Bình Giảng Luận Về Lửa Vũ Trụ S2S9 (202-213)

📘 Sách: Bình Giảng Luận Về Lửa Vũ Trụ – S2 – Tác giả: Michael D. Robbins

Tải xuống định dạng:

DOCXPDF
DOCDOCX📄PDF

TCF 202-213 S2S9

1. We recall our context—the senses and centres.

1. Chúng ta nhớ lại bối cảnh của mình—các giác quan và các trung tâm.

The consideration of this subject awakens the realisation of the vastness of the region of thought concerned—the region of the whole evolutionary development of the human being.

Việc khảo sát chủ đề này đánh thức sự chứng nghiệm về tính bao la của lĩnh vực tư tưởng được liên hệ—lĩnh vực của toàn bộ sự phát triển tiến hoá của con người.

2. Could we but trace the evolution of humanity, it would reveal the unfoldment of the senses. Along with this method of tracing unfoldment, we could trace the unfoldment of the petals of the egoic lotus. The two unfoldments obviously parallel each other.

2. Giá như chúng ta có thể truy theo tiến hoá của nhân loại, điều đó sẽ cho thấy sự khai mở của các giác quan. Cùng với phương pháp truy theo sự khai mở này, chúng ta có thể truy theo sự khai mở của các cánh hoa của hoa sen chân ngã. Hai sự khai mở ấy hiển nhiên song hành với nhau.

3. It is probable that response to sound correlates with the unfoldment of the knowledge petals; response to touch with the love petals; and response to sight, the sacrifice petals. This analogy is only general and does not mean that acute touch or sight will not be found during the lengthy unfoldment of the knowledge petals.

3. Có lẽ sự đáp ứng với âm thanh tương quan với sự khai mở của các cánh hoa tri thức; sự đáp ứng với xúc chạm tương quan với các cánh hoa bác ái; và sự đáp ứng với thị giác tương quan với các cánh hoa hi sinh. Sự tương đồng này chỉ có tính khái quát và không có nghĩa là xúc giác hay thị giác sắc bén sẽ không được tìm thấy trong suốt tiến trình dài lâu khai mở các cánh hoa tri thức.

4. From this perspective, the emergence of sight correlates with the process of initiation (which necessitates the unfoldment of the sacrifice petals).

4. Từ góc nhìn này, sự xuất hiện của thị giác tương quan với tiến trình điểm đạo (điều đòi hỏi sự khai mở của các cánh hoa hi sinh).

Yet all that is possible here, as elsewhere, is to indicate lines of thought for careful pondering, and to emphasise certain ideas which may serve as the foundation thoughts for the future mental activity of the immediate generation.

Tuy nhiên, ở đây cũng như ở nơi khác, tất cả những gì có thể làm chỉ là chỉ ra những đường hướng tư tưởng để suy ngẫm cẩn trọng, và nhấn mạnh một số ý tưởng nào đó có thể dùng làm những tư tưởng nền tảng cho hoạt động trí tuệ tương lai của thế hệ trước mắt.

5. VSK states: ‘We see here emphasized that this is foundational for mental activity of the immediate generation. Does this include us, or are we now past the stage of mental development? What is meant by “immediate generation”? Why would mental activity, and not something more holistic or intuitional be suggested?

5. VSK nói: ‘Ở đây chúng ta thấy được nhấn mạnh rằng điều này là nền tảng cho hoạt động trí tuệ của thế hệ trước mắt. Điều này có bao gồm chúng ta không, hay hiện nay chúng ta đã vượt qua giai đoạn phát triển trí tuệ ấy rồi? “Thế hệ trước mắt” có nghĩa là gì? Tại sao lại gợi ý hoạt động trí tuệ, chứ không phải điều gì toàn diện hơn hay trực giác hơn?

6. It is suggested that there is a close correlation between the senses and the mind, both ruled by the number five.

6. Người ta gợi ý rằng có một sự tương quan chặt chẽ giữa các giác quan và trí tuệ, cả hai đều được cai quản bởi con số năm.

7. It is also suggested that the role of the senses (and of the higher senses or faculties) in the unfoldment of human consciousness is not well understood, and that much mental activity must be expended on this subject.

7. Cũng có ý rằng vai trò của các giác quan (và của các giác quan hay năng lực cao hơn) trong sự khai mở của tâm thức con người chưa được thấu hiểu đầy đủ, và rằng phải dành nhiều hoạt động trí tuệ cho chủ đề này.

The following facts must also be borne in mind when considering the matter:

Cũng phải ghi nhớ những sự kiện sau đây khi xem xét vấn đề này:

a. That the senses have been dealt with in this division of our Treatise on Cosmic Fire because they concern the material form.

a. Rằng các giác quan đã được đề cập trong phần này của Luận về Lửa Vũ Trụ của chúng ta vì chúng liên quan đến hình tướng vật chất.

8. We remember that this section of the Treatise is especially concerned with an analysis of the material form.

8. Chúng ta nhớ rằng phần này của Luận thuyết đặc biệt quan tâm đến việc phân tích hình tướng vật chất.

Strictly speaking the five senses, as we know them, are the means of contact built up by the Thinker (polarised in his etheric body) and find their expression in the physical form in those nerve centres, brain cells, ganglia and plexus which exoteric science recognises.

Nói một cách chính xác, năm giác quan, như chúng ta biết, là những phương tiện tiếp xúc được Thức giả xây dựng nên (phân cực trong thể dĩ thái của y) và tìm thấy sự biểu lộ của chúng trong hình thể hồng trần nơi những trung tâm thần kinh, tế bào não, hạch thần kinh và đám rối mà khoa học ngoại môn thừa nhận.

9. The Tibetan is speaking “strictly”.

9. Chân sư Tây Tạng đang nói một cách “chính xác”.

10. The physical body (in this solar system) is never a principle, and the true physical nature of man is etheric.

10. Thể xác (trong hệ mặt trời này) không bao giờ là một nguyên khí, và bản chất hồng trần đích thực của con người là dĩ thái.

11. The archetypal polarization of the Thinker is, initially, in the etheric body, but there can be no doubt that the ability to sense the energy flows of the etheric body increases dramatically with the refinement which evolution brings.

11. Sự phân cực nguyên mẫu của Thức giả, lúc đầu, ở trong thể dĩ thái, nhưng không thể nghi ngờ rằng khả năng cảm nhận các dòng năng lượng của thể dĩ thái tăng lên mạnh mẽ cùng với sự tinh luyện mà tiến hoá mang lại.

12. As human development proceeded, the focus of human consciousness ascends through the personality vehicles and beyond, bringing an ascending series of senses (or psychic powers) under generation and cultivation.

12. Khi sự phát triển của con người tiến triển, tiêu điểm tâm thức con người đi lên xuyên qua các vận cụ của phàm ngã và vượt xa hơn nữa, đưa một chuỗi tăng dần các giác quan (hay năng lực thông linh) vào tiến trình phát sinh và vun bồi.

13. The expression of these “means of contact” through “nerve centres, brain cells, ganglia and plexus” is merely a reflection of energy structures to be found within the etheric body, and with roots even deeper in the subtle nature of man.

13. Sự biểu lộ của những “phương tiện tiếp xúc” này qua “các trung tâm thần kinh, tế bào não, hạch thần kinh và đám rối” chỉ là một phản ánh của các cấu trúc năng lượng được tìm thấy trong thể dĩ thái, và còn có gốc rễ sâu hơn nữa trong bản chất vi tế của con người.

14. We note that the senses are “built up by the Thinker”. This means that they are derived from the potency of the soul on its own plane as that soul is focussed within the various vehicles.

14. Chúng ta lưu ý rằng các giác quan được “Thức giả xây dựng nên”. Điều này có nghĩa là chúng bắt nguồn từ tiềm lực của linh hồn trên cõi riêng của nó khi linh hồn ấy được tập trung trong các vận cụ khác nhau.

15. A study of occult history indicates that, over time, there has been a considerable development of the senses. Even the five normal senses were not always as they are now.

15. Một nghiên cứu về lịch sử huyền bí học cho thấy rằng, theo thời gian, đã có một sự phát triển đáng kể của các giác quan. Ngay cả năm giác quan thông thường cũng không phải lúc nào cũng như hiện nay.

b. That these senses for all purposes of present manifestation, have their focal point on the astral plane and are therefore largely under the stimulating action of the solar plexus—that great focal point in the centre of the body which is the stimulating agent for most of the human family at this time.

b. Rằng các giác quan này, xét cho mọi mục đích của sự biểu hiện hiện tại, có tiêu điểm của chúng trên cõi cảm dục và vì vậy phần lớn nằm dưới tác động kích thích của tùng thái dương—tiêu điểm lớn lao ấy ở trung tâm cơ thể, vốn là tác nhân kích thích đối với phần lớn gia đình nhân loại vào lúc này.

16. VSK inquires: If Thinker is polarised in the etheric, why is the focal point on the astral plane? Or is this just the majority? What are the other possibilities?

16. VSK hỏi: Nếu Thức giả phân cực trong thể dĩ thái, tại sao tiêu điểm lại ở trên cõi cảm dục? Hay đây chỉ là đa số? Những khả năng khác là gì?

17. It is suggested that the Tibetan speaks of the astral plane because of the great sensitivity of that vehicle—especially in this astral-buddhic solar system.

17. Người ta gợi ý rằng Chân sư Tây Tạng nói đến cõi cảm dục vì tính nhạy cảm lớn lao của vận cụ ấy—đặc biệt trong hệ mặt trời cảm dục-Bồ đề này.

18. It is also to be remembered that the majority of human beings is, at this time, astrally focussed, hence it is natural that the solar plexus would be the principle source for sensory stimulation.

18. Cũng cần nhớ rằng đa số nhân loại hiện nay được tập trung trên cõi cảm dục, vì thế việc tùng thái dương là nguồn chính của sự kích thích giác quan là điều tự nhiên.

19. We note, however, the use of the word “largely” which suggests that the senses can be stimulated by other centers.

19. Tuy nhiên, chúng ta lưu ý việc dùng từ “phần lớn”, điều này gợi ý rằng các giác quan có thể được kích thích bởi những trung tâm khác.

20. As evolution proceeds, the focus of human consciousness also rises, and with this ascent, different senses will come under generation and cultivation. The senses ‘left behind’, as it were, become automatic in their functioning.

20. Khi tiến hoá tiếp diễn, tiêu điểm tâm thức con người cũng nâng lên, và cùng với sự đi lên này, những giác quan khác nhau sẽ được đưa vào tiến trình phát sinh và vun bồi. Những giác quan bị “bỏ lại phía sau”, có thể nói như vậy, trở nên tự động trong hoạt động của chúng.

c. That as the higher triangle comes into play and the polarisation steps up to the higher centres, the senses begin to make themselves felt on the mental level and [Page 203] man becomes aware on that plane.

c. Rằng khi tam giác cao hơn bắt đầu hoạt động và sự phân cực nâng lên các trung tâm cao hơn, các giác quan bắt đầu tự biểu lộ trên cấp độ trí tuệ và [Page 203] con người trở nên nhận biết trên cõi ấy.

21. We remember that man controlled from the astral plane is focussed in the base of the spine, the solar plexus and the heart. (TCF 169)

21. Chúng ta nhớ rằng con người bị kiểm soát từ cõi cảm dục thì được tập trung ở đáy cột sống, tùng thái dương và tim. (TCF 169)

22. Man controlled from the mental plane is focussed in the base of the spine, the heart and the throat. We can consider this triangle representative the “higher centres” here mentioned.

22. Con người bị kiểm soát từ cõi trí thì được tập trung ở đáy cột sống, tim và trung tâm cổ họng. Chúng ta có thể xem tam giác này là đại diện cho các “trung tâm cao hơn” được nhắc đến ở đây.

23. It becomes clear that as the senses begin to make themselves felt on any plane, man becomes aware on that plane.

23. Rõ ràng là khi các giác quan bắt đầu tự biểu lộ trên bất kỳ cõi nào, con người trở nên nhận biết trên cõi ấy.

24. It also becomes clear that it is the increasing circulation of energy through the chakras that simulates the centers. This energy, we recall, comes ultimately from the Monad.

24. Cũng trở nên rõ ràng rằng chính sự lưu chuyển năng lượng ngày càng tăng qua các luân xa đã kích thích các trung tâm. Chúng ta nhớ rằng năng lượng này rốt cuộc đến từ chân thần.

We have in the human body an interesting reflection of the transference of the polarisation from the Personality to the Ego, or into the causal body, in the division that exists between the higher and the lower mental planes, and the dividing line of the diaphragm between the higher and the lower portions of the body.

Trong thể người, chúng ta có một phản ánh thú vị về sự chuyển dịch phân cực từ phàm ngã sang Chân ngã, hay vào trong thể nguyên nhân, trong sự phân chia tồn tại giữa cõi hạ trí và cõi thượng trí, và đường phân cách của cơ hoành giữa phần trên và phần dưới của cơ thể.

25. Let us consider three divisions:

25. Chúng ta hãy xét ba sự phân chia:

a. The division between the “Personality” and the “Ego”

a. Sự phân chia giữa “phàm ngã” và “Chân ngã”

b. The division between the lower and higher mental plane. On the lower mental plane we find the polarization of man as personality. On the higher mental plane, man polarizes as soul.

b. Sự phân chia giữa cõi hạ trí và cõi thượng trí. Trên cõi hạ trí, chúng ta thấy sự phân cực của con người với tư cách phàm ngã. Trên cõi thượng trí, con người phân cực như linh hồn.

c. The diaphragm as the dividing line between the higher and lower portions of the body.

c. Cơ hoành như đường phân cách giữa phần trên và phần dưới của cơ thể.

d. The chakras below the diaphragm are used largely by the personality, though such chakras can come under the conscious directorship of the soul and even Spirit, as needed. The base of the spine center, for instance, is especially active during the later phases of evolution when soul and Spirit emerge into power.

d. Các luân xa dưới cơ hoành phần lớn được phàm ngã sử dụng, dù những luân xa ấy có thể được đặt dưới sự chỉ đạo hữu thức của linh hồn và thậm chí của Tinh thần, khi cần. Chẳng hạn, trung tâm đáy cột sống đặc biệt hoạt động mạnh trong các giai đoạn sau của tiến hoá khi linh hồn và Tinh thần xuất hiện trong quyền năng.

e. The chakras above the diaphragm are those used more usually by the soul, but certain of them may also be in the service of the personality.

e. Các luân xa trên cơ hoành là những luân xa thường được linh hồn sử dụng hơn, nhưng một số trong đó cũng có thể phục vụ phàm ngã.

f. These dividing lines are to kept firmly in mind when considering the contrast between personality and soul expression.

f. Những đường phân cách này cần được ghi nhớ vững chắc khi xem xét sự tương phản giữa biểu hiện của phàm ngã và linh hồn.

Below the diaphragm we have the four lower centres:

Dưới cơ hoành, chúng ta có bốn trung tâm thấp:

1. The solar plexus.

1. Tùng thái dương.

2. The spleen.

2. Lá lách.

3. Organs of generation.

3. Các cơ quan sinh sản.

4. Base of the spine.

4. Đáy cột sống.

26. VSK inquires: We see the spleen placed here. Under what circumstances is the spleen used?

26. VSK hỏi: Chúng ta thấy lá lách được đặt ở đây. Trong những hoàn cảnh nào thì lá lách được sử dụng?

27. The spleen, of course, is not one of the major centers, but, in a way, it completes what is knows as the “lower quaternary”—in this case, those chakras through which the fourfold personality expresses.

27. Dĩ nhiên, lá lách không phải là một trong những trung tâm chính, nhưng theo một cách nào đó, nó hoàn tất điều được gọi là “bộ tứ thấp”—trong trường hợp này là những luân xa qua đó phàm ngã tứ phân biểu lộ.

28. VSK remarks: We see the ‘organs of generation’ mentioned, and not the ‘sacral centre’ – varying emphasis between externalized bodily organs and the energetic systems.

28. VSK nhận xét: Chúng ta thấy “các cơ quan sinh sản” được nhắc đến, chứ không phải “trung tâm xương cùng” – một sự thay đổi nhấn mạnh giữa các cơ quan thân thể đã ngoại hiện và các hệ thống năng lượng.

29. As we have studied various lists, we have noted that physical and etheric enters are frequently intermixed. This may serve the purpose, on occasion, of reminding us that the etheric-physical vehicle is really one vehicle.

29. Khi nghiên cứu nhiều danh sách khác nhau, chúng ta đã lưu ý rằng các trung tâm hồng trần và dĩ thái thường xuyên bị trộn lẫn với nhau. Điều này đôi khi có thể nhằm nhắc chúng ta rằng vận cụ dĩ thái-hồng trần thực sự là một vận cụ.

Above are the three higher:

Bên trên là ba trung tâm cao:

1. Heart.

1. Tim.

2. Throat.

2. Cổ họng.

3. Head.

3. Đầu.

In the microcosm we have the lower quaternary separated from the Triad in a similar manner, and this analogy will bear pondering upon.

Trong tiểu thiên địa, chúng ta có bộ tứ thấp được tách khỏi Tam nguyên tinh thần theo cách tương tự, và sự tương đồng này đáng để suy ngẫm.

30. The Tibetan would have us ponder on an analogy. As the three major centers above the diaphragm (excluding the ajna center) are separated from the four below (including the spleen), so the lower quaternary we call the personality of man is separated from the “Triad”—i.e., the spiritual triad.

30. Chân sư Tây Tạng muốn chúng ta suy ngẫm về một sự tương đồng. Cũng như ba trung tâm chính trên cơ hoành (không kể trung tâm ajna) được tách khỏi bốn trung tâm bên dưới (kể cả lá lách), thì bộ tứ thấp mà chúng ta gọi là phàm ngã của con người cũng được tách khỏi “Tam nguyên tinh thần”—tức Tam Nguyên Tinh Thần.

31. The division of four below and three above is frequently found. It must be remembered, however, that another division – four above and three below is also frequently found, as in relation to the four ethers and three dense planes of both the systemic physical plane and the cosmic physical plane.

31. Sự phân chia bốn ở dưới và ba ở trên thường được thấy. Tuy nhiên, cũng phải nhớ rằng một sự phân chia khác—bốn ở trên và ba ở dưới—cũng thường được thấy, như trong mối liên hệ với bốn dĩ thái và ba cõi đậm đặc của cả cõi hồng trần hệ thống lẫn cõi hồng trần vũ trụ.

32. It must also be remembered that there is a similarity between the lower quaternary and the Triad. The lower quaternary is the personality of the Ego (soul, on the higher mental plane). The Triad is the personality of the Monad. Both are, in their own ways, personalities. Sometimes the term “Ego” is used to indicate the spiritual triad.

32. Cũng phải nhớ rằng có một sự tương tự giữa bộ tứ thấp và Tam nguyên tinh thần. Bộ tứ thấp là phàm ngã của chân ngã (linh hồn, trên cõi thượng trí). Tam nguyên tinh thần là phàm ngã của chân thần. Cả hai, theo cách riêng của mình, đều là các phàm ngã. Đôi khi thuật ngữ “Chân ngã” được dùng để chỉ Tam Nguyên Tinh Thần.

33. VSK inquires: If the personality has its ‘home’ on the mental plane, is the Triad’s home not on the atmic plane?

33. VSK hỏi: Nếu phàm ngã có “quê nhà” của nó trên cõi trí, thì quê nhà của Tam nguyên tinh thần chẳng phải ở trên cõi atma sao?

34. This analogy seems sound. The atmic plane, in addition to being a plane of will, is one of high mental focus (being the third subplane of the cosmic physical plane—three being one of the key numbers of intelligence.).

34. Sự tương đồng này có vẻ vững chắc. Cõi atma, ngoài việc là một cõi của ý chí, còn là một cõi có sự tập trung trí tuệ cao (vì là cõi phụ thứ ba của cõi hồng trần vũ trụ—ba là một trong những con số chủ chốt của trí tuệ).

35. VSK suggests that the buddhic plane would be considered the heart of the Triad.

35. VSK gợi ý rằng cõi Bồ đề sẽ được xem là tim của Tam nguyên tinh thần.

36. VSK enquires: “what is the lower quaternary to the Triad?”

36. VSK hỏi: “bộ tứ thấp là gì đối với Tam nguyên tinh thần?”

37. It is suggested that the lower quaternary (in the life of the Planetary Logos) is a correspondence to the Triad. The physical body of the lower quaternary corresponds to the causal body (in relation to the Triad).

37. Người ta gợi ý rằng bộ tứ thấp (trong sự sống của Hành Tinh Thượng đế) là một tương ứng với Tam nguyên tinh thần. Thể xác của bộ tứ thấp tương ứng với thể nguyên nhân (trong mối liên hệ với Tam nguyên tinh thần).

38. VSK notes that both the personality in the three worlds and the Triad in the higher worlds are composite vehicles.

38. VSK lưu ý rằng cả phàm ngã trong ba cõi thấp lẫn Tam nguyên tinh thần trong các cõi cao hơn đều là những vận cụ tổng hợp.

By careful thought we can therefore work out the reflex action of the centres and the senses from the standpoint of the different planes, remembering that as the centres are awakened the process will be threefold:

Vì vậy, bằng tư duy cẩn trọng, chúng ta có thể tìm ra tác động phản xạ của các trung tâm và các giác quan từ quan điểm của các cõi khác nhau, nhớ rằng khi các trung tâm được đánh thức, tiến trình sẽ là tam phân:

39. We recall that there are centers or chakras on each of the three lower planes (and perhaps on the buddhic and atmic planes as well, though these, if existent, have not yet been detailed in the Teaching).

39. Chúng ta nhớ rằng có các trung tâm hay luân xa trên mỗi một trong ba cõi thấp (và có lẽ cả trên cõi Bồ đề và cõi atma nữa, dù những trung tâm này, nếu có tồn tại, vẫn chưa được trình bày chi tiết trong Giáo Huấn).

40. A discussion arose in class yielding the following correspondences:

40. Một cuộc thảo luận đã nảy sinh trong lớp, đưa ra những tương ứng sau đây:

tcf-202-213-s2s9-01.png

41. There are also centers above the head (higher centers) which are doubtlessly involved in or linked to the development and expression of the senses.

41. Cũng có những trung tâm ở phía trên đầu (các trung tâm cao hơn), chắc chắn có liên hệ hoặc gắn kết với sự phát triển và biểu hiện của các giác quan.

First. The awakening on the physical plane, and the gradually increasing activity of the centres, until the Probationary Path is reached. This is paralleled by the increasing use of the senses, and their constant utilisation for the identification of the self and its sheaths.

Thứ nhất. Sự thức tỉnh trên cõi hồng trần, và hoạt động tăng dần của các trung tâm, cho đến khi đạt đến Con Đường Dự Bị. Điều này song hành với việc sử dụng ngày càng tăng các giác quan, và việc sử dụng liên tục chúng để đồng hoá cái ngã với các vỏ bọc của nó.

42. According to this text, the Probationary Path occurs before the first initiation. This thought, however, must be coupled to the thought that the Probationary Path is that which aspirants tread, and that “all true aspirants have taken the first initiation” (DINA I 716).

42. Theo đoạn này, Con Đường Dự Bị diễn ra trước lần điểm đạo thứ nhất. Tuy nhiên, tư tưởng này phải được kết hợp với tư tưởng rằng Con Đường Dự Bị là con đường mà những người chí nguyện bước đi, và rằng “mọi người chí nguyện chân chính đều đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất” (DINA I 716).

43. The implication of this section is that the Probationary Path is definitely related to energy activations upon the astral plane. Before that time it is the physical plane which is the area of gradual awakening.

43. Hàm ý của phần này là Con Đường Dự Bị chắc chắn có liên hệ với các sự hoạt hóa năng lượng trên cõi cảm dục. Trước thời điểm đó, cõi hồng trần là lĩnh vực của sự thức tỉnh dần dần.

44. We see a special way in which the senses are utilized: “for the identification of the self and its sheaths”. In the early days of evolution there is little ability to discriminate between the self and its sheaths. Constantly, the testimony of the senses is confused with the nature of the self. This confusion is the basis of egoism—i.e., the identification of the self with its vehicles of expression.

44. Chúng ta thấy một cách đặc biệt mà các giác quan được sử dụng: “để đồng hoá cái ngã với các vỏ bọc của nó”. Trong những ngày đầu của tiến hoá, có rất ít khả năng phân biện giữa cái ngã và các vỏ bọc của nó. Không ngừng, chứng từ của các giác quan bị lẫn lộn với bản chất của cái ngã. Sự lẫn lộn này là nền tảng của tính vị ngã—tức sự đồng hoá cái ngã với các vận cụ biểu hiện của nó.

45. The identification of the self (note the lower case “s”) and its sheaths represents a kind of involutionary phase of human consciousness. It is initially necessary for the self to, as it were, ‘invest itself’ in the sensorily revealed world. The awakening self must become engaged with its environment. This requires the immersion of the self in sensorily revealed ‘reality’.

45. Sự đồng hoá cái ngã (lưu ý chữ “s” viết thường) với các vỏ bọc của nó biểu thị một loại giai đoạn giáng hạ tiến hoá của tâm thức con người. Ban đầu, điều cần thiết là cái ngã phải, có thể nói như vậy, ‘đầu tư chính nó’ vào thế giới được các giác quan tiết lộ. Cái ngã đang thức tỉnh phải dấn thân vào môi trường của nó. Điều này đòi hỏi sự chìm đắm của cái ngã trong ‘thực tại’ được các giác quan tiết lộ.

46. But as evolution proceeds and the senses become more acute, they can be used as fine discriminators in the separation of self from sense.

46. Nhưng khi tiến hoá tiếp diễn và các giác quan trở nên sắc bén hơn, chúng có thể được dùng như những công cụ phân biện tinh tế trong việc tách biệt cái ngã khỏi giác quan.

47. The intensive use of the senses for this purpose is indicated in the following section.

47. Việc sử dụng mãnh liệt các giác quan cho mục đích này được chỉ ra trong phần sau.

Second. The awakening on the astral plane, and the gradually increasing activity of the centres, until the first Initiation is reached. This is paralleled by the tremendously keen use of the senses for the purposes of discriminating between the Self and the not-self.

Thứ hai. Sự thức tỉnh trên cõi cảm dục, và hoạt động tăng dần của các trung tâm, cho đến khi đạt đến lần Điểm đạo thứ nhất. Điều này song hành với việc sử dụng các giác quan một cách vô cùng sắc bén nhằm mục đích phân biện giữa Chân ngã và phi-ngã.

48. Here we are speaking of the awakening of the astral chakras which, however, may be thought of functioning (at least at times) in synchronization with the physical and mental chakras. This type of synchronization will be seen as a result of personality integration.

48. Ở đây chúng ta đang nói về sự thức tỉnh của các luân xa cảm dục, tuy nhiên có thể xem chúng hoạt động (ít nhất là đôi khi) đồng bộ với các luân xa hồng trần và trí tuệ. Kiểu đồng bộ này sẽ được thấy như một kết quả của sự tích hợp phàm ngã.

49. It is also, however, possible to focus in one vehicle or another without the pronounced activation of other vehicles.

49. Tuy nhiên, cũng có thể tập trung vào vận cụ này hay vận cụ khác mà không có sự hoạt hóa rõ rệt của các vận cụ khác.

50. The first initiation seems to require the development of a degree of emotional sensitivity and an awakening of the astral senses through the activation of astral chakras. This would make sense as the astral body is correlated to the heart center which receives a new type of activation or emphasis at the first degree.

50. Lần điểm đạo thứ nhất dường như đòi hỏi sự phát triển một mức độ nhạy cảm cảm xúc và một sự thức tỉnh của các giác quan cảm dục thông qua sự hoạt hóa các luân xa cảm dục. Điều này hợp lý vì thể cảm dục tương quan với trung tâm tim, trung tâm nhận một loại hoạt hóa hay nhấn mạnh mới ở cấp độ thứ nhất.

51. We note that DK speaks of the discrimination between the Self and the not-self. The term “Self” in this case has a capital “S” which is not the case in the preceding section.

51. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK nói về sự phân biện giữa Chân ngã và phi-ngã. Trong trường hợp này, thuật ngữ “Chân ngã” được viết hoa chữ “C”, điều không xảy ra trong phần trước.

52. By keen observation of that which the senses reveal and by a quiet registration of that which is the senses do not reveal (namely the Observer), can this discrimination be sharpened.

52. Chính nhờ quan sát sắc bén điều mà các giác quan tiết lộ và nhờ ghi nhận tĩnh lặng điều mà các giác quan không tiết lộ (tức Người Quan Sát), mà sự phân biện này có thể được làm cho sắc bén hơn.

[Page 204]

[Page 204]

Third. The awakening upon the mental plane, and the gradually increasing activity of the centres and the senses. The effect in both cases tends to identification of the Self with its own essence in all groups and the rejection of the sheaths and the forms.

Thứ ba. Sự thức tỉnh trên cõi trí, và hoạt động tăng dần của các trung tâm và các giác quan. Hiệu quả trong cả hai trường hợp đều có xu hướng dẫn đến sự đồng hoá Chân ngã với bản chất riêng của nó trong mọi nhóm và sự khước từ các vỏ bọc và các hình tướng.

53. We are speaking of the awakening of the senses in three phases.

53. Chúng ta đang nói về sự thức tỉnh của các giác quan trong ba giai đoạn.

54. VSK remarks: We see the mental plane as that whereupon the identification of essence or essential unity and rejection of the not-self is effected.

54. VSK nhận xét: Chúng ta xem cõi trí là nơi sự đồng hoá với tinh túy hay hợp nhất cốt yếu và sự loại bỏ cái không-phải-ngã được thực hiện.

55. We have passed through two phases thus far:

55. Cho đến nay, chúng ta đã đi qua hai giai đoạn:

a. The identification of the self and its sheaths facilitated through the medium of the senses.

a. Sự đồng hoá cái ngã và các thể vỏ bọc của nó được tạo điều kiện qua trung gian của các giác quan.

b. The increasing use of the senses for discriminating the Self from the not-self

b. Việc ngày càng sử dụng các giác quan để phân biện Chân ngã với cái không-phải-ngã

c. Finally, in this mental stage, the Self finds the Self in all groups (and presumably, in all individuals) and rejects the sheaths or forms through which Self had been expressing. Essence reaches out to essence.

c. Sau cùng, trong giai đoạn trí tuệ này, Chân ngã tìm thấy Chân ngã trong mọi nhóm (và có lẽ, trong mọi cá nhân) và loại bỏ các thể vỏ bọc hay hình tướng mà qua đó Chân ngã đã biểu lộ. Tinh túy vươn tới tinh túy.

56. This third stage definitely lies beyond the second (which is simply an act of discrimination) because of the nature of the act of identification involved—the identification of Self with Self, of essence with essence.

56. Giai đoạn thứ ba này rõ ràng vượt quá giai đoạn thứ hai (vốn chỉ đơn giản là một hành động phân biện) do bản chất của hành động đồng hoá có liên quan—sự đồng hoá Chân ngã với Chân ngã, tinh túy với tinh túy.

57. A considerable power of abstraction is required for the process involved in the third stage.

57. Một năng lực trừu tượng hoá đáng kể là cần thiết cho tiến trình liên quan đến giai đoạn thứ ba.

This development is paralleled on the two higher planes simultaneously as in the lower, and as the astral senses come into perfected activity, the corresponding centres of force on the buddhic plane begin to function until the vibratory interplay between the two is consummated, and the force of the Triad can be felt definitely in the Personality via the astral.

Sự phát triển này được song hành đồng thời trên hai cõi cao hơn cũng như ở các cõi thấp, và khi các giác quan cảm dục đi vào hoạt động hoàn hảo, các trung tâm mãnh lực tương ứng trên cõi Bồ đề bắt đầu vận hành cho đến khi sự tương tác rung động giữa hai bên được hoàn tất, và mãnh lực của Tam nguyên tinh thần có thể được cảm nhận rõ rệt trong phàm ngã qua trung gian cõi cảm dục.

58. VSK remarks: Our referral here to the two higher planes is atmic and buddhic; so we are dealing with the five planes of human and super-human evolution and not yet with the seven planes of the cosmic physical plane.

58. VSK nhận xét: Việc chúng ta ở đây đề cập đến hai cõi cao hơn là cõi atma và cõi Bồ đề; vì vậy chúng ta đang bàn đến năm cõi của tiến hoá nhân loại và siêu nhân loại chứ chưa phải bảy cõi của cõi hồng trần vũ trụ.

59. There is to be noted a definite relationship between the astral and buddhic planes and between the mental and atmic planes. The astral is the second plane within the lower three worlds, whether counting from below to above, and the buddhic plane is the second plane within the five worlds of human and super-human evolution, counting from above (beginning with the atmic plane).

59. Cần lưu ý rằng có một mối liên hệ xác định giữa cõi cảm dục và cõi Bồ đề, và giữa cõi trí và cõi atma. Cõi cảm dục là cõi thứ hai trong ba cõi thấp, dù đếm từ dưới lên hay từ trên xuống, và cõi Bồ đề là cõi thứ hai trong năm cõi của tiến hoá nhân loại và siêu nhân loại, nếu đếm từ trên xuống (bắt đầu với cõi atma).

60. The mental plane is the third plane in the lower three worlds (counting from below) and the atmic plane, the third plane of the entire cosmic physical plane (counting from above). Thus, there are numerological parallels.

60. Cõi trí là cõi thứ ba trong ba cõi thấp (đếm từ dưới lên) và cõi atma là cõi thứ ba của toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ (đếm từ trên xuống). Vì vậy, có những sự tương đồng về số học.

61. We note that only when the astral plane comes into “perfected activity” is there “corresponding development of force” on the buddhic plane. The important thing to realize is that there are, indeed, “corresponding centers of force” on that higher plane!

61. Chúng ta lưu ý rằng chỉ khi cõi cảm dục đi vào “hoạt động hoàn hảo” thì mới có “sự phát triển mãnh lực tương ứng” trên cõi Bồ đề. Điều quan trọng cần chứng nghiệm là quả thật có những “trung tâm mãnh lực tương ứng” trên cõi cao hơn ấy!

62. This may come as a surprise, as there are no chakras diagrammed for the buddhic and atmic planes. Yet, we are told of permanent atoms (shaped like figure eights) on the buddhic plane. If such tiny formal structures as permanent atoms exist on these more rarefied planes, why not chakras?

62. Điều này có thể gây ngạc nhiên, vì không có chakra nào được minh hoạ cho cõi Bồ đề và cõi atma. Tuy nhiên, chúng ta được cho biết về các Nguyên tử trường tồn (có hình số tám) trên cõi Bồ đề. Nếu những cấu trúc hình tướng cực nhỏ như các Nguyên tử trường tồn tồn tại trên các cõi tinh tế hơn này, thì tại sao lại không có các chakra?

63. There is also the possibility that the “corresponding centers” on these higher planes could be centers of force found within Ashrams, or aspects of Ashrams considered as corresponding centers of force. It will be necessary to reserve judgment until more is ascertained.

63. Cũng có khả năng rằng các “trung tâm tương ứng” trên những cõi cao hơn này có thể là các trung tâm mãnh lực được tìm thấy trong các ashram, hoặc là các phương diện của các ashram được xem như những trung tâm mãnh lực tương ứng. Sẽ cần phải tạm hoãn phán đoán cho đến khi xác định được nhiều hơn.

64. VSK suggests we note the heart center correspondences of both the astral and buddhic planes.

64. VSK gợi ý rằng chúng ta nên lưu ý các tương ứng của trung tâm tim nơi cả cõi cảm dục lẫn cõi Bồ đề.

65. Can the force of the spiritual triad be felt only through buddhic impression upon the astral plane, or can atmic impression upon the mental plane equally represent the presence of the spiritual triad in the personality?

65. Mãnh lực của Tam nguyên tinh thần chỉ có thể được cảm nhận qua sự cảm ứng Bồ đề lên cõi cảm dục, hay sự cảm ứng atma lên cõi trí cũng có thể biểu thị sự hiện diện của Tam nguyên tinh thần trong phàm ngã?

Again the corresponding vortices on the atmic level come into active vibration as the mental centres become fourth dimensional, till we have a wonderful fiery activity demonstrating on all the three planes.

Một lần nữa, các xoáy lực tương ứng trên cấp độ atma đi vào rung động tích cực khi các trung tâm trí tuệ trở nên bốn chiều, cho đến khi chúng ta có một hoạt động hỏa diệu kỳ diệu biểu lộ trên cả ba cõi.

66. Here we learn of “corresponding vortices on the atmic level”. The wording used is easily understood as referring to chakras—possibly atmic chakras (though we must not jump to conclusions).

66. Ở đây chúng ta biết được về các “xoáy lực tương ứng trên cấp độ atma”. Cách dùng từ này dễ được hiểu là ám chỉ các chakra—có thể là các chakra atma (dù chúng ta không được vội kết luận).

67. May we gather that the atmic developments here discussed would occur only as the third initiation is approached?

67. Chúng ta có thể suy ra rằng những phát triển atma được bàn đến ở đây chỉ xảy ra khi lần điểm đạo thứ ba đang đến gần chăng?

68. In an earlier Commentary we studied the development of the chakras by means of Five Cosmic Symbols.

68. Trong một Cổ Luận trước đây, chúng ta đã nghiên cứu sự phát triển của các chakra bằng năm Biểu Tượng Vũ Trụ.

69. Now a new piece of information is added: when the mental centers become fourth dimensional, the atmic vortices corresponding to the mental chakras will become active.

69. Giờ đây một mẩu thông tin mới được thêm vào: khi các trung tâm trí tuệ trở nên bốn chiều, các xoáy lực atma tương ứng với các chakra trí tuệ sẽ trở nên hoạt động.

70. May we assume that when the astral chakras become fourth dimensional in their rotation, that the buddhic vortices become active?

70. Chúng ta có thể giả định rằng khi các chakra cảm dục trở nên bốn chiều trong sự quay của chúng, thì các xoáy lực Bồ đề trở nên hoạt động chăng?

71. Fourth dimensional rotation is only gradually produced. The following quotation suggests that it is produced during the two stages of the Path:

71. Sự quay bốn chiều chỉ được tạo ra dần dần. Trích dẫn sau đây gợi ý rằng nó được tạo ra trong hai giai đoạn của Con Đường:

5. The swastika. At this stage the centre becomes fourth-dimensional; the inner rotating cross begins to turn upon its axis, and to drive the flaming periphery to all sides so that the centre is better described as a sphere of fire than as a wheel. It marks the stage of the Path in its two divisions, for the process of producing the effect described covers the whole period of the Path. At the close, the centres are seen as globes of radiant fire with the spokes of the wheel (or the evolution of the cross from the point in the centre) merging and blending into a “fire that burneth up the whole.” (TCF 172)

5. Chữ vạn. Ở giai đoạn này trung tâm trở nên bốn chiều; thập giá quay bên trong bắt đầu xoay trên trục của nó, và đẩy chu vi rực lửa ra mọi phía để trung tâm được mô tả đúng hơn như một khối cầu lửa hơn là như một bánh xe. Nó đánh dấu giai đoạn của Con Đường trong hai phân bộ của nó, vì tiến trình tạo ra hiệu quả được mô tả bao trùm toàn bộ thời kỳ của Con Đường. Vào lúc kết thúc, các trung tâm được thấy như những bầu hành tinh lửa rạng ngời với các nan hoa của bánh xe (hay sự tiến hoá của thập giá từ điểm ở trung tâm) hòa nhập và dung hợp vào một “ngọn lửa thiêu đốt toàn thể.” (TCF 172)

72. What we may gather from this description is that, as the Path is trodden, buddhic and atmic activations parallel the fulfillment of the astral and mental developments characteristic of the Path.

72. Điều chúng ta có thể rút ra từ mô tả này là, khi Con Đường được bước đi, các sự hoạt hoá Bồ đề và atma song hành với sự hoàn tất các phát triển cảm dục và trí tuệ đặc trưng của Con Đường.

73. This should not come as a surprise, for the process of initiation is activated by the impact of higher planes upon lower.

73. Điều này không nên gây ngạc nhiên, vì tiến trình điểm đạo được hoạt hoá bởi sự va chạm của các cõi cao hơn lên các cõi thấp hơn.

74. Note the nature of the “spokes of the wheel”; they are, in fact, the result of “the evolution of the cross from the point in the centre”.

74. Hãy lưu ý bản chất của các “nan hoa của bánh xe”; thật ra, chúng là kết quả của “sự tiến hoá của thập giá từ điểm ở trung tâm”.

From the point of view of fire,86 leaving the aura and [Page 205] its colors out of temporary consideration, the evolutionary development marks an equally definite process.

Từ quan điểm của lửa,86 tạm thời gác hào quang và [Page 205] các màu sắc của nó sang một bên, sự phát triển tiến hoá cũng đánh dấu một tiến trình xác định tương tự.

75. The Tibetan now deals with the evolution of the senses in terms of fire.

75. Giờ đây Chân sư Tây Tạng bàn đến sự tiến hoá của các giác quan theo phương diện lửa.

Footnote 86

Chú thích 86

The Fire of the manifested cosmos is Septenary.

Lửa của vũ trụ biểu hiện là thất phân.

The Threefold God manifests through the seven Fires:

Thượng đế Tam phân biểu lộ qua bảy Loại Lửa:

76. The “Threefold God” is the Solar Logos.

76. “Thượng đế Tam phân” là Thái dương Thượng đế.

1. Electric fire — The seven Heavenly Men.

1. Lửa Điện — Bảy Đấng Thiên Nhân.

2. Solar fire — Evolution of the seven Entities through their vehicles developing the seven principles.

2. Lửa Thái dương — Sự tiến hoá của bảy Thực Thể qua các vận cụ của các Ngài, phát triển bảy nguyên khí.

3. Fire by friction — The seven chains.

3. Lửa ma sát — Bảy Dãy.

77. The method of division is interesting. The monadic nature of the seven Heavenly Men could be called “electric fire”. What, however, are the “seven Entities” which through their vehicles develop the seven principles? Are these seven Ray Lords, on the intra-planetary level, each of them associated with a particular principle manifesting through a particular one of seven chains?

77. Phương pháp phân chia này thật đáng chú ý. Bản chất chân thần của bảy Đấng Thiên Nhân có thể được gọi là “Lửa Điện”. Tuy nhiên, “bảy Thực Thể” là gì, những Đấng phát triển bảy nguyên khí qua các vận cụ của mình? Có phải đây là bảy Đấng Chúa Tể Cung, ở cấp độ nội-hành tinh, mỗi Đấng trong các Ngài liên kết với một nguyên khí đặc thù biểu lộ qua một trong bảy dãy đặc thù?

78. Or are we dealing with the systemic Ray Lords, embodying each, one of the seven systemic principles? In this case, each one of the “seven Entities” would be associated with the manifestation of a particular planetary scheme.

78. Hay chúng ta đang bàn đến các Đấng Chúa Tể Cung hệ thống, mỗi Đấng thể hiện một trong bảy nguyên khí hệ thống? Trong trường hợp này, mỗi một trong “bảy Thực Thể” sẽ liên kết với sự biểu lộ của một hệ hành tinh đặc thù.

79. Here and in the following tabulations, DK seems to be associating the seven principles with solar fire, or with the second aspect in general. The number seven is often associated with the number two. The rays of Jupiter are an example.

79. Ở đây và trong các bảng liệt kê tiếp theo, Chân sư DK dường như đang liên kết bảy nguyên khí với Lửa Thái dương, hay với phương diện thứ hai nói chung. Số bảy thường được liên kết với số hai. Các cung của Sao Mộc là một ví dụ.

80. If we stay focussed on the level of the Planetary Logoi, are we speaking of the material aspect of the Planetary Logos when discussing the seven planetary chains?

80. Nếu chúng ta vẫn tập trung vào cấp độ của các Hành Tinh Thượng đế, thì khi bàn đến bảy dãy hành tinh, chúng ta có đang nói về phương diện vật chất của Hành Tinh Thượng đế không?

81. Or is the term “chains”, in this context, really meant as a substitute for “schemes”?

81. Hay thuật ngữ “dãy”, trong ngữ cảnh này, thật ra được dùng như một từ thay thế cho “hệ hành tinh”?

82. It should be noted that the Heavenly Men are not associated with electric fire.

82. Cần lưu ý rằng các Đấng Thiên Nhân không được liên kết với Lửa Điện.

They are the seven centres of the Logos.

Các Ngài là bảy trung tâm của Thượng đế.

83. Much depends upon the meaning of the word “chains” in this context. There are times, in Theosophy, when the term “chains” is used for the term “schemes”.

83. Rất nhiều điều tùy thuộc vào ý nghĩa của từ “dãy” trong ngữ cảnh này. Có những lúc, trong Thông Thiên Học, thuật ngữ “dãy” được dùng thay cho thuật ngữ “hệ hành tinh”.

84. In this context, it seems, indeed, that the term “chains” is equivalent to “schemes”.

84. Trong ngữ cảnh này, quả thật có vẻ như thuật ngữ “dãy” tương đương với “hệ hành tinh”.

85. In the above tabulation we seem to be differentiating between:

85. Trong bảng liệt kê trên, dường như chúng ta đang phân biệt giữa:

a. Monads

a. các chân thần

b. Principles

b. các nguyên khí

c. Chakric vehicles of expression

c. các vận cụ biểu lộ dạng chakra

86. We are using the same division for the different types of atoms.

86. Chúng ta đang dùng cùng một cách phân chia cho các loại nguyên tử khác nhau.

A Heavenly Man manifests through a chain.

Một Đấng Thiên Nhân biểu lộ qua một dãy.

87. While this is true, it is more inclusive to say that a Heavenly Man manifests through a scheme.

87. Dù điều này là đúng, nói rằng một Đấng Thiên Nhân biểu lộ qua một hệ hành tinh thì bao gồm hơn.

88. There are different types of Heavenly Men. The Lord of a scheme is a Heavenly Man, as is the Lord of a chain or globe.

88. Có những loại Đấng Thiên Nhân khác nhau. Chúa Tể của một hệ hành tinh là một Đấng Thiên Nhân, cũng như Chúa Tể của một dãy hay một bầu hành tinh.

89. If, below, DK is speaking of the Heavenly Man who manifests through a chain (and the term “chain” actually means “chain”, precisely, instead of “scheme”) then, it seems, He has skipped one entire level—that of the kind of Heavenly Man Who manifests through a scheme).

89. Nếu, ở dưới đây, Chân sư DK đang nói về Đấng Thiên Nhân biểu lộ qua một dãy (và thuật ngữ “dãy” thật sự có nghĩa chính xác là “dãy”, thay vì “hệ hành tinh”) thì dường như Ngài đã bỏ qua trọn một cấp độ—đó là loại Đấng Thiên Nhân biểu lộ qua một hệ hành tinh).

1. He is electric fire — The seven solar entities who inform each globe.

1. Ngài là Lửa Điện — Bảy thực thể thái dương phú linh cho mỗi bầu hành tinh.

90. Here we receive an important piece of information. The entities who inform each globe in a planetary chain are solar entities. We usually call them chain lords.

90. Ở đây chúng ta nhận được một mẩu thông tin quan trọng. Các thực thể phú linh cho mỗi bầu hành tinh trong một dãy hành tinh là các thực thể thái dương. Chúng ta thường gọi các vị ấy là các chúa tể dãy.

91. We may also gather that a Chain-Lord is, as well, a solar entity.

91. Chúng ta cũng có thể suy ra rằng một Chúa Tể Dãy đồng thời cũng là một thực thể thái dương.

92. The extensive tabulation on TCF 844 should be searched for solar entities.

92. Nên tra cứu bảng liệt kê rộng lớn ở TCF 844 để tìm các thực thể thái dương.

2. He is solar fire — Evolution of the life through the forms,

2. Ngài là Lửa Thái dương — Sự tiến hoá của sự sống qua các hình tướng,

developing the seven principles.

phát triển bảy nguyên khí.

93. From this we can see that DK is definitely associating solar fire with the seven principles. From what is said there may emerge a suggestion that development within the spiritual triad is related to solar fire. The spiritual triad is the true soul, and, although related to the Monad, is also related to the middle fire.

93. Từ đây chúng ta có thể thấy rằng Chân sư DK rõ ràng liên kết Lửa Thái dương với bảy nguyên khí. Từ điều được nói ra, có thể xuất hiện một gợi ý rằng sự phát triển trong Tam nguyên tinh thần có liên hệ với Lửa Thái dương. Tam nguyên tinh thần là linh hồn đích thực, và tuy có liên hệ với chân thần, nó cũng liên hệ với ngọn lửa trung gian.

3. He is fire by friction — The seven globes.

3. Ngài là Lửa ma sát — Bảy bầu hành tinh.

94. When DK is speaking of chains or globes, in this context, He seems definitely to be speaking of the material or prakritic level.

94. Khi Chân sư DK nói về các dãy hay các bầu hành tinh trong ngữ cảnh này, Ngài dường như rõ ràng đang nói về cấp độ vật chất hay prakriti.

Each Heavenly Man has seven principles.

Mỗi Đấng Thiên Nhân có bảy nguyên khí.

95. This is true of all the kinds of entities under discussion.

95. Điều này đúng với mọi loại thực thể đang được bàn đến.

96. Principles are really functional divisions of monadic energy, or qualified projections of monadic power.

96. Các nguyên khí thật ra là những phân chia chức năng của năng lượng chân thần, hay những phóng chiếu được phẩm tính hoá của quyền năng chân thần.

A Man, the Microcosm, manifests through his vehicles:

Con Người, Tiểu thiên địa, biểu lộ qua các vận cụ của mình:

1. He is electric fire — The monad, a solar entity.

1. Y là Lửa Điện — chân thần, một thực thể thái dương.

97. This is an important statement. The Monad is said to be “that which finds its home within the sun” (IHS 167). The statement here, that the Monad is a “solar entity” seems to be a confirmation of this thought.

97. Đây là một phát biểu quan trọng. Chân thần được nói là “điều tìm thấy ngôi nhà của nó trong mặt trời” (IHS 167). Phát biểu ở đây, rằng chân thần là một “thực thể thái dương”, dường như xác nhận tư tưởng này.

2. He is solar fire — Evolution of the life through the vehicles

2. Y là Lửa Thái dương — Sự tiến hoá của sự sống qua các vận cụ

in order to develop the seven principles.

để phát triển bảy nguyên khí.

98. “Life”, in this context, is the energy of the Monad. Another way of viewing the seven principles, therefore, is as a product of the “evolution of life through the vehicles”.

98. “Sự sống”, trong ngữ cảnh này, là năng lượng của chân thần. Vì vậy, một cách khác để nhìn bảy nguyên khí là xem chúng như một sản phẩm của “sự tiến hoá của sự sống qua các vận cụ”.

3. He is fire by friction — The seven sheaths:

3. Y là Lửa ma sát — Bảy thể vỏ bọc:

1. Atmic 2. Buddhic.

1. Atma 2. Bồ đề.

3. Causal 4. Mental body.

3. Nguyên nhân 4. thể trí.

5. Astral body 6. Etheric body.

5. thể cảm dục 6. thể dĩ thái.

7. Physical body.

7. thể xác.

99. The sheaths are definitely the material spheres, and in this context correspond to the globes and chains mentioned above in relation to larger contexts.

99. Các thể vỏ bọc rõ ràng là những khối cầu vật chất, và trong ngữ cảnh này tương ứng với các bầu hành tinh và các dãy được nhắc đến ở trên trong những ngữ cảnh lớn hơn.

100. What is listed immediately above is a tabulation of sheaths and not principles. The distinction should be retained within the mind.

100. Điều được liệt kê ngay trên đây là một bảng về các thể vỏ bọc chứ không phải các nguyên khí. Sự phân biệt này nên được giữ trong trí tuệ.

Physical Plane man manifests in the three worlds:

Con người cõi Hồng trần biểu lộ trong ba cõi giới:

1. Electric fire — The higher self.

1. Lửa Điện — chân ngã.

2. Solar fire — The seven centres.

2. Lửa Thái dương — Bảy trung tâm.

3. Fire by friction — The sheaths.

3. Lửa ma sát — Các thể vỏ bọc.

101. The tabulation immediately above is of importance though different in some particulars from other frequently seen tabulations.

101. Bảng liệt kê ngay trên đây rất quan trọng, dù khác ở vài chi tiết so với những bảng thường thấy khác.

a. The higher self would be a combination of Monad and spiritual triad as they express through the Ego in the egoic body.

a. Chân ngã sẽ là sự kết hợp của chân thần và Tam nguyên tinh thần khi chúng biểu lộ qua Chân ngã trong thể chân ngã.

b. In a way, the tabulation above refers to a group of relationships which is entirely within the domain of solar fire.

b. Theo một cách nào đó, bảng liệt kê trên nói đến một nhóm các mối liên hệ hoàn toàn nằm trong phạm vi của Lửa Thái dương.

c. It is strange to see the seven centers as representing solar fire, since we are told that the chakras are vortices of energy which are essentially expressions of the Monad. But of course, the Monad works through Ego, and thus the Ego is involved in the manifestation and development of the chakras.

c. Thật lạ khi thấy bảy trung tâm được xem là biểu thị Lửa Thái dương, vì chúng ta được cho biết rằng các chakra là những xoáy lực năng lượng vốn cốt yếu là những biểu lộ của chân thần. Nhưng dĩ nhiên, chân thần hoạt động qua chân ngã, và do đó chân ngã có liên quan đến sự biểu lộ và phát triển của các chakra.

d. If we remember that we are within the province of the Ego, then one can understand the seven centers as related to solar fire.

d. Nếu chúng ta nhớ rằng mình đang ở trong lĩnh vực của chân ngã, thì người ta có thể hiểu bảy trung tâm là có liên hệ với Lửa Thái dương.

e. The sheaths, of course, are easily related to fire by friction.

e. Dĩ nhiên, các thể vỏ bọc dễ dàng được liên hệ với Lửa ma sát.

102. It seems important to note that the centers are considered superior to, or more essential than, the sheaths.

102. Dường như điều quan trọng là phải lưu ý rằng các trung tâm được xem là cao hơn, hay cốt yếu hơn, so với các thể vỏ bọc.

103. VSK suggests: “As we continue, since we are speaking of evolutionary development, and we see the five-pointed list, below, let’s overlay our other symbols, e.g., the circle, circle with point, divided circle, cross in circle, and swastika.

103. VSK gợi ý: “Khi tiếp tục, vì chúng ta đang nói về sự phát triển tiến hoá, và chúng ta thấy danh sách năm điểm ở dưới đây, hãy chồng ghép các biểu tượng khác của chúng ta, thí dụ, hình tròn, hình tròn có điểm, hình tròn phân chia, thập giá trong hình tròn, và chữ vạn.

104. Immediately below, we are dealing with evolutionary development in terms of fire.

104. Ngay bên dưới, chúng ta đang bàn đến sự phát triển tiến hoá theo phương diện lửa.

a. The vivification of the inner heat of the sheaths, or the tiny point of fire latent in every individual atom of matter. This process proceeds in all three bodies, at first slowly, then more rapidly, and finally simultaneously and synthetically.

a. Sự tiếp sinh lực cho nhiệt nội tại của các thể vỏ bọc, hay điểm lửa nhỏ bé tiềm ẩn trong mỗi nguyên tử vật chất cá biệt. Tiến trình này diễn ra trong cả ba thể, lúc đầu chậm, rồi nhanh hơn, và sau cùng đồng thời và tổng hợp.

105. We are referring to the material level and to that latent fire which is the heat of dense matter.

105. Chúng ta đang nói đến cấp độ vật chất và ngọn lửa tiềm ẩn vốn là nhiệt của vật chất đậm đặc.

106. Latent fire is to be considered the lower aspect of fire by friction.

106. Lửa tiềm ẩn phải được xem là phương diện thấp của Lửa ma sát.

107. Lest we think that latent fire is only to be found in the matter of the dense physical plane, we are informed of the fact that it is found equally in the material aspect of all three bodies of the personality. It is to be found sustaining all atoms of all sheaths.

107. Để chúng ta không nghĩ rằng lửa tiềm ẩn chỉ được tìm thấy trong vật chất của cõi hồng trần đậm đặc, chúng ta được cho biết rằng nó cũng được tìm thấy tương tự trong phương diện vật chất của cả ba thể của phàm ngã. Nó được tìm thấy như nền tảng duy trì mọi nguyên tử của mọi thể vỏ bọc.

108. May it be that even on those levels where radiatory fire is most influential, some form of latent fire is to be found? To answer this would require careful thought.

108. Có thể chăng ngay cả trên những cấp độ mà lửa bức xạ có ảnh hưởng mạnh nhất, vẫn có thể tìm thấy một dạng lửa tiềm ẩn nào đó? Trả lời điều này sẽ đòi hỏi suy nghĩ cẩn trọng.

109. There seems to be an initial sequentiality to the development of latent fire in the three sheaths. Eventually this inner heat is seen developing simultaneously in each sheath and eventually, synthetically.

109. Dường như có một tính tuần tự ban đầu trong sự phát triển của lửa tiềm ẩn trong ba thể vỏ bọc. Cuối cùng, nhiệt nội tại này được thấy phát triển đồng thời trong mỗi thể vỏ bọc và sau hết, một cách tổng hợp.

110. Every sheath has its more material aspect and its more etheric aspect. May it be said that “active fire” is found on certain subplanes of all three vehicles of the personality, and “latent fire” on other subplanes? This is a subtle question as it is possible to divide every systemic plane into a higher four and lower three (or, as is the case for the mental plane) into a higher three and a lower four.

110. Mỗi thể vỏ bọc đều có phương diện vật chất hơn và phương diện dĩ thái hơn của nó. Có thể nói rằng “lửa hoạt động” được tìm thấy trên một số cõi phụ của cả ba vận cụ của phàm ngã, còn “lửa tiềm ẩn” thì ở những cõi phụ khác chăng? Đây là một câu hỏi tinh tế vì có thể chia mỗi cõi hệ thống thành bốn cõi cao và ba cõi thấp (hoặc, như trường hợp cõi trí, thành ba cõi cao và bốn cõi thấp).

111. In some manner or other we should find latent fire and radiatory fire related to all atoms found within the eighteen lower subplanes. Latent fire provides the heat for such atoms (no matter how relatively refined may be the atoms when compared to physical atoms), and radiatory fire provides their coherency. As stated, the question is a subtle one.

111. Bằng cách nào đó, chúng ta nên thấy lửa tiềm ẩn và lửa bức xạ có liên hệ với mọi nguyên tử được tìm thấy trong mười tám cõi phụ thấp. Lửa tiềm ẩn cung cấp nhiệt cho những nguyên tử như thế (dù các nguyên tử ấy có tinh luyện tương đối đến đâu khi so với các nguyên tử hồng trần), và lửa bức xạ cung cấp tính cố kết của chúng. Như đã nói, đây là một câu hỏi tinh tế.

b. The bringing into activity from latency of the seven centres on all planes, beginning from the bottom upwards, until the centres (according to ray and type) are interrelated and co-ordinated. There are manifest thirty-five vortices of fire in the perfected adept,—all of radiant activity and all interacting.

b. Sự đưa vào hoạt động từ trạng thái tiềm ẩn của bảy trung tâm trên mọi cõi, bắt đầu từ dưới lên trên, cho đến khi các trung tâm (theo cung và loại) liên hệ với nhau và phối hợp. Có ba mươi lăm xoáy lực lửa biểu hiện nơi chân sư hoàn hảo,—tất cả đều hoạt động rạng ngời và tất cả đều tương tác.

112. In the normal evolutionary process, the activation of the chakras occurs, in general, sequentially from below to above.

112. Trong tiến trình tiến hoá bình thường, sự hoạt hoá các chakra nói chung diễn ra tuần tự từ dưới lên trên.

113. It is important to note that the centres are interrelated and coordinated according to ray and type. The phrase “according to ray” may mean ‘according to the ray of the Monad’. It may also suggest that coordination occurs according to the type of ray resonance found between different chakras. For instance, the solar plexus and the heart centres would be resonant with each other according to the rays archetypally associated with these centres, as would the sacral center and throat center.

113. Điều quan trọng là phải lưu ý rằng các trung tâm liên hệ với nhau và được phối hợp theo cung và loại. Cụm từ “theo cung” có thể có nghĩa là ‘theo cung của chân thần’. Nó cũng có thể gợi ý rằng sự phối hợp xảy ra theo loại cộng hưởng cung được tìm thấy giữa các chakra khác nhau. Chẳng hạn, các trung tâm tùng thái dương và tim sẽ cộng hưởng với nhau theo các cung được liên kết nguyên mẫu với các trung tâm này, cũng như trung tâm xương cùng và trung tâm cổ họng.

114. We are given a very big hint. A perfected adept is a Master! What number characterizes the Master?—the number five. How many planes does a Master master? Again five.

114. Chúng ta được cho một gợi ý rất lớn. Một chân sư hoàn hảo là một Chân sư! Con số nào đặc trưng cho Chân sư?—con số năm. Một Chân sư làm chủ bao nhiêu cõi? Lại là làm chủ năm.

115. We seem to be speaking of the developed chakra system of a completed Master of the Wisdom. There would be seven chakras for each of the vehicles of a Master, on each of five planes, for a Master is master over five planes.

115. Dường như chúng ta đang nói về hệ thống chakra đã phát triển của một Chân sư Minh triết viên mãn. Sẽ có bảy chakra cho mỗi vận cụ của một Chân sư, trên mỗi một trong năm cõi, vì một Chân sư làm chủ năm cõi.

116. In one way the number of the Adept is thirty-five. This number, in the ray theories of Stephen Pugh is associated with the fifth ray—which again makes perfect sense. The fifth ray is of great importance in producing that manifestation we can an Adept.

116. Theo một cách nào đó, con số của chân sư là ba mươi lăm. Con số này, trong các lý thuyết về cung của Stephen Pugh, được liên kết với cung năm—điều này lại hoàn toàn hợp lý. Cung năm có tầm quan trọng lớn trong việc tạo ra biểu lộ mà chúng ta có thể gọi là một chân sư.

117. Below are the number assignments for the seven rays drawn from DK and supplemented by the extended theories of SDP.

117. Dưới đây là các quy định số cho bảy cung được rút ra từ Chân sư DK và được bổ sung bởi các lý thuyết mở rộng của SDP.

R1 = 1

R1 = 1

R2 = 5

R2 = 5

R3 = 9

R3 = 9

R4 = 2. 5, 25

R4 = 2. 5, 25

R5 = 3. 5, 35 The Adept is the five-pointed star.

R5 = 3. 5, 35 Chân sư là ngôi sao năm cánh.

R6 = 1. 5, 15

R6 = 1. 5, 15

R7 = 7

R7 = 7

118. The interaction of an Adept’s thirty-five vortices occurs within each of the five systemic planes and, according to resonance, across the five planes.

118. Sự tương tác của ba mươi lăm xoáy lực của một chân sư xảy ra bên trong mỗi một trong năm cõi hệ thống và, theo cộng hưởng, xuyên qua năm cõi.

c. The vortices or wheels of lambent flame become interlinked by triangles of fire which pass and circulate from one to another, till we have a web of fiery lines, uniting centres of living fire, and giving truth to the statement that the Sons of Mind are FLAMES.

c. Các xoáy lực hay bánh xe của ngọn lửa rực sáng trở nên liên kết với nhau bằng những tam giác lửa truyền đi và lưu chuyển từ cái này sang cái khác, cho đến khi chúng ta có một mạng lưới những đường lửa, hợp nhất các trung tâm của lửa sống, và làm cho phát biểu rằng các Con của Trí Tuệ là NHỮNG NGỌN LỬA trở thành chân thực.

119. This is a most descriptive little paragraph. We are given a way of visualizing the vortices on the various levels—as “wheels of lambent flame”. The lambency of the flame suggests iridescence.

119. Đây là một đoạn ngắn có tính mô tả rất cao. Chúng ta được cho một cách để hình dung các xoáy lực trên các cấp độ khác nhau—như những “bánh xe của ngọn lửa rực sáng”. Tính rực sáng của ngọn lửa gợi ý sự óng ánh.

120. The triangular interlinking of the vortices suggests the foundational importance of the Science of Triangles.

120. Sự liên kết tam giác của các xoáy lực gợi ý tầm quan trọng nền tảng của Khoa Học về các Tam Giác.

121. We human beings are the “Sons of Mind”. If we are viewed in a stage of high spiritual development, we are seen as “FLAMES”. The Solar Angels who are our source of inspiration are also, in their own way, and far more magnificently, “FLAMES”.

121. Chúng ta, những con người, là “Các Con của Trí Tuệ”. Nếu được nhìn ở một giai đoạn phát triển tinh thần cao, chúng ta được thấy như những “NGỌN LỬA”. Các Thái dương Thiên Thần là nguồn cảm hứng của chúng ta cũng, theo cách riêng của các Ngài, và huy hoàng hơn rất nhiều, là những “NGỌN LỬA”.

d. These centres reach this condition of perfection as the Spirit or Will aspect takes ever fuller control.

d. Các trung tâm này đạt đến trạng thái hoàn hảo khi phương diện Tinh thần hay Ý Chí ngày càng nắm quyền kiểm soát đầy đủ hơn.

122. The Sprit within man is an agent of perfection. It brings all into increasingly perfect adjustment with the Fixed Design.

122. Tinh thần bên trong con người là một tác nhân của sự hoàn hảo. Nó đưa mọi sự vào sự điều chỉnh ngày càng hoàn hảo hơn với Mô Thức Cố Định.

123. It should be remembered that the ‘sense’ or higher psychic faculty known as “Perfection” is to be found upon the fourth level of the atmic plane and is, therefore, closely related to the dimension of Spirit.

123. Cần nhớ rằng “giác quan” hay năng lực thông linh cao hơn được biết đến như “Sự Hoàn Hảo” được tìm thấy trên cấp độ thứ tư của cõi atma và vì vậy có liên hệ mật thiết với chiều kích của Tinh thần.

The unifying triangles are produced by the action of the fire of mind, while the fire of matter holds the form together in ordered sequence.

Các tam giác hợp nhất được tạo ra bởi tác động của lửa của trí tuệ, trong khi lửa của vật chất giữ cho hình tướng gắn kết với nhau trong trình tự có trật tự.

124. We are given a functional distinction for the work of the fire of mind and the fire of matter.

124. Chúng ta được trao cho một sự phân biệt chức năng đối với công việc của lửa của trí tuệ và lửa của vật chất.

125. Souls are essentially triangles “and so it should be no surprise so see that it is the fire of mind, or solar (“triangles” is another name for “souls”) fire, which produces “the unifying triangles”. Until solar fire is released within the energy system, triangular development within the etheric body is not to be noted, or at least not prominent. At least this seems to be what is said.

125. Về bản chất, các linh hồn là những tam giác, “và vì thế không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy rằng chính lửa của trí tuệ, hay lửa thái dương (“tam giác” là một tên gọi khác của “các linh hồn”), tạo ra những tam giác hợp nhất”. Cho đến khi lửa thái dương được giải phóng trong hệ thống năng lượng, sự phát triển tam giác bên trong thể dĩ thái không được ghi nhận, hoặc ít nhất cũng không nổi bật. Ít nhất dường như đây là điều đang được nói đến.

126. The fire of matter sustains (in ordered sequence) the structure of the energy system. The factor of relationship and interplay is caused by the fire of mind.

126. Lửa của vật chất duy trì (trong trình tự có trật tự) cấu trúc của hệ thống năng lượng. Yếu tố liên hệ và tương tác được gây ra bởi lửa của trí tuệ.

127. We find the fire of matter playing a role characteristic of the seventh ray (or perhaps the third), and the fire of mind a role characterized by the second.

127. Chúng ta thấy lửa của vật chất đóng một vai trò đặc trưng của cung bảy (hoặc có lẽ cung ba), và lửa của trí tuệ một vai trò được đặc trưng bởi cung hai.

So the interdependence of matter, mind and Spirit can be seen and demonstrates to the eye of the clairvoyant as the co-ordination of the three fires.

Vì vậy có thể thấy sự tương thuộc của vật chất, trí tuệ và Tinh thần, và điều đó biểu lộ trước mắt nhà thông nhãn như sự phối hợp của ba ngọn lửa.

128. The interdependence of matter, mind and Spirit is factual. The symbol of this interdependence is the demonstrated coordination of the three fires.

128. Sự tương thuộc của vật chất, trí tuệ và Tinh thần là một thực kiện. Biểu tượng của sự tương thuộc này là sự phối hợp được biểu lộ của ba ngọn lửa.

129. Earlier, we learned of the specific effects of prana and kundalini upon the various chakras.

129. Trước đây, chúng ta đã học về những tác động đặc thù của prana và kundalini lên các chakra khác nhau.

“The fire of kundalini produces the heat of the centre, and its intense radiance and brilliance, while the pranic emanatory fire produces ever increasing activity and rotation.” (TCF 124)

“Lửa kundalini tạo ra nhiệt của trung tâm, và sự rạng ngời cùng chói sáng mãnh liệt của nó, trong khi lửa phát xạ prana tạo ra hoạt động và sự quay ngày càng gia tăng.” (TCF 124)

These two effects should be related to the coordination of the three fires.

Hai tác động này nên được liên hệ với sự phối hợp của ba ngọn lửa.

e. In the Heavenly Man and His body, a chain of globes87 likewise can be seen and we need here to remember [Page 206] very carefully that the seven chains of a scheme are the expression of a planetary Logos. The Heavenly Men are expressing Themselves through a scheme of seven chains and the emphasis has been laid unduly, perhaps, upon the dense physical planet in any particular chain.

e. Trong Đấng Thiên Nhân và thể của Ngài, một dãy các bầu hành tinh87 cũng có thể được thấy, và ở đây chúng ta cần ghi nhớ [Page 206] thật cẩn thận rằng bảy dãy của một hệ hành tinh là biểu hiện của một Hành Tinh Thượng đế. Các Đấng Thiên Nhân đang biểu lộ Chính Các Ngài qua một hệ hành tinh gồm bảy dãy và có lẽ sự nhấn mạnh đã được đặt quá mức vào hành tinh hồng trần đậm đặc trong bất kỳ dãy đặc thù nào.

130. Here is one of the instances in which Planetary Logoi and Heavenly Men are seen to be equivalent.

130. Đây là một trong những trường hợp mà các Hành Tinh Thượng đế và các Đấng Thiên Nhân được thấy là tương đương.

131. In fact, in the body of the Heavenly Man, at least seven chains of globes are to be reckoned with, and probably up to ten (at various points in the evolutionary process).

131. Thật ra, trong thể của Đấng Thiên Nhân, ít nhất phải tính đến bảy dãy bầu hành tinh, và có lẽ lên đến mười (ở những điểm khác nhau trong tiến hoá).

132. Each planetary scheme has one dense physical planet. Our Earth-scheme has two such physical planets, but one of them is dead—i.e., our Moon. One of the mysteries of our scheme is why it should have two physical globes and why the chain associated with the older of these globes no longer exists or now has a different name.

132. Mỗi hệ hành tinh có một hành tinh hồng trần đậm đặc. Hệ Địa Cầu của chúng ta có hai hành tinh hồng trần như thế, nhưng một trong số đó đã chết—tức là Mặt Trăng của chúng ta. Một trong những huyền nhiệm của hệ chúng ta là tại sao nó lại có hai bầu hành tinh hồng trần và tại sao dãy gắn với bầu hành tinh cổ hơn trong hai bầu ấy không còn tồn tại hoặc nay có một tên gọi khác.

133. DK is suggesting that there are areas of any planetary scheme which are of greater importance than the dense physical planet. Though the analogy is not exact, how important is our dense physical vehicle when compared to our higher vehicles?

133. Chân sư DK đang gợi ý rằng có những khu vực trong bất kỳ hệ hành tinh nào quan trọng hơn hành tinh hồng trần đậm đặc. Dù phép tương đồng không hoàn toàn chính xác, vận cụ hồng trần đậm đặc của chúng ta quan trọng đến đâu khi so với các vận cụ cao hơn của chúng ta?

This has caused the fact of the chain importance to be somewhat overlooked.

Điều này đã khiến sự kiện về tầm quan trọng của dãy phần nào bị bỏ qua.

134. Master DK is trying to help us think in terms of planetary chains rather than merely in terms of globes. Further, the dense physical globe is not necessarily the more important globe of the seven within any chain.

134. Chân sư DK đang cố giúp chúng ta suy nghĩ theo các dãy hành tinh thay vì chỉ theo các bầu hành tinh. Hơn nữa, bầu hành tinh hồng trần đậm đặc không nhất thiết là bầu hành tinh quan trọng hơn trong số bảy bầu của bất kỳ dãy nào.

135. The chains are the true chakras in the manifestation of a Planetary Logos. The globes, as fractions of a chain, are secondary.

135. Các dãy là những chakra đích thực trong biểu hiện của một Hành Tinh Thượng đế. Các bầu hành tinh, như những phần nhỏ của một dãy, là thứ yếu.

Each of the seven chains might be looked upon as picturing the seven centres of one of the Heavenly Men.

Mỗi một trong bảy dãy có thể được xem như phác họa bảy trung tâm của một trong các Đấng Thiên Nhân.

136. This reference is of the utmost importance. There are a number of references to Ashrams as centers within a Planetary Logos, and the same is true of globes. A little thought, however, reveals that the chains must be considered the fundamental chakras.

136. Tham chiếu này có tầm quan trọng tối đa. Có một số tham chiếu đến các ashram như những trung tâm bên trong một Hành Tinh Thượng đế, và điều tương tự cũng đúng với các bầu hành tinh. Tuy nhiên, chỉ cần suy nghĩ một chút sẽ cho thấy rằng các dãy phải được xem là các chakra căn bản.

The idea of groups of Egos forming centres in the Heavenly Men is nevertheless correct, but in this connection the reference is to the centres of force on buddhic and monadic levels.88

Ý tưởng về các nhóm Chân ngã tạo thành các trung tâm trong các Đấng Thiên Nhân tuy vậy là đúng, nhưng trong mối liên hệ này, tham chiếu là đến các trung tâm lực trên các cấp độ Bồ đề và chân thần.88

137. DK reiterates His often stated idea that groups of Egos form centers in a Heavenly Man. Such centers must be lesser centers in the Heavenly Man, for the higher principles of a Chain Lord would be found on cosmic planes, which is not the case for the higher principles of groups of Egos.

137. Chân sư DK nhắc lại ý tưởng Ngài thường nêu rằng các nhóm Chân ngã tạo thành các trung tâm trong một Đấng Thiên Nhân. Những trung tâm như thế hẳn phải là những trung tâm nhỏ hơn trong Đấng Thiên Nhân, vì các nguyên khí cao hơn của một Chúa Tể Dãy sẽ được tìm thấy trên các cõi vũ trụ, điều này không đúng đối với các nguyên khí cao hơn của các nhóm Chân ngã.

138. We are perhaps familiar with the idea that Ashrams are presently and for the most part buddhic groupings. There are also monadic groupings comprising seven great spheres on the systemic monadic plane. This is also true of groupings (far beyond our comprehension) on the cosmic monadic plane.

138. Có lẽ chúng ta quen thuộc với ý tưởng rằng các ashram hiện nay và phần lớn là những tập hợp nhóm Bồ đề. Cũng có những tập hợp chân thần bao gồm bảy khối cầu lớn trên cõi chân thần của hệ. Điều này cũng đúng với những tập hợp (vượt xa sự hiểu biết của chúng ta) trên cõi chân thần vũ trụ.

139. VSK suggests: Each physical planet we see is the physical globe of its own scheme. The planet names of chains in the Earth-scheme (which will be addressed in that portion of TCF referring to solar fire) refer to qualities found within any particular planetary scheme, which are resonant to the qualities of other planetary schemes. For instance, the Venus-chain of our Earth-scheme is resonant to the quality of the Venus-scheme as a whole. In the last analysis the numerical approach to ‘naming’ different globes and chains may make the lines of qualitative interplay clearer and offer less opportunity for confusion.

139. VSK gợi ý: Mỗi hành tinh hồng trần mà chúng ta thấy là bầu hành tinh hồng trần của chính hệ của nó. Tên hành tinh của các dãy trong hệ Địa Cầu (sẽ được bàn đến trong phần của Luận về Lửa Vũ Trụ nói về Lửa Thái dương) chỉ đến những phẩm tính được tìm thấy trong bất kỳ hệ hành tinh đặc thù nào, những phẩm tính này cộng hưởng với các phẩm tính của những hệ hành tinh khác. Chẳng hạn, dãy Kim Tinh của hệ Địa Cầu chúng ta cộng hưởng với phẩm tính của toàn bộ hệ Kim Tinh. Xét đến cùng, cách tiếp cận bằng số để “đặt tên” các bầu hành tinh và dãy khác nhau có thể làm cho các đường tương tác phẩm tính trở nên rõ ràng hơn và tạo ít cơ hội gây nhầm lẫn hơn.

Footnote 87

Chú thích 87

The Planetary Chains:

Các Dãy Hành Tinh:

The seven Heavenly Men Form, the sun and the seven sacred planets.—S. D., I, 100, 155.

Bảy Đấng Thiên Nhân tạo thành Mặt Trời và bảy hành tinh thiêng liêng.—S. D., I, 100, 155.

Some of their names and qualities.

Một số tên gọi và phẩm tính của các Ngài.

a. The seven planetary Logoi, or the seven Spirits before the throne.

a. Bảy Hành Tinh Thượng đế, hay Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai.

b. The seven Kumaras S. D., III, 59, 327.

b. Bảy Kumara S. D., III, 59, 327.

c. Seven solar deities S. D., I, 114; I, 228; II, 92, 257.

c. Bảy thần thái dương S. D., I, 114; I, 228; II, 92, 257.

d. The primordial seven S. D., I, 116.

d. Bảy vị nguyên sơ S. D., I, 116.

e. The seven Builders S. D., I, 152, 153.

e. Bảy đấng kiến tạo S. D., I, 152, 153.

f. Seven intellectual Breaths S. D., II, 332, note.

f. Bảy Hơi Thở trí tuệ S. D., II, 332, note.

g. The seven Manus S. D., I, 488.

g. Bảy Đức Manu S. D., I, 488.

h. The Flames S. D., II, 258.

h. Các Ngọn Lửa S. D., II, 258.

140. These are important references from The Secret Doctrine. Note the alternative names—not just Planetary Logoi, but “Kumaras”, “solar deities”, “Builders”, “intellectual Breaths”, “Manus”, “Flames” etc.

140. Đây là những tham chiếu quan trọng từ Giáo Lý Bí Nhiệm. Hãy lưu ý các tên gọi thay thế—không chỉ là các Hành Tinh Thượng đế, mà còn là “Kumaras”, “các thần thái dương”, “các đấng kiến tạo”, “các Hơi Thở trí tuệ”, “các Đức Manu”, “các Ngọn Lửa”, v.v.

141. Such names are commonly used on lesser dimensional levels and so one must be careful to distinguish between entities carrying the same name—they may be one or more levels apart.

141. Những tên gọi như thế thường được dùng ở các cấp độ chiều kích thấp hơn, vì vậy người ta phải cẩn thận phân biệt giữa các thực thể mang cùng một tên—chúng có thể cách nhau một hoặc nhiều cấp độ.

They came from previous kalpas S. D., II, 99.

Các Ngài đến từ những kalpa trước đó S. D., II, 99.

142. The term “kalpas” here probably means “Mahamanvantaras”.

142. Thuật ngữ “kalpas” ở đây có lẽ có nghĩa là “Mahamanvantaras”.

143. If Solar Angels are separated in their development from human beings by at least one Mahamanvantara, how much greater will be the developmental separation between Planetary Logoi and human beings. Many Mahamanvantaras ago, our Planetary Logos was as a Master is today.

143. Nếu các Thái dương Thiên Thần cách biệt con người trong sự phát triển của các Ngài ít nhất một Mahamanvantara, thì sự cách biệt phát triển giữa các Hành Tinh Thượng đế và con người sẽ còn lớn đến mức nào. Nhiều Mahamanvantaras trước đây, Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đã như một Chân sư ngày nay.

Their nature is knowledge and love S. D., II, 275; S. D., II, 619.

Bản chất của các Ngài là tri thức và bác ái S. D., II, 275; S. D., II, 619.

144. They are “Dragons of Wisdom”, but have not yet developed the Will fully, or even, in some cases, the Love aspect.

144. Các Ngài là “Những Con Rồng Minh Triết”, nhưng chưa phát triển đầy đủ Ý Chí, hoặc thậm chí trong một số trường hợp, cả phương diện Bác ái.

The seven sacred planets are:

Bảy hành tinh thiêng liêng là:

1. Saturn 2. Jupiter.

1. Sao Thổ 2. Sao Mộc.

3. Mars 4. Sun (substitute for another).

3. Sao Hỏa 4. Mặt Trời (thay cho một hành tinh khác).

5. Venus 6. Mercury.

5. Sao Kim 6. Sao Thủy.

7. Moon (substitute for another).

7. Mặt Trăng (thay cho một hành tinh khác).

145. It is clear that the Sun and Moon are as substitutes for Neptune and Uranus. Perhaps Mars is a substitute for Vulcan, which is not much mentioned in The Secret Doctrine.

145. Rõ ràng Mặt Trời và Mặt Trăng là những vật thay thế cho Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương. Có lẽ Sao Hỏa là vật thay thế cho Vulcan, vốn không được nhắc đến nhiều trong Giáo Lý Bí Nhiệm.

146. We see that the ordering is an old one as no trans-Saturnian planets are listed. Thus, Saturn is the outer bound and hence the first planet found on the list.

146. Chúng ta thấy rằng trật tự này là một trật tự cổ xưa vì không có hành tinh nào ngoài Sao Thổ được liệt kê. Do đó, Sao Thổ là ranh giới ngoài cùng và vì vậy là hành tinh đầu tiên được thấy trong danh sách.

147. Interestingly the order is exactly that which Sepharial uses to establish decanates. It is an order based upon speed of rotation around the particular center in question. Most revolutions are around the Sun, but the placement of the Sun in the fourth position has to do with the speed of revolution of the Earth around the Sun and the placement of the Moon has to do with the speed of the Moon’s revolution around the Earth.

147. Điều thú vị là trật tự này chính xác là trật tự mà Sepharial dùng để thiết lập các thập độ. Đó là một trật tự dựa trên tốc độ quay quanh trung tâm đặc thù đang được xét. Hầu hết các cuộc quay là quanh Mặt Trời, nhưng việc đặt Mặt Trời ở vị trí thứ tư liên quan đến tốc độ quay của Trái Đất quanh Mặt Trời, và việc đặt Mặt Trăng liên quan đến tốc độ quay của Mặt Trăng quanh Trái Đất.

148. We could debate which planets to substitute for the Sun and Moon, for either Neptune or Uranus would do.

148. Chúng ta có thể tranh luận nên thay thế Mặt Trời và Mặt Trăng bằng hành tinh nào, vì hoặc Sao Hải Vương hoặc Sao Thiên Vương đều được.

149. Perhaps it would be best to substitute Neptune for the Sun, as Neptune is related to the fourth or buddhic plane, and the Sun’s position in the tabulation is the fourth. If we substitute Uranus for the Moon, the number seven is appropriate.

149. Có lẽ tốt nhất là thay Mặt Trời bằng Sao Hải Vương, vì Sao Hải Vương liên hệ với cõi thứ tư hay cõi Bồ đề, và vị trí của Mặt Trời trong bảng là vị trí thứ tư. Nếu chúng ta thay Mặt Trăng bằng Sao Thiên Vương, thì số bảy là thích hợp.

Neptune and Uranus are not here enumerated, nor Vulcan.

Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương không được liệt kê ở đây, Vulcan cũng vậy.

150. As stated.

150. Đúng như đã nói.

The orbit of Neptune includes apparently the entire ring-pass-not.

Quỹ đạo của Sao Hải Vương dường như bao gồm toàn bộ vòng-giới-hạn.

151. This is no longer the case, following the discovery of Pluto and other planets still more removed from the solar center.

151. Điều này không còn đúng nữa, sau khi khám phá ra Sao Diêm Vương và những hành tinh khác còn xa trung tâm thái dương hơn nữa.

152. We note the use of the word “apparently” to hint at the existence of planets beyond the orbit of Neptune. Interestingly, however, there are occasions when the orbit of Pluto is found within that of Neptune.

152. Chúng ta lưu ý việc dùng từ “dường như” để gợi ý sự tồn tại của các hành tinh vượt ra ngoài quỹ đạo Sao Hải Vương. Tuy nhiên, điều thú vị là có những lúc quỹ đạo của Sao Diêm Vương lại nằm bên trong quỹ đạo của Sao Hải Vương.

Vulcan is within the orbit of Mercury.

Vulcan nằm trong quỹ đạo của Sao Thủy.

153. This is a definite statement with important astronomical value. It is generally accepted as factual—at least by esotericists.

153. Đây là một phát biểu dứt khoát có giá trị thiên văn quan trọng. Nó thường được chấp nhận là thực kiện—ít nhất là bởi các nhà bí truyền học.

Each one of the Heavenly Men manifests through a chain of seven globes.

Mỗi một Đấng Thiên Nhân biểu lộ qua một dãy gồm bảy bầu hành tinh.

154. Again, what sort of Heavenly Man is meant? If a Heavenly Man who is a Planetary Logos, then the phrase “manifests through a scheme of seven chains” should be used. If the Heavenly Man meant is a Chain-Lord, then the phrase “chain of seven globes” seems correct.

154. Một lần nữa, loại Đấng Thiên Nhân nào được hàm ý ở đây? Nếu là một Đấng Thiên Nhân là một Hành Tinh Thượng đế, thì nên dùng cụm từ “biểu lộ qua một hệ hành tinh gồm bảy dãy”. Nếu Đấng Thiên Nhân được hàm ý là một Chúa Tể Dãy, thì cụm từ “dãy gồm bảy bầu hành tinh” có vẻ đúng.

All the seven Logoi influence a chain, but one of Them is the incarnating Entity.

Cả bảy Thượng đế đều ảnh hưởng đến một dãy, nhưng một trong Các Ngài là Thực Thể đang lâm phàm.

155. Here an important principle is stated—the influence of every Planetary Logos upon every other Planetary Logos through the constituent structural and temporal aspects of that other Planetary Logos.

155. Ở đây một nguyên lý quan trọng được nêu ra—ảnh hưởng của mỗi Hành Tinh Thượng đế lên mọi Hành Tinh Thượng đế khác thông qua các phương diện cấu thành về cấu trúc và thời gian của Hành Tinh Thượng đế kia.

They influence:

Các Ngài ảnh hưởng đến:

a. Some globe in chain. b. Some plane c. Some round.

a. Một bầu hành tinh nào đó trong dãy. b. Một cõi nào đó c. Một cuộc tuần hoàn nào đó.

d. Some world period e. Some rootrace f. Some subrace.

d. Một thời kỳ thế giới nào đó e. Một giống dân gốc nào đó f. Một giống dân phụ nào đó.

g. Some branch race h. Some group i. Some human unit.

g. Một nhân loại nhánh nào đó h. Một nhóm nào đó i. Một đơn vị nhân loại nào đó.

156. One sphere of influence is omitted—“some chain in a scheme”.

156. Một phạm vi ảnh hưởng đã bị bỏ sót—“một dãy nào đó trong một hệ hành tinh”.

157. As for the nine areas or periods mentioned, they do seem somewhat in descending order of magnitude. All are impermanent, even a globe in a chain.

157. Đối với chín lĩnh vực hay thời kỳ được nêu, chúng quả thật dường như theo thứ tự giảm dần về độ lớn. Tất cả đều vô thường, ngay cả một bầu hành tinh trong một dãy.

158. Some of the categories mentioned are clearly and exclusively temporal—such as “some round” or “some world period”. A “world period” may, in this context, be considered the passage of a round through a particular

158. Một số phạm trù được nêu rõ ràng và hoàn toàn thuộc về thời gian—chẳng hạn như “một cuộc tuần hoàn nào đó” hay “một thời kỳ thế giới nào đó”. Trong ngữ cảnh này, một “thời kỳ thế giới” có thể được xem là sự đi qua của một cuộc tuần hoàn qua một

159. To correlate the various influential Planetary Logoi with the various categories of influences would be a great task. An influencing planet would have to be analyzed for its full ray structure (especially the rays of its three periodical vehicles). A planet’s order from the Sun would be important as would its relative spiritual maturity and stage of unfoldment. The spiritual maturity of Venus, for instance, is quite high but not among the highest of the Planetary Logoi in our solar system, but the stage of unfoldment of Venus is, relative to all other Planetary Logoi, the highest.

159. Việc tương quan các Hành Tinh Thượng đế có ảnh hưởng khác nhau với các phạm trù ảnh hưởng khác nhau sẽ là một công việc lớn lao. Một hành tinh gây ảnh hưởng sẽ phải được phân tích theo toàn bộ cấu trúc cung của nó (đặc biệt là các cung của ba hiện thể chu kỳ của nó). Thứ tự của một hành tinh tính từ Mặt Trời sẽ quan trọng, cũng như mức độ trưởng thành tinh thần tương đối và giai đoạn khai mở của nó. Chẳng hạn, sự trưởng thành tinh thần của Sao Kim khá cao nhưng không thuộc hàng cao nhất trong các Hành Tinh Thượng đế của hệ mặt trời chúng ta, nhưng giai đoạn khai mở của Sao Kim thì, so với tất cả các Hành Tinh Thượng đế khác, là cao nhất.

160. In this intricate study there is a great deal of correlating work to do, and many areas of subtlety to be pondered. Classifications are not entirely straightforward.

160. Trong công trình nghiên cứu phức tạp này, có rất nhiều việc tương quan phải làm, và nhiều lĩnh vực tinh tế cần được suy ngẫm. Các phân loại không hoàn toàn đơn giản.

Footnote 88:

Chú thích 88:

In the Secret Doctrine, the Sons of Mind are spoken of as flames. In Stanza VII, 4, “These are the three-tongued flame of the four wicks. The wicks are the sparks, that draw from the three-tongued flame shot out by the seven flames. The spark hangs from the flame by the finest thread of Fohat.”

Trong Giáo Lý Bí Nhiệm, Các Con của Trí Tuệ được nói đến như những ngọn lửa. Trong Bài kệ VII, 4, “Đây là ngọn lửa ba lưỡi của bốn tim đèn. Các tim đèn là những tia lửa, rút ra từ ngọn lửa ba lưỡi được phóng ra bởi bảy ngọn lửa. Tia lửa treo vào ngọn lửa bằng sợi dây Fohat mảnh nhất.”

161. We human beings are a “three-tongued flame”.

161. Chúng ta, những con người, là một “ngọn lửa ba lưỡi”.

162. The wicks are the more material aspects of the human constitution which need to draw energy from that part of the human being more related to the seven flames—namely, from the three-tongued flame.

162. Các tim đèn là những phương diện vật chất hơn của cấu tạo con người, những phương diện cần rút năng lượng từ phần của con người liên hệ nhiều hơn với bảy ngọn lửa—tức là từ ngọn lửa ba lưỡi.

163. The “seven flames” may be considered the major Planetary Logoi. Something of the origin of the Monads is here given.

163. “Bảy ngọn lửa” có thể được xem là các Hành Tinh Thượng đế chính yếu. Ở đây có đưa ra đôi điều về nguồn gốc của các chân thần.

164. Here we speak of the “sparks” (plural) and the “spark” (singular). The “spark” is the human Monad, and the “flame” from which the spark hands may be considered the monadic nature of the Planetary Logos, or, even more essentially, of the Solar Logos.

164. Ở đây chúng ta nói đến “các tia lửa” (số nhiều) và “tia lửa” (số ít). “Tia lửa” là chân thần con người, và “ngọn lửa” mà tia lửa treo vào có thể được xem là bản chất chân thần của Hành Tinh Thượng đế, hoặc, còn căn bản hơn nữa, của Thái dương Thượng đế.

165. When considering the “three-tongued flame”, the third Creative Hierarchy known as the “Lesser Builders” or the Triads should be considered, and their relation to the “Great Builders” (the second Creative Hierarchy) who are the prototypes of the human Monads.

165. Khi xét đến “ngọn lửa ba lưỡi”, nên xét đến Huyền Giai Sáng Tạo thứ ba được biết như “các vị tiểu kiến tạo” hay các Tam nguyên tinh thần, và mối liên hệ của các vị ấy với “các Đại Kiến Tạo” (Huyền Giai Sáng Tạo thứ hai), là những nguyên mẫu của các chân thần con người.

166. This except from The Secret Doctrine could be given still more abstract interpretations.

166. Đoạn trích này từ Giáo Lý Bí Nhiệm có thể còn được diễn giải theo những cách trừu tượng hơn nữa.

167. Usually when dealing with atomic structure (whatever may be the atom) we have a higher three and a lower seven; here we seem to have a higher seven and a lower three.

167. Thông thường khi đề cập đến cấu trúc nguyên tử (dù nguyên tử có thể là gì), chúng ta có một bộ ba cao hơn và một bộ bảy thấp hơn; ở đây dường như chúng ta có một bộ bảy cao hơn và một bộ ba thấp hơn.

[Page 207]

[Page 207]

In connection with this there is a fundamental point that must never be forgotten: these seven Heavenly Men might be considered as being in physical incarnation through the medium of a physical planet, and herein lies the mystery of planetary evolution.

Liên hệ với điều này có một điểm căn bản không bao giờ được quên: bảy Đấng Thiên Nhân này có thể được xem là đang lâm phàm hồng trần qua trung gian của một hành tinh hồng trần, và chính trong đó có huyền nhiệm của tiến hoá hành tinh.

168. All the Heavenly Men of which we are experientially aware (largely through sight or its instrumental extensions) are in physical incarnation, but we are told that a number of the Logoi of planets and planetoids are not in physical incarnation.

168. Tất cả các Đấng Thiên Nhân mà chúng ta nhận biết bằng kinh nghiệm (phần lớn qua thị giác hay các phần mở rộng công cụ của nó) đều đang lâm phàm hồng trần, nhưng chúng ta được cho biết rằng một số Thượng đế của các hành tinh và tiểu hành tinh thì không đang lâm phàm hồng trần.

169. What is the “mystery of planetary evolution”? Probably there are many mysteries. Without a physical planet, however, it is difficult to conceive of how a Planetary Logos could be considered in physical incarnation.

169. “Huyền nhiệm của tiến hoá hành tinh” là gì? Có lẽ có nhiều huyền nhiệm. Tuy nhiên, nếu không có một hành tinh hồng trần, thật khó hình dung làm sao một Hành Tinh Thượng đế có thể được xem là đang lâm phàm hồng trần.

Herein lies the mystery of our planet, the most mysterious of all the planets.

Chính trong đó có huyền nhiệm của hành tinh chúng ta, huyền bí nhất trong mọi hành tinh.

170. Our planet is, for reasons we cannot fathom, the “most mysterious of all the planets”.

170. Hành tinh của chúng ta, vì những lý do chúng ta không thể thấu hiểu, là “huyền bí nhất trong mọi hành tinh”.

171. The fourth of the seven of nine cosmic paths, I.e., the Path to Sirius, is also considered mysterious.

171. Con đường thứ tư trong bảy trên chín Con Đường vũ trụ, tức Con Đường đến Sirius, cũng được xem là huyền bí.

“This path is of all the Paths the most veiled in the clouds of mystery.” (TCF 1258)

“Con đường này là Con Đường bị che phủ nhiều nhất trong những đám mây huyền nhiệm.” (TCF 1258)

172. The Earth is the fourth planet from the Sun (counting Vulcan and not counting such hypothetical planets as Adonis), and the Path to Sirius is the fourth Path. Humanity is the fourth kingdom of the seven kingdoms of nature.

172. Trái Đất là hành tinh thứ tư tính từ Mặt Trời (tính cả Vulcan và không tính những hành tinh giả định như Adonis), và Con Đường đến Sirius là Con Đường thứ tư. Nhân loại là giới thứ tư trong bảy giới của thiên nhiên.

Just as the karma of individuals differs, so differs the karma of the various Logoi, and the karma of our planetary Logos has been a heavy one, and veiled in the mystery of personality at this time.

Cũng như nghiệp quả của các cá nhân khác nhau, nghiệp quả của các Thượng đế khác nhau cũng khác nhau, và nghiệp quả của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta là một nghiệp quả nặng nề, và hiện nay bị che phủ trong huyền nhiệm của phàm ngã.

173. The heavy karmic load of our planet relates to developmental disasters on the third chain of an earlier planetary era—the Moon-chain.

173. Gánh nặng nghiệp quả của hành tinh chúng ta liên hệ với những thảm họa phát triển trên dãy thứ ba của một kỷ nguyên hành tinh trước đây—Dãy Mặt Trăng.

174. The heaviness of our planetary karma relates it to Saturn—not only the greatest of the planetary Lords of Karma, but the planet associated with great weight.

174. Tính nặng nề của nghiệp quả hành tinh chúng ta liên hệ nó với Sao Thổ—không chỉ là vị lớn nhất trong các Chúa Tể Nghiệp Quả hành tinh, mà còn là hành tinh gắn với trọng lượng lớn.

175. It is mysterious to say that our planetary karma is “veiled in the mystery of personality at this time”. This veiling links our planetary karma to the fifth Creative Hierarchy—the Makara.

175. Thật huyền bí khi nói rằng nghiệp quả hành tinh của chúng ta “hiện nay bị che phủ trong huyền nhiệm của phàm ngã”. Sự che phủ này nối kết nghiệp quả hành tinh của chúng ta với Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm—Makara.

176. Our Planetary Logos is hardly a fully functioning soul free from the limitations of His own personality. Makara rules the human personality (cf. EA 35)

176. Hành Tinh Thượng đế của chúng ta hầu như chưa phải là một linh hồn hoạt động trọn vẹn, tự do khỏi những giới hạn của chính phàm ngã của Ngài. Makara cai quản phàm ngã con người (x. EA 35)

177. it is interesting that there is a “mystery of personality”. Anyone who has tried to study the dual Makara Creative Hierarchy realizes that this is the case.

177. thật thú vị khi có một “huyền nhiệm của phàm ngã”. Bất kỳ ai đã cố nghiên cứu Huyền Giai Sáng Tạo Makara nhị nguyên đều nhận ra rằng đúng là như vậy.

178. The mystery of personality is, in a way, the mystery of egoism and ‘mistaken identity’. It is a mystery of false identification arising from the captivation of consciousness by the lunar lords.

178. Huyền nhiệm của phàm ngã, theo một cách nào đó, là huyền nhiệm của tính vị kỷ và “bản sắc lầm lẫn”. Đó là huyền nhiệm của sự đồng hoá sai lầm phát sinh từ việc tâm thức bị các nguyệt tinh quân mê hoặc.

179. The mystery of personality is also the mystery of the upright and inverted pentagram.

179. Huyền nhiệm của phàm ngã cũng là huyền nhiệm của ngôi sao năm cánh dựng đứng và đảo ngược.

180. We must also remember the times when Sanat Kumara is referred to as the “Personality” of the Planetary Logos, though on other occasions, He is referred to as the “Soul”.

180. Chúng ta cũng phải nhớ những lúc Đức Sanat Kumara được gọi là “Phàm ngã” của Hành Tinh Thượng đế, dù trong những dịp khác, Ngài lại được gọi là “Linh hồn”.

The first or will energy is, as you know, focussed in Sanat Kumara, the Ancient of Days (as He is called in the Christian Bible), the Lord of Shamballa, Who is the embodiment of the Personality of the planetary Logos. (EXH 86)

Năng lượng thứ nhất hay năng lượng ý chí, như các bạn biết, được tập trung trong Đức Sanat Kumara, Đấng Thái Cổ (như Ngài được gọi trong Kinh Thánh Cơ Đốc), Chúa Tể của Shamballa, Đấng là hiện thân của Phàm ngã của Hành Tinh Thượng đế. (EXH 86)

Again, according as the centres are active or inactive, so the manifestation differs likewise, and the study which opens up is of vast and abstruse interest in connection with the solar system.

Một lần nữa, tùy theo các trung tâm hoạt động hay bất hoạt mà biểu hiện cũng khác nhau tương ứng, và công trình nghiên cứu mở ra là vô cùng rộng lớn và thâm áo trong liên hệ với hệ mặt trời.

181. “Vast” and “abstruse”—these are the words given to describe our study. Fortunately, as the intuitive, correspondential mind opens up, the relationships begin to appear without the necessity of learning them from a book.

181. “Rộng lớn” và “thâm áo”—đó là những từ được dùng để mô tả công trình nghiên cứu của chúng ta. May thay, khi trí tuệ trực giác, tương ứng mở ra, các mối liên hệ bắt đầu xuất hiện mà không cần phải học chúng từ sách vở.

5. The Centres and Initiation

5. Các Trung Tâm và Điểm Đạo

We have dealt briefly with the evolution of the centres, with their function, their organisation and their gradually increasing activity from a point of comparative inertia until they are consummated motion.

Chúng ta đã bàn ngắn gọn về sự tiến hoá của các trung tâm, về chức năng, tổ chức của chúng và hoạt động tăng dần từ một điểm có tính trì trệ tương đối cho đến khi chúng là chuyển động viên mãn.

182. Let us review what we have covered so far:

182. Hãy điểm lại những gì chúng ta đã đề cập cho đến nay:

a. The evolution of the centers

a. Sự tiến hoá của các trung tâm

b. Their function

b. Chức năng của chúng

c. Their organisation

c. Tổ chức của chúng

d. Their gradually increasing activity—from comparative inertia to consummated motion

d. Hoạt động tăng dần của chúng—từ tính trì trệ tương đối đến chuyển động viên mãn

183. Note the words “consummated motion”. It is not that the centers have consummated motion but that they are consummated motion. There is a hint here about what can be learned of the nature and development of motion by studying the fully activated chakras.

183. Hãy lưu ý các từ “chuyển động viên mãn”. Không phải là các trung tâm chuyển động viên mãn mà là chúng chuyển động viên mãn. Ở đây có một gợi ý về điều có thể học được liên quan đến bản chất và sự phát triển của chuyển động bằng cách nghiên cứu các chakra đã được hoạt hóa đầy đủ.

Then they become living wheels of flame, distinguished by a dual motion of the periphery and the inner revolving wheels,

Khi đó chúng trở thành những bánh xe lửa sống động, được phân biệt bởi một chuyển động kép của chu vi và các bánh xe quay bên trong,

184. We are told of the dual motion of the periphery and the internal, rotating cross.

184. Chúng ta được cho biết về chuyển động kép của chu vi và thập giá quay bên trong.

185. Note the term “wheels” which is plural. One would normally think of an ‘inner revolving wheel’—singular. The suggestion is that a chakra has multiple circular or spherical components.

185. Hãy lưu ý thuật ngữ “các bánh xe” ở số nhiều. Thông thường người ta sẽ nghĩ đến một “bánh xe quay bên trong” — số ít. Điều này gợi ý rằng một luân xa có nhiều thành phần tròn hay hình cầu.

186. We must think carefully if the word “revolving” is being distinguished in meaning from “rotating”.

186. Chúng ta phải suy nghĩ cẩn thận xem từ “quay vòng” có được phân biệt về ý nghĩa với từ “xoay chuyển” hay không.

and by a fourth-dimensional effect, due primarily to the alignment of the inner subtler vortices with the comparatively exoteric etheric centres. This alignment is brought about eventually at initiation.

và bởi một hiệu ứng bốn chiều, chủ yếu do sự chỉnh hợp của các xoáy lực tinh tế bên trong với các trung tâm dĩ thái tương đối ngoại môn. Sự chỉnh hợp này rốt cuộc được mang lại vào lúc điểm đạo.

187. Some very occult hints are here given.

187. Ở đây có những gợi ý rất huyền bí được đưa ra.

188. While fourth dimensional rotation of a chakra is frequently discussed, the reason or reasons for that fourth dimensional rotation is not. Here we find at least a hint.

188. Trong khi sự xoay chuyển bốn chiều của một luân xa thường được bàn đến, thì nguyên nhân hay các nguyên nhân của sự xoay chuyển bốn chiều ấy lại không được bàn đến. Ở đây ít nhất chúng ta tìm thấy một gợi ý.

189. We are told that chakras have “inner subtler vortices”, and that it is the alignment of these inner vortices with the comparatively exoteric etheric centers which causes the fourth dimensional effect. This must be pondered and thought through.

189. Chúng ta được cho biết rằng các luân xa có “các xoáy lực tinh tế bên trong”, và chính sự chỉnh hợp của các xoáy lực bên trong này với các trung tâm dĩ thái tương đối ngoại môn gây ra hiệu ứng bốn chiều. Điều này phải được suy gẫm và suy xét thấu đáo.

190. Could it be that vortices characteristic of the higher planes make their way (influentially) into the ring pass not of the etheric chakra? We would have to know about the passage of vibratory chakric influence from plane to plane.

190. Có thể nào các xoáy lực đặc trưng của các cõi cao hơn đi vào một cách có ảnh hưởng trong vòng-giới-hạn của luân xa dĩ thái chăng? Chúng ta sẽ phải biết về sự chuyển tiếp của ảnh hưởng luân xa rung động từ cõi này sang cõi khác.

191. We have learned that as the astral and mental senses come into “perfected activity” so the buddhic and atmic correspondences of these sense arises. This is all part of the initiatory process. It would seem that the “inner subtler vortices” here mentioned may have something to do with influential vibrations from higher planes contacted during the initiatory process.

191. Chúng ta đã học rằng khi các giác quan cảm dục và trí tuệ đi vào “hoạt động hoàn thiện” thì các tương ứng Bồ đề và atma của các giác quan này phát sinh. Tất cả điều này đều là một phần của tiến trình điểm đạo. Có vẻ như “các xoáy lực tinh tế bên trong” được nhắc đến ở đây có thể liên quan đến các rung động có ảnh hưởng từ các cõi cao hơn được tiếp xúc trong tiến trình điểm đạo.

192. The fourth dimensional effect should have something significant to do with the buddhic plane, which can be considered the ‘fourth planar dimension’, or, alternatively, as the ‘fourth dimension’—if plane are to considered as dimensions.

192. Hiệu ứng bốn chiều hẳn phải có điều gì đó mang thâm nghĩa liên quan đến cõi Bồ đề, vốn có thể được xem là “chiều kích phẳng thứ tư”, hoặc, theo cách khác, là “chiều thứ tư” — nếu các cõi được xem như các chiều kích.

193. VSK queries: “So ‘living’ comes out of inertia, via motion?

193. VSK nêu câu hỏi: “Vậy thì ‘sự sống’ xuất hiện từ Quán tính, thông qua chuyển động sao?

194. VSK suggests we think of the dual motion of the periphery and inner revolving wheels while noting that the earth’s magnetic field is created from an inner revolving core, etc. …

194. VSK gợi ý rằng chúng ta hãy nghĩ đến chuyển động kép của chu vi và các bánh xe quay bên trong, đồng thời lưu ý rằng từ trường của trái đất được tạo ra từ một lõi quay bên trong, v.v. …

195. It becomes clear that the induction of fourth dimensional rotation depends upon alignment with inner, higher and subtler processes.

195. Rõ ràng là sự cảm ứng của sự xoay chuyển bốn chiều tùy thuộc vào sự chỉnh hợp với các tiến trình bên trong, cao hơn và tinh tế hơn.

At the time that initiation is taken, the centres are all active and the lower four (which correspond to the Personality) are beginning the process of translating the fire into the three higher.

Vào lúc điểm đạo được tiếp nhận, các trung tâm đều hoạt động và bốn trung tâm thấp (tương ứng với phàm ngã) đang bắt đầu tiến trình chuyển dịch lửa vào ba trung tâm cao.

196. The phrase “lower quaternary” is often used in occult explanations and must be understood. The lower quaternary is the personality as represented, especially, by the lower four centers.

196. Cụm từ “bộ tứ thấp” thường được dùng trong các giải thích huyền bí và phải được hiểu rõ. Bộ tứ thấp là phàm ngã như được biểu hiện, đặc biệt, qua bốn trung tâm thấp.

197. All centers which are sub-diaphragmatic may be considered representative of the lower quaternary. Sometimes the throat and ajna centers are involved in personality expression, but these centers are among the higher three or the higher four.

197. Tất cả các trung tâm ở dưới cơ hoành có thể được xem là đại diện cho bộ tứ thấp. Đôi khi trung tâm cổ họng và ajna có liên quan đến sự biểu lộ của phàm ngã, nhưng các trung tâm này thuộc về ba trung tâm cao hơn hoặc bốn trung tâm cao hơn.

198. We are discussing the transference of energy from the lower four to the higher three. In this regard we may think of the four wicks and the three-tongued flame.

198. Chúng ta đang bàn đến sự chuyển dịch năng lượng từ bốn trung tâm thấp lên ba trung tâm cao. Về điều này, chúng ta có thể nghĩ đến bốn tim đèn và ngọn lửa ba chẽ.

199. The personality is often represented by the number four and by the square.

199. Phàm ngã thường được biểu thị bằng số bốn và bằng hình vuông.

200. At initiation all centers may be active but not all are equally active.

200. Vào lúc điểm đạo, mọi trung tâm đều có thể hoạt động nhưng không phải tất cả đều hoạt động đồng đều.

The dual revolution in the lower centres is clearly to be seen and the three higher are commencing to be similarly active.

Sự quay kép trong các trung tâm thấp có thể được thấy rõ và ba trung tâm cao đang bắt đầu trở nên hoạt động tương tự.

201. What does DK mean by “at the time that initiation is taken”? Does He mean the third initiation?

201. DK muốn nói gì qua cụm từ “vào lúc điểm đạo được tiếp nhận”? Ngài có muốn nói đến lần điểm đạo thứ ba chăng?

202. It is clear from this section that “dual revolution”, related to fourth-dimensional rotation, is seen sooner in the lower chakras than in the higher. This stands to reason as fuller activation within that which is lower precedes such activation in that which is higher.

202. Từ phần này có thể thấy rõ rằng “sự quay kép”, liên hệ với sự xoay chuyển bốn chiều, được thấy nơi các luân xa thấp sớm hơn nơi các luân xa cao. Điều này hợp lý, vì sự hoạt hóa đầy đủ hơn trong cái thấp đi trước sự hoạt hóa như thế trong cái cao.

203. The dual revolution of the chakras is related to the interrelationship between what in astrology are called the “Wheel of Consciousness” and the “Wheel of Form”.

203. Sự quay kép của các luân xa có liên quan đến mối tương quan giữa điều mà trong chiêm tinh học được gọi là “Bánh Xe Tâm thức” và “Bánh Xe Hình Tướng”.

204. The degree of activation in various of the Planetary Logoi follows the same pattern (at least as a general trend). The most spiritually mature of the planets, such as Jupiter, Saturn, Uranus and Neptune are not yet unfolded to any great degree, while Planetary Logoi less mature, Venus, Mercury, Earth and Mars are more fully unfolded. Thus, these latter are solar systemic chakras displaying dual revolution before certain centers (the higher planets) which do not yet display dual revolution.

204. Mức độ hoạt hóa nơi các Hành Tinh Thượng đế khác nhau tuân theo cùng một mô hình (ít nhất như một xu hướng tổng quát). Những hành tinh trưởng thành nhất về mặt tinh thần, như Sao Mộc, Sao Thổ, Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương, vẫn chưa được khai mở ở mức độ lớn nào, trong khi các Hành Tinh Thượng đế kém trưởng thành hơn — Sao Kim, Sao Thủy, Trái Đất và Sao Hỏa — lại được khai mở đầy đủ hơn. Vì vậy, các hành tinh sau này là các luân xa của hệ mặt trời biểu lộ sự quay kép trước một số trung tâm (các hành tinh cao hơn) vốn chưa biểu lộ sự quay kép.

205. In the four sub-diaphragmatic chakras here implied, there are twenty-six petals total:

205. Trong bốn luân xa dưới cơ hoành được hàm ý ở đây, tổng cộng có hai mươi sáu cánh hoa:

a. Four for the Base of the Spine

a. Bốn cho đáy cột sống

b. Six for the Spleen

b. Sáu cho lá lách

c. Six for the Sacral Center

c. Sáu cho trung tâm xương cùng

d. Ten for the Solar Plexus

d. Mười cho tùng thái dương

By the application of the Rod of Initiation at the time of the initiation ceremony, certain results are achieved in connection with the centres which might be enumerated as follows:

Bằng việc áp dụng Thần Trượng Điểm đạo vào lúc nghi lễ điểm đạo, một số kết quả nhất định được đạt tới liên quan đến các trung tâm, có thể được liệt kê như sau:

206. Perhaps someone would like to do a complete compilation on the “Rod of Initiation”. It would be useful.

206. Có lẽ ai đó sẽ muốn thực hiện một bản tổng hợp đầy đủ về “Thần Trượng Điểm đạo”. Điều đó sẽ hữu ích.

207. The Rod of Initiation lifts energies vibratorily and rearranges them.

207. Thần Trượng Điểm đạo nâng các năng lượng lên về mặt rung động và tái sắp xếp chúng.

a. The fire at the base of the spine is definitely directed [Page 208] to whichever centre is the object of special attention.

a. Lửa ở đáy cột sống được hướng một cách rõ rệt [Page 208] đến bất cứ trung tâm nào là đối tượng của sự chú ý đặc biệt.

208. This is a most occult piece of information. It would seem that each wielding of the Rod has, as its initial phase or one of its initial phases, the raising of the energy at the base of the spine to a particular chakra which is the focus of initiatory attention.

208. Đây là một mẩu thông tin cực kỳ huyền bí. Có vẻ như mỗi lần sử dụng Thần Trượng, như giai đoạn đầu tiên của nó hoặc một trong những giai đoạn đầu tiên của nó, là sự nâng năng lượng ở đáy cột sống lên một luân xa đặc biệt là tiêu điểm của sự chú ý điểm đạo.

209. From this, we can think of the base of the spine energy as being a kind of common denominator in relation to all the other chakric energies. In this regard, we do know that the kundalini energy (coiled at the base) must at length vivify each of the chakras. There is something stored in this center which appears needed for the vivification of each and all of the others.

209. Từ đây, chúng ta có thể nghĩ đến năng lượng đáy cột sống như một loại mẫu số chung liên hệ với mọi năng lượng luân xa khác. Về điều này, chúng ta biết rằng năng lượng kundalini (cuộn lại ở đáy) cuối cùng phải tiếp sinh lực cho từng luân xa. Có điều gì đó được tích trữ trong trung tâm này dường như cần thiết cho sự tiếp sinh lực của từng trung tâm khác và của tất cả các trung tâm khác.

This varies according to the Ray, or the specialised work of the initiate.

Điều này thay đổi tùy theo cung, hoặc công việc chuyên biệt của điểm đạo đồ.

210. The order of vivification is not only a question of which initiation is being undergone, but of the ray of the individual undergoing the initiation.

210. Trật tự tiếp sinh lực không chỉ là vấn đề lần điểm đạo nào đang được trải qua, mà còn là vấn đề cung của cá nhân đang trải qua điểm đạo.

211. The other criterion concerning which center may be vivified concerns the specialized work of the initiate (which may, after all, be correlated with his principle rays).

211. Tiêu chuẩn khác liên quan đến việc trung tâm nào có thể được tiếp sinh lực là công việc chuyên biệt của điểm đạo đồ (rốt cuộc có thể tương quan với các cung nguyên khí của y).

212. The application of the Rod (whichever Rod it may be) is a most specialized and potent science. Any error in such application would have disastrous effects.

212. Việc áp dụng Thần Trượng (bất kể đó là Thần Trượng nào) là một khoa học cực kỳ chuyên biệt và mãnh liệt. Bất kỳ sai lầm nào trong việc áp dụng như thế đều sẽ có những hậu quả tai hại.

b. The centre has its activity intensified, its rate of evolution increased, and certain of the central spokes of the wheel brought into more active radiance.

b. Trung tâm được tăng cường hoạt động, tốc độ tiến hoá của nó được gia tăng, và một số nan hoa trung tâm của bánh xe được đưa vào sự rạng ngời hoạt động hơn.

213. Let us tabulate the effects of the application of the Rod upon the center to which it is applied:

213. Chúng ta hãy lập bảng các hiệu quả của việc áp dụng Thần Trượng lên trung tâm mà nó được áp dụng vào:

a. The activity of the center is increased—the kundalini effect

a. Hoạt động của trung tâm được gia tăng — hiệu ứng kundalini

b. The rate of revolution of the center is increased—the pranic effect

b. Tốc độ quay của trung tâm được gia tăng — hiệu ứng prana

c. Certain central spokes are brought into more active radiance. These pokes are related to what might be called a ‘whirling cross’.

c. Một số nan hoa trung tâm được đưa vào sự rạng ngời hoạt động hơn. Các nan hoa này liên hệ với điều có thể được gọi là một “thập giá xoáy chuyển”.

214. We can view the chakras in different ways. From some perspectives, they will be composed of petals. From other perspectives they will be seen as spokes of light. The same can be said of the egoic lotus.

214. Chúng ta có thể nhìn các luân xa theo những cách khác nhau. Từ một số góc nhìn, chúng sẽ được cấu thành bởi các cánh hoa. Từ những góc nhìn khác, chúng sẽ được thấy như các nan hoa ánh sáng. Điều tương tự cũng có thể được nói về Hoa Sen Chân Ngã.

215. Which particular spokes of the wheel will be brought into more active radiance will depend upon the initiation being undergone, and probably upon the ray of the individual.

215. Những nan hoa đặc biệt nào của bánh xe sẽ được đưa vào sự rạng ngời hoạt động hơn sẽ tùy thuộc vào lần điểm đạo đang được trải qua, và có lẽ còn tùy thuộc vào cung của cá nhân.

These spokes which are also called by some students lotus-petals, have a close connection with the different spirillae in the permanent atoms.

Những nan hoa này, cũng được một số đạo sinh gọi là các cánh hoa sen, có liên hệ mật thiết với các loa tuyến khác nhau trong các nguyên tử trường tồn.

216. While the number of petals or spokes in a particular chakra varies greatly, the number of spirillae in a permanent atom is seven (unless we are considering the mental unit which is a kind of incomplete permanent atom having only four rather than seven spirillae).

216. Trong khi số lượng cánh hoa hay nan hoa trong một luân xa cụ thể thay đổi rất lớn, số lượng loa tuyến trong một nguyên tử trường tồn là bảy (trừ khi chúng ta đang xét đến đơn vị hạ trí, vốn là một loại nguyên tử trường tồn chưa hoàn chỉnh chỉ có bốn thay vì bảy loa tuyến).

217. The numerical correlation, therefore, will be inexact. Perhaps certain of the petals or spokes correlate with any one or more of the spirillae.

217. Do đó, sự tương quan về số lượng sẽ không chính xác. Có lẽ một số cánh hoa hay nan hoa nào đó tương quan với một hay nhiều loa tuyến bất kỳ.

218. The lower petals or spokes will probably correlate with the lower spirillae, and those petals or spokes which are activated under soul or Spirit unfoldment will probably correlate with the higher spirillae. We are given no picture of exact correlation.

218. Các cánh hoa hay nan hoa thấp có lẽ sẽ tương quan với các loa tuyến thấp, và những cánh hoa hay nan hoa được hoạt hóa dưới sự khai mở của linh hồn hay tinh thần có lẽ sẽ tương quan với các loa tuyến cao. Chúng ta không được cung cấp một bức tranh về sự tương quan chính xác.

Through their stimulation there comes into play one or more of the corresponding spirillae in the permanent atoms on the three lower planes.

Qua sự kích thích của chúng, một hay nhiều loa tuyến tương ứng trong các nguyên tử trường tồn trên ba cõi thấp được đưa vào hoạt động.

219. Note the phase “one or more”. The related combinations are not given. We do not know which or how many petals/spokes may correspond to which spirilla or spirillae.

219. Hãy lưu ý cụm từ “một hay nhiều”. Các tổ hợp liên hệ không được nêu ra. Chúng ta không biết cánh hoa/nan hoa nào hay bao nhiêu cánh hoa/nan hoa có thể tương ứng với loa tuyến hay các loa tuyến nào.

220. We do know that the lower four spirillae correspond to personality development; the fifth spirilla to soul development; the sixth and seventh probably to triadal and monadic development. There are aspects of the spiritual triad which are soul-related and aspects of the Monad which correlate with the number six, though the liberation of the Monad correlates with the number seven.

220. Chúng ta biết rằng bốn loa tuyến thấp tương ứng với sự phát triển của phàm ngã; loa tuyến thứ năm với sự phát triển của linh hồn; loa tuyến thứ sáu và thứ bảy có lẽ với sự phát triển tam nguyên tinh thần và chân thần. Có những phương diện của Tam Nguyên Tinh Thần liên hệ với linh hồn và những phương diện của chân thần tương quan với số sáu, dù sự giải thoát của chân thần tương quan với số bảy.

221. A parallel consideration would be of the stimulation of the casual petals or spokes in relation to the activation of spirillae.

221. Một sự xem xét song song sẽ là sự kích thích các cánh hoa hay nan hoa nguyên nhân trong liên hệ với sự hoạt hóa các loa tuyến.

After the third Initiation, a corresponding stimulation takes place in the permanent atoms of the Triad, leading to the co-ordination of the buddhic vehicle, and the transference of the lower polarisation into the higher.

Sau lần điểm đạo thứ ba, một sự kích thích tương ứng diễn ra trong các nguyên tử trường tồn của Tam nguyên tinh thần, dẫn đến sự phối hợp của vận cụ Bồ đề, và sự chuyển dịch phân cực thấp vào phân cực cao.

222. The stimulation which occurs before the third initiation involves the chakras as they relate to the simulation of the spirillae in the permanent atoms related to the personality.

222. Sự kích thích xảy ra trước lần điểm đạo thứ ba liên quan đến các luân xa trong mối liên hệ của chúng với sự kích thích các loa tuyến trong các nguyên tử trường tồn liên hệ với phàm ngã.

223. The third initiation is that spiritual juncture at which the spiritual triad begins to be the recipient of initiatory stimulation.

223. Lần điểm đạo thứ ba là thời điểm tinh thần mà tại đó Tam Nguyên Tinh Thần bắt đầu trở thành bên tiếp nhận sự kích thích điểm đạo.

224. In other writings, DK speaks of the coordination of the buddhic vehicle necessitating the prominent presence of the planet Neptune in the astrological chart.

224. Trong các trước tác khác, DK nói rằng sự phối hợp của vận cụ Bồ đề đòi hỏi sự hiện diện nổi bật của hành tinh Sao Hải Vương trong lá số chiêm tinh.

225. When, actually, is the buddhic vehicle coordinated? Probably, to a degree, that coordination begins at the second initiation at which time the ray of Neptune is so prominent. However, from this reference, it seems evident that there is no true or complete coordination of the buddhic vehicle until after the third degree.

225. Thực ra, khi nào vận cụ Bồ đề được phối hợp? Có lẽ, ở một mức độ nào đó, sự phối hợp ấy bắt đầu vào lần điểm đạo thứ hai, khi mà cung của Sao Hải Vương rất nổi bật. Tuy nhiên, từ đoạn tham chiếu này, dường như rõ ràng rằng không có sự phối hợp đích thực hay trọn vẹn nào của vận cụ Bồ đề cho đến sau cấp độ thứ ba.

226. May we say that the third degree the manasic permanent atom is stimulated; at the fourth degree the buddhic permanent atom and at the fifth, the atmic permanent atom? Some sequentiality seems reasonable.

226. Chúng ta có thể nói rằng ở cấp độ thứ ba, nguyên tử trường tồn manas được kích thích; ở cấp độ thứ tư, nguyên tử trường tồn Bồ đề; và ở cấp độ thứ năm, nguyên tử trường tồn atma chăng? Một tính tuần tự nào đó sequentiality dường như là hợp lý.

227. We know, however, that some stimulation of these atoms occurs earlier (as the atmic permanent atom at the third degree), but complete simulation no doubt occurs later. It is not really possible to focus fully in the buddhic consciousness until the fourth degree.

227. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng một số sự kích thích của các nguyên tử này xảy ra sớm hơn (như nguyên tử trường tồn atma ở cấp độ thứ ba), nhưng sự kích thích hoàn toàn chắc chắn xảy ra muộn hơn. Thật ra không thể tập trung trọn vẹn trong tâm thức Bồ đề cho đến cấp độ thứ tư.

228. Along with the transference here discussed goes the dynamic of ‘etheric substitution’. The etheric focus of the individual becomes through the process of initiation a higher etheric focus (for the spiritual triad—involved in the higher initiations—is ‘located’ on the higher etheric planes).

228. Cùng với sự chuyển dịch được bàn đến ở đây là động lực của “sự thay thế dĩ thái”. Tiêu điểm dĩ thái của cá nhân, qua tiến trình điểm đạo, trở thành một tiêu điểm dĩ thái cao hơn (vì Tam Nguyên Tinh Thần — liên quan đến các lần điểm đạo cao hơn — được “định vị” trên các cõi dĩ thái cao hơn).

229. In regard to the coordination of the buddhic vehicle, the power of sacrifice is of much assistance. Since the ninth petal of the egoic lotus (signaling the “utter sacrifice of all forever”) is fully opened at the third degree, we can see how sacrifice would play a far greater role after this point than before. Thus, a preliminary condition is created for the fuller coordination of the buddhic vehicle.

229. Liên quan đến sự phối hợp của vận cụ Bồ đề, năng lực hi sinh trợ giúp rất nhiều. Vì cánh hoa thứ chín của Hoa Sen Chân Ngã (báo hiệu “sự hi sinh hoàn toàn của tất cả mãi mãi”) được mở trọn vẹn ở cấp độ thứ ba, chúng ta có thể thấy hi sinh sẽ đóng vai trò lớn hơn rất nhiều sau điểm này so với trước đó. Như vậy, một điều kiện sơ bộ được tạo ra cho sự phối hợp đầy đủ hơn của vận cụ Bồ đề.

c. By the application of the Rod of Initiation the downflow of force from the Ego to the personality is tripled, the direction of that force being dependent upon whether the centres receiving attention are the etheric, or the astral at the first and second Initiations, or whether the initiate is standing before the LORD OF THE WORLD.

c. Bằng việc áp dụng Thần Trượng Điểm đạo, dòng mãnh lực tuôn xuống từ Chân ngã đến phàm ngã được tăng gấp ba, hướng đi của mãnh lực ấy tùy thuộc vào việc các trung tâm đang nhận sự chú ý là các trung tâm dĩ thái, hay các trung tâm cảm dục ở lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai, hay việc điểm đạo đồ đang đứng trước ĐỨC CHÚA TỂ THẾ GIỚI.

230. We are here given most important occult information. The Science of Initiation is a science. Science of full of quantifications, as in this instance.

230. Ở đây chúng ta được cung cấp thông tin huyền bí hết sức quan trọng. Khoa Học Điểm Đạo là một khoa học. Đó là một khoa học đầy những định lượng, như trong trường hợp này.

231. We may well wonder concerning the degree of augmentation of egoic force in relation to personality which arises from a good meditation, for instance. The tripling of such force seems arresting in its implications.

231. Chúng ta hoàn toàn có thể tự hỏi về mức độ gia tăng của mãnh lực chân ngã trong tương quan với phàm ngã phát sinh, chẳng hạn, từ một lần tham thiền tốt. Sự tăng gấp ba của mãnh lực như thế thật đáng chú ý trong các hàm ý của nó.

232. The fact that for every candidate there is one initiator and two sponsors (thus three intimate officiants) may relate to this tripling.

232. Sự kiện rằng đối với mỗi ứng viên có một Đấng Điểm đạo và hai vị bảo trợ (như vậy là ba vị chủ lễ thân cận) có thể liên hệ với sự tăng gấp ba này.

233. The tripling may also be related to the Science of Triangles. Frequently we read of energy circulation passing three times around the area of circulation.

233. Sự tăng gấp ba này cũng có thể liên hệ với Khoa Học Tam Giác. Chúng ta thường đọc thấy sự tuần hoàn năng lượng đi ba vòng quanh khu vực tuần hoàn.

234. It becomes clear that at the first initiation, it is the etheric centers which, principally, are stimulated. At the second initiation it is principally the astral centers which receive stimulation and, presumably, at the third degree, the mental centers are those stimulated.

234. Rõ ràng là ở lần điểm đạo thứ nhất, chính các trung tâm dĩ thái chủ yếu được kích thích. Ở lần điểm đạo thứ hai, chủ yếu là các trung tâm cảm dục nhận sự kích thích và, có lẽ, ở cấp độ thứ ba, các trung tâm trí tuệ là những trung tâm được kích thích.

235. Since there are presently only four chakric centers upon the mental plane, it is clear that that the causal body with its tiers of petals correlated to the head, heart and throat chakras of other planes, would receive stimulation by the One Initiator.

235. Vì hiện nay chỉ có bốn trung tâm luân xa trên cõi trí, rõ ràng là thể nguyên nhân với các tầng cánh hoa của nó tương quan với các luân xa đầu, tim và cổ họng của các cõi khác, sẽ nhận sự kích thích bởi Đấng Điểm đạo Duy Nhất.

In the latter case, his mental centres or their corresponding force vortices on higher levels, will receive stimulation.

Trong trường hợp sau, các trung tâm trí tuệ của y hay các xoáy lực tương ứng của chúng trên các cấp độ cao hơn, sẽ nhận sự kích thích.

236. In this case, the “corresponding force vortices on higher levels” are energy structures within the causal body.

236. Trong trường hợp này, “các xoáy lực tương ứng trên các cấp độ cao hơn” là các cấu trúc năng lượng bên trong thể nguyên nhân.

When the World Teacher initiates at the first and second Initiations, the direction of the Triadal force is turned to the vivification of the heart, and throat centres, and the ability to synthesise the force of the lower centres is greatly increased.

Khi Đức Chưởng Giáo điểm đạo ở lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai, hướng của mãnh lực Tam nguyên tinh thần được chuyển sang sự tiếp sinh lực cho các trung tâm tim và cổ họng, và khả năng tổng hợp mãnh lực của các trung tâm thấp được gia tăng rất nhiều.

237. Note that we are speaking of the “direction of the Triadal force”. Above we spoke of the “downflow of force from the Ego to the personality”. The term “Triad” and “Ego” are seen as equivalent.

237. Hãy lưu ý rằng chúng ta đang nói về “hướng của mãnh lực Tam nguyên tinh thần”. Ở trên chúng ta đã nói về “dòng mãnh lực tuôn xuống từ Chân ngã đến phàm ngã”. Các thuật ngữ “Tam nguyên tinh thần” và “Chân ngã” được xem là tương đương.

238. It is clear that the Initiator promotes a flow from the spiritual triad to the personality.

238. Rõ ràng là Đấng Điểm đạo thúc đẩy một dòng chảy từ Tam Nguyên Tinh Thần đến phàm ngã.

239. The spiritual triad carries the energies of synthesis.

239. Tam Nguyên Tinh Thần mang các năng lượng của sự tổng hợp.

240. If we pay attention to the order of vivification, we shall note that it is the heart that is stimulated at the first initiation and the throat at the second. Love means something new at the first degree, and the second degree is characterized by spiritual intelligence and a degree of mental illumination.

240. Nếu chúng ta chú ý đến trật tự tiếp sinh lực, chúng ta sẽ lưu ý rằng tim được kích thích ở lần điểm đạo thứ nhất và cổ họng ở lần điểm đạo thứ hai. Bác ái mang một ý nghĩa mới ở cấp độ thứ nhất, và cấp độ thứ hai được đặc trưng bởi trí tuệ tinh thần và một mức độ soi sáng trí tuệ nào đó.

241. It is interesting to see that even at the first and second degrees, triadal forces are active producing an enhanced capacity to synthesize the forces of the lower centers. Initiation (even the early initiations) is a process involving synthesis.

241. Thật thú vị khi thấy rằng ngay cả ở cấp độ thứ nhất và thứ hai, các mãnh lực tam nguyên tinh thần vẫn hoạt động, tạo ra một năng lực tăng cường để tổng hợp các mãnh lực của các trung tâm thấp. Điểm đạo (ngay cả các lần điểm đạo đầu tiên) là một tiến trình bao hàm sự tổng hợp.

When the One Initiator applies the Rod of His Power, the downflow is from the Monad, and though the throat and heart intensify vibration as a response, the main direction of the force is to the seven head centres, and finally (at liberation) to the radiant head centre above, and synthesising the lesser seven head centres.

Khi Đấng Điểm đạo Duy Nhất áp dụng Thần Trượng Quyền năng của Ngài, dòng tuôn xuống là từ chân thần, và dù cổ họng và tim tăng cường rung động như một sự đáp ứng, hướng chính của mãnh lực là đến bảy trung tâm đầu, và cuối cùng (khi giải thoát) đến trung tâm đầu rạng ngời ở phía trên, và tổng hợp bảy trung tâm đầu nhỏ hơn.

242. Most valuable information is again given.

242. Một lần nữa, thông tin hết sức quý giá lại được đưa ra.

243. Egoic/triadal force is liberated in downflow for the first two initiations.

243. Mãnh lực chân ngã/tam nguyên tinh thần được giải phóng trong dòng tuôn xuống cho hai lần điểm đạo đầu tiên.

244. One would expect that atmic energy from the spiritual triad would also be liberated at the third degree—perhaps accompanying the downflowing energy from the Monad.

244. Người ta có thể mong đợi rằng năng lượng atma từ Tam Nguyên Tinh Thần cũng sẽ được giải phóng ở cấp độ thứ ba — có lẽ đi kèm với năng lượng tuôn xuống từ chân thần.

245. It is important to realize that at the third degree the heart and throat continue to be stimulated.

245. Điều quan trọng là nhận ra rằng ở cấp độ thứ ba, tim và cổ họng tiếp tục được kích thích.

246. The seven head centers are related to atma, just as the Great Bear (representing the seven head center of the OAWNMBS may be inferred as focussing on the cosmic atmic plane—TCF 1162).

246. Bảy trung tâm đầu có liên hệ với atma, cũng như Đại Hùng Tinh (đại diện cho bảy trung tâm đầu của Đấng Bất Khả Tư Nghị có thể được suy ra là tập trung trên cõi atma vũ trụ — TCF 1162).

247. The third degree is a pivotal initiation, relating soul to monad. Under the regime of the soul/Ego, atma is contacted, but under the regime of the Monad, the One Initiator draws down monadic force for the stimulation of the seven head centers.

247. Cấp độ thứ ba là một lần điểm đạo then chốt, liên hệ linh hồn với chân thần. Dưới chế độ của linh hồn/chân ngã, atma được tiếp xúc, nhưng dưới chế độ của chân thần, Đấng Điểm đạo Duy Nhất kéo mãnh lực chân thần xuống để kích thích bảy trung tâm đầu.

248. Liberation signifies the fifth degree. The major head center on the top of the head is related to liberation. But that same major center is also related to the atmic plane, as we have earlier learned.

248. Giải thoát biểu thị cấp độ thứ năm. Trung tâm đầu lớn ở đỉnh đầu có liên hệ với sự giải thoát. Nhưng chính trung tâm lớn ấy cũng có liên hệ với cõi atma, như chúng ta đã học trước đây.

249. While the seven head centers are the object of stimulation at the third degree, the synthesis of these seven centers is apparently not completed until the fifth degree.

249. Trong khi bảy trung tâm đầu là đối tượng của sự kích thích ở cấp độ thứ ba, sự tổng hợp của bảy trung tâm này rõ ràng chưa hoàn tất cho đến cấp độ thứ năm.

250. Some experience with the monadic energy will clearly be necessitated before it becomes possible to take the third degree.

250. Một số kinh nghiệm với năng lượng chân thần rõ ràng là điều cần thiết trước khi có thể tiếp nhận cấp độ thứ ba.

251. We are not told whether the downflow of force from the Monad to the soul infused personality is tripled, doubled or in any way magnified, as is the downflow of force from the Ego to the personality. Some augmentation, however, would be expected.

251. Chúng ta không được cho biết liệu dòng mãnh lực tuôn xuống từ chân thần đến phàm ngã được linh hồn thấm nhuần có được tăng gấp ba, gấp đôi hay được khuếch đại theo cách nào không, như dòng mãnh lực tuôn xuống từ Chân ngã đến phàm ngã. Tuy nhiên, người ta có thể mong đợi một sự gia tăng nào đó.

d. The centres at initiation receive a fresh access of [Page 209] vibratory capacity and of power, and this results, in the exoteric life, as:

d. Các trung tâm vào lúc điểm đạo nhận được một sự gia tăng mới về [Page 209] năng lực rung động và quyền năng, và điều này dẫn đến, trong đời sống ngoại môn, như sau:

252. This “fresh access” is due to the stimulation of the Rod. A clear channel of reliable access is created.

252. “Sự gia tăng mới” này là do sự kích thích của Thần Trượng. Một kênh tiếp cận rõ ràng và đáng tin cậy được tạo ra.

First. A sensitiveness and refinement of the vehicles which may result, at first, in much suffering to the initiate, but which produces a capacity to respond to contacts that far outweighs the incidental pain.

Thứ nhất. Một sự nhạy cảm và tinh luyện của các vận cụ mà lúc đầu có thể dẫn đến nhiều đau khổ cho điểm đạo đồ, nhưng lại tạo ra một năng lực đáp ứng với các tiếp xúc vượt xa nỗi đau ngẫu nhiên đi kèm.

253. Here we are speaking of the “sacred pains” so relevant in the life of the advancing initiate. The initiate Krishnamurti experienced such pains to an extreme degree as his vehicles were being prepared for the overshadowing of the Christ.

253. Ở đây chúng ta đang nói về “những nỗi đau thiêng liêng” rất thích đáng trong đời sống của điểm đạo đồ đang tiến bộ. Điểm đạo đồ Krishnamurti đã trải qua những nỗi đau như thế ở mức độ cực đoan khi các vận cụ của ông đang được chuẩn bị cho sự phủ bóng của Đức Christ.

254. To endure the pain is a sacrifice, well-rewarded, once the ordeal has been passed, by greater sensitivity and responsiveness.

254. Chịu đựng nỗi đau là một sự hi sinh, được đền đáp xứng đáng, một khi thử thách đã qua, bằng sự nhạy cảm và khả năng đáp ứng lớn hơn.

255. We learn that the process of initiation, promoting the fresh access of the centers to vibratory capacity and power, will lead to refinement through pain.

255. Chúng ta học được rằng tiến trình điểm đạo, thúc đẩy sự gia tăng mới nơi các trung tâm về năng lực rung động và quyền năng, sẽ dẫn đến sự tinh luyện thông qua đau đớn.

Second. A development of psychic faculty that again may lead to temporary distress, but which eventually causes a recognition of the one Self in all selves, which is the goal of endeavor.

Thứ hai. Sự phát triển năng lực thông linh, điều này một lần nữa có thể dẫn đến khổ sở tạm thời, nhưng rốt cuộc gây ra sự nhận biết một Bản Ngã duy nhất trong mọi bản ngã, vốn là mục tiêu của nỗ lực.

256. A development of psychic faculty is another form of sensitization. All sensitization, initially, may lead to pain and distress.

256. Sự phát triển năng lực thông linh là một hình thức nhạy cảm hóa khác. Mọi sự nhạy cảm hóa, lúc đầu, đều có thể dẫn đến đau đớn và khổ sở.

257. This psychic development is an aspect of the wearing away of the veils which will reveal the One Self. Usually, registration of this One Self is blocked by insensitivity.

257. Sự phát triển thông linh này là một phương diện của sự bào mòn các bức màn sẽ mặc khải Bản Ngã Duy Nhất. Thông thường, sự ghi nhận Bản Ngã Duy Nhất này bị ngăn trở bởi sự vô cảm.

258. We see that every type of advancement has its price.

258. Chúng ta thấy rằng mọi loại tiến bộ đều có cái giá của nó.

Third. A burning away, through a gradual arousing of kundalini, and its correct geometrical progression through the etheric web.

Thứ ba. Một sự thiêu hủy, thông qua sự đánh thức dần dần của kundalini, và sự tiến triển hình học đúng đắn của nó xuyên qua mạng dĩ thái.

259. We have seen that the power and vibratory capacity received at initiation via the Rod have promoted—

259. Chúng ta đã thấy rằng quyền năng và năng lực rung động nhận được vào lúc điểm đạo qua Thần Trượng đã thúc đẩy —

a. Sensitiveness and refinement of the vehicles

a. Sự nhạy cảm và tinh luyện của các vận cụ

b. A development of psychic faculty

b. Sự phát triển năng lực thông linh

c. Now we add a burning away by means of kundalini

c. Giờ đây chúng ta thêm vào một sự thiêu hủy bằng kundalini

260. The burning away must be accompanied by a correct geometrical rising of the kundalini fire. The power conferred by the Rod apparently promotes not only kundalinic arousal but its geometrically correct arousal.

260. Sự đốt cháy đi phải đi kèm với sự bốc lên đúng theo hình học của lửa kundalini. Quyền năng được ban bởi Thần Trượng dường như không chỉ thúc đẩy sự thức dậy của kundalinic mà còn thúc đẩy sự thức dậy đúng theo hình học của nó.

261. That which is burnt away is physical-etheric dross. There is no doubt dross on the astral and mental planes which the higher correspondence to etheric-physical kundalini will also burn.

261. Điều bị đốt cháy đi là cặn bã hồng trần-dĩ thái. Hẳn nhiên cũng có cặn bã trên cõi cảm dục và cõi trí mà sự tương ứng cao hơn của kundalini dĩ thái-hồng trần cũng sẽ đốt cháy.

This produces a resultant continuity of consciousness which enables the initiate consciously to utilise time as a factor in the plans of evolution.

Điều này tạo ra một sự liên tục của tâm thức như là kết quả cho phép điểm đạo đồ một cách hữu thức sử dụng thời gian như một yếu tố trong các kế hoạch của tiến hoá.

262. VSK inquires: “How and why is time tied to the webbing?

262. VSK hỏi: “Thời gian gắn với mạng lưới như thế nào và tại sao?”

263. Time is related to the third aspect and so is the web of life.

263. Thời gian liên hệ với phương diện thứ ba và mạng lưới sự sống cũng vậy.

264. If the web is too prohibitive, the life is subject to the limitation of sequentiality rather than the liberation of simultaneity.

264. Nếu mạng lưới quá ngăn trở, sự sống sẽ chịu sự giới hạn của tính tuần tự thay vì sự giải thoát của tính đồng thời.

265. The right kind of burning away allows the simultaneous registration of energies and forces on all three levels of the personality—etheric-physical, emotional and mental.

265. Loại đốt cháy đúng đắn cho phép sự ghi nhận đồng thời các năng lượng và mãnh lực trên cả ba cấp độ của phàm ngã—dĩ thái-hồng trần, cảm xúc và trí tuệ.

266. Under normal circumstances “it takes time” for the impressions of the astral and mental nature to filter through into the brain. What if such impressions were immediately available in relation to any physical impacts being experienced? A wholeness of perception not formerly available would be immediately so. Patterns of relation would be immediately grasped rather than sequentially so.

266. Trong những hoàn cảnh bình thường, các ấn tượng của bản chất cảm dục và trí tuệ cần “mất thời gian” để thấm lọc vào bộ não. Điều gì sẽ xảy ra nếu những ấn tượng như thế có thể lập tức sẵn có trong tương quan với bất kỳ tác động hồng trần nào đang được trải nghiệm? Khi ấy, một tính toàn vẹn của tri giác trước đây chưa có sẽ lập tức xuất hiện. Các mô hình tương quan sẽ được nắm bắt ngay tức thì thay vì theo tuần tự.

267. VSK queries: “What might it look like if one is utilizing time as a factor in the plans of evolution?”

267. VSK hỏi: “Sẽ trông như thế nào nếu một người đang sử dụng thời gian như một yếu tố trong các kế hoạch của tiến hoá?”

268. May it be suggested that a fairly accurate knowledge of the Science of Cycles will be in the possession of the initiate?

268. Có thể gợi ý rằng một tri thức khá chính xác về Khoa Học về Các Chu Kỳ sẽ nằm trong sự sở hữu của điểm đạo đồ chăng?

269. As well, it would not be necessary to wait so long before acting intelligently. With fairly instantaneous apprehension, swift and appropriate action could follow.

269. Ngoài ra, sẽ không cần phải chờ quá lâu trước khi hành động một cách thông minh. Với sự lĩnh hội gần như tức thời, hành động mau lẹ và thích hợp có thể tiếp theo.

Fourth. A gradual grasp of the Law of Vibration as an aspect of the basic law of building;

Thứ tư. Một sự nắm bắt dần dần Định luật Rung động như một phương diện của định luật căn bản về kiến tạo;

270. Only matter characterized by certain vibrations can be rightly built into the divinely intended, Plan-appropriate forms.

270. Chỉ vật chất được đặc trưng bởi những rung động nhất định mới có thể được xây dựng đúng đắn vào những hình tướng do thiêng liêng dự định, thích hợp với Thiên Cơ.

271. Understanding the Law of Vibration reveals appropriate substances for the building process.

271. Sự thấu hiểu Định luật Rung động mặc khải những chất liệu thích hợp cho tiến trình kiến tạo.

the initiate learns consciously to build, to manipulate thought matter for the perfecting of the plans of the Logos, to work in mental essence, and to apply the law of mental levels and thereby affect the physical plane.

điểm đạo đồ học cách kiến tạo một cách hữu thức, vận dụng chất liệu tư tưởng để hoàn thiện các kế hoạch của Thượng đế, làm việc trong tinh chất trí tuệ, và áp dụng định luật của các cấp độ trí tuệ, nhờ đó tác động đến cõi hồng trần.

272. We remember that this manipulative ability is related to the fresh access of vibratory capacity and power received through the application of the Rod.

272. Chúng ta nhớ rằng khả năng vận dụng này liên hệ với sự tiếp cận mới mẻ đến năng lực và quyền năng rung động nhận được qua việc áp dụng Thần Trượng.

273. There is a resonant relationship between the mental and physical planes. All thoughts tend to become actions.

273. Có một mối liên hệ cộng hưởng giữa cõi trí và cõi hồng trần. Mọi tư tưởng đều có khuynh hướng trở thành hành động.

Motion originates cosmically on cosmic mental levels, and in the microcosm the same order will be seen. There is an occult hint here that will reveal much if pondered upon.

Chuyển động khởi nguồn một cách vũ trụ trên các cấp độ trí tuệ vũ trụ, và trong tiểu thiên địa cũng sẽ thấy cùng một trật tự như vậy. Ở đây có một gợi ý huyền bí sẽ tiết lộ nhiều điều nếu được suy gẫm.

274. The mind is a field of movement. The field of becoming begins with mind. The stilling of the mind, therefore, reveals the realm of being. In a way, movement, though cosmically inescapable, distorts the face of Reality.

274. Trí tuệ là một trường chuyển động. Trường của sự trở thành bắt đầu với trí tuệ. Vì vậy, sự làm lắng yên trí tuệ sẽ mặc khải lĩnh vực của bản thể. Theo một nghĩa nào đó, chuyển động, dù không thể tránh khỏi về mặt vũ trụ, vẫn làm méo mó dung nhan của Thực Tại.

275. Movement on planes above the mental is of a different order that motion on the plane of mind. Though, since the cosmic ethers are still to be found upon the cosmic physical plane, motion will play a part in their expression.

275. Chuyển động trên các cõi cao hơn cõi trí thuộc một trật tự khác với chuyển động trên cõi trí. Tuy vậy, vì các dĩ thái vũ trụ vẫn còn được tìm thấy trên cõi hồng trần vũ trụ, nên chuyển động sẽ đóng một vai trò trong sự biểu lộ của chúng.

276. Those of us who wish to move the lower worlds, had best learn white magic which begins with mental magic.

276. Những ai trong chúng ta muốn làm chuyển động các cõi thấp, tốt hơn hết nên học Chánh Thuật, vốn bắt đầu bằng huyền thuật trí tuệ.

At initiation, at the moment of the application of the Rod, the initiate consciously realises the meaning of the Law of Attraction in form building, and in the synthesis of the three fires. Upon his ability to retain that realisation and himself to apply the law, will depend his power and progress.

Khi điểm đạo, vào lúc áp dụng Thần Trượng, điểm đạo đồ một cách hữu thức chứng nghiệm ý nghĩa của Định luật Hấp Dẫn trong việc kiến tạo hình tướng, và trong sự tổng hợp của ba ngọn lửa. Quyền năng và sự tiến bộ của y sẽ tùy thuộc vào khả năng giữ được sự chứng nghiệm đó và tự mình áp dụng định luật,

277. The Rod of Initiation conveys principally the second aspect of divinity correlated with the Law of Attraction.

277. Thần Trượng Điểm đạo chủ yếu truyền đạt phương diện thứ hai của thiên tính tương quan với Định luật Hấp Dẫn.

278. The application of the Rod reveals

278. Việc áp dụng Thần Trượng mặc khải

a. The realization of the meaning of the Law of Attraction in form building

a. Sự chứng nghiệm ý nghĩa của Định luật Hấp Dẫn trong việc kiến tạo hình tướng

b. The realization of the meaning of the Law of Attraction in the synthesis of the three fires

b. Sự chứng nghiệm ý nghĩa của Định luật Hấp Dẫn trong sự tổng hợp của ba ngọn lửa

279. Power and progress in this second solar system, and upon this essentially second ray planet, depends upon progressing along the line indicated by the second aspect.

279. Quyền năng và sự tiến bộ trong hệ mặt trời thứ hai này, và trên hành tinh về bản chất là cung hai này, tùy thuộc vào việc tiến bước theo đường lối được chỉ ra bởi phương diện thứ hai.

280. VSK suggests that we maintain the consideration of Law of Attraction as a dual law encompassing repulsion as well, centrifugal and centripetal, cohering and refining the material.

280. VSK gợi ý rằng chúng ta duy trì việc xem xét Định luật Hấp Dẫn như một định luật kép cũng bao hàm cả sự đẩy lùi, ly tâm và hướng tâm, kết dính và tinh luyện vật chất.

281. It is implied that the initiate may not remember the realizations impressed during the initiation ceremony. It would obviously be of value to consciously retain that which has been imparted.

281. Điều này hàm ý rằng điểm đạo đồ có thể không nhớ những chứng nghiệm được ghi khắc trong nghi lễ điểm đạo. Hiển nhiên sẽ rất có giá trị nếu một cách hữu thức giữ lại điều đã được truyền đạt.

e. By the application of the Rod, the fire of kundalini is aroused, and its upward progress directed.

e. Bằng việc áp dụng Thần Trượng, lửa kundalini được khơi dậy, và sự tiến lên trên của nó được định hướng.

282. The arousal of the kundalini is a natural process, however, if the downflow of energy of the Ego can be tripled through the application of the Rod, what of the up-flow of the force of kundalini? Is it also tripled or multiplied in some manner?.

282. Sự khơi dậy kundalini là một tiến trình tự nhiên; tuy nhiên, nếu dòng năng lượng đi xuống của Chân ngã có thể được tăng gấp ba qua việc áp dụng Thần Trượng, thì còn dòng đi lên của mãnh lực kundalini thì sao? Nó cũng được tăng gấp ba hay được nhân lên theo cách nào đó chăng?.

The fire at the base of the spine, and the fire of mind are [Page 210] directed along certain routes, or triangles, by the action of the Rod as it moves in a specified manner.

Lửa ở đáy cột sống, và lửa của trí tuệ được [Page 210] định hướng theo những lộ trình nhất định, hay những tam giác, bởi tác động của Thần Trượng khi nó chuyển động theo một cách thức xác định.

283. Again, these fires follow certain routes in a natural progression during evolution, but the fires must be greatly sped upon their way by the application of the Rod.

283. Một lần nữa, các ngọn lửa này đi theo những lộ trình nhất định trong một sự tiến triển tự nhiên trong tiến hoá, nhưng các ngọn lửa phải được thúc đẩy rất mạnh trên đường đi của chúng bởi việc áp dụng Thần Trượng.

284. Perhaps new routes (or intended routes) may be delineated by means of the application.

284. Có lẽ những lộ trình mới (hay những lộ trình được dự định) có thể được vạch ra bằng phương tiện của sự áp dụng này.

285. We remember that the two fires here mentioned, must blend and merge at various junctures along the spine..

285. Chúng ta nhớ rằng hai ngọn lửa được nhắc đến ở đây phải hòa trộn và hợp nhất tại nhiều điểm giao nhau khác nhau dọc theo cột sống..

There is a definite occult reason, under the Laws of Electricity, behind the known fact that every initiate, presented to the Initiator, is accompanied by two of the Masters, who stand one on either side of him. The three of them together form a triangle which makes the work possible.

Có một lý do huyền bí xác định, theo các Định luật Điện, đằng sau sự kiện đã biết rằng mọi điểm đạo đồ, khi được đưa đến trước Đấng Điểm đạo, đều được hai Chân sư đi kèm, đứng mỗi vị một bên y. Cả ba cùng nhau tạo thành một tam giác khiến công việc trở nên khả thi.

286. The three aspects of electricity are represented by the candidate and the two sponsors.

286. Ba phương diện của điện được tượng trưng bởi ứng viên và hai vị bảo trợ.

287. We can imagine the candidate representing solar fire (neutral fire). One of the sponsors will represent the positive polarity (electric fire) and the other the negative polarity (fire by friction).

287. Chúng ta có thể hình dung ứng viên tượng trưng cho Lửa Thái dương (ngọn lửa trung tính). Một trong hai vị bảo trợ sẽ tượng trưng cho cực tính dương (Lửa Điện) và vị kia cho cực tính âm (Lửa ma sát).

288. From another perspective, it is the Initiator Who completed the triangle of officiants, and thus would represent the power of solar fire.

288. Từ một góc nhìn khác, chính Đấng Điểm đạo là Đấng hoàn tất tam giác của những vị chủ lễ, và như thế sẽ tượng trưng cho quyền năng của Lửa Thái dương.

289. The triangle is a fundamental electrical map, holding the secret of the equilibrizing of electricity.

289. Tam giác là một sơ đồ điện căn bản, nắm giữ bí mật của sự quân bình hóa điện.

The force of the Rod is twofold, and its power terrific.

Mãnh lực của Thần Trượng là nhị phân, và quyền năng của nó thật khủng khiếp.

290. The word “terrific” will not be used lightly.

290. Từ “khủng khiếp” sẽ không được dùng một cách nhẹ nhàng.

291. The twofold force of the Rod suggests the positive and negative polarities.

291. Mãnh lực nhị phân của Thần Trượng gợi ra các cực tính dương và âm.

292. The twofoldness may also relate to the potencies of solar fire and electric fire.

292. Tính nhị phân cũng có thể liên hệ với các tiềm lực của Lửa Thái dương và Lửa Điện.

Apart and alone the initiate could not receive the voltage from the Rod without serious hurt, but in triangular formation transmission comes safely.

Tách riêng và đơn độc, điểm đạo đồ không thể tiếp nhận điện thế từ Thần Trượng mà không bị tổn hại nghiêm trọng, nhưng trong đội hình tam giác, sự truyền dẫn diễn ra an toàn.

293. The “hurt” would be damage to his vehicles—initially his causal vehicle, since initiation is in relation to the first four initiations, accomplished within the causal body, but secondarily to the vehicles of his personality, since there is a downflow of force from the causal vehicle to the personality vehicles.

293. “Sự tổn hại” ấy sẽ là tổn thương đối với các vận cụ của y—trước hết là vận cụ nguyên nhân của y, vì điểm đạo ở đây liên hệ đến bốn lần điểm đạo đầu tiên, được hoàn thành trong thể nguyên nhân, nhưng thứ yếu là đối với các vận cụ của phàm ngã y, vì có một dòng mãnh lực chảy xuống từ vận cụ nguyên nhân đến các vận cụ phàm ngã.

294. What we may grasp from this section, in general, is the protective value of triangular formation.

294. Điều chúng ta có thể nắm bắt từ phần này, nói chung, là giá trị bảo vệ của đội hình tam giác.

The two Masters Who thus sponsor the initiate, represent two polarities of the electric All; part of Their work is therefore to stand with all applicants for initiation when they come before the Great Lord.

Hai Chân sư như thế bảo trợ cho điểm đạo đồ tượng trưng cho hai cực tính của Điện Toàn Thể; vì vậy, một phần công việc của Các Ngài là đứng cùng mọi ứng viên xin điểm đạo khi họ đến trước Đức Chúa Tể Vĩ Đại.

295. VSK suggests the following thoughts: “The exoteric correlations of a positive, negative, and ground—the threefold flow necessary for safe, insulated, transmission of electrical voltage. The initiate therefore being as the ground, or equilibrising force perchance; relevant to the necessity of having a physical body (a ‘ground wire’) for initiation.

295. VSK gợi ý những tư tưởng sau: “Những tương quan ngoại môn của dương, âm và tiếp địa—dòng chảy tam phân cần thiết cho sự truyền dẫn điện thế an toàn, có cách điện. Vì vậy, điểm đạo đồ giống như tiếp địa, hay có lẽ là mãnh lực quân bình hóa; liên hệ đến sự cần thiết phải có một thể xác (một ‘dây tiếp địa’) cho điểm đạo.

296. The idea of sponsorship exists in a number of fraternal organizations. The electrical basis of the custom of sponsorship should be remembered.

296. Ý tưởng về sự bảo trợ tồn tại trong một số tổ chức huynh đệ. Nền tảng điện học của tập tục bảo trợ này cần được ghi nhớ.

297. The triangular setup is reminiscent of the configuration of Spirit, soul and body. Placed between the two Masters, the candidate most likely represents soul.

297. Cấu hình tam giác gợi nhớ đến cấu trúc của tinh thần, linh hồn và thể xác. Được đặt giữa hai Chân sư, ứng viên rất có thể tượng trưng cho linh hồn.

298. The Great Lord may be either the Christ or the Lord of the World—both are ‘Great Lords’.

298. Đức Chúa Tể Vĩ Đại có thể là Đức Christ hoặc Đức Chúa Tể Thế Giới—cả hai đều là ‘Đức Chúa Tể Vĩ Đại’.

299. When we “stand with” another in support, we should remind ourselves of the electrical implications of our stance.

299. Khi chúng ta “đứng cùng” một người khác để hỗ trợ, chúng ta nên tự nhắc mình về những hàm ý điện học của lập trường ấy.

When the Rods of Initiation are held in the hands of the Initiator in His position of power, and at the stated seasons, they act as transmitters of electric force from very high levels,—so high indeed that the “Flaming Diamond” at certain of the final initiations (the sixth and seventh) transmits force, via the Logos, from outside the system altogether.

Khi các Thần Trượng Điểm đạo được cầm trong tay Đấng Điểm đạo ở vị thế quyền năng của Ngài, và vào những mùa kỳ đã định, chúng hoạt động như những vật truyền dẫn mãnh lực điện từ những cấp độ rất cao,—quả thật cao đến mức “Kim Cương Rực Lửa” trong một số lần điểm đạo cuối cùng (thứ sáu và thứ bảy) truyền dẫn mãnh lực, qua Thượng đế, từ hoàn toàn bên ngoài hệ thống.

300. The initiation process is well-timed. Initiation cannot occur simply at any time. Periods of the Full Moon are likely occasions, and especially certain of the Full Moons—that of Wesak especially. The Full Moons of the three Great Festivals would seem indicated moments, but much would depend upon which initiation was being offered. The periods of the Leo and Capricorn Full Moon would also seem indicated moments.

300. Tiến trình điểm đạo được định thời rất chuẩn xác. Điểm đạo không thể xảy ra đơn giản vào bất kỳ lúc nào. Những thời kỳ Trăng Tròn có thể là những dịp thích hợp, và đặc biệt là một số kỳ Trăng Tròn—nhất là kỳ Wesak. Những kỳ Trăng Tròn của ba Đại Lễ dường như là những thời điểm được chỉ định, nhưng многое sẽ tùy thuộc vào lần điểm đạo nào đang được ban trao. Những thời kỳ Trăng Tròn Sư Tử và Ma Kết cũng dường như là những thời điểm được chỉ định.

301. Probably the different Full Moons would, each of them, be most appropriate for initiations of different degrees. This would be an intricate study and is, no doubt, deeply veiled. It would be a study of ‘divine occasions’.

301. Có lẽ mỗi kỳ Trăng Tròn khác nhau sẽ thích hợp nhất cho những lần điểm đạo ở những cấp bậc khác nhau. Đây hẳn sẽ là một ngành nghiên cứu tinh vi và chắc chắn được che giấu sâu xa. Đó sẽ là một nghiên cứu về những ‘cơ hội thiêng liêng’.

302. We note that the Rod of Initiation is held in the “hands” and not the “hand” of the initiator. This, interestingly, suggests that Sanat Kumara is the kind of being who indeed has hands. It is likely that He presents Himself in human form before the candidate for the fifth initiation.

302. Chúng ta lưu ý rằng Thần Trượng Điểm đạo được cầm trong “hai tay” chứ không phải “một tay” của đấng điểm đạo. Điều này, một cách thú vị, gợi ý rằng Đức Sanat Kumara là loại hữu thể quả thật có hai tay. Có khả năng Ngài tự hiện diện trước ứng viên cho lần điểm đạo thứ năm trong hình tướng con người.

303. The word “hands” also suggests that the Rod may be held in both hands simultaneously or in different hands according to purpose.

303. Từ “hai tay” cũng gợi ý rằng Thần Trượng có thể được cầm đồng thời bằng cả hai tay hoặc bằng những tay khác nhau tùy theo mục đích.

304. Although Sanat Kumara would wield the Rod of Initiation at the third and fourth initiations, He would not be seen in person by the candidate. The image before the candidate would be either that of a star or an eye, we are told in The Rays and the Initiations

304. Mặc dù Đức Sanat Kumara sẽ sử dụng Thần Trượng Điểm đạo trong lần điểm đạo thứ ba và thứ tư, Ngài sẽ không được ứng viên trông thấy đích thân. Chúng ta được cho biết trong Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo rằng hình ảnh trước ứng viên sẽ là một ngôi sao hoặc một con mắt.

305. The Christ, however, would be seen face to face.

305. Tuy nhiên, Đức Christ sẽ được thấy mặt đối mặt.

306. It is interesting to contemplate that, though initiation for the first two degrees occurs within the causal body (and probably for the third and fourth as well), the initiator for those first two degrees would still be seen in human form. Though the Christ would be focussing upon the causal level, He would still present Himself before the candidate in human form.

306. Thật thú vị để chiêm ngưỡng rằng, dù điểm đạo cho hai cấp đầu xảy ra bên trong thể nguyên nhân (và có lẽ cả lần thứ ba và thứ tư cũng vậy), đấng điểm đạo cho hai cấp đầu ấy vẫn sẽ được thấy trong hình tướng con người. Dù Đức Christ tập trung trên cấp độ nguyên nhân, Ngài vẫn sẽ tự hiện diện trước ứng viên trong hình tướng con người.

307. The “Flaming Diamond” is the Rod of Initiation wielded by Sanat Kumara at the third, fourth and fifth initiations.

307. “Kim Cương Rực Lửa” là Thần Trượng Điểm đạo được Đức Sanat Kumara sử dụng trong lần điểm đạo thứ ba, thứ tư và thứ năm.

308. It is said that Sanat Kumara is not the Initiator at the sixth and seventh initiations. A mysterious existence called the “Silent Watcher” presides at the first of these initiations and the Planetary Logos at the second. Does this mean that the Flaming Diamond is not in the exclusive charge of Sanat Kumara, but can be wielded by these two greater Existences?

308. Người ta nói rằng Đức Sanat Kumara không phải là Đấng Điểm đạo trong lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy. Một Hiện Hữu huyền nhiệm được gọi là “Đấng Quan Sát Thầm Lặng” chủ trì lần đầu trong hai lần điểm đạo này và Đức Hành Tinh Thượng Đế chủ trì lần thứ hai. Điều này có nghĩa là Kim Cương Rực Lửa không nằm dưới sự quản giữ độc quyền của Đức Sanat Kumara, mà có thể được hai Đại Hiện Hữu cao cả hơn này sử dụng chăng?

309. We are told that at the sixth and seventh initiations, force from the Solar Logos is involved, and greater forces still, transmitted “via the Logos” from sources outside our solar system.

309. Chúng ta được cho biết rằng trong lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy, mãnh lực từ Thái dương Thượng đế có liên quan, và những mãnh lực còn lớn hơn nữa được truyền “qua Thượng đế” từ những nguồn bên ngoài hệ mặt trời của chúng ta.

310. We must remember that these two initiations are initiations of the Monad and are beyond what, for man, is the first cosmic initiation—i.e., the fifth initiation.

310. Chúng ta phải nhớ rằng hai lần điểm đạo này là những cuộc điểm đạo của chân thần và vượt quá điều mà, đối với con người, là cuộc điểm đạo vũ trụ đầu tiên—tức là lần điểm đạo thứ năm.

311. One suspects that the Logos of the Seven Solar Systems may be influential at the sixth initiation and that the One About Whom Naught May Be Said may be slightly influential at the seventh.

311. Người ta nghi rằng Thượng đế của Bảy Hệ Mặt Trời có thể có ảnh hưởng trong lần điểm đạo thứ sáu và rằng Đấng Bất Khả Tư Nghị có thể có một ảnh hưởng nhẹ trong lần thứ bảy.

312. We must not forget the star Sirius as potentially influential at the sixth and seventh initiations, as those initiations are, respectively, the Baptism and Transfiguration in the Sirian system of initiations.

312. Chúng ta không được quên ngôi sao Sirius như một yếu tố có thể có ảnh hưởng trong lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy, vì các lần điểm đạo ấy lần lượt là Phép Rửa và Biến hình trong hệ thống điểm đạo của Sirius.

313. When referring to forces “from outside the system altogether”, we cannot discount the thought that the Tibetan may be referring to the cosmic astral plane and the cosmic mental plane. These two cosmic planes are often considered as lying outside the solar system.

313. Khi nói đến những mãnh lực “hoàn toàn từ bên ngoài hệ thống”, chúng ta không thể loại trừ ý nghĩ rằng Chân sư Tây Tạng có thể đang nói đến cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ. Hai cõi vũ trụ này thường được xem là nằm ngoài hệ mặt trời.

We need to remember that this major Rod is the one used on this planet, but that within the system there are several such Rods of Power, and that they are to be found in three grades, if it may be so expressed.

Chúng ta cần nhớ rằng Thần Trượng lớn này là Thần Trượng được dùng trên hành tinh này, nhưng trong hệ thống có một số Thần Trượng Quyền Năng như thế, và chúng được tìm thấy trong ba cấp, nếu có thể nói như vậy.

314. As there are three grades of planet within our solar system (synthesizing, sacred and non-sacred), the existence of three types or grades of Rods of Power is reasonable.

314. Vì trong hệ mặt trời của chúng ta có ba cấp hành tinh (tổng hợp, thiêng liêng và không thiêng liêng), nên sự tồn tại của ba loại hay ba cấp Thần Trượng Quyền Năng là điều hợp lý.

315. From what is given below, we have four Rods of Power in three grades, making twelve spheres of focus in all.

315. Từ những gì được trình bày dưới đây, chúng ta có bốn Thần Trượng Quyền Năng trong ba cấp, tạo thành mười hai khối cầu tập trung tất cả.

316. Unless it is meant that the several Rods mentioned below are graded, as is obvious.

316. Trừ phi điều được hàm ý là các Thần Trượng khác nhau được nhắc đến dưới đây vốn đã được phân cấp, như điều hiển nhiên.

First. The Rod of Initiation used for the first two initiations and wielded by the Great Lord, the Christ, the World Teacher. It is magnetised by application of the “Flaming Diamond”—the magnetisation being repeated when each new world Teacher takes office.

Thứ nhất. Thần Trượng Điểm đạo được dùng cho hai lần điểm đạo đầu tiên và do Đức Chúa Tể Vĩ Đại, Đức Christ, Đức Chưởng Giáo sử dụng. Nó được từ hóa bằng việc áp dụng “Kim Cương Rực Lửa”—sự từ hóa ấy được lặp lại khi mỗi Đức Chưởng Giáo mới nhậm chức.

317. We notice that a greater Rod magnetizes the immediately lesser Rod.

317. Chúng ta nhận thấy rằng một Thần Trượng lớn hơn từ hóa Thần Trượng nhỏ hơn ngay kế đó.

318. The Rod here referenced is sometimes known as the Rod of the Bodhisattva or the Bodhisattva’s Rod.

318. Thần Trượng được nói đến ở đây đôi khi được biết đến như Thần Trượng của Đức Bồ Tát.

319. Since it may be reasonably inferred that a World Teacher takes office once every two thousand five hundred years, the magnetizations would occur with that frequency.

319. Vì có thể suy ra một cách hợp lý rằng một Đức Chưởng Giáo nhậm chức mỗi hai nghìn năm trăm năm, nên các lần từ hóa sẽ xảy ra với tần suất ấy.

320. The Christ will be World Teacher for two consecutive periods (totaling five thousand years). One would wonder however, whether this Rod would not have to be magnetized for its use during the Aquarian dispensation.

320. Đức Christ sẽ là Đức Chưởng Giáo trong hai thời kỳ liên tiếp (tổng cộng năm nghìn năm). Tuy nhiên, người ta có thể tự hỏi liệu Thần Trượng này có cần phải được từ hóa để sử dụng trong thời kỳ Bảo Bình hay không.

321. The following excerpt indicates the time when the Lord Maitreya took the office of Bodhisattva:

321. Đoạn trích sau đây cho biết thời điểm khi Đức Maitreya đảm nhận chức vụ Bồ Tát:

Bodhisattva. The exponent of second ray force, the Teacher of the Adepts of men and of Angels. This office was originally held by the Buddha, but His place was taken (after His Illumination) by the Christ. The work of the Bodhisattva is with the religions of the world, and with the spiritual Essence in Man. (TCF 120) (TCF 120-note)

Đức Bồ Tát. Đấng biểu hiện mãnh lực cung hai, Huấn sư của các chân sư của nhân loại và của các thiên thần. Chức vụ này nguyên thủy do Đức Phật nắm giữ, nhưng vị trí của Ngài đã được Đức Christ đảm nhận (sau khi Ngài Giác Ngộ). Công việc của Đức Bồ Tát là với các tôn giáo của thế giới, và với Tinh chất tinh thần trong Con Người. (TCF 120) (TCF 120-note)

322. The illumination of the Buddha occurred in the sixth century BC, and so that magnetization of the Rod occurred probably then, and has been effective until our present time. It would seem that another magnetization would be imminent if a charging of the Rod must occur in relation to the Aquarian Age.

322. Sự giác ngộ của Đức Phật xảy ra vào thế kỷ thứ sáu trước Công nguyên, và vì thế sự từ hóa Thần Trượng ấy có lẽ đã xảy ra vào lúc đó, và đã có hiệu lực cho đến thời đại hiện nay của chúng ta. Có vẻ như một lần từ hóa khác sắp xảy ra nếu việc nạp điện cho Thần Trượng phải diễn ra liên hệ với Kỷ Nguyên Bảo Bình.

There is a wonderful ceremony performed at the time that a new World Teacher takes up His work. During the ceremony He receives His Rod of Power—the same Rod as used since the foundation of our planetary Hierarchy—and holds it forth to the Lord of the World, Who touches it [Page 211] with His own mighty Rod, causing a fresh re-charging of its electric capacity. This ceremony takes place at Shamballa.89,90

Có một nghi lễ kỳ diệu được thực hiện vào lúc một Đức Chưởng Giáo mới đảm nhận công việc của Ngài. Trong nghi lễ ấy, Ngài nhận Thần Trượng Quyền Năng của Ngài—cũng chính Thần Trượng đã được dùng từ khi Thánh đoàn hành tinh của chúng ta được thiết lập—và đưa nó ra trước Đức Chúa Tể Thế Giới, Đấng chạm vào nó [Page 211]bằng chính Thần Trượng hùng lực của Ngài, gây nên một sự nạp lại mới mẻ cho năng lực điện của nó. Nghi lễ này diễn ra tại Shamballa.89,90

323. The Hierarchy was founded some eighteen million years ago, and so this ceremony of re-charging has, presumably, occurred many times since then.

323. Thánh đoàn đã được thiết lập cách đây khoảng mười tám triệu năm, và vì thế nghi lễ nạp lại này, theo giả định, đã xảy ra nhiều lần kể từ đó.

324. We can see that, as far as the World Teacher is concerned, the basic initiatory power comes from the Lord of the World.

324. Chúng ta có thể thấy rằng, xét theo phương diện của Đức Chưởng Giáo, quyền năng điểm đạo căn bản đến từ Đức Chúa Tể Thế Giới.

325. The One who is the World Teacher clearly, then, has access to Shamballa—located on cosmic etheric levels.

325. Như vậy, Đấng là Đức Chưởng Giáo rõ ràng có sự tiếp cận đến Shamballa—nằm trên các cấp độ dĩ thái vũ trụ.

Footnote 89:

Chú thích 89:

Shamballa—The Sacred Island in the Gobi desert. The centre in central Asia where the Lord of the World, the Ancient of Days, has His Headquarters. H. P. B. says it is “a very mysterious locality on account of its future associations.”—S. D., II, 413.

Shamballa—Đảo Thiêng trong sa mạc Gobi. Trung tâm ở Trung Á nơi Đức Chúa Tể Thế Giới, Đấng Thái Cổ, đặt Đại Bản Doanh của Ngài. H. P. B. nói rằng đó là “một địa phương rất huyền bí vì những liên hệ tương lai của nó.”—S. D., II, 413.

326. There are two ‘locations’ for Shamballa usually given—one upon the cosmic etheric planes and the other actually within the systemic ethers (associated with the tangible location on our planet called the Gobi Desert).

326. Thường có hai ‘vị trí’ được nêu ra cho Shamballa—một ở trên các cõi dĩ thái vũ trụ và một thực sự ở trong các dĩ thái hệ thống (gắn với địa điểm hữu hình trên hành tinh chúng ta gọi là sa mạc Gobi).

327. The real Shamballa, it would seem, is located on cosmic etheric levels, but a reflection in the lower ethers can be found. Probably the higher systemic ethers (the esoteric ethers, atomic and sub-atomic) carry this reflection and not the lower.

327. Shamballa thực sự, dường như, nằm trên các cấp độ dĩ thái vũ trụ, nhưng có thể tìm thấy một sự phản chiếu trong các dĩ thái thấp hơn. Có lẽ các dĩ thái hệ thống cao hơn (các dĩ thái nội môn, nguyên tử và hạ nguyên tử) mang sự phản chiếu này chứ không phải các dĩ thái thấp hơn.

328. What are the “future associations” of the systemic-etheric Shamballa? The day will come when, symbolically at least, Sanat Kumara descends to the systemic etheric level and “walks the Earth”. Before this will be possible the Judgment in the fifth round must occur. It would seem, actually, as if the number seven would be associated with such a bringing of Heaven to Earth. Thus we question whether the seventh round must occur before this descent is possible; and yet, Sanat Kumara’s term of special service may be over before that time. These are matters to be revealed a high initiations, and really are not very much our concern.

328. Những “liên hệ tương lai” của Shamballa dĩ thái-hệ thống là gì? Sẽ đến ngày mà, ít nhất là theo biểu tượng, Đức Sanat Kumara giáng xuống cấp độ dĩ thái hệ thống và “bước đi trên Trái Đất”. Trước khi điều này có thể xảy ra, cuộc Phán Xét trong cuộc tuần hoàn thứ năm phải diễn ra. Thực ra, có vẻ như con số bảy sẽ gắn với việc mang Thiên Đàng xuống Trái Đất như thế. Vì vậy chúng ta tự hỏi liệu cuộc tuần hoàn thứ bảy có phải xảy ra trước khi sự giáng xuống này trở nên khả hữu hay không; và tuy nhiên, nhiệm kỳ phụng sự đặc biệt của Đức Sanat Kumara có thể đã kết thúc trước thời điểm ấy. Đây là những vấn đề sẽ được mặc khải ở các lần điểm đạo cao, và thật ra không phải là điều chúng ta cần quan tâm nhiều.

Footnote 90:

Chú thích 90:

The World Teacher—takes office cyclically. His cycles do not coincide with those of the Manu as the Manu holds office for the entire rootrace.

Đức Chưởng Giáo—nhậm chức theo chu kỳ. Các chu kỳ của Ngài không trùng với các chu kỳ của Đức Manu vì Đức Manu giữ chức vụ trong suốt toàn bộ giống dân gốc.

329. The cycles of the Manu and Mahachohan are much longer than that of the World Teacher.

329. Các chu kỳ của Đức Manu và Đức Mahachohan dài hơn nhiều so với chu kỳ của Đức Chưởng Giáo.

The World Teacher gives out the keynote for the various religions and is the emanating source for periodical religious impulses.

Đức Chưởng Giáo ban ra chủ âm cho các tôn giáo khác nhau và là nguồn phát xạ cho những xung lực tôn giáo định kỳ.

330. Each Age has its unique religious impulse and it is likely that there is a new World Teacher for the commencement of each Zodiacal Age.

330. Mỗi Kỷ Nguyên có xung lực tôn giáo độc đáo riêng của nó và có khả năng là có một Đức Chưởng Giáo mới vào lúc bắt đầu mỗi Kỷ Nguyên Hoàng Đạo.

The duration of his cycles are not given out.

Thời lượng các chu kỳ của ngài không được tiết lộ.

331. There is a reference for which I am searching which states that the Christ is unique in assuming the role of World Teacher for two successive precessional ages. From this we may gather that the usual term for a World Teacher is one precessional age.

331. Có một tài liệu tham chiếu mà tôi đang tìm, nói rằng Đức Christ là độc nhất trong việc đảm nhận vai trò Đức Chưởng Giáo trong hai kỷ nguyên tuế sai liên tiếp. Từ đó chúng ta có thể suy ra rằng nhiệm kỳ thông thường của một Đức Chưởng Giáo là một kỷ nguyên tuế sai.

The Buddha held office prior to the present World Teacher and upon his Illumination His place was taken by the Lord Maitreya whom the Occidentals call the Christ.

Đức Phật giữ chức vụ trước Đức Chưởng Giáo hiện nay và khi Ngài Giác Ngộ, vị trí của Ngài được Đức Maitreya đảm nhận, Đấng mà người phương Tây gọi là Đức Christ.

332. We can gather that the Master KH will assume the role of World Teacher after approximately two thousand five hundred years—at the beginning of the Age of Capricorn, approximately.

332. Chúng ta có thể suy ra rằng Chân sư KH sẽ đảm nhận vai trò Đức Chưởng Giáo sau khoảng hai nghìn năm trăm năm nữa—xấp xỉ vào đầu Kỷ Nguyên Ma Kết.

333. As great as was Lord Krishna (living some five thousand years ago), He was not yet the World Teacher—an office held at that time, we might supposed, by the Buddha. Can it be that the Buddha undertook the role of World Teacher during the time that Krishna flourished? It is likely that the cooperation of these two great Sons of God was significant even then.

333. Dù Đức Krishna vĩ đại đến đâu (sống cách đây khoảng năm nghìn năm), Ngài vẫn chưa là Đức Chưởng Giáo—một chức vụ mà vào thời ấy, như chúng ta có thể giả định, do Đức Phật nắm giữ. Có thể nào Đức Phật đã đảm nhận vai trò Đức Chưởng Giáo trong thời kỳ Đức Krishna hưng thịnh? Có khả năng sự hợp tác của hai Con của Thượng đế vĩ đại này đã có ý nghĩa quan trọng ngay từ khi ấy.

Second. The Rod of Initiation known as the “Flaming Diamond” and used by Sanat Kumara, the One Initiator, called in the Bible, the Ancient of Days.

Thứ hai. Thần Trượng Điểm đạo được biết đến như “Kim Cương Rực Lửa” và được Đức Sanat Kumara sử dụng, Đấng Điểm đạo Duy Nhất, được gọi trong Kinh Thánh là Đấng Thái Cổ.

334. It is important to recognize Sanat Kumara under His Biblical appellation. This recognition will offer the possibility of bridging the Ageless Wisdom Teaching with the New Testament.

334. Điều quan trọng là phải nhận biết Đức Sanat Kumara dưới danh xưng trong Kinh Thánh của Ngài. Sự nhận biết này sẽ mở ra khả năng bắt cầu giữa Giáo Huấn Minh Triết Ngàn Đời với Tân Ước.

This Rod lies hidden “in the East” and holds the fire latent which irradiates the Wisdom Religion. This Rod was brought by the Lord of the World when He took form and came to our planet eighteen million years ago.

Thần Trượng này được cất giấu “ở phương Đông” và giữ ngọn lửa tiềm tàng chiếu rạng Tôn Giáo Minh Triết. Thần Trượng này đã được Đức Chúa Tể Thế Giới mang đến khi Ngài nhận hình tướng và đến hành tinh chúng ta cách đây mười tám triệu năm.

335. The Flaming Diamond must have some relation to the planet Venus, for Sanat Kumara is said to have come to the planet Earth from the Venus-globe of the Venus-chain of the Earth-scheme—a location obviously linked to the planetary scheme of Venus.

335. Kim Cương Rực Lửa hẳn phải có một mối liên hệ nào đó với hành tinh Sao Kim, vì Đức Sanat Kumara được nói là đã đến hành tinh Trái Đất từ bầu hành tinh Kim Tinh của Dãy Kim Tinh thuộc hệ hành tinh Địa Cầu—một vị trí hiển nhiên có liên hệ với hệ hành tinh Sao Kim.

336. The Wisdom Religion may be said to have had its commencement with the coming of Sanat Kumara to the Earth. The relation of Venus to the Wisdom Religion is easily seen. It is essentially the “Religion” of the Solar Angels, of Venusian origin—from one perspective.

336. Có thể nói rằng Tôn Giáo Minh Triết đã khởi đầu với sự giáng lâm của Đức Sanat Kumara đến Trái Đất. Mối liên hệ của Sao Kim với Tôn Giáo Minh Triết rất dễ thấy. Về bản chất, đó là “Tôn Giáo” của các Thái dương Thiên Thần, có nguồn gốc từ Kim Tinh—xét từ một góc độ.

337. If the Flaming Diamond irradiates the Wisdom Religion then it is closely related to the “One Fundamental School of Occultism in Shamballa” and may be considered to inspire that great Source of unfettered enlightenment.

337. Nếu Kim Cương Rực Lửa chiếu rọi Tôn Giáo Minh Triết thì nó có liên hệ mật thiết với “Trường Phái Huyền Bí Học Căn Bản Duy Nhất ở Shamballa” và có thể được xem là truyền cảm hứng cho Nguồn cội vĩ đại của sự giác ngộ không bị trói buộc ấy.

338. The Flaming Diamond may belong with our Earth-scheme (and perhaps with certain other schemes which are developmentally comparable).

338. Kim Cương Rực Lửa có thể thuộc về hệ hành tinh Địa Cầu của chúng ta (và có lẽ cả một số hệ hành tinh khác tương đương về mặt phát triển).

Once in every world period it is subjected to a similar process as that of the lesser Rod, only this time it is recharged by the direct action of the Logos Himself,—the Logos of the solar system.

Cứ mỗi chu kỳ thế giới một lần, nó lại chịu một tiến trình tương tự như tiến trình của Thần Trượng nhỏ hơn, chỉ khác là lần này nó được nạp lại bởi tác động trực tiếp của chính Thượng đế, — Thượng đế của hệ mặt trời.

339. We need to know the duration of a “world period”. The term is fairly generic. It could refer to a time as short as a “Great Year”—a “Platonic Year” of approximately 25,000 years, or perhaps to a period as long as a planetary round; or perhaps to an intermediate period as the duration of one round with respect to one of seven globes.

339. Chúng ta cần biết thời lượng của một “chu kỳ thế giới”. Thuật ngữ này khá tổng quát. Nó có thể chỉ một khoảng thời gian ngắn như một “Đại Niên”—một “Năm Plato” khoảng 25.000 năm, hoặc có thể là một thời kỳ dài như một cuộc tuần hoàn hành tinh; hoặc có thể là một thời kỳ trung gian như thời lượng của một cuộc tuần hoàn xét theo một trong bảy bầu hành tinh.

340. The pattern, we note, is that any Rod of Power is recharged by the Rod immediately superior to it.

340. Chúng ta lưu ý rằng mô hình ở đây là bất kỳ Thần Trượng Quyền năng nào cũng được nạp lại bởi Thần Trượng cao hơn nó ngay liền kề.

341. The relationships concerning this Rod are of the Sun to a planet, and thus, the term “world” would seem to refer to a planet, and a world period to a planetary period such as a round or a portion thereof.

341. Các mối liên hệ liên quan đến Thần Trượng này là giữa Mặt Trời và một hành tinh, và vì vậy, thuật ngữ “thế giới” dường như chỉ một hành tinh, còn một chu kỳ thế giới thì chỉ một chu kỳ hành tinh như một cuộc tuần hoàn hoặc một phần của nó.

The location of this Rod is known only to the Lord of the World, and to the Chohans of the Rays, and (being the talisman of this evolution) the Chohan of the second Ray is—under the Lord of the World—its main guardian, aided by the deva Lord of the second plane. The Buddhas of activity are responsible for its custody, and under them the Chohan of the Ray.

Vị trí của Thần Trượng này chỉ được biết bởi Đức Chúa Tể Thế Giới, và các Chohan của các cung, và (vì là bùa linh của cuộc tiến hoá này) Chohan của cung hai là—dưới quyền Đức Chúa Tể Thế Giới—người giám hộ chính của nó, được trợ giúp bởi Chúa Tể thiên thần của cõi thứ hai. Các Đức Phật Hoạt Động chịu trách nhiệm về việc gìn giữ nó, và dưới Các Ngài là Chohan của cung.

342. Let us list those responsible for the guardianship of the Flaming Diamond:

342. Chúng ta hãy liệt kê những vị chịu trách nhiệm canh giữ Kim Cương Rực Lửa:

a. The Lord of the World

a. Đức Chúa Tể Thế Giới

b. The Buddhas of Activity

b. Các Đức Phật Hoạt Động

c. The Chohan of the Second Ray (at this time the Master KH)

c. Chohan của Cung hai (vào thời điểm này là Chân sư KH)

d. The Deva Lord of the second plane—Varuna.

d. Chúa Tể thiên thần của cõi thứ hai—Varuna.

343. It may be that guardianship and custodianship are to be considered differently.

343. Có thể việc giám hộ và việc gìn giữ cần được xem là khác nhau.

344. VSK queries: “What is the difference between being the main guardian, aided by a deva Lord (Varuna), and the Buddhas of activity being “responsible for its custody” and under them the Chohan? What sort of ‘lock and key’ is this thing hidden behind? J

344. VSK nêu câu hỏi: “Sự khác biệt giữa việc là người giám hộ chính, được một Chúa Tể thiên thần (Varuna) trợ giúp, và việc các Đức Phật Hoạt Động ‘chịu trách nhiệm về việc gìn giữ nó’, còn dưới Các Ngài là Chohan, là gì? Vật này được giấu sau loại ‘ổ khóa và chìa khóa’ nào? ”

345. There is an implication here of the close connection between Venus, the Wisdom Religion and the second ray. There is an aspect of Venus that corresponds closely to the second ray—very likely its major monadic ray after ray six—its monadic subray.

345. Ở đây có một hàm ý về mối liên hệ mật thiết giữa Sao Kim, Tôn Giáo Minh Triết và cung hai. Có một phương diện của Sao Kim tương ứng rất gần với cung hai—rất có thể là cung chân thần chính của nó sau cung sáu—cung phụ chân thần của nó.

It is produced only at stated times when specific work has to be done. It is used not only at the initiating of men, but at certain planetary functions, of which nothing as yet has been given out.

Nó chỉ được đưa ra vào những thời điểm đã định khi cần phải thực hiện công việc đặc biệt. Nó được dùng không chỉ trong việc điểm đạo cho những người nam và nữ, mà còn trong một số chức năng hành tinh, về những điều đó cho đến nay vẫn chưa được tiết lộ.

346. The Flaming Diamond is clearly a planetary Rod and responsible for the empowering of planetary events.

346. Kim Cương Rực Lửa rõ ràng là một Thần Trượng hành tinh và chịu trách nhiệm trao quyền năng cho các biến cố hành tinh.

347. It seems that it would be produced seasonally.

347. Dường như nó sẽ được đưa ra theo mùa.

348. The word “produced” is of interest as it may signal something concerning the transportation and materialization of this Rod.

348. Từ “đưa ra” rất đáng chú ý vì nó có thể báo hiệu điều gì đó liên quan đến việc vận chuyển và hiện hình của Thần Trượng này.

It has its place and function in certain ceremonies connected with the inner round91 and the triangle formed by the Earth, Mars [Page 212] and Mercury. But more about this is not at this time permissible.

Nó có vị trí và chức năng của mình trong một số nghi lễ liên quan đến cuộc tuần hoàn nội tại91 và tam giác được tạo thành bởi Trái Đất, Sao Hỏa [Page 212] và Sao Thủy. Nhưng hiện nay chưa được phép nói thêm về điều này.

349. The “inner round” may refer to hidden chains without our planetary scheme. There may also be inner rounds on other planetary schemes.

349. “Cuộc tuần hoàn nội tại” có thể chỉ các dãy ẩn kín bên trong hệ hành tinh của chúng ta. Cũng có thể có những cuộc tuần hoàn nội tại trên các hệ hành tinh khác.

350. Usually there are considered to be seven planetary chains in each planetary scheme, but it is possible that there are three more highly subjective chains which are known as the “inner round”.

350. Thông thường người ta cho rằng trong mỗi hệ hành tinh có bảy dãy hành tinh, nhưng có thể còn có ba dãy mang tính chủ quan hơn, được gọi là “cuộc tuần hoàn nội tại”.

351. The Earth, Mars, Mercury triangle maybe operative on a scheme level and also a globe level within the Earth-chain.

351. Tam giác Trái Đất, Sao Hỏa, Sao Thủy có thể hoạt động ở cấp độ hệ hành tinh và cả ở cấp độ bầu hành tinh bên trong Dãy Địa Cầu.

352. In this triangle (considered at a systemic level) the Earth would represent the physical nature, Mars the astral nature and Mercury the mental.

352. Trong tam giác này (xét ở cấp độ hệ thống), Trái Đất sẽ tượng trưng cho bản chất hồng trần, Sao Hỏa cho bản chất cảm dục và Sao Thủy cho bản chất trí tuệ.

353. If Venus should be added to the triangle, making a quaternary, then Venus would represent kama-manas and Mercury, manas.

353. Nếu thêm Sao Kim vào tam giác, tạo thành một bộ bốn, thì Sao Kim sẽ tượng trưng cho kama-manas còn Sao Thủy tượng trưng cho manas.

354. From another perspective (considering the quaternary), Venus would represent Manas, and Mercury the integrated personality.

354. Xét từ một góc độ khác (khi xem bộ bốn), Sao Kim sẽ tượng trưng cho Manas, còn Sao Thủy tượng trưng cho Phàm ngã tích hợp.

Footnote 91:

Chú thích 91:

The inner round is a mysterious cycle of which little can be told. It is not concerned with manifestation through the seven schemes or globes, but has to do with certain aspects of the subjective Life or the soul.

Cuộc tuần hoàn nội tại là một chu kỳ huyền nhiệm mà chỉ có thể nói rất ít. Nó không liên quan đến sự biểu hiện qua bảy hệ hành tinh hay các bầu hành tinh, mà liên quan đến một số phương diện của Sự sống chủ quan hay linh hồn.

355. The description of the inner round given here does not really support the suggestion earlier made—that it may involve development on certain subjective chains of the seven schemes. One notices, however, that we are told that it does not concern “schemes” or “globes”, but the word “chains” is not used!

355. Mô tả về cuộc tuần hoàn nội tại được đưa ra ở đây thật ra không ủng hộ gợi ý đã nêu trước đó—rằng nó có thể liên quan đến sự phát triển trên một số dãy chủ quan của bảy hệ hành tinh. Tuy nhiên, người ta lưu ý rằng chúng ta được bảo rằng nó không liên quan đến “các hệ hành tinh” hay “các bầu hành tinh”, nhưng từ “các dãy” lại không được dùng!

356. The following reference to the inner round should be carefully studied:

356. Cần nghiên cứu cẩn thận đoạn sau đây nói về cuộc tuần hoàn nội tại:

3. The inner round, which carries with it vast opportunity for those who can surmount its problems and withstand its temptations. This inner round has a peculiar appeal to units on certain Rays, and has its own specific dangers. The inner round is the round that is followed by those who have passed through the human stage and have consciously developed the faculty of etheric living and can follow the etheric cycles, functioning consciously on the three higher etheric planes in all parts of the system. They have—for certain occult and specific purposes—broken the connection between the third etheric and the four lower subplanes of the physical plane. This [Page 1176] round is followed only by a prepared percentage of humanity, and is closely associated with a group who pass with facility and develop with equal facility on the three planets that make a triangle with the earth, namely Mars, Mercury, and Earth. These three planets—in connection with this inner round—are considered only as existing in etheric matter, and (in relation to one of the Heavenly Men) hold a place analogous to the etheric triangle found in the human etheric body. I have here conveyed more than has as yet been exoterically communicated anent this inner round and by the study of the human etheric triangle, its function, and the type of force which circulates around it, much may be deduced about the planetary inner round. We must bear in mind in this connection that just as the human etheric triangle is but the preparatory stage to a vast circulation within the sphere of the entire etheric body, so the etheric planetary triangle—passing from the Earth to Mars and Mercury—is but the preparatory circulatory system to a vaster round included within the sphere of influence of one planetary Lord. (TCF 1175-1176)

3. Cuộc tuần hoàn nội tại, mang theo những cơ hội to lớn cho những ai có thể vượt qua các vấn đề của nó và đứng vững trước các cám dỗ của nó. Cuộc tuần hoàn nội tại này có một sức hấp dẫn đặc biệt đối với các đơn vị trên một số cung nhất định, và có những nguy hiểm riêng của nó. Cuộc tuần hoàn nội tại là cuộc tuần hoàn được theo bởi những ai đã vượt qua giai đoạn nhân loại và đã phát triển một cách hữu thức năng lực sống dĩ thái và có thể theo các chu kỳ dĩ thái, hoạt động một cách hữu thức trên ba cõi dĩ thái cao trong mọi phần của hệ thống. Vì những mục đích huyền bí và đặc thù nhất định—họ đã cắt đứt mối liên hệ giữa cõi dĩ thái thứ ba và bốn cõi phụ thấp hơn của cõi hồng trần. Cuộc tuần hoàn [Page 1176] này chỉ được theo bởi một tỷ lệ nhân loại đã được chuẩn bị, và có liên hệ mật thiết với một nhóm chuyển đi một cách dễ dàng và phát triển cũng dễ dàng như vậy trên ba hành tinh tạo thành một tam giác với trái đất, tức là Sao Hỏa, Sao Thủy và Trái Đất. Ba hành tinh này—liên hệ với cuộc tuần hoàn nội tại này—chỉ được xem như tồn tại trong vật chất dĩ thái, và (liên hệ với một trong các Đấng Thiên Nhân) giữ một vị trí tương tự như tam giác dĩ thái được tìm thấy trong thể dĩ thái con người. Ở đây tôi đã truyền đạt nhiều hơn những gì cho đến nay đã được công bố ngoại môn liên quan đến cuộc tuần hoàn nội tại này, và bằng cách nghiên cứu tam giác dĩ thái của con người, chức năng của nó, và loại mãnh lực lưu chuyển quanh nó, có thể suy ra nhiều điều về cuộc tuần hoàn nội tại hành tinh. Chúng ta phải ghi nhớ trong mối liên hệ này rằng cũng như tam giác dĩ thái của con người chỉ là giai đoạn chuẩn bị cho một sự tuần hoàn rộng lớn trong khối cầu của toàn bộ thể dĩ thái, thì tam giác hành tinh dĩ thái—đi từ Trái Đất đến Sao Hỏa và Sao Thủy—cũng chỉ là hệ tuần hoàn chuẩn bị cho một cuộc tuần hoàn lớn hơn được bao gồm trong phạm vi ảnh hưởng của một Chúa Tể hành tinh. (TCF 1175-1176)

357. This is a very rich reference and will be closely analyzed when we come to the part of TCF in which it is found.

357. Đây là một đoạn tham chiếu rất phong phú và sẽ được phân tích kỹ khi chúng ta đến phần của TCF nơi nó xuất hiện.

Third. The Rod of Initiation, wielded by the Logos of the solar system, is called among other things, the “Sevenfold Flaming Fire.”

Thứ ba. Thần Trượng Điểm đạo, do Thượng đế của hệ mặt trời sử dụng, được gọi, trong số những tên gọi khác, là “Ngọn Lửa Rực Cháy Thất Phân”.

358. We learned that there are several names for this Rod.

358. Chúng ta đã biết rằng có một số tên gọi dành cho Thần Trượng này.

359. An association with the seven rays is hard to resist.

359. Rất khó cưỡng lại sự liên tưởng với bảy cung.

360. Whereas the Flaming Diamond is a planetary Rod (and has in relation to it a degree of concretion which the term “diamond” suggests) the Sevenfold Flaming Fire is our solar Rod.

360. Trong khi Kim Cương Rực Lửa là một Thần Trượng hành tinh (và liên hệ với nó là một mức độ cụ thể hóa mà thuật ngữ “kim cương” gợi ý), thì Ngọn Lửa Rực Cháy Thất Phân là Thần Trượng thái dương của chúng ta.

361. May it be that the Flaming Diamond hints at the power to create in man the diamond state—the “Diamond Soul”.

361. Phải chăng Kim Cương Rực Lửa ám chỉ quyền năng tạo ra nơi con người trạng thái kim cương—“Linh Hồn Kim Cương”.

It was confided to our Logos by the Lord of Sirius and sent to our system from that radiant sun.

Nó đã được Chúa Tể của Sirius giao phó cho Thượng đế của chúng ta và gửi đến hệ thống của chúng ta từ mặt trời rực rỡ ấy.

362. One can only wonder at the manner of its sending. The power of materialization would probably be used.

362. Người ta chỉ có thể tự hỏi về cách thức nó được gửi đến. Có lẽ quyền năng hiện hình đã được sử dụng.

One of its purposes is for use in emergencies.

Một trong những mục đích của nó là để dùng trong các tình huống khẩn cấp.

363. As we will learn below, emergencies including those of a planetary nature.

363. Như chúng ta sẽ thấy dưới đây, các tình huống khẩn cấp ấy bao gồm cả những tình huống có tính hành tinh.

This great talisman has never yet been employed in this particular manner, though twice it was nearly thus used,—once in Atlantean days, and once in the third year of the late war.

Bùa linh vĩ đại này cho đến nay chưa từng được sử dụng theo cách đặc biệt này, mặc dù đã hai lần suýt được dùng như thế,—một lần vào thời Atlantis, và một lần vào năm thứ ba của cuộc chiến vừa qua.

364. We are speaking here if its application in relation to the Earth. It could also be used in emergencies as they might occur on other planets.

364. Ở đây chúng ta đang nói về việc áp dụng nó liên hệ với Trái Đất. Nó cũng có thể được dùng trong các tình huống khẩn cấp như có thể xảy ra trên các hành tinh khác.

365. It is interesting that the Sevenfold Flaming Fire has never yet been used in any of our planetary emergencies—i.e., upon this planet.

365. Điều đáng chú ý là Ngọn Lửa Rực Cháy Thất Phân cho đến nay chưa từng được dùng trong bất kỳ tình huống khẩn cấp hành tinh nào của chúng ta—tức là trên hành tinh này.

366. We can imagine that there was a critical moment in one of the great Atlantean wars when its use was contemplated.

366. Chúng ta có thể hình dung rằng đã có một thời điểm nguy cấp trong một trong những cuộc đại chiến Atlantis khi việc sử dụng nó đã được cân nhắc.

367. It may, however, be a surprising thought that the First World War provided so serious an occasions. It is to be remembered that America decided to enter that war in its third year—in 1917.

367. Tuy nhiên, có thể là một ý nghĩ đáng ngạc nhiên khi cuộc Chiến tranh Thế giới thứ nhất lại tạo ra một tình huống nghiêm trọng đến thế. Cần nhớ rằng Hoa Kỳ đã quyết định tham gia cuộc chiến ấy vào năm thứ ba của nó—năm 1917.

368. Humanity, it seems, solved its own problems without the need for divine intervention.

368. Dường như nhân loại đã tự giải quyết các vấn đề của mình mà không cần đến sự can thiệp thiêng liêng.

369. We have no idea what the application of this Rod may have accomplished, but it can be assumed that it would have directed events towards the fulfillment of planetary and solar logoic Will.

369. Chúng ta không biết việc áp dụng Thần Trượng này có thể đã hoàn thành điều gì, nhưng có thể giả định rằng nó sẽ hướng các biến cố đến sự hoàn thành Ý Chí logoi hành tinh và thái dương.

370. It is always considered in the favor of humanity when this Rod does not have to be used to change the course of human affairs.

370. Luôn được xem là có lợi cho nhân loại khi Thần Trượng này không phải được dùng để thay đổi tiến trình của các công việc nhân loại.

371. We note that this Rod of Power is called a “talisman”. A talisman is an object which carries a particular qualified potency and does so with consistency.

371. Chúng ta lưu ý rằng Thần Trượng Quyền năng này được gọi là một “bùa linh”. Bùa linh là một vật mang một năng lực đặc thù nhất định và mang năng lực ấy một cách nhất quán.

This Rod of Power is used at the initiation of the seven Heavenly Men on cosmic levels.

Thần Trượng Quyền năng này được dùng trong việc điểm đạo cho bảy Đấng Thiên Nhân ở các cấp độ vũ trụ.

372. Presumably this kind of initiation occurs on cosmic mental levels within planetary causal bodies on the cosmic mental plane.

372. Có lẽ loại điểm đạo này xảy ra trên các cấp độ trí tuệ vũ trụ bên trong các thể nguyên nhân hành tinh trên cõi trí vũ trụ.

It is used also in the initiation of groups, a thing almost incomprehensible to us.

Nó cũng được dùng trong việc điểm đạo cho các nhóm, một điều gần như không thể hiểu nổi đối với chúng ta.

373. The day of group initiation is coming. It would seem, however, that the Flaming Diamond would be sufficient for the initiation of the kind of groups that will be presented to the Initiators.

373. Ngày điểm đạo nhóm đang đến. Tuy nhiên, dường như Kim Cương Rực Lửa sẽ là đủ cho việc điểm đạo loại nhóm sẽ được trình diện trước các Đấng Điểm đạo.

374. The groups here cited may be groups of Planetary Logoi—triangles of Planetary Logoi, for instance.

374. Các nhóm được nêu ở đây có thể là các nhóm Hành Tinh Thượng đế—chẳng hạn các tam giác Hành Tinh Thượng đế.

It is applied to the centres of the seven Heavenly Men in the same general way as the lesser Rods are applied to the human centres, and the effects are the same, only on a vaster scale.

Nó được áp dụng vào các trung tâm của bảy Đấng Thiên Nhân theo cùng cách tổng quát như các Thần Trượng nhỏ hơn được áp dụng vào các trung tâm của con người, và các hiệu quả cũng giống như vậy, chỉ là trên một quy mô rộng lớn hơn.

375. The Sevenfold Flaming Fire initiates Planetary Logoi.

375. Ngọn Lửa Rực Cháy Thất Phân điểm đạo cho các Hành Tinh Thượng đế.

376. In this case, the Solar Logos stands as the higher analogy to Sanat Kumara.

376. Trong trường hợp này, Thái dương Thượng đế đứng như sự tương đồng cao hơn với Đức Sanat Kumara.

This, needless to say, is a vast and abstruse subject, and concerns not the sons of men. It is but touched upon, as an enumeration of the Rods of Initiation would be incomplete without some reference to it, and it serves to show the wondrous synthesis of the whole, and the place of the system within an even greater scheme.

Điều này, không cần phải nói, là một chủ đề bao la và thâm áo, và không liên quan đến những người con của nhân loại. Nó chỉ được chạm đến, vì việc liệt kê các Thần Trượng Điểm đạo sẽ không trọn vẹn nếu không có một tham chiếu nào đó đến nó, và nó giúp cho thấy sự tổng hợp kỳ diệu của toàn thể, cũng như vị trí của hệ thống trong một hệ hành tinh còn lớn lao hơn nữa.

377. The Tibetan includes much for the sake of completeness.

377. Chân sư Tây Tạng đưa vào nhiều điều vì mục đích trọn vẹn.

378. We barely can comprehend the initiation process as it applies to the human being—especially that process in relation to the later initiations.

378. Chúng ta hầu như không thể hiểu được tiến trình điểm đạo khi nó áp dụng cho con người—đặc biệt là tiến trình ấy liên hệ với các lần điểm đạo về sau.

379. The initiations mentioned above are planetary in scope and unfathomable. We can imagine however, that the Sevenfold Flaming Fire will, before long, be applied to our planet which is undergoing a kind of planetary fourth initiation on a chain level (cf. TCF 384)

379. Các cuộc điểm đạo được nhắc đến ở trên có tầm mức hành tinh và không thể dò thấu. Tuy nhiên, chúng ta có thể hình dung rằng chẳng bao lâu nữa Ngọn Lửa Rực Cháy Thất Phân sẽ được áp dụng cho hành tinh của chúng ta, hành tinh đang trải qua một loại lần điểm đạo thứ tư hành tinh ở cấp độ dãy (xem TCF 384)

In all things cosmic, perfect law and order are found, and the ramifications of the plan can be seen on all planes and all subplanes. This greatest Rod is in the care of the first great group of karmic Lords.

Trong mọi sự thuộc vũ trụ, đều có định luật và trật tự hoàn hảo, và các phân nhánh của Thiên Cơ có thể được thấy trên mọi cõi và mọi cõi phụ. Thần Trượng vĩ đại nhất này được giao cho nhóm đầu tiên vĩ đại của các Chúa Tể nghiệp quả chăm giữ.

380. This first great group of karmic Lords are, on the solar systemic level, the analogy to the Buddhas of Activity on our planetary level.

380. Nhóm đầu tiên vĩ đại này của các Chúa Tể nghiệp quả, ở cấp độ hệ mặt trời, là sự tương đồng với các Đức Phật Hoạt Động ở cấp độ hành tinh của chúng ta.

381. The Tibetan makes a sweeping statement in relation to “law and order”. No matter what chaos may appear to our perception, we are assured that law and order prevail beneath appearances.

381. Chân sư Tây Tạng đưa ra một khẳng định bao quát liên hệ với “định luật và trật tự”. Dù hỗn loạn có thể xuất hiện thế nào đối với nhận thức của chúng ta, chúng ta vẫn được bảo đảm rằng định luật và trật tự ngự trị bên dưới các sắc tướng.

It might be described as the Rod which carries a voltage of pure fohatic force from cosmic levels.

Nó có thể được mô tả như Thần Trượng mang một điện thế của mãnh lực fohat thuần túy từ các cấp độ vũ trụ.

382. Fohat is a “cosmic Lord of Fire” (TCF 65). In one respect we can call Fohat, “Agni”, Lord of Fire for the eighteen lowest cosmic subplanes.

382. Fohat là một “Chúa Tể Lửa vũ trụ” (TCF 65). Xét ở một phương diện, chúng ta có thể gọi Fohat là “Agni”, Chúa Tể của Lửa đối với mười tám cõi phụ vũ trụ thấp nhất.

383. The influence of this Rod comes from extra-systemic levels. It is originally, we imagine, Sirian in nature. As well, its energy arises on planes beyond the cosmic physical.

383. Ảnh hưởng của Thần Trượng này đến từ các cấp độ ngoài hệ thống. Theo chúng ta hình dung, nguyên thủy nó có bản chất Sirius. Đồng thời, năng lượng của nó phát sinh trên các cõi vượt ngoài cõi hồng trần vũ trụ.

The two lesser Rods carry differentiated fohatic force.

Hai Thần Trượng nhỏ hơn mang mãnh lực fohat đã được biến phân.

384. We note the difference between “pure” fohatic force and “differentiated” fohatic force. Differentiation weakens.

384. Chúng ta lưu ý sự khác biệt giữa mãnh lực fohat “thuần túy” và mãnh lực fohat “đã được biến phân”. Sự biến phân làm suy yếu.

385. This third Rod (greatest of the three mentioned thus far) derives its power from extra-systemic sources which is not true of the Flaming Diamond and the Bodhisattva’s Rod.

385. Thần Trượng thứ ba này (vĩ đại nhất trong ba Thần Trượng được nhắc đến cho đến nay) rút quyền năng từ các nguồn ngoài hệ thống, điều này không đúng với Kim Cương Rực Lửa và Thần Trượng của Đức Bồ Tát.

This logoic Rod of Power is kept within the Sun, and is only re-charged at the beginning of every one hundred years of Brahma.

Thần Trượng Quyền năng logoi này được giữ trong Mặt Trời, và chỉ được nạp lại vào đầu mỗi một trăm năm Brahma.

386. The vast period between ‘rechargings’ gives some idea of the scope and power of this Rod. Only when the Solar Logos is about to reincarnate is the Sevenfold Flaming Fire recharged.

386. Khoảng thời gian bao la giữa các lần “nạp lại” cho ta một ý niệm nào đó về tầm mức và quyền năng của Thần Trượng này. Chỉ khi Thái dương Thượng đế sắp tái sinh thì Ngọn Lửa Rực Cháy Thất Phân mới được nạp lại.

387. What is the duration in Earth-years of one hundred years of Brahma? According to the tabulations given to us it is: 311,040,000,000,000 Earth years.

387. Một trăm năm Brahma kéo dài bao lâu tính theo năm Trái Đất? Theo các bảng tính đã được cung cấp cho chúng ta, đó là: 311,040,000,000,000 năm Trái Đất.

The reason why the Rods of Power are here discussed is that they have definitely to do with the centres which are force vortices in matter and which (though channels [Page 213] for spiritual force, or centres wherein the ‘will to be’ finds expression) demonstrate as activity in matter.

Lý do các Thần Trượng Quyền năng được bàn đến ở đây là vì chúng chắc chắn có liên quan đến các trung tâm là những xoáy mãnh lực trong vật chất và là những gì (dù là các kênh [Page 213] cho mãnh lực tinh thần, hay các trung tâm trong đó “ý chí hiện hữu” tìm được sự biểu lộ) biểu hiện như hoạt động trong vật chất.

388. The Tibetan reminds us of the relationship between will and matter.

388. Chân sư Tây Tạng nhắc chúng ta về mối liên hệ giữa ý chí và vật chất.

389. The “will to be” finds expression through the chakras. That will arises on monadic levels.

389. “Ý chí hiện hữu” tìm được sự biểu lộ qua các luân xa. Ý chí ấy phát sinh trên các cấp độ chân thần.

390. The chakras are noticed because of the vorticular activity produced in matter by this “will to be”.

390. Các luân xa được nhận thấy vì hoạt động xoáy chuyển được tạo ra trong vật chất bởi “ý chí hiện hữu” này.

They are the centres of existence, and just as one cannot, in manifestation, dissociate the two poles of Spirit and matter, so one cannot, in initiation apply the Rod without bringing about definite effects between the two.

Chúng là các trung tâm của sự hiện hữu, và cũng như người ta không thể, trong biểu hiện, tách rời hai cực của Tinh thần và vật chất, thì trong điểm đạo người ta cũng không thể áp dụng Thần Trượng mà không tạo ra những hiệu quả xác định giữa hai cực ấy.

391. Every application of a Rod of Power produces definite effects between the two poles of Spirit and matter.

391. Mỗi lần áp dụng một Thần Trượng Quyền năng đều tạo ra những hiệu quả xác định giữa hai cực của Tinh thần và vật chất.

392. It is important to realize that, in manifestation, one cannot dissociate the two poles of Spirit and matter. “He who hath seen Me hath seen the Father”, said the Christ, when asked to “shows us the Father”.

392. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng, trong biểu hiện, người ta không thể tách rời hai cực của Tinh thần và vật chất. “Ai đã thấy Ta là đã thấy Cha”, Đức Christ đã nói như vậy khi được yêu cầu “xin chỉ cho chúng con thấy Cha”.

393. The truly spiritual person finds Spirit in matter, and, later, matter in Spirit.

393. Người thực sự tinh thần tìm thấy Tinh thần trong vật chất, và về sau, vật chất trong Tinh thần.

The Rods are charged with Fohat which is fire of matter plus electric fire, hence their effect.

Các Thần Trượng được nạp bằng Fohat, là lửa của vật chất cộng với lửa điện, do đó mới có hiệu quả của chúng.

394. An excellent definition of Fohat is here given. We notice however that solar fire is not part of the definition, even though Fohat has a closer association with Eros.

394. Ở đây có một định nghĩa rất hay về Fohat. Tuy nhiên, chúng ta lưu ý rằng Lửa Thái dương không phải là một phần của định nghĩa, dù Fohat có liên hệ gần hơn với Eros.

The mystery cannot be explained in greater detail as the secrets of initiation are not transmissible.

Huyền nhiệm này không thể được giải thích chi tiết hơn vì các bí mật của điểm đạo không thể truyền đạt được.

395. This does not necessarily mean that the custodians of the Mysteries refuse to transmit them or that they are prohibited from doing so. The actually Mysteries may, quite literally, not be transmissible.

395. Điều này không nhất thiết có nghĩa là những vị gìn giữ các Huyền Nhiệm từ chối truyền đạt chúng hoặc bị cấm làm như vậy. Chính các Huyền Nhiệm ấy có thể, theo nghĩa đen, là không thể truyền đạt được.

396. Those who are on the verge of initiation will realize what must be realized.

396. Những ai đang ở ngưỡng điểm đạo sẽ chứng nghiệm điều phải được chứng nghiệm.

More has been here imparted on this matter than hitherto, though there are those who have heard these things.

Về vấn đề này, ở đây đã được truyền đạt nhiều hơn trước kia, mặc dù có những người đã nghe những điều này.

397. This section ends on a cryptic note. It is clear that the Tibetan has been offering us many new items of occult information, could we but recognize them.

397. Phần này kết thúc bằng một ghi chú bí ẩn. Rõ ràng Chân sư Tây Tạng đã trao cho chúng ta nhiều dữ kiện huyền bí mới, nếu chúng ta có thể nhận ra chúng.

398. Presumably, those who have heard these things have not received so systematic a presentation as here offered.

398. Có lẽ những người đã nghe những điều này đã không nhận được một sự trình bày có hệ thống như ở đây.

Scroll to Top