, under law and constructively, is never an easy thing to do. It is however just at this point that a white magician begins to do his real work, and it is just here that he encounters failure and finds that his inner grasp of reality does not necessarily result in correct creative activity. In A Treatise on Cosmic Fire, there will be found certain points of interest for us to consider, and I would like to quote a few words from them:
|
Giờ đây chúng ta đi đến bốn quy luật liên quan đến cõi hồng trần. Theo nhiều phương diện, việc thấu hiểu chúng khó khăn hơn nhiều so với các quy luật khác, cũng như việc áp dụng thực tiễn luôn khó hơn nhiều so với việc lý thuyết hóa. Chúng ta thường có thể suy nghĩ rõ ràng và khao khát đúng đắn, nhưng việc thể hiện các ý tưởng chủ quan ra thành sự biểu hiện trên cõi hồng trần, một cách đúng định luật và có tính xây dựng, không bao giờ là điều dễ làm. Tuy nhiên, chính tại điểm này mà một nhà huyền thuật chánh đạo bắt đầu thực hiện công việc thật sự của mình, và chính tại đây y gặp thất bại, rồi nhận ra rằng sự nắm bắt bên trong của y về thực tại không nhất thiết đưa đến hoạt động sáng tạo đúng đắn. Trong Luận về Lửa Vũ Trụ, có một số điểm đáng quan tâm để chúng ta suy xét, và tôi muốn trích dẫn vài lời từ đó:
|
|
“It might be useful here to remember that in the work of creation the white magician avails himself of the current ray influences. When the fifth, third and seventh rays are in power, either coming in, at full meridian, or passing out, the work is much easier than when the second, sixth or fourth are dominant. At the present time, the seventh ray, as we know is rapidly dominating, and it is one of the easiest of the forces with which man has to work. Under this ray it will be possible to build a new structure for the rapidly decaying civilisation, and to erect the new temple desired for the religious impulse. Under its influence the work of the numerous unconscious magicians will be much facilitated.” Pages 1021-1022.
|
“Ở đây có thể hữu ích nếu nhớ rằng trong công việc sáng tạo, nhà huyền thuật chánh đạo tận dụng các ảnh hưởng cung đang lưu hành. Khi cung năm, cung ba và cung bảy đang có quyền lực, dù đang đi vào, ở chính ngọ trọn vẹn, hay đang đi ra, công việc sẽ dễ dàng hơn nhiều so với khi cung hai, cung sáu hoặc cung bốn chiếm ưu thế. Vào lúc hiện tại, cung bảy, như chúng ta biết, đang nhanh chóng trở nên chủ đạo, và đó là một trong những mãnh lực dễ dàng nhất để con người làm việc cùng. Dưới cung này, sẽ có thể xây dựng một cấu trúc mới cho nền văn minh đang suy tàn nhanh chóng, và dựng lên ngôi đền mới mà xung lực tôn giáo mong muốn. Dưới ảnh hưởng của nó, công việc của vô số nhà huyền thuật vô thức sẽ được hỗ trợ rất nhiều.” Trang 1021-1022.
|
|
It is apparent therefore that the day of opportunity is with us, and that the coming generation can, if it so wishes, perform the magical work with many of the factors [512] present which will tend to produce satisfactory results. The fifth ray is passing out, but its influence can still be felt; the third ray is at full meridian, and the seventh ray is rapidly coming into right activity. Much will consequently occur to make man successful, provided he can preserve constantly a right orientation, purity of motive and of life, a stabilised and receptive emotional body and that inner alignment which will make his personality a true vehicle for his soul or self.
|
Do đó, rõ ràng là ngày cơ hội đang ở cùng chúng ta, và thế hệ sắp tới, nếu muốn, có thể thực hiện công việc huyền thuật với nhiều yếu tố [512] hiện diện có xu hướng tạo ra những kết quả thỏa đáng. Cung năm đang đi ra, nhưng ảnh hưởng của nó vẫn còn có thể được cảm nhận; cung ba đang ở chính ngọ trọn vẹn, và cung bảy đang nhanh chóng đi vào hoạt động đúng đắn. Vì thế, nhiều điều sẽ xảy ra để giúp con người thành công, miễn là y có thể thường xuyên giữ một định hướng đúng, sự trong sạch về động cơ và đời sống, một thể cảm dục ổn định và tiếp nhận, cùng sự chỉnh hợp bên trong khiến phàm ngã của y trở thành một vận cụ chân thật cho linh hồn hay bản ngã của y.
|
|
A very interesting analogy works out as we study the words: “The web pulsates. It contracts and expands”. The underlying thought is that of pulsation, of diastole and systole, of ebb and flow, of cyclic activity, of the day of opportunity and the night of inactivity, of inflow and output, and of those many appearances and disappearances which mark the sweep of all lives in all kingdoms and dimensions. This day and night cycle which is the inevitable mark of manifested existence has to be recognised. One of the things which every disciple has to learn (putting the truth in the simplest terms) is to achieve that wisdom which is based on a knowledge of when to work and when to refrain, and on an understanding of those periods or interludes which are characterised by speech and by silence. It is here that mistakes are made and here that many workers fail to make good.
|
Một sự tương đồng rất thú vị hiện ra khi chúng ta nghiên cứu những lời: “Mạng lưới đập nhịp. Nó co lại và giãn ra.” Tư tưởng nền tảng là tư tưởng về sự rung nhịp, về trương nở và co thắt, về thủy triều lên xuống, về hoạt động chu kỳ, về ngày cơ hội và đêm bất hoạt, về dòng chảy vào và dòng tuôn ra, cùng nhiều lần xuất hiện và biến mất vốn đánh dấu nhịp quét của mọi sự sống trong mọi giới và mọi chiều kích. Chu kỳ ngày và đêm này, dấu hiệu tất yếu của hiện tồn biểu hiện, phải được nhận biết. Một trong những điều mà mọi đệ tử phải học, nếu diễn đạt chân lý bằng những thuật ngữ đơn giản nhất, là đạt được minh triết đặt nền trên tri thức về khi nào nên làm việc và khi nào nên kiềm lại, cũng như trên sự thấu hiểu những thời kỳ hay khoảng lặng được đặc trưng bởi lời nói và sự im lặng. Chính tại đây các sai lầm được tạo ra, và chính tại đây nhiều người hoạt động không thể thành công.
|
|
This entire rule might be given in the following paraphrase which will merit careful thought and which I will elucidate somewhat.
|
Toàn bộ quy luật này có thể được diễn đạt lại như sau; cách diễn đạt này đáng được suy ngẫm cẩn trọng, và tôi sẽ làm sáng tỏ đôi chút.
|
|
God breathes and His pulsating life emanates from the divine heart and manifests as the vital energy of all forms. It flows, pulsating in its cycles, throughout all nature. This constitutes the divine inhalation and exhalation. Between this breathing out and the breathing in comes a period of silence and the moment for effective work. If disciples can learn to utilise these interludes, they can then release the “prisoners of the planet,” which [513] is the objective of all magical work, performed during this world period.
|
Thượng đế thở, và sự sống rung nhịp của Ngài xuất lộ từ trái tim thiêng liêng và biểu hiện thành năng lượng thiết yếu của mọi hình tướng. Nó tuôn chảy, rung nhịp theo các chu kỳ của nó, xuyên suốt toàn bộ thiên nhiên. Điều này tạo thành sự hít vào và thở ra thiêng liêng. Giữa sự thở ra và sự hít vào này có một thời kỳ im lặng và khoảnh khắc cho công việc hữu hiệu. Nếu các đệ tử có thể học cách sử dụng những khoảng lặng này, họ sẽ có thể giải thoát những “tù nhân của hành tinh”, điều [513] vốn là mục tiêu của mọi công việc huyền thuật được thực hiện trong thời kỳ thế giới này.
|
|
With the manner in which this One Life of the solar system works in these vast interludes of meditative silence, called technically a pralaya, we need not concern ourselves. The activity of the Universal Mind and its comprehensive purpose can only be perceived when each son of God enters consciously into his divine heritage. The mode of working by means of which our planetary Life utilises the cycles of silence concerns Him alone, and it must be remembered that each planetary Logos has a different pulsation, a varying periodic interlude, and His Own unique method of procedure.
|
Chúng ta không cần bận tâm đến cách thức Sự Sống Duy Nhất này của hệ mặt trời làm việc trong những khoảng lặng bao la của sự im lặng thiền định, được gọi theo thuật ngữ là Giai kỳ qui nguyên. Hoạt động của Vũ Trụ Trí và mục đích bao quát của nó chỉ có thể được nhận biết khi mỗi Con của Thượng đế đi vào di sản thiêng liêng của mình một cách có ý thức. Phương thức làm việc nhờ đó Sự Sống Hành Tinh của chúng ta sử dụng các chu kỳ im lặng chỉ liên quan đến riêng Ngài; và cần nhớ rằng mỗi Đức Hành Tinh Thượng Đế có một nhịp rung khác nhau, một khoảng lặng chu kỳ khác nhau, và phương pháp hành động độc đáo của riêng Ngài.
|
|
What does concern the student of these Instructions however is how he can himself attain a definite constructive activity in his interludes. These interludes, for the purpose of our discussion, fall into three categories:
|
Tuy nhiên, điều liên quan đến đạo sinh của các Huấn thị này là làm thế nào chính y có thể đạt được một hoạt động xây dựng xác định trong các khoảng lặng của mình. Các khoảng lặng này, xét theo mục đích cuộc thảo luận của chúng ta, rơi vào ba loại:
|
|
1. Life interludes, or those periods wherein the spiritual man is out of incarnation and has withdrawn into the egoic consciousness. These, for the little evolved, are practically nonexistent; they cycle in and out of incarnation with amazing rapidity. The physical plane analogy of this rapidity of activity is to be found in the intense rushing to and fro of the ordinary man as he meets the exigencies of existence and also in the difficulty he evidences in patience and in waiting and in achieving the meditative poise. As growth takes place, the periods of withdrawal from incarnation steadily lengthen, until the point is reached when the periods out of physical manifestation greatly exceed those spent in outer expression. Then the interlude dominates. The periods of outgoing (exhalation) and of inbreathing (inhalation) are relatively brief and—the point to be emphasised—these two periods are coloured and controlled by the purposes of the soul, formulated and recorded on the mind during the interlude between the two more active stages of experience. [514] The inner life, slowly developed during the cyclic interludes, becomes the dominating factor. The man gradually becomes subjective in his attitude and the physical plane expression is primarily then the result of the inner thought life and not so much the result of reaction to physical plane occurrences and the restlessness of the desire nature.
|
1. Các khoảng lặng của sự sống, tức những thời kỳ trong đó con người tinh thần ở ngoài sự lâm phàm và đã rút vào tâm thức chân ngã. Đối với những người ít tiến hóa, các khoảng lặng này thực tế không tồn tại; họ luân phiên vào và ra khỏi sự lâm phàm với tốc độ đáng kinh ngạc. Sự tương đồng trên cõi hồng trần của tốc độ hoạt động này được thấy trong sự lao tới lao lui mãnh liệt của người bình thường khi y đối diện với những đòi hỏi cấp bách của hiện tồn, cũng như trong khó khăn mà y bộc lộ về sự kiên nhẫn, sự chờ đợi và việc đạt được thế quân bình thiền định. Khi sự tăng trưởng diễn ra, các thời kỳ rút khỏi sự lâm phàm đều đặn kéo dài, cho đến khi đạt tới điểm mà các thời kỳ ở ngoài sự biểu hiện hồng trần vượt xa những thời kỳ trải qua trong sự biểu lộ bên ngoài. Khi ấy khoảng lặng chiếm ưu thế. Các thời kỳ đi ra ngoài, tức thở ra, và đi vào trong, tức hít vào, tương đối ngắn; và điểm cần nhấn mạnh là hai thời kỳ này được nhuộm màu và kiểm soát bởi các mục đích của linh hồn, được hình thành và ghi nhận trên thể trí trong khoảng lặng giữa hai giai đoạn kinh nghiệm hoạt động hơn. [514] Đời sống bên trong, được phát triển chậm rãi trong các khoảng lặng chu kỳ, trở thành yếu tố chi phối. Con người dần dần trở nên chủ quan trong thái độ của mình, và sự biểu lộ trên cõi hồng trần khi ấy chủ yếu là kết quả của đời sống tư tưởng bên trong, chứ không còn nhiều là kết quả của phản ứng trước các biến cố trên cõi hồng trần và sự bất an của bản chất ham muốn.
|
|
2. The ebb and flow of daily life during a particular incarnation will also demonstrate its interludes, and these the aspirant has to learn to recognise and to utilise. He has to register the distinction between intense outgoing activity, periods of withdrawal, and interludes wherein the outer life seems static and free from active interest. This he must do if he is to avail himself fully of the opportunity which life experience is intended to furnish. The whole of life is not concentrated in one furious continuous stretch of rushing forth to work, nor is it comprehended in one eternal siesta. It has normally its own rhythmic beat and vibration and its own peculiar pulsation. Some lives change their rhythm and mode of activity every seven years; others alter every nine or eleven years. Still others work under shorter cycles and have months of strenuous endeavour followed by months of apparent non-effort. Some people again are so sensitively organised that, in the midst of work, events and circumstances are so staged that they are forced into a temporary retirement wherein they assimilate the lessons learnt during the preceding period of work.
|
2. Sự lên xuống của đời sống hằng ngày trong một kiếp lâm phàm đặc biệt cũng sẽ biểu lộ các khoảng lặng của nó, và người chí nguyện phải học cách nhận ra và sử dụng chúng. Y phải ghi nhận sự phân biệt giữa hoạt động hướng ngoại mãnh liệt, các thời kỳ rút lui, và những khoảng lặng trong đó đời sống bên ngoài dường như tĩnh tại và không có mối quan tâm hoạt động. Y phải làm điều này nếu muốn tận dụng trọn vẹn cơ hội mà kinh nghiệm sống được dự định cung cấp. Toàn bộ đời sống không tập trung trong một dải liên tục điên cuồng lao ra làm việc, cũng không được bao hàm trong một giấc ngủ trưa vĩnh viễn. Bình thường, nó có nhịp đập và rung động riêng, cùng sự rung nhịp đặc thù của nó. Một số đời sống thay đổi nhịp điệu và phương thức hoạt động mỗi bảy năm; những đời sống khác thay đổi mỗi chín hoặc mười một năm. Lại có những đời sống khác làm việc dưới các chu kỳ ngắn hơn, có những tháng nỗ lực căng thẳng tiếp theo bởi những tháng dường như không nỗ lực. Lại có một số người được tổ chức nhạy bén đến mức, giữa lúc làm việc, các biến cố và hoàn cảnh được sắp đặt sao cho họ bị buộc phải tạm thời lui vào ẩn dật, nơi họ đồng hóa các bài học đã học được trong thời kỳ làm việc trước đó.
|
|
Two groups of human beings work with apparently no physical plane ebb and flow, but manifest steadily an urge to work. These are people who are so little evolved and so low down (if one might thus express it) on the ladder of evolution and so predominantly animal that there is no mental reaction to circumstances but simply a response to the call of physical needs, and the use of time for the satisfaction of desire. This never lets up [515] and therefore there is little that can be called cyclic in their expression. They include the unthinking toiler and the uncivilised man. Then there are those men and women who are on the opposite scale, and have climbed relatively high on the ladder of progress. These are so emancipated from the purely physical and are so aware of the nature of desire that they have learnt to preserve a continuous activity—based on discipline and service. They work consciously with cycles and understand somewhat their nature. They know the divine art of abstracting their consciousness into that of the soul in contemplation and can control and wisely guide their work in the world of men. This is the lesson which all disciples are learning and this is the high achievement of the initiates and trained workers of the race.
|
Hai nhóm nhân loại làm việc dường như không có sự lên xuống trên cõi hồng trần, nhưng đều đặn biểu hiện một xung lực làm việc. Đó là những người tiến hóa quá ít và ở quá thấp, nếu có thể nói như vậy, trên nấc thang tiến hóa, và còn quá trội về tính thú vật đến nỗi không có phản ứng trí tuệ trước hoàn cảnh, mà chỉ đơn giản đáp ứng lời gọi của các nhu cầu hồng trần và sử dụng thời gian để thỏa mãn ham muốn. Điều này không bao giờ giảm [515] xuống, và vì thế có rất ít điều có thể gọi là chu kỳ trong sự biểu lộ của họ. Họ bao gồm người lao công không suy nghĩ và người chưa văn minh. Rồi có những người nam và nữ ở cực đối lập, đã leo tương đối cao trên nấc thang tiến bộ. Họ đã được giải phóng khỏi cái thuần túy hồng trần đến mức, và ý thức rõ bản chất của ham muốn đến mức, họ đã học được cách duy trì một hoạt động liên tục đặt nền trên kỷ luật và phụng sự. Họ làm việc với các chu kỳ một cách có ý thức và thấu hiểu phần nào bản chất của chúng. Họ biết nghệ thuật thiêng liêng của việc rút tâm thức mình vào tâm thức của linh hồn trong chiêm ngưỡng, và có thể kiểm soát cũng như hướng dẫn công việc của mình trong thế giới con người một cách minh triết. Đây là bài học mà mọi đệ tử đang học, và đây là thành tựu cao cả của các điểm đạo đồ và những người hoạt động được rèn luyện của nhân loại.
|
|
3. The third type of interlude, and the one with which we are here primarily concerned as we consider the magical work on the physical plane, is the interlude achieved and utilised during the meditation process. With this the student must familiarise himself, for otherwise he will be unable to work with power. This interlude or period of intense silence differentiates itself into two parts:
|
3. Loại khoảng lặng thứ ba, và là loại mà ở đây chúng ta chủ yếu quan tâm khi xét công việc huyền thuật trên cõi hồng trần, là khoảng lặng đạt được và sử dụng trong tiến trình tham thiền. Đạo sinh phải làm quen với điều này, vì nếu không y sẽ không thể làm việc với quyền năng. Khoảng lặng hay thời kỳ im lặng mãnh liệt này tự phân biệt thành hai phần:
|
|
There is first of all the interlude which we call contemplation. I would remind you of the definition given in a book by Evelyn Underhill which describes contemplation as “an interlude between two activities”. This period of silence succeeds upon the activity (found so difficult by the beginner) of making the alignment between soul-mind-brain, of quieting the emotional body, and of achieving that concentration and meditation which will serve to focus and reorient the mind upon a new world, and place it within the sphere of influence of the soul. It is analogous to the period of inhalation. In this cycle, the outgoing consciousness is gathered in and lifted up. When success crowns this effort, the consciousness then [516] slips out of what we call the personality, the mechanism aspect, and becomes a changed consciousness. The soul on its own plane becomes active and of this activity the mind and brain are aware. From the standpoint of personality activity, an interlude takes place. There is a point of inspired waiting. The mechanism is entirely quiescent. The mind is held steady in the light and the soul in the meantime thinks, as is its habit, in unison with all souls, taps the resources of the Universal Mind, and formulates its purposes in line with the universal plan. This cycle of recorded soul activity is followed by what might be called the process of exhalation. The interlude comes to an end; the waiting mind again becomes active and in so far as it has been rightly oriented and held in a purely receptive attitude, it becomes the interpreter and instrument of the soul, which has now turned the “light of its countenance upon the attentive personality”. Through that medium it can now work out the plans formulated in the interlude of contemplation. The emotional nature is swept by desire to make objective the plans with which the reoriented mind seeks to colour its experience, and subsequently the brain receives the transmitted impression and the physical plane life is then adjusted so that those plans can properly materialise. This of course delineates a mechanism, trained and adjusted and rightly responsive—a rare thing indeed to find. The second part of the interlude only becomes possible when the first or contemplative interlude has been achieved.
|
Trước hết có khoảng lặng mà chúng ta gọi là chiêm ngưỡng. Tôi muốn nhắc các bạn về định nghĩa được đưa ra trong một quyển sách của Evelyn Underhill, mô tả chiêm ngưỡng là “một khoảng lặng giữa hai hoạt động”. Thời kỳ im lặng này theo sau hoạt động, vốn rất khó đối với người mới bắt đầu, là tạo sự chỉnh hợp giữa linh hồn, thể trí và bộ não; làm yên lặng thể cảm dục; và đạt được sự tập trung cùng tham thiền sẽ giúp quy tụ và tái định hướng thể trí vào một thế giới mới, đồng thời đặt nó vào trong phạm vi ảnh hưởng của linh hồn. Nó tương đồng với thời kỳ hít vào. Trong chu kỳ này, tâm thức hướng ngoại được thu gom lại và nâng lên. Khi nỗ lực này đạt thành công, tâm thức khi ấy [516] trượt ra khỏi điều chúng ta gọi là phàm ngã, phương diện bộ máy, và trở thành một tâm thức đã biến đổi. Linh hồn trên cõi riêng của nó trở nên hoạt động, và thể trí cùng bộ não nhận biết hoạt động này. Từ lập trường hoạt động của phàm ngã, một khoảng lặng diễn ra. Có một điểm chờ đợi được cảm hứng. Bộ máy hoàn toàn yên tĩnh. Thể trí được giữ vững trong ánh sáng, và trong khi đó linh hồn suy tư, như thói quen của nó, trong sự hòa hợp với mọi linh hồn, khai thác các nguồn lực của Vũ Trụ Trí, và hình thành các mục đích của nó phù hợp với Thiên Cơ phổ quát. Chu kỳ hoạt động linh hồn được ghi nhận này được tiếp nối bởi điều có thể gọi là tiến trình thở ra. Khoảng lặng kết thúc; thể trí đang chờ đợi lại trở nên hoạt động, và trong chừng mực nó đã được định hướng đúng và được giữ trong một thái độ tiếp nhận thuần khiết, nó trở thành người diễn dịch và khí cụ của linh hồn, vốn giờ đây đã hướng “ánh sáng của dung nhan mình lên phàm ngã đang chú tâm”. Qua trung gian ấy, linh hồn giờ đây có thể thực hiện các kế hoạch đã được hình thành trong khoảng lặng chiêm ngưỡng. Bản chất cảm dục được thúc đẩy bởi ham muốn làm cho các kế hoạch ấy trở nên khách quan, những kế hoạch mà thể trí đã tái định hướng tìm cách dùng để nhuộm màu kinh nghiệm của nó; và sau đó bộ não tiếp nhận ấn tượng được truyền xuống, rồi đời sống trên cõi hồng trần được điều chỉnh để các kế hoạch ấy có thể hiện hình đúng đắn. Dĩ nhiên, điều này phác họa một bộ máy đã được rèn luyện, điều chỉnh và đáp ứng đúng đắn, một điều quả thật hiếm thấy. Phần thứ hai của khoảng lặng chỉ trở nên khả hữu khi khoảng lặng thứ nhất, hay khoảng lặng chiêm ngưỡng, đã được đạt tới.
|
|
The disciple who is seeking to cooperate with the Hierarchy of Masters and to manifest this cooperation by active participation in Their work on the physical plane has to learn to work not only through the contemplative realisation but through a scientific utilisation of the interludes, developed in breathing, between points of inhalation and exhalation in the purely physical sense of [517] the term. This is the true science and objective of pranayama. The brain consciousness is necessarily involved. The interlude between breaths is only capable of right use when a man has achieved the power to follow the interlude of contemplation affecting the soul and the mind and the brain. Just as the mind has been held in the light, and has been receptive to the soul impression so the brain has to be held receptive to impression from the mind.
|
Đệ tử đang tìm cách hợp tác với Thánh Đoàn các Chân sư và biểu hiện sự hợp tác này bằng việc tham gia tích cực vào công việc của Các Ngài trên cõi hồng trần phải học cách làm việc không chỉ qua sự chứng nghiệm chiêm ngưỡng, mà còn qua việc sử dụng một cách khoa học các khoảng lặng được phát triển trong hơi thở, giữa các điểm hít vào và thở ra theo nghĩa thuần túy hồng trần của [517] thuật ngữ ấy. Đây là khoa học chân thật và mục tiêu của pranayama. Tâm thức bộ não tất yếu có liên quan. Khoảng lặng giữa các hơi thở chỉ có thể được sử dụng đúng khi con người đã đạt được quyền năng theo dõi khoảng lặng chiêm ngưỡng tác động đến linh hồn, thể trí và bộ não. Cũng như thể trí đã được giữ trong ánh sáng và đã tiếp nhận ấn tượng của linh hồn, bộ não cũng phải được giữ để tiếp nhận ấn tượng từ thể trí.
|
|
One interlude therefore (from the standpoint of the united soul and personality) takes place after the period of soul inhalation, when the outgoing consciousness has been gathered inward, and the other takes place at the close of that interlude when the soul again becomes outgoing consciously to the objective world; exhalation takes the place of inhalation and also has its interlude. The disciple has to learn facility in utilising these two soul interludes—one of which produces effects upon the mind, and the other upon the brain.
|
Do đó, một khoảng lặng, xét từ lập trường của linh hồn và phàm ngã hợp nhất, diễn ra sau thời kỳ hít vào của linh hồn, khi tâm thức hướng ngoại đã được thu gom vào trong; và khoảng lặng kia diễn ra vào cuối khoảng lặng ấy, khi linh hồn lại một lần nữa hướng ra thế giới khách quan một cách có ý thức; sự thở ra thay thế sự hít vào và cũng có khoảng lặng của nó. Đệ tử phải học sự thành thạo trong việc sử dụng hai khoảng lặng của linh hồn này, một khoảng lặng tạo ra các hiệu quả trên thể trí, và khoảng lặng kia trên bộ não.
|
|
There is, as always, a physical plane analogy of this process of divine inhalation and exhalation with its two interludes of silence and of thought. Let me again reiterate the consequences of these interludes. In the higher interlude, abstract or divine thought impresses the soul and is transmitted to the waiting mind; in the other, the mind, through concrete thought and an attempt to embody divine thought in form, impresses the brain and produces action through the medium of the physical body.
|
Như luôn luôn, có một sự tương đồng trên cõi hồng trần đối với tiến trình hít vào và thở ra thiêng liêng này, cùng hai khoảng lặng của im lặng và tư tưởng. Hãy để tôi một lần nữa nhắc lại các hệ quả của những khoảng lặng này. Trong khoảng lặng cao hơn, tư tưởng trừu tượng hay thiêng liêng in dấu lên linh hồn và được truyền đến thể trí đang chờ đợi; trong khoảng lặng kia, thể trí, qua tư tưởng cụ thể và nỗ lực thể hiện tư tưởng thiêng liêng trong hình tướng, in dấu lên bộ não và tạo ra hành động qua trung gian của thể xác.
|
|
Students of occultism who have demonstrated their devotion and their mental poise, and who (to use the ancient formula of the schools of meditation) have kept the five commandments and the five rules, and have achieved right poise, can begin to use the interludes between the two aspects of physical breathing for intense activity and the use of the power of will to produce magical effects. [518] The consciousness, focussed in the brain and having participated in the work of contemplation can now proceed to the work of materialising the plan upon the physical plane by the focussed energy of will, used in the silence by the conscious man. As can be seen, these breathing interludes are also two in number, after inhalation and after exhalation and the more experienced the disciple, the longer will be the interlude and the greater the opportunity therefore for focussed magical work and for the utterance of those words of power which will make divine purpose to be.
|
Các đạo sinh huyền bí học đã chứng minh được sự sùng tín và thế quân bình trí tuệ của mình, và những người, dùng công thức cổ xưa của các trường tham thiền, đã giữ năm giới luật và năm quy luật, đồng thời đạt được thế quân bình đúng, có thể bắt đầu sử dụng các khoảng lặng giữa hai phương diện của hơi thở hồng trần cho hoạt động mãnh liệt và việc sử dụng quyền năng của ý chí để tạo ra các hiệu quả huyền thuật. [518] Tâm thức, được tập trung trong bộ não và đã tham dự vào công việc chiêm ngưỡng, giờ đây có thể tiến đến công việc hiện hình Thiên Cơ trên cõi hồng trần bằng năng lượng tập trung của ý chí, được con người hữu thức sử dụng trong im lặng. Như có thể thấy, các khoảng lặng của hơi thở này cũng có hai loại, sau khi hít vào và sau khi thở ra; và đệ tử càng kinh nghiệm, khoảng lặng càng dài, và do đó cơ hội cho công việc huyền thuật tập trung cùng việc xướng những Quyền năng từ khiến Thiên Ý hiện tồn càng lớn.
|
|
It would not be right nor proper for me to enlarge here upon the work of utilising these “midway points”, as they are called in Rule XII, which the magician seizes and which he employs in constructive work. In them he consciously uses energy, directing it as he sees fit; in them, he consciously comes in contact with those forces and lives which he can employ and command to bring to him what he requires for the furtherance of spiritual purposes and for the work of constructing those forms and organisms which may be needed; in them, he goes forward with the work of releasing the “prisoners of the planet”; and in them he becomes conscious of his fellow workers, of the group of world mystics, and of the hierarchy of souls.
|
Sẽ không đúng cũng không thích hợp để tôi mở rộng ở đây về công việc sử dụng các “điểm ở giữa” này, như chúng được gọi trong Quy luật Mười Hai, những điểm mà nhà huyền thuật nắm lấy và sử dụng trong công việc xây dựng. Trong chúng, y sử dụng năng lượng một cách có ý thức, điều hướng nó theo cách y thấy thích hợp; trong chúng, y tiếp xúc một cách có ý thức với những mãnh lực và sự sống mà y có thể sử dụng và chỉ huy để đem đến cho mình những gì y cần cho việc thúc đẩy các mục đích tinh thần và cho công việc xây dựng những hình tướng cùng cơ cấu có thể cần thiết; trong chúng, y tiến tới với công việc giải thoát những “tù nhân của hành tinh”; và trong chúng, y trở nên ý thức về các bạn đồng công của mình, về đoàn các nhà thần bí thế giới, và về thánh đoàn các linh hồn.
|
|
In Instructions such as these, which are to be read by the general public it would be most unwise to give more explicit directions. Enough has been left unsaid to make it impossible for any but a deeply learned student to arrive at the necessary correlations which will enable him to carry forward the “work of the interludes”, in which alone magical work can be done. You might ask: Why is this so? Why are the secrets of the breath so carefully guarded? Because the efficacy of black magic is found right here. There is a point where both black and white magic employ necessarily one similar stage in the work. [519] Certain men, with potent wills and clear and trained minds, but animated by purely selfish purpose, have learnt to use the lower of the two soul interludes—that which concerns the relation of mind and brain. Through an intense application and a knowledge of the science of the centres they have been enabled to work out their selfish plans and to impose their will and mental authority upon the “prisoners of the planet”. Thus they have wrought much harm. They have no desire to participate in the higher interlude wherein the soul is active, and the mind responsive. The intellectual activity and the responsiveness of the brain to mind impression is all that concerns them. Both white and black magicians, as you see, employ the lower interlude, and both know the significance of the physical breathing interludes. But the white magician works from the soul level out into the manifested world and seeks to carry out the divine plan, whilst the black magician works from the level of the intellect as he seeks to achieve his own separative ends. The difference is not only that of motive, but also of alignment and the radius of the consciousness and its field of expansion. Hence you will see why such extreme caution is evidenced by all true teachers, as they endeavor to teach the nature of the magical work. Only the tested and the true, only the unselfish and the pure can be given the full instructions. All can be given the information concerning the major interludes of soul-mind and mind-brain. Only a few can as yet be trusted with the significant information concerning the minor interludes, carried on in the physical body between breaths and in the brain consciousness.
|
Trong những Huấn thị như thế này, vốn được dành cho công chúng đọc, sẽ là điều hết sức thiếu minh triết nếu đưa ra những chỉ dẫn rõ ràng hơn. Đã có đủ điều chưa được nói ra để khiến bất cứ ai, trừ một đạo sinh uyên thâm sâu xa, không thể đạt đến những tương quan cần thiết giúp y tiến hành “công việc của các khoảng lặng”, nơi duy nhất mà công việc huyền thuật có thể được thực hiện. Các bạn có thể hỏi: Tại sao lại như vậy? Tại sao những bí mật của hơi thở được canh giữ cẩn trọng đến thế? Bởi vì hiệu lực của hắc thuật được tìm thấy ngay tại đây. Có một điểm nơi cả hắc thuật lẫn Chánh Thuật tất yếu sử dụng một giai đoạn tương tự trong công việc. [519] Một số người, với ý chí mạnh mẽ và thể trí rõ ràng, được rèn luyện, nhưng được thúc động bởi mục đích hoàn toàn ích kỷ, đã học cách sử dụng khoảng lặng thấp hơn trong hai khoảng lặng của linh hồn, tức khoảng lặng liên quan đến mối quan hệ giữa thể trí và bộ não. Nhờ áp dụng mãnh liệt và nhờ tri thức về khoa học các trung tâm, họ đã có thể thực hiện các kế hoạch ích kỷ của mình, và áp đặt ý chí cùng uy quyền trí tuệ của họ lên các “tù nhân của hành tinh”. Như vậy họ đã gây ra nhiều tổn hại. Họ không có mong muốn tham dự vào khoảng lặng cao hơn, nơi linh hồn hoạt động và thể trí đáp ứng. Hoạt động trí năng và sự đáp ứng của bộ não đối với ấn tượng của thể trí là tất cả những gì họ quan tâm. Như các bạn thấy, cả nhà huyền thuật chánh đạo lẫn nhà hắc thuật đều sử dụng khoảng lặng thấp hơn, và cả hai đều biết thâm nghĩa của các khoảng lặng trong hơi thở hồng trần. Nhưng nhà huyền thuật chánh đạo làm việc từ cấp độ linh hồn hướng ra thế giới biểu hiện và tìm cách thực hiện Thiên Cơ, trong khi nhà hắc thuật làm việc từ cấp độ của trí năng khi y tìm cách đạt được các mục tiêu chia rẽ của riêng mình. Sự khác biệt không chỉ là ở động cơ, mà còn ở sự chỉnh hợp, ở bán kính của tâm thức và lĩnh vực mở rộng của nó. Do đó, các bạn sẽ thấy vì sao mọi huấn sư chân chính đều biểu lộ sự thận trọng cực độ khi họ cố gắng giảng dạy bản chất của công việc huyền thuật. Chỉ những người đã được thử thách và chân thật, chỉ những người vô kỷ và trong sạch mới có thể được trao những huấn thị đầy đủ. Tất cả đều có thể được trao thông tin về các khoảng lặng chính yếu của linh hồn-thể trí và thể trí-bộ não. Hiện nay chỉ một số ít có thể được tin cậy với thông tin quan trọng về các khoảng lặng nhỏ hơn, diễn ra trong thể xác giữa các hơi thở và trong tâm thức bộ não.
|
|
One other point might be of interest before I proceed to speak of the “prisoners of the planet” and the work to be done with them.
|
Một điểm khác có thể đáng quan tâm trước khi tôi tiếp tục nói về những “tù nhân của hành tinh” và công việc cần làm với họ.
|
|
Humanity at this time is passing through a cycle of excessive activity. For the first time in human history [520] this activity embraces mankind on a large scale in the entire three aspects of the personality consciousness. The physical bodies, the emotional and mental states of consciousness are all in a condition of potent upheaval. This unified triple activity is increased by a cycle of equally intense planetary activity, due to the coming in of a new age, the passing of the sun into a new sign in the Zodiac and the preparation consequently going on to fit man to work easily with the new forces and energies playing upon him. At the centre of human life, the integrating group of new World Servers must meet therefore a very real need. Their work must primarily be to keep such a close link with the soul of humanity—made up of all souls on their own level of being—through their own organised soul activity that there will always be those who can “work in the interludes” and so keep the plan progressing and the vision before the eyes of those who cannot as yet themselves enter into the high and secret place. They have, as I oft times have said, to learn to work subjectively, and this they must do in order to preserve—in this cycle of activity and exoteric expression—the power, latent in all, to withdraw into the centre. They constitute the door, speaking symbolically. Capacities and powers can die out for lack of use; the power of divine abstraction and the faculty to find what has been called “the golden path which leads to the clear pool and from thence to the Temple of Retreat” must not be lost. This is the first work of the Group of World Mystics, and they must keep the path open and the way clear of obstructions. Otherwise white magic might temporarily die out and the selfish purposes of the form nature assume undue control. This dire event happened in Atlantean days and the then group of workers had to withdraw from all external activity and “abstract the divine mysteries, hiding them away from the curious and the unworthy.”
|
Nhân loại vào lúc này đang trải qua một chu kỳ hoạt động quá mức. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, [520] hoạt động này bao trùm nhân loại trên quy mô lớn trong toàn bộ ba phương diện của tâm thức phàm ngã. Các thể xác, các trạng thái tâm thức cảm dục và cõi trí đều đang ở trong một tình trạng biến động mạnh mẽ. Hoạt động tam phân hợp nhất này được gia tăng bởi một chu kỳ hoạt động hành tinh cũng mãnh liệt như vậy, do sự đi vào của một kỷ nguyên mới, sự chuyển của mặt trời vào một dấu hiệu hoàng đạo mới, và do đó là sự chuẩn bị đang diễn ra để làm cho con người thích hợp làm việc dễ dàng với các mãnh lực và năng lượng mới đang tác động lên y. Vì vậy, tại trung tâm của đời sống nhân loại, nhóm tích hợp gồm những Người Phụng Sự Thế Gian mới phải đáp ứng một nhu cầu rất thực. Công việc của họ trước hết phải là giữ một liên kết gần gũi với linh hồn của nhân loại, được hợp thành bởi mọi linh hồn trên cấp độ hiện tồn riêng của họ, thông qua hoạt động linh hồn có tổ chức của chính họ, để luôn luôn có những người có thể “làm việc trong các khoảng lặng” và nhờ đó giữ cho Thiên Cơ tiến triển, đồng thời giữ tầm nhìn trước mắt những người chưa thể tự mình đi vào nơi cao cả và bí mật. Như tôi đã nhiều lần nói, họ phải học cách làm việc một cách chủ quan; và họ phải làm điều này để duy trì, trong chu kỳ hoạt động và biểu lộ ngoại môn này, quyền năng tiềm tàng nơi tất cả là rút vào trung tâm. Nói theo biểu tượng, họ tạo thành cánh cửa. Các năng lực và quyền năng có thể lụi tàn vì thiếu sử dụng; quyền năng trừu xuất thiêng liêng và khả năng tìm ra điều đã được gọi là “con đường vàng dẫn đến hồ nước trong, và từ đó đến Đền Ẩn Tu” không được để mất. Đây là công việc đầu tiên của Đoàn các Nhà Thần Bí Thế Giới, và họ phải giữ cho con đường mở rộng và lối đi sạch mọi chướng ngại. Nếu không, Chánh Thuật có thể tạm thời lụi tàn và các mục đích ích kỷ của bản chất hình tướng có thể nắm quyền kiểm soát quá mức. Biến cố thảm khốc này đã xảy ra trong thời Atlantis, và nhóm người hoạt động khi ấy đã phải rút khỏi mọi hoạt động bên ngoài và “rút các huyền nhiệm thiêng liêng vào trong, cất giấu chúng khỏi kẻ tò mò và người bất xứng.”
|
|
[521]
|
[521]
|
|
Now a new attempt is being made to free the “prisoners of the planet”. The Hierarchy, through the Group of World Servers now in process of formation is seeking to externalise itself, and to restore the mysteries to humanity to whom they truly belong. If the attempt is to succeed it is basically necessary that all of you who have sensed the vision or seen a part of the intended plan should re-dedicate yourselves to the service of humanity, should pledge yourselves to the work of aiding to the utmost of your ability (ponder those words and search out their significance) all world servers, and should sacrifice your time and give of your money to further the endeavor of the Great Ones. Rest not, above all, from your meditation work; keep the inner link; think truth at all times. The need and the opportunity are great and all possible helpers are being called to the forefront of the battle. All can be used in some way, if the true nature of sacrifice is grasped, if skill in action is developed and if work without attachment is the effort of each and all of you.
|
Giờ đây một nỗ lực mới đang được thực hiện để giải thoát những “tù nhân của hành tinh”. Thánh Đoàn, thông qua Đoàn Người Phụng Sự Thế Gian hiện đang trong tiến trình hình thành, đang tìm cách ngoại hiện chính mình và khôi phục các huyền nhiệm cho nhân loại, vốn là những điều thật sự thuộc về nhân loại. Nếu nỗ lực này muốn thành công, về căn bản điều cần thiết là tất cả các bạn, những người đã cảm nhận tầm nhìn hoặc thấy một phần của Thiên Cơ được dự định, phải tái thánh hiến mình cho việc phụng sự nhân loại, phải cam kết với công việc hỗ trợ tất cả những Người Phụng Sự Thế Gian đến mức tối đa trong khả năng của mình (hãy suy ngẫm những lời này và tìm ra thâm nghĩa của chúng), và phải hy sinh thời gian cũng như đóng góp tiền bạc để thúc đẩy nỗ lực của Các Đấng Cao Cả. Trên hết, đừng ngừng nghỉ công việc tham thiền của các bạn; hãy giữ liên kết bên trong; hãy suy nghĩ chân lý vào mọi lúc. Nhu cầu và cơ hội đều lớn lao, và mọi người trợ giúp có thể đều đang được kêu gọi ra tuyến đầu của trận chiến. Tất cả đều có thể được sử dụng theo một cách nào đó, nếu bản chất chân thật của sự hy sinh được nắm bắt, nếu sự khéo léo trong hành động được phát triển, và nếu làm việc không dính mắc là nỗ lực của mỗi người và của tất cả các bạn.
|
|
Having dealt with the work of the magician in his own interior consciousness and with the need for him to learn the importance of seizing the “midway point” in his work of using the interludes, both major and minor, we come now to the consideration of the objective of all his work, that is if he is a true white magician. It is stated clearly that this is to release the “prisoners of the planet”. It would profit us therefore to study who these prisoners are and what is the mode of their release to be employed by the working disciple.
|
Sau khi đã đề cập đến công việc của nhà huyền thuật trong tâm thức nội tại của chính y, và đến nhu cầu y phải học tầm quan trọng của việc nắm lấy “điểm ở giữa” trong công việc sử dụng các khoảng lặng, cả chính yếu lẫn thứ yếu, giờ đây chúng ta đi đến việc xem xét mục tiêu của toàn bộ công việc của y, nếu y là một nhà huyền thuật chánh đạo chân thật. Điều được nêu rõ là mục tiêu ấy là giải thoát những “tù nhân của hành tinh”. Do đó, sẽ hữu ích cho chúng ta nghiên cứu những tù nhân này là ai và phương thức giải thoát họ mà đệ tử đang hoạt động phải sử dụng là gì.
|
|
These prisoners of the planet fall into two major groups, which embody necessarily certain subdivisions. Inclusively they constitute all forms of life that we usually call subhuman, but these words must be given a [522] wider connotation than is normally the case. They must be extended to include all lives which are embodied in forms.
|
Những tù nhân của hành tinh này rơi vào hai nhóm chính, tất yếu bao hàm một số phân nhóm. Theo nghĩa bao gồm, họ tạo thành mọi hình tướng sự sống mà chúng ta thường gọi là dưới nhân loại, nhưng những lời này phải được trao một [522] hàm nghĩa rộng hơn bình thường. Chúng phải được mở rộng để bao gồm mọi sự sống được thể hiện trong các hình tướng.
|
|
The two divisions are as follows:
|
Hai phân bộ như sau:
|
|
First, the substance of all forms, or the multiplicity of tiny atomic lives which, through the power of thought, are drawn into the form aspect through which all existences or all souls, mineral, vegetable, animal and the animal body of man, express themselves. This opens up a wide horizon and covers practically the work of creation on the physical plane so that we cannot even touch upon it. Under the Law of Magnetic Attraction and owing to the impulsive activity of the Universal Mind as it works out the purposes of the solar Logos or of the planetary Logos these constituents of the matter of space, these atoms of substance, are drawn together, manipulated in a rhythmic manner and held together in form. Through this mode of creation, existences come into manifestation, participate in the experience of their particular cycle, whether it is ephemeral, like the life of a butterfly or relatively permanent like the ensouling life of the planetary deity, and vanish. The two aspects concerned, spirit and matter, are brought thus into a close rapport, and necessarily exert an effect upon each other. Matter, so-called, is energised or “lifted up” in the occult sense of the term by its contact with spirit so-called. Spirit, in its turn, is enabled to enhance its vibration through the medium of its experience in matter. The bringing together of these two divine aspects results in the emergence of a third, which we call the soul, and through the medium of the soul, spirit develops a sentiency and a conscious awareness and capacity to respond which remains its permanent possession when the divorce between the two comes around eventually and cyclically.
|
Thứ nhất, chất liệu của mọi hình tướng, hay vô số những sự sống nguyên tử nhỏ bé, vốn nhờ quyền năng của tư tưởng được hút vào phương diện hình tướng mà qua đó mọi hiện tồn hay mọi linh hồn, khoáng vật, thực vật, động vật và thể thú vật của con người, tự biểu lộ. Điều này mở ra một chân trời rộng lớn và thực tế bao trùm công việc sáng tạo trên cõi hồng trần, đến mức chúng ta thậm chí không thể chạm đến nó. Dưới Định luật Hấp Dẫn Từ Tính và do hoạt động xung động của Vũ Trụ Trí khi nó thực hiện các mục đích của Đức Thái dương Thượng đế hoặc của Đức Hành Tinh Thượng Đế, các thành tố này của vật chất không gian, các nguyên tử chất liệu này, được kéo lại với nhau, được điều khiển theo một cách nhịp nhàng và được giữ lại với nhau trong hình tướng. Qua phương thức sáng tạo này, các hiện tồn đi vào biểu hiện, tham dự vào kinh nghiệm của chu kỳ riêng của chúng, dù phù du như đời sống của một con bướm hay tương đối thường tồn như sự sống phú linh của Thượng đế hành tinh, rồi biến mất. Hai phương diện liên quan, tinh thần và vật chất, như vậy được đưa vào một mối tương quan gần gũi, và tất yếu tác động lên nhau. Cái gọi là vật chất được tiếp năng lượng hay được “nâng lên” theo nghĩa huyền bí của thuật ngữ ấy bởi sự tiếp xúc của nó với cái gọi là tinh thần. Đến lượt mình, tinh thần có thể tăng cường rung động của nó qua trung gian kinh nghiệm của nó trong vật chất. Sự đưa hai phương diện thiêng liêng này lại với nhau dẫn đến sự xuất hiện của một phương diện thứ ba, mà chúng ta gọi là linh hồn; và qua trung gian của linh hồn, tinh thần phát triển một sự cảm biết, một nhận thức hữu thức và năng lực đáp ứng, vốn vẫn là sở hữu thường tồn của nó khi sự phân ly giữa hai phương diện cuối cùng và theo chu kỳ xảy đến.
|
|
Much anent this will be found in A Treatise on Cosmic Fire [523] and there is no need for me to repeat myself here. This second treatise is intended to be more practical and generally useful. It deals primarily with the training of the aspirant so that he can, in his turn, act as a conscious creator, and as he works serve the higher ends of the Life which enfolds him. Thus he aids in the materialising of the plans of God. The training of the aspirant, the indicating to him of possible trends and lines of evolution, and the definition of the underlying purpose is all that it is wise to impart at the present stage in which the average aspirant finds himself. This has been attempted in these Instructions and there has been given also some new teaching anent the emotional vehicle. In the next century, when man’s equipment is better developed and when a truer meaning of group activity is available, it will be possible to convey more information, but the time is not yet. All that is possible for me is to grope for those feeble words which will somewhat clothe the thought. As they clothe it they limit it and I am guilty of creating new prisoners who must ultimately be released. All books are prison houses of ideas, and only when speech and writing are superseded by telepathic communication and by intuitive interplay will the plan and the technique of its expression be grasped in a clearer fashion. I talk now in symbols; I manipulate words in order to create a certain impression; I construct a thought-form which, when dynamic enough, can impress the brain of a transmitting agent, such as yourself. But, as I do so, I know well how much must be left unrelated and how seldom it is possible to do more than point out a cosmology, macrocosmic or microcosmic, which will suffice to convey a temporary picture of divine reality.
|
Nhiều điều về vấn đề này sẽ được thấy trong Luận về Lửa Vũ Trụ [523] và tôi không cần lặp lại mình ở đây. Luận thư thứ hai này được dự định có tính thực tiễn hơn và hữu ích rộng rãi hơn. Nó chủ yếu đề cập đến việc rèn luyện người chí nguyện để đến lượt mình, y có thể hành động như một người sáng tạo có ý thức, và khi làm việc, phụng sự các mục tiêu cao hơn của Sự Sống bao bọc y. Như vậy y hỗ trợ việc hiện hình các Thiên Cơ của Thượng đế. Việc rèn luyện người chí nguyện, việc chỉ ra cho y các khuynh hướng và đường hướng tiến hóa khả dĩ, và việc xác định mục đích nền tảng là tất cả những gì minh triết cho phép truyền đạt ở giai đoạn hiện nay, nơi người chí nguyện trung bình đang tự thấy mình. Điều này đã được cố gắng thực hiện trong các Huấn thị này, và cũng đã có một số giáo huấn mới được trao về vận cụ cảm dục. Trong thế kỷ tới, khi trang bị của con người được phát triển tốt hơn và khi một ý nghĩa chân thật hơn của hoạt động nhóm trở nên sẵn có, sẽ có thể truyền đạt thêm thông tin; nhưng thời điểm ấy chưa đến. Tất cả những gì tôi có thể làm là dò tìm những lời yếu ớt có thể phần nào khoác áo cho tư tưởng. Khi khoác áo cho nó, chúng giới hạn nó, và tôi mắc lỗi tạo ra những tù nhân mới mà cuối cùng phải được giải thoát. Mọi quyển sách đều là nhà tù của các ý tưởng, và chỉ khi lời nói cùng chữ viết được thay thế bởi giao tiếp viễn cảm và sự tương tác trực giác, Thiên Cơ và kỹ thuật biểu lộ nó mới được nắm bắt theo một cách rõ ràng hơn. Giờ đây tôi nói bằng biểu tượng; tôi điều khiển các lời để tạo ra một ấn tượng nhất định; tôi xây dựng một hình tư tưởng mà, khi đủ linh động, có thể in dấu lên bộ não của một tác nhân truyền đạt, chẳng hạn như chính bạn. Nhưng khi làm như vậy, tôi biết rõ có biết bao điều phải để lại chưa được thuật ra, và hiếm khi nào có thể làm nhiều hơn là chỉ ra một vũ trụ luận, đại thiên địa hay tiểu thiên địa, đủ để truyền đạt một hình ảnh tạm thời về thực tại thiêng liêng.
|
|
I talk to you of laws, and I seek to formulate them intelligently but I am dealing really with those divine impulses which emanate from a cosmic Creator and become laws as they produce effects in the matter of space, meeting [524] therein practically no resistance. Other divine impulses which also cyclically stream forth have not as yet carried such a strong vibration, and have not therefore been as powerful as the vibration of the combined substance affected. These latter are those impulses to which we give the name spiritual, and which we look forward to seeing established as the laws of the new era, and which will then supersede or coalesce with the present laws of the universe. Together they will bring in the new synthetic world.
|
Tôi nói với các bạn về các định luật, và tôi tìm cách hình thành chúng một cách thông minh; nhưng thật ra tôi đang bàn đến những xung lực thiêng liêng xuất lộ từ một Đấng Sáng Tạo vũ trụ và trở thành các định luật khi chúng tạo ra các hiệu quả trong vật chất không gian, nơi chúng hầu như [524] không gặp sự kháng cự nào. Những xung lực thiêng liêng khác, cũng tuôn tràn ra theo chu kỳ, đến nay vẫn chưa mang một rung động mạnh như vậy, và do đó chưa mạnh bằng rung động của chất liệu kết hợp đã chịu ảnh hưởng. Những xung lực sau này là những xung lực mà chúng ta gọi là tinh thần, và chúng ta mong thấy chúng được thiết lập thành các định luật của kỷ nguyên mới, khi đó chúng sẽ thay thế hoặc hợp nhất với các định luật hiện tại của vũ trụ. Cùng nhau, chúng sẽ đưa vào thế giới tổng hợp mới.
|
|
But how can the whole be comprehended by the part? How can the entire plan be noted by a soul which sees as yet but a tiny fraction of the structure? Bear this steadily in mind as you study and ponder these Instructions and remember that, in the light of the future knowledge of humanity, all that is here conveyed is like a fifth reader in grammar school to the text books utilised by a college professor. It will serve however to graduate the aspirant out of the Hall of Learning into the Hall of Wisdom, if he uses the information given.
|
Nhưng làm sao phần có thể thấu hiểu toàn thể? Làm sao toàn bộ Thiên Cơ có thể được ghi nhận bởi một linh hồn hiện chỉ thấy một phần rất nhỏ của cấu trúc? Hãy luôn ghi nhớ điều này khi các bạn nghiên cứu và suy ngẫm các Huấn thị này, và hãy nhớ rằng, dưới ánh sáng tri thức tương lai của nhân loại, tất cả những gì được truyền đạt ở đây giống như sách đọc lớp năm trong trường phổ thông so với các giáo trình được một giáo sư đại học sử dụng. Tuy nhiên, nếu người chí nguyện sử dụng thông tin được trao, nó sẽ giúp y tốt nghiệp khỏi Phòng Học Tập để đi vào Phòng Minh triết.
|
|
Learn to be telepathic and intuitive. Then these forms of words and these ideas, clothed in form, will not be needed. You can then stand face to face with naked truth, and live and work in the terrain of ideas and not in the world of forms.
|
Hãy học cách trở nên viễn cảm và trực giác. Khi ấy, những hình thức ngôn từ này và những ý tưởng này, được khoác lấy hình tướng, sẽ không còn cần thiết nữa. Khi ấy, bạn có thể đứng mặt đối mặt với chân lý trần trụi, và sống cùng làm việc trong địa hạt của ý tưởng, chứ không phải trong thế giới của hình tướng.
|
|
So we leave the vast expanse of lives, covered by the unmeaning phrase “atomic substance,” and pass on secondly to a consideration of those prisoners of the planet which can be more easily contacted, whose general plight can be more specifically understood, and who stand in a closer relation to man. Men are not yet equipped to comprehend the nature of those units of electrical energy which embody what we call the soul of all things and which has been termed the “anima mundi”—the life and soul of the One in whom all embodied existences live and move and have their being. [525]
|
Vì vậy, chúng ta rời khỏi vùng bao la của các sự sống, vốn được bao phủ bởi cụm từ vô nghĩa “chất liệu nguyên tử”, và kế đến chuyển sang xem xét những tù nhân của hành tinh có thể được tiếp xúc dễ dàng hơn, có cảnh ngộ chung có thể được thấu hiểu cụ thể hơn, và đứng trong mối liên hệ gần gũi hơn với con người. Nhân loại chưa được trang bị để thấu hiểu bản chất của những đơn vị năng lượng điện vốn thể hiện điều mà chúng ta gọi là linh hồn của muôn vật, và điều đã được gọi là “linh hồn thế giới” — sự sống và linh hồn của Đấng Duy Nhất, trong Ngài mọi hiện hữu nhập thể đều sống, vận động và hiện hữu. [525]
|
|
To do this, it will be necessary to understand somewhat the part that the fourth kingdom in nature plays in relation to the whole, and the purpose for which that aggregate of forms which we call the human family exists. We must study this from the standpoint of the relation of the fourth kingdom to the whole, and not from the standpoint of man’s own individual progressive development and the part he plays as a human unit within the ring-pass-not of the human family. We will use the word humanity, and speak of its mission and function in the big scheme and the working out of the plan. We will infer a humanity which is composed of all the sons of men. It includes on the one hand the hierarchy of adepts who have deliberately incarnated on the physical plane in order to work within the limits of the human kingdom, and on the other we find the undeveloped types which are more animal than human. Between these two extremes we find the many and varied types, the developed and the undeveloped, the intelligent and the unintelligent—all who are covered by the word man.
|
Để làm điều này, cần phải thấu hiểu phần nào vai trò mà giới thứ tư trong thiên nhiên đảm nhiệm trong quan hệ với toàn thể, và mục đích vì đó mà tập hợp các hình tướng mà chúng ta gọi là gia đình nhân loại hiện hữu. Chúng ta phải nghiên cứu điều này từ lập trường quan hệ của giới thứ tư với toàn thể, chứ không phải từ lập trường phát triển tiến bộ cá nhân của riêng con người và vai trò y đảm nhiệm như một đơn vị nhân loại bên trong vòng-giới-hạn của gia đình nhân loại. Chúng ta sẽ dùng từ nhân loại, và nói về sứ mệnh cùng chức năng của nó trong kế hoạch tổng thể và trong việc thực hiện Thiên Cơ. Chúng ta sẽ hàm ý một nhân loại được hợp thành bởi tất cả những người con của nhân loại. Một mặt, nó bao gồm Thánh đoàn các chân sư đã cố ý lâm phàm trên cõi hồng trần để làm việc trong các giới hạn của giới nhân loại; mặt khác, chúng ta thấy những kiểu người chưa phát triển, còn mang tính thú hơn là tính người. Giữa hai cực đoan này, chúng ta thấy nhiều kiểu loại đa dạng, phát triển và chưa phát triển, thông minh và kém thông minh — tất cả những ai được bao hàm trong từ con người.
|
|
Humanity constitutes a centre of energy within the cosmos, capable of three activities.
|
Nhân loại cấu thành một trung tâm năng lượng trong vũ trụ, có khả năng thực hiện ba hoạt động.
|
|
I. First of all, humanity is responsive to the inflow of spiritual energy. This pours into it from the cosmos, and speaking symbolically these energies are basically three in number:
|
I. Trước hết, nhân loại đáp ứng với dòng năng lượng tinh thần tuôn vào. Dòng này đổ vào nhân loại từ vũ trụ, và nói theo biểu tượng, những năng lượng này về căn bản có ba loại:
|
|
1. Spiritual energy, as we inadequately term it. This emanates from God the Father and reaches humanity from the level of what is technically called the monadic plane, from the archetypal sphere, the highest source of which a man can become conscious. To this type of energy there are few so equipped that they can respond. It is for the majority practically nonexistent. I use the words “God the Father” in the sense of the One Self-Existent Life, or Absolute Being.
|
1. Năng lượng tinh thần, như chúng ta gọi một cách bất toàn. Năng lượng này phát xuất từ Thượng đế Cha và đến với nhân loại từ cấp độ của điều được gọi một cách kỹ thuật là cõi chân thần, từ khối cầu nguyên mẫu, nguồn cao nhất mà con người có thể trở nên hữu thức. Rất ít người được trang bị đến mức có thể đáp ứng với loại năng lượng này. Đối với đa số, nó hầu như không hiện hữu. Tôi dùng các từ “Thượng đế Cha” theo nghĩa Sự Sống Duy Nhất Tự Hữu, hay Bản Thể Tuyệt Đối.
|
|
2. Sentient energy—the energy which makes man a [526] soul. It is the principle of awareness, the faculty of consciousness, that something, inherent in matter (when brought into relation with spirit), which awakens responsiveness to an outer and far-reaching field of contacts. It is that which eventually develops in man a recognition of the whole, of the self, and which leads him to self-determination and self-realisation. When these are developed, as they are not in the subhuman kingdoms, a man can become aware of the first type of energy, mentioned above. This energy of sentient consciousness comes from the second aspect of deity, from the heart of the sun, just as the first, technically but symbolically speaking, emanates from the central spiritual sun. The parallel to these two types of force in a human being is the nervous energy working through the nervous system with headquarters in the brain, and the life energy which is seated in the heart.
|
2. Năng lượng cảm tri — năng lượng khiến con người trở thành một [526] linh hồn. Đó là nguyên khí của sự nhận biết, năng lực của tâm thức, một điều gì đó cố hữu trong vật chất khi được đưa vào quan hệ với tinh thần, đánh thức sự đáp ứng với một trường tiếp xúc bên ngoài và rộng lớn. Đó là điều cuối cùng phát triển nơi con người sự nhận biết về toàn thể, về bản ngã, và dẫn y đến sự tự quyết và tự chứng nghiệm. Khi những điều này được phát triển, như chúng chưa được phát triển trong các giới dưới nhân loại, con người có thể trở nên nhận biết loại năng lượng thứ nhất đã nói ở trên. Năng lượng của tâm thức cảm tri này đến từ phương diện thứ hai của Thượng đế, từ trái tim của mặt trời, cũng như loại thứ nhất, nói một cách kỹ thuật nhưng biểu tượng, phát xuất từ Mặt trời Tinh thần Trung Ương. Sự tương ứng với hai loại mãnh lực này trong một con người là năng lượng thần kinh hoạt động qua hệ thần kinh với trung tâm đặt trong bộ não, và năng lượng sự sống đặt nơi tim.
|
|
3. Pranic energy, or vitality. This is that vital force, inherent in matter itself and in which all forms are immersed, as they constitute functioning parts of the greater form. To this all forms respond. This type of energy comes from the physical sun and works actively upon the vital bodies of every form in the natural world, including the physical form of humanity itself.
|
3. Năng lượng prana, hay sinh lực. Đây là mãnh lực sinh động, cố hữu trong chính vật chất và trong đó mọi hình tướng đều được ngâm mình, vì chúng cấu thành những bộ phận hoạt động của hình tướng lớn hơn. Mọi hình tướng đều đáp ứng với nó. Loại năng lượng này đến từ mặt trời hồng trần và tác động tích cực lên các thể sinh lực của mọi hình tướng trong giới tự nhiên, kể cả chính hình tướng hồng trần của nhân loại.
|
|
In the terminology of the Ageless Wisdom, these three are called electric fire, solar fire, and fire by friction, and their purpose in relation to each other is summed up for us in the words of The Secret Doctrine as follows:
|
Trong thuật ngữ của Minh Triết Ngàn Đời, ba loại này được gọi là Lửa Điện, Lửa Thái dương và Lửa ma sát, và mục đích của chúng trong quan hệ với nhau được tóm lược cho chúng ta trong những lời của Giáo Lý Bí Nhiệm như sau:
|
|
“Matter is the Vehicle for the manifestation of Soul on this plane of existence, and Soul is the Vehicle on a higher plane for the manifestation of Spirit and these three are a Trinity, synthesized by Life which pervades them all.” S. D. I. 80.
|
“Vật chất là Vận cụ cho sự biểu hiện của Linh hồn trên cõi hiện hữu này, và Linh hồn là Vận cụ trên một cõi cao hơn cho sự biểu hiện của Tinh thần; và ba điều này là một Tam Vị, được tổng hợp bởi Sự Sống thấm nhuần tất cả.” Giáo Lý Bí Nhiệm I. 80.
|
|
Humanity, being the meeting-place for all the three types of energy, constitutes therefore a “midway point,” [527] in the consciousness of the Creator. This “midway point” has to be seized by the active creating agent in some such manner as the aspirant has to learn to seize his midway points in the tiny bit of magical and creative work which he is seeking to carry forward. Humanity is intended to be the medium wherein certain activities can be instituted. It is in reality the brain of the planetary Deity, its many units being analogous to the brain cells in the human apparatus. Just as the human brain, made up of an infinite number of sentient responsive cells, can be suitably impressed when quiescence has been achieved, and can become the medium of expression for the plans and purposes of the soul, transmitting its ideas via the mind, so the planetary Deity, working under the inspiration of the Universal Mind, can impress humanity with the purposes of God and produce consequent effects in the world of phenomena.
|
Vì là nơi gặp gỡ của cả ba loại năng lượng, nhân loại do đó cấu thành một “Điểm ở giữa” [527] trong tâm thức của Đấng Sáng Tạo. “Điểm ở giữa” này phải được tác nhân sáng tạo tích cực nắm bắt theo một cách nào đó tương tự như người chí nguyện phải học cách nắm bắt những điểm ở giữa của mình trong phần nhỏ bé của công việc huyền thuật và sáng tạo mà y đang tìm cách tiến hành. Nhân loại được dự định là phương tiện trong đó một số hoạt động có thể được thiết lập. Thực ra, nó là bộ não của Thượng đế Hành Tinh, nhiều đơn vị của nó tương tự như các tế bào não trong bộ máy con người. Cũng như bộ não con người, được hợp thành bởi vô số tế bào cảm tri và đáp ứng, có thể được ghi ấn thích đáng khi sự tĩnh lặng đã đạt được, và có thể trở thành phương tiện biểu đạt các kế hoạch và mục đích của linh hồn, truyền đạt các ý tưởng của linh hồn qua thể trí, thì Thượng đế Hành Tinh, hoạt động dưới cảm hứng của Vũ Trụ Trí, có thể ghi ấn lên nhân loại các mục đích của Thượng đế và tạo ra những hiệu quả tương ứng trong thế giới hiện tượng.
|
|
The members of the hierarchy represent those who have achieved peace and quiescence, and can be impressed; aspirants and disciples represent those brain cells which are beginning to fall into the larger divine rhythm. They are learning the nature of responsiveness. The mass of men are like the millions of unused brain cells which the psychologists and scientists tell us we possess but do not employ. This analogy you can think out in greater detail for yourself, but even superficially it will be apparent to you that when this point is grasped, the purpose for which humanity exists, the objective before the group of world mystics and workers, and the ideal set before the individual aspirant, are the same as in the individual meditation; the achieving of that focussed attention and mental quiet wherein reality can be contacted, the true and the beautiful can be registered, divine purpose can be recorded, and it becomes possible to transmit to the phenomenal form, upon the physical plane, the needed energy whereby the subjective [528] realisation can be materialised. The aspirant does this in connection with his own soul purpose if he is successful in his endeavour; the disciple is learning to do this in relation to group purpose, and the initiate cooperates with the planetary purpose. These constitute the inner group of vitally alive brain cells in the planetary brain, the entire human group, and it is evident that the more powerful their united vibration and the clearer the light which they reflect and transmit, the more rapidly will the present inert mass of human cells be brought into activity. The occult hierarchy is to the planetary Life what the light in the head is to the average awakened disciple, only on so much vaster a scale, and with such an adequate inner alignment that students such as those who read these Instructions cannot understand the true significance of the words. The point to be grasped is that through humanity on the physical plane, the nature of reality will be revealed; the true and the beautiful will be manifested; the divine plan will eventually work out, and that energy be transmitted to all forms in nature which will enable the inner spiritual reality to emerge.
|
Các thành viên của Thánh đoàn đại diện cho những người đã đạt được bình an và tĩnh lặng, và có thể được ghi ấn; những người chí nguyện và đệ tử đại diện cho các tế bào não đang bắt đầu hòa vào nhịp điệu thiêng liêng lớn hơn. Họ đang học bản chất của sự đáp ứng. Quần chúng nhân loại giống như hàng triệu tế bào não chưa được dùng đến mà các nhà tâm lý học và khoa học gia nói rằng chúng ta sở hữu nhưng không sử dụng. Bạn có thể tự mình suy ngẫm phép tương đồng này chi tiết hơn, nhưng ngay cả một cách hời hợt cũng sẽ rõ ràng với bạn rằng khi điểm này được nắm bắt, mục đích vì đó nhân loại hiện hữu, mục tiêu trước mắt nhóm các nhà thần bí và người hoạt động thế gian, và lý tưởng đặt trước người chí nguyện cá nhân, đều giống như trong tham thiền cá nhân: đạt được sự chú tâm tập trung và sự yên lặng trí tuệ, trong đó thực tại có thể được tiếp xúc, điều chân thật và đẹp đẽ có thể được ghi nhận, Thiên Ý có thể được ghi khắc, và có thể truyền đến hình tướng hiện tượng trên cõi hồng trần năng lượng cần thiết nhờ đó sự chứng nghiệm chủ quan [528] có thể hiện hình. Người chí nguyện làm điều này liên quan đến mục đích linh hồn của chính mình nếu y thành công trong nỗ lực; đệ tử đang học làm điều này trong quan hệ với mục đích nhóm, và điểm đạo đồ hợp tác với mục đích hành tinh. Những người này cấu thành nhóm bên trong của các tế bào não sống động mãnh liệt trong bộ não hành tinh, tức toàn thể nhóm nhân loại; và hiển nhiên rằng rung động hợp nhất của họ càng mạnh mẽ, ánh sáng họ phản chiếu và truyền dẫn càng trong sáng, thì khối tế bào nhân loại hiện đang trì trệ càng nhanh chóng được đưa vào hoạt động. Thánh đoàn huyền bí đối với Sự Sống hành tinh cũng như ánh sáng trong đầu đối với đệ tử thức tỉnh trung bình, chỉ ở một quy mô bao la hơn nhiều, và với một sự chỉnh hợp bên trong thích đáng đến mức các đạo sinh đọc những Huấn thị này không thể thấu hiểu thâm nghĩa thật sự của các lời ấy. Điểm cần nắm bắt là: qua nhân loại trên cõi hồng trần, bản chất của thực tại sẽ được mặc khải; điều chân thật và đẹp đẽ sẽ được biểu hiện; Thiên Cơ cuối cùng sẽ được thực hiện, và năng lượng ấy sẽ được truyền đến mọi hình tướng trong thiên nhiên, nhờ đó thực tại tinh thần bên trong có thể xuất lộ.
|
|
II. The second type of activity of which man is capable is an intense progressive and spiral development within the human ring-pass-not. This sentence covers the mode of development and the entire procedure of unfoldment of all the evolving units that we call men. With this I seek not here to deal. The history of the human structural growth, the entire field of the unfolding human consciousness and the history of all races and peoples that have lived or are living upon our planet can be dealt with under this heading. It concerns the use humanity has made of all the energies available within the natural world of which it is a part, inherent in the fourth kingdom itself and coming to it also from the world of spiritual realities. [529]
|
II. Loại hoạt động thứ hai mà con người có khả năng thực hiện là một sự phát triển mãnh liệt, tiến bộ và xoắn ốc bên trong vòng-giới-hạn của nhân loại. Câu này bao hàm phương thức phát triển và toàn bộ tiến trình khai mở của tất cả các đơn vị đang tiến hoá mà chúng ta gọi là con người. Tôi không tìm cách bàn đến điều này ở đây. Lịch sử tăng trưởng cấu trúc của nhân loại, toàn bộ lĩnh vực khai mở tâm thức con người và lịch sử của mọi chủng tộc cùng các dân tộc đã sống hoặc đang sống trên hành tinh chúng ta đều có thể được bàn đến dưới đề mục này. Nó liên quan đến cách nhân loại đã sử dụng mọi năng lượng sẵn có trong thế giới tự nhiên mà nó là một phần, vốn cố hữu trong chính giới thứ tư và cũng đến với nó từ thế giới của các thực tại tinh thần. [529]
|
|
III. The third type of activity which should occupy the attention of humanity, and one as yet little understood, is that it should act as a transmitting centre of spiritual forces—soul force and spiritual energy united and combined—to the prisoners of the planet and to the lives, held in embodied existence in the other kingdoms of nature. Human beings are apt to be primarily concerned with their higher group relations, with their return to the Father’s home, and with the trend which we call “upwards” and away from the phenomenal world. They are principally occupied with the finding of the centre within the form aspect, that which we call the soul, and, having found it, with the work then of acquainting themselves with that soul and thus finding peace. This is right and in line with divine intention but it is not all of the plan for man, and when this remains the prime objective, a man is dangerously near falling into the snare of spiritual selfishness and separateness.
|
III. Loại hoạt động thứ ba nên chiếm sự chú ý của nhân loại, và hiện còn ít được thấu hiểu, là nhân loại phải hoạt động như một trung tâm truyền dẫn các mãnh lực tinh thần — mãnh lực linh hồn và năng lượng tinh thần được hợp nhất và phối hợp — đến các tù nhân của hành tinh và đến những sự sống bị giữ trong hiện hữu nhập thể trong các giới khác của thiên nhiên. Con người thường có khuynh hướng chủ yếu quan tâm đến các quan hệ nhóm cao hơn của mình, đến sự trở về nhà Cha, và đến xu hướng mà chúng ta gọi là “hướng thượng” và rời xa thế giới hiện tượng. Họ chủ yếu bận tâm với việc tìm thấy trung tâm bên trong phương diện hình tướng, điều chúng ta gọi là linh hồn, và khi đã tìm thấy nó, với công việc làm quen với linh hồn ấy và nhờ đó tìm được bình an. Điều này là đúng và phù hợp với ý định thiêng liêng, nhưng nó không phải là toàn bộ Thiên Cơ dành cho con người; và khi điều này vẫn là mục tiêu chính yếu, con người ở rất gần nguy cơ sa vào cạm bẫy của sự ích kỷ và chia rẽ tinh thần.
|
|
When the centre is found by any human being and he becomes at-one with, and enters into relation with his soul, then he automatically shifts his position in the human family and—again speaking in symbols—finds himself part of the centre of light and understanding which we call, esoterically, the occult hierarchy, the cloud of witnesses, the disciples of the Christ, and other names according to the trend of the disciple’s convictions. This hierarchy is also attempting to externalise itself in the form of the group of World Workers, and when a man has found his soul and the principle of unity is sufficiently revealed to him he shifts also into this more exoteric group. All who find the centre do not as yet link up with both the interior and exterior groups. Then he is pledged to the magical work, to the salvaging of souls, to the releasing of the prisoners of the planet. This is the goal for humanity as a whole, and when all the sons of men have attained the objective, these prisoners will be released. [530] The reason for this will be that the magical work will be carried forward intelligently and perfectly and human beings in group formation will act as transmitters of pure spiritual energy, which will vivify every form in every kingdom in nature.
|
Khi bất kỳ con người nào tìm thấy trung tâm và y trở nên hợp nhất với, cũng như bước vào quan hệ với linh hồn của mình, thì y tự động chuyển vị trí của mình trong gia đình nhân loại và — lại nói theo biểu tượng — thấy mình là một phần của trung tâm ánh sáng và thấu hiểu mà chúng ta gọi, một cách huyền bí, là Thánh đoàn huyền bí, đám mây các nhân chứng, các đệ tử của Đức Christ, và những tên gọi khác tùy theo khuynh hướng xác tín của đệ tử. Thánh đoàn này cũng đang cố gắng ngoại hiện chính mình trong hình thức nhóm Những Người Hoạt Động Thế Gian, và khi một người đã tìm thấy linh hồn mình và nguyên khí hợp nhất được mặc khải đủ cho y, y cũng chuyển vào nhóm có tính ngoại môn hơn này. Không phải tất cả những ai tìm thấy trung tâm đều đã liên kết với cả hai nhóm bên trong và bên ngoài. Bấy giờ y được hiến dâng cho công việc huyền thuật, cho việc cứu vớt các linh hồn, cho việc giải thoát các tù nhân của hành tinh. Đây là mục tiêu của toàn thể nhân loại, và khi tất cả những người con của nhân loại đã đạt được mục tiêu, các tù nhân này sẽ được giải thoát. [530] Lý do là vì công việc huyền thuật sẽ được tiến hành một cách thông minh và hoàn hảo, và con người trong đội hình nhóm sẽ hoạt động như những người truyền dẫn năng lượng tinh thần thuần khiết, năng lượng này sẽ làm sinh động mọi hình tướng trong mọi giới của thiên nhiên.
|
|
In considering the problem of the prisoners of the planet and their eventual release, it must be remembered that one of the forces which lie back of the entire evolutionary scheme is that of the Principle of Limitation. This is the primary impulse which brings about the act of creation, and is intimately linked with that of will and its lower reflection, desire. Will is desire, formulated so clearly and carried so powerfully to an intelligent climax that the mode of its materialisation is grasped with such accuracy and energised with such intent that the result is inescapable. But pure will is only possible to a coordinated thinker, to truly self-conscious entities. Desire is instinctual or rather inherent in all forms, for all forms and organisms constitute part of some primary thinker and are influenced by the powerful intent of that primary force.
|
Khi xem xét vấn đề các tù nhân của hành tinh và sự giải thoát cuối cùng của họ, cần nhớ rằng một trong những mãnh lực nằm phía sau toàn bộ hệ thống tiến hoá là Nguyên khí Giới hạn. Đây là xung lực nguyên sơ đưa đến hành vi sáng tạo, và liên hệ mật thiết với ý chí cùng phản ánh thấp hơn của nó là dục vọng. Ý chí là dục vọng được định thức rõ ràng đến mức, và được đưa đến cao điểm thông minh một cách mạnh mẽ đến mức, phương thức hiện hình của nó được nắm bắt với độ chính xác như vậy và được tiếp năng lượng với chủ đích như vậy đến nỗi kết quả là không thể tránh khỏi. Nhưng ý chí thuần khiết chỉ có thể có nơi một người tư tưởng phối hợp, nơi các thực thể thật sự tự ý thức. Dục vọng có tính bản năng, hay đúng hơn là cố hữu trong mọi hình tướng, vì mọi hình tướng và cơ cấu đều cấu thành một phần của một Đấng Tư Tưởng nguyên sơ nào đó và chịu ảnh hưởng bởi chủ đích mạnh mẽ của mãnh lực nguyên sơ ấy.
|
|
The Principle of Limitation therefore is the outcome of the purposeful will and formulated desire of some thinking Being, and governs consequently the form-taking process of all incarnated lives. This Principle of Limitation controls the scope of an incarnation, sets its measure and rhythm, determines the radius of its influence, and brings about that illusory appearance of reality which we call manifestation.
|
Do đó, Nguyên khí Giới hạn là kết quả của ý chí có mục đích và dục vọng đã được định thức của một Đấng Tư Tưởng nào đó, và vì thế chi phối tiến trình khoác lấy hình tướng của mọi sự sống nhập thể. Nguyên khí Giới hạn này kiểm soát phạm vi của một kiếp nhập thể, ấn định mức độ và nhịp điệu của nó, xác định bán kính ảnh hưởng của nó, và tạo ra vẻ ngoài ảo tưởng của thực tại mà chúng ta gọi là sự biểu hiện.
|
|
The “prisoners of the planet” fall into two categories:
|
Các “tù nhân của hành tinh” rơi vào hai loại:
|
|
1. Those lives which act under the influence of a conscious purpose, and who “limit the life that is in them” for a time. They consciously take form, knowing the end from the beginning. These Beings in their turn fall into three main groups. [531]
|
1. Những sự sống hoạt động dưới ảnh hưởng của một mục đích có ý thức, và “giới hạn sự sống ở trong họ” trong một thời gian. Họ khoác lấy hình tướng một cách có ý thức, biết điểm kết thúc ngay từ khởi đầu. Đến lượt mình, các Đấng này rơi vào ba nhóm chính. [531]
|
|
a. The Being Who is the life of our planet, the One in Whom we live and move and have our being. This being, or sum total of organised lives is sometimes called the planetary Logos, sometimes the Ancient of Days, sometimes God, and sometimes the One Life.
|
a. Đấng là sự sống của hành tinh chúng ta, Đấng Duy Nhất trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu. Đấng này, hay tổng thể các sự sống có tổ chức, đôi khi được gọi là Đức Hành Tinh Thượng Đế, đôi khi là Đấng Thái Cổ, đôi khi là Thượng đế, và đôi khi là Sự Sống Duy Nhất.
|
|
b. Those lives who constitute the Principle of Limitation in a kingdom of nature. The Life that is, for instance, expressing itself through the medium of the animal kingdom is a self-conscious intelligent entity, working in full awareness of intent and objective, and limiting his sphere of activity in order to provide due opportunity and expression for the myriad lives that find their life and being and sustenance in him. See you how the law of sacrifice runs throughout creation.
|
b. Những sự sống cấu thành Nguyên khí Giới hạn trong một giới của thiên nhiên. Chẳng hạn, Sự Sống đang biểu đạt chính mình qua phương tiện của giới động vật là một thực thể thông minh tự ý thức, hoạt động trong sự nhận biết trọn vẹn về chủ đích và mục tiêu, và giới hạn phạm vi hoạt động của mình để cung cấp cơ hội và sự biểu đạt thích đáng cho vô số sự sống tìm thấy sự sống, bản thể và dưỡng chất của chúng trong Ngài. Bạn có thấy định luật hy sinh vận hành xuyên suốt sáng tạo như thế nào không?
|
|
c. The sons of mind, human souls, solar Angels, the divine sons of God who in full self-consciousness work out certain well seen ends through the medium of the human family.
|
c. Những người con của trí tuệ, các linh hồn nhân loại, các Thái dương Thiên Thần, những người con thiêng liêng của Thượng đế, những Đấng trong ngã thức trọn vẹn thực hiện một số mục đích đã thấy rõ qua phương tiện của gia đình nhân loại.
|
|
2. Those lives who are limited in form because they are not self-conscious but are unconscious constituent parts of a greater form. They have not yet evolved to the point where they are self-conscious entities.
|
2. Những sự sống bị giới hạn trong hình tướng vì chúng không tự ý thức, mà là những thành phần vô thức của một hình tướng lớn hơn. Chúng chưa tiến hoá đến điểm trở thành những thực thể tự ý thức.
|
|
It might be said that this second category includes all existences, but the line of demarcation between self-produced limitation and unrealised form-taking lies entirely in the realm of consciousness. Some lives are prisoners and know it. Others are prisoners and know it not. The clue to suffering lies right here in the realm of mind. Pain and agony, rebellion and the conscious urge towards betterment and the changing of conditions are only found where what we call individuality is present, where the “I” complex is controlling, and where a self-conscious entity is functioning. There is of course [532] the equivalent to pain in kingdoms below the human, but it enters into another differentiation. It is not self-related. Subhuman forms of life suffer and undergo discomfort and are subject to the throes of death but they lack memory and prevision, and possess not that mental apprehension which will enable them to relate past and present and anticipate the future. They are exempt from the agony of foreboding. Their entire reaction to what are called evil conditions is so different to that of humanity that it is difficult for us to grasp it. The Old Commentary describes these two groups in the following terms:
|
Có thể nói rằng loại thứ hai này bao gồm mọi hiện hữu, nhưng đường ranh giới giữa sự tự tạo giới hạn và việc khoác lấy hình tướng mà chưa nhận biết hoàn toàn nằm trong lĩnh vực tâm thức. Một số sự sống là tù nhân và biết điều đó. Những sự sống khác là tù nhân mà không biết. Chìa khóa của đau khổ nằm ngay đây, trong lĩnh vực của thể trí. Đau đớn và thống khổ, phản kháng và xung lực có ý thức hướng tới sự cải thiện và thay đổi các điều kiện chỉ được tìm thấy nơi điều chúng ta gọi là cá tính hiện diện, nơi phức cảm “tôi” đang kiểm soát, và nơi một thực thể tự ý thức đang hoạt động. Dĩ nhiên [532] có điều tương đương với đau đớn trong các giới dưới nhân loại, nhưng nó thuộc về một biến phân khác. Nó không quy về bản ngã. Các hình thức sự sống dưới nhân loại chịu đau khổ, trải qua khó chịu và chịu các cơn hấp hối của cái chết, nhưng chúng thiếu ký ức và khả năng dự kiến, và không sở hữu sự lĩnh hội trí tuệ cho phép chúng liên hệ quá khứ với hiện tại và dự đoán tương lai. Chúng được miễn khỏi nỗi thống khổ của sự lo sợ trước. Toàn bộ phản ứng của chúng đối với những điều được gọi là điều kiện xấu khác với phản ứng của nhân loại đến mức chúng ta khó nắm bắt được. Cổ Luận mô tả hai nhóm này bằng những lời sau:
|
|
“The Sons of God, who know and see and hear (and knowing, know they know) suffer the pain of conscious limitation. Deep in the inmost depths of conscious being, their lost estate of liberty eats like a canker. Pain, sickness, poverty and loss are seen as such, and from them every son of God revolts. He knows that in himself, as once he was before he entered prisoner into form, he knew not pain. Sickness and death, corruption and disease, they touched him not. The riches of the universe were his, and naught he knew of loss.
|
“Các Con của Thượng đế, những Đấng biết, thấy và nghe, và khi biết thì biết rằng mình biết, chịu nỗi đau của sự giới hạn có ý thức. Sâu trong tận đáy sâu thẳm nhất của bản thể có ý thức, tình trạng tự do đã mất của các Ngài ăn mòn như một chứng loét. Đau đớn, bệnh tật, nghèo khổ và mất mát được thấy đúng như thế, và mọi Con của Thượng đế đều phản kháng chống lại chúng. Ngài biết rằng trong chính mình, như Ngài từng là trước khi bước vào hình tướng như một tù nhân, Ngài không biết đau đớn. Bệnh tật và cái chết, mục nát và chứng bệnh, chúng không chạm đến Ngài. Những của cải của vũ trụ là của Ngài, và Ngài không biết gì về mất mát.
|
|
“The lives that enter into form alone with lives self-conscious, the deva lives which build the forms indwelt by all the Sons of God, they know not pain or loss or poverty. The form decays, the other forms retire, and that which is required to nourish and keep strong the outer, lacks. But lacking also will and planned intent, they feel no aggravation and know no clear revolt.”
|
“Những sự sống đi vào hình tướng cùng với các sự sống tự ý thức, các sự sống thiên thần kiến tạo những hình tướng được tất cả Các Con của Thượng đế cư ngụ, chúng không biết đau đớn, mất mát hay nghèo khổ. Hình tướng suy tàn, các hình tướng khác rút lui, và điều cần thiết để nuôi dưỡng và giữ cho bên ngoài mạnh mẽ thì thiếu vắng. Nhưng vì cũng thiếu ý chí và chủ đích có hoạch định, chúng không cảm thấy sự bức bách và không biết sự phản kháng rõ ràng.”
|
|
A word about pain might be in place here, though I have naught of an abstruse nature to communicate anent the evolution of the human hierarchy through the medium of pain. The devas do not suffer pain as does mankind. Their rate of rhythm is steadier although in line with the Law. They learn through application to the work of building and through incorporation into the form of that which is built. They grow through appreciation [533] of and joy in the forms built and the work accomplished. The devas build and humanity breaks and through the shattering of the forms man learns through discontent. Thus is acquiescence in the work of the greater Builders achieved. Pain is that upward struggle through matter which lands a man at the Feet of the Logos; pain is the following of the line of the greatest resistance and thereby reaching the summit of the mountain; pain is the smashing of the form and the reaching of the inner fire; pain is the cold of isolation which leads to the warmth of the central sun; pain is the burning in the furnace in order finally to know the coolness of the water of life; pain is the journeying into the far country, resulting in the welcome to the Father’s Home; pain is the illusion of the Father’s disowning, which drives the prodigal straight to the Father’s heart; pain is the cross of utter loss, that renders back the riches of the eternal bounty; pain is the whip that drives the struggling builder to carry to utter perfection the building of the Temple.
|
Một lời về đau đớn có thể thích hợp ở đây, dù tôi không có điều gì thuộc bản chất thâm áo để truyền đạt liên quan đến sự tiến hoá của Huyền Giai nhân loại qua phương tiện đau đớn. Các thiên thần không chịu đau đớn như nhân loại. Tốc độ nhịp điệu của họ ổn định hơn, dù vẫn phù hợp với Định luật. Họ học qua việc áp dụng vào công việc kiến tạo và qua sự kết nhập vào hình tướng của điều được kiến tạo. Họ tăng trưởng qua sự trân trọng [533] và niềm hoan hỉ trong các hình tướng được kiến tạo và công việc đã hoàn thành. Các thiên thần kiến tạo, còn nhân loại phá vỡ; và qua sự đập vỡ các hình tướng, con người học bằng bất mãn. Nhờ vậy, sự thuận nhận công việc của các Đấng Kiến Tạo lớn hơn được đạt thành. Đau đớn là cuộc đấu tranh hướng thượng xuyên qua vật chất, đưa con người đến dưới Chân Thượng đế; đau đớn là việc đi theo con đường có sức kháng cự lớn nhất và nhờ đó đạt tới đỉnh núi; đau đớn là sự đập vỡ hình tướng và vươn tới lửa bên trong; đau đớn là cái lạnh của sự cô lập dẫn đến hơi ấm của mặt trời trung tâm; đau đớn là sự thiêu đốt trong lò lửa để cuối cùng biết được sự mát lành của nước sự sống; đau đớn là cuộc hành trình đến miền xa xôi, dẫn đến sự chào đón tại Nhà Cha; đau đớn là ảo tưởng về việc bị Cha từ bỏ, điều thúc đẩy đứa con hoang đàng đi thẳng vào trái tim Cha; đau đớn là thập giá của sự mất mát hoàn toàn, trả lại những của cải của nguồn ân phúc vĩnh cửu; đau đớn là roi thúc đẩy người kiến tạo đang vật lộn đưa công trình xây dựng Đền Thờ đến sự hoàn hảo tuyệt đối.
|
|
The uses of pain are many, and they lead the human soul out of darkness into light, out of bondage into liberation, out of agony into peace. That peace, that light and that liberation, with the ordered harmony of the cosmos are for all the sons of men.
|
Công dụng của đau đớn thì nhiều, và chúng dẫn linh hồn con người ra khỏi bóng tối vào ánh sáng, ra khỏi ràng buộc vào giải thoát, ra khỏi thống khổ vào bình an. Bình an ấy, ánh sáng ấy và sự giải thoát ấy, cùng với hòa điệu có trật tự của vũ trụ, dành cho tất cả những người con của nhân loại.
|
|
With the problem of limitation is closely linked that of liberation. Into the prison house of form enter all that live; some enter consciously and some unconsciously, and this we call birth, appearance, incarnation, manifestation. Immediately there sweeps into activity another law or the working out of an active principle which we call the Law of Cycles. This is the principle of periodic appearance—a beneficent operation of the lower wisdom of innate divinity, for it produces that sequence of the states of consciousness which we term Time. This produces therefore in the world field of awareness a [534] gradual and slow growth towards self-expression, self-appreciation, and self-realisation. To these principles of Limitation and of Cycles is added another principle, that of Expansion. This brings about the development of consciousness so that the latent germ of sentiency or of sensitive response to environment may be fostered in the living unit.
|
Với vấn đề giới hạn, vấn đề giải thoát liên kết chặt chẽ. Vào ngôi nhà tù của hình tướng, mọi sự sống đều đi vào; một số đi vào có ý thức và một số vô thức, và điều này chúng ta gọi là sinh ra, sắc tướng, nhập thể, biểu hiện. Ngay lập tức, một định luật khác, hay sự vận hành của một nguyên khí tích cực mà chúng ta gọi là Định luật Chu kỳ, tràn vào hoạt động. Đây là nguyên khí của sự xuất hiện theo chu kỳ — một hoạt động mang lại lợi ích của minh triết thấp hơn thuộc thiên tính bẩm sinh, vì nó tạo ra chuỗi các trạng thái tâm thức mà chúng ta gọi là Thời gian. Do đó, trong trường nhận biết của thế giới, điều này tạo ra một [534] sự tăng trưởng dần dần và chậm rãi hướng tới tự biểu đạt, tự trân trọng và tự chứng nghiệm. Vào các nguyên khí Giới hạn và Chu kỳ này, còn được thêm một nguyên khí khác, đó là nguyên khí Mở rộng. Nguyên khí này tạo nên sự phát triển của tâm thức để mầm tiềm ẩn của cảm tri hay sự đáp ứng nhạy bén với môi trường có thể được nuôi dưỡng trong đơn vị sống.
|
|
We have therefore three Principles:
|
Vì vậy, chúng ta có ba Nguyên khí:
|
|
1. The Principle of Limitation.
|
1. Nguyên khí Giới hạn.
|
|
2. The Principle of Periodic Manifestation.
|
2. Nguyên khí Biểu hiện Theo Chu kỳ.
|
|
3. The Principle of Expansion.
|
3. Nguyên khí Mở rộng.
|
|
These three Principles together constitute the factors underlying the Law of Evolution as men call it. They bring about the imprisonment of the Life in its various appearances or aspects; they produce the environing forms, and they lead the imprisoned lives on into ever more educational prison houses. Finally the time arrives when the Principle of Liberation becomes active and a transition is effected out of a prison house which cramps and distorts into one which provides adequate conditions for the next development of consciousness.
|
Ba Nguyên khí này cùng nhau cấu thành những yếu tố nằm dưới Định luật Tiến hoá, như con người gọi. Chúng đem lại sự giam giữ Sự Sống trong các sắc tướng hay phương diện khác nhau của nó; chúng tạo ra các hình tướng bao quanh, và dẫn các sự sống bị giam giữ tiến vào những ngôi nhà tù ngày càng có tính giáo dục hơn. Cuối cùng, thời điểm đến khi Nguyên khí Giải thoát trở nên hoạt động và một sự chuyển tiếp được thực hiện ra khỏi một ngôi nhà tù gây bó hẹp và méo mó, để bước vào một ngôi nhà tù cung cấp các điều kiện thích đáng cho sự phát triển kế tiếp của tâm thức.
|
|
It is interesting here to note that death is governed by the Principle of Liberation, and not by that of Limitation. Death is only recognised as a factor to be dealt with by self-conscious lives and is only misunderstood by human beings, who are the most glamoured and deluded of all incarnated lives.
|
Điều thú vị cần lưu ý ở đây là cái chết được chi phối bởi Nguyên khí Giải thoát, chứ không phải bởi Nguyên khí Giới hạn. Cái chết chỉ được nhận biết như một yếu tố cần được xử lý bởi các sự sống tự ý thức, và chỉ bị hiểu lầm bởi con người, vốn là những sự sống nhập thể bị ảo cảm và ảo tưởng nhiều nhất.
|
|
The next point to be noted is that each kingdom in nature acts in two ways:
|
Điểm kế tiếp cần lưu ý là mỗi giới trong thiên nhiên hoạt động theo hai cách:
|
|
1. As the liberator of the kingdom of forms which has not reached its particular stage of conscious awareness.
|
1. Như kẻ giải thoát cho giới hình tướng chưa đạt tới giai đoạn nhận biết có ý thức riêng của nó.
|
|
2. As the prison house of lives that have transmitted into it from the level of consciousness next beneath it. [535]
|
2. Như ngôi nhà tù của những sự sống đã chuyển vào đó từ cấp độ tâm thức ngay bên dưới nó. [535]
|
|
Let it be remembered always that each field of awareness in its boundaries constitutes a prison, and that the objective of all work of liberation is to release the consciousness and expand its field of contacts. Where there are boundaries of any kind, where a field of influence is circumscribed, and where the radius of contact is limited there you have a prison. Ponder on this statement for it holds much of truth. Where there is an apprehension of a vision and of a wide unconquered territory of contacts then there will inevitably be a sense of imprisonment and of cramping. Where there is realisation of worlds to conquer, of truths to be learnt, of conquests to be made, of desires to be achieved, of knowledges to be mastered, there you will have a festering sense of limitation, goading on the aspirant to renewed effort and driving the living entity on along the path of evolution. Instinct, governing the vegetable and animal kingdoms, develops into intellect in the human family. Later intellect merges into intuition and intuition into illumination. When the superhuman consciousness is evoked these two—intuition and illumination—take the place of instinct and of intelligence.
|
Hãy luôn nhớ rằng mỗi trường nhận biết, trong các ranh giới của nó, cấu thành một nhà tù, và mục tiêu của mọi công việc giải thoát là giải phóng tâm thức và mở rộng trường tiếp xúc của nó. Ở đâu có các ranh giới thuộc bất kỳ loại nào, ở đâu một trường ảnh hưởng bị giới hạn, và ở đâu bán kính tiếp xúc bị hạn chế, ở đó bạn có một nhà tù. Hãy suy ngẫm câu nói này, vì nó chứa đựng nhiều chân lý. Ở đâu có sự lĩnh hội một tầm nhìn và một lãnh thổ tiếp xúc rộng lớn chưa được chinh phục, ở đó chắc chắn sẽ có cảm giác bị giam giữ và bị bó hẹp. Ở đâu có sự chứng nghiệm về những thế giới cần chinh phục, những chân lý cần học, những chiến thắng cần đạt, những dục vọng cần thành tựu, những tri thức cần làm chủ, ở đó bạn sẽ có một cảm thức giới hạn nung nấu, thúc giục người chí nguyện nỗ lực mới và đẩy thực thể sống tiến lên dọc theo con đường tiến hoá. Bản năng, chi phối giới thực vật và giới động vật, phát triển thành trí năng trong gia đình nhân loại. Về sau, trí năng hòa nhập vào trực giác và trực giác vào soi sáng. Khi tâm thức siêu nhân được gợi lên, hai điều này — trực giác và soi sáng — thay thế cho bản năng và trí thông minh.
|
|
Illumination—what does that lead to? Straight to the summit of achievement, to the fulfillment of cyclic destiny, to the emergence of the radiant glory, to wisdom, power, God consciousness. These words however mean but little or nothing in comparison with a Reality which can only be sensed by any human being when his intuition is awakened and his mind illumined.
|
Soi sáng — điều đó dẫn đến đâu? Trực tiếp đến đỉnh cao thành tựu, đến sự hoàn tất định mệnh chu kỳ, đến sự xuất lộ của vinh quang rạng rỡ, đến minh triết, quyền năng, tâm thức Thượng đế. Tuy nhiên, những lời này chỉ có nghĩa rất ít hoặc không có nghĩa gì khi so với một Thực tại chỉ có thể được bất kỳ con người nào cảm nhận khi trực giác của y được đánh thức và thể trí của y được soi sáng.
|
|
Grasping these facts anent imprisonment how, to be practical, can a man become a releasing agent for the “prisoners of the planet”? What can humanity as a whole achieve along this line? What can the individual do?
|
Sau khi nắm bắt những sự kiện này liên quan đến sự giam giữ, vậy một cách thực tiễn, làm thế nào con người có thể trở thành một tác nhân giải thoát cho các “tù nhân của hành tinh”? Nhân loại như một toàn thể có thể đạt được điều gì theo hướng này? Cá nhân có thể làm gì?
|
|
The task of humanity fails primarily into three divisions of labour. Three groups of prisoners can be released [536] and will eventually find their way out of their prison house through the instrumentality of man. Already human beings are working in all three fields.
|
Nhiệm vụ của nhân loại về căn bản rơi vào ba phân bộ lao động. Ba nhóm tù nhân có thể được giải thoát [536] và cuối cùng sẽ tìm được đường ra khỏi ngôi nhà tù của họ qua công cụ là con người. Con người hiện đã đang làm việc trong cả ba lĩnh vực.
|
|
1. Prisoners within the human form. This involves working with one’s fellow men.
|
1. Các tù nhân bên trong hình tướng con người. Điều này bao hàm việc làm việc với đồng loại của mình.
|
|
2. Prisoners within the animal kingdom, and already much is being done in this field.
|
2. Các tù nhân bên trong giới động vật, và đã có nhiều việc đang được thực hiện trong lĩnh vực này.
|
|
3. Prisoners within the forms of the vegetable world. A beginning has been made here.
|
3. Các tù nhân bên trong các hình tướng của giới thực vật. Một khởi đầu đã được thực hiện ở đây.
|
|
Much work is being accomplished by man for men, and through the agency of scientific, religious and educational endeavour, the human consciousness is steadily expanding until one by one the Sons of God are breaking through their limitations into the world of souls. In the retrospect of history, the picture of the emerging prisoner, Man, can be seen in clear delineation. Little by little he has mastered the planetary boundaries; little by little, he has grown from the stage of cave man to that of a Shakespeare, a Newton, a Leonardo da Vinci, an Einstein, a St. Francis of Assisi, to a Christ and a Buddha. The capacity of man to achieve in any field of human expression seems practically unlimited, and if the past few thousand years have seen such a stupendous growth, what shall we see in the next five thousand years? If prehistoric man, little more than an animal, has grown into the genius, what unfoldment is not possible as more and more of innate divinity makes its presence felt? The superman is with us. What will the world manifest when all mankind is tending towards a concrete manifestation of superhuman powers?
|
Nhiều công việc đang được con người thực hiện cho con người, và qua tác nhân của nỗ lực khoa học, tôn giáo và giáo dục, tâm thức con người đang mở rộng đều đặn cho đến khi từng người một, Các Con của Thượng đế phá vỡ những giới hạn của mình để bước vào thế giới của các linh hồn. Khi nhìn lại lịch sử, bức tranh về tù nhân đang xuất lộ, Con Người, có thể được thấy với nét phác rõ ràng. Từng chút một, y đã làm chủ các ranh giới hành tinh; từng chút một, y đã tăng trưởng từ giai đoạn người hang động đến một Shakespeare, một Newton, một Leonardo da Vinci, một Einstein, một Thánh Francis thành Assisi, đến một Đức Christ và một Đức Phật. Năng lực thành tựu của con người trong bất kỳ lĩnh vực biểu đạt nhân loại nào dường như hầu như vô giới hạn; và nếu vài nghìn năm qua đã chứng kiến một sự tăng trưởng phi thường như thế, chúng ta sẽ thấy gì trong năm nghìn năm tới? Nếu con người tiền sử, chỉ hơn thú vật một chút, đã tăng trưởng thành thiên tài, thì sự khai mở nào lại không thể có khi ngày càng nhiều thiên tính bẩm sinh làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận? Siêu nhân đang ở cùng chúng ta. Thế giới sẽ biểu hiện điều gì khi toàn thể nhân loại đang hướng tới một sự biểu hiện cụ thể của các quyền năng siêu nhân?
|
|
Man’s consciousness is being released in varying directions and dimensions. It is expanding into the world of spiritual realities and beginning to embrace the fifth or spiritual kingdom, the kingdom of souls. It is interpenetrating, through scientific research, the world of [537] super-human endeavour, and investigating the many aspects of the Form of God, and of the forms that constitute the Form.
|
Tâm thức con người đang được giải phóng theo nhiều hướng và chiều kích khác nhau. Nó đang mở rộng vào thế giới của các thực tại tinh thần và bắt đầu bao gồm giới thứ năm hay giới tinh thần, giới của các linh hồn. Qua nghiên cứu khoa học, nó đang thâm nhập lẫn nhau với thế giới của [537] nỗ lực siêu nhân, và khảo sát nhiều phương diện của Hình Tướng Thượng đế, cũng như của các hình tướng cấu thành Hình Tướng ấy.
|
|
In touching upon the work of humanity in releasing the units of which it is constructed, and in releasing the prisoners in the vegetable and animal kingdoms, I want to point out two things, both of profound importance:
|
Khi đề cập đến công việc của nhân loại trong việc giải phóng các đơn vị cấu thành nó, và trong việc giải phóng các tù nhân trong giới thực vật và giới động vật, tôi muốn chỉ ra hai điều, cả hai đều có tầm quan trọng sâu xa:
|
|
First, in order to release the “prisoners of the planet” that come under the title of subhuman, man has to work under the influence of the intuition; when working to release his fellow men he has to know the meaning of Illumination.
|
Trước hết, để giải thoát các “tù nhân của hành tinh” thuộc danh xưng dưới nhân loại, con người phải làm việc dưới ảnh hưởng của trực giác; khi làm việc để giải thoát đồng loại, y phải biết ý nghĩa của Soi sáng.
|
|
When the true nature of Service is comprehended, it will be found that it is an aspect of that divine energy which works always under the destroyer aspect, for it destroys the forms in order to release. Service is a manifestation of the Principle of Liberation, and of this principle, death and service, constitute two aspects. Service saves, liberates and releases, on various levels, the imprisoned consciousness. The same statements can be made of death. But unless service can he rendered from an intuitive understanding of all the facts in the case, interpreted intelligently, and applied in a spirit of love upon the physical plane, it fails to fulfil its mission adequately.
|
Khi bản chất thật sự của Phụng sự được thấu hiểu, người ta sẽ thấy rằng nó là một phương diện của năng lượng thiêng liêng luôn hoạt động dưới phương diện hủy diệt, vì nó phá hủy các hình tướng để giải phóng. Phụng sự là một biểu hiện của Nguyên khí Giải thoát, và của nguyên khí này, cái chết và phụng sự cấu thành hai phương diện. Phụng sự cứu vớt, giải phóng và phóng thích, trên nhiều cấp độ khác nhau, tâm thức bị giam giữ. Những phát biểu tương tự có thể được đưa ra về cái chết. Nhưng trừ khi phụng sự có thể được thực hiện từ một sự thấu hiểu trực giác về tất cả các sự kiện trong trường hợp ấy, được diễn giải một cách thông minh, và được áp dụng trong tinh thần bác ái trên cõi hồng trần, nó không hoàn thành sứ mệnh của mình một cách thích đáng.
|
|
When the factor of spiritual illumination enters into that service, you have those transcendent Lights which have illumined the way of humanity and have acted like search-lights, thrown out into the great ocean of consciousness, revealing to man the Path he can and must go.
|
Khi yếu tố soi sáng tinh thần bước vào sự phụng sự ấy, bạn có những Ánh Sáng siêu việt đã soi sáng con đường của nhân loại và hoạt động như những đèn pha, chiếu ra đại dương bao la của tâm thức, mặc khải cho con người Đường Đạo mà y có thể và phải đi.
|
|
I would like to point out another thing. I have given no specific rules for releasing the prisoners of the planet. I have made no classification of the prisons and their prisoners, nor of methods of work nor of techniques of release.
|
Tôi muốn chỉ ra một điều khác. Tôi không đưa ra các quy luật cụ thể nào để giải thoát các tù nhân của hành tinh. Tôi không phân loại các nhà tù và tù nhân của chúng, cũng không phân loại các phương pháp làm việc hay các kỹ thuật giải thoát.
|
|
I urge only upon each and all who read these Instructions [538] the necessity for renewed effort to fit themselves for service by a conscious and deliberate effort to develop the intuition and to achieve illumination. Every human being who reaches the goal of light and wisdom automatically has a field of influence which extends both up and down, and which reaches both inwards to the source of light and outwards into the “fields of darkness”. When he has thus attained he will become a conscious centre of life giving force, and will be so without effort. He will stimulate, energise and vivify to fresh efforts all lives that he contacts, be they his fellow aspirants, or an animal, or a flower. He will act as a transmitter of light in the darkness. He will dispel the glamour around him and let in the radiance of reality.
|
Tôi chỉ thôi thúc mỗi người và tất cả những ai đọc các Huấn thị này [538] về sự cần thiết của nỗ lực mới để tự chuẩn bị cho phụng sự bằng một nỗ lực có ý thức và chủ tâm nhằm phát triển trực giác và đạt được soi sáng. Mỗi con người đạt tới mục tiêu của ánh sáng và minh triết tự động có một trường ảnh hưởng trải rộng cả lên trên lẫn xuống dưới, vươn cả vào trong đến nguồn ánh sáng và ra ngoài vào “các cánh đồng bóng tối”. Khi y đã đạt được như vậy, y sẽ trở thành một trung tâm có ý thức của mãnh lực ban sự sống, và sẽ như thế mà không cần nỗ lực. Y sẽ kích thích, tiếp năng lượng và làm sinh động mọi sự sống mà y tiếp xúc để hướng tới những nỗ lực mới, dù đó là các bạn chí nguyện đồng hành, hay một con vật, hay một đóa hoa. Y sẽ hoạt động như người truyền dẫn ánh sáng trong bóng tối. Y sẽ xua tan ảo cảm quanh mình và để hào quang của thực tại đi vào.
|
|
When large numbers of the sons of men can so act, then the human family will enter upon its destined work of planetary service. Its mission is to act as a bridge between the world of spirit and the world of material forms. All grades of matter meet in man, and all the states of consciousness are possible to him. Mankind can work in all directions and lift the subhuman kingdoms into heaven and bring heaven down to earth.
|
Khi số đông những người con của nhân loại có thể hành động như vậy, bấy giờ gia đình nhân loại sẽ bước vào công việc phụng sự hành tinh đã được định sẵn của mình. Sứ mệnh của nó là hoạt động như một cây cầu giữa thế giới tinh thần và thế giới của các hình tướng vật chất. Mọi cấp độ của vật chất gặp nhau trong con người, và mọi trạng thái tâm thức đều có thể có đối với y. Nhân loại có thể làm việc theo mọi hướng, nâng các giới dưới nhân loại lên thiên giới và đem thiên giới xuống Trái Đất.
|
|
[541]
|
[541]
|
|
This rule is for me one of the most difficult to explain, the reason for this being threefold:
|
Đối với tôi, quy luật này là một trong những quy luật khó giải thích nhất, lý do của điều này có ba phần:
|
|
One: The number of people in physical incarnation at this time who can work in a truly creative manner and profit by the information given in this Rule is exceedingly few. Only to the white magician, and he experienced in his work, can the real interpretation be given. There is much danger in imparting the significance of these rules to those who are not qualified in themselves to work correctly. We will, therefore, consider the qualifications required of those who are entitled to this knowledge so that the student can begin to develop in himself that which may be lacking.
|
Một: Số người đang lâm phàm trên cõi hồng trần vào lúc này có thể làm việc theo một cách thật sự sáng tạo và hưởng lợi từ thông tin được đưa ra trong Quy luật này là cực kỳ ít. Chỉ cho nhà huyền thuật chánh đạo, và là người đã có kinh nghiệm trong công việc của mình, sự diễn giải thật sự mới có thể được trao. Có nhiều nguy hiểm trong việc truyền đạt thâm nghĩa của các quy luật này cho những người tự thân chưa đủ tư cách để làm việc đúng đắn. Vì vậy, chúng ta sẽ xem xét các phẩm chất cần có nơi những người có quyền tiếp nhận tri thức này, để đạo sinh có thể bắt đầu phát triển nơi chính mình điều có thể còn thiếu.
|
|
Two: The danger of minute and detailed instructions consists in the fact that were they now to be given to the world, we should be flooded with thought-forms and these thought-forms would be created in order to express purely selfish desire and mental matter would be swept into activity in line with the fancies and the whims of the undeveloped along spiritual lines. It must be remembered that every human thought, whether the potent mass thoughts or individual dynamic ideas, must eventually emerge objectively on the physical plane. This is an inevitable and unalterable rule and due consideration of this law which governs mental substance will show the danger of wrong thought and the power of right. The potency of human thought at this time is primarily of mass description, for few there are who can think creatively. Public opinion, mass ideas, the tendencies of human [542] desire and thought, are not at this time of the highest order, and the physical precipitation of these vague and inchoate thoughts distinguished by a vast similarity, and coloured by selfish intent and personal behest, and based upon likes and dislikes, prejudices and longings, can be seen in the most interesting precipitation. The vast assembly of insects which now haunt our planet and cause increasing concern to the scientist, agriculturist, and all those dealing with the welfare of the human animal, are the direct result of thought precipitation.
|
Hai: Mối nguy của những chỉ dẫn tỉ mỉ và chi tiết nằm ở chỗ, nếu giờ đây chúng được trao cho thế gian, chúng ta sẽ bị tràn ngập bởi các hình tư tưởng; và những hình tư tưởng này sẽ được tạo ra để biểu lộ dục vọng hoàn toàn ích kỷ, còn chất liệu cõi trí sẽ bị cuốn vào hoạt động theo những tưởng tượng và thất thường của những người chưa phát triển theo đường hướng tinh thần. Cần nhớ rằng mọi tư tưởng của con người, dù là những tư tưởng quần chúng mạnh mẽ hay những ý tưởng năng động cá nhân, cuối cùng đều phải xuất hiện một cách khách quan trên cõi hồng trần. Đây là một quy luật tất yếu và bất biến; và sự cân nhắc đúng mức định luật này, vốn chi phối chất liệu cõi trí, sẽ cho thấy mối nguy của tư tưởng sai lầm và quyền năng của tư tưởng đúng đắn. Quyền năng của tư tưởng nhân loại vào lúc này chủ yếu mang tính quần chúng, vì rất ít người có thể tư duy một cách sáng tạo. Công luận, các ý tưởng quần chúng, những khuynh hướng của dục vọng và tư tưởng nhân loại [542] hiện nay không thuộc trật tự cao nhất; và sự ngưng tụ hồng trần của những tư tưởng mơ hồ, chưa thành hình này — vốn nổi bật bởi một sự tương đồng rộng lớn, nhuốm màu ý định ích kỷ và mệnh lệnh cá nhân, dựa trên những ưa ghét, thành kiến và khát vọng — có thể được thấy trong một sự ngưng tụ hết sức đáng chú ý. Tập hợp khổng lồ các loài côn trùng hiện đang ám ảnh hành tinh chúng ta và gây mối quan tâm ngày càng tăng cho nhà khoa học, nhà nông học và tất cả những ai xử lý phúc lợi của con vật nhân loại, là kết quả trực tiếp của sự ngưng tụ tư tưởng.
|
|
I have not time to enlarge upon this fact, but I can assure you that as men learn to think with more unselfishness and with greater purity, and as malice and hatred and competition give place to brotherhood, kindness and cooperation, the insect pest, as it is now called, will most surely die out.
|
Tôi không có thời gian để nói rộng thêm về sự kiện này, nhưng tôi có thể bảo đảm với các bạn rằng khi con người học cách tư duy với nhiều tính vô ngã hơn và với sự tinh khiết lớn hơn, và khi ác ý, hận thù cùng cạnh tranh nhường chỗ cho tình huynh đệ, lòng tử tế và sự hợp tác, thì tai họa côn trùng, như hiện nay người ta gọi, chắc chắn sẽ dần biến mất.
|
|
Three: Another difficulty which I experience in elucidating these rules lies in the fact that it is today more easy to prove the fact that there is a realm of mind than it is to prove that there is a realm of the ether, even though scientists use the word widely. This rule concerns the four grades of etheric substance which constitute the etheric envelope of all forms in nature, from a mountain to an ant, and from a plant to an atom. Certain scientists recognize the fact of an etheric body, vast numbers do not, and from the standpoint of the masses of humanity, it remains unrecognized. That which lies closest to us and in our immediate foreground is often overlooked, and it has interested those of us who teach and guide to note how much emphasis is laid upon psychic and astral phenomena, and how little attention is paid to the more obvious and more easily discerned etheric forms and forces! Given a slight change in the present mode of visual focussing it will be found that the human eye is capable of including an entirely new field of perception and of awareness. Blindly men introvert their [543] consciousness and become aware of astral objects and that illusive world of ever changing forms in which we live and move and have our being, and yet, they fail to see that which lies immediately before them.
|
Ba: Một khó khăn khác mà tôi gặp phải khi làm sáng tỏ các quy luật này nằm ở chỗ, ngày nay việc chứng minh rằng có một cõi trí dễ hơn việc chứng minh rằng có một cõi dĩ thái, dù các nhà khoa học dùng rộng rãi từ này. Quy luật này liên quan đến bốn cấp độ của chất liệu dĩ thái, vốn cấu thành lớp bao dĩ thái của mọi hình tướng trong thiên nhiên, từ một ngọn núi đến một con kiến, và từ một cây cỏ đến một nguyên tử. Một số nhà khoa học thừa nhận sự kiện về một thể dĩ thái, còn số đông thì không; và xét theo quan điểm của đại chúng nhân loại, nó vẫn chưa được thừa nhận. Điều nằm gần chúng ta nhất và ngay trước tầm mắt chúng ta thường bị bỏ qua; và đối với những người trong chúng tôi, những người giảng dạy và hướng dẫn, thật đáng chú ý khi thấy người ta đặt quá nhiều nhấn mạnh lên các hiện tượng thông linh và cảm dục, trong khi lại quá ít chú ý đến những hình tướng và mãnh lực dĩ thái hiển nhiên hơn và dễ phân biện hơn! Nếu chỉ có một thay đổi nhẹ trong cách tập trung thị giác hiện nay, người ta sẽ thấy rằng mắt người có khả năng bao gồm một lĩnh vực tri nhận và nhận biết hoàn toàn mới. Con người mù quáng hướng nội tâm thức của mình [543] và trở nên nhận biết các đối tượng cảm dục cùng thế giới ảo huyễn của những hình tướng luôn biến đổi, trong đó chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu; thế nhưng họ lại không thấy điều nằm ngay trước mặt mình.
|
|
These three difficulties of:
|
Ba khó khăn này:
|
|
1. Lack of qualification,
|
1. Thiếu phẩm chất thích hợp,
|
|
2. Dangers inherent in unconscious form-building.
|
2. Những nguy hiểm cố hữu trong việc kiến tạo hình tướng một cách vô thức.
|
|
3. Etheric blindness,
|
3. Sự mù lòa dĩ thái,
|
|
make it well nigh impossible for me to do full justice to this rule and to elucidate the work on etheric levels, and hence the relative brevity of the elucidation.
|
khiến tôi hầu như không thể trình bày đầy đủ quy luật này và làm sáng tỏ công việc trên các cấp độ dĩ thái; do đó phần giải thích tương đối ngắn gọn.
|
|
In dealing with the subject of qualification and answering the question: What constitutes the equipment needed by a white magician? I would say one thing: —all students realize that certain requirements must be met if a man is to be entrusted with any measure of understanding of the technique of the Great Work. I take it for granted, however, that the character qualifications are not those to which our question refers. All aspirants know, and down the ages have been taught, that a clean mind and a pure heart, love of truth, and a life of service and unselfishness, are prime prerequisites, and where they are lacking, naught avails and none of the great secrets can be imparted. You might well say here: We have also been taught that there exist those who work in the four ethers and who undoubtedly perform magical deeds, yet who do not possess this essential purity and loving-kindness to which reference has been made. This is undoubtedly true; they belong to a group of workers in matter whom we call Black Magicians; they are highly developed intellectually and can motivate mental substance or mind stuff in such a manner that it can achieve objectivity on the physical plane and bring about their deep intent. About this group there is much misunderstanding and profound ignorance. It is perhaps as well, [544] for their destiny is tied up with the future race, the sixth, and their end and the cessation of their activities will come about in that far distant aeon which is technically called the Sixth Round. The final break or division between the so-called black and white forces, for this particular world cycle, will take place during the period of the sixth root race in the present round. Towards the close of the sixth root race, before the emergence of the seventh, we shall have the true Armageddon about which so much has been taught. A small cycle, corresponding to this final battle and cleavage, will appear during the sixth subrace which is now in process of formation. The world war which has just taken place and our present cycle of separativeness and upheaval, do not constitute the real Armageddon. The war which is told to us in the Mahabharata and the present war had the roots of their trouble and the seeds of the disasters which they brought about, one in the lower and one in the higher astral world. Selfishness and desire of a low order were the impulses back of them both. The coming great division will have its roots in the mental world and will consummate in the sixth subrace. In the sixth root race it will have the seeds of portentous disaster in the coordinated triplicity of mind, astralism, and physical nature, which will bring about a climaxing moment for the planetary duality.
|
Khi đề cập đến vấn đề phẩm chất thích hợp và trả lời câu hỏi: Trang bị cần thiết của một nhà huyền thuật chánh đạo gồm những gì? Tôi xin nói một điều: —mọi đạo sinh đều nhận ra rằng phải đáp ứng một số yêu cầu nhất định nếu một người được giao phó bất kỳ mức độ thấu hiểu nào về kỹ thuật của Công Trình Vĩ Đại. Tuy nhiên, tôi mặc nhiên cho rằng các phẩm chất về tính cách không phải là những điều mà câu hỏi của chúng ta muốn nói tới. Tất cả những người chí nguyện đều biết, và qua các thời đại đã được dạy, rằng một thể trí trong sạch và một trái tim tinh khiết, tình thương chân lý, cùng một đời sống phụng sự và vô ngã, là những điều kiện tiên quyết hàng đầu; và nơi nào thiếu chúng, không gì có hiệu quả và không một bí mật lớn lao nào có thể được truyền trao. Ở đây các bạn có thể nói: Chúng tôi cũng đã được dạy rằng có những người hoạt động trong bốn dĩ thái và chắc chắn thực hiện những hành vi huyền thuật, nhưng lại không sở hữu sự tinh khiết thiết yếu và lòng nhân ái mà ở đây đã nhắc đến. Điều này chắc chắn đúng; họ thuộc về một nhóm người hoạt động trong vật chất mà chúng ta gọi là các nhà hắc thuật; họ phát triển rất cao về mặt trí tuệ và có thể thúc đẩy chất liệu cõi trí theo cách khiến nó đạt đến tính khách quan trên cõi hồng trần và thực hiện ý định sâu kín của họ. Về nhóm này có rất nhiều hiểu lầm và vô minh sâu xa. Có lẽ như vậy cũng tốt, [544] vì số phận của họ gắn liền với giống dân tương lai, giống dân thứ sáu, và sự kết thúc của họ cùng sự chấm dứt các hoạt động của họ sẽ diễn ra trong thời đại rất xa xôi được gọi một cách chuyên môn là Cuộc Tuần Hoàn thứ sáu. Sự đoạn tuyệt hay phân chia cuối cùng giữa những mãnh lực được gọi là đen và trắng, đối với chu kỳ thế giới đặc thù này, sẽ diễn ra trong thời kỳ của giống dân gốc thứ sáu trong cuộc tuần hoàn hiện tại. Vào cuối giống dân gốc thứ sáu, trước khi giống dân thứ bảy xuất hiện, chúng ta sẽ có trận Armageddon thực sự mà về nó người ta đã giảng dạy rất nhiều. Một chu kỳ nhỏ, tương ứng với trận chiến và sự phân rẽ cuối cùng này, sẽ xuất hiện trong giống dân phụ thứ sáu hiện đang trong tiến trình hình thành. Cuộc thế chiến vừa diễn ra và chu kỳ hiện tại của chúng ta với sự chia rẽ và biến động không cấu thành Armageddon thật sự. Cuộc chiến được kể cho chúng ta trong Mahabharata và cuộc chiến hiện tại đều có gốc rễ của rắc rối và hạt giống của những tai họa mà chúng gây ra, một ở thế giới cảm dục thấp và một ở thế giới cảm dục cao. Tính ích kỷ và dục vọng thuộc trật tự thấp là các xung lực đằng sau cả hai. Sự phân chia lớn sắp đến sẽ có gốc rễ trong thế giới cõi trí và sẽ hoàn tất trong giống dân phụ thứ sáu. Trong giống dân gốc thứ sáu, nó sẽ có những hạt giống của tai họa trọng đại trong bộ ba được phối hợp của trí tuệ, cảm dục tính và bản chất hồng trần, điều này sẽ đưa tới một thời điểm cực điểm cho nhị nguyên hành tinh.
|
|
Beyond that we need not go, for the humanity of the sixth round will be so different in nature to ours and those who will differentiate into the black and the white forces will be so unlike what we now understand by the words, that we need not concern ourselves with that far distant problem.
|
Xa hơn thế chúng ta không cần đi, vì nhân loại của cuộc tuần hoàn thứ sáu sẽ khác với chúng ta đến mức những ai sẽ phân hoá thành các mãnh lực đen và trắng cũng sẽ khác xa điều hiện nay chúng ta hiểu qua các từ ấy; vì vậy chúng ta không cần bận tâm đến vấn đề rất xa xôi đó.
|
|
Let it be remembered that the true black magician (I refer not here to a person with a tendency to black magic) is a soulless entity. He is a being in whom the Ego is—as [545] we understand the term today—non-existent. It is oft overlooked and seldom grasped or told that they, therefore, do not exist in physical bodies. Their world is ever the world of illusion. They work, from the lower mental plane, on desire matter and on the sentient desire bodies of those on the physical plane who are swept by delusion and held in the bonds of extreme selfishness and self-centeredness. What the ignorant call a black magician on the physical plane is only some man or woman sensitive to or en rapport with a true black magician on the astral plane. This relationship is only possible when there have been many lives of selfishness, low desire, perverted intellectual aspiration, and love of the lower psychism, and this only when the man has been held willingly in thrall by them. Such men and women are few and far between, for unadulterated selfishness is rare indeed. Where it exists, it is exceedingly potent, as are all one-pointed tendencies.
|
Hãy nhớ rằng nhà hắc thuật chân chính — ở đây tôi không nói đến một người có khuynh hướng hắc thuật — là một thực thể không có linh hồn. Y là một hữu thể trong đó Chân ngã — theo [545] cách chúng ta hiểu thuật ngữ này ngày nay — không hiện hữu. Người ta thường bỏ qua và hiếm khi nắm bắt hay nói ra rằng vì thế họ không tồn tại trong các thể xác. Thế giới của họ luôn là thế giới của ảo tưởng. Họ hoạt động từ cõi hạ trí, trên chất liệu dục vọng và trên các thể dục vọng hữu cảm của những người ở cõi hồng trần, những người bị cuốn đi bởi mê lầm và bị giữ trong xiềng xích của tính ích kỷ cùng sự tập trung vào bản thân cực độ. Điều mà kẻ vô minh gọi là một nhà hắc thuật trên cõi hồng trần chỉ là một người nam hay nữ nhạy cảm với, hoặc có quan hệ tương thông với, một nhà hắc thuật chân chính trên cõi cảm dục. Mối quan hệ này chỉ có thể có khi đã có nhiều kiếp sống ích kỷ, dục vọng thấp, khát vọng trí tuệ bị xuyên tạc và lòng yêu thích thông linh thấp; và điều này chỉ xảy ra khi con người đã tự nguyện bị chúng chế ngự. Những người nam và nữ như thế rất hiếm, vì tính ích kỷ không pha tạp quả thật hiếm có. Ở đâu nó tồn tại, nó cực kỳ mạnh mẽ, như mọi khuynh hướng nhất tâm đều vậy.
|
|
The clue to the requirements of a more esoteric kind is given to us in Rule XIII. “The magician must recognize the four.” He has presumably built up a fine character. He has educated himself for service. His aspiration is true and steady. He is living purely and unselfishly. He has mastered somewhat the meaning of meditation. He now has to begin to train himself in what is called “occult recognition.”
|
Manh mối về các yêu cầu thuộc loại huyền bí hơn được trao cho chúng ta trong Quy luật XIII. “Nhà huyền thuật phải nhận ra bộ bốn.” Giả định rằng y đã xây dựng được một tính cách tốt đẹp. Y đã tự giáo dục mình cho việc phụng sự. Khát vọng của y chân thật và kiên định. Y đang sống thanh khiết và vô ngã. Y đã phần nào làm chủ ý nghĩa của tham thiền. Giờ đây y phải bắt đầu rèn luyện mình trong điều được gọi là “sự nhận biết huyền bí.”
|
|
This rule is a most interesting example of the many connotations and numerous correspondences which can be conveyed in a few simple words. We are told that he must “recognize the four”. The Treatise on Cosmic Fire tells us:
|
Quy luật này là một ví dụ hết sức thú vị về nhiều hàm nghĩa và vô số tương ứng có thể được truyền đạt trong vài lời đơn giản. Chúng ta được bảo rằng y phải “nhận ra bộ bốn”. Luận về Lửa Vũ Trụ nói với chúng ta:
|
|
“This means literally that the magician must be in a position to discriminate between the different ethers and to note the special hue of the different levels, thereby insuring a balanced building of the ‘shadow.’ He ‘recognizes’ them, in the occult sense; that is, he knows their note [546] and key and is aware of the particular type of energy they embody. Enough emphasis has not been laid upon the fact that the three higher levels of the etheric plane are in vibratory communication with the three higher planes of the cosmic physical plane, and they (with their ensphering fourth level) have been called in the occult books ‘the inverted Tetraktys.’ It is this knowledge which puts the magician in possession of the three types of planetary force and their combination, or the fourth type, and thus releases for him that vital energy which will drive this idea into objectivity. As the different types of forces meet and coalesce, a dim shadowy form clothes itself upon the vibrating astral and mental sheath, and the idea of the solar Angel is attaining definite concretion.”
|
“Điều này theo nghĩa đen có nghĩa là nhà huyền thuật phải ở trong vị thế có thể phân biện giữa các dĩ thái khác nhau và ghi nhận sắc thái đặc biệt của các cấp độ khác nhau, nhờ đó bảo đảm việc kiến tạo cân bằng ‘cái bóng.’ Y ‘nhận biết’ chúng theo nghĩa huyền bí; tức là, y biết âm điệu [546] và chủ âm của chúng, và nhận biết loại năng lượng đặc thù mà chúng hiện thân. Người ta chưa nhấn mạnh đủ vào sự kiện rằng ba cấp độ cao hơn của cõi dĩ thái ở trong sự giao tiếp rung động với ba cõi cao hơn của cõi hồng trần vũ trụ, và chúng — cùng với cấp độ thứ tư bao bọc chúng — đã được gọi trong các sách huyền bí là ‘Tứ nguyên đảo ngược.’ Chính tri thức này đặt nhà huyền thuật vào quyền sở hữu ba loại mãnh lực hành tinh và sự kết hợp của chúng, hay loại thứ tư, và nhờ đó giải phóng cho y năng lượng thiết yếu sẽ thúc đẩy ý tưởng này đi vào tính khách quan. Khi các loại mãnh lực khác nhau gặp nhau và hòa nhập, một hình tướng mờ tối, lờ mờ, khoác lấy lớp vỏ cảm dục và trí tuệ đang rung động, và ý tưởng của Thái dương Thiên Thần đang đạt tới sự cụ thể hóa xác định.”
|
|
The obvious and most apparent meaning is, therefore, recognition of the four ethers, but this is in its turn dependent upon other meanings and based upon the recognition of other quaternaries. I would like to give a short résumé of some of the qualifications needed by the white magician and of some of the recognitions which will gradually emerge in his consciousness.
|
Do đó, ý nghĩa hiển nhiên và rõ ràng nhất là sự nhận biết bốn dĩ thái; nhưng điều này đến lượt nó lại phụ thuộc vào các ý nghĩa khác và dựa trên sự nhận biết những bộ bốn khác. Tôi muốn đưa ra một phần tóm lược ngắn về một số phẩm chất cần thiết nơi nhà huyền thuật chánh đạo và một số nhận biết sẽ dần dần xuất hiện trong tâm thức của y.
|
|
First, he must recognize “the four that constitute the One.” In other words, the first quaternary that he must know and know well is that which he is essentially himself:
|
Trước hết, y phải nhận biết “bộ bốn cấu thành một toàn thể.” Nói cách khác, bộ bốn đầu tiên mà y phải biết, và biết rõ, là điều y vốn là trong bản chất:
|
|
1. Physical body, sensitive emotional nature, mind and soul;
|
1. Thể xác, bản chất cảm xúc nhạy cảm, thể trí và linh hồn;
|
|
2. Soul, mind, brain and the outer world of forces;
|
2. Linh hồn, thể trí, bộ não và thế giới bên ngoài của các mãnh lực;
|
|
3. Spirit, soul and body within the great Whole.
|
3. Tinh thần, linh hồn và thân thể trong Toàn Thể Vĩ Đại.
|
|
This presupposes real spiritual attainment and the capacity, therefore, to function as a soul. Until this has been achieved, one can be an aspirant to the practice of white magic, but one is not yet a white magician.
|
Điều này giả định một thành tựu tinh thần thật sự và do đó là năng lực hoạt động như một linh hồn. Cho đến khi điều này đạt được, người ta có thể là một người chí nguyện đối với việc thực hành Chánh Thuật, nhưng chưa phải là một nhà huyền thuật chánh đạo.
|
|
Second, he must recognize “the city that stands foursquare.” He must understand the meaning, of “man, the cube”, and this in three ways: [547]
|
Thứ hai, y phải nhận biết “thành phố đứng vuông vức.” Y phải thấu hiểu ý nghĩa của “con người, khối lập phương”, và điều này theo ba cách: [547]
|
|
1. Himself as a human being;
|
1. Chính y như một con người;
|
|
2. His fellow man in relation to himself and the Whole;
|
2. Người đồng loại của y trong tương quan với chính y và với Toàn Thể;
|
|
3. The fourth kingdom in nature, the human kingdom, viewing that entire kingdom as an entity, an organized life functioning on the physical plane, indwelt by soul, animated by spirit.
|
3. Giới thứ tư trong thiên nhiên, giới nhân loại, khi nhìn toàn bộ giới ấy như một thực thể, một sự sống có tổ chức hoạt động trên cõi hồng trần, được linh hồn nội cư và được tinh thần làm sinh động.
|
|
This means, therefore, that as a man he is responsive to his kind and is aware also of the purpose of the kingdom to which he belongs. This can best be expressed in some wonderful words from an ancient writing in the Masters’ Archives. It is said to date back to early Atlantean times. The material on which the writing is found is so old and so frail that all that the Masters themselves can touch and see is a precipitation made from it, the original being kept at Shamballa. It runs thus, with certain deletions, which it is wiser not to insert:
|
Do đó, điều này có nghĩa là với tư cách một con người, y đáp ứng với đồng loại của mình và cũng nhận biết Thiên Ý của giới mà y thuộc về. Điều này có thể được diễn đạt tốt nhất bằng một vài lời tuyệt diệu trích từ một bản văn cổ trong Văn khố của các Chân sư. Người ta nói nó có niên đại từ thời Atlantis sơ kỳ. Chất liệu trên đó bản văn được tìm thấy cổ xưa và mong manh đến mức tất cả những gì chính các Chân sư có thể chạm đến và nhìn thấy chỉ là một bản ngưng tụ được tạo ra từ nó, còn nguyên bản được lưu giữ tại Shamballa. Nó viết như sau, với một vài chỗ lược bỏ mà tốt hơn là không nên đưa vào:
|
|
“At the four corners of the square, the four angelic…are seen. Orange they are, but veiled in rosy light. Within each form the yellow flame is seen and round each form the blue…
|
“Tại bốn góc của hình vuông, bốn vị thiên thần…được nhìn thấy. Các vị có màu cam, nhưng được che phủ trong ánh sáng hồng. Trong mỗi hình tướng, ngọn lửa vàng được nhìn thấy và quanh mỗi hình tướng là màu xanh…
|
|
“Four words they utter forth, one for each human race, but not the sacred sound which bringeth forth the seventh. Two words have died away, four sound today. One sounds in realms so high that man can enter not as man. Thus are the seven words of man ringing around the square, passing from mouth to mouth.
|
“Bốn lời các vị thốt ra, mỗi lời dành cho một giống dân nhân loại, nhưng không phải âm thanh thiêng liêng vốn gọi ra giống dân thứ bảy. Hai lời đã tan biến, bốn lời vang lên hôm nay. Một lời vang trong các cảnh giới cao đến mức con người không thể bước vào như con người. Như thế, bảy lời của con người vang quanh hình vuông, truyền từ miệng này sang miệng khác.
|
|
“Each day of man the words take form and different seem. In…the words will be as follows:
|
“Mỗi ngày của con người, các lời ấy khoác lấy hình tướng và có vẻ khác nhau. Trong…các lời sẽ như sau:
|
|
“From out the North a word is chanted forth which means…be pure.
|
“Từ phương Bắc, một lời được xướng lên, có nghĩa là…hãy tinh khiết.
|
|
“From out the South the word peals out: I dedicate and…
|
“Từ phương Nam, lời vang dội: Tôi thánh hiến và…
|
|
“From out the East, bringing a light divine, the word comes swinging round the square: Love all.
|
“Từ phương Đông, mang theo một ánh sáng thiêng liêng, lời ấy xoay quanh hình vuông: Hãy thương yêu tất cả.
|
|
“From out the West, answer is thrown back: I serve.”
|
“Từ phương Tây, lời đáp được ném trở lại: Tôi phụng sự.”
|
|
This is a faint effort to express in English these ancient Atlantean phrases, older than Sanskrit or Senzar, and [548] known only to a mere handful of the members of the present hierarchy. But in the thoughts of purity, dedication, love and service, are summed up the nature and the destiny of man, and it should be remembered that they do not stand for so-called spiritual qualities, but for potent occult forces, dynamic in their incentive and creative in their result. This should be pondered on carefully by all aspirants. We have, consequently, with these four, added to the first one, spiritual attainment, five of the qualifications of the white magician.
|
Đây là một nỗ lực mờ nhạt nhằm diễn đạt bằng tiếng Anh những câu cổ Atlantis này, cổ hơn tiếng Sanskrit hay Senzar, và [548] chỉ được biết bởi một nhóm rất nhỏ các thành viên của Thánh đoàn hiện nay. Nhưng trong các tư tưởng về sự tinh khiết, thánh hiến, tình thương và phụng sự, bản chất và vận mệnh của con người được tóm lược; và cần nhớ rằng chúng không đại diện cho các phẩm tính được gọi là tinh thần, mà cho những mãnh lực huyền bí mạnh mẽ, năng động trong sự thúc đẩy và sáng tạo trong kết quả. Tất cả những người chí nguyện nên suy ngẫm kỹ điều này. Do đó, với bốn điều này, cộng thêm điều đầu tiên là thành tựu tinh thần, chúng ta có năm phẩm tính của nhà huyền thuật chánh đạo.
|
|
Third, the white magician must recognize the cross which stands in the Heavens upon which the cosmic Christ is crucified and on which the white magician, being a cell in the body of the cosmic Christ, is also crucified. Technically and astrologically speaking, in this present aeon he must understand the inner significance of Taurus, of Leo, of Scorpio and of Aquarius, for they are potent in our world cycle. He must, if I may express it symbolically, and yet at the same time accurately, be able to utter forth the achievement which is the goal of his endeavor in each of these four signs and under each of these four powers. In Taurus he must be able to say: “I seek illumination and am myself the light.” In Leo he will say: “I know myself to be the one. I rule by Law.” The word he will utter forth in Scorpio will be: “Illusion cannot hold me. I am the bird that flies with utter freedom.” In Aquarius the words spoken will be: “I am the server, and I the dispenser am of living water.”
|
Thứ ba, nhà huyền thuật chánh đạo phải nhận biết thập giá đứng trên Trời, trên đó Đức Christ vũ trụ bị đóng đinh, và trên đó nhà huyền thuật chánh đạo, là một tế bào trong thân thể của Đức Christ vũ trụ, cũng bị đóng đinh. Nói theo nghĩa chuyên môn và chiêm tinh, trong thời đại hiện nay y phải thấu hiểu thâm nghĩa bên trong của Kim Ngưu, Sư Tử, Hổ Cáp và Bảo Bình, vì chúng đầy quyền năng trong chu kỳ thế giới của chúng ta. Nếu tôi có thể diễn đạt một cách biểu tượng, nhưng đồng thời chính xác, y phải có khả năng thốt ra thành tựu vốn là mục tiêu nỗ lực của y trong mỗi một trong bốn dấu hiệu này và dưới mỗi một trong bốn quyền năng này. Trong Kim Ngưu, y phải có thể nói: “Tôi tìm kiếm sự soi sáng và chính tôi là ánh sáng.” Trong Sư Tử, y sẽ nói: “Tôi biết mình là Đấng Duy Nhất. Tôi cai quản bằng Định luật.” Lời y sẽ thốt ra trong Hổ Cáp là: “Ảo tưởng không thể giữ tôi. Tôi là con chim bay với tự do tuyệt đối.” Trong Bảo Bình, những lời được nói sẽ là: “Tôi là người phụng sự, và tôi là người phân phát nước hằng sống.”
|
|
These occult qualifications upon which I have thus lightly touched, must be closely studied by the aspirant and as he studies them and lives by these rules, various qualifications will emerge and will distinguish him. It must be remembered that all that I have here said has a different meaning on each plane and in relation [549] to the seven stages of consciousness as these express themselves in these seven fields of awareness.
|
Các phẩm chất huyền bí mà tôi đã chỉ chạm nhẹ đến đây phải được người chí nguyện nghiên cứu kỹ lưỡng; và khi y nghiên cứu chúng và sống theo các quy luật này, nhiều phẩm chất khác nhau sẽ xuất hiện và sẽ phân biệt y. Cần nhớ rằng tất cả những gì tôi đã nói ở đây đều có một ý nghĩa khác trên mỗi cõi và trong tương quan [549] với bảy giai đoạn của tâm thức khi chúng biểu lộ trong bảy lĩnh vực nhận biết này.
|
|
Finally, as far as the aspirant who reads these instructions is concerned, he must have transcended the four noble truths, learned the meaning of the four gospels, understood the significance and purpose of the four elements—earth, water, fire and air, and, esoterically speaking, passed as a Saviour through the four kingdoms. This latter phrase will only be really understood at the fourth initiation. When he has done this, he can say: “Desire holds me not, with freedom now I stand. I desire all and nothing. I live and die, am offered up and rise again: I come and go at will. Earth lies beneath my feet and water laves my form. The fire destroys that which impedes my way, and master of the air am I. Through all the world of forms my feet have passed. All now exists for me and I, the servant of the whole, persist.”
|
Sau cùng, xét về người chí nguyện đang đọc những chỉ dẫn này, y phải đã vượt qua bốn chân lý cao quý, học được ý nghĩa của bốn phúc âm, thấu hiểu thâm nghĩa và mục đích của bốn nguyên tố — đất, nước, lửa và khí — và, nói một cách huyền bí, đã đi qua bốn giới như một Đấng Cứu Rỗi. Cụm sau cùng này chỉ thật sự được thấu hiểu ở lần điểm đạo thứ tư. Khi y đã làm điều này, y có thể nói: “Dục vọng không giữ được tôi; giờ đây tôi đứng trong tự do. Tôi ham muốn tất cả và không gì cả. Tôi sống và chết, được dâng hiến và sống lại; tôi đến và đi theo ý chí. Đất nằm dưới chân tôi và nước rửa hình tướng tôi. Lửa hủy diệt điều cản trở đường tôi, và tôi là chủ của khí. Qua toàn thể thế giới hình tướng, chân tôi đã đi qua. Giờ đây tất cả hiện hữu cho tôi, và tôi, người phụng sự của toàn thể, vẫn trường tồn.”
|
|
Study these words and note how the concept of the ideal requirements which constitute the equipment of the white magician has steadily grown.
|
Hãy nghiên cứu những lời này và ghi nhận cách quan niệm về các yêu cầu lý tưởng cấu thành trang bị của nhà huyền thuật chánh đạo đã tăng trưởng đều đặn ra sao.
|
|
I could enlarge on many other quaternaries, but the few just quoted suffice to show some of the recognitions towards which the aspirant strives. The only other one which I will note is that referred to as the violet four, or the four types of energy which constitute the vital or etheric body of all forms in the natural world. Here again we have a higher three and a lower one, which ever indicates the three aspects or principles of divinity and the form through which these three must manifest. Spirit, soul and body express the same idea from another angle, added to that which is produced through their interaction. It must ever be remembered that from the point of view of Reality what we call the dense physical body, tangible and objective, is but an illusion. We are told again and again in the ancient writings that it is not a principle. Why is this so? Because it is only an [550]
appearance brought about by the merging of the higher three and the fourth, and this appearance is a fiction or a figment of the human mind. I speak not in parable; I utter only facts in nature and one that is slowly coming into mature consideration among the philosophers of both hemispheres. Both in the solar system, the macrocosm of the microcosm, and likewise in the microcosm, there are ever the three highest planes which embody the principles and produce the dynamic purpose, and which constitute the four levels of the etheric body of both God and man, viewing them from what we call the energy or physical angle. These four are reflected in the four levels of the etheric division of the physical plane as regards the physical body of all forms. These four etheric levels, or these four grades of vital substance constitute what is called the “true form” of all material objects or phenomena, and they are responsive to the four higher types of spiritual energy which we usually call divine. This relation between the prototypal trinity and its plane of merging and the etheric reflection is found in all forms according to the type of energy which predominates. In each of the four kingdoms in nature all four types are found, but the fourth etheric is found in fuller degree in the mineral kingdom than in the human, whilst the highest of the four ethers is found in greater proportion in the human than in the other three kingdoms. This which I tell you is apt to be found confusing by the neophyte for the words energy, dynamic purpose, vitality and etheric substance mean little to the beginner, but they serve to indicate some of the knowledge which the worker in white magic has to grasp. This I might illustrate, for instance, by stating that working in the mineral kingdom, the fourth kingdom in nature from the standpoint of God, and the first from the standpoint of time and space, he will work with the fourth cosmic ether (buddhic energy) utilizing [551] ether of the fourth grade in his own body as the transmitting agent, and so on, in connection with the other three kingdoms in nature. One of the secrets not yet revealed, fortunately, is concerned with the question as to whether light violet is the colour of the highest or the lowest of the four and this will not be revealed for some time to come.
|
Tôi có thể nói rộng về nhiều bộ bốn khác, nhưng vài bộ vừa nêu đủ để chỉ ra một số nhận biết mà người chí nguyện đang phấn đấu hướng tới. Điều duy nhất khác mà tôi sẽ ghi nhận là điều được gọi là bốn màu tím, hay bốn loại năng lượng cấu thành thể sinh lực hay thể dĩ thái của mọi hình tướng trong thế giới tự nhiên. Ở đây một lần nữa chúng ta có một bộ ba cao và một cái thấp, điều luôn chỉ ra ba phương diện hay nguyên khí của thiên tính và hình tướng qua đó ba điều này phải biểu hiện. Tinh thần, linh hồn và thân thể diễn đạt cùng một ý tưởng từ một góc độ khác, cộng thêm điều được tạo ra qua sự tương tác của chúng. Cần luôn nhớ rằng từ quan điểm của Thực Tại, điều chúng ta gọi là thể xác đậm đặc, hữu hình và khách quan, chỉ là một ảo tưởng. Trong các bản văn cổ, chúng ta được nói đi nói lại rằng nó không phải là một nguyên khí. Vì sao lại như vậy? Vì nó chỉ là một [550] sắc tướng được tạo ra bởi sự hòa nhập của ba cái cao hơn và cái thứ tư; và sắc tướng này là một hư cấu hay sản phẩm của thể trí con người. Tôi không nói bằng dụ ngôn; tôi chỉ thốt ra những sự kiện trong thiên nhiên, và một sự kiện đang dần đi vào sự cân nhắc chín chắn nơi các triết gia ở cả hai bán cầu. Cả trong hệ mặt trời, đại thiên địa của tiểu thiên địa, và cũng như trong tiểu thiên địa, luôn có ba cõi cao nhất hiện thân các nguyên khí và tạo ra mục đích năng động, và chúng cấu thành bốn cấp độ của thể dĩ thái của cả Thượng đế lẫn con người, khi nhìn chúng từ góc độ năng lượng hay hồng trần mà chúng ta gọi như vậy. Bốn cấp độ này được phản ánh trong bốn cấp độ của phân bộ dĩ thái thuộc cõi hồng trần, xét theo thể xác của mọi hình tướng. Bốn cấp độ dĩ thái này, hay bốn phẩm cấp của chất liệu sinh lực, cấu thành điều được gọi là “hình tướng chân thực” của mọi vật thể hay hiện tượng vật chất; và chúng đáp ứng với bốn loại năng lượng tinh thần cao hơn mà chúng ta thường gọi là thiêng liêng. Mối liên hệ này giữa Tam vị nguyên mẫu và cõi hòa nhập của nó với phản ảnh dĩ thái được tìm thấy trong mọi hình tướng, tùy theo loại năng lượng chiếm ưu thế. Trong mỗi một trong bốn giới của thiên nhiên, cả bốn loại đều được tìm thấy; nhưng dĩ thái thứ tư được tìm thấy ở mức độ đầy đủ hơn trong giới kim thạch so với trong giới nhân loại, trong khi dĩ thái cao nhất trong bốn dĩ thái được tìm thấy với tỉ lệ lớn hơn trong giới nhân loại so với ba giới kia. Điều tôi nói với các bạn đây dễ làm người sơ cơ bối rối, vì các từ năng lượng, mục đích năng động, sinh lực và chất liệu dĩ thái có rất ít ý nghĩa đối với người mới bắt đầu; nhưng chúng giúp chỉ ra một phần tri thức mà người hoạt động trong Chánh Thuật phải nắm bắt. Chẳng hạn, tôi có thể minh họa điều này bằng cách nói rằng khi hoạt động trong giới kim thạch — giới thứ tư trong thiên nhiên theo quan điểm của Thượng đế, và giới thứ nhất theo quan điểm của thời gian và không gian — y sẽ làm việc với dĩ thái vũ trụ thứ tư, tức năng lượng Bồ đề, bằng cách sử dụng [551] dĩ thái thuộc cấp độ thứ tư trong chính thân thể của mình làm tác nhân truyền dẫn; và tương tự như vậy trong liên hệ với ba giới khác trong thiên nhiên. Một trong những bí mật may mắn chưa được mặc khải liên quan đến câu hỏi liệu màu tím nhạt là màu của cấp cao nhất hay cấp thấp nhất trong bốn cấp, và điều này sẽ chưa được mặc khải trong một thời gian nữa.
|
|
The consideration of these various quaternaries which it is necessary that the white magician understand, and the qualifications which he must possess before he is permitted to carry forward the magical work, leads to the following question: Is there some basic formula or proposition which must govern the magical activity?
|
Việc xem xét các bộ bốn khác nhau này, những điều mà nhà huyền thuật chánh đạo cần thấu hiểu, cùng các phẩm chất mà y phải sở hữu trước khi được phép tiến hành công việc huyền thuật, dẫn đến câu hỏi sau: Có một công thức hay mệnh đề căn bản nào phải chi phối hoạt động huyền thuật không?
|
|
This question is, of course, too general and vague, but until the inclusiveness of the human mind is greater than is now the case, such questions will inevitably be asked. I can, however, give a short reply which holds in it the clue to the entire process. When correctly understood, it will govern the method of work and the thought life of the worker in white magic. My answer is this: Potencies produce precipitation. In those three words lies the entire story. They sum up the history of the Creator and the life story and environing conditions of every human being. They account for all that is, and lie back of the law of rebirth. These potencies are driven into activity by the power of thought and hence, in training them to be creators and in teaching them to govern and control their own destinies, the Teachers of the race begin with the mind aspect of aspirants. They emphasize that which will govern the potencies; they deal with that which produces the objective form, which is qualified by them, is energized by them and which fulfills the purpose of the Thinker.
|
Dĩ nhiên, câu hỏi này quá tổng quát và mơ hồ; nhưng cho đến khi tính bao gồm của thể trí con người lớn hơn hiện nay, những câu hỏi như vậy chắc chắn sẽ được nêu ra. Tuy nhiên, tôi có thể đưa ra một câu trả lời ngắn, trong đó chứa manh mối của toàn bộ tiến trình. Khi được thấu hiểu đúng, nó sẽ chi phối phương pháp làm việc và đời sống tư tưởng của người hoạt động trong Chánh Thuật. Câu trả lời của tôi là: Các quyền năng tạo ra sự ngưng tụ. Trong ba từ ấy nằm trọn toàn bộ câu chuyện. Chúng tóm lược lịch sử của Đấng Sáng Tạo, cũng như câu chuyện đời sống và các điều kiện bao quanh của mỗi con người. Chúng giải thích tất cả những gì hiện hữu và nằm phía sau định luật tái sinh. Các quyền năng này được thúc đẩy vào hoạt động bởi quyền năng của tư tưởng; do đó, trong việc huấn luyện họ trở thành những người sáng tạo và dạy họ cai quản cùng kiểm soát vận mệnh của chính mình, các Huấn sư của nhân loại bắt đầu với phương diện trí tuệ của những người chí nguyện. Các Ngài nhấn mạnh điều sẽ chi phối các quyền năng; các Ngài đề cập đến điều tạo ra hình tướng khách quan, điều được chúng ban phẩm tính, được chúng tiếp sinh lực và hoàn thành mục đích của Chủ Thể Tư Tưởng.
|
|
A thinker, then, is the essential factor, and it will become apparent to you, therefore, as you study these words, just what is going on in the world of today. The [552] trend of our modern civilization, in spite of all its mistakes and errors, is to produce thinkers. Education, books, travel, in its many and varied forms, enunciations of science and of philosophy, and the driving inner urge which we call religious, but which is, in fact, the drive towards truth and its mental verification—all these factors have one objective, and this is to produce thinkers. Given a real thinker, you have an incipient creator and (unconsciously at first, but consciously later on) one who will wield power in order to “precipitate” or cause to emerge objective forms. These forms will either be in line with Divine purpose and plan and, consequently, will further the cause of evolution, or they will be animated by personal intent, characterized by separated, selfish purpose, and constitute, therefore, part of the work of the retro-active forces and the material element. They will be of the nature of black magic.
|
Vậy, một chủ thể tư duy là yếu tố thiết yếu; và do đó, khi các bạn nghiên cứu những lời này, sẽ trở nên rõ ràng đối với các bạn chính xác điều gì đang diễn ra trong thế giới ngày nay. Khuynh hướng [552] của nền văn minh hiện đại của chúng ta, bất chấp mọi sai lầm và lệch lạc của nó, là tạo ra những chủ thể tư duy. Giáo dục, sách vở, du hành trong nhiều hình thức đa dạng, những tuyên bố của khoa học và triết học, cùng xung lực nội tâm thúc đẩy mà chúng ta gọi là tôn giáo, nhưng thực ra là động lực hướng tới chân lý và sự xác minh nó bằng trí tuệ — tất cả những yếu tố này đều có một mục tiêu, và mục tiêu đó là tạo ra những chủ thể tư duy. Khi có một chủ thể tư duy thật sự, các bạn có một người sáng tạo mới chớm; và lúc đầu một cách vô thức, nhưng về sau một cách hữu thức, người ấy sẽ vận dụng quyền năng để “ngưng tụ” hay khiến các hình tướng khách quan xuất hiện. Các hình tướng này hoặc sẽ phù hợp với mục đích và Thiên Cơ thiêng liêng, và do đó thúc đẩy sự nghiệp tiến hoá, hoặc chúng sẽ được làm sinh động bởi ý định cá nhân, mang đặc trưng bởi mục đích chia rẽ và ích kỷ, và vì thế cấu thành một phần công việc của các mãnh lực phản tiến hoá và yếu tố vật chất. Chúng sẽ mang bản chất của hắc thuật.
|
|
Again the four appear:
|
Một lần nữa, bốn điều xuất hiện:
|
|
1. The thinker.
|
1. Chủ thể tư duy.
|
|
2. The potency.
|
2. Quyền năng.
|
|
3. The quality of that potency.
|
3. Phẩm tính của quyền năng ấy.
|
|
4. The precipitation.
|
4. Sự ngưng tụ.
|
|
What is a precipitation? Many definitions could be given and most of them—being clothed in words—would lose much of their true significance, but some idea may be conveyed in the following terms:
|
Sự ngưng tụ là gì? Có thể đưa ra nhiều định nghĩa, và phần lớn các định nghĩa ấy — vì được khoác trong ngôn từ — sẽ mất đi nhiều thâm nghĩa chân thật của chúng; nhưng một ý niệm nào đó có thể được truyền đạt bằng những lời sau:
|
|
“A precipitation is an aggregation of energies arranged in a certain form, in order to express the idea of some creative Thinker, and qualified or characterized by the nature of his thought and held in that peculiar form as long as his thought remains dynamic.”
|
“Một sự ngưng tụ là một tập hợp các năng lượng được sắp đặt trong một hình tướng nhất định, nhằm biểu lộ ý tưởng của một Chủ Thể Tư Tưởng sáng tạo nào đó, và được ban phẩm tính hay mang đặc trưng bởi bản chất tư tưởng của vị ấy, được giữ trong hình tướng đặc thù ấy chừng nào tư tưởng của vị ấy còn năng động.”
|
|
These words are an attempt to express a symbol found in the same ancient book, or rather compilation, referred [553] to earlier, in our consideration of Rule XIII. Certainly these symbols emerging from the remote past constitute the working tools, if I might so express it, of the Thinkers Who guide our racial and planetary evolution. This particular symbol might be described as follows:
|
Những lời này là một nỗ lực nhằm diễn đạt một biểu tượng được tìm thấy trong cùng quyển sách cổ, hay đúng hơn là bộ sưu tập cổ, đã được nhắc [553] đến trước đây trong khi chúng ta xem xét Quy luật XIII. Chắc chắn những biểu tượng xuất hiện từ quá khứ xa xưa này cấu thành các công cụ làm việc, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy, của các Chủ Thể Tư Tưởng đang hướng dẫn cuộc tiến hoá nhân loại và hành tinh của chúng ta. Biểu tượng đặc thù này có thể được mô tả như sau:
|
|
A blazing sun forms the background and at the very center of that sun appears an eye; projecting downwards toward the right from this eye pours forth a stream of energy in the form of a beam of light. It rays outward, widening towards the end, into a second circle and in that circle is a cross resembling what is called a Maltese cross. At the center of the cross is another eye and within the eye the Sacred Word. Between the arms of the cross forming, therefore, another cross, is the Swastika, the arms emerging from behind the Maltese cross. At the bottom of the page whereon this symbol is found are four geometrical forms. Some of these are referred to by H. P. B. and were taken by her from this ancient picture. They are well known but seldom applied by esotericists to the creative work. They are the cube, the five pointed star, the six pointed star and the eight sided diamond, superimposed one upon the other. They constitute, therefore, the base of the symbol. H. P. B. refers also to the point, the line and the circle, but these, with the triangle, have been exoterically applied to Deity and the manifested universe. Later these other forms will also be applied to God and to man, in the exoteric sense. But this will only be when the truths of the Ageless Wisdom are universally recognized.
|
Một mặt trời rực cháy làm nền, và ngay tại trung tâm của mặt trời ấy xuất hiện một con mắt; từ con mắt này, phóng xuống về phía bên phải, tuôn ra một dòng năng lượng dưới hình thức một tia sáng. Nó tỏa ra ngoài, mở rộng dần về phía cuối, đi vào một vòng tròn thứ hai; và trong vòng tròn ấy có một thập giá giống với điều được gọi là thập giá Malta. Tại trung tâm của thập giá có một con mắt khác, và trong con mắt là Linh từ Thiêng Liêng. Giữa các cánh của thập giá, do đó tạo thành một thập giá khác, là chữ vạn, với các cánh hiện ra từ phía sau thập giá Malta. Ở phần dưới của trang trên đó biểu tượng này được tìm thấy có bốn hình hình học. Một số hình này được H. P. B. nhắc đến và được bà lấy từ bức hình cổ này. Chúng được biết đến rộng rãi nhưng hiếm khi được các nhà bí truyền học áp dụng vào công việc sáng tạo. Chúng là khối lập phương, ngôi sao năm cánh, ngôi sao sáu cánh và viên kim cương tám mặt, chồng lên nhau. Vì thế, chúng cấu thành nền tảng của biểu tượng. H. P. B. cũng nhắc đến điểm, đường thẳng và vòng tròn; nhưng những hình này, cùng với tam giác, đã được áp dụng một cách ngoại môn vào Thượng đế và vũ trụ biểu hiện. Về sau, những hình khác này cũng sẽ được áp dụng cho Thượng đế và con người theo nghĩa ngoại môn. Nhưng điều này chỉ xảy ra khi các chân lý của Minh Triết Ngàn Đời được thừa nhận rộng khắp.
|
|
The laws of thought are the laws of creation, and the entire creative work is carried forward on the etheric level. This constitutes practically a second formula. The Creator of the solar system confines his attention to the work performed on what we call the four higher planes of our system. The lower three, constituting the cosmic dense physical plane, are in the nature of precipitation. [554] They are objective, because the matter of space responds to, or is attracted by the potency of the four higher etheric vibrations. These, in their turn, are motivated or swept into activity by the dynamic impact of the divine thought. There is a similar procedure where man is concerned. Just as soon as man becomes a thinker and can formulate his thought, desire its manifestation and can energize “by recognition” the four ethers, a dense physical manifestation is inevitable. He will attract by his pranic energy, coloured by desire high or low, and animated by the potency of his thought, just as much of the responsive matter in space as is needed to give body to his form.
|
Các định luật của tư tưởng là các định luật của sáng tạo, và toàn bộ công việc sáng tạo được tiến hành trên cấp độ dĩ thái. Điều này thực tế cấu thành một công thức thứ hai. Đấng Sáng Tạo của hệ mặt trời giới hạn sự chú tâm của Ngài vào công việc được thực hiện trên điều chúng ta gọi là bốn cõi cao hơn của hệ chúng ta. Ba cõi thấp, cấu thành cõi hồng trần đậm đặc vũ trụ, mang bản chất của sự ngưng tụ. [554] Chúng là khách quan, vì vật chất của không gian đáp ứng với, hay bị thu hút bởi, quyền năng của bốn rung động dĩ thái cao hơn. Đến lượt mình, những rung động này được thúc đẩy hay cuốn vào hoạt động bởi tác động năng động của tư tưởng thiêng liêng. Có một tiến trình tương tự liên quan đến con người. Ngay khi con người trở thành một chủ thể tư duy và có thể định hình tư tưởng của mình, ham muốn sự biểu hiện của nó và có thể tiếp sinh lực cho bốn dĩ thái “bằng sự nhận biết”, một sự biểu hiện hồng trần đậm đặc là điều tất yếu. Y sẽ thu hút, bằng năng lượng prana của mình, nhuốm màu bởi dục vọng cao hay thấp, và được làm sinh động bởi quyền năng tư tưởng của mình, đúng lượng vật chất đáp ứng trong không gian cần thiết để tạo phần thân vật chất cho hình tướng của y.
|
|
Much of this is dealt with in A Treatise on Cosmic Fire and as these Instructions are intended to deal with the inner development of the aspirant, I shall not carry these ideas further beyond prophesying that within fifty years the true significance of precipitations will be engrossing the attention of the scientists. Occult students would do well to give the subject careful thought. It can be approached in two ways. There is, first of all, the study of the objective world in which the individual aspirant finds himself. He will need to consider the fact that his body of manifestation is a precipitation, that it is a result of his potent thought and desire and of his “recognition” of the four ethers. He will need to understand that this form which he has created will persist just as long as the dynamic power of his thought holds it together, and that it will dissipate when he (occultly speaking) “takes his eye away”. He will need to consider also that his environment is the result of the work of an aggregate of group thinkers—group to which he belongs. This concept can be traced back all the way from a family group to the group of egos who, closely interlinked, form a group on the higher level of the mental plane, and on again to the seven major thinkers of the universe, the Lords of the seven rays. These seven, in their turn, are [555] swept into activity by the three supreme magical workers, the manifested Trinity. These Three, in due course, will be recognized as responsive to the thought of the One Creator, the Unmanifested Logos.
|
Nhiều điều trong đây đã được đề cập trong Luận về Lửa Vũ Trụ; và vì các Huấn Thị này nhằm đề cập đến sự phát triển bên trong của người chí nguyện, tôi sẽ không đưa các ý tưởng này đi xa hơn, ngoài việc tiên đoán rằng trong vòng năm mươi năm nữa, thâm nghĩa chân thật của các sự ngưng tụ sẽ thu hút sự chú ý của các nhà khoa học. Các đạo sinh huyền bí nên suy nghĩ cẩn trọng về chủ đề này. Có thể tiếp cận nó theo hai cách. Trước hết là nghiên cứu thế giới khách quan trong đó từng người chí nguyện thấy mình đang ở. Y sẽ cần xem xét sự kiện rằng thể biểu hiện của mình là một sự ngưng tụ, rằng nó là kết quả của tư tưởng và dục vọng mạnh mẽ của y, cũng như của sự “nhận biết” bốn dĩ thái của y. Y sẽ cần thấu hiểu rằng hình tướng mà y đã tạo ra này sẽ tồn tại chừng nào quyền năng năng động của tư tưởng y còn giữ nó kết hợp, và nó sẽ tan rã khi y, nói theo nghĩa huyền bí, “rời mắt đi”. Y cũng sẽ cần xem xét rằng môi trường của mình là kết quả công việc của một tập hợp các chủ thể tư duy nhóm — nhóm mà y thuộc về. Quan niệm này có thể được truy ngược suốt từ một nhóm gia đình đến nhóm các chân ngã, vốn liên kết chặt chẽ với nhau, tạo thành một nhóm trên cấp độ cao hơn của cõi trí; rồi tiếp tục đến bảy chủ thể tư duy chính yếu của vũ trụ, các Chúa Tể của bảy cung. Đến lượt mình, bảy Đấng này [555] được cuốn vào hoạt động bởi ba nhà hoạt động huyền thuật tối thượng, Tam Vị biểu hiện. Đúng thời, Ba Đấng này sẽ được nhận biết là đáp ứng với tư tưởng của Đấng Sáng Tạo Duy Nhất, Thượng đế Không Biểu Hiện.
|
|
The word “recognition” is one of the most important in the language of occultism and holds the clue to the mystery of Being. It is related to karmic activity and on it the Lords of Time and Space depend. It is hard to illustrate this in simple terms, but it might be said that the problem of God Himself consists in this, that He must manifest a threefold recognition:
|
Từ “nhận biết” là một trong những từ quan trọng nhất trong ngôn ngữ của huyền bí học và chứa manh mối của bí nhiệm về Bản Thể. Nó liên hệ với hoạt động nghiệp quả và các Chúa Tể của Thời Gian và Không Gian nương vào nó. Thật khó minh họa điều này bằng những lời đơn giản, nhưng có thể nói rằng vấn đề của chính Thượng đế nằm ở chỗ này: Ngài phải biểu hiện một sự nhận biết tam phân:
|
|
1. Recognition of the past, which necessarily involves a recognition of that matter in space which is, through past association, already coloored by thought and purpose.
|
1. Nhận biết quá khứ, điều này tất yếu bao hàm sự nhận biết chất liệu trong không gian vốn, qua liên hệ quá khứ, đã được nhuộm màu bởi tư tưởng và mục đích.
|
|
2. Recognition of the four grades of lives which, again through past association, are capable of response to His new thought for the present and can, therefore, carry out His plans and work in collaboration with Him. They subject their individual purposes to the one divine plan.
|
2. Nhận biết bốn cấp độ của các sự sống vốn, một lần nữa qua liên hệ quá khứ, có khả năng đáp ứng với tư tưởng mới của Ngài cho hiện tại và do đó có thể thực hiện các Thiên Cơ của Ngài và làm việc trong sự cộng tác với Ngài. Chúng đặt các mục đích cá nhân của mình dưới một Thiên Cơ thiêng liêng duy nhất.
|
|
3. Recognition of the objective which exists in His Mind. This, in its turn, necessitates a one pointed focussing upon the goal and the holding of the purpose intact throughout the vicissitudes of the creative work, and in spite of the potency of the many divine Thinkers who have been attracted to Him by similarity of idea.
|
3. Nhận biết mục tiêu đang hiện hữu trong Trí của Ngài. Điều này, đến lượt nó, đòi hỏi một sự tập trung nhất tâm vào mục tiêu và giữ nguyên vẹn mục đích xuyên qua những thăng trầm của công việc sáng tạo, bất chấp quyền năng của nhiều Chủ Thể Tư Tưởng thiêng liêng đã bị thu hút đến với Ngài do sự tương đồng về ý tưởng.
|
|
It is hopeless to attempt to avoid the use of personal pronouns when talking pictorially and symbolically. If the student will bear in mind that such an attempt to reduce cosmic principles and concepts to words is in itself ridiculous and that the only possible thing to do is to present a picture, then no harm can eventuate. But the pictures change, as evolution proceeds upon its way, and [556] the picture of today will at a later date be deemed no better than a child’s rough scrawl. A new picture will then be presented, simpler and more harmonious, and more beautiful, until it, in its turn, is deemed inadequate.
|
Thật vô vọng nếu cố tránh việc dùng các đại từ nhân xưng khi nói bằng hình ảnh và biểu tượng. Nếu đạo sinh ghi nhớ rằng nỗ lực thu giảm các nguyên lý và quan niệm vũ trụ thành ngôn từ tự nó là điều lố bịch, và rằng điều duy nhất có thể làm là trình bày một hình ảnh, thì sẽ không có tổn hại nào xảy ra. Nhưng các hình ảnh thay đổi khi tiến hoá tiếp tục con đường của nó, và [556] hình ảnh của hôm nay vào một ngày sau sẽ bị xem chẳng hơn gì nét nguệch ngoạc thô sơ của trẻ nhỏ. Khi ấy một hình ảnh mới sẽ được trình bày, đơn giản hơn, hài hòa hơn và đẹp đẽ hơn, cho đến khi đến lượt nó cũng bị xem là không đầy đủ.
|
|
The same recognitions, on a lesser scale, govern the activities of the solar Angel as he proceeds with the work of incarnation and of manifestation upon the physical plane. He has in his turn to recognize the matter of the three planes of human expression which are already, through past association, coloured by his vibration; he has to recognize the groups of lives with which he has had relation and with which he again must work. Finally, he has, throughout the tiny cycle of an incarnation, to hold his purpose steady and to see that each life carries that purpose forward into fuller manifestation and completion.
|
Những nhận thức tương tự, trên một quy mô nhỏ hơn, chi phối các hoạt động của Thái dương Thiên Thần khi Ngài tiến hành công việc nhập thể và biểu hiện trên cõi hồng trần. Đến lượt mình, Ngài phải nhận biết chất liệu của ba cõi biểu hiện nhân loại vốn đã, do liên hệ trong quá khứ, được nhuốm màu bởi rung động của Ngài; Ngài phải nhận biết các nhóm sự sống mà Ngài đã từng có liên hệ và nay lại phải cùng làm việc. Sau cùng, trong suốt chu kỳ nhỏ bé của một lần nhập thể, Ngài phải giữ vững mục đích của mình và bảo đảm rằng mỗi đời sống đều đưa mục đích ấy tiến tới sự biểu hiện và hoàn tất đầy đủ hơn.
|
|
The work of the human being also, as he endeavors to become a creative thinker, lies along analogous lines. His creative work will be successful if he can recognize the tendency of his mind as that tendency emerges through the medium of his present interests, for these have their roots in the past. It will be successful if he can recognize the vibration of the group of lives in line with whose thought his creative work must proceed, for unlike the Deity in the solar system, he cannot work sole and alone. And who shall say whether in those greater spheres of existence in which our Deity plays His part, He is any more free from cosmic group influences than the human individual is free from impression by his environing impulses? He has to recognize the purpose for which he has deemed it wise to build a thought-form and he must hold that purpose steady and unimpaired throughout the whole period of objectivity. This we call one pointed attention, and this creative work is one of the, as yet unrecognized, goals of the meditation process. Hitherto the emphasis has been laid on the achieving of [557] a focussed attention and on the necessity, when that has been attained, of coming in touch with the soul, the spiritual thinker. But later decades will see the emerging of a technique of creation. When soul, mind and brain are unified and facility in unification has been achieved, further instructions will be given in the creative art. Meditation is the first basic lesson given when men have achieved the capacity to function on the mental plane.
|
Công việc của con người cũng vậy, khi y nỗ lực trở thành một tư tưởng gia sáng tạo, đi theo những đường lối tương đồng. Công việc sáng tạo của y sẽ thành công nếu y có thể nhận biết khuynh hướng của thể trí mình khi khuynh hướng ấy xuất hiện qua trung gian các mối quan tâm hiện tại của y, vì những mối quan tâm này có gốc rễ trong quá khứ. Công việc ấy sẽ thành công nếu y có thể nhận biết rung động của nhóm sự sống mà công việc sáng tạo của y phải tiến hành phù hợp với tư tưởng của nhóm ấy, vì không giống như Thượng đế trong hệ mặt trời, y không thể làm việc một mình và đơn độc. Và ai có thể nói rằng, trong những cõi hiện tồn rộng lớn hơn, nơi Thượng đế của chúng ta đóng vai trò của Ngài, Ngài có thoát khỏi các ảnh hưởng nhóm vũ trụ hơn mức cá nhân con người thoát khỏi ấn tượng của những xung lực bao quanh y hay không? Y phải nhận biết mục đích mà vì đó y đã xem là khôn ngoan khi kiến tạo một hình tư tưởng, và y phải giữ mục đích ấy vững vàng, không suy suyển trong suốt toàn bộ thời kỳ khách quan hóa. Điều này chúng ta gọi là sự chú tâm nhất tâm, và công việc sáng tạo này là một trong những mục tiêu, cho đến nay vẫn chưa được nhận biết, của tiến trình tham thiền. Từ trước đến nay, trọng tâm đã được đặt vào việc đạt tới [557] sự chú tâm tập trung và vào sự cần thiết, khi điều đó đã đạt được, là tiếp xúc với linh hồn, tư tưởng gia tinh thần. Nhưng các thập niên về sau sẽ chứng kiến sự xuất hiện của một kỹ thuật sáng tạo. Khi linh hồn, thể trí và bộ não được hợp nhất, và khả năng hợp nhất đã đạt được, những chỉ dẫn xa hơn sẽ được ban về nghệ thuật sáng tạo. Tham thiền là bài học căn bản đầu tiên được trao khi con người đã đạt được năng lực hoạt động trên cõi trí.
|
|
Down the great cycle upon the wheel of rebirth “the idea of the solar Angel is attaining definite concretion”. A Treatise on Cosmic Fire, p. 1024. Each life sees the initial purpose clarified and time is literally the length of a thought. This same basic truth underlies the creation of all forms on the physical plane, whether it is a thought-form embodying the urgent desire of a man for selfish acquisition or that thought-form which we call a group or an organization and which is animated by the unselfish purpose and embodies some disciple’s mode of helping humanity. It underlies group work, regarding a group as an entity. If a group could appreciate the power of this fact, and “recognize” its opportunity, it could, by its one-pointed fixity of purpose and its focussed attention to the spiritual objective, perform miracles in salvaging the world. I here appeal to all who read these words to reconsecrate themselves and to recognize the opportunity they have of an united effort towards world usefulness.
|
Suốt chu kỳ lớn trên bánh xe tái sinh, “ý tưởng của Thái dương Thiên Thần đang đạt tới sự cụ thể hóa xác định”. Luận về Lửa Vũ Trụ, tr. 1024. Mỗi đời sống chứng kiến mục đích ban đầu được làm sáng tỏ, và thời gian, theo nghĩa đen, là độ dài của một tư tưởng. Chân lý căn bản này cũng nằm bên dưới sự sáng tạo mọi hình tướng trên cõi hồng trần, dù đó là một hình tư tưởng thể hiện dục vọng bức thiết của con người muốn chiếm hữu ích kỷ, hay hình tư tưởng mà chúng ta gọi là một nhóm hoặc một tổ chức, được linh hoạt bởi mục đích vô vị kỷ và thể hiện phương thức của một đệ tử trong việc trợ giúp nhân loại. Nó nằm bên dưới công việc nhóm, khi xem một nhóm như một thực thể. Nếu một nhóm có thể thấu hiểu quyền năng của sự kiện này và “nhận biết” cơ hội của mình, thì nhờ sự cố định mục đích một cách nhất tâm và sự chú tâm tập trung vào mục tiêu tinh thần, nhóm ấy có thể thực hiện những điều kỳ diệu trong việc cứu vãn thế giới. Ở đây tôi kêu gọi tất cả những ai đọc các lời này hãy tự thánh hiến lại và nhận biết cơ hội mà họ có được trong một nỗ lực hợp nhất hướng tới sự hữu dụng cho thế giới.
|
|
It might be of use here if I expressed quite simply the requirements needed to bring about the manifestation of individual spiritual purpose or of group spiritual purpose. These can be summed up in three words:
|
Ở đây có thể hữu ích nếu tôi trình bày thật đơn giản những yêu cầu cần thiết để đưa mục đích tinh thần cá nhân hoặc mục đích tinh thần nhóm vào biểu hiện. Những điều này có thể được tóm lược trong ba từ:
|
|
1. Power.
|
1. Quyền năng.
|
|
2. Detachment.
|
2. Tách rời.
|
|
3. Non-criticism.
|
3. Không phê phán.
|
|
So often simple words are used because of [558] their every day connotation their true significance and esoteric value are lost.
|
Những từ đơn giản thường được dùng đến mức, vì [558] ý nghĩa hằng ngày của chúng, thâm nghĩa chân thật và giá trị huyền bí của chúng bị đánh mất.
|
|
Let me give you a few thoughts anent each of these, with application only to the creative work of white magic.
|
Hãy để tôi trao cho các bạn một vài tư tưởng về từng điều này, chỉ áp dụng vào công việc sáng tạo của Chánh Thuật.
|
|
Power is dependent for expression upon two factors:
|
Quyền năng tùy thuộc vào hai yếu tố để biểu lộ:
|
|
a. Singleness of purpose.
|
a. Tính duy nhất của mục đích.
|
|
b. Lack of impediments.
|
b. Sự thiếu vắng các chướng ngại.
|
|
Students would be amazed if they could see their motives as we see them who guide on the subjective side of experience. Mixed motive is universal. Pure motive is rare and where it exists there is ever success and achievement. Such pure motive can be entirely selfish and personal, or unselfish and spiritual, and in between, where aspirants are concerned, mixed in varying degree. According, however, to the purity of intent and the singleness of purpose, so will be the potency.
|
Các đạo sinh sẽ kinh ngạc nếu họ có thể nhìn thấy các động cơ của mình như chúng tôi, những người hướng dẫn từ phía chủ quan của kinh nghiệm, nhìn thấy. Động cơ pha tạp là điều phổ biến. Động cơ thuần khiết là hiếm có, và nơi nào nó hiện hữu thì nơi đó luôn có thành công và thành tựu. Động cơ thuần khiết như thế có thể hoàn toàn ích kỷ và cá nhân, hoặc vô vị kỷ và tinh thần; còn ở khoảng giữa, đối với những người chí nguyện, nó pha tạp theo nhiều mức độ khác nhau. Tuy nhiên, tùy theo sự thuần khiết của ý định và tính duy nhất của mục đích, quyền năng cũng sẽ như vậy.
|
|
The Master of all the Masters has said, “If thine eye be single, thy whole body shall be full of light”. These words which He enunciated give us a principle underlying all the creative work and we can link up the idea which He clothed in words with the symbol I have earlier described in this Treatise. Power, light, vitality, and manifestation! Such is the true procedure.
|
Chân sư của tất cả các Chân sư đã nói: “Nếu mắt ngươi đơn nhất, toàn thân ngươi sẽ tràn đầy ánh sáng”. Những lời Ngài tuyên thuyết trao cho chúng ta một nguyên lý nằm bên dưới mọi công việc sáng tạo, và chúng ta có thể liên kết ý tưởng mà Ngài đã khoác vào lời nói với biểu tượng tôi đã mô tả trước đây trong Khảo luận này. Quyền năng, ánh sáng, sinh lực và biểu hiện! Đó là tiến trình chân thật.
|
|
It will be obvious, therefore, why the manifested unit, man, is urged to be vital in his search and to cultivate his aspiration. When that aspiration is strong enough, he is then urged to achieve the capacity to “hold his mind steady in the light”. When he can do this, he will achieve power and possess that single eye which will redound to the glory of the indwelling divinity. Before, however, he has mastered this process of development, he may not be trusted with power. The procedure is as follows: The individual aspirant begins to manifest somewhat soul purpose in his life on the physical plane. He is transmuting desire into aspiration and that aspiration [559] is vital and real. He is learning the meaning of light. When he has mastered the technique of meditation (and with this certain schools in existence at present are concerned) he can proceed to handle power, because he will have learned to function as a divine Thinker. He is now cooperative and is in touch with the divine Purpose.
|
Do đó, sẽ hiển nhiên tại sao đơn vị đã biểu hiện, tức con người, được thúc giục phải có sinh lực trong cuộc tìm kiếm của mình và phải vun bồi khát vọng. Khi khát vọng ấy đủ mạnh, y được thúc giục đạt tới năng lực “giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng”. Khi y có thể làm điều này, y sẽ đạt được quyền năng và sở hữu con mắt đơn nhất ấy, điều sẽ làm rạng rỡ thiên tính nội tại. Tuy nhiên, trước khi y làm chủ tiến trình phát triển này, không thể giao quyền năng cho y. Tiến trình như sau: cá nhân người chí nguyện bắt đầu biểu hiện phần nào mục đích linh hồn trong đời sống của y trên cõi hồng trần. Y đang chuyển hoá dục vọng thành khát vọng, và khát vọng ấy [559] là sống động và chân thật. Y đang học ý nghĩa của ánh sáng. Khi y đã làm chủ kỹ thuật tham thiền, điều mà một số trường phái hiện đang tồn tại quan tâm đến, y có thể tiến tới việc vận dụng quyền năng, vì y đã học cách hoạt động như một Tư Tưởng Gia thiêng liêng. Giờ đây y có tính hợp tác và đang tiếp xúc với Thiên Ý.
|
|
As all true students know, however, the number of impediments is legion. Hindrances and obstacles abound. Singleness of purpose may occasionally be realized in high moments, but it does not abide with us always. There are the hindrances of physical nature, of heredity and environment, of character, of time and conditions, of world karma, as well as individual karma. What shall then be done? I have only one word to say and that is, persist. Failure never prevents success. Difficulties develop the strength of the soul. The secret of success is ever to stand steady and to be impersonal.
|
Tuy nhiên, như mọi đạo sinh chân chính đều biết, số lượng chướng ngại là vô kể. Những cản trở và trở ngại thì đầy dẫy. Tính duy nhất của mục đích đôi khi có thể được nhận ra trong những khoảnh khắc cao cả, nhưng nó không luôn ở lại với chúng ta. Có những chướng ngại thuộc bản chất hồng trần, di truyền và môi trường, tính cách, thời gian và hoàn cảnh, nghiệp quả thế giới, cũng như nghiệp quả cá nhân. Vậy phải làm gì? Tôi chỉ có một lời để nói, đó là: kiên trì. Thất bại không bao giờ ngăn cản thành công. Khó khăn phát triển sức mạnh của linh hồn. Bí quyết của thành công luôn là đứng vững và vô ngã.
|
|
The second requirement is detachment. The worker in white magic must hold himself free as much as he can from identifying himself with that which he has created or has attempted to create. The secret for all aspirants is to cultivate the attitude of the onlooker and of the silent watcher, and, may I emphasize the word silent. Much true magical work comes to naught because of the failure of the worker and builder in matter to keep silent. By premature speech and too much talk, he slays that which he has attempted to create, the child of his thought is still-born. All workers in the field of the world should recognize the need for silent detachment and the work before every student who reads these Instructions must consist in cultivating a detached attitude. It is a mental detachment which enables the thinker to dwell ever in the high and secret place and from that center of peace calmly and powerfully to carry out the work he has set before himself. He works in the world of men; he loves and comforts and serves; he pays no attention to his personality [560] likes and dislikes, or to his prejudices and attachments; he stands as a rock of strength and as a strong hand in the dark to all whom he contacts. The cultivation of a detached attitude personally, with the attached attitude spiritually, will cut at the very roots of a man’s life; but it will render back a thousandfold for all that it cuts away.
|
Yêu cầu thứ hai là tách rời. Người hoạt động trong Chánh Thuật phải giữ cho mình được tự do hết mức có thể khỏi việc đồng hoá mình với điều y đã tạo ra hoặc đã cố gắng tạo ra. Bí quyết cho mọi người chí nguyện là vun bồi thái độ của người quan sát và của người canh chừng thầm lặng; và xin cho tôi nhấn mạnh từ thầm lặng. Nhiều công việc huyền thuật chân chính trở thành vô ích vì sự thất bại của người hoạt động và đấng kiến tạo trong vật chất trong việc giữ im lặng. Bằng lời nói quá sớm và quá nhiều chuyện, y giết chết điều y đã cố gắng tạo ra; đứa con của tư tưởng y bị chết non. Tất cả những người hoạt động trong lĩnh vực thế giới nên nhận biết nhu cầu về sự tách rời thầm lặng, và công việc trước mắt mỗi đạo sinh đọc các Huấn thị này phải là vun bồi một thái độ tách rời. Chính sự tách rời trí tuệ giúp tư tưởng gia luôn cư ngụ nơi cao cả và bí mật, và từ trung tâm bình an ấy, bình thản và đầy quyền năng thực hiện công việc y đã đặt ra cho mình. Y làm việc trong thế giới con người; y thương yêu, an ủi và phụng sự; y không chú ý đến những [560] ưa thích và không ưa thích của phàm ngã mình, cũng như các thành kiến và chấp trước của mình; y đứng như một tảng đá sức mạnh và như một bàn tay vững chắc trong bóng tối cho tất cả những ai y tiếp xúc. Việc vun bồi một thái độ tách rời về mặt cá nhân, cùng với một thái độ gắn bó về mặt tinh thần, sẽ cắt tận gốc rễ đời sống của con người; nhưng nó sẽ hoàn trả gấp nghìn lần cho tất cả những gì nó cắt bỏ.
|
|
Much has been written anent attachment and the need to develop detachment. May I beg all students in the urgency of the present situation to leave off reading and thinking about it aspirationally and to begin to practise it and to demonstrate it.
|
Đã có nhiều điều được viết về sự chấp trước và nhu cầu phát triển sự tách rời. Trong tình thế cấp bách hiện nay, tôi xin tất cả các đạo sinh hãy ngừng đọc và suy nghĩ về điều đó theo kiểu khát vọng, và hãy bắt đầu thực hành cũng như biểu hiện nó.
|
|
Non-criticism is the third requirement. What shall I say about that? Why is it regarded as so essential a requirement? Because criticism (analysis and, consequently, separativeness) is the outstanding characteristic of mental types and also of all coordinated personalities. Because criticism is a potent factor in swinging mental and emotional substance into activity and so making strong impress upon the brain cells and working out into words. Because in a sudden burst of critical thought, the entire personality can be galvanized into a potent coordination, but of a wrong kind and with disastrous results. Because criticism being a faculty of the lower mind can hurt and wound and no man can proceed upon the Way as long as wounds are made and pain is knowingly given. Because the work of white magic and the carrying out of hierarchical purpose meets with basic hindrances in the relations existing between its workers and disciples. In the pressure of the present opportunity there is no time for criticism to exist between workers. They hinder each other and they hinder the work.
|
Không phê phán là yêu cầu thứ ba. Tôi sẽ nói gì về điều đó? Tại sao nó được xem là một yêu cầu thiết yếu đến thế? Vì phê phán, tức phân tích và do đó là tính chia rẽ, là đặc điểm nổi bật của các loại người trí tuệ, cũng như của mọi phàm ngã đã được phối hợp. Vì phê phán là một yếu tố mạnh mẽ trong việc đưa chất liệu cõi trí và cảm xúc vào hoạt động, do đó tạo ấn tượng mạnh lên các tế bào não và biểu lộ thành lời nói. Vì trong một cơn bùng phát đột ngột của tư tưởng phê phán, toàn bộ phàm ngã có thể được kích hoạt vào một sự phối hợp mạnh mẽ, nhưng thuộc loại sai lầm và với những kết quả tai hại. Vì phê phán, là một quan năng của hạ trí, có thể làm tổn thương và gây đau đớn; và không ai có thể tiến bước trên Đường Đạo chừng nào các vết thương còn được tạo ra và nỗi đau còn được cố ý trao cho. Vì công việc của Chánh Thuật và việc thực hiện mục đích của Thánh Đoàn gặp những chướng ngại căn bản trong các mối quan hệ hiện hữu giữa những người hoạt động và các đệ tử của nó. Dưới áp lực của cơ hội hiện tại, không có thời gian cho sự phê phán tồn tại giữa những người hoạt động. Họ cản trở lẫn nhau và cản trở công việc.
|
|
I have upon me at this time a sense of urgency. I urge upon all those who read these Instructions to forget their likes and their dislikes and to overlook the personality [561] hindrances which inevitably exist in themselves and in all who work upon the physical plane, handicapped by the personality. I urge upon all workers the remembrance that the day of opportunity is with us and that it has its term. This present type of opportunity will not last forever. The pettiness of the human frictions, the failures to understand each other, the little faults which have their roots in personality and which are, after all, ephemeral, the ambitions and illusions must all go. If the workers would practise detachment, knowing that the Law works and that God’s purposes must come to an ultimate conclusion and if they would learn never to criticize in thought or word, the salvaging of the world would proceed apace and the new age of love and illumination would be ushered in.
|
Vào lúc này, tôi mang trong mình một cảm thức cấp bách. Tôi thúc giục tất cả những ai đọc các Huấn thị này hãy quên đi những điều mình ưa thích và không ưa thích, và hãy bỏ qua những chướng ngại thuộc phàm ngã [561] vốn tất yếu tồn tại trong chính họ và trong tất cả những ai làm việc trên cõi hồng trần, bị phàm ngã làm hạn chế. Tôi thúc giục tất cả những người hoạt động nhớ rằng ngày cơ hội đang ở cùng chúng ta và rằng nó có kỳ hạn của nó. Loại cơ hội hiện tại này sẽ không kéo dài mãi mãi. Sự nhỏ nhen của những va chạm nhân loại, những thất bại trong việc thấu hiểu lẫn nhau, những lỗi nhỏ có gốc rễ trong phàm ngã và xét cho cùng chỉ là phù du, các tham vọng và ảo tưởng, tất cả đều phải ra đi. Nếu những người hoạt động thực hành sự tách rời, biết rằng Định luật vận hành và các mục đích của Thượng đế phải đi đến kết luận tối hậu; và nếu họ học cách không bao giờ phê phán trong tư tưởng hay lời nói, thì việc cứu vãn thế giới sẽ tiến hành nhanh chóng và kỷ nguyên mới của tình thương và sự soi sáng sẽ được mở ra.
|
|
We are now going to consider the pranas, and I would here quote some paragraphs from The Light of the Soul which give a description of these pranas. We find in Book II, Sutra 39 that there are five aspects of prana, [569] functioning through and, therefore, constituting the total etheric or vital body.
|
Giờ đây chúng ta sẽ xét đến các prana, và ở đây tôi muốn trích dẫn vài đoạn từ Ánh Sáng của Linh Hồn vốn mô tả các prana này. Chúng ta thấy trong Quyển hai, Kinh ba mươi chín rằng có năm phương diện của prana, [569] hoạt động xuyên qua và do đó cấu thành toàn bộ thể dĩ thái hay thể sinh lực.
|
|
“Prana is fivefold in its manifestations, thus corresponding to the five states of mind, the fifth principle, and to the five modifications of the thinking principle. Prana in the solar system works out as the five great states of energy which we call planes, the medium of consciousness….The five differentiations of prana in the human body are:
|
“Prana là ngũ phân trong các biểu hiện của nó, như vậy tương ứng với năm trạng thái của thể trí, nguyên khí thứ năm, và với năm biến thái của nguyên khí tư duy. Prana trong hệ mặt trời biểu lộ thành năm trạng thái năng lượng lớn mà chúng ta gọi là các cõi, tức trung gian của tâm thức… Năm biến phân của prana trong thân thể con người là:
|
|
“1. Prana, extending from the nose to the heart and having special relation to the mouth and speech, the heart and lungs.
|
“1. Prana, trải dài từ mũi đến tim và có liên hệ đặc biệt với miệng và lời nói, tim và phổi.
|
|
“2. Samana extends from the heart to the solar plexus; it concerns food and the nourishing of the body through the medium of food and drink and has special relation to the stomach.
|
“2. Samana trải dài từ tim đến tùng thái dương; nó liên quan đến thực phẩm và việc nuôi dưỡng thân thể qua trung gian thức ăn và thức uống, và có liên hệ đặc biệt với dạ dày.
|
|
“3. Apana controls from the solar plexus to the soles of the feet; it concerns the organs of elimination, of rejection and of birth, thus having special relation to the organs of generation and of elimination.
|
“3. Apana kiểm soát từ tùng thái dương đến lòng bàn chân; nó liên quan đến các cơ quan bài tiết, thải bỏ và sinh sản, do đó có liên hệ đặc biệt với các cơ quan sinh dục và bài tiết.
|
|
“4. Udana is found between the nose and the top of the head; it has a special relation to the brain, the nose and the eyes, and when properly controlled produces the coordination of the vital airs and their correct handling.
|
“4. Udana được tìm thấy giữa mũi và đỉnh đầu; nó có liên hệ đặc biệt với bộ não, mũi và mắt, và khi được kiểm soát đúng đắn, nó tạo ra sự phối hợp của các sinh khí và sự vận dụng đúng đắn chúng.
|
|
“5. Vyana is the term applied to the sum total of pranic energy as it is distributed evenly throughout the entire body. Its instruments are the thousands of nadis or nerves found in the body, and it has a peculiar definite connection with the blood channels, the veins and arteries.” (Pp. 329-330.)
|
“5. Vyana là thuật ngữ áp dụng cho tổng số năng lượng prana khi nó được phân phối đều khắp toàn thân. Các khí cụ của nó là hàng nghìn kinh mạch hay dây thần kinh trong thân thể, và nó có một mối liên hệ xác định đặc biệt với các mạch máu, tĩnh mạch và động mạch.” (tr. 329-330.)
|
|
“The etheric body is the force or vital body and it permeates every part of the dense vehicle. It is the background, the true substance of the physical body. According to the nature of the force animating the etheric body, according to the activity of that force in the etheric body, according to the aliveness or the sluggishness of the most important parts of the etheric body (the centers up the spine) so will be the corresponding activity of the physical body. Similarly and symbolically, according to the wholeness of the breathing apparatus, and according to the ability of that apparatus to oxygenate and render pure the blood, so will be the health or wholeness of the dense physical body.” (pp. 218-219.)
|
“Thể dĩ thái là thể mãnh lực hay thể sinh lực, và nó thấm nhập mọi phần của hiện thể đậm đặc. Nó là nền tảng, chất liệu chân thật của thể xác. Tùy theo bản chất của mãnh lực linh hoạt thể dĩ thái, tùy theo hoạt động của mãnh lực ấy trong thể dĩ thái, tùy theo sức sống hay sự trì trệ của những phần quan trọng nhất của thể dĩ thái, tức các trung tâm dọc cột sống, thì hoạt động tương ứng của thể xác cũng sẽ như vậy. Tương tự và theo nghĩa biểu tượng, tùy theo sự toàn vẹn của bộ máy hô hấp, và tùy theo khả năng của bộ máy ấy trong việc bổ sung oxy và làm tinh sạch máu, thì sức khỏe hay sự toàn vẹn của thể xác đậm đặc cũng sẽ như vậy.” (tr. 218-219.)
|
|
[570]
|
[570]
|
|
We find it also stated that the forces which make up the vital body or the various pranas of which it is constructed emanate:
|
Chúng ta cũng thấy được nêu rằng các mãnh lực tạo nên thể sinh lực, hay các prana khác nhau mà từ đó nó được kiến tạo, xuất lộ:
|
|
“a. From the planetary aura. In this case it is planetary prana, and so concerns primarily the spleen and the health of the physical body.
|
“a. Từ hào quang hành tinh. Trong trường hợp này, đó là prana hành tinh, và vì thế chủ yếu liên quan đến lá lách và sức khỏe của thể xác.
|
|
“b. From the astral world via the astral body. This will be purely kamic or desire force and will affect primarily the centers below the diaphragm.
|
“b. Từ thế giới cảm dục qua thể cảm dục. Đây sẽ thuần túy là mãnh lực dục vọng và sẽ tác động chủ yếu lên các trung tâm bên dưới hoành cách mô.
|
|
“c. From the universal mind or manasic force. This will largely be thought force and will go to the throat center.
|
“c. Từ Vũ Trụ Trí hay mãnh lực manas. Điều này phần lớn sẽ là mãnh lực tư tưởng và sẽ đi đến trung tâm cổ họng.
|
|
“d. From the ego itself, stimulating primarily the head and heart centers.” (P. 220.)
|
“d. Từ chính chân ngã, chủ yếu kích thích các trung tâm đầu và tim.” (tr. 220.)
|
|
We read also that “most people receive force only from the physical and astral planes, but disciples receive force also from the mental and egoic levels.” Finally we read:
|
Chúng ta cũng đọc thấy rằng “đa số người chỉ nhận mãnh lực từ các cõi hồng trần và cảm dục, nhưng các đệ tử cũng nhận mãnh lực từ các cấp độ cõi trí và chân ngã.” Cuối cùng chúng ta đọc:
|
|
“It may help the student if he realizes that the right control of prana involves the recognition that energy is the sum total of existence and of manifestation, and that the three lower bodies are energy bodies, each forming a vehicle for the higher type of energy and being themselves transmitters of energy. The energies of the lower man are energies of the third aspect, the Holy Ghost or Brahma aspect. The energy of the spiritual man is that of the second aspect, the Christ force, or buddhi. The object of evolution in the human family is to bring this Christ force, the principle of buddhi, into full manifestation upon the physical plane and this through the utilization of the lower triple sheath.” (P. 227.)
|
“Điều này có thể giúp ích cho đạo sinh nếu y nhận ra rằng sự kiểm soát đúng đắn prana bao hàm việc nhận biết rằng năng lượng là tổng số của sự hiện hữu và biểu hiện, và rằng ba thể thấp là các thể năng lượng, mỗi thể tạo thành một vận cụ cho loại năng lượng cao hơn và chính chúng cũng là các bộ truyền năng lượng. Các năng lượng của phàm nhân là các năng lượng của phương diện thứ ba, phương diện Chúa Thánh Thần hay phương diện Brahma. Năng lượng của con người tinh thần là năng lượng của phương diện thứ hai, mãnh lực Đức Christ, hay Bồ đề. Mục tiêu của tiến hoá trong gia đình nhân loại là đưa mãnh lực Đức Christ này, nguyên khí Bồ đề, vào sự biểu hiện trọn vẹn trên cõi hồng trần, và điều này thông qua việc sử dụng lớp vỏ tam phân thấp.” (tr. 227.)
|
|
This gives a general picture of the subject of our consideration and gives us the elementary facts upon which all our thoughts must be based. It becomes apparent, therefore, as we study the above that the aspirant has three things to do:
|
Điều này đem lại một bức tranh tổng quát về chủ đề chúng ta đang xét, và trao cho chúng ta những sự kiện sơ đẳng mà mọi tư tưởng của chúng ta phải dựa vào. Do đó, khi nghiên cứu những điều trên, rõ ràng người chí nguyện có ba việc phải làm:
|
|
First, he has to learn the nature of the energies or [571] pranas which have brought his magical creation, the physical body, into manifestation and which keep it in such a condition that he can or cannot rapidly achieve the spiritual objective of his soul. This lesson involves:
|
Trước hết, y phải học bản chất của các năng lượng hay [571] prana đã đưa tạo vật huyền thuật của y, tức thể xác, vào biểu hiện, và giữ nó trong một tình trạng khiến y có thể hoặc không thể nhanh chóng đạt được mục tiêu tinh thần của linh hồn mình. Bài học này bao hàm:
|
|
a. Arriving at a knowledge of those forces which are peculiarly potent in his life and which seem to direct his activities. This will bring to him the knowledge as to which centers of his etheric body are awakened and which are dormant. This all aspirants have to grasp before they really can apply themselves to the real training for discipleship.
|
a. Đạt tới sự hiểu biết về những mãnh lực đặc biệt mạnh mẽ trong đời sống của y và dường như điều khiển các hoạt động của y. Điều này sẽ đem đến cho y tri thức về những trung tâm nào trong thể dĩ thái của y đã thức tỉnh và những trung tâm nào còn ngủ yên. Tất cả những người chí nguyện phải nắm vững điều này trước khi họ thật sự có thể chuyên tâm vào việc huấn luyện đích thực cho địa vị đệ tử.
|
|
b. Grasping the relation between these forces of nature which he has appropriated for his own use and which constitute the sum total of his personal, mental, sentient and vital energies, and those same forces as they are found in the natural world and govern the manifestation of the Macrocosm.
|
b. Nắm bắt mối liên hệ giữa các mãnh lực thiên nhiên này, mà y đã chiếm dụng cho mục đích riêng của mình và tạo thành tổng số các năng lượng cá nhân, trí tuệ, cảm giác và sinh lực của y, với chính những mãnh lực ấy khi chúng được tìm thấy trong thế giới tự nhiên và chi phối sự biểu hiện của Đại thiên địa.
|
|
c. Learning to work with these energies in an intelligent manner in order to bring about three happenings:
|
c. Học cách làm việc với các năng lượng này một cách thông minh nhằm đem lại ba sự việc:
|
|
An harmonious cooperation with his own solar Angel, so that solar force may impose its rhythm upon the lunar forces.
|
Một sự hợp tác hài hòa với Thái dương Thiên Thần của chính y, để mãnh lực thái dương có thể áp đặt nhịp điệu của nó lên các mãnh lực thái âm.
|
|
An intelligent response to and affiliation with the group of World Servers who at any given time have undertaken the work of directing, by the power of their thought, the forces of nature and so leading the whole creative body forward along the line of divine intent.
|
Một sự đáp ứng thông minh và sự liên kết với nhóm những Người Phụng Sự Thế Gian, những người vào bất cứ thời điểm nào đã đảm nhận công việc điều khiển, bằng quyền năng tư tưởng của họ, các mãnh lực của thiên nhiên, và như thế dẫn toàn bộ tập hợp sự sống sáng tạo tiến tới theo đường lối của ý định thiêng liêng.
|
|
The production on the physical plane of a personality adequate for its creative task and capable of those forms of activity, emanating [572] from the mind, which will enable him to further the work of the directing agencies.
|
Sự tạo ra trên cõi hồng trần một phàm ngã thích hợp với nhiệm vụ sáng tạo của nó và có khả năng thực hiện những hình thức hoạt động, xuất lộ [572] từ thể trí, sẽ giúp y thúc đẩy công việc của các cơ quan điều khiển.
|
|
Second, learn to live as a soul and, therefore, free from identification with the body nature. This brings out three things:
|
Thứ hai, học sống như một linh hồn và do đó thoát khỏi sự đồng hoá với bản chất thân thể. Điều này làm nổi bật ba điều:
|
|
a. An ability to withdraw into the head consciousness and from that high place to direct the life of the personal self.
|
a. Khả năng rút vào tâm thức nơi đầu và từ nơi cao ấy điều khiển đời sống của cái tôi cá nhân.
|
|
b. The power to pass through the various centers in the body those universal forces and energies which are needed for world work. This has to be done consciously and in full awareness of the source from which they come, of the mode of their activity and of the purpose for which they must be used. This involves also the understanding of which force is related to a center. This consequently involves the necessity to develop the centers, to bring them into a state of potency and to harmonize them into a unified rhythm.
|
b. Quyền năng chuyển qua các trung tâm khác nhau trong thân thể những mãnh lực và năng lượng vũ trụ cần thiết cho công việc thế giới. Điều này phải được thực hiện một cách có ý thức và trong sự tỉnh biết đầy đủ về nguồn gốc mà chúng đến từ đó, phương thức hoạt động của chúng và mục đích mà vì đó chúng phải được sử dụng. Điều này cũng bao hàm sự thấu hiểu mãnh lực nào liên hệ với trung tâm nào. Do đó, điều này bao hàm nhu cầu phát triển các trung tâm, đưa chúng vào một trạng thái quyền năng và hòa điệu chúng thành một nhịp điệu hợp nhất.
|
|
c. The capacity, therefore, to work at will through the medium of any particular center. This is only possible when the soul can dwell as the Ruler on the “throne between the eyebrows” and when the Kundalini fire has been what is occultly called raised. This fire has to pass up through the spinal column and burn its way through the web which separates center from center on the “Golden Rod of Power.”
|
c. Do đó, năng lực làm việc theo ý chí qua trung gian bất kỳ trung tâm đặc thù nào. Điều này chỉ có thể xảy ra khi linh hồn có thể cư ngụ như Đấng Cai Quản trên “ngai giữa hai chân mày” và khi lửa hỏa xà đã được nâng lên, theo cách gọi huyền bí. Lửa này phải đi lên qua cột sống và đốt đường xuyên qua mạng lưới ngăn cách trung tâm này với trung tâm khác trên “Thần Trượng Vàng của Quyền Năng”.
|
|
Third, learn to study the reactions upon others of whatever energy he, through his personality, may be expressing, or which, if he be an initiate and, therefore, a conscious worker with the Plan, it may be his privilege to utilize or transmit. Through a close study of [573] his personal “effect” upon his fellowmen, as he lives amongst them, and as he thinks, speaks and acts, he learns the nature of that type of force which may flow through him. He can arrive, therefore, at an understanding of its type, its quality, its strength, and its speed. These four words warrant consideration and elucidation.
|
Thứ ba, học nghiên cứu các phản ứng nơi người khác đối với bất kỳ năng lượng nào mà y, qua phàm ngã của mình, có thể đang biểu lộ; hoặc năng lượng nào mà, nếu y là một điểm đạo đồ và do đó là một người hoạt động có ý thức với Thiên Cơ, y có đặc ân sử dụng hay truyền dẫn. Nhờ nghiên cứu sát sao [573] “tác động” cá nhân của mình lên đồng loại, khi y sống giữa họ, và khi y suy nghĩ, nói năng và hành động, y học được bản chất của loại mãnh lực có thể tuôn chảy qua y. Do đó y có thể đạt tới sự thấu hiểu về loại, phẩm tính, sức mạnh và tốc độ của nó. Bốn từ này đáng được xem xét và làm sáng tỏ.
|
|
A. The type of force as used by an aspirant will indicate to him its emanating source, and a study of it will begin to signify to him the Entity from which it has emanated. A knowledge of the type answers the question: Along what line of energy and upon what ray is this force to be found? A close watch upon this aspect of work will soon indicate to the aspirant:
|
A. Loại mãnh lực mà một người chí nguyện sử dụng sẽ chỉ cho y nguồn phát xuất của nó, và việc nghiên cứu nó sẽ bắt đầu biểu thị cho y Thực Thể mà từ đó nó đã xuất lộ. Tri thức về loại trả lời câu hỏi: Mãnh lực này được tìm thấy theo đường năng lượng nào và trên cung nào? Việc quan sát sát sao phương diện này của công việc sẽ sớm chỉ cho người chí nguyện:
|
|
1. upon what plane he himself may be working,
|
1. y có thể đang làm việc trên cõi nào,
|
|
2. the nature of his ray, egoic ray and personality ray. Only the initiate of the third degree can ascertain his monadic ray,
|
2. bản chất cung của y, cung chân ngã và cung phàm ngã của y. Chỉ điểm đạo đồ bậc ba mới có thể xác định cung chân thần của mình,
|
|
3. the particular tattva which may be involved,
|
3. tattva đặc thù có thể liên quan,
|
|
4. the center through which he may be transmitting the force.
|
4. trung tâm mà qua đó y có thể đang truyền dẫn mãnh lực.
|
|
It will be apparent, therefore, that a study of the types of energy is of practical usefulness and will tend to leave no part of the aspirant’s nature untouched. Think for a minute of the lessons which can be learned by the man who submits the energy used in verbal expression, for instance, to the scrutiny of the Inner Ruler and who—after talking or after joining in the give and take of daily life—asks himself the questions: What was the type of energy used by me in my speech today? What was the force that I expended in my contacts with my fellowmen? You ask me if I can illustrate this for you? Now let me attempt to do so and so make simple what is deemed so oft to be abstruse and difficult. Let the student inquire [574] of himself whether the position he held mentally and whether the words which he spoke on any particular occasion were prompted by a desire to impose his will upon his hearers. This imposition of his will could be either right or wrong. When right, it would mean that he was speaking under the impulse of his spiritual will, that his words would be in line with soul purpose and intent and would be governed by love and, therefore, would be constructive, helpful and healing. His attitude would be one of detachment and he would have no desire to take prisoner the mind of his brother. But if his words were prompted by self-will and by the desire to impose his ideas upon other people and so to shine in their presence, or to force them to agree with his conclusions, his method would then be destructive, dominating, aggressive, argumentative, forceful, rude or irritable, according to his personality trends and inclinations. This would indicate the right or the wrong use of first ray force.
|
Do đó, điều hiển nhiên là việc nghiên cứu các loại năng lượng có ích dụng thực tiễn và sẽ có khuynh hướng không để phần nào trong bản chất của người chí nguyện không được chạm tới. Hãy suy nghĩ trong một phút về những bài học mà con người có thể học được khi y đặt năng lượng được dùng trong sự diễn đạt bằng lời nói, chẳng hạn, dưới sự soi xét của Đấng Cai Quản Bên Trong, và sau khi nói chuyện hoặc sau khi tham gia vào sự trao đổi qua lại của đời sống hằng ngày, y tự hỏi: Hôm nay, trong lời nói của tôi, tôi đã dùng loại năng lượng nào? Mãnh lực nào tôi đã tiêu hao trong các tiếp xúc với đồng loại? Các bạn hỏi tôi liệu tôi có thể minh họa điều này cho các bạn không? Bây giờ, hãy để tôi thử làm điều đó, và nhờ vậy làm cho đơn giản điều thường bị xem là trừu tượng và khó hiểu. Hãy để đạo sinh tự hỏi [574] chính mình xem lập trường mà y giữ trong trí và những lời y nói ra trong một dịp đặc biệt nào đó có được thúc đẩy bởi một ham muốn áp đặt ý chí của y lên người nghe hay không. Sự áp đặt ý chí này có thể đúng hoặc sai. Khi đúng, điều đó có nghĩa là y đang nói dưới xung động của ý chí tinh thần của mình, rằng lời nói của y sẽ phù hợp với mục đích và ý định của linh hồn, và sẽ được chi phối bởi bác ái; do đó, chúng sẽ có tính xây dựng, hữu ích và chữa lành. Thái độ của y sẽ là tách rời, và y sẽ không có ham muốn giam giữ thể trí của huynh đệ mình. Nhưng nếu lời nói của y được thúc đẩy bởi ý chí cá nhân và bởi ham muốn áp đặt các ý tưởng của y lên người khác, để nhờ đó tỏa sáng trước mặt họ, hoặc buộc họ đồng ý với các kết luận của y, thì phương pháp của y khi ấy sẽ có tính phá hoại, thống trị, công kích, tranh biện, cưỡng bách, thô lỗ hoặc cáu kỉnh, tùy theo các khuynh hướng và thiên hướng của phàm ngã y. Điều này sẽ cho thấy việc sử dụng đúng hay sai mãnh lực cung một.
|
|
Should the type of force he wields be that of the second ray, he can submit it to a similar analysis. He will then find it to be based on group love, service and compassion, or upon a selfish longing to be liked, on sentiment and on attachment. His words will indicate this to him if he will closely study them. Similarly, if he is using third ray force, in a personal manner, he will be devious in his propositions, subtle and elusive in his arguments, using manipulation in his relations with his fellowmen, or be an interfering busybody, actively engaged in running the world, in managing other people’s lives for them, or in grasping so firmly the reins of government in his own self-interest that he will sacrifice everything and everybody in the work of furthering his own busy ends. If he is, however, a true disciple and aspirant, he will work with the Plan and will wield third ray force to bring about the loving purposes of the spiritual Reality. He will be busy and active and his word will carry [575] truth, and will lead to the helping of others, for they will be detached and true.
|
Nếu loại mãnh lực mà y vận dụng là mãnh lực cung hai, y có thể đặt nó dưới một sự phân tích tương tự. Khi ấy y sẽ thấy nó được đặt nền trên bác ái nhóm, phụng sự và lòng từ bi, hoặc trên một nỗi khao khát ích kỷ muốn được yêu thích, trên cảm tính và sự quyến luyến. Lời nói của y sẽ cho y thấy điều này nếu y chịu nghiên cứu chúng một cách kỹ lưỡng. Tương tự, nếu y đang dùng mãnh lực cung ba theo một cách cá nhân, y sẽ quanh co trong các đề nghị của mình, tinh vi và lẩn tránh trong các lập luận, dùng sự thao túng trong các quan hệ với đồng loại, hoặc trở thành một kẻ bận rộn hay can thiệp, tích cực lo điều hành thế giới, quản lý đời sống của người khác thay cho họ, hoặc nắm chặt dây cương cai quản vì quyền lợi riêng đến mức y sẽ hy sinh mọi sự và mọi người trong công việc thúc đẩy các mục tiêu bận rộn của riêng mình. Tuy nhiên, nếu y là một đệ tử và người chí nguyện chân chính, y sẽ làm việc với Thiên Cơ và sẽ vận dụng mãnh lực cung ba để đem lại các mục đích bác ái của Thực Tại tinh thần. Y sẽ bận rộn và năng động, và lời nói của y sẽ mang [575] chân lý, đồng thời sẽ dẫn đến việc giúp đỡ người khác, vì chúng sẽ tách rời và chân thật.
|
|
The Use of the Hands
|
Việc Sử Dụng Bàn Tay
|
|
It is of value here when we are dealing with the wielding of force to give a little information anent the use of the hands in such work. One of the Masters has said, “It is but with armed hand and ready either to conquer or perish that the modern mystic can hope to achieve his object.” I intend to speak a few words about the hands, for there is more occult teaching hidden in these words than is apparent on the surface.
|
Ở đây, khi chúng ta đang bàn đến việc vận dụng mãnh lực, sẽ hữu ích nếu đưa ra một ít thông tin về việc sử dụng bàn tay trong công việc như thế. Một trong các Chân sư đã nói: “Chỉ với bàn tay được trang bị và sẵn sàng hoặc chinh phục hoặc diệt vong, nhà thần bí hiện đại mới có thể hy vọng đạt được mục tiêu của mình.” Tôi dự định nói vài lời về đôi tay, vì trong những lời này có nhiều giáo huấn huyền bí ẩn giấu hơn điều có thể thấy trên bề mặt.
|
|
In one of the old books, available for the instruction of disciples these words are found:
|
Trong một trong các sách cổ, hiện có để giáo huấn các đệ tử, có những lời sau:
|
|
“The armed hand is an empty hand and this protects its possessor from the accusations of his enemies. It is a hand freed from the taint of the four symbolic evils—gold, lust, the dagger, and the finger of enticement.”
|
“Bàn tay được trang bị là bàn tay trống không, và điều này bảo vệ người sở hữu nó khỏi những lời cáo buộc của kẻ thù. Đó là bàn tay đã được giải thoát khỏi vết nhơ của bốn điều ác biểu tượng: vàng, dục vọng, dao găm và ngón tay cám dỗ.”
|
|
These words are most significant, and it might be well to study briefly the type of hands and their quality which are distinctive of disciples. In all forms of esoteric teaching the hands play a great part and this for four reasons:
|
Những lời này có ý nghĩa sâu xa nhất, và có lẽ nên nghiên cứu ngắn gọn loại bàn tay và phẩm tính của chúng, vốn là nét đặc trưng của các đệ tử. Trong mọi hình thức giáo huấn huyền bí, đôi tay giữ một vai trò lớn lao, và điều này vì bốn lý do:
|
|
1. They are the symbol of acquisitiveness.
|
1. Chúng là biểu tượng của tính chiếm hữu.
|
|
2. They are centres of force
|
2. Chúng là các trung tâm mãnh lực.
|
|
3. They are wielders of the sword.
|
3. Chúng là những khí cụ vận dụng thanh gươm.
|
|
4. They are, when employed unselfishly
|
4. Khi được sử dụng một cách vô ngã, chúng là:
|
|
a. Instruments of healing.
|
a. Các công cụ chữa lành.
|
|
b. Agencies whereby certain keys are turned.
|
b. Các tác nhân nhờ đó một số chìa khóa được xoay.
|
|
Viewing them as symbols of acquisitiveness it must be remembered that in the average man they are employed to “grasp and to hold” and to acquire that which the man wants for himself and for the satisfaction of his selfish desire. In spiritual man, the hands are still symbols of acquisitiveness but he only grasps that which [576] is needed for the helping of the group and releases at once towards that end that which he has thus acquired. The initiate holds nothing for himself; the saviour of the race may utilise all that is laid up in the divine storehouse but not for himself, only for those he seeks to help.
|
Khi xem chúng như biểu tượng của tính chiếm hữu, cần nhớ rằng nơi con người trung bình, chúng được dùng để “nắm lấy và giữ lại”, và để chiếm hữu điều mà con người muốn cho chính mình và để thỏa mãn ham muốn ích kỷ của mình. Nơi con người tinh thần, đôi tay vẫn là biểu tượng của tính chiếm hữu, nhưng y chỉ nắm lấy điều [576] cần thiết để giúp đỡ nhóm, và lập tức phóng thích về mục đích đó điều mà y đã có được như thế. Điểm đạo đồ không giữ gì cho chính mình; vị cứu tinh của nhân loại có thể sử dụng tất cả những gì được cất giữ trong kho tàng thiêng liêng, nhưng không vì chính mình, mà chỉ vì những người y tìm cách giúp đỡ.
|
|
As centres of force the hands play a most potent part, and one that is little understood. It is an occult fact that the hands of a disciple (once he has acquired that acquisitiveness which is based on unselfish group work) become transmitters of spiritual energy. The “laying on of hands” is no idle phrase nor confined solely to the operations of the episcopate of any faith. The occult laying on of hands can be studied in four aspects:
|
Là các trung tâm mãnh lực, đôi tay giữ một vai trò mạnh mẽ nhất, nhưng ít được thấu hiểu. Một sự thật huyền bí là đôi tay của một đệ tử, một khi y đã đạt được tính chiếm hữu đặt nền trên công việc nhóm vô ngã, sẽ trở thành các bộ truyền dẫn năng lượng tinh thần. “Đặt tay lên” không phải là một cụm từ rỗng tuếch, cũng không chỉ giới hạn trong các nghi thức của hàng giám mục thuộc bất cứ tín ngưỡng nào. Việc đặt tay huyền bí có thể được nghiên cứu theo bốn phương diện:
|
|
1. In healing. In this case the force which flows through the hands comes from a dual source and via two etheric centres, the spleen and the heart.
|
1. Trong chữa lành. Trong trường hợp này, mãnh lực tuôn chảy qua đôi tay đến từ một nguồn kép và đi qua hai trung tâm dĩ thái: lá lách và tim.
|
|
2. In the stimulation of any specific centre. The energy employed in this case comes from the base of the spine, and the throat, and must be accompanied by appropriate words.
|
2. Trong việc kích thích bất cứ trung tâm đặc biệt nào. Năng lượng được dùng trong trường hợp này đến từ đáy cột sống và trung tâm cổ họng, và phải đi kèm với những lời thích hợp.
|
|
3. In the work of linking a man up with his ego. The force used here must be received from three etheric centres, the solar plexus, the heart, and the centre between the eyebrows.
|
3. Trong công việc liên kết một người với chân ngã của y. Mãnh lực được dùng ở đây phải được tiếp nhận từ ba trung tâm dĩ thái: tùng thái dương, tim và trung tâm giữa hai chân mày.
|
|
4. In group work. Here energy is utilised emanating from the ego, via the head centre, the throat centre and the base of the spine.
|
4. Trong công việc nhóm. Ở đây, năng lượng phát xuất từ chân ngã được sử dụng, qua trung tâm đầu, trung tâm cổ họng và đáy cột sống.
|
|
It will be apparent therefore that the Science of the Hands is a very real one and the disciple has to learn the nature of the forces in the different centres, how to transmit and unify them and then by an act of the will how to pass them outward through the chakras in the hands. The hands do their work either directly, or through the projection of a steady flow once the blended currents have been tapped, or indirectly, or by manipulation. Through [577] a knowledge of the law a disciple can not only utilise the current flowing through the centres of his own body, but can also combine them with the planetary or cosmic currents to be found in his environment. This is done unconsciously frequently by speakers who magnetically use the hands to any extent and the effects as seen by a clairvoyant are often amazing. When this work is done consciously a most potent factor is added to the equipment of any chela.
|
Do đó, điều hiển nhiên là Khoa Học về Đôi Tay là một khoa học rất thực, và đệ tử phải học bản chất của các mãnh lực trong những trung tâm khác nhau, cách truyền dẫn và hợp nhất chúng, rồi bằng một hành vi của ý chí, cách đưa chúng ra ngoài qua các luân xa trong đôi tay. Đôi tay thực hiện công việc của chúng hoặc trực tiếp, hoặc qua sự phóng chiếu một dòng chảy đều đặn một khi các luồng đã hòa trộn được khai thông, hoặc gián tiếp, hoặc bằng sự thao tác. Nhờ [577] tri thức về định luật, một đệ tử không chỉ có thể sử dụng dòng chảy qua các trung tâm của chính thân thể mình, mà còn có thể kết hợp chúng với các dòng hành tinh hoặc vũ trụ có trong môi trường của y. Điều này thường được thực hiện một cách vô thức bởi những diễn giả sử dụng đôi tay một cách từ tính ở một mức độ nào đó, và các hiệu quả, khi được một nhà thông nhãn nhìn thấy, thường rất đáng kinh ngạc. Khi công việc này được thực hiện một cách có ý thức, một yếu tố mạnh mẽ nhất được thêm vào trang bị của bất cứ đệ tử nào.
|
|
In this connection it must be borne in mind that the matter is a very abstruse one and that certain ray forces pass along the line of least resistance from left to right and others from right to left. Certain centres transmit their energies via the right hand and others via the left. Much knowledge is therefore required in order to work scientifically.
|
Trong mối liên hệ này, cần ghi nhớ rằng vấn đề này rất trừu tượng, và một số mãnh lực cung đi theo con đường ít trở ngại nhất từ trái sang phải, còn những mãnh lực khác từ phải sang trái. Một số trung tâm truyền dẫn năng lượng của chúng qua bàn tay phải, và những trung tâm khác qua bàn tay trái. Vì vậy, cần có nhiều tri thức để làm việc một cách khoa học.
|
|
I have no time to take up in detail the meaning of the hands as they wield the sword, save to point out that the sword as a symbol stands for many things:
|
Tôi không có thời gian bàn chi tiết về ý nghĩa của đôi tay khi chúng vận dụng thanh gươm, ngoại trừ chỉ ra rằng thanh gươm, với tư cách là một biểu tượng, tượng trưng cho nhiều điều:
|
|
1. The sharp, two-edged sword is the discriminative faculty which reaches to the roots of the chela’s being and separates the real and true from the false and impermanent. It is wielded by the ego from the mental plane and is spoken of as the “Sword of cold blue steel.”
|
1. Thanh gươm sắc bén hai lưỡi là năng lực phân biện, vươn tới tận gốc rễ bản thể của đệ tử và tách điều thực và chân thật ra khỏi điều giả dối và vô thường. Nó được chân ngã vận dụng từ cõi trí, và được nói đến như “Thanh gươm bằng thép xanh lạnh”.
|
|
2. The sword of renunciation, or that double-bladed axe which the chela willingly applies to anything he considers as likely to hold him back from his goal. It is applied primarily to the things of the physical plane.
|
2. Thanh gươm của sự từ bỏ, hay chiếc rìu hai lưỡi mà đệ tử sẵn lòng áp vào bất cứ điều gì y xem là có thể giữ y lại khỏi mục tiêu. Nó được áp dụng chủ yếu vào các sự vật thuộc cõi hồng trần.
|
|
3. The sword of the Spirit is that weapon which in the hands of the disciple cuts down before the eyes of the group he is serving the obstacles which stand in the way of group progress. It is only wielded safely by those who have trained their arms to [578] wield the other swords and in the hands of an initiate is a most potent factor.
|
3. Thanh gươm của Tinh thần là vũ khí mà trong tay đệ tử, nó chặt đứt trước mắt nhóm mà y đang phụng sự những chướng ngại cản đường sự tiến bộ của nhóm. Nó chỉ được vận dụng an toàn bởi những người đã rèn luyện cánh tay mình để [578] vận dụng các thanh gươm khác, và trong tay một điểm đạo đồ, nó là một yếu tố mạnh mẽ nhất.
|
|
The Old Commentary to which reference has been oft times made says:
|
Cổ Luận, vốn đã nhiều lần được nhắc đến, nói rằng:
|
|
“The steel is needed for the transmission of the fire. When the force of the inner man is coupled with the energy transmitted through the chakras of the palms, it passeth down the shining blade and blendeth with the force of the One Who is the ALL. Thus is the Plan consumated.”
|
“Thép cần thiết cho việc truyền dẫn lửa. Khi mãnh lực của con người bên trong được kết hợp với năng lượng được truyền qua các luân xa trong lòng bàn tay, nó đi xuống theo lưỡi sáng chói và hòa nhập với mãnh lực của Đấng là TẤT CẢ. Nhờ vậy, Thiên Cơ được hoàn thành.”
|
|
And thus it might be added is the energy of the unit augmented by the force of the greater Whole.
|
Và như thế, có thể thêm rằng năng lượng của đơn vị được gia tăng bởi mãnh lực của Toàn Thể lớn lao hơn.
|
|
It is said in the occult books and likewise in The Secret Doctrine that all initiates must be healers; therefore, that all initiates use the palms of the hands in the work of healing. Only those therefore, who have wielded the sword dare lay the sword down and stand with empty hands, uplifted in blessing. Only the “armed hand” can safely be used in the work of salvation; only those who have “taken the kingdom of Heaven by force” and who are occultly known as the “Violent Ones” can take the heavenly supply and use it in the work of healing. This should be carefully borne in mind. The true healing force can only flow through those who in some degree either directly (by right of initiation or of advanced discipleship) or indirectly as being used on the inner side by some adept or advanced healer, are linked with the hierarchy. A man should know his status before he can rightly heal. This does not apply to those healers who are unconscious workers, being powerful transmitters of prana or solar vitality. Their name is legion and they do much good even though at times the energy they transmit serves to stimulate wrongly.
|
Trong các sách huyền bí, cũng như trong Giáo Lý Bí Nhiệm, có nói rằng mọi điểm đạo đồ đều phải là những người chữa lành; do đó, mọi điểm đạo đồ đều sử dụng lòng bàn tay trong công việc chữa lành. Vì vậy, chỉ những ai đã vận dụng thanh gươm mới dám đặt thanh gươm xuống và đứng với đôi tay trống không, giơ lên trong sự ban phước. Chỉ “bàn tay được trang bị” mới có thể được sử dụng an toàn trong công việc cứu độ; chỉ những ai đã “chiếm lấy Thiên Giới bằng mãnh lực” và được huyền bí học gọi là “Những Đấng Mãnh Liệt” mới có thể nhận lấy nguồn cung ứng thiên thượng và dùng nó trong công việc chữa lành. Điều này cần được ghi nhớ cẩn thận. Mãnh lực chữa lành chân chính chỉ có thể tuôn chảy qua những người, ở một mức độ nào đó, hoặc trực tiếp do quyền điểm đạo hoặc địa vị đệ tử tiến cao, hoặc gián tiếp vì được một chân sư hay một nhà chữa lành tiến cao sử dụng ở nội giới, có liên kết với Thánh đoàn. Một người phải biết địa vị của mình trước khi y có thể chữa lành đúng đắn. Điều này không áp dụng cho những nhà chữa lành là người hoạt động vô thức, vốn là các bộ truyền dẫn mạnh mẽ của prana hay sinh lực thái dương. Họ đông vô số, và họ làm được nhiều điều tốt, dù đôi khi năng lượng họ truyền dẫn lại kích thích sai lầm.
|
|
As regards the use of the hands in turning keys I will simply give a hint. Only those hands can turn the key in the door of initiation who have learnt the art of the [579] centres”, the significance of the hands in service, the wielding of the swords, and the four positions in which the hands are held in group service.
|
Về việc dùng tay để xoay các chìa khóa, tôi chỉ đơn giản đưa ra một gợi ý. Chỉ những bàn tay nào đã học được nghệ thuật của các [579] trung tâm, thâm nghĩa của đôi tay trong phụng sự, việc vận dụng các thanh gươm, và bốn vị thế trong đó đôi tay được giữ trong phụng sự nhóm, mới có thể xoay chìa khóa nơi cánh cửa điểm đạo.
|
|
Study, therefore, the type of force which you usually wield; know along what line of ray energy it comes and so arrive at a truer knowledge of yourself and of your own inner capacities, and ascertain likewise what types of energy you may lack and how your equipment can be duly rounded out.
|
Vì vậy, hãy nghiên cứu loại mãnh lực mà các bạn thường vận dụng; hãy biết nó đến theo tuyến năng lượng cung nào, và nhờ đó đạt đến một tri thức chân thật hơn về chính mình và về các năng lực bên trong của mình; đồng thời hãy xác định những loại năng lượng nào các bạn có thể còn thiếu, và cách trang bị của các bạn có thể được làm cho tròn đầy đúng mức.
|
|
B. The quality of the force used is necessarily dependent upon the ray from which it may emanate. You ask me to differentiate between the words type and quality. I would say that the type of force indicates the life aspect, whilst the quality indicates the consciousness aspect, and that both of them are aspects of the entity or the being who is the embodiment of a ray. The type will manifest primarily through what we might call dynamic direction and through its power to produce an effect. This has, of course, to be coupled to right quality and skill in action. The quality will be indicated more by its power of attractive approach. It has in it more of the magnetic aspect than the type has. Students can arrive at the quality of the force they may be using by noticing what they attract to themselves, both in circumstances, in people, and in the reactions which people show to what the student may say or do. In the type there is a preponderance of the will aspect, in the quality the desire aspect is primarily to be found. It is profoundly true that according to a man’s desires so will be the forms of life which he will, like a magnet, attract to himself.
|
B. Phẩm tính của mãnh lực được dùng tất nhiên tùy thuộc vào cung mà từ đó nó có thể phát xuất. Các bạn yêu cầu tôi phân biệt giữa hai từ loại và phẩm tính. Tôi muốn nói rằng loại mãnh lực chỉ phương diện sự sống, trong khi phẩm tính chỉ phương diện tâm thức, và cả hai đều là các phương diện của thực thể hay hữu thể vốn là hiện thân của một cung. Loại sẽ biểu lộ chủ yếu qua điều mà chúng ta có thể gọi là sự định hướng năng động và qua quyền năng của nó trong việc tạo ra một hiệu quả. Dĩ nhiên, điều này phải được kết hợp với phẩm tính đúng đắn và kỹ năng trong hành động. Phẩm tính sẽ được biểu thị nhiều hơn bởi quyền năng tiếp cận có sức thu hút của nó. Trong nó có nhiều phương diện từ tính hơn so với loại. Các đạo sinh có thể đi đến phẩm tính của mãnh lực mà họ có thể đang sử dụng bằng cách quan sát những gì họ thu hút về phía mình, cả trong hoàn cảnh, nơi con người, và trong các phản ứng mà người khác biểu lộ trước điều đạo sinh có thể nói hoặc làm. Trong loại có sự vượt trội của phương diện ý chí; trong phẩm tính, phương diện ham muốn được thấy trước hết. Điều hết sức đúng là tùy theo các ham muốn của một người mà các hình tướng sự sống sẽ, như một nam châm, được y thu hút về phía mình.
|
|
C. The strength of a particular force brings us back to the Rule we are studying, for it involves in itself the factor of true persistence, and we have earlier seen that the emergence into functioning life and activity of any form is dependent upon the persistent attention of its [580] creator. Energy can be used dynamically or steadily and the effects of these two modes of the application of energy differ. One is primarily used in destructive work, and this is the dynamic method. There are, for instance, certain dynamic words of power which, when employed by the Creative Destroyers, bring about the destruction of forms. With these, however, aspirants have naught to do. Their important work is to learn the meaning of persistence and of strength. It is literally a time-persistence, and strength is beyond all other things the power to endure, to hold out, to stand steady, and to go forward undeterred. Study, therefore, most carefully the types dynamic, the quality magnetic, and the strength persistent of the forces which constitute your equipment. When you can wield, either destructively or constructively, either selfishly or selflessly, or in line with the Plan Universal, or the plan selfish and personal then you will work consciously and will knowingly tread the right or the left hand path.
|
C. Sức mạnh của một mãnh lực đặc thù đưa chúng ta trở lại với Quy Luật mà chúng ta đang nghiên cứu, vì trong chính nó có bao hàm yếu tố kiên trì chân thật, và trước đây chúng ta đã thấy rằng sự xuất hiện vào đời sống hoạt động và vận hành của bất cứ hình tướng nào đều tùy thuộc vào sự chú tâm bền bỉ của [580] đấng tạo ra nó. Năng lượng có thể được dùng một cách năng động hoặc đều đặn, và các hiệu quả của hai phương thức áp dụng năng lượng này khác nhau. Một phương thức được dùng chủ yếu trong công việc phá hủy, và đó là phương pháp năng động. Chẳng hạn, có một số Quyền năng từ năng động, khi được các Đấng Hủy Diệt Sáng Tạo sử dụng, sẽ đem lại sự hủy diệt các hình tướng. Tuy nhiên, những điều này không liên quan gì đến người chí nguyện. Công việc quan trọng của họ là học ý nghĩa của sự kiên trì và của sức mạnh. Theo nghĩa đen, đó là sự kiên trì theo thời gian, và trên hết mọi sự, sức mạnh là quyền năng chịu đựng, bền bỉ, đứng vững và tiến tới không nao núng. Vì vậy, hãy nghiên cứu một cách cẩn thận nhất loại năng động, phẩm tính từ tính, và sức mạnh bền bỉ của các mãnh lực cấu thành trang bị của các bạn. Khi các bạn có thể vận dụng, hoặc theo cách phá hoại hoặc xây dựng, hoặc ích kỷ hoặc vô ngã, hoặc phù hợp với Thiên Cơ Vũ Trụ, hoặc theo kế hoạch ích kỷ và cá nhân, khi ấy các bạn sẽ làm việc một cách có ý thức và sẽ bước đi một cách hiểu biết trên chánh đạo hoặc tả đạo.
|
|
D. The speed of the force used is dependent upon these three previous factors. Speed in this sense has no essential relation to time, though it is hard to find another word to use in the place of speed. It relates to the world of effects as they emanate from the world of causes. It has, perhaps, essentially a relation to truth, for the truer an impulse is and the clearer the understanding of the subjective purpose, so will the right direction and the impact of the force, follow automatically. Perhaps speed would be more correctly translated by the words “correct direction”, for where there is correct direction, true orientation, exact understanding of purpose and recognition of the type of force required, then there is an instantaneous effect. When the soul has registered the desired quality and possesses the strength of the Timeless One and the persistence of the One Who is from the beginning, the process of force expression and the relation [581] between cause and effect is spontaneous and simultaneous, and not sequential. This can scarcely be understood by those who have not yet the consciousness of the eternal Now. But this spontaneous and simultaneous effect is the clue to the entire magical work and in these four words—type, quality, strength and speed—the story of the work of a White Magician is told. But more I dare not give and it is not permitted to me to speak more clearly. Few are yet fitted to be magicians and few (perhaps fortunately) have as yet all the seven centres awakened so that they can work freely on the seven planes and with the seven types of the seven ray energies.
|
D. Tốc độ của mãnh lực được dùng tùy thuộc vào ba yếu tố trước đó. Tốc độ theo nghĩa này không có liên hệ cốt yếu với thời gian, mặc dù khó tìm một từ khác để dùng thay cho tốc độ. Nó liên quan đến thế giới các hiệu quả khi chúng phát xuất từ thế giới các nguyên nhân. Có lẽ, về bản chất, nó liên hệ với chân lý, vì một xung động càng chân thật và sự thấu hiểu mục đích chủ quan càng rõ ràng, thì hướng đi đúng và tác động của mãnh lực sẽ tự động theo sau. Có lẽ “tốc độ” sẽ được chuyển dịch chính xác hơn bằng các từ “hướng đi đúng”, vì nơi nào có hướng đi đúng, sự định hướng chân thật, sự thấu hiểu chính xác về mục đích và sự nhận biết loại mãnh lực cần thiết, thì nơi đó có hiệu quả tức thì. Khi linh hồn đã ghi nhận phẩm tính mong muốn và sở hữu sức mạnh của Đấng Vô Thời Gian cùng sự kiên trì của Đấng có từ ban đầu, thì tiến trình biểu lộ mãnh lực và mối liên hệ [581] giữa nguyên nhân và hiệu quả là tự phát và đồng thời, chứ không theo trình tự. Điều này hầu như không thể được thấu hiểu bởi những người chưa có tâm thức của Hiện Tại Vĩnh Cửu. Nhưng hiệu quả tự phát và đồng thời này là chìa khóa cho toàn bộ công việc huyền thuật, và trong bốn từ này: loại, phẩm tính, sức mạnh và tốc độ, câu chuyện về công việc của một nhà huyền thuật chánh đạo được kể lại. Nhưng tôi không dám trao thêm, và tôi không được phép nói rõ hơn. Ít người hiện nay đủ thích hợp để trở thành nhà huyền thuật, và ít người, có lẽ may thay, đã có đủ cả bảy trung tâm thức tỉnh để họ có thể làm việc tự do trên bảy cõi và với bảy loại năng lượng của bảy cung.
|
|
I would point out that these four aspects of energy can be studied by the aspirant in his own nature. On the physical plane he is apparently the initiating cause and as he works with these energies they will call forth a response and a reaction from those who feel the impact of them and who demonstrate their effect. It is true, therefore, is it not, that we work and live in a world of forces? We need no distant field or special domain in which to live and learn and work, for we dwell in a world of force and energy; we are ourselves constituted of force or energy units; and we wield force, knowingly or unknowingly, throughout the twenty-four hours of the day. The field of our occult training is the field of the world and the world of our peculiar circumstances and environment.
|
Tôi muốn chỉ ra rằng bốn phương diện năng lượng này có thể được người chí nguyện nghiên cứu trong chính bản chất của y. Trên cõi hồng trần, y dường như là nguyên nhân khởi phát, và khi y làm việc với các năng lượng này, chúng sẽ gợi lên một đáp ứng và một phản ứng từ những người cảm nhận tác động của chúng và biểu lộ hiệu quả của chúng. Do đó, có đúng chăng rằng chúng ta làm việc và sống trong một thế giới các mãnh lực? Chúng ta không cần một lĩnh vực xa xôi hay một phạm vi đặc biệt nào để sống, học hỏi và làm việc, vì chúng ta cư ngụ trong một thế giới của mãnh lực và năng lượng; chính chúng ta được cấu thành từ các đơn vị mãnh lực hay năng lượng; và chúng ta vận dụng mãnh lực, dù biết hay không biết, suốt hai mươi bốn giờ mỗi ngày. Lĩnh vực huấn luyện huyền bí của chúng ta là lĩnh vực của thế giới, và là thế giới của các hoàn cảnh cùng môi trường đặc thù của chúng ta.
|
|
Speaking more technically and therefore warranting the use of the word Instructions in connection with this treatise for aspirants and disciples, it must be carefully borne in mind that the main task of the aspirant is the handling of energies, both in himself and in the world of physical phenomena and externalisation. This consequently involves an understanding of the centres and of their awakening. But understanding must come first, and the awakening at a much later date in the sequence of time. This awakening will fall into two stages:
|
Nói một cách kỹ thuật hơn, và do đó biện minh cho việc dùng từ Giáo Huấn liên quan đến khảo luận này dành cho người chí nguyện và đệ tử, cần ghi nhớ cẩn thận rằng nhiệm vụ chính của người chí nguyện là xử lý các năng lượng, cả trong chính y lẫn trong thế giới của các hiện tượng hồng trần và sự ngoại hiện. Vì vậy, điều này bao hàm sự thấu hiểu các trung tâm và sự thức tỉnh của chúng. Nhưng sự thấu hiểu phải đến trước, còn sự thức tỉnh đến muộn hơn nhiều trong trình tự thời gian. Sự thức tỉnh này sẽ rơi vào hai giai đoạn:
|
|
First, there is the stage wherein, by the practice of a disciplined life and by the purification of the thought life, the seven centres are automatically brought into a right condition of rhythm, vitality and vibratory activity. This stage involves no danger and there is no directed thought—in connection with the centres—permitted to the aspirant. By that I mean he is not allowed to concentrate his mind upon any one centre, nor may he seek to awaken or energise them. He must remain engrossed with the [588] problem of purifying the bodies in which the centres are found, which are primarily the astral, etheric and physical bodies, remembering ever that the endocrine system and the seven major glands, in particular, are the effectual externalisations of the seven major centres. In this stage, the aspirant is working all around the centres and is dealing with their environing matter and with the living substance which completely surrounds them. This is all that can be safely undertaken by the majority, and it is with this stage that the bulk of the aspirants in the world today are engaged and with which they must remain engaged for a long time to come.
|
Trước hết, có giai đoạn trong đó, nhờ thực hành một đời sống có kỷ luật và nhờ thanh lọc đời sống tư tưởng, bảy trung tâm tự động được đưa vào một trạng thái đúng đắn về nhịp điệu, sinh lực và hoạt động rung động. Giai đoạn này không hàm chứa nguy hiểm nào, và người chí nguyện không được phép có tư tưởng định hướng — liên quan đến các trung tâm. Nói như vậy, tôi muốn nói rằng y không được phép tập trung thể trí vào bất cứ một trung tâm nào, cũng không được tìm cách đánh thức hay tiếp sinh lực cho chúng. Y phải tiếp tục chuyên chú vào vấn đề [588] thanh lọc các thể trong đó các trung tâm được tìm thấy, mà chủ yếu là thể cảm dục, thể dĩ thái và thể xác, luôn nhớ rằng hệ nội tiết và, đặc biệt, bảy tuyến chính là những ngoại hiện hữu hiệu của bảy trung tâm chính. Trong giai đoạn này, người chí nguyện làm việc chung quanh các trung tâm và đang xử lý vật chất bao quanh chúng cũng như chất liệu sống hoàn toàn vây quanh chúng. Đây là tất cả những gì đa số người có thể đảm nhận một cách an toàn, và chính với giai đoạn này mà phần lớn những người chí nguyện trên thế giới hiện nay đang bận tâm, và họ phải còn tiếp tục bận tâm trong một thời gian dài sắp tới.
|
|
Secondly, there is the stage wherein the centres, through the effective work of the earlier stage, become what is esoterically called “released within the prison house”; they can now become the subject (under proper direction by a teacher) of definite methods of awakening and of charging, —the methods differing according to the ray, personality and egoic, of the aspirant. Hence the difficulty of the subject and the impossibility of giving general and blanket rules.
|
Thứ hai, có giai đoạn trong đó các trung tâm, nhờ công việc hữu hiệu của giai đoạn trước, trở thành cái mà một cách huyền bí được gọi là “được giải phóng trong nhà tù”; bấy giờ chúng có thể trở thành đối tượng, dưới sự hướng dẫn đúng đắn của một huấn sư, của những phương pháp đánh thức và nạp năng lượng xác định — các phương pháp khác nhau tùy theo cung, cung phàm ngã và cung chân ngã của người chí nguyện. Do đó có sự khó khăn của vấn đề và sự bất khả trong việc đưa ra những quy luật tổng quát, bao trùm.
|
|
It is interesting here to note, even though it has no bearing on the matter of personal training, that this method, first of a long period of purification and later of energising scientifically, is the one employed by the guiding hierarchy which stands behind world affairs. Steadily They have been working at the task of clarifying world matter, and bringing about world purification on a large scale. This is the first stage of the work and only became generally possible when man became a more truly thinking entity, during the past few centuries, on a wide level. This purification is going on now in all departments of human existence, for humanity now stands, or rather three-fifths of it stands, on the path of probation. Through welfare and uplift movements and the wide spread of sanitation, the work goes forward [589] on the physical plane; through political upheavals which reveal abuses; through economic discontent which is after all a striving to change that which is undesirable so as to give the human unit conditions of living which will lead to thought and from thought to soul control; through religious propaganda and the efforts of the many organisations and groups throughout the world which hold before the minds of men what I might symbolically call “the hope of Heaven” (using the word “Heaven” as a symbol of perfection and of purity), the work of this stage is going steadily forward. So successful has it been that now the filth and impurities which surround the world soul and which keep humanity from its true expression are known and recognised and there is consequently a steady drive towards betterment. All has been brought to the surface, and the result seems appalling and uncontrollable to those who only see the surface. But underneath, the deep river of purity and truth is flowing strong.
|
Ở đây, điều đáng lưu ý, dù không liên quan đến vấn đề huấn luyện cá nhân, là phương pháp này — trước hết là một thời kỳ dài thanh lọc, rồi sau đó là tiếp sinh lực một cách khoa học — chính là phương pháp được Thánh đoàn hướng dẫn, đứng phía sau các sự vụ thế giới, sử dụng. Các Ngài đã bền bỉ làm việc trong nhiệm vụ làm trong sạch vật chất thế giới, và đem lại sự thanh lọc thế giới trên quy mô rộng lớn. Đây là giai đoạn thứ nhất của công việc, và chỉ trở nên khả hữu một cách phổ quát khi con người, trong vài thế kỷ qua, trở thành một thực thể tư duy chân thật hơn trên bình diện rộng. Sự thanh lọc này hiện đang diễn ra trong mọi lĩnh vực của đời sống nhân loại, vì nhân loại hiện nay đứng, hay đúng hơn ba phần năm nhân loại đứng, trên Con Đường Dự Bị. Qua các phong trào phúc lợi và nâng cao đời sống, cùng sự lan rộng của vệ sinh công cộng, công việc tiến tới [589] trên cõi hồng trần; qua những biến động chính trị phơi bày các lạm dụng; qua sự bất mãn kinh tế, rốt cuộc là một nỗ lực nhằm thay đổi những gì không đáng mong muốn để đem lại cho đơn vị nhân loại những điều kiện sống dẫn đến tư tưởng, và từ tư tưởng đến sự kiểm soát của linh hồn; qua tuyên truyền tôn giáo và các nỗ lực của nhiều tổ chức, đoàn thể trên khắp thế giới, vốn đặt trước thể trí của con người điều mà tôi có thể gọi một cách biểu tượng là “niềm hy vọng về Thiên Đàng”, dùng từ “Thiên Đàng” như một biểu tượng của sự hoàn thiện và thanh khiết, công việc của giai đoạn này đang đều đặn tiến tới. Nó đã thành công đến mức hiện nay những dơ bẩn và bất tịnh bao quanh linh hồn thế giới, và ngăn cản nhân loại biểu lộ chân thật, đều được biết đến và nhận ra; do đó có một sức thúc đẩy bền bỉ hướng tới sự cải thiện. Tất cả đã được đưa lên bề mặt, và kết quả có vẻ kinh hoàng, không thể kiểm soát đối với những ai chỉ thấy bề mặt. Nhưng bên dưới, dòng sông sâu của sự thanh khiết và chân lý đang tuôn chảy mạnh mẽ.
|
|
One evidence of the success of the world movement towards pure living and the destruction of that which hinders is that the work of the second stage is now in process of initiation. The hierarchy, for the first time in world history, can now work directly with the centres in the body of humanity. Thus we have now the formation of the new Group of World Workers, who, in their totality throughout the world, constitute the heart centre and the “centre between the eyebrows” of the etheric body of the human family. Through the one, spiritual life can begin to flow in and vitalise all the centres, and through the other, the vision can be seen and the inner worlds sensed and known.
|
Một bằng chứng về sự thành công của phong trào thế giới hướng tới đời sống thanh khiết và sự hủy diệt những gì cản trở là công việc của giai đoạn thứ hai hiện đang bắt đầu tiến trình khai mở. Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, Thánh đoàn nay có thể làm việc trực tiếp với các trung tâm trong thân thể nhân loại. Vì thế hiện nay chúng ta có sự hình thành của Đoàn Người Hoạt Động Mới của Thế Gian, mà trong toàn thể trên khắp thế giới, họ tạo thành trung tâm tim và “trung tâm giữa hai chân mày” của thể dĩ thái của gia đình nhân loại. Qua trung tâm này, sự sống tinh thần có thể bắt đầu tuôn vào và tiếp sinh lực cho tất cả các trung tâm; và qua trung tâm kia, tầm nhìn có thể được thấy, còn các cõi bên trong có thể được cảm nhận và nhận biết.
|
|
I would here like to point out two other matters, and so clarify the entire situation. There is much confusion on the subject of the centres and much erroneous teaching [590] leading many astray and causing a great deal of misapprehension.
|
Ở đây tôi muốn chỉ ra hai vấn đề khác, và nhờ vậy làm sáng tỏ toàn bộ tình thế. Có nhiều nhầm lẫn về chủ đề các trung tâm, và nhiều giáo huấn sai lạc [590] đang dẫn nhiều người lạc đường, gây nên rất nhiều hiểu lầm.
|
|
First, I would state that no work such as an effort to awaken the centres should ever be undertaken whilst the aspirant is aware of definite impurities in his life, or when the physical body is in poor condition or is diseased. Neither should it be undertaken when the pressure of external circumstances is such that there is no place or opportunity for quiet and uninterrupted work. It is essential that for the immediate and focussed work on the centres there should be the possibility of hours of seclusion and of freedom from interruption. This I cannot too strongly emphasise, and I do so in order to demonstrate to the eager student that at this period of our history there are few whose lives permit of this seclusion. This is however a most beneficent circumstance and not one to be deplored. Only one in a thousand aspirants is at the stage where he should begin to work with the energy in his centres and perhaps even this estimate is too optimistic. Better far that the aspirant serves and loves and works and disciplines himself, leaving his centres to develop and unfold more slowly and therefore more safely. Unfold they inevitably will and the slower and safer method is (in the vast majority of cases) the more rapid. Premature unfoldment involves much loss of time, and carries with it often the seeds of prolonged trouble.
|
Trước hết, tôi xin nói rằng không bao giờ nên thực hiện bất cứ công việc nào như nỗ lực đánh thức các trung tâm khi người chí nguyện còn nhận biết những bất tịnh rõ rệt trong đời sống của mình, hoặc khi thể xác ở trong tình trạng kém hay đang bệnh. Cũng không nên thực hiện điều đó khi áp lực của hoàn cảnh bên ngoài đến mức không có nơi chốn hay cơ hội cho công việc yên tĩnh, không bị gián đoạn. Điều thiết yếu là đối với công việc trực tiếp và tập trung trên các trung tâm, phải có khả năng dành nhiều giờ ẩn cư và thoát khỏi sự quấy nhiễu. Dù tôi nhấn mạnh điều này đến đâu cũng không phải là quá mức, và tôi làm như vậy để cho đạo sinh nhiệt thành thấy rằng, trong thời kỳ lịch sử hiện nay của chúng ta, chỉ có ít người mà đời sống cho phép sự ẩn cư này. Tuy nhiên, đây là một hoàn cảnh hết sức có lợi, chứ không phải điều đáng than tiếc. Chỉ một trong một nghìn người chí nguyện đang ở giai đoạn mà y nên bắt đầu làm việc với năng lượng trong các trung tâm của mình, và có lẽ ngay cả ước lượng này cũng còn quá lạc quan. Tốt hơn rất nhiều là người chí nguyện phụng sự, yêu thương, làm việc và tự rèn luyện kỷ luật, để các trung tâm của y phát triển và khai mở chậm hơn, và do đó an toàn hơn. Chúng tất yếu sẽ khai mở, và phương pháp chậm hơn, an toàn hơn, trong đại đa số trường hợp, lại là phương pháp nhanh hơn. Sự khai mở non sớm kéo theo nhiều mất mát thời gian, và thường mang trong nó những mầm mống của rắc rối kéo dài.
|
|
Over-stimulation of the brain cells is necessarily one of the results of the merging, by an act of will, of the fires which circulate in the human body. Such stimulation can produce insanity and the breaking down of the cellular structure of the brain, and through the over-activity of the cell life can also induce that internal friction between them which will eventuate in brain tumors and abscesses. This cannot be too strongly reiterated.
|
Sự kích thích quá độ các tế bào não tất yếu là một trong các kết quả của việc, bằng một hành vi của ý chí, hòa nhập các lửa lưu chuyển trong thân thể con người. Sự kích thích như thế có thể tạo ra điên loạn và sự suy sụp cấu trúc tế bào của bộ não, và qua hoạt động quá mức của đời sống tế bào cũng có thể gây ra sự ma sát nội tại giữa chúng, cuối cùng dẫn đến các khối u và áp-xe trong não. Dù nhắc lại điều này mạnh mẽ đến đâu cũng không phải là quá mức.
|
|
The underlying objective in all laya yoga work (or [591] work with the centres) is based upon the fact that the energy of the cells which compose the body or the matter aspect (called in The Secret Doctrine, and in A Treatise on Cosmic Fire, “fire by friction”) must be blended with the fire of consciousness. This latter is the energy, present in matter yet different from the fire of matter itself, which underlies the entire nervous system and because it so underlies it produces sensitivity and awareness. It is the cause of response to contact and confers the ability to register and record impression, as you well know. This fire is technically called “solar fire”, and when it blends with the fire of matter and with the “electric fire” of the highest divine aspect, then man’s being comes into its fullest manifestation and the great work is completed. But it is a most dangerous undertaking, when induced before the mechanism is ready to deal with it.
|
Mục tiêu nền tảng trong mọi công việc laya yoga, hay [591] công việc với các trung tâm, dựa trên sự kiện rằng năng lượng của các tế bào cấu thành thân thể, hay phương diện vật chất, được gọi trong Giáo Lý Bí Nhiệm và trong Luận về Lửa Vũ Trụ, là “lửa ma sát”, phải được hòa trộn với lửa của tâm thức. Loại lửa sau này là năng lượng hiện diện trong vật chất nhưng khác với lửa của chính vật chất; nó nằm dưới toàn bộ hệ thần kinh, và vì nằm dưới như thế nên tạo ra sự nhạy cảm và nhận biết. Nó là nguyên nhân của sự đáp ứng với tiếp xúc và ban cho khả năng ghi nhận, ghi lại ấn tượng, như các bạn đều biết rõ. Lửa này về mặt kỹ thuật được gọi là “Lửa Thái dương”, và khi nó hòa trộn với lửa của vật chất và với “Lửa Điện” của phương diện thiêng liêng cao nhất, bấy giờ bản thể của con người đi vào sự biểu hiện đầy đủ nhất của nó, và công trình vĩ đại được hoàn tất. Nhưng đó là một việc làm hết sức nguy hiểm khi được khơi dậy trước khi bộ máy sẵn sàng xử lý nó.
|
|
This triple blending can only be safely undertaken by the highly organised and rounded-out person, and by one who has achieved the capacity to focus his attention in the head and from that high point direct the entire process of fusion. It involves the ability to withdraw the consciousness literally into the etheric body and yet at the same time to preserve—in full awareness—a point of contact in the head, and from that point direct the automaton, the physical body. It presupposes, if successful, certain etheric conditions in the body. One of these is the process of burning through or destruction (partial or complete) of any obstructions found along the spinal cord which could prevent the free rising of the fire at the base of the spine, commonly called the kundalini fire, which lies quiescent, latent and potential in the lowest centre. This is “the sleeping serpent which must arise and uncoil”.
|
Sự hòa trộn tam phân này chỉ có thể được đảm nhận một cách an toàn bởi người đã được tổ chức cao và phát triển trọn vẹn, và bởi người đã đạt được khả năng tập trung sự chú ý của mình trong đầu, rồi từ điểm cao ấy điều khiển toàn bộ tiến trình dung hợp. Nó đòi hỏi khả năng rút tâm thức theo nghĩa đen vào thể dĩ thái, nhưng đồng thời vẫn duy trì, trong nhận biết đầy đủ, một điểm tiếp xúc trong đầu, và từ điểm ấy điều khiển cái máy tự động là thể xác. Nếu thành công, nó giả định một số điều kiện dĩ thái nhất định trong thân thể. Một trong những điều kiện này là tiến trình thiêu xuyên qua hoặc hủy diệt, từng phần hay toàn phần, mọi chướng ngại được tìm thấy dọc theo tủy sống, vốn có thể ngăn cản sự vươn lên tự do của lửa ở đáy cột sống, thường được gọi là lửa hỏa xà, vốn nằm yên, tiềm tàng và còn trong trạng thái khả hữu tại trung tâm thấp nhất. Đây là “con rắn ngủ phải trỗi dậy và tháo cuộn”.
|
|
Each centre in the spine is separated from the one above it and the one below it by an interlaced protective [592] web which is composed of a curious blend of etheric and gaseous substance. This has to be burnt away and dissipated before there can be the free play of the fires of the body. A complete network of nadis and centres underlies and is the subtle counterpart of the nervous and endocrine systems. A little clear thinking therefore will demonstrate the need for excessive care, for there will obviously be a direct effect upon the external apparatus and this in its turn will definitely affect what the psychologists call “behaviour”. There are four of these interlaced circular “webs” lying between the five centres found on the rod of the spinal column, such as follows: 0/0/0/0/0, and three are to be found in the head. These three bisect the head, and form a series of crosses, as follows:
|
Mỗi trung tâm trong cột sống được tách khỏi trung tâm ở trên nó và trung tâm ở dưới nó bằng một màng bảo vệ [592] đan xen, cấu thành từ một sự pha trộn kỳ lạ giữa chất liệu dĩ thái và chất khí. Màng này phải được thiêu rụi và làm tiêu tan trước khi các lửa của thân thể có thể hoạt động tự do. Một mạng lưới hoàn chỉnh gồm các tuyến vi tế và các trung tâm nằm bên dưới, và là đối phần tinh tế của hệ thần kinh và hệ nội tiết. Vì vậy, chỉ cần suy nghĩ sáng suốt đôi chút cũng sẽ cho thấy nhu cầu phải hết sức cẩn trọng, vì hiển nhiên sẽ có một tác động trực tiếp lên bộ máy bên ngoài, và đến lượt nó, điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến điều các nhà tâm lý học gọi là “hành vi”. Có bốn “màng” tròn đan xen như thế nằm giữa năm trung tâm được tìm thấy trên trục của cột sống, như sau: 0/0/0/0/0, và ba màng được tìm thấy trong đầu. Ba màng này chia đôi đầu và tạo thành một loạt thập giá, như sau:
|
|
This is much like the cross upon the Union Jack, which has always had an esoteric significance for the student, and indicates a point in racial evolution. This cross in the head separates the ajna centre (the centre between the eyebrows) from the head centre, for it lies behind that centre in the forehead, and at the same time forms a protective shield between the ajna and throat centres.
|
Điều này rất giống thập giá trên quốc kỳ Anh, vốn luôn có một thâm nghĩa huyền bí đối với đạo sinh, và chỉ ra một điểm trong sự tiến hoá của nhân loại. Thập giá này trong đầu tách trung tâm ajna, tức trung tâm giữa hai chân mày, khỏi trung tâm đầu, vì nó nằm phía sau trung tâm ấy trong vùng trán, đồng thời tạo thành một tấm chắn bảo vệ giữa trung tâm ajna và trung tâm cổ họng.
|
|
These etheric webs are in reality disks, rotating or revolving at specific rates, which differ for the different centres, and according to the point in evolution of the system of centres concerned. Only when these webs are burnt away by the ascending and descending fires can the true centres really be seen. Many clairvoyants confuse the centres and their protective counterparts, for the latter have a radiance and light of their own.
|
Các màng dĩ thái này thực ra là những đĩa, xoay hay quay ở những tốc độ riêng biệt, khác nhau đối với các trung tâm khác nhau, và tùy theo điểm tiến hoá của hệ thống trung tâm liên quan. Chỉ khi các màng này bị thiêu rụi bởi các lửa đi lên và đi xuống thì các trung tâm chân thật mới thực sự có thể được thấy. Nhiều nhà thông nhãn lẫn lộn các trung tâm với các đối phần bảo vệ của chúng, vì những đối phần sau có ánh rạng và ánh sáng riêng.
|
|
As the life achieves an increasingly high vibration through purification and discipline, the fire of the soul, which is literally the fire of mind, causes the centres also to increase their vibration, and this increased activity sets up a contact with the protective “webs”, or disks of pranic energy found on either side of them. Thus, [593] through the interplay, they are gradually worn away, so that in the course of time they become perforated, if I might use such an inadequate term. Many aspirants feel convinced that they have raised the kundalini fire at the base of the spine and are consequently making rapid progress, whereas all that they have accomplished is to burn or “rub through” the web at some point or other up the spine. A sensation of burning or of pain in any part of the spine, when not due to physiological causes, is, in the majority of cases, due to the piercing of one or other of the webs, through the activity of the centres allied to them. This happens very frequently in the case of women in connection with the solar plexus centre, and with men in connection with the sacral centre. Both these centres—as a result of evolutionary development—are exceedingly active and highly organised, for they are the expression of the physical creative nature and of the emotional body. A sense therefore of burning and of pain in the back indicates usually undue activity in a centre, which produces destructive results upon the protective apparatus, and is no true indication of spiritual unfoldment and superiority. It may indicate the latter, but it should be remembered that, where there is true spiritual growth, pain and danger are in this connection practically eliminated.
|
Khi đời sống đạt được một rung động ngày càng cao hơn nhờ thanh lọc và kỷ luật, lửa của linh hồn, theo nghĩa đen là lửa của trí tuệ, cũng khiến các trung tâm gia tăng rung động của chúng; và hoạt động gia tăng này thiết lập một tiếp xúc với các “màng” bảo vệ, hay các đĩa năng lượng prana, được tìm thấy ở hai phía của chúng. Như vậy, [593] qua sự tương tác, chúng dần dần bị mài mòn, đến nỗi theo thời gian chúng trở nên bị xuyên thủng, nếu tôi có thể dùng một từ ngữ không thỏa đáng như thế. Nhiều người chí nguyện tin chắc rằng họ đã nâng lửa hỏa xà ở đáy cột sống lên và vì thế đang tiến bộ nhanh chóng, trong khi tất cả những gì họ đã làm được chỉ là thiêu hay “chà xuyên qua” màng tại một điểm nào đó dọc theo cột sống. Một cảm giác nóng rát hay đau ở bất kỳ phần nào của cột sống, khi không do nguyên nhân sinh lý, trong đa số trường hợp là do sự xuyên thủng một trong các màng, bởi hoạt động của các trung tâm liên kết với chúng. Điều này xảy ra rất thường xuyên nơi phụ nữ liên quan đến trung tâm tùng thái dương, và nơi nam giới liên quan đến trung tâm xương cùng. Cả hai trung tâm này, do kết quả của sự phát triển tiến hoá, đều cực kỳ hoạt động và được tổ chức cao, vì chúng là biểu hiện của bản chất sáng tạo hồng trần và của thể cảm xúc. Do đó, cảm giác nóng rát và đau ở lưng thường chỉ ra hoạt động quá mức trong một trung tâm, tạo ra các kết quả phá hoại đối với bộ máy bảo vệ, và không phải là dấu hiệu chân thật của sự khai mở tinh thần hay tính ưu việt. Nó có thể chỉ ra điều sau, nhưng cần nhớ rằng nơi nào có sự tăng trưởng tinh thần chân thật, thì đau đớn và nguy hiểm trong mối liên hệ này hầu như bị loại trừ.
|
|
There has been much loose talk about the raising of the kundalini fire and much misapprehension in the matter. Let me assure you that it is most difficult to raise, and can only be done by a definite act of the will and through the intense mental focussing and concentrated attention of the man, seated on the throne of consciousness in the head. The Masonic tradition has the teaching clearly held in its beautiful ritual of the raising of the great Master-Mason. Only when there is united effort of a fivefold kind, and only after repeated failure, does the [594] vivifying life course through the entire body and bring to life the true man.
|
Đã có nhiều lời bàn lỏng lẻo về việc nâng lửa hỏa xà và nhiều hiểu lầm trong vấn đề này. Hãy để tôi bảo đảm với các bạn rằng nó cực kỳ khó nâng, và chỉ có thể được thực hiện bằng một hành vi xác định của ý chí, cũng như qua sự tập trung trí tuệ mãnh liệt và chú tâm cô đọng của con người, ngồi trên ngai của tâm thức trong đầu. Truyền thống Hội Tam Điểm đã giữ giáo huấn này một cách rõ ràng trong nghi lễ đẹp đẽ về sự nâng vị Đại Chân Sư Tam Điểm. Chỉ khi có nỗ lực hợp nhất thuộc loại ngũ phân, và chỉ sau nhiều lần thất bại lặp đi lặp lại, thì sự sống [594] tiếp sinh lực mới tuôn chảy qua toàn bộ thân thể và làm sống động con người chân thật.
|
|
The second point I would touch upon is that all this deeply esoteric work must only proceed under the direction of the skilled teacher. Platitudinously, the aspirant is told that “when the pupil is ready, the Master will appear”. He then settles comfortably back and waits, or focusses his attention upon an attempt to attract the attention of some Master, having apparently settled in his mind that he is ready or good enough. He naturally gives himself a spiritual prod at intervals, and attends spasmodically to the work of discipline and of purification. But steady and prolonged undeviating effort on the part of aspirants is rare indeed.
|
Điểm thứ hai tôi muốn đề cập là tất cả công việc huyền bí sâu xa này chỉ được tiến hành dưới sự hướng dẫn của huấn sư thiện xảo. Một cách sáo rỗng, người chí nguyện được bảo rằng “khi đệ tử sẵn sàng, Chân sư sẽ xuất hiện”. Rồi y thoải mái ngồi lại và chờ đợi, hoặc tập trung sự chú ý vào nỗ lực thu hút sự chú ý của một Chân sư nào đó, dường như đã quyết định trong trí mình rằng y đã sẵn sàng hay đủ tốt. Tự nhiên, thỉnh thoảng y thúc đẩy mình về mặt tinh thần, và chú ý thất thường đến công việc kỷ luật và thanh lọc. Nhưng nỗ lực bền bỉ, kéo dài, không lệch hướng của những người chí nguyện thật sự hiếm hoi.
|
|
It is indeed true that at the right moment the Master will appear, but the right moment is contingent upon certain self-induced conditions. When the process of purification has become a life-long habit, when the aspirant can at will concentrate his consciousness in the head, when the light in the head shines forth and the centres are active, then the Master will take the man in hand. In the meantime he may have a vision of the Master, or he may see a thought-form of the Master, and may get much real good and inspiration from contact with the reflected reality, but it is not the Master and does not indicate the stage of accepted discipleship. Through the medium of the light of the soul, the soul can be known. Therefore seek the light of your own soul, and know that soul as your director. When soul contact is established, your own soul will, if I may so express it, introduce you to your Master. With all due reverence again may I add, that the Master waits not with eagerness to make your acquaintance. In the world of souls, your soul and His soul are allied, and know essential unity. But in the world of human affairs and in the process of the great work it should be remembered that when a Master [595] takes an aspirant into His group of disciples, that aspirant is, for a long time, a liability and oft a hindrance. Students over-estimate themselves quite often, even when repudiating such an idea; subjectively they have a real liking for themselves and are frequently puzzled as to why the Great Ones give them no sign, nor indicate Their watching care. They will not and They need not until such time as the aspirant has used to the full the knowledge which he has gained from lesser teachers, and from books and printed scriptures of the world. Students must attend to the immediate duty and prepare their mechanisms for service in the world, and should desist from wasting time and looking for a Master; they should achieve mastery where now they are defeated and in the life of service and of struggle they may then reach the point of such complete self-forgetfulness that the Master may find no hindrance in His approach to them.
|
Quả thật, đúng là vào thời điểm thích hợp Chân sư sẽ xuất hiện, nhưng thời điểm thích hợp tùy thuộc vào một số điều kiện do chính mình tạo ra. Khi tiến trình thanh lọc đã trở thành một thói quen suốt đời, khi người chí nguyện có thể tùy ý tập trung tâm thức mình trong đầu, khi ánh sáng trong đầu tỏa ra và các trung tâm hoạt động, bấy giờ Chân sư sẽ nhận con người ấy vào tay. Trong lúc đó, y có thể có một linh ảnh về Chân sư, hoặc có thể thấy một hình tư tưởng của Chân sư, và có thể nhận được nhiều điều tốt đẹp chân thật cùng cảm hứng từ sự tiếp xúc với thực tại phản chiếu; nhưng đó không phải là Chân sư và không chỉ ra giai đoạn của địa vị đệ tử được chấp nhận. Qua trung gian ánh sáng của linh hồn, linh hồn có thể được nhận biết. Vì vậy hãy tìm ánh sáng của chính linh hồn các bạn, và nhận biết linh hồn ấy như vị hướng dẫn của các bạn. Khi sự tiếp xúc với linh hồn được thiết lập, chính linh hồn của các bạn, nếu tôi có thể diễn đạt như thế, sẽ giới thiệu các bạn với Chân sư của mình. Với tất cả lòng tôn kính, tôi lại có thể thêm rằng Chân sư không háo hức chờ đợi để làm quen với các bạn. Trong thế giới của các linh hồn, linh hồn các bạn và linh hồn của Ngài liên kết với nhau và biết sự hợp nhất thiết yếu. Nhưng trong thế giới sự vụ nhân loại và trong tiến trình của công trình vĩ đại, cần nhớ rằng khi một Chân sư [595] nhận một người chí nguyện vào nhóm đệ tử của Ngài, người chí nguyện ấy trong một thời gian dài là một gánh nặng, và thường là một trở ngại. Các đạo sinh rất thường đánh giá quá cao chính mình, ngay cả khi bác bỏ ý tưởng như thế; về mặt chủ quan, họ thật sự ưa thích chính mình và thường bối rối không hiểu vì sao Các Đấng Cao Cả không ban cho họ dấu hiệu nào, cũng không biểu thị sự chăm sóc dõi theo của Các Ngài. Các Ngài sẽ không làm và cũng không cần làm như thế, cho đến khi người chí nguyện đã sử dụng trọn vẹn tri thức mà y đã thu nhận từ các huấn sư cấp thấp hơn, từ sách vở và kinh điển in ấn của thế giới. Các đạo sinh phải chú tâm vào bổn phận trước mắt và chuẩn bị các bộ máy của mình cho phụng sự trong thế giới, và nên chấm dứt việc lãng phí thời gian để tìm kiếm một Chân sư; họ nên đạt quyền làm chủ ở nơi hiện nay họ đang bị đánh bại, và trong đời sống phụng sự cùng tranh đấu, bấy giờ họ có thể đạt tới điểm hoàn toàn quên mình đến mức Chân sư có thể không thấy trở ngại nào trong việc đến gần họ.
|
|
It will be apparent therefore from the above that I cannot give specific instructions as to the awakening of the centres and the burning of the etheric web which will result in the release of energy. Such information is too dangerous and too intriguing to be put in the hands of the general public, who are driven by desire for some new thing, and lack right poise and the needed mental development. The time has come however when the fact that there is an energy body underlying the nervous system must be recognized by the world at large, and when the nature of the seven centres, their structure and location should be grasped technically, and when the laws of their unfoldment should be widely known. But more than this cannot yet be safely given. The intricate nature of this science of the centres is too great for general usefulness. The teaching to be given in any particular case and the methods to be applied are dependent upon too many factors for a general rule and instruction to be given. The ray and type, the sex and point in [596] evolution must be considered and also the balance of the centres. By this I mean the consideration as to their over-development in one case and under development in another and as to whether there is a preponderance of the force below or above the diaphragm, or whether the main energy is concentrated in that central clearing house, the solar plexus. The quality and the brilliance of the light in the head has to be studied, for it indicates the measure of soul control and the relative purity of the vehicles, and the various etheric “webs” have to be carefully dealt with, and also the rate of vibration of the web and the centre. A synchronisation has to be set up and this is most difficult to bring about. These are only a few of the points that the teacher has to note, and it is apparent therefore that only a teacher who has achieved synthetic vision and can see a man “whole,” or as he really is, can give those instructions which will reverse the ancient rhythm of the centres, destroy without pain and danger the protective sheaths, and raise the kundalini fire from the base of the spine to the exit in the head.
|
Do đó, từ những điều trên sẽ rõ ràng rằng tôi không thể đưa ra các chỉ dẫn cụ thể về việc đánh thức các trung tâm và thiêu rụi màng dĩ thái, điều sẽ dẫn đến sự giải phóng năng lượng. Thông tin như thế quá nguy hiểm và quá hấp dẫn để đặt vào tay công chúng nói chung, những người bị thúc đẩy bởi ham muốn một điều mới mẻ nào đó, và thiếu sự thăng bằng đúng đắn cũng như sự phát triển trí tuệ cần thiết. Tuy nhiên, thời điểm đã đến khi sự kiện rằng có một thể năng lượng nằm dưới hệ thần kinh phải được thế giới nói chung công nhận, và khi bản chất của bảy trung tâm, cấu trúc và vị trí của chúng nên được nắm bắt về mặt kỹ thuật, cũng như khi các định luật chi phối sự khai mở của chúng nên được biết đến rộng rãi. Nhưng nhiều hơn thế thì hiện nay chưa thể được trao truyền một cách an toàn. Bản chất phức tạp của khoa học về các trung tâm này quá lớn đối với sự hữu ích phổ thông. Giáo huấn được trao trong bất kỳ trường hợp riêng nào và các phương pháp được áp dụng đều tùy thuộc vào quá nhiều yếu tố để có thể đưa ra một quy luật và chỉ dẫn tổng quát. Cung và loại, giới tính và điểm [596] tiến hoá phải được xem xét, cũng như sự cân bằng của các trung tâm. Bằng điều này, tôi muốn nói đến việc xem xét sự phát triển quá mức của chúng trong một trường hợp và sự kém phát triển trong một trường hợp khác, cũng như xem xét liệu có sự trội hơn của mãnh lực bên dưới hay bên trên cơ hoành, hoặc liệu năng lượng chính có tập trung trong trạm phân phối trung tâm ấy, tức tùng thái dương, hay không. Phẩm tính và độ rực rỡ của ánh sáng trong đầu phải được nghiên cứu, vì nó chỉ ra mức độ kiểm soát của linh hồn và sự thanh khiết tương đối của các hiện thể; và các “màng” dĩ thái khác nhau phải được xử lý cẩn thận, cũng như tốc độ rung động của màng và của trung tâm. Một sự đồng bộ phải được thiết lập, và điều này hết sức khó thực hiện. Đây chỉ là một vài điểm mà huấn sư phải lưu ý, và do đó rõ ràng rằng chỉ một huấn sư đã đạt được tầm nhìn tổng hợp và có thể thấy một con người “toàn vẹn”, hay như y thật sự là, mới có thể đưa ra những chỉ dẫn đảo ngược nhịp điệu cổ xưa của các trung tâm, phá hủy các lớp vỏ bảo vệ mà không gây đau đớn và nguy hiểm, và nâng lửa hỏa xà từ đáy cột sống lên đến lối thoát trong đầu.
|
|
Such teachers are found by the pupil when he has carried forward his life work under the direction of his soul, when he has grasped the theory of the science of the centres, and has mastered and controlled the astral nature and its corresponding centre, the solar plexus. The emphasis laid upon the dominance of the Christ principle by Christianity has laid a sure foundation for the work to be done. This truth is curiously substantiated in a study of the number “eight” in connection with the centres which, we are told, is the number of the Christ. There are eight centres if the spleen is counted, all of them are multiples of eight with the exception of the centre at the base of the spine which has four petals, one half of eight. In our day and in the Anglo Saxon mode of writing, the number eight is the basic symbol [597] of all the centres, for the petals are really in form like a number of superimposed eights. The word petal is purely pictorial and a centre is formed on this pattern. First, a circle, O; then two circles, touching each other and making therefore an 8. Then, as the petals increase in number, it is simply a growth of these double circles, superimposed at differing angles one upon another until we arrive at the thousand-petalled lotus in the head.
|
Những huấn sư như thế được đệ tử tìm thấy khi y đã tiến hành công việc đời mình dưới sự hướng dẫn của linh hồn mình, khi y đã nắm vững lý thuyết của khoa học về các trung tâm, và đã làm chủ, kiểm soát bản chất cảm dục cùng trung tâm tương ứng của nó là tùng thái dương. Sự nhấn mạnh mà Kitô giáo đặt lên quyền chủ trị của nguyên khí Đức Christ đã đặt một nền tảng chắc chắn cho công việc phải được thực hiện. Chân lý này được chứng thực một cách lạ lùng trong việc nghiên cứu con số “tám” liên quan đến các trung tâm, mà chúng ta được bảo rằng đó là con số của Đức Christ. Có tám trung tâm nếu tính cả lá lách; tất cả chúng đều là bội số của tám, ngoại trừ trung tâm ở đáy cột sống có bốn cánh hoa, tức một nửa của tám. Trong thời đại chúng ta và theo lối viết của người Anglo Saxon, con số tám là biểu tượng căn bản [597] của tất cả các trung tâm, vì các cánh hoa thật ra có hình dạng như nhiều số tám chồng lên nhau. Từ cánh hoa chỉ thuần túy mang tính hình ảnh, và một trung tâm được tạo thành theo mô hình này. Trước hết là một vòng tròn, O; rồi hai vòng tròn chạm nhau và do đó tạo thành một số 8. Sau đó, khi các cánh hoa tăng thêm về số lượng, đó chỉ đơn giản là sự phát triển của các vòng tròn kép này, chồng lên nhau ở những góc độ khác nhau, cho đến khi chúng ta đi đến Hoa sen nghìn cánh trong đầu.
|
|
These centres are, in the last analysis, twofold in function. They demonstrate the form building aspect of divinity and through their activity bring the outer form into manifestation; then towards the end of the evolutionary cycle—both in the macrocosm and the microcosm—they bring into expression the soul force and life and produce the incarnation of a fully revealed son of God, with all the powers and knowledge which divinity contains.
|
Rốt cuộc, các trung tâm này có chức năng nhị phân. Chúng biểu thị phương diện kiến tạo hình tướng của thiên tính, và qua hoạt động của chúng đưa hình tướng bên ngoài vào biểu hiện; rồi vào cuối chu kỳ tiến hoá, cả trong Đại thiên địa lẫn Tiểu thiên địa, chúng đưa mãnh lực và sự sống của linh hồn vào biểu lộ, và tạo ra sự nhập thể của một Con của Thượng đế được mặc khải đầy đủ, với tất cả các quyền năng và tri thức mà thiên tính chứa đựng.
|
|
[601]
|
[601]
|
|
We come now to the consideration of the last rule for magic. As we cast our minds back over this long series of instructions certain basic lines of teaching stand out with exceptional clarity, casting lesser lines of instruction into the shade. Students would do well to remember that in the reading of any basic textbook (and this one is so regarded) a definite procedure should be adopted. The student should first of all read the textbook as a whole, in order to grasp its outstanding points, its main lines of teaching, and the three or four propositions upon which its entire structure is founded. Having grasped these, he can then begin to deal with, and to isolate, those subsidiary points which serve to elucidate and clarify the main essentials. After that, he can successfully deal with the details. Students therefore would find it of interest to review these instructions, and gather out of them the major points; then they can proceed to fill in the secondary teachings, and finally arrange the detailed data under the various heads which have emerged. This, when completed would constitute a synopsis of the book and would fix the knowledge it contains firmly in the student’s memory.
|
Giờ đây chúng ta đi đến việc xem xét quy luật cuối cùng về huyền thuật. Khi nhìn lại trong trí toàn bộ loạt chỉ dẫn dài này, một số đường nét giáo huấn căn bản nổi bật với sự sáng tỏ đặc biệt, khiến những đường nét chỉ dẫn thứ yếu lùi vào bóng tối. Các đạo sinh nên nhớ rằng trong việc đọc bất kỳ sách giáo khoa căn bản nào, và quyển này được xem như thế, cần áp dụng một trình tự xác định. Trước hết, đạo sinh nên đọc toàn bộ sách giáo khoa để nắm bắt các điểm nổi bật, các đường nét giáo huấn chính, và ba hay bốn mệnh đề trên đó toàn bộ cấu trúc của sách được xây dựng. Sau khi đã nắm được những điều này, y có thể bắt đầu đề cập đến và tách riêng những điểm phụ trợ vốn dùng để minh giải và làm sáng tỏ các yếu tố chính yếu. Sau đó, y có thể xử lý thành công các chi tiết. Vì vậy, các đạo sinh sẽ thấy hữu ích khi duyệt lại các chỉ dẫn này và rút ra từ đó các điểm chính; rồi họ có thể tiếp tục điền vào các giáo huấn thứ cấp, và sau cùng sắp xếp dữ kiện chi tiết dưới những đề mục khác nhau đã hiện ra. Khi hoàn tất, điều này sẽ tạo thành một bản tóm lược của quyển sách và sẽ khắc sâu tri thức mà nó chứa đựng vào ký ức của đạo sinh.
|
|
One of the main teachings which can be seen most clearly in all instructions of a truly esoteric character, concerns the attitude of the student of the occult. He is supposed to be dealing with things subjective and esoteric; he aims to be a worker in white magic. As such, he must assume and consistently hold the position of the Observer, detached from the mechanism of observation [602] and contact; he must recognise himself as essentially a spiritual entity, different in nature, objectives and methods of working from the bodies which he considers it wise to occupy temporarily and to employ. He must realise his unity and lines of contact with all similar workers and thus arrive at a conscious awareness of his position in the spiritual hierarchy of Beings. So much misinformation has been spread abroad and so much emphasis has been unwisely laid upon status and position in the so-called hierarchy of souls, that sane and balanced disciples now seek to turn their thoughts elsewhere and to eliminate as far as may be all thought of grades and spheres of activity. It is possible, in the swing of the pendulum, to swing too far in the opposite direction and to discount these stages of activity. Do not misunderstand me however; I do not suggest that an attempt be made to place people and to decide where they stand upon the evolutionary ladder. This has been most foolishly done in the past, with much dishonour to the subject, so much so that, in the minds of the public, the whole matter has fallen into disrepute. If these stages are regarded sanely for what they are—states of extended consciousness, and grades of responsibility—then the danger of personality reaction to the terms “accepted disciple, initiate, adept, master” would be negligible and much trouble would be eliminated. It must ever be remembered that individual status is rigidly kept to oneself, and the point of evolution (which may be truthfully recognised as lying ahead of that of the average citizen) will be demonstrated by a life of active unselfish service and by the manifestation of an illumined vision which is ahead of the racial idea.
|
Một trong các giáo huấn chính có thể được thấy rõ nhất trong mọi chỉ dẫn có tính chất thật sự nội môn liên quan đến thái độ của đạo sinh huyền bí học. Y được giả định là đang đề cập đến những điều chủ quan và nội môn; y nhắm đến việc trở thành một người hoạt động trong Chánh Thuật. Như vậy, y phải đảm nhận và luôn giữ vững vị thế của Người Quan Sát, tách rời khỏi bộ máy quan sát [602] và tiếp xúc; y phải nhận ra mình về bản chất là một thực thể tinh thần, khác về bản chất, mục tiêu và phương pháp làm việc so với các thể mà y thấy là khôn ngoan khi tạm thời chiếm hữu và sử dụng. Y phải nhận ra sự hợp nhất và các đường tiếp xúc của mình với tất cả những người hoạt động tương tự, và nhờ vậy đạt đến sự nhận biết có ý thức về vị trí của mình trong Thánh đoàn của các Đấng. Quá nhiều thông tin sai lạc đã được truyền bá, và quá nhiều nhấn mạnh thiếu khôn ngoan đã được đặt lên địa vị và vị trí trong cái gọi là thang bậc của các linh hồn, đến nỗi các đệ tử lành mạnh và quân bình hiện nay tìm cách hướng tư tưởng của mình sang nơi khác, và loại bỏ, trong mức có thể, mọi tư tưởng về cấp bậc và các lĩnh vực hoạt động. Trong sự dao động của con lắc, có thể đi quá xa theo hướng ngược lại và xem nhẹ các giai đoạn hoạt động này. Tuy nhiên, đừng hiểu lầm tôi; tôi không gợi ý rằng nên cố gắng đặt người này người kia vào vị trí nào đó và quyết định họ đứng ở đâu trên nấc thang tiến hoá. Điều này đã được làm một cách hết sức dại dột trong quá khứ, gây nhiều tổn hại cho chủ đề, đến mức trong trí công chúng, toàn bộ vấn đề đã rơi vào tình trạng mất uy tín. Nếu các giai đoạn này được nhìn nhận một cách lành mạnh đúng như chúng là — các trạng thái tâm thức mở rộng và các cấp độ trách nhiệm — thì nguy cơ phản ứng của phàm ngã đối với các thuật ngữ “đệ tử được chấp nhận, điểm đạo đồ, chân sư, Chân sư” sẽ không đáng kể và nhiều rắc rối sẽ được loại trừ. Phải luôn nhớ rằng địa vị cá nhân được giữ nghiêm ngặt cho chính mình, và điểm tiến hoá, vốn có thể được chân thật nhận ra là nằm trước điểm của công dân trung bình, sẽ được biểu thị bằng một đời sống phụng sự tích cực, không ích kỷ, và bằng sự biểu hiện của một tầm nhìn được soi sáng vượt trước ý tưởng của nhân loại.
|
|
In the gathering together in the world at this time of the new Group of World Workers, true caution must be preserved. Each worker is responsible for himself and his service and for no one else. It is wise to gauge and [603] approximate the evolutionary status, not upon claims made, but upon work accomplished and the love and wisdom shown. Judgment should be based upon an evidenced knowledge of the plan as it works out in the wise formulation of the nest step ahead for the human race; upon a manifested esoteric sense, and upon an influence or an auric power which is wide, constructive and inclusive.
|
Trong việc quy tụ trên thế giới vào lúc này Đoàn Người Hoạt Động Mới của Thế Gian, cần giữ sự thận trọng chân thật. Mỗi người hoạt động chịu trách nhiệm về chính mình, về sự phụng sự của mình, và không về ai khác. Sẽ là khôn ngoan khi đo lường và [603] ước định tình trạng tiến hoá, không dựa trên các lời tuyên bố, mà dựa trên công việc đã hoàn thành, cũng như tình thương và minh triết được biểu lộ. Sự phán đoán nên dựa trên một tri thức được chứng minh về Thiên Cơ khi nó diễn ra trong việc hình thành khôn ngoan bước kế tiếp trước mắt cho nhân loại; dựa trên một giác thức nội môn được biểu hiện, và dựa trên một ảnh hưởng hay quyền năng hào quang rộng lớn, có tính xây dựng và bao gồm.
|
|
You ask me to define more clearly what I mean by the words “esoteric sense”. I mean essentially the power to live and to function subjectively, to possess a constant inner contact with the soul and the world in which it is found, and this must work out subjectively through love, actively shown; through wisdom, steadily outpoured; and through that capacity to include and to identify oneself with all that breathes and feels which is the outstanding characteristic of all truly functioning sons of God. I mean, therefore, an interiorly held attitude of mind which can orient itself at will in any direction. It can govern and control the emotional sensitiveness, not only of the disciple himself, but of all whom he may contact. By the strength of his silent thought, he can bring light and peace to all. Through that mental power, he can tune in on the world thought, and upon the realm of ideas and can discriminate between and choose those mental agencies and those concepts which will enable him, as a worker under the plan, to influence his environment and to clothe the new ideals in that thought matter which will enable them to be more easily recognised in the world of ordinary everyday thinking and living. This attitude of mind will enable the disciple also to orient himself to the world of souls and in that high place of inspiration and of light, discover his fellow-workers, communicate with them and—in union with them—collaborate in the working out of divine intentions.
|
Các bạn yêu cầu tôi định nghĩa rõ hơn điều tôi muốn nói bằng các từ “giác thức nội môn”. Về căn bản, tôi muốn nói đến quyền năng sống và hoạt động một cách chủ quan, sở hữu sự tiếp xúc bên trong thường hằng với linh hồn và thế giới trong đó linh hồn được tìm thấy; và điều này phải được thể hiện một cách chủ quan qua tình thương được biểu lộ tích cực, qua minh triết được tuôn đổ bền bỉ, và qua khả năng bao gồm cũng như đồng hoá với tất cả những gì thở và cảm nhận — vốn là đặc tính nổi bật của tất cả các Con của Thượng đế đang hoạt động chân thật. Vì vậy, tôi muốn nói đến một thái độ trí tuệ được giữ bên trong, có thể tùy ý tự định hướng theo bất kỳ hướng nào. Nó có thể cai quản và kiểm soát sự nhạy cảm xúc cảm, không chỉ của chính đệ tử, mà của tất cả những người y có thể tiếp xúc. Bằng sức mạnh của tư tưởng thầm lặng, y có thể đem ánh sáng và bình an đến cho tất cả. Qua quyền năng trí tuệ ấy, y có thể bắt nhịp với tư tưởng thế giới và với cõi giới của các ý tưởng, đồng thời phân biện và chọn lựa những tác nhân trí tuệ cùng những khái niệm sẽ cho phép y, với tư cách một người hoạt động dưới Thiên Cơ, ảnh hưởng đến môi trường của mình và khoác cho các lý tưởng mới loại chất liệu tư tưởng giúp chúng được nhận ra dễ dàng hơn trong thế giới của tư duy và đời sống thường nhật. Thái độ trí tuệ này cũng sẽ cho phép đệ tử tự định hướng về thế giới của các linh hồn, và trong nơi cao cả của cảm hứng và ánh sáng ấy, khám phá các cộng sự của mình, giao tiếp với họ và, trong hợp nhất với họ, cộng tác vào việc thực hiện các ý định thiêng liêng.
|
|
This esoteric sense is the main need of the aspirant at [604] this time of the world history. Until aspirants have somewhat grasped it and can use it, they can never form part of the New Group; they can never work as white magicians, and these Instructions will remain for them theoretical and mainly intellectual, instead of being practical and effective.
|
Giác thức nội môn này là nhu cầu chính của người chí nguyện vào [604] thời điểm này của lịch sử thế giới. Cho đến khi những người chí nguyện phần nào nắm bắt được nó và có thể sử dụng nó, họ không bao giờ có thể trở thành một phần của Đoàn Mới; họ không bao giờ có thể hoạt động như những nhà huyền thuật chánh đạo, và những Huấn thị này đối với họ sẽ vẫn chỉ là lý thuyết, chủ yếu thuộc trí năng, thay vì thực tiễn và hữu hiệu.
|
|
To cultivate this inner esoteric sense, meditation is needed, and continuous meditation, in the early stages of development. But as time elapses and a man grows spiritually, this daily meditation will perforce give way to a steady spiritual orientation and then meditation as now understood and needed will no longer be required. The detachment between a man and his usable forms will be so complete, that he will live ever in the “seat of the Observer”, and from that point and attitude will direct the activities of the mind and of the emotions and of the energies which make physical expression possible and useful.
|
Để vun bồi giác thức nội môn bên trong này, cần có tham thiền, và trong các giai đoạn đầu của sự phát triển, cần tham thiền liên tục. Nhưng khi thời gian trôi qua và con người tăng trưởng về mặt tinh thần, việc tham thiền hằng ngày này tất yếu sẽ nhường chỗ cho một sự định hướng tinh thần bền bỉ, và khi đó tham thiền như hiện nay được hiểu và cần đến sẽ không còn được đòi hỏi nữa. Sự tách rời giữa con người và các hình tướng mà y có thể sử dụng sẽ hoàn toàn đến mức y sẽ luôn sống trong “chỗ ngồi của Người Quan Sát”, và từ điểm cùng thái độ ấy y sẽ điều khiển các hoạt động của thể trí, của các cảm xúc, và của những năng lượng làm cho sự biểu hiện hồng trần trở nên khả hữu và hữu ích.
|
|
The first stage in this development and culture of the esoteric sense consists in the holding of the attitude of constant detached observation.
|
Giai đoạn đầu trong sự phát triển và vun bồi giác thức nội môn này gồm ở việc giữ thái độ quan sát tách rời thường hằng.
|
|
The new Group of World Workers might well be regarded in its outer ranks as a trained body of organised observers. I would divide the group into three divisions and I do so in order that aspirants and chelas all over the world may be guided in their knowledge as to where they stand individually and may, in sincerity and truth, begin to work with intelligence. They can be thus aided to place themselves.
|
Đoàn Người Hoạt Động Mới của Thế Gian, ở các hàng ngũ bên ngoài, có thể được xem như một tập thể được huấn luyện gồm những nhà quan sát có tổ chức. Tôi sẽ chia đoàn này thành ba phân bộ, và tôi làm như vậy để những người chí nguyện và các đệ tử trên khắp thế giới có thể được hướng dẫn trong tri thức của họ về vị trí cá nhân của mình, và có thể, trong sự chân thành và chân thật, bắt đầu làm việc một cách thông minh. Nhờ vậy họ có thể được trợ giúp để tự đặt mình vào đúng vị trí.
|
|
First, there are the Organised Observers. These aspirants are learning to do two things. They are learning to practice that detachment which will enable them to live as souls in the world of daily affairs and to understand the real significance of the words: to work without attachment. They are also, secondly, those students of world affairs in one or other of the seven departments [605] earlier referred to when I brought the new group to the attention of the world. They are studying the signs of the times. They investigate the great drama of history in order to discover its main trend and so express to the ordinary academic world and to the thinkers of the race what they see and understand.
|
Trước hết, có những Nhà Quan Sát Có Tổ Chức. Những người chí nguyện này đang học làm hai điều. Họ đang học thực hành sự tách rời, điều sẽ cho phép họ sống như những linh hồn trong thế giới các sự vụ hằng ngày và thấu hiểu thâm nghĩa chân thật của các lời: làm việc mà không dính mắc. Thứ hai, họ cũng là những đạo sinh về các sự vụ thế giới trong một trong bảy lĩnh vực [605] đã được đề cập trước đây khi tôi đưa đoàn mới ra trước sự chú ý của thế giới. Họ đang nghiên cứu các dấu hiệu của thời đại. Họ khảo sát vở kịch lớn của lịch sử để khám phá xu hướng chính của nó, và nhờ vậy trình bày cho thế giới học thuật thông thường cũng như cho những nhà tư tưởng của nhân loại điều họ thấy và thấu hiểu.
|
|
Running all through human history is a triple thread and in the interplay of these three threads the story of evolution is to be found. One thread guides the thoughts of man as he deals with the development of the form aspect, with the racial trends, and it shows how undeviatingly the forms of races, of countries, and of the fauna and flora of our planetary life have kept pace with the needs of the slowly emerging sons of God. The second thread leads us to an understanding of the growth of consciousness, and indicates emergence from the instinctual stage into that of intellectual awareness, and on to that intuitional illumination which is the present goal of consciousness.
|
Xuyên suốt lịch sử nhân loại là một sợi dây tam phân, và trong sự tương tác của ba sợi dây này, câu chuyện của tiến hoá được tìm thấy. Một sợi dây dẫn dắt tư tưởng của con người khi y đề cập đến sự phát triển của phương diện hình tướng, với các xu hướng giống dân, và nó cho thấy các hình tướng của các giống dân, các quốc gia, cùng hệ động vật và thực vật của sự sống hành tinh chúng ta đã theo kịp một cách không lệch lạc như thế nào với các nhu cầu của những Con của Thượng đế đang dần dần xuất hiện. Sợi dây thứ hai dẫn chúng ta đến sự thấu hiểu về sự tăng trưởng của tâm thức, và chỉ ra sự xuất hiện từ giai đoạn bản năng sang giai đoạn nhận biết trí năng, rồi tiến tới sự soi sáng trực giác, vốn là mục tiêu hiện nay của tâm thức.
|
|
The third thread concerns the Plan itself and here we enter the realm of the truly unknown. What the plan is, and what the goal, is as yet totally unrealised except by the highest adept and the most exalted of the sons of God. Until the illumined mind and the power of intuitional response are developed in the human family, it is not possible for us to grasp the basic concepts which are to be found in the mind of God Himself. Until the highest point of the Mount of Initiation has been climbed, it is not possible to vision the Promised Land as it is. Until the limitations—the necessary limitations—of the three worlds have been surmounted and man can function as a free soul in the spiritual kingdom, that which lies beyond that kingdom must remain hid to man just as much as the human state of being and awareness remains a sealed book to the animal. This is a salutary and needed lesson which all disciples should grasp. [606]
|
Sợi dây thứ ba liên quan đến chính Thiên Cơ, và ở đây chúng ta bước vào lĩnh vực của điều thật sự chưa được biết. Thiên Cơ là gì, và mục tiêu là gì, cho đến nay vẫn hoàn toàn chưa được chứng nghiệm, ngoại trừ bởi vị chân sư cao nhất và những Con của Thượng đế được tôn cao nhất. Cho đến khi trí tuệ được soi sáng và quyền năng đáp ứng trực giác được phát triển trong gia đình nhân loại, chúng ta không thể nắm bắt các khái niệm căn bản được tìm thấy trong Trí của chính Thượng đế. Cho đến khi điểm cao nhất của Núi Điểm Đạo đã được leo lên, thì không thể nhìn thấy Miền Đất Hứa đúng như nó là. Cho đến khi các giới hạn, những giới hạn cần thiết của ba cõi thấp, đã được vượt qua và con người có thể hoạt động như một linh hồn tự do trong giới tinh thần, thì điều nằm bên kia giới ấy vẫn phải ẩn kín đối với con người, cũng y như trạng thái hiện hữu và nhận biết của con người vẫn là một quyển sách niêm phong đối với loài vật. Đây là một bài học lành mạnh và cần thiết mà tất cả các đệ tử nên nắm bắt. [606]
|
|
But observers of times and seasons can make rapid progress in intuitional growth if they persevere in their meditation, train their intellects, and endeavour always to think in terms of universals. Let them look at the historical retrospect as part of the emerging preparation which will inaugurate the future. Let them take heart of grace as they recognise the fact that the kingdom of souls is steadily becoming a physical plane phenomenon (do I speak paradoxically?) and will be known eventually as a kingdom of nature and considered so by the scientists before two centuries have passed away. These “Organised Observers” form the outer circle of the new group and their keynote is synthesis, the elimination of non-essentials and the organising of human knowledge. Working in the many fields of human awareness, they are distinguished by a non-sectarian spirit, and by an ability to deal with foundational essentials and to link up varying departments of human investigation into one organised and unified whole.
|
Nhưng những nhà quan sát thời kỳ và mùa vụ có thể tiến bộ nhanh chóng trong sự tăng trưởng trực giác nếu họ kiên trì trong tham thiền, rèn luyện trí năng, và luôn cố gắng tư duy theo các phổ quát. Hãy để họ nhìn lại lịch sử như một phần của sự chuẩn bị đang xuất hiện, điều sẽ mở màn cho tương lai. Hãy để họ vững lòng khi nhận ra sự kiện rằng giới linh hồn đang đều đặn trở thành một hiện tượng trên cõi hồng trần, tôi có đang nói nghịch lý chăng, và cuối cùng sẽ được biết đến như một giới của tự nhiên, cũng như được các nhà khoa học xem như thế trước khi hai thế kỷ trôi qua. Những “Nhà Quan Sát Có Tổ Chức” này tạo thành vòng ngoài của đoàn mới, và chủ âm của họ là sự tổng hợp, loại bỏ những điều không thiết yếu và tổ chức tri thức nhân loại. Hoạt động trong nhiều lĩnh vực nhận biết của con người, họ được phân biệt bởi tinh thần không giáo phái, và bởi khả năng xử lý các yếu tố nền tảng chính yếu, cũng như liên kết các ngành khảo cứu khác nhau của con người thành một toàn thể có tổ chức và hợp nhất.
|
|
Second, the next group in the new Group of World Workers is that of the telepathic communicators. These are much fewer in number and are distinguished by their relatively close interrelation with each other. They are primarily a linking or a bridging group. They are gathered out of the more exoteric circle of the organised observers, but have a wider scope of service than they have, for they work in a more truly esoteric manner. They are in touch with each other, and with the organised observers, but they are likewise in touch with the group of men and women who stand at the very centre or heart of the world group. Their work is threefold and very difficult. Steadily they have to cultivate that detachment which characterises the soul which knows itself. Steadily they take the knowledge and information accumulated by the organised observers and adapt it to the need of the world, and give out the teaching. They work effectively [607] but always from behind the scenes, and though they may be known in the world in this early stage of the work of the new group, and though they may be therefore recognised as teachers, writers and workers, later they will recede more and more into the background and will work through the outer circle. They will inspire them, and will place increasing responsibility upon their shoulders; they will nurture the growth of telepathic interplay in the world and thus weave those strands which will eventually bridge the present gap between the seen and the unseen and so make the new world possible—a world in which death as we know it will be abolished and a trained universal continuity of consciousness be established. That is why the emphasis is laid in training the members of this group in the new group, upon telepathic sensitivity. The members of this second circle of workers are taught to develop sensitiveness in three directions: to the thoughts of men in physical incarnation; to the minds of those who have passed over and who are still in mind bodies, and thirdly to the group of spiritual Beings who stand as the custodians of the evolutionary process and through whose hands the three threads of developing life steadily pass.
|
Thứ hai, nhóm kế tiếp trong Đoàn Người Hoạt Động Thế Gian mới là nhóm các nhà giao tiếp viễn cảm. Những người này ít hơn nhiều về số lượng và được phân biệt bởi mối tương liên tương đối mật thiết giữa họ với nhau. Trước hết, họ là một nhóm liên kết hay một nhóm bắt cầu. Họ được quy tụ từ vòng tròn ngoại môn hơn của các nhà quan sát có tổ chức, nhưng có phạm vi phụng sự rộng hơn những người ấy, vì họ làm việc theo một cách thật sự nội môn hơn. Họ tiếp xúc với nhau, và với các nhà quan sát có tổ chức, nhưng họ cũng tiếp xúc với nhóm những người nam và nữ đang đứng ngay tại trung tâm hay trái tim của nhóm thế giới. Công việc của họ có tính tam phân và rất khó khăn. Một cách bền bỉ, họ phải vun bồi sự tách rời vốn đặc trưng cho linh hồn biết chính mình. Một cách bền bỉ, họ tiếp nhận tri thức và thông tin do các nhà quan sát có tổ chức tích lũy, rồi thích nghi nó với nhu cầu của thế giới, và truyền ra giáo huấn. Họ làm việc hữu hiệu [607] nhưng luôn luôn từ phía sau hậu trường; và dù ở giai đoạn đầu này của công việc của nhóm mới, họ có thể được biết đến trong thế gian, và do đó có thể được nhìn nhận là huấn sư, tác giả và người hoạt động, về sau họ sẽ ngày càng lui vào hậu cảnh và sẽ làm việc qua vòng tròn bên ngoài. Họ sẽ truyền cảm hứng cho những người ấy, và sẽ đặt trách nhiệm ngày càng lớn hơn lên vai họ; họ sẽ nuôi dưỡng sự tăng trưởng của tương tác viễn cảm trong thế giới, và như thế dệt nên những sợi dây cuối cùng sẽ bắt cầu qua khoảng cách hiện nay giữa cái hữu hình và cái vô hình, nhờ đó khiến thế giới mới trở thành khả hữu — một thế giới trong đó sự chết như chúng ta biết sẽ bị bãi bỏ, và một sự liên tục tâm thức phổ quát, được rèn luyện, sẽ được thiết lập. Chính vì vậy mà trong việc huấn luyện các thành viên của nhóm này trong nhóm mới, trọng tâm được đặt vào sự nhạy bén viễn cảm. Các thành viên của vòng tròn người hoạt động thứ hai này được dạy phát triển sự nhạy cảm theo ba hướng: đối với tư tưởng của con người trong kiếp lâm phàm hồng trần; đối với thể trí của những người đã chuyển sang bên kia và vẫn còn ở trong các thể trí; và thứ ba, đối với nhóm các Đấng Tinh Thần đang đứng như những vị bảo hộ tiến trình tiến hoá, và qua tay các Ngài, ba sợi dây của sự sống đang phát triển liên tục đi qua.
|
|
Their task is exceedingly hard, far harder than that of the first group and harder even than that of the last, for they lack as yet certain powers and needed experience. Their centre of consciousness is the intuition and not that of the synthesising intellect, and their state of awareness is wide and inclusive. They therefore can suffer more than the majority, and few there are who are not at this stage too sensitive for their own comfort and too responsive to vibrations emanating from the form aspect in all three worlds. Their state of detachment is not yet complete. They bridge, and therefore support infinite problems and respond to world pain. They see, if I may so express it, too much, for theirs is not yet the privilege [608] of visioning with clarity the goal that lies two hundred years ahead. They sense the present need. They are responsive to the new tide of spiritual force which is flowing in. They carry the weight of humanity on their shoulders, and because they are somewhat coordinated, they live in all three worlds at once, and this few can do. They are aware of the urgency of the present opportunity and also of the apathy of the many and for these reasons they work under terrific pressure.
|
Nhiệm vụ của họ cực kỳ khó khăn, khó hơn nhiều so với nhóm thứ nhất và thậm chí khó hơn nhóm cuối cùng, vì cho đến nay họ vẫn còn thiếu một số quyền năng và kinh nghiệm cần thiết. Trung tâm tâm thức của họ là trực giác chứ không phải trí năng tổng hợp, và trạng thái nhận biết của họ rộng lớn và bao gồm. Vì vậy, họ có thể đau khổ nhiều hơn đa số người khác, và hiếm có ai ở giai đoạn này mà không nhạy cảm đến mức chính họ không thể an ổn, và quá đáp ứng với những rung động phát xuất từ phương diện hình tướng trong cả ba cõi. Trạng thái tách rời của họ chưa hoàn toàn. Họ bắt cầu, và vì vậy gánh đỡ vô số vấn đề và đáp ứng với nỗi đau của thế giới. Nếu tôi có thể diễn đạt như thế, họ thấy quá nhiều, vì họ chưa có đặc ân [608] nhìn thấy rõ ràng mục tiêu nằm ở hai trăm năm phía trước. Họ cảm nhận nhu cầu hiện tại. Họ đáp ứng với làn sóng mới của mãnh lực tinh thần đang tuôn vào. Họ mang sức nặng của nhân loại trên vai, và vì họ đã được phối hợp phần nào, họ sống trong cả ba cõi cùng một lúc, và điều này rất ít người có thể làm. Họ nhận biết tính khẩn thiết của cơ hội hiện tại, cũng như sự lãnh đạm của số đông; và vì những lý do này, họ làm việc dưới một áp lực khủng khiếp.
|
|
Third, the innermost group of all is that of the members of the Hierarchy itself. I care not the least whether these liberated souls are recognised as Elder Brethren of the race, as Masters of the Wisdom, as the Cloud of Witnesses, as the Christ and His Church, as Supermen or under any terms which the inherited tendencies of humanity or tradition may choose to call them. They themselves care less. The petty quarrels as to their personalities and names and status matter not at all. But they are the intelligent forces of the planet; they express, because of their state of expanded consciousness, the Mind of God; they embody the intelligent principle, immutable and unchanging, and through them flows the energy which we call the Will of God, for lack of better understanding. They know far more of the plan than do the two outer circles in the new Group of World Workers, for they see clearly just what is the next step which planetary evolution will guide the race to take during the next two hundred years. They do not occupy themselves with idle speculations as to the ultimate goal at the close of a world age. This may surprise you in view of the many speculations of the uninitiate. But so it is. They know that there is a time and a season for all things, and looking ahead and comprehending intuitively the goal for all kingdoms in the immediate future, all their united effort is bent to one end—the cultivating of the intuitional telepathic responsiveness of the Communicators who bridge the gap [609] between them and the physical world. These latter in their turn seek to employ the Observers, Knowers, Communicators, and Observers—all working in a close if oft-times unrealised unity, and all responsive (according to their degree) to the impulsion of the Mind and Will of the Logos, the solar Deity.
|
Thứ ba, nhóm nội tại nhất trong tất cả là nhóm gồm các thành viên của chính Thánh Đoàn. Tôi không hề quan tâm chút nào việc các linh hồn đã giải thoát này được nhìn nhận là các Huynh Trưởng của nhân loại, là các Chân sư Minh Triết, là Đám Mây Chứng Nhân, là Đức Christ và Giáo Hội của Ngài, là các Siêu nhân, hay dưới bất cứ danh xưng nào mà những khuynh hướng di truyền của nhân loại hoặc truyền thống có thể chọn để gọi các Ngài. Chính các Ngài còn ít quan tâm hơn nữa. Những tranh cãi nhỏ nhặt về phàm ngã, danh xưng và địa vị của các Ngài hoàn toàn không quan trọng. Nhưng các Ngài là những mãnh lực thông tuệ của hành tinh; do trạng thái tâm thức mở rộng của mình, các Ngài biểu lộ Trí của Thượng đế; các Ngài hiện thân nguyên khí thông tuệ, bất biến và không đổi thay, và qua các Ngài tuôn chảy năng lượng mà chúng ta gọi là Ý Chí của Thượng Đế, vì thiếu một sự thấu hiểu tốt hơn. Các Ngài biết về Thiên Cơ nhiều hơn rất nhiều so với hai vòng tròn bên ngoài trong Đoàn Người Hoạt Động Thế Gian mới, vì các Ngài thấy rõ chính xác bước kế tiếp mà cuộc tiến hoá hành tinh sẽ hướng dẫn nhân loại thực hiện trong hai trăm năm tới. Các Ngài không bận tâm với những suy đoán vô ích về mục tiêu tối hậu vào lúc kết thúc một thời đại thế giới. Điều này có thể khiến các bạn ngạc nhiên, xét theo nhiều suy đoán của những người chưa được điểm đạo. Nhưng sự thật là như vậy. Các Ngài biết rằng mọi sự đều có thời điểm và mùa tiết của nó; và khi nhìn về phía trước, đồng thời thấu hiểu bằng trực giác mục tiêu dành cho mọi giới trong tương lai gần, toàn bộ nỗ lực hợp nhất của các Ngài đều hướng về một cứu cánh duy nhất — vun bồi khả năng đáp ứng viễn cảm bằng trực giác nơi các Nhà Giao Tiếp, những người bắt cầu qua khoảng cách [609] giữa các Ngài và thế giới hồng trần. Đến lượt mình, những người sau này tìm cách sử dụng các Nhà Quan Sát, các Thức Giả, các Nhà Giao Tiếp và các Nhà Quan Sát — tất cả đều làm việc trong một sự hợp nhất mật thiết, dù thường khi không nhận ra, và tất cả đều đáp ứng, tùy theo cấp độ của mình, với sự thúc đẩy của Trí và Ý Chí của Thượng đế, Thượng đế thái dương.
|
|
Beyond this triple group stand the Thrones, Principalities, and Powers with whom we need not concern ourselves. On the other side stands humanity torn by the disasters of the past world war, bewildered by the social, religious and economic pressure of the present, sensitive and responsive to the influences and energies pouring in on the new tide of the Aquarian Age; unable to understand and explain, and conscious only of a longing for liberty of thought and of physical condition, snatching at every chance to gain knowledge and so providing a fertile field wherein this new group can work.
|
Bên ngoài nhóm tam phân này là các Ngai Vị, các Chủ Quyền và các Quyền Năng mà chúng ta không cần bận tâm. Ở phía bên kia là nhân loại, bị xé nát bởi những tai họa của cuộc chiến tranh thế giới vừa qua, hoang mang trước áp lực xã hội, tôn giáo và kinh tế của hiện tại, nhạy cảm và đáp ứng với các ảnh hưởng và năng lượng đang tuôn vào theo làn sóng mới của Kỷ Nguyên Bảo Bình; không thể thấu hiểu và giải thích, và chỉ ý thức về một niềm khao khát tự do tư tưởng và tự do trong điều kiện hồng trần, nắm lấy mọi cơ hội để đạt tri thức, và nhờ vậy cung cấp một cánh đồng màu mỡ trong đó nhóm mới này có thể làm việc.
|
|
We have seen that the objective of all inner training is to develop the esoteric sense, and to unfold that inner sensitive awareness which will enable a man to function, not only as a Son of God in physical incarnation but as one who also possesses that continuity of consciousness which will enable him to be interiorly awake as well as exteriorly active. This is accomplished through developing the power to be a trained Observer. I commend these words to all aspirants. It is persistence in the attitude of right observation that brings about detachment from form, a subsequent power to use form at will and with the end in view of furthering hierarchical plans and consequent usefulness to humanity. When this power to observe has been somewhat brought about, we then have the aspirant joining that intermediate group of trained Communicators who stand between the aforementioned groups (the exoteric groups and the group of spiritual workers on the subjective plane), interpreting the one to the other. It is well to remember that even the members [610] of the Hierarchy profit by the opinions and advice of those disinterested disciples who can be trusted to rightly recognise and interpret the need of the hour.
|
Chúng ta đã thấy rằng mục tiêu của mọi huấn luyện nội tâm là phát triển giác quan huyền bí, và khai mở sự nhận biết nhạy bén bên trong, điều sẽ cho phép con người hoạt động không chỉ như một Con của Thượng đế trong kiếp lâm phàm hồng trần, mà còn như một người sở hữu sự liên tục tâm thức, nhờ đó y có thể tỉnh thức bên trong cũng như hoạt động bên ngoài. Điều này được thành tựu qua việc phát triển quyền năng trở thành một Nhà Quan Sát Lão Luyện. Tôi xin khuyến nghị những lời này với tất cả những người chí nguyện. Chính sự kiên trì trong thái độ quan sát đúng đắn đem lại sự tách rời khỏi hình tướng, rồi sau đó là quyền năng sử dụng hình tướng theo ý chí, với mục đích xúc tiến các kế hoạch của Thánh Đoàn và do đó trở nên hữu ích cho nhân loại. Khi quyền năng quan sát này đã được tạo lập phần nào, bấy giờ chúng ta có người chí nguyện gia nhập nhóm trung gian gồm các Nhà Giao Tiếp được rèn luyện, những người đứng giữa các nhóm đã nói ở trên, tức các nhóm ngoại môn và nhóm những người hoạt động tinh thần trên cõi chủ quan, để diễn giải nhóm này cho nhóm kia. Cần nhớ rằng ngay cả các thành viên [610] của Thánh Đoàn cũng được lợi ích từ những ý kiến và lời khuyên của các đệ tử vô tư, những người có thể được tin cậy để nhận ra và diễn giải đúng nhu cầu của thời điểm.
|
|
When this stage has been reached and a man is in conscious touch with the plan then true magical work can begin. Men and women, who are beginning to live as souls, can undertake the magical work of the new age, and can inaugurate those changes and that rebuilding which will bring about the manifestation of the new heavens and the new earth, to which all the Scriptures of the world bear eloquent testimony. They can then work with forces in etheric matter and so bring into being those physical plane creations and organisations which will more adequately embody the life of God in the Aquarian Age which is now upon us. It is to this stage that Rule XV refers.
|
Khi giai đoạn này đã đạt tới và một người có tiếp xúc hữu thức với Thiên Cơ, bấy giờ công việc huyền thuật chân chính có thể bắt đầu. Những người nam và nữ đang bắt đầu sống như các linh hồn có thể đảm nhận công việc huyền thuật của kỷ nguyên mới, và có thể khai mở những thay đổi cùng công cuộc tái thiết sẽ đem lại sự biểu hiện của trời mới và đất mới, điều mà mọi Kinh Điển của thế giới đều làm chứng một cách hùng hồn. Bấy giờ họ có thể làm việc với các mãnh lực trong vật chất dĩ thái, và như thế đưa vào hiện tồn những sáng tạo và tổ chức trên cõi hồng trần, vốn sẽ hiện thân đầy đủ hơn sự sống của Thượng đế trong Kỷ Nguyên Bảo Bình hiện đang đến với chúng ta. Chính giai đoạn này là điều Quy luật XV đề cập đến.
|
|
These words mark the consummation of the magical work, and are equally true of the magical work of a solar Logos, of a planetary Logos, of an incarnating soul, or of that advanced human being who has learnt to work as a white magician under the plan of the great White Lodge. It, of course, refers to the work of those who through intellectual achievement have learnt to work as magicians but on what is called the black side, for the same rules of magical work hold good for both groups, though the motivating impulse differs. But with the work of the black magician we have naught to do. That which they do is powerful in transient effect, using the word transient in its cyclic sense; but these effects must in due time cease, and be subordinated to the claims and the work of the bringers of light and of life.
|
Những lời này đánh dấu sự viên mãn của công việc huyền thuật, và cũng đúng như nhau đối với công việc huyền thuật của một Thái dương Thượng đế, của một Hành Tinh Thượng Đế, của một linh hồn đang nhập thể, hay của một con người tiến hoá cao đã học làm việc như một nhà huyền thuật chánh đạo dưới Thiên Cơ của Thánh đoàn. Dĩ nhiên, nó cũng đề cập đến công việc của những người, nhờ thành tựu trí tuệ, đã học làm việc như các nhà huyền thuật nhưng ở phía được gọi là hắc đạo, vì cùng các quy luật của công việc huyền thuật đều có giá trị đối với cả hai nhóm, dù xung lực thúc đẩy khác nhau. Nhưng chúng ta không liên quan gì đến công việc của nhà hắc thuật. Những gì họ làm có hiệu quả mạnh mẽ nhưng tạm thời, dùng chữ tạm thời theo nghĩa chu kỳ của nó; song các hiệu quả này đến đúng thời phải chấm dứt, và phải phục tùng những đòi hỏi cùng công việc của những người mang ánh sáng và sự sống.
|
|
The shadow stage is the dim and uncertain period which is found prior to dense and concrete manifestation. It does not here refer to the shadow as the counterpart in physical manifestation of the soul. It refers to one of the intermediate stages in the creative process. [611] It is technically called the “stage of the waxing and the waning of the nebulae”, and this stage precedes the appearance of the more stabilised and relatively static exoteric form. In the formation of a solar system, this is recognised as a preliminary period and can be seen going on in the starry heavens. It indicates the stage wherein the Great Magician is only in process of carrying forward His work; He has not yet finally chanted those mystic words or those spiritual sounds which will produce concretion and the tangible appearance of form.
|
Giai đoạn bóng tối là thời kỳ mờ nhạt và bất định có trước sự biểu hiện đậm đặc và cụ thể. Ở đây nó không chỉ bóng tối như đối phần trong biểu hiện hồng trần của linh hồn. Nó chỉ một trong những giai đoạn trung gian trong tiến trình sáng tạo. [611] Về mặt kỹ thuật, nó được gọi là “giai đoạn tăng trưởng và suy giảm của các tinh vân”, và giai đoạn này đi trước sự xuất hiện của hình tướng ngoại môn ổn định hơn và tương đối tĩnh tại. Trong sự hình thành một hệ mặt trời, điều này được nhìn nhận như một thời kỳ sơ bộ và có thể được thấy đang diễn ra trong các tầng trời đầy sao. Nó chỉ giai đoạn trong đó Nhà Huyền Thuật Vĩ Đại mới chỉ đang trong tiến trình xúc tiến công việc của Ngài; Ngài chưa xướng dứt khoát những lời thần bí hay những âm thanh tinh thần sẽ tạo nên sự cụ thể hóa và sự xuất hiện hữu hình của hình tướng.
|
|
The Secret Doctrine refers to the three fires, and these are of ancient usage; the Vishnu Purana gives these fires exactly the same nomenclature as does H.P.B. who borrowed the terms from the ancient Scripture. Electric Fire, Solar Fire and Fire by Friction, when brought into conjunction, produce the manifested macrocosm and microcosm, and to this conjunction my earlier Treatise on Cosmic Fire referred. These fires are esoterically one fire but this fire produces, according to the witnessing consciousness (itself at varying stages of evolutionary development) the effect of differentiated fiery essence. This fiery essence can be known as Life itself, or as the “Self-shining Light,” or it can be known as the active form inherent in the one substance which underlies all phenomena. In this final rule for magic the fires which are considered are those of matter itself which approach the shadow and (as the Old Commentary symbolically expresses it) “rise up from the second darkness at the call of the spirit of light and meet in their appointed place that which will absorb them and raise them to the fiery point from whence the fires of living light and radiant life have come.”
|
Giáo Lý Bí Nhiệm đề cập đến ba loại lửa, và các loại lửa này đã được dùng từ thời cổ; Vishnu Purana gọi các loại lửa ấy bằng đúng cùng một danh pháp như bà Blavatsky, người đã mượn các thuật ngữ này từ Kinh Điển cổ. Lửa Điện, Lửa Thái dương và Lửa ma sát, khi được đưa vào sự kết hợp, tạo nên đại thiên địa và tiểu thiên địa biểu hiện, và chính sự kết hợp này đã được đề cập trong Luận về Lửa Vũ Trụ trước đây của tôi. Một cách huyền bí, các loại lửa này là một lửa duy nhất; nhưng lửa này tạo ra, tùy theo tâm thức chứng kiến, vốn tự nó ở những giai đoạn phát triển tiến hoá khác nhau, hiệu quả của tinh chất lửa đã biến phân. Tinh chất lửa này có thể được biết như chính Sự Sống, hoặc như “Ánh Sáng Tự Chiếu”, hoặc có thể được biết như hình tướng hoạt động vốn nội tại trong chất liệu duy nhất nằm bên dưới mọi hiện tượng. Trong quy luật cuối cùng này về huyền thuật, những loại lửa được xét đến là các loại lửa của chính vật chất, vốn tiến gần đến bóng tối và, như Cổ Luận diễn đạt bằng biểu tượng, “trỗi dậy từ bóng tối thứ hai theo tiếng gọi của tinh thần ánh sáng, và gặp tại nơi đã định điều sẽ hấp thu chúng và nâng chúng lên điểm lửa mà từ đó các lửa của ánh sáng sống động và sự sống rạng ngời đã đến.”
|
|
In closing this treatise on the magical work of the individual aspirant I seek to do two things:
|
Khi khép lại khảo luận này về công việc huyền thuật của người chí nguyện cá nhân, tôi tìm cách làm hai việc:
|
|
1. Indicate the immediate goal for students in this century, and summarise time steps that they must take.
|
1. Chỉ ra mục tiêu trước mắt cho các đạo sinh trong thế kỷ này, và tóm lược các bước theo thời gian mà họ phải thực hiện.
|
|
2. Indicate the things which must be eliminated and overcome and the penalties which overtake the probationer and the disciple when mistakes are made and faults are condoned.
|
2. Chỉ ra những điều phải được loại bỏ và khắc phục, cùng các hình phạt giáng xuống người dự bị và đệ tử khi sai lầm được phạm phải và lỗi lầm được dung túng.
|
|
First of all, the immediate goal must be well recognised, if lost effort is to be avoided and real progress achieved. Many well-intentioned aspirants are prone to give undue time to their registered aspirations, and to the formulation of their plans for service. The world aspiration is now so strong and humanity is now so potently orienting itself towards the Path that sensitive people everywhere are being swept into a vortex of spiritual desire, and ardently long for the life of liberation, of spiritual undertakings and of recorded soul consciousness. Their recognition of their own latent possibilities is now so strong that they over-estimate themselves; they give much time to picturing themselves as the ideal mystic or in deploring their lack of spiritual achievement or their failure to achieve a sphere of service. Thus they become lost, on the one hand, in the vague and misty realms of a beautiful idealism, of colourful hypotheses, and of delightful theories; on the other hand, they become engulfed in a dramatisation of themselves as centres of power in a field of fruitful service; they [619] draw up, mentally, plans for world endeavour to see themselves as the pivotal point around which that service will move; they frequently make an effort to work out these plans and produce an organisation, for instance on the physical plane, which is potentially valuable but equally potentially useless, even if not dangerous. They fail to realise that the motivating impulse is primarily due to what the Hindu teachers call a “sense of I-ness”, and that their work is founded on a subjective egoism which must—and will—be eliminated before true service can be rendered.
|
Trước hết, mục tiêu trước mắt phải được nhận biết rõ ràng, nếu muốn tránh nỗ lực lãng phí và đạt được tiến bộ thật sự. Nhiều người chí nguyện có thiện ý dễ dành quá nhiều thời gian cho những khát vọng mà họ ghi nhận, và cho việc hình thành các kế hoạch phụng sự của họ. Khát vọng thế giới hiện nay mạnh mẽ đến mức, và nhân loại hiện nay đang định hướng một cách đầy quyền năng về phía Đường Đạo đến mức, những người nhạy cảm ở khắp nơi đang bị cuốn vào một xoáy lốc của ham muốn tinh thần, và tha thiết khao khát đời sống giải thoát, các công cuộc tinh thần và tâm thức linh hồn được ghi nhận. Sự nhận biết của họ về các khả năng tiềm tàng của chính mình hiện nay mạnh đến mức họ đánh giá quá cao bản thân; họ dành nhiều thời gian để hình dung mình là nhà thần bí lý tưởng, hoặc than tiếc sự thiếu thành tựu tinh thần của mình, hay sự thất bại trong việc đạt được một lĩnh vực phụng sự. Như thế, một mặt, họ lạc mất trong những cõi mơ hồ và đầy sương mù của một chủ nghĩa lý tưởng đẹp đẽ, của các giả thuyết nhiều màu sắc và các lý thuyết thú vị; mặt khác, họ bị chìm ngập trong sự kịch tính hóa chính mình như những trung tâm quyền năng trong một lĩnh vực phụng sự phong phú; họ [619] vạch ra, trong trí, các kế hoạch cho nỗ lực thế giới để thấy mình là điểm then chốt quanh đó sự phụng sự ấy sẽ vận hành; họ thường cố gắng thực hiện các kế hoạch này và tạo ra một tổ chức, chẳng hạn trên cõi hồng trần, vốn có tiềm năng giá trị nhưng cũng có tiềm năng vô dụng, thậm chí nguy hiểm. Họ không nhận ra rằng xung lực thúc đẩy trước hết là do điều mà các huấn sư Ấn Độ gọi là “ý thức về cái tôi”, và công việc của họ đặt nền trên một chủ nghĩa vị kỷ chủ quan, điều phải — và sẽ — bị loại bỏ trước khi sự phụng sự chân chính có thể được thực hiện.
|
|
This tendency to aspiration and to service is right and good and should be seen as forming part of the coming universal consciousness and equipment of the race as a whole. It is steadily coming to the surface owing to the growing strength of the Aquarian influence which (from about the year A.D. 1640) has been gaining in potency and is producing two effects: it is breaking down the crystallised old forms of the Piscean age, and is stimulating the creative faculties, as they express themselves in group concepts, and group plans. As all of you well know, this is the cause of the present disturbed conditions, and these conditions can be summed up in the words: impersonalisation wherein the state, group or groups are regarded as of more importance than the individual and his rights; amalgamation, which is the tendency to fuse, blend, and cohere and to produce that interrelation which must eventually mark the intercourse of humanity and produce that “synthesis of all the single men”, which Browning so truly remarks is the goal of the evolutionary process and marks the conclusion of the journey of the divine prodigal; and sensitive intercommunication between units, groups and combinations of groups, both on the subjective and objective sides of manifestation. In these three words—impersonalisation, amalgamation, and intercommunication—you [620] have summed up for you the outstanding phenomena which are appearing among us at this time. Students are urged to consider the plan as it is thus expressing itself, and to study these growing tendencies in human affairs. The fact that they are so prominent will appear, if the student will take the trouble to consider the panorama of history; he will then note that even the history of five hundred years ago will reveal to him the fact that at that time great individuals were the prominent factors, and that history is concerned largely with the doings of powerful personalities who cast their spell over their time and age; then isolation and separateness governed human affairs and every man fought for his own land and every man forgot his brother and lived selfishly; then there was little interrelation between different races or between human families, and there was no real means of communication, except that of personal contact, which was frequently impossible.
|
Khuynh hướng hướng tới khát vọng và phụng sự này là đúng và tốt, và nên được nhìn như hình thành một phần của tâm thức phổ quát đang đến cùng trang bị của toàn thể nhân loại. Nó đang liên tục trồi lên bề mặt nhờ sức mạnh ngày càng tăng của ảnh hưởng Bảo Bình, vốn từ khoảng năm 1640 sau Công nguyên đã gia tăng quyền năng và đang tạo ra hai hiệu quả: nó phá vỡ các hình tướng cũ đã kết tinh của Kỷ Nguyên Song Ngư, và kích thích các năng lực sáng tạo khi chúng biểu lộ trong các khái niệm nhóm và kế hoạch nhóm. Như tất cả các bạn đều biết rõ, đây là nguyên nhân của những tình trạng rối loạn hiện nay, và các tình trạng này có thể được tóm lược trong những từ: phi cá nhân hóa, trong đó nhà nước, nhóm hay các nhóm được xem là quan trọng hơn cá nhân và các quyền của y; hợp nhất hóa, tức khuynh hướng dung hợp, hòa trộn và cố kết, đồng thời tạo ra mối tương liên cuối cùng phải đánh dấu sự giao tiếp của nhân loại và tạo nên “sự tổng hợp của mọi con người riêng lẻ”, điều mà Browning đã nhận xét rất đúng là mục tiêu của tiến trình tiến hoá và đánh dấu kết thúc cuộc hành trình của người con hoang đàng thiêng liêng; và giao thông liên lạc nhạy bén giữa các đơn vị, các nhóm và các tổ hợp nhóm, trên cả hai mặt chủ quan và khách quan của sự biểu hiện. Trong ba từ này — phi cá nhân hóa, hợp nhất hóa và giao thông liên lạc — các bạn [620] có phần tóm lược những hiện tượng nổi bật đang xuất hiện giữa chúng ta vào lúc này. Các đạo sinh được thúc giục hãy xem xét Thiên Cơ như nó đang tự biểu lộ như vậy, và nghiên cứu những khuynh hướng đang tăng trưởng này trong các sự vụ của nhân loại. Sự kiện chúng nổi bật đến thế sẽ hiện ra nếu đạo sinh chịu khó xem xét toàn cảnh lịch sử; khi ấy y sẽ ghi nhận rằng ngay cả lịch sử năm trăm năm trước cũng sẽ tiết lộ cho y sự kiện rằng vào thời ấy, các cá nhân vĩ đại là những yếu tố nổi bật, và lịch sử phần lớn quan tâm đến hành động của những phàm ngã quyền lực, những người đã phủ sức hấp dẫn của họ lên thời đại của mình; khi ấy sự cô lập và chia rẽ chi phối các sự vụ nhân loại, mỗi người chiến đấu cho vùng đất của riêng mình, mỗi người quên huynh đệ mình và sống ích kỷ; khi ấy có rất ít tương liên giữa các giống dân khác nhau hoặc giữa các gia đình nhân loại, và không có phương tiện giao tiếp thật sự nào ngoài tiếp xúc cá nhân, điều thường khi là không thể.
|
|
Students should therefore ponder on these words which will be found to become of increasing importance during the next fifty years. This is far enough ahead for the average student to look and to plan, and in their recognition of this phase of the working out of the divine Purpose, they would do well to study their individual life expression and to ask themselves the following questions:
|
Do đó, các đạo sinh nên suy ngẫm về những lời này, vốn sẽ được thấy là ngày càng quan trọng trong năm mươi năm tới. Đây là khoảng đủ xa phía trước để đạo sinh trung bình nhìn và hoạch định; và trong sự nhận biết của họ về giai đoạn này của việc thực thi Thiên Ý, họ nên nghiên cứu biểu hiện đời sống cá nhân của mình và tự hỏi những câu hỏi sau:
|
|
1. Are they wasting time in mystical dreams, or are they occupied in a practical application of the sensed spiritual truths, thus making them part of their daily experience?
|
1. Họ có đang lãng phí thời gian trong những giấc mơ thần bí, hay đang bận rộn với việc áp dụng thực tiễn các chân lý tinh thần đã cảm nhận, nhờ đó biến chúng thành một phần trong kinh nghiệm hằng ngày của mình?
|
|
2. Do they find that their reaction to the growing impersonality of the age is one of resentment, or do they find that this relatively new attitude of personal detachment is tending to solve their own personal problems? [621]
|
2. Họ có thấy rằng phản ứng của mình trước tính phi cá nhân ngày càng tăng của thời đại là sự oán giận, hay họ thấy rằng thái độ tương đối mới này của sự tách rời cá nhân đang có khuynh hướng giải quyết các vấn đề cá nhân của chính họ? [621]
|
|
3. Can they register an increasing ability to sense the thoughts and ideas of others, and do they find that they are becoming more sensitive and therefore more able to swing into the great tide of intercommunication?
|
3. Họ có thể ghi nhận một khả năng ngày càng tăng trong việc cảm nhận tư tưởng và ý tưởng của người khác, và họ có thấy rằng mình đang trở nên nhạy cảm hơn, do đó có khả năng hơn để hòa vào làn sóng lớn của giao thông liên lạc hay không?
|
|
4. How much is the faculty of dramatisation governing their daily life? Do they find that they are the centre of the universe, which revolves automatically around them, or are they working at the problem of decentralising themselves and at absorption in the whole?
|
4. Năng lực kịch tính hóa đang chi phối đời sống hằng ngày của họ đến mức nào? Họ có thấy rằng mình là trung tâm của vũ trụ, vũ trụ ấy tự động xoay quanh họ, hay họ đang làm việc với vấn đề thôi lấy bản thân làm trung tâm và hòa mình vào toàn thể?
|
|
These and other questions which will arise may serve to indicate the responsiveness of the aspirant to the coming in of the new age.
|
Những câu hỏi này và những câu hỏi khác sẽ nảy sinh có thể dùng để chỉ ra khả năng đáp ứng của người chí nguyện đối với sự đi vào của kỷ nguyên mới.
|
|
In this treatise on individual development and on astral control, a vision has been given and a rule of life expounded which holds in it the needed instruction for the interlude between the two great ages—the Piscean and the Aquarian. A part of the underlying purpose has been expressed in words—a purpose which is recognised by many all over the world and which is working out in practically every department of human life. It is subconsciously registered and intuitively followed by many who know nothing of the technicalities of the plan. Those who guide the human race are not particularly concerned as to the success of the emerging new conditions. That is most definitely assured, and the growth of human realisation and of the spiritual consciousness of non-separateness cannot be arrested. The problem is what means to continue to employ to bring these desired ends about in such a way that the form nature can be keyed up and prepared to handle its new responsibilities, and deal with its new knowledges without undue suffering and those painful cleavages and hours of agony which attract more attention than the more subtle and [622] successful growth of divine awareness. Every time there is a tendency towards synthesis and understanding in the world, every time the lesser is merged in the greater and the unit is blended in the whole, every time great and universal concepts make their impact upon the minds of the masses, there is a subsequent disaster and cataclysm and breaking down of the form aspect and of that which might prevent those concepts becoming physical plane facts. This is therefore the problem of the hierarchical workers: —how to avert the dreaded suffering and carry man along whilst the tidal wave of this spiritual realisation sweeps over the world and does its needed work. Hence the present call to service which is sounding like a trumpet in the ear of all attentive disciples.
|
Trong khảo luận này về sự phát triển cá nhân và về việc kiểm soát cõi cảm dục, một tầm nhìn đã được trao và một quy luật sống đã được giảng giải, trong đó chứa đựng giáo huấn cần thiết cho khoảng chuyển tiếp giữa hai thời đại lớn—Song Ngư và Bảo Bình. Một phần của mục đích nền tảng đã được diễn đạt thành lời—một mục đích được nhiều người khắp thế giới nhận ra và đang thành tựu trong hầu như mọi ngành của đời sống nhân loại. Mục đích ấy được nhiều người ghi nhận trong tiềm thức và noi theo bằng trực giác, dù họ không biết gì về các chi tiết kỹ thuật của Thiên Cơ. Những Đấng hướng dẫn nhân loại không đặc biệt bận tâm về sự thành công của các điều kiện mới đang xuất hiện. Điều đó chắc chắn tuyệt đối, và sự tăng trưởng trong nhận biết của nhân loại cùng tâm thức tinh thần về tính bất phân ly không thể bị ngăn lại. Vấn đề là cần tiếp tục dùng những phương tiện nào để đem lại các mục tiêu mong muốn ấy theo cách khiến bản chất hình tướng có thể được nâng đúng âm điệu và chuẩn bị để đảm nhận các trách nhiệm mới, cũng như xử lý các tri thức mới của nó mà không chịu đau khổ quá mức, không trải qua những chia rẽ đau đớn và những giờ phút thống khổ vốn thu hút nhiều chú ý hơn sự tăng trưởng tinh tế hơn và [622] thành công hơn của nhận thức thiêng liêng. Mỗi khi có một khuynh hướng hướng tới sự tổng hợp và thấu hiểu trong thế giới, mỗi khi cái nhỏ hơn được hòa nhập vào cái lớn hơn và đơn vị được hòa vào toàn thể, mỗi khi những quan niệm lớn lao và phổ quát tác động vào trí tuệ của quần chúng, thì sau đó có tai họa, biến động và sự tan vỡ của phương diện hình tướng cùng những gì có thể ngăn các quan niệm ấy trở thành sự kiện trên cõi hồng trần. Do đó, đây là vấn đề của các người hoạt động thuộc Thánh Đoàn: làm thế nào để ngăn ngừa sự đau khổ đáng sợ và đưa con người tiến tới trong khi làn sóng thủy triều của sự nhận biết tinh thần này quét qua thế giới và thực hiện công việc cần thiết của nó. Vì thế, lời kêu gọi phụng sự hiện nay đang vang lên như tiếng kèn trong tai mọi đệ tử chú tâm.
|
|
This call to service usually meets with a response, but that response is coloured by the personality of the aspirant and tinctured with his pride, and his ambition. Need is truly realised. The desire to meet the need is genuine and sincere; the longing to serve and lift is real. Steps are taken which are intended by the aspirant to enable him to fit in with the plan. But the trouble with which we on the inner side have perforce to deal is, that though there is no question as to willingness and desire to serve, the characters and temperaments are such that well nigh insuperable difficulties are presented. Through these aspirants we have to work, and the material they present gives us much trouble frequently.
|
Lời kêu gọi phụng sự này thường gặp sự đáp ứng, nhưng sự đáp ứng ấy bị nhuộm màu bởi phàm ngã của người chí nguyện và bị pha lẫn với lòng kiêu hãnh cùng tham vọng của y. Nhu cầu thật sự được nhận biết. Ước muốn đáp ứng nhu cầu là chân thật và thành tâm; niềm khao khát phụng sự và nâng đỡ là có thật. Người chí nguyện thực hiện những bước đi mà y cho là sẽ giúp y hòa hợp với Thiên Cơ. Nhưng khó khăn mà chúng tôi ở phía bên trong buộc phải xử lý là: dù không hề nghi ngờ về thiện chí và ước muốn phụng sự, tính cách và khí chất của họ lại tạo ra những khó khăn gần như không thể vượt qua. Chúng tôi phải làm việc qua các người chí nguyện này, và chất liệu mà họ đưa ra thường gây cho chúng tôi nhiều phiền toái.
|
|
These latent characteristics often do not make their appearance until after the service has been undertaken. That they are there, the watching guides may suspect, but even they have not the right to withhold opportunity. When there is this delayed appearance the tragedy is that many others suffer besides the aspirant concerned. As the human fabric makes itself felt and stands out of the mist of idealism, of lovely plans and much talk and arranging, many are in the meantime attracted by synchronous [623] idealism, and gather around the server. When the hidden weaknesses appear, they suffer as well as he. The method of the Great Ones, which is to seek out those who have trained themselves somewhat in sensitive response and to work through them, carries with it certain dangers. The ordinary well-meaning aspirant is not in such danger as the more advanced and active disciple. He is in danger in three directions and can be swept off his feet in three ways:
|
Những đặc tính tiềm ẩn này thường chỉ xuất hiện sau khi công việc phụng sự đã được đảm nhận. Các vị hướng dẫn đang quan sát có thể nghi ngờ rằng chúng hiện hữu, nhưng ngay cả Các Ngài cũng không có quyền từ chối cơ hội. Khi sự xuất hiện ấy bị trì hoãn, bi kịch là ngoài người chí nguyện liên hệ, nhiều người khác cũng phải chịu khổ. Khi kết cấu nhân loại tự bộc lộ và nổi bật khỏi làn sương mù của chủ nghĩa lý tưởng, của các kế hoạch đẹp đẽ, của nhiều lời nói và sắp đặt, thì trong lúc ấy nhiều người bị thu hút bởi [623] chủ nghĩa lý tưởng đồng nhịp và tụ họp quanh người phụng sự. Khi các yếu điểm ẩn giấu xuất hiện, họ cũng chịu khổ như y. Phương pháp của Các Đấng Cao Cả—tức là tìm ra những người đã phần nào tự rèn luyện trong sự đáp ứng nhạy bén và làm việc qua họ—mang theo những nguy cơ nhất định. Người chí nguyện bình thường, có thiện chí, không ở trong nguy hiểm nhiều như đệ tử tiến bộ và hoạt động hơn. Y gặp nguy hiểm theo ba hướng và có thể bị cuốn bật khỏi chỗ đứng của mình theo ba cách:
|
|
1. His whole nature is under undue stimulation on account of his inner contacts and the spiritual forces with which he is in touch, and this carries with it real danger, for he hardly knows as yet how to handle himself, and is scarcely aware of the risk entailed.
|
1. Toàn bộ bản chất của y bị kích thích quá mức do các tiếp xúc bên trong và các mãnh lực tinh thần mà y đang liên hệ, và điều này mang theo nguy hiểm thật sự, vì y hầu như chưa biết cách xử lý chính mình và hầu như chưa nhận thức được nguy cơ kéo theo.
|
|
2. The people with whom he is working, in their turn, make his problem. Their greed, their adulation, and praise, and their criticism tend to becloud his way. Because he is not sufficiently detached and spiritually advanced, he walks bemused in a cloud of thought-forms, and knows it not. Thus he loses his way and wanders from the original intent and again he knows it not.
|
2. Những người mà y đang làm việc cùng, đến lượt họ, lại tạo nên vấn đề của y. Lòng tham, sự tôn sùng và khen ngợi, cũng như sự chỉ trích của họ có khuynh hướng làm mờ lối đi của y. Vì y chưa đủ tách rời và chưa tiến bộ về mặt tinh thần, y bước đi trong mê hoặc giữa một đám mây các hình tư tưởng mà không hay biết. Như thế y lạc đường, rời khỏi ý định ban đầu, và một lần nữa y không hay biết.
|
|
3. His latent weaknesses must emerge under the pressure of the work, and inevitably he will show signs of cracking at times, if I may use such a word. The personality faults become strengthened as he seeks to carry his particular form of service to the world. I refer to that service which is self-sought and formulated on a background of personal ambition and love of power, even if only partially recognised or not recognised at all. He is under strain naturally, and—like a man carrying a heavy load up a steep hill—he discovers points of strain, and evinces a tendency to break [624] down physically, or to lower his ideal so as to conform to weaknesses.
|
3. Các yếu điểm tiềm ẩn của y phải xuất hiện dưới áp lực của công việc, và tất yếu đôi khi y sẽ cho thấy dấu hiệu rạn nứt, nếu tôi có thể dùng từ ấy. Những lỗi lầm của phàm ngã trở nên mạnh hơn khi y tìm cách đem hình thức phụng sự riêng của mình đến với thế giới. Tôi đang nói đến loại phụng sự do tự mình tìm kiếm và được hình thành trên nền tảng của tham vọng cá nhân và lòng yêu quyền lực, dù điều ấy chỉ được nhận ra một phần hoặc hoàn toàn không được nhận ra. Tự nhiên y ở dưới sức căng, và—giống như một người mang gánh nặng lên một ngọn đồi dốc—y phát hiện các điểm căng thẳng và bộc lộ khuynh hướng suy [624] sụp về thể xác, hoặc hạ thấp lý tưởng của mình để phù hợp với các yếu điểm.
|
|
To all this must be added the strain of the period itself, and the general condition of unhappy humanity. This subconsciously has its effect on all disciples, and upon all who are now working in the world. Some are showing signs of physical pressure, though the inner life remains poised and normal, sane and rightly oriented. Others are breaking up emotionally and this produces two effects according to the point of development of the aspirant to service. He is either, through the strain, learning detachment, and this curiously enough is what might be called the “defense mechanism” of the soul in this present period of world unfoldment, or he is becoming increasingly nervous and is on the way to become a neurotic. Others, again, are feeling the pressure in the mental body. They become bewildered in some cases and no clear truth appears. They then work on without inspiration, and because they know it to be right and they also have the rhythm of work. Others are grasping opportunity as they see it and, to do so, fall back on innate self-assertion (which is the outstanding fault of the mental types) and build up a structure around their service, and construct a form which in reality embodies what they desire, what they think to be right, but which is separative and the child of their minds and not the child of their souls. Some, in their turn, more potent and more coordinated, feel the pressure of the entire personality; the versatile psychic nature responds both to need and to the theory of the plan; they realise their truly valuable assets and know they have somewhat to contribute. They are still, however, so full of what is called personality that their service is gradually and steadily stepped down to the level of that personality, and is consequently coloured by their personality reactions, their likes and dislikes, [625] and their individual life tendencies and habits. These eventually assert themselves and there is then a worker, doing good work but spoiling it all by this unrealised separateness and individual methods. This means that such a worker gathers to himself only those whom he can subordinate and govern. His group is not coloured by the impulses of the new age, but by the separative instincts of the worker at the centre. The danger here is so subtle that much care must be taken by a disciple in self-analysis. It is so easy to be glamoured by the beauty of one’s own ideals and vision, and by the supposed rectitude of one’s own position, and yet all the time be influenced subjectively by love of personal power, individual ambition, jealousy of other workers, and the many traps which catch the feet of the unwary disciple.
|
Vào tất cả những điều này phải thêm sức căng của chính thời kỳ hiện nay, và tình trạng chung của nhân loại bất hạnh. Điều này tác động trong tiềm thức đến mọi đệ tử và đến tất cả những ai hiện đang hoạt động trong thế giới. Một số người cho thấy dấu hiệu áp lực trên thể xác, dù đời sống bên trong vẫn quân bình, bình thường, lành mạnh và được định hướng đúng. Những người khác đang tan vỡ về mặt cảm xúc, và điều này tạo ra hai kết quả tùy theo điểm phát triển của người chí nguyện phụng sự. Hoặc do sức căng, y đang học sự tách rời—và điều này, lạ thay, có thể được gọi là “cơ chế phòng vệ” của linh hồn trong thời kỳ khai mở hiện nay của thế giới—hoặc y ngày càng trở nên căng thẳng thần kinh và đang trên đường thành người loạn thần kinh. Lại có những người khác cảm thấy áp lực trong thể trí. Trong vài trường hợp, họ trở nên hoang mang và không thấy chân lý rõ ràng nào. Khi ấy họ tiếp tục làm việc mà không có cảm hứng, bởi vì họ biết đó là điều đúng, và cũng vì họ có nhịp điệu của công việc. Những người khác nắm lấy cơ hội như họ thấy, và để làm như vậy, họ dựa vào sự tự khẳng định bẩm sinh, vốn là lỗi nổi bật của các loại trí tuệ, rồi dựng lên một cấu trúc quanh công việc phụng sự của họ, kiến tạo một hình tướng mà trong thực tế hiện thân cho điều họ mong muốn, điều họ cho là đúng, nhưng lại có tính chia rẽ và là đứa con của thể trí họ, chứ không phải đứa con của linh hồn họ. Đến lượt một số người khác, mạnh mẽ hơn và phối hợp hơn, cảm thấy áp lực của toàn bộ phàm ngã; bản chất thông linh linh hoạt đáp ứng cả nhu cầu lẫn lý thuyết của Thiên Cơ; họ nhận biết những ưu điểm thật sự quý giá của mình và biết rằng họ có điều gì đó để đóng góp. Tuy nhiên, họ vẫn còn quá đầy cái gọi là phàm ngã đến nỗi công việc phụng sự của họ dần dần và đều đặn bị hạ xuống cấp độ của phàm ngã ấy, và vì thế bị nhuộm màu bởi các phản ứng phàm ngã, các điều họ thích và không thích, [625] cùng các khuynh hướng và thói quen của đời sống cá nhân. Cuối cùng những điều này tự khẳng định, và khi ấy có một người hoạt động đang làm công việc tốt nhưng làm hỏng tất cả bởi sự phân ly không được nhận biết này và bởi các phương pháp cá nhân. Điều đó có nghĩa là người hoạt động ấy chỉ thu hút về mình những ai y có thể đặt dưới quyền và cai quản. Nhóm của y không được nhuộm màu bởi các xung lực của kỷ nguyên mới, mà bởi các bản năng chia rẽ của người hoạt động ở trung tâm. Nguy cơ ở đây tinh vi đến mức đệ tử phải hết sức cẩn trọng trong việc tự phân tích. Rất dễ bị ảo cảm bởi vẻ đẹp của các lý tưởng và tầm nhìn của chính mình, bởi tính đúng đắn giả định của lập trường riêng mình, trong khi suốt thời gian đó vẫn bị ảnh hưởng một cách chủ quan bởi lòng yêu quyền lực cá nhân, tham vọng cá nhân, sự ganh tị với các người hoạt động khác, và nhiều cạm bẫy bắt lấy đôi chân của đệ tử thiếu cảnh giác.
|
|
But if true impersonality is cultivated, if the power to stand steady is developed, if every situation is handled in a spirit of love and if there is a refusal to take hasty action and to permit separation to creep in, then there will be the growth of a group of true servers, and the gathering out of those who can materialise the plan and bring to birth the new age and its attendant wonders.
|
Nhưng nếu sự vô ngã chân thật được vun trồng, nếu năng lực đứng vững được phát triển, nếu mọi tình huống được xử lý trong tinh thần bác ái, và nếu có sự từ chối hành động vội vàng cũng như từ chối cho phép sự chia rẽ len vào, thì sẽ có sự tăng trưởng của một nhóm những người phụng sự chân thật, và sự quy tụ những người có thể hiện hình Thiên Cơ, khai sinh kỷ nguyên mới cùng các kỳ diệu đi kèm của nó.
|
|
To do this, there must be courage of the rarest kind. Fear holds the world in thrall, and no one is exempt from its influence. For the aspirant and for the disciple are two kinds of fear which require to be especially considered. The fears that we dealt with in the earlier part of the treatise, and the fears that are inherent, as you know, in existence itself are familiar to all of us. They have their root in the instinctual nature (economic fears, fears arising out of the sex life, physical fear and terror, fear of the unknown, with that dominating fear of death which colours so many lives) and have been the subject of much psychological investigation. With them I do not seek to deal. They are to be overcome by the life of the soul as it permeates and transforms the daily life, [626] and by the refusal of the aspirant to accord them any recognition. The first method builds towards future strength of character, and prevents the coming in of any new fears. They cannot exist when the soul is consciously controlling life and its situations. The second negatives the old thought forms and brings about eventually their destruction through lack of nourishment. A dual process is therefore carried forward, producing a genuine manifestation of the qualities of the spiritual man and a growing freedom from the thralldom of age-old fear concepts. The student finds himself becoming steadily detached from the prime governing instincts which have hitherto served to weld him into the general scheme of the elementary planetary life. It might be valuable here to point out that all the major instincts have their roots in that peculiar quality of the planetary life, —fear reactions, leading to activity of some kind. As you know the psychologists list five main and dominant instincts, and we will very briefly touch upon them.
|
Để làm được điều này, cần có lòng can đảm thuộc loại hiếm hoi nhất. Sợ hãi đang giam giữ thế giới, và không ai được miễn khỏi ảnh hưởng của nó. Đối với người chí nguyện và đệ tử, có hai loại sợ hãi cần được đặc biệt xem xét. Những nỗi sợ mà chúng ta đã bàn ở phần trước của khảo luận, và những nỗi sợ vốn có trong chính sự hiện hữu, như các bạn biết, đều quen thuộc với tất cả chúng ta. Chúng bắt rễ trong bản chất bản năng: các nỗi sợ kinh tế, các nỗi sợ phát sinh từ đời sống tính dục, sợ hãi và kinh hoàng về thể xác, sợ điều chưa biết, cùng nỗi sợ chết chi phối và nhuộm màu rất nhiều đời sống; và chúng đã là đề tài của nhiều cuộc nghiên cứu tâm lý. Tôi không tìm cách bàn đến chúng ở đây. Chúng phải được vượt qua bằng đời sống của linh hồn khi đời sống ấy thấm nhuần và chuyển đổi đời sống hằng ngày, [626] và bằng việc người chí nguyện từ chối dành cho chúng bất kỳ sự công nhận nào. Phương pháp thứ nhất xây dựng sức mạnh tính cách trong tương lai và ngăn không cho bất kỳ nỗi sợ mới nào đi vào. Chúng không thể tồn tại khi linh hồn có ý thức kiểm soát đời sống và các tình huống của nó. Phương pháp thứ hai phủ định các hình tư tưởng cũ và cuối cùng đem lại sự hủy diệt chúng do thiếu nuôi dưỡng. Vì thế một tiến trình kép được tiến hành, tạo ra sự biểu lộ chân thật các phẩm tính của con người tinh thần và một sự tự do ngày càng tăng khỏi ách nô lệ của các quan niệm sợ hãi lâu đời. Đạo sinh thấy mình dần dần tách rời khỏi các bản năng cai quản sơ khởi, vốn cho đến nay đã dùng để gắn kết y vào hệ thống chung của đời sống hành tinh sơ khai. Ở đây có thể hữu ích khi chỉ ra rằng tất cả các bản năng chính đều có gốc rễ trong phẩm tính đặc thù ấy của đời sống hành tinh—các phản ứng sợ hãi dẫn đến một loại hoạt động nào đó. Như các bạn biết, các nhà tâm lý học liệt kê năm bản năng chính và chi phối, và chúng ta sẽ đề cập rất vắn tắt đến chúng.
|
|
The instinct of self-preservation has its roots in an innate fear of death; through the presence of this fear, the race has fought its way to its present point of longevity and endurance. The sciences which concern themselves with the preservation of life, the medical knowledge of the day, and the achievements of civilised comfort have all grown out of this basic fear. All has tended to the persistence of the individual, and to his preserved condition of being. Humanity persists, as a race and as a kingdom in nature, as a result of this fear tendency, this instinctual reaction of the human unit to self-perpetuation.
|
Bản năng tự bảo tồn có gốc rễ trong nỗi sợ chết bẩm sinh; nhờ sự hiện diện của nỗi sợ này, nhân loại đã chiến đấu để đạt đến điểm trường thọ và sức chịu đựng hiện nay. Các ngành khoa học liên quan đến việc bảo tồn sự sống, tri thức y học ngày nay, và các thành tựu của tiện nghi văn minh đều phát triển từ nỗi sợ căn bản này. Tất cả đều hướng đến sự tồn tại bền bỉ của cá nhân và đến tình trạng hiện hữu được bảo tồn của y. Nhân loại tồn tại, như một giống loài và như một giới trong thiên nhiên, nhờ khuynh hướng sợ hãi này, phản ứng bản năng này của đơn vị nhân loại đối với sự tự duy trì.
|
|
The instinct of sex has its main root in the fear of separateness and of isolation, and in a revolt against separative unity on the physical plane, against aloneness; and it has resulted in the carrying forward of the race and [627] the persistence and propagation of the forms through which the race can come into manifestation.
|
Bản năng tính dục có gốc rễ chính trong nỗi sợ phân ly và cô lập, trong sự nổi loạn chống lại tính hợp nhất chia rẽ trên cõi hồng trần, chống lại sự đơn độc; và nó đã đưa nhân loại tiếp tục tiến lên, [627] đồng thời duy trì và truyền sinh các hình tướng qua đó nhân loại có thể đi vào biểu hiện.
|
|
The herd instinct can easily be seen to have its root in a similar reaction; for the sense of safety and for convinced assured security—based on numerical aggregations—men have always sought their own kind and herded themselves together for defense and for economic stability. Out of this instinctual reaction of the race as a whole, our modern civilisation is the result; its vast centres, its huge cities and its massed tenements have emerged, and we have modern herding, carried to the nth degree.
|
Bản năng bầy đàn có thể dễ dàng thấy là bắt rễ trong một phản ứng tương tự; vì cảm giác an toàn và vì sự bảo đảm chắc chắn—dựa trên các tập hợp đông đảo—con người luôn tìm kiếm đồng loại của mình và tụ họp lại với nhau để phòng vệ và để ổn định kinh tế. Từ phản ứng bản năng này của toàn thể nhân loại, nền văn minh hiện đại của chúng ta đã phát sinh; các trung tâm rộng lớn, các thành phố khổng lồ và những khu nhà ở dày đặc của nó đã xuất hiện, và chúng ta có sự tụ đàn hiện đại, được đẩy đến mức tột cùng.
|
|
The fourth great instinct, that of self-assertion, is also based on fear; it connotes the fear of the individual that he will fail of recognition and thus lose much that would otherwise be his. As time has progressed, the selfishness of the race has thus grown; its sense of acquisitiveness has developed and the power to grasp has emerged (the “will to power” in some form or another) until today we have the intense individualism and the positive sense of importance which have produced much of the modern economic and national troubles. We have fostered self-determination, self-assertion and self-interest until we are presented with a well-nigh insuperable problem. But out of it all, much good has come and will come, for no individual is of value until he realises that value for himself, and then with definiteness sacrifices the acquired values for the good of the whole.
|
Bản năng lớn thứ tư, tức sự tự khẳng định, cũng đặt nền trên sợ hãi; nó hàm ý nỗi sợ của cá nhân rằng y sẽ không được công nhận và do đó mất nhiều điều lẽ ra thuộc về y. Theo dòng thời gian, tính ích kỷ của nhân loại vì thế đã tăng trưởng; ý thức chiếm hữu của nó đã phát triển và năng lực nắm giữ đã xuất hiện, tức “ý chí quyền lực” dưới hình thức này hay hình thức khác, cho đến ngày nay chúng ta có chủ nghĩa cá nhân mãnh liệt và cảm thức tích cực về tầm quan trọng, vốn đã tạo ra nhiều rối ren kinh tế và quốc gia hiện đại. Chúng ta đã nuôi dưỡng sự tự quyết, sự tự khẳng định và lợi ích riêng cho đến khi đối diện với một vấn đề gần như không thể vượt qua. Nhưng từ tất cả điều đó, nhiều điều tốt đẹp đã đến và sẽ đến, vì không cá nhân nào có giá trị cho đến khi y tự nhận ra giá trị ấy cho chính mình, rồi sau đó dứt khoát hiến dâng các giá trị đã đạt được cho lợi ích của toàn thể.
|
|
The instinct to enquire in its turn is based on fear of the unknown, but out of this fear has emerged—as a result of age-long enquiry—our present educational and cultural systems and the entire structure of scientific investigation.
|
Đến lượt bản năng tìm hiểu đặt nền trên nỗi sợ điều chưa biết, nhưng từ nỗi sợ này—như kết quả của sự tìm hiểu qua nhiều thời đại—đã xuất hiện các hệ thống giáo dục và văn hóa hiện nay của chúng ta cùng toàn bộ cấu trúc nghiên cứu khoa học.
|
|
These tendencies, based on fear have (because man is divine) acted as a tremendous stimulation of his entire nature, and have carried him forward to his present point [628] of wide comprehension and usefulness; they have produced our modern civilisation with all its defects and yet with all its indicated divinity. Out of these instincts carried forward into infinity, and out of the process of their transmutation into their higher correspondences the full flower of soul expression will emerge. I would like to point out the following:
|
Các khuynh hướng này, đặt nền trên sợ hãi, bởi vì con người là thiêng liêng, đã tác động như một sự kích thích mạnh mẽ đối với toàn bộ bản chất của y và đã đưa y tiến tới điểm hiện nay [628] của sự thấu hiểu rộng rãi và tính hữu dụng; chúng đã tạo ra nền văn minh hiện đại của chúng ta với tất cả những khiếm khuyết của nó, nhưng cũng với tất cả thiên tính được chỉ ra của nó. Từ các bản năng này khi được đưa tiến vào vô hạn, và từ tiến trình chuyển hoá chúng thành các tương ứng cao hơn của chúng, đóa hoa trọn vẹn của sự biểu lộ linh hồn sẽ xuất hiện. Tôi muốn chỉ ra những điều sau:
|
|
The instinct of self-presentation finds its consummation in assured immortality, and of this the work undertaken by the spiritualists and psychic investigators right down the ages is the mode of approach and the inevitable guarantee.
|
Bản năng tự bảo tồn đạt đến sự viên mãn của nó trong tính bất tử chắc chắn, và công việc do các nhà thần linh học cùng các nhà nghiên cứu thông linh thực hiện suốt các thời đại là phương thức tiếp cận và sự bảo đảm tất yếu cho điều này.
|
|
The sex instinct has worked out and finds its logical consummation in the relationship—consciously realised—of the soul and the body. This is the keynote of mysticism and religion, which is today, as ever, the expression of the Law of Attraction, not as it expresses itself through physical plane marriage, but as it finds its consummation (for man) in the sublime marriage carried forward with conscious intent between the positive soul and the negative and receptive form.
|
Bản năng tính dục đã vận hành và tìm thấy sự viên mãn hợp lý của nó trong mối tương quan—được nhận biết một cách có ý thức—giữa linh hồn và thân thể. Đây là chủ âm của Thần bí học và tôn giáo, vốn ngày nay cũng như bao giờ là sự biểu lộ của Định luật Hấp Dẫn, không phải như nó biểu lộ qua hôn nhân trên cõi hồng trần, mà như nó đạt đến sự viên mãn, đối với con người, trong cuộc hôn phối cao cả được tiến hành với ý định có ý thức giữa linh hồn dương tính và hình tướng âm tính, tiếp nhận.
|
|
The herd instinct finds its divine consummation in an awakened group consciousness, which is evidenced today in the general tendency towards amalgamations, and the widespread fusing and blending which are going on everywhere. It demonstrates in the ability to think in terms of internationalism, of universal concepts, which will eventually result in the establishing of universal brotherhood.
|
Bản năng bầy đàn tìm thấy sự viên mãn thiêng liêng của nó trong một tâm thức nhóm được thức tỉnh, điều đang được chứng minh ngày nay qua khuynh hướng chung hướng tới các sự hợp nhất, và sự dung hợp cùng hòa trộn rộng khắp đang diễn ra ở mọi nơi. Nó biểu lộ trong năng lực suy nghĩ theo tinh thần quốc tế, theo các quan niệm phổ quát, điều cuối cùng sẽ dẫn đến việc thiết lập tình huynh đệ phổ quát.
|
|
The instinct of self-assertion, in its turn, has given to our modern civilisation its intense individualism, the cult of the personality, and the production of ancestor and hero-worship. It is leading, however, to the assertion of the Self, of the divine inner Ruler, and out of our newest science, psychology, will emerge a knowledge of the assertive and dominant spiritual Self, and lead [629] finally to the manifestation of the kingdom of souls on earth.
|
Đến lượt bản năng tự khẳng định đã đem lại cho nền văn minh hiện đại của chúng ta chủ nghĩa cá nhân mãnh liệt, sự sùng bái phàm ngã, và việc tạo ra sự thờ phụng tổ tiên cùng anh hùng. Tuy nhiên, nó đang dẫn đến sự khẳng định của Bản Ngã, của Đấng Cai Quản thiêng liêng bên trong; và từ khoa học mới nhất của chúng ta, Tâm Lý Học, sẽ xuất hiện tri thức về Bản Ngã tinh thần có tính khẳng định và chi phối, rồi cuối [629] cùng dẫn đến sự biểu lộ của giới linh hồn trên Trái Đất.
|
|
And what of the instinct to enquire? Transmuted into divine investigation and transformed by the application of the light of the soul in the realm of enquiry, we shall have humanity carried forward into the Hall of Wisdom and thus man will leave behind the experiences of the Hall of Knowledge. Our great educational centres will become schools for the development of intuitive perception and of spiritual awareness.
|
Còn bản năng tìm hiểu thì sao? Khi được chuyển hoá thành sự khảo cứu thiêng liêng và được chuyển đổi bằng việc áp dụng ánh sáng của linh hồn trong lĩnh vực tìm hiểu, chúng ta sẽ có nhân loại được đưa tiến vào Phòng Minh triết, và như thế con người sẽ bỏ lại phía sau các kinh nghiệm của Phòng Hiểu Biết. Các trung tâm giáo dục lớn của chúng ta sẽ trở thành những trường học để phát triển nhận thức trực giác và nhận thức tinh thần.
|