Ảo Cảm Một Vấn đề Thế Giới – Phần II

📘 Sách: Ảo cảm, Một Vấn đề Thế Giới – Tác giả: Alice Bailey

SECTION TWO: THE CAUSES OF GLAMOUR

[Webinar 109]

1. The Racial and Individual Growth of Glamour.

[94] We shall now employ the word “glamour” to cover all the aspects of those deceptions, illusions, misunderstandings and misinterpretations which confront the aspirant at every step of his way until he achieves unity. I would have you note that word “unity,” for it holds the secret of disillusionment, as this process of release from glamour has been occultly called. It will be apparent to you (if you have studied these instructions with care) that the cause of glamour is primarily based upon the sense of duality. If such a duality did not exist, there would be no glamour, and this perception of the dual nature of all manifestation lies at the very root of the trouble or troubles with which humanity is—in time and space—faced. This perception passes through various stages and constitutes the great problem of the conscious entity. This condition is a difficulty in the realm of consciousness itself and is not really inherent in the substance or matter. The dweller in the body perceives wrongly: he interprets incorrectly that which is perceived; he proceeds to identify himself with that which is not himself; he shifts his consciousness into a realm of phenomena which engulfs him, deludes him and imprisons him until such time as he becomes restless and unhappy under the sense that something is wrong. Then he comes finally to the recognition that he is not what he seems to be and that the phenomenal world of appearances is not identical with reality [95] as he had hitherto supposed it to be. From that moment on he comes to the sense of duality, to the recognition of “otherness” and to the perception that his sense of dualism should be ended and that a process of unification and an attempt to achieve at-one-ment should be undertaken. From that moment, the troubles of the evolving man begin to be observed by him and consciously encountered, and he faces a long period of “extrication from glamour and the entering into that world wherein only unity is known.” The stages from then on might be enumerated as follows:

[94] Giờ đây chúng ta sẽ dùng từ “ảo cảm” để bao hàm mọi phương diện của những lừa dối, ảo tưởng, hiểu lầm và diễn giải sai lạc vốn đối diện với người chí nguyện ở mỗi bước trên đường y đi, cho đến khi y đạt được sự hợp nhất. Tôi muốn các bạn lưu ý đến từ “hợp nhất” ấy, vì nó nắm giữ bí quyết của sự thoát ảo tưởng, như tiến trình giải thoát khỏi ảo cảm này đã được gọi một cách huyền bí. Các bạn sẽ thấy rõ, nếu đã nghiên cứu các huấn thị này một cách cẩn thận, rằng nguyên nhân của ảo cảm chủ yếu đặt nền trên ý thức về nhị nguyên. Nếu nhị nguyên ấy không tồn tại, sẽ không có ảo cảm; và nhận thức về bản chất kép của mọi biểu hiện nằm ngay nơi gốc rễ của khó khăn hay những khó khăn mà nhân loại, trong thời gian và không gian, đang phải đối diện. Nhận thức này đi qua nhiều giai đoạn khác nhau và tạo nên vấn đề lớn lao của thực thể có ý thức. Tình trạng này là một khó khăn trong chính lĩnh vực của tâm thức, chứ thật ra không cố hữu trong chất liệu hay vật chất. Kẻ cư ngụ trong thể nhận thức sai lầm: y diễn giải không đúng điều được nhận thức; y tiến tới chỗ đồng hoá chính mình với cái không phải là chính mình; y chuyển tâm thức của mình vào một lĩnh vực hiện tượng vốn nuốt chửng y, mê hoặc y và giam hãm y cho đến khi y trở nên bất an và bất hạnh dưới cảm thức rằng có điều gì đó không ổn. Rồi cuối cùng y đi đến sự nhận biết rằng y không phải là điều y có vẻ là, và rằng thế giới hiện tượng của các sắc tướng không đồng nhất với thực tại [95] như y đã từng giả định trước đó. Từ khoảnh khắc ấy trở đi, y đi đến ý thức về nhị nguyên, đến sự nhận biết về “tính khác” và đến nhận thức rằng ý thức nhị nguyên của y phải chấm dứt, và rằng một tiến trình hợp nhất cùng một nỗ lực đạt tới sự hiệp nhất phải được đảm nhiệm. Từ khoảnh khắc ấy, những khó khăn của con người đang tiến hoá bắt đầu được y quan sát và đối diện một cách có ý thức, và y đứng trước một thời kỳ dài “thoát ra khỏi ảo cảm và bước vào thế giới nơi chỉ có sự hợp nhất được biết đến.” Các giai đoạn từ đó trở đi có thể được liệt kê như sau:

[Webinar 110]

First: The stage wherein the material world is recognised and valued. Temporarily it is made the goal of all activity and the man, refusing to recognise the difference existing between him and the material and natural world, seeks to identify himself with it and to find satisfaction in purely physical pleasures and pursuits. This stage divides itself into two parts:

Thứ nhất: Giai đoạn trong đó thế giới vật chất được nhận biết và được coi trọng. Tạm thời, nó được lấy làm mục tiêu của mọi hoạt động; và con người, do từ chối nhận biết sự khác biệt hiện hữu giữa y và thế giới vật chất cùng tự nhiên, tìm cách đồng hoá chính mình với nó và tìm sự thoả mãn trong các thú vui và mưu cầu thuần túy hồng trần. Giai đoạn này tự chia thành hai phần:

a. That wherein satisfaction is sought in the almost automatic response to the physical instincts, to sex, food and warmth. These loom large in man’s consciousness. The animal nature in man is made the centre of the attempt to produce some sense of unity. Because the inner and subtle man is as yet “weak in impact” (as it is esoterically called), a physical unification temporarily takes place which serves to deepen the glamour and to delay progress into freedom.

a. Giai đoạn trong đó sự thoả mãn được tìm kiếm trong sự đáp ứng gần như tự động đối với các bản năng hồng trần, đối với tính dục, thức ăn và hơi ấm. Những điều này hiện ra rất lớn trong tâm thức con người. Bản chất thú tính trong con người được đặt làm trung tâm của nỗ lực tạo ra một cảm thức nào đó về sự hợp nhất. Vì con người bên trong và tinh tế còn “yếu về tác động” như cách gọi huyền bí, nên một sự hợp nhất hồng trần tạm thời diễn ra, có tác dụng làm ảo cảm thêm sâu đậm và trì hoãn bước tiến vào tự do.

b. The stage wherein satisfaction and sense of oneness is sought in the realm of material possessions, and in the establishing of a centre of beauty and comfort in life on the physical plane. Therein the man can be at home and oblivious of a growing sense of dualism which, day by day, gets steadily stronger. This stage only takes place [96] ages later when the aspirant is about to re-orient himself to truth and to take the first steps towards the Probationary Path. It is a correspondence towards the end of the Path of Evolution to the stage above mentioned, but the man experiencing it is a very different person to the one who now seeks synthesis in the materialisation of beauty upon the outer plane. The subtle man is now becoming dominant.

b. Giai đoạn trong đó sự thoả mãn và cảm thức về tính nhất thể được tìm kiếm trong lĩnh vực của các sở hữu vật chất, và trong việc thiết lập một trung tâm của vẻ đẹp và tiện nghi trong đời sống trên cõi hồng trần. Ở đó con người có thể cảm thấy như ở nhà và quên đi cảm thức nhị nguyên đang lớn dần, vốn ngày qua ngày trở nên mạnh mẽ hơn một cách đều đặn. Giai đoạn này chỉ diễn ra [96] nhiều thời đại về sau, khi người chí nguyện sắp tái định hướng chính mình về chân lý và bước những bước đầu tiên hướng tới Con Đường Dự Bị. Nó là một tương ứng, về cuối Con Đường Tiến Hoá, với giai đoạn đã nêu ở trên; nhưng con người đang trải nghiệm nó là một người rất khác với kẻ giờ đây tìm kiếm sự tổng hợp trong sự hiện hình của vẻ đẹp trên cõi bên ngoài. Con người tinh tế giờ đây đang trở nên chi phối.

[Webinar 111]

Secondly: The stage wherein the man first of all becomes aware of the duality which can be expressed by the words “the man and the forces.” He becomes alive to the fact that he and all humanity are the victims of forces and energies over which they have no control and which drive men hither and thither. He becomes aware also of forces and energies within himself over which he likewise has no control and which force him to act in various ways, making him frequently the victim of his own revolts, his own acts and selfishly directed energies. Here the man discovers (unconsciously at first and later consciously), the initial duality—the physical body and the vital or etheric body. One is the mechanism of contact upon the physical plane, the other is the mechanism of contact with the inner forces, energies and worlds of being. This vital body controls and galvanises the physical body into an almost automatic activity. I referred to this duality in an earlier instruction. This stage is one of great difficulty for the man, as an individual, and for humanity as a whole. Men are still so ignorant of the “reality which shines under the envelope which envelops it”—as the Old Commentary calls it—that true perception is difficult and at first well-nigh impossible. Blindly and ignorantly men have to cope with this first pair of opposites. It is this that we see happening in the world at this time. The masses are awakening to the realisation that they are the victims and [97] the exponents of forces over which they have no control and of which they have no understanding. They would like to assume control over them and are determined so to do whenever possible. This constitutes the major problem today in the economic field and in the field of daily living and of government.

Thứ hai: Giai đoạn trong đó trước hết con người trở nên ý thức về nhị nguyên có thể được diễn tả bằng các từ “con người và các mãnh lực.” Y trở nên sống động trước sự kiện rằng y và toàn thể nhân loại là nạn nhân của những mãnh lực và năng lượng mà họ không kiểm soát được, và những điều ấy xô đẩy con người tới lui. Y cũng trở nên ý thức về những mãnh lực và năng lượng bên trong chính mình mà y cũng không kiểm soát được, và những điều ấy buộc y hành động theo nhiều cách khác nhau, thường khiến y trở thành nạn nhân của chính các cuộc nổi loạn của mình, các hành vi của mình và những năng lượng được định hướng một cách ích kỷ. Tại đây con người khám phá, lúc đầu một cách vô thức và về sau một cách có ý thức, nhị nguyên ban đầu: thể xác và thể sinh lực hay thể dĩ thái. Một bên là bộ máy tiếp xúc trên cõi hồng trần, bên kia là bộ máy tiếp xúc với các mãnh lực, năng lượng và những thế giới bản thể bên trong. Thể sinh lực này kiểm soát và kích hoạt thể xác vào một hoạt động gần như tự động. Tôi đã đề cập đến nhị nguyên này trong một huấn thị trước. Giai đoạn này là một giai đoạn đầy khó khăn cho con người, với tư cách cá nhân, và cho toàn thể nhân loại. Con người vẫn còn quá vô minh về “thực tại chiếu sáng bên dưới lớp vỏ bao bọc nó” như Cổ Luận gọi, đến nỗi sự nhận thức chân thật trở nên khó khăn và lúc đầu gần như bất khả. Một cách mù quáng và vô minh, con người phải đối phó với cặp đối cực đầu tiên này. Chính điều này chúng ta thấy đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Quần chúng đang thức tỉnh trước sự nhận biết rằng họ là nạn nhân và [97] là những kẻ biểu hiện các mãnh lực mà họ không kiểm soát được và không thấu hiểu. Họ muốn nắm quyền kiểm soát chúng và quyết tâm làm như vậy bất cứ khi nào có thể. Điều này tạo thành vấn đề chính yếu ngày nay trong lĩnh vực kinh tế, trong lĩnh vực đời sống hằng ngày và trong lĩnh vực chính quyền.

World tension today consists in the fact that physical force and etheric energy are at grips. Forget not what I earlier told you that etheric force is closely related to the Monad or the highest spiritual aspect. It is life itself on the verge of externalisation. Hence the emphasis today upon the spirit of humanity, upon the spirit of a nation, and the spirit of a group. This is all the result of the battle going on between this pair of opposites in the field of human affairs and in the field of individual average human living. It is, however, this conflict—fought out to the point of synthesis and of at-one-ment—which produces the re-orientation of the race and of the individual to the truer values and to the world of reality. It is this conflict—successfully waged—which lands the man, as an individual, and the mass, as a whole, upon the Path of Purification. When there is unification of these energies upon the physical plane, you then have one-pointed activity and a determination to travel in a specific direction. There follows the resolution (note this word and its usage) of the duality into a unity.

Sự căng thẳng của thế giới ngày nay nằm ở sự kiện rằng mãnh lực hồng trần và năng lượng dĩ thái đang giao tranh. Đừng quên điều tôi đã nói trước đây với các bạn: mãnh lực dĩ thái liên hệ mật thiết với chân thần hay phương diện tinh thần cao nhất. Nó là chính sự sống đang ở ngưỡng ngoại hiện. Do đó ngày nay có sự nhấn mạnh đến tinh thần của nhân loại, đến tinh thần của một quốc gia, và tinh thần của một nhóm. Tất cả điều này là kết quả của trận chiến đang diễn ra giữa cặp đối cực này trong lĩnh vực các sự vụ nhân loại và trong lĩnh vực đời sống nhân loại trung bình của cá nhân. Tuy nhiên, chính cuộc xung đột này, khi được chiến đấu đến điểm tổng hợp và hiệp nhất, tạo ra sự tái định hướng của nhân loại và của cá nhân về những giá trị chân thật hơn và về thế giới của thực tại. Chính cuộc xung đột này, khi được tiến hành thành công, đưa con người, với tư cách cá nhân, và quần chúng, với tư cách toàn thể, lên Con Đường Thanh Luyện. Khi có sự hợp nhất của các năng lượng này trên cõi hồng trần, khi ấy các bạn có hoạt động nhất tâm và một quyết tâm đi theo một hướng xác định. Tiếp theo đó là sự giải quyết, hãy lưu ý từ này và cách dùng của nó, nhị nguyên thành một sự hợp nhất.

This resolution works out in the early stages (where the average type of aspirant is concerned) into a temporary astral unity and then there emerges the one-pointed devotee. He is found in all fields—of religion, of science, of politics or in any other department of life. His etheric unity, producing re-orientation—with its results of a clear vision, a grasp of truth, and a picture of the immediate way to go—serves temporarily to glamour the man with a sense of achievement, of surety, of power and of destiny. He goes [98] ahead blindly, furiously and ruthlessly until suddenly he is brought sharply up against changing conditions and recognises another and far more difficult situation. The pairs of opposites upon the astral plane confront him, and he becomes Arjuna upon the field of battle. All his sense of at-one-ment, of direction, of sure and oft-times smug satisfaction disappears and he is lost in the fogs and glamours of the astral plane. This is the plight of many well-meaning disciples at this time and upon it I must for a moment dwell because this group, when it can work as a group, has for its intended task the dissolution of some of the world glamour. Some day (and let us hope that it will take place before long) this group and other such groups should work, as a group and under direction of their Master, in piercing the world glamour and letting in some light and illumination so that men may walk from henceforth more truly on the Way in safety.

Sự giải quyết này, trong các giai đoạn đầu, nơi kiểu người chí nguyện trung bình, biểu hiện thành một sự hợp nhất cảm dục tạm thời; rồi từ đó xuất hiện người sùng tín nhất tâm. Y được thấy trong mọi lĩnh vực: tôn giáo, khoa học, chính trị hay bất cứ ngành nào khác của đời sống. Sự hợp nhất dĩ thái của y, vốn tạo ra sự tái định hướng với những kết quả là một tầm nhìn rõ ràng, một sự nắm bắt chân lý, và một hình ảnh về con đường trước mắt phải đi, tạm thời làm con người bị ảo cảm bởi cảm thức về thành tựu, về sự chắc chắn, về quyền năng và về định mệnh. Y tiến [98] tới một cách mù quáng, cuồng nhiệt và tàn nhẫn, cho đến khi đột nhiên y bị chặn lại gay gắt trước những điều kiện đổi thay và nhận biết một tình huống khác, khó khăn hơn rất nhiều. Các cặp đối cực trên cõi cảm dục đối diện với y, và y trở thành Arjuna trên chiến trường. Toàn bộ cảm thức của y về sự hiệp nhất, về phương hướng, về sự chắc chắn và sự thoả mãn thường tự mãn đều biến mất, và y lạc mất trong những màn sương và các ảo cảm của cõi cảm dục. Đây là cảnh ngộ của nhiều đệ tử có thiện chí vào thời điểm này, và tôi phải dừng lại trong chốc lát về điều đó, bởi nhóm này, khi có thể hoạt động như một nhóm, có nhiệm vụ đã định là làm tan rã một phần ảo cảm của thế giới. Một ngày nào đó, và chúng ta hãy hy vọng rằng điều ấy sẽ sớm diễn ra, nhóm này và những nhóm tương tự khác nên hoạt động, với tư cách một nhóm và dưới sự chỉ đạo của Chân sư của họ, trong việc xuyên thủng ảo cảm thế giới và để cho một phần ánh sáng cùng sự soi sáng đi vào, hầu từ nay con người có thể bước đi chân thật hơn trên Đường Đạo trong an toàn.

[Webinar 112]

I have, therefore, chosen for participation in this work several aspirants whose tendency is to succumb to glamour, though two of them are less prone to it than are the others. Their relative freedom from it was one of the reasons why I chose them. These two are D.L.R. and D.P.R. Let these two keep their lives free from any tendency to glamour if they are rightly to serve their brothers as desired by me. I will give indication of their tendency in that direction in their personal instructions. The other group members are quickly prone to glamour, but this is a grief to them. It can, however, be as quickly turned into an asset. How can the world glamour be dissipated except by those who recognise it for what it is and who have wrestled with it in their daily lives? How can there be success in removing world glamour through illumination, unless this illumination is brought about by those who have learned to cast the searchlight of the soul into the dark places and the glamour which surrounds [99] them, as individuals, and then see it disappear? Be not discouraged by this “glamorous weakness” but regard your effort to understand the problem and your ability to arrive at the solution in your own lives as part of the contribution which you can make to this most stupendous of world problems. Solve your glamour by dwelling in the light and holding the mind steady in that light, and by learning to throw this light into the fogs of glamour on the astral plane. Do not attempt to solve it, as some aspirants so frequently do, by saying, “Now I understand,” whereas all that they do (and many of you do the same) is to react to a self-evident occult platitude.

Vì vậy, tôi đã chọn để tham gia vào công việc này một số người chí nguyện có khuynh hướng khuất phục trước ảo cảm, dù hai người trong số họ ít nghiêng về điều đó hơn những người khác. Sự tương đối tự do của họ khỏi ảo cảm là một trong những lý do khiến tôi chọn họ. Hai người này là D.L.R. và D.P.R. Hai người này hãy giữ cho đời sống mình không bị bất cứ khuynh hướng nào hướng về ảo cảm, nếu họ muốn phụng sự đúng đắn các huynh đệ của mình như tôi mong muốn. Tôi sẽ chỉ ra khuynh hướng của họ theo hướng ấy trong các huấn thị cá nhân dành cho họ. Các thành viên khác trong nhóm dễ nhanh chóng rơi vào ảo cảm, nhưng điều này là nỗi đau buồn đối với họ. Tuy nhiên, nó cũng có thể nhanh chóng được chuyển thành một tài sản. Làm sao ảo cảm thế giới có thể được làm tiêu tan, nếu không phải bởi những người nhận biết nó đúng như bản chất của nó và đã vật lộn với nó trong đời sống hằng ngày của mình? Làm sao có thể thành công trong việc loại bỏ ảo cảm thế giới thông qua sự soi sáng, nếu sự soi sáng này không do những người đã học cách chiếu ngọn đèn pha của linh hồn vào các nơi tối tăm và vào ảo cảm bao quanh [99] họ, với tư cách cá nhân, rồi thấy nó biến mất? Đừng nản lòng vì “điểm yếu ảo cảm” này, mà hãy xem nỗ lực của các bạn nhằm thấu hiểu vấn đề và khả năng đi đến giải pháp trong đời sống riêng của mình như một phần đóng góp mà các bạn có thể thực hiện cho vấn đề thế giới vô cùng trọng đại này. Hãy giải quyết ảo cảm của các bạn bằng cách an trú trong ánh sáng và giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng ấy, và bằng cách học cách phóng ánh sáng này vào các màn sương của ảo cảm trên cõi cảm dục. Đừng cố giải quyết nó, như một số người chí nguyện thường làm, bằng cách nói: “Giờ đây tôi hiểu,” trong khi tất cả những gì họ làm, và nhiều người trong các bạn cũng làm như vậy, chỉ là phản ứng trước một điều sáo ngữ huyền bí hiển nhiên.

[Webinar 113]

Third: This stage of glamour is oft called the Arjuna Experience. Today the world Arjuna is facing the pairs of opposites, just as does the individual disciple, ready—when these pairs have been resolved into a unity—to tread the Path of Discipleship.

Thứ ba: Giai đoạn ảo cảm này thường được gọi là Kinh nghiệm Arjuna. Ngày nay Arjuna thế giới đang đối diện với các cặp đối cực, cũng như đệ tử cá nhân đang làm, sẵn sàng, khi các cặp này đã được giải quyết thành một sự hợp nhất, bước lên Con Đường Đệ Tử.

It might be pointed out that:

Có thể nêu rõ rằng:

1. The masses in all lands are wrestling with the first pair of opposites, that upon the physical plane. When “resolution” has taken place, these masses will step on to the Path of Purification. This is rapidly taking place. It might be added that this is a long and slow process because the consciousness is—in this stage—not the intelligent awareness of the thinking man but the blind consciousness of the physical man, plus the forces of nature themselves.

1. Quần chúng trong mọi quốc gia đang vật lộn với cặp đối cực đầu tiên, cặp ở trên cõi hồng trần. Khi “sự giải quyết” đã diễn ra, quần chúng này sẽ bước lên Con Đường Thanh Luyện. Điều này đang diễn ra nhanh chóng. Có thể nói thêm rằng đây là một tiến trình dài và chậm, bởi tâm thức, trong giai đoạn này, không phải là sự nhận biết thông minh của con người biết suy nghĩ, mà là tâm thức mù quáng của con người hồng trần, cộng với chính các mãnh lực của tự nhiên.

2. The average educated citizen in all lands is facing today the Arjuna experience and the pairs of opposites upon the astral plane. Hence the intense feeling abroad in the world; hence also the search for illumination, through education, through religion, and through the many agencies of mental instruction, with the consequent [100] growth of knowledge, wisdom and right relationships. These people fall normally into two classes:

2. Người công dân có giáo dục trung bình trong mọi quốc gia ngày nay đang đối diện với kinh nghiệm Arjuna và các cặp đối cực trên cõi cảm dục. Do đó có cảm xúc mãnh liệt lan khắp thế giới; do đó cũng có sự tìm kiếm soi sáng qua giáo dục, qua tôn giáo, và qua nhiều phương tiện của sự huấn luyện trí tuệ, với kết quả là [100] sự tăng trưởng của tri thức, minh triết và các mối liên hệ đúng đắn. Những người này thường rơi vào hai hạng:

a. Those who are aware of the necessity for decision and discrimination in thinking and in choice, but who are not yet truly aware of the implications or of the indications. They are called the “bewilderment phase of Arjuna’s plight,” and to racial, national and individual glamour, they have added a spiritual glamour which intensifies the fog.

a. Những người ý thức được sự cần thiết của quyết định và phân biện trong tư duy và trong lựa chọn, nhưng chưa thật sự ý thức về các hàm ý hay dấu hiệu. Họ được gọi là “giai đoạn bối rối trong cảnh ngộ của Arjuna,” và vào ảo cảm của nhân loại, quốc gia và cá nhân, họ đã thêm một ảo cảm tinh thần làm cho màn sương thêm dày đặc.

b. Those who have emerged out of this condition and are becoming aware of their problem. They see the pairs of opposites and are entering upon the “recognition stage of Arjuna’s release.” They see the Form of God and the indwelling Reality within that Form and are arriving at the decision to let the Warrior carry on the fight. They will then (when right decision and choice have been made) “stand up and fight,” and will find themselves no longer on the Path of Purification but upon the Path of Discipleship.

b. Những người đã thoát ra khỏi tình trạng này và đang trở nên ý thức về vấn đề của mình. Họ thấy các cặp đối cực và đang bước vào “giai đoạn nhận biết trong sự giải thoát của Arjuna.” Họ thấy Hình Tướng của Thượng đế và Thực Tại nội tại bên trong Hình Tướng ấy, và đang đi đến quyết định để Chiến Sĩ tiếp tục cuộc chiến. Khi ấy, khi quyết định và lựa chọn đúng đắn đã được thực hiện, họ sẽ “đứng lên và chiến đấu,” và sẽ thấy mình không còn ở trên Con Đường Thanh Luyện nữa, mà ở trên Con Đường Đệ Tử.

With this stage you are all familiar, and aspirants such as are found in this group of students need no instruction from me as to the treading of the path out of glamour into light. The rules are well known: the glamours to which you are susceptible are equally familiar; the glamours to which humanity is prone are well recognised by you. It remains but for you to follow the ancient way of Raja Yoga and bring in the mind as a dispelling agency and thus learn to stand in the “light” between the pairs of opposites, and through that “light” achieve freedom by treading the noble middle way. Sometimes, my brothers, I feel that you know so much theoretically but have worked out relatively [101] so little. I ask myself whether I do not shoulder an unreasonable responsibility by giving you any more instructions. But I remind myself that I write for others as well as for you and that my time is short for this particular service.

Tất cả các bạn đều quen thuộc với giai đoạn này, và những người chí nguyện như những người có trong nhóm đạo sinh này không cần tôi chỉ dạy về việc bước đi trên con đường ra khỏi ảo cảm để vào ánh sáng. Các quy luật đã được biết rõ; những ảo cảm mà các bạn dễ mắc phải cũng quen thuộc như vậy; những ảo cảm mà nhân loại dễ rơi vào đã được các bạn nhận biết rõ. Điều còn lại chỉ là các bạn phải đi theo con đường cổ xưa của Raja Yoga và đưa thể trí vào như một tác nhân xua tan, nhờ đó học đứng trong “ánh sáng” giữa các cặp đối cực, và qua “ánh sáng” ấy đạt được tự do bằng cách bước đi trên con đường trung đạo cao quý. Các huynh đệ của tôi, đôi khi tôi cảm thấy các bạn biết quá nhiều về mặt lý thuyết nhưng đã thực hiện tương đối [101] quá ít. Tôi tự hỏi liệu tôi có đang gánh một trách nhiệm không hợp lý khi trao thêm cho các bạn bất cứ huấn thị nào nữa hay không. Nhưng tôi tự nhắc mình rằng tôi viết cho những người khác cũng như cho các bạn, và thời gian của tôi dành cho công việc phụng sự đặc biệt này thì ngắn ngủi.

The resolution of these dualities takes place when the soul, the true spiritual man, no longer identifies itself with either of the opposites, but stands free upon this middle way; the disciple then sees the “lighted Way ahead,” along which he learns to go without being drawn into the glamorous worlds which stretch on either hand. He travels straight towards his goal.

Sự giải quyết các nhị nguyên này diễn ra khi linh hồn, con người tinh thần chân thật, không còn đồng hoá chính mình với bất cứ đối cực nào, mà đứng tự do trên con đường trung đạo này; khi ấy đệ tử thấy “Con Đường được Soi Sáng phía trước,” dọc theo đó y học cách đi mà không bị lôi kéo vào các thế giới ảo cảm trải dài hai bên. Y đi thẳng tới mục tiêu của mình.

[Webinar 114]

3. The stage wherein the intelligent thinking man, whether disciple or well-meaning aspirant, or an initiate of the first and second degrees, has to learn to distinguish between the truth and the truths, between knowledge and wisdom, between reality and illusion. When this stage has been passed through it leads to the third initiation, wherein the personality (which is prone to maya, glamour and illusion) stands free. It again experiences a sense of at-one-ment. This is due to the development of the sense of the intuition which puts into the disciple’s hand an infallible instrument whereby to discriminate and to discern. His perception is becoming accurate and he stands relatively free from deception and wrong identifications and interpretations.

3. Giai đoạn trong đó con người tư duy thông minh, dù là đệ tử, người chí nguyện có thiện chí, hay điểm đạo đồ bậc một và bậc hai, phải học phân biệt giữa chân lý và các chân lý, giữa tri thức và minh triết, giữa thực tại và ảo tưởng. Khi giai đoạn này đã được vượt qua, nó dẫn đến lần điểm đạo thứ ba, trong đó phàm ngã, vốn dễ rơi vào ảo lực, ảo cảm và ảo tưởng, đứng tự do. Nó lại trải nghiệm một cảm thức về sự hiệp nhất. Điều này là do sự phát triển của ý thức trực giác, vốn đặt vào tay đệ tử một khí cụ không thể sai lầm để phân biện và phân biện tinh thần. Nhận thức của y đang trở nên chính xác và y đứng tương đối tự do khỏi sự lừa dối, khỏi những đồng hoá và diễn giải sai lầm.

You will have noted how the career of the man has, therefore, proceeded from a crisis of duality to one of a relative unity, only to have that sense of unification disturbed by a renewed recognition of a higher and deeper duality. This duality temporarily produces another cleavage in a man’s life, and thus re-initiates a torturing process of bridging or of “occultly healing” [102] this break in the continuity of the spiritual consciousness. I would here remind you that this sense of peace or perception of cleavage is in itself an illusion and of the nature of glamour, and is based upon the illusory sense of identification with that which is not the self, or soul. The entire problem can be solved if the shift of the consciousness is away from identification with the lower forms of experience into that of identification with the real and true man.

Các bạn hẳn đã lưu ý cách sự nghiệp của con người, vì vậy, đã tiến từ một cuộc khủng hoảng nhị nguyên đến một tình trạng tương đối hợp nhất, chỉ để rồi cảm thức hợp nhất ấy bị xáo trộn bởi một sự nhận biết mới về một nhị nguyên cao hơn và sâu hơn. Nhị nguyên này tạm thời tạo ra một sự rạn nứt khác trong đời sống con người, và như vậy lại khởi đầu một tiến trình đau đớn của việc bắt cầu hay “chữa lành một cách huyền bí” [102] sự đứt đoạn này trong tính liên tục của tâm thức tinh thần. Ở đây tôi muốn nhắc các bạn rằng cảm thức bình an này hay nhận thức về sự rạn nứt tự nó là một ảo tưởng và mang bản chất của ảo cảm, và được đặt nền trên cảm thức ảo tưởng về sự đồng hoá với cái không phải là bản ngã, hay linh hồn. Toàn bộ vấn đề có thể được giải quyết nếu sự chuyển dịch tâm thức rời khỏi việc đồng hoá với các hình thức kinh nghiệm thấp để đi vào sự đồng hoá với con người thật và chân chính.

4. Stage by stage, the man has progressed from one state of illusion or glamour to another, from one point of discriminative opportunity to another until he has developed in himself three major capacities:

4. Từng giai đoạn một, con người đã tiến từ một trạng thái ảo tưởng hay ảo cảm này sang một trạng thái khác, từ một điểm cơ hội phân biện này sang một điểm khác, cho đến khi y đã phát triển trong chính mình ba năng lực chính yếu:

1. The capacity to handle force.

1. Năng lực xử lý mãnh lực.

2. The capacity to tread the middle way between the pairs of opposites.

2. Năng lực bước đi trên con đường trung đạo giữa các cặp đối cực.

3. The capacity to use the intuition.

3. Năng lực sử dụng trực giác.

These capacities he developed by resolving the pairs of opposites on the physical, astral and lower mental planes. Now he faces his climaxing resolution, equipped with these powers. He becomes aware of those two great and apparently opposing entities (with both of whom he finds himself consciously identified)—the Angel of the Presence and the Dweller on the Threshold. Behind the Angel he dimly senses, not another duality, but a great Identity, a living Unity, which—for lack of a better word—we call the PRESENCE.

Y đã phát triển các năng lực này bằng cách giải quyết các cặp đối cực trên cõi hồng trần, cõi cảm dục và cõi hạ trí. Giờ đây, được trang bị bằng các quyền năng này, y đối diện với sự giải quyết đạt đến cao điểm của mình. Y trở nên ý thức về hai thực thể vĩ đại và dường như đối nghịch, mà với cả hai y thấy mình đồng hoá một cách có ý thức: Thiên Thần của Hiện Diện và Kẻ Chận Ngõ. Phía sau Thiên Thần, y cảm nhận mơ hồ, không phải một nhị nguyên khác, mà là một Bản Sắc vĩ đại, một Hợp Nhất sống động, mà vì thiếu một từ tốt hơn, chúng ta gọi là HIỆN DIỆN.

He then discovers that the way out in this case is not the method of handling force or of leaving behind both pairs of opposites, or of right recognition through the intuition, but that this Dweller and this Angel must be brought together; the lower entity must be “blotted out” in the “light,” or “forced to disappear within the [103] radiance.” This is the task of the higher of the two entities, with which the disciple or the initiate, consciously and deliberately, identifies himself. With this process we will later deal. This is the problem which faces the initiate before he takes the final three initiations.

Khi ấy y khám phá rằng lối thoát trong trường hợp này không phải là phương pháp xử lý mãnh lực, hay bỏ lại phía sau cả hai cặp đối cực, hay sự nhận biết đúng đắn thông qua trực giác, mà là Kẻ Chận Ngõ này và Thiên Thần này phải được đưa lại với nhau; thực thể thấp phải bị “xoá mờ” trong “ánh sáng,” hay “bị buộc phải biến mất trong [103] ánh huy hoàng.” Đây là nhiệm vụ của thực thể cao hơn trong hai thực thể, mà đệ tử hay điểm đạo đồ đồng hoá chính mình với nó một cách có ý thức và chủ ý. Chúng ta sẽ bàn đến tiến trình này về sau. Đây là vấn đề đối diện với điểm đạo đồ trước khi y trải qua ba cuộc điểm đạo cuối cùng.

You must bear in mind that none of these three stages are, in reality, divided off from each other by clear lines of demarcation, nor do they follow each other in a clear sequence. They proceed with much overlapping and often with a partial simultaneity. It is only when the disciple faces certain initiations that he awakens to the fact of these distinctions. Therefore, it might be stated that:

Các bạn phải ghi nhớ rằng, trong thực tại, không giai đoạn nào trong ba giai đoạn này bị phân cách với nhau bằng những đường ranh giới rõ rệt, cũng không nối tiếp nhau theo một trình tự rõ ràng. Chúng diễn tiến với nhiều sự chồng lấn và thường với tính đồng thời từng phần. Chỉ khi đệ tử đối diện với một số cuộc điểm đạo nào đó, y mới thức tỉnh trước sự kiện về các phân biệt này. Vì vậy, có thể nói rằng:

[Webinar 115]

1. In the first initiation the disciple demonstrates that he has resolved the dualities of the physical plane and can rightly impose etheric energy (the higher of the two) upon physical energy.

1. Trong lần điểm đạo thứ nhất, đệ tử chứng minh rằng y đã giải quyết các nhị nguyên của cõi hồng trần và có thể áp đặt đúng đắn năng lượng dĩ thái, là năng lượng cao hơn trong hai năng lượng, lên năng lượng hồng trần.

2. In the second initiation, the initiate demonstrates that he can choose between the pairs of opposites and proceed with decision upon the “middle way.”

2. Trong lần điểm đạo thứ hai, điểm đạo đồ chứng minh rằng y có thể chọn lựa giữa các cặp đối cực và tiến bước với quyết định trên “con đường trung đạo.”

3. In the third initiation, the initiate can employ the intuition for the right perception of truth, and in that initiation he catches the first real glimpse of the Dweller on the Threshold and the Angel of the Presence.

3. Trong lần điểm đạo thứ ba, điểm đạo đồ có thể sử dụng trực giác để nhận thức chân lý một cách đúng đắn, và trong cuộc điểm đạo ấy y thoáng thấy lần đầu tiên một cách thật sự Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần của Hiện Diện.

4. In the fourth initiation, the initiate demonstrates his ability to produce complete at-one-ment between the higher and lower aspect of the soul in manifestation and sees the Dweller on the Threshold merge into the Angel of the Presence.

4. Trong lần điểm đạo thứ tư, điểm đạo đồ chứng minh khả năng tạo ra sự hiệp nhất hoàn toàn giữa phương diện cao và thấp của linh hồn trong biểu hiện, và thấy Kẻ Chận Ngõ hòa nhập vào Thiên Thần của Hiện Diện.

5. In the fifth initiation—and here words fail to express the truth—he sees the Dweller on the Threshold, [104] the Angel, and the Presence merged into a divine synthesis.

5. Trong lần điểm đạo thứ năm, và ở đây ngôn từ không thể diễn tả chân lý, y thấy Kẻ Chận Ngõ, [104] Thiên Thần, và Hiện Diện hòa nhập vào một tổng hợp thiêng liêng.

The question arises as to what produces this glamour and illusion. The subject is so vast (embracing as it does the whole field of planetary history) that I can do little more than indicate some of the causes. Few of them have, as yet, been susceptible of correction except in the case of individuals. This means that when individuals reach the point in evolution where they can identify themselves with their higher aspect, the soul, and can then bring in soul energy to offset, subdue and dominate the lower forces of the personality, then correction becomes possible and inevitably takes place. When, therefore, the time comes when a very large number of persons become aware of the condition of world glamour (through discovering it and dealing with it in their own lives), then we shall have a group approach to the problem. Then we shall have a definite attack upon the world glamour, and when this does take place—speaking esoterically—“an opening will be made which will admit the light of the solar orb. The fogs will slowly disappear, subdued by the solar radiance, and the pilgrims will then find the enlightened WAY which leads from the heart of the fog, straight to the door of light.”

Câu hỏi nảy sinh là điều gì tạo ra ảo cảm và ảo tưởng này. Chủ đề này quá rộng lớn vì nó bao gồm toàn bộ lĩnh vực lịch sử hành tinh, đến nỗi tôi chỉ có thể làm được ít hơn là chỉ ra một vài nguyên nhân. Cho đến nay, ít nguyên nhân trong số đó có thể được sửa chữa, ngoại trừ trong trường hợp các cá nhân. Điều này có nghĩa là khi các cá nhân đạt đến điểm tiến hoá nơi họ có thể đồng hoá chính mình với phương diện cao hơn của mình, tức linh hồn, và rồi có thể đưa năng lượng linh hồn vào để hóa giải, khuất phục và chế ngự các mãnh lực thấp của phàm ngã, khi ấy sự sửa chữa trở nên khả thi và tất yếu diễn ra. Vì vậy, khi đến thời điểm một số rất lớn người trở nên ý thức về tình trạng ảo cảm thế giới, nhờ khám phá nó và xử lý nó trong đời sống riêng của họ, khi ấy chúng ta sẽ có một cách tiếp cận nhóm đối với vấn đề. Khi ấy chúng ta sẽ có một cuộc tấn công xác định vào ảo cảm thế giới, và khi điều này thật sự diễn ra, nói một cách huyền bí, “một khe mở sẽ được tạo ra để tiếp nhận ánh sáng của vầng thái dương. Các màn sương sẽ từ từ biến mất, bị khuất phục bởi ánh huy hoàng thái dương, và những người hành hương khi ấy sẽ tìm thấy ĐƯỜNG ĐẠO được soi sáng, dẫn từ tâm điểm của màn sương, thẳng đến cánh cửa ánh sáng.”

[Webinar 116]

It is with the intention of discovering how far the aspirants and disciples of the world have gone in their understanding and in their handling of this problem that such an experiment as that being carried on in these groups has been undertaken and permitted.

Chính với ý định khám phá xem những người chí nguyện và đệ tử của thế giới đã đi xa đến đâu trong sự thấu hiểu và trong việc xử lý vấn đề này mà một thí nghiệm như thí nghiệm đang được tiến hành trong các nhóm này đã được thực hiện và cho phép.

2. The Causes Producing World Glamour.

The causes producing world glamour can be divided into three groups: [105]

Các nguyên nhân tạo ra ảo cảm thế giới có thể được chia thành ba nhóm: [105]

A. Planetary causes.

A. Các nguyên nhân hành tinh.

B. Causes initiated by humanity itself.

B. Các nguyên nhân do chính nhân loại khởi phát.

C. Causes induced by any individual person which are, nevertheless, founded and based in the two above groups of conditioning factors.

C. Các nguyên nhân do bất cứ cá nhân nào gây ra, nhưng tuy vậy vẫn được đặt nền và căn cứ trên hai nhóm yếu tố tác động nêu trên.

A. Planetary Causes. These causes are two in number and beyond your finite comprehension. I only state them and ask you to accept them as reasonable speculations and possibly accurate hypotheses:

A. Các nguyên nhân hành tinh. Những nguyên nhân này có hai loại và vượt ngoài sự lĩnh hội hữu hạn của các bạn. Tôi chỉ nêu chúng ra và yêu cầu các bạn chấp nhận chúng như những suy luận hợp lý và có thể là những giả thuyết chính xác:

1. Causes inherent in substance itself. The atoms of which all forms are made have been inherited from an earlier universe or solar system and are, therefore, tinged with or coloured by the results of that great creative manifestation. The effects produced in that expression of divine existence constitute predisposing factors or initiating causes in this solar system and planetary life. These conditioning and inherited factors cannot be evaded. They determine the nature of the life urge, the trend of the evolutionary unfoldment, and the innate tendencies which all forms possess, such as the capacity to grow and to unfold, to orient the type and to express in time and space the archetype or pattern, and to outline and determine the structure of the kingdoms into which science divides the natural world. These are but a few of the innate, inherent characteristics of substance itself, inherited and conditioning our present manifestation of divine life.

1. Các nguyên nhân cố hữu trong chính chất liệu. Các nguyên tử cấu thành mọi hình tướng đã được thừa hưởng từ một vũ trụ hay hệ mặt trời trước kia, và vì vậy được nhuốm hay tô màu bởi các kết quả của biểu hiện sáng tạo vĩ đại ấy. Những hiệu quả được tạo ra trong sự biểu lộ đó của hiện hữu thiêng liêng tạo thành các yếu tố khuynh hướng hay các nguyên nhân khởi phát trong hệ mặt trời và đời sống hành tinh này. Những yếu tố tác động và thừa hưởng này không thể bị né tránh. Chúng quyết định bản chất của xung lực sống, chiều hướng của sự khai mở tiến hoá, và những khuynh hướng bẩm sinh mà mọi hình tướng đều sở hữu, như khả năng tăng trưởng và khai mở, định hướng kiểu loại và biểu lộ trong thời gian và không gian nguyên mẫu hay mô hình, đồng thời phác họa và quyết định cấu trúc của các giới mà khoa học dùng để phân chia thế giới tự nhiên. Đây chỉ là một vài đặc tính bẩm sinh, cố hữu của chính chất liệu, được thừa hưởng và đang tác động lên biểu hiện hiện nay của chúng ta về sự sống thiêng liêng.

2. The life or manifestation of the planetary Logos, the “One in Whom we live and move and have our being,” is determined by His Own Nature. To us, that great Life embodies perfection and the qualities which distinguish Him are those to which we direct our highest [106] aspiration. But, from the angle of Those Lives Who are ahead of Him upon the cosmic path (I speak symbolically and in terms of human experience) He is among the “imperfect Gods.” These imperfections, hindering unfoldment or the perfect expression of divine energy when brought into conjunction with the inherited qualities and biases of the substances through which He must express His life, His purposes and intentions, produce the “seeds of death and of decay” which characterise our planetary evolution in all the four kingdoms in nature. They create the obstacles, obstructions and hindrances against which the soul in all created forms must struggle, gaining strength and understanding thereby and eventual liberation.

2. Sự sống hay biểu hiện của Hành Tinh Thượng đế, “Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu,” được quyết định bởi Chính Bản Chất của Ngài. Đối với chúng ta, Sự sống vĩ đại ấy là hiện thân của sự toàn thiện, và các phẩm tính phân biệt Ngài là những phẩm tính mà chúng ta hướng [106] khát vọng cao nhất của mình đến. Nhưng, từ góc độ của Những Sự Sống đi trước Ngài trên con đường vũ trụ, tôi nói một cách biểu tượng và theo các thuật ngữ của kinh nghiệm nhân loại, Ngài thuộc về các “Thượng đế chưa hoàn thiện.” Những bất toàn này, vốn cản trở sự khai mở hay sự biểu lộ toàn hảo của năng lượng thiêng liêng, khi được đưa vào sự kết hợp với các phẩm tính và thiên lệch thừa hưởng của những chất liệu mà qua đó Ngài phải biểu lộ sự sống, các mục đích và ý định của Ngài, tạo ra “các hạt giống của cái chết và sự suy tàn” vốn đặc trưng cho tiến hoá hành tinh của chúng ta trong cả bốn giới trong tự nhiên. Chúng tạo ra các chướng ngại, cản trở và trở lực mà linh hồn trong mọi hình tướng được tạo ra phải đấu tranh chống lại, nhờ đó đạt được sức mạnh và sự thấu hiểu, và cuối cùng là sự giải thoát.

These are the two major planetary causes. They cannot finally deter the soul from emancipation but they can and do hinder and delay. It is useless for men to speculate upon these hypotheses with their present inadequate equipment and type of brain. Nothing would be achieved and you would be none the wiser.

Đây là hai nguyên nhân hành tinh chính yếu. Rốt cuộc chúng không thể ngăn linh hồn khỏi sự giải thoát, nhưng chúng có thể, và quả thật có, cản trở và trì hoãn. Sẽ vô ích nếu con người suy đoán về các giả thuyết này với loại bộ não và trang bị hiện nay còn bất cập của họ. Sẽ không đạt được điều gì, và các bạn cũng chẳng khôn ngoan hơn.

B. Causes initiated by humanity itself. Slowly, step by step, humanity has created and intensified that glamorous condition of consciousness which we call the astral plane. All glamour is produced by the bringing together of one or more streams of energy which produce a temporary whirlpool of energies and, from the angle of man—the onlooker and participator—produce a condition of darkness, a state of bewilderment which makes clear choice and right discrimination difficult and, in the early stages, impossible. It creates an aura which is today of such a general nature and so all-enveloping that everybody is, figuratively speaking, immersed in it. This aura, in the infancy [107] of the race, only surrounded the more advanced people. To understand what I mean by this statement, I would call your attention to the fact that very unintelligent people, those who are among the lowest human types, and those who are little more than active animals, governed primarily by the instincts, are apt to deal very simply and with complete directness with the facts of existence with which they are faced and which to them are of paramount or sole importance—the facts of hunger, of birth and death, of self-protection and perpetuation. There is little true glamour in their reaction to life and living, and their simplicity, like that of a child, saves and protects them from many of the subtler ills. Their emotions are not subtle, and their minds are unawakened. But, as humanity evolved and the higher levels of the racial consciousness became more subtle and the mind factor slowly became more active, then glamour and illusion developed very rapidly.

B. Các nguyên nhân do chính nhân loại khởi phát. Chậm rãi, từng bước một, nhân loại đã tạo ra và làm tăng cường tình trạng ảo cảm của tâm thức mà chúng ta gọi là cõi cảm dục. Mọi ảo cảm đều được tạo ra bởi sự quy tụ của một hay nhiều dòng năng lượng, tạo thành một xoáy năng lượng tạm thời, và từ góc độ của con người, kẻ quan sát và tham dự, tạo ra một tình trạng tối tăm, một trạng thái bối rối khiến sự lựa chọn rõ ràng và sự phân biện đúng đắn trở nên khó khăn, và trong các giai đoạn đầu là bất khả. Nó tạo ra một hào quang mà ngày nay có tính phổ quát và bao trùm đến mức, nói theo nghĩa bóng, mọi người đều bị ngâm chìm trong đó. Hào quang này, trong thời thơ ấu [107] của nhân loại, chỉ bao quanh những người tiến bộ hơn. Để hiểu điều tôi muốn nói bằng phát biểu này, tôi muốn hướng sự chú ý của các bạn đến sự kiện rằng những người rất kém thông minh, những người thuộc các kiểu người thấp nhất, và những người chỉ hơn các con vật năng động rất ít, bị chi phối chủ yếu bởi bản năng, thường xử lý rất giản dị và hoàn toàn trực tiếp các sự kiện của hiện hữu mà họ đối diện và vốn đối với họ là quan trọng bậc nhất hay duy nhất: các sự kiện về đói, sinh và tử, tự bảo vệ và duy trì nòi giống. Có rất ít ảo cảm thật sự trong phản ứng của họ đối với đời sống và việc sống, và sự giản dị của họ, giống như của một đứa trẻ, cứu giúp và bảo vệ họ khỏi nhiều tai ương tinh tế hơn. Các cảm xúc của họ không tinh tế, và thể trí của họ thì chưa thức tỉnh. Nhưng khi nhân loại tiến hoá, và các cấp độ cao hơn của tâm thức nhân loại trở nên tinh tế hơn, đồng thời yếu tố thể trí dần dần trở nên hoạt động hơn, khi ấy ảo cảm và ảo tưởng phát triển rất nhanh chóng.

The first indications of glamour arose when the disciples and the aspirants of the Lemurian world (whose problem was the right comprehension, correct functioning and control of the physical body) began to differentiate between themselves, as self-conscious beings, and physical and vital forces. That immediately set up a tremendous activity in the throat centre which is the higher aspect of the sacral centre (the sex centre) and thus led to the initial glamour and to the first definite recognition and consideration of the sex impulse, of sex attraction, and—for the initiate of that period—of the necessary sex transmutation. This went hand in hand with the earliest Yoga, or the cult of the physical body with the objective of its control by the soul, and the consequent merging of the conscious and the subconscious.

Những dấu hiệu đầu tiên của ảo cảm nảy sinh khi các đệ tử và những người chí nguyện của thế giới Lemuria, vốn có vấn đề là sự lĩnh hội đúng đắn, hoạt động chính xác và kiểm soát thể xác, bắt đầu phân biệt giữa chính họ, với tư cách những hữu thể có ngã thức, và các mãnh lực hồng trần cùng sinh lực. Điều đó lập tức thiết lập một hoạt động mãnh liệt trong trung tâm cổ họng, vốn là phương diện cao hơn của trung tâm xương cùng, trung tâm tính dục, và do đó dẫn đến ảo cảm ban đầu cùng sự nhận biết và xem xét xác định đầu tiên về xung lực tính dục, về sức hấp dẫn tính dục, và đối với điểm đạo đồ của thời kỳ ấy, về sự chuyển hoá tính dục cần thiết. Điều này đi đôi với Yoga sớm nhất, hay sự sùng bái thể xác với mục tiêu kiểm soát nó bởi linh hồn, và sự hòa nhập tiếp theo của cái có ý thức và cái tiềm thức.

Around the aspirants of that time could then be seen gathering the first clouds and fogs of glamour, though illusion [108] was nowhere present. The first recognition of the plane of the emotions, of the astral plane, was evoked in the consciousness of the groups under preparation for the first initiation which was the highest initiation possible at that time. The reason for this slowly emerging astral consciousness in the physically polarised aspirant of that time, was due to the fact that one of the secrets of initiation consists in the right understanding and use of the consciousness which is aware and capable of functioning upon a plane higher than that on which humanity as a whole is, at any given time, living. Hence, in Lemurian times, the physically centred man who was on the verge of admission to the Path was aware of:

Khi ấy, quanh những người chí nguyện của thời đó, có thể thấy những đám mây và màn sương đầu tiên của ảo cảm tụ lại, mặc dù ảo tưởng [108] chưa hiện diện ở bất cứ đâu. Sự nhận biết đầu tiên về cõi của cảm xúc, tức cõi cảm dục, được gợi lên trong tâm thức của các nhóm đang được chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất, vốn là cuộc điểm đạo cao nhất có thể đạt được vào thời ấy. Lý do của tâm thức cảm dục đang từ từ xuất hiện này nơi người chí nguyện phân cực hồng trần của thời đó là vì một trong những bí quyết của điểm đạo nằm ở sự thấu hiểu đúng đắn và việc sử dụng đúng tâm thức vốn nhận biết và có khả năng hoạt động trên một cõi cao hơn cõi mà toàn thể nhân loại, vào bất cứ thời điểm nhất định nào, đang sống. Do đó, trong thời Lemuria, con người tập trung vào hồng trần, đang ở ngưỡng được nhận vào Đường Đạo, ý thức được:

1. The physical duality wherein his consciousness was accustomed to function normally and of the conflict between the physical body per se and the vital etheric body.

1. Nhị nguyên hồng trần trong đó tâm thức của y quen hoạt động bình thường, và cuộc xung đột giữa chính thể xác và thể sinh lực dĩ thái.

2. A dimly sensed higher consciousness which was distinguished by quality and sentiency. This was all that he could at that time contact upon the most familiar plane today, the astral plane.

2. Một tâm thức cao hơn được cảm nhận mơ hồ, được phân biệt bởi phẩm tính và khả năng cảm nhận. Đây là tất cả những gì khi ấy y có thể tiếp xúc trên cõi quen thuộc nhất ngày nay, tức cõi cảm dục.

3. A growing sense of self-identity which was the awakening soul or self, the Master who was to lead him out of the purely physical consciousness into the next divine stage, the astral consciousness. Forget not, through familiarity and fatigue of conflict, the divinity of each developing step.

3. Một cảm thức ngày càng tăng về bản sắc tự ngã, vốn là linh hồn hay bản ngã đang thức tỉnh, Chân sư sẽ dẫn y ra khỏi tâm thức thuần túy hồng trần để đi vào giai đoạn thiêng liêng kế tiếp, tức tâm thức cảm dục. Đừng quên, do sự quen thuộc và mệt mỏi của cuộc xung đột, thiên tính của mỗi bước phát triển.

Thus it will be apparent to you, if the above is a true statement of fact, that glamour arose from the recognition of these factors in consciousness and was the result of man’s reactions to the complexities of his own constitution and to the energy of his own soul.

Như vậy, nếu điều trên là một phát biểu đúng về sự kiện, các bạn sẽ thấy rõ rằng ảo cảm nảy sinh từ sự nhận biết các yếu tố này trong tâm thức, và là kết quả của những phản ứng của con người đối với các phức tạp trong cấu tạo của chính y và đối với năng lượng của chính linh hồn y.

[Webinar 117]

[109] As time went on, the entire human family became aware of the new emerging dualism existing between the physical constitution and the astral plane, plus the activity of the centre within himself, which at this stage made its appearance as conscience and innate—and at that time unreasoning—realisation of an urge to higher living or a tendency to lower activity. This nebulous conscience developed eventually into what we call the Voice of Conscience. When that took place, the intricacy and the difficulty of life was greatly increased and glamour was definitely established on Earth. It was that which enfolded and over-emphasised the lower at the expense of the higher, and served to distract the attention of the aspirant away from reality. May I again re-emphasise that, at this early stage, glamour was only evoked by and recognised by the highly evolved people of that period?

[109] Khi thời gian trôi qua, toàn thể gia đình nhân loại trở nên ý thức về nhị nguyên mới đang xuất hiện giữa cấu tạo hồng trần và cõi cảm dục, cộng với hoạt động của trung tâm bên trong chính y, mà ở giai đoạn này xuất hiện như lương tâm và sự nhận biết bẩm sinh, khi ấy còn chưa có lý trí, về một xung lực hướng tới đời sống cao hơn hay một khuynh hướng hướng về hoạt động thấp hơn. Lương tâm mơ hồ này cuối cùng phát triển thành điều chúng ta gọi là Tiếng Nói của Lương Tâm. Khi điều đó diễn ra, sự rắc rối và khó khăn của đời sống gia tăng rất nhiều, và ảo cảm được thiết lập rõ rệt trên Trái Đất. Chính điều đó bao bọc và quá nhấn mạnh cái thấp gây thiệt hại cho cái cao, và có tác dụng làm sự chú ý của người chí nguyện bị phân tán khỏi thực tại. Tôi có thể lại nhấn mạnh lại rằng, ở giai đoạn sơ khai này, ảo cảm chỉ được gợi lên bởi và được nhận biết bởi những người tiến hoá cao của thời kỳ ấy hay không?

Then the Lemurian race slowly passed away and the Atlantean race came into existence. During the millions of years this race flourished on Earth there were vast numbers of people with the Lemurian consciousness flourishing at the same time, just as today in this modern Aryan race, there are many, many millions of people who express the Atlantean consciousness and are polarised in their astral bodies, the victims of emotion and of consequent glamour.

Rồi nhân loại Lemuria từ từ qua đi và nhân loại Atlantis đi vào hiện hữu. Trong hàng triệu năm nhân loại này hưng thịnh trên Trái Đất, có vô số người với tâm thức Lemuria cùng lúc đang phát triển mạnh mẽ, giống như ngày nay trong nhân loại Arya hiện đại này, có rất nhiều triệu người biểu lộ tâm thức Atlantis và được phân cực trong thể cảm dục của họ, là nạn nhân của cảm xúc và của ảo cảm theo sau.

In the Atlantean race, the physical duality was then solved, and the physical body and the etheric body constituted a unity, and in the healthy person still do so. The sense of duality shifted then into a growing recognition of the conflict in the realm of quality and into the field of what we today call the “pairs of opposites”—good and evil, pain and pleasure, right and wrong, sense and nonsense, and the multiplicity of opposites by which the aspirant is today faced.

Trong nhân loại Atlantis, nhị nguyên hồng trần khi ấy đã được giải quyết, và thể xác cùng thể dĩ thái tạo thành một sự hợp nhất, và nơi người khỏe mạnh chúng vẫn như vậy. Khi ấy ý thức về nhị nguyên chuyển vào một sự nhận biết ngày càng tăng về xung đột trong lĩnh vực phẩm tính và vào trường của điều ngày nay chúng ta gọi là “các cặp đối cực”: thiện và ác, đau khổ và khoái lạc, đúng và sai, có nghĩa và vô nghĩa, cùng vô số đối cực mà người chí nguyện ngày nay phải đối diện.

[110] Each of these racial histories sees the establishing of a temporary sense of unity in the early stages, when the previous cleavage had been healed and the initial duality had been resolved into a unity. Then there comes a growing recognition of a fresh realm of choice, based upon the emergence of the higher values, and finally a period of conflict in the consciousness of the individual and of humanity as a whole, as the attempt is made to resolve this higher duality with which the man or the race is confronted.

[110] Mỗi lịch sử nhân loại này đều chứng kiến việc thiết lập một cảm thức hợp nhất tạm thời trong các giai đoạn đầu, khi sự rạn nứt trước đó đã được chữa lành và nhị nguyên ban đầu đã được giải quyết thành một sự hợp nhất. Rồi đến một sự nhận biết ngày càng tăng về một lĩnh vực lựa chọn mới, đặt nền trên sự xuất hiện của các giá trị cao hơn; và cuối cùng là một thời kỳ xung đột trong tâm thức của cá nhân và của toàn thể nhân loại, khi nỗ lực được thực hiện nhằm giải quyết nhị nguyên cao hơn này mà con người hay nhân loại đang đối diện.

This resolution is brought about when a higher aspect of the consciousness is dimly visioned and men become aware of themselves as mental beings. There is then a growing demand for that mind nature to be developed and brought into play in the effort to solve the problem in this category of opposites upon the astral plane.

Sự giải quyết này được đem lại khi một phương diện cao hơn của tâm thức được thoáng thấy mơ hồ và con người trở nên ý thức về chính mình như những hữu thể trí tuệ. Khi ấy có một đòi hỏi ngày càng tăng rằng bản chất thể trí ấy phải được phát triển và đưa vào hoạt động trong nỗ lực giải quyết vấn đề thuộc loại các đối cực này trên cõi cảm dục.

[Webinar 118]

At the same time the sense of self-identity or the consciousness that “I am,” is steadily growing, and the initiate of the day faces the effort to release himself from the thraldom of the senses upon the astral plane, from the dense glamour into which his sensory perception has thrown him, and to establish his freedom by a complete control of the astral body. This he eventually does by developing the power to pass between the pairs of opposites, unaffected by either, and thus leave them behind. He accomplishes this by using the mind as a distributor of the light which reveals the “middle way” and which dissipates the glamour with its brilliance and radiance.

Đồng thời, cảm thức về bản sắc tự ngã hay tâm thức rằng “Tôi hiện hữu” đang tăng trưởng đều đặn, và điểm đạo đồ của thời ấy đối diện với nỗ lực giải thoát chính mình khỏi sự nô lệ của các giác quan trên cõi cảm dục, khỏi ảo cảm đậm đặc mà nhận thức giác quan của y đã ném y vào, và thiết lập tự do của mình bằng sự kiểm soát hoàn toàn thể cảm dục. Cuối cùng y làm được điều này bằng cách phát triển quyền năng đi giữa các cặp đối cực mà không bị bên nào ảnh hưởng, và như thế bỏ chúng lại phía sau. Y hoàn thành điều này bằng cách sử dụng thể trí như một cơ quan phân phối ánh sáng, ánh sáng mặc khải “con đường trung đạo” và làm tiêu tan ảo cảm bằng vẻ rực rỡ và ánh huy hoàng của nó.

This glamour has steadily deepened and intensified as more and more people have succeeded in resolving the initial physical cleavage and have become centred in the astral consciousness. Today such is the magnitude of this glamour and such the success of the evolutionary process, that humanity, as a whole, is wandering in the fogs and miasmas of the world of sentient consciousness. When I [111] use the word “sentient” I do not refer to the sensory apparatus of the physical nervous system, but to the sentient awareness of the Self which is today so immersed in glamour that the mass of men are entirely identified with the world of feeling, of quality, of sentient interplay, and of emotional reactions, with their likes and dislikes, and their dominant self-pity. Self-pity is one of the major glamours of the advanced and sensitive man. It is the advanced people who contribute the most to the world glamour. The major glamour is the reaction of the aspirant to the truth, to reality when he first becomes aware of that which lies beyond the astral plane. He interprets all that he there senses and sees in terms of glamour, of emotional understanding, of a sentient fanaticism. He forgets that truth lies beyond the world of feeling altogether, unaffected by it, and can only be sensed in its purity when feeling is transcended and transmuted. The second major glamour is self-pity.

Ảo cảm này đã đều đặn sâu đậm và tăng cường khi ngày càng nhiều người thành công trong việc giải quyết sự rạn nứt hồng trần ban đầu và trở nên tập trung trong tâm thức cảm dục. Ngày nay, tầm vóc của ảo cảm này lớn đến mức và sự thành công của tiến trình tiến hoá lớn đến mức, toàn thể nhân loại đang lang thang trong các màn sương và khí độc của thế giới tâm thức cảm thụ. Khi tôi [111] dùng từ “cảm thụ,” tôi không nói đến bộ máy cảm giác của hệ thần kinh hồng trần, mà nói đến sự nhận biết cảm thụ của Bản Ngã, hiện nay bị ngâm chìm trong ảo cảm đến nỗi khối đông con người hoàn toàn đồng hoá với thế giới của cảm giác, của phẩm tính, của sự tương tác cảm thụ, và của các phản ứng cảm xúc, với những điều họ thích và không thích, cùng lòng tự thương hại chi phối. Tự thương hại là một trong những ảo cảm chính yếu của con người tiến bộ và nhạy cảm. Chính những người tiến bộ đóng góp nhiều nhất vào ảo cảm thế giới. Ảo cảm chính yếu là phản ứng của người chí nguyện đối với chân lý, đối với thực tại, khi y lần đầu trở nên ý thức về điều nằm bên kia cõi cảm dục. Y diễn giải tất cả những gì y cảm nhận và thấy ở đó theo các thuật ngữ của ảo cảm, của sự thấu hiểu cảm xúc, của một cuồng tín cảm thụ. Y quên rằng chân lý nằm hoàn toàn bên kia thế giới của cảm giác, không bị nó ảnh hưởng, và chỉ có thể được cảm nhận trong sự tinh khiết của nó khi cảm giác được vượt qua và chuyển hoá. Ảo cảm chính yếu thứ hai là tự thương hại.

The world today is divided into three groups, all of whom are subject to certain phases of glamour:

Thế giới ngày nay được chia thành ba nhóm, tất cả đều chịu chi phối bởi một số giai đoạn của ảo cảm:

1. Those who are Atlantean in their consciousness and are, therefore, completely glamoured by:

1. Những người có tâm thức Atlantis và do đó hoàn toàn bị ảo cảm bởi:

a. That which is material and to be desired.

a. Điều có tính vật chất và đáng được ham muốn.

b. That which they feel in all relationships.

b. Điều họ cảm thấy trong mọi mối liên hệ.

c. That which they believe to be ideal, to be true or just, based on their reactions to the thinkers of the day, but which they themselves do not mentally understand.

c. Điều họ tin là lý tưởng, là chân thật hay công bằng, dựa trên các phản ứng của họ đối với những nhà tư tưởng của thời đại, nhưng chính họ không thấu hiểu bằng trí tuệ.

d. That which they demand of beauty, and of emotional comfort.

d. Điều họ đòi hỏi về vẻ đẹp và về sự an ủi cảm xúc.

e. That which brings to them spiritual comfort in the realm of religion and religious desire. Note the phrasing.[112]

e. Điều đem đến cho họ sự an ủi tinh thần trong lĩnh vực tôn giáo và khát vọng tôn giáo. Hãy lưu ý cách diễn đạt.[112]

2. Those who are more definitely Aryan in their consciousness. This means that the mind factor is awakening and thus constituting a difficulty and that the illusions of the mental plane are now added to the glamours of the astral plane. These illusions are theoretical and intellectual in nature.

2. Những người có tâm thức rõ rệt hơn thuộc Arya. Điều này có nghĩa là yếu tố thể trí đang thức tỉnh và do đó tạo thành một khó khăn, và rằng các ảo tưởng của cõi trí giờ đây được thêm vào các ảo cảm của cõi cảm dục. Những ảo tưởng này có bản chất lý thuyết và trí năng.

3. A group of people who are emerging out of those subject to glamour and illusion, and who are alive to the Voice of the Silence and to the demands of the soul.

3. Một nhóm người đang thoát ra khỏi những người chịu chi phối bởi ảo cảm và ảo tưởng, và đang sống động trước Tiếng Nói của Im Lặng và trước các đòi hỏi của linh hồn.

The complexity of the modern psychological problem lies in the fact that our race and period sees the synthesis of all the glamours and the emergence of the illusions of the mental plane. Today we have aspirants at all stages of unfoldment, and find the masses recapitulating the different steps upon the evolutionary way, with the lowest layer of the human race definitely Lemurian in their consciousness, even though few in numbers relatively speaking.

Sự phức tạp của vấn đề tâm lý hiện đại nằm ở sự kiện rằng nhân loại và thời kỳ của chúng ta chứng kiến sự tổng hợp của tất cả các ảo cảm và sự xuất hiện của các ảo tưởng của cõi trí. Ngày nay chúng ta có những người chí nguyện ở mọi giai đoạn khai mở, và thấy quần chúng đang tóm lược lại các bước khác nhau trên con đường tiến hoá, với tầng thấp nhất của nhân loại rõ rệt thuộc Lemuria trong tâm thức của họ, dù tương đối mà nói thì họ ít về số lượng.

Illusion is rapidly growing as the mental power of the race develops, for illusion is the succumbing to the powerful thoughtforms which the thinkers of the time and of the immediately preceding age have formulated, and which at the time of their creation constituted the hope of the race. They embodied then the new and emerging ideas by means of which the race was intended to progress. These forms, when old and crystallised, become a menace and a hindrance to the expanding life. The realisation of the problems of illusion lies centuries ahead when the race will have left glamour behind, when there will be few Atlantean minded people on the planet, and when there will be no people at all with the Lemurian consciousness. However, as evolution proceeds, things are greatly speeded up, and the time when humanity will be predominantly distinguished by the Aryan consciousness, is not as far ahead as might be [113] generally supposed.

Ảo tưởng đang tăng trưởng nhanh chóng khi quyền năng trí tuệ của nhân loại phát triển, vì ảo tưởng là sự khuất phục trước các hình tư tưởng mạnh mẽ mà những nhà tư tưởng của thời đại và của thời kỳ ngay trước đó đã tạo thành, và vào lúc chúng được tạo ra, chúng đã cấu thành niềm hy vọng của nhân loại. Khi ấy chúng là hiện thân của những ý tưởng mới và đang xuất hiện mà nhờ đó nhân loại được dự định sẽ tiến bộ. Những hình tướng này, khi trở nên cũ và kết tinh, trở thành một mối đe dọa và một trở ngại cho sự sống đang mở rộng. Sự nhận biết các vấn đề của ảo tưởng còn ở nhiều thế kỷ phía trước, khi nhân loại đã bỏ ảo cảm lại phía sau, khi trên hành tinh sẽ chỉ còn ít người có tâm thức Atlantis, và khi sẽ không còn người nào có tâm thức Lemuria. Tuy nhiên, khi tiến hoá diễn tiến, mọi sự được gia tốc rất nhiều, và thời điểm nhân loại sẽ được phân biệt chủ yếu bởi tâm thức Arya không còn xa phía trước như thường được [113] giả định.

Race

Duality

Problem

Method

Goal

Giống Dân

Nhị Nguyên Tính

Vấn Đề

Phương Pháp

Mục Tiêu

Lemurian

Physical Force versus Vital Energy

Maya

Astral control Hatha Yoga: Aspirants Laya Yoga: Disciples

1st Initiation Inspiration

Lemuria

Mãnh Lực Thể Xác đối với Năng Lượng Sinh Lực

Ảo lực

Kiểm soát cảm dục Hatha Yoga: Người chí nguyện Laya Yoga: Đệ tử

Lần Điểm Đạo Thứ Nhất Cảm Hứng

Atlantean

The Pairs of Opposites Qualities Sentiency

Glamour

Mental control Bahkti Yoga: Aspirants Raja Yoga: Disciples

2nd Initiation Illumination

Atlantis

Các Cặp Đối Lập Các Phẩm Tính Tri Giác

Ảo cảm

Kiểm soát trí tuệ Bahkti Yoga: Người chí nguyện Raja Yoga: Đệ tử

Lần Điểm Đạo Thứ Hai Soi Sáng

Aryan

Dweller on the Threshold Angel of the Presence

Illusion

Soul control Raja Yoga: Aspirants Agni Yoga: Disciples

3rd Initiation Intuition

Arya

Kẻ Chận Ngõ Thiên Thần của Hiện Diện

Ảo tưởng

Kiểm soát linh hồn Raja Yoga: Người chí nguyện Agni Yoga: Đệ tử

Lần Điểm Đạo Thứ Ba Trực Giác

I speak not in terms of the Aryan race as it is generally understood today or in its Nordic implications.

Tôi không nói về giống dân Arya theo cách nó thường được hiểu ngày nay, hay theo những hàm ý Bắc Âu của nó.

[Webinar 119]

C. Causes initiated by the individual. If you have studied all the above with the needed care, it will be apparent to you that the individual man enters upon incarnation already handicapped by existent glamour of a very ancient origin and utterly beyond his power to control at this stage. It is of great potency. I use the word “handicapped” advisedly for lack of a better term. I would like, however, to point out that the true significance of the situation exists in the fact that these conditions offer the opportunity to the man of evoking the understanding and point of view of the soul, for they provide the means whereby experience is gained. This experience will lead eventually to the soul assuming control of the mechanism, the personality, and thus giving to that soul a definite field of service. The vehicles through which the soul is seeking experience and expression are normally and naturally subject to world glamours, and to the glamours of humanity as well as illusion. When the soul, in the early stages of experience, falls into the snare of maya, of glamour and eventually of illusion, the reason is that the soul is identifying itself with those forms and therefore with the surrounding glamour, and thus failing to achieve identification with itself. As evolution proceeds, the nature of the problem becomes apparent to the soul in incarnation and a process is then instituted whereby the soul frees itself from the results of wrong identification. Every soul in incarnation which succeeds in releasing its consciousness from the world of illusion and of glamour is definitely serving the race, and helping to free humanity from this ancient and potent thraldom.

C. Các nguyên nhân do cá nhân khởi phát. Nếu các bạn đã nghiên cứu tất cả những điều trên với sự cẩn trọng cần thiết, các bạn sẽ thấy rõ rằng con người cá biệt bước vào lâm phàm khi đã bị hạn chế bởi ảo cảm hiện hữu có nguồn gốc rất cổ xưa, và hoàn toàn vượt quá khả năng của y trong việc kiểm soát ở giai đoạn này. Nó có quyền năng rất lớn. Tôi dùng từ “bị hạn chế” một cách có chủ ý, vì thiếu một thuật ngữ hay hơn. Tuy nhiên, tôi muốn chỉ ra rằng thâm nghĩa chân thực của tình huống này nằm ở chỗ các điều kiện ấy đem lại cho con người cơ hội gợi lên sự thấu hiểu và quan điểm của linh hồn, vì chúng cung cấp phương tiện nhờ đó kinh nghiệm được thu nhận. Kinh nghiệm này cuối cùng sẽ đưa đến việc linh hồn đảm nhận quyền kiểm soát bộ máy, tức phàm ngã, và như vậy trao cho linh hồn ấy một lĩnh vực phụng sự xác định. Các hiện thể mà qua đó linh hồn đang tìm kiếm kinh nghiệm và sự biểu lộ, một cách bình thường và tự nhiên, đều chịu chi phối bởi các ảo cảm thế gian, bởi các ảo cảm của nhân loại cũng như bởi ảo tưởng. Khi linh hồn, trong những giai đoạn đầu của kinh nghiệm, rơi vào cạm bẫy của ảo lực, của ảo cảm và cuối cùng của ảo tưởng, lý do là linh hồn đang đồng hoá với các hình tướng ấy, và do đó với ảo cảm bao quanh, nên không đạt được sự đồng hoá với chính mình. Khi tiến hoá tiếp diễn, bản chất của vấn đề trở nên rõ ràng đối với linh hồn đang nhập thể, và khi ấy một tiến trình được thiết lập nhờ đó linh hồn giải thoát chính mình khỏi các kết quả của sự đồng hoá sai lầm. Mỗi linh hồn đang nhập thể nào thành công trong việc giải phóng tâm thức của mình khỏi thế giới của ảo tưởng và ảo cảm đều đang phụng sự nhân loại một cách xác định, và đang trợ giúp giải phóng nhân loại khỏi ách nô lệ cổ xưa và đầy quyền năng này.

[115] But it must be borne in mind that when a man is nearing the stage of consciousness when both the astral body and the mental body are active and functioning, he himself becomes a manufacturer of glamour. He struggles with forces within himself and within the world in which he lives, and the increasing potency of the inflowing soul energy (which comes in conflict with personality forces) gradually produces around him a field of glamour and an environment of illusion that brings this third category of glamour into full play.

[115] Nhưng cần ghi nhớ rằng khi một người tiến gần đến giai đoạn tâm thức trong đó cả thể cảm dục lẫn thể trí đều hoạt động và vận hành, chính y trở thành một kẻ sản xuất ảo cảm. Y vật lộn với các mãnh lực bên trong chính mình và trong thế giới y đang sống, và quyền năng ngày càng tăng của năng lượng linh hồn đang tuôn vào, vốn xung đột với các mãnh lực phàm ngã, dần dần tạo quanh y một trường ảo cảm và một môi trường ảo tưởng, khiến loại ảo cảm thứ ba này phát huy trọn vẹn tác dụng.

These glamours are dependent upon the expression of the different forces which constitute a man’s lower nature, of which he is becoming increasingly aware, and which pass through the stages of emergence into recognition, potency in expression, and violence in conflict until the struggling soul sits down—as did Arjuna—in the midst between the two opposing forces (personality force and soul energy) and asks himself:

Các ảo cảm này tùy thuộc vào sự biểu lộ của những mãnh lực khác nhau cấu thành bản chất thấp của con người, mà y ngày càng ý thức rõ hơn, và những mãnh lực ấy đi qua các giai đoạn xuất hiện để được nhận biết, trở nên mạnh mẽ trong biểu lộ, và dữ dội trong xung đột, cho đến khi linh hồn đang đấu tranh ngồi xuống — như Arjuna đã làm — ở giữa hai mãnh lực đối nghịch, mãnh lực phàm ngã và năng lượng linh hồn, rồi tự hỏi:

1. Which is right, this or that?

1. Điều nào là đúng, điều này hay điều kia?

2. How can I distinguish where my duty or my responsibility lies?

2. Làm sao tôi có thể phân biệt bổn phận hay trách nhiệm của mình nằm ở đâu?

3. How can I find my way out of this bewildering situation?

3. Làm sao tôi có thể tìm đường ra khỏi tình huống rối rắm này?

4. How can I bring in the control of the Warrior so that the two groups of forces which I love may be resolved into a unity?

4. Làm sao tôi có thể đưa vào quyền kiểm soát của Chiến Sĩ, để hai nhóm mãnh lực mà tôi yêu mến có thể được giải quyết thành một nhất thể?

5. How can I find my way out of this impasse?

5. Làm sao tôi có thể tìm đường ra khỏi thế bế tắc này?

6. Why must I hurt that which I love and through which I have expressed myself for ages?

6. Vì sao tôi phải làm tổn thương điều mà tôi yêu mến và nhờ đó tôi đã biểu lộ chính mình qua nhiều thời đại?

7. How can I become aware of that mental illumination which will reveal the “middle way” between the pairs of opposites?

7. Làm sao tôi có thể ý thức được sự soi sáng trí tuệ sẽ mặc khải “con đường trung đạo” giữa các cặp đối cực?

8. How can I see God? or else the Form of God?

8. Làm sao tôi có thể thấy Thượng đế? hay thấy Hình Tướng của Thượng đế?

[Webinar 120]

[116] Many such questions arise in the mind of the aspirant. They indicate dilemma, bewilderment, a realisation of surrounding glamour, a stage of illusion and a condition of impotency. Against the disciple are fighting all the forces of his own nature, and also those of humanity as a whole and of the planetary state. He feels helpless, inert, feeble and hopeless. He cannot even see the way out. Only one clear fact remains and that is the fact of the Soul, of the immortal Identity, the Warrior behind the scenes, the Charioteer, Krishna, the Christ within.

[116] Nhiều câu hỏi như thế nảy sinh trong thể trí của người chí nguyện. Chúng biểu thị tình trạng tiến thoái lưỡng nan, sự hoang mang, việc nhận ra ảo cảm bao quanh, một giai đoạn của ảo tưởng và một tình trạng bất lực. Chống lại đệ tử là tất cả các mãnh lực thuộc bản chất riêng của y, cũng như các mãnh lực của toàn thể nhân loại và của tình trạng hành tinh. Y cảm thấy bất lực, trì trệ, yếu đuối và tuyệt vọng. Y thậm chí không thể thấy lối thoát. Chỉ còn lại một sự kiện rõ ràng duy nhất, đó là sự kiện về Linh hồn, về Bản Sắc bất tử, Chiến Sĩ ở hậu trường, Người Đánh Xe, Krishna, Đức Christ bên trong.

The Bhagavad Gita can be read entirely from the standpoint of the disciple’s combat with glamour and students would be well-advised so to study it.

Chí Tôn Ca có thể được đọc trọn vẹn từ lập trường cuộc chiến của đệ tử với ảo cảm, và các đạo sinh nên nghiên cứu nó theo cách ấy.

The individual glamours of which the disciple becomes aware are consequently of five types of force. These, when brought into activity simultaneously, produce those glamours which are strictly initiated and produced by the man himself. They are:

Do đó, các ảo cảm cá nhân mà đệ tử ý thức được thuộc về năm loại mãnh lực. Khi được đưa vào hoạt động đồng thời, chúng tạo ra những ảo cảm hoàn toàn do chính con người khởi phát và tạo nên. Chúng là:

1. The forces of his dense physical nature and of the vital body which latter, functioning through the dense physical nature, produce a condition of maya or of uncontrolled energy.

1. Các mãnh lực thuộc bản chất hồng trần đậm đặc của y và của thể sinh lực/thể dĩ thái, thể sau này khi vận hành qua bản chất hồng trần đậm đặc sẽ tạo ra một tình trạng ảo lực hay năng lượng không được kiểm soát.

2. The forces of the astral nature, based upon desire and upon sentiency. These, at this stage, fall into two groups which we call the pairs of opposites. Their potency is accentuating at this period of individual history, for the disciple is polarised in the majority of cases in his astral body and is, therefore, subject to the glamours produced by the interplay of the opposites, plus the condition of maya, referred to above.

2. Các mãnh lực của bản chất cảm dục, dựa trên dục vọng và cảm giác tính. Ở giai đoạn này, chúng rơi vào hai nhóm mà chúng ta gọi là các cặp đối cực. Quyền năng của chúng đang gia tăng trong giai đoạn lịch sử cá nhân này, vì trong đa số trường hợp đệ tử được phân cực trong thể cảm dục của mình, và vì thế chịu tác động của các ảo cảm do sự tương tác của các đối cực tạo ra, cộng thêm tình trạng ảo lực đã được nhắc đến ở trên.

3. The forces of the lower mental nature, of the chitta or mind-stuff of which the mental body is composed. This [117] is coloured by past activity, as is the substance composing all the vehicles. This adds to maya and glamour, the state of illusion.

3. Các mãnh lực của bản chất hạ trí, của chất trí hay chất liệu trí tuệ mà thể trí được cấu thành từ đó. Điều này [117] bị nhuốm màu bởi hoạt động quá khứ, cũng như chất liệu cấu thành mọi hiện thể. Điều này thêm vào ảo lực và ảo cảm tình trạng ảo tưởng.

4. The personality ray then emerges and intensifies all these three aspects of force expression, producing eventually their synthetic work. Then we have the emerging of what has been called “the threefold glamorous condition,” into one major glamour.

4. Khi ấy cung phàm ngã xuất hiện và tăng cường cả ba phương diện biểu lộ mãnh lực này, cuối cùng tạo ra hoạt động tổng hợp của chúng. Khi đó chúng ta có sự xuất hiện của điều đã được gọi là “tình trạng ảo cảm tam phân” thành một ảo cảm lớn duy nhất.

5. The soul ray or energy is all this time steadily increasing its rhythmic potency, and seeking to impose its purpose and will upon the personality. It is the united relation and the interplay between these two which—when a point of balance has been achieved—sweeps the man on to the Probationary Path, on to the Path of Discipleship, and right up to the gate of initiation. There, standing before the Gate, he recognises the final duality which awaits resolution. The Dweller on the Threshold and the Angel of the PRESENCE.

5. Cung linh hồn hay năng lượng linh hồn trong suốt thời gian này đang đều đặn gia tăng quyền năng nhịp nhàng của nó, và tìm cách áp đặt mục đích cùng ý chí của nó lên phàm ngã. Chính mối quan hệ thống nhất và sự tương tác giữa hai điều này — khi một điểm quân bình đã đạt được — cuốn con người tiến vào Con Đường Dự Bị, vào Con Đường Đệ Tử, và thẳng đến cổng điểm đạo. Ở đó, đứng trước Cổng, y nhận ra nhị nguyên cuối cùng đang chờ được giải quyết: Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần của Hiện Diện.

[Webinar 121]

The nature of these glamours differs with different people, for the ray quality determines the type of glamour or illusion to which a man will easily succumb, and that kind of glamour which he will the most easily create. Disciples have to learn to differentiate between:

Bản chất của các ảo cảm này khác nhau nơi những người khác nhau, vì phẩm tính cung quyết định loại ảo cảm hay ảo tưởng mà con người dễ dàng khuất phục, cũng như loại ảo cảm mà y sẽ dễ dàng tạo ra nhất. Các đệ tử phải học cách phân biệt giữa:

1. The glamours or glamour already existent in his environment, to which he will easily be attracted, or which he will easily attract, for they constitute the line of least resistance.

1. Các ảo cảm hoặc ảo cảm đã hiện hữu sẵn trong môi trường của y, mà y sẽ dễ bị thu hút, hoặc dễ thu hút về phía mình, vì chúng tạo thành con đường ít trở ngại nhất.

2. The glamour that he creates as he tackles life through the medium of a particular equipment, which is coloured by the experiences of past incarnations, and by the ray quality under which he has come into being.

2. Ảo cảm mà y tạo ra khi đối diện với đời sống thông qua một trang bị đặc thù, vốn được nhuốm màu bởi các kinh nghiệm của những lần lâm phàm quá khứ, và bởi phẩm tính cung mà dưới đó y đã đi vào hiện hữu.

[118] This subject is so intricate that it will serve no useful purpose for me to go into detailed particulars. I can indicate the major glamours (and under this term I include the various maya and illusions) to which the ray types predispose the man. If you then apply these to the three vehicles of manifestation as well as to the personality and the soul, you will note how complicated is the problem. Yet remember this, my brother:

[118] Chủ đề này phức tạp đến mức sẽ không phục vụ mục đích hữu ích nào nếu tôi đi vào các chi tiết tỉ mỉ. Tôi có thể chỉ ra các ảo cảm chính, và dưới thuật ngữ này tôi bao gồm các loại ảo lực và ảo tưởng khác nhau, mà các kiểu cung khiến con người có khuynh hướng mắc phải. Nếu sau đó các bạn áp dụng chúng vào ba hiện thể biểu lộ, cũng như vào phàm ngã và linh hồn, các bạn sẽ thấy vấn đề phức tạp đến mức nào. Tuy nhiên, huynh đệ của tôi, hãy nhớ điều này:

The issue is certain and determined for, in this solar system, the triumph of the soul and its final dominance and control is a foregone conclusion, no matter how great the glamour or how fierce the strife. Thus, the ascertaining (by the aspirant) of his ray influence is one of the first steps towards understanding the nature of his problem and the method of release. The psychology of the future will direct attention to the discovery of the two rays which govern the soul and personality. Having done this through a study of the physical type, emotional reactions and mental tendencies, attention will then be directed to the discovery of the rays governing the specialised vehicles. When these five rays (egoic, personality, physical, astral and mental) have been approximately ascertained, then the following factors will need consideration:

Kết quả là chắc chắn và đã được định đoạt, vì trong hệ mặt trời này, sự chiến thắng của linh hồn và quyền thống trị cùng kiểm soát cuối cùng của nó là một kết luận đã được định trước, bất kể ảo cảm lớn đến đâu hay cuộc xung đột dữ dội đến mức nào. Vì vậy, việc người chí nguyện xác định ảnh hưởng cung của mình là một trong những bước đầu tiên hướng đến việc thấu hiểu bản chất vấn đề của mình và phương pháp giải thoát. Tâm lý học của tương lai sẽ hướng sự chú ý đến việc khám phá hai cung chi phối linh hồn và phàm ngã. Sau khi đã làm điều này qua việc nghiên cứu kiểu thể xác, các phản ứng cảm xúc và các khuynh hướng trí tuệ, sự chú ý khi ấy sẽ được hướng đến việc khám phá các cung chi phối những hiện thể chuyên biệt. Khi năm cung này, tức cung chân ngã, cung phàm ngã, cung thể xác, cung thể cảm dục và cung thể trí, đã được xác định tương đối, thì các yếu tố sau đây cần được xem xét:

1. The nature, quality and stability of the glandular system.

1. Bản chất, phẩm tính và sự ổn định của hệ thống tuyến.

2. The point attained in evolution. This will be done by a careful consideration of the centres and the glands and their relation to each other.

2. Điểm tiến hoá đã đạt được. Điều này sẽ được thực hiện bằng sự xem xét cẩn trọng các luân xa và các tuyến, cũng như mối quan hệ của chúng với nhau.

3. The recognition of the points of cleavage or the splits in the personality which exist. These can be:

3. Sự nhận biết các điểm phân cắt hay những chỗ tách rời hiện hữu trong phàm ngã. Chúng có thể là:

a. Between the etheric and the physical bodies, leading to a lack of vitality, physical weakness, obsession and many forms of difficulty. [119]

a. Giữa thể dĩ thái và thể xác, dẫn đến sự thiếu sinh lực, yếu đuối thể chất, ám ảnh và nhiều dạng khó khăn. [119]

b. In the sentient astral body, leading to a vast number of problems and psychological difficulties based upon undue sensitivity, reaction to glamour in the environment, innate tendencies to glamour in the equipment or resulting from sensitivity to the glamours of other people.

b. Trong thể cảm dục có cảm giác tính, dẫn đến vô số vấn đề và khó khăn tâm lý dựa trên sự nhạy cảm thái quá, phản ứng với ảo cảm trong môi trường, các khuynh hướng bẩm sinh đối với ảo cảm trong trang bị, hoặc phát sinh từ sự nhạy cảm với các ảo cảm của những người khác.

c. In the mental body, imposing mental illusions of many kinds, such as control by self-created thoughtforms, sensitivity to existing world, national, or environing thoughtforms of any school of thought, idée fixe, the sense of the dramatic or of importance, or a fanatical adherence to groups of ideas, inherited from the past, or mental reactions of a purely personal nature.

c. Trong thể trí, áp đặt nhiều loại ảo tưởng trí tuệ, như sự kiểm soát bởi các hình tư tưởng do chính mình tạo ra, sự nhạy cảm với các hình tư tưởng thế gian, quốc gia hoặc môi trường hiện hữu thuộc bất kỳ trường phái tư tưởng nào, ý tưởng cố định, ý thức về tính kịch tính hay tầm quan trọng, hoặc sự bám chấp cuồng tín vào các nhóm ý tưởng được thừa hưởng từ quá khứ, hay các phản ứng trí tuệ có bản chất hoàn toàn cá nhân.

d. Between any of these groups of forces which we call bodies:

d. Giữa bất kỳ nhóm mãnh lực nào trong số này mà chúng ta gọi là các thể:

Between the etheric and astral bodies.

Giữa thể dĩ thái và thể cảm dục.

Between the astral and the mental bodies.

Giữa thể cảm dục và thể trí.

There is, for instance, a definite correspondence between the condition of negativity to physical plane living which is the result of a lack of integration between the physical and the etheric bodies, and that lack of interest and that failure to handle physical plane living which the thinker on abstract and scientific levels so frequently evidences. Both groups fail to make a definite and decisive manifestation upon the physical plane, both groups fail to deal with the problems of physical plane living in a clear and satisfactory manner, both are non-positive physically, but the causes producing these relatively similar conditions are totally different—though alike in their effects.

Chẳng hạn, có một sự tương ứng xác định giữa tình trạng tiêu cực đối với đời sống cõi hồng trần, vốn là kết quả của sự thiếu tích hợp giữa thể xác và thể dĩ thái, với sự thiếu quan tâm và sự thất bại trong việc xử lý đời sống cõi hồng trần mà nhà tư tưởng trên các cấp độ trừu tượng và khoa học thường biểu lộ. Cả hai nhóm đều không tạo được một sự biểu lộ xác định và quyết đoán trên cõi hồng trần; cả hai nhóm đều không xử lý các vấn đề của đời sống cõi hồng trần một cách rõ ràng và thỏa đáng; cả hai đều không tích cực về mặt hồng trần, nhưng các nguyên nhân tạo ra những tình trạng tương đối giống nhau này hoàn toàn khác nhau — dù giống nhau về tác động.

4. The comprehension of the Path of Life for an individual, through a study of his astrological indications. It is necessary in this connection to regard the sun sign [120] into which a man is born, as indicative of his personality trends, and as embodying the characteristics which he has inherited from the past, but to regard the rising sign as holding within it the indications of the way that a man’s soul would have him go.

4. Sự lĩnh hội Con Đường Sự Sống của một cá nhân, qua việc nghiên cứu các chỉ dẫn chiêm tinh của y. Trong mối liên hệ này, cần xem dấu hiệu Mặt Trời [120] mà một người sinh vào như dấu chỉ các khuynh hướng phàm ngã của y, và như sự thể hiện những đặc tính mà y đã thừa hưởng từ quá khứ; nhưng cần xem dấu hiệu mọc là nơi chứa đựng các chỉ dẫn về con đường mà linh hồn của con người muốn y đi theo.

Many other factors will warrant careful attention. The problem of the individual is complicated by certain inherited tendencies of a family, national and racial nature. These powerfully affect the physical body in both its aspects, producing glamours of many kinds. It is also affected by certain inherited ideas which are the embodied thoughtforms of family, national and racial approaches to truth. These produce powerful illusions to which the individual man easily succumbs. There are also the inflowing forces of the sign into which the sun may be passing, such as the conditions found in the world today, due to the fact that our sun is passing into a new sign of the zodiac. Therefore powerful and new energies are playing upon humanity, producing effects in all the three bodies. They are evoking glamours in the emotional nature and illusions in the mental nature. Those easily subject to glamour become at this time conscious of an emphasised duality. The subject, as you will therefore see, is vast, and this science of the psychological influences and the results of their impact upon the human mechanism is, as yet, in its infancy. I have, however, indicated enough to arouse interest and to start investigation in this new field of psychological activity.

Nhiều yếu tố khác sẽ cần được chú ý cẩn thận. Vấn đề của cá nhân bị phức tạp hoá bởi một số khuynh hướng thừa hưởng có bản chất gia đình, quốc gia và chủng tộc. Những khuynh hướng này tác động mạnh mẽ lên thể xác trong cả hai phương diện của nó, tạo ra nhiều loại ảo cảm. Nó cũng chịu ảnh hưởng của một số ý tưởng thừa hưởng, vốn là các hình tư tưởng hiện thân của những cách tiếp cận chân lý thuộc gia đình, quốc gia và chủng tộc. Chúng tạo ra các ảo tưởng mạnh mẽ mà con người cá biệt dễ dàng khuất phục. Cũng có các mãnh lực tuôn vào từ dấu hiệu mà Mặt Trời có thể đang đi qua, như các điều kiện đang hiện hữu trong thế giới ngày nay, do sự kiện Mặt Trời của chúng ta đang đi vào một dấu hiệu hoàng đạo mới. Vì vậy, các năng lượng mới và mạnh mẽ đang tác động lên nhân loại, tạo ra các hiệu quả trong cả ba thể. Chúng đang gợi lên các ảo cảm trong bản chất cảm xúc và các ảo tưởng trong bản chất trí tuệ. Những người dễ chịu ảnh hưởng của ảo cảm vào lúc này trở nên ý thức về một nhị nguyên được nhấn mạnh. Do đó, như các bạn sẽ thấy, chủ đề này rất rộng lớn, và khoa học về các ảnh hưởng tâm lý cùng các kết quả do tác động của chúng lên bộ máy con người cho đến nay vẫn còn ở thời kỳ sơ khai. Tuy nhiên, tôi đã chỉ ra đủ để khơi dậy sự quan tâm và khởi đầu việc khảo cứu trong lĩnh vực hoạt động tâm lý mới này.

[Webinar 122]

To return to the consideration of the many glamours which are produced by and related to certain ray types:

Trở lại việc xem xét nhiều ảo cảm được tạo ra bởi và liên hệ với một số kiểu cung nhất định:

RAY I.—CUNG I.

The glamour of physical strength.

Ảo cảm của sức mạnh thể chất.

The glamour of personal magnetism. [121]

Ảo cảm của từ tính cá nhân. [121]

The glamour of self-centredness and personal potency.

Ảo cảm của sự tập trung vào bản thân và sức mạnh cá nhân.

The glamour of “the one at the centre.”

Ảo cảm của “người ở trung tâm.”

The glamour of selfish personal ambition.

Ảo cảm của tham vọng cá nhân ích kỷ.

The glamour of rulership, of dictatorship and of wide control.

Ảo cảm của sự cai trị, của sự độc tài hoặc của sự kiểm soát rộng rãi.

The glamour of the Messiah complex in the field of politics.

Ảo cảm của phức cảm Đấng Cứu Thế trong lĩnh vực chính trị.

The glamour of selfish destiny, of the divine right of kings personally exacted.

Ảo cảm của định mệnh ích kỷ, của thiên quyền của các vua chúa được đòi hỏi cho cá nhân.

The glamour of destruction.

Ảo cảm của sự hủy diệt.

The glamour of isolation, of aloneness, of aloofness.

Ảo cảm của sự cô lập, sự đơn độc, sự xa cách.

The glamour of the superimposed will—upon others and upon groups.

Ảo cảm của ý chí áp đặt — lên người khác và lên các nhóm.

[Webinar 123]  [Webinar 124]   [Webinar 125]

RAY II

The glamour of the love of being loved.

Ảo cảm của sự yêu thích được yêu.

The glamour of popularity.

Ảo cảm của sự nổi tiếng.

The glamour of personal wisdom.

Ảo cảm của minh triết cá nhân.

The glamour of selfish responsibility.

Ảo cảm của trách nhiệm ích kỷ.

The glamour of too complete an understanding, which negates right action.

Ảo cảm của sự thấu hiểu quá trọn vẹn, vốn phủ định hành động đúng đắn.

The glamour of self-pity, a basic glamour of this ray.

Ảo cảm của sự tự thương hại, một ảo cảm căn bản của cung này.

The glamour of the Messiah complex, in the world of religion and world need.

Ảo cảm của phức cảm Đấng Cứu Thế trong thế giới tôn giáo và nhu cầu thế gian.

The glamour of fear, based on undue sensitivity.

Ảo cảm của sợ hãi, dựa trên sự nhạy cảm thái quá.

The glamour of self-sacrifice.

Ảo cảm của sự tự hi sinh.

The glamour of selfish unselfishness.

Ảo cảm của sự vô ngã ích kỷ.

The glamour of self-satisfaction.

Ảo cảm của sự tự mãn.

The glamour of selfish service.

Ảo cảm của sự phụng sự ích kỷ.

[Webinar 126]

RAY III.

The glamour of being busy.

Ảo cảm của việc bận rộn.

The glamour of cooperation with the Plan in an individual [122] and not a group way.

Ảo cảm của sự cộng tác với Thiên Cơ theo cách cá nhân [122] chứ không theo cách nhóm.

The glamour of active scheming.

Ảo cảm của sự tính toán tích cực.

The glamour of creative work—without true motive.

Ảo cảm của công việc sáng tạo — không có động cơ chân chính.

The glamour of good intentions, which are basically selfish.

Ảo cảm của các ý định tốt, vốn căn bản là ích kỷ.

The glamour of “the spider at the centre.”

Ảo cảm của “con nhện ở trung tâm.”

The glamour of “God in the machine.”

Ảo cảm của “Thượng đế trong cỗ máy.”

The glamour of devious and continuous manipulation.

Ảo cảm của sự thao túng quanh co và liên tục.

The glamour of self-importance, from the standpoint of knowing, of efficiency.

Ảo cảm của tầm quan trọng bản thân, xét từ lập trường của tri thức và hiệu năng.

[Webinar 127]

RAY IV.

The glamour of harmony, aiming at personal comfort and satisfaction.

Ảo cảm của hòa hợp, nhằm vào sự thoải mái và thỏa mãn cá nhân.

The glamour of war.

Ảo cảm của chiến tranh.

The glamour of conflict, with the objective of imposing righteousness and peace.

Ảo cảm của xung đột, với mục tiêu áp đặt sự công chính và hòa bình.

The glamour of vague artistic perception.

Ảo cảm của nhận thức nghệ thuật mơ hồ.

The glamour of psychic perception instead of intuition.

Ảo cảm của nhận thức thông linh thay vì trực giác.

The glamour of musical perception.

Ảo cảm của nhận thức âm nhạc.

The glamour of the pairs of opposites, in the higher sense.

Ảo cảm của các cặp đối cực, theo nghĩa cao hơn.

[Webinar 128]

RAY V.

The glamour of materiality, or over-emphasis of form.

Ảo cảm của tính vật chất, hay sự nhấn mạnh quá mức vào hình tướng.

The glamour of the intellect.

Ảo cảm của trí năng.

The glamour of knowledge and of definition.

Ảo cảm của tri thức và định nghĩa.

The glamour of assurance, based on a narrow point of view.

Ảo cảm của sự chắc chắn, dựa trên một quan điểm hẹp hòi.

The glamour of the form which hides reality.

Ảo cảm của hình tướng che giấu thực tại.

The glamour of organisation.

Ảo cảm của tổ chức.

The glamour of the outer, which hides the inner. [123]

Ảo cảm của bên ngoài, vốn che giấu bên trong. [123]

[Webinar 129]

RAY VI.

The glamour of devotion.

Ảo cảm Sùng tín.

The glamour of adherence to forms and persons.

Ảo cảm của sự bám chấp vào các hình tướng và con người.

The glamour of idealism.

Ảo cảm của chủ nghĩa lý tưởng.

The glamour of loyalties, of creeds.

Ảo cảm của các lòng trung thành, của các tín điều.

The glamour of emotional response.

Ảo cảm của đáp ứng cảm xúc.

The glamour of sentimentality.

Ảo cảm của tính đa cảm.

The glamour of interference.

Ảo cảm của sự can thiệp.

The glamour of the lower pairs of opposites.

Ảo cảm của các cặp đối cực thấp.

The glamour of World Saviours and Teachers.

Ảo cảm của các Đấng Cứu Thế và các Huấn sư Thế Gian.

The glamour of the narrow vision.

Ảo cảm của tầm nhìn hẹp hòi.

The glamour of fanaticism.

Ảo cảm của sự cuồng tín.

[Webinar 130]   [Webinar 131]

RAY VII.

The glamour of magical work.

Ảo cảm của công việc huyền thuật.

The glamour of the relation of the opposites.

Ảo cảm của mối quan hệ giữa các đối cực.

The glamour of the subterranean powers.

Ảo cảm của các quyền năng ngầm.

The glamour of that which brings together.

Ảo cảm của điều đem các sự vật lại với nhau.

The glamour of the physical body.

Ảo cảm của thể xác.

The glamour of the mysterious and the secret.

Ảo cảm của điều huyền bí và bí mật.

The glamour of sex magic.

Ảo cảm của huyền thuật tính dục.

The glamour of the emerging manifested forces.

Ảo cảm của các mãnh lực biểu hiện đang xuất hiện.

[Webinar 132]

I have here enumerated many glamours. But their names are legion, and I have by no means covered the possibilities or the field of glamour.

Ở đây tôi đã liệt kê nhiều ảo cảm. Nhưng tên gọi của chúng thì vô số, và tôi tuyệt nhiên chưa bao quát hết các khả năng hay toàn bộ lĩnh vực của ảo cảm.

One of the groups with which I have worked had certain characteristics and difficulties, and it might be of value if I mentioned it here.

Một trong các nhóm mà tôi đã làm việc có một số đặc điểm và khó khăn nhất định, và có thể hữu ích nếu tôi đề cập đến nó ở đây.

This group had a curious history in relation to other groups, because its personnel changed several times. Each time, the person who left the group had been in it from karmic right and old relation to myself or to the group members, [124] and had, therefore, earned the opportunity to participate in this activity. Each time they failed, and each time for personality reasons. They lacked group realisation and were definitely occupied with themselves. They lacked the new and wider vision. So they eliminated themselves from this initial new age activity. I am explaining this, for it is valuable to disciples to grasp the fact that karmic relation cannot be ignored and that group opportunity must be offered, even though it delay functioning in group service.

Nhóm này có một lịch sử kỳ lạ trong quan hệ với các nhóm khác, vì thành phần nhân sự của nó đã thay đổi nhiều lần. Mỗi lần, người rời khỏi nhóm đều đã ở trong nhóm do quyền nghiệp quả và mối quan hệ xưa cũ với tôi hoặc với các thành viên trong nhóm, [124] và do đó đã giành được cơ hội tham gia vào hoạt động này. Mỗi lần họ đều thất bại, và mỗi lần đều vì các lý do phàm ngã. Họ thiếu sự nhận thức nhóm và rõ ràng bận tâm với chính mình. Họ thiếu tầm nhìn mới và rộng lớn hơn. Vì vậy, họ tự loại mình khỏi hoạt động sơ khởi của kỷ nguyên mới này. Tôi giải thích điều này vì đối với các đệ tử, việc nắm vững sự kiện rằng mối quan hệ nghiệp quả không thể bị bỏ qua, và cơ hội nhóm phải được trao, dù điều đó làm chậm trễ việc vận hành trong phụng sự nhóm, là điều có giá trị.

Several of the group members were still struggling with glamour and it needed a longer time for them to adjust themselves to recognition of it when encountered. The major task of this group was to dissipate some of the universal glamour by a united indicated meditation. Certain of the group members also were facing or had major adjustments in their lives, and it took a little time for the needed subjective rhythm to become established. But they all worked with understanding, perseverance and enthusiasm, and it was not long before the group work was started.

Một số thành viên của nhóm vẫn còn đang vật lộn với ảo cảm, và họ cần thêm thời gian để tự điều chỉnh mình hầu nhận ra nó khi gặp phải. Nhiệm vụ chính của nhóm này là làm tiêu tan một phần ảo cảm phổ quát bằng một bài tham thiền được chỉ định và thực hiện trong sự hợp nhất. Một số thành viên của nhóm cũng đang đối diện, hoặc đã có, những điều chỉnh lớn trong đời sống của họ, và cần một ít thời gian để nhịp điệu chủ quan cần thiết được thiết lập. Nhưng tất cả họ đều làm việc với sự thấu hiểu, kiên trì và nhiệt thành, và chẳng bao lâu công việc nhóm đã được khởi sự.

You would find it of value to consider the following questions:

Các bạn sẽ thấy có giá trị khi xem xét những câu hỏi sau đây:

1. What is the method whereby ideas are developed from the moment of impressing the mind of some intuitive?

1. Phương pháp nhờ đó các ý tưởng được phát triển kể từ khoảnh khắc chúng gây ấn tượng lên thể trí của một người có trực giác là gì?

Broadly speaking, they pass through the following stages, as you have oft been told:

Nói một cách rộng rãi, chúng đi qua các giai đoạn sau đây, như các bạn đã thường được nói:

a. The idea… based on intuitive perception.

a. Ý tưởng… dựa trên nhận thức trực giác.

b. The ideal… based on mental formulation and distribution.

b. Lý tưởng… dựa trên sự hình thành và phân phối trí tuệ.

c. The idol… based on the concretising tendency of physical manifestation.

c. Ngẫu tượng… dựa trên khuynh hướng cụ thể hoá của sự biểu hiện hồng trần.

2. What glamours do you feel are particularly dominant in the world today, and why? [125]

2. Các bạn cảm thấy những ảo cảm nào đặc biệt chiếm ưu thế trong thế giới ngày nay, và vì sao? [125]

3. I have spoken often of the work which this group and certain other groups are intending to do in dissipating world glamour. Have you any ideas as to how this should be done, or what will be demanded of you?

3. Tôi đã thường nói về công việc mà nhóm này và một số nhóm khác dự định thực hiện trong việc làm tiêu tan ảo cảm thế gian. Các bạn có ý tưởng nào về cách điều này nên được thực hiện, hoặc điều gì sẽ được đòi hỏi nơi các bạn không?

3. The Contrast between Higher and Lower Glamours

[Webinar 133]

In the preceding part of this section we considered (briefly and all too cursorily) some of the causes of the dense glamour which surrounds humanity. That this glamour is very ancient, powerfully organised, and is the dominant characteristic of the astral plane emerged clearly, as did the fact of the three major predisposing subsidiary causes:

Trong phần trước của mục này, chúng ta đã xem xét, một cách ngắn gọn và quá sơ lược, một số nguyên nhân của lớp ảo cảm đậm đặc bao quanh nhân loại. Việc ảo cảm này rất cổ xưa, được tổ chức mạnh mẽ, và là đặc tính chủ đạo của cõi cảm dục đã hiện ra rõ ràng, cũng như sự kiện về ba nguyên nhân phụ trợ chính tạo khuynh hướng:

1. The glamours induced by the planetary life and inherent in substance itself.

1. Các ảo cảm do sự sống hành tinh gây ra và cố hữu trong chính chất liệu.

2. Those glamours which are initiated by humanity, as a whole, and intensified throughout an aeonial past.

2. Những ảo cảm do toàn thể nhân loại khởi phát, và được tăng cường suốt một quá khứ kéo dài qua nhiều đại kiếp.

3. Glamour engendered by the individual himself, either in the past, through participation in world glamour, or started this life.

3. Ảo cảm do chính cá nhân sinh ra, hoặc trong quá khứ, thông qua sự tham dự vào ảo cảm thế gian, hoặc được khởi sự trong đời này.

To all of these, every human being is prone and for many lives proves himself the helpless victim of that which he later discovers to be erroneous, false and deceiving. He learns then that he need not fall supinely under the domination of the past—astral, emotional and glamorous—but that he is adequately equipped to handle it, did he but know it, and that there are methods and techniques whereby he can emerge the conqueror of illusion, the dissipator of glamour and the master of maya. This is the initial revelation, and it is when he has realised the implication of this and has [126] set out to dominate the undesirable condition that he arrives later at a recognition of an essential duality. This is, for the time being, in no case an illusion. He discovers the relationship between himself as a personality, the true Dweller on the Threshold, and the Angel of the PRESENCE—guarding the door of initiation. This marks a critical moment in the life of the disciple for it indicates the moment wherein he can begin to tread the Path of Initiation, if he so desires and possesses the required fortitude.

Mọi con người đều dễ sa vào tất cả những điều này, và trong nhiều đời chứng tỏ mình là nạn nhân bất lực của điều mà về sau y khám phá là sai lầm, giả dối và lừa gạt. Khi ấy y học được rằng y không cần ngã gục thụ động dưới sự thống trị của quá khứ — cảm dục, cảm xúc và ảo cảm — mà y được trang bị đầy đủ để xử lý nó, giá như y biết điều đó, và rằng có những phương pháp cùng kỹ thuật nhờ đó y có thể xuất hiện như người chiến thắng ảo tưởng, người làm tiêu tan ảo cảm và bậc làm chủ ảo lực. Đây là sự mặc khải ban đầu, và chính khi y đã nhận ra hàm ý của điều này và đã [126] bắt tay vào việc chế ngự tình trạng không mong muốn, thì về sau y đạt đến sự nhận biết một nhị nguyên thiết yếu. Trong lúc này, điều này không hề là một ảo tưởng trong bất cứ trường hợp nào. Y khám phá mối quan hệ giữa chính mình với tư cách phàm ngã, Kẻ Chận Ngõ chân thực, và Thiên Thần của Hiện Diện — Đấng canh giữ cánh cửa điểm đạo. Điều này đánh dấu một khoảnh khắc quyết định trong đời sống của đệ tử, vì nó chỉ ra thời điểm y có thể bắt đầu bước trên Con Đường Điểm Đạo, nếu y mong muốn như vậy và có đủ lòng kiên cường cần thiết.

In the last analysis, the partial subjugation of glamour and escape from the complete thraldom of illusion are indications to the watching Hierarchy that a man is ready for the processes of initiation. Until he is no longer completely deceived and until he is somewhat free mentally, it is not possible for him to face the waiting Angel and pass through the door. One thing I would here point out to you: after passing through the door of initiation, the disciple returns each time again to take up anew his tasks in the three worlds of activity; he there re-enacts the former processes—briefly and with understanding—after which he proceeds to master the essentials of the next initiatory lesson. I am here putting a great deal of information in a very condensed form, but that is all that is possible at this time.

Xét đến cùng, sự khuất phục một phần ảo cảm và sự thoát khỏi ách nô lệ hoàn toàn của ảo tưởng là những dấu hiệu cho Thánh Đoàn đang quan sát thấy rằng một người đã sẵn sàng cho các tiến trình điểm đạo. Cho đến khi y không còn bị lừa dối hoàn toàn, và cho đến khi y phần nào được tự do về mặt trí tuệ, y không thể đối diện với Thiên Thần đang chờ đợi và đi qua cánh cửa. Ở đây tôi muốn chỉ ra cho các bạn một điều: sau khi đi qua cánh cửa điểm đạo, mỗi lần đệ tử lại trở về để đảm nhận mới các nhiệm vụ của mình trong ba cõi hoạt động; tại đó y tái diễn các tiến trình trước kia — một cách ngắn gọn và với sự thấu hiểu — sau đó y tiếp tục làm chủ những điều cốt yếu của bài học điểm đạo kế tiếp. Ở đây tôi đang đặt rất nhiều thông tin trong một hình thức rất cô đọng, nhưng đó là tất cả những gì có thể vào lúc này.

[Webinar 134]

For a long time, the sense of dualism pervades the disciple’s being and makes his life appear to be a ceaseless conflict between the pairs of opposites. The battle of the contraries is taking place consciously in the disciple’s life. He alternates between the experiences of the past and a recollection of the experience of initiation through which he has passed, with the emphasis, first of all, in the earlier experiences; later, in the final great experience which is so deeply colouring his inner life. He has prolonged moments wherein he is the baffled disciple, struggling with glamour, and brief moments wherein he is the triumphant initiate. He [127] discovers in himself the sources of glamour and illusion and the lure of maya until the moment arrives when again he stands before the portal and faces the major dualities in his own particular little cosmos—the Dweller and the Angel. At first he fears the Angel and dreads the light which streams from that Angel’s countenance, because it throws into vivid reality the nature of the Dweller who is himself. He senses, as never before, the formidable task ahead of him and the true significance of the undertaking to which he has pledged himself. Little by little, two things emerge with startling clarity in his mind:

Trong một thời gian dài, ý thức về nhị nguyên thấm khắp bản thể của đệ tử và khiến đời sống của y dường như là một cuộc xung đột không ngừng giữa các cặp đối cực. Trận chiến của các mặt tương phản đang diễn ra một cách có ý thức trong đời sống của đệ tử. Y luân phiên giữa các kinh nghiệm của quá khứ và ký ức về kinh nghiệm điểm đạo mà y đã trải qua, trước hết với sự nhấn mạnh đặt vào các kinh nghiệm trước kia; về sau, vào kinh nghiệm lớn lao cuối cùng, vốn đang nhuốm màu sâu sắc đời sống bên trong của y. Y có những khoảnh khắc kéo dài trong đó y là đệ tử bối rối, vật lộn với ảo cảm, và những khoảnh khắc ngắn ngủi trong đó y là điểm đạo đồ chiến thắng. Y [127] khám phá trong chính mình các nguồn của ảo cảm và ảo tưởng cùng sức quyến rũ của ảo lực, cho đến khi khoảnh khắc đến mà y một lần nữa đứng trước cửa vào và đối diện với các nhị nguyên chính trong tiểu vũ trụ riêng của mình — Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần. Lúc đầu y sợ Thiên Thần và kinh hãi ánh sáng tuôn ra từ gương mặt của Thiên Thần ấy, vì nó phơi bày thành hiện thực sống động bản chất của Kẻ Chận Ngõ, tức chính y. Y cảm nhận, hơn bao giờ hết, nhiệm vụ ghê gớm đang ở phía trước và thâm nghĩa chân thực của công việc mà y đã tự cam kết. Từng chút một, hai điều hiện ra trong thể trí của y với sự rõ ràng đáng kinh ngạc:

1. The significance of his own nature, with its essential dualism.

1. Thâm nghĩa của bản chất riêng của y, với tính nhị nguyên thiết yếu của nó.

2. The recognition of the relationship between the pairs of opposites with which he, as a disciple, has to work.

2. Sự nhận biết mối quan hệ giữa các cặp đối cực mà y, với tư cách đệ tử, phải làm việc cùng.

Once he grasps the relation of the lower major duality (that of the personality and the soul) he is then prepared to pass on to the higher reality, that of the integrated Self (personality and soul) and its relation to the PRESENCE. In this statement, you have expressed in a few concise words the result of the first three initiations and the two final. Ponder on this.

Một khi y nắm vững mối quan hệ của nhị nguyên chính thấp, tức nhị nguyên giữa phàm ngã và linh hồn, y khi ấy được chuẩn bị để tiến tới thực tại cao hơn, tức Bản Ngã tích hợp, gồm phàm ngã và linh hồn, cùng mối quan hệ của nó với Hiện Diện. Trong phát biểu này, các bạn có kết quả của ba lần điểm đạo đầu tiên và hai lần cuối cùng được diễn đạt trong vài lời ngắn gọn. Hãy suy ngẫm về điều này.

It will be of real value, I believe, if I relate for your benefit the various contrasting characteristics of the intelligent man and the disciple, using the word “disciple” to cover all stages of development from that of accepted disciple to that of the Master. There is naught but the Hierarchy, which is a term denoting a steady progress from a lower state of being and of consciousness to a higher. This is in every case the state of consciousness of some Being, limited and confined and controlled by substance. You will note that [128] I say “substance” and not “form” for it is in reality substance which controls spirit for a long, a very long, cycle of expression; it is not matter that controls, for the reason that gross matter is always controlled by the forces which are esoterically regarded as etheric in nature and, therefore, as substance, not form. Remember this at all times for it holds the clue to the true understanding of the lower nature.

Tôi tin rằng sẽ có giá trị thực sự nếu, vì lợi ích của các bạn, tôi trình bày các đặc tính tương phản khác nhau của người thông minh và đệ tử, dùng từ “đệ tử” để bao hàm mọi giai đoạn phát triển, từ giai đoạn đệ tử được chấp nhận cho đến giai đoạn Chân sư. Không có gì ngoài Thánh Đoàn, một thuật ngữ chỉ sự tiến bộ đều đặn từ một trạng thái hiện hữu và tâm thức thấp hơn đến một trạng thái cao hơn. Trong mọi trường hợp, đây là trạng thái tâm thức của một Đấng nào đó, bị giới hạn, bị ràng buộc và bị kiểm soát bởi chất liệu. Các bạn sẽ lưu ý rằng [128] tôi nói “chất liệu” chứ không phải “hình tướng”, vì trong thực tại chính chất liệu kiểm soát tinh thần trong một chu kỳ biểu lộ dài, rất dài; không phải vật chất kiểm soát, bởi lý do vật chất thô luôn luôn bị kiểm soát bởi các mãnh lực mà một cách huyền bí được xem là có bản chất dĩ thái, và do đó là chất liệu, không phải hình tướng. Hãy luôn luôn nhớ điều này, vì nó nắm giữ chìa khóa đưa đến sự thấu hiểu chân thực về bản chất thấp.

[Webinar 135]

We will study, therefore, the basic essential contrasts which the disciple must intuitively grasp and with which he must familiarise himself. We will divide what we have to say into four parts, dealing briefly, but I trust helpfully, with each:

Do đó, chúng ta sẽ nghiên cứu những tương phản căn bản và thiết yếu mà đệ tử phải nắm bắt bằng trực giác và phải làm cho quen thuộc với chính mình. Chúng ta sẽ chia điều cần nói thành bốn phần, bàn đến từng phần một cách ngắn gọn, nhưng tôi tin là hữu ích:

a.

The contrast between Illusion and its opposite

Intuition.

a.

Sự tương phản giữa Ảo tưởng và đối lập của nó

Trực giác.

b.

The contrast between Glamour and its opposite

Illumination.

b.

Sự tương phản giữa Ảo cảm và đối lập của nó

Soi sáng.

c.

The contrast between Maya and its opposite

Inspiration.

c.

Sự tương phản giữa Ảo lực và đối lập của nó

Cảm hứng.

d.

The contrast between the Dweller on the Threshold and its opposite

The Angel of the PRESENCE.

d.

Sự tương phản giữa Kẻ Chận Ngõ và đối lập của nó

Thiên Thần của HIỆN DIỆN.

This, you will realise, is a large subject and deals with the major problem of the disciple. I would refer you at this point to what I have already said anent these four aspects of glamour, and would ask you to refer with care to the various charts and tabulations which have been given to you from time to time.

Điều này, các bạn sẽ nhận ra, là một chủ đề rộng lớn và đề cập đến vấn đề chính của đệ tử. Ở điểm này, tôi muốn nhắc các bạn về những gì tôi đã nói liên quan đến bốn phương diện này của ảo cảm, và yêu cầu các bạn tham khảo cẩn thận các biểu đồ và bảng liệt kê khác nhau đã được trao cho các bạn theo thời gian.

a. The Contrast between Illusion and Intuition.

I have chosen this as the first contrast with which to deal as it should (even though it probably may not) constitute the major glamour of the members of this group. Unfortunately the emotional glamour dominates still and, for the majority of you, the second contrast, that between glamour and illumination, may prove the most useful and the most constructive.

Tôi đã chọn điều này làm tương phản đầu tiên để bàn đến, vì nó nên, dù có lẽ không phải, cấu thành ảo cảm chính của các thành viên trong nhóm này. Đáng tiếc là ảo cảm cảm xúc vẫn còn chi phối, và đối với đa số các bạn, tương phản thứ hai, tức giữa ảo cảm và sự soi sáng, có thể chứng tỏ là hữu ích nhất và có tính xây dựng nhất.

Illusion is the power of some mental thoughtform, of some ideal, and some concept—sensed, grasped and interpreted [129] in mental form—to dominate the mental processes of the individual or of the race and consequently to produce the limitation of the individual or group expression. Such ideas and concepts can be of three kinds, as I realise you should know:

Ảo tưởng là quyền năng của một hình tư tưởng trí tuệ nào đó, của một lý tưởng nào đó và một khái niệm nào đó — được cảm nhận, nắm bắt và diễn giải [129] trong hình thức trí tuệ — nhằm chi phối các tiến trình trí tuệ của cá nhân hoặc của nhân loại, và do đó tạo ra sự giới hạn trong biểu lộ của cá nhân hoặc nhóm. Các ý tưởng và khái niệm như thế có thể thuộc ba loại, như tôi nhận ra rằng các bạn nên biết:

1. They can be inherited ideas, as in the case of those who find it so difficult to adjust themselves to the new vision of world life and of social order, as expressed in the newer ideologies. They are powerfully conditioned by their cast, their tradition and their background.

1. Chúng có thể là các ý tưởng được thừa hưởng, như trong trường hợp những người thấy rất khó tự điều chỉnh mình với tầm nhìn mới về đời sống thế giới và trật tự xã hội, như được biểu lộ trong các hệ tư tưởng mới hơn. Họ bị tác động mạnh mẽ bởi tầng lớp, truyền thống và bối cảnh của mình.

2. They can be the more modern ideas which are, in the last analysis, the reaction of modern thought to world conditions and situations, and to these many other aspirants are very prone and most naturally so, especially if living in the vortex of force which we call modern Europe. Such modern ideas are construed today into major currents and dominating ideologies, and to these every intelligent person must inevitably react, though they forget that that reaction is based on tradition, or upon national or international predisposition.

2. Chúng có thể là các ý tưởng hiện đại hơn, xét đến cùng, là phản ứng của tư tưởng hiện đại đối với các điều kiện và tình huống thế giới; và nhiều người chí nguyện khác rất dễ thiên về chúng, điều đó cũng hết sức tự nhiên, đặc biệt nếu họ đang sống trong xoáy mãnh lực mà chúng ta gọi là châu Âu hiện đại. Ngày nay, các ý tưởng hiện đại như thế được diễn giải thành những dòng chảy lớn và các hệ tư tưởng chi phối, và mọi người thông minh tất yếu phải phản ứng với chúng, dù họ quên rằng phản ứng ấy dựa trên truyền thống, hoặc trên khuynh hướng quốc gia hay quốc tế.

3. They can be the newer dimly sensed ideas which have in them the power to condition the future and lead the modern generation out of darkness into light. None of you as yet really sense these new ideas, though in moments of high meditation and spiritual achievement, you may vaguely and briefly react to them. That reaction may be real just in so far that it conditions, with definiteness, your service to your fellowmen. You can react correctly and can do so increasingly if you preserve your soul’s integrity and are not overcome by the battle and the fever of your surroundings within your chosen field of service.

3. Chúng có thể là những ý tưởng mới hơn được cảm nhận lờ mờ, vốn có trong chúng quyền năng tác động lên tương lai và dẫn thế hệ hiện đại ra khỏi bóng tối đi vào ánh sáng. Chưa ai trong các bạn thật sự cảm nhận được những ý tưởng mới này, dù trong những khoảnh khắc tham thiền cao và thành tựu tinh thần, các bạn có thể phản ứng với chúng một cách mơ hồ và ngắn ngủi. Phản ứng ấy có thể là chân thực đúng trong mức độ nó tác động một cách xác định lên sự phụng sự của các bạn đối với đồng loại. Các bạn có thể phản ứng đúng đắn và ngày càng làm được như vậy nếu các bạn giữ gìn sự toàn vẹn của linh hồn mình, và không bị khuất phục bởi trận chiến cùng cơn sốt của môi trường xung quanh trong lĩnh vực phụng sự mà các bạn đã chọn.

[130] A mental illusion might perhaps be described as an idea, embodied in an ideal form, which permits no room or scope for any other form of ideal. It precludes an ability, therefore, to contact ideas. The man is tied to the world of ideals and of idealism. He cannot move away from it. This mental illusion ties and limits and imprisons the man. A good idea may consequently become an illusion with great facility and prove a disastrous conditioning factor in the life of the man who registers it.

[130] Một ảo tưởng trí tuệ có lẽ có thể được mô tả như một ý tưởng, được hiện thân trong một hình thức lý tưởng, không cho phép có chỗ hay phạm vi nào cho bất kỳ hình thức lý tưởng nào khác. Vì thế, nó loại trừ khả năng tiếp xúc với các ý tưởng. Con người bị buộc chặt vào thế giới của các lý tưởng và của chủ nghĩa lý tưởng. Y không thể rời khỏi nó. Ảo tưởng trí tuệ này trói buộc, giới hạn và giam hãm con người. Do đó, một ý tưởng tốt có thể rất dễ dàng trở thành một ảo tưởng và chứng tỏ là một yếu tố tác động tai hại trong đời sống của người ghi nhận nó.

[Webinar 136]

You might well ask here if the Hierarchy itself is not conditioned by an idea and, therefore, is itself a victim of general and widespread illusion. Apart from the fact that the Directors of the Hierarchy and the Custodians of the Plan are never permitted to become such until they are free from the incentive of illusion, I would remind you that all ideas stream into the planetary consciousness along the channel of the seven rays. Thus, the Hierarchy is wide open, in any case, to the seven major groups of ideas which are the IDEA of God for any specific point in time, expressed in seven major ways—all of them equally right and serving the sevenfold need of humanity. Each of these seven formulations of God’s Idea has its specific contribution to make; each of them is a true idea which has its part to play in human or planetary service; and each of them is so interrelated with the other six expressions of the same divine Idea, working out as ideals upon the mental plane, that there can be no narrowing down to one idea with its ramifications as happens among men. There is, at least, sensitivity to seven groups of ideas and their resultant ideals and—if it were no more than that—the Hierarchy is so far fluid and pliable. But it is far more than just this, for, to the members of the Hierarchy, the idea and its effects are not only interpreted in terms of human thoughtforms and human idealism, but they are also to be contacted and studied in their relation to the [131] Mind of God Himself and to the planetary kingdoms. These ideas come from and they emanate from the buddhic plane, which is seldom open to the consciousness of the average disciple and certainly is not open to the contact of the average idealist. I would here remind you that few idealists are personally in touch with the idea which has given birth to the idealism. They are only in touch with the human interpretation of the idea, as formulated by some disciple or intuitive—a very different thing.

Ở đây, bạn có thể hoàn toàn hỏi rằng liệu chính Thánh Đoàn có bị tác động bởi một ý tưởng hay không, và do đó, chính Thánh Đoàn có phải là nạn nhân của ảo tưởng phổ quát và lan rộng hay không. Ngoài sự kiện rằng các Đấng Điều Hành Thánh Đoàn và các Đấng Gìn Giữ Thiên Cơ không bao giờ được phép trở thành như thế cho đến khi các Ngài thoát khỏi động lực của ảo tưởng, tôi muốn nhắc bạn rằng mọi ý tưởng đều tuôn vào tâm thức hành tinh theo vận hà của bảy cung. Vì vậy, trong mọi trường hợp, Thánh Đoàn hoàn toàn mở rộng trước bảy nhóm ý tưởng chính, vốn là Ý TƯỞNG của Thượng đế cho bất cứ điểm thời gian đặc thù nào, được biểu hiện theo bảy cách chính—tất cả đều đúng như nhau và phụng sự nhu cầu thất phân của nhân loại. Mỗi một trong bảy cách trình bày Ý Tưởng của Thượng đế này đều có phần đóng góp riêng; mỗi ý tưởng ấy là một ý tưởng chân thực, có vai trò của nó trong sự phụng sự nhân loại hay hành tinh; và mỗi ý tưởng ấy liên hệ mật thiết với sáu biểu hiện kia của cùng một Ý Tưởng thiêng liêng, đang thể hiện thành các lý tưởng trên cõi trí, đến nỗi không thể có sự thu hẹp vào một ý tưởng duy nhất cùng các hệ quả phân nhánh của nó như vẫn xảy ra giữa con người. Ít nhất, có sự nhạy bén đối với bảy nhóm ý tưởng và các lý tưởng phát sinh từ chúng, và—dù chỉ có thế thôi—Thánh Đoàn vẫn đã linh động và mềm dẻo đến mức ấy. Nhưng điều đó còn vượt xa hơn thế nhiều, vì đối với các thành viên của Thánh Đoàn, ý tưởng và các hiệu quả của nó không chỉ được diễn giải theo các hình tư tưởng của con người và chủ nghĩa lý tưởng của con người, mà còn phải được tiếp xúc và nghiên cứu trong mối liên hệ của chúng với [131] Trí của chính Thượng đế và với các giới hành tinh. Những ý tưởng này đến từ và phát xuất từ cõi Bồ đề, vốn hiếm khi mở ra cho tâm thức của người đệ tử trung bình và chắc chắn không mở ra cho sự tiếp xúc của người lý tưởng chủ nghĩa trung bình. Ở đây, tôi muốn nhắc bạn rằng ít người lý tưởng chủ nghĩa nào đích thân tiếp xúc với ý tưởng đã sinh ra chủ nghĩa lý tưởng ấy. Họ chỉ tiếp xúc với sự diễn giải của con người về ý tưởng đó, như đã được một đệ tử hay một người trực giác nào đó trình bày—một điều rất khác.

[Webinar 137]

An illusion can, therefore, be defined as the consequence of an idea (translated into ideal) being regarded as the entire presentation, as the complete story or solution and as being separated from and visioned independently of all other ideas—both religious in nature or apparently completely unrelated to religion. In this statement lies the story of separation and of man’s inability to relate the various implications of a divine idea with each other. When visioned and grasped in a narrow and separative manner, there is necessarily a distortion of the truth, and the disciple or aspirant inevitably pledges himself to a partial aspect of reality or of the Plan and not to the truth as far as it can be revealed or to the Plan as the Members of the Hierarchy know it. This illusion evokes in the disciple or idealist an emotional reaction which immediately feeds desire and consequently shifts off the mental plane on to the astral; a desire is thus evoked for a partial and inadequate ideal and thus the idea cannot arrive at full expression, because its exponent sees only this partial ideal as the whole truth and cannot, therefore, grasp its social and planetary and its cosmic implications.

Do đó, ảo tưởng có thể được định nghĩa là hệ quả của việc một ý tưởng, khi được chuyển dịch thành lý tưởng, bị xem như toàn bộ sự trình bày, như câu chuyện hay giải pháp trọn vẹn, và như bị tách rời khỏi, cũng như được nhìn thấy độc lập với, mọi ý tưởng khác—dù chúng có bản chất tôn giáo hay dường như hoàn toàn không liên quan đến tôn giáo. Chính trong phát biểu này có câu chuyện về sự chia rẽ và về sự bất lực của con người trong việc liên hệ các hàm ý khác nhau của một ý tưởng thiêng liêng với nhau. Khi được nhìn thấy và nắm bắt theo cách hẹp hòi và chia rẽ, tất yếu có sự bóp méo chân lý, và người đệ tử hay người chí nguyện không tránh khỏi việc tự cam kết với một phương diện từng phần của thực tại hay của Thiên Cơ, chứ không với chân lý trong mức độ nó có thể được mặc khải, hay với Thiên Cơ như các Thành viên của Thánh Đoàn biết nó. Ảo tưởng này gợi lên nơi người đệ tử hay người lý tưởng chủ nghĩa một phản ứng cảm xúc, phản ứng này lập tức nuôi dưỡng dục vọng và do đó chuyển từ cõi trí xuống cõi cảm dục; như vậy, một dục vọng được gợi lên đối với một lý tưởng từng phần và không đầy đủ, và vì thế ý tưởng không thể đạt đến sự biểu hiện trọn vẹn, bởi người phát ngôn của nó chỉ thấy lý tưởng từng phần này như toàn bộ chân lý và do đó không thể nắm bắt các hàm ý xã hội, hành tinh và vũ trụ của nó.

Where there is a real grasp of the whole idea (a rare thing indeed) there can be no illusion. The idea is so much bigger than the idealist that humility saves him from narrowness. Where there is illusion (which is usual and commonplace) [132] and a vague interpretive reaction to an idea, we find emerging fanatics, vague idealists, sadistic enforcers of the idea as grasped, one-pointed and narrow men and women, seeking to express their interpretation of God’s idea, and limited, cramped visionaries. Such illusionary picturing of reality and such visionary showing forth of the idea has been both the pride and the curse of the world. It is one of the factors which has brought our modern world to its sorry pass, and it is from this misuse of the divine faculty of touching the idea and transforming it into the ideal that the world is today suffering—probably inevitably. The imposition of these humanly and mentally interpreted ideas in the form of limited ideologies has had a sorry effect upon men. They need to learn to penetrate to the true idea which lies behind their ideal and to interpret it with accuracy in the light of their soul, besides employing those methods which have the warrant and the sanction of LOVE. It is, for instance, no illusion that the idea which finds expression in the statement that “all men are equal” is a fact which needs emphasis. This has been seized upon by the democratically inclined. It is indeed a statement of fact, but when no allowance is made for the equally important ideas of evolution, of racial attributes, and of national and religious characteristics, then the basic idea receives only limited application. Hence the enforced ideological systems of our modern times and of the present day, and the rapid growth of ideological illusions, which are nevertheless based on a true idea—each and all without any exception. It is again no illusion that the development of the Christ consciousness is the goal of the human family, but when it is interpreted in terms of authoritative religion and by those in whom the Christ consciousness is as yet undeveloped, it becomes simply a nice concept and often a sadistic incentive and thus enters immediately into the realm of illusion. [133]

Nơi nào có sự nắm bắt thực sự toàn bộ ý tưởng, một điều quả thật hiếm có, nơi đó không thể có ảo tưởng. Ý tưởng lớn lao hơn người lý tưởng chủ nghĩa đến mức sự khiêm nhường cứu y khỏi tính hẹp hòi. Nơi nào có ảo tưởng, điều vốn thường thấy và phổ biến, [132] cùng một phản ứng diễn giải mơ hồ đối với một ý tưởng, chúng ta thấy xuất hiện những kẻ cuồng tín, những người lý tưởng chủ nghĩa mơ hồ, những kẻ cưỡng bức tàn nhẫn đối với ý tưởng như họ nắm bắt, những người nam và nữ nhất tâm nhưng hẹp hòi, tìm cách biểu hiện sự diễn giải của họ về ý tưởng của Thượng đế, và những nhà linh thị bị giới hạn, tù túng. Sự mô tả thực tại mang tính ảo tưởng như thế, và sự biểu lộ ý tưởng theo kiểu linh thị như thế, đã vừa là niềm kiêu hãnh vừa là tai họa của thế giới. Đó là một trong những yếu tố đã đưa thế giới hiện đại của chúng ta đến tình trạng đáng buồn hiện nay, và chính từ sự lạm dụng năng lực thiêng liêng trong việc chạm đến ý tưởng và chuyển đổi nó thành lý tưởng mà thế giới ngày nay đang đau khổ—có lẽ là điều không thể tránh khỏi. Việc áp đặt những ý tưởng đã được con người diễn giải bằng trí tuệ này dưới hình thức các hệ tư tưởng giới hạn đã gây một hiệu quả đáng buồn trên con người. Họ cần học cách xuyên thấu đến ý tưởng chân thực nằm đằng sau lý tưởng của họ và diễn giải nó một cách chính xác trong ánh sáng của linh hồn mình, đồng thời sử dụng những phương pháp có sự bảo đảm và chuẩn thuận của TÌNH THƯƠNG. Chẳng hạn, không phải là ảo tưởng khi ý tưởng được biểu hiện trong câu nói rằng “mọi người đều bình đẳng” là một sự kiện cần được nhấn mạnh. Điều này đã được những người có khuynh hướng dân chủ nắm lấy. Quả thật đó là một phát biểu về sự kiện, nhưng khi không dành chỗ cho những ý tưởng quan trọng không kém về tiến hoá, về các thuộc tính chủng tộc, và về những đặc tính quốc gia cũng như tôn giáo, thì ý tưởng căn bản ấy chỉ nhận được một sự áp dụng giới hạn. Do đó mới có các hệ thống ý thức hệ cưỡng chế của thời hiện đại và của ngày nay, cùng sự tăng trưởng nhanh chóng của các ảo tưởng ý thức hệ, tuy nhiên vẫn dựa trên một ý tưởng chân thực—từng cái và tất cả, không có ngoại lệ nào. Một lần nữa, không phải là ảo tưởng khi sự phát triển tâm thức Christ là mục tiêu của gia đình nhân loại, nhưng khi nó được diễn giải theo các thuật ngữ của tôn giáo có tính quyền uy và bởi những người mà nơi họ tâm thức Christ vẫn chưa phát triển, nó chỉ trở thành một khái niệm đẹp đẽ và thường là một động lực tàn nhẫn, và như vậy lập tức đi vào cõi giới của ảo tưởng. [133]

[Webinar 138]

I cite these two illustrations, out of many possible ones, so that you may realise how illusions come, how they develop and how they must eventually disappear; thus you can achieve some standard of comparison whereby to grasp the relative value of the true and the false, of the immediately temporal and the basic eternality of the real.

Tôi nêu hai minh họa này, trong số nhiều minh họa có thể có, để bạn có thể nhận ra ảo tưởng đến như thế nào, chúng phát triển ra sao và cuối cùng chúng phải biến mất như thế nào; nhờ đó bạn có thể đạt được một tiêu chuẩn so sánh nào đó để nắm bắt giá trị tương đối của cái thật và cái giả, của cái tạm thời trước mắt và tính vĩnh cửu căn bản của cái thực.

It will, therefore, be apparent to you that the lower or concrete levels of the mental plane will have acquired or accumulated—down the ages—a vast number of ideas, which have been formulated as ideals, clothed in mental matter, nourished by the vitality of those who have recognised as much of the truth of the idea as they are capable of expressing and who have given to these ideals the emphasis of their thoughtform-making faculty and their directed attention, which necessarily implies the energising of the limited formulated ideal because—as you know—energy follows thought.

Do đó, bạn sẽ thấy rõ rằng các cấp độ thấp hay cụ thể của cõi trí đã thu nhận hoặc tích lũy—qua các thời đại—một số lượng lớn lao các ý tưởng, vốn đã được trình bày thành những lý tưởng, được khoác bằng vật chất trí tuệ, được nuôi dưỡng bằng sinh lực của những người đã nhận ra phần chân lý của ý tưởng trong mức độ họ có khả năng biểu hiện, và đã trao cho những lý tưởng này sức nhấn mạnh của năng lực tạo hình tư tưởng cùng sự chú tâm có định hướng của họ, điều tất yếu hàm ý việc tiếp năng lượng cho lý tưởng đã được trình bày một cách giới hạn, bởi—như bạn biết—năng lượng đi theo tư tưởng.

These forms of thought become objectives towards which the subjective reality, man, reaches and with which he identifies himself for long periods of time; into them, he projects himself, thus vitalising them and giving them life and persistence. They become part of him; they condition his reactions and activities; they feed his desire nature and consequently assume undue importance, creating a barrier (of varying density, according to the extent of the identification) between the man in incarnation and the reality which is his true Being.

Những hình tư tưởng này trở thành các mục tiêu mà thực tại chủ quan, tức con người, vươn tới và đồng hoá với trong những thời kỳ dài; vào trong chúng, y phóng chiếu chính mình, nhờ vậy tiếp sinh lực cho chúng và trao cho chúng sự sống cùng tính bền bỉ. Chúng trở thành một phần của y; chúng tác động lên các phản ứng và hoạt động của y; chúng nuôi dưỡng bản chất dục vọng của y và do đó khoác lấy một tầm quan trọng quá mức, tạo nên một rào cản, với độ đậm đặc khác nhau tùy theo mức độ đồng hoá, giữa con người đang lâm phàm và thực tại vốn là Bản Thể chân thực của y.

There is no need for me here to itemise any of these prevailing thoughtforms and aspects of intellectual and mental illusion. I would not have you think for a moment that the embodied idea, which we call an ideal, is in itself an illusion. It only becomes so when it is regarded as an end in itself instead of being what it essentially is, a means to an end. An ideal, rightly grasped and used, provides a temporary [134] aid towards the attainment of immediate and imminent reality which it is the goal of the man or the race, at any particular time, to reach. The idea before the race today is the re-establishing (upon a higher turn of the spiral) of that spiritual relationship which characterised the race in its child state, in its primitive condition. Then, under the wise guidance and the paternalistic attitude of the Hierarchy and the initiate-priests of the time, men knew themselves to be one family—a family of brothers—and achieved this through a feeling and a developed sensuous perception. Today, under the name of Brotherhood, the same idea is seeking mental form and the establishment of a renewed spiritual relationship (the idea) through training in right human relations (the ideal). This is the immediate goal of humanity.

Ở đây, tôi không cần liệt kê bất cứ hình tư tưởng phổ biến nào trong số này, hay các phương diện của ảo tưởng trí thức và trí tuệ. Tôi không muốn bạn nghĩ, dù chỉ trong một khoảnh khắc, rằng ý tưởng được hiện thân, mà chúng ta gọi là một lý tưởng, tự nó là một ảo tưởng. Nó chỉ trở thành như thế khi được xem là cứu cánh tự thân, thay vì là điều về bản chất nó vốn là: một phương tiện để đạt đến cứu cánh. Một lý tưởng, nếu được nắm bắt và sử dụng đúng đắn, cung cấp một trợ giúp tạm thời [134] hướng tới việc đạt được thực tại trước mắt và sắp đến, vốn là mục tiêu mà con người hay nhân loại, vào bất cứ thời điểm đặc thù nào, cần vươn tới. Ý tưởng đứng trước nhân loại ngày nay là sự tái lập, trên một vòng cao hơn của đường xoắn ốc, mối quan hệ tinh thần đã đặc trưng cho nhân loại trong trạng thái thơ ấu, trong điều kiện nguyên thủy của nó. Khi ấy, dưới sự hướng dẫn minh triết và thái độ phụ quyền của Thánh Đoàn cùng các điểm đạo đồ-tư tế thời đó, con người biết mình là một gia đình—một gia đình của các huynh đệ—và đạt được điều này thông qua cảm xúc và một nhận thức giác quan đã phát triển. Ngày nay, dưới danh xưng Tình Huynh Đệ, cùng một ý tưởng ấy đang tìm kiếm hình tướng trí tuệ và sự thiết lập một mối quan hệ tinh thần được đổi mới, tức ý tưởng, thông qua việc rèn luyện trong các mối quan hệ nhân loại đúng đắn, tức lý tưởng. Đây là mục tiêu trước mắt của nhân loại.

[Webinar 139]

This result will be inevitably brought about by means of the cycle of necessity through which we are now passing and the dimly sensed idea will—as a result of dire necessity—impose its rhythm upon the race and thus force the realisation of true Being upon all men. If a close study is made of the basic foundation of all the ideologies without excepting any, it will be discovered that this idea of integral relationships (often distorted in presentation and hidden through wrong methods), of spiritual objectives and of definite positive brotherly activity lies behind every outer form. I have used the current situation as an illustration of the idea taking form as the ideal and, alas, brother of mine, oft becoming the idol and the fanatical misunderstood and over-emphasised goal of the masses, under the guidance of some pronounced idealist. An ideal is a temporary expression of a basic idea; it is not intended to be permanent but simply to serve a need and to indicate a way out of the past into a more adequate future. All the present ideals, expressing themselves through the current ideologies, will serve their [135] purpose and eventually pass away, as all else has passed in the history of the race and will give place, eventually, to a recognised spiritual relationship, a subjective fellowship, as a defined and expressed brotherhood. These will produce, when sufficiently developed and understood, a form of control and guidance and a species of government which it is not possible for even advanced thinkers at this time to grasp.

Kết quả này tất yếu sẽ được mang lại bằng chu kỳ tất yếu mà hiện nay chúng ta đang đi qua, và ý tưởng được cảm nhận lờ mờ ấy—do kết quả của nhu cầu cấp bách—sẽ áp đặt nhịp điệu của nó lên nhân loại, và như vậy buộc mọi người phải chứng nghiệm Bản Thể chân thực. Nếu nghiên cứu kỹ nền tảng căn bản của tất cả các hệ tư tưởng, không loại trừ bất cứ hệ nào, người ta sẽ khám phá rằng ý tưởng về các mối quan hệ toàn vẹn này, thường bị bóp méo trong cách trình bày và bị che khuất bởi các phương pháp sai lầm, về các mục tiêu tinh thần và về hoạt động huynh đệ tích cực, rõ ràng, nằm đằng sau mọi hình tướng bên ngoài. Tôi đã dùng tình hình hiện tại như một minh họa về ý tưởng đang khoác hình tướng như lý tưởng và, than ôi, huynh đệ của tôi, thường trở thành ngẫu tượng và mục tiêu bị hiểu lầm, cuồng tín và bị nhấn mạnh quá mức của quần chúng, dưới sự hướng dẫn của một người lý tưởng chủ nghĩa nổi bật nào đó. Một lý tưởng là một biểu hiện tạm thời của một ý tưởng căn bản; nó không nhằm tồn tại vĩnh viễn mà chỉ để phụng sự một nhu cầu và chỉ ra một lối thoát khỏi quá khứ để đi vào một tương lai đầy đủ hơn. Tất cả các lý tưởng hiện nay, đang tự biểu hiện qua các hệ tư tưởng đương thời, sẽ phục vụ [135] mục đích của chúng và cuối cùng sẽ qua đi, như mọi thứ khác đã qua đi trong lịch sử nhân loại, và cuối cùng sẽ nhường chỗ cho một mối quan hệ tinh thần được nhận biết, một tình bằng hữu chủ quan, như một tình huynh đệ được xác định và biểu hiện. Khi được phát triển và thấu hiểu đầy đủ, những điều này sẽ tạo ra một hình thức kiểm soát và hướng dẫn, cùng một loại chính quyền mà ngay cả các nhà tư tưởng tiến bộ vào lúc này cũng không thể nắm bắt.

When ideals and mental concepts and formulated thoughtforms dominate the mind of an individual, a race or humanity in general, to the exclusion of all perspective or vision and to the shutting out of the real, then they constitute an illusion for as long as they control the mind and method of life. They prevent the free play of the intuition, with its real power to reveal the immediate future; they frequently exclude in their expression the basic principle of the solar system, Love, through the imposed control of some secondary and temporary principle; they can thus constitute a “forbidding dark cloud of rain” which serves to hide from view the “raincloud of knowable things” (to which Patanjali refers in his final book)—that cloud of wisdom which hovers over the lower mental plane and which can be tapped and used by students and aspirants through the free play of the intuition.

Khi các lý tưởng, các khái niệm trí tuệ và các hình tư tưởng đã được trình bày chi phối thể trí của một cá nhân, một dân tộc hay nhân loại nói chung, đến mức loại trừ mọi viễn cảnh hay tầm nhìn và ngăn che cái thực, thì chúng tạo thành một ảo tưởng chừng nào chúng còn kiểm soát thể trí và phương pháp sống. Chúng ngăn cản sự vận hành tự do của trực giác, với quyền năng thực sự của nó trong việc mặc khải tương lai trước mắt; trong sự biểu hiện của mình, chúng thường loại trừ nguyên khí căn bản của hệ mặt trời, tức Tình thương, thông qua sự kiểm soát áp đặt của một nguyên khí thứ yếu và tạm thời nào đó; như vậy, chúng có thể tạo thành một “đám mây mưa đen tối ngăn cấm” dùng để che khuất khỏi tầm nhìn “đám mây mưa của những điều khả tri” mà Patanjali đề cập trong quyển cuối cùng của ông—đám mây minh triết lơ lửng trên cõi hạ trí và có thể được các đạo sinh cùng người chí nguyện tiếp cận và sử dụng thông qua sự vận hành tự do của trực giác.

[Webinar 140]

Let us now consider the intuition, which is the opposite of illusion, remembering that illusion imprisons a man upon the mental plane and surrounds him entirely with man-made thoughtforms, barring out escape into the higher realms of awareness or into that loving service which must be given in the lower worlds of conscious, manifested effort.

Bây giờ chúng ta hãy xem xét trực giác, vốn là đối cực của ảo tưởng, đồng thời ghi nhớ rằng ảo tưởng giam giữ con người trên cõi trí và bao quanh y hoàn toàn bằng các hình tư tưởng do con người tạo ra, ngăn chặn lối thoát lên các cảnh giới nhận thức cao hơn hoặc vào sự phụng sự đầy tình thương vốn phải được trao trong các cõi thấp của nỗ lực có ý thức và biểu hiện.

The major point I would seek to make here is that the intuition is the source or the bestower of revelation. Through the intuition, progressive understanding of the ways of God in the world and on behalf of humanity are [136] revealed; through the intuition, the transcendence and the immanence of God is sequentially grasped and man can enter into that pure knowledge, that inspired reason, which will enable him to comprehend not only the processes of nature in its fivefold divine expression but also the underlying causes of these processes, proving them effects and not initiatory events; through the intuition man arrives at the experience of the kingdom of God, and discovers the nature, the type of lives and of phenomena, and the characteristics of the Sons of God as They come into manifestation. Through the intuition, some of the plans and purposes working out through the manifested created worlds are brought to his attention, and he is shown in what way he and the rest of humanity can cooperate and hasten the divine purpose; through the intuition, the laws of the spiritual life, which are the laws governing God Himself, conditioning Shamballa, and guiding the Hierarchy, are brought to his notice progressively and as he proves capable of appreciating them and working them.

Điểm chính mà tôi muốn trình bày ở đây là trực giác là nguồn gốc hay đấng ban phát sự mặc khải. Thông qua trực giác, sự thấu hiểu tiến bộ về các đường lối của Thượng đế trong thế giới và vì nhân loại được [136] mặc khải; thông qua trực giác, tính siêu việt và tính nội tại của Thượng đế được nắm bắt tuần tự, và con người có thể đi vào tri thức thuần khiết ấy, lý trí được cảm hứng ấy, vốn sẽ giúp y lĩnh hội không chỉ các tiến trình của thiên nhiên trong sự biểu hiện thiêng liêng ngũ phân của nó, mà còn cả những nguyên nhân nền tảng của các tiến trình này, chứng minh chúng là các hiệu quả chứ không phải các biến cố khởi phát; thông qua trực giác, con người đạt đến kinh nghiệm về Thiên Giới, và khám phá bản chất, loại sự sống và hiện tượng, cùng các đặc tính của Các Con của Thượng đế khi Các Ngài đi vào biểu hiện. Thông qua trực giác, một số kế hoạch và mục đích đang thể hiện qua các thế giới được tạo dựng và biểu hiện được đưa đến sự chú ý của y, và y được chỉ cho thấy bằng cách nào y cùng phần còn lại của nhân loại có thể hợp tác và thúc đẩy Thiên Ý; thông qua trực giác, các định luật của đời sống tinh thần, vốn là các định luật chi phối chính Thượng đế, tác động lên Shamballa và hướng dẫn Thánh Đoàn, dần dần được đưa đến sự chú ý của y, khi y chứng tỏ có khả năng trân trọng và vận dụng chúng.

Four types of people are subject to revelation through the awakening of the intuition:

Bốn loại người chịu sự mặc khải thông qua sự thức tỉnh của trực giác:

1. Those on the line of the world saviours. These touch and sense the divine plan and are pledged to service, and to work for the salvation of humanity. They are found expressing different and varying degrees of realisation, stretching all the way from the man who seeks to reveal divinity in his own life and to his immediate small circle (through the medium of the changes and effects wrought in his personal life) to those great Intuitives and world Saviours, such as the Christ. The former is motivated in all probability by some one intuitive crisis which entirely remade him and gave him a new sense of values; the latter can, at will, rise into the world of intuitive perception and [137] values and there ascertain the will of God and a wide vision of the Plan. Such great Representatives of Deity have the freedom of the Holy City (Shamballa) and of the New Jerusalem (the Hierarchy). They are thus unique in their contacts and there have been relatively few of Them as yet.

1. Những người thuộc tuyến các đấng cứu thế gian. Những người này chạm đến và cảm nhận Thiên Cơ, và đã cam kết phụng sự, cũng như làm việc cho sự cứu rỗi của nhân loại. Họ được thấy đang biểu hiện những mức độ chứng nghiệm khác nhau và biến thiên, trải dài từ người tìm cách mặc khải thiên tính trong chính đời sống của mình và trong vòng nhỏ bé gần gũi của mình, thông qua các thay đổi và hiệu quả được tạo nên trong đời sống cá nhân, cho đến những Nhà Trực Giác vĩ đại và các Đấng Cứu Thế, như Đức Christ. Người trước rất có thể được thúc đẩy bởi một cuộc khủng hoảng trực giác nào đó đã hoàn toàn tái tạo y và trao cho y một cảm thức giá trị mới; người sau có thể, tùy ý, vươn lên thế giới của tri nhận trực giác và [137] các giá trị, và ở đó xác định Ý Chí của Thượng Đế cùng một tầm nhìn rộng lớn về Thiên Cơ. Những Đại Diện vĩ đại như thế của Thượng đế có quyền tự do đi vào Thánh Đô, tức Shamballa, và Tân Giêrusalem, tức Thánh Đoàn. Do đó, các Ngài là độc nhất trong các mối tiếp xúc của mình, và cho đến nay tương đối ít các Ngài xuất hiện.

[Webinar 141]

2. Those who are on the line of the prophets. These touch the Plan at high intuitive moments and know what the immediate future holds. I do not refer here to the Hebrew prophets, so familiar to the West, but to all who see clearly what should be done to lead humanity out of darkness into light, beginning with the situation as it is and looking forward into a future of divine consummation. They have a clear picture in their minds of what is possible to accomplish, and the power to point it out to the people of their time. They necessarily range all the way from those who have a relatively clear vision of the cosmic picture and objectives to those who simply see the next step ahead for the race or the nation. Isaiah and Ezekiel are the only two of the Hebrew prophets who had true prophetic and cosmic vision. The others were small, but intelligent men who, from analysis and deduction, assessed the immediate future and indicated immediate possibilities. They had no direct revealing intuition. In the New Testament, John, the beloved disciple, was privileged to gain a cosmic picture and a true prophetic vision which he embodied in the Apocalypse, but he is the only one who so achieved and he achieved because he loved so deeply, so wisely and so inclusively. His intuition was evoked through the depth and intensity of his love—as it was in his Master, the Christ.

2. Những người thuộc tuyến các nhà tiên tri. Những người này chạm đến Thiên Cơ trong những khoảnh khắc trực giác cao siêu và biết tương lai trước mắt chứa đựng điều gì. Ở đây, tôi không nói đến các nhà tiên tri Hebrew, quá quen thuộc với phương Tây, mà nói đến tất cả những ai thấy rõ điều cần được thực hiện để dẫn nhân loại ra khỏi bóng tối vào ánh sáng, bắt đầu từ tình hình như nó đang là và hướng nhìn về một tương lai của sự viên mãn thiêng liêng. Trong trí họ có một hình ảnh rõ ràng về điều có thể hoàn thành, và họ có quyền năng chỉ ra điều đó cho con người trong thời đại của họ. Tất yếu họ trải dài từ những người có tầm nhìn tương đối rõ về bức tranh và các mục tiêu vũ trụ cho đến những người chỉ đơn giản thấy bước kế tiếp phía trước cho nhân loại hay quốc gia. Isaiah và Ezekiel là hai nhà tiên tri Hebrew duy nhất có tầm nhìn tiên tri và vũ trụ chân thực. Những người khác là những người nhỏ bé nhưng thông minh, từ phân tích và suy luận, đã đánh giá tương lai trước mắt và chỉ ra các khả năng trước mắt. Họ không có trực giác mặc khải trực tiếp. Trong Tân Ước, John, người đệ tử được yêu mến, đã được đặc ân đạt được một bức tranh vũ trụ và một tầm nhìn tiên tri chân thực, mà ông đã hiện thân trong Khải Huyền; nhưng ông là người duy nhất đạt được như thế, và ông đạt được vì ông yêu thương sâu sắc, minh triết và bao gồm đến như vậy. Trực giác của ông được gợi lên nhờ chiều sâu và cường độ của tình thương nơi ông—như điều đó đã diễn ra nơi Chân sư của ông, Đức Christ.

3. Those who are the true priests. They are priests by spiritual calling and not by choice. It is the misunderstanding of the province and duties of a priest which has led all the Churches (in the East and in the West) to their disastrous [138] authoritarian position. The love of God, and the true spiritual incentive which recognises God immanent in all nature and peculiarly expressing that divinity in man, is lacking in the bulk of the priesthood in all the world religions. Love is not the guide, the indicator and the interpreter. Hence the dogmatism of the theologian, his ridiculous and profound assurances of correct interpretation, and his oft-times cruelty, cloaked by his claim of right principles and good intentions. But the true priest exists and is found in all religions. He is the friend and the brother of all and, because he loves deeply, wisdom is his and (if he is of a mental type and training) his intuition is awakened and revelation is his reward. Ponder on this. The true priest is rare and is not found only in the so-called “holy orders”.

3. Những người là các tư tế chân thực. Họ là tư tế do tiếng gọi tinh thần chứ không do lựa chọn. Chính sự hiểu lầm về phạm vi và bổn phận của một tư tế đã dẫn tất cả các Giáo hội, ở Đông phương cũng như Tây phương, đến lập trường quyền uy tai hại [138] của họ. Tình thương của Thượng đế và động lực tinh thần chân thực, vốn nhận ra Thượng đế nội tại trong toàn thể thiên nhiên và đặc biệt biểu hiện thiên tính ấy trong con người, lại thiếu vắng nơi đa số hàng tư tế trong tất cả các tôn giáo thế giới. Tình thương không phải là người hướng dẫn, dấu chỉ và nhà diễn giải. Do đó mới có tính giáo điều của nhà thần học, những xác quyết vừa buồn cười vừa sâu xa của ông về sự diễn giải đúng đắn, và sự tàn nhẫn thường khi của ông, được che phủ bằng lời tuyên bố về các nguyên tắc đúng và ý định tốt. Nhưng tư tế chân thực vẫn tồn tại và được tìm thấy trong mọi tôn giáo. Y là bạn và huynh đệ của tất cả, và vì y yêu thương sâu sắc, minh triết thuộc về y; và nếu y thuộc loại trí tuệ và được rèn luyện trí tuệ, trực giác của y được đánh thức và sự mặc khải là phần thưởng của y. Hãy suy ngẫm về điều này. Tư tế chân thực rất hiếm và không chỉ được tìm thấy trong những “chức thánh” được gọi là như vậy.

4. Those who are the practical mystics or occultists. These, by virtue of a disciplined life, an ardent aspiration, and a trained intellect, have succeeded in evoking the intuition and are, therefore, personally in touch with the true source of divine wisdom. This, it is their function to interpret and to formulate into temporary systems of knowledge. There are many such, working patiently today in the world, unrecognised and unsought by the unthinking. Their need today is to “assemble themselves” in this hour of the world need and so let their voice be clearly heard. These people are resolving the sense of duality into a known unity, and their preoccupation with reality and their deep love of humanity have released the intuition. When this release has taken place, no barriers are felt and true knowledge as a result of revealed wisdom is the gift which such people have, to give to their race and time.

4. Những người là các nhà thần bí hay nhà huyền bí học thực tiễn. Những người này, nhờ một đời sống kỷ luật, một khát vọng nồng nhiệt và một trí năng được rèn luyện, đã thành công trong việc gợi lên trực giác và do đó đích thân tiếp xúc với nguồn minh triết thiêng liêng chân thực. Chức năng của họ là diễn giải điều này và trình bày nó thành những hệ thống tri thức tạm thời. Có nhiều người như thế, đang kiên nhẫn làm việc trong thế giới ngày nay, không được nhận biết và không được những người không suy nghĩ tìm kiếm. Nhu cầu của họ ngày nay là “tự quy tụ lại” trong giờ phút thế giới cần đến, và nhờ vậy để tiếng nói của họ được nghe rõ ràng. Những người này đang hóa giải cảm thức nhị nguyên thành một nhất thể được biết, và sự chuyên chú của họ vào thực tại cùng tình thương sâu xa của họ đối với nhân loại đã giải phóng trực giác. Khi sự giải phóng này đã diễn ra, không còn rào cản nào được cảm thấy, và tri thức chân thực, như kết quả của minh triết được mặc khải, là món quà mà những người như thế có để trao cho nhân loại và thời đại của họ.

These are the four groups who are exchanging illusion for the intuition. This is the initial resolution of the pairs of opposites, for there is no such resolution without the aid of the intellect, because the intellect—through analysis, discrimination [139] and right reasoning—indicates what should be done.

Đây là bốn nhóm đang thay thế ảo tưởng bằng trực giác. Đây là sự hóa giải ban đầu của các cặp đối nghịch, vì không có sự hóa giải nào như thế nếu không có sự trợ giúp của trí năng, bởi trí năng—thông qua phân tích, phân biện [139] và lý luận đúng đắn—chỉ ra điều cần phải làm.

[Webinar 142]

b. The Contrast between Glamour and Illumination.

One of the aptest symbols by which one can gather some picture of the nature of glamour is to picture the astral plane on three of its levels (the second, third and fourth, counting from the top downwards) as a land shrouded in a thick fog of varying densities. The ordinary light of the ordinary man, which is similar to the headlights of a car and their self-sufficient blaze, serves only to intensify the problem and fails to penetrate into the mists and the fog. It simply throws it into relief so that its density and its deterring effects become the more apparent. The condition of fog is revealed—but that is all. So it is on the astral plane in relation to glamour; the light which is in man, self-induced and self-generated, fails ever to penetrate into or to dissipate the gloom and the foggy miasmic conditions. The only light which can dissipate the fogs of glamour and rid the life of its ill effects is that of the soul, which—like a pure dispelling beam—possesses the curious and unique quality of revelation, of immediate dissipation, and of illumination. The revelation vouchsafed is different to that of the intuition for it is the revelation of that which the glamour veils and hides, which is a revelation unique to the astral plane and conditioned by its laws. This particular utilisation of soul light takes the form of a focussed concentration of the light (emanating from the soul, via the mind) upon the state of glamour—particular or specific, or general and world-wide—so that the nature of the glamour is revealed, its quality and basis is discovered, and its power is brought to an end by a steady, prolonged period of concentration which is given to the dispelling of the condition.

Một trong những biểu tượng thích hợp nhất nhờ đó người ta có thể nắm được phần nào hình ảnh về bản chất của ảo cảm là hình dung cõi cảm dục trên ba cấp độ của nó, cấp thứ hai, thứ ba và thứ tư, tính từ trên xuống, như một miền đất bị bao phủ trong một màn sương dày có độ đậm đặc khác nhau. Ánh sáng thông thường của con người bình thường, tương tự như đèn pha của một chiếc xe và luồng sáng tự mãn của nó, chỉ làm vấn đề thêm nghiêm trọng và không xuyên thấu được vào những làn sương và màn mù. Nó chỉ đơn giản làm chúng nổi bật lên, khiến độ đậm đặc và các hiệu quả ngăn trở của chúng trở nên rõ rệt hơn. Tình trạng sương mù được phơi bày—nhưng chỉ có thế. Trên cõi cảm dục, đối với ảo cảm, cũng như vậy; ánh sáng vốn có trong con người, do tự y gây nên và tự y tạo ra, không bao giờ xuyên thấu hay làm tiêu tan được bóng tối cùng những tình trạng uế khí mù sương. Ánh sáng duy nhất có thể làm tiêu tan các màn sương của ảo cảm và giải thoát đời sống khỏi các hiệu quả xấu của nó là ánh sáng của linh hồn, ánh sáng ấy—như một tia sáng thanh khiết xua tan—sở hữu phẩm tính kỳ lạ và độc nhất của sự mặc khải, của sự làm tiêu tan tức thời và của sự soi sáng. Sự mặc khải được ban cho khác với sự mặc khải của trực giác, vì đó là sự mặc khải điều mà ảo cảm che phủ và ẩn giấu, một sự mặc khải độc nhất đối với cõi cảm dục và chịu tác động bởi các định luật của cõi ấy. Sự sử dụng đặc thù này của ánh sáng linh hồn mang hình thức một sự tập trung có tiêu điểm của ánh sáng, phát xuất từ linh hồn qua thể trí, lên tình trạng ảo cảm—riêng biệt hay đặc thù, hoặc tổng quát và toàn thế giới—để bản chất của ảo cảm được mặc khải, phẩm tính và nền tảng của nó được khám phá, và quyền năng của nó bị chấm dứt nhờ một giai đoạn tập trung vững bền, kéo dài, được dành cho việc xua tan tình trạng ấy.

[140] In our next section we will deal in detail with the technique of this scientific use of light and, therefore, I will not elaborate the theme at this point. I will only deal with that much of it as will enable you, as a group, to begin your long awaited work upon the problem of dispelling the present world glamour—at least in some of its aspects. I am not defining glamour in this place or giving you instances of its activity as I did in the case of illusion and its contrasting correspondence, the intuition, because I covered the ground very thoroughly in the section immediately preceding, and you have only to refer to that section to read all that I am prepared to give you at this time.

[140] Trong phần kế tiếp, chúng ta sẽ bàn chi tiết về kỹ thuật của việc sử dụng ánh sáng một cách khoa học này, và do đó, tôi sẽ không khai triển chủ đề ấy vào lúc này. Tôi chỉ bàn đến phần nào của nó có thể giúp các bạn, với tư cách một nhóm, bắt đầu công việc đã được mong đợi từ lâu của các bạn đối với vấn đề xua tan ảo cảm thế giới hiện nay—ít nhất trong một vài phương diện của nó. Ở đây tôi không định nghĩa ảo cảm hay đưa ra cho các bạn các ví dụ về hoạt động của nó như tôi đã làm trong trường hợp ảo tưởng và đối ứng tương phản của nó là trực giác, bởi tôi đã trình bày rất kỹ lưỡng trong phần ngay trước đó, và các bạn chỉ cần tham khảo phần ấy để đọc tất cả những gì tôi sẵn sàng trao cho các bạn vào lúc này.

I will, however, briefly define illumination, asking you to bear in mind that we are not here dealing with the illumination which reveals Reality, or the nature of the soul or which makes clear to your vision the kingdom of the soul, but with that form of illumination which is thrown down by the soul into the world of the astral plane. This involves the conscious use of light and its employment, first of all, as a searchlight, scanning the astral horizon and localising the glamour which is causing the trouble, and secondly, as a focussed distribution of light, turned with intention upon that area of the astral plane wherein it is proposed that some effort be made to dissipate the fog and mist which are there concentrated.

Tuy nhiên, tôi sẽ định nghĩa ngắn gọn sự soi sáng, đồng thời yêu cầu các bạn ghi nhớ rằng ở đây chúng ta không bàn đến sự soi sáng mặc khải Thực Tại, hay bản chất của linh hồn, hoặc làm sáng tỏ trước tầm nhìn của các bạn Thiên Giới của linh hồn, mà bàn đến hình thức soi sáng được linh hồn phóng xuống thế giới của cõi cảm dục. Điều này bao hàm việc sử dụng ánh sáng một cách có ý thức và vận dụng nó, trước hết, như một đèn pha quét qua chân trời cảm dục và định vị ảo cảm đang gây rắc rối, và thứ hai, như một sự phân phối ánh sáng có tiêu điểm, được hướng một cách có chủ ý vào vùng của cõi cảm dục nơi người ta dự định thực hiện một nỗ lực nào đó để làm tiêu tan sương mù và màn mù đang tập trung ở đó.

[Webinar 143]

Certain basic premises are, therefore, in order and these might be stated as follows:

Do đó, một số tiền đề căn bản là thích hợp, và có thể được nêu như sau:

1. The quality and the major characteristic of the soul is light. Therefore, if that light is to be used and that quality expressed by the disciple and the worker, he must first of all achieve a recognised contact with the soul through meditation.

1. Phẩm tính và đặc tính chính yếu của linh hồn là ánh sáng. Vì vậy, nếu ánh sáng ấy phải được sử dụng và phẩm tính ấy được biểu hiện bởi người đệ tử và người hoạt động, trước hết y phải đạt được một sự tiếp xúc được nhận biết với linh hồn thông qua tham thiền.

2. The quality of the astral plane—its major characteristic—[141] is glamour. It is the field whereon the great battle of the pairs of opposites must be fought as they are the expression of ancient desire, in the one case—glamorous, deceptive and false—and in the other, high spiritual longing for that which is real and true. It should be here remembered that astral desire, wrong and selfish emotion and astral reactions to the facts of daily life, are not natural to the soul and constitute eventually a condition which serves to veil successfully the true nature of the spiritual man.

2. Phẩm tính của cõi cảm dục—đặc tính chính yếu của nó—[141] là ảo cảm. Đó là trường nơi cuộc chiến lớn của các cặp đối nghịch phải được tiến hành, vì chúng là biểu hiện của dục vọng cổ xưa, trong một trường hợp thì đầy ảo cảm, lừa dối và giả trá, còn trong trường hợp kia là niềm khao khát tinh thần cao cả đối với điều chân thực và đúng thật. Ở đây cần nhớ rằng dục vọng cảm dục, cảm xúc sai lầm và ích kỷ, cùng các phản ứng cảm dục trước những sự kiện của đời sống hằng ngày, không tự nhiên thuộc về linh hồn và rốt cuộc tạo nên một tình trạng phục vụ cho việc che phủ thành công bản chất chân thực của con người tinh thần.

3. A relation must then be established between the soul and the astral plane, via the astral body of the disciple. This astral body must be regarded by him as his response apparatus to the world of sensation and as the only instrument whereby his soul can contact that level of expression—temporary and non-lasting as it may be. The disciple must, therefore, establish contact with the soul and do this consciously and with the needed emphasis and so carry soul light to his own astral body, learn to focus it there in the solar plexus centre, and from that point of achievement proceed to work upon the astral plane at the arduous task of dispelling glamour.

3. Khi ấy, một mối liên hệ phải được thiết lập giữa linh hồn và cõi cảm dục, qua thể cảm dục của người đệ tử. Thể cảm dục này phải được y xem là bộ máy đáp ứng của y đối với thế giới cảm giác, và là công cụ duy nhất nhờ đó linh hồn của y có thể tiếp xúc với cấp độ biểu hiện ấy—dù nó tạm thời và không bền lâu đến đâu. Vì vậy, người đệ tử phải thiết lập sự tiếp xúc với linh hồn và làm điều này một cách có ý thức, với sự nhấn mạnh cần thiết, và như thế mang ánh sáng linh hồn đến thể cảm dục của chính mình, học cách tập trung nó ở đó trong trung tâm tùng thái dương, rồi từ điểm thành tựu ấy tiến hành công việc trên cõi cảm dục trong nhiệm vụ gian nan là xua tan ảo cảm.

4. When this line of contact has been made and the soul, the astral body and the astral plane have thus been intimately related, the disciple must carry the focussed light from the solar plexus (where it has been temporarily localised) to the heart centre. There he must steadily hold it and work consistently and perseveringly from that higher centre. I might here paraphrase an ancient instruction for disciples, which can be found in the Archives of the Hierarchy and which refers to this particular process. I am giving you a brief and somewhat inadequate paraphrase of this ancient symbolic wording: [142]

4. Khi đường tiếp xúc này đã được tạo lập và linh hồn, thể cảm dục cùng cõi cảm dục nhờ vậy đã được liên hệ mật thiết, người đệ tử phải mang ánh sáng có tiêu điểm từ tùng thái dương, nơi nó đã tạm thời được định vị, đến trung tâm tim. Ở đó, y phải giữ nó một cách vững vàng và làm việc kiên định, bền bỉ từ trung tâm cao hơn ấy. Ở đây, tôi có thể diễn giải một huấn thị cổ dành cho các đệ tử, có thể tìm thấy trong Văn Khố của Thánh Đoàn và liên quan đến tiến trình đặc thù này. Tôi trao cho các bạn một bản diễn giải ngắn gọn và phần nào chưa đầy đủ về lời văn biểu tượng cổ xưa này: [142]

“The disciple stands and, with his back to the glamorous fog, looks towards the East from whence the light must stream. Within his heart he gathers all the light available and from that point of power between the shoulder blades the light streams forth.”

“Người đệ tử đứng, quay lưng về màn sương ảo cảm, nhìn về phương Đông, nơi ánh sáng phải tuôn đến. Trong tim mình, y gom tụ tất cả ánh sáng sẵn có, và từ điểm quyền năng ấy giữa hai xương bả vai, ánh sáng tuôn ra.”

[Webinar 144]

5. The disciple must relinquish all sense of tension or of strain and must learn to work with pure faith and love. The less he feels and the less he is preoccupied with his own feelings or sense of achievement or of non-achievement, the more probable it will be that the work will proceed with effectiveness and the glamour be slowly dispelled. In this work there is no haste. That which is very ancient cannot be immediately dispelled no matter how good the intention or how accurate may be the grasp of the needed technique.

5. Người đệ tử phải từ bỏ mọi cảm thức căng thẳng hay gắng sức, và phải học cách làm việc với đức tin thuần khiết và tình thương. Y càng ít cảm nhận và càng ít bận tâm với các cảm xúc của chính mình hay cảm thức thành tựu hoặc không thành tựu của mình, thì công việc càng có khả năng tiến hành hiệu quả và ảo cảm càng chậm rãi được xua tan. Trong công việc này không có sự vội vã. Điều rất cổ xưa không thể được làm tiêu tan tức khắc, dù ý định có tốt đến đâu hay sự nắm bắt kỹ thuật cần thiết có chính xác đến mức nào.

It will be apparent to you that there are elements of danger in this work. Unless the members of the group are exceedingly watchful and unless they cultivate the habit of careful observation, they may suffer from over-stimulation of the solar plexus until such time as they have mastered the process of rapidly transferring the light of the soul, focussed in the solar plexus, and the innate light of the astral body, also found localised in that centre, into the heart centre between the shoulder blades. I would, therefore, warn each and all of you to proceed with the utmost care and I would caution you that if you suffer any solar plexus disturbance or encounter in yourselves any increased emotional instability, to be not unduly disturbed. I would ask you to regard the phenomenon of disturbance as simply a temporary difficulty, incident upon the service which you are seeking to render. If you pay this intelligent attention to the matter and no more, refusing to be distressed or to be disturbed, no bad results will be felt.

Bạn sẽ thấy rõ rằng trong công việc này có những yếu tố nguy hiểm. Trừ khi các thành viên của nhóm hết sức cảnh giác và trừ khi họ nuôi dưỡng thói quen quan sát cẩn thận, họ có thể chịu sự kích thích quá mức của tùng thái dương cho đến khi họ làm chủ được tiến trình nhanh chóng chuyển ánh sáng của linh hồn, được tập trung trong tùng thái dương, và ánh sáng bẩm sinh của thể cảm dục, cũng được thấy định vị trong trung tâm ấy, vào trung tâm tim giữa hai xương bả vai. Do đó, tôi muốn cảnh báo từng người và tất cả các bạn hãy tiến hành với sự thận trọng tối đa, và tôi muốn khuyên các bạn rằng nếu các bạn chịu bất cứ rối loạn nào ở tùng thái dương hoặc gặp nơi chính mình bất cứ sự bất ổn cảm xúc gia tăng nào, thì đừng quá bối rối. Tôi yêu cầu các bạn xem hiện tượng rối loạn ấy chỉ đơn giản là một khó khăn tạm thời, phát sinh từ sự phụng sự mà các bạn đang tìm cách thực hiện. Nếu các bạn dành cho vấn đề này sự chú ý thông minh ấy và không hơn, từ chối bị đau khổ hay bị xáo động, thì sẽ không có kết quả xấu nào được cảm thấy.

[143] In connection with your anticipated group work along these lines, you will proceed with your group meditation as indicated elsewhere (Discipleship in the New Age, Volume I, page 61), and then—when you have arrived at Stage III in the group meditation—you will work together as follows:

[143] Liên quan đến công việc nhóm được dự liệu của các bạn theo những đường hướng này, các bạn sẽ tiến hành tham thiền nhóm như đã được chỉ dẫn ở nơi khác (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập I, trang 61), và rồi—khi các bạn đã đến Giai đoạn III trong tham thiền nhóm—các bạn sẽ cùng nhau làm việc như sau:

[Webinar 145]

1. Having linked up with all your group brothers, then consciously carry out the hints given symbolically in the ancient writing which I paraphrased for you above.

1. Sau khi đã liên kết với tất cả các huynh đệ trong nhóm, các bạn hãy thực hiện một cách có ý thức những gợi ý đã được nêu bằng biểu tượng trong văn bản cổ mà tôi đã diễn giải ở trên cho các bạn.

a. Link up consciously with your soul and realise this linking as a fact.

a. Hãy liên kết một cách có ý thức với linh hồn của bạn và nhận ra sự liên kết này như một sự kiện.

b. Then carry the light of the soul, through the power of the creative imagination, direct to your astral body and from thence to the solar plexus centre—which is the line of least resistance.

b. Rồi, nhờ quyền năng của sự tưởng tượng sáng tạo, hãy mang ánh sáng của linh hồn trực tiếp đến thể cảm dục của bạn, và từ đó đến trung tâm tùng thái dương—vốn là con đường ít trở ngại nhất.

c. Then transfer the light of the soul and the innate light of the astral body from the solar plexus centre to the heart centre, by a definite act of the will.

c. Rồi, bằng một hành động xác định của ý chí, hãy chuyển ánh sáng của linh hồn và ánh sáng bẩm sinh của thể cảm dục từ trung tâm tùng thái dương đến trung tâm tim.

2. Then, imaginatively, stand with your back to the world of glamour and with the eye of your mind focussed on the soul, whose nature is LOVE.

2. Rồi, bằng sự tưởng tượng, hãy đứng quay lưng về thế giới ảo cảm và với con mắt của thể trí tập trung vào linh hồn, mà bản chất là TÌNH THƯƠNG.

3. Let a few minutes’ interlude then take place wherein you stabilise yourself for the work, and definitely and consciously focus the light available, from all sources, within the heart centre. Imagine that centre between the shoulder blades as a radiant sun. I might here point out that this is, in the individual, the microcosmic correspondence to the “heart of the Sun” which is always directed by the “central spiritual Sun,” localised in the head. Get this picture clearly into your consciousness, for it involves the dual, yet synthetic, activity of the head and the heart. [144]

3. Sau đó, hãy để có một khoảng lặng vài phút, trong đó bạn ổn định chính mình cho công việc, và xác định cũng như có ý thức tập trung ánh sáng sẵn có, từ mọi nguồn, trong trung tâm tim. Hãy hình dung trung tâm ấy giữa hai xương bả vai như một mặt trời rạng rỡ. Ở đây, tôi có thể chỉ ra rằng điều này, trong cá nhân, là đối ứng tiểu thiên địa với “trái tim của Mặt Trời”, vốn luôn được điều khiển bởi “Mặt trời Tinh thần Trung Ương”, được định vị trong đầu. Hãy đưa hình ảnh này vào tâm thức bạn một cách rõ ràng, vì nó bao hàm hoạt động kép nhưng tổng hợp của đầu và tim. [144]

4. Then see a shaft of pure white light, broad and brilliant, pouring out of the heart centre between the shoulder blades, on to that localised glamour with which you, as a group, are dealing. What this localised area is, I will presently disclose.

4. Rồi hãy thấy một luồng ánh sáng trắng tinh khiết, rộng lớn và rực rỡ, tuôn ra từ trung tâm tim giữa hai xương bả vai, chiếu lên ảo cảm được định vị mà các bạn, với tư cách một nhóm, đang đề cập đến. Vùng được định vị này là gì, tôi sẽ sớm tiết lộ.

5. When this is clearly defined in your mind and inspired by your desire and force, and when you have the entire symbolic picture clearly visualised, then see your particular shaft of light blended with the shafts of light which your group brothers are projecting. Thus a great flood of directed light coming from several trained aspirants (and are you trained, my brothers?) will pour on to that area of glamour with which you are supposed to deal.

5. Khi điều này đã được xác định rõ trong trí bạn và được cảm hứng bởi dục vọng cùng mãnh lực của bạn, và khi bạn đã hình dung rõ toàn bộ bức tranh biểu tượng, hãy thấy luồng ánh sáng riêng của bạn hòa quyện với các luồng ánh sáng mà những huynh đệ trong nhóm của bạn đang phóng chiếu. Như vậy, một dòng lũ lớn của ánh sáng được định hướng, đến từ vài người chí nguyện đã được rèn luyện, sẽ tuôn lên vùng ảo cảm mà các bạn được giả định là phải xử lý; và các bạn có được rèn luyện không, các huynh đệ của tôi?

6. Do this work for five carefully sustained minutes and then proceed as indicated in Stage IV of your meditation outline.

6. Hãy thực hiện công việc này trong năm phút được duy trì cẩn thận, rồi tiếp tục như đã chỉ dẫn trong Giai đoạn IV của đề cương tham thiền của các bạn.

In defining illumination as the antithesis of glamour it is obvious that my remarks must necessarily be limited to certain aspects of illumination and will only concern those directed forms of work and those presentations of the problem which will concern the use of light upon the astral plane and particularly in connection with the work that you have pledged yourselves to do. There are many other definitions possible, for the light of the soul is like an immense searchlight, the beams of which can be turned in many directions and focussed on many levels. We are however only concerned here with its specialised use.

Khi định nghĩa sự soi sáng như đối đề của ảo cảm, rõ ràng những nhận xét của tôi tất yếu phải giới hạn vào một số phương diện của sự soi sáng và chỉ liên quan đến những hình thức công việc được định hướng cùng những cách trình bày vấn đề có liên quan đến việc sử dụng ánh sáng trên cõi cảm dục, đặc biệt trong mối liên hệ với công việc mà các bạn đã cam kết thực hiện. Có thể có nhiều định nghĩa khác, vì ánh sáng của linh hồn giống như một đèn pha bao la, các tia của nó có thể được hướng theo nhiều phương và tập trung trên nhiều cấp độ. Tuy nhiên, ở đây chúng ta chỉ quan tâm đến việc sử dụng chuyên biệt của nó.

Illumination and the light of knowledge can be regarded as synonymous terms and many glamours can be dissipated and dispersed when subjected to the potency of the informative mind, for the mind is essentially the subduer of emotion through the presentation of fact. The problem is to [145] induce the individual or the race or nation which is acting under the influence of glamour to call in the mental power of assessing the situation and subject it to a calm, cold scrutiny. Glamour and emotion play into each other’s hands and feeling runs so strong usually in relation to glamour that it is impossible to bring in the light of knowledge with ease and effectiveness.

Sự soi sáng và ánh sáng của tri thức có thể được xem là các thuật ngữ đồng nghĩa, và nhiều ảo cảm có thể được làm tiêu tan và phân tán khi được đặt dưới quyền năng của thể trí thông tin, vì thể trí về bản chất là kẻ chế phục cảm xúc thông qua việc trình bày sự kiện. Vấn đề là [145] khiến cá nhân, dân tộc hay quốc gia đang hành động dưới ảnh hưởng của ảo cảm kêu gọi quyền năng trí tuệ để đánh giá tình hình và đặt nó dưới một sự khảo sát điềm tĩnh, lạnh lùng. Ảo cảm và cảm xúc tiếp tay cho nhau, và cảm giác thường vận hành mạnh mẽ đến mức, trong liên hệ với ảo cảm, gần như không thể đưa ánh sáng của tri thức vào một cách dễ dàng và hiệu quả.

Illumination and perception of truth are also synonymous terms, but it should be remembered that the truth in this case is not truth on the abstract planes but concrete and knowable truth—truth which can be formulated and expressed in concrete form and terms. Where the light of truth is called in, glamour automatically disappears, even if only for a temporary period. But, again, difficulty arises because few people care to face the actual truth, for it involves eventually the abandonment of the beloved glamour and the ability to recognise error and to admit mistakes, and this the false pride of the mind will not permit. Again, I would assure you that humility is one of the most potent factors in releasing the illuminating power of the mind, as it reflects and transmits the light of the soul. The determined facing of the factual life and the stern recognition of truth—coldly, calmly and dispassionately—will greatly facilitate the calling in of the flood of illumination which will suffice to dispel glamour.

Sự soi sáng và sự tri nhận chân lý cũng là các thuật ngữ đồng nghĩa, nhưng cần nhớ rằng chân lý trong trường hợp này không phải là chân lý trên các cõi trừu tượng, mà là chân lý cụ thể và khả tri—chân lý có thể được trình bày và biểu hiện trong hình thức cùng thuật ngữ cụ thể. Nơi nào ánh sáng của chân lý được kêu gọi vào, ảo cảm tự động biến mất, dù chỉ trong một thời kỳ tạm thời. Nhưng, một lần nữa, khó khăn phát sinh vì ít người muốn đối diện với chân lý thực tế, bởi rốt cuộc điều đó bao hàm việc từ bỏ ảo cảm yêu dấu và khả năng nhận ra lỗi lầm cũng như thừa nhận sai sót, và điều này lòng kiêu hãnh giả trá của thể trí sẽ không cho phép. Một lần nữa, tôi muốn bảo đảm với bạn rằng sự khiêm nhường là một trong những yếu tố mạnh mẽ nhất trong việc giải phóng quyền năng soi sáng của thể trí, khi nó phản chiếu và truyền dẫn ánh sáng của linh hồn. Việc kiên quyết đối diện với đời sống sự kiện và sự thừa nhận nghiêm khắc chân lý—một cách lạnh lùng, điềm tĩnh và vô tư—sẽ tạo thuận lợi rất lớn cho việc kêu gọi dòng lũ soi sáng vốn đủ để xua tan ảo cảm.

[Webinar 146]

As we are dealing with the problem of glamour and illumination, it might be of value here if I dealt with the particular glamour which I would ask your group to aid in dispelling. I refer here to the glamour of separateness. Work along this line will have most practical and salutary implications, for none of you (as you will discover) will be able to work effectively on this matter if you feel any sense of separativeness; this separative reaction may express itself as hatred, as an active dislike or as a voiced criticism—[146] perhaps, in some cases, all three. There are forces which you may personally regard as separativeness or as the cause of separation. I would remind you that the favourite views and cherished beliefs of those to whom you are mentally opposed (often under the guise of a strenuous adherence to what you regard as right principles) are to those who hold them equally right; they feel that your views are erroneous and they regard them as separative in their effect and as the basis of trouble. They are, in their place, as sincere as you are and as eager for the achievement of the right attitude as you feel yourself to be. This is something often forgotten and I would remind you of it. I might also illustrate this point by pointing out to you that the hatred or the dislike (if hatred is too strong a word) that any of you may feel for the activities of the German Government, and for the line that they have taken against the Jewish people, might be turned with almost equal justification against the Jews themselves. The latter have always been separative and have regarded themselves as “the chosen of the Lord” and have never proved assimilable in any nation. The same can be said of the Germans, and from many they evoke the same reaction as they mete out to the Jew, though not the physical persecution. Neither attitude, as you well know, is justifiable from the angle of the soul; they are both equally wrong, and this is a point of view which the Jew and the anti-Jew must eventually understand and, through understanding, bring to an end.

Vì chúng ta đang bàn đến vấn đề ảo cảm và sự soi sáng, ở đây có thể hữu ích nếu tôi đề cập đến ảo cảm đặc thù mà tôi muốn yêu cầu nhóm của các bạn trợ giúp xua tan. Ở đây tôi nói đến ảo cảm của tính chia rẽ. Công việc theo đường hướng này sẽ có những hàm ý rất thực tiễn và lành mạnh, vì không ai trong các bạn, như các bạn sẽ khám phá, có thể làm việc hiệu quả về vấn đề này nếu các bạn cảm thấy bất cứ cảm thức chia rẽ nào; phản ứng chia rẽ này có thể tự biểu hiện như hận thù, như sự không ưa thích chủ động, hoặc như sự phê phán được nói ra—[146] có lẽ, trong một vài trường hợp, cả ba. Có những mãnh lực mà cá nhân bạn có thể xem là tính chia rẽ hay là nguyên nhân của sự chia rẽ. Tôi muốn nhắc bạn rằng những quan điểm ưa thích và các niềm tin được trân trọng của những người mà bạn đối lập về mặt trí tuệ, thường dưới vỏ bọc của sự bám chặt mạnh mẽ vào điều bạn xem là các nguyên tắc đúng, thì đối với những người nắm giữ chúng cũng đúng như nhau; họ cảm thấy quan điểm của bạn là sai lầm và xem chúng là có hiệu quả chia rẽ và là nền tảng của rắc rối. Ở vị trí của họ, họ cũng chân thành như bạn và cũng tha thiết đạt được thái độ đúng đắn như bạn cảm thấy mình như vậy. Đây là điều thường bị quên lãng, và tôi muốn nhắc bạn về điều đó. Tôi cũng có thể minh họa điểm này bằng cách chỉ ra cho bạn rằng sự hận thù hay không ưa thích, nếu hận thù là từ quá mạnh, mà bất cứ ai trong các bạn có thể cảm thấy đối với các hoạt động của Chính phủ Đức, và đối với đường lối họ đã chọn chống lại dân Do Thái, cũng có thể được quay lại chống chính người Do Thái với sự biện minh gần như ngang bằng. Những người sau luôn luôn có tính chia rẽ và đã xem mình là “dân được Chúa chọn”, và chưa bao giờ chứng tỏ có thể được đồng hóa trong bất cứ quốc gia nào. Điều tương tự cũng có thể nói về người Đức, và từ nhiều người, họ gợi lên cùng một phản ứng như phản ứng họ gây ra cho người Do Thái, dù không phải là sự bách hại hồng trần. Như bạn biết rõ, không thái độ nào có thể biện minh được từ góc độ linh hồn; cả hai đều đều sai, và đây là một quan điểm mà người Do Thái và người chống Do Thái cuối cùng phải thấu hiểu và, thông qua sự thấu hiểu, chấm dứt.

I mention this because I am going to ask you to deal with that ancient and world-wide glamour—the glamour of the hatred of the Jew. In this group there are those who are, in their thought at least, violently anti-German; there are others who are definitely, though intelligently, anti-Jew. I would ask those in both these groups to recognise the problem with which they are faced. It is a problem which [147] is so very ancient and deeply rooted in the consciousness of the race that it is far bigger than the individual can possibly vision; the individual point of view is consequently so limited that constructive usefulness is noticeably impaired. After all, my brothers, the point of view of the “under dog” is not necessarily the only one or necessarily always the correct one. Both the Germans and the Jews merit our impersonal love, particularly as they are both guilty (if I may use such a term) of the same basic errors and faults. The German is powerfully race conscious; so is the Jew. The German is separative in his attitude to the world; so is the Jew. The German insists today on racial purity, a thing upon which the Jew has insisted for centuries. A small group of Germans are anti-Christian; so are an equally small number of Jews. I could continue piling up these resemblances but the above will suffice. Therefore, your dislike of one group is not more warranted than your refusal to recognise any justification for the activities and attitudes of the other. Like frequently repudiates and swings away from like, and the Germans and the Jews are curiously alike. Just as many British people and the preponderance of the British race are reincarnated Romans, so many Germans are reincarnated Jews. Hence the similarity of their points of view. It is a family quarrel and there is nothing more terrible than this.

Tôi đề cập điều này vì tôi sắp yêu cầu các bạn xử lý ảo cảm cổ xưa và toàn thế giới ấy—ảo cảm của lòng hận thù đối với người Do Thái. Trong nhóm này có những người, ít nhất trong tư tưởng của họ, chống Đức một cách mãnh liệt; có những người khác chống Do Thái một cách rõ ràng, dù thông minh. Tôi yêu cầu những người trong cả hai nhóm này nhận ra vấn đề mà họ đang đối diện. Đó là một vấn đề [147] rất cổ xưa và ăn rễ sâu trong tâm thức của nhân loại đến mức nó lớn hơn nhiều so với điều cá nhân có thể hình dung; do đó, quan điểm cá nhân bị giới hạn đến mức tính hữu ích xây dựng bị suy giảm rõ rệt. Xét cho cùng, các huynh đệ của tôi, quan điểm của “kẻ bị áp bức” không nhất thiết là quan điểm duy nhất hay nhất thiết luôn luôn đúng. Cả người Đức và người Do Thái đều xứng đáng với tình thương vô ngã của chúng ta, đặc biệt vì cả hai đều phạm, nếu tôi có thể dùng thuật ngữ như vậy, cùng những sai lầm và khuyết điểm căn bản. Người Đức có ý thức chủng tộc mạnh mẽ; người Do Thái cũng vậy. Người Đức có thái độ chia rẽ đối với thế giới; người Do Thái cũng vậy. Ngày nay người Đức khăng khăng về sự thuần chủng, một điều mà người Do Thái đã khăng khăng trong nhiều thế kỷ. Một nhóm nhỏ người Đức chống Kitô giáo; một số lượng nhỏ tương đương người Do Thái cũng vậy. Tôi có thể tiếp tục chất chồng những điểm tương đồng này, nhưng những điều trên là đủ. Vì vậy, sự không ưa thích của bạn đối với một nhóm không được bảo đảm nhiều hơn việc bạn từ chối nhận ra bất cứ sự biện minh nào cho các hoạt động và thái độ của nhóm kia. Cái giống nhau thường phủ nhận và quay lưng khỏi cái giống nhau, và người Đức cùng người Do Thái giống nhau một cách kỳ lạ. Cũng như nhiều người Anh và phần lớn dân tộc Anh là những người La Mã tái sinh, nhiều người Đức là những người Do Thái tái sinh. Do đó có sự tương đồng trong các quan điểm của họ. Đó là một cuộc tranh chấp gia đình, và không có gì khủng khiếp hơn điều này.

I am going to ask you to take the Germans and the Jews into your group meditation and pour out your group love upon both these divisions of your brothers in the human family. See to it that before you begin your meditation you have freed yourselves—emotions and mind—from any latent antagonisms, from any hatreds, from any preconceived ideas of right or wrong but that you simply fall back upon the love of your souls, remembering that both [148] Jews and Germans are souls as you are and identical in their origin, their goal and their life experience with yours.

Tôi sắp yêu cầu các bạn đưa người Đức và người Do Thái vào tham thiền nhóm của các bạn, và tuôn đổ tình thương nhóm của các bạn lên cả hai bộ phận huynh đệ này trong gia đình nhân loại. Hãy bảo đảm rằng trước khi bắt đầu tham thiền, các bạn đã giải thoát chính mình—về cảm xúc và thể trí—khỏi mọi đối kháng tiềm ẩn, mọi hận thù, mọi ý tưởng định kiến về đúng hay sai, và rằng các bạn chỉ đơn giản nương trở lại vào tình thương của linh hồn mình, ghi nhớ rằng cả [148] người Do Thái lẫn người Đức đều là linh hồn như các bạn, và đồng nhất với các bạn trong nguồn gốc, mục tiêu và kinh nghiệm sống của họ.

As you pour out the stream of pure white light (as Stage III instructs you), see to it that it pours through you with purity and clarity as one stream. Then see it bisect into equal quantities or proportions—one stream of living light and love going to the Jews and the other to the German peoples. The quality of your love will count and not so much the accuracy of your analysis or the perfection of your technique.

Khi bạn tuôn đổ dòng ánh sáng trắng tinh khiết (như Giai đoạn III chỉ dẫn bạn), hãy bảo đảm rằng nó tuôn chảy qua bạn trong sự tinh khiết và trong sáng như một dòng duy nhất. Rồi hãy thấy nó phân đôi thành những lượng hay tỉ lệ bằng nhau—một dòng ánh sáng sống động và tình thương đi đến người Do Thái, và dòng kia đi đến các dân tộc Đức. Phẩm tính tình thương của bạn mới là điều quan trọng, chứ không phải quá nhiều ở sự chính xác trong phân tích của bạn hay sự hoàn hảo trong kỹ thuật của bạn.

[Webinar 147]

c. The Contrast between Maya and Inspiration.

Here we come definitely into the realm of material substance. This is essentially and in a peculiar manner the realm of force. Maya is predominantly (for the individual) the aggregate of the forces which control his septenary force centres to the exclusion, I would emphasise, of the controlling energy of the soul. Therefore, you will see that the bulk of humanity, until a man stands upon the Probationary Path, are under the control of maya, for a man succumbs to maya when he is controlled by any other force or forces than those energies which come direct from the soul, conditioning and controlling the lesser forces of the personality as they eventually and inevitably must and will.

Ở đây chúng ta chắc chắn đi vào lĩnh vực của chất liệu vật chất. Về bản chất và theo một cách đặc thù, đây là lĩnh vực của mãnh lực. Ảo lực chủ yếu là (đối với cá nhân) tổng hợp các mãnh lực kiểm soát những trung tâm mãnh lực thất phân của y, loại trừ, Tôi muốn nhấn mạnh, năng lượng kiểm soát của linh hồn. Do đó, bạn sẽ thấy rằng phần lớn nhân loại, cho đến khi một người đứng trên Con Đường Dự Bị, đều ở dưới sự kiểm soát của ảo lực, vì con người khuất phục ảo lực khi y bị kiểm soát bởi bất cứ mãnh lực hay các mãnh lực nào khác ngoài những năng lượng đến trực tiếp từ linh hồn, vốn tác động và kiểm soát các mãnh lực thấp hơn của phàm ngã, như cuối cùng và tất yếu chúng phải và sẽ làm.

When a man is under the control of physical, astral and mental forces, he is convinced at the time that they are, for him, right forces. Herein lies the problem of maya. Such forces, however, when they control a man, determine him in a separative attitude and produce an effect which feeds and stimulates the personality and does not bring in the energy of the soul, the true Individuality. This analysis should prove illuminating to you. If men and [149] women would bring their lives under a closer scrutiny by the true inner or spiritual man and could thus determine what combination of energies conditions their life activity, they would not continue to function—as they do now—so blindly, so inadequately and so ineffectually.

Khi một người ở dưới sự kiểm soát của các mãnh lực hồng trần, cảm dục và trí tuệ, vào lúc ấy y tin chắc rằng chúng là những mãnh lực đúng đắn đối với y. Chính trong đó có vấn đề của ảo lực. Tuy nhiên, khi các mãnh lực như thế kiểm soát con người, chúng quy định y trong một thái độ chia rẽ và tạo ra một tác động nuôi dưỡng, kích thích phàm ngã, chứ không đưa vào năng lượng của linh hồn, Cá Thể đích thực. Phân tích này sẽ chứng tỏ có sức soi sáng đối với bạn. Nếu những người nam và [149] nữ đem đời sống của mình ra dưới sự xem xét kỹ lưỡng hơn của con người bên trong chân thật hay con người tinh thần, và nhờ đó có thể xác định tổ hợp năng lượng nào tác động lên hoạt động sống của họ, thì họ sẽ không tiếp tục vận hành—như hiện nay—một cách mù quáng, thiếu thỏa đáng và kém hiệu quả như thế.

It is for this reason that the study and understanding of motives is of such value and importance, for such a study determines intellectually (if properly investigated) what factor or factors inspires the daily life. This is a statement worth careful consideration. I would ask you: What is your major actuating motive? For, whatever it may be, it conditions and determines your predominant life tendency.

Chính vì lý do này mà việc nghiên cứu và thấu hiểu các động cơ có giá trị và tầm quan trọng lớn lao như vậy, vì một nghiên cứu như thế xác định bằng trí tuệ (nếu được khảo sát đúng đắn) yếu tố hay các yếu tố nào truyền cảm hứng cho đời sống hằng ngày. Đây là một phát biểu đáng được suy xét cẩn thận. Tôi muốn hỏi bạn: Động cơ thúc đẩy chủ yếu của bạn là gì? Vì dù nó là gì đi nữa, nó tác động và quy định khuynh hướng đời sống nổi trội của bạn.

Many people, particularly the unintelligent masses, are solely inspired by desire—material, physical and temporary. Animal desire for the satisfaction of the animal appetites, material desire for possession and for the luxuries of existence, the longing for “things,” for comforts and for security—economic, social and religious—control the majority. The man is under the influence of the densest form of maya, and the forces of his nature are concentrated in the sacral centre. Others are motivated by some form of aspiration or ambition—aspiration towards some material heaven (and most religions portray heaven in this manner), ambitions for power, desire for the satisfaction of the emotional or aesthetic appetites and for the possession of the more subtle realities, and the longing for emotional comfort, for mental stability and assurance that the higher desires will meet with gratification. All this is maya in its emotional form, and it is not the same thing as glamour. In the case of glamour, the forces of a man’s nature are seated in the solar plexus. In the case of maya, they are seated in the sacral centre. Glamour is subtle and emotional. Maya is tangible and etheric.

Nhiều người, đặc biệt là quần chúng kém trí tuệ, chỉ được cảm hứng bởi dục vọng—vật chất, hồng trần và tạm thời. Dục vọng thú tính nhằm thỏa mãn các ham muốn thú tính, dục vọng vật chất đối với sở hữu và các xa hoa của đời sống, sự khao khát “đồ vật,” tiện nghi và an toàn—kinh tế, xã hội và tôn giáo—đang kiểm soát đa số. Con người ở dưới ảnh hưởng của hình thức ảo lực đậm đặc nhất, và các mãnh lực trong bản chất của y tập trung nơi trung tâm xương cùng. Những người khác được thúc đẩy bởi một hình thức khát vọng hay tham vọng nào đó—khát vọng hướng tới một thiên đường vật chất nào đó (và hầu hết các tôn giáo mô tả thiên đường theo cách này), tham vọng quyền lực, dục vọng thỏa mãn các ham muốn cảm xúc hay thẩm mỹ và sở hữu những thực tại vi tế hơn, cùng sự khao khát được an ủi về cảm xúc, ổn định về trí tuệ và bảo đảm rằng những dục vọng cao hơn sẽ được thỏa mãn. Tất cả điều này là ảo lực trong hình thức cảm xúc của nó, và không đồng nhất với ảo cảm. Trong trường hợp ảo cảm, các mãnh lực trong bản chất con người an trú nơi tùng thái dương. Trong trường hợp ảo lực, chúng an trú nơi trung tâm xương cùng. Ảo cảm thì vi tế và cảm xúc. Ảo lực thì hữu hình và dĩ thái.

[Webinar 148]

[150] Such are the forces of maya which actuate, motivate and energise the life of the ordinary man. Under their influence he is helpless for they inspire all his thinking, all his aspiration and his desire, and all his activity on the physical plane. His problem is twofold:

[150] Đó là những mãnh lực của ảo lực thúc đẩy, tạo động lực và tiếp sinh lực cho đời sống của con người bình thường. Dưới ảnh hưởng của chúng, y bất lực, vì chúng truyền cảm hứng cho toàn bộ tư tưởng, toàn bộ khát vọng và dục vọng của y, cũng như toàn bộ hoạt động của y trên cõi hồng trần. Vấn đề của y có hai mặt:

1. To bring all his centres under the inspiration of the soul.

1. Đưa tất cả các trung tâm của y vào dưới cảm hứng của linh hồn.

2. To transfer or transmute the forces of the lower centres, which control the personality, into the energies of the centres above the diaphragm, which respond automatically to the inspiration of the soul.

2. Chuyển dịch hay chuyển hoá các mãnh lực của những trung tâm thấp hơn, vốn kiểm soát phàm ngã, thành các năng lượng của những trung tâm phía trên hoành cách mô, vốn tự động đáp ứng với cảm hứng của linh hồn.

It is in this thought that the potency and the symbolic value of breathing exercises consists. The motive is soul control, and though the methods employed are (in many cases) definitely undesirable yet the developing tendency of the life thought will prove inevitably determining and conditioning. The methods used may not save the unprepared physical body from certain evil and disastrous results yet, in the long run and in the last analysis, they may condition the future experience (probably in another life) in such a manner that the aspirant will find himself more able to function as a soul than might otherwise have been the case.

Chính trong tư tưởng này có quyền năng và giá trị biểu tượng của các bài tập thở. Động cơ là sự kiểm soát của linh hồn, và dù các phương pháp được sử dụng (trong nhiều trường hợp) rõ ràng là không đáng mong muốn, khuynh hướng đang phát triển của tư tưởng đời sống rốt cuộc sẽ chứng tỏ có tính quyết định và tác động. Các phương pháp được dùng có thể không cứu thể xác chưa được chuẩn bị khỏi một số hậu quả xấu xa và tai hại, nhưng về lâu dài và xét đến cùng, chúng có thể tác động lên kinh nghiệm tương lai (có lẽ trong một đời sống khác) theo cách khiến người chí nguyện thấy mình có khả năng vận hành như một linh hồn hơn so với điều có thể xảy ra nếu không như vậy.

Before I close this particular instruction upon glamour, I would like to call the attention of the group to the occult sentences which I gave to D.L.R. prior to his leaving the group. They have a definite relation to the group work and I would like you to give them careful consideration and study. The Old Commentary, in speaking of the work of those whose dharma it is to dissipate world glamour, uses the following illuminating sentences:

Trước khi Tôi kết thúc huấn thị đặc biệt này về ảo cảm, Tôi muốn kêu gọi nhóm chú ý đến những câu huyền bí mà Tôi đã trao cho D.L.R. trước khi ông rời nhóm. Chúng có liên hệ rõ rệt với công việc nhóm, và Tôi muốn các bạn suy xét, nghiên cứu chúng cẩn thận. Cổ Luận, khi nói về công việc của những người có bổn phận làm tiêu tan ảo cảm thế giới, dùng những câu soi sáng sau đây:

“They come and stand. Within the midst of whirling forms—some of beauty rare and some of [151] horror and despair—they stand. They look not here or there but, with their faces turned towards the light, they stand. Thus through their minds the pure light streams to dissipate the fogs.

“Họ đến và đứng. Giữa những hình tướng xoáy cuộn—một số có vẻ đẹp hiếm có, một số đầy [151] kinh hoàng và tuyệt vọng—họ đứng. Họ không nhìn nơi này hay nơi kia, mà đứng với mặt hướng về ánh sáng. Như thế, qua thể trí của họ, ánh sáng tinh khiết tuôn chảy để làm tiêu tan các màn sương mù.

“They come and rest. They cease their outer labours, pausing to do a different work. Within their hearts is rest. They run not here and there, but constitute a point of peace and rest. That which upon the surface veils and hides the real begins to disappear and from the heart at rest a beam of dissipating force projects, blends with the shining light and then the mists of man’s creation disappear.

“Họ đến và nghỉ. Họ ngừng các công việc bên ngoài, dừng lại để làm một công việc khác. Trong tim họ có sự nghỉ ngơi. Họ không chạy đây chạy đó, mà tạo thành một điểm bình an và nghỉ ngơi. Điều trên bề mặt che phủ và ẩn giấu thực tại bắt đầu biến mất, và từ trái tim an nghỉ, một tia mãnh lực làm tiêu tan được phóng chiếu ra, hòa nhập với ánh sáng rực rỡ, rồi những màn sương mù do con người tạo ra biến mất.

“They come and they observe. They own the eye of vision; likewise they own the right direction of the needed force. They see the glamour of the world, and seeing, they note behind it all the true, the beautiful, the real. Thus through the eye of Buddhi comes the power to drive away the veiling, swirling glamours of that glamorous world.

“Họ đến và họ quan sát. Họ sở hữu con mắt của tầm nhìn; đồng thời họ sở hữu hướng đi đúng của mãnh lực cần thiết. Họ thấy ảo cảm của thế giới, và khi thấy, họ ghi nhận phía sau tất cả điều đó cái chân, cái mỹ, cái thực. Như thế, qua con mắt của Bồ đề, quyền năng xua tan các ảo cảm che phủ, xoáy cuộn của thế giới đầy ảo cảm ấy xuất hiện.

“They stand, they rest, and they observe. Such are their lives and such the service that they render to the souls of men.”

“Họ đứng, họ nghỉ, và họ quan sát. Đời sống của họ là như thế, và sự phụng sự mà họ thực hiện cho linh hồn của nhân loại cũng là như thế.”

I would commend these lines to your careful thought. They convey to you not only the field of your group service but also the desired attitude of the personal life of every member of the group.

Tôi muốn trao những dòng này cho sự suy nghĩ cẩn thận của các bạn. Chúng truyền đạt cho các bạn không chỉ lĩnh vực phụng sự nhóm của các bạn, mà còn cả thái độ mong muốn trong đời sống cá nhân của mỗi thành viên trong nhóm.

[Webinar 149]   [Webinar 150]

I would also like, at this point, to touch upon a factor of real importance in this work and to repeat my earlier warning: Will you remember that the effort to free yourselves from irritation or from what is called in Agni Yoga “imperil” (a peculiar yet satisfying word, my brothers) is particularly essential for this group? Irritation is exceedingly prevalent these days of nervous tension and it most [152] definitely imperils progress and retards the steps of the disciple upon the Way. It can produce dangerous group tension if present in any of you, and this induced group tension can interfere with the free play of the power and light which you are supposed to use, even when the other group members remain unconscious of the emanating source. Irritation definitely generates a poison which locates itself in the region of the stomach and of the solar plexus. Irritation is a disease, if I might use that word, of the solar plexus centre and it is definitely contagious to an almost alarming extent. So, my brothers, watch yourselves with care and remember that just in so far as you can live in the head and in the heart, you will end the disease of imperil and aid in the transference of the forces of the solar plexus into the heart centre.

Tôi cũng muốn, vào điểm này, đề cập đến một yếu tố có tầm quan trọng thực sự trong công việc này và lặp lại lời cảnh báo trước đây của Tôi: Các bạn có nhớ rằng nỗ lực giải phóng chính mình khỏi sự bực dọc hay khỏi điều được gọi trong Agni Yoga là “imperil” (một từ đặc biệt nhưng thỏa đáng, các huynh đệ của Tôi) là điều đặc biệt thiết yếu đối với nhóm này không? Sự cáu kỉnh cực kỳ phổ biến trong những ngày căng thẳng thần kinh này, và nó hết sức [152] chắc chắn gây nguy hại cho tiến bộ và làm chậm các bước của đệ tử trên Đường Đạo. Nếu hiện diện trong bất cứ ai trong các bạn, nó có thể tạo ra sự căng thẳng nhóm nguy hiểm, và sự căng thẳng nhóm được khơi dậy này có thể cản trở sự vận hành tự do của quyền năng và ánh sáng mà các bạn được giả định là phải sử dụng, ngay cả khi các thành viên khác trong nhóm vẫn không ý thức về nguồn phát xạ. Sự cáu kỉnh chắc chắn tạo ra một chất độc định vị nơi vùng dạ dày và tùng thái dương. Sự cáu kỉnh là một chứng bệnh, nếu Tôi có thể dùng từ ấy, của trung tâm tùng thái dương, và chắc chắn có tính lây lan đến mức gần như đáng báo động. Các huynh đệ của Tôi, vì vậy, hãy cẩn thận quan sát chính mình và hãy nhớ rằng đúng trong mức độ các bạn có thể sống trong đầu và trong tim, các bạn sẽ chấm dứt căn bệnh nguy hại và hỗ trợ việc chuyển dịch các mãnh lực của tùng thái dương vào trung tâm tim.

[Webinar 151]

d. The Contrast between the Dweller and its opposite, the Angel of the Presence.

The entire subject of the Dweller and its relation to the Angel (a symbolic way of dealing with a great relationship and possibility, and a great fact in manifestation) is only now possible of consideration. Only when man is an integrated personality does the problem of the Dweller truly arise, and only when the mind is alert and the intelligence organised (as is becoming the case today on a fairly large scale) is it possible for man to sense—intelligently and not just mystically—the Angel and so intuit the PRESENCE. Only then does the entire question of hindrances which the Dweller embodies, and the limitations which it provides to spiritual contact and realisation assume potent proportions. Only then can they be usefully considered and steps taken to induce right action. Only when there is adequate fusion within humanity as a whole does [153] the great human Dweller on the Threshold appear as an integrated entity, or the Dweller in a national or racial sense makes its appearance, spreading and vitalising national, racial and planetary glamour, fostering and feeding individual glamours and making the entire problem unmistakably apparent. Only then can the relation between the soul of humanity and the generated forces of its ancient and potent personality assume proportions which call for drastic activity and intelligent cooperation.

Toàn bộ chủ đề về Kẻ Chận Ngõ và mối liên hệ của nó với Thiên Thần (một cách biểu tượng để đề cập đến một mối quan hệ và khả năng lớn lao, cùng một sự kiện lớn lao trong biểu hiện) chỉ nay mới có thể được xem xét. Chỉ khi con người là một Phàm ngã tích hợp thì vấn đề Kẻ Chận Ngõ mới thật sự nảy sinh; và chỉ khi thể trí tỉnh thức, trí tuệ được tổ chức (như ngày nay đang trở nên như vậy trên một quy mô khá rộng), con người mới có thể cảm nhận—một cách thông minh chứ không chỉ thần bí—Thiên Thần, và nhờ đó trực nhận HIỆN DIỆN. Chỉ khi ấy toàn bộ vấn đề về những chướng ngại mà Kẻ Chận Ngõ hiện thân, và những giới hạn mà nó đặt ra đối với sự tiếp xúc và chứng nghiệm tinh thần, mới mang những tỉ lệ mạnh mẽ. Chỉ khi ấy chúng mới có thể được xem xét một cách hữu ích và các bước mới được thực hiện để khơi dậy hành động đúng. Chỉ khi có sự dung hợp đầy đủ trong toàn thể nhân loại thì [153] Kẻ Chận Ngõ vĩ đại của nhân loại trên Ngưỡng Cửa mới xuất hiện như một thực thể tích hợp, hoặc Kẻ Chận Ngõ theo ý nghĩa quốc gia hay giống dân mới xuất hiện, lan tỏa và tiếp sinh lực cho ảo cảm quốc gia, giống dân và hành tinh, nuôi dưỡng và bồi đắp các ảo cảm cá nhân, đồng thời làm cho toàn bộ vấn đề trở nên hiển nhiên không thể nhầm lẫn. Chỉ khi ấy mối liên hệ giữa linh hồn của nhân loại và các mãnh lực được sinh ra từ phàm ngã cổ xưa và mạnh mẽ của nó mới mang những tỉ lệ đòi hỏi hành động quyết liệt và sự hợp tác thông minh.

Such a time has now come, and in the two books, Problems of Humanity and The Reappearance of the Christ, and also in the Wesak and June Full Moon messages, I have dealt with this most practical and urgent situation, which is in itself the guarantee of human progress toward its destined goal as well as the assertion of its major hindrances to spiritual realisation. The sections on which we shall now be engaged are of prime importance to all who are in training for initiation. I said “in training,” my brothers; I did not say that you would take initiation in this life. I know not myself whether you will or no; the issue lies in your hands and in your planned destiny—planned by your souls. Your problem is essentially that of learning to handle the Dweller on the Threshold and of ascertaining the procedures and the processes whereby the momentous activity of fusion can take place. Through the medium of this fusion the Dweller “disappears and is no more seen, though still he functions on the outer plane, the agent of the Angel; the light absorbs the Dweller, and into obscuration—radiant yet magnetic—this ancient form of life dissolves though keeping still its form; it rests and works but is not now itself.” Such are the paradoxical statements of the Old Commentary.

Một thời điểm như thế nay đã đến, và trong hai quyển sách, Các Vấn Đề của Nhân LoạiSự Tái Lâm của Đức Christ, cũng như trong các thông điệp Trăng Tròn lễ Tam Hợp và tháng Sáu, Tôi đã đề cập đến tình thế hết sức thực tiễn và cấp bách này, vốn tự nó là bảo chứng cho tiến bộ của nhân loại hướng tới mục tiêu đã định, cũng như là sự khẳng định những chướng ngại lớn của nhân loại đối với chứng nghiệm tinh thần. Các phần mà chúng ta sắp khảo sát có tầm quan trọng hàng đầu đối với tất cả những ai đang được huấn luyện cho điểm đạo. Tôi đã nói “đang được huấn luyện,” các huynh đệ của Tôi; Tôi không nói rằng các bạn sẽ được điểm đạo trong đời này. Chính Tôi cũng không biết các bạn sẽ hay không; vấn đề nằm trong tay các bạn và trong định mệnh đã được hoạch định của các bạn—được hoạch định bởi linh hồn các bạn. Vấn đề của các bạn về bản chất là học cách xử lý Kẻ Chận Ngõ và xác định các thủ tục cùng tiến trình nhờ đó hoạt động dung hợp trọng đại có thể diễn ra. Thông qua phương tiện của sự dung hợp này, Kẻ Chận Ngõ “biến mất và không còn được thấy nữa, dù y vẫn hoạt động trên cõi bên ngoài, tác nhân của Thiên Thần; ánh sáng hấp thu Kẻ Chận Ngõ, và trong sự khuất lấp—rạng rỡ nhưng từ tính—hình thức sự sống cổ xưa này tan biến, dù vẫn giữ hình tướng của nó; nó nghỉ ngơi và làm việc, nhưng nay không còn là chính nó nữa.” Đó là những phát biểu nghịch lý của Cổ Luận.

I have earlier defined for you in as simple terms as possible the nature of the Dweller. I would like, however, [154] to enlarge upon one or two points and give one or two new suggestions which—for the sake of clarity and for your more rapid comprehension—we will tabulate as follows:

Trước đây Tôi đã định nghĩa cho các bạn bằng những thuật ngữ giản dị nhất có thể về bản chất của Kẻ Chận Ngõ. Tuy nhiên, Tôi muốn [154] mở rộng thêm một hoặc hai điểm và đưa ra một hoặc hai gợi ý mới; vì sự rõ ràng và để các bạn lĩnh hội nhanh hơn, chúng ta sẽ lập bảng như sau:

[Webinar 152]

1. The Dweller on the Threshold is essentially the personality; it is an integrated unity composed of physical forces, vital energy, astral forces and mental energies, constituting the sum total of the lower nature.

1. Kẻ Chận Ngõ về bản chất là phàm ngã; đó là một nhất thể tích hợp gồm các mãnh lực hồng trần, năng lượng sinh lực, các mãnh lực cảm dục và các năng lượng trí tuệ, cấu thành tổng cộng toàn bộ bản chất thấp.

2. The Dweller takes form when a re-orientation of man’s life has taken place consciously and under soul impression; the whole personality is then theoretically directed towards liberation into service. The problem is to make the theory and the aspiration facts in experience.

2. Kẻ Chận Ngõ thành hình khi một sự tái định hướng trong đời sống con người đã diễn ra một cách có ý thức và dưới ấn tượng của linh hồn; khi ấy toàn bộ phàm ngã về mặt lý thuyết được hướng tới sự giải thoát để bước vào phụng sự. Vấn đề là biến lý thuyết và khát vọng thành các sự kiện trong kinh nghiệm.

3. For a great length of time the forces of the personality do not constitute a Dweller. The man is not on the threshold of divinity; he is not consciously aware of the Angel. His forces are inchoate; he works unconsciously in his environment, the victim of circumstance and of his own nature apparently and under the lure and the urge of desire for physical plane activity and existence. When, however, the life of the man is ruled from the mental plane, plus desire or ambition, and he is controlled at least to some large extent by mental influence, then the Dweller begins to take shape as a unified force.

3. Trong một thời gian rất dài, các mãnh lực của phàm ngã không cấu thành một Kẻ Chận Ngõ. Con người chưa ở trên ngưỡng cửa của thiên tính; y chưa ý thức nhận biết Thiên Thần. Các mãnh lực của y còn hỗn độn; y hoạt động vô thức trong môi trường của mình, dường như là nạn nhân của hoàn cảnh và của chính bản chất mình, dưới sức lôi cuốn và thôi thúc của dục vọng đối với hoạt động và sự hiện hữu trên cõi hồng trần. Tuy nhiên, khi đời sống của con người được cai quản từ cõi trí, cộng thêm dục vọng hay tham vọng, và y bị kiểm soát ít nhất ở một mức độ khá lớn bởi ảnh hưởng trí tuệ, thì Kẻ Chận Ngõ bắt đầu thành hình như một mãnh lực thống nhất.

4. The stages wherein the Dweller on the Threshold is recognised, subjected to a discriminating discipline and finally controlled and mastered, are mainly three:

4. Các giai đoạn trong đó Kẻ Chận Ngõ được nhận ra, đặt dưới một kỷ luật phân biện, và cuối cùng được kiểm soát, chế ngự, chủ yếu có ba:

a. The stage wherein the personality dominates and rules the life and ambitions and the goals of man’s life-endeavour. The Dweller then controls.

a. Giai đoạn trong đó phàm ngã chi phối và cai quản đời sống, các tham vọng và các mục tiêu trong nỗ lực đời sống của con người. Khi ấy Kẻ Chận Ngõ kiểm soát.

b. The stage of a growing cleavage in the consciousness [155] of the disciple. The Dweller or the personality is then urged in two directions: one, towards the pursuit of personal ambitions and desires in the three worlds; the other, in which the effort is made by the Dweller (note this statement) to take a stand upon the threshold of divinity and before the Portal of Initiation.

b. Giai đoạn có sự phân rẽ ngày càng tăng trong tâm thức [155] của đệ tử. Khi ấy Kẻ Chận Ngõ hay phàm ngã bị thúc đẩy theo hai hướng: một là hướng tới việc theo đuổi các tham vọng và dục vọng cá nhân trong ba cõi thấp; hướng kia, trong đó Kẻ Chận Ngõ nỗ lực (hãy lưu ý phát biểu này) đứng trên ngưỡng cửa của thiên tính và trước Cánh Cổng Điểm Đạo.

c. The stage wherein the Dweller consciously seeks the cooperation of the soul and, though still in itself essentially constituting a barrier to spiritual progress, is more and more influenced by the soul than by its lower nature.

c. Giai đoạn trong đó Kẻ Chận Ngõ có ý thức tìm kiếm sự hợp tác của linh hồn và, dù tự thân nó vẫn về bản chất cấu thành một rào cản đối với tiến bộ tinh thần, nó ngày càng chịu ảnh hưởng của linh hồn nhiều hơn là của bản chất thấp của nó.

5. When the final stage is reached (and many are now reaching it today) the disciple strives with more or less success to steady the Dweller (by learning to “hold the mind steady in the light” and thus controlling the lower nature). In this way the constant fluid changefulness of the Dweller is gradually overcome; its orientation towards reality and away from the Great Illusion is made effective, and the Angel and the Dweller are slowly brought into a close rapport.

5. Khi đạt đến giai đoạn cuối cùng (và ngày nay nhiều người đang đạt đến giai đoạn ấy), đệ tử nỗ lực với mức độ thành công nhiều hay ít để làm vững Kẻ Chận Ngõ (bằng cách học “giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng” và nhờ đó kiểm soát bản chất thấp). Bằng cách này, sự đổi thay linh động liên tục của Kẻ Chận Ngõ dần dần được vượt qua; sự định hướng của nó về phía thực tại và rời khỏi Đại Ảo Tưởng trở nên hiệu quả, và Thiên Thần cùng Kẻ Chận Ngõ từ từ được đưa vào một mối liên hệ mật thiết.

6. In the earlier stages of effort and of attempted control, the Dweller is positive and the Soul is negative in their effects in the three worlds of human endeavour. Then there is a period of oscillation, leading to a life of equilibrium wherein neither aspect appears to dominate; after that the balance changes and the personality steadily becomes negative and the soul or psyche becomes dominant and positive.

6. Trong các giai đoạn đầu của nỗ lực và của sự cố gắng kiểm soát, Kẻ Chận Ngõ là dương tính và Linh hồn là âm tính trong các tác động của chúng nơi ba cõi của nỗ lực nhân loại. Rồi có một thời kỳ dao động, dẫn tới một đời sống quân bình trong đó không phương diện nào dường như chi phối; sau đó cán cân thay đổi, phàm ngã đều đặn trở nên âm tính, còn linh hồn hay tâm hồn trở nên chi phối và dương tính.

7. The astrological influences can potently affect these situations and—speaking generally and within certain esoteric limits—it might be noted that: [156]

7. Các ảnh hưởng chiêm tinh có thể tác động mạnh mẽ đến những tình huống này, và—nói chung cũng như trong một số giới hạn huyền bí nhất định—có thể lưu ý rằng: [156]

a.

Leo

controls the positive Dweller.

a.

Sư Tử

chi phối Kẻ Chận Ngõ tích cực.

b.

Gemini

controls the processes of oscillation.

b.

Song Tử

chi phối các quá trình dao động.

c.

Sagittarius

controls the negative Dweller.

c.

Nhân Mã

chi phối Kẻ Chận Ngõ tiêu cực.

It might be added that the three signs—Scorpio, Sagittarius, Capricorn—lead finally to the fusion of the Dweller and the Angel.

Có thể nói thêm rằng ba dấu hiệu—Hổ Cáp, Nhân Mã, Ma Kết—cuối cùng dẫn đến sự dung hợp của Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần.

8. The soul ray controls and conditions the activity of the Angel and its type of influence upon the Dweller. It affects karma, times and seasons.

8. Cung linh hồn kiểm soát và tác động lên hoạt động của Thiên Thần cũng như loại ảnh hưởng của Thiên Thần đối với Kẻ Chận Ngõ. Nó ảnh hưởng đến nghiệp quả, thời kỳ và chu kỳ.

9. The personality ray controls the Dweller in all the earlier states and up to the time when the soul ray begins steadily to produce a growing effect. This personality ray is, as you know, a combination of three energies which produce the fourth or personality ray, through the medium of their inter-relation over a vast period of time.

9. Cung phàm ngã kiểm soát Kẻ Chận Ngõ trong tất cả các trạng thái ban đầu và cho đến lúc cung linh hồn bắt đầu đều đặn tạo ra một tác động ngày càng tăng. Cung phàm ngã này, như các bạn biết, là một tổ hợp của ba năng lượng tạo ra cung thứ tư hay cung phàm ngã, thông qua phương tiện là mối tương quan qua lại của chúng trong một thời kỳ vô cùng dài.

10. Therefore, the five types of energy which I indicated to you as of importance in your own lives when I gave you indications as to the nature of your five controlling rays, govern also the relation between the Dweller and the Angel, both in the individual and in humanity as a whole. These five are the rays of the physical body, the astral ray, the mind ray, the personality ray and the soul ray.

10. Do đó, năm loại năng lượng mà Tôi đã chỉ cho các bạn là quan trọng trong đời sống riêng của các bạn, khi Tôi đưa ra các chỉ dẫn về bản chất năm cung kiểm soát của các bạn, cũng chi phối mối liên hệ giữa Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần, cả nơi cá nhân lẫn nơi toàn thể nhân loại. Năm cung này là cung của thể xác, cung thể cảm dục, cung thể trí, cung phàm ngã và cung linh hồn.

[Webinar 153]    [Webinar 154]

11. The rays which govern humanity and which condition humanity and the present world problem are as follows:

11. Các cung cai quản nhân loại và tác động lên nhân loại cùng vấn đề thế giới hiện nay là như sau:

a.

The Soul ray

2nd

humanity must express love.

a.

Cung linh hồn

thứ 2

nhân loại phải biểu lộ tình thương.

b.

The personality ray

3rd

developing intelligence for transmutation into love-wisdom.

b.

Cung phàm ngã

thứ 3

phát triển trí năng để chuyển hoá thành bác ái-minh triết.

c.

Mind ray

5th

scientific achievement.

c.

Cung trí

thứ 5

thành tựu khoa học.

d.

Astral ray

6th

idealistic development.

d.

Cung cảm dục

thứ 6

phát triển lý tưởng.

e.

Physical ray

7th

organisation. Business.

e.

Cung thể xác

thứ 7

tổ chức. Kinh doanh.

[157] The soul ray controls for an entire life period. The personality rays given above are for the Piscean Age which is now beginning to pass out; but these have definitely and irrevocably conditioned humanity.

[157] Cung linh hồn kiểm soát trong suốt cả một chu kỳ đời sống. Các cung phàm ngã được nêu ở trên là dành cho Kỷ Nguyên Song Ngư, hiện đang bắt đầu qua đi; nhưng chúng đã tác động lên nhân loại một cách rõ rệt và không thể đảo ngược.

You will note also that the first Ray of Will or Power is missing as is the fourth Ray of Harmony through Conflict. This fourth ray is always active as it controls in a peculiar manner the fourth creative Hierarchy and might be regarded as forming the basic personality ray of the fourth creative Hierarchy. The one given above is a transient and fleeting personality ray of a minor incarnation.

Bạn cũng sẽ lưu ý rằng Cung một của Ý Chí hay Quyền Lực vắng mặt, cũng như Cung bốn của Hài Hòa qua Xung Đột. Cung bốn này luôn luôn hoạt động, vì nó kiểm soát theo một cách đặc thù Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư và có thể được xem như tạo thành cung phàm ngã cơ bản của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư. Cung được nêu ở trên là một cung phàm ngã thoáng qua và tạm thời của một cuộc nhập thể thứ yếu.

12. In the Aquarian Age which is rapidly coming, the Dweller will present slightly different personality forces:

12. Trong Kỷ Nguyên Bảo Bình đang nhanh chóng đến gần, Kẻ Chận Ngõ sẽ trình hiện các mãnh lực phàm ngã hơi khác:

a.

Personality ray

5th

basic and determining.

a.

Cung phàm ngã

thứ 5

cơ bản và xác định.

b.

Mind ray

4th

the creative effect.

b.

Cung trí

thứ 4

hiệu ứng sáng tạo.

c.

Astral ray

6th

conditioning incentives.

c.

Cung cảm dục

thứ 6

các động cơ điều kiện hoá.

d.

Physical ray

7th

incoming ray.

d.

Cung thể xác

thứ 7

cung đang đến.

13. Each great cycle in the zodiac is in the nature of an incarnation of the human family, and each great race is a somewhat similar happening; the latter is, however, of more importance where the human understanding and consciousness is concerned. The analogy is to the few important incarnations in the life of the soul in contra-distinction to the many unimportant and rapidly succeeding incarnations. Of the important incarnations there are three which are of major import: the Lemurian, the Atlantean, and the Aryan races.

13. Mỗi chu kỳ lớn trong hoàng đạo có bản chất như một cuộc nhập thể của gia đình nhân loại, và mỗi giống dân lớn là một sự kiện phần nào tương tự; tuy nhiên, sự kiện sau quan trọng hơn xét theo sự thấu hiểu và tâm thức của con người. Sự tương đồng là với một vài cuộc nhập thể quan trọng trong đời sống của linh hồn, đối lập với nhiều cuộc nhập thể không quan trọng và nối tiếp nhanh chóng. Trong số các cuộc nhập thể quan trọng có ba cuộc có ý nghĩa chủ yếu: các giống dân Lemuria, Atlantis và Arya.

[Webinar 155]

14. Each race produced its own type of Dweller on the Threshold who was faced at the close of the spiritual cycle (not the physical which goes on to crystallisation) [158] when maturity was achieved and a certain initiation became possible for its advanced humanity.

14. Mỗi giống dân tạo ra loại Kẻ Chận Ngõ riêng của mình, đối diện vào lúc kết thúc chu kỳ tinh thần (không phải chu kỳ hồng trần, vốn tiếp tục đi tới sự kết tinh) [158] khi sự trưởng thành đã đạt được và một cuộc điểm đạo nào đó trở nên khả hữu cho phần nhân loại tiến bộ của giống dân ấy.

15. When a racial incarnation and a zodiacal cycle synchronise (which is not always the case) then there comes a significant and important focussing of the attention of the Dweller on the Angel and vice versa. This is taking place at this time at the close of the Piscean era and when the Aryan race has reached maturity and a relatively high water mark of development. Discipleship is significant of maturity, and it is with mature development that the Dweller is met. The Aryan race is ready for discipleship.

15. Khi một cuộc nhập thể giống dân và một chu kỳ hoàng đạo đồng bộ (điều không phải lúc nào cũng xảy ra), khi ấy xuất hiện một sự tập trung chú ý có ý nghĩa và quan trọng của Kẻ Chận Ngõ vào Thiên Thần và ngược lại. Điều này đang diễn ra vào lúc này, vào cuối kỷ nguyên Song Ngư và khi giống dân Arya đã đạt đến sự trưởng thành cùng một mức phát triển tương đối cao. Địa vị đệ tử biểu thị sự trưởng thành, và chính với sự phát triển trưởng thành mà Kẻ Chận Ngõ được gặp. Giống dân Arya đã sẵn sàng cho địa vị đệ tử.

16. The development of sensitivity in the individual and in the race indicates the imminence of the recognition of the Angel from both angles of vision and the immediacy of the opportunity. This opportunity for active fusion has never been so true as now.

16. Sự phát triển tính nhạy bén nơi cá nhân và nơi giống dân cho thấy sự nhận biết Thiên Thần đang đến gần từ cả hai góc nhìn, và cơ hội đang ở ngay trước mắt. Cơ hội cho sự dung hợp tích cực này chưa bao giờ chân thật như hiện nay.

17. The lines of demarcation as existing between the recognised areas of influence between the Dweller and the Angel are clearer than ever before in the history of the race. Man knows the difference between right and wrong and must now choose the way that he shall go. In the Atlantean racial crisis (which was also a complete human crisis), the history of which is perpetuated for us in the Bhagavad Gita, Arjuna—symbol of the then disciple and the world disciple—was frankly bewildered. This is not so true now. The disciples of the world and the world disciple do see the issues today relatively quite clearly. Will expediency win or will the Dweller be sacrificed with love and understanding to the Angel? This is the major problem.

17. Các ranh giới phân định giữa những vùng ảnh hưởng được nhận ra của Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần ngày nay rõ ràng hơn bao giờ hết trong lịch sử giống dân. Con người biết sự khác biệt giữa đúng và sai, và nay phải chọn con đường mình sẽ đi. Trong cuộc khủng hoảng giống dân Atlantis (vốn cũng là một cuộc khủng hoảng hoàn toàn của nhân loại), lịch sử của nó được lưu giữ cho chúng ta trong Chí Tôn Ca, Arjuna—biểu tượng của đệ tử thời ấy và của đệ tử thế giới—đã thật sự bối rối. Điều này ngày nay không còn đúng như vậy nữa. Các đệ tử của thế giới và đệ tử thế giới ngày nay thấy các vấn đề tương đối khá rõ ràng. Liệu sự quyền nghi sẽ thắng, hay Kẻ Chận Ngõ sẽ được hiến dâng bằng tình thương và sự thấu hiểu cho Thiên Thần? Đây là vấn đề chủ yếu.

[Webinar 156]

[159] I will ask you, my brother, to do two things: study the above ideas in the light of the present world crisis, and in the light of your own soul-personality problem.

[159] Huynh đệ của tôi, Tôi sẽ yêu cầu bạn làm hai việc: nghiên cứu các ý tưởng trên dưới ánh sáng của cuộc khủng hoảng thế giới hiện nay, và dưới ánh sáng của vấn đề linh hồn–phàm ngã của chính bạn.

Advanced humanity stands, as the Dweller, on the very threshold of divinity. The Angel stands expectant—absorbed in the PRESENCE yet ready to absorb the Dweller. Humanity has advanced in consciousness to the very boundaries of the world of spiritual values and the kingdom of Light and of God. The Angel has “come to Earth” in expectation of recognition—an event of which the advent of Christ two thousand years ago was the symbol and the precursor. This is the situation where all advanced aspirants are concerned. It can be yours. It is the situation also where humanity as a whole is concerned and the approaching Hierarchy. The consciousness of humanity from the higher and spiritual standpoint functions today through the steadily growing band of world servers, world aspirants and world disciples, and their name is Legion.

Nhân loại tiến bộ, như Kẻ Chận Ngõ, đang đứng ngay trên ngưỡng cửa của thiên tính. Thiên Thần đứng trong sự mong đợi—chìm trong HIỆN DIỆN nhưng sẵn sàng hấp thu Kẻ Chận Ngõ. Nhân loại đã tiến bộ trong tâm thức đến tận các ranh giới của thế giới các giá trị tinh thần và giới Ánh sáng cùng Thiên Giới. Thiên Thần đã “đến Trái Đất” trong sự mong đợi được nhận biết—một sự kiện mà sự giáng lâm của Đức Christ hai nghìn năm trước là biểu tượng và tiền thân. Đây là tình thế liên quan đến tất cả những người chí nguyện tiến bộ. Nó có thể là của bạn. Đây cũng là tình thế liên quan đến toàn thể nhân loại và Thánh Đoàn đang đến gần. Tâm thức của nhân loại, xét từ quan điểm cao hơn và tinh thần, ngày nay vận hành thông qua đoàn thể ngày càng lớn mạnh gồm những người phụng sự thế gian, những người chí nguyện thế gian và các đệ tử thế gian, và họ đông như một đạo binh.

Humanity today is the Dweller whilst the Hierarchy of Souls is the Angel and behind stands the PRESENCE of Divinity Itself, intuited by the Hierarchy and dimly sensed by humanity but providing in this manner that threefold synthesis which is divine manifestation in form.

Ngày nay nhân loại là Kẻ Chận Ngõ, trong khi Thánh Đoàn của các Linh hồn là Thiên Thần, và phía sau là HIỆN DIỆN của chính Thiên Tính, được Thánh Đoàn trực nhận và được nhân loại cảm nhận lờ mờ, nhưng theo cách này cung cấp sự tổng hợp tam phân vốn là biểu hiện thiêng liêng trong hình tướng.

All these three have powerful emanations (though the emanation of the PRESENCE via Shamballa has been wisely held in leash since the human race came into being). They all have auras, if you care so to call them, and in the three worlds at present that of the Dweller is still the most powerful, just as in the life of the aspirant, his personality is as yet the dominant predisposing factor. It is this powerful human emanation which constitutes the major glamour in the life of humanity and of the individual disciple. It is a synthesis of glamour, fused and blended by the personality ray but precipitated by the effect of the steadily influencing soul ray. It [160] is the shadow or distortion of reality, now sensed for the first time on a large scale by the race of men and thrown into high relief by the light which shines from the Angel, the transmitter of energy from the PRESENCE.

Cả ba đều có các phát xạ mạnh mẽ (dù sự phát xạ của HIỆN DIỆN qua Shamballa đã được kiềm giữ một cách minh triết kể từ khi nhân loại xuất hiện). Tất cả đều có hào quang, nếu các bạn muốn gọi như vậy, và trong ba cõi hiện nay, hào quang của Kẻ Chận Ngõ vẫn là mạnh mẽ nhất, cũng như trong đời sống của người chí nguyện, phàm ngã của y cho đến nay vẫn là yếu tố chi phối chủ đạo. Chính phát xạ mạnh mẽ của nhân loại này cấu thành ảo cảm chủ yếu trong đời sống của nhân loại và của đệ tử cá nhân. Đó là một sự tổng hợp của ảo cảm, được dung hợp và hòa trộn bởi cung phàm ngã, nhưng được ngưng tụ bởi tác động của cung linh hồn đang đều đặn gây ảnh hưởng.[160] là cái bóng hay sự méo mó của thực tại, nay lần đầu tiên được nhân loại cảm nhận trên quy mô lớn và được làm nổi bật rõ nét bởi ánh sáng tỏa chiếu từ Thiên Thần, tác nhân truyền dẫn năng lượng từ HIỆN DIỆN.

And so they stand—Humanity and the Hierarchy. And so you stand, my brother, personality and soul, with freedom to go forward into the light if you so determine or to remain static and unprogressive, learning nothing and getting nowhere; you are equally free to return to identification with the Dweller, negating thus the influence of the Angel, refusing imminent opportunity and postponing—until a much later cycle—your determining choice. This is true of you and of Humanity as a whole. Will humanity’s third ray materialistic personality dominate the present situation or will its soul of love prove the most powerful factor, taking hold of the personality and its little issues, leading it to discriminate rightly and to recognise the true values and thus bring in the age of soul or hierarchical control? Time alone will show.

Và như thế, các Ngài đứng đó—Nhân loại và Thánh Đoàn. Huynh đệ của tôi, và như thế bạn cũng đứng đó, phàm ngã và linh hồn, với tự do tiến tới vào ánh sáng nếu bạn quyết định như vậy, hoặc ở lại trong trạng thái tĩnh tại và không tiến bộ, không học được gì và chẳng đi đến đâu; bạn cũng tự do như thế để quay lại sự đồng hóa với Kẻ Chận Ngõ, do đó phủ nhận ảnh hưởng của Thiên Thần, từ chối cơ hội đang gần kề và trì hoãn—cho đến một chu kỳ muộn hơn nhiều—sự lựa chọn quyết định của bạn. Điều này đúng với bạn và với toàn thể Nhân loại. Liệu phàm ngã duy vật cung ba của nhân loại sẽ chi phối tình thế hiện nay, hay linh hồn bác ái của nhân loại sẽ chứng tỏ là yếu tố mạnh mẽ nhất, nắm lấy phàm ngã và các vấn đề nhỏ bé của nó, dẫn nó đến chỗ phân biện đúng đắn và nhận ra các giá trị chân thật, nhờ đó đưa vào thời đại của linh hồn hay sự kiểm soát của Thánh Đoàn? Chỉ thời gian mới cho thấy.

I will give you no more today. I am anxious for these few essential statements to be mastered by all of you, prior to our taking up Section III. I am anxious too for the general group instructions, which you have lately received, to take much of your time, interest and attention. Inner group adjustments and more firmly established group relations are urgently needed and upon these I ask you to work. I would remind you here also that—as in all else in manifestation—there is a group personality and a group soul; you must learn clearly to distinguish between the two and to throw the entire weight of your influence, desire and pressure on the side of the Group Angel. In this way there might occur that stupendous recognition for which all initiation prepares the applicant—the revelation of the PRESENCE.

Hôm nay Tôi sẽ không trao thêm cho các bạn nữa. Tôi mong muốn tất cả các bạn nắm vững vài phát biểu thiết yếu này, trước khi chúng ta bắt đầu Phần III. Tôi cũng mong muốn các huấn thị nhóm tổng quát mà các bạn vừa nhận được gần đây sẽ chiếm nhiều thời gian, sự quan tâm và chú ý của các bạn. Những điều chỉnh bên trong nhóm và các mối quan hệ nhóm được thiết lập vững chắc hơn đang hết sức cần thiết, và Tôi yêu cầu các bạn làm việc trên những điều này. Ở đây Tôi cũng muốn nhắc các bạn rằng—như trong mọi điều khác đang biểu hiện—có một phàm ngã nhóm và một linh hồn nhóm; các bạn phải học phân biệt rõ ràng giữa hai điều này và đặt toàn bộ sức nặng của ảnh hưởng, dục vọng và áp lực của mình về phía Thiên Thần của Nhóm. Bằng cách này, có thể xảy ra sự nhận biết kỳ vĩ mà mọi cuộc điểm đạo đều chuẩn bị cho người thỉnh cầu—sự mặc khải về HIỆN DIỆN.

Leave a Comment

Scroll to Top